† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2927|Trả lời: 0

Nguyên Tắc Giảng Dạy

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 22-7-2011 16:22:19 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Nguyên Tắc Giảng Dạy
Tác giả: Barnabas

PHẦN THỨ NHẤT
Các Mục Tiêu Của Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục
PHẦN THỨ HAI
Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục Phải Biết Gì
PHẦN THỨ BA
Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục Phải Làm Gì
PHẦN THỨ TƯ
Các Nguyên Tắc Giảng Dạy Và Học Tập
Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục Cần Nắm Vững


MỤC TIÊU CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC
Bảy trăm người Bên-gia-min thuận tay trái nhờ thường xuyên luyện tập đã tập thành một cách hoàn hảo việc sử dụng phối hợp tay và mắt trong việc sử dụng trành ném đá đến mức “dùng trành ném đá trúng một sợi tóc mà chẳng hề sai trật” (Cac Tl 20:16). Việc ném đá tài tình như vậy không có nhiều. Người ta thực ra họ đã phải khổ luyện cho mắt ngắm thật chính xác và tay ném thật thẳng cho đến mức hoàn hảo. Người giáo viên trường Chúa Nhật cũng cần phải có một mục tiêu rõ ràng cho việc giảng dạy của mình để nhắm đến.
A. HƯỚNG DẪN SAO CHO MỌI HỌC VIÊN ĐỀU TIẾP NHẬN CHÚA CỨU THẾ
1. Vạch rõ con đường cứu rỗi.
a. Thừa nhận vấn đề tội lỗi.
b. Nhận thực rằng Chúa Cứu Thế Jêsus đã chết thay cho tội nhân.
c. Tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jêsus làm Cứu Chúa của đời sống mình.
2. Cầu nguyện thiết tha cho từng học viên của mình.
3. Nài mời một cách khéo léo để học viên có quyết định dứt khoát tiếp nhận Chúa. Cần nên để cho học viên có một quyết định tự nguyện, đừng thúc ép, không giả tạo.
B.CHUẨN BỊ VÀ ĐÀO TẠO CHO MỌI HỌC VIÊN ĐỀU BIẾT SỐNG VÀ LÀM VIỆC CHO ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Có hiểu biết về Lời Đức Chúa Trời
2. Có thói quen cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày.
3. Biết luôn luôn vâng theo Lời Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh.
4. Có sự trung tín trong sự làm chứng cho Chúa Cứu Thế và cho sự hầu việc Ngài.

NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC PHẢI BIẾT GÌ?
Người giáo viên Cơ đốc giáo dục trước hết phải là người học viên. Tâm tình của người giáo viên phải là “Chúa ơi, xin ban cho con một lớp học Trường Chúa Nhật, không phải vì con đã biết đủ nhiều mà vì con cần học hỏi nhiều hơn”. Điều quan trọng là người giáo viên phải nhận chân được tầm quan trọng của nhiệm vụ mình hầu tự tu dưỡng rèn luyện để được xứng hiệp với vai trò của mình. Điều ấy có liên quan đến sự rèn luyện bản thân.
Thép 8 có thể dùng làm trục xe, nhưng một thỏi thép 8# không phải là một cái trục xe. Muốn trở thành cái trục xe thì thỏi thép ấy phải được tạo hình, tiện gờ, tinh chế,... Chúa có thể sử dụng những người được huấn luyện kỹ lưỡng thuận lợi hơn những ai không được và không chịu huấn luyện.
1. Về Kinh Thánh.
Mọi công việc mang tính chuyên nghiệp đều đòi hỏi sự đào tạo. Không ai có thể dạy về phân số hay về hệ thống thập phân mà chính mình lại không nắm vững về số học trước. Để có thể dạy tốt một phần Kinh Thánh, phải quen thuộc với toàn bộ Kinh Thánh trước.
2. Về các bộ môn hổ trợ.
a. Địa lý Kinh Thánh: Phải định vị cho được núi, sông, thành, làng, ...được đề cập trong các câu chuyện sẽ giảng dạy.
b. Lịch sử Kinh Thánh: Phải biết về lịch sử của Kinh Thánh, lịch sử của các xứ trong Kinh Thánh xưa và nay. Phải biết vận dụng các sự kiện học biết được qua môn lịch sử ở trường phổ thông có liên quan đến các nhân vật Kinh Thánh.
c. Phong tục Kinh Thánh: Những hiểu biết về cuộc sống và phong tục của các dân tộc được đề cập trong Kinh Thánh sẽ giúp cho các câu chuyện giảng dạy và bối cảnh của nó được sáng tỏ và sinh động.
3. Về giáo học pháp bô môn.
a. Sư phạm: Để nắm vững nghệ thuật giảng dạy.
b. Giáo dục học nhi đồng: Để nắm vững về tâm sinh lý lứa tuổi nhi đồng và bản chất chung của con người.
c. Quản trị học đường: Để nắm vững về điều hành trường học.


NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC
PHẢI LÀM GÌ
Sau đây là một số điểm cơ bản mang tính nguyên tắc cho một người giáo viên Cơ đốc giáo dục tuân thủ để có thể thực hiện việc giảng dạy có hiệu quả:
1. Phải giữ cho thể trạng cân bằng.
2. Phải giữ cho trí tuệ sáng suốt.
3. Phải có sự tăng trưởng thuộc linh.
4. Phải có lịch học tập cho mình:
a. Lập thời biểu cho từng tuần.
b. Tự biệt mình ra để học cho khỏi bị làm gián đoạn.
5. Phải định rõ đề tài học:
a. Tâp chú trên đề tài sẽ dạy tiếp theo.
b. Tập chú vào nhu cần của học viên.
6. Phải có sự tiếp xúc sâu sát với học viên ngoài giờ học:
a. Phải tiếp xúc cho được những người đã vắng học buổi vừa qua.
b. Tiếp xúc bằng cách thăm viếng tận nhà.
c. Thỉnh thoảng nên tổ chức sinh hoạt dã ngoại, hoặc bữa ăn thông công.
d. Phải cầu nguyện cho học viên mỗi ngày.
7. Phải bảo đảm về giờ giấc và nền nếp:
a. Đến lớp đúng giờ.
b. Tránh bỏ dạy. Nếu phải vắng trong trường hợp bất khả kháng, phải bố trí dạy thay.
c. Luôn luôn chuẩn bị bài chu đáo.
8. Phải giữ cho việc phục sức của mình phù hợp với lớp học theo lệ thường.
Sự thành công của người giáo viên phụ thuộc vào sự nhiệt tình với phận sự, vào lòng yêu thương học viên, vào sự nhuần nhuyễn và chu đáo của sự cầu nguyện và chuẩn bị, và vào ý thức tự điều chỉnh cho đúng theo các nguyên tắc sư phạm được biết.


CÁC NGUYÊN TẮC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC CẦN NẮM VỮNG
I.NGUYÊN TẮC VỀ GIÁO VIÊN
Người giáo viên phải biết mình sẽ dạy gì.
Để có thể nắm vững đề tài giảng dạy, người giáo viên phải dành thì giờ nghiên cứu nhằm thủ đắc đủ kiến thức cho việc giảng dạy đề tài. Nguyên tắc chuẩn bị bài dạy như sau:
1. Nghiên cứu bài học sẽ dạy.
a. Quỹ tài liệu:
i. Ưu tiên hàng đầu là Kinh Thánh.
ii. Bài học theo quí (tam cá nguyệt).
iii. Các nguồn tham khảo:
- Thánh Kinh Tự điển
- Bản đồ Kinh Thánh.
- Thánh Kinh Phù dẫn
- Thánh Kinh Khảo học
b. Quỹ thời gian:
i. Phải chuẩn bị cho có một tầm xa (hành lang an toàn rộng).
ii. Ngay chiều Chúa Nhật trước đã bắt đầu nghiên cứu bài học cho Chúa Nhật tiếp theo.
iii. Nghiên cứu mỗi ngày.
2. Soạn giáo án.
a. Phù hợp theo độ tuổi.
b. Với sự biết chăc về nhu cần tâm sinh lý của học viên.
c. Xác định yêu cầu chung cho bài học.
d. Vạch rõ yêu cầu cụ thể trên từng phương diện:
- Về kiến thức: Học viên cần biết gì.
- Về tư tưởng, tình cảm: Học viên cần nghĩ gì.
- Về kỹ năng: Học viên cần làm gì.
3. Sưu tập tài liệu giảng dạy.
a. Theo cá nhân:
- Các mẫu tin tức liên quan.
- Các tranh ảnh, đặc biệt là tranh màu.
- Chế tác tranh dùng cho bảng nỉ.
- Tìm bài học cảnh báo hoặc cảnh cáo.
- Bản đồ.
- Phấn màu.
b. Theo sự hiệp tác: Có thể thảo luận, bàn bạc xin các giáo viên khác góp ý kiến để giúp hình thành ý đồ giảng dạy
4. Chọn phương pháp trình bày bài dạy.
a. Các phương pháp chính:
- Phương pháp kể chuyện.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp diễn giảng.
- Phương pháp dự án (tài liệu sư phạm cũ gọi là đồ án ).
- Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp truyền thụ.
b. Chọn phương pháp cho phù hợp độ tuổi học viên. Chú ý khai thác tính đa dạng và phong phú của các phương pháp.
i. Đối với thiếu nhi:
- Phương pháp kể chuyện.
- Phương pháp dùng bảng nỉ.
ii. Đối với thanh_thiếu niên.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp dự án.
- Phương pháp vấn đáp.
- Phương pháp nghiên cứu.
iii. Đối với trung-tráng niên (người lớn nói chung).

- Phương pháp diễn giảng.
- Phương pháp thảo luận.
5. Soạn các bước lên lớp.
Một giáo án đạt yêu cầu phải tuân thủ đúng theo trình tự bài dạy với các phân bố thời gian thỏa đáng và đầy đủ các hướng dẫn, ghi chú cần thiết cho sự thao tác trên lớp học của người giáo viên bắt đầu từ phần giới thiệu bài học cho đến phần áp dụng bài học, kết thúc, dặn dò,... Đừng dựa hoàn toàn vào trí nhớ mà phải viết giáo án ra dưới dạng đề cương.
II. NGUYÊN TẮC VỀ HỌC VIÊN
Học viên phải tập trung chú ý vào bài học
với sự ham thích
1. Thế nào là sự chú ý?
a. Im lặng không chắc đã là chú ý.
b. Nhìn thẳng vào giáo viên không chắc đã là chú ý.
c. Chỉ lắng nghe không thôi thì chưa phải là chú ý.
d. Lễ độ với giáo viên không chắc đã là chú ý.
e. Sự chú ý là sự huy động tâm trí vào một chủ đề với tâm thế muốn lĩnh hội, muốn thâu suốt, và muốn vận dụng nó. Sự chú ý đến theo sự ham thích.
2. Phân loại sự chú ý.
a. Sự chú ý tự động.
Sự chú ý tự động là sự chú ý được thực hiện bởi bán cầu đại não mà không cần có sự can thiệp của ý chí. Đây là loại chú ý được điều khiển bởi sự đáp ứng của cảm giác một cách vô ý thức đối với các sự vật đem lại sự thú vị hoặc sự đau đớn. Não bộ thường được tươi tĩnh theo sự chú ý này chứ không bị mỏi mệt vì nó được đáp ứng đúng theo những gì nó muốn cảm thụ.
b. Sự chú ý cố ý (cũng gọi là sự chú ý có cố gắng).
Sự chú ý cố ý là một loại chú ý theo năng lực của ý chí. Loại chú ý này phát triển thấp ở trẻ dưới 12 tuổi. Sự chú ý cố ý là sự chú ý mà chúng ta vốn thường vận dụng lúc bắt đầu các sự luyện tập. Sự tồn tại của sự chú ý cố ý ở não bộ khá ngắn.
Phần lớn các tiết học trên lớp đều phải khởi đầu với sự chú ý cố ý. Để não bộ hoạt động tốt trong việc học tập, sự chú ý cần có phải là sự chú ý tự động (là kết quả của cảm thức quan tâm). Người giáo viên phải có cách kết nối đề tài giảng dạy với các lạc điểm của học viên để sớm chuyển đổi từ sự chú ý cố ý sang sự chú ý tự động.
3. Giá trị đối với sự giảng dạy.
Sự chú ý là yếu tố then chốt đối với việc học tập. Nếu nhận thấy học viên mất chú ý đối với đề tài, việc mà người giáo viên phải làm ngay là tác động lập tức trên sự chú ý của học viên. Hoặc bằng cách tác động trực tiếp trên sự chú ý tự động, hoặc tác động gián tiếp qua sự chú ý cố ý. Sự chú ý là công cụ ghi nhớ, người giáo viên phải luôn luôn biết đặt tâm trí của học viên tại điều mình đang truyền đạt.
4. Để bảo đảm cho sự chú ý.
a. Không tác động trên sự chú ý bằng cách gây sợ hãi hoặc
bằng mệnh lệnh.
b. Bằng cách lượng định trước các sự xao lãng có thể có là gì? (sức nóng, ánh sáng, cảnh quan phản sư phạm, tiếng ồn,...), người giáo viên có thể sắp xếp các học viên trong lớp theo cách thế phù hợp. Thông thường thì lớp được bố trí sao cho giáo viên phải nhìn được mặt học viên dễ nhất, thẳng nhất, rõ nhất. Các học viên cũng cần được sắp đặt cách nào có thể dễ nhìn mặt nhau. Lớp phải tránh hướng về phía có yếu tố làm cho xao lãng. Phải chọn chỗ ngồi phù hợp cho các học viên hay làm ồn.
c. Vận dụng tính hiếu kỳ (tò mò) của học viên để:
- Cuốn hút sự chú ý của mắt vào tranh ảnh, minh họa, trợ huấn cụ, tranh nỉ,...
- Cuốn hút sự chú ý của tai vào các tình tiết của chuyện kể, minh họa, câu hỏi, sự cảm thán bằng lời,...
d. Khám phá những lạc điểm nội tại của bài học nào có thể liên kết được với các lạc điểm trong tâm lý chung của học viên.
e. Thường để ý thăm dò về sự chú ý của học viên. Phải chắc chắn là tài liệu đã được chuẩn bị chu đáo; phải nhiệt tình; hãy nói theo cách thế đối thoại (tránh độc thoại); nói bằng nhiệt tâm; nói với sự êm dịu nhỏ nhẹ thỏa đáng.
5. Một số các lạc điểm có tính bản năng.
- Sự quan tâm đối với sự mạo hiểm và sự lãng mạn.
- Sự quan tâm đối với sự hành động, con người, thú vật.
- Ước muốn được có sự chấp nhận xã hội.
- Sự quan tâm đối với thi ca.
- Sự hiếu kỳ, sự ngạc nhiên, sự quan tâm đối với câu đố, bài toán hóc búa.
- Sự quan tâm đối với sự truyền đạt và được diễn đạt.
- Sự vận động tay chân và các hoạt động thể lý chung chung.
- Sở thích sưu tập.
- Sở thích làm kịch tự biên tự diễn.
- Trò chơi.
III. NGUYÊN TẮC VỀ NGÔN NGỮ (của cá nhân, phân biệt với ngôn ngữ của một cộng đồng người).
Ngôn ngữ sử dụng trong giảng dạy phải tương đồng cho cả người dạy và người học.
1. Thường xuyên nghiên cứu, học hỏi ngữ ngôn của học viên.
2. Nói bằng ngữ ngôn của học viên càng có thể càng tốt.
3. Diễn đạt ý tưởng ngắn gọn nhất, ít ngôn từ nhất.
(Hãy chú ý cách trước thuật trong LuLc 11:1-4, ngắn gọn nhưng có đủ các yếu tố về thờ phượng, tôn vinh, xưng nhận, và cầu xin).
4. Dùng câu có cấu trúc đơn.
5. Giải thích bằng minh họa qua tranh ảnh, vật thât, nét vẽ, và biểu đồ trên bảng. Phải chắc là sự giải thích của mình được hiểu đúng. Phải để ý giải thích sao cho học viên ở mức thấp nhất cũng hiểu được.
6. Thường có biện pháp kiểm tra sức hiểu từ liệu của học viên.
7. Nói một cách dễ nghe và dễ hiểu.
8. Một khi học viên có thể kể lại câu chuyện theo ngữ ngôn riêng của mình thì đó là dấu hiệu cho thấy rằng học viên hiểu được giáo viên.
IV. NGUYÊN TẮC VỀ BÀI HỌC
Lẽ thật được dạy phải suy hiểu được từ lẽ thật đã được học biết rồi.(Cũng còn gọi là “nguyên tắc nhận thức”: Dạy điều chưa biết nhờ điều đã biết)
1. Chúa chúng ta đã vận dụng nguyên tắc này.
Ngài thường dạy những lẽ thật Tân Ước rút từ những lẽ thật Cựu Ước : GiGa 3:14; LuLc 11:29-32; 17:26-30 ...
Ngài dạy những lẽ thật thuộc linh có liên quan đến Ngài bằng cách so sánh với những sự vật quen thuộc: Nước, Người Chăn Chiên, Cái Cửa, Anh Sáng,...
2. Cách thế vận dụng.
a. Xác định những điều chưa biết của học viên bằng:
- Dành thời gian để gần gũi, nói chuyện, chơi với họ.
- Đến gia đình họ để thăm viếng.
- Khuyên bảo riêng.
b. Khởi sự (việc giảng dạy) từ những diểm học viên đã thấy hoặc đã biết rồi. Thường thường là khởi sự với việc ôn tập hoặc kiểm tra bài cũ.
c. Xác định những điều chưa biết.
- Về mặt sự kiện.
Liệt kê những điều trong bài học mà có thể là học viên chưa biết, từ đó chuẩn bị việc giảng giải cho thích hợp.
- Về mặt thuộc linh.
Liệt kê những lẽ thật thuộc linh mà học viên chưa hiểu được, từ đó vạch mục tiêu cần thiết cho bài học.
d. Tiến hành từng bước theo phương pháp so sánh để đi từ nhữngđiều đã biết đến những điều chưa biết.
- Vận dụng (cũng là lợi dụng) các câu chuyện kể.
- Vận dụng sự minh họa hoặc tranh vẽ chiết tự.
- Vận dụng tranh vẽ hoặc vật thật.
- Vận dụng phép so sánh.
Nên luôn luôn nhớ rằng sự minh họa như những chiếc cửa sổ cho ánh sáng soi rọi vào phòng.
V. NGUYÊN TẮC VỀ TIẾN TRÌNH GIẢNG DẠY
Giáo viên phải điều động hoạt động tư duy tích cực của học viên, coi trọng việc giúp học viên khám phá.
1. Kích thích tư duy.
a. Trình bày tài liệu nghiên cứu nhưng giúp học viên biết động não suy nghĩ.
- Giúp đỡ để cho từng cá nhân trong lớp học đều là người khám phá biết đi tìm lẽ thật.
- Giúp đỡ để từng học viên trở thành “người điều tra” đối với đề tài được học.
b. Yêu cầu học viên nêu lên những điều mình suy nghĩ. Kêu gọi họ:
- Kể lại.
- Viết tóm lượt câu chuyện.
- Kể lại toàn bài học với sự trợ giúp của một ít tranh ảnh.
2. Dấy lên tinh thần học hỏi.
a. Tận dụng các câu hỏi.
- Luôn luôn hỏi “tại sao?’ đối với các sự vật.
- Khích lệ học viên đặt câu hỏi về bài học.
- Đừng dập tắt tinh thần học hỏi bằng cách đưa ra câu trả lời sớm quá và trực tiếp quá.
- Phải có sự trả lời chân thật cho mỗi câu hỏi trước khi nó được cho qua.
- Tuyệt đối không được chế nhạo gì cả.
- Đừng nên bỏ qua những câu hỏi chưa thành lời trong ánh mắt học viên.
- Khuyến khích các học viên thử tìm cách trả lời cho câu hỏi của bạn trong lớp nêu lên.
b. Giáo viên cũng phải hòa nhập với học viên thành một người khám phá.
c. Khích lệ các học viên tự đặt câu hỏi với chính mình cho sự việc: Cái gì? Bao nhiêu? Tại sao? Khi nào? Ở đâu? Ai?
3. Cho học viên làm việc.
a. Đưa ra các hoạt động.
-Đối với thiếu_nhi: vẽ tranh màu, trò lắp ghép.
- Đối với thanh_thiếu: các dự án, các đề tài thảo luận.
b. Tạo cơ hội thực hành những gì đã được học.
- Dạy về chức vụ quản gia: Tạo cơ hội để dâng hiến.
- Dạy về cầu nguyện: Tạo cơ hội cho trẻ tập cầu nguyện.
- Dạy về nghiên cứu Lời Chúa: Cho thực hành phương pháp nghiên cứu bằng cách ra bài tập về các phương pháp đã dạy:
+ Cách sử dụng Kinh Thánh phù dẫn.
+ Cách sử dụng bản đồ Kinh Thánh.
c. Khích lệ các học viên hầu việc.
- Nhờ những em lớn đến giúp đỡ cho các nhóm của những em nhỏ hơn.
- Hướng dẫn họ biết góp phần hầu việc Chúa ngay trong nhóm mình.
- Kêu gọi họ dự phần trong chức vụ âm nhạc của hội thánh.
- Hướng dẫn họ biết cách làm chứng đạo.
VI. NGUYÊN TẮC VỀ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP
Học viên phải tái tạo được lẽ thật đã được giảng dạy bằng chính trí tuệ của mình.
Tiến trình học tập kinh qua các bước sau đây
1. Ghi nhớ.
a. Đây là bước đầu tiên và là bước thấp nhất của tiến trình.
b. Một số giáo viên thường chỉ dừng lại ở bước này.
c. Là một bước quan trọng đối với việc học Kinh Thánh.
d. Tự thân bước này là bất toàn.
2. Lĩnh hội (hiểu sau khi ghi nhớ, một từ liệu sư phạm) .
a. Là một bước thăng tiến của sự ghi nhớ.
b. Khi học viên có thể diễn đạt bài học theo ngữ ngôn riêng của mình thì có nghĩa là họ đã nắm bắt được bài học.
3. Vận dụng vào đời sống.
a. Cho đến lúc nào bài học phát huy được tác dụng trên đời sống của người học viên thì đó mới là lúc học viên hấp thụ được bài học.
b. Người giáo viên có thể khích lệ học viên áp dụng bài học vào đời sống mình bằng cách khuyến khích họ nêu lên những câu hỏi có liên quan đến bài học:
- Bài học nói về điều gì?
- Bài học có ý nghĩa như thế nào?
- Có thể diễn đạt lại bằng ngữ ngôn riêng như thế nào đây?
- Có thể tin được vào những gì bài học dạy không?
- Có thể áp dụng những kiến thức mới học này theo cách thế nào?
c. Sự thành công của việc giảng dạy được lượng định trên mức độ nhuần nhuyễn mà học viên vận dụng.
- Việc giảng dạy của người giáo viên phải được thoát ra từ mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời.
- Việc giảng dạy của người giáo viên phải giúp hình thành được mối quan hệ đúng đắn với tha nhân.
VII. NGUYÊN TẮC VỀ ÔN TẬP VÀ ÁP DỤNG
Việc tổng kết và củng cố bài học phải được thực hiện qua việc ôn tập và áp dụng.
1. Tại sao phải có sự ôn tập?
a. Để vận dụng sức mạnh của sự lặp đi lặp lại.Các mẫu điển hình về việc áp dụng nguyên tắc này ngày nay thường được thấy dưới các hình thức:
- Quảng cáo thời hiện đại:
+ Bảng quảng cáo.
+Tạp chí.
+ Phát thanh.
- Giúp trí nhớ:
+ Bảng nhân, chia.
+ Các thành ngữ thông dụng.
- Hạnh kiểm của chúng ta và những sự chứng giải (cáo trách) trong đời sống của chúng ta luôn luôn chịu ảnh hưởng của những lẽ thật quen thuộc với chúng ta.
b. Sự ôn tập giúp xác định được học viên của chúng ta đã học biết được những gì.
- Sự ôn tập hoàn hảo giúp thăm dò được cả học viên lẫn giáo viên.
- Sự ôn tập giúp người giáo viên biết được những vấn đề nào học viên chưa nắm bắt được.
-Sự ôn tạp giúp chúng ta bù đắp được những lỗ hổng kiến thức của học viên.
- Tự thân bài kiểm tra về các sự kiện của bài học chưa đầy đủ là sự ôn tập.
c. Sự ôn tập đem lại cơ hội để liên hệ với các bài học đã qua và cũng có thể được dùng để giới thiệu (phần nào) bài học sắp đến.
2. Phải ôn tập như thế nào?
a. Mỗi lần ôn tập cần bao nhiêu?
- Một số phần nào đó của bài học.
- Ôn tập cả bài học.
- Một loạt bài học được ôn lại.
b. Ôn tập vào lúc nào?
- Bài học cũ có thể được ôn vào đầu buổi học.
- Một số phần của bài học hiện hành có thể được ôn vào cuối buổi.
c. Các hình thức ôn tập:
- Giáo viên tóm tắt bài học.
- Cho học viên kể lại.
- Dành riêng trong tiết vấn đáp (còn gọi là phát vấn).
- Tổ chức cho mọi học viên cùng thảo luận theo một phần bài học nào đó hay một đề tài nào đó.
- Cho viết bài thu hoạch.
- Cho làm thủ công (ấu_nhi)
MỤC LỤC
7 Nguyên Tắc Giảng Dạy
Tác giả: David Garrison

TỰA
GIỚI THIỆU
Chương 1: THẾ NÀO LÀ MỘT PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH?
Chương 2: CẬN CẢNH CPM
Chương 3: MƯỜI YẾU TỐ PHỔ BIẾN
Chương 4: MƯỜI YẾU TỐ CHUNG
Chương 5: NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
Chương 6: NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
Chương 7: NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI CPM
Chương 8: NHỮNG BÍ QUYẾT DÙNG ĐỂ KIỂM SOÁT MỘT CPM.
Chương 9: KHẢI TƯỢNG CPM ĐỐI VỚI THẾ GIỚI

GIỚI THIỆU
Ở khắp mọi góc nẻo của địa cầu này các báo cáo đang được tới tấp gửi về. Lúc đầu chỉ một ít mà thôi, nhưng những báo cáo càng ngày càng nhiều và càng thường xuyên hơn, tăng viện cho nhau với các bản tin đáng ngạc nhiên về việc hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng vạn người đến với Đấng Christ, thành lập nên các hội thánh mới và rao truyền đức tin mới vừa tìm được.
Đông Nam Á
Khi một nhà điều phối chiến lược bắt đầu công việc của mình vào năm 1993, chỉ có ba hội thánh và 85 tín hữu giữa vòng 7 triệu linh hồn hư mất. Bốn năm sau, có đến 550 hội thánh và gần 55.000 tín hữu.
Bắc Phi
Trong một bài giảng Thứ Sáu hàng tuần của mình, một tăng lữ Hồi Giáo Ả-rập đã than phiền rằng hơn 10.000 tín đồ Hồi Giáo sống trong các vùng núi lân cận đã bội đạo từ bỏ Hồi Giáo để trở nên những Cơ-đốc-nhân.
Một thành phố ở Trung Hoa
Trong khoảng thời gian hơn bốn năm (1993-1997), hơn 20.000 người đã tin nhận Đấng Christ, và kết quả là hơn 500 hội thánh được thành lập.
Châu Mỹ La-tinh
Hai hiệp hội Báp-tít đã khắc phục được sự bắt bớ để mở mang 235 hội thánh vào năm 1990 thành 3.200 hội thánh vào năm 1998.
Trung Tâm Châu Á
Một nhà điều phối chiến lược đã thuật lại: “Vào khoảng năm 1996, chúng tôi đã triệu tập các hội thánh trong khu vực và nhờ họ thử đếm có bao nhiêu người đã đến với Đấng Christ trong năm đó. Khi họ cộng lại, có đến 15.000 Thánh Lễ Báp-tem trong một năm. Năm trước đó theo ước tính chỉ có 200 tín hữu mà thôi.”
Tây Âu
Một vị giáo sĩ ở Châu Âu thuật lại rằng: “Năm ngoái (1998), vợ tôi và tôi đã mở mang được 15 nhóm tế bào của một hội thánh mới. Khi chúng tôi đi công tác ở Hoa Kỳ trong vòng 6 tháng từ tháng Sáu năm rồi, chúng tôi ngạc nhiên trước những gì chúng tôi chứng kiến khi trở về. Thật là kỳ diệu! Chúng tôi có thể xác nhận rằng hiện giờ có ít nhất đến 30 hội thánh, nhưng tôi tin rằng số hội thánh có thể nhiều gấp đôi hoặc gấp ba.”
Ê-thi-ô-pi
Một nhà chuyến lược truyền giáo đã bình luận, “Đã phải mất đến 30 năm chúng tôi mới có thể thành lập được bốn hội thánh. Chúng tôi vừa khởi lập được 65 nhóm tế bào trong vòng chín tháng qua.”
Hiện giờ, mọi khu vực trên thế giới đều rộn ràng với Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Đôi khi chúng ta chỉ thấy những con số, nhưng thường chúng được kèm theo với những lời tường thuật sống động, như mẩu tin e-mail mà chúng tôi mới vừa nhận được sau đây: “Tất cả các hội thánh tế bào của chúng tôi đều có các mục sư / lãnh đạo không thuộc tầng lớp tăng lữ bởi vì chúng tôi thực hiện công việc nhanh đến nỗi vị giáo sĩ hiếm khi hướng dẫn được hai hoặc ba lớp học Kinh Thánh trước khi Đức Chúa Trời dấy lên ít nhất một giáo sĩ. Một vị lãnh đạo mới dường như vừa được cứu vừa đồng thời được kêu gọi để lãnh đạo tại cùng một thời điểm, vì thế chúng tôi thực hiện thánh lễ Báp-tem cho anh và tặng anh một cuốn Kinh Thánh. Sau khi các mục sư / lãnh đạo được báp-tem, họ nóng cháy đến nỗi họ không thể kìm giữ được nữa. Họ tỏa đi khắp hướng trên đất nước và khởi mở các lớp học Kinh Thánh, và một ít tuần sau đó, họ đã bắt đầu nhận được tin tức về việc bao nhiêu hội thánh đã được khởi lập. Đây là điều hào hứng nhất mà chúng tôi đã từng chứng kiến! Chúng tôi không khởi sự nó, chúng tôi không thể ngăn cản nó nếu thử làm như vậy.”
Trong khoảng thời gian hơn bốn năm (1993-1997),
hơn 20.000 người đã tin nhận Đấng Christ, và kết quả là hơn 500 hội thánh được thành lập .
Bên cạnh lòng mong mỏi và nỗi vui mừng của mình, các giáo sĩ cũng đã gặp phải một số câu hỏi. Hầu hết chưa hề mục kích được một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh nào. Giấc mơ của tất cả giáo sĩ là việc gọi mời toàn bộ một nhóm nguời đến với Đấng Christ. Cứ nghĩ đến việc hàng ngàn người không đếm xuể đang đợi để được nghe và ứng đáp với phúc âm thì niềm say đã mê hun đúc tấm lòng và tâm tình của các giáo sĩ trên khắp thế giới.
Vậy thì thế nào là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh? Hiện tượng này là gì mà nó hấp dẫn chúng ta đến thế? Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh hội thánh này đang xảy ra ở đâu? Vì sao chúng xảy ra? Đây có phải là một điều gì mới mẻ hoặc chúng đã từng và đang ở với chúng ta? Nguyên nhân nào đã làm cho chúng xảy ra? Chúng là các sự kiện ngẫu nhiên hay là chúng có những đặc tính chung nào? Chúng ta có thể làm điều gì để khuyến khích chúng không?
Ngày càng có nhiều các giáo sĩ và các nhà chiến lược đang đặt ra nhũng câu hỏi hắc búa này và tìm hiểu về tính chất của các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Những câu hỏi hắc búa dẫn đến những câu trả lời bổ ích. Các câu hỏi và các câu trả lời này là chủ đề của cuốn sách này.
Để có thể đạt đến những hiểu biết sâu nhiệm này, chúng tôi đã chất vấn một số các giáo sĩ, các nhà điều phối chiến lược và các cá nhân đã từng có kinh nghiệm cá nhân đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh để nhờ họ phản ánh lại các kinh nghiệm chung của họ và đưa chúng lên một diễn đàn kêu gọi sự phê bình và phân tích. Trong con mắt của họ, chúng tôi đã và đang cố tách ra những yếu tố chính yếu đã làm nên hiện tượng này cũng như những trở ngại ngăn cản những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Chúng tôi cũng đã giao việc cho họ bằng cách cung cấp cho họ các công việc thực tiễn để khởi xướng và nuôi dưỡng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Tác giả mang ơn sâu sắc đối với những đồng nghiệp là các giáo sĩ này.
Mục đích của cuốn sách này là: 1) định nghĩa các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; 2) xác định các đặc tích phổ biến của chúng; 3) xem xét những trở ngại thường gặp đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; 4) phân tích một loạt bao gồm nhiều trường hợp nghiên cứu điển hình thực tế; 5) cung cấp những công cụ thực tiễn để khởi xướng và nuôi dưỡng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; và 6) xác định các câu hỏi thường gặp (FAQ) về các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Các trường hợp nghiên cứu điển hình và các minh họa được sử dụng trong cuốn sách này bắt nguồn từ khắp nơi trên thế giới. Một số đã và đang được thu thập từ các quốc gia mở là nơi có ít các rào cản chính thức ngăn cản việc rao truyền phúc âm. Những cái khác phát nguồn từ những nơi mà Cơ-đốc-giáo bị bắt bớ hoặc thậm chí bị cấm đoán. Chúng tôi không dám loại bỏ các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh này ra khỏi bản tổng kết của chúng tôi, nhưng chúng tôi phải giấu các tên và các địa danh này để có thể bảo vệ những người có liên hệ.
Cuốn sách này khôgn đưa ra những lý thuyết mà chúng tôi dự định chứng minh chúng, nó cũng không phải là một khuôn mẫu mà chúng tôi muốn áp đặt trên một số kiểu tình huống khác nhau. Đây là những mô tả về những gì mà chúng tới đã được thấy và được biết. Những người liên quan cũng đã rút ra những nguyên tắc từ các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trong thực tế. Để có thể phản ánh lại một bức tranh cách càng chân thật càng tốt, chúng tôi sẽ cho bạn biết những đặc tính nào xảy ra thường xuyên và những đặc tính nào là bất thường.
Chúng tôi cầu nguyện để cuốn sách nhỏ này có thể được sử dụng như là một nguồn tài nguyên bổ ích cho các giáo sĩ và những người bạn truyền giáo trên khắp thế giới, vì tất cả chúng ta đều muốn tìm hiểu xem Đức Chúa Trời đang làm những gì và Ngài đặt chúng ta trên công trường truyền giáo với Ngài như thế nào khi Ngài đang dấy lên những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh giữa vòng các dân tộc.

Chương 1:
THẾ NÀO LÀ MỘT PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH?
Vào năm 1998, một cuộc truyền giáo đã ứng dụng lời phát biểu về khải tượng: Chúng ta sẽ tạo điều kiện cho những người hư mất đến với Đức Chúa Giê-xu Christ bằng cách khởi xướng và nuôi dưỡng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh giữa vòng các dân tộc . Lời phát biểu về khải tượng này là kim chỉ nam cho công việc của các giáo sĩ đang hầu việc trên hơn 150 quốc gia vòng quanh thế giới.
Vậy thì, thế nào là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh? Một định nghĩa đơn giản về một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là một sự tăng trưởng nhanh chóng theo số mũ của các hội thánh bản địa trong vòng một nhóm người hoặc một bộ phận dân số cụ thể nào đó .
Có một số yếu tố then chốt trong định nghĩa này. Thứ nhất là nhanh chóng . Là một phong trào, một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh xảy ra trong sự gia tăng nhanh chóng về số lần khởi lập hội thánh mới. Việc thành lập hội thánh liên tiếp nhau trong hàng thập kỷ và thậm hàng thế kỷ qua là tốt nhưng chưa đủ để được gọi là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Thứ hai là sự gia tăng theo số mũ . Điều này có nghĩa là sự gia tăng về số lượng các hội thánh không phải là tăng theo cấp số cộng - cộng thêm một ít hội thánh mỗi năm hay đại loại như vậy. Thay vì đó, nó tăng lên theo số mũ - hai hội thánh trở nên bốn, bốn hội thánh trở thành 16 và cứ thế tiếp tục. Việc phát triển gấp bội theo số mũ chỉ có thể xảy ra khi nào các hội thánh mới được khởi lập bởi chính các hội thánh - thay vì bởi các nhà mở mang hội thánh chuyên nghiệp hoặc các giáo sĩ.
Cuối cùng, chúng là các hội thánh bản địa . Điều này có nghĩa là chúng được phát sinh từ bên trong hơn là từ bên ngoài. Điều này không có ý nói là phúc âm có khả năng phát triển một cách ngẫu nhiên theo trực giác giữa vòng một nhóm người. Phúc âm thuờng đến từ một nhóm người từ bên ngoài vào; đây là công việc của giáo sĩ. Tuy nhiên, trong một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, đà phát triển thường nhanh chóng trở nên mang tính bản địa để rồi thế chủ động và nỗ lực của phong trào đến từ bên trong một nhóm người thay vì đến từ những người ngoài.
Nếu định nghĩa này không đủ sáng tỏ, chúng ta có lẽ sẽ cũng phải làm sáng tỏ bằng các xem xét những gì là không thuộc một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không phải còn hơn “việc chứng đạo mà kết quả là các hội thánh” Việc chứng đạo mà kết quả của nó là các hội thánh là một phần của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, nhưng “khải tượng cuối cùng” thì kém bao quát hơn. Một người mở mang hội thánh có lẽ đã thỏa mãn với chính mình về mục tiêu là thành lập chỉ một hội thánh mới hoặc thậm chí cả lố hội thánh, nhưng không nhìn thấy rằng cần phải có một phong trào các hội thánh mở mang hội thánh để có thể cứu toàn bộ cả một dân tộc.
Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là một sự tăng trưởng của các hội thánh bản địa một cách nhanh chóng theo số mũ trong vòng một nhóm người hoặc một bộ phận dân số cụ thể nào đó .
Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh cũng còn hơn hẳn một cuộc phục hưng của các hội thánh đã tồn tại sẵn. Người ta rất mong muốn có được các cuộc phục hưng, nhưng chúng không phải là các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các buổi nhóm truyền giảng và các chương trình làm chứng có thể dẫn hàng ngàn người đến với Đấng Christ, và thật kỳ diệu, nhưng chúng không giống như một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh nhà nhân tố đặc trưng là các hội thánh tự phát triển chính mình.
Có thể là cái gần gũi nhất với một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, là cái vẫn chưa phải là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, là khi những người mở mang hội thánh tại địa phương được huấn luyện và sử dụng để mở mang hàng loạt các hội thánh giữa vòng chính dân tộc mình. Đây là một phương pháp khá hiệu quả trong việc mở mang hội các thánh giữa vòng một bộ phận dân số hoặc một nhóm người, nhưng đà phát triển vẫn nằm trong tay của một nhóm hữu hạn những người mở mang hội thánh chuyên nghiệp thay vì nằm trong lòng của mỗi một hội thánh mới được khởi lập.
Cuối cùng, một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không phải là mục đích của chính nó . Mục đích của tất các các nỗ lực của chúng ta là cho Đức Chúa Trời được vinh hiển. Điều này xảy ra bất kỳ lúc nào mà các cá nhân được vào trong mối tương giao với Đức Chúa Trời thông qua Đức Chúa Giê-xu Christ. Khi họ làm như vậy, họ được đem vào trong các hội thánh là những hội thánh giúp họ có thể tiếp tục tăng trưởng trong ân điển với những tín hữu khác có đồng một tâm tình. Bất kỳ khi nào nguời ta có được cuộc sống mới trong Đức Chúa Giê-xu Christ thì Đức Chúa Trời được vinh hiển. Bất kỳ khi nào một hội thánh được khởi lập - bất kể là ai đã làm điều đó - thì có các lý do để ngợi khen.
Thế thì vì sao một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh lại đặc biệt đến như vậy? Bởi vì dường như nó bày tỏ một tiềm năng vĩ đại nhất để cho số lượng những người hư mất đông đảo nhất mang vinh hiển cho Đức Chúa Trời thông qua cuộc sống mới trong Đấng Christ và bước vào trong cộng đồng đức tin.
Tuy nhiên, một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không chỉ đơn thuần là sự gia tăng về số lượng hội thánh, dù rằng điều này cũng mang tính tích cực. Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh xảy ra khi khải tượng về các hội thánh mở mang hội thánh lan từ giáo sĩ và người mở mang hội thánh chuyên nghiệp đến chính các hội thánh, để rồi với chính đặc tính của chúng, chúng sẽ cứu những người hư mất và phát triển họ.
Chúng ta hãy ôn lại một số điểm chính yếu. Các giáo sĩ là những người mở mang hội thánh có năng lực, nhưng luôn bị giới hạn về số lượng. Những người mở mang hội thánh tại địa phương có triển vọng hơn, đơn giản chỉ là vì lực lượng những người sẵn lòng này đông đảo hơn. Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh hội thánh có tiềm năng vĩ đại hơn, vì việc mở mang hội thánh đang được thực hiện bởi chính các hội thánh, dẫn đến số lượng hội thánh mới được khởi lập là đông đảo hơn hết.
Để có thể hiểu thấu đáo hơn về các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, chúng ta hãy xem xét một số các trường hợp nghiên cứu điển hình và phân tách chúng ra để có thể phân tích một cách thấu đáo hơn.

Chương 2:
CẬN CẢNH CÁC PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH
Các giáo sĩ hiện đang tham gia vào một số các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh và các Phong Trào gần giống như các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trên thế giới. Trong khi mỗi một phong trào này đều chịu ảnh hưởng của các giáo sĩ chúng tôi, thì mỗi một phong trào đều có những khác biệt nữa.
Dù có các dị biệt này, hầu hết tất các các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đều vẫn có một số những đặc tính chung đặc trưng. Trong các điển hình sau đây, bạn sẽ thấy được vì sao một số giáo sĩ lại tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Một số đã đóng góp cho phong trào từ lúc nó vừa phôi thai, trong khi đó một số khác thì đã đến với phong trào sau khi phong trào đã bắt đầu khá lâu. Trong mỗi trường hợp, từ chúng chúng ta có thể rút ra một số các bài học mà chúng ta có thể áp dụng sang những tình huống khác.
Một Nhóm Người ở Châu Mỹ La-tinh
Bối cảnh
Giống như các quốc gia khác ở Châu Mỹ La-tinh, nhóm người này có một số dân pha tạp bởi các dòng giống Châu Âu, Tây Ban Nha, và Châu Phi. Hàng thập kỷ dưới sự cai trị độc đoán đã bóp nghẹt sự phát triển về kinh tế và hạn chế những quyền tự do cá nhân. Quốc gia này nghèo khổ, nhưng dân chúng tương đối có học thức so với các quốc gia khác trong khu vực, với tỷ lệ biết chữ trên 90 phần trăm.
Theo truyền thống, có khoảng hơn 95 phần trăm dân số là Công Giáo La Mã. Tuy nhiên, trong hơn 25 năm qua, chính quyền đã cố đàn áp tự do tôn giáo. Sau đó, năm 1991, chính quyền đã bớt gay gắt, tự do hóa nền kinh tế của đất nước mình và xoa dịu tôn giáo. Sự tự do tôn giáo không phải là một quyền được bảo vệ, nhưng những điều kiện đang được cải thiện. Những tín hữu Báp-tít Nam Phương bắt đầu công tác truyền giáo của mình ở quốc gia này cách đây đã hơn một thế kỷ. Hơn 75 năm, các giáo sĩ đã thành lập các hội thánh, huấn luyện các lãnh đạo, và phát triển hiệp hội Báp-tít tại địa phương bao gồm khoảng 3.000 thành viên. Sau một cuộc đảo chính quân đội, toàn bộ các giáo sĩ bị cầm tù và sau đó bị trục xuất ra khỏi quốc gia. Cùng ra đi với họ là một nữa số thành viên các tín hữu Báp-tít tại địa phương và nhiều người trong hàng ngũ lãnh đạo. Nhũng thập niên sau đó đã đe dọa loại bỏ hội thánh ra khỏi quốc gia này. Bắt bớ, lao tù và tra tấn tràn lan. Trong thời gian bắt bớ, số lượng tín hữu tăng lên chậm chạp.
Điều đã xảy ra
Nhờ vào những nỗ lực truyền giáo của Hoa kỳ và Hiệp Hội Báp-tít Phương Nam, những tín hữu Báp-tít ở quốc gia này đã phát triển thành hiệp hội bắc phương và hiệp hội nam phương. Bất kể sự chia rẽ này, các hai hiệp hội này đã kinh nghiệm được các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trong thập niên 1960.
Trước năm 1989, hiệp hội bắc phương có tổng số thành viên ngót nghét 5.800. Cũng trong năm đó, họ đã bắt đầu kinh nghiệm đuọc một sự thức tỉnh khi số thành viên tăng 5,3 phần trăm và sau đó là 6,9 phần trăm trong năm kế tiếp. Cuối thập kỷ 1990, những thành viên của hiệp hội bắc phương đã tăng từ 5.800 lên hơn 14.000. Cũng trong cùng một giai đoạn này, số lượng hội thánh tăng từ 100 lên đến 1.340. Trong báo cáo cuối cùng, có dấu hiệu nho nhỏ cho thấy sự phát triển này đang chậm dần. Hiện nay, hơn 38.000 tín hữu thường xuyên đi nhóm lại trong các hội thánh đang đợi thánh lễ báp-tem.
Những sự phát triển tương tự cũng đang xảy ra trong hiệp hội nam phương. Trong năm 1989, họ có 129 hội thánh với số lượng các thành viên dưới 7.000. Với 533 thánh lễ báp tem trong năm này, chúng cho thấy các dấu hiệu của sức sống. Đến năm 1998, số lượng thành viên của họ đã lên đến gần 16.000 với số lượng thánh lễ báp tem hàng năm gần đến 2.000. Số luợng hội thánh tăng lên trong giai đoạn này là từ 129 đến 1.918, một tỷ lệ tăng trưởng đáng chú ý 1.387 phần trăm trong thập kỷ này.
Các yếu tố then chốt
Một vài yếu tố đóng góp cho Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở quốc gia Châu Mỹ La-tinh này. Các giáo sĩ ngoại quốc đã đóng các vai trò rất mang tính chiến lược. Vai trò thứ nhất là khi các giáo sĩ giới thiệu phúc âm cho quốc gia này lần đầu tiên. Họ đã lập các hội thánh mới một cách vững chắc trên Lời Đức Chúa Trời và chức tế lễ của tất cả các thánh đồ. Tuy nhiên, cuộc biến động trong chính phủ xảy ra đã buộc họ phải ra đi, Cơ-đốc-giáo có một lựa chọn: Trở nên mang tính bản địa hoặc là chết đi. Trong những năm sau đó, việc quốc gia này tách ly khỏi sự tiếp xúc với các tín hữu bên ngoài đã làm tăng thêm tiến trình bản địa hóa bằng cách giảm tối thiểu khả năng hỗ trợ các nguồn ngân quĩ từ hải ngoại cho dùng để xây các đền thờ và chi cho các khoản phụ cấp cho các mục sư.
Trong suốt những năm bị cách ly này, các giáo sĩ trung gian làm việc bên ngoài quốc gia đã truyền ra phúc âm đều khắp trên vùng đất này bằng các chương trình phát thanh truyền giảng phúc âm bằng ngôn ngữ của bản xứ là Tây Ban Nha. Các giáo sĩ và các Cơ-đốc-nhân lưu vong đã dành thời gian dài và đều đặn để cầu nguyện cho các tín hữu và những người hư mất đang sống trong nước.
Khi các giáo sĩ IMB tái liên lạc với các hội thánh này vào cuối thập niên 1980, họ đã tìm thấy đức tin Báp-tít đã bén rễ sâu trong quốc gia này. Vào thời điểm này, các giáo sĩ đã cống hiến sự đóng góp thứ hai bằng cách nuôi dưỡng phong trào này thông qua sự cầu nguyện, môn đồ hóa, huấn luyện cho hàng ngũ lãnh đạo và các tổ chức truyền giảng và phương pháp hội thánh tế bào - không tạo ra sự phụ thuộc hoặc áp đặt sắc thái ngoại quốc lên phong trào.
Một vài các yếu tố và đặc tính khác đã đóng góp cho phong trào. Ngay từ đầu, Kinh Thánh và sự thờ phượng đã ở trong ngôn ngữ của tấm lòng những người ở đây. Được hỗ trợ bởi tỷ lệ biết chữ cao, Kinh Thánh đã trở thành trung tâm đời sống thuộc linh của tập thể và cá nhân.
Cầu nguyện cũng là một thành phần chủ yếu. Những tín hữu Báp-tít trong phong trào này đã miêu tả chính mình như là “những nguời quì gối.” Cầu nguyện đã chan chứa trong sự thờ phượng và đời sống hàng ngày của họ. Họ cũng là những người yêu thích ca hát. Các buổi nhóm thờ phượng vang vọng những bài thánh ca và những bài hát ngợi khen bằng ngôn ngữ tấm lòng của họ. Một lãnh đạo hội thánh đã miêu tả âm nhạc như là “một hình thức đấu tranh chống lại một thế giới vô tín”.
Một thử thách quan trọng đã xảy ra cùng với sự khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng vào năm 1992, đã làm cho các thành viên của hội thánh không còn vượt qua những đoạn đường xa để đến các ngôi nhà thờ để thờ phượng. Một lần nữa, phong trào lại ở ngã ba đường: Họ có thể tự rút lui và chuyển sang đức tin không có hội thánh, hoặc là phản ứng một cách sáng tạo đối với thử thách này. Các tín hữu đã chọn giải pháp sau khi họ chuyển các cuộc nhóm họp của mình vào trong những ngôi nhà và thấy rằng sự tăng trưởng phát triển khá nhanh chóng. Một lần nữa, các giáo sĩ Báp-tít lại đóng vai trò chiến lược bằng cách giới thiệu các khuôn mẫu hội thánh tế bào đang được sử dụng ở một số vùng trên thế giới. Trong năm đầu tiên (1992-93), chỉ riêng hiệp hội bắc phương đã mở mang 237 hội thánh.
Trên khắp đất nước, nền kinh tế què quẹt và tiền đồ chính trị bất ổn đã tạo nên một môi trường chín mùi cho các giải pháp và các phương án mới. Càng ngày càng ít khó khăn và càng ít cần phải nói cho người ta về sự hư mất; mọi thứ xung quanh họ đã phản ánh sự vô vọng và chán nản. Trong mối hỗn loạn này, các nhà lãnh đạo Báp-tít đã thúc giục đàn chiên của mình sử dụng lòng nhiệt thành truyền giảng của mình để cứu cả dân tộc. Vào giữa thập niên 90, hiệp hội bắc phương đã mở một Học Viện Truyền Giáo bán chuyên để cung cấp chương trình huấn luyện một năm cho các nhà truyền giáo bán chuyên. Vào năm 1998, đã có 110 người tốt nghiệp và thêm 40 người đăng ký học. Hai hiệp hội đã sử dụng gần 800 giáo sĩ tư gia trên khắp đất nước. Trong hai năm qua, các nhà lãnh đạo hiệp hội đã thuật lại rằng “hàng trăm người đang đáp ứng đáp sự kêu gọi cho các chuyến truyền giáo trong đất nước của họ.” Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trong quốc gia này đang sẵn sàng ảnh hưởng đến các quốc gia khác ở khắp Châu Mỹ La-tinh và trên khắp thế giới.
Các Yếu Tố Duy Nhất
Tuy rằng Đức Chúa Trời rõ ràng là đang làm một việc lớn lao ở quốc gia này của Châu Mỹ La-tinh, một phần bóng tối vẫn bao phủ trên phong trào. Theo báo cáo gân đây nhất, hơn 38.000 tín hữu trung tín nhóm lại trong các hội thánh của hiệp hội bắc phương nhưng vẫn chưa được làm phép báp-tem. Thêm 2.800 tân tín hữu đăng ký vào các lớp báp-tem. Tại sao có sự trì hoãn này trong việc làm phép báp-tem cho các tân tín hữu?
Một nhà lãnh đạo của hiệp hội giải thích “Trước khi đất nước chúng tôi đóng các cửa không cho các giáo sĩ vào, các hội thánh ở Châu Mỹ đã hỗ trợ chúng tôi xây dựng sáu công trình. Cách đây hai mươi năm, một trong các hội thánh của chúng tôi đã có cuộc thảo luận nóng bỏng về một vấn đề thần học nào đó (đã lâu nên đã quên) và đã mang lại hậu quả là sự chia rẽ và các ngôi đền thờ bị mất. Kể từ đó, chúng tôi đã học biết rằng cần phải cẩn trọng trong việc cho phép những người ngoài trở nên những thành viên đủ lông đủ cánh, e rằng họ cũng cướp mất những tòa nhà còn lại của chúng tôi.”
Các Điểm Học Tập
1. Sự chuyển đổi thành các hội thánh tư gia trùng khớp với sự gia tăng nhanh chóng trong sự phát triển của hội thánh. Nó giúp hội thánh thoát khỏi những giới hạn thuộc thể và đưa chứng nhân cho phúc âm vào trong cộng đồng.
2. Hàng ngũ lãnh đạo của hiệp hội giúp định hướng và khuyến khích phong trào hội thánh tư gia, dù rằng điều này có nghĩa là họ phải giảm thiểu phương tiện kiểm soát.
3. Sự bắt bớ giúp loại trừ ra những ai không phải là những người thực sự quyết tâm bước theo Đấng Christ. Cũng trong giai đoạn này, giáo lý của Báp-tít về chức tế lế của thánh đồ đảm bảo được sự sống còn của hội thánh, khi đó các hội thánh khác, những hội thánh được tổ chức theo cơ chế hẳn hoi thì bị đè bẹp.
4. Các giáo sĩ đóng các vai trò then chốt trong việc giới thiệu phúc âm; họ khích lệ khải tượng về Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; giới thiệu phương pháp hội thánh tế bào và giúp bảo vệ phong trào khỏi phải phụ thuộc vào các nguồn ngân quĩ hải ngoại.
5. Các giáo sĩ bán chuyên được huy động và huấn luyện đã và đang là bí quyết của việc khởi xướng phong trào trên khắp đất nước.
Một Vùng ỏ Trung Hoa
Bối cảnh
Trung Hoa vào những năm đầu của thập kỷ 1990 quay cuồng trong cuộc biến động kinh tế dữ dội. Sự bùng nổ kinh tế đã để lại những chênh lệch khá lớn về người có và người không. Sự đô thị hóa nhanh chóng đã hủy bỏ gia đình theo truyền thống và những hiệp hội của cộng đồng. Cả quốc gia hồi hộp chờ đợi một chế độ kế thừa các học thuyết của Mao Trạch Đông là học thuyết đã duy trì tư tưởng tập thể trong gần bốn thập niên.
Những tư tưởng mới lây lan khắp quốc gia và được xem xét với nhiệt tình xen lẫn phản đối. Phong trào dân chủ của sinh viên bị đàn áp, dẫn đến cuộc đụng độ với các lực lượng chính quyền tại Quảng Trường Thiên An Môn vào năm 1989, đã làm cho nhiều thanh niên tuyệt vọng về sự cải cách chính trị, tuy nhiên vẫn tìm kiếm một hy vọng mới nào đó cho một tương lai sáng lạn hơn.
Điều đã xảy ra
Trong bối cảnh này, vào năm 1991 Ủy Ban Truyền Giáo Quốc Tế đã cử một nhà điều phối chiến lược sang một địa phương mà chúng tôi gọi là Yanyin. Trong vòng một năm học ngôn ngữ và tìm hiểu về văn hóa, vị giáo sĩ đã tiến hành cuộc phân tích cặn kẽ về Yanyin. Nó gồm 7 triệu dân sống rải rác giữa vòng bốn sắc tộc trong một số các vùng nông thôn và thành thị. Ông đã vẽ các bản đồ các trung tâm dân cư của họ và bắt đầu các cuộc thăm dò cho công tác truyền giáo. Sau một số những khởi đầu sai lạc, nhà điều phối chiến lược đã triển khai một khuôn mẫu mở mang hội thánh mang sắc thái bản địa và nó đã mang lại hiệu qủa lớn lao.
Trong cuộc khảo sát đầu tiên của mình, nhà điều phối chiến lược đã tìm thấy ba hội thánh địa phương bao gồm 85 Cơ-đốc-nhân thuộc tộc người Hán. Các thành viên chủ yếu là người già cả và đã và đang giảm sút dần trong nhiều năm rồi mà không có khải tượng hay viễn cảnh nào cho sự phát triển cả. Trong vòng bốn năm sau đó, với ân điển của Đức Chúa Trời, nhà điều phối chiến lược đã giúp cho phúc âm bén rễ tươi mới giữa vòng nhóm người này và nhanh chóng lây lan khắp vùng Yanyin.
Vào thời điểm này, phong trào đang lây lan quá nhanh chóng đến nỗi nhà điều phối chiến lược nghĩ rằng Ông có thể rút ra khỏi công việc một cách an toàn mà không làm giảm sút đà phát triển của nó. Năm sau đó, dù không có mặt ông, phong trào gần như tăng lên gấp ba khi tổng số hội thánh lên đến 550 với hơn 55.000 tín hữu.
Nhận thức được các rào cản khá lớn về văn hóa và ngôn ngữ đã làm cho ông tách biệt khỏi người dân Yanyin, vị giáo sĩ đã bắt đầu huy động những cộng sự viên Cơ-đốc Trung Hoa từ Châu Á. Sau đó, cùng với những người mở mang hội thánh người Trung Hoa này, với một đội nhỏ các tín hữu địa phương, nhóm này đã mở mang được sáu hội thánh vào năm 1994. Năm sau, thêm 17 hội thánh nữa được khởi lập. Năm kế tiếp, 50 hội thánh nữa được khởi lập. Vào khoảng năm 1997, sau ba năm khởi lập, số lượng hội thánh đã lên đến 195 và lây lan ra khắp vùng và bén rễ trong mỗi một trong năm nhóm này.
Các yếu tố then chốt
Từ khi không còn hầu việc với chức vụ của mình tại Yanyin kể từ năm 1997, nhà điều phối chiến lược đã lưu ý khá nhiều đến việc xem xét các yếu tố đã làm cho các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh hội thánh phát triển một cách nhanh chóng đến như vậy. Tất cả chúng tôi đều là những người hưởng lợi từ sự phân tích này, là cuộc phân tích mà tôi sẽ đề cập đến dưới hình thức tóm tắt trong đây.
Cũng như với nhiều chức vụ khác, chức vụ tại Yanyin cũng được kèm theo sự cầu nguyện ngay cả trước khi nó được phôi thai. Những gì khởi đầu bằng một niềm tin cá nhân trong phẩm chất cầu nguyện đã trở thành một phần của gien di truyền của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khi các tín hữu đầu tiên mô phỏng theo khuôn mẫu của vị giáo sĩ.
Sự huấn luyện và cơ cấu tổ chức là các yếu tố then chốt để khởi đầu sự phát triển nhanh chóng của phong trào, và thông lệ “ứng đáp có chọn lọc” cũng vậy. Ứng đáp có chọn lọc là một thông lệ sử dụng một công cụ truyền giảng với qui mô lớn, chẳng hạn như video, radio, hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng khác, được kết hợp song đôi với “vòng phản hồi” hoặc một cơ chế chọn lọc khác cho phép nhà truyền giáo góp nhặt từ việc công bố những người nào thích được tiến xa hơn trong mối quan hệ. Trong phương thức này, việc gieo giống lúc nào cũng được kết hợp với một nỗ lực “kéo lưới” và tập hợp những người muốn tìm hiểu vào lớp học Kinh Thánh là mục tiêu được hướng đến lúc mối thành lập hội thánh.
Chúng ta hãy quan sát kỹ càng hơn về việc huấn luyện và cơ cấu tổ chức mà vị giáo sĩ đã áp dụng. Vị giáo sĩ đã khởi đầu với một nhóm nhỏ làm nên tảng gồm một số các tín hữu được ông môn đồ hóa và huấn luyện về các phương pháp căn bản trong việc mở mang hội thánh. Vị giáo sĩ gọi phương pháp mở mang hội thánh của mình là phương pháp POUCH. POUCH là một chữ viết tắt của các chữ cái đầu. P chỉ các nhóm học Kinh Thánh và thờ phượng theo phương thức cùng tham gia , miêu tả các buổi nhóm của các nhóm tế bào thông qua các cảm tình viên là những người được đưa đến đức tin và các tân tín hữu sau đó sẽ kế tục với tư cách là một hội thánh. O chỉ sự vâng phục Lời Đức Chúa Trời như là một phương tiện duy nhất cho sự thành công của một cá nhân hoặc một hội thánh. U chỉ về các nhà lãnh đạo hội thánh không huởng lương , đa hoặc lưỡng nghiệp. C chỉ về các hội thánh tế bào với số lượng hiếm khi vượt quá 15 thành viên trước khi phát triển thành các nhóm mới. H chỉ về những ngôi nhà hoặc phần trước của các cửa hiệu các nơi nhóm hàng đầu cho các hội thánh tế bào. Mỗi một đặc tính này góp phần của mình cho sự phát triển của các hội thánh theo phương thức không dựa trên sự trợ giúp về tài chánh, kỹ thuật, hoặc việc khởi xướng từ bên ngoài.
Nhà điều phối chiến lược này đã làm thấm nhuần những tân tín hữu đầu tiên với một khải tượng để cứu toàn bộ người dân Yanyin bằng phúc âm. Ông đã san sẻ với học cuộc nghiên cứu của ông về nơi các nhóm người chưa được cứu sống và đảm bảo với họ rằng Đấng Christ đã trang bị cho họ tất cả những gì họ cần để cứu toàn bộ khu vực này bằng phúc âm.
Khuôn mẫu mà ông đã dạy dỗ về việc mở mang hội thánh mới được xây dựng theo bốn bước: 1) Mô phỏng , 2) Hỗ trợ , 3) Quan sát và 4) Ra đi . Mô phỏng chỉ về việc mở mang hội thánh với những tín hữu mới (hoặc sắp trở thành) bằng cách áp dụng phương pháp POUCH như đã được miêu tả ở trên. Hỗ trợ là việc giúp đỡ hội thánh mới được thành lập mở mang thêm một hội thánh mới. Quan sát là một nỗ lực quan trọng và tỉnh táo để kiểm tra xem hội thánh thuộc thế hệ thứ ba này có được thành lập mà không cần đến sụ hỗ trợ hoặc can thiệp trực tiếp của vị giáo sĩ không. Ra đi là một bước trọng yếu cuối cùng để đảm bảo rằng phong trào thực sự là mang tính bản địa và tự truyền giáo.
Trong một thời gian rất ngắn, những tân tín hữu tại Yanyin đã khởi lập nhiều hội thánh POUCH trong khắp vùng, mỗi một trong số các hội thánh này đã mô phỏng, hỗ trợ các nỗ lực khởi lập hội thánh thánh mới, quan sát xem sự phát triển của chúng có liên tục hay không và sau đó rời nó để thành lập một hội thánh mới ở nơi khác. Điều chắc chắn là thỉnh thoảng dây chuyền phát triển này đôi khi cũng bị phá đứt vì nhiều, nhiều hội thánh được khởi lập, tuy nhiên những lần đứt vỡ này không làm sự phát triển của phong trào chậm lại đáng kể.
Vùng xa xôi hẻo lánh Yanyin này khá xa các chủng viện Kinh Thánh hay các trường Kinh Thánh. Những cấm đoán của chính phủ ngăn cấm việc xây dựng bất kỳ một chủng viện địa phương nào. Thay vì đó các nhà chiến lược truyền giáo mô phỏng theo các khuôn mẫu huấn luyện trong Tân Ước. Khi một giáo sĩ huấn luyện thế hệ các giáo sĩ thứ nhất, vì giáo sĩ chắc chắn rằng họ huấn luyện một người khác. Vì thế, sự huấn luyện được thực hiện qua các mối quan hệ huấn luyện một-một. Mỗi một nhà lãnh đạo có hoài bão của hội thánh được yêu cầu phải vừa là một môn đồ vừa là một nhà môn đồ hóa theo một hệ thống dạy dỗ và được dạy dỗ về “những điều mà ta đã truyền dạy cho các ngươi” (Mat Mt 28:20). Bất cứ điều gì mà một mục sư bán chuyên học được ngày hôm nay, ông có có dạy dỗ nó cho một nhà lãnh đạo bán chuyên khác vào ngày kế tiếp. Điều này chính là một điển hình tối hậu về việc huấn luyện tại công trường mang tính chất quan trọng, tươi mới và “đúng thời điểm” cần phải được sử dụng.
Các yếu tố duy nhất
Mặc dù sự bắt bớ và cái chết có thể kèm theo sau việc ra giảng phúc âm trên khắp vùng Yanyin, không có những nỗ lực mang tính hệ thống nào từ phía chính quyền nhằm chặn đứng phong trào này . Điều này một phần có thể là do tính kín đáo của các hội thánh tế bào và sự vắng mặt của các hội thánh có ngôi nhà thờ mới.
Các tân tín hữu ngay lập tức được làm báp-tem và được dạy dỗ rằng việc đem những người khác đến với Đấng Christ và hướng dẫn họ trong việc thành lập các hội thánh mới là chuyện bình thường. Niềm tin “nhu cầu cao/hiểm họa cao” rằng những người mới tin sẽ là những người truyền giảng phúc âm và những người gây dựng hội thánh đóng góp một phần lớn vào sự phát triển nhanh chóng của phong trào.
Hoàn cảnh phi giáo phái của các hội thánh ở Trung Hoa có nghĩa là hội thánh không sử dụng một truyền thống mang tính giáo phái nào. Cần phải xác định xem có những biểu hiện nào của tà giáo len lỏi vào phong trào hay không. Tuy nhiên, tính tập trung hóa cao của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở Yanyin không cho phép một cá nhân đơn lẻ nào kiểm soát được cả tập thể. Trung tâm của giáo lý trong mỗi một hội thánh tế bào là lòng vâng phục đối với Kinh Thánh. Khi sự thờ phượng của hội thánh của hội thánh bao gồm việc học Kinh Thánh theo phương thức cùng tham gia với nhiều lãnh đạo, có một bằng chứng hiển nhiên trong nhóm cho thấy rằng có thể tồn tại sự giải thích sai lạc hoặc các thái cực của sự giải thích sai lạc.
Khi được hỏi về sự thiếu vắng dấu hiệu của giáo phái của phong trào, nhà điều phối chiến lược đã bình luận rằng, dù rằng chính phủ ngăn cấm những biểu hiện của giáo phái ở Trung Quốc, các hội thánh Yanyin mang tính chất Báp-tít nhiều hơn so với các hội thánh Báp-tít khác mà ông được biết đến. Ông tiên đoán trước rằng khuôn mẫu vâng phục đối với Kinh Thánh và sự thuận phục đối với chức thầy tế lễ của những nhà lãnh đạo bán chuyên sẽ duy trì được phong trào.
Các điểm học tập
1. Ngay từ đầu, việc truyền giảng được chỉ đạo bởi giới lãnh đạo bán chuyên và tập trung giữa vòng những người hư mất thay vì bên trong các ngôi đến thờ.
2. Nhiều người lãnh đạo không huởng lương đã đảm bảo cung cấp một số lượng các lãnh đạo không ngừng tăng cần để khởi sự các các công việc mới.
3. Khuôn mẫu hội thánh tư gia của phong trào Yanyin khá thích hợp với sự phát triển trong hoàn cảnh bắt bớ.
4. Bằng cách rút lui khỏi chức vụ trước khi nó trở nên đủ lớn để thu hút sự khảo sát cẩn thận của chính phủ, vị giáo sĩ đã giúp cho phong trào Yanyin tránh được sự hiện diện của sắc thái ngoại quốc trong một quốc gia được biết đến với tính dân tộc và tính bài ngoại của nó.
Bholdari của Ấn Độ
Hoàn cảnh
Bên trong đất nước Ấn Độ đông đúc, có một nhóm người mà chúng tôi gọi là Bholdari. Cái tên này có liên quan đến ngôn ngữ của họ, là ngôn ngữ được sử dụng bởi 90 triệu người sống ở 170.000 ngôi làng chạy ngang qua các tiểu bang của Ấn Độ. Số dân này bao gồm bốn đẳng cấp và các tiện dân không đẳng cấp. Đa số người thuộc nhóm người này cực kỳ nghèo đói, thất học và tồn tại dựa trên nền nông nghiệp tự túc và nền kinh tế trao đổi.
Khu vực này cũng là mái nhà nơi thánh của Ấn Độ và Brahmin, hay thầy tu, đẳng cấp được coi trọng giữa vòng tộc người Bholdari. Hơn 85 phần trăm dân số Bholdari là Ấn Độ Giáo, phần còn lại là Hồi Giáo hoặc vô thần. Trong khu vực này, còn có bốn thành phố lớn với hơn một triệu dân ở mỗi thành phố.
Sự tiếp xúc của các Cơ-đốc-nhân với những người này bắt đầu với chức vụ của William Carey và những người Báp-tít kế tục ông vào đầu thế kỷ XIX. Các giáo sĩ Dòng Tên của Công Giáo La Mã cũng bắt đầu làm việc cùng một thời điểm này. Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hàng ngàn người thuộc tầng lớp tiện dân đổ xô vào các Hội Thánh Công Giáo La Mã. Tuy nhiên, kể từ khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, sự phát triển của Công Giáo đã bình ổn ở mức một phần mười của một phần trăm số người cho là mình thuộc Công Giáo.
Công việc của Báp-tít đã nhận được tia sáng của sự sống từ các giáo sĩ Báp-tít người Thụy Điển vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Những giáo sĩ này đã thành công trong việc thành lập và nuôi dưỡng 28 hội thánh trong khu vực trước khi rời khỏi công trường này vào giữa thế kỷ XX. Công việc của Hội Thánh Báp-tít gặp phải một sự thất bại khá nặng nề các đội quân của Anh Quốc, lúc này đang tìm cách dập tắt phong trào độc lập dân tộc, đã đóng trại quân chiếm đóng của mình trong nhà của các tín hữu Báp-tít địa phương. Trong suốt nửa sau của thế kỷ XX, Cơ-đốc-giáo đã đạt đến đỉnh cao của nó và sau đó bắt đầu đi xuống. Cuối thập kỳ 1980, đã hơn 25 năm nhưng không hề có một hội thánh nào từ mở mang chính mình.
Điều đã xảy ra
Vào năm 1989, những tín hữu Báp-tít Nam phương đã sai phái một nhà điều phối chiến lược đến với tộc người Bholdari. Sau một năm học ngôn ngữ và tìm hiểu về nền văn hóa, vì giáo sĩ này đã phát động một chiến lược hành động thông qua một số hội thánh địa phương là những hội thánh đã nắm bắt được khải tượng của ông về các hội thánh mới. Ông thật kinh hoàng khi sáu nguời mở mang hội thánh mới người Ấn Độ đầu tiên, sử dụng các phương pháp thông thường đối với việc mở mang hội thánh trong một môi trường dễ dãi hơn ở miền Nam Ấn Độ, đã bị giết hại một cách dã man trong những lần khác nhau khi họ bắt đầu công tác truyền giáo của mình.
Tuy nhiên, năm 1992 phong trào đã đổi hướng khi nhà chiến lược truyền giáo đã áp dụng một phương pháp mới cho phong trào mở mang hội thánh. Dựa trên những dạy dỗ của Đức Chúa Giê-xu Christ trong Lu-ca đoạn 10, trong đó Đức Chúa Giê-xu Christ đã sai phái các môn đồ của mình ra đi theo từng cặp đến các làng thuộc miền Ga-li-lê và dạy bảo họ phải tìm gặp “người đáng tiếp rước mình”, những người mở mang hội thánh và truyền giáo Bholdari cũng bắt đầu làm như vậy. Trước khi mở miệng công bố phúc âm, mỗi giáo sĩ Bholdari đã chung sống với “người đáng tiếp rước mình” tại địa phương và bắt đầu môn đồ hóa gia đình này (thậm chí trước khi họ trở thành các tín hữu) để đưa họ vào trong đức tin Cơ-đốc bằng cách kể lại câu chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian. Khi những tân tín hữu đầu tiên này có đức tin, họ đã dẫn dắt gia đình mình đến với Đức Chúa Trời, làm phép báp-tem cho họ và đặt họ vào trong các trung tâm của các hội thánh mới ở mỗi làng.
Năm 1993, số lượng hội thánh đã phát triển từ 28 đến 36. Năm kế sau đó đã chứng kiến được 42 hội thánh nữa được thành lập. Một trung tâm huấn luyện đã đảm bảo nguồn cung cấp liên tục những nhà truyền giáo / những người mở mang hội thánh. Với cách này, các hội thánh đã bắt đầu tự mở mang. Năm 1996, số lượng hội thánh lên đến con số 547, và sau đó là 1.200 vào năm 1997. Năm 1998, có 200 hội thánh giữa vòng tộc người Bholdari. Trong vòng bảy năm, có hơn 55.000 người Bholdari đã đặt đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ.
Các yếu tố then chốt
Một số điểm quan trọng đã đánh dấu sự phát triển của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh này. Điểm đầu tiên là quyết định của nhà chiến lược truyền giáo nhằm thực nghiệm nhiều khuôn mẫu để xác định được hiệu quả tối ưu. Những sáng kiến đồng thời trong việc mở mang hội thánh đã được phát động thông qua các hội thánh Báp-tít hiện có tại địa phương, thông qua dự án hỗ trợ nhân đạo và thông qua mạng lưới của những người mở mang hội thánh truyền giáo tại địa phương.
Sau sáu tháng, nhà chiến lược đã cẩn thận đánh giá mỗi công việc. Một khi ông xác định được rằng những người mở mang hội thánh địa phương đã là những tác nhân có khả năng thành lập hội thánh tốt nhất, ông bắt đầu đầu tư nhiều thời gian và công tác huấn luyện đối với những người này.
Một bước then chốt thứ hai cần làm khi nhà chiến lược xác định và huấn luyện một giáo sĩ Ấn Độ nào đó để cùng làm việc với ông như là một nhà đồng điều phối chiến lược với mình trong phong trào này. Nhà điều phối chiến lược tóc vàng với khả năng ngôn ngữ hạn chế có thể sẽ kém thích hợp hơn cho việc đi lại khắp các tỉnh Bholdari so với một người Ấn Độ. Cả hai cùng nhau tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng năng động. Nhà chiến lược sống bên ngoài Ấn Độ và đi lại khá nhiều và phát triển một liên minh quốc tế rộng khắp để hỗ trợ cho chức vụ của mình. Nhà chiến lược Ấn Độ sống trong vòng khu vực này, thực hiện và điều phối mạng lưới liên tục phát triển về huấn luyện, chứng đạo và mở mang hội thánh.
Cũng giống như khi nhà chiến lược Ấn Độ đã có thể làm những việc và đi những nơi mà vị giáo sĩ không thể nào làm và đi đến được, thì nhà điều phối chiến lược cùng đã có thể thực hiện những chức vụ quan trọng là người cộng sự của ông sống trong phạm vi đất nước này không thể làm được. Những vai trò này bao gồm: phát triển chức vụ cầu nguyện rộng khắp trên toàn cầu; soạn thảo những tài liệu truyền giảng và khích lệ; tổ chức việc dịch thuật Kinh Thánh và các cuốn băng cassette; phát triển tài liệu huấn luyện và lãnh đạo; và thành lập các liên minh chiến lược với các nhà truyền giáo từ nhữhg vùng khác của Á Châu là những người đóng góp cho các chi phí của những người mở mang hội thánh Bholdari.
Trong nỗ lực hầu giảm thiểu hóa tình thể chế và sự phụ thuộc vào ngoại quốc, nhà điều phối chiến lược đã được toàn bộ các chương trình trong chức vụ tại Bholdari vào trong một thời khóa biểu với thời hạn hai năm. Sau hai năm, các nguồn ngân quĩ được thu hồi và toàn bộ công việc được tái đánh giá. Ngay cả các chương trình huấn luyện dành cho những người mở mang hội thánh cũng được tổ chức trong các cơ sớ vật chất được thuê và được tái bố trí lại sau mỗi hai năm một lần.
Các yếu tố duy nhất
Những gì đã khởi đầu như một phong trào Báp-tít thịnh hành đã phân rã thành nhiều liên minh trong những năm đầu tồn tại. Điều này một phần là do những hội thánh Báp-tít địa phương không có khả năng bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của phong trào.
Thay vì đổi huớng tập trung của mình từ việc mở mang hội thánh sang việc gây dựng giáo phái của mình, nhà điều phối chiến lược đã chọn các phương tiện khác nhằm hiệp nhất phong trào đang ù lì. Mối liên kết thông dụng giữa vòng tất cả các hội thánh là: niềm tin vào Kinh Thánh như là một thẩm quyền không thể chối cãi.
Một đặc tính khác trong Phong Trào Mở Mang Hội Thánh Bholdari là niềm tin của nhà điều phối chiến lược vào nguồn ngân quĩ từ bên ngoài hỗ trợ cho công việc của mình. Tuy nhiên, tiền bạc cũng có hạn chế của nó về mặt sử dụng. Nguồn ngân quĩ này được dùng để thành lập các trung tâm huấn luyện cho những người mở mang hội thánh và những mục sư bán chuyên, để hỗ trợ cho những người mở mang hội thánh trong công tác huấn luyện và để hỗ trợ cho các khoản chi phí của những nhà truyền giáo và những người mở mang hội thánh lưu động. Nó hỗ trợ khoản trợ cấp căn bản cho những người mở mang hội thánh khi họ thực hiện công việc của mình trong một vùng lành thổ thù nghịch nào đó. Khi các hội thánh đã được thành lập, thì các khoản trợ cấp cũng được ngưng. Không có khoản trợ cấp nào được cấp cho các mục sư địa phương. Thay vì đó, những mục sư này được huấn luyện trở nên những người lưỡng nghiệp. Nguồn ngân quĩ cũng không được dùng vào việc xây cất những ngôi đền thờ.
Sự phụ thuộc vào nguồn ngân quĩ từ bên ngoài để hỗ trợ cho nhà truyền giáo / những người mở mang hội thánh đã phát sinh ra nhiều thắc mắc về khả năng phát triển của phong trào theo sắc thái bản địa. Việc tránh được khoản phụ cấp cho các mục sư và khoảng trợ cấp cho việc xây cất các ngôi đền thờ đã và đang khích lệ cho tiến trình bản địa hóa, nhưng việc hỗ trợ tài chánh cho các giáo sĩ tại địa phương đã đem lại một mối quan tâm về một số lĩnh vực. Câu trả lời của nhà điều phối chiến lược là “toàn bộ các giáo sĩ, với đúng đặc tính của mình, phải nhận các khoản ngân quĩ từ bên ngoài. Những gì đúng với các giáo sĩ Phương Tây cũng đúng với các giáo sĩ Ấn Độ”. Có thể tìm thấy một dấu hiệu khá lạc quan trong cách mà các hội thánh địa phương nắm bắt được khải tượng về việc gây dựng các hội chúng mới. Tại một cuộc hội nghị hàng năm của các mục sư, cứ mỗi một trong 1.000 mục sư tham dự đã thuật rằng chính các hội thánh của họ đã đang khởi lập khoảng hai đến năm hội thánh mới.
Khởi đầu với gia đình của người đáng tiếp rước mình, tiếp sau đó là những người bà con dòng họ của gia đình và lan rộng ra khắp làng. Những những này được làm phép báp-tem chung với hộ gia đình của mình. Những thành viên nam của gia đình làm phép báp-tem cho gia đình hội thánh của họ và hướng dẫn hội chúng của hội thánh được thành lập.
Các điểm để học tập
1. Thất bại có thể là khởi đầu cho thành công, nếu chúng ta sẵn sàng rút tỉa bài học từ nó và không thối lui. Những nỗ lực đầu tiên trong phong trào mở mang hội thánh giữa vòng những người Bholdari đã dẫn đến hậu quả là sáu người đã tử đạo.
2. Kiểm nghiệm và đánh giá cẩn trọng có thể định hướng và duy trì sự tồn tại của phong trào.
3. Ở tầm mức đồ hóa giáo lý, hai vấn đề đã tạo nên thực tiễn của các tín hữu Bholdari. Mỗi vấn đề đức tin và thực tiễn được thỏa ứng bởi:
a. những gì đem vinh hiển cho Đấng Christ trong hoàn cảnh này và
b. những gì Lời Chúa tỏ bày
4. Sự kể chuyện Kinh Thánh theo thứ tự thời gian và các cuốn băng cassettee Kinh Thánh đã giúp cho Lời Chúa trở nên sức mạnh trung tâm ngay cả giữa vòng một nhóm người chủ yếu là thất học nào đó.
Khme của Campuchia
Hoàn cảnh
Thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều hơn phần của nó về các cuộc chiến tranh, các nhà độc tài và sự diệt chủng, nhưng ít có những sư kiện nào bi ai hơn lịch sữ hiện đại đầy bi kịch của Campuchia. Bị vùi dập bởi cuộc chiến tranh Việt Nam trong hơn hai thập kỷ, Campuchia đã thoát khỏi cuộc chiến tranh này và rơi vào tay của nhà độc tài Mao Pôn Pốt là kẻ đã đưa đất nước vào chỗ diệt vong. Trong năm năm cầm quyền của mình từ 1975 đến 1979, Khme đỏ của Pôn Pốt đã mang lại sự chết chóc, hủy diệt và đói nghèo cho 3,3 triệu dân của đất nước có 8 triệu dân này.
Sự cai trị của kẻ khủng bố này đã để lại cho Campuchia một cơ sở hạ tầng trong đổ nát, số dân nam trưởng thành tiêu hao và số thanh niên thất học. Sự cai trị sau đó của một chính phủ được xắp xếp bởi Việt nam đã ngừng được nạn diệt chủng nhưng không thể nào phục hồi lại những thiệt hại đã gây nên cho xã hội Campuchia.
Cuộc biến động xã hội đã mở màn cho những thay đổi sắp xảy ra. Sự ảnh hưởng hàng mấy thế kỷ của Phật giáo đã bị ngấm ngầm phá hoại bởi lý tưởng cộng sản. Công giáo La Mã, sau khi đã ổn định được chỗ đứng của mình trong quốc gia này, đã là mục tiêu của Khme Đỏ vì các mối quan hệ của nó với Vatican và Pháp. Vào đầu thế kỷ này, các giáo sĩ từ Hiệp Hội Giáo Sĩ và Cơ-đốc-nhân và Hiệp Hội Giáo Sĩ Hải Ngoại đã giới thiệu Tin Lành vào đất nước này, nhưng số tín hữu của họ chưa bao giờ vượt quá 5.000. Trong suốt thời gian cai trị của Pôn Pốt, Khme Đỏ đã gây cho họ cực kỳ khó khăn, trục xuất các giáo sĩ và giết rất nhiều chiên trong đàn vốn đã bị tản lạc. Năm 1990, số tín hữu tin lành của Campuchia đã hao mòn và chỉ còn lại khoảng 600 tín hữu.
Điều đã xảy ra
Theo một giáo sĩ lâu năm phục vụ Chúa tại Campuchia hàng nhiều thập kỷ trong Hiệp Hội Giáo Sĩ Hải Ngoại, bước ngoặc cho Cơ-đốc-giáo ở quốc gia này bắt đầu vào năm 1990. Trước năm 1999, số tín hữu Tin Lành đã tăng từ 600 đến hơn 60.000. Số lượng tín hũu đông đảo nhất của Báp-tít với 10.000 thành viên, kế sau là một giáo phái Campus Crusade của bản địa, tiếp đó là Hiệp Hội Các Giáo Sĩ và Các Cơ-đốc-nhân và một số các nhóm khác.
Tác nhân đầu tiên gây ra sự thay đổi đã xảy ra vào tháng Mười Hai năm 1989, khi các tín hữu Báp-tít Nam Phương đã sai phái một nhà điều phối chiến lược đến với dân tộc Khme. Năm 1991, ông đã hoàn thành việc học ngôn ngữ và đã bắt đầu thực hiện chiến lược để cứu dân tộc Khme.
Thay vì tự mình thành lập một hội thánh, như thường lệ của mình trước đây, vị giáo sĩ này đã bắt đầu thiết lập mối quan hệ huấn luyện của mình với những người bán chuyên Campuchia. Trong vòng một năm, ông đã mời gọi được 6 người mở mang hội thánh người Campuchia vào trong chu kỳ huấn luyện của mình. Mấy tháng sau, ông đã viết một cẩm nang mở mang hội thánh mới bằng ngôn ngữ Khme và dạy dỗ những người mở mang hội thánh người Khme về giáo lý, sự chứng đạo và kỹ năng mở mang hội thánh với các nguồn tài liệu như phim Giê-xu, việc kể chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian và việc phát triển hội thánh tư gia đơn giản. Ông cũng làm họ thấm nhuần với khải tượng và lòng nóng cháy mong ước cứu toàn bộ quốc gia của họ bằng Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Năm 1993, số lượng hội thánh Báp-tít đã tăng từ sáu đến mười. Năm sau đó, con số này đã tăng lên gấp đôi đến 20. Năm 1995, khi số lượng hội thánh đạt được 43, các nhà lãnh đạo hội thánh của Campuchia đã thành lập một hiệp hội của những hội thánh có cùng tâm tình, và họ gọi tên là Hiệp Hội Báp-Tít Khme (và sau đó được đổi tên là Hiệp Hội Báp-Tít Campuchia). Năm sau, số lượng hội thánh đã lên đến 78. Năm 1997, đã có 124 hội thánh Báp-tít rải rác khắp 53 trong số 117 huyện của quốc gia này. Vào mùa xuân năm 1999, các tín hữu Báp-tít đã thống kê được hơn 200 hội thánh và 10.000 thành viên. Một ít trong số các hội thánh này đã nhóm lại trong các tòa đền thờ được cung hiến. Đại đa số nhóm lại trong các ngôi nhà mà ở vùng nông thôn, nó có thể chứa được 50 người hoặc nhiều hơn.
Nhà điều phối chiến lược đã rời công việc của mình năm 1996, để lại một đội nhỏ các giáo sĩ và một hệ thống quan trọng có khả các hội thánh mở mang các hội thánh khác rải rác trên phần lớn của đất nước này. Công việc đã tiếp tục phát triển và cũng cố.
Các yếu tố then chốt
Trong bài tường thuật của mình về lý do vì sao Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đã xảy ra, nhà điều phối chiến lược đã nêu ra một số những yếu tố then chốt. Ông viết: “Trong vòng sáu năm, dân tộc Campuchia đã được khích lệ và đã cầu nguyện thiết tha hơn so với bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử của họ”. Vị giáo sĩ tin rằng sự cầu nguyện này sẽ bảo vệ những người mở mang hội thánh và mở lòng của những người Khme bị hư mất để họ tiếp nhận tin lành của Đức Chúa Giê-xu Christ.
Sự cầu nguyện cũng là đặc tính của đời sống của những thành viên mới của hội thánh, trang bị họ với ý thức mạnh mẽ về sự can thiệp trực tiếp của Đức Chúa Trời trong các sự kiện hàng ngày của họ. Các dấu kỳ phép lạ, chẳng hạn như những lần đuổi ma quỉ, những lần chữa lành và những công việc khác trong trận chiến thuộc linh, tiếp tục trở nên thường lệ giữa vòng những tín hữu Campuchia.
Việc huấn luyện đã và đang là một yếu tố căn bản trong phong trào ngay từ lúc mới hình thành. Nhà điều phối chiến lược đã thành lập Các Chuơng Trình Huấn Luyện Lãnh Đạo Nông Thôn (RLTPs) khi có thể được. Những trung tâm cho việc mở mang hội thánh và giáo dục thần học hàm thụ đã ngày càng trở nên thực tiễn hơn. Họ nhóm lại trong càc cơ sở vật chất ở gần khu vực mà họ hy vọng là sẽ mở mang các hội thánh và dựa vào sự hỗ trợ hậu cần từ những hội thánh lân cận. Việc huấn luyện được cung cấp dưới dạng tám đơn vị giáo trình, mỗi đơn vị trong hai tuần, giúp cho lãnh đạo hội thánh tiêp tục cả công việc chăn bầy và cả cuộc sống trần tục của mình trong khi đó vẫn được huấn luyện theo nhu cầu.
Nhà điều phối chiến lược cũng khẳng định rằng việc mô phỏng và huấn luyện là giá trị cốt lõi của phong trào. Bằng cách trích dẫn từ nhữhg sự dạy dỗ của Phao-lô trong IITi 2Tm 2:2, nhà điều phối chiến lược đã triển khai cái mà ông gọi là “Nguyên tắc 222”: Đừng một mình làm bất cứ điều gì . Theo cách này, khải tượng, các tài năng, các giá trị và các nguyên tắc được truyền từ tín hữu này sang tín hữu khác.
Khi phong trào nổ ra, đà phát triển của phong trào được hun đúc từ chính bên trong. Các nhà lãnh đạo địa phương bày tỏ khải tượng của chính mình đối với việc mở mang các hội thánh ở tại mọi huyện và trong vòng mỗi cộng đồng sắc tộc. Khi nhận được sự huấn luyện và khích lệ, những người đầu tiên mở mang hội thánh chính là thành viên của hội thánh, thay vì là những giáo sĩ hoặc những người mở mang hội thánh chuyên nghiệp. Sau đó, nhà điều phối đã nhận thấy rằng “các hội thánh được thành lập bởi những hội thánh khác có khả năng phát triển, nhưng những hội thánh nào được thành lập bởi những người mở mang hội thánh được trả lương thì không (với một ít ngoại lệ).”
Để đảm bảo tính bản địa hóa và giới hạn sự phụ thuộc vào những người bên ngoài, vì giáo sĩ đã áp dụng những giới hạn về thời gian cho việc thành lập một hội thánh mới. Điều này cũng đã làm cho phong trào thấm nhuần đặc tính của sự phát triển nhanh chóng.
Với sự ra đi của nhà điều phối chiến lược vào năm 1996, phong trào trào đã bước vào một giai đoạn mới. Đội giáo sĩ IMB còn lại ở quốc gia nàydã hỗ trợ phong trào bằng cách đóng vai trò xúc tác thay vì vai trò quyết đoán nổi bật. Một thành viên của đội đã thổ lộ điều này ??

Các yếu tố duy nhất
Dù không phải hoàn toàn là duy nhất, vẫn bổ ích khi Hiệp Hội Báp-Tít Campuchia đã nhanh chóng áp dụng những mục tiêu đầy hoài bão của họ để thành lập hiệp hội các hội thánh. Họ cùng khích lệ nhau truyền bá phúc âm trên khắp đất nước và mở mang hội thánh ở mọi quận huyện. Lòng nóng cháy truyền giảng và mở mang hội thánh đã ảnh hưởng đến việc chọn lựa hàng ngũ lãnh đạo của hiệp hội. Người ta tìm kiếm những người nào đã tự chính mình mở mang hội thánh và đã phục vụ như là những người hướng dẫn những người mở mang hội thánh khác trong Các Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn. Trong vòng các hội thánh Báp-tít một mô hình độc nhất đã xuất hiện, là mô hình pha trộn đặc tính của Tân Ước với những hình thức của các truyền thống cộng sản. Mỗi một hội thánh mới được tổ chức xung quanh một thành phần cốt lõi bao gồm bảy nhà lãnh đạo bán chuyên (xem Cong Cv 6:3, là đoạn mô tả về việc chọn lựa bảy chấp sự). Tuy nhiên, thuật ngữ mà họ dùng để gọi thành phần cốt lõi gồm bảy thành viên này không phải là các chấp sự, mà là “Ủy Ban Trung Ương”. Ủy Ban Trung Ương này chỉ đạo các cuộc truyền giảng đến với cộng đồng, bao gồm việc chứng đạo, ấn phẩm, sự thờ phượng, dạy dỗ các mục sư và những chăm sóc đối với phụ nữ, thanh niên và nam giới.
Khi Phong Trào Mở Mang Hội Thánh tiến bộ, nó trở nên rõ ràng rằng Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của nó. Sau này, một giáo sĩ đã thấy rằng “Nơi nào có các Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn, thì nơi đó hội thánh được mở mang”. Với tư tưởng này, vị giáo sĩ đã đầu tư khá nhiều và việc tổ chức và phát triển các tài liệu huấn luyện cũng như tăng sự trợ cấp cho các Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn từ các hội thánh ở Châu Á.
Các điểm để học tập
1. Trong một thời gian ngắn sau khi nhà điều phối chiến lược được sai phái đến Campuchia, hơn 30 tổ chức truyền giáo đã vào trong quốc gia này. Không một tổ chức nào trong các tổ chức này thấy được sự thành công của việc mở mang hội thánh với nỗ lực của IMB, chủ yếu là không ý định chiến lược trong việc mở mang hội thánh.
2. Vị giáo sĩ đã tránh được bước “chuyền bó đuốc” tới các tín hữu Campuchia bằng các khởi xướng phong trào với bó đuốc cầm chặt trong tay của họ. Ông đã đảm bảo rằng mọi hội thánh phải được thành lập bởi nhũng người Campuchia.
3. “Nguyên Tắc 222” (IITi 2Tm 2:2) về việc mô phỏng và huấn luyện đã chứng mình là một phương tiện vô giá cho việc huấn luyện các lãnh cho Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
4. Hiệp Hội Báp-tít Campuchia đã và đang sử dụng các đặc tính và khải tượng của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các nhà lãnh đạo được chọn lựa theo khả năng đóng góp của họ vào khải tượng này.
Các Phong Trào Nổi Bật Khác
Khi chúng ta nhìn vòng quan thế giới, chúng ta thấy các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khác đang nổi lên. Các dấu hiệu khích lệ đang xuất hiện giữa vòng nhừng người Maasai của Tanzania và Kenya. Chính khả năng bất tiếp cận các miền đất hoang mạc lởm chởm của miền Bình Nguyên Maasai đã hạn chế các giáo sĩ tiếp cận các miền đất này. Việc hỗ trợ sự xây cất các ngôi đền thờ và việc trợ cấp cho các mục sư chẳng có ý nghĩa lớn lao gì cho những người bán du mục với nền kinh tế hoán vật này. Khi xâm nhập vào vùng đất cấm này, các giáo sĩ IMB đã đem phúc âm đến với Maasai, nhấn mạnh chủ yếu vào việc huấn luyện những người mở mang hội thánh và các lãnh đạo hội thánh tại Maasai.
Kết quả đạt được là sự phát triển nhanh chóng của hội thánh giữa vòng những người Maasai. Sự thờ phượng đầy dẫy những biểu hiện của sự kính sợ vào quyền năng khi những người Maasai đã trông nhìn nơi Đức Chúa Trời với lòng mong mỏi nhận được sự chữa lành và những hướng dẫn về mặt cá nhân. Sự kể chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian đã phát triển một cách tự nhiên thành những bài hát của những người Maasai về những câu chuyện Kinh Thánh. Những nhóm tự phát bao gồm những người nam và người nữ Maasai hình thành nên những ca đoàn để hát xướng về những câu chuyện tuyệt vời trong Cựu và Tân Ước. Vì những người Maasai kèm theo lời hát của mình với với những biến đổi theo phương thẳng đứng vào không trung, thì có ít nghi ngờ rằng Phong Trào Mở Mang Hội Thánh Maasai đã bén rễ sâu và thực sự mang tính bản địa.
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khác cũng đang nổi lên vài tháng một lần: 30.000 tín hữu ở một quốc gia vùng Đông Nam Á, 100.000 tín hữu đã mở mang 800 hội thánh mới ở miền đông Ấn Độ; 20.000 người đã đến với Đấng Christ trong giai đoạn bốn năm ở một tỉnh ở Trung Quốc; số lượng hội thánh được thành lập tăng lên gấp đôi trong vòng sáu tháng ở quốc gia Tây Âu; 383 hội thánh được thành lập chỉ trong vòng một tiểu bang của Brazil.
Các giáo sĩ đang chia sẻ những báo cáo này với nhau - và cho nhau biết phương tiện mà Đức Chúa Trời dùng để làm nên những công việc diệu kỳ này. Đức Chúa Trời đang làm một điều rất kỳ diệu. Chúng hãy quan sát xem những gì mà chúng ta đã và đang học được từ những công việc lạ lùng của Đức Chúa Trời trên khắp thế giới.

Chương 3:
MƯỜI YẾU TỐ PHỔ BIẾN
Sau khi khảo sát các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trên thế giới, chúng tôi khám phá ít nhất 10 yếu tố hiện diện trong mỗi một phong trào này. Đang khi có thể có một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh nào đó không có các yếu tố này, nhưng chúng ta cần phải thấy chúng xảy ra. Bất kỳ một lãnh đạo nào có mong muốn nhìn thấy một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, phải xét đến mười yếu tố.
1. Cầu nguyện
Cầu nguyện đã và đang là một yếu tố căn bản trong mỗi một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh mà chúng tôi khảo sát. Cầu nguyện về tiêu biểu đã dựng nên một trụ cột đầu tiên trong kế hoạch đem về cho Đức Chúa Trời một một nhóm người nào. Tuy nhiên, chính sức sống của sự cầu nguyện trong đời sống cá nhân của người lãnh đạo đã làm cho người khác mô phỏng khuôn mẫu sống của hội thánh mới và những lãnh đạo của hội thánh mới này. Bằng cách bày tỏ nguồn năng lực cầu nguyện ngay từ đầu, người lãnh đạo đã có thể mang lại một cách hữu hiệu nguồn động viên lớn nhất mà người ấy mang vào trong công việc. Việc chia sẻ nguồn năng lực này là yếu tố trọng yếu trong việc chia sẻ khải tượng và tinh thần từ hàng ngũ lãnh đạo Cơ đốc tại địa phương mới.
2. Tăng cường truyền giảng phúc âm
Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy rằng Phong Trào Mở Mang Hội Thánh xuất hiện ở nơi hiếm khi hoặc hầu như không có sự truyền giảng. Mỗi một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh phải được đi kèm với việc tăng cường truyền giảng phúc âm. Qui luật mùa gặt được áp dụng khá hiệu quả: "gieo nhiều thì gặt nhiều". Trong các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, hàng trăm và thậm chí hàng ngàn người nghe đến những lời kêu gọi của Đức Chúa Giê-xu Christ đối với đời sống mình. Việc truyền giảng này phụ thuộc khá nhiều và vào việc truyền giảng bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng nó cũng bao gồm cá việc chứng đạo cá nhân với những lời chứng sống động về quyền năng thay đổi đời sống của phúc âm.
3. Chủ ý mở mang hội thánh
Trong tất cả Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, người ta sẽ thực hiện chiến lược mở mang hội thánh một cách có chủ ý trước khi phong trào bắt đầu xảy ra. Có một số trường hợp, trong đó các yếu tố này xảy ra, nhưng các nhà lãnh đạo thiếu khả năng và khải tượng để hướng dẫn được một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Tuy nhiên khi thành phần này được cho vào trong hỗn hợp, kết quả thật khả quan.
Hội thánh không phải hình thành một cách ngẫu nhiên. Bằng chứng đã cho thấy rằng, trên khắp thế giới, hàng ngàn người đã đến với Đấng Chirst thông qua một số những phương tiện mà không phải là kết quả của sự mở mang nhiều hội thánh. Trong những trường hợp này, một chiến lược mở mang hội thánh một cách có chủ ý có thể biến đổi cơn thức tỉnh về vấn đề truyền giảng để trở nên các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trọn vẹn.
4. Quyền năng của Thánh Kinh
Ngay cả giữa các nhóm người thất học, Kinh Thánh cũng đã và đang là một nguồn hướng dẫn về giáo lý, về thể chế của hội thánh, và về chính sự sống nữa. Đang khi các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đã và đang xảy ra giữa vòng các dân tộc mà Kinh Thánh vẫn chưa được dịch ra ngôn ngữ của riêng họ, thì đại đại đa số họ đã có được Kinh Thánh thông qua lời truyền khẩu hoặc được ghi bằng ngôn ngữ của tấm lòng họ. Trong mọi trường hợp, Kinh Thánh đã là phương chỉ nam của đời sống trong hội thánh, và không còn nghi ngờ gì về quyền năng của Thánh Kinh.
5. Thẩm quyền lãnh đạo tại địa phương
Các giáo sĩ cần phải cố vấn cho những người mở mang hội thánh thay vì chính họ làm công việc mở mang hội thánh. Điều này không ngụ ý rằng các giáo sĩ không có vai trò gì trong việc mở mang hội thánh. Ngược lại, những người mở mang hội thánh tại địa phương sẽ nhận được sự huấn luyện tuyệt vời nhất bằng cách quan sát cách các giáo sĩ hướng dẫn các buổi học Kinh Thánh dưới hình thức đồng học với những thân hữu. Cùng cộng tác với những người mở mang hội thánh tại địa phương là bước đầu tiên để có thể thiết lập và củng cố hàng ngũ lãnh đạo tại địa phương.
6. Sự lãnh đạo không chuyên
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh được thúc đẩy bởi những nhà lãnh đạo không chuyên. Những nhà lãnh đạo không chuyên này điển hình là những người lưỡng nghiệp mang đặc trưng chung của nhóm người đang được cứu. Nói một cách khác, nếu một nhóm người nào đó chủ yếu là thất học, người lãnh đạo cũng phải mang đặc tính này. Nếu nhóm người này chủ yếu là các ngư dân, thì các nhà lãnh đạo không chuyên của họ cũng phải như vậy. Khi phong trào bùng lên, cũng thường sẽ kéo theo tầng lớp tăng lữ hưởng lương. Tuy nhiên, đại đa số - và tiền tuyến của phong trào - vẫn tiếp tục được hướng dẫn bởi các nhà lãnh đạo không chuyên hay lưỡng nghiệp.
Sự tin cậy đối với hàng ngũ lãnh đạo không chuyên sẽ đảm bảo cho số lượng tiềm tàng những người mở mang hội thánh và các lãnh đạo hội thánh tế bào đầy tiềm năng. Sự phụ thuộc vào các cộng đồng được huấn luyện theo từng kỳ hội thảo - hoặc thất học, ngay cả những nhà lãnh đạo có học thức - những người chăn bầy, cho thấy rằng công việc đang gặp phải việc thiếu hàng ngũ lãnh đạo.
7. Các hội thánh tế bào hoặc hội thánh tư gia
Các nhà thờ bắt đầu xuất hiện trong các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Tuy nhiên, tuyệt đại đa số các hội thánh sẽ vẫn là các hội thánh tế bào nhỏ từ 10 - 30 tín hữu cùng nhóm lại trong nhà và trước cửa hiệu và có khả năng phát sinh ra các hội thánh nhỏ hơn.
Có sự khác biệt giữa các hội thánh tế bào và các hội thánh tư gia. Các hội thánh tế bào được liên kết với nhau trong một hệ thống có tổ chức. Thông thường, hệ thống này được liên kết với một hội thánh đơn nhất. Hội Thánh Phúc Âm Toàn Vẹn ở Seoul, Nam Hàn, với 50.000 các tế bào riêng lẻ, có lẽ là một điển hình nổi tiêu biểu nhất về khuôn mẫu cho một hội thánh tế bào.
Các hội thánh tư gia có thể trông giống như các hội thánh tế bào, nhưng chúng thường không được tổ chức bởi một thẩm quyền hoặc một cơ cấu gồm nhiều thẩm quyền đơn lẻ. Là các nhóm tự quản, các hội thánh tư gia có thể không có một cơ cấu thống nhất như của các hội thánh tế bào, nhưng chúng thường mang tính năng động hơn. Mỗi hình thức đều có ưu điểm riêng. Các hội thánh tế bào dễ dàng hình thành và dễ dẫn đến sự tương hợp về giáo lý, trong khi đó những hội thánh tư gia ít hơn bị tổn thương bởi chính quyền thù nghịch. Cả hai hình thức đều tồn tại trong các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh và thường xuất hiện trong cùng một phong trào.
8. Các hội thánh thành lập hội thánh mới
Trong hầu hết các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, những hội thánh đầu tiên thường được thành lập bởi các giáo sĩ hoặc bởi những người thành lập hội thánh được các giáo sĩ huấn luyện. Tuy nhiên, tại một thời điểm nào đó, khi các phong trào này tiến đến một giai đoạn bội phát theo số mũ, chính các hội thánh này bắt đầu thành lập các hội thánh mới. Để điều này có thể xảy ra, các thành viên trong hội thánh phải tin rằng sự mở mang các hội thánh mang tính tự nhiên và rằng không cần phải có những sự trợ giúp nào từ bên ngoài để bắt đầu thành lập một hội thánh mới. Trong các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, không điều gì có thể làm nhụt chí các tín hữu địa phương trong việc cứu những người bị hư mất và thành lập những hội thánh tế bào mới.
9. Mở mang nhanh chóng
Một số người đã đề cập đến tính cần thiết của việc mở mang một cách nhanh chóng vì cớ thời gian tồn tại của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, nhưng không ai thắc mắc về bằng chứng của nó trong mọi CPM (Viết tắt từ các chữ đầu của "Church Planting Movement", được tạm dịch là "Phong Trào Mở Mang Hội Thánh"). Hầu hết những người mở mang hội thánh tham gia phong trào này đều cho rằng việc mở mang một cách nhanh chóng là một yếu tố quan trọng cho chính phong trào này. Họ bảo rằng khi việc mở mang hội thánh bị chậm lại, các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh sẽ khựng bước. Việc mở mang một cách nhanh chóng có liên hệ đến tính cấp bách và tầm quan trọng để dẫn người ta đến đức tin nơi Đấng Christ. Khi tốc độ mở mang nhanh lên, bạn có thể tin chắc rằng các hội thánh này không bị vướng víu bởi những yếu tố không cần thiết và giới phi tăng lữ nhận được trọn vẹn quyền năng để tham gia vào công việc của Đức Chúa Trời.
10. Những hội thánh khỏe mạnh
Những năm gần đây, những chuyên gia nghiên cứu về sự tăng trưởng của hội thánh đã viết khá nhiều về việc cho điểm một hội thánh. Hầu hết đều đồng ý rằng một hội thánh khỏe mạnh cần phải theo đuổi năm mục đích sau đây: 1) sự thờ phượng, 2) phát triển công tác truyền giáo và sai phái giáo sĩ, 3) giáo dục và kỷ luật, 4) công việc chăn bầy và 5) sự thông công. Trong mỗi một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh mà chúng tôi nghiên cứu, năm chức năng cốt yếu này đều hiển hiện.
Một số người mở mang hội thánh bảo rằng khi năm dấu hiệu về sự khỏe mạnh này hiển hiện rõ ràng, hội thánh chỉ một khả năng duy nhất là phát triển mà thôi. Có thể nói khá nhiều điều về mỗi một dấu hiệu về sự khỏe mạnh này, nhưng dấu hiệu quan trọng nhất, ở vị thế tiện lợi của giáo sĩ, đó là công tác sai phái giáo sĩ. Sự thúc ép này trong các hội thánh có xu hướng theo CPM đang đem phúc âm đến với những dân tộc ở những vùng hẻo lánh và vượt qua những rào cản từ lâu đã cản trở những nỗ lực của các giáo sĩ phương Tây.

Chương 4:
MƯỜI YẾU TỐ TỔNG QUÁT
Bên cạnh mười yếu tố phổ biến được tìm thấy trong mọi Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, còn có ít nhất là 10 đặc tính tổng quát khác, tuy không mang tính phổ biến. Chúng không được liệt kê theo bất kỳ một thứ tự đặc biệt nào về mức độ ưu tiên hoặc về mức độ thường xuyên. Tuy nhiên, trong hầu hết các CPM, chúng ta thấy sự có mặt hầu hết nếu không nói là tất cả các yếu tố này.
1. Thờ phượng bằng ngôn ngữ của tấm lòng
Có một số trường hợp trong đó Lời Đức Chúa Trời chưa được thông dịch ra ngôn ngữ của tấm lòng con người và sự thờ phượng được hướng dẫn bởi ngôn ngữ thường nhật. Dù vậy, ngay cả trong những trường hợp hiếm hoi này, ngôn ngữ của tấm lòng con người đã hiện diện trong những lời cầu nguyện, trong các bài thánh ca, trong các ví dụ minh họa và các ứng dụng của bài giảng. Sự thờ phượng trong ngôn ngữ chung của tấm lòng giúp cho sự thờ phượng có thể dễ dàng và giữ cho sự thờ phượng ở trong tầm với của tất cả các thành viên trong hội chúng và tạo điều kiện cho mọi người có thể tham gia vào một thể thức mới hội thánh. Các giáo sĩ, những người nhận diện và kiểm soát ngôn ngữ của tấm lòng của những con người mà họ muốn đưa về cho Đức Chúa Trời, được dẫn đến một vị thế thuận lợi để có thể thúc đẩy Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các giáo sĩ nào chọn làm việc với ngôn ngữ thường nhật sẽ bắt đầu công việc chăn bầy của mình với một tấm màn ngăn giữa chính họ và tấm lòng của những con người mà họ đang tìm cách đem về cho Đức Chúa Trời.
2. Sự truyền giảng có ẩn ý chung
Không giống như khuôn mẫu đang thịnh hành ở phương Tây với sự nhấn mạnh ở chủ nghĩa cá nhân và lòng tin kính cá nhân, các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh thường dựa vào mối liên hệ mật thiết hơn nhiều trong gia đình và xã hội. Các nhà lãnh đạo trong CPM đã nhận thấy được điều này và khuyến khích các tín hữu duy trì các quan hệ gia đình để có thể lôi cuốn các tân tín hữu vào trong cộng đồng đức tin của mình (xem Cong Cv 16:31-32). Trong nhiều trường hợp, các hội thánh trở nên bao gồm các nhóm gia đình và được hướng dẫn bởi chủ gia đình.
3. Sự hòa nhập một cách nhanh chóng của những tân tín hữu vào trong đời sống và công việc chăn bầy của hội thánh .
Trong hầu hết các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, thánh lễ báp-tem không bị trì hoãn bởi các điều kiện dài dòng về tư cách môn đồ. Ngược lại, tư cách môn đồ đã có trước khi tin nhận và tiếp tục tồn tại cho đến cuối cùng. Thậm chí khi các thánh lễ báp-tem bị trì hoãn, người ta vẫn mong là các tín hữu có thể ngay lập tức trở thành các chứng nhân; các môn đồ mới này ngay lập tức trở thành những người môn đồ hóa những người khác và thậm chí còn trở nên những người mở mang hội thánh. Một cụ già đã tin nhận Đấng Christ trong một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở Ấn Độ đã thành lập 42 hội thánh trong năm đầu tiên của mình ngay sau khi trở nên tín đồ. Trong một nỗ lực hầu duy trì phong trào phát triển theo hướng ra bên ngoài, các giáo sĩ theo CPM thường khuyến khích các tân tín hữu của mình tham gia hoặc hỗ trợ việc thành lập các hội thánh mới, thay vì tăng thêm số lượng cho các hội chúng đang sẵn có.
4. Nhiệt thành và dạn dĩ
Các phong trào mở mang hội thánh thường mang lòng nhiệt thành và tính cấp bách là bằng chứng cho tầm quan trọng của sự cứu rỗi và nhu cầu tin nhận. Các tín hữu cũng can đảm khi đương diện với sự chống đối. Tinh thần yếu hèn hoặc sợ hãi thường dập tắt các CPM. Sự dạn dĩ có thể dẫn đến sự bắt bớ, nhưng nó thêm sức sống cho Phong Trào Mở Mang Hội Thánh (xem Gios Gs 1:6).
5. Giá phải trả để trở nên một Cơ-đốc-nhân
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh thường xuất hiện trong những hoàn cảnh khốn khó mà trong đó việc tin nhận phúc âm của Đức Chúa Giê-xu Christ không phải là một vấn đề phổ biến hoặc cũng không phải là một lợi điểm về mặt xã hội. Trong nhiều trường hợp, việc tin đạo dẫn đến sự bắt bớ gắt gao hoặc thậm chí đến cái chết. Khi đương diện với sự bắt bớ, những tín hữu nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn qua lời chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ và hội thánh Tân Ứớc (xem Mat Mt 10:17-25). Sự bắt bớ dường như sàng lọc ra những người không tin kính và đảm bảo duy trì lòng tin kính cao giữa vòng các tín hữu.
6. Ghi nhận về những khủng hoảng về đội ngũ lãnh đạo và sự trống rỗng về phương diện thuộc linh trong xã hội #
Một quốc gia hoặc một nhóm người đã từng đối diện với sự mất mát đội ngũ lãnh đạo hoặc sự trống rỗng về phương diện thuộc linh gây ra bởi hậu quả của chiến tranh, tai họa thiên nhiên hoặc những thay đổi, có thể tạo nên môi trường chín muồi cho một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Sự phân rã về mặt xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến trong thế giới luôn thay đổi nhanh chóng này là dấu hiệu khá rõ về các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Sự biến mất của các dấu hiệu về sự bình ổn và an ninh nhắc nhở con người phải xem xét những vấn đề có tầm quan trọng đời đời .
7. Sự huấn luyện tại chỗ cho hàng ngũ lãnh đạo hội thánh
Với sự tăng trưởng nhanh chóng về mặt số lượng, việc huấn luyện đội ngũ lãnh đạo một cách có hiệu quả là vấn đề thiết yếu đối với sự thành công của phong trào. Nếu các nhà lãnh đạo mới của các hội thánh phải rời hội thánh để được huấn luyện thần học bằng những khóa học dài hạn, thì đà phát triển của phong trào này sẽ bị giảm xuống. Cùng thời điểm này, không được bỏ sót yếu tố quan trọng mang tính sống còn này đối với sự phát triển của hội thánh. Sự huấn luyện hiệu quả nhất sẽ cố xắp xếp sao cho việc học tập càng gần với việc thực hành càng tốt. Giáo Dục Thần Học Mở Rộng, với sự nhấn mạnh vào sự học tập mang tính thực hành thỉnh thoảng xen lẫn với sự phụng sự liên tục, đã minh chứng rằng nó là một sự khích lệ mạnh mẽ đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Các hình thức huấn luyện tại chỗ thay đổi tùy theo tình hình thực tế, nhưng tiêu biểu là chúng bao gồm hàng loạt các mô hình huấn luyện ngắn hạn, không gây cản trở cho những trọng trách hàng đầu trong việc chứng đạo, mở mang hội thánh và chăn bầy. Các giáo sĩ cũng đã minh chứng tầm quan trọng của việc huấn luyện tại chỗ hàng ngũ lãnh đạo để duy trì sự tăng trưởng liên tục và sự phát triển mạnh mẽ của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.

8. Thẩm quyền lãnh đạo được phân tán .
Những giáo phái và các cơ cấu hội thánh áp đặt hệ thống thẩm quyền hoặc đòi hỏi việc đưa ra quyết định một cách quan liêu sẽ không thích hợp cho việc kiểm soát tính năng động của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Điều quan trọng là mọi lãnh đạo hội thánh tế bào hoặc tư gia đều phải có toàn bộ thẩm quyền để thỏa ứng bất kỳ các nhu cầu nào cần thỏa ứng trong việc chứng đạo, chăn bầy và mở mang hội thánh mới mà không cần phải được sự chấp thuận từ cơ cấu hội thánh.
Những giáo phái và các cơ cấu hội thánh áp đặt hệ thống thẩm quyền hoặc đòi hỏi việc đưa ra quyết định một cách quan liêu sẽ không thích hợp cho việc kiểm soát tính năng động của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh .
9. Những người ngoài biết về một tiểu sử mờ nhạt hơn
Các giáo sĩ tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đều ghi lại một chung một cuốn catologue về sự khốn khó. Khá nhiều người đã và đang phải chịu bệnh tật, chế giễu và hổ thẹn. Trong một số trường hợp, nỗi khốn khó mà họ chịu là bởi cớ những hành vi mang tính tự hủy hoại của chính họ; nhưng trong những trường hợp khác, nỗi khốn khó này được gây ra bởi tay các địch thủ của họ. Những sinh viên của các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh cho rằng sự khốn khó này có thể liên hệ đến một cái giá thuộc linh cao hơn nào đó phải được trả để có thể đẩy lùi sự tối tăm (KhKh 12:12). Dù nguyên nhân là gì đi nữa thì mức khốn khó bất xứng mà các giáo sĩ tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh vẫn cứ xứng đáng. Các nhà lãnh đạo sẵn sàng lao vào những hành động này được tư vấn tốt để tỉnh thức, thức canh và cầu nguyện.
10. Các giáo sĩ chịu thương khó
Một danh sách gồm những giáo sĩ đã tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh được đọc lên nghe giống như một cuốn catolog về tai ương. Nhiều giáo sĩ đã chịu bệnh tật, chế giễu và hổ thẹn. Trong một số trường hợp thì sự khổ đau mà họ chịu chính là do những hành động tự hủy hoại của họ; nhưng trong một số trường hợp khác, những khổ đau này đến từ bàn tay của kẻ thù. Những học viên của các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh cho rằng những khốn khó có thể liên hệ đến một cái giá thuộc linh cao hơn nào đó phải trả để đẩy lùi sự tăm tối (12:12). Du nguyên nhân là gì đi chăng nữa, mức bất tương xứng của những khổ đau mà các giáo sĩ tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đã chịu là xứng đáng. Những nhà lãnh đạo nào dự định sẽ theo hướng hành động này được khuyên bảo là phải tỉnh thức, thức canh, chiến cự và cầu nguyện.

Chương 5:
CÁC VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là những công việc tuyệt hảo của Đức Chúa Trời, nhưng trong ân điển và lòng thương xót vô hạn của Ngài, Ngài đã quyết định chọn cộng tác với chúng ta. Có một số những vấn đề thực tiễn mà các nhà lãnh đạo có thể làm để khởi động và nuôi dưỡng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Đây không phải là những tiến trình liên tiếp nhau. Một số tiến trình có thể quan trọng hơn những tiến trình khác, nhưng mỗi một tiến trình này đã từng được sử dụng để thành lập các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở một nơi nào đó trên thế giới. Mỗi một giáo sĩ phải xác định xem cái nào phù hợp với tình huống riêng của mình và làm thế nào để có thể ứng dụng chúng để đạt được hiệu quả tối đa.
1. Theo sát xu hướng CPM ngay từ đầu .
Đây là điểm trong yếu: Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh thường bắt đầu vào ngày mà công việc được khởi sự. Khải tượng cuối cùng được "nhận ra" ngay từ đầu. Vì thế, các giáo sĩ muốn khởi xướng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh phải khởi đầu bằng cách "mô phỏng một hội thánh kiểu CPM" được hoàn thiện bằng việc chứng đạo, môn đồ hóa và huấn luyện hàng loạt dưới hình thức nhóm tế bào. Nó sẽ không theo khuôn mẫu kế tiếp là khuôn mẫu bắt đầu bằng việc tiền chứng đạo, sau đó chứng đạo, sau đó là môn đồ hóa, mở mang hội thánh, các cuộc truyền giáo, vv…
2. Triển khai và thực hiện các chiến lược toàn diện
Những giáo sĩ nào xác định được phạm vi của tất cả những vấn đề cần thực hiện để khởi xướng và nuôi dưỡng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh sẽ nhanh chóng nhận ra rằng công việc này vượt xa những giới hạn của cá nhân họ về thời gian, tài năng và các nguồn hỗ trợ và tài nguyên. Nhưng khi họ hướng mắt về tập thể đông đúc hơn gồm của những tín hữu tiềm tàng của Đại Mạng Lệnh và luôn đặt câu hỏi "Cần phải làm gì để phát động một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh?", họ sẽ khám phá ra rằng cần phải có một chiến lược toàn diện.
Một chiến lược toàn diện phải đứng trên ít nhất bốn trụ cột: 1) cầu nguyện, 2) Lời Đức Chúa Trời, 3) chứng đạo và 4) mở mang hội thánh. Bốn trụ cột này đi kèm với một phối thức những công việc chăn bầy, bao gồm việc thỏa ứng những nhu cầu của con người, các chiến lược thông tin liên lạc, việc huy động hóa và những nỗ lực khác. Khi được kết hợp lại, những chiến lược toàn diện này sẽ giúp cho công việc chăn bầy khắc phục được những giới hạn của một giáo sĩ đơn lẻ, hoặc ngay cả của một tổ chức truyền giáo đơn lẻ và tối ưu hóa các khả năng để khởi xướng và nuôi dưỡng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Một nhà điều phối chiến lược hữu hiệu phải luôn đánh giá tất cả những gì mình làm trong ánh sáng của khải tượng cuối cùng- một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh- loại bỏ những gì không và sẽ không hướng đến phong trào này .
3. Đánh giá tất cả mọi điều để đạt được khải tượng cuối cùng
Một vị giáo sĩ đã từng bình phẩm, "Bạn không thể nói gì về một nhà điều phối chiến lược hữu hiệu từ một việc xấu nào đó mà người đó nói "không". Không nên giải thích điều này như thể nó có nghĩa là quá trình thực nghiệm phổ biến là không tương hợp, nhưng một nhà điều phối hữu hiệu phải luôn đánh giá tất cả những gì mình làm trong ánh sáng của khải tượng cuối cùng - một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh - loại bỏ những gì không và sẽ không hướng đến phong trào này.
4. Ứng dụng phương thức thu hoạch chính xác
Thay vì gieo các hạt giống phúc âm một cách ngẫu nhiên và đợi chờ một mùa gặt, càng ngày càng có nhiều giáo sĩ đã và đang học biết sự khôn ngoan về phương thức thu hoạch chính xác. Phương thức thu hoạch chính xác sử dụng việc "chọn lọc các ứng đáp" để nhận diện và xác định những người nào đã ứng đáp tích cực với phúc âm và sau đó phân công các nhân sự dài hạn tiếp xúc trực tiếp với họ để thực hiện công tác môn đồ hóa và công tác mở mang hội thánh. Khuôn mẫu này cho thấy rằng giáo sĩ nào biết chọn lực công trường truyền giáo của mình có thể sẽ thành công trong việc học biết ngôn ngữ, chia sẻ đức tin, môn đồ hóa một nhóm tín hữu và thành lập một hội thánh, nhưng rằng cũng có thể có một cách hữu hiệu hơn để đạt cùng một kết quả.
Khi làm việc với các đài phát thanh hoặc các cơ quan truyền giáo với qui mô lớn khác, một người mở mang hội thánh truyền giáo có thể lượm lặt các tên và địa chỉ của những người ứng đáp để chuyển sang một công trường gieo giống khác. Sau đó, khi đặt chính mình vào giữa vòng những tín hữu hoặc những thân hữu mới này, người này có thể bắt đầu chức việc môn đồ hóa và mở mang hội thánh. Tiến trình thu hoạch chính xác có thể tiết kiệm được cho tiến trình khởi lập một hoặc nhiều hội thánh nhiều năm trời năm trời.
5. Chuẩn bị các tân tín hữu để đương diện với sự bắt bớ
Các tân tín hữu phải hiểu rằng sự kêu gọi đến với Đấng Christ là sự kêu gọi đến thập tự giá. Sự phiền nhiễu, sự bắt bớ, và ngay cả sự tử đạo có thể xảy đến, nhưng những điều này nên không là một điều ngạc nhiên đối với các tân tín hữu. Kể từ thời Tân Ước, bắt bớ đã và đang xảy đến cho những ai tin theo Đấng Christ. Các tân tín hữu không phải đợi đến khi tin đạo mới được chuẩn bị để đương diện với sự bắt bớ; chính nó đã bắt đầu từ trong quá trình làm chứng rồi. Ngay từ đầu các tín hữu được dạy dỗ để mong đợi những khốn khó như là một cái giá cho sự tin đạo của mình (xem Mac Mc 8:34).
6. Nhóm họ lại, và sau đó cứu họ
Việc mở mang hội thành sẽ theo tiến trình hợp lý là: cứu họ, môn đồ hóa họ, hội chúng hóa họ, và sau đó sắp xếp họ vào trong một thánh nào đó. Nhưng đây không phải là cách duy nhất để thực hiện công việc này. Khá nhiều những người mở mang hội thánh đã từng tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh học biết cách dẫn dắt một nhóm những người bị hư mất vào trong các nhóm thờ phượng truyền giảng và học Kinh Thánh. Những "cảm tình viên Cơ-đốc" này được truyền cho khải tượng về một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, ngay cả ở giai đoạn họ đang được dẫn dắt vào trong gia đình đức tin.
7. Phương pháp POUCH
Phương pháp POUCH, được mô tả trong sự nghiên cứu điển hình của dân tộc Yanyin, bao gồm các yếu tố cốt yếu cần phải được áp dụng hầu như trong bất kỳ tình huống mở mang hội thánh nào. Một hội thánh POUCH áp dụng việc học Kinh Thánh dưới hình thức cùng nghiên cứu và các nhóm thờ phượng (P: Participative Bible study nd worship gourps), khẳng định rằng sự Vâng Phục Kinh Thánh là một phương tiện duy nhất để thành công (O: Obedience to the Bible as the sole measure of success), sử dụng đội ngũ lãnh đạo không hưởng lương và không theo thể theo cơ cấu (U: Unpaid non-hierachical leadership), và nhóm lại trong các nhóm tế bào hoặc hội thánh tư gia (C: Cell groups hoặc H: House churches).
8. Phát triển nhiều lãnh đạo trong vòng mỗi hội thánh tế bào
Hãy tránh để khỏi bị rơi vào bẫy của những lãnh đạo không đủ phẩm chất cần để thỏa ứng các nhu cầu tăng trưởng bằng cách khởi sự công việc với nhiều lãnh đạo. Hãy nhớ đến Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở Campuchia, bắt đầu từ mọi hội thánh tế bào mới với "Hội Đồng Trung Ương" bảy người. Dạng đa lãnh đạo này thường phổ biến trong các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh và đảm bảo rằng sẽ có đầy đủ các lãnh đạo cho chính các hội thánh tế bào và cho việc mở mang các hội thánh mới.
9. Sử dụng phương thức huấn luyện tại chỗ
Tránh đừng bị cám dỗ để lôi kéo những lãnh đạo mới của hội thánh địa phương ra khỏi hội thánh của họ để được huấn luyện hàng nhiều năm trời trong một học viện. Tốt hơn là hãy áp dụng việc giáo dục thần học không tập trung được ngắt quãng bởi thời gian dành cho kinh nghiệm thực tiễn. Phương pháp này có thể bao gồm một tháng huấn luyện với hai tháng thực hiện công việc chăn bầy, hoặc tám kỳ huấn luyện trong vòng hai tuần trong thời gian kéo dài vài năm, với việc môn đồ hóa và nâng cao kỹ năng liên tục có thể suốt cả cuộc đời. Giáo dục cao hơn có thể ích lợi cho các lãnh đạo của Hội Thánh ở một thời điểm nào đó, nhưng có thể cản trở Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở những giao đoạn đầu.
10. Mô Phỏng, Hỗ Trợ, Giám Sát và Ra Đi (MAWL )
Các giáo sĩ nào là những người mở mang hội thánh có năng lực sẽ đương diện với những thách thức từ chính mình cũng như từ những nhóm người mà họ muốn đưa về cho Đức Chúa Trời. Luôn tồn tại một cám dỗ để "chính mình thực hiện nó" thay vì giao công việc này cho những người lãnh đạo đầy ơn trong hội thánh. Việc chuyển giao trách nhiệm này tương đối phức tạp vì cớ khá nhiều, nếu không nói là hầu hết, các giáo sĩ thích chăn dẫn và chăm sóc người khác.
Nan đề về việc chuyển giao trách nhiệm này có thể được giảm thiểu hóa khi vị giáo sĩ biết chia sẻ trách nhiệm này ngay từ đầu cho những người mà mình đang dẫn dắt. Phương thức mở mang hội thách bằng cách mô phỏng việc mở mang và thờ phượng của hội thánh mới, sau đó giúp đỡ các thành viên của hội thánh để họ có thể thực hiện công việc như chính mình, giúp ích để chuyển giao kỹ năng của vị giáo sĩ sang thế hệ kế tiếp của những người mở mang hội thánh tại địa phương (xem IITi 2Tm 2:2).
Chỉ khi nào vị giáo sĩ đã rời khỏi công việc này, thì chu kỳ MALW mới hoàn thành. Và chỉ khi đó, sự kế tục việc mở mang hội thánh bản địa cần làm mới được đảm bảo.


Chương 6:
NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
Khi chúng tôi thảo luận với các giáo sĩ trên khắp thế giới, chúng tôi thường gặp một số các câu hỏi sau.
1. Thế còn những người tự nguyện ?
Một xu hướng hiện nay đó là chìa khóa để có thể xử dụng những người tự nguyện. Hầu hết những người tự nguyện ngắn hạn đều muốn làm việc theo chiến lược, nhưng không biết rằng một số hình thức giúp đờ thực ra có thể làm cản trở Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Việc xây dựng nhà thờ, trợ cấp các vị mục sư tạo nên sự lệ thuộc là những trở ngại có thiện chí đối với Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Những lời cầu nguyện, việc chứng đạo, việc phân phát ấn phẩm, việc cố vấn cho các mục sư và phục vụ các nhu cầu của con người là một số trong rất nhiều những đóng góp tích cực mà những người thiện nguyện đã góp phần. Những người tự nguyện cũng cung cấp những khoản trợ cấp vô giá đối với các giáo sĩ dài hạn là những người chịu sự cô lập, những khốn khó trong việc học các ngôn ngữ, những khó khăn về văn hóa, những khó khăn về gia đình, vay vốn...
Một trong những đóng góp lớn lao nhất của ngững người tự nguyện là đem lại khải tượng và niềm đam mê. Họ thúc giục và khích lệ các giáo sĩ và những tân tín hữu, cũng như bày tỏ đức tin của mình bằng cách vượt qua một quãng đường dài để biểu lộ tình yêu của họ đối với những người bị hư mất và bày tỏ sự vâng phục của mình đối với Đại Mạng Lệnh. Tình yêu và sự vâng phục này mang tính lây lan.
2. Thế còn vị trí của các hiệp hội và các hội nghị của Baptist ?
Các hiệp hội và các hội nghị của Baptist là những cộng tác viên khá hùng mạnh để thực hiện Đại Mạng Lệnh. Cùng chia sẻ niềm tin kính chung đối với Đấng Christ, họ tất nhiên phải là những đồng minh. Tuy nhiên, cần phải có một khải tượng để họ khơi dậy lòng tận tụy của họ đối với việc khởi xướng và nuôi dưỡng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Khi các nhà lãnh đạo của các hiệp hội này có được khải tượng về việc mở mang hội thánh vượt quá nhu cầu kiểm soát của họ, họ sẽ nhiệt tình tạo điều kiện cho phong trào. Các giáo sĩ có thể giúp phổ biến khải tượng này thông qua các cuộc trò chuyện, giáo dục và các tấm gương điển hình.
Điều quan trọng nữa là các giáo sĩ phải nhận thức được rằng vai trò của mình phải khác với vai trò của các lãnh đạo các giáo phái. Vai trò duy nhất của các giáo sĩ là liên tục tiến sát ranh giới của những người bị hư mất, những người chưa cứu, và giới thiệu phúc âm cho họ. Các lãnh đạo của các giáo phái có trách nhiệm rộng lớn hơn, đó là các giáo sĩ có thể chúc phước và khích lệ, những không nên cố mở mang hoặc kiểm soát.
3. Thế còn các nhà thờ và các chủng viện ?
Các nhà thờ và các chủng viện có thể đóng góp vào những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, nhưng chúng cũng có thể trở nên những hòn đá vấp chân. Khi các nhà thờ và các chủng viện xuất hiện theo xu hướng bản địa và một cách tự nhiên trong phạm vi các nhu cầu và các phương tiện của những tín hữu địa phương, chúng sẽ hỗ trợ cho công việc này. Khi các chủng viện (các nơi huấn luyện, các học viện, các bệnh viện, vay vốn...) bị áp đặt bởi hoặc phụ thuộc vào các tổ chức từ bên ngoài, chúng có thể để lại một gánh nặng trong việc bảo trì có thể làm lệch đà phát triển của việc chứng đạo và mở mang hội thánh.
Các ngôi nhà thờ đã và đang trở thành đặc tính thứ hai đối với chúng ta ở phương Tây. Chúng ta đã quên rằng Cơ-đốc-giáo phải mất cả gần ba thế kỷ trước khi có nhu cầu theo xu hướng bản địa về các ngôi nhà thờ chuyên dụng. Cũng trong ba thế kỷ này phúc âm đã bùng nổ trên khắp các vùng được biết đến của thế giới. Khi chúng ta ngay lập tức cung cấp các ngôi nhà thờ cho các hội chúng của chúng ta, chúng ta đang chất trên họ một gánh nặng đến từ bên ngoài mà họ không được trang bị đủ để cưu mang.
Các nhà thờ và các chủng viện có thể đóng góp vào những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, nhưng chúng cũng có thể trở nên những hòn đá vấp chân .
4. Các đội này thích hợp với nơi nào ?
Cũng giống như những gì mà chúng ta đã và đang thảo luận, các đội này không phải ngẫu nhiên mà trở nên thuận hoặc nghịch lại các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Nếu mỗi thành viên của đội thấy được thấy mục đích của đội là hỗ trợ và nuôi dưỡng Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, thì triển vọng thành công khá lạc quan. Mặt khác, nếu, cả đội hoặc các thành viên của nó quay hướng vào trong và lấy chính mình làm mục đích của mình, thì Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không thể nào xảy ra được. Khi một đội ngũ nào đó hướng về người khác và hy sinh chính mình, và hướng tầm nhìn của mình vào những gì cần làm trong sự dẫn dắt của Đức Chúa Giê-xu Christ để khởi xướng và nuôi dưỡng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, thì sự thành công sẽ không ở đâu xa.
5. Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh có dung dưỡng tà giáo ?
Các nhà phê bình cho rằng hiện tượng thường dân như một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là một miếng đất màu mỡ cho tà giáo. Điều này có thể đúng, nhưng không cần thiết phải nói như vậy. Giải pháp thường được đưa ra là sự huấn luyện thiên về thần học hơn. Tuy nhiên lịch sử hội thánh đã chứng minh rằng sự chữa lành còn tệ hơn là cơn bệnh. Kể từ lúc bắt đầu trường thần học đầu tiên tại Alexandria, Ai-cập, các giáo sĩ đã đã đang chứng minh rằng chính mình vừa có khả năng gieo rắc tà giáo vừa có khả nănh rao truyền giáo lý đúng đắn. Ngày hôm nay cũng vậy.
Bí quyết để đến được giáo lý đúng đắn là Lời Đức Chúa Trời. Trong môi trường phát triển mạnh mẽ của thế kỷ đầu tiên, không có các khóa huấn luyện nào, chỉ đơn giản là thông lệ "dạy dỗ họ vâng giữ mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi" (Mat Mt 28:20). Từ mạng lệnh này mà một số các phương pháp môn đồ hóa và huấn luyện đã xuất hiện. Thách thức này của hội thánh đầu tiên đã và đang thay đổi một ít đối với chúng ta ngày nay và mời gọi chúng ta hãy ứng đáp một cách sáng tạo như vậy để đảm bảo rằng sự trung tín với những lời dạy dỗ của Đấng Christ sẽ được tiếp tục duy trì.
6. Bạn sẽ làm gì với các trẻ em ?
Các giáo sĩ và những người đã từng trải trong hội thánh truyền thống đã đưa ra khá nhiều câu hỏi về tính cơ động của phương pháp hoạt động của các hội thánh tế bào. Một trong những câu hỏi phổ biến nhất có liên hệ đến vị trí của trẻ em trong các hội thánh tế bào. Những người ứng dụng hội thánh tế bào thừa nhận rằng đây là một nhược điểm so với các hội thánh truyền thống với các chương trình Trường Chúa Nhật theo độ tuổi. Các giải pháp đưa ra là cho các em cùng tham gia giờ học Kinh Thánh và thờ phượng của hội thánh tế bào và tách chúng ra cho các chương trình riêng là những chương trình có thể được thay phiên hướng dẫn bởi những người tự nguyện hoặc các thanh niên lớn tuổi. Nếu chúng ta chống lại cám dỗ để cho các hội thánh tế bào trở nên quá lớn trước khi chúng phân chia và nhân bội lên, chúng ta có thể kiểm soát được nhiệm vụ nuôi dưỡng và môn đồ hóa tầng lớp thanh niên của chúng ta.
Đang khi còn chưa có câu trả lời tổng quát cho thách thức này, hiện đã có một số những câu trả lời trên khắp thế giới. Cũng như quá nhiều những thách thức khác đối với một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, các giáo sĩ và ngững người mở mang hội thánh được khuyến khích hãy tiếp tục kiểm nghiệm, sáng tạo và thích nghi!
7. Chúng ta có thể bắt đầu lại không nhỉ ?
Một số các giáo sĩ bắt đầu nghiên cứu các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh thỉnh thoảng khám phá ra rằng chúng bị lệch hướng hoàn toàn và thắc mắc không biết làm thế nào chúng có thể bắt đầu lại. Tất nhiên không thể nào có thể bắt đầu lại một cách thực sự, những có thể sửa đổi lại những lầm lỗi trước đây và có thể đưa vị trí của phong trào trở lại hướng đúng của nó. Bởi vì các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không phải là các chương trình liên tiếp nhau và theo trình tự, có thể hỗ trợ chúng một cách dễ dàng bất cứ khi nào chúng ta chấm dứt làm những gì dường như làm cản trở các phong trào và bắt đầu làm những gì dường như hỗ trợ chúng. Đây là một khích lệ đối với những ai hy vọng muốn thấy một phong trào xuất hiện giữa một nhóm người nào đó.

Chương 7:
NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI NHỮNG CPM
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là các công việc của Đức Chúa Trời, nhưng điều đáng nhạc nhiên là mức độ trở ngại mà nhân loại đã gây nên cho chúng. Cũng như hầu hết các công việc của Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta, Ngài cho phép chúng ta cộng tác một cách tích cực với Ngài hoặc trở nên những chướng ngại Ä dù chúng ta có nhận thức được hay không nhận thức được Ä đối với các mục đích mà Ngài đã định. Các giáo sĩ tham gia các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đã nhận diện được hàng loạt các hành động có xu hướng gây trở ngại, trì hoãn, hoặc ngăn cản các CPM. Dù chúng ta không thể tạo nên một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, chúng ta thực sự có thể hành động để tránh ngăn cản sự xuất hiện của chúng. Sau đây là một số những trở ngại nổi bật nhất đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh mà các giáo sĩ phải đang đối phó.
1. Áp đặt những điều kiện phụ thêm không có trong Kinh Thánh để trở nên một hội thánh
Khi một hội truyền giáo, một hiệp hội, hoặc một hội nghị cố đòi hỏi một hội chúng phải có thêm những điều kiện phụ thêm không có trong Kinh Thánh chẳng hạn như là đất đai, nhà cửa, hàng ngũ lãnh đạo được huấn luyện theo kỳ hoặc giới tăng lữ hưởng lương trước khi ban cho họ trọn tư cách của một hội thánh, thì Phong Trào Mở Mang Hội Thánh bị ngăn trở. Các Cơ-đốc-nhân có thể có các nục đích tốt nhất khi họ áp đặt một số các điều kiện tiên quyết trước khi chính thức thành lập một hội thánh Ä các điều kiện tiên quyết thường nhằm mục đích đảm bảo khả năng tồn tại của hội thánh trước khi để nó tự lo liệu lấy. Tuy nhiên, các điều kiện như đất đai, nhà cửa, và giới tăng lữ hưởng lương có thể nhanh chóng trở thành những cối đá buộc quanh cổ của hội thánh và làm cho việc mở mang nó hầu như không thể nào thực hiện được.
2. Mất nét đặc thù quí báu về văn hóa
Khi một dân tộc đã ruồng bỏ nét đặc thù quí báu về văn hóa của họ và đồng hóa với một nền văn hóa ngoại quốc khác để trở nên các tín hữu, mục đích của việc mở mang hội thánh sẽ không đi xa hơn được. Trên thế giới, những hội thánh nào hướng ra khỏi nền văn hóa của mình là những lời chứng để minh họa cho sự trở ngại này.
Trong quá nhiều trường hợp, việc mở mang hội thánh đã trở nên một trận chiến văn hóa, khi các giáo sĩ và các Cơ-đốc-nhân cố xâm phạm và thay đổi nền văn hóa thay vì thay đổi tấm lòng của con người. Bất cứ lúc nào một người cần phải trở thành một người Nga, một người Mỹ, một người Âu, vv..., mới có thể trở nên một Cơ-đốc-nhân, thì có ít cơ hội để phong trào sẽ lây lan nhanh chóng giữa vòng những dân tộc không phải là người Nga, một người Mỹ, hay một người Âu.
3. Khắc phục những tấm gương xấu của Cơ-đốc-giáo .
Chẳng may là công việc truyền giảng phúc âm trên thế giới đã đôi khi sản sinh ra những hội thánh là tấm gương xấu về đức tin. Nếu các hội thánh lâu năm ở một khu vực nào đó có những tín đồ không tái sanh có những hành vi phàm thế và vô luân, thì các tín hữu sẽ khó thuyết phục những người bị hư mất rằng đức tin Cơ-đốc là thánh khiết và có khả năng cứu chuộc thế giới của mình.
Một số các điển hình hành vi của hội thánh có thể không phải là vô luân, nhưng vẫn có thể làm thương tổn và ngấm ngầm hủy hoại tinh thần của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Bất cứ khi nào mà các hội thánh lâu năm trong một khu vực nào đó không còn cảm nhận được sự thúc ép để chia sẻ đức tin của mình, những tân tín hữu có thể thắc mắc không viết vì sao họ lại phải hăng hái và khẩn trương trong việc chứng đạo.
4. Những tấm gương không sinh quả của hội thánh
Bất cứ khi nào các giáo sĩ bắt đầu mở mang hội thánh với những thành phần không thể nào sinh quả được bởi chính họ, họ đã ngấm ngầm hủy hoại Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Sự cám dỗ luôn tồn tại: việc du nhập một giải pháp cho một thử thách tại địa phương dường như sẽ nhanh hơn và dễ dàng hơn việc tìm kiếm một giải pháp bản địa. Các vật dụng bên ngoài vào như những tảng than đá dùng trong xây dựng, những hệ thống âm thanh điện tử, hoặc những chiếc ghế xếp nhập khẩu có thể là vô hại.
Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh thực thụ thường để ý đến diện mạo của mình. Nếu các ngôi là được dựng bằng tre, thì những ngôi nhà thờ cũng phải được dựng bằng tre. Trong các khu vực thành thị, các hội thánh tế bào và tư gia ganh đua với các cơ cấu gia đình thay vì các cơ cấu hội chúng đòi hỏi phải có những ngôi nhà thờ đắt tiền chỉ dùng biệt riêng cho các buổi nhóm thờ phượng. Những người tham gia các CPM đánh giá mỗi một phương diện của mỗi hội thánh với câu hỏi: "Hội thánh này có thể được các tín hữu này mở mang không?". Nếu câu trả lời là "không", thì yếu tố ngoại quốc sẽ được loại bỏ.
5. Các khoản trợ cấp dẫn đến sự lệ thuộc
Tiền bạc vốn dĩ chẳng xấu. Nó có vai trò quan trọng trong việc trợ cấp cho các giáo sĩ và hỗ trợ những gì mà những người bị hư mất hoặc các tân tín hữu không thể làm được cho chính mình. Bất cứ khi nào phúc âm được truyền giảng cho một nhóm người mới, cần phải có sự trợ giúp từ bên ngoài. Nan đề là khi nguồn tiền bạc từ bên ngoài dẫn đến sự lệ thuộc giữa các Cơ-đốc-nhân mới, kiềm hãm tính sáng tạo và dập tắt Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Sự dụng các nguồn tiền bạc từ bên ngoài một cách hợp lý có thể bao gồm việc hỗ trợ truyền giảng đối với những người chưa được cứu, phát triển ấn phẩm phúc âm, lập các chương trình phát thanh, sản xuất phim Giê-xu, dịch thuật Kinh Thánh, truyền hình, băng cassette, đĩa CD, phúc âm vay vốn... Khi những người ngoài có thiện chí hỗ trợ sự phát triển bằng cách mua nhà cửa hoặc cấp lương cho các vị mục sư, họ đã hạn chế khả năng mở mang một cách tự phát và theo sắc thái bản địa của phong trào.
6. Những điều kiện phụ thêm ngoài Kinh Thánh dành cho các nhà lãnh đạo .
Khi những giaó sĩ, các hội thánh hoặc các nhà lãnh đạo các giáo phái có thiện chí áp đặt các điều kiện bên ngoài những điều kiện được Kinh Thánh Tân Ước qui định trên các nhà lãnh đạo hội thánh, Phong Trào Mở Mang Hội Thánh sẽ bị ngăn trở.
Khuôn mẫu của Kinh Thánh Tân Ước được tìm thấy trong việc chọn lựa mưới hai môn đồ của Đấng Christ (Mat Mt 4:18-22) và tiêu chuẩn của Phao-lô dành cho các giám mục và các chấp sự (ITi1Tm 3:1-15). Điều đáng lưu ý là phẩm chất đạo đức và sự sốt sắng bước theo Đấng Christ được nhấn mạnh nhiều hơn so với việc huấn luyện thần học hoặc các bằng cấp học viện.
7. Tư tưởng và thông lệ theo trình tự và liên tục
Việc các giáo sĩ suy nghĩ đến việc mở mang hội thánh theo các bước liên tiếp nhau là một vấn đề tự nhiên. Chẳng hạn, trước hết bạn học biết ngôn ngữ, sau đó bạn phát triển các mối quan hệ, sau đó bạn nói một lời chứng đạo, sau đó bạn môn đồ hóa các tín hữu, sau đó bạn hội chúng hóa họ, sau đó bạn bồi dưỡng các lãnh đạo, sau đó bạn bắt đầu thành lập hội thánh, vay vốn... Tuy nhiên, các giáo sĩ nào thành công trong việc lèo lái các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh lại mô tả rằng sự phát triển của phong trào là khác và không theo trình tự.
Họ khẳng định tầm quan trọng của việc làm chứng bắt đầu từ ngày đầu tiên, thậm chí trước khi nắm bắt được ngôn ngữ. Thay vì đợi chờ sự tin đạo, các giáo sĩ lại môn đồ hóa những người bị hư mất để họ trở tin đạo. Lúc họ trở thành tân tín hữu, thì họ cũng đã tham gia các hội thánh tế bào trong một thời gian rồi và cũng đã nhận được khải tượng về việc mở mang hội thánh! Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh xảy ra khi tất các các yếu tố khác nhau của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh cũng đồng thời xảy ra.
8. Thành lập các hội thánh "nhái" thay vì "thằn lằn "
Vâng, đây là một phép ẩn dụ. Các hội thánh nhái xem mình là mục đích của chính mình, ngồi ù lì và kiêu căng trên đồi hoặc trên cuống hoa huệ tây (hoặc đường chính), trông mong những người bị hư mất đến với mình để tìm kiếm sự cứu rỗi. Các hội thánh nhái tổ chức các buổi nhóm họp ở những nơi họ cảm thấy thỏa mái và đòi hỏi những người bị hư mất phải thích nghi với thế giới nhái của mình. Các hội thánh thằn lằn lúc nào cũng đang theo đuổi những người bị hư mất. Thích nghi và sẵn sàng để hành động, họ nhanh chóng len lỏi vào thế gian thông qua những vết nứt, khe hở để tìm kiếm những người bị hư mất. Những hội thánh thằn lằn xâm nhập vào nhà của những người bị hư mất bằng các buổi học Kinh Thánh mang tính chứng đạo thay vì yêu cầu những người bị hư mất phải đến hội thánh của mình. Họ sẵn sàng thay đổi màu của mình, tiêu hao khá nhiều năng lượng, và thậm chí mất cả đuôi mình để đem những người bị hư mất vào trong gia đình của Đức Chúa Trời.
9. Các chiến lược mang tính qui tắc
Sau khi tất cả những hướng dẫn đã vào hết trong cuốn sách này rồi, có lẽ dường như khá lạ thường khi cảnh báo các giáo sĩ về các phương pháp chuẩn bị sẵn. Tuy nhiên, những người tham gia Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khá tò mò và tận lực học biết nơi và phương pháp Đức Chúa Trời làm việc. Bất kỳ khi nào các giáo sĩ đi vào công trường với một túi đầy các câu hỏi thay vì một tấm lòng khát khao được quan sát và học biết nơi Đức Chúa Trời làm việc và công việc mà Ngài đang làm, thì họ đã giới hạn khả năng Đức Chúa Trời trong việc sử dụng họ. Điều này không nhằm để khuyến khích kiểu tiếp cận "mù tịt" khi ra đi truyền giáo, những nó thực sự muốn đề cập đến tính khiêm nhường và sự phụ thuộc vào Đức Chúa Trời để Ngài bày tỏ nơi và phương pháp Ngài chọn phát động một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.

Chương 8:
NHỮNG MẸO VẶT DÙNG ĐỂ ĐIỀU CHỈNH MỘT PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH
Cùng với các khuôn mẫu của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh mà chúng ta mới vừa xem xét, những cái khác cũng có thể được miêu tả như là các thất bại xuýt xao . Số số các khuôn mẫu này cho thấy nhiều tính chất mà chúng ta cần xét đến để được coi như là các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, nhưng thiếu một số các yếu tố cần thiết và vì thế có thể dẫn đến hậu quả là các phong trào này đã tắt quá sớm.
Một ví dụ của trường hợp này là những người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ là những người đã đến với Đấng Christ với số lượng hàng hạng người trong vòng năm năm qua. Vào năm 1992 vừa rồi, số tín hữu được biết đến giữa vòng số dân vài triệu người này không vượt quá con số 50. Bắt đầu từ năm 1989, một chiến lược về sự cầu nguyện, là chứng, và chăm sóc đã được khởi lập giữa vòng họ. Lúc đầu công việc có chậm chạp, nhưng cuối năm 1995 việc quay về Đấng Christ đã bắt đầu. Vào cuối năm sau đó, các hội thánh trong khu vực này đã báo cáo rằng họ đã làm Báp-tem cho hơn 15.000 tín hữu Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ.
Hiện nay, sự phát triển của các tân tín hữu đã hơi giảm xuống, nhưng con số người trưởng thành vừa tin nhận Đấng Christ vẫn ở khoảng từ 20.000 đến 30.000 tân tín hữu. Yếu tố rắc rối là việc thiếu khá nhiều các hội thánh mới để bắt kịp sự phát triển. Khi số lượng người tin Chúa bùng nổ, thì số lượng hội thánh được khởi lập tăng ít, và đây là nguy cơ có thể làm cho hàng ngàn người không có hội thánh phải từ lo liệu cho chính mình.
Có lẽ không quá trễ cho các giáo sĩ thực hiện một chiến lược mở mang các hội thánh tế bào và hội thánh tư gia phát triển theo sắc thái bản địa giữa vòng nhóm người này. Huấn luyện những tín hữu bán chuyên mở mang những hội thánh tế bào mới có thể cữu vãn được phong trào này.
Một trường hợp tương tự cũng đã xảy ra giữa vòng một nhóm tín đồ Hồi giáo ở Châu Phi. Báo cáo theo ước tính cho biết kết quả của sự chứng đạo bằng chương trình phát thanh và truyền hình đại chúng là hơn 15.000 tín đồ Hồi giáo đã quay trở về với Cơ-đốc-giáo. Dù có những con số khích lệ này, chỉ có 30 hội thánh được biết đến còn tồn tại trong khu vực này. Trừ phi một khuôn mẫu phát triển theo sắc thái bản địa được giới thiệu, thì số lượng tín hữu sẽ giảm sút rất nhiều.
Các dạng thông dụng hơn của “các thất bại xuýt xao ” là rất nhiều nơi trên thế giới nới mà các giáo sĩ đã nếm trải được sự tăng trưởng ở mức độ trung bình trong khi có thể sự tăng trưởng có thể ở mức độ cao hơn. Trong những trường hợp này, các giáo sĩ đã trung tín truyền giảng và mở mang hội thánh giữa vòng dân tộc của họ trong vòng nhiều thế kỷ. Người ta đang ứng đáp với phúc âm và vương quốc đang chậm chạp phát triển. Khi sự phát triển của hội thánh ổn định, thì nó không còn tính mạnh mẽ nữa. Không ai có thể nhầm lẫn điều này với một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Trong hình thức tăng trưởng kiểu cộng thêm này của hội thánh, sự mở mang hội thánh thậm chí không đủ khả năng để theo kịp tỷ lệ phát triển của dân số.
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh có khả năng xảy ra trong những hoàn cảnh này hay không? Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể nói chắc chắn về điều này, nhưng những nguời áp dụng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh này cho rằng một số các bước điều chỉnh kỹ càng có thể được áp dụng và có thể hỗ trợ việc đánh giá Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Trong một số trường hợp, giai đoạn thai nghén của những lần thành lập hội thánh thực sự không quá dài dòng. Trong những trường hợp này, có thể rút ngắn chu kỳ phát triển của việc mở mang hội thánh. Sau đây là một số các gợi ý có thể giúp tăng nhanh tiến trình này:
Nếu bạn sử dụng hình thức kể chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian để rao giảng phúc âm, hãy nên nhớ rằng việc kể chuyện là một phương pháp, chớ không phải là vì mục đích của chính nó. Là một phương pháp, nó có thể được áp dụng và được bổ sung, sử a đổi. Hãy giả sử rằng ta sử dụng từ năm đến 10 câu chuyện để cung cấp bức tranh toàn cảnh của Kinh Thánh dẫn đến việc trình bày phúc âm và một sự kêu gọi đến đức tin. Sau đó, bạn có thể nghiên cứu việc trinh bày bức tranh toàn cảnh bằng cách đi một vòng dài hơn xuyên suốt Kinh Thánh hướng đến tình môn đệ và những lần trình bày thêm về phúc âm.
Bạn cũng có thể cố rút ngắn tiến trình kể chuyện theo trình tự thời gian. Một số những người kể chuyện bỏ ra 110 tuần để khảo sát Kinh Thánh từ sự sáng tạo cho đến khi kết thúc các thời đại. Điều này có thể được giảm thiểu bằng cách chọn ít câu chuyện hơn hoặc bằng cách kể các câu chuyện một cách thường xuyên hơn không? Có thể cả hai phương pháp đều được áp dụng. Điều này có thể giảm thiểu thời gian cần thiết để khởi lập một hội thánh từ hai tuần đến ít tuần!
Trong cùng một phương thức, hãy xem xét việc dồn một chương trình học Kinh Thánh truyền giảng trong vòng 12 tuần thành một chương trình học Kinh Thánh trong vòng 12 đêm. Hãy nhớ rằng tốc độ tăng trưởng là một trong các đặc tính phổ biến của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Hãy phản đối lý thuyết cho rằng tốc độ nhanh hơn thì đồng nghĩa với chất lượng giảm. Khái niệm rằng chậm hơn thì tốt hơn không hẳn là đúng.
Bạn có thể tăng tốc độ mở mang hội thánh bằng cách nuôi dưỡng các kỳ vọng và các trách nhiệm của các tân tín hữu trong việc mở mang hội thánh. Trong một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh , sự phát triển các môn đồ và hàng ngũ lãnh đạo là một tiến trình xảy ra liên tục thay vì là các giai đoạn trong một quá trình tiến triển theo chiều dọc mà các cá nhân phải trải qua trước khi họ có thể bắt đầu tự mở mang các hội thánh. Hãy nhớ rằng, trong một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở Ấn Độ, một tân tín hữu đã thành lập 42 hội thánh chỉ trong vòng một năm. Không ai bảo anh rằng anh quá ấu trĩ thuộc linh đến nỗi không thực hiện được một hành động như vậy!
Cuối cùng, các giáo sĩ có thể thấy mình ở trong một hoàn cảnh dường như không có bất kỳ yếu tố nào trong các yếu tố cho thấy tiềm năng cho một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Thế thì bạn sẽ là gì đây?
Khá nhiều trong các yếu tố này đóng góp cho - hoặc cản trở - một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh có thể mất nhiều năm để phát triển hoặc thay đổi. Giống như một chiếc thuyền đồ chơi nổi trôi trong một chiếc bể, nếu chúng ta dần dần chất những hòn sỏi lên trên đỉnh chiếc thuyền này, hết hòn sỏi này đến hòn sỏi khác, cuối cùng khối lượng sẽ trở nên quá nặng và chiếc xuồng này sẽ chìm. Cũng như vậy đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Làm việc một cách ổn định để thêm vào các yếu tố đóng góp cho một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh và việc loại bỏ những trở ngại được biết một ngày nào đó có thể dẫn đến một kết quả là một khối lượng lớn quan trọng có thể biến đổi một cánh đồng khó khăn, khô khan, và không có khả năng tăng trưởng thành một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Điểm khởi đầu cho sự thay đổi này là sự biến đổi thuộc linh, một ước mong cháy bỏng trong lòng của tất cả các giáo sĩ muốn nhìn thấy tất cả các dân tộc trên thế giới nhận được đức tin cứu rỗi. Chỉ khi khải tượng của chúng ta được sống lại và chúng ta khao khát một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, lúc đó chúng ta đang sẵn sàng thực hiện mọi hành động cần thiết để theo đuổi mục tiêu này.

Chương 9:
MỘT KHẢI TƯỢNG VỀ PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH CHO THẾ GIỚI
Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho chúng ta thấy rằng Ngài thực đang làm một điều gì đó cho thời đại của chúng ta giữa vòng các dân tộc trên đất này - một điều gì đó thật kỳ diệu mà có thể chúng ta đã chẳng bao giờ tin nổi nếu chúng ta chưa thấy nó bằng chính đôi mắt của mình (xem HaKb 1:5). Chúng ta đang gọi điều kỳ diệu này là Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không bị giới hạn bởi một lĩnh vực về địa lý hoặc chủng tộc nào của xã hội. Đức Chúa Trời đã và đang bày tỏ rằng Ngài có thể phát triển nó dù giữa vòng những người thành thị hoặc nông thôn, học thức hoặc thất học, ở bất kỳ một lục địa nào và từ bất kỳ một nguồn gốc tôn giáo nào. Mối liên kết phổ biến trong mỗi một phong trào này là Đức Chúa Trời làm hòa thuận với thế gian thông qua Đức Chúa Giê-xu Christ.
Trong quá trình làm việc, Ngài đã kêu gọi chúng ta trở nên những người đồng công với Ngài. Nếu chúng ta sẵn lòng, Ngài sẽ ban thêm ơn cho chúng ta để chúng ta có thể nhìn thấy những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh nổ ra trên khắp thế giới trong thế hệ của chúng ta.
Trong năm năm gần đây, chỉ trong vòng năm Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, gần một phần tư triệu linh hồn hư mất đã đặt đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ. Hãy tưởng tượng nếu con số này là 50 hoặc 500 Phong Trào Mở Mang Hội Thánh! Tuy nhiên, niềm vui không phải là ở các con số, thậm chí ngay khi chúng ta xem các con số này là biểu trưng cho số người có được đời sống mới trong Đấng Christ. Niềm vui trọn vẹn nhất đến khi được cùng làm việc với Đức Chúa Trời trong kế hoạch cứu chuộc các quốc gia của Ngài - hầu việc Ngài như là những công cụ trong phép lạ cứu chuộc hiển hiện đang được dành cho mọi dân tộc. Vì cớ niềm vui này mà chúng ta hối hả tiến lên.
Những vận động viên chạy marathon thường bắt đầu cuộc chạy đua của mình với lòng hăng hái lớn lao. Tuy nhiên, sau đó không lâu, nhiều người đã bỏ cuộc hoặc chậm dần. Nhưng một số vận động viên đã sải bước tiến tới vượt qua đau đớn và mệt nhọc. Đối với những vận động viên kiên nhẫn này, không có cảnh tượng nào vui sướng hơn là chặng kết. Khi họ thấy nó, nhịp tim họ đập nhanh hơn, tốc độ họ tăng lên, và lượng adrenaline của họ cũng lên cao khi họ tiến về đích.
Thân thể của Đấng Christ cũng đã và đang tham gia một cuộc chạy đua vì đại trong vòng gần 2000 năm qua. Dọc theo hành trình này, nhiều tín hữu đã trở nên mòn mỏi và sao lãng. Thay vì tiến lên phía trước, họ đã trở nên thỏa lòng với tốc độ chậm chạp hiện tại.
Hiện nay, ngày càng có nhiều Cơ-đốc-nhân đang quan sát những dấu hiệu cho thấy rằng chúng ta đang bước vào chặng kết. Đức Chúa Trời đã đổ thần của trên các nước (xem Cong Cv 2:17). Những ai giải thích các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là các dấu hiệu của sự can thiệp thiên thượng của Ngài vào dòng lịch sử và đang xem xét cuộc sống của họ cũng như tăng cường các nỗ lực của họ.
Nói một cách đơn giản, nếu đây là công việc của Đức Chúa Trời, chúng tôi muốn tham gia vào. Khi bước vào chặng kết, chúng tasẽ thấy nhịp tim của mình đập nhanh hơn, tốc độ của chúng ta tăng lên, và quyết tâm của chúng ta cũng trở nên cương quyết hơn.
“Thế thì chúng ta cũng hãy nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vượng ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta ”
(HeDt 12:1, Bản Dịch NIV)


BẢNG CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ VỀ CÁC PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH
Các hội thánh tế bào - là các tổ chức nhỏ của các tín hữu, thường là từ 10-30 mỗi tổ chức, nhóm lại trong các ngôi nhà hoặc phần trước của các cửa hiệu, hoàn thành năm mục đích của một hội thánh và liên kết với nhay theo một dạng hệ thống nào đó. Thường thì hệ thống này là một bộ phận của một tổ chức giống hệt như một hội thánh đơn lớn hơn.
Phương thức kể chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian - một phương pháp truyền giảng cho một dân tộc bằng cách kể cho họ nghe các câu chuyện vĩ đại trong Kinh Thánh từ sự sáng tạo cho đến sự cứu chuộc và sau đó là sự trở lại của Đấng Christ, theo một phương thức phù hợp với nền văn hóa của họ.
Phong Trào Mở Mang Hội Thánh - là sự gia tăng các hội thánh bản địa mở mang các các hội thánh khác một cách nhanh chóng và theo số mũ trong một nhóm người hoặc một bộ phận dân số nhất định.
Khải tượng cuối cùng - mục tiêu cuối cùng và tối hậu của một chiến lược hoặc một kế hoạch hành động. Trong một chiến lược theo xu hướng các phong trào mở mang hội thánh, chính khải tượng cuối cùng là cái cho biết và đo luờng giá trị tương đối của mọi mục đích, mọi mục tiêu và mọi tiến trình hành động.
Đặc tính - Tinh thần của một nhóm. Trong một đặc tính nào đó cũa Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, có một thái độ và một thái độ của dư luận hướng một cách mạnh mẽ về một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Ngoại lai - bắt nguồn từ bên ngoài một hoàn cảnh địa phương; ngoại quốc; không liên quan đến nguồn gốc.
Phát triển theo số mũ - Sự phát triển trong đó mỗi phần nhân với chính nó. Vì thế 2´2=4 và 4´4=16, vv... là thuộc về sự phát triển theo số mũ. Nó tương phản với sự phát triển theo phương thức gia thêm.
Năm mục đích của một hội thánh - 1) thờ phượng, 2) chứng đạo và truyền giảng, 3) giáo dục và môn đồ hóa, 4) chăn bầy và 5) thông công.
Các hội thánh tư gia - là các tổ chức nhỏ khoảng từ 10-30 tín hữu nhóm lại trong các ngôi nhà hoặc trong phần trước của các cửa hiệu, (không giống như các hội thánh tế bào) thường không được tổ chức dưới một thẩm quyền hoặc một cơ cấu bao gồm nhiều thẩm quyền nào.
Sự phát triển theo phương thức gia tăng - Sự phát triển bằng việc tăng thêm. Vì thế một số lượng cơ bản gồm 10 hội thánh mỗi năm có thể thêm vào một ít hội thánh. Nó khác với sự phát triển theo số mũ, trong cách này 10 hội thánh có thể trở thành 20 hoặc 30 hội thánh sau 1 hoặc 2 năm.
Bản địa -phát sinh từ bên trong hoặc có khả năng phát sinh từ bên trong trong hoàn cảnh của địa phương. Nó tương phản với ngoại quốc.
MAWL - Mô phỏng, Hỗ trợ, Theo Dõi và Ra Đi. Trình tự thực hiện việc mở mang hội thánh, góp phần vào một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khi một nhà lãnh đạo mô phỏng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, hỗ trô các tân tín hữu trong việc mở mang các hội thánh theo phong trào mở mang hội thánh, theo dõi để đảm bảo rằng họ và các hội thánh đang phát triển và sau đó ra đi để có thể khởi lập một chu kỳ MAWL khác.
Cố vấn - một hình thức dạy dỗ bao gồm việc cùng sóng đôi với người mà bạn dạy dỗ và khuyến khích người này học theo tấm gương của bạn.
Các hội thánh POUCH - một phương pháp mở mang hội thánh miêu tả các hội thánh được đặc trưng bởi các yếu tố sau đây: học Kinh Thánh theo phương thức cùng tham gia (participative Bible study) và các nhóm thờ phượng, vâng phục Lời Đức Chúa Trời (obedience to God’s Word), phát triển đội ngũ lãnh đạo đông đảo, không hưởng lương, bán chuyên hay lưỡng nghiệp (development of unpaid and multiple lay or bivocational church leaders) và nhóm họp trong các hội thánh tế bào hoặc hội thánh tư gia (meeting in cell or house churches).
Thu hoạch chính xác - một sự phân nhiệm những người mở mang hội thánh một cách có chiến luợc trong việc tiếp xúc với những người đang tìm hiểu và các tân tín hữu là những người đã được nhận diện và đã được vun xới thông qua sự ứng đáp của họ đối với sự chứng đạo đại chúng.
Các vòng chọn lọc ứng đáp và phản hồi - sử dụng các phương pháp ghi nhận ứng đáp đối với những nỗ lực truyền giảng đại chúng nhằm mục đích chăm sóc, môn đồ hóa và mở mang hội thánh.
RLTP (Rural Leadership Training Program - Chương Trình Huấn Luyện Hàng Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn ) - là một chương trình huấn luyện tại chỗ dành cho những người mở mang hội thánh và những nhà lãnh đạo của hội thánh được phát triển tại Campuchia nhằm vào các khuôn mẫu huấn luyện thực tiễn và ngắn hạn, được thiết kế để giúp cho các sinh viên vừa học vừa tham gia vào việc phụng sự.
Nhà điều phối chiến lược - một giáo sĩ chịu trách nhiệm triển khai một kế hoạch toàn diện nhằm khởi xướng và nuôi dưỡng một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh giữa vòng một nhóm người hoặc một bộ phận dân số chưa được cứu.
Các khoản phụ cấp - là các nguồn ngân quĩ ngoạii quốc hỗ trợ cho các mục sư và các nhân sự của các hội thánh. Nó thường gây cản trở cho một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 04:24 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách