† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2903|Trả lời: 0

Những Bằng Chứng

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 22-7-2011 16:29:38 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Những Bằng Chứng
Tác giả: Josh McDowel

Chương 1
SỰ DUY NHẤT CỦA KINH THÁNH
Chương 2
JESUS - CON ĐỨC CHÚA TRỜI
Chương 3
Ba Sự Lựa Chọn :
CHÚA, KẺ GIẢ DỐI hay KẺ ĐIÊN KHÙNG ?
Chương 4
SỰ PHỤC SINH: MỘT TRÒ LỪA BỊP hay MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ ?


SỰ DUY NHẤT CỦA KINH THÁNH
1A. SỰ DUY NHẤT CỦA KINH THÁNH
1B. Giới thiệu
Giống như một đĩa hát nhão cứ lặp đi lặp lại, tôi thường nghe câu nói này "Ồ, anh không đọc Kinh Thánh à?" Đôi khi người ta lại nói "Sao, Kinh Thánh cũng chỉ như một cuốn sách khác thôi, anh nên đọc đi...v.v...". Có một sinh viên rất hãnh diện vì cuốn Kinh Thánh của cậu ta được nằm trên kệ cùng với những cuốn sách khác, có lẽ đầy bụi bặm, không được đụng đến, nhưng nó vẫn ở đó với những quyển sách "vĩ đại" khác.
Thế rồi còn có một giáo sư đã làm giảm giá trị của Kinh Thánh trước các sinh viên của ông và nhạo báng những ai có ý nghĩ đọc Kinh Thánh trong thư viện của ai đó.
Những câu hỏi và những lời bình phẩm trên làm tôi băn khoăn khi tôi thử làm một người không phải là Cơ Đốc Nhân để bẻ bác việc xem Kinh Thánh như là lời của Đức Chúa Trời ban cho loài người. Cuối cùng tôi đã đi đến kết luận rằng những chất vấn và lời bình phẩm đó chỉ là những lời nói nhảm nhí của những người có thành kiến, định kiến hoặc chỉ là lời nói của những người dốt nát, thiếu hiểu biết.
Riêng một mình quyển Kinh Thánh thôi nên được đặt ở đỉnh của các kệ sách. Kinh Thánh là duy nhất. Thật vậy, ý mà tôi muốn dùng để mô tả Kinh Thánh được tóm gọn trong từ "duy nhất" này.
Chắc hẳn là Webster đã nhớ đến cuốn "sách của các sách" này khi ông viết lời định nghĩa cho từ "duy nhất" này: (1). một và chỉ có một, đơn độc, độc nhất (2). Khác với tất cả, không giống hoặc không tương tự.
Giáo sư M. Montiero - Williams (do Sidney Collett trích dẫn, quyển All About The Bible, Fleming H. Revell ), cựu Giáo sư tiếng Phạn ở Boden , từng nghiên cứu các sách Đông Phương 42 năm đã phát biểu so sánh các sách này với Kinh Thánh như sau:
"Nếu bạn muốn, bạn có thể chất chồng những cuốn sách này bên trái bàn nghiên cứu của bạn, nhưng hãy đặt quyển Kinh Thánh của bạn ở bên phải - chỉ riêng một quyển Kinh Thánh thôi - và có một khoảng trống rộng giữa 2 bên. Vì... có một hố sâu giữa Kinh Thánh và cái gọi là các sách thánh của Đông Phương và cái hố sâu đó sẽ ngăn cách bên này với bên kia hoàn toàn, vô vọng và mãi mãi... một hố sâu thật sự mà không có một tư tưởng tôn giáo nào có thể bắt cầu qua được" 8/314-315.
2B. Kinh Thánh là duy nhất. Đó là quyển sách "khác với tất cả những sách khác" bởi lẽ:
1C. DUY NHẤT VỀ SỰ LIÊN TỤC CỦA NÓ.
Đây là quyển sách:
1. Được viết khoảng trên 1600 năm.
2. Được viết trên 60 thế hệ.
3. Được viết bởi 40 trước giả, xuất thân từ mọi tầng lớp bao gồm nhà vua, nông dân, triết gia, ngư phủ, thi sĩ, chính khách, học giả v.v...
Môise, một nhà lãnh đạo chính trị, được đào tạo tại các trường đại học của Ai Cập.
Phierơ, một ngư phủ
Amốt, một người chăn chiên
Giôsuê, một tướng lãnh quân đội
Nêhêmi, một quan tửu chánh
Đaniên, một thủ tướng
Luca, một bác sĩ
Salômôn, một ông vua
Mathiơ, một người thâu thuế
Phaolô, một thầy thông giáo
4. Được viết tại nhiều nơi khác nhau:
Môise trong đồng vắng
Giêrêmi trong ngục tối
Đaniên trên sườn đồi và trong cung điện
Phaolô trong những bức tường của ngục thất
Luca trong khi du ngoạn
Giăng trên đảo Bátmô
Những người khác trong những hoàn cảnh khắc khổ của những chiến dịch quân sự.
5. Được viết vào những lúc khác nhau:
Đavít trong chiến tranh
Sâlômôn trong thời bình
6. Được viết trong những trạng thái khác nhau:
Một số người viết trong sự vui mừng cao độ còn một số khác viết trong nỗi buồn sâu thẳm và nỗi tuyệt vọng.
7. Được viết trên 3 đại lục: Á, Phi và Âu Châu
8. Được viết bằng 3 ngôn ngữ:
Tiếng Hơbơrơ: Là ngôn ngữ của Cựu ước
Trong IIVua 2V 18:26, 28 gọi là "tiếng Giuđa".
Trong EsIs 19:18 gọi là "tiếng Canaan".
Tiếng Aramaic: là "ngôn ngữ chung" của vùng Cận Đông cho đến thời A lịch Sơn Đại đế (Thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên) 14/218.
Tiếng Hy Lạp: là ngôn ngữ của Tân ước, là ngôn ngữ quốc tế trong thời đại của Chúa Jêsus Christ.
9. Chủ đề của Kinh Thánh bao gồm hàng trăm vấn đề có thể gây nên tranh luận. Vấn đề gây nên tranh luận là vấn đề tạo nên những ý kiến đối nghịch nhau khi nó được đề cập đến hay được bàn bạc đến.
Các tác giả Kinh Thánh đã nói đến hàng trăm chủ đề gây nên tranh luận này với một sự hài hòa và liên tục từ Sáng thế ký đến Khải huyền. Có một câu chuyện được bày tỏ: "Sự cứu chuộc loài người của Đức Chúa Trời."
Geisler và Nix trong quyển A General Introduction to the Bible , Nhà Xuất bản Moody năm 1968, nói như thế này:
"Lạc viên hư mất" của sách Sáng thế ký đã trở nên "Lạc viên được chuộc lại" của sách Khải huyền. Vì cánh cửa dẫn đến cây sự sống đã bị đóng lại trong sách Sáng thế ký thì đã được mở ra mãi mãi trong sách Khải huyền" 14/24
F.F. Bruce (trong quyển The Books and the Parchments, Fleming H. Revell) đã nhận xét rằng: "Bất cứ bộ phận nào trong cơ thể con người cũng chỉ có thể được giảng giải đúng đắn trong khi xem xét toàn bộ cơ thể và bất kỳ phần Kinh Thánh nào cũng chỉ có thể được giảng giải đúng đắn khi xem xét toàn bộ Kinh Thánh" 6/89.
Bruce kết luận rằng:
"Thoạt nhìn, Kinh Thánh trông như một bộ sưu tập văn chương - Chủ yếu là của người Do Thái. Nếu chúng ta xét đến những hoàn cảnh mà những tài liệu khác nhau của Kinh Thánh được viết nên thì chúng ta thấy rằng những tài liệu đó được viết với khoảng thời gian trên 1400 năm. Các tác giả đã viết tại những xứ khác nhau, từ nước Ý đại lợi ở phương Tây đến vùng Mesopotamia và có lẽ đến cả Ba Tư ở Đông phương. Chính các tác giả là một số người khác biệt nhau, không chỉ cách nhau hàng trăm năm và hàng trăm dặm mà còn xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Trong những tầng lớp đó có vua Chúa, người chăn chiên, quân nhân, các nhà lập pháp, các ngư phủ, chính khách, các cận thần, các thầy tế lễ và tiên tri, một thầy thông giáo may trại, và một thầy thuốc ngoại bang, không kể đến những người mà chúng ta không được biết gì cả ngoại trừ những tác phẩm họ để lại. Chính những tác phẩm này thuộc về những thể loại văn chương lớn, bao gồm lịch sử, luật pháp (về dân sự, về tội phạm, về đạo đức, về lễ nghi, về vệ sinh), thi ca tôn giáo, luận án sư phạm, thơ trữ tình, truyện ngụ ngôn và ẩn dụ, tiểu sử, các thư từ riêng tư, các hồi ký và nhật ký cá nhân, cùng với các thể loại tiên tri và khải thị đặc biệt về Kinh Thánh.
Tóm lại Kinh Thánh không phải là một quyển sách hợp tuyển các loại văn chương; có một sự thống nhất ràng buộc tất cả các sách lại với nhau. Một sự hợp tuyển là do một người hợp tuyển sưu tập nhưng không một người hợp tuyển nào biên soạn Kinh Thánh được". 6/88.
10. Kết luận về sự liên tục. Một sự so sánh với "những tác phẩm lớn của thế giới tây phương" (Great Books of Western World).
Một người đại diện của "Great Books of Western World" đã đến nhà tôi để tuyển mộ người bán hàng cho một loạt sách của họ. Ông ta đã trình bày một kế hoạch để phổ biến loạt sách Great Books of Western World này. Ông ấy mất 5 phút để nói với chúng tôi về loạt sách này và chúng tôi cũng dành một tiếng rưỡi đồng hồ để nói với ông ấy về quyển sách vĩ đại nhất.
Tôi thách thức ông ấy chỉ cần lấy 10 tác giả thôi, tất cả đều xuất thân từ 1 tầng lớp xã hội, một thế hệ, ở một nơi, đồng thời với nhau, cùng tâm trạng, trên một lục địa, cùng một ngôn ngữ và chỉ cần một vấn đề dễ gây tranh luận thôi (Kinh Thánh nói đến hàng trăm vấn đề với một sự hài hòa, ổn thỏa).
Sau đó tôi hỏi ông ấy "Liệu họ (các tác giả) có nhất trí với nhau không?". Ông ta khựng lại rồi sau đó đáp: "Không". Tôi hỏi vặn "Thế thì anh sẽ có cái gì nào?". Lập tức ông ta trả lời: "Một khối cuội kết".
Hai ngày sau ông ấy dâng cuộc đời mình cho Đấng Christ (chủ đề của Kinh Thánh). Tại sao vậy? Rất đơn giản. Bất kỳ ai chân thành tìm kiếm chân lý thì sẽ phải lưu ý đến một quyển sách có sự duy nhất như đã nói ở trên.
2C. DUY NHẤT Về TỔNG SỐ PHÁT HÀNH.
Tôi chỉ cần trích dẫn những con số của những Thánh Kinh Hội mà thôi. Những con số này lấy từ cuốn Encylopaedia Britainnica, Americana One thousand wonderful things about the Bible (của Pickering ), cuốn All About the Bible (của Collett), cuốn Protestant Christian Evidence (của B. Ramm) và cuốn A General Introduction to the Bible (của Geisler và Nix ).
Kinh Thánh được nhiều người đọc và được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ hơn bất kỳ một sách nào khác. Nhiều bản Kinh Thánh toàn thư, nhiều bản Kinh Thánh từng phần hoặc các sách tuyển chọn của Kinh Thánh đã được xuất bản hơn bất kỳ một sách nào khác trong lịch sử. Một số người cãi lại rằng trong một tháng hay một năm nào đó thì có một cuốn sách nào đó bán chạy hơn Kinh Thánh. Nhưng tuyệt nhiên không có một quyển sách nào đạt đến hoặc ngay cả so sánh được với số lượng xuất bản của Kinh Thánh. Quyển sách đầu tiên được in là cuốn Latin Vulgate (Bản Kinh Thánh bằng tiếng Latinh). Cuốn sách này được in bằng máy in của Gutenberg. 49/478-480.


Hy Pickering nói rằng đây khoảng 30 năm, Thánh Kinh Hội Anh ngữ và Ngoại Ngữ đã thỏa mãn yêu cầu là phải xuất bản "Cứ mỗi ba giây liên tục ngày đêm là một bản, cứ mỗi phút liên tục ngày đêm là 22 bản, cứ mỗi giờ liên tục ngày đêm là 1369 bản và cứ mỗi ngày trong năm là 32.876 bản. Và thật là vô cùng thú vị khi biết rằng con số Kinh Thánh đáng ngạc nhiên này đã được gởi đến nhiều nơi trên thế giới trong 4583 chiếc vali và nặng đến 490 tấn. 36/227.
Geisler và Nix đã trích của S.L Greenslade trong cuốn The Cambridge History of the Bible ", trang 4979, rằng "Không có một cuốn sách nổi tiếng nào đã đạt đến số lượng xuất bản thường xuyên này" 14/122.
Lời bình luận này thật đúng : " Điều này không chứng tỏ Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời", nhưng nó đã thực sự cho thấy kinh thánh là cuốn sách duy nhất.
3C. DUY NHẤT VỀ SỰ DịCH THUẬT.
(Bản Septuagint : là bản dịch bằng tiếng Hy Lạp của bản Kinh Thánh Cựu ước tiếng Hêbơrơ , 250 tr.CN) 50/1147.
Kinh Thánh đã được dịch đi, dịch lại và được chú giải nhiều hơn bất kỳ cuốn sách nào hiện đang có.
Encyclopaedia Britannica chép rằng " vào năm 1966 Kinh Thánh toàn thư đã xuất hiện bằng 240 ngôn ngữ và phương ngữ... một hoặc nhiều sách của Kinh Thánh với 739 ngôn ngữ nữa, toàn bộ số xuất bản là 1280 ngôn ngữ " 12/588.
Từ năm 1950 đến 1960 có 3000 dịch giả đã dịch Kinh Thánh 12/588.
Thật vậy Kinh Thánh xứng đáng là duy nhất về sự dịch thuật.
4C. DUY NHẤT VỀ SỰ TỒN TẠI.
1D. Tồn tại qua thời gian
Kinh Thánh được viết bằng một thứ vật liệu bị hư hỏng (xem trang 29), phải được sao đi, sao lại hàng trăm năm trước khi máy in được phát minh, nhưng vẫn không làm giảm mất văn phong, tính đúng đắn cùng tính hiện thực của nó. So với các tác phẩm cổ khác, Kinh Thánh có nhiều bằng chứng về bản chép tay hơn bất kỳ 10 mẫu văn chương cổ điển nào được kết hợp lại (xem trang 48).
A.T Robertson, tác giả của cuốn văm phạm tiếng Hy Lạp về Tân ước toàn diện nhất, đã viết : "Có khoảng 8.000 bản chép tay cuốn Kinh Thánh tiếng Latinh (Latin Vulgate) và ít nhất là 1000 bản chép tay cho những bản Kinh Thánh đầu tiên nhất. Cùng với trên 4000 bản chép tay tiếng Hy Lạp, chúng ta có 13.000 bản chép tay về những phần của Tân ước. Ngoài những điều này, phần lớn Tân ước được tái bản bởi sự trích đoạn của các văn sĩ Cơ Đốc đầu tiên" 39/70.
John Warwich Montgomery (trong quyển History and Christianity, Downers Grove, III) đã nói rằng : "Hoài nghi về văn bản tổng hợp các sách của Tân ước là cho phép tất cả những gì cổ xưa rơi vào sự mờ mịt vì không có một tài liệu về thời xưa nào lại làm chứng về lịch sử rõ ràng như Tân ước" 34/29.
Bernard Ramm (trong quyển Protestant Chistian Evidences, nhà xuất bản Moody) nói về sự chính xác và số lượng tài liệu của bản chép tay Kinh Thánh rằng : "Người Do Thái đã bảo tồn nó như chưa hề có một bản chép tay nào được bảo tồn như vậy. Nhờ có Massora (truyền thuyết tích lũy của người Do Thái liên quan đến bản Kinh Thánh tiếng Hêbơrơ chuẩn, là parva, magna và finalis) họ kiểm tra mỗi chữ cái, mỗi vần, mỗi từ và mỗi đoạn. Họ có một lớp người đặt biệt thuộc nền văn hóa của họ, có bổn phận phải bảo quản và lưu truyền những tài liệu này với một độ chính xác hầu như hoàn toàn. Đó là những thư ký, những luật sư và những massorete (là những người sao chép sưu tập Massora). Ai đã từng đếm được hết các chữ cái và các vần của Plato hay của Aristotle? của Cicero hay của Seneca?
"Nói về Tân ước thì có khoảng 13.000 bản chép tay hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh, bằng tiếng Hy Lạp và những ngôn ngữ khác đã tồn tại từ thời xa xưa. Không một cuốn sách nào từ thời cổ lại có được một bằng chứng như vậy". 36/230-1
John Lea trong quyển The Greatest Book in the World đã so sánh Kinh Thánh với Shakespeare như sau: "Trong một bài báo trên tờ North American Review, một tác giả đã làm một cuộc so sánh thú vị giữa những tác phẩm của Shakespeare và Kinh Thánh. Bài báo cho thấy cần phải chăm sóc, quan tâm đến những bản chép tay của Kinh Thánh hơn những tác phẩm khác nhất là khi có nhiều điều kiện bảo quản tài liệu chính xác bởi những bản in hơn là lúc nó được sao chép bằng tay. Ông nói: "Hinh như thật kỳ lạ là tác phẩm của Shakespeare tồn tại chưa đến 208 năm lại hư mục và thiếu tin cậy hơn văn bản của Tân ước đã tồn tại 18 thế kỷ, mà trong thời gian đó có 15 thế kỷ nó chỉ được tồn tại bằng những bản chép tay... Có lẽ ngoài 12 hoặc 20 nguyên bản ra còn thì người ta cho rằng nguyên bản của mỗi câu trong Tân ước được phần lớn sự đồng ý của các học giả xác định và rằng bất kỳ sự tranh luận nào về các đoạn của Tân ước đều cần đến việc làm sáng tỏ các từ ngữ hơn là những nghi nhờ về chính các từ ngữ đó.
Nhưng chỉ 1 trong 37 vở kịch của Shakespeare thôi thì có lẽ đã có 100 đoạn vẫn còn bàn cãi, một phần lớn trong những đoạn này có ảnh hưởng cụ thể đến những đoạn văn có chứa nó" 30/15.
2D. Tồn tại qua sự bách hại .
Không như một quyển sách nào khác, Kinh Thánh đã chịu những cuộc tấn công bỉ ổi của các kẻ thù đã cố đốt Kinh Thánh, cấm đoán Kinh Thánh và "đặt Kinh Thánh ra ngoài vòng pháp luật kể từ thời đại các Hoàng đế La Mã đến một số quốc gia hiện nay" 36/232.
Sidney Collet đã viết trong quyển All About the Bible rằng: "Voltaire, một người Pháp chống đạo nổi tiếng, qua đời vào năm 1778, đã nói rằng 100 năm sau thời đại của ông thì Cơ Đốc giáo sẽ bị quét sạch và biến mất đi trong lịch sử. Nhưng điều gì đã xảy ra? Voltaire đã qua đi trong lịch sử trong khi tổng số phát hành của Kinh Thánh cứ liên tục gia tăng tại hầu hết các nơi trên thế giới, đem phước hạnh đến những nơi Kinh Thánh đã đến. Chẳng hạn, như đại Thánh đường của Anh quốc ở Zanzibar được xây dựng trên vị trí của khu chợ Old Slave và chiếc bàn tiệc Thánh (Communion Table) nằm ngay ở chỗ mà trước đây là cây cột tra tấn. Thế giới này đầy dẫy những trường hợp giống như vậy... Như một người đã chân thành phát biểu: "Chúng ta cố ngăn chận số lượng xuất bản của Kinh Thánh thì chẳng khác gì như ghé vai vào cái bánh xe mặt trời đang rực cháy của nó" 8/63.
Nói đến sự khoác lác của Voltaire về sự tiêu diệt Cơ Đốc giáo và Kinh Thánh trong 100 năm thì Geisler và Nix đã nói rõ rằng "Chỉ 50 năm sau cái chết của ông ta, Thánh Kinh Hội Genera đã sử dụng máy in và nhà của ông ta để xuất bản một số lượng lớn Kinh Thánh" 14/123-124. THẬT LÀ MỘT SỰ MỈA MAI CỦA LỊCH SỬ! Vào năm 303 sau CN, Diocletian đã ra một chỉ dụ (trong quyển Cambridge History of the Bible nhà xuất bản Cambridge University, 1963), hủy diệt các Cơ Đốc nhân và Kinh Thánh của họ:"... một văn thư của đế quốc được truyền đi khắp mọi nơi, ra lịnh san thành bình địa các nhà thơ và hủy diệt Kinh Thánh bằng lửa, rằng những ai bị tố cáo thì sẽ mất tất cả quyền công dân; còn những người hầu, nếu cứ khăng khăng xưng nhận Cơ Đốc giáo thì sẽ bị tước đoạt quyền tự do" 49/473; 13/259.
Điều mỉa mai lịch sử của chỉ dụ hủy diệt Kinh Thánh nói trên là 25 năm sau đó, Constantine, vị hoàng đế nối ngôi Diocletian, đã ra lệnh cho Eusebius chuẩn bị sao thêm 50 bản kinh thánh nữa do chính phủ đài thọ tài chánh.
Kinh thánh là quyển sách duy nhất thể hiện qua sự tồn tại của nó. Điều này không chứng tỏ Kinh Thánh là chân lý nhưng chứng tỏ rằng Kinh Thánh xứng đáng là duy nhất trong các sách. Một người nghiên cứu đang tìm kiếm chân lý nên xem Kinh Thánh là một sách có những đặc tính duy nhất nói trên.
3D. Tồn tại qua sự phê bình
H.L Hastings, do John W. Lea trích dẫn, đã minh họa một cách sống động tính cách duy nhất mà Kinh Thánh đã chịu đựng những cuộc tấn công của sự vô tín và chủ nghĩa hoài nghi: "Trải qua 1800 năm, những kẻ vô tín vẫn còn đang bẻ bác và lật đổ quyển sách này nhưng đến nay Kinh Thánh vẫn vững vàng như vầng đá. Số lượng xuất bản gia tăng, hiện được người ta yêu mến, ấp ủ và đọc hơn cả trước đây. Những kẻ vô tín, với tất cả các cuộc tấn công của họ, đã gây nhiều dấu vết trên cuốn sách này giống như một người cầm chiếc búa đóng đinh đập trên những Kim tự tháp Ai cập. Khi một vị vua Pháp ra lệnh bách hại Cơ Đốc nhân dưới triều đại của ông ta thì một chính khách lão thành và một quân nhân đã tâu với nhà vua rằng "Tâu bệ hạ, Hội Thánh của Đức Chúa Trời là một cái đe đã làm mệt lử nhiều chiếc búa". Vì vậy những cái búa của những kẻ vô tín đã đập vào cuốn sách này qua nhiều thời đại, nhưng những chiếc búa đã mệt lử còn cái đe thì vẫn cớ trơ trơ. Nếu quyển sách này không phải là quyển sách của Đức Chúa Trời thì chắc hẳn là con người đã hủy diệt nó từ lâu rồi. Các Hoàng đế và các Giáo hoàng, các vua Chúa và những tu sĩ, hoàng thân và các nhà cai trị đã cố tra tay trên quyển sách này. Họ đã ra đi mà quyển sách vẫn cứ tồn tại" 30/17-18.
Bernard Ramm nói thêm rằng: "Đã hơn một ngàn lần, tiếng chuông báo tử về quyển Kinh Thánh đã gióng lên, đám tang đã được hình thành, bia mộ đã được ghi khắc, và điếu văn đã được đọc nhưng vì một lý do nào đó xác chết chẳng bao giờ chịu được đặt vào."
"Không một quyển sách nào khác phải bị chặt đốn, mổ xẻ, sàng sảy, xem xét kỹ lưỡng và bị phỉ báng như vậy. Có cuốn sách nào nói về triết học, tôn giáo, tâm lý học hay văn chương từ cổ chí kim lại chịu một sự tấn công lớn như Kinh Thánh không? Nham hiểm và hoài nghi? cặn kẻ và uyên bác? trên từng chương, từng dòng, từng giáo lý?
"Kinh Thánh vẫn còn được hàng triệu người yêu mến, hàng triệu người đọc và hàng triệu người nghiên cứu" 36/232-233.
Người ta đã từng dùng câu nói "những kết quả đáng tin cậy của thượng tầng phê bình" (là những nghiên cứu về quyền tác giả, niên biểu, ý nghĩa... về Kinh Thánh, dùng những kỹ thuật hoặc sự tìm kiếm của khảo cổ học, nghiên cứu phê bình văn học), nhưng bây giờ những nhà thượng tầng phê bình này đang thất bại. Hãy lấy tài liệu "Documentary Hypothesis" làm ví dụ. Nền tảng của sự hình thành giả thuyết của tài liệu này là ngũ kinh không phải do Môise viết, vì theo "kết quả đáng tin cậy của những nhà thượng tầng phê bình" đã chứng tỏ rằng các sách này không tồn tại trong thời đại của Môise. Do đó rõ ràng là các sách này thuộc về những tác giả sau thời đó. Ý của những nhà phê bình này là: Các tác giả J, E, P, D nào đó đã xếp đặt nó lại. Họ đã đi đến chỗ phân tích một câu có 3 tác giả. Họ đã xây dựng một cấu trúc lớn của chủ nghĩa phê phán.
Nhưng sau đó một số người đã khám phá ra "black stele" 50/444 ("bia đá đen"), trên đó có những nét hoa văn hình nêm và những luật lệ chi tiết của Hammurabi. Có phải bia đá này có sau thời đại Môise không? Không, nó có vào thời tiền Môise, không những vậy, nó còn có trước Ápraham nữa (năm 2000 trước Công nguyên). Nó có trước các sách của Môise ít nhất 3 thế kỷ 50/444. Thật là thú vị là nó đã có trước Môise, con người mà người ta cho là thô sơ không có mẫu tự.
Thật là một sự mỉa mai trong lịch sử! Tài liệu "Documentary Hypothesis" vẫn còn được người ta giảng dạy, trong khi nền tảng cơ bản của nó (tức là "những kết quả đáng tin cậy của thượng tầng phê bình" đã bị lật đổ và bị chỉ ra là sai lầm.
Các nhà phê bình cũng nói rằng các bức tường của thành Giêricô đã không bị đổ xuống và bạn đã biết đó là một điều sai lầm. Nó đã có đổ xuống.
"Những kết quả đáng tin cậy của thượng tầng phê bình" cũng nói rằng không có người Hittites (Hêtit) (một giống dân chỉ thấy có trong Cựu ước vào thời đó). Không có một tài liệu nào khác nói về họ. Chắc là chuyện thần thoại. À, lại sai lầm nữa. Theo kết quả khảo cổ, hiện nay có hàng trăm tài liệu đua nhau nói về nền văn minh trên 1200 năm của dân Hittites.
Earl Radmacher, Viện Trưởng Đại Chủng Viện Western Conservative Baptist đã trích lời của ông Nelson Glueck (đúng hơn là Glek), cựu Viện trưởng của trường Jewish Theological (trường Thần học Do Thái) ở Đại học Hebrew Union tại Cincinnati, và là một trong 3 nhà khảo cổ lớn đã nói: "Tôi lắng nghe ông ta (tức Glueck) lúc ông ấy ở Temple Emmanuel ở Dallas, mặt ông ta hơi đỏ và nói "Tôi đã bị buộc tội vì giảng dạy ý nghĩa chính xác, nguyên vẹn của Kinh Thánh. Tôi muốn người ta hiểu rằng tôi chẳng hề dạy điều này. Điều tôi muốn nói là trong tất cả những nghiên cứu về khảo cổ học của tôi, tôi chưa hề phát hiện một vật cổ nào trong thời xưa lại mâu thuẫn với một câu nào trong Lời của Đức Chúa Trời" 51/50.
Kinh Thánh là quyển sách duy nhất đối mặt với những kẻ phê phán nó. Không có một sách nào trong lịch sử giống như Kinh Thánh. Một người tìm kiếm lẽ thật nên xem Kinh Thánh là quyển sách có được những giá trị nói trên.
5C. DUY NHẤT VỀ SỰ GIẢNG DẠY
1D. Lời tiên tri
Wilbur Smith (trong quyển The In Comparable Book, nhà xuất bản Beacon), người đã đọc nhiều ngàn cuốn sách, đã kết luận rằng "Dù ai đó có nghĩ gì về uy quyền và sức điệp được in trong quyển sách mà chúng ta gọi là Kinh Thánh đi chăng nữa thì vẫn có một sự đồng ý rộng rãi trong nhiều phương diện rằng Kinh Thánh là quyển sách kiệt xuất nhất đã được viết nên trong khoảng 5000 năm nay về nhân loại.
Đó là cuốn sách duy nhất từng được con người viết nên hoặc một nhóm người viết, trong số đó người ta thấy phần lớn là những lời tiên tri liên quan đến những dân tộc khác nhau, đến dân Do Thái, đến tất cả mọi dân tộc trên đất này và đến sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Thế giới thời cổ đã có nhiều phác họa khác nhau để nói đến tương lai, được biết là những lời tiên đoán, nhưng trong toàn bộ văn học Hy lạp và Latinh, mặc dù họ dùng những lời tiên tri thì chúng ta vẫn không thể tìm thấy bất kỳ một lời tiên tri thật sự rõ ràng nào về một sự kiện lịch sử lớn nói đến tương lai hay một lời tiên tri nào về một Đấng Cứu Chuộc hiện đến giữa loài người".
Hơn hàng trăm năm trước khi Mohammed sinh ra, Hồi giáo không thể đưa ra được một lời tiên tri nào về sự xuất hiện của ông ta, và cũng không có một nhà sáng lập giáo phái nào trên đất nước này đã đưa ra một cách rõ ràng những văn bản cổ xưa tiên đoán rõ ràng về sự xuất hiện giáo phái đó cả." 43/9, 10.
2D. Lịch sử
Từ I Samuên đến II Sử ký, người ta thấy được lịch sử của dân Israel trải qua khoảng 5 thế kỷ. Tác phẫm The Cambridge Ancient History, (quyển I, trang 222) chép rằng: "Dân tộc Israel đã tỏ ra là một dân tộc thiên tài trong sự xây dựng lịch sử, và Cựu ước là hiện thân của tác phẩm cổ xưa nhất còn tồn tại".
Wilbur Smith trích dẫn lời của một nhà khảo cổ nổi tiếng là giáo sư Albright, người đã khởi sự viết bài tiểu luận kinh điển của ông "The Biblical Period".
"Truyền thống dân tộc Hêbơrơ trội hơn những dân tộc khác qua bức tranh về nguồn gốc bộ lạc và dòng dõi của họ. Ở Ai Cập và Babylôn, ở Assyria và Phoenicia, ở Hy Lạp và La mã, chúng ta khó mà tìm thấy được điều gì có thể so sánh được. Trong truyền thống của các dân tộc Nhật Nhĩ Man không có gì giống dân tộc Hêbơrơ. Tại Ấn Độ hay Trung Hoa cũng không tạo ra được một điều gì tương tự cả, vì những ký thuật lịch sử sơ khởi nhất của họ là những gửi gắm văn chương về một truyền thống đã bị bóp méo của các triều đại mà không có một dấu vết gì về những người chăn chiên hay những nông dân đứng sau những vị thần hoặc vị vua đã khởi đầu lịch sử của họ. Không một tác phẩm lịch sử nào của dân tộc Indo-Aryans cổ xưa nhất (là dân Puranas) hay trong những sử gia Hy Lạp cổ đại nhất lại nói đến một chút sự kiện nói rằng cả dân Indo-Aryan hay Hellen đã từng là những người du mục, từ miền bắc di trú đến những nơi cư ngụ sau cùng hết của họ. Thật ra mà nói, những người Assyria đã nhớ lại một cách mơ hồ rằng những vị vua đầu tiên nhất của họ, mà tên tuổi của những ông vua này được họ nhắc lại không một chút chi tiết về các chiến công của những vị vua đó, là những người sống trong lều trại, nhưng cũng từ đó họ đã bị quên lãng từ lâu" 43/24.
(Bài tiểu luận này được tìm thấy trong quyển The Jews, Their History, Culture Ọ Religion).
3D. Những lời chỉ trích cá nhân .
Lewis S. Chafer, người sáng lập và là cựu Viện trưởng của Viện Thần học Dallas, đã nói rằng: "Kinh Thánh không phải là một quyển sách mà con người muốn viết sao thì viết".
Kinh Thánh giải quyết rất thẳng thắn với tội lỗi của những nhân vật trong đó. Ngày nay chúng ta hãy đọc lại các tiểu sử, chúng ta thấy người ta đã cố che giấu, bỏ qua, lờ đi hành động xấu xa của các nhân vật đó. Bạn hãy lấy những thiên tài trong văn chương xem, phần lớn đều được tô phết như những vị thánh. Kinh Thánh thì không như vậy, Kinh Thánh chỉ nói như thế này:
Phải lên án tội lỗi của dân sự - PhuDnl 9:24.
Tội lỗi của các tổ phụ - SaSt 12:11-13, 49:5-7.
Các nhà truyền đạo phải nói lên tội lỗi của họ và tội lỗi của các sứ đồ Mat Mt 26:31-56; 8:10-26; GiGa 10:6; 16:32; Mac Mc 6:52, 8:18, LuLc 8:24, 25; 9:40-45. Tình trạng lộn xộn của các Hội Thánh: ICo1Cr 1:11; 15:1; IICo 2Cr 2:4 v.v... Nhiều người nói: "Người ta viết chương Đavít và Bátsêba làm chi". Vâng, Kinh Thánh thường kể lại những điều như thế.
6C. DUY NHẤT VÌ ĐÃ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HỌC
Cleland B. Mc Afee đã viết trong cuốn The Greatest English Classic rằng: "Nếu tất cả Kinh Thánh trong một thành phố lớn nào đó bị hủy diệt thì quyển sách này sẽ được khôi phục tất cả các phần quan trọng nhất của nó trên các kệ sách của thư viện thành phố đó vì những đoạn được các sách khác trích lại. Có những tác phẩm, hầu hết là của những tác giả văn học lớn, đã thể hiện đặc biệt sự ảnh hưởng của Kinh Thánh trên chúng là dường nào". 32/134.
Sử gia Philip Schaff (trong quyển The Person of Christ, Hội American Tract) đã mô tả sinh động tính duy nhất của Kinh Thánh qua Đấng Cứu Thế:
"Jesus, người Naxarét, không có tài chánh và quân đội nhưng đã chinh phục hàng triệu người hơn cả A-lịch-sơn, Caesar, Mohammed và Napoleon; không có khoa học và học vấn nhưng Ngài đã chiếu ánh sáng vào những điều phàm nhân và thiên thượng hơn tất cả các triết gia, học giả cộng lại; không học về tu từ học trong các trường học nhưng Ngài đã dùng nhiều lời nói vượt xa các nhà diễn thuyết hoặc các thi sĩ; không hề viết lấy một hàng nhưng Ngài đã làm cho nhiều ngòi bút lay động, tạo đề tài cho nhiều bài giảng, nhiều bài diễn thuyết, nhiều sự tranh luận, nhiều sách hay, nhiều tác phẩm nghệ thuật và những lời ngợi khen hơn toàn thể đội quân loài người từ cổ chí kim".
Bernard Ramm (trong quyển Protestant Christian Evidences, nhà xuất bản Moody, 1957) nói thêm rằng: "Có nhiều điều phức tạp trong việc nghiên cứu thư mục mà không một ngành khoa học nào về kiến thức của con người so sánh được. Kể từ thời các sứ đồ (năm 95 sau CN) đến nay có một dòng văn học lớn lấy Kinh Thánh làm nguồn cảm hứng - các tự điển thánh kinh, bách khoa thánh kinh, từ vựng thánh kinh, bản đồ thánh kinh, thánh kinh địa dư. Những sách này có lẽ chỉ là khởi đầu. Tiếp theo chúng ta có thể kể đến vô số thư mục về thần học, giáo dục tôn giáo, các bài thánh ca, các cuộc truyền giáo, các ngôn ngữ thánh kinh, lịch sử Hội Thánh, lịch sử Tôn giáo, các tác phẩm mộ đạo, các sách chú giải, triết lý tôn giáo, các sự kiện, sự biện giải tôn giáo. v.v... Hình như là vô số" 36/233.
Kenneth Scott Latourette (trong quyển A Christianity, Harper and Row, 1953), Cựu sử gia Viện Đại Học Yale nói rằng:
"Đó là bằng chứng về tầm quan trọng của Ngài, về ảnh hưởng của Ngài trên lịch sử và có thể là sự bí ẩn về thân vị của Ngài mà không có một con người nào đã từng sống trên hành tinh này lại gợi lên một tác phẩm văn chương vĩ đại như thế trong nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ; không hề tàn lụi, cơn lũ này cứ tiếp tục dâng lên" 28/44.
3B. Sự kết luận rõ ràng.
Những điều trên không chứng tỏ rằng Kinh Thánh là lẽ thật nhưng đối với tôi nó chứng tỏ rằng Kinh Thánh là quyển sách duy nhất ("khác với những sách khác", "không có giống hoặc tương đương").
Một vị giáo sư đã nhắc tôi: "Nếu anh là một người thông minh, nếu anh muốn tìm kiếm chân lý anh nên đọc một cuốn sách hấp dẫn lôi cuốn hơn bất kỳ một sách gì khác".
Phần nói thêm: Kinh Thánh là cuốn sách tôn giáo đầu tiên được đưa vào trong không gian (trên một loại vi phim (microfilm)). Đó là cuốn sách đầu tiên mô tả nguồn gốc của trái đất (Các phi hành gia đọc SaSt 1:1 "Ban đầu Đức Chúa Trời..."). Hãy suy nghĩ xem Voltaire nói rằng Kinh Thánh sẽ bị hủy diệt vào năm 1850 đấy.
Bạn có thể nói thêm rằng Kinh Thánh là một trong những quyển sách đắt giá nhất. Bản Kinh Thánh Latin Vulgate của Gutenberg được bán trên 100.000 đô-la. Người Nga đã bán cuốn Kinh Thánh Codex Sinaiticus (một bản Kinh Thánh cũ) cho nước Anh với giá 510.000 đô-la. 36/227.
Bạn nên nhớ bức điện tín dài nhất thế giới là bản Kinh Thánh Tân ước Revised Version New Testament được đánh đi từ New York đến Chicago. 36/227.


JESUS - CON ĐỨC CHÚA TRỜI

Đây là phần phát họa đại cương để giúp bạn sử dụng chương này có hiệu quả :
1A. LỜI XÁC NHẬN TRỰC TIẾP CỦA NGÀI VỀ THẦN TÁNH
1B. CUỘC XÉT XỬ
2B. Những lời xác nhận bản thân của Ngài.
3B. Việc Ngài chấp nhận người ta thờ phượng Ngài như Đức Chúa Trời.
4B. Những lời xác nhận của Ngài được những người khác làm rõ.
2A. NHỮNG LỜI XÁC NHẬN GIÁN TIẾP CỦA NGÀI VỀ THẦN TÁNH.
1B. Sự tha tội.
2B. Là Đấng bất biến
3B. Sự sống
4B. Xét xử
3A. NHỮNG DANH XƯNG CỦA NGÀI VỀ THẦN TÁNH
1B. YHWH
2B. Con Đức Chúa Trời.
3B. Con người
4B. Aba, Cha.

1A. NHỮNG LỜI XÁC NHẬN TRỰC TIẾP
1B. Giới thiệu :
"Rõ ràng Christ là ai có tầm quan trọng như Ngài đã làm gì" 16/11. Vì vậy chúng ta phải đặt câu hỏi Đấng Christ là ai? Ngài là con người như thế nào?
Như Albert Well (do Wm.C. Robinson đã dẫn cuốn Who say Ye That I am? Nhà xuất bản Wm. B. Eerdmans, 1949) đã nói "Điều đáng ngạc nhiên là Ngài đã lôi kéo sự chú ý vào chính Ngài, đặt Ngài làm trung tâm của mọi vấn đề nảy sinh" 27/51.
Như chúng ta biết Ngài không giống như tính cách của những nhà lãnh đạo tôn giáo, Thomas Schutz đã viết :
"Không một nhà lãnh đạo nổi tiếng nào kể cả Môise, Phao Lô, Phật Thích Ca, Mohammed, Khổng Tử v.v... đã từng xác nhận mình là Đức Chúa Trời ngoại trừ Jesus Christ. Christ là nhà lãnh đạo tôn giáo duy nhất đã từng xưng nhận thần tánh của mình và cũng là người duy nhất làm cho phần lớn thế giới này tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời" 31/209.
Làm thế nào mà một "con người" lại làm cho người khác nghĩ rằng mình là Đức Chúa Trời được? Trước hết chúng ta hãy nghe F.J. Meldau (trong 101 Proofs of The Deity of Jesus Christ from the Gospels):
"Sự giảng dạy của Ngài là tuyệt điểm, tận cùng vượt trên sự giảng dạy của Môise và các tiên tri. Ngài chẳng bao giờ suy nghĩ thêm sau khi đã nói rồi, cũng không phải xem xét lại. Ngài chẳng bao giờ rút lại điều đã nói hay thay đổi lời đó. Ngài cũng chẳng bao giờ phỏng đoán, "giả như" hoặc nói điều gì không chắc chắn. Đây là tất cả những gì trái ngược với các giáo sư phàm nhân và những lời dạy của họ" 19/5.
Foster xác chứng thêm về điều này:
"Nhưng lý do lớn nhất mà đã trực tiếp dẫn đến cuộc hành hình đê tiện vị giáo sư xứ Galilê là sự xác nhận lạ lùng của Ngài rằng, Ngài, chỉ là con trai của một người thợ mộc giữa đống vỏ bào và bột cưa trong xưởng của cha mình, lại chính là Đức Chúa Trời mặc lấy xác thịt loài người" 2/49.
Người ta có thể nói rằng "Dĩ nhiên là Chúa Jesus đã được nói đến theo cách này trong Kinh Thánh, vì những kẻ theo Ngài đã viết như vậy để làm cho kỷ niệm về Ngài trở nên bất diệt". Tuy nhiên không nhìn nhận Kinh Thánh là không nhìn nhận tất cả các sự kiện chúng ta thấy qua tài liệu lịch sử.
William Robinson (Our Lord, Nhà xuất bản Wm, B Eerdmans) nói rằng: "Tuy nhiên nếu người ta lấy ý kiến khách quan lịch sử về vấn đề này thì họ sẽ thấy rằng ngay cả lịch sử của con người cũng xác nhận rằng Chúa Jesus đã sống trên đất này và người ta đã thờ phượng Ngài như Đức Chúa Trời. Ngài đã thiết lập một Hội Thánh thờ phượng Ngài trải qua 1900 năm. Ngài đã thay đổi lịch sử thế giới" 26/29.
2B. Cuộc xét xử.
Mac Mc 14:61-64
"Nhưng Đức Chúa Jesus làm thinh, không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Ấy chính ngươi là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không? Đức Chúa Jesus phán rằng: Ta chính phải đó, các ngươi sẽ thấy con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời và ngự giữa đám mây trên trời mà đến. Bấy giờ thấy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi? Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào. Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết."
Judge Gaynor (The Mis-Trial of Jesus), một luật gia tài năng ở tòa án New York, trong bài nói chuyện của ông về cuộc xét xử Chúa Jesus, cho rằng sự lộng ngôn là một lời cáo buộc chống lại Ngài trước tòa Công luận. Ông ta nói: "Theo sự tường thuật qua các sách Tin lành thì rõ ràng là những lời buộc tội được đưa ra khiến Chúa Jesus phải bị xét xử và buộc tội thì chỉ là những lời lộng ngôn... Chúa Jesus đã xác nhận một quyền năng siêu nhiên mà đối với con người đó là một điều lộng ngôn" (Trích GiGa 10:33). Vấn đề của Ngài là sự "tự xưng mình là Đức Chúa Trời" chứ không phải là những gì Ngài nói về đền thờ 6/118-119.
A.T. Robertson nói rằng đối với những câu hỏi của người Pharisi thì "Chúa Jesus đã chấp nhận sự thách thức và Ngài cũng nhìn nhận rằng Ngài đã xác nhận Ngài có 3 danh xưng (Đấng Mêsi, Con Người, Con Của Đức Chúa Trời). Chữ Ye say (Humeis legete) là một cụm từ trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "Vâng, phải" (so sánh "Ta là" (I am) trong Mac Mc 14:62 với "Ngươi đã nói" trong Mat Mt 26:64)".
Chính câu trả lời của Chúa Jesus đã khiến cho thầy cả thượng phẩm xé áo. H.B. Swete đã giải thích ý nghĩa của điều này: "Luật pháp cấm thầy tế lễ cả xé áo mình vì những điều rắc rối có tính cách cá nhân" (LeLv 10:6, 21:10), nhưng khi đã hành động như thế này là một sự xét xử. Phong tục đòi hỏi ông ta phải hành động như thế để bày tỏ sự ghê gớm về bất kỳ sự lộng ngôn nào được nói ra trước sự hiện diện nào của ông ta. Cuộc xét xử rắc rối đã chùng xuống. Nếu bằng chứng đáng tin cậy chưa có sẵn thì giờ đây điều cần có đã thế chỗ cho: tù nhân đã tự buộc tội. 35/311.
Chúng ta bắt đầu thấy rằng đây không phải là một cuộc xét xử bình thường. Irwin Linton, một luật sư, đã chỉ ra điều này khi ông ta nói: "Đây là cuộc xét xử có một không hai, trong đó không phải nêu ra hành động của bị cáo mà chính là sự đồng ý của bị cáo. Những lời cáo buộc tội ác đã được đưa ra để chống lại Christ, lời thú tội hoặc bằng chứng hay đúng hơn là hành động trước sự hiện diện của tòa mà Ngài đã bị buộc tội, sự tra hỏi của chính quyền La mã, câu viết và lời tuyên cáo trên cây thập tự vào lúc xét xử, tất cả những điều đó có liên quan đến đặc tính và phẩm giá của Christ "Bạn nghĩ gì về Christ?" "Ngài là Con của ai?".
Cũng với một nhận xét như thế, chúng ta hãy nghe lời của Frank Morison, trước đây là một người theo chủ nghĩa hoài nghi: "Jesus người Naxarét bị truyên án tử hình không phải do lời cáo buộc của nguyên cáo nhưng do chính sự xác nhận từ miệng Ngài thốt ra" 22/25.
Cũng vậy chúng ta hãy nghe Hilarin Felder (Christ and Critics): "Việc xem xét đến cuộc xét xử Chúa Jesus đủ cho chúng ta một lời chứng tuyệt đối rằng Cứu Chúa đã xác nhận thần tánh của Ngài trước những kẻ xét xử" 7/229-230.
Simon Greenleaf (trong quyển The Testimony of the Evangelist, nhà sách Baker 1965), cựu giáo sư ở trường luật Harvard, chính ông cũng là luật sư, đã nói về cuộc xét xử Chúa Jesus thế này:
"Thật khó mà hiểu được tư cách của Ngài sẽ được bào chữa bởi lẽ gì ngoại trừ đặc tính siêu phàm của Ngài. Người ta nghĩ rằng không có một luật sư nào nghĩ đến việc bào chữa cho Ngài dựa trên một nền tảng khác "10/562.
Mặc dù câu trả lời của Chúa Jesus đối với những kẻ xét xử Ngài có khác nhau trong mỗi sách phúc âm nhưng theo như Morison; chúng ta thấy nó có cùng ý nghĩa:
"... Thực vậy những câu trả lời này là giống nhau. Đối với người nghe hiện nay thì cách nói "như lời ngươi nói" hoặc "chính ngươi nói ta là Đấng đó" có vẽ lẫn tránh, không có ý nghĩa gì với suy nghĩ của người Do thái đương thời.
"Như ngươi nói" là một hình thức nói theo phong tục mà những người Do thái có học dùng để đáp lại một vấn đề có ý nghĩa trang nghiêm hoặc u buồn. Phép lịch sự không cho phép trả lời trực tiếp là "có" hoặc "không". 22/26.
Chắc chắn là Chúa Jesus đã có hàm ý trong các câu trả lời của Ngài, G.G. Montefiore đã phân tích câu nói của Ngài là một sự công bố thần tánh của Ngài. Ông nói: "Hai cụm từ "Con người (Ngài thường dùng) và "ở bên hữu quyền phép" (một thành ngữ đặc biệt của người Hebrew dành cho các vị thần) cho thấy rằng câu trả lời này hoàn toàn phù hợp với tinh thần và thái độ của Chúa Jesus trong câu nói đó". 20/360
Hoàn toàn rõ ràng rằng đây là lời xác nhận mà Chúa Jesus muốn bày tỏ chính Ngài ra. Chúng ta cũng thấy rằng người Do Thái chắc chắn đã hiểu câu trả lời của Ngài là một lời xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời. Do đó chúng ta phải đối diện với một trong hai điều này: Hoặc sự xác nhận của Ngài là một lời lộng ngôn, hoặc Ngài là Đức Chúa Trời. Những kẻ xét xử Ngài đã thấy lời tuyên bố này là rõ ràng - quá rõ ràng và rồi họ đã đóng đinh Ngài và chế nhạo Ngài vì "Ngài tin cậy nơi Đức Chúa Trời... vì Ngài nói "Ta là Con của Đức Chúa Trời" (Mat Mt 27:43) 33/125.
Do đó chúng ta thấy rằng Chúa Jesus bị đóng đinh vì những gì Ngài nói về mình là Con của Đức Chúa Trời. Sự phân tích về lời xác nhận của Ngài đã chứng tỏ điều này. Sự xác nhận của Ngài cho thấy rằng:
1. Ngài là Con của Đấng Thánh.
2. Ngài là Đấng ngồi bên hữu quyền phép.
3. Ngài là Con người sẽ ngự trên mây trời mà đến
William Childs Robinson đã rút ra kết luận từ điều này rằng "Chỉ riêng một trong ba lời xác nhận này thôi thì Ngài cũng là Đấng Mê-si-a rồi. Ảnh hưởng lũy tích về Đấng Mêsi của họ có tầm quan trọng rất lớn".
Herschel Hobbs (trong quyển An Exposition of the Gospel of Luke, nhà sách Baker) lại tiếp tục lập lại rằng:
"Tòa công luận đã nắm lấy hết ba điểm này. Họ gom chúng lại trong một vấn đề: "Thế thì ngươi là Con của Đức Chúa Trời phải không?" câu hỏi của họ chờ đợi một câu trả lời xác quyết. Đối với họ câu trả lời đó tương đương với một lời tuyên bố. Vì vậy Chúa Jesus chỉ đáp: "như ngươi nói, ta là Đấng đó". Do đó, Ngài đã làm cho họ chấp nhận sự đồng đẳng của Ngài trước khi họ thấy Ngài đáng tội chết. Đối với Chúa Jesus đó là chiến lược thần tình. Ngài chết không chỉ bởi lời xác nhận của riêng Ngài mà còn vì lời xác quyết của họ. Theo họ không còn cần chứng cớ gì nữa. Vì họ đã nghe chính Ngài nói. Vì vậy họ đã tuyên án Ngài vì chính những lời "miệng Ngài nói ra". Nhưng Ngài cũng tuyên án họ bởi những lời nói của họ. Họ không thể nói rằng họ không tuyên bố Con Đức Chúa Trời là đáng tội chết" 11/322.
Robert Anderson nói:
"Nhưng không một bằng chứng xác quyết nào có sức thuyết phục hơn là những lời chứng thù địch, và thật ra việc Chúa Jesus xác nhận thần tánh của Ngài thì rõ ràng là do kẻ thù Ngài đưa đến. Chúng ta nên nhớ rằng người Do Thái không phải là một bộ tộc dã man ngu dốt mà là một dân tộc có nền văn hóa cao và nhiệt tình tôn giáo; và dựa trên lời cáo buộc đó, không có ai chống đối, tòa công luận đã buộc tội tử hình Ngài. Đó là Hội đồng lớn của Quốc gia, bao gồm những nhà lãnh đạo tôn giáo xuất sắc nhất của họ, kể cả những người thuộc loại Ga-ma-li-ên và học trò của ông ta là Saulơ, người "Tạt sơ" 2/5.
Qua lời phát biểu của Hilarin Felder đem đến cho chúng ta nhiều ánh sáng hơn về vụ xét xử mà thật ra người Pharisi đã đặt lên chính họ:
"Nhưng vì họ đã buộc tội Cứu Chúa là kẻ lộng ngôn, với lý do Ngài đã tự xưng điều đó nên những kẻ xét xử đã chính thức chứng tỏ rằng Chúa Jesus không chỉ xưng nhận rằng Ngài là Vua Mêsi có thần quyền, là con phàm nhân của Đức Chúa Trời mà Ngài cũng là Đấng Mêsi thiên thượng và là con trai một của Đức Chúa Trời, và vì lời xưng nhận này Ngài đã bị hành quyết" 7/306 quyển 1.
Kết quả sự nghiên cứu của chúng tôi thì chúng ta có thể kết luận rằng Chúa Jesus đã tự xác nhận thần tánh của Ngài theo các mà mọi người đều nhận thức được. Những lời xác nhận này được các nhà lãnh đạo tôn giáo xem là lộng ngôn và kết quả là Ngài bị đóng đinh vì "Ngài đã tự cho mình là con của Đức Chúa Trời" (GiGa 19:7) 17/45.
3B. Những lời xác quyết khác:
1C. BÌNH ĐẲNG VỚI CHA
1D. GiGa 10:30-33, Chúa Jesus có xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời trong những phần khác trong trong Kinh Thánh không? Người Do Thái nói Ngài có xác nhận như chúng ta thấy trong đoạn sau: "Ta với Cha là một". Người Giuđa lượm đá ném Ngài. Đức Chúa Jesus phán rằng: Ta đã làm trước mắt các ngươi lắm việc lành bởi Cha đến, vì chi mà các ngươi ném đá ta? Người Giuđa trả lời rằng: Ấy chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi nhưng vì lời lộng ngôn: ngươi là người mà tự xưng là Đức Chúa Trời". 18/409.
Khi nghiên cứu cách diễn tả từ trong tiếng Hy Lạp thì chúng ta thấy có một hàm ý thật thú vị và rõ ràng. Theo A. T. Robertson chúng ta thấy: "Một (hen). Trung tính, không phải từ chỉ giống đực (heis). Không phải một người (so sánh chữ heis trong GaGl 3:28) nhưng lại là một bản chất, một thực thể".
Robertson nói thêm:
"Lời nói quả quyết này là đỉnh cao trong những lời xác quyết của Christ về mối quan hệ giữa Cha và chính Ngài (con). Nó khiến cho người Pharisi tức giận điên cuồng" 28/186-187.
Do đó rõ ràng là trong suy nghĩ của những ai nghe câu nói này thì không nghi ngờ gì nữa, Chúa Jesus đã xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời. Vì vậy: "Người Do Thái đã xem lời nói của Chúa Jesus là lời lộng ngôn và họ đã tiếp tục nắm lấy cuộc xét xử. Trong Luật pháp có chép rằng tội lộng ngôn phải bị ném đá (LeLv 24:16). Nhưng những người này không chịu thi hành đúng theo tiến trình luật pháp. Họ chưa chuẩn bị được bản cáo trạng để chính quyền có thể đưa ra những hành động cần thiết. Trong cơn giận dữ họ sửa soạn để vừa làm người xét xử vừa làm kẻ hành hình. Và rồi họ phải quay lại với ý định ném đá ban đầu của họ" (GiGa 8:59). 3/524.
Câu trả lời của họ bác bỏ lý do cho rằng Chúa Jesus bị ném đá vì những việc lành của Ngài. Hay nói đúng hơn Ngài bị ném đá vì đã "lộng ngôn". Người ta có thể hỏi rằng họ đã hiểu rõ ràng những lời dạy của Ngài nhưng liệu họ có thôi nhìn nhận những điều xác nhận của Ngài là đúng hay không?
2D. 5:17-18
"Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy. Bởi cớ đó dân Giuđa càng tìm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sabát mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là thân phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời".
Sự nghiên cứu từ ngữ của A. T. Robertson trong quyển Word Pictures of the New Testament cho chúng ta một số sự hiểu biết thú vị.
"Chúa Jesus phán rõ ràng rằng "Cha Ta" (ho pater mou) chứ không phải là "Cha chúng ta", xác định mối quan hệ đặc biệt với Cha. "Làm việc cho đến bây giờ" (heos arti ergazetai)... Chúa Jesus đã tự đặt mình ngang hàng với hoạt động của Đức Chúa Trời và do đó bào chữa cho sự chữa lành của Ngài vào ngày Sabát là đúng" 28/82-83.
Điều đáng chú ý là người Do Thái đã không xem Đức Chúa Trời là "Cha Ta". Nếu họ xem, như vậy thì họ đã đủ tư cách tuyên bố câu "ở trên trời". Tuy nhiên Chúa Jesus không làm như vậy, Ngài đã xác nhận rằng người Do Thái không thể hiểu sai khi Ngài gọi Đức Chúa Trời là "Cha Ta" 21/309.
Chúa Jesus cũng có ý nói rằng trong khi Đức Chúa Trời đang làm việc thì Ngài là Con cũng đang làm việc. 23/1083. Cũng vậy người Do Thái cũng hiểu hàm ý của Ngài rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Kết quả của câu nói này là lòng căm ghét của người Do Thái gia tăng. Mặc dù họ chỉ đang tìm cách để tuyên án Ngài nhưng ước muốn giết Ngài trong họ càng gia tăng 15/376.
2C. "TA LÀ". - (ĐẤNG HẰNG HỮU - I AM)
8:58 "Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Ápraham đã có ta" (I am).
"Ngài nói với họ rằng: "Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi...". Mở đầu bằng hai từ Amen - những lời mạnh mẽ nhất - Chúa chúng ta đã xác nhận danh xưng của Chân thần. Người Do Thái đã nhận ra ý của Ngài và lấy làm khó chịu, họ đã cố ném đá Ngài" 1/801-802.
"Làm thế nào mà người Do Thái nhận ra câu nói này? Henry Alford cho chúng ta biết: "... Tất cả những lời giải kinh không thiên vị về những từ này đều phải thừa nhận rằng đây là lời tuyên bố về tính hằng hữu của Christ" 1/801-802.
Marvin Vincent trong quyển Word Studies of the New Testament viết rằng lời nói của Chúa Jesus là "một cách nói tuyệt đối, vô tận, không có thời gian "Ta là" (eimi - "I AM") 37/181 quyển 2.
Dựa trên tài liệu Cựu Ước chúng ta có thể thấy được ý nghĩa của từ "I AM". A.G. Campbell rút ra kết luận này:
"Qua sự tham khảo Cựu Ước như trong XuXh 3:14, PhuDnl 32:39, EsIs 43:10 thì rõ ràng là Chúa Jesus không đưa ra một ý gì mới cả. Người Do Thái đã hoàn toàn quen thuộc với quan niệm rằng Giêhôva của Cựu Ước là Đấng hằng hữu. Chỉ có điều mới đối với họ là lời tuyên bố sự đồng nhất Đấng này với Chúa Jesus". 4/12.
Theo sự phản ứng của những người Do Thái chúng ta có cơ sở để nói rằng họ hiểu ý của Ngài là sự xác nhận thần tánh tuyệt đối của Ngài. Sự hiểu biết sâu sắc đó đã khiến họ bắt đầu làm trọn luật pháp Môise dành cho kẻ lộng ngôn bằng cách ném đá Chúa Jesus" (LeLv 24:13-16). Campbell cũng nói về điểm này cho những người không phải là Do Thái rằng:
"Chúng ta cũng phải hiểu rằng thành ngữ "I am" (eimi) là có ý định tuyên bố thần tánh của Christ rất rõ ràng vì Ngài không có ý định giải thích. Ngài không cố làm cho người Do Thái biết rằng họ đã hiểu lầm Ngài nhưng đúng hơn là Ngài lại cứ lặp lại lời nói đó nhiều lần trong nhiều trường hợp 4/12-13.
3C. CHÚA JESUS XỨNG ĐÁNG NHẬN SỰ TÔN TRỌNG GIỐNG NHƯ ĐỨC CHÚA TRỜI.
GiGa 5:23, 24
"Đặng ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai con đến. Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống".
Trong phần cuối của câu này Chúa Jesus đã đưa ra một lời khuyến cáo nhằm vào những kẻ đã cáo tội Ngài là lộng ngôn. Ngài nói với họ rằng họ lăng mạ Ngài thật ra là lăng mạ Đức Chúa Trời, Đấng bị họ xúc phạm qua cách họ đối xử với Chúa Jesus" 8/174 quyển 2.
Chúng ta cũng thấy rằng Chúa Jesus đã nhận quyền được thờ phượng như Đức Chúa Trời. Và như đã nói ở trên điều này dẫn đến hệ quả là không tôn kính Chúa Jesus là không tôn kính Đức Chúa Trời 28/86.
Wordsworth (do J.C. Ryle trích dẫn trong quyển Expository Thoughts on the Gospels), đã nhận xét rằng "Họ, những kẻ tự cho là sốt sắng với một Đức Chúa Trời, thì đã không tôn kính Ngài đúng đắn trừ khi họ tôn kính Con cũng như đã tôn kính Cha" 29/291 quyển 1.
4C. BIẾT TA
GiGa 8:19
"Chúng thưa cùng Ngài rằng: Cha của thầy ở đâu? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Các ngươi chẳng biết ta và cũng chẳng biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta thì cũng biết cha ta nữa".
5C. HÃY TIN TA
14:1.
"Lòng các ngươi chớ hề bối rối, hãy tin Đức Chúa Trời cũng hãy tin ta nữa."
Merill Tenney (trong quyển John: The Gospel of Belief, nhà xuất bản Wm B. Eerdmans, 1948) giải thích rằng:
"Ngài bị tuyên án tử hình, cái chết đến với mọi người. Nhưng Ngài vẫn táo bạo đòi hỏi họ phải xem Ngài là đối tượng của đức tin. Ngài đã tự làm cho mình trở nên câu giải đáp cho vấn đề số phận và xác định rõ rằng tương lại của họ phụ thuộc vào công tác của Ngài. Ngài hứa chuẩn bị cho họ một chỗ và sẽ trở lại để đón họ" 36/213.
6C. AI ĐÃ THẤY TA...
14:9
"Đức Chúa Jesus phán rằng "Hỡi Philíp, ta ở cùng ngươi đã lâu thay mà ngươi chưa biết ta. Ai đã thấy ta tức là đã thấy Cha, sao ngươi lại nói rằng xin chỉ Cha cho chúng tôi".
7C. TA PHÁN CÙNG CÁC NGƯƠI RẰNG... Mathiơ 5:20,22,26,28 v.v...
Trong đoạn Kinh Thánh này chúng ta thấy rằng Chúa Jesus đang giảng dạy và nói trong chính danh Ngài. Làm như vậy, Chúa Jesus đã đưa uy quyền của lời nói Ngài lên cao. Thay vì lặp lại câu nói giống như các tiên tri "Đức Giê Hô Va có phán" thì Chúa Jesus nói rằng "Quả thật, quả thật, ta phán cùng các ngươi".
Karl Scheffrahn và Henry Kreyssler cho chúng ta thấy:
"Ngài chẳng bao giờ ngập ngừng cũng không hề xin lỗi. Ngài cũng chẳng cần cãi lại, rút lại hay thay đổi những gì Ngài đã nói. Ngài đã nói những lời rất rõ ràng về Đức Chúa Trời (3:34) Ngài phán: "Trời đất sẽ qua đi nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đâu" (Mac Mc 13:31) 30/11.
4B. Ngài đã yêu cầu được thờ phượng như Đức Chúa Trời và Ngài đã chấp nhận việc thờ phượng Ngài như Đức Chúa Trời.
1C. SỰ THỜ PHƯỢNG CHỈ DÀNH RIÊNG CHO ĐỨC CHÚA TRỜI.
10. Sấp mình xuống trong sự tôn kính là hành động tôn thờ tốt đẹp nhất đối với Đức Chúa Trời (GiGa 4:20-22; Cong Cv 8:27).
2D. Thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật (GiGa 4:24).
3D. "Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi" (Mat Mt 4:10; LuLc 4:8).
2C. CHÚA JESUS NHẬN ĐƯỢC SỰ THỜ PHƯỢNG NGÀI NHƯ ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ NGÀI CHẤP NHẬN ĐIỀU ĐÓ.
1D. Người phung "lạy Ngài..." (Mat Mt 8:2).
2D. Một người mù từ thuở sinh ra, sau khi được chữa lành" bèn sấp mình xuống trước mặt Ngài" (GiGa 9:35-39).
3D. Các môn đồ "quỳ lạy ngài và nói rằng: Thầy thật là Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 14:33).
4D. "Đoạn Ngài phán cùng Thô Ma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây và xem bàn tay ta, cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng song hãy tin.
Thô Ma thưa rằng: Lạy chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi.
Đức Chúa Jesus phán: Vì ngươi đã thấy ta nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy" (GiGa 20:27-29).
3C. CHÚA JESUS TRÁI NGƯỢC VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC.
1D. Đội trưởng Cọtnây quỳ xuống dưới chân Phierơ và "lạy". Phierơ vội bào chữa rằng: "Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi" (Cong Cv 10:25-26).
2D. Trước mặt vị thiên sứ trong sách Khải thị, Giăng đã gieo mình xuống chơn người "để thờ lạy". Thiên sứ nói với Giăng rằng người cũng là "bạn tôi tớ" với ông và ông nên "thờ lạy Đức Chúa Trời" (KhKh 19:10).
4C. Như chúng ta thấy, Chúa Jesus đã truyền lệnh phải thờ lạy Ngài như Đức Chúa Trời và Ngài chấp nhận sự thờ lạy dó. Điều này đã khiến cho Thiessen viết rằng: "Trong cả 2 trường hợp này: Nếu Ngài là kẻ nói dối hoặc là kẻ tự lừa dối thì Ngài chẳng tốt gì và nếu Ngài không phải là Đức Chúa Trời, Ngài cũng chẳng tốt gì" (Christus Si non Deus, non bonus) (Thiessen, trong Outline of Lecture in Systematic Theology, trang 65).
5B. NHỮNG NGƯỜI KHÁC ĐÃ NÓI GÌ.
1C. PHAO LÔ
1D. Phi Pl 2:9-11
"Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jesus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống và mọi lưỡi thảy đều xưng Jesus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha".
2D. Tit Tt 2:13
"đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ".
2C. GIĂNG BÁP TÍT
"Đức Thánh Linh lấy hình chim bồ câu, ngự xuống trên Ngài, lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường".
3C. PHIERƠ
1D. Có lẽ lời xác nhận nổi tiếng nhất của Phierơ là trong Mat Mt 16:15-17:
"Ngài phán rằng: Còn các ngươi thì xưng ta là ai. Simôn Phierơ thưa răng: "Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống". Bấy giờ Đức Chúa Jesus phán cùng người rằng: "Hỡi Simôn con Giôna ngươi có phước đó, vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều này đâu, bèn là cha ở trên trời vậy".
Về điều này, Scheffrahn và Kreyssler viết rằng "Thay vì quở trách Phierơ vì tội hỗn hào của ông (như các tiên tri và những nhà lãnh đạo tôn giáo thường làm), Chúa Jesus đã chúc phước cho ông vì sự xưng nhận đức tin đó. Suốt trong chức vụ, Chúa Jesus đã nhận sự cầu nguyện và sự thờ phượng là điều thuộc về chính Ngài" 30/10.
2D. Một lần nữa Phierơ lại xác nhận đức tin của ông trong Cong Cv 2:36
"Vậy cả nhà Israel khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jesus này, mà các ngươi đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ".
4C. THÔ MA
Trong GiGa 20:28, "kẻ nghi ngờ" này đã làm chứng như sau: "Thô Ma thưa rằng: Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi".
John Scott trong quyển Basic Christianity đã giải thích về lời reo của Thô Ma rằng:
"Chúa nhật sau ngày Phục sinh, kẻ nghi ngờ Thô Ma cùng những môn đồ khác ở trong phòng ăn tối thì Chúa Jesus hiện ra. Ngài bảo Thô Ma sờ vào những vết thương của Ngài và Thô Ma, với sự ngạc nhiên tột độ, đã thốt lên "Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi" (20:26-29). Chúa Jesus chấp nhận lời xưng này. Ngài đã quở trách Thô Ma vì sự vô tín của ông chứ không phải vì sự thờ lạy của ông" 34/28.
5C. THEO TÁC GIẢ SÁCH HÊBƠRƠ
HeDt 1:8
"Nhưng về Con thì lại phán rằng: "Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia. Quyền bính của nước Chúa là quyền bính ngay thẳng".
Thomas Schultz đã làm sáng tỏ câu Kinh Thánh này bằng cách sử dụng sự nghiên cứu từ. Ông viết rằng: "Hô ngữ... "Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa..." lẽ ra nên được dịch là "Đức Chúa Trời là ngôi của Chúa" hoặc "ngôi Chúa là Đức Chúa Trời" thì phù hợp với chủ ngữ hơn. Một lần nữa bằng chứng đã rõ - Jesus Christ được Kinh Thánh gọi là Đức Chúa Trời" 31/180.
6C. Ê TIÊN
Cong Cv 7:59
"Chúng đang ném đá thì Êtiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jesus xin tiếp lấy linh hồn tôi".
Ở đây Êtiên đã cầu xin Chúa Jesus đúng với lời Chúa Jesus đã cầu xin Đức Chúa Trời khi Ngài ở trên thập tự. Do đó Êtiên đã gán cho Chúa Jesus những phẩm chất thần tánh.
6B. Kết luận:
Từ những bằng chứng này, William E. Biedenvold (do Frant Meak trích dẫn) trong quyển "The Encyclopedia of Religious Quotations" đã đưa ra kết luận rằng:
"Một người đọc Kinh Thánh Tân ước mà không thấy điều Chúa Jesus đã xác nhận thì cũng giống như một người nhìn lên bầu trời lúc giữa trưa, vào một ngày quang đãng, mà lại không thấy mặt trời" 25/50.
Để kết luận, chúng tôi xin trích lời của Giăng, "vị sứ đồ yêu dấu":
"Đức Chúa Jesus đã làm trước các môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa mà không chép trong sách này. Nhưng các việc này đã chép để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống".
2A. NHỮNG LỜI XÁC NHẬN GIÁN TIẾP
Trong nhiều trường hợp, Chúa Jesus đã gián tiếp cho người ta biết thần tánh của Ngài. Dưới đây là bản liệt kê về một số lời ám chỉ này cùng với một vài lời xác nhận trực tiếp của Ngài.
CHÚA JESUS LÀ ĐỨC GIÊHÔVA
(Norman Geisler trong quyển Christ The Theme of the Bible, Nhà xuất bản Moody, 1969 trang 48).
Chúng ta cảm thấy rằng một số những lời xưng nhận này cần phải giải thích thêm. Đó là mục đích của phần này.
1B. Ngài xác nhận là Ngài có quyền tha tội như trong Mác 2:5 và Luca 7:48 đã chứng minh.
Theo Luật pháp Do Thái thì chỉ có Đức Chúa Trời và duy nhất một mình Ngài mới có quyền tha tội.
Chúng ta thấy điều này trong Mac Mc 2:7. Các thầy thông giáo không vừa lòng về Chúa Jesus và họ đã hỏi như trong câu 7 "Sao người này nói như vậy? Người nói phạm thượng đó. Ngoài một mình Đức Chúa Trời còn ai tha tội được chăng?"
Trong Mat Mt 9:5, 6 Chúa Jesus chữa lành cho người bại chỉ bằng sự tha tội cho ông ấy. Một lần nữa Ngài lại bị các nhà lãnh đạo tôn giáo đối chất.
Trong những câu này Chúa Jesus đã hỏi: "Tội lỗi ngươi đã được tha" hoặc "hãy đứng dậy và đi" thì điều nào dễ nói hơn. Theo lời giải thích của Wycliffe thì đây là "một câu hỏi không thể trả lời được. Hai câu nói thì đều đơn giản như nhau nhưng để nói một trong hai câu đó với một sự bày tỏ kèm theo thì cần phải có quyền năng thiên thượng. Dĩ nhiên các kẻ mạo danh này, đang cố lẩn tránh, sẽ thấy rằng câu nói đầu dễ hơn. Chúa Jesus đã tiếp tục chữa bệnh để người đàn ông này biết rằng Ngài có quyền giải quyết tình trạng của ông" 23/944.
Lúc này Ngài đã bị các thầy thông giáo và người Pharisi buộc tội lộng ngôn. "Các thầy thông giáo và người Pharisi đã buộc tội Ngài vì Ngài đã tự cho mình có đặc quyền của Đức Chúa Trời" 23/943.
C.E. Jefferson nói rằng "... Ngài đã tha thứ tội lỗi, Ngài đã nói như một người có quyền. Ngay cả một tội nhân xấu xa nhất khi ăn năn dưới chân Ngài thì sẽ nhận được từ nơi Ngài sự tha thứ chắc chắn và có uy quyền". 12/330
L.S Chafer cho chúng ta thấy rằng "Không một người nào trên đất này có uy quyền hoặc có quyền tha thứ tội lỗi. Không ai có thể tha tội ngoại trừ Đấng khác hẳn với tất cả những kẻ phạm tội. Khi Christ tha tội, như Ngài đã làm điều đó, thì Ngài đã không sử dụng uy quyền của con người. Vì không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể tha tội, nên có thể xác định có tính chất kết luận rằng Christ, Đấng đã tha tội, là Đức Chúa Trời, một Đức Chúa Trời đang tồn tại, và mãi mãi." 5/21, quyển 5.
Ngài không chỉ tha tội phạm đến chính Ngài mà Ngài còn tha tội cho ai phạm đến người khác, cho đến nay đó vẫn còn là điều chưa từng có. John Scott đã nhắc cho chúng ta nhớ rằng "Chúng ta có thể tha thứ những điều xúc phạm mà kẻ khác gây cho chúng ta nhưng tội lỗi mà chúng ta phạm với Đức Chúa Trời thì chỉ có chính Ngài mới tha thứ được." 34/29. Và Chúa Jesus đã làm như vậy.
Vì vậy chúng ta thấy rằng "quyền tha tội của Chúa Jesus là sự bày tỏ tuyệt đỉnh về quyền năng mà chỉ thuộc riêng Đức Chúa Trời thôi." 13/78 quyển 2.
2B. Chúa Jesus là Đấng bất biến.
Lewis S. Chafers nói rằng "Tính bất biến về thần tánh dành cho Christ. Tất cả những điều khác đều phải chịu sự biến đổi" 5/18, quyển 5. So sánh HeDt 13:8 với MaMl 3:6.
3B. Chúa Jesus xưng Ngài là "sự sống".
Trong GiGa 14:6, Chúa Jesus xác nhận là "sự sống" "Ta là ... sự sống."
Phân tích câu này, Merrill Tenney cho chúng ta biết rằng "Ngài không nói rằng Ngài biết đường đi, lẽ thật và sự sống và Ngài cũng không dạy như vậy. Ngài không tự làm cho mình trở nên người tiêu biểu của một hệ thống mới. Ngài tuyên bố rằng chính Ngài là câu trả lời sau cùng cho mọi sự bí ẩn" 36/215.
4B. Trong Ngài có sự sống.
"Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống, ai không có con Đức Chúa Trời thì không có sự sống" (IGi1Ga 5:11, 12).
Nói về sự sống này, John Stott (trong quyển Basic Christianity) đã viết: "Ngài đã so sánh sự lệ thuộc của môn đồ vào Ngài như các nhánh nho hút nhựa sống từ cây nho. Ngài nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho ngài quyền trên mọi loài xác thịt và ngài cũng sẽ ban sự sống cho nhiều người như Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài..." 34/29.
5B. Chúa Jesus có quyền.
"Cha (Đức Chúa Trời) đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con (Chúa Jesus), vì là Con người" (GiGa 5:27).
Xác nhận rằng Ngài sẽ xét đoán thế gian, chính Chúa Jesus sẽ gọi kẻ chết sống lại, sẽ nhóm các nước trước mặt Ngài, Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển và Ngài sẽ đoán xét thế gian. Dựa trên sự đoán xét của Ngài thì sẽ có một số người thừa hưởng thiên đàng còn số khác sẽ xuống địa ngục.
3A. CÁC DANH XƯNG.
1B. YHWH - Chúa
1C. ĐẤNG THÁNH ĐỐI VỚI DÂN DO THÁI
Nhiều bản dịch đã dịch chữ YHWH là Yahweh (Gia vê) còn hầu như được đọc là Giêhôva.
Herbert F. Stenson (trong tác phẩm Titles of the Triune God, Revell) đã viết rằng: "Ý nghĩa đúng đắn của từ này thì cũng không rõ. Theo tiếng Hêbơrơ, nguyên gốc của nó bao gồm 4 phụ âm YHWH - các nhà thần học gọi nó là "từ 4 chữ" (tetragrammaton) - và nguyên âm Adonai được thêm vào phía sau. (trừ khi danh xưng này được nối với Adonai thì nguyên âm Elohim được dùng đến). Người Do Thái cho rằng danh xưng này thánh đến nỗi không thể xưng ra được nhưng khi đọc Kinh Thánh trước hội chúng họ mới thay Adonai vào. Thực vậy, đối với họ Giêhôva là một "danh xưng không thể nói ra được." 33/20.
"... Bởi lòng sùng kinh tuyệt đối, dân Do Thái đã khước từ ngay cả việc xưng danh này ra..." 5/264 quyển 1.
L.S. Chafer (trong Systematic Theology) đã viết: "Việc tránh xưng danh này như hiện nay có thể bị xem như chỉ là điều mê tín; tuy có nhiều sai lầm nhưng rõ ràng đây là một sự cố tỏ lòng tôn kính và không còn nghi ngờ gì nữa,chính hành động này cùng với tất cả những hậu quả rắc rối của nó đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc lên mọi điều như về tính không thể nói lên được của Đức Chúa Trời" 5/264 quyển 1.
Trong tác phẩm Jewish Encyclopedia (do Isidore Singer và Funk và Wagnalls trích dẫn) cho thấy rằng việc dịch chữ YHWH bằng từ "Chúa" (Lord) có thể theo bản Septuagint. "Về cách đọc của từ shem và Metorash, những "danh xưng khác" của YHWH thì không có tài liệu xác thực". Kể từ thời văn hóa Hy Lạp thì danh xưng này chỉ để dùng trong đền thờ" 14/201, quyển 1.
"Từ Sifre đến Dan Ds 6:27, Misnah Tamid 7:2 và Sotah 7:6 thì có vẻ như những thầy tế lễ đã được phép xưng danh này vào dịp lễ chúc phước và chỉ ở trong đền thờ, còn ở những nơi khác họ bị buộc phải dùng danh xưng chung là "Adonai"" 14/201, 202 quyển 1.
Quyển Jewish Encyclopedia lại tiếp tục trích lời của Philo và Josephus:
Philo: "Bốn chữ này (YHWH) chỉ được những người thánh nói đến hoặc được nghe đến, những người mà lỗ tai và lời nói của họ đã được sự khôn ngoan làm cho tinh khiết, không có ai khác, ở bất cứ nơi nào lại được nói đến hoặc nghe nói đến" ("Life of Moses" III,41)
Josephus: "Môise đã cầu xin Đức Chúa Trời truyền đạt cho ông sự hiểu biết về danh của Ngài và sự xưng danh đó để ông có thể cầu khẩn danh của Ngài vào những công việc thánh, lúc đó Đức Chúa Trời đã bày tỏ danh Ngài, cho đến nay không một người nào được biết cả và có lẽ là tôi đã phạm tội khi đề cập đến điều này" (Antiquities, II 2, phần 4) 14/201, 202, quyển 1.
2C. CHRIST TỰ NÓI NGÀI LÀ GIÊHÔVA.
W.C. Robinson đã trích lời của Scotchmer rằng: "Sự đồng nhất của Chúa Jesus Christ chúng ta với Chúa của Cựu ước đã đưa đến một giáo lý rõ ràng về thần tánh của Ngài" (Robinson W.C. trong Our Lord, An Affirmation of Deity of Christ, trang 115) 27/118.
"Yaweh" (XuXh 3:14) có nghĩa là "Ngài là" (He Who is) hoặc "Ta là Đấng tự hữu" (I am Who I am) đã nói lên sự tự tồn tại thần hựu của Ngài (tự điển Kinh Thánh Unger, trang 409)
Kreysska và Scheffrahn nói Ngài đã xác nhận giao ước của Đấng YHWH hay là Đức Giêhôva. Trong Tin Lành Giăng đoạn 8 chúng ta thấy rằng: "Nếu các ngươi không tin ta là ĐẤNG ĐÓ (I am) thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi" (câu 24). "Khi các ngươi treo con người lên (trên thập tự) bấy giờ các ngươi sẽ biết ta là ai (I am)" (câu 28). Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Ápraham, đã có Ta (I am). (câu 58). Việc Ngài sử dụng danh xưng "Đấng tự hữu" (I am) có liên quan đến xuất 3:14; tại đó Đức Chúa Trời đã bày tỏ Ngài cho Môise: "TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU". Và Ngài phán rằng "Hãy nói cho dân Israel như vầy: ĐẤNG TỰ HỮU đã sai ta đến cùng các ngươi". Do đó danh xưng của Đức Chúa Trời trong tiếng Hêbơrơ là YHWH hoặc I AM (ĐẤNG TỰ HỮU)" 30/11.
Trong Mat Mt 13:14, 15 Christ đã tự đồng nhất Ngài với "Chúa Của Cựu ước (Adonai)" (EsIs 6:8-10) 19/15.
Clark Pinnock trong quyển "Set forth Your Case" đã nói rằng: "Sự giảng dạy của Ngài cùng với danh xưng "Đấng hiện hữu" (I AM) vĩ đại là sự xác nhận thần hựu cả hình thức lẫn nội dung (XuXh 3:14, GiGa 4:26, 6:35, 8:12, 10:9, 11:25) 24/60.
Trong 12:41, Christ được mô tả như Đấng được Êsai nhìn thấy trong EsIs 6:1. William C. Robinson nói rằng Êsai cũng viết về vị tiền khu của Đức Giêhôva rằng "Hãy dọn đường Chúa..." (40:3). Christ đã xác nhận lời xác quyết của những người Samari rằng "Chúng tôi đã nghe Ngài và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian" (GiGa 4:42). Theo Cựu ước câu nói này chỉ có thể dành cho Giêhôva - Đức Chúa Trời. Trong OsHs 13:4 tuyên bố rằng: "Ấy chính ta là Giêhôva Đức Chúa Trời... và ngoài ta ngươi chớ nên nhìn biết thần nào khác: ngoài ta không có Đấng Cứu nào khác" 27/117,118.
2B. Con Đức Chúa Trời.
Hilarin Feder đã kể lại rằng: "Gustav Dalman, một học giả thông thạo nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ Aramaic, một ngôn ngữ Chúa Jesus đã dùng, đã thấy bị thúc giục để nói rằng: "Không có chỗ nào mà chúng ta thấy rằng Chúa Jesus đã tự xưng Ngài là Con Đức Chúa Trời với ý nghĩa là mối quan hệ tôn giáo hay đạo lý mà ai cũng có thể có được... Chúa Jesus muốn cho con người hiểu một cách không nhầm lẫn rằng Ngài không chỉ là "một đứa con bình thường" của Đức Chúa Trời" mà còn là "Con Đức Chúa Trời" (Die Worte Jesus, mit Beruecksichtigung des nachkanonischen Juedischen Schriftums und der aramaeischen Sprache eroertert, i, 230, 235 (Leipzig, 1898.) 7/269.
H.F. Stevenson bình luận rằng: "Thật vậy, trong Cựu ước thuật ngữ "con trai của Đức Chúa Trời" dùng để chỉ con người và thiên sứ (SaSt 6:2, Giop G 1:6; 38:7). Nhưng trong Tân ước, danh hiệu "Con Đức Chúa Trời" được dùng theo cách hoàn toàn khác để chỉ Chúa chúng ta và chỉ Ngài được dùng thôi. Trong mọi trường hợp thuật ngữ này ngụ ý rằng Ngài là Con duy nhất, bình đẳng và bất diệt như Cha" 33/123.
Trong những lúc dùng chữ "Con" để kế bên chữ "Cha" nói lên lời xác quyết dứt khoát của Ngài về sự bình đẳng với Cha và hình thành nên lẽ thật về Ba Ngôi (GiGa 10:33-38; 3:35; 5:19-27; 6:27; 14:13; Mac Mc 13:32, Mat Mt 23:9, 10).
Lúc ở Sêsarê Philíp, Chúa Jesus đã khen Phierơ vì ông biết rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời: "Ngài là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời hằng sống". Ngài đáp "Hỡi Simôn con Giôna, ngươi được phước đó vì chẳng phải thịt và huyết cho ngươi biết điều này nhưng bởi Cha ta ở trên trời vậy" (Mat Mt 16:16, 17) 33/124.
Felder viết về khái niệm của Christ về Đức Chúa Trời là Cha của Ngài rằng "Thường thì Chúa Jesus nói đến mối quan hệ của Ngài với Cha, Ngài thường dùng chữ "Cha ta" mà không có ngoại lệ nào cả. Còn khi Ngài làm cho các môn đồ chú ý đến mối quan hệ làm con của họ với Đức Chúa Trời, thì cũng có một sự bày tỏ ý nghĩa rõ ràng như vậy, Ngài thường dùng "Cha các ngươi". Chưa bao giờ ngài đã kết hợp chính mình Ngài với các môn đồ và với con ngươi để nói là "Cha chúng ta".
Felder nói tiếp "Thậm chí ngay cả trong những trường hợp mà Chúa Jesus đã liên kết Ngài với các môn đồ trước mặt Đức Chúa Trời thì người ta nghĩ rằng Ngài sẽ dùng một lời xưng chung là "Cha chúng ta", nhưng ngược lại Ngài lại nói "Cha Ta": "Từ rày về sau ta không uống trái nho này nữa cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta". "Ta đây, sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa" (LuLc 24:48). "Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất" (Mat Mt 25:34). Do đó Chúa Jesus đã phân biệt sự không tương đồng giữa quyền làm con thiên thượng của Ngài với quyền làm con của các sứ đồ và loài người nói chung.
Scotchmer kết luận rằng: "Căn cứ trên tiếng Do Thái, các môn đồ và các kẻ thù của Ngài hiểu rằng ý nghĩa thật sự của thuật ngữ "Con Đức Chúa Trời" là điều thuộc về thần tính. Christ đã xem Đức Chúa Trời là "Cha" trong 104 lần. 7/300.
3B. Con Người:
Chúa Jesus đã dùng danh xưng "Con Người" trong 3 cách khác nhau:
1. Liên quan đến chức vụ của Ngài trên đất
1, 8:20
2, 9:6
3, 11:19
4, 16:13
5, LuLc 19:10
6, 22:48
2. Khi dự ngôn về sự khổ hình của Ngài.
1, Mat Mt 12:40
2, 17:9, 22
3, 20:18
3. Trong sự giảng dạy về sự tái lâm của Ngài.
1, Mat Mt 13:41
2, 24:27, 30
3, 25:31
4, LuLc 18:8
5, 21:6
Stevenson cho là có một ý nghĩa đặc biệt với danh xưng "Con Người" vì đây là tên gọi mà Chúa chúng ta thường dùng để chỉ về chính Ngài. Trong Tân ước ngoài Ngài ra không ai nói đến danh này. Ngoại trừ lúc những kẻ chất vấn đã trích lời của Ngài (GiGa 12:34) và trong trường hợp lời reo của Êtiên lúc ông tuận đạo. "Này ta thấy các từng trời mở ra và con người đứng bên hữu của Đức Chúa Trời" (Cong Cv 7:56). Rõ ràng đó chính là danh xưng của Đấng Mêsi như người Do Thái đã thừa nhận" (GiGa 12:34) 33/120.
Kreyssler và Scheffrahn viết rằng: "Rõ ràng Chúa Jesus tin rằng chính Ngài là sự ứng nghiệm của các lời tiên tri trong Cựu ước nói về Đấng Mêsi. Nói về Chính mình, Ngài vẫn cứ dùng danh xưng "Con Người" theo như trong khải tượng của Đaniên" (DaDn 7:13-14) 30/9-10.
Trong Mac Mc 14:61-64 Chúa Jesus đã dùng DaDn 7:13-14 và Thi Tv 10:1 để nói về chính Ngài là những gì sẽ diễn ra trước mắt họ.
C.G. Montefiore nói thêm rằng: "Nếu Chúa Jesus đã nói những lời này thì chúng ta khó có thể nghĩ rằng Ngài đã phân biệt giữa chính Ngài, Con Người, và Đấng Mêsi. Con người chắc chắn là Đấng Mêsi và cả hai chắc chắn là chính Ngài" 20/361.
Montefiore lại tiếp tục trích lời của giáo sư Peak: "Mặc dù có cách dùng phức tạp của chữ con người cùng với ngôi thứ nhất số ít thì cũng thật khó chống lại kết luận rằng trong mạch văn này Chúa Jesus có ý đồng hóa cả hai. Trong cùng một lúc chắc chắn là Ngài đã không thể vừa xác nhận sự đồng nhất của Ngài với Đấng Mêsi vừa có ngụ ý nói đến sự khác biệt của Ngài với con người là tương đương với Đấng Mêsi. Nhưng rõ ràng là Chúa Jesus muốn nói rằng cả hai danh xưng đó đều được ứng nghiệm trong Ngài. Ngài vừa là Đấng Mêsi vừa là Tôi tớ của Đấng Giavê" (Messiah and The Son of Man (1924) trang 26). 20/302.
4B. Aba - Cha.
Michael Green, trong quyển sách của ông là Runaway World (Do nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng, Downers Grove, III.), đã viết rằng Đấng Christ "khẳng định rằng Ngài có mối quan hệ với Đức Chúa Trời mà trước đó chưa có ai từng tuyên bố như vậy. Điều này xuất phát từ chữ Aba, tiếng Aram mà Chúa Jesus rất thích dùng, đặc biệt trong sự cầu nguyện. Trước Ngài, trong cả lịch sử của dân Israel, không ai đã xưng với Đức Chúa Trời bằng từ này. Đó là một từ thân thuộc có tính chất gia đình mà con cái thường dùng khi nói về bố. Thật vậy người Do Thái thường hay cầu nguyện với Đức Chúa Trời là Cha nhưng họ dùng từ Abhinu, một hình thức xưng hô mà đặc biệt là cầu xin Đức Chúa Trời thương xót và tha thứ. Trong lời xưng hô của Chúa Jesus là Aba thì không có nghĩa là cầu xin Đức Chúa Trời thương xót. Đó là một từ thân thuộc để chỉ sự rất thân mật. Đó là lý do vì sao Ngài đã phân biệt giữa mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Trời là Cha và mối quan hệ của những người khác với Đức Chúa Trời" 9/99,100.
Thật là thú vị ngay cả Đavít, có sự gần gũi với Cha, nhưng ông đã không gọi Đức Chúa Trời là Cha mà nói "khác nào Cha... vậy" (103:13).
Trong khi cầu nguyện, Đấng Christ thường dùng từ "Cha". "Dĩ nhiên là những người Pharisi đã nhận ra ý nghĩa của từ đó và họ buộc tội Ngài là lộng ngôn (GiGa 5:18)" ... Nhưng gọi Đức Chúa Trời là Cha thì Ngài tự làm cho mình ngang bằng với Đức Chúa Trời". Và thật vậy nếu Ngài không bình đẳng với Đức Chúa Trời thì những lời của Ngài là lộng ngôn" 33/97.


Ba Sự Lựa Chọn: CHÚA, KẺ GIẢ DỐI hay KẺ ĐIÊN KHÙNG?
1A. CÂU HỎI: ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST LÀ AI?
Đức Chúa Jesus xem vấn đề con người tin Ngài là ai là một điều quan trọng cơ bản. C.S. Lewis, là giáo sư ở đại học Cambridge và đã từng là người theo thuyết bất khả tri, đã viết rằng: "Ở đây tôi đang cố ngăn cản bất kỳ ai nói một điều ngu xuẩn rằng: người ta thường nói: "Tôi sẵn sàng chấp nhận Chúa Jesus là một giáo sư đạo đức lớn nhưng tôi không chấp nhận những lời xác nhận của Ngài là Đức Chúa Trời". Đó là điều chúng ta không được nói. Một người mà chỉ là một con người lại nói những điều như Chúa Jesus đã nói thì người đó không phải là một giáo sư đạo đức vĩ đại. Hoặc ông ta là một thằng điên - cũng như một kẻ nói hắn là một quả trứng chần nước sôi - hoặc hắn ta là một con quỉ. Bạn phải lựa chọn lấy. Hoặc người này đã là, đang là Con của Đức Chúa Trời hoặc là một người điên hay điều gì đó thật tồi tệ". 41/40-41.
Dưới đây là phần phác họa đại cương để giúp bạn sử dụng chương này:
1A. CHÚA JESUS XÁC NHẬN NGÀI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI (Xem chương 6)
2A. BA ĐIỀU LỰA CHỌN
1B. Có phải ngài là kẻ nói dối?
2B. Có phải Ngài là người điên?
3B. Có phải Ngài là Đức Chúa Trời?
C.S. Lewis nói thêm rằng: "Bạn có thể nhốt Ngài vì dại dột, bạn có thể phỉ báng và giết Ngài như một người hung ác hoặc bạn có thể quì dưới chơn Ngài và gọi Ngài là Chúa và Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta đừng có một suy nghĩ dại dột cao ngạo về thân vị của ngài, xem Ngài là một giáo sư phàn nàn vĩ đại. Ngài không để điều đó lại cho chúng ta. Ngài không có ý định làm như vậy" 41/40-41.
F.J. Hort đã viết: "Những lời nói của Ngài là hoàn toàn nói về chính Ngài đến nỗi những lời nói đó không có ý nghĩa như những lời trừu tượng về lẽ thật; như những sấm ngôn hay lời tiên tri thiên thượng. Lấy Ngài, là chủ đề chính (dù không phải là chủ đề lớn nhất), ra khỏi các câu nói thì chúng sẽ đổ vụn ra từng mảnh" 39/207.
Theo lời của Kenneth Scott Latourette (trong quyển The History of Christianity, Harper và Row), sử gia nổi tiếng về Cơ Đốc giáo của đại học Yale, rằng: "Không phải những sự giảng của Chúa Jesus làm cho Ngài trở nên phi thường mặc dù những lời này đủ để làm cho Ngài trở nên đáng trọng vọng. Có một sự kết hợp giữa sự giảng dạy của Ngài và chính ngài. Hai điều này không thể tách rời..." 40/44.
"Đối với những người đọc các sách tin lành mà có suy nghĩ thì điều rõ ràng là Chúa Jesus đã xem chính ngài và sứ điệp của Ngài là không thể tách rời. Ngài là một giáo sư lớn nhưng còn hơn nữa. Sự giảng dạy của Ngài về nước Đức Chúa Trời, về cách cư xử của con người và về Đức Chúa Trời đều rất quan trọng, nhưng những sự giảng dạy đó không thể tách khỏi Ngài, không thể tách khỏi quan điểm của ngài mà lại không bị bỏ đi" 40/48.
2A. CHÚA JESUS CHRIST CÓ PHẢI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI KHÔNG?
Chúa Jesus xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời. Ngài không để lại một sự lựa chọn nào khác. Lời xác nhận là Đức Chúa Trời của Ngài hoặc đúng hoặc sai và là một điều được xem là cực kỳ quan trọng. câu Chúa Jesus hỏi các môn đồ "Còn các ngươi nói ta là ai?" (Mac Mc 8:29) cũng là câu hỏi cho chúng ta ngày nay.
Lời xác nhận là Đức Chúa Trời của Chúa Jesus hoặc đúng hoặc sai. Nếu lời xác nhận của Chúa Jesus là đúng thì Ngài là Chúa và chúng ta hoặc chấp nhận hoặc phản đối uy quyền của Ngài. Chúng ta "không có lý do để bào chữa."
Trước hết cho rằng lời xác nhận là Đức Chúa Trời của Ngài là sai thì chúng ta có 2 và chỉ có 2 sự lựa chọn. Hoặc Ngài biết điều đó là giả dối hoặc Ngài không biết điều đó là giả dối. Chúng ta sẽ xem xét từng điều riêng biết và kiểm tra bằng chứng.
3A. CÓ PHẢI NGÀI LÀ MỘT KẺ NÓI DỐI?
Nếu lúc Chúa Jesus xác nhận mà Ngài biết Ngài không phải là Đức Chúa Trời thì Ngài là kẻ nói dối. Nhưng nếu Ngài là một kẻ nói dối thì Ngài cũng là kẻ đạo đức giả vì Ngài bảo người khác phải lương thiện dù có như thế nào trong khi chính Ngài giảng dạy và sống như một người giả dối khổng lồ.
Và hơn hết cả là Ngài là một kẻ hung ác vì Ngài bào người khác tin Ngài để có sự sống đời đời. Nếu Ngài không thể rút lại những lời xác nhận của Ngài và biết điều đó thì Ngài là một kẻ gian ác không thể nói được.
Cuối cùng Ngài cũng là một kẻ dại dột vì chính lời xác nhận là Đức Chúa Trời của Ngài đã đưa Ngài đến chỗ chịu nhục hình.
14:61-64.
"Nhưng Đức Chúa Jesus làm thinh không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Ấy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không? Đức Chúa Jesus phán rằng Ta chính phải đó, các ngươi sẽ thấy con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời và ngự giữa đám mây trên trời mà xuống. Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi? Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết"
GiGa 19:7
"Dân Giuđa lại nói rằng: Chúng tôi có luật, chiếu luật đó hắn phải chết vì hắn tự xưng là Con Đức Chúa Trời".
J.S. Mill, một triết gia, một người hoài nghi và phản đối Cơ Đốc giáo (Veron C. Grounds trích dẫn trong quyển Reason for our hope, nhà xuất bản Moody, 1945) viết: "Về đời sống và những lời nói của Chúa Jesus, nếu chúng ta bỏ qua sự trông chờ vô ích vào việc tìm kiếm sự đúng đắn của khoa học, lĩnh vực mà người ta chỉ nhắm đến một điều gì đó, nếu chúng ta không kể đến việc tin vào sự cảm động của Ngài và tin vào loài người thông minh tuyệt điểm mà chúng ta thường khoe khoang thì có một nét độc đáo cá nhân cùng với một sự sâu sắc bên trong. Khi thiên tài ưu tú này được kết hợp với những phẩm chất có lẽ là của những nhà sáng lập đạo đức vĩ đại nhất và người tuân đạo vì sứ mệnh, những người đã từng sống trên trái đất này thì không thể xem tôn giáo đã có sự lựa chọn quá tồi khi đưa con người này ra để làm một đại biểu lý tưởng và kẻ hướng dẫn nhân loại, cho đến bây giờ cũng không phải dễ, ngay cả đối với những kẻ vô tin, tìm thấy một bản dịch về nguyên tắc đức hạnh từ trừu tượng sang cụ thể tốt hơn là sự cố gắng sống để Đấng Christ hài lòng về đời sống chúng ta" 38/34.
William Lecky, một trong những sử gia nổi tiếng nhất của Anh quốc và là một đối thủ cuồng nhiệt của Cơ Đốc giáo đã viết trong cuốn History of European Morals from Augustus to Charlemagne rằng "Chính Cơ Đốc giáo đã tiến cử cho thế giới này một nhân vật đặc biệt mà trải qua suốt những đổi thay của 18 thế kỷ, nhân vật đó đã truyền vào tấm lòng con người một tình yêu mãnh liệt, đã tự tỏ ra là có khả năng ảnh hưởng đến mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi tính khí và mọi hoàn cảnh, không những là một khuôn mẫu đao đức cao cả nhất mà còn là một động cơ mạnh mẽ nhất để hành động... Sư ghi lại đơn sơ về 3 năm ngắn ngủi của cuộc đời năng động này đã cải tạo và làm mềm lòng nhân loại hơn tất cả các diễn văn dài dòng của những triết gia và những lời khuyên giải của các nhà đạo đức" 45/8; 38/34.
Philip Schaff, sử gia Cơ Đốc (trong cuốn History of the Christian Church, William B. Eerdmans, tái bản 1962) đã nói "Chứng cớ này, nếu không thật, thì quả là một sự lộng ngôn và điên loạn. Giả thuyết này không thể đứng vững chút nào trước sự thánh thiện và phẩm cách đạo đức của Chúa Jesus, được bày tỏ trong mọi lời nói và công việc của Ngài và được mọi người đồng ý chấp nhận. Trong một vấn đề quá quan trọng cùng với một khả năng hiểu biết trong tất cả các lĩnh vực thì sự tự dối mình là điều không nên bàn đến. Làm thế nào mà Ngài, một người mà tâm trí chẳng bao giờ mất quân bình, một người đã bình thản vượt qua tất cả trở ngại và sự bắt bớ như mặt trời vượt trên những đám mây, một người luôn biến những câu trả lời khôn ngoan nhất thành những câu hỏi đầy lôi cuốn, một người đã bình thản, thư thái báo trước về sự chết của mình trên thập tự, sống lại vào ngày thứ 3, sự đổ ra của Đức Thánh Linh, sự thành lập Hội Thánh, sự hủy diệt của thành Giêrusalem, những lời tiên tri đã được ứng nghiệm, lại là một kẻ cuồng nhiệt và là một kẻ điên? Một con người quá độc đáo, quá trọn vẹn, quá vững vàng, rất tuyệt vời, rất phàm nhân nhưng lại vượt lên cao hơn tất cả những sự vĩ đại của phàm nhân thì không thể nào là gian lận hay là điều hư cấu. Như người ta đã nói, trong trường hợp này một thi sĩ lại vĩ đại hơn một người anh hùng. Cần có hơn một Jesus để hư cấu nên một Jesus" 43/109.
Mặt khác Schaff (trong quyển The Person of Christ) đã đưa ra một chứng cứ đáng tin cậy: "Giả thuyết về sự giả dối của Chúa gây một sự phẫn nộ đối với lĩnh vực đạo đức cũng như đối với lương tri. Chỉ với lời tuyên bố đó thôi cũng chính là sự trừng phạt của nó rồi. Người Do Thái, những kẻ đã đóng đinh Chúa Jesus trên cây thập tự, đã bịa ra giả thuyết này để che đậy sự gian ác của họ, nhưng giả thuyết đó chẳng bao giờ được thực hiện một cách nghiêm túc cả và không một học giả đứng đắn, biết tự trọng n ào lại dám công khai tuyên bố điều đó. Theo sự logic, lương tri và kinh nghiệm, làm thế nào mà một kẻ lừa dối - một con người dối trá, ích kỷ và sa đọa - lại có thể hư cấu và duy trì lâu dài từ đầu cho đến cuối, một nhân cách thánh khiết nhất, cao quí nhất được lịch sử biết đến với thái độ đứng đắn và chân thật nhất? Làm thế nào mà con người ấy lại có thể đặt ra và thực hiện một cách thành công một kế hoạch về sự nhơn từ, đạo đức, sự cao cả vô song và đã hy sinh cuộc đời mình cho điều đó, đã đối diện với những mối thù ghét lớn nhất của dân tộc Ngài và mọi thời đại" 44/94-95.
Người nào sống cuộc đời như Chúa Jesus đã sống, giảng như Chúa đã giảng và chết như Chúa đã chết thì người đó không thể nào là một kẻ giả dối. Còn gì phải lựa chọn nữa".
4A. LÀ KẺ ĐIÊN?
Nếu nói rằng Chúa Jesus là kẻ nói dối là điều không thể nào chấp nhận được thì việc Ngài tự cho mình là Đức Chúa Trời không có gì sai lầm không? Xét cho cùng đều đó có thể vừa đúng lại vừa sai. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng với một ai đó mà nghĩ rằng họ là Đức Chúa Trời, đặc biệt là trong một nền văn hóa có chế độ độc thần chặt chẽ, và rồi lại nói với kẻ khác rằng số phận của họ tùy thuộc vào việc phải tin ở người ấy thì không những người này có một óc tưởng tượng quái dị mà còn là ý tưởng của một kẻ điên. Có phải Chúa Jesus là con người như thế?
C.S. Lewis (trong quyển Miracles A Preliminary Study, Macmillan Co.) đã viết: "Sự trở ngại của lịch sử về việc đưa ra bất kỳ sự giải thích nào về đời sống, lời nói và ảnh hưởng của Chúa Jesus, mà sự giải thích đó thì cũng không vững vàng hơn sự giải thích của Cơ Đốc giáo thì sự trở ngại đó là rất lớn. Sự bất tương đồng giữa sự chết, sự đúng mực trong lời giảng dạy đạo đức của Ngài với sự khoa đại ẩn sau sự giảng dạy thần học của Ngài trừ khi Ngài thật là Đức Chúa Trời thì sự bất tương đồng đó chẳng bao giờ được giải thích một cách thỏa đáng. Do đó các giả thuyết phi Cơ Đốc giáo cứ lần lượt phát triển trong sự hoang mang không ngừng." 42/113.
Napoleon, một người nổi tiếng là có hiểu biết đã nói: "Tôi biết con người và tôi xin nói với bạn rằng Chúa Jesus Christ không phải là con người. Những hiểu biết nông cạn chỉ thấy rằng Đấng Christ cũng giống như những nhà sáng lập đế quốc hoặc những vị thần cũa những tôn giáo khác. Không có một sự giống nhau như vậy. Có một khoảng cách vô tận giữa Cơ Đốc giáo với bất kỳ một tôn giáo nào. Mọi sự trong Đấng Christ đều làm tôi kinh ngạc. Tinh thần của Ngài làm tôi kính nể và ý chí của Ngài làm cho tôi ngạc nhiên. Không thể có một sự so sánh nào giữa Ngài với bất kỳ người nào trên thế giới này. Quả thật chính Ngài là một thân vị. Tư tưởng và ẩn ý của Ngài, lẽ thật mà Ngài đã rao truyền, tính cách thuyết phục của Ngài đều không thể giải thích được bằng tổ chức phàm nhân hay bản chất của sự việc. Càng tìm hiểu, tôi càng cẩn thận xem xét, mọi sự đều vượt quá sức tôi - mọi sự vẫn còn quá to tát, quá hùng vĩ làm cho tôi phải mê mẩn. Tôn giáo của Ngài là một sự khải thị đến từ một trí tuệ mà chắc chắn không phải là trí tuệ của loài người. Chắc chắn ngoài Ngài ra, người ta không thể tìm thấy ở đâu một mẫu mực cho đời sống của họ. Tôi đã tìm kiếm một cách tuyệt vọng trong lịch sử một kẻ giống như Chúa Jesus Christ hoặc bất kỳ điều gì gần đúng với các chân lý của tin lành. Lịch sử, nhân loại, các thời đại, thiên nhiên, không gì có thể cung cấp cho tôi bất kỳ điều gì mà làm cho tôi có thể so sánh hoặc giải thích nó được. Ở đây mọi sự đều quá phi thường" (Vernon C. Grounds trích dẫn quyển The Reason for Our Hope, Nhà xuất bản Moody).
Ngay cả Channing, người theo thuyết nhất thể, đã nói về thuyết kẻ điên này rằng: "Lời cáo buộc về sự nhiệt tình giả dối, ngông cuồng là lời buộc tội cuối cùng mà người ta gán cho Chúa Jesus. Trong lịch sử, chúng ta có thể tìm thấy ở đâu những dấu chứng đó? Chúng ta có nhận ra điều đó qua uy quyền ẩn dấu trong những sự giảng dạy của Ngài không? Trong tinh thần tốt, thực tế và mềm mại của tôn giáo của Ngài, trong ngôn ngữ lưu loát, giản dị Ngài đã bày tỏ quyền năng cao cả của Ngài và chân lý cao siêu của tôn giáo Ngài, hoặc với khả năng phán đoán tốt, với một sự hiểu biết về bản chất con người mà Ngài luôn bộc lộ ra trong sự đánh giá và cách cư xử của Ngài với mọi tầng lớp người khác nhau? Chúng ta có thấy sự sốt sắng này trong sự kiện kỳ lạ này là: trong khi Ngài nói đến quyền năng trong thế giới tương lai và trong khi Ngài hướng ý tưởng của con người về nước thiên đàng thì Ngài chẳng bao giờ đưa ra những bức tranh sinh động hay những mô tả cặn kẽ về những điều không nhìn thấy để làm thỏa mãn sự tưởng tượng của Ngài hoặc kích thích sự tưởng tượng của các môn đồ. Thật vậy người ta đã thấy được tính cách phi thường của Chúa Jesus không gì hơn là sự thanh thản và bình tĩnh. Tính cách này bao trùm hết những đặc điểm nổi bật khác của Ngài. Lòng sốt sắng về đạo của Ngài điềm tĩnh làm sao! Nếu có thể được, bạn hãy chỉ cho tôi một lời nói sôi nổi, mạnh mẽ về những cảm nghĩ tôn giáo của Ngài. Có phải lời cầu nguyện của Chúa truyền ban một sự sôi nổi cuồng nhiệt không?... Cũng vậy, lòng nhân từ của Ngài, dù có đúng mức và sâu sắc một cách lạ thường mà vẫn điềm tĩnh và trầm lặng. Trong sự cảm thông với người khác, Ngài chẳng hề đánh mất sự tự chủ, cũng chẳng bao giờ vội thực hiện những hành động nhơn đức cuồng nhiệt hấp tấp vội vàng, nhưng làm việc thiện với sự lặng lẽ, sự kiên nhẫn mà Đức Chúa Trời vừa giúp" (P. Schaff trích dẫn) 44/98,99.
Philip Schaff, một sử gia, đã viết: "Có phải một con người tài trí như thế - trong sáng như bầu trời, tươi mát như khí trời miền núi, sắc sảo như lưỡi gươm, hết sức khỏe mạnh và cường tráng, luôn luôn sẵn lòng và luôn luôn điềm tĩnh - lại có thể là căn nguyên và là sự lừa dối nghiêm trọng nhất về tư cách và chức vụ của Ngài? Thật là một sự suy tưởng lố bịch!" 44/97,98.
5A. LÀ CHÚA
Việc bạn xác định Chúa Jesus Christ là ai không phải là một sự vận dụng trí óc một cách vô ích. Bạn không thể đặt Ngài trên kệ như một giáo sư đạo đức lớn. Đó không phải là một sự chọn lựa có giá trị. Hoặc Ngài là một kẻ nói dối, một kẻ điên hay là Chúa, bạn phải chọn một. "Nhưng", như sứ đồ Giăng đã viết "Các việc này đã chép để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jesus là Đấng Christ con của Đức Chúa Trời" và quan trọng hơn là "để khi các ngươi tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống".
Trong việc ủng hộ Jesus là Chúa thì chứng cớ đã rõ ràng. Tuy nhiên một số người đã chối bỏ những chứng cứ rõ ràng đó. Nhưng trên hết cần phải có một sự trung thực về đạo đức để cho rằng Chúa Jesus là kẻ dối trá, kẻ điên loạn hay là Chúa và Đức Chúa Trời.
SÁCH THAM KHẢO
1. Alford, Henry. The Greek Testament . Cambridge:Deighton, Bell, and Co.,1868.
2. Anderson, Robert. The Lord from Heaven . London: James Nisbet and Co., Ltd., 1910.
3. Burce, F. F.(ed.) The New International Commentary on the New Testament . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1971. Used by permission
4. Campbell, A.Glen. The Greek Terminology for the Deity of Christ . Unpublished Th.M. Thesis: Dallas Theological Seminary, Dallas,Texes,Jan. 1948.
5. Chafer, Lewis Speryy. Systematic Theology . Dallas Theological Seminary Press, 1947.
6. Deland, Charles Edmund. The Mis-Trials of Jesus . Bostom: Richerd G. Badger, 1914.
7. Felder, Hilarin. Christ and the Critics . Translated by John L . Stoddard. London : Burns Oates and Washburn Ltd., 1924.
8. Godet, F. Commentary on the Gospel of St.John .Edinburgh: T.Ọ T.Clark, 1892 .
9. Green, Michael. Runaway World . Downers Grove. III. 60515: Inter-Varsity Press,1968. Used by permission .
10. Greenleaf, Simon. The Testimony of the Evangelists . Grand rapids: Baker Book House, 1965.
11. Hobbs, Herschel. An Exposition of the Gospel of Luke . Gggrand Rapids:Barker Book House, 1966.
12. Jefferson, Charles Edward. The Character of Jesus . New York: Thomas Y. Crowell Co., 1908. Copyright renewed by Charles E. jefferson, 1936. By permission of the publisher.
13. Raymond E. Brown, Joseph A. Fitzmeyer, and Roland e. Murphy (eds). The Jerome Biblical Commentary . Compiled by Raymond E. Brown. Englewood Cliffs: Prentice Hall, 1968.
14. Schaff-Herzog. The Lewish Encyclopedia . New York: Funk and Wagnalls Co., 1904. By courtesy of the publisher.
15. Lenski, R.C.H. The Interpretation of St. John's Gospel . Columbus: Lutheran Book Concern, 1942.
16. Linton, Irwin H. The Sanhedrin Verdict . New York: Loizeaux Brother, Bible Truth Depot, 1943.
17. Little, Paul. Know What You Believe . Wheaton: Scripture Press Publications, Inc., copyright 1970.
18. Marshall, Alfred. The Interlinear Greek- English New Testament . Rev.ed. Grand Rapids: Zondervan Publishing House, Copyright 1969.
19. Meldau, Fred John. 101 Proofs of the Deity of Christ from the Gospels . Denver: The Christian Victory Publishing Co., 1960.
20. Montefiore, C. G. The Synoptic Gospels . London: Macmillan and Co., Ltd., 1909. 1927 (two volumes).
21. Morris, Leon. New International Commentary, the Gospel According to John . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1971. Used by permission.
22. Morison, Frank. Who Moved the Stone ? London: F aber and F aber Ltd., 1958.
23. Pfeiffer, Charles F. and Everett F. Harrison (eds.). The Wycliffe Bible Commentary . Chicago: Moody Press, 1962. Used by permission.
24. Pinnock, Clark H. Set Forth Your Case . Nutley: The Craig press, 1967.
25. Mead, Frank (ed.). The Encyclopeadia of Religious Quotations . Westwood: Fleming H. Revell,n.d.
26. Robinson, Wm. Childs. Our Lord . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co. 1937. Used by permission.
27. Robinson, Wm. Childs (ed.). Who Say Ye That I am ? Grand Rapids: Wm B. Eerdmans Publishing Co., 1949.
28. Robertson, Archibald Thomas. Word Pictures in the New Testament . Vol. I-V. Nashville: Broadman Press, 1930.
29. Ryle, J.C. Expository Thoughts on the Gospels . (St. Mark). New York: Robert Carter and Brothers , 1866.
30. Scheffrahn, Karl and Henry Kreyssler. Jesus of Nazareth Who Did He Claim to Be ? Dallas: Pat Booth, 1968.
31. Schultz, Thomas. The Doctrine of the person of Chirst with an Emphasis upon the Hypostatic Union . Unpublished dissertation. Dallas: Dallas Theological Seminary, May,1962.
32. Spurr, Frederick C. Jesus Is God. London: A. H. Stockwell Ọ Co., 1899.
33. Stevenson, Herbert F. Titles of the Triune God . Westwood: Fleming H. Revell Co., 1956
34. Stott, J. R. W. Basic Christianity . Downers Grove, III. 60515: Inter- Varsity Press, 1971. Used by permissison.
35. Swete, Henry Barclay. The Gospel According to St. Mark . London: Macmillan and Co., Ltd., 1898
36. Tenney, Merrill C. John: The Gospel of Belief . Grand Rapids: wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1948. Used by permission.
37. Vincent, Marvin R. Word Studies in the New Testament . 4 vols. New York: Charles Scribner's Sons, 1924.
38. Grounds, Vernon C. The Reason for Our Hope . Chicago: Moody Press,1945. Used by permission.
39. Hort, F. J. A. Way, truth and the Life . New York: Macmillan and Co., 1894.
40. Latourette, Kenneth scott. A History of Christanity . New York: Harper Ọ Row, 1953.
41. Lewis, C. S. Mere Christianity . Ne York The Macmillan Company, 1952.
42. Lewis, C. S. Miracles A Preliminary Study . New York: The Macmillian Company, 1947.
43. Schaff, Philip. History of the Christan Church . 8 vols. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1910 (reprint from original, 1962). Used by permission.
44. Schaff, Philip. The Person of Christ . New York: American Tract society, 1913. Used by permission.
45. Lecky, William E. History of European Morals from Augustus to Charlemagne . New York: D. Appleton and Co., 1903.
46. Mill, John S. Three Essays of Religion


SỰ PHỤC SINH: MỘT TRÒ LỪA BỊP hay MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ?

Sau hơn 700 giờ nghiên cứu và xem xét tỉ mỉ nền tảng của vấn đề này, tôi đã đi đến kết luận rằng sự phục sinh của Chúa Jesus Christ là một trong "những trò lừa bịp gian ác, nhẫn tâm, đồi bại nhất nhồi nhét vào tư tưởng con người hoặc là một sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử".
Chúa Jesus có 3 điều cơ bản: (1) Tầm ảnh hưởng của cuộc đời Ngài đối với lịch sử (2) Những lời tiên tri được ứng nghiệm qua cuộc đời của Ngài (3) Sự phục sinh của Ngài. Sự phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ và Cơ Đốc giáo có quan hệ lẫn nhau. Một sinh viên ở đại học Uruguay nói với tôi: "Thưa Giáo sư McDowell! vì sao giáo sư không thể bẻ bác được Cơ Đốc giáo?". Tôi trả lời "Lý do rất đơn giản là vì tôi không thể giải thích được một sự kiện trong lịch sử". Đó là sự phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ".
TƯỜNG THUẬT VỀ SỰ PHỤC SINH TRONG MATHIƠ 28:1-11
(Cũng xem Mác 16, Luca 24, Giăng 20-21)
1. Sau ngày Sa bát, rạng sáng của ngày thứ nhất trong tuần lễ, có Mari Mađơlen và Mari khác đến thăm mộ . 2. Và này, một trận động đất lớn đã xảy ra , vì một Thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn tảng đá và ngồi ở trên . 3. Hình dáng của Thiên sứ giống như chớp nháng và áo trắng như tuyết . 4. Và những lính canh run rẩy vì sợ Thiên sứ, trở nên như người chết . 5. Song Thiên sứ nói cùng những người đàn bà đó rằng: " Đừng sợ, vì ta biết các ngươi đang tìm Jesus, Đấng đã bị đóng đinh trên thập tự giá ". 6. Ngài không ở đây đâu, Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm . 7. Và hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay rằng Ngài đi trước các ngươi qua Galilê ở đó các ngươi sẽ thấy Ngài. Ấy, ta đã bảo các ngươi ". 8. Hai người đàn bà đó bèn vội vàng ra khỏi mộ, vừa sợ vừa cả mừng, chạy báo tin cho các môn đồ . 9. Này Đức Chúa Jesus gặp hai người đàn bà đó và chào mừng họ.Họ chạy đến ôm chơn Ngài và thờ lại Ngài . 10. Đức Chúa Jesus bèn phán rằng: " Đừng sợ chi cả, hãy đi bảo cho anh em ta đi qua xứ Galilê, ở đó sẽ thấy ta . 11. Trong khi hai người đàn bà đó đi đường, thì có mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến .
(Theo bản New American Standard)

Dưới đây là phần đại cương để bạn dễ sử dụng chương này:
1A. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHỤC SINH.
2A. NHỮNG LỜI XÁC NHẬN CỦA ĐẤNG CHRIST RẰNG NGÀI SẼ TỪ KẺ CHẾT SỐNG LẠI
3A. SỰ THĂM DÒ LỊCH SỬ
1B. Một sự kiện có không gian - thời gian
2B. Lời chứng của lịch sử và luật pháp
3B. Lời chứng của các giáo phụ Hội Thánh đầu tiên.
4A. QUANG CẢNH CỦA SỰ PHỤC SINH
1B. Chúa Jesus chết
2B. Ngôi mộ
3B. Sự mai táng
4B. Tảng đá
5B. Dấu niêm phong
6B. Lính gác
7B. Các môn đồ
8B. Sự hiện ra sau khi phục sinh

1A. TẦM QUAN TRỌNG VỀ SỰ PHỤC SINH CỦA ĐẤNG CHRIST
Ngoại trừ bốn tôn giáo lớn trên thế giới, hầu hết các tôn giáo khác đều đặt nền tảng trên những lý luận triết học. Trong số bốn tôn giáo đặt nền tảng trên những cá nhân hơn là trên một hệ thống triết lý đó; thì chỉ có Cơ Đốc giáo đưa ra ngôi mộ trống làm nền tảng. Ápraham, tổ phụ của Do Thái Giáo, qua đời vào khoảng năm 1900 tr.CN, nhưng người ta không hề xác nhận rằng ông đã phục sinh.
Wilbur M.Smith phát biểu trong quyển Therefore Stand (Nhà sách Baker, 1965, cho phép sử dụng) rằng "Chưa hề có một tài liệu cổ nào về Phật Thích Ca, nói rằng ông đã phục sinh. Thật vậy trong những văn bản cổ nhất về cái chết của ông, gọi là Mahaparinibbana Sutla, chúng ta thấy rằng khi Phật Thích Ca qua đời thì "hoàn toàn qua đi hết, chẳng có gì còn lại cả" 58/385.
Giáo sư Childers (được trích trong Samuel H. Kellog: "The Light of Asia and the Light of the World") nói rằng: "(Theo như tôi biết trong Kinh Pali), thì không có chỗ nào trong Kinh Pali hay trong những bài tường thuật về Thích Ca Mâu Ni là ông đã sống lại sau khi chết và hiện ra cho các môn đồ".
Mohammed qua đời vào ngày 8 tháng 6 năm 632 sau CN, vào tuổi 64, tại Mediana, nơi mà hàng năm có hàng ngàn người Hồi Giáo mộ đạo đến viếng mộ ông. Hàng triệu triệu người Do Thái, Phật giáo và Hồi giáo đều cho rằng những nhà sáng lập tôn giáo của họ chưa hề thoát ra khỏi bụi đất để mà phục sinh" 58/385.
Theodosus Harnack nói rằng: "Theo tôi, lập trường của bạn về sự phục sinh như thế nào thì thần học Cơ Đốc sẽ còn hay mất. Với tôi, Cơ Đốc giáo đứng hay ngã tùy thuộc vào vấn đề phục sinh" 58/437. (Do W.J. Sparrow - Simpson trích dẫn, "Adolf Harnack" trong Hibbert Journal, tháng 4, 1938, trang 396).
Giáo sư William Milligan (trong quyển The Resurrection of Our Lord, Macmillan Co., 1927) viết: "Khi nói đến chứng cớ rõ ràng về sự phục sinh của Chúa chúng ta thì cần phải nhấn mạnh rằng, nếu chứng cớ đó là đúng thì nó sẽ phù hợp với tất cả những sự kiện khác về lịch sử của Ngài" 41/71.
Wilbur M. Smith kết luận: "Với một sự rõ ràng, chi tiết nếu Chúa chúng ta thường nói rằng sau khi Ngài lên Giêrusalem, Ngài sẽ chịu chết, nhưng đến ngày thứ ba, từ mồ mả Ngài sẽ sống lại, và điều tiên tri này đã xảy ra, thì đối với tôi, những điều khác mà Chúa chúng ta đã nói cũng phải đúng sự thật" 58/419.
Về điều này, W.J. Sparrow-Simpson (trong quyển The Resurrection and Modern Thought, trang 287, 288) đã nói thêm rằng: "Nếu người ta hỏi rằng làm thế nào mà sự phục sinh của Đấng Christ lại là bằng chứng cho rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời, thì có thể trả lời rằng, trước hết Ngài đã sống lại bởi chính quyền năng của Ngài. Ngài có quyền phó chính sự sống mình thì Ngài cũng có quyền lấy nó lại (GiGa 10:18). Điều này cũng không mâu thuẫn gì với điều được giảng dạy trong những đoạn khác rằng Ngài đã sống lại bởi quyền năng của Cha, bởi vì điều gì Cha làm thì Con cũng làm giống như vậy. Sự sáng tạo, các công việc bên ngoài khác đều được gán cho Cha, Con và Thánh Linh như nhau. Còn điều thứ hai là, như Ngài đã từng tuyên bố công khai là Con của Đức Chúa Trời thì việc Ngài từ kẻ chết sống lại là một dấu ấn của Đức Chúa Trời xác nhận cho lẽ thật đã được tuyên bố đó. Nếu Ngài cứ ở dưới quyền lực của sự chết thì chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã không chấp nhận lời tuyên bố Ngài là Con của Đức Chúa Trời, nhưng khi Ngài từ kẻ chết sống lại thì Đức Chúa Trời công khai xác nhận rằng "Ngươi là con của ta, ngày nay ta đã tuyên bố với con như vậy". 58/583; 59/287,288.
Cũng vậy, bài giảng của Phierơ vào ngày lễ Ngũ tuần cho rằng "mọi sự đều đặt nền tảng trên sự phục sinh. Không phải sự phục sinh là vấn đề chính nhưng nếu giáo lý này bị lấy đi thì không có giáo lý nào còn tồn tại. Vì sự phục sinh là sự chứng thực cho:
(1) Giải thích sự chết của Chúa Jesus,
(2) đã được dự ngôn như là một từng trải của Đấng Mêsi,
(3) được các môn đồ chứng kiến,
(4) Nguyên nhân sự đổ ra của Thánh Linh, do đó, giải thích cho hiện tượng tôn giáo này, nếu không thì không thể nào lý giải được.
(5) Xác nhận địa vị Mêsi và địa vị làm vua của Jesus, người Naxarét. Do đó toàn bộ những lý lẽ và kết luận đều tùy thuộc hoàn toàn vào sự phục sinh. Không có sự phục sinh thì địa vị Mêsi và địa vị làm vua của Chúa Jesus không thể được thiết lập có sức thuyết phục được. Không có sự phục sinh, thì sự đổ ra mới mẻ của Thánh Linh sẽ là một bí ẩn không giải thích được. Không có sự phục sinh thì tính chất chắc chắn của sự chứng kiến của các môn đồ sẽ mất đi. Tất cả những gì còn lại về sự dạy dỗ này nằm trong sự mô tả về Đấng Mêsi trong Thi Thiên 16, một sự mô tả về kinh nghiệm tương lai của Đấng Mêsi, Đấng chưa hiện ra. Sự xác nhận về thần tánh của Chúa Jesus còn được xác thực qua những công việc của Ngài, nhưng sự xác nhận về thần tánh này chỉ dành riêng cho cuộc đời của Ngài, một cuộc đời đã kết thúc như cuộc đời của một tiên tri đã bị dân tộc buộc tội. Do đó bài giảng đầu tiên của Cơ Đốc giáo được đặt nền tảng trên địa vị của Chúa Jesus, mà địa vị đó, được sự phục sinh của Ngài xác quyết cho" 58/230.
Ngay cả Adolf Harnack, người đã bác bỏ niềm tin của Hội Thánh vào sự phục sinh, cũng phải nhìn nhận rằng "Niềm tin vững chắc của các môn đồ nơi Jesus đã ăn sâu vào trong niềm tin rằng Ngài không ở luôn trong sự chết nhưng sẽ sống lại bởi Đức Chúa Trời. Theo như những gì họ đã biết nơi Ngài, thì việc Ngài sống lại là chắc chắn chỉ sau khi họ đã trông thấy Ngài, chắc chắn như việc Ngài đã chết và điều đó trở thành chủ đề chính khi họ rao giảng về Ngài" (History of Dogma, chương II) 15/3.
H.P. Liddon (trong Sermons, Contemporary Pulpit Library, New York, 1888 trong 73) nói rằng: "Niềm tin vào sự phục sinh là viên đá gốc của cái khung đức tin Cơ Đốc và khi viên đá đó bị dời đi thì tất cả phải bị đổ nát" 58/577.
Sự phục sinh của Đấng Christ luôn luôn là giáo lý trọng tâm của Hội Thánh. Như Wilbur Smith đã nói: "Từ những ngày đầu tiên trong sinh hoạt Hội Thánh, Hội Thánh Cơ Đốc đã lấy sự phục sinh của Đấng Christ làm bằng chứng cho đức tin của họ. Đó là điều mà chúng ta có thể xem là một trong những giáo lý và sự tin quyết cơ bản nhất của Hội Thánh, thấu suốt các tác phẩm Tân ước, đến nỗi nếu bạn lấy đi những đoạn có nói về sự phục sinh, thì bạn sẽ được một bộ sưu tập các tác phẩm bị cắt xén đến nỗi những gì còn lại không thể nào hiểu được. Sự phục sinh đã thấm sâu vào đời sống của các Cơ Đốc nhân đầu tiên. Điều này thể hiện trên những ngôi mộ của họ, trong những bức vẽ được tìm thấy trên những bức tường trong các hầm mộ. Nó ăn sâu vào những bài Thánh ca của Cơ Đốc giáo. Nó trở thành một trong những đề tài quan trọng nhất của những tác phẩm biện giải lớn trong 4 thế kỷ đầu tiên. Nó là chủ đề thường xuyên xuất hiện trong sự giảng dạy vào giai đoạn trước và sau Nicene. Nó nhanh chóng được đưa vào trong tín điều của Hội Thánh. Trong bài Tín Điều các Sứ đồ của chúng ta, nó có trong tất cả các tín điều lớn kèm theo.
"Tất cả chứng cứ của Tân ước bày tỏ rằng điều chủ yếu của Tin lành không phải là "bạn hãy cố sức theo người Thầy này" nhưng là "Chúa Jesus và sự phục sinh". Bạn không thể nào lấy điều đó đi mà lại không làm thay đổi nhanh chóng đặc tính của Kinh Thánh và phá hủy nét đặc sắc của Kinh Thánh" 58/369-370.
Giáo sư Milligan nói: "Hình như từ bình minh của lịch sử Cơ Đốc giáo, họ không chỉ tin vào sự phục sinh của Chúa họ mà niềm tin đó còn trở thành điều gắn chặt vào sự tồn tại của họ" 41/70.
W. Robertson Nicoll (trong The Church's One Foundation, New York, 1902 trang 150) đã trích Pressensé khi nói rằng: "Ngôi mộ trống của Chúa Jesus Christ là cái nôi của Hội Thánh..." 58/580.
W.J.Sparrow-Simpson nói: "Nếu sự phục sinh không phải là một sự kiện lịch sử thì quyền lực của sự chết vẫn chưa bị phá vỡ, và như vậy thì ảnh hưởng của tội lỗi và ý nghĩa sự chết của Đấng Christ vẫn còn là điều không có giá trị, theo đó, tín đồ vẫn còn ở trong tội lỗi của họ, địa vị mà họ đã ở trước khi họ được nghe đến Danh Chúa Jesus". 17/514.
Trong tác phẩm The Gospel of a Risen Saviour (Edinburgh, 1892, trang 32), R. M'cheyne Edgar đã nói: "Đây là một vị giáo sư tôn giáo và sau khi đã bị giết đi, Ngài đã từ mồ mả sống lại để chứng tỏ Ngài có khả năng xác quyết những gì Ngài đã tuyên bố. Chúng ta có thể nói rằng, chắc chắn từ xưa đến nay chưa hề có ai thực hiện được một kế hoạch như vậy. Nói đến cuộc trắc nghiệm đặc biệt do những nhà nghiên cứu lời tiên tri thần bí phát minh ra và đã lồng vào trong sự tường thuật của các sách Phúc âm thì lại quá sức so với niềm tin của chúng ta. Ai đã có khả năng ra khỏi mồ mả để đứng trước mặt chúng ta làm người độc đáo nhất trong tất cả các giáo sư, thì người đó tự chứng tỏ mình một cách sáng chói" 58/364.
Đoạn trích sau được tìm thấy trong Dictionary of the Apostolic Church:
"D.F. Strauss, trong những lời phê bình đanh thép, cứng rắn nhất của bà về vấn đề phục sinh, đã phải thừa nhận rằng, sự phục sinh "không chỉ là một sự thử nghiệm cho chính cuộc đời của Chúa Jesus mà còn cho chính Cơ Đốc giáo"; và sự phục sinh đã "ăn sâu vào Cơ Đốc giáo đến tận xương tủy", và "là yếu tố quyết định cho toàn bộ quan điểm của Cơ Đốc giáo" (New Life of Jesus, quyển 2, London, 1865, i.41, 397). Nếu điều này tiêu tan thì tất cả những gì quan trọng, chủ yếu trong Cơ Đốc giáo cũng tiêu tan, nếu nó còn tồn tại, mọi điều khác còn tồn tại. Vì vậy, trải qua nhiều thế kỷ, kể từ thời Celsus trở đi, sự phục sinh đã là trọng điểm của các cuộc tấn công vào đức tin của Cơ Đốc giáo" 16/330.
Cũng như B.B. Warfield đã phát biểu (trong The Person and Work of Christ, trang 537): "Chính Đấng Christ đã đặt những lời xác nhận của Ngài để con người tin cậy vào sự phục sinh của Ngài. Khi được người ta yêu cầu một dấu lạ, Ngài đã chỉ dấu lạ này làm sự chứng thực duy nhất và đầy đủ" 1/103.
Ernest Kevan đã nói đến một nhà thần học nổi tiếng người Thụy Sĩ là Frederik Godet rằng: "Trong quyển Lectures in Defence of the Christian Faith của ông ấy (1883, trang 41), ông đã nói đến tầm quan trọng về sự phục sinh của Christ và chỉ ra rằng đó chính là một phép lạ, và chỉ riêng điều ấy thôi thì Chúa Jesus Christ cũng có đủ lời chứng cho sự xác nhận và uy quyền của Ngài" 30/3.
Michael Green (trong tác phẩm Man Alive, được Intervarsity Press cho phép sử dụng, Downers Grove III) nêu rõ rằng: "Cơ Đốc giáo không xem sự phục sinh là một trong số nhiều giáo lý đức tin. Không có niềm tin ở sự phục sinh thì không có Cơ Đốc giáo. Hội Thánh Cơ Đốc lẽ ra đã không bao giờ khai sinh được. Phong trào về Chúa Jesus lẽ ra đã thất bại giống như một ngòi nổ bị ẩm lúc Chúa Jesus bị hành hình. Cơ Đốc giáo đứng hay ngã tùy thuộc vào lẽ thật về sự phục sinh. Một khi đã bác bỏ điều đó, thì bạn cũng đã vứt bỏ luôn cả Cơ Đốc giáo.
Cơ Đốc giáo là một tôn giáo có tính lịch sử? Tôn giáo này nói rằng Thượng Đế tự đem mình vào lịch sử nhân loại và sự kiện này vẫn còn đó để bạn kiểm tra với tất cả sự nghiêm túc nhất. Những sự kiện đó vẫn đứng vững với bao sự nghiên cứu, xem xét của chủ nghĩa phê bình..." 22/61.
John Locke, một triết gia nổi tiếng người Anh đã nói về sự phục sinh của Chúa Jesus Christ rằng: "Sự phục sinh của Cứu Chúa chúng ta... thật sự là một sự quan trọng lớn trong Cơ Đốc giáo lớn lao đến nỗi mà Ngài có phải là Đấng Mêsi hay không sẽ tùy thuộc vào điều đó. Do đó 2 điều quan trọng này không thể tách rời nhau và thực tế chỉ là một. Từ đó, tin một điều là bạn đã tin cả hai, và nếu từ chối một trong hai điều thì bạn không tin gì cả" 58/423.
Như Phillip Schaff, một sử gia Hội Thánh (Trong quyển History of The Christian Church, được nhà xuất bản Won. B. Eerdmans cho phép sử dụng), đã kết luận rằng: "Rõ ràng, sự phục sinh của Chúa Jesus Christ là một vấn đề trắc nghiệm mà chân lý hay sự giả dối của Cơ Đốc giáo đã đặt nền tảng trên đó. Hoặc điều này là một phép lạ vĩ đại nhất, hoặc là một sự lừa bịp vĩ đại nhất mà lịch sử đã để lại" 54/173.
Wilbur Smith, một học giả và giáo sư nổi tiếng, đã nói rằng: "Chưa từng có một vũ khí nào đã được tạo nên và... sẽ không có một vũ khí nào được tạo nên để hủy phá nổi niềm tin quyết có cơ sở về sự kiện đã được dự ngôn và có tính cách lịch sử này. Sự phục sinh của Đấng Christ chính là thành lũy của đức tin Cơ Đốc. Đây là giáo lý đã làm đảo lộn cả thế giới vào thế kỷ đầu tiên, đã nâng Cơ Đốc giáo lên trên cả Do Thái giáo và những tôn giáo đa thần ở khu vực Địa Trung Hải. Nếu điều này không có, thì hầu như mọi điều quan trọng chủ yếu khác trong Phúc âm của Đức Chúa Jesus Christ sẽ là: "Nếu Đấng Christ không sống lại đức tin anh em là vô ích" (ICo1Cr 15:17) 57/22. ("Scientists and the Resurrection", Christianity Today, 15/4/1957).
2A. NHỮNG LỜI XÁC QUYẾT CỦA ĐẤNG CHRIST RẰNG NGÀI SẼ TỪ KẺ CHẾT SỐNG LẠI
1B. Tầm quan trọng của những lời xác quyết
Wilbur Smith (trong tác phẩm A Great Certainty in This Hour of World crisis, nhà xuất bản Van Kampen, 1951) đã khẳng định rằng:
"Trong số nhiều điều đáng chú ý, chính Jesus này, Đấng Christ, đã nói và lặp lại một điều mà, nếu thốt ra từ một người khác thì chắc hẳn đã bị xét xử ngay tức khắc, vì sẽ bị xem như là một người tự cao khoác lác hoặc là một kẻ điên nguy hiểm. Mặc dù những chi tiết mà Chúa Jesus đã nói về sự chết của Ngài trước đó đã lâu, là một sự kiện tiên tri, thì việc Ngài lên Giêrusalem để chịu chết không phải là một việc đáng chú ý. Nhưng khi Ngài nói rằng Ngài sẽ từ kẻ chết sống lại vào ngày thứ 3, sau khi Ngài chịu đóng đinh, thì Ngài đã nói một điều mà chỉ có một kẻ dại dột mới dám nói, nếu Ngài còn hy vọng ở sự trung thành của môn đồ, trừ khi Ngài biết chắc rằng Ngài sẽ sống lại. Không một nhà sáng lập tôn giáo nào trên thế giới này lại dám nói một điều giống như vậy" 55/10,11.
Christ đã dự ngôn sự phục sinh của Ngài với một thái độ không nhầm lẫn, rõ ràng. Trong khi các môn đồ của Ngài không hiểu được điều đó thì người Do Thái lại cho rằng đó là một lời tuyên bố hết sức nghiêm trọng.
Về điều này, J.N.D. Anderson (trong tác phẩm "The Resurrection of Jesus Christ", tờ Christianity Today, ngày 29/3/1968), đã có nhận xét sau đây:
"Cách đây không lâu, ở nước Anh, có một vị luật sư trẻ, hoặc là một tên gọi gì đó mà bạn gọi cho một luật sư xử án, có tên là Frank Morison. Ông ấy là một người vô tín. Trải qua nhiều năm, ông ta tự hứa rằng vào một ngày nào đó, ông sẽ viết một quyển sách để bác bỏ sự phục sinh lần cuối cùng và mãi mãi. Thế rồi ông ấy đã có được thì giờ rãnh rỗi. Là một người chân thật, ông ta đã nghiên cứu. Cuối cùng (sau khi đã tiếp nhận Đấng Christ), ông đã viết một quyển sách tựa đề Who moved the Stone mà bạn có thể mua như mua một quyển sách bình thường. Khởi đầu từ việc muốn xem xét có ý phê bình văn bản Kinh Thánh Tân ước, ông đã đi đến kết luận rằng bạn có thể giải thích cuộc xét xử và kết án Chúa Jesus chỉ trên nền tảng là chính Ngài đã báo trước sự chết và sự phục sinh của Ngài" 2/9.
Smith nói thêm rằng: "Nếu bạn hoặc tôi nói với một nhóm bạn bè nào đó rằng chúng tôi nghĩ là vào một lúc nào đó, bởi bạo lực hay theo tự nhiên, chúng tôi sẽ qua đời nhưng 3 ngày sau, chúng tôi sẽ sống lại. Chắc chắn là chúng ta sẽ bị bạn bè đưa đi giam giữ trong nhà thương điên cho đến khi trí óc chúng ta trở lại minh mẫn. Thật đúng như vậy, vì chỉ có một người ngu ngốc mới đi khắp nơi nói rằng sẽ từ kẻ chết sống lại sau 3 ngày, chỉ là một kẻ dại dột trừ khi người ấy biết rằng điều đó sẽ xảy ra và không một ai trên thế giới này biết rằng mình sẽ sống lại, trừ một mình Đấng Christ, con của Đức Chúa Trời" 58/364.
Bernard Ramm (trong tác phẩm Protestant Christian Evidences, nhà xuất bản Moody năm 1953) đã nhận xét rằng: "Nếu lấy sự ghi chép trong các sách Phúc âm làm lịch sử đáng tin cậy thì rõ ràng chính Đấng Christ đã báo trước về sự chết và sự phục sinh và đã tuyên bố điều đó một cách rõ ràng chính Đấng Christ đã báo trước về sự chết và sự phục sinh và đã tuyên bố điều đó một cách rõ ràng cho các môn đồ của Ngài... Tác giả của các sách Phúc âm đều thẳng thắn nhìn nhận rằng những lời dự ngôn đó đã không thấm sâu vào tư tưởng của họ cho đến khi sự phục sinh đã trở thành sự thật (GiGa 20:9). Những bằng chứng từ miệng của Chúa chúng ta rằng Ngài sẽ từ kẻ chết sống lại sau ba ngày. Ngài bảo họ rằng Ngài sẽ bị buộc tội chết bởi lòng căm ghét và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Những điều này đã xảy ra" 51/19.
John R.W.Stott đã viết rằng:
"Chính Chúa Jesus chẳng bao giờ báo trước sự chết của Ngài mà lại không nói thêm rằng Ngài sẽ sống lại và đã mô tả sự phục sinh của Ngài như một "phép lạ". Ngay đầu bức thư Rôma, Phaolô đã viết rằng: "Bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép" và trong những bài giảng đầu tiên của các sứ đồ được chép trong sách Công vụ thì xác quyết rằng bởi sự phục sinh mà Đức Chúa Trời đã đảo ngược điều tuyên án của con người và bào chữa cho Con của Ngài" 60/47 (Tác phẩm Basic Christianity, do nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng, Downer Grove, III).
2B. Những lời xác quyết do Chúa Jesus đưa ra
Mat Mt 12:38-40; 16:21; 17:9; 17:22, 23; 20:18, 19; 26:32; 27:63.
Mac Mc 8:31-9:1; 9:10; 9:31; 14:28, 58; 10:32
LuLc 9:22-27
GiGa 2:19-22; 12:34 Đoạn 14 đến 16.
Mat Mt 16:21 "Từ đó, Đức Chúa Jesus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giêrusalem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại"
17:9 "Đang khi Đức Chúa Jesus và môn đồ ở trên núi xuống thì Ngài ra lịnh cấm rằng: sự các ngươi thấy chớ thuật lại cùng ai, cho đến khi con người từ kẻ chết sống lại".
17:22-23 "Đang khi Đức Chúa Jesus và môn đồ trải qua trong xứ Galilê, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta. Họ sẽ giết Ngài nhưng đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Các môn đồ bèn lo buồn lắm".
20:18-19 "Này chúng ta đi lên thành Giêrusalem và Con người sẽ bị bắt nộp cho các thầy tế lễ cả và các thông giáo, bọn đó sẽ luận giết Ngài. Họ sẽ nộp Ngài cho dân ngoại hầu để nhạo báng, đánh đập và đóng đinh trên cây thập tự, đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.
26:32 "Song sau khi ta đã sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Galilê trước các ngươi".
Mac Mc 9:10 "Vậy, môn đồ ghi nhớ lời ấy và hỏi nhau sự từ kẻ chết sống lại là gì.
LuLc 9:22-27 "Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại. Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống thì sẽ cứu. Nếu ai được cả thiên hạ mà chính mình phải mất hoặc hư đi thì có ích gì? Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời."
GiGa 2:18-22 "Các người Giuđa cất tiếng thưa cùng Ngài rằng: Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem phép lạ chi? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại".
3A. SỰ TÌM HIỂU VỀ LỊCH SỬ.
1B. Sự phục sinh của Chúa Jesus Christ là một sự kiện lịch sử có không gian và thời gian.
Sự phục sinh của Đấng Christ là một sự kiện lịch sử mà Đức Chúa Trời đã hành động, có không gian và thời gian rõ ràng. Về điều này, Wilbur Smith đã nói "Ý nghĩa của sự phục sinh là một vấn đề thần học, nhưng sự kiện phục sinh là một vấn đề lịch sử, bản chất về thân thể phục sinh của Chúa Jesus có lẽ là một điều mầu nhiệm nhưng sự kiện thân thể này biến mất khỏi mộ phần là một vấn đề được bằng chứng lịch sử xác nhận.
"Không gian thì có sự xác nhận về địa lý. Người có ngôi mộ là một người sống vào nửa đầu thế kỷ thứ nhất, ngôi mộ được làm bằng đá, trên sườn đồi gần thành Giêrusalem, không có một chút gì là thần thoại, nhưng có sự xác định của địa lý. Những quân canh trước mộ không phải là những sinh vật tưởng tượng từ núi Olympus xuống. Hội đồng Sanhedrin là một nhóm người thường hội họp ở Gierusalem. Rất nhiều tác phẩm văn học cho chúng ta biết rằng con người Jesus này, là một người sống, một người sống giữa loài người như bất cứ một người nào khác. Các môn đồ của Ngài, những người đã ra đi rao giảng về một Chúa sống lại, cũng là những người giữa bao người, cũng ăn, uống, ngủ, đau khổ, làm việc và chết. Có "giáo lý" gì về điều này? Đây chỉ là một vấn đề lịch sử" 58/386.
Ignatius (50-115 sau CN), giám mục thành Antiốt... sinh ở Syria, một học trò của sứ đồ Giăng... mà người ta có nói rằng ông đã bị "ném cho các dã thú ở Hý trường La Mã. Các thư tín của ông được viết trong suốt cuộc hành trình của ông từ Antiốt đến nơi tử đạo." (trích Who Was Who in Church History. Elgin Moyer, nhà xuất bản Moody, 1962). Lúc ông rất bình tĩnh, ông đã nói về Đấng Christ rằng: "Ngài đã bị đóng đinh và chết dưới tay Pontius Pilate. Thật vậy, không phải chỉ là điều bề ngoài, Ngài đã bị đóng đinh, và chết trước sự chứng kiến của các sinh vật ở trên trời, dưới đất và bên dưới đất".
"Ngài cũng đã sống lại trong 3 ngày... Vào ngày lễ sửa soạn, vào giờ thứ ba, Ngài đã chịu sự tuyên án của Philát. Đức Chúa Cha đã cho phép điều đó xảy ra. Vào giờ thứ sáu, Ngài bị đóng đinh, vào giờ thứ chín, Ngài trút linh hồn, và được chôn trước khi hoàng hôn. Trong suốt ngày lễ Sabát, Ngài vẫn còn nằm dưới lòng đất, trong ngôi mộ của Giôsép, người Arimathê, đã chôn Ngài.
"Ngài đã được hoài thai với một khoảng thời gian như chúng ta, và được sinh ra cũng như chúng ta, được nuôi bằng sữa, cũng ăn thịt và uống thức uống như chúng ta. Khi Ngài sống giữa loài người trong 30 năm, Ngài đã được Giăng làm báp têm, và khi Ngài rao giảng phúc âm trong 3 năm, Ngài đã làm nhiều dấu kỳ, phép lạ. Chính Ngài là Đấng xét xử nhưng đã bị người Do Thái và Bônxơ Phi Lát xét xử. Ngài đã bị đánh đập, bị đập lên mặt, bị phỉ nhổ. Ngài đã đội mão triều gai và mặc áo điều. Ngài đã bị xét xử và bị đóng đinh thật sự, không giả dối, không tưởng tượng, không phải là sự lừa bịp. Thật sự Ngài đã chết, đã bị chôn và đã từ kẻ chết sống lại..." 72/209, 28/199-203.
Alfred Edersheim, một sử gia nổi tiếng đã nói đến thời gian cụ thể về sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ rằng:
"Ngày mùa Xuân ngắn ngủi đó đang chuyển dần sang buổi chiều tối của ngày Sabát". Nói chung, luật pháp Do Thái buộc rằng thi hài của phạm nhân không được treo qua đêm mà không chôn cất. Lẽ ra, theo tục lệ bình thường, người Do Thái đã không liều lĩnh yêu cầu Phi Lát rút ngắn sự khổ hình của những người bị treo trên thập tự vì sự trừng phạt của tội đóng đinh trên thập tự không những phải được kéo dài nhiều giờ đồng hồ mà còn phải nhiều ngày trước khi chết. Nhưng đây là một trường hợp đặc biệt. Ngày Sabát vừa là Lễ Vượt Qua thứ hai, một ngày được xem là rất thánh, tương đương như ngày thứ nhất. Hơn nữa nó được gọi là lễ dâng bó lúa đầu mùa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giêhova". (Trích The Life and Times of Jesus the Messiah, nhà xuất bản William B. Eerdmans; 1962).
Như Wilbur Smith nói rằng: "Thật ra mà nói chúng ta biết nhiều chi tiết về những giờ đồng hồ ngay trước cái chết của Chúa Jesus và sự chết thật sự của Ngài hơn là biết về cái chết của bất kỳ ai trong thế giới thời xưa" 58/360.
Justin Martyr (100-165), một triết gia, một người tuận đạo, một nhà hùng biện... Một người nhiệt thành tìm kiếm chân lý, thường xuyên tìm hiểu về chủ nghĩa khắc kỷ (stoicism), triết học Aristote, triết học Pythagore và triết học Platon nhưng lại ghét triết lý Epicure..., người môn đồ nhiệt thành của Platon này đã trở thành một Cơ Đốc nhân vững vàng. Ông nói "Tôi thấy chỉ có triết lý này thôi là có thể tin cậy được và hữu ích".
Thật vậy, Justin Martyr đã nhận thức rằng trong khi các hệ thống triết lý của thế gian hướng đến những mục tiêu khôn ngoan thì chỉ có Cơ Đốc giáo hướng về chính Đức Chúa Trời; qua Đức Chúa Jesus Christ. Đấng chia đôi thời gian và không gian. Với một thái độ rất rõ ràng, Justin Martyr xác nhận rằng: "... Đấng Christ đã được sanh ra cách đây 150 năm, dưới thời Cyrenius và sau đó là trong thời đại của Bônxơ Philát..." 38/46.
Tertullian (160-220), người Carthage, Bắc Phi đã nói: "Nhưng người Do Thái đã quá căm giận vì sự giảng dạy của Ngài, bởi đó các nhà lãnh đạo và các thầy tế lễ của họ đã bị lẽ thật buộc tội. Chỉ vì có quá nhiều điều về Ngài đến nỗi cuối cùng họ phải đưa Ngài đến trước Bônxơ Philát, lúc đó đang làm tổng đốc La Mã ở xứ Syri, và bởi sự la hét hỗn loạn của họ chống lại Ngài, họ đã tạo ra một bản án để Bônxơ Phi Lát giao Ngài cho họ đóng đinh" 64/94.
Về sự thăng thiên của Đấng Christ, Tertullian xác nhận: Điều đó là "một sự kiện còn rõ ràng hơn cả sự thăng thiên mà Proculi của quí vị nói về Romolus" (Proculus là một nguyên lão nghị viện La Mã, ông quả quyết rằng Romulus đã hiện ra với ông sau khi ông chết)
Philát đã làm những điều này cho Christ: bây giờ "Có một Cơ Đốc nhân được ông ta xét xử. Ông ấy đã gửi lời của Ngài đến cho Ceasar đang cai trị lúc ấy là Tiberius. Vâng, nếu các Caesar không cần thiết cho thế giới hoặc nếu các Cơ Đốc nhân là những Ceasar thì các Ceasar cũng nên tin Chúa Jesus Christ. Các môn đồ Ngài cũng rao giảng khắp thế gian, làm những việc mà thầy của họ đã căn dặn, và sau khi chịu nhiều đau khổ do những cuộc bắt bớ của người Do Thái, và với một tấm lòng sẵn sàng, một niềm tin không nghi ngờ vào lẽ thật, cuối cùng lưỡi gươm độc ác của Nero đã gieo ra hạt giống bằng huyết của Cơ Đốc giáo tại Roma" 64/95.
Josephus, một sử gia Do Thái, chép sử vào cuối thế kỷ thứ nhất sau CN. Ông có một đoạn viết rất hay trong quyển Antiquities, 18.3.3 rằng: "Khoảng thời gian này có một Jesus, một con người thông thái, nếu được phép gọi Ngài là một con người; vì Ngài là người làm nhiều công việc kỳ diệu, một người thầy của những người vui lòng nhận lẽ thật. Ngài đã thu hút được nhiều người Do Thái cũng như nhiều người Hy Lạp. Con người này là Đấng Christ. Và khi Philát xử treo Ngài trên thập tự bởi sự cáo tội của những yếu nhân của chúng ta thì những người yêu mến Ngài từ lúc ban đầu, đã không từ bỏ Ngài, vì Ngài nói với họ Ngài sẽ sống lại vào ngày thứ ba. Những tiên tri đã nói về điều này và hàng ngàn điều lạ lùng khác về Ngài. Ngay cả hiện nay, dòng dõi Cơ Đốc, được gọi theo tên Ngài, đã không bị tiêu diệt".
Người ta đã cố gắng nhiều để bày tỏ rằng Josephus đã không viết lên những điều này (xem trang 84). Tuy nhiên Michael Green đã viết trong Man Alive rằng: "Đoạn sử này có trong bản sử của Josephus và được Eusebius sử dụng vào thế kỷ thứ tư". Hơn nữa "những ấn phẩm hiện nay của Loeb về những tác phẩm của Josephus cũng lập lại đoạn sử này. Và điều đáng chú ý hơn hết mà chúng ta nên nhớ là Josephus không phải là người có cảm tình với các Cơ Đốc nhân. Ông là một người Do Thái viết sử để làm hài lòng người La Mã. Đoạn sử này đã không làm họ hài lòng một chút nào. Nếu điều này không có thật, thì thật khó cho ông ta phải nói đến nó." 22/35,36.
Giáo sư Leaney đã nói về bản chất đức tin có tính lịch sử của Hội Thánh đầu tiên rằng: "Chính Tân ước cũng thừa nhận không một chút lẩn tránh, rằng Chúa Jesus đã chịu chết và chôn. Những người theo Ngài đã hoàn toàn chán nản. Một thời gian rất ngắn sau đó, họ đã được cực kỳ phấn chấn và nhận được một sự yên ủi, thuyết phục họ có một đời sống hy sinh chịu đựng cho đến khi tuận đạo. Qua những tác phẩm về họ, nếu chúng ta hỏi họ điều gì đã tạo nên sự thay đổi như vậy, họ sẽ không trả lời là "bởi sự chết làm sự tin chắc của chúng tôi gia tăng nhưng bởi Đấng đã chết, bị chôn và đã sống lại", nhưng họ sẽ trả lời "Jesus, Đấng đã chết, đã hiện ra cho một số người trong chúng tôi sau khi Ngài chết, và những người còn lại trong chúng tôi tin nơi sự chứng kiến của họ." Điều đáng chú ý, đây là một câu nói lịch sử giống như câu "Thật sự Chúa đã sống lại" mà đã làm cho nhiều người tìm đến đức tin" 68/108. (Trích Vindications: Essays on the Historical Basic of the Christian Faith, Nhà xuất bản Morehouse - Barlow, 1966).
Nói về tính chất pháp lý của những điều tường thuật trong Kinh Thánh Tân ước thì Bernard Ramm nói: "Trong Công vụ 1, Luca cho chúng ta thấy chính Chúa Jesus đã tự bày tỏ sự sống lại của Ngài với những bằng chứng không thể sai lầm (en pollois tekmeriois), một thành ngữ biểu thị một loại bằng chứng hợp pháp." 51/92.
Clark Pinnock cũng nói: "Sự tin quyết của các sứ đồ dựa trên những kinh nghiệm có thực của họ. Đối với họ, Chúa Jesus đã tự tỏ ra là Ngài đã sống "bởi nhiều chứng cớ" (Cong Cv 1:3). Thuật ngữ mà Luca dùng là Tekmerion, có nghĩa là một bằng chứng có thể giải thích được. Các môn đồ đã có được đức tin nơi sự phục sinh bởi bằng chứng có tính chất kinh nghiệm quá rõ ràng, có giá trị đối với họ và cũng có giá trị với chúng ta qua sự làm chứng mà họ đã ghi lại. Trong một thời đại đang đòi hỏi bằng chứng để xác định những sự xác quyết của Cơ Đốc giáo, thì thật quan trọng cho chúng ta phải có những nghiên cứu lịch sử thích hợp để đáp lời. Vì sự phục sinh là một sự thật lịch sử nên nó tạo ra một sự thúc đẩy mạnh mẽ để người ta tin Đấng Christ là Cứu Chúa" 3/11. (Trích Christian Today, 12/4/1968, cho phép sử dụng).
Giáo sư Ernest Kevan đã làm vững chắc thêm về giá trị của những bằng chứng hiển nhiên này như sau "Sách Công vụ các sứ đồ do Luca viết vào khoảng giữa năm 63 sau CN và sự thất thủ Giêrusalem vào năm 70 sau CN. Ông đã giải thích trong phần mở đầu phúc âm của ông rằng ông đã tập hợp được những thông tin từ nhiều sự chứng kiến và có thể kết luận rằng đây cũng là cách mà ông đã dùng để viết nên sách Công vụ. Hơn nữa theo lịch sử đã bày tỏ rõ ràng và bởi cách dùng đại từ "chúng tôi" nên chính Luca là người đã dự phần trong những sự kiện mà ông tường thuật. Ông có mặt trong những cuộc rao giảng đầu tiên và dự phần vào những biến cố lớn xảy ra trong những ngày đầu tiên. Do đó, Luca là một chứng nhân trực tiếp đương thời. Không thể cho rằng Hội Thánh đầu tiên không biết đến lịch sử của mình. Việc Hội Thánh nhìn nhận sách này là một bằng chứng về sự đúng đắn của sách đó". 30/4,5.
Trích dẫn một học giả Cơ Đốc nổi tiếng, Kevan chỉ ra rằng: "Vì Hội Thánh quá thánh khiết so với sự đồi bại nên đối với sự hoang đường thì Hội Thánh lại quá thực tế". 30/4,5.
"Về việc xác minh một sự kiện lịch sử được viện dẫn thì không có tài liệu nào có giá trị hơn những thư tín hiện nay" 30/6.
Giáo sư Kevan nói về những thư tín trong Tân ước rằng "... Có một bằng chứng không thể bẻ bác được trong những bức thư của sứ đồ Phaolô. Các thư tín này là một bằng chứng có giá trị nhất. Những bức thư này được gửi đến người Galati, người Côrinhtô, người Rôma. Có rất ít sự tranh cãi về tính đúng đắn và niên biểu của các sách này. Các sách này được viết trong những cuộc hành trình truyền giáo của Phaolô, có lẽ vào khoảng 55-58 sau CN. Điều này làm cho bằng chứng về sự phục sinh của Chúa Jesus Christ còn gần hơn cả khoảng thời gian 25 năm đó. Vì chính Phaolô nói rõ rằng chủ đề thư của ông cũng là chủ đề mà ông đã từng nói với họ khi ông ở với họ, thật vậy điều này còn làm cho bằng chứng về sự phục sinh còn gần hơn nữa" 30/6.
Bernard Ramm nói rằng: "Đọc lướt qua các sách Phúc âm cũng thấy rằng các sách này đề cập đến sự chết và sự phục sinh của Chúa Jesus Christ chi tiết hơn bất kỳ một phần nào khác trong chức vụ của Christ. Những chi tiết về sự phục sinh không được tách rời một cách gượng gạo khỏi sự tường thuật về nổi khổ hình của Chúa". 51/191,192 (Protestant Christian Evidences, NXB Moody 1953).
Sau khi phục sinh, Chúa Jesus Christ đã hiện ra nhiều lần. Những sự hiện ra này xảy ra vào những thời điểm cụ thể cho những con người cụ thể trong một không gian cụ thể.
Về sự hiện ra của Chúa Jesus Christ sau khi phục sinh xin xem kỹ ở trang 145.
Wolfhart Pannenberg, "một giáo sư về môn thần học hệ thống ở Đại học Munich, Đức. Dưới sự lãnh đạo của Barth và Jaspers, ông đã nghiên cứu chủ yếu về vấn đề giữa đức tin và lịch sử. Cùng với một nhóm nhà thần học năng động ở Heidelberg, ông đang tiến hành một môn thần học có nhiệm vụ chủ yếu là tra xét cẩn thận những sự kiện lịch sử về nguồn gốc của Cơ Đốc giáo" 3/9 (Tờ Christian Today ngày 12/4/1968, cho phép sử dụng).
Vị học giả nổi tiếng này nói "Sự phục sinh của Chúa Jesus Christ có xảy ra hay không là một vấn đề lịch sử và vấn đề lịch sử này không thể bỏ qua được. Vì vậy vấn đề này phải được quyết định bởi lý lẽ lịch sử" 3/10.
Một học giả về Tân ước, ông C.H.Dodd đã viết: "Sự phục sinh vẫn là một sự kiện nằm trong phạm vi lịch sử" (History and the Gospels, Charles Scribner's Sons, New York, 1938).
J.N.D. Anderson (trong Christianity: The Witness of History, nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng, Downer Grove, III) đã trích dẫn lời của Giáo sư C.F.D. Moule ở Đại học Cambridge (trong quyển The Phenomenon of the New Testament, trang 11,14,18) rằng: "Từ ban đầu, niềm tin quyết rằng Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại là một niềm tin làm cho họ tồn tại hay bị tiêu diệt. Không có một động cơ nào khác để lý giải cho họ cả... Không có một chỗ nào trong Tân ước đưa ra bằng chứng rằng các Cơ Đốc nhân đã đứng vững vì một triết lý sống hay một triết lý độc đáo nào về đạo đức. Trách nhiệm chính của họ là làm chứng cho điều họ đã xác quyết. Đó là Chúa Jesus đã từ kẻ chết sống lại. Thật vậy điều đặc biệt mà các Cơ Đốc nhân đã đứng vững đó là sự tuyên bố của họ rằng Chúa Jesus đã từ kẻ chết sống lại theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, rằng Ngài là Con độc nhất của Đức Chúa Trời và là con người đại diện đem đến quan niệm về đường lối của sự giải hòa" 1/100,101.
W.J.Sparrow-Simpson nói rằng "Sự phục sinh của Christ là nền tảng của Hội Thánh thời kỳ các sứ đồ, và đối với giáo lý cũng như với những lý lẽ có bằng cớ thì điều này là một sự thật... Sự ý thức của họ về đặc điểm cơ bản này được thể hiện trong sự làm chứng của họ. Cần phải có một sứ đồ để làm chứng về sự phục sinh của Ngài (Cong Cv 1:22). Ở Athens, người ta cho rằng nội dung Cơ Đốc giáo của thánh Phaolô ấy là "Chúa Jesus và sự phục sinh" (17:18). Những đoạn đầu trong sách Công vụ cứ lặp đi lặp lại câu này "Đức Chúa Jesus này, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó" (2:32) "Là một sự kiện lịch sử, sự phục sinh của Ngài đã làm cho người ta có thể tin vào địa vị cao trọng của Ngài vượt trên cả phàm nhân. Điều này không phải chỉ là sự ảnh hưởng đạo đức về tính cách, gương mẫu hay sự giảng dạy của Ngài. Việc hiện nay họ nhìn nhận Ngài là Cứu Chúa của họ là do niềm tin này thúc đẩy và nếu không có sự phục sinh đó thì không thể nào làm sáng tỏ được. Thật vậy ai kiên quyết chối bỏ sự phục sinh của Ngài là chối bỏ Thần tánh và Công tác Cứu chuộc của Ngài mà Thánh Phaolô đã thừa nhận" 17/513,514.
2B. SỰ LÀM CHỨNG CỦA LỊCH SỬ VÀ LUẬT PHÁP
Khi một sự kiện xảy ra trong lịch sử và có đủ người còn sống đã chứng kiến hoặc tham dự sự kiện đó thì thông tin được công bố, người ta có thể thẩm tra giá trị pháp lý của sự kiện lịch sử đó (những chứng cớ gián tiếp).
William Lyon Phelps, một giáo sư nổi tiếng về văn chương Anh của Đại học Yale trên 40 năm, tác giả của khoảng 20 quyển sách về nghiên cứu văn chương, một nhà diễn thuyết ở đại học Yale, đã nói rằng: "Trong toàn bộ câu chuyện về Chúa Jesus Christ, sự kiện quan trọng nhất là sự phục sinh. Đức tin của Cơ Đốc giáo đặt trên sự kiện này. Thật là khích lệ khi biết rằng 4 sách Phúc âm và chính Phaolô đã đề cập đến vấn đề này cách rõ ràng. Tên của những người đã nhìn thấy Ngài sau khi Ngài đắc thắng sự chết đều đã được ghi lại; và có thể nói rằng bằng chứng lịch sử về sự phục sinh là vững chắc hơn bất kỳ phép lạ nào được thuật lại; Vì như Phaolô đã nói: nếu Đấng Christ không sống lại từ trong kẻ chết thì sự rao giảng của chúng tôi là luống công và đức tin của anh em cũng vô ích" 55/18 (Trong tác phẩm Human Nature and the Gospel (Wilbur Smith trích dẫn trong A Great Certainty in This Hour of World Crisis, nhà xuất bản Van Kampen, 1951), New York, 1925 trang 131, 132).
"Giáo sư Ambrose Fleming, một giáo sư danh dự của trường Kỹ sư điện ở Đại học London, một thành viên danh dự của Đại học St.John, Cambridge, người đã nhận được huy chương Faraday năm 1928..., một trong những khoa học gia nổi tiếng của Anh quốc... đã nói về những tài liệu Tân ước (trong tác phẩm Miracles and Science - The Resurrection of Christ, London, trang 11,12,15) rằng:
"Chúng ta phải sử dụng bằng chứng của những nhà chuyên môn về niên biểu và tính chính xác của tác phẩm này cũng như chúng ta đã sử dụng những vấn đề thiên văn dựa trên bằng chứng của những nhà thiên văn không mâu thuẫn nhau. Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi liệu một quyển sách như thế, mô tả những sự kiện xảy ra trước đó khoảng 30,40 năm lại được nhiều người chấp nhận và yêu mến những câu chuyện về những sự kiện lạ lùng trong sách đó là giả dối và tưởng tượng. Sao không thể được vì trí nhớ của tất cả những người lớn tuổi về những sự kiện trước đó 30, 40 năm vẫn còn hoàn toàn rõ ràng.
"Ngày nay không ai có thể thuật lại tiểu sử của Nữ hoàng Victoria chết cách đây 31 năm mà lại đầy những giai thoại hoàn toàn không có thật. Lập tức những giai thoại đó sẽ mâu thuẫn nhau. Chắc chắn những điều đó sẽ không được người ta chấp nhận là sự thật. Do đó không thể nào sự tường thuật của Mác về sự phục sinh, phù hợp với sự tường thuật của tác giả các sách Phúc âm khác, lại là một chuyện bịa đặt được. Học thuyết tưởng tượng này sẽ bị người ta loại bỏ vì nó sẽ không chịu được sự tra cứu kỹ lưỡng" 58/427,428 (Wilbur Smith trích dẫn, Therefore Stand).
Giáo sư Fleming quả quyết rằng không có điều gì trong các sách Phúc âm khiến cho một khoa học gia có vấn đề với những phép lạ trong các sách đó và ông đã kết luận với một sự thách thức bằng một lời xác quyết trung thực rằng nếu "... một sự nghiên cứu như vậy được người ta theo đuổi với điều mà các luật sư gọi là một ý chí cương quyết thì nó sẽ tạo ra một sự bảo đảm sâu xa rằng Hội Thánh của Đấng Christ không đặt nền tảng trên những điều tưởng tượng hoặc ấp ủ những điều lừa bịp hoặc như thánh Phierơ nói là "những chuyện hoang đường" nhưng dựa trên những sự kiện lịch sử và có thật, và thật lạ lùng làm sao đó lại là những sự kiện vĩ đại nhất đã từng xảy ra trong lịch sử thế giới" 58/427,428.
Trong một quyển sách bán chạy nhất "Who moved the Stone?", luật sư Frank Morison "đã cho chúng ta biết thế nào mà ông đã bị rơi vào tinh thần duy lý và có ý tưởng rằng sự phục sinh không gì khác hơn là một câu chuyện cổ tích thú vị làm hỏng đi lịch sử tuyệt vời của Chúa Jesus. Do đó, ông có ý định viết một bài tường thuật về những ngày cuối cùng bi thảm của Chúa Jesus, phản ánh đầy đủ những tội ác khủng khiếp và đầy tích chất anh hùng của Chúa Jesus. Dĩ nhiên ông ấy sẽ bỏ qua bất kỳ điều gì có tính chất phép lạ và sẽ hết sức xem thường sự phục sinh, nhưng khi ông cẩn thận nghiên cứu các sự kiện đó thì ông đã đổi ý và ông đã viết một quyển sách với nội dung ngược lại. Chương thứ nhất có tựa rất ý nghĩa là "Cuốn sách bị khước từ đã được viết" và phần còn lại của cuốn sách ấy là một trong những sự đánh giá sắc sảo nhất, lôi cuốn nhất mà tôi từng được đọc..." 22/54,55.
Giáo sư Edwin Gordon Selwyn, một học giả nổi tiếng đã nói "Sự kiện Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại vào ngày thứ ba cả thể xác lẫn linh hồn, là một sự kiện chắc chắn như một bằng chứng lịch sử" 55/14. (trích The Approach to Christianity, London, 1925, trang 199).
Nhiều nhà nghiên cứu trung lập đã tra cứu sự phục sinh của Đấng Christ với một tinh thần vô tư, đã bị những bằng chứng có giá trị thuyết phục để tin rằng sự phục sinh là một sự kiện lịch sử? Chúng ta hãy lấy một bức thư do Sir Edward Clarke, K.C... viết cho Mục sư E.L. Macassey làm ví dụ:
"Là một luật sư, tôi đã thực hiện một cuộc nghiên cứu lâu dài về những chứng cứ liên quan đến những sự kiện của ngày phục sinh đầu tiên. Đối với tôi, bằng chứng là quá rõ ràng, và nhiều khi trong thâm tâm, tự nhiên tôi đã củng cố sự xác quyết dựa trên bằng chứng đó. Dựa trên bằng chứng và lời làm chứng chân thật, thì kết luận thường là xác thực, bất kể người ta muốn nói gì. Chứng cớ của các sách phúc âm thuộc loại này, và là một luật sư, tôi chấp nhận những chứng cớ đó một cách không dè dặt giống như những con người thật thà đã làm chứng về những sự kiện mà họ có thể minh chứng".
"Trong thời đại này, mặc dù không một khoa nào của trường đại học Columbia bị xem là đã ủng hộ đức tin Cơ Đốc hoặc đã hoan nghinh Jesus ở Naxarét, nhưng người ta rất ngạc nhiên là bộ bách khoa toàn thư của đại học này, một bộ sách quan trọng nhất nói về những kiến thức phổ thông trong thế giới nói tiếng Anh, đã không ngần ngại viết rằng: "Các sách phúc âm đã không để Chúa Jesus lại trong mồ mả. Vào ngày thứ nhất trong tuần lễ, một số phụ nữ đi đến mộ thì thấy đã mở toang, thi thể của Chúa Jesus không còn ở đó. Một thiên sứ ngồi ở mộ nói với họ rằng Chúa Jesus đã từ kẻ chết sống lại. Chẳng bao lâu, họ đã gặp Ngài và nói chuyện với Ngài. Các môn đồ Ngài cũng gặp Ngài và nhiều người khác cũng nhìn thấy Ngài" 55/14 (John R.W. Stott trích trong Basic Christianity, Nhà xuất bản Inter. Varsity cho phép sử dụng, Downers Grove, III).
Giáo sư Thomas Arnold là hiệu trưởng nổi tiếng qua 14 năm ở trường Rugby, tác giả của bộ sách gồm ba quyển rất nổi tiếng "History of Rome", được chỉ định làm giáo sư môn lịch sử hiện đại tại Đại học Oxford, chắc chắn là một người đã hiểu biết tường tận về giá trị của những bằng chứng trong việc xác định những sự kiện lịch sử. Trong tác phẩm của mình, quyển Sermons on the Christian Life - Its hope, Its Fears and Its Close (Tái bản lần thứ 6, London, 1859, trang 324), vị Giáo sư nổi tiếng này đã viết:
"Chứng cớ về đời sống, sự chết và sự phục sinh của Chúa chúng ta có thể được xem là, và thường được xem là đầy đủ. Theo nguyên tắc chung thì việc phân biệt chứng cớ tốt khỏi chứng cớ xấu là một điều tốt. Hàng ngàn người đã từng làm điều này, hết sức cẩn thận như một sự phán xử kết luận một sự kiện quan trọng nhất. Đã nhiều lần, chính tôi đã làm điều đó, không phải là để thuyết phục người khác nhưng để tự thỏa mãn. Tôi đã để nhiều năm nghiên cứu lịch sử nhiều thời đại, xem xét và cân nhắc bằng chứng của những người đã viết nên lịch sử đó và tôi cũng không biết có một sự kiện nào trong lịch sử nhân loại được minh chứng đầy đủ, tốt đẹp cho sự hiểu biết của người nghiên cứu hơn là hiện tượng vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Đó là Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại" 58/425/426.
Wilbur Smith đã viết về một tác giả lớn trong thế kỷ trước.Ông đã đề cập đến John Singleton Copley, được biết nhiều hơn với cái tên Lord Lyndhurst (1772-1863) được xem là một trong những bộ óc vĩ đại nhất của lịch sử Anh Quốc, người Cố vấn pháp luật của chính phủ Anh vào năm 1819, Chưởng lý của nước Anh vào năm 1824, ba lần làm Đại Pháp quan của nước Anh, được bầu vào năm 1846 làm ban quản trị trường Đại học Cambridge, do đó ông đã nắm giữ những chức vụ cao nhất mà một chánh án ở nước Anh đã phong cho ông. Khi Chưởng lý Lyndhurst chết, người ta đã tìm thấy một tài liệu trong bàn viết của ông giữa những thứ giấy tờ cá nhân, cho người ta được biết nhiều hơn về đức tin Cơ Đốc của ông, và trong tài liệu quí giá chưa từng được biết đến này, ông đã viết: "Tôi đã biết khá rõ bằng chứng là gì và tôi xin nói với quí vị bằng chứng về sự phục sinh chưa hề bị đạp đổ".
"Câu nói này của Lord Lyndhurst đã được vị giám mục kế nhiệm là H.C.G. Moule gửi cho ông E.H. Blakeney ở Đại học Winchester. Cách đây vài năm, một tạp chí định kỳ ở Anh là tờ Dawn đã cho in tham khảo bức thư này. Mới đây tôi có nhận một bức thư của ông Blakeney xác nhận điều này. Trong tác phẩm "The Blakeney and Artistic Life of John Copley and Reminiscences of His Son, Lord Lyndhurst, High Chancellor of Great Britain (London, 1882 trang 438, 438), đã xuất hiện một điều thú vị: "Một tài liệu nói về đức tin của Lyndhurst vào một chân lý tôn giáo và quan điểm của ông về chương trình cứu chuộc, đã được tìm thấy trong một tài liệu do chính tay ông chép sau khi ông mất, trong một ngăn kéo của bàn viết" (Lord Lyndhurst chết tháng 11/1863 hưởng thọ 91 tuổi)" 58/425, 584.
Simon Greenleaf (1783-1853), là một Giáo sư luật nổi tiếng ở Đại học Harvard, người đã kế tục Justice Joseph Story, cũng là Giáo sư luật ở trường này, lúc ông này qua đời vào năm 1846. 58/423
H.W.H. Knott đã nói đến nhà luật học vĩ đại này rằng: "Người ta cho rằng chính những nỗ lực của Story và GreenLeaf đã đưa Khoa Luật của Đại học Harvard lên vị trí vượt trội trong số các trường luật ở Hoa Kỳ" 58/423 (trích Dictionary of American Biography, quyển VII, New York, 1937, trang 584).
GreenLeaf đã viết một tác phẩm nổi tiếng có tựa là A Treatise on the Law of Evidence (1842) mà "vẫn còn được đánh giá là một tài liệu đáng giá nhất trong tất cả những tác phẩm nói về thủ tục luật pháp" 58/423.
Vào năm 1846, trong khi vẫn còn là Giáo sư luật ở Harvard, GreeLeaf đã viết một quyển sách có tựa là An Examination of the Testimony of the four Evangelists by the Rules of Evidence Administered in the Courts of Justice (nhà sách Baker, 1965, tái bản theo bản in năm 1847). Trong tác phẩm Kinh điển của mình, tác giả đã tra cứu giá trị về những lời chứng của các sứ đồ về sự phục sinh của Đấng Christ. Đoạn trích dưới đây là lời nhận xét của nhà luật học nổi tiếng này:
"Những lẽ thật lớn mà các sứ đồ đã rao giảng đó là Chúa Jesus Christ đã từ kẻ chết sống lại, rằng chỉ bởi sự ăn năn tội, tin nơi Ngài thì con người mới có hy vọng được cứu chuộc. Giáo lý này đã được họ một lòng rao giảng khắp nơi, không những vào những lúc chán nản nhất mà còn trong những lúc đối diện với những lỗi lầm kinh khủng nhất nảy ra trong ý tưởng của con người. Mới đây thôi, thầy của họ đã phải chết như một kẻ gian tà bởi sự xét xử của công luận. Tôn giáo của Ngài đã cố lật đổ các tôn giáo trên toàn thế giới. Luật pháp của mọi quốc gia đều chống lại sự giảng dạy của các môn đồ Ngài. Sự thích thú và niềm say mê của những người cầm quyền và những vĩ nhân trên thế giới này là chống lại họ. Tập tục của thế giới này là chống lại họ. Truyền bá niềm tin mới mẻ này, dù với một thái độ ôn hòa, nhã nhặn nhất, họ cũng không nhận được gì hơn là sự khinh bỉ, chống đối, chửi rủa, bắt bớ đắng cay, đòn vọt, tù đày, đau khổ và cái chết thê thảm. Nhưng họ đã sốt sắng truyền bá niềm tin này và họ đã không nao núng, không cự tuyệt và vui mừng chịu đựng những nỗi bất hạnh này. Khi người này tiếp nối người khác chịu tuẩn tiết thì những người sống sót cứ tiếp tục công việc của họ với một sự hăng hái và quyết tâm tuôn trào. Lịch sử của các cuộc chiến tranh quân sự chắc chắn là không để lại một gương mẫu nào về sự trung thành, tính kiên nhẫn và lòng quả cảm không chùn bước giống như vậy. Họ có động cơ để cẩn thận xem xét lại nền tảng đức tin của họ, những bằng chứng về những sự kiện và những chân lý vĩ đại mà họ đã xác quyết; và những động cơ này đã thường xuyên đè nặng lên sự suy nghĩ của họ. Do đó việc cho rằng họ đã cố chấp trong sự xác quyết những lẽ thật mà họ đã thuật lại, rằng Chúa Jesus đã không thật sự từ kẻ chết sống lại và rằng họ đã không rõ sự kiện này cách chắn chắn như họ đã rõ một sự kiện khác là điều không thể chấp nhận được. Nếu cho rằng họ đã có thể lừa dối về vấn đề này thì mọi người cần phải làm cho họ thấy và thừa nhận lỗi lầm của họ. Sau khi họ đã thấy và thừa nhận lỗi lầm mà họ vẫn còn khư khư giữ một điều giả dối trắng trợn như vậy thì nhân loại không những phải chịu đựng sự gian xảo suốt đời mà còn phải chịu đựng những nỗi đau trong lòng và một tội lỗi rõ ràng; không còn một chút hy vọng về sự bình an trong tương lai, không còn một sự chứng thực nào cho một lương tâm tốt, không còn sự trông đợi về sự tôn trọng và quí mến giữa con người, không còn sự hy vọng về hạnh phúc trong đời này và đời hầu đến.
"Hơn nữa, cách cư xử như vậy của các môn đồ hoàn toàn không phù hợp với việc cho rằng họ có một tâm tánh giống bản tánh của tất cả chúng ta. Tuy nhiên đời sống của họ thể hiện rằng họ cũng là những con người giống như những con người khác, cũng chịu sự tác động của hoàn cảnh, cũng được vui mừng trong hy vọng, cũng chịu sự tác động của nỗi vui mừng, cũng bị dao động bởi sự sợ hãi, cũng bị những cảm xúc, những cám dỗ, những yếu đuối chinh phục như chính chúng ta vậy. Những tác phẩm của họ chứng tỏ rằng họ là những con người rất minh mẫn. Do đó nếu lời làm chứng của họ là giả dối thì không có lý do nào khả dĩ giải thích được sự giả dối đó" 23/28-30.
Có lẽ John Locke là một triết gia vĩ đại nhất trong thế kỷ này. Trong tác phẩm của mình "A second Vindication of the Reasonableness of Christianity, Works (tái bản lần thứ 11. London 1812, quyển 7 trang 339-342), ông nói:
"Có một số điểm đặc biệt trong lịch sử của Cứu Chúa chúng ta là những điểm chỉ dành riêng cho Đấng Mêsi. Thật vậy, có vô số những dấu hiệu về Ngài đến nỗi nếu tin rằng những dấu hiệu đó nói về Jesus người Naxarét thì cũng phải tin rằng Jesus đó cũng chính là Đấng Mêsi. Dấu hiệu lớn nhất trong những dấu hiệu này là việc Ngài từ kẻ chết sống lại. Đó chính là bằng cớ rõ ràng, lớn lao nhất để xem Ngài là Đấng Mêsi. Thật không có gì là lạ khi cho rằng, việc tin nơi sự phục sinh của Ngài là đặt nền tảng cho việc tin Ngài là Đấng Mêsi, vì công nhận sự phục sinh của Ngài là công nhận Ngài là Đấng Mêsi" 58/422, 423 (Wilbur Smith trích dẫn trong tác phẩm Therefore Stand).
Brooke Foss Westcott (1825-1901), một học giả người Anh, được Hoàng gia bổ nhiệm làm Giáo sư tại Đại học Cambridge vào năm 1870 đã nói "Thật vậy, về bằng chứng thì không có gì đáng nói hơn là công nhận rằng không có một sự kiện lịch sử nào lại được chứng minh nhiều và hoàn chỉnh bằng sự phục sinh của Đấng Christ. Hẳn là sai lầm khi trước đây có những kẻ ngạo mạn cho rằng bằng chứng về sự kiện này là không đầy đủ" 36/70. (Paul Little trích dẫn trong tác phẩm Know Why you believe).
Clifford Herschel Moore, giáo sư ở Đại học Harvard đã nói: "Cơ Đốc giáo biết Cứu Chúa của họ. Không như những vị thần có trong lịch sử của những niềm tin hoang tưởng, dựa trên những cơ sở thô sơ thậm chí còn gây khó chịu... Jesus là một nhân vật lịch sử chứ không phải một nhân vật tưởng tượng. Các tín hữu Cơ Đốc không để cho sự tưởng tượng thô bỉ bắt phục mình. Đức tin của họ đặt trên những sự kiện lịch sử lũy tích và được chấp nhận" (The Religious thought of the Greeks, tái bản lần 2, Cambridge, 1925 trang 357). Trong bài viết của mình, có tựa là: "Sự phục sinh của Đấng Christ là một sự kiện lịch sử được nhiều người chứng kiến làm chứng" (journal of Christian Philosophy III, 1884, trang 305), Benjamin Warfield đã viết: "Sự nhục hóa của một Đức Chúa Trời đời đời là một giáo lý tất yếu. Không một con mắt phàm nhân nào đã chứng kiến sự hạ mình làm nguời của Ngài. Không một ngôn ngữ phàm nhân nào có thể làm chứng về sự kiện đó. Tuy nhiên nếu điều đó không có thật thì đức tin của chúng ta là vô ích, chúng ta vẫn còn ở trong tội lỗi mình. Nói cách khác, sự phục sinh của Chúa Jesus Christ là một sự thật, một biến cố nội tại xảy ra trong nhận thức của con người, được nhiều người làm chứng xác nhận, và là một giáo lý chính yếu trong hệ thống giáo lý của chúng ta. Những giáo lý khác tùy thuộc vào điều này." 58/361,362. (Wilbur Smith trích trong Therefore Stand). Wilbur Smith đã giới thiệu về một học giả nổi tiếng trong thế kỷ này rằng: "Một trong những nhà sinh lý học vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta là tiến sĩ A.C. Ivy, thuộc khoa hóa của Đại học Illinois (Chicago Campus), trưởng khoa phân loại sinh lý ở những trường đại học chuyên ngành tại Chicago vào những năm 1946-1953, là chủ tịch của Hội sinh lý học Mỹ từ năm 1939-1949 và là tác giả của nhiều bài báo khoa học. Sau đây là những lời phát biểu rất giá trị của ông:
"Tôi tin ở sự phục sinh về thân thể của Đức Chúa Jesus Christ. Như bạn biết đấy, đây là một "vấn đề riêng tư", nhưng tôi đã không hổ thẹn khi cho thế giới biết điều tôi đang tin, và tôi có thể bảo vệ niềm tin của tôi một cách hợp lý. Tôi không thể chứng minh niềm tin của tôi như chứng minh một sự kiện khoa học cụ thể trong phòng nghiên cứu của tôi, một điều mà cách đây 100 năm hầu như là một điều bí ẩn như là sự phục sinh của Chúa Jesus Christ. Dựa trên kiến thức về sự tồn tại của sinh vật, những nhà khoa học trung thành với triết học có thể nghi ngờ sự sống lại về thân thể của Đấng Christ nhưng họ lại không thể chối bỏ điều đó, bởi vì làm như vậy có nghĩa là họ có thể chứng minh điều ấy đã không xảy ra. Tôi chỉ có thể nói rằng khoa sinh vật học hiện nay không thể nào làm sống lại một thân thể đã chết và chôn trong mộ 3 ngày. Theo triết lý về thái độ khoa học chân chính của tôi, thì việc dựa trên những gì mà sinh vật học biết được ngày hôm nay mà chối bỏ sự phục sinh của Jesus Christ là một thái độ phi khoa học" 57/6,22.
Michael Green (trong tác phẩm Man Alive, nhà xuất bản Inter - Varsity cho phép sử dụng Downers Grove, III) nói rằng: "... Gilbert West và Lord Lyttleton là 2 thanh niên có năng lực, cùng vào được đại học Oxford. Họ là những người bạn của tiến sĩ Johnson và Alexander pope trong xã hội. Họ định ý tấn công vào nền tảng đức tin Cơ Đốc. Vì vậy Lyttleton được phân công chứng minh rằng Saulơ, người Tạtsơ chưa từng tin theo Cơ Đốc giáo và West phải xác minh rằng Chúa Jesus chẳng hề sống lại từ mồ mả."
Một thời gian sau, họ gặp nhau để bàn luận về những khám phá của họ. Cả hai hơi bẽn lẽn, vì cả hai đều đi đến một kết luận giống nhau nhưng đầy rắc rối. Theo nghiên cứu, Lyttleton đã thấy rằng Saulơ người Tạtsơ đã trở nên một người mới hoàn toàn bởi tin vào Cơ Đốc giáo và West đã thấy rằng bằng chứng đã chỉ ra rất rõ là Chúa Jesus đã từ kẻ chết sống lại. Bạn vẫn có thể tìm thấy quyển sách của ông ấy trong một thư viện lớn, có tựa là Observation on the History and Evidences of the Resurrection of Jesus Christ, được xuất bản năm 1747. Trên tờ giấy để trắng đầu sách, ông cho in một câu trích trong Ecclesiasticus 11:7;, một câu dẫn được những người theo chủ nghĩa bất khả tri cho là rất ích lợi. "Trước khi xem xét sự thật thì đừng nên trách móc" 22/55,56.
"Bằng chứng đã bày tỏ không hề nhầm lẫn rằng Jesus đã sống lại vào ngày thứ ba. Đây cũng chính là kết luận mà cựu thẩm phán tối cao pháp viện của Anh, ông Lord Darling đã kết luận. Tại một buổi dạ tiệc riêng, cuộc nói chuyện đã chuyển sang vấn đề về lẽ thật của Cơ Đốc giáo, cụ thể là nói về một cuốn sách viết về sự phục sinh. Đặt các đầu ngón tay của mình chạm nhau, với một thái độ của quan tòa, và với một giọng nói nhấn mạnh đầy ấn tượng, ông nói "Chúng ta, những Cơ Đốc nhân, cần phải tin rất nhiều điều, chẳng hạn như những sự giảng dạy và những phép lạ của Chúa Jesus. Nếu chúng ta cứ phải tin tất cả thì có một điều tôi phải hoài nghi. Điểm then chốt của vấn đề liệu Chúa Jesus có đúng hay không đúng với những gì Ngài tự tuyên bố về mình. Chắc chắn phải dựa trên sự thật hoặc dựa trên sự phục sinh. Về điểm quan trọng nhất này chúng ta không phải chỉ cần có đức tin không thôi. Vì đây là một lẽ thật sống động nên có rất nhiều bằng cớ, tích cực và tiêu cực, có thật và suy diễn, đến nỗi không một bồi thẩm đoàn nào trên thế giới này lại không đi đến một phán quyết rằng câu chuyện phục sinh là một sự thật" 22/53,54.
Armand Nicholi thuộc khoa Y của Đại học Harvard (trong tờ Christian Today ngày 29/3/1968, được phép sử dụng), đã nói về J.N.D. Anderson rằng: "... Ông là một học giả nổi tiếng thế giới và là một người rất có khả năng về vấn đề bằng chứng. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu trên thế giới về luật pháp Islam... Ông là trưởng khoa luật của Đại học London, trưởng khoa luật Đông Phương tại Viện Nghiên cứu Đông Phương và Phi Châu, Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Luật ở Đại học London" 2/4.
Học giả nổi tiếng người Anh này, một người rất am tường trong lĩnh vực luật pháp quốc tế, đã nói rằng "Những bằng chứng cho nguồn gốc lịch sử niềm tin Cơ Đốc, cho những giá trị pháp lý quan trọng về sự chứng thực của Tân ước về con người của Chúa Jesus Christ và sự giảng dạy của Ngài, về sự kiện và ý nghĩa sự chết chuộc tội của Ngài, về tính lịch sử của ngôi mộ trống và sự làm chứng của các sứ đồ về sự phục sinh, đã tạo nên một nền tảng thích đáng cho một cuộc mạo hiểm đức tin" 1/106.
3B. Lời chứng của những Giáo phụ Hội Thánh đầu tiên.
Giáo sư W.J.Sparrow-Simpson (trong tác phẩm The Resurrection and the Christian Faith, nhà xuất bản Zondervan, 1968) đã nói rằng: "Tiếp sau sự nghiên cứu về công việc và con người của Chúa Jesus Christ thì rõ ràng sự phục sinh là một giáo lý giữ vị trí then chốt trong những tác phẩm của Cơ Đốc giáo.
"Thời kỳ sau các sứ đồ đã cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu tham khảo, nhưng thế kỷ thứ hai đã tạo ra nhiều luận thuyết đặc biệt nói về điều này, chẳng hạn như tác phẩm Athenagoras, được cho là của Justin Martyr" 59/339.
Giáo sư Bernard Ramm (trong tác phẩm Protestant Christian Evidences, nhà xuất bản Moody, 1953) đã bình luận rằng "Trong lịch sử của các tác phẩm Cơ Đốc đầu tiên và trong lịch sử tín điều thì sự phục sinh đã được xác quyết ngay từ đầu. Nó cũng được đề cập đến tại Clement của La Mã, trong thư tín gửi cho người Côrinhtô (năm 95 sau CN) và trong những tài liệu lịch sử Hội Thánh đầu tiên và cứ liên tục được đề cập đến trải qua suốt thời kỳ các giáo phụ. Nó xuất hiện trong tất cả các loại tín điều các sứ đồ và nó chưa bao giờ tạo nên một sự tranh cãi nào" 51/192.
Sparrow-Simpson nói rằng "Nội dung của sách Phúc âm Ignatius (Khoảng năm 50 - khoảng năm 115) là Jesus Christ, và Cơ Đốc giáo. Tóm gọn trong "đức tin nơi Ngài, yêu mến Ngài, tin sự thương khó và sự phục sinh của Ngài". Ông đòi các Cơ Đốc nhân phải "hoàn toàn tin vào sự giáng sinh, sự thương khó và sự phục sinh của Chúa Jesus Christ".
"Chúa Jesus Christ được mô tả là "niềm hy vọng của chúng ta bởi sự phục sinh. Sự phục sinh của Chúa Jesus cũng là lời hứa về sự phục sinh của chúng ta" "Ignatius còn tuyên bố thêm rằng Hội Thánh "vui mừng trong sự thương khó của Chúa chúng ta và trong sự phục sinh của Ngài mà không hề nao núng". Ông đang đứng trên những sự kiện trọng yếu là thập tự giá, sự chết và sự phục sinh của Christ." Ông đã hợp những điều này lại với nhau. Về những người theo dị giáo, ông nói: "Họ đã chối bỏ tiệc thánh và sự cầu nguyện vì họ không công nhận rằng tiệc thánh là xác thịt của Cứu Chúa Jesus Christ chúng ta, xác thịt đó đã chịu khổ vì tội lỗi chúng ta và là xác thịt mà Cha đã khiến sống lại". Và một lần nữa, ông lại nói rằng sự phục sinh là "cả về xác thịt lẫn tâm linh" 59/339.
Sparrow-Simpson nói thêm rằng:
"Trong thư gửi cho người Philíp của Thánh Polycarp (khoảng năm 110 sau CN), tác giả đã nói rằng Chúa Jesus Christ chúng ta "đã chịu đau khổ cho đến chết vì tội lỗi của chúng ta, Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại để thoát khỏi hình phạt của sự chết". Ông nói rằng Đức Chúa Trời đã "khiến Chúa Jesus Christ chúng ta từ kẻ chết sống lại và ban cho Ngài vinh hiển và mão miện, được ngồi bên hữu của Ngài. Mọi vật trên trời, dưới đất phải quy phục Ngài". Chúa Jesus phục sinh này "sẽ đến để xét đoán kẻ sống và kẻ chết". Và "Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại cũng sẽ làm cho chúng ta sống lại nếu chúng ta làm theo ý chỉ và mạng lệnh của Ngài".
Đối với Thánh Polycarp, Chúa Jesus đáng tôn này là "Thầy tế lễ thượng phẩm đời đời". Và lời cầu nguyện cuối cùng của vị giám mục thánh này trước khi tử đạo là ông "cùng với các thánh tử đạo được dự phần trong chén của Christ, trong sự phục sinh cả về phần linh hồn và thân thể trong sự không hư nát của Thánh Linh" 59/341.
Giáo sư Sparrow-Simpson nói về những tác phẩm của Justin Martyr về sự phục sinh (khoảng năm 100-165) rằng: Tác phẩm này "... đề cập đến một giáo lý Cơ Đốc đặc biệt. Những kẻ chống đối đức tin hiện nay cho rằng sự phục sinh là điều không thể có, một điều không ai ưa. Vì xác thịt là nguồn của mọi tội lỗi nên sự sống lại hay sự tồn tại của thân thể là một điều không thể được. Họ còn quả quyết rằng sự phục sinh của Chúa Jesus Christ chỉ là một ảo ảnh chứ không có thực tế vật lý. Về những ý kiến phản đối này Justin ... (đã nói rằng)..." 59/342.
Trong tác phẩm Who Was Who in Church History (Nhà xuất bản Moody, 1962), Elgin Moyer đã đề cập đến một giáo phụ khác là Quintus Septimius Florens Tertullian (khoảng năm 160-220) rằng "ông là một giáo phụ Latinh và là một nhà biện giải tôn giáo. Sinh ở Carthage, Bắc Phi... Một sự giáo dục hoàn hảo đã giúp ông thành công trong những tác phẩm bằng tiếng Hy Lạp lẫn tiếng Latinh cũng như trong lĩnh vực chính trị, trong các thủ tục pháp luật và trong tài hùng biện về luật pháp. Trải qua 30, 40 năm, ông đã sống trong sự phóng túng, vào khoảng năm 190, ông đã theo Cơ Đốc giáo với một niềm tin sâu sắc. Cuộc đời còn lại của ông đã trung tín cống hiến cho sự bảo vệ đức tin Cơ Đốc chống lại những người ngoại đạo, người Do Thái và những kẻ dị giáo. Ông... là một người bảo vệ đức tin rất mạnh mẽ" 72/401.
Bernard Ramm kết luận: "Những kẻ vô tín đã chối bỏ các lời chứng của những giáo phụ... Có thể cho rằng những kẻ vô tín này hoặc đã không có một động cơ thúc đẩy hoặc không có một trình độ lịch sử để khảo sát về sự phục sinh của Đấng Christ. Giáo hội Công giáo chính thống Đông phương, Giáo hội Công giáo La Mã, Giáo hội Anh quốc đều xem các giáo phụ là những người rất đáng tin cậy, những nhà cải chánh và những nhà thần học đều tôn trọng và đánh giá cao những giáo phụ này. Còn những kẻ vô tín đã gạt tên họ đi. Họ cho rằng những dữ kiện về thần học thời các sứ đồ và thời cận các sứ đồ là đáng tin cậy nhưng họ không thừa nhận một chút nào về những lời chứng có căn cứ. Nhưng chắc chắn là những kẻ vô tín không thể làm cho điều này trở nên rối rắm được" 51/206.
4A. NHỮNG SỰ KIỆN TẠI HIỆN TRƯỜNG NGÔI MỘ
1B. Cảnh tượng trước lúc phục sinh
1C. CHÚA JESUS ĐÃ CHẾT
Mác đã tường thuật lại những sự kiện sau cuộc xét xử Chúa Jesus như sau:
"Philát muốn cho đẹp lòng dân, bèn thả tên Baraba, và sai đánh đòn Đức Chúa Jesus, rồi giao Ngài cho chúng đem đóng đinh trên cây thập tự. Lính điệu Đức Chúa Jesus vào sân trong, tức là trong chỗ trường án, và nhóm cả cơ binh lại đó. Họ choàng cho Ngài một cái áo điều, và đội trên đầu Ngài một cái mão bằng gai họ đã đương, rồi chào Ngài rằng: kính lạy vua dân Giuđa. Lại lấy cây sậy đánh đầu Ngài, nhổ trên Ngài, và quì xuống trước mặt Ngài mà lạy. Khi họ đã nhạo cười Ngài như vậy rồi thì cởi áo điều ra, mặc áo của Ngài lại cho Ngài, và đem ra để đóng đinh trên cây thập tự" (Mac Mc 15:15-20).
Việc đánh nạn nhân trước khi đóng đinh đã được John Mattingly mô tả như sau:
"Thoạt tiên phạm nhân đã được tuyên án, bị buộc phải cởi bỏ hết quần áo, sau đó bị trói vào một cây trụ trong trường án, và rồi vệ sĩ sẽ thực hiện một trận đánh đòn tàn bạo, khủng khiếp. Mặc dù người Do Thái chỉ được luật pháp cho phép đánh đến 40 roi, nhưng với người La Mã thì không có giới hạn đó, và nạn nhân chỉ còn trông chờ ở sự thương xót của kẻ đang thi hành trận roi đòn đó.
"Dụng cụ tàn bạo dùng để đánh nạn nhân đó được gọi là flagrum. Về dụng cụ này, Mattingly bình luận rằng: "Người ta có thể dễ dàng thấy rằng một chiếc roi dài bện bằng chất xương và kim loại sẽ làm cho nạn nhân tan xác". 40/21.
Trong một thư tín gửi cho Hội Thánh ở Simiệcnơ, giám mục Eusebius ở xứ Sêsarê, sử gia Hội Thánh vào thế kỷ thứ ba, có đề cập đến những trận roi đòn của người La Mã giáng cho những kẻ bị buộc tội, rằng: "Các tĩnh mạch của nạn nhân lộ rõ ra, các bắp thịt, gân cốt và ruột của nạn nhân đều lòi ra ngoài". 40/73.
John Mattingly đã trích lời của John Peter Lange (trong tác phẩm The Life of the Lord Jesus Christ, III, trang 270) nói về sự khổ nạn của Đấng Christ rằng: "Người ta cho rằng trận đòn của Ngài còn khốc liệt hơn trận đòn cho một người bình thường.
Mặc dù trận đòn bình thường là do các vệ sĩ thực hiện nhưng Lange cho rằng vì không có các vệ sĩ vào lúc Philát xét xử, nên ông ta đã sử dụng những tên lính. Do đó theo đặc tính của những tên lính hèn hạ, thấp kém này thì chúng có thể hành động hung bạo hơn các vệ sĩ" 40/33.
Sau khi phải chịu những đợt hành hạ khốc liệt về thể xác, Chúa Jesus Christ còn phải chịu đựng một cuộc hành trình đến nơi đóng đinh gọi là Gôgôtha. Về cuộc khổ nạn lúc này, Mattingly nói rằng:
1. Ngay cả sự chuẩn bị cho cuộc hành hình đó thôi cũng đã là một sự đau đớn cực độ. (Mat Mt 27:31 chép rằng: "Khi đã nhạo báng Ngài rồi thì họ cởi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự". Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cởi bỏ thô bạo chiếc áo điều nhạo báng và mặc lại áo quần của Ngài vào là để cho những vết rách và những dấu bầm thâm tím trên da thịt Ngài phải bị sự cọ xát nhiều để làm cho Ngài càng đau đớn cực độ" 40/35.
2. Câu "Họ đem Đức Chúa Jesus đến nơi kia gọi là Gôgôtha" (Mac Mc 15:22a), cũng cho thấy rằng Chúa Jesus Christ đã không còn sức lực để đi nữa mà phải bị lôi đi đến chỗ nhục hình. Do đó, sự đau đớn kinh khủng trước lúc đóng đinh đã đến cùng cực và việc đóng đinh thật sự đã bắt đầu" 40/36.
Mác đã tường thuật lại sự đóng đinh của Chúa Jesus như sau:
"Họ đem Đức Chúa Jesus đến nơi kia, gọi là Gôgôtha, nghĩa là chỗ sọ. Họ cho Ngài uống rượu hòa với một dược, song Ngài không uống. Khi đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, họ chia nhau áo xống Ngài, bắt thăm để biết ai được gì. Lúc đóng đinh Ngài là giờ thứ ba. Án Ngài có ghi vào cái bảng rằng: VUA DÂN GIUĐA. Cũng có hai đứa ăn cướp bị đóng đinh với Ngài, một đứa tại cây thập tư bên hữu Ngài, một đứa tại cây thập tự bên tả. Những kẻ đi ngang qua đó chế báng Ngài, lắc đầu mà nói rằng: Ê, ngươi là kẻ phá đền thờ và cất lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi, xuống khỏi cây thập tự đi. Các thầy tế lễ và các thầy thông giáo cũng nói với nhau như vậy, mà nhạo cười Ngài rằng: Hắn đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Hỡi Đấng Christ, Vua dân Israel, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự để cho chúng ta thấy và tin. Hai đứa bị đóng đinh cùng Ngài cũng nhiếc móc Ngài nữa. Đến giờ thứ sáu, khắp đất đều tối tăm mù mịt cho tới giờ thứ chín. Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Jesus kêu lớn tiếng rằng: Êlôi, Êlôi, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi. Có mấy người đứng đó nghe vậy thì nói rằng: Coi kìa hắn kêu Êli. Có một người trong bọn họ chạy lấy bông đá thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy, đưa cho Ngài uống mà rằng: Hãy để chúng ta coi thử Êli có đến đem hắn xuống chăng. Nhưng Đức Chúa Jesus kêu một tiếng lớn rồi trút linh hồn. Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên chí dưới. Thầy đội đứng đối ngang Ngài, thấy Ngài trút linh hồn như vậy thì nói rằng: Người này quả thật là Con Đức Chúa Trời" (Mac Mc 15:22-39).
Về việc đóng đinh, Mattingly nói rằng: "Chẳng có gì là quá đáng khi cho rằng sự đau đớn phải chịu trên cây thập tự là cực kỳ khốc liệt và kinh khủng. Sự tàn nhẫn của lối tra tấn này được một nhà hùng biện nổi tiếng của La Mã là Marcus Tullius Cicero nhận thấy và ông nói: "Ngay từ ngữ "thập tự" thôi không những bị những công dân La Mã không dám nói trên môi mà họ còn không muốn nghĩ, thấy, nghe đến nó" (Marcus Tullius Cicero, Pro Rabirio, V, 16). 40/26.
Michael Green đã nói về nỗi đau đớn thể xác của Chúa Jesus rằng: "Sau một đêm mất ngủ, không được ăn uống gì, lại phải chịu sự sỉ nhục của hai nơi xét xử, và lưng Ngài bị những lằn roi chín dải của người La Mã xé nát, Ngài đã chịu tuyên án đóng đinh. Đây là một cái chết đau đớn hết sức, một án phạt mà từng dây thần kinh trong thân thể phải kêu lớn lên vì nỗi đau đớn".
Farrar đã mô tả rất sinh động về cái chết do đóng đinh như sau: "Thậy vậy, một cái chết do đóng đinh dường như bao gồm tất cả những gì mà sự đau đớn và cái chết có thể có về sự khủng khiếp và rùng rợn - sự choáng váng, các cơ bắp bị rút lại, đói khát, mất ngủ, những cơn sốt do bị chấn thương, bị bệnh uốn ván, bị nhục mạ, bị công chúng sỉ nhục, chịu đau đớn dai dẳng, khiếp sợ về những điều mình biết trước, bị những vết thương lở loét hành hạ, - tất cả những điều đó tăng lên dữ dội cho đến chỗ cực điểm rồi sau đó ngưng lại một cách ngắn ngủi để cho nạn nhân được thư giãn trong sự bất tỉnh.
"Tư thế phi tự nhiên này làm mỗi cử động đều cảm thấy đau đớn, những mạch máu rách toạc và những đường gân dập nát, đập rộn lên vì nỗi đau không ngừng, những vết thương bị sưng tấy vì để lộ trần, dần dần bị thối rữa; Các động mạch - đặc biệt ở đầu và bụng - bị căng ra và bị dồn nén vì lượng máu quá tải; và trong khi trạng thái đau đớn này cứ gia tăng dần dần thì lại thêm sự dằn vặt không thể chịu nổi của cơn khát rát bỏng đến quấy rầy. Tất cả những biến chứng phức tạp về cơ thể này tạo nên một sự ray rứt, dằn vặt ở bên trong, tạo nên một cảnh tượng về cái chết - sự chết, một kẻ thù xa lạ, mà khi nó đến thì con người lại thấy lo sợ nhất - lại đem đến một sự giải thoát nhẹ nhàng, thoải mái" 21/440.
Giáo sư E.H. Day (trong tác phẩm On the Evidence for the Christian Faith) đã nói rằng: "Chính Thánh Mác là người đã thuật lại sự căng thẳng về sự ngạc nhiên của Philát khi ông nghe rằng Chúa Jesus đã chết rồi và sự căng thẳng khi hỏi chuyện thầy đội trước khi ông cho dời xác Chúa xuống khỏi cây thập tự. Những tên lính La Mã không lạ gì với những cảnh chết chóc hoặc với cảnh về cái chết do bị đóng đinh" 15/46-48.
Như Michael Green đã nói rõ, hình phạt đóng đinh trên thập tự là hình phạt "phổ biến ở xứ Palestine".
Philát đòi hỏi có sự xác nhận về cái chết của Đấng Christ. Về điều này, Green nhận xét rằng "Bốn tên đao phủ đã đến khám xét Ngài trước khi Giôsép người Arimathê được phép đem xác đi chôn".
Green (trong tác phẩm Man Alive, nhà xuất bản Inter - Varsity) đã nói về bốn chuyên gia đã quen với việc giải quyết những cái chết này rằng: "Họ biết một người đã chết khi họ thấy người ấy - và người chỉ huy đã nghe kẻ tử tội này la lên và ông ta đã báo cáo điều đó với quan tổng Đốc là Bônxơ Philát..."
("Thầy đội đứng đối ngang Ngài, thấy Ngài trút linh hồn như vậy thì nói rằng: Người này quả thật là Con Đức Chúa Trời" (15:39)").
Philát lấy làm lạ về Ngài chết mau như vậy, bèn đòi thầy đội đến mà hỏi thử Ngài đã chết lâu chưa (15:44).
John R.W. Stott (trong tác phẩm Basic Christianity, nhà xuất bản Inter-Varsity) đã viết: "Thật vậy, Philát rất ngạc nhiên vì Chúa Jesus đã chết rồi, nhưng lời bảo đảm của thầy đội làm cho ông tin tưởng và ông cho Giôsép đem xác xuống khỏi cây thập tự" 60/49.
Giáo Sư Day nhận xét rằng "sự tường thuật trong phúc âm Mathiơ nói về việc canh gác ngôi mộ là một bằng chứng rõ ràng cho thấy, về phần người Do Thái, họ tin rằng Chúa Jesus đã chết rồi" 15/46-48.
Giáo sư Day còn nói thêm rằng không ai "được phép đem thi thể xuống khỏi cây thập tự và an táng trong mộ nếu còn nghi ngờ rằng nạn nhân vẫn còn sống" 15/46-48.
Về tác phẩm The Physical Cause of the Death of Christ, giáo sư Day đã nói đến tác giả của nó là James Thompson rằng: Ông ấy "Xác định rằng sự chết của Chúa Jesus không phải do sự kiệt sức về thân thể cũng không phải do những vết thương khi bị nhục hình nhưng do sự đau đớn trong tâm hồn làm cho trái tim Ngài bị vỡ ra. Sức lực của tinh thần và thân thể Ngài đang rã rượi đã chứng tỏ rằng Ngài không chết vì kiệt sức. Ngọn giáo của tên lính là một phương tiện bày tỏ cho thế giới biết rằng Ngài chết là do sự vỡ tim" 15/48,49.
Samuel Houghton, M.D, một nhà sinh lý học vĩ đại của trường Đại học Dublin, đã trình bày quan điểm của ông về lý do vật lý sự chết của Đấng Christ như sau:
"Khi tên lính đâm ngọn giáo vào sườn của Chúa thì Ngài đã chết rồi. Dòng nước và máu cùng chảy ra thì hoặc là một hiện tượng tự nhiên có thể giải thích được bằng những lý do tự nhiên hoặc điều đó là một phép lạ. Điều mà Thánh Giăng đã nói đến, nếu không phải là phép lạ thì ít nhất cũng là một điều không bình thường, điều này có trong lời bình luận của ông, và với một thái độ nhấn mạnh, ông đã nghiêm túc tuyên bố sự chính xác khi ông tường thuật lại điều này.
"Những cuộc thí nghiệm và xem xét kỹ lưỡng, được lặp lại nhiều lần trên con người và thú vật, cho phép tôi đi đến những kết quả sau:
"Sau khi chết mà bên hông trái bị một con dao lớn, cỡ ngọn giáo của người La Mã, đâm vào thì tôi ghi nhận được 3 trường hợp như sau:
1. Ngoài một dòng máu nhỏ, yếu ớt chảy ra thì không có gì chảy ra từ chỗ vết thương đó cả.
2. Chỉ có một dòng máu lớn từ chỗ vết thương chảy ra.
3. Chỉ có một dòng nước chảy ra tiếp sau là một vài giọt máu.
Trong 3 trường hợp này, trường hợp thứ nhất thường xảy ra. Trường hợp thứ hai xảy ra trong tình trạng bị chết đuối hay bị trúng độc Stricnin. Điều này có thể được chứng minh bằng cách giết một con vật bằng loại độc dược này và điều này cũng được chứng minh là một trường hợp rất tự nhiên khi nạn nhân bị chết vì đóng đinh trên thập tự. Trường hợp thứ ba xảy ra trong tình trạng chết vì viêm phổi, viêm màng ngoài tim và bị vỡ tim. Hầu hết các nhà giải phẩu đã hết sức quan tâm đến điều này đều có kết luận tương tự như những trường hợp nêu trên, nhưng hai trường hợp sau đây, mặc dù được các nguyên tắc sinh lý học giải thích dễ dàng nhưng lại không được sách nào chép lại (ngoại trừ Giăng). Tôi chưa có may mắn được thấy 2 điều này
4. Một dòng nước lớn chảy ra tiếp sau là một dòng máu lớn từ chỗ vết thương.
5. Một dòng máu lớn chảy ra tiếp sau là một dòng nước lớn từ chỗ vết thương.
"... Cái chết do bị đóng đinh gây nên một tình trạng ứ máu trong phổi giống với tình trạng chết đuối hay vì trúng độc Stricnin, trường hợp thứ tư xảy ra khi người chết bị đóng đinh trên thập tự mà trước khi đóng đinh phải bị đau đớn vì viêm màng phổi. Trường hợp thứ năm xảy ra khi một người bị đóng đinh trên cây thập tự và đã chết trên thập tự vì bị vỡ tim. Tình trạng những ngày trước khi Chúa chúng ta bị đóng đinh đã loại trừ giả thuyết về bệnh viêm phổi, mà nếu bị viêm phổi thì không nằm trong trường hợp trước tiên là máu và sau đó là nước chảy ra. Do đó không có giả thuyết nào có thể giải thích được hiện tượng đã được Kinh Thánh ghi lại ngoại trừ cách giải thích rằng hiện tượng đó là kết quả của trường hợp vừa bị đóng đinh trên thập tự và vừa bị vỡ tim.
"Bác sĩ William Stroud cũng đã nhìn nhận sự vỡ tim là nguyên nhân cái chết của Chúa. Và tôi cũng tin chắc rằng sự vỡ tim đã thật sự xảy ra."
Sứ đồ Giăng đã mô tả chi tiết những gì ông đã quan sát được ở đồi Gôgôtha. Houghton kết luận: "Tầm quan trọng của điều này thật là rõ ràng. Nó cho thấy rằng điều tường thuật trong Giăng 19 đã chẳng hề được phát hiện, rằng những sự kiện được thuật lại hẳn đã được những người chứng kiến trông thấy, và những người chứng kiến đã gây ngạc nhiên đến nỗi cho rằng điều này là một hiện tượng lạ lùng" 13/349,350.
Michael Green viết về sự chết của Chúa Jesus Christ rằng: "Các tài liệu đáng tin cậy và được chứng kiến cho chúng ta biết rằng "huyết và nước" đã từ chỗ bị đâm bên sườn của Chúa Jesus chảy ra (GiGa 19:34, 35). Rõ ràng sự chứng kiến này gắn liền với một tầm quan trọng về sự kiện này. Nếu Chúa Jesus còn sống khi ngọn giáo đâm vào sườn Ngài thì cứ mỗi nhịp tim đập thì một tia máu lớn trong động mạch sẽ tuôn ra. Nhưng thay vì vậy người quan sát đã thấy những cục hơi cứng, đỏ đen rỉ ra không giống như huyết thanh hơi loãng. Đây là một bằng chứng về những cục máu lớn trong động mạch chủ và là một bằng chứng y học lạ lùng về sự tử vong. Và điều này lại càng gây ấn tượng hơn vì có lẽ người viết đã không nhận thức được ý nghĩa của điều đó đối với một nhà nghiên cứu bệnh học. "Máu và nước" từ vết giáo đâm chảy ra là một bằng chứng tích cực cho thấy Chúa Jesus đã chết rồi" 22/33.
Samuel Chandler nói rằng: "Tất cả 4 tác giả phúc âm đều đồng ý rằng Giôsép đã xin Philát thi hài của Chúa Jesus. Philát đã hỏi thầy đội canh cây thập tự và biết rằng Ngài đã chết rồi. Philát cho Giôsép lấy thi hài Jesus đi" 9/62,63.
Sau đó giáo sư Chandler còn xác quyết rằng "Điều đáng chú ý về việc Giôsép và Nicôđem liệm thi hài người chết theo phong tục người Do Thái lúc đem chôn, là một bằng chứng đầy đủ cho thấy Chúa Jesus đã chết rồi và họ biết rằng Ngài đã chết. Thật vậy nếu còn có một chút sự sống nào trong Ngài khi họ đem Ngài xuống khỏi cây thập tự, thì mùi một dượt và lư hội nồng nặc, vị đắng của nó, thân thể bị quấn bằng vải gai, đầu và mặt quấn bằng khăn theo phong tục chôn cất của người Do Thái thì hẳn chút ít sự sống đó cũng tắt lụi".
Paulus Heidelberg, vào đầu của thế kỷ trước, đã cố gắng một cách vô ích để bác bỏ sự phục sinh của Chúa Jesus bằng cách cho rằng Ngài đã không chết thật sự mà chỉ bất tỉnh, ngất đi trên cây thập tự. Nhưng, như giám mục E. LeCamus ở La Rochelle, Pháp quốc, đã cáo buộc: "Y khoa, một công cụ mà ông ta đã dùng để bảo vệ luận điểm của ông ấy, thì trước hết nó đã phá hủy cả hệ thống lập luận của ông. Ông ta biết rằng, nếu Chúa Jesus được đưa xuống khỏi cây thập tự trong khi còn sống thì chắc là Ngài đã phải chết trong mồ mả. Khi thi thể được tiếp xúc với đá lạnh trong mồ mả thì cũng đủ làm cho chết vì sự đông máu, do đó sự lưu thông máu bình thường đã bị tắt nghẽn rồi. Mặt khác, một người bị ngất xỉu không thể nào sống lại bình thường khi bị nhốt kỹ trong một ngôi mộ nhưng sẽ tỉnh lại khi được đem ra ngoài trời quang đãng. Mùi thơm mạnh của những chất ướp xác trong một nơi được niêm phong kín mít sẽ giết chết một người đang bệnh hoạn với bộ óc đã bị tê liệt vì bất tỉnh hoàn toàn. Trong thời đại của chúng ta, các nhà suy lý đã bác bỏ giả thuyết này, một giả thuyết ngớ ngẩn tới mức ghê tởm và tất cả đều đồng ý rằng Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá đã thật sự chết vào ngày thứ sáu" 8/485
Như giáo sư Albert Roper (trong tác phẩm Did Jesus Rise from the Dead? Nhà xuất bản Zondervan, 1965) đã nói: "Chúa Jesus đã bị những người lính La Mã đóng đinh theo luật pháp La Mã, một luật pháp mà những lính phải trung thành thực hiện".
Tóm lại, chúng ta có thể đồng ý với câu nói của sứ đồ Giăng về sự nhận xét của ông liên quan đến sự chết của Đấng Christ khi ông xác định sự chứng kiến của mình về sự kiện này:
"Kẻ đã thấy thì làm chứng về việc đó, lời chứng của người là thật và người vẫn biết mình nói thật vậy" (GiGa 19:35).
2C. NGÔI MỘ
Wilbur Smith nhận xét rằng "Từ "ngôi mộ" xuất hiện 32 lần trong 4 sách phúc âm khi nói về sự phục sinh" (Bài "The Indisputable Fact of the Empty Tomb", nguyệt báo Moody, tháng 5/1971).
Ngôi mộ của Giôsép người Arimathê vào buổi sáng phục sinh thật là một chủ đề đầy thú vị của các tác giả 4 sách phúc âm.
Về sự chôn cất Chúa Jesus, W.J. Sparrow-Simpson nhận xét như sau: "Luật pháp La Mã là phải để nạn nhân bị treo trên thập tự làm mồi cho chim muông và thú dữ. Nhưng ai đã dám nói rằng luật này không có ngoại lệ? Josephus (Tự truyện chương 75; Wars of the Jews, IV, câu 2) đã xúi hoàng đế Titus đem 3 kẻ nhục hình xuống khỏi cây thập tự trong khi họ vẫn còn sống. Có ai dám chứng tỏ rằng điều này không có tính lịch sử vì có một luật khác? Không còn nghi ngờ gì nữa chính luật lệ Do Thái về sự chôn cất kẻ tử tội. Đây chính là luật pháp Do Thái. Nhưng Josephus xác quyết với chúng ta rằng vào thời điểm đó chính người Do Thái cũng đã vi phạm luật chôn cất. Trong tác phẩm "War of the Jews", ông viết: "Họ đã hành động tới mức độ nghịch đạo khi ném những thi thể của người chết đi mà không chôn cất gì cả mặc dù người Do Thái rất quan tâm đến việc chôn cất đến nỗi họ đã đem những kẻ bị xét xử và treo trên thập tự xuống và chôn cất trước lúc mặt trời lặn".
"Loisy cho rằng những người thân được phép chôn cất người bị xử tử. Nhưng không có một người thân nào dám xin xác Chúa Jesus: không có ai trong 12 sứ đồ đã làm điều này. Ba người bị đóng đinh mà Josephus xin nhà cầm quyền đế quốc được đem xuống khỏi thập tự không phải là những người bà con của ông. Họ chỉ là những người bạn. Ông "nhớ lại rằng họ là người quen cũ của ông". Một vụ kiện lớn đã chống lại yêu cầu của Josephus nhưng yêu cầu đó cũng đã được chấp nhận. Thế mà không có ai nghi ngờ về sự kiện này cả. Họ thường trích dẫn sự kiện này như thể nó rất thật. Thế thì tại sao Giôsép người Arimathê lại không có một lời yêu cầu tương tự với Philát?" 59/21,22.
Henry Latham trong tác phẩm The Risen Master đã cho chúng ta một số thông tin về sự chôn Chúa. Trước tiên ông trích: "... Người ta cho rằng sự mô tả về ngôi mộ của Chúa chúng ta vừa mới được Empress Helena phát hiện. Sự mô tả này là của Eusebius người Sêsarê - một giáo phụ trong lịch sử Hội Thánh. Nó được trích trong tác phẩm Theophania của ông - một tác phẩm được phát hiện trong thế kỷ này, và tiến sĩ Lee ở Đại học Cambridge đã dịch tác phẩm này vào năm 1843.
"Chính ngôi mộ là một hang động được đẽo gọt; một hang động được đục trong đá và chưa hề chôn ai. Vì thật là lạ lùng, hang động đó chỉ dành cho thi hài này mà thôi. Thật đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trên một vùng đất bằng phẳng lại nhô lên một tảng đá sừng sững mà trong đó chỉ có duy nhất một ngôi mộ, e rằng nếu có nhiều thì phép lạ về Đấng đắc thắng tử thần sẽ bị lu mờ đi chăng.
"Trích trong tác phẩm Architectural History of the Holy Sepulchre của giáo sư Willis, nguyên là giáo sư nghiên cứu về Andrew Jackson ở Đại học Cambridge. The Holy City: G. William, quyển 1 trang 150.
"Trong nhiều trường hợp những quan tài, huyệt mả hoặc những nơi yên nghỉ khác được đẽo từ đá khối, do đó khối đá đó phải nhô cao trên mặt đất hoặc nhô ra bên sườn đồi thì người ta mới đục đẽo được. Khi huyệt đá này đã được đặt thi hài vào thì bề mặt của nó sẽ bằng phẳng hoặc chỉ lõm sâu vào 1 hoặc 2 inch để giống như một nơi an nghỉ. Phần được đắp cao lên thường là ở đầu giống như một cái gối hoặc là cắt một lỗ tròn cũng với mục đích như vậy. Nhưng huyệt như thế này được tìm thấy trong những ngôi mộ đá ở Etruria và trong những ngôi mộ đá ở Hy Lạp và Tiểu Á...
Trong những ngôi mộ Do Thái ở Syri thì chỗ lõm bên hông của phòng mộ này có vẻ là đã đặt người chết vào rồi. Ngay cả điều này cũng có nhiều thứ lắm. Hình thức đơn giản nhất là một hình chữ nhật nhô lên hoặc lõm xuống trên bề mặt phiến đá của ngôi mộ, phần đáy của nó thường cao hơn mặt nền của phòng mộ, chiều dài và chiều sâu chỉ đủ để đặt thi hài của một người vào. Thường thì mặt trên hoặc mặt dưới được uốn thành dạng vòm từng khúc hoặc hình bán nguyệt và đây là hình thức thường thấy khi người ta đặt quan tài vào đó" 31/87, 88.
Giáo sư Guignebert, trong tác phẩm "Jesus" của ông, trang 500, đã có một câu hoàn toàn vô căn cứ: "Sự thật là chúng ta và có lẽ là tất cả các môn đồ cũng không biết là những tên đao phủ đã ném xác Chúa Jesus ở đâu khi đem xuống khỏi cây thập tự. Chắc là bị ném xuống hố dành cho những tử tội hơn là được chôn trong một ngôi mộ mới" 58/372.
1D. Giáo sư Guignebert đưa ra lời xác quyết này mà không có một bằng chứng nào ủng hộ cả.
2D. Ông hoàn toàn không để ý gì đến những bằng chứng được lưu lại trong những tác phẩm tôn giáo và thế tục của 3 thế kỷ đầu tiên.
3D. Ông hoàn toàn bỏ qua sự tường thuật rõ ràng trong các sách phúc âm.
1E. Nếu thi hài của Christ không được Giôsép người Arimathê đem chôn thì sao lại có những đoạn Kinh Thánh như sau?
"Đến chiều tối, có một người giàu, ở thành Arimathê, tên là Giôsép, chính là một môn đồ của Chúa Jesus đến nơi Philát mà xin xác Đức Chúa Jesus. Philát bèn truyền cho (Mat Mt 27:57, 58).
"Bấy giờ là ngày sắm sửa, nghĩa là hôm trước ngày Sabát, khi đã chiều tối, có một người tên là Giôsép, ở thành Arimathê, là nghị viên tòa công luận có danh vọng, cũng trông đợi nước Đức Chúa Trời. Người bạo gan đến Philát mà xin xác Đức Chúa Jesus. Philát lấy làm lạ về Ngài chết mau như vậy, bèn đòi thầy đội đến mà hỏi thử Ngài đã chết lâu chưa. Vừa nghe tin thầy đội trình thì giao xác cho Giôsép" (Mac Mc 15:42-45).
"Có một người, tên là Giôsép, làm nghị viên tòa công luận, là người chánh trực công bình, không đồng ý cũng không dự việc các người kia đã làm. Người ở Arimathê, là thành thuộc về xứ Giuđê, vẫn trông đợi nước Đức Chúa Trời. Người bèn đi đến Philát mà xin xác Đức Chúa Jesus" (LuLc 23:50-52).
"Sau đó, Giôsép người Arimathê, làm môn đồ Đức Chúa Jesus một cách kín giấu, vì sợ dân Giuđa, xin phép Philát cho lấy xác Đức Chúa Jesus thì Philát cho phép" (GiGa 19:38).
Những ghi chép trong Kinh Thánh đã tự minh chứng. Thi hài của Đấng Christ không hề bị ném vào hố dành cho các tử tội!
2E. Những ghi chép trong Kinh Thánh nói gì về sự sửa soạn chôn cất?
"Giôsép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải liệm trắng" (Mat Mt 27:59).
"Người (Giôsép) đã mua vải liệm, cất xác Đức Chúa Jesus xuống khỏi cây thập tự, dùng vải liệm vấn lấy Ngài, rồi để xác trong huyệt đã đục trong hòn đá lớn, đoạn lăn một hòn đá chặn cửa huyệt lại" (Mac Mc 15:46).
"Ngày Sabát qua rồi, Mari Mađơlen, Mari mẹ Giacơ cùng Salômê mua thuốc thơm đặng đi xức xác Đức Chúa Jesus" (16:1).
"Các người đờn bà đã từ xứ Galilê đến với Đức Chúa Jesus, theo Giôsép, xem mả và cũng xem xác Ngài thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm" (LuLc 23:55).
"Giôsép người Arimathê... cùng với Nicôđem đến, đem theo độ 100 cân một dược hòa với lư hội. Vậy hai người lấy xác Đức Chúa Jesus dùng vải gai và thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giuđa" (GiGa 19:38b-40).
Nếu những sự chuẩn bị như thế này không xảy ra thì sao các sách phúc âm lại ghi lại?
3E. Những người đàn bà đã thấy gì khi Giôsép người Arimathê và Nicôđem chuẩn bị để chôn xác Chúa? Họ đã:
"... theo Giôsép, xem mả..." (LuLc 23:55).
"... ngồi đối ngang huyệt..." (Mat Mt 27:61) và thấy chỗ táng Ngài (Mac Mc 15:47).
Chắc chắn những người đàn bà này biết là có một ngôi mộ. Những ghi chép trong Kinh Thánh đã làm rõ điểm này.
4E. Làm thế nào mà người ta lại có thể bỏ qua những nhận xét được chép lại về chính ngôi mộ?
"Giôsép lấy xác Ngài... và để trong một cái huyệt mới..." (Mat Mt 27:59, 60).
"... Cái huyệt đã đục trong một hòn đá lớn..." (Mac Mc 15:46).
"... là huyệt chưa chôn ai hết..." (LuLc 23:53). Cái huyệt này nằm ở "... nơi Ngài bị đóng đinh... trong vườn..." (GiGa 19:41).
Giáo sư Alford, một học giả người Hy Lạp đã đưa ra nhận xét về những bằng chứng trong những ghi chép của các sách phúc âm rằng:
"Chỉ có Mathiơ nói rằng đó là ngôi một của Giôsép. Giăng thì nói rằng ngôi mộ đó ở trong vườn, nơi Ngài bị đóng đinh. Ngoại trừ Mác, tất cả đều cho rằng đó là một ngôi mộ mới. Giăng không ám chỉ rằng ngôi một là của Giôsép..." 4/298, 299.
Về Giôsép người Arimathê thì ông nói "Lý do ông ta đặt thi hài ở đây vì nó gần và sự chuẩn bị biểu lộ sự vội vàng" 4/298, 299.
Từ lời bình luận của Alford có thể kết luận là những bằng chứng "mà chúng ta xác định về ngôi mộ theo những dữ liệu đã được cung cấp ở đây là: (1) Đó không phải là một cái huyệt thiên nhiên mà là một cái huyệt do con người đào trong đá. (2) Đó không phải là cái huyệt đào xuống đất như kiểu mộ của chúng ta, nhưng được đẽo ngang hoặc gần như thế, vào trong bề mặt của tảng đá" 4/298, 299.
5E. Nếu không có một ngôi mộ như thế thì tại sao người Do Thái xin Philát cho lính canh ở ngôi mộ?
"Đến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa), các thầy tế lễ cả và người Pharisi cùng nhau đến Philát mà nói rằng: Thưa Chúa, chúng tôi nhớ người gian dối này, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại. Vậy xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước. Philát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh hãy đi canh giữ theo ý các ngươi. Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cất lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm" (Mat Mt 27:62-66).
Thật vậy, sự thật của vấn đề đã rõ ràng như Giáo sư Mayor nói khá rõ: "Nếu xác của Chúa chỉ bị ném vào một ngôi mộ tập thể không cần quan tâm đến thì không có lý do gì để các kẻ thù của Ngài lo ngại sẽ có tin đồn ra là xác Ngài đã bị cướp lấy" (The Mission and Message of Jesus, trang 215).
6E. Chúng ta nghĩ gì về cuộc thăm mả của những người đàn bà sau ngày Sabát?
"Sau ngày Sabát, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Mari Mađơlen và Mari khác đến thăm mộ" (28:1).
"Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, sáng sớm, mặt trời mới mọc, ba người đến nơi mộ" (Mac Mc 16:2).
"Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mộ Ngài" (LuLc 24:1).
"Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc rạng đông, trời còn mờ mờ, Mari Mađơlen tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa mộ đã dời đi" (GiGa 20:1).
Nếu Chúa Jesus không thật sự được chôn trong mộ của Giôsép thì những ghi chép về một cuộc thăm mộ như thế này đã không được thuật lại trong các sách phúc âm.
7E. Chúng ta nghĩ gì về việc thăm mộ của Giăng và Phierơ khi nghe các bà thuật lại?
"Dầu vậy Phierơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra" (LuLc 24:12).
"Phierơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ. Cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phierơ và đến mồ trước. Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất, nhưng không vào, Simôn Phierơ theo đến, vào trong mồ, thấy vải bỏ dưới đất, và cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jesus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác. Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mồ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin" (GiGa 20:3-8).
Những bằng chứng như thế này đã bị người ta bỏ qua.
8E. Trong tác phẩm Therefore Stand, Wilbur Smith đã viết về giả thuyết của Guignbert như sau:
"Ông ta đã chối bỏ những sự kiện mà 4 sách phúc âm đã đề cập, rằng thi hài của Chúa Jesus đã được đặt trong ngôi mộ của Giôsép người Arimathê. Chối bỏ điều này nhưng ông lại không đưa ra được bằng chứng nào tương phản mà chỉ nói những điều ra từ sự tưởng tượng của ông ta. Thật vậy, người ta có thể nói nhiều điều về thi hài của Chúa Jesus không chỉ theo suy nghĩ của mình mà thôi nhưng còn phải theo sự xác định đã có trước (không phải là những định kiến lịch sử nhưng là những định kiến triết học).
Rõ ràng những bằng chứng đã tự làm rõ điều đó nhưng giáo sư Guignbert đã không chịu chấp nhận những bằng chứng đó vì bằng chứng đó không phù hợp với quan điểm của ông rằng phép lạ là điều không thể có được. Mặc dù có những bằng chứng thế này, nhưng không vì thế mà vị giáo sư người Pháp này lại không nêu ra kết luận của mình. Thật vậy, như Smith đã nói về thuyết của ông ấy rằng: "Theo sự nghiên cứu 4 tài liệu lịch sử mà chúng ta đang có, 4 tài liệu mà người ta, gọi là các sách phúc âm, thì chúng tôi đã bác bỏ giả thuyết của ông ta, vì nó hoàn toàn không có nền tảng lịch sử, do đó nó không đáng để xem xét thêm nữa."
3C. SỰ CHÔN CẤT
Trong khi bàn thảo về việc chôn cất Chúa Jesus trong ngôi mộ của Giôsép người Arimathê, Wilbur Smith đã viết: "Chúng ta biết rõ về sự chôn cất Chúa Jesus hơn sự chôn cất của bất kỳ một nhân vật nào trong suốt lịch sử cổ đại. Chúng ta biết quá nhiều về sự chôn Ngài hơn hết bất kỳ một nhân vật nào trong Cựu ước, trong các vua Babylôn, trong các Pharaôn của Ai Cập, trong các triết gia Hy lạp và trong các Sêsa đắc thắng khải hoàn. Chúng ta đã biết người đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự, chúng ta biết một số điều về việc khâm liệm xác Ngài, vải liệm, chúng ta biết về ngôi mộ chôn xác Ngài, tên của người có ngôi mộ đó là Giôsép người làng Arimathê, thậm chí chúng ta còn biết ngôi mộ đó nằm ở đâu nữa, trong một khu vườn gần chỗ Ngài bị đóng đinh, bên ngoài những bức tường của thành phố. Chúng ta có 4 bản tường thuật nói về sự chôn Ngài, tất cả đều ăn khớp rất kỳ lạ, bản tường thuật của Mathiơ, một môn đồ của Christ, đã có mặt ở đó khi Ngài bị đóng đinh, bản tường thuật của Mác, một sách mà người ta cho rằng được viết trong vòng 10 năm từ khi Chúa thăng thiên. Bản tường thuật của Luca, một người bạn của Sứ đồ Phaolô, một sử gia lớn, bản tường thuật của Giăng, người cuối cùng rời khỏi cây thập tự, cùng với Phierơ, là những người đầu tiên trong 12 sứ đồ đã trông thấy ngôi mộ trống vào ngày phục sinh" 58/370,371.
Trong tác phẩm Life and Times of Jesus the Messiah, sử gia Alfred Edersheim đã cung cấp những chi tiết về sự chôn cất theo phong tục Do Thái:
"Không chỉ những người giàu có và ngay cả những người cỡ trung bình cũng có mồ riêng cho mình, được kiếm và chuẩn bị rất lâu trước khi người ta cần đến, được xem như một tài sản riêng có thừa kế. Trong những huyệt, mộ đẽo trong đá như vậy, xác chết được đặt vào, được xức dầu thơm bằng một dược và lư hội. Sau một thời gian, người ta lại xức xác bằng bài hương, dầu hoa hồng và nước hoa hồng. Xác chết được mặc quần áo và một thời gian sau, nếu có thể được thì quấn lại bằng vải liệm theo luật pháp đã qui định. "Ngôi mộ" hoặc được "đục trong đá" hoặc là một "huyệt" tự nhiên hoặc những hầm mộ được xây tường rất lớn với những hốc tường dọc theo 2 bên" 19/318,319.
Về sự chôn Chúa, Edersheim nói: "Sắp đến ngày Sabát thánh, và vì do phải gấp rút, đã thúc ép Giôsép an táng thi hài của Chúa Jesus trong ngôi mộ mới đục trong đá của mình, chưa hề chôn ai..."
"Thập tự đã được hạ xuống đất, những chiếc đinh thô bạo được nhổ ra và chiếc áo được cởi ra. Giôsép cùng với những người đi với ông đã "quấn" thi hài thánh "bằng vải gai mịn" và vội vàng đưa thi hài đó đến ngôi mộ đục trong đá, trong khu vườn gần đó. Một ngôi mộ đá hoặc một cái huyệt (Meartha) như thế có những hốc (Kukhin) để đặt người chết vào. Chúng ta nên nhớ rằng ngay lối vào "ngôi mộ" - cũng nằm trong tảng đá ấy - có một "cái sảnh" rộng 9 foot vuông để những người đưa đám đúng và những người khiêng làm những thủ tục sau cùng cho người chết" 19/617.
Edersheim tiếp tục nhận xét: "...một nghị viện công hội khác là Nicôđem... lúc ấy cũng đến mang theo "một trăm cân" một dược và lư hội, trộn lại thơm phức mà mọi người Do Thái đều biết là dùng cho việc xức dầu hay chôn cất.
"Chính trong "cái sảnh" của ngôi mộ, sự ướp xác vội vàng nếu có thể nói như thế - đã xảy ra". 19/617
Trong thời đại của Chúa Jesus việc dùng một số lượng lớn dầu thơm để ướp xác chết là hợp với phong tục, đặc biệt là với những người được quý mến".
Michael Green đã nói như sau về việc chuẩn bị chôn Chúa Jesus :
"Xác chết được đặt lên trên một phiến đá, được quấn chặt bằng những mãnh vải, rưới đầy thuốc thơm. Phúc âm giăng cho Chúng ta thấy khoảng 70 cân Anh được dùng đến và chắc là đủ. Giô sép là người giàu có, và rõ ràng ông muốn chuộc lại tính nhút nhát của mình trong suốt lúc Chúa Jesus còn sống bằng cách ông đã tổ chức cho Ngài một đám tang rình rang. Dù lớn nhưng số lượng thuốc thơm này cũng chỉ đủ dùng. Giáo sư Gamaliên, một người đương thời với Chúa Jesus, khi ông chết đã được mai táng với 80 cân thuốc thơm". Flavius Josephus, sử gia Do Thái vào thế kỷ thứ nhất, có đề cập đến đám tang của Aristobulus, "đã bị giết lúc chưa được 18 tuổi, và đã giữ chức vụ tế lễ cả chỉ có một năm" (Antiquities of the Jews, XV, iii, 3)".
Trong đám tang của ông ta, Herod "đã muốn làm cho thật linh đình bằng cách chuẩn bị rất lớn một ngôi mộ để chôn xác của Aristobulus và ban cho một lượng lớn dầu thơm và chôn theo ông rất nhiều đồ trang sức". (trích Antiquities of the Jews, XVII, Viii, 3).
Giáo sư James Hastings đã nói về những tấm vải liệm được tìm thấy trong ngôi mộ trống của Chúa Jesus Christ rằng "Vào thời Chrysostom (vào thế kỷ thứ 4 sau CN), có một điều đáng chú ý là một dược là một loại thuốc dính chặt vào thi hài đến nỗi vải liệm không dễ gì rời ra được" (Joan. Hom. 85) 17/507.
Merrill Tenney (trong tác phẩm The Reality of the Resurrection, nhà xuất bản Moody, 1963), đã giải thích về tấm vải liệm như sau: "Để chuẩn bị cho việc chôn cất theo phong tục Do Thái, thì người ta phải rửa và làm cho xác chết nằm ngay ngắn, sau đó dùng dây vải gai, rộng khoảng một foot buộc chặt thi thể từ nách đến mắt cá. Một lượng thuốc thơm đặc và dính để vào giữa tấm vải quấn hoặc trong chỗ gấp của vải. Nó vừa để ướp xác vừa như xi măng làm cho vải quấn dính vào cái bọc cứng ở ngoài. Từ Giăng dùng là "gói lại" (tiếng Hy Lạp là edesan) hoàn toàn giống với từ dùng trong LuLc 23:53 mà tác giả viết là người ta lấy "vải gai mà bọc" xác Ngài. Vào rạng sáng ngày thứ nhất trong tuần lễ xác của Chúa Jesus đã biến mất nhưng vải liệm vẫn còn đó..." 63/117.
Trong tác phẩm The International Standard Bible Encyclopedia, giáo sư George B. Eager đã nói về sự chôn Chúa rằng: "Có một sự phù hợp khít khao giữa một tập tục như thế với điều khoản trong luật pháp Môise (PhuDnl 21:23) ("thây nó chớ để treo trên trụ hình cách đêm, song phải chôn trong nội ngày đó, vì kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả. Như vậy, ngươi chẳng làm ô uế đất mà Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp") (So với GaGl 3:13 "Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta - vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ"). Cũng bởi chìu theo sự thúc đẩy của lòng nhân đạo chân thật, Giôsép người Arimathê đã đi đến Philát, xin xác Chúa Jesus để mai táng cũng đúng ngày mà Ngài bị đóng đinh (Xem Mat Mt 27:58) 29/529.
Giáo sư Eager nhận xét thêm: "Các giáo sĩ và dân bản xứ ở Syri cho chúng ta biết rằng rửa xác vẫn còn là phong tục ở đó (so sánh với GiGa 12:7, 19:40, Mac Mc 16:1, LuLc 24:1), buộc tay và chân bằng vải liệm, thường là vải gia (GiGa 19:40), phủ mặt hoặc buộc lại bằng khăn (11:44b). Người ta còn đặt trong vải quấn xác thuốc thơm và những thứ khác để làm chậm lại sự thối rửa... Người ta nói rằng sau khi chôn Chúa Jesus, Nicôđem đã mang theo "một trăm cân một dược hòa với lư hội" và họ đã "lấy xác Chúa Jesus, dùng vải gai và thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giuđa", và rằng Mari Mađơlen và 2 người đàn bà khác đã mang thuốc thơm để xức xác Ngài (Mac Mc 16:1, LuLc 23:56)" 29/529.
Henry Latham đã nói những chi tiết sau về sự chôn Chúa: "Từ những tài liệu cổ đáng tin cậy, chúng ta có thể thấy rằng thi hài được đem đi chôn không cần đến quan tài hay một loại áo quan nào. Thi hài được những người đưa đám khiêng đi bằng vai. Thi hài được mặc cho một bộ quần áo thường, được cột chặt bằng những dây vải liệm có lẽ để giữ thuốc thơm, hoặc được quấn lại bằng vải gai. Tiến sĩ Edersheim nói "Còn mặt của xác chết thì không bị phủ lại" (quyển 1 trang 556). Theo những tục lệ còn đang tồn tại, tôi tin rằng cổ và mặt trên của hai bả vai cũng được để trần như khuôn mặt.
"Đọc trong GiGa 19:38-41, chúng ta thấy rằng Nicôđem và Giôsép người Arimathê đã chuẩn bị cho việc chôn Chúa quá vội vàng. Tôi tưởng rằng lẽ ra là phải quấn 3, 4 lần vải gai và mỗi lớp phải tẩm rất nhiều thuốc thơm, và đầu phải được quấn khăn và cột chặt lại. Khi đặt thi hài vào mộ, cái đầu nên nằm ở phần nhô lên của tấm đá giống như một cái gối.
"Bây giờ tôi xin nói đến thuốc thơm. Không có một sách phúc âm nào, kể cả Tin lành Giăng nói rằng có thuốc thơm ở trong mồ. Theo tôi, điều này là một đặc điểm đầy ý nghĩa. Theo luận điểm của tôi, thuốc thơm nằm giữa những lớp vải gai liệm. Theo Thánh Giăng, số lượng thuốc thơm do Nicôđem mang đến để chuẩn bị chôn xác là rất lớn, làm cho tôi có nhận xét như sau: số lượng tuy nhiều nhưng có ít quan trọng hơn một điều, mà điều này hình như được những tài liệu đáng tin cậy nhất xác nhận, rằng thuốc thơm đã bị khô và do đó đã rơi xuống đất rất nhiều nếu thi hài được để ở tư thế thẳng đứng hoặc nếu vải liệm được tháo ra. Số lượng một trăm cân dễ làm cho chúng ta thấy quá lớn. Ở đây cái được gọi là "lư hội" là một loại cây thơm phức được giã hoặc nghiền thành bụi nhỏ, còn một dược là những miếng bằng chất nhựa thơm, được trộn với bột lư hội. Vì vậy khi trộn lại nó là tập tục để xức xác, hơi dẻo như cam tòng. Một tác dụng của chất này là làm cho bột lư hội bám chặt vào xác chết ngay lập tức mà khối lượng của nó vẫn còn nguyên. Đầu và tóc cũng được xức bằng loại chất này. Tôi không thấy rằng loại thuốc thơm dạng bộ được xức lên mặt và đầu. Tuy nhiên khi xác của Chúa chúng ta được chuẩn bị vội vàng để chôn nên không có thì giờ để xức thuốc hay làm một cách tỉ mỉ vì hoàng hôn đang buông xuống và ngày Sabát đã đến. Chỉ cần rắc bột thơm này trên khắp xác chết. Có lẽ vì thế mà những người đàn bà đã cố làm lại sự thiếu sót này, và vào sáng chúa nhật đó họ đã mang theo cam tòng hoặc một ít chất dẽo này để làm trọn thủ tục ướp xác. Giăng chỉ nói đến một dược và lư hội nhưng Luca thì nói rằng các người đàn bà đã sửa soạn thuốc thơm và thuốc dẻo (thuốc mỡ) và trong Mác thì chúng ta thấy là "họ đã mua thuốc thơm đặng đi xức xác Chúa" (Mac Mc 16:1). Có lẽ họ không có ý làm xáo trộn vải liệm nhưng chỉ dùng chất mỡ này để xức lên đầu và cổ thôi" 31/35-37.
4C. TẢNG ĐÁ
Về tảng đã đã chắn lối vào mộ của Chúa Jesus, A.B. Bruce nói: "Người Do Thái gọi nó là tảng đá Gloal" 6/334.
H.W. Holloman, đã trích lời của G.M. Mackie rằng: "Lối vào trung tâm ngôi mộ đã được một tảng đá lớn, hình tròn canh giữ, có thể lăn trên một cái rãnh khoét ở giữa trước lối vào mộ" 27/38.
Giáo sư T.J. Thorburn cho rằng tảng đá này được dùng "để bảo vệ, chống lại người hay thú dữ". Ông còn nhận xét thêm rằng "Tảng đá này thường được những người nghiên cứu về Talmud nói đến. Theo Maimonides, kết cấu ex lingo, alia Materia cũng được dùng đến. Về kích thước to lớn của một tảng đá như thế, tiến sĩ Thorburn bình luận: "Cần phải có nhiều người mới di chuyển được nó". Khi người ta lăn tảng đá chắn lối vào ngôi mộ của Chúa Jesus, họ có ý ngăn chận sự trộm cắp, có lẽ tảng đá này lớn hơn một tảng đá thường được sử dụng" 65/97,98.
Thật vậy, về khối lượng thống kê của tảng đá, Thorburn nhận xét: "Một lời chú thích trong Cod. Bez (một câu được viết trong ngoặc nằm trong Mac Mc 16:4, được tìm thấy trong một bản chép tay thế kỷ thứ 2 (Codex Bezae trong Thư viện Cambridge)) có nói thêm rằng "Khi đã đặt Ngài nằm ở đó, Giôsép lăn một tảng đá chắn mộ lại, một tảng đá mà 20 người không lăn nổi". Người ta đã nhận ra được tầm quan trọng về sự nhận xét của Tiến sĩ Thorburn khi họ xem xét cẩn thận các luật lệ về việc sao lại các bản chép tay. Theo luật đó, nếu một người sao chép muốn nhấn mạnh việc diễn giải của riêng mình thì phải viết ở ngoài lề chứ không được viết vào trong văn bản. Do đó, người ta có thể kết luận rằng, điều viết thêm vào trong văn bản Kinh Thánh đó đã được sao lại từ một bản Kinh Thánh khác gần với thời Chúa Jesus hơn, có lẽ là một bản chép tay của thế kỷ thứ nhất. Vì vậy câu này đã được một người chứng kiến thuật lại, người này rất kinh ngạc về tảng đá khổng lồ được lăn lại để chấn mộ Chúa Jesus. Gilbert West ở Đại học Oxford cũng nói lên tầm quan trọng của phần Bezea Codex này ở trang 37-38 của tác phẩm Observation on the History and Evidences of the Resurrection of Jesus Christ 65/1,2.
Giáo sư Samuel Chandler nói: "Ở đây, tất cả những người chứng kiến đều đồng ý rằng, khi các người đàn bà đến thì tảng đá đã bị lăn đi hoặc bị dời đi. Các người đàn bà không thể làm điều này, đối với họ, tảng đá quá lớn không thể di chuyển được" 9/33.
Giáo sư E.Edersheim, một Cơ Đốc nhân người Do Thái, một người hiểu biết tường tận về nguồn gốc lịch sử các thời đại Tân ước, đã nói như sau về sự chôn Chúa:
"Họ đã để Ngài được an nghỉ trong một cái hốc của một ngôi mộ mới đục trong đá. Và theo phong tục, khi đi ra họ lăn một "tảng đá lớn", gọi là Golel - để lấp lối đi vào mộ, và theo lệ thường, dựa vào đó là một tảng đá nhỏ hơn, gọi là Dopheg. Chính chỗ tảng đá này được đặt dựa vào tảng đá kia để vào ngày hôm sau, dù là ngày Sabát, các kẻ cầm quyền Do Thái đến đóng ấn, để nếu có một sự lộn xộn nào dù nhỏ nhất cũng sẽ bị phát hiện ngay" 19/618.
Giáo sư Frank Morison (trong tác phẩm Who Move the Stone?, Faber and Faber, 1967), đã bình luận về việc thăm mộ Chúa của Mari và những người bạn của bà vào sáng sớm ngày Chủ nhật rằng: "Vấn đề làm thế nào để lăn tảng đá này đi là một điều làm các bà rất lúng túng. Ít nhất là có 2 người trong số họ đã chứng kiến cảnh chôn cất và biết đại khái một số điều. Tảng đá quá lớn và có khối lượng đáng kể là một sự khó khăn lớn lao của họ. Do đó khi chúng tôi tìm thấy trong những tài liệu cổ nhất của Phúc âm Mác rằng "Ai sẽ lăn tảng đá trước cửa mộ cho chúng ta?", thì chúng tôi cảm thấy rằng mối bận tâm của các người đàn bà về tảng đá không chỉ là một vấn đề có tính chất tâm lý mà là một yếu tố lịch sử rõ ràng trong tình huống xảy ra ngay lúc họ đi đến mộ" 44/76.
Morison gọi tảng đá tại ngôi mộ của Chúa Jesus là một chứng nhân thầm lặng, bền vững trong toàn bộ tình tiết câu chuyện - và có nhiều sự kiện về tảng đá này cần được nghiên cứu và rà soát cẩn thận" 44/147.
"Trước tiên chúng ta hãy bắt đầu xem kích thước và đặc điểm của nó... Không còn nghi ngờ gì nữa... tảng đá này rất lớn và tất nhiên là rất nặng. Sự kiện này được tất cả các tác giả đều xác quyết và có ám chỉ đến. Mác nói rằng hòn đá đó "lớn lắm". Mathiơ thì nói rằng đó là "một hòn đá lớn". Phierơ nói "vì hòn đá thì lớn". Nỗi khắc khoải của các người đàn bà là làm thế nào để lăn tảng đá đi cũng là một bằng chứng thêm về điều này. Nếu tảng đá này không có một khối lượng đáng kể thì ba người đàn bà hợp sức lại có thể dời nó đi được. Do đó chúng ta chấp nhận một điều đáng lưu ý, rất rõ ràng rằng ít ra tảng đá cũng có mội khối lượng nào đó mà tự các người đàn bà đó không thể lăn nó đi được. Tất cả những điều này đều có một ý nghĩa rõ ràng đối với vấn đề..." 44/147.
5C. SỰ NIÊM PHONG NGÔI MỘ
Mat Mt 27:66 chép "Vậy họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cất lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm".
A.T. Robertson nói rằng phương pháp niêm phong tảng đá trước mộ Chúa Jesus "... có lẽ là một dây thừng vắt ngang qua tảng đá rồi niêm phong hai đầu dây như trong DaDn 6:17 ("Người ta bèn đem đến một hòn đá chận nơi cửa hang, và vua đóng ấn mình cùng ấn các đại thần nữa, hầu cho không có điều gì thay đổi được về Đaniên"). Sự niêm phong được thực hiện với sự hiện diện của các lính canh La Mã, những người phải ở lại với nhiệm vụ bảo vệ dấu niêm của chính quyền La Mã. Họ cố hết sức để ngăn cản sự ăn trộm và sự phục sinh (Bruce). Nhưng họ đã thất bại, lại còn cung cấp thêm bằng chứng về một ngôi mộ trống và sự phục sinh của Chúa Jesus (Plummer)" 52/239.
A.B. Bruce nhận xét: "Mệnh đề phân từ (niêm phong tảng đá - Sealing the Stone) là một sự việc thêm vào cho thấy một sự đề phòng xa hơn, niêm phong tảng đá với một sợi dây vắt ngang, niêm lại hai đầu. Những kẻ có danh giá đang cố sức ngăn chặn một vụ trộm và - sự phục sinh" 6/35.
Henry Summer Maine: "... một thành viên của Hội Đồng tối cao Ấn Độ, trước đây là Phó Giáo sư về luật học và Luật dân sự ở Middle Temple, là một Giáo sư do Hoàng gia bổ nhiệm về luật dân sự ở Đại học Cambridge, đã nói đến uy quyền về mặt pháp luật của dấu niêm phong La Mã. Ông cho thấy rằng nó thật sự "được xem là hình thức có giá trị" 37/203,204.
Trong lĩnh vực luật học, Giáo sư Maine nói tiếp "Chúng ta có thể nhận xét rằng những dấu niêm của chúc thư La Mã và những tài liệu quan trọng khác, không những được xem như là dấu chỉ về sự hiện diện và đồng ý của các bên ký kết, mà nó còn là một cái gút cài thật sự mà trước khi xem bên trong người ta phải gỡ nó ra" 37/203,204.
Cùng một cách cho sự niêm phong ngôi mộ của Chúa Jesus, dấu niêm phong La Mã được đóng vào sau đó là có ý ngăn chận bất kỳ sự cố ý phá hoại nào đối với ngôi mộ. Hễ ai cố lăn tảng đá khỏi lối vào của ngôi mộ thì sẽ làm hỏng dấu niêm phong và do đó phải gánh chịu cơn thạnh nộ của luật pháp La Mã.
Giáo sư Henry Alford nói: "Dấu niêm phong là một loại dây hoặc dây băng vắt ngang qua tảng đá ở chỗ miệng hang và được niêm chặt 2 đầu dây vào đá bằng đất sét" 4/301.
Marvin Vincent nhận xét "Họ đã niêm phong tảng đá trước sự hiện diện của lính canh và sau đó lính canh ở lại để canh giữ. Lính canh chứng kiến sự niêm phong là một điều quan trọng. Việc niêm phong diễn ra bằng việc giăng một sợi dây ngang qua tảng đá rồi gút chặt hai đầu dây vào đó bằng đất sét để niêm. Hoặc nếu tảng đá ở cửa mộ bị đóng chặt bằng một cây đòn bắt ngang thì trường hợp này, cây đòn sẽ được niêm phong vào tảng đá" 67/147.
Giáo sư D.D. Whedon nói: "Do đó không thể mở cửa mà không phá dấu niêm phong, một hành động vi phạm chống lại người chủ của dấu niêm này. Lính canh sẽ ngăn chặn những hành động gian dối của các môn đồ, và dấu niêm sẽ ngăn cản sự thông đồng của lính canh. Vì vậy, trong DaDn 6:17 chép: "Người ta bèn đem đến một hòn đá chặn nơi cửa hang, và Vua đóng ấn mình cùng ấn các đại thần nữa, hầu cho không có điều gì thay đổi được về Đaniên" 70/343.
John Chrysatom, Tổng Giám mục của thành Constantinophe vào thế kỷ thứ tư, đã viết những nhận xét sau về mức độ an toàn mà ông đã ghi nhận được ở ngôi mộ của Chúa Jesus: "Dù sao đi nữa, chúng ta hãy xem những lời làm bằng chứng cho mỗi một sự kiện này. Những lời đó là như thế này: "Chúng tôi nhớ người gian dối này, khi còn sống (như vậy bây giờ Ngài đã chết rồi) có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại. Vậy xin hãy ra lệnh niêm mả (như vậy Ngài đã bị chôn), kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi". Vì vậy nếu ngôi mộ đã bị niêm phong thì không có một sự gian dối nào ở đây cả. Không thể nào có được. Do đó bằng chứng về sự phục sinh của Ngài là không thể chối cãi được bởi những điều chúng ta đã đặt ra ở trên. Vì nếu ngôi mộ bị niêm phong thì không có một sự gian dối nào xảy ra cả. Nhưng nếu đã không có một sự gian dối nào, mà ngôi mộ trống rỗng, thì rõ ràng Ngài đã sống lại, rành rành, hiển nhiên. Làm thế nào chống lại quyết tâm của họ khi họ đấu tranh cho lẽ phải?" 10/525.
6C. SỰ CANH GÁC NGÔI MỘ
1D. Mat Mt 27:62-66 tường thuật như sau: "Đến ngày mai, là ngày sau ngày sắm sửa, các thầy tế lễ cả và người Pharisi cùng nhau đến Philát, mà nói rằng: Thưa Chúa, chúng tôi nhớ người gian dối này, khi còn sống có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại. Vậy xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước. Philát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh, hãy đi canh giữ theo ý các ngươi. Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cắt lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm".
Bình luận về đoạn Kinh Thánh này, trong tác phẩm Did Jesus rise from the Dead? (Nhà xuất bản Zondervan, 1965), Albert Roper đã đưa ra lời nhận xét sau:
"Dưới sự lãnh đạo của những thầy cả Anne và Caiphe, đoàn đại biểu những người lãnh đạo Do Thái đã đến gặp Philát để yêu cầu niêm phong ngôi mộ chôn Chúa Jesus, và một đội lính canh La Mã phải đồn trú quanh đó. Điều này cho chúng ta thấy sự sợ hãi của họ rằng những người bạn của Chúa Jesus có thể đến cướp xác Ngài vào ban đêm để cho rằng sự phục sinh đã xảy ra.
"Philát đã bằng lòng yêu cầu này và nói "Các ngươi có lính canh, hãy đi canh giữ theo ý các ngươi".
Họ đi, tháp tùng theo, là những lính La Mã khoảng 10 đến 30 người, dưới sự chỉ đạo của họ, đã niêm phong ngôi mộ của Giôsép người Arimathê bằng những dấu miêm phong của Đế quốc La Mã, ngoài ra còn đóng một con dấu của chính quyền mà phải là một tổ chức tội ác lớn mới dám lột bỏ. Do đó chính những kẻ thù cuồng nhiệt của Chúa Jesus đã vô tình sắp đặt trước một sự phản ứng không bẻ bác được về sự giải thích sau đó của họ về sự phục sinh - một sự giải thích không đúng và không thể nào đúng với những gì đã giải thích về (điều đó)..." 53/23,24.
Giáo sư Albert Roper nói tiếp: "Đứng đầu đội lính canh là một đội trưởng do Philát chỉ định, có thể cho là người mà Philát tin cậy hoàn toàn. Theo truyền thuyết, tên ông ta là Petronius.
"Do đó, thật là hợp lý khi cho rằng những người đại diện cho đế quốc này là những người được tin cậy để thực hiện bổn phận canh gác ngôi mộ thật nghiêm nhặt và trung thành như khi họ thừa hành lệnh đóng đinh. Họ không có một chút chú ý gì khác về nhiệm vụ họ được giao. Nhiệm vụ và mục đích duy nhất của họ là tuyệt đối thi hành nhiệm vụ người lính của Đế quốc La Mã, một đế quốc mà họ đã đặt hết lòng trung thành. Đối với họ, niêm phong La Mã được đóng vào đó trước ngôi mộ của Giôsép cũng không thiêng liêng gì hơn tất cả những triết lý của dân tộc Israel hoặc tính thiêng liêng của tín điều cổ xưa của họ. Những người lính, đang thản nhiên bắt thăm chiếc áo khoác của nạn nhân đang chết, không phải là loại người dễ bị những người Galilê nhút nhát này lừa gạt hoặc là những người liều lĩnh ngủ mê để bị mất đầu" 53/33.
2D. Có nhiều tranh cãi về một vài từ trong câu Kinh Thánh ở Mat Mt 27:65 "Các ngươi có lính canh". Vấn đề ở chỗ những từ này nói đến những "Lính canh trong đền thờ" hay "lính canh La Mã".
Giáo sư Alford nói rằng những từ có thể được dịch hoặc là (1) Lối nói trình bày: "Các ngươi có", nhưng vấn đề là họ có lính canh gì? và nếu họ có thì tại sao lại đến Philát? Có lẽ chúng ta phải hiểu một số đội quân được thiết lập theo sự sắp xếp của họ trong suốt buổi lễ - nhưng dường như không có một ghi chép nào về một tục lệ như thế, hoặc (2) theo lối mệnh lệnh... với ý nghĩa... hãy lấy một nhóm người làm một đội canh gác.
Mgr. E. Le Camus nói "Một số người nghĩ rằng ở đây Philát muốn nói đến những người có chức vụ của đền thờ, những người mà thầy cả có, trong công việc đền thờ và là những người họ có thể dùng trong việc bảo vệ ngôi mộ. Như vậy sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích sự tham nhũng của đội lính canh của đền thờ hơn là sự tham nhũng của đội lính canh trong quân đội La Mã khi họ bị xúi giục phải nói rằng họ đã ngủ mê khi canh gác. Tuy nhiên từ... "Koustodia" vay mượn từ tiếng Latinh, và dường như ám chỉ đội lính canh La Mã, và việc đề cập đến thầy đội... (28:14) làm cho ý kiến này có ưu thế hơn".
A.T. Robertson, một học giả nổi tiếng người Hy Lạp, đã nói rằng cụm từ "Có lính canh" (echete Koustodian) là một mệnh lệnh hiện tại "và ám chỉ đến" đội lính canh của quân đội La Mã chứ không phải những lính canh của đền thờ" 52/239.
Robertson nhận xét thêm: "Thuật ngữ Latin Koustodia có trong bản chỉ thảo Oxyrhynchus vào năm 22 sau CN" 52/239.
Giáo sư T.J. Thorburn nhận xét: "Nhìn chung người ta cho rằng Mathiơ muốn chúng ta hiểu rằng lính canh được nói đến có bao hàm cả những người lính La Mã... Tuy nhiên... các thầy tế lễ cũng có một đội lính canh đền thờ người Do Thái, có lẽ không được người La Mã cho phép thực hiện những nhiệm vụ ngoài giới hạn của họ. Do đó lời đáp của Philát hoặc được hiểu là "hãy lấy một đội lính canh đi" hoặc "Các ngươi có một đội lính canh" (một hình thức từ chối lịch sự nếu lời yêu cầu là phải có những người lính La Mã), có thể được hiểu cả hai nghĩa. Nếu những người lính canh là người Do Thái thì có thể giải thích rằng Philát đã bỏ qua một điều sơ suất. Trong 28:14 chép "Nếu điều ấy thấu đến tai quan tổng đốc thì chúng ta sẽ khuyên giải người và làm cho người khỏi lo sợ", nhưng câu này lại dường như nghịch với quan điểm này..." 65/179,182.
A.B. Bruce nói về từ "Các ngươi có" như sau:
"... Có lẽ đây là một mệnh lệnh chứ không phải một lời trình bày - Các ngươi có lính canh, một sự sẵn sàng đồng ý của một người cho rằng không cần lắm về điều đó, nhưng lại không phản đối gì để làm hài lòng họ, trong một vấn đề nhỏ" 6/335.
Arndt và Gingrich (trong tác phẩm A Greek-English Lexicon of the New Testament, nhà xuất bản Đại học Chicago, 1952) đã trích những nguồn tài liệu sau, trong đó từ "Koustodian" dùng để chỉ lính canh, được tìm thấy:
"POxy, 294,20 (22ad); PRyl, 189,2; BGU 341,3; Cf. Hahn 233,6; 234, 7w. lit. Lat. loanw., custodia, cũng trong rabb.)..." 5/448.
Họ định nghĩa nó là "một đội canh (a guard) bao gồm những người lính" 27:66; 28:11... "hãy cắt một đội lính canh" 27:65.
Giáo sư Harold Smith, trong tác phẩm A Dictionary of Christ and the Gospels (James Hasting, Ed., Charles Scribner's Sons, 1909), đã cung cấp cho chúng ta một số thông tin về lính canh La Mã:
"LÍNH CANH - 1. Bản RV nói đến từ "Koustodian" (tiếng Latinh là custodia), 27:65-66; 28:11. Bản AV là "Watch"; là những người mà các thầy tế lễ cả và các người Pharisi xin được nơi Philát để canh gác ngôi mộ. Việc cần sự cho phép của Philát và sự sợ hãi bị ông ta trừng phạt (28:14) cho chúng ta thấy rằng đội lính canh này không phải là đội lính canh đền thờ người Do Thái mà là những người lính trong quân đội La Mã, đóng ở Giêrusalem, có thể cũng là những kẻ đã canh gác cây thập tự... Từ "các ngươi có" có lẽ là một mệnh lệnh như "Hãy cắt một đội lính canh" vậy".
Lewis và Short đã chép như sau trong tự điển Latinh "Custodia có nghĩa là canh gác, canh phòng (watch) bảo vệ (guard), trông nom, chú ý (care), sự che chở (protection) thường dùng số nhiều trong quân đội để chỉ "những người làm công việc canh gác, bảo vệ, lính canh".
Văn mạch trong Mathiơ 27 và 28 hình như làm vững thêm quan điểm cho rằng chính "đội lính canh La Mã" đã được dùng để bảo vệ ngôi mộ của Chúa Jesus. Nếu Philát bảo họ dùng "lính canh của đền thờ" thì ông chỉ cần tống họ đi là xong, sau đó lính canh phải báo cáo với các thầy tế lễ cả chứ không báo với Philát. Nhưng nếu Philát cấp cho họ một "đội lính canh La Mã" để bảo vệ ngôi mộ thì lính canh sẽ báo cáo với Philát chứ không báo với các thầy tế lễ cả. Điểm then chốt nằm trong các câu 11 và 14 của đoạn 28.
Trong câu 11 nói rằng lính canh đến thuật lại với các thầy tế lễ cả. Thoạt tiên, dường như những lính canh này đã báo cáo với các thầy tế lễ cả. Nhưng nếu lính canh báo cáo với Philát thì họ sẽ bị xử tử ngay lập tức, như sẽ được giải thích dưới đây. Câu 14 xác nhận quan điểm cho rằng họ là lính canh La Mã và báo cáo trực tiếp với Philát.
"Nếu điều ấy thấu đến tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người và làm cho các ngươi khỏi lo sợ". Nếu họ là "lính canh của đền thờ" thì tại sao lại sợ Philát nghe? Không có một bằng chứng nào cho thấy ông ta có quyền xét xử họ. Tác giả cảm thấy đây là điều sẽ xảy ra: Họ là "lính canh La Mã" mà Philát chỉ định để bảo vệ ngôi mộ, với mục đích là làm hài lòng và giữ hòa khí với hàng giáo phẩm. Trong 27:64, các thầy tế lễ cả đã thận trọng yêu cầu một "đội lính canh La Mã": "Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận...".
Nếu các thầy tế lễ muốn bố trí lính canh đền thờ ở mộ thì họ đã không cần xin lệnh của quan tổng đốc để làm điều đó. Khi điều đó xảy ra, các người lính La Mã chạy đến các thầy tế lễ cả để xin che chở, vì họ biết rằng những thầy tế lễ này có ảnh hưởng trên Philát và cứu họ khỏi bị xử tử: "... Chúng ta sẽ khuyên giải người và làm cho các ngươi khỏi lo sợ" (28:14b).
3D. Quân luật của người La Mã
Về kỷ luật của lính canh La Mã, George Currie nói "Theo luật, sự trừng phạt cho tội bỏ vị trí là tử hình (Dion. Hal. Antiq. Rom. VIII. 79). Bài diễn thuyết nổi tiếng về sự nghiêm nhặt quân luật của Sử gia Polybius cho thấy rằng việc sợ hãi sự trừng phạt sẽ khiến cho lính canh càng chú ý hơn đến bổn phận, đặc biệt là canh phòng ban đêm. Theo Polubius, người đã mô tả những gì mà ông ta có dịp được thấy tận mắt thì điều này là hết sức quan trọng. Bài diễn thuyết của ông đã được nhiều người sử dụng đến" 14/43,44.
Giáo sư Currie đã trích lời của Polibius rằng: "Hình phạt bắt chạy giữa hai hàng người và bị đánh liên tiếp bằng dùi cui là một hình phạt dành cho tội sơ sót lúc gác đêm, tội ăn cắp, tội làm chứng dối và tội xúc phạm thân thể người khác; tội đào ngũ sẽ bị tử hình và tính hèn nhát cũng được đề cập đến" 14/43,44.
Currie nói tiếp "Vegetius nói rằng hàng ngày các thái thú La Mã luôn quan tâm đến tính nghiêm khắc của kỷ luật (Military Institutes, 11.9). Và Vegetius khẳng định rằng kỷ luật của quân đội La Mã những ngày đầu (vào thời của Đấng Christ) thì nghiêm khắc hơn vào thời của ông" 14/43,44.
Nói đến lời bình luận của Vegetius về quân đội La Mã, Currie nói rằng "Hệ thống mà ông ta mô tả cho thấy sự trừng phạt hết sức nghiêm khắc. Khi người ta thổi kèn trumpet là một dấu hiệu tuyên bố một sự trừng phạt 11.22. Sự quan tâm hàng ngày đến tính nghiêm khắc của kỷ luật là bổn phận của các thái thú quân đội (11.9)" 14/49,50.
Currie cho thấy rằng "Theo các tác giả viết tóm tắt về bộ luật Justin 49.16, thì có 18 tội trong quân đội có thể bị xử tử là: đào ngũ (3.11;- 5.1-3), làm mất hoặc vứt bỏ vũ khí (-3.13), bất tuân trong thời chiến (-3.15), trốn trại (-3.17), làm binh biến (-3.19), không bảo vệ sĩ quan hoặc bỏ đồn (-3.22), trốn quân dịch (-4.2), giết người (-4.5), đặt tay lên cấp trên hoặc xúc phạm đến tướng lãnh (-6.1), là người làm gương mà bỏ chạy (-6.3), có ý định phản bội đem nộp cho địch (-6.4;-7), dùng gươm làm cho một người lính bị thương (-6.6), tự hủy hại thân thể hoặc toan tự sát mà không có lý do hợp lý (-6.7), bỏ trực đêm (-10.1), có hành động xúc phạm hoặc đâm đội trưởng khi bị trừng phạt (-13.4), bỏ trại canh (-13.5) và gây rối loạn, mất trật tự (-16.1)" 14/49,50.
Theo lịch sử quân đội La Mã, Giáo sư Currie đã đưa ra một số ví dụ sau để phản ảnh mức độ kỷ luật của đội quân này "Trong mục 418: Người mang cờ hiệu đi tụt lại trong khi chiến đấu sẽ bị chính tay vị tướng giết chết. Trong mục 390: Ngủ trong khi làm nhiệm vụ sẽ bị ném từ trên núi Capitolium xuống (Sách tóm tắt 49.16 -3.6;-10.1). Trong mục 252: Tính sơ suất, sẽ bị đánh và giáng cấp. Trong mục 218: Tính lơ đểnh, sẽ bị trừng phạt. Trong mục 195: tụt hậu, sẽ bị đánh bằng vũ khí... Chỉ có từ "nghiêm khắc" mới miêu tả được các kiểu hình phạt nói trên" 14/33.
Currie bình luận thêm: "Trong số 102 hình phạt được nêu ra thì có 40 hình phạt là tử hình. Điều này cho thấy, so với các quân đội hiện nay, thì rõ ràng hình phạt trong quân đội La Mã là rất nghiêm khắc". Currie nói rằng quân đội La Mã là một "công cụ dùng để chinh phục và thống trị". Về tính nghiêm khắc của nó, ông viết: "Valerius Maximus... đã đưa một lời nhận xét sắc bén về quân luật và học thuyết quân sự rằng nó (là nguyên do chính để) mở rộng sự chinh phục và sức mạnh của đế quốc La Mã" (11.8 phần giới thiệu và 11.9 phần giới thiệu).
Trong tác phẩm "Life in the Roman World of Nero and St.Paul" (Nhà xuất bản Macmillan, 1917), T.6. Tucker đã mô tả sinh động về vũ khí mà một người lính La Mã phải mang:
"Trong tay phải, anh ta phải cầm một cái mác La Mã nổi tiếng. Đây là một loại vũ khí to lớn, dài trên 6 foot kể cả thân kiếm bằng thép sắc bén và cái cán gỗ. Người lính có thể dùng nó như một lưỡi lê hoặc phóng nó đi như lao hoặc để xáp lá cà. Tay trái là một cái thuẫn lớn. Có nhiều loại thuẫn. Loại phổ biến là loại hai bên được uốn lại vào phía trong giống như một phần của xy-lanh, dài khoảng 4 foot, rộng khoảng 2 1/2 food. Một loại khác thì có sáu cạnh giống hình một viên kim cương nhưng những cái đỉnh của viên kim cương đó đã được đẽo vuông rồi. Đôi khi nó cũng có hình oval. Theo chỉ dẫn, thì nó được làm bằng liễu gai hoặc bằng cây, phủ bằng da, được chạm trổ huy hiệu bằng kim loại, cụ thể là huy hiệu lưỡi tầm sét nổi tiếng. Thuẫn được cấu tạo có quai cầm hoặc có dây đeo trên vai phải. Ngoài cái khiên ra, người lính còn phải đeo một cây gươm bên hông bằng một sợi dây đeo qua vai trái, một loại vũ khí dùng để đâm hơn là chém, dài đến 3 foot. Mặc dù sự bố trí vũ khí này làm chúng ta thấy bất tiện nhưng bạn nên nhớ là khi tay phải không còn cầm mác nữa thì cây gươm mới được dùng đến và do đó trước khi sử dụng thì cây gươm đu đưa dễ dàng ở phía bên trái nhờ có dây đeo. Người lính còn mang một cái dao găm ở thắt lưng bên trái" 66/342-344.
4D. Đội lính canh La Mã là gì?
Trong Dictionary of Greek and Roman Antiquities, giáo sư William Smith cho chúng ta biết số người trong "đội lính canh" La Mã. Theo tiến sĩ Smith, là một trung đội (theo sự phân chia của quân đội La Mã) gồm 120 người hoặc 60 người" được trang bị ... cho quan, người mà những người lính này theo sát ... 2 lính canh ... trong số 4 người, có nhiệm vụ canh gác, ở trước trại và ở sau, giữa đám kỵ binh. Chúng ta nên chú ý, 4 là số lượng thông thường của một đội canh La Mã ... Một trong bốn người phải luôn canh gác, những người khác được nghỉ ngơi nhưng sẽ sẵn sàng ngồi dậy ngay khi có tiếng còi báo động đầu tiên" 18/250,251.
Giáo sư Harold Smith nói rằng "Thường thì một đội canh gồm 4 người (Polyb. VI 33), luân phiên nhau canh gác trong khi những người khác nghỉ ngơi ở bên cạnh để báo động ngay khi có động tĩnh nhỏ nhất; nhưng trong trường hợp này, số lượng lính canh đông hơn" 17/694.
Giáo sư Whedon nói về đội canh này rằng: "Canh gác việc đóng đinh Chúa Jesus có lẽ là một đội lính canh 4 người (GiGa 19:23) ..." 70/343.
5D. Lính canh đền thờ là gì?
Sử gia Do Thái, Alfred Edersheim (trong tác phẩm The Temple: Its Ministry and Services, nhà xuất bản Wm. B. Eerdman, 1958), cho chúng ta biết một số điều về "lính canh đền thờ": "Vào ban đêm người ta cắt đặt các lính canh ra 24 trạm để canh các cổng và các sảnh. Trong số này, chỉ riêng chi phái Lêvi thì đã chiếm 21 chỗ, còn 3 nơi trong cùng thì do người Lêvi cùng các thầy tế lễ phối hợp nhau. Mỗi đội canh gồm có 10 người, như vậy tổng cộng là 240 người Lêvi và 30 thầy tế lễ có nhiệm vụ canh giữ về đêm. Ban ngày lính canh đền thờ được nghỉ, nhưng suốt đêm không được nghỉ, trong khi người La Mã chia 4 người một đội, thì người Do Thái chỉ chia 3; đội 4 người là đội canh vào buổi sáng" 20/147-149.
Trong cuốn The Mishnah (Do Herbert Danby dịch, nhà xuất bản Đại học Oxford, 1933) có nói về đội canh đền thờ như sau: "Các thầy tế lễ canh giữ ba nơi trong đền thờ:
Người Lêvi canh giữ ở 21 nơi: 5 đội ở 5 cổng của vách thành đền thờ, 4 đội ở 4 góc bên trong của vách thành, 5 đội ở 5 cửa của hành lang đền thờ, 4 đội ở 4 góc bên trong của hành lang, 1 đội ở phòng dâng của lễ, 1 đội ở chỗ cái màn và một đội ở phía sau nắp thi ân" 42/Middoth.
Giáo sư P. Henderson Aitken chép rằng: "Bổn phận của viên đội trưởng coi các vách thành đền thờ" là giữ gìn trật tự trong đền thờ, thăm các trạm canh suốt đêm để xem lính canh có đến trại đúng giờ đúng lúc, và có tỉnh táo hay không. Người ta cho rằng viên đội trưởng và các sĩ quan cấp dưới đều do các "quan cai" sử dụng... trong Exo Er 9:2 và Nehemi.
6D. Kỷ luật của lính canh đền thờ
Alfred Edersheim đã mô tả về một kỷ luật gắt gao mà lính canh đền thờ phải chịu: "Suốt đêm vị "đội trưởng đền thờ" đi tuần canh. Khi ông ta đến, lính canh phải đứng dậy chào với một thái độ ân cần. Hễ lính canh bị phát hiện ngủ gục lúc thi hành nhiệm vụ thì sẽ bị đánh hoặc quần áo của người đó sẽ bị đốt. Đó chính là một sự trừng phạt. Cũng vậy, đây cũng là lời răn bảo chúng ta là những kẻ canh giữ đền thờ là "Phước cho những kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình" (KhKh 10:15)" 20/147-149.
Tác phẩm Mishnah cũng cho chúng ta thấy cách cư xử giành cho những kẻ ngủ gục trong khi canh gác như sau:
"Đội trưởng của đền thờ thường hay đi tuần mỗi trạm canh với cây đuốc rất sáng trong tay và nếu lính canh nào không thức dậy và nói rằng "Thưa đội trưởng, chúc bình an" thì chứng tỏ rằng người đó ngủ gục. Ông ta sẽ lấy gậy đánh người lính canh đó và có quyền đốt quần áo anh ta. Và họ sẽ nói "Có tiếng ồn ào gì trong sân đền thờ vậy?" Đó là tiếng ồn của một người Lêvi nào đó đang bị đánh và bị đốt quần áo vì cớ ngủ gục trong lúc canh" R. Eliezer B. Jacob nói: "Có một lần nọ họ phát hiện cậu tôi ngủ gục và đốt cháy áo quần ông ấy" 42/Middoth.
Tác phẩm The Jewish Encyclopedia bình luận về "những nơi thiêng liêng nói trên trong đền thờ" rằng những kẻ đang canh gác ở những nơi đó "cũng không được phép ngồi xuống cũng không được ngủ. Viên đội trưởng đội canh muốn thấy mọi người đều tỉnh táo, nếu thầy tế lễ nào ngủ gục sẽ bị trừng phạt và đôi khi còn đốt áo ông ta để cảnh cáo những người khác" (Mid. K.1)" 32/81.
7D. Kết luận:
Mgr. E. Le Camus đã nói đến tình trạng an ninh chặt chẽ được xiết chặt tại ngôi mộ của Chúa Jesus "Chưa hề có một phạm nhân nào được quan tâm nhiều sau khi bị tử hình. Và cũng chưa hề có một người bị đóng đinh nào lại vinh dự được một đội lính canh giữ cả" 8/396,397.
Giáo sư G.W. Clark kết luận: "Để ngăn chận sự phục sinh, con người đã cố hết sức dùng kế hoạch và sự khôn ngoan của mình để thực hiện mọi sự và do đó họ đã tạo ra các phương pháp đề phòng".
7C. CÁC MÔN ĐỒ CHẠY TRỐN
Mat Mt 26:56 cho chúng ta thấy sự nhát sợ của các môn đồ. Khi Chúa Jesus bị bắt trong vườn Ghếtsêmanê thì "... hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi".
Trong Mac Mc 14:50 chép "Bấy giờ mọi người bỏ Ngài mà trốn đi".
Giáo sư George Hanson nhận xét: "Bẩm sinh, họ cũng không phải là những người gan dạ hoặc là người nhìn xa thấy rộng. Và bởi tính nhát sợ đó, khi thầy họ bị bắt thì "tất cả đã bỏ Ngài" và trốn đi, để mặc một mình Ngài đối diện với số mệnh của Ngài" 24/24-26.
Giáo sư Albert Roper (trong tác phẩm Did Jesus rise from the Dead? Nhà xuất bản Zondervant, 1965) có nói đến sự khúm núm của Simôn Phierơ trước lời chế giễu của đứa tớ gái trong sân của các thầy tế lễ cả, và việc ông đã rủa sả mà chối rằng ông không biết "người mà ngươi đang nói" 53/50.
Ông nói rằng "chính sự sợ hãi đáng khinh để cá nhân mình được an toàn đã làm cho Phierơ chối Đấng mà ông thực lòng yêu mến. Chính sự sợ hãi hèn nhát đã làm cho ông trở thành kẻ phản bội Đấng đã kêu gọi ông bỏ lưới cá để trở nên tay đánh lưới người" 53/52.
Về tính cách của các môn đồ, Roper bình luận:
"Họ là những người Galilê, phần lớn là những người đánh cá, ít nhiều gì họ cũng là những kẻ xa lạ với thành thị và lối sống thành thị. Họ đã lần lượt trở thành môn đồ của người thầy trẻ tuổi người Naxarét, và họ đã cống hiến cuộc đời họ theo lối sống của Ngài. Họ đã vui mừng và cung kính theo Ngài cho đến khi cuộc khủng hoảng xảy ra. Khi Ngài bị bắt ở ngoài vườn Ghếtsêmanê thì tất cả đã bỏ chạy, những ngọn đuốc rực sáng, những tiếng la ó ồn ào, những tiếng lách cách của gươm giáo đã làm họ sợ hãi. "Các môn đồ đã ẩn mình trong những nhà trọ và không ai biết gì về họ cả cho đến tảng sáng ngày thứ 3, Mađơlen đem đến cho họ một tin kinh ngạc. Đến lúc đó có hai môn đồ - và chỉ có 2 mà thôi - đã táo bạo mạo hiểm để xem liệu tin tức mà Mari đem đến cho h ọ là do bà thuật lại hoặc, như theo họ nghỉ, chỉ là "chuyện vớ vẩn". Mọi thái độ của các môn đồ chỉ là một sự sợ hãi hèn nhát và một sự tự vệ ích kỷ".
Alfred Edersheim (trong tác phẩm The Life and Times of Jesus the Messiah, nhà xuất bản Wm. B. Eerdmans, 1962) đã đặt câu hỏi: "Những ý tưởng gì về một Đấng Christ đã chết lại tràn ngập trong suy nghĩ của Giôsép, người Arimathê, trong Nicôđem, trong các môn đồ của Chúa Jesus cũng như trong các vị sứ đồ và trong những người đàn bà mộ đạo?"
Và ông đã trả lời cho câu hỏi này: "Họ tin rằng Ngài đã chết. Họ không hy vọng rằng Ngài sẽ từ kẻ chết sống lại - ít ra là cũng theo ý nghĩa có thể chấp nhận của chúng ta về điều này. Có rất nhiều bằng chứng về điều này lúc Ngài chết - Với lượng dầu thơm để an táng do Nicôđem mang đến, với số dầu thơm mà những người đàn bà đã chuẩn bị (cả hai đều có ý ngăn chặn sự thối rửa của xác chết), trong nỗi buồn rầu của nhưng người đàn bà trước ngôi mộ trống, trong ý nghĩ của họ cho rằng người ta đã mang xác Ngài đi và trong chính câu nói này: "Vì họ chưa hiểu lời Kinh Thánh rằng Đức Chúa Jesus phải sống lại từ trong kẻ chết" 19/623.
2B. QUANG CẢNH SAU KHI CHÚA PHỤC SINH:
1C. NGÔI MỘ TRỐNG:
W. J. Sparrow-Simpson cho chúng ta thấy rằng chính ngôi mộ trống đã không làm cho các môn đồ tin. Vì Giăng có nói "...người thấy và tin" (GiGa 20:8). Nhưng điều này có lẽ là do họ nhớ lại rằng Christ đã nói trước về sự phục sinh của Ngài. Bằng chứng về ngôi mộ trống đã không làm cho Mari Mađơlen, hoặc một người đàn bà nào hoặc chính Phierơ có được đức tin" 17/506.
Chính sự hiện ra của Chúa Jesus sau khi phục sinh đã xác quyết với các môn đồ của Ngài rằng Ngài đã thật sự từ kẻ chết sống lại. Ngôi mộ trống chỉ là một sự kiện lịch sử, chứng minh rằng không ai khác hơn là chính Jesus người Naxarét đã phục sinh bằng thịt và huyết" 17/506.
J. N. D. Anderson (trong tờ Christian Today, số ra ngày 29/3/1968 - được phép sử dụng), một luật sư và giáo sư về pháp luật phương đông của Viện Đại học London, đã hỏi rằng:
"Bạn có thấy rằng việc đề cập đến ngôi mộ trống trong các sách phúc âm là để cung cấp cho cộng đồng các Cơ Đốc nhân những sự kiện mà họ muốn biết không? Theo ghi chép trong sách Công vụ, trong một buổi giảng công khai cho những người chưa tin Chúa, đã nhấn mạnh rất nhiều đến sự phục sinh chứ không phải nói đến ngôi mộ trống. Tại sao vậy? Theo tôi chỉ có một câu trả lời duy nhất: Ngôi mộ trống không phải là điểm đem ra bàn cãi. Mọi người, cả thủ lẫn bạn, biết rằng ngôi mộ đã trống rỗng. Vấn đề duy nhất đáng để bàn cãi là tại sao nó lại trống và ngôi mộ trống đó đã minh chứng được điều gì" 2/4-9.
Trong tác phẩm Christianity: The witness of History, nhà xuất bản Inter-Varsity, Downers Grove, III cho phép sử dụng) đã nói tiếp:
"Ngôi mộ trống vẫn còn đứng đó, một tảng đá thật, để làm một yếu tố quan trọng làm bằng chứng cho sự phục sinh. Nếu bạn cho rằng ngôi mộ đó cũng không thật sự trống rỗng, như một số người đã nói, thì bạn thật lố bịch. Có một sự kiện lịch sử là ngay từ những ngày đầu tiên, các sứ đồ đã làm cho nhiều người ở Giêrusalem phải tin đạo, dù có bị chống đối, là bởi họ đã tuyên bố một tin mừng rằng Christ đã tự một phần sống lại - Họ đã làm điều đó trong một nơi cách ngôi mộ không xa. Hễ ai nghe họ nói đều có thể đến viếng ngôi mộ và quay lại chỉ trong thời gian bằng giữa bữa ăn trưa và buổi uống trà chiều. Do đó có thể nào cho rằng các sứ đồ đã thành công nếu trong ngôi mộ của Giôsép vẫn còn thi hài của người mà họ cho rằng Chúa sống, đang bị thối rửa? Có thể nào một tập đoàn thầy tế lễ và những người Pharisi bướng bỉnh lại được cảm kích bởi lời tuyên bố phục sinh mà thực ra lại chẳng có phục sinh gì cả, chỉ là một sứ điệp về sự sống lại thuộc linh được diễn tả bằng những ngôn từ lừa dối về một sự sống lại thật sự từ mộ phần?" 1/95,96.
Paul Althus (trong tác phẩm Die Wahrheit des Kirchlichen Osterglaubens, trang 22,25), được Wofhart Pannenberg trích dẫn trong tác phẩm "Jesus - God and Man", (nhà xuất bản Wesminster, 1968) đã nói: "Tại Giêrusalem, nơi Chúa bị đóng đinh và bị chôn, không lâu sau khi Ngài chết, người ta đã tuyên bố rằng Ngài đã sống lại. Điều này đòi hỏi rằng, giữa vòng cộng đồng Cơ Đốc nhân đầu tiên này phải có một người có một bằng chứng đáng tin cậy cho sự kiện ngôi mộ bị bỏ trống". Sự công bố về sự phục sinh "Không thể duy trì ở Giêrusalem trong một ngày, một giờ nào được nếu sự trống rỗng của ngôi mộ không được xem như một sự kiện làm mọi người phải quan tâm" 47/100.
Giáo sư E.H. Day bình luận:
"Nếu có người xác nhận rằng ngôi mộ này thật sự đã không trống rỗng thì nhiều nan đề phải bị chất vấn. Chẳng hạn người đó phải làm sáng tỏ vấn đề vì sao lại dậy lên một sự truyền miệng rõ ràng như thế mà không hề bị chất vấn, vấn đề về những bản tường thuật cặn kẽ có nói đến những lời truyền miệng này, vấn đề về sự thất bại của người Do Thái khi chứng minh rằng sự phục sinh đã không xảy ra bằng cách đưa thi hài của Christ ra hoặc bởi một sự khám xét chính thức ngôi mộ để làm một bằng chứng đưa ra, chứng tỏ cho sự quan tâm của họ" 15/25,26.
Một luật sư người Anh, ông Frank Morison, (trong tác phẩm "Who moved the Stone, Faber and Faber, 1958), đã bình luận rằng:
"Trong tất cả những tài liệu và những gì còn lại về cuộc tranh luận xa xưa còn truyền lại cho chúng ta, thì chúng ta không thấy có chỗ nào cho thấy có một người đứng đắn nào lại xác nhận rằng thi hài của Chúa Jesus vẫn còn trong ngôi mộ. Những tài liệu này cho chúng ta biết lý do tại sao thi hài đó không có trong mộ. Việc xem xét lại tất cả những tài liệu cổ xưa này càng làm cho chúng ta có một sự thừa nhận vững chắc là ngôi mộ của Chúa Jesus Christ đã trống rỗng. Chúng ta có thể nào công khai chống đối những bằng chứng lũy tích và vững vàng này không? Về phương diện cá nhân, tôi nghĩ là không. Những chuỗi sự kiện trùng hợp nhau là quá rõ ràng" 44/115.
Michael Green (trong tác phẩm Man Alive, nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng, Downers Grove, III), đã trích dẫn một nguồn tài liệu rất xa xưa, có làm chứng về ngôi mộ trống của Chúa Jesus. Mẩu bằng chứng này "... được gọi là bi văn Naxarét, theo tên của địa phương đã phát hiện ra nó. Đó là một chỉ dụ của đế quốc, thuộc triều đại của Tiberius (14-37 sau CN) hoặc triều đại Claudius (41-54 sau CN). Đó là một lời công kích kịch liệt, được ký kết với những trừng phạt nặng nề nhằm ngăn chận việc đề cập đến những ngôi mộ trống đã lan sang Rôma dưới hình thức bị bóp méo đi nhiều (Có lẽ Philát đã báo cáo: và rõ ràng ông ta đã báo cáo là ngôi mộ đã bị trộm). Và dường như chỉ dụ này là một phản ứng của đế quốc" 22/36.
Green kết luận: "Không còn nghi ngờ gì nữa, vào ngày phục sinh đầu tiên, ngôi một của Chúa Jesus đã trống không thật sự" (22/36.
Mat Mt 28:11-15 đã thuật lại mưu toan của những người có quyền lực Do Thái đã cố mua chuộc những lính canh La Mã để họ nói rằng các môn đồ của Chúa Jesus đã lấy trộm xác Ngài. Tác phẩm "The Dictionary of the Apostolic Church" (Ed. James Hastings, T. and T. Clark, 1918) đã bình luận:
"Một kế hoạch gian lận cho thấy rằng các kẻ thù của Cơ Đốc giáo nhìn nhận ngôi mộ đã trống rỗng - một sự thừa nhận đủ bày tỏ rằng bằng chứng về một ngôi mộ trống là "quá rõ ràng không thể chối cãi được" Theological Essays của Đại học Cambridge, H.B. Swete xuất bản, London, 1905, trang 336)" 16/340.
W.J, Sparrow-Simpson (trong tác phẩm A Dictionary of Christ and the Gospels, Charles Scribner's Sons), đã viết: "Sự trống rỗng của ngôi mộ đã được những kẻ đối lập thừa nhận và các môn đồ xác quyết. Những điều các tên lính canh thuật lại về sự kiện này là một kế hoạch gian lận (8:11-15). Tất nhiên sự buộc tội của người Do Thái nhằm chống lại các sứ đồ chứng tỏ rằng ngôi mộ đã trống rỗng. Điều mà người ta cần là một sự giải thích"... Việc người Do Thái thừa nhận rằng ngôi mộ trống rỗng đã làm lan ra những sự bàn tán của người Do Thái về điều này"
Sparrow-Simpson đã trích một ví dụ để ủng hộ điều này "... một quan điểm về ngôi mộ trống vào thế kỷ 12 đã được một cơ quan tuyên truyền của người Do Thái chống Cơ Đốc giáo tung ra. Câu chuyện kể lại rằng khi nữ hoàng biết được các trưởng lão đã giết Chúa Jesus và chôn Ngài, và Ngài đã sống lại thì bà ra lệnh cho họ trong vòng 3 ngày phải tìm ra thi hài hoặc là họ phải chết". Lúc bấy giờ Judas nói: "Hãy đến đây và tôi sẽ chỉ cho các ông thấy người mà các ông đang tìm kiếm: Chính tôi đã lấy cái xác khỏi mộ, vì tôi sợ các môn đồ ông ấy sẽ trộm xác đi mất, và tôi đã giấu ông ấy trong vườn của tôi và khơi một dòng nước chảy ngang qua đó". Câu chuyện đã giải thích cái xác đã được tìm ra như thế nào (Toledoth Jesu, xem Baring Gould, Lost and Hostile Gospels, trang 88).
Simpson kết luận: "Không cần phải nhận xét cũng thấy rằng sự tuyên bố táo bạo về việc tìm ra thi hài là một chuyện hoang đường thời trung cổ, nhưng những lời tuyên bố ấy lại rất cần thiết để đánh giá những sự kiện này, rằng họ đã chấp nhận ngôi mộ trống, nhưng lại chối bỏ sự phục sinh" 17/507,508.
Ernest Kevan đã trích dẫn những gì ông mô tả sau đây như là một bằng chứng về "... sự kiện hiển nhiên về ngôi mộ trống. Ngôi mộ đã trống rỗng và những kẻ thù của Christ không thể nào chối bỏ điều đó được" 30/14.
Ông quả quyết rằng "... Sự kiện về ngôi mộ trống đã giáng một đòn trí mạng lên tất cả những giả thuyết được người ta tạo ra để chống lại bằng chứng của các Cơ Đốc nhân. Đây là một tảng đá mà tất cả những giả thuyết giả tạo phải vấp ngã. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy rằng khi đề cập đến ngôi mộ trống thì những nhà tranh luận đối lập đó cố tình lẩn tránh".
W.J. Sperrow-Simpson đã đề cập đến Julius Wellhausen (trong tác phẩm Das E.Matt. trang 150), một học giả nổi tiếng người Đức, được nhiều người biết đến trong thượng tầng phê bình của ông về Cựu ước, ông đã cho chúng ta một lời chứng sau đây về sự phục sinh của Chúa Jesus Christ "Phải thừa nhận rằng thi hài của Chúa Jesus cũng đã biến mất khỏi ngôi mộ cùng với sự phục sinh và điều này, không thể nào giải thích được bằng những cơ sở tự nhiên".
Tại sao ngôi mộ của Chúa Jesus lại không trở thành một nơi tôn nghiêm?
J.N.D. Anderson nhận xét rằng "Không có một ý kiến nào lưu lại cho chúng ta ngày nay cho rằng ngôi mộ đã trở thành nơi tôn nghiêm hay nơi để hành hương vào thời kỳ Hội Thánh đầu tiên. Điều đó có nhiều ý nghĩa. Ngay cả những người đã tin Chúa cũng đã không đến viếng mộ vì họ biết chắc rằng thầy của họ đã từ kẻ chết sống lại. Thế còn những người đã nghe Ngài giảng dạy, thậm chí còn biết đến phép lạ chữa bệnh của Ngài mà không gia nhập cộng đồng Cơ Đốc giáo thì sao? Dường như họ cũng biết rằng thi hài của Ngài không còn ở đó nữa, và họ cũng đã cho rằng việc viếng mộ là vô nghĩa" 1/97.
Trong tác phẩm "Who moved the Stone?" của mình, Frank Morison đã đưa ra một nhận xét thú vị: "Trước tiên cần phải chú ý đến một sự kiện tuy nhỏ nhưng đầy ý nghĩa là không có một chỗ nào trong sách Công vụ, hay trong các thư tín hoặc trong các tài liệu ngụy kinh của thời đại đầu tiên lại nói đến một ai đó đã bày tỏ lòng kính trọng về ngôi mộ của Đức Chúa Jesus Christ. Thật là đặc biệt về sự im lặng tuyệt đối về nơi thiêng liêng nhất này trong kỷ niệm của Cơ Đốc giáo. Có người đàn bà nào đã lấy hình ảnh của Thầy họ làm một vật kỷ niệm thiêng liêng, hoặc mất một thời gian để đến viếng nơi thánh không? Phierơ, Giăng, Anhrê có bao giờ cảm thấy cần làm cho nơi ấy trở thành chỗ tôn nghiêm cho người thầy vĩ đại của họ không? Có phải chính Saulơ, dù có nhớ lại sự kiêu ngạo và tự tín trước đây của mình, ông cũng không thực hiện một cuộc hành hương để đổ nước mắt ăn năn vì sự từ chối danh Chúa của mình không? Nếu những người này thật sự biết rằng Chúa đã được chôn ở đó thì quả là một điều vô cùng kỳ lạ" Đối với sự phê bình về sự phục sinh, tôi tin chắc rằng sự im lặng lạ thường này của thời đó liên quan đến lịch sử mới đây về ngôi mộ của Chúa Jesus, đã tạo ra một cảm giác băn khoăn lo lắng" 44/137.
2C. VẢI LIỆM
Theo đoạn Kinh Thánh sau, Giăng đã cho thấy ý nghĩa của vải liệm như một bằng chứng nói về sự phục sinh:
"Phierơ và môn đồ khác bèn bước ra đi đến mồ, cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phierơ, và đến mồ trước. Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất nhưng không vào. Simôn Phierơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất, và cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jesus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác. Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin. Vì chưng hai người chưa hiểu Kinh Thánh rằng Đức Chúa Jesus phải từ kẻ chết sống lại. Đoạn hai môn đồ trở về nhà mình" (GiGa 20:3-10).
Nhận xét về điều Giăng tường thuật, J.N.D. Anderson (trong bài "The Resurrection of Jesus Christ" đăng trên tờ Christianity Today số ngày 29/3/1968), đã nói về ngôi mộ trống rằng: "... Dường như ngôi mộ không thật sự trống rỗng. Bạn hãy nhớ lại đoạn Kinh Thánh mà Giăng tường thuật nói đến Mari Mađơlen đã chạy đến gọi Phierơ và Giăng, rồi cả hai cùng chạy đến mồ như thế nào rồi chứ. Giăng trẻ hơn nên đã chạy nhanh hơn Phierơ, và đến mồ trước. Ông cúi xuống, "hé nhìn" vào (tôi tin rằng đây là ý nghĩa thật của từ Hy Lạp), và thấy vải liệm và khăn trùm đầu. Sau đó Simôn Phierơ theo đến, dạn dĩ đi thẳng vào, Giăng theo sau. Họ thấy vải liệm và khăn phủ không nằm chỗ vải liệm nhưng được cuốn lại để ở một nơi khác. Ở đây dường như từ Hy Lạp có ý nói rằng vải liệm nằm một chỗ chứ không bị rơi vải khắp mộ. Nhưng thi hài ở đâu và nơi Chúa nằm thì đã trống rỗng - Còn tấm khăn trùm đầu không nằm ở chỗ vải liệm nhưng được cuốn lại để riêng ra một chỗ, mà tôi cho rằng, tất cả đã được xếp gọn lại, và chỉ có thi hài là biến mất. Chúng ta thấy rằng khi Giăng chứng kiến điều đó, ông đã không cần bằng chứng gì thêm của con người hay thiên sứ. Ông đã thấy và tin, và bằng chứng của ông ấy vẫn còn lưu lại cho chúng ta ngày nay" 2/7,8.
Cyril of Alexandria (376-444) nói rằng, từ chỗ thấy vải liệm được cuốn lại như thế đã làm cho các sứ đồ có ý tưởng rằng Chúa đã phục sinh (Migne, 7.683).
Giáo sư E. H. Day nói về sự tường thuật của Giăng rằng "Qua sự tiếp xúc của chính cá nhân mình, Giăng đã bày tỏ tất cả những bằng chứng, không chỉ bằng mắt thấy mà còn bởi một sự quan sát cẩn thận.... Việc 2 môn đồ chạy đến mồ, thứ tự đến mồ và vào mồ; Việc Giăng cúi xuống nhìn qua lối vào thấp của ngôi mộ và thấy vải liệm, trong khi Phierơ, bạo dạn hơn, đã bước vào mồ trước; từ chính xác... "theorei" được dùng để nói đến sự quan sát cẩn thận (ở đây có lẽ cũng có ý nói đến sự khám xét) những tấm vải liệm; sự mô tả vị trí tấm vải liệm và khăn trùm, một sự mô tả không rườm rà nhưng hết sức tỉ mỉ trong việc lựa chọn từ ngữ; việc Giăng đến sau và bởi nhìn thấy vải liệm như thế nên ông đã tin. Chắc chắn những điều này cho thấy rằng sự mô tả ở trên, không gì khác hơn, là sự mô tả của một người đã thực sự chứng kiến, và trong trí nhớ của người ấy quang cảnh này vẫn còn sống động. Đối với người đó, quang cảnh ngôi mộ trống và vải liệm bị bỏ lại là cao điểm của niềm tin và sống"
John R. W. Stott (trong tác phẩm Basic Christianity, nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng, Downers Grove, III), đã có nhận xét như sau:
"Chính sự kiện đáng chú ý mà đã thuật lại cho chúng ta biết rằng thi hài của Chúa Jesus đã biến mất thì nó cũng cho chúng ta biết rằng vải liệm vẫn còn để lại. Chính Giăng đã nhấn mạnh về sự kiện này, vì vào buổi sáng xúc động ấy, ông đã cùng với Phierơ chạy đến mồ. Đoạn Kinh Thánh mà ông tường thuật về sự kiện này (20:1-10) đã chứa những điểm rõ ràng về kinh nghiệm mắt thấy tai nghe này. Ông chạy nhanh hơn Phierơ, nhưng khi đến mồ, ông không dám vào sâu hơn cho đến khi Phierơ đến và bước vào. "Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mồ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin". Vấn đề là: ông đã thấy gì mà đã làm cho ông tin? Câu chuyện thuật lại cho thấy không phải là thi hài bị mất nhưng là sự hiện diện của những tấm vải liệm, và cụ thể là tình trạng vẫn còn ngăn nắp của ngôi mộ".
"... Trong 19:38-42 cho chúng ta thấy rằng trong khi Giôsép đến Philát xin xác Chúa Jesus, thì Nicôđem "đem theo độ 100 cân một dược hòa với lư hội. Sau đó họ "lấy xác Chúa Jesus, dùng vải gai và thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giuđa". Và đoạn Kinh Thánh này chép rằng khi họ dùng vải gai "băng" quan xác Ngài thì họ cũng rắc bộ hương liệu vào trong những nếp gấp.
"Giả sử bấy giờ chúng ta có mặt trong mộ khi sự phục sinh đã thật sự xảy ra. Chúng ta sẽ thấy điều gì?... Chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy rằng thi hài đã biến mất... cùng với 100 cân hương liệu, đã từng được dùng để ướp xác, đã bị lấy đi mất, còn vải liệm lẽ ra phải rớt xuống, rủ xuống thì bấy giờ đang nằm ngay ngắn. Lẽ ra phải có một khoảng trống giữa vải liệm thân thể và khăn trùm đầu, vị trí của mặt và cổ. Còn chính khăn trùm đầu vì được băng theo dạng chéo chữ thập, lẽ ra phải còn dạng hình lõm thì bây giờ chỉ là một cái khăn nhàu nát, không có cái đầu trong đó.
"Một cuộc nghiên cứu cẩn thận về sự tường thuật của Giăng cho thấy chỉ có 3 đặc điểm về những mảnh vải liệm đã bị vứt bỏ mà Giăng đã thấy. Thứ nhất, ông thấy vải liệm "đang nằm". Từ này được lặp lại hai lần, lần thứ nhất nó được đặt trong một câu tiếng Hy Lạp, với vị trí nhấn mạnh. Chúng ta có thể dịch là "Ông thấy vải liệm đang nằm (hoặc "bị rớt xuống")". Thứ hai, tấm khăn trùm đầu "không ở cùng một chỗ với vải nhưng ... để riêng ra một nơi khác". Có lẽ câu này ý muốn nói rằng tấm khăn đã được cuốn lại và ném vào trong góc. Nó vẫn còn nằm trên phiến đá nhưng cách vải liệm một khoảng khá rõ. Thứ 3, tấm khăn trùm này "Không nằm ... nhưng được cuốn lại ..." Từ cuốn này được dịch là "xoắn" lại. Bản Kinh Thánh Authorized Version dịch là "quấn lại" và bản Revised Standard Version dịch là "cuốn lại". Cả 2 bản dịch không đúng lắm. Đúng ra từ này mô tả một dạng tròn mà tấm khăn trống còn giữ lại.
"Thật không lấy gì làm khó tưởng tượng ra quang cảnh hiện ra trước mắt hai vị sứ đồ lúc họ đến mồ: một phiến đá, vải liệm rớt xuống, lớp ngoài của vải liệm đầu và một khoảng cách giữa vải liệm và khăn trùm. Không có gì lạ "khi họ thấy và tin". Chỉ nhìn qua những mảnh vải liệm này cũng đã chứng minh cho một sự thật và một ngụ ý nói đến sự phục sinh. Không có con người nào đã đụng chạm, sờ mó hay sắp xếp chúng cả. Nó giống như một con nhộng đang lột xác để trở thành con bướm bay ra.
"Tình trạng của những tấm vải liệm dùng để làm bằng chứng rõ ràng, minh bạch về sự phục sinh lại được làm vững chắc thêm với sự kiện Mari Mađơlen (người đã quay lại mồ sau khi đem tin cho Phierơ và Giăng), "đã cúi xuống nhìn vào trong mộ, thấy hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chân, chỗ xác Đức Chúa Jesus đã nằm". Có thể cho rằng điều này có ý muốn nói hai vị thiên sứ ngồi trên phiến đá, và những tấm vải liệm nằm giữa hai vị. Cả Mathiơ lẫn Mác đều có nói thêm rằng một trong hai vị đã nói "Ngài không ở đây đâu vì Ngài đã sống lại rồi, theo lời Ngài đã phán. Hãy đến, xem nơi Ngài đã nằm". Dù độc giả có tin thiên sứ hay không thì việc ám chỉ nơi Chúa Jesus đã nằm, được vị trí ngồi và lời nói của hai thiên sứ nhấn mạnh, ít nhất cũng xác quyết quan niệm của tác giả 4 sách phúc âm rằng: vị trí của vải liệm và cái xác không còn đó là một bằng chứng trùng hợp về sự phục sinh của Ngài" 60/52-54.
Henry Latham nói: "Đối với tôi, dường như rõ ràng là sự tường thuật của thánh Giăng nói về một sự biến đổi đối với hai vị sứ đồ bởi những gì họ đã thấy..." Tại sao? 31/45.
Latham (trong tác phẩm The Risen Master, Deighton, Bell and Co., 1904) đã mô tả những gì mà các môn đồ đã thấy trong mộ của Chúa Jesus: "... Những mảnh vải liệm đã nằm trên phần thấp hơn của phiến đá. Chúng vẫn nằm đó ngay ngắn như khi Giôsép và những người khác đã bọc nó quanh xác Chúa, chỉ có điều là những tấm vải liệm này đang nằm ngay ngắn, được gấp lại vì cái xác đã biến mất. Ở phần cao hơn của phiến đá, tận đầu cùng, là tấm khăn đã quấn quanh đầu Chúa. Nó không nằm ngay ngắn nhưng hơi nhô lên một chút, vẫn còn dạng xoắn như khi người quấn quanh đầu Chúa. Không có gì cho thấy là có bàn tay của con người nhúng vào: thi hài được ướp trong một dược và lư hội đã tán thành bột, nhưng bây giờ đã không còn một chút nào. Hương liệu vẫn còn được gói trong vải liệm vì khi đặt thi hài lên phiến đá, người ta đã bỏ nó vào giữa những tấm vải liệm. Từ quang cảnh này, một điều gì đó đã truyền vào lòng của Phierơ và Giăng. Dù sao đi nữa. chúng ta cũng có thể thấy rằng, khi họ đi ra khỏi mộ, tấm lòng họ đã khác lúc họ mới đến mộ. Tôi nghĩ rằng một ấn tượng nào đó đã đến với họ khi họ chăm chú nhìn những gì trước mắt rằng "Đức Chúa Trời đã ở nơi đó" 31/34.
Giáo sư Latham đã viết về tấm vải đã phủ trên đầu của Chúa Jesus, rằng: "Những từ "chẳng ở cùng một chỗ với vải" đã cho tôi thấy một vài điều ... Nó cho tôi biết rằng tất cả vải liệm đã nằm chung một chỗ. Nếu tất cả vải liệm đều nằm chung một chỗ trên phần thấp hơn của phiến đá thì ý nghĩa câu này quá rõ ràng, nhưng nếu vải liệm nằm chỗ này một miếng, chỗ kia một miếng như bị ném đi cách bừa bãi thì nói rằng tấm khăn liệm "Không nằm chung với vải liệm" là không có ý nghĩa gì cả, vì "vải liệm" không nằm ở một vị trí cụ thể nào. Chúng ta lại chú ý việc đưa ra từ "nằm" khi nó hoàn toàn không cần đến. Tấm khăn liệm đã không nằm bẹp xuống như những tấm vải liệm và có lẽ Thánh Giăng đã ghi nhận sự khác biệt này" 31/44.
Latham nói tiếp "... Tấm khăn liệm, dùng quấn quanh đỉnh đầu Chúa Jesus, vẫn còn nằm trên... phiến đá cao. Ở đó người ta thấy nó được "cuốn lại để riêng ra một nơi khác" 31/36.
Tiến sĩ Latham nói rằng: "Từ "cuốn lại" là tối nghĩa, tôi cho rằng tấm khăn cuốn lại này có dạng như một chiếc nhẫn, giống một cái khăn cuốn bị bung ra, không có phần tâm" 31/36.
Giáo sư Henry Latham kết luận:
"Những tấm vải liệm đã nằm ở đó - hơi xủ xuống đất một chút, nhưng vẫn còn được gấp lại nhiều lần nhưng không có một chút hương liệu nào rớt ra. Cũng vậy, tấm khăn liệm đang nằm trên một cái bệ thấp giống như cái gối kê đầu xác chết. Nó được quấn lại giống như một đầu tóc giả và được nằm riêng một nơi. Sự yên tĩnh của quang cảnh này dường như muốn nói lên một điều gì đó. Nó muốn nói với những ai nhìn thấy, và nó cũng muốn nói với tôi, là kẻ đã làm sống lại điều đó trước mắt giống như ánh sáng ban mai từ ngoài cửa chiếu vào. Những gì nó nói, tôi có thể tóm tắt như thế này: Chính Chúa Jesus, người Naxarét phải chịu trách nhiệm về những thay đổi này và Ngài đã đi rồi. Còn chúng tôi - vải liệm, hương liệu, tấm khăn - là những thứ thuộc về đất, vẫn còn nằm lại ở đây" 31/11.
3C. VỊ TRÍ CỦA TẢNG ĐÁ.
Những từ Hy Lạp được dùng để mô tả tảng đá trong những đoạn nói về ngôi mộ là rất có ý nghĩa. Mat Mt 27:60 - dùng từ "kulio" nghĩa là "lăn". Mac Mc 16:3-4 - dùng cùng một từ gốc là "kulio" nhưng thêm giới từ "ana", nghĩa là "lên" hay"hướng lên". Mác dùng từ này ở đây chắc là vì trước lối vào mồ có một con dốc hoặc hơi nghiêng. LuLc 24:2 cũng dùng từ "kulio", nhưng lại thêm vào một giới từ khác với Mác, từ "apo" có nghĩa là "cách xa, phân cách" (dùng với ý nghĩa về độ xa). Tảng đá ở trong một vị trí như vậy, thì theo ý nghĩa chỉ độ xa, nó được mô tả là rất xa ngôi mộ (từ Hy Lạp được dùng để chỉ cả ngôi mộ). GiGa 20:1 - đã dùng một từ Hy Lạp hoàn toàn khác để mô tả vị trí của tảng đá trên một con dốc cách xa ngôi mộ (không phải chỉ cách xa lối vào) Giăng dùng từ "airo" có nghĩa là "nhấc lên và đem đi".
Tại sao lại cố di chuyển một hòn đá lớn như vậy?
4C. DẤU NIÊM PHONG.
Giáo sư A.T. Robertson bình luận: "Dấu niêm phong được đóng trước sự chứng kiến của lính canh La Mã, những người phải ở lại để bảo vệ dấu hiệu chỉ uy quyền và sức mạnh của đế quốc La Mã".
D.D. Whedon nói: "Do đó, không thể mở cửa mà lại không làm hỏng dấu niêm phong. Đó là một tội phạm chống lại uy quyền sở hữu của con dấu" 70/343.
Khi tảng đá được lăn đi, dấu niêm phong đã bị phá hỏng. Một người hoặc một số người chịu trách nhiệm về việc phá dấu niêm phong thì có lẽ chỉ là quan tổng đốc hoặc những kẻ đại diện cho ông ta. Thật vậy, trong thời điểm Chúa phục sinh, ai cũng phải sợ việc phá dấu niêm phong.
5C. LÍNH CANH LA MÃ
Mathiơ nhận xét như sau:
"Và này, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên. Hình dong của thiên sứ giống như chớp nhoáng, và áo trắng như tuyết. Vì đó, những lính canh sợ hãi, run rẩy, trở nên như người chết" (Mat Mt 28:1-4).
"Trong khi hai người đàn bà đó đi đường, thì có mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy ra. Các thầy bèn nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn luận, xong rồi thì họ cho những lính đó nhiều tiền bạc, mà dặn rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đương ngủ, mà lấy trộm nó đi. Nếu điều ấy thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời. Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giuđa cho đến ngày nay" (Mat Mt 28:22-15).
Hiểu được những người lính canh này là ai sẽ làm cho đoạn tường thuật trong Mathiơ 28 rất có ý nghĩa.
Quang cảnh xảy ra vào lúc Chúa phục sinh rất đáng sợ đủ để khiến các tên lính vạm vỡ này "trở nên như người chết" (28:4).
Giáo sư Roper (trong tác phẩm Did Jesus rise from the Dead? nhà xuất bản Zondervant, 1965) đã mô tả về các tên lính canh như sau: "Họ không quan tâm nhiều đến nhiệm vụ đã giao cho họ. Mục đích và nhiệm vụ duy nhất của họ là thể hiện một cách cứng ngắt bổn phận của họ, là những người lính, đối với đế quốc La Mã, một đế quốc mà họ đã cống hiến đời mình. Dấu niêm phong của đế quốc La Mã vào tảng đá trước ngôi mộ của Giôsép, đối với họ, không thể nào thiêng liêng hơn nên triết lý của dân tộc Ysrael hoặc bài tín điều của họ. Họ đã... bình thản bốc thăm để lấy chiếc áo khoác của nạn nhân sắp chết..." 53/33.
T.G. Tucker đã mô tả khá chi tiết về áo giáp và những vũ khí mà người đội trưởng đang đeo. Bức tranh mà ông đưa ra là một cổ máy người dùng để đánh trận" 66/342-344.
Về lính canh La Mã xin xem phần "lính canh".
Thomas Thorburn (trong tác phẩm The Resurrection Narrative and Modern Criticism, Kegan Paul, Trench, Trubner and Co., Ltd., 1910), cho chúng ta thấy những tên lính đang canh gác đã lâm vào một tình trạng hiểm nghèo. Sau khi tảng đá bị lăn đi và dấu niêm bị phá hỏng, coi như họ đã bị đưa ra tòa án binh. Thorburn viết: "Những người lính này không thể viện dẫn lý do là họ đã ngủ gục, vì họ biết chắc rằng hình phạt dành cho tội này là xử tử - và luật này luôn có hiệu lực nghiêm khắc" Thorburn tiếp tục "Các tên lính này không có cách nào hơn là trông cậy vào sự giúp đỡ thiện chí của các thầy tế lễ. Thi hài đó (chúng ta cứ cho là như thế) đã biến mất và tội sơ suất của họ, dù với bất kỳ lý do nào (ngay cả dưới những tình huống bình thường), cũng phải bị xử tử (so với Cong Cv 12:19)" 65/179-182.
6C. CHÚA JESUS SỐNG LẠI - SỰ HIỆN RA SAU KHI NGÀI PHỤC SINH
1D. Tầm quan trọng của các lần hiện ra.
Giáo sư C.S. Lewis (trong tác phẩm Miracles, The Macmillan Co., 1947), có nói về tầm quan trọng của các lần hiện ra của Chúa sau khi Ngài phục sinh rằng: "Sự kiện đầu tiên trong lịch sử Cơ Đốc giáo là có một số người nói rằng họ đã chứng kiến sự phục sinh của Chúa. Nếu họ qua đời mà không nói cho một người nào đó tin "phúc âm" này thì sẽ chẳng bao giờ có phúc âm nào được ghi chép lại cả" 35/149.
J.N.D. Anderson viết về bằng chứng của các lần hiện ra rằng: "Cách quyết liệt nhất mà người ta dùng để bác bỏ bằng chứng về các lần hiện ra của Chúa là họ cho rằng những câu chuyện đó chỉ là những chuyện hoang đường, hoàn toàn giả dối. Nhưng, theo tôi biết, ngày nay không một nhà phê bình nào còn có thái độ đó. Thật vậy, đó là một quan điểm không thể chấp nhận được. Bạn hãy nghĩ đến số người chứng kiến, trên 500 người. Bạn hãy thử suy nghĩ về tư cách của những chứng nhân. Đó là những người đã cống hiến cho thế giới này những bài giảng đạo đức hay nhất mà người ta đã từng biết, và ngay cả kẻ thù của họ cũng làm chứng rằng họ cũng đã sống một cuộc đời đạo đức như thế. Bạn cũng hãy suy nghĩ đến một điều vô lý về mặt tâm lý là khi nhóm trên một phòng cao, họ chỉ là một nhóm người ít oi, nhát gan, bị thất bại, và chỉ vài ngày sau đó họ đã trở nên một hội đoàn mà không có một sự bắt bớ nào khiến họ phải nín lặng, để rồi sau đó họ cố thuyết phục và áp đặt lên thế giới này không gì khác hơn là một câu chuyện hoang đường đáng thương hay sao. Điều đó không có ý nghĩa gì cả" 2/5,6.
John Warwick Montgomery (trong tác phẩm History and Christianity, Downers Grove, III.60515: nhà xuất bản Inter-Varsity, 1964, được phép sử dụng), đã nhận xét rằng:
"Nên nhớ rằng, khi các môn đồ của Chúa Jesus rao báo sự phục sinh thì chính họ là những người chứng kiến, và những người có liên quan đến những sự kiện đó vẫn còn sống. Vào năm 56 sau CN, Phaolô có viết là trên 500 người đã thấy Chúa Jesus sống lại và phần lớn số người đó vẫn còn sống (ICo1Cr 15:6). Điều này đã phá vỡ điều mà người ta tin là các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã tạo ra một chuyện bịa đặt này giữa những người dễ dàng bẻ bác nó bằng cách tạo ra thi hài của Chúa Jesus" 43/19.
Bernard Ramm (trong tác phẩm Protestant Christian Evidences, nhà xuất bản Moody, 1953), viết:
"Nếu sự phục sinh không xảy ra thì phải chấp nhận lời phê bình rằng Phaolô đã lừa dối các sứ đồ khác về việc Chúa đã hiện ra thật sự cho ông thấy, và đến lượt mình, ông đã bị các sứ đồ khác lừa dối rằng Chúa đã hiện ra với họ. Bẻ bác những bằng chứng trong các thư tín về điều này trong khi nó có một giá trị đáng tin cậy thì thật là một điều khó khăn làm sao!" 51/203.
2D. Những sự hiện ra của Đấng Christ với những cá nhân:
Cho Mari Mađơlen, GiGa 20:14, Mac Mc 16:9
Cho những người đàn bà ở mộ về, Mat Mt 28:9, 10
Cho Phierơ, LuLc 24:34; ICo1Cr 15:5
Cho các môn đồ đi đến thành Em-ma-út, LuLc 24:13-33
Cho các sứ đồ lúc Thôma vắng mặt, 24:36, GiGa 20:19-24
Cho các sứ đồ, lúc Thôma có mặt, 20:26-29
Cho 7 người ở hồ Tibêriát, 21:1-23
Cho 500 tín đồ trên núi Galilê, ICo1Cr 15:6
Cho Giacơ, 15:7
Cho 11 sứ đồ, Mat Mt 28:16-20, Mac Mc 16:14-20, LuLc 24:33-52, Cong Cv 1:3-12
Lúc Ngài thăng thiên, 1:3-12
Cho Phaolô, 9:3-6, ICo1Cr 15:8
Cho Êtiên, Cong Cv 7:55
Cho Phaolô trong đền thờ, 22:17-21, 23:11
Cho Giăng ở đảo Bátmô, KhKh 1:10-19
7C. CÁC KẺ THÙ CỦA CHRIST KHÔNG ĐƯA RA MỘT LỜI BẺ BÁC NÀO VỀ SỰ PHỤC SINH
1D. Họ đã im lặng.
Trong Cong Cv 2:1-47, Luca đã thuật lại bài giảng của Phierơ vào ngày lễ Ngũ tuần. Người Do Thái đã không đưa ra một lời bài bác nào về những lời tuyên bố dạn dĩ của ông về sự phục sinh của Đấng Christ. Tại sao vậy? Bởi vì bằng chứng về ngôi mộ trống vẫn còn đó để bất kỳ ai muốn phản bác đều có thể kiểm tra được. Tuy nhiên ai cũng biết rằng thi thể Chúa Jesus không còn ở trong mộ nữa.
Trong Công vụ 25, chúng ta thấy Phaolô bị ở tù ở Sêsarê. Phêtu "ngồi nơi tòa án và truyền dẫn Phaolô đến. Phaolô mới đến, thì có các người Do Thái ở thành Giêrusalem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng"... Phúc âm Phaolô rao giảng là gì mà khiến những người Do Thái phải tức giận? Họ đã lẩn tránh điều gì trong những lời cáo tội của họ? Trong khi giải thích tình trạng này cho Vua Ạcrípba, Phêtu đã mô tả điểm then chốt của tình trạng này là có liên quan đến "... một tên Jesus đã chết kia mà Phaolô quyết rằng còn sống" (25:19).
Người Do Thái không thể nào giải thích được về ngôi mộ trống.
Họ đã cố tấn công cá nhân Phaolô nhưng đã lẩn tránh bằng chứng khách quan về sự phục sinh. Họ đã giảm sự chửi rủa vớ vẩn và cũng tránh bàn bạc về bằng chứng thầm lặng của ngôi mộ trống.
Sự im lặng của người Do Thái lại là tiếng nói lớn hơn của các Cơ Đốc nhân, như Fairbairn đã nói: "Sự im lặng của người Do Thái có ý nghĩa nhiều hơn lời nói của các Cơ Đốc nhân" (Fairbairn, Studies in the Life of Christ, 357.
Giáo sư Day nói rằng: "Sự phản bác sơ sài, một sự phủ nhận có tác động về sự kiện phục sinh, lẽ ra đã giáng một đòn trí mạng lên Cơ Đốc giáo Và nếu được như vậy thì họ đã có cơ hội để phản bác" 15/33-35.
W. Pannerberg, đã trích dẫn lời của J. N. A. Anderson, rằng: "Những cuộc luận chiến đầu tiên của người Do Thái chống lại các sứ điệp của các Cơ Đốc nhân về sự phục sinh của Chúa Jesus, mà những cuộc luận chiến đó còn được lưu lại chút ít. Trong các sách phúc âm, đã không có nói lên được rằng ngôi mộ của Chúa Jesus vẫn còn nguyên vẹn. Lẽ ra những kẻ luận chiến Do Thái phải quan tâm đến việc bảo tồn một sự tường thuật như thế. Nhưng, hoàn toàn ngược lại, những lời tường thuật đó lại làm cho các kẻ chống đối Cơ Đốc giáo thừa nhận rằng ngôi mộ của Chúa Jesus là trống rỗng. Nó tự giới hạn việc giải thích sự kiện này theo cách riêng của nó..." 1/96.
Hội Thánh được đặt nền tảng trên sự phục sinh, và bác bỏ sự phục sinh là hủy diệt mọi hoạt động của Cơ Đốc giáo. Tuy vậy, qua suốt thế kỷ thứ nhất, thay vì phải đối phó với một sự phản bác như thế thì các Cơ Đốc nhân chỉ bị đe dọa, đánh đập, và bị giết chết vì cớ đức tin. Nếu họ đã tìm ra được thi hài của Chúa Jesus thì việc làm cho các tín đồ phải nín lặng sẽ đơn giản hơn nhiều, nhưng điều đó sẽ không bao giờ thực hiện được.
John. R.W. Stott đã nói rằng sự im lặng của kẻ thù của Chúa "cũng là một bằng chứng hùng hồn về sự phục sinh cũng như sự làm chứng của các sứ đồ".
2D. Họ chế giễu.
1E. Ở Athens.
Khi Phaolô nói với người Athens về Christ thì họ không biện bác gì về lời giảng của ông, mà: "Khi họ nghe về sự sống lại của kẻ chết thì một số người bắt đầu chế giễu" (17:32). Họ chỉ chế giễu điều đó vì họ không thể hiểu được làm thế nào mà người chết lại có thể sống lại được. Thậm chí họ cũng không muốn bảo vệ quan điểm của họ nữa. Họ chỉ nói "Đừng có lộn xộn với tôi về những sự việc đó, tôi mệt lắm rồi".
Tại sao Phaolô biết được rằng sự vô tín ở Hy Lạp không giống với sự vô tín ở Giêrusalem? Bởi vì ở Giêrusalem, sự kiện về ngôi mộ trống là không thể chối cãi được (nó vẫn còn đó cho ai muốn xem xét), trong khi ở Athens, bằng chứng thì xa quá cho nên không ai biết gì về ngôi mộ trống cả. Chính các thính giả của Phaolô đ không tự họ kiểm chứng được sự việc, hay nói đúng hơn là họ đã gặp rắc rối trong sự kiểm tra, nên họ chỉ muốn giễu cợt với thái độ lơ là. Thái độ của họ được xem như là một sự tự sát có trí thức.
2E. Trước mặt Ạcrípba và Phêtu ở Sêsarê.
Phaolô nói với Vua Ạcrípba và mọi người ngồi trong tòa rằng, Đấng Christ, "bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết ... thì trước nhất đã truyền rao ánh sáng ra cho dân Do Thái và người ngoại. Và trong khi Phaolô đang nói để tự vệ, thì Phêtu nói lớn "Hỡi Phaolô, ngươi lãng trí rồi, ngươi học biết nhiều quá đến nỗi ra điên cuồng". Nhưng Phaolô nói "Tôi chẳng phải lãng trí đâu, thưa quan lớn Phêtu, tôi nói đó là những lời thật và phải lẽ. Vua (Ạcrípba) biết rõ các sự này; và tôi bền lòng tâu vì tin rằng chẳng có điều nào vua không biết; vì mọi việc đó chẳng làm ra cách chùng vụng đâu. Tâu Vua Ạcrípba, vua có tin các đấng tiên tri chăng? Tôi biết thật vua tin đó. Và vua Ạcrípba phán cùng Phaolô rằng: Thiếu chút nữa ngươi sẽ thuyết phục ta trở thành một Cơ Đốc nhân" (26:23-28).
Và một lần nữa, cũng như tại Athens, Phaolô lại gặp những người chưa tin. Sứ điệp của ông vẫn cứ là "Sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết" (26:23), và cũng lại một lần nữa. Không có một bằng chứng nào được đưa ra để đối phó với sự bẻ bác. Chỉ có Phêtu đưa ra một lời chế giễu. Phaolô đã bảo vệ mình khi ông tuyên bố đó là những lời "thật và phải lẽ" (26:25). Phaolô đã nhấn mạnh tính chất rõ ràng của sự việc khi ông nói "mọi việc đó chẳng làm ra cách chùng vụng đâu" (26:26). Ông đã dùng bằng chứng để thuyết phục Ạcrípba và Phêtu. Nhưng giống như người Athens, Phêtu chỉ cười nhạo. Sự việc này xảy ra ở Sêsarê, một nơi không có ai biết gì về ngôi mộ trống. Phải có một chuyến hành trình đến Giêrusalem mới xác nhận được sự kiện này.
3B. SỰ KIỆN LỊCH SỬ VỮNG CHẮC.
Ngôi mộ trống là một bằng chứng thầm lặng về sự phục sinh của Christ mà chẳng ai bẻ bác được. Người La Mã và người Do Thái không thể kiếm ra được thi hài của Chúa Jesus và cũng không giải thích được thi hài ấy đã đi đâu, nhưng họ vẫn không tin. Không phải vì thiếu bằng chứng, nhưng dù có đủ bằng chứng, con người vẫn chối bỏ sự phục sinh.
Giáo sư E.H. Day (trong tác phẩm On the Evidence for the Resurrection, Society for Promoting Christian Knowledge, 1906), đã viết: "Trong ngôi mộ trống đó, Cơ Đốc giáo luôn tìm thấy một bằng chứng quan trọng để giải thích tính hợp lý của niềm tin. Các Cơ Đốc nhân chẳng bao giờ nghi ngờ sự kiện là vào ngày thứ ba, người ta phát hiện ra ngôi mộ đã trống rỗng. Các đoạn Kinh Thánh trong 4 sách tin lành đều đã nhấn mạnh điều đó. Sức nặng của bằng chứng này không đè trên những người theo truyền thuyết nhưng trên những người hoặc chối bỏ việc ngôi mộ trống, hoặc giải thích sự biến mất của xác Chúa theo thuyết duy lý" 15/25.
Smith đã trích lời của giáo sư James Denney (trong tác phẩm Jesus and the Gospel, New York, 1909 trang 130, 131) rằng: "... Ngôi mộ trống không phải là sản phẩm của một tinh thần biện giải ngờ nghệch, một tinh thần không phù hợp với bằng chứng về sự phục sinh mà theo đó Chúa đã hiện ra với các môn đồ và đem họ vào một đời sống mới đắc thắng... Đó là điều căn bản, độc lập và vô tư trong lời làm chứng của các sứ đồ" 58/374.
4B. NHỮNG SỰ KIỆN TÂM LÝ VỮNG CHẮC.
1C. ĐỜI SỐNG CỦA CÁC MÔN ĐỒ ĐƯỢC BIẾN ĐỔI
1D. John R.W. Stott nói rằng: "Có lẽ sự biến đổi của các môn đồ Chúa Jesus là một bằng chứng lớn lao nhất về sự phục sinh..." 60/58,59.
2D. Tiến sĩ Simon Greenleaf (trong tác phẩm The Testimony of the Evangelists, nhà sách Baker, 1965), một luật sư ở Đại Học Harvard, nói về các môn đồ rằng: "Do đó nếu Chúa Jesus đã không thật sự từ kẻ chết sống lại và nếu họ không biết rõ ràng sự kiện này như biết rõ một sự kiện nào khác, mà họ vẫn cứ kiên quyết xác nhận những lẽ thật này thì là điều không thể nào có được"
"Chắc chắn là không có một cuộc chiến tranh quân sự nào lại có một gương mẫu về tính trung kiên, nhẫn nại anh hùng và một lòng dũng cảm không nao núng như vậy. Họ có lý do để cẩn thận xem xét nền tảng đức tin của họ và những bằng chứng về những sự kiện lớn lao và những lẽ thật mà họ đã xác quyết.
3D. Paul Little (trong tác phẩm Know Why you believe, nhà xuất bản Scripture, 1971), đã hỏi: "Có phải những con người đã từng góp phần biến đổi một cấu trúc đạo đức của xã hội, lại là những kẻ nói dối tài giỏi hay những kẻ điên bị người ta lừa dối? Tin một trong hai điều này còn khó hơn tin sự kiện phục sinh, và không có một chút bằng chứng nào ủng hộ cho điều này" 36/63.
4D. Chúng ta hãy nhìn xem đời sống biến đổi của Giacơ, em trai của Chúa Jesus. Trước sự kiện phục sinh, ông đã xem thường tất cả những gì mà anh của ông đã bênh vực. Ông nghĩ rằng những lời giảng dạy của Đấng Christ là một lời tự phụ làm phương hại danh giá gia đình. Dầu vậy sau sự kiện phục sinh, người ta đã thấy Giacơ cùng với các môn đồ khác rao giảng tin lành của Chúa họ. Thư tín của ông đã mô tả mối quan hệ tốt đẹp của ông với Đấng Christ. Ông tự xưng mình là "tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus Christ..." (Gia Gc 1:1). Cách giải thích về sự biến đổi trong đời sống Giacơ là do Phaolô đưa ra trong ICo1Cr 15:7 "Sau đó Ngài (Chúa Jesus) hiện ra cho Giacơ...".
5D. George Matheson (trong tác phẩm The Representative Men of the New Testament, Hodder và Stoughton, 1904) đã nói rằng "Sự nghi ngờ của Thôma xuất phát từ chỗ ông tin rằng sự chết của Chúa Jesus là sự khai tử nước của Ngài - "Chúng ta hãy đi để cùng chết với Ngài" - Lúc ông nói những lời này cũng là lúc ông không có hy vọng gì về sự phục sinh của Đấng Christ cả. Không có ai lại đề nghị như vậy nếu người đó còn hy vọng vài giờ sau lại gặp lại người chết đó. Vào lúc đó, Thôma đã từ bỏ hết mọi niềm tin sáng suốt của mình. Ông không nhìn thấy một khả năng nào cho Chúa Jesus cả. Ông không tin vào quyền năng vật lý của Chúa Jesus. Ông cứ in trí rằng, đối với Ngài, những lực lượng nào đó bên ngoài thế giới là quá mạnh mẽ và sẽ đè bẹp Ngài" 39/140.
6D. Nhưng Chúa Jesus đã làm cho Thôma biết Ngài. Kết quả này được chép trong tin lành Giăng, lúc Thôma reo lên rằng "Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi" (GiGa 20:28). Sau khi thấy Chúa của mình từ mồ mả sống lại, Thôma đã thay đổi hẳn, và ông đã tiếp tục thay đổi cho đến khi tử đạo.
7D. Sự mô tả sau đây về sự biến đổi xảy ra trong đời sống các vị sứ đồ là một bức tranh thi vị:
"Vào ngày Chúa bị đóng đinh, lòng họ tràn ngập sự buồn thảm nhưng vào ngày thứ nhất trong tuần lễ, họ đã tràn ngập sự vui mừng. Vào ngày Chúa bị đóng đinh, họ tuyệt vọng. Vào ngày thứ nhất trong tuần lễ, lòng họ rực cháy niềm tin và sự hy vọng. Khi tin tức về sự phục sinh đến lần đầu, họ hoài nghi và khó tin, nhưng một khi đã xác quyết thì họ chẳng hề nghi ngờ gì nữa. Lý do gì đã tạo nên sự biến đổi đáng ngạc nhiên như vậy trong những con người này chỉ trong một thời gian ngắn ngủi? Sự biến mất của thi hài nơi mồ mả chẳng hề thay đổi tâm linh và đặc tính của họ. Ba ngày không đủ tạo ra một chuyện cổ tích ảnh hưởng đến họ như vậy. Để hình thành một tập truyện cổ tích cũng cần phải có thời gian. Chính sự kiện về tâm lý đòi hỏi một sự giải thích đầy đủ. Bạn hãy thử suy nghĩ về tư cách của những chứng nhân. Đó là những người đã cống hiến cho thế giới này những bài giảng đạo đức hay nhất mà người ta đã từng biết, và ngay cả kẻ thù cũng làm chứng rằng họ cũng đã sống một cuộc đời đạo đức như thế. Bạn cũng hãy suy nghĩ đến một điều vô lý về mặt tâm lý là khi nhóm nhau ở phòng cao, họ chỉ là một nhóm người nhát gan, ít ỏi, bị thất bại, nhưng chỉ vài ngày sau họ đã trở thành một hội đoàn mà không một sự bách hại nào làm cho họ phải nín lặng - và rồi sau đó họ cố thuyết phục và áp đặt lên thế giới này, không gì khác hơn, là một câu chuyện hoang đường, đáng thương hay sao. Điều đó không có ý nghĩa gì cả".
2C. NHỮNG CUỘC ĐỜI ĐƯỢC BIẾN ĐỔI QUA 1900 NĂM LỊCH SỬ
Như Chúa Jesus Christ đã biến đổi đời sống của các môn đồ Ngài, thì trải qua 1900 năm, cũng đã có nhiều người nhận được kinh nghiệm như vậy. Những bằng chứng về những cuộc đời được thay đổi xin xem chương "Sư duy nhất về kinh nghiệm Cơ Đốc".
3C. SỰ PHÁN QUYẾT
Sự kiện tâm lý về những cuộc đời được biến đổi là một bằng chứng đáng tin cậy để tin sự phục sinh. Đó chính là một bằng chứng chủ quan cho sự kiện khách quan rằng Chúa đã sống lại vào ngày thứ ba. Vì chỉ có một Chúa Jesus Christ sống mới có một quyền năng biến đổi như vậy trong đời sống của con người.
5B. NHỮNG SỰ KIỆN XÃ HỘI VỮNG CHẮC
1C. SỰ THÀNH LẬP HỘI THÁNH CƠ ĐỐC
10. Nền tảng căn bản cho việc thành lập Hội Thánh là sự rao giảng về Chúa phục sinh.
Cong Cv 1:21-22 "Vậy, nơi những kẻ đã theo cùng chúng ta trọn lúc Đức Chúa Jesus đi lại giữa chúng ta, từ khi giảng làm phép báp têm cho đến ngày Ngài được cất lên khỏi giữa chúng ta, phải có một người làm chứng cùng chúng ta về sự Ngài sống lại".
2:23-24: "Người ấy bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết vì nó không thể giữ người lại dưới quyền nó.
3:14-15 "Các ngươi đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng công bình mà xin tha một kẻ giết người cho mình. Các ngươi đã giết Chúa của sự sống mà Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, và chúng ta là người làm chứng về điều đó".
3:26 "Đức Chúa Trời đã dấy đầy tớ Ngài lên, rồi trước hết sai ngài xuống ban phước cho các ngươi xây lại khỏi tội ác mình".
4:10 "Hết thảy các ông, và cả dân Israel điều khá biết, ấy là nhân danh Đức Chúa Jesus ở Naxarét, Đấng mà các anh đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, ấy là nhờ Ngài mà người này được lành mạnh và đứng trước mặt các ông.
5:30 "Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Đức Chúa Jesus sống lại, là Đấng mà các ông đã treo lên cây gỗ và giết đi.
10:39-41 "Chúng ta đã từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã làm trong xứ người Giuđa và tại thành Giêrusalem. Chúng ta đã treo Ngài lên cây gỗ và giết đi. Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra. Chẳng hiện ra với dân chúng, nhưng với những kẻ làm chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.
13:29-39 "Họ đã làm cho ứng nghiệm mọi điều phép về Ngài rồi, thì hạ Ngài xuống khỏi thập tự giá mà chôn trong mả. Song Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài từ kẻ chết sống lại. Những kẻ theo Ngài từ xứ Galilê lên thành Giêrusalem đã được thấy Ngài lâu ngày, và hiện nay điều làm chứng về Ngài giữa dân chúng. Còn chúng tôi, thì rao truyền cho anh em tin lành này về lời hứa ban cho tổ phụ chúng tôi rằng Đức Chúa Trời bởi khiến Đức Chúa Jesus sống lại thì đã làm ứng nghiệm lời hứa đó cho chúng ta là con cháu của tổ phụ, y như đã chép trong sách thi thiên đoạn thứ hai rằng: Con là con trai ta, ngày nay ta đã sanh con. Ngài đã làm cho Đức Chúa Jesus sống lại, đặng nay khỏi trở về sự hư nát nữa, ấy về điều đó mà Ngài đã phán rằng: Ta sẽ thành tín giữ cùng các ngươi lời hứa Thánh đã phán với Đavít. Lại trong câu khác, cũng có phán rằng: "Chúa chẳng cho Đấng Thánh Ngài thấy sự hư nát đâu. Và, vua Đavít lúc còn sống, làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời, đoạn qua đời; người đã được trở về cùng các tổ phụ mình, và đã thấy sự hư nát, nhưng Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, chẳng có thấy sự hư nát đâu. Vậy hỡi anh em, khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em. Lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình về mọi điều theo luật pháp Môise chẳng có thể được xưng công bình". 17:30-31 "Vậy thì, Đức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ.
26:22-23 "Song nhờ ơn Đức Chúa Trời bảo hộ, tôi còn sống đến ngày nay, làm chứng cho các kẻ lớn nhỏ, không nói chi khác hơn là điều các Đấng tiên tri và Môise đã nói sẽ đến, tức là Đấng Christ phải chịu thương khó, và bởi sự sống lại trước nhất từ trong kẻ chết, phải rao truyền ánh sáng ra cho dân sự và người ngoại.
2D. Hội Thánh là một sự kiện lịch sử.
Giải thích về sự tồn tại của Hội Thánh ấy là do đức tin của Hội Thánh nơi sự phục sinh. Trải qua suốt những năm đầu tiên, sự thiết lập nên Hội Thánh phải chịu nhiều sự bách hại từ phía người Do Thái và La Mã. Nhiều người đã phải chịu tra tấn, giết chóc vì cớ Chúa của họ và chỉ vì họ biết rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại.
Wilbur nói rằng ngay cả những kẻ duy lý như tiến sĩ Guignebert (trong tác phẩm Jesus, New York, 1935 trang 536) cũng bị buộc phải nhìn nhận rằng: "sẽ không có Cơ Đốc giáo nếu niềm tin nơi sự phục sinh không được hình thành và củng cố...
Toàn bộ nền tản thần học về sự cứu chuộc và những sự giảng dạy chủ yếu của Cơ Đốc giáo đặt trên niềm tin nơi sự phục sinh, và trên trang đầu tiên của các bản tin điều cơ Đốc cần phải viết câu này của Phaolô "Nếu Đấng Christ không sống lại thì giảng dạy của chúng tôi là luống công và đức tin anh em cũng vô ích". Theo quan điểm lịch sử rõ ràng đó, thì niềm tin nơi sự phục sinh chắc chắn là điều không kém phần quan trọng... Bởi niềm tin đó, niềm tin nơi Chúa Jesus và các sứ điệp của Ngài, đã trở thành yếu tố nền tảng cho một tôn giáo mới mà, sau khi rao giảng, đã trở thành đối thủ của Do Thái giáo và thống trị cả thế giới" 55/20-21.
Paul Little chỉ ra rằng Hội Thánh được thành lập vào khoảng năm 32 sau CN và điều đó không phải là một sự ngẫu nhiên mà có lý do thích đáng. Người ta nói rằng các Cơ Đốc nhân ở thành Antiốt đã làm đảo lộn thế giới vào những ngày đầu tiên của lịch sử Hội Thánh (17:6). Lý do giải thích sự ảnh hưởng này là sự phục sinh" 36/62.
Smith đã trích dẫn lời của H.D.A Major, hiệu trưởng trường Ripon Hall, Oxford, rằng: "Nếu sự đóng đinh của Chúa Jesus đã đặt dấu chấm hết cho kinh nghiệm của các môn đồ Ngài về Ngài thì thật khó có thể hiểu được rằng, làm thế nào mà Hội Thánh cơ đốc lại có thể tồn tại được. Hội Thánh đó đã đặt nền tảng của họ trên niềm tin rằng Chúa Jesus là Đấng Mêsi. Một Đấng Mêsi bị đóng đinh thì không phải là Đấng Mêsi. Ngài là Đấng đã bị Do Thái giáo khước từ và bị Đức Chúa Trời rủa sả. Nhưng bởi chính sự phục sinh của Chúa Jesus, như Phaolô đã tuyên bố trong RoRm 1:4, thì Ngài đã được xác nhận là Con của Đức Chúa Trời quyền năng" (The Mission and Message of Jesus, New York, 1938, trang 213) 58/368.
Straton đã trích dẫn lời của Kenneth S. Latourette (trong bài viết: Our Lord's Resurrection, tạp chí Christianity Today, số ngày 31/3/1968), rằng "Chính niềm tin quyết nơi sự phục sinh của Chúa Jesus đã kéo các môn đồ Ngài ra khỏi sự tuyệt vọng do sự chết của Ngài, và đem họ vào sự tồn tại bất diệt của một phong trào do chính Ngài khởi xướng. Nhưng vì niềm tin sâu sắc của họ rằng Đấng bị đóng đinh đã từ kẻ chết sống lại, rằng họ đã thấy Ngài và nói chuyện với Ngài, nên đối với họ, sự chết của Chúa Jesus và ngay chính Chúa Jesus là điều không thể nào lãng quên được" (History of Expansion of Christianity, Harper, New York, 1937, quyển I, trang 59" 61/3.
2C. HIỆN TƯỢNG VỀ NGÀY CHÚA NHẬT CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
Ngày nghỉ và thờ phượng nguyên thủy của người Do Thái là ngày thứ bảy vì họ nói rằng Đức Chúa Trời đã hoàn tất cuộc sáng tạo của Ngài và nghỉ vào ngày thứ bảy. Điều đó được chép trong luật thánh của họ. Ngày Sabát là một trong những nền tảng của Do Thái giáo. Một trong những điều sùng kính trong sinh hoạt của người Do Thái là việc giữ ngày Sabát. Các Cơ Đốc nhân đã gặp nhau để thờ phượng vào ngày thứ nhất trong tuần lễ theo lịch Do Thái, để cảm tạ sự phục sinh của Chúa Jesus. Thật vậy, các Cơ Đốc nhân này đã thành công trong việc thay đổi ngày nghỉ và thờ phượng cũ kỹ, thuộc về thần học này thành ngày chủ nhật. Nhưng xin hãy nhớ rằng CHÍNH HỌ LÀ NGƯỜI DO THÁI! nên họ biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ sai lầm. Có lẽ đây là một trong những quyết định lớn lao nhất mà không hề có một tôn giáo nào của con người lại làm được. Làm thế nào chúng ta có thể giải thích được sự thay đổi sự thờ phượng từ ngày thứ 7 thành ngày Chúa nhật nếu không phải là sự phục sinh? 22/51.
J.N.D. Anderson nhận xét rằng phần lớn các Cơ Đốc đầu tiên có nguồn gốc Do Thái và có gắn bó cuồng nhiệt với ngày Sabát của họ. Do đó phải có một điều gì đó có ý nghĩa rất lớn mới có thể thay đổi tập tục này, và chỉ có sự phục sinh mới làm được điều này! 2/9.
3C. HIỆN TƯỢNG VỀ CÁC THÁNH LỄ CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
1D. Sự bẻ bánh - Cong Cv 2:46, GiGa 6:1-71, Mat Mt 26:26, Mac Mc 14:22, LuLc 22:19, ICo1Cr 11:23, 24. Bữa ăn tối của Chúa là một sự tưởng nhớ về sự chết của Ngài nhưng khi đọc trong Cong Cv 2:46, chúng ta thấy rằng đó là lúc vui vẻ. Thế thì nếu không có sự phục sinh thì làm thế nào vui vẻ được??? Nhớ lại bữa ăn đã đưa Ngài đến chỗ bị phản bội và đóng đinh là một nổi đau đớn không chịu nổi. Thế thì điều gì đã biến nỗi đau đớn của buổi tiệc cuối cùng thành bữa ăn thông công vui mừng trên khắp thế giới?
Michael Green (trong tác phẩm Man Alive, nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng) đã nhận xét: "Trong buổi tiệc thánh này, họ đã gặp Ngài. Ngài đã không chết và ra đi nhưng còn đang sống đây. Với sự ý thức về hiện diện của Ngài, họ đã kỷ niệm sự chết của Ngài cho đến khi Ngài trở lại (ICo1Cr 11:26). Từ cộng đồng Cơ Đốc đầu tiên này và từ Hội Thánh nói tiếng Aramaic nguyên thủy, chúng ta có được một lời cầu nguyện ngắn trong buổi tiệc thánh (16:22 và Didache, 10). Đó là câu Maranatha, nghĩa là "Lạy Chúa chúng tôi, Xin hãy đến!". Làm thế nào có thể giải thích được thái độ của các Cơ Đốc nhân đầu tiên này khi họ gặp nhau để kỷ niệm bữa ăn tối của Chúa họ, trừ khi Ngài đã thật sự từ kẻ chết sống lại vào ngày thứ 3" 22/53.
2D. SỰ BÁP TÊM - CoCl 2:12, RoRm 6:1-6
Các Cơ Đốc nhân đã khởi đầu một nghi lễ khác là báp têm. Đây là điểm mà họ dám làm khác với Do Thái giáo. Người Do Thái thì vẫn tiếp tục lễ cắt bì, còn các Cơ Đốc nhân thì làm theo mạng lịnh của Chúa họ, là làm báp têm. Một người phải biết ăn năn tội, tin rằng Chúa đã sống lại và chịu báp têm. Thế thì báp têm tượng trưng cho điều gì. Có sự hơi nghi ngờ về điều này! Phaolô giải thích rằng một người chịu báp têm là được liên hiệp với Chúa Jesus Christ trong sự chết và sự phục sinh của Ngài. Khi người ấy bước vào trong nước, là đang chết bản tánh tội lỗi cũ, và khi bước ra khỏi nước, là dự phần sự sống phục sinh của Chúa Jesus Christ. Trong Cơ Đốc giáo không có gì cũ hơn những nghi lễ thánh này nhưng họ đã được trực tiếp liên hiệp với sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ. Làm thế nào giải thích được báp têm của Cơ Đốc nếu sự phục sinh chẳng hề xảy ra?
4C. HIỆN TƯỢNG LỊCH SỬ VỀ HỘI THÁNH
Do đó, sự thành lập Hội Thánh là một hiện tượng lịch sử mà chỉ có thể giải thích được bởi sự phục sinh của Chúa Jesus. Những Thánh lễ mà Hội Thánh đang tuân theo cũng là một bằng chứng liên tục cho nguồn gốc đó của Hội Thánh. L.L. Morris (trong tác phẩm the New Bible Dictionary, nhà xuất bản Wm. B.Eerdmans, 1962), có lời bình luận về những tín hữu đầu tiên, những người đã chứng kiến sự phục sinh của Christ rằng: "Họ là những người Do Thái và người Do Thái thì có một thái độ kiên quyết trong việc duy trì những truyền thống tôn giáo của họ. Nhưng, những người này đã giữ ngày của Chúa, một ngày kỷ niệm sự phục sinh trong tuần, thay vì phải giữ ngày Sabát. Vào ngày của Chúa, họ đã dự lễ tiệc thánh, không phải là sự kỷ niệm về một Christ đã chết, nhưng để tưởng nhớ, cảm tạ về những ơn phước mà Chúa sống và đắc thắng đã ban cho họ. Một thánh lễ khác của họ là báp têm, là sự nhắc nhở cho tín đồ biết rằng họ đã được đồng chôn với Christ và đồng sống lại với Ngài (CoCl 2:12). Sự phục sinh là ý nghĩa của tất cả những gì họ đã làm" 45/1088.
5A. NHỮNG NGỤY THUYẾT ĐƯỢC BỊA RA ĐỂ GIẢI THÍCH SỰ PHỤC SINH
(Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không - TrGv 1:2).
Sau đây là một tài liệu được sưu tập nói về những sự giải thích không thực tế về sự phục sinh của Đấng Christ. Và lần lượt mỗi giả thuyết sẽ chịu một sự phản bác thích hợp.
J.N.D. Anderson, một luật sư người Anh (trong tác phẩm Christianity: The Witness of History, Nhà xuất bản Inter-Varsity, 1970), hoàn toàn nhận thức được tầm quan trọng của những bằng chứng chính xác trong việc phán quyết sự đúng đắn của một trường hợp. Về bằng chứng mà lịch sử nói về sự phục sinh, ông viết: "Điểm cần được nhấn mạnh ấy là bằng chứng phải được xem xét toàn bộ. Dễ dàng thấy rằng sẽ có một sự giải thích cục bộ cho một mặt này hoặc cho một mặt kia của những thành phần đã tạo nên bằng chứng. Nhưng một sự giải thích như thế là không có giá trị trừ khi nó phù hợp với những phần khác trong bằng chứng đó. Có một số giả thuyết, mà nếu xét từng giả thuyết một thì thấy phù hợp với một phần của bằng chứng nhưng chính chúng thì lại không liên kết chặt chẽ được với nhau thành một mô hình có thể chấp nhận được, nên không thể đưa ra một lời giải thích nào phù hợp với tổng thể được".
Nhận xét này được rút ra khi xem xét các giả thuyết sau.
1B. Giả thuyết bất tỉnh.
1C. QUAN ĐIỂM - CHRIST KHÔNG BỊ CHẾT THẬT SỰ TRÊN THẬP TỰ MÀ CHỈ BẤT TỈNH.
Khi người ta đặt Ngài trong mồ của Giôsép người Arimathê thì Ngài vẫn còn sống. Sau nhiều tiếng đồng hồ, bởi khí lạnh của ngôi mồ, Ngài đã tỉnh lại, ngồi dậy và đi mất.
Giáo sư J.N.D. Anderson nói về giả thuyết này rằng "... thoạt tiên giả thuyết này được một người đàn ông tên Venturini đưa ra cách đây khoảng 2 thế kỷ. Những năm gần đây, giả thuyết này đã được một nhóm người theo đạo Muslims không chính thống, gọi là Ahmadiya làm cho sống lại dưới một hình thức hơi khác một chút. Những người này có cơ quan đầu não đặt tại Qadian, và cơ quan lãnh đạo của họ ở Anh quốc, nằm trong một khu ở Luân Đôn, gọi là Putney.
"Sự giải thích của họ là như thế này: Đấng Christ đã thật sự bị đóng đinh trên thập tự giá. Ngài đã chịu một sự khủng hoảng kinh khiếp, mất máu, bị thương và bất tỉnh, nhưng Ngài chưa chết thật. sự. Vào thời đó, kiến thức y học không hoàn chỉnh và các sứ đồ nghĩ rằng Ngài đã chết. Chúng ta được biết rằng Philát rất ngạc nhiên vì Ngài đã chết rồi. Sự giải thích này khẳng định rằng Ngài được đưa xuống khỏi cây thập tự trong trạng thái bất tỉnh do những kẻ đã nghĩ lầm rằng Ngài đã chết, và họ đặt Ngài trong mộ. Sự nghỉ ngơi mát mẻ trong ngôi mộ đã làm Ngài tỉnh lại hoàn toàn, đến nỗi cuối cùng Ngài đã có thể ra khỏi mộ được. Những môn đồ ngu ngốc của Ngài không thể tin rằng đây chỉ là một sự hồi tỉnh mà thôi. Họ cứ khăng khăng cho rằng đây là một sự phục sinh từ kẻ chết" 2/7.
Giáo sư Kevan đã nói rằng chính giả thuyết bất tỉnh này cũng cho rằng Ngài đã "hồi tỉnh vì những hương liệu ướp xác Ngài..." 30/9.
2C. SỰ PHẢN BÁC.
Anderson đi đến kết luận: "... Giả thuyết này không chịu nỗi sự xét nghiệm..." 1/95.
W.J. Sparrow-Simpson nói rằng giả thuyết này "... bây giờ đã hoàn toàn lỗi thời..." 17/510.
Tôi tin rằng những điểm sau đây sẽ cho thấy tại sao những người này lại đi đến kết luận như vậy.
1D. Theo sự khám xét của những người lính, của Giôsép và của Nicôđem thì Christ đã chết trên thập tự.
Paul Little nói về giả thuyết bất tỉnh rằng: "Thật là rất có ý nghĩa khi thấy rằng không có một ý tưởng nào thuộc loại này lại được lưu truyền lại giữa vòng những kẻ phản đối, tấn công vào Cơ Đốc giáo. Tất cả những tài liệu ban đầu đều nhấn mạnh đến sự chết của Chúa Jesus" 36/65.
Giáo sư T.J. Thorburn đã đưa ra những điều sau đây cho thấy Christ đã chịu khổ như thế nào dưới tay Philát: "... Sự đau đớn trong vườn, sự bắt bớ lúc nửa đêm, bị đối xử tàn bạo trong sảnh đường của thầy tế lễ cả và ở trường án của Philát, chịu một cuộc hành trình kiệt sức đi lại giữa Philát và Hêrốt, chịu những trận roi của lính La Mã, cuộc hành trình đến đồi Gôgôtha, suốt lúc đó, bởi sự căng thẳng sức lực, Ngài đã ngủ gục vì kiệt sức, sự tra tấn khủng khiếp của việc đóng đinh và sau đó là cái khát và cơn sốt kéo đến" 65/183-185.
Thomas. J. Thorburn nhận xét "Thật khó mà tưởng tượng được, ngay cả một người lực lưỡng nhất, sau khi chịu tất cả những điều này lại vẫn không chết. Hơn nữa, theo tài liệu, thì ít khi nào nạn nhân bị đóng đinh, lại có thể cứu sống được, ngay cả với những tình huống thuận lợi nhất" 65/183-185.
Ông kết luận: "Chúng ta không có lời phản bác nào về giả thuyết này hay hơn điều mà Keim đã nói (trong tác phẩm Jesus of Nazara, quyển VI, trang 330) rằng: "Đây là điều khó có thể chấp nhận hơn hết. Một Jesus yếu đuối, đáng thương - thật khó có thể giữ cho mình đứng thẳng nỗi, khó lẫn trốn, khó cải trang và cuối cùng đã chết - Jesus này lại là đối tượng đức tin, là nguồn cảm động để tán dương, là sự đắc thắng của các môn đồ Ngài, là một Đấng chinh phục đã sống lại, và là Con của Đức Chúa Trời. Thật vậy, giả thuyết này ngày càng trở nên đáng khinh, lố bịch và chỉ đáng bỏ đi" 65/183-185.
Kevan đã trích lời của giáo sư F. Godet nói rằng: "Trước khi bị đóng đinh, Chúa Jesus đã chịu nhiều đau khổ cả thể xác lẫn tâm hồn. Ngài đã trải qua sự đau khổ trước khi chết ở trong vườn Ghếtsêmanê. Ngài đã chịu sự đau đớn kinh khủng qua những trận đòn của người La Mã, những vết sẹo hằn sâu trên lưng tương đương với sự tử hình. Sau đó họ đã lấy đinh đóng vào tay và chơn Ngài. Chút sức lực còn lại đã mỏn dần đi qua 6 giờ đồng hồ chịu những nỗi đau khổ khủng khiếp. Bị cơn khát thiêu đốt, và bởi hoàn toàn kiệt sức, cuối cùng Ngài đã trút linh hồn trong một tiếng la lớn sau cùng, được các sách phúc âm ghi lại. Một lần nữa, một tên lính La Mã lại lấy giáo đâm vào hông Ngài. Không có thực phẩm hay thức uống, không có một ai băng bó các vết thương hoặc chia xẻ những nỗi khổ đau của Ngài, Ngài đã trải qua trọn một ngày và 2 đêm trong mồ mả. Nhưng vào sáng ngày thứ 3, Ngài lại hiện ra, sống động và sáng chói!" 30/9,10.
J.N.D. Anderson đã nhận xét và giả thuyết nói Chúa Jesus đã không chết như sau: "Vâng... giả thuyết ấy rất khéo léo, nhưng nó đ không chịu nỗi sự xét nghiệm. Để bắt đầu, dường như chúng ta cần phải lấy một số điểm để hoàn toàn quả quyết rằng Chúa Jesus đã chết. Chắc chắn vết giáo đâm bên hông Ngài có nhiều ý nghĩa. Nhưng theo sự tranh luận, giả sử ngài không chết hoàn toàn thì sao. Thực ra bạn có thể nào tin rằng, nằm hết giờ này qua giờ kia trong một ngôi mộ đá ở xứ Palestin vào thời điểm phục sinh, mà không có một sự chăm sóc thuốc men nào, trong khi vào ban đêm thì rất lạnh, có thể nào làm cho Ngài tỉnh lại hay chỉ cho thấy một sự kết thúc không thể tránh khỏi về mạng sống mong manh của Ngài? Bạn có thể nào tin rằng Ngài sẽ tự thoát ra khỏi hàng mấy mét vải liệm với sức nặng của cả trăm ký hương liệu, lăn xa một tảng đá mà 3 người đàn bà không thể nhúc nhích được và đi bộ mấy dặm đường với đôi chân bị thương?" 2/7.
Như John R.W. Stott đã hỏi: Chúng ta có thể nào tin rằng "Sau những nổi khổ sở, đau đớn của việc xét xử, sự chế giễu, đánh đập và bị đóng đinh mà Ngài vẫn có thể sống sót 36 tiếng đồng hồ trong ngôi mộ đá thiếu ấm cúng, không thực phẩm và sự chăm sóc y tế? Chúng ta có thể nào tin rằng Ngài có thể cố hết sức để thực hiện kỳ công của một siêu nhân bằng cách di chuyển tảng đá chắn trước ngôi mộ đi mà không làm náo động những tên lính canh La M không? Chúng ta có thể nào tin rằng Ngài đã hiện ra với các môn đồ bằng hình ảnh yếu đuối, bệnh tật, đói khát mà lại có thể gây cho họ ấn tượng rằng Ngài đã đánh bại sự chết chăng? Chúng ta có thể nào tin rằng Ngài có thể tiếp tục rao giảng rằng Ngài đã chết và sống lại, có thể sai họ đi khắp thế gian và hứa sẽ ở với họ đến ngày sau rốt sao? Chúng ta có thể nào tin rằng Ngài có thể sống ẩn một nơi nào đó trong 40 ngày, sau đó đột ngột hiện ra và cuối cùng biến mất mà không có lời giải thích nào chăng? Sự cả tin như vậy còn kỳ lạ hơn cả sự vô tín của Thôma" 60/48,49.
Về những người duy lý hiện đại đã chối bỏ sự phục sinh của Christ thì E. Le Camus có viết:
"Họ nói: Nếu Ngài sống lại thì Ngài đã không chết và nếu Ngài đã chết thì Ngài không sống lại". "Có 2 sự kiện, đều chắc chắn, đã làm sáng tỏ song đề này. Sự kiện thứ nhất là vào buổi chiều thứ sáu, Chúa Jesus đã chết, và sự kiện thứ hai, Ngài đã sống lại hoàn toàn và hiện ra vào ngày chúa nhật và những ngày sau đó.
"Việc Ngài đã chết vào chiều thứ 6 thì không có ai nghi ngờ cả kể cả Công hội, ở tòa án La Mã hay ở trên đồi Gôgôtha. Chính Philát đã ngạc nhiên khi biết Ngài chết quá sớm, nhưng sự ngạc nhiên của ông chỉ tạo ra thêm một bằng chứng mới làm vững thêm sự xác quyết của người xin lấy xác Ngài.
"Do đó, nhìn kẻ bị đóng đinh trên cây thập tự, cả bạn lẫn thù, đều thấy rõ rằng Ngài đã chết. Để xác định cho rõ hơn, viên đội trưởng đã lấy giáo đâm Ngài, nhưng thi hài của Ngài không còn cảm giác nữa. Từ chỗ vết thương, máu và nước đã chảy ra, chứng tỏ một sự phân hủy rất nhanh của những nguyên tố sống. Họ nói rằng chảy máu là rất nguy hiểm đến tính mạng trong trường hợp bất tỉnh. Ở đây điều này đã không làm Ngài chết, vì Ngài đã chết rồi. Điều này xảy ra chứng tỏ rằng Ngài đã chết trước đó một lúc rồi. Điều này đã không xảy ra cho những kẻ thù quan trọng nhất của Ngài, như các thầy tế lễ cả, để đánh hạ sự nghi ngờ của họ về sự chết thật sự của Ngài. Điều mà họ lo sợ nhất là về phía các sứ đồ, vì họ có thể âm mưu dời xác Chúa đi, chứ họ không lo sợ gì về phía Chúa Jesus, kẻ mà họ thấy rằng đã chết rồi. Ngài được đem xuống khỏi cây thập tự và khi thấy Ngài không có dấu hiệu nào còn sống do vết đâm của ngọn giáo, bấy giờ Ngài đã nằm im, lạnh ngắt trong đôi tay yêu thương bồng ẵm, đem Ngài đi, tẩm liệm Ngài, bọc Ngài lại rồi đặt Ngài trong mộ, sau đó họ bao bọc Ngài bằng nỗi đau khổ và tình yêu của họ. Chúng ta có thể nào tưởng tượng ra được một sự bất tỉnh nào hoàn hảo hơn điều này hay một điều gì đó được sắp xếp hợp lý hơn không? Chúng ta có thể nói thêm rằng: thật vậy, điều này tự đó đã là một sự kết liễu đột ngột nhất của một con người, tính thiêng liêng của nó quá phi thường và ảnh hưởng của nó quá tốt đẹp. Đây là một sự trùng hợp không thể có được! Nó còn lạ lùng hơn cả sự phục sinh!
2D. Các môn đồ Ngài thấy là Ngài đã hồi tỉnh lại.
David Friedrich Strauss, một nhà hoài nghi - chính ông không phải là một tín đồ của sự phục sinh - nhưng đã giáng một đòn trí mạng lên những ai cho rằng Chúa Jesus chỉ ngất đi rồi tỉnh lại. Đây là những gì ông đã viết: "Thật không thể có một người nào, sống dở chết dở, lại có thể bước ra khỏi mộ, có thể bò đi quanh quẩn trong bịnh tật và yếu đuối, trong khi cần phải có sự chăm sóc y tế, băng bó, cần làm cho khỏe mạnh và ân cần địu dàng, một con người, cuối cùng đã khuất phục sự đau khổ của mình, lại có thể gây cho các môn đồ của mình một ấn tượng rằng mình là kẻ chinh phục sự chết và mồ mả, vua của sự sống, một ấn tượng chỉ thể hiện ở cuối chức vụ tương lai của họ. Một sự phục sinh như vậy chỉ làm yếu đi ấn tượng mà Ngài đã để lại cho họ trong sự sống và sự chết, mà cùng lắm chỉ là một tiếng kêu bi thương, không thể nào làm cho họ được biến đổi từ đau khổ thành hăng say, không thể nào làm cho sự kính trọng trở thành sự thờ phượng" 62/412.
Mô tả sự hiện ra của Chúa Jesus với các môn đồ, William Milligan (trong tác phẩm Resurrection 7 Our Lord, The Macmillan Co., 1927), đã nói rằng họ "... không phải là những người bịnh tật nhưng là những người khỏe mạnh, lực lưỡng và được chuẩn bị gấp rút cho một công việc lớn lao mà đã được dự định rõ ràng". Ông nói tiếp "sự tuyệt vọng đã nhường chỗ cho hy vọng, sự thối lui đã nhường chỗ cho sự đắc thắng, sự kiệt sức đã nhường chỗ cho sự nỗ lực mạnh mẽ, kiên trì".
Ông nói tiếp : "Những nỗi sợ hãi ban đầu của các môn đồ đã bị sự vui mừng, sự gan dạ và sự hăng hái xua tan. Chúng ta thấy rằng không thể nào mà lòng thương xót, thông cảm với sự đau khổ và ước muốn giúp đỡ đó lại được tạo ra do sự hiện ra của một kẻ đã bất tỉnh vì kiệt sức và đau đớn, một người đã liên tục bất tỉnh từ chiều thứ sáu đến sáng chúa nhật, một người chỉ mới được hồi phục thôi" 41/76,77.
Giáo sư E.H. Day nói "Trong những lời tường thuật về những lần hiện ra của Đấng Christ phục sinh thì không có một dấu vết gì về sự yếu thể chất như vẫn thường nghe nói, nếu Christ đã sống lại từ một cái chết thật sự. Thật vậy, ngược lại với sự mong đợi, các môn đồ đã thấy trong người thầy phục sinh của họ không phải là một Đấng hồi phục lại sau những đau đớn kinh khủng, nhưng chính là Chúa của sự sống, là Đấng đắc thắng sự chết, là Đấng không còn bị trói buộc, không bị giới hạn về vật lý như họ biết trong khi Ngài còn thi hành chức vụ" 15/49,50.
3D. Những người đưa ra thuyết bất tỉnh cũng nói rằng, khi tỉnh lại, Chúa Jesus đã thực hiện một kỳ công để thoát ra khỏi những tấm vải liệm đã quấn chặt lấy thân thể Ngài, và Ngài đã ra đi mà không làm xáo trộn gì cả.
Merrill C. Tenney (trong tác phẩm The Reality of the Resurrection, nhà xuất bản Moody, 1913) đã giải thích về những tấm vải liệm rằng: "Theo phong tục Do Thái, để chuẩn bị chôn thi hài, thì người ta phải tắm và làm cho nó thẳng ra và sau đó cột chặt từ các ngón tay cho đến mắt cá bằng những dãi dây vải gai, rộng khoảng 1 foot. Còn hương liệu, thường là chất dẻo cứng, được đặt giữa những lớp quấn hay lớp gấp. Nó có tác dụng vừa làm chất bảo quản vừa giống như cement để làm cho những lớp quấn bằng vải dính với lớp phủ cứng bên ngoài... Giăng dùng từ "buộc lại" (tiếng Hy Lạp là edesan) là hợp với từ dùng trong LuLc 23:53 là "cuốn lại... bằng vải gai...".
"Vào ngày thứ nhứt trong tuần lễ, thi hài của Chúa Jesus đã biến mất nhưng vải liệm vẫn còn đó...
"Những tấm vải quấn nằm ở chỗ là vị trí của cái đầu, cách xa với những tấm khác bằng khoảng cách từ ngón tay đến cổ. Hình dáng của thi hài thì vẫn còn rõ ràng trong lớp vải đó nhưng xác và xương thì đã biến mất... Làm thế nào cái xác thoát được ra khỏi những lớp vải quấn, vì khi được quấn chặt quanh cái xác, những lớp vải quấn này không lỏng ở những chỗ cong của cái xác?"
4D. James Rosscup (trong tác phẩm Talbot Theological Semnary Notes), đã nói rằng "Những người theo giả thuyết này đã nói rằng Đấng Christ đang ở trong một tình trạng rất yếu đuối mà lại có thể lăn tảng đá trước cửa mộ đi - một tảng đá mà các sử gia nói rằng phải cần có nhiều người mới lăn nổi - để bước ra khỏi mộ mà không hề làm cho một tên lính nào giật mình cả (nếu nói theo những người này là các tên lính đã ngủ gục nhưng chúng ta biết chắc là họ không ngủ gục), để rồi bước qua các tên lính và trốn thoát" 73/3.
Giáo sư E.H. Day nhận xét điểm này rằng: "Thật vậy, điều không thể nào chấp nhận về mặt vật lý (cơ thể) của giả thuyết này là quá rõ ràng. Cho dù chúng ta có bác bỏ việc canh mộ (theo như Chủ nghĩa phê bình cho rằng có những tình tiết không hợp lý) thì vẫn khó mà cho rằng Ngài vừa mới tỉnh lại sau cơn ngất lại có thể lăn hòn đá trước cửa mộ đi. Điều đó thật quá sức.
Nếu Ngài có ý định lăn tảng đá đi thì cũng thật là vô lý khi cho rằng Ngài đã đánh lui được các tên lính La Mã. Những người canh gác như vậy thật chẳng khó khăn gì để đánh bại "một người dở sống, dở chết khi bước ra khỏi mộ" như Strauss đã mô tả Chúa Jesus. Hơn nữa, tội ngủ gục sẽ bị xử tử, nên chắc chắn là những tên lính canh rất tỉnh táo.
5D. Nếu Chúa Jesus chỉ tỉnh lại sau một cơn bất tỉnh thì đoạn đường dài mà Ngài đã đi "tới một ngôi làng tên là Em-ma-út, cách Giêrusalem 7 dặm" (LuLc 24:13) là một điều không thể được.
Giáo sư Day nói rằng "Trong tình trạng của một người vừa mới hồi phục sau một cơn bất tỉnh vì thương tích và kiệt sức thì việc thực hiện một chuyến đi bộ dài và sau đó là hiện ra cho các môn đồ ở Giêrusalem là điều không thể nào có được" 15/49,50.
Về điểm này, Giáo sư E.F. Kevan bình luận như sau: "Bằng đôi chân đã bị xuyên thủng và chỉ hai ngày sau, Ngài lại có thể đi bộ mà không gặp khó khăn gì giữa làng Em-ma-út và thủ đô Giêrusalem. Ngài rất năng động, đang bữa ăn, đột nhiên Ngài biến mất khỏi hai môn đồ đồng hành với Ngài, rồi khi họ trở lại Giêrusalem để báo tin mừng cho các môn đồ thì họ lại thấy Ngài ở đó. Ngài đã đi trước họ. Cũng với sự hoạt động nhanh chóng như vậy, đột nhiên Ngài hiện ra trong phòng các môn đồ đang nhóm lại... Có thể nào những hành động này lại là của con người đã được đưa xuống khỏi thập tự trong tình trạng dở sống, dở chết, được để nằm trong mồ với một sức lực đã cạn kiệt hoàn toàn không? Không thể nào được" 30/9,10.
6D. Nếu Chúa Jesus chỉ tỉnh lại sau một cơn bất tỉnh thì Ngài phải giải thích tình trạng của Ngài cho các môn đồ chứ. Nếu cứ im lặng thì Ngài chỉ là kẻ nói dối và lừa dối, để rồi các môn đồ Ngài rao giảng một sự phục sinh mà thật ra chỉ là một câu chuyện huyền thoại.
E. Le Camus viết "Hơn nữa, chúng tôi cho rằng nếu Chúa Jesus chỉ bất tỉnh, Ngài không thể để cho người ta tin rằng Ngài đã chết. Thay vì thể hiện như một người từ kẻ chết sống, Ngài chỉ nên nói rằng Ngài may mắn được sống sót. Thật vậy, tại đây cũng như trong cả Kinh Thánh, chúng ta phải đối diện với hai điều khó khăn này: Hoặc Jesus là Một Con Người duy nhất, Con Người của Đức Chúa Trời, hoặc Ngài là tên tội phạm kinh tởm nhất. Nếu Ngài tự tỏ ra như một người từ kẻ chết sống lại, trong khi Ngài không có như thế, thì Ngài đã phạm tội lừa dối và phải bị lương tri của loài người từ chối" 8/485,486.
Paul Little cho rằng một giả thuyết như vậy đòi hỏi chúng ta phải tin rằng "Đấng Christ đã phạm tội nói dối trắng trợn. Các môn đồ Ngài đã tin và rao truyền rằng Ngài đã chết nhưng đã sống lại. Chúa Jesus đã không làm gì để dẹp bỏ niềm tin này nhưng lại còn khích lệ nữa" 36/66.
John Knox (trong tác phẩm The Man Christ Jesus, trang 13), một học giả Kinh Thánh, Straton đã trích lời ông rằng: "Không thể nào có được một con người bình thường đã từ kẻ chết sống lại mà lại làm nảy sinh một phong trào Cơ Đốc.... Chỉ có con người Jesus mới là lý do chính đáng của điều đó" 61/3.
Nếu Chúa Jesus không từ mồ mả sống lại thì Ngài đã không hề dự phần vào sự gây ra điều dối trá đó. Khi người ta xem xét đến phẩm chất không tì vít của Ngài thì một luận điệu như vậy sẽ bị công kích không dè dặt.
7D. Nếu Christ đã không chết vào lúc này thì Ngài đã chết khi nào? dưới những tình huống ra sao?
Giáo sư E.H. Day nói rằng: "Nếu giả thuyết này được chấp nhận thì phải dẹp bỏ hết cách sách phúc âm, sách Công vụ và cả sự thăng thiên để giải thích sự chấm dứt đột ngột các cuộc hiện ra của Ngài là do Ngài đã hoàn toàn xa lánh họ để sống và chết trong sự ẩn dật, để lại cho họ hàng loạt những ấn tượng giả dối về thân vị của Ngài và sự truyền giáo của họ ra khắp thế giới" 15/50.
William Milligan (trong tác phẩm The Resurrection of Our Lord, The Macmillan Company, 1972) đã nói rằng nếu Christ chỉ bị bất tỉnh trên thập tự và sau đó được hồi phục thì "hẳn là Ngài phải đi đến một nơi vắng vẻ nào đó để ẩn dật, mà ngay cả những môn đồ thân cận nhất cũng không biết. Trong khi đó thì Hội Thánh của Ngài lại đang lớn lên quanh Ngài, làm rúng động thế giới vì những nền tảng của nó và giữa những sự khó khăn, nó đã đưa ra một trật tự mới về nhiều điều. Trong khi Hội Thánh phải chịu nhiều cuộc tranh luận gay gắt, bị bao bọc bởi nhiều sự cám dỗ, bị đưa vào những sự thử thách, tóm lại là bị đặt vào một tình trạng có thể khiến Hội Thánh trông cậy hoàn toàn vào chính Ngài thì Ngài lại không có mặt ở đó, để thì giờ còn lại của Ngài trong một nơi mà chúng ta không có thể mô tả bằng một từ ngữ nào khác hơn là chỗ ẩn cư nhục nhã, để rồi cuối cùng Ngài đã chết mà không ai biết là ở đâu, khi nào và ra sao! Không có một tia sáng nào xuyên thủng màn đêm cả. Chúng ta biết rằng những Cơ Đốc nhân đầu tiên này có nhiều chuyện cổ tích phong phú nhưng lại không có lấy một chuyện nào để giúp đỡ chúng ta cả!"
3C. Kết luận:
George Hanson (trong tác phẩm The Resurrection and the Life, William Clowes and Sons, 1911) đã nói một cách chân thật về thuyết bất tỉnh rằng: "Thật khó mà tin rằng giả thuyết này lại là một sự giải thích thỏa đáng của chủ nghĩa duy lý thế kỷ 18". Bằng chứng đã đưa ra quá nhiều điều trái với giả thuyết này đến nỗi ngày nay nó đã trở nên lỗi thời.
2B. THUYẾT LẤY TRỘM.
1C. QUAN ĐIỂM - CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO ĐÃ TRẢ TIỀN CHO NHỮNG NGƯỜI LÍNH (MUA CHUỘC HỌ) ĐỂ HỌ NÓI LÁO.
1D. Mathiơ đã thuật lại câu chuyện sau đây như là một giả thuyết thịnh hành vào thời đại của ông, nhằm giải thích sự phục sinh của Christ.
"Trong khi hai người đàn bà đó đi đường, thì có mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến. Các thầy bèn nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn tính, xong rồi, thì họ cho những tên lính đó nhiều tiền bạc, mà dặn rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đang ngủ, mà lấy trộm nó đi. Nếu điều ấy thấu đến tai quan lớn, thì chúng ta sẽ khuyên giải ngươi, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. Mấy tên lính đó lấy bạc và làm theo như lời. Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giuđa cho đến ngày nay" (Mat Mt 28:11-15).
2D. Về thuyết lấy trộm xác được chép trong Mathiơ rất phổ biến giữa vòng người Do Thái trong một thời gian, cũng được chép trong những tác phẩm của Justin Martyr, Tertullian và những người khác.
Giáo sư Thorburn (trong tác phẩm The Resurrection Narrative and Modern Criticism, Kegan Paul, Trench, Trubner and Co.), đã có nhận xét như sau:
Trong tác phẩm Dialogue Against Trypho 108 của Justin, người Do Thái có nói về "một Jesus nào đó, một kẻ lừa dối người Galilê, kẻ đã bị chúng ta đóng đinh, nhưng vào ban đêm các môn đồ của hắn đã trôm xác hắn khỏi mộ, là chỗ người ta chôn hắn khi được tháo xuống khỏi cây thập tự. Bây giờ họ đã lừa dối người ta bằng cách quả quyết rằng hắn đã từ kẻ chết sống lại và về trời" 65/91,92. "Cũng vậy, Tertullian (Apology 21) đã nói: "Ngôi mộ đã hoàn toàn trống rỗng ngoại trừ vải liệm của kẻ chết. Nhưng các nhà lãnh đạo Do Thái dường như đã dính líu tới việc loan truyền khắp nơi một điều gian dối và lôi kéo một dân tộc từng thần phục họ khỏi niềm tin đó. Họ nói rằng xác của Đấng Christ đã bị các môn đồ Ngài lấy trộm". Và với một giọng chế giễu, ông nói (De Spectac 30). "Đây là Đấng mà các môn đồ Ngài đã bí mật cướp đi để nói rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại, hoặc do người làm vườn đem đi mất để vườn rau diếp của ông ta không bị đám đông người viếng thăm làm cho hỏng đi" 65/191,192.
"Chúng ta thấy câu này được lặp lại trong những tác phẩm tiếng Do Thái thời trung cổ (Jewish book in Eisenmenger, i. trang 189 ff...). Reimarus cũng lặp lại chính câu chuyện đó. Ông nói "Các môn đồ của Chúa Jesus đã xoáy được xác của Ngài trước khi đem chôn 24 tiếng đồng hồ, và tại nơi chôn cất họ đã diễn vở hài kịch ngôi mộ trống, đã lần lữa tuyên bố công khai về sự phục sinh cho đến ngày thứ 50, là lúc sự thối rửa của xác chết đã xong đâu đó" 65/191,192.
"Những lời nói và tranh luận về giả thuyết quá xưa này đã được Origen giải đáp hoàn toàn (Contr. Cels.)" 65/191,192.
3D. John Chrysotom ở thành Antioch (347-407 sau CN) đã nói về thuyết lấy trộm rằng:
"Thật vậy, chính điều này đã hình thành nên sự phục sinh, tôi muốn nói về điều họ nói, đó là các môn đồ đã trộm xác Ngài. Những người này đã xác nhận rằng thi hài không còn đó, còn việc trộm xác thì không thể nào tin được vì họ canh chừng rất kỹ, có dấu niêm phong, còn các môn đồ thì nhút nhát. Do đó bằng chứng về sự phục sinh là không thể chối cãi được.
2C. SỰ PHẢN BÁC
1D. Ngôi mộ trống phải được giải thích bằng mọi cách. Giáo sư E.F. Kevan nói rằng không nhất thiết là ngôi mộ trống đã chứng minh cho sự phục sinh nhưng nó lại đưa ra hai điều. Kevan viết "Hai điều đó là: Hoặc ngôi mộ trống là một tác phẩm thiên thượng hoặc là một tác phẩm của con người". Cả hai điều này phải được xem xét một cách khách quan và điều nào được xem là đúng đắn nhất thì phải được chấp nhận. 30/14
Kevan viết tiếp: "Giải tỏ điều đó thì không khó tuy nhiên để có quyết định cho một trong hai điều sẽ là thế này: Kẻ thù của Chúa Jesus không có lý do gì để dời xác ngài đi. Các bạn của Chúa Jesus không có thế lực để làm điều đó. Theo các nguồn tài liệu đáng tin cậy thì lẽ ra. Xác ngài vẫn còn đó, và quan điểm cho rằng các môn đồ đã trộm xác Ngài là không thể chấp nhận được. Do đó quyền năng mà đã đem Cứu Chúa ra khỏi mồ mả phải là một quyền năng thiên thượng" 30/14.
Le Camus cho rằng: "Nếu Chúa Jesus, Đấng đã nằm trong mồ vào thứ Sáu mà Chúa nhật không còn ở đó thì hoặc là Ngài đã bị người ta dời đi hoặc Ngài đã ra đi bằng chính sức lực của Ngài. Không có sự lựa chọn nào khác. Ngài có bị người ta dời đi không? Ai dời? Bạn hay thù? Có một đội lính canh gác Ngài, do đó họ không có ý định làm cho Ngài biến mất. Hơn nữa sự thận trọng của họ không thể giải thích được điều này. Chỉ có cách dễ nhất để họ giải thích những điều về sự phục sinh này là các môn đồ bịa chuyện. Đối với họ, cách khôn ngoan nhất là canh gác Ngài để làm bằng chứng để họ có thể trả lời cho mọi lời chất vấn rằng "xác chết đây, hắn không hề sống lại".
"Còn đối với các bạn bè của Ngài thì họ cũng không có ý định đó và cũng không có thế lực để mà dời xác Ngài đi" 8/482.
Wilbur Smith (trong tác phẩm A Great Certainty in this hour of World Crisis, nhà xuất bản Van Kampen, 1951), đã nói "... Những người lính này đã không biết làm thế nào để giải thích ngôi mộ trống. Họ bị Công Hội dạy cho phải nói gì và bị họ mua chuộc để thuật lại câu chuyện bịa đặt này" 55/22,23.
A.B. Bruce (trong tác phẩm The Expositor Greek New Testament, Hodder and Stoughton, 1903) đã nhận xét: "Một bản báo cáo được gửi đi khắp nơi cho rằng sự biến mất của thi hài đã được giải thích. Và người ta cũng có ý nói rằng lời giải thích được đưa ra thì các người lính đã biết là giả dối". 6/337,338.
2D. Việc các môn đồ trộm xác Chúa không là một lời giải thích hợp lý về ngôi mộ trống.
1E. Lời chứng của các tên lính canh đã không bị chất vấn. Mathiơ chép: "Một số tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến" (Mat Mt 28:11).
Giáo sư R.C.H. Lenski (trong tác phẩm Interpretation of St. Mathew's Gospel, Nhà xuất bản Wartburg, 1943), đã nhận xét rằng tin tức về sự phục sinh của Chúa Jesus đã được truyền đến các thầy tế lễ cả bởi chính họ đã chứng kiến, "chính các người lính đã canh gác đó là chứng cớ không thể nào bắt bẻ được". Lời chứng của lính canh đã được chấp nhận là sự thật hoàn toàn. Họ biết những người lính canh không có lý do gì để nói láo. 34/1161,1162.
Wilbur Smith (trong tác phẩm Therefore Stand, nhà sách Baker, 1965), đã viết: "Trước hết cần phải chú ý rằng những nhà lãnh đạo Do Thái chẳng hề chất vấn sự báo cáo của các tên lính canh. Chính họ đã không đi ra để xem ngôi mộ có trống hay không vì họ biết rằng nó trống. Những tên lính canh chẳng bao giờ lại hé môi với câu chuyện ấy nữa trừ khi đến lúc họ nhận thấy phải thuật lại những gì xảy ra một cách thật sự, minh bạch. Câu chuyện mà các nhà lãnh đạo Do Thái bảo các tên lính thuật lại là câu chuyện giải thích vì sao ngôi mộ đã trở nên trống rỗng" 58/375,376.
Giáo sư Albert Roper nói về Anne và Caiphe rằng "Sự giải thích giả nhân, giả nghĩa của họ về việc xác Chúa biến mất khỏi mộ đã nói lên luận điệu giả dối của họ, nếu không tại sao họ lại kiếm cách mua chuộc lời chứng giả dối của các tên lính?" 53/37.
Bởi không chất vấn lại bằng chứng xác thực của bọn lính, nên những người Do Thái đã ngấm ngầm xác nhận rằng ngôi mộ của Chúa đã trống rỗng. Câu chuyện bịa đặt của họ rằng các môn đồ đã trộm xác Chúa chỉ là lời bào chữa không thỏa đáng, được đưa ra vì không còn cách nào tốt hơn cả.
2E. Người ta đã dùng nhiều biện pháp để bảo vệ ngôi mộ chống lại sự trộm cắp. Đối với các môn đồ, bất kỳ kế hoạch trộm mồ nào cũng khó mà vượt qua được những biện pháp đề phòng này.
Giáo sư Albert Roper (trong tác phẩm Did Jesus Rise from the Dead? Nhà xuất bản Zondervan, 1965), đã nói "Công bằng mà nói, chúng ta đang đứng trước một lời giải thích, mà đối với một trí óc biết suy nghĩ, thì không thể và không giải thích gì được; một cách giải quyết mà không giải quyết gì được. Khi các thầy tế lễ cả xúi giục Philát ra lịnh "canh mả cho đến ngày thứ ba", thì có thể kết luận rằng ngôi mộ rất là "bảo đảm". Từ điều này, chúng ta rút ra kết luận rằng những biện pháp được sử dụng để ngăn chặn những bạn bè của Chúa Jesus lấy trộm xác Ngài vẫn là một bằng chứng chắc chắn rằng họ không thể và đã không hề trộm lấy xác" 53/34.
Tác phẩm Encyclopedia của Fallow có chép "Các môn đồ không thể chống lại quyền lực La Mã. Làm thế nào mà những người lính được trang bị vũ khí, đang canh gác, lại có thể chịu thua một vài người nhút nhát?" 49/1452.
Về những người đến mộ Chúa Jesus vào tảng sáng chúa nhật, Chrysostom đã viết: "Họ cho rằng không ai có thể đem Ngài đi trong khi nhiều người lính đang ngồi bên cạnh, trừ khi Ngài đã sống lại" 10/527.
3E. Sự chán nản và tính nhút nhát của các môn đồ là một cuộc tranh luận khó chỉ trích vì họ không thể đột nhiên trở thành dũng cảm và dám đối mặt với người lính ở mộ và dấu niêm phong. Họ không có động cơ nào để hành động như thế cả.
Wilbur Smith nói: "... Các môn đồ mà đã bỏ Chúa chạy trốn khi Ngài gặp khó khăn thì họ không có lòng dũng cảm, cũng chẳng có một sức mạnh thể chất nào để tiến lên chống lại các người lính" 55/22,23.
Smith nói tiếp "... Các môn đồ này không còn tâm trạng đâu để mà đi ra đối diện với những người lính, đánh bại hết các lính canh để cướp xác đi. Theo tôi nghĩ, nếu họ thử làm thế, họ sẽ bị giết, nhưng chắc chắn họ không còn tâm trạng nào để mà làm như thế. Vào đêm thứ 5 của tuần đó, Phierơ tự chứng tỏ mình là một kẻ nhút nhát, khi một đứa tớ gái quở ông trong sân của cung điện các thầy tế lễ cả, buộc tội ông là thuộc đảng người Naxarét đang bị định tội kia, thì ông đã lẩn tránh, ông đã chối Chúa, đã rủa sả và thề thốt. Điều gì đã xảy ra với Phierơ để rồi chỉ trong vài tiếng đồng hồ, đã biến đổi ông từ kẻ nhút nhát trở thành kẻ dám xông ra để đánh những người lính La Mã?" 58/376,377.
Về thuyết lấy trộm, Fallow đã viết trong bộ bách khoa của ông rằng "Có lẽ họ không làm thế, hay nói chắc chắn hơn họ (các môn đồ), đã không thể nào (cướp xác Chúa Jesus được).
"Họ đã dự định lấy xác như thế nào? Là những người nhút nhát, bạc nhược, đã bỏ chạy ngay khi Ngài bị bắt, ngay cả Phierơ, người can đảm nhất, cũng đã run rẩy trước lời nói của đứa tớ gái và đã chối rằng không biết Ngài đến 3 lần? Những người có phẩm chất này thì liệu có dám chống lại uy quyền của quan tổng đốc không? Liệu họ có dám chống lại quyết định của công hội, chống lại lính canh, thắng nổi những người lính được trang bị vũ khí nguy hiểm không? Nếu Chúa Jesus Christ không sống lại (Tôi nói theo lời những người vô tín) thì Ngài đã lừa dối các môn đồ bằng ảo vọng về sự phục sinh. Làm thế nào mà các môn đồ không phát hiện ra sự lừa dối đó được? Liệu họ có dám phó thác chính mình một cách mạo hiểm để trông cậy vào sự giúp đỡ của người mà đã tàn nhẫn đánh lừa lòng cả tin, nhẹ dạ của họ không? Nhưng chúng ta có cho rằng họ đã lập kế hoạch để dời xác đi không, họ đã thực hiện điều đó như thế nào? 49/1452.
Giáo sư A. Roper nói: "Không có một người nào trong đám môn đồ ít oi mà lại dám bạo động để gỡ dấu niêm phong ngôi mộ dù cho không có một người lính La Mã nào đang canh giữ ở đó. Ý nghĩ cho rằng một người nào đó trong số họ đã làm xong một công việc như vậy trong khi có các biện pháp đề phòng nghiêm nhặt, thì ý tưởng đó thật là không tưởng" 53/37.
4E. Nếu các tên lính đang ngủ thì làm thế nào họ thấy được các môn đồ đang trộm xác?
Lời bình luận sau đây về thuyết trộm xác lại thấy xuất hiện trong bộ bách khoa toàn thư của Fallow "Thánh Augustine nói: "Có 2 trường hợp: Hoặc họ thức hoặc họ ngủ. Nếu họ thức thì tại sao họ chịu để người ta lấy xác đi? Còn nếu họ ngủ thì làm thế nào họ biết các môn đồ đã trộm xác? để rồi họ lại dám khai rằng các xác đã bị trộm?"
A.B. Bruce có nói về những lính canh La Mã rằng "... Họ hoàn toàn biết rằng họ đã không ngủ gục lúc đang gác và không có một vụ trộm nào xảy ra cả. Sự lừa dối vì cớ các thầy tế lễ trả tiền nhiều là một sự tự sát. Một nửa này đã phá hỏng nữa kia. Lính gác ngủ gục thì không thể biết chuyện gì đã xảy ra" 6/337,338.
Giáo sư David Brown (trong tác phẩm A Commentary Critical, Experiment, and Practical on the Old and New Testament, Nhà xuất bản William. B. Eerdmans, 1948), đã nhận xét: "Nếu có điều gì đó cần đến để hoàn chỉnh bằng chứng về tính xác thực của sự phục sinh thì đó phải là sự ngờ nghệch của cách giải thích mà các tên lính đưa ra do bị mua chuộc. Việc cho rằng toàn bộ lính gác đều ngủ hết là không thể nào có được. Họ đã ngủ gục trong lúc mà các nhà lãnh đạo Do Thái còn lo lắng về tình trạng bất ổn của ngôi mộ là điều hết sức khó chấp nhận..." 12/133.
Paul Litle (trong tác phẩm Know Why you Believe, nhà xuất bản Kinh thánh, 1971) đã nói về giả thuyết do người Do Thái bịa đặt này rằng: "Họ đã cho các tên lính nhiều tiền và bảo họ rằng hãy nói là các môn đồ của hắn đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đang ngủ, mà lấy xác hắn đi. Câu chuyện đó quá gian dối đến nỗi Mathiơ cũng không cần phải phản bác. Nếu bạn nói rằng lúc bạn đang ngủ, người hàng xóm đến nhà bạn và trộm mất tivi của bạn thì bạn nghe có được không? Ai biết điều gì xảy ra lúc mình đang ngủ? Bằng chứng như thế này chỉ đáng để người ta giễu cợt".
5E. Những tên lính đã không ngủ gục lúc canh gác - Làm như vậy là đồng nghĩa với bị tử hình. Giáo sư A.B. Bruce viết: "Hình phạt bình thường cho tội ngủ gục lúc canh gác là tử hình. Có thể nào những tên lính bị một số tiền lớn nào đó thuyết phục để làm liều như thế không? Dĩ nhiên họ có thể lấy tiền rồi bỏ đi, cười nhạo kẻ đã cho tiền, rồi báo thật lại với tướng của họ. Các thầy tế lễ có thể nghĩ một điều gì khác nữa không? Nếu không, họ có thể đề xuất một kế hoạch nghiêm trọng không? Vấn đề có nhiều khó khăn" 6/337,338.
Wilbur Smith đã trích lời của Edward Gordon Selwyn (Mục "The Resurrection" trong tác phẩm "Essays Catholic and Critical, London, 1926, trang 318), nhận xét về khả năng có thể ngủ gục của lính gác: "Tất cả đều đã ngủ gục khi được bố trí ở đó để thực hiện một mục tiêu phi thường là đừng để cái xác bị trộm mất, là điều không đáng tin, đặc biệt là những tên lính canh này đang ở trong một quân đội có kỷ luật nghiêm khắc nhất thế giới. Nếu người lính canh nào ngủ gục lúc thi hành nhiệm vụ thì sẽ bị tử hình. Nhưng ở đây những tên lính canh này không bị xét xử, cũng không bị khiển trách, cũng không tủi hổ, bực bội như đáng phải có vì đã không hoàn tất việc gìn giữ cái xác...
Việc các nhà lãnh đạo Do Thái không tin những gì họ đã hướng dẫn và mua chuộc bọn lính nói cũng là điều tất nhiên. Vì nếu thế thì tại sao các môn đồ không bị bắt và bị khám xét ngay tức khắc? Vì nếu các môn đồ bị gán cho là đã hành động như thế thì đó là một tội trọng chống lại các thế lực hiện hành. Tại sao họ không bị buộc phải giao cái xác lại? Hoặc trong trường hợp họ không thể tự bào chữa, thì tại sao họ không bị trừng phạt về tội phạm của họ?... Chúng ta không tìm thấy ở đâu nói rằng các nhà lãnh đạo toan làm sáng tỏ vấn đề.
William Paley, một nhà thần học và một triết gia người Anh đã viết: "Tôi nghĩ rằng tiến sĩ Townshend (Dis-upon the Res. trang 126) đã rất đúng khi nhận xét rằng câu chuyện về các tên lính cho thấy một sự thông đồng về vấn đề này: - "Các môn đồ của hắn đã đến vào ban đêm, lúc chúng tôi đang ngủ, rồi lấy trộm xác hắn đi". Trong trường hợp này, họ không thể nào thừa nhận tội khinh suất của họ nếu không có một sự bảo đảm trước là sẽ được che chở và không bị trừng phạt 46/196.
6E. Tảng đá trước ngôi mộ rất lớn. Cho dù các tên lính ngủ gục và các môn đồ cố trộm cái xác đi, thì tiếng ồn do lăn tảng đá gây ra cũng làm cho họ thức dậy.
Giáo sư Wilbur Smith nói "Thật vậy, hẳn là các tên lính sẽ bị đánh thức bởi việc lăn tảng đá nặng nề và việc lấy trộm xác Chúa đi" 55/12,23.
David Brown viết: "... có thể cho rằng nhiều môn đồ đã đến mộ với đầy đủ khả năng để phá dấu niêm phong, lăn tảng đá nặng và lấy xác đem đi chỉ với điều kiện các tên lính này ngủ ngon và rất lâu đến nỗi mặc kệ những công việc ồn ào đang xảy ra ngay sát bên mình, mà cũng không tỉnh giấc" 12/133.
7E. Vải liệm là một bằng chứng thầm lặng nói lên rằng giả thuyết lấy trộm xác là không thể có được.
Merrill Tenny (trong tác phẩm The Reality of the Resurrection, nhà xuất bản Moody, 1963) đã nhận xét: "Không có kẻ trộm nào lại cuốn những tấm vải liệm lại theo khuôn mẫu nguyên vẹn ban đầu của nó vì họ không có thời gian để làm như vậy. Họ sẽ ném vải liệm một cách bừa bãi để đem cái xác trốn chạy. Nỗi lo sợ bị phát hiện đã khiến họ hành động càng gấp rút, càng tốt" 63/119.
Giáo sư Albert Roper nói:
"Một sự ngăn nắp như vậy trái ngược với sự báng bổ và sự lấy trộm xác. Nếu một người có thể bị phát hiện, thì hắn ta sẽ hành động vội vã và chắc chắn là không thao tác trong thái độ bình tĩnh, thảnh thơi và có ngăn nắp. Không phải như những hành động tội ác mà chúng ta quen thuộc, là kẻ phạm pháp thường hành động rất cẩn trọng để lại một hiện trường hết sức ngăn nắp, gọn gàng, làm lạc hướng những gì chúng đã cướp hoặc phá hoại. Trái lại, kẻ trộm lén thường để lại sự lộn xộn, không ngăn nắp. Theo tính chất của các đồ vật để lại, những hành động như vậy không thể được thực hiện với thao tác bình tĩnh được. Hành động của họ phải vội vàng và không thể nào có sự gọn gàng được. Sự ngăn nắp trong ngôi mộ do Giăng làm chứng, nói lên rằng sự buộc tội các môn đồ đã đánh xác Chúa là vô lý" 53/35-37.
Gregory of Nyssen, cách đây 150 năm đã bình luận về những sự kiện này. Ông nói: "Cách bài trí vải liệm trong mồ, tấm khăn quấn đầu Chúa không nằm cùng chỗ với vải liệm nhưng được quấn lại để riêng ra một chỗ, không chứng tỏ sự khiếp sợ và vội vã của những tên trộm và do đó đã bác bỏ giả thuyết cho rằng cái xác đã bị lấy trộm" (được trích trong Whitworth) 71/64,65.
Chrysostom, một tác giả vào thế kỷ thứ 4, cũng đã viết giống như vậy: "Thế còn những tấm khăn được dán dính bằng một dược có nghĩa gì, vì Phierơ thấy nó đang nằm một nơi. Vì nếu họ có ý định lấy trộm, thì họ đã không lấy cái xác trần, không phải chỉ là mất sự tôn trọng mà để không bị chậm trễ và mất thì giờ tháo ra, và cũng không làm cho bọn lính thức giấc để bắt họ. Đặc biệt là một dược, một dược liệu dính rất chặt vào thân thể và quần áo, do đó, để cởi vải liệm ra không phải là chuyện dễ, vả lại làm như vậy cần rất nhiều thời gian. Vì vậy giả thuyết về một vụ trộm là không thể có. "Còn gì nữa? Há họ không biết sự nổi giận của người Do Thái sao? lẽ nào họ lại muốn làm cho sự giận dữ của người Do Thái trút lên họ? Nếu Ngài không sống lại thì họ có được ích lợi gì đâu? 10/530,531.
Simon Greenleaf, một giáo sư luật nổi tiếng của Đại học Harvard nói: "Vải liệm nằm ngăn nắp ở một nơi và tấm khăn được xếp lại để một nơi, cho thấy rõ rằng ngôi mộ đã không bị cướp và cái xác không bị một bàn tay bạo động nào rớ vào. Đối với bọn cướp, quần áo và những hương liệu này quí hơn là cái xác trần. Ít ra chúng cũng không cần phải gây rắc rối khi quấn những tấm vải lại. Tình trạng này cũng cho thấy rằng những người bạn Ngài đã không lấy cái xác đi vì nếu họ làm vậy thì họ cũng chẳng để vải liệm lại làm gì. Tất cả những nhận xét này làm nảy sinh trong lòng Giăng một niềm tin rằng Chúa Jesus đã từ kẻ chết sống lại" 23/542.
Henry Latham, người đã mô tả rất hay về vải liệm, đã nhận xét rằng vải liệm đã nằm một chỗ và ông cũng nhận xét thêm về "... một trăm cân hương liệu. Hương liệu này đã khô. Số lượng này rất lớn, và nếu vải liệm được tháo ra thì bộ nhủ hương và lư hội sẽ rơi xuống phiến đá hoặc xuống nền, thành một đống lồ lộ. Khi còn ở trong mộ, Phierơ đã mô tả cho Giăng rất cụ thể những gì ông đã thấy, và chắc chắn Phierơ không bỏ qua điểm này. Ông Beard có nói đến vải liệm rằng nó đè nặng lên vải liệm, nhưng ông đã quên một điều - và đối với tôi điều đó rất có ý nghĩa - rằng nếu vải liệm bị tháo ra thì hương liệu phải rơi xuống và rất dễ thấy. Không có tài liệu nào nói về hương liệu, ủng hộ cho quan điểm rằng hương liệu vẫn còn nằm giữa các lớp vải liệm như lúc ban đầu. Nó đã biến mất" 31/9.
8E. Các môn đồ đã không dời xác Chúa đi.
Wilbur Smith (trong tác phẩm Therefore Stand, nhà sách Baker, 1965) đã nhận xét: "...Các môn đồ hoàn toàn không có lý do gì để đem cái xác đã được chôn cất một cách trọng vọng đi chỗ khác. Họ không thể làm gì cho xác của Chúa họ hơn người ta đã làm. Giôsép, người Arimathê, không hề bảo họ dời cái xác khỏi nơi chôn ban đầu và không có ai gợi ý chuyện đó cả. Nếu họ làm như thế, không phải kính trọng Chúa, cũng phải là để họ có cách bảo quản riêng, mà chỉ vì mục đích lừa dối người khác, nói cách khác, là vì mục đích lén lút đưa vào các dân tộc ở Palestine một sự giả dối về Chúa Jesus. Dù các môn đồ có là gì đi nữa họ đã theo Chúa được 3 năm, họ không phải là những kẻ nói dối, ngoại trừ Giuđa đã chết rồi. Họ không phải là những người hèn hạ, có bản chất dối trá. Thật không thể nào tin được rằng 11 vị sứ đồ này, sau khi đã sống chung với Con Thánh của Đức Chúa Trời, chính là Đấng đã từng quở trách sự lừa dối và tôn cao sự công nghĩa, sau khi họ đã nghe Ngài rao giảng về một tin lành tôn cao sự công nghĩa mà trước đó họ chưa từng được nghe ở nơi nào trên thế giới này, thì bây giờ lại đồng ý với nhau để tham dự vào một âm mưu hèn hạ như vậy" 58/377.
9E. Lúc ấy họ chưa nhận ra lẽ thật về sự phục sinh, nên họ đã không cố làm cho điều ấy trở thành sự thật. (Xem Luca 24).
Như John F. Whitworth, trong tác phẩm "Legal and Historical Proof of the Resurrection of the Dead", đã nhận xét "...Hình như họ không hiểu rằng Ngài phải sống lại vào ngày thứ 3. Chắc chắn là họ rất ngạc nhiên khi thấy Ngài đã sống lại. Tâm trạng này đã phủ nhận ý tưởng cho rằng họ đã có ý định lấy trộm xác để tạo ấn tượng là Ngài đã sống lại". Giáo sư A.B. Bruce (trong tác phẩm The Training of The Twelve, nhà xuất bản Kregel, 1971) đã viết: "Về mặt lương tâm mà nói, cho rằng các môn đồ có khả năng lấy trộm xác đi, thì họ cũng không hề nghĩ đến điều đó, hoặc có ý định về điều đó. Họ cũng không có tinh thần đâu để làm điều này. Lòng họ nặng như chì, và khi họ hay rằng xác đã bị trộm, thì họ đã đờ ra như xác chết. Do đó động cơ lấy trộm xác là điều không hề tác động lên họ. Trộm xác để đi rao giảng một niềm tin về sự phục sinh sao! Họ có quyền lợi gì để rao giảng một niềm tin mà chính họ không hề có? "Vì họ chưa biết lời Kinh Thánh rằng Ngài phải từ kẻ chết sống lại và họ cũng không nhớ rằng thầy của họ đã nói về điều này trước khi Ngài chết" 7/494.
10E. James Rosscup nói "Các môn đồ là những người đáng kính. Họ không lén lút đưa sự dối gạt cho nhân loại. Họ đã đem hết quãng đời còn lại để công bố sứ điệp về sự phục sinh vì họ là những kẻ nhút nhát đã được biến đổi thành những người can đảm. Họ sẵn sàng đối diện với bắt bớ, tù đày, đánh đập, chết thảm thiết, và không ai trong họ đã chối Chúa hoặc chối bỏ niềm tin rằng Christ đã sống lại". Paul Little, khi bàn bạc về thuyết vụ trộm, đã nhận xét "Hơn nữa, chúng ta phải đối diện với một điều không thể về mặt tâm lý và đạo đức. Trộm xác Chúa là một hành động hoàn toàn xa lạ với phẩm chất của các môn đồ và của tất cả những gì chúng ta biết về họ. Điều đó có nghĩa là họ là thủ phạm của một sự lừa dối cố ý, và phải chịu trách nhiệm về cái chết lầm lẫn của hàng ngàn người. Thật khó mà tin rằng, cho dù có một vài môn đồ đã âm mưu và thành công vụ trộm, mà họ lại chẳng hề nói với người khác" 36/63,64.
Khi bình luận về ý tưởng cho rằng các môn đồ đã trộm xác Chúa, J.N.D. Anderson, một luật sư người Anh, nói "Điều này hoàn toàn trái với những gì chúng ta biết về họ: sự giảng dạy rất có đạo đức của họ, phẩm chất đời sống của họ, sự vững vàng của họ trong khổ đau và bắt bớ. Thật không thể nào giải thích được sự biến đổi kỳ diệu của những con người trốn chạy trong chán nản, mất tinh thần đã trở thành những chứng nhân mà không một đối thủ nào có thể bịt mồm họ được" 1/92.
Về giả thuyết vụ trộm, Kevan viết "Chính ở đây, ngay cả những kẻ phản đối quan điểm Cơ Đốc, cũng phải tìm lối thoát, vì Strauss (1808-1874), một nhà hoài nghi, đã phản đối giả thuyết cho rằng các môn đồ đã có sự giả dối. Ông cho rằng điều này là một hành động không thể về mặt đạo đức". Strauss nói: "Các sứ giả phải biết rằng các môn đồ đã tin chắc rằng Chúa Jesus đã sống lại" (Leben Jesu, 1864, trang 289) 30/9.
Wilbur Smith nói: "Ngay cả những học giả người Do Thái chính thống hiện nay cũng hoàn toàn bác bỏ điều này, kể cả chính Klausner, người không hề chấp nhận điều đó, đã nhìn nhận rằng các môn đồ rất đáng kính trọng đến mức họ không thể có một chút giả dối nào như vậy cả" (Jesus of Nazareth; His Life, Times and Teaching, New York, 1925, trang 414) 55/22,23.
Có phải "sự trộm xác" đã làm cho Phierơ dũng cảm để bẻ bác kẻ thù trong Cong Cv 4:8 không? "Bấy giờ, Phierơ đầy dẫy Thánh Linh, nói rằng: Hỡi các quan và các trưởng lão, nếu ngày nay chúng ta bị tra hỏi vì đã làm phước cho một người tàn tật, lại hỏi chúng tôi thể nào người đó được lành, thì hết thảy các ông, và cả dân Ysơraên đều khá biết, ấy là nhơn danh Đức Chúa Jesus Christ ở Naxarét, Đấng mà các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, ấy là nhờ Ngài mà người này được lành mạnh, hiện đang đứng trước mặt các ông. Jesus này là hòn đá bị các ông xây nhà bỏ ra, rồi trở nên hòn đá góc nhà. Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu" (4:8-12).
Wilbur Smith giải thích: "Quyền năng của Đức Chúa Trời đã giáng xuống Phierơ vào ngày lễ ngũ tuần và vào hôm đó, trong một bài giảng, mà phần lớn bài giảng đó nói về lẽ thật của sự phục sinh, đã làm cho 3000 người trở lại với Chúa. Có một sự thật này: Ít nhất Phierơ cũng đã giảng những gì mà ông tin: rằng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại. Về mặt lương tâm, bạn không thể nào rao giảng sự giả dối với một quyền năng như vậy. Các môn đồ đã tiếp tục rao giảng về sự phục sinh cho đến khi thế gian này bị lật đổ vì cớ đức tin nơi lẽ thật vinh hiển này. Không, các môn đồ đã không thể và không hề trộm xác Chúa chúng ta" 58/377,378.
Tất cả các môn đồ, ngoại trừ Giăng, đều đã tuận đạo. Họ bị bách hại vì họ đã ngoan cường trung thành với niềm tin và lời rao giảng của họ. Như Paul Little đã viết: "Người ta sẽ chết vì những gì họ cho là chân lý mặc dù thật ra nó có thể sai lầm. Nhưng họ không bao giờ chịu chết vì những gì họ biết là giả dối". Nếu các môn đồ đã trộm xác Chúa Jesus thì họ biết rằng sự rao giảng của họ về Chúa phục sinh là giả dối. Nhưng họ "vẫn cứ xem sự phục sinh là nền tảng để họ rao giảng, dạy dỗ, sống và - rất ý nghĩa là - chết". Do đó giả thuyết về vụ trộm xác là hoàn toàn vô lý" 36/64,62.
Tôi đồng ý với John R.W. Stott rằng giả thuyết về việc các môn đồ đã trộm xác Chúa "là nghe không có vẻ thật. Nó quá giả dối và hoàn toàn không thể có được. Nếu có gì đó là rõ ràng trong các sách Phúc âm và Công vụ thì đó chính là sự chân thật của các sứ đồ. Nếu bạn cho là có, thì họ có thể bị lừa dối chứ họ không phải là kẻ lừa dối. Kẻ đạo đức giả và người tuận đạo không có cùng bản chất" 60/50.
3D. Giả thuyết cho rằng người Do Thái, người La Mã hoặc Giôsép, người Arimathê đã dời xác Chúa đi cũng không hợp lý gì hơn giả thuyết về vụ trộm.
1E. Người Do Thái có dời xác Chúa đi không?
J.N.D. Anderson (trong tác phẩm "The Resurrection of Jesus Christ", tạp chí Christianity, số ngày 29/3/1968) đã nói: "Trong vòng 7 tuần ngắn ngủi (sau khi Chúa phục sinh), nếu tất cả các tài liệu đáng tin, thì tôi không thấy một lý do nào để các tác giả Cơ Đốc phải bịa ra một điều nào trong 7 tuần đó - bảy tuần mà cả Giêrusalem sôi động lên vì sự rao giảng điều đó khắp thành phố. Các thầy tế lễ cả rất bối rối về điều đó. Họ nói rằng các môn đồ đang cố làm cho huyết của những người này đổ trên họ. họ đang bị cáo buộc vì đã đóng đinh Chúa vinh hiển. Và họ đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì để bóp chết dị giáo nguy hiểm này từ trong trứng nước" 2/6.
Nếu những người Do Thái đã ra lệnh dời xác Chúa đi, thì tại sao khi các môn đồ đang rao giảng về sự phục sinh ở Giêrusalem, họ lại không giải thích rằng:
"Dừng lại. Chúng tôi đã chuyển xác đó đi rồi. Đấng Christ không sống lại từ kẻ chết đâu".
Nếu sự bác bỏ như vậy không thành công thì tại sao họ lại không giải thích chính xác nơi họ đã để cái xác?
Nếu họ lại thất bại thì tại sao họ không lấy cái xác, đặt trên một chiếc xe, rồi kéo chạy khắp trung tâm Giêrusalem? Một hành động như thế chắc sẽ hủy diệt Cơ Đốc giáo ngay - không phải là trong nôi, mà ngay trong bụng mẹ.
William Paley, một nhà thần học và triết gia người Anh đã nói: "...Rõ ràng là, nếu có thể tìm thấy được cái xác, thì người Do Thái đã đem nó ra làm một lời giải đáp ngắn gọn nhất, hoàn hảo nhất cho vấn đề. Vì mặc dù đã phòng ngừa, mặc dù đã chuẩn bị và được báo trước, nhưng khi sự kiện Chúa phục sinh được rao ra, như nó đã được rao ra ngay lập tức, khi các môn đồ đã công khai xác quyết điều đó, đã lập nền tảng cho sự giảng dạy của họ trong danh Ngài, đem nhiều người đến với đạo Ngài, thì người Do Thái vẫn không đưa được cái xác ra để làm chứng..." 46/196-198.
John Whitworth đã viết về sự im lặng của người Do Thái về nơi đặt xác như thế này: "Khi sự kiện vụ trộm đã được rao báo cho hết thảy người Do Thái biết, thì cũng không thấy ai nói đến việc xét xử các sứ đồ ở Giêrusalem cả, ngay cả khi họ công khai tuyên bố sự phục sinh của thầy họ. Mặc dù trước đó họ đã công bố tội đã trộm xác, và họ đã phổ biến báo cáo này, thì cũng không hề thấy các môn đồ phải nộp phạt về tội đó và cũng không thấy họ nhỏ to với nhau để đào tẩu khỏi sự buộc tội của Công hội. Và chẳng bao lâu, sự việc đó đã bị bác bỏ như là một điều vô lý, không thể giữ lâu được" 71/66.
2E. Người La mã có dời cái xác đi không?
Lợi thế của quan tổng đốc là phải giữ cái xác trong mộ. Quan tâm chính của Philát là duy trì mọi sự trong trật tự. Chuyển cái xác đi sẽ gây nên một sự khích động ngoài ý muốn từ phía người Do Thái và Cơ Đốc nhân.
J.N.D. Anderson nói về Philát rằng: "Ông ta rất bối rối về sự giảng dạy kỳ lạ đó. Nếu ông đã sai người chuyển cái xác đi, thì việc ông không thông báo cho các thầy tế lễ cả để họ bị bối rối là điều không thể có được" 2/6.
Philát chỉ muốn có trật tự.
3E. Giôsép người Arimathê có dời xác Chúa đi không?
Giôsép là một môn đồ bí mật và nếu như vậy thì ông không thể nào dời xác đi mà trước hết, không hỏi ý kiến các môn đồ khác.
Nếu Giôsép đã mạo hiểm dời xác Chúa đi mà không hỏi ý kiến người khác thì sau đó, lúc mà sứ điệp phục sinh đã công khai rao giảng, thì ông phải nói cho các môn đồ khác biết điều ông đã làm chứ.
4E. Kết luận: Những sự kiện trên đã phản bác giả thuyết cho rằng xác Chúa đã bị dời đi. Như George Hanson (trong tác phẩm The Resurrection and the Life, William Clowers and Sons, 1911), đã nói: "Đức tin đơn sơ của các Cơ Đốc nhân vào sự phục sinh không thể sánh được với sự cả tin của những kẻ hoài nghi, chỉ chấp nhận những điều bịa đặt rồ dại, không thể có, hơn là chấp nhận những bằng chứng lịch sử chắc chắn, rõ ràng. Những điều khó khăn của niềm tin có lẽ lớn, nhưng sự ngu xuẩn của niềm vô tín còn lớn hơn" 24/24.
3B. GIẢ THUYẾT ẢO GIÁC.
1C. QUAN ĐIỂM - TẤT CẢ NHỮNG SỰ HIỆN RA CỦA CHÚA SAU KHI PHỤC SINH CHỈ LÀ GIẢ THIẾT. ĐIỀU THỰC SỰ XẢY RA LÀ NHƯ THẾ NÀY: NGƯỜI TA ĐÃ BỊ ẢO GIÁC.
2C. SỰ PHẢN BÁC.
10. Sự hiện ra của Christ có quan trọng không?
C.S. Lewis (trong tác phẩm Miracles, The Macmillan Co., 1947), đã nói: "Trong những ngày đầu tiên của Cơ Đốc giáo, một "sứ đồ", trước hết phải là người được xác nhận là đã chứng kiến sự phục sinh. Chỉ vài ngày sau khi Chúa bị đóng đinh, có 2 ứng viên được tiến cử vào chỗ trống do sự phản bội của Giuđa tạo ra. Điều kiện của họ là họ phải biết Chúa Jesus cách cá nhân, cả trước và sau khi Ngài chết, và có thể đưa ra bằng chứng trực tiếp về sự phục sinh khi nói với mọi người" (Cong Cv 1:22). Một vài ngày sau, Phierơ đã giảng bài giảng đầu tiên của Cơ Đốc giáo và ông cũng tuyên bố tương tự. "Đức Chúa Jesus này, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó" (2:32). Trong bức thư đầu tiên gửi cho người Côrinhtô, Phaolô đã đặt nền tảng quyền sứ đồ của ông trên cùng một lý do - "Tôi không phải là sứ đồ sao? Tôi há không nhìn thấy Chúa Jesus sao?" 25/148,149.
2D. Sẽ có vấn đề gì xảy ra nếu những sự hiện ra của Chúa chỉ là những ảo giác?
Về định nghĩa của Lewis, nếu quan điểm cho rằng tất cả các sự hiện ra của Chúa chỉ là ảo giác là đúng thì giá trị của chức vụ sứ đồ sẽ là số không.
Theo lời của Gresham Machen, nếu điều đó là đúng thì có nghĩa là "...Hội Thánh Cơ Đốc đã đặt nền tảng trên những kinh nghiệm bệnh hoạn của một số người nào đó trong thế kỷ đầu tiên của thời đại chúng ta. Điều đó có nghĩa là, nếu có một nhà thần kinh nổi tiếng khám cho Phierơ và những người khác thì chẳng bao giờ có Hội Thánh Cơ Đốc cả" (E.F. Kevan trích trong tác phẩm The Resurrection of Christ") 30/10,11.
J.N.D. Anderson, khi nói về bằng chứng đáng tin của các sứ đồ, ... "đã nói rằng nó đứng hay ngã tùy thuộc vào giá trị pháp lý của sự làm chứng của họ..." 1/100.
3D. Ảo giác là gì?
Giáo sư Wilbur Smith nói: "Định nghĩa thích hợp nhất về ảo giác mà tôi được đọc là định nghĩa của Weiss: "Ý nghĩa khoa học của từ này ấy là (???)nhưng không có một đối tượng tương ứng ở bên ngoài. Thần kinh thị giác không bị kích thích bởi sóng ánh sáng bên ngoài hoặc những chấn động của ether, nhưng lại bị kích động bởi những lý do tâm lý bên trong. Đồng thời ấn tượng thị giác này được người đã kinh nghiệm ảo giác này chấp nhận y như thể nó "khách quan" hoàn toàn, cuối cùng người ấy tin rằng, đối tượng của ảo giác của mình là thực sự" (Johannes Weiss: The History of Primitive Christianity. Bản dịch tiếng Anh, New York, 1937, 1-28)
4D. Những sự hiện ra của Chúa sau khi phục sinh có phải là ảo giác không?
Ảo giác không phải là điều các môn đồ đã kinh nghiệm. Những bằng chứng trong cả Tân ước đều trái ngược với giả thuyết này.
Như Hillyer Stratton đã nói (trong tác phẩm "I believe: Our Lord's Resurrection", tạp chí "Christianity Today" ngày 31/3/1958): "...Những người dễ bị ảo giác chẳng bao giờ trở thành những người anh hùng về đạo đức cả. Hiệu quả về sự phục sinh của Chúa Jesus trong những cuộc đời được biến đổi vẫn còn tiếp tục, và hầu hết những chứng nhận đầu tiên đều đã đi đến chỗ chết vì sự rao giảng cho lẽ thật này" 61/4.
5D. Giả thuyết ảo giác này không hợp lý vì nó ngược lại với những luật lệ và nguyên tắc mà các nhà tâm thần học cho rằng phù hợp với bệnh ảo giác.
1E. Nói chung, chỉ có một loại người nào đó mới bị ảo giác. 2/4-9; 36/67-69, 48/97-99.
Họ là những người được mô tả là "thần kinh quá căng thẳng", tưởng tượng cao siêu và dễ bị khích động.
Sự hiện ra của Chúa không giới hạn cho những người thuộc loại bị tâm thần.
John R.W. Stott (trong tác phẩm Basic Christianity nhà xuất bản Inter-Varsity) đã nói:
"... Có nhiều tâm trạng ...
"... Mari Mađơlen đang khóc ...
"... Những người đàn bà sợ hãi và kinh ngạc ...
"... Phierơ có tâm trạng thống hối ...
"... Thôma đang hoài nghi ...
"... Hai môn đồ về làng Em-ma-út đang bối rối vì những sự kiện xảy ra trong tuần ...
"... Và các môn đồ ở Galilê có ý định trở lại nghề đánh cá ...".
"Không thể nào xem những sự hiện ra này của Chúa như là những ảo giác của những tâm tư bị rối loạn".
2E. Ảo giác được tạo nên bởi sự kết hợp giữa tiềm thức của cá nhân đó với kinh nghiệm quá khứ của người đó 2/4-9; 36/67-69, 48/97-99.
1F. Ảo giác có tính chất cá nhân và hoàn toàn chủ quan.
Trong tác phẩm Psychopathology of Perception, Heinrich Kluerer đã trích lời của một nhà sinh vật học về thần kinh nổi tiếng đã nói: "Trong luận án gốc về sinh vật học thần kinh về ảo giác, Raoul Mourgue đã đi đến kết luận rằng tính hay thay đổi là đặc điểm thường xuyên nhất của hiện tượng ảo giác và những hiện tượng liên hệ. Theo ông, ảo giác không phải là một hiện tượng tĩnh nhưng là một tiến trình động, tính không ổn định của nó phản ánh chính tính không ổn định của những yếu tố và những điều kiện dính dáng đến nguồn gốc của nó. (Neurobiolgie de l'hallucination Bruxelles, Lamertin, 1932)" 50/18.
2F. Sự hiện ra của Christ được nhiều người nhìn thấy. Thomas J. Thorburn đã quả quyết: "Hoàn toàn không thể tin được rằng với số lượng 500 người, có tâm trí và tính khí lành mạnh ở mức trung bình, với một số lượng khác nhau, vào những lần khác nhau, trong những tình huống khác nhau, đã kinh nghiệm được những ấn tượng cảm giác về thị giác, thính giác, khứu giác - mà những kinh nghiệm này lại chỉ hoàn toàn dựa trên sự ảo giác chủ quan. Chúng tôi cho rằng đây là điều vô lý vì nếu giả thuyết như vậy được áp dụng thì đó là một sự kiện "siêu nhiên trong lịch sử, lập tức sẽ bị bác bỏ như một sự lý giải không đầy đủ và buồn cười" 65/158,159.
Wilbur Smith đã trích lời của Thedore Christlieb (trong tác phẩm Modern Doubt and Christian Belief, trang 493, 494) rằng; "Chúng tôi không phủ nhận rằng khoa học có cho chúng ta biết những trường hợp mà cả tập thể đều cùng lúc nhìn thấy những ảo giác, nhưng luôn luôn theo sau đó là một sự khích động không lành mạnh về tâm thần cũng như tình trạng bệnh hoạn về cơ thể, đặc biệt là do những tác động về thần kinh. Có thể cho rằng một hoặc nhiều môn đồ, đã ở trong tình trạng bệnh hoạn này, điều đó cũng không có nghĩa là tất cả đều như vậy. Chắc chắn họ là những người có tính khí và thể chất khác nhau, nhưng lần lượt từng người đều rơi vào tình trạng bệnh hoạn này, không chỉ là những người đàn bà dễ xúc động, nhưng ngay cả Phierơ, một ngư phủ cường tráng, vững vàng, người chắc chắn không hề hốt hoảng, bối rối như người khác, ngay cả Giacơ, hai môn đồ về làng Em-ma-út, ngay cả Thôma, người điềm tỉnh, và hay nghi ngờ, ngay cả 11 môn đồ trong cùng một thời điểm, và hơn 500 người đang nhóm lại. Tất cả những người này bị xem là đã đột nhiên rơi vào một sự tự lừa dối nào đó và đáng chú ý là, tại những thời điểm và không gian khác nhau, trong những công việc khác nhau (vào buổi sáng ở mộ, cuộc nói chuyện trên đường đi, giữa những người bạn thân tín đang làm việc trên hồ); và chắc chắn là tâm trạng của họ rất khác nhau và suy nghĩ bên trong của họ hướng về những điều thất thường nhất. Và có thể nào hết thảy những người đó đã đồng thanh rao báo những ảo ảnh này cho thế giới, xem như đó là những sự hiện ra thực tế về thể xác của một Christ sống? Hoặc nếu họ làm như vậy thì có thể nào nó chỉ thuần là một sự tự lừa dối và một sự cố ý lừa dối? Sau đó, chắc chắn một số người trong họ phải tự hỏi mình một cách nghiêm túc rằng liệu điều tưởng tượng mà họ đã thấy có phải là một sự thật không. Schleiermacher nói một điều rất đúng rằng: " Hễ ai cho rằng các môn đồ đã lừa dối chính họ và đã lầm lẫn điều bên trong với điều bên ngoài, buộc tội họ về sự bệnh hoạn tâm thần, làm mất hiệu lực lời chứng thuần khiết của họ về Christ, và làm như thể chính Christ đã chọn cách làm chứng đó, thì những người đó không biết những gì có trong con người. Hoặc nếu chính Ngài có ý định rằng họ phải lầm lẫn những sự hiện ra bên trong với những sự nhận thức bên ngoài, thì Ngài đã là tác giả của sự phạm tội, và nếu điều này hợp với phẩm chất cao quý của ngài thì tất cả những tư tưởng đạo đức đều tiêu tan" 58/396,397.
3E. Theo 2 bác sĩ nổi tiếng về tinh thần, L.E. Hinisie và J. Shatsky (trong tác phẩm Psychiatric Dictionary nhà xuất bản Đại học Oxford, 1948), "(Ảo giác) là một tri giác sai lầm, một phản ứng sai với một sự kích thích về cảm giác..." 26/280.
"...Nhưng trong một người bình thường, niềm tin giả tạo này thường làm cho người ấy muốn kiểm tra thường xuyên một cảm giác, hoặc nhiều cảm giác khác để đi đến chỗ giải thoát và làm cho người ấy tin rằng đó chỉ là ảo giác" 26/280.
Những sự hiện ra của Christ không thể nào là sự tri giác "sai lầm" được:
Wilbur Smith đã viết về những nhận xét của Luca. Ông mô tả Luca như là "một người quen với sự cân nhắc kỹ càng về bất kỳ điều gì mà ông đang nghiên cứu. Mở đầu cuốn sách thứ hai của mình, sách Công vụ các sứ đồ, Luca đã nói rằng, sau khi Ngài chịu đau đớn, "Ngài lấy nhiều bằng cớ" hay là "nhiều bằng cớ không thể sai lầm", để tỏ ra mình là sống".
Smith nói tiếp: "...Loại bằng chứng mà khoa học hiện đại và ngay cả những nhà tâm lý học, dùng làm nền tảng để xác định tính có thực của một đối tượng dưới sự xem xét kỹ lưỡng, cũng chính là loại bằng chứng mà các sách phúc âm đã dùng khi nói đến sự phục sinh của Chúa Jesus, ấy là những điều được thấy bằng mắt phàm nhân, được sờ bằng đôi tay phàm nhân và được nghe bằng tai phàm nhân. Đây là điều mà chúng ta gọi là bằng chứng theo lối kinh nghiệm" 58/389,390.
W.J. Sparrow-Simpson (trong tác phẩm The Resurrection and the Christian Faith, nhà xuất bản Zondervan, 1968), nói rằng: "Những sự hiện ra của Người Thầy đã sống lại có lẽ đã được phân tích theo những giác quan phàm nhân mà họ đã cần đến như thị giác, thính giác, xúc giác. Những hiện tượng khác có thể được phân loại một cách thích hợp theo sự phân chia này" 59/83.
Sparrow-Simpson nói tiếp: "Trước tiên là thị giác. Lẽ tự nhiên, đây là điều trước tiên để thu đạt được sự chú ý. Nó được mô tả trong các sách phúc âm với những từ ngữ khác nhau:
"Chúa Jesus gặp họ" (Mat Mt 28:9)
"Họ thấy Ngài" nhưng việc thấy này cũng bao gồm những người nghi ngờ (28:17)
"Họ biết Ngài" (LuLc 24:31)
"Họ ... cho rằng họ đã thấy thần" (24:37)
"Hãy xem tay chơn ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem - thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có". Đương phán vậy, Ngài giơ tay và chơn ra cho xem" (24:39).
"Bốn sách phúc âm đều nói điều này: "Tôi đã thấy Chúa" (GiGa 20:18).
"Ngài giơ tay và sườn mình cho môn đồ xem" (20:20).
"Các môn đồ thấy Chúa" (20:20).
"Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài" (20:25).
"Vì ngươi đã thấy ta" (20:29).
"Nhưng không một người môn đồ nào dám hỏi rằng: Ngươi là ai? Vì biết quả rằng ấy là Chúa" (21:12).
"Và hiện đến với các sứ đồ trong 40 ngày" (Cong Cv 1:3).
"Sức lôi cuốn mà Chúa phục sinh đã tỏ ra trong những sự hiện ra này là dấu hiệu của những vết thương mà Ngài phải chịu trong sự đau khổ của Ngài.
"Luca nói đến tay và chơn (LuLc 24:29-40)
"Mathiơ không nói đến gì cả.
"Giăng nói đến "Tay ngài và sườn Ngài" (GiGa 20:20-25, 27) 59/183,184.
"Những sự hiện ra của Christ phục sinh được thuật lại cũng như những sự lôi cuốn về xúc giác.
"Những từ nhấn mạnh nhất về khía cạnh này là ở trong sách Luca: "Hãy rờ đến ta và hãy xem - thần thì không có thịt xương mà các ngươi thấy ta có" (LuLc 24:39).
"Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng, Ngài nhận lấy và ăn trước mặt các môn đồ" (24:42, 43).
Giáo sư Thomas Thorburn nói: "...Theo phúc âm Mác, "ảo giác" ở ngôi mộ là một kinh nghiệm về thính giác: Thiên sứ bảo các người đàn bà đó đi báo điều này cho các môn đồ" (Mac Mc 16:5-7).
"Cũng vậy trong phúc âm Mathiơ (ông đã rút nhiều sự kiện từ trong phúc âm Mác), thì các người đàn bà vừa thấy, vừa nghe vừa sờ Ngài nữa" (Mat Mt 28:9, 10) 65/133.
4E. Những ảo giác thường bị giới hạn không gian và thời gian mà nó đã xảy ra. 2/4-9; 36/67-69; 48/97-99.
Thường thì ảo giác được thấy:
Tại một nơi có không khí luyến tiếc quá khứ hoặc tại một thời điểm nào đó làm cho người ta ở trong một trạng thái gợi nhớ.
Những thời điểm và nơi chốn về những lần hiện ra của Chúa không tạo nên một bằng chứng nào để gợi ảo giác cả. Không có một sự kiện tưởng tượng nào do môi trường xung quanh quen thuộc tạo ra.
John R.W. Stott nhận xét rằng: "... môi trường thuận lợi bên ngoài không dính dáng gì đến..."
Stott nói tiếp: "Nếu những lần hiện ra của Chúa xảy ra tại một hoặc 2 nơi nào đó, mà bởi những kỷ niệm về Chúa đã làm cho những nơi đó trở nên thiêng liêng..." và nếu "... tâm trạng của họ là tâm trạng mong mỏi, chờ trông..." thì "... sẽ gọi cho chúng ta sự nghi ngờ..." 60/57.
Stott kết luận: "Nếu chỉ có sự hiện ra trên phòng cao thôi, thì sẽ khiến cho chúng ta nghi ngờ và chất vấn. Nếu 11 sứ đồ đã nhóm hiệp lại ở nơi đặc biệt đó, nơi mà Chúa Jesus đã có nhiều thời gian ở với họ khi Ngài còn trên đất, và họ đã để nơi này trống trải, và họ đang sầu não, nuối tiếc về những tháng ngày kỳ diệu đã qua, nhớ lại lời hứa về sự trở lại của Ngài, rồi tự hỏi rằng liệu Ngài có trở lại không và hy vọng Ngài sẽ trở lại, cho đến lúc sự nhiệt thành chờ mong của họ đã được sự hiện ra đột ngột của Ngài cắt đứt, thì chúng ta thật sự e sợ rằng họ đã bị ảo giác đánh lừa" 60/57.
Kevan đã trích lời của W. Robertson Nicoll (trong tác phẩm The Church's One Foundation, trang 146), có nói "Chúng ta nên nhớ rằng các môn đồ không chỉ cho rằng họ đã thấy Chúa mà còn trò chuyện với Ngài nữa, những cuộc trò chuyện này xảy ra trong nhiều tình huống khác nhau, và có nhiều người chứng kiến" 30/10,11.
James Orr rất quan tâm đến yếu tố thời gian và ông cho rằng những sự hiện ra của Chúa "không phải là những sự thoáng hiện nhưng là "những cuộc trò chuyện kéo dài"" (tác phẩm The Resurrection of Jesus, trang 145, do Ramm trích dẫn) 51/186.
Chúng ta hãy xem xét kỹ về nhiều nơi, nhiều lúc có sự hiện ra: Mat Mt 28:9, 10. Sự hiện ra vào sáng sớm cho những người đàn bà ở mộ.
LuLc 24:13-33. Sự hiện ra vào buổi chiều trên đường đến Em-ma-út.
24:34, ICo1Cr 15:7 - Hai lần trò chuyện cá nhân giữa thanh thiên bạch nhật.
GiGa 21:1-23 - Buổi sáng sớm, bên hồ.
ICo1Cr 15:6 - Trên núi ở Galilê cho 500 người.
Thật vậy, thời gian và không gian về những lần hiện ra của Chúa là muôn màu, muôn vẻ. Điều này đã thách thức những giả thuyết cho rằng những sự hiện ra đó chỉ là ảo giác.
5E. Ảo giác chỉ xảy ra với những người có tinh thần mong đợi, hy vọng, khiến cho ước muốn của họ thống trị cả suy nghĩ 2/4-9; 36/67-69; 48/97-99.
1F. Những nguyên tắc sau đây là những đặc điểm của sự ảo giác. Giáo sư William Milligan nói rằng Chủ thể của ảo giác phải được mô tả đặc điểm "bởi niềm tin nơi ý tưởng mà nó diễn đạt, và một sự mong muốn cuồng nhiệt rằng ý tưởng đó, bằng mọi cách, phải trở thành thực tế" 41/93-95.
1G. "Để có một kinh nghiệm như thế này người ta cần phải có một sự ham muốn cuồng nhiệt, mạnh mẽ để tin rằng họ sẽ diễn đạt một điều gì đó mà thực tế không có, và biết gắn chặt thực tế với sự tưởng tượng của họ" 36/68.
2G. "Giáo sư E.H. Day nhận xét rằng: "... Việc một số lượng lớn người nhìn thấy những ảo giác và những hiện tượng phi thường một cách chủ quan trong cùng một lúc với nhau, thì cần phải có một sự "chuẩn bị tâm lý" trong một thời gian rất dài.
3G. Paul Little (trong tác phẩm Know Why you believe, nhà xuất bản Thánh Kinh, 1967), đã viết: "Chẳng hạn, có một người mẹ đã mất một đứa con trai trong chiến tranh, và bà nhớ, bà thường đi làm về lúc 5g30 mỗi buổi chiều là như thế nào. Mỗi chiều, bà ngồi trên ghế đá, trầm ngâm, thương nhớ. Cuối cùng, bà cho rằng bà đã thấy con trai bà ở cửa bước ra và nói chuyện với bà. Vào lúc này bà đã mất sự liên lạc với thực tế" 36/68.
2F. Trong trường hợp những sự hiện ra của Chúa sau khi phục sinh khiến những môn đồ của Ngài phải có đức tin ngược lại với ý chí của họ.
W.J. Sparrow-Simpson viết: "Do đó, hiện tượng này thừa nhận rằng, đúng ra những sự hiện ra của Chúa được tác động mạnh mẽ lên sự chú ý của tâm trí từ bên ngoài hơn là được tạo ra từ bên trong" 59/88.
Alfred Edersheim nói rằng: "... Những ảo giác như vậy là do một sự mong ước trước về sự kiện đó, mà theo chúng ta biết, sự kiện này trái với sự thật" 19/626.
Giáo sư E.H. Day (trong tác phẩm On the Evidence for the Resurrection, Society for promoting Christian Knowledge, 1906), đã phản đối thuyết ảo giác rằng: "... Chúng ta có thể thấy được sự chậm chạp của các môn đồ trong việc đi đến sự tin chắc, mà chỉ có sự lý luận hợp lý không thể lay chuyển được của các sự kiện mới đưa họ đến được sự tin chắc đó" 15/53,54.
Về việc thiếu "Sự chuẩn bị tâm lý", Day nhận xét rằng:
"Sự hiện ra đầu tiên của Chúa cho thấy nhiều môn đồ đang ở trong tâm trạng tinh thần khác nhau, nhưng không hề thấy họ có tâm trạng chờ mong, trông đợi, hay sẵn sàng để gặp Ngài" 15/53,54.
Và "... Đức tin của họ đã bị lung lay bởi sự kết thúc bi thảm của một cái chết tủi nhục, một cái chết gợi cho họ nhớ một câu rất sống động trong luật pháp Do Thái "Kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả" (PhuDnl 21:23). Giả thuyết về những ảo giác này dường như có vẻ hợp lý nếu giữa vòng các môn đồ, có một người không chịu tin ở điều tồi tệ nhất này. Nhưng niềm hy vọng của các môn đồ đã tan vỡ đến mức để hồi phục lại thì rất chậm" 15/53,54.
Paul Little, trong tác phẩm "Know Why You Believe", đã giải thích rằng tinh thần chung của các môn đồ không giống như những gì mà người ta thấy trong những nạn nhân bị bịnh ảo giác. Ông nói: "Vào buổi sáng Chúa nhật phục sinh đầu tiên, Mari đã đem hương liệu đến mộ. Tại sao vậy? Để xức xác của Chúa, người mà bà yêu mến. Rõ ràng, bà không hề hy vọng rằng sẽ thấy Ngài sống lại từ trong kẻ chết. Thật vậy, thoạt tiên khi nhìn thấy Chúa, bà tưởng lầm là người làm vườn! Cuối cùng khi Chúa hiện ra với các môn đồ, họ đã hoảng sợ và nghĩ rằng họ đang gặp ma" 36/68,69.
Alfred Edersheim (trong tác phẩm The Life and Times of Jesus the Messiah, Nhà xuất bản Wm. B. Eerdmans, 1962), đã nhận xét rằng "... Sự tường thuật trong sách Luca cho thấy rằng "thuyết ảo giác" là không thể chấp nhận được. Chúng ta thấy rằng, sự hiện ra của Christ phục sinh, khác xa với sự ước mong của họ, đã làm họ sợ hãi. Họ cho rằng đó là ma. Chúa đã làm họ yên lòng, bảo họ sờ vào Ngài vì "ma thì không có xương và thịt, còn ta thì có" 19/628.
Edersheim nói tiếp: "Reuss (Hist. Evang. trang 698), đã nhận xét rất hay rằng: Nếu giáo lý căn bản này của Hội Thánh là kết quả của một điều bịa đặt, thì chúng ta thấy rằng phải có một sự hết sức thận trọng để những sự tường thuật về sự kiện đó hòa hợp với nhau một cách chính xác và đúng đắn nhất" 19/628.
C.S. Lewis (trong tác phẩm Miracles, The Macmillian Company, 1947), cho rằng: "... Bất kỳ một giả thuyết ảo giác nào cũng phải phân tích cho được sự kiện này (nếu sự kiện này là một sự bịa đặt thì đó là một sự bịa đặt tệ hại nhất đã đưa vào trong tâm trí con người), đó là sự kiện là ảo giác đã không phát hiện ra Chúa Jesus ngay trong ba lần Ngài hiện ra khác nhau (LuLc 24:1-53, GiGa 20:15, 21:4). Thậm chí cho rằng Đức Chúa Trời đã cho phép một ảo giác thánh xảy ra để giảng dạy những lẽ thật mà đã được người ta tin cả rồi, và nếu dùng những phương pháp khác giảng dạy còn dễ hơn nữa, và chắc chắn ảo giác này làm cho những lẽ thật bị lu mờ hoàn toàn, thì liệu chúng ta có hy vọng rằng Ngài có đạt được mục đích qua ảo giác này không? Có phải Ngài là Đấng đã tạo nên những khuôn mặt một cách quá vụng về đến nỗi Ngài không làm nổi một hình ảnh của chính Ngài để người ta có thể nhận ra được hay không?" 35/153.
Về sự hiện ra của Chúa cho các môn đồ, T.J. Thorburn đã viết rằng: "... Nếu đó chỉ là một sự tưởng tượng chủ quan, bắt nguồn từ một loạt nhận thức không thực tế trong những người khác, thì chắc chắn truyền thuyết sẽ để lại cho chúng ta nhiều tài liệu hơn nói về điều đó..." 65/29-31.
6E. Ảo giác thường tái diễn qua một thời gian dài với một sự đều đặn dễ nhận thấy 2/4-9; 36/67-69; 48/97-99.
Hoặc là nó sẽ tái diễn thường xuyên hơn cho đến khi có một cơn khủng hoảng xảy đến hoặc nó xảy đến thất thường cho đến khi mất hẳn.
Chúng ta hãy chú ý đến những nhận xét sau đây về những lần hiện ra của Chúa.
Giáo sư C.S. Lewis viết: "Tất cả những điều ghi chép đều cho thấy rằng những sự hiện ra của Chúa đã đi đến chỗ chấm dứt hẳn. Một số người cho rằng đó là một sự chấm dứt đột ngột sau sáu tuần, kể từ lúc Ngài chết... một ảo giác thì có thể biến mất nhưng một thực tế khách quan thì phải đi đến một nơi nào đó - Hẳn là phải có một điều gì đó đã xảy ra" 35/152.
Ông kết luận: "Nếu đó là một ảo giác thì đó là một ảo giác lừa dối, gian trá có hệ thống nhất đã được ghi chép lại. Nhưng nếu đó là sự thật thì có một điều gì đó đã xảy ra với nó sau khi nó ngưng hiện ra. Nếu bạn không chấp nhận đã có sự thăng thiên thì không thể có điều gì thay thế vào đây được" 35/152.
Trong tác phẩm Dictionary of the Apostolic Church của Hastings có chép rằng: "Giả thuyết này không phù hợp với sự kiện rằng các ảo giác này đã đột nhiên đi đến chỗ kết thúc. Sau 40 ngày, không thấy có sự ghi chép nào nói về sự hiện ra của Chúa nữa cả, ngoại trừ với thánh Phaolô, một đối tượng và trường hợp ngoại lệ. Do đó, điều đó không phải là một sự tưởng tượng được. Như Keim đã nói "Những thần linh mà con người gọi lên đã không biến đi nhanh như vậy" (Jesus of Nazara, VI.357) 16/360.
Giáo sư Kevan hỏi "Nếu những sự hiện thấy về Cứu Chúa phục sinh chỉ là những ảo giác thì tại sao những ảo giác đó lại đột ngột chấm dứt? Sau sự thăng thiên, tại sao người ta không thấy rằng chỉ có những người khác vẫn còn nhìn thấy ảo giác đó? Theo luật phát triển, Tiến sĩ Mullins đã nói "Lẽ ra những ảo giác đó đã trở nên một điều thường xuyên xảy ra sau khi có 500 người nhìn thấy, nhưng bây giờ ảo giác đó đã nhường chỗ cho một chương trình truyền bá phúc âm rõ ràng, thống trị" (Why is Christianity true? trang 201).
3C. CHÚNG TA CÓ THỂ RÚT RA KẾT LUẬN GÌ?
John R.W. Stott (trong tác phẩm Basic Christianity, được sự cho phép của Nhà xuất bản Inter-Varsity, Downers Grove, III), đã viết: "Những môn đồ này không phải là những người nhẹ dạ cả tin nhưng là những người thận trọng, hoài nghi và "chậm tin". Họ không dễ gì bị ảo giác, cũng không có những sự hiện thấy kỳ lạ nào thuyết phục được họ. Nói tóm lại... Chúng ta buộc phải đồng ý với Tiến sĩ Sanday, người đã nói rằng: "Không có một hiện tượng ma quái nào, không có một ảo giác nào mà đã từng làm chuyển động thế giới này như vậy".
4B. NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ VÀ SAU ĐÓ LÀ MỌI NGƯỜI ĐÃ ĐẾN LẦM MỘT NGÔI MỘ KHÁC
1C. QUAN ĐIỂM.
Kirsopp Lake, tác phẩm "The Historical Evidence for the Resurrection of Jesus Christ, New York: 6.P. Putnam's sons, 1907, trang 250-53). Giáo sư Lake nói: "Có một vấn đề nghiêm trọng có thể tạo nghi ngờ là liệu những người đàn bà đó có chắc rằng ngôi mộ mà họ đến thăm chính là ngôi mộ mà Giôsép, người Arimathê đã chôn Chúa không. Vùng phụ cận quanh Giêrusalem đầy dẫy những ngôi mộ đá, và nếu không cẩn thận chú ý thì khó mà phân biệt được cái này với cái kia. Nếu họ đến gần mộ lúc chôn cất không thì không đáng tin... Có lẽ họ đã đứng ở xa để nhìn và Giôsép, người Arimathê chỉ là một người đại diện cho người Do Thái chứ không phải đại diện cho các môn đồ. Nếu vậy, họ khó có khả năng phân biệt giữa ngôi mộ này với ngôi mộ gần đó. Do đó, việc họ có thể đã đến lầm mộ cũng nên tính đến, và điều này rất quan trọng vì nó đưa ra một sự giải thích tự nhiên sự kiện rằng, thay vì thấy nó đóng, họ lại phát hiện là nó đã mở... "Nếu không như thế thì tất cả những tình huống dường như cũng phù hợp với điều đó. Những người đàn bà đã đến mộ vào buổi sáng sớm. Họ cho rằng đó là ngôi mộ mà họ đã thấy đã chôn Chúa. Họ nghĩ rằng sẽ thấy ngôi mộ đóng kín nhưng họ lại thấy nó mở. Có một người đàn ông trẻ... đã đoán được mục đích chuyến đi của họ, đã cố bảo cho họ biết rằng họ đã nhầm chỗ. Ông ta nói: "Ngài không có ở đây đâu, hãy xem nơi Ngài nằm", và có lẽ ông ấy đã chỉ cho họ đến ngôi mộ bên cạnh. Những người đàn bà hoảng sợ vì người ta đã phát hiện ra mục đích chuyến đi của họ và họ đã bỏ chạy..."
2C. SỰ PHẢN BÁC.
Cuộc viếng thăm mộ của những người đàn bà vào buổi sáng Chúa nhật là một trong những sự kiện xác thực nhất trong Tân ước. Giả thuyết của Kirsopp Lake đã làm cho tính chất của sự kiện lịch sử này trở nên một điều không thật.
Frank Morison, một luật sư người Anh, đã nói: "Câu chuyện mạo hiểm của các người đàn bà trong Phúc âm Mác là tài liệu xác thực đầu tiên nhất mà chúng ta có được. Câu chuyện này được Mathiơ và Luca lặp lại. Nó cũng được chính Mari Mađơlen xác nhận trong tin lành Giăng, nó cũng có trong ngụy kinh Phúc âm Phierơ, và có lẽ có ý nghĩa hơn là nó có trong những mẩu tài liệu cổ, độc lập và được Luca ghi lại trong đoạn LuLc 24:13-34.
Giáo sư Lake chấp nhận rằng việc các bà đến thăm mộ là sự kiện lịch sử, nhưng trong sự suy đoán của ông về những gì xảy ra ở mộ đã lầm lẫn.
1D. Những người đàn bà này đã cẩn thận chú ý đến nơi chôn xác Chúa 72 tiếng trước đó.
"Có Mari Mađơlen và Mari khác ở đó, ngồi đối ngang huyệt" (Mat Mt 27:61).
"Vả Mari Mađơlen cùng Mari mẹ Jesus, đều thấy chỗ táng Ngài" (Mac Mc 15:47).
"Các người đàn bà từ xứ Galilê đến với Đức Chúa Jesus, theo Giôsép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thế nào" (LuLc 23:55).
Bạn có nghĩ rằng bạn hoặc tôi, hoặc những người đàn bà này hoặc bất kỳ một người có trí khôn nào lại có thể mau quên nơi chôn người mình yêu quý nhất, chỉ mới sau 72 tiếng đồng hồ không?
2D. Những người đàn bà đã thuật lại những gì họ thấy cho các môn đồ và sau đó Phierơ và Giăng cũng thấy rằng ngôi mộ đã trống rỗng.
"Vậy người chạy tìm Simôn Phierơ và môn đồ khác, là người Đức Chúa Jesus yêu, mà hỏi rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu. Phierơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ. Cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phierơ, và đến mồ trước. Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất, nhưng không vào. Simôn Phierơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất, và cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jesus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại đẻ riêng một nơi khác. Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mồ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin" (GiGa 20:2-8).
Điều này có chứng tỏ rằng Phierơ và Giăng cũng đến lầm mồ không?
Paul Little nhận xét: "... Cho rằng Phierơ và Giăng cũng nhầm lẫn là điều vô lý..." 36/65.
3D. Hơn nữa lại có một thiên sứ, đang ngồi trên tảng đá và nói "Hãy đến xem nơi Ngài đã nằm" (Mat Mt 28:6).
Thiên sứ cũng lầm lẫn sao?
Wilbur Smith nói rằng "Để cố ủng hộ thuyết lầm mồ này, một số người có ý nói rằng, những lời thiên sứ nói thật ra có ý là "Các ngươi nhầm chỗ rồi, hãy lại đây để xem nơi đặt xác Chúa" 58/381,382.
"Trải qua 1900 năm nghiên cứu Kinh Thánh Tân ước, thời đại tinh vi, hiện đại của chúng ta phải tìm ra điều đó trong các ghi chép của các sách phúc âm. Không có một tài liệu đáng tin cậy nào về bất kỳ một sách phúc âm nào, lại chấp nhận một sự giải thích rồ dại như thế.
4D. Nếu những người đàn bà đã đến lầm mồ (một ngôi mộ trống) thì Công hội phải đi đến ngôi mộ thật để chỉ thi hài ra (nếu Chúa Jesus không sống lại). Điều này sẽ làm cho các môn đồ phải câm miệng mãi mãi!
5D. Cứ cho rằng người đàn bà, các môn đồ, những người La Mã và những người Do Thái đều đến lầm mồ thì có một điều rất chắc, mà như Paul Little đã nói "... Chắc chắn Giôsép, người Arimathê, chủ nhân của ngôi mộ đó, sẽ đứng ra giải quyết vấn đề" 36/65.
6D. Trong tin lành Mác có chép: "Đoạn, họ vào nơi mộ, thấy một người trẻ tuổi ngồi bên hữu, mặc áo dài trắng, thì thất kinh. Song người nói cùng họ rằng: Đừng sợ chi, các ngươi đi tìm Đức Chúa Jesus Naxarét, là Đấng đã chịu đóng đinh, Ngài sống lại rồi, chẳng còn ở đây. Hãy xem nơi đã táng xác Ngài" (Mac Mc 16:5-6).
Việc Giáo sư Lake trích Mac Mc 16:6 là không trọn nghĩa. Ông chỉ trích phần mà người trẻ tuổi này nói và bỏ qua phần then chốt của câu chuyện. Câu nói "Ngài sống lại rồi" đã không có trong câu trích của Lake về điều này. Chúng ta hãy chú ý sự so sánh sau:
Của Lake Thực tế
"... Ngài không ở đây, hãy đến xem nơi táng xác Ngài..."
"... Ngài đã sống lại rồi, Ngài không ở đây, này đây là nơi đã táng xác Ngài".
J.N.D. Anderson đã nói về sự trích dẫn sai lầm của Lake rằng "... Dù sao đi nữa, tôi cũng chẳng xem điều đó là lời bào chữa uyên bác...".
Nếu điều được trích là đúng thì giả thuyết của Lake không đứng vững được!
7D. Anderson đã đưa ra một vấn đề khác cho những ai theo thuyết của Lake: Khi những người đàn bà chạy đến các môn đồ thì các môn đồ lẽ ra đã làm một trong hai điều này: Họ đã đến mộ để xác minh lời báo của những người đàn bà. Hoặc họ đã bắt đầu công bố về sự phục sinh ngay lập tức.
Tuy nhiên, sự rao giảng như vậy đã không xảy ra cho đến 7 tuần sau đó.
Anderson nói: "Tôi không thể thấy có bất kỳ một lý do nào để các tác giả Cơ Đốc bịa ra chỗ gián đoạn 7 tuần đó. Người ta buộc chúng ta phải tin rằng những người đàn bà đã không kể câu chuyện này cho các môn đồ trong một thời gian khá lâu. Tao sao lại không kể? Vì có lẽ các môn đồ đã chạy trốn về xứ Galilê rồi". Về điểm này, Frank Morison (trong tác phẩm Who moved the Stone? Faber and Faber, 1967) nói rằng "Sự phụ thuộc của những người đàn bà vào các người đàn ông đã làm cho điểm then chốt nhất của giả thuyết Lake bị lúng túng".
Morison kết luận mấy vấn đề chính:
"Giáo sư Lake buộc phải giữ những người đàn bà này ở lại Giêrusalem cho đến sáng Chúa nhật vì ông tin chắc rằng thật sự họ có đi đến mộ.
"Ông cũng bị buộc phải để các môn đồ ra khỏi Giêrusalem trước rạng đông ngày chúa nhật vì ông cho rằng các bà đã im lặng.
"Cuối cùng, để làm cho điều này phù hợp với việc sau đó họ đã kể lại câu chuyện, với tất cả những kết quả hợp lý và rõ ràng, thì ông thấy rằng cần phải giữ các bà ở lại Giêrusalem trong nhiều tuần trong khi các môn đồ quay trở về nhà họ, đã gặp được những kinh nghiệm nào đó, và trở lại thủ đô" 44/10.
8D. John R.W. Stott đã nói đến thái độ của những người đàn bà. Họ đã không bị mù mắt vì những giọt nước mắt thương nhớ, nhưng họ đã có một mục đích nào đó cho cuộc viếng mồ lúc sáng sớm. Stott nói: "Họ mang theo hương liệu để làm cho trọn việc xức xác Chúa, vì 2 ngày trước đó, người ta đã làm vội vàng vì cớ ngày Sabát sắp đến. Những người đàn bà nhiệt tình và tháo vát này không phải là loại người dễ bị lừa hoặc dễ bỏ nhiệm vụ mà họ đến để làm".
9D. Đây không phải là nghĩa địa công cộng mà là một miếng đất riêng để chôn cất. Ở đó không có ngôi mộ nào khác để họ phải nhầm lẫn. Về điểm này Wilbur Smith đã nói: "Ý tưởng này vô cùng kỳ dị đến nỗi giáo sư A.E.J. Rawlinson, trong bài bình luận của ông về Phúc âm Mác, đã cảm thấy cần phải nói về ý kiến của Lake rằng "Việc những người đàn bà này đã đến lầm mộ và nhờ một người ngoài chỉ họ đến ngôi mộ thật là một điều hiểu sai, là một sự giải thích duy lý, hoàn toàn xa lạ với tinh thần của lời tường thuật trong Thánh kinh" (St. Mark, With Introduction, Commentary and Additional Notes, London 1927, trang 243).
10D. Merrill Tenney (trong tác phẩm The Reality of the Resurrection, nhà xuất bản Moody, 1963), đã nói rằng: "Lake đã không giải thích tại sao "người trẻ tuổi" (Mac Mc 16:5) lại có mặt tại nghĩa trang công cộng hoặc tại khu vườn riêng vào giờ đó" 63/115,16.
Ông hỏi "Động cơ nào đã đem người khách lạ đến đó?" 63/115,116.
"Nếu ông ta không phải là khách lạ, nhưng là một trong các sứ đồ muốn đến xem xét, điều tra thì tại sao sự hiện diện của ông ta làm các người đàn bà sợ hãi" 63/115,116.
Tenney bình luận thêm rằng "Lake đã dựa trên ghi chép của Mác cho rằng người đàn ông ấy ngồi trong mộ (câu 5), vì vậy ông ta chắc là không thể nói được rằng họ đã lầm mộ... trừ phi Chúa Jesus không còn đó nữa. Họ có thể thấy nơi Ngài đã nằm nhưng xác Ngài đã biến mất" 63/115,116.
11D. Một số người cho rằng "người trẻ tuổi" đó là người làm vườn. Nhưng Frank Morrison nói rằng: "... Mặc dù có vẻ duy lý, nhưng giả thuyết này có một yếu điểm kỳ lạ" 44/97.
"... Nếu trời tối đến mức mà những người đàn bà đã phải đến lầm mộ thì cũng không thể nào người làm vườn đã dậy để làm việc. Còn nếu trời đã sáng và quá trễ để người làm vườn đi làm thì các người đàn bà không thể nhầm lẫn được. Một giả thuyết chỉ căn cứ trên việc làm cho đồng bộ 2 sự ngẫu nhiên rất đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần của những điều không thể được trong giả thuyết này và một phần của những khó khăn về mặt suy luận quanh giả thuyết đó".
Cũng vậy, nếu người trẻ tuổi này là người làm vườn thì tại sao những thầy tế lễ lại không xác nhận những lời chứng của ông để cho thấy xác Chúa vẫn còn trong mộ? 44/101,102.
Ông ta không phải là người làm vườn, nhưng đó là một thiên sứ từ trên trời xuống.
AI cũng biết rằng ngôi mộ của Chúa trống rỗng - vấn đề là làm thế nào mà nó lại trống như vậy?
12D. Chúng ta nghĩ gì về thuyết của giáo sư Lake cho rằng người ta đã đến lầm mộ?
George Hanson nói: "Nếu tôi có bất kỳ một sự nghi ngờ nào về sự phục sinh thì sách của Giáo sư Lake đã cung cấp cho sự hoài nghi của tôi một sự phản tác dụng bổ ích nhất. Sau khi đọc xong quyển sách đó, tôi càng thấy rõ hơn bao giờ hết ý kiến mà De Wette đã diễn đạt trong tác phẩm "Historical Criticism of the Evangelical History" (trang 229) của ông, rằng: "Mặc dù có một sự đen tối không thể xua tan được, nhưng căn cứ trên cách thể hiện và trình bày thì sự phục sinh là điều không thể nghi ngờ được" 24/8.
Wilbur Smith đã trích dẫn lời phán quyết của một học giả người Anh, giáo sư Morse, rằng: "Việc nếu ra giả thuyết về các người đàn bà đã đến lầm mộ, không xuất phát từ một bằng chứng nào nhưng xuất phát từ lòng không tin ở tính siêu nhiên về ngôi mộ trống của Chúa chúng ta" ("The Narratives of the Resurrection of Jesus Christ" trong tờ Hibbert Journal, tháng 4/1939, XXXIX - 319). 58/382.
6A. KẾT LUẬN: NGÀI ĐÃ SỐNG LẠI, THẬT VẬY NGÀI ĐÃ SỐNG LẠI.
Trong tác phẩm "History and Christianity (Nhà xuất bản Inter-Varsity cho phép sử dụng, 1964, Downers Grove, III), John Warwich Montgomery có nói: "Những tài liệu đầu tiên về cuộc đời và chức vụ của Chúa Jesus cho chúng ta một ấn tượng rằng con người ngày đã đi đây đó không phải để làm nhiều "điều tốt" cho chính mình nhưng đã gây nhiều phiền toái cho chính mình.
"Về điểm này cũng rất giống với Socrates: Cả 2 đều làm cho những người đương thời tức điên lên đến nỗi cuối cùng cả 2 đều chịu chết. Nhưng Socrates đã châm chọc một số ít người Athen bằng cách đòi hỏi họ phải "tự biết mình" - tức là hãy kiểm soát cuộc sống buông thả của mình - Còn Chúa Jesus đã làm cho người cùng thời tức giận vì Ngài cứ liên tục buộc họ có thái độ suy nghĩ về Ngài như thế nào".
"Các ngươi nói ta là ai?" "Các ngươi nghĩ gì về Đấng Christ?" "Ngài là Con của ai?". Đây là những điều mà Chúa Jesus đã hỏi". 43/12.
Đấng Christ đã làm sáng tỏ Ngài là ai. Ngài nói với Thôma rằng: "Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống. Chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha" (GiGa 14:6).
Sứ đồ Phaolô nói rằng Đấng Christ, "bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là con Đức Chúa Trời có quyền phép" (RoRm 1:4).
Simon Greenleaf, một giáo sư luật nổi tiếng của Đại học Harvard (trong tác phẩm Testimony of the Evangelists, nhà sách Baker 1965), đã nói rằng: "Điều mà Cơ Đốc giáo đòi hỏi con người ấy là họ nên trung thực với chính mình, họ nên đối xử với những bằng chứng của sự việc này như họ đã đối xử với những bằng chứng của những điều khác và họ hãy thử xét xử đến những người tham gia và những bằng chứng như họ đang làm với những người đồng thời khi xét xử những công việc, những hành động của họ trang các cuộc xét xử của con người. Hãy để cho những bằng chứng được tự đối chiếu, so sánh lẫn nhau, và với những sự kiện và hoàn cảnh. Hãy để người ta tra xét những lời làm chứng y như thể đang đứng trước tòa trong vai bị cáo. Những người làm chứng cũng phải chịu một số sự thẩm vấn nghiêm khắc. Tôi tin chắc rằng kết quả sẽ là một sự xác quyết không chút nghi ngờ về tính chính trực, sự chân thật và thẩm quyền của những bằng chứng đó" 23/46.
Như G.B. Hardy (trong tác phẩm Countdown, nhà xuất bản Moody, 1970), đã nói: "Đây là tài liệu trọn vẹn nhất:
Mộ của Khổng Tử - Còn có xác bên trong.
Mộ của Phật Thích Ca - Còn có xác bên trong.
Mộ của Mohammet - Còn có xác bên trong.
Mộ của Chúa Jesus - TRỐNG RỖNG
Bây giờ, quyết định thuộc về bạn. Bằng chứng đã tự nói lên rồi. Nó nói rất rõ rằng:
THẬT VẬY CHÚA JESUS CHRIST ĐÃ SỐNG LẠI. TÔI ĐÃ ĐƯỢC THỎA LÒNG
Cách đây nhiều năm, cuộc đời của tôi giống như điều mà Thomas Aquinas mô tả rằng mọi người đều có một khát vọng không nguôi về hạnh phúc. Tôi muốn được hạnh phúc. Ai lại không muốn được hạnh phúc?
Tôi không thích cô đơn và tôi thường tự hỏi "Tôi là ai?" Nếu lúc ấy có ai cho tôi thuốc phiện chắc tôi cũng sẽ liều một phen, vì tôi đã thất vọng, và tôi đã thật sự tìm kiếm câu trả lời cho sự thất vọng và trống trãi của mình.
Thoạt tiên, tôi cho rằng câu trả lời chắc là tôn giáo. Vì thế tôi đã đến nhà thờ. Nhưng tôi chẳng hề tìm thấy được điều gì có thể biến đổi cuộc đời tôi cả. Tôi là người rất thực tế, và nếu không có gì hiệu quả, tôi sẽ vứt bỏ nó. Vì vậy tôi đã từ bỏ tôn giáo.
Sau đó tôi quyết định rằng học thức phải là câu trả lời vì tất cả những nhà lãnh đạo của chúng ta đều là những người có học. Tôi vào đại học, nói chuyện với sinh viên về nhiều vấn đề, nhưng chúng tôi cũng chẳng có giải pháp gì cả. Mặc dù các giáo sư có thể nói với tôi làm thế nào để làm cho cuộc sống tốt hơn nhưng họ không thể cho tôi biết làm thế nào để sống tốt hơn.
Thế rồi tôi nghĩ rằng câu trả lời có thể là thanh thế. Vì vậy tôi đã ứng cử vào chức vụ chủ tịch sinh viên năm thứ nhất. Chúng tôi đã mua một số phiếu và tôi đã đắc cử. Thật là vui thích khi được biết mọi người ở các trường đại học, thi hành những quyết định, bảo người khác phải làm điều này, điều nọ. Nhưng sau một vài tuần, sự phấn khởi cũng bắt đầu qua đi mất. Các sinh viên tìm đến tôi với những nan đề của họ và tôi nói "Các bạn ơi, tôi không giúp các bạn được, tôi cũng có nan đề của riêng tôi".
Nhưng cũng vào khoảng thời gian đó, tôi thấy có một số sinh viên và giáo sư có vẻ khác lạ. Hình như họ đang sống vượt lên trên hoàn cảnh, không bị gánh nặng đè bẹp.
"Hạnh phúc" của tôi luôn dựa trên hoàn cảnh. Khi mọi sự có vẻ êm đẹp, tôi cũng vui vẻ. Nhưng khi mọi sự trở nên tồi tệ, tôi cũng cảm thấy tồi tệ. Nếu bạn gái của tôi yêu tôi, tôi được ở trên 9 tầng mây, nếu cô ấy chia tay với tôi, tôi đã rơi xuống đất.
Vì vậy, sau một thời gian, tôi đã hỏi họ thật giản dị: "Điều gì đã biến đổi cuộc đời của các bạn?" Một cô gái trẻ ngước nhìn tôi và chỉ nói 2 chữ "Jesus Christ".
Tôi nhìn chăm cô ấy và nói "Cô ơi, đừng nói với tôi những điều vớ vẩn ấy. Tôi đã chán ngấy tôn giáo và tôi đã chán ngấy nhà thờ. Đừng nói với tôi về tôn giáo". Nhưng chắc là cô ấy có đức tin rất vững vàng, vì cô ta nói: "Thưa ông, tôi không nói với ông về tôn giáo. Tôi không nói với ông về nhà thờ. Tôi đang nói với ông về con người Jesus Christ". Sau đó tôi xin lỗi cô ta.
Những sinh viên này chỉ ra cho tôi thấy rằng Cơ Đốc giáo không phải là tôn giáo nhưng là một sự quan hệ. Điều đó đã đụng chạm đến tôi vì tôi luôn yêu mến mối quan hệ của tôi với người khác.
Thế rồi bạn có biết điều gì đã xảy ra không? Họ thách thức tôi tra xét kỹ về những lời xác nhận Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời! Bạn thân mến, tôi nghĩ rằng đây là một trò đùa (Tôi tưởng tượng là mỗi Cơ Đốc nhân đều có 2 bộ óc; một cái đã thất lạc và một cái kia đang đi tìm). Nhưng những người này lại cứ tiếp tục thách thức tôi, vì vậy tôi đã nhận lời.
Kết quả là, tôi đã tìm thấy những sự kiện và bằng chứng về Chúa Jesus Christ mà tôi chưa từng biết. Tôi thường lắng nghe các giáo sư giảng dạy những bài học về nhân văn ngạo mạn, và nếu họ không tin Cơ Đốc giáo thì bạn sẽ không bắt tôi phải tin đạo đó. Nhưng tôi thấy rằng tôi đang từ bỏ Christ vì cớ khuynh hướng hoặc sự khinh suất của họ.
Thật vậy, trong tôi có một sự xung đột kinh khủng. Vì là một sinh viên luật, tôi tin rằng Đức Chúa Trời đã viếng thăm hành tinh này qua con người Jesus, rằng Ngài đã chịu chết trên thập tự vì tội lỗi loài người, rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại và hiện nay còn đang sống. Nhưng ý chí tôi không chấp nhận những gì mà lòng tôi đã nói. Tôi đang là một kẻ không thành thật.
Mỗi khi tôi gặp những người Cơ Đốc hạnh phúc thì sự xung đột trong tôi càng trở nên tồi tệ. Có bao giờ bạn được ở giữa những người hạnh phúc trong khi chính bạn bị buồn khổ chưa? Điều đó không gây ấn tượng cho bạn sao? Vâng, điều đó đã đánh động tôi và chẳng bao lâu tôi biết, tôi phải quyết định bởi vì tôi không thể ngủ mê nữa. Tôi biết tôi phải thay đổi tâm trí của tôi hoặc phải cởi bỏ tâm trí cũ kỹ của mình.
Tôi có 2 sự lựa chọn. Tôi có thể mời Chúa Jesus bước vào đời tôi để làm Cứu Chúa và làm chủ. Hoặc tôi có thể từ chối Ngài.
Tôi rất sung sướng vì tôi có đủ nhạy bén để lượng định tình trạng của tôi. Trải qua 19 năm, tôi không hài lòng về cuộc đời mình, và đây là một số người đã tìm thấy câu trả lời cho cuộc đời họ trong Đức Chúa Jesus Christ. Tôi quyết định rằng nếu tôi không nếm thử Đức Chúa Trời thì tôi là một kẻ ngu ngốc. Tôi nhận thức rằng tôi là người duy nhất trên đời này mà Chúa Jesus đã chết thế cho.
Vào lúc 8.30 một buổi tối tháng 12, tôi đã tiếp nhận Chúa. Tôi biết rằng, tôi phải đi đến điểm này mà thôi.
Thoạt tiên, tôi phải biết chắc là các bạn tôi không theo dõi. Có một lần duy nhất chúng bắt gặp tôi quì gối, đó là lúc tôi đang điều chỉnh tivi, nhưng tối hôm đó, tôi quì gối xuống và cầu nguyện: "Cảm tạ Đức Chúa Jesus, vì Ngài đã chết thế con trên thập tự giá". Sau đó tôi nói với Đức Chúa Trời rằng tôi biết tôi là tội nhân, là con người thường bị văn tự làm cho sai lạc. Tôi thường nghĩ rằng tội lỗi chỉ là nói dối, giết người, vô đạo đức... Nhưng điều căn bản nhất về tội lỗi đó là thái độ xa cách Đức Chúa Trời. Vì vậy tôi xin Ngài tha thứ cho tôi.
Rồi tôi cầu nguyện "Lạy Chúa Jesus, con xin mời Ngài vào cuộc đời con để làm Cứu Chúa và làm Chủ. Con từ bỏ ý của con để chấp nhận ý muốn của Ngài". Cuối cùng, bởi đức tin, tôi cảm tạ Ngài vì Ngài đã ngự trị trong lòng tôi.
Không có gì xảy ra cả. Không có một tia chớp nào từ trời chiếu xuống cả. Tôi cũng chẳng có mọc ra đôi cánh nào và tôi cũng không lao đi để mua một cây đàn hạc. Nhưng chỉ trong 6 tháng đến 1 năm, cả cuộc đời tôi đã được thay đổi.
Tôi bắt đầu nhìn thấy những thay đổi trong khoảng 6 đến 8 ngày. Trong đầu óc tôi luôn có nhiều bối rối và tôi phải luôn ở một nơi nào đó hoặc với một người nào đó. Tôi không thể ở một mình tôi với những suy nghĩ của tôi được. Tâm trí tôi dường như đang ở một trạng thái rối rắm. Nhưng khi tôi quyết định giao phó cho Chúa, thì trong lòng tôi có sự bình an và yên nghỉ. Không phải là trong tôi không còn những xung đột, nhưng tôi đã có năng lực để đối phó với những xung đột đó. Tôi đã có sự bình an. Thật khó mô tả điều đó, chính bạn hãy thử đi thì sẽ biết.
Tôi có tính xấu là thường hay nổi nóng. Nhưng sau khi trở thành Cơ Đốc nhân, tôi đã đánh mất tính đó. Có một lần, bỗng nhiên tôi rất bình thản và các bạn tôi đã nhận thấy điều đó. Nhưng những kẻ thù của tôi còn thấy được điều đó sớm hơn nữa.
Tôi còn có tính căm thù. Đó không phải là một cái gì biểu lộ ở bên ngoài nhưng là một sự đè ép ở bên trong. Tôi khinh bỉ người da đen, da vàng, da đỏ và da trắng. Tại sao vậy? Vì hễ ai khác với tôi thì kẻ đó là mối đe dọa cho tôi. Tôi thấy không an toàn.
Nhưng người mà tôi ghét hơn cả là ba tôi. Đối với tôi, ông ấy là một người nát rượu quấy phá xóm làng. Những bạn bè học trung học của tôi thường hay giễu cợt về ông ấy và xem ông ấy như một thằng ngốc trên phố. Tôi cười nhưng trong lòng thì đang khóc. Thỉnh thoảng khi chúng tôi có đông người, tôi đã trói bố tôi lại trong nhà kho và bảo tụi nó là để ông ấy kêu cứu lên. Thậm chí tôi còn cố đầu độc ông ấy bằng cách bỏ thuốc độc vào chai rượu.
Nhưng khi tôi đã trở thành Cơ Đốc nhân, tình yêu của Đức Chúa Trời đã thay thế cho sự căm ghét của tôi, và tình yêu đó mạnh mẽ đến nỗi tôi có thể nhìn thẳng vào mắt của ba tôi và nói: "Ba ơi, con yêu ba". Điều đó đã làm ông rung động thật sự.
Sáu tháng sau, tôi bị một tai nạn xe hơi rất nghiêm trọng. Khi ba tôi đến phòng thăm tôi, ông hỏi "Con ơi, làm sao mà con có thể thương được một người cha như ba?". Tôi nói "Thưa ba, cách đây 6 tháng, con không thể làm được điều đó. Nhưng bây giờ, bởi Đức Chúa Jesus Christ, con có thể yêu ba và tất cả mọi người".
Tôi đã giải thích cho ba tôi, Christ đã thay đổi tôi như thế nào từ trong ra ngoài. Và 45 phút sau, ba tôi quì gối xuống và dâng đời sống ông cho Chúa. Khi ông ngước lên, ông đã là một người được biến đổi thật sự. Điều này giống như có ai đó đã với đến công tắc và bật bóng đèn sáng lên. Sau đó ông chỉ sờ đến chai rượu có một lần nữa thôi.
13 tháng sau, ba tôi mất. Nhưng trong những tháng ngắn ngủi này, bởi sự thay đổi trong cuộc đời của ba tôi, rất nhiều người ở vùng đó và những vùng lân cận đã chịu dâng hiến cuộc đời họ cho Đấng Christ.
Đây là lý do tại sao tôi tin rằng Đức Chúa Jesus Christ là một nhà cách mạng vĩ đại nhất đã từng sống trên đất này. Đây là lý do tại sao tôi tin rằng sự đầu tư lớn lao nhất mà tôi có thể làm là chia xẻ đức tin của tôi cho càng nhiều người càng tốt.
Trước đây tôi thường hoạt động vì cớ sự bất an của mình, nhưng bây giờ tôi hoạt động vì một lý do khác: sự bình an tràn ngập. Tôi đã được thỏa lòng.
Josh McDowel
1. Anderson, J.N.D. Christianity: The Witness of History , copyright Tyndale Press 1970. Used by permission of Inter-Varsity Press, Downers Grove, III. 60515
2. Anderson, J.N.D. "The Resurrection of Jesus Christ " (copyright). Christianity Today. March 29, 1968. used by permisson.
3. Anderson, J.N.D., Wolfhart Pannenberg and Clark Pinnock. "A Dialogue on Christ's Resurrection." Christianity Today . April 12, 1968, copyright. Used by permission.
4. Alford, Henry. The Greek Testament: With a Critically Revised Text : A Digest of Varrious Readings: Marginal References to Verbal and Idiomatic Usage: Prolegomena: And a critical and Exegetical Commentary. Vol. I. Sixth edition. London: Deighton, Bell, and Co., 1868.
5. Arndt, Wm. F.and F. Wilbur Gingrich. A Greek - English Lexicon of the New Testament and Other Early Christ Literature . Chicago: The University of Chicago Press, copyright 1952.
6. Bruce, Alexander Balmin. The Expositors Greek New Testament . Vol. I-The Synoptic Gospels. London: Hodder and Stoughton, 1903.
7. Bruce,A. B. The Training of the Twelve . Grand Rapids: Kregel Publications, 1971.
8. E. Le Camus. The Life of Christ . Vol. III. New York: The Cathedral Library Assoc.,1908.
9. Chandler, Samuel. Witnesses of the Resurrection of Jesus Christ . London: np., 1744.
10. Chrysostom. Homilies on the Gospel of Saint Matthew . Found in A select Library of the Nicene and Post-Nicene Fathers of Christian Church . Vol. X. Edited by philip Schaff. New York: The Christian Literature Company, 1888.
11.Clark, G.W. The Gospel of Matthew . Philadelphia: American Baptist Publication Society, 1896.
12. Jamieson, Robert, A. R. Fausset and David Brown (eds.). A commentary Critical, Expermental, and Practixal on the Old and New Testaments . Vol. V. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1948. Used by permission.
13. Cook, Frederick Charles (ed.).Commentary on the Holy Bible . Lon don : John Murray, 1878.
14 Currie, George. The Military Discipline of the Romans from the Founding of the City to the Close of the Republic . An Abstract of a Thesis published under the auspices of the Graduate Council of Indiana University, 1928.
15. Day, E. Hermitage. On the Evidence for the Resurrection . London: Society for Promoting Christian Knowledge, 1906.
16. Hastings James. Dictionary of the Apostolic Church . Vol. II. Edinburgh: T.Ọ T. Clark, 1918.
17. Hastings, James, John A. Selbie, and John C. Lambert (eds.). A Dictionary of Christ and the Gospels . Vol. II. New York: Charles scribner's Sons, 1909.
18. Smith, William (ed.). Dictionary of Greek and Roman Antiquities . Rev. ed. London: James Walton and John Murray, 1870.
19. Edersheim, Alfred. The Life and Times of Jesus the Messiah . Vol. II. Grand rapids: Wm. B. Eerdmans publishing co., 1958. Used by Permission.
20. Edersheim, Alfred. The Temple: Its Ministry and Services . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Co.,1958. Usedby permission.
21. Farrar, Frederick W. The life of Christ . Dutton, Dovar: Cassell and Co.,1897.
22. Green, Michael. Man Alive . Downers Grove, III. 60515: Inter-Varsity Prees, 1968. Uesd by permission.
23. Greenleaf, Simon. Testimony of the Evangelists, Examined by the Rules of Evidence Administered in Courts of Justice . Grand Rapids: Baker Book House, 1965 (reprinted from 1847 edition).
24 Hanson, George. The Resurrection and the Life . London: William Clowes Ọ Sons, Ltd., 1911.
25. Hardy, G. B. Countdown . Chicago: Moody Press, 1970.
26. Hinsie, L. E.and J. Shatsky. Psychiatric Dictionary . New York: Oxford University Press,1948.
27. Holloman, Henry W. An Exposition of the Post-Resurrection Appearances of Our Lord . Unpublished Th. M. Thesis: Dallas Theological Seminary, May 1967.
28. Ignatius' Epistle to Trallians. Found in Ante-Nicene Christian Library: Translations of the Writings of the Fathers . Edited by Alexander Roberts and James Donaldson. Vol. I. Edinburgh: T. Ọ T. Clark, 1867.
29. The International Standard Bible Encyclopedia . 5 vols. Edited by James Orr, John L. Nielsen, and Lames Donaldson. Vol. I. Edinburgh: T Ọ T.Clark, 1867.
30. Kevan, Ernest F. The Resurrection of Christ . London: The Campbell Morgan Memorial Bible Lectureship, Westminter Chapel, Buckingham Gate, S.W. I, June 14, 1961.
31. Latham, Henry. The Risen Master . Cambridge: Deighton, Bell, and Co., 1904.
32. The Jewish Encyclopedia . New York: Funk and Wagnalls Company, n.d.
33. Lewis, Charlton T. and Charles Short (eds.). A Latin Dictionary . Oxford: Clarendon Press, n.d. Used by permission.
34. Lenski, R. C. H. The Interpretation of St. Matthew's Gospel . Columbus: The Wartburg Press, 1943.
35. Lewis, C. S. Miracles, A Preliminary Study . New York: The Macmillan Company, 1947.
36. Little, Paul E. Know Why You Believe . Wheaton: Scripture Press Publications, Inc., 1967. Used by permission.
37. Maine, Henry Sumner. Ancient Law . New York: Henry Holt and Company, 1888.
38. Martyr, Justin. Found in Ante-Nicene Christian Library : Translations of the Writings of the Fathers. Edited by Alexander Roberts and James Donaldson. Vol. II. Adinburgh: T. Ọ T. Clark, 1867.
39. Matheson, george. The Representative Men of the New Testament . London: Hodder and Stoughton, 1904.
40. Mattingly, John P. Crucifixion: Its Origin and Application to Christ . Unpublished The. M. Thesis: dallas Theological Seminary, May 1961.
41. Milligan, William. The Resurrection of Our Lord . New YOrk: The Macmillan Company, 1927.
42. Danby, Herbert (trans.). The Mishnah . London: Geoffrey cumberlege, Oxford University Press, 1933.
43. Montgomery, John Warwick. History and Christianity . Downers Grove, III. 60515: Inter-Varsity Press, 1964. Used by permission.
44. Morison, Frank. Who Moved the Stone ? London: Faber and Faber, 1967.
45. Douglas, J. D. (ed.). The New Bible Dictionary . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans PublishingCo., 1962. Used by permission.
46. Paley, William. A View of the Evidences of Christianity . 14th ed. London: S. Hamilton, Weybridge, 1811.
47. Pannenburg, Wolfhart. Jesus-God and Man . Translated by L. L. Wilkins and D. A. Prich. Philadelphia: Westminster Press, copyright MCMLXVIII. Used by permission.
48. Peru, Paul William. Outline of Psychiatric Case-Study . New York: Paul B. Hoeger, Inc. 1939.
49. Fallows, Samuel (ed.). The Popular and Critical Bible Encyclopeadia and Scriptural Dictionary . Vol. III. Chicago: The Howard Severance Co., 1908.
50. Hoch, Paul H., Joseph Zubin and Grhune Stratton (eds.). Psychopathology of Perception . New York:n.p., 1965.
51. Ramm, Bernard. Protestant Christian Evidences . Chicago: Moody Press, 1957. Used by permission.
52. Robertson, A. T. Word Pictures in the New Testament . New York: R. R. Smith, Inc. 1931.
53. Roper, albert. Did Jesus Rise from the Dead ? Grand rapids: Zondervan Publishing House, copyright 1965. USed by permission.
54. Schaff, Philip. History of the Christian Church . Vol. 1. Grand Rapids: Willliam B. Eerdmans Publishing Company, 1962. sed by permission.
55. Smith, Wilbur M. A great Certainty in this Hour of World Crisis . Wheaton: Van Kampen Press, 1951.
56. Smith, Wilbur M."The Indisputable Fact of the Empty Tomb." Moody Monthly , copyright May, 1971. Reprinted by permission from Moody Bible Institute.
57. Smith, Wilbur M. "Scientists and the Resurrection." Christianity Today . Copyright April 15, 1957. Used by permission.
58. Smith, Wilbur M. Therfore stand: Christian Apologetics . Grand Rapids: Baker Book House, Copyright 1965.
59. Sparrow-simpson, W. J. The Resurrection and the Christian Faith . Grand Rapids: Zondervan Publishing House, copyright 1968 (reprinted from 1911 edition of Langsmans) Green, and Co., published under the title, the Resurrection and Modern Thought. Used by permission.
60. Stott, John R. W. Basic Christianity . Downers grove, III. 60515: Inter-Varsity Press, 1971. Used by permission.
61. Straton, Hillyer H. "I Believe: Our Lord's Resurrection." Christianity Today . Copyright March 31, 1968. Used by permission.
62. Strauss, david Friedrich. The Life of Jesus for the People . Vol. I. 2d ed. London: Williams and Norgate, 1879.
63. Tenney, Merrill C. The Reality of the Resurrection . Chicago: Moody Press, 1963. Used by permission.
64. Writings of Quintus Stept. Flor. Tertulliaus. Found in Ante-Nicene Christian Library : Traslations of the Writings of the Fathers. Edited by Alexander roberts and James Donaldson. Vol. XI. Edinburgh: T. Ọ T. Clark, 1867.
65. Thorburn, Thomas James. The Resurrection Narratives and Modern Criticism . London: Kegan Paul, Trench, Trubner Ọ Co ., Ltd., 1910.
66. Tucker, T. G. Life in the Roman World of Nero and St. Paul. New York: The Macmillan Co ., 1910.
67. Vicent, Marvin R. World Studies in the New Testament . Vol. I. New York: Charles Scrbner's Sons, 1900.
68. Hanson, Anthony (ed.). Vindications: Essays on the Historical Basis of Christianity . New YOrk: Morehouse-Barlow Co.,1966.
69. Vine, W. E. Expository dictiontary of New Testament . Vol. II. London: Edinburgh, 1993.
70. Whedon, D. D. Commentary of the Gospels Matthew-Mark . Vol.9. New York: Hunt and eaton, 1888.
71. Whitworth, John F. Legal and Historical Proof of the Resurrection of the Dead . Harnsburg: Publishing House of the United Evangelical Church, 1992.
72. Moyer, Elgin S. (ed.) Who Was Who in Church History . Chicago: Moody Press, 1962. Used by permission.
73. Rosscup, James. Class Notes. La Mirada, CA.: Talbot Theological Seminary, 1969.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 28-5-2018 05:02 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách