† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3114|Trả lời: 0

Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 22-7-2011 16:21:26 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh
Tác giả: Gordon D. Fee và Douglas Stuart

Tựa
1. Dẫn Nhập: Nhu Cầu Giải Nghĩa
2. Công Cụ Căn Bản: Một Bản Dịch Tốt
3. Các Thư Tín: Tập Suy Nghĩ Theo Bối Cảnh
4. Các Thư Tín: Những Vấn Đề Giảng Kinh
5. Những Truyện Ký Trong Cựu Ước: Cách Sử Dụng Thích Hợp
6. Sách Công Vụ Các Sứ Đồ: Vấn Đề Tiền Lệ Lịch Sử
7. Các Sách Phúc Âm: Một Câu Chuyện, Nhiều Khía Cạnh
8. Những Dụ Ngôn: Bạn Có Nắm Được Luận Điểm?
9. Luật pháp: Những Qui Ước Cho Y-sơ-ra-ên.
10. Sách Tiên Tri: Tuân Hành Giao Ước Trong Y-sơ-ra-ên
11. Thi Thiên: Lời Cầu Nguyện Của Y-sơ-ra-ên Và Của Chúng Ta
12. Sự Khôn Ngoan: Xưa và Nay
13. Khải Thị: Những Hình Ảnh Phán Xét và Hi Vọng
Phụ lục : Thẩm Định và Sử Dụng Các Sách Giải Nghĩa

Tựa
Các sách về phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh bằng Anh Ngữ có rất nhiều, tuy nhiên loại sách này bằng tiếng Việt rất hiếm hoi. Nhu cầu cần có một cuốn sách căn bản nhằm giúp các tôi tớ và con cái Chúa nghiên cứu Lời Chúa cách đúng đăn và có phương pháp đã thúc đẩy chúng tôi ấn hành cuốn Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh này.
Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh được dịch từ cuốn How to Read the Bible for All Its Worth của hai tác giả Gordon D. Fee và Douglas Stuart do nhà xuất bản Zondervan Publishing House ấn hành (1993). Trọng tâm của quyển sách nhằm giúp người đọc nắm vững các thể văn (genres) khác nhau được dùng để viết Kinh Thánh, mặc dầu nhiều vấn đề khác cũng được đề cập. Các tác giả tuần tự đề cập đến mười loại thể văn trong Kinh Thánh để giúp người đọc nhận ra những khác biệt giữa các thể văn này, một điều rất quan trọng ảnh hưởng đến cách hiểu Kinh Thánh của chúng ta.
Là những giáo sư dạy tại chủng viện và thường xuyên giảng Lời Chúa trong các Hội Thánh, các tác giả không chỉ muốn chúng ta biết Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh nhưng còn phải vâng giữ những gì Kinh Thánh dạy. Tác giả muốn giúp chúng ta đi từ giải kinh (exegesis ) đến giảng kinh (hermeneutics ), tưc đi từ ý nghĩa nguyên thủy của bản văn đến ý nghĩa hiện tại, từ chỗ “thời xưa, nơi ấy” của đoạn kinh văn nguyên thủy đến hoàn cảnh sống “hiện nay, nơi đây” của chúng ta. Vì thế, hiểu Kinh Thánh, các tác giả nhấn mạnh đến hai công tác. Thứ nhất là tìm ra ý nghĩa nguyên thủy của đoạn kinh văn, công tác này được gọi là giải kinh (exegesis ). Thứ hai là phải học lắng nghe ý nghĩa đó trong từng bối cảnh mới mẻ và khác nhau của thời đại chúng ta, công tác này được gọi là giảng kinh (hermeneutics ). Trong cách dùng cổ điển, từ ngữ giảng kinh (hermeneutics ) bao gồm cả hai công tác, nhưng trong sách này, các tác giả dùng từ giảng kinh theo nghĩa hẹp này. Thực hiện cả hai công tác trên phải là mục tiêu của việc đọc Kinh Thánh. Tuy nhiên, thay vì đưa ra những quy luật, các tác giả chỉ muốn nêu lên những hướng dẫn và gợi ý nhằm giúp chúng ta trong việc nghiên cứu Kinh Thánh.
Người ta thường nói chẳng cần trình độ học vấn chủng viện mới hiểu được Kinh Thánh. Điều đó đúng. Tuy nhiên việc nghiên cứu cẩn thận và có phương pháp sẽ giúp chúng ta hiểu Lời Chúa cách chính xác hơn và áp dụng cách đúng đắn hơn. Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu Lời Chúa của các tôi con Chúa, Viện Thần Học Việt Nam dịch và ấn hành tập Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh này với sự cho phép của nhà xuất bản Zondervan. Vì đây là loại sách nghiên cứu và có những từ ngữ khó dịch sang tiếng Việt nên chắc chắn chúng tôi không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong bản dịch này. Chúng tôi ước mong nhận được sự đóng góp ý kiến của tất cả quí vị để trong lần tái bản tới chúng ta có được một bản dịch hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm tạ quí vị.
Viện Thần Học Việt Nam
Tháng 10, 2002

Dẫn Nhập: Nhu Cầu Giải Nghĩa
Chúng ta thường gặp nhiều người phát biểu đầy tự tin rằng “Bạn cần gì phải giải nghĩa Kinh Thánh; chỉ cần đọc và làm theo thôi.” Thường thì nhận định như thế ngụ ý sự phản đối của những tín đồ chống lại các học giả “chuyên nghiệp,” mục sư, giáo sư hay giáo viên Trường Chúa Nhật, vì khi “giảng giải” dường như muốn lấy Kinh Thánh khỏi tay các tín hữu bình thường. Đó là cách để họ bảo rằng Kinh Thánh không phải là một bộ sách tối nghĩa, khó hiểu. Họ cho rằng “chỉ cần chút ít thông minh thôi cũng có thể đọc và hiểu được Kinh Thánh. Vấn đề là quá nhiều nhà truyền đạo và giáo sư đào xới lung tung khiến cho Kinh Thánh vốn rõ ràng dễ hiểu nay thành ra tối tăm mù mịt.”
Lời phản đối trên phản ánh sự thật. Chúng tôi biết rằng Cơ Đốc nhân phải đọc, tin và vâng theo Kinh Thánh. Chúng tôi cũng đồng ý rằng Kinh Thánh không thể là một quyển sách tối nghĩa, khó hiểu nếu được đọc và nghiên cứu đúng phương pháp. Thật vậy, vấn đề nghiêm trọng nhất mà người ta gặp khi nghiên cứu Kinh Thánh vốn không phải do thiếu hiểu biết, nhưng do họ hiểu quá rõ hầu hết các sự việc! Chẳng hạn với câu “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự” (Phi Pl 2:14) vấn đề không phải là hiểu, nhưng là làm theo - phải thực hành nó.
Chúng tôi cũng đồng ý rằng nhà truyền đạo hoặc giáo sư thường đào trước rồi mới nhìn sau, do đó đã lấp đi phần ý nghĩa rõ ràng của đoạn kinh văn thường vốn nằm ngay trên bề mặt. Chúng tôi xin nói trước và sẽ còn nhắc lại nữa - rằng mục tiêu của việc giải nghĩa đúng đắn không phải là tìm cho ra điểm độc đáo; không ai có thể khám phá ra điều mà chưa từng có ai thấy trước đó.
Giải nghĩa mà cứ chú trọng, hoặc đi tìm cái độc đáo, thường có thể là do kiêu ngạo (một nỗ lực muốn tỏ ra “ta đây khôn khéo tài giỏi vượt bậc” hơn những người còn lại trên đời), một sự hiểu biết thuộc linh sai lầm (Kinh Thánh chứa đựng nhiều chân lý sâu nhiệm đang chờ đợi người có sự mẫn cảm thuộc linh và cái nhìn sáng suốt, thông tuệ khám phá), hoặc rơi vào ý thích (với mục đích hậu thuẫn cho một thiên kiến thần học, nhất là khi giải nghĩa những đoạn kinh văn có vẻ như chống lại với thiên kiến ấy). Những cách lý giải độc đáo - có một không hai - thường là sai lầm. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng việc hiểu đúng một bản văn sẽ dường như không có vẻ độc đáo đối với người mới nghe nó lần đầu tiên, nhưng có nghĩa rằng tìm điểm độc đáo không phải là mục đích của công tác giải nghĩa.
Mục tiêu của việc giải nghĩa tốt rất đơn giản: Tìm ra “ý nghĩa rõ ràng của đoạn kinh văn.” Một tri thức được soi sáng là yếu tố quan trọng nhất trong công tác giải nghĩa. Trắc nghiệm dành cho một phần giải nghĩa tốt, là nó có bộc lộ ý nghĩa đúng của đoạn kinh văn hay không. Do đó, giải nghĩa đúng sẽ làm cho tâm trí ta cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái.
Nhưng nếu vấn đề giải nghĩa chỉ là đi tìm ý nghĩa thật mà thôi, thì tại sao lại cần phải giải nghĩa? Tại sao không phải là chỉ đọc mà thôi? Chẳng phải chỉ cần đọc cũng có thể nắm được ý nghĩa rõ ràng đó hay sao? Ở một phương diện điều này đúng. Nhưng về mặt xác thực hơn, thì lý luận như thế vừa ngây thơ vừa không thực tế bởi hai yếu tố sau đây: bản tính của người đọc và bản chất của Kinh Thánh.
Người Đọc Là Người Giải Nghĩa
Lý do đầu tiên mà ta cần học cách giải nghĩa là vì người đọc đồng thời cũng là người giải nghĩa cho dù có muốn hay không. Nghĩa là phần đông chúng ta cho rằng hễ khi nào chúng ta đọc, thì chúng ta cũng hiểu những gì mình đang đọc. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng mình hiểu được ý định của Thánh Linh hay của tác giả. Tuy nhiên, chúng ta luôn đưa mình vào đoạn kinh văn bằng kinh nghiệm, văn hóa, sự hiểu biết về chữ nghĩa và ý tưởng của chính mình. Mặc dầu không cố ý nhưng nhiều khi những điều mà chúng ta đưa vào đoạn kinh văn dẫn chúng ta đi lạc, hoặc khiến chúng ta thấy toàn là những tư tưởng ngoại lai.
Chẳng hạn khi một người trong nền văn hóa của chúng ta nghe tiếng “thập tự giá,” do ảnh hưởng của nhiều thế kỷ nghệ thuật Cơ Đốc, tự nhiên nghĩ ngay đến chữ thập của người La Mã (=), tuy nó rất ít giống với hình dạng cây thập tự của Chúa Giê-xu, có lẽ có hình dạng giống như chữ “T”. Phần đông các tín hữu Tin Lành và Công Giáo khi đọc phần Kinh Thánh đề cập đến một Hội Thánh đang thờ phượng đều tự động hình dung ra một nhóm người ngồi trên những chiếc “ghế dài” trong một ngôi nhà giống như họ. Khi Phao-lô viết (bản KJV) “Chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (RoRm 12:14), nhiều người trong nền văn hóa nói tiếng Anh dễ dàng nghĩ “xác thịt” có nghĩa là “thân xác,” do đó cho rằng Phao-lô đang nói về “sự ham muốn thể xác.”
Nhưng từ ngữ “xác thịt” theo cách dùng của Phao-lô rất ít khi đề cập đến thân thể - và trong câu Kinh Thánh này thì gần như chắc chắn là nó đã không được dùng theo nghĩa đó - nhưng ám chỉ một căn bệnh thuộc linh, một chứng bệnh của đời sống thuộc linh gọi là “bản tính tội lỗi.” Do đó, dù không cố ý, người đọc cũng đang giải thích điều mình đọc, và rủi thay lại quá thường giải nghĩa sai.
Điều này đưa chúng ta đến chỗ lưu ý thêm rằng trong bất kỳ trường hợp nào, người đọc một quyển Kinh Thánh Anh ngữ cũng đều buộc phải giải nghĩa. Tự bản dịch đã là một hình thức giải nghĩa. Cho dù bạn dùng bản dịch nào thì quyển Kinh Thánh của bạn đối với bạn là khởi điểm nhưng thật ra là kết quả công tác của nhiều học giả. Các dịch giả thường phải lựa chọn giữa nhiều nghĩa, và việc lựa chọn của họ sẽ ảnh hưởng đến cách bạn hiểu.
Vì vậy các dịch giả giỏi phải lưu tâm vấn đề khác biệt trong ngôn ngữ. Đó không phải là một công việc dễ dàng. Chẳng hạn như trong RoRm 13:14, chúng ta nên dịch là “xác thịt” (như trong các bản KJV, RSV, NRSV, NASB, vv...) vì đây chính là từ ngữ mà Phao-lô đã dùng, rồi một người giải nghĩa chú thích cho độc giả biết rằng từ ngữ “xác thịt” ở đây không có nghĩa là “thân xác”? Hay chúng ta phải “giúp đỡ” người đọc và dịch là “bản tính tội lỗi” (như trong các bản NIV, GNB, vv...) vì đây chính là điều Phao-lô muốn nói? Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này chi tiết hơn trong chương sau. Như vậy tưởng cũng đủ chứng tỏ rằng việc dịch thuật tự nó đã có sẵn công tác giải nghĩa.
Cứ nhìn vào một Hội Thánh hiện nay ta có thể thấy rõ rằng không phải ai cũng hiểu được những câu Kinh Thánh xem ra rất rõ nghĩa. Có người dựa vào câu ICo1Cr 14:34-35 buộc phụ nữ phải nín lặng trong nhà thờ nên cấm phụ nữ nói tiếng lạ và nói tiên tri. Có người dựa vào các câu ICo1Cr 11:2-16 chủ trương phụ nữ có quyền cầu nguyện, có quyền nói tiên tri trong nhà thờ với điều kiện là phải trùm đầu lại. Những cách giải thích trái ngược này lại nằm trong cùng một văn cảnh với nhau, đoạn Kinh Thánh nói về sự “im lặng.” Lại có người tuyên bố “Kinh Thánh rõ ràng dạy” rằng phải dìm toàn thân xuống nước khi làm báp-têm; những người này không chấp nhận một hình thức báp-têm nào khác. Một số chủ trương Kinh Thánh cho phép làm báp-têm cho trẻ con, trong khi có người bảo rằng Kinh Thánh chỉ cho phép làm báp-têm cho người lớn. Có người giảng dạy rằng khi tín hữu được cứu rỗi thì có thể “cầm chắc sự cứu rỗi ấy đời đời.” Nhưng có người lại giảng rằng tín hữu có thể “đánh mất sự cứu rỗi” của mình. Tất cả những người nói trên ai cũng mạnh mẽ xác nhận rằng mình làm đúng theo “ý nghĩa rõ ràng” trong Kinh Thánh. Ngay cả hai tác giả của quyển sách này cũng có vài ý kiến bất đồng về một số câu Kinh Thánh mặc dầu cả hai chúng tôi đều đọc cùng một bản dịch Kinh Thánh và đều cố gắng vâng theo những gì mà phần Kinh Thánh dạy “rõ ràng.”
Ngoài những điều khác nhau có thể nhận thấy ngay giữa vòng “các tín hữu tin Kinh Thánh” ta còn thấy đủ loại những điều lạ lùng khác. Chẳng hạn người ta thường có thể nhận ra ngay các giáo phái sùng tín, ngoài Kinh Thánh ra họ còn có thêm cả uy quyền. Nhưng không phải tất cả các giáo phái sùng tín đều như thế cả; trong nhiều trường hợp, người ta đều xuyên tạc chân lý bằng cách chọn một số câu ngay trong Kinh Thánh. Mọi tà giáo hoặc tập tục hành đạo mà người ta có thể tượng tượng ra, từ thuyết Arianism (phủ nhận thần tánh của Chúa Cứu Thế) của các Chứng Nhân Giê-hô-va và giáo phái Con Đường (The Way), đến việc làm phép báp-tem cho người chết giữa các tín đồ Mormons, cho đến việc bắt rắn giữa các giáo phái Appalachian, đều rêu rao là đã lấy Kinh Thánh làm nền tảng.
Ngay giữa những người chính thống vẫn có nhiều ý niệm lạ lùng muốn được chấp nhận. Chẳng hạn một trong những phong trào đang gây náo loạn trong giới tín hữu Cải Chánh Hoa Kỳ, đặc biệt là giữa những người theo phong trào ân tứ (Charismatics), cái gọi là Phúc Âm của thịnh vượng và sức khỏe. “Phúc Âm” của Đức Chúa Trời là muốn bạn được thạnh vượng về mặt tài chánh và vật chất! Một trong những người bênh vực cho “phúc âm” này tranh luận “ý nghĩa rõ ràng” của Kinh Thánh ở phần đầu quyển sách ông ta viết, tuyên bố rằng ông ta đặt Lời Đức Chúa Trời trước nhất trong suốt công trình nghiên cứu của mình. Ông ta cho rằng điều quan trọng không phải là những gì chúng ta nghĩ là Kinh Thánh dạy, nhưng là điều thật sự Lời Đức Chúa Trời dạy. “Ý nghĩa rõ ràng” là điều mà ông ta theo đuổi. Nhưng người ta thắc mắc “ý nghĩa rõ ràng” thật ra là gì khi lập luận rằng ý chỉ của Đức Chúa Trời là sự thịnh vượng tài chánh được rút ra từ IIIGi 3Ga 1:2: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy” (KJV) - phần Kinh Thánh mà thật ra chẳng có liên hệ gì với sự thịnh vượng về tài chánh cả. Một thí dụ khác giải thích ý nghĩa rõ ràng từ câu chuyện của chàng thanh niên giàu có (Mac Mc 10:17-22) theo cách hoàn toàn trái ngược với “ý nghĩa thật”, rồi gán lời giải nghĩa đó đến từ Đức Thánh Linh. Ta có thể thắc mắc rằng có cần gì phải tìm tòi mới thấy được ý nghĩa rõ ràng hay không; có lẽ ý nghĩa rõ ràng chỉ là điều mà tác giả như thế muốn gán cho phần Kinh Thánh để hậu thuẫn ý niệm mà ông ta yêu thích.
Sau khi đã trình bày những điểm khác biệt cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh và ngay cả giữa vòng các học giả được xem là biết “luật,” chúng ta không còn ngạc nhiên nữa khi có một số người lý luận rằng chẳng cần giải nghĩa, chỉ cần đọc mà thôi. Nhưng cách chọn lựa như vậy không đúng. Giải pháp cho việc giải nghĩa tồi không phải là chẳng cần giải nghĩa, mà là giải nghĩa đúng dựa trên các hướng dẫn thường thức.
Tác giả cuốn sách này không hề có ảo vọng rằng chỉ nhờ đọc và làm theo các chỉ dẫn của sách thì mọi người đều sẽ nhất trí “ý nghĩa rõ ràng,” ý nghĩa chúng tôi đã tìm ra! Điều chúng tôi mong ước là nâng cao tính nhạy bén của độc giả khi gặp những vấn đề cụ thể trong từng thể văn, để biết tại sao có những chọn lựa khác nhau, và làm thế nào để suy xét theo tri thức thông thường, nhất là để có thể phân biệt được giữa cách giải nghĩa tốt và không được tốt lắm - cũng như biết được nguyên nhân nào dẫn đến điều đó.
Bản Chất của Kinh Thánh
Một lý do quan trọng cần phải giải nghĩa Kinh Thánh là bản chất của chính Kinh Thánh. Từ xưa Hội Thánh đã hiểu bản chất của Kinh Thánh giống như cách họ hiểu về thân vị của Đấng Christ - Kinh Thánh vừa mang nhân tánh vừa mang thần tánh. Giáo sư George Ladd có viết: “Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời được ban truyền bằng lời lẽ (của loài người) trong lịch sử.” Chính bản chất kép của Kinh Thánh đòi hỏi chúng ta phải giải nghĩa.
Vì Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời nên có tính phù hợp vĩnh hằng (eternal relevance); Kinh Thánh truyền phán cho cả nhân loại thuộc mọi thời đại và mọi nền văn hóa. Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời nên chúng ta phải lắng nghe - và vâng theo. Tuy nhiên vì Đức Chúa Trời chọn phán Lời Ngài qua lời lẽ loài người trong lịch sử, nên tất cả các sách trong Kinh Thánh đều mang đặc trưng lịch sử; đều chịu sự chi phối của ngôn ngữ, thời gian và văn hóa khi nó được viết ra (trong một số trường hợp cũng bị lịch sử truyền khẩu đã có từ trước chi phối). Mối “căng thẳng” giữa tính phù hợp vĩnh hằng và đặc trưng lịch sử đòi hỏi Kinh Thánh phải được giải nghĩa.
Dĩ nhiên có một số người cho rằng Kinh Thánh chỉ là quyển sách của con người, rằng nội dung của nó chỉ là lời lẽ của con người trong lịch sử. Với họ công tác giải nghĩa chỉ gói gọn trong việc tìm hiểu lịch sử mà thôi. Họ chỉ quan tâm đến các ý niệm tôn giáo của người Do Thái, Chúa Giê-xu, hay Hội Thánh đầu tiên như trường hợp Cicero hoặc Milton. Do đó, họ xem công tác giải nghĩa chỉ thuần túy lịch sử. Những lời này có ý nghĩa gì đối với những người đã viết chúng? Họ nghĩ gì về Đức Chúa Trời? Họ hiểu về chính họ như thế nào?
Mặt khác, có những người chỉ chú trọng đến tính phù hợp vĩnh hằng của Kinh Thánh mà thôi. Vì đó là Lời Đức Chúa Trời, họ có khuynh hướng nghĩ rằng Kinh Thánh là bộ sưu tập những lời phán truyền phải được tin, những mệnh lệnh phải được tuân thủ - mặc dầu người ta luôn cố chọn lựa giữa những lời phán truyền và mệnh lệnh đó. Chẳng hạn nhiều Cơ-đốc nhân dựa trên PhuDnl 22:5 (“người nữ không được phép mặc quần áo của người nam”) để lý luận theo nghĩa đen rằng phụ nữ không nên mặc quần tây hoặc quần soóc. Nhưng chính những người đó lại ít khi chịu hiểu theo nghĩa đen các mệnh lệnh khác trong cùng khúc Kinh Thánh, bao gồm việc phải xây một bao lơn chung quanh nóc nhà mình (câu 8), chớ trồng hai loại hạt giống trong cùng một vườn nho (câu 9) và phải kết tua nơi bốn chéo áo choàng của mình mặc (câu 12).
Tuy nhiên, Kinh Thánh không phải là một loạt các phán truyền và mệnh lệnh, nó không chỉ đơn giản là một bộ sưu tập “Những lời phán của Tổng Thống Thượng Đế,” như thể Ngài từ trên trời nhìn xuống chúng ta và phán rằng: “Nầy, các người ở dưới kia, hãy học tập các chân lý này: Thứ nhất, chỉ có một Đức Chúa Trời và đó là ta. Thứ hai, Ta là Đấng Tạo Hóa của muôn vật kể cả con người” - và cứ thế tiếp tục đến lời phán truyền số 7.777 và mệnh lệnh số 777.
Dĩ nhiên, các lời phán ấy đều đúng; chúng ở trong Kinh Thánh (tuy không hoàn toàn giống với hình thức vừa trình bày). Thật ra một quyển sách như thế có thể làm cho nhiều việc trở thành dễ dàng hơn. Nhưng may thay, đó không phải là cách mà Đức Chúa Trời đã chọn để phán với chúng ta. Thay vào đó, Ngài đã ban các chân lý đời đời của Ngài trong nhiều hoàn cảnh và biến cố cá biệt của lịch sử loài người. Đây cũng là điều mà chúng ta có thể đặt hi vọng. Chính vì Đức Chúa Trời đã chọn truyền phán trong bối cảnh lịch sử của nhân loại, nên chúng ta có thể mạnh dạn tin rằng những lời này cũng sẽ được nhắc đi nhắc lại trong lịch sử “hiện tại” của chính chúng ta, cũng như trong suốt lịch sử Hội Thánh.
Kinh Thánh mang tính chất của con người là điều khích lệ nhưng cũng là thách thức đối với chúng ta, và đó là lý do để chúng ta cần phải giải nghĩa. Có hai điều cần lưu ý ở đây:
1. Được phán qua những con người có thật, dưới nhiều hoàn cảnh khác nhau, trãi suốt giai đoạn hơn 1.500 năm, Lời Đức Chúa Trời được thể hiện bằng ngôn ngữ và hình thức của những người ấy, trong hoàn cảnh và cảnh văn hóa của các thời đại của họ. Nghĩa là, Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta trước nhất là Lời mà Ngài đã phán với họ. Họ chỉ nghe được chúng khi chúng được phán qua các biến cố và bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được. Sự khác biệt về thời gian và nhiều khi cả về tư tưởng là vấn đề chúng ta phải đối diện. Đây là nguyên nhân chính mà ta cần học giải nghĩa Kinh Thánh. Nếu Lời của Đức Chúa Trời dạy chúng ta về vấn đề phụ nữ mặc y phục của đàn ông, hay người ta phải xây bao lơn chung quanh mái nhà mình, thì trước hết chúng ta cần phải biết nó nói gì với cho những thính giả đầu tiên - và tại sao.
Như thế, công tác giải nghĩa liên quan đến người học/người đọc ở hai cấp bậc. Thứ nhất, ta phải nghe Lời mà họ đã nghe; phải tìm hiểu điều đã được truyền phán lúc ấy và ở đó. Thứ hai, ta phải học lắng nghe những lời ấy cho chúng ta hiện nay và tại đây. Chúng tôi sẽ nói thêm về hai công tác ấy ở phần dưới đây.
2. Một trong những phương diện quan trọng nhất trong sự tham gia của con người để hình thành Kinh Thánh là Đức Chúa Trời đã chọn sử dụng hầu như mọi cách thức truyền thông khả hữu: tường thuật lịch sử, gia phả, biên niên sử, các hình thức luật pháp, các hình thức thi ca, châm ngôn, sấm truyền tiên tri, câu đố, kịch tuồng, tiểu sử, ẩn dụ, thư tín, bài giảng và hình thức khải thị để truyền đạt Lời Ngài cho loài người trong mọi hoàn cảnh.
Để giải nghĩa đúng cái “lúc ấy và ở đó” của các đoạn kinh văn, ngoài việc phải biết một số quy luật tổng quát áp dụng cho mọi từ ngữ Kinh Thánh, ta còn phải học những quy luật đặc biệt áp dụng cho từng thể văn ấy nữa. Còn cách Đức Chúa Trời truyền đạt Lời Ngài cho chúng ta “hiện nay và tại đây” thường khác hơn. Ví dụ, chúng ta cần biết cách một thi thiên, là hình thức thường được dùng để thưa chuyện với Đức Chúa Trời, đóng vai trò như Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta và thi thiên khác thế nào với “luật pháp,” thường được phán cho những người sống trong các nền văn hóa đã không còn hiện hữu. “Những luật” đó phán với chúng ta thế nào, và chúng khác với các “luật” đạo đức vốn luôn luôn có giá trị trong mọi hoàn cảnh ra sao? Đây là những câu hỏi mà tính chất kép của Kinh Thánh đang đặt trên chúng ta.
Công Việc Đầu Tiên: Giải Kinh
Công việc đầu tiên của người giải nghĩa được gọi là giải kinh (exegesis). Giải kinh là việc nghiên cứu Kinh Thánh cách cẩn thận, có hệ thống để khám phá dụng ý nguyên thủy. Đây là công tác mang tính lịch sử, cố gắng đặt mình làm những thính giả đầu tiên để lắng nghe Lời nhằm tìm ra dụng ý nguyên thủy qua ngôn từ Kinh Thánh. Công tác này thường cần sự giúp đỡ của “chuyên gia” để hiểu rõ ngôn ngữ của đoạn kinh văn trong bối cảnh nguyên thủy của chúng. Tuy nhiên, ta không cần phải làm một chuyên gia để có thể giải kinh đúng.
Thật vậy, ai cũng có thể giải kinh cả. Chủ yếu bạn có phải là một nhà giải kinh giỏi hay không. Chẳng hạn, bao nhiêu lần bạn đã từng nghe hay nói rằng: “Điều Chúa Giê-xu muốn nói ở đây là...” hoặc “Vào thời đó, họ thường hay...”? Những câu phát biểu này mang hình thức giải kinh. Phần lớn mục đích của chúng là để giải thích những điểm khác nhau giữa “họ” với “chúng ta” - ví dụ tại sao chúng ta không xây bao lơn chung quanh mái nhà mình, hoặc nêu lý do tại sao chúng ta lại dùng đoạn văn bằng một lối khác hoặc mới mẻ - tại sao cái bắt tay lại thường được thay thế cho “cái hôn thánh.” Cả khi những ý tưởng như thế không được nói ra, thì chúng vẫn luôn được thực hành như một kỷ năng thông thường vậy.
Tuy nhiên, vấn đề thường là (1) giải kinh như vậy lắm khi có tính quá chọn lọc, (2) các nguồn tài liệu tra cứu thường không do chính các “chuyên gia” biên soạn, nghĩa là chúng vốn chỉ là các nguồn tài liệu cấp hai mà chúng lại sử dụng các nguồn tài liệu cấp hai khác hổ trợ, hơn là các nguồn tài liệu đầu tiên. Sau đây là một số điều cần đề cập liên quan đến những điều trên:
1. Mặc dầu đôi khi ta giải kinh, và hầu như luôn giải kinh đúng, ta vẫn có khuynh hướng làm điều đó chỉ khi có vấn đề rõ rệt giữa các đoạn kinh văn và nền văn hóa hiện đại. Dĩ nhiên đó là điều ta phải làm khi gặp những đoạn kinh văn như vậy, nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đó là bước đầu tiên khi đọc BẤT KỲ một đoạn kinh văn nào. Thoạt tiên, đó không phải là điều dễ làm, nhưng học suy nghĩ theo cách giải kinh sẽ giúp ta hiểu rõ và làm ta cảm thấy thích thú hơn khi đọc Kinh Thánh chớ chưa nói đến việc nghiên cứu. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng học suy nghĩ theo cách giải kinh không phải là công tác duy nhất; nó mới chỉ là công việc đầu tiên thôi.
Điều nguy hiểm khi giải kinh “chọn lọc” là ta thường đưa các tư tưởng lạ của riêng mình vào trong đoạn kinh văn, do đó làm méo mó hoặc biến dạng điều Đức Chúa Trời muốn dạy dỗ. Ví dụ, một nhà truyền giáo nổi tiếng vừa gởi thư cho chúng tôi, khuyên chúng tôi không nên đi dự hội nghị với một người nổi tiếng khác, vì người ta nghi ngờ tư tưởng thần học của ông ta. Nhà truyền giáo kia trích dẫn câu Kinh Thánh trong ITe1Tx 5:22: “Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi” để khuyên chúng tôi đừng đi dự hội nghị. Nếu như người anh em kia biết đọc Kinh Thánh theo cách giải kinh, chắc hẳn ông đã không giải thích câu Kinh Thánh theo cách đó. Đây là lời cuối của thánh Phao-lô trong phân đoạn viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca liên hệ đến những lời nói ân tứ trong cộng đồng. Phao-lô nói rằng “chớ khinh dể các lời tiên tri, nhưng hãy suy xét mọi việc, giữ chặt điều lành, nhưng tránh xa mọi hình thức xấu xa gian ác.” Việc “tránh điều ác” ở đây liên quan đến “lời tiên tri” mà khi được suy xét ta biết không phải đến từ Đức Thánh Linh. Làm cho phần Kinh Thánh này có ý nghĩa khác với điều Chúa muốn dạy tức là lạm dụng Kinh Thánh, chớ không phải sử dụng nó. Muốn tránh những sai lầm như thế, ta cần phải học suy nghĩ theo cách giải kinh, nghĩa là bắt đầu với lúc ấy và ở đó, và phải làm như vậy với từng câu, từng phần Kinh Thánh.
2. Như vậy, chúng tôi muốn lưu ý rằng ta không nên bắt đầu bằng cách tham khảo các “chuyên gia.” Nhưng nếu cần thiết phải làm như thế, ta phải cố tìm các nguồn tài liệu tốt nhất. Thí dụ như trong Mac Mc 10:23; (Mat Mt 19:23; LuLc 18:24) khi kết thúc câu chuyện về chàng thanh niên giàu có, Chúa Giê-xu phán: “Kẻ giàu vào Nước Đức Chúa Trời khó là dường nào.” Rồi Ngài nói thêm “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Đức Chúa Trời.” Người ta thường bảo rằng tại Giê-ru-sa-lem có một cửa vào thành gọi là “Lỗ Kim” mà những con lạc đà chỉ có thể chui qua bằng cách quỳ mọp xuống, nhưng hết sức khó khăn. Ở đây, người ta muốn giải nghĩa rằng con lạc đà có thể chui qua (cửa) “Lỗ Kim.” Tuy nhiên điều rắc rối với cách “giải kinh” này là việc ấy vốn không có thật. Chẳng hề có một cái cửa như thế tại Giê-ru-sa-lem ở bất cứ thời đại nào trong lịch sử cả. “Chứng cứ” sớm nhất cho biết về ý niệm này được được trình bày vào thế kỷ thứ 11 (!) trong một sách giải kinh của Theophylact thuộc Giáo hội Hi Lạp người ta phải vật lộn với câu Kinh Thánh ấy y như chúng ta vậy. Sau cùng, con lạc đà không thể chui qua lỗ kim, và đây chính là điểm mà Chúa Giê-xu muốn nói. Một người chỉ tin cậy vào của cải thì không thể vào được Nước Trời. Người giàu được cứu là một phép lạ, và đó chính là luận điểm của câu tiếp theo: “Vì Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả.”
Học Giải Kinh
Vậy thì làm thế nào để chúng ta giải kinh đúng đồng thời tránh được các cạm bẫy trong tiến trình giải kinh? Phần đầu của hầu hết các chương trong sách sẽ trình bày cách thực hiện công tác này đối với từng thể văn. Ở đây, chúng tôi sẽ tóm lược những điều liên quan đến công tác giải nghĩa bất kỳ một phần Kinh Thánh nào.
Ở mức độ cao nhất, công tác giải kinh đòi hỏi hiểu biết nhiều điều mà chúng tôi không trông mong các độc giả của sách phải nắm qua như: các ngôn ngữ Kinh Thánh, bối cảnh Do Thái, Xê-mít (Semitic), Hy Lạp (Hellenistic); làm thế nào để xác định một đoạn văn nguyên bản khi các cổ bản có nhiều cách đọc khác nhau, cách sử dụng những nguồn tài liệu và phương tiện hổ trợ. Tuy nhiên, bạn có thể học giải kinh giỏi ngay cả khi bạn chưa có được những kỹ năng và phương tiện ấy. Muốn làm được điều đó; trước hết bạn phải biết bạn có thể làm gì bằng khả năng của bạn; thứ đến, bạn phải học sử dụng công trình của những người khác.
Chìa khóa để giải kinh đúng, và qua đó đọc Thánh Kinh cách thông minh hơn, là tập đọc kỹ đoạn kinh văn và đặt những câu hỏi chính xác về đoạn kinh văn ấy. Tác phẩm Cách Đọc Sách (How to Read a Book) của J. Adler (1940, rev. ed with Charles Van Doren, New York: Simon and Schuster, 1972) sẽ ích lợi cho bạn trong lãnh vực nầy. Qua nhiều năm dạy đại học và chủng viện, chúng tôi nhận thấy nhiều người không biết phương pháp đọc sách. Muốn đọc hoặc nghiên cứu Kinh Thánh thông minh đòi hỏi phải đọc kỹ, điều đó bao gồm cả việc đặt câu hỏi chính xác.
Có hai loại câu hỏi cơ bản cho mọi phân đoạn Kinh Thánh: câu hỏi liên quan bối cảnh và câu hỏi liên quan nội dung. Các câu hỏi liên quan bối cảnh cũng có hai loại: lịch sử và văn chương. Chúng ta sẽ lược xem từng loại một.
Bối Cảnh Lịch Sử
Bối cảnh lịch sử khác nhau với từng sách, liên hệ đến nhiều điều: thời đại và văn hóa của tác giả và độc giả đầu tiên, đó là các yếu tố địa lý và chính trị trong thời của tác giả, cũng như cơ hội mà sách, thư tín, thi thiên, lời tiên tri, hoặc một bài văn thuộc một thể loại khác, đã được viết ra. Hiểu biết những vấn đề trên là điều rất quan trọng.
Người ta sẽ có cái nhìn khác đi khi biết bối cảnh trong thời A-mốt, Ô-sê hoặc Ê-sai, hay biết A-ghê đã nói tiên tri sau thời kỳ lưu đày, hoặc việc dân Y-sơ-ra-ên đang trông đợi Đấng Mết-si-a khi Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu xuất hiện, hoặc hiểu rõ những điểm khác nhau giữa thành phố Cô-rinh-tô và Phi-líp và những điều này ảnh hưởng thế nào trên Hội Thánh trong mỗi thành phố. Khi đọc các ẩn dụ của Chúa Giê-xu ta sẽ hiểu thêm rất nhiều nếu biết được một số phong tục tập quán vào thời của Chúa Giê-xu. Chắc chắn ta sẽ hiểu khác đi khi biết rằng đồng đơ-ni-ê trả cho các công nhân trong Mat Mt 20:1-16 tương đương với tiền lương cho một ngày công. Ngay cả vấn đề địa hình cũng quan trọng. Người được trưởng dưỡng tại miền núi cũng phải thận trọng đừng dùng kinh nghiệm hiểu biết về các vùng núi của mình khi nghĩ về “các núi vây quanh Giê-ru-sa-lem” (Thi Tv 125:2)!
Để trả lời cho phần lớn các câu hỏi thuộc loại này, đôi khi ta cũng cần trợ giúp từ bên ngoài. Bộ Tự Điển Bách Khoa Kinh Thánh Quốc Tế (International Standard Bible Encyclopedia, ed. G. W. Bromiley, Grand Rapids: Zondervan, 1975), bộ Tự Điển Kinh Thánh Minh Họa Zondervan (Zondervan Pictorial Encyclopedia of the Bible, ed. Merrill C. Tenney, Grand Rapids: Zondervan, 1975) hay bộ Tân Tự Điển Kinh Thánh (New Bible Dictionary, ed. J. D. Douglas, Grand Rapids: Eerdmans, 1962) sẽ rất ích lợi. Nếu ta muốn tra cứu sâu hơn thì phần thư mục ở cuối mỗi bài viết sẽ là điểm khởi đầu rất tốt.
Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng hơn trong phần bối cảnh lịch sử liên quan đến cơ hội và mục đích của từng sách hoặc mỗi phần khác nhau. Ở đây, ta cần hiểu điều gì đang xảy ra trong Y-sơ-ra-ên hoặc Hội Thánh mà văn kiện đó phải được viết ra, hoặc hoàn cảnh nào đã khiến tác giả viết sách. Điều này cũng khác nhau với từng sách, chẳng hạn nó quan trọng đối với I Cô-rinh-tô hơn là Châm Ngôn.
Lời giải đáp cho câu hỏi này thường ở ngay trong sách - nếu có thể tìm thấy. Nhưng bạn cần phải biết đọc bằng đôi mắt mở to để thấy được những điều này. Nếu bạn muốn kiểm chứng những gì mình đã khám phá liên quan đến những câu hỏi trên, bạn có thể tra cứu trong Thánh Kinh Từ Điển một lần nữa, hoặc xem phần dẫn nhập của một quyển sách giải nghĩa sách ấy, hoặc đọc cuốn Thánh Kinh Đại Cương của Eeardman (Eerdman’s Handbook to the Bible, ed. David Alexander and Pat Alexander, Grand Rapids: Eerdmans, 1973). Nhưng bạn cần tự mình nghiên cứu, tìm tòi trước đã.
Văn Mạch
Đây là điểm nhiều người ngụ ý khi nói về việc đọc điều gì đó trong bối cảnh của nó. Điều này rất quan trọng trong công tác giải kinh, và may mắn là ta có thể làm tốt điều này mà không nhất thiết phải tham khảo ý kiến các “chuyên gia.” Nói chung, văn mạch hàm ý từ ngữ chỉ có nghĩa trong câu và hầu hết các câu Kinh Thánh chỉ có nghĩa trong tương quan với các câu trước và sau chúng.
Câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến văn mạch mà bạn cần phải lặp đi lặp lại với mỗi câu, mỗi phân đoạn là “Vấn đề ở đây là gì?” Chúng ta phải lần theo dòng tư tưởng của tác giả. Tác giả muốn nói gì và tại sao lại nói ở đây? Sau khi đã nêu lên vấn đề đó rồi, tác giả sẽ nói gì tiếp theo, và tại sao?
Câu hỏi nêu ra sẽ khác nhau tùy từng thể văn, nhưng nó luôn luôn là câu hỏi vô cùng quan trọng. Bạn nhớ rằng mục tiêu của công tác giải kinh là tìm ra ý định nguyên thủy của tác giả. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ này, ta cần phải sử dụng một bản dịch có thể giúp ta nhận diện các thể văn. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc giải kinh khiếm khuyết của các độc giả dùng bản dịch King James và ở mức độ ít hơn là bản New American Standard, đó là mỗi câu đều được in ra như một phân đoạn. Lối sắp xếp như thế có xu hướng che mờ cách lập luận của tác giả. Do đó, ta phải học nhận diện các đơn vị tư tưởng, xem chúng hoặc là phân đoạn (cho thể văn xuôi) hoặc là câu hay khổ (cho thể thi ca). Người đọc có thể phân biệt được nếu dùng một bản dịch tốt.
Câu Hỏi về Nội Dung
Loại câu hỏi quan trọng thứ hai đối với bất kỳ câu hay phần Kinh Thánh nào liên quan đến nội dung mà tác giả muốn truyền đạt. Nội dung bao gồm với ý nghĩa của từ ngữ, liên hệ văn phạm giữa các câu, và việc chọn nguyên bản khi có nhiều cổ bản khác nhau. Nó cũng bao gồm một số các mục trong phần “Bối cảnh lịch sử” đã đề cập ở trên, chẳng hạn như ý nghĩa của đồng đơ-ni-ê, đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát, hay “các nơi cao,” vv...
Đây là các câu hỏi ý nghĩa mà ta thường áp dụng với các đoạn kinh văn. Trong IICo 2Cr 5:16, Phao-lô viết, “Dẫu chúng tôi từng theo xác thịt mà nhận biết Đấng Christ, song cũng chẳng còn nhận biết Ngài cách ấy đâu” (NASB), có lẽ ta muốn biết: “theo xác thịt” của ai, Đấng Christ hay của người nhận biết Ngài. Điều Phao-lô muốn nói ở đây là “chúng ta” không còn nhận biết Chúa Cứu Thế “theo quan điểm của thế gian” nữa, chớ không phải chúng ta không còn nhận biết Ngài qua “cuộc đời tại thế của Ngài” nữa.
Để trả lời loại câu hỏi này, ta sẽ cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Một lần nữa, chất lượng của câu trả lời thường tùy thuộc vào chất lượng của các nguồn tài liệu ta sử dụng. Do đó, bạn cần tham khảo một bộ giải kinh tốt. Tuy nhiên, tham khảo sách giải nghĩa phải là công việc “cuối cùng.”
Phương Tiện
Vì vậy, hầu như bạn có thể giải kinh tốt với sự trợ giúp tối thiểu từ bên ngoài, miễn là phần trợ giúp ấy phải có chất lượng cao nhất. Chúng tôi đã đề cập bốn phương tiện như thế: một bộ Thánh Kinh Từ Điển tốt, một cuốn Thánh Kinh Cẩm Nang tốt, một bản dịch tốt, và những sách giải nghĩa tốt. Dĩ nhiên, còn có nhiều loại dụng cụ khác nữa, đặc biệt là cho các loại nghiên cứu theo chủ đề hoặc luận đề. Nhưng muốn đọc và nghiên cứu Kinh Thánh theo từng sách, thì đây là các dụng cụ cần thiết.
Một bản dịch tốt (hay tốt hơn là vài bản dịch tốt) là dụng cụ cơ bản cho người không biết nguyên ngữ. Do đó chương tiếp theo sẽ dành riêng cho vấn đề này. Học cách chọn sách giải nghĩa tốt cũng là điều quan trọng, nhưng vì đó là công việc cuối cùng chúng tôi sẽ nêu lên trong phần phụ lục để kết thúc quyển sách này.
Công Tác Thứ Hai: Giảng Kinh
Mặc dầu thường thì chữ “giảng kinh” (hay “luận kinh”: hermeneutics) bao trùm toàn bộ lãnh vực giải nghĩa, gồm cả việc giải kinh. Theo nghĩa hẹp, đó là tìm trong những bản văn cổ điều gì là phù hợp cho ngày nay. Trong sách này, chúng tôi sẽ sử dụng ý nghĩa đó, để đặt câu hỏi tìm ý nghĩa của Kinh Thánh cho hoàn cảnh “ở đây và bây giờ.”
Nói cho cùng thì chính vấn đề của hiện tại đưa chúng ta đến với Kinh Thánh. Thế thì tại sao chúng ta không bắt đầu với nó? Tại sao lại phải bận tâm với việc giải kinh? Cùng một Đức Thánh Linh đã cảm thúc việc trước tác Kinh Thánh, chắn chắc cũng có thể linh cảm cho người đọc nó. Theo một nghĩa thì lập luận trên đúng, và chúng tôi không có ý định dùng sách này tước bỏ niềm vui của việc đọc Kinh Thánh dưỡng linh và ý thức giao thông trực tiếp với Chúa qua cách đọc Kinh Thánh như thế. Nhưng việc đọc dưỡng linh không phải là cách duy nhất. Ta còn phải đọc để học và hiểu nữa. Tóm lại, ta phải học nghiên cứu Kinh Thánh, để rồi chính điều này sẽ chỉ cho chúng ta cách đọc dưỡng linh. Ý niệm này dẫn chúng tôi đến chỗ nhấn mạnh rằng việc “giảng kinh” (hermeneutics) đúng đắn bắt nguồn từ việc “giải kinh” (exegesis) vững vàng.
Lý do khiến ta không bắt đầu với cái ở đây và bây giờ là vì sự kiểm soát thích hợp duy nhất cho giảng kinh chỉ tìm được trong ý định nguyên thuỷ của đoạn kinh văn. Như đã lưu ý ở phần đầu của chương sách này, đây là “ý nghĩa rõ ràng” mà ta cần khám phá. Nếu không, bất kỳ độc giả nào cũng có thể đưa vào đoạn kinh văn những gì họ muốn. Giảng kinh kiểu này là hoàn toàn chủ quan, và ai có thể phân định cách giải nghĩa của người này là đúng, còn của người kia là sai?
Ngược với tính chủ quan như thế, chúng tôi nhấn mạnh rằng ý nghĩa nguyên thủy của đoạn kinh văn trong phạm vi chúng ta có thể hiểu được là điểm kiểm soát khách quan. Chúng tôi tin rằng việc tín đồ Mormons làm báp-tem cho người chết dựa trên ICo1Cr 15:29, tín đồ Chứng Nhân Giê-hô-va chối bỏ thần tánh của Chúa Cứu Thế, những người bắt rắn sử dụng Mac Mc 16:18, hay “các nhà truyền giáo Phúc Âm thạnh vượng” biện hộ rằng giấc mơ của người Mỹ là giấc mơ đúng theo Cơ-đốc giáo dựa vào IIIGi 3Ga 1:3, đều là những cách giải nghĩa không đúng. Trong mỗi trường hợp, sai lầm nằm trong sự giảng kinh của họ vì nó không được kiểm soát bởi việc giải kinh đúng. Họ bắt đầu với cái “ở đây và bây giờ,” và đưa vào đoạn văn những điều không có trong ý nghĩa nguyên thủy. Nếu giảng kinh như vậy thì điều gì ngăn cản người ta giết con gái mình vì một lời thề dại dột, như trong trường hợp của Giép-thê (Cac Tl 11:29-40)?
Dĩ nhiên có người lý luận rằng nhận thức thông thường sẽ ngăn cản ta không làm những điều dại dột như thế. Nhưng rủi thay nhận thức thông thường không phải thông dụng như thế. Chúng ta muốn biết Kinh Thánh có ý nghĩa gì cho chúng ta - một cách chính đáng. Nhưng chúng ta không thể áp đặt lên Kinh Thánh điều gì mình muốn, rồi “gán” điều đó cho Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh không thể tự mâu thuẫn, và Ngài chính là Đấng đã cảm thúc phần ý nghĩa nguyên thủy. Vì vậy, Ngài giúp đỡ chúng ta khám phá ra phần ý nghĩa nguyên thủy, và hướng dẫn chúng ta khi chúng ta cố gắng ứng dụng cách trung tín phần ý nghĩa đó cho chính hoàn cảnh hiện tại của chúng ta!
Không phải dễ trả lời các câu hỏi trong công tác giảng kinh, có lẽ vì thế mà rất ít sách viết cũng như nhất trí với nhau cách thức hoàn thành công tác này. Tuy nhiên, đây là điều rất quan trọng, tín hữu cần học trao đổi - và biết lắng nghe nhau. Một điều mà ai ai cũng đồng ý với nhau: Đoạn kinh văn không thể có ý nghĩa mà nó không ngụ ý muốn nói. Hay nói theo phương diện tích cực, thì ý nghĩa đích thực của đoạn kinh văn cho chúng ta chính là điều mà Đức Chúa Trời muốn dạy dỗ khi Ngài phán điều đó lần đầu tiên. Đây là điểm khởi đầu. Từ khởi điểm này chúng ta phải thực hiện thế nào chính là điều căn bản mà quyển sách này muốn đề cập.
Chắc có người sẽ hỏi: “Nhưng ngoài ý định nguyên thủy đoạn kinh văn không thể có thêm một ý nghĩa (đầy đủ hơn, sâu hơn) nào khác sao? Dù sao thì điều này cũng đã xảy ra ngay trong Tân Ước theo cách mà thỉnh thoảng Tân Ước sử dụng Cựu Ước?” Trong trường hợp những lời tiên tri, chúng ta không thể loại trừ khả năng đó, và phải lý luận rằng, với sự kiểm soát cẩn thận, có thể có nghĩa thứ hai, hoặc nghĩa đầy đủ hơn. Nhưng ta phải biện minh thế nào ở những điểm khác? Vấn đề của chúng ta thật đơn giản. Ai là người sẽ nói thay cho Đức Chúa Trời? Giáo hội Công Giáo La Mã ít gặp khó khăn ở điểm này; thẩm quyền giáo hội sẽ quyết định mọi ý nghĩa đầy đủ hơn của đoạn kinh văn. Tuy nhiên, Giáo hội Tin Lành Cải Chánh không có thẩm quyền này, do đó chúng ta cần thận trọng khi một ai đó bảo rằng người ấy hiểu được ý nghĩa sâu nhiệm hơn của Đức Chúa Trời trong một đoạn kinh văn - đặc biệt là trường hợp khi đoạn kinh văn ấy chẳng hề mang ý nghĩa như ý nghĩa nó đang bị gán cho. Từ đây mà ra đủ thứ giáo phái và tệ hơn là các tà giáo.
Khó có thể đề ra các quy luật cho công tác giảng kinh. Vì vậy, những gì chúng tôi đề nghị qua các chương sau đều là những hướng dẫn. Có lẽ bạn sẽ không đồng ý với các hướng dẫn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng sự bất đồng ý kiến được kềm giữ trong tình yêu Cơ-đốc, và hy vọng các hướng dẫn của chúng tôi sẽ kích thích tư tưởng của chính bạn về những vấn đề này.


Công Cụ Căn Bản: Một Bản Dịch Tốt
Sáu mươi sáu sách trong bộ Kinh Thánh của Giáo Hội Tin Lành được viết bằng ba ngôn ngữ khác nhau: Hy Bá Lai (hầu hết Cựu Ước), A-ram (một ngôn ngữ cùng gốc với tiếng Hy Bá Lai được sử dụng cho phân nửa sách Đa-ni-ên và hai đoạn trong sách E-xơ-ra) và Hi Lạp (toàn bộ Tân Ước). Chúng tôi nghĩ rằng hầu hết độc giả của sách này không biết các ngôn ngữ ấy. Vì vậy, công cụ căn bản để bạn đọc và nghiên cứu Kinh Thánh là một bản dịch Anh ngữ tốt, hay như chúng tôi sẽ thảo luận trong chương này, là một số bản dịch Anh ngữ tốt (đối với người Việt Nam là bản dịch tiếng Việt tốt).
Như chúng tôi đã lưu ý trong chương trước, chính sự việc bạn đọc Lời Đức Chúa Trời qua một bản dịch có nghĩa là bạn đã tham gia vào công tác giải nghĩa rồi, cho dù bạn có thích hay không. Đọc bằng một bản dịch không phải là một việc xấu; đó chỉ là một việc không thể tránh được mà thôi. Tuy nhiên theo một ý nghĩa nào đó, người chỉ có thể đọc Kinh Thánh trong Anh ngữ phải chịu lệ thuộc vào các dịch giả, mà các dịch giả thường phải chọn lựa, xem nguyên văn Hi Bá Lai hay Hi lạp thật sự có ý nghĩa gì.
Điểm khó khăn khi ta chỉ dùng một bản dịch duy nhất cho dù nó tốt đến đâu, đó là ta đã tự phó thác cho các chọn lựa giải kinh của bản dịch như là Lời của Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên bản dịch bạn đang sử dụng có thể là đúng; nhưng cũng có thể là sai.
Thí dụ, hãy lấy đoạn dưới đây trong bốn bản dịch Anh ngữ ICo1Cr 7:36:
KJV: “Nếu một người nam tưởng mình đã đối xử không phải lẽ với người trinh nữ của mình...”
NASB: “Nếu một người nam tưởng mình đã có hành động không phải lẽ với con gái còn đồng trinh của mình...”
NIV: “Nếu có ai tưởng mình đã hành động không phải lẽ đối với người trinh nữ mà mình đã đính hôn”
NEB: “Nếu một người nam có một nữ cộng sự độc thân và cảm thấy mình không cư xử phải lẽ với nàng...”
Bản KJV rất sát với nghĩa đen, nhưng chẳng giúp ích được bao nhiêu, vì đã để cho từ ngữ “trinh nữ” và mối liên hệ giữa “người nam” với “người trinh nữ của mình” trở nên mơ hồ. Tuy nhiên, một điều ta có thể tuyệt đối chắc chắn: Phao-lô đã không chủ ý mơ hồ. Ông có ý nói đến một trong ba trường hợp phải chọn khác, và những người Cô-rinh-tô đã đặt vấn đề đó cho ông trong bức thư của họ biết rõ đó là vấn đề nào - và thật ra họ chẳng biết gì cả về hai vấn đề kia.
Điều lưu ý ở đây rằng không bản dịch nào trong số ba bản dịch kia là tệ cả, vì bản dịch nào cũng là một chọn lựa chính đáng cho rằng đó là ý định của Phao-lô. Tuy nhiên, chỉ có một trong số đó có thể là cách dịch đúng mà thôi. Vấn đề là: bản dịch nào đúng? Vì một số các lý do, bản dịch NIV phản ảnh sự chọn lựa giải kinh tốt nhất ở đây. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ thường xuyên đọc bản NASB mà thôi (là lựa chọn có vẻ tệ nhất ở đây) thì bạn đã tự buộc mình với cách giải nghĩa câu Kinh Thánh có thể là không đúng. Vấn đề này có thể có hằng ngàn thí dụ minh họa. Nếu vậy, phải làm gì đây?
Thứ nhất, việc chỉ dùng một bản dịch có thể là một thói quen tốt miễn là bản dịch đó phải thật tốt. Việc này sẽ giúp ích cho vấn đề học thuộc lòng, cũng như nó tạo cho bạn ý niệm trước sau như một. Hơn nữa, nếu bạn dùng một trong số các bản dịch tốt, bản dịch ấy sẽ có phần ghi chú lề ở những chỗ không rõ ý. Tuy nhiên, trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, bạn phải dùng một số bản dịch được chọn lựa kỹ. Điều tốt nhất cần làm là sử dụng các bản dịch mà ta biết trước là sẽ có chỗ khác nhau. Điều này sẽ chỉ rõ đâu là những chỗ có các vấn đề khó khăn về giải kinh. Để giải quyết các vấn đề ấy, nhiều lúc bạn sẽ cần đến sách giải nghĩa.
Nhưng bạn phải dùng bản dịch nào, và những bản dịch nào bạn cần dùng cho việc nghiên cứu? Không người nào có thể chọn thay cho người khác. Nhưng cách chọn của bạn không nên chỉ vì “Tôi thích nó” hay “Bản dịch này dễ đọc, dễ hiểu.” Chúng tôi muốn bạn thích bản dịch bạn có, và nếu đó là một bản dịch tốt, nó cũng sẽ dễ đọc, dễ hiểu nữa. Tuy nhiên, muốn có một chọn lựa thông minh, bạn cần biết vài điều liên hệ cả với chính khoa phiên dịch, cùng với một số các bản dịch khác nhau!
Khoa Phiên Dịch
Có hai loại lựa chọn cho một dịch giả: chọn lựa bản văn và chọn lựa ngôn ngữ. Loại thứ nhất liên quan đúng với từ ngữ và cách viết trong nguyên bản. Loại thứ hai liên quan với triết lý phiên dịch của dịch giả.
Vấn Đề Bản Văn
Mối quan tâm trước tiên của dịch giả là biết chắc bản văn Hi Bá Lai hay Hi văn mình dùng sát nhất với nguyên ngữ lúc nó mới được chính tác giả viết ra (hay của người sao chép vừa viết nó ra theo lời đọc của một người khác). Có phải đây là những gì tác giả Thi Thiên đã viết không? Có phải đây là lời của Mác hoặc Phao-lô không? Nếu đúng vậy, tại sao có người nghĩ khác đi?
Tuy các chi tiết về vấn đề bản văn của Cựu và Tân Ước có khác nhau, mối quan tâm chính vẫn như nhau: (1) không còn một nguyên bản (thủ bản) nào; (2) những gì còn lại là hằng ngàn bản chép tay (kể cả các bản sao của các bản dịch rất sớm), và được sao chép bằng tay qua một thời gian khoảng một ngàn bốn trăm năm; (3) tuy đa số các cổ bản cả Cựu lẫn Tân Ước xuất hiện từ thời gian cuối của thời trung cổ đều rất giống nhau, thì các thủ bản về sau này lại khác với các bản sao và bản dịch trước rất nhiều. Thật vậy, có trên năm ngàn cổ bản Hi văn sao một phần hoặc toàn bộ Tân Ước, cũng như hàng ngàn cổ bản bằng tiếng La tinh, nhưng đã chẳng hề có hai bản nào trong số đó hoàn toàn giống nhau.
Do đó, vấn đề là phải sàng lọc tất cả số tài liệu đã có, đối chiếu những chỗ mà các cổ bản có khác nhau (gọi là những “biến thể”), để xác định những biến thể nào là sai sót và biến thể nào thể hiện cách tốt nhất bản văn nguyên thuỷ. Tuy đây có vẻ như là một công tác nặng nề - và về một phương diện thì quả đúng như thế - người phiên dịch vẫn không ngã lòng, vì học được điều gì đó về phê bình bản văn, là khoa học tìm cách khám phá các nguyên bản từ những tài liệu cổ xưa.
Chủ đích của chúng tôi ở đây không nhằm cung cấp độc giả một phần nhập môn về khoa phê bình bản văn (textual criticism). Bạn có thể tùy tiện chọn trong số các bài viết của Bruce Waltke (Cựu Ước) và Gordon Fee (Tân Ước) trong bộ sách Biblical Criticism: Historical, Literary and Textual (Grand Rapids: Zondervan, 1978). Chủ đích của chúng tôi là đưa ra một số hiểu biết căn bản về khoa phê bình bản văn để bạn biết tại sao các dịch giả phải làm việc ấy, hầu bạn ý thức được rõ hơn về các ghi chú ngoài lề trong bản dịch của bạn khi thấy những câu như “các cổ bản có thẩm quyền khác thêm ...” hoặc “một số cổ bản không có ...”
Vì các chủ đích của chương này, có ba điều mà bạn cần biết:
1. Phê bình bản văn là một khoa học làm việc với nhiều kiểm soát thận trọng. Có hai loại chứng cứ mà dịch giả phải xét đến khi chọn các bản văn: ngoại chứng (đặc điểm và phẩm chất của các cổ bản) và nội chứng (các loại nhầm lẫn do những người sao chép tạo ra). Đôi lúc các học giả có ý kiến khác nhau về giá trị của những chứng cớ này, nhưng tất cả đều nhất trí rằng việc kết hợp các ngoại chứng và nội chứng mạnh lại với nhau giúp cho đa số những lựa chọn có phần dễ dàng. Nhưng với số còn lại, khi có hai dòng chứng cứ dường như đối chọi nhau, thì những việc chọn lựa sẽ càng khó khăn hơn.
Ngoại chứng liên quan với phẩm chất và tuổi của các cổ bản hậu thuẫn cho một biến thể nào đó. Đối với Cựu Ước, điều này thường là sự lựa chọn giữa các cổ bản Hi-bá-lai, hầu như tất cả đều là các bản sao thời trung cổ, và các cổ bản của các bản dịch Hi văn (bản Bảy Mươi, LXX), vốn có sớm hơn nhiều. Các công trình khảo học đã chứng minh rằng các cổ bản Hi Bá Lai phần lớn phản ảnh một văn bản rất cổ, nhưng vẫn thường phải được sửa chữa căn cứ theo bộ Bảy Mươi. Nhiều khi cả hai bản Hi Bá Lai lẫn Hi văn cũng không mang đến một nghĩa khả dĩ chấp nhận được, và gặp những trường hợp như thế các dịch giả phải phỏng đoán.
Đối với Tân Ước, ngoại chứng tốt hơn đã được bảo tồn tại Ai Cập. Khi chứng cứ sớm này cũng được hậu thuẫn bởi chứng cứ cũng sớm tương tự từ các khu vực khác của đế quốc La Mã, thì chứng cứ như thế được xem là có sức thuyết phục.
Nội chứng liên quan với những người sao chép và các tác giả. Khi các dịch giả gặp trường hợp phải chọn giữa hai biến thể hoặc nhiều hơn, họ thường có thể phát giác được cách viết nào là nhầm lẫn vì các thói quen và khuynh hướng sao chép, do đã được các học giả phân tích cẩn thận và bây giờ đã trở nên rõ ràng. Thường thường, chúng ta có thể xem biến thể nào đó là nguyên bản khi giải thích tốt nhất tại sao tất cả các biến thể khác có tình trạng như thế. Điều cũng quan trọng đối với dịch giả là phải biết rõ bút pháp và dụng ngữ của một tác giả Kinh Thánh nào đó, vì các điểm này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn bản văn.
Như đã ghi nhận, với phần lớn các biến thể được tìm thấy trong các cổ bản, ngoại chứng tốt nhất (hoặc tốt) kết hợp với nội chứng tốt nhất (hoặc tốt) sẽ càng củng cố tính chân xác liên quan đến nguyên bản. Ta có thể thấy rõ điều này bằng cách đối chiếu bản KJ (vốn dựa trên các cổ bản tồi và muộn về sau này) với một bản dịch hiện đại như NRSV hoặc NIV. Chúng tôi sẽ ghi ra ba biến thể để minh họa cho công tác phê bình bản văn.
ISa-mu-ên 8:16
KJV: “những trai tráng đẹp đẽ nhất của các ngươi và những con lừa của các ngươi”
NIV: “những con tốt nhất trong bầy gia súc và lừa của các người”
Bản văn của NIV (bầy gia súc) xuất xứ từ bộ Bảy Mươi, là bản dịch Hi văn dễ đọc và dễ hiểu của Cựu Ước đã được thực hiện tại Ai Cập vào khoảng từ 250-150 T.C. Bản KJV dựa theo bản văn Hi Bá Lai thời trung cổ dịch là “những trai tráng,” một chữ khó có thể được dùng song hành với “những con lừa.” Nguồn gốc của việc chép sai trong văn bản Hi Bá Lai mà bản KJV dựa theo rất dễ hiểu. Từ ngữ chỉ “những trai tráng của các ngươi” trong Hi Bá Lai văn là bhrykm, trong khi chữ “bầy gia súc của các ngươi” là bqrykm. Chỉ cần một mẫu tự chép sai của một người sao chép đã dẫn đến hậu quả là ý nghĩa bị thay đổi. Bộ Bảy Mươi đã được phiên dịch một thời gian trước khi có việc sao chép sai, do đó nó giữ được từ ngữ “bầy gia súc” của nguyên bản. Việc ngẫu nhiên đổi thành “các chàng trai của các ngươi” đã được thực hiện về sau, ảnh hưởng đến các cổ bản Hi Bá Lai của thời trung cổ nhưng đã quá muộn để có thể ảnh hưởng đến bộ Bảy Mươi của thời tiền trung cổ.
Mác 1:2
KJV: “như đã được viết trong các sách tiên tri …”
NIV: “như đã được viết trong sách của Ê-sai, nhà tiên tri …”
Bản văn của NIV được tìm thấy trong tất cả các cổ bản Hi văn xưa. Nó cũng là bản văn duy nhất được tìm thấy trong tất cả các bản dịch xưa (La văn, Ai Cập cổ, Sy-ri cổ) và là bản văn duy nhất được toàn thể các giáo phụ trước thế kỷ thứ chín biết, ngoại trừ một người. Thật là dễ thấy điều đã xảy ra cho các cổ bản Hi văn về sau này. Vì phần trích dẫn tiếp theo đó là một kết hợp giữa MaMl 3:1 và EsIs 40:3, cho nên một người sao chép về sau đã “sửa” nguyên bản của sách Mác để nó chính xác hơn.
I Cô-rinh-tô 11:29
KJV: “người nào ăn và uống cách không xứng đáng”
NIV: “ai ăn và uống”
Những chữ “cách không xứng đáng” không thấy trong bất kỳ một cổ bản Hi văn sớm nhất và tốt nhất nào. Việc nó có mặt trong các bản dịch La tinh và các cổ bản Hi văn muộn hơn có thể dễ dàng giải thích như là một phần thêm vào được chuyển từ câu 27 sang, là chỗ “tất cả” các cổ bản được biết đều có chữ “cách không xứng đáng.” Không có cách nào giải nghĩa thoả đáng về việc thế nào nó lại bị bỏ đi trong câu 29 trong tất cả các cổ bản đầu tiên, nếu nó đã có ở đó từ đầu.
Ở đây, thiết tưởng cần lưu ý rằng phần lớn các dịch giả đều căn cứ vào các văn bản Hi văn và Hi Bá Lai văn đã được khảo cứu cẩn thận và nghiêm nhặt rồi. Với Tân Ước thì điều đó có nghĩa là “bản văn tốt nhất” đã được các học giả vốn là các chuyên gia trong lãnh vực ấy xác định. Nhưng nó cũng có nghĩa rằng, với cả Cựu lẫn Tân Ước, bản thân các dịch giả có thể tiếp cận với một “trang bị” (phần thông tin về văn bản trong các ghi chú lề) gồm luôn các biến thể có ý nghĩa mà cổ bản của họ hậu thuẫn cho.
2. Tuy phê bình bản văn là một ngành khoa học, nó không phải là một khoa học chính xác, bởi vì nó liên hệ đến quá nhiều biến thể con người. Thỉnh thoảng, nhất là khi công tác phiên dịch là một công tác tập thể của một ủy ban, bản thân các dịch giả cũng hoàn toàn đồng ý với nhau trong vấn đề biến thể nào theo đúng nguyên văn, còn biến thể nào là sai lầm của người sao chép. Khi gặp trường hợp như thế, thường thì chọn lựa của đa số sẽ được đưa vào bản dịch chính thức, trong khi chọn lựa của thiểu số được đưa ra phần ghi chú ngoài lề.
Lý do cho sự không chắc chắn, hoặc là vì chứng cứ tốt nhất của cổ bản mâu thuẫn với cách giải nghĩa tốt nhất của sai sót, hoặc vì chứng cứ cổ bản ngang ngửa nhau và không có biến thể của bên nào có thể giải thích được biến thể kia đã xuất hiện ra sao. Chúng tôi có thể minh họa trường hợp này bằng ICo1Cr 13:3:
Bản văn của NIV: “bỏ thân mình để chịu đốt.”
Ghi chú lề của NIV: “bỏ thân mình để tôi có thể khoe khoang.”
Trong Hi văn, chỗ khác nhau chỉ là một mẫu tự: kauqhswmai / ??????kauchswmai. Cả hai biến thể đều có hậu thuẫn tốt từ rất sớm, và cả hai đều có nhiều khó khăn cho việc giải nghĩa (I Cô-rinh-tô đã được viết trước khi các Cơ Đốc nhân chịu tử đạo bằng cách thiêu sống; thế nhưng thật là khó tìm cho ra một cách giải nghĩa thích hợp cho câu “để tôi có thể khoe khoang”). Đây là một trong nhiều chỗ mà một bộ giải nghĩa tốt có lẽ rất cần thiết để bạn tự quyết định.
Thí dụ trên đây cũng là một dịp tốt để chúng tôi đưa bạn quay trở lại với chương sách trước. Bạn sẽ ghi nhận được rằng việc chọn bản văn đúng là một trong các vấn đề về “nội dung.” Một nhà giải kinh giỏi phải biết trong số những lời lẽ đó thì những lời nào là do chính Phao-lô viết ra. Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng cuối cùng thì luận điểm của Phao-lô ở đây chỉ chịu ảnh hưởng rất ít của sự lựa chọn đó. Trong cả hai trường hợp, ông đều ngụ ý nói rằng giả sử có ai phải liều thân vì một sự hi sinh cùng cực nào đó, hoặc một việc làm tương tự như thế mà thiếu tình thương, thì tất cả đều phí công vô ích.
Vậy, đây là điều muốn nói khi bảo rằng các dịch giả phải chọn lựa bản văn, mà nó cũng giải thích một trong các lý do tại sao các bản dịch nhiều khi lại khác nhau - và cũng giải thích tại sao bản thân các dịch giả cũng chính là những người giải nghĩa nữa. Trước khi chúng ta chuyển sang lý do thứ ba, tại sao các bản dịch lại khác nhau, thiết tưởng cần đưa ra một điều đáng lưu ý ở đây liên hệ đến bản Kinh Thánh Anh ngữ King James.
3. Bản King James chẳng những là bản dịch được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới, mà còn là cách diễn tả cổ điển của Anh ngữ. Lẽ tất nhiên, nó đã đúc khuôn cho nhiều câu Anh ngữ sẽ thể hiện vĩnh viễn. Tuy nhiên, về Tân Ước thì bản văn Hi văn duy nhất nằm trong tay các dịch giả hồi năm 1611 được căn cứ trên các cổ bản muộn về sau này, vốn chứa các sai lầm của trên một ngàn năm sao đi chép lại. Một số các nhầm lẫn ấy - mà chúng ta phải lưu ý là có rất nhiều sai lầm như thế - không tạo khác biệt về phương diện giáo lý đối với chúng ta, nhưng chúng thường tạo ra một khác biệt về ý nghĩa của một số đoạn kinh văn đặc biệt.
Chính vì thế mà trong việc nghiên cứu, bạn phải sử dụng gần như bất luận một bản dịch hiện đại nào chứ không phải chỉ dùng bản King James mà thôi. Cách chọn giữa các bản dịch hiện đại đưa chúng ta sang loại chọn lựa tiếp theo mà các dịch giả phải thực hiện.
Các Vấn Đề Ngôn Ngữ
Hai loại chọn lựa tiếp theo - từ ngữ và văn phạm - đưa chúng ta đến với khoa phiên dịch đích thực. Vấn đề liên quan đến việc chuyển các từ ngữ và ý niệm từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Muốn hiểu rõ các lý thuyết khác nhau ẩn dưới các bản dịch hiện đại, bạn cần làm quen với các thuật ngữ sau đây:
Nguyên ngữ: Ngôn ngữ mà từ đó được phiên dịch ra; trong trường hợp của chúng ta, đó là ngôn ngữ Hi Bá Lai, A-ram, hoặc Hi văn.
Ngôn ngữ phiên dịch: Ngôn ngữ một người dùng để dịch; trong trường hợp chúng ta đang thảo luận là Anh ngữ.
Cách biệt lịch sử: Liên hệ đến những điểm khác nhau giữa nguyên văn với ngôn ngữ phiên dịch, cả trong các vấn đề về từ ngữ, văn phạm và những thành ngữ cũng như trong các vấn đề về văn hóa và lịch sử.
Lý thuyết về phiên dịch: Điều này liên hệ đến mức độ mà ta sẵn sàng chấp nhận nhằm khỏa lấp khoảng cách giữa hai ngôn ngữ. Thí dụ có thể dịch đèn là “đèn pin” hay “đuốc” trong các nền văn hóa mà nó được sử dụng để phục vụ cho chủ đích mà cây đèn đã được dùng trước đây không? Hay là ta cứ dịch là “đèn” và để mặc cho độc giả tự khỏa lấp khoảng cách? Có nên dịch cái hôn thánh là “cái bắt tay trong tình thương yêu Cơ Đốc” trong những nền văn hóa mà việc hôn ở chỗ công khai bị xem là cớ vấp phạm?
Cần lưu ý cách thức ba từ ngữ ấy được áp dụng vào ba lý thuyết phiên dịch sau đây:
Dịch theo nghĩa đen (literal): Cố gắng phiên dịch mà vẫn giữ càng sát với các từ ngữ và cách đặt câu đúng với nguyên ngữ, nhưng vẫn có ý nghĩa trong ngôn ngữ phiên dịch. Dịch theo nghĩa đen sẽ giữ cho cách biệt lịch sử được giữ vẹn trong mọi điểm.
Dịch tự do (Free): Chỉ cố gắng dịch các ý niệm từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, ít quan tâm đến nguyên ngữ chính xác. Một bản dịch tự do, có khi được gọi là bản dịch diễn ý, cố tìm cách loại bỏ cách biệt lịch sử được nhiều bao nhiêu càng hay bấy nhiêu.
Tương đương năng động (Dynamic equivalence): Cố gắng phiên dịch các từ ngữ, thành ngữ và các cấu trúc văn phạm của nguyên ngữ bằng những từ ngữ, thành ngữ và các cấu trúc văn phạm tương đương chính xác trong ngôn ngữ phiên dịch. Cách dịch này giữ nguyên cách biệt lịch sử của tất cả các vấn đề lịch sử và phần lớn các sự kiện, nhưng “cập nhật hóa” các vấn đề về ngôn ngữ, văn phạm và bút pháp.
Không phải lúc nào các dịch giả cũng nhất quán, nhưng một trong các nguyên tắc trên đây phải chi phối cách tiếp cận căn bản của dịch giả đối với công tác của mình. Nhiều khi cách dịch theo nghĩa đen hoặc tự do có thể là quá đáng, như Clarence Jordan trong bản Cotton patch Version của ông đã dịch bức thư của Phao-lô cho thành phố Rô-ma, là cho thành phố Washington (!), trong khi Robert Young, trong bản dịch theo nghĩa đen được phát hành năm 1862, đã biến ICo1Cr 5:1 thành một thứ Anh ngữ khó có thể chấp nhận được: “Chuyện đĩ điếm đã thật sự được bàn tán giữa anh em, mà một chuyện đĩ điếm như thế là điều chưa từng được nghe nói cả đến giữa các dân tộc khác - tức là có người đã lấy vợ của cha mình (!)”
Các bản dịch toàn bộ Kinh Thánh thông dụng có thể được xếp (cách chủ quan) theo mức độ cách biệt lịch sử như sau:
Tương đương
Nghĩa đen năng động Tự do
_________________________________________ __ __ __ __ __ __ __
KJV RSV NRSV NIV GNB PHILLIPS LB
NASB NAB JB
NEB
Nguyên tắc phiên dịch hay nhất là tương đương năng động (dynamic equivalence). Một bản dịch theo nghĩa đen thường giúp ích như một nguồn thứ cấp; nó sẽ cho phép bạn tự tin vì biết những chữ Hi lạp hay Hi Bá Lai như thế nào. Một bản dịch tự do cũng có thể hữu ích - để kích thích bạn suy nghĩ về ý nghĩa khả hữu của một bản văn. Nhưng bản dịch cơ bản để đọc và nghiên cứu phải đại khái giống như NIV.
Nan đề của một bản dịch theo nghĩa đen là nó giữ khoảng cách ở những chỗ có nhầm lẫn về ngôn ngữ và văn phạm. Như dịch giả thường chuyển từ Hi văn hoặc Hi Bá Lai sang Anh ngữ điều mà nếu không gặp trường hợp đó người ta sẽ chẳng bao giờ viết hay nói như vậy. Cũng ví như dịch hai chữ Hán “bạch mã” ra là “trắng ngựa” trong tiếng Việt. Thí dụ, chẳng hề có người Anh chính gốc nào lại nói “coals of fire” (“than lửa đỏ” KJV, RoRm 12:20). Đó là cách dịch theo nghĩa đen, đúng nguyên văn từng chữ từng tiếng theo cách đặt câu của Hi văn, trong khi ý nghĩa của nó trong Anh ngữ là “burning coals” (NIV) hoặc “live coals” (NEB).
Nan đề thứ hai với cách dịch theo nghĩa đen là nó thường khiến cho câu tiếng Anh trở thành mơ hồ, trong khi câu Hi văn hoặc Hi Bá Lai văn vốn hết sức rõ ràng cho độc giả đầu tiên. Thí dụ như câu Hi văn trong IICo 2Cr 5:16 kata sarka có thể dịch từng chữ từng tiếng theo nghĩa đen là “(biết) theo xác thịt” (như trong bản NASB). Nhưng đó không phải là cách nói bình thường trong tiếng Anh. Hơn nữa, ý nghĩa của câu này rất mơ hồ. Phải chăng người được biết là người “sống theo xác thịt”, điều mà dường như bản NASB ngụ ý muốn nói mà trường hợp ở đây sẽ có nghĩa đại khái như: “theo diện mạo bên ngoài”? Hay là người “biết” chỉ biết “theo xác thịt,” mà như thế sẽ có nghĩa là “theo quan điểm thế gian?” Trong trường hợp này, bản Hi văn vốn rất rõ ràng, và bản NIV đã dịch rất đúng là “cho nên từ nay trở đi (từ khi chúng ta đã được khiến sống lại để có một đời sống mới, câu 15) chúng ta sẽ chẳng nhìn ai theo quan điểm thế gian nữa.”
Mặt khác, vấn đề với một bản dịch tự do, nhất là cho mục đích nghiên cứu, là dịch giả cập nhật hóa tác giả nguyên thủy quá nhiều. Một “cách dịch” như thế rất dễ rơi vào chỗ gần giống với một sách giải nghĩa. Một bản dịch tự do luôn luôn do một dịch giả duy nhất thực hiện, và trừ phi dịch giả ấy đồng thời cũng là một nhà giải kinh tài ba, biết rõ nhiều vấn đề trong tất cả các khúc Kinh Thánh, bằng không sẽ có nguy cơ là độc giả sẽ bị dẫn đi sai lạc. Điều này đặc biệt nghiệm đúng cho bản dịch Living Bible, một bản dịch rất phổ biến nhưng rủi thay lại không hoàn toàn chính xác. Chúng ta có thể tạm chấp nhận những cách dịch như “flashlights” (“đèn pin” trong Thi Tv 119:105) hoặc “handshakes” (“bắt tay” trong IPhi 1Pr 5:14) hay “pancakes” (“bánh kếp” trong SaSt 18:6), nhưng dịch từ ngữ Hi văn carismata (các ân tứ thuộc linh) là “special abilities” (các khả năng đặc biệt) trong ICo1Cr 12:1-14:40 là quá phóng ý. Cách bản Living Bible dịch ICo1Cr 11:10 là “như một dấu hiệu rằng nàng ở dưới uy quyền người nam” đưa người ta đến chỗ hiểu sai, vì nguyên văn hàm ý rằng nàng là người có uy quyền. Trong IPhi 1Pr 5:13 tác giả Kinh Thánh có ẩn ý khi thay Rô-ma bằng Ba-by-lôn; chắc chắn tốt hơn là phải giải thích điều đó ở một chỗ nào khác chứ không nên dịch là Rô-ma, và hủy đi ẩn ý có mục đích của Phi-e-rơ. Bản dịch Living Bible rất dễ đọc, dễ hiểu, chỉ có điều là cũng có quá nhiều điểm không chính xác và diễn ý không thể trở thành quyển Kinh Thánh duy nhất - hoặc thậm chí căn bản - của một ai đó.
Bộ New Revised Standard Version (NRSV) chính xác hơn bộ Living Bible và không phải là một bản dịch tự do, nhưng nó có một số chỗ nói trổng khi đề cập đến người. Hậu quả của việc này nhiều khi tạo ra loại Anh ngữ bất bình thường, nghĩa là “đúng cách thận trọng” nhưng không mang sắc thái Anh ngữ lắm. Thí dụ như trong GiGa 3:4 bản NRSV có một câu khó hiểu: “Một người há có thể trở vào lòng mẹ một lần thứ hai để lại được sinh ra?” so với cách dịch bình thường của bản RSV nguyên thủy: “Có thể nào người ấy lại trở vào lòng mẹ mình một lần thứ hai để được sanh ra?” Cũng thế, với Thi Tv 1:1-8, trong khi bản RSV đã giữ lại nét tương phản hữu ý giữa người công chính đơn độc (“Phước cho người...” câu 1) với nhiều kẻ gian ác (“Kẻ ác chẳng như vậy đâu...” câu 4). Nét tương phản này đã bị bản NRSV loại bỏ bằng cách biến các nhân vật trong cả bài thi thiên này thành số nhiều vì cố gắng muốn tránh những điều phân biệt về giống, vốn xảy ra với các đại danh từ số ít.
Cách thức nhiều bản dịch áp dụng đối với vấn đề khoảng cách lịch sử có thể được ghi nhận rõ ràng hơn bằng cách minh họa nhiều loại vấn đề liên hệ.
1. Cân, đo, tiền bạc: Đây là một lãnh vực đặc biệt khó khăn. Ta nên chuyển tự các thuật ngữ Hi văn và Hi Bá Lai (ephah, homer, vv...) hay tìm các từ Anh ngữ tương đương? Nếu ta chọn cách đưa ra các từ ngữ tương đương về cân, lường, thì nên dùng “pounds” và “feet” để làm chuẩn, hay phải nhìn vào tương lai để dịch ra là “lít” và “mét”? Lạm phát có thể chế nhạo các từ ngữ tương đương về tiền bạc chỉ sau vài năm. Vấn đề còn phức tạp hơn do sự kiện các đơn vị đo lường hoặc tiền bạc thường được dùng để gợi ý về tương phản hoặc các hậu quả gây kinh ngạc, như trong Mat Mt 18:24-28 hay EsIs 5:10. Trong những trường hợp này thì chuyển tự sẽ có khả năng làm cho độc giả Anh ngữ không nắm được luận điểm của khúc sách.
Bản KJV, được hai bản RSV và NRSV theo sát, vốn không nhất quán trong vấn đề này. Phần lớn các bản này đều chuyển tự, nên chúng ta gặp những “bát”, “ê-pha”, “ô-me”, “siếc-lơ” và “ta-lâng”. Thế nhưng, ’ammah trong Hi Bá Lai lại được dịch ra là “cu-đê”, zereth là gang (tay), còn mna (mina) trong Hi văn lại trở thành pound của người Anh, trong khi denarius lại chỉ trở thành đồng xu. Với người Hoa Kỳ thì tất cả những điều đó đều vô nghĩa hoặc dẫn đến chỗ hiểu sai.
Bản NASB dùng “cubit” và “span” nhưng ngoài trường hợp này ra, thì luôn luôn chuyển tự rồi ghi từ ngữ Anh văn tương đương ngoài lề (xem GiGa 2:6 chỗ phần chuyển tự được ghi ngoài lề!). Đây cũng là cách chọn của bản NIV ngoại trừ từ ngữ “cubits” được đổi ra feet, và tất cả các ghi chú bên lề đều có cả các chuẩn mực của người Anh lẫn các đơn vị đo lường tương đương. Tai hại thay, người ta lại chẳng chú thích gì cả trong Mat Mt 20:2 chỗ mà sự kiện đồng đơ-ni-ê (denarius) là tiền lương phổ biến hằng ngày vốn rất quan trọng để hiểu rõ ẩn dụ ấy; hơn nữa, trong Mac Mc 14:5 người ta lại hoàn toàn bỏ đi nguyên tắc này bằng cách dịch ba trăm đơ-ni-ê thành một giá trị tương đương là “tiền lương của hơn một năm.”
Bản Living Bible đổi tất cả thành các giá trị tương đương, nhưng thường lại không chính xác, và cách đổi đồng đơ-ni-ê thành Mỹ kim (đô-la) của những năm 1960, dù thế nào đi nữa cũng chỉ là một phương thức bất ổn.
Chúng tôi nghĩ rằng cả hai cách dùng các giá trị tương đương hoặc chuyển tự kèm theo phần ghi chú bên lề đều là phương thức tốt với phần lớn các đơn vị đo lường. Tuy nhiên cách sử dụng các giá trị tương đương chắc chắn được ưa chuộng hơn trong các khúc sách như EsIs 5:10 và Mat Mt 18:24-28. Lưu ý cách dịch mấy câu sau đây để thấy bản GNB có nhiều ý nghĩa hơn bản NASB:
Ê-sai 5:10
NASB: “Mười mẫu vườn nho chỉ đem lại một bát rượu; một ô-me hột giống sẽ mang lại một ê-pha bột.”
GNB: “Nho trồng trên năm mẫu đất sẽ chỉ đem lại năm gallông rượu. Mười giạ hột giống sẽ chỉ mang lại một giạ mà thôi.”
Ma-thi-ơ 18:24, 28
NASB: “Có người đem nộp một tên kia mắc nợ một vạn ta-lâng...Nhưng khi đầy tớ đó ra về, gặp một người bạn cũng là nô lệ, thiếu mình một trăm đơ-ni-ê...”
GNB: “Có một tên trong đám họ mắc nợ người đến hàng triệu Mỹ kim ... Rồi tên ấy đi ra, gặp một người bạn cũng là nô lệ, chỉ thiếu mình có vài Mỹ kim mà thôi.”
2. Uyển ngữ (euphemisms, lối nói gián tiếp): Hầu như tất cả các ngôn ngữ đều có các uyển từ cho các vấn đề tình dục hoặc vệ sinh. Một dịch giả có một trong ba cách chọn khi gặp các vấn đề ấy: (1) dịch đúng nguyên văn theo nghĩa đen, mặc cho độc giả bị ngỡ ngàng, hoặc phải tự phỏng đoán lấy, (2) dịch bằng một từ ngữ tương đương theo nghĩa đen, nhưng có lẽ gây khó chịu cho người đọc hoặc (3) dịch bằng một uyển từ tương đương.
Cách chọn thứ ba có lẽ là hay nhất, nếu có một uyển từ thích hợp. Nếu không thì tốt hơn là chọn giải pháp thứ hai, nhất là khi gặp các vấn đề nói chung chẳng đòi hỏi các uyển từ trong ngôn ngữ được dịch ra. Chẳng hạn như Ra-chên nói: “Con có kinh nguyệt” (Sáng Thế Ký 31:35 NIV, đối chiếu GNB) thì hay hơn là cách dịch theo nghĩa đen “con có việc riêng của phụ nữ” (NASB, đối chiếu KJV, RSV). Cùng một thành ngữ trong Sáng 18:11 bản GNB vẫn nhất quán (“Sa-ra không còn có kinh nguyệt nữa”), trong khi bản NIV thì dịch tự do hơn (“Sa-ra đã quá tuổi có con”). Cũng tương tự như thế, “Người cưỡng bức nàng, và nằm cùng nàng” (IISa 2Sm 13:14 KJV) trở thành khá đơn giản là “người cưỡng hiếp nàng” trong các bản NIV và GNB.
Tuy nhiên, trong vấn đề này có thể có nguy cơ, nhất là khi bản thân các dịch giả không nắm vững được ý nghĩa của thành ngữ, như ta có thể thấy trong cách cách dịch ICo1Cr 7:1 của NIV, GNB và LB là “Đàn ông không cưới vợ thì hay hơn.” Thành ngữ “đụng đến phụ nữ” trong tất cả các trường hợp khác thời xưa, có nghĩa là giao hợp với một phụ nữ, nhưng chẳng bao giờ có chút hàm ý gì với việc “cưới vợ.” Ở đây, bản NAB đã tìm được một uyển từ tương đương được ưa chuộng hơn “một người đàn ông chẳng có liên hệ gì với một phụ nữ thì hay hơn.”
3. Từ vựng. Khi một số đông người nghĩ đến vấn đề phiên dịch, thì đây là lãnh vực họ thường nghĩ đến nhất. Sự việc dường như chỉ là một việc làm đơn giản: tìm một từ ngữ trong ngôn ngữ cần dịch ra có cùng một ý nghĩa với từ ngữ Hi Bá Lai hoặc Hi văn. Nhưng tìm đúng chữ - chính là điểm khiến cho việc phiên dịch trở thành hết sức khó khăn. Một phần của sự khó khăn không những chỉ do việc chọn một từ ngữ trong ngôn ngữ cần được dịch ra cho thật thích hợp, mà còn phải chọn một chữ vốn không có những hàm ý xa lạ với nguyên văn.
Vấn đề còn trở thành phức tạp hơn cho sự kiện một số các từ ngữ Hi Bá Lai hoặc Hi văn vốn có khoảng rộng ý nghĩa khác với bất cứ một từ ngữ nào khác trong ngôn ngữ cần được dịch ra. Thêm vào đó, một số từ ngữ còn có nhiều nghĩa bóng, cũng như có hai hoặc nhiều nghĩa khác hẳn. Việc cố ý chơi chữ thường là điều không thể nào dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác được.
Chúng tôi đã lưu ý nhiều bản dịch đã chọn nhiều cách khác nhau để giải nghĩa chữ “trinh nữ” trong ICo1Cr 7:36 như thế nào. Trong chương 1, chúng tôi cũng đã ghi nhận chỗ khó khăn khi dịch chữ sarx (“xác thịt”) theo cách dùng của Phao-lô. Trong phần lớn các trường hợp, hầu như chẳng còn có chữ nào hay hơn là chữ “xác thịt” theo nghĩa đen. Bản NIV vận dụng thật hay từ ngữ này: “bản tính tội lỗi” khi Phao-lô nêu lên điểm tương phản giữa “xác thịt” và “thần linh,” nhưng lại dịch là “bản tính con người” trong RoRm 1:3 khi nó đề cập Chúa Giê-xu là hậu duệ của Đa-vít, “theo quan điểm của người thế gian” trong IICo 2Cr 5:16 như đã lưu ý ở phần trên (đối chiếu ICo1Cr 1:26 “theo chuẩn mực của loài người”) và “thân thể” khi nó có nghĩa như thế (như trong ICo1Cr 1:22).
Điều này có thể minh họa nhiều lần và là một trong nhiều lý do khiến tại sao một bản dịch theo nguyên tắc tương đương năng động được ưa chuộng hơn nhiều, so với một bản dịch theo nghĩa đen, đúng nguyên văn từng chữ từng tiếng một.
4. Văn phạm và cú pháp. Tuy phần lớn các ngôn ngữ Ấn-Âu vốn có nhiều điểm tương đồng, mỗi ngôn ngữ đều có cách cấu trúc được ưa thích riêng về cách thức các từ ngữ và ý niệm có liên hệ với nhau như thế nào trong các câu. Chính tại các điểm đặc biệt này mà một bản dịch theo thuyết tương đương năng động được ưa chuộng hơn. Một bản dịch theo nghĩa đen có xu hướng lạm dụng hay “xem thường” các cấu trúc thông thường của ngôn ngữ được dịch ra bằng cách trực tiếp chuyển cú pháp và văn phạm của nguyên văn sang cho nó. Cách chuyển trực tiếp như thế thường có thể làm được đối với ngôn ngữ được dịch ra, nhưng rất ít khi được ưa chuộng. Từ mấy trăm thí dụ, chúng tôi xin chọn hai để minh họa, một từ Hi văn và một từ Hi Bá Lai.
a. Một trong nhiều đặc điểm của Hi văn là thường dùng các cấu trúc thuộc cách (genitive constructions). Thuộc cách là trường hợp bình thường của sở hữu cách, như trong “my book”. Quyền sở hữu đích thực đó còn có thể được dịch ra - nhưng một cách thô thiển - là “quyển sách của tôi” (the book of me). Tuy nhiên, chẳng hạn nhiều “sở hữu cách” khác trong Anh ngữ như “ân điển của Đức Chúa Trời” (God’s grace) vốn không thiên quá nhiều về ý nghĩa như Đức Chúa Trời sở hữu ân điển, cho bằng là Ngài ban nó ra hoặc nó xuất phát từ Ngài. Những điều sở hữu “không thật” như thế luôn luôn có thể dịch ra Anh ngữ là “ân điển của Đức Chúa Trời” (the grace of God).
Hi văn có vô số loại thuộc cách sau này, chẳng hạn như chúng được sử dụng làm tính từ mô tả, diễn tả nguồn gốc, nói lên các mối liên hệ đặc biệt giữa hai danh từ, vv... Một bản dịch đúng nguyên văn theo nghĩa đen hầu như bao giờ cũng chuyển những câu như thế sang Anh ngữ bằng một câu có chữ “của”, nhưng thường lại tạo ra nhiều hậu quả dị thường như “coals of fire” (RoRm 12:20) đã được lưu ý ở phần trên, hoặc “lời của quyền phép Ngài” (HeDt 1:3 KJV). Cả hai trường hợp này đều rõ ràng là tính từ hay thuộc cách mô tả, mà trong bản NIV được dịch chính xác hơn là “than đang cháy” và “lời quyền năng của Ngài” (his powerful word). Cũng tương tự như thế, hai câu “sự vững vàng của hi vọng” (ITe1Tx 1:3) và “niềm vui của Đức Thánh Linh” (1:6) của bản NASB đã được bản NIV dịch là “lòng kiên trì nhẫn nhục do hi vọng linh cảm” và “niềm vui do Đức Thánh Linh ban cho.” Những trường hợp này không những chỉ được ưa chuộng hơn mà sự thật còn chính xác hơn nữa, vì chúng đưa ra một câu Anh ngữ có ý nghĩa tương đương, chứ không phải là một câu văn dịch theo nghĩa đen theo cách diễn tả sự việc của Hi văn, điều mà trong Anh ngữ gần như là vô nghĩa.
Có một điều khá lý thú, là một trong những chỗ hiếm hoi khi bản KJV (được bản RSV noi theo, nhưng bản NASB thì không) đưa ra một câu dường như tương đương (ICo1Cr 3:9), nhưng các dịch giả đã hoàn toàn đánh mất ý nghĩa của thuộc cách. Rõ ràng là họ đã bị từ ngữ bạn đồng công (fellow-workers) dẫn đi lạc, do đó đã dịch là “Vì chúng tôi là những người cùng lao động với Đức Chúa Trời: anh em là ruộng của Đức Chúa Trời, anh em là nhà của Đức Chúa Trời.” Nhưng trong câu viết của Phao-lô, mỗi lần chữ Đức Chúa Trời xuất hiện đều rõ ràng là một thuộc cách sở hữu, với điểm nhấn mạnh cả trên chúng tôi (Phao-lô và A-bô-lô) lẫn anh em (Hội Thánh như ruộng và nhà của Đức Chúa Trời) đều thuộc về Ngài. Câu này đã được bản NIV dịch rất đúng là “vì chúng tôi là bạn cùng làm việc của Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời, là nhà của Đức Chúa Trời.” Luận điểm của Phao-lô còn được bản NASB nêu lên rõ ràng hơn nữa: “Chúng tôi là bạn đồng công của Đức Chúa Trời, trong khi anh em là mùa màng Ngài vun trồng, nhà cửa Ngài xây cất.”
b. Trong Cựu Ước của bản KJV có đến hàng ngàn lần các dịch giả đã theo sát thứ tự các từ ngữ trong tiếng Hy Bá Lai nên không thể nào tạo ra được một thứ Anh ngữ bình thường, phù hợp với tính chất riêng của nó. Chẳng hạn như có bao giờ bạn thử chú ý xem có bao nhiêu mệnh đề (hay câu) trong bản KJV đã bắt đầu bằng chữ và (and) hay không? Hãy đọc Sáng Thế ký 1:1-31 và để ý là chỉ có một ngoại lệ duy nhất ở câu 1, tất cả các câu trong chương 1 đều bắt đầu bằng và, tổng cộng là ba mươi lần. Bây giờ hãy đối chiếu với bản NIV. Bản này đã rút bớt con số ấy xuống còn 11, trong khi đồng thời đã trau dồi được sự trôi chảy của ngôn ngữ khiến nó được nghe cách tự nhiên hơn.
Các dịch giả của bản NIV đã thực hiện và cải tiến bản dịch bằng cách coi trọng sự kiện đại đa số các câu văn xuôi trong bộ Cựu Ước tiếng Hy Bá Lai đều bắt đầu bằng một trong hai hình thức của nó khi dùng từ và. Thậm chí chữ và xuất hiện khi điều đi trước hoàn toàn chẳng có liên hệ gì với câu ấy. Thật vậy, sáu sách của Cựu Ước (Giô-suê, Các Quan Xét, I Sa-mu-ên, E-xơ-ra, Ru-tơ và Ê-xơ-tê) bắt đầu trong tiếng Hy Bá Lai bằng chữ và, tuy chúng chẳng tiếp theo cái gì cả. Các nhà ngữ pháp học về Hy Bá Lai văn hiện nay nhìn nhận rất đúng rằng chữ “và” ở đầu câu rõ ràng là cách dùng tương đương với việc dùng chữ hoa ở đầu các câu Anh ngữ. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng từ và của Hy Bá Lai văn chẳng bao giờ nên được dịch ra bằng từ và trong Anh ngữ, mà chỉ đơn giản có nghĩa rằng từ và chỉ đôi khi - và chắc chắn không phải là trong đại đa số các trường hợp - mới là cách dịch tốt sang Anh ngữ. Câu Anh ngữ đơn giản bắt đầu bằng một mẫu tự viết hoa sẽ hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ của nó trong phần lớn các trường hợp.
Một thí dụ khác nữa trong KJV là câu “and it came to pass.” Cách dùng này không còn được sử dụng trong Anh ngữ bình thường nữa và nó khá hiếm hoi, thậm chí hiếm hoi ngay trong thế kỷ thứ mười bảy lúc bản KJV được thực hiện. Vì dược dịch sát nghĩa đen và cứng nhắc theo hình thức trần thuật của động từ Hy bá Lai, hậu quả là bản dịch cũng luôn luôn có câu “and it came to pass” mà ta thấy rất nhiều trong Cựu Ước nhưng không hề thấy trong Anh ngữ. Có lần chúng tôi đã được nghe một bài giảng về ý niệm mọi sự đều tạm thời và cuối cùng đều sẽ qua đi (ICo1Cr 13:8-10) dựa trên việc thường xuyên xuất hiện của câu “and it came to pass” mà nhà truyền đạo lại hiểu lầm là có nghĩa rằng “và việc ấy đến để mà qua đi” (and it came in order to pass away). Thật vậy, các dịch giả của bản NIV đã làm đúng khi không dịch một mệnh đề như thế. Dịch tiếng Hy Bá Lai sang Anh ngữ theo phương pháp có phê phán cân nhắc đòi hỏi một ý nghĩa tương đương, chứ không phải là một chữ hay một mệnh đề tương đương.
Chọn Một Bản Dịch
Chúng tôi đang cố tìm cách giúp bạn chọn một bản dịch Kinh Thánh. Chúng tôi sẽ kết luận bằng vài nhận xét tóm tắt về một số các bản dịch.
Thứ nhất, cần lưu ý rằng chúng tôi đã không tìm cách kể ra thật đầy đủ. Vẫn còn nhiều bản dịch toàn bộ Kinh Thánh khác mà chúng tôi không đưa vào phần thảo luận của mình, đó là chưa nói đến bảy mươi lăm bản dịch Tân ước khác đã xuất hiện trong thế kỷ thứ hai mươi này. Nhiều bản được kể ở phần sau này thật tuyệt vời, rất đáng được sử dụng (thí dụ, bản Weymouth, 1903; bản Helen Montgomery, 1924; bản Williams 1937). Trong số này cũng có nhiều bản dịch tự do, hai trong số đó được ưa chuộng hơn cả bản Living Bible do mức độ chính xác cao của chúng (bản Phillips, 1947; bản F. F. Bruce - các thư tín của Phao-lô mà thôi - 1965).
Trong toàn thể các bản dịch Kinh Thánh không được bàn đến, một số có thiên kiến về phương diện thần học, như bộ New World Translation của Chứng Nhân Giê-hô-va (1961). Đây là một bản dịch theo sát nguyên văn (nghĩa đen) một cách cực đoan, đầy các tà thuyết của giáo phái này. Nhiều bản dịch khác trong số các bản dịch ấy lại lập dị như bản dịch của George Lamsa (1940) là người tin rằng bản dịch ra tiếng Sy-ri vào khoảng năm 400 S.C. chứa đựng những chiếc chìa khóa cho mọi sự. Có lẽ ta cũng nên đưa vào đây bộ Amplified Bible, từng nổi tiếng vượt xa giá trị của nó. Tốt nhất là nên dùng nhiều bản dịch, chú ý những điểm khác nhau giữa chúng, rồi soát xét lại các điểm dị biệt ấy bằng một nguồn tài liệu khác, còn hơn bị dẫn dụ để tin rằng một từ có thể có một trong nhiều nghĩa trong một câu nào đó, và người đọc bị bỏ mặc để tự chọn bất cứ nghĩa nào “đánh trúng” óc tưởng tượng của riêng mình.
Thế thì đâu là bản dịch bạn cần phải đọc? Chúng tôi xin mạo muội gợi ý rằng bản NIV là một bản dịch tốt như bạn sẽ thấy. Hai bản GNB và NAB cũng rất tốt. Tốt nhất là ta có hai hoặc cả ba trong số các bản dịch ấy. Bản NIV là một bản dịch do một ủy ban gồm các học giả giỏi nhất của truyền thống Tin Lành; bản NAB là một bản dịch do một ủy ban gồm các học giả giỏi nhất trong truyền thống Công giáo (La Mã) tại Hoa Kỳ. Bản GNB là một bản dịch vượt trội do chỉ một học giả duy nhất là Robert G. Bratchen, người thường xuyên tham khảo ý kiến của nhiều người khác, và những chuyên gia về ngữ học đã đưa ý niệm về tương đương năng động vào công tác phiên dịch cách triệt để.
Cùng với một hoặc nhiều hơn các bản dịch này, bạn cũng nên dùng một hoặc nhiều bản dịch sau đây: bản NASB, RSV hoặc bản NRSV. Các bản này cố tìm cách cập nhật hóa bản KJV. Các dịch giả đã sử dụng các nguyên bản tốt nhất, do đó loại trừ được hầu hết các nội dung không phải là nguyên tác trong bản KJV. Đồng thời họ còn cố bám càng sát càng tốt vào ngôn ngữ của bản KJV mà vẫn hiện đại hóa nó một phần. Các bản RSV và NRSV là những bản dịch tốt hơn nhiều; bản NASB giống với bản KJV nhiều hơn, do đó, theo nghĩa đen nhiều hơn - đến độ trở thành cứng nhắc.
Cùng với một hoặc nhiều hơn những bản này, chúng tôi cũng dặn dò bạn nên tham cứu hoặc là bản NEB hoặc là bản JB - hoặc cả hai. Cả hai bản này đều do các uỷ ban phiên dịch thực hiện. Bản NEB là sản phẩm của công trình khảo cứu hoàn bị nhất của Anh quốc, do đó có rất nhiều thành ngữ Anh ít quen thuộc với các độc giả người Mỹ. Bản JB là một bản dịch Anh ngữ từ bản dịch Pháp ngữ Bible de Jerusalem. Cả hai bản dịch này đều thỉnh thoảng có xu hướng tự do hơn các bản dịch khác đã được mô tả ở đây như là tương đương năng động. Nhưng cả hai đều có những nét đặc trưng nổi bật và đều xứng đáng được sử dụng cùng với các bản dịch khác.
Trong các chương tiếp theo sau đây, chúng tôi sẽ theo bản NIV, trừ các trường hợp đặc biệt được ghi chú. Nếu bạn thường xuyên đọc bản dịch này rồi, bạn hãy tra cứu ít nhất một bản dịch khác (RSV /NRSV /NASB /GNB /NAB /NEB /JB), như thế bạn sẽ tự tạo cho mình một khởi điểm tốt để đọc và nghiên cứu Kinh Thánh cách sáng suốt.


Các Thư Tín: Tập Suy Nghĩ Theo Bối Cảnh
Chúng ta bắt đầu tìm hiểu những loại văn thể khác nhau trong Kinh Thánh bằng cách khảo sát các Thư tín Tân Ước. Một trong nhiều lý do là vì các thư tín có vẻ dễ giải nghĩa. Nói cho cùng, thì ai là người cần giúp đỡ đặc biệt để hiểu rằng “mọi người đều đã phạm tội” (RoRm 3:23), rằng “tiền công của tội lỗi là sự chết” (RoRm 6:23), và “ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu” (Eph Ep 2:8), hay mệnh lệnh “hãy bước đi theo Thánh Linh” (GaGl 5:16) và “hãy bước đi trong sự yêu thương” (Eph Ep 5:2)?
Mặt khác, chỗ “dễ” giải thích của các Thư tín cũng rất dễ làm chúng ta lầm lẫn, đặc biệt là trong công tác giảng kinh (hermeneutics). Chỉ cần thử hướng dẫn một nhóm học Kinh Thánh với sách I Cô-rinh-tô chẳng hạn, ta sẽ thấy bao nhiêu điều khó khăn. Có người thắc mắc: “Làm sao xem ý kiến của Phao-lô (ICo1Cr 7:25) như Lời Chúa được?” nhất là khi chính họ không thích một vài ẩn ý trong ý kiến ấy? Và các thắc mắc cứ tiếp tục. Việc dứt phép thông công trong chương 5 liên hệ thế nào với Hội Thánh ngày nay, nhất là khi chỉ cần băng qua đường là đã có một nhà thờ khác rồi? Luận điểm của các chương 12-14 là gì nếu ta ở trong một chi hội địa phương mà các ân tứ thuộc linh lại không được chấp nhận là có giá trị cho thế kỷ thứ hai mươi? Ta phải làm thế nào để biết 11:2-16 ý muốn nói là phụ nữ phải trùm đầu khi cầu nguyện và nói tiên tri - hay là phụ nữ được cầu nguyện và nói tiên tri khi hội chúng nhóm lại để thờ phượng?
Rõ ràng các Thư tín không dễ giải nghĩa như ta thường nghĩ. Vì tầm quan trọng của chúng đối với đức tin Cơ Đốc nhân cũng như vì nhiều vấn đề giảng kinh quan trọng nẩy sinh ở đây, nên chúng tôi dùng chúng làm kiểu mẫu cho vấn đề giải kinh (exegetical) và giảng kinh (hermeneutics) được nêu lên trong sách.
Bản Chất của Các Thư Tín
Trước khi khảo sát I Cô-rinh-tô như một kiểu mẫu giải nghĩa các Thư tín, ta cần biết một số điểm tổng quát về các Thư tín (toàn bộ Tân Ước ngoại trừ bốn sách Phúc Âm, sách Công Vụ, và sách Khải Thị).
Thứ nhất, cần lưu ý rằng bản thân các Thư tín không phải là một thể loại đồng nhất. Nhiều năm về trước, Adolf Deissmann, căn cứ vào một lượng lớn các phát hiện giấy chỉ thảo, đã phân biệt các bức thư (letters) và các thư tín (epistles). Những bức thư, như tên gọi, vốn không có giá trị văn chương, nghĩa là chúng vốn không được viết cho công chúng và hậu thế, mà chỉ nhắm vào một hoặc nhiều người mà chúng đã được gởi đến. Trái lại, thư tín là một hình thức nghệ thuật văn chương hay một loại văn chương có ý định nhắm vào công chúng. Chính Deissmann xem toàn bộ các thư tín của Phao-lô cũng như các thơ II, III Giăng là các “bức thư thật sự.” Tuy một số học giả khác đã thận trọng lưu ý rằng ta không nên liệt tất cả các bức thư của Tân-Ước vào loại này hoặc loại kia, nhưng dù sao thì sự phân biệt vẫn có giá trị. Sách Rô-ma và Phi-lê-môn khác nhau chẳng những chỉ về nội dung, mà cả về mức độ sách này có tính cách cá nhân vượt xa sách kia. Tương phản với các bức thư của Phao-lô, thư II Phi-e-rơ và I Giăng giống với các Thư tín hơn nhiều.
Ta có thể nhận thấy giá trị của sự phân biệt này bằng cách lưu ý hình thức các bức thư cổ. Chúng cũng có tiêu chuẩn (đề ngày, lời chào, phần thân, phần kết thúc và chữ ký) như tiêu chuẩn cho các bức thư của chúng ta ngày nay. Hàng ngàn những bức thư cổ đã được tìm thấy, và phần lớn chúng đều có hình thức y hệt các bức thư trong Tân Ước (xem bức thư của giáo hội nghị trong Cong Cv 15:23-29). Hình thức của một bức thư gồm có sáu phần:
1. Tên người viết (ví dụ, Phao-lô)
2. Tên người nhận (ví dụ, cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô)
3. Lời chào thăm (ví dụ, Nguyền xin ân điển và sự bình an của Đức Chúa Trời là Cha giáng trên anh em).
4. Lời cầu nguyện và bộc lộ lòng mong ước hoặc lời cảm tạ (ví dụ, tôi luôn luôn vì anh em cảm tạ Đức Chúa Trời…).
5. Phần thân của bức thư.
6. Lời chào từ biệt (ví dụ, nguyền xin ân điển của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cùng anh em).
Yếu tố duy nhất có thay đổi trong hình thức này là số 4, trong đó phần lớn các bức thư cổ có hình thức của một lời cầu nguyện bày tỏ nguyện vọng (hầu như y hệt với III Giăng câu1,2), hoặc nếu không phải như thế thì bỏ hẳn đi (như Ga-la-ti, I Ti-mô-thê, Tít) tuy thỉnh thoảng người ta thấy có một lời cảm tạ hoặc cầu nguyện (như thường thấy trong các bức thư của Phao-lô). Ba trong số các Thư tín Tân Ước, lời cảm tạ này được chuyển thành một bài ca tụng (II Cô-rinh-tô, Ê-phê-sô, I Phi-e-rơ, so sánh KhKh 1:5-6).
Cần lưu ý rằng các Thư tín trong Tân Ước bị thiếu các yếu tố 1-3 hoặc 6 sẽ không phải là những bức thư thật sự, tuy chúng cũng có mang hình thức Thư tín. Chẳng hạn như thư Hê-bơ-rơ, vốn được mô tả như có ba phần của một truyền đạo đơn và một phần của một bức thư, lẽ dĩ nhiên phải được gởi đến cho một nhóm người cụ thể, như HeDt 10:32-34 và 13:1-25 chỉ rõ. Chú ý kỹ hình thức bức thư trong 13:22-25. Thế nhưng các chương 1-10 rất ít giống với một bức thư mà thật ra là một bài giảng trình bày sự cao trọng của Đấng Christ đi kèm với những lời khuyến giục độc giả hãy neo chặt đức tin nơi Đấng Christ (2:1-4; 3:7-19; 5:11-6:20; 10:19-25). Tác giả gọi đó là “những lời khuyên bảo” của mình (13:22).
Thư I Giăng cũng có vài điểm tương tự, ngoại trừ việc nó không mang một yếu tố hình thức của một bức thư. Dù vậy, rõ ràng là nó được viết cho một nhóm người cụ thể (xem IGi1Ga 2:7, 12-14, 19, 26) và trông có vẻ rất giống phần thân của một bức thư với tất cả các yếu tố về hình thức đều bị xén đi mất. Điều đáng lưu ý là nó không đơn giản chỉ là một luận án thần học cho Hội Thánh nói chung.
Hai thư Gia-cơ và II Phi-e-rơ đều có phần lời chào, nhưng cả hai đều thiếu lời chào từ biệt quen thuộc; cả hai cùng thiếu các lời chào cụ thể cũng như không có lời dặn dò cá nhân nào của các tác giả. Đây là những điểm rất giống với các “Thư tín” Tân Ước - các truyền đạo đơn gởi cho toàn thể Hội Thánh, mặc dầu dường như thư II Phi-e-rơ được viết vì có một số người phủ nhận sự Tái Lâm của Chúa Cứu Thế (IIPhi 2Pr 3:1-7;). Mặt khác, sách Gia-cơ thiếu hẳn phần luận cứ chung khiến nó giống một bộ sưu tập các ghi chú bài giảng về nhiều vấn đề liên quan đến luân lý đạo đức hơn là một bức thư.
Tuy có sự khác nhau về thể loại, tất cả các Thư tín đều có một điểm chung quan trọng cần lưu ý trong việc đọc và giải nghĩa chúng: chúng là những văn kiện tùy dịp (hay tùy cơ hội: được viết và được chủ định vì một dịp tiện cụ thể), và chúng có từ thế kỷ thứ nhất. Mặc dầu được Đức Thánh Linh cảm thúc và do đó thuộc về mọi thời đại, chúng được viết từ bối cảnh của tác giả cho bối cảnh của các độc giả đầu tiên. Chính những yếu tố này - tùy cơ hội và thuộc thế kỷ thứ nhất - đôi khi khiến việc giải nghĩa trở thành khó khăn.
Trước hết, cần xem xét cách nghiêm túc tính chất tùy dịp của chúng. Các Thư tín này được viết do hoàn cảnh đặc biệt từ phía độc giả hoặc từ phía tác giả đòi hỏi. Hầu hết các bức thư Tân Ước đều từ phía độc giả đòi hỏi (sách Phi-lê-môn và có lẽ hai thư Gia-cơ và Rô-ma là những ngoại lệ). Thường thường thì biến cố là cách ăn ở, cư xử cần sửa, hoặc một sai lệch về giáo lý cần chấn chỉnh, hoặc một sự hiểu lầm cần được làm sáng tỏ hơn.
Chúng ta thường gặp khó khăn khi giải nghĩa các Thư tín do tính chất tùy dịp của chúng. Chúng ta có câu trả lời, nhưng không phải lúc nào cũng biết các câu hỏi hay vấn đề đã xảy ra, hoặc thậm chí chẳng biết có vấn đề đó hay không. Điều này giống như ta nói điện thoại và cố hình dung ra ai là người đang ở đầu dây bên kia và người ta không thấy đó đang muốn nói gì. Thế nhưng trong rất nhiều trường hợp, cố ý lắng nghe “đầu dây bên kia” là một điều đặc biệt quan trọng, để chúng ta biết khúc sách của mình trả lời cho vấn đề gì.
Còn một điểm nữa cần lưu ý. Tính chất tùy cơ hội của các Thư tín có nghĩa mục đích trước nhất của chúng không phải là khảo luận thần học; chúng không phải là những bài tóm lược thần học của Phao-lô hay Phi-e-rơ. Các Thư tín đều hàm chứa thần học, nhưng là “thần học thực hành”, thần học được viết cho, hoặc nêu ra là vì nó có liên quan với nhiệm vụ trước mắt. Điều này đúng ngay cả với thư Rô-ma, một thư chứa đựng các vấn đề thần học của Phao-lô cách đầy đủ và hệ thống hơn bất cứ chỗ nào khác. Nhưng đây mới chỉ là một phần thần học của ông mà thôi, và trong trường hợp này thần học nảy sinh từ nhiệm vụ đặc biệt của ông trong cương vị sứ đồ cho các dân ngoại. Đó là cuộc tranh chiến của ông vì quyền lợi của dân ngoại đối với ân sủng của Đức Chúa Trời, và cách nó liên hệ với toàn bộ vấn đề “luật pháp” khiến cho cuộc tranh luận mang hình thức đặc biệt như ta thấy trong thư Rô-ma, và dẫn đến việc sử dụng sự xưng công nghĩa là hình bóng chính yếu cho sự cứu rỗi. Cuối cùng, chữ xưng công nghĩa vốn chiếm ưu thế trong thư Rô-ma (15 lần), thư Ga-la-ti (8 lần) chỉ xuất hiện hai lần nữa trong toàn bộ các thư khác của Phao-lô (ICo1Cr 6:11; Tit Tt 3:7).
Như thế ta liên tục nghiên cứu các Thư tín để tìm hiểu thần học Cơ Đốc chúa đựng trong đó. Nhưng ta cũng phải nhớ rằng mục đích của chúng trước hết không phải là để diễn giải thần học Cơ Đốc. Nó luôn luôn là thần học phục vụ cho một nhu cầu đặc biệt. Chúng ta sẽ xem xét những ẩn ý liên quan với vấn đề giảng kinh trong chương kế tiếp.
Sau khi nắm được những điểm quan trọng, ta sẽ tiến hành việc giải nghĩa các Thư tín như thế nào? Từ đây trở đi, chúng ta sẽ nghiên cứu I Cô-rinh-tô như là trường hợp điển hình. Không phải tất cả các Thư tín đều giống Thư tín này, nhưng hầu hết các câu hỏi cần dùng nghiên cứu bất kỳ một Thư tín nào cũng đều được nêu ra ở đây.
Bối Cảnh Lịch Sử
Điều đầu tiên cần làm đối với bất luận Thư tín nào là cố gắng tái dựng tình trạng mà tác giả đang nói đến. Điều gì đã xảy ra tại Cô-rinh-tô khiến Phao-lô phải viết thư I Cô-rinh-tô? Làm sao ông biết được tình trạng này? Trước đó, ông có mối liên hệ và tiếp xúc với họ thế nào? Bức thư này cho thấy thái độ của họ và của ông như thế nào? Đó là các câu hỏi mà bạn cần trả lời. Bạn phải làm gì đây?
Thứ nhất, bạn cần tra cứu Thánh Kinh Từ Điển hoặc phần dẫn nhập trong sách giải nghĩa của bạn để tìm hiểu càng nhiều càng tốt về thành phố Cô-rinh-tô và cư dân của nó (cũng như về Hội Thánh tại Cô-rinh-tô và các tín hữu ở đó). Một điều quan trọng mà bạn cần biết là theo các tiêu chuẩn cổ thì thành phố này tương đối hãy còn trẻ, được thành lập chỉ chín mươi bốn năm khi Phao-lô đến thăm lần đầu tiên. Nhưng nhờ vị trí chiến lược cho việc giao thương, nó là thành phố quốc tế, giàu có, nơi qui tụ các sinh hoạt nghệ thuật, tôn giáo (có ít nhất hai mươi sáu ngôi đền miếu), và nổi tiếng dâm dục. Chỉ cần hơi chịu khó đọc và tưởng tượng, ta có thể thấy nó là điểm hội tụ của một chút New York, Los Angeles và Las Vegas. Vì vậy, khó có thể nói rằng đây là bức thư gửi Hội Thánh tại một vùng quê hẻo lánh. Bạn cần nhớ những điều nầy khi đọc để nhận ra thế nào nó sẽ ảnh hưởng đến cách hiểu của bạn gần như ở mỗi trang sách.
Thứ hai, để đạt được mục đích nghiên cứu, bạn cần phát triển thói quen đọc cả bức thư một lần. Bạn cần để ra khoảng một giờ để làm việc này. Không điều gì có thể thay thế công việc này. Đây là cách chúng ta đọc tất cả các bức thư khác. Các bức thư trong Kinh Thánh cũng chẳng có gì khác cả. Có một số điều mà bạn phải tìm trong khi đọc, nhưng bạn không nên cố tìm cách để hiểu ngay ý nghĩa của từng chữ hoặc từng câu một. Điều quan trọng đầu tiên là có cái nhìn bao quát.
Dầu nhấn mạnh đến bao nhiêu chúng tôi nghĩ vẫn chưa đủ đối với tầm quan trọng của việc phải đọc đi đọc lại. Một khi bạn đã chia được bức thư ra thành nhiều phần hoặc nhiều đoạn hợp lý rồi, bạn sẽ cần bắt đầu nghiên cứu từng đoạn đúng y theo cách trên.
Sau khi đã đọc qua cả bức thư, bạn cần viết ra một vài ghi chú thật vắn tắt. Điều này rất bổ ích cho bạn, đặc biệt cho những người kém trí nhớ. Bạn phải viết gì khi đọc cả bức tranh rộng lớn kia? Nên nhớ mục đích đầu tiên ở đây là tái tạo vấn đề, vì thế chúng tôi gợi ý về bốn loại ghi chú:
1. Những điều bạn ghi nhận được về những người nhận thư, chẳng hạn như là người Do Thái hay người Hi Lạp, giàu có hay nô lệ, các vấn đề, thái độ của họ v.v.
2. Những thái độ của Phao-lô.
3. Những điểm cụ thể được đề cập liên hệ đến cơ hội đặc biệt để viết bức thư này.
4. Bố cục tự nhiên và hợp lý của bức thư.
Nếu bạn không thể làm một lần tất cả những điều trên đây thì trước hết hãy đọc qua bức thư, rồi sau đó quay trở lại bằng cách đọc lướt qua để lấy ra các chi tiết muốn ghi chú. Sau đây là các sự việc có lẽ bạn đã chú ý được tập họp lại thành từng nhóm theo bốn loại đã gợi ý.
1. Các tín hữu Cô-rinh-tô đa số là dân ngoại, tuy cũng có vài người Do Thái (xem ICo1Cr 6:9-11; 8:10; 12:2, 13), họ yêu thích sự khôn ngoan và kiến thức (1:18-2:5; 4:10; 8:1-13; do đó 6:5 chứa đựng một lời mỉa mai), họ kiêu ngạo và tự thị tự mãn (4:18; 5:2, 6) thậm chí đến độ chỉ trích cả Phao-lô (4:1-5; 9:1-18); thế nhưng họ lại gặp nhiều vấn đề nội bộ.
2. Thái độ của Phao-lô thay đổi giữa quở trách (4:8-21; 5:2; 6:1-8), kêu gọi (4:14-17; 16:10-11) và khuyên giục (16:18-20, 12-14).
3. Về cơ hội viết thư, có lẽ bạn đã thấy trong 1:10-12, Phao-lô nói ông đã được người nhà của Cơ-lô-ê báo cho biết; 5:1 cũng đề cập đến thông tin đã nhận được. Trong 7:1 ông nói: “Luận đến các vấn đề anh em viết trong thư” có nghĩa là ông cũng đã nhận được bức thư Hội Thánh đã gửi. Bạn có lưu ý những chữ “luận đến, về ...việc, còn như” được nhắc đi nhắc lại trong 7:25; 8:1; 12:1; 16:1; 16:12 hay không? Có lẽ tất cả đều là các chi tiết rút ra từ lá thư của họ mà mỗi lần ông chỉ nêu ra một vấn đề thôi. Một điều khác nữa: Bạn có chú ý đến việc “đến” của Sê-pha-na, Phốt-tu-ra và A-chai-cơ trong 16:17 không? Vì Sê-pha-na là người được “kính phục” (c.16), chắc chắn mấy người này (hoặc ít nhất là Sê-pha-na) cũng là cấp lãnh đạo Hội Thánh. Có lẽ họ được ủy quyền đem bức thư đến cho Phao-lô.
Nếu bạn không thấy tất cả những điều này, xin đừng bỏ cuộc. Chúng tôi đã nghiên cứu Thư tín này nhiều lần nên trở nên quen thuộc. Điều quan trọng là bạn phải học đọc cách cẩn thận để tìm ra những manh mối như thế.
4. Bây giờ vấn đề quan trọng là phân chia bố cục cho bức thư. Điều này đặc biệt quan trọng đối với I Cô-rinh-tô, vì nghiên cứu hay đọc sách này với các sự kiện được tập hợp cách thuận lợi như thế thì dễ dàng hơn nhiều. Không phải tất cả các thư của Phao-lô đều được viết theo trình tự chi tiết như vậy. Thiết lập một bố cục sẽ luôn luôn hữu ích.
Chỗ phải bắt đầu là với các phần lớn. Trong trường hợp này thì 7:1 là đầu mối chính. Đây là lần đầu tiên Phao-lô đề cập bức thư họ viết cho ông, và trong 1:10-12 và 5:1 ông đề cập các vấn đề mà người ta đã kể lại với ông, nên chúng ta có thể cho rằng các vấn đề trong các chương 1-6 đều là những câu trả lời cho những gì ông đã nghe kể lại. Những câu nhập đề và chủ đề đều là đầu mối cho tất cả các phần khác trong bức thư này. Có bốn phần trong sáu chương đầu:
vấn đề chia rẽ trong Hội Thánh (1:10-4:21)
vấn đề kẻ loạn luân (5:1-13)
vấn đề thưa kiện (6:1-11)
vấn đề tà dâm (6:12-20)
Chúng ta đã lưu ý các đầu mối để lập bố cục cho hầu hết các chương từ 7-16 căn cứ trên công thức nhập đề là “Luận đến.” Có ba tiết mục không được giới thiệu bằng công thức nhập đề đó là 11:2-16; 11:17-34; 15:1-58. Có lẽ ông cũng nghe kể lại những chi tiết trong chương 11 (ít nhất trong 11:17-34) và được đưa vào đây vì các chương 8-14 đều liên quan với sự thờ phượng theo một cách thức nào đó. Ta không biết chắc chương 15 là lời đáp cho điều ông đã được nghe kể lại hay cho bức thư trước. Câu “sao trong anh em có kẻ nói rằng” ở câu 12 chẳng giúp được gì nhiều vì Phao-lô có thể trích nó từ điều ông được nghe kể lại, hoặc từ bức thư của họ. Dù sao thì phần còn lại của bức thư rất dễ lập bố cục:
về cách ăn ở giữa vợ chồng (7:1-24);
về các trinh nữ (7:25-40);
về của cúng thần tượng (8:1-11:1);
sự trùm đầu của phụ nữ trong Hội Thánh (11:2-16);
sự lạm dụng Bàn Tiệc Thánh (11:17-34);
về các ân tứ thuộc linh (12:1-14:40);
sự phục sinh thân thể của tín hữu (15:1-58);
về việc góp tiền (16:1-11);
về việc trở lại của A-bô-lô (16:12);
những lời khuyến giục và chào thăm từ biệt (16:13-24).
Có lẽ nếu theo cách chia phần trong bản Kinh Thánh Anh ngữ NIV, bạn không thấy một phần ở 7:25, hoặc bạn chia các chương 1:1-4:21, 8:1-10:33; 12:1-14:40 thành nhiều nhóm nhỏ hơn. Nhưng bạn có thấy rằng ba phần cuối đều là những đơn vị hoàn chỉnh? Thí dụ, cần lưu ý rằng cả chương 13 nằm trong phần luận cứ của chương 12:1-14:40 do việc các ân tứ Thánh Linh cụ thể được nêu trong câu 1-2 và 8.
Trước khi tiếp tục, có hai điều chúng ta cần lưu ý: (1) Còn một chỗ duy nhất khác trong các bức thư của Phao-lô mà ông nêu lên một chuỗi những tiết mục độc lập tiếp theo nhau như thế này là ở ITe1Tx 4:1-5:27. Về cơ bản, hầu hết các bức thư khác được cấu thành bằng một luận cứ thật dài, mặc dầu nhiều khi luận cứ ấy có nhiều phần. (2) Đây chỉ là một bố cục gợi ý. Chúng ta chỉ thấy được cơ hội viết bức thư này trên bề mặt mà thôi, tức là một bản tường trình được kể lại và một bức thư. Nhưng điều chính yếu cho từng vấn đề tại Cô-rinh-tô đòi hỏi phải có câu trả lời cụ thể của Phao-lô. Do đó, vì mục đích nghiên cứu của chúng ta, chúng tôi dành thì giờ còn lại để đi sâu vào một tiết mục thôi: vấn đề chia phe lập đảng trong chương 1-4.
Bối Cảnh Lịch Sử I Cô-rinh-tô 1:1-4:21
Khi đi vào từng phần nhỏ hơn của bức thư, bạn cần làm lại những gì chúng ta vừa mới thực hiện ở trên. Nếu chúng tôi giao cho bạn một bài tập cho từng bài học, bài tập ấy sẽ đại khái như thế này: (1) Hãy đọc qua ICo1Cr 1:1-4:21 ít nhất hai lần (tốt nhất bằng hai bản dịch khác nhau). Xin nhắc lại là bạn đọc lần đầu để có một bức tranh rộng lớn, có “cảm nhận” về toàn thể lý luận trong đó. Sau khi bạn đã đọc qua lần thứ hai (hoặc thậm chí lần thứ ba, thứ tư nếu bạn muốn đọc từng bản dịch mình có), hãy quay trở lại và (2) liệt kê trong quyển sổ tay tất cả các chi tiết về những người nhận bức thư này và vấn đề của họ. Ở đây bạn cần quan sát kỹ, và liệt kê mọi sự việc, có thể sau khi rà soát lại, bạn muốn trở lại để xóa bớt một vài tiết mục không hoàn toàn thích hợp. (3) Rồi lập một bảng liệt kê khác gồm là những chữ chìa khóa và những câu được nhắc đi nhắc lại cho thấy vần đề chính mà Phao-lô muốn trả lời.
Một trong những lý do khiến chúng tôi chọn phần này làm mẫu không chỉ vì nó rất quan trọng trong thơ I Cô-rinh-tô, nhưng cũng vì nó là phần khó nhất. Nếu bạn đã đọc kỹ cả đoạn này và quan sát kỹ lưỡng vấn đề, có lẽ bạn nhận thấy và thậm chí còn bực bội bởi vì mặc dầu Phao-lô bắt đầu đề cập vấn đề cách cụ thể (1:10-12), nhưng phần đầu câu trả lời của ông (1:18-3:4) dường như đã chẳng đá động gì đến vấn đề ấy cả. Thật vậy, thoạt tiên ta có thể nghĩ rằng 1:18-3:4 là một đoạn lạc đề, ngoại trừ việc Phao-lô đã không lý luận lệch hướng và trong phần kết luận ở 3:18-23 “sự khôn ngoan” và “sự dại dột” (ý tưởng chính trong 1:18-3:4) được nối kết với sự “khoe khoang về loài người” và việc đề cập đến Phao-lô, A-bô-lô và Sê-pha. Vì vậy ta cần xét xem chúng ăn khớp với nhau như thế nào để phát hiện ra vấn đề.
Chỗ để bắt đầu là chú ý điều Phao-lô nêu lên. Trong 1:10-12 ông bảo rằng họ chia rẽ nhân danh các người lãnh đạo của họ (so sánh 3:4-9; 3:21-22; 4:6). Nhưng bạn có thấy rằng sự chia rẽ không phải chỉ là vấn đề bất đồng ý kiến giữa họ mà thôi? Thật ra là họ đang cãi nhau (1:12; 3:3) và “tự hào vì người này hơn người kia” (4:6; đối chiếu 3:21).
Tất cả những điều đó dường như khá rõ ràng. Nhưng nếu rà soát vấn đề lần nữa ta sẽ thấy hai việc khác xuất hiện.
1. Dường như đã có chút “xích mích” giữa Hội Thánh và bản thân Phao-lô. Điều này trở nên rõ ràng trong 4:1-5; và 4:18-21. Nếu ghi nhận như vậy, ta có thể cho rằng chuyện gây gỗ và chia rẽ không chỉ đơn giản là vấn đề họ thích A-bô-lô hơn Phao-lô, mà thật ra là họ đang chống lại Phao-lô.
2. Một trong những chữ chìa khóa trong phần này là khôn ngoan (26 lần trong các chương 1-3, và chỉ có thêm 18 lần nữa trong toàn bộ các bức thư của Phao-lô). Rõ ràng đây là từ ngữ được dùng với hàm ý mỉa mai, chứ không có nghĩa tích cực. Đức Chúa Trời đã ra tay để đánh đổ sự khôn ngoan của đời này (1:18-22, 27-28, 3:18-20). Ngài đã làm việc ấy bằng thập tự giá (1:18-25), bằng việc chọn các tín hữu người Cô-rinh-tô (1:26-31), và bằng sự yếu đuối của Phao-lô trong khi giảng dạy (2:1-5;). Bởi thập tự giá, Chúa Cứu Thế đã trở thành sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời cho chúng ta (1:30); và sự khôn ngoan này đã được Đức Thánh Linh “bày tỏ” cho những người có Đức Thánh Linh (2:10-16). Cách dùng chữ “khôn ngoan” trong lý lẽ của Phao-lô cho ta thấy đây là một phần nguyên nhân của sự chia rẽ. Nhưng sự việc đã xảy ra như thế nào? Ít nhất chúng ta cũng có thể đoán ra rằng họ chia rẽ vì mượn danh những người lãnh đạo và chống đối Phao-lô vì cho rằng mình khôn ngoan.
Bất cứ điều gì chúng ta nói vượt ra ngoài điểm đó đều sẽ nằm trong sự suy diễn hoặc phỏng đoán. Vì chữ khôn ngoan cũng là một thuật-ngữ triết học, và vì đủ loại triết gia lưu động vốn đầy dẫy trong thế giới Hy Lạp vào thời của Phao-lô, chúng ta có thể nghĩ rằng các tín hữu người Cô-rinh-tô đang bắt đầu suy nghĩ về niềm tin Cơ-đốc mới của họ như là một sự “khôn ngoan thiên thượng” mới mẻ, từ đó khiến họ đánh giá các lãnh đạo của họ theo cách loài người, xem những người lãnh đạo của họ cũng chỉ như các triết gia lưu động kia mà thôi. Nhưng điều cần lưu ý là cho dù cách “phỏng đoán” này có hữu ích đến đâu, nó đã vượt quá điều chính bản văn nói.
Theo câu trả lời của Phao-lô thì có ba điều có thể được xem là chắc chắn: (1) Căn cứ vào 3:5-23, rõ ràng là họ đã hiểu lầm bản chất và chức năng lãnh đạo trong Hội Thánh. (2) Tương tự như thế, căn cứ vào 1:18-3:4, dường như họ cũng hiểu lầm cả bản chất căn bản của Phúc Âm nữa. (3) Dựa vào 4:1-21 họ cũng sai lầm trong cách họ chỉ trích Phao-lô, và họ cần phải thẩm định lại mối liên hệ giữa họ với ông. Bạn sẽ nhận thấy rằng với phần ghi nhận này, bây giờ chúng ta đã bắt đầu chuyển sang việc phân tích câu trả lời của Phao-lô.
Văn Mạch
Bước kế tiếp để nghiên cứu các Thư tín là tìm hiểu lập luận của Phao-lô để trả lời cho vấn đề mà chúng ta đã giả định ở phần trên. Chương 1 đã cho bạn biết rằng bạn có thể thực hiện điều này mà không phải tham khảo ý kiến các học giả.
Nếu phải cho bạn một bài tập về phần này trong “bài học”, nó sẽ đại khái như sau: Cho biết lập luận của ICo1Cr 1:10-4:21 theo từng phân đoạn, rồi dùng một hoặc hai câu để giải thích luận điểm của từng phân đoạn đối với toàn bộ vấn đề, hoặc cho biết nó đóng vai trò như thế nào trong câu trả lời của Phao-lô cho vấn đề chia rẽ.
Chúng tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của việc tập SUY NGHĨ TỪNG PHÂN ĐOẠN, không phải chỉ đơn giản như những đơn vị tư tưởng tự nhiên, mà là chìa khóa cần thiết để nắm vững phần lý luận trong các thư tín khác. Cần nhớ rằng một trong những câu hỏi bạn phải lặp đi lặp lại là Luận điểm ở đây là gì? Do đó, bạn sẽ cần làm được hai việc: (1) Phải tóm lược nội dung của từng phân đoạn. Phao-lô nói gì trong phân đoạn này? (2) Trong một hoặc hai câu, hãy giải thích tại sao bạn lại nghĩ rằng Phao-lô nói điều này tại đây. Nội dung này góp phần thế nào cho lập luận?
Vì không thể thực hiện điều này cho cả ICo1Cr 1:1-4:21, chúng ta sẽ đi vào một số chi tiết với ba phân đoạn quan trọng trong phần thứ hai của câu trả lời của Phao-lô, tức là 3:5-16. Cho đến bây giờ, bởi sự hướng dẫn của Thánh Linh, Phao-lô điều chỉnh kiến thức non nớt của họ về Phúc Âm bằng cách cho họ thấy rằng trọng tâm của Phúc Âm - Đấng Mết-si-a chịu đóng đinh - hoàn toàn trái ngược với sự khôn ngoan của loài người (1:18-25), khi thấy cách Đức Chúa Trời chọn lựa người để thành lập một dân mới của Ngài (1:26-31). Dường như Phao-lô muốn nói với họ rằng: “Có phải anh em nghĩ rằng Phúc Âm là một loại khôn ngoan mới chăng? Làm sao có thể như thế được? Có người nào nhân danh sự khôn ngoan mà lại chọn anh em làm một dân mới cho Đức Chúa Trời?” Chính việc truyền giảng của Phao-lô cũng là một minh họa cho mâu thuẫn đó (2:1-5). Trong 1:6-16, Phao-lô cho họ biết rằng đó là sự khôn ngoan, nhưng là sự khôn ngoan do Thánh Linh của Đức Chúa Trời mặc khải cho những con dân mới của Ngài - tức là những người có Thánh Linh hiện diện. Phao-lô lập luận rằng vì người Cô-rinh-tô đã có Đức Thánh Linh rồi, cho nên họ đừng hành động như những kẻ không có Ngài (3:1-4). Việc họ tranh cãi vì cớ Phao-lô và A-bô-lô chứng minh họ vẫn còn hành động “như người xác thịt.”
Vậy, ba phân đoạn kế tiếp đóng chức năng gì trong lập luận? Với 3:5-9, nội dung đề cập tính chất và vai trò của hai vị lãnh đạo mà vì đó họ tranh cãi với nhau. Phao-lô nhấn mạnh rằng hai ông chỉ là tôi tớ, chứ không phải là chủ, là Chúa, như khẩu hiệu của họ. Trong các câu 6-9, bằng hình ảnh một nông gia, ông nêu lên hai đặc điểm của tôi tớ, cả hai đều vô cùng quan trọng đối với sự hiểu lầm của người Cô-rinh-tô: (1) Cả Phao-lô lẫn A-bô-lô đều vì lợi ích chung, tuy nhiệm vụ của mỗi người có khác nhau, và mỗi người rồi sẽ được lãnh “phần thưởng” riêng. (2) Mọi sự và mọi người - Hội Thánh, tôi tớ, sự tăng trưởng - đều thuộc về Đức Chúa Trời.
Sự hiểu biết về hai điểm này rất quan trọng. Nó gây ra chia rẽ trong Hội Thánh vì cớ các lãnh đạo của mình, tuy rằng những người này không phải là chủ, là chúa. Họ chỉ là các tôi tớ, dù có chức vụ khác nhau, đều vì lợi ích chung. Họ thuộc về Đức Chúa Trời như tín hữu Cô-rinh-tô thuộc về Đức Chúa Trời.
Một đoạn văn khác cũng thường bị giải thích sai là 3:10-15 do không tìm hiểu theo từng phân đoạn. Cần lưu ý hai điều: (1) Ở cuối câu 9, Phao-lô đã đổi ẩn dụ nông nghiệp sang kiến trúc, sẽ là ẩn dụ được dùng cho cả phân đoạn này. (2) Đặc điểm trong cả hai ẩn dụ chỉ là một (Phao-lô trồng, đặt nền; A-bô-lô tưới, xây trên nền ấy; Hội Thánh Cô-rinh-tô là ruộng, ngôi nhà; Đức Chúa Trời là chủ ruộng, chủ ngôi nhà). Tuy nhiên, luận điểm của mỗi phân đoạn có khác nhau. Luận điểm của 3:10-15 được diễn tả rõ ràng trong câu 10, “nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó.” Ví dụ của Phao-lô cho biết thêm rằng kết quả sau cùng sẽ cho thấy người thợ xây giỏi hay tồi. Cần lưu ý điều được xây dựng là Hội Thánh, hoàn toàn không có một ám chỉ nào cho thấy Phao-lô muốn nói đến việc mỗi cá nhân tín hữu xây dựng cuộc sống mình trên Đấng Christ, vì điều này sẽ không thích hợp cho phần lập luận ở đây. Phao-lô cũng muốn cảnh cáo những người đang lãnh đạo Hội Thánh rằng họ phải làm công việc ấy cách cẩn trọng, vì ngày thử nghiệm đã sắp đến rồi. Xây dựng Hội Thánh bằng sự khôn ngoan hoặc tài hùng biện của loài người nhằm xuyên tạc thập tự giá, là xây dựng bằng gỗ, cỏ khô, và rơm rạ.
Đoạn văn tiếp theo 3:16-17 cũng thường bị ứng dụng sai, một phần vì sau đó ít lâu (6:19) ai cũng biết rằng Phao-lô đã gọi thân thể của Cơ Đốc nhân là “đền thờ của Đức Thánh Linh.” Như thế mấy câu ở đây cũng thường bị cá nhân hóa nhằm ám chỉ một người lạm dụng thân thể hay lơ là đời sống thuộc linh. Tuy nhiên, ở nhiều chỗ khác, Phao-lô dùng ẩn dụ đền thờ trong nghĩa tập thể để ám chỉ Hội Thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 6:16; Eph Ep 2:19-22). Đây là điều ông muốn nói, mà bản NIV đã cố làm sáng tỏ bằng cách dịch “chính anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời.”
Vậy thì luận điểm của Phao-lô trong văn mạch này là gì? Hội Thánh Cô-rinh-tô phải là đền thờ của Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô - tương phản với tất cả các đền miếu khác trong thành phố ấy. Nói cách khác, họ được Đức Chúa Trời lựa chọn để sống một lối sống khác với nếp sống của người Cô-rinh-tô. Điều khiến họ trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời là sự hiện diện của Ngài giữa vòng họ. Nhưng do việc kết bè lập đảng, họ đang phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời. Phao-lô bảo rằng ai gây ra sự chia rẽ thì chính họ sẽ bị Đức Chúa Trời hủy phá, vì Hội Thánh Cô-rinh-tô quý giá đối với Ngài.
Luận cứ được linh cảm của Phao-lô giờ đây đã đầy đủ. Bắt đầu, ông đã vạch ra sự hiểu biết thiếu sót của họ về Phúc Âm, một Phúc Âm không chỉ dựa trên sự khôn ngoan của loài người, nhưng còn trái ngược trên mọi phương diện. Sau đó ông cho thấy sự hiểu biết thiếu sót của họ về quyền lãnh đạo trong Hội Thánh; đồng thời cảnh cáo các cấp lãnh đạo thuộc cả hai phe và chính hội chúng rằng Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt những ai gây chia rẽ. Trong ICo1Cr 3:18-23, ông nhập chung cả hai luận đề này lại trong một câu kết luận. Sự khôn ngoan của loài người là dại dột; do đó “chớ ai khoe mình về loài người.”
Trong khi tóm tắt lại phần phân tích này chúng ta cần lưu ý: (1) Công tác giải kinh là giải nghĩa chính nội dung bản văn; nghĩa là chúng ta không cần phải vượt ra ngoài bản văn mới hiểu được luận điểm của nó, (2) chẳng có điều gì trong bản văn lại không phù hợp với lập luận, và (3) tất cả mọi điều đó làm cho sáng tỏ ý nghĩa. Đây là công tác giải kinh. Đây là Lời của Đức Chúa Trời cho họ. Có thể bạn cần tham khảo sách giải nghĩa để rõ thêm một số điểm trong nội dung. Tuy nhiên bạn có khả năng làm tất cả những gì chúng ta vừa làm. Điều quan trọng là bạn cần thực tập - trong một vài trường hợp sẽ đòi hỏi bạn phải chịu khó suy nghĩ nữa; nhưng bạn có thể thực hiện được, và phần thưởng sẽ rất xứng đáng.
Thực Tập Một Lần Nữa
Trước khi kết thúc chương này, chúng ta sẽ thực tập công tác giải kinh bằng một phân đoạn Kinh Thánh khác dễ hơn I Cô-rinh-tô, nhưng cũng đề cập đến sự chia rẽ trong Hội Thánh.
Hãy đọc Phi Pl 1:27-2:13 nhiều lần. Cần lưu ý rằng lập luận của Phao-lô ở đây diễn biến đại thể như sau: Cơ hội là Phao-lô đang bị tù (1:13,17) và Hội Thánh Phi-líp gửi cho ông một món quà qua một thành viên tên Ép-ba-phô-đích (4:14-18). Dường như Ép-ba-phô-đích lâm bịnh, và Hội Thánh nghe được tin ấy nên lấy làm buồn rầu (2:26;) nhưng Đức Chúa Trời đã chữa lành cho ông, nên Phao-lô đang phái ông quay về với họ (2:25-30) mang theo một bức thư với mục đích (1) cho họ biết mọi việc đã xảy ra với ông (1:12-26), (2) cám ơn họ về món quà của họ (4:10,14-19), và (3) khuyến giục họ hai điều: sống hòa thuận với nhau (1:27-2:17; 4:2-3) và tránh tà giáo Do Thái (3:1-4:1).
Phao-lô vừa kết thúc phần ông kể cho họ cách sống của ông trong tù. Phần kế tiếp là một phần của lời khuyến giục. Thí dụ, hãy lưu ý cách ông không còn tự nói về mình nữa như trong các câu 12-16. Bạn có thấy sự thay đổi rõ ràng từ tôi/của tôi, sang anh em/của anh em trong câu 27 không?
Thế thì, đâu là luận điểm của từng phân đoạn trong đoạn sách này?
Phân đoạn thứ nhất, 1:27-30, bắt đầu lời khuyến giục. Luận điểm dường như là điều chúng ta đọc thấy trong câu 27, họ phải “đứng vững trong một Thánh Linh.” Đây là lời khuyên hiệp một, nhất là vì họ đang gặp chống đối. (Chú ý: nếu chúng ta quyết định rằng c.27 thật là luận điểm của phân đoạn, thì chúng ta phải đặt câu hỏi: “Đâu là luận điểm của câu 28-30 và việc nhấn mạnh đến sự chống đối và khổ nạn?” Lưu ý cách ông đã trả lời vấn đề này.)
2:1-4 liên quan đến sự hiệp một như thế nào? Trước hết, ông lặp lại lời khuyên (c.1-2, bây giờ chúng ta biết chắc rằng mình đúng ở phân đoạn thứ nhất). Nhưng luận điểm ở đây lại là khiêm nhường, là thái độ phải lẽ để các tín hữu hiệp nhất.
Bây giờ, bạn hãy thử tìm hiểu phân đoạn 2:5-11. Luận điểm là gì? Tại sao phần nầy đề cập đến việc Đấng Christ tự hạ mình xuống rồi được tôn cao? Câu trả lời của bạn có thể không đúng từng chữ từng lời với câu trả lời của chúng tôi, nhưng chắc chắn phải đại ý như sau: Sự nhập thể và chịu chết của Chúa Giê-xu là tấm gương cao nhất về sự khiêm nhường mà Phao-lô muốn họ phải có. (Bạn cần lưu ý rằng khi đặt câu hỏi theo cách này thì luận điểm của phân đoạn sẽ không nhằm dạy dỗ chúng ta một điều gì mới mẻ về Chúa Cứu Thế cả. Phao-lô đề cập đến các chân lý trọng đại về Đấng Christ nhằm khích lệ tín hữu Phi-líp bắt chước để trở nên giống Đấng Christ, chứ không phải chỉ để biết về Ngài mà thôi.)
Hãy tiếp tục với 2:12-13. Luận điểm ở đây là gì? Rõ ràng đây là phần kết luận. Lưu ý chữ ấy vậy. Một khi đã được nhắc nhở về tấm gương của Đấng Christ, giờ đây họ phải vâng lời Phao-lô về việc gì? Chắc chắn là việc hiệp nhất, mà điều này đòi hỏi phải có thái độ khiêm nhu nữa. Cuối cùng, bạn cần chú ý cách Phao-lô giải quyết vấn đề thiếu hiệp một, rằng vấn đề cũng tương tự như tại Cô-rinh-tô, nhưng chắc còn có phần nghiêm trọng và phức tạp hơn thế nữa. Điều đó sẽ giúp bạn càng nhiều hơn để xác định cách bạn tái tạo vấn đề tại đó.
Các Phân Đoạn Khó Giải Thích
Chúng tôi chủ ý đưa bạn qua hai khúc sách với mục đích cho bạn thấy rằng bạn có thể tự mình thực hiện phần giải kinh, miễn là bạn học cách suy nghĩ từng phân đoạn và đặt đúng các câu hỏi về bối cảnh lịch sử và văn mạch. Nhưng chúng tôi biết còn nhiều phân đoạn Kinh Thánh khác mà chúng ta vẫn luôn luôn có thắc mắc - như ý nghĩa của câu “vì cớ các thiên sứ” trong ICo1Cr 11:10, hay “chịu phép báp-tem cho kẻ chết” trong ICo1Cr 15:29, hay “Đấng Christ...đi giảng cho các linh hồn bị tù” trong IPhi 1Pr 3:19, hoặc “người tội ác” trong IITe 2Tx 2:3. Tóm lại, chúng ta phải đi đâu để tìm cho ra ý nghĩa của các khúc sách này?
Sau đây là một số hướng dẫn.
1. Trong nhiều trường hợp, lý do khiến các bản văn trở thành khó hiểu đối với chúng ta là vì chúng vốn không được viết cho chúng ta. Tác giả và độc giả đầu tiên có cùng một cách suy nghĩ, điều đó cho phép tác giả được linh cảm đoán biết nhiều điều về phía độc giả của mình. Chẳng hạn như lúc Phao-lô nói với người Tê-sa-lô-ni-ca rằng họ sẽ nhớ lại là ông “đã thường nói với họ về những điều đó,” do đó “anh em biết rõ điều làm ngăn trở nó” (IITe 2Tx 2:5, 6), thì chúng ta cần học biết hài lòng với sự thiếu hiểu biết của mình. Điều ông đã nói với họ bằng miệng bây giờ có thể ăn khớp với những gì ông viết cho họ trong bức thư. Việc chúng ta bị thiếu phần trao đổi bằng miệng của ông khiến cho phần ông viết ra trở thành khó hiểu. Nhưng chúng ta cần xem đó như là chuyện đương nhiên: hễ Đức Chúa Trời muốn cho chúng ta hiểu điều gì thì Ngài đã truyền thông cho chúng ta rồi; còn điều Ngài không nói có lẽ vẫn khiến cho chúng ta quan tâm, nhưng chúng ta nên dè dặt về các điểm không biết chắc đó để khỏi trở thành độc đoán.
2. Tuy nhiên như chúng tôi từng gợi ý, ngay cả khi chúng ta không biết đầy đủ về một số chi tiết, thì luận điểm của cả khúc sách vẫn thường nằm trong tầm lãnh hội của chúng ta. Cho dù người Cô-rinh-tô có làm gì trong việc “báp-tem cho người chết” đi nữa, chúng ta vẫn biết tại sao ông lại đề cập tập quán đó của họ. Hành động đó là một thứ “kinh nghiệm bản thân” cho thấy họ đã bất nhất khi chối bỏ sự sống lại trong tương lai của tín hữu.
3. Mặc dầu có những đều mơ hồ so với một số chi tiết chính xác, ta cần tìm hiểu điều gì là chắc chắn trong một đoạn văn, và điều gì có khả năng xảy ra nhưng không chắc chắn. Hãy xem lại ICo1Cr 15:29 như một thí dụ. Điều gì được quả quyết? Một số người Cô-rinh-tô quả thật có “làm phép báp-tem cho người chết” cho dù chúng ta có thích thừa nhận điều đó hay không. Hơn nữa, Phao-lô không buộc tội cũng chẳng đồng tình với việc làm đó của họ; ông chỉ nói về nó - vì một lý do khác hẳn với chính việc thực hành nghi thức đó. Nhưng chúng ta không biết và có lẽ là sẽ chẳng bao giờ biết được ai đã làm như thế, họ làm vì ai, và tại sao họ lại làm việc đó. Vì vậy, có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được các chi tiết và ý nghĩa của tập quán đó.
4. Gặp những phân đoạn như vậy, ta cần tra cứu sách giải nghĩa tốt. Như chúng tôi sẽ nêu rõ trong phần phụ lục, chính việc giải quyết một khúc sách như thế giúp ta biết được các bộ giải kinh tốt. Các bộ sách tốt sẽ liệt kê và ít ra cũng sẽ thảo luận vắn tắt các giải thích khác nhau với đủ các lý lẽ bênh vực hoặc bác bỏ. Có lẽ bạn không luôn luôn đồng ý với cách giải thích của cá nhân các nhà giải kinh, nhưng bạn cần biết các cách giải thích khác nhau, và các bộ sách giải nghĩa tốt sẽ làm công việc ấy giúp bạn.
Cuối cùng, chúng tôi xin gợi ý rằng ngay đến các học giả cũng không có hết tất cả các câu trả lời. Nếu một phân đoạn nào đó có từ bốn đến mười bốn ý nghĩa có thể chọn, thì cả đến các học giả cũng chỉ phỏng đoán mà thôi! Những bản văn như ICo1Cr 15:29 (đã có ít nhất bốn mươi cách phỏng đoán khác nhau) sẽ giúp chúng ta có thái độ khiêm nhu phải lẽ.
Tuy nhiên, việc chúng ta đã làm trong chương này chỉ mới là phân nửa nhiệm vụ phải làm. Phân nửa đầu này rất quan trọng, tuy nhiên bây giờ chúng ta cần tiếp tục đặt câu hỏi để tìm cách ứng dụng đoạn Kinh Thánh cho chúng ta. Chúng ta đã học nghe Lời Đức Chúa Trời phán với họ. Thế Lời Ngài phán gì với chúng ta? Đây là điều chúng ta sẽ làm trong chương tiếp theo.

Các Thư Tín: Những Vấn Đề Giảng Kinh

Bây giờ, chúng ta sẽ nghiên cứu điều đã đề cập: vấn đề giảng kinh (hermeneutics). Đoạn văn này có ý nghĩa gì cho chúng ta? Đây là trọng tâm, và so với công việc này thì giải kinh (exegesis) còn tương đối dễ dàng. Ít nhất là trong việc giải kinh, phần đông mọi người đều nhất trí với nhau ý nghĩa chung, ngay cả khi có bất đồng ý kiến ở một số điểm cá biệt. Bối cảnh lịch sử và văn mạch không cho phép giải nghĩa tùy tiện. Chẳng hạn Phao-lô không thể ám chỉ điều gì đó mà độc giả của ông chưa từng nghe; điều ông muốn nói ít nhất cũng nằm trong phạm vi những điều có thể xảy ra hồi thế kỷ thứ nhất.
Tuy nhiên, dường như không có sự nhất trí như thế trong giảng kinh (học biết ý nghĩa trong bối cảnh của thời đại chúng ta). Mọi người đều “làm” công tác giảng kinh, ngay cả khi họ chẳng biết chút gì về giải kinh cả. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có nhiều điểm khác nhau giữa vòng các Cơ Đốc nhân; điều lạ lùng hơn là những điểm thật sự khác nhau không có nhiều. Lý do là vì thật ra chúng ta có chung một căn bản giảng kinh, cả khi chúng ta không nói rõ ra.
Trước hết, điều chúng tôi muốn làm trong chương này là phác họa loại giảng kinh thông thường của phần đông tín hữu, chỉ ra các ưu và khuyết điểm của nó, rồi thảo luận và đưa ra một số hướng dẫn cho nhiều lãnh vực mà loại giảng kinh này còn thiếu xót. Nan đề của các Cơ Đốc nhân dấn thân nghiên cứu Kinh Thánh như là Lời của Đức Chúa Trời liên quan đến tính tương đối của văn hóa, điều gì có tính cách văn hóa chỉ thuộc thế kỷ thứ nhất, còn điều vượt trên văn hóa và do đó trở nên Lời cho mọi thời đại. Đây là điều rất cần được chú ý.
Giảng Kinh Theo Nhận Thức Thông Thường Của Chúng Ta
Ngay cả khi bạn thắc mắc “Herman là ai?” khi gặp từ “hermeneutics” (giảng kinh) thì thực sự bạn đang dính líu với công tác giảng kinh. Chúng ta làm gì khi đọc các thư tín? Rất đơn giản, chúng ta sử dụng nhận thức thông thường của chúng ta để hiểu đoạn kinh văn mình đọc, rồi ứng dụng điều mình có thể ứng dụng vào hoàn cảnh của riêng mình. Những gì có vẻ không thể đem ra ứng dụng, đơn giản là nên chừa lại cho thế kỷ thứ nhất.
Có lẽ chẳng có ai trong chúng ta nghĩ rằng mình được Thánh Linh kêu gọi hành hương đến Trô-ách để đem chiếc áo choàng của Phao-lô còn để tại nhà Cơ-rít-bu đến cho ông trong nhà tù tại Rô-ma (IITi 2Tm 4:13), tuy khúc sách này rõ ràng là một mệnh lệnh dạy phải làm như thế. Thế nhưng, cũng từ một bức thư ấy, hầu hết các Cơ Đốc nhân đều tin rằng Đức Chúa Trời dạy họ hễ khi nào gặp khó khăn thì phải “chịu khổ như một người lính giỏi của Đức Chúa Giê-xu Christ” (2:3). Không ai trong chúng ta lại thắc mắc về những lời dạy này, tuy nhiều người trong chúng ta lắm khi phải chiến đấu để vui vẻ vâng theo lời dạy thứ hai.
Xin nhấn mạnh ở đây rằng phần lớn các vấn đề trong các thư tín đều rất phù hợp với cách giảng kinh theo tri thức thông thường. Với hầu hết các đoạn kinh văn, vấn đề không phải là ta có nên vâng theo hay không, nhưng là “nhắc nhở nhau để giục giã nhau” (IIPhi 2Pr 1:15, KJV).
Những vấn đề - và những điểm dị biệt - của chúng ta phát xuất từ những bản văn mà có người cho rằng phải vâng theo đúng những gì được nêu lên, còn những người khác lại không chắc phải làm đúng như thế. Có vài khó khăn trong sự giảng kinh của chúng ta, nhưng tất cả đều có liên quan với một điều - sự thiếu nhất quán của chúng ta. Đây là một khuyết điểm lớn khi chúng ta giảng kinh theo tri thức phổ thông. Tuy không hẳn là cố ý, chúng ta vẫn đưa di sản thần học, truyền thống giáo hội, các nề nếp văn hóa, hay những mối quan tâm hiện sinh của mình vào trong các Thư Tín khi đọc chúng. Và điều này đã dẫn tới hậu quả là đủ các loại giải thích về một số phân đoạn nào đó.
Chẳng hạn như điều lý thú là mọi người trong các hệ phái Tin Lành hoặc Bảo Thủ Mỹ đều nhất trí với lập trường chung của chúng ta liên hệ đến IITi 2Tm 2:3 và 4:13. Tuy nhiên, môi trường văn hóa của các Cơ Đốc nhân ấy lại khiến họ tranh luận để chống lại việc vâng theo ITi1Tm 5:23 “Đừng chỉ uống nước luôn, nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở.” Chúng ta biết rằng điều đó chỉ có can hệ với Ti-mô-thê, chứ không phải là với chúng ta, vì thời bấy giờ, uống nước lã là điều không an toàn. Hay nói cách khác, người ta thậm chí còn lý luận rằng thật ra rượu chỉ có nghĩa là “nước nho” - mặc dầu ta có thể ngạc nhiên làm thế nào để có loại nước ấy khi cách chế biến của Welch và đông lạnh chưa có! Nhưng tại sao lời khuyên cá nhân này chỉ bị giới hạn cho một mình Ti-mô-thê mà thôi, trong khi lời khuyến giục hãy tiếp tục ở trong Lời Đức Chúa Trời (IITi 2Tm 3:14-16), vốn là một mệnh lệnh cho riêng Ti-mô-thê, lại trở thành mệnh lệnh đối với tất cả mọi người thuộc mọi thời đại? Hãy coi chừng, một người có thể đúng khi phớt lờ ITi1Tm 5:23 như thể không có ứng dụng cá nhân cho hiện nay, nhưng dựa trên nền tảng giảng kinh nào?
Hoặc vấn đề nhiều tín hữu truyền thống đã đả kích nhóm “dân của Chúa Giê-xu” (Jesus people) trong những năm cuối thập niên 1960 và đầu 1970 vừa qua. Thanh niên để tóc dài đã trở thành biểu tượng của một kỷ nguyên mới trong văn hóa híp-pi của những năm 1960. Với các Cơ Đốc nhân mang biểu tượng đó, nhất là dưới ánh sáng của ICo1Cr 11:14 (“Chính lẽ tự nhiên há chẳng dạy cho anh em biết đàn ông để tóc dài thì lấy làm hổ thẹn sao?”) chẳng khác gì là một thách thức công khai đối với Đức Chúa Trời. Thế nhưng phần đông số người trích dẫn câu Kinh Thánh ấy để chống lại văn hóa của những người trẻ lại cho phép phụ nữ Cơ Đốc cắt tóc ngắn (bất chấp câu 15), không nhấn mạnh việc các phụ nữ phải trùm đầu lại khi thờ phượng, và chẳng bao giờ lưu tâm rằng cái “tự nhiên” đó có bởi một phương tiện rất trái tự nhiên - là cắt tóc.
Hai thí dụ trên đây chỉ nhằm minh họa vấn đề văn hóa ảnh hưởng mạnh mẽ đến cái gọi là nhận thức thông thường (common sense) của bất cứ một ai trong chúng ta. Ngoài ra còn có những điều khác chi phối nhận thức thông thường như truyền thống giáo hội. Tại sao trong nhiều nhà thờ Tin Lành, phụ nữ bị cấm phát biểu giữa Hội Thánh căn cứ vào ICo1Cr 14:34-35, thế nhưng chính các nhà thờ ấy lại lý luận chống đối lại những điều khác trong chương 14 cho rằng đó không thuộc về thế kỷ thứ hai mươi? Tại sao các câu 34-35 thì thuộc về mọi thời đại, mọi nền văn hóa, trong khi mấy câu 1-5, hay 26-33 và 39-40 nêu lên các quy tắc cho việc nói tiên tri và nói tiếng lạ, lại chỉ thuộc về Hội Thánh hồi thế kỷ thứ nhất mà thôi?
Cần lưu ý thêm rằng các Cơ Đốc nhân của thế kỷ thứ hai mươi rất dễ đọc thấy truyền thống của giáo hội mình trong I Ti-mô-thê và Tít. Thế nhưng rất ít Hội Thánh có một chức vụ lãnh đạo đa diện như được nêu ở đây (ITi1Tm 5:17; Tit Tt 1:5; Ti-mô-thê không phải là một mục sư; ông chỉ là phái viên tạm thời của Phao-lô sai đến để sắp xếp mọi việc cho có trật tự và sửa sai các lạm dụng mà thôi). Và lại càng ít Hội Thánh thật sự “ghi tên các goá phụ vào sổ” theo các hướng dẫn của ITi1Tm 5:3-15.
Bạn có thấy rằng kiến thức thần học của chúng ta chi phối sự hiểu về đoạn kinh văn mà chúng ta đọc, trong khi ta lại né tránh một số đoạn khác hay không? Một số Cơ Đốc nhân rất ngạc nhiên khi nhận thấy rằng nhiều Cơ Đốc nhân trưng dẫn Kinh Thánh hậu thuẫn cho việc báp-tem trẻ con ICo1Cr 1:16; 7:14; 2:11-12 hay với nhiều người khác thì sự tái lâm gồm hai giai đoạn trong IITe 2Tx 2:1, hay càng nhiều người hơn nữa đã tìm thấy chứng cứ hiển nhiên cho sự thánh hóa như là một công tác thứ hai của ân điển trong Tit Tt 3:5. Với nhiều người theo truyền thống của Arminius, là người nhấn mạnh trên ý chí tự do và trách nhiệm của người tín hữu, thì các đoạn văn như RoRm 8:30; 9:18-24; GaGl 1:15; Eph Ep 1:4-5 là điều khó hiểu. Cũng thế, nhiều tín đồ theo chủ trương của Calvin có cách hiểu riêng ICo1Cr 10:1-13 IIPhi 2Pr 2:20-22; HeDt 6:4-6. Theo kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi, sinh viên theo các truyền thống đó rất ít khi thắc mắc ý nghĩa của các đoạn kinh văn ấy; họ chỉ muốn biết “phải trả lời như thế nào” cho các phần Kinh Thánh đó mà thôi!
Có lẽ một số người không đồng ý với chúng tôi trong mấy phân đoạn vừa rồi, nhưng chúng tôi tìm cách chứng minh cho thấy vấn đề vô cùng quan trọng, và Cơ Đốc nhân cần phải hội thảo với nhau ở điểm cốt yếu nầy. Thế thì, đâu là các nguyên tắc hướng dẫn cần thiết để việc giảng kinh các Thư tín được nhất quán hơn?
Quy Luật Căn Bản
Chắc bạn nhớ rằng trong chương 1, chúng tôi đã đưa ra một tiền đề làm quy luật cơ bản, đó là một đoạn kinh văn không thể ngụ ý nói điều mà nó chẳng hề ngụ ý muốn nói với tác giả hoặc độc giả đầu tiên. Chính vì lý do ấy mà giải kinh phải luôn luôn đi trước. Chúng tôi nhắc lại tiền đề đó ở đây vì nó rất quan trọng và ít ra điều này cũng định một số giới hạn nào đó cho việc giải nghĩa. Quy luật này không luôn luôn giúp ta tìm ra ý nghĩa của đoạn kinh văn, nhưng giúp ta giới hạn điều mà nó không thể ngụ ý.
Chẳng hạn, cách biện minh thông thường nhất cho việc bỏ qua các quyết định liên quan đến việc tìm cầu các ân tứ thuộc linh trong ICo1Cr 14:1-40 là dùng cách giải nghĩa cá biệt ICo1Cr 13:10, “lúc sự trọn lành đã đến, thì sự chưa trọn lành sẽ bị bỏ” (RSV). Chúng ta được bảo rằng sự trọn lành đã đến trong hình thức của bộ Tân Ước, do đó sự chưa trọn lành (lời tiên tri và tiếng lạ) đã chấm dứt trong Hội Thánh. Nhưng đây chính là điều mà câu Kinh Thánh không hề ngụ ý vì phương pháp giải kinh đúng hoàn toàn không cho phép. Phao-lô không thể nào muốn nói như thế được - vì dù sao, các độc giả của ông không thể biết được bộ Tân Ước sẽ như thế nào, và Đức Thánh Linh không thể cho phép Phao-lô viết một điều mà họ hoàn toàn không thể hiểu.
Quy Luật Thứ Hai
Quy luật cơ bản thứ hai thật ra là một cách diễn tả khác việc giảng kinh theo nhận thức thông thường của chúng ta. Qui luật này là, Hễ khi nào chúng ta có những điểm cá biệt tương tự (nghĩa là các hoàn cảnh sống cụ thể giống nhau) với bối cảnh hồi thế kỷ thứ nhất, thì Lời của Đức Chúa Trời đối với chúng ta cũng có ý nghĩa giống hệt như Lời Ngài cho họ. Chính quy luật này làm cho phần lớn các đoạn kinh văn mang ý nghĩa thần học và các mệnh lệnh đạo đức cộng đồng trong các Thư tín có ý nghĩa đối với Cơ Đốc nhân hiện đại, làm cho chúng ta thấy mình gần gũi với thế kỷ thứ nhất. Điều vẫn còn nghiệm đúng là “mọi người đều đã phạm tội” và “ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà chúng ta được cứu.” Hãy mặc lấy “sự nhân từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục” (CoCl 3:12) vẫn là Lời của Đức Chúa Trời cho những ai là tín hữu.
Hai phân đoạn dài hơn mà chúng ta đã giải nghĩa trong chương trước dường như thuộc loại này. Một khi chúng ta đã giải nghĩa và khám phá điều Lời Đức Chúa Trời đã phán dạy họ, thì chúng ta tức khắc tự đặt mình dưới cùng một Lời ấy của Chúa. Chúng ta vẫn có các chi hội địa phương, vẫn có các cấp lãnh đạo cần nghe Lời Chúa và cẩn thận trong cách họ xây dựng Hội Thánh. Dường như Hội Thánh thường bị xây cất bằng gỗ, cỏ khô, rơm rạ, chứ không phải là bằng vàng, bạc, bửu thạch, mà một công tác như thế khi bị thử nghiệm bằng lửa chỉ là phí công vô ích. Chúng ta lý luận rằng ICo1Cr 3:16-17 vẫn là Lời Đức Chúa Trời phán cho chúng ta để dạy rằng đó là trách nhiệm của chúng ta đối với chi hội địa phương. Đó phải là một nơi mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trị, do đó sẽ đứng vững như là nơi Đức Chúa Trời đã chọn để thay cho xã hội tội lỗi và xa cách Đức chúa Trời.
Điều cần thận trọng là chúng ta phải giải kinh đúng để chúng ta tin tưởng rằng hoàn cảnh và trường hợp cá biệt của chúng ta có thể so sánh với của họ. Chính vì thế mà việc tái dựng thật cẩn thận nan đề của họ là việc rất quan trọng. Thí dụ, khi giảng kinh chúng ta cần biết việc kiện tụng trong ICo1Cr 6:1-11 là trường hợp giữa hai Cơ Đốc nhân trước một thẩm phán ngoại đạo tại nơi họp chợ công khai ở Cô-rinh-tô. Chúng ta có thể lý luận rằng luận điểm của đoạn kinh văn vẫn chẳng có gì thay đổi nếu tình cờ vị thẩm phán là một Cơ Đốc nhân, hoặc được xét xử tại một toà án. Chỗ sai là vì hai anh em ấy lại đi kiện nhau ngoài Hội Thánh, như các câu 6-11 đã nêu rõ. Mặt khác, một người có thể thắc mắc chẳng hay điều đó có áp dụng cho việc một Cơ Đốc nhân kiện một công ty tại Hoa Kỳ hiện nay hay không, vì trường hợp này không phải tất cả những chi tiết cá biệt đều giống nhau - mặc dầu người đó phải lưu ý lời dạy của Phao-lô về vấn đề đạo đức không nên ăn miếng trả miếng mà Chúa Giê-xu đòi hỏi (c. 7).
Tất cả những gì đã được nói đến dường như đều khá dễ dàng. Nhưng vấn đề thế nào một bản văn như ICo1Cr 6:1-11 có thể ứng dụng “vượt ra ngoài” các trường hợp cá biệt của nó chỉ mới là một trong số nhiều loại vấn đề cần được thảo luận. Phần còn lại của chương này sẽ dành cho bốn vấn đề như thế.
Vấn Đề Áp Dụng Mở Rộng
Chúng ta vừa đề cập vấn đề đầu tiên. Khi có những trường hợp cá biệt và những hoàn cảnh giống như thế trong Hội Thánh ngày nay, thì mở rộng cách ứng dụng đoạn kinh văn ấy cho nhiều bối cảnh khác, hoặc đem nó ứng dụng vào một bối cảnh hoàn toàn xa lạ với bối cảnh của thế kỷ thứ nhất có phải là điều hợp lý không?
Thí dụ người ta có thể lý luận rằng ICo1Cr 3:16-17 được viết cho Hội Thánh địa phương, trình bày nguyên tắc rằng điều gì Đức Chúa Trời đã biệt riêng cho Ngài bằng sự hiện diện của Thánh Linh sẽ trở nên thánh khiết và hễ ai phá hủy nó phải chịu sự đoán phạt đáng sợ của Đức Chúa Trời. Nguyên tắc này bây giờ có thể áp dụng cho cá nhân Cơ Đốc nhân để dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét người nào lạm dụng thân thể của mình không? Cũng thế, ICo1Cr 3:10-15 được viết cho những người có trách nhiệm xây dựng trong Hội Thánh, và cảnh cáo rằng họ sẽ bị thua thiệt nếu xây dựng tồi. Vì đoạn Kinh Thánh đề cập sự phán xét và sự cứu rỗi (được cứu dường như qua lửa), vậy nếu dùng khúc Kinh Thánh này để minh họa cho sự an toàn của người tín hữu thì có hợp lý không?
Nếu cho những cách áp dụng này là hợp lý, thì chúng ta có lý do chính đáng để quan tâm. Vì nó cho thấy cách ứng dụng như thế hoàn toàn chểnh mảng khi giải kinh. Dù sao thì ứng dụng ICo1Cr 3:16-17 cho cá nhân người tín hữu là điều sai lầm mà nhiều người trong Hội Thánh đã làm qua nhiều thế kỷ. Nếu vậy thì cần gì phải giải kinh? Tại sao không đơn giản bắt đầu với cái ngay bây giờ và tại đây để rơi vào sai lầm của nhiều thế kỷ qua?
Do đó, chúng ta phải lý luận rằng khi có những hoàn cảnh và trường hợp cá biệt tương tự, thì ý định nguyên thủy của Lời của Đức Chúa Trời sẽ kiểm soát sự áp dụng của chúng ta. Hơn nữa, cần lưu ý rằng việc mở rộng cách ứng dụng thường được xem là hợp lý vì nó đúng, nghĩa là nó được nói ra thật rõ ràng trong nhiều khúc sách khác cho thấy đó là ý định của khúc sách ấy. Trong trường hợp như thế, thì ta nên tự hỏi xem điều mình đã học được chỉ bằng cách ứng dụng mở rộng có thật đúng là Lời của Đức Chúa Trời hay không.
Một trường hợp còn khó khăn hơn nữa trong IICo 2Cr 6:14: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin.” Theo truyền thống thì câu Kinh Thánh này bị giải nghĩa sai là cấm việc kết hôn giữa một Cơ Đốc nhân với người không tin Chúa. Tuy nhiên, hình ảnh chiếc ách rất ít khi được thời cổ đại dùng để ám chỉ hôn nhân, và văn mạch cũng không cho phép áp dụng câu Kinh Thánh này vào hôn nhân.
Điểm khó khăn là chúng ta không biết rõ nguyên bản muốn cấm điều gì. Dường như câu Kinh Thánh này ám chỉ việc thờ thần tượng, có lẽ là một cách cấm đoán tham dự các đám tiệc liên hệ với việc thờ thần tượng (so sánh ICo1Cr 10:14-22). Như thế, vì chúng ta không thể biết chắc ý nghĩa nguyên thủy của câu Kinh Thánh nên chúng ta không thể “mở rộng” việc áp dụng lời dạy này sao? Có thể là được, nhưng nên nhớ rằng một lời dạy của Kinh Thánh có thể được hỗ trợ mà không cần đến câu Kinh Thánh đơn độc này.
Vấn Đề Các Trường Hợp Cá Biệt Không Thể So Sánh
Vấn đề ở đây liên quan với hai loại kinh văn trong các Thư tín: các đoạn văn đề cập những vấn đề của thế kỷ thứ nhất mà phần lớn đều không có trường hợp tương ứng nào trong thế kỷ hai mươi, và những đoạn văn đề cập các vấn đề cũng có thể xảy ra trong thế kỷ hai mươi, nhưng rất khó xảy ra. Với những phần Kinh Thánh như thế, chúng ta phải làm gì và học được gì?
Về loại thứ nhất, chúng ta lấy thí dụ trong ICo1Cr 8:1-10:33, chỗ Phao-lô nêu lên ba vấn đề: (1) Các Cơ Đốc nhân lý luận rằng họ được đặc quyền tham gia các bữa tiệc cúng thần tượng của những người láng giềng ngoại đạo của họ (xem 8:10; 10:14-22), (2) người Cô-rinh-tô thắc mắc uy quyền sứ đồ của Phao-lô (xem 9:1-23), (3) thức ăn cúng cho các thần tượng, rồi được đem ra bán ngoài chợ (10:23-11:1).
Những phân đoạn này khi được giải thích dúng đắn chúng ta sẽ thấy Phao-lô trả lời cho các vấn đề này như sau: (1) Họ tuyệt đối không được tham dự các lễ tiệc cúng tế thần tượng vì nguyên tắc gây cớ vấp phạm (8:7-13), vì việc ăn uống như thế không phù hợp với đời sống trong Chúa Cứu Thế, tức đời sống đã dự phần trong bàn Tiệc Thánh (10:16-17), và vì ăn uống như thế có nghĩa là dự phần vào công việc của ma quỉ (10:19-22). (2) Phao-lô bênh vực cho quyền được trợ cấp tài chánh với tư cách một sứ đồ, dầu rằng ông đã từ bỏ cái quyền ấy; ông cũng bênh vực cho các hành động có vẻ thờ ơ của ông (9:19-23). (3) Có thể mua và ăn các thức ăn đã cúng cho thần tượng được đem bán ngoài chợ, và cũng có thể tự do ăn nó tại nhà người khác nữa. Trong trường hợp sau, ta có thể từ chối nếu việc ấy làm cho người khác vấp phạm. Ta có thể ăn bất cứ vật gì vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nhưng đừng nên làm việc gì cố ý gây vấp phạm.
Vấn đề chúng ta quan tâm là trong văn hóa phương Tây không có tập tục thờ cúng thần tượng, nên (1) và (3) không được đặt ra. Hơn nữa, chúng ta chẳng còn các vị sứ đồ theo nghĩa Phao-lô, tức là những người thật sự được gặp Chúa Cứu Thế Phục Sinh (9:1; đối chiếu 15:8), đã thành lập và có uy quyền trên các Hội Thánh mới (9:1-2; đối chiếu IICo 2Cr 10:16).
Loại kinh văn thứ hai có thể được lấy thí dụ trong ICo1Cr 5:1-11 nói về kẻ loạn luân, hoặc ICo1Cr 11:17-22 nói về những kẻ say sưa tại bàn Tiệc Thánh, hoặc trong GaGl 5:2 nói về những kẻ muốn ép buộc những Cơ Đốc nhân chưa chịu phép cắt bì phải chịu phép cắt bì. Những việc này gần như không xảy ra trong văn hóa của chúng ta, tuy có thể có.
Câu hỏi cần được trả lời những vấn đề không có trong thế kỷ hai mươi có ý nghĩa gì đối với các Cơ Đốc nhân ở thế kỷ thứ hai mươi? Chúng tôi đề nghị cách giảng kinh thích hợp ở đây nên theo hai bước:
Trước hết, chúng ta phải thực hiện việc giải kinh cách hết sức cẩn trọng để có thể nghe được điều Chúa muốn phán dạy họ lúc đó thật có ý nghĩa gì. Trong hầu hết các trường hợp, một nguyên tắc rõ ràng được nêu ra thường vượt trên nét cá biệt lịch sử của thời điểm nó được áp dụng.
Thứ hai, cũng là điểm quan trọng, nguyên tắc ấy đã không trở thành phi thời gian để giờ đây, nó có thể được áp dụng bừa bãi hoặc đối với bất kỳ hoàn cảnh nào hay trong mọi loại hoàn cảnh. Chúng tôi muốn nói rằng nó chỉ được áp dụng cho những hoàn cảnh thật sự giống như thế.
Để minh họa cho cả hai điểm này, trước hết, Phao-lô cấm tham dự các bữa ăn trong đền miếu dựa trên nguyên tắc gây vấp phạm. Nhưng cần lưu ý là điều này không nói đến một điều gì đó chỉ gây vấp phạm cho một tín hữu khác. Nguyên tắc gây vấp phạm nói đến một điều gì mà một tín hữu cảm thấy mình có thể làm với lương tâm tốt, và bởi hành động hoặc bởi thuyết phục, người ấy dẫn dụ một tín hữu khác cùng làm nhưng lương tâm cắn rứt. Cuối cùng người anh em hay chị em bị “sa ngã” vì bắt chước hành động của người kia; người anh chị em ấy không chỉ bị xúc phạm bởi việc làm ấy. Do đó, nguyên tắc này dường như chỉ áp dụng khi có những hoàn cảnh thật sự giống hệt mà thôi.
Thứ hai, cuối cùng Phao-lô tuyệt đối cấm việc tham dự các bữa ăn trong đền miếu, vì điều đó có nghĩa là dự phần vào công việc của ma quỷ. Các Cơ Đốc nhân thường lầm lẫn không rõ hoạt động của ma quỷ gồm có những gì. Tuy nhiên điều này dường như là một cấm đoán chuẩn mực của Cơ Đốc nhân đối với mọi hình thức cầu vong, phù phép, chiêm tinh, vv...
Hơn nữa, chúng ta không có các sứ đồ, và đa số các tín đồ Tin Lành không nghĩ rằng vị mục sư của họ thừa kế truyền thống các sứ đồ. Nhưng nguyên tắc “ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành” (ICo1Cr 9:14) dường như chắc chắn có thể đem ra áp dụng cho mục vụ đương đại vì nó được những chỗ khác trong Kinh Thánh chứng thực (thí dụ ITi1Tm 5:17-18).
Vấn đề ăn thịt đã cúng tế thần tượng bán ngoài chợ (ICo1Cr 10:23-11:1) nêu lên một nan đề trong việc giảng kinh. Thức ăn như thế không quan trọng - cả với Đức Chúa Trời lẫn với Phao-lô. Nhưng sự việc không phải vậy với nhiều người khác. Khó khăn tương tự liên hệ đến thức ăn thức uống và việc giữ ngày trong RoRm 14:1-23, và nhiều vấn đề khác trong CoCl 2:16-23.
Với chúng ta thì vấn đề là làm thế nào để phân biệt đâu là điều quan trọng đâu là không, một vấn đề càng tăng cấp vì các việc ấy thay đổi từ văn hóa này sang văn hóa khác, từ nhóm Cơ Đốc nhân này sang nhóm Cơ Đốc nhân khác, y như việc đã xảy ra hồi thế kỷ thứ nhất vậy. Trong thế kỷ thứ hai mươi, chỉ nói riêng tại Hoa Kỳ mà thôi, một bảng liệt kê các vấn đề như thế gồm có việc ăn mặc (chiều dài của y phục, cà-vạt, kích cỡ rộng hẹp đối với phụ nữ), mỹ phẩm, đồ trang sức, các thú tiêu khiển, và giải trí (phim ảnh, TV, đánh bài, khiêu vũ, nam nữ bơi chung), các môn điền kinh, các thức ăn thức uống. Cũng như với số người phê phán tinh thần tự do của Phao-lô trong việc ăn của cúng tế thần tượng, những người cho rằng kiêng cữ bất kỳ điều gì trong các thành phần vừa kể trên là sống thánh khiết trước mặt Đức Chúa Trời không nghĩ rằng đó là những điều không quan trọng.
Vậy, điều gì khiến cho điều gì đó trở thành không quan trọng? Chúng tôi gợi ý các hướng dẫn sau đây:
1. Những điều cụ thể mà các Thư tín đã xem là những vấn đề không quan trọng thì vẫn có thể xem là không quan trọng , chẳng hạn thức ăn, thức uống, giữ ngày, vv...
2. Các vấn đề không quan trọng không gắn liền với luân lý đạo đức nhưng có tính cách văn hóa - cả khi nó bắt nguồn từ văn hóa tôn giáo. Do đó, các vấn đề thường thay đổi theo từng nền văn hóa, kể cả giữa vòng các tín hữu chân chính, thường có thể được coi là các vấn đề không quan trọng (chẳng hạn giữa văn hóa chấp nhận uống rượu và không uống rượu).
3. Các bảng liệt kê tội lỗi trong các Thư tín (thí dụ như RoRm 1:29-30; ICo1Cr 5:11; 6:9-10; IITi 2Tm 3:2-4) chẳng bao giờ kể luôn các điều mà chúng tôi vừa liệt kê trên đây để xem như tương đương với nhau. Hơn nữa những điều tương đương như thế chẳng bao giờ được đưa vào các bảng liệt kê khác nhau về các mệnh lệnh Cơ Đốc (thí dụ RoRm 12:1-21; Eph Ep 5:1-33; CoCl 3:1-25 vv...)
Dĩ nhiên không phải ai cũng sẽ nhất trí với cách thẩm định của chúng tôi. Tuy nhiên, theo RoRm 14:1-23, những người thuộc cả hai phía của bất kỳ những vấn đề nào trong số này đều không nên phê phán hay bài bác lẫn nhau. Người tự do không nên khoe khoang tinh thần tự do của mình; những người mà những vấn đề như thế vốn là niềm tin quyết sâu sắc của cá nhân cũng không nên kết án người khác.
Vấn Đề Tính Tương Đối Trong Văn Hóa
Ngày nay người ta gặp nhiều khó khăn và nhiều ý kiến bất đồng trong lãnh vực này. Đây là chỗ nảy sinh vấn đề Lời vĩnh hằng của Đức Chúa Trời được ban bố trong bối cảnh lịch sử cá biệt cách rõ rệt nhất. Vấn đề này có các bước như sau: (1) Các Thư Tín là những văn kiện được viết để giải quyết điều gì đó hồi thế kỷ thứ nhất, phải theo các điều kiện ngôn ngữ và văn hóa của thế kỷ thứ nhất, và nói trong những hoàn cảnh đặc thù trong Hội Thánh hồi thế kỷ thứ nhất. (2) Nhiều hoàn cảnh cụ thể trong các Thư tín hoàn toàn chịu ảnh hưởng của bối cảnh ở thế kỷ thứ nhất đến nỗi mọi người đều thừa nhận rằng rất khó - hoặc không thể - ứng dụng như là Lời Đức Chúa Trời cho tín hữu ngày nay, có lẽ ngoại trừ việc rút ra một vài nguyên tắc nào đó theo nghĩa rộng nhất (thí dụ việc đem chiếc áo choàng của Phao-lô còn để lại tại nhà của Cơ-rít-bu đến Trô-ách). (3) Nhiều đoạn văn khác bị bối cảnh của thế kỷ thứ nhất chi phối, nhưng Lời dạy của Chúa cho họ có thể được diễn dịch sang bối cảnh mới nhưng tương tự. (4) Do đó, không thể có những đoạn kinh văn khác, dầu rằng dường như chúng có các trường hợp cá biệt tương tự, cũng chịu chi phối bởi bối cảnh thế kỷ thứ nhất của chúng và cần được diễn dịch sang các bối cảnh mới hoặc chỉ đơn giản là cứ bỏ mặc chúng cho thế kỷ thứ nhất.
Hầu như toàn thể các Cơ Đốc nhân đều diễn dịch các bản văn Kinh Thánh sang các bối cảnh mới, ít nhất ở một mức độ nào đó. Tuy không nói thẳng ra, nhưng đây chính là lý do khiến nhiều tín hữu Tin Lành bảo thủ của thế kỷ hai mươi để vấn đề “uống chút ít rượu vì tì vị con yếu” ở thế kỷ thứ nhất, không nhấn mạnh đến vấn đề trùm đầu hoặc để tóc dài của phụ nữ ngày nay, và không thực hiện “cái hôn thánh.” Tuy nhiên, nhiều người trong số đó lại tỏ vẻ khó chịu khi có ai dùng nền tảng này để binh vực sự giảng dạy của phụ nữ trong Hội Thánh (khi có sự hiện diện của phái nam), và tức khắc bộc lộ thái độ bất mãn khi có người dùng nền tảng này bào chữa cho việc đồng tính luyến ái.
Nhiều người thường cố tìm cách phủ nhận ý niệm về tính tương đối của văn hóa, điều này đưa đến chỗ ít nhiều bênh vực cho quan điểm chấp nhận toàn thể nền văn hóa của thế kỷ thứ nhất như là mẫu mực của Đức Chúa Trời. Sự phủ nhận như vậy thường chỉ thành công ở một chừng mực nào đó mà thôi. Họ có thể giữ các con gái họ ở nhà không chịu cho chúng đến trường và tự sắp xếp để gả chồng cho chúng, nhưng họ lại thường cho phép chúng học đọc và ra ngoài công chúng mà chẳng mang tấm mạng che mặt. Người ta khó mà giữ được sự nhất quán, bởi vì chẳng hề có văn hóa nào được xem là chuẩn mực thiên thượng; văn hóa thường khác nhau, chẳng những từ thế kỷ thứ nhất cho đến thế kỷ thứ hai mươi, mà ngay trong chính thế kỷ thứ hai mươi này cũng có những lối nhận thức khác nhau.
Thay vì chối bỏ, chúng tôi cho rằng thừa nhận trong mức độ nào đó tính tương đối của văn hóa là phương thức giảng kinh có giá trị và là một kết quả tất yếu của tính chất cơ hội của các Thư tín. Nhưng chúng tôi cũng tin rằng muốn có giá trị, việc giảng kinh của chúng ta phải thực hiện trong những phương cách hợp lý.
Do đó, chúng tôi muốn đề nghị các hướng dẫn sau đây để phân biệt điều gì có tính văn hóa tương đối, và những điều gì vượt khỏi bối cảnh nguyên thủy của chúng và trở thành qui luật cho toàn thể Cơ Đốc nhân thuộc mọi thời đại. Chúng tôi không cho rằng các hướng dẫn này đã được “ban cho các thánh đồ một lần đủ cả,” nhưng chúng phản ánh lối suy nghĩ hiện tại của chúng tôi và chúng tôi muốn khuyến khích thảo luận sâu hơn và trao đổi nhiều hơn (nhiều đề nghị ở đây đã được một bạn đồng liêu cũ của chúng tôi là David M. Scholer cùng cộng tác thực hiện).
1. Trước hết, ta phải phân biệt giữa trọng tâm của sứ điệp Kinh Thánh với những gì là phụ thuộc. Điều này không nhằm đưa ra một “kinh điển trong kinh điển” (nghĩa là lấy một vài thành phần nào đó của Tân Ước làm chuẩn mực cho các phần khác), nhưng một mặt để bảo vệ Phúc Âm không bị văn hóa hay tập quán tôn giáo biến thành luật pháp, và một mặt giữ cho chính Phúc Âm không bị thay đổi theo từng hình thái văn hóa có thể cảm nhận được.
Chẳng hạn như đối với sự sa ngã của toàn thể nhân loại, sự cứu chuộc khỏi sự suy bại đó như là hành động ân điển của Đức Chúa Trời qua sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế, chung cuộc của công tác cứu chuộc đó bởi sự tái lâm của Chúa Cứu Thế v.v... rõ ràng đều là trọng tâm của sứ điệp. Nhưng cái hôn thánh, vấn đề phụ nữ trùm đầu, các chức vụ và các ân tứ thuộc linh... thì có vẻ là những vấn đề phụ thuộc.
2. Tương tự như thế, chúng ta cần phải biết phân biệt giữa điều gì chính Tân Ước xem như thuộc về đạo đức, và điều gì không phải. Do đó, những điều có tính cách đạo đức là tuyệt đối và có trong tất cả các nền văn hóa; những điều không thuộc về đạo đức là những hình thái văn hóa và có thể thay đổi từ một nền văn hóa này sang một nền văn hóa khác.
Thí dụ những tội lỗi mà Phao-lô liệt kê không phải là những điều thuộc về văn hóa. Dĩ nhiên một số các tội ấy chiếm ưu thế hơn trong một nền văn hóa này so với một nền văn hóa khác, nhưng chẳng bao giờ có những hoàn cảnh nào mà trong đó chúng có thể được chấp nhận như là thái độ hoặc hành động của Cơ Đốc nhân. Vì thế, ngoại tình, thờ thần tượng, say rượu, hoạt động đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, v.v... (ICo1Cr 6:9-10) luôn luôn là điều sai trái. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng các Cơ Đốc nhân chẳng bao giờ phạm vào bất cứ một tội nào trong số này, nhưng muốn nói rằng đây không phải là những điều người ta có thể lựa chọn. Do linh cảm của Đức Thánh Linh, Phao-lô viết “Trước kia, anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế...Nhưng anh em đã được rửa sạch rồi...”
Mặt khác, rửa chân, trao nhau cái hôn thánh, ăn các thức ăn đã cúng tế cho các thần tượng, phụ nữ có khăn trùm đầu khi cầu nguyện hoặc nói tiên tri, việc cá nhân Phao-lô thích sống độc thân hơn, hay một phụ nữ dạy dỗ trong Hội Thánh, thì không phải là các vấn đề thuộc về đạo đức. Chúng chỉ trở thành như thế do việc sử dụng hay lạm dụng chúng trong những bối cảnh nhất định nào đó, khi việc sử dụng hay lạm dụng đó liên quan đến sự không vâng lời hay thiếu tình yêu thương.
3. Ta phải đặc biệt chú ý đến những điều mà chính Tân Ước có lời chứng đồng bộ và nhất quán và những điều mà Tân Ước không có ý kiến đồng nhất. Những điều mà cả Tân Ước đều luôn luôn chứng thực chẳng hạn như: tình yêu thương như cách đáp ứng đạo đức căn bản của Cơ Đốc nhân, một nền đạo đức không có trả thù cá nhân, sự sai trật của việc tranh cạnh, thù ghét nhau, giết người, trộm cắp, đồng tính luyến ái, say rượu, và tà dâm đủ loại. Trái lại, dường như Tân Ước không có ý kiến đồng nhất về các vấn đề như phụ nữ thi hành chức vụ trong Hội Thánh (xem RoRm 16:1-2, chỗ bà Phê-bê là một “chấp sự” tại Sen-cơ-rê, RoRm 16:7, chỗ Giu-ni-a (Junia) - không phải là Giu-ni-át (Junias) là tên một người nam chẳng biết là ai -- đã được kể tên trong số các sứ đồ; RoRm 16:3, chỗ bà Bê-rít-sin là bạn đồng công của Phao-lô -- cùng một từ ngữ đã được dùng để chỉ A-bô-lô trong ICo1Cr 3:9; Phi Pl 4:2-3; ICo1Cr 11:5 đối chiếu với ITi1Tm 2:12 (và ICo1Cr 14:34-35 mà trong văn bản đã có chỗ đáng ngờ), cách đánh giá Rô-ma về phương diện chính trị (xem RoRm 13:1-5; IPhi 1Pr 2:13-14; đối chiếu với KhKh 13:1-18:24), việc giữ lại của cải (LuLc 12:33; 18:22; đối chiếu với ITi1Tm 6:17-19) hoặc vấn đề ăn thịt đã cúng tế cho các thần tượng (ICo1Cr 10:23-29; đối chiếu với Cong Cv 15:29; KhKh 2:14, 20). Nếu có gợi ý nào trong số này làm bạn xúc động có lẽ bạn đã tự hỏi tại sao.
Cách giải kinh đúng đắn có thể giúp chúng ta thấy có sự đồng nhất hơn là điều có vẻ như là trường hợp hiện nay. Thí dụ, trong vấn đề thức ăn cúng tế thần tượng, ta có thể thực hiện một trường hợp giải kinh đúng cho từ ngữ Hi-lạp trong Công Vụ và Khải Thị đề cập việc vào các đền miếu để ăn một thức ăn như thế. Trong trường hợp này, thái độ ấy sẽ đồng nhất với thái độ của Phao-lô trong ICo1Cr 10:14-22. Tuy nhiên, chính vì nhiều vấn đề khác lại có vẻ thuộc về văn hóa nhiều hơn là đạo đức, ta không nên bối rối do thiếu sự đồng nhất. Cũng thế, ta không nên theo đuổi việc giải kinh như là phương pháp duy nhất để tìm cho ra tính cách đồng nhất thậm chí đến độ phải loại bỏ nhận thức thông thường hoặc bỏ qua ý nghĩa rõ ràng của bản văn.
4. Điều quan trọng là phải có khả năng phân biệt ngay trong Tân Ước giữa phần nguyên tắc với phần ứng dụng cụ thể. Có thể một trước giả Tân Ước hậu thuẫn cho một cách ứng dụng tương đối bằng một nguyên tắc tuyệt đối, và khi làm như thế, đã không biến cách ứng dụng đó thành tuyệt đối. Thí dụ như trong ICo1Cr 11:2-16, Phao-lô đã viện dẫn đến trật tự sáng tạo của Đức Chúa Trời (c.3) để thiết lập nguyên tắc rằng người ta không nên làm một điều gì phương hại đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (nhất là bằng cách vi phạm quy ước) khi cộng đồng đang thờ phượng (c.7,10). Tuy nhiên, cách ứng dụng cụ thể này dường như chỉ có tính cách tương đối, vì Phao-lô vẫn nhiều lần viện đến “lẽ tự nhiên” hoặc “thói quen” (c. 6, 13-14, 16).
Điều này đưa chúng tôi đến chỗ gợi ý rằng khi gặp những ứng dụng cụ thể như thế, ta có thể đặt câu hỏi hợp lý rằng “Đây có phải là áp dụng cho chúng ta hay không, nếu như ta không gặp nó trong các tài liệu của Tân Ước?” Trong các nền văn hóa Tây phương, một phụ nữ không trùm đầu (nhất là phần tóc) bằng một tấm mạng thật dài có lẽ sẽ chẳng có vấn đề gì. Thật ra, nếu người phụ nữ đó tuân thủ câu Kinh Thánh này theo nghĩa đen trong các Hội Thánh hiện nay thì đã lạm dụng “tinh thần” của câu Kinh Thánh. Chỉ cần suy nghĩ một chút ta có thể tưởng tượng ra một loại y phục - cả nam lẫn nữ - được mặc không đúng chỗ sẽ làm mất trật tự trong giờ thờ phượng.
5. Xác định những lựa chọn văn hóa mà một tác giả Tân Ước đón nhận có lẽ cũng là điều quan trọng, nhất là khi làm điều này cách cẩn trọng. Mức độ mà một tác giả Tân Ước đồng ý với một hoàn cảnh văn hóa trong đó chỉ có một chọn lựa duy nhất sẽ làm gia tăng tính tương đối văn hóa của hoàn cảnh đó. Chẳng hạn như đồng tính luyến ái đã được các tác giả thời cổ đại vừa khẳng định vừa lên án, thế nhưng Tân Ước chỉ đưa ra một lập trường đơn giản chống lại nó mà thôi. Mặt khác, các quan điểm đối với chế độ nô lệ hoặc với quy chế và vai trò của phụ nữ đều đơn giản về cơ bản; chẳng có ai tố cáo chế độ nô lệ là gian ác, và về cơ bản thì phụ nữ bị xem là thấp kém hơn đàn ông. Các tác giả Tân Ước cũng không tố giác chế độ nô lệ như một điều ác; mặt khác, họ vượt lên trên các quan điểm về phụ nữ của những người đương thời. Nhưng trong cả hai trường hợp, với mức độ phản ánh các quan điểm văn hóa chiếm ưu thế trong các vấn đề ấy, họ chỉ lựa chọn một văn hóa duy nhất trong thế giới chung quanh.
6. Ta phải cảnh giác đối với các điểm dị biệt về văn hóa có thể có giữa thế kỷ thứ nhất với thế kỷ thứ hai mươi, điều mà nhiều khi lại không được nhìn thấy rõ ràng ngay tức khắc. Thí dụ, muốn xác định vai trò của phụ nữ trong thế kỷ hai mươi, ta phải xét đến sự kiện phụ nữ của thế kỷ thứ nhất đã có rất ít cơ hội đi học, trong khi trong xã hội chúng ta giáo dục là điều bắt buộc. Điều này có thể ảnh hưởng đến cách hiểu của chúng ta liên quan với những phân đoạn như ITi1Tm 2:9-15. Cũng thế, một nền dân chủ có sự tham dự của toàn dân cũng khác hẳn với chính quyền mà Phao-lô đã đề cập trong RoRm 13:1-7. Trong một nền dân chủ có sự tham dự của toàn dân thì ai nấy đều mong muốn thay đổi các luật lệ không thích hợp và loại trừ các quan chức hủ bại. Điều đó ảnh hưởng đến cách ta áp dụng RoRm 13:1-14 vào nước Mỹ của thế kỷ thứ hai mươi này.
7. Cuối cùng, ta phải thực hành tình yêu thương Cơ Đốc tại điểm này. Cơ Đốc nhân phải thấy được những khó khăn, phải cùng nhau thảo luận, bắt đầu bằng cách xác định một số nguyên tắc, và cuối cùng phải yêu thương và sẵn sàng xin sự tha thứ từ những người bất đồng với mình.
Trước khi kết thúc phần thảo luận này, sẽ ích lợi nếu chúng ta biết cách áp dụng các hướng dẫn này cho hai vấn đề thông thường: chức vụ của phụ nữ và vấn đề đồng tính luyến ái, nhất là khi một số người bênh vực cho các chức vụ của phụ nữ đang dùng cùng một vài luận cứ như thế để hậu thuẫn cho đồng tính luyến ái, xem đó là như một lựa chọn có giá trị của Cơ Đốc nhân.
Vấn đề phụ nữ giữ vai trò giáo sư hay truyền đạo trong Hội Thánh chủ yếu nằm ở hai phần Kinh Thánh ICo1Cr 14:34-35 và ITi1Tm 2:11, 12. Trong cả hai trường hợp “im lặng” và “thuận phục” được gắn liền với nhau - tuy trong cả hai trường hợp không có trường hợp nào sự thuận phục nhất thiết phải là đối với chồng mình cả - còn trong ITi1Tm 2:1-15, phụ nữ không được phép dạy dỗ hoặc “cầm quyền trên” người nam. Nếu làm theo phần Kinh Thánh này trong thế kỷ hai mươi thì dường như chẳng những sẽ không cho phụ nữ truyền giảng và dạy dỗ trong chi hội địa phương, mà còn cấm phụ nữ viết sách về các đề tài trong Thánh Kinh mà có thể đàn ông sẽ đọc, cấm phụ nữ dạy Kinh Thánh hoặc các đề tài liên hệ (kể cả giáo dục tôn giáo) trong các trường cao đẳng Cơ Đốc hoặc Thánh Kinh học viện nơi có đàn ông trong các lớp học, và cấm dạy dỗ đàn ông về các tình hình truyền giáo. Nhưng những người chống lại việc phụ nữ dạy dỗ trong Hội Thánh ngày nay rất ít khi đưa việc giải nghĩa đi xa đến thế. Và hầu như họ luôn luôn xem các vấn đề về ăn mặc trong câu trước đó (ITi1Tm 2:9) chỉ mang tính tương đối về mặt văn hóa.
Mặt khác, việc ITi1Tm 2:11-12 mang tính tương đối về mặt văn hóa có thể được hậu thuẫn trước hết bằng việc giải kinh cả ba Thư tín Mục vụ. Một số phụ nữ thường gây rối trong Hội Thánh tại Ê-phê-sô (ITi1Tm 5:11-15; IITi 2Tm 3:6-9) và dường như họ là số đông đã gây ra việc các tiên tri giả muốn cầm đầu ở đây. Vì người ta đã thấy có các phụ nữ dạy dỗ (Cong Cv 18:26) và nói tiên tri (Cong Cv 21:8; ICo1Cr 11:5) ở nhiều nơi khác trong Tân Ước, rất có thể rằng ITi1Tm 2:11-12 đang đề cập một vấn đề ở địa phương. Dù sao thì phần hướng dẫn trên đây cũng hậu thuẫn cho việc rất có thể rằng điều cấm đoán trong ITi1Tm 2:11-12 mang tính tương đối về mặt văn hóa.
Tuy nhiên về vấn đề đồng tính luyến ái thì khác hơn rất nhiều. Trong trường hợp này, lời chỉ dẫn chống lại việc xem đây là một vấn đề mang tính tương đối về mặt văn hóa. Toàn bộ Kinh Thánh luôn luôn chống lại hoạt động đồng tính luyến ái, xem đó là sự hủ bại đạo đức.
Trong mấy năm gần đây, có một số người lý luận rằng việc đồng tính luyến ái mà Tân Ước chống lại là việc có người lạm dụng người khác, và vấn đề đồng tính luyến ái giữa một cặp hai người trưởng thành đồng ý thực hiện riêng với nhau, là một vấn đề khác hẳn. Họ lý luận rằng trên cơ sở giải kinh, người ta không thể chứng minh được rằng thói đồng tính luyến ái đã bị cấm. Người ta cũng lý luận rằng đứng về mặt văn hóa mà nói, thì đó là những cách chọn lựa của thế kỷ hai mươi, vốn không có hồi thế kỷ thứ nhất. Do đó, họ sẽ cãi rằng một số các hướng dẫn của chúng tôi (thí dụ 5, 6) mở đường cho việc có thể xem các cấm đoán của Tân Ước đối với việc đồng tính luyến ái cũng có tính tương đối về mặt văn hóa, rồi họ lý luận thêm rằng một số các hướng dẫn ấy là không đúng hoặc không thích hợp.
Tuy nhiên, luận cứ này không thể đứng vững cả về mặt giải kinh lẫn lịch sử. Việc đồng tính luyến ái mà Phao-lô đề cập trong RoRm 1:24-28 rõ ràng không thuộc loại “lạm dụng”; nó là thói đồng tính luyến ái tự chọn giữa những người nam và giữa những người nữ với nhau. Hơn nữa, từ ngữ đồng tính luyến ái mà Phao-lô đã dùng trong ICo1Cr 6:9 theo nghĩa đen là đồng tính luyến ái giữa hai người nam (kẻ đắm nam sắc) và luôn luôn được đặt vào trong các văn mạch đạo đức, đơn giản chỉ vì chẳng có ai chứng minh được rằng việc chọn lựa đồng tính luyến ái ngày nay là khác hơn hồi thế kỷ thứ nhất, cho nên dường như cũng chẳng có cơ sở có giá trị nào để cho rằng đó chỉ là một vấn đề tương đối của văn hóa.
Thần Học Nhiệm Vụ
(Task Theology)
Trong chương trước, chúng ta đã ghi nhận rằng phần lớn thần học trong các Thư tín có tính chất hướng vào nhiệm vụ, do đó đã không được trình bày một cách có hệ thống. Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là chúng ta không thể trình bày những gì được bộc lộ hoặc rút ra từ các Thư tín một cách có hệ thống. Trái lại, đây là một trong những công tác bắt buộc đối với các sinh viên nghiên cứu Kinh Thánh. Sinh viên phải luôn thiết lập - và “tái lập” một thần học Kinh Thánh trên cơ sở giải kinh đúng đắn. Chúng tôi thừa nhận rằng người ta thường dễ thấy được tư tưởng thần học của một tác giả qua những giả định và hàm ý cũng như qua các lời tuyên bố rõ ràng của tác giả đó.
Những gì chúng tôi muốn làm ở đây là nêu ra một vài điểm cần chú ý khi ta bắt tay vào công tác thần học. Những điều cần lưu ý này vốn là kết quả trực tiếp của tính chất tùy dịp (occasional nature) của các Thư tín.
1. Vì tính chất tùy dịp của chúng, thỉnh thoảng chúng ta phải hài lòng với một số hạn chế trong sự hiểu biết thần học của mình. Thí dụ, muốn cho người Cô-rinh-tô thấy được việc hai anh em (Cơ Đốc nhân) lại kéo nhau ra trước tòa án ngoại đạo để kiện cáo nhau là phi lý như thế nào, Phao-lô nhấn mạnh rằng có một ngày, các Cơ Đốc nhân sẽ phán xét cả người thế gian lẫn các thiên sứ (ICo1Cr 6:2-3). Nhưng đoạn văn chẳng nói gì thêm về điều đó. Như thế, chúng ta có thể khẳng định rằng Cơ Đốc nhân sẽ góp phần phán xét trong ngày tận thế. Tuy rằng chúng ta không biết điều đó có ý nghĩa gì hoặc sự việc sẽ diễn tiến như thế nào. Ngoài chính điều đã được khẳng định ra, thì mọi cái khác đều chỉ là suy luận mà thôi.
Tương tự như thế, trong ICo1Cr 10:16-17, Phao-lô căn cứ vào bản tính của việc các tín hữu Cô-rinh-tô dự phần vào Tiệc Thánh để lý luận rằng họ không thể cùng dự phần giống như thế trong các bữa cúng tế thần tượng. Điều Phao-lô nói về việc dự phần đó dường như vượt quá quan điểm thần học về Tiệc Thánh trong hầu hết các Giáo hội Tin Lành. Đây không chỉ là sự kỷ niệm, mà còn thật sự dự phần vào chính Chúa nữa. Căn cứ vào nhiều đoạn Kinh Thánh Tân Ước khác, chúng ta có thể lý luận thêm rằng việc dự phần ấy là nhờ vào Đức Thánh Linh và được lợi ích nhờ đức tin. Nhưng ngay cả tại đây, chúng ta đang vượt ra ngoài các câu Kinh Thánh để diễn tả nhận thức của Phao-lô một cách thần học, và nhiều người sẽ không đồng ý với chúng ta về việc lựa chọn bên ngoài các câu Kinh Thánh như thế. Luận điểm của chúng tôi là đơn giản, chúng ta không được cho biết tính chất chính xác của sự tham dự đó là gì, cũng không được cho biết các lợi ích sẽ đến với người tín hữu là gì. Tất cả chúng ta đều muốn biết, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có khuyết điểm chính vì tính chất cơ hội của các câu phát biểu kia. Những gì được nói vượt ra ngoài điều chính đoạn kinh văn tiết lộ không thể có cùng ý nghĩa Kinh Thánh hay giảng kinh như điều được nói đến dựa trên cách giải kinh đúng đắn. Do đó mà chúng ta chỉ dám khẳng định rằng trong Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã ban cho tất cả những gì chúng ta cần, chứ không nhất thiết là tất cả những gì chúng ta muốn.
2. Nhiều khi các vấn đề thần học mà chúng ta gặp với các Thư tín xuất phát từ việc chúng ta đặt câu hỏi của mình cho đoạn kinh văn, nhưng do tính chất tùy dịp của chúng, các đoạn Kinh Thánh ấy chỉ trả lời cho các vấn đề của chúng mà thôi. Khi chúng ta yêu cầu chúng đề cập trực tiếp vấn đề phá thai, hay tái hôn, hoặc làm phép báp-tem cho trẻ con, là chúng ta muốn chúng trả lời cho các câu hỏi của một thời kỳ về sau này. Nhiều khi chúng có thể làm việc ấy, nhưng thường thường thì không, vì câu hỏi đã không được đặt ra cho thời bấy giờ.
Có một thí dụ rõ ràng cho việc này ngay trong Tân Ước. Khi đề cập về vấn đề ly dị Phao-lô nói: “Không phải tôi, bèn là Chúa” (ICo1Cr 7:10) ngụ ý rằng chính Chúa Giê-xu đã dạy về vấn đề này. Nhưng về câu hỏi được đặt ra trong một môi trường Hi Lạp rằng một tín hữu có nên ly dị với người bạn đời ngoại đạo của mình không, thì rõ ràng là Chúa Giê-xu không có dịp để dạy điều này, vì nó nằm ngoài môi trường văn hóa Do Thái của Ngài. Nhưng Phao-lô phải phát biểu ý kiến về vấn đề ấy, cho nên ông nói: “(Đây) chẳng phải Chúa, song là chính tôi...” (c.12). Lẽ dĩ nhiên, một trong các vấn đề của chúng ta là bản thân chúng ta không có được cả uy quyền sứ đồ, lẫn sự linh cảm như của Phao-lô. Do đó, cách duy nhất để chúng ta lên tiếng về những vấn đề như thế là căn cứ trên thần học Kinh Thánh toàn diện; gồm có sự hiểu biết của chúng ta về công trình sáng tạo vũ trụ, sự sa ngã, sự cứu chuộc, và sự chung cuộc. Nghĩa là, chúng ta phải cố gắng giải quyết vấn đề theo quan điểm Kinh Thánh. Nhưng sẽ không có chứng cứ bằng bản văn nếu không có các câu Kinh Thánh nào bày tỏ trực tiếp.
Trên đây là một số gợi ý về giảng kinh của chúng tôi để giúp bạn đọc và giải thích các Thư Tín. Mục đích gần của chúng tôi là đạt đến sự chính xác và nhất quán càng hơn; mục tiêu xa hơn là kêu gọi tất cả chúng ta làm theo càng hơn những gì chúng ta đã nghe và hiểu.

Những Truyện Ký Trong Cựu Ước: Cách Sử Dụng Thích Hợp

Trong Kinh Thánh, thể văn truyện ký chiếm đa số so với bât kỳ thể văn nào khác. Trên 40% Cựu Ước là thể văn truyện ký. Vì Cựu Ước chiếm ba phần tư Kinh Thánh, nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thể văn phổ biến duy nhất trong toàn bộ Kinh Thánh là thể văn truyện ký. Các sách sau đây của Cựu Ước phần lớn hoặc hoàn toàn ở dạng truyện ký: Sáng Thế Ký, Giô-suê, Các Quan Xét, Ru-tơ, I Và II Sa-mu-ên, I và II Các Vua, I và II Sử Ký, E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Đa-ni-ên, Giô-na, A-ghê. Hơn nữa, Xuất Ê-díp-tô Ký, Dân Số Ký, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Ê-sai, Gióp cũng gồm nhiều phần về đại thể là văn truyện ký. Trong Tân Ước, phần lớn các sách Phúc Âm, và hầu như cả sách Công vụ cũng là văn truyện ký.
Chúng tôi giả định rằng Thánh Linh biết rõ việc Ngài làm khi linh cảm nhiều phần trong Kinh Thánh dưới hình thức truyện ký. Có thể là thể văn này thuận tiện cho mục đích mặc khải của Đức Chúa Trời. Chương này sẽ nói đến thế nào thể văn ấy phục vụ mục đích của Đức Chúa Trời và cách thế nào chúng ta sử dụng nó trong sự phục vụ Ngài.
Tính Chất của Truyện Ký
Truyện Ký Là Gì?
Truyện ký (narratives) là những câu chuyện (stories). Tuy thỉnh thoảng chúng ta có dùng chữ câu chuyện để mô tả chúng, nhưng chúng tôi thích từ ngữ truyện ký hơn, vì chữ câu chuyện dễ khiến người ta hiểu là điều gì đó được tưởng tượng ra, được hư cấu như trong “chuyện cổ tích,” “chuyện đời xưa.” Nó cũng có xu hướng nghiêng về một mẫu chuyện đơn sơ với một số nhân vật và một cốt chuyện. Mặt khác, Kinh Thánh hàm chứa điều mà chúng ta thường được nghe gọi là câu chuyện của Đức Chúa Trời - một câu chuyện hoàn toàn có thật, vô cùng quan trọng, và thường phức tạp. Đó là một câu chuyện uy nghi hơn cả những bản anh hùng ca vĩ đại nhất, nội dung phong phú với các nhân vật và cách mô tả ý nghĩa hơn bất kỳ một truyện tích nào từng được con người viết ra. Cho nên, với các phần của câu chuyện thiên thượng vĩ đại mang hình thức chuyện kể này, từ truyện ký thích hợp hơn theo cách dùng thuật ngữ, vì từ này khách quan hơn mà ít thành kiến.
Những truyện ký trong Kinh Thánh kể lại cho chúng ta các sự việc đã xảy ra - nhưng không phải là bất cứ việc gì cũng được kể lại. Chủ đích của chúng là chứng minh rằng Đức Chúa Trời đang hành động trong cõi thọ tạo của Ngài và giữa những người thuộc về Ngài. Các câu chuyện trần thuật tôn vinh Ngài, giúp chúng ta hiểu và tán dương Ngài, và vẽ lên cho chúng ta thấy một bức tranh về sự quan phòng và bảo vệ của Ngài. Đồng thời, chúng cũng cung cấp nhiều thí dụ minh họa cho nhiều bài học quan trọng khác nữa cho đời sống chúng ta.
Tất cả các câu chuyện đều có một cốt chuyện và các nhân vật (hoặc là Đức Chúa Trời, loài người, động vật, thực vật, hoặc một điều gì khác). Tuy nhiên, các truyện ký trong Cựu Ước vốn có những tình tiết là thành phần của một câu chuyện tổng quát đặc biệt, và có một loạt nhân vật đặc biệt trong đó nhân vật đặc biệt nhất là chính Đức Chúa Trời.
Ba Cấp Độ của Truyện Ký
Khi đọc và nghiên cứu các truyện ký trong Cựu Ước, thật bổ ích nếu bạn hiểu rằng những câu chuyện này được kể lại theo ba mức độ. Cấp trên là mức độ của toàn bộ kế hoạch phổ quát của Đức Chúa Trời vận hành trong cõi thọ tạo của Ngài. Những khía cạnh then chốt của cốt truyện ở mức độ trên cùng này là chính công trình sáng tạo nguyên thủy, sự sa ngã của loài người, quyền lực và tính phổ quát của tội lỗi, nhu cầu cứu chuộc, sự nhập thể và hi sinh của Chúa Cứu Thế. Mức độ trên cùng này thường được gọi là “câu chuyện cứu chuộc” hay “lịch sử cứu chuộc.”
Các điểm then chốt của cấp giữa tập trung vào dân Y-sơ-ra-ên: việc kêu gọi Áp-ra-ham, việc thiết lập dòng dõi Áp-ra-ham qua các vị tộc trưởng, việc dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ai Cập, việc Đức Chúa Trời giải phóng họ khỏi vòng xiềng xích và sự chinh phục đất hứa là xứ Ca-na-an, việc dân Y-sơ-ra-ên vẫn thường phạm tội và càng tỏ ra bất trung, việc Đức Chúa Trời nhẫn nhục bảo vệ và nài nỉ họ, việc cuối cùng là vương quốc Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc rồi vương quốc Giu-đa ở miền Nam đều bị tiêu diệt, và việc phục hồi địa vị cho dân thánh sau cuộc lưu đày.
Rồi cũng còn có cấp thấp nữa. Ở mức độ này có hằng trăm câu chuyện cá nhân cấu thành hai mức độ kia: chuyện kể các anh Giô-sép đã bán ông cho các thương nhân Ả-rập đang đi về Ai Cập, chuyện kể về Ghê-đê-ôn nghi ngờ Đức Chúa Trời và thử Ngài bằng cái lốt chiên, chuyện kể về tội ngoại tình của Đa-vít với Bát-sê-ba, v.v...
Cần cẩn thận lưu ý điểm này: mỗi câu chuyện kể về một cá nhân trong Cựu Ước (cấp thấp) ít ra cũng là một phần của câu chuyện lớn hơn của lịch sử dân Y-sơ-ra-ên giữa thế gian (cấp giữa) rồi lịch sử dân Y-sơ-ra-ên lại là một phần của câu chuyện tối hậu về công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời và việc Ngài cứu chuộc tạo vật của Ngài (cấp trên). Câu chuyện tối hậu này ra ngoài Cựu Ước để sang Tân Ước. Bạn sẽ không thể hiểu trọn bất cứ câu chuyện cá nhân nào nếu chưa nhận ra ra rằng câu chuyện đó là thành phần của hai phần kia. Nhiều khi một câu chuyện được hình thành do một nhóm các câu chuyện ngắn cá nhân. Một câu chuyện như thế có thể được xem là “câu chuyện tập hợp.” Đối với việc thực hành, việc nhận ra các câu chuyện tập hợp hiện diện xuyên suốt Kinh Thánh không ảnh hưởng gì đến điều chúng tôi vừa nói về ba mức độ của các truyện ký.
Chúng tôi mong rằng hiểu được cấp bậc của các câu chuyện sẽ giúp bạn nhiều hơn trong việc ứng dụng các câu chuyện trong Cựu Ước cho cuộc đời bạn cũng như vào việc bạn phục vụ tha nhân. Lúc Chúa Giê-xu dạy rằng cả Kinh Thánh đều “... làm chứng về Ta” (GiGa 5:27-29), thì rõ ràng là Ngài không đề cập tất cả các khúc sách ngắn có tính cách cá nhân của Cựu Ước. Những khúc sách riêng lẽ ấy, kể cả các câu chuyện, đều đề cập đến Đấng Mết-si-a nếu không thì cũng được Tân Ước đồng nhất hóa như cái bóng, chỉ vào hình thật là Chúa Cứu Thế (đối chiếu ICo1Cr 10:4) vốn là một phần quan trọng của Cựu Ước, nhưng cũng mới chỉ là một phần nhỏ của sự mặc khải toàn diện. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu muốn nói đến câu chuyện tối hậu, thuộc cấp trên, trong đó sự chuộc tội của Ngài là hành động trung tâm, và việc cả cõi thọ tạo phải đầu phục Ngài là tuyệt đỉnh của cốt truyện. Do đó Ngài mới dạy rằng toàn bộ Kinh Thánh đều làm chứng cho Ngài và tập trung vào quyền làm Chúa đầy tình yêu của Ngài.
Thế thì, chúng ta có những câu chuyện riêng rẽ (nhiều khi mang tính tập hợp) nằm trong một câu chuyện lớn và câu chuyện lớn nằm trong một câu chuyện tối hậu. Một số các câu chuyện tập hợp gồm nhiều những câu chuyện ngắn riêng rẽ. Đây là điều thường thấy trong tất cả các câu chuyện có các cốt truyện phụ, do đó chẳng có gì lạ. Trong Tân Ước, chúng ta có các câu chuyện riêng rẽ (sách Lu-ca, Công vụ) nằm trong toàn bộ câu chuyện tối hậu của Đức Chúa Trời được ghi lại. Cựu Ước cũng tương tự như vậy. Thí dụ, “câu chuyện Giô-sép” là câu chuyện tập hợp lớn (SaSt 37:1-50:26) bao gồm nhiều câu chuyện ngắn hơn về Giô-sép, như câu chuyện các giấc mơ đầu tiên của ông (SaSt 37:5-11), câu chuyện ông được cất nhắc rồi bị hạ bệ khi làm nô lệ cho Phô-ti-pha (SaSt 39:1-23), câu chuyện ông cho chôn cất Gia-cốp trong xứ Ca-na-an (SaSt 50:1-14) v.v... Thế nhưng, tất cả đều là thành phần của câu chuyện toàn thể Kinh Thánh.
Chẳng có gì sai trật khi nghiên cứu riêng rẽ từng câu chuyện nào đó, trái lại rất đáng khuyến khích. Nhưng để hiểu được ý nghĩa đầy đủ nhất, bạn phải nhìn câu chuyện riêng rẽ đó trong những bối cảnh rộng hơn.
Các Câu Chuyện Không Phải Là...
1. Các câu chuyện trong Cựu Ước không chỉ đơn giản là những câu chuyện về những người sống trong thời Cựu Ước. Trước tiên và quan trọng nhất, đó là những câu chuyện về Đức Chúa Trời đã làm gì cho và qua những người ấy. Ngược với các câu chuyện kể của loài người, Kinh Thánh bao gồm các câu chuyện về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là “người hùng” của câu chuyện - nếu câu chuyện đó nằm trong Kinh Thánh. Câu chuyện có đủ các nhân vật, các biến cố, cách triển khai, cốt truyện, cao trào, nhưng ẩn sau đó là Đức Chúa Trời, “nhân vật chính” hay nhân vật quyết định trong tất cả các câu chuyện.
2. Các câu chuyện của Cựu Ước không phải là những chuyện ngụ ngôn (allegories) hay các truyện tích đầy ẩn nghĩa. Tuy nhiên, có thể nhiều khía cạnh của những câu chuyện không phải là dễ hiểu. Cách thức Đức Chúa Trời hành động trong lịch sử, cách Ngài ảnh hưởng trên các hành động của loài người hoặc hoàn thành ý chỉ Ngài qua loài người (nhiều khi là trái với ý muốn của họ, thí dụ như SaSt 50:20) không phải bao giờ cũng dễ hiểu đối với chúng ta. Chúng ta thường không được cho biết chính xác tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm trong một hoàn cảnh nhất định nào đó khiến sự việc đã xảy ra như Cựu Ước đã thuật lại. Và cả khi chúng ta được cho biết điều Ngài đã làm, không phải lúc nào chúng ta cũng được cho biết Ngài đã làm việc đó như thế nào hoặc tại sao Ngài lại làm như thế.
Nói khác đi, các câu chuyện không trả lời cho tất cả các câu hỏi của chúng ta liên hệ đến một vấn đề nào đó. Các câu chuyện bị giới hạn trong phạm vi mục tiêu của chúng, và chỉ cho chúng ta một phần của bức tranh toàn diện của việc Đức Chúa Trời đang làm trong lịch sử mà thôi. Chúng ta phải tập hài lòng với sự hiểu biết hạn chế ấy, và kìm hãm tính hiếu kỳ của chúng ta đối với nhiều điểm, nếu không thì cuối cùng, chúng ta sẽ cố phỏng đoán quá nhiều để rồi chúng ta đưa vào các câu chuyện ấy nhiều điều vốn không có trong đó, biến chúng thành những ngụ ngôn (allegories) điều mà thật ra chỉ là những phần ký thuật lịch sử. Cũng như trường hợp các dụ ngôn (parables) các câu chuyện kể cũng có thể bị lạm dụng như thế (chương 8).
Đưa vào trong câu chuyện những điều vốn không có là khi người ta nhìn nhận các biến cố siêu nhiên trong các câu chuyện Kinh Thánh như là kết quả của sự can thiệp của những điều chẳng hạn như đĩa bay, hay những máy đo thời gian từ những thế kỷ tương lai tới thời đại chúng ta, hay những khám phá khoa học bí mật xa xưa mà con người không còn biết đến. Sự thật là đối với hầu hết những việc lạ lùng chính Kinh Thánh cũng không cho biết Đức Chúa Trời đã thực hiện thế nào. Nhưng tính hiếu kỳ và lòng mong muốn hiểu thấu điều mà Kinh Thánh không muốn cho chúng ta biết, tức là mong muốn biết chính xác các sự việc đã xảy ra như thế nào, có thể đưa một số người tới chỗ chấp nhận nhiều cách giải nghĩa vu vơ và phi lý. Bị lôi cuốn và kinh ngạc bởi khoa học giả hiệu, nhiều người bị dẫn dụ tới chỗ đưa ra những lời giải thích ngụy tạo về các biến cố lạ lùng đã xảy ra trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã không cho chúng ta biết cách thức mà Ngài đã làm tất cả công việc của Ngài. Ham muốn hiểu thấu toàn thể tiến trình có thể tạo ra những lời giải thích hết sức hoang đường và không phù hợp với các câu chuyện của Kinh Thánh mà thật ra chẳng phải là giải nghĩa gì cả.
3. Các câu chuyện trong Cựu Ước không phải lúc nào cũng dạy dỗ cách trực tiếp. Chúng nhấn mạnh bản tánh và sự mặc khải của Đức Chúa Trời cách đặc biệt mà những phần luật pháp hoặc giáo lý của Kinh Thánh không thể làm được, bằng cách cho phép chúng ta sống qua nhiều biến cố và từng trải, chứ không phải chỉ học về các vấn đề gắn liền với các biến cố và từng trải ấy. Những câu nói hiện đại quen thuộc như “Đừng bỏ khi chưa thử” hoặc “Muốn hiểu thấu bạn phải kinh nghiệm” không phải bao giờ cũng đúng nhưng cũng chứa đựng một phần của chân lý. Nhiều khi kiến thức sẽ đem lại ích lợi hơn và ảnh hưởng đến nếp sống lâu dài hơn khi đó vốn là kết quả của việc dấn thân vào một việc gì đó. Nếu bạn theo sát các câu chuyện Cựu Ước, khi đọc bất luận một câu chuyện nào tự nhiên bạn sẽ bị lôi kéo vào đó, cho dù những nhân vật trong câu chuyện và hoàn cảnh của họ khác với bạn như thế nào đi nữa. Như thế, các câu chuyện sẽ cho bạn một loại kiến thức “trao tận tay” về công việc của Đức Chúa Trời trong thế giới này, và tuy kiến thức đó chỉ là gián tiếp chứ không phải trực tiếp, nó vẫn là kiến thức thực tế có thể giúp hình thành hành vi của bạn.
Nếu bạn là một Cơ Đốc nhân, Cựu Ước là bộ lịch sử thuộc linh của bạn. Những lời hứa và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên là những lời hứa và sự kêu gọi lịch sử của bạn (GaGl 3:29). Theo ý nghĩa tốt nhất, hữu ích và thực tiễn nhất, thì Đức Chúa Trời cho phép bạn theo dõi các biến cố mà Ngài đã làm thời xưa, bằng cách linh cảm những người Ngài chọn ghi chép chúng lại theo cách Ngài muốn.
Tuy các câu chuyện của Cựu Ước không nhất thiết phải trực tiếp dạy dỗ nhưng thường minh họa cho những điều được dạy dỗ trực tiếp và rõ ràng ở những chỗ khác. Điều này tiêu biểu cho một loại dạy dỗ mặc nhiên (implicit) mà khi kết hợp với những lời dạy dỗ minh nhiên (explicit) tương ứng của Kinh Thánh sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong việc làm nẩy sinh loại kinh nghiệm học hỏi mà Đức Thánh Linh có thể sử dụng một cách tích cực. Thí dụ như trong câu chuyện về tội tà dâm của Đa-vít với Bát-sê-ba (IISa 2Sm 11:1-27) bạn sẽ chẳng bao giờ thấy có câu nào như “khi phạm tội tà dâm như thế, là Đa-vít đã hành động sai.” Bạn phải biết rằng tà dâm là sai trái, vì điều đó đã được dạy dỗ rõ ràng, minh nhiên trong Kinh Thánh rồi (XuXh 20:14). Câu chuyện minh họa thế nào tội lỗi đã làm tổn hại đến đời sống cá nhân cũng như khả năng cai trị của nhà vua. Câu chuyện không dạy dỗ một cách hệ thống về tội tà dâm và không thể được dùng như một cơ sở duy nhất cho một lời dạy dỗ như thế. Nhưng với tính cách là một thí dụ minh họa cho các hậu quả của tội tà dâm trong một trường hợp cá biệt, câu chuyện truyền đạt một thông điệp đầy uy quyền và tự nó ghi khắc vào tâm trí người cẩn thận đọc đến. Đây là điều mà một cách dạy trực tiếp và hệ thống có thể không làm được.
4. Mỗi một câu chuyện riêng rẽ nằm trong một câu chuyện không nhất thiết phải có một bài học đạo đức riêng. Ta không thể lý giải các câu chuyện theo cách chẻ sợi tóc làm tư, làm như mỗi câu, mỗi biến cố, mỗi phần mô tả đều có thể lý giải riêng rẽ, độc lập đối với các phần khác, và đều có một bức thông điệp đặc biệt cho người đọc. Thật ra, ngay cả trong những câu chuyện thần tiên dài, tất cả các thành phần tạo nên câu chuyện có thể hiệp lại để tạo ấn tượng trên người đọc về một chủ điểm mà thôi. Có một biến chuyển tổng quát dẫn đến câu chuyện, tức là một loại thượng tầng cơ sở để tạo thành một chủ điểm, thường thường là một chủ điểm duy nhất.
Về phương diện này thì các truyện ký giống với các dụ ngôn (parables, xem chương 8) trong đó toàn thể câu chuyện truyền đạt sứ điệp, chứ không phải mỗi phần riêng rẽ. Sức tác động, sức ảnh hưởng, sức thuyết phục - tất cả đều do toàn bộ diễn biến của các biến cố liên hệ. Nhiều yếu tố riêng rẽ kết hợp lại để tạo thành một câu chuyện qua đó Đức Chúa Trời mặc khải. Cố tìm ra một ý nghĩa cho từng dữ kiện nhỏ nhặt, hoặc từng biến cố riêng lẻ trong câu chuyện sẽ không đi đến đâu. Bạn phải thẩm định câu chuyện như một toàn thể chứ không nên phân chia từng phần nhỏ.
Các Nguyên Tắc Giải Nghĩa Truyện Ký
Để minh họa cho những điều vừa thảo luận ở trên, chúng tôi chọn hai câu chuyện quan trọng trong Cựu Ước để phân tích trong chương này. Nhưng trước hết, mười nguyên tắc sau sẽ giúp bạn tránh được các sai lầm khi giải nghĩa hai câu chuyện này hoặc những câu chuyện khác.
1. Một câu chuyện trong Cựu Ước thường không trực tiếp truyền dạy một giáo lý.
2. Một câu chuyện trong Cựu Ước thường minh họa cho một giáo lý hay nhiều giáo lý đã được truyền dạy rõ ràng, đầy đủ ở chỗ khác.
3. Các câu chuyện ghi lại những gì đã xảy ra - không nhất thiết là chuyện đáng lẽ đã phải xảy ra hay phải luôn luôn xảy ra. Do đó, không phải mỗi câu chuyện đều có một ý nghĩa đạo đức riêng.
4. Hành động của các nhân vật trong câu chuyện không nhất thiết đều là gương tốt cho chúng ta. Thường thường là ngược lại.
5. Hầu hết nhân vật trong các câu chuyện của Cựu Ước đều chưa đạt được mức trọn vẹn, và các hành động của họ cũng vậy.
6. Không phải lúc nào phần cuối câu chuyện đều cho chúng ta biết việc đã xảy ra đó là tốt hay xấu. Chúng ta phải có khả năng suy xét dựa trên những gì Đức Chúa Trời đã dạy dỗ chúng ta cách trực tiếp và rõ ràng ở chỗ khác trong Kinh Thánh.
7. Tất cả các câu chuyện đều mang tính chọn lọc và phiến diện. Không phải tất cả các chi tiết thích hợp đều luôn luôn được cung cấp đầy đủ (đối chiếu GiGa 21:25). Những gì xuất hiện trong câu chuyện là tất cả những gì mà tác giả được linh cảm nghĩ là quan trọng mà chúng ta cần biết.
8. Các câu chuyện không được viết ra để giải đáp cho mọi thắc mắc về thần học của chúng ta. Chúng có những mục đích cụ thể, đặc biệt và nhằm giải quyết một số vấn đề, bỏ qua các vấn đề được giải quyết ở những chỗ khác, theo nhiều cách khác.
9. Các câu chuyện có thể dạy dỗ một cách minh nhiên (bằng cách nhấn mạnh rõ ràng một điều gì có) hoặc mặc nhiên (bằng cách ngụ ý nói rõ ràng một điều gì đó mà không thật sự không nêu ra).
10. Cuối cùng, Đức Chúa Trời là nhân vật chủ động tất cả các câu chuyện trong Kinh Thánh.
Mẫu Giải Nghĩa Truyện Ký
Câu Chuyện Giô-sép
Câu chuyện Giô-sép được tường thuật trong SaSt 37:1-36; 39:1-50:26. Khi đọc qua các chương ấy bạn sẽ thấy Giô-sép là nhân vật chính, xét về mặt con người, trong hầu hết các tình tiết. Ông thật sự nổi bật trong cả câu chuyện.
Chúng ta đọc thấy Giô-sép có vẻ là loại người kiêu kỳ, hay phê phán (37:1-36), có lẽ do ông được cha mình nuông chiều (37:3). Việc Giô-sép luôn miệng kể lại các giấc mơ kiêu căng đầy tự tôn của mình đã chẳng giúp gì được cho hoàn cảnh của ông trong gia đình (37:10, 11). Các anh Giô-sép đã bán ông cho người ta làm nô lệ, và lừa dối với cha là Gia-cốp rằng Giô-sép đã chết rồi. Bị bán sang Ai Cập như một nô lệ, Giô-sép đã trở thành người quản lý rất thành công của Phô-ti-pha (39:1-23). Tại sao thế? Phải chăng đó là nhờ các tài năng quản trị bẩm sinh của ông? Thật khó có thể nói như vậy. Kinh Thánh cho thấy rõ lý do: “Giô-sép (được)...Đức Giê-hô-va phù hộ...Đức Giê-hô-va phù hộ chàng và xui cho mọi việc chi chàng lãnh làm nơi tay đều được thạnh vượng...Đức Giê-hô-va vì Giô-sép ban phước cho nhà người; sự ban phước của Đức Giê-hô-va bủa khắp mọi vật của người làm chủ” (SaSt 39:2-5 RSV). Cho dù Giô-sép có tài quản trị thì rõ ràng nó chỉ giữ vai trò thứ yếu trong việc Đức Chúa Trời can thiệp vào cuộc đời ông. Dù bị bỏ tù một cách bất công, Giô-sép vẫn vươn lên được địa vị cai ngục. Tại sao thế? Một lần nữa, Kinh Thánh lại khẳng địng chắc chắn: “Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép và tỏ lòng nhân từ cùng chàng, làm cho được ơn trước mặt chủ ngục” (39:21; đ/c câu 33).
Người kể chuyện được linh cảm đã không để người ta có chút nghi ngờ người anh hùng hoặc bài học đạo đức của câu chuyện. Đức Chúa Trời là người chủ động và bài học đạo đức là Đức Chúa Trời đã ở cùng Giô-sép. Nếu bạn muốn học hỏi từ câu chuyện liên hệ đến Giô-sép, và cố tìm một người chủ động khác ngoài Đức Chúa Trời, thì người đó sẽ là ai? Phải chăng đó là Gia-cốp, vốn nuông chìu Giô-sép hơn các con cái khác của mình? Phải chăng đó là Phô-ti-pha hay vợ ông ta, cả hai đều đối xử bất công với Giô-sép? Phải chăng đó là người chủ ngục không được nêu tên? Phải chăng đó là chính Giô-sép, chàng thanh niên quá tự tin, vị kỷ, dường như đã tự chuốc lấy họa vào thân một cách hết sức dễ dàng? Nếu bạn chọn bất cứ người nào trong số các nhân vật vừa kể trên, thì chắc chắn bạn đã không tìm được điều mà câu chuyện muốn nhấn mạnh, và như thế không còn chú ý đến quyền tể trị, hướng dẫn và điều động các biến cố của Đức Chúa Trời.
Còn về bài học đạo đức của câu chuyện thì sao? Phải chăng bạn sẽ sai lầm như nhiều nhà truyền đạo hoặc giáo sư, là cố tìm một bài học cho đời sống tiềm tàng trong từng biến cố của cuộc đời Giô-sép? Nếu thế thì có lẽ bạn cũng kết luận câu chuyện dạy rằng “Đừng kể các giấc mơ của bạn cho ai nghe cả, kẻo e bạn sẽ vì đó mà bị rắc rối to đấy!” hay “Thậm chí các nô lệ cũng có thể trở thành người cầm đầu, nếu họ chịu quan tâm các tài năng quản trị của mình” hoặc “Bạn sẽ khỏi phải vào tù nếu có chút ít kinh nghiệm làm ăn trước khi bị bắt” hay “Người ngoại quốc thì dễ được thăng quan tiến chức hơn dân bản xứ.”
Nói cách khác, nếu bạn tìm cách bắt chước con người hoặc hành động nào của Giô-sép mà các Cơ Đốc nhân ngày nay cho rằng làm như thế để được phước, thì bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được trong câu chuyện này đâu. Câu chuyện muốn nói với bạn điều Đức Chúa Trời đã làm với một ứng viên hầu như không thể thành công. Câu chuyện không hàm chứa bất kỳ một quy luật nào để trở thành người dẫn đầu trong công việc kinh doanh hoặc trong đời sống nói chung. Giô-sép đã gặp chuyện chẳng may này đến chuyện tệ hại khác, và đã phải ngồi tù rất nhiều năm trước khi chính Đức Chúa Trời (chứ không phải Giô-sép) sắp xếp cho ông được tha ra.
Việc Giô-sép được ra tù nhờ tài giải mộng mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông (SaSt 40:1-41:57), việc ông được đặt vào chức vị có quyền lực cao và cơ hội để ông giúp đỡ gia đình trong nạn đói (SaSt 41:1-50), cũng như nhiều chi tiết khác nữa của các câu chuyện nhỏ hơn hình thành câu chuyện Giô-sép, thật ra chẳng cho thấy điều gì bẩm sinh nơi Giô-sép đáng nêu gương trong các hành động của ông cả. Bạn sẽ phí công vô ích nếu muốn tìm một bài học luân lý nào khác hơn là bài học mà chính Kinh Thánh cung cấp: “Đức Chúa Trời đã ở cùng Giô-sép.” Toàn thể quá trình bị thất bại rồi được thăng tiến để nắm được quyền lực của Giô-sép, đều là việc làm của Đức Chúa Trời. Cả đến ác ý của các anh Giô-sép đối với ông cũng đều được Đức Chúa Trời sử dụng cho chiến lược của Ngài. Như chính Giô-sép đã bảo với các anh mình trong SaSt 50:19-20: “Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo.”
Cả chuỗi dài các biến cố và các câu chuyện nhỏ hơn tập hợp thành câu chuyện Giô-sép đều là một phần của một câu chuyện lớn hơn, đó là chương trình của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên với tư cách một dân tộc, và để bảo tồn các dân Ca-na-an, Ai Cập và nhiều dân tộc khác đồng thời suốt thời gian bị nạn đói này. Ai Cập là nơi Đức Chúa Trời gây dựng và gia tăng dân sự Ngài, chuẩn bị họ cho cuộc Xuất Ai Cập và sự chinh phục xứ Ca-na-an mà chính Ngài sẽ ban cho họ như Ngài đã hứa với Áp-ra-ham.
Nếp sống, các đức tính cá nhân, hoặc các hành động của Giô-sép chẳng giúp chúng ta được gì nếu muốn rút ra từ đó các nguyên tắc luân lý đạo đức tổng quát. Nếu bạn tưởng mình đã tìm được điều gì, tức là bạn đã tìm thấy điều bạn muốn tìm thấy trong đoạn kinh văn, chứ không phải là bạn giải nghĩa đoạn kinh văn.
Cuối cùng thì chính Giô-sép được ban cho khả năng để nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã điều khiển tất cả các biến cố trong câu chuyện của ông, nhằm một chủ đích quan trọng hơn. Vào cuối đời mình, ông đã bảo với các anh em mình: “Em sẽ chết, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.”
Trọng tâm chính là Đức Chúa Trời. Ngài có quyền hoàn tất những gì Ngài muốn. Đức Chúa Trời đã sử dụng những phương tiện xem ra rất vô lý như Giô-sép, gia đình ông, và Pha-ra-ôn để bảo tồn mạng sống nhiều người và bắt đầu tạo lập cho Ngài một dân tộc đặc biệt. Đây chính là chỗ để chúng ta tìm thấy bài học đạo đức của câu chuyện, tập trung vào ân điển và sự quan phòng của Đức Chúa Trời, và đưa chúng ta đến chỗ biết tôn trọng đường lối của Ngài và trông cậy vào sự cung ứng của Ngài.
Câu Chuyện Ru-tơ
Sách Ru-tơ vừa ngắn gọn vừa độc lập, có cốt truyện dễ hiểu và tìm hiểu các nhân vật không khó. Vì thế chúng ta có thể dùng câu chuyện này làm mẫu để minh họa các nguyên tắc chúng ta vừa học ở trên, đặc biệt nhấn mạnh đến điểm số 9 trong bảng liệt kê các nguyên tắc. Ở đây, chúng tôi muốn giúp bạn thấy rằng lời dạy của Đức Thánh Linh qua một câu chuyện có thể là minh nhiên hoặc mặc nhiên. Lời dạy minh nhiên (rõ ràng) là khi người thuật chuyện được linh cảm thật sự nói (“Đức Chúa Trời phù hộ cho Giô-sép”). Lời dạy dỗ mặc nhiên (ẩn ý) là những gì đã được trình bày rõ ràng trong câu chuyện, nhưng lại không được nói ra bằng lời. Bạn có thể thấy những điều đó một cách tiềm ẩn trong câu chuyện, thay vì được đọc ngay trong trang sách.
Sự dạy dỗ minh nhiên có thể nhận biết được cách dễ dàng, nhưng sự dạy dỗ mặc nhiên có thể khó hơn. Nó đòi hỏi phải có khả năng, chịu khó làm việc, cẩn thận và vừa cầu nguyện, vừa tôn trọng sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh là Đấng linh cảm bản văn. Dù sao, bạn cũng cần phải đọc được những điều ngoài câu chuyện hơn là đem vào trong câu chuyện.
Câu chuyện của Ru-tơ có thể tóm tắt như sau: Quả phụ Ru-tơ, một người Mô-áp di cư từ xứ Mô-áp đến Bết-lê-hem cùng với mẹ chồng là Na-ô-mi, cũng là một quả phụ (Ru R 1:1-22). Ru-tơ đi mót lúa trong đồng lúa của Bô-ô. Bô-ô kết bạn với Ru-tơ vì được nghe về lòng hiếu thảo và cách đối xử tử tế của nàng với Na-ô-mi, vốn là người bà con với ông ta (Ru R 2:1-23). Theo sự gợi ý của Na-ô-mi, Ru-tơ cho Bô-ô biết là nàng yêu ông và mong ông sẽ cưới nàng làm vợ (Ru R 3:1-18). Bô-ô thực hiện mọi biện pháp cần thiết về mặt pháp lý để cưới Ru-tơ và bảo vệ các quyền lợi liên hệ đến tài sản của người chồng đã quá cố của nàng là Mạc-lôn. Sự ra đời của đứa con trai đầu tiên là Ô-bết của Ru-tơ và Bô-ô, là một an ủi lớn lao cho Na-ô-mi. Cuối cùng thì cháu nội của Ô-bết sẽ là vua Đa-vít (Ru R 4:1-22).
Nếu bạn chưa quen với câu chuyện Ru-tơ, hãy đọc qua cách ấy ít nhất là hai lần. Rồi trở lại và ghi ra các chú thích riêng biệt về những điểm tiềm ẩn (mặc nhiên) trong câu chuyện như sau:
1. Câu chuyện cho chúng ta biết Ru-tơ cải đạo, đặt đức tin vào Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên. Câu chuyện cho chúng ta biết được điều này qua câu nói của Ru-tơ với Na-ô-mi “Dân sự của mẹ tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ tức là Đức Chúa Trời của tôi” (1:17), thay vì nói thẳng với chúng ta rằng “Ru-tơ đã ăn năn quy đạo.” Chúng ta nhận ra điều đó vì Ru-tơ nhận Đức Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình tức là nàng đã ăn năn quy đạo. Câu chuyện cũng mặc nhiên xác nhận việc ăn năn quy đạo của Ru-tơ là chân thành, chứ không phải chỉ bằng đầu môi chót lưỡi mà thôi, bằng cách ghi lại câu nói này của Ru-tơ: “Ví bằng có sự chi...nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi” (1:17). Mấy lời này ngụ ý rõ ràng, tuy không nói thẳng ra, rằng Ru-tơ, một người Mô-áp trước kia từng thờ lạy các thần của dân Mô-áp, giờ đây đã tin và sống theo các chuẩn mực của Giê-hô-va tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Chẳng có gì để nghi ngờ khi Kinh Thánh cho chúng ta biết Ru-tơ đã ăn năn quy đạo, quay lại thờ phượng Đức Chúa Trời chân thần, tuy điều đó không hề được đề cập rõ ra ở bất cứ chỗ nào cả.
2. Câu chuyện mặc nhiên kể với chúng ta rằng Bô-ô là một người Y-sơ-ra-ên công chính, giữ Luật Môi-se, tuy nhiều người Y-sơ-ra-ên đã không làm như thế. Điều đó được nói ở đâu? Hãy đọc thật cẩn thận ở các phần 2:3-13, 22, 3:10-12; 4:9-10. Mấy phần này trong câu chuyện nêu rõ rằng căn cứ vào cách ăn nói của ông, ta thấy bản thân ông vốn trung tín phục dưới uy quyền của Giê-hô-va, ở chỗ ông vẫn tuân thủ điều luật về mót lúa đã được ban hành trong LeLv 19:9-10 (Ru-tơ hội đủ cả hai loại điều kiện mà điều luật ấy đề ra - nàng vốn là một người nghèo “đồng thời” cũng là kẻ khách (người ngoại quốc); ông cũng tuân thủ điều luật về việc chuộc lại sản nghiệp đã được ban hành ở LeLv 25:23-24, mà không phải là toàn thể người Y-sơ-ra-ên đều trung tín vâng giữ luật pháp như thế. Dĩ nhiên, đi mót lúa trong các đồng lúa của những người không tuân thủ các điều luật bó buộc liên hệ là điều nguy hiểm (2:22).
Một lần nữa, câu chuyện mặc nhiên cho chúng ta khá nhiều thông tin quan trọng. Phần thông tin này có giá trị giúp chúng ta theo dõi câu chuyện để giải thích nó. Thế nhưng, đây là những thông tin không được cung cấp cho chúng ta một cách minh nhiên.
3. Câu chuyện mặc nhiên cho chúng ta biết rằng đây là một phần bối cảnh của tổ tiên vua Đa-vít - do đó, khi mở rộng ra, thì liên hệ đến tổ tiên của Chúa Giê-xu nữa. Hãy đọc 4:17-21, bảng gia phả ngắn ngủi trong câu 17 và bảng gia phả đầy đủ hơn trong mấy câu 18-21 đều kết thúc bằng tên Đa-vít. Rõ ràng nhân vật Đa-vít là tiêu điểm và điểm kết thúc của câu chuyện này. Căn cứ vào nhiều bảng gia phả khác trong Kinh Thánh, chúng ta biết rằng Đa-vít là vị quân vương vĩ đại đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên. Căn cứ vào các bảng gia phả trong Tân Ước, chúng ta cũng biết rằng về phương diện con người Chúa Giê-xu vốn là hậu duệ của Đa-vít. Thế thì Ru-tơ là bà cố nội của Đa-vít, và là một tổ mẫu của Chúa Giê-xu! Đây là một phần quan trọng của lời dạy dỗ trong cả câu chuyện này. Câu chuyện không chỉ liên hệ với Ru-tơ và Bô-ô vì cớ lòng trung tín của họ đối với Đức Giê-hô-va, mà còn vì cớ địa vị của họ trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Các nhân vật này không thể nào biết được điều đó, nhưng họ được Chúa sử dụng để lập làm tổ tiên của Đa-vít và “con trai Đa-vít,” tức là Chúa Giê-xu.
4. Câu chuyện mặc nhiên cho chúng ta biết rằng Bết-lê-hem là một thị trấn đặc biệt dưới thời Các Quan Xét vì sự trung tín của cư dân tại đó. Nhận ra điểm mặc nhiên này của câu chuyện không phải là dễ dàng hay tự động nhưng đòi hỏi phải đọc thật kỹ cả câu chuyện, đặc biệt chú ý vào các lời nói và hành động của tất cả các nhân vật trong câu chuyện. Nó cũng đòi hỏi phải có kiến thức chung về những địa phương khác của xứ Y-sơ-ra-ên trong thời đó so với những gì đặc biệt của xứ Bết-lê-hem. Muốn có kiến thức về Bết-lê-hem phải quen thuộc với các biến cố và các chủ đề của sách Các Quan Xét, vì sách Ru-tơ được người thuật chuyện nối liền trực tiếp với thời kỳ đó (Ru R 1:1). Nếu bạn đã có cơ hội đọc kỹ sách Các Quan Xét, bạn sẽ ghi nhận rằng thời kỳ các quan xét (khoảng 1240-1030 T.C.) nói chung có dấu ấn rõ rệt của các tập tục như thờ thần tượng lan tràn, hòa đồng tôn giáo (pha lẫn nhiều nét đặc trưng của ngoại đạo với đạo thật của dân Y-sơ-ra-ên), xã hội bất công, xáo trộn, thù địch giữa các chi phái với nhau, dâm loạn, và nhiều dấu chỉ khác nữa về sự bất trung với Chúa. Bức tranh được vẽ ra cho chúng ta trong sách Các Quan Xét khó có thể là một bức tranh đẹp của hạnh phúc, tuy có những trường hợp cá biệt vì lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài đã ban nhiều lợi ích cho dân Y-sơ-ra-ên hoặc cho các chi phái trong dân Y-sơ-ra-ên, cho dầu tất cả đều chống nghịch với Ngài.
Điều gì trong sách Ru-tơ cho chúng ta biết Bết-lê-hem là một ngoại lệ so với bức tranh bao quát về sự bất trung? Thực tế là tất cả mọi sự, ngoại trừ 2:2 hàm ý rằng không phải tất cả dân Bết-lê-hem đều giữ luật lệ liên hệ đến vấn đề mót lúa mà đáng lẽ họ phải tuân thủ. Nếu không có như thế thì bức tranh chắc sẽ rất đồng nhất. Lời nói của các nhân vật cũng cho thấy dân cư của thị trấn này đã bày tỏ lòng đầu phục Đức Giê-hô-va của họ.
Nên nhớ rằng tất cả các nhân vật được đề cập trong câu chuyện, ngoại trừ Ru-tơ và cô em dâu của nàng là Ọt-ba, đều là công dân Bết-lê-hem. Hãy xét đến Na-ô-mi, dù là trong những thời kỳ gặp nhiều cay đắng (1:8-9; 13:20-21) hay trong những lúc được vui vẻ hạnh phúc (1:6; 2:19-20) bà đều nhìn nhận và đầu phục ý chỉ Đức Giê-hô-va. Hơn nữa, Bô-ô cũng trước sau như một, và đã tự chứng tỏ bằng lời nói rằng mình là một người thờ phượng và noi theo Đức Giê-hô-va (2:11-12; 3:10,13) còn các hành động của ông từ đầu chí cuối đều chứng thực cho những lời nói đó.
Ngay đến cách người ta chào hỏi nhau cũng cho thấy họ vốn có ý thức về việc đầu phục Đức Giê-hô-va ở mức độ cao (2:4). Cũng thế, các trưởng lão của thị trấn, trong lời chúc phước cho hôn lễ và cho con cháu họ (4:11, 12) và các phụ nữ trong thị trấn khi chúc phước cho Na-ô-mi (4:14) đều chứng tỏ đức tin của họ. Việc họ thừa nhận Ru-tơ, một phụ nữ người Mô-áp ăn năn quy đạo đã thêm một bằng chứng mặc nhiên về đức tin của họ.
Cuối cùng, tác giả được linh cảm đã gán những biến cố đầy ý nghĩa cho Đức Giê-hô-va (1:6; 4:13) - mặc dầu chúng ta không thể biết chắc tác giả có phải là dân Bết-lê-hem hay không, và cũng không thể không nghĩ rằng tác giả đã không thuộc vào đám người bất trung của thời kỳ ấy. Vấn đề là một người không thể nào đọc câu chuyện thật kỹ (đồng thời đối chiếu sách này với sách Các Quan Xét) mà lại không thấy rất nhiều lần rằng thị trấn Bết-lê-hem vốn đặc biệt như thế nào! Không chỗ nào trong câu chuyện thật sự nói rằng “Bết-lê-hem là một thị trấn nổi tiếng là ngoan đạo vào thời kỳ ấy.” nhưng đó lại là điều mà câu chuyện đã nói với chúng ta một cách mạnh mẽ và đầy thuyết phục mà cả những lời nói thẳng ra cũng không hẳn có được hiệu quả như thế.
Chúng tôi mong rằng các thí dụ trên đây sẽ cho ta thấy rằng cẩn thận chú ý đến các chi tiết và chuyển biến toàn diện của một câu chuyện và văn mạch của nó là điều cần thiết nếu như ta muốn nắm được đầy đủ ý nghĩa của nó. Trên mọi phương diện, điều mặc nhiên cũng có ý nghĩa như điều minh nhiên.
Cảnh Giác
Mặc nhiên không có nghĩa là bí mật. Bạn sẽ gặp đủ thứ rắc rối nếu bạn cố tìm một ý nghĩa nào đó trong một bản văn mà bạn nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã “giấu” trong câu chuyện. Đây hoàn toàn không phải là điều mà chữ mặc nhiên muốn nói. Mặc nhiên có nghĩa là sứ điệp có thể được hiểu nhờ những gì đã được nói ra, tuy rằng sứ điệp đó không được phát biểu rõ bằng lời. Nhiệm vụ của bạn không phải là lục lạo để tìm những điều mà mọi người không thể hiểu được. Nhiệm vụ của bạn là ghi ra tất cả những gì mà câu chuyện thật sự nói với bạn - trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng không bao giờ nói cách thần bí hay riêng tư. Nếu bạn không thể xác quyết và diễn tả cho những người khác một điều gì đó được dạy một cách mặc nhiên để họ hiểu được và nắm vững thì có lẽ chính bạn cũng đã đọc và hiểu sai đoạn kinh văn rồi. Điều Thánh Linh linh cảm là để lợi ích cho mọi tín hữu. Hãy nhận biết và khai triển điều dễ nhận thấy trong câu chuyện, chứ đừng đặt ta một câu chuyện mới (IIPhi 2Pr 2:3)!
Vài Điều Lưu Ý Cuối Cùng
Tại sao lắm khi người ta tìm thấy trong các câu chuyện Kinh Thánh nhiều điều mà thật ra vốn không có trong đó - tức khi đọc, họ đưa vào trong Kinh Thánh các khái niệm của riêng họ, chứ không phải là tìm ra trong đó những điều mà Đức Chúa Trời muốn cho họ phải biết? Có ba lý do chính. Một là họ khao khát muốn tìm một số thông tin họ nghĩ sẽ có giá trị cho cá nhân có thể ứng dụng cho hoàn cảnh riêng của mình. Hai là họ không đủ kiên nhẫn, muốn được trả lời ngay tức khắc, từ chính sách này, chương này. Ba là, họ trông mong sai lầm rằng mọi điều trong Kinh Thánh đều có thể ứng dụng trực tiếp như lời dạy cho chính đời sống của cá nhân họ. Kinh Thánh là một nguồn tài nguyên lớn lao, chứa đựng tất cả những gì một Cơ Đốc nhân cần theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời cho đời sống. Nhưng không phải lúc nào Kinh Thánh cũng chứa đựng những câu trả lời vừa cụ thể vừa riêng tư như một số người mong muốn, và không phải chương nào của mỗi sách trong Kinh Thánh cũng chứa đựng tất cả mọi thông tin! Vì quá sốt ruột muốn tìm cho ra ý chỉ của Đức Chúa Trời từ toàn bộ Kinh Thánh, nên người ta đã sai lầm - họ tự cho phép mình cượng giải những phần Kinh Thánh riêng rẽ.
Để bạn có thể tránh được khuynh hướng này, chúng tôi xin liệt kê ra đây tám sai lầm trong số các sai lầm phổ biến nhất trong công tác giải nghĩa mà người ta vấp phải khi cố đi tìm lời giải đáp từ các phần của Kinh Thánh. Mặc dầu tất cả những điều sau đây áp dụng cho truyện ký nhưng cũng có thể được áp dụng cho các loại văn thể khác.
1. Hiểu theo nghĩa bóng (Allegorizing): Thay vì tập trung vào ý nghĩa rõ ràng, người ta bỏ mặc bản văn để chỉ tìm xem nó có ẩn ý gì nằm ngoài bản văn. Trong Kinh Thánh có nhiều phần phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ (thí dụ Exe Ed 23:1-49 hoặc nhiều phần trong sách Khải Thị) nhưng không một ẩn dụ (allegory) Kinh Thánh nào lại là một câu chuyện đơn giản.
2. Đặt đoạn văn nằm ngoài bối cảnh và văn mạch của nó (Decontextualizing): Không lưu ý đến bối cảnh lịch sử và văn mạch toàn diện - thường là đối với câu chuyện riêng rẽ - nhưng chỉ tập trung chú ý vào các đơn vị nhỏ là không nắm được các nguyên tắc giải nghĩa. Chỉ cần đi ra ngoài bối cảnh vừa đủ xa là bạn sẽ có thể gán cho bất cứ phần nào của Kinh Thánh nói bất cứ điều gì bạn muốn.
3. Chọn lọc (selectivity). Điều này cũng giống như vượt ra ngoài bối cảnh và văn mạch. Nó bao gồm việc góp nhặt, chọn lựa những chữ, những câu cụ thể và chú ý vào đó mà bỏ qua toàn cảnh của khúc sách cần nghiên cứu. Thay vì cân đối các phần và toàn bộ đoạn kinh văn, bạn đã bỏ qua một số phần nào đó cũng như toàn cảnh.
4. Kết hợp sai lầm (false combination): Đường hướng này kết hợp các yếu tố nằm rải rác đây đó trong khúc sách, rồi đưa ra một luận điểm từ sự kết hợp đó, tuy bản thân các yếu tố ấy không hề có liên hệ trực tiếp với nhau trong khúc sách ấy. Một thí dụ về cách giải nghĩa sai lầm này là cho rằng rằng các kẻ thù thật sự của chúng ta là trong Hội Thánh chứ không phải ngoài Hội Thánh, vì trong Thi Tv 23:1-6 Đa-vít nói rằng ông sẽ ở mãi mãi trong nhà của Đức Chúa Trời, mà Đức Chúa Trời thì đã dọn bàn cho ông trước mặt các kẻ thù của ông (Do đó, các kẻ thù phải cùng ở chung trong nhà của Đức Chúa Trời với Đa-vít, nếu không làm sao họ có thể ở trước mặt ông được).
5. Tái định nghĩa (redefinition). Khi ý nghĩa rõ ràng của một đoạn kinh văn khiến người ta cảm thấy lạt lẽo, không tạo ngay cho người ta sự thích thú thuộc linh, hoặc nói một điều gì đó mà người ta không muốn nghe thì người ta thường cố tìm cách tái định nghĩa để nó có ý nghĩa khác đi. Thí dụ, họ lấy câu nói của Chúa Giê-xu: “Khốn nạn cho các ngươi là người giàu có...” và “Khốn nạn cho các ngươi khi mọi người sẽ khen ngợi các ngươi...” (LuLc 6:24, 26) rồi tái định nghĩa chúng, cất đi phần ý nghĩa rõ ràng của chúng, để biến thành: “Khốn nạn cho các ngươi là những kẻ quá tham tiền đến nỗi chối bỏ đức tin vào (đạo) Đức Chúa Trời” và “Khốn nạn cho các ngươi vì đã trở thành những kẻ vô thần để được lời khen ngợi rẻ tiền của những người bất trung của thế gian này.” Những câu nói này đã được định nghĩa để chỉ còn có nghĩa hẹp, vừa đủ để không còn là mối đe dọa cho những những người làm công việc tái định nghĩa.
6. Thẩm quyền ngoài Kinh Điển (Extracanonical authority). Bằng cách sử dụng một thứ chìa khóa đặc biệt bên ngoài để tìm hiểu Kinh Thánh, thường là một mớ giáo điều hoặc một quyển sách được coi là bày tỏ các chân lý của Kinh Thánh mà nếu không có không ai có thể hiểu được, người ta tự cho rằng họ có thể khai mở các huyền nhiệm của Kinh Thánh. Các tà giáo thường hoạt động căn cứ vào một thẩm quyền ngoài kinh điển, xem Kinh Thánh có phần nào giống như một loạt các câu đố cần có sự hiểu biết đặc biệt mới giải đáp được.
7. Đạo đức hóa (Moralizing): Khuynh hướng này cho rằng các nguyên tắc để sống có thể được rút ra từ tất cả các khúc Kinh Thánh. Do đó, người đọc Kinh Thánh theo khuynh hướng này sẽ đặt câu hỏi “Bài học đạo đức của câu chuyện này là gì?” ở cuối mỗi một câu chuyện. Chẳng hạn, “Từ cách dân Y-sơ-ra-ên chịu đựng suốt những năm làm nô lệ tại Ai Cập, chúng ta học được gì về cách đối phó với nghịch cảnh?” Chỗ sai của khuynh hướng này là bỏ qua sự kiện các câu chuyện vốn được viết ra nhằm bày tỏ diễn tiến trong lịch sử cứu chuộc của Đức Chúa Trời, chứ không phải nhằm minh họa các nguyên tắc. Đó là những câu chuyện lịch sử, chứ không phải câu chuyện minh họa.
8. Cá nhân hóa (Personalizing): Là đọc Kinh Thánh và cho rằng một phần nào đó hoặc tất cả các phần trong đó đều dành để ứng dụng cho riêng bạn hoặc cho nhóm người của bạn, chứ không thể đem ứng dụng cho mọi người khác. Người ta vốn có khuynh hướng vị kỷ, cả khi họ đọc Kinh Thánh. Khi họ không thỏa mãn với bức tranh rộng lớn về lịch sử cứu chuộc của Đức Chúa Trời, họ rất dễ sa vào sự cám dỗ là cố tìm một điều gì đó để thỏa mãn các nhu cầu, các khát vọng, hoặc các vấn đề cá nhân của riêng họ. Họ có thể quên rằng toàn bộ Thánh Kinh được Đức Chúa Trời ban cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ ban cho riêng họ mà thôi. Chẳng hạn, người ta đã sai lầm khi cho rằng “câu chuyện con lừa biết nói của Ba-la-am nhắc nhở tôi rằng tôi đã nói quá nhiều,” hoặc “câu chuyện xây cất đền thờ là cách Đức Chúa Trời dạy chúng ta phải xây một ngôi nhà thờ mới.”
Lời nhắc nhở ngắn ngủi và rất hữu ích liên hệ đến cách đọc và tìm hiểu các truyện ký mà chúng tôi muốn gởi đến cho các bạn là: Đừng đọc Kinh Thánh theo lối thấy gì làm nấy. Chẳng hề có câu chuyện nào trong Kinh Thánh đã được viết ra đặc biệt về chính bạn cả. Câu chuyện Giô-sép là về chính Giô-sép, đặc biệt đề cập cách Đức Chúa Trời đã dùng ông để làm mọi việc - chứ không phải là một câu chuyện trực tiếp về chính bạn. Câu chuyện Ru-tơ nhằm ca ngợi sự bảo vệ và phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ru-tơ và dân chúng tại Bết-lê-hem - chứ không phải là về chính bạn. Bạn luôn luôn có thể học hỏi được rất nhiều điều từ các câu chuyện này cũng như những câu chuyện khác trong Kinh Thánh, nhưng bạn đừng nghĩ rằng Đức Chúa Trời trông mong bạn cũng phải làm đúng y những điều mà các nhân vật trong Kinh Thánh đã làm, hoặc sẽ gặp những việc đúng y như những việc đã xảy ra cho họ. Chương 6 sẽ có phần thảo luận thêm về vấn đề này.
Các nhân vật trong Kinh Thánh có khi tốt khi xấu, có khi khôn ngoan, mà cũng có khi dại dột. Nhiều khi họ bị trừng phạt, nhiều khi được thương xót, nhiều khi được sống thanh thản, nhiều khi phải khổ sở.
Nhiệm vụ của bạn là học hỏi Lời Đức Chúa Trời từ các câu chuyện về họ, chứ đừng cố tìm cách làm mọi việc như đã xảy ra trong Kinh Thánh. Không phải chỉ vì một ai đó trong một câu chuyện Kinh Thánh đã làm một việc gì đó mà chính bạn cũng được phép hoặc bị bắt buộc phải làm y như thế.
Điều bạn có thể làm và nên làm là vâng theo điều Đức Chúa Trời thật sự kêu gọi bạn làm trong Kinh Thánh. Các câu chuyện sở dĩ quý báu cho chúng ta vì chúng chứng minh cách sống động việc Đức Chúa Trời can thiệp vào thế gian này và minh họa cho các nguyên tắc và tiếng gọi của Ngài. Vì thế, các câu chuyện dạy chúng ta rất nhiều điều - nhưng những gì chúng trực tiếp dạy dỗ chúng ta không phải là hệ thống đạo đức cá nhân. Về lãnh vực này chúng ta phải tìm ở những chỗ khác trong Kinh Thánh, ở nhiều chỗ khác nhau để biết được những lời dạy rõ ràng và đặc biệt về vấn đề đạo đức cá nhân. Tính cách phong phú và đa dạng của Kinh Thánh phải được hiểu như là một đồng minh của chúng ta - một nguồn tài nguyên đáng được hoan nghênh chứ không bao giờ là một gánh nặng phiền toái.


Sách Công Vụ Các Sứ Đồ: Vấn Đề Tiền Lệ Lịch Sử
(Historical Precedent)
Ở nghĩa nào đó, viết riêng một chương về sách Công Vụ Các Sứ Đồ là thừa, vì hầu hết những gì đã nói trong chương trước đều có thể được áp dụng ở đây. Tuy nhiên, vì một lý do thực tế trong việc giảng kinh, sách Công Vụ đòi hỏi một chương riêng biệt. Lý do rất đơn giản, đó là phần đông các tín hữu không đọc sách Công Vụ giống như cách họ đọc sách Các Quan Xét hoặc II Sa-mu-ên, ngay cả khi họ không hoàn toàn nhận thấy điều đó.
Khi chúng ta đọc các truyện ký trong Cựu Ước, chúng ta có xu hướng làm những điều đã được đề cập ở chương trước, tức là đạo đức hóa, hình bóng hóa, cố tìm các ẩn ý v.v… Rất ít khi chúng ta nghĩ rằng các câu chuyện này phải được dùng làm mẫu mực cho hành vi Cơ Đốc hoặc cho sinh hoạt trong Hội Thánh. Chúng ta cũng chẳng bao giờ làm đúng y như một số ít trường hợp đã xảy ra - thí dụ như đặt một lốt chiên để tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúng ta chẳng bao giờ trải ra một lốt chiên thật để Đức Chúa Trời khiến nó khô hay ướt. Trái lại, chúng ta “thử” Đức Chúa Trời bằng cách đặt ra một loạt hay nhiều loạt tình huống. “Nếu trong tuần này có ai đó từ California gọi điện thoại cho chúng ta, thì chúng ta tin rằng đó là cách Đức Chúa Trời dùng để bảo chúng ta rằng Ngài muốn chúng ta đi California.” Và chẳng bao giờ, theo “khuôn mẫu” này, chúng ta cho rằng hành động của Ghê-đê-ôn là không đúng, bởi vì hành động ấy chứng tỏ ông thiếu tin cậy vào lời Đức Chúa Trời đã phán với ông.
Hiếm khi chúng ta nghĩ rằng các câu chuyện lịch sử trong Cựu Ước là những tiền lệ trong Kinh Thánh cho cuộc đời chúng ta. Mặt khác, đây là cách bình thường khi đọc sách Công Vụ. Chẳng những sách này kể lại cho chúng ta lịch sử của Hội Thánh nguyên thủy, mà còn được dùng như một mẫu mực cho Hội Thánh thuộc mọi thời đại noi theo. Đây chính là chỗ khó khăn khi chúng ta giảng kinh.
Nói chung, phần lớn các nhóm Tin Lành thuần túy (evangelical) đều có tinh thần của “phong trào phục hồi.” Chúng ta thường nhìn lui về Hội Thánh và từng trải Cơ Đốc nhân hồi thế kỷ thứ nhất, hoặc xem đó như một mẫu mực phải được phục hồi, hoặc như một lý tưởng cần phải noi theo. Chẳng hạn chúng ta vẫn thường nói đại khái “sách Công Vụ dạy chúng ta rõ ràng rằng...” Tuy nhiên, dường như điều hiển nhiên là không phải tất cả “những lời dạy rõ ràng” đều rõ ràng như nhau cho tất cả mọi người.
Thật ra, chính việc giảng kinh thiếu chính xác về sách Công Vụ đã dẫn tới nhiều chia rẽ trong Hội Thánh. Những điểm dị biệt như có thể làm phép báp-tem cho trẻ con hay chỉ cho các tín hữu trưởng thành, Hội Thánh theo quy chế hội chúng hay giám mục, cần phải dự tiệc thánh mỗi Chúa nhật hay không, việc chọn các chấp sự bằng lá phiếu của cả hội chúng, việc bán đi mọi tài sản và xem tất cả là của chung, và cả đến nghi thức bắt rắn cũng đều được hậu thuẫn toàn phần hoặc một phần dựa vào sách Công Vụ.
Chủ đích của chương này là đưa ra vài gợi ý về việc giảng kinh đối với vấn đề các tiền lệ trong Kinh Thánh. Do đó, điều được nói ra đây cũng sẽ áp dụng cho tất cả các câu chuyện lịch sử trong Kinh Thánh, kể cả một số tài liệu trong các sách Phúc Âm. Tuy nhiên, trước nhất ta cần tóm lược đôi điều về cách đọc và nghiên cứu sách Công Vụ.
Trong phần thảo luận tiếp theo đây, chúng tôi sẽ có cơ hội thường xuyên đề cập đến ý định hay mục đích của Lu-ca khi viết sách Công Vụ. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là Đức Thánh Linh ở đàng sau ý định của Lu-ca. Lu-ca có một số những ý thích cũng như những mối quan tâm khi viết sách Lu-ca và Công vụ, cũng như việc chúng ta “tiếp tục làm nên sự cứu chuộc mình,” nhưng “chính Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta” (Phi Pl 2:12-13). Thế nhưng chúng tôi tin rằng Đức Thánh Linh đứng đàng sau điều khiển tất cả những điều đó.
Giải Kinh Sách Công Vụ
Tuy Công Vụ là một sách dễ đọc nhưng lại khó cho việc nghiên cứu theo từng nhóm. Có nhiều lý do rất khác nhau để người ta nghiên cứu sách này. Một số người rất quan tâm đến các chi tiết lịch sử của sách Công Vụ, tức những gì liên hệ đến lịch sử của Hội Thánh nguyên thủy. Nhiều người khác lại quan tâm đến biện giáo, chứng minh rằng Kinh Thánh là chân xác bằng cách cho thấy tính chính xác của Lu-ca như một sử gia. Tuy nhiên, phần đông người ta đến với sách Công Vụ là vì các lý do thuần túy tôn giáo hoặc bồi linh, muốn biết các Cơ Đốc nhân nguyên thủy là những con người như thế nào, để qua họ được khích lệ hoặc xem họ như là khuôn mẫu.
Do đó, mối quan tâm đưa người ta đến với sách Công Vụ khiến họ đọc hoặc nghiên cứu sách này với nhiều chọn lọc. Chẳng hạn người quan tâm đến dưỡng linh thì ít chú ý lời nói của Ga-ma-li-ên trong Công Vụ 5 hơn là việc Phao-lô ăn năn quy đạo trong chương 9 hoặc việc Phi-e-rơ bị tù ở chương 12. Cách đọc hoặc nghiên cứu như thế thường khiến người ta bỏ qua các vấn đề về biên niên sử hoặc sử ký. Thí dụ khi bạn đọc mười một chương đầu, thật là khó tưởng tượng được rằng những điều Lu-ca đưa vào đây thật ra vốn đã trải dài một thời gian từ mười đến mười lăm năm.
Do đó, điều quan tâm của chúng tôi ở đây là muốn giúp bạn đọc và nghiên cứu sách này với thái độ thật tỉnh táo, đầy cảnh giác, để bạn thấy nhìn sách công Vụ trong mối quan tâm của Lu-ca, cũng như giúp bạn nêu ra một vài loại câu hỏi mới trong lúc đọc sách ấy.
Sách Công Vụ, Một Tác Phẩm Lịch Sử
Phần lớn các gợi ý giải kinh nêu ra trong chương trước vẫn đúng cho sách Công Vụ. Điều quan trọng ở đây là Lu-ca vốn là một người ngoại quốc, mà phần ký thuật được linh cảm của ông đồng thời cũng là một thí dụ tuyệt vời về phương pháp viết sử của người Hi Lạp, một loại lịch sử đã bắt nguồn từ Thucydides (460-400 T.C.) và rất thịnh hành trong giai đoạn của người Hi Lạp (300 T.C. - 400 S.C.). Loại lịch sử này không chỉ đơn giản ghi lại các thành tích hay các sự việc đã xảy ra trong quá khứ theo thứ tự thời gian. Trái lại, nó đã được viết ra vừa để khuyến khích hoặc tiêu khiển, vừa để cung cấp thông tin, để dạy đạo đức, hoặc biện giáo. Lẽ dĩ nhiên việc đọc và sống với các câu chuyện của Cựu Ước đã ảnh hưởng trên Lu-ca trong khi ông kể lại câu chuyện về Cơ Đốc giáo nguyên thủy trong quyển sách lịch sử tôn giáo được linh cảm này.
Như thế, hai sách của Lu-ca (Lu-ca và Công Vụ) rất phù hợp với cả hai loại lịch sử đó. Một mặt, chúng đặc biệt dễ đọc, mặt khác, do theo đúng cả hai cách viết sử hoàn hảo nhất của người Hi Lạp và của Cựu Ước, Lu-ca không chỉ quan tâm đến thông tin hoặc tiêu khiển. Có hành động thiên thượng của Đức Chúa Trời xuyên suốt câu chuyện và Lu-ca mong muốn độc giả của ông hiểu được điều này. Với ông, hoạt động của Đức Chúa Trời bắt đầu với Chúa Giê-xu và tiếp tục qua trung gian chức vụ của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh như là phần nối tiếp câu chuyện của Đức Chúa Trời đã bắt đầu trong Cựu Ước. Do đó, chú ý đến các mối quan tâm thần học của Lu-ca là điều rất quan trọng khi bạn đọc hay nghiên cứu sách Công Vụ. Cho nên, giải nghĩa sách Công Vụ bao gồm không những chỉ có các vấn đề thuần túy lịch sử như “đã có gì xảy ra” mà thôi, nhưng còn có cả các vấn đề thần học như “Lu-ca có mục đích gì khi ông chọn lọc và sắp xếp tài liệu như vậy” nữa.
Vấn đề ý định của Lu-ca là vấn đề quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất. Quan trọng nhất vì nó có tính cách quyết định cho việc giảng kinh của chúng ta. Nếu ta có thể chứng minh rằng ý định của Lu-ca trong sách Công Vụ là đưa ra một mẫu mực cho Hội Thánh vào mọi thời đại, thì chắc chắn mẫu mực đó sẽ trở thành khuôn thước, nghĩa là điều mà Đức Chúa Trời đòi hỏi đối với toàn thể các Cơ Đốc nhân dưới mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh. Nhưng nếu ý định của ông là một điều gì khác, thì chúng ta cần đặt ra các vấn đề giảng kinh khác đi. Tuy nhiên, muốn tìm được ý định của Lu-ca là điều rất khó, một phần vì chúng ta chẳng biết Thê-ô-phi-lơ là ai, mà cũng không biết tại sao Lu-ca lại viết sách này cho ông ta, và một phần là vì dường như Lu-ca cũng còn có nhiều mối quan tâm khác nữa.
Tuy nhiên, vì việc nắm vững mục đích của Lu-ca rất quan trọng đối với việc giảng kinh nên bạn cần thường xuyên lưu ý vấn đề này mỗi khi đọc hoặc nghiên cứu theo mức độ giải kinh. Trên một phương diện, việc này rất giống với việc suy nghĩ theo từng phân đoạn khi giải nghĩa các thư tín. Nhưng trong trường hợp ở đây, việc này không dừng ở các phân đoạn nhưng nhìn toàn thể câu chuyện và những phần của quyển sách.
Cho nên khi giải kinh, chúng ta cần quan tâm đến điều gì lẫn tại sao. Như chúng ta đã biết, chúng ta phải bắt đầu với điều gì trước khi đặt câu hỏi tại sao.
Bước Thứ Nhất
Điều đầu tiên ta phải làm là đọc, tốt nhất là đọc trọn cả sách một lần. Trong khi đọc, bạn cần tập thói quen đưa ra các nhận xét và đặt câu hỏi. Việc nhận xét và đặt câu hỏi trong khi bạn đọc sách Công Vụ thường gặp trở ngại là vì câu chuyện cứ càng lúc càng lôi cuốn nên chúng ta thường quên đặt câu hỏi giải kinh.
Cho nên, nếu chúng tôi cần cho bạn một bài tập nữa ở đây, thì đây là bài tập: (1) Hãy đọc sách Công Vụ từ đầu chí cuối luôn một lần hoặc chia làm hai lần. (2) Trong khi đọc, nên lưu ý trong trí những điểm như các nhân vật và địa điểm then chốt, các chủ đề được nhắc đi nhắc lại (Lu-ca thật sự quan tâm đến điều gì?), và bố cục tự nhiên của sách. (3) Bây giờ hãy quay lại và đọc qua thật nhanh, bỏ qua các đoạn không quan trọng, và ghi ra những nhận xét trước đó của bạn. (4) Hãy tự hỏi: Tại sao Lu-ca lại viết sách này?
Vì sách Công Vụ là sách duy nhất thuộc loại này trong cả Tân Ước, chúng tôi xin hướng dẫn bạn đọc và nghiên cứu sách này cách cụ thể hơn.
Tổng Quan Về Sách Công Vụ
Chúng ta bắt đầu tìm hiểu điều gì bằng cách ghi nhận bố cục tự nhiên của sách Công Vụ theo như cách Lu-ca trình bày cho chúng ta. Sách Công Vụ thường chia phần căn cứ trên mối quan tâm của Lu-ca vào Phi-e-rơ (các chương 1-12) và Phao-lô (13-28), hoặc vào sự bành trướng của Phúc Âm về phương diện địa lý (1-7, Giê-ru-sa-lem; 8-10 Sa-ma-ri và Giu-đê; 11-28 cho đầu cùng đất). Tuy cả hai cách chia phần này đều có thể nhận thấy được ngay theo nội dung đích thực của sách, hãy còn một đầu mối nữa đã được chính Lu-ca đưa ra, dường như để buộc chặt tất cả lại với nhau càng rõ ràng hơn. Trong khi đọc, bạn cần chú ý những câu tóm tắt ngắn gọn trong Cong Cv 6:7; 9:31; 12:24; 16:5; 19:20. Trong tất cả các trường hợp, câu chuyện dường như dừng lại một chút trước khi chuyển sang một hướng mới ở dạng nào đó. Căn cứ vào đầu mối này, sách Công Vụ có thể được xem như gồm có sáu phần, hay sáu nhóm làm cho câu chuyện diễn tiến liên tục từ môi trường Do Thái giáo tại Giê-ru-sa-lem với Phi-e-rơ là nhân vật lãnh đạo, tới một Hội Thánh mà người Dân Ngoại chiếm ưu thế mà Phao-lô là nhân vật lãnh đạo, và Rô-ma, thủ đô của thế giới Dân Ngoại, là mục tiêu. Câu chuyện chấm dứt khi Phao-lô đến Rô-ma, nơi mà một lần nữa ông lại quay trở lại với Dân Ngoại vì họ sẽ chịu nghe (28:28).
Vậy trong khi đọc, bạn cần chú ý xem mỗi phần đã đóng góp vào “biến chuyển” này như thế nào. Bằng lời lẽ của riêng bạn, hãy cố gắng mô tả từng nhóm một, cả về nội dung lẫn về phần đóng góp của nó cho biến chuyển đó. Điều gì có vẻ như là chìa khóa cho mỗi đợt tiến về phía trước? Sau đây là phần ghi nhận của chúng tôi:
1:1-6:7. Mô tả về Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem, những bài giảng đầu tiên, cuộc sống chung, sự bành trướng và khởi sự bị chống đối. Lưu ý tất cả những gì mang tính Do Thái giáo, kể cả các bài giảng, sự chống đối và sự kiện các tín hữu đầu tiên vẫn tiếp tục hội họp tại đền thờ và các nhà hội. Phần này kết thúc với câu chuyện cho thấy một sự phân rẽ khởi mầm giữa các tín hữu nói tiếng Hi Lạp với các tín hữu nói tiếng A-ram.
6:8-9:31. Mô tả sự bành trướng địa lý đầu tiên do các Cơ Đốc nhân người Do Thái nói tiếng Hi Lạp lan rộng đến những người Do Thái bị tan lạc hay những người “gần như là Do Thái” (người Sa-ma-ri và người nhập giáo Do Thái). Lu-ca cũng nói đến việc Phao-lô ăn năn quy đạo. Ông vốn là (1) người Do Thái nói tiếng Hi Lạp, (2) một người Do Thái chống lại đạo, và (3) là nhân vật sẽ lãnh đạo việc bành trướng Phúc Âm đến với dân ngoại. Việc Ê-tiên bị tử đạo là chìa khóa cho đợt bành trướng đầu tiên này.
9:32-12:24. Mô tả sự bành trướng đầu tiên đến cho dân ngoại. Chìa khóa là việc Cọt-nây ăn năn quy đạo, mà câu chuyện đã được kể lại đến hai lần. Câu chuyện cho thấy việc ăn năn quy đạo của Cọt-nây là một hành động trực tiếp của Đức Chúa Trời, bấy giờ Ngài vẫn chưa sử dụng người Do Thái nói tiếng Hi Lạp vì như thế có thể bị nghi ngờ, nhưng đã dùng Phi-e-rơ, là vị lãnh đạo được thừa nhận giữa vòng tín hữu Cơ Đốc Do Thái. Phần này cũng bao gồm câu chuyện của Hội Thánh tại An-ti-ốt, nơi việc ăn năn quy đạo của người ngoại quốc giờ đây được người Do Thái nói tiếng Hi Lạp chủ ý thực hiện.
12:25-16:5. Mô tả lần bành trướng đầu tiên về mặt địa lý vào thế giới Dân Ngoại, với sự lãnh đạo của Phao-lô. Giờ đây, người Do Thái thường chối bỏ Phúc Âm vì Phúc Âm tiếp nhận cả Dân Ngoại. Hội Thánh họp hội nghị và không loại bỏ các anh chị em là Dân Ngoại, cũng không áp đặt các đòi hỏi của Do Thái giáo trên họ là điểm quan trọng nhờ đó Phúc Âm tự do bành trướng sang các nước khác.
16:6-19:20. Mô tả sự bành trướng càng xa hơn về hướng Tây của Phúc Âm sang thế giới Dân Ngoại, giờ đây đã sang tận Âu châu. Người Do Thái vẫn khước từ nhưng Dân Ngoại thì đón nhận Phúc Âm.
19:21-28:30. Mô tả các biến cố khiến Phao-lô và Phúc Âm được chuyển đến Rô-ma, nhấn mạnh đến những lần xét xử Phao-lô, trong đó ba lần ông được tuyên bố là vô tội, chẳng làm gì sai quấy cả.
Thử đọc Công Vụ theo bố cục này và để ý đến “chuyển biến” như trên để xem bạn có nắm được những gì đang xảy ra hay không. Trong khi đọc chắc bạn sẽ thấy rằng cách mô tả của chúng tôi về phần nội dung bị thiếu mất yếu tố then chốt, đó là vai trò của Đức Thánh Linh trong tất cả mọi việc này. Có lẽ bạn đã lưu ý rằng tại tất cả các mối nối mấu chốt, trong từng nhân vật chủ chốt, Đức Thánh Linh đều giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối. Theo Lu-ca, toàn thể diễn tiến này đã không xảy ra do ý đồ của con người, nó xảy ra vì Đức Chúa Trời muốn như thế và vì Đức Thánh Linh đã thực hiện nó.
Mục Đích của Lu-Ca
Chúng ta phải cẩn thận, đừng di chuyển quá dễ dàng từ cái nhìn bao quát này về những gì Lu-ca đã làm sang một phát biểu quá dễ dãi hay giáo điều về mục đích được linh cảm của ông liên hệ đến tất cả mọi việc đã xảy ra. Nhưng thiết tưởng cần có một vài nhận xét, một phần dựa vào những gì Lu-ca đã không làm.
1. Chìa khóa để hiểu sách Công Vụ dường như nằm trong mối quan tâm của Lu-ca trong diễn tiến của Phúc âm được điều động bởi Đức Thánh Linh từ căn cứ Giê-ru-sa-lem, với những bắt đầu nhuốm màu Do Thái cho đến khi nó lan tràn khắp thế giới, với hiện tượng Dân Ngoại chiếm ưu thế. Nếu chỉ dựa trên cơ sở cấu trúc và nội dung, bất cứ một khẳng định nào về mục đích mà không gồm luôn sứ mạng truyền giáo cho Dân Ngoại và vai trò của Đức Thánh Linh trong sứ mạng ấy, đều chắc chắn là đã đi lạc mục đích của sách này.
2. Mối quan tâm vào “diễn tiến” này còn được hậu thuẫn thêm bởi những gì Lu-ca không nói cho chúng ta biết. Thứ nhất, ông đã không quan tâm đến cuộc đời của các sứ đồ, tức là tiểu sử của họ. Gia-cơ là người duy nhất mà chúng ta được biết là đã qua đời như thế nào (Cong Cv 12:2). Khi câu chuyện bắt đầu chuyển hướng đến Dân Ngoại, thì Phi-e-rơ không còn xuất hiện trong câu chuyện nữa, ngoại trừ trong chương 15 chỗ ông chứng thực sứ mạng truyền giáo cho người ngoại quốc. Trừ Giăng ra, thậm chí các sứ đồ khác đã không được đề cập, và mối quan tâm của Lu-ca vào Phao-lô hầu như hoàn toàn là vì cớ sứ mạng truyền giáo cho Dân Ngoại.
Thứ hai, ông không quan tâm hoặc quan tâm rất ít đến cách tổ chức hay chính sách của Hội Thánh. Bảy nhân vật trong chương 6 đã không được gọi là chấp sự, và đã sớm rời Giê-ru-sa-lem. Lu-ca chẳng bao giờ cho chúng ta biết tại sao hoặc cách nào việc đó xảy ra, khiến Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem được chuyển từ quyền lãnh đạo của Phi-e-rơ và các sứ đồ sang cho Gia-cơ là em trai Chúa Giê-xu (12:17; 15:13; 21:18); ông cũng chẳng bao giờ giải thích các chi hội địa phương đã được tổ chức như thế nào về các phương diện chính sách hay lãnh đạo, ngoại trừ bảo rằng các “trưởng lão” đã được “chỉ định” (14:23).
Thứ ba, không đề cập đến sự bành trướng về địa lý nào khác, ngoại trừ con đường duy nhất trực tiếp đi từ Giê-ru-sa-lem đến Rô-ma. Không đề cập đến đảo Cơ-rết (Tit Tt 1:5) xứ Y-ly-ri (RoRm 15:19, Nam Tư ngày nay) hoặc xứ Bông, Cáp-ba-đốc và Bi-thi-ni (IPhi 1Pr 1:1), không đề cập đến việc Hội Thánh bành trướng sang hướng Đông đến vùng Lưỡng Hà hoặc xuống phía Nam, sang Ai Cập.
Tất cả những điều trên đây nói lên rằng lịch sử Hội Thánh không phải là lý do khiến Lu-ca viết sách Công Vụ.
3. Mối quan tâm của Lu-ca dường như cũng không phải là nhằm tiêu chuẩn hóa mọi sự việc, biến mọi sự trở thành đồng nhất với nhau. Khi ông chép lại việc ăn năn quy đạo của các cá nhân, thường có liên quan đến hai yếu tố: ân tứ của Đức Thánh Linh và phép báp-tem bằng nước. Nhưng hai việc này có thể theo thứ tự trái ngược nhau, có hoặc không có việc đặt tay, có hoặc không có đề cập việc nói các thứ tiếng, và càng ít đề cập hơn nữa việc ăn năn hối cải, cả sau những gì Phi-e-rơ đã nói trong Cong Cv 2:38-39. Tương tự, Lu-ca không nói cũng không ngụ ý rằng các Hội Thánh Dân Ngoại cùng chia sẻ đời sống chung giống như Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trong 2:42-47 và 4:32-35. Sự khác nhau đó có lẽ hàm ý rằng không một gương mẫu cụ thể nào được ấn định để làm kiểu mẫu cho từng trải Cơ Đốc hoặc sinh hoạt của Hội Thánh.
Nhưng phải chăng Lu-ca đã không cho chúng ta biết điều gì khi ký thuật các câu chuyện cụ thể này? Không nhất thiết như thế. Vấn đề là, Lu-ca muốn nói gì với các độc giả đầu tiên của ông?
4. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng phần lớn những gì Lu-ca viết trong sách Công Vụ là để dùng làm kiểu mẫu. Nhưng kiểu mẫu không có nhiều trong những sự việc cụ thể cho bằng trong bức tranh toàn diện. Đức Chúa Trời đã cảm động Lu-ca sắp xếp và ký thuật phần lịch sử này, dường như để chúng ta thấy sự kiện Phúc Âm đã lan rộng với niềm vui đắc thắng vào thế giới Dân Ngoại bởi quyền năng của Đức Thánh Linh và kết quả là nhiều đời sống và các cộng đồng địa phương được thay đổi chính là ý định của Đức Chúa Trời và Ngài muốn Hội Thánh cứ tiếp tục như thế. Vì đó là ý định của Đức Chúa Trời đối với Hội Thánh nên chẳng có gì ngăn trở được, kể cả Tòa Công Luận lẫn nhà hội Do Thái, cả sự bất hòa lẫn đầu óc hẹp hòi, cả tù ngục lẫn các âm mưu. Cho nên, rất có thể ý định của Lu-ca là Hội Thánh phải “giống như vậy” nhưng theo nghĩa rộng, không phải rập khuôn theo bất cứ một gương mẫu cụ thể riêng biệt nào.
Một Bài Giải Kinh Mẫu
Với phần nội dung khái quát và cái nhìn tạm thời vào vấn đề trước mắt, chúng ta sẽ khảo xét hai phần ký thuật trong Cong Cv 6:1-7 và 8:1-25, và lưu ý các vấn đề giải kinh mà ta cần học đặt câu hỏi cho sách Công Vụ.
Như việc vẫn luôn luôn phải làm, ta sẽ bắt đầu đọc sách được chọn và văn mạch cận tiếp của nó vài lần. Cũng như với các thư tín, các câu hỏi liên quan đến văn mạch mà bạn phải luôn luôn đặt ra trong sách Công Vụ là: Luận điểm (vấn đề) của phần ký thuật hay bài giảng này là gì? Nó đóng vai trò gì trong toàn bộ câu chuyện của Lu-ca? Tại sao ông lại đặt nó vào đây? Bạn thường có thể tạm thời trả lời cho câu hỏi này sau một hoặc hai lần đọc kỹ. Tuy nhiên, đối với sách Công Vụ, nhiều khi bạn cần phải đọc thêm các tài liệu bên ngoài nữa để trả lời một số câu hỏi về nội dung trước khi có thể tin chắc rằng mình đã đi đúng hướng.
Chúng ta bắt đầu với 6:1-7. Đoạn này có chức năng gì trong toàn bộ bức tranh? Có thể nói ngay hai điều. Một là, nó dùng để kết thúc cho phần thứ nhất, 1:1-6:7 hai là nó cũng được dùng để chuyển tiếp sang phần thứ hai, 6:8-9:31. Hãy chú ý cách Lu-ca thực hiện việc này. Mối quan tâm của ông trong 1:1-6:7 là đưa ra cho chúng ta một bức tranh về cả sinh hoạt của cộng đồng nguyên thủy lẫn sự bành trướng của nó tại trong Giê-ru-sa-lem. Phần ký thuật này (6:1-7) gồm cả hai nét đặc trưng đó. Nó cũng ám chỉ sự căng thẳng đầu tiên bên trong cộng đồng, một sự căng thẳng dựa trên những dòng truyền thống trong Do Thái giáo giữa người Do Thái Giê-ru-sa-lem (nói tiếng A-ram) và những người Do Thái nước ngoài (nói tiếng Hy-lạp). Trong Hội Thánh, sự căng thẳng này đã được khắc phục bởi việc chính thức thừa nhận quyền lãnh đạo đã bắt đầu xuất hiện giữa vòng Cơ Đốc nhân Do Thái nói tiếng Hi Lạp.
Sở dĩ chúng tôi viết câu cuối cùng cách đặc biệt như thế vì ở đây ta còn phải đọc số tác phẩm bên ngoài liên quan đến bối cảnh lịch sử. Bằng cách đào hơi sâu một chút (đọc các bài viết trong các Thánh Kinh Tự Điển về “các chấp sự” và “người Hi Lạp gốc Do Thái,” các bộ sách giải kinh và các sách về bối cảnh lịch sử như quyển Jerusalem in the Time of Jesus của J. Jeremias (Philadelphia: Fortress, 1967), bạn có thể khám phá ra các sự kiện quan trọng sau đây:
1. Người Hê-lê-nít hầu như chắc chắn là những người Do Thái nói tiếng Hi Lạp, nghĩa là những người Do Thái tản lạc bây giờ đang sống tại Giê-ru-sa-lem.
2. Nhiều người Hê-lê-nít như thế đã trở về Giê-ru-sa-lem vào những năm cuối đời để chết và được chôn gần núi Si-ôn. Vì họ không phải là những người quê quán tại Giê-ru-sa-lem, nên sau khi chết, các quả phụ của họ đã không được trợ cấp thường xuyên.
3. Các quả phụ này được trợ cấp nhu yếu phẩm hằng ngày; việc trợ cấp này gây túng thiếu nghiêm trọng tại Giê-ru-sa-lem.
4. Theo Cong Cv 6:9, rõ ràng những người Do Thái nói tiếng Hi Lạp này có nhà hội riêng mà cả Ê-tiên lẫn Sau-lơ vốn người Tạt-sơ (xứ Si-li-si nói tiếng Hi Lạp, c.9) đều là thành viên.
5. Chứng cứ 6:1-15 cho biết Hội Thánh đầu tiên mạnh mẽ xâm nhập vào nhà hội này - hãy lưu ý việc đề cập “những người góa bụa của họ,” sự kiện tất cả bảy người được chọn để lo vấn đề này đều có tên Hi Lạp và sự phản đối kịch liệt đó vốn từ nhà hội của những người Do Thái tản lạc.
6. Cuối cùng, bảy người được chọn đã không hề được gọi là “chấp sự.” Họ chỉ được gọi là “bảy người” (21:8), và công việc của họ trông coi việc trợ cấp thực phẩm hàng ngày cho các quả phụ người Do Thái nói tiếng Hi Lạp mà thôi, nhưng hai người trong số đó rõ ràng cũng là những người rao giảng Lời Chúa nữa (Ê-tiên, Phi-líp).
Kiến thức về nội dung này sẽ đặc biệt giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa của những việc tiếp theo. Vì trong 6:8-8:1, Lu-ca tập trung chú ý vào một trong số Bảy Người như nhân vật chủ chốt trong việc bành trướng đầu tiên ngoài thành phố Giê-ru-sa-lem. Ông cho chúng ta biết rằng việc Ê-tiên bị tử đạo đã đưa đến kết quả này (8:1-4). Chắc bạn cũng chú ý khúc sách trước đó cho thấy cộng đồng các Cơ Đốc nhân nói tiếng Hi Lạp tại Giê-ru-sa-lem quan trọng cho kế hoạch của Đức Chúa Trời như thế nào. Họ bị bắt buộc phải rời bỏ Giê-ru-sa-lem vì bị bắt bớ, nhưng dù sao họ không phải là những người quê quán tại đó. Cho nên họ chỉ đơn giản ra đi để truyền giảng Lời Chúa “khắp miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri.”
Do đó, phần ký thuật trong 6:1-7 được viết không phải để chúng ta biết về tổ chức đầu tiên của Hội Thánh gồm có hàng giáo phẩm và các chấp sự nhưng chỉ nhằm trình bày bối cảnh của cuộc bành trướng đầu tiên của Hội Thánh ra ngoài thành phố Giê-ru-sa-lem mà thôi.
Phần ký thuật trong 8:5-25 thuộc một loại khác. Ở đây chúng ta có câu chuyện về lần bành trướng đầu tiên của Hội Thánh nguyên thủy. Phần này đặc biệt quan trọng vì nó hàm chứa nhiều khó khăn khi giải kinh và gây tranh luận trong việc giảng kinh.
Để bắt đầu thực hiện công tác giải kinh cách cẩn thận, việc đọc đi đọc lại đoạn kinh văn nhiều lần và ghi ra những nhận xét là điều bắt buộc. Trong trường hợp này, cần nắm được phần trả lời cho câu hỏi điều gì của câu chuyện, cố tìm cách nêu nó ra bằng lời lẽ của riêng bạn. Các nhận xét của chúng ta có thể tóm tắt như sau:
Không cần quanh co, câu chuyện kể lại cho chúng ta về chức vụ mà Phi-líp đã thực hiện lần đầu tiên trong xứ Sa-ma-ri, kèm theo là việc chữa bệnh và đuổi quỉ (8:5-7). Nhiều người Sa-ma-ri đã trở thành Cơ Đốc nhân, vì họ đã tin và chịu báp-tem. Có nhiều phép lạ đầy quyền năng, đến nỗi Si-môn, một thuật sĩ hành nghề phù phép cũng tin nữa (8:9-13). Khi Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem nghe về hiện tượng đó, đã sai Phi-e-rơ và Giăng đến, và chỉ đến lúc đó người Sa-ma-ri mới nhận được Đức Thánh Linh (8:14-17). Bấy giờ, Si-môn muốn trở thành người phục vụ Chúa bằng cách mua điều mà Phi-e-rơ và Giăng đang có. Rồi Phi-e-rơ quở trách Si-môn. Nhưng căn cứ vào câu trả lời cuối cùng của Si-môn (8:24) thì ta không rõ ràng ông ta có ăn năn hay phải nhận lấy sự trừng phạt mà Phi-e-rơ đã nói (8:20-23).
Cách Lu-ca đan kết câu chuyện với nhau cho thấy rõ có hai mối quan tâm nổi bật: việc ăn năn quy đạo của người Sa-ma-ri và vấn đề của Si-môn. Việc giải thích hai vấn đề này chủ yếu nẩy sinh từ kiến thức và niềm tin của người giải kinh. Họ có xu hướng nghĩ rằng mọi việc đáng lẽ đã không xảy ra như thế. Vì Phao-lô dạy rằng nếu không có Đức Thánh Linh thì người ta không thể nào trở thành Cơ Đốc nhân được, thì làm thế nào các tín hữu này lại vẫn chưa được nhận lãnh Thánh Linh? Còn về Si-môn thì sao? Ông ta là một tín hữu thật sự bị “sa ngã” hay ông ta chỉ mới xưng nhận mà chưa có được đức tin để được cứu?
Có lẽ vấn đề đích thực xuất phát từ sự kiện chính Lu-ca không cố tìm cách làm mọi sự hài hòa cho chúng ta. Thật khó khi đọc một khúc sách như thế mà không có thiên kiến trước, và chúng tôi, các tác giả của quyển sách này, cũng không được miễn trừ. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cố tìm hiểu nó theo quan điểm của Lu-ca. Khi trình bày câu chuyện này thì đâu là mối quan tâm của ông? Nó giữ vai trò nào trong toàn bộ mối quan tâm của ông?
Về việc người Sa-ma-ri ăn năn quy đạo, có hai việc dường như có ý nghĩa đối với ông: (1) Sứ mạng truyền giáo cho xứ Sa-ma-ri được thực hiện bởi một người Hy Lạp gốc Do Thái hoàn toàn nằm ngoài ý định hoặc chương trình của các sứ đồ. (2) Tuy nhiên, điều quan trọng các độc giả của Lu-ca cần biết là sứ mạng ấy đã được cả Đức Chúa Trời lẫn các sứ đồ tán thành, như đã được chứng minh bằng việc Đức Thánh Linh đã bị cầm giữ lại, đợi cho đến khi có sự đặt tay của các sứ đồ. Điều này phù hợp với toàn bộ mối quan tâm của Lu-ca nhằm chứng minh rằng công tác truyền giáo của người Hê-lê-nít không phải là một phong trào độc lập hay phi chính thống, mặc dầu nó không xuất hiện từ bất cứ hội nghị sứ đồ nào về tăng trưởng Hội Thánh.
Tuy chúng ta không thể chứng minh việc này vì đoạn văn không cho chúng ta biết và nó nằm ngoài các mối quan tâm của Lu-ca, dường như điều đã bị giữ lại cho tới khi Phi-e-rơ và Giăng đến là chứng cứ ân tứ có thể thấy được của sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Chúng tôi gợi ý như thế vì ba lý do: (1) Tất cả những gì đã được nói về người Sa-ma-ri trước khi Phi-e-rơ và Giăng đến đều đã được nói ở nhiều chỗ khác trong Công Vụ để mô tả từng trải đích thực của một Cơ Đốc nhân. Do đó, quả thật chúng phải là khởi điểm của đời sống Cơ Đốc nhân. (2) Ở nhiều chỗ khác trong Công Vụ, sự hiện diện của Đức Thánh Linh - cũng như ở đây - là yếu tố quyết định trong đời sống Cơ Đốc nhân. Làm thế nào họ lại có thể bắt đầu cuộc đời làm Cơ Đốc nhân nếu không có yếu tố quyết định đó? (3) Theo Lu-ca thì trong sách Công Vụ, sự hiện diện của Đức Thánh Linh có nghĩa là quyền năng (1:8; 6:8; 10:38) vốn thường được biểu hiện bằng một chứng cứ có thể thấy được nào đó. Cho nên, rất có thể là sự biểu hiện đầy quyền năng nhìn thấy được của Đức Thánh Linh đó vẫn chưa từng xảy ra tại Sa-ma-ri, cho nên Lu-ca mới đồng hóa nó với việc “giáng xuống” hay được “nhận lãnh” Đức Thánh Linh.
Vai trò của Si-môn trong câu chuyện này cũng phức tạp. Tuy nhiên, có nhiều ngoại chứng cho thấy Si-môn này đã trở thành kẻ chống đối nổi tiếng của các Cơ Đốc nhân ban đầu. Vì vậy, có lẽ Lu-ca đưa phần này vào để giải thích mối liên hệ hời hợt của Si-môn với cộng đồng Cơ Đốc và để chỉ cho các độc giả của ông thấy rằng Si-môn vốn không được Đức Chúa Trời hoặc các sứ đồ chuẩn nhận. Câu nói cuối cùng của Si-môn dường như chỉ mơ hồ nếu ai đó chỉ quan tâm đến các câu chuyện ăn năn quy đạo thời kỳ đầu tiên. Thật ra thì cả câu chuyện của Lu-ca đã có thái độ tiêu cực đối với Si-môn rồi. Cho dù ông ta có thật sự được cứu hay không, nó chẳng có lợi ích nào cho phần ký thuật cả. Việc ông ta đã có một thời gian ngắn ngủi tiếp xúc với Hội Thánh, ít ra với tư cách một người tự xưng là tín hữu, mới là điều đáng quan tâm. Nhưng câu nói của Phi-e-rơ dường như phản ảnh chính nhận xét của Lu-ca về niềm tin của Si-môn - nó là giả!
Chúng tôi thừa nhận rằng việc giải kinh theo loại theo đuổi câu hỏi điều gì và tại sao trong câu chuyện của Lu-ca không nhất thiết sẽ gây thích thú về phương diện bồi linh, nhưng có thể nói rằng đây là bước dò dẫm đầu tiên để có thể lắng nghe sách Công Vụ như Lời Đức Chúa Trời. Không phải mỗi câu trong mỗi câu chuyệnt hay mỗi bài giảng đều nhất thiết phải cố nói cho chúng ta một điều gì đó, nhưng nó góp phần vào những gì Đức Chúa Trời đang tìm cách nói như một tổng thể qua sách Công Vụ. Trong khi nghiên cứu, chúng ta có thể học được từ mỗi câu chuyện những phương cách, những con người khác nhau mà Đức Chúa Trời sử dụng để hoàn tất công việc của Ngài.
Giảng Kinh Sách Công Vụ
Như đã ghi nhận, ở đây chúng tôi chỉ quan tâm về một vấn đề mà thôi. Làm thế nào mỗi câu chuyện trong sách Công Vụ, hoặc bất luận một câu chuyện nào trong Kinh Thánh về vấn đề ấy, lại giữ chức năng như một tiền lệ cho Hội Thánh về sau, hay chúng có chức năng đó hay không? Nghĩa là phải chăng sách Công Vụ là Lời Chúa không những chỉ mô tả Hội Thánh đầu tiên, mà còn được xem như một qui tắc cho Hội Thánh thuộc mọi thời đại? Nếu như thế, thì làm thế nào để ta phát hiện nó hay thiết lập các nguyên tắc để giúp cho người ta nghe được Lời ấy? Tóm lại, đúng ra thì tiền lệ lịch sử có vai trò gì trong giáo lý Cơ Đốc hay trong sự hiểu biết về từng trải Cơ Đốc?
Cần lưu ý rằng hầu như toàn thể Cơ Đốc nhân đọc Kinh Thánh đều có xu hướng xem các tiền lệ như là thẩm quyền mẫu mực trong một mức độ nào đó, nhưng rất ít khi nhất quán. Một mặt, người ta có xu hướng noi theo một số các câu chuyện để thiết lập các khuôn mẫu bó buộc, trong khi lại bỏ qua nhiều câu chuyện khác; mặt khác, nhiều khi họ lại có xu hướng tạo ra một khuôn mẫu bắt buộc trong lúc chính sách Công Vụ lại có nhiều khuôn mẫu phức tạp.
Những gợi ý sau đây không được xem là tuyệt đối, nhưng chúng tôi mong rằng chúng sẽ giúp bạn nắm vững được vấn đề giảng kinh này.
Một Số Nguyên Tắc Tổng Quát
Vấn đề giảng kinh tối quan trọng ở đây là có phải các câu chuyện mô tả những gì đã xảy ra trong Hội Thánh đầu tiên cũng được xem là mẫu mực phác họa những gì phải xảy ra trong Hội Thánh hiện tại hay không? Trong sách Công Vụ, có những trường hợp nào để người ta có thể nói rằng: “Chúng ta phải làm việc này” hay ta chỉ nên nói rằng “chúng ta có thể làm việc này” hay không?
Quan niệm của chúng tôi được nhiều người đồng ý là, “Trừ phi Kinh Thánh dạy rõ ta phải làm gì, thì một điều gì được kể lại hay được mô tả không được xem như một mẫu mực, trừ phi điều đó có thể được chứng minh trên một cơ sở khác rằng tác giả muốn nó có chức năng như thế.”
Nói chung, những phát biểu về giáo lý phát sinh từ Kinh Thánh gồm có ba (hoặc bốn) loại: (1) Thần học Cơ Đốc (điều các Cơ Đốc nhân tin), (2) Đạo đức Cơ Đốc (cách ăn ở cư xử mà các Cơ Đốc nhân phải theo), (3) kinh nghiệm và nếp sống Cơ Đốc (việc Cơ Đốc nhân làm). Trong các loại này, ta còn có thể phân biệt hai cấp bậc của những phát biểu mà chúng tôi gọi là chủ yếu và thứ yếu. Ở cấp chủ yếu là những phát biểu giáo lý nẩy sinh từ các đề xuất hay mệnh lệnh rõ ràng của Kinh Thánh (thí dụ những gì Kinh Thánh hàm ý dạy bảo). Ở cấp bậc thứ yếu là những câu chỉ được rút ra một cách ngẫu nhiên, do hàm ý hoặc theo tiền lệ.
Thí dụ, trong loại thần học Cơ Đốc, những câu như Đức Chúa Trời chỉ có một, Đức Chúa Trời là tình yêu, mọi người đều đã phạm tội, Chúa Cứu Thế đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, sự cứu rỗi là nhờ ân điển, và Chúa Cứu Thế là Đức Chúa Trời, vốn được rút ra từ những khúc sách mà chúng được truyền dạy một cách chủ ý, do đó, thuộc cấp chủ yếu. Thuộc loại thứ yếu là những câu rút ra một cách hợp lý từ các câu chủ yếu hoặc từ hàm ý của Kinh Thánh. Như sự kiện thần tánh của Chúa Cứu Thế là chủ yếu; còn hai bản tính hợp nhất với nhau như thế nào là thứ yếu.
Ta cũng có thể phân biệt tương tự đối với giáo lý về Kinh Thánh. Đó là Lời được linh cảm của Đức Chúa Trời là chủ yếu; tính chính xác của sự mặc khải là thứ yếu. Nói như thế không phải là bảo rằng những câu thứ yếu không quan trọng. Chúng thường có ý nghĩa liên hệ với đức tin của ta đối với các câu chủ yếu. Thật vậy, giá trị thần học tối hậu của chúng có thể liên hệ với việc chúng duy trì được tình trạng thực của các câu chủ yếu như thế nào.
Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là hầu hết những gì mà các Cơ Đốc nhân rút ra từ Kinh Thánh như một tiền lệ đều thuộc về loại thứ ba của chúng tôi, tức là từng trải hoặc nếp sống Cơ Đốc, và bao giờ cũng thuộc cấp bậc thứ yếu. Thí dụ, việc Tiệc Thánh phải là một thực hành liên tục trong Hội Thánh, là một khẳng định thuộc cấp chủ yếu. Chính Chúa Giê-xu đã ban truyền lệnh đó; các Thư Tín và sách Công Vụ làm chứng cho nó. Nhưng mức độ phải tuân thủ nó thường xuyên như thế nào, một điểm mà các Cơ Đốc nhân có ý kiến khác nhau, vốn có cơ sở là truyền thống và tiền lệ; chắc chắn đây không phải có tính cách bó buộc. Kinh Thánh không trực tiếp bàn đến vấn đề này. Đây cũng là một trường hợp đối với sự cần thiết phép báp-tem (chủ yếu) và cách thực hiện (thứ yếu); thực hành việc “nhóm nhau lại” của các Cơ Đốc nhân (chủ yếu) và tính cách thường xuyên hoặc ngày nào trong tuần (thứ yếu). Một lần nữa, xin nhắc lại rằng nói như thế không có nghĩa là bảo rằng các câu khẳng định thứ yếu là không quan trọng. Thí dụ, chắc chắn chẳng có ai cảm thấy bị thúc ép để chứng minh không biết các Cơ Đốc nhân nên nhóm nhau lại để thờ phượng vào thứ bảy hay Chúa nhật, nhưng dầu trường hợp nào thì người ta sẽ có một quan điểm thần học theo cách thực hành của mình.
Liên hệ mật thiết với phần thảo luận này là khái niệm về ý định. Chúng ta vẫn thường nói: “Kinh Thánh dạy chúng ta rằng...” Bình thường thì người ta nói như thế để ngụ ý rằng một điều gì đó đã được truyền dạy bằng một câu khẳng định minh nhiên. Các vấn đề liên hệ đến điều này sẽ nẩy sinh khi người ta chuyển sang lãnh vực truyện tích trong Kinh Thánh. Phải chăng một điều gì đó đã được truyền dạy chỉ đơn giản là vì nó đã được ghi chép lại - nhất là nếu nó được ghi chép lại trong trường hợp có vẻ như một điều thuận lợi?
Có một phương châm tổng quát về giảng kinh là Lời Đức Chúa Trời được tìm thấy trong chính ý định (intent) của Kinh Thánh. Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong việc giảng kinh đối với các câu chuyện lịch sử. Một sử gia đưa vào một sự việc vì nó phục vụ cho một chủ đích lớn hơn của tác phẩm của ông, nhưng nhà giải kinh lại xem sự việc đó như có giá trị dạy dỗ nằm ngoài ý định rộng lớn của sử gia đó.
Tuy ý định bao quát được linh cảm của Lu-ca có thể là một điểm nghi vấn đối với một vài người, giả thuyết của chúng tôi, đặt cơ sở trên phần giải kinh trước đây, đó là ông đang cố tìm cách chứng minh thế nào Hội Thánh xuất hiện như một hiện tượng chủ yếu là người ngoại quốc, có tầm vóc thế giới từ các nguồn gốc có căn cứ tại Giê-ru-sa-lem, do một số tín hữu người Do Thái có xu hướng Do Thái giáo, và thế nào Đức Thánh Linh có trách nhiệm trực tiếp đối với hiện tượng cứu rỗi phổ quát nhờ ân điển mà thôi. Chủ đề cứ được lặp đi lặp lại là chẳng có gì ngăn chặn được phong trào tiến lên của Hội Thánh nhờ quyền năng của Đức Thánh Linh khiến chúng ta nghĩ rằng Lu-ca cũng có ý muốn cho các độc giả của mình thấy được đây là một kiểu mẫu. Và sự kiện sách Công Vụ được liệt vào Kinh Thánh càng khiến chúng ta suy nghĩ chắc chắn hơn nữa rằng đây chính là cách mà Hội Thánh luôn luôn muốn vươn tới - tức là một Hội Thánh truyền bá phúc âm, vui vẻ, có quyền năng Đức Thánh Linh.
Nhưng còn các chi tiết đặc thù trong các câu chuyện này, mà chỉ khi nào họp chung tất cả lại mới giúp chúng ta thấy được ý hướng rộng lớn hơn nữa của Lu-ca, thì thế nào? Phải chăng các chi tiết ấy cũng có cùng một giá trị dạy dỗ? Phải chăng chúng cũng được dùng để làm các kiểu mẫu có tính cách bắt buộc? Chúng tôi nghĩ là không, vì về cơ bản những chi tiết như thế chỉ có tính cách phụ thuộc (incidental) nhằm dẫn tới chủ điểm của câu chuyện, và vì tính cách hàm hồ(ambiguity) của các chi tiết ấy từ câu chuyện này sang câu chuyện khác.
Như vậy khi khảo xét Cong Cv 6:1-7, chúng ta thấy chức năng của câu chuyện này trong kế hoạch toàn diện của Lu-ca là kết luận cho phần ký thuật chính đầu tiên của ông, đồng thời cũng được dùng để giới thiệu những người Hê-lê-nít. Cũng có thể một phần ý định của Lu-ca ở đây là cho thấy giải pháp hòa giải cho sự căng thẳng đầu tiên bên trong cộng đồng Cơ Đốc giáo.
Căn cứ theo phần ký thuật này, có lẽ chúng ta cũng tình cờ học hỏi được nhiều điều khác nữa. Thí dụ ta có thể học được rằng có một phương pháp rất hay để giữ được một nhóm thiểu số trong Hội Thánh là phải để cho nhóm người ấy được quyền tự lãnh đạo, tự chọn lấy các cấp lãnh đạo cho mình. Đó là việc họ đã thực sự làm. Vậy chúng ta có phải làm như thế không? Không nhất thiết, vì Lu-ca đã không bảo chúng ta làm thế, cũng chẳng có lý do gì để tin rằng ông đã có ý như thế khi chép lại câu chuyện này. Nhưng mặt khác, một phương thức như thế quả thật là hay, không nên bài bác.
Luận điểm của chúng tôi là, cho dù có người cố ý góp nhặt điều gì khác từ một câu chuyện như thế, thì những điều góp nhặt được cũng chỉ là sự kiện phụ thuộc dẫn đến ý định của Lu-ca mà thôi. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng sự kiện đó là sai, cũng không có nghĩa là nó chẳng có giá trị thần học; nó có nghĩa là Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta trong câu chuyện này trước hết là liên hệ với những gì mà nó chủ ý dạy dỗ.
Căn cứ trên phần thảo luận này, các nguyên tắc liên quan đến việc giảng kinh đối với câu chuyện lịch sử được nêu ra như sau:
1. Lời Đức Chúa Trời trong sách Công Vụ có thể được xem là khuôn mẫu cho các Cơ Đốc nhân phải liên quan trước nhất với những gì mà câu chuyện đó chủ ý dạy dỗ.
2. Điều phụ thuộc đối với chủ đích của câu chuyện thật sự có thể phản ảnh sự hiểu biết của tác giả được linh cảm về các sự việc, nhưng nó không có cùng một giá trị dạy dỗ như điều mà câu chuyện ấy chủ ý dạy dỗ. Điều này không triệt tiêu các sự kiện phụ thuộc, cũng không có ý bảo rằng nó không có gì để nói cho chúng ta. Luận điểm ở đây là cái phụ không thể trở thành chính, tuy nó luôn luôn có thể được dùng để thêm hậu thuẫn cho một vấn đề rõ ràng được dạy ở chỗ khác.
3. Để có giá trị như một khuôn mẫu, một tiền lệ lịch sử phải liên quan đến ý định. Nghĩa là, nếu ta có thể chứng minh rằng chủ đích của một câu chuyện nào đó là nhằm xây dựng tiền lệ, thì một tiền lệ như thế phải được xem là khuôn mẫu. Thí dụ nếu ta có thể chứng minh trên cơ sở giải kinh rằng trong 6:1-7, ý định của Lu-ca là thiết lập cho Hội Thánh một tiền lệ về việc chọn các cấp lãnh đạo, thì một tiến trình tuyển chọn như thế phải được các Cơ Đốc nhân sau này noi theo. Nhưng nếu việc thiết lập một tiền lệ không phải là ý định của câu chuyện, thì giá trị của nó như một tiền lệ cho các Cơ Đốc nhân về sau phải được xem xét phù hợp với các nguyên tắc đặc thù mà chúng tôi sẽ nói đến trong phần tiếp theo.
Lẽ dĩ nhiên, vấn đề này cho chúng ta rất ít những gì có tính cách khuôn mẫu trong những lãnh vực rộng lớn cần quan tâm - đó là từng trải Cơ Đốc và thực hành Cơ Đốc. Chẳng có lời dạy bảo rõ ràng nào cho cách thức làm phép báp-tem, tuổi tác của người phải được làm phép báp-tem cho, không một hiện tượng ân tứ đặc thù nào phải được xem là chứng cứ hiển nhiên khi một người nhận lãnh Đức Thánh Linh, hay việc dự Tiệc Thánh thường xuyên. Đó chỉ là một vài thí dụ. Thế nhưng đây lại là các lãnh vực đã gây nhiều chia rẽ giữa các Cơ Đốc nhân với nhau. Trong những trường hợp như thế, người ta luôn luôn lý luận rằng đó chính là cách mà họ đã làm, cho dù họ có rút những cách lãnh đạo đó từ các câu chuyện của sách Lu-ca hay chỉ căn cứ vào những hàm ý rút ra từ những gì đã được viết trong các Thư tín.
Kinh Thánh không truyền lệnh rõ ràng rằng phép báp-tem phải là nhúng cả người trong nước, hay trẻ con phải chịu phép báp-tem, hoặc tất cả những lần ăn năn quy đạo thật đều phải đầy kịch tính như việc ăn năn quy đạo của Phao-lô, cũng không dạy các Cơ Đốc nhân được phép báp-tem trong Thánh Linh phải có chứng cứ hiển nhiên là nói tiếng lạ như một công việc thứ hai của ân điển hay Tiệc Thánh phải được cử hành mỗi Chúa Nhật. Thế thì, chúng ta phải làm sao? chẳng hạn như việc làm báp-tem phải nhúng cả người trong nước? Kinh Thánh có nói gì? Trong trường hợp này, ta có thể lý luận căn cứ vào ý nghĩa của chính từ ngữ ấy, từ một phần mô tả phép báp-tem trong sách Công Vụ là “xuống nước” và “ở dưới nước lên” (Cong Cv 8:38-39), và từ cách Phao-lô ví việc chịu báp-tem với việc chết, bị chôn, rồi sống lại (RoRm 6:1-3), và việc “phỏng đoán” rằng nhúng cả người trong nước là cách báp-tem của Hội Thánh đầu tiên. Không có chỗ nào truyền lệnh chính xác như thế vì đây là một phỏng đoán.
Mặt khác, người ta có thể nêu ra rằng do chẳng có một hồ nước để làm phép báp-tem trong chi hội địa phương của xứ Sa-ma-ri, cho nên những người chịu phép báp-tem chắc đã gặp nhiều khó khăn để có thể được nhúng cả người trong nước. Đơn giản là vì người ta không được biết cách cung ứng nước để có thể chọn việc nhúng cả người trong nước. Phải chăng họ đã được đổ nước lên người theo như Didache, cuốn cẩm nang của Hội Thánh đầu tiên ( khoảng năm 100 S.C.) gợi ý, khi không có đủ nước lạnh, nước đang chảy hoặc nước ấm, để thực hiện việc nhúng cả người trong nước? Đơn giản là chúng ta không biết. Sách Didache đã trình bày khá rõ ràng rằng dìm mình xuống nước là qui luật, nhưng cũng nói rõ là hành động quan trọng hơn là cách thức. Tuy sách Didache không phải là một tài liệu của Kinh Thánh, nhưng là một tài liệu rất cổ xưa, chính thống của Cơ Đốc giáo và có thể giúp ích cho chúng ta bằng cách chỉ ra Hội Thánh đầu tiên đã có những điều chỉnh thực tế như thế nào trong lãnh vực mà Kinh Thánh không trình bày rõ ràng. Cách thực hành bình thường (thường xuyên, đều đặn) được dùng làm mẫu mực, nhưng chỉ vì bình thường thì không thể trở thành mẫu mực được. Có lẽ chúng ta nên làm theo cách này nhưng đừng lẫn lộn cái thường làm với cái khuôn mẫu, theo nghĩa là tất cả các Cơ Đốc nhân phải làm như thế, bằng không họ là những người bất tuân Lời Đức Chúa Trời.
Vài Nguyên Tắc Cụ Thể
Với các nhận định tổng quát và những nguyên tắc này, chúng tôi xin nêu lên những đề nghị về việc giảng nghĩa các tiền lệ trong Kinh Thánh (the hermeneutics of Biblical precedents):
1. Dùng lối loại suy (analogy) căn cứ trên một tiền lệ trong Kinh Thánh như là có thẩm quyền Kinh Thánh cho các hành động hiện nay, có lẽ không hề có giá trị gì cả. Thí dụ chiếc lốt chiên của Ghê-đê-ôn vẫn thường được dùng đi dùng lại để suy ra một phương pháp tương tự nhằm tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời đã gia ân đối với việc Ghê-đê-ôn thiếu lòng tin cậy Ngài, có lẽ Ngài cũng có thể hành động như thế đối với nhiều người khác nữa, nhưng chẳng hề có một thẩm quyền hay một khuyến khích nào trong Thánh Kinh cho những hành động như thế cả.
Cũng vậy, căn cứ trên câu chuyện Chúa Giê-xu nhận lãnh Đức Thánh Linh khi chịu phép báp-tem, hai suy luận loại suy đã được rút ra theo hai chiều hướng trái ngược nhau. Một số người thấy đây là chứng cứ hiển nhiên cho việc người tín hữu được nhận lãnh Đức Thánh Linh lúc chịu phép báp-tem và do đó suy ra rằng người ta được tái sinh lúc chịu phép báp-tem. Trái lại, nhiều người khác thấy đó là chứng cứ hiển nhiên cho một phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh ngay sau khi được cứu (vì Chúa Giê-xu đã được sinh ra bởi Đức Thánh Linh từ trước rồi). Có lẽ ít có ai thắc mắc về việc chính Lu-ca xem biến cố này như khoảnh khắc Chúa Giê-xu được ban cho quyền năng để thi hành chức vụ công khai của Ngài (đối chiếu LuLc 4:1, 14, 18 với Cong Cv 10:38). Nhưng người ta nghi ngờ phải chăng câu chuyện cũng đóng vai trò như một suy luận loại suy cả cho các lập trường thần học về sau này, nhất là khi nó được hiểu vượt hẳn một suy luận loại suy để trở thành một hậu thuẫn Kinh Thánh cho giáo lý này hay giáo lý kia. Nếu mọi sự trong đời sống Chúa Giê-xu đều là những gì chúng ta buộc phải theo đúng thì mọi người chúng ta đều có thể trông đợi phải chịu chết bằng cực hình đóng đinh vào thập tự giá, để rồi sẽ được khiến sống lại vào ngày thứ ba.
2. Mặc dầu có lẽ không phải là chủ đích của tác giả, các câu chuyện trong Kinh Thánh đều có giá trị minh họa, và đôi khi để làm mẫu (pattern). Thật vậy, đây chính là lý do để thỉnh thoảng nhiều người trong Tân Ước dùng vài tiền lệ lịch sử của Cựu Ước. Thí dụ Phao-lô đã dùng vài thí dụ trong Cựu Ước để cảnh cáo những kẻ quá tự tin một cách sai lầm vào việc họ đã được Đức Chúa Trời tuyển chọn (ICo1Cr 10:1-13), còn Chúa Giê-xu cũng đã dùng thí dụ của Đa-vít như một tiền lệ để biện minh cho các hành động của các môn đệ Ngài trong ngày Sa-bát (Mac Mc 2:33-38 và những chỗ chép lại cùng một câu chuyện ấy).
Nhưng chẳng có ai trong chúng ta lại có được thẩm quyền của Đức Chúa Trời để tái sản xuất loại giải kinh và phân tích loại suy mà các tác giả Tân Ước thỉnh thoảng áp dụng cho Cựu Ước. Cần lưu ý đặc biệt trong các trường hợp khi một tiền lệ biện minh cho một hành động hiện tại, tiền lệ ấy không thiết lập một khuôn mẫu cho một hành động cụ thể.
Người ta không thể cứ ăn bánh trên bàn bánh trần thiết hoặc bứt bông lúa mì vào ngày Sa-bát để chứng minh rằng sở dĩ ngày Sa-bát đã được thiết lập là vì loài người. Trái lại, tiền lệ ấy chỉ minh họa một nguyên tắc có liên quan với ngày Sa-bát mà thôi.
Chúng tôi xin có lời cảnh cáo ở đây. Nếu ta muốn dùng một tiền lệ trong Kinh Thánh để biện minh cho một hành động nào đó hiện nay, ta phải có cơ sở an toàn là nguyên tắc của hành động đó đã được truyền dạy ở một chỗ nào khác, nơi đã có chủ định truyền dạy như thế. Thí dụ muốn dùng việc Chúa Giê-xu dọn sạch đền thờ để biện minh cho cái gọi là thạnh nộ công nghĩa - thường chỉ là cách nói trớ đi cơn giận ích kỷ - thì đó là lạm dụng nguyên tắc này. Mặt khác, ta có thể có cơ sở thích đáng cho kinh nghiệm hiện tại về việc nói các thứ tiếng không những chỉ dựa trên tiền lệ (trong sách Công vụ) mà thôi, nhưng cả trên lời truyền dạy về các ân tứ thuộc linh trong ICo1Cr 12:1-14:40 nữa.
3. Trong các vấn đề về từng trải Cơ Đốc và còn nhiều hơn nữa là về nếp sống Cơ Đốc, nhiều khi các tiền lệ trong Kinh Thánh có thể được xem như những “mẫu” (patterns) có thể được lặp lại - cả khi chúng không được hiểu là qui luật (normative). Nhiều cách thực hành cho thấy rõ Hội Thánh về sau này đã lặp lại các “khuôn mẫu” (patterns) trong Kinh Thánh; nhưng không thể lý luận rằng toàn thể các Cơ Đốc nhân ở mọi nơi mọi lúc đều phải lặp lại cùng một khuôn mẫu, nếu không làm như thế là không vâng theo Lời Đức Chúa Trời. Điều này đặc biệt đúng khi chính sự thực hành là điều ràng buộc, nhưng cách thức thực hiện thì không. Cần lưu ý là không phải toàn thể các Cơ Đốc nhân đều hoàn toàn nhất trí với cách đặt vấn đề như thế này. Một số phong trào và hệ phái vốn được thiết lập một phần trên cái tiền đề rằng rõ ràng là mọi mẫu mực của Tân Ước đều phải được phục hồi càng đầy đủ càng tốt trong thời hiện đại, và qua nhiều năm, đã phát triển một nền giảng kinh đáng kể về tánh chất ràng buộc của phần lớn những điều chỉ được ký thuật trong sách Công Vụ mà thôi. Tương tự như thế, nhiều phong trào và hệ phái khác lại lý luận rằng chính Lu-ca đã muốn như thế, thí dụ như việc nhận lãnh Đức Thánh Linh phải có chứng cứ là ân tứ nói tiếng lạ kèm theo. Nhưng trong cả hai trường hợp này, cuối cùng thì vấn đề không đặt nhiều trên việc nguyên tắc này đúng hay sai, mà là trên cách giải nghĩa sách Công Vụ và ý định toàn diện - cũng như cụ thể - của Lu-ca trong cách kể chuyện của ông).
Việc quyết định một số hành vi hay kiểu mẫu có nên lặp lại hay không cần phải theo các hướng dẫn cân nhắc sau đây. Thứ nhất, trường hợp mạnh mẽ nhất là khi nào chỉ có một kiểu mẫu đã được thiết lập mà thôi (tuy ta phải cẩn thận đừng quá im lặng), và khi nào kiểu mẫu ấy được lặp lại trong Tân Ước. Thứ hai, khi có mơ hồ về kiểu mẫu hay khi một kiểu mẫu chỉ xuất hiện có một lần duy nhất mà thôi, thì nó chỉ có thể được các Cơ Đốc nhân sau này lặp lại khi nào dường như có sự chuẩn nhận thiên thượng hay phù hợp với những gì đã được truyền dạy ở chỗ khác trong Kinh Thánh. Thứ ba, điều gì vốn hình thành từ văn hóa, thì hoặc là không thể lặp lại, hoặc phải được chuyển dịch sang một nền văn hóa mới hoặc khác biệt.
Như thế, căn cứ trên các nguyên tắc này, ta có thể có hậu thuẫn mạnh mẽ cho việc nhúng cả người trong nước như là cách thức để thực hiện phép báp-tem, hậu thuẫn yếu hơn cho việc giữ Tiệc Thánh mỗi Chúa nhật, nhưng hầu như chẳng có hậu thuẫn nào cho việc làm phép báp-tem cho trẻ con cả (dĩ nhiên, vấn đề này có thể được lý luận căn cứ trên tiền lệ của lịch sử Hội Thánh chứ không dễ căn cứ trên tiền lệ Kinh Thánh, vốn là vấn đề ở đây). Tương tự như thế, chức năng của mục sư như một thầy tế lễ không có cơ sở Kinh Thánh.
Chúng tôi không hề nghĩ là đã giải quyết được mọi vấn đề, nhưng nghĩ rằng đây là những gợi ý khả dĩ có thể áp dụng, và mong rằng những gợi ý này sẽ giúp bạn suy nghĩ theo phương pháp giải kinh và chính xác hơn về mặt giảng kinh, khi đọc các câu chuyện được ký thuật trong Kinh Thánh.

Các Sách Phúc Âm: Một Câu Chuyện, Nhiều Khía Cạnh

Giống với các Thư tín và sách Công vụ, các sách Phúc Âm thoạt nhìn có vẻ dễ giải nghĩa. Vì tài liệu trong các sách Phúc Âm đại khái gồm những lời dạy và những truyện ký, nghĩa là những lời dạy của Chúa Giê-xu và các truyện tích về Ngài, mà về mặt lý thuyết, ta có thể theo các nguyên tắc giải nghĩa các thư tín cho phần này, và các nguyên tắc giải nghĩa các phần trần thuật lịch sử cho phần kia.
Trên một phương diện thì điều này đúng. Tuy nhiên, sự việc không phải dễ dàng như vậy. Bốn sách Phúc Âm hình thành một thể văn độc đáo, rất khó có thể so sánh với một thể văn nào khác. Tính cách độc đáo của nó mà chúng ta sẽ khảo sát ngay sau đây sẽ cho thấy phần lớn các vấn đề giải kinh của chúng ta. Bên cạnh đó cũng còn có vài khó khăn về phương diện giảng kinh. Lẽ dĩ nhiên, một số khó khăn như thế gồm cả một vài “câu nói khó hiểu” trong các sách Phúc Âm. Nhưng khó khăn chủ yếu về mặt giảng kinh là ở chỗ hiểu được “Nước của Đức Chúa Trời,” một thuật ngữ hết sức quan trọng đối với chức vụ của Chúa Giê-xu, thế nhưng đồng thời lại được trình bày bằng ngôn ngữ và các ý niệm của Do Thái giáo hồi thế kỷ thứ nhất. Vấn đề là làm sao chuyển dịch được những ý niệm ấy sang cho các bối cảnh văn hóa của chính chúng ta.
Bản Chất Các Sách Phúc Âm
Hầu như tất cả những khó khăn ta gặp khi giải nghĩa các sách Phúc Âm đều bắt nguồn từ hai sự kiện rõ rệt: (1) Bản thân Chúa Giê-xu không hề viết một sách Phúc Âm nào cả; các sách ấy đều do những người khác viết, chứ không phải là do chính Ngài. (2) Có đến bốn sách Phúc Âm.
Sự kiện các sách Phúc Âm không do chính tay Chúa Giê-xu viết rất quan trọng cần lưu ý. Lẽ dĩ nhiên, nếu Ngài có viết một điều gì thì điều đó có lẽ sẽ giống các sách tiên tri của Cựu Ước hơn các sách Phúc Âm của chúng ta, chẳng hạn sẽ giống sách A-mốt, là một bộ sưu tập các lời sấm truyền và những lời phán cộng thêm một vài câu chuyện cá nhân ngắn gọn (như AmAm 7:10-17). Dĩ nhiên các sách Phúc Âm cũng có các lời truyền dạy, nhưng những lời truyền dạy đó luôn luôn được đan xen vào với phần ký thuật lịch sử cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-xu. Do đó, chúng không phải là những quyển sách do chính Chúa Giê-xu viết, nhưng là những quyển sách được những người khác viết về Chúa Giê-xu, đồng thời lại chứa đựng nhiều lời dạy dỗ của Ngài.
Chúng ta không thể bỏ qua điểm khó khăn này. Tính chất của nó có lẽ được nhìn thấy rõ nhất khi lưu ý đến chỗ giống nhau về Phao-lô trong sách Công Vụ với các thư tín của ông. Thí dụ, nếu chúng ta không có sách Công Vụ, chúng ta có thể tập hợp một số yếu tố về cuộc đời của Phao-lô từ các thư tín, nhưng một cách trình bày như thế sẽ rất nghèo nàn. Cũng thế, nếu chúng ta không có các thư tín của ông, sự hiểu biết của chúng ta về nền thần học của ông chỉ căn cứ trên các bài giảng của ông trong sách Công Vụ mà thôi, cũng sẽ nghèo nàn y như thế - và có phần nào bị mất cân bằng. Do đó, muốn hiểu rõ các chi tiết then chốt trong cuộc đời Phao-lô, chúng ta đọc sách Công Vụ, rồi thêm vào đó những thông tin được nêu trong các thư tín của ông. Muốn nghiên cứu lời dạy dỗ của Phao-lô, chúng ta sẽ không đến với sách Công Vụ trước, mà đến với các thư tín, và như thế thì sách Công Vụ sẽ là một nguồn tài liệu bổ sung.
Nhưng các sách Phúc Âm không giống sách Công Vụ vì ở đây chúng ta có cả phần ký thuật về cuộc đời Chúa Giê-xu và nhiều lời dạy của Ngài như một phần có tính cách căn bản tuyệt đối của cuộc đời Ngài. Nhưng những lời phán lại không do chính Ngài viết ra như các thư tín vốn do Phao-lô viết. Tiếng nói nguyên thủy của Chúa Giê-xu là tiếng A-ram; lời giáo huấn của Ngài chỉ đến với chúng ta qua một bản dịch Hi văn. Hơn nữa, cùng một câu thường xuất hiện ở hai hoặc ba chỗ trong các sách Phúc Âm; và cả khi nó xuất hiện trong cùng thời gian hoặc bối cảnh lịch sử, ta rất ít khi tìm thấy cùng những từ ngữ giống y nhau cho từng trường hợp.
Với một vài người thì sự kiện này có vẻ nguy hiểm, nhưng không nhất thiết phải là như thế. Lẽ dĩ nhiên, một vài loại công trình nghiên cứu đã bóp méo sự kiện này đến độ cho rằng chẳng có gì trong các sách Phúc Âm là đáng tin cả. Nhưng thiết tưởng người ta chẳng cần phải rút ra một kết luận như thế. Bên cạnh những công trình nghiên cứu như thế cũng có những công trình nghiên cứu khác đã chứng minh cho tính đáng tin về mặt lịch sử của các tài liệu trong các sách Phúc Âm.
Luận điểm của chúng tôi ở đây thật đơn giản. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những gì chúng ta cần biết về chức vụ tại thế của Chúa Giê-xu theo cách này, chứ không phải theo một cách nào khác có thể thích hợp hơn với những ai có đầu óc máy móc giống như chiếc máy ghi âm. Và trong bất cứ trường hợp nào thì sự kiện các sách Phúc Âm vốn không do chính Chúa Giê-xu viết ra mà chỉ viết về Ngài có thể được coi là một phần của các ưu điểm chứ không phải là nhược điểm.
Rồi lại có đến bốn sách Phúc Âm. Sự việc đã xảy ra như thế nào và tại sao lại như thế? Dù sao thì chúng ta cũng đã không có đến bốn sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Hơn nữa các tài liệu trong ba sách Phúc Âm đầu vốn thường giống nhau nên chúng ta đã gọi đó là các sách Phúc Âm Cộng Quan (có chung quan điểm, cái nhìn). Ta cũng có thể tự hỏi tại sao giữ lại sách Mác làm gì, vì số tài liệu chỉ tìm thấy trong sách Phúc Âm của ông không đủ chứa trong hai trang sách in. Nhưng một lần nữa, chúng tôi tin rằng sự kiện đã có đến bốn sách, cũng là một phần ưu điểm của chúng.
Thế thì bản chất của các sách Phúc Âm là gì, và tại sao tính chất độc đáo của chúng lại là một phần của ưu điểm? Vấn đề này có thể được giải đáp thỏa đáng hơn bằng cách đề cập trước hết câu hỏi thứ nhất: Tại sao lại có đến bốn sách? Chúng tôi không thể đưa ra một lời đáp chắc chắn tuyệt đối cho câu hỏi này, nhưng ít nhất trong nhiều lý do, có một lý do hết sức đơn giản và thực dụng: nhiều cộng đồng Cơ Đốc giáo khác nhau đều cần có một quyển sách riêng viết về Chúa Giê-xu. Vì nhiều lý do khác nhau, một sách Phúc Âm viết cho một cộng đồng hay một nhóm tín hữu không nhất thiết đáp ứng được mọi nhu cầu của một cộng đồng khác. Cho nên một sách đã được viết trước (sách Mác, theo quan điểm phổ biến nhất) rồi sách Phúc Âm đó đã được “viết lại” hai lần (sách Ma-thi-ơ và Lu-ca) vì nhiều lý do rất khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu rất khác nhau. Độc lập đối với các sách kia (một lần nữa là theo quan điểm phổ biến nhất) Giăng đã viết một sách Phúc Âm thuộc một loại khác hẳn vì một loạt các lý do khác nữa. Chúng tôi tin rằng tất cả những điều đó đều do Đức Thánh Linh hướng dẫn.
Đối với Hội Thánh về sau, không một sách Phúc Âm nào được dùng thay thế cho một sách Phúc Âm khác, nhưng mỗi sách đều đứng bên cạnh nhau và được xem là có giá trị và thẩm quyền ngang nhau. Tại sao lại như thế? Vì trong mỗi trường hợp, Chúa Giê-xu được nhìn trên hai mức độ. Trước hết là mối quan tâm thuần túy lịch sử cho thấy Chúa Giê-xu là ai, Ngài đã dạy và làm gì. Chính Chúa Giê-xu này, Đấng đã bị đóng đinh vào thập tự giá rồi từ cõi chết sống lại, là Đấng hiện chúng ta đang thờ phượng với tư cách Chúa đã phục sinh và được tôn cao. Thứ hai là mối quan tâm hiện sinh (existential concern) kể lại chuyện tích này vì nhu cầu của các cộng đồng về sau đã không nói tiếng A-ram nhưng nói tiếng Hi Lạp; đã không sinh sống trong bối cảnh Do-thái chủ yếu là vùng thôn dã và nông nghiệp nhưng là tại Rô-ma hoặc Ê-phê-sô hay An-ti-ốt, nơi Phúc Âm tiếp xúc với môi trường thành thị và ngoại giáo.
Do đó, trong một ý nghĩa, các sách Phúc Âm là mô hình cho chúng ta trong việc giảng kinh, mà theo bản chất là chúng ta cũng sẽ kể lại cùng một truyện tích ấy trong những hoàn cảnh của chính chúng ta trong thế kỷ thứ hai mươi.
Các sách Phúc Âm kể lại cho chúng ta hầu như tất cả những gì chúng ta được biết về Chúa Giê-xu, nhưng không phải là những sách tiểu sử - tuy có một phần viết tiểu sử. Các sách Phúc Âm cũng không giống các quyển sách viết về “cuộc đời” của các vĩ nhân đương thời - tuy có ghi lại cuộc đời của Chúa Giê-xu là bậc vĩ nhân hàng đầu. Theo cách nói của giáo phụ Justin Martyr của thế kỷ thứ hai thì đây là những “hồi ký của các sứ đồ.” Bốn quyển sách tiểu sử không phải đứng bên cạnh nhau vì được xem như có giá trị ngang nhau nhưng vì chúng đồng loạt và đồng thời chép lại các sự kiện về Chúa Giê-xu, nhắc lại những lời phán dạy của Chúa Giê-xu, và mỗi quyển đều làm chứng cho Chúa Giê-xu. Đó là bản chất và nét độc đáo của các sách Phúc Âm, và điều này quan trọng cho việc giải kinh lẫn giảng kinh.
Do đó, công tác giải nghĩa các sách Phúc Âm đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ cả về phương diện bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, lẫn phương diện bối cảnh lịch sử của các tác giả.
Bối Cảnh Lịch Sử
Bạn cần nhớ rằng nhiệm vụ đầu tiên của công tác giải kinh là phải chú ý đến bối cảnh lịch sử. Điều này không những chỉ có nghĩa là phải biết bối cảnh lịch sử tổng quát, nhưng phải tái tạo lại hoàn cảnh của tác giả với các dữ kiện có được. Nhiều khi điều này trở nên phức tạp vì bản chất của các sách Phúc Âm, đây là những tài liệu ở hai mức độ. Bối cảnh lịch sử trước hết có liên hệ với chính Chúa Giê-xu. Việc này gồm cả vấn đề phải ý thức về nền văn hóa và tôn giáo hồi thế kỷ thứ nhất, về Do Thái giáo tại xứ Palestine là nơi Ngài sinh sống và dạy dỗ, lẫn nỗ lực tìm hiểu phần bối cảnh cá biệt của một câu nói hay một ẩn dụ nào đó. Ngoài ra bối cảnh lịch sử còn liên quan đến cá nhân các tác giả và các lý do khiến họ viết sách Phúc Âm nữa.
Chúng ta biết rằng tìm hiểu về các bối cảnh khác nhau này có thể là một nhiệm vụ nặng nề cho một độc giả bình thường. Hơn nữa, chúng ta cũng biết rằng trong lãnh vực này, có lẽ đang có nhiều công trình khảo cứu nhiều hơn bất cứ trong một lãnh vực nghiên cứu nào khác về Tân Ước. Tuy nhiên, bản chất của các sách Phúc Âm, như đã được xác định, là các văn kiện có hai mức độ cho dù chúng ta có thích hay không. Chúng tôi không nghĩ rằng có thể giúp các bạn trở thành chuyên gia trong các vấn đề này - dĩ nhiên là nhiều khi chúng tôi cũng nghi ngờ cả đến các “chuyên gia” nữa. Ở đây mong ước của chúng tôi chỉ đơn giản là nâng cao mức độ nhận thức của bạn để bạn sẽ có thể lãnh hội nhiều hơn về các sách Phúc Âm, cũng như có thể đối phó được những vấn đề gặp phải khi đọc các sách ấy.
Bối Cảnh Lịch Sử của Chúa Giê-Xu - Nói Chung
Muốn hiểu rõ về Chúa Giê-xu thì nhất định bạn phải tự dầm mình vào Do Thái giáo hồi thế kỷ thứ nhất mà Ngài là một thành viên. Điều này có nghĩa là bạn phải biết nhiều hơn việc người Sa-đu-sê không tin vào sự sống lại. Ta cần phải biết tại sao họ lại không tin như thế và tại sao Chúa Giê-xu ít khi tiếp xúc với họ.
Về loại thông tin liên hệ đến bối cảnh này, ta chẳng còn cách chọn lựa nào đơn giản hơn là phải đọc một số tài liệu tốt từ bên ngoài. Cả ba tác phẩm sau đây đều rất có ích cho bạn trong vấn đề này: Jerusalem in the Time of Jesus của Joachim Jeremias (Philadelphia: Fortress, 1969); The New Testament Environment của Edward Lohse (Nashville, Abingdon, 1976, tt 11-196); và Jesus’s Audience của J. Duncan M. Derrett (New York: Seabury, 1973).
Có một nét đặc trưng quan trọng của bối cảnh lịch sử nhưng lại thường bị bỏ qua liên quan với hình thức giảng dạy của Chúa Giê-xu. Ai ai cũng biết rằng Chúa Giê-xu thường giảng dạy bằng dụ ngôn (parables). Điều mà người ta ít biết đó là Ngài đã sử dụng đủ các loại của những hình thức ấy. Ví dụ, Ngài là một bậc thầy trong lối nói cường điệu (hyperbole) có mục đích. Trong Mat Mt 5:29-30 (và trong trường hợp tương tự ở Mac Mc 9:43-48) Chúa Giê-xu bảo các môn đệ Ngài hãy móc con mắt xui người ta phạm tội hoặc chặt cánh tay xui người ta phạm tội mà bỏ đi. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng Chúa Giê-xu “không thật sự muốn dạy chúng ta làm như thế.” Ý Ngài muốn nói là người ta phải vứt bỏ khỏi đời sống mình những gì khiến họ phạm tội. Nhưng làm thế nào để chúng ta biết Ngài không thực sự muốn nói như thế? Vì mọi người chúng ta đều nhận ra được cách diễn đạt cường điệu là kỹ thuật dạy dỗ kiến hiệu nhất, trong đó chúng ta phải hiểu vị giáo sư điều người ấy ngụ ý chứ không phải là theo nghĩa đen những gì người ấy nói!
Chúa Giê-xu cũng sử dụng tài tình các câu châm ngôn (thí dụ Mat Mt 6:21; Mac Mc 3:24), những ví von (similes) và ẩn dụ (metaphors) (chẳng hạn, Mat Mt 10:16; 5:13), thi ca (Mat Mt 7:6-8; LuLc 6:27-28), các câu hỏi (Mat Mt 17:25), cách nói mỉa mai (Mat Mt 16:2-3); đó là chỉ kể một vài phương pháp mà thôi. Muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này cũng như nhiều vấn đề khác nữa trong chương này, bạn nên tìm đọc quyển The Method and Message of Jesus Teaching của Robert H. Stein (Philadelphia: Westminster, 1978).
Bối Cảnh Lịch Sử của Chúa Giê-Xu - Nói Riêng
Đây là điểm khó hơn trong cố gắng tái tạo bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, nhất là đối với quá nhiều lời dạy của Ngài thường được trình bày trong các sách Phúc Âm mà ta không biết nhiều về bối cảnh. Lý do là vì những lời nói và việc làm của Chúa Giê-xu được truyền miệng trong một khoảng thời gian có lẽ kéo dài đến ba mươi năm hoặc hơn, và trong giai đoạn nầy thì toàn bộ các sách Phúc Âm chưa có. Chỉ có nội dung của các sách Phúc Âm được truyền tụng qua từng câu chuyện và lời nói riêng lẻ thôi. Có rất nhiều câu nói như thế đã được truyền đi truyền lại cùng với các bối cảnh nguyên thủy của chúng. Các học giả đã phải gọi những câu chuyện được truyền đi truyền lại như thế là những câu chuyện công bố (pronouncement stories), vì chính câu chuyện sở dĩ tồn tại chỉ vì lời công bố kết luận cho nó mà thôi. Một câu chuyện dẫn đến một lời công bố điển hình là Mac Mc 12:13-17, tại đây, bối cảnh chỉ là một câu hỏi liên quan đến vấn đề nộp thuế cho người La Mã. Nó kết thúc bằng lời công bố nổi tiếng của Chúa Giê-xu: “Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa trời.” Bạn có tưởng tượng nổi ta có thể làm gì để tái tạo một bối cảnh nguyên thủy cho câu nói này, nếu nó đã không được truyền đi truyền lại cùng với bối cảnh nguyên thủy của nó?
Điểm khó khăn thật sự là có rất nhiều lời nói và dạy dỗ của Chúa Giê-xu được lưu truyền mà không có bối cảnh của chúng. Phao-lô cho chúng ta thấy sự kiện này. Ba lần ông trích dẫn lời của Chúa Giê-xu (ICo1Cr 7:10; 9:14; Cong Cv 20:35) mà không hề ám chỉ đến bối cảnh lịch sử nguyên thủy của chúng - mà chúng ta cũng không mong ông làm như vậy. Trong những lời nói này, hai lời trích dẫn trong sách I Côrintô được tìm thấy trong các sách Phúc Âm. Lời nói về vấn đề li dị tìm thấy trong hai bối cảnh khác nhau (lời dạy cho các môn đồ trong Mat Mt 5:31-32, và cuộc tranh luận trong Mat Mt 10:1-19 và Mac Mc 10:1-12). Câu nói về “quyền được trả công” ở trong Mat Mt 10:10 và chỗ tương đương trong LuLc 10:7 có bối cảnh là sự sai phái Mười Hai Sứ Đồ (Mathiơ) và bảy mươi hai môn đồ (Luca). Nhưng ta không tìm thấy câu trích dẫn trong Công Vụ trong các sách Phúc Âm, do đó đối với chúng ta câu Kinh Thánh này hoàn toàn không có bối cảnh.
Cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi biết rằng rất nhiều câu nói như vậy (nghĩa là không có bối cảnh) đã được cung cấp cho các tác giả sách Phúc Âm, rồi dưới quyền hướng dẫn của Đức Thánh Linh họ đã đặt những câu nói ấy vào các bối cảnh hiện tại của chúng. Đây là một trong nhiều lý do để chúng ta thường thấy cùng một câu nói hay lời dạy dỗ trong nhiều bối cảnh khác nhau của các sách Phúc Âm. Đó cũng là lý do để nhiều câu nói có các luận đề tương tự hoặc cùng một chủ đề, thường được tập họp lại theo đề mục trong các sách Phúc Âm.
Thí dụ sách Ma-thi-ơ có năm phần sưu tập lớn theo đề mục (mỗi phần trong số này đều kết thúc bằng một câu đại khái như: “sau khi Chúa Giê-xu đã phán xong những lời này...”): đời sống trong Nước Trời (Bài giảng trên núi, các chương Mat Mt 5:1-7:29), những lời dạy dỗ cho những người phục vụ Nước Trời (10:52), các dụ ngôn về Nước Trời đang hành động trong thế gian (13:1-52), sự dạy dỗ về các mối liên hệ và kỷ luật trong Nước Trời (18:1-35), tận thế hay kết cuộc của Nước Trời (các chương 23:1-25:46).
Căn cứ vào phần sưu tập trong chương 10:1-42, ta có thể minh họa cho các phần sưu tập trong sách Ma-thi-ơ theo hai cách: (1) Bối cảnh là chuyến truyền giáo lịch sử của Mười Hai Sứ Đồ và những lời truyền dạy của Chúa Giê-xu cho họ khi sai phái họ ra đi (c 5-12). Tuy nhiên, trong mấy câu 16-20, những lời truyền dạy vốn thuộc về một thời gian khá lâu về sau, vì trong hai câu 5-6 họ được dạy là chỉ đi đến với những con chiên lạc của nhà Y-sơ-ra-ên mà thôi, trong khi câu 18 nói tiên tri rằng họ sẽ bị giải đến trước mặt các “quan tổng đốc,” “các vua” và “các dân ngoại,” nhưng không có ai trong số này được đề cập trong chuyến truyền giáo nguyên thủy của Mười Hai Sứ Đồ. (2) Những câu nói được sắp xếp cách tinh tế này được tìm thấy rải rác trong cả sách Phúc Âm Lu-ca theo thứ tự như sau: LuLc 9:2-5; 10:3; 4:12-17; 12:11-12; 6:40; 12:2-9; 12:51-53; 14:25-27; 17:33; 18:16. Việc này gợi ý rằng Lu-ca cũng đã thu thập được phần lớn các câu nói này như những đơn vị riêng biệt, sau đó ông đã đặt chúng vào nhiều bối cảnh khác nhau.
Như thế, khi đọc các sách Phúc Âm, một trong những câu hỏi mà có thể bạn sẽ đặt ra cả khi không có câu trả lời chắc chắn, là có phải những thính giả đang nghe lời dạy dỗ nào đó của Chúa Giê-xu là các môn đệ thân cận của Ngài, hay là đoàn dân đông đảo, hay đám người chống đối Ngài. Tìm ra bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, hay những thính giả đang nghe Ngài là ai không nhất thiết sẽ ảnh hưởng đến ý nghĩa căn bản của một câu nói nào đó, nhưng sẽ mở rộng thêm tầm nhìn của bạn và thường giúp bạn hiểu rõ ý chính mà Chúa Giê-xu muốn nói.
Bối Cảnh Lịch Sử Của Tác Giả Sách Phúc Âm
Ở đây, chúng ta không bàn văn mạch mà mỗi tác giả sách Phúc Âm đưa vào các câu chuyện về Chúa Giê-xu, mà bàn về bối cảnh lịch sử của từng tác giả đã thúc đẩy họ viết sách Phúc Âm. Chúng ta lại phỏng đoán để khảo cứu vì tác giả của các sách Phúc Âm đều giấu tên (nghĩa là các sách ấy không nêu đích danh tác giả), và chúng ta cũng không thể biết chắc chúng bắt đầu xuất hiện từ đâu. Nhưng chúng ta có thể biết khá chắc chắn về các mối bận tâm của từng tác giả các sách Phúc Âm dựa trên cách mà họ tuyển chọn, định hình và sắp xếp các tài liệu của mình.
Chẳng hạn sách Phúc Âm Mác đặc biệt quan tâm đến việc giải thích bản tính chức vụ Mết-si-a của Chúa Giê-xu. Tuy Mác biết rằng Đấng Mết-si-a chính là Con Đức Chúa Trời (Mac Mc 1:1) đã đi khắp xứ Ga-li-lê với quyền năng và lòng nhân từ thương xót (1:1-8:26), ông cũng biết rằng Chúa Giê-xu luôn luôn che giấu bản tính Mết-si-a của Ngài (xem 1:34, 43, 3:12; 4:11; 5:43; 7:24,36, 8:26, 30). Lý do của sự im lặng ấy là chỉ một mình Chúa Giê-xu mới hiểu rõ bản tính đích thực của sứ mệnh Mết-si-a của Ngài - tức là của một người đầy tớ thống khổ chinh phục bằng cái chết. Tuy điều này đã được giải thích cho các môn đệ Ngài đến ba lần nhưng họ vẫn không hiểu (8:27-33; 9:30-32; 10:32-45). Cũng như người đã được rờ đến hai lần (8:22-26), họ cần một lần chạm đến thứ hai nữa, sự Phục sanh, rồi mới thấy được rõ ràng.
Mối quan tâm của Mác là bản tính đầy tớ thống khổ của chức vụ Mết-si-a của Chúa Giê-xu còn hiển nhiên hơn nữa căn cứ vào sự kiện ông đã không đưa bất kỳ một lời dạy dỗ nào của Chúa Giê-xu về chức vụ môn đệ trước lời giải thích của chính Ngài về nỗi thống khổ của mình trong 8:31-33. Ở đây, lời dạy gián tiếp cũng như trực tiếp đều rõ ràng. Thập tự giá và công tác làm đầy tớ mà Chúa Giê-xu đã trắc nghiệm cũng là các dấu ấn của chức vụ môn đệ đích thực. Như một thi sĩ đã viết: “Đó là con đường ông chủ đã đi qua, mà kẻ tôi tớ lại không chịu bước vào hay sao?”
Tất cả những điều này đều có thể thấy rõ nhờ đọc kỹ sách Phúc Âm Mác. Đây là bối cảnh lịch sử của ông. Muốn xác định bối cảnh này cách rõ ràng thì phải phỏng đoán nhiều hơn, nhưng chúng tôi thấy không có lý do gì để không nói theo truyền thống rất cổ xưa rằng sách Phúc Âm Mác phản ánh “ký ức” của Phi-e-rơ, và Phúc Âm Mác đã xuất hiện tại Rô-ma chẳng bao lâu sau ngày tuận đạo của ông, vào lúc các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma phải chịu đau khổ dữ dội. Dù sao thì cách đọc và nghiên cứu bối cảnh như thế rất quan trọng đối với các sách Phúc Âm cũng như đối với các thư tín vậy.
Văn Mạch
Chúng tôi đã ít nhiều đề cập đến vấn đề này trong đoạn nói về “bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu - nói riêng.” Văn mạch (hay văn cảnh) liên quan đến vị trí của một câu chuyện trong bối cảnh của bất kỳ một trong bốn sách Phúc Âm nào đó. Trong một mức độ nào đó, bối cảnh này có lẽ đã bị bối cảnh lịch sử nguyên thủy của nó ấn định, điều mà có lẽ tác giả sách Phúc Âm đã biết. Nhưng như chúng ta đã thấy, rất nhiều tài liệu trong các sách Phúc Âm chịu ảnh hưởng hoàn cảnh hiện tại của chính tác giả, theo sự linh cảm của Đức Thánh Linh trên họ.
Mối quan tâm lưỡng diện của chúng tôi ở đây là: (1) nhằm giúp bạn giải nghĩa hay đọc với đầy đủ sự hiểu biết một câu nói hay một truyện ký nào đó trong văn mạch của nó trong các sách Phúc Âm, và (2) nhằm giúp bạn hiểu rõ tính chất của việc hình thành các sách Phúc Âm như những toàn thể, và do đó có thể giải nghĩa bất kỳ một sách Phúc Âm nào chứ không phải chỉ giải nghĩa những sự kiện riêng rẽ về cuộc đời của Chúa Giê-xu mà thôi.
Giải Nghĩa Từng Câu Chuyện
Trong khi thảo luận về cách giải nghĩa các thư tín, chúng tôi đã lưu ý bạn cần phải tập “suy nghĩ theo từng phân đoạn.” Điều đó không đến nỗi quan trọng như vậy khi giải nghĩa các sách Phúc Âm, tuy rằng có những lúc vẫn có thể áp dụng, đặc biệt là đối với phần lớn những lời dạy. Như chúng tôi đã lưu ý ngay từ đầu, các đoạn sách giáo huấn có nhiều điểm giống với cách chúng ta tìm hiểu các thư tín. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của các sách Phúc Âm, ở đây ta phải thực hiện hai điều: suy nghĩ theo chiều ngang và suy nghĩ theo chiều dọc.
Ở đây chúng tôi muốn nói rằng khi giải nghĩa hay đọc một trong các sách Phúc Âm, ta cần nhớ luôn hai thực tại về các sách Phúc Âm vừa được lưu ý ở trên: có đến bốn sách như thế, và chúng đều là những tài liệu gồm “hai mức độ.”
Suy Nghĩ Theo Chiều Ngang: Suy nghĩ theo chiều ngang có nghĩa là khi nghiên cứu một câu chuyện trong bất luận một sách Phúc Âm nào, ta phải lưu ý đến các câu chuyện tương tự với nó trong các sách Phúc Âm khác. Nói như thế không phải là nhấn mạnh quá đáng, vì chẳng hề có tác giả sách Phúc Âm nào lại có ý định cho tác phẩm của mình được đọc song hành với các sách Phúc Âm khác. Tuy nhiên, sự kiện Đức Chúa Trời đã cung cấp đến bốn sách Phúc Âm được liệt vào Kinh Thánh có nghĩa rằng sẽ không đầy đủ nếu chúng ta đọc chúng cách riêng rẽ.
Lời khuyên đầu tiên của chúng tôi ở đây là hãy cẩn thận. Chủ đích của việc nghiên cứu các sách Phúc Âm song song với nhau không phải là bổ túc cho câu chuyện trong một sách Phúc Âm này bằng các chi tiết rút ra từ các sách Phúc Âm khác. Thường thì cách đọc các sách Phúc Âm như thế có xu hướng dẫn tới việc hài hòa hóa tất cả các chi tiết, mà làm như thế tức là xóa đi những điểm khác nhau trong từng sách Phúc Âm mà Đức Thánh Linh đã linh cảm. Cách “bổ túc” như thế có thể khiến chúng ta thích thú ở mức độ của Chúa Giê-xu lịch sử, nhưng không đem đến điều bổ ích trên mức độ kinh điển, là mối quan tâm trước tiên của chúng ta.
Có hai lý do cơ bản cho việc phải suy nghĩ theo chiều ngang. Một là những câu chuyện tương tự thường cho chúng ta lãnh hội được những nét đặc trưng của bất kỳ một sách Phúc Âm nào. Dù sao thì chính những điểm khác nhau đó là lý do đầu tiên để có đến bốn sách Phúc Âm. Hai là, những câu chuyện giống nhau sẽ giúp chúng ta chú ý đến các loại bối cảnh khác nhau trong đó cùng những số tài liệu giống nhau hoặc tương tự đã tồn tại trong Hội Thánh thời đó. Chúng tôi sẽ minh họa cho từng trường hợp, nhưng trước hết, đây là một điều quan trọng về các giả định.
Ta không thể đọc các sách Phúc Âm mà không có một giả định nào đó về các mối liên hệ giữa chúng với nhau - cả khi bạn chẳng bao giờ nghĩ đến việc ấy. Giả định thông thường nhất, nhưng là điều dường như ít có thể xảy ra nhất, ấy là mỗi sách Phúc Âm đều được viết độc lập đối với nhau. Đơn giản là đã có quá nhiều chứng cứ hiển nhiên chống lại quan điểm này nên giả định này khó có thể trở thành một lựa chọn khôn ngoan khi bạn đọc các sách Phúc Âm.
Thí dụ hãy lấy sự kiện có cách nói rất giống nhau giữa Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca trong các câu chuyện, cũng như trong các câu nói của Chúa Giê-xu. Những cách nói giống nhau đáng chú ý chắc không gây ngạc nhiên cho chúng ta về những “câu nói” của Đấng mà “chẳng hề có ai nói như người này.” Nhưng nếu sự việc này lan sang cả những câu chuyện nữa, thì lại là một vấn đề khác - nhất là khi ta xét thấy (1) các câu chuyện ấy vốn được kể lại trước tiên là bằng tiếng A-ram, nhưng điều chúng ta đang bàn đây là cách dùng Hi văn, (2) trật tự của các từ ngữ Hi văn vốn vô cùng tự do, thế nhưng những điểm giống nhau lại mở rộng sang chính thứ tự thật chính xác của các từ ngữ nữa, và (3) cả ba người sống ở ba miền khác nhau của đế quốc La Mã kể lại cùng một câu chuyện bằng những lời lẽ giống hệt nhau như thế - thậm chí cả đến những điểm nhỏ nhặt của bút pháp cá nhân như các tiền trí từ và liên từ là một điều khó có thể xảy ra. Thế nhưng đó lại là việc đã xảy ra nhiều lần trong ba sách Phúc Âm đầu tiên.
Điều này có thể minh họa dễ dàng khi căn cứ vào câu chuyện hóa bánh cho năm ngàn người ăn là một trong số ít các câu chuyện đã được tìm thấy trong cả bốn sách Phúc Âm. Xin chú ý các bảng thống kê dưới đây:
1. Số từ được dùng để kể chuyện:
Ma-thi-ơ 157
Mác 194
Lu-ca 153
Giăng 199
2. Số chữ có chung cho “cả” ba sách Phúc Âm đầu tiên: 53
3. Số chữ sách Giăng có chung với tất cả các sách khác: 8 (năm, hai, năm ngàn, lấy bánh, mười hai giỏ bánh vụn).
4. Tỉ lệ phần trăm những điểm tương đồng:
Ma-thi-ơ với Mác 59%
Ma-thi-ơ với Lu-ca 44%
Lu-ca với Mác 40%
Giăng với Ma-thi-ơ 8,5%
Giăng với Mác 8,5%
Giăng với Lu-ca 6,5%
Các kết luận sau đây dường như là tất nhiên: Giăng kể lại câu chuyện một cách độc lập. Ông chỉ dùng những từ ngữ tuyệt đối cần thiết để kể lại cùng một câu chuyện, và thậm chí còn dùng cả một từ ngữ Hi văn khác để chỉ cá! Rõ ràng ba sách kia lệ thuộc nhau theo cách nào đó. Những người biết Hi văn nhận ra rằng rất khó có thể có hai người độc lập, cùng kể lại một câu chuyện mà lại có đến 60% chỗ giống nhau về cách dùng từ ngữ, mà thường lại theo đúng thứ tự như thế.
Hãy lấy một thí dụ khác về từ ngữ trong Mac Mc 13:14 và câu song hành với nó trong Mat Mt 24:15 (“ai đọc phải để ý”). Câu này rất khó có thể là một phần của truyền khẩu (câu này viết là “đọc” chứ không phải là “nghe”, và vì trong sách Mác, được viết sớm nhất, không đề cập Đa-ni-ên, nên khó có thể cho rằng đó là câu nói của Chúa Giê-xu đề cập Đa-ni-ên). Do đó, câu này đã được một trong các trước giả sách Phúc Âm đưa vào trong câu nói của Chúa Giê-xu vì cớ các độc giả của mình. Rất khó có thể nói rằng hai tác giả viết sách cách độc lập cùng đặt hai dấu ngoặc đơn đúng cùng một chỗ.
Cách giải thích hay nhất cho tất cả các dữ kiện trên đã được chúng tôi gợi ý trước đây, đó là Mác đã viết sách Phúc Âm của ông trước, có lẽ ít nhất một phần cũng căn cứ vào những gì ông đã thu thập được từ những lời giảng dạy của Phi-e-rơ. Cả Lu-ca và Ma-thi-ơ đã có được sách Phúc Âm Mác và tự mình sử dụng nó như một nguồn tài liệu căn bản cho các sách Phúc Âm riêng của mình. Nhưng họ cũng thu thập được đủ các loại tài liệu khác nữa về Chúa Giê-xu, trong đó có một số chi tiết mà họ có chung với nhau. Tuy nhiên, số tài liệu chung đó rất ít khi được trình bày theo cùng một trật tự trong cả hai sách Phúc Âm, điều đó gợi ý rằng chẳng có vị nào có được quyển sách mà vị kia đã viết. Cuối cùng, Giăng viết độc lập đối với các tác giả kia, vì vậy mà sách Phúc Âm của ông có ít tài liệu chung với họ. Như chúng tôi đã ghi nhận, đây là cách mà Đức Thánh Linh đã cảm thúc để viết các sách Phúc Âm.
Kiểu mẫu vắn tắt dưới đây chứng minh điều chúng ta đã bàn có thể giúp bạn giải nghĩa các sách Phúc Âm. Chú ý cách các câu nói của Chúa Giê-xu về “sự tàn nát gớm ghiếc” xuất hiện khi đọc trong các cột song song
Trước nhất, cần lưu ý rằng câu nói này trong Bài Giảng Trên Núi đã theo đúng thứ tự trước sau trong cả ba sách Phúc Âm. Khi ghi lại mấy lời này, Mác muốn kêu gọi những người đọc sách của ông hãy suy nghĩ kỹ về điều mà Chúa Giê-xu ngụ ý liên hệ đến “sự tàn nát gớm ghiếc lập ra nơi không nên lập.” Ma-thi-ơ cũng được Đức Thánh Linh cảm thúc, giúp các độc giả của ông bằng cách giải thích thêm cho câu này. Ông nhắc nhở họ “sự gớm ghiếc tàn nát” đã được Đa-ni-ên đề cập, còn điều Chúa Giê-xu ngụ ý khi nói “nơi nó không nên xảy ra” là “nơi thánh” (đền thờ Giê-ru-sa-lem). Lu-ca cũng được Đức Thánh Linh linh cảm, chỉ giải thích câu nói ấy cho các độc giả Dân Ngoại của ông mà thôi. Ông để họ tự tìm hiểu lấy. Điều Chúa Giê-xu muốn nói liên hệ với tất cả những điều trên đây là: “Khi nào thành phố Giê-ru-sa-lem bị nhiều đạo quân bao vây, thì hãy biết rằng việc nó bị tàn phá đang đến gần.”
Như thế, ta có thể thấy việc suy nghĩ theo chiều ngang và biết rằng Ma-thi-ơ và Lu-ca đã dùng sách Mác, có thể giúp bạn giải nghĩa bất kỳ một sách Phúc Âm nào khi bạn đọc nó. Cũng thế, biết rõ những câu chuyện giống nhau cũng giúp ta thấy những tài liệu giống nhau nhiều khi đã được sử dụng trong các bối cảnh mới trong tiến trình của Hội Thánh như thế nào.
Thí dụ, hãy lấy lời than khóc thành phố Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-xu, là một trong những câu nói của Chúa Giê-xu mà hai sách Ma-thi-ơ và Lu-ca đều có chung với nhau, nhưng không thấy có trong sách Mác. Câu nói ấy đã xuất hiện hầu như giống nhau từng chữ từng tiếng trong cả hai sách Phúc Âm. Trong LuLc 13:34-35 câu nói này thuộc về một bộ sưu tập dài những câu chuyện và phán dạy của Chúa Giê-xu trên đường Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem (9:51-19:10). Câu nói này tiếp nối ngay sau lời cảnh cáo liên hệ đến Hê-rốt mà Chúa Giê-xu đã kết luận bằng câu đáp lại của Ngài “Vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem.” Việc chối bỏ sứ giả của Đức Chúa Trời dẫn đến việc dân Y-sơ-ra-ên phải chịu phán xét.
Trong Mat Mt 23:37-39 lời than khóc kết thúc cho phần sưu tập về bảy lời rủa sả người Pha-ri-si của ông, mà lời rủa sả cuối cùng phản ảnh chủ đề về các nhà tiên tri đã bị giết tại Giê-ru-sa-lem. Trong trường hợp này câu nói có cùng một luận điểm trong cả hai sách Phúc Âm tuy nó được đặt vào những khung cảnh khác nhau.
Sự việc cũng tương tự với nhiều câu nói khác. Bài Cầu Nguyện của Chúa được xếp trong cả hai sách Phúc Âm (Mat Mt 6:7-13; LuLc 11:2-4) trong khung cảnh lời dạy về sự cầu nguyện, tuy chủ điểm cần nhấn mạnh trong mỗi phần khác nhau rất nhiều. Cần lưu ý là trong sách Ma-thi-ơ bài cầu nguyện này được dùng để làm kiểu mẫu, “vậy các ngươi hãy cầu nguyện như vầy” ; trong Lu-ca sự lặp lại được cho phép “khi các ngươi cầu nguyện hãy nói.” Cũng thế, hãy lưu ý về Các Phước Lành (Mat Mt 5:3-11; LuLc 6:20-23). Trong Ma-thi-ơ, kẻ nghèo là nghèo phần tâm linh (“có lòng khó khăn”), trong Lu-ca chỉ chép đơn giản là “kẻ nghèo khó”, tương phản với “các ngươi là người giàu có” (6:24). Ở những điểm như thế, phần đông người ta có xu hướng chỉ muốn hiểu nửa phần mà thôi . Các tín đồ theo truyền thống Tin Lành có xu hướng chỉ hiểu là “kẻ nghèo phần tâm linh,” còn các nhà hoạt động xã hội lại có xu hướng muốn hiểu là “kẻ nghèo.” Chúng tôi xin nhấn mạnh Kinh Thánh mang cả hai nghĩa này. Theo một ý nghĩa sâu sắc thì kẻ nghèo đích thực là những người ý thức được là họ vốn nghèo khó trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, là Đấng đã nhập thể để trở thành Chúa Giê-xu người Na-xa-rét, là Đức Chúa Trời đang bênh vực cho những người bị áp bức bóc lột. Ta rất khó đọc sách Phúc Âm Lu-ca mà không nhận thấy ông đang quan tâm đến phương diện này trong mặc khải của Đức Chúa Trời (xem LuLc 14:12-14; đ/c 12:33-34 với đoạn song hành trong Mat Mt 6:19-21).
Cuối cùng, nếu bạn muốn nghiên cứu các sách Phúc Âm cách nghiêm túc, bạn cần tham khảo một bộ sách cộng quan (trình bày các sách Phúc Âm theo bốn cột song song với nhau). Bộ sách tốt nhất thuộc loại này là Synopsis of the Four Gospels (New York: United Bible Societies, 1975) do Kurt Aland chủ biên.
Suy Nghĩ Theo Chiều Dọc: Suy nghĩ theo chiều dọc có nghĩa là khi đọc hoặc nghiên cứu một câu chuyện hay lời huấn thị trong các sách Phúc Âm ta phải tìm hiểu cả hai bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu và của tác giả sách Phúc Âm.
Một lần nữa, lời đầu tiên của chúng tôi ở đây là phải cẩn trọng. Chủ đích của việc suy nghĩ theo chiều dọc trước hết không phải là nghiên cứu cuộc đời của Chúa Giê-xu về phương diện lịch sử. Dĩ nhiên là điều đó phải được quan tâm thường xuyên. Nhưng các sách Phúc Âm trong hình thức hiện có là Lời của Đức Chúa Trời cho chúng ta, còn những cách chúng ta tái tạo đời sống Chúa Giê-xu thì không phải. Một lần nữa, ta không nên quá phóng đại trong loại suy nghĩ này. Lời kêu gọi tìm hiểu chỉ có nghĩa là phải biết rằng số rất nhiều tài liệu của sách Phúc Âm đã được chính các tác giả đặt chúng vào trong bối cảnh đương thời, và muốn giải nghĩa đúng đòi hỏi phải hiểu một câu nói nào đó trước nhất là trong bối cảnh lịch sử nguyên thủy của nó như là bước đầu tiên thích hợp để hiểu cùng một từ ngữ ấy trong toàn bộ kinh điển mà chúng ta đang có.
Chúng tôi có thể minh họa điểm này căn cứ vào một khúc sách như Mat Mt 20:1-16, là dụ ngôn của Chúa Giê-xu về những người làm công trong vườn nho. Mối quan tâm của chúng tôi là: Trong văn mạch của nó trong sách Ma-thi-ơ, thì dụ ngôn này có nghĩa gì? Nếu chúng ta suy nghĩ theo chiều ngang, chúng ta sẽ lưu ý rằng ở cả hai đầu của dụ ngôn trong sách Ma-thi-ơ đều có những đoạn dài các tài liệu mà ông đã theo rất sát sách Mác (Mat Mt 19:1-30; 20:17-24 song hành với Mac Mc 10:1-52). Ở 10:31 sách Mác có câu “có nhiều kẻ đầu sẽ nên rốt; có kẻ rốt sẽ nên đầu”, mà Ma-thi-ơ vẫn giữ nguyên ở 19:30. Nhưng rồi tại ngay điểm ấy, ông đã đưa dụ ngôn này vào, để rồi kết thúc nó bằng cách lặp lại câu nói trên (20:16), bây giờ chỉ khác là theo thứ tự đảo ngược lại mà thôi. Vậy, trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ văn cảnh cận tiếp của dụ ngôn này là câu nói về sự đảo ngược thứ tự giữa kẻ đầu và kẻ rốt.
Khi bạn đọc trong chính dụ ngôn đó (20:1-15), bạn sẽ lưu ý là nó kết thúc bằng việc biện minh cho lòng hào hiệp của ông chủ đất. Chúa Giê-xu nói tiền công trong Nước Trời không căn cứ trên lẽ công bằng mà căn cứ vào ân điển của Đức Chúa Trời! Trong văn cảnh nguyên thủy của nó, có lẽ dụ ngôn này đã được dùng để biện minh cho việc chính Chúa Giê-xu đã tiếp nhận các tội nhân dưới những đôi mắt soi mói của đoàn người Pha-ri-si phản đối Ngài. Họ tưởng chính họ mới là những người “đang mang lấy gánh nặng của thời đại,” do đó đáng được trả công nhiều hơn. Nhưng Đức Chúa Trời rộng lượng và nhân hậu, và Ngài tiếp nhận những kẻ tội lỗi cũng y như tiếp nhận những người “công chính.”
Một khi đã biết được điều này như là bối cảnh có thể là nguyên thủy, giờ đây, dụ ngôn này có chức năng gì trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ? Luận điểm của dụ ngôn - lòng rộng rãi nhân hậu của Đức Chúa Trời đối với kẻ không xứng đáng - chắc chắn vẫn còn y nguyên. Nhưng luận điểm này không còn là một mối bận tâm để biện minh cho các hành động của chính Chúa Giê-xu nữa. Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ vẫn làm công việc đó ở nhiều chỗ khác nữa, theo nhiều cách khác nhau. Ở đây, dụ ngôn này hoạt động trong một văn cảnh đề cập thân phận của người làm môn đệ, nơi mà những ai đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giê-xu là kẻ cuối cùng đã trở thành người đứng đầu (dĩ nhiên có lẽ là tương phản với các lãnh đạo Do Thái giáo, một luận điểm mà Ma-thi-ơ đưa ra nhiều lần).
Nhiều khi suy nghĩ theo chiều dọc sẽ cho thấy rằng cùng một luận điểm đã được đưa ra ở cả hai bình diện. Nhưng thí dụ minh họa vừa đưa ra chứng minh một cách suy nghĩ như thế rất có hiệu quả cho công tác giải kinh.
Giải Nghĩa Các Sách Phúc Âm Trong Cái Nhìn Toàn Sách
Một phần quan trọng của văn cảnh là biết những mối quan tâm của mỗi tác giả khi viết từng sách Phúc Âm khiến mỗi sách trở thành độc đáo.
Qua suốt chương này, chúng ta đã lưu ý rằng khi đọc và nghiên cứu các sách Phúc Âm, ta phải chú trọng không những chỉ vào các mối quan tâm của các tác giả của sách vào chính Chúa Giê-xu, những việc Ngài làm, những lời Ngài nói, mà cả vào các lý do khiến họ kể lại câu chuyện cho chính các độc giả của mình. Chúng ta đã ghi nhận rằng những người viết các sách Phúc Âm là các tác giả, chứ không phải chỉ là những người đúc kết. Điều này không có nghĩa rằng họ là những người sáng tạo ra phần tài liệu; mà là ngược lại. Có nhiều yếu tố ngăn cản sự sáng tạo thêm, trong đó chúng tôi tin là có tính chất cố định của tài liệu, và sự giám sát tối cao của Đức Thánh Linh trong tiến trình lưu chuyển. Họ là tác giả theo nghĩa nhờ sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, họ đã tạo cấu trúc và viết lại các tài liệu một cách sáng tạo để đáp ứng các nhu cầu của độc giả. Điều chúng tôi quan tâm ở đây là giúp bạn hiểu rõ các mối bận tâm và kỹ thuật của các tác giả sách Phúc Âm trong công tác soạn thảo các sách ấy khi bạn đọc hoặc nghiên cứu chúng.
Có ba nguyên tắc chi phối việc biên soạn các sách Phúc Âm: chọn lựa, sắp xếp và thích nghi. Một mặt, với tư cách là những tác giả được Đức Chúa Trời linh cảm, họ tuyển chọn các câu chuyện và những lời dạy dỗ phù hợp với chủ đích của họ. Lẽ dĩ nhiên, mối bận tâm nhằm bảo tồn những gì đang có trong tầm tay cũng có thể là một trong số các chủ đích ấy. Giăng cho chúng ta biết ông là người đã chọn lựa rất kỹ lưỡng. Các bài giảng và câu chuyện của ông tuy ít nhưng được khai triển đáng kể (20:30-31; 21:25). Câu cuối cùng này (21:25) với lối nói cường điệu có lẽ là trường hợp giống như những tác giả khác, chẳng hạn Lu-ca đã chọn không đưa vào nhiều đoạn của Mác (6:45-8:26).
Đồng thời các tác giả sách Phúc Âm và Hội Thánh của họ cũng có những mối quan tâm đặc biệt khiến họ sắp xếp và mô phỏng những gì đã tuyển chọn. Chẳng hạn Giăng nói rõ ràng với chúng ta chủ đích của ông có tính cách thần học “để các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời” (20:31). Mối quan tâm vào Chúa Cứu Thế như là Đấng Mết-si-a của dân Do Thái có lẽ là lý do chính khiến đa số tài liệu dồi dào của ông có liên hệ với chức vụ của Chúa Giê-xu trong xứ Giu-đê và tại Giê-ru-sa-lem, tương phản với phần chức vụ hầu như hoàn toàn là trong xứ Ga-li-lê của các sách Phúc Âm cộng quan. Với người Do Thái, quê quán thật sự của Đấng Mết-si-a phải là Giê-ru-sa-lem. Cho nên Giăng biết rõ là Chúa Giê-xu từng nói rằng nhà tiên tri không được chính quê hương mình tôn trọng. Chúa Giê-xu nói lời nầy lúc Ngài bị chối bỏ tại Na-xa-rét (Mat Mt 13:57; Mac Mc 6:4; LuLc 4:24). Trong sách Phúc Âm Giăng câu này được đề cập như một lời giải thích cho việc Đấng Mết-si-a phải bị chối bỏ tại Giê-ru-sa-lem (GiGa 4:44) - một cái nhìn thần học sâu nhiệm về chức vụ của Chúa Giê-xu.
Nguyên tắc thích nghi hay mô phỏng cũng là lý do để giải thích phần lớn những gì đã được gọi là những điểm trái nhau trong các sách Phúc Âm. Một trong số những điểm được ghi nhận rõ rệt nhất về mặt này, là lời rủa sả cây vả (Mac Mc 11:12-14, 20-25, Mat Mt 21:18-22) chẳng hạn. Trong sách Phúc Âm Mác, câu chuyện đã được kể lại là vì ý nghĩa biểu tượng thần học của nó. Cần lưu ý là giữa lời nguyền rủa và hiện tượng cây vả bị khô, Chúa Giê-xu muốn công bố một sự phán xét tương tự đối với Do Thái giáo bằng việc dọn sạch đền thờ của Ngài. Tuy nhiên, câu chuyện về cây vả cũng còn có ý nghĩa quan trọng cho Hội Thánh nguyên thủy nữa, vì bài học về đức tin đã được đưa vào trong đó. Trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, bài học về đức tin là điểm đáng chú ý duy nhất của câu chuyện, cho nên ông kể lại sự rủa sả và cây vả bị khô đồng thời với nhau để nhấn mạnh luận điểm ấy. Nên nhớ là trong mỗi lần kể lại câu chuyện này đều là công tác của Đức Thánh Linh, Đấng linh cảm cả hai tác giả viết sách Phúc Âm.
Để minh họa cho tiến trình soạn thảo này trên một bình diện rộng hơn, hãy nhìn vào các chương mở đầu của sách Mác (Mac Mc 1:14-3:6). Mấy chương này là tuyệt tác của một bậc thầy, được cấu trúc thật hoàn chỉnh đến độ nhiều độc giả sách Mác có lẽ đã nắm ngay được luận điểm của ông cả khi không biết tại sao ông lại làm như thế.
Trong chức vụ công khai của Chúa Giê-xu, Mác đặc biệt quan tâm đến ba phần của câu chuyện: được quần chúng ưa chuộng, đào tạo một số môn đệ, và bị các cấp chính quyền chống đối. Hãy lưu ý cách Mác khôn khéo chọn lựa và sắp xếp các câu chuyện và trình bày cho chúng ta. Sau khi thông báo chức vụ công khai của Chúa Giê-xu (Mac Mc 1:14-15) câu chuyện đầu tiên ghi lại việc kêu gọi các môn đệ thứ nhất. Mô hình này sẽ được khai triển trong những đoạn tiếp theo đó (3:13-19; 4:10-12; 4:34-41 vv...) mối quan tâm lớn hơn của ông trong hai chương sách đầu tiên là về hai tiết mục kia. Bắt đầu với 1:21 đến 1:45, Mác kể lại đúng bốn câu chuyện, một ngày tại Ca-bê-na-um (1:21-28, 29-34), một vòng truyền giảng ngắn ngày hôm sau (1:35-39) và câu chuyện chữa lành cho kẻ phung (1:40-45). Mô hình chung xuyên suốt là việc danh tiếng Chúa Giê-xu đã tràn lan (xem 1:27-28, 32-33, 37, 45) mà đỉnh điểm là việc Chúa Giê-xu không thể “vào thành cách rõ ràng được nữa...và người ta từ bốn phương đều đến cùng Ngài.” Tất cả mọi việc đều xảy ra dường như khiến ta không kịp thở, thế nhưng Mác chỉ vẽ ra bức tranh này bằng bốn phần trần thuật, cộng với câu “ngay sau đó” (kế đó, cùng một lúc ấy, vừa ... 1:21, 23, 28, 29, 31, 42 một câu rất đáng tiếc là đã bị bản NIV bỏ sót) và việc hầu như ông đều bắt đầu mỗi câu bằng chữ “và” (cũng bị bản NIV bỏ sót).
Sau khi đã đặt bức tranh ấy trước mặt chúng ta rồi, Mác chọn tiếp theo đó năm loại thuật sự khác nữa, mà khi nhập chung lại với nhau, đã vẽ ra được bức tranh về sự chống đối và đưa ra các lý do cho việc ấy. Cần lưu ý là mẫu số chung cho cả bốn câu chuyện đầu tiên đều là các câu hỏi “tại sao?” (2:7, 16, 18, 24). Chúa Giê-xu sở dĩ bị chống đối vì Ngài tha tội, ngồi ăn chung với các tội nhân và chẳng đếm xỉa gì đến truyền thống kiêng ăn, và “vi phạm” luật về ngày sa-bát. Tiết mục cuối cùng này đã bị người Do Thái xem là điều sỉ nhục tệ hại nhất đối với truyền thống của họ, đã được Mác làm rõ khi ông còn thêm vào một câu chuyện nữa thuộc loại này (3:1-6).
Chúng tôi không có ý nói rằng trong tất cả các đoạn của các sách Phúc Âm, ta đều có thể vạch ra rõ ràng các mối quan tâm của tác giả cách dễ dàng như thế. Nhưng chúng tôi cho rằng đây là lối nhìn cần thiết vào các sách Phúc Âm.
Vài Ghi Nhận Về Giảng Kinh
Phần lớn các nguyên tắc giảng kinh dành cho các sách Phúc Âm là một sự kết hợp của những điều đã được đề cập trong các chương trước đây về các Thư tín và các câu chuyện lịch sử.
Những Lời Dạy và Các Mệnh Lệnh
Giả định chúng ta đã cẩn thận thực hiện công tác giải kinh, bây giờ công tác áp dụng các lời dạy và mệnh lệnh của Chúa Giê-xu trong các sách Phúc Âm cho thế kỷ thứ hai mươi sẽ được thực hiện như cách chúng ta đã làm đối với Phao-lô - hoặc Phi-e-rơ hay Gia-cơ - trong các thư tín. Ngay đến các vấn đề về tính tương đối của văn hóa cũng cần phải được đặt ra y như vậy. Ly dị rất ít khi được thừa nhận là cách lựa chọn có giá trị cho những đôi vợ chồng mà cả hai người đều theo Chúa Giê-xu - một luận điểm đã được Phao-lô nhắc đi nhắc lại trong ICo1Cr 7:10-11. Nhưng trong một nền văn hóa như tại Hoa Kỳ hiện nay, nơi có hơn phân nửa số người tin Chúa đã ly dị, thì vấn đề tái hôn có lẽ không thể được quyết định một cách thiếu suy nghĩ và không có sự quan tâm đến vấn đề cứu chuộc của những người mới ăn năn quy đạo. Một trong những câu khẳng định đầu tiên về ý nghĩa của những lời phán của Chúa Giê-xu trong một bối cảnh văn hóa khác hẳn cần phải được khảo xét thật kỹ. Cũng thế, chúng ta sẽ ít có hy vọng gặp một tên lính La Mã buộc mình phải đi cùng với hắn ta một dặm đường (Mat Mt 5:41). Nhưng trong luận điểm này của Chúa Giê-xu, “điều phụ trội Cơ Đốc” chắc chắn có thể áp dụng cho bất luận những trường hợp tương tự nào.
Thiết tưởng có một điều quan trọng cần nói ở đây. Vì nhiều mệnh lệnh của Chúa Giê-xu vốn được đặt trong văn cảnh là giải thích Luật pháp Cựu Ước, và vì đối với nhiều người những mệnh lệnh này là một lý tưởng bất khả thi, nhiều “mánh” giảng kinh (hermeneutical ploys) khác nhau đã được đưa ra nhằm “đi vòng quanh” các mệnh lệnh ấy, xem như qui luật cho Hội Thánh. Chúng tôi sẽ không dành thì giờ ở đây để phác họa và phản bác các “mánh” này, nhưng chỉ đưa ra vài ý kiến mà thôi. Chương 6 trong tác phẩm The Method and Message of Jesus Teachings của Stein cho ta một cái nhìn bao quát về điều này.
Sở dĩ một số các “mánh” giảng kinh như thế đã ra đời là vì các mệnh lệnh ấy dường như là một điều luật rất khó giữ. Hơn nữa theo Tân Ước, đời sống Cơ Đốc nhân lại đặt cơ sở trên ân điển của Đức Chúa Trời, chứ không phải trên việc tuân thủ luật pháp. Nhưng xem các mệnh lệnh như luật pháp là hiểu sai về chúng. Chúng không phải là luật pháp theo nghĩa là người ta phải giữ chúng để trở thành hay vẫn giữ được mình là Cơ Đốc nhân; sự cứu rỗi của chúng ta không tùy thuộc vào việc phải trọn vẹn tuân thủ chúng. Chúng là những phần mô tả theo cách của mệnh lệnh, điều mà đời sống của một Cơ Đốc nhân phải trở nên giống như thế vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận chúng ta rồi. Thật vậy, nền đạo đức của Nước Trời cho thời hiện đại không phải là nền đạo đức ăn miếng trả miếng (Mat Mt 5:38-42) nhưng được truyền dạy trên cơ sở tình yêu vô điều kiện của Đức Chúa Trời đối với chúng ta; và trong Nước Trời thì phải là “Cha nào con nấy.” Chính kinh nghiệm của chúng ta về sự tha thứ vô điều kiện, vô giới hạn của Đức Chúa Trời đến trước, rồi tiếp theo đó, ta phải noi gương để tha thứ người khác cách vô điều kiện, vô giới hạn. Có người đã nói rằng trong Cơ Đốc giáo thì tôn giáo là ân điển, đạo đức là lòng tri ân. Cho nên các mệnh lệnh của Chúa Giê-xu dành cho chúng ta nhưng chúng không giống như luật pháp Cựu Ước. Chúng mô tả cuộc đời mới mà tự nó vốn không phải là do chúng ta tự chọn, nhưng ta phải sống với tư cách là đứa con đã được Đức Chúa Trời yêu mến và cứu chuộc.
Truyện Ký
Truyện ký trong các sách Phúc Âm thường không chỉ có một chức năng. Chẳng hạn như các truyện tích về phép lạ đã không được chép lại để đưa ra những bài học luân lý hoặc phục vụ như những tiền lệ, trái lại, chúng giữ vai trò minh họa cho quyền năng của Nước Trời qua chức vụ của Chúa Giê-xu. Chúng có thể vừa minh họa cho đức tin, nỗi sợ hãi hay sự thất bại, nhưng đó không phải là chức năng hàng đầu của chúng. Những câu chuyện như chàng thanh niên giàu có (Mac Mc 10:17-22 và những chỗ chép về cùng một câu chuyện ấy) hay việc đòi hỏi phải được chỗ ngồi bên hữu Chúa Giê-xu (Mac Mc 10:35-45 và những chỗ tương tự) đã được đặt vào trong bối cảnh của câu chuyện để minh họa cho những gì vừa mới được truyền dạy xong. Đối với chúng tôi, sử dụng các chuyện đúng theo cách ấy có lẽ là cách giảng kinh thích hợp.
Như thế, ý chính của câu chuyện chàng thanh niên giàu có không phải là tất cả môn đệ của Chúa đều phải bán hết gia tài của cải mình có để theo Ngài. Trong các sách Phúc Âm có nhiều thí dụ cho thấy rõ sự việc không phải vậy (đ/c LuLc 5:27-30; 8:3; Mac Mc 14:3-9). Thay vào đó, câu chuyện nhằm minh họa cho việc sở dĩ những người giàu có khó vào Nước Trời chính vì họ đã tận hiến trước nhất cho thần tài, và cố tìm cách trông cậy vào đó để được an toàn. Nhưng Chúa Giê-xu dạy tiếp là tình yêu do ân điển của Đức Chúa Trời cũng có thể làm phép lạ trên kẻ giàu có nữa. Câu chuyện của Xa-chê (LuLc 19:1-10) là một thí dụ minh họa như thế.
Một lần nữa, ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của công tác giải kinh đúng, để luận điểm mà chúng ta đưa ra về những câu chuyện đúng là luận điểm mà chính sách Phúc Âm muốn đưa ra.
Điều Quan Trọng Cuối Cùng
Điều này cũng áp dụng cho phần thảo luận trước đây liên hệ đến bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, nhưng sở dĩ được đưa vào đây vì nó rất quan trọng có tính cách quyết định đối với vấn đề giảng kinh. Nó như thế này: Người ta không dám nghĩ là mình có thể giải nghĩa đúng các sách Phúc Âm nếu chưa nắm vững ý niệm về Nước Trời trong chức vụ của Chúa Giê-xu. Muốn có một phần dẫn nhập vắn tắt nhưng đầy đủ cho vấn đề này, xin xem chương 4 trong tác phẩm Method and Message của Stein. Ở đây, chúng tôi chỉ có thể đưa ra một phác thảo vắn tắt cùng với vài điểm liên hệ có ảnh hưởng đến Giảng kinh như thế nào mà thôi.
Trước hết, bạn phải biết rằng cơ cấu thần học căn bản của toàn bộ Tân Ước có tính lai thế. Lai thế liên hệ với phần kết cuộc, khi Đức Chúa Trời đưa thời đại này đến điểm kết thúc của nó (ngày tận thế). Phần lớn người Do Thái vào thời của Chúa Giê-xu mang tư tưởng lai thế, nghĩa là họ nghĩ rằng mình đang sống vào thời mà thời gian sắp kết thúc, khi Đức Chúa Trời sẽ bước vào lịch sử và chấm dứt kỷ nguyên này để đưa kỷ nguyên hầu đến vào. Từ ngữ Hi văn chỉ cái kết cuộc mà họ đang mong đợi đó là escaton. Như thế, một người mang tư tưởng lai thế có nghĩa người ấy đang trông đợi thời cuối cùng.
Niềm Hi Vọng Lai Thế của Do Thái Giáo
- Đời này (Thời đại của Sa-tan) Có đặc điểm là: tội lỗi, bệnh tật, bị quỉ ám, kẻ ác thắng thế.
- Đời hầu đến (Thời đại trị vì của Đức Chúa Trời) Có đặc điểm là: hiện diện của Đức Thánh Linh, sự công chính, sức khỏe, hòa bình.
Dĩ nhiên các Cơ Đốc nhân đầu tiên hiểu rõ quan điểm lai thế trong cái nhìn về cuộc đời. Với họ, các biến cố về Chúa Giê-xu tái lâm, sự chết và sống lại của Ngài, và việc Ngài ban Thánh Linh xuống đều có liên quan với những điều họ trông mong về cách mà sự kết thúc sẽ xảy ra.
Ngày tận thế còn có nghĩa là một khởi điểm mới - khởi điểm của thời đại mới của Đức Chúa Trời, tức thời đại của Đấng Mết-si-a. Thời đại mới còn được đề cập như là Nước Trời, nghĩa là “thời trị vì của Đức Chúa Trời.” Thời đại mới này sẽ là một thời đại của sự công chính (thí dụ EsIs 11:4-5), trong đó thiên hạ sẽ vui hưởng thái bình (thí dụ, EsIs 2:2-4). Đó là một thời mà Đức Thánh Linh sẽ đầy dẫy (Gion Gn 2:28-30) khi giao ước mới mà Giê-rê-mi từng đề cập sẽ được thực hiện (Gie Gr 31:31-34; 32:38-40). Tội lỗi và sự gian ác sẽ bị tiêu hủy (XaDr 13:1; EsIs 53:5). Cả đến cõi thọ tạo vật chất cũng cảm nhận được các tác dụng đầy hân hoan của kỷ nguyên mới này.
Vì thế khi Giăng Báp-tít thông báo sự cuối cùng đã gần lắm rồi và làm phép báp-tem cho Chúa Giê-xu, niềm tin vào ngày tận thế đã lên cao điểm. Đấng Mết-si-a đã đến, mở đầu cho thời đại mới của Đức Thánh Linh (LuLc 3:7-17).
Rồi Chúa Giê-xu đến và công bố rằng Nước Trời sắp đến cùng với chức vụ của Ngài (Mac Mc 1:14-15; LuLc 17:20-21). Ngài đã đuổi quỉ, làm phép lạ, tiếp nhận vô điều kiện những kẻ cùng đinh mạt hạng, các tội nhân - tất cả đều là những dấu hiệu cho thấy “ngày tận thế” đã bắt đầu (LuLc 11:20; Mat Mt 11:2-6; LuLc 14:21; 15:1-2). Mọi người đều nhìn chăm vào Ngài để xem Ngài quả thật có phải là Đấng phải đến hay không. Phải chăng Ngài quả thật là người đưa kỷ nguyên của Đấng Mết-si-a đến, với tất cả nét huy hoàng của nó? Thế rồi Ngài thình lình bị đóng đinh vào thập tự giá - và mọi ánh sáng đều tắt lịm.
Nhưng không, vẫn có một tiếp nối quang vinh. Đến ngày thứ ba, Ngài từ cõi chết sống lại và hiện ra với nhiều môn đồ. Chắc chắn bây giờ Ngài sẽ “phục hưng vương quốc cho dân Y-sơ-ra-ên” (Cong Cv 1:6). Nhưng thay vì làm việc ấy, Ngài đã trở về với Đức Chúa Cha và đổ Thần Linh mà Ngài đã hứa xuống. Đây là chỗ mà nhiều vấn đề đã nẩy sinh cho Hội Thánh đầu tiên và cho chúng ta. Chúa Giê-xu từng tuyên bố rằng khi Ngài đến là Nước Trời đã đến. Đức Thánh Linh đã đến, đầy quyền năng, với nhiều phép lạ dấu kỳ, và sự ra đời của giao ước mới là dấu hiệu cho thấy kỷ nguyên mới đã đến rồi. Thế nhưng, rõ ràng là ngày kết thúc cho cái kỷ nguyên này (ngày tận thế) vẫn chưa xảy ra. Họ phải hiểu việc này thế nào đây?
Ngay từ bài giảng khởi đầu của Phi-e-rơ trong Công Vụ đoạn 3, các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã nhận thức được rằng Chúa Giê-xu vẫn chưa đến để đưa phần kết thúc “cuối cùng” vào, nhưng chỉ mới là “khởi điểm” của giai đoạn cuối cùng mà thôi. Như thế, họ đã thấy được rằng với sự chết và sống lại của Ngài, và với việc Thánh Linh giáng lâm, các phước hạnh và lợi ích của cõi tương lai đã đến rồi. Do đó, theo một ý nghĩa, thì giai đoạn cuối cùng (kỳ tận thế, những ngày sau rốt) đã đến rồi. Nhưng theo một ý nghĩa khác, thì điểm cuối cùng (ngày tận thế) vẫn chưa đến một cách đầy đủ trọn vẹn. Như thể nó đã đến rồi, nhưng chưa hoàn tất.
Do đó, các tín hữu ban đầu học tập để trở thành những người mang tư tưởng tận thế thật sự. Họ đã sống giữa hai thời kỳ - nghĩa là giữa khởi điểm và kết cuộc của giai đoạn kết thúc. Tại bàn Tiệc Thánh, họ ăn mừng cuộc sống lai thế của mình bằng cách rao “sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến” (ICo1Cr 11:26). Họ đã biết sự tha tội vô điều kiện và trọn vẹn của Đức Chúa Trời, nhưng họ vẫn chưa được trọn vẹn (Phi Pl 3:7-14). Họ đã nắm được sự chiến thắng trên sự chết (ICo1Cr 3:22) nhưng sẽ vẫn còn phải chết (Phi Pl 3:20-22;). Họ đã sống trong Thánh Linh rồi nhưng họ vẫn còn sống trong thế gian, nơi mà Sa-tan vẫn còn có thể tấn công (Eph Ep 6:10-17). Họ đã được kể là công chính và không còn bị định tội nữa (RoRm 8:1) nhưng hãy còn một lần phán xét trong tương lai (IICo 2Cr 5:10). Họ là dân tộc tương lai của Đức Chúa Trời; họ đã được tương lai trang bị cho mình đầy đủ mọi điều kiện rồi. Họ đã biết rõ các lợi ích của nó, đã sống trong làn ánh sáng của các giá trị của nó rồi, nhưng họ cũng như chúng ta vẫn còn sống nhờ vào các lợi ích và giá trị đó ngay trong thế gian này. Như thế cơ cấu thần học cơ bản sau đây giúp chúng ta hiểu Tân Ước:
Quan Điểm Lai Thế của Tân Ước

ĐỜI NẦY Bắt đầu Kết cuộc
(qua đi)
ĐỜI HẦU ĐẾN (vô cùng)

Thập Tự Giá và Phục Sinh

Đã
sự công chính
bình an
sức khỏe
Thánh Linh
Vẫn chưa
sự công chính trọn vẹn
bình an trọn vẹn
không còn bệnh tật hoặc chết
tình trạng viên mãn
Chìa khóa giảng kinh cho phần lớn Tân Ước, và nhất là chức vụ và lời dạy của Chúa Giê-xu, phải được tìm thấy trong sự “giằng co” này. Chính vì Nước Trời, tức là thời trị vì của Đức Chúa Trời đã được khai mạc với chính sự ra đời của Chúa Giê-xu rồi, nên chúng ta mới được kêu gọi để sống trong Nước Trời, nghĩa là sống dưới quyền làm chủ của Ngài, được tiếp nhận và tha tội vô điều kiện, nhưng phải cam kết sống theo đạo đức của kỷ nguyên mới này, và thấy đạo đức đó vận hành ngay trong đời sống của chúng ta và trong thế giới hiện tại.
Như thế, khi chúng ta cầu nguyện “xin Nước Ngài mau đến,” nghĩa là trước hết chúng ta cầu nguyện cho sự kết thúc đó. Nhưng vì cớ Nước Trời mà chúng ta trông mong thấy được điểm kết thúc đó đã bắt đầu rồi, cho nên cùng một lời cầu nguyện như thế cũng bao gồm cả hiện tại nữa.

Những Dụ Ngôn : Bạn Có Nắm Được Luận Điểm?
Cần lưu ý rằng những điều liên hệ với lời dạy của Chúa Giê-xu trong các sách Phúc Âm đã nói trong chương 7 cũng đúng cho các dụ ngôn (parables). Thế thì tại sao các dụ ngôn lại cần thêm một chương cho riêng về các dụ ngôn trong sách này? Những câu chuyện đơn sơ, bộc trực mà Chúa Giê-xu đã kể có thể đặt ra những vấn đề gì cho người đọc hay người giải thích? Dường như không có gì khó khăn để nắm được ý chính của câu chuyện Người Sa-ma-ri Nhân Lành hay Đứa Con Trai Hoang Đàng. Chỉ cần đọc các truyện tích ấy thì người ta đã đủ cảm thấy ray rứt hay được an ủi rồi.
Thế nhưng chúng tôi muốn dùng một chương cho phần này vì các dụ ngôn thường bị giải nghĩa sai trong Hội Thánh, chỉ đứng hàng thứ hai sau sách Khải Thị, mặc dù chúng rất hấp dẫn và đơn sơ.
Các Dụ Ngôn Trong Lịch Sử
Lý do của việc giải nghĩa sai các dụ ngôn trong lịch sử có thể truy nguyên từ điều mà chính Chúa Giê-xu đã nói được ghi lại trong Mac Mc 4:10-12 (và những chỗ tương tự, Mat Mt 13:10-13; LuLc 8:9-10). Khi được hỏi về chủ đích của các dụ ngôn, dường như Ngài có ý cho rằng chúng hàm chứa nhiều huyền nhiệm cho những người ở bên trong, trong lúc làm cứng lòng những người ở bên ngoài. Vì tiếp theo đó, Ngài đã bắt đầu “giải nghĩa” dụ ngôn Người Gieo Giống bằng phương pháp bán ngụ ngôn (semi-allegorical way), điều này xem như mở đường cho lý thuyết cứng nhắc và những cách giải nghĩa theo lối ngụ ngôn (allegorical interpretations) vô tận. Các dụ ngôn vốn được xem như những câu chuyện đơn giản đối với những người ở ngoài mà với họ “ý nghĩa đích thực” hay “huyền nhiệm” vẫn bị che khuất; chúng chỉ thuộc về Hội Thánh và chỉ có thể được khám phá nhờ nghĩa biểu tượng mà thôi.
Vì thế một học giả vĩ đại và xuất sắc như Augustine đã giải nghĩa dụ ngôn về Người Sa-ma-ri Nhơn Lành như sau:
Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô = A-đam
Giê-ru-sa-lem= thành phố hoà bình trên trời, nơi từ đó A-đam đã sa xuống
Giê-ri-cô = mặt trăng, do đó có nghĩa là sự chết của A-đam
những kẻ cướp = Ma quỉ và các quỉ sứ
giựt lột hết = nghĩa là cướp đi sự bất tử của ông
đánh = bằng cách thuyết phục cho ông phạm tội
để người đó nửa sống nửa chết = Ông vẫn sống như một con người, nhưng đã chết về mặt thuộc linh, do đó là nửa sống nửa chết
Thầy tế lễ và người Lê-vi = chức vụ tế lễ và chức vụ của Cựu Ước
Người Sa-ma-ri = được bảo là Người Bảo Vệ, do đó ngụ ý chỉ chính Đấng Cứu Thế
xức chỗ bị thương rồi rịt lại = nghĩa là trói buộc sự kìm hãm của tội lỗi
dầu = niềm an ủi của hi vọng tốt đẹp
rượu = lời khuyên phải làm việc bằng một tinh thần hăng say
con vật = xác thịt của Chúa Cứu Thế nhập thể
nhà quán = hội thánh
bữa sau = sau sự sống lại
hai đơ-ni-ê = lời hứa cho đời này và đời sau
chủ quán = Phao-lô.
Dù mọi điều trên đây có thể là mới mẻ và lý thú đến đâu, ta có thể chắc chắn đó không phải là những gì Chúa Giê-xu ngụ ý muốn nói. Dù sao thì rõ ràng là văn mạch kêu gọi nên có sự nhận thức về mối liên hệ giữa con người với nhau (“ai là người lân cận tôi?”) chứ không phải là mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với loài người; và chẳng có lý do gì để nghĩ rằng Chúa Giê-xu lại tiên đoán về Hội Thánh và Phao-lô một cách bí ẩn như thế.
Thật ra người ta hết sức nghi ngờ không biết có phải hầu hết các dụ ngôn đều chỉ dành cho những người bên trong hay không. Ít ra cũng có ba trường hợp Giăng nói rõ ràng Chúa Giê-xu phán các thí dụ cho dân chúng (GiGa 15:3; 18:9; 19:11) với hàm ý rằng cần phải hiểu các dụ ngôn. Hơn nữa, thầy dạy luật được Chúa Giê-xu kể cho nghe dụ ngôn về người Sa-ma-ri Nhơn Lành (LuLc 10:25-27) đã hiểu dụ ngôn ấy, cũng như các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã hiểu dụ ngôn về những kẻ thuê vườn nho trong Mat Mt 21:45.
Nếu thỉnh thoảng chúng ta gặp rắc rối trong vấn đề hiểu các dụ ngôn, thì đó không phải vì chúng là những câu chuyện hình bóng mà chúng ta cần có những bí quyết đặc biệt để giải nghĩa, nhưng đúng hơn là vì chúng có liên hệ với một vài điều chúng tôi đã gợi ý trong chương trước về các sách Phúc Âm. Một trong những chiếc chìa khóa để hiểu là phát hiện ra thính giả ban đầu của chúng, và như đã nói, nhiều khi các dụ ngôn đến với tác giả mà không cho biết bối cảnh.
Vậy, nếu các dụ ngôn không phải là những biểu tượng bí ẩn đối với Hội Thánh, thì Chúa Giê-xu đã ngụ ý nói gì trong Mac Mc 4:10-12 khi đề cập những sự mầu nhiệm của Nước Đức Chúa Trời và mối liên hệ giữa chúng với các dụ ngôn? Rất có thể đầu mối cho câu nói này là cách chơi chữ trong tiếng A-ram mà Chúa Giê-xu dùng. Từ ngữ meqal đã được dịch ra là parabolh trong Hi văn vốn được dùng chỉ cả một loạt những cách nói thuộc loại câu đố, dụ ngôn, chứ không chỉ là loại chuyện kể như được gọi là “parables” (dụ ngôn) trong Anh ngữ. Có lẽ câu 11 có nghĩa rằng những người ngoài không nhận thấy ý nghĩa của chức vụ của Chúa Giê-xu (sự mầu nhiệm của Nước Đức Chúa Trời); đối với họ nó giống như một meqal (câu đố). Do đó, việc Ngài phán dạy bằng maqelin (parables, dụ ngôn) là một phần của meqal (câu đố) trong chức vụ toàn diện của Ngài cho họ. Họ nhìn nhưng không thấy; nghe và - thậm chí hiểu - các dụ ngôn, nhưng đã không lãnh hội được toàn bộ ý nghĩa của chức vụ của Chúa Giê-xu.
Do đó, công tác giải kinh của chúng ta dành cho các dụ ngôn cũng phải bắt đầu bằng những giả định mà chúng tôi đã đưa ra cho tất cả các thể loại khác từ trước cho đến đây. Chúa Giê-xu đã không cố tìm cách nói tối nghĩa; Ngài muốn cho mọi người hiểu mình. Nhiệm vụ của chúng ta trước hết là lắng nghe những gì họ đã được nghe. Nhưng trước khi có thể làm việc ấy, chúng ta phải bắt đầu xem xét vấn đề: Dụ ngôn là gì?
Tính Chất Các Dụ Ngôn
Các Thể Loại
Điều đầu tiên ta cần lưu ý là không phải tất cả những lời nói mà chúng ta dán lên đó cái nhãn hiệu dụ ngôn đều thuộc cùng một loại giống nhau. Có một điểm khác nhau cơ bản, chẳng hạn như giữa người Sa-ma-ri Nhơn Lành (dụ ngôn thật, true parable) ở một bên, và bên kia là Men Trong Bột (lối so sánh) và cả hai đều khác với câu nói “các ngươi là muối của đất” (hình ảnh biểu tượng, metaphor) hay “ai lại đi hái trái nho nơi bụi gai, hay trái vả nơi bụi tật lê?” (dí dỏm, trào phúng, epigram). Thế nhưng tất cả những loại đó thỉnh thoảng vẫn bị bắt gặp trong những cuộc thảo luận về các dụ ngôn.
Người Sa-ma-ri Nhân Lành là điển hình của một dụ ngôn thật. Đó là một câu chuyện thuần túy và đơn giản, có khởi đầu và kết thúc, có một tình tiết. Những dụ ngôn loại này gồm có dụ ngôn Con Chiên Lạc, Người Con Trai Hoang Đàng, Tiệc Lớn, Những Kẻ Làm Công trong Vườn nho, Người Nhà Giàu với La-xa-rơ, Mười Nữ Đồng Trinh.
Mặt khác, dụ ngôn Men Trong Bột thuộc loại so sánh nhiều hơn. Những gì đã được nói về men, người gieo giống, hoặc hột cải đều luôn đúng với men, việc gieo giống hoặc hột cải. Những “dụ ngôn” như thế thường rút ra từ sinh hoạt hằng ngày mà Chúa Giê-xu dùng để trình bày một luận điểm.
Những câu nói như “Các ngươi là muối của đất” khác với cả hai loại trên. Những cách nói ấy nhiều khi được gọi là những câu nói dụ ngôn (parabolic sayings), nhưng kỳ thật đó là những hình ảnh biểu tượng(metaphors) hay tỷ dụ (similes). Thỉnh thoảng dường như chúng có chức năng tương tự như cách nói ví von (similitude), nhưng ý chính của chúng - lý do khiến chúng được nói ra - lại rất khác nhau.
Cần lưu ý thêm rằng trong một số các trường hợp, nhất là trường hợp dụ ngôn Những Kẻ Thuê Vườn Nho Gian Ác (Mac Mc 12:1-11; Mat Mt 21:33-34; LuLc 20:9-18), một dụ ngôn có thể tiến tới rất gần với lối nói hình bóng (allegory), khi nhiều chi tiết trong một câu chuyện có ý nhằm chỉ về một điều gì khác (như việc Augustine cượng giải Người Sa-ma-ri Nhân Lành). Nhưng các dụ ngôn không phải là những câu chuyện hình bóng (allegories) - mặc dầu đôi khi chúng ta thấy dường như có những đặc điểm của một câu chuyện hình bóng. Lý do chúng ta nói như thế liên hệ đến những chức năng riêng biệt của chúng.
Vì không phải các dụ ngôn đều cùng một loại, nên không nhất thiết phải ấn định các quy luật chung cho tất cả. Những gì chúng ta bàn ở đây thuộc về các dụ ngôn thực, nhưng phần lớn những gì được đề cập cũng sẽ bao gồm tất cả các loại khác nữa.
Các Dụ ngôn Có Chức Năng Như Thế Nào
Cách tốt nhất để biết dụ ngôn là gì nằm trong chức năng của chúng. Tương phản với phần lớn các câu nói dụ ngôn (parabolic sayings), như “tìm hái trái vả nơi bụi tật lê”, các câu chuyện dụ ngôn (the story parables) không nhằm minh họa cho lời dạy của Chúa Giê-xu với những từ ngữ gợi hình. Chúng cũng không được kể ra để dùng làm phương tiện bày tỏ chân lý - tuy đến cuối cùng rõ ràng là chúng thực hiện điều đó. Đúng hơn thì câu chuyện dụ ngôn có chức năng như một phương tiện để kêu gọi sự đáp ứng của người nghe. Để diễn ý câu nói của Marshall McLuhan, bản thân dụ ngôn là một thông điệp. Dụ ngôn được kể để người nghe chú ý, ngưng các hành động riêng, hoặc khiến họ đáp ứng lại với Chúa Giê-xu và chức vụ của Ngài theo cách nào đó.
Chính tính chất “kêu gọi đáp ứng” của dụ ngôn đã khiến chúng ta gặp vấn đề nan giải quan trọng khi giải nghĩa chúng. Vì theo một vài phương diện, thì giải nghĩa một dụ ngôn là phá hủy tính cách nguyên thủy của nó. Sự việc cũng giống như giải nghĩa một lời nói đùa vậy. Toàn thể “luận điểm” của một lời nói đùa và điều khiến nó lý thú, ấy là người nghe cảm thấy mình gần gũi với điều đã được nói ra. Sở dĩ người nghe cảm thấy thú vị chính là vì người ấy đã bị câu chuyện “bắt” lấy tại chỗ. Nhưng người nghe chỉ bị “bắt” lấy khi họ hiểu được ý trong câu nói đùa. Nếu bạn phải giải nghĩa câu nói đùa bằng cách giải thích các ý được đề cập thì việc ấy không còn “bắt” lấy người nghe nữa, và do đó thường câu chọc cười không còn có cùng phẩm chất. Một khi câu nói đùa phải được giải thích, thì nó có thể được hiểu đấy, và có lẽ vẫn còn thú vị đấy (ít ra là người ta hiểu được điều mà đáng lẽ ra ta phải cười), nhưng nó không còn cùng một sức thẩm thấu như đáng lẽ phải có nữa. Cho nên nó cũng không còn “sức tác động” theo đúng chức năng của nó nữa.
Với các dụ ngôn cũng thế, khi nghe kể một dụ ngôn phần đông thính giả lúc đó có thể nhận ra ngay ý muốn nói, hay bị nó “bắt” lấy. Tuy nhiên với chúng ta, thì các dụ ngôn đã được viết lại. Chúng ta có thể hoặc không có thể nhận ngay ra được các ý muốn nói, do đó, chúng chẳng bao giờ có thể tác động trên chúng ta hoàn toàn giống như đối với các thính giả đầu tiên. Nhưng bằng cách giải nghĩa, chúng ta có thể hiểu được điều chúng muốn nói, tức hiểu được như thể chúng ta có mặt tại đó. Và đó là việc chúng ta phải làm trong công tác giải kinh. Còn công tác giảng kinh lại đi xa hơn thế nữa: Làm thế nào để chúng ta nắm được ý nghĩa của các dụ ngôn ngay trong thời đại và trong môi trường sống của chính chúng ta?
Giải Nghĩa Các Dụ Ngôn
Tìm Các Điểm Đối Chiếu
Chúng ta hãy trở lại với cách so sánh về câu nói đùa. Hai điều trong câu nói đùa buộc người nghe phải chú ý để phải đáp lại bằng tiếng cười, cũng chính là hai điều bắt buộc được người nghe phải chú ý đến các dụ ngôn của Chúa Giê-xu, đó là nhận biết được các điểm đối chiếu và chuyển biến đột ngột của câu chuyện. Bí quyết để hiểu là tìm các điểm đối chiếu, tức các phần trong câu chuyện mà người ta đồng hóa lúc câu chuyện được kể. Nếu trong một câu nói đùa ta không “nắm bắt” được các điểm đó, sẽ chẳng thể có chuyển biến bất ngờ, vì chính các điểm đối chiếu ấy là những gì tạo ra những điều khiến hiếu kỳ. Nếu ta không nắm được những điều đó trong một dụ ngôn, thì sức mạnh và luận điểm của điều Chúa nói cũng bị mất đi y như thế.
Điều chúng tôi ngụ ý muốn nói về “các điểm đối chiếu” có thể được minh họa tốt nhất từ một dụ ngôn của Chúa Giê-xu, đã được chép lại trong bối cảnh nguyên thủy của nó - là LuLc 7:40-42. Trong bối cảnh Chúa Giê-xu được một người Pha-ri-si có tên là Si-môn mời dùng bữa. Nhưng việc mời này không được cho là xứng đáng với một ra-bi nổi tiếng. Việc thiên hạ không dành cho Chúa Giê-xu sự tiếp đãi, thậm chí là phổ biến vào thời ấy chắc chắn vốn có phần nào do ý định muốn “đả đảo” Ngài. Khi cô gái điếm của thị trấn lại đến được giữa bữa tự hạ mình trước mặt Chúa Giê-xu bằng cách dùng nước mắt rửa chân cho Ngài rồi lấy tóc mình mà lau, thì điều đó chỉ làm tăng thêm mối nghi ngờ của đám người Pha-ri-si mà thôi. Chúa Giê-xu không thể là một nhà tiên tri và bỏ mặc không kết án một hành động xấu trước công chúng như thế được.
Vì biết rõ các ý nghĩ đó của họ, Chúa Giê-xu đã kể cho chủ nhà nghe một câu chuyện đơn giản. Có hai kẻ mắc nợ cùng một ông chủ nọ. Một người nợ năm trăm đơ-ni-ê (một đơ-ni-ê là tiền công một ngày lao động); người kia nợ năm mươi đơ-ni-ê. Cả hai đều không trả nổi, cho nên chủ nợ tha cho cả hai. Luận điểm: theo ý quí vị thì trong hai người đó, ai yêu ông chủ nợ hơn?
Câu chuyện chẳng cần phải giải nghĩa, tuy Chúa Giê-xu đã tiến hành nhấn mạnh luận điểm càng trực tiếp hơn nữa. Có ba điểm đối chiếu; ông chủ nợ và hai con nợ. Và việc đồng hóa đã được thực hiện ngay tức khắc. Đức Chúa Trời giống như ông chủ nợ; cô gái điếm của thị trấn và Si-môn giống với hai con nợ. Dụ ngôn này là một lời phán xét kêu gọi sự đáp ứng từ phía Si-môn. Ông ta không thể không nhận ra luận điểm. Một khi đã nhận ra được, chắc ông ta đã phải cảm thấy xấu hổ vô cùng. Đó là sức mạnh của một dụ ngôn.
Chúng ta cần lưu ý rằng người phụ nữ kia cũng nghe được dụ ngôn ấy nữa. Cô ta cũng tự đặt mình vào địa vị của các nhân vật trong câu chuyện đã được kể. Nhưng điều cô ta nghe không phải là một lời phán xét, nhưng là việc Chúa Giê-xu và Đức Chúa Trời tiếp nhận nàng.
CẦN CHÚ Ý: Đây không phải là một câu chuyện hình bóng (allegory) nhưng là một dụ ngôn (parable). Một câu chuyện hình bóng là một câu chuyện trong đó mỗi yếu tố trong câu chuyện đều ngụ ý ám chỉ một điều gì đó hoàn toàn xa lạ với chính câu chuyện. Câu chuyện hình bóng có thể gán ý nghĩa cho năm trăm đơ-ni-ê, năm mươi đơ-ni-ê, cũng như cho bất cứ các chi tiết nào khác mà ta có thể tìm thấy. Hơn nữa, điểm đặc biệt quan trọng là luận điểm của dụ ngôn không nằm trong các điểm đối chiếu như điều phải có trong một câu chuyện hình bóng. Các điểm đối chiếu chỉ là những phần trong câu chuyện thu hút người nghe, với nhân vật mà người ấy muốn đồng hóa với mình, muốn đặt mình vào địa vị của nhân vật ấy. Luận điểm của câu chuyện phải được tìm thấy nơi câu dự định trả lời. Trong dụ ngôn này, đối với Si-môn và các bạn của ông, đó là lời doán xét, và đối với người phụ nữ đó là lời tiếp nhận và tha tội.
Đồng Hóa Với Người Nghe
Trong thí dụ minh họa trên đây, chúng tôi đã chỉ ra ý nghĩa của việc đồng hóa với người nghe vì ý nghĩa của dụ ngôn liên quan với cách mà nó đã được nghe lần đầu tiên. Dĩ nhiên là với đa số các dụ ngôn, người nghe đã được nêu ra trong các phần ký thuật của sách Phúc Âm. Trong trường hợp đó, nhiệm vụ giải nghĩa là cố tìm cách kết hợp ba sự việc: (1) ngồi lắng nghe dụ ngôn nhiều lần, (2) nhận diện các điểm đối chiếu mà Chúa Giê-xu có ý muốn cho các thính giả đầu tiên nắm lấy, và (3) tìm xem các thính giả nguyên thủy tự đồng hóa vào câu chuyện như thế nào, và do đó họ đã học được điều gì.
Chúng ta hãy thử làm việc này về hai dụ ngôn nổi tiếng: Người Sa-ma-ri Nhân Lành (LuLc 10:25-37) và Đứa Con Trai Hoang Đàng (LuLc 15:11-32). Trong trường hợp Người Sa-ma-ri Nhân Lành, câu chuyện được kể cho một thầy dạy luật mà Lu-ca bảo là vì muốn tự xưng mình là công chính, đã hỏi rằng “Ai là người lân cận tôi?” Trong khi bạn đọc đi đọc lại dụ ngôn ấy, chắc bạn sẽ nhận thấy rằng nó đã không trả lời cho câu hỏi đã được đặt ra. Nhưng bằng một cách nói khôn khéo hơn, nó đã lột trần thói tự phụ tự mãn, tự cho mình là công chính của thầy dạy luật kia. Ông ta biết rõ điều Luật pháp dạy liên hệ đến việc yêu người lân cận như bản thân, và ông ta sẵn sàng định nghĩa “người lân cận” bằng những lời lẽ chứng minh rằng ông ta là người ngoan đạo, biết vâng giữ Luật pháp.
Thật ra trong câu chuyện này chỉ có hai điểm đối chiếu, con người nằm dưới hố và người Sa-ma-ri, các chi tiết khác trong dụ ngôn giúp chúng ta xây dựng phần kết quả. Có hai điểm cần đặc biệt chú ý: (1) Hai người đi tránh qua phía bên kia đường thuộc thành phần thầy tế lễ, là giai cấp tôn giáo, tương phản với các ra-bi và người Pha-ri-si, vốn là những chuyên gia luật. (2) Bố thí cho người nghèo là việc to tát của người Pha-ri-si. Đó là cách mà họ yêu người lân cận như bản thân.
Rồi hãy chú ý vị luật gia sắp bị dụ ngôn này “cho vào bẫy” như thế nào. Một người sa vào tay bọn trộm cướp trên đường đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, một biến cố hết sức phổ biến. Sau đó, hai nhân vật thuộc hàng giáo phẩm cũng đi trên cùng một con đường ấy, và tránh sang phía bên kia đường. Câu chuyện đã được kể theo quan điểm của con người đang nằm dưới hố, và bây giờ thì vị luật gia đã “vênh mặt lên.” Chắc ông ta tự nghĩ: “Lẽ tất nhiên là như thế rồi. Ai lại trông mong bọn thầy tế lễ làm khác hơn thế bao giờ? Người đi xuống tiếp theo đó sẽ là một người Pha-ri-si, và anh ta sẽ tự xem mình là người lân cận sẽ giúp đỡ cho kẻ khốn khổ kia.” Nhưng không, người ấy lại là một người Sa-ma-ri. Nếu bạn được nghe điều mà người này đã nghe, chắc bạn sẽ biết những người Pha-ri-si phải oán ghét người Sa-ma-ri như thế nào, xin chú ý là ông ta thậm chí chẳng thèm dùng tới từ người Sa-ma-ri trong đoạn cuối của câu chuyện nữa.
Bạn có thấy điều Chúa Giê-xu đã làm cho người này không? Điều răn thứ hai là hãy yêu người lân cận như bản thân. Thầy dạy luật có sẵn những hệ thống tôn giáo hạn hẹp cho phép mình yêu thương trong những phạm vi giới hạn. Việc Chúa Giê-xu làm vạch trần tấm lòng đầy thiên kiến và thù ghét của ông ta và do đó, cho ông ta thấy là ông đã không thật sự vâng giữ điều răn này. “Người lân cận” không còn có thể được định nghĩa bằng các từ ngữ giới hạn nữa. Sự thiếu tình thương của ông ta không phải ở chỗ ông ta không ra tay cứu giúp con người nằm dưới hố kia, mà là ở chỗ ông ta thù ghét người Sa-ma-ri (và khinh dể các thầy tế lễ). Thật vậy, dụ ngôn đã phá hủy câu hỏi đã được nêu ra, chứ không phải là giải đáp nó.
Cũng tương tự như thế với câu chuyện Người Con Trai Hoang Đàng. Bối cảnh là việc những người Pha-ri-si lằm bằm chuyện Chúa Giê-xu tiếp nhận và cùng ngồi ăn với loại người xấu xa. Ba dụ ngôn về các đồ vật bị lạc mất trong LuLc 15:1-32 là lời biện minh của Chúa Giê-xu cho các hành động của Ngài. Trong dụ ngôn về đứa con hư hỏng có đúng ba điểm đối chiếu, người cha và hai đứa con trai của ông ta. Do đó, một lần nữa, chỗ ta ngồi xác định cách thức chúng ta nghe, nhưng bất luận trong trường hợp nào, luận điểm vẫn như nhau: Đức Chúa Trời chẳng những tha tội vô điều kiện cho kẻ bị hư vong, mà còn hết sức vui mừng tiếp nhận họ nữa. Những kẻ tự cho mình là công chính tự chứng tỏ là mình bất chính nếu họ không chia sẻ niềm vui của người cha và đứa con hư hỏng hoang đàng kia.
Lẽ dĩ nhiên các bạn cùng ngồi đồng bàn với Chúa Giê-xu sẽ tự đặt mình vào địa vị của người con hoang đàng, và tất cả chúng ta cũng đều phải làm như thế. Nhưng đó không phải là sức mạnh thực sự của dụ ngôn. Sức mạnh thực sự của dụ ngôn nằm trong thái độ của người con trai cả. Anh ta “luôn luôn ở với cha,” thế nhưng anh ta đã tự đặt mình ra ngoài. Anh ta đã không chia xẻ tấm lòng của người cha với tình yêu đối với một đứa con hư hỏng. Như một anh bạn mới đây đã nói: Bạn có tưởng tượng nổi điều gì tệ hại hơn là trở về nhà để sa vào tay người anh cả này hay không?
Trong mỗi trường hợp trên đây, và nhiều trường hợp khác nữa, những điểm khó khăn về phương diện giải kinh mà bạn sẽ gặp nẩy sinh phần lớn từ hố văn hóa ngăn cách bạn với thính giả nguyên thủy của Chúa Giê-xu, có thể nó sẽ khiến bạn không nắm được nhiều điểm tế nhị hơn nữa liên quan với việc bạn tái xây dựng toàn thể câu chuyện. Có lẽ đây là chỗ bạn cần được sự trợ giúp từ bên ngoài. Xin đừng xao lãng những điều này, vì các tập tục văn hóa là điều giúp cho các câu chuyện nguyên thủy trở nên sống thực.
Các Dụ ngôn Không Có Bối Cảnh
Nhưng phải làm thế nào đối với các dụ ngôn không có bối cảnh lịch sử nguyên thủy trong các sách Phúc Âm. Vì chúng tôi đã minh họa cho mối bận tâm này trong chương trước qua dụ ngôn về Những Người Làm Công Trong Vườn Nho (Mat Mt 20:1-16), nên ở đây chúng tôi chỉ nhắc lại thật vắn tắt. Một lần nữa, đây là vấn đề xác định các điểm đối chiếu và thính giả đầu tiên. Bí quyết là phải đọc đi đọc lại dụ ngôn ấy cho đến khi nào các điểm đối chiếu hiện lên thật rõ ràng. Thường thường thì việc làm này cũng giúp chúng ta thấy đầu mối về những thính giả đầu tiên.
Như trong dụ ngôn Những Người Làm Công Trong Vườn Nho, chỉ có ba điểm đối chiếu ở đây: người chủ đất, các công nhân làm việc trọn ngày, và các công nhân chỉ làm việc có một giờ mà thôi. Điều này rất dễ xác nhận, vì đây là số người duy nhất được chú ý trong câu chuyện. Thính giả nguyên thủy cũng đã được xác định. Ai là người đã bị “cho vào bẫy” trong một câu chuyện như thế này? Rõ ràng là các thính giả tự ví mình như những công nhân làm việc cả ngày, vì chỉ có riêng họ mới được nhắm vào ở đoạn kết.
Luận điểm cũng tương tự như trong dụ ngôn Người Con Trai Hoang Đàng. Đức Chúa Trời vốn đầy ân sủng, và người công chính không nên lằm bằm lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trong trường hợp này, điều đã xảy ra trong văn cảnh của sách Ma-thi-ơ là cùng một luận điểm giống như thế, bây giờ, lại được nêu ra cho những thính giả mới. Trong bối cảnh nhằm đào tạo môn đệ, nó được dùng làm một lời bảo đảm cho lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời, bất chấp các thái độ nhỏ mọn hoặc thù ghét của những người khác.
Ta cũng có thể thấy cùng một sự việc giống như thế xảy ra với dụ ngôn về Con Chiên Lạc trong Mat Mt 18:12-14. Trong sách Phúc Âm Lu-ca, dụ ngôn này có cùng sức tác động với hai dụ ngôn về Đồng Bạc Mất và Người Con Trai Hoang Đàng như một lời dành cho người Pha-ri-si. Con chiên lạc rõ ràng là một tội nhân mà việc tìm thấy nó khiến cho cả thiên đàng đều vui mừng. Một lần nữa, với tư cách là một lời phán cho người Pha-ri-si, nó biện minh cho việc Chúa Giê-xu tiếp nhận đám người cùng đinh mạt hạng; nhưng khi đám người cùng đinh mạt hạng nghe thì đó là lời bảo đảm với họ rằng họ là đối tượng mà người chăn đầy tình yêu thương đang tìm kiếm. Trong sách Ma-thi-ơ, dụ ngôn này là một phần của bộ sưu tập những câu nói về các mối liên hệ trong Nước Trời. Còn trong bối cảnh mới này thì cùng một luận điểm giống như thế cũng đã được đưa ra: Đức Chúa Trời quan tâm chăm sóc người đang lạc lõng, hư vong. Nhưng ở đây “người lạc lõng hư vong” là “con chiên lạc.” Trong văn cảnh của sách Ma-thi-ơ, nó giải đáp cho câu hỏi phải làm gì cho “những bầy nhỏ” có đức tin yếu đuối, và có xu hướng đi lạc. Trong mấy câu 6-9 của Ma-thi-ơ, cả cộng đồng được truyền dạy là dừng ai trong họ thiếu trách nhiệm, trái lại phải quan tâm, đừng tạo lý do cho một “đứa trẻ” nào phải đi lạc cả. Trong các câu 10-14, dụ ngôn về Con Chiên Lạc dạy họ, về một phương diện khác, đó là phải tìm kiếm những con chiên lạc và yêu mến chúng hoặc đưa chúng trở lại với cả bầy. Cùng một dụ ngôn, cùng một luận điểm nhưng cho những thính giả mới.
Các Dụ ngôn về Nước Trời
Từ trước cho đến đây, tất cả các thí dụ minh họa của chúng ta đều được rút ra từ các dụ ngôn về sự xung khắc giữa Chúa Giê-xu với người Pha-ri-si. Nhưng còn một nhóm các dụ ngôn lớn hơn nữa - các dụ ngôn về Nước Trời - cần được đặc biệt đề cập. Thật ra tất cả các dụ ngôn mà chúng ta vừa điểm qua cũng đều là các dụ ngôn về Nước Trời. Chúng diễn tả buổi bình minh của thời kỳ cứu rỗi với sự xuất hiện của Chúa Giê-xu. Nhưng các dụ ngôn mà chúng ta sẽ đề cập ở đây là những dụ ngôn cho biết rõ rằng “Nước Trời giống như ...”
Thứ nhất, cần lưu ý rằng phần dẫn nhập “Nước Đức Chúa Trời giống như...” không nên xem là yếu tố đầu tiên được đề cập trong dụ ngôn ấy. Nghĩa là không phải Nước Đức Chúa Trời giống như một hột cải, hay một lái buôn, hoặc của báu chôn trong một cánh đồng. Câu này theo nguyên văn có nghĩa là “Nước Đức Chúa Trời giống như thế này...” Cho nên, toàn bộ dụ ngôn ấy nói cho chúng ta về một điều gì đó của bản tính Nước Trời, chứ không phải chỉ có một điểm đối chiếu hoặc một chi tiết nào đó mà thôi.
Thứ hai, chúng ta thường coi các dụ ngôn này khác với các dụ ngôn mà chúng ta vừa duyệt qua, xem đó là những phương tiện chuyển tải lời dạy dỗ hơn là những câu chuyện kêu gọi đáp ứng. Nhưng làm như thế là lạm dụng chúng. Đành rằng bộ sưu tập được linh cảm trong Mac Mc 4:1-41 và Mat Mt 13:1-58 theo cách trình bày hiện có của chúng có xu hướng dạy dỗ chúng ta về Nước Trời, nhưng nguyên thủy các dụ ngôn ấy vốn là một phần của lời công bố thật sự của Chúa Giê-xu về Nước Trời cùng xuất hiện với chính sự xuất hiện của Ngài. Bản thân chúng là phương tiện chuyển tải thông điệp kêu gọi hãy đáp lại lời mời của Chúa Giê-xu để trở thành môn đệ Ngài.
Thí dụ, hãy lấy dụ ngôn đã được giải nghĩa về Người Gieo Giống (Mac Mc 4:3-20; Mat Mt 13:3-23; LuLc 8:5-15). Mác rất đúng khi xem dụ ngôn này là chiếc chìa khóa cho các dụ ngôn khác. Bạn sẽ nhận thấy điều Chúa Giê-xu đã giải nghĩa là các điểm đối chiếu: Bốn loại đất ví như bốn loại đáp ứng với lời truyền giảng về Nước Trời. Nhưng “luận điểm” của dụ ngôn này là tính cách cấp bách của thời kỳ: “Hãy chú ý về điều các ngươi đã nghe. Lời đã được gieo ra, đó là thông điệp về Phúc Âm của Nước Trời, niềm vui về sự tha tội, sự đòi hỏi và phần thưởng cho người làm môn đệ của Chúa. Nó đã được trình bày trước mặt mọi người, vậy hãy lắng nghe, hãy chú ý; hãy trở thành loại đất tốt.” Do đó, cần lưu ý là phần lớn các dụ ngôn này đã được truyền dạy cho quần chúng đông đảo có khả năng trở thành môn đệ Ngài.
Vì các dụ ngôn này rõ ràng là các dụ ngôn về Nước Trời, nên chúng ta nhận thấy là chúng công bố rằng Nước Trời “đã/vẫn chưa” đến. Nhưng chủ điểm được nhấn mạnh là “đã...rồi”, Nước Trời đã đến rồi; giờ của Đức Chúa Trời đã điểm. Do đó, thời điểm hiện tại có tính cách vô cùng cấp bách. Tính cách cấp bách trong lời công bố của Chúa Giê-xu như thế, gồm có một sức thôi thúc song phương: (1) Sự phán xét đang treo trên đầu; cảnh tàn hại và đại họa đang ở trước cửa. (2) Nhưng cũng có Phúc Âm: sự cứu rỗi được ban cho vô điều kiện cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy xem hai dụ ngôn minh họa cho hai phương diện đó của sứ điệp.
1. Trong LuLc 12:16-20 dụ ngôn về Kẻ Nhà Giàu Dại Dột được đặt trong bối cảnh về thái độ đối với tài sản, dưới ánh sáng của sự hiện diện của Nước Trời. Dụ ngôn khá dễ hiểu. Một phú ông nọ, nhờ lao động gian khổ, nghĩ rằng mình đã bảo đảm an toàn được cho đời sống mình, nên rất tự phụ tự mãn với nếp sống an nhàn của mình. Nhưng như Chúa Giê-xu từng phán ở một chỗ khác: “Ai muốn cứu (nghĩa là bảo đảm an toàn) sự sống mình thì sẽ mất” (Mac Mc 8:35 và những chỗ tương tự). Như thế, theo ý nghĩa của Kinh Thánh, thì người này là dại dột - ông ta cố tìm cách để sống mà chẳng đếm xỉa gì đến Đức Chúa Trời cả. Tai nạn sắp thình lình ập đến trên ông ta.
Chắc bạn đã chú ý, luận điểm của dụ ngôn này không phải là cái chết bất ngờ nhưng là tính cách cấp bách của thời kỳ. Nước Trời đang gần kề. Kẻ chỉ biết sống vì của cải, vì sự an toàn của bản thân khi cái kết thúc cuối cùng đang ở trước cửa là dại dột. Cần lưu ý luận điểm này đã được sự hậu thuẫn của bối cảnh như thế nào. Một người kia muốn anh mình chia gia tài cho mình. Nhưng Chúa Giê-xu từ chối tham dự việc làm trọng tài cho họ. Luận điểm của Ngài là ham muốn tài sản là điều bất hợp thời so với tình hình hiện tại.
Đó cũng là cách chúng ta hiểu dụ ngôn Người Quản Gia Bất trung (LuLc 16:1-8), một dụ ngôn khó hiểu nhất trong các dụ ngôn. Một lần nữa, câu chuyện khá dễ hiểu. Một người quản gia đang biển thủ, hay nói khác đi là đang lãng phí tiền bạc của chủ mình. Anh ta được yêu cầu khai trình sổ sách và biết mình sắp bị đuổi việc; cho nên anh ta đã gian lận một lần nữa. Anh ta để cho các con nợ tự điều chỉnh lấy số nợ của họ, có lẽ hi vọng sẽ tự tạo cho mình nhiều bạn tốt bên ngoài. Điểm gút mắt của dụ ngôn này, và phần đông chúng ta cũng thấy khó xử nữa, là các thính giả nguyên thủy cũng trông mong anh ta bị chê trách. Nhưng thay vào đó, cái trò khỉ này lại được khen ngợi!
Chúa Giê-xu có ý nói gì khi kể một câu chuyện như thế? Rất có thể là Ngài muốn thách thức những người nghe mình về tính cách cấp bách của thời gian. Nếu họ tỏ ra bất mãn phải lẽ với một câu chuyện như thế, thì họ càng phải ứng dụng bài học ấy cho bản thân họ càng nhiều hơn biết bao! Họ đang ở vào một địa vị giống như người quản lý đã thấy cảnh tàn hại đang gần kề, nhưng cơn khủng hoảng đang đe dọa họ còn vô cùng khủng khiếp hơn. Con người ấy đã biết hành động (lưu ý là Chúa Giê-xu đã không bỏ qua cho hành động của anh ta); anh ta đã làm một việc gì đó để đối phó với hoàn cảnh của mình. Với bạn, dường như Chúa Giê-xu cũng bảo rằng thì giờ cấp bách đòi hỏi phải hành động, mọi việc đều đã sẵn sàng cả rồi.
2. Thì giờ cấp bách đòi hỏi phải có hành động ăn năn, cũng là thì giờ cứu rỗi. Như thế, Nước Trời như hiện nay, cũng là Phúc Âm. Trong hai dụ ngôn sóng đôi của Mat Mt 13:44-46 (Của Báu Chôn Trong Cánh Đồng và Viên Ngọc Quý), điểm nhấn mạnh là trên niềm vui khi tìm gặp được. Nước Trời đến với người này, còn người kia thì đi tìm nó. Họ đều vui mừng bán hết gia tài của mình để mua của báu và viên ngọc. Nước Trời là quà tặng của Đức Chúa Trời. Khám phá được Nước Trời là một niềm vui khôn tả. Chắc bạn đã chú ý là cùng một mô hình ấy cũng xuyên suốt cả ba dụ ngôn về các thứ bị mất đi trong LuLc 15:1-32 như thế nào.
Vạy đây là cách mà ta cần học tập để đọc và nghiên cứu các dụ ngôn. Không nên biến chúng thành những câu chuyện hình bóng. Chúng phải được lắng nghe - và được kêu gọi, phải đáp ứng với Chúa Giê-xu và sứ mạng của Ngài.
Vấn Đề Giảng Kinh
Công tác giảng kinh về các dụ ngôn là công tác độc đáo , vì lẽ khi được kể lần đầu tiên chúng ít khi cần được giải nghĩa. Chúng có tính gần gũi với các thính giả, nên một phần tác dụng của chúng trên họ là chúng có khả năng “bắt lấy” người nghe. Thế nhưng chúng đã đến với chúng ta bằng hình thức thành văn và cần được giải nghĩa vì chúng ta thiếu mất sự hiểu biết các điểm đối chiếu mà các thính giả đầu tiên đã có. Thế thì chúng ta phải làm sao? Chúng tôi xin gợi ý hai điều.
1. Như thường lệ, về cơ bản, chúng ta chỉ có các dụ ngôn trong các bối cảnh hiện tại của chúng trong Kinh Thánh. Các dụ ngôn đang nằm trong một văn cảnh và qua tiến trình giải kinh vừa được mô tả, chúng ta có thể khám phá được ý nghĩa của chúng, luận điểm của chúng, với một mức độ chính xác cao. Việc chúng ta cần làm tiếp theo đó là việc Ma-thi-ơ đã làm (thí dụ, Mat Mt 18:10-14; 20:1-16): Chuyển cùng luận điểm ấy sang bối cảnh của chúng ta.
Với các câu chuyện dụ ngôn, ta có thể tìm cách kể lại câu chuyện với các điểm đối chiếu mới, sao cho những người nghe chúng ta có thể cảm thấy phẫn nộ, vui mừng y như điều các thính giả đầu tiên đã trải qua vậy. Phiên bản của câu chuyện Người Sa-ma-ri Nhân Lành sau đây không được biện minh là được linh cảm nhưng hi vọng nó có thể minh họa cho một khả năng của công tác giảng kinh. Thính giả được xem là một hội chúng gồm các tín đồ Tin Lành Hoa Kỳ điển hình, trung lưu, ăn mặc chỉnh tề.
Một gia đình gồm nhiều người lôi thôi lếch thếch đang xúm xít trên lề một con đường cái vào một sáng Chúa Nhật. Rõ ràng là họ đang gặp hoạn nạn. Bà mẹ ngồi trên một chiếc va-li ọp ẹp, tóc không chải, áo quần xốc xếch, đôi mắt đẫm lệ, bồng một đứa bé hôi hám, ăn mặc mong manh và đang kêu khóc. Người cha thì râu không cạo, quần áo xuềnh xoàng, với cái nhìn tuyệt vọng trong khi cố vỗ về hai cậu nhóc khác. Bên cạnh họ là một chiếc xe hơi cổ lỗ, rõ ràng là vừa bị chết máy.
Từ đầu đường, một chiếc xe chạy đến do vị giám mục địa phương lái, ông ta đang trên đường đến ngôi nhà thờ của mình. Tuy người cha cố hết sức vẫy tay đến độ gần như điên cuồng, vị giám mục không thể để cho các giáo dân của mình phải chờ đợi, nên làm như ông ta chẳng nhìn thấy họ. Chẳng bao lâu, một chiếc xe khác đến, và một lần nữa, người cha lại cố sức vẫy tay. Nhưng chiếc xe vốn do ông chủ tịch một Hội Từ Thiện lái, và ông ta đang bị trễ trong cuộc họp với các vị chủ tịch Hội Từ Thiện khác thuộc cấp bậc tiểu bang trong một thành phố gần đó. Ông ta cũng hành động dường như chẳng nhìn thấy họ, và nhìn thẳng con đường trước mặt mình.
Chiếc xe tiếp theo do một người địa phương, công khai tự nhận là vô thần, lái đến. Cả đời ông ta chẳng bao giờ đến nhà thờ, khi thấy gia đình lâm nạn nọ, ông ta đã cho họ quá giang xe của mình. Sau khi hỏi han về nhu cầu của họ, ông ta chở họ đến một khách sạn địa phương, ông ta trả chi phí một tuần ăn ở trọ cho họ, trong khi chờ đợi người cha tìm được việc làm. Ông ta cũng trả chi phí cho người cha thuê một chiếc xe để đi tìm việc, và đưa tiền cho người mẹ mua thức ăn và quần áo mới.
Một trong hai tác giả quyển sách này đã thử kể lại câu chuyện này một lần. Phản ứng kinh ngạc và giận dữ cho thấy rõ ràng là các thính giả đã thật sự “nghe” được dụ ngôn này lần đầu tiên trong đời sống của họ. Chắc bạn đã thấy là nó trung thực với văn cảnh nguyên thủy như thế nào. Người tín đồ Tin Lành nghĩ về vị giám mục và ông chủ tịch Hội Từ Thiện nọ: “Tất nhiên rồi!” Chắc chắn là tiếp sau đó; sẽ có một người trong đám họ lái xe đến. Dù sao thì chúng ta vẫn luôn luôn trò chuyện với nhau về người Sa-ma-ri nhân lành như thể những người Sa-ma-ri là những nhân vật đáng kính trọng nhất. Nhưng sẽ chẳng có gì xúc phạm đến người trung tín đi nhà thờ hơn là khen ngợi các hành động của một kẻ vô thần, và lẽ dĩ nhiên, đó lại chính là ý nghĩ của thầy dạy luật khi nghe câu chuyện nguyên thủy.
Điều này có thể hơi nặng lời với một số người. Chúng tôi nhấn mạnh là bạn phải chắc chắn là đã giải kinh một cách cẩn trọng trước khi thử làm như thế. Nhưng kinh nghiệm của chúng tôi là phần đông chúng ta đều có một chút tự cao, và kể lại một vài dụ ngôn của Chúa Giê-xu sẽ giúp chúng ta tự nhận ra thái độ thiếu tha thứ của mình (Mat Mt 18:23-35), hoặc là thái độ tức giận của chúng ta đối với ân sủng của Đức Chúa Trời khi chúng ta muốn Ngài phải “công bằng” (Mat Mt 20:1-6) hay thái độ tự cao trong địa vị được ở trong Chúa Cứu Thế của chúng ta so với “những kẻ xấu” (LuLc 18:9-14). Chúng tôi đã không biết nên cười hay nên khóc khi nghe kể về một vị giáo viên Trường Chúa Nhật nọ, sau một tiếng đồng hồ giảng dạy thao thao bất tuyệt về dụ ngôn sau cùng này, trong đó ông ta đã giải thích cặn kẽ những lạm dụng của chủ nghĩa Pha-ri-si, đã kết luận bằng lời cầu nguyện với tất cả vẻ trang trọng của nó, rằng: “Cám ơn Chúa, vì chúng con không phải là người Pha-ri-si trong câu chuyện này!” Và chúng ta phải nhắc nhở lẫn nhau là đừng có cười quá to tiếng, kẻo e tiếng cười đó của chúng ta lại hàm ý rằng: “Cám ơn Chúa, vì chúng con không như vị giáo viên Trường Chúa Nhật nọ.”
2. Một điểm gợi ý khác nữa của chúng tôi liên quan với giảng kinh liên hệ đến sự kiện tất cả các dụ ngôn của Chúa Giê-xu đều phần nào là những phương tiện để công bố Nước Trời. Do đó, bạn cần phải dầm thấm ý nghĩa của Nước Trời trong chức vụ của Chúa Giê-xu. Về điểm này, chúng tôi rất mong bạn đọc tác phẩm The Presence of the Future của George E. Ladd (Grand Rapids: Eerdmans, 1974).
Thông điệp khẩn cấp về Nước Trời đang hiện diện và chẳng bao lâu nữa sẽ đến hồi kết thúc vẫn còn cần thiết cho thời đại chúng ta. Những ai đang cố đi tìm sự an toàn cho đời sống mình bằng của cải phải cấp tốc nghe lời phán xét đang treo ngay trên đầu mình, còn người đang bị hư vong vô vọng thì cần nghe Phúc Âm. Như Joachim Jeremias (Rediscovering the Parables - New York: Scribner, 1966, trang 181) đã nói cách hùng hồn:
Giờ kết thúc đã đến; nghĩa là chủ âm cuối cùng đã sắp được đánh lên. Kẻ mạnh sức đã bị tước vũ khí, các quyền lực của tội ác sẽ phải quy hàng; vị lương y đã đến với con bệnh, những kẻ phung đã được chữa lành, gánh nặng tội lỗi đã được cất đi, con chiên lạc đã được đưa về nhà, cánh cửa nhà Cha đã rộng mở, những kẻ nghèo khó và ăn mày đã được mời nhập tiệc, ông chủ có lòng tử tế đã trả đầy đủ tiền công cho các công nhân không xứng đáng, một niềm vui lớn đang tràn ngập trong lòng tất cả mọi người. Năm hân hỉ của Đức Chúa Trời đã đến. Vì Chúa Cứu Thế, mà vẻ oai nghiêm từng được che giấu, đã xuất hiện, chói sáng qua từng lời nói, từng dụ ngôn.

Luật Pháp: Những Qui Ước Cho Y-sơ-ra-ên

Cựu Ước chứa đựng hơn sáu trăm mệnh lệnh mà dân Y-sơ-ra-ên phải vâng giữ để chứng tỏ họ tận trung với Đức Chúa Trời. Chỉ có bốn trong số ba-mươi-chín quyển sách của Cựu Ước chứa đựng các luật lệ ấy: Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân Số Ký và Phục Truyền Luật lệ Ký. Tuy mỗi sách vừa kể cũng chứa nhiều tài liệu khác ngoài các mệnh lệnh, nhưng những sách này vẫn được gọi là các sách luật pháp. Sáng Thế Ký không có một mệnh lệnh nào được kể là một phần của hệ thống luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên, nhưng theo truyền thống vẫn được gọi là một sách luật pháp. Cho nên chúng ta có thể bắt đầu ngay để thấy rằng đã không có sự phù hợp chính xác giữa điều mà chúng ta gọi là “luật pháp” với những gì mà chúng ta gọi là “các sách luật pháp” trong Cựu Ước.
Bức tranh lại càng phức tạp hơn cho đa số Cơ Đốc nhân, đó là thỉnh thoảng vẫn có việc ám chỉ cả năm quyển sách đầu tiên của Cựư Ước, từ Sáng Thế Ký đến Phục Truyền Luật Lệ Ký, như là một “sách” mà thôi. Thí dụ như sau khi Môi-se qua đời, Giô-suê đã khuyến giục dân chúng cứ giữ lòng tận trung với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ bằng cách bảo rằng: “Quyển sách luật này chớ xa miệng ngươi. Hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong, vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước” (Gios Gs 1:8). Hơn nữa, trong Tân Ước, nhiều khi nói đến “luật pháp” là ám chỉ toàn bộ Cựu Ước, bởi vì chức năng của phần lớn các sách Cựu Ước là nhằm minh họa và ứng dụng Luật Pháp trong Ngũ Kinh (thí dụ, xem Mat Mt 5:17-18; LuLc 16:17; Tit Tt 3:9).
Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, khi Kinh Thánh đề cập đến “Luật pháp” là ám chỉ phần tài liệu bắt đầu tại Xuất 20 cho đến cuối Phục Truyền Luật Lệ Ký. Chỉ cần một cái nhìn thoáng qua phần Kinh Thánh này cũng đủ cho bạn thấy ngay rằng không phải mọi sự hàm chứa trong đó đều có hình thức của các mệnh lệnh. Nhưng phần lớn nội dung của Xuất 20 - Phục 33 đã được viết theo hình thức “luật pháp,” do đó chúng ta sẽ gọi nó là luật pháp Cựu Ước.
Vấn đề khó khăn nhất cho phần lớn các Cơ Đốc nhân liên quan với các mệnh lệnh này là vấn đề giảng kinh. Các hình thức luật pháp này ứng dụng cho chúng ta như thế nào, hay chúng có áp dụng cho chúng ta không? Vì đây là vấn đề mấu chốt, chúng tôi xin bắt đầu chương sách này bằng một vài nhận định về Cơ Đốc nhân và luật pháp, vì đến lượt nó, vấn đề này sẽ giúp ích cho chúng ta khi thảo luận giải kinh.
Cơ Đốc Nhân và Luật Pháp Cựu Ước
Nếu bạn là một Cơ Đốc nhân, bạn có phải vâng giữ luật pháp không? Nếu bạn phải giữ luật pháp, thì làm thế nào để bạn có thể thực hiện được việc ấy, vì hiện chẳng còn đền thờ hay một nơi thánh nào mà bạn có thể dâng sinh tế trên bàn thờ (LeLv 1:1-5:19)? Thật vậy, nếu bạn giết và đem thiêu những con thú như đã được mô tả trong Cựu Ước, có lẽ bạn đã bị bắt vì tội đối xử tàn bạo với loài thú! Nhưng nếu bạn không cần phải vâng giữ luật pháp Cựu Ước nữa, thì tại sao Chúa Giê-xu lại dạy: “Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn” (Mat Mt 15:18). Câu hỏi này cần một lời giải đáp, một câu trả lời đòi hỏi chúng ta phải xét đến cách mà luật pháp Cựu Ước vẫn còn là một trách nhiệm đặt trên các Cơ Đốc nhân (nghĩa là cách mà chúng ta vẫn còn bị bó buộc phải tuân thủ một mệnh mệnh nào đó, hay tất cả các mệnh lệnh, trong Xuất 20 - Phục 33).
Chúng tôi gợi ý sáu nguyên tắc đầu tiên để hiểu rõ mối liên hệ giữa các Cơ Đốc nhân với luật pháp Cựu Ước. Các chỉ dẫn này sẽ đòi hỏi phải giải thích, một số sẽ được chúng tôi đưa ngay vào dưới đây, có một số sẽ được trình bày rõ ràng hơn ở phần sau của chương này. Bản thân các hướng dẫn này nhằm giúp bạn định hướng trong cách đánh giá thích đáng đối với Luật Pháp.
1. Luật pháp Cựu Ước là một giao ước. Một giao ước là một hợp đồng ràng buộc giữa hai phía, cả hai đều có những bó buộc được nêu cụ thể trong hợp đồng. Trong thời Cựu Ước, nhiều giao ước đã được ký kết giữa một nhà vua đầy thế lực nhưng đầy lòng hào hiệp, với một thần dân (tôi tớ) thấp kém lệ thuộc vào ông ta. Chúng bảo đảm cho các quyền lợi và việc bảo vệ cho thần dân ấy. Nhưng để đáp lại, người thần dân bị bắt buộc phải tận trung với chỉ một mình nhà vua mà thôi, kèm theo lời cảnh cáo là bất kỳ một hành động bất trung nào cũng sẽ đem đến sự trừng phạt như trong giao ước đã nêu rõ. Thần dân đó phải chứng minh lòng tận trung như thế nào? Bằng cách tuân thủ các điều kiện (quy luật về cách ăn ở cư xử) mà giao ước đã vạch rõ. Bao lâu người thần dân giữ đúng các điều kiện, thì nhà vua biết rằng người ấy tận trung với mình. Tuy nhiên, khi các điều kiện bị vi phạm, thì giao ước đòi hỏi nhà vua ấy phải có biện pháp trừng phạt người thần dân.
Đức Chúa Trời đã xây dựng luật pháp Cựu Ước tương tự như các giao ước cổ xưa ấy, do đó, nó là một bản hợp đồng có tính cách bó buộc giữa Yahweh, là Chúa, và dân Y-sơ-ra-ên, là thần dân của Ngài. Đáp lại cho các lợi ích và sự bảo vệ, dân Y-sơ-ra-ên phải giữ trên sáu trăm điều kiện (tức là các mệnh lệnh) hàm chứa trong bộ luật pháp có tính cách giao ước như chúng ta thấy trong Xuất 20 - Phục 33.
Khuôn khổ của giao ước gồm sáu phần: phần mở đầu (preamble), lời nói đầu (protogue), các qui định (stipulations), các nhân chứng (witnesses), những điều thưởng phạt (sanctions) và phần kết thúc (document clause). Phần mở đầu nêu lý lịch của hai bên ký kết hợp đồng (“Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ...”), lời nói đầu đưa ra một phần lịch sử vắn tắt cách thức hai bên quan hệ với nhau như thế nào (“Ta đã đưa ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô ...”). Như chúng ta đã ghi nhận, các qui định chính là các luật lệ riêng rẽ. Các nhân chứng là những người sẽ khiến cho bản giao ước có hiệu lực (chính Đức Giê-hô-va, hoặc thỉnh thoảng là “cả trời và đất”, một cách ám chỉ toàn cõi thọ tạo của Đức Chúa Trời đều quan tâm đến việc bản giao ước phải được tuân thủ - thí dụ như PhuDnl 4:26; 30:19). Những điều thưởng phạt là các phước hạnh và lời rủa sả có chức năng thúc đẩy để bản giao ước được tuân thủ (Thí dụ LeLv 26:1-46 và PhuDnl 28:1-33:29). Phần kết thúc nhắc nhở phải thường xuyên kiểm điểm lại bản giao ước để nó khỏi bị quên đi (thí dụ, PhuDnl 17:18-19; 31:9-13). Cả lần ban hành Luật pháp đầu tiên (tại Si-na-i, XuXh 20:1-26; LeLv 27:1-34 với phần bổ sung trong Dân Số Ký), lẫn lần ban hành Luật pháp thứ hai (ngay trước cuộc chinh phục xứ Ca-na-an như trong Phục truyền) đều cho thấy khuôn khổ sáu phần này.
2. Cựu Ước không phải giao ước của chúng ta. Từ ngữ “ước” (Cựu Ước, Tân Ước) có nghĩa là giao ước. Cựu Ước là bản giao ước cũ mà chúng ta không bị bắt buộc phải vâng giữ nữa. Do đó, chúng ta không thể bắt đầu bằng cách khẳng định rằng Cựu Ước đương nhiên có tính cách bó buộc đối với chúng ta. Thật vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chẳng hề có điều kiện (nào của luật pháp) là có tính cách bó buộc đối với chúng ta trừ khi chúng được Tân Ước tái xác nhận. Nghĩa là trừ khi một điều luật Cựu Ước được tái lập hay tái ban hành trong Tân Ước, nó không còn trực tiếp bó buộc những người thuộc về Đức Chúa Trời nữa (đối chiếu RoRm 6:14-15). Từ Cựu Ước sang Tân Ước đã có sự thay đổi. Cả hai vốn không giống nhau. Điều Đức Chúa Trời trông mong nơi những người thuộc về Ngài - tức là chúng ta - có phần khác hơn các bằng chứng về sự vâng lời và trung thành mà Ngài đã trông mong nơi những người Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu Ước. Lòng tận trung vẫn còn là điều đòi hỏi, nhưng cách thức bày tỏ lòng tận trung được thay đổi một cách nào đó.
3. Rõ ràng là một số qui dịnh của Cựu Ước đã không được tái ban hành trong Tân Ước. Nếu toàn bộ các thể loại của luật pháp Cựu Ước phải có cả một quyển sách cho riêng nó, thì người ta cũng có thể tập họp một phần lớn các điều luật của Ngũ Kinh thành hai phạm trù, trong đó chẳng có phạm trù nào còn áp dụng cho Cơ Đốc nhân. Đó là (1) bộ luật dân sự của dân Y-sơ-ra-ên và (2) bộ luật về nghi lễ của dân Y-sơ-ra-ên. Bộ luật dân sự là các luật lệ nêu rõ cách hình phạt dành cho nhiều tội ác khác nhau (cả đại hình lẫn tiểu hình) vì đó một người sẽ bị bắt giữ và đưa ra xét xử trong xứ Y-sơ-ra-ên. Những điều luật như thế chỉ áp dụng cho các công dân của xứ Y-sơ-ra-ên xưa kia mà thôi, và chẳng còn có ai hiện đang sống lại là công dân của nước Y-sơ-ra-ên đời xưa. Các luật lệ về nghi lễ hình thành khối lớn duy nhất của luật pháp Cựu Ước, và được thấy trong cả sách Lê-vi Ký cũng như trong nhiều phần của các sách Xuất Ê-díp-tô Ký, Dân Số Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký. Các luật lệ này dạy người Y-sơ-ra-ên cách thức thực hành việc thờ phượng, vạch rõ mọi chi tiết từ cách thiết kế các dụng cụ thờ phượng, các trách nhiệm của các thầy tế lễ, cho đến những loại thú nào phải được dâng lên làm sinh tế, và dâng lên như thế nào. Việc tế lễ (nghi lễ giết, nấu và ăn) các con thú và chủ yếu trong cách thức thờ phượng Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Nếu không có đổ huyết thì không có sự tha tội (HeDt 9:22). Tuy nhiên, khi sinh tế chỉ-dâng-lên-một-lần-đủ-cả của Chúa Giê-xu đã hoàn tất, thì phương pháp này của Cựu Ước đã tức khắc trở thành lỗi thời. Nó không còn tiêu biểu cho cách thờ phượng của Cơ Đốc giáo nữa, tuy sự thờ phượng theo cách thức của Giao Ước mới vẫn tiếp tục.
Có nhiều điểm của thời hiện đại rất giống với loại thay đổi các qui định từ một giao ước này đến một giao ước khác. Thí dụ trong trường hợp các hợp đồng lao động, một hợp đồng mới có thể nêu ra những thay đổi trong các điều kiện làm việc, những cơ cấu quản trị khác nhau, các bậc lương bổng khác nhau, vv... Thế nhưng người ta vẫn có thể giữ lại một số các nét đặc trưng của bản hợp đồng cũ - số thâm niên, việc bỏ ngang công tác, các điều kiện chống lại việc độc đoán đình chỉ công tác, vv...,Dĩ nhiên một hợp đồng lao động ngày nay rất khó có cùng mức độ với giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên, nhưng nó là một loại giao ước, do đó có thể minh họa cho sự kiện một giao ước mới có thể rất khác với một giao ước cũ, nhưng không nhất thiết là hoàn toàn khác hẳn. Đây chính là trường hợp của hai giao ước trong Kinh Thánh.
Về vấn đề này, ta có thể hỏi phải chăng Chúa Giê-xu dạy chúng ta vẫn còn ở dưới Luật pháp, vì thậm chí một chấm một nét của Luật pháp cũng không thể bỏ đi được? Câu trả lời là không; Ngài đã không có ý nói như thế. Điều Ngài nói (xem LuLc 16:16-17) là Luật pháp không thể bị thay đổi. Luật pháp và các tiên tri đã kết thúc lúc Giăng Báp-tít bắt đầu truyền giảng Giao Ước mới, do đó, Chúa Giê-xu nhấn mạnh rằng mọi người nên nhanh chóng vào ngay Nước Trời, bằng không họ vẫn còn bị bắt buộc phải vâng giữ luật pháp cũ là điều không thể nào thay đổi. Chúa Giê-xu đã ban hành một bộ luật mới, nhưng nó không hủy bỏ bộ luật cũ, mà làm cho trọn bộ luật cũ. Bộ luật hay Giao ước Mới này có thể ban cho những người giữ nó có sự công chính vượt xa sự công chính của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ vâng giữ Giao ước Cũ hết sức nghiêm nhặt. Chúa Giê-xu đã làm trọn toàn bộ luật pháp theo Giao ước Cũ và ban hành một bộ luật mới là bộ luật của tình yêu thương (xem tiểu mục 4 dưới đây).
4. Một phần Cựu Ước được giữ lại trong Tân Ước. Đó là phần nào? Câu trả lời là một vài phương diện của bộ luật đạo đức Cựu Ước đã thật sự được giữ lại trong Tân Ước để áp dụng cho các Cơ Đốc nhân. Rõ ràng Đức Chúa Trời muốn các khía cạnh này trong bộ luật cũ cứ tiếp tục áp dụng cho toàn thể những người thuộc về Ngài qua Giao Ước Mới mà Ngài sẽ thiết lập với họ. Thật ra thì tính cách có thể áp dụng được của các điều luật như thế vốn được rút ra từ sự kiện chúng được dùng để hậu thuẫn cho hai điều luật căn bản của Giao ước Mới mà tất cả Luật pháp và các tiên tri đều lệ thuộc vào (Mat Mt 22:40): “Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (PhuDnl 6:5) và “hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình” (LeLv 19:18). Như thế, Chúa Giê-xu trích ra một vài điều luật từ Cựu Ước, cho chúng cách áp dụng mới (đọc Mat Mt 5:21-48) và tái định nghĩa chúng, để phạm vi mà chúng bao hàm được rộng rãi hơn phạm vi nguyên thủy. Cho nên chúng tôi mới nói rằng có nhiều khía cạnh chứ không chỉ nói đơn giản là bản thân các luật lệ của Cựu Ước đã được tái lập trong Tân Ước, vì chỉ có những khía cạnh của các điều luật nằm trong mệnh lệnh “yêu Chúa yêu người” mới tiếp tục ràng buộc Cơ Đốc nhân.
5. Toàn thể luật pháp Cựu Ước vẫn còn là Lời của Đức Chúa Trời cho chúng ta tuy nó không còn là điều răn của Đức Chúa Trời cho chúng ta nữa. Thánh Kinh chứa đựng đủ loại mệnh lệnh mà Đức Chúa Trời muốn cho chúng ta phải biết nhưng không nhất thiết đều nhằm vào cá nhân chúng ta. Thí dụ trong Mat Mt 11:4 chỗ Chúa Giê-xu dạy: “Hãy về thuật lại cùng Giăng những điều các ngươi nghe và thấy.” Thính giả đầu tiên của mệnh lệnh này là các môn đệ của Giăng Báp-tít. Chúng ta đọc thấy lệnh truyền này; nhưng nó không phải là một mệnh lệnh cho chúng ta. Cũng thế, thính giả ban đầu nghe đọc luật pháp Cựu Ước là dân Y-sơ-ra-ên đời xưa. Chúng ta đọc xem luật pháp ấy, nhưng đó không phải là luật pháp cho chúng ta.
6. Chỉ có những gì được tái lập một cách rõ ràng từ luật pháp Cựu Ước mới có thể được xem là một phần “luật pháp của Đấng Christ” trong Tân Ước (đ/c GaGl 6:2). Bao gồm trong loại này có Mười Điều Răn, vì chúng đã được trích dẫn theo nhiều cách trong Tân Ước như là những điều luật bó buộc đối với các Cơ Đốc nhân (xem Mat Mt 5:21-37; GiGa 7:23), và hai điều răn lớn từ PhuDnl 6:5 và LeLv 19:18. Chẳng còn có những luật lệ cụ thể nào khác của Cựu Ước có thể được chứng minh là tuyệt đối bắt buộc đối với các Cơ Đốc nhân, nhưng có giá trị để Cơ Đốc nhân biết toàn thể luật pháp.
Vai Trò Luật Pháp Trong Y-sơ-ra-ên Và Trong Kinh Thánh
Sẽ là sai lầm nếu căn cứ vào những gì chúng tôi vừa nêu ra trên đây để kết luận rằng Luật pháp chẳng còn là một thành phần có giá trị của Kinh Thánh nữa. Trong lịch sử cứu rỗi, luật pháp giữ vai trò “đưa chúng ta đến với Đấng Christ” như Phao-lô đã nói (GaGl 3:24) bằng cách chứng minh các tiêu chuẩn công chính của Đức Chúa Trời cao như thế nào, và chẳng hề có ai đáp ứng được các tiêu chuẩn đó nếu không nhờ đến sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời. Luật pháp cũng có chức năng đúng theo cách đó cho dân Y-sơ-ra-ên đời xưa. Bản thân Luật Pháp đã chẳng cứu được họ - đó là một khái niệm không phù hợp với Ngũ Kinh lẫn với các sách tiên tri. Đức Chúa Trời đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Chỉ một mình Ngài mới cung cấp phương tiện để cứu vớt họ khỏi ách nô lệ của Ai Cập, chinh phục xứ Ca-na-an, và trở thành cư dân hưng thịnh của đất hứa đó. Luật Pháp đã không làm được gì trong số các việc ấy cả. Nó chỉ tiêu biểu cho các điều kiện về lòng trung thành trong hợp đồng mà dân Y-sơ-ra-ên đã giao kết với Đức Chúa Trời thôi.
Theo ý nghĩa đó thì Luật Pháp chỉ có đó như một thứ kiểu mẫu mà thôi. Nó không phải là một bảng liệt kê đầy đủ tất cả mọi điều mà một người có thể hoặc cần phải làm để được đẹp lòng Đức Chúa Trời trong xứ Y-sơ-ra-ên đời xưa. Nói cho đúng hơn thì Luật Pháp đưa ra những tấm gương hay những kiểu mẫu cho thấy thế nào là trung thành với Đức Chúa Trời.
Luật Hiển Nhiên
Theo những gì chúng tôi vừa nói, hãy suy xét khúc sách dưới đây:
Khi các ngươi gặt lúa trong xứ mình, chớ có gặt đến cuối đầu đồng, và chớ mót lại những bông còn sót; các ngươi chớ cằn mót nho mình, đừng nhặt những trái rớt rồi, hãy để cho mấy người nghèo và kẻ khách: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Các ngươi chớ ăn trộm ăn cắp, chớ nói dối và chớ lừa đảo nhau. Các ngươi chớ chỉ danh ta mà thề dối, vì ngươi làm ô danh của Đức Chúa Trời mình: Ta là Đức Giê-hô-va. Chớ ức hiếp kẻ lân cận mình, chớ cướp giựt của họ. Tiền công của kẻ làm mướn ngươi, chớ nên để lại trong nhà mình cho đến ngày mai. Chớ nên rủa sả người điếc, chớ để trước mặt người mù vật chi làm cho người vấp té; nhưng hãy kính sợ Đức Chúa Trời ngươi: Ta là Đức Giê-hô-va (LeLv 19:9-14).
Các mệnh lệnh bắt đầu bằng hãy và chớ như trên đây là điều chúng tôi gọi là các luật hiển nhiên (apodictic laws). Chúng là các mệnh lệnh trực tiếp, được áp dụng cho tất cả mọi người, bảo cho dân Y-sơ-ra-ên biết các loại sự việc mà họ phải làm để hoàn tất phần của họ trong giao ước với Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, rõ ràng là những luật lệ đó vẫn chưa đầy đủ. Thí dụ hãy xét thật kỹ các luật lệ về phúc lợi trong gặt hái trong hai câu 9 và 10. Cần lưu ý là chỉ có các loại ngũ cốc (lúa mì, lúa mạch, vv...) và trái nho là đã được thật sự đề cập. Phải chăng điều đó có nghĩa là nếu bạn nuôi chiên hoặc hái trái vả hoặc trái ô-liu, thì bạn chẳng hề bị bó buộc gì phải chia sớt sản phẩm của mình với kẻ nghèo và khách lạ tạm trú? Phải chăng nhiều người khác phải chịu gánh nặng khiến cho hệ thống về phúc lợi mà Đức Chúa Trời đã ban truyền trong Cựu Ước, còn bạn thì có thể phủi tay? Lẽ tất nhiên là không. Luật pháp vốn có tính cách gương mẫu - nó đưa ra “một tiêu chuẩn bằng một thí dụ”chứ không phải đề cập đến mọi hoàn cảnh có thể xảy ra. Một lần nữa, hãy xét các câu 13b và 14. Luận điểm của mấy câu này là chớ giữ lại tiền công của các công nhân ăn lương công nhật, và lạm dụng người đang bị thất thế. Sự việc sẽ ra sao nếu bạn giữ tiền công của một công nhân gần suốt đêm nhưng rồi sẽ phát cho người ấy ngay trước bình minh? Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si vào thời của Chúa Giê-xu từng lý luận rằng các hành động như thế của bạn có thể được biện chính vì luật pháp dạy rõ ràng là “cho đến ngày mai.” Nhưng chủ nghĩa luật pháp hẹp hòi, ích kỷ thuộc loại này thật ra là xuyên tạc luật pháp. Các điều luật vốn có ý định trở thành một hướng dẫn đáng tin cậy để được áp dụng chung cho tất cả mọi người và mọi trường hợp - chứ không phải là một phần mô tả chính xác tất cả các tình huống mà người ta có thể tưởng tượng được là sẽ có thể xảy ra. Cũng thế, nếu bạn làm hại cho một người câm hoặc một người què hay một người tàn tật, thì phải chăng bạn vẫn giữ đúng lệnh truyền trong câu 14? Chắc chắn là không rồi. Kẻ “điếc” và kẻ “mù” chỉ là hai thí dụ chọn lọc trong tất cả những người mà khiếm khuyết thân thể của họ đòi hỏi phải được tôn trọng thay vì bị khinh dể.
Các xã hội hiện đại thường có những bộ luật tương đối đầy đủ. Thí dụ các bộ luật liên bang và tiểu bang của Hoa Kỳ có mấy ngàn điều luật cụ thể, chống lại đủ loại sự việc. Tuy thế vẫn luôn luôn đòi hỏi phải có một vị thẩm phán (và thông thường là cả một hội đồng xét xử) để quyết định cá nhân bị cáo có vi phạm một điều luật nào đó không, vì người ta không thể soạn thảo những điều luật thật đầy đủ có thể định rõ mọi trường hợp vi phạm một điều luật nào đó. Cũng thế, luật pháp trong Cựu Ước rất gần với Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ - chỉ nêu ra trong một phạm vi rộng lớn và phác thảo các đặc điểm của nền công lý và quyền tự do trong nước - hơn là với các bộ luật liên bang hoặc tiểu bang của Hoa Kỳ.
Cần lưu ý các luật hiển nhiên của Cựu Ước (tổng quát, không hoàn toàn đầy đủ) có tính cách điển hình (đưa ra những trường hợp thí dụ chứ không đầy đủ) không giúp cho người muốn tuân thủ luật được dễ dàng. Trái lại, chúng tôi đã vạch rõ rằng các luật ấy tuy có hạn chế về chữ nghĩa, nhưng thật ra rất toàn diện về tinh thần. Cho nên, nếu có người muốn phô trương tinh thần tuân thủ luật pháp Cựu Ước, thì cuối cùng chắc chắn người ấy sẽ bị thất bại. Nếu chỉ căn cứ trên những tiêu chuẩn rất cao, rất toàn diện như thế thì chẳng hề có ai luôn luôn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời được (RoRm 8:1-11). Chỉ có phương pháp của người Pha-ri-si - tuân thủ phần chữ của luật pháp chứ không phải phần tinh thần - thì mới có nhiều hi vọng thành công mà thôi. Nhưng đó mới chỉ là sự thành công theo đời này, chứ không phải là sự thành công vốn là kết quả của việc thật sự vâng giữ Luật Pháp như ý định mà Đức Chúa Trời muốn nó phải được vâng giữ (Mat Mt 23:23).
Vì vậy chúng tôi đưa ra đây một nhận xét giảng kinh sơ khởi: Luật pháp cho chúng ta thấy tự thân chúng ta không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là một nhận định mới mẻ gì. Phao-lô đã từng nói như vậy trong RoRm 3:20. Nhưng luận điểm này có thể áp dụng cho các độc giả đọc Luật Pháp, chứ không phải chỉ như một chân lý thần học. Khi chúng ta đọc luật pháp Cựu Ước, chúng ta phải khiêm hạ tự nhận mình không xứng đáng để được thuộc về Đức Chúa Trời. Chúng ta phải được cảm động để tán tụng, cảm tạ rằng Ngài đã cung ứng cho chúng ta một phương pháp để được chấp nhận trước mặt Ngài ngoài việc giữ trọn luật pháp Cựu Ước theo cách của loài người. Vì nếu không, chúng ta sẽ chẳng có hi vọng gì làm đẹp lòng Ngài được.
Luật Phán Quyết
Mặt trái của luật hiển nhiên là một loại luật khác mà chúng tôi gọi là luật phán quyết (casuistic law) xét xử tùy trường hợp. Hãy xem xét phân đoạn PhuDnl 15:12-17 dưới đây:
Khi một trong các anh em ngươi, là người Hê-bơ-rơ, bất luận
nam hay nữ, bị bán cho ngươi, thì sẽ hầu việc ngươi trong sáu
năm, song qua năm thứ bảy, ngươi phải giải phóng người. Khi
ngươi giải phóng người, chớ cho người đi ra tay không. Phải cấp
cho người một vật chi, hoặc trong bầy mình, hoặc của sân đạp
lúa mình, hoặc của hầm rượu mình, tức là cấp cho người vật bởi
trong của cải mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước
cho ngươi. Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô,
và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi; bởi cớ ấy,
ngày nay ta truyền cho ngươi làm các điều này. Nhưng nếu kẻ
tôi mọi ngươi nói rằng: Tôi không muốn đi ra khỏi nhà chủ - vì
nó mến ngươi và gia quyến ngươi, lấy làm thỏa lòng phục dịch
ngươi - thì bấy giờ, ngươi phải lấy một cái dùi, để tai người kề
cửa mà xỏ, vậy người sẽ làm tôi tớ ngươi luôn luôn. Ngươi cũng
phải làm như vậy cho tớ gái mình.
Những yếu tố trong một điều luật như thế này vốn có điều kiện. Điều luật này chỉ được áp dụng trong trường hợp (1) bạn, một người Y-sơ-ra-ên, có ít nhất là một nô lệ, hoặc (2) bạn, một người Y-sơ-ra-ên, có một nô lệ muốn hoặc không muốn tự nguyện tiếp tục làm nô lệ cho bạn sau khi đã hết hạn làm nô lệ mà luật pháp qui định. Nếu bạn không phải là một người Y-sơ-ra-ên hoặc không có nô lệ, thì điều luật này không áp dụng cho bạn. Nếu bản thân bạn là một nô lệ, thì điều luật này, vì chỉ nhằm vào trực tiếp ông chủ của bạn nên chỉ áp dụng gián tiếp cho bạn, ở chỗ nó bảo vệ các quyền lợi của bạn. Nhưng điều luật này không có hiệu lực cho tất cả mọi người. Nó có điều kiện - căn cứ trên một điều kiện có thể có mà nó có thể hoặc không thể ứng dụng với một người nào đó vào một thời điểm nào đó.
Những luật phán quyết hoặc tùy trường hợp này chiếm phần lớn trong số hơn sáu trăm mệnh lệnh trong Ngũ Kinh trong Cựu Ước. Điều lý thú là chẳng có một điều nào trong số đó được tái lập trong Giao Ước Mới. Vì những luật lệ như thế chỉ áp dụng cho sinh hoạt dân sự, tôn giáo và đạo đức của người Y-sơ-ra-ên, và vì tính chất giới hạn của chúng nên không thể áp dụng cho Cơ Đốc nhân. Vậy thì một Cơ Đốc nhân có thể học hỏi từ các điều luật phán quyết này những nguyên tắc giảng kinh nào? Khi đọc PhuDnl 15:12-17, chúng tôi ghi nhận một số điểm sau:
Thứ nhất, tuy có thể chúng ta không có nô lệ, chúng ta có thể thấy việc Đức Chúa Trời cho phép chế độ nô lệ dưới Giao Ước Cũ không phải là một quy tắc tàn bạo, cay nghiệt. Nếu căn cứ vào một điều luật như thế chúng ta khó có thể biện minh cho chế độ nô lệ trong phần lớn lịch sử thế giới. Trả tự do cho các nô lệ chỉ sau sáu năm phục dịch đã qui định giới hạn nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng nô lệ, vượt khỏi các giới hạn hợp lý của nó.
Thứ hai, chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời yêu thương các nô lệ. Tình yêu đó của Ngài được thấy trong những bảo vệ chặt chẽ ghi ngay trong luật cũng như trong hai câu 14 và 15, đòi hỏi phải có lòng hào hiệp đối với nô lệ, vì Đức Chúa Trời vẫn xem dân Y-sơ-ra-ên của Ngài như là một dân tộc từng bị nô lệ.
Thứ ba, chúng ta được học biết rằng chế độ nô lệ nhẹ nhàng đến nỗi thật ra các nô lệ cảm thấy thoải mái dưới ách nô lệ hơn là được tự do. Nghĩa là người chủ phải thi hành những ràng buộc là phải cung cấp cái ăn cái mặc và chỗ ở cho các nô lệ của mình, và trong nhiều trường hợp phải chăm sóc để họ sống mạnh khỏe nữa. Nếu bị bỏ mặc các nô lệ có thể bị chết đói; hoặc có lẽ là phải lõa lồ nếu thiếu các điều kiện sống còn dưới những điều kiện kinh tế khắc nghiệt trong xứ Palestine xưa kia.
Thứ tư, theo ý nghĩa đích thực của nó, thì chủ nô không thật sự có quyền sở hữu trên nô lệ của mình. Ông ta là chủ nô, chịu ràng buộc bởi những hạn chế được nêu rõ hoặc ám chỉ trong một số luật lệ khác liên quan đến chế độ nô lệ. Quyền lực của ông ta trên người nô lệ không phải là tuyệt đối dưới Luật Pháp. Đức Chúa Trời là chủ nhân của cả chủ nô lẫn người nô lệ. Ngài đã cứu chuộc (mua lại) toàn thể người Hê-bơ-rơ như câu 15 vạch rõ, và đòi hỏi chủ quyền trên mọi người, cả nô lệ lẫn tự do.
Bốn nhận định trên đây là những bài học có giá trị cho chúng ta. Điều luật của PhuDnl 15:12-17 không phải là một mệnh lệnh trực tiếp cho chúng ta hoặc liên hệ đến chúng ta không phải là vấn đề quan trọng. Vấn đề quan trọng là chúng ta có thể học hỏi được bao nhiêu về Đức Chúa Trời từ điều luật này, về các đòi hỏi phải công bằng, về các lý tưởng của Ngài trong xã hội của người Y-sơ-ra-ên, và về mối liên hệ giữa Ngài với con dân Ngài, nhất là trong mối liên hệ với ý nghĩa “cứu chuộc.” Do đó, điều luật này cung cấp cho chúng ta (1) một phần quan trọng của bối cảnh cho sự dạy dỗ về sự cứu chuộc trong Tân Ước, (2) một bức tranh rõ ràng về thế nào chế độ nô lệ của Cựu Ước vốn khác hẳn với những gì chúng ta thường suy nghĩ về chế độ nô lệ và (3) một viễn cảnh tình yêu của Đức Chúa Trời mà chúng ta không thể có nếu sự việc đã xảy ra khác đi. Nói cách khác, khúc sách bàn về luật pháp này vẫn còn là Lời quý báu của Đức Chúa Trời cho chúng ta, tuy rõ ràng nó không phải là một mệnh lệnh (điều răn) của Đức Chúa Trời cho chúng ta.
Tuy nhiên, không phải mọi điều về chế độ nô lệ trong xứ Y-sơ-ra-ên xưa kia đều có thể được biết nhờ điều luật này. Thí dụ, một vài quy luật về các nô lệ gốc Dân Ngoại có nội dung khác hơn. Dĩ nhiên, toàn bộ luật lệ về nô lệ trong Ngũ Kinh nhập chung lại vẫn chỉ mới chạm đến phần trên bề mặt mà thôi. Rõ ràng là số vài trăm luật lệ chỉ có chức năng kiểu mẫu, nghĩa là như những thí dụ về cách người ta phải ăn ở cư xử, chứ không phải là nói hết tất cả. Nếu ngay đến các bộ luật hình sự và dân sự hiện đại với hàng ngàn quy chế cá nhân còn không thể đưa ra tất cả những chỉ dẫn cho một xã hội, thì không nên hiểu luật pháp Cựu Ước như là bao hàm tất cả. Tuy nhiên, vì nó chứa đựng các loại tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời đã định cho con dân Ngài vào thời Cựu Ước, nó phải mang tính giáo huấn cho chúng ta khi chúng ta muốn làm theo ý chỉ Ngài.
Luật Pháp Cựu Ước và Các Bộ Luật Cổ Xưa Khác
Dân Y-sơ-ra-ên không phải là dân tộc duy nhất sống theo luật pháp. Nhiều bộ luật khác đã tồn tại trong các dân tộc cổ xưa, thậm chí còn sớm hơn cả lúc Luật pháp được ban bố cho dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se (1440 T.C. hoặc muộn hơn tùy theo niên đại của việc Xuất Ai Cập). Khi đối chiếu các bộ luật này với luật pháp Cựu Ước, thì rõ ràng luật pháp Cựu Ước hơn các bộ luật có trước nó. Ta sẽ quí trọng luật Cựu Ước hơn nếu nhận ra được chỗ khác nhau giữa luật ấy với các bộ luật cổ xưa. Nói như thế, chúng tôi không hề ngụ ý bảo rằng luật pháp Cựu Ước là tiêu chuẩn cao nhất về giáo huấn luân lý hoặc đạo đức. Dĩ nhiên tiêu chuẩn đó chỉ có với lời truyền dạy của chính Chúa Cứu Thế trong Tân Ước. Nhưng luật pháp Cựu Ước đã chứng tỏ vượt xa các tiêu chuẩn đã được đề ra trước đó.
Chẳng hạn hãy xét hai bộ luật. Bộ thứ nhất trích từ Luật Eshnunna, một bộ luật của người Akkadian có niên đại khoảng năm 1800 T.C.:
“Nếu một người nam chẳng có thù oán gì với một người tự do khác, nhưng lại bắt đứa nô lệ gái của người tự do kia, giam giữ kẻ bị bắt trong nhà mình và gây ra cái chết cho nó; người ấy phải giao hai nô lệ gái cho chủ của đứa nô lệ gái kia để bồi thường. Nếu anh ta chẳng có thù oán gì với người kia mà lại bắt vợ hoặc con của một người thuộc giai cấp cao hơn và gây ra cái chết cho họ, thì đó là một trọng tội. Kẻ bắt người đó phải chết” (Eshnunna, các điều luật 23, 24; bản dịch của tác giả, trích dẫn bởi J. B. Pritchard, ed. Ancient Near Eastern Texts Relating to the Old Testament; 3d ed; Princeton: University Press, 1969, tr. 162).
Đoạn thứ hai trích từ Luật Hammurabi nổi tiếng. Hammurabi là một vịvua người Ba-by-lôn đã “ban hành luật pháp cho xứ ấy” năm 1726 T.C.:
“Nếu một người tự do quý tộc đánh con gái của một người quý tộc khác khiến nàng bị sẩy thai, người ấy phải trả mười siếc lơ bạc cho bào thai của nàng. Nếu người phụ nữ ấy chết, họ phải xử tử con gái người kia. Nếu do một đòn đánh mạnh, anh ta làm cho con gái một thường dân bị sẩy thai, anh ta phải trả năm siếc-lơ bạc. Nếu người phụ nữ ấy chết, anh ta phải trả 1/2 mina bạc. Nếu anh ta đánh nữ nô lệ của một người quý tộc và khiến nàng sẩy thai, anh ta phải trả hai siếc-lơ bạc. Nếu người nữ nô lệ kia chết, anh ta phải trả 1/2 mina bạc (Hammurabi, các điều luật 209-14, bản dịch của tác giả; trích dẫn bởi J. B. Pritchard, ed. Ancient Near Eastern Texts Relating to the Old Testament, 3d ed, Princeton University Press, 1969, tr. 175).
Có nhiều vấn đề nên được xem trong các bộ luật này, nhưng chúng tôi muốn lưu ý một vấn đề cá biệt: những phân biệt giai cấp ghi rõ trong đó. Cần chú ý là các điều luật chỉ truyền phạt tiền đối với tội gây chết một nô lệ hay một thường dân, trong khi hình phạt đối với việc làm chết một thành viên của giới quý tộc mới là án chết. Cũng cần ghi nhận là các nam thành viên của giới quý tộc, trên thực tế, được miễn bị trừng phạt cá nhân nếu người bị hại là một phụ nữ. Cho nên trong nhóm các điều luật thứ hai (Hammurabi, các điều luật 209-14), thậm chí khi một người nam quý tộc gây ra cái chết cho con gái của một người nam quý tộc khác, bản thân anh ta vẫn chẳng phải chịu đau đớn gì. Thay vào đó, con gái anh ta lại bị xử tử. Cũng thế, trong loạt các điều luật thứ nhất (Eshnunna, các điều luật 23, 24), cái chết của một nô lệ chỉ được bồi thường bằng giá mua hai nô lệ. Kẻ giết người thì được tự do.
Vậy trong những bộ luật như thế, phụ nữ và nô lệ bị đối xử như tài sản. Thiệt hại cho cả hai hạng người đó đều bị xử lý y như cách xử lý thiệt hại đối với một con vật hoặc một tài sản vật chất được xử lý căn cứ theo các điều luật khác trong những bộ luật ấy.
Luật pháp Cựu Ước là một bước nhảy vọt thật xa vượt lên trước các bộ luật kia về phương diện đạo đức. Việc cấm sát nhân tuyệt đối không phân biệt giới tính hay địa vị xã hội. “Ngươi chớ giết người” (XuXh 20:13). “Kẻ nào đánh chết một người sẽ bị xử tử” (XuXh 21:12). Còn về vấn đề bồi thường vì gây thương tổn cho các nô lệ cũng hoàn thiện hơn. “Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay gái mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng” (XuXh 21:27). Nói chung trong Cựu Ước, nô lệ có quy chế rất khác với quy chế dành cho họ trong các bộ luật trước đó. “Khi tôi tớ trốn khỏi chủ mình chạy đến nhà ngươi, chớ nộp nó lại cho chủ; nó sẽ ở lại với ngươi tại giữa xứ ngươi; trong nơi nào nó chọn, tức trong một thành nào của ngươi mà nó lấy làm ưa thích chớ hà hiếp nó” (PhuDnl 23:15-16). Và tương phản với đề nghị trong các điều luật của Hammurabi cho phép một người quý tộc buộc con gái mình phải chịu xử tử vì cái chết mà chính anh ta gây ra, thì luật pháp Cựu Ước đã vạch rõ ràng “chớ vì con mà giết cha, cũng đừng vì cha mà giết con. Phàm người nào phạm tội thì phải giết người ấy” (PhuDnl 24:16).
Ích Lợi Của Luật Pháp Cựu Ước Cho Dân Y-sơ-ra-ên
Luật Pháp hoàn toàn không có khả năng ban sự sống vĩnh hằng và sự công chính đích thực trước mặt Đức Chúa Trời. Nó không được thiết lập nhằm những chủ đích như thế. Ai cố tìm cách để được cứu rỗi hoặc được Đức Chúa Trời tiếp nhận chỉ nhờ vào Luật pháp mà thôi thì nhất định phải bị thất bại, vì người ta không tài nào giữ nổi luật pháp - ít nhất là vào một lúc nào đó trong đời sống, người ấy bắt buộc phải vi phạm một trong các điều luật của nó (RoRm 2:17-28; 3:20). Và chỉ vi phạm một điều luật mà thôi thì theo định nghĩa, ta đã là “kẻ phạm luật” rồi (Gia Gc 2:10).
Thế nhưng một khi các chủ đích riêng của nó đã được hiểu đúng, thì Luật Pháp có thể được xem là có lợi ích cho người Y-sơ-ra-ên, một điển hình kỳ diệu về lòng nhân từ thương xót và ân sủng của Đức Chúa Trời cho dân Ngài. Xin đọc dưới ánh sáng ấy khi bạn gặp các loại luật pháp mà chúng tôi đã nêu ra để làm mẫu ở đây.
Các Luật Về Thực Phẩm
Thí dụ: “Con heo, nó có móng rẽ, chân chia hai nhưng không
nhơi, nên hãy cầm nó là loài vật không sạch” (LeLv 11:7).
Các luật lệ về thức ăn, như việc cấm ăn thịt heo (LeLv 11:7) không phải do ý định độc đoán và tùy hứng của Đức Chúa Trời muốn hạn chế khẩu vị của dân Y-sơ-ra-ên. Trái lại, chúng nhằm một chủ đích nghiêm chỉnh muốn bảo vệ cho họ. Phần lớn các thức ăn bị cấm là những thức ăn (1) rất có thể gây bệnh trong vùng khí hậu khô cằn của sa mạc Si-nai hay của xứ Ca-na-an; (2) nếu phải nuôi dưỡng để làm thức ăn trong bối cảnh đất đai cá biệt của sa mạc Si-nai hoặc của xứ Ca-na-an thì quả thật là ngông cuồng về mặt kinh tế; (3) những thực phẩm dành cho các của lễ tôn giáo của những nhóm người mà dân Y-sơ-ra-ên không nên bắt chước các tập quán hành đạo của họ. Hơn nữa, căn cứ vào sự kiện mà các công trình nghiên cứu y dược ngày nay cho thấy các thức ăn có thể dị ứng đối với nhiều sắc dân khác nhau, chắc chắn các luật lệ về thực phẩm là nhằm bảo vệ cho dân Y-sơ-ra-ên khỏi một số những trường hợp dị ứng đó. Sa mạc không có nhiều nhụy hoa để gây rắc rối cho đường hô hấp của dân Y-sơ-ra-ên, nhưng nó có một số thú vật mà thịt có thể gây tổn hại cho hệ thần kinh. Điều đặc biệt lý thú cần ghi nhận là nguồn thịt chủ yếu cho dân Y-sơ-ra-ên - con chiên (cừu) - ít có tính chất dị ứng nhất trong số các loại thịt chính theo các chuyên gia về tính dị ứng thực phẩm.
Các Luật Về Việc Làm Đổ Máu
Thí dụ XuXh 29:10-12: “Đoạn, hãy dắt con bò tơ đực lại gần
trước Hội Mạc, A-rôn cùng các con trai người sẽ nhận tay mình
trên đầu con bò đó. Ngươi hãy giết bò đực trước mặt Đức Giê
hô-va, tại nơi cửa Hội Mạc; rồi lấy huyết bò đó, nhúng ngón tay
vào, bôi các sừng của bàn thờ, và đổ khắp dưới chân bàn thờ.”
Những luật lệ như thế này quy định một tiêu chuẩn quan trọng cho dân Y-sơ-ra-ên. Tội lỗi đáng bị trừng phạt. Qua Luật Pháp, Đức Chúa Trời tiết lộ cho dân Ngài rằng kẻ nào phạm tội chống lại Đức Chúa Trời thì chẳng còn xứng đáng được sống nữa. Nhưng Ngài cũng cung ứng một phương thức để tội nhân có thể thoát chết: một sự đổ máu để thay thế. Cho nên Đức Chúa Trời chấp nhận cái chết của một sinh vật khác - một con thú - thay cho cái chết của tội nhân giữa vòng con dân Ngài. Hệ thống tế lễ của Luật Pháp đưa phương thức này vào sinh hoạt của dân Y-sơ-ra-ên. Nó là một phần cần thiết cho sự tồn tại của dân chúng: “không có huyết thì không có sự tha thứ” (HeDt 9:22). Điều quan trọng nhất là các luật lệ đòi hỏi một sinh tế thay thế đã đặt ra một tiền lệ cho công lao cứu chuộc để thay thế của Đấng Christ. Nguyên tắc đã được nhấn mạnh trong HeDt 9:22 là một nguyên tắc đúng theo Kinh Thánh. Sự chết của Đấng Christ đáp ứng trọn vẹn đòi hỏi của Luật Pháp, và là nền tảng cho việc chúng ta được Đức Chúa Trời tiếp nhận. Luật pháp Cựu Ước được dùng làm một bối cảnh sinh động cho biến cố vĩ đại ấy của lịch sử.
Những Cấm Đoán Bất Thường
Thí dụ: PhuDnl 14:21
“...Ngươi chớ nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.”
Có lẽ bạn thắc mắc “Việc làm đó có gì sai trái?” Và tại sao điều luật này cũng như nhiều điều luật khác như “các ngươi chớ để loài vật khác giống phủ lẫn nhau” hay “chớ gieo ruộng ngươi hai thứ giống” hoặc “chớ mặc mình bằng áo dệt nhiều thứ chỉ” (LeLv 19:19) trong luật pháp Cựu Ước?
Câu trả lời là những cấm đoán này và nhiều cấm đoán khác nhằm cấm dân Y-sơ-ra-ên tham gia những tập tục thờ cúng thần phì nhiêu của người Ca-na-an. Dân Ca-na-an tin vào điều gọi là ma lực đồng cảm, tức ý niệm cho rằng các hành động biểu tượng có thể gây ảnh hưởng trên các thần và cõi thiên nhiên. Họ tưởng rằng nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó là một “phù phép” bảo đảm cho bầy súc vật của họ cứ tiếp tục sinh sôi nẩy nở. Ghép các súc vật, hạt giống, hoặc các đồ vật lẫn nhau được cho là “ghép giống” chúng với nhau bằng phép thuật để “sinh con đẻ cái,” nghĩa là được nông sản dư dật trong tương lai. Đức Chúa Trời đã và sẽ không ban phước cho dân Ngài nếu họ làm những điều vô nghĩa như thế. Biết rõ mục đích của các luật lệ nhằm giữ cho dân Y-sơ-ra-ên khỏi tôn giáo của dân Ca-na-an vốn không cung ứng sự cứu rỗi sẽ giúp bạn thấy rằng chúng không phải là những điều luật độc đoán, nhưng cần thiết, lợi ích, và đầy ân sủng.
Luật Pháp Đem Phước Lành Cho Những Ai Vâng Giữ
Thí dụ: PhuDnl 14:28-29: “Cuối hạn ba năm, ngươi phải lấy một phần mười của huê lợi năm ấy ra, chừa tại trong thành mình. Bấy giờ, người Lê-vi, vốn không có phần chi, cũng chẳng hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi, luôn với người khách, kẻ mồ côi, và người góa bụa ở trong thành ngươi, sẽ đều đến ăn cho no nê, hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho mọi công việc tay ngươi đã làm.”
Mọi luật lệ của dân Y-sơ-ra-ên đều nhằm đem lại phước hạnh cho con dân của Đức Chúa Trời (LeLv 26:3-13). Tuy nhiên, có một vài điều luật đề cập cụ thể rằng ai giữ chúng thì sẽ được phước. Luật về phần mười của năm thứ ba trong PhuDnl 14:28-29 xác nhận người tuân thủ sẽ được phước. Nếu dân chúng chẳng quan tâm chăm sóc cho số người nghèo thiếu giữa vòng họ - người Lê-vi, cô nhi và quả phụ, thì Đức Chúa Trời không thể cho họ được thịnh vượng. Một phần mười hoa lợi vốn thuộc về Ngài, và Ngài ấn định cách phải sử dụng nó. Nếu lệnh truyền này bị vi phạm, thì đó là tội trộm cắp tiền của Đức Chúa Trời. Điều luật này đem lợi ích đến cho những người nghèo thiếu (hệ thống phúc lợi của Cựu Ước được thiết kế hoàn chỉnh), và cả lợi ích cho những người làm thương xót những kẻ nghèo thiếu nữa. Một điều luật như thế không có tính hạn chế, cũng không nhằm mục đích trừng phạt. Trái lại, nó là một phương tiện giúp thực hành tốt, và như thế cũng dạy dỗ chúng ta cũng như dân Y-sơ-ra-ên đời xưa.
Tóm Tắt: Một Số Điều Nên và Không Nên Làm
Nhằm cô đọng một vài điều được nói đến trong chương này, chúng tôi trình bày ở đây một bảng liệt kê vắn tắt những hướng dẫn giảng kinh mà chúng tôi hi vọng sẽ giúp ích cho bạn khi bạn đọc luật pháp trong Ngũ Kinh của Cựu Ước. Nếu ghi nhớ các nguyên tắc này khi đọc, bạn có thể tránh việc ứng dụng sai Luật pháp, đồng thời thấy được đặc tính giáo huấn và xây dựng đức tin của Luật pháp.
1. Hãy xem luật pháp Cựu Ước như là lời linh cảm của Đức Chúa Trời cho bạn.
Đừng xem luật pháp Cựu Ước như mệnh lệnh trực tiếp cho bạn.
2. Hãy xem luật pháp Cựu Ước là nền móng cho Giao Ước Cũ, và như thế là nền móng cho lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên.
Đừng xem luật pháp Cựu Ước là sự ràng buộc đối với các Cơ Đốc nhân trong Giao Ước Mới, ngoại trừ khi nó được tái xác nhận cụ thể.
3. Hãy nhìn thấy công lý, tình yêu và các tiêu chuẩn cao của Đức Chúa Trời được mặc khải trong luật pháp Cựu Ước.
Đừng quên nhìn thấy rằng lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời cũng ngang hàng với tính cách nghiêm khắc của các tiêu chuẩn.
4. Đừng xem luật pháp Cựu Ước là đầy đủ. Nó không có tính toàn diện theo cách chuyên môn. Hãy xem luật pháp Cựu Ước như kiểu mẫu - cung cấp nhiều thí dụ cho toàn thể cách ăn ở phải có.
5. Đừng mong đợi Luật pháp Cựu Ước được các nhà tiên tri hoặc Tân Ước trích dẫn thường xuyên. Nên nhớ rằng cốt tủy của Luật pháp (Mười Điều Răn và hai điều luật chủ yếu) đã được nhắc lại trong các sách tiên tri và được tái lập trong Tân Ước.
6. Hãy xem luật pháp Cựu Ước là món quà hào phóng được ban cho dân Y-sơ-ra-ên , đem cho họ nhiều phước hạnh khi họ vâng giữ. Đừng xem luật pháp Cựu Ước như một tập họp các quy tắc độc đoán, nhàm chán, hạn chế quyền tự do của con người.


Sách Tiên Tri: Tuân Hành Giao Ước Trong Y-sơ-ra-ên
Những sách trong Kinh Thánh được xếp vào danh mục các sách tiên tri nhiều hơn bất kỳ danh mục nào khác. Có bốn sách đại tiên tri (Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên) và mười hai sách tiểu tiên tri (sau sách Đa-ni-ên cho đến hết phần Cựu Ước), được viết trong xứ Y-sơ-ra-ên đời xưa, giữa khoảng 760-460 T.C., gồm một loạt sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời. Sở dĩ gọi các sách tiểu tiên tri, chỉ vì các sách ấy tương đối ngắn, còn các sách đại tiên tri đều là những quyển tương đối dài. Các tên gọi này tuyệt đối không liên quan gì đến tầm mức quan trọng của các sách.
Tính Chất của Lời Tiên Tri
Chúng ta cần lưu ý rằng các sách tiên tri thuộc thể loại khó đọc, khó hiểu hoặc khó giải nghĩa nhất trong Kinh Thánh. Lý do là vì những hiểu lầm liên hệ dến chức năng và hình thức của chúng. Nhưng trước khi thảo luận hai vấn đề này, thiết tưởng cần có vài nhận xét sơ khởi.

Ý Nghĩa của Lời Tiên Tri
Đối với hầu hết độc giả hiện đại, khó khăn chủ yếu do hiểu không chính xác từ ngữ tiên tri. Với một số đông người thì từ ngữ này được hiểu theo định nghĩa đầu tiên trong phần lớn các từ điển: “Nói trước hay tiên báo điều sắp xảy đến.” Vì thế nhiều Cơ Đốc nhân chỉ tham khảo các sách tiên tri để tìm những lời tiên báo về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu hoặc một vài nét đặc trưng của thời đại Giao Ước Mới - xem những lời tiên báo về các biến cố từ rất xa xưa so với thời đại của chính họ là mối quan tâm chủ yếu của các sách Tiên Tri. Thật ra, sử dụng các sách tiên tri theo cách đó là quá hạn hẹp, chọn lọc. Liên hệ với vấn đề này, chúng ta hãy xem các bảng thống kê sau đây: Chưa tới 2% lời tiên tri trong Cựu Ước đề cập Đấng Mết-si-a; chưa tới 5% đề cập cụ thể kỷ nguyên Giao Ước Mới; chưa tới 1% liên quan đến các biến cố sẽ xảy ra.
Dĩ nhiên các nhà tiên tri có tiên báo về tương lai, nhưng thông thường thì đó là tương lai gần của các quốc gia Y-sơ-ra-ên, Giu-đa và các lân bang của họ, chứ không phải là thông báo về tương lai của chúng ta. Do đó, một trong những cách để chúng ta hiểu được các sách Tiên Tri và thấy các lời tiên tri của họ ứng nghiệm là chúng ta phải nhìn lui lại các thời kỳ mà đối với họ vẫn còn là tương lai, nhưng với chúng ta thì đã là quá khứ.
Các Tiên Tri Là Những Phát Ngôn Nhân
Xem việc tiên báo biến cố tương lai như là nhiệm vụ hàng đầu của các tiên tri là hiểu sai vai trò chính của họ là thay mặt Đức Chúa Trời để truyền cho những người đồng thời với họ. Chính bản chất “được nói ra” của các lời tiên tri khiến chúng ta gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu chúng.
Thí dụ, trong số hàng trăm tiên tri trong xứ Y-sơ-ra-ên đời xưa vào thời Cựu Ước, chỉ có 16 người được chọn để những sấm truyền (thông điệp từ Đức Chúa Trời) của họ được sưu tập và viết thành sách. Chúng ta biết rằng nhiều nhà tiên tri khác, như Ê-li và Ê-li-sê, rất có ảnh hưởng trong việc ban phát Lời Đức Chúa Trời cho dân Ngài và cho nhiều quốc gia khác ngoài xứ Y-sơ-ra-ên. Nhưng chúng ta biết về các tiên tri đó nhiều hơn là biết lời nói của chính họ. Những gì họ làm được mô tả nhiều hơn là những gì họ nói, và những gì họ nói đã được tác giả ký thuật các câu chuyện trong Cựu Ước sắp đặt thật cụ thể và rõ ràng trong bối cảnh đương thời của họ. Trong số rất ít các nhà tiên tri như Gát (ISa1Sm 22:1-23; IISa 2Sm 24:1-22 v.v...), Na-than (IISa 2Sm 7:1-29; 12:1-31; IVua 1V 1:1-53 v.v...) hay Hun-đa (IIVua 2V 22:1-20), chúng ta thấy lời tiên tri được kết hợp với tiểu sử - giống như trường hợp của Giô-na và trong một phạm vi hạn hẹp hơn là Đa-ni-ên. Nhưng nói chung thì trong các sách ký thuật của Cựu Ước, chúng ta được nghe về các tiên tri, nhưng được nghe rất ít từ các tiên tri. Tuy nhiên, trong các sách tiên tri chúng ta được nghe lời từ Đức Chúa Trời qua các tiên tri, nhưng được nghe rất ít về chính họ. Sự khác biệt này rất quan trọng trong vấn đề làm thế nào để các sách tiên tri trong Cựu Ước có ý nghĩa.
Hơn nữa, có bao giờ bạn chú ý là rất khó đọc một lần từ đầu chí cuối bất kỳ một sách tiên tri hơi dài nào hay không? Tại sao như vậy? Theo chúng tôi nghĩ thì trước nhất có lẽ vì chúng vốn không được viết với ý định được đọc như thế. Phần lớn các quyển dài hơn này vốn là những bộ sưu tập những lời sấm truyền (collections of spoken oracles), không phải lúc nào cũng được trình bày theo thứ tự thời gian nguyên thủy của chúng, vì thường không có những dấu hiệu cho thấy khi nào một sấm truyền kết thúc và một sấm truyền khác bắt đầu, và cũng thường không có những dấu hiệu về bối cảnh lịch sử của chúng. Hơn nữa, phần lớn các sấm truyền lại được công bố bằng thơ! Chúng tôi sẽ nói thêm về điểm này dưới đây.
Vấn Đề Lịch Sử
Khoảng cách lịch sử là một vấn đề rắc rối khác khi chúng ta tìm hiểu các tiên tri. Dĩ nhiên, là các độc giả hiện đại chúng ta sẽ thấy khó hiểu Lời của Đức Chúa Trời trong thời đại hiện tại của mình hơn là người Y-sơ-ra-ên cũng nghe cùng những lời lẽ giống y như thế do chính các tiên tri nói ra. Những điều vốn rõ ràng với họ thường tối nghĩa với chúng ta. Tại sao vậy? Một phần vì thính giả nghe trực tiếp một diễn giả thì có nhiều lợi thế hơn những độc giả đọc lời của một diễn giả cách gián tiếp (những gì đã được đề cập liên hệ đến các dụ ngôn trong chương 8). Nhưng đó chưa thật sự là nguyên nhân của phần lớn các khó khăn. Nói đúng hơn, là những người sống rất xa với sinh hoạt tôn giáo, lịch sử và văn hóa của dân Y-sơ-ra-ên đời xưa, chúng ta gặp rắc rối lớn khi muốn đặt lời của các tiên tri đã nói vào đúng bối cảnh của chúng. Thường thì chúng ta khó mà thấy rõ điều họ đề cập hoặc tại sao.
Chức Năng của Lời Tiên Tri
Muốn hiểu điều Đức Chúa Trời phán dạy chúng ta qua các sách được linh cảm này, trước hết chúng ta phải hiểu rõ vai trò và chức năng của các tiên tri trong dân Y-sơ-ra-ên. Có ba điều sau đây cần được nhấn mạnh:
Các nhà tiên tri là những người trung gian củng cố việc thực thi giao ước. Trong chương trước, chúng tôi đã giải thích luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên là một giao ước giữa Đức Chúa Trời và con dân Ngài. Giao ước này chẳng những có các luật lệ phải vâng giữ, mà còn mô tả các loại trừng phạt mà Đức Chúa Trời sẽ áp dụng đối với dân Ngài nếu họ không tuân giữ Luật Pháp, cũng như các phước hạnh Ngài sẽ ban cho họ nếu họ tuân thủ. Các trừng phạt thường được gọi là “những lời rủa sả” giao ước, còn các lợi ích là “những phước hạnh.” Tên gọi không quan trọng. Điều quan trọng là Đức Chúa Trời không những chỉ ban bố luật pháp, mà còn thi hành, làm cho nó trở thành có hiệu lực. Việc thi hành tích cực là ban phước, việc thi hành tiêu cực là rủa sả. Đây là chỗ để nhà tiên tri tham dự vào. Qua trung gian các tiên tri, Đức Chúa Trời công bố việc thi hành (tích cực hoặc tiêu cực) luật pháp của Ngài, để dân Ngài hiểu rõ các biến cố ban phước hay rủa sả. Môi-se là người trung gian của luật pháp Đức Chúa Trời khi lần đầu tiên Ngài công bố điều đó, và như thế, ông là một kiểu mẫu cho các nhà tiên tri. Họ là những người đứng trung gian hay phát ngôn nhân của giao ước. Qua họ, Đức Chúa Trời nhắc nhở dân Ngài trong các thế hệ sau Môi-se rằng nếu Luật Pháp được vâng giữ, hậu quả sẽ là phước hạnh; bằng không thì sẽ là sự trừng phạt.
LeLv 26:1-13; PhuDnl 4:32-40; 28:1-14 liệt kê các phước hạnh sẽ được ban cho dân Y-sơ-ra-ên nếu họ trung tín giữ Luật Pháp. Nhưng các phước lành này được công bố kèm theo một lời cảnh cáo; nếu dân Y-sơ-ra-ên không vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời, các phước lành sẽ bị ngưng lại. LeLv 26:14-39; PhuDnl 4:15-28 và cả đoạn 28:15-32:42 liệt kê các loại trừng phạt (rủa sả) mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ chịu nếu họ vi phạm Luật Pháp.
Do đó, ta phải ghi nhớ rằng các nhà tiên tri không tự đặt ra các phước hạnh và lời rủa sả mà họ công bố. Có thể họ dùng lời lẽ của họ để mô tả các phước hạnh và lời rủa sả nhằm khiến bắt phục người nghe theo như điều họ được linh cảm. Nhưng họ chỉ nói lại “lời của Đức Chúa Trời” chứ không phải là tự nói theo ý mình. Qua các tiên tri, Đức Chúa Trời công bố ý định của Ngài muốn thực thi giao ước, phước hạnh hay rủa sả, tùy thuộc lòng trung thành của dân Y-sơ-ra-ên, nhưng bao giờ cũng dựa trên và phù hợp với các phước hạnh và rủa sả đã có sẵn trong LeLv 6:1-30; PhuDnl 4:1-49; 28:1-32:52. Nếu bạn bỏ công nghiên cứu các chương sách ấy, bạn sẽ được phần thưởng là hiểu rõ lý do các tiên tri đã nói như vậy.
Nói cách vắn tắt thì điều ta tìm thấy sẽ như thế này: Luật pháp hàm chứa một vài loại phước hạnh thuộc thể cho người trung tín giữ luật pháp: sự sống, sức khỏe, sự thịnh vượng, mùa màng bội thu, được tôn trọng, được an toàn. Phần lớn các phước lành cụ thể đã được đề cập đều thuộc vào một trong sáu nhóm tổng quát. Về những lời rủa sả, luật pháp mô tả các trừng phạt đối với thân thể mà chúng ta sẽ thấy dễ nhớ nếu tập họp chúng lại dưới mười tiểu mục là sự chết, bệnh tật, hạn hán, đói kém, nguy hiểm, hủy diệt, bại trận, bị lưu đày, bần cùng và bất hạnh. Phần lớn các lời rủa sả đều thuộc vào một trong các loại này.
Những phước lành và rủa sả này cũng được áp dụng cho những gì Đức Chúa Trời phán truyền qua các tiên tri. Thí dụ khi Ngài muốn báo trước phước hạnh tương lai cho quốc gia (không phải cho một cá nhân) qua tiên tri A-mốt, Ngài đã dùng các hình ảnh ví von trong nông nghiệp về mùa màng bội thu, đời sống, sức khỏe, sự thịnh vượng, được tôn trọng, sự an toàn (AmAm 9:1-15). Khi Ngài thông báo tai họa cho quốc gia không chịu vâng lời vào thời của Ô-sê, Ngài đã làm việc ấy là tùy theo một hoặc nhiều trường hợp hơn nữa trong số các tai họa vừa được liệt kê ở phần trên (nghĩa là sự hủy diệt trong OsHs 8:14 hay lưu đày trong OsHs 9:3). Những lời rủa sả ấy thường có nghĩa bóng, tuy chúng cũng có thể là theo nghĩa đen. Chúng luôn liên quan đến hợp đoàn, ám chỉ toàn thể quốc gia. Các phước lành và rủa sả không bảo đảm sự thịnh vượng hay đói khổ cho bất kỳ một cá nhân cụ thể nào. Căn cứ vào các bảng thống kê, thì phần lớn những gì các nhà tiên tri công bố vào các thế kỷ thứ tám, thứ bảy, và đầu thế kỷ thứ sáu trước Chúa đều là lời rủa sả, vì lần thua trận và bị hủy diệt chính của vương quốc miền Bắc đã không xảy ra trước năm 722 T.C.; còn lần bại trận và bị hủy diệt chính của vương quốc miền Nam (Giu-đa) thì đã không xảy ra trước năm 587 T.C. Dân Y-sơ-ra-ên (cả ở miền Bắc lẫn miền Nam) đều lao đầu vào sự trừng phạt trong thời kỳ ấy, cho nên theo lẽ tự nhiên, những lời cảnh cáo rủa sả chứ không phải là phước hạnh đã bộc khởi vì Đức Chúa Trời muốn cho dân Ngài ăn năn. Sau khi cả hai vương quốc miền Bắc và miền Nam đều bị hủy diệt, nghĩa là sau năm 587 T.C., các tiên tri thường chuyển sang nói về các phước hạnh nhiều hơn là rủa sả. Sở dĩ như thế vì một khi việc trừng phạt dân Ngài đã hoàn tất, thì Đức Chúa Trời lại bắt đầu kế hoạch căn bản của Ngài là tỏ ra nhân từ khoan dung (xem PhuDnl 4:25-31).
Trong khi đọc các sách tiên tri, bạn nên tìm khuôn mẫu đơn giản này: (1) Việc chỉ ra tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên hoặc tình yêu của Đức Chúa Trời đối với họ; (2) một lời tiên báo rủa sả hay phước lành tùy theo hoàn cảnh. Phần lớn thì đó là điều mà các nhà tiên tri ngụ ý muốn nói tùy theo linh cảm của Đức Chúa Trời cho họ.
Thông điệp của các tiên tri không phải là của riêng họ, nhưng là của Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời đã dấy các tiên tri (đối chiếu XuXh 3:1tt EsIs 6:1-13; Gie Gr 1:1-19; Exe Ed 1:1-3:27, OsHs 1:2; AmAm 7:14-15; Gion Gn 1:1 ...). Nếu một người tự phong cho mình chức vụ tiên tri, thì đó là lý do chính đáng để người ấy bị xem là tiên tri giả (Gie Gr 14:14; 23:21). Các tiên tri là người đáp lại tiếng gọi của Đức Chúa Trời. Từ ngữ Hy-bá-lai chỉ tiên tri (nàbì’) vốn ra từ động từ semitic có nghĩa là “gọi” (nàbù’). Trong khi đọc các sách tiên tri bạn hãy lưu ý là các tiên tri đều viết ở lời nói đầu, ở phần kết thúc, hoặc thường xuyên chấm dứt các sấm truyền của họ bằng những lời nhắc nhở như “Đức Giê-hô-va phán như vầy” hoặc “Đức Giê-hô-va phán vậy.” Trong phần lớn các trường hợp, một thông điệp tiên tri được trực tiếp truyền lại dường như nó được tiếp nhận từ Đức Giê-hô-va ở ngôi thứ nhất, cho nên Đức Chúa Trời tự xưng là “Ta” hoặc “của Ta.”
Chẳng hạn Gie Gr 27:1-28:17. Nhiệm vụ khó khăn của Giê-rê-mi là truyền lại cho người Giu-đa một điều cần thiết, đó là họ phải đầu hàng các đạo quân của kẻ thù, tức vua Ba-by-lôn, nếu họ muốn được đẹp lòng Đức Chúa Trời. Những người nghe ông, hay phần đông trong đám họ, đều xem thông điệp ấy tương đương với tội phản quốc. Tuy nhiên, lúc truyền lại bức thông điệp ấy, ông nói rõ rằng điều họ nghe đó không phải là ý kiến của ông về vấn đề ấy, nhưng đó là ý định của Đức Chúa Trời. Ông bắt đầu bằng cách nhắc nhở họ rằng “Đức Giê-hô-va phán cùng tôi...” (27:2) rồi trích dẫn lệnh truyền của Đức Chúa Trời “Hãy gởi (lời) cho...” (27:3); “khá dặn họ tâu...rằng...” (27:4) và thêm “Đức Giê-hô-va phán” (27:11). Lời ông nói đó là Lời Đức Chúa Trời. Nó được truyền lại bằng uy quyền của Đức Chúa Trời, chứ không phải của riêng ông (28:15-16).
Là những phương tiện chuyển tải Lời của Đức Chúa Trời đến cho cả dân Y-sơ-ra-ên lẫn các dân tộc khác, các nhà tiên tri giữ một chức vụ xã hội. Họ giống như các đại sứ đến từ thiên đình truyền lại ý chỉ của Đức Chúa Trời là Đấng cầm quyền tể trị cho dân chúng. Các tiên tri không phải là những nhà cải cách xã hội, cũng chẳng phải các nhà tư tưởng tôn giáo muốn canh tân triệt để. Các cải cách xã hội và tư tưởng tôn giáo mà Đức Chúa Trời muốn truyền dạy cho dân Ngài vốn đã được mạc khải trong luật pháp có tính cách giao ước rồi. Bất kể nhóm người nào vi phạm các luật lệ ấy, theo Lời Đức Chúa Trời qua nhà tiên tri, đều bị trừng phạt. Cho dù các vua (thí dụ IISa 2Sm 12:1-14; 24:11-17; OsHs 1:4), hay hàng giáo phẩm (OsHs 4:4-11; AmAm 7:17; MaMl 2:1-9) hoặc bất kỳ một nhóm người nào vi phạm giao ước, nhà tiên tri đều trung tín truyền lại cho họ thông điệp của Đức Chúa Trời về lời nguyền rủa đối với mọi người. Theo lời của Đức Chúa Trời, thậm chí các tiên tri đã thiết lập hoặc truất ngôi nhiều vua (IVua 1V 19:16; 21:17-22) và tuyên chiến (IIVua 2V 3:18-19; IISu 2Sb 20:14-17; OsHs 5:5-8) hoặc phản đối chiến tranh (Gie Gr 27:8-12).
Vậy, những điều chúng ta đọc thấy trong các sách tiên tri không phải chỉ như Lời của Đức Chúa Trời như nhà tiên tri đã nhìn thấy, mà còn là Lời Đức Chúa Trời theo cách Đức Chúa Trời muốn cho nhà tiên tri trình bày ra. Nhà tiên tri không hề tự mình hành động hay nói ra.
Thông điệp của các tiên tri không phải là nguyên bản. Các nhà tiên tri được Đức Chúa Trời linh cảm để trình bày nội dung cốt yếu của những phước lành và rủa sả của giao ước. Do đó, khi chúng ta đọc lời tiên tri, thì những gì chúng ta đọc đó chẳng có gì thật sự mới mẻ cả, mà chỉ là một thông điệp mà bản chất giống hệt với những gì Đức Chúa Trời đã cậy Môi-se phán truyền. Dĩ nhiên phần hình thức của thông điệp có thể thay đổi. Đức Chúa Trời đã dấy các tiên tri là để cho con dân Chúa chú ý đến người đã được sai đến với họ. Được dân chúng chú ý có thể bao gồm việc sắp xếp lại các câu nói và đặt lại cấu trúc điều gì đó mà họ đã từng được nghe nhiều lần rồi, khiến nó có được một thứ “mới mẻ” nào đó. Nhưng thật ra đó không phải là bắt đầu một thông điệp mới hay sửa đổi thông điệp cũ. Các nhà tiên tri không được linh cảm để đưa ra một luận điểm hay thông báo một giáo lý nào chưa từng có trong giao ước của Ngũ Kinh.
Chẳng hạn, nửa phần đầu của OsHs 4:2, “Ở đó chỉ thấy những sự thề gian, thất tín, giết người, ăn trộm và tà dâm.” là một thí dụ cho việc bảo tồn thông điệp của Chúa. Trong câu này, vốn là một phần của một đoạn dài mô tả tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên vào thời của Ô-sê (750-722 T.C.), năm trong số mười điều răn đã được tóm tắt, mỗi điều răn chỉ bằng một chữ kép duy nhất. Đó là “thề gian,” điều răn thứ ba “ngươi chớ lấy danh Đức Giê-hô-va mà làm chơi” (XuXh 20:7; PhuDnl 5:11). “Thất tín,” điều răn thứ chín, “ngươi chớ nói chứng dối...” (XuXh 20:16; PhuDnl 5:20). “Giết người,” điều răn thứ sáu “ngươi chớ giết người” (XuXh 20:13; PhuDnl 5:17). “Ăn trộm,” điều răn thứ tám “ngươi chớ trộm cướp” (XuXh 20:15; PhuDnl 5:18). “Tà dâm,” điều răn thứ bảy “ngươi chớ phạm tội tà dâm” (XuXh 20:14; PhuDnl 5:18).
Điều lý thú là nhà tiên tri không làm điều đáng lý ra phải làm, nghĩa là Ô-sê không trích dẫn nguyên văn Mười Điều Răn. Ông đề cập năm trong số các điều răn chỉ bằng cách tóm tắt vào một chữ kép mà thôi, rất giống với việc Chúa Giê-xu đã làm trong LuLc 18:20. Nhưng đề cập năm điều răn dù là không theo đúng thứ tự thông thường của chúng là một phương pháp rất kiến hiệu để truyền thông cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng họ đã vi phạm Mười Điều Răn. Vì ngay khi được nghe năm trong số mười điều răn, kẻ nghe sẽ nghĩ rằng: “Thế còn các điều răn khác thì sao? Thứ tự bình thường của chúng là thế nào? Lời lẽ trong nguyên văn là...” Thính giả sẽ bắt đầu suy nghĩ về tất cả Mười Điều Răn, tự nhắc nhở điều mà luật pháp của giao ước nhân danh sự công chính mà kêu gọi họ. Ô-sê chẳng hề thay đổi một điều gì trong Luật Pháp cả, chẳng hề làm gì nhiều hơn điều Chúa Giê-xu đã làm khi ông trích dẫn năm trong Mười Điều Răn để tạo được cùng một tác dụng tương tự. Nhưng ông đã ghi khắc Luật Pháp vào lòng thính giả bằng một phương pháp mà nếu chỉ đơn giản nhắc lại từng chữ từng tiếng một, có lẽ đã chẳng bao giờ có tác dụng như thế.
Một thí dụ thứ hai liên quan đến các lời tiên tri về Đấng Mết-si-a. Chúng có phải là mới không? Không hề! Những chi tiết về cuộc đời và vai trò của Đấng Mết-si-a mà chúng ta thấy trong Các Bài Ca của Người Đầy Tớ trong EsIs 42:1-25; 49:1-50:11 và 53:1-12 có thể được xem là mới. Nhưng Đức Chúa Trời đã không đưa khái niệm về một Đấng Mết-si-a đến cho dân Ngài lần đầu tiên thông qua các tiên tri. Thật ra nó đã bắt nguồn với Luật Pháp. Nếu không phải là như thế, thì làm thế nào Chúa Giê-xu lại mô tả cuộc đời của Ngài đã làm trọn những gì đã được viết “trong Luật Pháp Môi-se, các sách Tiên tri, và sách Thi Thiên” (LuLc 24:44)? Trong số nhiều phần khác nữa của Luật pháp Môi-se báo trước chức vụ của Đấng Mết-si-a, PhuDnl 18:18 là một câu nổi bật: “Ta sẽ lập lên cho chúng một đấng tiên tri như ngươi, thuộc trong anh em chúng, ta sẽ lấy các lời ta để trong miệng người, thì người sẽ nói cho chúng mọi điều ta phán dặn người.”
GiGa 1:45 cũng nhắc nhở chúng ta rằng Luật Pháp đã nói về Đấng Christ. Các tiên tri chẳng nói điều gì mới mẻ về Chúa Giê-xu. Ngũ Kinh không giới hạn cách thức, văn phong và tính cách đặc thù mà họ dùng để diễn đạt những tiên đoán được linh cảm. Nhưng thật ra, việc phải có một Giao Ước Mới được thiết lập do một nhà “Tiên Tri” mới (dùng lời lẽ của PhuDnl 18:1-22) đã là một câu chuyện cũ.
Công Tác Giải Kinh
Cần Được Trợ Giúp Từ Bên Ngoài
Trong chương 1, chúng tôi đã cho bạn thấy một số người quan niệm mọi sự trong Kinh Thánh phải rõ ràng cho tất cả những người đọc nó, chẳng cần phải nghiên cứu, cũng chẳng cần bất luận sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Lý do đưa ra là nếu Đức Chúa Trời đã viết Kinh Thánh cho chúng ta (toàn thể các tín hữu), thì chúng ta phải có khả năng thông hiểu nó ngay lần đầu tiên chúng ta đọc nó, vì chúng ta có Đức Thánh Linh bên trong. Quan niệm như thế là sai lầm. Nhiều phần trong Kinh Thánh chỉ rõ ràng trên bề mặt, nhưng nhiều phần khác thì không. Các tư tưởng của Đức Chúa Trời vốn sâu nhiệm vô cùng so với ý nghĩ của con loài người (Thi Tv 92:5; EsIs 55:8), do đó đừng ngạc nhiên khi có vài phần trong Kinh Thánh đòi hỏi phải có thì giờ và nghiên cứu kiên nhẫn mới có thể hiểu được.
Các sách tiên tri đòi hỏi thì giờ và công phu để nghiên cứu. Người ta vẫn thường xem các sách tiên tri, như thể chỉ cần đọc lướt qua thì có thể hiểu cách thấu đáo. Người ta không thể có được điều đó với các sách giáo khoa của nhà trường, thì cũng không thể với các sách tiên tri.
Thiết tưởng chúng tôi cần nhắc lại ở đây là có ba nguồn trợ giúp đang ở trong tầm tay bạn, đặc biệt là với việc giải nghĩa các sách tiên tri. Nguồn thứ nhất là các bộ Thánh Kinh Tự Điển cung cấp bối cảnh lịch sử của từng sách, bố cục cơ bản của nó, các nét đặc trưng ẩn chứa trong đó, và các vấn đề về giải nghĩa mà mỗi độc giả phải biết. Bạn nên tập thói quen đọc một bài viết trong Thánh Kinh Tự Điển về một sách tiên tri nào đó trước khi bạn bắt đầu nghiên cứu sách ấy. Bạn cần biết số thông tin liên hệ đến bối cảnh trước khi có thể nắm được luận điểm của phần lớn những gì nhà tiên tri muốn truyền đạt. Lời Đức Chúa Trời qua các tiên tri đến với mọi người trong những hoàn cảnh cá biệt. Giá trị của nó cho chúng ta tùy thuộc một phần vào khả năng hiểu rõ các hoàn cảnh ấy, để đến lượt mình, chúng ta có thể ứng dụng cho hoàn cảnh cá biệt của chúng ta.
Nguồn trợ giúp thứ hai là các sách giải nghĩa. Các bộ sách này cung cấp nhiều phần dẫn nhập dài cho từng sách, có phần giống với các bộ Thánh Kinh Từ Điển. Tuy thường ít được sắp xếp kỹ lưỡng nhưng điều quan trọng là chúng cung cấp nhiều phần giải nghĩa cho nhiều câu riêng biệt. Chúng có thể trở thành cần thiết nếu bạn muốn nghiên cứu kỹ một phần tương đối nhỏ của một sách tiên tri, nghĩa là ít hơn một chương mỗi lần.
Nguồn trợ giúp thứ ba là những cuốn Thánh Kinh Đại Cương. Quyển sách tốt nhất thuộc loại này kết hợp các nét đặc trưng của các quyển Thánh Kinh Tự Điển lẫn các sách chú giải, tuy không đi sâu vào các chi tiết như các tài liệu dẫn nhập, cũng không giải nghĩa từng câu một. Tuy nhiên mỗi lần đọc nhiều chương của một sách tiên tri, thì một sách Thánh Kinh Đại Cương có thể cung cấp rất nhiều hướng dẫn hữu ích với số thì giờ tối thiểu.
Bối Cảnh Lịch Sử
Chắc bạn còn nhớ trong phần nghiên cứu về Chúa Giê-xu (chương 7) “bối cảnh lịch sử” ám chỉ cả phần đấu trường rộng lớn trong đó Chúa Giê-xu đã đến, lẫn bối cảnh cụ thể của bất kỳ một việc làm hay câu nói nào của Ngài. Cũng vậy, đối với các sách tiên tri, bối cảnh lịch sử có thể bao quát (thời đại của chúng) hoặc đặc thù (bối cảnh của từng lời sấm truyền). Muốn thực hiện tốt công tác giải kinh đối với tất cả các sách tiên tri., bạn cần hiểu rõ cả hai loại bối cảnh lịch sử này.
Bối Cảnh Bao Quát. Điều lý thú đáng ghi nhận là mười sáu sách tiên tri của Cựu Ước đã ra đời từ một giai đoạn có thể nói là nhỏ hẹp trong toàn cảnh lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, nghĩa là từ khoảng 760-460 T.C. Tại sao chúng ta lại không có các sách tiên tri ngay từ thời của Áp-ra-ham (khoảng năm 1800 T.C.) hoặc từ thời của Giô-suê (khoảng 1400 T.C.), hay vào thời của Đa-vít (khoảng 1000 T.C.)? Phải chăng Đức Chúa Trời đã không phán dạy dân Ngài và thế giới của họ trước năm 760 T.C.? Tất nhiên câu trả lời là Ngài có làm việc ấy, và chúng ta đã có rất nhiều tài liệu trong Kinh Thánh về các thời kỳ đó, kể cả một số tài liệu đề cập các tiên tri (thí dụ IVua 1V 17:1-24; IIVua 2V 13:1-25). Hơn nữa, nên nhớ rằng Đức Chúa Trời đã đặc biệt phán dạy dân Y-sơ-ra-ên trong Luật Pháp, vốn đã được hoạch định cứ đứng vững suốt phần còn lại của lịch sử dân tộc, cho đến khi Giao Ước mới sẽ thay thế cho nó (Gie Gr 31:31-34).
Thế tại sao lại có việc tập trung để viết lại lời tiên tri suốt ba thế kỷ, giữa A-mốt (khoảng 760 T.C., sách sớm nhất trong số các sách tiên tri đã được viết ra và Ma-la-chi (khoảng 460 T.C., là sách tiên tri cuối cùng)? Câu trả lời là giai đoạn này trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên đã được dành đặc biệt cho việc “đứng trung gian để khiến cho giao ước có hiệu lực,” và đó là nhiệm vụ của các tiên tri. Còn một yếu tố thứ hai nữa là Đức Chúa Trời muốn ghi chép lại những lời cảnh cáo và các phước hạnh mà các nhà tiên tri thay mặt Đức Chúa Trời để thông báo suốt những năm then chốt này cho cả phần lịch sử tiếp theo sau đó.
Những năm này có ba đặc điểm: (1) sự phục hưng chưa từng có trước đó về các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế và xã hội; (2) sự bất trung cao độ về mặt tôn giáo, và khinh thường giao ước của Môi-se; và (3) nhiều thay đổi về dân số và các ranh giới quốc gia. Trong những tình hình như thế, Lời Đức Chúa Trời cần được làm cho mới lại. Vì thế Ngài đã dấy lên nhiều tiên tri để thông báo Lời Ngài.
Trong khi sử dụng các Thánh Kinh Tự Điển, Thánh Kinh Đại Cương và sách chú giải, bạn sẽ nhận thấy vào năm 760 T.C., xứ Y-sơ-ra-ên đã vĩnh viễn bị chia đôi do một cuộc nội chiến kéo dài. Các chi phái ở phía Bắc gọi là “Y-sơ-ra-ên” (có khi gọi là “Ép-ra-im”) đã ly khai với chi phái Giu-đa ở phía Nam. Miền Bắc, nơi việc bất tuân giao ước vượt xa tất cả những gì đã được biết trong xứ Giu-đa, đã bị Đức Chúa Trời ghi vào danh sách là sẽ bị hủy diệt vì cớ tội lỗi của nó. A-mốt, bắt đầu trước sau năm 760 và Ô-sê, bắt đầu từ trước sau năm 755 đã thông báo là sự hủy diệt đang treo trên đầu. Năm 722 T.C., Miền Bắc đã sa vào tay A-sy-ri là siêu cường quốc tại Trung Đông lúc đó, Từ đó trở đi, tội lỗi của Giu-đa cứ gia tăng và sự dấy lên của một siêu cường quốc khác nữa là Ba-by-lôn, đã cấu thành đề tài cho nhiều nhà tiên tri, kể cả Ê-sai, Giê-rê-mi, Giô-ên, Mi-chê, Na-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni. Xứ Giu-đa cũng bị hủy diệt vì sự không vâng lời năm 587 T.C. Sau đó, Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên, A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi đã thông báo ý chỉ của Đức Chúa Trời về sự phục hồi của con dân Ngài (bắt đầu với việc hồi hương từ cuộc lưu đày năm 538 T.C.), việc tái lập quốc gia và tôn giáo. Tất cả mọi việc này đều theo đúng mẫu mực cơ bản đã được ấn định trong PhuDnl 4:25-31.
Phần lớn các tiên tri đã truyền phán trực tiếp các biến cố này. Nếu bạn không biết các biến cố đó và nhiều biến cố khác trong giai đoạn này - vốn quá nhiều để có thể nêu ra ở đây - thì có lẽ bạn sẽ không thể nào theo dõi kịp những gì các tiên tri muốn nói. Đức Chúa Trời đã phán trong lịch sử và về lịch sử. Muốn thấu triệt Lời Ngài, chúng ta phải hiểu biết đôi điều về lịch sử ấy.
Các Bối cảnh Cụ thể: Một Thí dụ. Mỗi lời sấm truyền của nhà tiên tri đều được truyền phán trong một bối cảnh lịch sử cụ thể. Đức Chúa Trời đã nhờ các nhà tiên tri Ngài phán dạy dân chúng vào một thời gian và địa điểm nhất định nào đó, cũng như trong những hoàn cảnh nhất định. Do đó sự hiểu biết về niên đại, thính giả và hoàn cảnh - khi có thể biết được - sẽ góp phần chủ yếu cho khả năng lãnh hội lời tiên tri của người đọc.
Hãy đọc OsHs 5:8-10, một sấm truyền ngắn gọn, tự nó vốn đã đầy đủ, tập họp nhiều sấm truyền khác trong chương này. Một người am hiểu thời thế lúc bấy giờ sẽ vạch rõ cho bạn thấy sự kiện sấm truyền này có hình thức của một sấm truyền chiến tranh, một hình thức sấm truyền thông báo sự phán xét của Đức Chúa Trời do việc chiến chinh đem đến. Thường các yếu tố của một hình thức như vậy gồm có: tiếng còi báo động, phần mô tả cuộc tấn công và lời tiên báo thất trận. Giống như cách nó giúp nhận ra phần hình thức, nó cũng giúp nhận ra phần nội dung cụ thể nữa.
Niên đại là năm 734 T.C. Thính giả là dân Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc (được gọi là Ép-ra-im) là những người đang được Ô-sê truyền giảng cho. Thông điệp được dành đặc biệt cho một số thành phố nằm trên con đường đi từ thủ đô của xứ Giu-đa là Giê-ru-sa-lem, đến trung tâm thờ tà thần của dân Y-sơ-ra-ên là Bê-tên. Hoàn cảnh là chiến tranh. Giu-đa đang phản công lại Y-sơ-ra-ên sau khi Y-sơ-ra-ên và Sy-ri xâm lăng xứ Giu-đa (xem IIVua 2V 16:5). Cuộc xâm lăng đã bị đánh trả nhờ sự trợ giúp của siêu cường quốc A-sy-ri (IIVua 2V 16:7-9). Thông qua Ô-sê, Đức Chúa Trời báo động theo nghĩa bóng cho các thành phố nằm trong lãnh thổ Bên-gia-min (OsHs 1:8) vốn là một phần của vương quốc miền Bắc. Sự hủy diệt là chắc chắn (c.9) vì Giu-đa sẽ chiếm lấy vùng lãnh thổ mà nó xâm lấn. Nhưng rồi cả Giu-đa cũng sẽ phải trả món nợ của nó. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời cũng sẽ giáng trên họ, cả vì hành động chiến tranh này, lẫn vì tội thờ thần tượng của họ (IIVua 2V 16:2-4). Cả Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên đều bị giao ước giữa họ với Đức Chúa Trời trói buộc, mà giao ước ấy đã cấm một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn như thế. Cho nên Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt việc họ đã vi phạm giao ước này của Ngài.
Biết được các sự kiện trên tạo sự khác biệt rất nhiều cho khả năng tìm hiểu lời sấm truyền trong OsHs 5:8-10. Hãy tham khảo các bộ sách giải nghĩa hoặc Thánh Kinh Đại Cương khi bạn đọc các sách tiên tri, và như việc vẫn luôn luôn phải làm là hãy cố tìm hiểu niên đại, thính giả và hoàn cảnh của các sấm truyền mà bạn đang đọc.
Tách Rời Từng Sấm Truyền
Khi ta thật sự muốn nghiên cứu hay đọc thật đầy đủ các thông tin để giải nghĩa các sách tiên tri, điều đầu tiên ta phải tập làm là SUY NGHĨ TỪNG SẤM TRUYỀN (như ta phải tập suy nghĩ từng phân đoạn trong các Thư Tín vậy). Không phải lúc nào điều này cũng dễ làm, nhưng biết rõ chỗ khó khăn và sự cần thiết phải làm như thế là khởi điểm cho một phát hiện đầy phấn khởi rồi.
Trong phần lớn các trường hợp, điều nhà tiên tri nói được trình bày trong sách của họ một cách dồn dập. Nghĩa là những lời họ đã nói nhiều lần và từ nhiều nơi khác nhau qua nhiều năm chức vụ đều được sưu tập và viết ra chung với nhau, không có sự phân chia nào để chỉ cho thấy đến đâu thì một lời sấm chấm dứt và một lời sấm khác bắt đầu. Hơn nữa, cả khi một lời sấm có thể phỏng đoán ra là đã kết thúc nhờ có sự thay đổi đề tài, và có lẽ là một lời sấm khác được bắt đầu, thì việc thiếu lời giải thích (nghĩa là các điểm lưu ý hoặc chuyển tiếp) khiến ta phải thắc mắc tự hỏi: “Mấy lời này đã được nói ra nhân cùng một ngày cho cùng một nhóm thính giả hay đã được nói ra nhiều năm sau - hoặc sớm hơn - cho một nhóm người khác, nhân nhiều hoàn cảnh khác?” Câu trả lời có thể khiến cho việc hiểu biết của ta sẽ khác đi rất nhiều.
Một vài phần trong các sách tiên tri cũng có ngoại lệ. Trong sách A-ghê và các chương đầu của sách Xa-cha-ri chẳng hạn, mỗi lời tiên tri đều có đề ngày. Nhờ sự trợ giúp của bộ Thánh Kinh Tự Điển, Thánh Kinh Đại Cương hay sách chú giải, bạn có thể theo dõi khá dễ dàng diễn tiến của các lời tiên tri ấy trong bối cảnh của chúng. Và một vài lời tiên tri trong các quyển sách khác, đáng chú ý nhất là hai sách Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên, cũng đã được tác giả đề ngày và đặt vào một bối cảnh như thế.
Nhưng không phải lúc nào sự việc cũng như vậy. Thí dụ, khi đọc A-mốt chương 5 trong một bản dịch Kinh Thánh không có các tiêu đề giải thích được thêm vào (các tiêu đề này chỉ là ý kiến riêng của các học giả mà thôi), hãy tự hỏi phải chăng cả chương này đều chỉ là một lời tiên tri (sấm truyền) duy nhất hay không? Nếu nó là một lời tiên tri duy nhất, tại sao lại có quá nhiều lần thay đổi chủ đề như thế (bài ca thương về việc dân Y-sơ-ra-ên bị hủy diệt, câu 1-3; lời mời gọi hãy tìm kiếm Đức Chúa Trời để được sống câu 5-6,14; những lời phản đối sự bất công xã hội, câu 7-13; lời tiên báo các khổ nạn, câu 16-17; phần mô tả ngày của Đức Giê-hô-va, câu 18-20; phần chỉ trích việc thờ phượng giả dối, câu 21-24; và một phần kiểm điểm vắn tắt lịch sử đầy tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên mà cao điểm là lời tiên báo về cuộc lưu đày, câu 25-27)? Nếu nó không phải là một sấm truyền duy nhất, thì phải hiểu các thành phần riêng rẽ đã cấu thành nó như thế nào? Phải chăng chúng đều độc lập đối với nhau? Có một số nào có thể tập họp lại với nhau không? Nếu có, thì tập họp lại như thế nào?
Thật ra, nhiều người đồng ý rằng chương 5 chứa đựng đến ba lời sấm truyền. Các câu 1-3 tạo thành một bài ca thương ngắn thông báo sự trừng phạt, các câu 4-17 tạo thành một lời sấm riêng (tuy phức tạp) về lời mời gọi hãy nhận phước hạnh và lời cảnh cáo về sự trừng phạt, còn các câu 18-27 họp thành một lời sấm duy nhất (cũng phức tạp) cảnh cáo về sự trừng phạt. Như thế, không phải hễ mỗi lần có thay đổi đề tài chút ít thì đều là dấu chỉ về điểm bắt đầu của một lời sấm mới. Mặt khác, sự phân chia các chương cũng không phù hợp với từng lời sấm riêng rẽ. Phải tách rời các lời sấm bằng cách chú ý đến các hình thức đã được biết rõ về chúng (xem dưới đây). Cả ba lời sấm trong chương 5 đều được ban truyền vào cuối thời trị vì của vua Giê-rô-bô-am của Y-sơ-ra-ên (793-753 T.C.), cho một dân tộc mà sự thịnh vượng tương đối đã khiến họ không thể nghĩ rằng đất nước họ sẽ bị tàn phá đến độ không còn tồn tại nữa chỉ trong vòng một thế hệ mà thôi. Một cuốn Thánh Kinh Từ Điển hoặc Thánh Kinh Đại Cương hay sách chú giải tốt sẽ giải thích những việc như thế cho bạn khi bạn đọc nó. Đừng tự gây trở ngại cho mình cách không cần thiết bằng cách không cần tham khảo các sách như thế.
Các Hình Thức của Lời Tiên Tri
Vì việc tách riêng từng lời sấm truyền là một trong những chìa khóa để hiểu rõ các sách tiên tri, nên điều quan trọng là bạn phải biết các hình thức khác nhau mà các tiên tri đã dùng để viết các sấm truyền. Toàn bộ Kinh Thánh được soạn thảo bằng rất nhiều thể loại và hình thức văn chương. Cũng vậy, các tiên tri đã sử dụng nhiều loại hình văn chương để phục vụ cho những bức thông điệp được Đức Chúa Trời linh cảm cho họ. Các sách chú giải có thể nhận diện và giải thích các hình thức ấy. Chúng tôi đã chọn ba trong số các hình thức phổ biến nhất để giúp bạn hiểu tầm quan trọng của việc phải nhận ra và giải thích đúng các thể loại văn chương liên hệ.
Kiện tụng. Trước hết, chúng tôi gợi ý bạn hãy đọc EsIs 3:13-26, là một thể văn tỉ dụ (allegorical literary form) được gọi là một “vụ kiện về giao ước” (Hy-bá-lai, rib). Trong câu chuyện này và hằng chục câu chuyện tỉ dụ về kiện cáo khác nữa trong các sách tiên tri (thí dụ, OsHs 3:3-17; 4:1-19 v.v...), Đức Chúa Trời được mô tả như một nguyên cáo, một công tố viên buộc tội, một thẩm phán và một nhân viên chấp hành trong một vụ kiện chống lại một bị cáo là dân Y-sơ-ra-ên. Toàn thể vụ kiện gồm có một tờ trát, một đơn tố cáo, các chứng cứ, và một án lệnh, tuy nhiều khi các yếu tố này có thể chỉ là mặc nhiên chứ không phải là minh nhiên. Trong EsIs 3:1-26, các yếu tố được đưa vào như sau: Phiên tòa được triệu tập và vụ kiện nhằm chống lại dân Y-sơ-ra-ên (c. 13-14a). Bản cáo trạng được tuyên đọc (c. 14b-16). Vì các chứng cứ cho thấy rõ ràng là dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội, bản án đã được công bố (c. 17-26). Vì giao ước đã bị vi phạm, các loại hình phạt đã liệt kê trong bản giao ước sẽ giáng trên những người nữ và người nam trong dân Y-sơ-ra-ên: bệnh tật khốn khó, đói khổ, chết chóc. Thể văn tỉ dụ bóng bẩy này là một phương pháp đầy kịch tính và kiến hiệu nhằm truyền đạt cho dân Y-sơ-ra-ên rằng họ sắp bị trừng phạt vì sự không vâng lời, và sự trừng phạt này sẽ rất nghiêm khắc. Văn thể đặc biệt giúp ta lãnh hội ngay được bức thông điệp khi vừa mới đọc qua.
Lời rủa sả. Một thể văn phổ biến khác nữa là lời “sấm dữ” với những chữ “khốn thay cho...” “Khốn thay cho...” là tiếng kêu mà người Y-sơ-ra-ên đời xưa thốt lên khi trực diện với cảnh tàn hại hoặc chết chóc, hay khi họ than khóc trong một đám tang. Thông qua các nhà tiên tri, Đức Chúa Trời tiên báo số phận không may sắp xảy đến bằng cách dùng câu nói thông thường là “khốn thay...” vì không một người Y-sơ-ra-ên nào lại không hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ này. Các lời sấm nguyền rủa hàm chứa, hoặc minh nhiên hoặc mặc nhiên, ba yếu tố vốn là đặc điểm độc đáo của hình thức này: một thông báo về tai họa (tiếng “khốn thay” chẳng hạn), lý do của tai họa, và lời tiên báo về số phận không may. Hãy đọc HaKb 2:6-8 để thấy một trong rất nhiều thí dụ trong sách tiên tri này về một lời “sấm dữ” được phán nhằm chống lại dân tộc Ba-by-lôn. Trong lúc Ba-by-lôn, một siêu cường quốc tàn bạo, có hành động đế quốc trong khu vực Lưỡng Hà phì nhiêu đời xưa, đang lập kế hoạch để thôn tính và tàn phá xứ Giu-đa vào cuối thế kỷ thứ bảy T.C., thì Ha-ba-cúc truyền phán lời của Đức Chúa Trời chống lại nó. Nhân cách hóa Ba-by-lôn là một kẻ cướp bóc (lý do) lời sấm thông báo lời chúc dữ, rồi tiên báo sự tàn hại (khi tất cả những kẻ bị Ba-by-lôn áp bức có ngày sẽ nổi dậy chống lại nó). Một lần nữa, đây là một hình thức văn chương tỉ dụ (tuy nhiên không phải tất cả những lời sấm dữ đều như thế cả, xin xem MiMk 2:1-5; SoXp 2:5-7).
Lời hứa. Còn một thể văn tiên tri phổ biến nữa là lời hứa hay “lời sấm về sự cứu rỗi.” Bạn sẽ nhận ra thể văn này khi thấy có các yếu tố: đề cập tương lai, đề cập một sự thay đổi triệt để, và đề cập phước hạnh. AmAm 9:11-15, một lời sấm điển hình về lời hứa, hàm chứa các yếu tố này. “Tương lai” được đề cập là “trong ngày đó” (c.11). Sự thay đổi triệt để được mô tả là việc phục hồi và tu bổ “ngôi nhà đã đổ của Đa-vít” (c.11), việc tôn cao dân Y-sơ-ra-ên trên Ê-đôm (c.12), và việc hồi hương từ cuộc lưu đày (c. 14, 15). Phước hạnh đến qua các loại phước hạnh giao ước đã được đề cập (sự sống, sức khỏe, sự thịnh vượng, mùa màng bội thu, được tôn trọng và an toàn). Tất cả các chi tiết này đều được đưa vào AmAm 9:11-15, tuy sức khỏe chỉ được ám chỉ chứ không rõ ràng. Điểm nhấn mạnh chính là trên mùa màng bội thu. Thí dụ như ngũ cốc sẽ dồi dào đến độ những người gặt vẫn chưa xong việc thì đã đến lúc những người gieo bắt đầu trồng lại rồi (c.13). Về các thí dụ khác liên hệ đến các sấm truyền về lời hứa, xin xem OsHs 2:16-20 và 2:21-23; EsIs 45:1-7; Gie Gr 31:1-9.
Căn cứ vào các thí dụ này, chúng tôi mong là bạn đã hiểu rõ thế nào một khi đã biết được các cấu trúc của thể văn tiên tri, nó sẽ giúp bạn lãnh hội được bức thông điệp của Đức Chúa Trời càng chính xác hơn. Hãy tìm biết các hình thức nhờ tham khảo các bộ sách chú giải, bạn sẽ hài lòng về việc làm của mình!
Các Tiên Tri Là Những Thi Nhân
Những người bình thường ngày nay không mấy biết thưởng thức thi ca. Thi ca diễn tả sự việc có vẻ kỳ lạ, mơ hồ, như thể muốn làm các ý tưởng trở thành khó hiểu hơn. Nhiều nền văn hoá hiện nay ít chú trọng đến thi ca, ngoại trừ trong nhạc dân gian, thường chứa đựng một loại thi ca kém phẩm chất như các loại thơ con cóc. Tuy nhiên, trong phần lớn các nền văn hóa đời xưa và một vài nền văn hoá hiện nay, thi ca vốn là một cách thức biểu hiện được đánh giá cao. Toàn thể các bản anh hùng ca của dân tộc và các kỷ niệm lịch sử và tôn giáo chủ chốt đều được bảo tồn trong thi ca. Sở dĩ chúng tôi nói “bảo tồn” vì thi ca có ưu thế hơn văn xuôi là nó dễ được học thuộc lòng hơn. Một bài thơ cần có nhịp điệu, sự cân đối, và cấu trúc nào đó. Nó tương đối đều đặn và có trật tự. Một khi đã được học thuộc, bài thơ không dễ bị quên đi như một bài văn xuôi.
Văn vần nhiều khi cũng được các nhà tiên tri dùng, là một thể văn đặc biệt sử dụng cùng những đặc điểm giống như thế. Vì nó đều đặn và trau chuốt hơn cách nói thông thường (văn xuôi thông dụng), nên nó cũng dễ học thuộc hơn. Để thuận tiện, chúng tôi gọi chúng là “thi ca.”
Trong dân Y-sơ-ra-ên đời xưa, thi ca được tán thưởng rộng rãi như một phương tiện học hỏi. Nhiều sự việc quan trọng đáng ghi nhớ được xem là thích hợp để được viết thành thơ. Như chúng ta có thể lặp lại thuộc lòng các lời ca (trong thi ca gọi là những câu thơ) dễ dàng hơn là đọc lại thuộc lòng những câu văn xuôi trong sách vở hay các câu nói, người Y-sơ-ra-ên cảm thấy tương đối đơn giản là phó chúng cho trí nhớ để rồi sẽ nhớ lại các sự việc đã được viết thành thi ca rồi. Do biết tận dụng hiện tượng rất hữu ích này vào một thời mà việc đọc và viết vốn là những kỹ năng hiếm hoi và việc làm chủ sở hữu các quyển sách dường như vẫn chưa được biết đến, nên Đức Chúa Trời đã truyền phán thông qua các nhà tiên tri của Ngài phần lớn là bằng thi ca. Dân chúng vốn đã quen thuộc với thi ca, và có thể học thuộc lòng các lời tiên tri ấy; chúng luôn luôn văng vẳng bên tai họ.
Tất cả các sách tiên tri đều có một số thi ca làm nòng cốt, và nhiều sách vốn hoàn toàn là những bài thơ. Cho nên trước khi bạn đọc các sách tiên tri, có lẽ bạn sẽ được giúp ích nếu được đọc một phần dẫn nhập, hướng dẫn bạn đến với thi ca Hy-bá-lai. Chúng tôi đặc biệt đề nghị bạn nên đọc bài viết của Norman Gottwald có tựa đề là “Thi ca, Hy-bá-lai” (Poetry, Hebrew) trong bộ Interpreter’s Dictionary of the Bible (Nashville: A bingdon, 1962). Nhưng bất kỳ một bộ Thánh Kinh Tự Điển nào cũng có ít nhất một bài viết đầy ắp thông tin về thi ca. Để thấy những lợi ích của việc hiểu rõ các chức năng của thi ca Hy-bá-lai, chúng tôi đề nghị bạn nên biết ba nét đặc trưng dưới đây của bút pháp thi ca luôn luôn được Cựu Ước Kinh nhắc đi nhắc lại. Đó là:
1. Phép Song Đối Đồng Nghĩa (Synonymous parallelism): Dòng thứ hai hay dòng tiếp theo nhắc lại hay tăng cường ý nghĩa cho dòng thứ nhất, như trong EsIs 44:12:
“Ta đã xóa sự phạm tội ngươi như mây đậm,
và tội lỗi ngươi như đám mây”
2. Phép Song Đối Phản Đề (antithetical parallelism): Dòng thứ hai hay tiếp theo tương phản với tư tưởng trong câu thứ nhất, như trong OsHs 7:14:
“Chúng nó chẳng lấy lòng kêu cầu ta,
song chúng nó kêu van trên giường mình.”
3. Phép Song Đối Tổng Hợp (synthetic parallelism): Dòng thứ hai hay tiếp theo thêm thông tin cho dòng thứ nhất, bất luận là bằng cách nào, như trong ApOv 1:21:
“Sẽ có các kẻ giải cứu lên trên núi Si-ôn
đặng phán xét núi Ê-sau;
Còn nước thì sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va.”
Nếu bạn chịu khó đọc thật cẩn thận và cố tìm hiểu, cách trình bày các ý tưởng trong thi ca sẽ không làm bạn bối rối. Thi ca cũng dễ hiểu như văn xuôi, một khi bạn đã am tường quy luật của nó.
Vài Gợi Ý Giảng Kinh
Nếu nhiệm vụ giải kinh là phải đặt các Tiên Tri vào chính bối cảnh lịch sử của họ, và nghe được những gì Đức Chúa Trời muốn nói gì với dân Y-sơ-ra-ên qua họ, thì ta có thể nói gì ở bình diện giảng kinh? Lời Đức Chúa Trời muốn phán gì cho chúng ta qua các sấm truyền thi ca linh cảm từng được truyền phán cho dân tộc của Ngài thời xưa? Thứ nhất, chúng tôi xin vạch rõ rằng phần lớn những gì đã được đề cập trong chương 4 về giảng kinh cho các Thư Tín cũng được áp dụng tại đây. Một khi chúng ta được nghe những gì Đức Chúa Trời đã phán dạy họ, dù hoàn cảnh của chúng ta có rất khác xa đi chăng nữa, chúng ta sẽ vẫn thường nghe lại chúng một lần nữa ngay trong các hoàn cảnh tình hình của chúng ta theo một cách khác. Chúng tôi có thể biện luận rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời vẫn luôn luôn chờ đợi những kẻ “bán kẻ nghèo lấy một đôi dép” (AmAm 2:6), hoặc lợi dụng tôn giáo làm chiếc áo choàng để che đậy lòng tham lam và sự bất nghĩa (EsIs 1:10-17), hoặc pha lẫn các tội thờ thần tượng hiện đại (như thái độ tự xưng là công chính) với Phúc Âm của Đấng Christ (OsHs 13:2-4). Các tội này cũng chính là các tội trong thời đại của Giao Ước Mới nữa. Họ đã vi phạm hai điều răn lớn mà cả Cựu lẫn Tân Ước đều nhất trí với nhau (xem chương 9).
Nhưng ngoài các loại ứng dụng ấy ra, còn ba vấn đề khác cần được đề cập: một là phải cẩn trọng, một vấn đề nữa là về mối quan tâm và một vấn đề khác nữa là về sự lợi ích.
Cần Thận Trọng: Nhà Tiên Tri Như Là Người Tiên Báo Tương Lai
Ngay từ đầu chương này, chúng tôi đã lưu ý rằng công tác chính của các tiên tri không phải là báo trước tương lai xa. Lẽ dĩ nhiên là họ có tiên báo các biến cố tương lai, nhưng phần lớn là tương lai mà bây giờ đã trở thành quá khứ rồi. Nghĩa là họ nói về sự phán xét hay cứu rỗi sắp đến trong một tương lai tương đối rất gần với dân Y-sơ-ra-ên, chứ không phải là tương lai của chính chúng ta. Chúng ta phải thận trọng là muốn thấy lời tiên tri của các vị ứng nghiệm, chúng ta phải “nhìn lui trở lại” các thời kỳ mà đối với các vị là tương lai, nhưng đối với chúng ta thì đã là quá khứ. Nguyên tắc giảng kinh này cần được minh họa.
Về trường hợp các sứ điệp tiên tri vốn chú trọng vào một tương lai gần chứ không phải một tương lai xa, chúng tôi đề nghị bạn đọc một mạch các chương từ 25-39 của sách Ê-xê-chi-ên. Cần lưu ý là nhiều sấm ký trong khối lớn tài liệu này vốn liên quan đến số phận của các dân tộc khác chứ không phải là dân Y-sơ-ra-ên, tuy dân Y-sơ-ra-ên cũng được đề cập tới. Điều quan trọng là phải thấy rằng những gì Đức Chúa Trời nói về số phận của các dân tộc ấy và phần ứng nghiệm thì đã đến “chỉ trong vòng vài thập kỷ” sau khi các lời tiên tri ấy được công bố, nghĩa là phần lớn là trong thế kỷ thứ sáu T.C. Lẽ dĩ nhiên là nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ cá biệt. Exe Ed 37:15-28 mô tả thời đại Tân Ước, và các phước hạnh mà Đức Chúa Trời sẽ đổ xuống trên Hội Thánh thông qua Đấng Mết-si-a. Nhưng phần lớn các lời tiên tri, kể cả những lời tiên tri trong hai chương 38 và 39 (hãy tra cứu một bộ sách chú giải về hai chương này) đều liên quan đến các thời kỳ về biến cố Cựu Ước.
Quá nhiệt thành trong việc đồng hóa các biến cố Tân Ước với lời tiên tri Cựu Ước có thể dẫn tới nhiều hậu quả kỳ quặc. Câu trong EsIs 49:23 đề cập các vua “sẽ cúi mặt sát đất ở trước mặt ngươi” nghe ra khá giống với việc ba nhà thông thái đến viếng con trẻ Giê-xu (Mat Mt 2:1-11) để khuyến khích nhiều người cho rằng mấy lời này của Ê-sai ám chỉ Đấng Mết-si-a. Một lời lý giải như thế đã bỏ qua bối cảnh (cả các vua lẫn các hoàng hậu đều được đề cập; vấn đề của khúc sách này là việc phục hồi địa vị cho dân Y-sơ-ra-ên sau cuộc lưu đày), ý định (ngôn ngữ của lời sấm này nhằm chứng minh xứ Y-sơ-ra-ên sẽ rất được trọng vọng một khi Đức Chúa Trời đã phục hồi địa vị cho nó), văn phong (là thi ca biểu tượng, dùng hình ảnh các vua của các dân các nước tự xem họ là bà con cùng một vú nuôi với dân tộc Y-sơ-ra-ên, và liếm bụi đất dưới chân dân tộc ấy) và từ ngữ (Magi - các nhà thông thái là các nhà hiền triết/chiêm tinh gia, chứ không phải là các vua). Chúng ta phải thận trọng, đừng khiến cho các lời tiên tri, hay bất luận một thành phần nào trong Kinh Thánh nói những gì mà chúng ta thích cho là câu ấy muốn nói. Chúng ta phải lắng nghe điều mà “Đức Chúa Trời” muốn cho câu nói ấy.
Lẽ dĩ nhiên là cũng phải lưu ý rằng một số các lời tiên tri về tương lai gần đã được đặt vào bối cảnh của một tương lai rộng lớn có tính lai thế, và nhiều khi dường như chúng đã bị hòa lẫn vào trong đó. Chúng tôi lại sẽ đề cập vấn đề này trong chương 13. Hiện tại, xin lưu ý lý do của việc ấy là Thánh Kinh vẫn thường nhìn thấy các hành động của Đức Chúa Trời trong lịch sử tạm thời trong viễn tượng của kế hoạch toàn diện của Ngài cho cả lịch sử nhân loại. Cho nên cái tạm thời phải được nhìn thấy trong viễn tượng của kế hoạch đời đời. Sự việc cũng giống như khi ta nhìn vào hai cái đĩa; cái nhỏ hơn nằm trong cái lớn hơn theo cách nhìn thẳng; rồi theo viễn cảnh của lịch sử nối tiếp nhau, việc trước đi trước, việc sau đi sau, nên theo cách nhìn trắc diện (nhìn ngang) ta sẽ thấy là việc trước thật ra đã cách xa với việc sau.

Cách Nhìn Tiên Tri Về Các Biến Cố
Theo Thứ Tự Thời Gian
Nhìn thẳng Nhìn ngang
Như thế, trong các sách tiên tri, có một số sự việc có vẻ như thuộc vào số các biến cố cuối cùng của thời đại (thí dụ, Gio Ge 3:1-3; SoXp 3:8-9; XaDr 14:9). Nhưng những cuộc phán xét tạm thời thường được đề cập gắn liền với các biến cố cuối cùng ấy không thể cũng bị đẩy vào trong cái tương lai ấy.
Còn một điểm nữa thiết tưởng cũng cần đề cập. Theo chính bản tính của nó thì ngôn ngữ lai thế thường có nghĩa bóng. Nhiều khi chính các hình bóng ấy diễn tả các biến cố sau cùng bằng ngôn ngữ của thi ca, nhưng không nhất thiết có ý định báo trước chính các biến cố ấy. Một thí dụ là trong Exe Ed 37:1-4 sử dụng ngôn ngữ đề cập sự sống lại của kẻ chết, một biến cố mà chúng ta biết là sẽ xảy ra vào lúc “kết thúc” của thời đại này; qua Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời đã tiên báo việc dân Y-sơ-ra-ên sẽ từ cuộc lưu đày Ba-by-lôn hồi hương vào thế kỷ thứ sáu (cc.12-14). Như thế, một biến cố mà đối với chúng ta đã là quá khứ rồi (như đã được mô tả trong Exo Er 1:1-2:68) đã được nói tiên tri theo nghĩa bóng bằng ngôn ngữ lai thế, dường như đó là một biến cố của ngày tận thế vậy.

Một Mối Quan Tâm: Lời Tiên Tri và Ý Nghĩa Thứ Hai
Một số chỗ trong Tân Ước có những câu trích dẫn được bảo là từ Cựu Ước, nhưng dường như những khúc sách ấy trong Cựu Ước không đề cập điều mà Tân Ước cho là Cựu Ước đề cập. Nghĩa là những khúc sách như thế dường như vốn có ý nghĩa rõ ràng trong bối cảnh nguyên thủy của chúng trong Cựu Ước, nhưng lại được một tác giả Tân Ước dùng với ý nghĩa khác hẳn.
Chẳng hạn, hai câu chuyện về cách thức Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên đã được cung cấp nước bằng phép lạ là khiến nước từ các tảng đá chảy ra trong sa mạc, một lần tại Rê-phi-đim (XuXh 17:1-7) và một lần tại Ca-đe (Dan Ds 20:1-13). Các câu chuyện này có vẻ khá đơn giản và rất rõ ràng trong các bối cảnh nguyên thủy của chúng. Nhưng trong ICo1Cr 10:4 dường như Phao-lô muốn đồng hóa từng trải đó của dân Y-sơ-ra-ên với cuộc gặp gỡ với Đấng Christ. Ông nói: “(Họ) uống một thứ uống thiêng liêng; vì họ uống nơi một hòn đá thiêng liêng theo mình, và đá ấy tức là Đấng Christ.” Trong cả hai câu chuyện trong Cựu Ước, đã chẳng hề có ý muốn nói bóng gió gì về một tảng đá có ý nghĩa gì khác hơn là một tảng đá. Phao-lô đã ban cho tảng đá một ý nghĩa thứ hai, đồng hóa nó với “Đấng Christ.” Ý nghĩa thứ hai này thường được gọi là sensus plenior (ý nghĩa đầy đủ hơn).
Nhờ suy nghĩ, ta có thể thấy là Phao-lô đã dùng suy luận loại suy. Thật ra, ông ngụ ý nói rằng: “Với họ, tảng đá ấy giống như Chúa Cứu Thế đối với chúng ta - Ngài là một nguồn nâng đỡ, tiếp trợ theo đúng như cách mà những điều thuộc linh nâng đỡ, chu cấp cho chúng ta vậy.” Ngôn ngữ của Phao-lô trong mấy câu 2-4 vốn đầy nghĩa bóng. Ông muốn người Cô-rinh-tô hiểu rằng từng trải của dân Y-sơ-ra-ên trong sa mạc có thể được hiểu như có nghĩa bóng, ám chỉ chính từng trải của họ với Chúa Cứu Thế, nhất là tại Bàn Tiệc Thánh.
Ngày nay, chúng ta là các độc giả hiện đại rất khó có thể tự mình nhận thấy những điểm giống nhau này theo cách Phao-lô đã mô tả nó. Nếu Phao-lô không viết mấy lời trên đây, chúng ta có thể đồng hóa đám mây và biển với phép báp-tem (c.2) hoặc tảng đá với Chúa Cứu Thế (c.4) hay không? Nói khác đi, chúng ta có thể tự mình xác định một sensus plenior hay ý nghĩa thứ hai nào đến một mức độ chắc chắn nào đó hay không? Câu trả lời là không. Đức Thánh Linh đã cảm thúc Phao-lô để viết về một mối liên hệ tương tự giữa dân Y-sơ-ra-ên trong sa mạc với sự sống trong Chúa Cứu Thế mà chẳng cần phải theo các quy luật thông thường nào về bối cảnh, ý định, bút pháp và chữ nghĩa cả (xem mục Tiên Tri Là Người Tiên Báo Tương Lai ở phần trên). Đức Thánh Linh đã hướng dẫn Phao-lô mô tả sự kiện dân Y-sơ-ra-ên đã nhận được nước từ những tảng đá nhiều hơn một lần bằng thứ ngôn ngữ theo nghĩa bóng và không bình thường là có một tảng đá đã “đi theo” họ. Nhiều chi tiết khác nữa trong ngôn ngữ mô tả mà Phao-lô dùng trong ICo1Cr 10:1-4 (những từ ngữ không theo nghĩa đen như “tổ phụ chúng ta” trong câu 1 và “thứ ăn thiêng liêng” và “thứ uống thiêng liêng” (c. 3-4) đều cũng rõ ràng là bất bình thường như thế.
Tuy nhiên, chúng ta không phải là các trước giả được linh cảm để viết Kinh Thánh. Chúng ta không được phép làm điều mà Phao-lô đã làm. Các mối liên hệ theo nghĩa bóng mà ông đã được linh cảm để tìm ra giữa Cựu Ước và Tân Ước là đáng tin cậy. Nhưng chẳng thấy có chỗ nào trong Kinh Thánh dạy chúng ta rằng: “Hãy đi và làm giống như thế.” Cho nên nguyên tắc là: Sensus plenior (ý nghĩa đầy đủ hơn) là một chức năng của sự linh cảm, chứ không phải là của sự soi sáng. Cùng một Đức Thánh Linh đã linh cảm một tác giả Cựu Ước viết ra một số từ ngữ hay khúc sách nào đó, có thể linh cảm một tác giả Tân Ước bỏ qua việc tôn trọng bối cảnh, ý hướng, bút pháp và chữ nghĩa thông thường để đồng nhất hóa số từ ngữ hoặc khúc sách đó để cho nó có thêm một ý nghĩa thứ hai. Nhưng chúng ta không phải là những tác giả được linh cảm. Chúng ta chỉ là các độc giả được soi sáng. Linh cảm là động cơ thúc đẩy nguyên thủy để trước tác Kinh Thánh theo cách thức nào đó. Soi sáng là cái nhìn thông tuệ để hiểu điều các tác giả Kinh Thánh đã viết. Chúng ta không thể viết lại hay tái định nghĩa Kinh Thánh viện lẽ là mình đã được soi sáng. Chúng ta chỉ có thể tin nhận được một sensus plenior đến một mức độ nào sau khi đã có sự kiện xảy ra mà thôi. Một sự việc không thể được nhận diện quả quyết như là một sensus plenior từ Cựu Ước do chúng ta tự quyền quyết định, trừ phi khi sự việc đã được nhận diện là một sensus plenior trong Tân Ước.
Các sách nghiên cứu Kinh Thánh, sách giải nghĩa, Thánh Kinh Đại Cương và các bản dịch Kinh Thánh có những cột hướng dẫn tham cứu đều có xu hướng chỉ ra những khúc sách tiên tri trong Cựu Ước có một ý nghĩa thứ hai trong Tân Ước. Một số thí dụ tiêu biểu, nơi Tân Ước có thêm một ý nghĩa thứ hai là: Mat Mt 1:22-23 (EsIs 7:14); Mat Mt 2:15 (OsHs 11:1); Mat Mt 2:17-18 (Gie Gr 31:15); GiGa 12:15 (XaDr 9:9).
Chúng ta chỉ cần lấy một trong những trường hợp trên đây để minh họa cho hiện tượng về ý nghĩa thứ hai đã được gán cho một khúc sách tiên tri: Mat Mt 2:15. Trong OsHs 11:1 chúng ta đọc thấy:
Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ ấu, ta yêu dấu nó
(và) ta đã gọi con trai ta ra khỏi Ai Cập.
Trong sách Ô-sê, bối cảnh là việc dân Y-sơ-ra-ên được cứu khỏi Ai Cập nhờ biến cố Xuất Ai Cập. Ý định là muốn chứng minh thế nào Đức Chúa Trời đã yêu mến dân Y-sơ-ra-ên chẳng khác gì yêu mến chính con trai của Ngài vậy. Văn phong là phép song đối đồng nghĩa trong thi ca theo đó “con trai ta” được buộc chặt với dân Y-sơ-ra-ên. Cách dùng chữ là theo nghĩa bóng: chẳng có gì để thắc mắc trong việc dân Y-sơ-ra-ên đã được nhân cách hóa thành một “con trai” trong câu này. Ngôi thứ hai trong Thượng Đế Ba Ngôi, là Chúa Cứu Thế đã không được đề cập bằng ý nghĩa “rõ ràng” trong câu Kinh Thánh này.
Nếu chúng ta không có câu Mat Mt 2:15 trong Kinh Thánh của mình, có lẽ chúng ta sẽ không xem câu này trong sách Ô-sê như là một lời tiên tri chỉ Chúa Giê-xu người Na-xa-rét. Nhưng Ma-thi-ơ vốn có điều mà chúng ta không có. Ông có được uy quyền linh cảm từ cùng một Đức Thánh Linh đã cảm thúc Ô-sê viết ra OsHs 11:1. Cùng một Đức Thánh Linh ấy đã cảm thúc ông quyết định rằng lời lẽ mà Ô-sê đã dùng có thể được tái sử dụng trong một bối cảnh, ý định, bút pháp và kết hợp với một số lời lẽ (từ ngữ, chữ nghĩa) khác đề cập Đấng Mết-si-a. Đức Thánh Linh đã “đặt” những lời, những chữ chọn lọc đó trong sách Ô-sê để chúng có thể sẵn sàng được tái sử dụng kết hợp với các biến cố trong cuộc đời của Chúa Giê-xu. Ma-thi-ơ đã không áp dụng các từ ngữ này cho Chúa Giê-xu căn cứ vào một nguyên tắc hay một tiến trình giải kinh hay giảng kinh tiêu biểu nào cả. Thay vào đó, ông chỉ lấy các từ ngữ ấy từ bối cảnh nguyên thủy của chúng và “cho” chúng một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ. Ông có thẩm quyền để làm việc ấy. Chúng ta chỉ có thể đọc và tán thưởng điều ông đã làm. Tuy nhiên, chúng ta không thể tùy tiện làm công việc như vậy đối với bất kỳ một khúc sách nào cả.
Một Lợi Ích Cuối Cùng: Nhấn Mạnh Đến Niềm Tin Chính Thống lẫn Thực Hành Chính Thống
Niềm tin chính thống (orthodoxy) là niềm tin đúng. Thực hành chính thống (orthopraxy) là hành động đúng. Thông qua các sách tiên tri, Đức Chúa Trời kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đời xưa giữ thế cân bằng giữa niềm tin đúng và hành động đúng. Dĩ nhiên đó cũng chính là sự quân bình mà Giao Ước trước đòi hỏi (Gia Gc 1:27; 2:18; Eph Ep 2:8-10). Điều Đức Chúa Trời muốn nơi dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa là một sự hiểu biết tổng quát y như điều Ngài muốn nói với chúng ta vậy. Các sách tiên tri có thể được dùng như những lời nhắc nhở của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là phải quyết định thực hành giao ước của Ngài. Với những ai vâng giữ các điều kiện của Giao Ước Mới (yêu mến Đức Chúa Trời và yêu mến người lân cận mình) thì kết quả đời đời, cuối cùng sẽ là phước hạnh, mặc dầu có thể họ không nhận được chúng trong đời này. Đối với những kẻ không tuân giữ, thì hậu quả sẽ chỉ có thể là sự rủa sả, bất chấp những kẻ ấy có được sống sung sướng đến đâu trên đất này. Lời cảnh cáo trong MaMl 4:6 vẫn còn hiệu lực.

Thi Thiên : Lời Cầu Nguyện Của Y-sơ-ra-ên Và Của Chúng Ta
Sách Thi Thiên, một bộ sưu tập các bài cầu nguyện và thánh ca được linh cảm bằng tiếng Hy-bá-lai, có lẽ là phần Cựu Ước được hầu hết các Cơ Đốc nhân biết đến và yêu thích nhất. Việc các Thi Thiên được in kèm theo các khúc sách Tân Ước được dùng trong buổi nhóm thờ phượng và giờ bồi linh đã khiến cho sách ấy chiếm một ưu thế nào đó. Dầu vậy, sách Thi Thiên cũng rất thường bị hiểu sai và do đó thường bị sử dụng sai.
Vấn đề nảy sinh với công tác giải nghĩa các Thi Thiên trước nhất vì chính bản chất của các Thi Thiên. Vì Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, nên phần đông các Cơ Đốc nhân đều tự động cho rằng sách ấy hàm chứa lời lẽ từ Đức Chúa Trời phán dạy cho con người. Thế là nhiều người đã không nhận thức được rằng Kinh Thánh cũng chứa đựng nhiều lời con người nói với Đức Chúa Trời và nói về Đức Chúa Trời, để rồi cả những lời ấy nữa, cũng đều là Lời Đức Chúa Trời.
Sách Thi Thiên chính là những lời như thế. Nghĩa là chính vì các Thi Thiên về cơ bản là những bài cầu nguyện và thánh ca, cho nên theo bản chất, chúng được con người ngỏ lời với Đức Chúa Trời hoặc diễn tả chân lý về Đức Chúa Trời bằng cách ca hát. Điều này tạo ra cho chúng ta một vấn đề độc đáo về giảng nghĩa Kinh Thánh. Làm thế nào những lời được nói với Đức Chúa Trời này lại có được chức năng của Lời từ Đức Chúa Trời phán dạy chúng ta. Vì chúng không phải là những mệnh lệnh hoặc những truyện tích minh họa giáo lý, chúng không chủ yếu có chức năng dạy dỗ về giáo lý hay cách ăn ở cư xử cho hợp đạo đức. Thế nhưng chúng rất có lợi khi được dùng đúng theo những mục đích của Đức Chúa Trời là Đấng linh cảm chúng, đó là nhằm giúp cho chúng ta: (1) tự bộc lộ với Ngài, (2) suy xét các đường lối của Ngài. Do đó, sách Thi Thiên có ích lợi lớn cho người nào muốn được sự trợ giúp của Kinh Thánh để bộc lộ các niềm vui, nỗi buồn, những thành công, thất bại, các kỳ vọng cũng như những điều hối tiếc của mình.
Nhưng sách Thi Thiên rất thường bị dùng sai, chính vì người ta thường ít hiểu nó. Không phải tất cả các Thi Thiên đều có thể theo dõi dễ dàng bằng suy luận của lý trí hoặc đem ứng dụng cho thế kỷ thứ hai mươi, như Thi Tv 23:1-6 chẳng hạn. Trong cách nói bằng biểu tượng của nó, Đức Chúa Trời đã được mô tả là một người chăn chiên, còn tác giả Thi Thiên (cũng là chúng ta) thì như chiên của Ngài. Việc Ngài sẵn sàng lo lắng chăm sóc cho chúng ta bằng cách dẫn chúng ta đến những địa điểm thích hợp, nghĩa là đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta, bảo vệ và làm điều lợi ích cho chúng ta, vốn hết sức rõ ràng cho những ai đã quen thuộc với Thi Thiên này.
Nhưng nhiều Thi Thiên khác thì không có thấy ngay ý nghĩa của chúng sau cái nhìn thoáng qua đầu tiên. Thí dụ, phải làm thế nào để sử dụng một Thi Thiên có vẻ tiêu cực từ đầu chí cuối và dường như diễn tả nỗi khốn khổ của người nói? Phải chăng đó là điều phải được dùng trong một buổi nhóm lại thờ phượng? Hay nó chỉ có công dụng riêng tư mà thôi? Còn về một Thi Thiên kể lại sử ký của dân Y-sơ-ra-ên và việc Đức Chúa Trời ban phước cho họ thì sao? Một Cơ Đốc nhân không phải người Do Thái có thể được ích lợi với loại Thi Thiên này không? Hay nó chỉ được dành riêng cho những người Do Thái mà thôi? Còn các Thi Thiên tiên báo công tác của Đấng Mết-si-a thì thế nào? Hay các Thi Thiên đề cao các lợi ích của sự khôn ngoan? Còn về một số lớn các Thi Thiên bàn về vinh quang của những ông vua Y-sơ-ra-ên cũng chỉ là những con người? Vì hiện nay chỉ còn có rất ít người trên thế gian này sống dưới chế độ quân chủ, dường như loại Thi Thiên sau này đang đặc biệt gặp khó khăn nếu muốn cho mọi người hiểu được ý nghĩa của chúng. Và cuối cùng, ta phải giải quyết thế nào với cái ước muốn rằng các con nhỏ của người Ba-by-lôn phải bị chà nát nơi hòn đá (Thi Tv 137:8-9)?
Nếu cần phải có cả một bộ sách dài để thảo luận về tất cả các loại Thi Thiên và mọi phương pháp có thể có để đưa chúng ra sử dụng, thì trong chương này, chúng tôi chỉ đưa ra vài chỉ dẫn để theo đó, bạn có thể thưởng thức và sử dụng tốt hơn các Thi Thiên cả cho đời sống riêng tư lẫn trong sinh hoạt của Hội Thánh nơi bạn đang nhóm lại thờ phượng.
Vài Nhận Định Giải Kinh Sơ Khởi
Cũng như với các thể văn khác của Kinh Thánh, vì Thi Thiên là một thể văn đặc biệt nên cần thận trọng khi đọc và giải nghĩa. Điều này có nghĩa là phải am tường bản chất của Thi Thiên, bao gồm các thể loại khác nhau cũng như hình thức và chức năng của chúng.
Thi Thiên Như Là Thi Ca
Có lẽ điều quan trọng nhất và rõ ràng nhất cần nhớ khi đọc hay giải nghĩa các Thi Thiên đó là Thi Thiên là những bài thơ - những bài thơ có nhạc điệu. Chúng tôi đã từng thảo luận vắn tắt về bản chất của thi ca Hy-bá-lai trong chương trước, nhưng còn có ba điểm mà chúng ta cần thêm vào liên hệ với các Thi Thiên.
1. Ta phải biết rằng bản chất của thi ca Hy-bá-lai là hướng vào tâm trí qua trung gian của tấm lòng, nghĩa là phần lớn ngôn ngữ đều cố ý khơi dậy tình cảm. Do đó ta phải cẩn thận, đừng giảng giải quá đáng các Thi Thiên bằng cách tìm kiếm ý nghĩa đặc biệt trong từng chữ từng câu, tại nơi mà có lẽ nhà thơ đã không hề có ý như thế. Thí dụ, bạn cần nhớ rằng bản tính của thi ca Hy-bá-lai là luôn luôn gồm có một hình thức song đối, mà hình thức phổ biến nhất là Phép Song Đối Đồng Nghĩa (khi dòng thứ hai nhắc lại hoặc nhấn mạnh ý nghĩa của dòng thứ nhất). Trong loại song đối này, cả hai dòng hợp nhau để diễn tả ý nghĩa, và dòng thứ hai không cố ý nói thêm một điều gì mới mẻ hay khác với dòng thứ nhất. Thí dụ phần mở đầu của Thi Tv 19:1:
Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời;
Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm.
Ngày này giảng cho ngày kia;
Đêm này tỏ sự tri thức cho đêm nọ.
Ở đây, trong hai chuỗi song đối đồng nghĩa, nhà thơ được linh cảm đang tôn vinh Đức Chúa Trời như là Đấng Tạo Hóa. Cần lưu ý cách bản NIV đã cố giúp bạn nhìn thấy hai cặp câu song đối này bằng cách chỉ cho in chữ hoa ở dòng thứ nhất trong mỗi câu, và dùng một dấu chấm phẩy giữa hai dòng.
Ý tưởng của nhà thơ nếu viết bằng văn xuôi sẽ là “Đức Chúa Trời được bày tỏ qua công trình sáng tạo của Ngài, nhất là qua các thiên thể.” Nhưng câu văn xuôi như vậy sẽ thiếu màu sắc nếu đặt bên cạnh Thi Thiên là bài thơ lộng lẫy. Ngôn ngữ của thi ca vừa nghe hay hơn, vừa khiến cho người ta dễ nhớ hơn. Chắc bạn đã để ý thấy rằng bốn dòng này không hề cố ý muốn nói bốn điểm khác nhau, tuy dòng thứ hai có thêm một ý mới là các từng trời tiết lộ, bày tỏ cho mọi người thấy Đấng Tạo Hóa của chúng cả ngày lẫn đêm. Nhưng trong dòng thứ nhất, tác giả Thi Thiên không hề có xu hướng muốn nói rằng “các từng trời” làm một điều, còn “bầu trời” thì làm một việc khác; cả hai dòng đều họp nhau lại để nói về cùng một thực tại quang vinh.
2. Ta cũng phải nhớ rằng các Thi Thiên không chỉ là những bài thơ mà còn là những bài nhạc thơ (musical poems). Một bài nhạc thơ không thể được đọc y như cách đọc một thư tín hay một câu chuyện ký thuật, hoặc một đoạn viết về luật pháp. Nó có ý hướng gợi cảm, khơi dậy các cảm xúc chứ không phải chỉ là một câu nói diễn tả tư tưởng, nhằm kích thích để người đọc phải có một đáp ứng, vượt hẳn việc chỉ hiểu biết như một nhận thức suông về một số sự kiện nào đó mà thôi. Nếu các Thi Thiên hàm chứa và phản ảnh giáo lý, thì chúng lại không phải là những kho hàng chứa đựng các giáo lý nhằm mục đích triển lãm. Thật là nguy hiểm nếu ta đọc một Thi Thiên dường như để nó dạy cho ta một hệ thống giáo lý, cũng y như sự nguy hiểm trong việc làm như thế với một câu chuyện ký thuật vậy. Sự kiện các Thi Thiên mang tính chất thơ nhạc không cho phép ta nghĩ rằng cách Thi Thiên diễn tả vấn đề đương nhiên là một đề tài tranh luận về tính hợp lý.
Ai là người trong chúng ta khi hát bài thánh ca “Chúa, bức thành kiên cố ta” lại cho rằng Đức Chúa Trời là một loại chiến lũy hay một vách thành bằng đá, bất khả xâm phạm? Chúng ta đều hiểu rằng “bức thành kiên cố” là một cách hiểu theo nghĩa bóng để suy nghĩ về Đức Chúa Trời. Cũng thế, khi tác giả Thi Thiên nói: “Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (Thi Tv 51:5) thì thật khó có thể nói rằng ông đang muốn thiết lập một giáo lý chủ trương rằng việc mang thai là tội lỗi, hay tất cả những việc thụ thai đều là tội lỗi, hoặc mẹ ông đã hoài thai ông là một việc làm tội lỗi, hoặc nguyên tội cũng bị gán cho trẻ con không hề được sinh ra đời nữa, hoặc bất cứ một điều gì đại khái như thế. Tác giả Thi Thiên đã sử dụng cách nói cường điệu -- phóng đại cách có chủ đích - để diễn tả cách mạnh mẽ và sinh động rằng ông là một tội nhân. Khi nào bạn đọc một Thi Thiên, cần thận trọng để khỏi rút ra từ các khái niệm trong đó những điều mà nhà nhạc thơ được linh cảm đã không hề có ý như thế.
3. Một điều quan trọng khác là hãy nhớ rằng từ vựng của thi ca vốn có tính ví von (metaphorical), vì thế ta phải cẩn thận khi tìm kiếm ý định của một hình ảnh được dùng để so sánh, ví von. Trong sách Thi Thiên, “núi nhảy như chiên đực” (114:4) là một cách diễn tả kỳ diệu nhằm ca ngợi các phép lạ xảy ra trong cuộc xuất hành khỏi Ai Cập; “các kẻ thù có gươm ở trên môi” (59:7) diễn tả nỗi đau do vết chém là những lời gièm pha hoặc dối trá của kẻ thù. Đức Chúa Trời được nhìn thấy theo nhiều cách khác nhau, như người chăn chiên, bức thành kiên cố, cái khiên, tảng đá. Điều quan trọng là bạn phải học biết “lắng nghe” các hình ảnh ví von và hiểu ý nghĩa của nó.
Không nên “ép” các hình ảnh ví von, hay hiểu chúng theo nghĩa đen cũng là điều quan trọng. Chẳng hạn nếu một người hiểu Thi Tv 23:1-6 theo nghĩa đen, có thể người ấy sẽ phạm vào sự sai lầm là cho rằng Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải trở thành và có các hành động giống như con chiên, hay muốn chúng ta phải sống một cuộc đời ở nông thôn hay làm nghề chăn chiên. Theo cách đó thì bài Thi Thiên bị biến thành một bài khảo luận chống nếp sống thành thị. Người thiếu khả năng lãnh hội ngôn ngữ biểu tượng (hình ảnh, câu chuyện ví von, so sánh) và chuyển các khái niệm trừu tượng có ý nghĩa biểu tượng thành các sự kiện có thật của một bài Thi Thiên rất dễ bị dẫn tới chỗ ứng dụng hầu như sai lầm.
Thi Thiên Như Là Văn Chương
Các Thi Thiên là những bài nhạc thơ cũng là một loại hình văn chương nênđiều quan trọng là phải nhận ra một số các nét văn chương của các Thi Thiên khi bạn đọc và nghiên cứu chúng. Không nhận ra được các nét đặc trưng ấy có thể dẫn người ta đến nhiều sai lầm trong việc giải thích và ứng dụng.
1. Sách Thi Thiên có nhiều thể loại (types) khác nhau. Điều này rất quan trọng cho sự hiểu biết của bạn, cho nên chúng tôi sẽ bàn kỹ hơn về các thể loại Thi Thiên cơ bản ở cuối chương này. Bây giờ, bạn cần nhớ rằng người Y-sơ-ra-ên biết rõ tất cả các thể loại ấy. Họ biết rõ chỗ khác nhau giữa một Thi Thiên bi thương (nhờ đó một cá nhân hay tập thể có thể bộc lộ nỗi buồn khổ của họ trước mặt Đức Giê-hô-va và cầu xin Ngài trợ giúp, phù hộ) và một Thi Thiên cảm tạ (nhờ đó một cá nhân hay tập thể bộc lộ nỗi vui mừng của họ vì lòng nhân từ thương xót mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra đối với họ). Trong nền văn hóa của chúng ta, chúng ta đã không có thói quen sử dụng các Thi Thiên như người Y-sơ-ra-ên đã làm. Do đó, một người sẽ có thể khó hiểu nổi một Thi Thiên, nếu không biết nó thuộc thể loại nào.
2. Mỗi bài Thi Thiên còn đặc biệt do phần hình thức (form) của nó nữa. Khi nói hình thức, là chúng tôi muốn nói đến thể loại cá biệt, được xác nhận căn cứ vào các đặc điểm (đặc biệt là cấu trúc) mà nó cùng có chung với tất cả các Thi Thiên khác cùng thể loại cá biệt đó với nó. Một khi ta đã hiểu rõ cách cấu trúc của một Thi Thiên, ta có thể theo dõi những gì đang xảy ra trong bài Thi Thiên ấy. Thí dụ, ta có thể nhận thấy những điểm chuyển tiếp từ một chủ đề này sang một chủ đề khác, và cách thức mà tác giả bài Thi Thiên ấy đặc biệt chú ý đến những vấn đề nhất định nào đó, để có thể lãnh hội thông điệp mà bài Thi Thiên ấy muốn truyền đạt. Bạn sẽ thấy điều này, đặc biệt là trong bài giải kinh mẫu chúng tôi sẽ cho về sau.
3. Mỗi thể loại Thi Thiên lại còn có một chức năng (function) nhất định nào đó trong sinh hoạt của dân Y-sơ-ra-ên. Vấn đề này quan trọng nên sẽ được chú ý ở phần sau. Bây giờ phải nhớ rằng mỗi bài Thi Thiên đều được định cho một chủ đích. Sẽ rất vô lý nếu lấy một bài Thi Thiên hoàng gia, vốn có chức năng ca ngợi vương quyền trên xứ Y-sơ-ra-ên do Đức Chúa Trời ban cho, đem ra đọc khi có hôn lễ. Lý do đơn giản là vì bài Thi Thiên ấy không được định để đem ra áp dụng khi có hôn lễ.
4. Ta cũng phải học nhận ra nhiều khuôn mẫu (pattern) khác nhau bên trong các Thi Thiên. Các tác giả Thi Thiên thường thích một số những cách sắp xếp hoặc cách lặp lại từ ngữ hoặc âm thanh, cũng như về cách chơi chữ. Hơn nữa, một số các Thi Thiên có cấu trúc theo thứ tự các mẫu tự (acrostic) nghĩa là các mẫu tự đầu tiên của một dòng hoặc câu phải là những mẫu tự theo thứ tự các chữ cái. Thi Tv 119:1-176 là một thí dụ về một Thi Thiên theo thứ tự mẫu tự. Khuôn mẫu của Thi Thiên này là cách đếm theo số thứ tự và lặp lại, hướng dẫn người đọc rất hữu hiệu qua một bảng liệt kê dài các lợi ích mà người tín hữu nhận được từ Lời Chúa cũng như những trách nhiệm đối với luật pháp của Đức Chúa Trời.
5. Cuối cùng, mỗi bài Thi Thiên phải được đọc như một đơn vị văn chương (literary unit). Các Thi Thiên phải được xem như những toàn thể, mà không được xé nhỏ ra thành từng câu riêng lẻ, không được suy nghĩ như cách đối với Châm Ngôn nhưng phải được xem như nhiều viên ngọc trong cùng một xâu chuỗi ngọc, mỗi viên đều phải được kết hợp với cả xâu chuỗi, được tán thưởng không phải chính vẻ đẹp riêng lẻ của nó mà vì được kết hợp với toàn xâu chuỗi. Khi đọc Thi Thiên chúng ta sẽ thấy ích lợi nếu để ý đến sự liên tục và sự cân đối của bài Thi Thiên. Mỗi bài Thi Thiên được khai triển theo một khuôn mẫu, theo đó các ý tưởng được giới thiệu, khai triển và dẫn đến một kết luận nào đó.
Do đó, vì tính thống nhất văn chương của một Thi Thiên, ta phải hết sức cẩn thận, đừng lấy riêng ra một câu khỏi văn mạch của nó để xem xét một cách riêng lẻ, như thể chẳng cần dựa vào một văn cảnh nào để giải thích nó. Thí dụ Thi Tv 105:34: “Ngài phán, bèn có châu chấu, và cào cào bay đến vô số.” Đưa ra khỏi văn cảnh, câu này nói cách tổng quát có vẻ như Đức Chúa Trời có ý định sử dụng đám cào cào châu chấu này làm các nhân viên đặc biệt của Ngài nhằm thực hiện một vài công việc gì đó trên đất. Điều gì sẽ xảy ra nếu đem nó đối chiếu với Thi Tv 85:12: “Đức Giê-hô-va sẽ ban vật tốt, xứ chúng ta sẽ sanh sản hoa lợi nó,” vì lũ cào cào châu chấu vốn là những kẻ tàn phá đất đai (Gion Gn 2:25)? Làm thế nào Lời Đức Chúa Trời sẽ gọi chúng đến, đồng thời lại bảo đảm rằng Ngài sẽ đem điều tốt lành đến cho xứ và sẽ ban cho nó một mùa gặt? Câu trả lời là trong toàn bài nhạc thơ có một cấu trúc ý nghĩa giúp chúng ta định nghĩa các từ ngữ trong những câu ấy để hiểu chúng tùy theo ý định thật sự dành cho chúng, chứ không phải là theo một ý hướng nào mà chúng ta gán cho chúng vì không biết văn cảnh của chúng. Thi Thiên 85 là một cuộc thảo luận về các điều tốt lành mà Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên như một minh họa về sự thành tín của Ngài đối với các lời hứa của mình. Còn Thi Tv 105:1-45 thì mô tả cách thức Đức Chúa Trời đã sử dụng cào cào châu chấu trong tai vạ nhờ đó Ngài đã bắt buộc Pha-ra-ôn phải cho dân Y-sơ-ra-ên được tự do ra khỏi Ai Cập. Đưa các thành phần của những Thi Thiên này ra khỏi văn cảnh của chúng sẽ dẫn tới những kết luận sai lầm. Hễ khi nào ta lấy một đoạn văn để sử dụng nó một cách sai lầm, đoạn văn ấy sẽ chẳng bao giờ có thể làm được điều mà ta định dùng nó. Thậm chí dù chỉ có một phần của một Thi Thiên bị ứng dụng sai, thì chắc chắn là các chủ đích của sự linh cảm của Đức Chúa Trời đối với nó cũng đã bị xuyên tạc rồi.
Việc Sử Dụng Thi Thiên Trong Dân Y-sơ-ra-ên Đời Xưa
Các Thi Thiên mang chức năng của những bài ca, được soạn thảo để dân Y-sơ-ra-ên xưa kia dùng trong sự thờ phượng. Nói chức năng là chúng tôi ngụ ý rằng không phải chúng chỉ được dùng một cách đơn giản như thỉnh thoảng chúng ta vẫn dùng các bài thánh ca hiện nay, nghĩa là như những tiết mục xen kẽ để tách rời các phần khác nhau trong một buổi nhóm thờ phượng nhằm chuẩn bị cho bài giảng. Trái lại, các Thi Thiên có chức năng rất quan trọng là kết nối người thờ phượng với Đức Chúa Trời.
Người ta không thể nào định niên đại cách chính xác cho phần lớn các Thi Thiên. Tuy nhiên, đó không phải là một vấn đề quan trọng cho việc giải kinh. Các Thi Thiên có thể sử dụng cho mọi thời đại. Dân Y-sơ-ra-ên đời xưa sử dụng chúng có ý nghĩa hướng dẫn chúng ta, nhưng rất khó nói được cho chúng ta hiểu về sự thờ phượng và cầu nguyện của một thời kỳ đã qua rồi. Khi Thi Thiên nói với tấm lòng một tín hữu hay một tập thể các tín hữu họp lại thờ phượng thì giá trị của chúng được chứng tỏ bất chấp văn hóa hay ranh giới địa dư..
Đời xưa, các Thi Thiên được sử dụng phổ biến như những công cụ trợ giúp cho việc thờ phượng trong dân Y-sơ-ra-ên khi họ đem của lễ đến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Rất có thể rằng nhiều ca sĩ chuyên nghiệp thỉnh thoảng đã hát các bài Thi Thiên trong lúc mọi người đang thờ phượng, dù việc này không thể chứng minh. Tuy nhiên, rõ ràng là việc hiểu biết các Thi Thiên đã lan tràn nhanh chóng ra ngoài phạm vi đền thờ, và dân chúng đã bắt đầu hát Thi Thiên trong đủ loại hoàn cảnh khi những lời lẽ trong đó diễn tả những thái độ và hoàn cảnh của họ. Cuối cùng các Thi Thiên được sưu tập lại theo từng nhóm gọi là “quyển.” Có năm quyển Thi Thiên như thế (Quyển 1: từ Thi Tv 1:1-41:13; Quyển 2: Thi Tv 42:1-72:20 Quyển 3: Thi Tv 73:1-89:52 Quyển 4: Thi Tv 90:1-106:48; Quyển 5: Thi Tv 107:1-150:6). Vì một số các nhóm Thi Thiên có những đặc điểm riêng, rất có thể các Thi Thiên nguyên được sưu tập thành nhiều loại để bây giờ được đưa vào năm “quyển” lớn. Nhưng sự phân loại đó vốn không có ý nghĩa gì so với cách sắp xếp hiện nay của sách Thi Thiên, vì có quá nhiều loại đã bị phân tán trong số nhiều loại khác nhau mà chúng ta tìm thấy trong cách sắp xếp hiện nay.
Theo các tựa đề, vốn không có trong các Thi Thiên nguyên thủy và do đó không được xem là có linh cảm, thì Đa-vít đã sáng tác gần phân nửa sách Thi Thiên, tất cả là bảy mươi ba bài, Môi-se sáng tác một bài (Thi Tv 90:1-17), Sa-lô-môn hai bài (Thi Tv 72:1-20; và 127:1-5), các con trai A-sáp và các con trai Cô-rê sáng tác nhiều bài.
Sau khi dân Y-sơ-ra-ên hồi hương từ cuộc lưu đày và xây lại đền thờ, rõ ràng là sách Thi Thiên đã trở thành một bộ sưu tập chính thức, hầu như là một “sách thánh ca cho đền thờ” với Thi Tv 1:1-8 được đặt tại vị trí đầu tiên như một phần giới thiệu, và Thi Tv 150:1-6 được đặt tại vị trí cuối cùng như phần kết luận. Căn cứ vào Tân Ước, chúng ta thấy người Do Thái nói chung và Chúa Giê-xu với các môn đệ Ngài nói riêng đều biết rất rõ sách Thi Thiên. Sách Thi Thiên là một phần trong việc thờ phượng của họ. Phao-lô khuyến khích các Cơ Đốc nhân ban đầu hãy khích lệ nhau trong việc “hát các Thi Thiên, thánh ca và các bài hát thuộc linh” (Eph Ep 5:19; CoCl 3:16). Cả ba từ ngữ này đều có thể ám chỉ các Thi Thiên, tuy khi đưa ra lời khuyên này, có lẽ Phao-lô cũng nghĩ đến nhiều loại âm nhạc khác nữa của Cơ Đốc giáo nguyên thủy.
Các Thể Loại Thi Thiên
Có thể tập họp các Thi Thiên thành bảy loại khác nhau. Tuy các loại này có thể trùng lặp hoặc có các phân loại nhỏ hơn, chúng rất hữu ích cho việc xếp hạng các Thi Thiên và do đó, hướng dẫn độc giả sử dụng đúng.
Các Thi Thiên Bi Ai
Loại Thi Thiên bi ai chiếm nhiều nhất trong sách Thi Thiên. Loại này có hơn sáu mươi bài, gồm những bài ca thương cá nhân lẫn tập thể. Các bài ca thương cá nhân (Thí dụ: Thi Tv 3:1-8, 22:1-31, 31:1-24, 39:1-13, 42:1-11, 57:1-11, 71:1-24, 120:1-7, 139:1-24, 142:1-7) giúp một người diễn tả những cuộc chiến đấu, nỗi đau khổ hoặc thất vọng với Đức Giê-hô-va. Các bài ca thương tập thể (thí dụ: 12:1-8, 44:1-26, 80:1-19, 94:1-23, 137:1-9) cũng có công dụng tương tự cho một nhóm người thay vì cho riêng một cá nhân mà thôi. Bạn đang chán nản thất vọng chăng? Hội Thánh bạn đang trải qua giai đoạn khó khăn chăng? Phải chăng bạn là một thành phần của một nhóm người, hoặc nhỏ hoặc lớn, đang ngạc nhiên tự hỏi tại sao mọi việc lại chẳng diễn tiến tốt đẹp như đáng lẽ phải xảy ra? Nếu đúng như thế, thì việc sử dụng các bài ca thương sẽ là một công cụ hữu dụng để bạn bộc lộ lòng mình với Chúa. Người Y-sơ-ra-ên đời xưa thường trải qua lắm truân chuyên. Các bài ca thương trong sách Thi thiên diễn tả bằng một nhiệt tình sâu xa, chân thành nỗi sầu muộn mà dân tộc ấy cảm nhận.
Các Thi Thiên Cảm Tạ
Như tên gọi, các Thi Thiên này được sử dụng trong những hoàn cảnh trái ngược với hoàn cảnh của những bài ca thương. Các Thi Thiên này bộc lộ niềm vui cho Đức Giê-hô-va vì một việc gì đó đã xảy ra tốt đẹp, vì hoàn cảnh thuận lợi và vì dân chúng có lý do để dâng lên lời cảm tạ Đức Chúa Trời vì lòng thành tín, sự bảo vệ và điều lợi ích Ngài đã ban cho họ. Các Thi Thiên cảm tạ giúp cho một người hoặc một tập thể diễn tả các tư tưởng và cảm xúc về lòng biết ơn của họ. Có tất cả sáu Thi Thiên cảm tạ tập thể (Thi Tv 65:1-13, 67:1-7, 75:1-10, 107:1-43, 124:1-8, 136:1-26) và mười Thi Thiên cảm tạ cá nhân (18:1-50, 30:1-12, 32:1-11, 34:1-22, 40:1-17, 66:1-20, 92:1-15, 116:1-19, 118:1-29, 138:1-8) trong sách Thi Thiên.
Các Bài Ca Tán Tụng
Các Thi Thiên này không nhằm bộc lộ những nỗi thống khổ trước đó hay các thành tựu đầy vui mừng gần đây, mà tập trung ca ngợi Đức Chúa Trời vì chính Ngài, tính cách cao trọng vĩ đại và lòng nhân từ của Ngài đối với cả thế gian cũng như đối với dân Ngài. Đức Chúa Trời có thể được ca ngợi là Đấng Tạo Hóa như trong các Thi Thiên 8:1-9; 19:10-14; 104:1-35; 148:1-14. Ngài có thể được ca ngợi là Đấng bảo vệ và làm ơn cho dân Y-sơ-ra-ên, như trong các 66:1-20; 100:1-5; 111:1-10; 114:1-8 và 149:1-9. Ngài có thể được ca tụng là Chúa Tể của lịch sử như trong các Thi Thiên 33:1-22; 103:1-22; 113:1-9; 117:1-2; 145:1-147:20. Đức Chúa Trời đáng được ca tụng. Các Thi Thiên này đặc biệt được dùng cho việc ca ngợi tán tụng trong khi thờ phượng của cá nhân hoặc tập thể.
Các Thi Thiên về Lịch Sử Cứu Rỗi
Loại Thi Thiên ít oi này (Thi Tv 78:1-72, 105:1-45, 106:1-48, 135:1-21, 136:1-26) nhằm kiểm điểm lại lịch sử các công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời giữa dân Y-sơ-ra-ên, nhất là việc Ngài đã giải phóng họ khỏi ách nô lệ tại Ai Cập và đã lập họ thành một dân tộc. Dân Y-sơ-ra-ên - mà từ đó Chúa Cứu Thế Giê-xu đã ra đời và Đức Chúa Trời ban Lời Ngài qua họ - dĩ nhiên là một dân tộc đặc biệt trong lịch sử nhân loại, và truyện tích về họ đã được ca ngợi trong các Thi Thiên về lịch sử cứu rỗi này.
Các Thi Thiên Ca Mừng và Xác Quyết
Thuộc thể loại này có nhiều loại Thi Thiên. Một nhóm đầu tiên là các bài lễ nghi tái lập giao ước, như Thi Tv 50:1-23 và 81:1-16 nhằm mục đích đưa dân của Đức Chúa Trời đến với việc làm mới lại giao ước mà Ngài đã ban cho họ trên núi Si-na-i. Các Thi Thiên này có thể được sử dụng hữu hiệu trong sự hướng dẫn thờ phượng cho một buổi nhóm phục hưng. Thi Tv 89:1-52 và 132:1-18 thường được xếp vào hạng các Thi Thiên giao ước của Đa-vít, ca tụng tầm quan trọng của việc Đức Chúa Trời đã chọn dòng dõi của Đa-vít. Vì cuối cùng, dòng dõi ấy dẫn đến việc ra đời của Chúa chúng ta, các Thi Thiên này cung cấp phần bối cảnh cho chức vụ làm Đấng Mết-si-a của Ngài. Trong sách Thi Thiên có chín bài đặc biệt đề cập vương quyền. Các Thi Thiên ấy được gọi là các Thi Thiên Hoàng Gia (Thi Tv 2:1-12, 18:1-50, 21:1-13, 45:1-17, 72:1-20, 101:1-8, 110:1-7, 144:1-15). Trong số đó có Thi Thiên 18 là Thi Thiên cảm tạ của bậc đế vương, và Thi Thiên 144 là bài ca thương của nhà vua. Trong dân Y-sơ-ra-ên đời xưa, vương quyền là một định chế quan trọng vì qua đó, Đức Chúa Trời cho dân chúng được ổn định và bảo vệ. Tuy phần đông các vua Y-sơ-ra-ên đều bất trung với Đức Chúa Trời, Ngài vẫn có thể dùng họ đem lợi ích cho dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời hành động qua trung gian là xã hội, và lời ca ngợi vai trò của những trung gian này được tìm thấy trong các Thi Thiên hoàng gia.
Liên hệ với các Thi Thiên hoàng gia là các Thi Thiên đăng quang (Thi Tv 24:1-10, 29:1-11, 47:1-9, 93:1-5, 95:1-99:9). Rất có thể là các Thi Thiên này vốn được dùng cho ngày lễ mừng một nhà vua lên ngôi trong xứ Y-sơ-ra-ên đời xưa, một ngày lễ mừng sẽ được nhắc đi nhắc lại hằng năm. Một số học giả lý luận rằng những Thi Thiên cũng ám chỉ việc đăng quang của chính Đức Giê-hô-va, và được dùng trong nghi lễ trong những dịp như thế, tuy không có nhiều bằng chứng.
Cuối cùng, còn có một hạng gọi là Những bài ca Si-ôn hay Những bài ca cho thành phố Giê-ru-sa-lem (Thi Tv 46:1-11, 48:1-14, 76:1-12, 84:1-12, 87:1-7, 122:1-9). Theo những lời tiên báo của Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên thông qua Môi-se lúc họ còn trong hoang mạc (Phục truyền 12), thì Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành thành phố trung tâm của xứ Y-sơ-ra-ên, nơi đền thờ sẽ được xây lên, và từ đó Đa-vít sẽ thực thi vương quyền của mình. Như là “thành thánh,” Giê-ru-sa-lem được đặc biệt chú ý và ca ngợi trong những bài hát này. Vì Tân Ước nhiều lần biến nó thành biểu tượng của thành Giê-ru-sa-lem mới (trên trời), các Thi Thiên này vẫn còn hữu dụng cho sự thờ phượng của Cơ Đốc nhân.
Các Thi Thiên Khôn Ngoan
Có tám Thi Thiên có thể xếp vào hạng này: Thi Tv 36:1-12, 37:1-40, 49:1-20, 73:1-28, 112:1-10, 127:1-5, 128:1-6, 133:1-3. Chúng ta cũng có thể ghi nhận rằng chính Châm Ngôn chương 8, cũng là một Thi Thiên, ca tụng công việc của sự khôn ngoan và một đời sống khôn ngoan, giống như các Thi Thiên khác. Đọc các Thi Thiên này cùng với sách Châm ngôn sẽ rất có lợi (chương 12).
Các Bài Ca Tin Cậy
Mười Thi Thiên này (11:1-7, 16:1-11, 23:1-6, 27:1-14, 62:1-12, 63:1-11, 91:1-16, 121:1-8, 125:1-5, 131:1-3) chú trọng vào sự kiện Đức Chúa Trời là đáng tin cậy và cả trong những khi tuyệt vọng, lòng nhân từ và lo lắng chăm sóc của Ngài đối với dân Ngài cũng cần phải được bộc lộ. Đức Chúa Trời rất đẹp lòng khi biết rằng những người tin Ngài biết đặt lòng trông cậy nơi Ngài cho đời sống và những gì Ngài sẽ chọn ban cho họ. Các Thi Thiên này giúp chúng ta bộc lộ lòng tin cậy của mình đối với Đức Chúa Trời cho dù chúng ta có đang làm điều thiện việc tốt hay không.
Với những người muốn khám phá thêm nhiều loại Thi Thiên khác nữa, và muốn hiểu các đặc điểm để xác định các Thi Thiên đã được xếp hạng phân loại như thế nào, chúng tôi xin giới thiệu một quyển sách có nhan đề là Out Of The Depths: The Psalms Speak For Us To Day, 2nd ed., của Bernhard Anderson (Louisville: Wesminster, John Knox, 1983). Tác phẩm này chẳng những có thêm nhiều chi tiết về chức năng của các Thi Thiên trong dân Y-sơ-ra-ên đời xưa mà còn có nhiều gợi ý đầy đủ hơn về cách thức chúng có thể vận hành trong đời sống các tín hữu ngày nay nữa.
Một Bài Giải Kinh Mẫu
Nhằm minh họa thế nào việc biết rõ hình thức và cách cấu trúc của một Thi Thiên giúp ích chúng ta trong việc lãnh hội thông điệp của nó, chúng tôi đã chọn hai bài Thi Thiên để khảo xét thật kỹ. Một bài là một ai ca cá nhân; bài kia là một Thi Thiên cảm tạ.
Thi Thiên 3: Bài Ai Ca
Khi đối chiếu cẩn thận tất cả các Thi Thiên ca thương với nhau, các học giả đã phân biệt được sáu yếu tố vẫn xuất hiện bằng cách này hay cách khác trong hầu hết tất cả các Thi Thiên cùng loại. Các yếu tố đó thường theo thứ tự như sau:
1. Đấng kêu cầu. Tác giả nêu rõ Đấng mà bài Thi Thiên này được dâng lên như một bài cầu nguyện. Lẽ dĩ nhiên, Đấng đó là Đức Giê-hô-va.
2. Lời than phiền. Tác giả dốc đổ một cách chân thành và mạnh mẽ một lời phàn nàn, nêu rõ nan đề và lý do tác giả tìm đến Đức Giê-hô-va để nhờ trợ giúp.
3. Lòng tin cậy. Tác giả bộc lộc ngay lòng tin cậy đối với Đức Chúa Trời. Nếu bạn không tin cậy Ngài thì tại sao còn than phiền với Ngài? Hơn nữa, bạn còn phải tin cậy là Ngài sẽ trả lời cho điều than phiền của bạn theo cách Ngài thấy là thích hợp, chứ không nhất thiết theo đúng điều mà bạn mong muốn.
4. Sự giải cứu. Tác giả nài xin Đức Chúa Trời giải cứu mình khỏi hoàn cảnh được mô tả trong lời than phiền.
5. Lòng tin chắc. Tác giả diễn tả lòng tin chắc của mình rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu. Lòng tin chắc này phần nào đi đôi với cách bộc lộ lòng tin cậy.
6. Lời ca tụng. Tác giả dâng lên lời ca ngợi tán tụng, cảm tạ và tôn vinh Đức Chúa Trời vì các phước hạnh trong quá khứ, hiện tại và/hoặc tương lai.

Thi Thiên 3:1-8
1 Đức Giê-hô-va ôi, các cừu địch tôi nhiều biết bao!
Lắm kẻ dấy lên cùng tôi thay!
2 Biết bao kẻ nói về tôi rằng
“Đức Chúa Trời sẽ chẳng giải cứu nó đâu”
3 Nhưng hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là cái khiên chở che tôi,
là Đấng vinh hiển của tôi, Đấng cất đầu tôi lên.
4 Tôi lớn tiếng kêu cầu Đức Giê-hô-va
và từ núi thánh Ngài, Ngài đáp lời tôi.
5 Tôi nằm xuống và ngủ;
tôi tỉnh thức vì Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.
6 Tôi sẽ không sợ muôn người
vây tôi khắp bốn bên.
7 Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy chổi dậy!
Hỡi Đức Chúa Trời tôi, hãy cứu tôi!
Vì Chúa đã vả má kẻ thù nghịch tôi;
và bẻ gãy răng kẻ ác!
8 Sự giải cứu thuộc về Đức Giê-hô-va
Nguyện phước Ngài giáng trên dân sự Ngài.
Trong Thi Thiên này, sáu yếu tố của một bài ca thương cần phải nhận diện gồm có:
1. Đấng kêu cầu. Đó là “Đức Giê-hô-va” trong câu 1. Cần lưu ý là lời dâng lên Chúa không cần phải dài dòng hay hoa mỹ. Những bài cầu nguyện đơn sơ cũng hữu hiệu y như những bài cầu nguyện hùng hồn. Chúng ta chẳng cần phải “nịnh bợ” Đức Chúa Trời.
2. Lời than phiền. Phần này gồm đoạn còn lại của câu 1 và cả câu 2. Đa-vít mô tả các kẻ thù của mình (trong các Thi Thiên này có thể là các biểu tượng được nhân cách hóa của hầu như bất kỳ một nỗi khốn khó hay vấn đề nào), và hoàn cảnh tình hình của ông thoạt nhìn qua đã có thể thấy là nguy kịch như thế nào. Bất cứ một khó khăn nào cũng đều có thể được diễn tả giống như thế.
3. Lòng tin cậy. Ở đây, mấy câu 3-6 đều thuộc về phần diễn tả lòng tin cậy vào Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời là ai, Ngài nhậm lời cầu nguyện như thế nào, Ngài làm thế nào để giữ cho người thuộc về Ngài được an toàn cả khi hoàn cảnh tình hình có vẻ như vô vọng - tất cả những điều này là chứng cứ hiển nhiên rằng Đức Chúa Trời đáng tin cậy.
4. Sự giải cứu. Trong câu 7a “Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy chổi dậy! Hỡi Đức Chúa Trời tôi hãy cứu tôi”). Đa-vít đưa ra lời khẩn xin của ông (và của chúng ta) để được trợ giúp. Chú ý thế nào lời cầu xin trợ giúp trực tiếp đã được giữ lại cho đến tận điểm này của bài Thi Thiên, nghĩa là sau khi đã nói ra lòng tin cậy. Trật tự này không bắt buộc, nhưng là bình thường. Đặc điểm của những bài ca thương dường như là có một thế cân bằng giữa việc cầu xin và việc ca ngợi tán tụng, và đây phải là điểm dạy dỗ cho chúng ta trong những bài cầu nguyện riêng của chúng ta.
5. Lòng tin chắc. Phần còn lại của câu 7 (“vì Chúa đã vả...” vv...) là câu phát biểu lòng tin chắc. Có lẽ bạn sẽ hỏi: “Bức tranh về quyền lực của Đức Chúa Trời này truyền đạt loại niềm tin chắc chắc nào?” Thật ra, một lần nữa, ngôn ngữ ở đây có nghĩa bóng chứ không phải là nghĩa đen. Cách dịch diễn ý thích hợp ở đây có lẽ là “Ngài đã tiêu trừ tất cả vấn nạn của tôi rồi” vì các “kẻ thù” và “kẻ ác” ám chỉ các vấn đề khó khăn và những cơn hoạn nạn. Điều Đa-vít đã cảm thấy lúc đó, cũng là điều chúng ta đang cảm thấy bây giờ. Bằng bức tranh sống động này, sự thất bại của những gì áp bức chúng ta đã được hình dung ra. Nhưng nên nhớ rằng phần này của bài Thi Thiên không hề hứa hẹn rằng con dân Chúa (người thuộc về Đức Chúa Trời) sẽ được giải cứu, không còn gặp hoạn nạn khó khăn nữa. Nó diễn tả lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ tự thu xếp lấy thời gian của Ngài để tự lo liệu lấy các vấn đề thật sự có ý nghĩa đối với chúng ta tùy theo kế hoạch của Ngài dành cho chúng ta.
6. Lời ca tụng. Câu 8 đề cao Đức Chúa Trời vì sự thành tín của Ngài. Ngài được công bố là Đấng giải cứu, và trong lời cầu xin Ngài ban phước, Ngài mặc nhiên được tuyên bố là Đấng ban phước (bạn sẽ chẳng cầu xin được ban phước nơi một người không thể ban cho phước hạnh).
Có nhiều điều có thể học hỏi từ một bài ca thương như Thi Thiên 3 này. Tầm quan trọng của một bài cầu nguyện cân bằng (những lời cầu xin phải quân bình với lời tri ân tán dương; lời than phiền phải quân bình với những lời bộc lộ lòng tin cậy) có lẽ phải đứng đầu bảng liệt kê. Chứng cứ của lòng chân thành (lưu ý là thế nào Đa-vít đã được linh cảm để có lời lẽ cho lời than phiền và kêu xin cách tự do và mạnh mẽ) đưa chúng ta đến chỗ càng sẵn sàng hơn để tự bộc lộ công khai với Đức Chúa Trời mà chẳng cần che giấu các vấn đề của mình.
Tuy nhiên, bài Thi Thiên vốn không nhằm mục đích giáo huấn nhưng nhằm hướng dẫn. Chúng ta có thể dùng chính bài Thi Thiên này khi gặp bước đường cùng, bị tuyệt vọng, có vẻ như bị nhiều vấn đề vây chặt, cảm thấy bị thất bại. Nó sẽ giúp chúng ta bộc lộ tư tưởng, cảm xúc, và trông cậy vào lòng thành tín của Đức Chúa Trời, y như dân Y-sơ-ra-ên đời xưa. Đức Chúa Trời đã đặt nó vào trong Kinh Thánh nhằm giúp chúng ta tương thông với Ngài, để “trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em” (IPhi 1Pr 5:7).
Các Thi Thiên ca thương tập thể có khi còn được gọi là “ca thương cộng đồng” cũng theo cùng một mẫu mực gồm sáu bước giống như thế. Một Hội Thánh hay một tập thể nào khác gặp hoàn cảnh khó khăn có thể dùng các Thi Thiên này giống như cách một cá nhân dùng một Thi Thiên như Thi thiên 3.
Thi Thiên 138: Thi Thiên Cảm Tạ
Các Thi Thiên cảm tạ có thể có một cấu trúc khác, vì chúng mang một chủ đích khác hơn trong điều chúng bộc lộ. Các yếu tố của một Thi Thiên cảm tạ như sau:
1. Phần dẫn nhập. Ở đây, tác giả bài Thi Thiên tóm tắt lời chứng về cách Đức Chúa Trời giúp đỡ.
2. Cơn hoạn nạn. Tác giả mô tả hoàn cảnh mà từ đó Đức Chúa Trời giải cứu mình.
3. Lời kêu cầu. Tác giả nhắc lại lời kêu cầu mình đã dâng lên cho Đức Chúa Trời.
4. Sự giải cứu. Mô tả sự giải cứu của Đức Chúa Trời.
5. Lời chứng. Lời ca tụng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời.
Như bạn có thể thấy ngay từ đầu, các Thi Thiên cảm tạ tập trung vào việc tán dương các trường hợp mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ lòng nhân từ thương xót trong quá khứ. Một Thi Thiên cảm tạ thường tạ ơn Đức Chúa Trời về điều Ngài đã làm. Thứ tự của năm yếu tố này có thể thay đổi nhiều. Một trật tự cố định cứng nhắc có thể hạn chế tinh thần sáng tạo của tác giả được linh cảm.
Thi Tv 138:1-8
1 Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hết lòng cảm tạ Chúa;
hát ngợi khen Chúa trước mặt các thần.
2 Tôi sẽ thờ lạy hướng về đền thánh của Chúa,
cảm tạ danh Chúa
vì sự nhân từ và sự chân thật của Chúa,
Vì Chúa đã làm cho danh Ngài và Lời Ngài
được tôn cao trên hết mọi sự.
3 Khi tôi kêu cầu, Ngài đã đáp lời tôi;
giục lòng tôi mạnh mẽ.
4 Hỡi Đức Giê-hô-va, nguyện các vua thế gian cảm tạ Ngài
khi nghe những lời của miệng Ngài
5 Nguyện họ sẽ hát xướng về các đường lối của Đức Giê-hô-va,
vì vinh hiển của Đức Giê-hô-va lớn thay.
6 Dầu Đức Giê-hô-va ở trên cao, Ngài đoái đến người hèn hạ,
còn kẻ kiêu ngạo thì Ngài đã nhận biết từ xa.
7 Dầu tôi đi giữa gian truân
Chúa vẫn bảo tồn mạng sống tôi:
giơ tay ra chống trả cơn giận của kẻ thù nghịch tôi
và tay hữu Chúa đã cứu tôi.
8 Đức Giê-hô-va sẽ làm xong chủ đích của Ngài đối với tôi;
hỡi Đức Giê-hô-va, tình yêu Ngài tồn tại miên viễn,
xin chớ bỏ các công việc của tay Ngài.
1. Phần dẫn nhập. Trong hai câu 1-2, Đa-vít diễn tả ý định ca tụng Đức Chúa Trời của ông vì cớ tình yêu và sự thành tín của Ngài đã bày tỏ ra, cũng như vì Đức Chúa Trời vĩ đại đáng ca ngợi tán dương.
2. Cơn hoạn nạn. Trong câu 3, cơn hoạn nạn đã không được nêu rõ - có lẽ đó là một thứ khó khăn mà khi gặp nó, Đa-vít đã kêu cầu Đức Giê-hô-va. Cho nên, Thi Thiên này cũng có thể được Cơ Đốc nhân nào sử dụng khi muốn tạ ơn Đức Chúa Trời về bất kỳ một sự trợ giúp nào.
3. Lời kêu cầu. Lời kêu cầu cũng đã có trong câu 3 nữa. Đức Chúa Trời được ca tụng vì đã gia ân đáp lời cho Đa-vít khi ông gặp hoạn nạn (không nêu rõ).
4. Sự giải cứu. Ở đây hai câu 6-7 cho thấy rõ ràng việc Đức Chúa Trời đã quan tâm đến kẻ chẳng xứng đáng đang khẩn cần Ngài, bảo tồn sinh mạng của người ấy giữa cơn hoạn nạn (có lẽ nhiều lần, vì động từ “bảo tồn” được dùng thuộc thì hiện tại) và cứu vớt Đa-vít khỏi các “kẻ thù” được dùng để thay cho chúng ta, diễn tả chính lời tán dương Đức Chúa Trời của chúng ta vì Ngài cũng từng thành tín giúp đỡ chúng ta trong quá khứ nữa.
5. Lời chứng. Mấy câu 4-5 và 8 đều họp thành lời chứng của Đa-vít (và của cả chúng ta) cho sự nhân từ thiện hảo của Đức Chúa trời. Đức Chúa Trời nhân từ đến nỗi Ngài xứng đáng để được tất cả bậc cao trọng trên đất ca ngợi tán tụng (câu 4-5). Ngài có thể được mọi người tin cậy cũng như luôn luôn thực hiện các lời hứa và ý định của Ngài. Tình yêu của Ngài chẳng bao giờ ngưng nghỉ (câu 8).
Một bài ca cảm tạ như Thi Thiên 138 hàm chứa biết bao điều trông mong cao quí về mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Thật hữu ích khi chúng ta biết sắp xếp ý tưởng và cảm xúc riêng của mình về sự thành tín mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra trên chúng ta qua nhiều năm tháng.
Nếu bạn muốn tiếp tục tra cứu nội dung của nhiều loại Thi Thiên khác hơn các loại đã được thảo luận ở đây, bạn sẽ nhận thấy tác phẩm của Anderson giúp được cho bạn rất nhiều. Tuy nhiên, nhiều kết quả giống như cũng có thể có được, nếu bạn chỉ chịu khó đọc nhiều Thi Thiên thuộc cùng một loại nào đó, rồi tự mình phân tích lấy các đặc điểm chung trong đó. Điều quan trọng nhất là phải nhận thức rằng các Thi Thiên vốn khác nhau, và biết phân biệt các loại khác nhau sẽ giúp chúng ta sử dụng cách khôn ngoan các Thi Thiên đó.
Một Lưu Ý Đặc Biệt về “Các Thi Thiên Nguyền Rủa”
Một lý do khiến các Thi Thiên hấp dẫn được con dân Chúa qua mọi thời đại là ngôn ngữ dễ hiểu của chúng. Người ta đã tìm thấy trong đó đầy đủ mọi xúc cảm, kể cả các cảm xúc cực đoan nhất của con người. Cho dù bạn có buồn bực đến đâu, tác giả Thi Thiên đều có thể giúp bạn bộc lộ nỗi buồn đó của bạn, cả đến những cảm xúc tầm thườngnhất, nếu cần (chẳng hạn Thi Thiên 69:7-20 hoặc 88:3-9). Cho dù bạn có vui mừng đến đâu, tác giả Thi Thiên vẫn có thể giúp bạn diễn tả được niềm vui đó (thí dụ Thi Thiên 98:1-9 hoặc 133:1-3 hay 23:5-6). Thật khó có thể tránh được ngôn ngữ cường điệu (phóng đại).
Buồn vui thì chẳng có tội lỗi gì cả, nhưng cay đắng, giận dữ, hận thù lại có thể đưa ta đến các tư tưởng hoặc hành động tội lỗi, như mong muốn hay tìm cách làm hại người khác. Nhưng bộc lộ cơn giận bằng lời nói - để cho những lời lẽ phẫn nộ thoát ra ngoài - vẫn tốt hơn là chất chứa bên trong để rồi biến nó thành bạo động. Nhiều phần của một số các bài Thi Thiên giúp chúng ta làm công việc ấy với mức độ cao. Chúng hướng dẫn chúng ta khai thông cơn giận với và qua Đức Chúa Trời bằng lời nói, thay vì hướng nó vào một người khác, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cử chỉ. Các Thi Thiên chứa đựng những lời bộc bạch với Đức Chúa Trời về cơn giận đối với người khác được gọi là các Thi Thiên nguyền rủa.
Tìm cách phủ nhận rằng thỉnh thoảng chúng ta cũng có những tư tưởng tiêu cực đối với tha nhân, cho dù các tư tưởng ấy có luôn luôn là tội lỗi hay không, thì chỉ là vừa vô ích vừa không thành thật. Thông qua các Thi Thiên nguyền rủa, Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta “hãy giận, nhưng chớ phạm tội” (Thi Tv 4:4, theo bản Anh văn). Chúng ta phải làm trọn lời giáo huấn của Tân Ước “chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn, và đừng để cho ma quỉ nhân dịp” (Eph Ep 4:26, 27) bằng cách bộc lộ trực tiếp cơn phẫn nộ của chúng ta với và qua Đức Chúa Trời, thay vì tìm cách báo trả điều ác cho kẻ đã làm hại chúng ta. Các Thi Thiên nguyền rủa kiềm hãm cơn giận của chúng ta và giúp chúng ta bộc lộ nó (với Đức Chúa Trời) bằng cách dùng lối nói cường điệu (phóng đại) cách rõ ràng và có chủ đích mà chúng ta đã biết trong các loại Thi Thiên khác.
Những phần nguyền rủa trong các Thi Thiên hầu như luôn luôn được tìm thấy trong các bài ca thương. Thi Tv 3:1-8 đã được mô tả ở phần trên, có chứa một lời nguyền rủa trong câu 7 mà cũng như phần lớn các Thi Thiên khác trong sách Thi Thiên, vốn rất ngắn gọn, do đó dường như không có mức độ xúc phạm cao lắm. Tuy nhiên có một số những lời nguyền rủa khá dài dòng và độc địa (xem các phần của các Thi thiên 12:1-8, 35:1-28, 58:1-11, 59:1-17, 69:1-36, 70:1-5, 83:1-18, 109:1-31, 137:1-9, 140:1-13).
Chẳng hạn, bạn có thể xem Thi Thiên 137:7-9 sau đây:
7 Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy nhớ lại các con cái Ê-đôm
trong ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ
Chúng nó gào lên rằng “hãy hủy hoại,”
“hãy hủy hoại cho tận nền nó đi.”
8 Ớ con gái Ba-by-lôn, là kẻ phải dành cho sự hủy diệt
phước cho người báo trả ngươi
tùy theo điều ác ngươi đã làm cho chúng ta -
9 phước cho người nào bắt các con nhỏ ngươi
đem chà nát chúng nơi hòn đá!
Thi Thiên 137:1-9 là một bài ca thương về nỗi khốn khổ mà dân Y-sơ-ra-ên đã phải chịu trong cuộc lưu đày; thủ đô của họ là thành phố Giê-ru-sa-lem đã bị phá hủy, đất nước họ đã bị người Ba-by-lôn chiếm đoạt, lại còn được dân Ê-đôm trợ lực và khích lệ nữa (xem sách Áp-đia). Nhờ chú ý đến Lời Đức Chúa Trời chép rằng “sự báo thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng” (PhuDnl 32:35; RoRm 12:19) tác giả bài ca thương này kêu gào Đức Chúa Trời hãy đoán phạt họ tùy theo các lời rủa sả trong giao ước (xem chương 10). Gồm luôn trong các lời nguyền rủa này là việc tận diệt toàn thể xã hội gian ác gồm cả mọi thành viên trong gia đình (PhuDnl 32:25, so sánh PhuDnl 28:53-57). Lẽ dĩ nhiên là chẳng có chỗ nào trong Kinh Thánh dạy rằng phải xem sự đoán phạt tạm thời này ám chỉ về bất cứ điều gì liên quan đến số phận đời đời của các thành viên của gia đình như thế.
Việc tác giả đã làm trong Thi Tv 137:1-9 là thưa với Đức Chúa Trời về cảm nghĩ của những người Y-sơ-ra-ên đang chịu đau khổ, sử dụng ngôn ngữ phóng đại về một số phận cùng cực đã được tìm thấy ngay trong các lời rủa sả của giao ước. Sự kiện dường như tác giả đang nói thẳng với người Ba-by-lôn chỉ thuộc về văn phong của bài Thi Thiên - cũng như tác giả nói thẳng với thành Giê-ru-sa-lem trong câu 5. Chính Đức Chúa Trời mới là Đấng thực sự được nghe những lời lẽ đầy phẫn nộ này (c.7), cũng như phải chính là Đức Chúa Trời, và chỉ một mình Ngài mà thôi, mới nghe được những lời lẽ đầy phẫn nộ của chúng ta. Nếu được hiểu trong văn cảnh của chúng như một phần của ngôn ngữ ca thương, và nếu được dùng để khai thông và kiểm soát cơn giận có tiềm năng gây tội lỗi của chúng ta, các Thi Thiên nguyền rủa dĩ nhiên có thể giữ được cho chúng ta khỏi phạm tội. Chất chứa hoặc bộc lộ cơn giận chống lại tha nhân là điều chúng ta cần phải tránh (Mat Mt 5:22).
Các Thi Thiên nguyền rủa không mâu thuẫn với lời dạy của Chúa Giê-xu là hãy yêu các kẻ thù. Chúng ta vốn có xu hướng sai lầm là xem “yêu” có nghĩa là có một cảm giác nồng hậu đối với người nào đó. Tuy nhiên, lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu định nghĩa tình yêu một cách tích cực. Đó không phải là bạn cảm nhận như thế nào về một người nào đó, nhưng là bạn làm gì cho người đó để chứng tỏ tình yêu (LuLc 10:25-37). Điều răn của Tân Ước là thật sự yêu thương chứ không phải là cảm thấy yêu thương mà thôi. Kết hợp hai sự việc này lại, thì các Thi Thiên nguyền rủa giúp chúng ta khi chúng ta cảm thấy giận dữ, chứ không phải là lúc chúng ta hành động vì giận dữ. Chúng ta phải chân thành bộc lộ cơn phẫn nộ của chúng ta với Đức Chúa Trời cho dù nó có cay đắng hay cảm thấy đáng giận như thế nào, rồi để Đức Chúa Trời xử sự đối với những người đã lợi dụng chúng ta. Kẻ thù cứ tiếp tục làm ác trước sự khoan dung chịu đựng của chúng ta dĩ nhiên sẽ phải gặp rắc rối (RoRm 12:20). Vì thế chức năng thật sự của các Thi Thiên này không phải là giúp chúng ta không để “điều ác thắng mình” mà nhằm giúp chúng ta được giải thoát khỏi sự giận dữ để chúng ta “lấy điều thiện thắng điều ác” (RoRm 12:21).
Một lời sau cùng: Từ ngữ “ghét” trong sách Thi Thiên nói chung thường bị hiểu lầm. Khi tác giả Thi Thiên nói “Tôi ghét chúng nó, thật là ghét” (Thi Tv 139:22) thì không hàm ý là ông đã phạm tội. Nếu không phải là như thế, thì câu Đức Chúa Trời tuyên bố rằng “Ta ghét Ê-sau” (MaMl 1:2; đ/c RoRm 9:13) sẽ chứng minh rằng Ngài là một tội nhân. Từ ngữ Hy-bá-lai được dịch ra là “ghét” trong một số văn cảnh vốn có nghĩa là “khinh dể.” Nhưng nó cũng có thể có nghĩa là “không muốn hay không thể ở chung với” hoặc “từ khước,” cả hai cách định nghĩa tiêu chuẩn này đều có trong các sách từ vựng Hy-bá-lai về từ ngữ này. Vì vậy trong vấn đề này, ta không nên cho rằng ngôn ngữ nguyền rủa của các Thi Thiên vi phạm lời truyền dạy của Kinh Thánh ở những chỗ khác, kể cả Mat Mt 5:22.
Vài Nhận Định Cuối Cùng Về Giảng Kinh
Vì Cơ Đốc nhân qua nhiều thế hệ hầu như đều theo bản năng đã quay sang với sách Thi thiên khi có nhu cầu, thắc mắc hoặc niềm vui, cho nên chúng tôi phân vân không dám đưa ra một phần đề cập “giảng kinh” cho các Thi Thiên, vì e rằng sẽ bị nhạt nhẽo. Tuy nhiên cũng xin đưa ra một vài nhận định mong rằng sẽ giúp chúng ta càng được niềm vui lớn hơn khi cầu nguyện, đọc hoặc hát Thi Thiên.
Thứ nhất, thiết tưởng cần lưu ý rằng theo bản tính tự nhiên Cơ Đốc nhân thường muốn có câu trả lời căn bản cho vấn đề mà chúng ta đã nêu ra ở đầu chương sách này, đó là: Làm thế nào những lời được nói với Đức Chúa Trời này lại được xem là Lời từ Đức Chúa Trời phán dạy chúng ta? Câu trả lời là cũng như đối với dân Y-sơ-ra-ên - những Thi Thiên này được xem là những cơ hội để chúng ta nói với Đức Chúa Trời bằng những lời mà Ngài đã linh cảm nhiều người khác trong quá khứ đã nói với Ngài.
Ba Lợi Ích Căn Bản của Thi Thiên
Căn cứ vào cách sử dụng các Thi Thiên có trong dân Y-sơ-ra-ên đời xưa lẫn trong Hội Thánh Tân Ước, chúng ta có thể thấy ba cách thức quan trọng mà các Cơ Đốc nhân có thể sử dụng các Thi Thiên. Một là phải nhớ rằng sách Thi thiên là sách hướng dẫn thờ phượng. Chúng tôi muốn nói rằng người thờ phượng muốn ca tụng Đức Chúa Trời, hoặc kêu cầu Ngài, hay nhớ lại những điều lợi ích Đức Chúa Trời đã ban cho mình, có thể dùng sách Thi thiên như một phương tiện chính thức để bộc lộ các tư tưởng và cảm xúc của mình. Một Thi Thiên là những lời được bảo tồn vốn đã được soạn thảo thật cẩn thận nhằm để nói ra. Khi một Thi Thiên đụng chạm đến một đề mục hay luận đề mà chúng ta muốn bộc lộ với Chúa, nó sẽ giúp chúng ta dễ dàng bộc lộ. Nó có thể giúp chúng ta bộc lộ các mối quan tâm của mình cho dầu chúng ta thiếu khả năng để tìm ra những lời lẽ chính xác.
Thứ hai, các Thi Thiên chứng tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào có thể chân thành nương cậy vào Đức Chúa Trời. Tuy chúng không cung cấp nhiều lời dạy dỗ về giáo lý, chúng có thể đưa ra thí dụ là một thứ lời dạy dỗ. Ta có thể học hỏi từ các Thi Thiên cách thức phải tỏ ra chân thật và cởi mở khi bộc lộ niềm vui, nỗi thất vọng, cơn thịnh nộ hoặc các cảm xúc khác nữa.
Thứ ba, các Thi Thiên chứng tỏ tầm quan trọng của việc phản ảnh và suy niệm về những việc Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Chúng mời gọi chúng ta cầu nguyện, suy nghĩ thật cẩn thận Lời Đức Chúa Trời (đó là ý nghĩa của sự suy niệm) và tạo mối thông công với các tín hữu khác. Những việc như thế giúp hình thành trong chúng ta một đời sống trong sạch và nhân ái. Khác với các thể loại văn chương khác, các Thi Thiên nâng chúng ta lên một vị trí mà tại đó, chúng ta có thể tương thông với Đức Chúa Trời, nhận thức được tính cách vĩ đại của Nước Ngài và về việc sống với Ngài đời đời sẽ như thế nào. Cả trong những khoảnh khắc đen tối nhất trong cuộc đời dường như khó có thể chịu đựng nỗi, Đức Chúa Trời vẫn ở cùng chúng ta. “Từ các vực sâu” (Thi Tv 130:1) chúng ta từng chờ đợi sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va, vì biết rằng chúng ta có thể tin cậy Ngài, cho dầu chúng ta có những cảm xúc ra sao. Cầu cứu với Đức Chúa Trời không phải là việc nhận xét về lòng thành tín của Ngài, nhưng là sự xác nhận lòng thành tín ấy.
Một Điểm Cần Chú Ý
Chúng tôi kết thúc chương này bằng một điểm lưu ý rất quan trọng: Sách Thi Thiên không bảo đảm một cuộc đời vui thú, tốt đẹp. Cho rằng Đức Chúa Trời đã hứa ban cho những người tin Ngài hạnh phúc, và cho cuộc đời họ được miễn trừ mọi hoạn nạn là sự hiểu sai về ngôn ngữ của Thi Thiên. Đa-vít, người từng diễn tả phước hạnh của Đức Chúa Trời trong các Thi Thiên bằng những lời lẽ mạnh mẽ nhất gần như luôn gặp những thảm kịch và thất vọng, như I Sa-mu-ên đã mô tả. Thế nhưng ông luôn ca tụng và cảm tạ Đức Chúa Trời, cả trong những bài ca thương nữa, như Phao-lô cũng từng khuyên chúng ta phải làm như vậy ngay giữa lúc gặp khó khăn đau khổ (Eph Ep 1:16, 5-20). Đức Chúa Trời đáng được ca ngợi tán tụng vì sự vĩ đại và thiện hảo của Ngài, cho dầu giữa lúc chúng ta gặp khốn khó. Không ai được miễn trừ khỏi hoạn nạn trong đời này.


Sự Khôn Ngoan : Xưa Và Nay
Sách khôn ngoan của người Hy-bá-lai là một thể loại văn chương không quen thuộc với hầu hết các Cơ Đốc nhân hiện đại. Tuy một phần không nhỏ trong Kinh Thánh dành cho văn phẩm khôn ngoan, nhưng Cơ Đốc nhân thường hiểu sai hoặc ứng dụng sai tài liệu này, đánh mất nhiều lợi ích mà Đức Chúa Trời dành cho họ. Tuy nhiên, khi được hiểu và ứng dụng đúng, sách khôn ngoan là một tài nguyên hữu ích cho sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Nếu sử dụng sai, nó có thể trở thành cơ sở cho thói vị kỷ, duy vật chủ nghĩa, cách cư xử thiển cận - trái ngược với ý định của Đức Chúa Trời.
Có ba sách trong Cựu Ước được mọi người biết đến như là các sách khôn ngoan: Truyền Đạo, Châm Ngôn và Gióp. Thêm vào đó, như chúng tôi đã lưu ý ở chương 11, một số thi thiên cũng thường được xếp vào loại khôn ngoan. Cuối cùng còn có sách Nhã Ca thường được gọi là Bài Ca của Sa-lô-môn nữa. Chúng tôi nghĩ là nó phù hợp với loại sách khôn ngoan, như sẽ thảo luận sau đây. Nói theo nghĩa hẹp, thì không phải tất cả những gì trong các quyển sách vừa kể trên đều quan tâm đến khôn ngoan. Nhưng nói chung, chúng hàm chứa loại tài liệu phù hợp với cái nhãn hiệu khôn ngoan.
Bản Chất Của Sự Khôn Ngoan
Vậy khôn ngoan là gì? Một định nghĩa vắn tắt có thể là như sau: Khôn ngoan là khả năng chọn được những điều thiện lành trong cuộc sống. Định nghĩa này nghe ra khá hợp lý, và không phải là điều có thể gây bối rối, lẫn lộn cho các Cơ Đốc nhân. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ số tài liệu về khôn ngoan trong Cựu Ước dường như thường bị kết thúc bằng sự hiểu lầm, mà hậu quả là các điều người ta lựa chọn thực hiện không phải tất cả đều là thiện lành. Chương này có ý định giúp bạn gạn lọc sự hiểu biết của mình và áp dụng các sách khôn ngoan.
Lạm Dụng Văn Chương Khôn Ngoan
Theo truyền thống, các sách khôn ngoan đã bị sử dụng sai theo ba cách:
Thứ nhất, người ta chỉ đọc từng phần nhỏ của các sách ấy. Họ không thấy được rằng có một bức thông điệp toàn diện tùy theo các ý định của tác giả được linh cảm. Những mảnh vụn, những đoạn bị cắt xén của lời dạy dỗ khôn ngoan bị tách khỏi văn mạch nghe có vẻ sâu sắc và thực tiễn, nhưng rất dễ bị ứng dụng sai. Thí dụ lời truyền dạy trong sách Truyền Đạo rằng “có kỳ sanh ra và có kỳ chết” (TrGv 3:2), trong bối cảnh của một lời dạy dỗ yếm thế về tính phù du của cuộc đời (nghĩa là cho dù cuộc đời của bạn có thành công hay thất bại thì khi đã đến “kỳ” bạn đều phải chết). Nhiều Cơ Đốc nhân lại tưởng câu này có ý dạy rằng trong sự quan phòng của Ngài, Đức Chúa Trời chọn khoảng thời gian dài ngắn cho đời sống chúng ta; theo văn mạch thì rõ ràng đó không phải là điều câu Kinh Thánh muốn nói.
Thứ hai, người ta thường hiểu sai các từ ngữ và các phạm trù, cũng như bút pháp và các thể văn, của văn chương khôn ngoan. Và như thế sẽ định nghĩa sai các từ ngữ Thánh Kinh trong các bối cảnh khôn ngoan. Thí dụ, ChCn 14:7 “Hãy dan xa khỏi mặt kẻ ngu muội, con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó.” Phải chăng câu này có nghĩa là các Cơ Đốc nhân phải tránh xa, đừng bầu bạn gì với kẻ đần độn chậm tiến, kẻ vô học hay kẻ mắc bệnh tâm thần? Không phải vậy! Trong sách Châm Ngôn, “kẻ ngu muội” có nghĩa là “kẻ bất trung vô đạo” - ám chỉ một người vô tín (không tin Chúa) chỉ biết sống vị kỷ, phóng túng, chẳng thừa nhận một uy quyền nào cao hơn chính mình cả. Và việc “dan xa” liên hệ chặt chẽ với mục đích “con sẽ chẳng tìm được.” Nói khác đi, câu châm ngôn này dạy rằng nếu bạn muốn đi tìm sự tri thức, bạn sẽ chẳng tìm thấy nó nơi kẻ bất trung vô đạo đâu.
Thứ ba, người ta thường không chịu theo dõi dòng lý luận trong một bài thuyết giảng về khôn ngoan. Do đó, họ cố tìm cách sống theo điều đã bị hiểu sai. Chẳng hạn, Giop G 15:20: “Trọn đời người ác bị đau đớn cực lòng, số ít năm để dành cho kẻ hà hiếp.” Phải chăng bạn hiểu đây là một lời được linh cảm truyền dạy rằng, kẻ làm ác chẳng bao giờ thật sự được vui vẻ? Gióp không có ý ấy. Ông đã kịch liệt bài bác nó. Câu này là một phần của bài thuyết giảng của kẻ tự xưng là “người an ủi” Gióp tên là Ê-li-pha, đang cố thuyết phục Gióp rằng lý do khiến ông bị đau khổ nhiều đến thế vì ông vốn là một người gian ác. Về sau trong sách ấy, Đức Chúa Trời đề cao lời nói của Gióp và lên án câu này của Ê-li-pha. Nhưng nếu bạn không chịu theo dõi toàn bộ phần lý luận, bạn sẽ không hiểu được điều đó.
Phương thức của chúng tôi trong chương này sẽ là thảo luận vấn đề văn chương khôn ngoan là gì, và điều gì không phải là văn chương khôn ngoan, rồi đưa ra một vài nhận định về nó. Chúng tôi sẽ đưa ra một vài quyển sách khôn ngoan làm mẫu để chứng minh rằng chúng phải được hiểu như thế nào, và cuối cùng sẽ giới thiệu vài chỉ dẫn để lý giải đúng các quyển sách ấy. Chúng tôi sẽ chú ý nhiều nhất đến sách Châm Ngôn vì chúng tôi xét thấy đây là quyển sách thường bị lạm dụng hơn hết.
Ai Là Người Khôn ngoan?
Trên đây, chúng tôi đã nêu lên rằng khôn ngoan là khả năng biết chọn những điều thiện lành trong cuộc đời. Như thế, có phần của con người trong sự khôn ngoan. Khôn ngoan không phải là điều gì lý thuyết, trừu tượng - nó là một cái gì chỉ có thật khi có một “người” suy nghĩ và hành động theo chân lý mà mình chọn trong số nhiều điều mà đời sống đòi hỏi. Cựu Ước thừa nhận rằng có một số người khôn ngoan hơn một số khác và một số còn dám xả thân để có được điều họ gọi là “sự khôn ngoan,” (Hy-bá-lai là j*K*m). Người khôn ngoan rất thực tế, chứ không phải chỉ biết lý thuyết mà thôi. Người ấy quan tâm đến việc thiết lập những loại kế hoạch - nghĩa là biết những cách chọn lựa - để giúp mình tạo ra được nhiều kết quả mà mình mong muốn cho cuộc đời.
Theo một ý nghĩa thì toàn thể tiến trình của đời sống chúng ta có thể được xem như là kết quả của những cách chọn lựa. Thật vậy, hầu như mọi việc chúng ta làm đều là kết quả của một mức độ chọn lựa nào đó. Khi sáng sớm thức dậy, chúng ta làm gì trước nhất, chúng ta đi đâu để làm việc, chúng ta trò chuyện với ai, cách chúng ta trò chuyện với họ, thành tựu được gì, khi nào thì chúng ta bắt đầu và ngưng làm việc, ăn gì, mặc gì, cộng tác với ai, đi đâu cùng đi với ai - tất cả các hành động đó đều là kết quả của những quyết định. Một số quyết định được đưa ra ngay tại chỗ (thí dụ bữa trưa nay ăn gì), nhiều quyết định khác đã được thực hiện từ rất lâu rồi để khỏi phải quyết định lại mỗi ngày (sống ở đâu, lập gia đình với ai, loại công việc mà ta dấn thân vào) và nhiều điều khác nữa có lẽ là kết quả của các chọn lựa của Đức Chúa Trời chứ không phải là của riêng chúng ta (SaSt 45:8), thế nhưng nhiều chọn lựa khác có thể chỉ có một phần là do chúng ta tự nguyện (ChCn 16:33). Tuy nhiên, các chọn lựa vẽ nên cuộc đời của chúng ta.
Người xưa biết điều đó, và văn chương khôn ngoan - có trong tất cả các văn hóa cổ xưa chứ không phải chỉ trong dân Y-sơ-ra-ên - tìm cách thẩm định xem đâu là phương pháp hay nhất để chọn lựa trong cuộc đời. Sự khôn ngoan ngoại-Do Thái vốn nhằm mục đích tìm cách chọn lựa tối ưu, tìm một chủ đích để có được một đời sống thành công nhất. Kinh Thánh thêm vào đó ý niệm tối quan trọng có tính cách quyết định rằng các quyết định tối ưu là các quyết định để biết sống tin kính, thiện lành. Cho nên mới có câu “sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan” - một luận đề căn bản của sách Châm Ngôn. Dù sao thì bạn làm thế nào để có được các quyết định thiện lành nếu bạn không tin và vâng lời Đấng Thiện Lành là Thượng Đế? Thế thì bước đầu tiên của sự khôn ngoan theo Kinh Thánh là biết Thượng Đế - không phải lý thuyết trừu tượng mà theo ý nghĩa cụ thể là tận hiến cuộc đời bạn cho Ngài. Chừng đó, hướng đi tổng quát của bạn sẽ là đúng, và hễ bạn càng học hỏi được nhiều quy luật và quan điểm đặc thù để có được các quyết định tin kính, thì kết quả là bạn sẽ ý thức càng chính xác hơn về chiều hướng để có được một đời sống khôn ngoan.
Do đó, theo cách định nghĩa của Kinh Thánh, thì sự khôn ngoan (Hy-bá-lai: hokmáh: khôn ngoan) chẳng có liên hệ gì với chỉ số thông minh (IQ) cả. Đây không phải là vấn đề về khôn khéo, nhanh nhạy hay khẩu tài hoặc tuổi tác, mặc dầu kinh nghiệm bản thân là vị giáo sư tài ba nếu được lý giải dưới ánh sáng của chân lý mạc khải. Đây là một vấn đề hướng về Đức Chúa Trời, nhờ đó mà có được khả năng làm đẹp lòng Ngài. Chính vì thế mà Gia Gc 1:5 chép rằng Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan cho những người cầu xin nó. Đây là một lời hứa không phải là để chúng ta có thể nhờ cầu nguyện mà trở thành thông minh lanh lợi hơn, nhưng là hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp chúng trở nên thiện lành, tin kính hơn nếu chúng ta cầu xin Ngài. Gia-cơ định nghĩa loại khôn ngoan mà Đức Chúa Trời ban cho này trong Gia Gc 3:13-18, tương phản với sự khôn ngoan của thế gian, bởi đó một người tìm biết phải làm thế nào để đứng đầu nhiều người khác.
Mục tiêu là một đời sống có trách nhiệm và thành công. Lắm khi sự khôn ngoan này được ứng dụng vào các vấn đề kỹ thuật như xây dựng (chẳng hạn Bết-sa-lê-ên, vị kiến trúc sư của Đền Tạm, đã được gọi là “khôn ngoan” trong XuXh 31:3), hoặc lái tàu (Exe Ed 27:8, 9). Những người cần đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến phúc lợi của nhiều người khác cũng tìm cầu sự khôn ngoan. Các lãnh tụ chính trị như Giô-suê (PhuDnl 34:9); Đa-vít (IISa 2Sm 14:20) và Sa-lô-môn (IVua 1V 3:9tt) đã được mô tả là những nhân vật được Đức Chúa Trời ban cho sự khôn ngoan để việc cai trị của họ được thành công và kết quả. Chúng ta từng được nhắc nhở về tài năng theo phương diện con người của các nhân vật khôn ngoan do việc tấm lòng của con người được mô tả là tiêu điểm của sự khôn ngoan (IVua 1V 3:9, 12). Trong Cựu Ước, “tấm lòng” ám chỉ các năng khiếu của tinh thần và ý chí cũng như là của trí tuệ.
Vì vậy, văn chương khôn ngoan có xu hướng chú trọng vào con người và cách ăn ở của họ, mức độ chọn lựa thiện lành, tin kính, và họ có học ứng dụng chân lý của Đức Chúa Trời vào các từng trải của họ hay không. Đây không phải là trường hợp của người muốn tìm cách học hỏi để làm thế nào để trở thành khôn ngoan, nhưng là để có được sự khôn ngoan. Người nào cứ tìm cách ứng dụng chân lý của Đức Chúa Trời mỗi ngày và biết học hỏi từ kinh nghiệm từng trải của mình thì cuối cùng sẽ có thể trở thành khôn ngoan. Nhưng có nguy cơ rất lớn nếu người ta chỉ tìm sự khôn ngoan để được lợi riêng, hay theo một đường lối không tôn kính Đức Chúa Trời trên hết. “Khốn thay cho kẻ chính mắt mình cho mình là khôn ngoan” (EsIs 5:21). Hơn nữa, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời bao giờ cũng vượt xa sự khôn ngoan của loài người (EsIs 29:13-14).
Các Giáo Sư Dạy Khôn Ngoan
Trong dân Y-sơ-ra-ên đời xưa, có nhiều người chẳng những chỉ dành cả cuộc đời để có được sự khôn ngoan, mà còn truyền dạy cho nhiều người khác cách thức để được khôn ngoan nữa. Các giáo sư dạy sự khôn ngoan này chỉ là các “triết nhân,” mặc dầu thật sự họ có một địa vị trong xã hội người Y-sơ-ra-ên ngang hàng với các thầy tế lễ và nhà tiên tri (Gie Gr 18:18). Giai cấp đặc biệt của những người nam nữ triết nhân này đã xuất hiện rất sớm, ít ra cùng lúc với việc thiết lập nền quân chủ của Y-sơ-ra-ên (tức là khoảng 1.000 năm T.C.; xem ISa1Sm 14:2) giữ vai trò giáo sư cố vấn cho những người muốn nhờ đến sự khôn ngoan của họ. Một số được Đức Chúa Trời linh cảm để viết nhiều phần của Cựu Ước. Chúng ta nhận thấy nhà hiền triết đã có được địa vị thay thế cho người cha, người thầy đối với người đến học sự khôn ngoan. Ngay cả trước thời Xuất Ai Cập, Giô-sép đã được Đức Chúa Trời thiết lập như là “cha” của Pha-ra-ôn (SaSt 45:8); còn về sau thì nhà nữ tiên tri Đê-bô-ra đã được gọi là “mẹ” trong dân Y-sơ-ra-ên (Cac Tl 5:7). Như thế, chúng ta thường thấy trong sách Châm Ngôn có lời của vị giáo sư về khôn ngoan ngỏ với người học trò của mình là “con ta” (dịch là “con trai” không được chính xác). Các bậc cha mẹ gởi con cái họ để được giáo dục về các thái độ và nếp sống khôn ngoan với các hiền triết như thế, và các vị giáo sư này dạy học trò của họ như là con cái của họ.
Khôn Ngoan Trong Gia Đình
Tuy nhiên, khôn ngoan luôn luôn được truyền dạy ngay trong gia đình nhiều hơn trong bất cứ môi trường nào khác. Các bậc cha mẹ ngày nay dạy cho con cái họ đủ thứ khôn ngoan, hầu như là hằng ngày mà thường là họ không hề hay biết, khi tìm cách giúp chúng chọn lựa những cách hành động đúng trong cuộc sống. Hễ khi nào một bậc làm cha mẹ đưa ra cho con mình các quy luật để phải theo đó mà sống, từ câu “đừng đùa giỡn ngoài đường phố” đến “phải lo mặc cho đủ ấm” là người ấy đã thật sự truyền dạy khôn ngoan. Bất cứ bậc làm cha mẹ nào cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, tự lập và làm điều lợi ích cho tha nhân. Một người làm cha làm mẹ tốt biết dành thì giờ để thường xuyên chuyện trò với chúng về cách ăn ở ứng xử. Đặc biệt là trong sách Châm Ngôn, cũng một loại lời khuyên thực tiễn này đã được truyền dạy. Nhưng sách Châm Ngôn đặt tất cả những lời khuyên đó dưới sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, như việc mà một bậc cha mẹ là Cơ Đốc nhân phải cố làm. Lời khuyên có thể rất thực tế và liên quan với các vấn đề thuộc về đời này, nhưng nó chẳng bao giờ được quên thừa nhận rằng điều tốt lành thiện hảo nhất mà một người có thể làm được, là phải làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời.
Khôn Ngoan Giữa Các Đồng Sự
Thảo luận và tranh luận là một phương pháp để người ta rèn luyện khả năng chọn lựa đúng trong cuộc sống. Loại khôn ngoan này thỉnh thoảng đến từ những bài diễn văn dài, hoặc là một bài độc thoại nhằm mục đích để cho người khác đọc và suy nghĩ (như sách Truyền Đạo) hoặc trong một cuộc đối thoại giữa nhiều người để tìm cách thông báo cho nhau các ý kiến của họ về chân lý và cuộc đời (thí dụ sách Gióp). Loại khôn ngoan chiếm ưu thế trong sách Châm Ngôn được gọi là khôn ngoan đã trở thành châm ngôn (proverbial wisdom), còn loại khôn ngoan tìm thấy trong sách Truyền Đạo và sách Gióp thường được gọi là khôn ngoan suy lý (speculative wisdom). Loại tìm thấy trong sách Nhã Ca có thể gọi là khôn ngoan trữ tình (lyric wisdom). Dưới đây, chúng tôi sẽ thảo luận các loại ấy chi tiết hơn. Hiện giờ, chỉ cần nhớ rằng ngay đến loại khôn ngoan suy lý cũng rất thực tế và do kinh nghiệm (được thu thập do kinh nghiệm) chứ không phải chỉ là lý thuyết suông mà thôi.
Khôn Ngoan Được Diễn Tả Bằng Thi Ca
Trong thời Cựu Ước, cả sinh viên lẫn giáo sư đều sử dụng nhiều kỹ thuật văn chương khác nhau để giúp người ta ghi nhớ những lời khôn ngoan của họ. Đức Chúa Trời đã linh cảm nhiều phần khôn ngoan trong Kinh Thánh tùy theo các kỹ thuật ấy, để mọi người có thể học và ghi nhớ. Như chúng tôi đã lưu ý trong hai chương trước, thi ca vận dụng các từ ngữ, nhịp điệu, và các phẩm chất về văn phong cách thận trọng, khiến người ta dễ ghi khắc vào tâm trí hơn là văn xuôi, do đó, thi ca cũng là phương tiện truyền đạt sự khôn ngoan của Cựu Ước. Cho nên các sách Châm Ngôn, Truyền Đạo, Gióp và Nhã Ca cũng như các thi thiên về khôn ngoan và nhiều đoạn ngắn về khôn ngoan trong Cựu Ước được soạn thảo phần lớn là bằng thi ca. Trong số rất nhiều kỹ thuật cá biệt được sử dụng, có các phép song đối, hoặc là đồng nghĩa (thí dụ ChCn 7:4); phản đề (ChCn 10:1), hay “chính qui” (formal, ChCn 21:16); theo thứ tự mẫu tự (acrostics, ChCn 31:10-31), điệp vận (alliteration, TrGv 3:1-8); theo con số nối tiếp nhau (ChCn 30:15-31) và vô số những cách so sánh (như tương tự, ví von, thí dụ Giop G 32:19; Nha Dc 4:1-6). Nhiều ẩn dụ, dụ ngôn, câu đố và các kỹ thuật thi ca theo hình thức khác nữa cũng được tìm thấy trong các tài liệu văn chương khôn ngoan.
Các Giới Hạn Của Khôn Ngoan
Điều quan trọng cần nhớ, là không phải mọi khôn ngoan của thế giới cổ đều thiện lành, tin kính hoặc chính thống. Trong khắp khu vực Cận Đông cổ, đã có một giai cấp các giáo sư và học giả được trợ cấp - thường là do nhà vua - để thực hiện việc sưu tập, soạn thảo và tu chỉnh các bài thuyết giảng và các câu châm ngôn khôn ngoan. Phần lớn các tài liệu về khôn ngoan ấy rất giống với các văn phẩm khôn ngoan trong Cựu Ước, tuy chúng không nhấn mạnh về Đức Giê-hô-va như là nguồn gốc của khôn ngoan (ChCn 2:5-6) và chủ đích của khôn ngoan là nhằm làm đẹp lòng Ngài (ChCn 3:7). Hơn nữa, khôn ngoan không phủ trùm trên cả cuộc đời. Vì hết sức thực tiễn nên văn chương khôn ngoan không đụng đến các vấn đề thần học hay sử học vốn quan trọng đối với các phần khác của Kinh Thánh. Và năng khiếu khôn ngoan không bảo đảm rằng nó sẽ được sử dụng cách phù hợp. Lời khuyên khôn ngoan của Giô-na-đáp cho Am-nôn (IISa 2Sm 13:3) là để tiếp tay cho một âm mưu gian ác, sự khôn ngoan tuyệt vời của Sa-lô-môn (IVua 1V 3:12; 4:29-34) đã giúp vua ấy được giàu có về quyền thế, nhưng đã không giữ được vua ấy khỏi từ bỏ lòng trung thành với Chúa trong những năm cuối cùng của cuộc đời (IVua 1V 11:4). Chỉ khi nào khôn ngoan được xem là một năng khiếu chịu đầu phục Đức Chúa Trời, thì nó mới đạt được cứu cánh đúng đắn theo ý nghĩa mà Cựu Ước muốn nói.
Sách Truyền Đạo: Khôn Ngoan Yếm Thế
Sách Truyền Đạo là một cuộc độc thoại thường làm điên đầu các Cơ Đốc nhân, nhất là khi đọc thật kỹ. Những ai không đọc sách ấy thật kỹ có thể chỉ kết luận đơn giản rằng nó hàm chứa nhiều ý niệm quá sâu sắc để có thể khai thác ngay được phần giá trị của nó. Những người như thế thường bỏ rơi sách Truyền Đạo để chuyển sang các phần khác trong Kinh Thánh, mà theo họ dường như sẽ đem đến cho họ nhiều lợi ích thuộc linh nhanh chóng hơn. Ngay đến những người quyết tâm nghiên cứu sách ấy cũng bị nhà truyền đạo làm nản lòng; dù sao thì dường như nó chẳng hàm chứa nhiều điều tích cực và khích lệ người ta nên sống một cuộc đời tận trung với Đức Chúa Trời. Trái lại, phần lớn quyển sách dường như nhờ lời của “Nhà Truyền Đạo” để dạy rằng cuối cùng thì cuộc đời là vô nghĩa, do đó, người ta phải chọn hưởng thụ cuộc đời bằng bất cứ cách nào có thể được, vì sự chết rồi sẽ xóa hết tất cả đi. Bức thông điệp yếm thế là cuối cùng thì tất cả đều vô nghĩa trong sách Truyền đạo được truyền đạt trong một đoạn như sau đây:
“Người truyền đạo nói:
Hư không! Hư không!
Hư không của sự hư không!
Thảy đều hư không” (TrGv 1:2)
Ta đã xem thấy mọi việc làm ra dưới mặt trời, kìa, thảy đều hư không, theo luồng gió thổi (1:14)
Nên ta có nói trong lòng rằng:
“Sự xảy đến cho kẻ dại sẽ xảy đến cho ta cũng vậy
Vậy ta có nhiều khôn ngoan như thế mà làm chi?”
Ta lại nói trong lòng rằng:
“Điều đó là một sự hư không nữa” (2:15)
Vì việc xảy đến cho con loài người làm sao, thì xảy đến cho loài thú cũng vậy ... loài người chẳng hơn gì loài thú; vì thảy đều hư không (3:19)
Người ra đời thể nào, ắt phải trở về thể ấy
Vậy chịu lao khổ đặng theo luồng gió thổi
có ích lợi gì chăng? (5:16)
Lại còn có một sự hư không khác trên thế gian; lắm người công bình bị đãi theo công việc kẻ ác, và lắm kẻ ác lại được đãi theo công việc người công bình. Ta nói rằng điều đó cũng là sự hư không (8:14).
Trọn các ngày của đời hư không ngươi...hãy ở vui vẻ cùng vợ mình yêu dấu... Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình, vì dưới âm phủ là nơi ngươi đi đến chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế, cũng chẳng có tri thức, hay là sự khôn ngoan (9:9-10).
Nếu một người được sống lâu năm,
thì khá vui vẻ trong trọn các năm ấy.
Song cũng chớ quên những ngày tối tăm
vì những ngày ấy nhiều.
Phàm việc gì xảy đến đều là sự hư không (11:8).
Sách Truyền đạo hàm chứa nhiều phần không đến nỗi quá yếm thế hay tiêu cực về giá trị của cuộc đời. Nhưng thông điệp trước sau như một của nó (cho đến tận những câu cuối cùng), là sự thật và cứu cánh của cái chết có nghĩa là cuộc đời chẳng hề có giá trị tối hậu gì cả. Dù sao thì nếu tất cả chúng ta đều sẽ phải chết, phải mai một và bị quên đi như tất cả số người còn lại, thì có gì là khác nhau nếu chúng ta sống hòa hợp, hữu ích, thánh thiện, hay vị kỷ, gian ác, khổ sở? Sự chết sẽ san bằng tất cả, khiến cho mọi cuộc đời đều trở thành giống hệt nhau! Đây hầu như chính là cái triết lý mà hiện sinh chủ nghĩa hiện đại đã chủ trương, và lời khuyên của Nhà Truyền Đạo có đặc tính của hiện sinh chủ nghĩa. Hãy tận hưởng cuộc đời trong phạm vi bạn có thể làm được trong lúc hãy còn sống (8:15; 11:8-10 vv...) vì đó là tất cả những gì Đức Chúa Trời đã cung cấp cho bạn - chẳng còn gì khác nữa cả. Hãy sống cho đàng hoàng như bạn có thể làm được lúc này. Rốt cuộc thì sẽ chẳng còn gì có ý nghĩa cả. Nhà Truyền Đạo đưa ra một lời khuyên về cách sống thực tế ở đời, nghĩa là nên cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói (5:2-3), tránh thói tham lam có hại (5:11-15) hay phải ngoan đạo lúc hãy còn trẻ khi bạn vẫn còn có lợi thế để làm việc ấy (12:1-8).
Những lời khuyên này chẳng có chút giá trị đời đời nào cả. Nó được truyền dạy chủ yếu nhằm giúp người ta khiến cho cuộc đời vô nghĩa của mình được phần nào lý thú và an nhàn hơn lúc người ta hãy còn trẻ. Dường như sách Truyền Đạo còn phủ nhận một đời sau (2:16; 9:5 vv...), chỉ trích nhiều phương diện chủ chốt của đức tin Cựu Ước (thí dụ 7:16; 5:1) và nói chung là khuyến khích các thái độ khác hẳn với phần còn lại của Kinh Thánh.
Chắc bạn sẽ hỏi: Thế thì tại sao nó lại có trong Kinh Thánh? Câu trả lời là sở dĩ có nó là để làm một phản diện, nghĩa là một nét tương phản với phần truyền dạy còn lại của Kinh Thánh. 12:13-14 trình bày sự tương phản đó và đưa ra cho độc giả lời cảnh cáo chính thống này:
Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài,
Ấy là trọn phận sự của người.
Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc,
đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết,
hoặc thiện hoặc ác cũng vậy.
Tất cả quyển sách - ngoại trừ hai câu cuối cùng này - trình bày một luận cứ xuất sắc đầy nghệ thuật về những điều mà một người có thể nhìn cuộc sống - nếu Đức Chúa Trời không giữ vai trò trực tiếp để can thiệp vào cuộc đời, và nếu không có sự sống sau cái chết. Vậy, nếu bạn muốn một phương cách sống trong thế giới duy thần (deistic world), nghĩa là tin có Đức Chúa Trời nhưng Ngài chẳng liên hệ gì với con người, thì sách Truyền đạo sẽ cung cấp cho bạn lời khuyên ấy. Chủ đích thật sự của quyển sách, được trình bày như một thứ “khôn ngoan” mà Sa-lô-môn có thể cung cấp sau khi ông đã xa lìa chính thống (IVua 1V 11:1-13), là nhằm chứng minh cho bạn thấy một nhân sinh quan sẽ làm cho bạn lạnh cóng. Quan điểm đã được trình bày nhất định sẽ bỏ mặc bạn hoang mang không thỏa mãn vì nó khó có thể là chân lý được. Nó là nền khôn ngoan phàm tục theo định mệnh thuyết, là sản phẩm của vô thần chủ nghĩa thực tiễn (chứ không phải chỉ là lý thuyết mà thôi). Khi nào người ta đặt Đức Chúa Trời vào một vị trí xa cách với mình, chẳng có dính dáng gì với sinh hoạt hằng ngày của chúng ta cả, thì sách Truyền Đạo sẽ là kết quả. Vậy, sách này có thể được dùng như một lời biện giải chống lại nền khôn ngoan yếm thế. Nó đẩy các độc giả đến chỗ phải xét cho kỹ hơn, vì các câu trả lời của Nhà Truyền Đạo trong sách Truyền đạo đưa ra đều gây chán nản thất vọng. Lời khuyên của 12:13 (giữ các điều răn của Đức Chúa Trời) đi ra ngoài sách Truyền Đạo để đi vào phần còn lại của Kinh Thánh, nhất là Ngũ Kinh (xem chương 9) nơi có các điều răn.
Khôn Ngoan Trong Sách Gióp
Sách Truyền Đạo không phải là nơi duy nhất trong Cựu Ước có thể tìm thấy lời khuyên không đúng để làm phản diện cho chân lý của Đức Chúa Trời. Sách Gióp hàm chứa đủ thứ lời khuyên sai lầm và những kết luận không đúng khi chúng thoát ra từ môi miệng của đám người có thiện ý muốn “an ủi” Gióp, tức là Binh-đát, Sô-pha, Ê-li-pha và Ê-li-hu. Khi đọc từ đầu chí cuối sách Gióp, bạn sẽ nhận thấy rằng nó có hình thức của một cuộc đàm thoại hay đối thoại được cấu trúc hẳn hoi. Cuộc đối thoại này nhằm một mục tiêu hết sức quan trọng: thiết lập một cách thuyết phục trong tâm trí độc giả rằng điều xảy ra trong đời sống không phải bao giờ cũng xảy ra vì Đức Chúa Trời muốn như thế, hay vì đó là lẽ công bằng. Theo một ý nghĩa, thì sách Gióp có một chủ đích gần như là trực tiếp đối lập với chủ đích của sách Truyền Đạo. Nhà truyền đạo của sách Truyền Đạo muốn mô tả Đức Chúa Trời như là Đấng chẳng tham gia gì vào công việc xảy ra hằng ngày. Trái lại, những người an ủi Gióp là các đại diện cho quan điểm cho rằng Đức Chúa Trời không những chỉ tham gia, mà còn luôn luôn thi hành có cân nhắc quyền phán xét của Ngài qua các biến cố xảy ra trong cuộc sống trên đời này. Sách Truyền Đạo gợi ý rằng cho dù bạn có lựa chọn sống như thế nào, thì việc đó chẳng có gì quan trọng, vì điểm tận cùng của cuộc đời là cái chết. Còn các đồng nghiệp của Gióp thì bảo với ông rằng những gì xảy ra cho bạn trong cuộc đời - dù tốt hay xấu - cũng đều là hệ quả trực tiếp của việc chẳng hay bạn có được Đức Chúa Trời đẹp lòng hay không. Họ đều kinh hoàng khi nghe Gióp phản đối rằng ông đã chẳng có làm gì sai quấy để xứng đáng phải chịu các loại khổ nạn (bệnh tật, tang tóc, nghèo khổ, bất lực) đã giáng trên ông. Thông điệp của họ là khi một người được sống an lành, thì đó là dấu hiệu cho thấy người ấy đã biết chọn làm điều lành, còn khi mọi việc đều xấu đi, thì chắc chắn là người ấy đã phạm tội với Đức Chúa Trời, và Ngài đã đáp ứng bằng cách giáng họa trên người ấy. Các môn đệ của Chúa Giê-xu cũng có cách lập luận như thế (GiGa 9:1-3) và nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay cũng vậy. Dường như cho rằng Đức Chúa Trời đang cầm quyền cai trị kiểm soát thế gian, thì lẽ tự nhiên mọi sự xảy ra đều phải là việc chính Ngài đang làm đúng với ý chỉ của Ngài. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng Kinh Thánh không hề dạy như thế. Trái lại, Kinh Thánh dạy rằng thế gian này đã sa ngã, bị tội lỗi phá hoại, đang ở dưới quyền lực của Sa-tan (12:31), và rằng nhiều việc xảy ra trong đời sống vốn không phải là do Đức Chúa Trời muốn như thế. Cụ thể là đau khổ không nhất thiết là hậu quả của tội lỗi (RoRm 8:18-23).
Gióp là một người tin kính nên biết rằng mình đã chẳng có làm gì đáng cho Đức Chúa Trời nổi giận cả. Trong nhiều bài diễn giảng của ông (các chương 3, 6-7, 9-10, 12-14, 16-17, 19, 21, 23-24, 26-31) ông khẳng định rất hùng hồn rằng mình vô tội, và cũng diễn tả nỗi thất vọng về những điều đáng ghê tởm mà ông đã phải chịu đựng. Ông không hiểu nổi tại sao những điều như thế lại xảy đến cho mình. Các bạn đồng nghiệp đang cố thuyết phục ông bằng những lời phản đối ấy, ông đã tỏ ra nghi ngờ Đức Chúa Trời. Từng người một, họ đã nhiều lần khuyên ông nên xưng tội mình ra, dù đó có là tội gì, và thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đang cai trị trên một thế giới tốt đẹp và công bằng, trong đó chúng ta chỉ nhìn được những gì là xứng đáng cho mình mà thôi. Gióp cũng kiên trì chẳng kém, nhưng có phần còn hùng hồn hơn nữa khi cãi lại rằng cuộc đời vốn bất công, và thế giới như nó hiện có vốn không phải là thế giới như đáng lẽ nó phải trở thành. Ê-li-hu, “người an ủi” cuối cùng xuất hiện trên sân khấu, đã bênh vực cho kiến thức và các đường lối cao siêu của Đức Chúa Trời. Đây là câu trả lời gần nhất cho Gióp mà chẳng ai trước đó đã có thể đưa ra, và sự việc dường như Gióp đã sắp đồng ý với câu trả lời vừa có phần thỏa đáng vừa gây phẫn nộ kia, thì chính Đức Chúa Trời đã thình lình đích thân phán dạy cả Gióp lẫn những người kia (các chương 38-41). Đức Chúa Trời vừa sửa sai Gióp để cho thấy cái nhìn đúng đắn về hoàn cảnh, vừa giúp Gióp phản bác lại sự “khôn ngoan” của các bạn (Giop G 42:7-9). Về vấn đề có phải mọi sự trên đời có công bằng tốt đẹp hay không thì Gióp đã đúng khi cho rằng mọi việc vốn không hoàn hảo. Còn về thắc mắc của Gióp: “Tại sao lại là tôi” thì Đức Chúa Trời cho biết rằng các đường lối của Ngài cao hơn các đường lối của con người, và việc Ngài cho phép đau khổ xảy ra không có nghĩa là Ngài không biết việc mình làm, hay con người có quyền thắc mắc đối với việc Ngài làm. Các lựa chọn của Ngài bao giờ cũng cao hơn các chọn lựa của con người.
Đây là khôn ngoan đích thực. Người đọc sách Gióp học hỏi được thể nào khôn ngoan của đời này tuy có vẻ hợp lý nhưng thật ra lại rất sai lầm, và đâu là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, và điều gì giúp ta tin cậy quyền tể trị và sự công chính của Đức Chúa Trời. Như thế, cuộc đối thoại và câu chuyện đi đôi với nhau, để làm một mẫu hình về khôn ngoan suy lý (speculative wisdom) trong Cựu Ước.
Khôn Ngoan Trong Sách Châm Ngôn
Sách Châm Ngôn chú trọng vào sự khôn ngoan về cách sống, nghĩa là các luật lệ và quy tắc mà người ta có thể dùng để tự giúp mình ý thức được trách nhiệm hầu có được những chọn lựa để thành công trên đời. Tương phản với sách Truyền Đạo với quan niệm bi quan suy lý (speculative cynicism) và sách Gióp sử dụng khôn ngoan suy lý (speculative wisdom) về những bất công trong cuộc sống trên đời này, sự khôn ngoan của sách Châm Ngôn tập trung phần lớn vào những thái độ thực tế. Nói chung thì ta sẽ được lợi ích khi lưu ý rằng sách Châm Ngôn truyền dạy điều có thể gọi là “các giá trị theo lề lối xưa.” Chẳng hề có bậc làm cha làm mẹ nào lại muốn cho con cái mình lớn lên mà không có hạnh phúc, bị thất vọng, cô đơn, bị xã hội ruồng bỏ, gặp rắc rối với pháp luật, với điều vô luân vô đạo, không thích nghi hay thất bại. Người làm cha mẹ muốn cho con mình thành công trong đời sống đến một mức độ hợp lý nào đó - kể cả việc được xã hội chấp nhận, không bị nghèo khó, ngay thẳng về phương diện luân lý đạo đức - thì chẳng có gì là vị kỷ hay không thực tế cả. Sách Châm Ngôn cung cấp một bộ sưu tập những lời khuyên rõ ràng nhằm chính mục đích ấy. Lẽ dĩ nhiên là không ai có thể bảo đảm được với một thanh niên rằng cuộc đời sẽ luôn luôn an lành tốt đẹp. Điều sách Châm Ngôn muốn nói là có những thái độ và mẫu mực căn bản cho cách ăn ở giúp người ta lớn lên để trở thành một người trưởng thành ý thức được trách nhiệm của mình.
Sách Châm Ngôn liên tục trình bày một nét tương phản rõ rệt giữa việc chọn một đời sống khôn ngoan với việc chọn một cuộc đời dại dột. Đâu là đặc điểm của một cuộc đời dại dột? Đặc điểm của sự dại dột là phạm trọng tội (ChCn 1:10-19; 4:14-19), hứa hẹn hay thề nguyện thiếu suy nghĩ (6:1-5), lười biếng (6:7-11), dối trá quỉ quyệt (6:12-15), tà dâm là điều đặc biệt đáng ghê tởm đối với Đức Chúa Trời và tai hại cho một nếp sống ngay thẳng (2:16-19; 5:3-20; 6:23-35; 7:4-27; 9:13-18; 23:26-28). Thêm vào đó, sách Châm Ngôn khuyến giục những việc làm như lo lắng chăm sóc người nghèo (2:22, 27), tôn trọng các cấp lãnh đạo chính quyền (23:1-3; 24:21-22), tầm quan trọng của việc sửa dạy con cái (23:13-14), tiết độ trong việc uống rượu (23:19-21, 29-35) và hiếu kính cha mẹ (23:22-25).
Ngôn ngữ tôn giáo rất ít được sử dụng trong sách Châm Ngôn; tuy có nhưng không nhiều (1:7; 3:5-12; 15:3, 8-9, 11 16:1-9; 22:9, 23 24:18, 21 vv...). Không phải mọi sự trong cuộc đời đều phải triệt để theo tôn giáo hay sùng kính. Lẽ dĩ nhiên sách Truyền Đạo có thể giúp để sửa sai cái xu hướng cực đoan là thuộc linh hóa mọi sự, như thể có điều gì đó sai trật trong thế giới vật chất, vật lý này; như thể Đức Chúa Trời phán rằng “điều đó là xấu xa” thay vì “điều đó là tốt lành” khi Ngài nhìn vào lần đầu vào những gì mình vừa sáng tạo ra.
Sử Dụng Và Lạm Dụng Châm Ngôn
Trong tiếng Hy-bá-lai sách Châm Ngôn được gọi là Meshallim (“dụ ngôn” hay “lời hay ý đẹp đặc biệt”). Câu châm ngôn là một cách diễn tả vắn tắt, cụ thể một sự thật. Một câu nói càng ngắn gọn thì càng khó có thể hoàn toàn chính xác và ứng dụng phổ quát. Chúng ta biết rằng những câu nói dài, có phẩm chất cao, được trau chuốt, thật chi tiết về một sự kiện không những chỉ thường khó hiểu, mà gần như là không thể dạy cho phần đông người ta học thuộc lòng được. Cho nên các châm ngôn đã được sắp xếp rất dễ nhớ cho bất cứ ai muốn học thuộc. Lẽ dĩ nhiên là trong ngôn ngữ Hy-bá-lai nhiều câu châm ngôn có một nhịp điệu nào đó, có điệp âm, hoặc các phẩm chất từ vựng khiến chúng rất dễ học thuộc. Hãy thử xét hai câu châm ngôn: “Nhìn trước khi nhảy,” và “Một câu nhịn, chín câu lành.” Cách lặp lại hai phụ âm “nh” trong trường hợp đầu và nhịp điệu cũng như vần “in” ở câu sau là những yếu tố khiến cho mấy câu châm ngôn này dễ hiểu, dễ nhớ. Chúng không dễ bị quên đi như những câu sau đây: “Trước khi dấn thân làm một việc gì, ta phải cân nhắc hoàn cảnh và các chọn lựa đã,” hay “Nhịn nhục thì bao giờ cũng có lợi hơn là nóng nảy dẫn đến hành động thiếu suy nghĩ.” Hai công thức sau chính xác hơn nhưng thiếu hấp dẫn và kiến hiệu hơn hai câu có lời lẽ mà ai cũng hiểu kia, đó là chưa nói tới sự kiện chúng rất khó học thuộc hơn nhiều. Câu “Nhìn trước khi nhảy” là một câu mạnh, không chính xác; nó rất dễ bị hiểu lầm, hoặc tưởng là chỉ ứng dụng vào việc nhảy mà thôi. Nó không cho biết chỗ hay cách nhìn, nhìn cái gì hay nhìn bao lâu thì phải nhảy, thậm chí không có ý dạy người ta phải áp dụng theo đúng nghĩa đen về việc nhảy.
Với các châm ngôn của người Hy-bá-lai cũng thế. Chúng cần phải được hiểu một cách hợp lý và trong trường hợp mà chúng được nói ra. Chúng không khẳng định tất cả mọi trường hợp cho một chân lý mà chỉ “chỉ về hướng” chân lý ấy mà thôi. Nếu hiểu theo nghĩa đen thì chúng thường “không chính xác” về mặt chuyên môn, nhưng đó là những lời chỉ dẫn dễ học thuộc lòng cho việc hình thành một lối sống được lựa chọn. Hãy xét Châm Ngôn 6:27-29:
Há có người nào để lửa trong lòng mình
mà áo người lại chẳng bị cháy sao?
Há có ai đi trên than lửa hực
mà chân mình lại chẳng bị phồng chăng?
Kẻ nào đi tới cùng vợ người lân cận mình cũng vậy;
phàm ai đụng đến nàng ắt chẳng được khỏi bị phạt.
Chắc có người sẽ nghĩ: “Dòng cuối cùng không được rõ ràng. Nếu như người bưu tá thình lình chạm vào vợ một người khác trong lúc anh ta đi phát thư thì sao? Anh ta sẽ bị trừng phạt chăng? Và há chẳng có một kẻ nào đó ngoại tình mà chẳng có việc gì xảy đến cho hắn cả, hay sao?” Nhưng cách lý giải như thế là sai. Các châm ngôn có xu hướng được sử dụng theo nghĩa bóng và gợi ý cho người ta khi diễn tả sự việc, chứ không vạch rõ từng chi tiết. Luận điểm mà bạn phải hiểu từ câu châm ngôn này là phạm tội ngoại tình thì chẳng khác gì đùa với lửa. Đức Chúa Trời sẽ lo việc giải quyết tội đó chẳng chóng thì chầy; ngay trong đời này hoặc đời sau, kẻ ngoại tình sẽ phải chịu thiệt hại vì cớ các hành động đó của mình. Động từ “đụng” trong dòng cuối cùng phải được hiểu một cách bóng gió (euphemistically, ICo1Cr 7:1 - xem chương 2), nếu muốn cho bức thông điệp được Đức Thánh Linh cảm thúc này không bị xuyên tạc. Như thế, một châm ngôn không thể được hiểu theo nghĩa đen hoặc theo nghĩa quá phổ quát nếu muốn cho thông điệp của nó hữu ích cho mình. Thí dụ, hãy xét ChCn 9:13-18:
Đàn bà điên cuồng hay la lối,
nàng là ngu muội chẳng biết chi cả.
Nàng ngồi nơi cửa nhà mình
trên một cái ghế tại nơi cao của thành,
đặng kêu gọi những kẻ đi đường,
tức những kẻ đi thẳng đường mình,
mà rằng: “Ai ngu dốt hãy rút vào đây.”
Và nàng nói với kẻ thiếu trí hiểu rằng:
“Nước ăn cắp lấy làm ngọt ngào,
bánh ăn vụng là ngon thay.”
Những người chẳng biết rằng kẻ chết ở đó,
Và những người khách của nàng đều ở dưới chốn sâu của Âm phủ”.
Đây cũng là một châm ngôn có lời lẽ súc tích vì hàm chứa cả một dụ ngôn (một câu chuyện nói lên một điều gì khác hơn chính nó bằng những so sánh có ẩn ý) chỉ trong vài câu ngắn ngủi mà thôi. Ở đây nếp sống điên cuồng, trái hẳn với nếp sống khôn ngoan, được nhân cách hóa thành một kỵ nữ cố tìm cách quyến dụ một khách qua đường vào nhà mình. Đặc điểm của kẻ điên cuồng này là có tài mê hoặc người ta bằng các thú vui bị cấm đoán (c.17). Nhưng kết quả cuối cùng của một cuộc đời điên cuồng không phải là trường thọ, thành công hoặc hạnh phúc - mà là cái chết. Bức thông điệp của câu chuyện dụ ngôn vắn tắt này là “tránh xa sự điên cuồng, đừng để cho nó bắt (bạn) vào trong nhà nó! Hãy đi thẳng đường để tránh những cám dỗ như thế (vốn được phát biểu theo nhiều cách khác nhau trong nhiều câu châm ngôn khác nữa) mà sự điên cuồng đã biến chúng thành ra hấp dẫn.” Người khôn ngoan, tin kính, đạo đức sẽ chọn một nếp sống không vị kỷ, không dại dột điên cuồng. Những Châm Ngôn như thế này có phần nào giống những dụ ngôn diễn tả chân lý của chúng theo lối biểu tượng.
Một thí dụ khác nữa sẽ giúp chúng ta kết thúc phần thảo luận về sách Châm Ngôn là Châm Ngôn 16:3:
Hãy phó thác các việc mình cho Đức Giê-hô-va,
thì những mưu ý mình sẽ được thành công.
Đây là loại châm ngôn thường bị giải thích lệch lạc nhất. Vì không nhận thức được rằng các châm ngôn thường là những lời phát biểu không chính xác về một chân lý theo lối nói bóng cho nên người ta có thể cho rằng 16:3 là một lời hứa trực tiếp, rõ ràng của Đức Chúa Trời luôn luôn có thể áp dụng, tức là nếu một người giao phó các kế hoạch của mình cho Đức Chúa Trời, thì nhất định là các kế hoạch ấy phải thành công. Lẽ dĩ nhiên là cách lý luận như thế có thể dẫn tới chỗ thất vọng. Người ta có thể phó thác một kế hoạch hoàn toàn vị kỷ, ngu xuẩn nào đó cho Đức Chúa Trời, rồi nếu được thành công, dù chỉ là ngắn ngủi, thì họ có thể cho là Đức Chúa Trời đã ban phước cho kế hoạch ấy. Một cuộc hôn nhân hấp tấp, một vụ kinh doanh thiếu tính toán, một quyết định nghề nghiệp thiếu suy nghĩ - tất cả đều có thể phó thác cho Đức Chúa Trời, nhưng rồi cuối cùng có thể đều dẫn đến kết quả là khó khăn khổ sở. Hoặc một người có thể phó thác một kế hoạch cho Đức Chúa Trời chỉ để gặp thất bại mà thôi; rồi người ấy ngạc nhiên tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời lại không giữ lời hứa, tại sao Ngài lại rút lại Lời đã được linh cảm của Ngài như thế. Trong cả hai trường hợp trên đây, họ đã không thấy được rằng câu châm ngôn này vốn không phải là một lời hứa luôn luôn có thể đem ra áp dụng, chắc chắn như “đinh đóng cột,” nhưng chỉ là một chân lý tổng quát; nó dạy rằng một cuộc đời phó thác cho Đức Chúa Trời và một cuộc đời sống theo ý riêng sẽ thành công theo định nghĩa của Đức Chúa Trời về sự thành công. Nhưng theo cách định nghĩa sự thành công của thế gian, thì kết quả có thể sẽ là trái ngược hẳn lại. Câu chuyện của Gióp nhắc nhở thật hùng hồn cho chúng ta về vấn đề này.
Thế thì, khi các châm ngôn này được hiểu theo đúng trường hợp dành cho chúng, và được hiểu như một phạm trù đặc biệt nhằm gợi ý một chân lý, chúng sẽ trở thành một công cụ quan trọng và đắc lực cho đời sống.
Vài Hướng Dẫn Giảng Kinh
Bây giờ chúng tôi đưa ra vài hướng dẫn tóm tắt để giúp đỡ bạn hiểu các câu châm ngôn khôn ngoan.
Các Câu Châm Ngôn Không Phải Là Những Bảo Đảm Hợp Pháp Từ Đức Chúa Trời
Các câu châm ngôn đề ra một phương pháp khôn ngoan để tiến đến một số mục tiêu thực tế được chọn lọc, nhưng với điều kiện là không nên xem chúng như bảo đảm của Đức Chúa Trời cho sự thành công. Những phước hạnh, phần thưởng và cơ hội nào đó được đề cập trong sách Châm Ngôn có thể được noi theo nếu ta biết chọn lựa thật khôn ngoan các hành động đã được phác thảo bằng ngôn ngữ thi ca bóng bẩy của sách ấy. Nhưng không có chỗ nào trong sách Châm Ngôn truyền dạy sự thành công sẽ đến một cách tự động. Nên nhớ rằng cả hai sách Truyền Đạo và Gióp đều đã được Đức Chúa Trời đưa vào Kinh Thánh, một phần là để nhắc nhở chúng ta rằng đã có rất ít những gì là tự động trong các biến cố hoặc tốt hoặc xấu có thể xảy ra trong đời sống chúng ta. Hãy xét các thí dụ sau đây (ChCn 22:26-27; 29:12; 15:25)
Chớ đồng bọn cùng những kẻ giao tay nhau,
hoặc cùng kẻ bảo lãnh nợ;
Nếu con không có gì trả,
cớ sao con muốn chúng đoạt lấy cái giường con đi?”
(ChCn 22:26-27).
Nếu vua lắng tai nghe lời giả dối,
thì các tôi tớ người trở nên gian ác (ChCn 29:12).
Đức Giê-hô-va sẽ đánh đổ nhà kẻ kiêu ngạo;
nhưng Ngài làm vững chắc các mộc giới của kẻ góa bụa.
(ChCn 15:25).
Nếu bạn hiểu thí dụ đầu tiên trong các thí dụ trên đây (ChCn 22:26-27) một cách cực đoan như một mệnh lệnh bao trùm của Đức Chúa Trời, có lẽ bạn sẽ chẳng bao giờ mua được một ngôi nhà vì bạn chẳng bao giờ chịu mượn nợ để mua nó. Hoặc có lẽ bạn sẽ cho rằng Đức Chúa Trời đã hứa là nếu bạn thất hứa trong một vấn đề đại khái như vay nợ tín dụng, thì cuối cùng bạn sẽ bị mất hết tài sản kể cả chiếc giường ngủ của bạn nữa. Cách giải thích theo nghĩa đen cách cực đoan đó sẽ dẫn bạn đến chỗ không nắm được luận điểm của câu châm ngôn thi vị và bóng bẩy này, đó là phải thận trọng khi vay nợ, vì bị tịch biên tài sản sẽ là điều vô cùng đau khổ. Câu châm ngôn đã đóng khung chân lý này bằng những từ ngữ cụ thể, theo nghĩa hẹp như giao tay, đoạt lấy cái giường, vv... nhằm nói lên một nguyên tắc rộng lớn hơn, chứ không phải là diễn tả một điều gì đó theo nghĩa đen. Trong thời kỳ Kinh Thánh được soạn thảo, những người ngay thẳng vẫn vay nợ mà chẳng hề vi phạm câu châm ngôn này của Kinh Thánh, vì họ hiểu rõ câu châm ngôn này muốn nói lên điều gì. Họ vốn đã quen thuộc với các câu châm ngôn và biết rằng câu này dạy họ “cách” phải vay nợ, chứ không phải là hoàn toàn tránh việc vay nợ.
Thí dụ thứ hai (ChCn 29:12) trên đây cũng không nên hiểu theo nghĩa đen. Nó không bảo đảm rằng nếu bạn là một quan chức của chính phủ, bạn sẽ chẳng còn cách chọn lựa nào khác hơn là phải trở thành gian ác nếu ông chủ của bạn (ông thị trưởng, tổng thống hoặc bất cứ ai khác) nghe theo lời những kẻ không nói cho ông ta biết sự thật. Câu này mang một ý nghĩa khác hẳn: nếu một nhà vua chỉ muốn nghe những lời dối trá thay vì sự thật, thì lần lần, chung quanh ông ta sẽ chỉ còn có những kẻ chỉ nói những điều ông ta thích nghe mà thôi. Và hậu quả cuối cùng sẽ là một chính quyền xấu xa băng hoại. Như thế, nhà vua nào chỉ đòi nghe sự thật, cho dù nó có gây đau khổ, thì sẽ giữ được chính quyền của mình trong sạch. Lời lẽ của câu châm ngôn diễn tả nguyên tắc này bằng theo lối ẩn ngữ chứ không phải theo nghĩa đen.
Thí dụ thứ ba (ChCn 15:25) có lẽ khó theo nghĩa đen nhất. Bằng kinh nghiệm bản thân, và theo lời chứng của Kinh Thánh thì dĩ nhiên nhà của nhiều kẻ kiêu ngạo vẫn đứng vững, và nhiều quả phụ đã bị các chủ nợ tham lam bóc lột hoặc lường gạt (Mac Mc 12:40; Giop G 24:2-3,vv...). Vậy câu châm ngôn này có nghĩa gì nếu không nhằm gây ấn tượng rằng Đức Giê-hô-va thật ra là kẻ phá nhà hay người giữ mộc giới? Nó có nghĩa là Đức Chúa Trời chống lại kẻ kiêu ngạo và đứng về phía người nghèo khó (“quả phụ”, “cô nhi” và “khách lạ” là những từ ngữ thay mặt cho tất cả những người phải sống lệ thuộc vào người khác; xem thêm PhuDnl 14:29; 16:11; 26:12, 13 vv...). Khi câu châm ngôn này được đem đối chiếu với ChCn 23:10, 11 và LuLc 1:52-53, thì ý nghĩa của nó sẽ rõ ràng hơn nhiều. Nó là một dụ ngôn nhỏ được Đức Thánh Linh dùng để nói về một điều gì vượt khỏi “cái nhà” và “quả phụ” để đến một nguyên tắc tổng quát là Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ sửa ngay lại thế giới sai trật này bằng cách hủy diệt kẻ kiêu ngạo và đền bồi cho những người đã phải chịu đau khổ vì sự công chính (Mat Mt 5:3-4).
Phải Đọc Sách Châm Ngôn Như Một Bộ Sưu Tập
Mỗi câu châm ngôn được linh cảm phải được giữ cân bằng với các câu khác, và phải được hiểu bằng cách đối chiếu với phần còn lại của Kinh Thánh. Như thí dụ thứ ba trên đây (ChCn 15:25) minh họa, ta càng đọc một châm ngôn một cách cô lập thì sự giải thích càng kém rõ ràng hơn. Nếu bị hiểu sai, một châm ngôn riêng lẻ có thể đưa bạn tới chỗ có những thái độ hoặc cách ăn ở không thích hợp hơn là khi bạn đọc cả sách Châm Ngôn như một toàn thể. Hơn nữa, bạn phải cẩn thận đừng để cho những câu châm ngôn ám chỉ về những điều vật chất hoặc thế gian này khiến bạn quên mất giá trị cân bằng của nhiều câu Kinh Thánh khác cảnh báo chủ nghĩa duy vật và sự ham thích thế gian. Đừng lao vào loại khôn ngoan như các bạn thân của Gióp, vốn xem sự thành công của đời này là ngang hàng với sự công chính dưới mắt của Đức Chúa Trời. Đó là cách đọc các câu châm ngôn chọn lọc mà đánh mất thế quân bình. Cũng đừng cố tìm trong sách Châm Ngôn lời biện bạch cho một nếp sống vị kỷ hay các tập tục không phù hợp với những gì Kinh Thánh đã dạy ở những nơi khác. Và nên nhớ rằng các Châm Ngôn vốn thường được tập họp lại theo nhiều cách khác nhau, để khi đọc chúng, ta có thể nhảy vọt từ một đề mục này sang một đề mục khác. Tất cả các nhận xét trên đây đều có nghĩa là ta phải cẩn thận tránh cượng giải. Hãy xét thêm hai châm ngôn này:
Người khôn ngoan leo lên thành dõng sĩ,
đánh hạ sức lực mà nó nương cậy (ChCn 21:22).
Miệng của dâm phụ vốn là một cái hố sâu;
ai bị Đức Giê-hô-va giận sẽ sa ngã vào đó (ChCn 22:14).
Nếu bạn là người khôn ngoan, bạn có đi tấn công một thành phố đã được phòng thủ chắc chắn, và đó có phải là làm một việc tốt cho Đức Chúa Trời hay không? Nếu bạn làm điều gì không đẹp lòng Đức Chúa Trời, thì phải chăng bạn sẽ gặp nguy cơ là sẽ bị chết ngạt trong cái miệng hả hoác của một dâm phụ?
Phần đông người ta sẽ đáp không cho các câu hỏi này, và thêm “cho dù chúng có nghĩa gì đi nữa, thì chúng chẳng bao giờ có thể có nghĩa như thế!” Nhưng nhiều người trong số đó lại quả quyết rằng phải hiểu ChCn 22:26 theo nghĩa đen, nghĩa là các Cơ Đốc nhân không được vay mượn, hay ChCn 6:20 có nghĩa là một người phải luôn luôn vâng lời cha mẹ bất kể tuổi tác hay bất chấp lời khuyên của cha mẹ mình có sai lầm như thế nào. Do không giữ cân bằng các châm ngôn bằng cách đối chiếu lẫn nhau hoặc với phần còn lại của Kinh Thánh (chỉ nói đến nhận thức thông thường) nhiều người đã tự đối xử rất bất công với chính bản thân và với tha nhân.
Trong câu châm ngôn thứ nhất trên đây (21:22) ý chính là sự khôn ngoan có thể mạnh hơn cả quân lực nữa. Đây là một lối nói cường điệu. Về cách viết thì nó không khác với câu châm ngôn hiện đại “Ngòi bút mạnh hơn lưỡi gươm.” Đây không phải là một mệnh lệnh. Đó là cách mô tả năng lực của sự khôn ngoan cách bóng bẩy. Chỉ khi nào ta liên kết câu châm ngôn này với nhiều câu châm ngôn khác ca ngợi sự lợi ích và công hiệu của sự khôn ngoan (thí dụ 1:1-6; các chương 2-3, 8; 22:17-19 vv...) ta mới nắm được ý nghĩa của nó. Ở đây toàn cảnh rất quan trọng trong việc giải nghĩa.
Câu châm ngôn thứ hai được trích dẫn ở trên (22:14) cũng cần phải được đối chiếu với toàn cảnh của nó giống như thế. Một số lớn các câu châm ngôn nhấn mạnh trên tầm quan trọng của việc phải suy nghĩ và nói năng cẩn trọng (thí dụ 5:1; 16:10, 21, 23-24, 27-28, 18:4,vv...). Nói khác đi, điều ta nói dễ bị buộc tội hơn là điều ta nghe (Mat Mt 5:11, 15-20). Có lẽ bạn không thể kiểm soát được những gì bạn nghe, nhưng hầu như là luôn luôn có thể kiểm soát được những gì mình nói. Câu châm ngôn cá biệt này có thể được diễn ý như sau: “Việc mà một dâm phụ thường làm và nói đến cũng nguy hiểm cho bạn như việc bạn bị sa xuống một chiếc hố sâu. Nếu bạn muốn tránh cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, thì hãy tránh những việc như thế.” Nắm vững toàn bộ bối cảnh của những câu châm ngôn riêng lẻ sẽ giúp bạn khỏi giải nghĩa sai lạc.
Lời Lẽ Các Câu Châm Ngôn Giúp Dễ Nhớ Không Nhằm Đưa Ra Một Lý Thuyết Chính Xác
Chẳng có câu châm ngôn nào là một lời phát biểu trọn vẹn về chân lý. Chẳng hề có câu châm ngôn nào có lời lẽ hoàn chỉnh đến độ có thể đứng vững trước một đòi hỏi vô lý là đem nó ra ứng dụng vào mọi hoàn cảnh và bất cứ lúc nào. Một nguyên tắc có ẩn nghĩa càng được phát biểu ngắn gọn bao nhiêu, thì càng cần có nhận xét nhạy bén và sáng suốt nhiều hơn bấy nhiêu để giải nghĩa đúng, nhưng nó cũng sẽ càng dễ học thuộc lòng hơn (chẳng hạn câu “Một câu nhịn chín câu lành” ở phần trên). Các châm ngôn tìm cách truyền đạt kiến thức để người ta có thể “giữ lại” hơn là một triết lý có thể gây ấn tượng trên một nhà phê bình. Như thế, các câu châm ngôn có mục đích, hoặc là kích thích việc tạo ra một hình ảnh trong tâm trí bạn (tâm trí nhớ các hình ảnh dễ hơn là nhớ các dữ kiện trừu tượng) hoặc là đưa vào đó các âm thanh êm tai (thí dụ điệp âm, điệp vận, theo thứ tự mẫu tự, vv...). Một thí dụ về công dụng của hình ảnh là ChCn 15:19:
Đường kẻ biếng nhác như một hàng rào gai;
còn nẻo người ngay thẳng được ban bằng.
Ở đây, chúng ta đọc thấy những lời lẽ không nhằm chỉ vào các loại cây cỏ trên các con đường mà những kẻ lười biếng thích đi qua, nhưng vượt qua đó để nói lên một nguyên tắc, đó là chăm chỉ thì tốt hơn lười biếng.
Bức tranh về người nữ tài đức trong ChCn 30:10-31 là kết quả của một cách sắp xếp theo thứ tự mẫu tự. Mỗi câu được bắt đầu bằng một mẫu tự nối tiếp nhau của các chữ cái trong mẫu tự Hy-bá-lai, rất dễ học thuộc và êm tai trong tiếng Hy-bá-lai, nhưng đối với một người hay chỉ trích hay một độc giả chỉ muốn hiểu theo nghĩa đen thì đây là một nếp sống dường như chẳng một phụ nữ nào sống trên đời này có thể thực hiện nổi. Nhưng nếu một người đã nắm được ý chính của ChCn 31:22 là nhằm mục đích nhấn mạnh bằng cách dùng lối nói phóng đại niềm vui mà một người nữ tài đức có thể đem đến cho gia đình mình thì phân đoạn này, châm ngôn này đã làm tốt công tác của nó. Lời lẽ (và hình ảnh) của khúc sách ấy như quấn chặt lấy người đọc, cung cấp những hướng dẫn ích lợi khi cần đến. Đó là ý định mà Đức Chúa Trời dành cho các câu châm ngôn.
Một Số Câu Châm Ngôn Cần “Diễn Dịch Lại” Để Dễ Lãnh Hội
Nhiều câu châm ngôn diễn tả chân lý theo các tập tục và định chế vốn phổ biến đối với dân Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu Ước nhưng nay không còn tồn tại nữa. Nếu bạn không suy nghĩ về các câu châm ngôn ấy trong các điều kiện tương đương hiện đại (nghĩa là cẩn thận “diễn dịch” chúng thành các tập quán và định chế hiện tại), thì ý nghĩa của chúng có thể có vẻ không phù hợp hoặc bị mất đi hoàn toàn (xem chương 4). Hãy xét hai thí dụ sau đây (ChCn 22:11; 25:24):
Ai ái mộ lòng thánh sạch và có duyên nơi môi miệng mình,
sẽ được vua làm bạn nghĩa.
Thà ở một góc trên mái nhà,
hơn là ở chung nhà với người đàn bà hay tranh cạnh.
Hầu hết chúng ta không sống còn trong xã hội quân chủ. Chúng ta cũng không có những ngôi nhà nóc bằng của thời kỳ Kinh Thánh được viết ra, khi việc cư trú trên mái nhà là việc rất bình thường (Gios Gs 2:6). Do đó, phải chăng đọc các câu châm ngôn này là phung phí thì giờ. Không đâu! Miễn là chúng ta chịu khó tìm hiểu các vấn đề xuyên-văn-hóa được mô tả bằng thứ ngôn ngữ văn hóa đặc thù của chúng. Ý nghĩa chính yếu của thí dụ thứ nhất trích dẫn trên đây (ChCn 22:11) rất dễ hiểu nếu chúng ta biết được rằng “sẽ được vua làm bạn nghĩa” tương đương với việc “được các bậc lãnh đạo có ấn tưởng tốt về mình”. Dù sao thì câu châm ngôn này cũng vẫn luôn luôn có nghĩa như thế. “Nhà vua” tiêu biểu cho một giai cấp lãnh đạo. Ẩn ngữ đặc thù của câu châm ngôn này vượt xa hơn chính nó để bày tỏ một chân lý, đó là các cấp lãnh đạo và những người có trách nhiệm nói chung đều có ấn tượng tốt đối với người thật thà và biết nói năng cẩn trọng.
Ý nghĩa của câu châm ngôn thứ hai đã được trích dẫn ở phần trên (25:24) cũng không quá khó nhận ra, nếu chúng ta thực hiện phần “diễn dịch” cần thiết từ nền văn hóa thời bấy giờ sang nền văn hóa của chúng ta. Thậm chí ta còn có thể diễn ý như sau “Thà sống trong căn nhà để xe còn hơn phải sống trong một ngôi nhà rộng thênh thang chung với một phụ nữ mà lẽ ra bạn chẳng bao giờ nên cưới.” Nên nhớ rằng lời khuyên của phần lớn các câu châm ngôn dường như vốn dành cho các thanh niên mới vào đời. Câu châm ngôn này không hề gợi ý điều bạn phải làm theo nghĩa đen, nếu bạn thấy vợ mình là một người hay gây gỗ. Ý định của nó là chỉ muốn khuyên người ta phải cẩn thận trong việc chọn người bạn đời. Việc lựa chọn như thế là một quyết định xuyên-văn-hóa mà nếu được hiểu đúng, thì câu châm ngôn này là một lời khuyên chính đáng, hợp đạo lý (Mat Mt 19:3-11; ICo1Cr 7:1-14, 25-40). Có lẽ mọi người đều biết rằng một cuộc hôn nhân hấp tấp, căn cứ phần lớn trên vẻ hấp dẫn bên ngoài, có thể biến thành một cuộc hôn nhân bất hạnh.
Để thuận tiện, dưới đây chúng tôi liệt kê vắn tắt một số quy luật giúp bạn sử dụng đúng các câu châm ngôn và trung thành với ý định được linh cảm của Đức Chúa Trời.
1. Các châm ngôn thường có ẩn nghĩa, tức là nghĩa bóng, nói đến những điều vượt xa hơn bản thân chúng.
2. Các châm ngôn có tính cách hết sức thực tế, chứ không phải lý thuyết thần học suông.
3. Các châm ngôn sử dụng lời lẽ dễ thuộc lòng chứ không dùng những thuật ngữ chính xác.
4. Các châm ngôn không nhằm mục đích hậu thuẫn cho cách ăn ở vị kỷ - nhưng ngược lại.
5. Các châm ngôn phản ảnh mạnh mẽ nền văn hóa cổ xưa cần được khéo léo “diễn dịch” để khỏi đánh mất ý nghĩa của chúng.
6. Các châm ngôn không phải là những lời bảo đảm của Đức Chúa Trời, nhưng chỉ là các chỉ dẫn bằng thi ca về thế nào là một nếp sống lành mạnh, đạo đức.
7. Các châm ngôn có thể sử dụng loại ngôn ngữ đặc thù, phóng đại (khoa trương, cường điệu), hoặc bất kỳ một kỹ thuật viết văn nào để nêu rõ luận điểm của chúng.
8. Các châm ngôn đưa ra những lời khuyên tốt cho việc tiếp cận một số góc cạnh của đời sống, nhưng không đề cập cách thấu đáo các vấn đề.
9. Khi sử dụng sai, các châm ngôn có thể biện minh cho một nếp sống thô lỗ, duy vật. Khi sử dụng đúng, các châm ngôn sẽ có thể cung cấp lời khuyên thực tế cho sinh hoạt hằng ngày.
Khôn Ngoan Trong Sách Nhã Ca
Nhã Ca là một bài tình ca dài. Nó là một bản trường ca về cuộc tình lãng mạn của con người, được sáng tác theo thể thi ca trữ tình của vùng Cận Đông ngày xưa. Chúng ta có thể gọi đó là khôn ngoan trữ tình (lyric wisdom). Dân Y-sơ-ra-ên đời xưa cũng như thiên hạ khắp nơi đều rất quen thuộc với các bài tình ca (Exe Ed 33:32). Nhưng làm thế nào để một bản tình ca có thể được xếp vào thể loại khôn ngoan? Tại sao Đức Chúa Trời lại liệt tám chương thơ tình này vào bộ Kinh Thánh? Câu trả lời thật ra rất dễ dàng: Yêu ai và yêu như thế nào - hai vấn đề chủ yếu mà sách Nhã Ca quan tâm - đều là những lựa chọn cơ bản nhất trong đời sống, và khả năng biết chọn lựa hai quyết định mấu chốt này là điều rất quan trọng cho toàn thể các tín hữu.
Đức Chúa Trời đã sáng tạo ra loài người với vô số các tế bào não dành cho chuyện yêu đương và tình dục. Đó là một sự kiện của nhân tính, và là một phần của ý định Ngài trong công trình sáng tạo mà Ngài đã tuyên bố là “tốt lành” (SaSt 1:31). Nhưng rủi thay, bất kỳ một điều tốt lành nào cũng có thể bị những lựa chọn bất kính vô đạo phá hỏng. Bất luận một kỹ năng nào của loài người cũng có thể được sử dụng cả cho điều thiện lẫn điều ác, và bất cứ một sự thèm muốn nào của con người ta cũng có thể bị sử dụng sai lầm thay vì đúng đắn. Với tình yêu và tình dục cũng thế. Ngay đến nó cũng đã bị sự sa ngã của loài người phá hỏng, cho nên thay vì luôn luôn là nguồn mạch cho niềm vui và phước hạnh trong hôn nhân một vợ một chồng như ý định của Đức Chúa Trời, nó lại thường trở thành một phương tiện để tưởng thưởng cho thói vị kỷ cá nhân dẫn tới đủ thứ tham dục và lợi dụng. Quả thật loài người đã có đủ cách chọn lựa trong vấn đề tình dục. Chắc chắn một người có thể chọn noi theo tính lãng mạn để đi đến bất cứ nơi nào nó dẫn mình tới, bất chấp mọi hậu quả. Con người có thể lao vào tình dục khiến cho Đức Chúa Trời bị sỉ nhục. Lẽ tất nhiên tình dục có thể bị lệch lạc và gây tàn hại. Tính lãng mạn có thể bị điều động đủ cách để trở thành tàn bạo. Một điểm chú trọng vào kỹ thuật đối với thân thể đem áp dụng sai, có thể làm thay đổi vẻ dịu dàng tình tứ. Đó là những điều đáng lẽ không nên có. Tình dục - kể cả sự lãng mạn nữa - có thể được Đức Chúa Trời sử dụng để làm vinh danh Ngài phù hợp với ý định ban đầu của Ngài, nếu người ta biết chọn cái đúng. Đó là vấn đề mà sách Nhã Ca muốn nói đến.
Nhưng có điều chắc chắn là việc sách Nhã Ca bị giải nghĩa sai đã có một lịch sử lâu đời, căn cứ trên việc kết hợp hai loại sai lầm thông thường về giảng kinh: chuyển đổi toàn thể và hiểu theo nghĩa bóng. Chuyển đổi toàn thể là xu hướng nghĩ rằng tất cả các nét đặc trưng và ý nghĩa có thể có của một từ ngữ hay ý niệm một khi nó được sử dụng. Một thí dụ về trường hợp chuyển đổi toàn thể là cách khẳng định rằng câu “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi...” gồm cả ý nghĩa lãng mạn (“phải lòng”) dường như từ ngữ “yêu” luôn luôn làm chứa nghĩa lãng mạn mỗi khi nó được dùng đến. Thật ra, ta có thể thấy rất rõ ràng nó không hề có nghĩa đó trong câu Anh văn: “I love peanut butter” (Tôi thích ăn bơ đậu phụng), một câu có đầy đủ ý nghĩa nhưng chẳng có chút giọng điệu lãng mạn nào trong đó cả.
Trong trường hợp sách Nhã Ca, người ta “chuyển” toàn thể ý nghĩa từ những bài tình ca khác trong Kinh Thánh. Hễ khi nào người ta muốn tìm một điều gì đó trong Kinh Thánh tương tự với sách Nhã Ca, thì những chỗ giống nhất mà họ gặp là một vài câu nào đó có nghĩa bóng trong các sách tiên tri. Những cách nói ẩn ý ấy được lồng vào trong hình thức những bài tình ca, kể lại câu chuyện Đức Chúa Trời yêu dân Y-sơ-ra-ên, và thế nào tình yêu ấy đã bị khước từ hay bị lạm dụng. Nói khác đi, cùng loại ngôn ngữ và hình ảnh được sử dụng để nói về mối liên hệ giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời trong những câu chuyện dụ ngôn trong các sách tiên tri cũng như trong sách Nhã Ca. Những trường hợp này có thể được tìm thấy trong EsIs 5:1-7; OsHs 2:2-15 được viết bằng thể thi ca và dài dòng hơn trong Exe Ed 16:1-63 và 23:1-49 bằng thể văn xuôi. Căn cứ vào các bài tình ca tiên tri đó, một số các nhà giải kinh đời xưa đã vội đưa ra kết luận. Chủ trương chuyển đổi toàn thể, họ cho rằng nếu các bài tình ca trong các sách tiên tri đề cập Đức Chúa Trời và dân Ngài theo nghĩa bóng, thì một bài tình ca như sách Nhã Ca của Sa-lô-môn, cũng phải là một sự việc cùng một loại như thế. Vào một thời kỳ mà việc hiểu theo nghĩa bóng hầu như cả Kinh Thánh vốn là một cách làm phổ biến (xem những trang đầu chương 8 sách này), một số các giáo phụ tuy có ý định tốt nhưng sai lầm, đã đưa ra lời kết luận rằng sách Nhã Ca có thể chẳng khác gì một câu chuyện dụ ngôn về mối tình của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên hoặc của Chúa Cứu Thế đối với Hội Thánh. Cách lý giải ấy đã được tiếp nhận và chiếm ưu thế mãi cho đến những lúc gần đây.
Nhưng ngay cả trên bề mặt, thì đó không phải là vấn đề mà sách Nhã Ca đề cập. Nó không phải là một phần của một sách tiên tri giống như các bài tình ca có nghĩa bóng. Không có dấu hiệu gì cho thấy nó đề cập đến lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên như các câu chuyện ẩn dụ trong các sách tiên tri, cũng không nói đến các biểu tượng quốc gia. Trái lại, nó trực tiếp tập trung vào mối tình giữa hai con người, một nam một nữ, và sức hấp dẫn lẫn nhau giữa họ. Hơn nữa, nó còn có đặc điểm và độ dài khác hẳn với các bài ca tiên tri. Chẳng hạn, trong các sách tiên tri chẳng có gì giống như đoạn sau đây:
Hỡi bạn tình ta, này mình đẹp đẽ thay,
mình đẹp đẽ thay!
Mắt mình trong lúp giống như mắt bồ câu;
Tóc mình khác nào bầy dê nằm nơi triền núi Ga-la-át.
Răng mình như thể bầy chiên mới hớt lông,
từ ao tắm rửa đi lên,
thảy đều sanh đôi, không một con nào son sẻ.
Môi mình tợ sợi chỉ hồng, miệng mình có duyên thay;
Má mình trong lúp tợ như nửa quả lựu.
Cổ mình như tháp Đa-vít, xây cất để treo binh khí;
ngàn cái khiên treo tại đó, là các cái khiên của tay anh hùng (Nha Dc 4:1-4).
Đây là ngôn ngữ của một người nam ca tụng người yêu của mình, trong đó anh ta so sánh các nét đặc trưng của diện mạo nàng với các hình ảnh đẹp đẽ trong đời sống. Lẽ dĩ nhiên là anh ta đã không nói về những điều giống nhau về diện mạo bên ngoài, nhưng là những điều gây ấn tượng tương tự cho thị giác.
Và, để thêm một thí dụ nữa, trong những bài tình ca tiên tri có nghĩa bóng không có gì so sánh được với đoạn dưới đây:
Tôi ngủ nhưng lòng tôi tỉnh thức,
Ấy là tiếng của lương nhân tôi gõ cửa, mà rằng:
“Hỡi em gái ta, bạn tình ta, chim bồ câu ta,
kẻ toàn hảo của ta ơi, hãy mở cửa cho ta!
Vì đầu ta đầy sương móc,
lọn tóc ta thấm giọt ban đêm.”
Tôi đã cởi áo ngoài rồi, làm sao mặc nó lại?
Tôi đã rửa chân rồi, lẽ nào làm lấm lại?
Lương nhân tôi thò tay vào lỗ cửa,
lòng dạ tôi cảm động vì cớ người.
Tôi bèn chổi dậy đặng mở cửa cho lương nhân tôi;
tay tôi nhỏ giọt một dược,
và ngón tay tôi chảy một dược ròng trên nạm chốt cửa.
Tôi mở cửa cho lương nhân tôi,
nhưng người đã lánh đi khỏi rồi
Đương khi người nói lòng tôi mất vía.
Tôi tìm kiếm người, nhưng không có gặp;
tôi gọi người, song người chẳng đáp (5:2-6).
Đây là một phần kể lại giấc mơ của người nữ về thế nào nàng đã ngủ quên nên không dậy kịp để đuổi theo và bị vuột mất người mà nàng yêu khi người ấy gọi nàng. “Tôi ngủ nhưng lòng tôi tỉnh thức” là ngôn ngữ thi ca ngụ ý “tôi đang mơ.” Tất cả chúng ta đều có những giấc mơ như thế, trong giấc mơ chúng ta đã không chạy nhanh để đuổi kịp hoặc không đạt được điều mà chúng ta tha thiết nhất. Trong trường hợp này, giấc mơ được dùng để nâng cao vẻ hấp dẫn mà nàng cảm thấy đối với người mình yêu, nên đã thất vọng biết bao khi bị mất một dịp may để có thể được ở với chàng (cũng xem 3:1-5).
Còn nhiều cách khác nữa để bộc lộ tình yêu và mong ước trong sách Nhã Ca ngoài những cách so sánh diện mạo và những chuỗi giấc mơ. Cũng có nhiều câu họp nhau lại để nói lên nhiệt tình trong tình yêu (thí dụ 1:2-4), lời khuyên bảo và thách thức từ những người quan sát mối tình lãng mạn này (thí dụ 1:8; 5:9), lời mời gọi lãng mạn của người nam đối với nữ và ngược lại (thí dụ 7:11-13; 8:13), những kiêu hãnh được cố ý phóng đại về tính cao trọng của người nữ từ phía người nam và ngược lại (thí dụ 2:8-9), sự cần thiết phải chống lại sự cám dỗ để thu hút sự chú ý của một người khác chứng tỏ thái độ không chung thủy của mình (thí dụ 6:8-9) và lời tuyên bố rằng sức hấp dẫn của người mình yêu còn mạnh hơn cả vẻ huy hoàng của một nhà vua vĩ đại cỡ như chính vua Sa-lô-môn (thí dụ 3:6-11 tiếp sau 2:16-3:5; đ/c 8:11-12). Tất cả những điều trên đây đều được lồng vào trong một phần hình thức thi ca đầy nhạc tính, tuy tất cả đều liên hệ cách hợp lý với các chọn lựa trong đời sống về tình yêu, tính lãng mạn,và tình dục.
Sau đây là vài nhận định mà chúng tôi nghĩ là sẽ giúp được bạn sử dụng sách Nhã Ca đúng theo ý định của Kinh Thánh:
Thứ nhất, cố tìm cách lãnh hội bối cảnh đạo đức chung của sách Nhã Ca. Một vợ một chồng, hôn nhân giữa một nam một nữ là bối cảnh thích hợp cho hoạt động tình dục theo mạc khải của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, và những người Y-sơ-ra-ên kính sợ Đức Chúa Trời phải đọc sách Nhã Ca dưới ánh sáng ấy. Thái độ trong sách Nhã Ca còn là phản đề của sự bất trung, cả trước lẫn sau hôn nhân. Hôn nhân là phần kết thúc và kế tục cho tình yêu giữa một người nam và một người nữ. Đó là điểm mà sách Nhã Ca hướng tới.
Thứ hai, cần phải biết rõ thể loại của sách Nhã Ca. Thể loại giống với nó nhất dĩ nhiên là loại thơ tình của Cựu Ước và những nơi khác trong vùng Cận Đông thời xưa, một bối cảnh không chỉ là tình yêu nhưng còn là sự hấp dẫn trong hôn nhân. Có lẽ các bản tình ca được hát theo thói quen trong những tiệc cưới và có ý nghĩa quan trọng cho những người tham dự. Chúng nói về sức hấp dẫn, lòng chung thủy, loại trừ sự cám dỗ lừa dối, đề cao sự đẹp đẽ của tình yêu, các niềm vui và lạc thú của nó, và các nguy cơ của sự thiếu thủy chung. Âm hưởng đạo đức áp đảo và việc tập trung chú ý cũng như giục giã loại tình yêu để đưa vào một bối cảnh đúng đắn, thích hợp.
Thứ ba, nên đọc Nhã Ca như một quyển sách gợi ý phải có những chọn lựa theo đường tin kính chứ không phải như một quyển sách mô tả những chọn lựa đúng kỹ thuật. Điều này cũng tương tự như cách chúng tôi đã nói về phương pháp giải nghĩa sách Châm Ngôn - chúng rất đúng khi đó là những gợi ý và cách nói tổng quát, chứ không phải là những câu phát biểu chính xác về một sự kiện phổ quát. Có một trường hợp trong Kinh Thánh gần nhất với sách Nhã Ca là ChCn 1:1-9:18. Ở đây, ta thấy có những bài thơ về tính hấp dẫn của sự khôn ngoan, ngược với sự mê muội, được gợi ý bằng những dòng thơ hơn là những mệnh đề mà chúng ta buộc phải lựa chọn.
Thứ tư, phải biết rằng sách Nhã Ca chú trọng vào những giá trị rất khác với các giá trị của nền văn hóa hiện đại của chúng ta. Các “chuyên gia” ngày nay đề cập những kỹ thuật ân ái mà hầu như chẳng bao giờ bàn đến sự lãng mạn đức hạnh, là sức hấp dẫn một người đàn ông đến với một phụ nữ, dẫn đến một cuộc hôn nhân suốt đời. Các chuyên gia như thế cổ xúy cho hành động chiều theo dục vọng, trong khi sách Nhã Ca nhấn mạnh điều ngược lại. Nền văn hóa của chúng ta khuyến khích mọi người tự thỏa mãn cho dù các sở thích nhục dục của họ có thể là thế nào đi chăng nữa, trong khi sách Nhã Ca quan tâm đến cách thức để một người có thể đáp ứng lại vẻ hấp dẫn và thỏa mãn các nhu cầu của người kia bằng sự trung thành, chung thủy. Trong phần lớn thế giới ngày nay, sự lãng mạn chỉ được nghĩ đến như một điều gì đó đi trước hôn nhân. Trong sách Nhã Ca, nét lãng mạn là điều phải được tiếp tục xuyên suốt, và phải thật sự là đặc điểm của hôn nhân. Mong được như thế.


Khải Thị: Những Hình Ảnh Phán Xét và Hi Vọng
Khi lật đến sách Khải Thị từ phần còn lại của Tân Ước, ta cảm tưởng như đang bước vào một nơi xa lạ. Thay vì những câu chuyện ký thuật và các bức thư hàm chứa những câu khẳng định rõ ràng các sự kiện và các mệnh lệnh, ta đến với một quyển sách đầy những thiên sứ, tiếng kèn, những cơn động đất, những con thú, những con rồng và những vực sâu không đáy.
Các vấn đề giảng kinh nằm ngay trong chính quyển sách ấy. Nó đã được liệt vào Kinh Thánh cho nên đối với chúng ta đây là lời Đức Chúa Trời được Đức Thánh Linh cảm thúc. Nhưng khi chúng ta đến để lắng nghe Lời ấy, phần đông chúng ta không biết phải xoay sở ra sao với nó. Đôi khi tác giả nói thẳng với chúng ta: “Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về vương quốc, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Giê-xu, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô vì cớ Lời Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Giê-xu” (KhKh 1:9). Ông viết cho bảy hội thánh nổi tiếng tại bảy thành phố lừng danh với những tình trạng ở thế kỷ thứ nhất mà ta có thể nhận ra.
Tuy nhiên, đồng thời lại có nhiều biểu tượng rất phong phú, đa dạng, trong đó một số có thể tạm hiểu được (sự đoán phạt trong hình thức một cơn động đất, 6:12-17) trong khi một số khác lại tối nghĩa (hai nhân chứng, 11:1-10). Phần lớn các vấn đề nẩy sinh từ các biểu tượng, cùng với sự kiện quyển sách lại đề cập các biến cố tương lai, nhưng đồng thời được đặt vào trong một bối cảnh có thể nhận ra của thế kỷ thứ nhất.
Chúng tôi không dám tự cho là có thể giải quyết mọi khó khăn, cũng không dám tưởng tượng rằng toàn thể quý độc giả đều vui vẻ với tất cả những gì chúng tôi nói. Dường như điều cần thiết phải nói ngay từ đầu là chẳng hề có ai tiếp cận với sách Khải huyền mà không có một mức độ khiêm tốn thích hợp nào đó! Đã có quá nhiều sách về “Giúp Hiểu Khải Huyền” rồi, nhưng nó chẳng dễ hiểu chút nào. Cũng như với những khúc sách khó trong các Thư Tín (xem mục “Những khúc sách có vấn đề” ở cuối chương 3 sách này), ở đây ta cần ít độc đoán hơn, nhất là vì ít ra đã có năm trường phái lớn liên hệ đến vấn đề giải thích sách này, đó là chưa kể đến những chủ trương khác nhau trong mỗi trường phái.
Nhưng chúng tôi cũng mạnh dạn nghĩ rằng mình còn nghi ngờ nhiều điều về những gì Giăng đã viết. Cho nên chúng tôi nêu lên một số gợi ý về mặt giảng kinh mà chúng tôi cho là rất có ý nghĩa. Nhưng công tác giải kinh phải đi trước, và trong trường hợp Khải Huyền thì việc giải kinh là hết sức quan trọng. Dựa vào sách này mà người ta viết ra không biết bao nhiêu sách vở khác. Trong hầu hết các trường hợp, những quyển sách ấy không hề có phần giải kinh. Họ chỉ nhảy ngay vào phần giảng kinh, là điều mà bình thường phải trải qua phần hình thức là giai đoạn dày công tưởng tượng, suy tư, lý luận mà có lẽ bản thân Giăng cũng chưa hề có ý định làm hay hiểu nữa.
Bản Chất Sách Khải Thị
Cũng như với các loại sách khác trong Kinh Thánh, chiếc chìa khóa đầu tiên cho công tác giải nghĩa sách Khải Thị là phải khảo sát thể văn của nó. Tuy nhiên trong trường hợp này, chúng ta gặp phải một loại vấn đề khác hẳn, vì sách Khải Thị (Revelation) là một quyển sách có một không hai, một sự kết hợp tinh vi của ba thể văn phân biệt: khải huyền (apocalypse), tiên tri (prophecy) và thư tín (letter). Hơn nữa thể văn căn bản - khải huyền - là một thể văn không thấy có trong thời đại của chúng ta. Trong những trường hợp trước đây, ngay cả nếu các thí dụ của chính chúng ta có phần nào khác hơn với các thí dụ trong Kinh Thánh, chúng ta vẫn có được một sự hiểu biết căn bản về thế nào là một thư tín hay một truyện ký, một thi thiên hay một châm ngôn. Nhưng ở đây, chúng ta chẳng có gì giống như thế cả. Cho nên điều đặc biệt quan trọng cho trường hợp này là phải có một bức tranh rõ ràng về thể văn mà chúng ta đang đối diện.
Sách Khải Thị Như Một Khải Huyền
Sách Khải Thị (Revelation) về cơ bản thuộc loại khải huyền (apocalypse). Nó là quyển sách duy nhất - tuy lẽ dĩ nhiên là một quyển sách rất đặc biệt - trong số hằng chục sách khải huyền nổi tiếng của người Do Thái và các Cơ Đốc nhân từ giữa khoảng các năm 2000 T.C. cho đến 200 S.C. Các sách khải huyền kia - dĩ nhiên là đều không được liệt vào Kinh Thánh - thuộc nhiều loại khác nhau, nhưng cùng với sách Khải Thị, tất cả đều có một vài đặc điểm giống nhau. Các đặc điểm ấy là như sau:
1. Nguồn gốc chung của thể văn khải huyền là thể văn tiên tri của Cựu Ước, nhất là những gì được tìm thấy trong các sách Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên, Xa-cha-ri và nhiều phần trong sách Ê-sai. Như trong trường hợp của một vài sách tiên tri, thể văn khải huyền quan tâm tới sự phán xét và cứu rỗi hầu đến. Nhưng thể văn khải huyền vốn nẩy sinh hoặc là từ một cơn bắt bớ bách hại, hoặc từ một giai đoạn bị áp bức bóc lột dữ dội, nặng nề. Do đó, mối quan tâm lớn lao của nó không còn là vào hoạt động của Đức Chúa Trời trong lịch sử nữa. Các nhà khải huyền chỉ chuyên tâm nhìn vào cái thời mà Đức Chúa Trời sẽ đem đến một cuộc kết thúc triệt để, mãnh liệt cho lịch sử, và kết thúc đó có nghĩa là chiến thắng khải hoàn của điều thiện và là sự đoán phạt cuối cùng trên điều ác.
2. Khác với phần lớn các sách tiên tri, các sách khải huyền là những văn phẩm đã có ngay từ ban đầu. Về cơ bản thì các nhà tiên tri là các phát ngôn nhân cho Yahweh, mà các sấm ngôn họ nói ra về sau mới được viết lại và sưu tập thành một quyển sách. Nhưng một sách khải huyền là một hình thức “văn chương.” Nó có một cấu trúc và hình thức là “văn viết” đặc biệt. Giăng chẳng hạn, đã “viết lại những sự (ông) đã thấy” (1:19), trong khi các nhà tiên tri vốn được dạy là phải nói lại những gì họ đã được phán bảo hoặc đã thấy.
3. Điều thường xảy ra nhất, là cái “chất” khải huyền được trình bày dưới dạng các khải tượng và chiêm bao, còn ngôn ngữ của nó thì huyền bí (có ẩn nghĩa) và biểu tượng. Do đó, phần lớn các sách khải huyền có những phương cách nhằm làm cho quyển sách mang một ý nghĩa về một thời đại cổ xưa. Một trong những phương cách quan trọng nhất là sự giả danh (pseudonymity), nghĩa là chúng được gán cho là được viết bởi các vĩ nhân đời xưa (chẳng hạn như Hê-nóc, Ba-rúc, vv...) được dặn bảo là phải “niêm phong” chúng để dành cho ngày sau, mà dĩ nhiên “ngày sau” đó là thời kỳ mà quyển sách đang được viết.
4. Các hình ảnh trong văn chương khải huyền thường có hình thức hư cấu, chứ không phải là có thực. Trái lại, các nhà tiên tri “phi khải huyền” và Chúa Giê-xu cũng thường sử dụng ngôn ngữ biểu tượng, nhưng thường là những hình ảnh có thật, thí dụ như muối (Mat Mt 5:13), chim ó (kên kên) và xác chết (LuLc 17:37), bồ câu ngây dại (OsHs 7:11;), bánh nửa chín nửa sống (7:8) vv... Nhưng phần lớn các hình ảnh khải huyền đều là những hình ảnh hư cấu, thí dụ một con thú có bảy đầu và mười sừng (KhKh 13:1), một phụ nữ có y phục là mặt trời (12:1), cào cào có đuôi bọ cạp và đầu người (9:10), vv.... Từng hình ảnh riêng rẽ không nhất thiết có tính cách hư cấu (chúng ta hiểu các con thú, những cái đầu và những chiếc sừng) nhưng khi kết hiệp lại trở thành những sinh vật không có thật trên đất.
5. Vì là các sách văn chương, phần lớn các văn phẩm khải huyền đều được viết bằng bút pháp rất trịnh trọng. Văn chương khải huyền rất thường có khuynh hướng phân chia thời gian và các biến cố thành những phần riêng biệt, ưa sử dụng các con số có ý nghĩa biểu tượng. vì thế , tác phẩm cuối cùng thường có những khải tượng được sắp xếp, đánh số và chia thành chuỗi, thành bộ cẩn thận. Thường khi đem lắp ghép các chuỗi, các bộ ấy lại với nhau, chúng sẽ nói lên một điều gì đó (thí dụ sự phán xét) và từng bức tranh riêng rẽ như thế không nhất thiết phải theo sát bức tranh đi trước nó.
Sách Khải Thị của Giăng hội đủ tất cả các đặc điểm trên đây của một sách khải huyền, ngoại trừ một điểm. Và điểm dị biệt duy nhất này lại quan trọng đến nỗi, theo một vài phương diện, nó đã trở thành cả một thế giới của riêng mình. “Sách Khải Thị không phải do một tác giả giấu tên.” Về điểm này thì Giăng cảm thấy mình chẳng cần phải noi theo phần hình thức thông thường của công thức. Ông xưng rõ danh tánh với các độc giả, và thông qua bảy bức thư (các chương 2-3), đã ngỏ lời với bảy Hội Thánh nổi tiếng tại Tiểu Á, vốn là những người đồng thời và “đồng bạn cùng chịu khổ” với ông. Hơn nữa, ông đã được phán bảo là “chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách này, vì thì giờ đã gần đến” (22:10).
Sách Khải Thị Như Là Lời Tiên Tri
Lý do quan trọng khiến sách Khải Huyền của Giăng không phải là sách giả danh có lẽ liên quan đến nhận thức của riêng ông về thời cuối cùng vừa đã đến vừa chưa đến (xem phần cuối chương 7). Ông không chỉ đơn giản dự báo kỳ tận thế như những người Do Thái đi trước mình. Ông biết rằng nó đã bắt đầu rồi với sự xuất hiện của Chúa Giê-xu. Điểm quan trọng cho sự hiểu biết này là sự giáng lâm của Đức Thánh Linh. Các tác giả các sách khải huyền khác đã viết nhân danh các nhân vật tiên tri đời xưa vì họ đã sống vào thời đại mà Đức Thánh Linh “đã bị dập tắt,” chờ đợi lời hứa tiên tri về việc Đức Thánh Linh sẽ được đổ xuống trong một kỷ nguyên mới. Như thế là họ đã sống vào một thời kỳ mà lời tiên tri đã bị ngưng lại. Mặt khác, Giăng thuộc về kỷ nguyên mới đó, ông “được Đức Thánh Linh cảm hóa” (đang ở trong Đức Thánh Linh) khi được phán bảo hãy viết lại những gì mình thấy (1:10-11). Ông gọi quyển sách của mình là “lời tiên tri này” (1:3; 22:18-19) và nói rằng “lời chứng của Chúa Giê-xu” - mà vì đó ông và các Hội Thánh đang phải chịu khổ (1:9; 20:4) - là “tinh thần của lời tiên tri” (19:10). Câu này dường như có nghĩa là thông điệp của Chúa Giê-xu - được chứng thực bởi chính Ngài cũng như Giăng và các Hội Thánh - là chứng cứ rõ ràng rằng Đức Thánh Linh của lời tiên tri đã đến rồi.
Do đó, điều khiến cho sách Khải Thị của Giăng khác hơn, trước hết là việc kết hợp các yếu tố khải huyền và tiên tri. Một mặt, quyển sách đã được đúc theo khuôn khải huyền và có đủ các đặc điểm của một sách khải huyền. Nó ra đời trong cơn bắt bớ bách hại và có ý định đề cập phần kết thúc với chiến thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế và Hội Thánh Ngài, và nó là một văn phẩm đã được cấu trúc cẩn thận, sử dụng ngôn ngữ huyền bí, đầy dẫy những biểu tượng hư cấu và các con số.
Mặt khác, rõ ràng là Giăng có ý định để sách khải huyền này trở thành một lời tiên tri cho Hội Thánh. Quyển sách của ông đã không bị niêm phong để dành cho tương lai. Nó là một lời phán dạy của Đức Chúa Trời cho tình hình hiện tại. Chắc bạn hãy còn nhớ là trong chương 10 “nói tiên tri” không có nghĩa trước nhất là tiên báo tương lai, nhưng đúng hơn là tuyên phán ra Lời của Đức Chúa Trời cho hiện tại, một lời phán mà nội dung thường là về sự phán xét hay cứu rỗi hầu đến. Trong sách Khải Thị, cả đến bảy bức thư cũng mang dấu vết tiên tri. Vậy thì đây chính là lời tiên tri của Đức Chúa Trời cho một số các Hội Thánh vào giai đoạn cuối của thế kỷ thứ nhất đang chịu bắt bớ bách hại từ bên ngoài và một số sa sút từ bên trong.
Sách Khải Thị Là Một Thư Tín
Cuối cùng, phải lưu ý rằng việc kết hợp các yếu tố khải huyền và tiên tri này đã được lồng trong hình thức một bức thư. Nếu đọc KhKh 1:4-7 và 22:21 bạn sẽ thấy sách Khải Thị có tất cả các đặc điểm của một bức thư. Hơn nữa, Giăng ngỏ lời với các độc giả của ông theo công thức là ngôi thứ nhất cho ngôi thứ hai (Tôi...anh em). Như thế, trong hình thức cuối cùng của nó, sách Khải Thị đã được Giăng gửi cho bảy Hội Thánh tại Tiểu Á như là một bức thư.
Như với tất cả các thư tín, sách Khải Thị cũng mang tính cách “tùy cơ hội” (xem đoạn cuối của tiêu đề “Bản Tính Các Thư Tín” ở chương 3). “Tùy cơ hội” một phần là vì nhu cầu của các Hội Thánh cụ thể mà nó được gửi đến. Do đó, muốn giải nghĩa, chúng ta phải tìm hiểu bối cảnh lịch sử nguyên thủy của nó.
Sự Cần Thiết của Công Tác Giải Kinh
Điều có vẻ hơi lạ là sau mười hai chương của quyển sách này, chúng tôi vẫn cảm thấy cần phải bàn cãi về sự cần thiết của công tác giải kinh. Chính vì “thiếu” các nguyên tắc giải kinh đúng nên đã có quá nhiều lối giải nghĩa suy lý lệch lạc về sách Khải Huyền. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nhắc lại vài nguyên tắc giải kinh căn bản mà chúng tôi đã trình bày trong sách, bắt đầu với chương 3.
1. Nhiệm vụ giải kinh đầu tiên đối với sách Khải Thị là đi tìm ý định nguyên thủy của tác giả, cũng là của Đức Thánh Linh. Cũng như với các Thư Tín, ý nghĩa đầu tiên của sách Khải Thị là ý nghĩa Giăng muốn nói, và cũng là ý nghĩa mà các độc giả của Giăng có thể hiểu được. Thật ra, họ có lợi điểm nhiều hơn chúng ta vì họ vốn quen thuộc với chính bối cảnh lịch sử trong đó quyển sách này được viết ra, cũng như họ vốn rất quen thuộc với các hình thức và hình ảnh khải huyền.
2. Vì sách Khải Huyền có mục đích tiên tri nên có thể có ý nghĩa thứ hai do Đức Thánh Linh cảm thúc, nhưng đã không được tác giả và các độc giả của ông nhìn thấy đầy đủ. Tuy nhiên, một ý nghĩa thứ hai như thế vượt ra ngoài công tác giải kinh (exegesis) trong phạm vi giảng kinh (hermeneutics) rộng lớn. Do đó, nhiệm vụ giải kinh ở đây là phải hiểu điều Giăng có ý muốn cho các độc giả nguyên thủy của ông được nghe và hiểu.
3. Ta phải đặc biệt thận trọng đối với việc lạm dụng ý niệm “loại suy Kinh Thánh” (analogy of Scripture) trong việc giải nghĩa sách Khải Thị. Suy luận loại suy Kinh Thánh có nghĩa là phải giải nghĩa Kinh Thánh căn cứ vào những câu Kinh Thánh khác. Chúng ta vẫn xem vấn đề như tự nó đã là hiển nhiên rồi, căn cứ trên lập trường của chúng ta là cả Kinh Thánh đều là Lời Đức Chúa Trời và có nguồn gốc tối hậu là từ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, dùng Kinh Thánh giải nghĩa Kinh Thánh không có nghĩa là buộc phải xem các câu Kinh Thánh khác là những chiếc chìa khóa giảng kinh để giải mã sách Khải Thị.
Như thế, chúng ta thừa nhận là Giăng có dùng các hình ảnh từ sách Đa-ni-ên hoặc sách Ê-xê-chi-ên một cách mới mẻ, cũng như những hình ảnh của sách Khải Thị có những tương đồng với các bản văn khác. Nhưng ta không nên quyết đoán, như một số các trường phái giải kinh, rằng các độc giả của Giăng hẳn đã đọc sách Ma-thi-ơ hay I & II Tê-sa-lô-ni-ca, và nhờ đọc các sách ấy, họ đã biết một số những chìa khóa để hiểu được những gì Giăng đã viết. Do đó, bất kỳ những chiếc chìa khóa nào để giải nghĩa sách Khải Thị cũng phải nằm ngay trong chính bản văn sách Khải Thị, nếu không thì cũng từ chính bối cảnh lịch sử mà độc giả nguyên thủy đã biết.
4. Do bản tính khải huyền/tiên tri của quyển sách, có một số khó khăn khác ở bình diện giải kinh, đặc biệt là liên quan với phần hình ảnh. Đây là một vài gợi ý liên hệ với việc này:
a. Ta phải nhạy cảm đối với bối cảnh phơng phú của những ý tưởng đã được đưa vào sách Khải Thị. Nguồn mạch chính của những ý tưởng và hình ảnh này là Cựu Ước, nhưng Giăng cũng lấy các hình ảnh này từ các sách khải huyền (apocalyptic) và thậm chí từ thần thoại cổ xưa. Nhưng các hình ảnh này, tuy lấy ra từ nhiều nguồn, vốn không nhất thiết phải có ý nghĩa như chúng vốn có ý nghĩa trong các nguồn gốc của chúng. Chúng đã bị đập vỡ và biến đổi do linh cảm và rồi được hòa trộn vào nhau thành “sách tiên tri mới” này.
b. Hình ảnh khải huyền vốn có nhiều loại. Trong một số trường hợp, các hình ảnh, không thay đổi, chẳng hạn con khỉ và con voi trong các bức tranh biếm họa chính trị Mỹ. Thí dụ con thú từ dưới biển lên dường như là hình ảnh tiêu biểu chỉ một đế quốc trên thế gian này, chứ không phải là cá nhân một nhà cai trị. Mặt khác, một số hình ảnh lại uyển chuyển. Con “sư tử” của chi phái Giu-đa lại thật sự biến thành một “Chiên Con” (KhKh 5:5-6) - tức con sư tử duy nhất trong sách Khải Thị. Người đàn bà trong chương 12 rõ ràng là một hình ảnh tích cực, thế nhưng người đàn bà trong chương 17 lại gian ác.
Một số hình ảnh cũng rõ ràng ám chỉ những điều cụ thể. Bảy chiếc chân đèn trong 1:12-20; được xem là bảy Hội Thánh, và con rồng trong chương 12 là Sa-tan. Mặt khác, nhiều hình ảnh khác có lẽ là chung chung. Thí dụ, bốn kỵ sĩ trong chương 6 có lẽ chẳng tiêu biểu cho một điều cụ thể nào về sự chinh phục, chiến tranh, nạn đói và sự chết, nhưng đúng hơn là tiêu biểu cho sự sa đọa của loài người là nguồn gốc gây đau khổ cho Hội Thánh (6:9-11), để rồi đến lượt nó trở thành một nguyên nhân cho sự phán xét của Đức Chúa Trời (6:12-17).
Phải nói rằng tất cả những hình ảnh này là những phần khó nhất trong việc giải kinh. Do đó, có thêm hai điểm quan trọng đặc biệt:
c. Khi chính Giăng giải thích các hình ảnh của mình, các hình ảnh đã được giải thích ấy cần phải được giữ vững, và phải được dùng làm một khởi điểm để hiểu các hình ảnh khác. Có sáu hình ảnh đã được giải thích như thế: Đấng giống như một con trai loài người (1:17-18) là Chúa Cứu Thế, Đấng duy nhất “đã chết...sống đời đời”. Các chân đèn bằng vàng (1:20) là bảy Hội Thánh. Bảy ngôi sao (1:20) là bảy vị thiên sứ hay sứ giả của các Hội Thánh (tai hại thay, điều này vẫn không rõ ràng vì cách dùng từ ngữ thiên sứ tự nó lại có thể là một hình ảnh khác). Con rồng lớn (12:9) là Sa-tan. Bảy cái đầu (17:9) là bảy ngọn núi có người đàn bà ngồi trên đó (cũng như bảy ông vua, như thế là đã trở thành một hình ảnh uyển chuyển rồi). Dâm phụ (17:18) là thành phố lớn, rõ ràng là chỉ Rô-ma.
d. Ta phải xem các khải tượng như những toàn thể mà không ép mọi chi tiết phải được hiểu theo nghĩa bóng. Trong vấn đề này thì các khải tượng cũng giống như các ẩn dụ. Toàn thể một khải tượng cố tìm cách nói lên một điều gì đó; các chi tiết nhằm mục đích, hoặc (1) tạo ra tác dụng đầy kịch tính (6:12-14), hoặc (2) thêm vào cho bức tranh toàn diện để độc giả khỏi hiểu lầm các điểm đối chiếu (9:7-11). Như các chi tiết về mặt trời trở thành giống như chiếc túi đen, còn các ngôi sao thì rơi rụng như những trái vả cuối mùa có lẽ chẳng mang “ý nghĩa” gì cả. Chúng chỉ đơn giản khiến cho toàn thể khải tượng về trận động đất gây ấn tượng nhiều hơn. Tuy nhiên, trong 9:7-11, bầy châu chấu có mão triều thiên tựa hồ bằng vàng, có mặt như mặt người, và có tóc dài giống tóc đàn bà, là nhằm bổ sung cho bức tranh để các độc giả nguyên thủy khó có thể hiểu sai về điều đang hiện ra dưới tầm mắt họ - tức là các đạo quân man rợ phía ngoài biên giới của đế quốc La Mã.
5. Một ghi nhận cuối cùng: Các sách khải huyền nói chung và sách Khải Thị nói riêng, ít khi có ý định đưa ra một phần ký thuật chi tiết, theo đúng thứ tự thời gian về tương lai. Sứ điệp của chúng vốn có xu hướng vượt trên những quan tâm như thế. Mối quan tâm lớn hơn của Giăng là, bất chấp những gì đang xuất hiện, Đức Chúa Trời vẫn là Đấng cầm quyền kiểm soát lịch sử và Hội Thánh. Và tuy Hội Thánh sẽ phải trải nghiệm đau khổ và chết chóc, nhưng sẽ chiến thắng khải hoàn trong Chúa Cứu Thế, là Đấng sẽ phán xét các kẻ thù và cứu rỗi con Ngài. Tất cả các khải tượng này đều phải được nhìn trong liên hệ với mối quan tâm lớn hơn này.
Bối Cảnh Lịch Sử
Cũng như với phần lớn các thể văn khác, việc đầu tiên trong công tác giải nghĩa sách Khải Thị là tái dựng hoàn cảnh trong đó nó được viết ra. Muốn làm tốt việc này, bạn cần theo những điều chúng tôi đã gợi ý - tức là cố đọc cả quyển sách luôn một mạch. Hãy đọc để nắm được cả bức tranh lớn. Đừng cố tìm cách hình dung tất cả mọi sự. Nên đọc thế nào để bạn thấy mọi việc trong sách như tự nhiên hiện ra vậy. Nghĩa là hãy để cho các khải tượng lớp lớp xuất hiện dưới mắt bạn như các lượn sóng trên bờ biển, đợt này tiếp theo đợt khác, cho đến khi bạn đã có một cảm tưởng về quyển sách và sứ điệp của nó.
Một lần nữa, trong khi đọc, bạn nên nghĩ thầm hoặc ghi vắn tắt ra giấy một số ghi chú về tác giả và độc giả của ông. Rồi hãy đọc lại một lần thứ hai và đặc biệt ghi lại những chỗ cho thấy các độc giả của Giăng chính là những người “bạn về hoạn nạn” của ông (KhKh 1:9). Đây là những dấu mốc lịch sử quan trọng.
Thí dụ như trong bảy bức thư, cần ghi ra 2:3, 8-9,13, 3:10 cùng với câu “kẻ nào thắng” cứ luôn luôn được nhắc đi nhắc lại. Chiếc ấn thứ năm (6:9-11) tiếp sau cảnh tàn phá do bốn kỵ sĩ đưa đến cho thấy các Cơ Đốc nhân bị tử đạo, vốn đã bị giết vì cớ “lời” và “lời chứng” (y như lý do đã khiến Giăng bị lưu đày ở 1:9). Trong 7:14, đám đông vô số người sẽ chẳng bao giờ còn phải chịu đau khổ nữa (7:16), đã “ra khỏi cơn đại nạn.” Đau khổ và sự chết, một lần nữa, đã được buộc chặt với việc “làm chứng cho Chúa Giê-xu” trong 12:11, 17. Còn trong các chương 13-20, đau khổ và sự chết lại được đặc biệt gán cho “con thú” (13:7; 14:9-13; 16:5-6; 18:20, 24, 19:2).
Mô hình này là chiếc chìa khóa để hiểu bối cảnh lịch sử, và giải thích đầy đủ cơ hội để biết và chủ đích của quyển sách này. Bản thân Giăng vốn đang bị lưu đày vì đức tin (đạo) của mình. Nhiều người khác nữa cũng đang trải qua đau khổ - thậm chí có người phải chết (2:13) vì “lời chứng cho Chúa Giê-xu.” Trong khi Giăng được Đức Thánh Linh cảm thúc, ông bỗng nhận thức được rằng sự đau khổ hiện nay của họ mới chỉ là khởi điểm của những tai họa dành cho những ai từ chối “thờ lạy con thú.” Đồng thời, ông không hoàn toàn chắc chắn được rằng toàn thể hội thánh đã sẵn sàng đối với những gì đang ở trước mặt họ. Cho nên ông đã viết “sách tiên tri” này.
Những chủ đề rất rõ ràng: Hội Thánh và chính quyền đang ở trong diễn trình va chạm nhau; và chiến thắng đầu tiên có vẻ như thuộc về chính quyền. Cho nên ông cảnh cáo Hội Thánh rằng đau khổ và chết chóc đang ở trước mặt; lẽ dĩ nhiên là càng ngày nó sẽ càng tệ hại hơn trước khi mọi sự sẽ khả quan hơn (6:9-11). Ông rất quan tâm đến việc họ sẽ không đầu hàng trong những thời kỳ phải chịu gian khổ (14:11-12; 21:7-8). Nhưng lời tiên tri này còn là một lời khích lệ nữa, vì Đức Chúa Trời đang cầm quyền cai trị kiểm soát mọi sự. Chúa Cứu Thế đang cầm các chìa khóa của lịch sử và Ngài cũng nâng các Hội Thánh trong đôi bàn tay Ngài (1:17-20). Thế thì Hội Thánh sẽ chiến thắng khải hoàn, cả khi phải vượt qua sự chết (12:11). Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ đổ cơn thịnh nộ của Ngài xuống trên những kẻ đã gây ra đau khổ và chết chóc, và đem sự an nghỉ vĩnh hằng đến cho những ai cứ giữ lòng tận trung. Lẽ dĩ nhiên là trong bối cảnh này, Rô-ma là kẻ thù sẽ bị đoán phạt (phán xét).
Cần lưu ý ở đây là một trong những chiếc chìa khóa để giải nghĩa sách Khải Thị là viêc Giăng phân biệt giữa hai từ ngữ hay ý niệm quan trọng: “hoạn nạn” (tribulation) và “thạnh nộ” (wrath) Lẫn lộn rằng hai từ ngữ này cùng chỉ một sự việc sẽ khiến chúng ta bế tắc về những gì đã được truyền phán.
Hoạn nạn (đau khổ và chết chóc) rõ ràng là một phần của những gì mà Hội Thánh phải chịu đựng và vẫn còn phải kiên trì chịu đựng. Mặt khác, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là sự đoán phạt của Ngài đổ xuống trên những kẻ hà hiếp con dân Ngài. Theo tất cả các loại bối cảnh trong sách Khải Thị thì rõ ràng là con dân Chúa sẽ “không” phải nhận chịu cơn thạnh nộ khủng khiếp của Đức Chúa Trời khi nó được đổ xuống trên các kẻ thù, nhưng cũng rõ ràng là chắc chắn họ sẽ phải chịu khổ dưới tay các kẻ thù. Cần chú ý là sự phân biệt này vẫn được áp dụng với phần còn lại của Tân Ước. Thí dụ, hãy đọc IITe 2Tx 1:3-10, chỗ Phao-lô “khoe mình” vì sự “bắt bớ khốn khó” (cùng một từ ngữ Hi văn chỉ “hoạn nạn” - tribulation) của người Tê-sa-lô-ni-ca, nhưng ông cũng lưu ý rằng đến cuối cùng thì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt những kẻ “làm khổ anh em” (động từ do “hoạn nạn” mà ra).
Bạn cũng phải lưu ý thế nào việc tháo các dấu ấn thứ 5 và 6 (KhKh 6:9-17) đã làm nẩy sinh hai vấn đề tối quan trọng trong sách Khải Thị. Trong ấn thứ 5 các Cơ Đốc nhân tử đạo kêu lớn tiếng:“Lạy Chúa, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?” Câu trả lời gồm hai phương diện: (1) Họ phải “chờ đợi ít lâu nữa” vì cần phải có nhiều người tuận đạo hơn nữa; (2) tuy nhiên sự đoán phạt tuyệt đối chắc chắn, như ấn thứ sáu cho thấy.
Trong ấn thứ 6, khi sự phán xét của Đức Chúa Trời đến thì “kẻ bị đoán phạt lại kêu lên: Còn ai đứng nổi?” Câu trả lời được đưa ra trong chương 7: những người đã được Đức Chúa Trời đóng ấn, “đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con.”
Văn Mạch
Muốn hiểu bất luận một khải tượng cụ thể nào trong sách Khải Thị, điều quan trọng không những chỉ là vật lộn với bối cảnh và ý nghĩa của các hình ảnh (những vấn đề về “nội dung”) mà còn phải đặt vấn đề khải tượng đó có “chức năng gì” trong cả sách. Về mặt này thì sách Khải Thị giống với các thư tín hơn là các sách tiên tri. Các sách tiên tri vốn là những bộ sưu tập các sấm ngôn riêng lẻ, không luôn luôn cho thấy rõ chủ đích của chức năng của chúng trong mối liên hệ lẫn nhau. Còn trong các Thư Tín, như bạn chắc còn nhớ, ta phải “suy nghĩ từng phân đoạn,” vì mỗi một phân đoạn là một viên đá xây cho toàn thể phần lý luận. Với sách Khải Thị cũng thế. Quyển sách này là cả một cấu trúc toàn diện đầy sáng tạo, mỗi một khải tượng đều là một thành phần của khối toàn thể ấy.
Vì sách Khải Thị là quyển sách duy nhất trong cả Tân Ước thuộc loại này, chúng tôi xin cố tìm cách hướng dẫn bạn nghiên cứu từ đầu chí cuối, chứ không phải chỉ đưa ra một vài đoạn kiểu mẫu mà thôi. Lẽ dĩ nhiên, cần lưu ý rằng phần cấu trúc căn bản đã rõ ràng và không còn là vấn đề để tranh luận nữa; những điểm dị biệt chỉ nẩy sinh do cách ta giải thích phần cấu trúc đó mà thôi.
Quyển sách mở ra như một vở kịch dài, trong đó các màn sớm nhất đưa ra cảnh trí của sân khấu và dàn diễn viên, còn các màn về sau thì cần đến tất cả các màn trước để chúng ta có thể theo dõi câu chuyện.
Các chương 1-3 đưa ra cảnh trí trên sân khấu và giới thiệu với chúng ta các “nhân vật” có ý nghĩa nhất. Trước hết, có bản thân Giăng (KhKh 1:1-11), người dẫn truyện từ đầu chí cuối. Ông bị lưu đày vì đức tin đặt vào Chúa Cứu Thế, và có được cái nhìn trực quan của nhà tiên tri để thấy rằng cơn bắt bớ hiện nay chỉ nhằm thông báo trước những gì sẽ xảy ra.
Thứ hai, có Chúa Cứu Thế (1:12-20) được Giăng mô tả bằng nhiều hình ảnh uy nghi xuất xứ một phần từ Đa-ni-ên 10 với tư cách là Chúa tể của lịch sử và là Chúa của Hội Thánh. Đức Chúa Trời vẫn cầm quyền cai trị, kiểm soát mặc dù hiện đang có bắt bớ bách hại, vì chỉ một mình Chúa Cứu Thế mới là Đấng cầm các chìa khóa của sự chết và Âm phủ.
Thứ ba, có Hội Thánh (2:1-3:22). Trong các bức thư gửi cho bảy Hội Thánh có thật nhưng cũng là tiêu biểu, Giăng vừa khích lệ vừa cảnh cáo Hội Thánh. Cơn bách hại đã xảy ra, Hội Thánh còn được hứa hẹn nhiều hơn thế nữa. Nhưng cũng có nhiều rối loạn mất trật tự nội bộ đang đe dọa sự an toàn của Hội Thánh. Những người chiến thắng được nhiều lời hứa về vinh quang sau cùng.
Các chương 4-5 cũng giúp bài trí sân khấu với nhiều khải tượng ngoạn mục. Để thờ phượng và tán tụng Chúa, Hội Thánh được truyền dạy rằng Ngài vẫn uy nghiêm tể trị (chương 4). Để giúp đỡ các tín hữu đang tự hỏi Đức Chúa Trời phải chăng thật sự hiện diện, Giăng nhắc cho họ nhớ rằng “Sư Tử” của Đức Chúa Trời là một “Chiên Con,” Đấng đã cứu chuộc nhân loại bằng việc nếm trải đau khổ (chương 5).
Hai chương 6-7 bắt đầu mở màn cho chính vở kịch đích thực. Từ đầu chí cuối quyển sách, các khải tượng đã được trình bày ba lần bằng ba chuỗi, mỗi chuỗi là bảy khải tượng được sắp xếp kỹ lưỡng (các chương 6-7, 8-11, 15-16). Trong mỗi trường hợp, bốn tiết mục đầu cùng đi chung với nhau và họp thành một bức tranh; trong 6-7 và 8-11 hai tiết mục tiếp theo cũng đi chung với nhau để giới thiệu hai phương diện của một thực tại khác. Sau đó, chúng bị chận đứng bằng một màn xen kẽ gồm hai khải tượng, trước khi tiết mục thứ bảy hiện lên. Trong hai chương 15-16, nhóm ba khải tượng cuối cùng đã cùng xuất hiện mà không có màn xen kẽ. Xin chú ý cách sự việc đã xảy ra trong hai chương 6-7:
1. Kỵ sĩ cỡi ngựa bạch = chinh phạt
2. Kỵ sĩ cỡi ngựa hồng = chiến tranh
3. Kỵ sĩ cỡi ngựa ô = đói kém
4. Kỵ sĩ cỡi ngựa màu xám nhạt = sự chết
5. Thắc mắc của các thánh tử đạo: “cho đến chừng nào?”
6. Cơn động đất (sự phán xét của Đức Chúa Trời): “Còn ai đứng nổi?”
a. 144.000 người được ấn chứng
b. một đám quần chúng đông vô số
7. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời: bảy tiếng kèn trong các chương 8-11.
Các chương 8-11 trình bày nội dung của sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Bốn hồi kèn đầu cho thấy một phần của sự phán xét ấy sẽ gồm có sự xáo trộn mất trật tự quan trọng trong cõi thiên nhiên; các hồi kèn thứ 5 và 6 cho thấy còn có nhiều đạo quân của các dân man rợ cũng kéo đến và có một trận chiến tranh lớn. Sau màn xen kẽ diễn tả việc chính Đức Chúa Trời đề cao các “chứng nhân” của Ngài mặc dù họ đã chết cả rồi, thì hồi kèn thứ bảy vang lên báo hiệu phần kết thúc: “Nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài.”
Như thế, chúng ta đã được đưa đi qua nỗi đau khổ của Hội Thánh và sự phán xét của Đức Chúa Trời trên các kẻ thù của Hội Thánh, đến chiến thắng khải hoàn sau cùng của Đức Chúa Trời. Nhưng các khải tượng vẫn chưa kết thúc. Trong các chương 8-11, chúng ta được cho thấy một bức tranh lớn; các chương 12-22 đưa ra các chi tiết về sự phán xét và chiến thắng khải hoàn ấy. Việc xảy ra đại khái giống như khi chúng ta nhìn vào ngôi Nhà Nguyện Sistine của Michelangelo; thoạt tiên người ta sẽ choáng váng khi nhìn thấy toàn thể ngôi nhà nguyện ấy, và sau đó người ta mới có thể tra xét được các thành phần và thấy vẻ huy hoàng tráng lệ trong từng chi tiết của nó.
Chương 12 là chiếc chìa khóa thần học cho quyển sách. Trong hai khải tượng, chúng ta được cho biết là Sa-tan cố tìm cách tiêu diệt Đấng Christ chỉ để tự rước lấy thất bại mà thôi. Như thế trong cái nhìn “đã xảy ra/ vừa chưa xảy ra” luôn được nhắc lại của Tân Ước, Sa-tan được cho biết là một kẻ thù đã bị đánh bại rồi, tuy kết thúc cuối cùng vẫn chưa đến. Vì thế, có sự vui mừng vì “sự cứu rỗi đã đến,” thế nhưng hội thánh vẫn còn gặp khổ nạn vì sa-tan vốn biết thì giờ của nó có hạn và nó đang tìm cách báo thù con dân của Chúa.
Các chương 13-14 vạch rõ cho Hội Thánh của Giăng thấy thế nào việc báo thù ấy đã mang hình thức của đế quốc La Mã với các hoàng đế của nó đang đòi hỏi sự quy phục về phương diện tôn giáo. Nhưng cả đế quốc lẫn các hoàng đế đều đã được an bài là sẽ phải chịu số phận khủng khiếp cả rồi (chương 15-16). Quyển sách kết thúc như một “câu chuyện về hai thành phố” (chương 17-22). Thành phố dưới đất (Rô-ma) bị kết án vì đã dự phần vào việc bắt bớ bách hại dân của Chúa. Tiếp theo là thành phố của Đức Chúa Trời, nơi dân Ngài sẽ cư trú mãi mãi.
Bên trong cấu trúc toàn diện này, nhiều khải tượng đã cho thấy nhiều điều rất khó hiểu, cả về ý nghĩa của phần nội dung lẫn chức năng của chúng trong văn mạch. Về các vấn đề này, bạn cần tham khảm một trong số các bộ sách chú giải (thí dụ của Beasley - Murray hoặc Mounce, xem Phụ Lục).
Các Vấn Đề Giảng Kinh
Các khó khăn về giảng kinh liên quan với sách Khải Thị phần lớn rất giống với các khó khăn trong các sách tiên tri đã được thảo luận trong chương 10. Cũng như với tất cả các thể loại khác, Lời của Đức Chúa Trời dạy chúng ta trước nhất phải được tìm thấy trong chính Lời của Ngài đã dạy cho họ. Nhưng khác với các thể loại khác, các sách Tiên Tri và sách Khải Thị thường đề cập những điều vẫn chưa xảy đến cho họ lúc đó.
Thường thường thì “việc sắp xảy ra” cần một thời gian tiếp theo sau đó, mà theo thời điểm lịch sử đối với chúng ta thì bây giờ nó đã xảy ra rồi. Như dân Giu-đa đã bị lưu đày, rồi họ cũng đã được phục hồi địa vị, đúng như Giê-rê-mi từng nói tiên tri; rồi đế quốc La Mã đã chịu sự đoán phạt trong thời gian, một phần là do các đạo quân man rợ, đúng như Giăng đã thấy.
Với những thực tại như thế thì các vấn đề khi giảng kinh không quá quan trọng. Chúng ta vẫn còn có thể nghe các lý do của những đoán phạt ấy như là Lời của Đức Chúa Trời. Như chúng ta có thể khẳng định rằng Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn phán xét những kẻ “giày đạp kẻ nghèo chỉ vì một đôi dép,” chúng ta cũng có thể khẳng định rất đúng rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ đổ xuống trên các quốc gia dân tộc từng tàn sát các Cơ Đốc nhân, y như sự việc đã xảy ra đối với La Mã vậy.
Hơn nữa, chúng ta vẫn còn có thể nghe như là Lời Đức Chúa Trời - thật ra là phải nghe - dạy rằng làm môn đệ là phải noi theo con đường thập tự giá, rằng Đức Chúa Trời đã không hứa cho chúng ta khỏi chịu đau khổ và chết chóc, nhưng cho chúng ta đắc thắng qua những điều đó. Như Luther đã nói rất đúng rằng: “Vua của bóng tối cau mặt, chúng ta không run vì sợ họ.... Họ có thể giết thân thể chúng ta, nhưng chân lý của Đức Chúa Trời vẫn tồn tại - Nước Ngài còn mãi mãi.”
Vậy thì sách Khải Thị là lời an ủi và khích lệ của Đức Chúa Trời cho các Cơ Đốc nhân đang chịu khổ, dù là tại Trung Quốc, Cam-pu-chia, Uganda hay bất cứ nơi nào khác. Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền cai trị kiểm soát. Ngài đã thấy công lao của Con Ngài, và Ngài sẽ hài lòng.
Tất cả những điều này là một lời phán Hội Thánh cần nghe đi nghe lại - mọi lúc mọi nơi. Và không nghe được Lời ấy là đánh mất trọn quyển sách.
Nhưng các khó khăn về giảng kinh của chúng ta vốn không phải là ở chỗ nghe Lời phán này, tức là lời cảnh cáo và an ủi vốn là luận điểm của quyển sách. Các khó khăn của chúng ta là do một hiện tượng khác của lời tiên tri, tức là lời “tạm thời” thường có liên hệ chặt chẽ với các thực tại lai thế (eschalological realities) (xem tiểu mục “Vài Gợi Ý Giảng Kinh” ở cuối chương 10). Điều này đặc biệt đúng với sách Khải Thị. Sự suy sụp của Rô-ma trong chương 18 dường như đã xuất hiện như là chương đầu tiên của phần đúc kết, và nhiều bức tranh của sự đoán phạt “tạm thời” đã được xen lẫn bằng những từ ngữ hoặc ý tưởng nói lên chung cuộc như là một phần của bức tranh. Dường như ta chẳng còn có cách nào để phủ nhận thực tại của việc này. Vấn đề là chúng ta phải giải quyết ra sao với nó? Chúng tôi đã bàn về vấn đề này rồi trong chương 10. Ở đây, chỉ xin đưa ra vài gợi ý:
1. Chúng ta cần biết rằng các bức tranh về tương lai đều chỉ là những bức tranh. Các bức tranh diễn tả một thực tại, nhưng ta không nên lẫn lộn chúng với thực tại, cũng không phải là các chi tiết của tất cả các bức tranh đều nhất thiết phải “ứng nghiệm” một cách cụ thể nào đó. Cho nên khi bốn hồi kèn đầu tiên công bố những cơn đại họa cho cõi thiên nhiên như một phần của sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, thì chúng ta không nhất thiết phải trông mong các bức tranh ấy ứng nghiệm theo nghĩa đen.
2. Một số các bức tranh trước nhất nhằm diễn tả tính chắc chắn của sự phán xét của Đức Chúa Trời cũng không có nghĩa là điều này sẽ đến sớm, ít ra là sớm theo cách nhìn giới hạn của chúng ta. Như khi Sa-tan bị đánh bại bởi sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế và bị “quăng xuống đất” để gây trở ngại cho Hội Thánh, nó biết rằng thì giờ của nó là “ngắn ngủi”. Nhưng “ngắn ngủi” không nhất thiết có nghĩa là “rất sớm” mà có nghĩa là “hạn chế.” Nó có lúc thực sự sẽ bị trói “đời đời,” nhưng về ngày và giờ đó thì chẳng có ai được biết cả.
3. Các bức tranh mà cái “tạm thời”(temporal) được buộc chặt với “lai thế” (eschatological) không thể được xem như cả hai sẽ xảy ra đồng thời - cho dầu độc giả nguyên thủy có thể đã hiểu chúng như thế (xem tiểu mục “Vài Gợi Ý Giảng Kinh” ở cuối chương 10). Chiều kích “lai thế” của phán xét và cứu rỗi phải cảnh giác chúng ta về khả năng có một chiều kích “vẫn chưa” của nhiều bức tranh. Mặt khác, dường như chẳng hề có những quy luật cố định nào về cách chúng ta phải tách riêng hay hiểu yếu tố hãy còn ở trong tương lai này. Điều chúng ta phải cẩn thận không nên làm là phung phí quá nhiều thì giờ để suy luận về thế nào một trong các biến cố nào đó trong thời đại của chúng ta phải được gắn vào cho phù hợp với các bức tranh của sách Khải Thị. Sách này không hề có ý định nói tiên tri về sự hiện hữu của một nước nào đó trên thế giới, cũng không đưa ra cho chúng ta các chi tiết theo nghĩa đen của phần kết thúc của lịch sử.
4. Tuy trong nhiều trường hợp có lẽ cũng có một chiều kích thứ hai nhưng chưa ứng nghiệm của các bức tranh, chúng ta vẫn không có được phương cách làm thế nào để tìm ra. Về phương diện này, thì chính Tân Ước cũng tự phơi bày một số những điểm khó hiểu. Chẳng hạn như nhân vật antichrist là một nhân vật đặc biệt khó hiểu. Trong các thư tín của Phao-lô (IITe 2Tx 2:3, 4) nó là một nhân vật rõ ràng; trong Khải 13-14 nó xuất hiện trong hình thức của hoàng đế La Mã. Trong cả hai trường hợp đó, sự xuất hiện của nó dường như để báo hiệu thời lai thế. Thế nhưng trong I Giăng, tất cả đã được tái giải thích theo cách tổng quát hóa để ám chỉ những tay gọi là trí huệ phái đang xâm nhập Hội Thánh. Vậy làm sao chúng ta hiểu nhân vật ấy liên hệ thế nào với tương lai của chính chúng ta?
Về phương diện lịch sử, Hội Thánh đã từng thấy (theo một ý nghĩa nào đó) nhiều loại lãnh tụ trên đời này là hiện thân của Antichrist. Hitler chắc chắn là một bức tranh phù hợp, cũng như Idi Amin với một thế hệ người Uganda. Theo nghĩa này thì nhiều antichrist sẽ còn tiếp tục xuất hiện (IGi1Ga 2:18). Nhưng đâu là một nhân vật đặc thù của cả thế giới, sẽ cùng xuất hiện với các biến cố cuối cùng của ngày tận thế? Phải chăng KhKh 13:1-14:20 cho chúng ta biết rằng sẽ có một nhân vật như thế? Câu trả lời của riêng chúng tôi là không nhất thiết phải như thế; tuy nhiên chúng ta được mở rộng cửa để tin rằng có thể sẽ là như thế. Đó là điểm khó hiểu của chính các văn bản Tân Ước, dẫn chúng ta đến chỗ phải thận trọng và không nên đoan chắc một cách độc đoán, hàm hồ.
5. Các bức tranh đã được viết với ý định hoàn toàn có ý nghĩa lai thế vẫn còn mang ý nghĩa như thế. Như các bức tranh ở 11:15-19 và 19:1-22:1 được trình bày hoàn toàn có ý nghĩa lai thế. Đây là phần mà chúng ta phải khẳng định là Lời vẫn chưa ứng nghiệm của Đức Chúa Trời. Nhưng ngay đến các bức tranh này, việc ứng nghiệm sẽ theo thì giờ của chính Đức Chúa Trời, theo cách của Ngài - và chắc chắn là sẽ vô cùng trọng đại hơn cả các bức tranh kỳ diệu này nữa.
Cũng như lời mở đầu của Kinh Thánh nói về Đức Chúa Trời và công trình sáng tạo, lời kết thúc cũng nói về Đức Chúa Trời và chung cuộc. Dầu chúng ta có nhiều điểm mơ hồ về tất cả các chi tiết sẽ xảy ra theo cách nào, chúng ta vẫn chắc chắn rằng Đức Chúa Trời sẽ làm thành mọi việc theo thì giờ và theo cách của Ngài. Tính cách chắc chắn này vừa cảnh cáo vừa khích lệ chúng ta.
Chúng ta sống trong tương lai của điều đã có rồi bằng cách lắng nghe và vâng theo Lời Ngài cho đến lúc Ngài đến. Nhưng rồi sẽ có một ngày những quyển sách như thế sẽ không còn cần thiết nữa, vì “ai nấy sẽ chẳng (còn) dạy kẻ lân cận mình (nữa)...vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta” (Gie Gr 31:34). Chúng ta hãy đồng thanh với Giăng, với Đức Thánh Linh và vợ mới của Ngài để nói rằng: “A-men, lạy Đức Chúa Giê-xu, xin hãy đến!”


Thẩm Định và Sử Dụng Các Sách Giải Nghĩa
Xuyên suốt quyển sách, chúng tôi thường gợi ý rằng lắm khi bạn sẽ cần tra cứu một bộ sách giải nghĩa tốt. Thiết tưởng chẳng cần biện bạch cho gợi ý này. Một bộ sách giải nghĩa tốt sẽ chẳng khác một món quà tặng, một bài giảng hay cho Hội Thánh, những bài giảng tốt trên băng từ, hay một cố vấn giỏi.
Chủ đích của chúng tôi trong chương này rất đơn giản. Sau vài lời về cách thức giúp bạn có thể thực hiện việc đánh giá một bộ sách chú giải liên hệ đến giá trị giải kinh, chúng tôi sẽ liệt kê một hoặc hai bộ sách giải nghĩa tốt nhất cho từng quyển sách trong Thánh Kinh. Lẽ dĩ nhiên là trong một bảng liệt kê như thế vẫn có vấn đề nội tại của nó, điều vẫn thường thấy có cả trong những bộ sách hoàn hảo nhất. Chúng tôi chỉ liệt kê những sách đang sẵn có, cũng như văn phẩm này của chúng tôi. Hễ khi nào có những bộ sách chú giải mới ra đời, bạn có thể thẩm định chúng theo các phương thức đã được đưa ra ở đây.
Cách Thẩm Định Các Bộ Sách Giải Nghĩa
Nếu bạn là một người nghiên cứu (sinh viên) Thánh Kinh nghiêm túc, thế nào cuối cùng bạn cũng muốn mua, hoặc có trong tầm tay, một bộ sách giải nghĩa cho từng sách trong Kinh Thánh. Thật ra thì chẳng có một bộ sách chú giải nào chỉ gồm một quyển duy nhất lại có thể làm cho bạn hoàn toàn hài lòng. Các bộ sách giải nghĩa chỉ có một quyển duy nhất thường được trù liệu để làm chính công việc mà chúng tôi đã cố tìm cách dạy cho bạn tự làm lấy trong quyển sách này. Chúng vắn tắt đưa ra phần bối cảnh lịch sử, rồi vạch rõ ý nghĩa của văn bản căn cứ vào văn cảnh của nó. Lẽ dĩ nhiên là công việc ấy có giá trị của riêng nó, nhưng bạn có thể tìm được phần lớn những điều đó trong quyển Eerdman’s Bible Handbook chẳng hạn. Điều bạn cần nơi một bộ sách giải nghĩa là cung cấp ba điều cơ bản: (1) các trợ giúp liên quan đến các nguồn tài liệu và thông tin về bối cảnh lịch sử, (2) những lời giải đáp cho các câu hỏi theo nhiều phương diện liên quan đến nội dung, và (3) những phần thảo luận cặn kẽ liên hệ đến các phần khó hiểu và những ý nghĩa có thể có, với các luận cứ hậu thuẫn.
Vậy làm thế nào để đánh giá một bộ sách giải nghĩa? Trước hết, bạn không nên đánh giá căn cứ trên những điểm bạn nhất trí với tác giả. Nếu bộ sách chú giải quả thật là tốt, và nếu chính bạn cũng thực hiện công tác giải kinh đúng, thì thường là bạn với các bộ sách chú giải tốt sẽ nhất trí với nhau. Nhưng sự nhất trí không phải là định chuẩn cơ bản.
Hơn nữa, bạn không nên đánh giá căn cứ vào việc quyển sách ấy đã “tạo phấn khởi cho bạn.” Nhiệm vụ của một bộ sách chú giải là phần giải kinh (exegesis), là bản văn có nghĩa gì, chớ không phải là phần giảng luận (homilitics) là việc truyền giảng bản văn ấy cho thời đại của chúng ta. Bạn có thể lợi dụng các quyển sách thuộc loại này bằng cách cố khám phá xem phải sử dụng một văn bản như thế nào cho khung cảnh hiện tại. Là các nhà truyền đạo chính chúng tôi phải thừa nhận tính cách lợi ích của những quyển sách như thế để kích thích tâm trí người ta suy nghĩ về thời hiện tại. Nhưng các sách ấy không phải là sách giải nghĩa cả khi chúng có là những mẫu mực tuyệt vời về phương pháp ứng dụng Kinh Thánh ngay tại đây và ngay lúc này. Mối quan tâm của chúng ta ở đây không phải là về các quyển sách ấy, nhưng chỉ riêng cho các bộ sách giải nghĩa nhằm mục đích giải kinh mà thôi.
Có ít nhất là bảy định chuẩn bạn cần phải dùng để phê phán một bộ sách giải nghĩa. Không phải tất cả các định chuẩn ấy đều cùng loại với nhau, cũng không phải tất cả đều quan trọng ngang nhau. Nhưng tất cả kết hợp lại sẽ giúp bạn ở một điểm tối quan trọng: bộ sách giải nghĩa này có giúp được bạn hiểu rõ điều mà đoạn kinh văn thật sự truyền dạy không?
Hai định chuẩn đầu, về cơ bản, là những điểm về thông tin mà bạn cần biết về bộ sách chú giải.
1. Bộ sách chú giải này thiên về giải kinh, giảng kinh, hay kết hợp cả hai? Đây chỉ đơn giản là nhắc lại điều chúng tôi vừa nói ở phần trên. Nên nhớ điều bạn thật sự cần nơi một sách giải nghĩa là phần giải kinh. Nếu nó cũng có các gợi ý giảng kinh nữa có lẽ bạn cũng thấy hữu ích, nhưng điều bạn cần là những câu trả lời cho các câu hỏi về nội dung, mà các thắc mắc liên hệ đến nội dung thường trước nhất thuộc về lãnh vực giải kinh.
2. Nó được căn cứ vào một văn bản Hy văn hoặc Hi-bá-lai văn, hay một bản dịch Anh văn? Một bộ sách chú giải căn cứ trên một bản dịch không phải là một điều xấu, miễn là tác giả hiểu rõ bản văn trong nguyên văn - và dùng chính sự hiểu hiết đó như nguồn tài liệu đích thực cho những phần bình giải của mình. PHẢI LƯU Ý KỸ: Bạn có thể sử dụng phần lớn các bộ sách giải nghĩa căn cứ vào văn bản Hy văn hoặc Hy-bá-lai văn. Nhiều khi, bạn sẽ phải “đọc đi đọc lại” bản Hy văn hoặc Hy-bá-lai văn, nhưng bạn sẽ không bị thua thiệt đâu.
Định chuẩn tiếp theo là tiêu chuẩn QUAN TRỌNG NHẤT, và thật sự là điểm để bạn thẩm định:
3. Khi một bản văn có thể có nhiều hơn là một nghĩa, tác giả có thảo luận về “tất cả” các ý nghĩa có thể có được, có đánh giá chúng và nêu ra các lý do của việc chọn lựa của mình hay không? Thí dụ, trong chương 2 chúng tôi đã cho một thí dụ minh họa từ ICo1Cr 7:36, mà ít nhất cũng đã có thể có đến ba ý nghĩa. Một bộ sách chú giải sẽ không thể cung cấp cho bạn thật đầy đủ thông tin nếu tác giả của nó không thảo luận về cả ba khả năng ấy, nêu các lý do để chấp nhận hoặc chống lại chúng, sau đó, mới giải thích việc lựa chọn của riêng mình.
Định chuẩn thứ tư tiếp theo đây rất quan trọng nếu bạn muốn có được mọi trợ giúp mà bạn cần.
4. Tác giả có thảo luận các vấn đề về phê bình bản văn hay không? Bạn đã học biết được tầm quan trọng của vấn đề này trong chương 2.
5. Tác giả có thảo luận về bối cảnh lịch sử của ý niệm mà bản văn đề cập tại những chỗ quan trọng hay không?
6. Tác giả có cho nhiều thông tin về tiểu sử để bạn có thể nghiên cứu thêm nếu bạn muốn hay không?
7. Đoạn dẫn nhập trong bộ sách giải nghĩa có cho bạn đủ thông tin về bối cảnh lịch sử giúp bạn hiểu rõ cơ hội khiến quyển sách đã được viết ra hay không?
Phương pháp hay nhất để nắm được tất cả các điểm trên đây là lấy một trong những khúc Kinh Thánh thật sự khó hiểu và thử xem bộ sách chú giải kia giúp ích được cho bạn như thế nào trong việc cung cấp thông tin và giải đáp các câu hỏi, và nhất là nó thảo luận về tất cả các ý nghĩa có thể có, tốt đến mức độ nào. Thoạt tiên, ta có thể thẩm định giá trị của một phần chú giải về I Cô-rinh-tô chẳng hạn, bằng cách thử xem tác giả thảo luận ICo1Cr 11:10 hay 7:36 như thế nào, về các Thư Tín Mục Vụ, hãy kiểm tra ở ITi1Tm 2:15; về SaSt 2:17 sẽ là một “điểm xét lại.” Về Ê-sai thì có thể là EsIs 7:14-17, và vv...
Lẽ dĩ nhiên, điểm phê phán cuối cùng là tác giả sắp xếp các thông tin lại với nhau tốt đến mức nào để giúp ta hiểu bản văn trong văn cảnh của nó. Một số các bộ sách giải kinh vốn là những hầm mỏ về dữ kiện lịch sử và tiểu sử, nhưng rủi thay, lại không luôn luôn thông thạo trong việc giải thích ngụ ý của các trước giả trong văn cảnh của bản Kinh văn.
Trước khi đưa ra bảng liệt kê, chúng tôi xin nhắc lại. Đừng bắt đầu việc nghiên cứu Thánh Kinh của bạn với một bộ sách giải nghĩa! Bạn chỉ đến với một bộ sách chú giải sau khi đã làm xong phần công việc của riêng mình; lý do để cuối cùng bạn phải tra cứu một bộ sách giải nghĩa là để tìm lời giải đáp cho các vấn đề về nội dung đã nẩy sinh trong khi bạn nghiên cứu. Lẽ dĩ nhiên là đồng thời, bộ sách chú giải cũng sẽ cảnh tỉnh bạn về các câu hỏi mà bạn đã không đặt ra, những vấn đề mà đáng lẽ bạn đã phải thắc mắc.
Xin lưu ý là các bộ sách mà chúng tôi liệt kê ra đây không phải luôn luôn đại diện cho các quan điểm thần học được chúng tôi nhất trí. Chúng tôi không giới thiệu chúng với bạn vì cớ các kết luận của chúng, mà đúng hơn là vì chức năng nhắc nhở của chúng đối với các loại vấn đề mà chúng tôi đã nêu ra ở phần trên. Phải sử dụng chúng thật cẩn trọng. Chúng tôi chỉ giới thiệu các bộ sách giải nghĩa theo quan điểm Tin Lành mà thôi, vì theo ý kiến của chúng tôi, rõ ràng chúng sẽ hữu ích nhất cho bạn về phương diện giải kinh.
Các Bộ Sách Giải Nghĩa Cựu Ước
Hiện nay bộ sách giải nghĩa đầy đủ và cập nhật hóa duy nhất đáp ứng được các định chuẩn chúng tôi đã mô tả, và cũng có quan điểm thần học Tin Lành là bộ The Expositor’s Bible Commentary (EBC, 12 quyển). Hai bộ giống như thế: The New International Commentary (NICOT) và The Tyndale Old Testament Commentaries (TOTC); The Word Biblical Commentary (WBC), một bộ khác nữa cũng sắp phát hành, trong nhiều quyển, có phần pha lẫn các bài bình giải có quan điểm vừa tin lành vừa không-phải-là-tin-lành, do đó mỗi quyển phải được đánh giá đúng với các giá trị của riêng nó. Trong khi các quyển rời của bộ sách này đã được phát hành, hãy xem lướt qua. Khi có bộ nào đã hoàn tất, hãy cân nhắc trước khi mua. Hiện thời, bộ sách giải nghĩa Cựu Ước đã được trăm tuổi của Keil và Delitzoch có lẽ vẫn còn là bộ sách tốt nhất mà bạn có thể mua. Bộ The Tyndale Old Testament Commentaries hiện sắp hoàn tất, có lẽ tiêu biểu cho loạt các bộ sách chú giải để bắt đầu tốt nhất cho người nào có thể mua. Chúng tôi nghĩ rằng một số các bộ sách giải nghĩa Kinh Thánh chỉ gồm một quyển duy nhất, như quyển The New Bible Commentary Revised (1970), The International Bible Comentary (1979), và The Evangelical Commentary on the Bible (1989) là những bộ sách tuyệt vời để thêm vào cho tủ sách của chúng ta.
Genesis: Gordon Wenham. Genesis 1-15 (WBC). Dallas: Word Books, 1987. Joyce Baldwin. The Message of Genesis 12- 50 (The Bible Speaks Today). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1988.
Exodus: Walter Kaiser, Jr. Exodus (EBC). Grand Rapids: Zondervan, 1979.
Leviticus: Gordon Wenham. The Book of Leviticus. (NICOT). Grand Rapids: Eerdmans, 1979.
Number: Gordon Wenham. Number. (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1982.
Deuteronomy: Peter C. Craigie. The Book of Deuteronomy (NICOT). Grand Rapids: Eerdmans, 1976.
Joshua: Marten Woudstra. The Book of Josbua (NICOT). Grand Rapids: Eerdmans, 1981.
Judges: Arthur Cundall and Leon Morris. Judges and Ruth (TOTC). Grand Rapids, Eerdmans, 1968.
Ruth: Robert L. Hubbard, Jr. The Book of Ruth (NICOT). Grand Rapids: Eerdmans, 1990.
1 and 2 Samuel: Joyce Baldwin. I and 2 Samuel (TOTC). Downers Grove, III.: InterVarsity Press, 1988.
1 and 2 Kings: Carl F. Keil. Biblical Commentary on the Books of the Kings. Edinburgh: T & T Clark, 1876; reprint, Grand Rapids: Eerdmans, 1970.
1 Chronicles: J. Barton Payne. 1 and 2 Chronicles (EBC).
Grand Rapids: Zondervan, 1988.
2 Chronicles: Raymond Dillard. 2 Chronicles (WBC). Dallas: Word Books, 1987.
Ezra and Nehemiah: Edwin Yarnauchi. Ezra and Nebemiah (EBC). Grand Rapids: Zondervan, 1988.
Esther: Joyce Baldwin. Esther (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1984.
Job: Elmer Smick. Job (EBC). Grand Rapids: Zondervan, 1988.
Psalms: Peter Craigie. Psalm 1-50 (WBC). Dallas: Word Books, 1983. Derek Kidner. Psalms 1-72; Psalms 73-150 (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1973, 1975.
Proverbs: Derek Kidner. The Proverbs (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1964.
Ecclesiastes: Derek Kidner. The Message of Ecclesiastes (The Bible Speaks Today). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1988.
Song of Songs: G. Lloyd Carr. The Song of Solomon (TOTC). Downers Grove, III.: InterVarsity Press, 1984.
Isaiah: John Oswalt, The Book of Isaiah, Chapter 1-39 (NICOT). Grand Rapids: Eerdmans, 1981. E. J. Young. The Book of Isaiah. 3 vols. (NICOT). Grand Rapids: Ecrdmans, 1965-72.
Jeremiah: John A. Thompson. The Book of Jeremiah (NICOT). Grand Rapids: Eerdmans, 1980.
Lamentations: Delbert R. Hillers. Lamentations (Anchor Bible). New York: Doubleday, 1972.
Ezekiel: Douglas Stuart. Ezekiel (Communicator’s Commentary). Dallas: Word Books, 1989.
Daniel: Joyce G. Baldwin. Daniel: An Introduction and Commentary (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1978.
Hosea and Joel: Douglas Stuart. Hosea-Jonah (WBC). Dallas: Word Books, 1987.
Amos: Jeffrey Niehaus. Amos (The Minor Prophets). Grand Rapids: Baker, 1992. Gary Smith: Amos: A Commentary. Grand Rapids: Zondervan, 1989.
Obadiah: John D. W. Watts. Obadiah: A Critical, Exegetical Commentary. Grand Rapids: Eerdmans, 1969.
Jonah: Douglas Stuart. Hosea-Jonah (WBC). Dallas: Word Books, 1987.
Micah: Delbert Hillers. Micah (Hermeneia). Philadelphia: Fortress, 1983.
Nahum: Walter A. Maier. The Book of Nahum. St. Louis: Concordia, 1959; repr. Grand Rapids: Baker, 1980.
Habakkuk: Carl Amerding. Habakkuk (EBC). Grand Rapids: Zondervan, 1985.
Zephaniah: David Baker. Nahum, Habakkuk, Zephaniah (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1989.
Haggai and Zechariah: Joyce G. Baldwin. Haggai, Zechariah, Malachi: An Introduction and Commentary (TOTC). Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1972.
Malachi: Pieter Verhoef. The Books of Haggai and Malachi (NI- COT). Grand Rapids: Eerdmans, 1987.
Các Bộ Sách Giải Nghĩa Tân Ước
Một số đông người nhận thấy rất ích lợi nhờ đọc bộ Daily Study Bible của William Barclay, giải nghĩa toàn thể Tân Ước với 17 quyển. Barclay là một học giả xuất sắc - và sách của ông rất dễ đọc. Nhưng để nghiên cứu cụ thể và chi tiết, chúng tôi giới thiệu các tác phẩm sau đây (các dấu hoa thị chỉ các bộ sách chú giải đặc biệt nổi bật):
Matthew: for the general reader: D. A. Carson, Matthew (EBC). Grand Rapids: Zondervan, 1984; for the advanced student: W. D. Davies and Dale C. Allison, The Gospel According to Saint Matthew. (International Critical Commentary), 3 vols. Edinburgh: T & T Clark, 1988-.
Mark: Robert A Guelich, Mark 1-8:26 (WBC). Dallas: Word Books, 1989; William L. Lane. The Gospel According to Mark (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1974.
Luke: for the general reader: Craig A. Evans, Luke (New International Biblical Commentary). Peabody, Mass.: Hendrickson, 1990; for the advanced student: *I. Howard Marshall, The Gospel of Luke: A Commentary on the Greek Text (New International Greek Testament Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1978.
John: for the general reader: D. A. Carson, The Gospel According to John (Pillar Commentaries). Grand Rapids: Eerdmans, 1990; for the advanced student: *Raymond E. Brown, The Gospel According to John (Anchor Bible), 2 vols. New York: Double- day, 1966, 1970.
Acts: I. Howard Marshall, The Acts of the Apostles (Tyndale New Testament Commentaries). Grand Rapids: Eerdmans, 1980.
Romans: for the general reader: Douglas Moo, Romans (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1993; for the advanced student: *C. E. B. Cranfield, Romans: A Critical and Exegetical Commentary on the Epistle to tabs Romans (International Critical Commentary), 2 vols. Edinburgh: T & T Clark, 1975; *James D. G. Dunn (WBC), 2 vols. Dallas: Word Books, 1988.
1 Corinthians: Gordon D. Fee. The First Epistle to the Corinthians (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1987.
2 Corinthians: Victor P. Furnish. II Corinthians (Anchor Bible). Garden City, N.Y.: Doubleday, 1984.
Galatians: for the general reader: Ronald Y. K. Fung. The Epistle to the Galatians (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1988; for the advanced student: *Richard N. Longenecker (WBC). Dallas: Word Books, 1990.
Ephesians: for the general reader: F. F. Bruce, The Epistles to the Colossians, to Philemon, and to the Ephesians (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1984; for the advanced student: Andrew T. Lincoln, Ephesians (WBC). Dallas: Word Books, 1990.
Philippians: for the general reader: Moises Silva, Philippians. Chicago: Moody Press, 1988; for the advanced student: *Peter T. O’Brien, Commentary on Philippians (New International Greek Testament Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1991.
Colossians: for the general reader: F. F. Bruce, The Epistles to the Colossians, to Philemon, and to the Ephesians (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1984; for the advanced student: *Peter T. O’Brien, Colossians, Philemon (WBC). Dallas: Word Books, 1982.
Thessalonians: I. Howard Marshall. I and 2 Thessalonians (New Century Bible). Grand Rapids: Eerdmans, 1983.
Timothy, Titus: for the general reader: Gordon D. Fee. I and 2 Timothy, Titus (New International Biblical Commentary). Peabody, Mass.: Hendrickson, 1988.
Hebrews: for the general reader: F. F. Bruce, The Epistle to the Hebrews (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1990; for the advanced student: William L. Lane, Hebrews (WBC), 2 vols. Dallas: Word Books, 1991.
James: for the general reader: Peter H. David, James (New International Biblical Commentary). Peabody, Mass.: Hendrickson, 1989; for the advanced student: Ralph P. Martin, James (WBC). Dallas: Word Books, 1988.
1 Peter: for the general reader: *Peter H. David, The First Epistle of Peter (Grand Rapids: Eerdmans, 1990; for the advanced student: J. Ramsey Michaels, I Peter (WBC). Dallas: Word Books, 1988.
2 Peter: for the general reader: J. N. D. Kelly, A Commentary on the Epistles of Peter and of Jude (Harper’s New Testament Commentaries). New York: Harper & Row, 1969; for the advanced reader: *Richard J. Bauckham, Jude, 2 Peter (WBC). Dallas: Word Books, 1983.
1, 2, 3 John: for the general reader, *I. Howard Marshall, The Epistles of John (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1978; for the advanced student: Stephen S. Smalley, 1, 2, 3 John (WBC). Dallas: Word Books, 1984.
Jude: see under 2 Peter.
Revelation: G. R. Beasley-Murray. The Book of Revelation (New Century Bible). London: Oliphants, 1974. Robert H. Mounce. The Book of Revelation (New International Commentary). Grand Rapids: Eerdmans, 1977.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 23-5-2018 08:55 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách