† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2536|Trả lời: 0

Nhiệm Vụ Giáo Dục

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 22-7-2011 16:24:52 | Xem tất |Chế độ đọc

Nhiệm Vụ Giáo Dục
Tác giả: Bill Kuert
Giới thiệu khóa trình
PHẦN MỘT: NỀN TẢNG CỦA CƠ ĐỐC GIÁO DỤC.

1 Bối cảnh Kinh Thánh
2 Những nền tảng thần học của Cơ Đốc Giáo Dục
3 Chúa Jesus vị Giáo sư vĩ đại
PHẦN HAI: CHUẨN BỊ CHO VIỆC GIẢNG DẠY.
4 Vị trí của Kinh Thánh trong giáo trình của Hội Thánh
5 Giáo án
6 Tiến trình dạy và học
PHẦN BA: GIÁO DỤC THEO LỨA TUỔI.
7 Giáo dục thiếu nhi
8 Giáo dục thanh niên
9 Giáo dục người lớn
PHẦN BỐN: HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG.
10 Phát triển cơ cấu quản trị
11 Phát triển lãnh đạo không chuyên): Chương trình huấn luyện
lãnh đạo và giáo viên cho Hội Thánh
12 Phát triển Hội Thánh: mối liên hệ giữa Cơ Đốc giáo dục
và Hội Thánh tăng trưởng


Chương Trình Chức Vụ Cơ Đốc ICI
Tài liệu tự học nầy là một trong những tài liệu thuộc chương trình chức vụ Cơ đốc ICI. Các tài liệu trong chương trình nầy được sắp xếp theo hình thức có thể tự học dành cho các Mục sư và nhân sự muốn tham gia vào việc học Kinh Thánh có hệ thống. Những tài liệu nầy sẽ cung cấp nhiều phương tiện cần thiết đối với những chức vụ cụ thể và việc làm chứng đạo. Những tài liệu nầy có thể được sử dụng như những tài liệu chuẩn bị cho việc học tập ở trình độ cao hơn.
Các học viên có thể ghi danh học các khóa trình ICI riêng lẻ hoặc học theo chương trình để nhận bằng tốt nghiệp. Tuy nhiên bạn nên biết rằng một vài tài liệu có thể không phù hợp với một chương trình học nào đó. Sau khi đã học đủ các khóa trình cần thiết trong chương trình, chỉ những học viên nào đáp ứng các yêu cầu mới nhận được bài thi để có bằng tốt nghiệp. Vậy nên, bạn cần phải lựa chọn các khóa trình nào đáp ứng các yêu cầu của chương trình học.
Giáo Trình Chức Vụ Cơ Đốc thường xuyên được xem xét lại. Những sửa đổi và bổ sung được thực hiện nhằm mục đích cung cấp cho các học viên ICI những tài liệu tự học tốt nhất.
Chú ý
Chúng tôi chuẩn bị tài liệu học tập nầy để giúp các bạn học tập có hiệu quả. Xin vui lòng đọc phần giới thiệu khóa trình cẩn thận. Theo sát các chỉ dẫn và bạn sẽ có thể đạt được các mục đích của khóa học và sẽ không gặp khó khăn khi thi cuối khóa.

Giới Thiệu Khóa Trình
Hội Thánh cần một chương trình giáo dục
Chúa Jesus đã giao công tác nầy cho Hội thánh: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân Danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh và làm phép báptem cho họ và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Mat Mt 28:19). Khóa trình nầy đặt trọng tâm vào chữ “Dạy”. Cả Cựu Ước và Tân Ước đều cho chúng ta những ý tưởng quý báu về quan niệm và thực hành việc giảng dạy. Từ nền tảng nầy chúng ta có thể khám phá thấy nhiều nguyên tắc của việc giáo dục Cơ đốc sẽ giúp chúng ta hình thành phương pháp để hoàn tất nhiệm vụ dạy dỗ trong Đại Mạng Lệnh của Cứu Chúa.
Mọi sự giảng dạy đều cần có sự chuẩn bị. Chẳng hạn các giáo viên ở trường học đã phải trải qua nhiều năm học tập và huấn luyện trước khi có thể bước vào lớp và bắt đầu giảng dạy. Điều vô cùng quan trọng đối với các giáo viên Cơ đốc là vị trí của Kinh Thánh trong chương trình giảng dạy của Hội Thánh. Đây phải là trung tâm điểm của mọi sự dạy dỗ. Những yếu tố khác bao gồm việc chuẩn bị giáo án. Giáo viên cần chuẩn bị nội dung mỗi bài học một cách có hệ thống. Hơn nữa giáo viên cũng cần hiểu được các yếu tố của quá trình dạy và học .
Công tác giáo dục của Hội thánh nhắm tới mọi người ở mọi lứa tuổi. Thường những cố gắng của chúng ta tập trung vào các thiếu nhi. Trong khi thi hành chức vụ Chúa Jesus rõ ràng đã chú ý đến các thiếu nhi. Chúng ta phải dạy dỗõ chúng cách nào để đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của chúng. Cũng vậy, khi dạy dỗ thanh niên chúng ta phải hiểu được những nhu cầu cá biệt của chúng và đáp ứng một cách có hiệu quả. Lứa tuổi thanh niên là tuổi phải quyết định những điều quan trọng trong cuộc đời. Dạy dỗ những người trưởng thành đòi hỏi hiểu biết về những giai đoạn khác nhau trong cuộc sống mà họ phải trải qua. Chúng ta phải cố gắng dạy dỗ họ thế nào để đáp ứng những nhu cầu riêng tư của họ.
Cơ cấu tổ chức của một Hội thánh địa phương ảnh hưởng rất lớn trên kết quả của công tác giáo dục của Hội thánh. Vai trò của Mục sư quản nhiệm, cơ cấu của các ban ngành liên quan đến giáo dục và những quan điểm về hành chánh đều là những yếu tố quan trọng cần được cân nhắc. Tổ chức và lãnh đạo các tín đồ bình thường để họ trở thành các giáo viên và nhân sự trong Hội thánh là điều rất quan trọng. Sau cùng, công tác giáo dục của Hội thánh phải có liên quan đến nhiệm vụ chung của Hội thánh. Khi các giáo viên hiểu được ý nghĩa và nhiệm vụ chung của Hội thánh, họ sẽ hoàn tất công tác giáo dục và góp phần khiến Hội thánh tăng trưởng.
Mô tả khóa trình
Nhiệm Vụ Giáo Dục Của Hội Thánh (CM 3052-Bài thi: 2giờ)
Khóa trình nầy được chuẩn bị cho các Mục sư và những người chịu trách nhiệm về chương trình giáo dục tại các Hội thánh địa phương. Nó cung cấp nền tảng Kinh Thánh cho việc giáo dục Cơ đốc và những hướng dẫn để giảng dạy có hiệu quả. Việc sửa soạn giáo án và việc giảng dạy đối với những lứa tuổi khác nhau trong Hội thánh là những điều được chú ý đến. Phần còn lại của khóa trình bàn về cách tổ chức chương trình giáo dục, huấn luyện lãnh đạo và giáo viên, cũng như mối liên hệ giữa công tác giáo dục và nhiệm vụ chung của Hội thánh.
Những mục tiêu của khóa trình
Khi đã học xong khóa trình nầy bạn sẽ có thể:
Tóm lược điều Kinh Thánh dạy về quan niệm và việc thực hành giáo dục
Ghi nhận những nguyên tắc và phương pháp giảng dạy Kinh Thánh có hiệu quả
Hiểu được sự giáo dục Cơ đốc giúp pháp triển vai trò lãnh đạo như thế nào
Áp dụng những phương pháp giáo dục phù hợp với nhu cầu của từng lứa tuổi
Chứng minh rằng giáo dục Cơ đốc là một quá trình kéo dài suốt cuộc đời. Nó bao gồm thiếu nhi, thiếu niên và người trưởng thành hầu cho tất cả mọi người đều trở nên giống hình ảnh của Đấng Christ
Tiếp thu những kỷ năng cần thiết để hoạch định và điều khiển những chương trình hầu Hội thánh và gia đình cùng hợp tác trong nhiệm vụ giáo dục đặc biệt đối với những người trẻ
Nhận ra những phương cách để việc truyền giáo và giáo dục Cơ đốc bổ túc cho nhau
Sách giáo khoa
Bạn sẽ sử dụng quyển Nhiệm vụ giáo dục của Hội Thánh: Tài Liệu Tự Học Tập của Bill Kuert như sách giáo khoa và hướng dẫn học tập trong suốt khóa trình
Thời gian học tập
Chúng tôi đề nghị bạn nên có thì giờ đều đặn để học tập . Dĩ nhiên bạn có thể tận dụng thời giờ rảnh để học tập, nhưng điều đó không thể thay thế cho việc dành thì giờ đều đặn để học tập. Hãy cố gắng hoàn tất ít nhất một bài học mỗi tuần. Trường hợp học tại lớp thì mỗi bài học sẽ kéo dài 2 hoặc 3 tiết. Trường hợp tự học bạn có thể mất từ 3 đến 6 giờ cho một bài học.
Phương pháp học tập
Hãy chắc chắn bạn đã đọc cẩn thận những lời khuyên bảo về các phương pháp học tập được ghi trong tập tài liệu học viên của bạn. Chúng sẽ giúp bạn biết văn phòng ICI kỳ vọng bạn học tập một bài học như thế nào, cách kiểm tra tiến bộ từng phần và sửa soạn cho kỳ thi cuối khóa ra sao. Nếu bạn không quen học theo những chỉ dẫn của ICI thì bạn cần điều chỉnh phương pháp học tập của bạn để đạt thành quả cao nhất.
Các phương cách để học khóa trình nầy
Nếu bạn tự học tập khóa trình nầy thì tất cả các bài tập trừ bài thi cuối khóa có thể gởi qua đường bưu điện. Dầu ICI đã soạn khóa trình nầy để bạn tự học, nhưng bạn cũng có thể học nó theo nhóm hay theo lớp. Nếu bạn học khóa trình nầy theo nhóm thì giảng viên có thể giảng huấn thêm cho bạn. Trong trường hợp đó bạn nên tuân theo những chỉ dẫn của giảng viên.
Bố cục bài học và khuôn mẫu học tập
Mỗi bài học bao gồm: 1) Tựa đề bài học, 2) Lời mở đầu, 3) Dàn bài, 4) Những mục tiêu của bài học, 5) Sinh hoạt học tập, 6) Từ ngữ quan trọng, 7) Khai triển bài học bao gồm các câu hỏi nghiên cứu, 8) Bài làm tự trắc nghiệm và 9) Phần giải đáp các câu hỏi
Phần dàn bài và những mục tiêu của bài học sẽ cho bạn một cái nhìn tổng quát về đề tài, giúp bạn tập trung chú ý vào những điểm quan trọng nhất khi bạn nghiên cứu bài và những điều gì bạn cần phải học.
Phần khai triển bài học trong một khóa trình nầy giúp cho việc nghiên cứu tài liệu được dễ dàng và thông suốt. Bằng cách nghiên cứu từng phần mỗi lúc, bạn có thể sử dụng tốt những khoảng thời gian học tập ngắn mỗi khi bạn có thì giờ thay vì phải chờ đợi cho đến lúc bạn có đủ thì giờ để học trọn cả bài trong một lúc. Những chú thích, những bài tập và những câu giải đáp được soạn để giúp bạn hoàn thành những mục tiêu của bài học.
Đừng xem trước phần giải đáp cho tới khi bạn đã viết câu trả lời của bạn. Nếu bạn đưa ra câu trả lời của chính mình trước bạn sẽ nhớ đều bạn đã học cách tốt hơn. Sau khi bạn đã làm xong mỗi câu hỏi của bài học, hãy kiểm tra câu trả lời của bạn với câu giải đáp ở cuối bài học. Sau đó hãy sửa lại những điểm sai trong câu trả lời của bạn.
Tập tài liệu học viên mà bạn đã nhận kèm theo khóa trình nầy bao gồm những chỉ dẫn về các bài kiểm tra tiến bộ từng phần và bài thi cuối khóa nó cũng chứa đựng lời giải đáp cho các bài làm tự trắc nghiệm, bài kiểm tra tiến bộ từng phần, các tờ trả lời và các biểu mẫu quan trọng khác.
Bài kiểm tra tiến bộ từng phần và Bài Thi Cuối Khóa
Mặc dầu các câu hỏi nghiên cứu, các bài tự trắc nghiệm, bài kiểm tra tiến bộ từng phần không được tính điểm khi xếp hạng, nhưng bạn cũng nên gởi các tờ trả lời của bạn về bài kiểm tra tiến bộ từng phần cho giảng viên của bạn để sửa sai và có những đề nghị về việc học của bạn.
Chứng Chỉ Được Cấp
Để được cấp chứng chỉ của ICI cho khóa trình nầy bạn phải thi đậu kỳ thi cuối khóa. Bài thi nầy phải được làm với sự giám sát của một giám thị được ICI chuẩn thuận.
Khóa trình nầy cũng có thể được theo học vì giá trị thực tiễn của nó chứ không phải để lấy chứng chỉ. Trong trường hợp đó bạn không cần phải gởi bất cứ bài vở nào hay dự kỳ thi cuối khóa.
Thi lấy chứng chỉ
Bạn có thể nhận được chứng chỉ cho khóa trình nầy mà không cần phải nghiên cứu tài liệu miễn là bạn phải thi đậu kỳ thi cuối khóa. Tuy nhiên, vì các bài tập và các bài tự trắc nghiệm của sách hướng dẫn học tập được soạn để chuẩn bị bạn cho kỳ thi cuối khóa, nên có thể bạn muốn nghiên cứu những tài liệu nầy. Hãy liên lạc với văn phòng ICI để biết thêm chi tiết.
Thứ Hạng
Thứ hạng của bạn được căn cứ vào điểm thi cuối khóa. Xuất sắc: 90 - 100%, trên trung bình: 80-90%, trung bình: 70-79%, dưới trung bình: 60-69%, U: không đủ điểm để cấp chứng chỉ, NC: không hoàn tất bài thi trong thời gian qui định, W: không dự thi.
Chuyên viên soạn nội dung sách giáo khoa tự học.
Mục sự Bill Kuert có cấp bằng tiến sĩ giáo dục của Đại Học Tulsa (Hoa Kỳ) và có rất nhiều kinh nghiệm trong công tác hầu việc Chúa. Suốt 5 năm ông là Mục sư Chủ tịch Hội đồng Giáo dục Cơ đốc của một Hội thánh có 2500 thuộc viên và đã từng giảng dạy trong nhiều đại học tại Hoa kỳ. Ông cũng đã giảng dạy mười năm tại trường thần học Đông Phi Châu ở Nairobi, Kenya và là Mục sư tuyên úy của viên đại học Nairobi. Hiện nay ông là khoa trưởng Giáo Vụ trường thần học Đông Phi Châu.
Giảng viên ICI của bạn
Giảng viên ICI của bạn sẽ rất vui được giúp bạn với bất cứ cách nào có thể làm được. Hãy nêu những thắc mắc nào bạn có về việc sắp xếp kỳ thi cuối khóa cho giảng viên của bạn. Hãy chắc chắn dành đủ thời gian theo như những kế hoạch đã định. Nếu có vài người cùng muốn theo học khóa trình nầy, hãy xin giảng viên của bạn xếp đặt riêng cho việc học theo nhóm.
Cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn trong khi bạn bắt đầu nghiên cứu Khoa Giải Kinh. Mong rằng việc học tập của bạn làm cho đời sống và chức vụ của bạn thêm phong phú và nó sẽ giúp bạn hoàn thành phần của bạn trong thân thể Đấng Christ một cách hiểu quả hơn.
Bối Cảnh Kinh Thánh
Khi con trai lớn của tôi được 3 tuổi rưỡi, chúng tôi đến thăm một Hội thánh ở đó cả các em thiếu nhi nếu có cha mẹ đi cùng đều được dự Tiệc thánh. Tôi rất ngạc nhiên vì được trưởng dưỡng trong một Hội thánh chỉ những người trên 16 tuổi mới được dự Tiệc thánh. Do đó tôi liếc nhìn vợ tôi. Nàng gật đầu đồng ý và chúng tôi cho phép con mình dự Tiệc thánh. Chúng tôi hiểu rằng cháu chưa ý thức được ý nghĩa của Tiệc thánh. Cháu chỉ vui vẻ vì được ăn bánh. Cháu hỏi: “Làm sao ông Mục sư biết rằng con đói bụng?”
Suốt 2 ngày sau đó cháu luôn hỏi về Tiệc thánh. Bởi sự tò mò trong 2 ngày đó cháu đã học nhiều điều về Chúa hơn là suốt mấy tháng học tại trường Chúa nhật. Chúng tôi còn một vài băn khoăn về việc thiếu nhi dự Tiệc thánh nhất là đối với những em không có cha mẹ đi cùng. Nhưng chúng tôi tin rằng việc tiếp xúc với lời Đức Chúa Trời và những sinh hoạt trong Hội thánh sẽ gợi lên những hứng thú nơi những người tham dự.
Khi nghiên cứu bài học nầy bạn sẽ nhận ra rằng câu chuyện kể trên rất phù hợp với khuôn mẫu giáo dục trong Kinh Thánh. Trong thời Ysơraên cổ và thời Tân Ước sự giáo dục tôn giáo sử dụng cả những biến cố thông thường lẫn sự dạy dỗ trực tiếp để dạy về lời Đức Chúa Trời.
Dàn bài
Sự giáo dục trong Cựu Ước
Mục đích
Nội dung
Phương pháp/ truyền thống
Sự giáo dục trong Tân Ước
Chúa Jesus học sinh siêu việt
Sự giáo dục trong Hội thánh đầu tiên
Các thiếu nhi trong Tân Ước

Mục tiêu của bài học
Khi học xong bài nầy bạn sẽ có thể:
Tóm tắt quan niệm và sự thực hành giáo dục trong Cựu Ước
Tóm tắt quan niệm và sự thực hành giáo dục trong Tân Ước
Hiểu được nền tảng Kinh Thánh của việc giáo dục Cơ đốc
Sinh hoạt học tập
Đọc phần giới thiệu khóa trình. Đặc biệt chú ý đến phần bố cục bài học và khuôn mẫu học tập. Phần nầy chứa đựng những lời chỉ dẫn quan trọng cho việc thành đạt của bạn trong khóa trình nầy. Hãy chú ý đến những mục tiêu tổng quát khi bạn học khóa trình nầy. Tất cả các chỉ dẫn đó đều quan trọng nhưng có lẽ một số chỉ dẫn là nổi bậc đối với bạn. Hãy ghi những điều đó vào sổ tay của bạn.
Nghiên cứu dàn bài và những mục tiêu của bài học. Những phần nầy sẽ giúp bạn nhận biết những điều bạn nên cố gắng học hỏi trong khi nghiên cứu bài học nầy.
Nghiên cứu phần khai triển bài học. Hãy chắc chắn bạn đã đọc tất cả các câu Kinh Thánh tham khảo, làm các bài tập theo yêu cầu và kiểm tra các câu trả lời của bạn.
Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học và kiểm tra cẩn thận các câu trả lời của bạn so với các câu giải đáp. Hãy xem lại bất cứ mục nào bạn trả lời sai.
Từ ngữ quan trọng
Việc thông hiểu các từ ngữ chủ yếu được liệt kê ở đầu mỗi bài học sẽ giúp ích cho bạn khi nghiên cứu bài. Bạn sẽ tìm thấy các từ ngữ chủ yếu được xếp theo thứ tự ABC và được định nghĩa trong bảng từ ở cuối sách.
nghi ngờ về ý nghĩa của bất cứ từ nào trong bản liệt kê thì bạn có thể tra cứu ngay bây giờ hoặc khi bạn gặp chúng trong khi đọc bài học
Có thẩm quyền
Chế độ thần quyền
Giao ước
Giáo dục chính thức
Giáo dục thông thường
Nhà hội
Trường tiểu học
Xã hội hóa
Shema (xem bảng từ ở cuối sách
Khai Trỉển bài học
SỰ GIÁO DỤC TRONG CỰU ƯỚC
Hội thánh thừa hưởng nhiều từ gia sản Do Thái giáo. Hội thánh thời Tân Ước được thành lập từ người Do Thái. Những giáo sư Cơ đốc giáo đầu tiên là người Do Thái. Kinh Thánh của Hội thánh đầu tiên là Kinh Thánh của người Do Thái. Hình thức thờ phượng của Hội thánh đầu tiên theo khuôn mẫu của các Nhà hội. Hội thánh thời Tân Ước nhận thức trách nhiệm phải huấn luyện các tín đồ trong cùng một cách thức họ đã được huấn luyện.
Trong Ysơraên thời cổ nền giáo dục có những mục đích, nội dung và phương pháp riêng. Tuổi tác và khả năng của mọi lứa tuổi đều được cân nhắc. Chương trình giáo dục của Ysơraên cổ chứa đựng 4 yếu tố căn bản: đặc tính của học viên, mục tiêu giáo dục, nội dung và phương pháp giảng dạy. Để đạt thành quả bất cứ chương trình giáo dục nào cũng cần phải kết hợp 4 yếu tố căn bản trên. Sau đây chúng ta sẽ tập trung vào 3 yếu tố sau của chương trình giáo dục trong Ysơraên xưa.
Mục Tiêu 1: Xác định mục tiêu của giáo dụ
Gia sản tôn giáo của Ysơraên: Yếu tố nhắc nhở
Mục tiêu tổng quát đầu tiên của giáo dục tập trung vào việc nhắc nhở mối liên hệ của Ysơraên với Đức Chúa Trời và những điều Ngài đã làm cho con dân Ngài trong quá khứ. Ysơraên là dân riêng của Đức Chúa Trời, cho nên việc dạy dỗ các thế hệ để hiểu Đức Chúa Trời đã đối xử với dân tộc Do Thái như thế nào là điều rất quan trọng. Không nhớ những điều đó là không hiểu mối liên hệ đặc biệt giữa Ysơraên và Đức Chúa Trời với tư cách là một quốc gia và do đó không nhận được phước hạnh từ nơi Chúa.
Sự giáo dục đạo đức
Mục tiêu quan trọng thứ hai của giáo dục là dạy dỗ luân lý đạo đức. Sự dạy dỗ nầy hướng dẫn người ta sống cách tin kính và nhận được phước hạnh từ nơi Chúa.
Ápraham đã dạy dỗ con cái của ông làm điều công bình và ngay thẳng (SaSt 18:19). Sự công bình và ngay thẳng là hai mặt của bản tánh Đức Chúa Trời, chúng thường được nhắc đến trong cả Cựu và Tân Ước. Khi chúng ta làm điều công bình và ngay thẳng và dạy người khác cũng làm như vậy, chúng ta đang bước theo khuôn mẫu của Chúa. Đây là nội dung của sự giáo dục luân lý. Ý nghĩa nầy được trình bày rõ ràng nhất trong LeLv 19:2 “Hãy truyền cho cả hội chúng Ysơraên rằng: “Hãy nên thánh vì Ta Giêhôva Đức Chúa Trời các ngươi vốn là thánh”.
1 PhuDnl 6:1-3. Những phước hạnh nào được liên kết với
việc học và giữ điều răn của Đức Chúa Trời
.............................................................................................................
.............................................................................................................
2 Những mục tiêu của giáo dục trong Cựu Ước bao gồm tất cả những điểm sau: NGOẠI TRỪ thế nào
a) Ysơraên tốt hơn các dân tộc khác
b) Chúa đối xử với Ysơraên
c) Sống công bình và ngay thẳng
d) Chúa đã bảo vệ Ysơraên
MỤC TIÊU 2: Toùm taét noäi dung giaùo duïc toân giaùo trong Cöïu Öôùc
Như chúng ta đã thấy sự dạy dỗ để sống cách tin kính trong sinh hoạt riêng cũng như chung gắn liền với sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Điều đó giải thích tại sao nội dung của giáo dục bày tỏ ra chính Đức Chúa Trời và mối liên hệ giữa Ngài và Ysơraên. Rất dễ để nhìn thấy rằng nội dung của giáo dục tôn giáo trong Hội thánh thời Tân Ước là chính Đức Chúa Trời được mặc khải trong Chúa Jesus Christ và mối liên hệ giữa Hội thánh với Đấng Christ. Không những mối liên hệ của chúng ta với Chúa là quan trọng nhưng sự liên hệ giữa chúng ta với nhau cũng rất quan trọng.
3 Mat Mt 22:34-39. Xếp mỗi điều răn trong Mathiơ với điều có liên quan trong Cựu Ước
.... a) “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà
yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi”
.... b) “Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình”
1) LeLv 19:18
2) PhuDnl 6:5
4 Hãy xác định nội dung giáo dục tôn giáo trong các điều răn trên
...........................................................................................................
...........................................................................................................
Phương pháp/ Truyền thống
MỤC TIÊU 3: Ghi nhaän nhöõng phöông phaùp giaùo duïc toân giaùo khaùc nhau ñöôïc duøng trong Cöïu Öôùc
Giáo dục chính thức: Người lớn
Những sách vở hiện nay nói về sự giáo dục tôn giáo trong Ysơraên cổ và trong Hội thánh đầu tiên thường có khuynh hướng nhấn mạnh sự giáo dục trẻ em. Có lẽ lý do là bởi vì đề tài giáo dục trẻ em ít phức tạp. Những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh về giáo dục trẻ em thường rõ ràng và không có nhiều. Trong cố gắng đơn giản hóa đề tài giáo dục tôn giáo cho người lớn trong Cựu Ước , chúng ta cần ghi nhớ rằng toàn bộ Cựu Ước đã được viết ra nhắm đến người trưởng thành.
Trước tiên Đức Chúa Trời chính là người dạy dỗ. Ngài tự khải thị chính mình. Điều đó có nghĩa là Ngài dạy chúng ta biết Ngài là ai. Ngài cũng cho chúng ta biết mình là ai. Ngài dạy chúng ta về mối liên hệ giữa Ngài và chúng ta, chúng ta với Ngài, cũng như cách thức thờ phượng và phụng sự Ngài. Đức Chúa Trời đã có những mục tiêu và phương pháp cụ thể. Khi ban bố Luật pháp, Ngài đã dùng những lời rất mạnh mẽ và có thẩm quyền. Khói và lửa tại núi Sinai đã khiến dân sự phải tập trung chú ý. Nó tạo nên ấn tượng cho một biến cố quan trọng. Sự ban bố và tuân giữ Luật pháp là cách thức căn bản để dân tộc Ysơraên bày tỏ đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời, nhưng luật pháp mới chỉ là một phần trong chương trình giáo dục toàn diện của Đức Chúa Trời (XuXh 19:18-19; 20:1-21).
Thứ hai, Đức Chúa Trời đã sử dụng phương pháp tham gia trọn vẹn (total involvement). Thoạt đầu không hề có trường lớp chính thức. Mọi khía cạnh của đời sống đều có ý nghĩa giáo dục. Người ta học tập qua việc xã hội hóa, tức là quá trình học tập để sống trong xã hội. Bởi vì Ysơraên cổ là một quốc gia theo chế độ thần quyền nên chính Đức Chúa Trời là Đấng cai trị cả dân tộc. Dân Ysơraên rất nhạy cảm về Đức Chúa Trời hơn là chúng ta nghĩ. Luật pháp, cách ứng xử trong xã hội, trong gia đình và đời sống cá nhân đều có ý nghĩa tôn giáo tự bản chất (PhuDnl 4:9; XuXh 34:23). Cả xã hội được kiến tạo để dạy dỗ và giữ gìn những yếu tố nhắc nhở đức tin của họ. Kiểu mẫu của đền tạm, các đồ thờ phượng trong đó, y phục của các thầy tế lễ tất cả đều có ý nghĩa tôn giáo. Ngay cả cách thức dân chúng tụ họp chung quanh đền tạm cũng bày tỏ ý nghĩa Đức Chúa Trời hiện diện ở giữa họ. Hơn nữa cả dân sự cũng nhóm lại nhiều lần trong năm để được dạy dỗ kỷ lưỡng về luật pháp.
Mọi người đều tham dự vào việc giáo dục. Các thầy tế lễ và trưởng lão dạy dỗ dân chúng. Bậc cha mẹ dạy dỗ con cái (PhuDnl 31:9-13). Ngay cả các hoàng đế cũng đã dẫn đầu đoàn dân Ysơraên trong việc ca hát và thờ phượng trong một số buổi lễ. Nhiệm vụ căn bản của các tiên tri là giảng dạy, sự công nghĩa. Chẳng hạn Eâxơra đã dạy dỗ dân chúng trong nhiều ngày. Ông đã phiên dịch Lời Đức Chúa Trời ra ngôn ngữ đương thời cho dân chúng hiểu (NeNe 8:18).
Chương trình giáo dục của Ysơraên có một nội dung căn bản được lặp đi lặp lại và cập nhật hóa thường xuyên. Mục đích chính yếu của Đức Chúa Trời là hoàn thiện hóa một dân tộc sẽ tôn kính và phụng sự chỉ một mình Ngài.
5 Hãy mô tả trong tập của bạn những phương pháp Đức Chúa Trời đã dùng trong việc giáo dục thông thường dành cho người lớn trong thời Cựu Ước
Giáo dục thông thường: trẻ con
Mục tiêu giáo dục của Ysơraên đối với trẻ con là gì? Ngoài mười điều răn ra khúc Kinh Thánh quan trọng đối với Ysơraên thời cổ là PhuDnl 6:4-9. Đoạn Kinh Thánh nầy được gọi là Shema. Đoạn nầy được bắt đầu với chữ Shema có nghĩa là “Hãy nghe”. Sự dạy dỗ được coi là quý báu như chính mạng sống. “Hãy nắm chắc điều khuyên dạy, chớ buông ra; khá gìn giữ nó vì là sự sống của con” (ChCn 4:13).
Shema đặt ra khuôn mẫu cho việc dân Ysơraên dạy dỗ con cái của họ. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy dỗ luân lý trực tiếp qua đối thoại và vai trò của gia đình theo Josephus, sử gia Do Thái vào thế kỷ thứ II T.C trẻ con bắt đầu học tập lúc tuổi còn rất nhỏ có lẻ ngay sau khi thôi bú (EsIs 28:9). Người cha có trách nhiệm dạy dỗ con trai của mình (XuXh 12:26-27, PhuDnl 4:9, 6:7). Người mẹ phải dạy dỗ con gái của mình. Việc dạy dỗ bắt đầu lúc sáng sớm ngay sau buổi bình minh . Các con trẻ học đọc và viết tiếng Hêbơrơ và học thuộc lòng Kinh Thánh. Sự giáo dục trong Ysơraên chủ yếu có tính cách tôn giáo.
Một nguyên tắc dạy dỗ căn bản là dạy mỗi lần một chút. Trong EsIs 28:10 có chép: “Vì với họ phải giềng mối thêm giềng mối, giềng mối thêm giềng mối; hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; một chút chỗ nầy một chút chỗ kia”. Nội dung học nhiều hay ít tương ứng với khả năng của học trò. Mặt khác phần lớn sự dạy dỗ có hình thức khẩu truyền. Những phương thức học tập giúp cho dễ nhớ thuộc lòng được áp dụng.
6 PhuDnl 6:4-9 và mô tả phương pháp dạy dỗ được dùng ở đây.

7 Hãy liệt kê 4 phương pháp dạy dỗ có thể thấy được qua cách áp
dụng trong Ysơraên cổ.
.................................................................................................................
.................................................................................................................
MỤC TIÊU 4: So saùnh vai troø cuûa gia ñình vaø vai troø cuûa nhaø hoäi trong vieäc giaùo duïc
Sự giáo dục chính thức trong Ysơraên
Sự giáo dục chính thức trong Ysơraên bắt đầu tiếp theo sự phát triển của nhà hội. Nêbucátnếtsa phá hủy thành Giêrusalem và đền thờ Salômôn năm 587 T.C. Dân Ysơraên bị bắt làm phu tù đem qua Babylôn. Trong khi ở Babylôn họ thiết lập nhà hội để thay thế cho việc thờ phượng tại đền thờ. Ý nghĩa chính của từ nhà hội là “Nhóm họp với nhau”. Đó là lý do tại sao nhà hội trở thành nơi người Do Thái nhóm lại để thờ phượng và dạy dỗ. Vào thế kỷ thứ ba trước Chúa đã có hàng trăm nhà hội. Bất cứ nơi nào có nhiều hơn mười người đàn ông Do Thái đều có thể lập một nhà hội trong khắp xứ Palestin và ngay cả tại Giêrusalem mặc dầu ở đó đền thờ đã được xây lại.
Suốt các thế kỷ trước Chúa giáng sanh, mục đích chính của các nhà hội là cung cấp nơi thờ phượng và dạy dỗ luật pháp Do Thái. Vào năm 64 S.C một sắc luật Do Thái được thông qua kêu gọi việc thành lập các trường tiểu học trong mỗi thành phố, quận huyện. Các lớp tiểu học nầy được tiến hành trong các nhà hội. Người giữ nhà hội kiêm luôn thầy giáo. Phụ nữ không được phép giảng dạy (ITi1Tm 2:12). Các lớp học chỉ dành cho nam học sinh mà thôi.
Cần phải lưu ý rằng dù việc phát triển các nhà hội và các trường học trong các nhà hội quan trọng đến đâu, gia đình vẫn là nơi chủ yếu để dạy dỗ tôn giáo cho các trẻ em. Tại gia đình việc thích nghi với cuộc sống trong xã hội và việc học tập đi đôi với nhau và bổ túc cho nhau một cách rất tự nhiên. Trong gia đình, việc học tập thường diễn ra cách ngẫu nhiên, û trong những lúc thích hợp, khi trẻ em sẵn sàng đặc biệt để tiếp thu. Như thế chương trình giáo dục trong Ysơraên cổ bao gồm sự tham gia trọn vẹn. Mọi lãnh vực của đời sống cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội đều có ý nghĩa tôn giáo.
8 Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời bổ sung đúng cho câu nói sau đây: Gốc của từ ngữ nhà hội có ý nghĩa là:
a) “Hội họp với nhau”
b) “Dạy dỗ lẫn nhau”
c) “Thờ phượng Đức Chúa Trời”
d) “Thông công với nhau”
9 Trình bày ý tưởng của bạn về sự phát triển của nhà hội đã góp phần khiến chương trình giáo dục của Ysơraên trở nên chính thức hơn như thế nào
.................................................................................................................
.................................................................................................................
10 So sánh vai trò của gia đình với vai trò của nhà hội trong việc giáo dục


SỰ GIÁO DỤC TRONG TÂN ƯỚC
Mục tiêu 5: Ghi nhaän nhöõng caùch thöùc Chuùa Jesus ñaõ hoïc taäp
Chúa Jesus: Học sinh siêu việt
Chúng ta đã hiểu được cơ bản về mục đích, nội dung và các phương pháp của việc giáo dục trong Ysơraên cổ. Với những hiểu biết đó chúng ta cũng nên nhớ rằng Chúa Jesus đã được sinh ra trong một gia đình Do Thái khiêm tốn. Mặc dầu các sách Tin Lành không nói nhiều về thời thơ ấu của Chúa Jesus, Chúng ta vẫn có thể đoán rằng Ngài đã được dạy dỗ trong những phương cách truyền thống của người Do Thái. Những hình thức học tập bao gồm sự giáo dục thông thường trong gia đình, sự tham gia trọn vẹn trong sinh hoạt xã hội Do Thái gồm có việc giữ các ngày lễ đặc biệt, thăm viếng Giêrusalem và đền thờ, lui tới nhà hội và trường học tại nhà hội ở Naxarét cũng như học nghề thợ mộc.
Chúng ta được biết rằng lúc 12 tuổi Chúa Jesus đã thông thạo Kinh Thánh Hêbơrơ (LuLc 2:41-47). Chúng ta cũng đọc thấy rằng Chúa Jesus đã lớn lên và trưởng thành một cách bình thường, nói theo cách con người (2:52). Tóm lại Chúa Jesus đã có rất nhiều cơ hội để học hỏi lời Đức Chúa Trời và nhận biết các đường lối của Ngài. Ngài quả là Học sinh siêu việt. Sau nầy Ngài được biết đến như là Giáo sư vĩ đại.
11 Liệt kê 5 hình thức học tập Chúa Jesus đã trải qua.

12 2:41-47 và trình bày bằng cách nào chúng ta biết được rằng khi 12 tuổi Chúa Jesus đã là một Học sinh siêu việt
......................................................................................................................
......................................................................................................................
MỤC TIÊU 6: Tóm tắt quan điểm của Tân Ước về việc giảng dạy
Sự dạy dỗ trong Hội thánh đầu tiên
Ngay từ đầu Hội thánh đầu tiên đã nhận thức trách nhiệm giáo dục của mình như đã được nêu lên trong Đại Mạng Lệnh của Chúa (Mat Mt 28:19-20). Các sinh hoạt của Hội thánh đầu tiên bao gồm sự dạy dỗ của các sứ đồ, sự thông công, lễ bẻ bánh, sự cầu nguyện và việc tương trợ (Cong Cv 2:42-47).
Thoạt đầu Hội thánh được thiết lập tại Giêrusalem và những tín đồ đầu tiên là người Do Thái. Họ nhóm lại tại đền thờ vào ngày thứ nhất trong tuần và họ cũng nhóm lại tại nhà riêng vào các ngày khác trong tuần. Một phần do sự bắt bớ Cơ đốc giáo đã lan tràn khắp đế quốc La-mã và các dân tộc ngoại bang đã trở thành tín đồ. Chẳng bao lâu số tín đồ gốc ngoại bang đã nhiều hơn số tín đồ gốc Do Thái, nhưng họ lại không có quá trình giáo dục giống như người Do Thái. Họ vốn là những người ngoại đạo. Họ không biết hay biết rất ít về Kinh Thánh Hêbơrơ. Do đó Hội thánh đã coi việc dạy dỗ những tín đồ mới nầy là một nhiệm vụ giáo dục quan trọng.
13 Hãy kể 5 sinh hoạt của Hội thánh đầu tiên được nói đến trong 2:42-47.
......................................................................................................................
......................................................................................................................
14 Nhu cầu nào đã nhắc nhở Hội thánh đầu tiên về tầm quan trọng của công tác giáo dục?
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Qua 2 lá thơ của Phaolô gởi cho Timôthê chúng ta thấy rất rõ tầm quan trọng của chức vụ dạy dỗ trong Hội thánh Phaolô khuyên Timôthê đừng bỏ qua ơn ban cho ông (ITi1Tm 4:14), Timôthê nên nhen lại ơn của Đức Chúa Trời (IITi 2Tm 1:6). Timôthê đã nhận lãnh Đức Thánh Linh và bởi Đức Thánh Linh Timôthê cũng đã nhận được năng quyền đặc biệt để giảng đạo/dạy dỗ và bênh vực chân lý trong I và IITimôthê, 7 đề tài chính được trình bày nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy dỗ. Bạn sẽ hiểu 7 điều nầy khi trả lời câu hỏi sau đây:
15 Đọc những phân đoạn Kinh Thánh sau đây trính từ thơ của Phaolô gởi Timôthê và tóm tắt bằng lời lẽ riêng của bạn các đề tài chính liên quan đến tầm quan trọng của việc dạy dỗ. Chúng tôi trả lời câu thứ nhất giùm bạn.
a 3:16-17 Kinh Thánh hữu ích cho việc dạy dỗ
.........................................................................................................
b 3:16-17 (đề tài thứ hai)....................................................
............................................................................................................
c ITi1Tm 4:6, 11; 6:3-5......................................................................
............................................................................................................
d 6:1-2...................................................................................
..........................................................................................................
e 3:2; IITi 2Tm 2:24 ..........................................................
...........................................................................................................
f ITi1Tm 4:13; IITi 2Tm 4:2.............................................................
............................................................................................................
g 2:2 ...................................................................................
.........................................................................................................
Sự dạy dỗ về đạo lành là nền tảng để thiết lập những mối liên hệ trong gia đình. Cả gia đình bị phá đỗ bởi việc dạy dỗ những điều đáng ra không nên dạy (Tit Tt 1:11). Bởi việc thực hành điều ngay thẳng chúng ta có thể nêu gương sáng và như thế khiến cho sự dạy dỗ về Đức Chúa Trời trở nên hấp dẫn. Chúng ta cũng bịt miệng những kẻ chống lại sự dạy dỗ của chúng ta bằng cách tố cáo lỗi lầm của chúng ta. Đạo lý thuần chánh phải là tiêu chuẩn của những điều chúng ta dạy dỗ. Sự dạy dỗ có hiệu quả phải đem lại kết quả là giáo lý thuần chánh.
16 Trong Tít đoạn 2 có bao nhiêu thành phần tín đồ là đối tượng của sự dạy dỗ? Kể ra
......................................................................................................................
MỤC TIÊU 7: Xaùc ñònh taàm quan troïng cuûa vieäc giaùo duïc thieáu nhi theo quan ñieåm cuûa Taân Öôùc veà thieáu nhi
Các thiếu nhi trong Tân Ước
Thiếu nhi đối tượng quan trọng trong công tác giáo dục của Hội thánh ngày nay. Tầm quan trọng của chúng được bày tỏ rõ ràng trong Tân Ước không có bức tranh về Tin lành nào quý báu hơn hình ảnh Chúa Jesus quan tâm đến các thiếu nhi. Chúa Cứu Thế đã trách các môn đồ của Ngài khi họ muốn đuổi các thiếu nhi. Ngược lại Ngài đã để chúng đến với Ngài. Chúa Jesus đã nêu lên sự đơn sơ và sẵn sàng đón nhận vương quốc của Đức Chúa Trời nơi các thiếu nhi là gương mẫu để người lớn noi theo (Mat Mt 19:13-15; Mac Mc 10:13-16; LuLc 18:15-17). Chúa phán rằng nếu chúng ta không trở nên như con trẻ, thì sẽ không thể vào nước Đức Chúa Trời (Mat Mt 18:1-5). Chúa cũng phán rằng ai tiếp đón một trẻ em nhân Danh Ngài là tiếp đón chính Ngài (Mac Mc 9:36-37; LuLc 9:48).
Theo khuôn mẫu của Chúa chúng ta hiểu rằng các thiếu nhi rất quý báu đối với Hội thánh. Thiếu nhi là quý báu bởi vì chúng là đối tượng mà Chúa yêu thương. Đặc tính của các thiếu nhi dạy chúng ta hiểu về đặc tính của vương quốc Đức Chúa Trời
Tầm quan trọng của việc dạy dỗ trẻ thơ con đường nó phải theo (ChCn 22:6) được thể hiện trong đời sống của Timôthê. Người mẹ tin kính của Timôthê đã trung tín dạy Timôthê lời Đức Chúa Trời. điều mà trước đó bà đã học nơi chính người mẹ tin kính của mình (Cong Cv 16:1; IITi 2Tm 1:5; 3:15).
17 Cho biết tại sao bạn nghĩ rằng đôi khi các thiếu nhi bị lãng quên trong chương trình chung của Hội thánh
......................................................................................................................
......................................................................................................................
18 Tân Ước đề cập nhiều đến thiếu nhi. Hãy nghiên cứu các khúc Kinh Thánh sau và nêu lên ý chính của mỗi đoạn bằng lời lẽ riêng của bạn.
a Eph Ep 6:1; ITi1Tm 3:4.....................................................................
.............................................................................................................
b Eph Ep 6:4; CoCl 3:21 ......................................................................
.............................................................................................................
c ITi1Tm 3:4, 12; Tit Tt 1:6 ......................................................................
..............................................................................................................
d IICo 2Cr 12:14 ..................................................................................
19 Căn cứ vào thái độ của Đấng Christ đối với thiếu nhi, hãy nói lên giá trị của việc giáo dục trẻ em.
Để kết luận chúng tôi muốn nhấn mạnh lần nữa rằng Đại Mạng Lệnh của Chúa chính là lệnh truyền phải dạy dỗ và môn đồ hóa mọi dân tộc. Chúa Cứu Thế đã dành nhiều thời giờ hơn hết cho việc huấn luyện các môn đồ hơn là bất cứ công việc nào. Hội thánh thời Tân Ước đã coi nhiệm vụ của Hội thánh chủ yếu là nhiệm vụ dạy dỗ. Như thế công tác dạy dỗ có một gia sản Kinh Thánh rất giàu có. Chúng ta cần nhận biết gia sản đó. Chúng ta cũng cần hoạch định nhiệm vụ của Hội thánh chúng ta theo khuôn mẫu đó.
Baøi töï kieåm tra
Sau khi ôn bài hãy làm bài tự trắc nghiệm sau đây. Sau đó so sánh những câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tài liệu. Sửa lại những phần bạn trả lời sai.
CÂU TRẮC NGHIỆM. Đánh dấu các mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất

1 Căn cứ vào sự áp dụng trong Ysơraên cổ, sự giáo dục luân lý chủ
yếu bao gồm
a) Học thuộc mười điều răn
b) Thực hành những điều công bình và ngay thẳng
c) Giảng dạy về sự công nghĩa
d) Trách phạt những kẻ không vâng lời Đức Chúa Trời
2 Trong Ysơraên cơ chế chủ yếu chịu trách nhiệm giáo dục tôn giáo
cho các thiếu nhi là
a) Gia đình
b) Nhà hội
c) Trường tiểu học
d) Trường các tiên tri

3 Những hình thức giáo dục Chúa Jesus đã tham dự bao gồm những
điều sau NGOẠI TRỪ
a) Sự giáo dục trong gia đình
b) Giữ các ngày lễ đặc biệt
c) Trường học tại nhà hội
d) Trường các tiên tri

CHỌN GIỮA ĐÚNG - SAI. Viết Đ trước câu trả lời đúng. Viết S trước câu trả lời sai
.... 4 Một trong những mục đích chính của chương trình giáo dục trong
Ysơraên thời Tân Ước là làm sao để mỗi thế hệ ghi nhớ điều Đức
Chúa Trời đã làm đối với thế hệ trước.
.... 5 Nội dung của giáo dục tôn giáo trong Ysơraên cổ tập trung vào
mối liên hệ giữa dân chúng và Đức Chúa Trời. ngoài ra không có
gì khác.
.... 6 Sự giáo dục chính thức trong các nhà hội luôn luôn là một phần
trong sự giáo dục tôn giáo của Ysơraên cổ
.... 7 Quan điểm của Tân Ước về thiếu nhi bao gồm ý tưởng là các em
phải phụng dưỡng cha mẹ.

CHỌN GIỮA A VÀ B. Làm theo các chỉ dẫn dành cho mỗi loại câu hỏi
8 -11 nhận định những phát biểu liên quan đến Shema bằng cách điền vào chỗ trống với
A nếu là phát biểu đúng
B nếu là phát biểu sai
...... 8 Sự dạy dỗ trẻ em được thực hiện 2 lần một tuần
...... 9 Trẻ em chủ yếu được dạy dỗ tại gia đình
..... 10 Nội dung của sự dạy dỗ là mười điều răn
..... 11 Bậc cha mẹ phải treo những câu Kinh Thánh trong nhà và gắn
trên thân thể
12 -14 nhận định những phát biểu liên quan đến quan điểm của Tân Ước về sự dạy dỗ
A nếu là phát biểu đúng
B nếu là phát biểu sai
..... 12 Sự dạy dỗ là cần thiết để có đức tin mạnh mẽ
..... 13 Sự dạy dỗ tách biệt với đời sống gương mẫu
..... 14 Nội dung được dạy dỗ phải đặt nền tảng trên giáo lý thuần
chánh
TRẢ LỜI NGẮN. Trả lời vắn tắt câu hỏi sau bằng lời lẽ riêng của bạn
15 Hãy liệt kê bốn nguyên tắc hay phương pháp của nền giáo dục của
Hêbơrơ.
....................................................................................................................
....................................................................................................................

PHẦN GIẢI ĐÁP
Các câu trả lời đã bị đảo lộn thứ tự để bạn khó thấy câu giải đáp cho câu hỏi sau trước khi bạn đã tự trả lời. Xin đừng xem trước các giải đáp, nhưng hãy viết câu trả lời của riêng bạn trước khi so sánh nó với phần giải đáp. Làm như thế sẽ giúp bạn nhớ điều mình đã học

1. Một đời sống lâu dài và tốt đẹp, gia tăng của cải, được vào đất hứa.
2. a) Ysơraên tốt hơn các dân tộc khác
3. a 2) PhuDnl 6:5 b 1) LeLv 19:18.
4. a. Mối liên hệ của chúng ta với Chúa bao gồm sự hiểu biết về Ngài và về những điều Ngài đã làm.
5. Đức Chúa Trời dạy dỗ dân chúng về chính Ngài và về mối liên hệ giữa họ với Ngài bằng cách xử dụng các phương pháp trực tiếp và đầy thẩm quyền khi ban Luật pháp cho họ. Ngài cũng mời gọi họ tham gia trọn vẹn bằng cách nhấn mạnh ý nghĩa tôn giáo trọng mọi lãnh vực của cuộc sống và trong việc xã hội hóa cũng như bằng cách đòi hỏi họ tham dự các kỳ lễ trong năm.
6. Hãy dạy dỗ con cái của bạn bằng những chỉ bảo hằng ngày trong lúc chuyện trò cả trong lẫn ngoài gia đình, suốt mọi thời gian trong ngày; làm thế nào để chung quanh bạn luôn có những điều nhắc nhở.
7. 1) Sự giáo dục bắt đầu ở tuổi rất nhỏ, 2) Sự dạy dỗ bắt đầu từ sáng sớm, 3) Theo nguyên tắc một chút chỗ nầy một chút chỗ khác, 4) Được tiến hành bằng cách khẩu truyền với những cách thức giúp dễ nhớ.
8. a) “Nhóm họp với nhau
9. Câu trả lời của bạn. Với việc phát triển các nhà hội dân chúng có được nhiều lớp học và nhiều thầy giáo hơn. Sự gia tăng số các nơi thờ phượng cũng khiến gia tăng hoạt động giáo dục
10. Bất chấp sự xuất hiện của nền giáo dục chính thức tại các nhà hội, gia đình vẫn là phương thế giáo dục chủ yếu.
11. 1) Giáo dục thông thường tại gia đình, 2) Sự tham gia trọn vẹn vào nếp sống xã hội Do Thái, 3) Viếng Giêrusalem, 4) Lui tới nhà hội ở Naxarét, 5) Học nghề.
12. Cha mẹ Chúa Jesus tìm thấy Ngài trong đền thờ đang khiến mọi người kinh ngạc bởi sự hiểu biết Kinh Thánh Hêbơrơ của Ngài.
13. a. Sự dạy dỗ của các sứ đồ, sự thông công, lễ bẻ bánh, sự cầu nguyện, sự tương trợ
b. Mối liên hệ của chúng ta với đồng loại bao gồm hành vi luân lý và cuộc sống tin kính
14. Thành phần tín đồ thay đổi từ đa số là người Do Thái sang đa số là
người ngoại đạo
15. a Kinh Thánh hữu ích cho việc dạy dỗ
b Sự dạy dỗ giúp ích cho việc hiểu Kinh Thánh
c Sự dạy dỗ là cần thiết để có đức tin mạnh mẽ
d Sự dạy dỗ giúp phát triển mối quan hệ trong gia đình
e Sự dạy dỗ là bổn phận của Mục sư và những người lãnh đạo thuộc linh
e Sự dạy dỗ là bổn phận của Mục sư và những người lãnh đạo thuộc linh
g Sự dạy dỗ cần được duy trì và kế tục mãi. Câu nói “Mỗi người dạy một người” nói lên ý nghĩa nầy
16. Có 6 loại: đàn ông đứng tuổi, đàn bà đứng tuổi, phụ nữ còn trẻ, thanh niên, nô lệ, chủ nô lệ.
17. Câu trả lời của bạn. Một số người coi thiếu nhi là tầm thường và ít ảnh hưởng. Khi bị lãng quên các thiếu nhi cũng không biết phản đối. Những lãnh đạo trong Hội thánh rất dễ dành thì giờ cho những người làm ra tiền để có thể dâng hiến cho công việc Chúa
18. a Con trẻ phải kính trọng và vâng lời cha mẹ
b Những người làm cha không nên chọc giận con cái bằng những kỷ
luật quá nghiêm khắc
c Những lãnh đạo Hội thánh “Trưởng lão, giám mục, chấp sự” phải
khéo dạy dỗ con cái và cai trị nhà riêng mình.
d Cha mẹ phải chu cấp cho con cái mình
19. Câu trả lời của bạn. Sự đơn sơ và cởi mở của các thiếu nhi khiến chúng dễ tiếp thu sự dạy dỗ và tiếp nhận vương quốc Đức Chúa Trời? Nếu các thiếu nhi được dạy dỗ về Đức Chúa Trời ngay lúc còn nhỏ thì cả đời sống của chúng sẽ được thay đổi và làm vinh hiển cho nước Đức Chúa Trời. Giống như trường hợp Timôthê, mỗi thế hệ cần phải chinh phục thế hệ kế tiếp cho Đấng Christ

NỀN TẢNG THẦN HỌC CỦA CƠ ĐỐC GIÁO DỤC
Ngay sau đám cưới, người chồng trẻ nói với cô dâu thế nầy: “Em nghe kỷ nhé. Điều anh sắp nói với em sẽ luôn luôn đúng trừ phi anh nói ngược lại. Anh yêu em”. Hai mươi năm sau tôi gặp lại vợ chồng nầy. Và cho tới lúc đó anh ta không hề nhắc lại: “Anh yêu em”. Điều ngạc nhiên là hôn nhân của họ có vẻ hạnh phúc. Đó quả là một trường hợp ngoại lệ. Người vợ đã hiểu rằng người chồng vẫn tiếp tục yêu nàng nếu như anh ta không nói ngược lại.
Trong bài học nầy chúng ta sẽ thảo luận về một số nguyên tắc thần học dựa vào đó chương trình giáo dục của Hội thánh sẽ hoạt động. Trước đây một số người đã nghĩ rằng vì những nguyên tắc nầy đã được chấp nhận rộng rãi nên chúng đương nhiên được coi là đúng đắn. Chúng ta không cần đề cập tới hay duyệt xét lại các nguyên tắc đó nữa. Tuy nhiên ngày nay Hội thánh đang phải cạnh tranh với các tôn giáo khác và các chủ nghỉa chính trị một cách ráo riết chưa từng có trong lịch sử Hội thánh. Đây là lúc cần nhắc lại những nguyên tắc đã khiến phương pháp giáo dục của Hội thánh trở nên độc đáo. Ước mong đời sống của bạn được phong phú hơn khi bạn hiểu được ý nghĩa lớn lao của việc hoàn tất nhiệm vụ giáo dục của Hội thánh.
Dàn Bài
Thực tại đặt nền tảng trên Thượng Đế
Chân lý do mặc khải
Nhân loại học mang hình ảnh Thượng Đế
Những giá trị trường cửu
Những mục tiêu hướng về Đấng Christ
Giáo trình đặt trọng tâm trên Kinh Thánh
Phương pháp giảng dạy nhấn mạnh sự giao tiếp
Bầu không khí yêu thương
Thầy giáo đầy dẫy Đức Thánh Linh
Lượng định căn cứ trên sự tăng trưởng
Mục tiêu bài học
Khi hoàn tất bài học bạn sẽ có thể:
Trình bày và giải thích những nền tảng thần học của Cơ đốc giáo dục theo mười nguyên tắc?
Nhận thức đầy đủ hơn về cơ hội đầy hứng khởi trong việc hoàn tất nhiệm vụ giáo dục của Hội thánh .
Sinh hoạt học tập
Nghiên cứu từng phần của bài học theo sự hướng dẫn đã nói ở bài một.
Xem bảng từ ở cuối sách để hiểu ý nghĩa của những từ quan trọng mà bạn không biết.
Chú ý đặc biệt đến những vấn đề liên quan đến sự khác biệt giữa việc đo lường theo lượng và đo lường theo phẩm
Làm bài tự trắc nghiệm soạn theo nội dung bài học nầy và kiểm tra lại câu trả lời của bạn. Sửa lại những câu bạn trả lời sai.
Từ ngữ quan trọng
Người ngoại tộc, ngoại quốc, ngoại chủng
(Chế độ) chuyên chế
Năng động
Nền tảng
Phẩm
Lượng
Khai triển bài học
THỰC TẠI ĐẶT NỀN TẢNG NƠI THƯỢNG ĐẾ
MỤC TIÊU 1: Trình bày lý do tại sao Cơ đốc giáo dục phải được xây dựng trên thực tại đặt nền tảng nơi Thưởng Đế
Một vị giáo sư cũ của tôi đã nói như thế nầy khi mô tả một vài triết gia: “Họ chết mà vẫn không biết chắc là mình đã sống”. Có một số triết gia đã nghi ngờ sự hiện hữu của mọi vật. Họ không biết chắc là có Thượng Đế hay không; họ không rõ là thế giới có thực hữu không; họ không chắc rằng họ đang sống. Đối với họ cuộc sống chỉ là một ảo giác, hay một giấc mơ.
Thực tại vĩnh cửu là gì? Khi mọi chuyện đều sụp đổ, khi mọi người đều qua đi cái gì còn tồn tại? Sứ đồ Phierơ trả lời cho câu hỏi nầy như sau: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời” (GiGa 6:68). Câu trả lời của Hội thánh cho câu hỏi về thực tại vĩnh cửu cũng giống như câu trả lời của Kinh Thánh là bắt đầu bằng sự sáng tạo của Thượng Đế Đấng là nguyên thủy và nền tảng của mọi tạo vật (CoCl 1:16-17; Cong Cv 17:24-28).
Kinh Thánh không hề nổ lực chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế. Sự hiện hữu của Ngài được mặc nhiên chấp nhận. Một trong những đặc tính của Thượng Đế là sự trường tồn của Ngài. Chúa phán với Môise từ trong bụi gai đang cháy: “Ta là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu” (XuXh 3:14). Ta là Đấng Vĩnh Cửu, Ta không có khởi đầu và không có kết thúc. Đó là điều Chúa phán bảo Môise. Cả SaSt 1:1 và GiGa 1:1 đều mặc nhiên chấp nhận sự hiện hữu và thực tại của Thượng Đế. Nền giáo dục Cơ đốc phải đặt nền tảng vững vàng trên sự thực hữu của Thượng Đế như người mù được chữa lành đã từng tuyên bố “Tôi chỉ biết một điều là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng” (9:25). Chúng ta biết Thượng Đế thực hữu không phải bởi vì chúng ta có thể chứng minh sự hiện hữu của Ngài, nhưng bởi vì Ngài đã biến đổi biết bao cuộc đời.
1 Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu phát biểu đúng về thực tại vĩnh cửu
a Thực tại vĩnh cửu ám chỉ điều tiếp tục tồn tại khi mọi sự khác sụp đổ
b Thực tại vĩnh cửu ám chỉ về đời sống như là một ảo giác
c Thực tại vĩnh cửu có liên quan đến căn nguyên trường cửu
d Thực tại vĩnh cửu ám chỉ cuộc sống như là một giấc mơ
e Thực tại vĩnh cửu ám chỉ nền tảng của mọi tạo vật
2 Theo như tác giả của sách giáo khoa nầy, sự vĩnh hằng của Thượng Đế
được xác định rõ nhất ở:
a) SaSt 1:1
b) XuXh 3:14
c) GiGa 1:1
d) 9:25
3 Hãy giải thích lý do Cơ đốc giáo dục phải được xây dựng trên thực tại
đặt nền tảng nơi Thượng Đế.


CHÂN LÝ DO MẶC KHẢI
MỤC TIÊU 2: Ghi nhận những quan điểm Kinh Thánh về chân lý
Làm thế nào để con người có thể nhận biết Thượng Đế? Làm thế nào con người có thể biết các chân lý về Thượng Đế? Đối với những nan đề liên quan đến chân lý về Thượng Đế, nhân loại rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Đức Chúa Trời là thần. Chưa có ai đã thấy Thượng Đế bao giờ. Thế thì làm sao con người có thể có hiểu biết về Thượng Đế được? Câu trả lời là không, trừ phi Thượng Đế quyết định tự mặc khải chính Ngài. Ở đây chúng ta khám phá thấy một trong những đức tính nổi bậc của Thượng Đế. Không những Ngài là Đấng vĩnh hằng, Tự hữu Hằng hữu mà Ngài còn là Đấng Tự mặc khải. Thượng Đế đã không ngừng mặc khải chính Ngài cho nhân loại.
Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Thi Tv 19:1; RoRm 1:18-21). Đức Chúa Trời đã tự khải thị cho Môise và các tiên tri. Đức Chúa Trời đã mặc khải về Ngài qua Chúa Jesus Christ. Nếu Thượng Đế không tự mặc khải chính Ngài như vậy thì chúng ta sẽ thực sự biết được những gì về Ngài (GiGa 1:1-2:14)? Sự mặc khải nầy được ghi lại trong Kinh Thánh. Chính Đức Chúa Trời đã thiết lập phương thức ghi chép và bảo tồn Kinh Thánh. Giả như Ngài đã không làm như vậy thì đã không có gì lưu lại cho các thế hệ tương lai là những người không được chứng kiến các biến cố trong Kinh Thánh. Chúng ta tìm thấy trong Kinh Thánh những ký thuật có kèm theo sự giải thích. Thượng Đế quan tâm để những ý nghĩa của các biến cố cũng được chép vào Kinh Thánh . Kinh Thánh là nền tảng đúng đắn và đáng tin cậy duy nhất qua đó con người có được những mặc khải của Thượng Đế. Do đó chỉ Kinh Thánh mới có thể đem đến cho con người sự hiểu biết và chân lý về Thượng Đế. Nền giáo dục Cơ đốc phải nhấn mạnh lẽ thật nầy
4 Cho biết bằng cách nào con người có thể biết chân lý


5 Chính Kinh Thánh cũng đề cập đến mục đích và thẩm quyền của Lời Chúa. Hãy đọc các khúc Kinh Thánh sau đây và liên hệ với nội dung của từng đoạn.

..... a Lời Chúa là chân ly
..... b Các trước giả của Kinh Thánh
được hà hơi bởi Thánh Linh
..... c Đấng Christ đã đến để hoàn tất
luật pháp
..... d Kinh Thánh là toàn vẹn và chúng ta
không thể thêm hoặc bớt điều gì
..... e Kinh Thánh có ích cho việc dạy dỗ, bẻ trách
sửa trị, dạy người trong sự công bình
1) IITi 2Tm 3:16-17
2) IIPhi 2Pr 1:20-21
3) GiGa 17:17
4) KhKh 22:18-19
5) Mat Mt 5:17-18
NHÂN LOẠI HỌC MANG HÌNH ẢNH THƯỢNG ĐẾ
MỤC TIÊU 3: Trình bày hậu quả chính của sự sa ngã và khả năng tiềm ẩn trong con người
Tiến sĩ Karl Menninger, một bác sĩ tâm thần Cơ đốc giáo đã nêu một câu hỏi: “Tội lỗi dẫn đến điều gì?” Với tư cách một bác sĩ tâm thần ông hiểu rằng việc chẩn đoán chính xác là cần thiết để dẫn tới phương pháp điều trị thích hợp. Oâng cũng biết rằng có một loại bệnh tâm thần mà người ta hầu như hoàn toàn không biết đến. Trong tâm thần học hiện đại điều đó được gọi là vô trách nhiệm đạo đức.
Kinh Thánh cho chúng ta biết về Thượng Đế và cũng cho chúng ta biết về con người. Kinh Thánh chép rằng loài người đã được dựng nên theo hình ảnh của Thượng Đế (SaSt 1:26) và loài người có khả năng tương giao với Thượng Đế. Loài người đã được dựng nên như một hữu thể thuộc linh có khả năng thông công với Đức Chúa Trời. Không có một tạo vật nào khác được dựng nên như vậy. Con người hoàn toàn khác biệt một cách độc đáo với thế giới loài vật.
Bởi vì mối tương giao giữa Ađam và Đức Chúa Trời đã bị cắt đứt do tội lỗi, loài người hiện sống trong tình trạng thù nghịch với Thượng Đế và xa cách Ngài. Loài người không thể phục hồi lại mối liên hệ với Thượng Đế. Kinh Thánh chép rằng sự công bình của chúng ta chỉ là một cái nhớp trước mặt Đức Chúa Trời (EsIs 64:6; RoRm 3:23). Thượng Đế đã ban cho một phương cách để phục hồi mối liên hệ giữa nhân loại với chính Ngài. Phương cách đó là sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá (ICo1Cr 15:22). Chương trình giáo dục của Hội thánh không được rời khỏi quan niệm con người vốn có bản chất thuộc linh. Bởi vì Đấng Christ đã chịu chết cho mọi người nên mỗi người đều có khả năng trở thành con cái của Thượng Đế. Con Đức Chúa Trời đã trở thành Con loài người để con cái loài người có thể trở thành con cái Đức Chúa Trời.
6 Dựa trên câu hỏi của Tiến sĩ Menninger, bạn cho rằng khoa tâm thần học hiện thời đã nhấn mạnh điều gì trên bản chất thuộc linh của con người.

7 Mô tả tiềm năng tàng ẩn trong mỗi con người


NHỮNG GIÁ TRỊ TRƯỜNG CỬU
MỤC TIÊU 4: Xác định những giá trị mà nền giáo dục Cơ đốc cần nhấn mạnh
Chương trình giáo dục của Hội thánh phải đề cao các giá trị thuộc linh và trường cửu. Bậc thang giá trị của thế giới nầy được thiết lập trên quan niệm về sở hữu. Đối với một vài nền văn hóa thì đây là sự sở hữu những điều vật chất và thú vui nhất thời. Đối với các nền văn hóa khác thì đó có thể là sở hữu tôi tớ và súc vật. Chúng ta cần nhớ rằng chúng ta là những khách lạ trong thế giới nầy (IPhi 1Pr 2:11). Chúng ta chỉ là những khách lữ hành trên đường từ trần gian về Thiên Quốc. Thế nên chúng ta không nên xét đoán theo tiêu chuẩn và giá trị của trần gian như Lót, cháu của Aùpraham đã làm (SaSt 13:10)
Chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến nước của Đức Chúa Trời hơn là nước của trần gian nầy (Mat Mt 6:19-21, 33; CoCl 3:2). Chúng ta không thể làm tôi hai chủ (Mat Mt 6:24; LuLc 16:13). Chúng ta phải nhớ rằng làm bạn với thế gian là thù nghịch cùng Thượng Đế (Gia Gc 4:4); Do đó chúng ta không được dính líu đến những công việc xấu xa của trần gian. Hãy nhớ rằng các thiên sứ đã kéo Lót ra khỏi thành Sôđôm để cứu ông khỏi dính líu sâu hơn vào những việc xấu xa của trần gian và để giải thoát mạng sống của ông. SaSt 19:15-26
Ước mong những lời của bài thánh ca cổ trong Hội thánh sẽ nhắc nhở mỗi đời sống của chúng ta:
Lạy Chúa, hồn con hướng về những giá trị vĩnh cửu
Với tấm lòng hướng về giá trị đời đời,
Con nguyện mỗi ngày sống trọn vẹn cho Chúa mà thôi
Chúa ơi, con mong tìm những giá trị đời đời
8 Theo bạn tại sao Kinh Thánh lại dùng những chữ “khách lạ”, “Lữ hành” để mô tả cuộc sống Cơ đốc nhân? Hãy ghi chép vào tập của bạn

9 Hãy xác định những giá trị mà nền giáo dục Cơ đốc phải nhấn mạnh

NHỮNG MỤC TIÊU ĐẶT TRỌNG TÂM NƠI ĐẤNG CHRIST.
MỤC TIÊU 5: Hãy soạn chương trình giáo dục của Hội thánh với những mục tiêu đặt trọng tâm nơi Đấng Christ
Mục tiêu là rất quan trọng. Nó xác định mục đích của các hoạt động. Nó vạch ra phương hướng để chúng ta noi theo. Sự xác định các mục tiêu cũng có thể giúp chúng ta trong việc lượng định thành quả. Những mục tiêu của chương trình giáo dục của Hội thánh là gì? Những người lãnh đạo của một Hội thánh địa phương hay của một giáo phái có thể đặt ra nhiều mục tiêu. Các Hội thánh Tin lành đều đồng ý rằng các mục tiêu phải đặt trọng tâm nơi Đấng Christ. Chẳng hạn một giáo hội đã xác định mục tiêu của chương trình giáo dục đơn giản như sau:
Mục tiêu chủ yếu là giúp đỡ mọi người nhìn biết Chúa như đã được mặc khải qua Chúa Jesus Christ, đáp ứng với Ngài bằng đức tin cá nhân, cố gắng bước theo Ngài trong tinh thần vâng phục, sống theo sự dẫn dắt và quyền năng của Đức Thánh Linh, và tăng trưởng cho tới mức trưởng thành trong Đấng Christ
- Allen and Howse, pp. 14-15

Một mục tiêu lớn có thể bao gồm nhiều mục tiêu cụ thể: Sự cứu rỗi, Sự đầy dẫy Thánh Linh, Sự thờ phượng, sự bố thí, công tác phục vụ và nhiều điều khác. Mục tiêu sau cùng phải là khiến các tín đồ trở nên trưởng thành trong đời sống tin kính và trong những phẩm chất giống Đấng Christ (Eph Ep 4:11-14)
10 Hãy viết ra mục tiêu tổng quát của bạn về chương trình giáo dục của Hội thánh. Bạn có thể kể ra các mục tiêu cụ thể cùng với mục tiêu tổng quát. Hãy ghi chép trong tập của bạn .

GIÁO TRÌNH ĐẶT NỀN TẢNG TRÊN KINH THÁNH
MỤC TIÊU 6: Giải thích tại sao sự giảng dạy Kinh Thánh cần được áp dụng vào những nhu cầu của con người
Nhu cầu cần phát triển những kiến thức về Kinh Thánh trong chương trình giáo dục của Hội thánh là điều rất rõ ràng. Điều nầy càng đặc biệt đúng bởi vì chúng ta đã nói Thượng Đế là thực tại vĩnh cửu , chân lý là sự mặc khải của Thượng Đế được ghi chép trong Kinh Thánh và mục tiêu giáo dục của Hội thánh là khiến mọi người trở nên giống Chúa Jesus Christ. Chúng tôi nhắc đến điều nầy ở đây để các độc giả thấy rõ rằng kiến thức về Kinh Thánh chỉ là một phương tiện để đạt đến một cứu cánh, chứ tự nó không phải là cứu cánh.
Không nên dạy Kinh Thánh một cách máy móc, chỉ học thuộc lòng, chỉ tìm kiến thức. Kinh Thánh phải được áp dụng để giải quyết các nhu cầu và nan đề của con người. Kinh Thánh phải giúp con người nhận biết Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cần phải giúp các học viên tăng trưởng về mặt thuộc linh. Đời sống của học viên được thay đổi ra sao từ những điều họ học quan trọng hơn là tri thức về Kinh Thánh mà thôi. Hội Thánh cần dạy cả tri thức về Kinh Thánh lẫn sự thích ứng của Kinh Thánh đối với nhu cầu của con người, sự tiến bộ và trưởng thành thuộc linh. Khi nhìn như vậy thì làm sao Kinh Thánh lại không chiếm địa vị trung tâm trong chương trình giáo dục của Hội Thánh?
11 Trong trường hợp nào Kinh Thánh được giảng dạy mà không đem lại sự thay đổi trong đời sống?

12 Dùng từ ngữ riêng của bạn giải thích nội dung chương trình giáo dục của Hội Thánh phải như thế nào?

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC NHẤN MẠNH SỰ GIAO TIẾP
MỤC TIÊU 7: Mô tả phương pháp dạy dỗ của Chúa Jesus và khía cạnh độc đáo trong phương pháp giáo dục của Hội thánh
Như đã đề cập đến trong bài một, sứ điệp của Đức Chúa Trời cho dân Ysơraên luôn luôn có thẩm quyền. Tuy nhiên chúng ta không được lầm lẫn giữa sứ điệp có thẫm quyền và phương pháp giảng dạy độc đoán đòi hỏi sự vâng lời mù quáng. Chính Chúa Cứu Thế vốn đầy uy quyền nhưng lại sử dụng các phương pháp nhấn mạnh sự giao tiếp và tham gia của các học viên. Điều này được thấy rõ qua nhiều cuộc đối thoại giữa Chúa và những người khác. Cuộc đối thoại giữa Chúa và Nicodem (GiGa 3:1-36) hoặc với người đàn bà Xamari (4:1-54) là hai thí dụ điển hình.

Kenneth O.Gangel, người có thẫm quyền trong lãnh vực Cơ Đốc giáo dục, trong cuốn sách của ông nhan đề Đào tạo Lãnh đạo cho Chương trình Giáo dục của Hội Thánh ở trang 36 và 37 đã đưa ra một số gợi ý về phương pháp giảng dạy trong Hội Thánh. Hãy xem thử những gợi ý của ông được tóm tắc sau đây phù hợp với những điều chúng ta biết về phương pháp của Chúa Giê -xu như thế nào.
1) Nhấn mạnh sự thích hợp
2) Sẵn sàng mở rộng giáo trình nếu nhu cầu đòi hỏi
3) Khuyến khích học viên hoạt động và tham gia.
4) Tạo nên những hứng thú khích lệ việc học
5) Bày tỏ sự quan tâm đối với từng học viên .
6) Phát huy tinh thần sáng tạo
Phương pháp giảng dạy của Hội Thánh cần phải lệ thuộc vào quyền năng của Thánh Linh. Đức Thánh Linh vẫn tôn trọng các khả năng của con người. Nhưng chính Ngài là phương thế để nhận biết Đức Chúa Trời và hiểu được các chân lý thuộc về Đức Chúa Trời. Ngài được gọi là Thần lẽ thật. Chức vụ của Ngài là hướng dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật và giúp chúng ta nhận biết Đáng Christ để được cứu rỗi (GiGa 16:12-15). Chức vụ của Đức Thánh Linh khiến cho phương pháp giảng dạy của Hội Thánh trở nên độc đáo.
13 Hãy liệt kê một vài đối thoại giữa Chúa Giê-xu và những người khác. Ghi chép trong sổ tay của bạn .
14 Mô tả phương pháp giảng dạy của Chúa Giê-xu bao gồm những điều gì?


BẦU KHÔNG KHÍ YÊU THƯƠNG
MUÏC TIEÂU 8: Moâ taû nhöõng yeáu toá hình thaønh moâi tröôøng hoïc taäp cuûa Hoäi thaùnh
Đặc tính tổng quát của Cơ Đốc giáo dục đích thực là mối liên hệ yêu thương. Các Cơ Đốc nhân cần phải yêu thương nhau . Nhờ đó thế gian sẽ biết rằng chúng ta là môn đồ của Chúa Giê -xu (17:1-26) mối liên hệ giữa các Cơ Đốc nhân phải theo gương mẫu của Chúa : “Hãy yêu thương nhau. Như ta đã yêu thương các ngươi thể nào các ngươi cũng phải yêu thương nhau như vậy” (13:34). Tình yêu thương theo gương mẫu của Chúa là đặc điểm riêng của Cơ Đốc giáo dục. Việc điều khiển lớp học, sự khích lệ và việc kỷ luật trong môi trường Hội Thánh phải khác với bối cảnh ngoài đời bởi yếu tố yêu thương này .
15 Theo bạn việc điều khiển lớp học, sự khích lệ và việc kỷ luật trong bối cảnh Hội Thánh khác với ngoài đời như thế nào ? Tình yêu thương của Đấng Christ tạo nên sự khác biệt nào? ghi chép trong tập của bạn.

Nói về việc điều khiển lớp học thì trong bối cảnh ngoài đời ý tưởng chính là tinh thần tự chế, ngược lại trong bối cảnh Hội Thánh điểm quan trọng là sự cai trị của Đức Thánh Linh. Bởi vì con người chưa tái sanh chống nghịch lại Đức Chúa Trời nên tâm linh của họ không thể kiểm soát được. Do đó ý tưởng tự kìm chế chỉ là nổ lực riêng chắc chắn sẽ thất bại. Các Cơ Đốc nhân cần được Đức Thánh Linh kiểm soát và thể hiện các bông trái của Thánh Linh trong đời sống. Phao lô nói : “Tôi không còn sống nữa, nhưng là Đấng Christ sống trong tôi” (GaGl 2:20) . Chúng ta chỉ thực sự tự chế khi chúng ta bằng lòng để Đức Thánh Linh cai trị đời sống chúng ta. Sự cai trị của Ngài đem lại tình yêu thương thiên thưọng thể hiện qua mối liên hệ giữa chúng ta và người khác.
Nói về sự khích lệ thì sự khích lệ của con người về căn bản là ích kỷ. Người ta thường tìm kiếm danh vọng , của cảivà địa vị để nâng mình lên. sự giáo dục ngoài đời thường khêu gợi những lợi ích vị kỷ để khích lệ học viên. Ngược lại lý tưởng của Cơ Đốc giáo dục là tình yêu vô kỷ theo gương Chúa Giê -xu . Nguồn khích lệ chính của Cơ Đốc giáo dục là tinh thần yêu thương phục vụ Chúa và tha nhân. Đó là điều sẽ xảy ra khi chúng ta tìm kiếm nước Đức Chúa Trời trước hết, khi đó ý muốn của Chúa sẽ vượt trên ý riêng của chúng ta. Chúng ta trở thành những tôi tớ của Ngài, hết lòng yêu mến và phục vụ Ngài .
Về việc kỷ luật chúng ta chỉ nói đến sự sửa dạy và quản trị chứ không nói đến hình phạt. Những giáo viên ngoài đời thường đồng nhất hóa việc áp dụng kỷ luật với những cách thức gây ảnh hưởng trên học viên khiến họ làm theo ý muốn mình. Dường như không có ý thức đúng đắn về mục đích của việc kỷ luật. Do họ coi việc phát triển luân lý có tính cách tương đối nên họ nghĩ rằng mỗi cá nhân có quyền tự do lựa chọn điều mình muốn làm trong giới hạn nào đó. Bởi vậy những giáo viên ngoài đời thực sự không thỏai mái khi phải áp dụng kỷ luật. Họ cho rằng kỷ luật là một vấn đề xã hội tương đối không đáng quan tâm.
Hội Thánh có cái nhìn khác về vấn đề này. Hội Thánh cho rằng áp dụng kỷ luật là một hành động yêu thương. “Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, hễ ai mà Ngài nhận làm con thì cho roi cho vọt” (HeDt 12:6), “Vì Đức Giêhôva yêu thương ai, thì trách phạt nấy, như một người cha đối cùng con trai yêu dấu mình” (ChCn 3:12). Hội thánh coi việc kỷ luật như là sự tập luyện về sự công bình. Kinh Thánh dạy dỗ chúng ta thuận phục sự kỷ luật dầu điều đó là không vui vẻ trong một thời gian ngắn “Thật các sự sửa phạt lúc ban đầu coi như một cớ buồn bã, chớ không phải sự vui mừng, nhưng về sau sanh ra bông trái công bình...” (HeDt 12:11).
Khi cần phải kỷ luật, điều duy nhất đáng kể là lợi ích thuộc linh lâu dài của các học viên. “Nhưng về sau sanh ra bông trái công bình và bình an cho những kẻ đã chịu luyện tập vậy” (HeDt 12:11). Như thế thầy giáo không nên làm theo thói thường trong cuộc đời, nhưng làm điều đẹp lòng Chúa. Học viên của chúng ta sẽ kính trọng chúng ta khi chúng ta sửa dạy họ hơn là khi chúng ta không làm như vậy. Nên nhớ rằng: Thi hành kỷ luật là một hành động yêu thương, nó bày tỏ rằng chúng ta thật sự quan tâm đến học viên.
16 So sánh quan điểm ngoài đời về sự điều khiển lớp học, sự khích lệ và sự kỷ luật với quan điểm của Hội thánh bằng cách hoàn tất biểu mẫu sau đây:
Bầu không khí
1) Điều hành lớp học
2) Sự khích lệ
3) Kỷ luật
Quan điểm ngoài đời
Quan điểm của HT
17 Mô tả yếu tố hình thành bầu không khí giáo dục Cơ đốc


GIÁO VIÊN ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH
MỤC TIÊU 9: Mô tả những điều hỗ trợ và ngăn trở công tác của Đức Thánh Linh
Đức Thánh Linh phải là nguồn sức mạnh năng động trong đời sống của giáo viên và học viên Cơ đốc. Theo Cong Cv 2:1-4 thì các giáo viên cần thiết phải được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Họ cũng cần thực hành các ân tứ thuộc linh (Eph Ep 4:11-16; ICo1Cr 12:1-11; RoRm 12:3-8). Điều cũng quan trọng là giáo viên phải sống trong tinh thần đầu phục và thể hiện các bông trái của Thánh Linh (GaGl 5:22-26). Những giáo viên Cơ đốc phải có mối liên hệ sống động với Chúa Cứu Thế. Họ phải sống đời thuộc linh gương mẫu. Họ phải có thể biện minh như sứ đồ Phaolô đã biện minh cho chức vụ của ông tại Têsalônica “Vả, đạo Tin Lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa. Vì anh em biết rõ cách chúng tôi ở giữa anh em...” (ITe1Tx 1:5).
Các giáo viên cũng có thể hạn chế hành động của Đức Thánh Linh trong và qua đời sống họ. Họ có thể làm như thế bằng cách giữ những tội lỗi giấu kín trong đời sống. Họ có thể làm như thế bằng cách không vâng phục Đức Thánh Linh. Khi làm như vậy, họ còn có thể đem lại sỉ nhục cho Tin Lành mà họ giảng dạy.
18 Trong những điều sau đây điều nào quan trọng hơn
a) Đời sống đầu phục thể hiện bông trái của Đức Thánh Linh
b) Đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh và thực hành các ân tứ Thánh Linh
c) Cả hai đều quan trọng như nhau
19 Dùng từ ngữ riêng của bạn giải thích tầm quan trọng của các ân tứ Thánh Linh và bông trái của Thánh Linh trong đời sống và chức vụ của giáo viên. Ghi chép trong tập của bạn.

LƯỢNG ĐỊNH CĂN CỨ TRÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG
MỤC TIÊU 10: Phân biệt giữa việc lượng định sự tăng trưởng theo phẩm chất và theo số lượng bằng cách nhận định các thí dụ về mỗi trường hợp
Như đã đề cập ở phần trước, mục tiêu giáo dục Cơ đốc là sự trưởng thành trong Chúa Cứu Thế. Mục đích sau cùng là khiến các học viên đạt tới sự trưởng thành với một đời sống tin kính và đức hạnh. Mục tiêu nầy đương nhiên bao gồm việc đưa học viên tới chỗ tin nhận Chúa. Họ phải trở thành con cái Chúa trước khi có thể trưởng thành.
Một câu hỏi được nên lên liên quan đến sự trưởng thành thuộc linh là làm thế nào chúng ta có thể xác định hay lượng định được điều nầy? Có hai cách lượng định: theo số lượng và theo phẩm chất. Số lượng liên quan đến các con số; phẩm chất liên quan đến chất lượng hay đặc tính chủ yếu của sự vật. Tuy nhiên, trong lãnh vực thuộc linh phẩm chất được dùng để nói đến sự tăng trưởng (trưởng thành) của Cơ đốc nhân.
Lương định thành quả của chương trình giáo dục Cơ đốc theo các con số thì dễ hơn theo phẩm chất. Chúng ta có thể tổng kết số người mới tin Chúa, và chúng ta cũng có thể tổng kết số người tham dự trường Chúa nhật của tháng nầy so với cùng thời gian trong năm trước. Chúng ta cũng có thể làm như thế đối với sự dâng hiến của Hội thánh. Khi nói về lượng định theo phẩm chất thì bức tranh sẽ có thể khác. Kenneth Gangel, ở trang 39, đã đề nghị những người lãnh đạo Hội thánh nên đặt những câu hỏi sau đây để có thể xác định mức độ trưởng thành của tín đồ
1) Người nầy có biết chân lý của Phúc âm không?
2) Người nầy có thấu hiểu chân lý không?
3) Người nầy có thực hành chân lý không?
Chúng ta cũng có thể đặt ra những câu hỏi cụ thể hơn:
4) Người nầy có giải quyết các vấn đề trong cuộc sống của mình một cách đẹp lòng Chúa không?
5) Phương thức người đó giải quyết vấn đề có giống Chúa Cứu Thế không?
6) Người nầy có cái nhìn về cuộc đời theo tinh thần Cơ đốc không?
7) Hệ thống giá trị của người nầy có hoàn toàn phù hợp với Kinh
Thánh không?
8) Người nầy có liên hệ tốt với tha nhân không?
9) Đời sống người nầy có kết quả không?
10) Người nầy có thể tự nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của mình
không?
11) Người nầy có thể chia sẻ sứ điệp của Phúc âm cho người khác cách
hiệu quả không?
Điểm quan trọng là những lãnh đạo của Hội thánh cần có phương cách theo dõi sự tăng trưởng thuộc linh. Chúng ta cần khai triển các phương pháp lượng định mức độ trưởng thành của những người mình chăm sóc. Chúng ta cần biết điều gì đang diễn tiếp chỉ khi đó chúng ta mới biết được mình có đạt được mục tiêu hay không, có tiến bộ hay không và có cần thay đổi điều gì không. Phương cách theo dõi sự tăng trưởng thuộc linh là một phần quan trọng trong việc soạn chương trình.
20 Khoanh tròn mẫu tự đứng trước các phát biểu ĐÚNG liên quan đến việc lượng định
a Khi đối diện với vấn đề trưởng thành của Cơ đốc nhân, chúng ta cần
sử dụng cả lượng định theo số lượng lẫn theo chất lượng.
b Về phương diện thuộc linh lượng định theo phẩm chất liên quan tới
số người mới tin Chúa
c Nói chung các lãnh đạo trong Hội thánh thường quen thuộc với việc
lượng định theo phẩm chất hơn là lượng định theo số lượng
d Sự tăng trưởng theo số lượng được lượng định qua các con số thống kê
21 Ghép những lời phát biểu về sự lượng định với những cách thức lượng định
..... a Có 150 người tham dự trường
Chúa nhật
..... b Êxơtê đem thực hành chân lý
của lời Chúa
..... c Hùng giải quyết các vấn đề
một cách đẹp lòng Chúa
..... d Dũng dường như không có cái nhìn
về cuộc đời theo tinh thần Cơ đốc
..... e Hệ thống giá trị của Minh không phù
hợp với Kinh Thánh
..... f Số tiền dâng tuần nầy nhiều hơn tuần trước
1) Lượng định theo phẩm chất
2) Lượng định theo số lượng
Bài tự kiểm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1 Thực tại cuối cùng ám chỉ đến tất cả những điều sau NGOẠI TRỪ
a) Cuộc sống là một ảo giác
b) Nền tảng của sự hiện hữu của chúng ta
c) Đấng hiện hữu khi mọi sự đã sụp đổ
d) Thượng Đế Đấng sáng tạo
2 Chương trình giáo dục của Hội thánh đề cao những giá trị tập trung vào
a) Tài sản của chúng ta trong đời nầy
b) Những điều thuộc thế gian nầy
c) Vương quốc Đức Chúa Trời
d) Tất cả những điều trên
3 Tầm quan trọng của các mục tiêu trong Cơ đốc giáo dục nằm ở chỗ chúng
a) Hỗ trợ việc hoạch định chiến lược giáo dục
b) Chỉ rõ phương hướng phải nhắm đến
c) Giúp chúng ta biết có tiến bộ hay không
d) Tất cả các điều trên
4 KHÔNG nên dạy Kinh Thánh
a) Cách máy móc
b) Chỉ để học thuộc lòng
c) Chỉ để thêm kiến thức
d) Tất cả các điều trên
5 Những đối thoại giữa Chúa Jesus và những người khác đã minh họa
a) Các giá trị của Cơ đốc giáo dục
b) Phương pháp giảng dạy của Cơ đốc giáo dục
c) Giáo trình
d) Mục tiêu
6 Yếu tố khích lệ chính yếu trong Cơ đốc giáo dục là a) Sự tự do
b) Kỷ luật
c) Tình yêu thương
d) Sự sợ hãi

CHỌN GIỮA ĐÚNG và SAI. Ghi Đ trước các câu trả lời ĐÚNG. Ghi S nếu SAI.
....... 7 Chúng ta chỉ có thể biết chân lý do bởi Thượng Đế tự mặc khải chính mình cho chúng ta
....... 8 Những bác sĩ tâm thần thời nay nhấn mạnh rằng tinh thần vô trách nhiệm đạo đức của con người là hậu quả của sự sa ngã.
...... 9 Nội dung của chương trình giáo dục của Hội thánh không phải chỉ là tri thức về Kinh Thánh nhưng còn là kinh nghiệm cá nhân với Chúa Cứu Thế Jesus
..... 10 Phương pháp giảng dạy của Cơ đốc giáo dục hoàn toàn lệ thuộc vào các phương thế của con người
..... 11 Các giáo viên Cơ đốc cần thực hành các ân tứ Thánh Linh hơn là thể hiện bông trái của Thánh Linh
..... 12 Khi xem xét một người có áp dụng chân lý hay không là chúng ta đang sử dụng cách lượng định sự tăng trưởng theo phẩm chất để đánh giá tiến bộ của chương trình giáo dục Cơ đốc
..... 13 Lời Chúa là chân lý
..... 14 Đấng Christ đến để bãi bỏ luật pháp
..... 15 Chúng ta có thể thêm vào nhưng không được bớt đi điều gì từ Kinh Thán
..... 16 Kinh Thánh là nền tảng của việc huấn luyện trong sự công bình

XẾP CHO PHÙ HỢP. Làm theo những chỉ dẫn riêng cho mỗi loại câu hỏi

17-21 Xếp những nguyên tắc của Cơ đốc giáo dục sao cho phù hợp với những lãnh vực có liên quan
..... 17 Các mục tiêu
..... 18 Sự lượng định
..... 19 Nhân loại học
..... 20 Phương pháp giảng dạy
..... 21 Thực tại
a) Đặt nền tảng trên Thượng Đế
b) Nhấn mạnh sự giao tiếp
c) Mang hình ảnh Thượng Đế
d) Căn cứ trên sự tăng trưởng
e) Tập trung nơi Đấng Christ
22-26. Xếp những nguyên tắc của Cơ đốc giáo dục sao cho phù hợp với những lãnh vực có liên quan
..... 22 Bầu không khí
..... 23 Giáo trình
..... 24 Chân lý
..... 25 Thầy giáo
..... 26 Các giá trị
a) Do mặc khải
b) Trường cửu
c) Đặt nền tảng trên Kinh Thánh
d) Đầy dẫy Thánh Linh
e) (Chú trọng) tình yêu thương
PHẦN GIẢI ĐÁP
1. Câu trả lời a, c và d là đúng
2. b) XuXh 3:14
3. Hội thánh phải theo sát sự dạy dỗ rõ ràng của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời là thực tại tối hậu, là căn nguyên của mọi sự.
4. Chúng ta chỉ có thể nhận biết chân lý bởi vì Thượng Đế đã tự mặc khải qua việc sáng tạo và qua lời Chúa. Kinh Thánh ký thuật chân lý về Thượng Đế và về mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài.
5. a 3) GiGa 17:17
b 2) IIPhi 2Pr 1:20-21
c 5) Mat Mt 5:17-18
d 4) KhKh 22:18-19
e 1) IITi 2Tm 3:16-17
6. Câu trả lời của bạn. Khoa tâm thần học ngày nay có khuynh hướng giảm thiểu bản chất thuộc linh của con người
7. Đấng Christ đã khiến mọi người đều có khả năng tiềm tàng để trở thành con cái Đức Chúa Trời.
8. Câu trả lời của bạn. Khách lạ và người lữ hành thường không thâu trữ của cải. Họ mang theo hành trang gọn nhẹ để mau đạt tới đích. Họ không chôn chân ở một nơi nào. Họ thuộc về một quốc gia khác cũng như các Cơ đốc nhân là công dân của nước Trời
9. Cần nhấn mạnh những giá trị thuộc linh, vĩnh cửu. Trung tâm điểm của chúng ta là vương quốc Đức Chúa Trời, thiên đàng. Chúng ta không thể tập trung vào những của cải hay vật chất của trần gian nầy bởi vì chúng ta không thể làm tôi hai chủ.
10. Câu trả lời của bạn cần bao gồm ý tưởng đem người khác đến sự trưởng thành trong Chúa.
11. Bằng cách dạy một cách máy móc, yêu cầu học viên học thuộc lòng Kinh Thánh mà không hiểu ý nghĩa và không thấy sự thích hợp
12. Câu trả lời của bạn. Tôi xin nói rằng kiến thức về Kinh Thánh cộng với kinh nghiệm sống với Lời Hằng Sống (Jesus Christ) đưa tới kết quả là một đời sống tận hiến cho Đấng Christ
13. Câu trả lời của bạn, Chẳng hạn với 12 môn đồ, với 70 môn đồ khác trước khi được sai đi, với bà gia của Phierơ, với người bại liệt, với Mari Mađơlen, với con gái của Giairu, vua Hêrốt, với mười người phung, với Xachê, với tên ăn cướp trên thập giá. Tìm các thí dụ khác trong các sách Phúc âm.
14. Bao gồm sự giao tiếp và tham gia đặc biệt qua hình thức đối thoại với người khác
15. Câu trả lời của bạn. So sánh câu trả lời của bạn với phần bài học có liên quan trong sách giáo khoa của bạn.
16. 1) Tự kiềm chế đối chiếu với được Thánh Linh kiểm soát
2) Sự quan tâm ích kỷ đối chiếu với tình yêu thương vô kỷ
3) Gây ảnh hưởng, lôi kéo và thiếu hẳn mục đích đối chiếu với sự bày tỏ tình thương yêu và huấn luyện trong sự công bình
17. Tình yêu thương của Chúa Cứu Thế đem lại sự khác biệt cho Cơ đốc giáo dục. Mối giao tiếp yêu thương đòi hỏi chú tâm đến Chúa và người khác hơn là chính mình
18. c) Cả hai đều quan trọng như nhau
19. Câu trả lời của bạn. Tôi muốn nói rằng chúng ta cần dựa trên sự điều khiển của Đức Thánh Linh khi Ngài sử dụng chúng ta trong ân tứ dạy dỗ. Chúng ta cần phải nhạy bén với Thánh Linh để Ngài có thể chỉ cho chúng ta những nhu cầu của những người chúng ta hướng dẫn. Chúng ta cần bày tỏ tình thương yêu cũng như các bông trái của Đức Thánh Linh hầu cho những học viên của chúng ta sẽ nhìn thấy Chúa trong chúng ta (ICo1Cr 13:1-13; Eph Ep 4:11-16; GaGl 5:22-26).
20. Câu a và d đúng
21 a 2) Số lượng
b 1) Chất lượng
c 1) Chất lượng
d 1) Chất lượng
e 1) Chất lượng
f 2) Số lượng

CHÚA JESUS VỊ GIÁO SƯ VĨ ĐẠI
Mấy năm trước đây tôi được xem một cuốn phim về cuộc đời Chúa Cứu Thế. Tôi rất xúc động khi thấy đám đông dân chúng đi theo Chúa bất cứ nơi nào Ngài đến. Chúa thường xuyên chuyện trò với những người theo Ngài ngay cả khi Chúa từ giã đám đông Ngài vẫn ở cùng với các môn đồ của Ngài. Cuốn phim trình bày Chúa giảng dạy từ hừng sáng cho đến hoàng hôn. Mặc dù có lúc Chúa rời khỏi đám đông để cầu nguyện riêng, Ngài thường xuyên giao tiếp với người khác. Tôi mong muốn có thể in một tấm hình của một cảnh trong phim đó ở phần đầu bài học nầy. Chúng ta sẽ mô tả Chúa Jesus vị giáo sư vĩ đại nhưng lời lẽ mà thôi thì không đủ.
Một phần khó khăn trong việc hình dung các hoạt động của vị giáo sư vĩ đại là do bởi quan niệm về dạy dỗ đã thay đổi quá nhiều. Chúng ta thường nghĩ đến việc dạy dỗ như là một hoạt động trong lớp học bao gồm một số học trò. Tuy nhiên phần lớn sự dạy dỗ của Chúa Jesus là ở ngoài trời, giữa chỗ công cộng và bao gồm đám đông những người lớn ngồi nghe Ngài suốt nhiều ngày. Chúa Cứu Thế chắc hẳn phải có một giọng nói mạnh mẽ và một sự kiên nhẫn lớn lao để có thể dạy dỗ nhiều người trong một thời gian dài như vậy. Những người nghe Ngài không phải lúc nào cũng sẵn sàng tiếp thu. Đôi khi họ tỏ thái độ thù nghịch. Thông thường họ tỏ ra nghi ngờ. Tuy vậy Ngài thu hút và giữ sự chú ý của những người nghe Ngài hơn bất cứ người nào đây là chìa khóa khiến Ngài thành công trong việc giảng dạy.
Dàn bài
Sứ điệp của Chúa
Phẩm chất của Chúa
Mục đích của Chúa
Phương pháp của Chúa
Thu hút sự chú ý
Nêu câu hỏi và trả lời
Kể chuyện
Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn sẽ có thể:
Tóm tắt sứ điệp Chúa Jesus giảng dạy
Tóm tắt những phương pháp giảng dạy Chúa sử dụng.
Theo sát mẫu mực giảng dạy của Chúa
Sinh hoạt học tập
1. Nghiên cứu cẩn thận 5 phương pháp chính Chúa Jesus đã dùng trong
giảng dạy
2. Làm bài tự trắc nghiệm và soát lại câu trả lời của bạn. Xem lại những
câu bạn trả lời sai
3. Ôn lại bài 1-3 để sửa soạn cho việc kiểm tra đánh giá từng phần.
Đọc phần hướng dẫn trong tập tài liệu của bạn. Dùng bảng trả lời có
sẵn trong tập tài liệu học viên, theo sát những chỉ dẫn khi làm bài,
sau đó nộp cho giảng viên ICI là người sẽ chấm bài và cho điểm.

Từ ngữ quan trọng
ám chỉ
đưa vào
hiện thân
khả năng thu hút
phù hợp
quan tâm
sự nhục thể hóa (trở nên xác thịt)

Khai triển bài học
SỨ ĐIỆP CỦA CHÚA
MỤC TIÊU 1: Nêu lên ý nghĩa chính trong sứ điệp của Chúa và đưa ra một vài chủ đề
Trong bài một chúng ta đã nghiên cứu hệ thống giáo dục Do Thái. Chúng ta đã ghi nhận rằng Chúa Jesus là sản phẩm của hệ thống đó. Tuy nhiên, chỉ hiểu biết nền tảng giáo dục của Ngài thì chưa đủ để cắt nghĩa tính độc đáo, sứ điệp, tư cách, mục đích và các phương pháp của Ngài. Khuôn mẫu giảng dạy mà Ngài đã nêu lên cần được nghiên cứu cẩn thận. Hội thánh càng theo sát khuôn mẫu của Ngài bao nhiêu thì sẽ thành công bấy nhiêu trong công tác giáo dục.
1 Xem Mat Mt 4:23; 9:35 Mac Mc 1:14-15. Sứ điệp và chủ đề chính mà Chúa Jesus giảng dạy là gì? Ngài nói về những khía cạnh nào của chủ đề nhiều nhất?

Từ ngữ “Nước Đức Chúa Trời” được dùng trong những khúc Kinh Thánh trên không liên quan đến vị trí địa dư nào. Từ ngữ “nước, vương quốc” nói đến sự trị vì của Chúa Cứu Thế. Chúa Jesus đã nói với những người Pharisi rằng “nước Đức Chúa Trời đã đến tận các ngươi” (Mat Mt 12:28). Ngài không muốn nói rằng ho ïcó kinh nghiệm tâm linh sâu xa với Thượng Đế. Điều đó chỉ có nghĩa cụ thể là nước Đức Chúa Trời đã đến nơi họ bởi vì họ đang đứng trước mặt vị vua của vương quốc đó.
Đấng Christ đã xuất hiện để khởi đầu vương quốc. Do đó vương quốc Đức Chúa Trời là một thực thể trong hiện tại. Nhưng nó cũng là thực thể của tương lai (LuLc 22:16-18). Sự trị vì của Đấng Christ sẽ không hoàn toàn cho tới khi Ngài tái lâm cùng với các Thánh đồ của Ngài (ITe1Tx 3:13). Khi đó Ngài sẽ thiết lập vương quốc của Ngài trong sự sung mãn và quyền năng trên khắp trái đất (LuLc 19:12-15). Do đó vương quốc hiện nay của Ngài không phải là vương quốc trần gian. Trong khoảng thời gian giữa sự đến lần thứ nhất và sự tái lâm của Ngài, Chúa ngự trị trong tấm lòng và đời sống của những người tin Ngài. Khoảng thời gian nầy cũng được gọi là thời đại của Hội thánh. Đó là thời kỳ ân điển trong đó mối thông công thiêng liêng với Đức Chúa Trời được ban vô điều kiện cho những ai đáp ứng lại sự mời gọi của Ngài (Eph Ep 2:8-9; KhKh 3:20). Công tác dạy dỗ lưỡng diện được giao cho Hội thánh trong Đại Mạng Lệnh hoàn toàn tương ứng với chủ đề chính yếu của sứ điệp mà Chúa rao giảng: 1) Dạy dỗ để đem người ta đến sự giao thông với Đức Chúa Trời và 2) Dạy đường lối của Chúa cho những người đã có mối thông công với Đức Chúa Trời (Mat Mt 28:19-20).
2 Định nghĩa nước Đức Chúa Trời trong thời gian hiện tại và tương lai. Ghi chép trong tập của bạn.
3 Sự dạy dỗ của Chúa Cứu Thế bao gồm nhiều đề tài. Hãy đọc những khúc Kinh Thánh sau đây và nói lên đề tài của những khúc Kinh Thánh đó
bằng lời lẽ riêng của bạn. Ghi chép trong tập của bạn. Mat Mt 5:45; 7:11; 19:17; Mat Mt 6:26, 30, 32; Mat Mt 16:13-20; 19:3-12; Mac Mc 11:22-24; LuLc 5:33-39; 7:36-50; 11:1-13; 11:14-26; 14:25-27; 24:45-47; 24:49 và Cong Cv 1:4-5; GiGa 3:14-16; 5:19-47; 12:20-26.
MỤC TIÊU 2: Ghi nhận 6 tư cách giảng dạy của Chúa Jesus
TƯ CÁCH CỦA CHÚA
Như chúng ta vừa thấy sứ điệp mà Chúa Jesus giảng dạy cũng chính là sứ điệp Ngài truyền cho các môn đồ phải giảng dạy (Mac Mc 16:15). Giả như chính Chúa bước vào Hội thánh và lớp học của chúng ta hôm nay thì sứ điệp của Ngài cũng không khác với sứ điệp trong Kinh Thánh. Rất có thể bạn nghĩ rằng khả năng và cách giảng dạy của Chúa vượt trên tất cả mọi thầy giáo trong trần gian nầy đến nỗi những người nghe Ngài sẽ sửng sốt về chân lý mà Ngài trình bày, nhưng điều đó không đúng.

Chúa Jesus là vị Giáo sư vĩ đại mặc lấy xác thịt loài người (GiGa 1:1, 14). Ngài hiểu biết trọn vẹn mọi sự và Ngài làm mọi điều cách hoàn hảo. Chúng ta nhìn nhận rằng các thầy giáo trần gian không tài nào có thể bắt chước Chúa hoàn toàn, nhưng đời sống và chức vụ của Ngài là tiêu chuẩn hướng dẫn chúng ta.
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu những phẩm chất (tư cách) khiến Chúa trở thành vị Giáo sư vĩ đại. Những phẩm chất chúng ta nói đến ở đây không nhất thiết có liên quan đến thần tánh của Ngài. Những sự phân biệt như vậy chỉ nằm trong sách vở.
1. Chúa Jesus quan tâm đến cả nhân loại. Chức vụ của Ngài bao gồm cả thế giới. Mặc dầu mối quan tâm chính của Ngài hướng về những chiên lạc của nhà Ysơraên (Mat Mt 10:6 Ngài cũng nói đến “những chiên khác” (GiGa 10:16) Ngài phán: “Còn ta khi Ta đã được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến khỏi Ta” (12:32). Chúng ta sẽ đi “Khắp thế gian” và giảng Tin Lành cho “hết mọi người”. Điều nầy sẽ nhắc nhở chúng ta rằng khi chúng ta dạy những học viên của chúng ta, có khả năng rằng cử tọa của chúng ta sẽ là cả thế giới. Chúng ta không thể biết trước liệu Đức Chúa Trời sẽ lựa chọn một trong những học viên của chúng ta trở thành nhà truyền giáo vị đại cho Ngài hay không.
2. Chúa có thẩm quyền (Mat Mt 7:28-29). Chúng ta đã nói đến điều nầy trong bài một. Chúa cũng cho chúng ta thẩm quyền của Ngài (10:1). Điều nầy có nghĩa là chúng ta rao giảng, dạy dỗ, cầu nguyện cho người bệnh, làm báptem, đuổi quỷ, tất cả đều nhân Danh Chúa Jesus nghĩa là trong thẩm quyền Ngài ban cho chúng ta.
4 LuLc 9:1-2 Chúa Jesus đã ban cho các môn đồ những loại thẩm quyền nào?

5 Những khúc Kinh Thánh sau đây đều trích trong sách Công vụ và đề cập đến những điều đã xảy ra “Nhân Danh Chúa Jesus”. Hãy đọc và cho biết điều đã xảy ra. Ghi chép trong tập của bạn. Cong Cv 2:21; 2:38; 3:16; 4:12; 4:18; 16:18.
3. Chúa thấu hiểu bản chất của nhân loại. Ngài biết rõ những môn sinh của Ngài. Ngài biết rõ những điều ở trong lòng con người (Mat Mt 9:4; GiGa 1:47; 2:25; 4:17-18; 6:61, 64;) Do đó Ngài không cần người khác nói cho biết điều gì. Và bởi vì Ngài bày tỏ tấm lòng của con người và nhu cầu thuộc linh của họ cho chúng ta nên chúng ta cũng được biết rõ về con người. Chúng ta không cần phải bối rối về tình trạng thuộc linh thực sự của nhân loại. Con người ở khắp mọi nơi đều cần một Đấng Cứu Thế. Màu da, tiếng nói, trình độ học vấn, địa vị xã hội hoặc kinh tế không ảnh hưởng gì đến nhu cầu thuộc linh. Chúa Jesus luôn luôn quan tâm đến phương diện thuộc linh của bản chất con người. Việc giáo dục tôn giáo chủ yếu là thuộc linh trong bản chất. Với tư cách là những lãnh đạo và giáo viên trong chương trình Cơ đốc giáo dục, chúng ta phải quan tâm đến nhu cầu thuộc linh của các học viên. Nếu không, việc dạy dỗ của chúng ta không khác gì việc dạy học trong các trường phổ thông.

6 Đọc câu chuyện giữa Chúa Jesus với Nicôđem (3:1-21) và với người đàn bà Samari (4:1-42). Ở điểm nào Chúa Jesus đã đổi hướng câu chuyện và tập trung chú ý đến nhu cầu thuộc linh của họ? Ghi chép trong tập của bạn
4. Chúa Jesus sử dụng Kinh Thánh có lẽ nhiều hơn điều chúng ta tưởng. Ngài trưng dẫn từ ít nhất là 20 sách trong Cựu Ước, có không dưới 33 câu trưng dẫn trực tiếp thí dụ như Mat Mt 22:44 liên hệ với Thi Tv 110:1. Ngoài ra có 26 sự ám chỉ chẳng hạn như LuLc 17:28, 32 và 8 ám chỉ khác không tìm thấy trong các sách Cựu Ước chẳng hạn GiGa 17:12. Thêm vào đó có ít nhất 45 đoạn mà trong đó chứa đựng từ ngữ giống hệt như từ ngữ trong Cựu Ước (so sánh Mat Mt 5:8 với Thi Tv 24:4-5)
Tất cả những điều nầy có ý nghĩa gì? Chúng cho thấy rằng Chúa Jesus đã sử dụng Cựu Ước để nuôi dưỡng tâm linh của chính Ngài. Chúng chỉ ra rằng Cơ đốc nhân sẽ bị hạn chế trong sự hiểu biết tâm trí của Đấng Christ nếu không có một kiến thức đầy đủ về Môise, Eâli tức là Luật pháp và các tiên tri. Chúng cho thấy rằng Chúa Jesus thấm nhuần ngôn ngữ và tư tưởng của Cựu Ước đến nỗi “Cựu Ước đã hình thành nên các yếu tố của nhân cách Ngài, ảnh hưởng trên tư tưởng và lời nói của Ngài, và trở thành nguyên nhân khiến Ngài trở nên hấp dẫn đối với người khác một cách ý thức hay không ý thức” (Horne tr. 106).
Sự hiểu biết của Chúa Jesus về Kinh Thánh là một sự thách đố đối với mỗi giáo viên giảng dạy Lời Chúa. Không khi nào chúng ta có thể nghĩ rằng mình đã đưa lời Chúa cách đầy đủ vào bài học của chúng ta. Không bao giờ chúng ta nhấn mạnh quá đáng vào việc sử dụng Kinh Thánh khi dạy dỗ.
7 Đọc IITi 2Tm 3:15. Câu nầy dạy gì về ích lợi của Kinh Thánh?

8 Chúa Jesus đã sử dụng Kinh Thánh trong nhiều cách kể cả việc nhắc đến gián tiếp thường được gọi là
a) Ám chỉ
b) Ám dụ
c) Câu hỏi
d) Trưng dẫn
5. Ngài là hiện thân sống động của chân lý. Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc giảng dạy của Chúa là gương sống của Ngài trong một mức độ không ai sánh bằng, Chúa Jesus là gương mẫu của những điều Ngài dạy. Lời giảng, đời sống và hành vi của Ngài đều đi đôi với nhau. Ngài phán cùng các môn đồ rằng: “Hãy học theo ta” (Mat Mt 11:29).
Đời sống gương mẫu của Chúa Jesus được minh họa rõ nét khi Ngài dạy các môn đồ cầu nguyện. Ngài đưa ra các hướng dẫn cụ thể liên quan đến vấn đề (LuLc 11:1-13). Ngài dạy họ về việc cầu nguyện trước đám đông (Mat Mt 26:26; GiGa 6:11; 17:1-26) cũng như cầu nguyện riêng tư (LuLc 5:16; 6:12; 9:18, 28; 11:1; 22:39-46). Một minh họa khác về gương sáng của Chúa Jesus là khi Ngài rửa chân cho các môn đồ (GiGa 13:1-17). Con Người đã trình bày gương mẫu về sự hạ mình qua lời nói và việc làm của Ngài. Ngài muốn dạy môn đồ tinh thần hạ mình.
Các sách Phúc Aâm là sự ký thuật liên tục về việc Chúa Jesus là hiện thân sống động của những chân lý mà Ngài giảng dạy. Đó là điều chính Chúa Jesus muốn nói đến khi Ngài phán: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống” (GiGa 14:6). Không những lời của Ngài là chân lý, nhưng chính Ngài cũng là chân lý.
9 Theo bạn tại sao sứ đồ Giăng thường đề cập đến Đấng Christ như là người phát ngôn của chân lý?

6. Ngài thật thích hợp cho việc giảng dạy. Ngài được đầy dẫy và hướng dẫn bởi Thánh Linh, hơn nữa Ngài còn nắm được nghệ thuật giảng dạy. Chúng ta cần nhìn hai đặc tính nầy chung với nhau. Không có thầy giáo nào được Thánh Linh hướng dẫn hoàn toàn như Chúa Jesus, và không có ai đã giảng dạy đúng nguyên tắc sư phạm hơn Chúa Jesus.
Mặc dầu Chúa Jesus không dạy các phương pháp sư phạm cho những môn đồ của Ngài nhưng những con cái Chúa nào để tâm tìm kiếm những chỉ dẫn về lãnh vực nầy trong các sách Phúc Aâm sẽ gặp hái được nhiều ích lợi. Không hề có mâu thuẫn giữa việc được Thánh Linh hướng dẫn và việc áp dụng các nguyên tắc sư phạm đúng đắn. Việc sửa soạn giáo án không hề mâu thuẫn với sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Hai điều đó đi song song với nhau.
Việc Chúa Jesus nắm vững nghệ thuật giảng dạy là một ân tứ bởi Trời hơn là chỉ áp dụng hoàn hảo các nguyên tắc sư phạm. Các nguyên tắc sư phạm chỉ bổ túc cho ân tứ giảng dạy. Nếu không có ân tứ thì các nguyên tắc chỉ đơn thuần là sự khôn ngoan hay thông minh của con người. Nên nhớ rằng việc giáo dục tôn giáo chủ yếu là một công tác thuộc linh. Đây là lý do tại sao chúng ta phải nương dựa vào Đức Thánh Linh để thực hiện việc giáo dục.
10 Hai điều nào đã khiến Chúa Jesus thích hợp cho việc giảng dạy?
.......................
11 Ghép những tư cách của Chúa Jesus vị Giáo sư vĩ đại với các minh họa.
.... a Người phụ nữ Samari (4:1-54)
.... b “Danh Chúa Jesus”
.... c Chúa Jesus nói đến “Các chiên
khác”
.... d Nicôđem (3:1-36)
.... e Lời Chúa phán “Ta sẽ kéo mọi
người đến cùng Ta”
1) Quan tâm đến cả nhân loại
2) Có thẩm quyền
3) Hiểu biết bản chất của nhân loại
12 Ghép những tư cách của Chúa Jesus vị Giáo sư vĩ đại với các minh họa.
.... a Chúa Jesus thường xuyên cầu
nguyện
.... b Chúa Jesus áp dụng những
nguyên tắc giảng dạy
.... c Chúa Jesus được hướng dẫn bởi
Thánh Linh
.... d Chúa Jesus trưng dẫn trực tiếp từ Cựu Ước
.... e Chúa Jesus tuyên bố rằng “Ta là đường đi,
lẽ thật và sự sống”
1) Sự hiểu biết Kinh Thánh
2) Hiện thân sống động của chân lý
3) Thích hợp cho việc giảng dạy
MỤC TIÊU 3: Ghi nhận mục tiêu chức vụ của Chúa Jesus
MỤC TIÊU CỦA CHÚA
Có lẽ bạn đã nghe ai đó nói rằng cái chết quá trẻ của Chúa Jesus là một điều không may mắn, nếu Ngài sống 40 hay 50 năm nữa thì có lẽ Ngài đã thực hiện được nhiều việc hơn. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng cái chết của Ngài không phải là quá sớm, nó đã được định sẵn rồi. Bởi vì Chúa Jesus là con người có mục đích hơn bất cứ ai khác trong trần gian nầy. Người ta đã nói về Chúa rằng Ngài hoạch định công việc của Ngài và Ngài thi hành những điều Ngài đã hoạch định.
Chức vụ của Chúa Jesus vị Giáo sư vĩ đại đã bày tỏ quyết tâm thực hiện các mục tiêu của Ngài. Chương trình giáo dục của Hội thánh cũng cần có mục tiêu và kế hoạch để thực hiện mục đích của Chúa. Một người làm vườn biết rằng thảng hoặc một loại cây có ích có thể tự nhiên mọc lên mà không cần gieo trồng; tuy nhiên đó là ngoại lệ chứ không phải quy luật. Quy luật là bạn chỉ gặt những điều bạn đã gieo.
Nhiều câu Kinh Thánh chứng tỏ rằng Chúa Jesus là một người của mục đích. Ngài là của lễ chuộc tội đã được Đức Chúa Trời dự bị sẵn từ buổi sáng thế (KhKh 13:8). Điều nầy cắt nghĩa tại sao mục tiêu của Chúa Jesus là mục tiêu vĩnh cửu. Sự chết của Ngài trên thập tự giá là một điều bi thảm nhưng không phải là ngẫu nhiên, phải hơn đó là sự định trước của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều đó trong chương trình đời đời của Ngài. Chính Chúa Jesus cũng đã tuyên báo trước về sự chết và sống lại của Ngài (Mac Mc 14:58, GiGa 2:19). Ngài phán rằng “Con Người cần phải bị treo lên hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời” (GiGa 3:14-15).
Trong LuLc 4:18-21 Chúa Jesus đã tuyên bố các mục tiêu trong chức vụ của Ngài: Ngài đến “Đặng truyền Tin lành cho kẻ nghèo... để rao cho kẻ bị cầm được tha, kẻ mù được sáng, kẻ bị hà hiếp được tự do và để đồn ra năm lành của Chúa”. Theo Mac Mc 1:14-15 Chúa Jesus đã đến để tuyên bố rằng vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến giữa trần gian. Trong LuLc 19:9-10 chúng ta thấy mục tiêu của Con Người là “Tìm và cứu kẻ bị mất”. Nhiều khúc Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng mục tiêu của Chúa Jesus là huấn luyện, tấn phong và sai phái các môn đồ ra đi thi hành công tác mà Ngài giao phó (LuLc 11:1; 24:45-47; Mat Mt 28:16-20; GiGa 14:12; 20:21). Mục đích chính yếu của Ngài là thâu họp những con chiên lạc mất của nhà Ysơraên (Mat Mt 10:6; 15:24; 23:37-39), nhưng mục đích của Ngài đối với Ysơraên chưa phải là đã hoàn tất (Exe Ed 37:1-14; XaDr 10:10-13:2; RoRm 11:25-27; KhKh 7:1-8)
13 Ghép những khúc Kinh Thánh với những mục tiêu trong chức vụ của Chúa Jesus

.... a Là của lễ chuộc tội từ buổi
sáng thế
.... b Tiên báo sự chết và sự sống
lại của Ngài
.... c Giảng Tin lành cho kẻ nghèo
công bố sự giải thoát cho kẻ
bị tù khiến kẻ đui được sáng
.... d Loan báo vương quốc của Đức
Chúa Trời đã đến
.... e Tìm và cứu kẻ hư mất
.... f Huấn luyện và tấn phong các môn đồ
.... g Tìm kiếm những chiên lạc của
nhà Ysơraên
1) Mat Mt 10:6; 15:24; 23:37-39
2) Mat Mt 28:16-20
3) Mac Mc 1:14-15
4) LuLc 4:18-21
5) 19:9-10
6) GiGa 3:14-15
7) KhKh 13:8
Vị Giáo sư vĩ đại đã hoàn tất mọi việc theo kế hoạch. Ngài đã phán cùng các môn đồ: “Ta làm y theo điều Cha đã phán dạy” GiGa 14:31. Trong suốt các thế kỷ những người đã tạo nên những thành quả lớn cho Chúa cũng đã làm việc theo kế hoạch. Họ đều có mục tiêu rõ ràng. Chúng ta cũng phải đặt mục tiêu cụ thể. Chúng ta phải sống và lo làm công việc của Cha chúng ta. William Carey, nhà truyền giáo nổi tiếng người Anh tại xứ Ấn Độ đã nói: “Thế giới chưa từng được thấy một con người hoàn toàn đầu phục Đức Chúa Trời có thể thực hiện những gì”. Sự đầu phục mà Carey nói đến bao gồm mục tiêu cao cả thi hành mọi điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm.
MỤ C TIÊU 4: Ghi nhận 5 phương pháp giảng dạy của Chúa Jesus
PHƯƠNG PHÁP CỦA CHÚA
Chúa Jesus coi các phương pháp giảng dạy là những phương tiện để đạt đến cứu cánh, chứ tự nó không phải là cứu cánh. Các phương pháp phải tùy thuộc vào nhu cầu của những người nghe Chúa giảng và phải nhằm hỗ trợ việc hoàn thành mục tiêu của Ngài như đã đề cập trong phần trước. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu các phương pháp Chúa Jesus đã sử dụng.
Tạo sự chú ý
Nếu không tạo được sự chú ý nơi học viên, bạn có thể có cảm tưởng lời nói của mình bay theo gió. Người ta không tiếp thu được gì nếu không lắng nghe, và người ta chẳng bao giờ lắng nghe nếu không chú ý. Chúa Jesus luôn luôn thu hút sự chú ý của mọi người. Ngài đã dùng những cách thức nào để thu hút sự chú ý?
1. Ngài yêu cầu mọi người chú ý (Mac Mc 4:9, 24). Ngài sử dụng những từ ngữ như “Hãy nghe”, “Hãy lắng nghe”, “Nầy”, “Ai có tai, hãy nghe”. Những người nghiên cứu về khoa ăn nói khám phá rằng phương cách hiệu quả nhất để thu hút sự chú ý là yêu cầu thính giả chú ý: “Xin mọi người vui lòng lắng nghe”
2. Ngài quan tâm đến mọi người. Chúa để ý đến những điều người khác làm, nói và nhu cầu của họ. Ngài đặt những câu hỏi cho họ (Mat Mt 16:13). Ngài gợi chuyện với họ (GiGa 4:7-9) và Ngài sử dụng ngôn ngữ cụ thể và đầy hình ảnh sáng tạo. Ngài cắt nghĩa những điều sâu nhiệm bằng những từ ngữ thông thường.
3. Sứ điệp của Ngài khiến mọi người thích thú. Ngài dạy về việc giữ ngày sabát như sau: “Vì loài người mà lập ngày sabát, chớ chẳng phải vì ngày sabát mà dựng loài người” (Mac Mc 2:27) về vấn đề dâng của lễ Ngài phán: “Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ (Mat Mt 9:13). Ngài nói về tình yêu của Đức Chúa Trời khi sai Con Một của Ngài đến cứu rỗi nhân loại (GiGa 3:16).
4. Ngài thu hút người ta bởi những phép lạ Ngài thực hiện. Không có gì thu hút người ta bằng quyền năng của Đức Chúa Trời và không có gì khiến người ta chú ý hơn là những phép lạ và việc chữa lành bệnh.
5. Chúa Jesus thu hút người khác qua những hành động độc đáo. Ngài hòa đồng với những người thâu thuế và tội lỗi. Ngài ăn chung với họ và tiếp nhận họ. Ngài được coi là “bạn” của họ trước con mắt đầy ngạc nhiên của những thính giả đầy thành kiến. Ngài chữa bệnh cho người ta trong ngày sabát và biểu họ đứng dậy vác giường đi về nhà (GiGa 5:8-10). Ngài đuổi những người đổi tiền ra khỏi đền thờ (Mat Mt 21:12)
14 Tại sao cần phải thu hút sự chú ý của học viên

15 Tại sao đôi khi việc thu hút sự chú ý của thính giả trở thành khó khăn.

16 Liệt kê 5 phương thức Chúa Jesus dùng để thu hút sự chú ý. Ghi chép trong tập của bạn.

Câu hỏi và trả lời
Bốn Sách Tin Lành ghi lại hơn 100 câu hỏi khác nhau mà Chúa Jesus đã nêu. Cũng có ít nhất 40 câu hỏi người ta nêu lên cho Chúa và mong đợi Ngài trả lời. Điều nầy cho thấy có mối giao tiếp rộng rãi giữa Chúa Jesus và thính giả của Ngài. Đặt câu hỏi là cách thức tốt nhất để thu hút học viên. Những câu hỏi có sức hấp dẫn sự chú ý của học viên và giúp họ tham gia vào bài học và tập trung vào đề tài. Chúa Jesus đã sử dụng những câu hỏi để kích thích sự suy nghĩ, hướng dẫn tiến trình học tập và thúc giục người ta đáp ứng với sứ điệp của Ngài bởi vì sứ điệp đó thích hợp với họ.
17 Đọc những khúc Kinh Thánh sau đây và thử xem bạn có thể dùng từ ngữ riêng của bạn để nói lên mục đích của mỗi câu hỏi. Ghi chép trong tập của bạn. 1) Mat Mt 16:13, 2) Mac Mc 10:3, 3) LuLc 11:5-6, 4) Mat Mt 12:34, 5) 16:26, 6) LuLc 10:36, 7) Mat Mt 15:34, 8) LuLc 8:45, 9) Mat Mt 21:25-27.
Cũng có nhiều câu hỏi được các cá nhân và nhóm người nêu lên cho Chúa. Những câu trả lời của Chúa có thể được xếp vào những loại như chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây

18 Ghép những loại câu trả lời với những khúc Kinh Thánh có liên quan
.... a Câu trả lời cung cấp thông tin.
.... b Câu trả lời sâu nhiệm
.... c Trả lời trong hình thức câu hỏi
.... d Tùy thuộc vào dụng ý của người
đặt câu hỏi
.... e Tiến thoái lưỡng nan
.... f Trả lời cho cả người nêu câu hỏi
lẫn nội dung câu hỏi
1) GiGa 6:25-27
2) Mat Mt 21:25-27; GiGa 8:5-7
3) 13:25-26
4) 6:28-33
5) Mat Mt 21:23-25
6) LuLc 18:18-22
19 Ghép những loại câu trả lời với những khúc Kinh Thánh có liên quan:
.... a Có câu trả lời nhưng không tỏ tường
.... b Câu trả lời không giống như người ta mong đợi
.... c Trả lời trong hình thức kể chuyện
.... d Trả lời bằng sự im lặng
.... e Trả lời gián tiếp
.... f Câu trả lời thực tiễn
1) Mat Mt 22:21, 29:30
2) 18:1-6
3) LuLc 13:23-24
4) 17:37
5) Mac Mc 14:60
6) LuLc 10:29-30
Kể chuyện
Chúa Jesus rất thường kể chuyện. Những chuyện Chúa kể được gọi là dụï ngôn. Dụ ngôn tức là đem so sánh những chân lý thông thường với những chân lý cao xa hơn. Khoảng 1/4 những lời Chúa Jesus phán trong Phúc Aâm Mác, và khoảng 1/2 trong Phúc Aâm Luca là những dụ ngôn. Từ ngữ dụ ngôn xuất hiện 50 lần trong các sách Phúc Aâm. Dĩ nhiên không phải mọi chuyện Chúa Jesus kể đều là dụ ngôn. Trong một vài câu chuyện Ngài đã dùng những hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống để làm minh họa (LuLc 10:30).
Những chuyện kể đóng vai trò rất lớn trong việc giảng dạy theo C. B. Eavey, ở bất cứ độ tuổi nào nếu thầy giáo không sử dụng việc kể chuyện kể như đã bỏ mất một phương thức quan trọng nhất để trình bày chân lý (Trang 245) những câu chuyện giúp minh họa ý tưởng. Giảng dạy mà không kể chuyện cũng giống như ngôi nhà không có cửa sổ. Những câu chuyện đem chân lý vào cuộc sống vì chúng hỗ trợ cho óc tưởng tượng. Chúng tạo nên và duy trì sự hứng thú. Chúng giúp cho người ta dễ nhớ.
Những câu chuyện Chúa Jesus kể không nhằm mục đích giải trí mặc dù chúng ta có thể hiểu rằng thỉnh thoảng những người nghe Chúa cảm thấy thích thú. Chúa kể chuyện nhằm bốn mục đích sau đây:
Một vài câu chuyện là để thu hút sự chú ý. Thí dụ như trong dụ ngôn về người gieo giống ở LuLc 8:4-8. Sau khi Chúa kể câu chuyện nầy các môn đồ bắt đầu hỏi ý nghĩa về câu chuyện
Một vài câu chuyện được dùng để minh họa. Chúa kể câu chuyện về người Samari tốt lành để giải nghĩa chữ người lân cận. Qua cách đó Ngài làm cho ý nghĩa trừu tượng của chữ người lân cận trở thành cụ thể.
Đôi khi bản thân câu chuyện là một bài học. Thí dụ như những câu chuyện được ký thuật trong Luca 15 (chiên đi lạc, đồng tiền bị mất, người con hoang đàng) chân lý về Đức Chúa Trời tìm kiếm tội nhân được trực tiếp trình bày trong cả ba câu chuyện.
Đôi khi những câu chuyện được kể để áp dụng chân lý . Thí dụ như dụ ngôn về người xây nhà trên đá và người xây nhà trên cát (6:46-49) nhằm mục đích nói lên việc làm theo lời Chúa. Chúa Jesus đã sử dụng phương pháp kể chuyện rộng rãi thế nào, thì chúng ta cũng nên làm như vậy.
20 Giải thích vai trò của việc kể chuyện trong giảng dạy

21 Mục đích của Chúa Jesus khi sử dụng các dụ ngôn là những điều sau NGOẠI TRỪ
a) Để giải trí
b) Để thu hút sự chú ý
c) Để minh họa ý tưởng
d) Để trình bày bài học
e) Để áp dụng chân lý
Thực tập
Chúa Jesus thường đưa ra các việc thực tập cho môn đồ của Ngài. Ngày nay chúng ta gọi đó là “Phương pháp thực hành”. Nhờ phương pháp thực hành Chúa Jesus đã khiến các môn đồ tham gia vào bài học. Ngài muốn họ trở thành những người làm theo lời Chúa chứ không phải chỉ nghe mà thôi (Mat Mt 7:24-27). Đề ra những việc phải thực hành là một cách thức rất hiệu quả làm cho môn đồ của Ngài thực hiện điều mình học. Tiến trình học tập được đẩy mạnh khi các học viên tham gia tích cực buổi học.
Học cụ
Việc sử dụng học cụ có quan hệ gắn bó với phương pháp thực hành. Nếu có thể kết hợp việc thấy, nghe và thực hành, chúng ta sẽ tạo nên một môi trường học tập rất tốt đẹp cho học viên.
22 Đọc những khúc Kinh Thánh sau đây và với lời lẽ riêng của bạn hãy nêu lên những học cụ Chúa Jesus sử dụng và mục đích sử dụng. Ghi chép trong tập của bạn Mat Mt 6:25-31; 18:1-6; 21:18-22; Mac Mc 12:13-17; Mac Mc 12:41-44; GiGa 4:35-38; 6:25-40; 15:1-8.
Qua những thí dụ trên chúng ta thấy Chúa Jesus đã sử dụng nhiều loại học cụ trong thiên nhiên. Những học cụ Chúa sử dụng được tìm thấy trong thiên nhiên, sinh hoạt gia đình, việc buôn bán, hệ thống chánh quyền và tôn giáo. Gương mẫu của Ngài chỉ cho ta thấy rằng có vô số học cụ có thể sử dụng được. Chỉ cần chúng ta có óc sáng tạo mà thôi.
23 Ghép những phương pháp giảng dạy với những thí dụ:
.... a Nhận định về Con Người
.... b Người Samari tốt lành
.... c Phierơ bước đi trên mặt nước
.... d Lời Chúa phán “Hãy nghe” hoặc “Hãy lắng nghe”
.... e Chúa Jesus dùng một trẻ nhỏ làm gương
.... f Chúa chỉ cho môn đồ xem đồng lúa chín vàng chờ gặt
.... g Chúa sử dụng ngôn ngữ cụ thể, gợi hình
.... h Chúa sai 72 môn đồ ra đi
1) Thu hút sự chú ý
2) Câu hỏi và trả lời
3) Kể chuyện
4) Thực hành
5) Học cụ
Bài tự kiểm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi sau:
1 Chủ đề chính trong sứ điệp của Đấng Christ là:
a) Sự chết và sống lại của Ngài
b) Vương quốc Đức Chúa Trời
c) Sự tha tội
d) Giá phải trả để làm môn đồ
2 Chúa Jesus đã kể chuyện với những mục đích sau NGOẠI TRỪ
a) Thu hút sự chú ý
b) Để giải trí
c) Để giới thiệu bài học
d) Để áp dụng chân lý
3 Để nhấn mạnh rằng Ngài muốn các môn đồ phải làm theo lời Chúa chứ không chỉ nghe mà thôi, Chúa Jesus đã sử dụng phương pháp.
a) Đặt câu hỏi
b) Kể chuyện
c) Thực hành
d) Học cụ
CHỌN GIỮA ĐÚNG và SAI. Hãy viết chữ Đ vào khoảng trống trước mỗi câu Đúng. Viết S nếu câu đó Sai.
.... 4 Vương quốc Đức Chúa Trời chỉ nói đến việc tái lâm của Đấng Christ mà thôi
.... 5 Việc nói chuyện giữa Chúa Jesus với Nicôđem và người phụ nữ Samari chứng tỏ rằng Ngài thấu hiểu nhu cầu thuộc linh của họ
.... 6 Chúa Jesus đầy dẫy Thánh Linh đến nỗi Ngài có thể hoàn toàn nương dựa vào Thánh Linh mà không cần áp dụng những nguyên tắc giảng dạy đúng đắn.
.... 7 Khi Chúa Jesus phán với các môn đồ “Ta yêu mến Cha và làm theo mọi điều Cha đã phán dặn” Ngài muốn xác định rằng Ngài luôn hành động theo mục đích.

XẾP CHO PHÙ HỢP. Hãy đọc cẩn thận lời chỉ dẫn cho mỗi loạt câu hỏi.
8-13 Xếp những tư cách của Chúa đối với chức vụ của Ngài (bên phải) sao cho phù hợp với những minh họa:
...... 8 Trưng dẫn Cựu Ước.
...... 9 Những chiên lạc của nhà
Ysơraên
.....10 Hãy học với ta
.....11 Hoàn toàn được dẫn dắt bởi
Thánh Linh
.....12 “Nhân Danh Chúa Jesus”
.....13 Nhu cầu về Đấng Cứu Rỗi
của nhân loại
a) Quan tâm đến toàn thể nhân loại
b) Có thẩm quyền
c) Thấu hiểu bản chất của nhân loại
d) Sự am tường Kinh Thánh
e) Hiện thân sống động của chân lý
f) Thích hợp để giảng dạy
14-18 Xếp các khúc Kinh Thánh sao cho phù hợp với những mục tiêu trong chức vụ của Chúa Jesus:
a) Mat Mt 28:16-20
b) Mac Mc 1:14-15
c) LuLc 4:18-21
d) 19:9-10
e) KhKh 13:8
.... 14 Huấn luyện và tấn phong các môn đồ
.... 15 Công bố vương quốc Đức Chúa Trời đã đến
.... 16 Là Của Lễ chuộc tội từ buổi sáng thế
.... 17 Tìm và cứu kẻ hư mất
.... 18 Rao giảng Phúc Âm, tuyên bố sự giải thoát cho kẻ bị tù và mở mắt cho kẻ đui
19-23 Ghép những cách thức Chúa Jesus dùng để thu hút sự chú ý với những minh họa
.... 19 Hóa bánh ra nhiều cho 5 ngàn
người ăn
.... 20 Nói chuyện với người phụ nữ
bên giếng nước
.... 21 Chữa bệnh trong ngày Sabát
.... 22 Kêu gọi mọi người lắng nghe
.... 23 So sánh lòng thương xót với việc
dâng của lễ
a) Kêu gọi sự chú ý
b) Bày tỏ sự quan tâm đến người khác
c) Trình bày một sứ điệp hấp dẫn
d) Làm những dấu kỳ phép lạ
e) Thi hành những việc độc đáo
24-28 Xếp những loại câu trả lời khác nhau của Chúa Jesus sao cho phù hợp với những câu người ta hỏi Chúa.
.... 24 “Thầy làm những điều nầy bởi
thẩm quyền nào?”
.... 25 “Thầy có ý kiến gì về việc ném
đá người phụ nữ ngoại tình”
.... 26 “Có nên nộp thuế cho Sêsa không?”
.... 27 “Ai là người lớn nhất trong nước Trời”
.... 28 “Thưa Chúa, phải chăng có rất ít
người được cứu?”
a) Tiến thoát lưỡng nan
b) Khác với câu trả lời mong đợi
c) Trong hình thức một câu hỏi
d) Thực tế
e) Gián tiếp
29-33 Ghép những học cụ Chúa dùng với bài học.
.... 29 Nền tảng đời sống thuộc linh
của Chúa Jesus
.... 30 Tầm quan trọng của việc dân hiến
.... 31 Năng lực của sự cầu nguyện bởi
đức tin
.... 32 Chúa chu cấp nhu cầu
.... 33 Tầm quan trọng của sự khiêm nhường
a) Chim và hoa
b) Một trẻ nhỏ
c) Cây vả bị héo
d) Mana
e) Hai đồng xu
ÑAÙNH GIAÙ TIEÁN BOÄ PHAÀN I
Giôø ñaây baïn ñaõ hoïc xong caùc baøi 1-3, haõy xem laïi chuùng ñeå chuaån bò cho vieäc laøm baøi ñaùnh giaù tieán boä phaàn 1. Baïn seõ tìm thaáy baøi laøm naày vaø tôø traû lôøi trong taäp taøi lieäu hoïc vieân cuûa baïn. Haõy traû lôøi caùc caâu hoûi maø khoâng tra xem vôû ghi baøi, Kinh Thaùnh, saùch giaùo khoa hay saùch höôùng daãn hoïc taäp. Sau ñoù baïn coù theå tieáp tuïc nghieân cöùu baøi hoïc 4.

PHẦN GIẢI ĐÁP
1. Chủ đề của Chúa Jesus là vương quốc Đức Chúa Trời. Ngài nhấn mạnh nước Trời đã đến gần và mọi người phải ăn năn và có đức tin.
2. Vương quốc Đức Chúa Trời trong hiện tại là sự ngự trị của Đấng Christ trong tấm lòng và đời sống của tín đồ. Khi Chúa tái lâm vương quốc sẽ được thiết lập cách trọn vẹn trên mặt đất.
3. Các đề tài gồm có: sự nhân từ của Đức Chúa Trời, Chúa quan tâm đến nhu cầu của chúng ta, sự xưng nhận Đấng Christ, vấn đề ly dị, đức tin nơi Chúa, việc kiêng ăn, sự tha tội, sự cầu nguyện, ma quỷ và tà linh, giá phải trả làm môn đồ, lời tiên tri trong Kinh Thánh, lời hứa về sự ban cho Đức Thánh Linh, sự sống đời đời dành cho tín đồ, thẩm quyền của Đấng Christ, sự chết của Đấng Christ.
4. Thẩm quyền để trừ quỷ, chữa bệnh, loan báo vương quốc Đức Chúa Trời chữa lành người đau
5. Nhân Danh Chúa Jesus người ta được giải cứu, tội lỗi được tha thứ, người què được chữa lành, có sự rao giảng và dạy dỗ, quỷ ra khỏi một tớ gái.
6. Ngay từ đầu câu chuyện với Nicôđem (câu 3), Chúa đã đề cập đến sự tái lâm. Ở phần đầu cuộc nói chuyện với người phụ nữ (câu 10,14) Chúa Jesus đã đề cập đến nước hằng sống và sự sống đời đời
7. Kinh Thánh giúp người ta khôn ngoan để được cứu rỗi bởi đức tin trong Đấng Christ
8. a) ám chỉ
9. Câu trả lời của bạn. Sứ đồ Giăng xác định thần tánh của Đấng Christ trong tư cách Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời mặc lấy xác thịt loài người.
10. Chúa được hướng dẫn bởi Thánh Linh cũng như nắm vững nghệ thuật giảng dạy.
11. a 3) Hiểu biết bản chất con người
b 2) Có thẩm quyền
c 1) Quan tâm đến con người
d 3) Hiểu biết bản chất con người
e 1) Quan ta6m đến con người
12. a 2) Hiện thân sống động của chân lý
b 3) Thích hợp để giảng dạy
c 3) Thích hợp để giảng dạy
d 1) Hiểu biết về Kinh Thánh
e 2) Hiện thân sống động của chân lý
13. a 7) KhKh 13:8
b 6) GiGa 3:14-15
c 4) LuLc 4:18-21
d 3) Mac Mc 1:14-15
e 5) LuLc 19:9-10
f 2) Mat Mt 18:16-20
g 1) 10:6; 15:24; 23:37-39
14. Học viên cần phải nghe trước, học sau. Muốn nghe học viên phải chú ý, tức là hướng suy nghĩ về đề tài của bài học
15. Tâm trí của học viên có thể suy nghĩ về chuyện khác, khi đó rất khó làm gì để thu hút sự chú ý của họ
16. So sánh câu trả lời của bạn với sự hướng dẫn trong sách giáo khoa
17 1) Hướng tới một câu hỏi trực tiếp hơn “Còn các ngươi bảo ta là ai” 2) Giới thiệu cho dân chúng điều quen thuộc với họ trước 3) Hướng thích giả tới chỗ phải quyết định 4) Vạch trần tấm lòng của người Pharisi 5) Nhằm giúp các môn đồ lựa chọn tình yêu thương thay vì sự ích kỷ 6) Để chỉ cho thầy thông giáo thấy rằng sống như một người lân cận thì quan trọng hơn là định nghĩa về một người lân cận 7) Nhằm làm cho phép lạ nổi bậc hơn khi cho mọi người hiểu rằng có sự thiếu hụt lương thực 8) Để giúp người đàn bà công xưng đức tin hầu mọi người thấy rằng việc lành bệnh là do đức tin chứ không phải ma thuật 9) Nhằm đẩy những kẻ đối nghịch Ngài vào thế bị động khiến họ không thể quấy rối Ngài thêm nữa.
18. a 3) GiGa 13:25-26
b 4) 6:28-33
c 5) Mat Mt 21:23-25
d 1) GiGa 6:25-27
e 2) Mat Mt 21:25-27; GiGa 8:5-7
f 6) LuLc 18:18-22
19. a 4) 17:37
b 1) Mat Mt 22:21, 29-30
c 6) LuLc 10:29-30
d 5) Mac Mc 14:60
e 2) Mat Mt 18:1-6
f 3) LuLc 13:23-24

20. Kể chuyện trong giảng dạy ví như những cửa sổ của một ngôi nhà. Chúng giúp ta thấy những điều quí báu tức là chân lý. Chúng đem chân lý vào cuộc sống, gợi trí tưởng tượng, tạo hứng thú và giúp dễ nhớ.

21. a) đem lại sự giải trí

22. Chim và hoa bày tỏ sự chăm sóc của Đức Chúa Trời; trẻ con bày tỏ sự cần thiết của lòng khiêm nhường để được cao trọng trên thiên đàng; cây vả bị khô héo bày tỏ quyền năng của sự cầu nguyện bởi đức tin; đồng tiền in hình Sê-sa bày tỏ bổn phận của người ta đối với chính quyền cũng như đối với Đức Chúa Trời. Đồng xu kẽm bày tỏ sự dâng hiến hết lòng; đồng lúa chín vàng bày tỏ con người sẵn sàng nhận sự Cứu rỗi; ma-na bày tỏ rằng nguồn sống thuộc linh của chúng ta ở nơi Chúa Jesus, Bánh sự sống; cành nho và gốc nho bày tỏ sự cần thiết của mối liên hệ giữa người tín đồ và Chúa Jesus để sanh bông trái.
23. a 2) Nêu câu hỏi và trả lời
b 3) Kể chuyện
c 4) Thực tập
d 1) Tạo sự chú ý
e 5) Học cụ
f 5) Học cụ
g 1) Tạo sự chú ý
h 4) Thực tập

GIÁO ÁN

Có lẽ bạn đã trải qua kinh nghiệm sau đây. Sau khi đã ngồi được 20 phút trong một lớp Kinh Thánh, bạn tự nghĩ: “Tôi mong anh ta sẽ đi đến phần quan trọng!”. Rồi thì, sau khi ngồi thêm 20 phút nữa bạn nhận thấy rằng chẳng đi đến phần quan trọng nào. Điều bạn gặp phải có thể là kết quả của việc không soạn giáo án đầy đủ cho buổi dạy.
Giảng dạy không phải là chỉ nói về đề tài cả giờ đồng hồ. Không phải chỉ giữ cho học sinh bận rộn và im lặng cả giờ. Không xếp đặt kế hoạch tập trung vào những mục tiêu ấn định trước, những lớp Kinh Thánh sẽ thiếu ý nghĩa và phương hướng: Câu nói quen thuộïc sau đây kết luận tốt cho trường hợp nầy: “Không chuẩn bị kế hoạch là chuẩn bị thất bại”.
Tờ kế hoạch giảng dạy mà chúng ta sẽ sử dụng không chỉ là một loại mẫu giảng dạy có sẵn, nhưng nó còn nói lên những nhu cầu của trường Cơ đốc cũng như những nhu cầu cho chương trình giáo dục Cơ đốc của Hội thánh.
Các thầy cô phụ trách giáo dục Cơ đốc quyết định trông cậy vào việc xức dầu của Thánh Linh hơn là bỏ ra thời giờ xếp đặt kế hoạch, là không theo tinh thần Kinh Thánh. Chúng ta phải làm cả hai. Kinh Thánh cho thấy xếp đặt kế hoạch quan trọng như thế nào trong việc Sáng thế, trong việc hình thành quốc gia Ysơraên và trong chính việc giảng dạy của Chúa Jesus. Đức Chúa Trời đã xếp đặt kế hoạch cho việc cứu rỗi chúng ta trước khi sáng thế (KhKh 13:8). Bài học nầy đề ra một phương thức đơn giản để soạn giáo án.
Dàn bài
Nhu cầu soạn giáo án
Các phần của tờ kế hoạch giảng dạy
Tờ kế hoạch giảng dạy mẫu
Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn có thể:
Thảo luận về sự quan trọng của việc soạn giáo án
Ghi nhận những phần của tờ kế hoạch giảng dạy
Xây dựng một tờ kế hoạch giảng dạy
Chuẩn bị đầy đủ hơn cho các lớp dạy của bạn

Sinh hoạt học tập
Nghiên cứu từng phần bài học, theo những chỉ dẫn trong bài 1
Bỏ thêm thời giờ làm quen với tờ kế hoạch giảng dạy, và thuật
ngữ
dùng cho mỗi phần
Làm một vài giáo án mẫu cho bạn, dùng mẫu nầy để giúp bạn sử
dụng nó hữu hiệu hơn
Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài nầy, và kiểm tra cẩn thận các
câu trả lời của bạn với những câu cho sẳn trong gói sách vở. Ôn
lại những mục bạn trả lời sai.
Từ ngữ quan trọng
dai dẳng
thành phần
sự tiếp diễn
khép vào kỷ luật
Triển khai bài học
NHU CẦU SOẠN GIÁO ÁN
MỤC TIÊU 1: Kết hợp việc soạn giáo án với giáo trình và giải thích tại sao soạn giáo án
Trong bài học trước chúng tôi đã nói đến những đặc điểm của một giáo trình hiệu quả. Triển khai giáo trình là một tiến trình từng bước một. Nó đòi hỏi việc xếp đặt kế hoạch cẩn thận, thời gian, cầu nguyện, và sự kiên nhẫn chăm chỉ làm việc. Phần triển khai của giáo trình là những bài học đơn lẻ lần lượt phối hợp để tạo thành những đơn vị học tập. Các đơn vị học tập tạo nên khóa trình: “Giáo trình là khóa trình làm thành giáo trình. Hãy ghi nhớ định nghĩa sau đây về giáo trình: “Giáo trình là một kế hoạch theo đó tiến trình giảng dạy học tập được xúc tiến có hệ thống”. Soạn giáo trình tiến hành theo những mục tiêu đã định trước; soạn giáo án tiến hành với cùng một cách thức.
Việc soạn giáo án đưa đến một số kết quả như William Martin viết trong quyển “Những bước đầu cho thầy cô”. Nó đem đến sự sử dụng thời giờ hữu hiệu hơn trong việc chuẩn bị cũng như trong lớp. Nó đem lại sự thống nhất và liên tục của từng bài học. Nó làm cho các thầy cô khép vào kỷ luật hơn trong việc chuẩn bị và tự tin hơn trong lúc giảng dạy. Những bài học được soạn kỷ lưỡng thì tập trung vào những mục tiêu được thành lập rõ ràng. Những bài học như thế thì thường thú vị hơn. Soạn giáo án cẩn thận, các thầy cô có thể giảng dạy lời Đức Chúa Trời và hoàn thành lời kêu gọi của Đức Chúa Trời hơn (Các trang 84-85).
Bài nầy được dự định để giới thiệu việc soạn giáo án cho những lãnh đạo giáo dục và các thầy cô giáo. Để làm như thế, chúng tôi sẽ trình bày một tờ kế hoạch giảng dạy tiêu biểu mà chúng tôi đã chọn vì tính đơn giản của nó. Bạn có thể đạt được một phương thức soạn giáo án chi tiết hơn với khóa học “Những nguyên tắc giảng dạy” của ICI.
Hơn bất kỳ điểm nào khác, trong bài nầy chúng tôi muốn nhấn mạnh đến điểm là những bài học đơn lẽ phải được soạn kỷ lưỡng. Tại sao điểm nầy cần được nhấn mạnh như vậy? Theo John T. Sisemore:
Cách thức soạn giáo án quyết định phần lớn tính chất của việc giảng dạy, và cứ như thế, tính chất của việc giảng dạy..... Mặc dù người thầy giáo có thể ước muốn thực hiện việc giảng dạy hiệu quả hơn một cách nghiêm chỉnh, nhưng anh ta sẽ nhận thấy không có tiến bộ gì cả cho đến khi anh ta đã thủ đắc được kỷ năng chuẩn bị bài học (các trang 8-29).
1 Liên hệ giữa việc soạn giáo án với giáo trình
...........
..............
2 Trong sổ tay của bạn, giải thích sự quan trọng của việc soạn giáo án liên quan thế nào đến việc giảng dạy.
3 Theo Sisemore, tại sao chúng ta nên nhấn mạnh đến những bài học được soạn kỷ lưỡng.
..........
NHỮNG PHẦN CỦA TỜ KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY
MỤC TIÊU 2: Xác định chức năng mỗi phần của Tờ kế hoạch giảng dạy
Chúng ta hãy lưu ý đến Tờ kế hoạch giảng dạy dưới đây. Chúng tôi đã đánh số mỗi phần để tham khảo từng phần dễ dàng hơn trong phần định nghĩa từ ngữ.
TỜ KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY
Thầy giáo (1)............................................Ngày tháng (2).......................
Lớp (3)....................
Tựa đề (4)...... ..
Mục tiêu đơn vị học tập (5)...............

Tựa đề bại học (6).............
Đoạn văn bài học (7)
Chân lý chính yếu của bài học (8)

Nhu cầu cuộc sống của học sinh (9)

Mục tiêu bài học (10)


Cấu trúc bài học
Bước Thầy giáo thời gian Học sinh
Lưỡi câu (11) ......................... (19) ............. (15)................................
................................ ......................................
Sách (12).......................... ................... (16)................................
................................ ......................................
Nhìn (13).......................... .................. (17)................................
................................. ......................................
Đón nhận (14).......................... .................. (18)................................
................................ ......................................

Bây giờ chúng ta sẽ thảo luận về mỗi phần theo trình tự được định số
1. Thầy giáo - Tên thầy giáo ghi vào đây. Điều nầy nhằm nhấn mạnh vào sự quan trọng và trách nhiệm của mỗi thầy giáo.
2. Ngày tháng - Đây là ngày tháng bài học phải được dạy, lưu trữ tốt giúp chúng ta theo đúng tiến trình của giáo trình. Có bao giờ bạn tự hỏi các chủ đề đã dạy cho một nhóm tuổi đặc biệt lần sau cùng là lúc nào không? Lưu trữ chính xác rất có ích.
3. Lớp - Nhóm tuổi của lớp được ghi nhận: thí dụ như các em tiểu học, học sinh cấp 1, người lớn cao niên. Mục tiêu bài học nên xét đến những nhu cầu của lứa tuổi (phát triển, cá nhân, và tâm linh) của học sinh.
4. Tựa đề đơn vị - Đơn vị là một phần của khóa trình, nó tập trung vào chủ đề chính. Các bài học của chúng ta là thành phần của một đơn vị. Tựa đề đơn vị nên được giữ theo với mỗi bài học. Nó nhắc nhở chúng ta liên tục về bức tranh lớn hơn.
5. Mục tiêu đơn vị học tập - Mục tiêu đơn vị học tập có phạm vi rộng lớn hơn mục tiêu bài học. Mục tiêu đơn vị học tập có thể gồm 3 loại mục tiêu cơ bản: nội dung (kiến thức), hàm ý (cảm hứng), và đáp ứng (hành động). Mỗi đơn vị học tập nên có những mục tiêu cụ thể, rõ ràng và ngắn gọn. Những mục tiêu nầy phải phản ảnh những nhu cầu của học sinh.
6. Tựa đề bài học - Tựa đề đơn giản và đi thẳng vào đề tài tạo nên hứng thú và giúp cho học sinh nhớ bài học. Tựa đề cần liên quan chặt chẽ với bài học.
7. Đoạn văn Kinh Thánh - Tất cả các bài học nên căn cứ trên một đoạn Kinh Thánh trong một cách có ý nghĩa. Đối với các em nhỏ hơn, một câu trong Kinh Thánh có thể dùng như một đoạn văn. Đối với người lớn, 8 hay 10 câu thường là đủ để đọc to lên. Với những đoạn văn dài hơn, bạn dùng lời của mình để nói về nội dung của nó, hoặc chỉ đơn giản nhắc đến từng phần của nó, để cho học sinh đọc lại toàn bộ đoạn văn sau giờ học.
8. Chân lý chính yếu của bài học - Chân lý chính yếu là lời phát biểu gói ghém nội dung bài học. Nó nói lên cái cốt lỏi của bài học.
9. Nhu cầu cuộc sống của học sinh - Đây là bản liệt kê ngắn gọn những nhu cầu của học sinh, theo đó bài học có thể hướng đến. Học sinh đến với chúng ta với những nhu cầu cần nói lên để được đáp ứng. Động cơ thúc đẩy cho sự thay đổi nằm ở điểm nầy. Các buổi dạy của chúng ta sẽ thật sự sống động khi chúng ta giúp học sinh mình khám phá ra rằng Đấng Christ là câu giải đáp cho những nhu cầu nầy.
10. Mục tiêu bài học - Mục tiêu bài học là những lời trình bày xúc tích về mục đích học tập. Thầy giáo sẽ hướng những sinh hoạt học tập và kinh nghiệm của học sinh đến những mục đích nầy. Mục tiêu bài học phản ảnh mục tiêu đơn vị học tập cụ thể. Bản thân những sinh hoạt học tập đòi hỏi sự đáp ứng tích cực từ học viên. Những mục tiêu đòi hỏi học viên áp dụng những gì đã học vào chính cuộc sống của anh ta hoặc suy nghĩ về những kinh nghiệm sống của anh ta trong ánh sáng chân lý chính yếu của bài học.
11-14. Thầy giáo - Những bước nầy nói về những sinh hoạt của thầy giáo liên quan đến cấu trúc của bài học.
11. Lưỡi câu - Đây là bước gây chú ý. Người câu cá gắn mồi vào lưỡi câu để thu hút cá, và khi cá cắn câu, người câu cá kéo nó vào. Kết hợp bài học với những nhu cầu của học sinh là cách tốt nhất để thu hút học sinh chú ý. Từ điểm nầy, nên có một sự chuyển biến tự nhiên vào nội dung bài học.
12. Sách - Đây là bước nội dung, mặc dù nội dung có thể được giới thiệu ở bấy kỳ bước nào. Ở đây thầy giáo quan tâm đến việc cung cấp hiểu biết về Kinh Thánh và giúp học sinh của mình hiểu nó có ý nghĩa gì đối với những thính giả đầu tiên của Kinh Thánh.
13. Nhìn - Trong bước “nhìn”, thầy giáo xem xét từ nội dung đoạn Kinh Thánh có thể rút ra bài học nào cho những độc giả ngày nay trong bước “sách” chúng ta hỏi: “Nó có ý nghĩa gì đối với thời đại trước?” Trong bước “nhìn”, chúng ta hỏi: “Nó có ý nghĩa gì đối với thời đại chúng ta?”
14. Đón nhận - Trong bước “đón nhận”, thầy giáo khảo sát một cách chung chung những đáp ứng khả dĩ của học sinh. Đây là phần bài học thực hành ngoài lớp học. Thánh Linh đến với học sinh trên nền tảng cá nhân về việc Ngài muốn chúng ta phải làm gì với bài học. Đây là lý do tại sao thầy xử lý bước nầy một cách chung chung.
15-18. Học sinh - Những bước nầy xét đến những sinh hoạt của học sinh liên quan 4 bước: lưỡi câu, sách, nhìn và đón nhận. Những sinh hoạt nầy được phối hợp với những sinh hoạt của thầy giáo.
19. Thời gian - Bài học một tiếng nên được chia ra như sau: lưỡi câu, 12 phút; sách, 24 phút; nhìn 18 phút; và đón nhận, 6 phút. Nhưng hãy linh động! Nếu bạn tiên liệu cần thêm vài phút cho bước “đón nhận” chẳng hạn, thì giảm đi một vài phút của những bước khác. Để bài học có thể hoàn tất chính xác, chúng ta phải ý thức thời gian. Một phương thức gợi ý có thể chấp nhận cho việc chia thời gian sử dụng cho bốn bước trong một đơn vị là dành bài học 1 cho bước “lưỡi câu”, các bài học 2 và 3 cho bước “sách”, bài học bốn cho bước “ nhìn”, và bài học 5 được chia giữa bước “ nhìn” và “ đón nhận”.
4 Xem lại Tờ kế hoạch giảng dạy và xác định chức năng mỗi phần (1 -19) trong sổ tay của bạn.
MỤC TIÊU 3: Phát triển một giáo án căn cứ trên đoạn văn Giăng 9:1 -14
TỜ KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY MẪU
Sau đây là tờ kế hoạch giảng dạy mẫu đã ghi thông tin thích hợp. Nó dành cho một bài học của một đơn vị học tập về Thần Tánh của Đấng Christ căn cứ vào 7 dấu chỉ phép lạ trong phúc âm của Giăng. Hãy đọc kỹ
TỜ KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY
Thầy giáo: Peter Mwangi
Ngày tháng 7/ 7/ 1988
Lớp : Người lớp trung niên
Tựa đề đơn vị học tập Thần tánh của Đấng Christ
Mục tiêu đơn vị học tập : Học sinh có thể 1) nêu bằng chứng về Thần tánh của Đấng Christ xét theo 7 phép lạ trong phúc âm của Giăng; 2) tin vào Đấng Christ; 3) áp dụng niềm tin nơi Đấng Christ vào cuộc sống hàng ngày; 4) đầy hy vọng về cuộc sống vĩnh cửu.
Tựa đề bài học : Việc chữa lành kẻ bại
Đoạn văn bài học: GiGa 5:1-9
Chân lý chính yếu của bài : Đấng Christ là Chủ của thời gian
Nhu cầu cuộc sống của học sinh : Đấng Christ kiểm soát những lãnh vực về sự sống mà loài người không thể đương đầu. Ngài có thể giúp chúng ta trong những tình huống khó khăn nhất của cuộc sống cho dù những tình huống xem như tuyệt vọng vì chúng kéo dài qua một thời gian khá lâu.
Mục tiêu bài học: Học sinh sẽ có thể 1) thảo luận về thần tánh của Đấng Christ được xác định bởi việc chữa lành kẻ bại; 2) được khích lệ giữa cuộc chiến với nhu cầu cá nhân đã có từ lâu.
Cấu trúc bài học
a. Bước:
- Lưỡi câu
- Sách
- Nhìn
- Đón nhận
b. Thầy giáo:
- Đưa ra bằng chứng về việc Đấng Christ đã chữa lành căn bệnh lâu năm của tôi như thế nào. Mô tả tôi đã cảm thấy tuyệt vọng như thế nào. Nhắc đến người bệnh mà Chúa Jesus đã chọn ra
- Đây là phép lạ thứ ba được ghi lại trong Phúc âm của Giăng. Ôn lại 2 phép lạ trước và cho thấy phép lạ nầy thêm sự hiểu biết của chúng ta về thần tánh của Đấng Christ như thế nào. Giải thích sở dĩ Chúa chọn trường hợp nầy vì là một trường hợp tuyệt vọng
- Với sự phụ giúp của học sinh, hãy liệt kê những khó khăn dai dẳng trong đời sống mà học sinh hay những người khác họ biết, gặp phải
- Đưa ra vài phương cách đáp ứng cho bài học:
a) Trong Đấng Christ không có tình huống nào là tuyệt vọng (mục tiêu sát nội dung);
b) Hy vọng là phương thuốc dành cho sự thất vọng (hàm ý);
c) Cầu nguyện và cảm thông với những nhu cầu dai dẳng
c. Thời gian:
- 12
- 22
- 16
- 10
d. Học sinh:
- Học sinh đáp ứng bằng việc chia xẻ những trường hợp tương tự. Học sinh trả lời cho những câu hỏi về việc tại sao người bệnh nầy đã được Chúa Jesus chọn ra
- Một học sinh đọc đoạn văn. Các học sinh khác đặt câu hỏi và nghe thầy giáo nhận xét về bài học
- Học sinh trả lời về sự tác động của phép lạ đối với dân chúng đã mục kích phép lạ
- Sau khi cầu nguyện học sinh cho biết Thánh Linh đã cảm động họ như thế nào qua bài học
5 Đây là lúc thực hành những gì bạn đã đọc. Bạn phải khai triển một giáo án dựa theo cùng một đơn vị học tập như tờ kế hoạch mẫu trên đây. Bạn sẽ dạy lớp người lớn như vậy. Đoạn văn của bạn sẽ là 9:1-41. Để giúp bạn hiểu đơn vị học tập nầy, chúng tôi liệt kê 7 phép lạ như sau:
Biến nước thành rượu
Chữa lành con trai quan thị vệ
Chữa lành kẻ bại
(Hóa bánh ra nhiều) nuôi 5000 người
Đi bộ trên mặt biển
Chữa lành người mù từ thuở sinh ra
Sự sống lại của La-xa-rơ
2:1-11
4:46-54
5:1-9
6:1-14
6:16-21
9:1-41
11:1-46
Khi khai triển giáo án của bạn, xin xem giáo án mẫu mỗi khi cần đến. Vì có thể bạn muốn sử dụng lại tờ mẫu nầy, bạn hãy sao chép tờ kế hoạch giảng dạy ở trang kế. Ghi tên bạn vào chỗ dành cho thầy giáo. Tưởng tượng bạn sẽ dạy bài học nầy một ngày nào đó trong tương lại. Thiết kế bài học của bạn với những bước lưỡi câu, sách, nhìn và đón nhận.
TỜ KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY
Thầy giáo............................................. Ngày tháng ...............................
Lớp
Tựa đề đơn vị học tập
Mục tiêu đơn vị học tập


Tựa đề bài học
Đoạn văn bài học
Chân lý chính yếu của bài học

Nhu cầu đời sống của học sinh

Mục tiêu bài học


Cấu trúc bài học
Bước:
Lưỡi câu
Sách
Nhìn
Đón nhận
Thầy giáo:
Thời gian:
Học sinh:
Baøi töï kieåm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi
1 Tất cả những câu sau đây là ĐÚNG về kết quả của việc soạn giáo án NGOẠI TRỪ
a) Thời gian được sử dụng hiệu quả hơn
b) Thầy giáo có thể ít dựa vào Thánh Linh
c) Thầy giáo được khép vào kỷ luật hơn và tự tin hơn
d) Bài học được phát triển quanh những mục tiêu rõ ràng
2 Phần bài học nhận nhiều thời gian nhất là
a) Lưỡi câu
b) Sách
c) Nhìn
d) Đón nhận
3 Mục tiêu của đơn vị học tập nói về thần tánh của Đấng Christ căn cứ vào 7 phép lạ trong Phúc âm của Giăng gồm tất cả điều sau đây NGOẠI TRỪ:
a) đi đến việc tin vào Đấng Christ
b) áp dụng đức tin nơi Đấng Christ vào cuộc sống hàng ngày
c) đầy hy vọng về cuộc sống vĩnh cửu
d) đưa ra bằng chứng tuyệt đối về thần tánh của Đấng Christ
4 Việc học sinh đọc đoạn văn thường xảy ra trong phần bài học được gọi là
a) lưỡi câu
b) sách
c) nhìn
d) đón nhận
CHỌN GIỮA ĐÚNG - SAI. Viết Đ trong khoảng trống trước mỗi câu ĐÚNG. Viết S nếu câu SAI.
.... 5 Soạn giáo án cũng giống như soạn giáo trình, tiến hành theo những mục tiêu được ấn định trước.
.... 6 Tính chất của việc soạn giáo án ảnh hưởng đến tiến trình giảng dạy, nhưng không ảnh hưởng đến tiến trình học tập.
.... 7 Để cho công việc giảng dạy có hiệu quả hơn, thầy giáo chỉ cần ước mong giảng dạy cho có hiệu quả hơn.

XẾP CHO PHÙ HỢP. Theo những chỉ dẫn cho mỗi loại câu hỏi
8-12 Xếp những phần của tờ kế hoạch giảng dạy cho phù hợp với sự xác định chức năng
..... 8 Nhắc nhở đến bức tranh lớn hơn
..... 9 Kết quả học tập mong muốn
.... 10 Mức tuổi của học sinh
.... 11 Trình bày nội dung bài học
a) Lớp
b) Tựa đề đơn vị học tập
c) Chân lý chính yếu
e) Mục tiêu bài học
13-16 Xếp những bước của cấu trúc bài học cho phù hợp với sự xác định chức năng
.... 13 Áp dụng chân lý vào cuộc sống ngày nay
.... 14 Thảo luận ý nghĩa của Kinh Thánh
.... 15 Thu hút sự chú ý của học sinh
.... 16 Khảo sát những đáp ứng khả dĩ của học sinh
a) Lưỡi câu
b) Sách
c) Nhìn
d) Đón nhận
17-20 Xếp những bước của cấu trúc bài học cho đoạn văn 5:1-9 cho phù hợp với những sinh hoạt của thầy giáo
.... 17 Nhắc đến việc cầu nguyện cho những
nhu cầu dai dẳng
.... 18 Liệt kê những nan đề dai dẳng trong
cuộc sống
.... 19 Thảo luận về sự tuyệt vọng của kẻ bại
.... 20 Đưa ra bằng chứng về việc chữa lành
cho cá nhân
a) Lưỡi câu
b) Sách
c) Nhìn
d) Đón nhận
PHẦN GIẢI ĐÁP
1. Bài học là những phần xây dựng nên giáo trình. Việc soạn giáo án cũng như soạn giáo trình là tiến trình từng bước một, tiến hành theo những mục tiêu đã ấn định trước.
2. Việc soạn giáo án đem đến việc sử dụng thời gian có hiệu quả, tính thống nhất và liên tục của bài học, thầy giáo khép vào kỷ luật và tự tin, những bài học thú vị tập trung quanh những mục tiêu rõ ràng. Giúp chúng ta làm thật tốt trong việc giảng dạy lời Đức Chúa Trời.
3. Tính chất của việc soạn giáo án ảnh hưởng đến tính chất của việc giảng dạy, và việc giảng dạy ảnh hưởng tính chất của việc học tập.
4. Câu trả lời của bạn. Xem những chức năng đã cho trong phần hướng dẫn học tập
5 Câu trả lời của bạn. Xem tờ kế hoạch giảng dạy mẫu cho những câu trả lời về lớp. Tựa đề đơn vị học tập, và mục tiêu đơn vị học tập. Sau đây là những câu trả lời khả dĩ cho những phần khác :
Tựa đề bài học-Chữa lành người mù từ lúc mới sinh.
Đoạn văn bài học - 9:1-41
Chân lý chính yếu của bài học-Đấng Christ là chủ của số phận con người
Nhu cầu đời sống của học sinh-Đấng Christ kiểm soát lãnh vực bất hạnh trong cuộc sống con người. Ngài có thể giúp chúng ta đương đầu với nó và lướt thắng nó.
Mục tiêu bài học - 1) Thảo luận về thần tánh và quyền năng của Đấng Christ được minh chứng qua việc chữa lành người mù từ lúc mới sinh của Ngài; 2) Được khuyến khích để bản thân tin vào Đấng Christ bởi nhìn thấy lòng thương xót của Ngài và sự phát triển đức tin mau lẹ ở người được chữa lành. Lưỡi câu: 12 phút.
Thầy giáo - Thảo luận về những bi kịch hay bất hạnh gần đây xuất hiện trên báo chí, như động đất hay vết thương kỳ lạ khi đang làm việc, hoặc sinh một em bé di dạng. Nói về những tình cảm tuyệt vọng.
Học sinh - Học sinh đáp ứng bằng cách chia xẻ những trường hợp tương tự.Chúng chia xẻ những tình cảm tuyệt vọng cá nhân. Sách: 24 phút.
Thầy giáo - Ôn lại 5 phép lạ trước trong Phúc âm của Giăng. Thảo luận phép lạ nầy thêm sự hiểu biết của chúng ta về thần tánh của Đấng Christ như thế nào. Mô tả quan điểm của các môn đồ, người láng giềng, người Pharisi, Chúa Jesus đối với người mù. Mô tả việc chữa lành và người được chữa lành xưng đức tin.
Học sinh- Học sinh luân phiên đọc đoạn văn, nghe nhận xét của thầy giáo về bài học, và đặt câu hỏi. Nhìn 18 phút.
Thầy giáo - Xem xét kết quả của việc tin và không tin bạn thấy nơi người được chữa lành và người Pharisi và sự kiêu ngạo cản trở niềm tin như thế nào.
Học sinh - Học sinh đáp ứng bằng cách so sánh sự khác biệt về sự biểu lộ đức tin và không có đức tin trong việc chữa lành người mù lúc sinh ra và chia xẻ những chao đảo của chính họ trong đức tin gây ra bởi lòng kiêu ngạo. Đón nhận: 6 phút.
Thầy giáo - Đề ra vài cách đáp ứng với bài học: a) Nhìn lên Đấng Christ giữa nỗi bất hạnh, b) Thay việc không tin bằng đức tin, c) Hãy nhạy cảm đối với người gặp bất hạnh và cầu nguyện cho họ
Học sinh - Chia xẻ những lời chứng về việc Đức Chúa Trời nói với họ qua phép lạ chữa lành nầy

TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC
Trong các phần trước, chúng ta đã định nghĩa giáo trình là “chương trình theo đó tiến trình dạy và học được thực hiện một cách có hệ thống”. Trong bài 4, chúng ta đã thảo luận về bản chất của một giáo trình và trong bài 5, chúng ta đã nghiên cứu về giáo án và trong bài nầy, chúng ta sẽ bàn về điểm thứ 3 trong định nghĩa của giáo trình: Tiến trình dạy và học.
Chắc các bạn còn nhớ trong bài học trước chúng tôi đã đưa ra một giáo án mẫu bao gồm những công việc của thầy giáo và những công việc của học viên. Có lẽ các bạn đã tự hỏi: “Việc phân chia 2 loại hành động như vậy căn cứ trên điều gì? “ Hoặc có thể các bạn cũng thắc mắc: “Có những nguyên tắc nào thầy giáo có thể noi theo để cải tiến chất lượng giảng dạy và thúc đẩy sự học tập?”
Một yếu tố khác nữa của việc giảng dạy tốt là sự giao tiếp. Một thầy giáo dù được chuẩn bị tốt cách mấy cũng sẽ không đạt nhiều hiệu quả nếu không có khả năng giao tiếp tốt.
Trong bài nầy chúng ta sẽ trình bày 10 quy luật hay 10 nguyên tắc của việc giảng dạy tốt và việc học tập kết quả. Những nguyên tắc nầy là nền tảng của điều chúng tôi gọi là tiến trình dạy và học. Một tiến trình là một chuỗi liên tục các hoạt động được thực hiện có chủ ý nhằm đạt tới một mục tiêu. Cầu xin Chúa ban cho bạn một nhận thức mới về tiến trình dạy và học hầu cho qua nhận thức nầy bạn sẽ càng phấn khởi hơn trong nhiệm vụ huấn luyện đức tin Cơ đốc.
Dàn bài
Mối liên hệ giữa dạy và học
Các nguyên tắc học tập có hiệu quả

Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy, bạn sẽ có thể:
Định nghĩa tiến trình dạy và học
Ghi nhận những nguyên tắc giảng dạy sinh động và những nguyên tắc học tập có hiệu quả
Áp dụng những nguyên tắc đó vào việc giảng dạy của bạn

Sinh hoạt học tập
Học thuộc 10 nguyên tắc giảng dạy sinh động.
Đặc biệt chú ý đến 5 bước để đạt được sự giao tiếp tốt.
Ôn lại từ bài 4 đến 6 để sửa soạn cho bài kiểm tra đánh giá tiến bộ từng phần. Đọc phần chỉ dẫn trong tập tài liệu dành cho học viên.
Điền các câu trả lời vào bảng trả lời theo như được hướng dẫn rồi
gởi về cho giảng viên của bạn, người sẽ kiểm tra các câu trả lời
của bạn và cho bạn biết kết quả.

Từ ngữ quan trọng
theo dõi, ý kiến phản ảnh
tiếp thu, hấp thụ
động cơ
khả năng thể lý
tỷ lệ
học vẹt
Khai triển bài học
MỤC TIÊU 1: Sự liên hệ giữa việc dạy và học, định nghĩa việc học
MỐI LIÊN HỆ GIỮA VIỆC DẠY VÀ HỌC.
Một nhà văn đã mô tả mối liên hệ giữa việc dạy và học như thế nầy: Dạy là một tiến trình, học là kết quả; dạy là một quá trình, học là thành quả; dạy là phương tiện, học là cứu cánh. Tác giả nầy còn nói thêm rằng chỉ có thể thực sự gọi là giảng dạy khi có những biến đổi xảy ra trong đời sống của học viên (Sisemore, tr. 11). Một tác giả khác cũng đồng ý rằng việc giảng dạy phải gắn liền với sự tiếp thu của học viên đã nêu lên tầm quan trọng của việc thầy giáo cần hiểu được sự tiếp thu xảy ra thế nào nơi học viên. Chỉ khi đó người thầy giáo mới có thể lựa chọn những sinh hoạt học tập nhằm đạt được những thay đổi trong đời sống của các học viên (Eavey, tr. 118).
Dạy và học là 2 mặt của một đồng tiền. Không thể có điều nầy mà không có điều kia. Đối với những người học hàm thụ (như các bạn chẳng hạn) thì sách giáo khoa hay tài liệu hướng dẫn học tập đóng vai trò thầy giáo. Ngay cả đối với những người “tự học” trong ý nghĩa là không có những chỉ dẫn học tập cụ thể vẫn có thể có những nguồn tài liệu khác. Tóm lại sự giảng dạy chỉ có thể gọi là hiệu quả khi nó dẫn đến sự tiếp thu nơi học viên.
1 Xếp những từ ngữ sau đây với việc dạy hay việc học.
.... a Tiến trình
.... b Quá trình
.... c Kết quả
.... d Thành quả
.... e Cứu cánh
.... f Phương tiện
1) Dạy
2) Học
2 Hãy nêu lên mối liên hệ của việc dạy và học.

Cho tới đây, chúng tôi đã đề cập đến từ liệu học (tiếp thu) nhiều lần. Một tác giả đã định nghĩa từ liệu học như sau: “Sự thay đổi khá rõ rệt trong cách sống như là kết quả của việc thực hành và kinh nghiệm” (Davis, tr. 164). Ý nghĩa chính ở đây là “Thay đổi cách sống”. Điều đó có nghĩa là một người đi tới chỗ biết và có thể làm những điều mà trước đó người đó không biết hoặc không có thể làm. Sự thay đổi nầy được gọi là “tương đối vững bền” bởi vì người ta có khuynh hướng hay quên điều họ đã học hoặc là những điều mới học sẽ lẫn lộn với những điều đã học rồi. Sự thay đổi nầy được gọi là kết quả của việc thực hành hoặc kinh nghiệm để phân biệt với sự thay đổi cách sống do kết quả của sự tăng trưởng bình thường.
Có nhiều hình thức học khác nhau. Chẳng hạn người ta có thể nghĩ rằng mình đã học được điều gì khi họ thâu thập được những kiến thức, sự hiểu biết, các kỷ năng hoặc hình thành những quan điểm mới.
Việc học chỉ nhấn mạnh vào tri thức mà không có sự hiểu biết thường được gọi là học “vẹt”. Việc học như vậy thường là máy móc và đem lại rất ít hoặc không đem lại thay đổi gì trong nếp sống. Việc học nhấn mạnh đến kiến thức cũng như sự hiểu biết được gọi là việc học có ý thức. Việc học như vậy sẽ đem lại những thay đổi trong lối sống.
Điều rõ ràng là chúng ta đã học được nhiều điều khi chúng ta trở nên một tạo vật mới trong Đấng Christ “Mọi sự đều trở nên mới” (IICo 2Cr 5:17). Do đó đối với những nhà giáo dục Cơ đốc sự tăng trưởng và trưởng thành thuộc linh là hình thức học tập quan trọng bắt nguồn từ kinh nghiệm gặp Chúa.
3 Liệt kê 5 hình thức học tập được nói đến trong phần trên.

4 Ghép các sinh hoạt học tập với những hình thức học tập có liên quan.
1) Học tập có ý nghĩa
2) Học “vẹt”
.... a Học thuộc lòng RoRm 8:28-30
.... b Liệt kê các sách Cựu Ước theo kinh điển Hêbơrơ.
.... c Thiết lập 1 kế hoạch để các học viên thực hành việc cá nhân chứng đạo.
.... d Định nghĩa từ ngữ Thêôphani như đã được đề cập tới trong bài học trước
.... e So sánh quan điểm của Phaolô về đức tin (RoRm 4:1-25) với quan điểm của Giacơ về việc làm (Gia Gc 2:14-24).
.... f Sắp xếp các sách của Tân ước theo thứ tự thời gian như tiến sĩ Horton đã nêu lên
.... g Nêu lên điều có thể đem áp dụng từ sự dạy dỗ của sứ đồ Phaolô về việc ăn đồ cúng vào sinh hoạt của Hội thánh ngày nay.
.... h Theo bạn thì Hội thánh ở Côrinhtô đón nhận những dạy dỗ của sứ đồ Phaolô về việc lập gia đình như thế nào (ICo1Cr 7:1-40)
MỤC TIÊU 2: Xác định 5 nguyên tắc giảng dạy sinh động
NHỮNG NGUYÊN TẮC GIẢNG DẠY SINH ĐỘNG
Trong phần còn lại của bài học, chúng ta sẽ thảo luận về 10 nguyên tắc giảng dạy sinh động và học tập có hiệu quả. Chúng tôi đã cẩn thận chọn lựa những nguyên tắc theo chúng tôi nghĩ là rất quan trọng. Những nguyên tắc nầy không được liệt kê theo tầm mức quan trọng mặc dầu chúng tôi nghĩ rằng nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc quan trọng hơn vì một số lý do. 5 nguyên tắc đầu liên quan đến việc giảng dạy và 5 nguyên tắc sau liên quan đến việc học tập.
1. Quyền năng của Đức Thánh Linh: Chúng ta cần phải nương dựa vào quyền năng của Đức Thánh Linh để đạt được những mục đích thuộc linh (ICo1Cr 2:10-15). Như trước đã nói việc giáo dục Cơ đốc chủ yếu là một công tác thuộc linh. Nói cho cùng thì chính Đức Thánh Linh là Đấng dạy dỗ. Mặc dầu Ngài làm việc đó qua con người. Ngài ngự trong tấm lòng của cả giáo viên lẫn học viên. Ngài soi sáng tâm trí và cảm động trong lòng. Ngài không những chỉ dắt chúng ta vào lẽ thật (GiGa 16:13) nhưng Ngài cũng chính là Thần của Lẽ Thật (GiGa 14:17) Ngài cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công nghĩa, về sự xét đoán (GiGa 16:8). Một khi chúng ta nhận thức rằng Đức Thánh Linh làm việc trong thầy giáo cũng như trong học viên để truyền đạt sứ điệp của Lời hằng sống thì khi đó chúng ta hiểu được chân lý sống động.
2. Gương mẫu: Ở phần trước chúng ta đã nói đến việc thầy giáo phải làm gương cho học viên. Việc giáo dục không những chỉ qua lời nói nhưng còn qua cách sống nữa. Nguyên tắc giáo dục bằng gương sáng đòi hỏi giáo viên phải sống đúng với điều mình đã giảng dạy. Chẳng hạn nếu chúng ta huấn luyện người khác về việc dạy lớp Kinh Thánh trường Chúa nhật thì chính việc huấn luyện của chúng ta phải thể hiện những phương pháp giảng dạy có hiệu quả.
Đối với những người làm cha mẹ thấy những hành vi khác lạ nơi con cái mình và đặt câu hỏi: “Chúng ta học điều đó ở đâu?”. Rõ ràng là chúng ta đã học điều đó bằng cách bắt chước người khác. Điều hiển nhiên là học sinh bắt chước thầy giáo của chúng nhiều hơn là điều chúng ta tưởng. Điều nầy càng đúng nơi các trẻ em. Nguyên tắc noi theo gương mẫu vẫn tác động dầu chúng ta ý thức hay không ý thức. Vì thế chúng ta nên lợi dụng sự kiện này bằng cách nêu lên những gương sáng chứng minh cho các chân lý mà chúng ta giảng dạy. Các học viên sẽ sẵn sàng tiếp thu điều chúng ta muốn họ học khi chúng ta giảng dạy những điều đó kèm theo gương sáng để họ nhìn thấy và noi theo.
5 Định nghĩa nguyên tắc nêu gương sáng

6 Hãy giải thích câu nói “Dù muốn hay không nguyên tắc nêu gương sáng vẫn luôn luôn tác động - Ghi chép trong sổ tay của bạn.
3. Sự giao tiếp. Thầy giáo là một người làm công việc giao tiếp. Nhiệm vụ của họ là truyền đạt những tri thức và tình cảm. Sau đây là những phương cách để một giáo viên Cơ đốc giáo dục có thể giao tiếp, truyền đạt tốt hơn.
a. Nêu rõ các mục tiêu của bài học: Chỉ cho học viên biết đang học phần nào của bài học. Như thế sẽ giúp học viên chuẩn bị và sắp xếp những tài liệu trước khi nghe giảng bài. Câu nói sau đây về việc truyền giảng cũng áp dụng cho việc giảng dạy. “Nói cho cử tọa biết điều bạn sắp trình bày với họ, trình bày cho họ về điều đó và sau đó nhắc lại cho họ những điều bạn vừa trình bày”.
b. Liên hệ bài học với những yêu cầu và hoàn cảnh thực tế trong đời sống của học viên. Sự giao tiếp sẽ được tăng cường khi nó có ý nghĩa. Việc có ý nghĩa hay không tùy thuộc vào giá trị cá nhân. Điều nào được người ta coi là quan trọng thì điều đó có ý nghĩa đối với người đó.
c. Chia nội dung bài học thành từng phần nhỏ một cách hợp lý, tùy theo mức độ khó khăn phức tạp của bài học và khả năng của học viên. Việc sử dụng biểu mẫu giáo án sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phân chia nội dung bài học.
d. Nêu những câu hỏi để kiểm tra xem mối giao tiếp đã tốt chưa - Giao tiếp là một mối liên hệ song phương. Thầy giáo không thể khẳng định là đã có mối giao tiếp tốt nếu không thấy sự đáp ứng từ phía học viên.
e. Tìm cách kích thích mọi giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác càng nhiều càng tốt. Những sự nghiên cứu đã cho thấy rằng việc kích thích càng nhiều giác quan càng khiến bài học thú vị hơn và giúp học viên ghi nhớ nội dung bài học trong thời gian dài.
7 Liệt kê 5 phương cách để có sự giao tiếp tốt. Ghi chép trong sổ tay của bạn.
4. Sử dụng các phương pháp và tài liệu đa dạng. Giáo viên cần phải tránh sử dụng các tài liệu và phương pháp cách đơn điệu. Chẳng hạn chúng ta rất dễ chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình trong những lớp dành cho người lớn. Nhưng chúng ta cần phải lựa chọn phương pháp và tài liệu tùy theo nhu cầu của học viên và mục tiêu của lớp học. Không có một phương pháp nào phù hợp được với mọi hoàn cảnh. Mọi phương pháp đều có điểm thuận lợi và bất lợi riêng. Phương pháp hữu hiệu nhất đối với từng hoàn cảnh là phương pháp đem lại kết quả nhiều nhất.
Việc đa dạng hóa các phương pháp giảng dạy không phải là một lựa chọn tùy ý nhưng là một điều cần thiết. Nếu muốn việc giảng dạy có hiệu quả hơn thầy giáo phải chú ý đến việc sử dụng các phương pháp giảng dạy cách phong phú và thông minh.
8 Xác định phương pháp giảng dạy tốt nhất

9 Giải thích tại sao việc đa dạng hóa các phương pháp giảng dạy là cần thiết.

5. Không ngừng hoàn thiện. Điều nguyên tắc nầy muốn nhấn mạnh là dù việc giảng dạy đã có hiệu quả đến đâu chăng nữa cũng cần phải được không ngừng hoàn thiện. Người ta có nói đến một thầy giáo đã từng dạy học 20 năm nhưng thực sự chỉ có một năm kinh nghiệm. Bởi vì người nầy chỉ lặp đi lặp lại một kinh nghiệm từ đầu đến cuối. Vô hình chung, người thầy giáo nầy đã không tăng tiến gì cả. Có thể là người nầy đã cố gắng cải tiến nhưng không thành công. Nhưng cũng có thể là người nầy đã tự thỏa mãn với kết quả mình đạt được. Người đó hoặc là lười biếng hoặc là cẩu thả hay vô trách nhiệm.
Một thầy giáo tốt cần không ngừng nổ lực tự hoàn thiện. Chúng ta muốn nói đến quyết tâm bền bỉ không ngừng hoàn thiện. Chúng ta không thể để mình bị trói buột bởi những suy nghĩ hoặc bị ngăn trở bởi những người không thích tiến bộ, hoặc bởi thiếu thốn phương tiện. Người thầy giáo cần nhìn thấy những tiềm năng to lớn Đức Chúa Trời đặt trong đời sống mỗi học viên và nổ lực giúp học viên phát triển các tiềm năng đó trong ơn Chúa. Công việc của người thầy giáo giống như người thợ kim hoàn mài dũa và đánh bóng những viên ngọc quý. Người thầy giáo chỉ đem lại điều tốt nhất cho học viên và không mong mỏi gì hơn là thấy những kết quả mỹ mãn nhất nơi học viên. Chúng ta mong mỏi làm trọn ý chỉ của Đức Chúa Trời trên đời sống chúng ta với tư cách là một con người và là một thầy giáo.
10 Một số giáo viên đã không nổ lực và không tiến tới được sự hoàn thiện bởi vì:
a) Sợ thất bại
b) Tự thỏa mãn với điều họ đã đạt được
c) Lười biếng và cẩu thả
d) Tất cả những điều trên
11 Định nghĩa tinh thần hoàn thiện không ngừng mà một giáo viên cần có.
.............
............ .
MỤC TIÊU 3: Xác định 5 nguyên tắc học tập có hiệu quả
NHỮNG NGUYÊN TẮC HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ
Năm nguyên tắc sau đây liên quan đến việc học tập. Có thể nói nguyên tắc căn bản nhất là nguyên tắc về động cơ học tập
6. Động cơ (học tập). Nguyên tắc nầy khẳng định rằng động cơ học tập của học viên sẽ quyết định nội dung điều họ sẽ học. Động cơ học tập bắt nguồn từ ước muốn học tập của học viên. Chỉ khi nào một người có ước muốn học tập thì người đó mới có thể bắt đầu học tập. Hầu hết những tín đồ trong nhà thờ đều có ước muốn học tập. Họ đều ước ao học hỏi những điều về Đức Chúa Trời với tư cách là giáo viên chúng ta có nhiệm vụ phải khơi lửa để mọi viên than đều bắt lửa và cả lò than bừng cháy. Bạn có thể tưởng tượng lớp Kinh Thánh của bạn sẽ như thế nào nếu mọi học viên đều có lòng ước ao học hỏi như vậy.
Một vài yếu tố có thể khuyến khích động cơ học tập. Điều trước tiên là sự giảng dạy có ý nghĩa. Một khi các bài học có liên quan đến những nhu cầu của học viên thì nội dung Kinh Thánh của bài học sẽ trở nên thích hợp. Nó đem lại câu trả lời cho những vấn đề mà con người thời nay đang thắc mắc. Nó thỏa mãn mong ước của tấm lòng con người muốn hiểu biết về Đức Chúa Trời.
Điều thứ hai là việc giảng dạy phải được trình bày thế nào để ngay từ đầu học viên hiểu được những mục tiêu của bài học là gì. Điều đó giúp học viên hiểu họ đang hướng tới đâu và có cảm giác là họ đang tham gia vào bài học. Chúng ta có thể tưởng tượng được cảm giác của các môn đồ khi Chúa Jesus phán với họ, “Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm, nhưng ta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi đều ta đã nghe nơi Cha ta” (GiGa 15:15).
Điều thứ ba là việc giảng dạy áp dụng những sinh hoạt học tập phong phú. Người ta thường thích những điều mới mẻ. Chúng ta đã nêu lên sự cần thiết phải áp dụng những phương pháp giảng dạy phong phú. Thêm vào đó những sinh hoạt học tập phong phú giúp tạo nên và duy trì sự thích thú. Một người có thể rất thích ăn cơm với cá, nhưng nếu cứ ăn cơm với cá mãi thì rồi cũng sẽ chán.
Điều thứ tư, việc giảng dạy có quan tâm đến các học viên và những sự đóng góp của họ vào bài học sẽ giúp tăng cường động cơ học tập. Phải tạo cho học viên có cảm giác rằng họ là quan trọng. Giáo viên cần phải hiểu biết về học viên càng nhiều càng tốt. Giáo viên càng tỏ ra quan tâm đến học viên bao nhiêu thì học viên càng sẵn sàng tiếp thu bài học bấy nhiêu.
12 Thế nào là động cơ học tập? Ghi chép trong tập của bạn.
13 Cho biết các yếu tố dưới đây có khuyến khích động cơ học tập hay không.
.... a Học vẹt
.... b Những sinh hoạt học tập phong phú
.... c Phương pháp giảng dạy không thay đổi
.... d Những câu chuyện thích thú và phù hợp
.... e Không ghi nhận sự đóng góp của học viên
.... f Không nêu rõ mục tiêu bài học cho học viên
.... g Bài học có ý nghĩa
1) Khuyến khích động cơ học tập
2) Không khuyến khích động cơ học tập
7. Tinh thần chịu học tập. Việc học tập tùy thuộc rất nhiều nơi ước muốøn học tập của học viên hơn là hoạt động giảng dạy của thầy giáo. Ở đây muốn nói đến tinh thần học tập. Dầu thầy giáo có giảng dạy tốt cách mấy về phần mình mỗi học viên cũng phải tự học tập. Học tập luôn luôn bao gồm việc tự học.
Dĩ nhiên chúng ta không bao giờ phủ nhận sự quan trọng của thầy giáo. Đức Chúa Trời đặt những thầy giáo trong Hội thánh là để dạy dỗ chúng ta. Chắc chắn tôi đã không thể làm được điều mình đã làm nếu không có các thầy giáo. Rõ ràng là những bài học được giảng dạy tốt sẽ giúp cho việc học trở nên dễ dàng. Trái lại, bài học được giảng dạy tồi sẽ ngăn trở việc học. Tuy nhiên các học sinh vẫn thường phải tiếp tục học mặc dầu sự giảng dạy rất kém cỏi.
Sau khi thầy giáo đã giảng và thực hiện mọi điều rồi, các học sinh vẫn phải chấp nhận tối thiểu là hơn một nửa trách nhiệm phải tự học. Điều nầy đáng trở nên một nguồn khích lệ cho tất cả chúng ta. Nó có nghĩa là chúng ta có thể học hàm thụ tại nhà. Cũng có nghĩa là nếu chúng ta thực lòng muốn hiểu biết về Lời của Đức Chúa Trời thì chúng ta có thể biết được và có nghĩa là việc học tập có thể trở thành một kinh nghiệm bổ ích và kéo dài cuộc đời.
14 Tinh thần chịu học tập có nghĩa là
a) Sự ham thích học tập
b) Khả năng giảng dạy của giáo viên
c) Tinh thần trách nhiệm của học sinh
d) a và c
15 Cho biết ai là người chịu trách nhiệm về việc học tập của học viên. Ghi chép trong sổ tay của bạn.
8. Sự tham gia. Nguyên tắc học tập nầy còn được gọi là quy luật của kinh nghiệm, thực hành, dấn thân và giao tiếp. Nguyên tắc này minh định rằng việc tham gia của học viên là điều cần thiết để có được việc học tập kết quả. Học viên học tập qua hành động. Các hoạt động có thể mang tính chất thể lý, tâm trí, tình cảm hay tâm linh. Việc tham gia các hoạt động nầy giúp cho học viên hấp thụ điều mình đã học.
Nguyên tắc nầy bao gồm việc theo dõi khen thưởng, thực hành và ôn tập. Tất cả những người đó đều có liên quan mật thiết với nhau. Nói về việc theo dõi, việc học tập sẽ được đẩy mạnh và duy trì khi những tiến bộ của học viên được theo dõi và ghi nhận. Việc theo dõi giúp cho học viên biết được kết quả sự học của mình. Nó giúp cho học viên biết được những tiến bộ hoặc những sai sót của mình vàgiúp học viên sửa chữa những sai sót của mình và giúp học viên sửa chữa những sai lầm đó. Nói về việc củng cố, khen thưởng khi học sinh thực hiện một việc tốt và được tuyên dương hay khen thưởng thì học viên thường có khuynh hướng lập lại hành động tốt đó. Học sinh rất thích được thầy giáo khen ngợi: “Tốt lắm! Khá lắm!” hoặc “Đúng lắm, bạn tiến bộ nhanh lắm!” Việc khen thưởng làm gia tăng động cơ học tập nơi học viên. Nói về việc thực hành và ôn tập, chúng ta dễ học thuộc các dữ kiện nhất bằng cách lặp đi, lặp lại luôn. Việc thực hành và việc ôn tập sẽ giúp học viên nhớ bài được lâu.
16 Nguyên tắc tham gia còn được gọi là gì?
...........
17 Định nghĩa nguyên tắc tham gia
..........
.........
18 Xếp 3 nội dung của sự tham giavới các hoạt động
.... a Giúp ghi nhớ lâu bền
.... b Cũng cố sự hiết biết đúng
.... c Giúp học viên biết các sai sót của mình
.... d Khen thưởng việc tốt
.... e Đưa ra các phương cách để sửa chữa những sai lầm
.... f Giúp học viên ôn tập
.... g Khích lệ học viên tiếp tục học
1) Theo dõi
2) Khen thưởng
3) Thực hành và ôn tập
9. Cá nhân khác biệt. Khi học viên học tập trong mức độ khác nhau và với những cách thức khác nhau. Tôi biết một người thường hay nói: “Đừng mất kiên nhẫn với tôi bởi vì Chúa vẫn còn đang tiếp tục hành động trong tôi !”. Rất nhiều thầy giáo mong đợi các học trò của họ học tập ở cùng một mức độ như nhau. Đây là một mong đợi vô lý. Mỗi học viên đều có những khả năng khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, tinh thần học tập và động cơ học tập khác nhau. Chúa đối xử với mỗi người cách khác biệt. Ngài biết chúng ta có thể học nhanh mức nào và học những nội dung nào.
Thực hiện nguyên tắc nầy đòi hỏi giáo viên phải dành thì giờ tìm hiểu về từng cá nhân mỗi học viên. Thầy giáo phải biết được điểm mạnh và điểm yếu của mỗi học viên để đối xử với từng học viên một cách thích hợp. Đây là một thách thức lớn bởi vì nó đòi hỏi phải ấn định tỷ lệ thích hợp giữa học sinh và một thầy giáo. Nếu một giáo viên phải dạy một lớp gồm 80 học viên thì không thể nào quan tâm đến từng cá nhân được. Những người lãnh đạo trong Hội thánh cần theo dõi sỉ số của từng lớp hầu bảo đảm sự quan tâm đến từng học viên.
19 Trình bày sự mong đợi vô lý của nhiều thầy giáo là “tại sao lại gọi là vô lý”
..............
...............
20 Giáo viên nên làm gì để ứng dụng nguyên tắc cá nhân khác biệt

10. Bối cảnh học tập thú vị và hiệu quả. Việc học tập cần phải thú vị. Bởi vì bối cảnh thoài mái sẽ khuyến khích việc học tập. Nên chúng ta cần làm thế nào khiến cho việc học tập lời Chúa trở thành một kinh nghiệm thích thú. Khi học KinhThánh, các thiếu nhi Do Thái thường được ban thưởng bằng mật ong và bánh ngọt. Như thế chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi tác giả Thi thiên nói rằng luật pháp của Chúa ngọt hơn mật ong (Thi Tv 109:103, Exe Ed 3:3). Chúng ta có thể tạo nên bối cảnh thoải mái bằng cách trước tiên loại bỏ những khía cạnh tiêu cực trong việc giảng dạy. Chúng ta cần loại bỏ sự nhàm chán gây ra bởi sự thiếu hào hứng và phong phú; Bởi điều kiện vật chất không thoải mái thí dụ như nóng quá hoặc lạnh quá; bởi sự chán nản gây nên do việc đặt mục tiêu bài học không thực tế; hoặc bởi sự tổn thương tình cảm bắt nguồn từ những phê bình chỉ trích hay so sánh giữa học viên nầy với học viên khác. Kế đó chúng ta có thể tạo nên bối cảnh học tập thú vị bằng cách áp dụng những nguyên tắc nói đến trong bài học. Mục tiêu của chúng ta, là làm sao để lớp học trở nên thú vị và hấp dẫn đến nỗi các học viên sẽ không muốn bỏ lớp.
Tóm lại có thể thấy rất rõ là 10 nguyên tắc kể trên đan chéo lại vào nhau bởi vì chúng liên hệ chặt chẻ với nhau. Do đó trong một mức độ nhất định các nguyên tắc nầy sẽ cùng nhau đứng vững hay sụp đổ. Khi chúng ta vi phạm vào nguyên tắc này thì rất có thể chúng ta sẽ vi phạm vào nguyên tắc khác nữa. Ngược lại, nếu chúng ta đem áp dụng một vài nguyên tắc thì chúng ta sẽ áp dụng các nguyên tắc còn lại. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta cần hiểu rõ tất cả các nguyên tắc. Việc áp dụng những nguyên tắc nầy sẽ đem lại thành quả tốt đẹp trong việc giảng dạy và học tập.
21 Liên hệ việc ban thưởng mật ong và bánh ngọt cho các thiếu nhi Ysơraên với nguyên tắc về bối cảnh thoải mái, thú vị.
..........
..........
22 Phân loại những chỉ dẫn về bối cảnh học tập thú vị bằng cách ghi.
1 Nếu đó là việc loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong việc giảng
dạy.
2 Nếu đó là việc áp dụng các nguyên tắc giảng dạy và học tập.
.... a Theo dõi và ban thưởng
.... b Loại bỏ những nguyên nhân gây nên sự nhàm chán
.... c Loại bỏ những việc khiến học viên nản lòng
.... d Chấp nhận sự khác biệt giữa từng cá nhân
.... e Sử dụng các sinh hoạt học tập phong phú
.... f Khắc phục những điều kiện vật chất không thoải mái
.... g Tránh gây tổn thương tình cảm cho học viên
.... h Tìm những phương cách để gia tăng sự giao tiếp
23 Ghép mỗi câu phát biểu với nguyên tắc thích hợp bằng cách viết.
1 Nếu tương ứng với những nguyên tắc giảng dạy sinh động
2 Nếu tương ứng với những nguyên tắc học tập kết quả
.... a Sử dụng các phương pháp và tài liệu cách phong phú
.... b Tìm cách cải thiện không ngừng
.... c Tạo nên bối cảnh học tập thoải mái thú vị
.... d Chỉ dẫn cho học viên cách làm việc
.... e Chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân
.... f Ý thức tầm quan trọng của tinh thần chịu học tập nơi học viên
.... g Khuyến khích động cơ học tập bằng cách liên hệ bài học với các nhu cầu của các học viên
.... h Nương tựa và sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh
.... i Gia tăng khả năng truyền đạt bằng cách sắp xếp nội dung giảng dạy
.... j Khuyến khích sự tham gia của học viên quan việc thực hành và nhắc lại
Baøi traéc nghieäm
CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1 Tất cả những từ sau đây đều liên quan đến việc giảng dạy trong tiến trình dạy và học NGOẠI TRỪ
a) tiến trình
b) kết quả
c) quá trình
d) phương tiện
2 Mối liên hệ giữa dạy và học là
a) Việc giảng dạy vẫn coi là hoàn tất bất chấp học viên có học được gì hay không.
b) Có thể học mà không cần giảng dạy.
c) Dạy và học tùy thuộc lẫn nhau
d) Giảng dạy luôn đem lại sự thay đổi lối sống
3 Một thí dụ về việc học “vẹt là
a) triển khai kế hoạch để cả lớp đi ra làm chứng
b) so sánh quan điểm của Phaolô và Giacơ về đức tin và việc làm.
e) áp dụng sự dạy dỗ của Phaolô về đồ cúng đối với Hội thánh ngày nay.
d) học thuộc tên các sách Cựu ước theo Kinh điển Hêbơrơ
4 Học viên học qua hành động hơn là lời nói của thầy giáo. Như thế là theo nguyên tắc.
a) nêu gương mẫu
b) giao tiếp
c) đa dạng hóa phương pháp
d) hoàn thiện
5 Sự giao tiếp giữa thầy và trò sẽ giảm sút nếu thầy giáo
a) cố gắng kích thích ngũ quan
b) liên hệ sách vở với nhu cầu của học viên
c) nêu rõ các mục tiêu của bài học
d) Cho rằng học viên đã hiểu rồi
6 Phương pháp giảng dạy tốt nhất là
a) đa số thầy giáo thường sử dụng
b) dễ đem áp dụng nhất
c) đạt hiệu quả nhất trong một bối cảnh
d) sáng tạo nhất trong một trường hợp đặc biệt
7 Câu chuyện về người giáo viên dạy học đã 20 năm nhưng chỉ có một năm kinh nghiệm liên quan đến nguyên tắc.
a) quyền năng của Thánh Linh
b) nêu gương mẫu
c) sự khác biệt giữa các cá nhân
d) sự hoàn thiện
8 Cách thức ít hiệu quả nhất để tạo nên sự hứng thú nơi học sinh là:
a) để học sinh phỏng đoán về mục tiêu của bài học
b) sử dụng các hình thức học tập phong phú
c) chú ý đến sự tham gia của học viên
d) liên hệ nội dung của KinhThánh với nhu cầu của học viên
9 Để việc học tập có thể đạt được sự tham gia của học viên cần được khuyến khích bằng cách:
a) Ban thưởng, khích lệ
b) Thực tập và nhắc lại
c) Theo dõi, phản ánh
d) Tất cả những điều trên
10 Tìm cách tránh sự nhàm chán, nản lòng và các tổn thương tình cảm nơi học viên liên quan đến nguyên tắc.
a) chịu học tập
b) cá nhân khác biệt
c) môi trường học tập vui vẻ và kết quả
d) tất cả những điều trên
CHỌN GIỮA ĐÚNG và SAI. Viết chữ Đ trước mỗi câu trả lời ĐÚNG. Viết S nếu SAI
.... 11 Một người tự học sẽ không nhận được các tài liệu học tập.
.... 12 Có tác giả định nghĩa việc học là sự thay đổi lâu bền về cách sống như là kết quả của sự thực hành và kinh nghiệm.
.... 13 Chúng ta càng nương tựa nơi Đức Thánh Linh hướng dẫn chúng ta trong việc sửa soạn bài học bao nhiêu thì càng ít phải sửa soạn bấy nhiêu.
.... 14 Câu nói “Đừng thất vọng với tôi bởi vì Chúa vẫn còn hành động trên tôi” liên quan đến nguyên tắc cá nhân khác biệt.
.... 15 Việc học tập có thể tùy thuộc nhiều nơi tinh thần chịu hỏi của học viên hơn là các hoạt động của thầy giáo
.... 16 Nếu học sinh phải chịu trách nhiệm về việc học của họ thì cách trình bày bài học không quan trọng.
ÑAÙNH GIAÙ TIEÁN BOÄ PHAÀN II
Baïn haõy oân laïi caùc baøi 4-6 ñeå chuaån bò laøm baøi ñaùnh giaù tieán boä phaàn 2. Baïn seõ tìm thaáy baøi laøm naày vaø tôø traû lôøi trong taäp taøi lieäu hoïc vieân. Haõy traû lôøi caùc caâu hoûi maø khoâng duøng ñeán saùch höôùng daãn hoïc taäp hay soå tay. Roài gôûi tôø traû lôøi cho giaûng vieân ICI. Sau ñoù baïn coù theå tieáp tuïc nghieân cöùu baøi hoïc 7.

PHẦN GIẢI ĐÁP
12. Sự hứng thú là tinh thần ham học hỏi cần phải có để bắt đầu học tập
1 a 1) Giảng dạy
b 1) Giảng dạy
c 2) Học tập
d 2) Học tập
e 2) Học tập
f 1) Giảng dạy
13. a 2) Không tạo nên hứng thú
b 1) Tạo nên hứng thú
c 2) Không tạo nên hứng thú
d 1) Tạo nên hứng thú
e 2) Không tạo nên hứng thú
f 2) Không tạo nên hứng thú
g 1) Tạo nên hứng thú
2 Việc giảng dạy và học tập là 2 mặt của một đồng tiền. Không thể có điều nầy mà không có điều kia. Việc giảng dạy không hoàn tất khi không đem lại thành quả học tập.
14 d) a và c
3 Thu thập kiến thức, đạt được sự hiểu biết phát triển những kỷ năng,
hình thành những thái độ, đạt đến sự trưởng thành thuộc linh.
15 Cả thầy giáo và học viên đều chịu trách nhiệm nhưng học viên có
trách nhiệm nhiều hơn (ít nhất 51% theo như tác giả). Học viên phải
có tinh thần chịu học hỏi và phải làm bài tập nếu không sẽ không
học hỏi được tốt ngay cả với một thầy giáo rất giỏi.
4 a 2) Học vẹt
b 2) Học vẹt
c 1) Học có ý nghĩa
d 2) Học vẹt
e 1) Học có ý nghĩa
f 2) Học vẹt
g 1) Học có ý nghĩa
h 1) Học có ý nghĩa
16 Quy luật của kinh nghiệm, thực hành, tham dự hay giao tiếp
5 Chúng ta phải dạy dỗ học viên bằng gương sáng hay bằng lời nói
17 Sự tham gia hay các hoạt động của học viên là cần thiết để học tập được tốt bởi vì người ta học tập khi hành động.
6 Các học viên luôn luôn quan sát thầy giáo. Đôi khi họ bắt chước những cử chỉ, thái độ của thầy giáo mà đúng ra không nên bắt chước. Hơn nữa học viên còn có thể học tập bằng cách quan sát và bắt chước chúng ta cả khichúng ta không thể giải thích ý nghĩa đúng như chúng ta mong muốn.
18 a 3) Thực tập và nhắc đi nhắc lại
b 1) Theo dõi
c 1) Theo dõi
d 2) Khen thưởng
e 1) Theo dõi
f 3) Thực tập và nhắc đi nhắc lại
g 2) Khen thưởng
7 1) Nêu rõ mục tiêu của bài học; 2) liên hệ bài học với nhu cầu của học viên; 3) Sắp xếp nội dung một cách có ý nghĩa; 4) Nêu câu hỏi để có được sự phản ảnh của học viên; 5) Kích thích ngũ quan càng nhiều càng tốt.
19 Họ mong đợi tất cả học sinh đều học bài trong cùng một mức độ như nhau. Họ không chú ý đến sự khác biệt giữa các cá nhân về khả năng, quá trình, tinh thần sẵn sàng học tập và động cơ học tập.
8 Đó là phương pháp đem lại kết quả tốt nhất trong bất cứ trường hợp nào. Không coi phương pháp nào tuyệt đối nhất.
20 Họ cần đối xử với các học viên một cách cá nhân. Chú ý đến ưu.
điểm và khuyết điểm của học viên.
9 Việc sử dụng các phương pháp giảng dạy đa dạng sẽ gia tăng hiệu.
quả của việc giảng dạy.
21 Giống như các trẻ em Hêbơrơ được ban thưởng mật ong và bánh.
ngọt trong khi học Kinh Thánh chúng ta cũng cần làm cho việc học
tập trở thành một kinh nghiệm thích thú đối với các học viên.
10 d) Tất cả những điều trên.
22 a 2
b 1
c 1
d 2
e 2
f 1
g 1
h 2
11 Sự hoàn thiện hóa là thái độ bao gồm sự cam kết hoàn thiện nhân
cách và phát triển các khả năng.
23 a 1
b 1
c 2
d 1
e 2
f 2
g 2
h 1
i 1
j 2
GIÁO DỤC THIẾU NHI
Mục đích của chúng ta, những người lãnh đạo và giáo viên Cơ Đốc là môn đồ hóa mọi dân tộc. Chúng ta phải đưa những người hư mất đến với Chúa và giúp người khác tăng trưởng thuộc linh. Chúng ta cũng sẽ thiết lập và duy trì mối dây yêu thương và hiệp nhất bền vững. Đó là chức vụ của chúng ta. Trong bài nầy chúng ta sẽ tìm hiểu xem chương trình giáo dục của Hội Thánh sẽ phục vụ các em thiếu nhi như thế nào. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng công tác thiếu nhi là công tác trọng yếu của Hội Thánh. Do đó chúng tôi sẽ chú ý đến nhiều hình thức giáo dục thiếu nhi khác nhau.
Muốn có một chức vụ kết quả cần phải quan tâm đến nhu cầu của học viên. Chúng tôi sẽ tập trung vào vị trí của thiếu nhi trong Hội Thánh và những yếu tố phát triển khi soạn thảo chương trình giáo dục học những nội dung nào về Đức chúa Trời và về Chúa Jesus. Chúng ta muốn chú ý đặc biệt đến công tác truyền giáo - chúng ta cần biết được ở tuổi nào một thiếu nhi có thể quyết định bước theo Chúa Jesus.
Khi các bạn nghiên cứu bài học nầy hãy suy gẫm về Mat Mt 18:1-14. Những lời chúa Jêsus phán về trách nhiệm của chúng ta đối với thiếu nhi sẽ khích lệ chúng ta phục vụ các em cách hiệu quả hơn.
Dàn bài
Tầm quan trọng của thiếu nhi.
Những yếu tố phát triển.
Sự tương đồng và sĩ số học sinh trong lớp.
Thiếu nhi có thể học những gì về Đức Chúa Trời.
Việc truyền giáo:
Truyền giáo cho ai và khi nào
Truyền giáo bằng cách nào.
Những hình thức giáo dục thiếu nhi.
Kể chuyện
Sử dụng Kinh Thánh
Âm nhạc
Giờ thờ phượng
Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn sẽ có thể:
Thảo luận về tầm quan trọng của công tác giáo dục thiếu nhi và về các yếu tố phát triển công việc soạn thảo chương trình giáo dục thiếu nhi.
Ghi nhận những chỉ dẫn đối với việc truyền giáo cho thiếu nhi
Mô tả những hình thức khác nhau trong việc giáo dục thiếu nhi.
Nhạy bén hơn với các nhu cầu của thiếu nhi khi làm công tác giáo dục thiếu nhi và các sinh hoạt học tập.
Sinh hoạt học tập
Nghiên cứu bài học theo cách thức đã chỉ dẫn trong bài 1.
Tìm ý nghĩa của những từ ngữ quan trọng trong bảng định nghĩa từ.
Bạn nhớ tự mình trả lời những câu hỏi trước khi xem lời giải đáp ở cuối bài học. Phương cách nầy sẽ giúp bạn nắm vững bài học nhanh hơn.
Làm bài tự kiểm tra ở cuối bài học và xem lại câu trả lời của với giải đáp trong tập tài liệu dành cho học viên. Xem lại những phần bạn trả lời chưa đúng.
Từ ngữ quan trọng
tuổi hiểu biết
ngẫu nhiên
quan niệm
khả năng tự nhiên
sự đồng nhất
Khai triển bài học
MỤC TIÊU 1: Bàn về tầm quan trọng của thiếu nhi trong Hội Thánh và phương cách Hội Thánh phục vụ các em.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA THIẾU NHI.
Các thiếu nhi là quà tặng của Đức chúa Trời. Có lẽ bi kịch khủng khiếp nhất của thế giới ngày nay là giết hại các hài nhi. Trong phần đầu của tài liệu nầy, chúng ta đã thấy Chúa Jesus coi các em thiếu nhi là quan trọng thế nào. Mặc dù ở khắp nơi trên thế giới chuyển động về kinh tế và xã hội của các thiếu nhi rất ít, Hội Thánh cần phải nhìn nhận tiềm năng thuộc linh to lớn của các thiếu nhi trong vương quốc Đức Chúa Trời.
Chúng ta hay nói rằng thiếu nhi tương lai của Hội Thánh nhưng chúng ta ít chú ý đến vai trò của thiếu nhi trong hiện tại. Samuên đã được trưởng thành từ tuổi ấu thơ hầu việc Đức Chúa Trời trong đền thờ. Nền tảng đức tin vững chắc đã được gieo trong lòng Samuên ngay từ buổi thiếu thời. Những năm tháng đầu tiên của cuộc đời sẽ quyết định sự phát triển trong tương laivề mọi mặt, tinh thần, thể chất, tình cảm và tâm linh. Qua việc giáo dục thiếu nhi, Hội Thánh sẽ thiết lập một nền tảng để sau đó người khác sẽ xây cất thêm. Khi chúng ta xây dựng một tòa nhà chúng ta không nhìn thấy nền móng nữa nhưng cả sức mạnh và sự bền vững của tòa nhà phụ thuộc vào nền móng đó. Mỗi em thiếu nhi đều có một nền móng. Nhưng nền móng đó có thể là nền móng thiết lập vững vàng trong đức tin nơi Chúa Cứu Thế và các phẩm hạnh Cơ Đốc Giáo hoặc là trong nghi ngờ, vô tín và những tiêu chuẩn thế gian.
Có một mối liên lạc hổ tương giữa các thiếu nhi và Hội Thánh- các thiếu nhi cần được Hội Thánh hướng dẫn về mặt thuộc linh và giúp chúng phát triển những tiềm năng được Đức Chúa Trời ban cho. Hội Thánh cần các thiếu nhi để có thể hoàn tất sứ vụ của Hội Thánh, việc các thiếu nhi tiếp nhận Chúa Jesus luôn luôn là một nguồn hứng khởi và gương mẫu đức tin đối với mọi người. Làm thế nào chúng ta có thể giúp các thiếu nhi có thể phát triển tiềm năng thuộc linh của chúng? Trong Mat Mt 19:14 Chúa Jesus phán: ”Đừng ngăn trở các thiếu nhi”. Vốn là trẻ nhỏ nên các thiếu nhi thường hay bị lợi dụng, coi thường và xúc phạm về mặc tình cảm cũng như tâm linh. Chương trình giáo dục cần dùng mọi phương cách để băng bó các vết thương của thiếu nhi. Mặc dù các em thường bị xúc phạm nhưng rất ít khi các em kêu gào sự giúp đỡ. Chỉ cần gỡ bỏ những ngăn trở khi chúng ta có thể cất đi những gánh nặng trên vai của các em. Khi làm như vậy chúng ta giúp các em được tự do trở nên người Thượng đế muốn các em trở nên.
1 Mô tả mối liên hệ giữa Hội Thánh và thiếu nhi theo đó các thiếu nhi là một bộ phận quan trọng của Hội Thánh trong hiện tại chứ không phải chỉ trong tương lai.
.....................................................................................................................


2 Hãy nêu lên một phương cách mà chương trình giáo dục của Hội Thánh có thể giúp thiếu nhi tăng trưởng thuộc linh.

.....................................................................................................................
MUÏC TIEÂU 2: Ghi nhaän nhöõng yeáu toá phaùt trieån caân nhaéc khi söûa soaïn chöông trình cho thieáu nhi.
NHỮNG YẾU TỐ PHÁT TRIỂN CẦN LƯU Ý.
Sự đồng nhất và sĩ số học viên.
Mọi người liên kết và học hỏi thật tốt khi họ cùng chia xẻ những quyền lợi, khả năng, giá trị và nhu cầu chung với những thành viên khác trong một nhóm. Điều nầy được đặt cơ sở trên nguyên tắc đồng nhất. Chương trình giáo dục của Hội Thánh cần để tâm đến nguyên tắc nầy khi thành lập các nhóm. Mặc dù mỗi em có nhịp độ phát triển về thể chất, trí lực, cảm xúc và tâm linh riêng biệt, tuy nhiên mỗi em đều phải trải qua mỗi giai đoạn phát triển theo cùng một trình tự như tất cả các em khác. Như thế có nghĩa là sự cách biệt về tuổi tác trong một nhóm được giữ ở một khoảng cách nhỏ thôi, thì những cá nhân trong nhóm đó có thể chia xẻ được những đặc điểm phát triển tương tự. Các em được chia nhóm theo cách nầy sẽ giúp ích cho việc giảng dạy. Các thầy cô có thể đáp ứng những nhu cầu của học viên nhiều hơn trong một nhóm đồng nhất. Đó là lý do tại sao chúng tôi đề nghị chia các em theo những nhóm sau đây:
Lớp mẫu giáo: 2 và 3 tuổi.
Lớp chuẩn bị đến trường: 4 và 5 tuổi.
Lớp tiểu học: 6,7 và 8 tuổi.
Lớp trung học cấp I: 9, 10 và 11 tuổi.
Nhóm đông hay ít học viên để thầy cô có thể xử lý tiện lợi tùy thuộc vào mức tuổi của nhóm. Chúng tôi đề nghị 1 thầy (cô) hướng dẫn 6 em cho lớp mẫu giáo, 8 em cho lớp chuẩn bị đến trường, 10 em cho lớp tiểu học, và 12 em cho lớp trung học cấp I. Số học viên của lớp không được nhiều hơn 20 đến 25 em. Chẳng hạn như một lớp chuẩn bị đến trường gần 24 em, thì sẽ có 1 thầy (cô) và 2 trợ lý. Thanh niên lớn tuổi thường là những trợ lý tốt.
Làm thế nào bạn có thể điều hành một nhóm đông các em trong một phạm vi hạn hẹp? Giá như có một phòng rộng rãi hơn thì bạn có thể chia nhóm ra. Nếu có thể bạn sử dụng sân bên ngoài. Hãy cho các nhóm học vào những thời điểm khác nhau. Tìm kiếm những cơ sở rộng lớn hơn. Cầu nguyện về vấn đề nầy và hãy để Thánh Linh hướng dẫn bạn. Hãy làm hết sức mình trong tình huống như vậy và tin cậy vào Đức chúa Trời sẽ ban cho bạn điều cần thiết.
3 Thật thuận lợi trong lúc sinh hoạt với các em nếu ta chia nhóm các em theo phương thức phát triển đồng nhất bởi vì:
a) Mỗi cá nhân trong nhóm có thể chia xẻ được những đặc điểm phát triển tương tự.
b) Thầy cô có thể đáp ứng những nhu cầu của học viên.
c) Học tập có hiệu quả hơn trong những nhóm như vậy.
d) Bản thân các em sẽ liên kết với nhau tốt hơn.
e) Tất cả những điều nêu trên.
4 Xếp mức tuổi do tác giả đề nghị sao cho phù hợp với lớp của các em
.... a 2 và 3 tuổi
.... b 4 và 5 tuổi
.... c 6, 7 và 8 tuổi
.... d 9, 10 và 11 tuổi
1) Trung học cấp I
2) Mẫu giáo
3) Chuẩn bị đến trường
4) Tiểu học
5 Xếp tỷ số thầy cô cho học viên do tác giả đề nghị sao cho phù hợp với lớp của các em
.... a Một cho sáu
.... b Một cho tám
.... c Một cho mười
.... d Một cho mười hai
1) Trung học cấp I
2) Mẫu giáo
3) Chuẩn bị đến trường
4) Tiểu học
MỤC TIÊU 3: Tìm ra từng nhóm tuổi có thể học hỏi gì về Đức chúa Trời.
Các em có thể học hỏi được gì về Đức Chúa Trời
Có nhiều mức độ hiểu biết phù hợp với những giai đoạn phát triển như đã trình bày trong đoạn, về phương diện trí năng, các em sẽ tuần tự qua những thời kỳ: tiền nhận thức (tuổi từ 2 đến 7), khái niệm cụ thể (tuổi từ 7 đến 11), và khái niệm trừu tượng (tuổi từ 11 đến 15). (tham khảo khóa trình “các nguyên tắc giảng dạy của ICI để biết thêm thông tin). Trách nhiệm của thầy cô là giảng dạy chân lý qua một hình thức nào đó mà học viên của mình hiểu được. Thông thường các em không quan tâm đến việc nghe “Lời Đức chúa Trời” là vì ngôn ngữ khó quá hoặc khái niệm vượt quá khả năng hiểu biết của các em.
Những khái niệm về Đức Chúa Trời, Đấng Christ, Thánh Linh, Thánh Kinh, Hội thánh, cầu nguyện, công dân tốt, quan hệ gia đình, sự phục vụ. truyền bá Phúc âm và truyền giáo, các em chỉ hiểu một mức độ nào đó. Tuy nhiên chúng ta cũng cần nhớ lại nguyên tắc về Kinh Thánh “hàng theo hàng” (EsIs 28:10). Đứa trẻ không cần phải biết tất cả chân lý ngay. Chân lý phải được trình bày trong một cách thức có ý nghĩa thành chuỗi nối tiếp nhau qua nhiều năm. Chúng tôi sẽ minh họa những gì đã nói đến trong biểu đồ trong hình 7.1
THIẾU NHI CÓ THỂ HỌC ĐƯỢC GÌ VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ CHÚA JESUS
Mẫu giáo
Đức Chúa Trời yêu thương ta
Chúa Jesus là một người bạn
Chúa Jesus yêu thương ta muốn trò chuyện với ta
Trước tuổi đi học
Đức Chúa Trời yêu thương ta và những bạn khác
Đức Chúa Trời luôn nghe lời nguyện cầu
Chúa Jesus đến để làm Cứu Chúa
Chúa Jesus chết cho ta
Tiểu học
Đức Chúa trời yêu thương ta, gia đình và bạn hữu ta
Đức Chúa Trời muốn chúng ta cầu nguyện và đọc Kinh Thánh mỗi ngày
Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời là Cứu Chúa
Chúa Giê-xu muốn cất tội lỗi khỏi đời sống của chúng ta
Chúa Giê-xu có quyền tha tội
Trung học cấp I
Đức Chúa Trời yêu thương ta và muốn ta yêu mến Đức Chúa Trời
Đức Chúa Trời luôn đáp lại lời cầu nguyện. Lời cầu xin được chấp nhận, không chấp nhận hoặc phải chờ đợi
Chúa Giê-xu là con người, là gương mẫu của chúng ta
Chúa Giê-xu chỉ dạy ta biết cách sống cho Đức Chúa Trời, vì cuộc sống thiện hảo của Ngài.

Như bạn thấy trên biểu đồ, những chân lý dạy cho em không phải là những Chân lý đã dạy cho người lớn và đã được giảm đi. Đúng hơn, đó là những phần của chân lý có thể hiểu được ở mức tuổi của các em. Không có thời kỳ nào trong cuộc sống mà tâm trí con người phát triển mau lẹ bằng thời thơ ấu. Là thầy cô dạy trẻ, chúng ta có một phần trách nhiệm trong việc hình thành tâm hồn các em.
6 Theo tác giả đâu là nguyên nhân khiến trẻ thiếu quan tâm đến việc lắng nghe Lời Đức Chúa Trời?
...........................................................................................................................................
7 Xếp những giai đoạn phát triển trí năng sao cho đúng với hạng tuổi phù hợp
.... a 2 đến 7 tuổi
.... b 7 đến 11 tuổi
.... c 11 đến 15 tuổi
1) Thời kỳ khái niệm trừu tượng
2) Thời kỳ khái niệm cụ thể
3) Thời kỳ tiền nhận thức
8 Khoanh tròn trước mỗi câu Đúng liên quan đến việc các em có thểhọc hỏi được gì về Đức chúa Trời và Chúa Jesus.
a Với trẻ thì khả năng hiểu biết những khái niệm về Kinh Thánh phù hợp với các giai đoạn phát triển trí năng.
b Trẻ có thể hiểu biết bất cứ khái niệm về Kinh Thánh nào nếu như khái niệm đó được trình bày bằng một ngôn ngữ trong sáng.
c Theo tác giả, chân lý Lời Đức chúa Trời nên được trình bày cho trẻ trong một cách thức có ý nghĩa thành chuỗi nối tiếp nhau qua nhiều năm.
d Theo tác giả, một chân lý không đầy đủ cũng gần như là nói dối và vì thế không nên dạy cho trẻ.
e Chân lý dạy cho người lớn cần được các thầy cô giảm đi để cho phù hợp với trẻ.
TRUYỀN GIẢNG PHÚC ÂM.
MỤC TIÊU 4: Thảo luận về lòng khao khát truyền giảng Phúc âm cho trẻ và truyền giảng trong hoàn cảnh nào.
Truyền giảng cho ai và khi nào

Mặc dù Kinh Thánh không vạch rõ rằng các thiếu nhi là những tội nhân cần một Cứu Chúa, nhưng hiển nhiên là các em được bao gồm trong tình trạng tội lỗi chung của nhân loại (xem RoRm 3:23; trong hoàn cảnh nào. GiGa 14:6; Cong Cv 2:38; RoRm 10:9). Hội Thánh đòi hỏi gì ở một em bé muốn được hóan cải? Một đòi hỏi cũng giống như người lớn: đó là sự nhận biết và từ bỏ tội lỗi của mình và quay về với Đức Chúa Trời qua đức tin nơi Đấng Christ cứu chuộc loài người. Ở độ tuổi nào thì một đứa trẻ hiểu được “sự hư mất” hay sự xa cách Đức Chúa Trời? Đó là độ tuổi đã có hiểu biết (14:12)
Tuổi hiểu biết có khác nhau vì trẻ phát triển trí năng và tinh thần tùy theo cách phát triển cá nhân. Trước độ tuổi nầy thì trẻ vô tội như các bé chưa sanh hay các em được sanh ra với khuyết tật tâm thần. Chúa Jêsus đã ví nước trời như các đứa trẻ nầy. Chúng ta tin rằng Kinh Thánh cho rằng các em qua đời trước tuổi hiểu biết sẽ được Đấng Christ đối xử độ lượng. Do đó, truyền giảng phúc âm trước độ tuổi nầy sẽ không mang lại kết quả trong việc hoán cải lâu dài vì trẻ còn quá nhỏ để hiểu rõ ý nghĩa của tội lỗi, sự công nghĩa và sự xét đoán (GiGa 16:7-12). Thật vậy, việc truyền giảng Phúc âm cho trẻ nhỏ có thể có hiệu quả ngược lại trong trường hợp các em cứ lập đi lập lại sự ăn năn và công khai tuyên xưng đức tin mỗi khi có sự kêu gọi bước lên trước bục giảng.
Truyền giảng Phúc âm cho trẻ đã có vị trí của nó nhưng không thể được ảnh hưởng của một gia đình Cơ Đốc. Sứ đồ Phao lô chỉ bảo những bậc cha mẹ nuôi dạy con cái mình “trong sự dưỡng nuôi và răn bảo của Đức Chúa Trời” (Eph Ep 6:4). Hiệu quả của việc truyền giảng Phúc âm cho trẻ em có thể thật to lớn khi hướng đến các em thuộc các gia đình chưa tin Chúa. Trong những trường hợp như thế Hội Thánh cần phải là một gia đình thiêng liêng của trẻ, dưỡng nuôi trẻ cho đến khi trẻ đủ vững mạnh để tự lập.
9 Ở lứa tuổi mà đứa bé hiểu được khái niệm Kinh Thánh về sự hư mất của con người và lứa tuổi đứa bé.
a) Có thể được thật sự hoán cải
b) Chịu trách nhiệm về tội với Đức Chúa Trời
c) Có thể được báp têm bằng nước
d) Tất cả những điều nêu trên
10 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu Đúng liên quan đến việc truyền giảng Phúc âm cho các em.
a Việc truyền giảng Phúc âm cho trẻ ở Hội Thánh không thể thay thế cho việc giáo dục tôn giáo trong gia đình.
b Việc truyền giảng Phúc âm cho trẻ có thể có hiệu quả ngược lại vì đem quá nhiều người vào Hội Thánh nhưng Hội Thánh không cáng đáng nổi
c Việc truyền giảng Phúc âm cho trẻ có thể có hiệu quả ngược lại nếu để các em nhỏ cứ lặp đi lặp lại việc ăn năn và tuyên xưng đức tin khi được kêu gọi bước lên bục giảng
d Việc truyền bá Phúc âm cho trẻ là trách nhiệm của Hội Thánh chứ không phải trách nhiệm của gia đình.
e Hiệu quả của việc truyền bá Phúc âm cho trẻ có thể thật to lớn đối với các em không thuộc những gia đình tin Chúa.
MỤC TIÊU 5: Mô tả cách thức giới thiệu phúc âm cho trẻ em.
Truyền giảng như thế nào
Bà Marjorie E. Soderholm đưa ra một số đề nghị tốt cho các thầy cô theo đó để giới thiệu Phúc âm cho các em trong quyển “Giải thích về sự cứu rỗi cho trẻ em” (trang 10 đến 14)
1. Thầy cô nên giải thích rõ ràng những khái niệm về tình thương của Đức Chúa Trời, sự cần thiết phải có một Cứu Chúa, ý nghĩa về sự chết của Đấng Christ, sự xưng tội, sự ăn năn, sự tha thứ, và sự ban cho cuộc sống vĩnh hằng.
2. Thầy cô nên giải thích những thuật ngữ mình sử dụng gồm cả những từ ngắn gọn như tâm hồn, được cứu thoát, và tội lỗi. Thầy cô nên dùng cách diễn đạt cho trẻ hiểu được.
3. Thầy cô nên trích những câu Kinh Thánh hướng đến sự cứu thoát như GiGa 3:16, 3:36, RoRm 3:23, và 5:6. Thầy cô nên cho em nào có khả năng, tự đọc những câu Kinh Thánh và sau đó giải thích cho các em hiểu.
4. Thầy cô nên minh họa về tính chất đơn sơ của ơn cứu rỗi bằng cách nói đến những câu chuyện Kinh Thánh như cuộc trò chuyện giữa Chúa Jesus với Nicôđem (GiGa 3:1-36) người phụ nữ bên giếng nước (4:1-54), người què với Phierơ và Giăng (Cong Cv 3:1-26) Phi líp và người Êthiôpi (8:1-40) người cai ngục thành Philíp (16:1-40).
5. Thầy cô phải nhờ cậy vào sự hành động của Thánh Linh để hướng dẫn các em đáp ứng với Phúc âm, Phúc âm được trình bày đúng đắn chính thực là lời mời gọi. Các em không nên đáp ứng vì bị áp lực xã hội hoặc ngoài ý muốn cốt để làm vui lòng thầy cô. Chỉ có những quyết định tác động bởi Thánh Linh mới chân thật.
6. Thầy cô nên khuyến khích các em đặt câu hỏi về sự quyết định bước theo Đấng Christ mà các em sắp thực hiện. Câu hỏi của các em sẽ phản ảnh sự hiểu biết về ý nghĩa của những việc các em sắp làm. Điều này giúp thầy cô cụ thể hóa việc giới thiệu Kinh Thánh của mình.
11 Thầy cô nên giải thích rõ ràng điều gì trong việc giới thiệu Phúc âm cho các em.
................................................................................................................................
12 Hoạt động của Thánh Linh có liên quan như thế nào đến việc giới thiệu Phúc âm của thầy cô?

MỤC TIÊU 6: Thảo luận về những phương pháp kể chuyện có thể áp dụng cho việc giáo dục Cơ Đốc.
NHỮNG HÌNH THỨC GIÁO DỤC
Kể chuyện
Những truyện kể là phương tiện truyền đạt mạnh mẽ. Kinh Thánh sử dụng truyện kể rất nhiều để giảng dạy những chân lý thiêng liêng. Lớn bé đều ưa thích những truyện kể trong Kinh Thánh. Truyện kể thu hút chúng ta, dạy chân lý, và giúp chúng ta ghi nhớ chân lý.

13 Nếu có thể, bạn nhớ lại và nhận ra những chân lý đã được nói đến trong các truyện kể Kinh Thánh sau đây. Ghi chép trong sổ tay của bạn.
1) Nathan và Đavít (IISa 2Sm 12:1-17) 2) Người con trai đi hoang trở về (LuLc 15:11-31) 3) Đaniên (tất cả về Đaniên); 4) Ru tơ ( tất cả về Ru tơ) 5) Đavít và Sau lơ (ISa1Sm 24:1-26; 26:1-25)

Hình thành cơ cấu chuyện kể như thế nào
Truyện kể gồm bốn phần chính: Giới thiệu, thân bài, cao điểm, và kết luận. Phần giới thiệu cho biết ai, lúc nào, ở đâu, và những gợi ý cho điều sắp đến . Nó gây ra chúng ta chú ý và tạo nên điểm khởi đầu cho câu chuyện. Thân bài triển khai về câu chuyện. Nó chứa đầy các hành động và tình trạng căng thẳng. Phần cao điểm đánh dấu đỉnh cao của các hành động và cho biết nguyên do của câu chuyện. Nó đồng thời cho biết những lý do hành động thật sự của các nhân vật. Phần kết luận thắt chặt các mối gút với nhau và giải thích về tất cả những nhân vật chính yếu.
Trong những câu chuyện kể cho các em, phần kết phải thỏa đáng và dễ hiểu. Đức Chúa Trời sẽ thắng sự dữ, và được vinh danh.
14 Xếp những phần chính của một truyện kể sao cho phù hợp với các chức năng
.... a Gây chú ý
.... b Đánh dấu điểm cao của sự tác động
.... c Tập trung vào các hành động và
tình trạng căng thẳng
.... d thắt chặt các mối gút với nhau
.... e Cho biết nguyên do của câu chuyện
.... f Triển khai câu chuyện nói về điều gì
.... g Cho biết ai, lúc nào, ở đâu
1) Thân bài
2) Cao điểm
3) Kết luận
4) Giới thiệu
Lựa chọn các truyện kể cho các em
Với bất cứ mục đích nào của bài học đưa ra, hãy lựa chọn một câu chuyện mà các em ưa thích. Cách tốt nhất để biết các em thích những câu chuyện nào là tìm hiểu các em. Nói chuyện với chúng. Đi vào thế giới riêng của chúng. Đi du ngoạn với chúng. Cùng ăn với chúng. Đến nhà và trường học thăm viếng chúng. Cầu nguyện với chúng. Trong tiến trình nầy bạn sẽ đạt được kinh nghiệm cần thiết để lựa chọn và kể những câu chuyện mà các em ưa thích.
Những đề nghị cho việc kể chuyện có hiệu quả
Phải bảo đảm rằng câu chuyện đáp ứng với những mục tiêu của bài học. Không nên kể chuyện để đơn thuần là giải trí nhưng phải đạt được mục đích. Phải bảo rằng truyện kể thích hợp với các em ở mức tuổi có thể nghe chuyện hiểu được, biết những từ vựng, và lòng khao khát. Nắm chắc rằng các em có thiện cảm với câu chuyện. Các em yêu thích những câu chuyện có liên quan đến các bạn khác hoặc các thú vật. Khi sử dụng những truyện kể ngoài Kinh Thánh.
Thực tập kể chuyện trước giờ dạy. Bạn phải biết rõ các dữ kiện. Nên nhớ rằng, việc kể chuyện có hiệu qủa là một nghệ thuật bạn có thể phát triển được qua việc thực tập. Lắng nghe khi người khác kể chuyện. Xem thử bạn có nhận ra điều đúng sai của họ. Quan sát xem giọng nói, nét biểu lộ trên mặt, và cử động của thân thể làm cho việc kể chuyện tốt hơnnhư thế nào. Nói cách khác, bạn không thể kể một câu chuyện vui với nét mặt u buồn được.
15 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu đúng liên quan đến việc kể chuyện có hiệu quả.
a Các thầy cô có thể sử dụng thật nhiều tài liệu ngoài Kinh Thánh và không thích hợp.
b Truyện kể được kết hợp để đáp ứng mục tiêu của bài học
c Thực tập kể chuyện trước khi dạy
d Truyện kể có khái niệm trừu tượng là thích hợp nhất.
e Biểu lộ trên nét mặt phải hài hòa với chủ đề câu chuyện.
MỤC TIÊU 7: Phân biệt giữa những câu nhắc về nội dung và phương pháp trong việc sử dụng Kinh Thánh để dạy thiếu nhi.
Sử dụng Kinh Thánh
Chúng ta đã thảo luận về nội dung và phương pháp trong bài học 3 và 4, nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là các nhà giáo dục Cơ Đốc cũng quan tâm đến phương pháp dạy Kinh Thánh như là quan tâm về nội dung giảng dạy. Nội dung và phương pháp luôn gắn bó với nhau. Thí dụ như câu hỏi được đặt ra trong phần trước về những khái niệm Kinh thánh nào mà trẻ em có thể hiểu được. Thì câu hỏi nầy vừa liên quan đến nội dung (các em học hỏi được gì về Đức Chúa Trời) và phương pháp (chúng ta có thể lựa chọn như thế nào )
Chúng ta đã xét đến những vấn đề như làm cách nào để các em hiểu được ngôn ngữ Kinh Thánh, làm cách nào để lựa chọn nội dung cho phù hợp, làm cách nào để nhớ được Kinh Thánh, và làm cách nào để có một lòng trung kiên đối với lời của Đức chúa Trời. Đây là những vấn đề thuộc về phương pháp giảng dạy. Tất cả những gì chúng tôi đang làm ở đây là để nhấn mạnh rằng chúng ta sử dụng Kinh Thánh như thế nào cũng quan trọng như chúng ta dạy được gì từ Kinh Thánh.
16 Phân loại mỗi điểm cân nhắc về việc sử dụng Kinh Thánh để dạy các em theo với các phạm trù.

1) Nội dung
2) Phương pháp
.... a Vào tuổi nào thì chúng ta nên dạy cho các em về công cuộc cứu chuộc của Đấng Christ?
.... b Làm cách nào ta có thể khiến cho các em quan tâm đến việc học hỏi Kinh Thánh .
.... c Câu chuyện Kinh Thánh nào minh họa sự bất tuân và lòng hối cải?
.... d Làm cách nào để các em nhớ được Kinh Thánh nhất?
.... e Những đoạn Kinh Thánh nào các em nên ghi nhớ?
MỤC TIÊU 8: Nhận ra giá trị của âm nhạc nói chung và giá trị của ban hát thiếu nhi nói riêng trong việc giáo dục các em của Hội Thánh
Âm nhạc
Giá trị của âm nhạc trong việc giáo dục các em
Con người được tạo dựng để ca tụng Đức Chúa Trời. Có lẽ con người có thể ca ngợi Chúa tốt nhất qua âm nhạc, nó là một phần tài năng do Đức Chúa Trời ban cho . Trẻ em khắp mọi nơi yêu thích âm nhạc; chúng thích ca hát. Âm nhạc có giá trị trong việc giáo dục các em vì nhiều lý do. Trước hết bởi vì âm nhạc vui tươi nó cho ta một sự cảm nhận thú vị. Khiến các em tham gia tích cực vào việc nhóm lại của Hội Thánh và thờ phượng Đức Chúa Trời.
Âm nhạc còn là một phương tiện giáo dục tốt. Thường thì với một bài hát chúng ta dạy được nhiều hơn bất cứ phương tiện nào khác. Do đó những bài hát dành cho các em phải được tuyển chọn kỹ lưỡng về giá trị nội dung. Âm nhạc cũng có giá trị về việc truyền bá Phúc âm. Khi một đứa trẻ bị âm nhạc lôi cuốn vào một buổi nhóm họp Cơ Đốc, nó sẽ tiếp xúc trực tiếp với Phúc âm. Âm nhạc sống động và đầy ngợi ca Đức Chúa Trời sẽ giúp ta truyền bá Phúc âm cho những trẻ hư mất.
Âm nhạc cũng tạo nên những trạng thái khác nhau. thời gian tập trung chú ý của các em nhỏ thì ngắn ngủi- 10 đến 15 phút là nhiều - mặc dù nó tăng lên với lứa tuổi. Những bài hát được chọn và sắp xếp kỹ lưỡng sẽ tạo nên sự phong phú cho bài học cũng như tăng cường thêm cho đề tài đưọc giảng dạy. Và sau hết, âm nhạc làm cho học sinh tham dự vào bài học chúng ta đã thảo luận về tầm quan trọng của việc tham dự vào tiến trình giảng dạy và học hỏi. Âm nhạc tạo nên một đường lối tự nhiên để học sinh tham dự vào bài học. Ngoài việc giúp học sinh tham dự vào bài học âm nhạc làm cho trẻ cảm thấy mình là một thành phần trong nhóm.
17 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG liên quan đến giá trị âm nhạc trong sinh hoạt với các em.
a Nó làm cho việc đến lớp ngày Chúa nhật lôi cuốn các em
b Nó giảm đi thời gian chuẩn bị của thầy cô
c Nó là trợ cụ trong việc giảng dạy
d Nó giúp cho việc truyền bá Phúc âm
e Nó giúp các em dễ tập trung chú ý nhờ tạo ra sự phong phú
f Nó tập trung chú ý để giữ được yên lặng và sự tôn kính
g Nó cho các em có thể tham dự trực tiếp vào bài học
Âm nhạc trong công tác giáo dục thiếu nhi ở Hội Thánh
Âm nhạc có thể được sử dụng trong nhiều nhánh giáo dục cho các em! Trường Chúa nhật, buổi nhóm thiếu nhi, ca đoàn thiếu nhi, lớp Thánh Kinh tháng hè, thiếu nhi truyền giáo, hướng đạo thiếu nhi .v.v.... Nhưng chúng tôi muốn tập trung ngay vào ca đoàn thiếu nhi. Các ca đoàn nầy không phải là một sự phát triển mới. Thật ra, chúng đã từng là một phần di sản phong phú của Hội Thánh qua nghìn năm rồi. Tuy nhiên việc quan tâm đến các ca đoàn thiếu nhi đã và đang tăng lên vững chắc sau một thời kỳ dài chẳng để ý đến. Có lẽ vì các em hiện đang ca hát phù hợp với lứa tuổi, chứ không hát những bài viết cho người lớn.
Không phải chỉ có các ca đoàn thiếu nhi đem lại lợi ích cho Hội Thánh, chúng cũng đồng thời tạo lợi ích cho chính các em: 1) Ca đoàn giúp các em truyền bá Phúc âm cho các bạn khác; 2) Ca đoàn là phương tiện giảng dạy về giá trị và sự thờ phượng; 3) Ca đoàn giúp để phát triển tinh thần ; 4) Ca đoàn tạo cơ hội cho các em phục vụ. Tóm lại, các ca đoàn thiếu nhi cũng như các hình thức giáo dục âm nhạc khác tạo ra lợi ích lâu bền và những phần thưởng vĩnh hằng.
18 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu Đúng liên quan đến các ca đoàn thiếu nhi.
a Ca đoàn là hình thức giáo dục mới mẽ.
b Ca đoàn rất hoàn hảo cho việc giảng dạy về thờ phượng nhưng có ít giá trị về truyền bá Phúc âm.
c Ca đoàn giúp các em phát triển về mặt tinh thần và giúp các em tham gia vào việc phục vụ Cơ Đốc.
d Sự quan tâm đến ca đoàn đang gia tăng vì đã có những bài hát ở lứa tuổi các em.
MỤC TIÊU 9: Nhận ra các yếu tố của buổi nhóm thiếu nhi
Việc Thờ Phượng
Trong khóa trình nầy chúng ta đã tập trung vào các yếu tố giảng dạy, mục tiêu, nội dung, và phương pháp học. Nhưng ngay bây giờ chúng tôi muốn tập trung vào việc thờ phượng Đức Chúa Trời mà công tác giảng dạy cần hướng đến. Theo quan điểm của các nhà giáo dục Cơ Đốc thì cách chuẩn bị tốt nhất cho các em tham dự giờ thờ phượng chung với người lớn là tham dự các buổi nhóm thiếu nhi trước đã.
Buổi nhóm thiếu nhi được lập ra cho lứa tuổi chuẩn bị đến trường và lứa tuổi tiểu học (tuổi từ 4 đến 8) các em tuổi mẫu giáo còn quá non nớt để hưởng lợi ích của buổi nhóm thiếu nhi, nhưng các em lớp trung học cấp I thì đã lớn dể có thể tham dự giờ thờ phượng dành cho người lớn. Buổi nhóm thiếu nhi được tổ chức cùng một lúc với giờ thờ phượng dành cho người lớn, sẽ tạo thêm lợi ích là cho phép các bậc cha mẹ thờ phượng Chúa không bị các con em của họ quấy rầy.
Buổi nhóm thiếu nhi bao gồm tất cả những yếu tố như buổi nhóm của người lớn: hướng dẫn đến chổ ngồi, đọc Kinh Thánh , hát ngợi khen, âm nhạc đặc biệt, dâng hiến, thông báo, làm chứng, cầu nguyện, và bài giảng. Nguyên tắc ở đây là giúp cho các em thực tập việc thờ phượng bằng cách để chính các em tham dự vào việc thờ phượng. Buổi thờ phượng thiếu nhi do người lớn điều khiển và phối hợp thì khác hẳn với giờ thờ phượng dành cho người lớn vì trong buổi nhóm thiếu nhi nhiều phần thường có tính chất dạy dỗ. Thí dụ như người lãnh đạo có thể hỏi: “Tại sao chúng ta dâng hiến?” hay “cầu nguyện là gì?” Ngoài ra trong buổi nhóm điểm đáng chú ý là vào lúc kết thúc sẽ có một vài sinh hoạt hữu ích cố giám sát cho đến khi buổi nhóm của người lớn chấm dứt.
Giáo dục trẻ em thì đầy phấn kích và bổ ích. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ được cổ vũ với những ý tưởng trình bày trong bài học nầy.
19 Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG liên quan đến buổi nhóm thiếu nhi
a Đó là buổi nhóm được tổ chức trong khuôn khổ buổi nhóm của người lớn
b Các nhóm tuổi thường gặp trong buổi nhóm thiếu nhi là các em chuẩn bị đến trường và các em tiểu học.
c Buổi nhóm thiếu nhi khác với buổi nhóm của người lớn vì nó tập trung vào việc dạy dỗ.
d Theo tác giả việc kêu gọi bước lên trước bục giảng là yếu tố chính của buổi nhóm thiếu nhi.
20 Hãy cho biết tại sao bạn nghĩ rằng tác giả không xếp việc kêu gọi bước lên trước bục giảng để nhận sự cứu rỗi vào một trong những yếu tố thường xuyên của buổi nhóm thiếu nhi?
...........................
....................
Baøi töï kieåm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM - Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1 Trẻ em hiển nhiên thật quan trọng khi Chúa Jêsus so sánh chúng trong Mat Mt 19:14 với
a) Công dân của nước trời
b) Vua và hoàng hậu
c) Các quan tòa và những vị chỉ huy quân sự
d) Tôi tớ của Đấng tối cao
2 Chương trình giáo dục của Hội Thánh cần xét đến nguyên tắc đồng nhất trong việc chia nhóm các em theo
a) Tuổi tác
b) Khả năng
c) Sở thích
d) Tất cả các điều nêu trên
e) Chỉ có điều b) và c) nêu trên
3 Trong khóa trình nầy tuổi hiểu biết có liên quan đến khả năng của người đó để
a) Kiếm lợi tức
b) Làm chứng cho người khác
c) Thấu hiểu sự hư mất
d) Ghi sổ sách chính xác
4 Trong việc giới thiệu Phúc âm cho các em, thầy cô cần phải:
a) Giải thích rõ ràng nhu cầu cần có một Cứu Chúa
b) Định nghĩa các từ ngữ như “tội” và”được cứu rỗi”
c) Dựa vào hoạt động của Thánh Linh
d) Tất cả những điều nói trên
5 Âm nhạc có giá trị trong việc giáo dục trẻ em vì tất cả những lý do sau đây NGOẠI TRỪ
a) Giúp các em tập trung được nhờ tạo ra sự phong phú
b) Giảøm đi thời gian chuẩn bị của thầy cô
c) Cho các em kinh nghiệm thú vị
d) Cho các em có thể tham dự trực tiếp
6 Những lợi ích của ca đoàn thiếu nhi gồm những việc như:
a) Giúp các em truyền bá Phúc âm cho các bạn khác
b) Giúp các em phát triển về mặt tinh thần
c) Cho các em có nhiều cơ hội phục vụ Cơ Đốc
d) Tất cả những điều nói trên
7 Theo tác giả, buổi nhóm thiếu nhi nên
a) Dạy dỗ các em hướng đến việc thờ phượng
b) Sát nhập vào buổi nhóm người lớn
c) Bao gồm từ tuổi mẫu giáo đến tuổi tiểu học
d) Tất cả những điều nói trên
CHỌN GIỮA ĐÚNG và SAI. Viết Đ vào khoảng trống trước mỗi câu ĐÚNG. Viết S nếu là SAI
.... 8 Mối liên hệ giữa Hội Thánh và các em là mối liên hệ trong đó các em cần Hội Thánh hơn là Hội Thánh cần các em .
.... 9 Theo tác giả, chương trình giáo dục của Hội Thánh tập trung vào việc truyền bá Phúc âm cho các em từ tuổi Mẫu giáo đến tuổi trung học cấp I
.... 10 Việc chọn lựa những câu Kinh Thánh cần học thuộc lòng về việc xem xét nội dung chứ không phải phương pháp.
.... 11 Các em từ 7 đến 11 tuổi có thể hiểu được những khái niệm cụ thể.
.... 12 Các em ở mọi lứa tuổi có thể hiểu bất kỳ đề tài Kinh Thánh nào chẳng hạn như sự tháùnh hóa nếu đề tài được trình bày với ngôn ngữ đơn giản.
.... 13 Các em tuổi Tiểu học có thể hiểu được rằng Đấng Christ là con người gương mẫu của chúng ta.
.... 14 Nên dạy cho các em những chân lý Kinh Thánh trong một cách thức có ý nghĩa nối tiếp nhau qua nhiều năm.
.... 15 Câu chuyện “Đứa con hoang trở về” rất tốt để dạy chân lý về sự ăn năn và sự hòa thuận với Đức Chúa Trời.
.... 16 Các truyện kể là phương tiện tốt để giải trí cho các em.
PHẦN GIẢI ĐÁP
1. Đó là một hình thức phụ thuộc lẫn nhau. Các em cần Hội Thánh để hướng dẫn các em phát triển về mặt tinh thần. Hội Thánh cần các em hoàn thành sứ mạng môn đồ hóa muôn dân.
2. Có thể cất gánh nặng bằng cách bỏ đi những chướng ngại để các em được tự do tăng tiến.
3 e) Tất cả những điều nói trên
4. a 2) Mẫu giáo
b 3) Tuổi chuẩn bị đến trường
c 4) Tiểu học
d 1) Trung học cấp I
5. a 2) Mẫu giáo
b 3) Tuổi chuẩn bị đến trường
c 4) Tiểu học
d 1) Trung học cấp I
6. Có thể vì ngôn ngữ quá khó hoặc những khái niệm vượt quá sự hiểu biết trong nhóm tuổi của em.
7. a 3) Thời kỳ tiền nhận thức
b 2) Thời kỳ khái niệm cụ thể
c 1) Thời kỳ khái niệm trừu tượng
8 Những câu trả lời a, b, và c là đúng
9 d) Tất cả những điều nói trên
10 Những câu trả lời a, c, và e là đúng.
11. Thầy cô nên giải thích những khái niệm về tình thương của Đức Chúa Trời , Sự cần thiết phải có một Cứu Chúa, ý nghĩa về sự chết của Đấng christ, sự xưng tội, sự ăn năn, sự tha thứ, cuộc sống vĩnh hằng, và định nghĩa những thuật ngữ mình sử dụng như tâm hồn, được cứu rỗi, và tội lỗi.
12. Thánh Linh cáo trách và lôi kéo mọi người về với Đấng Christ. Vì thế thầy cô phải dựa vào Thánh Linh để dẫn đến sự cứu rỗi, chứ không cậy vào áp lực hoặc ảnh hưởng cá nhân nào.
13 1) Sự cáo trách 2) Ăn năn về sự không vâng lời, xưng tội và hòa giải 3) Chiến thắng trong việc giữ vững niềm tin 4) Phục vụ và tận hiến cho Đức chúa Trời và tha nhân 5) Lòng yêu thương và kính sợ Đức Chúa Trời chiến thắng lòng hận thù.
14 a 4) Giới thiệu
b 2) Cao điểm
c 1) Thân bài
d 3) Kết luận
e 2) Cao điểm
f 1) Thân bài
g 4) Giới thiệu
15. Những câu trả lời b,c và e là đúng
16 a 1) Nội dung
b 2) Phương pháp
c 1) Nội dung
d 2) Phương pháp
e 1) Nội dung
17 Những câu trả lời a, c, d, e, và g là đúng

19. Những câu trả lời b và c là đúng
20. Bạn tự trả lời- Vì có liên quan đến lứa tuổi còn nhỏ và các em chúng muốn được cứu rỗi nhiều lần. Nhiều em còn quá nhỏ để hiểu được sự “hư mất” của chúng.
GIÁO DỤC THANH NIÊN
Hầu hết những người lớn khi nhớ lại thời thanh niên của mình (tuổi từ 12 đến 21) đều có những cảm xúc pha trộn. Họ nhớ lại những kinh nghiệm cả vui lẫn khó chịu. Tôi nhớ có nói với một nữ tín đồ của chúng tôi “Trở lại tuổi thanh niên chắc hẳn là vui nhỉ?" Bà ta đáp “Ồ không đâu! Tôi sẽ không bao giờ muốn trở lại tuổi thanh niên. Sau nhiều năm làm người lớn, tại sao người ta muốn quay về cái tuổi tầm thường và bị coi khinh đó?” Tuy nhiên, quan điểm của ta không phản ảnh những gì Kinh Thánh đã nói về thanh niên.
Chúng ta có thể nhớ lại một số thí dụ nổi bật về thanh niên trong Kinh Thánh những người này đã tác động xã hội của họ Nam thanh niên gồm có Giô sép hầu việc Phôtipha, Đavít giết Gôliát, và Đaniên phục vụ vua Nêbucátnếtsa. Nữ thanh niên có Êxơtê cứu dân mình và Mari trở thành mẹ của Chúa Jesus.
Trong bài học nầy chúng ta sẽ xét đến sự phát triển và những thay đổi đáng kể mà thanh niên trải qua. Và chúng tôi sẽ tập trung vào những hình thức giáo dục đặc trưng phù hợp với thanh niên. Giáo dục trong lĩnh vực dự bị hôn nhân là tối quan trọng. Thanh niên cần chân lý Thánh Kinh hướng dẫn họ trong việc lựa chọn người bạn đời trong hôn nhân. Ngoài sự cứu rỗi ra, đây có lẽ là quyết định quan trọng nhất họ sẽ thực hiện.
Dàn bài
Tầm quan trọng của thanh niên
Những điểm cần lưu ý để phát triển
Có hình thức giáo dục thanh niên
Truyền bá Phúc âm
Học hỏi Kinh Thánh
Thờ phượng
Phục vụ Cơ Đốc
Dự bị hôn nhân

Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn có thể:

Giải thích tại sao giáo dục Thanh niên là quan trọng
Thảo luận về sự tăng trưởng thuộc linh và những điểm cần lưu ý để
phát triển áp dụng cho thanh niên.
Mô tả 5 hình thức giáo dục thanh niên.
Đưa ra cách hướng dẫn hiệu quả hơn cho thanh niên trong Hội thánh của bạn

Sinh hoạt học tập
Nghiên cứu toàn bộ phần triển khai bài học theo những phương thức
đã đề ra trong Bài học
Nhớ xem trong phần từ vựng để tìm nghĩa của từ quan trọng mà bạn
không biết.
Nghiên cứu phần nói về công tác phục vụ Cơ Đốc của thanh niên để
giúp nhận ra những cơ hội giáo dục
Làm bài trắc nghiệm và kiểm tra câu hỏi của bạn
Từ ngữ quan trọng
thanh niên
chủ nghĩa
thuộc về tri thức
người sống theo lý tưởng
thuộc về bản thể
sự phục vụ
Triển khai bài học
TẦM QUAN TRỌNG CỦA THANH NIÊN
MỤC TIÊU 1: Ghi nhận những lý do để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục Thanh niên
Một nửa dân số thế giới ở tuổi 20. Trong một vài quốc gia, một nửa dân số dưới tuổi 15. Những con số gây ngạc nhiên. Bây giờ chính là lúc Hội Thánh phải nhấn mạnh đến việc giáo dục Thanh niên. Thanh niên là những người có tội cần Đấng Christ cứu chuộc. Họ là những người đi tìm kiếm chân lý. Họ là những người sống theo lý tưởng đang tìm kiếm một chính nghĩa. Thanh niên cần sự hướng dẫn và giám sát. Cùng với lòng khao khát sự độc lập mãnh liệt của họ, Thanh niên đối mặt với những khủng hoảng trong cuộc sống. Áp lực từ mọi phía xui họ chọn lựa những tiêu chuẩn thế gian thay cho những tiêu chuẩn thánh thiện của Đức Chúa Trời. Chủ nghĩa trên đời gồm mọi thứ từ việc lật đổ chính quyền đến việc tán thành những vụ phá thai. Nếu chúng ta không đem Phúc âm đến với Thanh niên, thì họ sẽ chạy theo thứ khác thôi.
Đức Chúa Trời yêu thương Thanh niên và Hội Thánh cần Thanh niên. Hội Thánh không có Thanh niên là một Hội thánh chết. Thanh niên sẽ sớm nắm giữ những chức vụ có trách nhiệm trong Hội thánh. Không có họ, tương lai của Hội thánh sẽ ảm đạm, Thanh niên có món quà cao quí nhất để dâng cho Đức Chúa Trời và vương quốc của Ngài, đó là cuộc sống. Phải Thanh niên có cả cuộc đời phục vụ để dâng hiến. Cả một tiềm năng to lớn nằm trong tay chúng ta!
Kinh Thánh xem Thanh niên là một thời kỳ có ý nghĩa trong cuộc sống của từng cá nhân. Chúng ta cũng nên xem như vậy. Tiên tri Giôên đã nói về việc Thánh Linh đổ tràn trên người trẻ cũng như người già (Gio Ge 2:28). Những phong trào của Thanh niên đã thay đổi dòng lịch sử. Chủ nghĩa Marxist và phong trào truyền giáo đương thời, cả hai đều là những phong trào của Thanh niên. Nhiều quyết định đến với Đấng Christ được thực hiện trong lứa tuổi 12 đến 21 hơn bất cứ giai đoạn khác trong cuộc đời. Trong 3 quyết định thì có hơn 2 quyết định do Thanh niên thực hiện.
1 Đọc những đoạn tham khảo Kinh Thánh sau đây và cho biết những đoạn nầy nói gì về Thanh niên. Sử dụng sổ tay của bạn 1) Thi Tv 71:5, 18 2) Thi Tv 119:9 3) ChCn 5:18 4) TrGv 11:9 5) 12:1 6) Gio Ge 2:28; Cong Cv 2:17 7) ITi1Tm 4:12 8) Tit Tt 2:4
2 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lý do tác giả nêu ra để nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của việc giáo dục Thanh niên.
a) Hội thánh không có Thanh niên là một Hội thánh chết
b) Phong trào truyền giáo đương thời là phong trào của Thanh niên
c) Thanh niên bị lôi kéo đi về nhiều hướng như người lớn
d) Thanh niên là lứa tuổi tốt thứ nhì để đến với Đấng Christ
e) Thanh niên là những người sống theo lý tưởng tìm kiếm một Chủ nghĩa
f) Thanh niên có cả cuộc đời phục vụ để dâng cho Đức Chúa Trời
g) Thanh niên có lòng kính sợ Đức Chúa Trời và những điều thuộc về Đức Chúa Trời
h) Thanh niên không có nhiều trách nhiệm chiếm hữu thời giờ của họ
MỤC TIÊU 2: Thảo luận về những thay đổi xảy đến với Thanh niên, tập trung đặc biệt vào việc phát triển tinh thần.
NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý ĐỂ PHÁT TRIỂN
Thanh niên là thời kỳ thay đổi lớn trong đời người. Nó chỉ trội hơn sự thay đổi xảy đến trong thời kỳ 5 năm đầu của cuộc đời. Sự thay đổi có thể nhận ra nhất là sự thay đổi về thể chất. Các cô gái trẻ trở nên phụ nữ và các cậu con trai thành những người đàn ông.
Sự thay đổi về trí thức cũng xảy ra. Thanh niên suy xét từ cụ thể đến trừu tượng. Việc phát triển nầy xảy ra trong thời kỳ nhiều năm. Điều nầy được biểu hiện trong việc các lứa tuổi Thanh niên lúc thì tỏ ra thật non nớt và sau đó lại thảo luận có tính bản thể về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Do đó Thanh niên thường là thời kỳ mâu thuẫn giữa ”đứa bé người lớn" và ” người lớn trẻ con” ở trong cùng một thân xác, kề bên nhau.
Phát triển đạo đức xảy ra đồng thời với phát triển tài năng. Phát triển đạo đức có liên quan đến sự hòa hợp với những tiêu chuẩn về hành vi đúng. Thanh niên phải chọn lựa rất nhiều giữa những hành động đúng và sai.
Sự tăng trưởng thuộc linh là một tiến trình bắt đầu với việc tái sinh (IICo 2Cr 5:17) và tiếp tục bao lâu mà chúng ta còn mang cái thân xác sẽ hư mất nầy. (RoRm 12:1-2. Eph Ep 4:22-24; CoCl 3:10). Tiến trình suy tư của chúng ta được đổi mới liên tục hầu trở thành giống như Đấng Christ. Chúng ta đang dần dần dứt bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới. Tiến trình nầy được xem như sự thánh hóa. Bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy mất kiên nhẫn với Thanh niên, chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Trời vẫn còn đang hoàn tất công việc của Ngài trong cuộc đời họ.
Sự tăng trưởng thuộc linh xảy ra trong bối cảnh cộng đồng Cơ Đốc (Cong Cv 2:42-47; 4:11-16). Chúng ta không phát triển biệt lập. Chúng ta cần lợi ích của tình bằng hữu Cơ Đốc được quan tâm. Điều nầy đặc biệt đúng trong lứa tuổi Thanh niên khi các giá trị được dạy dỗ lúc còn bé hoặc sẽ được tiếp thu hoặc sẽ bị loại bỏ. Những giá trị nầy không thể được tìm hiểu và giải thích đúng đắn trong bối cảnh có những người bạn không tin Chúa. Đó là lý do tại sao bối cảnh xã hội của tuổi trẻ có thể làm cho Thanh niên lựa chọn những giá trị tốt hay xấu.
Qua những chương trình giáo dục Thanh niên, họ có cơ hội để nhận lời giải đáp Kinh Thánh trong việc tìm kiếm chân lý. Qua các chương trình Thanh niên Hội thánh có thể biểu lộ sự quan tâm đến nhu cầu đặc biệt của Thanh niên và nói chung kết nối họ trong đời sống Hội thánh. Đồng thời chương trình Thanh niên cho phép họ tiếp xúc với những thành viên khác giới tính trong một cách thức lành mạnh.
3 Kể tên 4 lãnh vực thay đổi xảy ra trong tuổi Thanh niên
.................
4 RoRm 12:1-2; Eph Ep 4:22-24; CoCl 3:10 mô tả sự tăng tưởng
thuộc linh như một tiến trình
a) Ngừng lại sau khi tin nhận Chúa
b) Đang tiến triển
c) Đạt đến đỉnh cao vào tuổi trung niên
d) Không áp dụng cho Thanh niên
e) Không bắt buộc
5 Mô tả sự tăng trưởng thuộc linh liên quan đến điều gì
.........
6 Tại sao cộng đồng Cơ Đốc là cần thiết cho sự tăng trưởng thuộc linh?
.........
7 Liệt kê 4 lợi ích của chương trình Thanh niên trong Hội thánh. Sử dụng sổ tay của bạn
NHỮNG HÌNH THỨC GIÁO DỤC THANH NIÊN
Hình thức giáo dục nào phù hợp với nhu cầu của Thanh niên nhất?. Trong một cuôïc thăm dò thực hiện cách đây vài năm, gần 1000 Thanh niên, những người thường xuyên đi nhà thờ được hỏi rằng họ cần gì nhất ở Hội thánh của họ. Sau đây là những câu thường được trả lời nhất của họ.
Để có mối liên hệ mật thiết hơn với Đức Chúa Trời
Để dự những buổi nhóm nơi đó tôi nhận ra sự hiện diện của Đức Chúa
Trời
Để học nói lên niềm tin của tôi một cách tự nhiên và thông minh
Để nhận sự hướng dẫn về ý muốn của Đức Chúa Trời cho cuộc sống của tôi.
Để học cách kết bạn và trở nên một người bạn
Để tìm thấy ý nghĩa và mục đích trong đời tôi
Để được chấp nhận trong một nhóm mà mọi người thật sự quan tâm đến người khác
Để được tự nhiên hơn khi tôi đến với những người khác
Để học cách giao tiếp với những thành viên khác giới tính
Để học hỏi những quan điểm Cơ Đốc về giới tính, hẹn hò và hôn nhân
Để phát triển khả năng quan tâm yêu mến những người khác hơn.
Cuộc thăm dò nầy cho thấy Thanh niên sùng đạo như thế nào. Đồng thời nó cũng cho thấy cấp lãnh đạo học hỏi được nhiều như thế nào khi lắng nghe Thanh niên. Những câu trả lời đưa ra trong cuộc thăm dò có thể được phân loại theo 5 hình thức giáo dục dùng cho Thanh niên, truyền bá Phúc âm, học hỏi Thánh Kinh, thờ phượng phục vụ Cơ Đốc, và dự bị hôn nhân.
MỤC TIÊU 3: Thảo luận những yếu tố của việc huấn luyện truyền giáo cho thanh niên
Truyền bá Phúc âm
Truyền bá Phúc Âm là kết quả của việc thờ phượng, sự giảng dạy và sự thông công. Đây là một cách khác để nói rằng quan tâm đến người khác và quan tâm đến việc truyền bá Phúc âm bắt nguồn từ mối liên kết thật sự với Đức Chúa Trời và gia đình của Đức Chúa Trời (Cong Cv 2:42-47). Giống như truyền giáo, việc truyền bá Phúc âm xuất phát từ mối thông công lành mạnh. Không có những ” con đường tắt” cho việc truyền bá Phúc âm. Vì thế chúng ta cần phải tiến hành từ một nền tảng vững mạnh.
Thanh niên cần được huấn luyện đặc biệt trong việc truyền bá Phúc âm. Quả là không may, vì không phải tất cả Thanh niên đều quan tâm đến việc làm chứng. Do đó, những người lãnh đạo Thanh niên nên hướng nổ lực của mình vào lĩnh vực nầy cho những ai quan tâm đến. Huấn luyện một nhóm được chọn lựa kỹ lưỡng về những điều căn bản của nếp sống Cơ Đốc, phát triển mối thông công, cầu nguyện cho nhau, và dạy cách làm chứng. Dùng phương thức lập nhóm mà trong đó mỗi thành viên đều có bạn. Chia theo nhóm, hay nếu có cơ hội, chia thành nhiều đôi. Có sức mạnh và sự khuyến khích trong phương thức lập nhóm hay từng đôi. Đây là cách thức Chúa Jesus huấn luyện môn đồ của Ngài (Mat Mt 10:1, 5-20; LuLc 10:1).
Những người lãnh đạo Thanh niên cần phải đối phó với những nan đề liên quan đến việc làm chứng. Những nan đề bao gồm việc không có năng lực để làm chứng, sợ bị chế giễu, không biết cách thực hiện, thiếu tiếp xúc với những người chưa tin Chúa, và cảm thấy cô đơn. Giải quyết những vấn đề nầy, những người lãnh đạo sẽ làm cho nhiều Thanh niên hơn chú tâm đến việc truyền bá Phúc âm.
Nhiều phương thức khác nhau có thể được dùng trong việc truyền bá Phúc âm: những buổi nhóm ngoài trời, thăm viếng, những ca đoàn đi đây đó, trình diễn âm nhạc, phim Kinh Thánh, những trung tâm Thanh niên, quán giải khát, họp mặt cuối tuần, nhóm học Kinh Thánh, diễn đàn trong đại học, nhóm học hỏi Kinh Thánh và cầu nguyện. Bởi vì chúng ta chú tâm đến việc Thanh niên tiếp xúc với Thanh niên, điều thiết yếu là Thanh niên tự tài trợ và tham dự vào những phương thức đề cập trên.
Nhiều thanh niên Cơ Đốc cảm thấy dễ chịu khi làm chứng cho trẻ em hơn là làm chứng cho những người đồng trang lứa. Có rất nhiều cơ hội để làm điều nầy.Họ phải được khuyến khích và huấn luyện để tận dụng những cơ hội nầy.
8 Nền tảng cho việc truyền bá Phúc âm là
a) Thờ phượng
b) Giảng dạy
c) Thông công
d) Tất cả những điều trên
9 Mô tả phương pháp huấn luyện cho việc truyền bá Phúc âm mà Chúa
Jesus sử dụng.
.........................
10 Một vài vấn đề nào mà những người lãnh đạo Thanh niên cần giúp đỡ
Thanh niên chiến thắng trong việc làm chứng nhân?
.........................
11 Một vài phương thức nào Thanh niên có thể sử dụng để truyền bá Phúc âm cho người khác? Dùng sổ tay căn bản.

12 Một lãnh đạo Thanh niên nên đối xử như thế nào với Thanh niên thích làm chứng cho trẻ em hơn ?
..................

MỤC TIÊU 4. Ghi nhận những chức năng của một nhóm thanh niên học Kinh Thánh và những yếu tố của bài học tiêu biểu.
Học hỏi Kinh Thánh
Học hỏi Kinh Thánh có thể thực hiện trong nhiều cách, nhưng chúng tôi sẽ chú tâm vào nhóm học tập nhỏ, thân mật. Những nhóm học tập hiệu quả nhất khi họ được giới hạn không quá 20 đến 25 người. Những nhóm nầy thân mật vì thời gian và địa điểm họp mặt uyển chuyển. Thường thì họ họp mặt tại nhà. Chúng đem lại một phương cách tự nhiên để phân chia một nhóm Thanh niên lớn hơn thành các nhóm theo lứa tuổi đầu (tuổi từ 12-14), giữa (tuổi từ 15-17) và cuối (tuổi từ 18-21). Chúng thường được dẫn dắt bởi một người hướng dẫn thanh niênđược chỉ định bởi Mục sư hay hội đồng giáo dục của Hội thánh. Xét về các đề tài học tập và những sinh hoạt nhóm, chúng thường tự điều khiển. Những sinh hoạt nầy khuyến khích sự tham gia và chú tâm.
Xét đến việc khảo sát thanh niên nói đến ở phần trước, những nhóm học tập có những chức năng sau:
Tạo sự hướng dẫn thuộc linh
Xây dựng lòng tin và thiết lập sự tin cậy
Phát triển việc học tập tốt và những gương mẫu đạo đức
Đề ra một mục đích để sống
Đem lại tình thông công vô điều kiện
Giúp thanh niên trở nên những gì Đức Chúa Trời muốn ở chúng
Tạo những cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc với những người khác giới tính trong một khung cảnh lành mạnh.
Thật dễ thấy tại sao những nhóm học tập thân mật được Thanh niên Cơ Đốc ưa thích đến thế. Những nhóm nầy thỏa mãn những gì Thanh niên trông đợi từ Hội Thánh.
13. Những điều của một nhóm Thanh niên học tập Kinh Thánh để phù hợp với những điều được báo cáo trong cuộc thăm dò 1000 thanh niên
.... a Học hỏi để biết và hiểu Kinh
Thánh tốt hơn
.... b Nhận sự hướng dẫn để biết ý muốn
của Đức Chúa Trời cho cuộc
sống của mình
.... c Học hỏi để được tự nhiên hơn
với người khác
.... d Tìm thấy ý nghĩa và mục đích
cho cuộc sống
.... e Được chấp nhận trong một nhóm
có quan tâm đến nhau
.... f Học cách kết bạn và trở nên một
người bạn
.... g Học cách giao tiếp với những người
khác giới tính.
1) Hướng dẫn tâm linh
2) Xây dựng lòng tin
3) Phát triển những gương mẫu học tập tốt
4) Đề ra một mục đích để sống
5) Để có tình thông công và điều kiện
6) Khuyến khích tự do để trở nên những gì Đức Chúa Trời muốn
7) Tạo những cơ hội để tiếp xúc với giới tính khác

BỐN ĐIỂM CHÍNH CỦA MỘT BÀI HỌC KINH THÁNH
VÀ THỜI GIAN CHO LỚP
Giai đoạn/ Mô tả:
- Lưỡi câu - Làm cho Thanh niên chú tâm đến vấn đề quan trọng đối với chúng (Lớp 60 phút: 10phút, 45p: 5p; 30p: 5p)
- Sách - Cho Thanh niên khám phá ra quan điểm của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh (25, 20, 15)
- Nhìn - Thu hút sự chú ý của Thanh niên qua cuộc thảo luận về ý nghĩa các chân lý Thánh Kinh đã học (20, 15, 5)
- Tiếp nhận - Thúc đẩy Thanh niên đáp ứng lại theo sự hướng dẫn của Thánh Linh (5, 5, 5)
Là một người lãnh đạo thanh niên, bạn nên theo những bước nào trong việc tổ chức nhóm học tập? Thật sự, chúng tôi đã phát triển xong cơ cấu một giáo án tiêu biểu trong Bài 5. Trong hình 8.1, chúng tôi chỉ nói lại những gì đã nói về 4 giai đoạn cơ bản của bài học về việc phân chia thời gian cho mỗi bài.

14 Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG liên quan đến cấu trúc của bài
học cho việc học hỏi Kinh Thánh của một nhóm nhỏ.
a Trình tự đúng cho giáo án học Kinh Thánh là sách, lưỡi câu, nhìn, tiếp nhận.
b Căn cứ trên thông tin trong thì giai đoạn “sách” cho lớp 45 phút sẽ kéo dài 25 phút.
c Phần “sách” của bài học cho thanh niên thấy được quan điểm của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh
d Phần “Tiếp nhận” của bài học thúc đẩy thanh niên đáp ứng theo sự hướng dẫn của Thánh Linh
MỤC TIÊU 5: Mô tả sự thờ phượng đúng đắn và ghi nhận vài đề nghị cho việc thiết lập giờ thờ phượng của thanh niên.
Thờ phượng
Thanh niên có khả năng thực hiện giờ thờ phượng không? câu trả lời chắc chắn là có ! Trong GiGa 4:23-24 chỉ có hai điều kiện để thờ phượng đúng đắn mà Chúa Jesus đã nói là ”trong Thánh linh và trong chân lý”. Điều kiện thứ nhất ”trong Thánh linh” đòi hỏi người thờ phượng nhận ra rằng thờ phượng bản chất là thuộc về tâm linh. Chính tâm linh của chúng ta tương giao với Đức Chúa Trời là Thần. Phương diện tâm linh của việc thờ phượng đặt chúng ta vào thái độ hay trạng thái tinh thần đúng đắn.
Điều kiện thứ nhì “trong chân lý” nói lên nội dung của việc thờ phượng. Chân lý thấu hiểu bản chất và tính cách của Đức Chúa Trời và cố gắng biểu lộ lòng sùng kính và biết ơn Đức Chúa Trời. Trong khi điều kiện thứ nhất gắn liền với việc chúng ta đến với Đức Chúa Trời bằng cách nào, thì điều kiện thứ nhì nói đến chúng ta làm gì khi đến với Đức Chúa Trời. Thanh niên có khả năng thực hiện hai điều kiện nầy.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng Thanh niên nên tham dự giờ thờ phượng dành cho người lớn cũng như giờ thờ phượng của Thanh niên. Giờ thờ phượng của Thanh niên bổ túc cho sinh hoạt đầy đủ của Hội Thánh. Chúng khác với buổi nhóm thiếu nhi trong mức độ cần có giám sáùt và hướng dẫn trực tiếp. Chúng khác với buổi nhóm dành cho người lớn vì có sự tham gia và kết hợp của cử tọa. Đây là một số đề nghị cho việc thiết lập chương trình thờ phượng của thanh niên.
1. Phối hợp nhiều yếu tố thờ phượng. Điều nầy có thể được hoàn thành bằng cách chọn lựa một đề tài được nói đến trong lời cầu nguyện khai lễ, đọc Kinh Thánh, âm nhạc, và bài giảng. Một đề tài như thế sẽ làm tăng thêm việc thờ phượng. Đồng thời nó sẽ làm cho sự chuyển biến trôi chảy hơn. Hãy nhớ chính Thánh Linh là Đấng phối hợp tuyệt hảo. Ngài muốn ghép những mảnh rời hợp lại với nhau trong một tổng thể có ý nghĩa.
2. Nhấn mạnh đến phương diện thờ phượng hướng thượng. Chúng ta đặt trọng tâm vào Đức Chúa Trời, Ngài là trung tâm để thờ phượng. Buổi thờ phượng của Thanh niên không phải là buổi thực tập thờ phượng. Đó là việc thờ phượng đích thực. Dĩ nhiên, chúng ta hiểu rằng tất cả việc thờ phượng là chuẩn bị cho chúng ta về những thực tại vĩnh cửu. Tuy nhiên, ở đây chúng ta quan tâm đến sự thờ phượng trong hiện tại.
3. Chuẩn bị thận trọng. Những việc thờ phượng tập thể có ý nghĩa không nên để phó mặc. Mỗi buổi nhóm nên trù tính ít nhất trước một tuần lễ. Điều nầy cho các thanh niên phụ trách buổi nhóm có thời gian chuẩn bị. Dĩ nhiên, chuẩn bị là cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện cho mỗi buổi nhóm xin Thánh linh hành động trong mỗi tiết mục và trong mỗi đời sống.
4. Khuyến khích tham dự. Thờ phượng không phải là một sự kiện để quan sát. Hãy làm cho thanh niên chú tâm đến bằng nhiều cách càng tốt. Apraham Lincoln, Tổng thống Hoa kỳ vào thời kỳ đầu, đã một lần mô tả chính quyền là ” bởi dân, vì dân, của dân”. Chúng ta đã từng mô tả buổi nhóm thanh niên do họ điều khiển, là dành cho thanh niên, và bao gồm thanh niên.
5. Bao gồm sự đa dạng. Ở đây chúng ta xét đến sự đa dạng trong hình thức của các buổi nhóm và trong sự phân bổ trách nhiệm. Đừng để cho buổi nhóm có thể đoán trước được như thế sẽ buồn chán. Giữ cho nó sống động và khởi động. Khuyến khích nhiều người khác chia xẻ lời chứng, luân phiên đọc Kinh Thánh, sử dụng nhiều người phụ trách âm nhạc, mời nhiều diễn giả thuyết trình, tạo cơ hội cho người đến dự chọn lựa một vài bài hát.
6. Giám sát việc lãnh đạo của người lớn bảo trợ cho thanh niên. Không nên gây chú ý. Người bảo trợ thanh niên là các huấn luyện viên và cố vấn. Trách nhiệm của huấn luyện viên không phải là tự anh ta chơi trò chơi nhưng là giúp đỡ những người khác chơi. Anh ta dẫn dắt bằng cách hướng dẫn từ bên ngoài, không tham dự vào. Phương thức lãnh đạo nầy thật sự cho thấy có nhiều ảnh hưởng hơn là hình thức lãnh đạo được nhận thấy rõ ràng.
15 Hãy mô tả những điều kiện cho việc thờ phượng đúng đắn.
................................................
............................................
16 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG liên quan đến buổi nhóm
thanh niên.
a Tác giả ủng hộ việc thanh niên có buổi nhóm riêng thêm vào tham dự buổi nhóm người lớn.
b Thanh niên có thể thực hiện những điều kiện về việc thờ phượng đúng đắn
c Có 3 điều kiện cơ bản để đạt sự thờ phượng đúng đắn.
d Buổi nhóm thanh niên, giống như buổi nhóm thiếu nhi cần giám sát nhiều.
e Buổi nhóm thanh niên khác với buổi nhóm người lớn vì có sự tham gia.
17 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG liên quan đến việc lập chương trình cho buổi nhóm thanh niên.
a Tất cả những phần của buổi nhóm nên nói lên một đề tài duy nhất.
b Buổi nhóm thanh niên là việc thực tập chuẩn bị cho tương lai
c Chuẩn bị cho buổi nhóm nên luôn có cầu nguyện
d Buổi nhóm bao gồm thanh niên, dành cho thanh niên, nhưng do người lớn hướng dẫn.
e Việc phân bố trách nhiệm phải nên thay đổi
f Người lớn bảo trợ nên có một vai trò được thấy rõ ràng trong buổi nhóm.
MỤC TIÊU 6: Ghi nhận những đường lối chỉ đạo về truyền giáo trong thanh niên và liệt kê những đề án phục vụ Cơ Đốc
Phục vụ Cơ Đốc
Phục vụ Cơ Đốc là một yếu tố quan trọng về giáo dục thanh niên. Nó trực tiếp liên quan đến việc truyền giáo và sự hầu việc Chúa. Chúng ta không thể nói về điểm nầy mà không đề cập đến hai điểm kia. Chẳng hạn như, một lãnh vực của sự hầu việc Chúa là dâng tiền để yểm trợ những chương trình Truyền giáo. Nhưng Kinh Thánh cho thấy rõ rằng sự hầu việc Chúa trong ý nghĩa rộng lớn nhất là dâng đời sống cho Chúa. Do đó, sử dụng thời giờ, tài năng và tiền bạc của mình là 3 thành phần cơ bản của sự hầu việc. Chúng cũng là những thành phần cơ bản cho việc phục vụ Cơ Đốc và truyền giáo.
Bây giờ chúng tôi muốn tập trung vào một số đường lối chỉ đạo cho việc truyền giáo có hiệu quả cũng như đề nghị một số dự án phục vụ Cơ Đốc để thanh niên tham dự vào. Trước hết những người bảo trợ thanh niên phải quan tâm đến việc truyền giáo. Họ phải yểm trợ toàn bộ chương trình truyền giáo của Hội thánh. Thứ nhì, Hội thánh phải lo việc giáo dục truyền giáo thông qua những bộ phận của Hội thánh như lớp học ngày Chúa nhật, các nhóm thanh niên, và những nhóm thiếu niên khác.
Thứ ba, giáo dục truyền giáo phải có suốt năm, không chỉ trong tuần lễ đề cao việc truyền giáo. Thứ tư, Hội thánh nên nhấn mạnh rằng phục vụ truyền giáo là đầu phục ý muốn của Đức Chúa Trời cho dù phục vụ ở quê nhà hay xứ người. Thanh niên cần được khích lệ để tận hiến cuộc sống mình cho Đấng Christ và luôn luôn sẵn sàng phục vụ Ngài.
Thứ năm, phải nổ lực làm cho thanh niên chú tâm đến những sinh hoạt truyền giáo trong khu vực, làng mạc, hoặc khu phố tại địa phương của họ. Và sau hết, chúng ta phải bảo đảm thanh niên hiểu rằng động cơ thúc đẩy thật sự để truyền giáo là đưa nhũng người hư mất đến với Đấng Christ. Chúng ta tham gia truyền giáo vì tình yêu Đức Chúa Trời ban cho đối với những người hư mất. Tình cảm tự tôn hoặc thương hại không phải là thái độ của chúng ta trong việc quan tâm đến truyền giáo.
18 Trong sổ tay của bạn, hãy giải thích mối quan hệ giữa phục vụ Cơ Đốc, truyền giáo, và sự hầu việc Chúa.
19 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi đường lối chỉ đạo thích hợp về việc
truyền giáo có hiệu quả trong thanh niên
a) Khích lệ thanh niên tận hiến cuộc sống mình để phục vụ Đấng Christ.
b) Tách rời tầm quan trọng của việc truyền giáo khỏi những chương trình khác của Hội thánh
c) Nhấn mạnh đến truyền giáo chủ yếu trong tuần lễ đề cao việc truyền giáo
d) Nhấn mạnh rằng những người bảo trợ thanh niên phải quan tâm đến việc truyền giáo.
e) Làm cho thanh niên chú tâm đến những sinh hoạt truyền giáo tại địa phương
f) Tập trung vào động cơ thúc đẩy để quan tâm đến việc truyền giáo là lòng thương hại.
20 Dưới đây là liệt kê một vài đề án phục vụ Cơ Đốc cho các nhóm thanh niên. Phân loại xem chúng thuộc về giáo dục trong Hội thánh địa phương hay người ngoài Hội thánh địa phương ( Một số có thể được phân loại theo cả hai cách)
1)Trong Hội thánh địa phương
2) Ngoài Hội thánh địa phương
3) Cả hai cách nêu trên
.... a Phụ giúp lau dọn sạch sẽ Hội thánh
.... b Phụ giúp Mục sư những việc lao động cá nhân để ông ta có thời giờ
hơn cho giáo dục.
.... c Phụ giúp các thầy cô trong buổi nhóm thiếu nhi
.... d Giúp đỡ sửa chữa và bảo trợ cơ sở Hội thánh
.... e Giúp đỡ thiết lập hoặc phụ giúp trong nhà trẻ Hội Thánh
.... f Thành lập một ca đoàn thanh niên
.... g Tài trợ một chương trình giáo dục truyền bá Phúc âm do thanh niên thực hiện
.... h Tài trợ đề án truyền giáo do Hội thánh chỉ định
.... I Chuẩn bị truyền đạo đơn và những bích chương cho Hội thánh
.... j Cung cấp âm nhạc cho các buổi nhóm
.... k Thăm viếng những người mới đến với Hội thánh
.... l Thực hiện các công tác trong lao tù, bệnh viện, hay trường học
.... m Khởi sự lớp học Kinh Thánh trong khu vực
.... n Phân phát giấy mời đến dự những buổi nhóm đặc biệt
.... o Giúp đỡ khởi sự công tác trong những vùng không có Hội thánh
.... p Gia nhập vào chiến dịch quét dọn cộng đồng
.... q Phục vụ với tư cách người tư vấn hay nhân sự trong một trại thanh niên
.... r Phụ giúp trong lớp Kinh thánh hè của Hội thánh
.... s Thành lập một toán truyền giáo và đi một vòng địa hạt hay tiểu bang của bạn
.... t Phụ giúp lau dọn sạch sẽ và sữa chữa những Hội thánh khác
.... u Thăm viếng những người già, giúp đỡ họ, chuyên chở họ đến Hội thánh
.... v Giúp đỡ những nạn nhân gặp phải thảm kịch với thực phẩm và quần áo.
MỤC TIÊU 7: Ghi nhận những đoạn Kinh thánh liên quan đến những câu hỏi về sự tỏ tình, chọn người bạn đời, và hôn nhân.
Dự bị hôn nhân
Có lẽ không có đề tài nào làm cho thanh niên thích thú hơn là đề tài nói về sự tỏ tình, chọn người bạn đời,và hôn nhân. Điều nầy cũng tự nhiên thôi. Những quyết định nào đem lại kết quả quan trọng hơn việc lựa chọn người bạn hôn nhân của mình? Duy chỉ có một kết quả quan trọng hơn, là sự chấp nhận hay chối bỏ Đấng Christ của một người.
Ở đây chúng ta đang đối phó với một vấn đề rất quan trọng. Hầu hết niềm an ủi và hạnh phúc trần thế của một người sẽ được quyết định qua sự lựa chọn người bạn hôn nhân của anh ta. Lời Đức Chúa Trời nói đến rất nhiều về đề tài nầy.Thanh niên không nên đợi cho đến một vài tuần trước đám cưới của họ để nghe lời Đức Chúa Trời nói những gì. Thanh niên có rất nhiều câu hỏi liên quan đến sự tỏ tình, chọn người bạn đời, và hôn nhân. Nếu chúng ta chịu bỏ thời gian ra với họ, trả lời các câu hỏi của họ, và nói lên mối quan tâm của họ, thì họ sẽ được phước hạnh, Hội thánh sẽ được lợi ích, và vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ được mở rộng.
Chúng tôi sẽ liệt kê một số câu hỏi làm cho thanh niên thích thú. Bởi vì có rất nhiều phong tục địa phương liên quan đến sự tỏ tình, chọn người bạn đời, và hôn nhân, nên chúng tôi không cố gắng trả lời những câu hỏi nầy. Đó là trách nhiệm của Hội thánh địa phương. Tuy nhiên, thật có ích để ghi nhận những câu hỏi.
Kinh Thánh nói gì về những người tin Chúa lập gia đình với người
ngoại?
Giả như bạn không thích sự lựa chọn của cha mẹ về người bạn đời
thì sao ?
Việc chúc phước của cha mẹ quan trọng như thế nào?
Bạn có nên lập gia đình khi cha mẹ không bằng lòng ?
Những đức tính nào tôi nên tìm kiếm ở người bạn hôn nhân ?
Người bạn nào tôi nên tìm trong tiến trình tỏ tình ?
Trong thời kỳ tỏ tình chúng ta nên đi đâu ?
Đến mức độ nào chúng ta nên hạn chế việc tỏ tình để dành thời
gian cho sinh hoạt nhóm thanh niên
Trong những điều kiện nào một nam một nữ có thể gặp nhau một
mình ?
Điều gì tạo thành một hôn nhân và gia đình Cơ Đốc ?
Việc tỏ tình có thể bắt đầu vào tuổi nào ?
Việc tỏ tình nên kéo dài bao lâu ?
Tuổi nào tốt nhất để lập gia đình ?
Tôi có nên chờ đợi đến khi xong việc học vấn mới lập gia đình ?
Những người Cơ Đốc có nên chọn sống độc thân ?
Một đám cưới công khai trước hội thánh thì cần thiết như thế nào ?
21 Nêu ra những điểm chính của các đoạn văn Kinh thánh dưới đây và quyết định xem câu hỏi hay những câu hỏi nào nêu trên được trả lời trong các câu Kinh thánh đó ? để trả lời sử dụng sổ tay của bạn. 1) Eph Ep 4:17-32; ChCn 31:1-31 2) ICo1Cr 7:1-7; Mat Mt 19:10-12 3) Eph Ep 5:21-64; ITe1Tx 2:7, 11; IPhi 1Pr 3:1-7 4) Eph Ep 6:1-3; PhuDnl 5:16; ChCn 1:8; 6:20; 23:22; 5) IICo 2Cr 6:14; 6) HeDt 13:4; 7) Mat Mt 19:3-6.
Bải tập kiểm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM - khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1 Nhiều đoạn Kinh thánh miêu tả tuổi thanh niên là thời gian để
a) phục vụ Đức Chúa Trời
b) hưởng hạnh phúc
c) sống một cuộc sống trong sạch
d) Tất cả những điều trên
2 Giáo dục thanh niên là quan trọng vì tất cả những lý do nầy NGOẠI TRỪ
a) một nữa dân số thế giới dưới tuổi 20
b) Hội thánh không có thanh niên thì chết
c) giáo dục cho thanh niên thì dễ hơn cho người lớn
d) thanh niên có cả cuộc đời phục vụ để dâng hiến
3 “Dứt bỏ con người cũ” là phần:
a) phát triển thể chất
b) phát triển tri thức
c) phát triển đạo đức
d) phát triển tâm linh
4 Một nan đề thanh niên có thể gặp trong việc làm chứng là có:
a) ý thức tự trọng cao
b) nỗi sợ thất bại
c) chống đối lại cha mẹ
d) Tất cả những điều trên
5 Phần bài học cần thời gian nhiều nhất là phần:
a) Sách
b) Lưỡi câu
c) Nhìn
d) Tiếp nhận
6 Để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc truyền giáo có hiệu quả cần phải làm những điều nầy NGOẠI TRỪ
a) Nhấn mạnh việc truyền giáo ít nhất mỗi năm một tuần lễ
b) Dạy rằng quan tâm đến việc truyền giáo là nhắm đến những người hư mất
c) Khuyến khích thanh niên chú tâm đến những đề án truyền giáo tại địa phương
d) Cung cấp giáo dục truyền giáo thông qua tất cả những bộ phận của Hội thánh.
7 Tác giả cho rằng thanh niên quan tâm nhất về
a) Việc truyền bá Phúc âm
b) Học hỏi Kinh Thánh
c) Phục vụ Cơ Đốc
d) Dự bị hôn nhân
8 Kinh thánh trả lời ” không ” cho câu hỏi
a) Người Cơ Đốc nên chọn việc không lập gia đình ?
b) Người tin Chúa nên lấy người ngoại ?
c) Một đôi bạn có nên lấy nhau trước khi xong việc học vấn của họ ?
d) Một đôi bạn nên có một đám cưới chính thức trước Hội thánh không?

CHỌN GIỮA ĐÚNG VÀ SAI. Viết ” Đ ” trên khoảng trống trước mỗi câu ĐÚNG. Viết ” S ” nếu câu SAI
.... 9 Theo Kinh thánh, sự phát triển tâm linh xảy ra nhanh hơn trong thời kỳ thanh niên
.... 10 Phát triển tâm linh xảy ra tốt nhất khi một người bị cô lập
.... 11 Tác giả đề nghị rằng tất cả thanh niên trong Hội thánh địa phương nên được huấn luyện về việc truyền bá Phúc âm bằng phương thức thành lập toán ( nhóm)
.... 12 Những đề án phục vụ Cơ Đốc phù hợp cho thanh niên có thể thích hợp để giáo dục trong và ngoài Hội thánh địa phương
.... 13 Dự bị hôn nhân là một lãnh vực giáo dục thanh niên cần rất ít thời gian, chỉ khoảng một tháng trước đám cưới
.... 14 Buổi nhóm thanh niên là việc thực tập để sửa soạn cho mai sau
.... 15 Buổi nhóm thanh niên khác với buổi nhóm người lớn vì có sự tham gia
.... 16 Thanh niên phải thực hiện 3 điều kiện cho việc thờ phượng đúng đắn
.... 17 Buổi nhóm thanh niên nên đưa ra nhiều hình thức phân bố trách nhiệm.
.... 18 Người lớn bảo trợ thanh niên nên có một vai trò dễ nhận thấy trong buổi nhóm thanh niên

LỰA CHỌN GIỮA A VÀ B .Ghi nhận mỗi sinh hoạt dưới đây như là
A Chức năng của một nhóm thanh niên học Kinh Thánh
B Không phải chức năng của một nhóm thanh niên học hỏi Kinh Thánh
.... 19 Khuyến khích tự do để được độc lập khỏi cha mẹ
.... 20 Tạo cơ hội để học những kỹ năng nghề nghiệp mới
.... 21 Khuyến khích việc xây dựng tính thông công vô điều kiện
.... 22 Đưa ra một mục đích để sống
PHẦN GIẢI ĐÁP
1. 1) Đó là thời gian để học tin vào Đức Chúa Trời; 2) Có thể sống một cuộc sống trong sạch bằng cách sống theo lời Đức Chúa Trời; 3) Đối với nhiều người, đó là thời gian để lập gia đình và vui sướng; 4) Thanh niên là thời gian để hạnh phúc; 5) Chúng ta phải phục vụ Đức Chúa Trời trong khi còn trẻ; 6) Đức Chúa Trời hòa giải với thanh niên; 7) Thanh niên ngoại đạo phải được kính trọng; 8) Thanh nữ phải yêu chồng và con cái mình.
2. a) Hội thánh không có thanh niên là Hội thánh chết.
b) Phong trào truyền giáo đương thời là một phong trào của thanh niên
e) Thanh niên là những người sống theo lý tưởng tìm kiếm một mục
đích
f) Thanh niên có cả cuộc đời phục vụ để dâng cho Đức Chúa Trời
3. Thể chất, tri thức, đạo đức, tâm linh
4. b) đang tiến triển
5. Đó là sự đổi mới và hoà hợp liên tục của tâm trí và tư tưởng chúng ta để được giống như Đấng Christ, dứt bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới
6. Chúng ta không tăng trưởng tâm linh trong sự cô lập. Để cho những giá trị Cơ Đốc được lĩnh hội, những giá trị nầy phải được tìm hiểu và giải thích trong phạm vi những người bạn Cơ Đốc, không phải với những người ngoại
7. 1) Cho thanh niên những cơ hội nhận những câu giải đáp Thánh Kinh khi họ đi tìm Chân lý; 2) Giúp Hội thánh quan tâm đến những nhu cầu đặc biệt của thanh niên ; 3) Giúp cho thanh niên chú tâm đến chương trình toàn bộ của Hội thánh; 4) Cho phép thanh niên tiếp xúc với những thành viên khác giới tính một cách lành mạnh
8. d) Tất cả những điều trên
9. Huấn luyện một nhóm người được chọn lựa kỹ lưỡng về những nguyên tắc căn bản của nếp sống Cơ Đốc, phát triển sự thân tình với họ, cầu nguyện cho nhau, và dạy họ làm chứng nhân dùng phương thức thành lập toán có bạn hữu
10. Thiếu năng lực, sợ bị chế nhiểu, không biết cách thức thực hiện, thiếu tiếp xúc với những người chưa tin Chúa, cảm thấy cô đơn.
11. Câu trả lời của bạn. Xem hướng dẫn học tập
12. Người lãnh đạo nên khuyến khích thanh niên giáo dục trẻ em. Đức Chúa Trời kêu gọi một số người để giáo dục chủ yếu là trẻ em.
13. a 3) Phát triển những gương mẫu tốt
b 1) Hướng dẫn tinh thần
c 6) Khuyến khích tự do để trở nên những gì Đức Chúa Trời muốn
d 4) Đề ra một mục đích để sống
e 5) Đem lại tính thông công vô điều kiện
f 2) Xây dựng lòng tin
g 7) Tạo ra những cơ hội để tiếp xúc với giới tính khác
14. Những câu trả lời c và d là đúng
15. Thờ phượng đúng đắn phải thực hiện trong Thánh Linh và trong Chân lý. “Trong Thánh linh” liên quan đến việc tương giao với Đức Chúa Trời, tâm linh của chúng ta tương giao với Đức Chúa Trời là Thần linh ” Trong Chân lý” là những gì chúng ta làm, sự biểu lộ lòng sùng kính và biết ơn Đức Chúa Trời dựa trên sự thấu hiểu của chúng ta về bản chất và tính cách của Đức Chúa Trời.
16. Những câu trả lời a,b và e là đúng
17. Những câu trả lời a, c và e là đúng
18. Chúng liên hệ chặt chẽ đến nổi bạn không thể nói đến điểm nầy mà không nói đến những điểm khác. Sự hầu việc là dâng hiến thời giờ, tài năng và tiền bạc của mình. Đây cũng là những yếu tố của việc phục vụ Cơ Đốc và truyền giáo.
19. a) Khích lệ thanh niên tận hiến cuộc sống mình để phục vụ Đấng Christ
d) Nhấn mạnh rằng những người bảo trợ thanh niên phải quan tâm đến việc truyền giáo
e) Làm cho thanh niên chú tâm đến những sinh hoạt truyền giáo tại địa phương
20. Những câu trả lời của bạn có thể khác những câu trả lời nầy. Bài tập gợi cho chúng ta nghĩ về nhiều khả năng để phục vụ.
a cho đến k, n và r 1) Trong Hội thánh địa phương
l, p, q, s và v 2) Ngoài Hội thánh địa phương
m, o, u, và v 3) Cả hai cách nêu trên
21. 1) Có những đức tính: công nghĩa, thánh khiết, đức hạnh (những câu hỏi 5,6); 2) quyết định lập gia đình (câu hỏi 15); 3) chồng vợ và những liên hệ gia đình (câu 10); 4) tôn kính cha mẹ(những câu hỏi 2,4); 5) việc ràng buộc giữa người tin Chúa với người ngoại (câu hỏi 1); 6) sự đồi bại trong tình dục chống lại sự tinh khiết của liên hệ hôn nhân (những câu hỏi7-9); 7)sự bền vững của hôn nhân (câu hỏi 16)

GIÁO DỤC NGƯỜI LỚN
Một người đàn ông tên James là thợ mộc có vợ chết vì ung thư khi anh ta ngoài 50. Mặc dù anh là người Cơ Đốc, nhưng anh cảm thấy rằng đời anh không đáng sống vì thiếu nàng. Một ngày kia một người bạn giáo sĩ mời anh đi Mêxicô truyền giáo với anh ấy. Người bạn thì giảng lời Chúa, còn James giúp Hội thánh mới thành lập xây dựng một nhà thờ nhỏ.
Qua nhiều năm James giúp xây dựng 20 nhà thờ. Trong tiến trình, anh học tiếng Tây Ban Nha. Khi người bạn giáo sĩ không còn có thể đến Mêxicô nữa, James bắt đầu giảng lời Chúa cũng như xây dựng nhà thờ. Anh ghi tên học hàm thụ chương trình huấn luyện Kinh Thánh để trang bị cho mình tốt hơn. Lúc anh ta quá lớn tuổi để trở về Mêxicô, anh bắt đầu giáo dục cho những công nhân di trú nói tiếng Tây Ban Nha ở gần nhà anh.
Có rất nhiều người như James trong Hội thánh, mặc dù họ đã lớn tuổi nhưng họ còn nhiều năm phục vụ hữu ích trước mặt họ. Tuy nhiên, họ cần được khuyến khích và có lẽ cần được huấn luyện. Chúng ta không nên chểnh mảng giúp đỡ giáo dục cho người lớn trong các Hội thánh của chúng ta và chuẩn bị họ cho chức vụ
Dàn bài

Tầm quan trọng của người lớn Quan niệm sai lầm về chức vụ Nhu cầu học hỏi Kinh ThánhNhững điểm cần lưu ý để phát triểnTruyền bá Phúc âmCác hình thức giáo dục Người lớn Giáo dục gia đình Giáo dục Người lớn độc thân Giáo dục Người lớn cao niên Giáo dục quí ông và quí bà
Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn có thể:
Ghi nhận những nhu cầu cần thông thường của người lớn và những lý do tại sao giáo dục cho người lớn là quan trọng.
Mô tả việc truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ
Ghi nhận những nguyên tắc và mục đích của nhiều hình thức giáo dục cho người
Đáp ứng một cách hiệu quả hơn cho nhiều nhu cầu khác nhau của người lớn.
Sinh hoạt học tập
Học bài theo từng phần
Tìm hiểu kỹ những nhóm đặc trưng được liệt kê ở mục " Những hình
thức giáo dục người lớn"
Làm bài tự trắc nghiệm và kiểm tra những câu trả lời
Ôn các bài học 7 - 9 cho việc chuẩn bị đánh giá tiến bộ học tập. Đọc phần hướng dẫn trong tập tài liệu của bạn. Lấy tờ trả lời có ghi "Đánh giá tiến bộ học tập phần 3, theo hướng dẫn để điền vào, và sau đó nộp tờ nầy cho giảng viên ICI của bạn. Giảng viên sẽ kiểm tra những câu trả lời của bạn và cho bạn kết quả.
Từ ngữ quan trọng
được sắp xếp phối hợpcố thủ
huy động
tính tự nhiêntiêu chuẩntính tương đối
Khai triển bài học
TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI LỚN MỤC TIÊU 1: Thảo luận về tầm quan trọng của người lớn trong chương trình giáo dục của Hội thánh và ghi nhận 3 điều quan niệm sai lầm về giáo dục
Quan niệm sai lầm về giáo dục Người lớn kiểm soát chính quyền, kinh tế, lực lượng quân sự, trường học, và những hoạt động tôn giáo trên thế giới. Vậy, họ là một phần quan trọng của Hội thánh và chương trình giáo dục của Hội thánh. Kinh Thánh cho thấy những người đầu tiên đến với Đấng Christ là những người lớn. Những người đầu tiên được trang bị để phục vụ Đấng Christ là những người lớn. Tân ước tập trung vào việc truyền bá Phúc âm cho người lớn, rồi sau đó họ đem gia đình của mình đến với Đấng Christ (Cong Cv 16:28-34).
Trước đây, chúng ta cho rằng nếu đem trẻ em và thanh niên đến với Đấng Christ, thì thường cả gia đình về với Đấng Christ. Tuy nhiên, tầm quan trọng của người lớn trong đời sống gia đình và nuôi dưỡng đức tin Cơ Đốc thấy rõ là trẻ em đã tin nhận Chúa thường không đứng vững, đặc biệt ở lứa tuổi thanh niên, trừ khi cha mẹ cũng đến với Đấng Christ. Có 3 quan niệm sai lầm thường ảnh hưởng chương trình giáo dục của Hội thánh :1) Cách thức vươn tới người lớn là qua trẻ em. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, đây không phải là khuôn mẫu Thánh Kinh. 2) Vì khó đem người lớn đến với Đấng Christ, chúng ta phải nhấn mạnh việc giáo dục cho trẻ em và thanh niên trong các chương trình giáo dục của chúng ta. Điều nầy rõ ràng là không đúng. Từ quốc gia nầy đến quốc gia khác chúng ta thấy những người lớn nếu được truyền giáo giảng một cách thích hợp sẽ tin nhận Đấng Christ với số lượng đông. 3) giáo dục Cơ Đốc phải thực hiện trong Hội thánh. Kinh nghiệm đã cho chúng ta thấy rằng cho dù chương trình giáo dục của Hội thánh có hiệu quả như thế nào, nó không thể thay thế cho cha mẹ Cơ Đốc hay gia đình Cơ Đốc.
Trong lời Kinh Thánh, gánh nặng giáo dục tôn giáo do gia đình gánh vác. Nhưng trong thế giới càng ngày càng phức tạp mà chúng ta đang sống, thì gánh nặng giáo dục Cơ Đốc không thể để gia đình gánh vác một mình. Hội thánh có trách nhiệm do Đức Chúa Trời giao phó để làm việc với các gia đình của mình, nhất là những người lớn, để sản sinh và nuôi dưỡng đời sống Cơ Đốc trong Hội thánh.
1 Những quan niệm sai mà theo đó chương trình giáo dục của Hội thánh
thường hoạt động gồm tất cả những câu sau đây NGOẠI TRỪ một câu. Câu nào KHÔNG phải là một quan niệm sai ?
a) Khuôn mẫu học tập của người lớn khác với những khuôn mẫu của trẻ em.
b) Cách thức vương tới người lớn và qua trẻ em
c) Giáo dục Cơ Đốc phải thực hiện trong Hội thánh.
d) Vì khó vươn đến người lớn, chúng ta nên tập trung vào trẻ em và thanh niên
2 Về trách nhiệm giáo dục Cơ Đốc, Hội thánh nên
a) để trách nhiệm cho gia đình như thời Kinh Thánh
b) đảm nhận trách nhiệm cho tất cả việc giáo dục Cơ Đốc
c) giúp đỡ gia đình trong trách nhiệm của mình trong lãnh vực giáo dục Cơ Đốc
MỤC TIÊU 2: Liệt kê 4 lý do tại sao người lớn cần học hỏi Kinh Thánh
Nhu cầu học hỏi Kinh Thánh Đáng tiếc là có nhiều tín đồ lớn tuổi biết rất ít về nội dung Kinh Thánh. Những gì họ biết được thường là những câu chuyện Kinh Thánh quen thuộc từ thuở nhỏ họ còn nhớ. Sự thật đáng buồn là khi thành người lớn họ không bao giờ học hỏi lời của Đức Chúa Trời. Chúng tôi đề xuất 4 lý do tại sao người lớn cần học hỏi Kinh Thánh.
1. Người lớn cần học hỏi Kinh Thánh để tăng trưởng và nhận được sự hướng dẫn cho chính cá nhân họ. Đức Chúa Trời tạo dựng Adam và Eva hoàn hảo trong ý nghĩa họ không có tội. Nhưng họ không hoàn hảo trong ý nghĩa tăng trưởng thuộc linh. Mục đích của Đức Chúa Trời cho nhân loại từ ngay lúc khởi đầu luôn luôn là sự tăng trưởng thuộc linh " chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ" (Eph Ep 4:13). Kinh thánh là sách chỉ dẫn của Đức Chúa Trời để có sự tăng trưởng và hướng dẫn cá nhân. Những ai đọc và áp dụng lời giáo huấn sẽ trở nên những con người mà Đức Chúa Trời mong muốn.
2. Người lớn cần học hỏi Kinh thánh để có thể dạy con cái của họ. Dù muốn hay không, cha mẹ luôn dạy con cái mình một điều gì đó, nhất là qua việc họ nêu gương tốt. Vì vậy, họ cần sự huấn luyện để biết dạy và huấn luyện con cái của mình (6:4).
3. Người lớn cần học hỏi Kinh thánh để phát triển sự lãnh đạo trong Hội thánh địa phương. Hội thánh cần những lãnh đạo, thầy cô, những người làm việc cho thanh niên,v.v... được huấn luyện kỹ, chuẩn bị sẵn. Hội thánh cần những người trưởng thành tin Chúa, biết Lời Đức Chúa Trời và có thể áp dụng vào cách cư xử và lối sống hàng ngày. Là những Mục sư và những nhà giáo dục Cơ Đốc, nhiệm vụ của chúng ta là phát triển những người lớn trưởng thành thuộc linh, "những người cũng có tài dạy dỗ kẻ khác" (IITi 2Tm 2:2).
4. Người lớn cần học hỏi Kinh thánh để có thể chia xẻ Phúc âm với người khác. Trong Cong Cv 8:30-31 chúng ta đọc về cuộc gặp gỡ giữa Philíp với một người Êthiôbi - Philíp hỏi anh ta có hiểu gì về Kinh thánh anh ta đang đọc không. Hoạn quan trả lời rằng: "Nếu chẳng ai dạy cho tôi, thể nào tôi hiểu được?". Chúng ta cần nhiều quí ông và quí bà hơn nữa, những người sẵn lòng và có thể chia xẻ Phúc âm với người khác.
Nói tóm lại, niềm tin phát sinh do việc nghe và đón nhận Lời Đức Chúa Trời (RoRm 10:17) Không phải sự thông thái của loài người nhưng chính là lời Đức Chúa Trời biến đổi cuộc sống của chúng ta, cũng cố tâm trí và tinh thần của chúng ta, hướng dẫn và chỉ bảo,và hướng chúng ta từ vinh quang nầy đến vinh quang khác.
3 Giải thích tại sao nhu cầu học hỏi Kinh Thánh của người lớn thật sự bắt đầu ở vườn Êđen?


Mục tiêu 3: Ghi nhận những nhu cầu chung cho tất cả người lớn và phân biệt giữa lứa tuổi tráng niên, trung niên, và cao niên
Những điểm cần lưu ý để phát triển
Những nhu cầu thật sự chung cho tất cả người lớn gồm những nhu cầu về thể chất, sự vững tâm, sự quan trọng, tài năng, tình thương, tính sáng tạo, và lòng sùng đạo. Đây là những nhu cầu thật sự để phân biệt với những nhu cầu cảm thấy. Một người có thể cảm thấy cần những thức ăn tầm thường. Khẩu vị của anh ta có thể được thỏa mãn với thức ăn như thế. Nhưng nếu anh không bắt đầu ăn uống đàng hoàng, thì những nhu cầu thức ăn thật sự sẽ không được thoả mãn và thân thể sẽ bị tổn hại. Sự đóng góp quan trọng của giáo dục Cơ Đốc là thức tỉnh những cá nhân nhớ đến nhu cầu cuộc sống vĩnh cửu thật sự của họ.
Chúng tôi sẽ mô tả những nhu cầu thật sự chung cho người lớn. Những nhu cầu thể chất gồm giấc ngủ, thức ăn, nước, chỗ trú ngụ, và sự tập luyện. Nhu cầu về sự vững tâm liên quan đến việc cảm thấy có liên hệ tốt với người khác.Chúng ta muốn người khác chấp nhận mình, có liên hệ với gia đình, gia nhập nhiều tổ chức khác nhau, dành được tài sản. Nói theo Kinh Thánh thì sự vững tâm lớn nhất của chúng ta ( và sự vững tâm vĩnh cửu duy nhất) được tìm thấy trong mối quan hệ thật sự với Chúa Jesus Christ. Bất cứ sự vững tâm nào khác là giả tạo.
Những nhu cầu về sự quan trọng liên quan đến những tình cảm được thán phục và công nhận. Nó liên quan đến sự coi trọng mình và cho mình là xứng đáng. Hầu hết những ý tưởng thế tục về vấn đề nầy không phù hợp với ý tưởng Kinh thánh rằng con người không xứng đáng nhưng cũng không vô dụng theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Chính vì giá trị Đức Chúa Trời đặt trên mỗi cuộc sống, chúng ta có thể cảm nhận sự quan trọng xác thực qua mối liên hệ thật sự với Đấng Christ.
Những nhu cầu tài năng liên quan đến việc cảm thấy có năng lực và kết quả. Chúng được thực thi trong nổ lực đáp ứng những nhu cầu của gia đình mình hay tạo nên một xã hội tốt hơn. Những người Cơ Đốc thực thi những nhu cầu nầy trong nổ lực để mở mang nước Đức Chúa Trời ở trần thế và phát triển Hội thánh của Chúa Jesus Christ.
Nhu cầu tình thuơng liên quan đến những mối quan hệ là cho nhau mãn nguyện chẳng hạn như hôn nhân, mối quan hệ cha con, tình bạn thân thiết, và sau cùng là mối quan hệ con người và Thượng Đế. Mô hình là sự ban cho cuộc sống vĩnh cửu qua đó Đức Chúa Trời tạo nên một mối liên hệ đáng tin cậy, vô điều kiện, không phải do công lao mà có,mang đặc điểm tự do, hiểu biết và chấp nhận.
Những nhu cầu sáng tạo được thực hiện bằng cách làm những việc mới mẻ theo hứng khởi. Trẻ em biểu lộ niềm vui như thế khi khám phá hay cảm nhận điều gì lần đầu tiên. Cuộc sống của người lớn thường trở nên tẻ nhạt và chán ngắt. Cứ mỗi buổi sáng, người lớn cần phải cảm nhận lòng nhân từ của Đức Chúa Trời cách tươi mới luôn.
Những nhu cầu về lòng sùng đạo tập trung vào sự kiện là trong sâu xa mỗi người đều có nhu cầu được liên kết chính đáng với Đức Chúa Trời. Những cá nhân có thể chối từ hay ngăn lại nhu cầu nầy, nhưng nó vẫn còn đó. Lời mời gọi phổ quát của Kinh Thánh được bắt rễ trong nhu cầu chung nầy. Rao giảng Đấng Christ là phương cách siêu phàm để đáp ứng nhu cầu nầy của con người.
Mặc dù những nhu cầu trên là chung cho tất cả người lớn, nhưng một số người lớn nhận ra một số nhu cầu nầy hơn một số nhu cầu khác ở bất kỳ thời điểm nào. Điều nây liên quan đến sự phát triển khác biệt giữa những lứa tuổi tráng niên, trung niên, cao niên.Tuổi trung niên là 18 đến 34, tráng niên từ 35 đến 59, và cao niên là 60 và trên 60.
Thời kỳ tráng niên là thời kỳ "nhổ rễ" và càng ngày càng độc lập với cha mẹ mình. Những tráng niên phải phát triển một hình ảnh rõ rệt về mình như một người lớn và cảm thấy có năng lực trong thế giới người lớn. Những biến cố quan trọng trong đời anh ta gồm việc lựa chọn người bạn hôn nhân, thiết lập và điều hành một mái nhà, tạo dựng một gia đình, và bắt đầu một nghề nghiệp.
Người trung niên trách nhiệm với cha mẹ luống tuổi gia đình tăng triển của mình. Thân thể anh ta trải qua những thay đổi nhắc nhở anh ta về số tuổi của chính anh ta. Hôn nhân của anh trải qua những sự điều chỉnh khi con cái của anh lớn lên và rời gia đình. Anh ta phải cam chịu với sự quan trọng và tài năng của chính mình. Đây là thời kỳ củng cố lại và mong đợi tuổi già hay là thời kỳ tự suy sụp, thối lui, và giữ cho yên thân.
Người cao niên phải thích ứng với việc về hưu, sự giảm lợi tức, thời giờ nhàn rỗi, sự suy giảm lòng tự trọng có thể xảy ra, và cái chết của người phối ngẫu và bạn bè.Tùy theo những điều chỉnh được thực hiện tốt như thế nào và thực tại về cái chết được chấp nhận,ra sao mà thời kỳ cao niên nầy có thể là niềm khoái cảm, sự mãn nguyện sự trưởng thành thuộc linhvà sự gần gũi với Đức Chúa Trời, sự giảm bớt trách nhiệm để được tự do vui hưởng cuộc sống.Hoặc nó có thể là thời kỳ tự suy sụp tiếp nối từ những năm trung niên.
Thấu hiểu những phát triển khác biệt nầy sẽ giúp chúng ta hiểu biết gì liên kết với người khác tốt hơn. Chúng ta sẽ có thể làm cho sứ điệp Phúc Âm thích ứng với nhu cầu của họ để họ sẽ đáp lại thỏa đáng.
4 Khoanh tròn những mẫu tự của mỗi câu ĐÚNG liên quan đến những nhu cầu của người lớn.
a) Nhu cầu thật sự của mỗi người lớn thay đổi đáng kể.
b) Một vài người lớn nhận biết một số nhu cầu nầy hơn một số nhu cầu khác
c) Những nhu cầu cảm xúc đôi khi là những dạng vặn vẹo của nhu cầu thật sự
d) Để thấu hiểu những trường hợp đặc biệt của người lớn, chúng ta phải biết một vài nhu cầu chung cho tất cả người lớn.
5 Xếp sự phân chia các nhóm người lớn cho phù hợp với những mô tả và
phát triển
1) Người lớn tuổi tráng niên
2) Người trung niên
3) Người cao niên
.... a Chấp nhận sự quan trọng và tài năng của mình
.... b Trở nên độc lập với cha mẹ mình
.... c Đối phó với thực tại về cái chết
.... d Thích ứng với thời giờ nhàn rỗi và sự thiệt hại đến lòng tự trọng có thể xảy ra.
.... e Thích ứng với những dấu hiệu đầu tiên của tuổi già.
Mục tiêu 4: Mô tả việc truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ.
TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM
Truyền bá Phúc âm là việc truyền đạt rõ ràng về Phúc âm. Nó bắt đầu với tính chất tuyệt đối thánh thiện của Đức Chúa Trời (IPhi 1Pr 1:15-16) và sự phạm tội của loài người (EsIs 53:6; RoRm 3:23). Nó bao gồm sự xuống thế làm người của Đấng Christ (LuLc 2:9-14; GiGa 1:4), sự dâng sinh tế hoàn hảo của Ngài để chuộc tội (1:29), cái chết cứu chuộc của Ngài (EsIs 53:4-5; IICo 2Cr 5:21), và sự phục sinh vinh quang của Ngài (LuLc 24:1-8; KhKh 1:12-18). Nó chấm dứt với lời mời gọi cho niềm tin, sự ăn năn, và sự tuân phục (LuLc 14:26-27; Cong Cv 16:31).
Có ba hình thức truyền bá Phúc âm. Truyền bá Phúc âm "đại chúng" là những buổi họp mặt ngoài trời do một nhà truyền giáo thuyết giảng và những thành viên của Hội thánh bạn bè đến. Truyền bá Phúc âm "đối mặt" là phân phát truyền đạo đơn cho những người ngoài đường phố và đi đến từng nhà. Truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ là tạo nên tình bạn. Nhiều Cơ Đốc nhân thấy rằng hình thức nầy thoải mái hơn hai hình thức kia bởi vì nó xảy ra trong những mối quan hệ bình thường. Đây là hình thức truyền bá Phúc âm phù hợp nhất cho chương trình giáo dục đang tiến triển của Hội thánh địa phương.
Truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ dựa theo những nguyên tắc sau đây. Thứ nhất, chúng ta phải hiểu rằng cuộc sống của chúng ta phải phản ảnh một cách chính xác phúc âm. Chính chúng ta phải là Phúc âm trước khi chúng ta rao giảng Phúc âm (IICo 2Cr 3:2). Thứ nhì, chúng ta phải kết bạn với những ai chưa được cứu rỗi (LuLc 7:34) vì sự quan tâm thật sự đến họ. Thứ ba, chúng ta phải nói cho họ về phúc âm đúng lúc. Thứ tư, nếu Hội thánh là bối cảnh của việc truyền bá phúc âm "quan hệ", Hội thánh phải thể hiện tốt tình trạng thuộc linh giữa vòng các tín hữu. Bất cứ sự tị hiềm hoặc chia rẽ sẽ làm hỏng việc truyền bá Phúc âm.
Chúng tôi đề nghị vài cách để xây những chiếc cầu dẫn đến cuộc sống của những người chưa tin Chúa một cách tự nhiên. Hội thánh có thể đưa ra những chương trình và sinh hoạt với những đề tài có quan tâm, chẳng hạn như việc làm cha, mẹ và sự giao tiếp trong hôn nhân. Những người tin Chúa phải hiểu và xem trọng những người khác. Nếu chúng ta lắng nghe những gì họ nói, chúng ta có thể giới thiệu Kinh Thánh trong một cách thích ứng hơn. Chúng ta phải phân biệt giữa Chân lý Thánh Kinh và tính tương đối của văn hóa. Cách ăn mặc và kiểu tóc chẳng hạn thì liên hệ đến văn hóa. Chúng không thể trở thành những vật chướng ngại trong việc tiếp nhận Đấng Christ. Sau hết, chúng ta phải phát triển và vun trồng tình yêu Đức Chúa Trời ban đối với những người hư mất. Khi chúng ta liên hệ với người khác trong tình yêu, chúng ta thật lòng chú tâm đến họ như những cá nhân với nhu cầu cá biệt của họ. Để đáp lại nhu cầu của họ, chúng ta tận hiến bản thân mình và cũng giới thiệu Đức Chúa Trời của chúng ta cho họ.
6 Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả 3 lãnh vực của việc truyền đạt Phúc âm rõ ràng trong việc truyền bá Phúc âm.
7 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu Đúng liên quan đến những nguyên tắc về việc truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ.
a Những người có đức tin phải thiết lập tính bằng hữu với những người chưa được cứu
b Hội thánh phải chứng tỏ hiện thực thuộc linh, chứ không phải sự chia rẽ
c Có thể đem được những người khác đến với Đấng Christ mà không cần chia xẻ Phúc âm với họ
d Chúng ta phải là Tin lành trước khi chúng ta rao giảng Tin lành
8. Liệt kê 4 phương cách để xây dựng những chiếc cầu trong việc truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ. Sử dụng sổ tay của bạn.
NHỮNG HÌNH THỨC GIÁO DỤC NGƯỜI LỚN
Muïc tieâu 5: Ghi nhaän nhöõng laõnh vöïc khaùc nhau cuûa 3 nguyeân taéc cho vieäc xaây döïng moät chöông trình giaùo duïc taäp trung vaøo gia ñình.
Giáo dục gia đình
Mục tiêu của Hội thánh trong việc phát triển một chương trình giáo dục tập trung vào gia đình là giúp đỡ phát triển cuộc sống gia đình. Một sự giáo dục như thế đòi hỏi sự phối hợp giữa chương trình giáo dục của Hội thánh và giáo dục trong gia đình. Nguyên tắc thứ nhất của giáo dục nầy là Hội thánh phải huấn luyện cha mẹ cho nhiệm vụ giáo dục tôn giáo cho con cái của họ.
Các cha mẹ phải được dạy quan điểm Kinh Thánh về vai trò của họ và cách phát triển những thói quen học hỏi Kinh thánh cá nhân và những kỹ năng lãnh đạo sinh hoạt đức tin trong gia đình. Họ phải hiểu biết những nhu cầu phát triển của trẻ em và thanh niên và cách thức giáo dục giới tính, rèn luyện tinh thần trách nhiệm và phục vụ. Họ cần phát triển ý thức cộng đồng với những cha mẹ Cơ Đốc khác về những tiêu chuẩn thông thường của cuộc sống gia đình và họ có thể đánh giá sự tăng trưởng thuộc linh và đạo đức diễn tiến trong gia đình.
Nguyên tắc thứ hai là việc giáo dục của Hội thánh phải liên kết với giáo dục của gia đình. Điều nầy liên quan đến việc phải thông tin cho các cha mẹ về những gì Hội thánh đang làm. Cha mẹ phải yểm trợ những phương pháp giảng dạy của Hội thánh và giúp đỡ con cái mình thấy được sự thích ứng của những gì được giảng dạy tại Hội thánh với cuộc sống hàng ngày. Cha mẹ phải giúp đỡ con cái mình đáp lại với Đức Chúa Trời. Cha mẹ và thầy cô phải phối hợp trong việc phát triển tâm linh của đứa trẻ.
Nguyên tắc thứ ba là chương trình giáo dục của Hội thánh phải được thực hiện để giúp đỡ hơn là gây cản trở việc huấn luyện Cơ Đốc trong gia đình. Nó đòi hỏi 3 điều nơi những người lãnh đạo Hội thánh: 1) Họ phải quyết định xem chương trình của Hội thánh có thật sự tập trung vào gia đình hay không. Nếu không, những bước nào cần phải áp dụng để thực hiện được như vậy. 2) Họ phải sắp xếp những sinh hoạt của Hội thánh sao cho thời gian dành cho cuộc sống gia đình được tối đa. 3) Họ phải thiết lập kế hoạch chỉ giao một công việc duy nhất cho mỗi nhân sự để họ không phải gánh vác quá nhiều trách nhiệm trong Hội thánh.
Phần trên chúng tôi có nói về sự truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ. Việc thực hiện một chương trình tập trung vào gia đình sẽ tăng thêm sự vươn tới của việc truyền bá Phúc âm. Người lớn sau khi đã hoàn tất chương trình giáo dục được hoạch định tốt tập trung vào gia đình thì không những có thể huấn luyện Cơ Đốc cho con cái mình mà còn xây dựng được những chiếc cầu hữu nghị nhờ đó anh có thể đem Kinh Thánh cho một thế giới đang cần đến.
9. Hãy nói ra mục tiêu của chương trình giáo dục tập trung vào gia đình

10. Xếp những nguyên tắc cho việc xây dựng một chương trình giáo dục
tập trung vào gia đình cho phù hợp với những điều có liên
hệ.
.... a Khuyến khích cha mẹ yểm
trợ những phương pháp giảng
của Hội thánh
.... b Học cách đối phó với những
vấn đề quan trọng
.... c Thiết lập kế hoạch chỉ giao một
công việc duy nhất cho mỗi nhân sự
.... d Phát triển những kỷ năng lãnh đạo
trong sự tận tâm với gia đình
.... e Đánh giá chương trình của Hội thánh
từ góc độ gia đình
.... f Thông tin cho cha mẹ về chương trình
giáo dục của Hội thánh
.... g Làm cho cha mẹ giúp đỡ được con cái
của họ đáp lại với Đức Chúa Trời.
.... h Phát triển những tiêu chuẩn sống Cơ Đốc.
1) Huấn luyện cho cha mẹ
2) Mối quan hệ giữa Hội Thánh và gia đình
3)Việc điều hành chương trình
MUÏC TIEÂU 6: Moâ taû ñaëc tính cuûa nhoùm ngöôøi lôùn ñoäc thaân vaø 3 nguyeân taéc cuûa vieäc giaùo duïc nhoùm ngöôøi naày
Giáo dục cho những người lớn độc thân
Những người lớn độc thân là một nhóm người thay đổi khác nhau. Họ bao gồm những người lớn đủ hạng tuổi, chưa bao giờ lập gia đình, đã ly dị, hay trong tình trạng góa bụa. Thường chỉ có một điều đem họ đến với nhau là họ không có gia đình ngay lúc nầy. Làm thế nào để chương trình giáo dục của Hội thánh có hiệu quả đối với một nhóm như vậy?
Nhiều Hội thánh thấy rằng hợp chung những người độc thân và có gia đình lại thì rất tốt.Một số Hội thánh tìm cách giáo dục những người nầy qua các chương trình dành cho quí ông và quí bà của Hội thánh. Một vài Hội thánh rất lớn có thể có những chương trình phát triển tốt và có nhân viên phụ giúp việc giáo dục riêng cho những người độc thân. Dù áp dụng phương thức nào, đều có 3 nguyên tắc để theo.
Nguyên tắc thứ nhất là nhận ra rằng những người độc thân là những người có những lợi ích, quan tâm, nhu cầu và mong chờ riêng của họ. Những điều nầy phải được lưu tâm đến. Nguyên tắc thứ nhì là để những người độc thân nhận các chức vụ trong chương trình và sinh hoạt khác nhau của Hội thánh theo khả năng của họ. Nguyên tắc thứ ba là mở rộng lòng mến khách theo Kinh thánh đối với những người độc thân qua tình bằng hữu. Ở Hội thánh và trong các gia đình. Rất dễ bỏ qua những người độc thân nhất là khi Hội thánh quá bận với chương trình tập trung vào gia đình. Sự sơ xuất như thế sẽ làm cho những người độc thân cảm thấy bị loại trừ, thậm chí thấy mình thấp kém.
11 Mô tả những người độc thân như một nhóm người lớn

12 Liệt kê 3 phương thưóc áp dụng để giáo dục cho những người độc thân. Sử dụng sổ tay của bạn.
13 Những nguyên tắc do tác giả đề nghị về việc giáo dục cho người lớn độc thân, gồm những điều nầy ngoại trừ nguyên tắc
a) Nhận ra những nhu cầu và những sở thích
b) Ngăn cách nhưng bình đẳng
c) Lòng mến khách theo Kinh Thánh
d) Giao phó các chức vụ trong Hội Thánh
Mục tiêu 7. Mô tả đặc điểm của người cao niên và thảo luận 3 mục tiêu của việc giáo dục cho họ
Giáo dục cho người cao niên
Người cao niên có kiến thức, kinh nghiệm, và có khả năng sáng tạo. Lời Đức Chúa Trời nói rằng họ phải đựơc kính trọng, được vinh dự và được làm việc hữu ích. Tuy vậy người cao niên thường cần sự cảm thông và giúp đỡ về mặc thể chất, tâm trí, tài chánh, xã hội, cảm xúc, pháp lý,và tâm linh. Những thay đổi họ trải qua thường khiến họ bị hạn chế vào thời kỳ họ cần được tự do để thành đạt trong cuộc sống riêng cũng như trong chức vụ.
Phần nhập đề của bài cho thấy rằng, theo tinh thần nước trời, người cao niên có thể còn hữu ích hay thậm chí hữu ích hơn lúc còn trẻ. Nhưng để có được ngày càng nhiều người lớn hữu ích, các Hội thánh phải tập trung vào những nhu cầu đặc biệt của họ. Chúng tôi đề nghị xây dựng một chương trình cho người cao niên với những mục tiêu sau đây.
1. Giúp đỡ người cao niên sắp xếp ngày giờ của họ trong cách thức mà thời gian được nhìn từ góc độ vĩnh cửu. Tuổi già không đơn thuần là trải qua những tháng ngày nhưng là thêm sự khôn ngoan thánh thiện để chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu (Thi Tv 90:12). Một số người cao niên cảm thấy rằng công việc của đời họ hoàn tất và đây là thời gian để nghỉ ngơi và thoải mái. Một số khác cảm thấy công việc của đời họ chưa bao giờ hoàn tất vì thế họ vẫn cứ bận rộn và lao động hữu ích cho đến ngày chết. Tuy thế có những người lại ước mong cuộc đời khác đi, rằng họ có sức mạnh và của cải nhiều hơn, nhưng họ đành cam chịu với những giới hạn của họ. Sau hết, có những người mà tuổi già của họ không có mục đích và vô nghĩa khi họ nhìn lại cuộc đời phí phạm và chẳng hữu ích gì. Lòng họ đầy hối tiếc.
2. Giúp đỡ nối lại cách biết giữ lại những thế hệ bằng cách đem thanh niên, cha mẹ và ông bà lại với nhau. Khi họ được đem lại gần nhau trong những chương trình hành động đáng giá và trong những đề án phục vụ, họ sẽ được biết nhau như những con người chứ không phải là các thành viên của một nhóm tuổi. Điều nầy giúp loại bỏ đi những định ý sai lầm của người lớn tuổi. Những định ý thông thường nhất là những người cao niên muốn không bị vướng bận với cuộc sống và các sinh hoạt của nó, họ không thể học hỏi, họ sẽ chết sau khi về hưu, nếp suy nghĩ đã cố định và cơ bản là không thay đổi. Nhưng họ không cứ như vậy và khả năng học hỏi của họ không giảm đi đáng kể khi số tuổi tăng thêm. Họ vẫn có nhu cầu và ước muốn tham gia vào công việc Chúa và kết quả.
3. Bởi vì người cao niên có trách nhiệm Đức Chúa Trời giao phó trong việc sống thánh thiện và giảng dạy (Tit Tt 2:2-5), chúng ta phải khuyến khích họ thực hiện những trách nhiệm của họ. Họ cần được tham dự vào việc thờ phượng, giảng dạy, tình bằng hữu, và truyền giáo. Những ai không thể đảm nhận những chức vụ lãnh đạo vì cơ thể ốm yếu, thì nên được khuyến khích tham gia vào nhóm cầu nguyện. Những ai không thể tham dự giờ thờ phượng, thì cần được viếng thăm và giúp đỡ bằng tài liệu, băng ghi âm, những cú điện thoại, v.v...
14 Ý kiến cho rằng người già sẽ nuối tiếc, đó là thời kỳ
a) Nghỉ ngơi và thoải mái
b) Vẫn còn có năng suất
c) Cam chịu với những gì đã có
d) Nhớ lại cuộc sống phí phạm
15 Liệt kê trong sổ tay của bạn 5 định ý của người cao niên cần phải sửa đổi lại để giúp nối lại sự cách biệt giữa những thế hệ
16 Trong sổ tay của bạn, thảo luận về trách nhiệm của Hội thánh trong việc giúp đỡ người cao niên xét đến trách nhiệm Đức Chúa Trời giao phó cho họ.
Mục tiêu 8. Ghi nhận những chức năng nổi bật của việc giáo dục quí ông và quí bà.
Giáo dục cho quí ông và quí bà
Việc chia nhóm quí ông và quí bà đáp ứng những nhu cầu riêng biệt cho mỗi phái. Đó cũng là việc nối nhịp cầu giữa những người có gia đình và không có gia đình, nó làm cho tình trạng hôn nhân không còn là một vấn đề hay một yếu tố cần thiết cho việc thờ phượng Cơ Đốc. Những nhóm nầy theo gương Đấng Christ đã tụ họp một nhóm người chung quanh Ngài. Hiển nhiên có những ích lợi đặc biệt khi sinh hoạt với một nhóm toàn phái nam, không tìm thấy ở một nhóm cả nam lẫn nữ. Tân ước nói đến một nhóm nhỏ phụ nữ, xum họp lại trong lòng yêu mến Chúa Jêsus (Mac Mc 15:41). Và có một toán những người phụ nữ cầu nguyện nhóm họp bên bờ sông (Cong Cv 16:13)
Hãy quan sát kỹ và xem xem những nhóm quí ông và quí bà phục vụ cho những mục đích gì
1. Truyền bá Phúc âm cá nhân. Xét đến việc chia xẻ Phúc âm một người cho một người, thì đàn ông sẽ có thiện cảm hơn khi nghe một người đàn ông thay vì nghe một người đàn bà. Điều nầy cũng đúng cho quí bà. Sinh hoạt của các nhóm quí ông và quí bà có thể có nhiều hình thức. Thường thì những sinh hoạt nầy thân mật, ngoài nhà thờ, và được tổ chức để tạo nên tình bạn. Mục tiêu vẫn là đàn ông đem đàn ông và đàn bà đem đàn bà đến với Đấng Christ.
2. Lãnh đạo những trẻ em và thanh niên. Những nhóm quí ông và quí bà có thể trợ những nhóm thanh niên các em trai và em gái. Khi hướng dẫn lãnh đạo cho những nhóm trẻ em và thanh niên, thì quí ông và quí bà là những vai trò mẫu có giá trị để giúp tạo nên cuộc sống trẻ. Họ có thể giám sát những sinh hoạt đặc biệt và cuộc đi chơi giải trí cho các em trai và em gái.
3. Những đề án phục vụ đặc biệt. Một số những sinh hoạt gây quỹ như nấu nướng và may vá thì thích hợp với những nhóm quí bà. Việc sửa chữa và bảo trì tài sản Hội thánh thì do nhóm quí ông lo liệu. Công tác thăm viếng nhà tù, bệnh viện, và những nơi khác có thể cả hai nhóm quí ông và quí bà đảm trách tùy thuộc vào tính chất của công tác.
4. Gây dựng. Trong những nhóm quí ông và quí bà, những cá nhân thường được tự do để thảo luận một số những đề tài hơn là trong một nhóm cả nam lẫn nữ. Trong những buổi cầu nguyện và chia xẻ quí ông quí bà có thể tìm ra cơ hội để quen biết nhau hơn, để chia xẻ những gánh nặng của nhau, và để hiểu thêm việc sống đạo Cơ Đốc.
17 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG liên quan đến những nhóm quí ông và quí bà trong Hội thánh
a Những nhóm như thế bắt nguồn từ gương mẫu do Đấng Christ lập ra trong việc chọn các môn đệ của Ngài.
b Những nhóm nầy nhân đôi và tăng cường việc giáo dục cho các nhóm người lớn khác
c Những nhóm nầy giúp giảm đi những chướng ngại do sự phân biệt về tình trạng hôn nhân
Như tác giả đã nêu ra tất cả những điều sau đây là mục đích của
những nhóm quí ông và quí bà NGOẠI TRỪ
a) Truyền bá Phúc âm cho cá nhân
b) Phát triển đời sống gia đình
c) Để có sự sống tăng trưởng và gây dựng
d) Những đề án phục vụ đặc biệt
Baøi töï kieåm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi
1 Một quan niệm sai về việc giáo dục người lớn trong Hội thánh là
a) khuôn mẫu học tập của người lớn khác với khuôn mẫu của trẻ em
b) cách thức để đến với người lớn là đến với trẻ em
c) giáo dục Cơ Đốc là trách nhiệm chung của Hội thánh và gia đình
d) vì khó đến với người lớn, chúng ta phải tập trung vào họ
2 Xét theo những nhu cầu của người lớn, những câu xem đây là hoàn toàn đúng NGOẠI TRỪ
a) có một số nhu cầu thật sự chung cho những người lớn.
b) nhu cầu cảm thấy đôi khi là những sự bóp méo của nhu cầu thật sự
c) người lớn thay đổi trong việc hiểu biết về những nhu cầu thật sự của họ
d) những nhu cầu thật sự của người lớn thay đổi đáng kể
3 Thích nghi với những thay đổi trong cơ thể thì đặc biệt quan trọng trong
a) thời kỳ tráng niên
b) thời kỳ trung niên
c) thời kỳ cao niên
4 Xây dựng những chiếc cầu cho những người chưa tin Chúa, đòi hỏi những người tin Chúa làm những việc sau đây NGOẠI TRỪ
a) học để tôn trọng người khác và lắng nghe họ
b) dựa vào tính tự nhiên để vượt qua những trở ngại văn hóa
c) tập trung vào tất cả những sinh hoạt của Hội thánh về Phúc âm cứu rỗi
d) tận hiến mình cho người khác trong tình yêu Đức Chúa Trời ban
5 Tác giả nhấn mạnh đến sự cần thiết của lòng mến khách theo tinh thần Kinh thánh trong:
a) giáo dục gia đình
b) giáo dục người lớn độc thân
c) giáo dục người cao niên
d) giáo dục quí ông và quí bà

CHỌN GIỮA ĐÚNG và SAI. Viết Đ trên khoảng trống trước mỗi câu ĐÚNG. Viết S nếu câu SAI
.... 6 Giáo dục cho người lớn là quan trọng thứ nhì so với việc giáo dục cho trẻ em vì dễ đem chúng đến với Đấng Christ hơn.
.... 7 Mục đích của việc giáo dục gia đình là trút bỏ hầu hết trách nhiệm của cha mẹ về việc huấn luyện con cái của mình theo những nguyên tắc Kinh Thánh
.... 8 Hình thức giáo dục người lớn để cung ứng nhân sự lãnh đạo cho những chương trình của trẻ em và thanh niên là việc giáo dục cho quí ông và quí bà
LỰA CHỌN GIỮA A VÀ B. Ghi nhận mỗi câu có liên quan đến việc truyền bá Phúc âm theo hình thức quan hệ
Viết A trên khoảng trống nếu câu đúng
Viết B trên khoảng trống nếu câu sai
...... 9 Đó là hình thức ít được ưa thích nhất đối với hầu hết những người
Cơ Đốc
.... 10 Dựa vào việc nói về Tin lành thay vì sống Tin lành
.... 11 Đòi hỏi thiết lập tình bằng hữu với những người chưa tin Chúa.
.... 12 Dựa vào việc đem mọi người đến những buổi nhóm ngoài trời của
chúng ta

XẾP CHO PHÙ HỢP. Theo chỉ dẫn cho mỗi loại câu hỏi
13 - 16 Xếp phần trích dẫn Kinh thánh bên phải) cho phù hợp với những lý do người lớn học hỏi Kinh thánh
.... 13 Tăng trưởng thuộc linh
.... 14 Dạy cho con cái của họ những
nguyên tắc Kinh Thánh
.... 15 Cung cấp lãnh đạo cho Hội thánh
.... 16 Giúp đỡ những người khác hiểu Phúc âm
a) Cong Cv 8:30-31
b) Eph Ep 6:4
c) IIPhi 2Pr 3:1
d) IITi 2Tm 2:22
17 - 21 Xếp những nhu cầu thật sự của người lớn cho phù hợp với những mô tả.
.... 17 Làm thỏa mãn những mối quan hệ
.... 18 Cảm thấy thuộc về một tập thể
.... 19 Sự tươi mới trong cuộc sống
.... 20 Coi trọng mình và cho mình là xứng đáng
.... 21 Tài năng và năng suất
a) tài năng
b) sáng tạo
c) tình thương
d) sự vững tâm
e) sự quan trọng
22 - 25 Xếp những hình thức giáo dục người lớn cho phù hợp với những nguyên tắc giáo dục
.... 22 Khuyến khích việc truyền bá
Phúc âm cá nhân
.... 23 Quan tâm đến giáo dục không kể đến
tình trạng hôn nhân
.... 24 Phối hợp việc huấn luyện của
Hội thánh và gia đình
.... 25 Sửa lại định ý sai lầm
a) giáo dục gia đình
b) giáo dục quí ông và quí bà
c) giáo dục người cao niên
d) giáo dục người độc thân
ÑAÙNH GIAÙ TIEÁN BOÄ HOÏC TAÄP 3
Tröôùc khi tieáp tuïc vôùi Baøi 10, haõy oân laïi töø Baøi 7 ñeán Baøi 9. Sau ñoù laáy baûn ñaùnh giaù tieán boä hoïc taäp 3, trong taäp taøi lieäu hoïc taäp cuûa baïn. Giöõ baûn traû lôøi cho giaûng vieân ICI cuûa baïn, cuøng vôùi nhöõng taøi lieäu khaùc ghi ngoaøi bìa taäp taøi lieäu cuûa baïn.
PHẦN GIẢI ĐÁP
1. a) Khuôn mẫu học tập của người lớn khác với khuôn mẫu của trẻ em
2. c) Giúp đỡ gia đình trong bổn phận của mình
3. Đức Chúa Trời tạo dựng Adam và Eva không có tội nhưng không hoàn hảo trong lãnh vực trưởng thành về mặt tâm linh. Ngài có ý định cho tất cả nam và nữ phát triển để trưởng thành về mặt tinh thần. Để được như thế chúng ta phải lớn lên trong sự hiểu biết về Chúa Jêsus Christ và nhờ đó đạt đến việc giống như Đấng Christ.
4. Những câu trả lời b,c và d là đúng
5. a 2) Người trung niên
b 1) Người tráng niên
c 3) Người cao niên
d 3) Người cao niên
e 2) Người trung niên
6. Bắt đầu với sự thánh thiện của Đức Chúa Trời và sự phạm tội của loài người; bao gồm xuống thế làm người sự hy sinh, sự chết và phục sinh của Đấng Christ; mời gọi người nghe đến với niềm tin, sự ăn năn, và sự tuân phục.
7. Những câu trả lời a, b, và d là đúng
8. Đưa ra những chương trình quan tâm đến những người chưa tin Chúa; dựa vào tính tự nhiên để vượt thắng những trở ngại văn hóa như tập quán ăn mặc; tận hiến bản thân mình và giới thiệu Đức Chúa Trời cho những người chưa tin Chúa
9. Xây dựng một chương trình giáo dục yểm trợ cho việc phát triển đời sống gia đình
10. a 2) Mối quan hệ giữa Hội thánh và gia đình
b 1) Huấn luyện cho cha mẹ
c 3) Việc điều hành chương trình
d 1) Huấn luyện cho cha mẹ
e 3) Việc điều hành chương trình
f 2) Mối quan hệ giữa hội thánh và gia đình
g 2) Mối quan hệ giữa hội thánh và gia đình
h 1) Việc điều hành chương trình
11. Họ bao gồm những người lớn đủ hạng tuổi, chưa bao giờ lập gia đình, đã ly dị hay góa bụa. Chỉ có mỗi một điều lôi kéo họ lại với nhau là tình trạng hôn nhân của họ
12. 1) Xếp những người có gia đình và những người độc thân lại trong cùng nhóm, 2) gồm những người độc thân trong những nhóm quí ông quí bà, 3) Xây dựng những chương trình người lớn độc thân được phát triển tốt.
13. 6) Phân cách nhưng bình đẳng
14. d) Nhớ lại cuộc sống phí phạm
15. Họ muốn rút lui khỏi các sinh hoạt, họ không thể học hỏi; họ sẽ chết ngay sau khi về hưu; họ khó thay đổi nếp suy nghĩ.
16. Người cao niên phải biểu lộ việc sống thánh thiện và giảng dạy, Hội thánh phải quan tâm đến họ trong việc giáo dục bao gồm hành động cầu nguyện và thăm viếng những ai ốm yếu, cho họ tài liệu, băng ghi âm, v.v... để giúp đỡ họ.
17. Những câu trả lời a và c là đúng
18. b) Việc phát triển đời sống gia đình

PHÁT TRIỂN NHỮNG LÃNH ĐẠO KHÔNG CHUYÊN:
Những chương trình huấn luyện cho những người lãnh đạo và các thầy giáo
Bài thơ sau đây của George Liddle mô tả một cách lôi cuốn về việc tìm ra những người thích hợp để phục vụ trong Hội thánh thì quan trọng như thế nào.
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Mà niềm tin làm chủ tâm hồn anh ta
Và tôi sẽ sửa chữa những sai lầm
Và đem lại phước hạnh cho cả nhân loại
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Mà lửa thiên đường chạm đến lưỡi
Và tôi sẽ làm cháy sáng lên những trái tim u tối nhất
Với quyết tâm cao và lòng khao khát thanh sạch
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Một tiên tri vĩ đại của Đức Chúa Trời
Và tôi sẽ cho bạn hòa bình trên địa cầu
Thực hiện bởi lời cầu nguyện chứ không phải bằng gươm giáo
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Trung thành với khải tượng anh ta nhìn thấy
Và tôi sẽ xây dựng những thánh đường bị đổ vỡ của bạn
Và khiến muôn nước qui phục Chúa
Điều chúng ta sẽ khám phá trong bài học nầy là phải nổ lực mới có thể tìm ra những người lãnh đạo và nhân viên thích hợp. Nhưng tuyển mộ chỉ là một phần của nổ lực. Chúng ta còn phải huấn luyện nhân viên cho việc phục vụ. Những chương trình huấn luyện nên là một bộ phận giáo dục đang diễn tiến của Hội thánh.
Dàn bài
Nhu cầu cho việc huấn luyện lãnh đạo
Tuyển chọn thầy giáo
Những nguyên tắc huấn luyện
Nội dung chương trình huấn luyện
Chuẩn bị cho những buổi huấn luyện
Phương pháp huấn luyện
Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn có thể:
Giải thích tại sao cần phải huấn luyện lãnh đạo
Mô tả việc tuyển chọn nhân viên như thế nào và phải tìm kiếm điều gì
Ghi nhận những nguyên tắc huấn luyện, nội dung của những chương trình huấn luyện, cách thức chuẩn bị cho những buổi huấn luyện, và những phương cách huấn luyện.
Quyết định tham gia vào việc huấn luyện nhân viên đang diễn tiến trong Hội thánh của bạn.
Sinh hoạt học tập
Học bài theo từng phần, theo những chỉ dẫn trong bài 1
Phải nhớ ra phần ngữ vựng để tìm nghĩa của từ ngữ chủ yếu mà bạn
không biết.
Học 10 nguyên tắc của một chương trình huấn luyện tốt
Đọc kỹ 10 lãnh vực của nội dung trong một chương trình huấn luyện.
Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học nầy và kiểm soát kỹ những câu trả lời của bạn với những câu đã cho trong tập tài liệu học sinh. Ôn lại những đề mục bạn trả lời sai.

Từ ngữ quan trọng
chương trình làm việc
cơ sở hợp lý
sự trì trệ
Khai triển bài học
MỤC TIÊU 1: Mô tả phạm vi nhu cầu huấn luyện lãnh đạo trong Hội thánh.
NHU CẦU HUẤN LUYỆN LÃNH ĐẠO
Hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ giáo dục của Hội thánh rất lớn. Mục sư và một vài lãnh đạo được huấn luyện không thể tự mình cán đáng tất cả những gì đòi hỏi. Mỗi Hội thánh cần rất nhiều nhân viên không chuyên để giúp đỡ hoàn thành nhiệm vụ. Những người nầy phải được huấn luyện.
Bất cứ ai giảng dạy trong một hệ thống trường công đều phải được huấn luyện về nội dung và phương pháp ở một đại học qua một thời gian vài năm. Thế nhưng Hội thánh thường đặt những người không chuyên môn tự nguyện vào những vị trí lãnh đạo mà không có đến một bản mô tả công việc được viết tay, nói chi đến việc huấn luyện đầy đủ.
Mặc dù trong bài học nầy chúng tôi tập trung vào những nhân viên giáo dục, nhưng mỗi nhân viên trong Hội thánh đều cần đựơc huấn luyện. Những cán sự của Hội thánh cần được hướng dẫn đọc sách và tự học cũng như huấn luyện tại chỗ về những lãnh vực chuyên môn của họ như tài chánh, truyền giáo, truyền bá phúc âm, hay thăm viếng. Giáo viên của những cơ quan giáo dục cần được huấn luyện về nội dung, những yếu tố phát triển cần lưu ý, và những phương pháp giảng dạy. Hiệu quả toàn diện của chương trình giáo dục của Hội thánh dựa vào khả năng truyền đạt lời Đức Chúa Trời của các thầy giáo.
Bất cứ ai tham gia vào những buổi nhóm thờ phượng để hướng dẫn thờ phượng chung cầu nguyện, nhận tiền dâng , hay phụ giúp ban tiệc thánh cần huấn luyện. Lãnh đạo và nhân viên trong bộ phận giáo dục Nam và Nữ cần huấn luyện.
Chúa Jesus đã bỏ ra nhiều năm huấn luyện cho 12 môn đồ về lãnh đạo. Chúa không đặt Hội thánh của Ngài trong tay của những người không được huấn luyện. Đây là trách nhiệm của Ban giáo dục Cơ Đốc trong mỗi Hội thánh để cung cấp huấn luyện cho tất cả các chức vụ lãnh đạo trong tất cả các chương trình và sinh hoạt của Hội thánh. Theo sứ đồ Phao lô tất cả dân Đức Chúa Trời phải được chuẩn bị cho công việc phục vụ (Eph Ep 4:12).
1 Mô tả phạm vi nhu cầu cho việc huấn luyện lãnh đạo
................
...............
2 Theo tác giả trách nhiệm huấn luyện những nhân viên không chuyên trong Hội thánh thuộc về.
a) bản thân các nhân viên
b) Ban giáo dục Cơ Đốc
c) Giám đốc giáo dục Cơ Đốc
d) Mục sư

TUYỂN CHỌN THẦY GIÁO
Mục tiêu 2: Giải thích Làm cách nào để tuyển mộ nhân viên.
Làm sao thực hiện được điều đó
Bắt đầu bằng cầu nguyện. Đức Chúa Trời khao khát thấy Hội thánh của Ngài được phát triển và củng cố hơn chúng ta mong ước. Đức Chúa Trời biết những nhu cầu hơn chúng ta biết. Chúng ta cần xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến (LuLc 10:2) và trang bị cho những người Ngài sai đến. Sau khi cầu nguyện rồi chúng ta bắt dầu tìm kiếm.
Biết những người lớn trong Hội thánh của bạn. Được biết từng cá nhân họ càng nhiều càng tốt. Nếu Hội thánh rất rộng, bạn phải nhờ vào sự giúp đỡ của người khác để nhận biết những ân tứ và khả năng của tất cả thành viên trong Hội thánh. Trong số những sự ân tứ của Thánh linh được kể ra trong Rôma 12: 6-8 là ân tứ giảng dạy. Thật hữu ích để biết trước khi tuyển chọn, là một người có ân tứ giảng dạy. Đặt biệt cần biết những người tham dự một cách trung thành những lớp trường Chúa nhật của người lớn. Nói chuyện với họ trước về công việc cần người. Cách đó bạn có thể bắt đầu huấn luyện họ trước thời gian.
Tôi thấy việc công bố cần thầy giáo từ bục giảng là không hiệu quả lắm. Mọi người không muốn tự nguyện. Hơn nữa, nếu có ai đó tự nguyện và bạn nghĩ rằng anh ta không thể là một thầy giáo tốt, bạn lại rơi vào một tình huống khó xử.
Biết những yêu cầu đặc trưng cho mỗi chức vụ lãnh đạo trong trường học Hội thánh của bạn. Chuẩn bị một bản mô tả công việc để làm rõ điều gì cần ở mỗi nhân viên tương lai. Ghi thêm vào đó những chính sách của Hội thánh và những tiêu chuẩn cho mỗi chức vụ. Điều nầy giúp ngăn ngừa những sự hiểu lầm về sau và sẽ giúp mỗi người được tuyển chọn thành một nhân viên có hiệu quả hơn.
Đến với mọi người bằng một thái độ tích cực. Đừng van xin họ nhận việc vì có nhiều chỗ trống, hay vì đó là bổn phận của họ. Ngược lại, hãy gợi ý cho họ trở thành một phần của bộ phận giáo dục của Hội thánh. Giải thích cho họ ân tứ thiêng liêng hoạt động ra sao. Những người thiếu tự tin thấy rằng khó mà tin là Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ một ân tứ thiêng liêng. Những người khác, sẵn lòng phục vụ hơn, thì lại thiếu huấn luyện và kinh nghiệm. Hãy khuyến khích những người nhút nhát và giúp huấn luyện cho những người thiếu kinh nghiệm.
3 Hai điều mà người tuyển nhân viên phải biết là gì?
........................
........................
4 Khi tuyển chọn người cho các chức vụ, chúng ta nên
a) Kêu gọi những người tự nguyện từ bục giảng
b) Van xin họ vào làm ở chỗ trống
c) Thông báo mọi người về nhiệm vụ của họ để giúp Hội thánh
d) Gợi ý cho họ tham gia

Muïc tieâu 3: Ghi nhaän nhöõng tieâu chuaån phaûi coù nôi caùc thaày giaùo.
Tìm kiếm điều gì
Sự trưởng thành thuộc linh. Hiển nhiên rằng một thầy giáo tương lai cần trưởng thành về mặt thuộc linh. Anh ta phải yêu mến Đức Chúa Trời , yêu mến Hội thánh, và yêu mến những người hư mất. Anh ta phải trung thành lúc ở nhà, khi nhóm với Hội thánh, khi cầu nguyện, trong cuộc sống hiến dâng, và trong sự phục vụ. Anh ta phải là một người có nhân cách đạo đức tốt và có tiếng tốt trong Hội thánh và trong cộng đồng. Anh ta phải là một người mà bông trái của Thánh linh được thấy rõ, anh ta không phải là con đỏ trong Đấng Christ, nhưng là một người đã học hỏi kỹ lưỡng về lời Đức Chúa Trời.
Ước muốn tiến bộ. Trước khi xét một người có thể trở thành thầy giáo không, chúng ta phải quả quyết về lòng nhiệt tình của anh ta và ước muốn tiến bộ. Chúng ta phải cảnh giác với sự trì trệ. Một người về mặt tâm linh và tâm trí có vươn tới những đỉnh cao hơn và những chiều sâu hơn ? Cái chúng ta có là Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Cái chúng ta trở nên là tặng phẩm dâng cho Đức Chúa Trời.
Năng lực. Người thầy giáo phải biết mình dạy gì, phải dạy cho ai, và dạy như thế nào. Nói cách khác, anh ta phải hoàn toàn quen thuộc với sách giáo khoa của trường Hội thánh ( Kinh thánh), nhóm tuổi của học sinh ( đặc điểm của họ), và phương pháp - tốt nhất để giảng dạy. Đây là lý do tại sao điều quan trọng là Hội thánh cần cung cấp những tài liệu giáo trình được soạn rất tốt. Những tác giả và những chủ biên của tài liệu nầy là chuyên viên về thần học, về các yếu tố phát triển, và phương pháp học của trường Hội thánh.
Sự cộng tác . Người thầy giáo phải hợp tác trong chương trình tổng thể của Hội thánh. Anh ta phải sẵn lòng làm việc với những người khác và dưới quyền những người có chức vụ giám sát. Anh ta phải tham dự những buổi huấn luyện, buổi hội thảo chung, và tất cả buổi nhóm của Hội thánh. Trong thị trường việc làm ngoài đời, có nhiều người bị đuổi việc vì thiếu sự am hiểu về xã hội và thiếu khả năng để thuận hoà với những người khác cũng như thiếu kiến thức hay năng lực về kỹ thuật. Chúng tôi đề cập đến điều nầy để nhấn mạnh rằng trường học Hội thánh với những người có khả năng nhưng không có tinh thần hợp tác và cố chấp, thì sẽ không hữu ích hơn như một trường học với những người khả năng kém hơn nhưng có tinh thần hợp tác, khoan dung, và thông cảm.
Nhiệt tình. Nhiệt tình là một phẩm chất của tâm tư tiêu biểu cho một con người cảm thấy vui khi theo đuổi một mục đích.Nó có thể được phát hiện qua cử chỉ của cánh tay, bàn tay, đổi giọng nói và biểu lộ trên khuôn mặt. Nó có thể ảnh hưởng đến những người khác rất nhiều cho đến nỗi họ trở nên thích thú với những việc mà trước đây họ nhận thấychẳng thú vị. Nhiệt tình quan trọng cho người thầy giáo để thực hiện chức năng một cách hữu hiệu. Người lớn có thể khoan dung với một người thầy giáo thiếu nhiệt tình và trẻ em phải chịu đựng một người thầy như thế bởi vì họ không thể thay đổi được hoàn cảnh của mình. Nhưng thanh niên thì lại xa cách Hội thánh hơn là phải chịu đựng một người thầy giáo thiếu nhiệt tình.
Sự tận tụy. Một người tận tụy sẽ sẵn lòng ký tên vào bảng đề cương cho công việc và trách nhiệm của anh ta. Đề cương bao gồm những việc như cầu nguyện xin Đức Chúa Trời hướng dẫn, luôn hiện diện, đúng giờ, yểm trợ Hội thánh nói chung, chuẩn bị đầy đủ cho mỗi bài học, tham dự những buổi họp nhân viên, lo việc lưu trữ hồ sơ và thăm viếng.
5 Xếp khả năng thầy giáo cho phù hợp với mô tả
.... a Sẵn sàng làm việc dưới sự giám sát
.... b Được hướng dẫn huấn luyện tốt về lời Đức Chúa Trời
.... c Cam kết thực hiện cái bổn phận và trách nhiệm
.... d Trở nên một thầy giáo hữu hiệu hơn
.... e Nắm vững nội dung, tâm lý và phương pháp
.... f Vui thú khi theo đuổi mục đích
1) Trưởng thành thuộc linh
2) Muốn tiến bộ
3) Năng lực
4) Sự cộng tác
5) Nhiệt tình
6) Tận tụy
Mục tiêu 4: Ghi nhận 10 nguyên tắc định rõ một chương trình huấn luyện tốt.
NHỮNG NGUYÊN TẮC HUẤN LUYỆN
Những thầy giáo và những lãnh đạo mới cần định hướng chương trình giáo dục, cần một cơ sở hợp lý để thực hiện những việc theo cách thức chúng phải được thực hiện , và việc huấn luyện các phương pháp. Những thầy giáo hiện nay cần kỹ năng của họ và kiến thức thường xuyên nâng cao trong những lãnh vực triết học giáo dục, nguyên tắc tổ chức, mục tiêu của trường Chúa nhật, và những nền tảng để học riêng một mình như thế nào. Một chương trình huấn luyện tốt được định rõ bởi những nguyên tắc nầy.
1. Lòng sốt sắng là một điều kiện bắt buộc. Một nhân viên không được huấn luyện nhưng sốt sắng chân tình thì đáng mong ước hơn là một nhân viên được huấn luyện ở mức độ cao nhưng không sốt sắng. Một người cống hiến thật sự sẽ sẵn lòng muốn đào tạo để tiến bộ.

2. Những nhân viên trường học Hội thánh là tự nguyện, không thể ra lệnh cho họ tham dự những buổi huấn luyện như ra lệnh cho một thầy giáo trường công. Nhân viên Hội thánh phải được hướng dẫn để hiểu rằng công việc của anh là công việc tình thương. Anh ta phải được dạy để hiểu mục đích của mình cũng như thực hành công việc như thế nào. Anh ta phải được hướng dẫn để làm công việc của mình như một tôi tớ của Đức Chúa Trời.
3. Nhân viên không cần phải được huấn luyện đầy đủ trước khi bắt tay vào công việc của mình. Huấn luyện tốt nhất cho anh ta chính là kinh nghiệm tại chỗ. Tuy nhiên, anh ta cần phải có những tiêu chuẩn mong muốn, và huấn luyện trước càng nhiều càng tốt.
4. Chương trình huấn luyện là một hoạt động thường xuyên và liên tục. Nó không chỉ là một ” khóa huấn luyện” thỉnh thoảng xảy ra. Khi một thầy giáo được tuyển chọn, Hội thánh nên nói rõ kế hoạch của mình để trang bị cho thầy giáo đó đi đến thành công. Tất cả nổ lực huấn luyện nên chọn lựa kỹ lưỡng để tăng cường cho kế hoạch đó.
5. Mỗi nhân viên đều phải tham dự huấn luyện. Không một ai, thậm chí cả Mục sư có thể cho là đã được huấn luyện đầy đủ. Sự quan tâm và nhiệt tình của tất cả nhân viên là thiết yếu.
6. Chúng ta đòi hỏi mỗi nhân viên phải có ham muốn tiến bộ và sẵn lòng để học hỏi và làm việc.Khi một nhân viên ngừng tiến bộ, anh ta bắt đầu thất bại. Hội thánh bị cản trở vì có những nhân viên cứ nghĩ rằng họ làm việc như thế là tốt rồi và do đó không muốn được huấn luyện.
7. Việc huấn luyện cần được kết hợp với mức tuổi. Mặc dù những nguyên tắc để học tập là thiết yếu phải như nhau cho các lứa tuổi và nhóm, nhưng thật khó để áp dụng cụ thể những nguyên tắc nầy khi những thầy giáo dạy các em mẫu giáo và những thầy giáo dạy cho thanh niên lại cùng nhóm, chẳng hạn.
8. Huấn luyện phải thực hiện. Chỉ hiểu biết những đặc điểm của học sinh và những nguyên tắc học tập mà thôi sẽ không bảo đảm chất lượng giảng dạy tốt hơn. Điểm quan trọng của bất cứ khóa huấn luyện nào là phải đem áp dụng vào những bài học sắp tới.
9. Huấn luyện phải đi song song với giáo trình. Huấn luyện và giáo trình phải đi đôi với nhau. Thí dụ, một buổi huấn luyện về việc đáp ứng với những nhu cầu của trẻ em nên khai triển những thí dụ trong những bài học sắp tới. Nếu có cách chỉ nam dành cho thầy giáo, nên giải thích sự ích lợi của nó.
10. Huấn luyện phải dựa trên kinh nghiệm. Trong các khóa huấn luyện nên để những nhân viên tham dự chú tâm đến việc thực tập những kỹ năng họ đang được huấn luyện để sử dụng. Giải thích hay thậm chí biểu minh cách sử dụng các tài liệu học tập vẫn chưa đủ. Các thầy giáo cần phải thực tập với chính những tài liệu nầy cho đến khi họ cảm thấy thoải mái để sử dụng chúng. Sau đó các thầy giáo có thể dùng thử các tài liệu nầy trong các lớp học của họ.
6 Tác giả đề nghị rằng nên nâng cấp kỹ năng giảng dạy của thầy giáo trong ban giảng dạy hiện nay của bạn
a) thỉnh thoảng
b) liên tục
c) mỗi năm một lần
d) Khi có thêm các thầy giáo
7 Tất cả các thầy giáo lãnh đạo của trường Chúa nhật cần huấn luyện về
a) triết lý giáo dục cơ bản
b) những nguyên tắc tổ chức
c) những mục tiêu của trường Chúa nhật
d) học riêng một mình như thế nào
e) tất cả những điều trên
8 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu đúng liên quan đến những nguyên tắc cho một chương trình huấn luyện tốt.
a Việc huấn luyện thầy giáo phải là một kinh nghiệm thực hành để các thầy giáo thực hành với chính những tài liệu học tập.
b Thật khó áp dụng những nguyên tắc đặc thù khi tất cả các thầy giáo của Hội thánh lại ở cùng trong nhóm huấn luyện.
c Tác giả nói rằng buộc các thầy giáo trong trường học Hội thánh tham dự các buổi huấn luyện thì dễ dàng như buộc các thầy giáo trường công
d Một thầy giáo phải được huấn luyện đầy đủ trước khi anh ta bắt đầu dạy là cần thiết.
e Tác giả nói rằng thỉnh thoảng có một buổi huấn luyện dành hoàn toàn cho những vấn đề thiên về lý thuyết thì chấp nhận được.
f Huấn luyện mà không kết hợp với giáo trình thì không có giá trị như
đáng ra phải có.
Mục tiêu 5: Ghi nhận 10 nội dung nên có trong chương trình huấn luyện của Hội thánh.
NỘI DUNG CỦA MỘT CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN
Mặc dù không có một bản liệt kê những nội dung chính nào là đầy đủ, cũng như không có một bản liệt kê nào thỏa mãn tất cả các lãnh đạo của Hội thánh, nhưng 10 lãnh vực sau đây nên có trong những chương trình huấn luyện lãnh đạo của Hội thánh địa phương (Gan gel, các trang 403-405).
1. Nội dung Kinh thánh. Các nhân viên phải có một kiến thức đầy đủ về Kinh thánh. Những chương trình huấn luyện nên tập trung vào thông tin trong Kinh thánh cũng như vào việc học hỏi Kinh thánh như thế nào. Các nhân viên cần đi đến điểm quan trọng về khả năng học hỏi lời Đức Chúa Trời cho mình và hướng dẫn những người khác trong tiến trình nầy.
2. Thần học. Các nhân viên cần phải biết những tín lý cơ bản của đạo Cơ Đốc cũng như những giáo lý nổi bật của giáo phái mình.
3. Lịch sử Hội thánh, truyền giáo, và những giáo phái. Việc học hỏi về lịch sử Hội thánh cho các nhân viên biết về sự phát triển của Hội thánh. Nó giúp cho họ hiểu tại sao có nhiều nhóm Cơ Đốc khác nhau và tránh không phạm những sai lầm tương tự đã làm trong quá khứ. Cho các nhân viên biết về việc truyền giáo đang tiến hành vì sự phát triển mau lẹ của Hội thánh khắp thế giới ngày nay. Đồng thời có nhiều học thuyết sai lầm đang gia tăng và các nhân viên cần được thông tin về những giáo phái khác nhau. Họ cần khả năng đối đầu với điều dối trá bằng Chân lý của lời Đức Chúa Trời.
4. Thái độ con người. Trong những bài học trước chúng ta đã thảo luận về những yếu tố phát triển khác nhau cần lưu ý những lứa tuổi khác biệt. Các nhân viên phải biết mình trông đợi điều gì từ các học sinh của họ.
5. Triết học là những nguyên tắc giáo dục. Nếu các nhân viên muốn có hiệu quả trong việc giảng dạy thì họ phải biết tất cả những gì họ có thể về tiến trình học tâp giảng dạy. Sau đó họ có thể từng bước đẩy mạnh việc học tập đang diễn tiến trong các lớp của họ
6. Tổ chức và cơ cấu. Nhân viên ở các cấp cần phải biết liên kết với những người khác như thế nào. Cấp dưới cần phải biết ai để báo cáo và cấp trên phải biết ai để giám sát. Phân chia quyền hành rõ ràng sẽ giảm việc dẳm chân lên nhau .
7. Những phương pháp giảng dạy và phương tiện truyền thông. Những phương pháp giảng dạy cũng quan trọng như nội dung. Các thầy giáo phải chọn những cách sử dụng tài liệu phù hợp cho cả nội dung và những học sinh được giảng dạy. Các thầy giáo cần có khả năng lựa chọn từ một vài phương pháp giảng dạy và đồng thời có kỹ năng sử dụng những trợ huấn cụ thính thị.
8. Thăm viếng và truyền bá Phúc âm. Các thầy giáo phải đến thăm học sinh của mình để giúp xây dựng mối liên hệ. Họ cần biết phải ở lại bao lâu và nói những gì. Điều nầy sẽ giúp họ làm điều tốt hơn làm điều có hại. Đồng thời họ cần được huấn luyện trong việc chia xẻ Phúc âm để hướng dẫn một người nào đó đến với Đấng Christ ngoài môi trường Hội thánh.
9. Âm nhạc Hội thánh. Những ai hướng dẫn thờ phượng, chơi các nhạc cụ, hay hát những bài ca đặc biệt cũng được đến trong những lớp huấn luyện những lãnh đạo của Hội thánh. Cho dù một người có tài năng về âm nhạc như thế nào đi nữa, anh ta không thể đến Hội thánh chỉ để trình diễn. Đúng hơn, âm nhạc Hội thánh phải được xem như là một bộ phận của giáo dục phải được hội nhập và kết hợp với toàn bộ chương trình giáo dục.
10. Huấn luyện cho các cơ quan chuyên môn. Những lãnh đạo liên quan đến các bộ phận giáo dục như giáo dục quí bà, giáo dục quí ông, giáo dục thanh niên, và những nhóm con trai và con gái, đều cần huấn luyện qua những khóa lãnh đạo chuyên môn. Những khóa nầy có thể được thực hiện trong khung cảnh nhóm hay khóa học hàm thụ.
9 Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu đúng liên quan đến nội dung của các chương trình huấn luyện cho lãnh đạo của Hội thánh.
a Để đẩy mạnh việc học tập trong các học sinh của họ, nhân viên cần huấn luyện về tổ chức và hành chánh
b Để được hài hòa với đức tin của Hội thánh, nhân viên cần huấn luyện về thần học
c Nếu các thầy giáo quen với một lối giảng dạy, họ không cần học những phương pháp khác, chúng chỉ làm cho họ nổi lên thôi.
d Tốt nhất đừng cho các nhân viên biết đến những giáo huấn của các giáo phái khác nhau cốt để họ không bối rối.
e Nhân viên cần những đường lối chỉ đạo đặc trưng cho việc thăm viếng gia đình học sinh của mình và chia xẻ niềm tin của họ với những người khác.
f Một vài nhân viên cần những khóa lãnh đạo chuyên môn ngoài những khóa huấn luyện khác.
g Người ta mong rằng các nhân viên sẽ tự học Kinh Thánh và không cần đến những lớp về nội dung Kinh thánh.
h Nhân viên cần quen với những yếu tố phát triển theo mức tuổi để giúp họ biết cách liên kết với học sinh của mình như thế nào.
10 Xếp những khóa huấn luyện cho phù hợp vơí những lãnh vực của nội dung. Mặc dù có thể có một số trùng lặp với một vài khóa học, nhưng hãy xếp cho mỗi câu được phù hợp nhất.
.... a Cải tiến trường học Hội thánh như thế nào.
.... b Cuộc đời của Đấng Christ
.... c Giúp đỡ người lớn học tập
.... d Hiểu biết trẻ em
.... e Đức tin Cơ Đốc
.... f Gia đình và Hội thánh cùng làm việc
.... g Lịch sử giáo phái của chúng ta
.... h Giúp trẻ em tăng trưởng trong
1) Nội dung Kinh thánh
2) Thần học
3) Lịch sử Hội thánh, truyền giáo và các giáo phái
4) Thái độ con người
5) Triết học và những nguyên tắc giáo dục
6) Tổ chức và hành chánh
7) Phương pháp giảng dạy và phương tiện truyền thông Phúc âm
8) Thăm viếng và truyền bá đức tin Cơ Đốc

Muïc tieâu 6. Ghi nhaän nhöõng ñieàu caàn laøm ñeå chuaån bò cho nhöõng buoåi huaán luyeän.
CHUẨN BỊ CHO NHỮNG BUỔI HUẤN LUYỆN
Nói chung, những thành viên của Ban giáo dục Cơ Đốc thực hiện những buổi huấn luyện. Thành công của những buổi huấn luyện tùy thuộc vào việc họ chuẩn bị cho những buổi nầy như thế nào.
1. Xếp đặt kỷ ngày tháng trước. Thiết lập một ngày thường xuyên trong tháng chẳng hạn như thứ ba đầu tiên trong tháng. Điều nầy sẽ giúp việc lập thời biểu không trùng với những sinh hoạt khác của Hội thánh.
2. Phải chắc rằng các thầy giáo biết về ngày tháng và sau đó nhớ nhắc nhở họ. Ngày Chúa nhật trước các buổi huấn luyện là thời gian tốt để nhắc nhở họ. Tránh những buổi huấn luyện được thông báo vội vã. Thường thì người ta không đến dự những buổi huấn luyện đó.
3. Phải chắc rằng các thầy giáo của bạn biết tại sao sự hiện diện của họ là cần thiết. Giải thích những buổi huấn luyện sẽ đem lại lợi ích như thế nào nếu họ đến dự và sự hiện diện của họ sẽ đóng góp cho việc phát triển của người khác như thế nào.
4. Giao công việc chuẩn bị. Khi họ đến chuẩn bị sẵn, thì những buổi huấn luyện mà mọi người chỉ đơn giản đến thôi. Ngoài ra, những công việc khác ( chẳng hạn như bài đọc trước ở nhà) sẽ làm tăng thêm tinh thần trách nhiệm, đến tham dự của những người tham gia.
5. Giúp đỡ các thầy giáo giải quyết những vấn đề có thể xảy ra. Phương tiện chuyên chở và chăm sóc trẻ em là hai vấn đề thông thường ngăn cản họ đến dự. Phát triển một kế hoạch để đối phó với các vấn đề nầy.
6. Chuẩn bị một chương trình làm việc thực tế cho khóa huấn luyện Xác định rõ những tiết mục được ghi vào chương trình cho biết khoảng thời gian có thể cho mỗi mục. Đưa chương trình làm việc cho tất cả các thầy giáo để họ biết khóa huấn luyện đã tới phần nào.
7. Loại trừ những yếu tố có thể làm lạc hướng buổi huấn luyện ra khỏi mục đích và kế hoạch huấn luyện. Thí dụ, sửa lại những bảng thông báo, dọn dẹp sạch sẽ, hay tổ chức đi du ngoạn cho trường Chúa nhật là tất cả những sinh hoạt đáng giá, nhưng những sinh hoạt nầy không được phép thay thế cho thời gian huấn luyện đã được sắp xếp.
8. Khởi sự và chấm dứt đúng giờ. Hãy cám ơn những ai đến tham dự thay vì chán nản bởi những người không đến. Viết ra tất cả những quyết định và nhiệm vụ.
11 Tác giả đề nghị tất cả những điều sau đây để chuẩn bị cho những
buổi huấn luyện NGOẠI TRỪ
a) Mở buổi nhóm chung cho cả hội thánh
b) Loại trừ những yếu tố có thể làm lạc hướng buổi huấn luyện
c) Xếp đặt kỷ ngày tháng trước
d) Chuẩn bị một chương trình làm việc thực tế
e) Khởi sự và chấm dứt đúng giờ.
12 Liệt kê 5 điều cần làm để mọi người đến tham dự đông đủ buổi huấn luyện sử dụng sổ tay của bạn
Mục tiêu 7: Mô tả những phương pháp huấn luyện khác nhau
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN
Hội thánh cung cấp càng nhiều phương pháp huấn luyện, thì việc huấn luyện càng tốt hơn. Sáu phương pháp đầu tiên mà chúng ta sẽ thảo luận dưới đây được sử dụng trong Hội thánh địa phương.
1. Những khóa huấn luyện hàng năm. Các Hội thánh lập thời biểu cho những buổi huấn luyện trong nhiều cách: cuối tuần ( tối thứ sáu và sáng thứ bảy hoặc cả ngày thứ bảy), một tuần (4 đêm liên tiếp), hay một tháng (4 tuần lễ, mỗi tuần một buổi huấn luyện). Mặc dù huấn luyện hàng năm thì tốt hơn là chẳng huấn luyện gì cả, nhưng theo ý kiến của tôi như thế chưa đủ. Quá nhiều thời gian trôi qua giữa những thời kỳ huấn luyện để rồi những gì được học năm qua thì hầu như đã quên mất đi vào lúc thời kỳ huấn luyện kế tiếp.
2. Những buổi huấn luyện hàng tháng. Việc huấn luyện được lập thời biểu ít nhất mỗi tháng một lần sẽ tạo sự phát triển và tiến bộ có ý nghĩa và các thầy giáo làm việc với nhau trên một cơ sở đều đặn. Nếu trường học Hội thánh được giao cho 1 người trách nhiệm, thì những buổi huấn luyện nên được tổ chức trên cơ sở giao trách nhiệm. Chương trình làm việc cho một buổi huấn luyện 2 tiếng nên gồm có những tiết mục sau đây ( khoảng 30 phút cho mỗi tiết mục).
Bắt đầu là việc trao đổi với nhau. Gồm việc học hỏi Kinh thánh căn cứ trên đoạn Kinh thánh cho đơn vị học tập kế tiếp, cho thấy nó áp dụng vào đời sống cá nhân như thế nào. Chia xẻ những mối quan tâm và những đắc thắng của cá nhân và kết thúc bằng cầu nguyện.
Cung cấp một phần bài học về trau dồi kỹ năng của thầy giáo.Tập trung vào một lãnh vực đặc trưng mỗi tháng. Cho các thầy giáo tham gia vào những sinh hoạt và thảo luận để trao dồi ngay khía cạnh giảng dạy đó. (Phần nầy và phần trước có thể được tất cả các thầy giáo cùng nhau thực hiện).
Duyệt trước đơn vị học tập kế tiếp. So sánh những mục tiêu đơn vị học tập với những mục tiêu cho mỗi bài học, Kiểm tra những đoạn Kinh thánh được học. Chọn lọc và thực tập những bài hát giúp hoàn thành những mục tiêu đơn vị học tập. Chọn những sinh hoạt học tập Kinh thánh được sử dụng. (Phần nầy và phần kế tiếp được các thầy giáo từ mỗi ban thực hiện, gặp nhau trong những nhóm riêng biệt)
Thực hiện giáo án. Cùng làm việc để hoàn tất giáo án cho bài học nhất của đơn vị học tập. Kiểm tra tất cả sinh hoạt, phương thức, và tài liệu cần thiết. Mục tiêu là các thầy giáo thực hiện bước khởi đầu tốt cho một tháng bài học.Họ sẽ hoàn tất những bài học kế tiếp của đơn vị học tập tại nhà.
3. Những buổi huấn luyện cho kế hoạch hàng tuần. Nhiều Hội thánh nhận thấy việc lập kế hoạch của mình trở nên hữu ích hơn khi các thầy giáo gặp gỡ mỗi tuần để lập kế hoạch cho bài học Chúa nhật kế tiếp . Trao đổi với nhau và soạn giáo án là điểm nổi bật của những buổi họp nầy. Trước khi khởi sự mỗi đơn vị học tập mới thì duyệt trước đơn vị học tập. Những phần trao dồi kỹ năng cũng được đề cập đến để đáp ứng những nhu cầu đặc thù. Nói chung, một giờ là thời gian đủ cho những buổi huấn luyện nầy.
4. Huấn luyện đặc biệt. Học viện, hội thảo, hội dự chuyên đề, bệnh viện chuyên khoa, và những trường học có phòng thử nghiệm có thể được tổ chức để thêm vào hay liên kết với những buổi lập kế hoạch thường xuyên. Những buổi huấn luyện có thể kéo dài 1 hay 2 ngày, hoặc lâu hơn và gồm những buổi họp chung cũng như những buổi họp có quan tâm đặc biệt. Đôi khi những buổi huấn luyện nầy là hoạt động hợp tác giữa 2 hay nhiều Hội thánh trong khu vực. Những lãnh đạo giáo phái hay khoa đại học Kinh thánh có thể chỉ đạo những buổi huấn luyện nầy.
Học viện và hội thảo chuyên về giới thiệu những phương pháp giảng dạy. Bệnh viện và hội nghị lo việc phân tích những nan đềà của trường học của Hội thánh để khám phá những yếu điểm và đưa ra những đề nghị để khắc phục. Những trường học có phòng thử nghiệm giúp thực hành các tài liệu học tập mới. Điều quan tâm là những cái tên gợi ý một chương trình huấn luyện đặc biệt mà các thầy giáo không muốn để lỡ cơ hội.
5. Giảng dạy cho từng cá nhân. Việc huấn luyện từng cá nhân nầy đặc biệt hữu ích cho nhân viên mới và các thầy giáo dự bị. Không nên thay thế cho các hình thức huấn luyện khác. Nhưng khi những hình thức huấn luyện khác không có sẵn, thì nó thật cần thiết. Nó mang những hình thức :1) Dạy phụ đạo. Có thể là mục sư hay hiệu trưởng trường Chúa nhật tư vấn với thầy giáo. 2) Học nghề. Một thầy giáo mới được huấn luyện bằng cách dự lớp với một thầy giáo có kinh nghiệm. Sau khi quan sát và phụ giúp vài tuần hay vài tháng, thầy giáo mới sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm lớp riêng của mình. 3) Huấn luyện tại chỗ. Hình thức nầy thường kết hợp với dạy phụ đạo. Huấn luyện bằng cách làm việc - Quan sát viên đã được huấn luyện thỉnh thoảng tham gia vào lớp học mà thầy giáo mới đang dạy và sau đó đưa ra những nhận xét và ý kiến.
6. Tiềm năng huấn luyện bổ sung. Bạn có thể bổ sung vào những phương pháp nói trên với tiềm năng sau đây: 1) Đọc thêm những sách Cơ Đốc tuyển lựa về đề tài giáo dục; 2) Ghi tên mua các sách báo giáo dục Cơ Đốc; 3) Các khóa học hàm thụ về sư phạm hay những đề tài giáo dục Cơ Đốc khác ; 4) Lớp tối cao giáo dục Cơ Đốc tại trường Kinh thánh địa phương ; 5) Sử dụng thư viện Hội thánh.
7. Thăm viếng những Hội thánh khác. Thăm các trường học Hội thánh khác để quan sát phương pháp của họ là cách tốt để có thêm ý mới. Nhân viên có thể đi thăm trường trong thời gian nghỉ phép hay đi du ngoạn
8. Hội nghị và thảo luận. Những buổi họp trong nước, cấp tỉnh, miền,và toàn khu thường được thực hiện trên cơ bản hàng năm. Nếu buổi họp ở xa thì đại diện từ Hội thánh địa phương nên đi dự. Lúc trở về, anh ta có thể chia xẻ những ý mới và những thông tin anh ta thu thập.
13 Trong sổ tay của bạn, thảo luận về những gì bạn cho là ưu điểm và khuyết điểm của những buổi huấn luyện.
14 Liệt kê 4 phần của một buổi huấn luyện hàng tháng.
.............
........... .
15 Xếp những hình thức giảng dạy cho từng cá nhân cho phù hợp với mô tả
.... a Thầy giáo mới được một lãnh đạo có huấn luyện quan sát
.... b Thầy giáo mới quan sát một thầy giáo đã có kinh nghiệm
.... c Thầy giáo mới được tư vấn bởi một lãnh đạo
1) Học nghề
2) Dạy phụ
3) Huấn luyện tại chỗ
16 Liệt kê 3 tiềm năng huấn luyện bổ sung có sẵn cho các thầy giáo ngoài những chương trình huấn luyện của Hội thánh. Sử dụng sổ tay của bạn.
Baøi töï kieåm tra
CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1 Nhân viên trong Hội thánh cần huấn luyện lãnh đạo là
a) Các thầy giáo
b) Các viên chức Hội thánh
c) Các người hướng dẫn thờ phượng
d) Tất cả các điều trên
2 Việc tuyển chọn nhân viên cho Hội thánh liên quan đến tất cả những điều sau đây NGOẠI TRỪ
a) Bắt đầu cầu nguyện xin Đức Chúa Trời sẽ giữ đến nhân viên
b) Biết những tài năng và khả năng của người lớn trong Hội thánh
c) Biết những yêu cầu của mỗi chức vụ lãnh đạo
d) Nài nỉ mọi người vào làm việc vì đó là bổn phận của họ
3 Theo tác giả, thành công của những buổi huấn luyện thầy giáo tùy thuộc rất nhiều vào
a) Việc chuẩn bị
b) nội dung
c) các thầy giáo
d) các phương tiện
CHỌN GIỮA ĐÚNG VÀ SAI. Viết Đ trong khoảng trống trước mỗi câu ĐÚNG. Viết S nếu câu sai.
. . . 4 Chương trình giáo dục của Hội Thánh cậy vào nhiều thầy giáo và nhân viên tự nguyện, họ phải tự mình trang bị đầy đủ để làm công tác giáo dục.
. . . 5 Tốt hơn nên gợi ý để mọi người quan tâm đến chương trình giáo dục của Hội thánh hơn là ép buộc họ.
. . . 6 Theo tác giả, các thầy giáo trong chương trình giáo dục của Hội thánh cần huấn luyện trong những lãnh vực thăm viếng và truyền bá Phúc âm cũng như nội dung Kinh thánh và phương pháp giảng dạy.
. . . 7 Huấn luyện là chủ yếu dành cho các nhân viên mới hoặc thiếu kinh nghiệm
. . . 8 Nhân viên phải được huấn luyện đầy đủ trước khi bắt đầu làm việc
. . . 9 Huấn luyện nên liên kết với những mức tuổi của học sinh
. . . 10 Sự sốt sắng của thầy giaó thì đáng giá hơn là việc chỉ huấn luyện thôi.
. . . 11 Huấn luyện phải thực tiển hơn là lý thuyết

XẾP CHO PHÙ HỢP. Theo những chỉ dẫn cho mỗi loại câu hỏi xếp cho phù hợp.
12 - 17 Xếp những khả năng của thầy giáo cho phù hợp với mô tả
.... 12 Tiến đến những đỉnh cao hơn
và sâu sắc hơn
.... 13 Thể hiện bông trái Thánh Linh
.... 14 Biết dạy gì và như thế nào
.... 15 Kết hợp với chương trình toàn bộ
của Hội thánh
.... 16 Thấy thú vị khi theo đuổi một
mục đích
.... 17 Hứa hoàn thành trách nhiệm của mình
a ) Khả năng
b) Sự tận tụy
c) Ứơc muốn tiến bộ
d) Nhiệt tình
e) Trưởng thành thuộc linh
f) Sự cộng tác
18 - 24 Xếp những lãnh vực của nội dung trong một chương trình huấn luyện cho phù hợp với những mối quan tâm đặc thù
.... 18 Tiến trình học tập / giảng dạy
.... 19 Nội dung phải được trình bày như thế nào.
.... 20 Hiểu biết để đối đầu với những điều dối trá
.... 21 Tín lý cơ bản của Hội thánh
.... 22 Học hỏi Kinh thánh như thế nào
.... 23 Những điểm cần lưu ý để phát triển
.... 24 Các nhân viên liên kết với nhau như thế nào
a) Các giáo phái
b) Thái độ con người
c) Tổ chức
d) Triết học về giáo dục
e) Nội dung Kinh thánh
f) Các phương pháp giảng dạy
g) Thần học
25 - 30 Xếp những phương pháp huấn luyện cho phù hợp với những lợi ích chính mà những phương pháp mang lại
.... 25 Có thể xảy ra ngay cả khi không có sẵn một hình thức huấn luyện khác
.... 26 Tập trung vào việc soạn giáo án
.... 27 Tạo khả năng tiếp cận với những ý tưởng mới
.... 28 Đối phó với những khuyết điểm đang tồn tại trong trường học
... 29 Dùng như điểm nổi bật của Hội thánh
.... 30 Tạo tiến bộ cho thầy giáo trên cơ sở thường xuyên
a) Những buổi huấn luyện hàng năm
b) Những buổi huấn luyện hàng tháng
c) Những buổi huấn luyện hàng tuần
d) Bệnh viện chuyên khoa Hội thánh& hội thảo chuyên đề
e) Giảng dạy cho từng chương trình huấn luyện của cá nhân
f) Hội nghị và họp thảo luận
31 TRẢ LỜI NGẮN GỌN. Liệt kê 5 điều cần làm để mọi người đến tham dự đông đủ những buổi huấn luyện thầy giáo
...............
..............
PHẦN GIẢI ĐÁP
1. Không chỉ những nhân viên giáo dục mà tất cả các nhân viên phải được huấn luyện. Hiệu quả của Hội thánh tùy thuộc vào hiệu qủa của mỗi nhân viên thực hiện nhiệm vụ của mình
2. b) Ban giáo dục Cơ Đốc
3. Anh ta phải biết những người lớn trong Hội thánh để hiểu biết những tài năng và khả năng của họ và những yêu cầu đặc thù của mỗi chức vụ lãnh đạo
4. d) Gợi ý cho họ tham gia
5. a 4) Sự công tác
b 1) Trưởng thành thuộc linh
c 6) Tận tụy
d 2) Muốn tiến bộ
e 3) Năng lực
f 5) Nhiệt tình
6. b) liên tục
7. e) Tất cả những điều trên
8. Những câu trả lời a, b và f là đúng.
9. Những câu trả lời b, e, f và h là đúng
10. a 6) Tổ chức và cơ cấu
b 1) Nội dung Kinh thánh
c 5) Triết học và những nguyên tắc giáo dục
d 4) Thái độ con người
e 2) Thần học
f 8) Thăm viếng và truyền bá Phúc âm
g 3) Lịch sử Hội thánh, truyền giáo và các giáo phái
h 7) Phương pháp giảng dạy và phương tiện truyền thông
11. a) Mở buổi nhóm chung cho cả Hội thánh
12. 1) Xếp đặt kỹ ngày tháng trước. 2) Thông báo cho các thầy giáo biết về ngày tháng và nhắc nhở họ nhớ ngày tháng đó.; 3) Cho các thầy giáo biết sự hiện diện của họ sẽ đem lại lợi ích cho họ và những người khác như thế nào, 4) Giao công việc để tăng thêm tinh thần về phương tiện chuyên chở và chăm sóc trẻ em
13. Câu trả lời của bạn . Những buổi huấn luyện có thể là điểm nổi bật của chương trình huấn luyện của Hội thánh. Chúng cung ứng sự huấn luyện sâu rộng qua buổi cuối tuần, 4 đêm liên tiếp, hay 4 buổi huấn luyện mỗi tuần. Nhưng nếu huấn luyện chỉ có vậy thôi, thì có qúa nhiều thời gian trôi qua giữa những buổi huấn luyện.
14. 1) Trao đổi với nhau 2) Trao dồi kỹ năng của thầy giáo 3) Xem duyệt trước đơn vị học tập . 4) soạn giáo án
15. a 3) Huấn luyện tại chỗ
b 1) Học nghề
c 2) Dạy phụ đạo
16. Sách liên quan đến giáo dục Cơ Đốc, tạp chí xuất bản định kỳ, các khóa học hàm thụ hay trong trường Kinh Thánh địa phương

PHÁT TRIỂN NHỮNG LÃNH ĐẠO KHÔNG CHUYÊN
Những chương trình huấn luyện cho những người lãnh đạo và các thầy giáo
Bài thơ sau đây của George Liddle mô tả một cách lôi cuốn về việc tìm ra những người thích hợp để phục vụ trong Hội thánh thì quan trọng như thế nào.
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Mà niềm tin làm chủ tâm hồn anh ta
Và tôi sẽ sửa chữa những sai lầm
Và đem lại phước hạnh cho cả nhân loại
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Mà lửa thiên đường chạm đến lưỡi
Và tôi sẽ làm cháy sáng lên những trái tim u tối nhất
Với quyết tâm cao và lòng khao khát thanh sạch
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Một tiên tri vĩ đại của Đức Chúa Trời
Và tôi sẽ cho bạn hòa bình trên địa cầu
Thức hiện bởi lời cầu nguyện chứ không phải bằng gươm giáo
Cho tôi một người của Đức Chúa Trời - một người
Trung thành với khải tượng anh ta nhìn thấy
Và tôi sẽ xây dựng những thánh đường bị đổ vỡ của bạn
Và khiến muôn nước qui phục Chúa
Điều chúng ta sẽ khám phá trong bài học nầy là phải nổ lực mới có thể tìm ra những người lãnh đạo và nhân viên thích hợp. Nhưng tuyển mộ chỉ là một phần của nổ lực. Chúng ta còn phải huấn luyện nhân viên cho việc phục vụ. Những chương trình huấn luyện nên là một bộ phận giáo dục đang diễn tiến của Hội thánh.
Dàn bài
Nhu cầu cho việc huấn luyện lãnh đạo
Tuyển chọn thầy giáo
Những nguyên tắc huấn luyện
Nội dung chương trình huấn luyện
Chuẩn bị cho những buổi huấn luyện
Phương pháp huấn luyện
Mục tiêu bài học
Khi học xong bài nầy bạn có thể:
Giải thích tại sao cần phải huấn luyện lãnh đạo
Mô tả việc tuyển chọn nhân viên như thế nào và phải tìm kiếm điều gì
Ghi nhận những nguyên tắc huấn luyện, nội dung của những chương trình huấn luyện, cách thức chuẩn bị cho những buổi huấn luyện, và những phương cách huấn luyện.
Quyết định tham gia vào việc huấn luyện nhân viên đang diễn tiến trong Hội thánh của bạn.
Sinh hoạt học tập
Học bài theo từng phần, theo những chỉ dẫn trong bài 1
Phải nhớ ra phần ngữ vựng để tìm nghĩa của từ ngữ chủ yếu mà bạn không biết.
Học 10 nguyên tắc của một chương trình huấn luyện tốt
Đọc kỹ 10 lãnh vực của nội dung trong một chương trình huấn luyện.
Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học nầy và kiểm soát kỷ những câu trả lời của bạn với những câu đã cho trong tập tài liệu học sinh. Oân lại những đề mục bạn trả lời sai.
Từ ngữ quan trọng
chương trình nghị sự
cơ sở hợp lý
sự trí tuệ
Khai triển bài học
MỤC TIÊU 1: Mô tả phạm vi nhu cầu huấn luyện lãnh đạo trong Hội thánh.
NHU CẦU HUẤN LUYỆN LÃNH ĐẠO
Hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ giáo dục của Hội thánh rất lớn. Mục sư và một vài lãnh đạo được huấn luyện không thể tự mình cán


Giải Nghĩa Từ Ngữ

- Ám chỉ: nhắc đến cách gián tiếp đặc biệt trong văn chương
- Bản thể ( thuộc về): đặt nền tảng trên sự hiện hữu
- Căng thẳûng ( sự): tranh chiến hoặc bất an trong lòng, lấn cấn giữa hai vấn đề
- Có thẩm quyền: bắt nguồn từ quyền hành; được chấp nhận
- Cơ quan ban nghành: đơn vị hành chánh
- Cơ sở hợp lý: sự giải thích về những nguyên tắc kiểm soát tư tưởng niềm tin
- Cố thủ: hành động tự đặt mình vào vị trí phòng vệ
- Chế độ thẩm quyền: nền cai trị dựa vào sự hướng dẫn trực tiếp của Chúa hay dựa trên những thủ lãnh được coi là có sự dẫn dắt từ Chúa
- Chủ nghĩa: những nguyên tắc hay phong trào được bênh vực bằng sức mạnh
- Chủ nghĩa cá nhân: chủ thuyết ủng hộ sự tự do cá nhân về chính trị và kinh tế; nhấn mạnh đến sáng kiến, hành động và quyền lợi cá nhân
- Chức vụ : chức danh và chức vụ
- Chương trình làm việc: danh sách những việc cần bàn, công tác cần thực hiện, chương trình
- Dai dẳng: kéo dài, lập đi lập lại
- Đạt đến tột điểm: đạt đến điểm cao nhất
- Đặc tính nội tại: liên quan đến tính chất chủ yếu của sự vật đặt tính bẩm sinh
- Độc đoán: liên quan đến việc tập trung quyền hành nơi một người và sự vâng phục mù quáng
- Đồng nhất: tình trạng giống nhau về chủng loại hoặc bản chất
- Động cơ: động lực kích thích con người có quyết tâm và hành động
- Đưa vào: đưa vào như một yếu tố của sự vật
- Đương nhiên: bởi tư cách hoặc bởi chức vụ
- Được phối hợp: được thực hiện trong sự phối hợp nhất trí
- Giao ước: thỏa ước chính thức, trọng thể và ràng buộc
- Giáo dục chính thức: giáo dục có tính chất nghi lễ với những hình thức và luật lệ cố định
- Giáo dục không chính thức: giáo dục diễn ra trong bối cảnh thông thường ngẫu nhiên ở gia đình
- Hà hơi ( sự): tác động siêu nhiên của Thánh Linh trên những người được Đức Chúa Trời lựa chọn nhờ đó các tác phẩm của họ trở nên đáng tin cậy và có thẩm quyền
- Hiện thân: xuất hiện trong hình dáng con người
- Hòa nhập: việc hòa hợp với một điều khác hay liên kết thành một đơn vị lớn hơn
- Học vẹt: học thuộc lòng mà không hiểu
- Huy động : tập hợp lại và chuẩn bị để hành động
- Kết hợp hữu cơ: thuộc về một tập thể thống nhất
- Khả năng tự nhiên: năng lực sức mạnh tự nhiên
- Khả năng thể lý: khả năng vật lý hay khả năng hoạt động tay chân
- Kỷ luật: có tinh thần kỷ luật hoặc tự chế
- Liên tục ( sự ): liên kết không gián đoạn ; tiếp diễn
- Liên hệ: hành động bày tỏ mối quan hệ
- Lượng: liên quan đến sự đo lường về số lượng
- Mặc khải: sự bày tỏ những điều trước đó chưa biết đến; sự truyền thông chân lý của thượng đế cho nhân loại, tức là sự bày tỏ về chính Ngài hay ý muốn của Ngài
- Năng động - hoạt động đem lại kết qủa, sẵn sàng đổi mới, có năng lực
- Nền tảng - căn bản của niềm tin, hành động hoặc lý luận
- Ngẫu nhiên - lựa chọn ngẫu nhiên, không lý do
- Ngoại nhân - người không cùng gia đình, chủng tộc, quốc tịch
- Người theo lý tưởng - người đặt lý tưởng trên những cân nhắc thực tiễn
- Nhà hội - nơi thờ phượng và trung tâm sinh hoạt của cộng đồng Do thái
- Nhục thể hóa (trở nên xác thịt): mặc lấy thân xác và hình dáng con người
- Phản ảnh theo dõi: ý kiến giúp lượng định, điều chỉnh một công việc, tiến trình
- Phẩm: liên quan đến sự đo lường về phẩm chất
- Phục vụ (sự): trách nhiệm của mọi người phải điều hành cuộc sống và tài sản của mình trong sự tôn trọng quyền lợi người khác
- Phù hợp: đặc biệt thích hợp
- Quan niệm: liên quan đến điều hình thành trong tâm trí, tư tưởng trừu tượng khái quát hóa từ những trường hợp cụ thể
- Quan tâm: lợi ích hay sự chú ý phát xuất từ mối quan hệ cá nhân
- Sâu rộng: sự lan truyền rộng rãi
- Shema: bản tuyên xưng đức tin của người Do thái bao gồm PhuDnl 6:4-9; 11:13-21 và Dan Ds 15:37-41
-Thu hút ( sự): khả năng lôi cuốn, thu hút
- Tiêu chuẩn: tiêu chuẩn được chấp nhận; mẫu mực hay tính chất được coi là tiêu chuẩn cho cách cư xử của một bộ phận xã hội
- Tính tương đối: tình trạng lệ thuộc để hiện hữu, hoặc trường hợp bản chất được định đoạt bởi mối liên hệ với một điều khác
- Tính tự nhiên: tính chất thể hiện ở sự đơn giản, dễ dãi, không giả tạo không kềm chế
- Tuổi hiểu biết: tình trạng phải chịu trách nhiệm khai trình về lý do nguyên nhân, động cơ
- Tuổi thanh niên: khoảng thời gian giữa tuổi thiếu niên và tuổi trưởng thành
- Tri thức ( thuộc về): liên quan đến hoạt động của tri thức bao gồm nhận thức và phán đoán
- Trí tuệ ( sự): tình trạng bất động, trí tuệ, buồn chán
- Trường tiểu học: trường gồm từ lớp 1 -3
- Tỷ lệ: mối liên quan về số lượng, kích thước giữa hai hay nhiều sự vật
- Xã hội hóa: việc huấn luyện để thích ứng với môi trường xã hội
- Yếu tố: thành phần chính, nguyên tố.


Sách Tham Khảo
Allen, Clifton j.and W.L.Howse. The Curriculum Guide. Nashville, Tennessee: Convention Press, 1960.
Daniel, Eleanor,et al (eds.). Introduction to Christian Education. Cincinnati, Ohio: Standard Publishing, 1980.
Davis, Robert H.et al. Learning System Design. New York: McGraw-Hill, 1974.
Eavey, C. B. Principles of Teaching for Christian Teachers. Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 1946.
Gangel, Kenneth O. Buiding Leaders for Church Education. Chicago, Illinois: Moody Press, 1981.
Hakes, J. Edward (ed). An Introduction to evangelical Christian education. Chicago, Illinois: Moody Press, 1964.
Horne. H. H. Teaching Techniques of Jesus: New York: Association Press, 1920.
Martin, Wiliam. First Step for Teacher. Spingfield, Missouri: Gospel Publishing House, 1984.
Richards, Lawrence. Creative Bible Teaching. Chicago, Illinois: Moody Press, 1970.
Sisemore, John T. The Ministry of Visitation. Nashville, Tennessee: Broadman Press, 1964.
Smart, James D. The Teaching Ministry of the Church. Philadelphia, Pennsylvania: Westminster Press, 1954.
Soderholm, Marjorie E. Explaining Salvation to Children. Minneapolis, Minnesota: Free Church, 1962.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 05:34 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách