† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3660|Trả lời: 0

Những Nguyên Tắc Lãnh Đạo

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 23-7-2011 08:12:33 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Những Nguyên Tắc Lãnh Đạo
Tác giả: John W. Kirkatrick

Giới Thiệu Môn học
Xin hoan nghênh bạn đến với môn lãnh đạo !
Được sống trong thời đại này quả là hào hứng ! Đang khi Hội Thánh đang tiến dần đến thế kỷ 21 và đối diện với những thách thức cũng như những cơ hội mới. Có rất ít quốc gia hoàn toàn đóng cửa đối với Phúc Âm và hầu như ở khắp mọi nơi người ta đang muốn tìm kiếm thực thể và chân lý. Nếu có bao giờ Hội Thánh từng được ở trong một vị thế ảnh hưởng đến toàn thể các quốc gia cho Đấng Christ qua sự lãnh đạo hữu hiệu, thì đó chính là lúc này.
Khởi từ thời Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời đã và đang luôn luôn kêu gọi trang bị những nhà lãnh đạo để thúc đẩy, linh cảm và làm cho Dân sự Ngài có đủ khả năng để đối đầu với những thách thức trong thời đại của họ. Phương cách của Đức Chúa Trời là dẫn dắt. lãnh đạo thông qua những công cụ là con người. Đã quá biết về sự yếu đuối và mỏng manh của những người lãnh đạo là thế nào, có lẽ chúng ta la1y làm lạ tại sao Đức Chúa Trời lại chọn một phương thức như vậy ! Nhưng sự chọn lựa tối thượng của Ngài đã là như vậy để bày tỏ Lời Ngài và mở rộng vương quốc Ngài qua những người nam, người nữ. Nếu không có những con người như Môise, Đêbôra, Đavít, Eâxơtê, Phierơ, Phaolô. Martin Luther. John Wesley, và đông đảo những nhà lãnh đạo vĩ đại khác thì thử hỏi bạn có thể tưởng tượng ra câu chuyện về chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời được không?
Ngày nay, chúng ta đang tiến đến những giới tuyến lớn lao cuối cùng của công tác truyền giáo. Những bậc anh hùnh truyền giáo sẽ không còn là bóng dáng cô độc từ thế giới phương Tây, lội bò qua những rừng rậm nóng bức với Kinh Thánh cầm trên tay, tìm kiếm vài bộ tộc hư mất nào đó để truyền giáo. Đằng khác, họ sẽ là những tín hữu kết ước từ mỗi một quốc gia, đi trên những vỉa hè của những thành phố lớn trong thế giới này. Đến năm 2000 dân số thế giới sẽ trội hơn 6 tỷ người. Trong số đó sẽ có hơn 80% sinh sống ở các thành phố.
Thật đáng kính sợ khi nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã đang kêu gọi chính bạn dự phần vào câu trả lời của Ngài đối với nhu cầu của thế giới này về Đấng Cứu Thế, là Chúa Giêxu. Khi bạn nghiên cứu và thực hiện các nguyên tắc lãnh đạo trong môn học này, tôi cầu xin Chúa cho bạn sẽ kinh nghiệm được sự tăng trưởng và phát huy cá nhân vững vàng. Đức Chúa Trời đang tìm kiếm những người lãnh đạo, là những người mà Ngài có thể giao phó trách nhiệm ở tại tuyến đầu trong những điều Ngài sắp sửa thực hiện tại thời điểm hào hứng này. Vai trò mà Ngài dành cho bạn là mỗi một phận sự cũng mang tính cách đòi hỏi và hứng thú như là những vai trò đã giao phó cho những nhà tiền phong truyền giảng Phúc Âm vĩ đại đã khởi đầu ở Phi châu, Á Châu và những quần đảo của Thái Bình Dương trong thế kỷ trước.
Bạn đã sẵn sàng bước vào cuộc phiêu lưu của đời sống chưa?
Mô Tả Môn Học
Những nguyên tắc lãnh đạo ( CM 4182 Tín chỉ : 2 giờ)
Sự chọn lựa và phát triển những nhà lãnh đạo Cơ Đốc là một trong những thách thức chính mà Hội Thánh phải đối diện khi tiến gần đến thế kỷ thứ 21. Môn học này cung ứng cho các học viên một môn thần học hiện đại về sự lãnh đạo trong tinh thần Cơ Đốc, Đơn vị 1 bàn luận về học thuyết, đường lối, và năng lực lãnh đạo với những ứng dụng vào sự lãnh đạo Cơ Đốc. Đơn vị 2 trình bày sự lãnh đạo mang tính phục vụ là một khuôn mẫu cho những nhà lãnh đạo Cơ Đốc và bao hàm những nguyên tắc Kinh Thánh, những giá trị mấu chốt và những ưu điểm của các nhà lãnh đạo phục vụ. Các bài nghiên cứu về những trường hợp trong Kinh Thánh biểu lộ được những nguyên tắc lãnh đạo quan trọng là nội dung chính của đơn vị 3. Đơn vị 4 mang lại sự giúp đỡ thực tiễn bằng những chức năng lãnh đạo chính yếu : Tái cung ứng những nhà lãnh đạo, thực hiện sự thay đổi về mặt tổ chức, hướng dẫn những nhóm nhỏ, và đánh giá những mục tiêu lãnh đạo.
Những mục tiêu của Môn Học
Khi hoàn tất môn học này bạn sẽ có thể :
1. Trình bày được những đặc điểm của các lý thuyết, các đường lối lãnh đạo và những nền tảng năng lực lãnh đạo.
2.Phát triển theo trí nhớ định nghĩa của Liton về sự lãnh đạo trong tinh thần Cơ Đốc.
3. Giải thích được các phương diện mà trong đó định nghĩa của Liton về Sự Lãnh Đạo theo tinh thần Cơ Đốc khác với các định nghĩa của người đời về những nhà lãnh đạo.
4. Nhận rõ được ít nhất bốn đường lối lãnh đạo của các nhà lãnh đạo trong Kinh Thánh.
5. Phân tích được các hoàn cảnh đã cho để quyết định nền tảng thẩm quyền thuộc linh nào là phù hợp với mỗi một hoàn cảnh đó.
6. Ứng đụng được các nguyên tắc Thánh Kinh về Sự Lãnh Đạo trong tinh thần phục vụ vào đời sống riêng tư và chức vụ của bạn.
7. Liên hệ cuộc sống riêng tư và chức vụ của bạn với những giá trị chủ chốt và những ưu điểm của các nhà lãnh đạo trong tinh thần phục vụ.
8. Mô tả những nguyên tắc lãnh đạo đã được biểu lộ qua đường lối lãnh đạo của Nêhêmi, Phaolô và Banaba
9. Đánh giá những phương pháp huấn luyện người lãnh đạo của Chúa Giêxu được kể là khuôn mẫu cho việc huấn luyện lãnh đạo ngày nay.
10. Giải thích khuôn mẫu thay đổi theo bốn bước có thể được dùng để đem lại sự chuyển biến hữu hiệu trong một tổ chức Cơ Đốc như thế nào.
11. Hướng dẫn một nhóm nhỏ theo những nguyên tắc đã cho.
12. Bàn luận về các phương cách để các nhà lãnh đạo xuất sắc có thể được nhận ra và phát huy.
13. Hiểu rõ và áp dụng được những nguyên tắc có liên quan tới việc phát huy và đạt đến các mục tiêu chức vụ của bạn.
14. Trình bày đường lối lãnh đạo của riêng bạn và đánh giá đường lối đó các từ ngữ của những vị trí lãnh đạo theo tinh thần Thánh Kinh
15. Chỉ rõ được những phương cách nào từ các khái niệm đã được biết nhờ nghiên cứu môn học này sẽ góp phần vào sự lãnh đạo trong môi trường phục vụ của riêng bạn.
Các sách giáo khoa
Bạn sẽ dùng sách giáo khoa Nghiên cứu độc lập : “ Các nguyên tắc Lãnh đạo” của John W. Kirkpatrick làm sách giáo khoa và sách hướng dẫn nghiên cứu cho môn học. Kinh Thánh là cuốn sách duy nhất khác mà bạn cần có.
Thời gian học
Chúng tôi đề nghị bạn nên có một giờ học đều đặn nhứt định. Dĩ nhiên là bạn có thể tận dụng những giờ rãnh để học,nhưng không thể thay thế được một thời giờ học tập thường xuyên. Hãy cố gắng hoàn tất ít nhất một bài mỗi tuần.
Trong một lớp thường phải đề ra hai hoặc ba buổi học dành cho mỗi bài. Nếu bạn tự học, có lẽ bạn phải cần từ ba đến sáu giờ cho một bài học.
Thời gian thực sự bạn cho mỗi bài học tùy thuộc một phần vào Kiến thức của bạn về chủ đề và tùy thuộc vào học lực của bạn trước khi bắt đầu môn học.
Thời gian học còn tùy thuộc vào tầm rộng của bài học mà bạn muốn nhắm đến và muốn phát huy kỹ năng cần thiết cho việc tự học. Hãy hoạch định thời biểu học tập của bạn sao cho bạn có thể đủ thời giờ thâu đạt được các mục tiêu do tác giả môn học đề ra cũng như những mục tiêu của riêng bạn.
Các phương pháp học tập
Đọc cẩn thận các lời chỉ dẫn về các phương pháp học tập đã có ghi trong tập học viên của bạn. Điều này sẽ giúp bạn hiểu rõ chương trình ICI muốn bạn học bài thế nào. Oân tập theo từng nhóm bài học để đánh giá tiến bộ qua mỗi đơn vị và chuẩn bị cho kỳ thi cuối khóa bao gồm tất cả các bài học. Nếu bạn không thường xuyên học theo như ICI đã chỉ dẫn thì bạn sẽ chuyển đổi các phương pháp học tập của bạn thế nào cho đạt được thành quá cao nhất qua môn học.
Nếu bạn tự học môn học này thì tất cả các bài tập của bạn, ngoại trừ bài thi cuối khóa đều có thể hoàn tất qua đường bưu chính. Mặc dầu ICI đã soạn thảo môn học này để bạn có thể tự học một mình, bạn có thể cùng học bài học này trong một lớp hay một nhóm nhỏ. Trong trường hợp đó, nhân viên phụ trách hướng dẫn sẽ giúp bạn những lời chỉ dẫn thêm. Hãy theo sát những lời chỉ dẫn này.

Cơ cấu bài học và cách học .
Mỗi bài học gồm có : 1) Tựa đề bài học, 2) Lời mở đầu, 3) Dàn bài, 4) Những mục tiêu của bài học, 5) Các hoạt động học tập, 6) Những từ ngữ theo chốt, 7) Phần khai triển bài học với các câu hỏi nghiên cứu, 8) Bài kiểm tra, 9) Phần trả lời các câu hỏi.
Dàn bài và các mục tiêu sẽ giúp bạn có một cái nhìn tổng quát về đề tài, giúp bạn tập trung chú ý vào những điểm quan trọng nhất khi bạn nghiên cứu và giúp cho biết bạn cần phải học điều gì. Phần triển khai bài học sẽ giúp nghiên cứu thấu suốt các vấn đề một cách dễ dàng. Bằng cách nghiên cứu bài học theo từng phần nhỏ, bạn sẽ tận dụng được những khoảng thời gian ngắn để nghiên cứu bất cứ lúc nào bạn có thì giờ, thay vì phải chờ đợi cho tới khi bạn có đủ thì giờ để học toàn bộ bài học một lúc. Những lời giải thích các bài tập và các câu trả lời đều đã được soạn thảo để giúp bạn đạt được các mục tiêu của bài học.
Hầu hết các câu hỏi nghiên cứu trong phần khai triển bài học đều có thể được trả lời đầy đủ trong các khoảng trống chừa sẵn trong sách giáo khoa nghiên cứu độc lập này của bạn. Một số câu khác đòi hỏi phải có vở ghi chép riêng để trả lời. Khi viết câu trả lời vào vở, bạn cần ghi rõ số thứ tự và trả lời. Khi viết câu trả lời vào vở, bạn cần ghi rõ thứ tự và tựa đề của bài học theo đúng số thứ tự câu hỏi trong sách. Điều này sẽ giúp bạn trong việc ôn tập để đánh giá tiến bộ theo đúng từng đơn vị.
Đừng bao giờ xem câu trả lời trước, hãy chờ đến khi bạn đã làm xong câu trả lời. Nếu bạn đã có câu trả lời riêng của mình trước, bạn sẽ nhớ bài học kỹ hơn. Sau khi bạn đã hoàn tất mỗi câu hỏi nghiên cứu, hãy kiểm tra lại câu trả lời bằng phần giải đáp được cho ở cuối bài học, rồi sửa lại những lời sai nếu có.
Những câu hỏi nghiên cứu này rất quan trọng, vì chúng sẽ giúp bạn phát huy và cải thiện được sự hiểu biết cũng như sự hầu việc Chúa của bạn. Những công tác đề nghị cũng sẽ giúp bạn sử dụng các kiến thức theo những phương hướng thực tiễn.
Tài liệu dành cho học viên
Tập tài liệu dành cho học viên mà bạn nhận được kèm theo bài học này gồm có những lời chỉ dẫn để làm bài đánh giá tiến bộ theo từng đơn vị và làm bài thi cuối khóa. Tập học viên cũng có câu trả lời cho các bài kiểm tra, bài đánh giá tiến bộ theo từng đơn vị và các bảng trả lời cùng các mẫu biểu quan trọng khác. Hãy dùng bảng liệt kê trên trang bìa tập học viên để xác định những tài liệu nào bạn phải để trình cho nhân viên hướng dẫn của bạn và khi nào phải nộp.
Các phần đánh giá tiến bộ từng đơn vị và bài thi cuối khóa
Mặc dầu điểm trả lời của các câu hỏi nghiên cứu của bài học kiểm tra và những đánh giá tiến bộ theo từng đơn vị sẽ không tính vào điểm của khóa học, bạn vẫn cần gửi các bảng trả lời phần đánh giá tiến bộ từng đơn vị của bạn về cho người hướng dẫn để sửa chữa và có những đề nghị cho bài làm của bạn. Sau đó bạn có thể xem lại các tài liệu trong sách giáo khoa nghiên cứu độc lập cũng như Kinh Thánh của bạn về những điểm bạn thấy khó. Việc ôn lại các mục tiêu bàn học, bài kiểm tra và các bài đánh giá tiến bộ từng đơn vị sẽ giúp bạn chuẩn bị kỳ thi cuối khóa.
Chứng chỉ cho môn học này
Để nhận được chứng chỉ của ICI cho môn học này, bạn phải trải qua kỳ thi cuối khóa. Bài thi này phải được viết trước sự hiện diện của một giám thị kỳ thi được ICI thừa nhận. Vì chúng tôi có các giám thị ở nhiều quốc gia nên có lẽ bạn sẽ dễ dàng tiếp xúc với một nhân viên tại địa phương của bạn. Hướng dẫn viên của bạn sẽ giúp bạn thêm chi tiết.
Môn học này cũng có thể được dùng chỉ vì lợi ích thực tiễn của nó mà không cần lấy chứng chỉ. Trong trường hợp này, bạn không cần phải gởi nộp các bài làm và cũng không cần thi cuối khóa. Việc nghiên cứu môn học này sẽ làm phong phú thêm cho cuộc sống của bạn cho dầu bạn có muốn lấy chứng chỉ hay không.
Chứng chỉ qua kỳ thi
Bạn có thể nhận được chứng chỉ của môn học này mà không cần nghiên cứu các tài liệu của môn học. Điều này có thể thực hiện được nếu bạn vượt qua các bài thi cuối khóa. Tuy nhiên, vì các bài tập và các bài kiểm tra của sách giáo khoa nghiên cứu độc lập này được soạn thảo để chuẩn bị bạn cho bài thi cuối khóa nên có lẽ bạn cần nghiên cứu các tài liệu này. Hãy hỏi ý kiến Giám đốc ICI Quốc gia của bạn để biết thêm chi tiết.
Xếp hạng cuối khóa
Việc xếp hạng cho bạn được dựa trên kỳ thi cuối khóa có sự giám sát của Giám thị. Thang điểm của bạn sẽ được xếp hạng như sau :
90- 100 % là hạng ưu; 80 - 89 % là trên trung bình ; 70 - 79 % là trung bình. Hạng ưu là không được nhận chứng chỉ, hạng NC là không hoàn tất trong thời gian qui định; và hạng W là hủy bỏ.
Chuyên viên soạn nội dung , Sách giáo khoa nghiên cứu độc lập
Tiến sĩ John W. Kirkpatrich đã dựa trên kiến thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn trong chức vụ của ông để viết ra sách học này. Ông đã phục vụ trong cương vị Mục sư từ năm 1978 và hiện đang là Mục sưb trưởng của Hội Thánh Báp Tít Royal Oak tại Auckland, Tân Tây Lan. Ông đã và đang hướng dẫn các khóa hội thảo sinh viên về lãnh đạo và thi hành chức vụ tại Uùc Châu. Hoa Kỳ, Phi Châu và Aâu Châu. Hiện nay, ông có liên quan trong sự phát triển của các chương trình huấn luyện lãnh đạo bao gồm việc huấn luyện các nhà lãnh đạo không chuyên thông qua các khóa học hàm thụ.
Tiến sĩ Kirkpatrich đã tiếp nhận học vị cử nhân Thần khoa từ Đại học Thần đạo Melbourne năm 1977. Vào năm 1987 ông đã nhận học vị Cao học của Missilogy và năm 1988 học vị Tiến sĩ của Missilogy từ Chủng viện Thần học Fuller.
Nhân viên hướng dẫn ICI của bạn
Người hướng dẫn ICI của bạn sẽ rất vui và sẵn lòng giúp đỡ bạn bằng bất cứ cách nào có thể được. Hãy hỏi người hướng dẫn bất cứ thắc mắc nào bạn có thể có về việc sắp xếp kỳ thi cuối khóa. Phải bảo đảm dành đủ thì giờ để những kế hoạch có thể được lập một cách phù hợp cho việc học. Nếu có nhiều người cũng muốn học bài học chung với nhau, hãy yêu cầu người hướng dẫn để có sự sắp xếp đặc biệt cho việc học theo nhóm.
Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bạn bắt đầu nghiên cứu “ Các nguyên tắc lãnh đạo”. Mong rằng nó sẽ làm phong phú thêm cho cuộc sống và chức vụ của bạn, sẽ giúp bạn làm trọn chức năng của mình trong thân thể Đấng Christ một cách hữu hiệu hơn.
Từ ngữ lãnh đạo đã không thấy xuất hiện trong Anh ngữ cho đến khoảng 1800 mới có.Tuy nhiên cuốn từ điển Oxford bằng Anh Ngữ xuất bản năm 1933 cho biết rằng từ ngữ người lãnh đạo đã xuất hiện rất sớm vào năm 1300, trải qua nhiều năm có các định nghĩa và học thuyết về lãnh đạo đã được trình bày. Trong đơn vị bài học này chúng ta sẽ xem xét một vài sự nghiên cứu của người đời về học thuyết, đường lối lãnh đạo và áp dụng vào một định nghĩa của Cơ Đốc Giáo về sự lãnh đạo. Chúng ta sẽ thấy rằng đường lối lãnh đạo phải phù hợp với toàn thể bối cảnh và mức độ trưởng thành của những người đi theo sự lãnh đạo đó. Rồi chúng ta sẽ xem xét nhiều nền tảng uy quyền lãnh đạo khác nhau đã được mô tả trong sự nghiên cứu của người đời và cách chúng ta có liên quan đến uy quyền lãnh đạo thuộc linh như thế nà .Những nghiên cứu này sẽ đem lại cho chúng ta một nền tảng tốt để hiểu biết các nguyên tắc lãnh đạo Cơ Đốc .
GIỚI THIỆU VỀ HỌC THUYẾT LÃNH ĐẠO
Làm thế nào để một người có thể trở thành một nhà lãnh đạo? Những nhà lãnh đạo lỗi lạc như Môise, Giôsuê, Nêhêmi và Phaolô có điểm giống nhau nào không? Những nhà lãnh đạo Cơ Đốc là do được đào tạo hay bẩm sinh? Có phải tài lãnh đạo là một ơn từ thuộc linh không? Đây là những câu hỏi tiêu biểu thường được những nhà lãnh đạo Cơ Đốc còn tiềm ẩn và là điều chúng ta sẽ cùng bàn luận trong môn học này.
Việc tìm kiếm những nhà lãnh đạo hữu hiệu không chỉ là mối lưu tâm của các Cơ Đốc Nhân mà cũng là mối lưu tâm của các tổ chức của người đời cũng như của các nhà khoa học xã hội. Một nhà doanh nghiệp quốc tế đã tóm tắc các quan điểm của nhiều người bằng những chữ sau : “ Lãnh đạo đang trở thành một nghệ thuật thất truyền”.
Nhiều cuộc nghiên cứu tìm tôi đã được tiến hành nhằm tìm ra những phương cách thực tiễn để vượt qua sự lãnh đạo kém hiệu quả. Là những nhà lãnh đạo Cơ Đốc, chúng ta không thể nào không quan tâm đến việc nghiên cứu này. Chúng ta phải công nhận rằng có một số nguyên tắc lãnh đạo của người đời có thể rất hữu ích khi đem dùng cho một bối cảnh Cơ đốc. Mỗi một hiểu biết mới đều hữu dụng giúp chúng ta có thể phát huy thêm những nhà lãnh đạo hữu hiệu hơn trong Hội Thánh.
Trong bài học này, chúng ta sẽ xem xét một vài học thuyết trong các cuộc nghiên cứu về lãnh đạo của người đời để hiểu được các quan điểm cổ truyền. Chúng ta sẽ đi từ “ Học thuyết Người Vĩ Đại” cổ xưa đến khuôn mặt “ lý tưởng” trong sự lãnh đạo. Chúng ta sẽ so sánh học thuyết theo kiểu cố định với học thuyết lãnh đạo tùy theo hoàn cảnh. Nền tảng này sẽ giúp chúng ta hình thành một định nghĩa cho sự lãnh đạo Cơ Đốc.
Dàn bài
Những học thuyết lãnh đạo đầu tiên.
Những học thuyết về lối lãnh đạo
Học thuyết lãnh đạo theo hoàn cảnh
Một học thuyết lãnh đạo Cơ Đốc.
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn sẽ có thể :
Nêu được tên các học thuyết lãnh đạo đã bàn đến trong bài học này và mô tả được những đặc điểm của mỗi học thuyết.
Nhận rõ được các học thuyết lãnh đạo của Stogdill, Blake và Mouton, Fiedler, cũng như của Hersey và Blanchard.
Giải thích được mối liên quan giữa đường lối lãnh đạo theo khuôn mẫu lý tưởng với các loại có khuynh hướng công việc và khuynh hướng về các mối liên hệ.
Phân tích định nghĩa của Clinton về một nhà lãnh đạo Cơ Đốc và giải thích nó khác với các học thuyết lãnh đạo của người đời như thế nào.
Các hoạt động học tập
1. Hãy đọc phần giới thiệu của sách giáo khoa nghiên cứu độc lập này ( từ đây về sau từ giáo khoa nghiên cứu độc lập này sẽ được viết tắc là SNĐ). Đặc biệt lưu ý đến mục “ Cơ cấu bài học và cách học”. Mục này có những lời chỉ dẫn quan trọng nhằm giúp bạn đạt được thành công trong môn học này. Hãy ghi nhận những mục tiêu tổng quát của việc nghiên cùu môn học này. Tất cả những điều này đều quan trọng, nhưng có lã có vài điều đặc biệt quan trọng đối với bạn. Hãy ghi những điều đó vào vở ghi chép của bạn.
2.Hãy nghiên cứu dàn bài và các mục tiêu của bài học. Các điều này sẽ giúp bạn nhận rõ các vấn đề bạn nên cố gắng để học khi nghiên cứu bài này.
3.Hãy đọc qua suốt phần khai triển bài học trong SNĐ này. Phải bảo đảm rằng bạn đọc tất cả các câu Thánh Kinh liên hệ đã được cho, làm các bài tập theo yêu cầu và kiểm lại các câu trả lời của bạn.
Chiếm ưu thế Giữa người với người Để cho làm tùy theo ý thích Khuynh hướng Tùy theo hoàn cảnh nhiệm vụ Học thuyết Đặc trưng
Mục tiêu 1 : Chọn được những câu phát biểu đúng về Học Thuyết Vĩ Nhân và Học Thuyết những đặc Trưng về Nhân Cách.
NHỮNG HỌC THUYẾT LÃNH ĐẠO ĐẦU TIÊN
Từ những năm 1960 nhiều cuộc nghiên cứu về Hội Thánh tăng trưởng đã được thực hiện xác định lý do tại sao một số Hội Thánh phát triển trong khi một số khác lại suy thoái. Theo đại đa số các trường hợp nghiên cứu về điểm khác nhau thuộc về sự lãnh đạo Hội Thánh ! Đức Chúa Trời mong muốn bạn là một người lãnh đạo có hiệu năng để đáp ứng được với những thách thức của thời đại có hiệu năng để đáp ứng được với những thách thức của thời đại chúng ta là phải kiểm tra được một khuôn mẫu lãnh đạo theo Thánh Kinh, là khuôn mẫu chúng ta có thể áp dụng một cách phù hợp cho mọi nền văn hóa và là khuôn mẫu thực tiễn hoàn toàn. Một khuôn mẫu lãnh đạo như thế có thể biến đổi chức vụ của bạn.
Theo như điều nhiều nhóm truyền thống và nhóm giáo phái đang khám phá thì các khuôn mẫu của những thập kỷ trước hiện không còn phù hợp cho thế hệ này nữa. Nhưng trong khi chúng ta đề nghị một học thuyết lãnh đạo Cơ Đốc phù hợp với thời nay chúng ta cần tìm hiểu một số học thuyết trong những cuộc nghiên cứu đã được thực hiện thuộc về huấn luyện lãnh đạo điều này sẽ giúp bạn hiểu được nhiều từ ngữ và quan niệm căn bản về sự lãnh đạo mà chúng ta sẽ dùng đến trong viện nghiên cứu của chúng ta.
Mục tiêu 2 : Phát biểu được lý thuyết gợi ý cho mỗi một nguồn gốc của sự lãnh đạo bao gồm trong học thuyết Vĩ Nhân.
Học Thuyết Vĩ Nhân.
Những trang sử chứa đựng đầy dẫy danh tánh của những nhà lãnh đạo xuất sắc trong thời quá khứ chẳng hạn như Sêsa, Napôlêông, Alécxanđơ Đại Đế và Găngđi. Bắt đầu sang thế kỷ 20, những nhà lãnh đạo đã được nghĩ đến như những cá nhân ngoại hạng. Những phẩm chất của họ đã được xét thấy là phải đến từ một trong hai nguồn gốc này :
1. Sự thừa kế - họ đã được sinh ra với những phẩm chất ngoại hạng.
2. Những điều kiện xã hội - Thời điểm, nơi chốn, và hoàn cảnh đã làm cho họ thành những nhà lãnh đạo.
Đó là chỗ bắt nguồn của câu hỏi quen thuộc : “ Các nhà lãnh đạo là do đã được đào tạo nên hay do bẩm sinh?” Trong khi câu trả lời không hoàn toàn xác định, hầu như nó cho rằng những người lãnh đạo là do bẩm sinh, nhưng họ rất cần những sự huấn luyện, những kinh nghiệm, và cơ hội để đạt đến tiềm năng trọn vẹn của mình.
Quan niệm này dần dà được kể là Học Thuyết Vĩ Nhân và đã được chấp nhận rộng rãi trong cả các học giả thế tục cũng như các học giả Cơ đốc. Các nhà nghiên cứu của đời này đã bắt đầu nghiên cứu về người lãnh đạo quốc gia và quân sự nỗi tiếng của thế giới; các học giả Thánh Kinh thì nghiên cứu cuộc đời của các nhà lãnh đạo như Môise và Phaolô. Cả hai nhóm đều đã nhấn mạnh sự vĩ đại và độc đáo của những đối tượng nghiên cứu mà mình đã chọn.
Tuy rằng Học Thuyết Vĩ Nhân có một số khuyết điểm, nó thực sự đã đem lại cho chúng ta một bước tiến tích cực đến sự hiểu biết của chúng ta về lãnh đạo. Nó nghiên cứu chú ý đến cả cuộc đời người lãnh đạo chứ không chỉ chú ý vào một vài công việc lãnh đạo mà người đó đã thực hiện. Học thuyết này tìm cách thiết lập những yếu tố đã làm cho những người lãnh đạo trở thành vĩ đại. Vì lý do này, nó đã trở thành một cuộc nghiên cứu xuyên phá dẫn đến sự công bố về tiểu sử của nhiều nhà lãnh đạo vĩ đại trong nhiều thập kỹ đã qua.
Dù sao, điều trở thành hiển nhiên đó là học thuyết này có giá trị rất giới hạn. Nó không giúp cho sự phát triển lãnh đạo Cơ Đốc cân nhắc được có phải Môise đã là một nhà lãnh đạo bởi vì những yếu tố di truyền hay là bởi vì nền giáo dục trong cung điện Aicập mà ông đã nhận lãnh ! Sự nghiên cứu cần phải được xác định rõ ràng hơn. Cho nên những nhà nghiên cứu chuyển sang một học thuyết khác gọi là Học Thuyết Những đặc trưng về Nhân Cách trong cố gắng nhằm xác định những phẩm chất đặc biệt của người lãnh đạo, là điều làm cho người lãnh đạo khác với một người đi theo mình.
1. Trong Học Thuyết Vĩ Nhân, lý thuyết nào được gợi ý tương ứng với mỗi nguồn gốc lãnh đạo sau :
a. Sự thừa kế
b. Những điều kiện Xã Hội.
Mục tiêu 3 : Giải thích được các khuyết điểm của Học Thuyết Những Đặc Trưng về Nhân Cách.
Học Thuyết Những Đặc Trưng về Nhân Cách.
Trong những năm 1940 công cuộc nghiên cứu về lãnh đạo được tập trung vào những nét đặc trưng về nhân cách. Sự lưu tâm đã chuyển từ chỗ người lãnh đạo đã thuộc hạng người nào sang sự nghiên cứu những đặc trưng về cá tính được thấy có trong những nhà lãnh đạo thành công.
Trong năm 1948, R.M.Stogdill xuất bản một bài báo đã được hoan nghênh như một bước tiến quan yếu trong học thuyết lãnh đạo. Phương pháp của Stogdill đó là phân chia những nét đặc trưng tìm thấy trong những nhà lãnh đạo hữu hiệu ra thành sáu phạm trù rõ rệt. Các phạm trù đó là :
1. Những nét đặc tính về thể chất
2. Bối cảnh xã hội
3. Sự thông minh
4. Nhân cách
5. Những đặc điểm liên quan đến nhiệm vụ
6. Những đặc điểm xã hội.
Stogdill đã dùng nhiều năm sau đó cho việc nghiên cứu trong học thuyết này, mở rộng và phát triển những khám phá trước đó của ông. Học thuyết này đã góp phần ích lợi vào những công cuộc nghiên cứu về lãnh đạo. Nó đã chỉ định rõ một số nét đặc trưng nào đó là luôn luôn đi kèm với sự lãnh đạo hữu hiệu. Nó cũng đã chỉ dẫn cho những ngừi huấn luyện đâu là những kẻ cần được huấn luyện, và cũng đã minh họa một số đặc điểm phận biệt được các nhà lãnh đạo với những kẻ đi kèm theo.
Tuy nhiên cũng đã có những nhược điểm nghiện trọng trong học thuyết này. Có ít thành quả đã đạt được trong vie5c chọn những người lãnh đạo dựa trên nền tảng những điểm đặc trưng. Phương pháp này đã bỏ qua mối quan hệ giữa người lãnh đạo với những kẻ đi theo mình, và bối cảnh đã không được đưa vào xem xét. ( Chúng tôi dùng chữ bối cảnh để đề cập đến những hoàn cảnh chung quanh một sự kiện.)
Một điểm khiếm khuyết nghiêm trọng khác là học thuyết đã tập trung vào một nền văn hóa. Nó chỉ chú ý đến những nét đặc trưng thuộc văn hóa phương Tây, mà bỏ sót các nền văn hóa khác và hệ thống những nét đặc trưng mà các nền văn hóa đó coi trọng.
Những nhà nhân chủng học đã cho chúng ta biết mỗi một nền văn hóa đều có những quan điểm về thế giới độc đáo riêng của nó và rất khác biệt với nhau. Ví dụ như ở tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tính độc lập và tự tin được xem là những phẩm cách tích cực và đáng phải có. Tuy nhiên, trong một vài nền văn hóa Châu Phi và Châu Á, cũng chính những đức tính này lại bị xem là kém trưởng thành và phần xã hội, khó hòa đồng. Không có nét đặc trưng về lãnh đạo nào mang tính phổ thông để có thể đem áp dụng được một cách phù hợp cho mọi nền văn hóa.
Do nơi các khuyết điểm của Học Thuyết Những Đặc Trưng về Nhân Cách, các nhà nghiên cứu học thuyết lãnh đạo đã chuyển sang sự khảo sát về những cách cư xử trong lãnh đạo.
2. Hãy bày tỏ ba khuyết điểm của Học Thuyết Những Đặc Trưng về Nhân Cách:
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
3. Một người hướng dẫn tổ chức Hội Thánh của bạn muốn gửi một bản liệt kê các đặc điểm thuộc về sự lãnh đạo cho các Hội Thánh tại nhiều quốc gia để giúp họ chọn lựa những nhà lãnh đạo hữu hiệu. Người hướng dẫn yêu cầu bạn cho một vài lời gợi ý. Bạn sẽ nói gì?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
4. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG đề cập đến hai học thuyết lãnh đạo đầu tiên được bàn luận trong phần này.
a. Hoàn cảnh của nhà lãnh đạo đã là một yếu tố quan trọng trong Học Thuyết Vĩ Nhân.
b. Học Thuyết Những Đặc Trưng về Nhân Cách đã bày tỏ rằng nếu một người có được vài đặc trưng nhất định nào đó, thì người này sẽ trở thành một nhà lãnh đạo vĩ đại.
c. Những đặc trưng thuộc về Lãnh đạo đều là phổ thông.
d. Học thuyết Lãnh đạo vĩ nhân chú ý nhiều về sự hoạt động của một nguồn lãnh đạo hơn là về bối cảnh của người ấy.
e. Một thế mạnh của học thuyết Đặc Trưng về Nhân cách là sự nhấn mạnh của nó về mối tương quan giữa người lãnh đạo và những kẻ đi theo.
f. Công cuộc nghiên cứu của Stogdill đã không lưu ý đến bối cảnh mà trong đó một lãnh đạo đã hành động.
g. Học thuyết Vĩ Nhân bày tỏ rằng những nhà lãnh đạo vừa là do bẩm sinh và cũng vừa là được huấn luyện mà thành.
Mục tiêu 4 : Nhận rõ được các đặc điểm của các học thuyết về đường lối lãnh đạo theo cách chung liên hệ đến nhiệm vụ và những người đi theo.
CÁC HỌC THUYẾT VỀ ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO
Đường lối lãnh đạo đề cập đến phương cách một người lãnh đạo liên hệ đến những kẻ đi theo mình và liên hệ đến những mục tiêu của nhóm. Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng những nhà lãnh đạo thường được hướng theo một trong hai cách sau : 1) Hướng về nhiệm vụ đặc trước họ, hoặc 2) Hướng về những mối liên hệ đối với những kẻ theo họ.
Theo kiểu có khuynh hướng nhiệm vụ
Nếu những nhà lãnh đạo ưa thích tập trung vào việc đạt cho được những mục tiêu, họ là những nhà lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ. Họ lưu tâm nhiều về nhựng thành quả hơn là về những mối liên hệ giữa người với người. Những nhà lãnh đạo chuyên quyền nói chung thường có khuynh hướng chỉ thị ( ra mệnh lệnh, yêu cầu), thuyết phục, đề xướng ( ra quyết định), và chú về nhiệm vụ.
Theo kiểu có khuynh hướng về Những mối liên hệ.
Những nhà lãnh đạo nào có ý muốn hoạt động hỗ tương với người là những nhà lãnh đạo có khuynh hướng liên hệ. Họ duy trì những mối liên hệ bằng hữu với những kẻ đi theo và bày tỏ một sự quan tâm đến những người này như đối với những cá nhân riêng biệt. Những nhà lãnh đạo này dễ thân cận và biết cách dùng người, biết cư xử đối với mỗi người. Những nhà lãnh đạo Dân chủ được xem là có tính ân điển, hỗ trợ, cố vấn ( sẵn sàng góp ý), và có khuynh hướng về những mối liên hệ).
Theo kiểu để cho làm tùy theo ý thích ( laissezfaire)
Một nhóm người lãnh đạo thứ ba bao gồm những người phô bày rất ít hoặc không theo một kiểu lãnh đạo nào cả. Những nhà lãnh đạo này thường là bị chỉ định vào một vị trí lãnh đạo bởi vì thiếu người hoặc vì những người phục vụ khác không muốn làm. Người lãnh đạo theo kiểu để cho mọi người làm theo tùy thích như vậy thường tránh né ra quyết định, giấu mình đằng sau những công việc giấy tờ, không đặt ra những mục tiêu rõ rệt nào, làm thất vọng những người đi theo mình. Thầy Tế lễ Hê li có lẽ đã bị đặt vào dạng này bởi vì ông ta thiếu sự lãnh đạo trong việc chuẩn bị các con trai của ông cho chức vụ tế lễ. Đức Chúa Trời đã bảo Samuên khuyến cáo Hê li : “ Ta có báo trước rằng ta sẽ đoán xét nhà người đời đời ( vì cớ tội lỗi người đã biết - theo bản NIV) vì người đã biết tánh nết quái gỡ của các con trai mình, mà không cấm” (ISa1Sm 3:13).

5. Johan hướng dẫn nhóm học Kinh Thánh của thanh niên, nhóm lại mỗi tối Chúa Nhật từ 7 giờ đến 8 giời 15. Anh ta không cho phép nhóm thảo luận, bởi vì quá nhiều ý kiến xen vào có thể gây cho anh không trình bày được hết tất cả những điểm chính của bài học. Bạn sẽ mô tả đường lối lãnh đạo của anh ta là như thế nào?
..............................................................................................................................
Theo kiểu lý tưởng
Vào đầu những năm 1940 các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Tiểu bang Ohio do không vừa ý với phương pháp của học thuyết Đặc Trưng, đã khai triển một đồ thị để đo lường a) mức độ một nhà lãnh đạo bày tỏ sự quan tâm đến phúc lợi của người khác và b) mức độ tầm quan trọng mà một nhà lãnh đạo gán cho sự hoàn thành nhiệm vụ được giao cho nhóm. Qua những bảng câu hỏi và các cuộc phỏng vấn, các nhà nghiên cứu đã có thể biểu thị trên đồ thị nầy kiểu lãnh đạo nào chiếm ưu thế trong một người lãnh đạo.
Với sự đề xuất của dụng cụ nghiên cứu nầy sự chú tâm đã chuyển khỏi ý nghĩ về lãnh đạo theo những từ ngữ của năng khiếu hoặc phẩm chất do một số người sở hữu. Thay vào đó, những nhà nghiên cứu đã tập trung vào điều có thể thực hiện được qua hoạt động lãnh đạo mà một vài cá nhân đã hứa hẹn.
Blake và Mouton (1964) đã đưa quan điểm nầy lên một bậc cao hơn và phác họa một mạng lưới quản lý trong đó một nhà lãnh đạo có thể so sánh kiểu lãnh đạo của mình với kiểu mẫu lý tưởng. Khuôn mẫu nầy đã tạo một giả thiết rằng bất cứ kiểu lãnh đạo nào, kể cả một kiểu chiếm ưu thế trên hết, cũng có thể được sửa đổi cho phù hợp với một hoàn cảnh riêng biệt nào đó. Balake và Mouton đã cho rằng kiểu lý tưởng nầy có thể đạt đến được do bất cứ nhà lãnh đạo nào sẵn sàng để làm quân bình sự nhấn mạnh giữa nhiệm vụ và con người. Quan điểm nầy đã được chấp nhận rộng rãi và hiện vẫn còn rất phổ biến trong giới kinh doanh. Một hình thức rất đơn giản của mạng lưới quản lý nầy
Mạng lưới quản lý
Lưu tâm nhiều đến con người
C 9
O 8
N 7
N 6
G 5
Ư 4
Ơ 3
ít lưu tâm đến con người
I 2
1
0
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
NHIỆM VỤ
Ít lưu tâm đến nhiệm vụ
Lưu tâm nhiều đến nhiệm vụ
Kiểu lý tưởng được xem là đạt điểm 9.9. Điểm nầy được đánh dấu * trong đồ thị. Như điều bạn có thể thấy, kiểu lãnh đạo nầy nhấn mạnh nhiều cả về những mối liên hệ lẫn về nhiệm vụ trước mắt. Trong khi hầu hết các nhà lãnh đạo đều mạnh về một phương diện và yếu kém về phương diện kia, khuôn mẫu nầy khích lệ các nhà lãnh đạo phải vượt trội hơn trong cả hai phương diện.
6. Người lãnh đạo lý tưởng sẽ làm quân bình giữa
a) Sự quan tâm nhiều đến con người với một khuynh hướng kém quan tâm đến nhiệm vụ.
b) Khuynh hướng ít quan tâm đến nhiệm vụ với một sự kém quan tâm đến con người.
c) Sự kém quan tâm đến con người với một khuynh hướng quan tâm nhiều đến nhiệm vụ.
d) Khuynh hướng quan tâm nhiều đến nhiệm vụ với một sự quan tâm nhiều đến con người.
7. Hãy xem xét hai loại chính trong các kiểu lãnh đạo. Viết chữ N vào khoảng trống trước câu nào mô tả một nhà lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ ... Viết chữ L nếu câu đó mô tả một nhà lãnh đạo có khuynh hướng về mối liên hệ.
....a. Là một nhà lãnh đạo chuyên quyền.
....b. Ưa chỉ thị và thuyết phục
....c. Là một nhà lãnh đạo dân chủ
....d. Sẵn sàng cố vấn cho những người đi theo.
....e. Tập trung vào các mục đích.
8. Hãy nối kết loại người lãnh đạo (bên phải) với mỗi câu mô tả# (bên trái)
...a. Là người có khuynh hướng nhiệm vụ 1) chuyên quyền
...b. Tránh ra quyết định 2) Dân chủ
...c. Ưa thuyết phục 3) Để cho làm tùy ý thích
...d. Là người có khuynh hướng về mối liên hệ
...e. Ân cần và hỗ trợ
...f. Không có mục đích rõ ràng nào.
Mục tiêu 5 : Lựa chọn được từ các câu phát biểu được cho, câu nào là câu nhất trí với những lý thuyết trình bày trong khuôn mẫu về lãnh đạo của Fiedler.
Đường lối cố định
Một khuôn mẫu lãnh đạo được xem là một trong các khuôn mẫu quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi, là khuôn mẫu đã do F.E. Fiedler phác thảo ( 1967). Khuôn mẫu của ông đã đem lại sự bàn cãi và nghiên cứu đáng chú ý. Chúng ta có thể nhận được một sự hiểu biết đơn giản về học thuyết phức tạp nầy bằng cách xem xét những quan điểm chính của nó.
1. Khuôn mẫu lãnh đạo cho rằng một nhà lãnh đạo có một khuynh hướng cố định hoặc về nhiệm vụ trước mắt hoặc về những quan hệ giữa người với người.
2. Đường lối lãnh đạo cố định tự nhiên nầy có thể đo lường được.
3. Sự hữu hiệu của một nhà lãnh đạo có thể tính toán được bằng cách so sánh đường lối lãnh đạo tự nhiên của nhà lãnh đạo với các nhu cầu của những người đi theo.
4. Một nhà lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ sẽ thực hiện công tác và điều động nhóm hữu hiệu hơn cho dù có rất nhiều hoặc rất ít nhu cầu về những mối liên hệ giữa người lãnh đạo và người đi theo.
5. Một nhà lãnh đạo có khuynh hướng về những mối liên hệ sẽ thực hiện công tác tốt nhất khi chỉ có một mức độ nhu cầu trong liên hệ con người trung bình hoặc vừa phải.
Khuôn mẫu của Fiedler được trình bày ở hình 1.7. Hàng trên đề cập đến tầm quan trọng của các mối liên hệ người với người giữa nhà lãnh đạo và những kẻ đi theo. Hàng dưới đề cập đến kiễu mẫu đạo hữu hiệu nhất đối với bối cảnh riêng đó.
Hình 1. 2 cho thấy bối cảnh nào cần được áp dụng xứng hợp với một đường lối lãnh đạo nào. Chúng ta sẽ giải thích khuôn mẫu này từ trái sang phải. Ở nơi nào hoàn cảnh được thuận lợi ( rất gắn bó với mối liên hệ con người hơn là đối với nhiệu vụ), một nhà lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ là hữu hiệu nhất. Nơi nào có hoàn cảnh trung bình ( có gắn bó với cả nhiệm vụ lẫn các mối liên hệ) thì một nhà lãnh đạo có khuynh hướng về mối liên hệ hữu hiệu nhất. Còn ở nơi nào hoàn cảnh không thuận lợi ( rất ít gắn bó với mối liên hệ giữa con người gắn bó với nhiệm vụ), thì một nhà lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ là có hiệu quả cao nhất.
Hoàn cảnh không thuận lợi:
- Nhà lãnh đạo có khuynh hướng Nhiệm vụ
Hoàn cảnh trung bình:
- Nhà lãnh đạo có khuynh hướng về mối liên hệ
Hoàn cảnh thuận lợi:
- Nhà lãnh đạo có khuynh hướng Nhiệm vụ.
9. Sarah đã đến văn phòng truyền giáo với tiếng tăm được biết về cô là một người cần cù siêng năng nhưng hơi lãnh đạm đối với mọi người. Ban truyền giáo đã nhanh chóng nhận ra khả năng của cô trong việc tổ chức văn phòng và thành đạt được các mục tiêu. Trong vòng chỉ vài tháng, cô đã được đề bạt lên vị trí qủn lý văn phòng chi nhánh những sản phẩm của văn phòng nầy trở nên được nổi tiếng, nhưng những thành viên trong ban quản lý khám phá thấy Sarah không quan tâm đến họ như những cá nhân riêng biệt. Một chi nhánh văn phòng khác đã nỗi tiếng là về sự đầm ấm và chăm sóc lẫn nhau giữa các nhân viên ban quản lý, mặc dầu sản phẩm của họ chỉ mức trung bình. Khi có nhu cầu cần một người quản lý mới trong văn phòng chi nhánh thứ hai nầy. theo khuôn mẫu của Fiedler, phương án nầy là đúng hay sai? Hãy giải thích cho câu trả lời của bạn.
Phương án này bởi vì .
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
10. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu NHẤT TRÍ với các lý thuyết trong khuôn mẫu về lãnh đạo của Fiedler.
a. Một nhà lãnh đạo có thể học để trở nên thích nghi với mỗi một hoàn cảnh.
b. Bằng cách hiểu biết những nhu cầu của nhóm mà mình sẽ hướng dẫn, một người có thể thấy trước được loại người lãnh đạo nào sẽ thành công.
c. Hoàn cảnh mà các thành viên trong nhóm sẽ được hướng dẫn có quan tâm nhiều về những mối liên hệ là hoàn cảnh cần một nhà lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ.
d. Nếu đường lối lãnh đạo riêng biệt của một nhà lãnh đạo không được hữu hiệu trong một hoàn cảnh nào đó, nhà lãnh đạo đó nên chuyển sang một hoàn cảnh khác.
Mục tiêu 6 : Định nghĩa được sự lãnh đạo theo hoàn cảnh và phân tích được một ví dụ đã cho dựa theo học thuyết này.
HỌC THUYẾT LÃNH ĐẠO THEO HOÀN CẢNH
Học thuyết lãnh đạo theo hoàn cảnh không đồng ý với quan điểm của Blake và Mouton cũng như quan điểm của Fiedler ở chỗ sự lãnh đạo bao gồm chỉ một loại duy nhất. Học thuyết theo hoàn cảnh phát biểu rằng các nhà lãnh đạo được gọi là hữu hiệu tùy theo mức độ mà họ có thể điều chỉnh đường lối lãnh đạo của họ sao cho đáp ứng được các nhu cầu của những người đi theo. Theo học thuyết nầy thì không hề có một đường lối lãnh đạo lý tưởng nào, và mỗi hoàn cảnh đều đòi hỏi một sự đáp ứng đặc biệt của người lãnh đạo. Những nhà lãnh đạo hữu hiệu đặt căn bản cho sách lược hoặc đường lối của họ tùy theo mỗi một hoàn cảnh riêng biệt mà họ phải đối diện.
Hersey và Blanchard là hai người ủng hộ hàng đầu cho học thuyết lãnh đạo theo hoàn cảnh. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng trong mối liên hệ giữa người lãnh đạo và những kẻ đi theo, rồi họ còn đi xa hơn nữa. Khi cho rằng những người đi theo thực ra là yếu tố quyết định nhất trong bất cứ một sự kiện lãnh đạo nào. Họ tuyên bố rằng những người đi theo là quan trọng không chỉ vì những người nầy có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận người lãnh đạo; mà bởi vì là một số đông, họ thực sự có thể quyết định người lãnh đạo có thể có loại quyền uy cá nhân nào.
Chúng ta có thể thấy trong Thánh Kinh một vài điều trong số những nguyên tắc của việc điều chỉnh cách lãnh đạo của một người cho phù hợp với nhu cầu của những kẻ đi theo. Ví dụ như Chúa Giêxu đã dùng một vài cách dạy dỗ khi Ngài giảng Bài Giảng Trên Núi. Những người theo Chúa đã cảm mến Ngài và sứ điệp của Ngài, họ muốn học được tất cả điều gì họ có thể học được nơi vị Thầy nầy. (Mathiơ 5). Ngược lại, Chúa Giêxu đã dùng rất nhiều cách khác nhau khi Ngài quở trách người Pharisi về tội giả hình của họ ( Mathiơ 23).
Chúng ta có thể tóm lại một lời rằng những nhà lãnh đạo đối xử với mỗi tình huống ( bối cảnh) và mỗi nhóm người đi theo một cách khác nhau. Họ chọn một phương cách lãnh đạo nào phù hợp được cho cả hoàn cảnh lẫn cho những người đi theo.
11. Theo Hersey và Blanchard, điều gì là yếu tố quan trọng nhất trong mọi sự kiện lãnh đạo?........................................................................................................
12. Sự lãnh đạo theo hoàn cảnh có nghĩa là nhà lãnh đạo có thể điều chỉnh đường lối lãnh đạo sao cho đáp ứng được nhu cầu của mỗi một .................... riêng biệt và ............. ...............của người ấy.
13. Mục sư Hansen đã có một chức vụ thành công trong# (một cộng đồng) hai mươi năm, làm mục sư trong một nhà thờ thuộc một cộng đồng nông thôn nhỏ bé. Khi ấy ông bắt đầu theo đuổi một thách thức mới và chuyển đến chức vụ mục sư trong thành phố. Mặc dầu ông đã dùng chính đường lối lãnh đạo đã được chứng thực trong chức vụ mục sư ở nơi trước đó. Mục sư Hansen đã bị yêu cầu phải từ chức trong vòng chỉ có mười hai tháng. Bạn hãy nêu lên điều gì là nguyên nhân bất bại của ông ta khi làm người lãnh đạo của Hội Thánh thành phố?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 7 : Dựa trên định nghĩa của Clinton, hãy mô tả những phương diện và học thuyết Lãnh đạo Cơ Đốc khác với những học thuyết lãnh đạo thế lực.
MỘT HỌC THUYẾT LÃNH ĐẠO CƠ ĐỐC
Chúng ta đã khảo sát một vài tư tưởng và sự phát triển chú yếu của học thuyết lãnh đạo đã nảy sinh trong thế kỷ hai mươi. Tôi hy vọng rằng bạn đã khám phá ra việc phê bình này là bổ ích và thấy rằng nó giúp mở rộng sự hiểu biết của bạn về sự lãnh đạo. Hãy nhớ rằng những học thuyết nầy phần lớn đã tiến triển ở phương Tây. Chắc chắn bạn sẽ đạt được nhiều sự hiểu biết ích lợi nữa trong việc khảo sát về những phương cách lãnh đạo trong các nền văn hóa khác. Tuy nhiên, điều đó vượt quá phạm vi của môn nghiên cứu riêng biệt nầy.
Một số người đã nhận thấy rằng càng có nhiều người cố gắng đinh nghĩa từ ngữ lãnh đạo bao nhiêu thì lại càng có nhiều định nghĩa về lãnh đạo bấy nhiêu ! Lãnh đạo là gì? Đâu là dấu hiệu của những người có mối ràng buộc với sự lãnh đạo? Người ta trở nên bị lôi cuốn vào hoạt đong lãnh đạo như thế nào? Đây là một vài câu hỏi trong số những câu hỏi mà các lãnh đạo tiềm ẩn thường hỏi.
Thực ra, từ ngữ Lãnh đạo là từ tương đối mới được thêm vào Anh ngữ. Từ ngữ người lãnh đạo có nghĩa là những điều khác biệt với những con người khác. Dân chúng ở trong một nền văn hóa có thể xem một người lãnh đạo là một người có ảnh hưởng về tài chính. Tại một nơi khác, người ta có thể liên kết sự lãnh đạo với những đảng chính trị. Một số khác có thể xem những người lãnh đạo của họ là những người có số tuổi cao nhất. Thực ra, hầu như người ta chỉ có thể tìm thấy rất ít điểm chung trong nhiều định nghĩa về lãnh đạo thuộc nền văn học thế tục lẫn văn học Cơ Đốc, bởi vì có rất nhiều cách nhìn về lãnh đạo. Lãnh đạo thực là một đề tài phức tạp!.
Tuy nhiên, tôi tin rằng J.R.Clinton đã hình thành một định nghĩa rất hữu ích cho các mục đích trong việc nghiên cứu của chúng ta ( 1984, trang 18). Ông mô tả một người lãnh đạo trong bối cảnh của Thánh Kinh như sau ( Hình 1.3).
Một nhà LÃNH ĐẠO là một người nhờ khả năng Chúa ban và với một trách nhiệm do Chúa giao để tạoẢNH HƯỞNG trên một nhóm người đặc biệt của Dân sự Chúa nhắm vào những mục đích của Chúa dành cho họ .
Định nghĩa này bắt đầu bằng cách tuyên bố một cách chính xác rằng mọi khả năng lãnh đạo mà chúng ta sẽ đến từ Chúa. Nó được phản phát cho chúng ta qua Chúa Thánh Linh ( xem Rôma 12; I Côrinhtô 12; Êphêsô 4; I Phierơ 4). Sự lãnh đạo thuộc linh không chỉ là một khả năng tự nhiên mà chúng ta có thể sở hữu.
Đi kèm theo khả năng lãnh đạo được Chúa ban nầy là trách nhiệm phải sử dụng nó cách khôn ngoan cho công việc Chúa. Các nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm phải trả lời với Chúa về cách họ thực hành những ơn tứ lãnh đạo của mình. Những tham vọng và những dự án ích kỷ không được chiếm chỗ trong tấm lòngn của người lãnh đạo Cơ đốc, các nhà lãnh đạo sẽ phải trình thưa lại, phải tính sổ về sự quản lý các ơn tứ và các cơ hội của họ.
Mục tiêu của các nhà Lãnh đạo Cơ Đốc là thực hiện sự lãnh đạo để gây ảnh hưởng trên dân sự Chúa nhằm hướng về sự hoàn thành chương trình của Ngài cho cuộc đời họ. Lãnh đạo là tạo ảnh hưởng. Vậy thì rốt lại, một lãnh đạo hữu hiệu sẽ hướng dẫn và gây ảnh hưởng trên những người đi theo nhắm về mục đích của Đức Chúa Trời đối với cả nhóm. Người lãnh đạo phải chống lại với cám dỗ muốn gây ảnh hưởng khiến cho nhóm hướng về những tham vọng cá nhân của mình. Những người đi theo luôn luôn phải được kể là người thuộc về Đức Chúa Trời; không bao giờ được xem họ là thuộc về người lãnh đạo.
Các người lãnh đạo chịu trách nhiệm với Chúa về cách họ thực hành những ân tứ lãnh đạo của họ.
14. Dựa trên định nghĩa của Cliton và phần bàn luận của chúng ta về định nghĩa nầy, hãy giải thích những từ sau đây có liên hệ đến một nhà lãnh đạo Cơ Đốc như thế nào :
a. Khả năng ( năng lực): ........................................................................................
b. Trách nhiệm ......................................................................................................
c. Aûnh hưởng .........................................................................................................
15. Những chữ nào trong định nghĩa của Clinton đề cập đến :
a. Khuynh hướng nhiệm vụ của người lãnh đạo?
...............................................................................................................................
b. Khuynh hướng về các mối liên hệ của người lãnh đạo?
...............................................................................................................................
16. Những phương cách lãnh đạo nào sau đây bạn cho rằng có thể dùng tốt nhất cho định nghĩa về một người lãnh đạo Cơ đốc?
a. Cố định
b. Khuynh hứng nhiệm vụ
c. Khuynh hướng về mối liên hệ.
d. Để cho làm tùy theo ý thích.
e. Theo hoàn cảnh.
Đến đây, bạn đang bắt đầu thu nhận được một nhận thức thực tế hữu ích về học thuyết lãnh đạo và có thể nhận ra những từ then chốt có liên quan đến đề tài. Trong bài 2 chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng trên điều bạn đã được học trong bài nầy khi chúng ta xem xét các phương thức lãnh đạo.
Bài kiểm tra
Sau khi bạn đã ôn lại bài học, hãy làm Bài kiểm tra. Rồi kiểm lại các câu trả lời của bạn với phần trả lời chúng tôi đã cho trong tập học viên của bạn. Hãy ôn lại các câu hỏi bạn trả lời chưa đúng.
CHỌN LỰA. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời nào đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Học thuyết Vĩ Nhân sẽ trả lời thế nào đối với câu hỏi : “Những người lãnh đạo là do bẩm sinh hay là do được đào tạo nên”?
a) Họ là những nhà lãnh đạo bẩm sinh
b) Nhân cách của họ là điều khiến họ trở nên người lãnh đạo.
c) Họ không do bẩm sinh hoặc đào tạo, nhưng là những người lãnh đạo do được chỉ định.
d) Họ bẩm sinh ( do thừa kế) và được đào tạo ( do những điều kiện xã hội) nên những người lãnh đạo.
2. Học Thuyết Vĩ Nhân nhấn mạnh về
a) Những hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo
b) Cuộc đời của người lãnh đạo.
c) Đường lối lãnh đạo của người lãnh đạo.
d) Những kẻ đi theo của người lãnh đạo.
3. Một trong các lý do khiến cho Học Thuyết Lãnh đạo Đặc trưng về Nhân cách trở nên một Học Thuyết là bởi vì nó :
a) Đã chứng tỏ rằng bất cứ người nào có một nhân cách mạnh mẽ đều có thể học để trở nên một người lãnh đạo giỏi.
b) Đã nhận rõ những đặc tính phân biệt những người lãnh đạo với những kẻ đi theo.
c) Đã xác định rằng không có những nét đặc trưng lãnh đạo hữu hiệu nào bền vững cả.
d) Đã bày tỏ rằng những nét đặc trưng lãnh đạo căn bản đều giống nhau trong mọi nền văn hóa.
4. Các khuyết điểm của Học Thuyết Đặc Trưng về Nhân Cách bao gồm :
a) Sự cố gắng chứng tỏ rằng những người lãnh đạo là do bẩm sinh chứ không phải do huấn luyện.
b) Sự bỏ sót không chú ý đến mối liên hệ giữa người lãnh đạo với nhũng kẻ đi theo.
c) Đã xác định rằng đường lối của một người lãnh đạo là cố định.
d) Thất bại trong việc áp dụng các đặc điểm lãnh đạo vào nhiều nền văn hóa khác nhau.
5. Một nữ giáo viên Trường Chúa Nhật dùng thì giờ trong lớp để trả lời cho các thắc mắc liên quan đến đề tài quá nhiều đến nỗi cô ta thường phải tiếp tục dạy cùng một bài học trong nhiều tuần lễ. Đường lối lãnh đạo của cô có thể được gọi là :
a) Để cho làm tùy theo ý thích
b) Chuyên quyền.
c) Có khuynh hướng về các mối liên hệ.
d) Có khuynh hướng nhiệm vụ.
6. Mục sư yêu cầu một trong những người trung tín của Hội Thánh góp phần phục vụ làm trưởng công tác trợ giáo trong Hội Thánh. Ông nầy thực sự không muốn làm, nhưng đã chấp nhận chỉ vì không muốn từ chối lời đề nghị của mục sư. Đường lối lãnh đạo của ông tín đồ nầy có thể làm sẽ trở thành :
a) Để cho làm tùy theo ý thích.
b) Chuyên quyền
c) Có khuynh hướng về các mối liên hệ.
d) Có khuynh hướng nhiệm vụ.
7. Tất cả những điều sau đây là khuynh hướng của một nhà lãnh đạo chuyên quyền, ngoại trừ :
a) Ưa chỉ thị ra lệnh
b) Hay thuyết phục
c) Có khuynh hướng nhiệm vụ
d) Có khuynh hướng về các mối liên hệ.
8. Một nhà lãnh đạo dân chủ có khuynh hướng.
a) Cố vấn
b) Hướng về nhiệm vụ
c) Làm cho thất vọng
d) Chỉ thị.
9. Đường lối lãnh đạo trong đó người lãnh đạo điều chính cho phù hợp với nhu cầu của những người đi theo sẽ được gọi là :
a) Để cho làm theo ý thích.
b) Theo hoàn cảnh
c) Đường lối lãnh đạo cố định.
d) Có khuynh hướng về các mối liên hệ.
e) Có khuynh hướng nhiệm vụ.
10. Một trong những đặc điểm quan trọng của việc lãnh đạo theo hoàn cảnh là :
a) Nhà lãnh đạo không thể thay đổi đường lối lãnh đạo của mình.
b) Những người đi theo đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả của người lãnh đạo.
c) Nhà lãnh đạo cần phải thay đổi hoàn cảnh nếu đường lối lãnh đạo của mình không phù hợp với bối cảnh.
d) Đường lối lãnh đạo của người lãnh đạo càng hữu hiệu hơn khi hoàn cảnh không thuận lợi.
11. Mạng lưới quản lý của Blake và Mouton tạo ra giả thuyết rằng bất cứ người lãnh đạo nào cũng có thể điều chỉnh đường lối lãnh đạo của mình để cho :
a) Có khuynh hướng về mối liên hệ nhiều hơn là khuynh hướng nhiệm vụ.
b) Có khuynh hướng nhiệm vụ nhiều hơn là khuynh hướng về các mối liên hệ.
c) Có ít khuynh hướng về các mối liên hệ khi nghiệm vụ là quan trong hơn những người đi theo.
d) Ở mức độ cao trong cả khuynh hướng nhiệm vụ lẫn trong khuynh hướng về các mối quan hệ nhằm có một sự lãnh đạo hữu hiệu nhất.

CHỌN MỘT TRONG HAI CÂU TRẢ LỜI
Hãy đọc cẩn thận lời chỉ dẫn và viết câu trả lời của bạn vào khoảng trống trước mỗi câu hỏi.
13 -17. Hãy xem xét những quan điểm chủ yếu thuộc khuôn mẫu lãnh đạo F.E.Fiedler. Sau đó viết chữ A vào khoảng trống trước mỗi câu nào là một trong những quan điểm chủ yếu của ông. Viết chữ B nếu đó không phải là quan điểm chính thuộc khuôn mẫu của Fiedler.
....13. Một nhà lãnh đạo là người hoặc có khuynh hướng nhiệm vụ hoặc có khuynh hướng về các mối liên hệ.
....14. Trong một hoàn cảnh được cho trước, sự thành công của một nhà lãnh đạo có thể được tiên đoán.
....15. Một nhà lãnh đạo có khuynh hướng về những mối liên hệ sẽ thực hiện công tác tốt nhất khi có một sự quan tâm nhiều đến những mối liên hệ giữa vòng những kẻ đi theo.
....16. Trong một hoàn cảnh có ít nhu cầu về mối liên hệ giữa người lãnh đạo và người đi theo, một người lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ sẽ thực hiện công tác tốt nhất.
a) Clinton b) Stogdill c) Hersey và Blanchard d) Blake và Mouton e) Fiedler
Phần trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu
Các câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu không được sắp xếp theo cùng một thứ tự với các bài tập. Thứ tự đã bị đảo lộn để bạn sẽ không phải chớt nhìn thấy trước phần trả lời cho câu hỏi kế tiếp của mình. Hãy tìm theo đúng số của câu trả lời mà bạn cần, và cố gắng đứng xem câu trả lời trước khi làm bài tập.
1. a) Những nhà lãnh đạo được sinh ra với những đức tính ngoại bang sẵn có. b) Thời gian, nơi chốn và hoàn cảnh đã làm cho một số người trở thành các nhà lãnh đạo. 2. Nó không lưu ý đến mối liên hệ giữa người lãnh đạo và người đi theo. Nó không quan tâm đến bối cảnh. Nó tập trung vào những nét đặc trưng lãnh đạo thuộc văn hóa phương Tây.
3. Dựa trên những điều chúng ta đã biết được qua phần nầy, có lẽ bạn sẽ trả lời rằng một bản liệt kê như vậy sẽ không giúp ích được gì, bởi vì những nét đặc trưng về lãnh đạo trong mỗi một nền Văn hóa không giống nhau. Điều được ngưỡng mô trong nền văn hóa nầy có thể bị phản đối trong bối cảnh văn hóa khác.
4. Các câu trả lời a. f. là những câu đúng.
5. Đường lối lãnh đạo của Johan là có khuynh hướng nhiệm vụ, lưu tâm nhiều đến bài học hơn là lưu tâm đến các học viên.
6. d) Khuynh hướng quan tâm nhiều đến nhiệm vụ hoặc với một sự lưu tâm nhiều đến con người.
7. a. N
b. N
c. L
d. L
e. N
8.a.1) Chuyên quyền
b.3) Để cho làm tùy thích
c.1) Chuyên quyền
d.2) Dân chủ
e. 2) Dân chủ.
f. 3) Để cho làm tùy ý thích
9. Đúng hoàn cảnh phù hợp với phần cuối bên phải trong bảng bố trí của Fidler, là phần cần một người lãnh đạo có khuynh hướng nhiệm vụ.
10. Câu a không phù hợp với những luận thuyết của Fiedler. Các câu b,c và d phù hợp.
11. Những người đi theo.
12. Bối cảnh hoặc hành cảnh; những người đi theo.
13. Mục sư Hansen đã không xem xét những điều khác biệt giữa hai Hội Thánh. Ông đã không điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới hoặc với nhu cầu của những người đi theo mới mẻ thuộc trách nhiệm lãnh đạo của ông.
14. Theo lời riêng của bạn.
a) Năng lực của nhà lãnh đạo là ơn từ của Đức Chúa Trời, chứ không phải là một điều tự nhiên mà có.
b) Trách nhiệm lãnh đạo của người ấy đã được Đức Chúa Trời giao phó và người ấy có trách nhiệm phải hoàn tất.
c) Đức Chúa Trời đã chọn lực người lãnh đạo để người nầy tạo ảnh hưởng trên một nhóm người nào đó hoàn thành những mục đích của Chúa dành cho họ.
15. a) Trách nhiệm được Đức Chúa Trời giao phó; Những mục đích của Đức Chúa Trời.
b) Tạo ảnh hưởng trên một nhóm người đặc biệt nào đó thuộc dân sự Chúa.
16. e) Theo hoàn cảnh

CHỌN LỰA MỘT ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO
Nếu bạn phải mô tả những đặc điểm của một nhà lãnh đạo Cơ Đốc trong một Hội thánh hoặc một nhóm, có lẽ bạn sẽ nói nhà lãnh đạo nầy có một đường lối nào đó. Hoặc giả bạn sẽ nói : “ Ông ấy lãnh đạo như một người ( hát đạo)”, hoặc : “ cô ấy là một nhà huấn luyện giỏi”. Đây chắc chắn phải là một lối trả lời theo tự nhiên. Thực ra, trong Kinh Thánh, chúng ta quan sát thấy nhiều điểm khác biệt rất rõ ràng trong đường lối lãnh đạo của một vài nhân vật lỗi lạc mà qua họ Đức Chúa Trời đã hành động. Mỗi một nhà lãnh đạo đều có đường lối lãnh đạo riêng biệt.
Trong bài 1 chúng ta đã khảo sát một số học thuyết có đề cập đến đường lối lãnh đạo. Tại sao đây là điều quan trọng mà chúng ta phải nghiên cứu ? Nhiều cách trả lời mau chóng nảy sinh trong trí. Phải chăng chúng ta không được Chúa ban cho một khuôn mẫu lãnh đạo kèm theo với những ơn tứ thuộc linh sao? Hoặc giả có phải đường lối lãnh đạo được quyết định bởi nhân cách của một người?
Hiểu biết những sự khác biệt trong các đường lối lãnh đạo là điều quan trọng đối với bạn vì có ít nhất ba lý do sau : Trước hết là một người lãnh đạo, bạn chịu trách nhiệm đối với Chúa về việc phải phát huy tối đa các khả năng của mình ( xem IITi 2Tm 2:15). Thứ hai, có thể lắm đường lối bạn hiện đang dùng không thực sự hữu hiệu như điều bạn nghĩ. Thứ ba, nhờ hiểu biết nhiều đường lối lãnh đạo khác nhau, bạn sẽ dễ dàng hơn trong việc đánh giá đúng những nhà lãnh đạo có đường lối lãnh đạo khác với bạn. Biết được phạm vi của các lối cư xử trong sự lãnh đạo cũng sẽ giúp bạn chọn cho mình một đường lối lãnh đạo Cơ Đốc tốt nhất cho mỗi một bối cảnh.
Dàn bài
Định nghĩa của đường lối lãnh đạo
Phạm vi của cách cư xử trong lãnh đạo
Các nguyên tắc Lãnh đạo hữu hiệu.
Đường lối lãnh đạo và sự trưởng thành của người đi theo
Tìm ra đường lối Lãnh đạo của bạn
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn sẽ có thể :
Định nghĩa được đường lối của lãnh đạo.
Cho được những ví dụ của các đường lối lãnh đạo tùy theo phạm vi, cách cư xử của chúng.
Bàn luận các nguyên tắc để tìm ra đường lối lãnh đạo hữu hiệu nhất cho bối cảnh của bạn.
Giải thích mối liên quan giữa đường lối lãnh đạo và sự trưởng thành của người đi theo.
Đánh giá được lối cư xử trong lãnh đạo của bạn và tìm ra được đường lối lãnh đạo tốt nhất cho bạn.
Các hoạt động học tập
1. Tuân theo những lời chỉ dẫn đã cho trung phần “ các hoạt động học tập” của bài 1 để tiếp tục nghiên cứu bài nầy. Học qua bài học theo từng phần một, rồi trả lời mỗi câu hỏi nghiên cứu trước khi xem câu giải đáp của chúng tôi.
2. Tìm những định nghĩa trong phần chú giải từ ngữ cho các từ then chốt nào lạ đối với bạn. Việc hiểu rõ các từ then chốt sẽ giúp bạn nắm vững được các quan điểm trình bày trong bài.
3. Hãy làm bài kiểm tra và so lại các câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong học tập viên.
Từ ngữ then chốt
Những dự tính Người phụ giúp Tính linh hoạt, tính dễ tha thứ Cứng rắn Quyền ưu tiên, tiền lệ Có thể đoán được.
Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Áp dụng một định nghĩa về đường lối lãnh đạo vào những ví dụ được cho.
ĐỊNH NGHĨA CỦA ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO
Việc dùng từ đường lối để mô tả cách xử sự của một người lãnh đạo hiện đã là một tiến triển tương đối mới của thế kỷ thứ 20. Một vài cuốn sách đã cố gắng để định nghĩa đường lối lãnh đạo bằng cách trình bày một bảng liệt kê về các đường lối phổ thông giữa vòng các nhà lãnh đạo. Một bang kiệt kê như vậy thường sẽ bao gồm những từ ngữ như : có uy quyền, có ơn lãnh đạo, năng động, sẵn sàng giúp ý kiến, ưa chỉ thị và có tính đối nghịch.
Quan niệm về người lãnh đạo sở hữu một đường lối lãnh đạo nào đó là quan niệm đã được củng cố thêm nhờ ở chỗ chúng ta theo truyền thống đã được dạy phải xem xét những gương mẫu lãnh đạo từ trong Kinh Thánh. Chúng ta đã được khích lệ để “ can đảm như Đaniên”, để “ trở nên một người chiêu mộ như “ Anh rê” hoặc “ là một người sáng suốt, có khải tượng như Giăng”. Bởi vì những đường lối nầy hàm chứa có giá trị của Thánh Linh, và chúng được gợi ý làm những đường lối thích hợp cho chúng ta theo.
Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi chỉ lựa chọn một nhãn hiệu để mô tả một đường lối lãnh đạo đó là việc nầy bỏ sót một yếu tố rất quan trọng trong việc lãnh đạo. Đây là vấn đề chủ chốt vì không có người lãnh đạo nào mà lại theo một đường lối cố định, không thay đổi. Mặc dù những nhà lãnh đạo, có thể được gọi là có một đường lối chiếm ưu thế, nhưng tất cả các nhà lãnh đạo đều phải thay đổi một vài phần trong phương cách lãnh đạo của mình. Họ cũng bày tỏ những nét đặc trưng cá nhân thông thường khi thay đổi các phương pháp của họ. Họ là những người đàn ông và những người đàn bà, không phải là những người máy !.
Lãnh đạo là một công việc mang tính năng động hơn là tính hoặc không thay đổi .
Cho nên sẽ hữu ích hơn cho chúng ta khi suy nghĩ về đường lối lãnh đạo của một người rằng đó là một đường lối chiếm ưu thế nhất, chủ yếu nhất, và tiêu biểu mà người lãnh đạo thực hành. Một nhà lãnh đạo không phải là một nhà lãnh đạo chỉ bởi vì một hành động lãnh đạo riêng biệt chẳng hạn như lặn xuống một dòng sông để cứu một em bé chết đuối. Một nhà lãnh đạo là một người chịu kết ước vào một loạt những hành động lãnh đạo liên tục. Một nhà lãnh đạo là một người làm công việc lãnh đạo ; cho nên chúng ta phải kết luận rằng lãnh đạo là một công việc mang tính năng động hơn là một điều gì đó có tính cách tĩnh hoặc không thay đổi. Vì lý do nầy, bất cứ một định nghĩa nào về đường lối lãnh đạo phải cho phép những sự thay đổi không thể tránh được trong những người lãnh đạo. Việc nghiên cứu có kết quả nhất về đường lối chiếm ưu thế của một nhà lãnh đạo đó là khảo sát kiểu mẫu hoặc lối cư xử lãnh đạo của người ấy trong một khoảng thời gian.
Chúng ta đã có thể tóm tắt phần này bằng cách bảo rằng đường lối lãnh đạo là một khuôn mẫu kiên định mà người lãnh đạo dùng khi người ấy làm việc với người khác và qua người khác. Khuôn mẫu này được bày tỏ trong một khoảng thời gian và quen thuộc phần nào đối với những kẻ đi theo. Hãy nghĩ về đường lối lãnh đạo như là một điều gì đó có tính năng động. Chúng ta sẽ trở lại với quan điểm hữu dụng này trong suốt phần nghiên cứu về lãnh đạo của chúng ta.
1. Dựa trên định nghĩa của chúng ta về lãnh đạo, chúng ta có thể nhìn nhận câu nào sau đây khi có người khích lệ chúng ta phải “ can đảm như Đaniên”.
a) Sự can đảm của Đaniên đã là một đường lối lãnh đạo không thay đổi.
b) Can đảm đã là một đường lối lãnh đạo chủ yếu của Đaniên.
c) Đường lối lãnh đạo can đảm của Đaniên đã đến từ một hành động lãnh đạo đơn độc.
d) Can đảm trong lãnh đạo đã là một khuôn mẫu kiên định của Đaniên trong một thời gian.
e) Hầu hết các nhà lãnh đạo trong thời Đaniên đã có cùng một đường lối lãnh đạo can đảm.
2. Hãy giải thích bằng từ ngữ của bạn về ý nghĩa của câu phát biểu sau đây “lãnh đạo là một công việc năng động”.

Mục tiêu 2 : Điền những cách cư xử lãnh đạo đã được cho vào đồ biểu về đường lối lãnh đạo sao cho đúng vào chỗ thích hợp của chúng trong đồ biểu
PHẠM VI CỦA CÁCH CƯ XỬ TRONG LÃNH ĐẠO
Để bắt đầu phần nghiên cứu này, chúng ta sẽ khảo sát một đồ biểu đơn giản (Hình 2.1) bày tỏ phạm vi của những cách cư xử lãnh đạo có thể sẵn có đối với một nhà lãnh đạo. Hành động được ghi trong phần bên trái của đồ biểu là hành động tiêu biểu của nhà lãnh đạo có một mức độ điều khiển cao trên những người đi theo. Hành động bên phía cánh phải là tiêu biểu cho nhà lãnh đạo để cho những người đi theo tự do quyết định.
QUYỀN UY
Mức độ người lãnh đạo dùng uy quyền trên những kẻ đi theo
Nhà lãnh đạo tuyên bố quyết định
Nhà lãnh đạo trình bày ý kiến
Nhà lãnh đạo mời gọi góp ý
Nhà lãnh đạo yêu cầu nhóm quyết định
Nhà lãnh đạo Theo ý kiến của nhóm
TỰ DO
Mức độ sự tự do dành cho những người đi theo
3. Hãy nêu tên những đường lối lãnh đạo chúng ta đã bàn luận trong bài 1 trùng hợp với.
a. Phần ngoài cùng bên trái của đồ biểu : .............................................................
..........................................................................................................................
b. Phần ngoài cùng bên phải của đồ biểu : ...........................................................
c. Phần ở khoảng giữa của đồ biểu : .....................................................................
Mặc dù đồ biểu này rất đơn giản, nó bày tỏ được tầm khác biệt rộng rãi của những đường lối lãnh đạo. Từ mức độ của những nhà lãnh đạo độc tài ( quyền uy) đến những người chỉ giải quyết những việc phát sinh giữa vòng những kẻ đi theo (Tự do).
Có lẽ bạn đã sẵn sàng suy nghĩ về những gương mẫu nào trong Kinh Thánh phù hợp với đồ biểu này. Bởi vì A rôn đã để cho dân sự thuyết phục được mình làm con bò vàng, ông sẽ liệt vào hàng ngoài cùng bên phải của đồ biểu. Ông ta đã chỉ làm cho vừa lòng dân sự và mong cứu lấy mạng sống mình ( XuXh 32:1-35). Ở phần cuối bên trái của đồ biểu chúng ta có thể đặt Aùp ra ham làm người tiêu biểu thì ông nghe về cháu mình là Lót đã bị bắt khỏi Sôđôm. Áp-ra-ham lập tức tập họp tất cả những người nam trong nhà mình và vượt đuổi theo quan thù đang ngơi nghỉ ( SaSt 14:1-24). Không có thì giờ cho dân sự bàn luận để đạt đến một sự nhất trí chung ở đây ! Ápraham chỉ tuyên bố điều ông sẽ làm để giải quyết cơn khủng hoảng.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn về một vài đường lối lãnh đạo tiêu biểu nhất của cách cư xử được thấy trong các Hội Thánh và các đoàn truyền giáo thuộc phương Tây ngày nay. Chắc hẳn còn nhiều đường lối lãnh đạo hơn nữa cần phải khám phá, và có lẽ một vài lối cư sử này không dùng trong nền văn hóa riêng của bạn. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng bạn sẽ có thể nhận ra những nét đặc trưng lãnh đạo chính trong bốn khuôn mẫu này, mặc dù bạn có những từ khác nhau dành cho chúng.
Bạn có còn nhớ điều chúng ta đã đúc kết về các đường lối lãnh đạo trong bài 1 không? Những nhà lãnh đạo phải thường xuyên điều chỉnh đường lối của họ cho phù hợp với các nhu cầu trong mỗi một hoàn cảnh. Xin vui lòng nhớ rằng chúng tôi không đặt để bất cứ hệ thống giá trị nào trên những khuôn mẫu này và cũng không yêu cầu bạn phải chọn trong số đó một đường lối để dùng cho mình. Mục tiêu của chúng tôi là xem xét những đường lối khác nhau để am hiểu chúng, để có thể nhận ra chúng ta thu đạt được một sự nhận thức đầy đủ hơn về những ưu điểm và khuyết điểm trong đường lối lãnh đạo riêng của chúng ta.
4. Bạn sẽ đặt đường lối lãnh đạo theo hoàn cảnh vào vị trí nào trong biểu đồ ?
...........................................................................................................................
Mục tiêu 3 : Xác định những cách cư xử trong lãnh đạo tiêu biểu cho những đường lối lãnh đạo được nêu.
Đường lối lãnh đạo độc tài :
Từ ngữ nhà độc tài đến từ chữ La tinh dicere, có nghĩa là “ nói hoặc phát biểu”. Một nhà độc tài là một người có những mệnh lệnh hoặc lời nói phải được những người đi theo tuân giữ. Người lãnh đạo thuộc loại nào quyết định tất cả mọi điều có liên quan đến ai, điều gì, thế nào và khi nào sự việc phải được thực hiện. Người nào không vâng lời loại lãnh đạo này thường là bị trừng phạt. Những đặc trưng sau đây là đáng chú ý trong một nhà lãnh đạo với lối cư xử độc tài :
1. Người ấy không cho phép sự bất đồng ý kiến
2. Người ấy đòi hỏi những kẻ đi theo ở mức độ cao.
3. Người ấy chọn lựa những nhân viên riêng cho mình
4. Người ấy thường không để ý đến số người có những cảm nghĩ tiêu cực đối với mình.
5. Trong hình 2.1 đường lối độc tài sẽ được xếp ở
a) Ở phần ngoài cùng bên trái thuộc về phía quyền uy của biểu đồ.
b) Gần phần giữa của biểu đồ.
c) Về phía tự do của biểu đồ.
Đường lối có uy quyền
Nhà lãnh đạo có uy quyền gây ảnh hưởng mạnh mẽ trên những người đi theo mình nhưng tránh trở thành nhà lãnh đạo độc tài. Tuy nhiên, đường lối của người này thường không uyên chuyển và không nhượng bộ. Đòi hỏi phải điều hành tổ chức theo điều lệ qui định. Người ấy phản ứng khi những người đi theo thực hiện những quyết định mà không được phép của mình. Người ấy đặt ra những tiêu chuẩn cao cho chính mình và tổ chức của mình. Thường người này dùng vị trí lãnh đạo của mình để củng cố quyền uy của mình ngày càng thêm lên. Những đặc trưng sau đây thường có trong một nhà lãnh đạo có uy quyền :
1. Người ấy rất hiếm khi chấp nhận ý kiến của người khác.
2. Người ấy có tinh thần ganh đưa và không muốn thấy những nhóm tương tự khác được thành công nếu nhóm của riêng mình không tiến bộ.
3. Người ấy không nhận thấy được những tài khéo và khả năng của người khác.
6. Dựa trên điều bạn đã học trong bài 1, điều nào sau đây mô tả đầy đủ nhất cho khuynh hướng của đường lối lãnh đạo có uy quyền :
a) Khuynh hướng về những mối liên hệ
b) Khuynh hướng tùy theo hoàn cảnh
c) Khuynh hướng nhiệm vụ
d) Không có khuynh hướng nào cả.
Đường lối dự phần ( phối hợp)
Lãnh đạo theo kiểu dự phần là đường lối tương đối mới trong xã hội phương Tây. Người lãnh đạo đảm nhận vai trò của một player - coach và xem những người đi theo như một đoàn nhỏ.
Người lãnh đạo giao hầu hết quyền hành cho những người ở dưới quyền của mình và xem họ như những người bình đẳng. Sự bàn thảo đầy đủ là điều quan trọng, và một sự thống nhất ý kiến thường được theo đuổi trước khi bất cứ quyết định nào được thi hành. Một nhà lãnh đạo theo đường lối dự phần bày tỏ những nét đặc trưng sau.
1. Người ấy là một người phụ giúp của nhóm ( là người khởi xướng sự dễ dàng cho một hành động, một hoạt động và cho khóa trình của việc chỉ đạo.
2. Người ấy thường chấp nhận những ý kiến trải ngược với mình.
3. Người ấy tập trung vào việc sáng tác và tìm kiếm những ý tưởng mới.
4. Người ấy tìm kiếm để thúc đẩy những lợi ích của cả nhóm được tăng lên.
7. Điều gì sau đây sẽ là tiêu biểu cho một nhà lãnh đạo theo đường lối Dự phần? Người ấy
a) Tuyên bố những quyết định
b) Trình bày những ý kiến
c) Mời gọi những lời đề nghị.
d) Yêu cầu nhóm của mình phải quyết định
1) Độc tài 2) Có Uy quyền 3) Dự phần ( phối hợp)
Mục tiêu 4 : Chọn được những áp dụng chính xác cho ba nguyên tắc lãnh đạo hữu hiệu.
CÁC NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO HỮU HIỆU
Những nhà lãnh đạo tương lai thường xem lướt qua Kinh Thánh và để ý những nhà lãnh đạo Cơ Đốc thành công trong cố gắng nhằm để khám phá một đường lối lãnh đạo lý tưởng. Thực ra, nhiều sinh viên đọc sách hoặc sự các hội nghị đề xuất một đường lối nào đó bảo đảm đem lại được sự thành công và được quần chúng ưa thích. Tuy nhiên, hầu hết các sinh viên đều thấy rằng một đường lối lý tưởng như vậy thực khó đạt được, và sự tìm kiếm nầy thường kết thúc trong thất bại. Những nhà lãnh đạo trẻ tuổi thường bị cám dỗ để ghi nhận tất cả những yếu tố tích cực nhất trong nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng và rồi sáng tạo một đường lối riêng hoàn hảo và thích hợp nhất cho họ.
Tôi hy vọng rằng đến giai đoạn nầy trong việc nghiên cứu về lãnh đạo, bạn sẽ được thách thức để nhìn nhận rằng không có một đường lối riêng lẻ nào trong lãnh đạo được kể là đúng đắn cả ! Một đường lối lãnh đạo phải được quyết định bởi rất nhiều yếu tố quan trọng. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét ba trong số những nguyên tắc lãnh đạo hữu hiệu nầy : 1) Liên hệ đến bối cảnh của bạn : 2) Sử dụng nhiều đường lối hơn là chỉ dùng một đường lối; và 3) Hiểu biết những điều mong đợi của những người đi theo bạn.
Mục tiêu 5 : Phát biểu hai điều mà một nhà lãnh đạo phải biết về những kẻ theo mình nếu người ấy muốn lãnh đạo họ cách hữu hiệu.
Liên hệ đến bối cảnh
Đường lối của một nhà lãnh đạo phải liên hệ với bối cảnh mà người đó đang sống. Trong đây là một phương pháp căn bản mà người lãnh đạo phải dùng trong việc quyết định đường lối thích hợp nhất sẽ phải áp dụng. Đâu là những yếu tố thuộc về địa phương cần phải xem xét? Ai là những người đi theo ? Đâu là những tiêu chuẩn văn hóa? Đâu là những nguồn tài nguyên sẵn có ? Những giá trị Cơ Đốc nào cần tập trung ở đây? Đâu là những vấn đề thần học.
Đường lối của một nhà lãnh đạo phải liên hệ với bối cảnh mà người đó đang ở trong.
Trước hết, nhà lãnh đạo cần phải biết một số điều về tiểu sử của nhóm, người mà người ấy tìm cách lãnh đạo. Lịch sử của tổ chức Hội Thánh hay đoàn truyền giáo và những điều mong đợi của những người đi theo thường liên kết rất chặt với lịch sử của nhóm.
Hãy suy gẫm lại trong giây lát về tầm quan trọng của những phổ hệ trong Kinh Thánh đối với dân tộc Do Thái. Thời hiện tại vẫn đã luôn luôn được xem là phần tiếp nối của quá khứ. Ngay cả trong thời Tân ước, Đức Chúa Trời đã được mô tả là “ Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y sác, Đức Chúa Trời của Giacốp” (Mat Mt 22:32).
Các học giả đã khám phá ra rằng không phải tất cả những thành viên trong gia đình đều được ghi tên vào gia phổ trong Kinh Thánh, nhưng chỉ có những cá nhân nổi bật mới được ghi tên. Phương pháp này có lẽ lạ đối với chúng ta, nhưng nó đã được hiểu rõ trong thế giới cổ xưa. Kết quả là những người đi theo có khuynh hướng gợi nhắc lại những nhà lãnh đạo thành công của thời xưa trước khi họ kết ước chính mình đi theo một nhà lãnh đạo mới đương thời. Đôi khi những nhà lãnh đạo trong quá khứ này dầu thuộc về một thế hệ đi trước, nhưng những ấn tượng họ để lại vẫn còn là mới mẻ đối với những người đi theo. Điều chúng ta cần phải hiểu rõ đó là những tiền lệ ( điều đã xảy ra trong quá khứ) có tầm quan trọng thế nào đối với những người đi theo. Điều này thường được dùng làm nền tảng cho việc thực hiện những quyết định hiện tại. Nhà lãnh đạo cần phải biết về tiền sử của nhóm. Không hiểu biết về quá khứ là đang mời gọi thất bại.
Thứ đến trong việc liên hệ đến bối cảnh, nhà lãnh đạo cần phải biết tầm cỡ của nhóm của người ấy sẽ lãnh đạo. Một nhóm nhỏ mười hai người tùy tùng có yêu cầu một đường lối lãnh đạo riêng biệt mà sẽ hoàn toàn trở thành không thực tế đối với một nhóm gần một nghìn thành viên. Mặt khác, một đường lối cần cho một Hội chúng thuộc thành thị sẽ không thể phù hợp với một nhóm người ở rãi rác trong các xóm làng thôn dã.
Khi ấy, bối cảnh thật là quan trọng. Có rất nhiều gương mẫu rõ ràng trong Kinh Thánh về những nhà lãnh đạo đã đem bối cảnh địa phương vào điều phải suy xét. Bất cứ nơi nào Chúa Giêxu đã đi đến. Ngài đều phải điều chỉnh chức vụ của mình cho phù hợp với những nhu cầu riêng biệt, nhưng điều quan tâm và những bối cảnh văn hóa riêng biệt của những người mà Ngài phục vụ. Chúa Giêxu đã không thách thức viên quan trẻ giàu có theo cùng một cách mà Ngài đã nói với thiếu phụ bên giếng nước (LuLc 18:18-29 GiGa 4:1-42. Ngài phán bảo với người bị tà ma ám theo một cách khác (LuLc 4:31-38) và Ngài đã biện luận, cư xử với người Pharisi bằng một cách khác xa với cách cư xử trên (Mac Mc 7:1-13; LuLc 6:1-10).
Các môn đệ cũng đã xét đến bối cảnh mà trong đó họ phải phục vụ. Một sự so sánh về những hành động của Phierơ trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:1-47) với việc ông đến thăm nhà của đội trưởng Cọt Nây (10:1-48) sẽ bày tỏ nhiều sự khác biệt trong đường lối của ông. Một sự so sánh tương tự cũng có thể được thực hiện đối với cách Phaolô phục vụ tại Antiốt xứ Bi - si - đi (13:1-52) và trên ngọn đồi Mars ở Athên (17:1-34).
Nê hê mi cung cấp cho chúng ta một gương mẫu sáng chói trong việc đem bối cảnh vào xem xét trước khi dấn thân kết ước với một đường lối lãnh đạo riêng biệt ( Nêhêmi 2). Trước khi hình thành kế hoạch của ông trong việc xây lại các vách thành Giê ru sa lem, ông đã bí mật xem xét các bức tường thành đổ nát và những cổng thành bị đốt cháy. Một khi đã có một bức tranh cụ thể về phạm vi công việc cần phải làm và khi đã biết được sức mạnh của phe đối nghịch. Nê hê mi bắt đầu thực hiện kế hoạch tái thiết thành phố của ông.
Vì thế, là những người lãnh đạo, chúng ta cần phải rất nhạy bén đối với việc xem xét bối cảnh nếu chúng ta muốn trở nên hữu hiệu. Phương pháp này không phải lúc nào cũng để thực hiện, nhưng nó rất phong phú, đòi hỏi chúng ta phải để ý những điều xảy ra giữa vòng những kẻ đi theo của chúng ta và phải hiểu những nhân tố tích cực và tiêu cực có liên hệ.
9. Để liên hệ đến bối cảnh cuả mình, một nhà lãnh đạo trước tiên cần phải biết 2 điều thuộc về nhóm người mà người ấy sẽ lãnh đạo. Đó là 2 điều nào?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 6 : Nhận rõ được những gương mẫu trong cách sử dụng thích hợp nhiều đường lối lãnh đạo khác nhau đã được sứ đồ Phaolô minh chứng.
Sử dụng nhiều đường lối hơn là chỉ dùng một đường lối
Chúng ta đã chú ý đến sự kiện những nhà lãnh đạo có nhiều đường lối lãnh đạo. Ngay cả trong việc ổn định một gia đình, các bậc cha mẹ phải sử dụng rất nhiều lối cư xử khác nhau. Là một người chồng, tôi dùng một cách cư xử riêng đối với vợ mình; là một người cha, tôi phải dùng một cách khác để đùa giỡn với các con tôi trước khi chúng đi ngủ và tôi lại dùng một cách cư xử khác nữa khi làm một khách hàng đối với người thợ sửa xe của tôi.v.v..
Việc áp dụng điều này vào sự lãnh đạo Cơ Đốc có thể được thấy rất rõ trong đời sống của một người giống như sứ đồ Phaolô. Những thư tín của ông minh chứng rằng ông đã dùng rất nhiều phương pháp khác nhau để lãnh đạo dân sự Chúa xuyên suốt chức vụ của ông. Chúng ta hãy quan sát sự uyển chuyển trong các đường lối lãnh đạo khác nhau của ông.
1. Quyền uy sứ đồ
Sứ đồ Phaolô nhìn nhận rằng quyền uy của ông là người truyền giáo cho mọi nền văn hóa và là một người thành lập Hội Thánh không phải đến từ người nhưng đến từ Thượng Đế ( xem Eph Ep 1:1). Bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho ông khải tượng trực tiếp và những mạng lệnh đặc biệt cho các Hội Thánh, Phaolô đã có thể đòi hỏi và trông đợi sự vâng lời trong những trường hợp này. Ông đã có quyền uy từ Thượng đế để đặt những luật lệ trong nhiều vấn đề khác nhau giữ vòng Hội Thánh và đem đến sự sửa trị khác có cần. Ông đã nói với uy quyền một khi ông đã nhận lãnh là từ Thượng đế. Chẳng hạn như những lời chỉ dẫn dành cho tiệc thánh trong ICo1Cr 11:23. Đây là đường lối lãnh đạo Cơ Đốc có tính chỉ huy cao nhất, lẽ đương nhiên chúng ta cần phải rất cẩn trọng khi sử dụng nó.
10. Điều nào trong những minh họa sau đây là cách dùng đúng đắn ngày nay của một đường lối lãnh đạo theo “ quyền uy sứ đồ”?
a) Mục sư dùng ý phán đoán riêng của mình để quyết định cách tiêu dùng khoản thu nhập của Hội thánh.
b) Một nhà lãnh đạo trẻ giao cho những thành viên trong nhóm của mình một bảng liệt kê về các chương trình truyền hình mà anh ta tin rằng sẽ có ảnh hưởng xấu cho người xem.
c) Một nhà khải đạo thảo luận với một số phụ huynh về điều Thánh Linh dạy dỗ có liên quan đến việc nuôi dạy con cái.
2. Sự đối chất:
Trong rất nhiều trường hợp khi Phaolô liên hệ với những Hội thánh mới và đang tăng trưởng, ông đã phải dùng một đường lối có tính cách đối chất để giải quyết những vấn đề nghiêm trọng của họ. Một số vấn đề đó là
Đề cập đến những bè đảng (1:10-4:21)
Một trường hợp loạn luân (5:1-6:20)
Việc thờ cúng hình tượng (10:14-22)
Sự lạm dụng các ân tứ thuộc linh 12:1-14:40)
Phơi bày những giáo sư giả (Tit Tt 1:10-16).
Hãy để ý chiến thuật của Phaolô trong khi dùng sự đối chất. Trước tiên, ông đã trình bày vấn đề cách công khai. Những nhà lãnh đạo thường sợ sự xung đột và thường để cho những vấn đề cứ tồn đọng không được giải quyết. Phaolô thì không như vậy ! Ông đã nói lên sự thật trong tình yêu thương và phơi bày vấn đề ra trước mọi thành phần có liên hệ, không nghi ngờ gì đã có rất nhiều người trong Hội Thánh Philíp biết về xích mích giữa Eâvôđi và Sinđicơ, nhưng cách đối chất của Phaolô đã là cần thiết để phơi bày hoàn cảnh và đem lại sự giải hòa, ( xem thư Phi Pl 4:2-3). Thứ đến, Phaolô đã kêu gọi các Cơ Đốc nhân phải suy nghĩ về trách nhiệm của đối với thân thể Đấng Christ và không chỉ nghĩ đến chính mình. Phaolô đã luôn luôn quan tâm đến việc những vấn đề của địa phương sẽ có ảnh hưởng đến Hội Thánh rộng lớn hơn. Bất cứ khi nào sự vinh hiển của Đấng Christ có nguy cơ bị phương hại. Ông đã không ngằn ngại dùng sự đối chất dù cho nó đã gây cho cá nhân ông phải đau đớn và đổ nhiều nước mắt.
3. Sự thuyết phục của Bổn phận:
Một phương pháp hữu hiệu mà Phaolô đã thường dùng đó là kêu gọi những người đi theo về bổn phận đối với ông. Trong những trường hợp nầy ông đã không ra lệnh cho họ hoặc nhắc nhở họ về quyền uy sứ đồ của ông. Ông chỉ đơn thuần thuyết phục họ bằng cách nêu lên rằng họ mắc ông một món nợ bởi vì những điều ông đã làm cho họ. Ông hy vọng rằng họ sẽ đáp ứng lại ông một cách tích cực, nhưng ông để dành phần quyết định sau cùng lại cho họ. Đôi khi ông đã tuyên bố rằng ông đang chờ đợi để thấy quyết định của họ như thế nào.
Có lẽ ví dụ hiển nhiên nhất trong việc Phaolô dùng sự thuyết phục là lá thư ông gửi cho Philêmôn. Ông nài nỉ Philêmôn hãy bày tỏ lòng tốt của ông ta đối với người nô lệ trước kia của ông là Oânêsim. Phaolô yêu cầu Phi lê môn tha thứ Oânêsim vì đã bỏ trốn với một số tài sản của Philêmôn. Lá thư đặt trọng tâm vào chủ đề là sự tha thứ, nhưng chúng ta để ý thấy Phaolô đã không để sự việc như vậy. Ông đã tiếp tục bằng cách nhắc nhở Philêmôn rằng Philêmôn đã nợ Phaolô về chính linh hồn của Philêmôn ( câu 19) ! Đi xa hơn nữa, bằng cách thêm những lời chào thăm từ những người bạn đồng sự. Phaolô đã cho Philêmôn biết rằng những người khác cùng đang chờ xem cách Philêmôn đáp ứng lời kêu gọi của Phaolô thế nào.
Phaolô cũng đã dùng đường lối thuyết phục nầy trong những hoàn cảnh khác nữa. Những nét đặc trưng của đường lối này bao gồm :
1) Ông đã kêu gọi những người đi theo hơn là ra lệnh cho họ.
2) Ông đã nhắc nhở những người đi theo rằng họ là những người nhận các phước hạnh của Chúa qua chức vụ cu3a ông và
3) Ông đã bày tỏ rõ ràng rằng ông ta trông đợi những người đi theo sẽ hành động theo những điều ông ta ao ước.
11. Đường lối nào được minh thị trong mỗi một ví dụ sau đây?
a) Nhà truyền giáo kêu gọi tội nhân hãy chấp nhận Đấng Christ bởi vì điều Ngài đã làm cho họ qua sự chết của Ngài trên thập tự ......................
b) Giám đốc của một văn phòng đã sắp xếp một buổi họp với hai nhân viên của ông là hai người không ưa nhau, để cố gắng giải quyết những mối bất đồng giữa họ với nhau.
...............................................................................................................................
4. Sự bắt chước hoặc Gương mẫu.
Phaolô luôn luôn để ý đến ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong lối sống mà ông làm gương mẫu cho nếp sống Cơ đốc. Ông không bao giờ lạc mất nhãn quan về sự kiện là mục tiêu của mỗi một Cơ Đốc nhân đó là trở nên giống như hình ảnh của Đấng Cứu Thế ( xem RoRm 8:29, CoCl 1:27-29). Mặc dù Phaolô đã hoàn toàn kết ước với Đại Mạng Lệnh (Mat Mt 28:19-20) và đã tìm cách giảng Tin Lành ở mọi nơi. Thì sự tìm kiếm lớn nhất của ông đó là “ nhận biết được Đấng Christ”. (Phi Pl 3:8). Vì lý do nầy, vị sứ đồ đã trông đợi nơi những người đi theo phải trở nên giống như ông trong cách cư xử và phải có sốt sắng để biết Đấng Christ và quyền năng phục sinh của Ngài (3:10). Hãy lưu ý đến ảnh hưởng trong lời kêu gọi của Phaolô đối với các tín hữu tại thành phố Philíp : “ Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe ở nơi tôi và thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em” (4:9).
Phaolô cũng đã là một gương mẫu trong việc huấn luyện Timôthê, người bạn trẻ của ông và cũng là người ông đã làm chứng tin Chúa. Không có chút kiêu ngạo sai lầm nào. Phaolô đã nhìn nhận rằng cuộc đời của ông đã kiên định trong ý chí của Đức Chúa Trời, và đây là sự chú tâm về mục tiêu độc nhất đã chiếm ưu thế trong toàn bộ chức vụ của ông. Phaolô đã liên tục làm gương mẫu cho Timôthê về đức tin, sự nhẫn nại, tình yêu và sự chịu đựng theo một cách giống như người thợ thủ công bày tỏ một kỹ thuật cho người học việc của mình. Ông ta mời gọi những kẻ theo mình hãy quan sát nếp sống Cơ Đốc của ông và rồi hãy bắt chước nếp sống đó.
12. Tại sại đường lối bắt chước đã được Phaolô dùng có hiệu quả?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
5. Sự nhất trí:
Chúng ta thường không tưởng tượng ra rằng Phaolô đã sử dụng sự nhất trí ( sự thỏa thuận), nhưng đã có các trường hợp khi Phaolô làm điều đó. Sự nhất trí đặc biệt giúp ích cho nơi nào tình đoàn kết của nhóm được coi trọng và vượt qua được những lợi ích cá nhân. Đây là một nét đặc trưng của việc truyền giảng Phúc âm trong thời Tân Ước. Hãy xem một nhóm người thường quyết định để chấp nhận hoặc khước từ Sứ điệp Phúc âm ( xem Mac Mc 6:1-6; GiGa 4:39-42, Cong Cv 10:17-33).
Các nhà Truyền giáo thấy rằng trong nhiều nền văn hóa, những nhà lãnh đạo địa phương lẫn toàn vùng đều hoạt động dựa trên nền tảng của sự nhất trí. Thực ra, các nhà nhân chủng học đã khám phá rằng ngược lại với đặc tính phương Tây về những thủ lãnh bộ lạc theo kiểu những nhà độc tài, vai trò của họ sự thực chỉ là đem lại sự nhất trí với nhau.
Một ví dụ đáng chú ý trong Thánh Kinh về sự nhất trí được tìm thấy ở 15:1-41. Hình như Phaolô và Banaba đã không thành công tại Antiốt trong việc thuyết phục các giáo sư đến thăm tại đó hầu cho họ ngưng đòi hỏi phép cắt bì phải là điều kiện để được cứu. Theo sự khôn ngoan của Phaolô, ông đã để cho sự việc nầy được giải quyết tại Giáo Hội nghị Giêrusalem. Sau khi Phaolô đã hoàn tất lần tường trình thứ hai cho Giáo Hội nghị. Gia cơ đã dẫn đến một quyết định làm thỏa mãn mọi người hiện diện. Nó chứng tỏ rằng theo một phương cách nào đó, Đức Thánh Linh cũng đã thừa nhận cho quyết nghị nầy; và những đại biểu đã được lựa chọn để đem sứ điệp nầy trở lại An - ti - ốt (15:1-30).
13. Một đường lối nhứt trí nhấn mạnh :
a) Những lợi ích cá nhân của mỗi thành viên trong nhóm
b) Điều người lãnh đạo muốn
c) Giải pháp dễ dàng nhất cho một vấn đề.
d) Điều gì tốt nhất cho toàn thể nhóm người.
Tất cả những ví dụ trong cuộc đời của Sứ đồ Phaolô trên đây minh giải cho các nhà lãnh đạo Cơ Đốc thấy rõ tầm quan trọng của việc dùng nhiều đường lối hơn là chỉ sử dụng một đường lối. Mục tiêu 7 phân tích một mối xung đột giữa lãnh đạo và người theo để khám phá ra lý do của vấn đề và đề nghị một cách có thể giải quyết.
Mục tiêu 7 : Phân tích một mối xung đột giữa lãnh đạo và người theo để khám phá ra lý do của vấn đề và đề nghị một phương cách giải quyết.
Hiểu biết những điều mong đợi của người đi theo
Những điều mong đợi hoặc kỳ vọng là những nhận thức mà một nhà lãnh đạo và những người đi theo suy nghĩ về nhau. Một trong những nguyên nhân thông thường nhất của khủng hoảng và xung đột trong lãnh đạo đó là nhà lãnh đạo đã không nhận ra cho đến lúc quá trễ rằng mình đã mất sự hậu thuẫn của đa số kẻ theo mình. Vì không biết điều đó, nhà lãnh đạo rất có thể đã dùng một đường lối mà nhóm của người ấy cho rằng đã đi ngược lại với những phúc lợi của họ. Người lãnh đạo như vậy đã không đáp ứng được những điều hy vọng mà nhóm đã mong đợi nơi người ấy trong cương vị người lãnh đạo của họ.
Chúng ta hãy dùng một ví dụ. Mục sư Sanchez được chỉ định để lãnh đạo một hội chúng, đây là một hội chúng đánh giá cao những giá trị của mối thông công trong các nhóm nhỏ và chức vụ phục vụ giữa các cá nhân. Bởi vì Mục sư Sanchez vốn dĩ là một nhà truyền giáo, ông ta đầu tư hầu hết thì giờ của ông để làm việc giữa vòng những người chưa tin Chúa. Ông ta đã đem rất nhiều người mới tin vào Hội thánh. Tuy nhiên, những Cơ Đốc nhân mới này không cảm thấy dễ chịu với sự chia xẻ trong các nhóm nhỏ. Để làm dịu mối căng thẳng này. Mục sư Sanchez dẹp các nhóm nhỏ và tập trung vào buổi nhóm thờ phượng sáng Chúa nhật như là nét đặc trưng chính của sinh hoạt Hội thánh. Kết quả là những thành viên cũ của Hội thánh cảm thấy họ bị phản bội. Những phúc lợi của họ đã phải bị hy sinh vì cớ nhõng người mới tin. Bây giờ Mục sư Sanchez đang có trong tay một Hội thánh mang mầm mống chia rẽ !
14. Bạn suy nghĩ xem Mục sư Sanchez đã phải cư xử thế nào đối với những nhu cầu khác nhau của kẻ theo mình bằng một đường lối lãnh đạo nào đó có thể đáp ứng được mọi nhu cầu của họ?
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Là một nhà lãnh đạo, bạn cần phải biết những sự mong đợi của kẻ theo mình về phương cách hành động của bạn. Điều này đặc biệt quan trọng nếu bạn là một nhà lãnh đạo mới vừa đứng vào một vị trí lãnh đạo. Nếu đường lối lãnh đạo chủ yếu của bạn khác biệt với đường lối của người lãnh đạo đi trước, điều này sẽ tức khắc gây nên nhiều vấn đề. Có lẽ bạn cần phải hoặc thay đổi đường lối của mình, hoặc thay đổi những điều kỳ vong của kẻ theo mình. Thường xuyên được có những ý nghĩ phản ánh từ nhóm người bạn đang lãnh đạo là điều rất có giá trị, những phản ánh này có liên quan đến việc 1) Họ lãnh hội đường lối của bạn như thế nào, và 2) đường lối đó có phù hợp với những điều mong đợi của họ không. Không thể có hai con người nào lại có chung một lối nhận thức, nhưng bạn cần dò la để biết thái độ chung của tập thể nhóm người theo mình.
Một ví dụ về nguyên tắc này trong Kinh Thánh, đó là cách Giép Thế đã được chỉ định làm Quan xét trên Galaát. (Cac Tl 11:1-40). Là con trai của một kỵ nữ và là người đã bị gia đình của mình từ bỏ. Giép thế là một người anh hùng mà người ta đã không trông đợi. Những thành tích của ông ta khi lãnh đạo một băng đảng dấy loạn trong xứ Tóp đã truyền đến tai những trường lão Galaát. Khi phải đối diện với cuộc xâm lược của dân Am môn, họ đã cho mời ông đến đảm nhận trách nhiệm về lực lượng được vũ trang của họ. Trước khi chấp nhận lời yêu cầu của họ. Giép thế đã đòi hỏi vai trò và địa vị của ông phải được toàn thể quần chúng hiểu biết và xác định rõ. Giép Thê sau đó đã chấp nhận chỗ đứng được yêu cầu với kèm theo lời hứa là ông sẽ được làm đầu trên Galaát và sự lãnh đạo của ông sẽ được mọi người chấp nhận Đức Chúa Trời đã được gọi là “ nhân chứng” cho thỏa ước, và điều thỏa thuận này đã được lặp lại “ Trước mắt Đức Giê hô va” tại Mích ba (11:11). Nguyên tắc chúng ta thấy được ở đây là một nguyên tắc giá trị : Những thuộc cấp có một điều trông đợi được xác định rõ ràng về vai trò của người lãnh đạo.
Hãy nhớ rằng đường lối của bạn phải được lĩnh hội bởi những thuộc cấp của bạn như là một đường lối thích hợp cho cả nhóm. Nó không phải là điều bạn thấy là thích hợp, nhưng là điều thuộc cấp của bạn thấy thích hợp ! Sự hữu hiệu của bạn sẽ được xác định bằng mức độ mà bạn đáp ứng được những điều mà thuộc cấp của bạn trông đợi.
Đồ biểu sau đây ( Hình 2.2) sẽ giúp bạn làm cho nguyên tắc này sáng tỏ :
Bạn sẽ thực hiện được một bước chuyển biến quan trọng phát huy được mức hữu hiệu nếu bạn ý thức được những khoảng trống có thể có giữa đường lối lãnh đạo của bạn với điều mà những thuộc hạ của bạn cảm nhận được rằng nó sẽ như thế nào. Một hiểu biết rõ ràng như vậy có thể gây cho bạn đau đớn, nhưng nó sẽ là một sự tăng trưởng vững chắc.
Đường lối của bạn và cách nó được người khác lĩnh hội
15. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước những áp dụng ĐÚNG của ba nguyên tắc căn bản cho sự lãnh đạo Cơ Đốc hữu hiệu mà chúng ta đã nghiên cứu trong phần này.
a. Sự nhất trí tập trung vào những chọn lựa cá nhân hơn là sự chọn lựa của toàn nhóm.
b. Bối cảnh xem xét những yếu tố như : những tiêu chuẩn của một nhóm, lịch sử của nhóm và tầm cỡ của nhóm.
c. Đường lối lãnh đạo thuyết phục của Phaolô kêu gọi những thuộc hạ của ông dựa trên nền tảng trách nhiệm của họ.
d. Quyền uy sứ đồ là một đường lối phù hợp khi một nhà lãnh đạo Cơ Đốc đặt nền tảng quyết định trên sự phán đoán riêng của mình về điều đúng.
e. Điều đã xảy ra cho một nhóm trong quá khứ thì không đáng quan tâm cho một nhà lãnh đạo mới, là người cần phải tập trung vào những điều người ấy hy vọng sẽ hoàn thành trong tương lai.
f. Phaolô đã cho thấy rằng một đường lối lãnh đạo có tính đối chất là hữu hiệu trong việc đối xử với những vấn đề nghiêm trọng về tội lỗi hoặc sự bất đồng trong vòng một Hội thánh địa phương.
g. Khi Phaolô thúc giục những thuộc hạ phải bắt chước ông. Ông đang nhấn mạnh sự theo đúng với hình ảnh của Đấng Christ.
h. Làm trọn những sự mong đợi của nhóm mình là điều ép buộc người lãnh đạo phải áp dụng đường lối để cho làm tùy theo ý thích.
I. Trong việc lãnh đạo dân sự, rõ ràng rằng Chúa Giêxu đã xem xét bối cảnh, những sự trông đợi của họ, và đường lối lãnh đạo nào thích hợp nhất cho mỗi một hoàn cảnh.

Mục tiêu 8 : Chọn những đường lối lãnh đạo để giúp nâng cao mức trưởng thành của thuộc cấp trong những tình huống được cho sẵn.
ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO VÀ SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA THUỘC CẤP
Trong việc chọn lựa một đường lối lãnh đạo, bạn cần phải luôn nhớ đến mức độ trưởng thành của thuộc hạ. Chúng ta có thể định nghĩa sự trưởng thành của thuộc cấp là “ Khả năng và sự sẵn lòng của những thuộc cấp cho phối cách cư xử riêng của họ”. Ngược lại với lối hiểu truyền thống của những thuộc cấp là những người trưởng thành hoặc không trưởng thành theo một nghĩa chung, những thuộc cấp được kể là trưởng thành hoặc không trưởng thành dựa theo một chức năng hoặc một nhiệm vụ đặc biệt mà vì đó họ chịu trách nhiệm.
Hiểu biết về sự trưởng thành của thuộc cấp này đã được đạt đến qua những nghiên cứu về các nước kỹ nghệ hóa nơi mà sự thờ ơ và thiếu cố gắng của công nhận phổ biến rộng rãi. Nguyên nhân thường đã được gán cho sự lười biếng, nhưng sự nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tình trạng thiếu trưởng thành của công nhân là một yếu tố chính. Qua nghiên cứu này chúng tôi có ý nói rằng các công nhân đã được chỉ thị : “ Hãy làm việc và đừng thắc mắc gì cả !” Kết quả là họ thấy công việc của mình không thích thú và họ làm việc ở mức độ tối thiểu. Những ông chủ hiện nay hiểu biết nhiều hơn về sự phát huy mức trưởng thành trong những thành viên của họ và nâng cao mức độ trách nhiệm của những người này khi họ trưởng thành.
Các nhà lãnh đạo Cơ Đốc có thể học từ điều này. Chúng ta cần phải nhạy bén về mức độ trưởng thành của thuộc cấp và giúp họ phát huy sự trưởng thành ( xem Eph Ep 4:11-13). Có lẽ một số những điều kém hữu hiệu trong các nhóm của chúng ta là do nơi chúng ta đã vô tình gây cho những thuộc cấp trở nên không trưởng thành. Để khám phá những thuộc cấp đã hiểu biết nhiệm vụ của họ như thế nào chúng ta có thể hỏi những câu hỏi chẳng hạn như : “ Bạn nghĩ thế nào về điều bạn đang làm?” hoặc : “ Bạn có bao giờ nghĩ rằng bạn chịu tất cả trách nhiệm và không có quyền gì?” Sự trung thực của các câu trả lời có thể được xác định bằng cách quan sát cách hành động của họ. Một thuộc cấp có thể tin rằng mình đang làm tốt một trách nhiệm, nhưng bằng cớ hiển nhiên sẽ bày tỏ rằng sự việc không phải như vậy. Ví dụ, có lẽ Bill tuyên bố rằng anh ta rất thích dạy nhóm trẻ của anh và mọi sự đang ở trong địa vị tốt. Tuy nhiên khi kiểm tra lại những hồ sơ đã cho thấy số người hiện diện đã giảm 40% trong 15 tháng qua. Hiển nhiên là người lãnh đạo cần phải làm việc dựa trên sự kiện này và chọn lựa một đường lối lãnh đạo thích hợp hơn để giúp Bill đáp ứng cho các nhu cầu của anh và của nhóm tù. Khi chúng ta đánh giá mức độ trưởng thành của những cá nhân thuộc cấp chúng ta sẽ khám phá được rằng có nhiều mức độ trưởng thành khác nhau rất xa trong vòng hầu hết các nhóm Cơ Đốc nhân điều này có nghĩa là người lãnh đạo cần phải thường xuyên thay đổi đường lối của mình để đáp ứng những nhu cầu của thuộc cấp một trường hợp điển hình có thể là một lớp Học Kinh Thánh, nơi có một học viên kém tổ chức và thiếu học thức. Đường lối lãnh đạo ở đây sẽ phải là một đường lối nào có ích cho học viên nhất để giúp anh ta đi vào nề nếp học tập. Một học viên khác có thể làm việc tốt trong lớp nhưng gặp vấn đề rắc rối trong mối liên hệ với những học viên khác. Đường lối của người lãnh đạo khi ấy cần phải giúp đưa học viên đến chỗ trưởng thành trong lãnh vực nầy.
Điều quan trọng là cần hiểu rằng những nhà lãnh đạo phải xem xét mức độ trưởng thành của thuộc cấp nhằm đưa họ từ chỗ hiện có lên đến chỗ họ cần phải có. Hình 2,3 là một thể hiện tiêu biểu để đánhgiá những mức độ trưởng thành của các hoạt động trong chức vụ. Nó có thể áp dụng cho cả những nhà lãnh đạo lẫn cho thuộc cấp. Các hoạt động khác thuộc chức vụ của tôi tớ Chúa có thể được thêm vào biểu đồ này.
MỨC ĐỘ TỪ KÉM TRƯỞNG THÀNH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH
- KÉM TRƯỞNG THÀNH
Ví dụ : Làm chứng
Cầu nguyện
Dạy dỗ
Khải đạo
Nghiên cứu
Suy gẫm
Giải quyết bất hòa
- TRƯỞNG THÀNH
Làm chứng
Cầu nguyện
Dạy dỗ
Khải đạo
Nghiên cứu
Suy gẫm
Giải quyết bất hòa
16. Hãy đánh giá mức độ trưởng thành của riêng bạn trong từng lãnh vực bằng cách đánh dấu X vào các hàng kẻ trong biểu đồ, 2,3 giữa khoảng cách Kém trưởng thành đến trưởng thành ở vị trí nào bạn thấy phù hợp với mình.
Để xác định chọn đường lối nào dùng cho mỗi một thuộc cấp trong một tình huống đã cho, dựa trên mức độ trưởng thành của thuộc cấp đó, bạn phải quyết định hai điều.
1. Quyết định lãnh vực hoạt động nào của người đó bạn cần phải tác động.
2. Chọn lựa đường lối nào bạn xem là phù hợp cho người ấy nhất để giúp người ấy đạt được mức độ trưởng thành trong lãnh vực đó.
Hãy nhớ rằng một thuộc cấp có thể trưởng thành và hữu hiệu trong nhiều lãnh vực hoạt động, và chỉ bày tỏ sự kém trưởng thành trong một lãnh vực. Là một nhà lãnh đạo hiểu biết, bạn sẽ dùng một đường lối riêng cho những công tác và trách nhiệm nào mà người ấy bày tỏ sự trưởng thành. Việc nhận rõ được những mức độ trưởng thành của mỗi cá nhân dưới quyền của mình và điều chỉnh một đường lối thích hợp cho mỗi một tình huống sẽ đem lại những người thuộc cấp của bạn một phương hướng và sự hậu thuẫn lớn lao.
17-18. Hãy chọn một đường lối lãnh đạo mà bạn cho là phù hợp với mỗi một hoàn cảnh sau đây.
17. Một giáo viên ở dưới sự cố vấn của bạn thiếu sức mạnh thuộc linh, và bạn khám phá được rằng anh ta ít khi đọc Kinh Thánh ngoại trừ những lúc phải soạn bài học. Để giúp anh ta trưởng thành trong lãnh vực này, đường lối lãnh đạo của bạn sẽ là :
a) Thuyết phục với sự nhấn mạnh về bổn phận của anh ta đối với bạn, đối với học viên và đối với chính mình anh ta để phải có một thì giờ mỗi ngày đọc Kinh Thánh và nghiên cứu hầu cho anh ấy sẽ lớn mạnh về mặt thuộc linh.
b) Chỉ thị nghiêm nhặt, với lời yêu cầu rằng anh ấy cần độc một số đoạn Kinh Thánh nào đó mỗi ngày và nộp bản báo cáo cho bạn một lần mỗi tuần nếu anh ấy muốn tiếp tục dạy dỗ trong lớp.
c) Góp phần, bằng những đường lối đề nghị của bạn anh ta có thể phát huy một khuôn mẫu kiên định trong việc đọc Kinh Thánh. Giúp anh ta phát huy một thời khóa biểu để giúp anh làm việc, và cầu nguyện với anh ta về sự yếu đuối này của đời sống anh.
18. Bạn bắt đầu một chương trình thăm viếng truyền giáo với một số nhóm viên đã bày tỏ sự trung thành trong đời sống cầu nguyện của họ. Bạn sai phái họ đi ra để làm chứng, nhưng cứ hết người này đến người kia, các nhóm viên cứ rút lui ra khỏi nhóm cho đến khi chỉ còn một mình bạn. Đường lối lãnh đạo theo uy quyền của bạn không thành công. Những đường lối nào sau đây sẽ có hiệu quả hơn?
a) Để cho họ hành động tùy theo ý thích, để cho mỗi nhóm viên tự quyết định phương pháp thăm viếng và làm chứng riêng của mình.
b) Sẵn sàng góp ý, giúp những lời khuyên và huấn luyện, rồi để cho các nhóm viên cùng làm việc với nhau nhắm về mục tiêu truyền giáo qua sự thăm viếng.
c) Sự bắt chước hoặc làm gương, bởi vì các nhóm viên chưa được trưởng thành trong lãnh vực truyền giáo; họ cần được huấn luyện và có dịp nhìn thấy vài khuôn mẫu đúng của người khác trong cách thăm viếng, truyền giáo.

Mục tiêu 9 : Hoàn tất một bài tập được cho để bày tỏ đường lối lãnh đạo chủ yếu của bạn.
KHÁM PHÁ ĐƯỜNG LỐI CHỦ YẾU CỦA BẠN
Cho đến lúc này chúng ta đã xem qua một phạm vi rộng lớn của các đường lối lãnh đạo và các yếu tố lãnh đạo giúp quyết định những đường lối tốt nhất cho những hoàn cảnh đặc biệt, đây là lúc để bạn hoàn tất một bài tập đơn giản sẽ đem lại cho bạn một vài sự biểu thị cho đường lối chủ yếu của riêng bạn. Hãy khoanh tròn một câu trả lời ( A,B,C hoặc D) mô tả đầy đủ nhất về đường lối bạn sẽ dùng trong mỗi một hoàn cảnh sau đây:
ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO CỦA TÔI
1. Khi cần phải làm một quyết định, tôi thích:
A. Để cho nhóm hiểu rằng tôi sẽ hậu thuẫn quyết định của nhóm.
B. Dự phần với nhóm trong việc hoàn thành một quyết định.
C. Để cho nhóm quyết định
D. Quyết định và báo cho nhóm biết.
2. Khi những mối xung đột phát sinh trong nhóm, tôi thích:
A. Cố gắng khôi phục sự hòa hợp
B. Giúp cho nhóm nhận ra điều gì là nguyên nhân của mối xung đột.
C. Tập trung vào công việc trước mắt.
D. Mau chóng giải quyết vấn đề cho nhóm.
3. Khi làm việc với những người không hiệu năng, tôi thích:
A. Giúp họ cảm thấy thỏa lòng về họ.
B. Cho nhóm thảo luận các đường lối để cải thiện.
C. Để cho nhóm quyết định điều phải làm.
D. Đặt những mục tiêu và những chiến lược cho nhóm.
4. Khi một nhóm không biết phải làm điều gì, tôi muốn :
A. Khích lệ các nhóm viên khi họ tìm ra một vài mục tiêu.
B. Giúp cho nhóm hình thành những mục tiêu của nó
C. Để cho nhóm tự khám phá những mục tiêu riêng của nó.
D. Đặt ra những mục tiêu và cố vấn cho nhóm về nhiệm vụ.
19. Để khám phá được đường lối chủ yếu của bạn, hãy ghi lại trong những khoảng trống sau đây số lần bạn đã khoanh tròn mỗi mẫu tự A,B,C hoặc D.
......A = Đường lối dân chủ, sẵn sàng góp ý, có khuynh hướng về các lối liên hệ. Bạn đã dành ưu tiên về các mối liên hệ giữa người với người.
......B = Đường lối dự phần. Bạn đã dành ưu tiên cho việc cùng giải quyết các vấn đề với những thuộc cấp.
......C = Đường lối thụ động, để làm theo tùy ý thích. Bạn đã dành ưu tiên cho việc trì hoãn các quyết định và để cho những người khác gánh trách nhiệm.
.....D = Đường lối chuyên quyền, uy quyền và có khuynh hướng nhiệm vụ. Bạn đã dành ưu tiên cho việc nắm quyền kiểm soát hoàn cảnh và ra các quyết định.
Tôi hy vọng rằng qua bài tập này bạn sẽ nhận thức được nhiều hơn về đường lối lãnh đạo chủ yếu của mình. Dĩ nhiên, bạn sẽ dùng những đường lối khác nữa, nhưng đường lối mà bạn đã ghi điểm cao nhất sẽ rất có thể là đường lối lãnh đạo chủ yếu của bạn. Nếu đường lối chủ yếu của bạn không hoạt động hữu hiệu, hãy suy nghĩ về các bước bạn thực hiện để cải thiện nó. Những nguyên tắc lãnh đạo bạn đã học trong bài này có thể sẽ đem lại cho bạn vài sự hướng dẫn trong việc cải thiện đường lối của bạn.
Hãy nhớ rằng không có một đường lối ý tưởng duy nhất . Tất cả các đường lối đã được bàn luận trong bài này là phù hợp hữu hiệu khi ứng dụng vào mỗi bối cảnh. Đường lối lãnh đạo nào hoạt động hoàn hảo trong tình huống này có thể thất bại hoàn toàn trong bối cảnh khác. Hãy nhớ gương mẫu của Phaolô và học tập để trở nên nhạy bén và uyển chuyển trong mỗi một tình huống. Tôi đề nghị rằng bạn hãy lấy ý kiến của nhiều người khác về mức độ hiệu quả trong đường lối của bạn.
Đường lối lãnh đạo không phải là điều duy nhất quyết định sự hữu hiệu của một người lãnh đạo, nhưng nó là một trong những yếu tố theo chốt. Nó cũng là lãnh vực mà hầu hết các nhà lãnh đạo đều có thể cải thiện dễ dàng.

Bài kiểm tra
CÂU CHỌN LỰA. Hãy khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời cho mỗi câu hỏi.
1. Đường lối chủ yếu của một người lãnh đạo đã hành xử nhiều uy quyền nhất trên những thuộc cấp được gọi là :
a) Đường lối dự phần
b) Đường lối chỉ thị
c) Đường lối uy quyền
d) Đường lối để cho làm tùy ý
2. Trong biểu đồ bày tỏ mức độ cư xử của những người lãnh đạo, hành động nào sau đây tiêu biểu cho đường lối lãnh đạo dự phần?
a) Người lãnh đạo thông báo quyết định của mình.
b) Người lãnh đạo mời gọi thuộc cấp nêu những gợi ý
c) Người lãnh đạo đi theo chiều hướng của nhóm mình
d) Người lãnh đạo cùng bên phải thuộc mức độ tự do trong hành vi lãnh đạo
d) Phần độc tài của biểu đồ.
4. Đường lối lãnh đạo nào trong những đường lối dưới đây tiêu biểu nhất cho mức độ đầy đủ của các hành vi lãnh đạo được bày tỏ trong biểu đồ?
a) Đường lối lãnh đạo theo hoàn cảnh
b) Đường lối lãnh đạo độc tài
c) Đường lối lãnh đạo dự phần
d) Đường lối lãnh đạo quyền uy
e) Đường lối lãnh đạo để cho làm tùy ý
5. Đường lối lãnh đạo nào có tính ganh đua và không thích nhìn thấy các nhóm tương đồng khác thành công?
a) Đường lối dự phần
b) Đường lối để cho làm tùy ý
c) Đường lối dân chủ
d) Đường lối quyền uy
e) Đường lối sẵn sàng góp ý
6. Sự điều chỉnh cho phù hợp với những nhu cầu, những lợi ích và bối cảnh văn hóa riêng biệt của một nhóm được mô tả là :
a) Sự trưởng thành của người lãnh đạo và thuộc hạ.
b) Liên hệ đến bối cảnh
c) Lãnh đạo có tính dự phần
d) Sự đối chất
7. Trong các đường lối lãnh đạo của Phaolô những lời mô tả nào sau đây là giống với sự lãnh đạo dự phần nhất.
a) Sự đối chất
b) Sự thuyết phục
c) Quyền uy sứ đồ
d) Sự nhất trí
e) Sự bắt chước.
8. Đường lối nào Phaolô đã sử dụng để đòi hỏi phải vâng lời?
a) Sự bắt chước
b) Sự nhất trí
c) Quyền uy sứ đồ
d) Quyền uy sứ đồ
e) Sự thuyết phục.
9. Những điều mong đợi được mô tả như là cách một người
a) Lãnh đạo và những thuộc cấp am hiểu lẫn nhau
b) Hành động như một người lãnh đạo
c) Mong muốn hành động như một người lãnh đạo
d) Mong muốn những thuộc cấp của mình phải thực hiện.
10. Sự trưởng thành của thuộc cấp có liên quan đến
a) Cách những thuộc cấp lĩnh hội được những hành động của người lãnh đạo.
b) Cách những thuộc cấp thi hành chức năng trong một nhiệm vụ đặc biệt mà họ chịu trách nhiệm
c) Sự tự nguyên của những thuộc cấp để hoàn thành những điều trông đợi của nhà lãnh đạo.
d) Tinh thần chịu trách nhiệm mà không cần uy quyền.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI Đọc kỹ những lời chỉ dẫn và viết câu trả lời của bạn vào những khoảng trống trước mỗi câu hỏi.
11- 15. Hãy viết Đ vào khoảng trống đứng trước câu giải thích đúng điều mang ý nghĩa là đường lối lãnh đạo. Viết S nếu câu phát biểu không đúng.
....11 Lối cư xử chủ yếu của một người trong chức năng là một người lãnh đạo trên những người khác.
....12. Một đường lối cố định và không thay đổi mà một người lựa chọn để lãnh đạo người khác.
....13. Một loạt những hành vi từ độc tài đến thụ động mà một người lãnh đạo có thể sử dụng đối với thuộc cấp.
....14. Những nét đặc trưng thông thường của con người làm cho những nhà lãnh đạo khác với những thuộc hạ.
....15. Một khuôn mẫu kiên định mà một nhà lãnh đạo sử dụng khi cùng làm việc và làm việc thông qua những người khác.
Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu
1. b) Sự can đảm đã làm đường lối lãnh đạo chiếm ưu thế của Đaniên.
d) Sự can đảm trong lãnh đạo đã là một khuôn mẫu kiên định của Đaniên suốt một khoảng thời gian.
2. Câu trả lời của bạn. Tôi có thể nói như sau : Lãnh đạo là một chuỗi những hành động liên tiếp của một người hướng dẫn người khác. Nó xảy ra trong một khoảng thời gian, và đường lối thường thay đổi theo hoàn cảnh.
3. a) Chuyên quyền
b) Để cho làm tùy theo ý thích
c) Dân chủ
4. Nó có thể rơi vào bất cứ chỗ nào trên# biểu đồ, tùy thuộc vào đường lối cần cho một hoàn cảnh đặc biệt.
5. a. Vào phần ngoài cùng bên trái của phía quyền uy trong biểu đồ
6. c. Khuynh hướng nhiệm vụ
7. Có lẽ b, c và d là những điều sẽ xếp ông ta vào phần giữa của những hành vi uy quyền và tự do.
8. a. 3 . Dự phần...
b. 1. Độc tài...
c. 2. Quyền uy
d. 3. Dự phần...
e. 1. Độc tài...
f. 3. Dự phần ...
g. 2. Quyền uy
h.2. Quyền uy...
9. Tiền sử của nhóm. Tầm cỡ của nhóm
10. c) Một nhà khải đạo thảo luận với một nhóm phụ huynh về điều Kinh Thánh dạy dỗ có liên quan đến việc huấn luyện trẻ con.
11. a) Thuyết phục về bổn phận
b) Sự đối chất
12. Bởi vì nó được đặt căn bản trên sự làm theo hình ảnh Đấng Christ là Đấng có gương mẫu toàn hảo của chúng ta.
13. d) Điều tốt nhất cho cả nhóm
14. Câu trả lời của bạn. Trước tiên, người ấy cần phải đảm bảo rằng hội chúng tồn tại biết được những điều ông mong đợi là dành cho sự truyền giáo và sự tăng trưởng của Hội thánh. Ông cũng cần phải hiểu điều hội chúng trông đợi nơi ông là người lãnh đạo của họ. Rồi cần phải có sự nhất trí trong việc tìm kiếm một đường lối để cung ứng mối thông công trong nhóm nhỏ chỉ dành cho những thành viên cũ, cho đến khi những người mới tin đã được huấn luyện về khuôn mẫu sinh hoạt này.
15. Các câu trả lời b,c f, g và I là đúng
16. Câu trả lời của bạn. Một vài lãnh vực trong những lãnh vực này có nhu cầu về một sự trưởng thành lớn hơn hay không? Có lẽ bạn cần phải đánh giá mức độ trưởng thành của mình trong những lãnh vực khác thuộc về đời sống cá nhân cũng như chức vụ cá nhân của mình.
17. Câu trả lời bạn chọn có lẽ là câu sẽ phù hợp nhất cho nền văn hóa và hoàn cảnh của bạn trong hầu hết các trường hợp, có lẽ nó sẽ hữu hiệu khi dùng đường lối c, góp phần. Nếu điều đó không đem lại những hiệu quả mong muốn, có lẽ cần phải có một đường lối mạnh mẽ hơn.
18. Có lẽ là một sự phối hợp của b, và c, sẽ là đường lối hữu hiệu nhất
19. Câu trả lời của bạn.
THỰC HÀNH UY QUYỀN LÃNH ĐẠO
Bạn có còn nhớ định nghĩa của J.R.Clinton về sự lãnh đạo Cơ Đốc trong bài 1 không? Ông đã phát biểu rằng một nhà lãnh đạo Cơ Đốc tạo ảnh hưởng trên những thuộc cấp để nhắm về những mục đích của Đức Chúa Trời dành cho nhóm. Điều này gợi ý rằng những nhà lãnh đạo thực hành một số uy quyền trên những thuộc cấp của họ. Đôi khi nó là quyền uy do địa vị - Đó là một nhà lãnh đạo có uy quyền bởi vì người đó nắm giữ một địa vị có ảnh hưởng. Hoặc giả một người lãnh đạo có thể có quyền uy cá nhân đến từ lòng trung thành và sự cam kết của các thuộc hạ. Nhưng bất cứ khi nào có một người lãnh đạo và một số người khác tuân phục, thì chắc chắn phải có một vài mức độ của quyền uy lãnh đạo.
Quyền uy lãnh đạo là một đề tài chính trong Thánh Kinh. Đôi khi nó được thể hiện một cách khôn ngoan vì mục đích tốt lành của những cá nhân, những nhóm nhỏ hoặc những quốc gia. Đôi khi đã có một sự lạm dụng về quyền uy với những hậu quả thảm khốc gây cho những thuộc cấp. Dân sự của Đức Chúa Trời đã phải chịu đựng thể nào trãi hàng bao thế kỷ dưới những người lãnh đạo lạm dụng uy quyền mà Đức Chúa Trời đã ủy thác cho họ. Ngày nay cũng vậy, chúng ta thấy quyền uy lãnh đạo được sử dụng một cách có trách nhiệm và vô trách nhiệm. Đây là một đề tài rất quan trọng đối với những ai muốn trở nên một nhà lãnh đạo trọn vẹn và có trách nhiệm.
Trong bài học này chúng ta sẽ khảo sát một vài nguyên tắc Thánh Kinh quan trọng cho uy quyền thuộc linh. Rồi chúng ta sẽ xác định sự thích hợp của các nền tảng uy quyền khác nhau cho sự lãnh đạo Cơ Đốc và tập trung vào một nền tảng uy quyền thuộc linh có động cơ tình yêu. Cuối cùng chúng ta sẽ ôn lại những đường lối Môise đã thực hành uy quyền thuộc linh.
Dàn bài
Các nguyên tắc của uy quyền thuộc linh
Các nền tảng uy quyền lãnh đạo
Nền tảng của uy quyền thuộc linh
Môise : Một sự thực hành uy quyền thuộc linh

Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể :
Phát biểu vài giải thích được những nguyên tắc về uy quyền thuộc linh đã được bàn đến trong bài học này.
Chọn được loại uy quyền thích hợp cho những hoàn cảnh lãnh đạo được nêu.
Mô tả được cách dùng uy quyền thuộc linh của Môise và các nhà lãnh đạo khác trong Kinh Thánh.
Thực hành uy quyền thuộc linh với sự hoàn hảo và tinh thần trách nhiệm.
Các hoạt động học tập
1.Nghiên cứu bài học theo tiến trình đã được hướng dẫn trong Bài 1. Đọc tất cả những phần Kinh Thánh được đề cập đến trong bài và trả lời mỗi câu hỏi nghiên cứu trước khi xem phần trả lời của chúng tôi.
2.Tuân theo những lời chỉ dẫn ở cuối bài học cho phần ôn của đơn vị 1. rồi sau đó trả lời những câu hỏi trong phần đánh giá tiến bộ đơn vị 1. Bạn sẽ thấy những lời chỉ dẫn đầy đủ trong tập học viên.

Phần triển khai bài học
Mục tiêu 1 : Chọn lựa từ những ví dụ được nêu những ví dụ nào bày tỏ người lãnh đạo hiểu biết các nguyên tắc của uy quyền lãnh đạo thuộc linh.

CÁC NGUYÊN TẮC CỦA UY QUYỀN THUỘC LINH
Việc nghiên cứu Kinh Thánh bày tỏ một vài nguyên tắc quan trọng của uy quyền hoặc thẩm quyền thuộc linh. Hiểu rõ những nguyên tắc này sẽ giúp bạn rất nhiều trong vai trò lãnh đạo của bạn và giữa bạn khỏi phải chịu học tập qua sự đau đới và thất bại.
Đây là một đề tài rất đúng lúc bởi vì trong các năm gần đây nhiều tình huống lãnh đạo tiêu cực có ảnh hưởng đến thế giới Cơ Đốc đã làm nên những đề tài Quốc tế. Thí dụ như, Jim Jones đã trở thành một nhân vật mang tiếng xấu vì sự lạm dụng quyền uy lãnh đạo của ông khi ông đã kêu gọi việc sự sát tập thể đối với những kẻ đi theo mình. Những nhà lãnh đạo tôn giáo khác cũng đã bị chỉ trích vì cớ đòi hỏi hầu hết những vật sở hữu và sự giàu có của các thuộc hạ xem như là bằng chứng cho sự trung thành của họ.
Kết quả là nhiều Cơ Đốc nhân đã được lưu tâm về ý nhĩa và phạm vi của uy quyền mà những nhà lãnh đạo Cơ Đốc được giao phó để thực hiện. Chúng ta cần phải biết điều Kinh Thánh nói và khai triển trong vòng những nguyên tắc của Kinh Thánh rồi thì những kẻ đi theo chúng ta sẽ cảm thấy an toàn và tin cậy khi chúng ta hành xử ơn tứ lãnh đạo mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta.
Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, từ Ngài phát lưu ra mọi quyền uy và thẩm quyền thuộc linh.
Trước tiên chúng tôi muốn xem xét một số nguyên tắc của uy quyền thuộc linh. Những nguyên tắc này không được nêu theo một thứ tự ưu tiên. Mỗi nguyên tắc đều sống động và không thể tách rời khỏi những nguyên tắc khác.
1. Đức Chúa Trời là nguồn cội : “ Nơi Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan và quyền năng” (Giop G 12:13).
Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, từ nơi Ngài phát lưu ra mọi quyền uy và thẩm quyền thuộc linh. Người lãnh đạo Cơ Đốc cần phải nhìn nhận rằng quyền uy của mình để ảnh hưởng trên thuộc cấp nhắm về những mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho họ không phải đến qua những ơn tứ và những khả năng tự nhiên của chính mình; hơn thế nữa nó đến từ ngai của Đức Chúa Trời.
Một trong những gương mẫu tốt đẹp nhất trong Cựu ước nói lên cách dân sự thời bấy giờ đã hiểu được quyền uy Thượng Đế được tìm thấy trong câu chuyện ra khỏi Ai Cập. Bài ca mà Môise và dân Ysơraên đã hát sau chiến thắng của Đức Giê hô và trên người Ai Cập tại biển Đỏ có chứa đựng câu này : “ Hỡi Đức Giêhôva ! Tay hữu Ngài có sức mạnh vinh hiển thay. Hỡi Đức Giêhôva ! Tay hữu Ngài hủy quân nghịch tan đi” (XuXh 15:6)
Quan điểm về uy quyền trong Thánh Kinh Tân ước không thể tách rời được với thân vị của Chúa Cứu Thế Giêxu. Ngay từ khởi đầu của cuộc sống Ngài trên đất, toàn thể sự hiện hữu của Ngài đã là một sự bày tỏ độc đáo về uy quyền của Thượng Đế. Chúa Giêxu đã là con người đặc biệt mang uy quyền của Thánh Linh, và những việc làm quyền uy của Ngài đã làm cho những kẻ quan sát Ngài phải ngạc nhiên và ca ngợi.
Hầu như khi tuyên bố rằng quyền uy thuộc về Đức Chúa Trời là một điều hiển nhiên, nhưng nhiều nhà lãnh đạo Cơ Đốc có khuynh hướng quên điều này. Một số nhà lãnh đạo đã được mô tả là “ có ơn lãnh đạo” theo một suy nghĩ rằng họ năng động, phong phú và lôi cuốn nhiều thuộc hạ. Rất dễ cho những nhà lãnh đạo như vậy tưởng tượng rằng uy quyền của họ đến từ chính họ hơn là đến từ Đức Chúa Trời. Samsôn là một ví dụ bi thảm. Ông đã vùng dậy để chiến đấu với người Philitin sau khi Đalila đã cạo hết tóc của ông, ông đã nghĩ rằng : “ Ta sẽ ra như các lần trước và gỡ mình cho thoát khỏi tay chúng nó ! Nhưng người chẳng biết rằng Đức Giêhôva đã lìa khỏi mình” (Cac Tl 16:20) Samsôn đã trở nên một hình ảnh đáng thương xay cối trong ngục thất của kẻ vô đạo bởi vì ông đã không nhận viết lẽ thật nền tảng rằng quyền uy thuộc về Đức Chúa Trời.
1. Gương của Samsôn đã bày tỏ rằng Đức Chúa Trời, Đấng nguồn cội của mọi uy quyền, có thể làm được điều nào trong những điều sau?
a. Giới hạn uy quyền của một người lãnh đạo
b. Ban cho một người lãnh đạo thêm quyền uy
c. Cất uy quyền khỏi người lãnh đạo
d. Tất cả những việc làm trên
2. Đức Chúa Trời ban cho uy quyền : Thẩm quyền thuộc linh không phải là điều mà người ta chọn lựa thực hiện. Đức Chúa Trời chọn lựa những con người mà Ngài muốn ban cho uy quyền này và cả về mức độ uy quyền mà Ngài giao phó cho mỗi người.
Thánh Kinh chứa đựng những câu chuyện về Đức Chúa Trời ban uy quyền của Ngài cho những con người mà người ta không hề nghĩ đến dựa trên nền tảng của sự chọn lựa theo uy quyền tối cao của Ngài. Những con người như Oátniên, Đêbôra, và Ghiđêôn torng sách Các quan xét đã được chọn từ một cuộc sống tầm thường và ban cho năng quyền với Thần linh của Thượng Đế để trở nên những nhà lãnh đạo giải phóng Ysơraên khỏi quân thù. Ngay cả trong Hội thánh đầu tiên, Đức Chúa Trời đã chọn một số người để ban cho quyền uy lãnh đạo cho dù họ không đủ sự hiểu biết Chúa Giêxu một cách cụ thể như những Môn đồ khác, hoặc họ không phải là một trong những kẻ qui đạo đầu tiên của Hội Thánh để được nhận một vị trí có uy quyền. Đức Chúa Trời đã chọn lựa những con người để ban cho họ quyền uy lãnh đạo. ( Xem Cong Cv 20:28; ICo1Cr 12:28).
2. Những từ ngữ nào trong Cong Cv 20:28 hậu thuẫn cho nguyên tắc Đức Chúa Trời ban cho quyền uy lãnh đạo?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
3. Đức Chúa Trời bảo vệ những người lãnh đạo của Ngài
Chúng ta thấy rằng qua suốt Kinh Thánh Đức Chúa Trời luôn bảo vệ thẩm quyền thuộc linh. Ví dụ như từ giây phút Samuên xức dầu cho Đavít làm vua Ysơraên, Đavít đã được sự bảo vệ của Chúa cho địa vị lãnh đạo của ông (ISa1Sm 16:1-23). Khi Đavít có cơ hội giết Saulơ và chiếm lấy vịtrí phải lẽ của mình trên ngai báu mà ông đã từ chối làm điều đó đi nửa. Ông đã nhận biết rằng ĐỨC CHÚA TRỜI sẽ làm trọn những lời hứa của ngài theo cách riêng và trong thời điểm riêng của ngài. Trải qua suốt cuộc đời làm vua của Đavít, ông đã không bao giờ phải tự bảo vệ cho thẩm quyền thuộc linh của mình. Đavít đã hiểu rõ nguyên tắc này : Nếu Đức Chúa Trời ban cho chúng ta uy quyền thuộc linh và chúng ta thực hiện uy quyền này một cách trung tín, thì không cần phải tự bênh vực cho chính mình.
4. Những nhà lãnh đạo thuộc linh đều chỉ là những ống dẫn .
Phần lớn những nhà lãnh đạo lạm dụng quyền uy làm điều đó khi họ bắt đầu hành động như thể đó là uy quyền riêng của của họ. Nhà lãnh đạo khôn ngoan luôn luôn nhớ rằng mình chỉ là một ống dẫn cho uy quyền của Thượng Đế. Hãy để ý rằng các sứ đồ đã rất cẩn thận không gây cho những thuộc hạ ấn tượng rằng họ, chính họ, đang sở hữu uy quyền thiên thượng. Những gương mẫu trong việc Phierơ với đội trưởng Cọt nây (Cong Cv 10:26) và Phaolô với Banaba tại Líttrơ (14:14-15). Trong những trường hợp khác,đặc biệt là khi có chữa bệnh hoặc quyền uy chạm trán với các lực lượng ma quỷ, các sứ đồ đã tuyên bố trong danh của Chúa Giêxu và dành mọi sự tin cậy qui về Ngài qua những phép lạ họ đã làm ( xem 3:6; 4:10; 16:18). Đức Chúa Trời ban uy quyền cho những người lãnh đạo với mục đích để tuyên bố và minh chứng rằng Nước Đức Chúa Trời đã đến.
Đức Chúa Trời ban quyền uy thuộc linh cho những nhà lãnh đạo vì cớ lợi ích của dân sự Ngài.
5. Quyền uy thuộc linh làm lợi cho những người đi theo
Quyền uy thuộc linh không bap giờ được ban cho vì cớ những lợi ích cá nhân của nhà lãnh đạo. Đức Chúa Trời ban uy quyền thuộc linh cho những nhà lãnh đạo vì cớ lợi ích của dân sự ngài. Nêhêmi là một gương mẫu tuyệt diệu cho nguyên tắc này (NeNe 5:1, 4-19). Trong 12 năm ông làm tổng trấn của Giêrusalem, Nêhêmi đã không mưu cầu lợi riêng nhờ vị trí của mình, không đòi hỏi lương hướng và những sự chu cấp mà ông có quyền đòi hỏi. Ngược lại, ông thực sự đã nuôi 150 người Giuđa và các quan trưởng nhờ những khoản chi của ông, dùng những món lợi ông đã nhận được khi phục vụ tại triều đình vua Ba Tư và từ nơi ruộng vườn tài sản của ông ở xứ Giuđê ( Henry tập II trang 1085). Ông chỉ sống với những nhu cầu thực sự cần thiết và từ khước việc khiến cho những kẻ nộp thuế phải mang thêm gánh nặng. Thật ngược lại với một số những nhà lãnh đạo Cơ Đốc vẫn trông đợi mình được chu cấp ở một mức độ tiêu pha phung phí làm gánh nặng cho những kẻ đi theo họ !.
3. Hoàn cảnh nào sau đây bày tỏ được rằng nhà lãnh đạo hiểu rõ được những nguyên tắc về uy quyền lãnh đạo thuộc linh?
a. Nhà truyền giáo Perterson gởi một lá thư trước cho các nhà thờ nơi mà ông ta sẽ đến phục vụ đề cho biết họ phải trả cho ông bao nhiêu để được ông giảng dạy.
b. Mặc dù biết rằng một nhà thờ nhỏ không thể trả một mức lương tương xứng để chăm sóc cho gia đình mình. Mục sư Kpelo nhận thức rằng Đức Chúa Trời chỉ định ông phải đến đó làm Mục sư, và ông quyết định đi.
c. Một Mục sư phản đối không cho Hội chúng để riêng ra một khoản đóng góp vào công tác truyền giáo bởi vì điều đó có nghĩa rằng ông sẽ không được tăng lương.
d. Một nhà truyền giáo quốc tế, có năng quyền trong chức vụ chữa bệnh đã chấp nhận một khoản quà tặng lớn từ những thuộc cấp giàu sang, họ nài ép nhà truyền giáo sử dụng nó để hưởng thụ riêng bởi vì ông ta xứng đáng được đối xử một cách đặc biệt.
e. Nhà truyền giáo Mikay đồng ý đi đến một vùng đất mới để thành lập Hội thánh. Ông chứng tỏ rằng mình có ân tứ đầy quyền năng từ nơi Đức Chúa Trời. Và những người mới tin thêm vào Hội Thánh hàng tuần. Khi Hội thánh lớn lên và được chúc phước. Hội chúng nhận ra trách nhiệm của họ là phải chu cấp tài chánh cho vị lãnh đạo của mình và họ đã dùng những khoản dâng hiến với tình yêu và theo khả năng của họ. Trong khi nhà truyền giáo Mikay không đòi hỏi phải chu cấp, ông đã chấp nhận điều mà họ đã cung ứng cho mình.
Mục tiêu 2 : Nhận rõ được những gương mẫu tích cực hoặc tiêu cực của sáu nền tảng uy quyền lãnh đạo.
CÁC NỀN TẢNG UY QUYỀN LÃNH ĐẠO
Một nhà lãnh đạo tạo ảnh hưởng trên hành vi của những thuộc cấp như thế nào? Điều gì làm cho một người có thể thực thi sự kiểm soát trên những người khác? Đề tài về uy quyền đã luôn luôn là điều hấp dẫn đối với những nhà lãnh đạo Cơ đốc. Điều hành đặc biệt hấp dẫn trong những nền văn hóa nơi thường xuyên có những cuộc đụng độ về uy quyền với những lực lượng thuộc về ma quỉ. Nhiều cuộc nghiên cứu đã được tiến hành trong giới người đời cũng như trong vòng Cơ Đốc giáo giới nhằm nỗ lực tìm hiểu những động cơ của năng quyền. Hầu hết những cuộc nghiên cứu này bày tỏ rằng có rất nhiều nền tảng quyền lực hoặc nhiều loại quyền lực mà các nhà lãnh đạo thực hành trên các thuộc cấp của mình. Chúng ta sẽ xem xét sáu loại quyền uy đã được nhìn nhận trong cá cuộc nghiên cứu của những người đời này. Chúng là :
1. Quyền uy có tính ép buộc
2. Quyền uy chuyên môn
3. Quyền uy hợp pháp
4. Quyền uy liên đới
5. Quyền uy ban thưởng
6. Quyền uy do mối liên hệ tương quan.
Quyền uy có tính ép buộc.
Quyền uy có tính ép buộc được đặt nền tảng trên chỉ thị cứng rắn từ người lãnh đạo. Người ấy nhấn mạnh vào sự vâng lời và qui phục theo ý chí của mình. Theo các lãnh đạo bằng mệnh lệnh, người ấy chỉ đơn giản truyền cho thuộc cấp về sự việc, cách thức và khi nào họ phải làm một việc gì đó. Nếu những thuộc cấp không có khả năng hoặc không muốn tuân lệnh, người lãnh đạo thường sẽ hình phạt họ theo một lối nào đó. Ví dụ như người ấy sẽ khiển trách họ, hoặc bắt họ phải hoàn thành những công việc mà họ không ưu thích.
Quyền uy có tính cách ép buộc đã thường thấy trong thời Cựu ước, đặc biệt là giữa vòng các vua Ysơraên, Giuđa và các quốc gia khác. Những vị vua này có uy quyền để đòi hỏi sưu thuế nặng nề, bắt dân chúng làm việc cho họ, lập quân đội, điều khiển mua bán với những quốc gia khác v.v....
Khi dân Ysơraên từ chối sự cai trị của Đức Chúa Trời trên họ và đòi hỏi có một vua, tiên tri Samuên đã cảnh cáo họ rằng có một vị vua sẽ đem lại hậu quả về áp lực kinh tế và sự mất tự do (ISa1Sm 8:10-18). Samuên đã báo trước rằng các vị vua sẽ ngược đãi dân sự qua quyền uy ép buộc và cả dân sự sẽ phải chịu đựng. Ví dụ như dưới triều Salômôn, một lực lượng lao động của người ngoại bang được dùng cho những đồ án xây cất nhiều dinh thự, lực lượng này đã được tăng cường bằng việc bổ sung hơn ba mươi ngàn người Ysơraên trong số “những người làm xấu” (IVua 1V 5:13-14). Khi Salômôn qua đời dân sự đã kêu cầu với người nối dõi của vua là Rôbôam để được giảm nhẹ “sự phục dịch khó nhọc và cái ách nặng” mà Salômôn đã gán trên họ (12:4).
Trên một phương diện khác, có những thời kỳ mà các nhà lãnh đạo đã được Đức Chúa Trời chỉ định và bênh vực trong việc sử dụng quyền uy có tính ép buộc để sửa trị những sự tập tành tội vô tín. Khi Nêhêmi khám phá ra sự sa bại trong các cuộc hôn nhân ở Giêrusalem, ông đã dùng những biện pháp sửa trị nặng nề, ông đã viết điều có liên quan đến những người đàn ông cưới vợ ngoại bang như sau : “ Tôi quở trách chúng nó, nhổ tóc chúng nó, biểu chúng nó chỉ Đức Chúa Trời mà thề...” (NeNe 13:25). Không phải ngạc nhiên gì khi họ mau chóng đáp ứng với những đòi hỏi của ông và thề hứa sẽ không cãi lại luật pháp Chúa một lần nữa ! Trong trường hợp này quyền uy có tính ép buộc đã đem lại trật tự cần thiết và đã giải quyết được cuộc khủng hoảng. Qua uy quyền ép buộc Nêhêmi đã gây ảnh hưởng trên dân sự để hướng họ về những mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho họ.
4. Hãy đọc những khúc Kinh Thánh sau đây và viết :
Tích cực nếu khúc Kinh thánh mô tả quyền uy có tính ép buộc của một nhà lãnh đạo được thể hiện theo một đường lối tích cực.
Tiêu cực nếu khúc Kinh Thánh mô tả quyền uy có tính cách ép buộc của một nhà lãnh đạo được thể hiện theo một đường lối tiêu cực.
Không, nếu có không mô tả việc thể hiện quyền uy có tính cách ép buộc của một nhà lãnh đạo.
a. Mat Mt 2:16
b. Cong Cv 7:57-58
c. 5:4-10
d. Mat Mt 14:9-10
e. Mat Mt 21:12
f. Cong Cv 13:9-11
g. 15:5
5. Dựa trên những điều chúng tôi đã nói đến trong phần này, hãy giải thích làm thế nào một thuộc hạ có thể xác định được người lãnh đạo Cơ Đốc của mình đang dùng quyền uy có tính ép buộc theo đường lối tích cực hay không.

Quyền uy Chuyên Môn.
Quyền uy chuyên môn được đặt nền tảng trên sự nhận thức của các thuộc hạ về thẩm quyền hoặc năng lực của một nhà lãnh đạo. Các thuộc hạ tôn trọng người lãnh đạo bởi vì những tài khéo, kiến thức hoặc sự thông thạo đặc biệt của người ấy mà họ đang cần. Vì là nhà chuyên môn, người lãnh đạo có thể dựa trên đoàn thể và sự hỗ trợ của những thuộc cấp.
Giôsép ở Ai Cập là một ví dụ trong Cựu ước về nhà lãnh đạo với quyền uy chuyên môn ( xem SaSt 41:35-44). Nhờ sự khôn ngoan đặc biệt nhận lãnh từ Đức Chúa Trời. Giôsép đã vượt trội để trở thành người quản lý đứng đầu trên toàn quốc gia suốt trong những năm còn lại của đời ông, làm một người chuyên môn, điều khiển sự cung cấp lương thực và nền kinh tế của cả một đất nước. Giôsép đã có một quyền uy lớn lao. Không có một điều nào bày tỏ cho thấy rằng Giôsép đã lạm dụng lòng tin cậy phó thác trên ông.
Một ví dụ trong thời Tân ước của uy quyền chuyên môn là Gamaliên người Pharisi khi ông phát biểu tại phiên tòa xử các Sứ đồ. Hãy đọc Cong Cv 5:27-40. Gamaliên khuyến cáo những nhân viên tòa công luận về ý định của họ muốn lập mưu giết các sứ đồ. Bằng cách sử dụng kiến thức chuyên môn của ông về những sự kiện lịch sử, ông đã nhắc nhở họ về một phần tử dấy loạn tên là Thêuđa. Cuộc bạo loạn này đã lôi kéo một số đông người hưởng ứng, nhưng rồi Thêuda đã bị giết trong sa mạc. Những kẻ theo hắn sau đó đều đã tản lạc. Rồi Gamaliên nhắc nhở Tòa Công Luận về một kẻ cướp thành công hơn, đó là Giuđa người Galilê, cũng đã cùng chịu chung một số phận.
Lời khuyên của Gamaliên cho Tòa Công Luận rất là sáng suốt, nếu phong trào các môn đệ của Giêxu không phải đến từ Đức Chúa Trời, thì nó cũng sẽ ra vô ích. Nhưng nếu nó thuộc về Đức Chúa Trời. Tòa Công Luận không cần phải chống cự lại, Toàn Hội nghị tỏ ra ghen ghét các Sứ đồ nhưng đã được thuyết phục bởi ảnh hưởng đầy quyền uy trong kiến thức chuyên môn của Gamaliên.
Những nhà lãnh đạo nào có uy quyền bởi vì vốn chuyên môn của mình cần phải cẩn thận để phòng một sự lạm dụng của loại uy quyền này. Họ rất dễ trở thành kiêu căng ngạo mạn và tự kỷ trung tâm, cảm thấy lên mình hoặc lợi dụng những thuộc hạ để kiếm lời về phần mình, ngược lại người lãnh đạo thuộc linh sẽ luôn nhớ những nguyên tắc của uy quyền thuộc linh và tránh xa các cám dỗ thuộc loại này.
6. (Chọn một trong câu trả lời) Quyền uy chuyên môn có nghĩa là người lãnh đạo :
a. Hiểu biết hơn những thuộc hạ của mình
b. Có khả năng tạo ảnh hưởng trên những kẻ đi theo mình vì có những khả năng đặc biệt.
c. Biết cách làm thế nào để khiến những thuộc hạ làm điều mà mình muốn họ làm.
d. Trổi hơn những thuộc cấp trong mọi phương tiện.
Quyền Uy Hợp Pháp
Quyền uy hợp pháp đến từ vị trí được nắm giữ bởi người lãnh đạo có thể xem là một luật lệ, càng có địa vị cao, quyền uy hợp pháp càng có khuynh hướng lớn hơn. Các thuộc hạ có khuynh hướng chấp nhận quyền uy của người lãnh đạo bởi vì người ấy nắm giữ địa vị thuộc về chức quyền.
Trong thời Cựu ước chúng ta thấy những ví dụ về quyền uy hợp pháp được thi hành bởi những vị vua và các thầy tế lễ. Bởi vì họ đã được cả nưóc công nhận làm người nắm giữ những địa vị uy quyền hợp pháp, họ được những người khác tuân phục. Một cuộc đụng chạm ly kỳ của uy quyền hợp pháp có lần đã xảy ra khi thấy tế lễ Samuên đối diện với vua Saulơ trong vấn đề dâng tế lễ những chiến lợi phẩm trong trận chiến với Amléc. Hãy đọc ISa1Sm 15:1-35. Mặc dù Samuên đã xức dầu cho Saulơ làm vua trên cả dân dự, Samuên vẫn nắm giữ địa vị cao nhất của quyền uy hợp pháp bởi vì ông đại diện cho lời và Ý chí của Thượng Đế (15:11). Sau lơ đã không thể có chọn lựa khác nhưng chỉ phải công khai xưng tội và phải chịu Đức Chúa Trời đoán xét về hành động của mình.

7. Ví dụ về cuộc đụng chạm của quyền uy hợp pháp giữa Samuên và vua Saulơ đã bày tỏ điều nào sau đây?
a. Người lãnh đạo nào được các thuộc hạ nhìn nhận là có địa vị cao nhất sẽ có quyền uy hợp pháp cao nhất.
b. Người lãnh đạo nào tự nhìn nhận địa vị của mình là quan trọng nhất sẽ có thể hành xử quyền uy hợp pháp cao nhất.
Một ví dụ trong thời Tân Ước là Tít, người ngoại bang, một trong những bạn đồng hành truyền giáo của Phaolô. Phaolô đã chọn Tít làm sứ giả của mình và đối phó với mối liên hệ căng thẳng giữa vị sứ đồ với Hội Thánh tại Côrinhtô (IICo 2Cr 7:13-16). Phaolô cũng đã gởi ông trở lại Côrinhtô để cố vấn trong việc thu góp tiền cho người nghèo tại Giêrusalem (8:16-19). Một lần nữa, Phaolô đã gửi Tít đến Cơrết để giám sát công việc tại đây (Tit Tt 1:4-5). Tất cả điều này nói lên sự kiện rằng Tít đã hoạt động trong một cương vị thuộc uy quyền hợp pháp. Ông đã có sự uỷ quyền của sứ đồ Phaolô cho chức vụ của ông và đã mang những tin tức từ Phaolô cho gửi cho các Hội thánh ông đến thăm viếng. Vì có những ủy nhiệm thư này mà các Hội chúng đã tôn trọng lời khuyên của ông và đã chấp nhận sự lựa chọn của ông về các trưởng lão ở giữa vòng họ.
Quyền uy hợp pháp là phổ thông trong Hội thánh bởi vì chúng ta không thể hoạt động mà không có cơ cấu tổ chức và sự lãnh đạo. Vấn đề thường nảy sinh khi một người lãnh đạo đòi hỏi phải được tuân phục bởi vì người “ đang giữ chức vụ”. Một người lãnh đạo như vậy đã đánh mất sự nhận thức về mục tiêu thật của sự lãnh đạo Cơ đốc, đó là : Tạo ảnh hưởng trên dân sự Chúa để hướng về mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho nhóm. Đức Chúa Trời cho phép chúng ta có quyền uy hợp pháp để chúng ta có thể phục vụ Hội Thánh Ngài.
8. Giả sử tổ chức Hội thánh chỉ định bạn làm cố vấn cho một vùng, giao cho bạn quyền uy hợp pháp trên các Hội thánh trong vùng của bạn. Điều nào sau đây là những đường lối tích cực trong việc thực hành căn bản quyền uy này?
a. Đòi hỏi rằng những người dưới quyền hạn bày tỏ sự kính phục tôn trọng của họ bằng cách dùng chức danh mới của bạn mỗi khi họ nói về bạn.
b. Giải thích những lý do về bất cứ đòi hỏi nào bạn nêu ra cho các Hội Thánh.
c. Bày tỏ một tinh thần khiêm nhường và xem các thuộc cấp của bạn như những người bình đẳng.
d. Đòi hỏi một sự vâng lời tuyệt đối về các luật lệ Hội Thánh và xử phạt mọi sự vi phạm.
e. Luôn luôn hành động thanh liêm khi giải quyết các sự việc trong Hội Thánh.
f. Chỉ định các thành viên trong gia đình của bạn vào những vị trí chủ chốt của Hội Thánh.
Quyền uy liên đới.
Quyền uy liên đới đến từ mối quan hệ của người lãnh đạo với những nhân vật quan trọng và có ảnh hưởng hoặc ở trong hay ngoài tổ chức. Một nhà lãnh đạo như thế đạt được sự hậu thuẫn của các thuộc hạ của mình dựa trên nền tảng “những người quen biết của người ấy”. Những thuộc hạ gắn bó với người lãnh đạo bởi vì những lợi ích họ sẽ nhận được thông qua mối quan hệ “ liên đới” từ bên ngoài này.
Chúng ta cùng xem một ví dụ của việc lạm dụng quyền uy “ liên đới” trong câu chuyện tiên tri Eâsai và người đầy tớ Ghêhaxi của ông. Hãy đọc câu chuyện này trong II Các vua đoạn 5.
9. Câu nào sau đây mô tả việc Ghêhaxi dùng quyền uy liên đới?
a. Ghêhaxi đã lợi dụng mối quan hệ của Ê-li-sê với Nahaman để từ đó kiếm lợi riêng cho mình.
b. Ghêhaxi muốn nhận những quà biếu của Nahaman vì cớ sự giúp đỡ của Ê-li-sê nhằm mục đích có thể đem về cho Ê-li-sê và được thầy mình khen ngợi.
c. Ghêhaxi biết rằng Nahaman sẽ không cảm nhận được điều Ê-li-sê đã làm cho mình trừ khi ông ta có cách trả lời ơn cho Ê-li-sê.
Quyền uy liên đới có thể là một lợi điểm cho một người lãnh đạo nếu người ấy dùng những mối liên hệ với những người có thể lực như vậy nhằm vì lợi ích của những thuộc cấp và sự tiến triển của Phúc âm. Phaolô đã dùng những mối quan hệ liên đới của mình như là một sự bảo vệ hữu hiệu khi ông bị bắt tại Giêrusalem (Cong Cv 21:37-22:5, 25-29). Sau đó, Phaolô đã gửi những lời chào thăm đến với những Cơ Đốc nhân là một phần thuộc người nhà của hoàng đế La Mã (RoRm 16:10). Mặc dù chúng ta không thể đoán chắc chắn, có thể lắm những Cơ Đốc nhân này rất có khả năng đã giúp đỡ Hội thánh La Mã và có ảnh hưởng trên những chính sách của nhà cầm quyền. Có lẽ Những Cơ Đốc nhân có thế lực này đã chăm sóc Phaolô khi ông bị giam giữ trong nhà tại La Mã suốt hai năm khi chờ đợi ra trình diện trước mặt Sêsa (Cong Cv 28:30-31).
Quyền uy ban thưởng
Quyền uy ban thường đã được định nghĩa trong sự lãnh đạo của người đời là “khả năng của một cá nhân để làm cho sự thành đạt được dễ dàng theo kết cuộc mà những người khác mong muốn”. Nói một cách khác, nó dựa trên khả năng của người lãnh đạo để đem lại những phần thưởng cho các thuộc hạ. Dùng từ phần thưởng chúng tôi có ý nói nhà lãnh đạo có khả năng đem lại cho các thuộc cấp những tiện ích và thuận lợi mà bình thường họ không thể nào sở hữu. Người lãnh đạo đem lại lợi ích cho các thuộc hạ thông qua những ân tứ, kỹ năng, sự huấn luyện và kinh nghiệm của mình.
Một vấn đề có thể xảy ra với nền tảng quyền uy này đó là rất có thể một nhà lãnh đạo sẽ đạt đến một chỗ mà người ấy không còn có thể làm thỏa mãn những nhu cầu của thuộc hạ nữa. Khi người lãnh đạo không đáp ứng được những kỷ vọng của nhóm, những thuộc hạ có thể bỏ rơi người lãnh đạo và kiếm một người khác có thể đem lại những “ phần thưởng” tốt hơn. Điều này cũng đúng khi những sự tưởng thưởng đều đều của cùng một loại sẽ trở thành kém giá trị qua thời gian. Những nhà lãnh đạo đôi khi thấy rằng trong năm đầu của họ, họ được “ thần tượng hóa”, trong năm thứ hai họ bị “ chỉ trích” và đến năm thứ ba họ bị “ sa thải” ( bị chống đối hoặc khai trừ).
Trong bối cảnh Cơ đốc, chúng ta có thể nói rằng quyền uy ban thưởng là khả năng của một người lãnh đạo để làm lợi cho những kẻ đi theo mình về phương tiện thuộc linh. Một cộng đồng Cơ Đốc được chúc phước nhờ có sự phục vụ của người lãnh đạo thuộc loại này. Chúng ta thấy nhiều bậc lãnh đạo Cơ Đốc trong thời Tân ước được chứng tỏ là phước hạnh lớn lao cho cộng đồng dân sự mà trong đó họ phục vụ. Thực ra, Phaolô đã gửi các nhà lãnh đạo đến các Hội thánh với một lời giới thiệu rằng họ sẽ được tiếp nhận và tuân phục vì cớ phước hạnh mà họ sẽ đem đến cho hội chúng (CoCl 4:7-8). Chúng ta đã thấy Phaolô gửi Tít đến đảo Cơ rết để lập lại trật tự trong các Hội thánh và chỉ định các trưởng lão cho họ. Mặc dù Tít là một người đến từ “ bên ngoài”, ông đã vẫn được chấp nhận là một người lãnh đạo bởi vì ông được Phaolô gửi đến, và vì cớ những phước hạnh ông đã đem lại cho các Hội Thánh địa phương.

10. Điều nào sau đây KHÔNG PHẢI là một áp dụng đúng chỉ quan điểm về Quyền Uy Ban Thưởng?
a. Xây dựng thân thể của Đấng Christ qua việc kiên trì dạy dỗ những giáo lý Thánh Kinh.
b. Thuyết phục các tội nhân tin nhận Đấng Christ để nhận được sự sống đời đời.
c. Phân phát Kinh Thánh, cho các bữa ăn và cho xe buýt chuyên chờ miễn phí đối với người nào gia nhập vào Hội Thánh trong tháng này.
d. Khích lệ các bậc phụ khuynh trở nên gương mẫu cho con cái của họ để chúng cũng sẽ chấp nhận những lời dạy của Chúa Giêxu.
Quyền uy do mối tương quan
Nền tảng uy quyền sau cùng từ sự nghiên cứu của người đời mà chúng ta sẽ xem xét là quyền uy do mối tương quan. Nền tảng của loại quyền uy này nêu ra là sự được ưa thích và chấp nhận bởi các thành viên trong nhóm đem lại cho người lãnh đạo nhiều ảnh hưởng hơn là trong trường hợp người ấy không được ưa thích hoặc chấp nhận. Chắc chắn Saulơ đã nhận ra điều này khi ông nghe dân sự hát rằng : “ Saulơ giết hàng ngàn còn Đavít giết hàng vạn !” ( xem ISa1Sm 18:5-9).
Quyền uy do mối tương quan được đặt nền tảng trên những mối liên hệ cá nhân tốt đẹp với các thuộc hạ. Khi những người đi theo cảm thấy không an toàn hoặc không bảo đảm về tương lai, căn bản quyền uy này có khuynh hướng trở thành một phương tiện tạo ra sự tin tưởng và lòng can đảm.
Sứ đồ Phaolô cũng minh họa tầm quan trọng của nền tảng quyền uy này. Trong bài 2 chúng ta đã thấy rằng ông không ngần ngại thúc giục những thuộc hạ bắt chước gương mẫu của mình. Nếu một người lãnh đạo muốn tạo ảnh hưởng trên thuộc cấp nhắm về những mục đích của Đức Chúa Trời dành cho họ. Người ấy phải được nhóm của mình ưa thích và chấp nhận như là một người đại diện xứng đáng của Cứu Chúa Giêxu.
11. Hãy nối kết mỗi một nền tảng quyền uy với hoàn cảnh minh họa rõ ràng nhất cho nó
1. Có tính ép buộc.
2. Chuyên môn
3. Hợp pháp
4. Liên đới.
5. Ban thưởng
6. Do mối tương quan
.....a. Một nữ giáo viên buộc các học sinh của mình học tập chuyên cần để học có thể đắc thắng trong một cuộc tranh đua với trường khác.
.....b. Giôsép đã có thể kiểm soát việc phân phối lương thực trong xứ Ai cập bởi nhờ vị trí quan chức của ông là người cầm đầu việc quản lý.
....c. Các chấp sự sẽ tán thành bất cứ đề án nào Mục sư Conrad đề xuất bởi vì họ rất tôn trọng và nể phục ông.
.....d. Nêhêmi đã dùng những biện pháp sửa trị cứng rắn để ép buộc những người đàn ông Ysơraên phải vâng theo những đòi hỏi của Đức Chúa Trời có liên quan đến vấn đề hôn nhân.
.....e. Mục sư Smith đã có thể nhận được một phần đất làm bất động sản cho Hội Thánh mới của ông nhờ quan hệ bạn bè với vị thị trưởng thành phố.
....f. Giôsép đã trở thành người cầm đầu việcn quản lý của cả Ai Cập bởi vì tài năng và sự khôn ngoan của ông.
Mục tiêu 3 : Ứng dụng việc dùng quyền uy lãnh đạo tự nhiên vào sự lãnh đạo thuộc linh.
NỀN TẢNG CỦA UY QUYỀN THUỘC LINH
Trong khi tất cả những nền tảng uy quyền mà chúng ta đã bàn đến trong phần trên có thể được dùng cách có hữu hiệu bởi những nhà lãnh đạo Cơ đốc, chúng tiêu biểu cho uy quyền lãnh đạo tự nhiên. Giúp cho những nhà lãnh đạo có thể gây ảnh hưởng trên những kẻ theo mình. Hai thành phần khác được kể là thiết yếu cho sự lãnh đạo thuộc linh đó là quyền uy của tình yêu - yêu Chúa và yêu người - và quyền uy của Đức Thánh Linh. Đây là những động cơ thúc đẩy khiến cho một nhà lãnh đạo thuộc linh có đủ khả năng ảnh hưởng những thuộc cấp hướng về các mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho họ.
Uy quyền của Tình yêu
Chúa Giêxu đã nhấn mạnh sức mạnh tình yêu để ảnh hưởng trên các thuộc hạ trong buổi nói chuyện cuối cùng của Ngài với các môn đệ. Ngài đã bảo họ rằng :
“ Nếu các ngươi yêu mến Ta thì giữ gìn các điều răn Ta.... Nếu ai yêu mến Ta thì vâng giữ lời Ta.. Như Cha đã yêu thương Ta thể nào. Ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy; Hãy cứ ở trong sự yêu thương của Ta. Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của Ta thì sẽ ở trong sự yêu thương của Ta cũng như chính Ta đã vâng giữ các điều răn của Cha Ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.... Điều răn của Ta đây này : Cac ngươi hãy yêu nhau, cũng như Ta đã yêu các ngươi.” (GiGa 14:15, 23; 15:9, 10-12.
Ai có thể nghi ngờ tình yêu sâu xa đối với Đức Chúa Trời và những kẻ theo mình đã thúc đẩy những nhà lãnh đạo như Môise, Nêhêmi, Samuên và Đavít? Một học giả Kinh Thánh đã viết về Đavít như sau :
Sự chỉ huy vô song của Đavít đã được tỏ ra từ tài năng thiên phú của ông trong việc triệu tập quanh mình những người đàn ông nổi danh là những người sẵn sàng chết cho Đavít. Ông đã chiếm được trọn vẹn lòng thương mến và trung thành của họ đến nỗi một lời ước ao thì thầm của ông đối với họ đã được kể như là một mệnh lệnh (IISa 2Sm 23:15-16). Họ sẵn sàng chết vì ông bởi vì họ biết ông sẵn sàng chết cho họ . (Sanders trang 65).
Tình yêu chân thành của Phaolô đối với Đấng Christ, với những bạn đồng sự và những kẻ đi theo ông là một sợi dây được thêu dệt xuyên suốt những thư tín của ông. Ông đã viết cho người Côrinhtô : “ Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ nên tìm cách làm cho người ta đều tin... vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi” (IICo 2Cr 5:11, 14). “ Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội Thánh. Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yêu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư” (11:28-29) Cho dù đôi khi Phaolô đã thấy cần phải dùng quyền uy có tính ép buộc trong việc đối xử với tội lỗi của các Hội Thánh, ông vẫn ưa thích lãnh đạo bằng tình yêu hơn. Trong lá thư thứ nhất gửi cho người Côrinhtô ông đã viết : “ Vì nước Đức Chúa Trời chẳng ở tại lời nói, mà ở tại năng lực. Anh em muốn điều gì hơn? Muốn tôi cầm roi mà đến cùng anh em, hay là lấy tình yêu thương và ý nhu mì?” (ICo1Cr 4:20-21).
12. Khúc Kinh Thánh 4:20-21 nói gì với bạn về tầm quan trọng của tình yêu như là một nền tảng uy quyền của sự lãnh đạo Cơ Đốc hữu hiệu ...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Quyền uy của Đức Thánh Linh
13. Hãy đọc SaSt 41:33-40; XuXh 31:2-3; Dan Ds 11:16-17; 24:2; 27:18; Cac Tl 3:9-10; 6:34; 11:29; 13:24-25; 14:6 và ISa1Sm 16:13. Rồi hãy cho biết một phẩm chất mà tất cả các nhà lãnh đạo trong thời Cựu ước này đều có.
...............................................................................................................................
Chúng ta đã thấy rằng Chúa Giêxu đã “ đầy dẫy Đức Thánh Linh” (LuLc 4:1, 18 cũng xem Cong Cv 10:37-38). Những nhà lãnh đạo của Hội thánh đầu tiên đã được đầy dẫy và được ban quyền năng bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Mặc dù họ có những cá tính rất khác nhau và đã có những đường lối phục vụ khác nhau, một yếu tố thiết yếu duy nhất cần cho sự lãnh đạo mạnh mẽ của họ đó là quyền uy của Đức Thánh Linh đã hành động qua họ.
14. Hãy đọc những khúc Kinh Thánh sau đây trong sách Công vụ và cho biết mỗi khúc Kinh thánh nói gì về người lãnh đạo và Đức Thánh Linh.
a. 4:8 .....................................................................................................
b. 6:3, 5-10 ...........................................................................................
c. 8:29 ...................................................................................................
d. 9:17; 13:9 ........................................................................................
e. 11:22, 24 ...........................................................................................
Sứ đồ Phaolô đã ghi lại rằng khả năng lãnh đạo xuất sắc của ông không đến từ những nguồn gốc tự nhiên của riêng ông, nhưng đến từ quyền uy của Thánh Linh. Ông viết :
“ Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời... Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, ruu rẩy lắm. Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo kéo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép ; hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời.” (ICo1Cr 2:1, 3-5).
Bởi vì ông đã được thúc giục bởi động cơ tình yêu đối với Đấng Christ và đối với dân sự mà ông phục vụ, hầu việc trong quyền năng của Đức Thánh Linh, Phaolô đã ảnh hưởng trên nhiều người để khiến họ hướng về mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho đời sống của họ. Ông đã đem lại cho Hội Thánh đầu tiên và những người lãnh đạo trẻ tuổi phương hướng cần thiết trong Hội thánh. Gương chính của Phaolô trong sự lãnh đạo Cơ Đốc cũng giúp chúng ta nhận ra được rằng Quyền uy lãnh đạo của chúng ta đến từ Đức Chúa Trời và vì cớ vinh hiển của Ngài.
15. Hãy giải thích về mối liên hệ giữa quyền uy lãnh đạo tự nhiên với sự lãnh đạo thuộc linh.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 4 : Giải thích mục đích của việc Môise sử dụng uy quyền lãnh đạo tự nhiên.
MÔISE : MỘT SỰ THỰC HÀNH UY QUYỀN THUỘC LINH
Môise là một trong những nhà lãnh đạo nổi bật nhất của Kinh Thánh. Được sinh ra trong vòng nô lệ, ông đã trở thành người lãnh đạo dân Ysơrên và đã hướng dẫn Quốc gia này trong 40 năm cho đến khi nó sẵn sàng bước vào Đất Hứa. Thật là hứng thú khi để ý trong nhiều phương diện, cuộc đời của ông tương ứng với cuộc đời của Chúa Cứu Thế Giêxu. Cả hai cuộc đời này đều :
1. Đã được bảo vệ kỳ diệu trong tuổi thơ ấu (XuXh 2:1-25; Mat Mt 2:1-23).
2. Kiêng ăn 40 ngày (XuXh 34:1-35; Mat Mt 4:1-25)
3. Chịu đựng những lời phàn nàn của những kẻ đi theo (XuXh 15:1-27; Mac Mc 7:1-37).
4. Nuôi đám đông dân chúng bằng những cách lạ lùng (XuXh 16:1-36; Mat Mt 14:1-36).
5. Điều khiển được biển cả (XuXh 14:1-31; Mat Mt 8:1-34)
6. Hiện ra sau khi chết (Mat Mt 17:1-27; Cong Cv 1:1-26).
Đặc điểm chủ yếu trong việc lãnh đạo của Môise là tính nhu mì của ông. Dan Ds 12:3 ghi lại rằng Môise là một người rất khiêm tốn, khiêm tốn hơn mọi người khác. Ông đã bày tỏ sự khiêm hạ này trong rất nhiều trường hợp. Ví dụ như Môise đã không cố gắng để bênh vực địa vị của mình là người lãnh đạo được Đức Chúa Trời chọn khi Miriam và Arôn thách thức sự lãnh đạo của ông - Hãy đọc 12:1-16. Chính Đức Chúa Trời đã phán bảo thay mặt cho Môise và hình phạt Miriam vì cớ khởi xướng sự bạo loạn. Chỉ nhờ nơi lời cầu nguyện của Môise cho Miriam mà bà đã được chữa lành và được nhận lại vào trại quân. Môise đã thương yêu bà mặc dù là chống lại sự lãnh đạo của ông. Trong một trường hợp khác, bốn người đàn ông dưới sự lãnh đạo của một người Lêvi tên là Côrê đã âm mưu tố cáo nhiều điều nghịch lại với Môise và Arôn (16:1-17:3).
Những người này buộc tội Môise vì đã đem họ ra khỏi một xứ sở đượm sữa và mật để đưa vào trong đồng vắng vì muốn giết họ, vì có ý định muốn tự lập làm kẻ cai trị lấn lướt trên họ, và muốn lừa dối họ Môise quyết định đem sự việc ra trước Đức Chúa Trời cho nên ông đã thách thức những kẻ buộc tội mình đem lư hương đến trong đền tạm ngày hôm sau để làm một thử nghiệm thánh. Lửa đoán xét của Đức Chúa Trời đã giáng xuống trên Côrê và 250 kẻ theo ông khi họ đang dâng hương, và họ đã bị hủy diệt. Hãy lưu ý rằng những bình dâng hương của các kẻ dấy loạn đã được dát mỏng và dùng để bọc bàn thờ. Thay vì lật đổ chức vụ của Arôn, chúng thực sự đã củng cố cho chức vụ đó !.
16. Hãy đọc 16:1-17:13 và trả lời những câu hỏi sau đây :
a. Hãy phát biểu hai điều đã bày tỏ tình yêu của Môise đối với những người tố cáo ông.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
b. Điều bày tỏ nào ở đây nói lên sự tố cáo nghịch với Môise và Arôn cũng đã là sự chống nghịch với Đức Chúa Trời?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Sự khiêm hòa của Môise đã là chìa khóa cho quyền uy lãnh đạo độc đáo của ông. Ông đã giao phó địa vị mình cho Đức Chúa Trời và không hề cố gắng bênh vực cho vai trò lãnh đạo của chính mình. Ông cũng đã có năng lực để tha thứ những thuộc cấp dấy loạn. Trong ít nhất là 5 trường hợp ông đã đứng giữa Ysơraên và sự đoán phạt của Đức Chúa Trời (XuXh 32:7-14; Dan Ds 11:1-2; 16:20-24, 41-48; 21:5-9).
17. Theo điều bạn nghĩ tại sao Môise đã quá mau chóng tha thứ những thuộc hạ dấy loạn và thưa trình với Đức Chúa Trời thế cho họ?
Trong khi Môise không hề cố gắng bênh vực quyền lãnh đạo của mình trên Ysơraên, ông lại đã không ngần ngại thi hành quyền uy lãnh đạo thích hợp khi điều quan trọng hơn đang gặp nguy hiểm. Hãy xem sơ lược một vài ví dụ sau đây:
1. Môise và quyền uy có tính ép buộc :
Chỉ mới có sáu tuần sau phép lạ giải cứu dân sự ra khỏi Ai Cập. Ysơraên đã rơi vào tội thờ lạy hình tượng. Họ đã trở nên nản lòng trong khi Môise ở trên núi Sinai chậm xuống trở lại với họ. Môise đã lên núi 40 ngày. Họ bèn quyết định làm một con bò vàng để đi trước họ (XuXh 32:1-4). Ngay khi Môise trở xuống, ông đã liệng bể hai bảng chính với các luật pháp Đức Chúa Trời đã ghi khắc trên đó. Rồi ông yêu cầu những người Lêvi trung thành phải giết hết những người đã có dự phần vào sự thờ lạy hình tượng. Những người Lêvi vâng theo lời Môise và đã giết ít nhất là ba ngàn người trong cùng một ngày đó.
Môise đã thực sự nhu mì, nhưng không hèn yếu !
Do đó, có nhiều lần, Môise thực sự đã hành động nhanh chóng với sự mạnh mẽ. Trong khi Môise miễn cưỡng, bất đắc dĩ lắm mới bênh vực cho danh dự của mình, thì ông đã luôn luôn nhanh chóng bênh vực cho vinh hiển của Chúa. Như chúng ta đã thấy, thực ra lần duy nhất mà Môise có vẻ như sẵn sàng để chiến đấu với con người, đó là vì cớ danh dự và vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Có lẽ nhiều lần trong chức vụ của mình, chúng ta cũng bị thúc đẩy phải hành động một cách thật mạnh mẽ để đối xử với những sự việc có đe dọa đến danh vinh hiển của Chúa và thanh danh của Hội Thánh Ngài. Tuy nhiên, trước khi hành động, chúng ta cần phải bảo đảm chắc chắn rằng những động cơ của chúng ta là trong sạch và những hành vi của chúng ta đều không phải là tội lỗi.
2. Môise và quyền uy chuyên môn. Bốn mươi năm Môise đã trải qua trong sa mạc làm một người chăn chiên trước khi trở lại để giải phóng Ysơraên khỏi Ai Cập đã có thể chứng tỏ ông là một nhà lãnh đạo quốc gia rất có giá trị. Ông đã có nhiều kinh nghiệm hơn bất cứ một người nào khác và sử dụng quyền uy chuyên môn này trong nhiều phương cách rất đa dạng. Chúng ta có thể tin rằng Môise đã cố vấn được cho những công việc thực tiễn như xây dựng và tổ chức lều trại, chăm sóc bầy súc vật bảo quản nước uống và đương đầu với những cơn bão tố trong sa mạc. Nhiều năm trước đó, là một người chăn chiên đơn thuần trong xứ Mađian, ông đã không hề tưởng tượng được về điều mà Đức Chúa Trời đang chuẩn bị ông để phục vụ !.
Nhiều người trong chúng ta có lẽ đang làm việc trong những nghề nghiệp thông thường của đời này và suy nghĩ rằng chúng ta không phải “ hầu việc Chúa”. Chúng ta có thể được khích lệ để biết rằng Đức Chúa Trời đang dùng tất cả mọi kinh nghiệm mà Ngài ban cho chúng ta để trang bị và sửa soạn chúng ta cho tương lai. Rồi ngày sẽ đến khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những cơ hội để sử dụng các khả năng và chuyên môn mà chúng ta đã đạt được để phục vụ và làm lợi cho dân sự Ngài.
Ngay trong lúc này chúng ta hãy kiên nhẫn và học hỏi tất cả những điều chúng ta có thể làm.
3. Môise và quyền uy ban thưởng. Người ta không thể tưởng tượng được rằng Ysơraên trở nên một quốc gia mà không có sự lãnh đạo của Môise. Ông là người của Đức Chúa Trời trong chính thời điểm đó, và qua chức vụ của ông Đức Chúa Trời trong chính thời điểm đó, và qua chức vụ của ông Đức Chúa Trời đã mở ra cả một thời đại mới của lịch sử cứu chuộc. Hãy suy nghĩ về phúc lợi mà dân Ysơraên đã nhận được qua chức vụ lãnh đạo của Môise. Khi ông đến với họ ở Ai Cập, họ đang là lớp người lao động của giai cấp nô lệ. Đến thời điểm Môise qua đời, 40 năm sau đó họ đã là một quốc gia sở hữu luật pháp của Đức Chúa Trời có đền tạm của Đức Chúa Trời, có một dân sự đông đảo, một lực lượng chiến đấu hữu hiệu và một khải tượng đầy hy vọng và hứng thú về tương lai khi họ sẽ bướ vào vùng đất của riêng họ. Họ đã nhận được trong Môise là một người đã có thể thưa chuyện mặt đối mặt với Đức Chúa Trời nhận lãnh ý chí của Đức Chúa Trời cho quốc gia, và cầu thay cho họ. Ông cũng đã là người lãnh đạo huấn luyện cho Giôsuê người nối gót ông để tiếp tục nối gót chức vụ lãnh đạo trước mặt Chúa sau khi Môise qua đời.
Ngoài Chúa Cứu Thế Giêxu ra còn có người lãnh đạo nào khác đã từng đem lại phước hạnh thuộc linh và thuộc thể như thế cho dân sự Chúa không? Chúng ta có thể công nhận Đavít và Salômôn đã là những nhà lãnh đạo lớn lao thế nào, nhưng đáng buồn thay cả hai cũng đã gieo rắc những hạt giống tội lỗi và không thỏa lòng, đã có ảnh hưởng xấu trên quốc gia Ysơraên. Tội lỗi duy nhất của Môise đã được ghi lại ở chỗ ông đập vào hòn đá (Dan Ds 20:1-12) rất đáng cho cá nhân ông phải chịu hình phạt nhưng tội lỗi này đã không ảnh hưởng đến bất cứ ai khác.
Môise thật là một tháchthức cho sự lãnh đạo của chúng ta ! Mong rằng khi nói về chính mình, chúng ta cũng được kể là có lợi ích lớn lao cho những người mà chúng ta đã lãnh đạo và chúng ta đã đem lại sự ban thưởng cho lòng tin cậy và sự gắn bó của những thuộc cấp đối với chúng ta bằng cách tiếp tục đem lại phước hạnh cho họ.
18. Dựa trên những nguyên tắc đã được dạy trong bài này, hãy giải thích mục đích của việc Môise sử dụng uy quyền lãnh đạo tự nhiên.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Tóm lại, hãy nhớ rằng Môise đã là người khiêm hạ nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời là nguồn uy quyền lãnh đạo của mình. Ông đã tin Đức Chúa Trời để Ngài bênh vực cho vị trí lãnh đạo của ông, và Ngài đã làm điều đó. Môise đã chứng thực rằng ông chỉ là ống dẫn của uy quyền Thượng Đế và rằng mục đích của ông là đem lại lợi ích cho dân sự Chúa. Nước của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn thành thế nào nếu mỗi một người lãnh đạo Cơ Đốc chỉ cần theo gương Môise trong việc sử dụng quyền uy lãnh đạo.

Bài Kiểm tra
CÂU HỎI ĐÚNG- SAI. Hãy viết chữ Đ vào khoảng trống trước mỗi câu ĐÚNG. và viết chữ S nếu câu đó SAI.
......1. Khi chúng ta nói rằng Đức Chúa Trời là nguồn của mọi sự uy quyền, chúng ta đang liên hệ đến uy quyền thuộc linh chứ không phái uy quyền tự nhiên của một nhà lãnh đạo.
......2. Quyền uy của Samsôn đã được xác định bằng độ dài của đầu tóc ông, là điều chứng tỏ nó là uy quyền tự nhiên của riêng ông.
......3. Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi một cá nhân quyền uy lãnh đạo đặc biệt trong thời Cựu ước lẫn thời Tân ước.
.......4. Những ví dụ về uy quyền lãnh đạo thuộc linh trong Kinh Thánh đã tỏ ra rằng những nhà lãnh đạo như thế đã được ban cho uy quyền bởi Đức Thánh Linh.
......5. Nếu Đức Chúa Trời ban uy quyền thuộc linh cho một nhà lãnh đạo, người ấy có thể trông mong rằng quyền uy của mình được Đức Chúa Trời bênh vực.
......6. Uy quyền thuộc linh thường phải đem lại lợi ích cho các nhà lãnh đạo hơn là cho những thuộc cấp của họ.
......7. Chúa Cứu Thế Giêxu đã bày tỏ sức mạnh của một nhà lãnh đạo thu phục được môn đồ qua nền tảng uy quyền của tình yêu.
.....8. Sứ đồ Phaolô đã từ khước sử dụng bất cứ nền tảng uy quyền nào ngoại trừ tình yêu.
......9. Rõ ràng những nhà lãnh đạo trong thời Tân ước đã được ban cho năng quyền bởi Đức Thánh Linh trong những trách nhiệm lãnh đạo của họ.
.....10. Sự lãnh đạo thuộc linh không cần loại những nền tảng uy quyền như uy quyền có tính ép buộc và uy quyền ban thưởng.
......11. Những gương mẫu tích cực về uy quyền lãnh đạo trong Kinh Thánh đã bày tỏ rằng uy quyền thuộc về Đức Chúa Trời và người lãnh đạo chỉ là một ống dẫn cho uy quyền của Ngài.
.....12. Việc dùng những nền tảng uy quyền tự nhiên của Môise đã nhằm vào mục đích để bày tỏ cho dân sự rằng trong mọi phương diện ông đều vượt trổi hơn họ và do đó ông có quyền lãnh đạo họ.
......13. Sự khiêm hòa của Môise bày tỏ rằng ông ta vốn là một nhà lãnh đạo nhu nhược.
......14. Khi Môise đấu tranh với những thuộc hạ của mình, mục tiêu của ông đó là để qui vinh danh Chúa.
CÂU NỐT KẾT Hãy đọc cẩn thận những lời chỉ dẫn và viết câu trả lời của bạn vào khoảng trống trước mỗi câu hỏi.
15 - 20 Nối kết mỗi nền tảng uy quyền với định nghĩa của nó


a) Có tính ép buộc
b) Chuyên môn
c) Hợp pháp
d) Liên đới
e) Ban thưởng
f) Do mối tương quan

PHẦN ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ ĐƠN VỊ 1

Đến đây bạn đã hoàn tất bài 1 đến bài 3, hãy ôn lại các bài học này để chuẩn bị cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị 1. Bạn sẽ tìm thấy phần này trong tập học viên. Hãy trả lời tất cả các câu hỏi mà không xem sách giáo khoa nghiên cứu độc lập, các phần ghi chép hoặc Kinh Thánh. Hãy gửi bản trả lời của bạn cho nhân viên hướng dẫn ICI, kèm theo với tất cả những tài liệu khác được chỉ định trong tờ bìa của tập học viên. Sau đó bạn có thể tiếp tục với phần nghiên cứu bài 4.
Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu
1. d) Tất cả những việc làm trên
2. “Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc”.
3 Các câu trả lời b và e bày tỏ một sự hiểu biết về các nguyên tắc của uy quyền lãnh đạo thuộc linh. Những ví dụ khác là những sự lạm dụng uy quyền.
4. a) Tiêu cực
b) Không
c) Không
d) Tiêu cực
e) Tích cực
f) Tích cực
g) Tiêu cực
5. Hãy hỏi câu hỏi này : Người lãnh đạo có đang sử dụng uy quyền có tính ép buộc để ảnh hưởng các thuộc hạ của mình hướng về những mục tiêu của Đức Chúa Trời dành cho họ không? Nếu câu trả lời là có quyền uy ép buộc này đang được sử dụng theo một chiều hướng tích cực.
6. b) Có khả năng tạo ảnh hưởng trên những kẻ đi theo mình vì có những khả năng đặc biệt.
7. a) Người lãnh đạo nào được các thuộc hạ nhìn nhận là có địa vị cao nhất sẽ có quyền uy hợp pháp cao nhất.
8. Các câu trả lời b, c và e là những cách tích cực trong việc thực hành nền tảng uy quyền hợp pháp.
9. a) Ghêhaxi đã lợi dụng mối quan hệ của Ê-li-sê với Nahaman để từ đó kiếm lợi riêng cho mình.
10. c) Phân phát Kinh Thánh, cho các bữa ăn và cho xe buýt chuyên chở miễn phí đối với người nào gia nhập vào Hội Thánh trong tháng này.
11. a. 5) Ban thưởng
b 3) Hợp pháp
c 6) Do mối tương quan
d 1) Có tính ép buộc
e 4) Liên đới
f 2) Chuyên môn
12. Câu trả lời của bạn. Nếu nền tảng quyền uy trong sự lãnh đạo của bạn không được liên kết với tình yêu chân thật đối với Đức Chúa Trời và những thuộc cấp của bạn thì rất có thể bạn sẽ lạm dụng uy quyền vì lợi ích riêng của mình.
13. Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ở trên họ.
14.a) Phierơ đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
b) Những người đàn ông này được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Eâtiên đã phát biểu nhờ quyền năng Thánh Linh.
c) Đức Thánh Linh đã phán bảo cho Philíp điều phải làm.
d) Phaolô được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
e) Banaba được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
15. Câu trả lời của bạn Như chúng tôi đã nói bất cứ những nền tảng uy quyền tự nhiên nào cũng đều có thể được dùng cho sự lãnh đạo hữu hiệu. Nhưng đối với sự lãnh đạo hữu hiệu. Nhưng đối với sự lãnh đạo thuộc linh tích cực chúng cần phải được liên kết với tình yêu đối với Đức Chúa Trời cũng như con người và phải được hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh. Lúc ấy sự lãnh đạo của chúng ta sẽ đem lại sự vinh hiển cho Chúa.
16. a) Ông ta đã cầu nguyện xin Đức Chúa Trời tha mạng cho dân sự ( câu 22). Ông đã nói với Arôn mau mau làm lễ chuộc tội cho dân sự ( các câu 46 - 47)
b) Đức Chúa Trời phán họ đã lằm bằm nghịch cùng Ngài (Dan Ds 17:10).
17. Bởi vì ông đã chân thành yêu thương họ.
18. Câu trả lời của bạn. Tôi hy vọng bạn đã trả lời tương tự như sau : Mục đích của ông ta luôn luôn là gây ảnh hưởng trên các thuộc hạ để hướng về những mục đích của Đức Chúa Trời dành cho họ.
Chúa Giêxu là một khuôn mẫu toàn vẹn của một nhà lãnh đạo Phục vụ. Ngài đã phán với các môn đệ “Hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ, còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi mọi người. Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người ” (Mac Mc 10:43-45). Sự lãnh đạo trong tinh thần phục vụ đưọc biểu lộ qua việc làm vui lòng Chúa, hầu việc Chúa, phục vụ trong những ân tứ thuộc linh và học đòi theo gương Đấng Christ. Những nhà lãnh đạo phục vụ là những con người toàn vẹn, duy trì những tiêu chuẩn Thánh Kinh và có một cam kết thực sự với những người theo mình. Những điều ưu tiên của họ bao gồm sự tận hiến sâu xa cho Lời Chúa và Sự Cầu nguyện, lưu tâm đến gia đình, trung tín quản lý thì giờ tiền bạc, siêng năng học tập để tự trang bị chính mình cho nhiệm vụ của họ. Một tinh thần của người phục vụ cần phải luôn là dấu hiệu của mỗi nhà lãnh đạo Cơ đốc .

NHỮNG NGUYÊN TẮC THÁNH KINH VỀ TINH THẦN PHỤC VỤ.
Chúng ta đã xác định rằng những nhà lãnh đạo là một phần rất quan trọng của Hội Thánh, họ ảnh hửng trên những thuộc cấp để hướng về những mục đích của Đức Chúa Trời cho nhóm. Thực ra, không có những nhà lãnh đao, Hội thánh của Cứu Chúa Giêxu không thể thực hiện hữu hiệu chức năng trong việc hoàn tất sự ủy thác của Chúa Giêxu để giảng Phúc âm cho mọi dân tộc và đưa các Cơ Đốc nhân đến chỗ trưởng thành (Mat Mt 28:19-20), sứ đồ Phaolô đã viết “ ví bằng có kẻ mong được làm Giám mục ( người coi sóc, người lãnh đạo), ấy là ưa muốn một việc tốt lành” (ITi1Tm 3:1). Trong HeDt 13:1-25, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của những nhà lãnh đạo trong chương trình của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh ( Các câu 7, 17, 24)
Bây giờ chúng ta đến với trọng tâm của sự lãnh đạo Cơ Đốc : Chủ đề về tinh thần phục vụ ( Scrvanthood) Chúa Giêxu đã đến trong thế gian để làm trọn những lời tiên tri trong Cựu ước rằng Đấng Mêsi sẽ là “ Tôi tớ Của Chúa” (EsIs 42:1-4; 44:1-2).
Quan sát gương mẫu của Chúa Giêxu, hình như đây là một điều lạ gây sự lãnh đạo phục vụ không phải là một đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhà lãnh đạo Cơ đốc. Một số người muốn theo đuổi những kỹ thuật quản lý thương mại hiện đại và những công thức bán hàng thành công hơn để đạt được tăng trửng của Hội thánh. Nhưng điều này xa với khuôn mẫu Thánh Kinh mà Chúa Giêxu đã thiết lập cho những nhà lãnh đạo. Khi bạn nghiên cứu những nguyên tắc trong bài học này mong rằng nó là một kinh nghiệm giải thoát sẽ tạo nên trong bạn một ước muốn để theo gương mẫu của Chúa Giêxu và trở thành một nhà lãnh đạo phục vụ !.

Dàn bài
Làm vui lòng Chúa
Phục vụ Chúa
Phục vụ qua những ân tứ thuộc linh
Theo chân Đấng Christ.
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể:
Dẫn chứng từ Kinh Thánh rằng nhiệm vụ chính của một nhà lãnh đạo là làm vui lòng Chúa.
Giải thích quan điểm về sự lãnh đạo phục vụ.
Bàn luận về bản chất, mục đích của các ân tứ thuộc linh và tầm quan trọng của người lãnh đạo với đời sống được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Aùp dụng và bắt chước gương mẫu của Đấng Christ về sự lãnh đạo Phục vụ trong đời sống và chức vụ của riêng bạn.
Các hoạt động học tập
1.Nghiên cứu bài học theo tiến trình như thường lệ. Tìm và đọc tất cả các câu Thánh Kinh có liên hệ được cho trong phần triển khai bài học, và trả lời tất cảw các câu hỏi nghiêm cứu. Tra trong phần giải nghĩa từ ngữ ở cuối tập hướng dẫn nghiên cứu để tìm thấy định nghĩa của những từ then chốt nào mới đối với bạn.
Sự xuyên tạc, biến dạng Sự thúc giục Những động cơ Quên mình Tìm địa vị
Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Nhận rõ một ví dụ về “ Ân điển rẻ mạt” đã được Dietrich Bonhoeffer định nghĩa.
LÀM VUI LÒNG CHÚA
Bổn phận của Cơ Đốc nhân
Làm rạng danh Chúa là một dấu hiệu bất biến của đức tin Cơ đốc. Đức Chúa Trời có quyền trông đợi và đòi hỏi nơi tất cả chúng ta là những người thuộc về đại gia đình của Ngài phải cư xử theo một cách để làm vinh hiển danh Chúa. Bởi lòng biết ơn của chúng ta đối với Chúa về mọi điều Ngài đã làm cho chúng ta, chúng ta chịu ơn Ngài bằng nổ lực tối đa của chúng để sống theo những mạng lệnh của Ngài. Mặc dù được cứu nhờ ân điển và nhờ đức tin trong Chúa Cứu Thế Giêxu, chúng ta tự nguyện chấp nhận bổn phận phải cư xử theo một cách xứng đáng với địa vị mới của chúng trong trong Chúa Cứu Thế. Hãy tưởng tượng chúng ta đang là con cái của Đức Chúa Trời ! Trong địa vị đó, chúng ta có bổn phận phải sống theo gương mẫu của Chúa chúng ta.
Là con cái Chúa, chúng ta có bổn phận phải sống theo gương mẫu của Chúa chúng ta.
Một khúc Kinh Thánh tuyệt diệu do Phaolô viết là lời khích lệ của ông cho Hội thánh tại Têsalônica vì nó nêu lên bổn phận nghiêm trang của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Phaolô đã viết:
“ Vả lại, hỡi anh em, anh em đã được học nơi tôi phải ăn ở cách nào cho đẹp ý Đức Chúa Trời, và điều đó anh em đã làm rồi, thì chúng tôi nhơn Chúa Giêxu xin và cầu anh em phải đi luôn theo đường ấy càng ngày càng tới” (ITe1Tx 4:1).
Lời khích lệ của Phaolô cho Hội thánh có giá trị hơn một lời đề nghị để các tín hữu chỉ suy nghĩ mà thôi. Vì ông dùng những từ ngữ nhẹ nhàng, có lẽ chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng ông chỉ đơn thuần gợi ý về việc làm vui lòng Chúa như lời góp ý của một người bạn. Tuy nhiên, những lời của Phaolô hàm chứa đầy đủ uy quyền của một vị sứ đồ. Phaolô trông đợi chúng ta vâng lời ! Phaolô nhấn mạnh thêm qua lá thư này điều ông đã dạy dỗ cho các tín hữu Têsalônica vài năm trước đo, khi ông thành lập Hội thánh của họ trong hành trình truyền giáo thứ nhất. Bây giờ ông trình bày một lời bảo chứng được viết thành văn về những bài học căn bản trong nếp sống Cơ đốc. Ý của Phaolô ở đây rất rõ ràng : “ Anh em không được quên làm vui lòng Chúa”.
Phaolô cũng thừa nhận rằng những độc giả của ông đã đang sống làm vui lòng Chúa. Họ đã bắt đầu rất tốt, chứng tỏ rằng họ là những kẻ làm theo lời Chúa chứ không chỉ lấy nghe làm đủ ( xem Gia Gc 1:22). Phaolô khuyên họ vì họ đã đáp ứng, đồng thời khích lệ họ tiếp tục cố gắng làm vui lòng Chúa. Đây là bổn phận Cơ Đốc của họ và là lời hứa nguyện họ đã lập khi tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa và Cứu Chúa.
1. (Hoàn tất câu sau đây) Chúng ta biết những tín hữu Têsalônica đã là những kẻ làm theo lời Chúa chứ không chỉ nghe mà thôi, bởi vì :
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Nhà thần học người Đức Dietrich Bonhoeffer là người đã bị Đức Quốc xã hành hình vì cớ ông chống đối chủ thuyết của Hitler. Ông đã khuyến cáo các Cơ Đốc nhân về “ Ân điển rẻ mạt”. Ông định nghĩa điều đó như sau : “ Ân điển mà chúng ta tự ban cho mình... và giảng dạy về sự tha thứ mà không đòi hỏi ăn năn, phép báp têm mà không có kỹ luật Hội Thánh .... Ân điển rẻ mạt là Ân điển mà không có sự bằng lòng sống như một môn đệ của Chúa” ( trang 47). Chúng ta rất dễ cho rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục phân phát tất cả phước hạnh của Ngài cho chúng ta mà không để ý đến sự đáp ứng của chúng ta với ý chỉ Ngài. Môn đồ thật của Đấng Christ phải nhìn nhận trách nhiệm của mình là làm vui lòng Chúa trong mọi công việc mình làm.
Thật thú vị khi ghi nhận rằng những lời đầu tiên và cuối cùng của Chúa Giêxu cho sứ đồ Phierơ đều là : “ Hãy theo Ta”. (Mac Mc 1:17; GiGa 21:22). Chính ý tưởng đi theo Chúa Giêxu và công nhận Ngài là Chúa có nghĩa là trên hết mọi sự chúng ta sẽ luôn muốn làm vui lòng Ngài.
2. Điều nào sau đây là một ví dụ của “Ân điển rẻ mạt” theo như định nghĩa của Bonhoeffer?
a. Tin nhận Đấng Christ là Đấng Cứu Thế và nhìn nhận Ngài làm Chúa của đời sống mình.
b. Quyết định rằng vị sự cứu rỗi là một quà tặng cho không của Thượng Đế, bạn được tự do sống theo ý muốn của mình sau khi tin nhận Chúa.
c. Nhìn nhận rằng sự hy sinh lớn lao của Chúa cho tội lỗi của bạn qua sự chết của con Ngài là xứng đáng cho việc đền ơn đáp nghĩa của bạn trong việc tự nguyện vâng lời.
Mục tiêu 2 : Áp dụng Galati 1:10 vào nhiệm vụ chính của một người lãnh đạo Cơ đốc.
Nhiệm vụ chính của Người Lãnh Đạo
Xuyên suốt Thánh Kinh, chúng ta luôn luôn được nhắc nhở về tầm quan trọng của việc làm vui lòng Chúa. Đây là nhiệm vụ chính của Người lãnh đạo Cơ đốc. Dù rằng chúng ta có thể vui thích được làm một nhà lãnh đạo thành công và được nổi danh, nếu chúng ta không làm vui lòng Chúa thì chúng ta đã thất bại trong mọi phương diện. Đức Chúa Trời vui lòng trong việc chúng ta vâng lời Ngài hơn bất cứ thành quả nào mà chúng ta có thể đạt được bằng những cố gắng riêng của chu1ng ta. Sứ đồ Phaolô đã nhận rõ một người lãnh đạo phục vụ phải làm vui lòng Chúa là điều quan trọng thế nào. Ông đã viết cho người Galati.
“ Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ” (GaGl 1:10).
Như Phaolô đã bày tỏ, người lãnh đạo Cơ Đốc là đầy tớ của Đấng Christ; do đó, mục đích chính của người ấy là làm vui lòng Đấng Christ chứ không phải loài người. Mặc dù trong một ý thực tế chúng ta được kêu gọi để phục vụ lẫn nhau, nhưng thực ra chúng ta đang phục sự Chúa chứ không phải con người. Có lẽ Điều này không luôn luôn làm cho chúng ta thành những lãnh đạo được quần chúng ưa chuộng nhất - chúng ta có thể không được tất cả các con chiên mà Chúa giao phó cho chúng ta ưa thích ! Tuy nhiên, động cơ thúc đẩy chúng ta phải luôn luôn là làm vui lòng Chúa !.
3. Hãy đọc ICo1Cr 9:19-20. Trong quan điểm của điều Phaolô nói ở đây, câu phát biểu nào sau đây là áp dụng đúng cho người lãnh đạo Cơ Đốc theo GaGl 1:10?
a. Một người lãnh đạo Cơ Đốc không bao giờ nên cố gắng cho đạt được sự ưng thuận của con người.
b. Một người lãnh đạo Cơ Đốc nên làm mọi điều mình có thể để làm vui lòng những thuộc cấp của mình.
c.Một người lãnh đạo Cơ Đốc sẽ không bao giờ chọn làm vui lòng người trong khi đi ngược lại với việc làm vui lòng Chúa.
Mục tiêu 3 : Xem xét Phi Pl 3:13-14, rồi viết một câu phát biểu về mục đích chính của bạn khi làm một người lãnh đạo Cơ Đốc.
Mục đích của các Sứ đồ.
Trong sách Công vụ và một số thư tín chúng ta biết rằng các sứ đồ Hội thánh đầu tiên đôi khi đã gặp khó khăn trong việc thu phục sự tín nhiệm của nhiều người. Bởi vì sứ điệp Phúc âm của Chúa Cứu Thế Giêxu quá khác biệt và mới mẻ đối với truyền thống đạo Do Thái, các sứ đồ đã phải đương đầu với rất nhiều chống đối chính thức. Một trường hợp điển hình là khi Phireơ và Giăng bị bắt đem đến trước mặt Anne và Caiphe để giải thích về việc họ đã chữa lành người què tại cửa đền thờ. Khi họ làm chứng lại rằng người ấy được chữa lành nhờ danh của Chúa Cứu Thế Giêxu, những người cai trị ra lệnh cho Phierơ và Giăng “từ rày về sau, chớ lấy danh đó dạy dỗ không cứ là ai” (Cong Cv 4:17). Nhưng các sứ đồ đã trả lời rằng : “ Chính các ông phải suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng? Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe”. (4:19-20). Điều trên đây đã là niềm tin quyết mà tất cả những nhà lãnh đạo của Hội thánh đầu tiên đều nắm giữ. Và hầu như tất cả những người này cuối cùng đã phải tuận đạo vì khước từ thỏa hiệp đức tin hoặc sứ điệp của họ.
Phaolô và các bạn của ông đã thường xuyên tố cáo về những động cơ không trong sạch. Và họ đã phải chốg chọi với những lời buộc tội cho họ vì cớ những sự phê bình đó. Hãy đọc về điều Phaolô đã nói trong ITe1Tx 2:3-4. Ở đây vị sứ đồ đã kêu gọi sự xét đoán vô tư của các độc giả. Họ có thể nói một cách trung thực rằng Phaolô và các bạn ông chưa hề cố gắng lừa dối các thính giả hay không? Đã có thực chứng nào về những động cơ sai lầm trong cách họ giảng truyền Phúc âm chăng? Có phải họ đã không nói như những người được Chúa giao phó cho sứ điệp hay sao?
4. Hãy đọc ITe1Tx 2:3-4. Phaolô nói gì về động cơ của ông?
...............................................................................................................................
Trong những câu này chúng ta thấy hai lần Phaolô dùng hình thức của từ ngữ Hy lạp dokimazo dịch là “ đã minh chứng” và “ được thử nghiệm”. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời đa “ Điều tra về lý lịch của họ” và họ đã trải qua được sự rà soát của Chúa. Có lẽ bạn rất quen thuộc với một công ty hoặc một dịch vụ thương mại nơi mà nhân viên kiểm tra xem xét các hồ sơ tài chính hoặc về vốn liếng. Theo cùng một phương cách, Đức Chúa Trời đã xem xét sứ điệp và phương pháp của vị sứ đồ và rồi Ngài Trời xem xét sứ điệp và phương pháp của vị sứ đồ và rồi Ngài đóng ấn trên họ để chứng tỏ Ngài tán thành họ. Phaolô đã giải thích cho độc giả của ông lý do sứ điệp và phương pháp của ông là vượt trổi hơn những sự quở trách. Mục đích của ông trong đời sống không phải để làm vui lòng người, nhưng vui lòng Chúa. Đây là điều Phaolô cũng đã làm đối với những kẻ phê bình ở Galati (GaGl 1:10). Phaolô không muốn làm đẹp lòng bất cứ người nào mà không vui lòng Chúa, là Đấng mà ông tùy thuộc và hầu việc. Thật vậy, để tóm tắt về cuộc đời của mình, Phaolô đã rút gọn vào một mục đích :
“ Nhưng tôi cứ làm một điều : quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời trong Đức Chúa Giêxu Christ” (Phi Pl 3:13-14).
5. Bạn có thể tóm tắt tất cả những hy vọng và những chương trình kế hoạch bạn đã đặt ra cho cuộc đời của mình không? Hãy rút gọn vào một mục đích và cố gắng bày tỏ mục đích này trong một câu dưới đây :
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Đây là một thách thức rất quan trọng cho những người lãnh đạo. Điều gì sẽ là động cơ mạnh mẽ để giúp chúng ta có thể vượt qua được mọi khó khăn, nản lòng và những chống đối trong khi chúng ta hướng dẫn dân sự Chúa? Có phải đó là những thành quả về tài chánh? Phải chăng đó là cảm giác thỏa mãn chúng ta có được do đạt đến một số những mục tiêu? Phải chăng đó là những địa vị chúng ta ưa thích vì mình là những thành viên nổi bật trong thân thể Đấng Chirst? Phải chăng đó là những phần thưởng đang chờ đợi chúng ta trên thiên đàng? Tôi hi vọng bạn đã trả lời KHÔNG ! Động cơ của chúng ta về tất cả những điều chúng ta làm phải được tập trung vào một mục tiêu duy nhất đó là làm vui lòng Chúa. Còn bất cứ điều gì khác đều không xứng đáng cho sự lãnh đạo Cơ đốc.
6. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG.
a) Phaolô đã tìm cách làm vui lòng Chúa trong mọi việc ông làm.
b) Làm vui lòng thuộc cấp cũng quan trọng như làm vui lòng Chúa nếu chúng ta muốn tôn vinh hiển cho Chúa.
c) Mặc dầu sự cứu rỗi được ban cho miễn phí, trở thành môn đệ của Chúa buộc chúng ta phải làm vui lòng Ngài.
d) Kinh nghiệm của các sứ đồ trong Hội thánh đầu tiên dạy chúng ta rằng đôi khi việc làm vui lòng Chúa đòi hỏi chúng ta là một nhà lãnh đạo phải thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta.

Mục tiêu 4 : Tìm trong các phần Thánh kinh được cho để thấy điều Chúa Giêxu đã nói về ao ước của Ngài muốn làm vui lòng Đức Chúa Trời.
Gương mẫu của Chúa
Một trong những câu phát biểu đầy quyền năng về buổi ban đầu của cuộc đời Chúa Giêxu được thấy trong Mat Mt 3:17. Khi kết thúc việc Chúa Giêxu chịu Báp Têm, Đức Chúa Trời phán : “ Này là con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng”. Đức Chúa Cha đẹp lòng về cách Chúa Giêxu đã sống trong suốt 30 năm đầu của Ngài trên đất, trước tiên là một cậu bé và rồi làm một người thợ môïc. Cuộc đời của Ngài đã làm rạng danh và tôn vinh Cha Ngài.
Về cuối cuộc đời của Chúa Giêxu, Đức Chúa Trời đã nhận xét một lần nữa về Con Ngài. Trong lần này, Chúa Giêxu đã đưa Phierơ, Giacơ và Giăng lên một ngọn núi và “ biến hóa trước mặt các người ấy” (17:1-8) Tiếng phán của Đức Chúa Trời từ trong đám mây, một lần nữa rằng : “ Này là con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường” ( câu 5) Thật đây là một lời tuyên bố tuyệt diệu ! Đức Chúa Giêxu đã trải qua ba năm gồm có sự cám dỗ, sự chỉ trích, chức vụ nặng nề, đắc thắng ma quỉ, dạy dỗ, kiêng ăn và bị gia đình chống đối. Không có một giây phút nào mà Ngài đã không làm vui lòng Đức Chúa Trời ! Chúng ta không chút ngạc nhiêm khi Ngài đã được mô tả là Con yêu dấu của Đức Chúa Trời.
7. Tìm trong các khúc Kinh Thánh sau đây những lời nào của Chúa Giêxu đã bày tỏ cho chúng ta thấy ao ước lớn lao nhất của Ngài là làm vui lòng Đức Chúa Cha.
a. 26:39 ....................................................................................................
b. GiGa 4:34 .......................................................................................................
c. 6:38 .......................................................................................................
d. 8:29 .......................................................................................................
e. HeDt 10:5-7 ( cũng xem Thi Tv 40:6-8)...............................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 5 : Nhận rõ được những ví dụ sự lãnh đạo tôn giáo bị biến dạng, sự lãnh đạo trong tinh thần phục vụ, và thánh chức ( diakonia) đặt căn bản trên những khúc Kinh Thánh đã cho.
PHỤC VỤ CHÚA
Chủ đề về sự lãnh đạo trong tinh thần phục vụ ( servant leadership) tự nhiên phải theo sau chủ đề làm vui lòng Chúa. Hai đề tài này liên quan với nhau rất gần gũi bởi vì người lãnh đạo Cơ Đốc thường tìm cách để làm vui lòng Chúa qua sự hầu việc Ngài. Có lẽ bạn đã nghe câu : “ Chúng ta đã được cứu để phục vụ” và đây là câu tóm tắt rất chính xác về những mục đích của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Các câu hỏi nổi lên ở đây là : Chúng ta cần phải phục vụ như thế nào? Đâu là cung cách chúng ta phải phục vụ? Nền tảng thần học cho tinh thần phục vụ của chúng ta là gì? Để trả lời các câu hỏi này, trước hết chúng ta hãy nghiên cứu một vài bài học lịch sử trong Cựu ước có liên quan đến sự phục vụ Chúa. Rồi sau đó chúng ta sẽ xem xét điều Chúa Giêxu đã nói với những nhà lãnh đạo Do Thái Giáo về sự hầu việc Chúa.
Bối cảnh Cựu Ước
Tiên tri Eâsai nêu rõ rằng Đức Chúa Trời đã chỉ định Ysơraên là một “ quốc gia tôi tớ” giữa các quốc gia khác trên thế giới (EsIs 41:8-10; 42:1-9). Chúng ta tìm được hậu thuẫn cho điều này rằng Đức Chúa Trời đã chỉ định nhiều nhân vật chủ chốt trong giao ước cũ làm “ tôi tớ” Ngài. Ba gồm:
Áp-ra-ham (Thi Tv 105:42)
Môise (XuXh 14:31)
Calép (Dan Ds 14:24)
Giôsuê (Cac Tl 2:8)
Đavít (IIVua 2V 10:10)
Gióp (Giop G 1:8)
Eâsai (EsIs 20:3)
Các tiên tri (IIVua 2V 21:10).
Tên gọi tôi tớ đã không hề có ý nói lên một từ ngữ làm hạ phẩm giá !Các tôi tớ của Chúa rất là đặc biệt đối với Ngài, và chức vị tôi tớ phản ánh bản chất phục vụ của chính Chúa. Những người được Chúa gọi là tôi tớ Ngài trong thời Cựu ước đã kết ước để làm vui lòng Chúa khi họ hầu việc Ngài và dân sự của họ.
Đáng buồn thay, một trong những lỗi lầm bi thảm của quốc gia Ysơraên đó là quốc gia này đã luôn luôn thất bại trong việc thực hiện vai trò tôi tớ của mình, và đó là một trong những lý do Đức Chúa Trời đã phải để cho quốc gia này đi đến chỗ bị bắt lưu đày. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ dời chuyển khỏi các ý định của Ngài, và các tiên tri đã bắt đầu nói về “ Đầy tớ của Chúa” là Đấng sẽ đến ( ví dụ như trong EsIs 42:1-9). Đấng ấy sẽ vâng theo sự ủy thác về tính cách tôi tớ mà từ nguyên thủy Đức Chúa Trời đã giao cho Ysơraên. Thế giới này sẽ vẫn được ban phước nhờ những người phục vụ của Đức Chúa Trời.
8. Ai đã là “Đầy tớ của Đức Chúa Trời” mà tiên tri Eâsai đã nói đến?........................................................................................................................
Sự dạy dỗ trong Tân ước
Đến thời Tân ước, những nhà lãnh đạo Do Thái đã đánh mất quan điểm về sự lãnh đạo phục vụ. Họ cũng đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các khuôn mẫu thế tục Hy lạp về sự lãnh đạo. Đây là lý do khiến Chúa Giêxu đã chỉ trích sự nhấn mạnh lớn lao về địa vị và chỗ đứng quyền lực mà Ngài đã thấy giữa những người Pharisi. Điều này là điều trái ngược lại với điều Chúa, đã dự định cho những người lãnh đạo của Ngài.
Mathiơ 23 có nhiều điều dạy dỗ chúng ta về sự phục vụ Chúa và Hội thánh của Ngài. Đây là một trường hợp khi Chúa Giêxu quở trách những nhà lãnh đạo tôn giáo của Do Thái và chỉ ra những sự biến dạng đã lần lần thâm nhập vàp sự lãnh đạo của họ. Những lời của Ngài vẫn còn sống động cho những người lãnh đạo Cơ Đốc hôm nay. Hãy đọc khúc Kinh Thánh này cẩn thận khi bạn xem xét những phần áp dụng sau đây về điều Chúa Giêxu đã dạy dỗ :
Câu 3 : Phải có sự hài hòa giữa những điều chúng ta nói và việc chúng ta làm.
Câu 4 : Chúng ta phải dự phần chứ không chỉ giao thác cho người khác. Các nhà lãnh đạo thường quá trông cậy vào việc phán bảo người khác điều phải làm hơn là trở nên dự phần phối hiệp với họ trong các công việc phải làm.
Câu 5 : Chúng ta không được để mình bị cuốn vào sự tìm kiếm địa vị hay tranh đấu để được công nhận.
Câu 6 : Chúng ta không được nhận cho mình những đặc quyền đặc lợi mà chúng ta không cho phép những thuộc cấp có.
Câu 7 : Chúng ta không được kiêu ngạo về những thành đạt thuộc về sự hiểu biết của mình.
Câu 8 : Chúng ta phải từ chối những danh xưng uy quyền làm trở ngại cho mối liên hệ cá nhân của chúng ta với các anh chị em khác trong Chúa.
Câu 9 : Mối tương quan của chúng ta cần phải thành thực hơn là giả dối. Chúng ta không cần những danh hiệu thuộc linh giả dối.
Câu 10 : Chúng ta cần phải khích lệ những kẻ đi theo mình để họ hướng về Chúa Giêxu là Thầy, là Chủ của họ. Chúng ta không nên để cho những thuộc cấp trở nên quá dựa dẫm, nhờ cậy vào chúng ta đến nỗi họ không còn nhìn xem Đấng Christ là đầu nữa.
Câu 11 : Chúng ta hãy xem vai trò của mình như những đầy tớ vậy, phục vụ đáp ứng cho nhu cầu của kẻ khác.
Câu 12 : Chúng ta cần phải duy trì sự khiêm nhường và giữ một cách sống đơn giản.
Thay vì “ đè đầu cỡi cổ” trên người khác hoặc chỉ đơn thuần “ ra mệnh lệnh” cho thuộc hạ, Chúa Giêxu trông mong các nhà lãnh đạo phải trở thành những tôi tớ. Chúa đã tuyên bố rằng người lãnh đạo Cơ Đốc phải thực thi quyền lãnh đạo vì có lợi ích của những người dưới quyền mình chứ không phải của chính mình. Chúa Giêxu đã mô tả chính Ngài là một con người “ đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người” (Mat Mt 20:28).
9. Dựa trên Mat Mt 23:1-12. Hãy hoàn tất bảng sau đây để bày tỏ sự trái ngược giữa lối lãnh đạo bị biến dạng với lãnh đạo theo tinh thần phục vụ.
LỐI LÃNH ĐẠO BỊ BIẾN DẠNG
a. Ưu thích địa vị vinh dự và chỗ ngồi quan trọng nhất.
b. Mọi việc đều làm để cho người ta thấy
c. Tôn vinh chính mình
d. Không thực hành điều được giảng dạy
e. Kể mình là quan trọng nhất
f. Không muốn động ngón tay vào
g. Thích được người ta gọi mình bằng những danh xưng, ví dụ như “ Thầy”...
LỐI LÃNH ĐẠO PHỤC VỤ
10. Bây giờ hãy tự đánh giá sự lãnh đạo của chính cá nhân của bạn bằng cách đánh dấu X vào ô nào mô tả đúng cho bạn nhất. Có những phương diện nào bạn cần phải thay đổi để sự lãnh đạo của bạn thực sự là lối lãnh đạo phục vụ không?
Chủ đề về sự lãnh đạo phục vụ này được phát triển trong suốt thời Tân Ước theo nhiều đường lối khác nhau, một trong những đường lối đó là cách dùng từ ngữ Hy Lạp diakonia ( hầu việc). Hãy xem xét một vài chỗ dùng từ ngữ đó :
1. Luca dùng từ ngữ này để mô tả sự chuẩn bị và phân chia lương thực (LuLc 10:40; Cong Cv 6:1-6)
2. Giăng dùng từ hầu việc ( diakonia) để đề cập đến những người đầy tớ trong một đám cưới (GiGa 2:5-9), để nhấn mạnh bản chất của sự hầu việc Chúa Cứu Thế Giêxu (12:26), và để mô tả Hội thánh tại Thiatirơ đã làm vui lòng Chúa như thế nào. (KhKh 2:19).
3. Phierơ áp dụng từ ngữ hầu việc ( diakonia) cho chức vụ của các tiên tri trong Cựu ước (IPhi 1Pr 1:12) và cho cách các Cơ Đốc nhân nên thực hành những ân tứ thuộc linh mình đã được (4:10).
4. Phaolô đề cập đến chức vụ của mình nhiều lần là diakonia ( chức vụ) ví dụ như xem trong RoRm 11:13). Ông xem công việc của riêng mình và cũng xem công việc của các sứ đồ, tiên tri, thầy giáo, nhà truyền giảng, và mục sư là phục vụ người khác theo một cách khiêm nhường và quên mình. Những người lãnh đạo là những kẻ cùng làm việc với thuộc cấp, và không có quyền lợi hoặc địa vị riêng. Ông đã chứng tỏ như một học giả Kinh Thánh đã nhận xét rằng “ Trong thời Tân Ước, chức vụ hầu việc đã là một hành động rất lâu trước khi nó trở thành một địa vị”.
Từ ngữ hầu việc ( diakonia) chẳng bao lâu đã được áp dụng trong Hội thánh cho một vai trò đặc biệt để phục vụ người khác trong một chức vụ thực tế. Từ ngữ chấp sự trong tiếng Việt là từ ngữ đến chữ Diakonia. Nó nhấn mạnh rằng người lãnh đạo là tôi tớ của người khác, chứ không phải là thuộc về một lớp Cơ Đốc nhân cao siêu nào đó. Những nhà lãnh đạo phục vụ sẽ nuôi dưỡng một mối quan hệ ấm cúng và yêu thương với những thuộc cấp của mình. Họ không đòi hỏi trung thành hoặc vâng lời, họ chỉ phục vụ. Những nhà lãnh đạo phục vụ duy trì một mối liên hệ sống động với Chúa Giêxu, là Đầu của Hội Thánh, là chính Đấng làm tôi tớ của Đức Chúa Trời, Ngài là nguồi cội của đời sống và chức vụ tôi tớ.
Phục vụ Chúa và phục vụ ngươi là nhịp tim của sự lãnh đạo Cơ đốc. Nó phục vụ người khác trong danh của Chúa Cứu Thế Giêxu để làm cho Cơ Đốc Giáo được phân biệt rõ giữa những tôn giáo của người đời này. Phục vụ luôn luôn là một đặc tính của Hội thánh và đặc biệt là của những nhà lãnh đạo Hội Thánh. Hãy học để phục vụ và Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn khả năng để lãnh đạo.
11. Từ ngữ nào sau đây được dịch ra từ chữ diakonia trong các khúc Kinh Thánh chúng ta đã bàn đến của phần này?
a. Chức vụ hầu việc
b. Ra chỉ thị
c. Hầu việc hoặc giúp việc bàn tiệc
d. Sự cấp phát
e. Được phục vụ
f. Chấp sự
g. Công tác phục vụ
h. Người đầy tớ.
Mục tiêu 6 : Chọn các câu giải thích được tầm quan trọng của cuộc đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Tầm Quan trọng của Một đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh
Trước khi sang phần nghiên cứu về các ân tứ thuộc linh và mối liên hệ của chúng đối với sự lãnh đạo phục vụ, chúng ta cần phải nhắc nhở chính mình rằng những ân tứ tuôn tràn từ một đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh, một đời sống Thánh khiết. Đây là một lẽ thật thường bị các nhà lãnh đạo bỏ sót, đây là những người lãnh đạo sốt sắng tập luyện những ân tứ thuộc linh và hướng dẫn những kẻ theo họ. Sự Thánh Khiết là nền tảng căn bản của đời sống chức vụ Cơ đốc. Mối thông công với Đức Thánh Linh phải được dựa trên nền tảng Thánh Khiết. Chúng ta không thể có một chức vụ thuộc linh hữu hiệu nếu sự phục vụ của chúng ta không phát lưu ra từ một mối thông công đúng đắn với Chúa. Thật vậy, Đức Chúa Trời đòi hỏi sự Thánh Khiết trong một tín hữu (KhKh 22:11).
Sứ đồ Phaolô đã viết cho người Eâphêsô : “ Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh” (Eph Ep 5:18). Từ ngữ Hy Lạp dùng cho “ Phải đầy dẫy” là dùng trong thì liên tiến : “ Phải tiếp tục đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Một bản dịch khác nói rằng : “ Hãy để cho sự đầy dẫy Đức Thánh linh là mối bận tâm liên tục của bạn”.
Hãy lưu ý Phaolô đã viết câu này trong ngôi thứ 2 ở số nhiều, có ý nói rằng ông nói điều đó với : “ Tất cả các bạn” ... cho tất cả mọi người không trừ một ai. Cuối cùng, câu Kinh Thánh được viết trong mệnh lệnh cách, có ý của một mệnh lệnh tích cực, là một bổn phận. Những phước hạnh thành công, hoặc những kinh nghiệm với Chúa trong quá khứ, sẽ không duy trì được chúng ta trong hiện tại. Mỗi buổi sáng chúng ta cần một sự tương giao tươi mới với Thánh Linh Chúa. Chỉ khi nào chúng được đổ đầy bằng Thánh Linh thì chúng ta mới kinh nghiệm được những ân tứ của Thánh Linh hành động ở một mức độ đáng phải có trong đời sống của chúng ta.
Chúng ta hãy tóm tắt mệnh lệnh của Phaolô “ Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh” trong 5:18 bằng cách phát biểu rằng sự đầy dẫy này là :
1. Bó buộc - Đây không phải là một điều có thể chọn lựa
2. Bình thường - Không phải dành cho những kẻ cuồng tín
3. Phổ quát - Dành cho tất cả các Cơ Đốc nhân, không chỉ dành cho một thiểu số có quyền.
4. Lập đi lập lại - Đây không phải là kinh nghiệm một lần.
5. Thánh - Đến từ Đức Chúa Trời
6. Ân điển -- Nó không biểu dương cá nhân.
Vì vậy chúng ta thấy rằng đây là ý của Đức Chúa Trời đối với mọi tín hữu, phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Sự thực thi các ân tứ phát lưu từ sức năng động của việc bước đi trong Thánh Linh. Chúng ta sẽ không bao giờ là những tôi tớ hữu hiệu của Chúa nếu chúng ta không được đầy dẫy Thánh Linh của tôi tớ Đức Chúa Trời. Nếu Hội Thánh đã được dạy dỗ liên tục về sự vâng phục đối với lời của Thượng Đế, sẽ không có tình trạng không hiểu biết rõ về những ân tứ thuộc linh mà ngày nay chúng ta thấy trong nhiều Hội thánh. Cũng sẽ không có tình trạng thiếu thốn như hiện nay về sự hưởng ứng lời kêu gọi của Thánh Kinh để trở thành những nhà lãnh đạo phục vụ.
Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã được liên tục đầy dẫy Đức Thánh Linh. Họ đã chứng tỏ cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã đáp ứng với lòng ao ước sâu xa của chúng ta muốn được đầy dẫy Đức Thánh Linh như thế nào. Đây không phải là một điều có thể chọn lựa tùy ý, nhưng là một mạng lệnh của Đức Chúa Trời đối với Hội Thánh.
12. Dựa trên điều chúng tôi đã trình bày trong phần này, câu nào sau đây là những câu ĐÚNG?
a. Được đầy dẫy Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời là một sự đòi hỏi tuyệt đối cho chức vụ hữu hiệu trong những ân tứ thuộc linh.
b. Lời khích lệ của Phaolô trong 5:18 chứng tỏ rằng mọi tín hữu đều đang được Đức Thánh Linh của Chúa chiếm hữu đầy đủ rồi.
c. Sự khích lệ của Phaolô trong 5:18 chứng tỏ rằng mọi tín hữu đều đang được Đức Thánh Linh của Chúa chiếm hữu đầy đủ rồi.
c. Sự không đầy dẫy Đức Thánh Linh của các tín hữu thường được cặp theo bằng sự ban cho các ân tứ Thánh Linh.
d. Mục tiêu của Đức Chúa Trời ấy là mỗi một nhà lãnh đạo Cơ Đốc cần phải được liên tục đầy dẫy Đức Thánh Linh.
e. Phải giữ liên tục đầy dẫy Đức Thánh Linh là một mệnh lệnh, không phải là một sự chọn lựa.
f. Các ân tứ thuộc linh được tuôn tràn từ một đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh, một đời sống Thánh khiết.
Mục tiêu 7 : Giải thích mục đích của các ân tứ Thánh Linh đối với thân thể Đấng Christ và đối với thế gian.
THỰC THI CHỨC VỤ QUA CÁC ÂN TỨ THÁNH LINH
Tầm Quan Trọng của Các Ân Tứ Thánh Linh
Các Ân tứ Thánh Linh là những phương tiện của Đức Chúa Trời để mở mang sự làm chứng và chức vụ của Hội thánh. Các Ân tứ trang bị cho Hội Thánh để phục vụ mạnh mẽ hơn trong Phúc âm. Sách Công vụ chứa đựng những câu chuyện trong đó dân sự Chúa được đem vào Nước Trời khi những tín hữu thực hành các ân tứ Thánh Linh. Ví dụ như Phierơ đã thực thi ân tứ thông hiểu để phơi bày tội lỗi của Anania và Saphira (Cong Cv 5:1-10). Theo sau sự việc này, các sứ đồ đã thực hiện “ nhiều phép lạ dấu kỳ” ( câu 12). Và kết quả là “ số những người tin Chúa ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm” ( câu 14).
Các ân tứ cũng cảm hóa ( gây dựng) thân thể Đấng Christ và liên hiệp các Cơ Đốc nhân với nhau trong mối thông công Cơ Đốc. Sứ đồ Phaolô minh họa điều này bằng cách so sánh Hội Thánh với một thân thể được bao gồm bởi nhiều chi thể và nhiều phần, mỗi phần đều liên hệ với toàn thể (ICo1Cr 12:31). Khi các thành viên sử dụng ân tứ của mình, họ đều quan tâm đến lẫn nhau, và điều này đem lại kết quả cho đời sống thuộc linh khi chúng cùng hoạt động với nhau có thể được minh họa như sau :
13. Điều gì là kết quả của mỗi điều sau đây trong thân thể của Đấng Christ?
a. Chức vụ bên ngoài của các ân tứ Thánh Linh.
...............................................................................................................................
b. Chức vụ bên trong của các ân tứ Thánh Linh
...............................................................................................................................
Mục tiêu 8 : Nhận rõ điều dạy dỗ của các khúc Kinh Thánh được cho đề cập đến bản chất của các ân tứ Thánh Linh.
Bản chất của các ân tứ Thánh Linh
Sứ đồ Phaolô đã cống hiến nhiều phần Kinh Thánh nói về bản chất, mục đích và cách dùng các ân tứ Thánh Linh (12:14; cũng xem RoRm 12:1-21). Ông thường nhấn mạnh tầm quan trọng của các ân tứ Thánh Linh trong những thư tín của ông ( ví dụ như xem Eph Ep 4:7-16; ITi1Tm 4:14; IITi 2Tm 1:5-7).
Hai từ ngữ Hy lạp được dùng trong Tân ước để diễn tả các ân tứ Thánh Linh. Từ đầu tiên là charisma, có nghĩa là “ những sự ban cho của ân điển”. Các ân tứ thuộc linh là tặng vật miễn phí của Tình yêu và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời. Chúng không phải là phần thưởng cho sự phục vụ cho tâm linh hoặc sự trung tín. Chúa Thánh Linh chọn lựa các ân tứ cho chúng ta khi chúng ta hợp nhất vào thân thể của Đấng Christ bởi đức tin (ICo1Cr 12:7). Bởi vì Đức Chúa Trời hiểu biết chương trình của Ngài dành cho đời sống của chúng ta, Ngài ban cho chúng ta một hoặc nhiều ân tứ chúng ta sẽ cần để làm trọn những mục đích của Ngài. Được biết rằng Đức Chúa Trời ban cho các nhà lãnh đạo Cơ Đốc tất cả mọi điều sẽ có cần cho chức vụ của họ phải chăng là một điều tuyệt diệu?
Một từ ngữ Hy Lạp khác được dùng để mô tả các ân tứ thuộc linh là diakonia, mà chúng ta đã khám phá có nghĩa là “ sự hầu việc”. Từ ngữ này chứng tỏ rằng các ân tứ được ban cho vì phúc lợi của người khác chứ không phải riêng chúng ta. Chính Đấng Christ là gương mẫu của chúng ta trong việc sử dụng các ân tứ Thánh Linh. Sự cao quý của Cơ Đốc nhân không đo lường bằng số lượng ân tứ mà một người được ban cho, mà bằng sự khiêm nhường và trung tín trong việc sử dụng các ân tứ của chúng ta cho những người khác. Công tác tối cao của Đức Chúa Trời trong đời sống của Cơ Đốc nhân là nguồn năng lực mà Ngài ban để phục vụ. Các ân tứ luôn luôn là những quà tặng của Đức Thánh Linh không phải là của chúng ta !.
Bốn khúc Kinh Thánh liệt kê các ân tứ Thánh linh là : RoRm 12:6-8; ICo1Cr 12:8-10; Eph Ep 4:7-13 và IPhi 1Pr 4:10-11. Hình như các bản liệt kê này không có ý kể đầy đủ. Hơn nữa, chúng xuất hiện để chứng tỏ sự phong phú và bản chất của các ân tứ. Bảng kiệt kê này cũng không được phác họa để đem lại cho chúng ta một bảng xếp hạng của các ân tứ. Các cố gắng nhằm xếp các ân tứ vào thứ tự ưu tiên thường phải chấm dứt trong sự thất vọng bởi vì chúng hình như được liệt kê trong Kinh Thánh không theo một thứ tự nào cả. Chúng ta sẽ để giây lát khảo sát những điểm này.
14. Hãy đọc RoRm 12:6-8; ICo1Cr 12:8-10; Eph Ep 4:7-13; IPhi 1Pr 4:10-11. Trong tập ghi chép của bạn, hãy lập một bảng liệt kê tất cả các ân tứ Thánh Linh đã được đề cập đến trong những phần Kinh Thánh này. Hãy lưu ý những vị trí mà chúng bỏ sót.
Để mở rộng sự hiểu biết của bạn về bản chất của các ân tứ, hãy đọc I Côrinhtô đoạn 12 và 14. Rồi nghiên cứu đồ biểu sau đây ( Hình 4.2) để thấy điều một tín hữu cần phải đáp ứng đối với mỗi một lẽ thật về các ân tứ ngõ hầu người ấy có thể làm trọn phần của mình trong thân thể Đấng Christ.
15. Hãy giải thích ý nghĩa của những từ ngữ mô tả bản chất của các ân tứ thuộc linh :
a. Diakonia ............................................................................................................
b. Charisma ...........................................................................................................
BỞI VÌ .....
1. Mỗi người đều có một số ân tứ (ICo1Cr 12:7)
2. Không ai có tất cả các ân tứ (12:11)
3. Các ân tứ hiệp nên một thân (12:12)
4. Các ân tứ đến từ Đức Chúa Trời (12:18)
5. Tất cả các ân tứ đều cần thiết (12:25)
6. Các ân tứ gây dựng Hội Thánh (14:12)
7. Việc thực hành các ân tứ phải theo thứ tự (14:40).
CHO NÊN ....
- Mọi người cần được khích lệ
- Mọi người đều phải khiêm nhường
- Mọi người đều phải hòa hợp
- Mọi người đều cần phải thỏa lòng với các ân tứ của mình.
- Mọi người cần phải trung tín sử dụng ân tứ của mình.
- Mọi thành viên cần phải được gây dựng.
- Mọi thành viên cần phải sẵn sàng phục tùng.
Các bản liệt kê ân tứ trong Tân ước đều chưa kể hết đi. Bởi vì là thư của Phaolô gửi cho Hội Thánh Côrinhtô là gửi cho một Hội Thánh có khuynh hướng nhiều rắc rối, bản liệt kê của ông trong đoạn 12 có lẽ tập trung vào các ân tứ bị hiểu lầm và bị lạm dụng nhiều nhất. Phaolô đã dành phần lớn của bốn đoạn đầu thư này để đề cập đến sự khôn ngoan thật và giả. Tiếp theo đó ông đề cập đến những điều đồi bại trái luân lý, việc hôn nhân và cuối cùng là sự vô trật tự trong hội chúng. Bảng liệt kê ân tứ đã nảy sinh do những vấn đề này.
Giá trị của mỗi ân tứ không được xác định bởi thứ tự trong bảng liệt kê. Có một trường hợp mà Phaolô đã xếp hạng các ân tứ (12:28), nhưng đây rõ ràng là một thứ tự của các chức năng để thiết lập một hội thánh mới. Chúng ta có thể thấy thứ tự hợp lý của Phaolô : Trước hết một vị sứ đồ đặt nền tảng, trong khi các tiên tri đem lại cho các thánh đồ một sự bảo chứng về mặc khải và lời của Đức Chúa Trời được nói ra. Sau đó các giáo sư củng cố giáo lý và ứng dụng lời Chúa vào cuộc sống mỗi ngày. Các phép lạ chữa lành, các cuộc đụng độ quyền lực tối tăm, và các công tác khác của những ân tứ trở nên những phương tiện đem lại sức khoẻ, sự chu cấp để làm nhân chứng cho thế giới đang nhìn xem họ.
Phaolô không phân loại các ân tứ như sự khác biệt của các cá nhân. Chúng đôi khi bị bỏ sót hoặc cùng xuất hiện với nhau. Phaolô đã không phân biệt điều chúng ta gọi là các ân tứ siêu nhiên, chẳng hạn như chữa bệnh, và các ân tứ tự nhiên chẳng hạn như ân tứ ban phát. Có một điều ông lưu tâm đó là các ân tứ phải được hiểu đúng và thực hành nhằm gây dựng thân thể của Đấng Christ. Trong một Hội thánh bị chia rẻ làm nhiều phe nhóm, Phaolô nóng nảy muốn thấy sự hiệp nhất thực sự được thiếp lập trên nền tảng của một Đầu trên một thân thể.
Điều đáng chú ý là đề tài về tình yêu thương (13:1-13) được xếp đặt giữa đoạn 12 và đoạn 14 là các đoạn đề cập đến các ân tứ thuộc linh. Không có tình yêu, các ân tứ đều không còn giá trị gì. Các nhà lãnh đạo cần thực hành các ân tứ của họ mà không bởi động cơ ích kỷ. Vậy nên không có chỗ cho sự kiêu ngạo và sự khoe khoang. Một người lãnh đạo dùng ân tứ của mình theo cảnh này sẽ có 1) một chức vụ quân bình, 2) một chức vụ chia xẻ và 3) một Hội thánh hòa hợp.
16. Điều nào sau đây KHÔNG bày tỏ đúng về bản chất của các ân tứ thuộc linh?
a. Chúng được ban cho những thành viên cá nhân được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong thân thể của Đấng Christ để gây dựng cho cả thân thể.
b. Có những ân tứ tự nhiên và có cả các ân tứ siêu nhiên của Thánh Linh nữa.
c. Các ân tứ cần được sử dụng với tinh thần yêu thương bởi những phần tử thánh thiện trong thân thể của Đấng Christ.
d. Sứ đồ Phaolô đã đem lại một bảng phân loại, đầy đủ của tất cả các ân tứ được các nhà lãnh đạo sử dụng Hội thánh, và ông chứng tỏ rằng một số ân tứ có giá trị lớn hơn những ân tứ khác.
17. Hãy nối kết mỗi một lẽ thật trong ICo1Cr 12:1-31 với sự đáp ứng đúng đắn của thân thể Đấng Christ đối với sự dạy dỗ đó.
.....a. Mỗi người có 1 vài ân tứ .....b. Không ai có tất cả các ân tứ .....c. Các ân tứ hiệp nên một thân thể .....d. Các ân tứ đến từ Chúa
.....e. Mọi ân tứ đều cần thiết
.....f. Các ân tứ gây dựng Hội Thánh
.....g. Việc thực hiện các ân tứ phải được theo thứ tự.
Mục tiêu 9 : Phân tích các ví dụ được cho về các nhà lãnh đạo và so sánh họ với gương mẫu của Đấng Christ.
BẮT CHƯỚC ĐẤNG CHRIST
Bây giờ chúng ta cần để thêm thì giờ để nghiên cứu một khuôn mẫu của sự lãnh đạo Cơ đốc, đó là Chúa Cứu Thế Giêxu của chúng ta. Ngài tiêu biểu và nhân cách hóa cho mọi điều mà bài học này đã tập trung vào. Ngài làm vui lòng Đức Chúa Trời trong mọi việc Ngài đã làm, Ngài có tấm lòng của một tôi tớ, và Ngài dùng những ân tứ thuộc linh ở mức độ đầy trọn nhất của chúng để làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Càng cảm nhận được chính xác về bản chất của tinh thần phục vụ trong Chúa Giêxu. Rồi thì chúng ta sẽ thấy các nguyên tắc của tinh thần phục vụ này được thể hiện theo những cách thực tế ra sao.
Ngài đến để phục vụ
Mac Mc 10:35-45 Chúa Giêxu đã nói với các môn đệ của Ngài rằng : “ Vì Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người” (10:45).
Trong 10:35-45 có một phần ký thuật về sự trả lời của Chúa Giêxu đối với đòi hỏi ích kỷ của Giacơ và Giăng cùng phản ứng vội vã tương xứng của các môn đệ khác. Chúa Giêxu đã giải thích cho các môn đệ về sự cao quý thuộc linh thực sự là như thế nào bằng sự đối chiếu những giá trị của đời với những giá trị của Nước Trời. Trong thế giới này, thử nghiệm của sự cao trọng dựa trên con số của các thuộc hạ mwà người ta đang có thể kiểm soát. Trong Nước của Chúa, thử nghiệm về sự cao trọng dựa trên con số người mà một người có thể phục vụ cho.
Chúa Giêxu đã nhấn mạnh rằng vinh dự lớn lao nhất mà một người lãnh đạo có thể thu đạt được đó là phục vụ người khác. Để nhấn mạnh chân lý này, Chúa Giêxu chỉ cho các môn đệ thấy chức vụ của chính Ngài - Ngài đã đến để phục vụ, và mức độ phục vụ cao nhất trong sự phục vụ của chính Ngài đã là phó chính đời sống để làm giá chuộc cho nhiều người.
Từ ngữ Giá chuộc ( ransom) có nghĩa là “ Giải cứu khỏi sự ràng buộc nhờ việc trả một giá”. Trong trường hợp này, tội lỗi là sự ràng buộc, và Chúa Cứu Thế Giêxu đã là giá chuộc.
18. Tại sao sự đòi hỏi của Giacơ và Giăng trong Mac Mc 10:37 đã có tính ích kỷ và theo đời?
...............................................................................................................................
Ngài đã chứng tỏ sự khiêm nhường.
Phi Pl 2:3-11.
Trong 2:3-11, Phaolô nhắc nhở các Cơ Đốc nhân bằng họ không còn cai trị trên đời sống riêng của mình nữa. Hơn thế nữa, họ cần có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có. Nếu họ làm điều đó, họ sẽ thôi không xử sự theo cách sau đây:
1. Tuyên bố sự hoàn hảo và thuộc linh của mình
2. Bảo vệ và đòi hỏi quyền lãnh đạo của mình.
3. Uûng hộ cho những phúc lợi và chương trình riêng của mình.
4. Sống cho chính mình.
Những câu Kinh Thánh trong thư Philíp này thuộc vào các câu sâu sắc nhất trong Kinh Thánh, bởi vì chúng nói lên chính mình Đấng Cứu Thế đã từ bỏ vinh quang và uy quyền. Mặc dù Ngài đã là Con Thượng Đế, cùng hiện hữu, đồng đẳng, cùng tồn tại đời đời với Đức Chúa Cha, Ngài đã từ bỏ mọi quyền lực thiên thượng và mặc lấy hình ảnh con người. Một số người đã so sánh hành động này với việc làm của một vị vua khoác lấy áo rách rưới của kẻ ăn mày và sống trên các đường phố để đồng hóa mình với dân chúng. Nếu một vị vua làm một việc như vậy, người ta có thể xam đó là một việc làm vĩ đại của sự khiêm nhường. Trong sự nhận biết về vinh quang và uy quyền của Chúa. Thật không thể tin được rằng Con Thượng Đế lại phải đến trần gian này trong hình hài của một em bé !
Một câu đáng chú ý đặc biệt đối với chúng ta đó là Chúa Giêxu đã “ lấy hình tôi tớ” ( câu 7). Nói theo nguyên nghĩa, Chúa Giêxu đã trở nên một kẻ nô lệ. Trong thế kỷ đầu tiên một nô lệ đã phải hoàn toàn vâng phục đối với người chủ. Đấng Christ đã chứng tỏ sự vâng lời lớn lao của Ngài như thể là một đầy tớ của Thượng Đế qua công việc Ngài đã bằng lòng chấp nhận quyết định của chủ mình rằng Ngài phải chịu xử tử vì cớ các tội nhân. Đây là gương mẫu trọn vẹn tuyệt đối của tinh thần phục vụ !
Trong đêm Chúa Giêxu dùng bữa cuối cùng với các môn đệ của Ngài. Ngài đã tận dụng cơ hội cuối cùng để làm gương cho họ về tinh thần phục vụ. Quỳ gối trong một chỗ riêng trên phòng cao. Ngài đã rửa đất bụi dơ khỏi những bàn chân của họ. Hình như sự khiêm nhường hạ mình mà Đấng Christ đã bày tỏ trong việc rửa chân cho các môn đệ đã gây một ấn tượng cho họ ngay lúc ấy. Khi sau đó Chúa Giêxu bảo họ rằng một người trong số họ sẽ phản Ngài, mỗi người đều hỏi rằng : “ Lạy Chúa, có phải tôi chăng?” (Mat Mt 26:22). Trong chính giây phút bày tỏ sự trung thực mãnh liệt nhất, mỗi môn đệ tự biết rằng mình rất có thể sẽ làm một việc như vậy. Mỗi người đã cần phải nhìn nhận về tình trạng yếu đuối có thể xảy ra cho mình. Theo sự khiêm nhường của họ ở vào trường hợp này, không một ai đã dám chỉ vào người khác và hỏi “ Lạy Chúa, có phải anh này không?”. có lẽ trong những giờ phút sau cùng ở với Chúa Giêxu, họ đã hiểu ra được ý nghĩa của sự khiêm nhường.
Hội Thánh phải là chỗ sau cùng cho những kẻ muốn tìm kiếm địa vị, quyền lực hoặc uy thế.
Một nhà lãnh đạo thực sự có một vai trò đặc biệt trong Hội Thánh, đây là một điều đúng. Nhưng trong tinh thần phục vụ người ấy không bao giờ nên đòi hỏi một quyền lợi ưu tiên cho riêng mình. Hội Thánh phải là chỗ sau cùng cho những kẻ muốn tìm kiếm địa vị, quyền lực hoặc uy thế. Sứ đồ Giăng đã bình luận vén (?) cho chúng ta thấy về một trong những người đàn ông trong Hội thánh “ Điôtrép, là kẻ ưng đứng đầu Hội Thánh” ( III Giăng câu 9). Bạn có nghĩa rằng Điôtrép sẽ phải hối tiếc vì cớ gương tìm kiếm địa vị của ông đã được lưu truyền trải qua các thế hệ Cơ Đốc về sau như là một lời cảnh cáo?
19. Khi nói rằng Đấng Christ đã từ bỏ hết vinh hiển về uy quyền thì có nghĩa là thế nào?
...............................................................................................................................
20. Hãy giải thích gương mẫu tuyệt đối của Đấng Christ trong việc lấy “hình tôi tới”.
...............................................................................................................................
21. Làm sao chúng ta biết được Điôtrép đã là một “kẻ tìm kiếm địa vị”?
...............................................................................................................................
Ngài đã là một người chăn
GiGa 10:1-8
Những người chăn không có tình yêu thương xem “ các con chiên” như là những con số trong bản danh sách các thuộc viên của mình. Họ xem chiên như những đơn vị kinh tế ( cung cấp các khoản chi cho công tác của Hội thánh) hoặc như là những khán giả đến để nghe họ giảng. Người lãnh đạo nào bắt chước theo khuôn mẫu chăn bầy của Chúa Giêxu cần học để hiểu chiên của mình và để yêu thương chúng (10:14-15).
22. Hãy đọc 10:1-8, rồi hãy đối chiếu người lãnh đạo như “người chăn thật” với người lãnh đạo như “ kẻ chăn thuê”.
a. Người chăn thật
b. Kẻ chăn thuê

Khi xem xét những người chăn và bầy chiên trong lời Kinh Thánh, chúng ta quan sát một mối liên hệ giữa hai đối tượng.
Người chăn bầy luôn luôn ở gần với bầy của mình và đặt sự an toàn của mình vào thế có thể liều mình vì cớ bầy chiên. Ví dụ như Đavít đã chiến đấu và giết hạ một con sư tử với tay không bởi vì bầy chiên của ông bị đe dọa (ISa1Sm 17:34-35).
Chúa Giêxu đã là một Người Chăn Tốt, là Đấng đã đặt nhu cầu của bầy chiên Ngài lên trên nhu cầu của chính Ngài, đến nỗi phó mạng sống của Ngài cho họ.
Bởi vì anh rể của tôi là một nhà nông chăn nuôi bầy chiên có một bày chiên hàng nghìn con, cho nên một đặc điểm mà tôi nhận thấy về sự chăn bầy của anh ấy là anh ấy luôn luôn đặt kế hoạch trước cho mùa kế tiếp. Anh ấy dự liệu trước về đồng cỏ cho bầy chiên ăn, nơi trú ẩn và sự chăm sóc nuôi dưỡng cho cả bầy trong nhiều tháng sắp đến. Điều này nhắc nhở tôi rằng Chúa Giêxu đã chuẩn bị trước cho nhu cầu của những kẻ theo Ngài. Ngài không bao giờ bị bối rối không biết phải làm gì. Ngài không hề bị lâm vào sự ngạc nhiên và không bao giờ phải bỏ một dự án bởi vì đã thiếu tiên liệu một vài vấn đề. Ngược lại, sự lãnh đạo của chúng ta thường đầy dẫy những sự hoảng hốt vào phút chót vì cớ chúng ta đã không suy nghĩ, cầu nguyện và hoạch định đầy đủ.
Ngài đã quên mình
Phi Pl 2:5-11
Ngày nay có một điều người ta thường nhấn mạnh rất nhiều, đó là sự chấp nhận, tự phụ, tự tin, tự trọng, v.v... Hãy lưu ý sự lặp lại của chữ tự. Tuy rằng không cần thiết phải xem chúng là những quan niệm tiêu cực, nhưng rõ ràng là chúng đã nói lên nguy cơ mà các nhà lãnh đạo Cơ Đốc có thể trở thành, đó là trở thành quá quan tâm đến chính mình, sự nổi tiếng của chính mình, sự quan trọng của chính mình đối với Hội Thánh. Một sự để ý một cách tích cực đến chính mình qua đó cũng có thể bị biến dạng đến nỗi một người trở thành quá tự kỷ trung tâm !
Điều này thật là trái ngược với khuôn mẫu của Đấng Christ. Trong suốt chức vụ của Chúa Giêxu, bất cứ nơi nào Ngài đã đi đến, Chúa cũng không hề trông đợi một sự tiếp đó nồng hậu, với cờ xí biểu ngữ hoặc những vinh dự đặc biệt. Thay vào đó, sự chống đối đã là thực tế xảy ra. Ngài đã nói với những kẻ phê phán Ngài : “ Ta chẳng cầu vinh hiển bởi người ta mà đến đâu” (GiGa 5:41) Chúa Giêxu đã vui thỏa, sẵn lòng trong việc chỉ làm theo ý muốn của Cha Ngài và trở nên một kẻ nô lệ hay đầy tớ. Trong khúc Kinh Thánh chúng ta đã đọc ở trên, Phi Pl 2:5-11 ghi chép lại rằng Ngài “ đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ.....” ( câu 7). Ngài đã hoàn toàn quên mình, không quan tâm đến cái tôi nữa. Sự bảo đảm của Chúa Giêxu ấy là biết rằng Ngài là Con yêu dấu của Đức Chúa Cha. Ngài đã biết mình là ai và điều Ngài đã được kêu gọi để thực hiện. Ngài đã không dựa trên sự công nhận của người khác để làm trọn vẹn công việc của mình.
23. Hãy đọc GiGa 3:28-30 Phi Pl 3:3-11, và viết ra những chữ nói lên cách hai nhà lãnh đạo vĩ đại này, Giăng Báp Tít và Sứ đồ Phaolô, đã nhận định về chính mình và những thành tựa của mình như thế nào.
a. Giăng Báptít ......................................................................................................
...............................................................................................................................
b. Phaolô
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Chúng ta cần phải ý thức rằng thực chất của tội lỗi chính là tình trạng làm chủ của cái tôi, của bản ngã. Một bảng nhỏ gợi nhắc vài sự suy gẫm đã được treo trong phòng thay áo lễ của một nhà thờ ở Tô Cách Lan, bảng ấy có ghi :
Không ai có thể vừa làm chứng cho
Chúa lại vừa làm chứng về chính mình cùng một lúc.
Không ai có thể vừa tạo ấn tượng là
mình tài giỏi và vừa nói lên rằng
Đấng Christ có quyền năng cứu rỗi.
Bài kiểm tra
CÂU HỎI CHỌN LỰA- Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời nào đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Lời khích lệ của Phaolô cho các tín hữu tại Hội Thánh Têsalônica rằng họ cần phải làm vui lòng Chúa có thể được mô tả đúng nhất là :
a. Một lời đề nghị của một người bạn
b. một mệnh lệnh cá nhân
c. một điều gì đó không thể thực hiện được
d. một gương mẫu về uy quyền sứ đồ
2. Điều nào sau đây mô tả đúng nhất về các Cơ Đốc nhân ở Têsalônica trong lúc Phaolô viết thư tín thứ nhất cho họ ? Họ đã là :
a. những người chỉ nghe Lời Đức Chúa Trời
b. Những người nghe và cũng làm theo Lời Chúa nữa
c. những người không sẵn lòng muốn nghe Phaolô
d. những người để cho những hành vi tội lỗi diễn ra trong Hội Thánh.
3. Làm vui lòng Chúa là điều đồng nghĩa với
a. làm vui lòng người ta
b. lắng nghe điều Ngài đã phải nói
c. làm vinh danh Chúa
d. Hiểu biết lời Chúa
4. Dietrich Bonhoeffer đã định nghĩa “ân điển rẻ mạt” là tất cả những điều sau đây ngoại trừ:
a. ân điển mà không tinh thần làm môn đồ Chúa.
b. giảng dạy về sự tha tội mà không năn năn.
c. vâng theo, đầu phục với ý chí của Chúa.
d. chịu báp têm mà không có ký luật Hội thánh.
5. Theo GaGl 1:10, nhiệm vụ chính yếu của người lãnh đạo Cơ Đốc là phải :
a. đạt cho được sự thừa nhận của Đức Chúa Trời.
b. đạt cho được sự thừa nhận của người ta.
c. đạt cho được sự ban cho về phần thưởng đời đời.
d. phục vụ những thuộc cấp của mình.
6. Hai sự kiện nào sau đây Đức Chúa Trời đã cho thấy Ngài hài lòng về Con Ngài là Cứu Chúa Giêxu?
a. Sự chịu cám dỗ và chịu thương khó của Chúa Giêxu
b. Việc chịu Báp têm và Hóa bình của Chúa Giêxu.
c. Việc chịu báp têm và chịu cám dỗ của Chúa Giêxu.
d. Sự Giáng sinh và chịu chết của Chúa Giêxu.
7. Điều nào sau đây là một ví dụ cho sự lãnh đạo tôn giáo đã bị biến dạng?
a. Môise
b. Đavít
c. Những nhà lãnh đạo của Hội thánh đầu tiên.
d. Các Tiên tri chính của thời Cựu Ước.
e. Các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái trong thời Tân ước.
8. Điều nào sau đây KHÔNG phải là một áp dụng đúng đắn cho sự dạy dỗ của Chúa Giêxu trong Mat Mt 23:1-39 ? Một nhà lãnh đạo phục vụ sẽ :
a. Giao phó thay vì cộng tác.
b. Từ chối chấp nhận những đặc quyền đặc lợi.
c. Chống lại với những danh xưng về quyền uy có mục đích tìm kiếm địa vị.
d. Duy trì sự khiêm nhường và có một lối sống đơn giản.
9. Người lãnh đạo Cơ Đốc phải ghi nhớ rằng các ân tứ Thánh Linh tuôn tràn từ một đời sống.
a. Phục vụ
b. thánh khiết
c. có nhiều kinh nghiệm
d. yêu mến những thuộc cấp
10. Mục đích của các ân tứ thuộc linh đối với thân thể của Đấng Christ chủ yếu là :
a. gây dựng cho thân thể
b. truyền giáo cho thân thể
c. chứng tỏ sự hiện hữu của Đấng Christ qua các dấu kỳ phép lạ.
d. phơi bày tội lỗi
11. Sự dạy dỗ của Phaolô trong ICo1Cr 12:1-14:40 bao gồm tất cả những điều sau đây là những điều đúng NGOẠI TRỪ điều nào?
a. Mỗi một người đều có một vài ân tứ.
b. Mọi ân tứ đều cần thiết.
c. Các nhà lãnh đạo thường có tất cả các ân tứ.
d. Việc thực hành các ân tứ phải ở trong vòng trật tự.
e. Các ân tứ đều đến từ Đức Chúa Trời.
12. Điều nào sau đây KHÔNG phải là một đặc tính của sự lãnh đạo Cơ Đốc trong tinh thần phục vụ đã được Chúa Giêxu minh chứng?
a Ngài đã đến để phục vụ.
b. Ngài đã đến để được phục vụ.
c. Ngài đã chứng tỏ sự khiêm nhường.
d. Ngài đã quên mình.
e. Ngài đã là một người chăn.
CÂU NỐI KẾT: Đọc cẩn thận những lời chỉ dẫn và viết câu trả lời của bạn vào khoảng trống ở trước mỗi câu hỏi.
13 -18 Nối kết mỗi từ ngữ Hy Lạp (bên phải) với từ phiên dịch của nó trong mạch văn Kinh Thánh mà chúng ta đã nghiên cứu trong Bài học này.
a. Diakonia
b. Dokimazo
Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu

2.b) Quyết định rằng : vì sự Cứu rỗi là quà tặng nhưng không của Đức Chúa Trời nên bạn tự do sống sao cũng được sau khi tiếp nhận Chúa.
3.c. Một người lãnh đạo Cơ Đốc sẽ không bao giờ chọn để làm vừa ý người ta đi ngược lại với việc làm vui lòng Chúa.
4. Để làm vui lòng Chúa, không phải vừa ý người ta.
5. Câu trả lời của bạn. Mục đích của bạn đem so với mục đích của Sứ đồ Phaolô như thế nào?
6. Các câu trả lời a,c d và e là các câu Đúng.
7. a. “ Không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha”
b. “ Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài”.
c.” Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến”.
d. “ Ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài”.
e. “ Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa”.
8. Chúa Giêxu, Đấng Mêsi.
9. a. Không chấp nhận những đặc quyền đặc lợi.
b. Không tìm kiếm địa vị
c. Là lối lãnh đạo khiêm nhường
d. Giữ sự hài hòa giữa lời nói và việc làm.
e. Tự kể mìnhlà một đầy tớ.
f. Cộng tác thay vì giao phó.
g. Không lấy làm kiêu ngạo về những thành tựu về tri thức hoặc đòi hỏi phải có một “ danh xưng”.
10. Câu trả lời của bạn. Bạn có đồng ý rằng bài tập này đáng phải có sự suy gẫm nghiêm trang không?
11. Tất cả những chữ này đều là những chữ được phiên dịch đúng ngoại trừ b: Ra chỉ thị và e : được phục vụ là không phải.
12. Các câu trả lời a, d, e và f là các câu đúng. Các câu b và c là các câu sai.
1. Phaolô nói ông đã chỉ dạy họ cách sống để làm vui lòng Chúa, và đó lá cách mà họ đang sống.
13.a. Thân thể của Đấng Christ phục vụ cho thế giới này.
b. Thân thể của Đấng Christ được gây dựng hay được nuôi dưỡng để có được sự trưởng thành và thông công Cơ Đốc.
14. Các ân tứ của Thánh Linh
RoRm 12:6-8
- Nói tiên tri
- Làm chức vụ ( phục vụ)
- Dạy dỗ
- Khuyên bảo ( khích lệ)
- Bố thí ( phân phát sự cần dùng)
- Cai trị ( lãnh đạo)
- Làm sự thương xót
ICo1Cr 12:8-10
- Lời nói khôn ngoan
- Lời nói có tri thức
- Đức tin
- Ơn chữa tật bệnh
- Làm phép lạ
- Phân biệt các thần
- Nói nhiều thứ tiếng
- Thông giải các thứ tiếng
Eph Ep 4:7-13
- Tiên tri
- Giáo sư
- Sứ đồ
- Thầy giảng Tin lành
IPhi 1Pr 4:10-11
- Người giảng luận
- Làm chức vụ
15. a. Chức vụ của các ân tứ thuộc linh là vì cớ phúc lợi của nhiều người khác.
b. Các ân tứ Thánh linh là ân điển được ban cho theo sự chọn lựa của Đức Thánh Linh; không phải là điều người ta kiếm được hoặc đạt được.
16. d. Sứ đồ Phaolô đã đem lại một bảng phân loại đầy đủ của tất cả các ân tứ...
17. a.4) Sự khích lệ
b.7) Sự khiêm nhường
c.1) Hòa hợp cân đối
d.3) Sự thỏa lòng
e.5) Lòng trung tín
f.6) Sự tăng trưởng
g. 2) Đầu phục
18. Bởi vì họ đang tìm kiếm địa vị. Họ muốn kiểm soát hơn là phục vụ người khác.
19. Ngài đã từ bỏ mọi điều Ngài vốn có trên Thiên Đàng ( uy quyền và vinh hiển của Ngài) và trở nên hoàn toàn hạ mình trong hình ảnh con người và trong chức vụ của Ngài.
20. Ngài sẵn sàng chấp nhận cái chết để thay thế cho mọi tội nhân, trở nên vâng phục hoàn toàn cho ý chí của Cha Ngài.
21. Giăng đã mô tả ông ta là một người ưa thích được đứng đầu.
22. a. Người chăn thật yêu mến chiên của mình và sẵn sàng phó mạng sống của mình vì cớ bầy chiên.
b. Kẻ chăn thuê không lo lắng gì cho bầy chiên. Khi thấy dấu hiệu đầu tiên cho nan đề, họ đã bỏ chúng và chạy trốn.
23. a. “Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống” (câu 30).
b. “ Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ..” ( câu 8).

NHỮNG GIÁ TRỊ CHỦ CHỐT CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO PHỤC VỤ
Khi được hỏi rằng ông muốn được người ta tưởng nhớ đến mình như thế nào nhất, Billy Graham đã trả lời ngay rằng ông sẽ thỏa lòng với hành chữ khắc trên mộ bia rằng : “ Một tội nhân được cứu bởi ân điển, là một người đàn ông, như tác giả Thi thiên, đã bước đi trong sự trọn vẹn nhất của mình”.
Trải qua suốt bốn mươi năm gần đây. Billy Graham đã giảng Phúc âm cho hơn 100 triệu người ở hơn sáu mươi lăm quốc gia. Ông là tác giả của rất nhiều cuốn sách thành công trong Cơ Đốc giáo. Khi xem xét những thành tự tuyệt diệu của mình, niềm ao ước của ông rằng ông sẽ được mọi người tưởng nhớ về sự trọn vẹn trong đời sống ông quả là một ý tưởng có nhiều thách thức. Billy Graham không nên được kể là người đơn độc trong suy nghĩ muốn trở nên một người lãnh đạo với sự trọn vẹn.Ở trong một thời đại mà khi những vụ tai tiếng về tiền bạc, dục tình và quyền lực đang có liên quan đến các nhà lãnh đạo Hội thánh đã làm lung lay thế giới Cơ Đốc, sự trọn vẹn giũa vòng sự lãnh đạo là một nhu cầu đáng quan tâm của Hội Thánh.
Trong bài 4 chúng ta đã học rằng những nguyên tắc căn bản của sự lãnh đạo phục vụ đó là làm vui lòng Chúa, phục vụ Chúa, thi hành chức vụ hầu việc cho thân thể của Đấng Christ qua những ân tứ Thánh Linh và noi theo gương mẫu của Đấng Christ. Bây giờ chúng tôi muốn tập trung vào những giá trị chủ chốt được các nhà lãnh đạo phục vụ nắm giữ. Những giá trị này gồm có : sự trọn vẹn, tiêu chuẩn đạo đức cao và một sự quan tâm đến phúc lợi thuộc linh cũng như thuộc thể của người khác. Khi khám phá những giá trị chủ chốt này của người lãnh đạo phục vụ, chúng ta sẽ thấy rằng Kinh Thánh có dư dật để dạy dỗ chúng ta về đề tài này. Mong rằng điều đó sẽ nói với lòng bạn khi bạn nghiên cứu bài học này.
Dàn bài
Những tiêu chuẩn của người lãnh đạo
Những trách nhiệm xã hội của người lãnh đạo
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể :
Định nghĩa và cho ví dụ về sự trọn vẹn
Đánh giá sự trọn vẹn riêng của bạn dựa trên tiêu chuẩn Thánh Kinh cho những nhà lãnh đạo.
Phát biểu những nguyên tắc để xác định các tiêu chuẩn của Chúa.
Giải thích một thái độ lãnh đạo đúng có liên quan đến những trách nhiệm xã hội của Hội thánh và bênh vực nó bằng lời Chúa.
Các hoạt động học tập
1.Nghiên cứu bài học này theo trình tự thường lệ. Phải bảo đảm đọc tất cả những phần Kinh Thánh liên hệ và trả lời cả các câu hỏi. Tìm trong phần giải nghĩa từ ngữ những định nghĩa cho từ ngữ then chốt nào mới đối với bạn. Dùng tự điển của bạn để tìm định nghĩa cho các từ mới trong phần triển khai bài học.
2.Hãy làm bài kiểm tra và xem lại các câu trả lời của bạn.

Những từ then chốt
Phụ tá
Có thiếu sót
Tình trạng không bị cám dỗ, không suy sụp
Không đáng tin cậy
Sự sỉ nhục
Những tiêu chuẩn
Những động cơ thầm kín
Những giá trị
Mục tiêu 1 : Đánh giá sự trọn vẹn của bạn theo những tiêu chuẩn Thánh Linh về sự trọn vẹn.
SỰ TRỌN VẸN CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Định nghĩa và Tầm Quan Trọng của sự Trọn Vẹn
Sự trọn vẹn là gì? Có phải chăng nó là một điều có thể kiếm được hoặc đạt được? Những thuộc cấp có thể phong sự trọn vẹn cho một người lãnh đạo không? Tại sao đây là một giá trị quan trọng đối với người lãnh đạo phục vụ ?
Từ ngữ Trọn vẹn đến từ chữ Latinh integer, có nghĩa là “ Sự hoàn toàn, sự ngay thẳng về đạo đức, không thể cám dỗ được, trung thực”. Nó được dùng để mô tả những con người đáng tin và có trách nhiệm trong mọi hoàn cảnh. Đối với Cơ Đốc nhân điều này muốn nói đến sự thống nhất giữa lời nói và việc làm.

MỘT GƯƠNG MẪU CỦA SỰ TRỌN VẸN
Cũng như nhiều đề tài khác, sự trọn vẹn dễ nhận ra hơn là định nghĩa hoặc phân tích. Nhận ra một con người trọn vẹn là điều dễ dàng, nhưng để chỉ ra đúng điều làm cho người ấy trọn vẹn là không dễ dàng như vậy. Billy Graham được gọi là “Ông hoàn toàn” bởi vì ông và những người cộng tác với ông đã xác định rằng ông sẽ sống vượt xa hơn sự quở trách, sỉ nhục. Đây không phải chỉ là một tín ngưỡng, nhưng là một sự kết ước. Graham sống đời sống riêng tư theo điều ông giảng dạy cách công khai. Ông ta không hay dời đổi. Điều ông tin tưởng, điều ông nói và làm chỉ là một. Chỉ có một Billy Graham, không có người ở giữa đám đông và một người ở chỗ riêng tư. Hơn nữa. Graham đã giữ mình chịu trách nhiệm đối với những người cộng tác của ông…. Sự trọn vẹn là điều chúng ta làm hơn là những điều chúng ta không làm, là điều chúng ta đã là chứ không phải là điều chúng ta không là… Graham… thực hành sự hiện hữu của Thượng Đế và điều đó, lớn hơn nỗi sợ về sự phê phán của công chúng, là điều giữ ông trong nề nếp… Sự trọn vẹn lắng nghe khi các người bạn khôn ngoan bảo không, Sự trọn vẹn tránh được biểu hiện của sự ác khi tìm kiếm sự ưng thuận của Đức Chúa Trời. Sự trọn vẹn nhìn nhận tình trạng chúng ta là rất tầm thường và khước từ tin cậy bất cứ ai bảo điều khác .
“ Sự trọn vẹn nguyên thủy” - V. Giller Beers.
Bởi vì chúng ta đã xưng nhận Chúa Cứu Thế Giêxu làm Chúa, sự trọn vẹn phải là một dấu hiệu trung tâm của đời sống chúng ta. Chúng ta phải từ bỏ tất cả những việc làm gian dối của đời sống cũ. Chúng ta phải được biết đến như những con người có những đức tính đạo đức tốt đẹp ngay cả khi bị thử thách dưới các áp lực của cuộc sống. Sự trọn vẹn là một yếu tố cần thiết của việc lãnh đạo trong tinh thần phục vụ.
Khi chúng ta xem xét những cách dùng từ ngữ trong thời Cựu Ước và thời Tân Ước, hãy tự hỏi chính mình câu hỏi này : “ tôi có phải là một người lãnh đạo có sự trọn vẹn không?
1. Làm thế nào một người lãnh đạo Cơ Đốc chứng minh được sự đồng nhất giữa lời nói và hành động?
...............................................................................................................................
2. Chọn một câu trả lời tốt nhất có một đức tín luân lý tốt đẹp có nghĩa rằng bạn:
a. Toàn vẹn trong các hành vi tỏ ra ở phía ngoài.
b. Trung thực và ngay thẳng trong mọi hoàn cảnh
c. Đáng tin cậy và có tinh thần trách nhiệm trong hầu hết các thì giờ.
d. Tất cả những điều trên.
3. Hãy đọc lại phần được trích trong Hình 5 .1, rồi khoanh tròn những mẫu tự được đứng trước những đặc điểm sau đây mà bạn cho là đúng với sự trọn vẹn của mình.
a. Tôi đã hứa nguyện sống vượt lên trên điều sỉ nhục, sống để không bị quở trách.
b. Tôi sống ở chỗ riêng tư theo điều tôi “ giảng” ở chỗ công khai.
c. Tôi luôn kiên định, điều tôi tin, tôi nói và điều tôi làm đều giống nhau.
d. Tôi sẵn sàng giữ mình chịu trách nhiệm đối với những người cộng tác với tôi.
e. Tôi luôn thực hành sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
f. Tôi lắng nghe khi những người bạn khôn ngoan nói không
g. Tôi tránh xa những biểu hiện của điều ác và tìm kiếm sự ưng thuận của Đức Chúa Trời.
h. Tôi thấy mình là một đầy tớ tầm thường của Đức Chúa Trời, không như một số người khác xứng đáng được những ân huệ và sự chú ý đặc biệt.
Mục tiêu 3 : So sánh và đối chiếu sự trọn vẹn của Đavít, Salômôn và Gióp.
Sự trọn vẹn trong Cựu ước
Từ ngữ trọn vẹn được dùng khoảng hai mươi lần trong Kinh Thánh Cựu Ước. Chúng ta sẽ khảo sát một vài câu chủ yếu có dùng từ ngữ này.
Đức Chúa Trời đã dùng từ ngữ trọn vẹn trong sứ điệp của Ngài với Salômôn khi ông đã hoàn tất việc xây cất đền thờ. Ngay sau khi các của tế lễ được dâng hiến. Đức Giêhôva đã hiện ra cho Salômôn và phán bảo với ông những điều có liên quan đến tương lai của đền thờ và quốc gia Ysơraên.
“ Còn ngươi, nếu ngươi đi trước mặt ta, như Đavít, cha ngươi đã đi, lấy lòng trọn lành và ngay thẳng mà làm theo các điều ta đã phán đặn ngươi, giữ những luật lệ và mạnh lịnh của ta, bấy giờ ta sẽ làm cho ngôi nước ngươi kiên cố đến đời đời trên Ysơraên, y như ta đã hứa cùng Đavít, cha ngươi mà rằng : ngươi sẽ chẳng hề thiếu kẻ hậu tự ngươi ngồi trên ngôi Ysơraên” (IVua 1V 9:4-5).
Trong khúc Kinh Thánh này Đức Chúa Trời bày tỏ lòng mong mỏi của Ngài đối với một nhà lãnh đạo là người sẽ bước đi với một lòng yêu mến không chia lìa dành cho luật pháp Ngài và một mục đích duy nhất vì ý chí Ngài.
Trong sứ điệp của Ngài cho Salômôn, Đức Chúa Trời đã đề cập đến rằng Đavít, cha của Salômôn, đã là một con người trọn vẹn. Điều này có lẽ làm bạn ngạc nhiên khi nhớ lại việc sa ngã về đạo đức của Đavít với Bátsêba và tội tu bộ dân sự của ông. Đức Chúa Trời có ý muốn nói gì ở đây khi Ngài bảo rằng Đavít đã bước đi trong sự trọn vẹn? Tôi tin rằng câu trả lời ở đây là : Mặc dù Đavít đã phạm tội, ông không bao giờ quay hướng khỏi Đức Chúa Trời. Tấm lòng của ông luôn luôn chú về Đức Chúa Trời và ông không bao giờ quay sang thờ hình tượng hoặc sự vô tín. Trong nỗi thống khổ của Đavít về tội lỗi và sự kết tội, Đavít đã cất tiếng cầu khẩn Đức Chúa Trời xin tha thứ và phục hồi. Ông đã luôn luôn hết lòng trong tình yêu đối với Đức Chúa Trời và lòng mong muốn của ông ưa thích làm vui lòng Chúa.
SỰ TRỌN VẸN ĐƯỢC ĐAVÍT ĐỊNH NGHĨA
Thi Tv 15:1-5
Hỡi Đức Giêhôva, ai sẽ ngụ trong đền tạm Ngài?
Ai sẽ ở trên núi Thánh Ngài?
Aáy là kẻ đi theo sự ngay thẳng, làm điều công bình.
Và nói chơn thật trong lòng mình.
Kẻ nào có lưỡi không nói hành,
Chẳng làm hại cho bạn hữu mình,
Người nào khinh dể kẻ gian ác,
Nhưng tôn trọng kẻ kính sợ Đức Giêhôva,
Kẻ nào thề nguyện, dẫn phải tổn hại
Cũng không đổi dời gì hết,
Người nào không cho vay tiền lấy lời,
Chẳng lãnh hối lộ đặng hại người vô tội,
Kẻ naò làm các điều ấy sẽ không hề rúng động.
Đavít đã học để trở nên một người trọn vẹn qua những cách Đức Chúa Trời đối xứ với ông trải nhiều năm tháng. Qua những hoàn cảnh nguy khốn của khoảng đầu đời sống của ông, ông đã tự kỷ luật chính mình để tin cậy Chúa và không giành lấy tương lai cho riêng mình. Một số Thi thiên đã phản ánh mong ước của Đavít xin Đức Chúa Trời xem xét lòng ông về những động cơ sai lầm hoặc những tội lỗi giấu kín.
“ Hỡi Đức Giêhôva, xin hãy đoán xét tôi theo sự công bình tôi, và theo sự thanh liêm ở nơi lòng tôi” (7:8).
“ Nguyện sự thanh liêm và sự ngay thẳng bảo hộ tôi. Vì tôi trông đợi Chúa” (25:21).
“ Song nhơn vì sự thanh liêm tôi. Chúa nâng đỡ tôi, lập tôi đứng vững ở trước mặt Chúa đời đời” (41:12).
Có lẽ phần Kinh Thánh làm sáng tỏ nhất cho sự trọn vẹn của Đavít là khúc Kinh Thánh do một người đương thời của Đavít là Asáp, người hướng dẫn ban hát, đã viết 78:70-72).
“ Ngài cũng chọn Đavít là tôi tớ Ngài, bắt người từ các chuồng chiên : Ngài đem người khỏi bên các chiên cho bú, đặng người chăn giữ Giacốp, là dân sự Ngài, và Ysơraên, là cơ nghiệp Ngài. Như vậy, người chăn giữ họ theo sự thanh liêm lòng người, và lấy sự khôn khéo tay mình mà dẫn dắt họ”.
Asáp đã biết trong thời điểm đó. Đavít đã loạng choạng và đã ngã vào tội lỗi, nhưng ông cũng biết và nhìn nhận rằng sự thành thật và trung thành với Đức Chúa Trời là thật lòng.
4. Hãy đọc 51:10-12. Là một người trọn vẹn Đavít đã :
a. Mong muốn điều gì nhất?
...............................................................................................................................
b. Sợ hãi điều gì nhất?
...............................................................................................................................
5. Hãy đọc IVua 1V 11:9-13. Điều gì bày tỏ ở đây nói lên rằng Salômôn đã không là một người trọn vẹn giống như cha của ông?
...............................................................................................................................
Một gương mẫu khác nổi bật về sự trọn vẹn trong thời Cựu Ước là Gióp. Gióp thường được mô tả là một khuôn mẫu cho sự chịu đựng trong nhẫn nại, nhưng chúng ta không nghe nói nhiều về sự trọn vẹn của ông, là điều được nhắc đến bốn lần trong sách Gióp. Thực ra, chính Đức Chúa Trời đã nhắc nhở cho Satan rằng Gióp là một người trọng vẹn mặc dù tất cả những sự khó khăn Satan đã bắt ông phải chịu (Giop G 2:3).
“ Đức Giêhôva lại phán hỏi Satan rằng : Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng? Trên đát chẳng có ai giống như người, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, lại người bền đỗ trong sự hoàn toàn mình, mặc dầu ngươi có giục ta phá hủy người vô cớ”.
Một thời gian ngắn ngay sau đó, vợ của Gióp đã nói với ông một câu căm phẫn rằng : “ Uûa ? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao?....... Hãy phí báng Đức Chúa Trời và chết đi !” (2:9). Điều gì đã thúc đẩy vợ Gióp nói điều bà đã nói là một sự kiện khiến cho những học giả Kinh Thánh phải suy cứu. Tuy nhiên, điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý đó là bà ta đã nhìn nhận sự trọn vẹn của Gióp vẫn tiếp tục ở dưới những nan đề căng thẳng. Người chồng đã có một thời khoẻ mạnh của bà, nay đang ngồi trong một đống tro và gãi mình bằng một miếng sành. Tuy vậy, ông ta vẫn giữ sự trung thành với Đức Chúa Trời và sự tin cậy nơi Ngài. Gióp đã không đổ lỗi cho Đức Chúa Trời về các nan đề của ông cũng không nhận lời bàn của các bạn ông rằng chính ông đã tự gây ra những khổ nạn cho mình. Ông đã không thể hiểu điều đang xảy đến cho mình, nhưng ông chấp nhận chịu khổ và tin cậy Đức Chúa Trời cuối cùng Ngài sẽ giải cứu ông.
6. Hai từ ngữ nào trong 2:3 chúng ta đã có thể dùng để mô tả một người lãnh đạo trọn vẹn?
...............................................................................................................................
NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO TRỌN VẸN
NÔ Ê : Công bình, trọn vẹn (SaSt 6:9)
MÔISE : Khiêm hòa, trung tín (Dan Ds 12:3, 7)
GIÔSUÊ : Trung thành, tôi tớ vâng phục của Đức
Chúa Trời (Gios Gs 24:14, 15)
ĐAVÍT : Một tấm lòng trong sạch, một thần linh ngay thẳng (Thi Tv 51:10)
GIÓP : Trọn vẹn, ngay thẳng (Giop G 2:3)

Chúng ta thấy một gương trọn vẹn khác Dan Ds 22:1-41 Balác, một vị vua cố gắng thuyết phục Balaam rủa sả dân Ysơraên, đã gởi những lời này đến cho Balaam : “ Ta sẽ tôn ngươi rất vinh hiển” ( câu 17). Balaam đáp lời rằng : “ Dầu Balác sẽ cho ta nhà người đầy vàng và bạc, ta cũng chẳng được vượt qua mạng của Giêhôva Đức Chúa Trời của ta, đặng làm một việc hoặc nhỏ hay lớn” ( câu 18). Tại thời điểm đó, Balaam đã hành động với sự trọn vẹn và bước đi trong ánh sáng mặc khải của Đức Chúa Trời.
Mục tiêu 4 : Tìm thấynhững điều mô tả sự trọn vẹn trong Tân ước và đánh giá sự trọn vẹn riêng của bạn dựa trên những gương mẫu của Tân ước.
Sự trọn vẹn trong Tân ước
Trong Tit Tt 2:7-8, Phaolô đã dùng lời hướng dẫn cho người giảng đạo trẻ tuổi trên đảo Cơrết :
“ Hãy lấy mình còn làm gương về việc lành cho họ, trong sự dạy dỗ phải cho thanh sạch, nghiêm trang, nói năng phải lời, không chỗ trách được, đặng kẻ nghịch hổ thẹn, không được nói xấu chúng ta điều chi”.
Một lần nữa chúng ta lại thấy chủ đề lãnh đạo xuất hiện ở đây về việc trở nên những gương mẫu tốt cho những kẻ chúng ta lãnh đạo. Chúng ta đã thường xuyên khám phá ra rằng đây là cách lãnh đạo mà Đức Chúa Trời mong muốn trong chúng ta. Chúng ta không chỉ nói với người khác về điều phải làm, hoặc ngay cả chỉ đường cho. Nhưng hơn thế nữa, chúng ta phải làm gương theo mẫu mực mà những thuộc cấp của chúng ta phải trở nên.
Trong thời Tân ước, các bậc thầy giáo phải viết những mẫu chữ cái trên đầu một bảng bằng sáp và các đứa trẻ sẽ bắt chước viết những mẫu tự ở cuối bảng. Đôi khi vị thầy giáo sẽ cầm tay đứa trẻ để hướng dẫn chúng viết theo các mẫu tự. Phaolô thực ra đã bảo Tít phải trở nên một gương mẫu cho các tín hữu bắt chước. Khi sống một đời sống làm vui lòng Chúa, Tít sẽ bảo đảm rằng mỗi
Các cơ Đốc nhân ngày nay đang tìm kiếm sự trung thực và kiên định trong các nhà lãnh đạo.
Cơ Đốc nhân trong Hội thánh của mình cũng sẽ thực thi một cuộc sống vâng phục.
Lời khuyên dành cho Tít là tiêu biểu cho điều Phaolô dạy cho những cá nhân và những nhóm nhỏ. Ông đã nói với Timôthê rằng ông đã có thể phụng sự Đức Chúa Trời với một lương tâm trong sạch (IITi 2Tm 1:3). Phaolô đã không biết gì về tội lỗi không xưng ra những hành động sai lầm, nhưng động cơ xấu hoặc nhưng việc làm lừa phỉnh trong đời sống hoặc chức vụ của ông. Ông đã chia xẻ với Hội Thánh Côrinhtô rằng ông không giốngn với nhiều giáo sư khác là những người “ buôn bán” Lời của Đức Chúa Trời vì cớ lợi riêng mình. Hơn thế nữa, Phaolô đã nói, “ nhưng chúng tôi lấy lòng chơn thật theo như đạo từ Đức Chúa Trời trong Đấng Christ” (IICo 2Cr 2:17).
Phaolô nhấn mạnh trong tất cả các lá thư của ông rằng Đức Chúa Trời hoàn toàn không thay đổi và đầy dẫy sự trọn lành. Bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời chơn thật nên Ngài gìn giữ lời của Ngài. Quy phục và trung thành với Ngài sẽ tự nhiên sản sinh ra thần linh và phẩm chất trọn vẹn trong mỗi kẻ tin. Phaolô mong muốn các Cơ Đốc nhân phải từ bỏ những hệ thống giá trị cũ ra đằng sau và khao khát sở hữu tất cả những phẩm chất mà Đức Chúa Trời phân phát cho dân sự Ngài.
Điều này đi ngược lại với một số nhà lãnh đạo có ý nói : “ Hãy làm như điều tôi nói, nhưng đừng làm theo điều tôi làm...” Các Cơ Đốc nhân ngày nay sẽ không chấp nhận một triết lý giả hình như vậy. Họ đang tìm kiếm sự trung thực và kiên định không thay đổi trong lời nói và việc làm của người lãnh đạo. Không còn phải thắc mắc gì, nhà lãnh đạo Cơ Đốc phải chứng tỏ trong đời sống của mình bằng chứng hiển nhiên về sự trọn vẹn : trung thực, tốt đẹp và vâng phục với Lời Đức Chúa Trời.
7. Hãy tìm các khúc Kinh Thánh sau đây và liệt kê các từ hoặc nhóm từ mô tả được một gương mẫu Cơ Đốc nhân trọn vẹn.
a. Phi Pl 2:15 ........................................................................................................
b. ITe1Tx 2:10 .............................................................................................
c. 5:23 .............................................................................................
d. IIPhi 2Pr 3:10 ..................................................................................................
8. Bạn có thể hầu việc Chúa với một lương tâm thanh sạch giống như Phaolô không? Hãy tự đánh giá mình trong tinh thần cầu nguyện theo những phương diện sau đây, và trả lời đúng hoặc không. Có phải sự trọn vẹn của bạn bị cản trở bởi :
a. Tội lỗi không xưng ra? ......................................................................................
b. Các hành động sai lầm ? ...................................................................................
c. Các động cơ sai lầm?..........................................................................................
d. Các việc làm lừa dối ? ......................................................................................
e. Gương mẫu nghèo nàn của mình? .....................................................................
Lãnh đạo với sự trọn vẹn
NHỮNG YÊU CẦU CỦA KINH THÁNH VỀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH
Giám mục
ITi1Tm 3:1-7
PHẢI :
- Không chỗ trách
- Là chồng của một vợ
- Có tiết độ
- Chừng mực
- Xứng đáng
- Hay tiếp khách
- Khéo dạy dỗ
- Mềm mại, hòa nhã.
- Có thể quản lý con cái mình
- Là một người có tiếng tốt
KHÔNG ĐƯỢC
- Say rượu
- Hung bạo
- Gây gỗ
- Ham tiền bạc
- Là người mới tin
Chấp sự
3:8-13
PHẢI :
- Đáng tôn trọng
- Thành thật
- Giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin
- Là một người có lương tâm thanh sạch
- Chịu thử thách
- Là chồng của một vợ
- Khéo cai trị con cái và nhà riêng mình
KHÔNG ĐƯỢC :
- Nghiện rượu
- Tham lợi phi nghĩa
Trưởng lão, Giám mục
Tit Tt 1:6-9
PHẢI :
- Không chỗ trách được
- Là chồng của một vợ
- Có con cái tin Chúa
- Hay tiếp đãi khách
- Yêu mến điều tốt
- Công bình
- Thánh sạch
- Tiết độ
- Kỹ luật
- Hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy
KHÔNG ĐƯỢC :
- Kiêu ngạo
- Giận dữ
- Ghiền rượu
- Hung tàn
- Tham lợi bất nghĩa

Mục tiêu 5 : Đánh giá được bạn đã làm đến đâu so với những đòi hỏi của Thánh Kinh về những nhà lãnh đạo Hội Thánh.

Chúng ta bắt đầu có thể hiểu rằng trở nên một người lãnh đạo trọn vẹn có nhiều thách thức hơn điều mwà ban đầu có lẽ chúng ta đã nghĩ, bởi vì nó đụng chạm đến mọi mặt của đời sống và chức vụ của chúng ta. Nó liên quan đến cuộc sống kiên định với lẽ thật Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho chúng ta. Nó đòi hỏi một sự hài hòa giữa lời nói và việc làm của chúng ta.
Hãy tự hỏi chính mình : Tôi có phải là một người lãnh đạo trọn vẹn không? Tôi có đang bước đi trong ánh sáng của lời Chúa không? Tôi có đang vô tư, không thiên vị trong các lối đối xử của tôi với các thuộc cấp không? Tôi có để cảm tình riêng đối với một số người và cho phép sự thỏa hiệp len lỏi vào những sự phán đoán của tôi không? Tôi có sẵn sàng chịu đứng khó khăn hơn là giải quyết để giảm nhẹ nhiều Lời Đức Chúa Trời đòi hỏi? Tôi có hứa hẹn với ta rằng “Tôi sẽ nhắn tin cho bạn” và rồi không làm gì cả? Tôi có rời bỏ một nơi ở mà không thanh toán các khoản nợ không? Đời sống của tôi có thành thật không?
Một người lãnh đạo hữu hiệu sẽ nhận ra rằng điều gì ở trong lòng và trong trí của mình sẽ phản ảnh ra trong hành vi lãnh đạo của mình. Người ấy sẽ cố gắng sống để đạt đến sự kêu gọi cao cả và thánh khiết của mình ngỏ hầu có một đời sống kiên định với Lời của Đức Chúa Trời và gương mẫu của Đấng Christ.
9. Nghiên cứu kỹ Hình 5.4 rồi đánh dấu X bên cạnh mỗi một sự yêu cầu nào cho những nhà lãnh đạo Hội thánh mà mô tả được chính bạn. Vẽ một vòng tròn quanh những yêu cầu nào bạn muốn phát huy trong nếp sống Cơ Đốc của mình. Hãy cầu nguyện về điều này.
Mục tiêu 6 : Chọn lựa những ví dụ về các loại tiêu chuẩn mà trên đó những tiêu chuẩn của một nhà lãnh đạo Cơ Đốc được xác định.
NHỮNG TIÊU CHUẨN CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Xác Định những tiêu chuẩn của chúng ta.
Chúng ta đã thấy rằng một trong những giá trị chủ chốt nhất dành cho những nhà lãnh đạo Cơ Đốc là sự trọn vẹn. Người lãnh đạo trọn vẹn là một người có những giá trị hoặc tiêu chuẩn không chỗ trách được và đóng góp vào sự toàn vẹn của thân thể Đấng Christ. Nhưng làm sao xác định được những giá trị hoặc những tiêu chuẩn này?
Từ ngữ Hy Lạp dịch ra thành chữ giá trị trong tiếng Việt có nghĩa là “ làm khác” hoặc “ có một giá cao”. Chúa Giêxu đã dùng từ ngữ này khi Ngài nói những kẻ nghe Ngài là có quí trọng đối với Đức Chúa Cha hơn là những con chim sẻ tầm thường (Mat Mt 6:26).
Những giá trị Cơ Đốc là những tiêu chuẩn mà dân sự của Đức Chúa Trời theo đó mà sống. Trong bản chất chúng thuộc về một giá trị cao hơn những tiêu chuẩn của người đời. Sự khác biệt ở đây là Cơ Đốc nhân không tự xây dựng những tiêu chuẩn riêng của họ - Chúng đã được xác định sẵn cho chúng ta, Ngài là giá trị cao cả nhất. Do đó Cơ Đốc nhân ấn định quá trị cho mọi sự trên nền tảng nó liên hệ với Đức Chúa Trời như thế nào. Chúa Giêxu đã tóm tắt cách chúng ta có thể hoàn thiện điều này một cách tốt nhất bằng lời tuyên phán : “ Trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài” (6:33).
Một người lãnh đạo Cơ Đốc đã gợi ý 3 phạm trù để thiết lập những tiêu chuẩn Cơ Đốc :
1. Những sự tuyệt đối thiên thượng : Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một số luật lệ đặc biệt dành cho đời sống ở trong lời Ngài, về những luật ấy chúng ta có thể nói : “ Vậy nên Đức Chúa Trời đã phán”. Ví dụ như Mười Điều Răn là những sự tuyệt đối thiên thượng đúng cho mọi thời đại và cho mọi nền văn hóa. Chúa Giêxu đã dạy nhiều điều về tình yêu, sự phục vụ, hôn nhân, các mối liên hệ và các hành vi Cơ Đốc. Những lẽ thật đặc biệt này là những sự tuyệt đối thiên thượng phải kể là tiêu chuẩn cho tất cả tín hữu.
2. Những tiêu chuẩn cộng đồng. Thân thể của Đấng Christ được hiệp thành do nhiều cộng đồng Hội thánh trên khắp thế giới. Các Hội thánh riêng lẻ phát huy những tiêu chuẩn riêng dành cho các thành viên của họ, dựa trên các giá trị văn hóa riêng và những điều họ hiểu được về Lời Chúa. Ví dụ như, trong một số cộng đồng Hội Thánh có tập quán những phụ nữ phải quấn một khăn trùm đầu đang khi dự buổi thờ phượng. Trong các cộng đồng khác, lại yêu cầu không được trùm đầu. Mỗi thành viên của một cộng đồng Hội thánh riêng có bổn phận tuân thủ những tiêu chuẩn của cộng đồng hầu cho họ sẽ không trở thành một hòn đá vấp chân cho những kẻ yếu đuối ( xem ICo1Cr 10:23-33).
3. Những điều tin quyết cá nhân : Đây là những tiêu chuẩn được xác định bởi lương tâm của chúng ta, là những điều Thánh Kinh không nói rõ. Ví dụ như, Tôi có thể cảm thấy rằng ý Chúa muốn tôi phải kiêng không xem truyền hình bởi vì nó cướp hết thì giờ quý báu của tôi. Hoặc có lẽ tôi tin rằng hầu hết các chương trình đều không đem lại ích lợi cho một Cơ Đốc Nhân để phải xem. Một nhà lãnh đạo Cơ Đốc khác có lẽ không có cùng một điều tin quyết như vậy bởi vì người đó có khả năng tiết chế trong những điều người ấy xem. Bởi vì điều này chỉ có liên quan đến niềm tin quyết cá nhân của tôi, tôi có thể sai lầm nếu bắt buộc người ấy phải áp dụng suy nghĩ của tôi.
10. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu đúng dựa vào những tiêu chuẩn của một nhà lãnh đạo Cơ Đốc.
a. Những tiêu chuẩn Cơ Đốc có giá trị cao hơn những tiêu chuẩn đời này bởi vì chúng dựa trên sự làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời.
b. Những tiêu chuẩn Cơ Đốc được xác định chủ yếu bởi lời của Đức Chúa Trời.
c. Những tiêu chuẩn Cơ Đốc có thể khác trong một số phương diện tùy theo nền văn hóa và cộng đồng Hội Thánh của một người.
d. Cơ Đốc nhân ấn định giá trị cho mọi sự tùy theo lương tâm của người ấy tỏ cho biết.
e. Mười điều răn không áp dụng cho các tín hữu ở thời Tân ước cho các Cơ Đốc nhân hôm nay.
f. Nếu cộng đồng Hội Thánh của tôi có những tiêu chuẩn mà tôi cho rằng rồ dại, tôi nên từ chối tuân theo những tiêu chuẩn đó.
11. Nối kết mỗi loại tiêu chuẩn với các ví dụ của chúng
...a. Hội thánh Calvary đòi hỏi mọi thành viên phải cử uống rượi và thuốc lá.
...b. Michael cảm thấy rằng anh ta không nên ăn tiệm trong ngày Chúa Nhật.
...c. Kinh Thánh dạy chúng ta không được tham muốn điều chi thuộc về kẻ lân cận của chúng ta.
...d. Robert kiên trì đọc Kinh Thánh và cầu nguyện ít nhất là hai giờ đồng hồ mỗi buổi sáng.
...e. Hội thánh đầu tiên đã sa thải người thủ kho bởi vì người ấy ăn trộm một số tiền của Hội thánh.
...f. Tất cả những thành viên Ca đoàn tại Nhà Thờ Đức tin đều được yêu cầu phải tuân thủ một luật lệ chung về y phục.
Người lãnh đạo phục vụ sẽ có một hệ thống giá trị thế nào giúp người ấy có thể trở nên không chỗ trách được trong cộng đồng, góp phần vào sự hoàn hảo trong thân thể của Đấng Christ và nhìn nhận những khác biệt văn hóa trong các tiêu chuẩn. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét mỗi một đề tài này.
Mục tiêu 7 : Giải thích sự thử nghiệm thật về các giá trị của một người lãnh đạo.
Trở Nên Không Chỗ Trách được.
Phaolô đã khuyên Timôthê chỉ định những người lãnh đạo trong vòng những người đã là những Cơ Đốc nhân trưởng thành và không chỗ trách được trong cộng đồng (ITi1Tm 3:2, 6, 7), Phaolô biết rõ rằng Satan sẽ sử dụng bất cứ sự yếu đuối nào trong một người lãnh đạo đầy tiềm năng để phá hoại hiệu quả và lời chứng của người lãnh đạo.
Nguy cơ đã được Hội thánh đầu tiên đối diện cũng chính là nguy cơ thiết thực cho ngày nay. Bởi vì bạn là một nhà lãnh đạo, ma quỉ sẽ thử nghiệm đời sống của bạn trong nhiều khía cạnh và thử thách đời sống bạn về những nhược điểm. Satan sẽ làm mọi sự trong uy quyền của nó để làm cho bạn mất tín nhiệm trong vai trò là một người lãnh đạo thuộc vương quốc của Đức Chúa Trời. Do đó chúng ta cần phải hết sức cẩn thận để thấy rằng những lời nói và hành động của chúng trong Hội thánh và cộng đồng của mình đều phải trung thực và sẽ đứng thẳng được trong sự tra xét của quần chúng. Nhiều nhà lãnh đạo đã đối diện với sự bối rối và xấu hổ bởi vì họ đã bị phơi bày bởi những việc xem là rất “ nhỏ nhặt” chẳng hạn như đòi chi phí lưu hành cho những lần thăm viếng của Mục sư mà họ chưa từng thực hiện.
Một cuộc điều tra đã thực hiện năm 1988 và tường thuật do Nhà Xuất bản Hiệp hội biết rằng mỗi tháng trong năm 1988 trung bình có 116 Nhà thờ thuộc 37.000 nhà thờ của các giáo phái Cơ Đốc chính đã buộc các Mục sư của họ phải từ chức. Việc thiếu sự thông tin giữa Mục sư và các nhà lãnh đạo Hội Thánh đã gây ra 13,4 % số các lần sa thải, và sự vô luân đã là nguyên nhân chủ yếu chiếm 12, 9% các trường hợp. Loại này bao gồm “ phạm tội tà dâm, đánh cắp hoặ quản lý không tốt tiền bạc của Hội Thánh, và các vấn đề thuộc sự trọn vẹn của cá nhân”. Các lý do khác bao gồm sự bày tỏ bất mãn, tranh chấp quyền lực và đụng chạm cá nhân. Rõ ràng là lời nói và việc làm của những Mục sư này đã không đứng vững để chấm dứt sự tra xét trong cộng đồng riêng của họ.
Tuy nhiên, thử nghiệm thực sự về những giá trị của một nhà lãnh đạo không chỉ được khám phá trong phạm vi con mắt xem chừng của Hội Thánh địa phương, sự thử nghiệm đó là người lãnh đạo ở một xứ sở xa xôi. Đó là khi chúng ta đi xa nhà và xa những người biết rằng chúng ta sống theo những giá trị thật của lòng mình. Tác giả Oswald Chambers đã viết : “ Giá trị của tôi đối với Đức Chúa Trời trong quần chúng ta điều mà tôi có ở chỗ riêng tư”. Giôsép ở Ai Cập đã chứng tỏ rằng mình có những giá trị thực sự của Thiên Thượng, và không phải là những giá trị thay đổi theo hoàn cảnh và cơ hội. Vì lý do này Phôtipha đã : “ cắt chàng hầu việc, đặt cai quản cửa nhà, và phó của cải của chính mình cho chàng hết” (SaSt 39:4). Cuộc đời của Giôsép đã không chỗ trách được và Đức Chúa Trời đã rất tôn quý ông bởi vì điều đó.
Ngay cả thế giới này cũng trông đợi những nhà lãnh đạo của họ phải không chỗ trách được. William Barclay có nhắc đến một tác giả ngoài đời thuộc về thế kỷ đều tiên đã mô tả về một người chỉ huy quân sự lý tưởng. Một con người như vậy phải biết tự chế không say rượu, thanh đạm, không tham tiền, nếu có thể, là cha của một gia đình, và có tiếng tốt. Nhiều thẩm quyền thế tục đã lập lại rằng những điều này là những phẩm chất đáng mong muốn đối với các nhà lãnh đạo ngày nay. Tướng Dwight D. Eisenhower đã nêu những yêu cầu sau đây về một người lãnh đạo:
Để làm một nhà lãnh đạo, một người phải có những thuộc hạ, và để có những thuộc hạ, một người phải được lòng tin tưởng của họ. Do đó, phẩm chất cao cả nhất cho một người lãnh đạo chắc chắn phải là sự trọn vẹn... Nếu các nhân viên của một người khám phá ra người ấy có sự giả dối, nếu họ biết được rằng người ấy thiếu sự thẳng thắn, trọn vẹn, người ấy sẽ thất bại. Vì vậy, điều cần thiết lớn lao trước hết là sự trọn vẹn và mục đích cao cả.
Nếu thế giới này tìm kiếm những nhà lãnh đạo có cuộc sống không chỗ trách được, thì những nhà lãnh đạo Cơ Đốc lại càng cần phải trổi hơn trong việc sống một cuộc đời vượt trên khả năng bị tội lỗi khuất phục ! Nếu bất cứ một lời buộc tội nào về sự thiếu phẩm hạnh đã được nêu lên nhắm về chúng ta là những người lãnh đạo Cơ đốc, tôi mong rằng một lời tố cáo như vậy sẽ rơi xuống đất vì thiếu bằng chứng.
Một lời cuối cùng để nhắc nhở. Chúng ta đừng khi nào bỏ qua tầm quan trọng của những chi tiết nhỏ. Hỏa tiển Venus đầu tiên của Hoa kỳ đã thiệt hại bởi vì lỗi của máy vi tính đã dùng một dấu chấm thay cho dấu phẩy ! Chương trình đã được viết là D031 = 1.3 thay vì D031 -1,3. Hậu quả này đã phóng hỏa tiển Venus với tốc độ tối đa về hướng những khu vực đông dân cư và nó đã phải bị phá hủy ngay giữa đường bay. Những lỗi lầm nhỏ của sự trọn vẹn cũng có thể trở thành nguy hại cho chức vụ một nhà lãnh đạo Cơ Đốc. Một nhà lãnh đạo Cơ Đốc nổi tiếng nhấn mạnh rằng một người lãnh đạo phải thận trọng. Ông nói : “ Từ những ngày đầu của chức vụ tôi, tôi đã không bao giờ dùng bữa riêng với một phụ nữ không phải là vợ mình, không ăn ngay cả trong một tiệm ăn. Tôi đã không bao giờ lái xe một mình với một phụ nữ”. Những thận trọng loại này giúp tránh được những sự hiểu lầm không cần thiết. Những nhà lãnh đạo phải không chỗ trách được bất cứ lúc nào.
12. Đâu là sự thủ nghiệm thật cho các giá trị của một nhà lãnh đạo?
...............................................................................................................................
13. Bạn mua một ổ bánh mì ở tiệm bánh. Sau khi rời tiệm, bạn khám phá ra nhân viên bán hàng đã thối tiền cho bạn quá nhiều tiền. Việc làm nào sau đây bạn có thể làm?
a. Đi trở lại và nói với chủ tiệm rằng nhân viên bán hàng thiếu cẩn thận.
b. Cứ giữ khoản tiền dư bởi vì đây không phải là lỗi của mình, nhân viên bán hàng là người có lỗi.
c. Mang khoản tiền dư trở lại cho nhân viên bán hàng và giải thích rằng người ấy đã nhầm lẫn.
14. Bạn là hành khách trên một chuyến bay và nhân viên chiêu đãi mời bạn một ly rượu miễn phí kèm theo bữa ăn. Bạn là một người lãnh đạo dạy những thuộc cấp không nên uống rượu. Bạn sẽ đáp ứng thế nào?
a. Bởi vì không ai trên máy bay biết bạn, đây là cơ hội của bạn để thử rượu, do đó bạn chấp nhận.
b. Khước từ lời mời và chọn một thức uống không có rượu.
c. Quở trách nhân viên chiêu đãi vì đã phục vụ rượu và cám dỗ người ta uống rượu.
Mục tiêu 8 : Giải thích những giá trị của một nhà lãnh đạo giúp đỡ người ấy hướng dẫn những thuộc hạ với những động cơ và tham vọng đúng như thế nào?
Góp phần vào sự hoàn hảo
Một lãnh vực sống động khác cần lưu tâm đó là những giá trị của người lãnh đạo góp phần tích cực cho phúc lợi của Hội Thánh. Trong Eph Ep 4:15-16, Phaolô dùng một sự tương đồng giữa thân thể con người và thân thể của Đấng Christ. Giống như thân thể một người tăng trưởng và trở thành mạnh mẽ khi mọi chi thể của nó đều làm việc với nhau một cách hài hòa,thì thân thể của Đấng Christ sẽ có thể hoạt động đúng đắn khi mỗi phần tử làm việc hòa hợp với những phần tử khác.
Người lãnh đạo có một vai trò chiến lược để hoạt động trong sự phát triển này của thân thể Đấng Christ. Nếu người ấy có một tham vọng cá nhân hoặc những động cơ thầm kính trong cách người ấy lãnh đạo thuộc cấp, thì cả thân thể sẽ phải chịu đựng. Ví dụ như người đó có thể quá mong muốn phát triển tầm cỡ của số thành viên Hội Thánh đến nỗi người ấy sẽ làm báp têm cho một số đông và không để ý gì đến việc giúp đỡ họ trưởng thành thuộc linh. Có lẽ người lãnh đạo làm điều này để tạo ấn tượng trên các Mục sư lân cận hoặc những người cấp trên trong giáo phái của mình. Đây là sự lãnh đạo thiếu trách nhiệm dựa trên một hệ thống giá trị thiếu sót, và sự lãnh đạo này không góp phần cho sự hoàn hảo của Hội Thánh. Hội thánh là một cơ cấu tổ chức sống động hiệp nhất trong Đấng Christ và có sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Người lãnh đạo cần phải rất nhạy bén để thấy mình phải lãnh đạo thế nào và góp phần cho lợi ích chung.
15. Để góp phần vào sự hoàn hảo của những thuộc cấp :
a. Những tham vọng và động cơ của nhà lãnh đạo Cơ Đốc cần phải thế nào?
...............................................................................................................................
b. Những giá trị của người lãnh đạo giúp người ấy hoàn thành được điều này như thế nào?
...............................................................................................................................
Mục tiêu 9 : Phân biệt những giá trị Kinh Thánh với những giá trị văn hóa.
Nhận Thức Những Khác Biệt Văn Hóa
Như chúng ta đã đề cập trước đây, đôi khi những giá trị của người lãnh đạo không giống với những thuộc hạ. Vì đây thường là trường hợp của một tổ chức xuyên văn hóa, nó đòi hỏi phải rất nhạy bén trong phần việc của người lãnh đạo. Có lẽ người ấy thấy rằng một số giá trị văn hóa khác với mình tuy nhiên có thể được chấp nhận là có giá trị : trong khi đó, một số khác có chiều hướng đi ngược lại với Kinh Thánh.
Giữa vòng những sự khác biệt về văn hóa có thể lwà về cách ăn mặc, cung cách thờ phượng của Hội Thánh, thói quen ăn uống, hoặc các phương pháp truyền thông. Một nhà lãnh đạo nhạy bén sẽ không cố gắng để áp đặt những giá trị văn hóa của riêng mình trên các thuộc hạ. Ngay cả nếu có nhu cầu phải thay đổi những giá trị không đúng với Kinh Thánh, người lãnh đạo cần phải cẩn thận hoạch định một sách lược cho sự thay đổi. Bằng một sự xâm nhập tối thiểu từ sự hiểu biết về văn hóa riêng của mình, nhà lãnh đạo phải giải thích các phần Kinh Thánh theo một cách thích hợp với văn hóa cho để cho những thuộc cấp của mình sẽ hiểu được lẽ cần phải thay đổi.
16. Giả sử bạn trở thành Mục sư của Hội Thánh ở một Quốc gia khác nơi mà các tập quán rất khác biệt với bạn. Điều nào sau đây bạn sẽ nhận là những điều không phù hợp với Kinh Thánh mà bạn phải cố gắng thay đổi?
a. Phụ nữ không được phép ngồi chung với các ông trong buổi thờ phượng.
b. Không có dịp tiện để các tín hữu dâng phần mười và các của dâng khác nhằm hỗ trợ cho Hội thánh.
c. Hầu hết mọi người trong Hội chúng tin rằng ăn thịt là sai lầm.
d. Tiệc thánh được tổ chức một lần mỗi tháng trong thì giờ thờ phượng buổi sáng.
c. Các tín hữu áp dụng mạng lệnh của Chúa Giêxu theo nguyên văn để ban cho bất cứ ai xin họ và đối với những người cần mượn thì cho mượn (Mat Mt 5:42).
f. Các tín hữu giải thích mạng lệnh của Chúa Giêxu trong
5:42 như là một nguyên tắc tổng quát cho sự rộng rãi hơn là một mạng lệnh theo từng từ ngữ.
g. Các tín hữu tin rằng họ có quyền sử dụng tài sản của bạn bất cứ khi nào họ cần.
h. Hội chúng tin rằng mời ăn trong nhà thờ là điều sai lầm.
I. Các chấp sự muốn hủy bỏ giờ thờ phượng buổi chiều Chúa Nhật bất cứ khi nào có một trận bóng đá trong thành phố.
j. Phụ nữ không bị đòi hỏi phải đội khăn trùm đầu trong giờ nhóm.
k. Các chấp sự được cho phép ly dị và tái hôn.
Mục tiêu 10 : Nhận ra những câu nói giải thích đúng cho những trách nhiệm của Hội thánh về việc đáp ứng các nhu cầu xã hội của Hội chúng.
NHỮNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Trong nhiều năm, đã có những khác biệt lớn lao về ý kiến giữa các Cơ Đốc nhân trên câu hỏi : Các Hội thánh cần phải dự phần như thế nào trong các vấn đề xã hội? Đây là những vấn đề chẳng hạn như sự cứu trợ cho cảnh nghèo khó, bệnh tật và thiên tai, hoặc cuộc chiến chống lại những điều như việc nạo thai, phân biệt chủng tộc và sự áp bức về chính trị. Ngày nay chúng còn bao gồm cả những công tác phục vụ cho những người không có nhà ở, người nghiện rượu, những nạn nhân của sự lạm dụng trẻ con, nghiện xì ke, và những người có nhiều loại nhu cầu khác. Nhiều nhà lãnh đạo đã không để ý đến những vấn đề thực tế của xã hội và kể việc truyền giáo với sự tăng trưởng của Hội Thánh làm những vấn đề ưu tiên của mình. Một số khác thì xem nhẹ việc truyền giáo và tập trung vào công tác xã hội. Điều mỉa mai ở đây là mỗi nhóm đều lên án nhóm kia là không theo đúng tinh thần Thánh Kinh !
Trong việc truyền giáo là trách nhiệm ưu tiên, Hội thánh cũng phải được huấn luyện để phục vụ cho những nhu cầu thực tế của con người.
Cũng như với nhiều vấn đề thần học, chân lý là điều quân bằng ở giữa hai thái cực. Trong thập kỷ trước đã có thêm sự nhất trí rộng rãi, và có nhiều cuộc đối thoại tốt đẹp về đề tàinhững vấn đề xã hội. Chắc chắn là chúng ta đã được gọi để giảng Phúc âm cho mỗii một cá nhân và khiến cho các thành viên Hội Thánh có trách nhiệm về họ; tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng đòi hỏi các nhà lãnh đạo hướng dẫn các Hội Thánh của họ vào việc đáp ứng các nhu cầu thực tế của dân chúng. Đây không phải là vấn đề hoạt động xã hội hay truyền giáo, nhưng đúng hơn đây là một mối liên hệ bổ túc giữa hai khía cạnh. Hãy nhớ điều Giacơ đã nói : “ Đức tin không có việc làm thì .. chết” (Gia Gc 2:26).
Ý kiến riêng của tôi ở đây là : việc truyền giáo là trách nhiệm ưu tiên, nhưng Hội thánh cũng phải được huấn luyện để phục vụ cho những nhu cầu thực tế của con người. Có một bằng chứng hiển nhiên để hỗ trợ cho lý thuyết này đó là nếu việc truyền giáo là ưu tiên, một tỷ lệ cao ( hơn) của công tác xã hội là công việc ưu tiên.
17. Điều nào sau đây có lẽ sẽ đem lại những kết quả tốt nhất?
a. Để tất cả thì giờ và nỗ lực của bạn vào việc truyền giáo.
b. Tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu xã hội của dân chúng như là một đường lối trình bày phúc âm cho họ.
c. Nhấn mạnh việc truyền giáo mà không bỏ quên sự phục vụ cho các nhu cầu xã hội của dân chúng.
Có hai điều lý lẽ đanh thép nhằm chứng minh rằng người lãnh đạo có một trách nhiệm Chúa giao liên quan với chức vụ xã hội cũng như việc truyền giáo.Hai lý cớ này là : 1. chứng cứ trong Kinh Thánh và 2. bài học từ lịch sử chúng ta sẽ lần lượt khảo sát mỗi lý lẽ này.
Chứng cứ trong Kinh Thánh
Thần học Kinh Thánh đề cập đến chức vụ phục vụ về mặt xã hội dựa trên sự kiện bởi vì con người là tạo vật mang hình ảnh của Đức Chúa Trời cho nên con người có một vai trò độc đáo để hoạt động theo trật tự đã được sáng tạo. Con người đã được ban cho quyền năng thống trị trên thiên nhiên và có bổn phận phải hành động như là đại diện của Đức Chúa Trời trên trần gian này. Các tín hữu phải làm trọn mục đích của Đức Chúa Trời và hoàn thành ý chỉ của Ngài trong chức vụ hầu việc Chúa đối với thế giới này.
Nhiều khám phá Kinh Thánh trong Cựu Ước bày tỏ rằng Đức Chúa Trời đứng về phía kẻ nghèo. Chúng ta phải nói rằng Đức Chúa Trời đồng nhất hóa với kẻ nghèo và đứng về phía họ. Có lẽ vì lý do này người giàu đã được xem là do Đức Giêhôva đặc biệt ban phước nếu người đó đã giúp đỡ cho kẻ nghèo. Lưu tâm đến người nghèo là một chủ đề được đề cập rộng rãi trong Cựu Ước - nói vận hành qua Luật Pháp Chúa, qua những án văn khôn ngoan và được các tiên tri diễn thuyết mạnh mẽ. Tiên tri Eâsai đã ghi lại bảng cáo trạng của Đức Chúa Trời về sự thờ phượng giả dối và sự kiêng ăn chỉ câu nệ hình thức trong EsIs 5:58, là điều nói lên Đức Chúa Trời lưu tâm đến sự thờ phượng thật phải như thế nào
SỰ THỜ PHƯỢNG THẬT ( SỰ KIÊNG ĂN)
Eâsai 58
BAO GỒM :
- bẻ những xiềng hung ác,
- mở những trói của ách;
- thà cho kẻ bị ức hiếp được tự do;
- bẻ gãy mọi ách;
- chia bánh cho kẻ đói;
- cung cấp nơi trú ẩn và đồ mặc cho người cần;
- chớ hề trớ trinh những kẻ cốt nhục mình;
- làm thỏa mãn những nhu cầu của kẻ bị ức hiếp;
KHI ẤY :
- Aùnh sáng sẽ thay thế cho sự tối tăm của bạn
- Đức Giêhôva sẽ dẫn dắt bạn
- Ngài sẽ làm thỏa các nhu cầu của bạn
- Đức Giêhôva sẽ làm cứng mạnh các xương của bạn
VÀ BẠN SẼ TRỞ THÀNH
- người xây dựng lại những nơi đổ nát ngày xưa
- KẺ TU BỔ sự hư hoại
- KẺ SỬA LẠI đường đi cho người ở.
BẤY GIỜ BẠN SẼ LẤY ĐỨC GIÊHÔVA LÀM VUI THÍCH
18. EsIs 58:1-14 dạy chúng ta bài học nào về cách chúng ta cần phải đối xử với những kẻ kém may mắn hơn chúng ta?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Thật đáng cho chúng ta suy nghĩ khi Đức Chúa Giêxu đã chọn người nghèo - Ngài đã không có mái che và giường nằm ngủ trong trọn chức vụ của mình. Điều này đã đem lại cho sự dạy dỗ của Ngài có một đánh giá đúng đắn độc đáo về người nghèo. Khi một người đọc : “ Phước cho những kẻ có lòng khó khăn..... Những kẻ than khóc .... những kẻ nhu mì” (Mat Mt 5:3-5). Những từ ngữ có một năng lực sống động bởi vì chúng đến từ một người đã thực sự nghèo đã than khóc, và đã là người nhu mì.
Thực ra, Chúa Giêxu đã hiệp nhất chính Ngài với thứ tự của xã hội. Ngài đã là một phần của Văn hóa Do Thái đương thời, Ngài sống và tự do di chuyển trong đó. Những tập quán của Ngài là những tập quán bình thường trong văn hóa của Ngài. Ngài làm bạn với mọi tầng lớp, dự phần trong đời sống xã hội với dân chúng, và rất hiển nhiên là Ngài cũng đã hậu thuẩn cho chính quyền. Ngài đã lưu tâm đến những nhu cầu căn bản của con người về thực phẩm, nơi trú thân, và về quần áo. Ngài đã chữa lành người đau và người bị tà ma ám cũng như nuôi cho kẻ đói được ăn.
Hội thánh đầu tiên đã noi theo gương của Ngài từ đầu và đã có một cuộc cách mạng trong thái độ của Hội Thánh đối với người nghèo. Người ta đã được khích lệ để sống chờ đợi lần trở lại thứ hai của Đấng Christ và để dùng tài sản của mình và các nguồn tài lực của mình một cách miễn phí để giảm bớt sự nghèo khổ bất cứ khi nào họ gặp. Cộng đồng Hội thánh không còn tập trung vào nhu cầu riêng của mình nữa. Nói đúng hơn, Hội thánh tìm cách làm theo khuôn mẫu của Đấng đã chịu thương khó và sống lại. Cộng đồng Hội thánh đã người dọn đường cho trật tự sẽ đến của Chúa, là tiền đồ đến trước của vương quốc Chúa trên đất.
Những sự kiện này nhằm chỉ về kiểu mẫu xã hội, chính trị và văn hóa của trách nhiệm Cơ đốc. Hội thánh không thể trốn chạy những trách nhiệm xã hội của mình. Hội thánh không thuộc về thế gian, nhưng Hội thánh đang sinh hoạt trong thế gian này cho đến khi Đấng Christ trở lại.
Những nhà lãnh đạo Cơ Đốc có một trách nhiệm hai mặt : 1) Phải trung thành với mạng lệnh của Đấng Christ để tuyên bố Phúc âm và môn đệ hóa những người sẽ trở thành những thành viên chịu trách nhiệm trong thân thể Đấng Christ, và 2) Hướng dẫn thân thể Đấng Christ vào chỗ đáp ứng được những nhu cầu xã hội của mọi người. Theo cách này, Hội thánh phục vụ cho nhu cầu của một con người toàn diện về mặt tâm linh lẫn về mặt thể chất. Đây là sự bày tỏ thực tế về tác dụng của muối và ánh sáng cho trần gian (Mat Mt 5:13-15).
19. Hãy phát biểu một vài phương cách cụ thể mà bạn là một nhà lãnh đạo sẽ giúp Hội Thánh để phục vụ cho :
a. Những con người có nhu cầu thuộc linh :
...............................................................................................................................
b. Những con người có nhu cầu thuộc thể, nhu cầu xã hội :
...............................................................................................................................
Bài học từ Lịch sử
Thật không đủ chỗ để cho phép chúng ta có thể khảo sát sự đóng góp lớn lao mà Cơ Đốc giáo đã đem lại cho những nhu cầu xã hội của thế giới này. Thực tế là Cơ Đốc nhân trên mỗi quốc gia đã và đang làm việc trong nhiều lãnh vực để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của xã hội mình. Chúng ta sẽ giới hạn việc nghiên cứu của chúng ta vào một quan sát sơ lược về Anh Quốc trong thế kỷ thứ 18 và 19 để có một cái nhìn về ảnh hưởng sống động các Cơ Đốc nhân đã có trong khoảng thời gian này.
Earle Cairns, một sử gia của Hội thánh cải chánh đã quan sát thấy cuộc cải cách xã hội tại Anh Quốc đã không chỉ còn lại cho các công nhân xã hội chuyên nghiệp hoặc cho các cá nhân những nhà vận động. Các công việc như thế đã được xem là một sự kêu gọi Cơ Đốc bởi những chính khách, và những con người như Wilberforce, Sheftesbury đã dấn thân vào nhiệm vụ thay đổi thế giới của họ. Họ đã được ủng hộ bởi đông đảo những người có đạo, là những người chia xẻ niềm tin quyết rằng họ có một sự uỷ thác của Cơ Đốc giáo để hỗ trợ cho sứ điệp Phúc âm bằng một chức vụ thực tế trong danh của Cứu Chúa Giêxu.
Những Cơ Đốc nhân như thế đã cho rằng điều chúng ta đã có thể nói là một quan điểm toàn diện ( holistic) về sự cứu rỗi. Họ đã không phân chia thân tốt hơn cho người lao động và tiền lương trả công nhân cao hơn. Kết quả của nỗ lực này, một số luật mới được thông qua đã giảm bớt giờ lao động mà người công nhân phải làm và điều chỉnh việc thuê mướn phụ nữ cũng như trẻ con.
Những điều cải thiện này trong có giá trị cuộc sống ở Anh Quốc đã được diễn ra bởi vì mọi người đều đã thấy trách nhiệm của họ không chỉ đối với Đức Chúa Trời nhưng cũng còn đối với đồng loại của mình nữa. Xa hơn nữa, các cuộc cải cách của họ đã lan tràn ra các quốc gia khác và ảnh hưởng trong việc chấm dứt những sự lạm dụng ở Đan Mạch, Thụy Điển, Hòa Lan và các nơi khác - Những đổi thay về xã hội tương tự cũng đã được thực hiện ở Hoa Kỳ.
Nhiều tổ chức Hội Thánh và cá nhân con cái Chúa đã tạo ra một ảnh hưởng trên thế giới hiện đại qua việc cống hiến không mệt mỏi về thì giờ và của cải để phục vụ cho những nhu cầu xã hội. Những con người như mẹ Teresa và Mark Buntain ở Aán Độ, Albert Schweitzer ở châu Phi và Lillian Trasher ở Ai Cập đã đem lại những cống hiến lớn lao trong thế kỷ này cho những người không nhà, những người bệnh tật, và những người nghèo khó. Qua những chức vụ này nhiều người đã tìm thấy Chúa Cứu Thế Giêxu là Đấng Cứu chuộc cho cá nhân họ. Hội Thánh không được bỏ qua trách nhiệm của mình để đáp ứng cho đồng loại ở nơi họ cần nhất, không cứ là nhu cầu thuộc linh hay thuộc thể.
Một cuộc khảo cứu năm 1988 đã được thực hiệnbởi tổ chức Gallup về 294.000 cộng đồng tôn giáo tại Hiệp chủng Quốc. Nó đã cho thấy rằng các Hội thánh đã cống hiến 46% trong lợi tức của Hội thánh họ hàng năm cho các dịch vụ xã hội trong nước cũng như ở hải ngoại. Thêm vào đó các thành viên trong Hội Thánh đang góp hàng triệu giờ mỗi năm làm những người tình nguyện không lương để đáp ứng cho các nhu cầu xã hội trong cộng đồng của họ. Một phóng viên đã bình luận : “ Những hội chúng tôn giáo này đang thực hiện điều họ giảng dạy”.
Thế giới ở thế kỷ 20 này tiếp tục có những nhu cầu khổng lồ. Hàng triệu người đã bị bóc lột, bị áp bức, không nhà ở, không việc làm và nghèo khổ. Họ đang chờ đợi Hội Thánh đến với họ trong danh của Chúa Cứu Thế Giêxu. Ngài không có những bàn tay, những bàn chân ngoại trừ những điều chúng ta có. Bạn sẽ nhận lấy thách thức và khuyến khích những thuộc cấp của mình và tiếp tục nhân rộng chức vụ mà Ngài đã bắt đầu đương thời Ngài sống trên đất chăng? Hệ thống giá trị của bạn có bao gồm lòng thương xót và một ý thức trách nhiệm về những con người đang có nhu cầu không? Là một người lãnh đạo phục vụ bạn có truyền ý thức trách nhiệm này cho những người được bạn lãnh đạo không?
20. Những vấn đề xã hội nào sau đây bạn đã có dự phần cách cá nhân với mục đích đáp ứng cho nhu cầu của dân chúng?
a. Cứu trợ cho người nghèo đói, người bị đàn áp.
b. Chống lại bệnh tật và việc nào phá thai.
c. Giảm nhẹ hậu quả tai nạn.
d. Tích cực phản đối việc lạm dụng thuốc lá, xì ke và rượu.
e. Phục vụ thực tế cho những người không nhà ở, người tật nguyền, những nạn nhân của sự ngược đãi, hoặc các tù nhân.
f. Chống lại sự phân biệt đối xử về chủng tộc hoặc chính trị.
g. Điều nào khác ...................................................................................................
Chúa Giêxu đã cho các môn đệ của Ngài có một cái nhìn về Nước Trời trong ngụ ngôn về chiên và dê (Mat Mt 25:31-46). Sự áp dụng rất rõ ràng đối với chúng ta, và đây cũng là một kết luận xứng hợp cho bài học này.
“Bấy giờ vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng : Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói các ngươi đã cho ta ăn, ta khát các ngươi đã cho ta uống ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta, ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta, ta đau, các ngươi thăm ta, ta bị tù, các ngươi viếng ta.
Khi ấy người công bình sẽ thưa rằng : Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn, hoặc khát mà cho uống? Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà mặc cho? Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù mà đi thăm viếng Chúa? Vua sẽ trả lời rằng : Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.
Kế đó Ngài sẽ phán cùng những người ở bên rằng : Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó. Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn, ta khát, các ngươi không cho uống, ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước, ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta, ta đau và bị tù các người không thăm viếng.
Đến phiên các người này bèn thưa lại rằng : Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư.
Ngài sẽ đáp lại rằng :Quả thật ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa”.
21. Những câu nào sau đây là các câu đề cập ĐÚNG đến những trách nhiệm của Hội thánh nhằm đáp ứng những nhu cầu xã của con người? Khoanh tròn mẫu tự đúng trước các câu nào bạn chọn.
a. Hội ithánh cần phải tập trung vào việc truyền giáo cho mọi người và để cho chính quyền chăm sóc các nhu cầu về xã hội.
b. Việc truyền giáo và việc đáp ứng với những nhu cầu xã hội có một mối tương quan bổ sung cho nên Hội Thánh không thể bỏ qua, không chú ý đến.
c. Nếu công tác xã hội là ưu tiên một của Hội thánh có lẽ nó sẽ đem lại thành công trong việc truyền giáo lớn hơn là khi việc truyền giáo được kể là ưu tiên một.
d. Trong khi công tác truyền giáo và công tác xã hội đều là những hoạt động quan trọng của Hội thánh việc truyền giáo đứng vào hành ưu tiên một.
e. Bởi vì các tín hữu là những đại biểu của Đức Chúa Trời trong thế gian này, việc thờ phượng của họ sẽ không hoàn tất nếu họ bỏ qua những nhu cầu xã hội của con người.
f. Các phần ghi chép trong Thánh Kinh hậu thuẫn cho việc tham dự tích cực của các Cơ Đốc nhân vào các công tác phục vụ xã hội.
g. Làm muối và ánh sáng cho thế gian chỉ áp dụng về mặt thuộc linh chứ không liên quan đến thực tế.
h. Một quan điểm đầy đủ về sự cứu rỗi có liên quan đến nhu cầu thuộc linh của con người và xem những nhu cầu vật chất là không quan trọng.
I. Đáp ứng những nhu cầu xã hội có nghĩa là chúng ta cần phải cống hiến thì giờ cũng như tiền bạc của chúng ta.
j. Phục vụ cho những nhu cầu của con người, bất kể những nhu cầu đó là gì, là một chức vụ Đức Chúa Trời. Đây là một nguyên tắc Thánh Kinh của cả Cựu Ước lẫn Tân ước.

Bài kiểm tra
CÂU ĐÚNG SAI. Hãy viết chữ Đ vào khoảng trống đứng trước mỗi câu ĐÚNG. Viết chữ S nếu câu đó SAI.
....1. Sự trọn vẹn trong một con người được bày tỏ hiển nhiên bằng những đức tính chẳng hạn như ngay thẳng về đạo đức, đáng tin cậy và trong sạch.
....2. Sự trọn vẹn mô tả về công việc của một người hơn là nhắc đến lời nói của người ấy.
....3. Sự trọn vẹn của một người được xác định bởi cuộc sống riêng tư cũng như cuộc sống trước mắt công chúng của người đó.
....4. Đavít, Salômôn và Gióp đều được mô tả trong bài học này là những người rất trọn vẹn suốt cả cuộc đời của họ.
....5. Đavít được mô tả là một người bước đi với một lòng yêu mến luật pháp Chúa không thay đổi và một mục đích duy nhất vì ý chỉ của Ngài.
....6. Một nhà lãnh đạo có thể học tập để trở thành một con người trọn vẹn.
....7. Cách tốt nhất để truyền thụ sự trọn vẹn cho những thuộc cấp đó là người lãnh đạo phải trở nên một gương mẫu trọn vẹn.
....8. Phaolô bày tỏ rằng ông đã có thể phục sự Đức Chúa Trời với một lương tâm thanh sạch.
....9. Phaolô thú nhận rằng đôi khi ông đã có những tội không xưng ra, đã có những hành động sai lầm hoặc những động cơ xấu trong vai trò lãnh đạo của ông.
....10. Những sự đòi hỏi của Thánh Kinh về những nhà lãnh đạo Hội Thánh nhấn mạnh rằng những nhà lãnh đạo Cơ Đốc phải có sự trọn vẹn và làm gương mẫu trọn vẹn.
....11. Những tiêu chuẩn Cơ Đốc tự trong bản chất có một giá trị cao hơn những tiêu chuẩn của trần gian.
....12. Các tiêu chuẩn thuộc loại những sự tuyệt đối thiên thượng là những luật lệ về cách cư xử của Kinh Thánh, là những điều luôn luôn đúng trong mọi thời đại và mọi nền văn hóa.
....13. Những tiêu chuẩn cộng đồng là những hành vi mà một người có thể chọn tùy theo lương tâm riêng của mình.
....14. Mười điều răn của Chúa là ví dụ về những sự tuyệt đối thiên thượng.
....15. Sự thử nghiệm thật về giá trị của một nhà lãnh đạo là cách người ấy xử sự khi người ta đang để ý xem xét.
....16. Không chỗ trách được có nghĩa là bạn phải có những tiêu chuẩn cao như thế nào để có thể vượt qua mọi sự thử nghiệm khi quần chúng xem xét.
....17. Khi những giá trị của một nhà lãnh đạo không giống với thuộc cấp của mình, trách nhiệm của những thuộc cấp đó là phải thay đổi những giá trị của họ, để cho có sự hài hòa.
....18. Bởi vì một số giá trị được dựa trên những sự khác biệt về văn hóa, người lãnh đạo khôn ngoan, sẽ không cố gắng để thay đổi những giá trị này trừ khi chúng không phù hợp với Kinh Thanh.
....19. Nhiệm vụ của Hội thánh đó là phải chăm sóc những nhu cầu thuộc linh của con người và để cho xã hội chăm sóc những nhu cầu thuộc thể của họ.
....20. Cả Cựu Ước lẫn Tân ước đều dạy rằng dân sự Đức Chúa Trời có một trách nhiệm phải phục vụ cho những nhu cầu xã hội của con người.
....21. Trong khi trách nhiệm chủ yếu của Hội Thánh là truyền giảng Phúc âm và môn đệ hóa, Hội thánh cũng có một trách nhiệm thực tiễn phải giúp đỡ những người có nhu cầu thuộc thể.
....22. Chúa Giêxu đã chứng tỏ rằng cho kẻ đói thức ăn và cho kẻ nghèo đồ mặc đã thực sự là chức vụ hầu việc Chúa.

PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1. Người ấy “thực hành điều mình giảng dạy”. Người ấy không nói một đàng mà làm một nẻo. Điều người ấy nói được củng cố bởi điều người ấy làm.
2.b. Liêm khiết và ngay thẳng trong mọi hoàn cảnh
3. Câu trả lời của bạn có bày tỏ một nhu cầu về sự trọn vẹn hơn không? Hãy cầu nguyện về những điều bạn cần phải thay đổi.
4. a. Một tấm lòng trong sạch, một thần linh ngay thẳng.
b. Bị từ bỏ khỏi sự hiện diện của Chúa hoặc bị cất khỏi ông Thánh Linh Chúa.
5. Lòng của ông đã xoay khỏi Đức Giêhôva; ông đã không giữ giao ước và luật lệ của Ngài.
6 Trọn vẹn và ngay thẳng.
7.a. Không chỗ trách được, trong sạch, không tì vết
8. Câu trả lời của bạn. Đây là những sự yếu đuối nghiêm trọng trong một nhà lãnh đạo, và tôi hy vọng rằng bạn có thể trả lời không cho tất cả các câu này.
9. Như bạn có thể thấy, chúng ta không thể bàn về sự trọn vẹn trong sự lãnh đạo mà không có một sự khảo sát kỹ hơn về những phẩm chất lãnh đạo riêng của chúng ta. Tôi hy vọng rằng những bài tập này giúp đỡ được nhiều cho bạn.
10. Các câu trả lời a,b và c là những câu đúng.
11. Những câu trả lời này được gợi ý
a.2. Những tiêu chuẩn cộng đồng
b.3. Những điều tin quyết cá nhân
c.1. Những tuyệt đối thiên thượng
d.3. Những điều tin quyết cá nhân
e.1. Những tuyệt đối thiên thượng
f.2. Những tiêu chuẩn cộng đồng
12. Cách người ấy cư xử khi xa nhà, khi không có ai trông thấy.
13. Hy vọng rằng câu trả lời của bạn sẽ là c. Hoàn trả số tiền thối dư lại.
14. Hy vọng rằng câu trả lời của bạn sẽ là : b. Khước từ lời mời.
b. Thánh sạch,công bình, không chỗ trách được.
c. Trọn vẹn tâm thần, linh hồn, và thân thể đều không chỗ trách được.
d. Không dấu vết, chẳng chỗ trách được
15. a. Lãnh đạo các thuộc cấp đến chỗ trưởng thành như những chi thể của thân thể Đấng Christ.
b. Nếu người ấy có những giá trị của Chúa Cứu Thế Giêxu sẽ trở thành một gương mẫu đúng đắn cho những thuộc cấp noi theo.
16. Câu trả lời của bạn. Có lẽ các câu trả lời b,i và k sẽ cần phải thay đổi vì chúng rõ ràng là những việc là không phù hợp với Kinh Thánh, nếu bạn là người lãnh đạo không đồng ý với những việc làm nào khác trong bảng liệt kê này, có lẽ bạn sẽ nhận ra chúng là những khác biệt về văn hóa và cần phải rất cẩn trọng khi muốn thay đổi.
17.c. Nhấn mạnh việc truyền giáo mà không bỏ qua sự phục vụ cho những nhu cầu xã hội của con người.
18. Chúng ta nên dùng chính mình để giúp đỡ họ; đây là cách duy nhất làm rạng danh Chúa.
19. Câu trả lời của bạn
20. Câu trả lời của bạn Bạn có cần phải# làm thêm nhiều hơn nữa về vấn đề nào trong số những lãnh vực này không?
21. Các câu trả lời b,d, e,f i và j là những câu đúng.
NHỮNG ĐIỀU ƯU TIÊN CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO PHỤC VỤ
Bạn đã có bao giờ nghe nói về “ Tiêu tan tàn lực ý chí, nhuệ khí”? Ngay cả những người lãnh đạo Cơ Đốc đôi khi cũng phải chịu sự cùng kiệt về thể xác, cảm tình lẫn về tâm linh nữa. Một số bị buộc phải có một khoảng thời gian nghĩ dưỡng để được bình phục khỏi những căng thẳng của chức vụ. Một số ít không bao giờ hồi phục và phải rút lui vĩnh viễn khỏi công tác phục vụ Cơ Đốc.
Không cần phải thắc mắc về điều đó - vì làm một nhà lãnh đạo Cơ Đốc thường có rất nhiều đòi hỏi đối với một con người. Có một sự căng thẳng trong việc liên tục phải cung cấp những bài giảng tươi mới, những bài học Kinh Thánh và những sáng kiến mới cho những thuộc cấp, có những căng thẳng trong giải quyết những mối xung đột giữa vòng thuộc cấp và giữ sự hiệp một trong nhóm. Nhiều sự căng thẳng và dồn nén như vậy có thể tránh được do những nhà lãnh đạo biết duy trì những điều ưu tiên đúng đắn, bao gồm một chương trình luyện tập về tinh thần, cơ thể, và tâm linh.
Trong bài học này chúng ta sẽ xem xét những điều ưu tiên của một người lãnh đạo phục vụ. Trong một ý nghĩa thực dụng, chúng bao gồm gia đình, việc quản lý về thì giờ và tiền bạc của người đó. Để dành cho sự sống động thuộc linh. Lời của Đức Chúa Trời, những thói quen học tập tốt và một đời sống cầu nguyện bền đỗ là những điều rất cần thiết.
Có rất ít đức tính bị “ thiêu rụi vì cớ Đức Chúa Trời”. Sau một vài năm phục vụ. Bạn sẽ khám phá trong bài học này cách để có một chức vụ lâu dài, hạnh phúc và đầy kết quả khi làm một nhà lãnh đạo phục vụ.
Dàn bài
Người lãnh đạo và Gia đình của mình
Người lãnh đạo và Sự quản lý của mình
Người lãnh đạo và Lời Chúa
Người Lãnh đạo và sự học tập của người ấy
Người lãnh đạo và Sự cầu nguyện .
Các mục tiêu học tập
Khi hoàn tất bài học này, bạn sẽ có thể
Bàn luận về tầm quan trọng của một đời sống cầu nguyện hữu hiệu, của Lời Đức Chúa Trời và sự nghiên cứu bền bĩ đối với một nhà lãnh đạo Cơ Đốc.
Đánh giá được sự quản lý của bạn và những ảnh hưởng chức vụ trên cuộc sống gia đình của bạn.
Thiết lập những điều ưu tiên có thể giúp bạn duy trì sự sống động thuộc linh của mình và của gia đình mình.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo diễn trình thường lệ. Trả lời tất cả những câu hỏi nghiên cứu và đọc tất cả những khúc Kinh Thánh được bàn đến trong bài học.
Oân lại các bài học 4 -6 để chuẩn bị cho việc đánh giá tiến bộ theo đơn vị của bạn. Hãy đọc lời chỉ dẫn trong tập học viện; và rồi lật sang phần đánh giá tiến bộ theo đơn vị 2 và tháo rời tờ giấy trả lời. Hãy tuân theo những lời chỉ dẫn để điền vào bảng trả lời, và rồi nộp tờ trả lời cho nhân viên hướng dẫn ICI là người sẽ kiểm tra các câu trả lời của bạn và sẽ cho bạn biết kết quả.
Những từ then chốt
Coi thường, xem khinh ( Belittle)
Chọn giận ( exasperate)
Mâu thuẫn ( in consistencies)
Những điều ưu tiên ( priorities)
Thâu đêm ( vigils)
Sống động ( vitality)

Phần triển khai bài học
Mục tiêu 1 : Đánh giá được chính bạn là vai trò gương mẫu của gia đình bạn.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ GIA ĐÌNH CỦA MÌNH
Mối liên hệ của một người lãnh đạo Cơ Đốc đối với gia đình sẽ ảnh hưởng trên khả năng thành công của người trở nên một nhà lãnh đạo kẻ khác. Chức vụ của Hội thánh bạn trên thực tế cần phải trở nên chỉ là một phần nới rộng của chức vụ bạn đối với gia đình của mình. Đây có lẽ là lý do vì sao Phaolô đã dạy dỗ rằng một người đàn ông phải là người khéo cai trị nhà riêng mình trước khi có thể trở thành một chấp sự Hội Thánh ( I Timôthê 3:12; -13). Điều này rõ ràng là một điều ưu tiên lớn lao đối với người lãnh đạo phục vụ. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét những yếu tố trong thế giới ngày nay có ảnh hưởng những gia đình của chúng ta. Chúng ta cũng sẽ xem xét những nguyên tắc Kinh Thánh có thể giúp chúng ta thiết lập những điều ưu tiên đúng đắn cho gia đình của chúng ta.
Mục tiêu 2 : Nhận rõ các yếu tố trong thế giới ngày nay có ảnh hưởng trên gia đình của bạn.
CÁC GIA ĐÌNH TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY
Những thay đổi lớn lao đã diễn ra trên thế giới có ảnh hưởng đến phúc lợi của gia đình chúng ta. Chúng ta sẽ lưu ý vài thay đổi trong số này để đem lại một sự hiểu biết đầy đủ hơn về điều đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Điều này sẽ cho chúng ta thấy điều chúng ta có thể làm để bảo vệ gia đình khỏi những ảnh hưởng tiêu cực trên cơ cấu gia đình chúng ta.
1. Nền giáo dục đúng thể thức, thường đã thay thế cho nền giáp dục gia đình. Một đứa trẻ trung bình có ba mươi giờ mỗi tuần chịu ảnh hưởng của các giáo viên ngoài gia đình.
2. Nền giáo dục tôn giáo hiện nay được xem là trách nhiệm của nhà thờ hơn là trách nhiệm gia đình. Nhiều bậc cha mẹ hoàn toàn trông cậy nơi các nhà thờ dạy dỗ cho con cái của họ trong đức tin và các giá trị Cơ Đốc.
3. Hầu hết các đứa trẻ đều có khuynh hướng thiên về những ban đồng tuổi hơn là có khuynh hướng về gia đình. Khuynh hướng về bạn đồng tuổi có ảnh hưởng đáng kể trên sự phát triển về xã hội của chúng.
4. Thời đại máy vi tính và truyền hìh đã đem lại những kiến thức thúc giục cho trẻ con. Việc nghiên cứu đã cho thấy rằng ở tuổi mười sáu một đứa trẻ tiêu biểu của thế giới phương Tây đã được xem truyền hình trên mười nghìn giờ. Cho đến khi chúng thành người lớn, những đứa trẻ này đã dùng nhiều thì giờ xem truyền hình hơn là ngồi ở ghế nhà trường và sinh hoạt với gia đình của chúng.
5. Điều quan trọng của các Hội thánh đó là làm cho đức tin trở thành riêng tư của mỗi người. Giả định rằng nếu mỗi cá nhân được giúp đỡ, rồi thì các gia đình của họ sẽ tự nhiên được hưởng lợi ích.
6. Theo tổ chức, nhiều nhà thờ đã chia các gia đình ra thành các nhóm tuổi và phục vụ cho nhóm một cách riêng biệt. Ngay cả khi nói đến “một đêm dành cho gia đình” thường có nghĩa là gia đình được chia thành những nhóm tuổi !
7. Hội thánh cũng đã tập tành bắt chước theo khuôn mẫu của trườnghọc phổ thông với những giáo viên dạy các lớp với những tài liệu giáo phái được chia thành từng cấp lớp.
8. Việc phục vụ cho các gia đình thường được giới hạn vào sự giải quyết khủng hoảng.
Chúng ta cũng đã có thể nhận thấy nhiều nhân tố khác nữa. Ví dụ như số đông các bà mẹ phải đi làm để phụ giúp cho lợi tức gia đình, tình trạng này đã gia tăng đáng kể. Mức độ gia tăng các cuộc ly dị cũng để lại hậu quả là nhiều gia đình chỉ còn cha hoặc mẹ. Một hậu quả của cả hai điều kiện trên đó là trẻ con thường phải trải qua nhiều giờ ở nhà một mình mà không có người chăm sóc.
1. Nhân tố nào trên đây ảnh hưởng đến gia đình của riêng bạn Đánh dấu X trước những điều nào bạn cho là có ảnh hưởng xấu trên gia đình bạn. Bạn có thể làm điều gì để thay đổi hoàn cảnh này không?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Liên quan đến sự lãnh đạo Cơ Đốc có thể đem đến nhiều vấn đề căng thẳng cho cuộc sống gia đình. Hầu hết các nhà lãnh đạo bị lôi kéo vào công việc nhiều hơn bốn mươi tiếng đồng hồ bình thường mỗi tuần, và luôn luôn” bị gọi”. Thường những sự việc được xếp đặt trước của gia đình hay bị hủy bỏ mỗi khi có một “khủng hoảng” xảy ra trong Hội thánh. Mặc dầu người lãnh đạo cố gắng tránh điều đó, vẫn thường có những sự giằng co giữa những thuộc cấp và gia đình riêng của người lãnh đạo về thì giờ của người ấy.
Ba kính mến,
Nhiều người bảo con rằng Ba là một nhà lãnh đạo đáng kính. Con tin họ nói đúng. Con nhớ việc giảng dạy của Ba khi con vừa mới lớn. Ba cũng đã là chủ tịch của nhiều hội đoàn và phát biểu tại nhiều khóa hội thảo. Và Ba cũng đã chưa từng quên những ngày sinh nhật của con. Con luôn luôn được nhận một mónquà của Ba gửi đúng lúc qua bưu điện. Nhưng Ba ơi, con rất mong Ba sẽ có ở nhà để dự sinh nhật với con.
Ba đã đem lại cho con thật nhiều điều. Và con rất quý những điều đó. Con chỉ mong rằng Ba đã có thì giờ để thực sự hiểu con. Con cũng thật sự chưa hiểu về Ba đầy đủ.
Con trai của Ba
Mike

Lá thư buồn này đem lại những kết quả không mong đợi khi một nhà lãnh đạo bỏ quên gia đình mình. Đây là một lá thư mà không ai trong chúng ta muốn nhận cả. Đâu là một vài nguyên tắc Kinh Thánh giúp chúng ta giữ những ưu tiên của gia đình không bị tổn hại khi chúng ta phải làm trọn chức vụ lành đạo của mình. Chúng ta có thể làm gì để nêu gương cho các thuộc cấp về kiểu mẫu gia đình nào mà họ phải có? Chúng ta sẽ xem xét nhiều nguyên tắc hình thành một cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Mục tiêu 3 : Dựa trên những khúc Kinh Thánh được cho, hãy mô tả kế hoạch của Đức Chúa Trời đối với gia đình mà chúng ta có thể dùng như một nguyên tắc hướng dẫn gia đình chúng ta.
KẾ HOẠCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DÀNH CHO GIA ĐÌNH
Từ những ngày đầu của lịch sử con người, gia đình đã được xem là một phần trọn vẹn của đời sống. Sau khi Đức Chúa Trời dựng nên Ađam, Ngài đã nhận thấy : “ Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó” (SaSt 2:18). Cho nên Đức Chúa Trời đã dựng nên Eâva để làm bạn đồng hành cho Ađam. Từ đó trở đi những mối liên hệ và tình thân trong gia đình đã giữ một vai trò thiết yếu trong xã hội. Gia đình là kế hoạch của Thượng Đế; trong gia đình chúng ta được nuôi dưỡng và học tập để ban cho và nhận lãnh tình yêu. Cũng chính trong gia đình mà những giá trị của chúng được hình thành và chúng ta trở nên những con người có trách nhiệm để có thể làm việc tốt trong xã hội. Điều Thanh Kinh ghi chép bao gồm cả những mối liên hệ gia đình yêu thương và rất nhiều những yếu tố tiêu cực của gia đình cũng như đang thịnh hành trong các gia đình ngày nay chẳng hạn như tính thiên vị, ganh tị, xung đột và những cuộc tranh chấp về tài sản. Câu chuyện về những con người như Áp-ra-ham và Sara, Giacốp và Ê-sau, Giôsép và các anh mình đã nói lên gia đình đối diện với các vấn đề đó và đã phải học tập để nuôi dưỡng một môi trường yêu thương và tha thứ.
Trong sự hình thành quốc gia Ysơraên, Đức Chúa Trời đã hé lộ cho thấy nhiều mục đích của Ngài dành cho các gia đình hơn. Gia đình đã là một nơi dành cho việc giáo dục thuộclinh theo hoặc không theo khuôn mẫu. Đy cũng là phương tiện mà cha mẹ nhờ đó để hình thành những giá trị của các con mình. Đức Chúa Trời đã ban những mạnh lệnh cho cha mẹ để xác định những trách nhiệm của họ, và cho con cái để bảo đảm sự vâng lời và tôn trọng của chúng ( xem PhuDnl 5:1-32).
2. Đọc 6:1-9 và trả lời những câu hỏi sau
a. Ba phương cách thực tiễn nào các bậc cha mẹ Cơ Đốc có thể dùng những câu Kinh Thánh này áp dụng cho việc huấn luyện đời sống thuộc linh ngày nay cho các con trẻ của mình?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
b. Những lời hứa nào được lập cho những kẻ gìn giữ điều răn và dạy chúng cho con cái của họ
...............................................................................................................................
c. Theo bạn mục đích của Đức Chúa Trời khi ban những điều răn này có liên quan gì cho cuộc sống gia đình?
...............................................................................................................................
3. Đức Chúa Trời đã bày tỏ Ngài rất ghét việc ly dị và việc phá vỡ giao ước hôn nhân khi Chúa phán qua tiên tri Malachi. Hãy đọc MaMl 2:13-16 và phát biểu điều khúc Kinh Thánh nói về lý do Đức Chúa Trời ghét việc ly dị.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Thánh Kinh Tân ước cũng nhấn mạnh tầm quan trọng về đơn vị gia đình đối với đời sống tôn giáo và xã hội. Chúa Giêxu đã dạy rằng hôn nhân là một sự liên hiệp thánh của một người nam và một người nữ, và không được xâm phạm ( xem Mat Mt 19:1-12)Ngài đã chứng minh một điều ưu tiên và tình yêu cho con cái khi quở trách các môn đồ vì cố cản con trẻ đến cùng Ngài (19:13-15). Ngài cũng dùng con trẻ làm ví dụ cho những kẻ được vào nước trời nhờ đức tin và sự trông cậy đơn sơ. Không giống như những lời giải thích bị biến dạng của người Pharisi, sự dạy dỗ của Chúa Giêxu về cuộc sống gia đình đã rất rõ ràng, xác định và căn bản.
Sự giảng dạy của sứ đồ Phaolô cũng xác nhận rằng gia đình là kế hoạch của Thượng Đế. Trong thư Eph Ep 5:1-6:24 ông cung cấp những nguyên tắc rất sáng tỏ về cuộc sống gia đình.
1. Chồng là đầu của vợ giống như Đấng Christ là đầu của Hội thánh (Eph Ep 5:23).
2. Chồng phải yêu vợ như Đấng Christ yêu Hội thánh. Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình (5:25, 28).
3. Vợ phải kính phục chồng và thuận phục sự lãnh đạo của chồng (5:22, 33).
4. Con cái phải vâng phục cha mẹ mình trong Chúa và phải tôn kính cha mẹ (6:1-2).
5. Cha mẹ không được chọc giận con cái mình, nhưng tốt hơn, nên nuôi dạy con lớn lên bằng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa (6:4).
6. Mỗi một thành viên phải vâng phục đối với người khác do lòng kính sợ Đấng Christ và sống một đời sống bằng tình yêu thương (5:21).
Rõ ràng Thánh Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc sống gia đình đối với sự phát triển thuộc linh của mỗi phần tử trong gia đình. Cha mẹ đều được kỳ vọng là sẽ hướng dẫn con cái trở nên những người lớn trưởng thành khoẻ mạnh. Con cái phải vâng phục cha mẹ bởi vì đây là trật tự thẩm quyền của Chúa trong gia đình. Làm điều đó họ sẽ được Đức Chúa Trời ban phước. Gia đình là phương tiện chủ yếu để sản sinh ra sự trưởng thành và phát triển của cá nhân về bốn phương diện : tâm linh. cảm tình, xã hội và thể xác. Các bậc phụ huynh chịu trách nhiệm về sự phát triển này trong con cái, và do đó có thể ảnh hưởng rất lớn hoặc tích cực hoặc tiêu cực trên con cái của mình.
4. Dựa trên điều chúng ta vừa mới nói, hãy hoàn tất những câu sau đây bằng cách điền vào các khoảng trống.
a. Địa vị làm đầu của người chồng trong gia đình phải được kèm theo........................................ của người ấy cho họ.
b. Sự kính phục của vợ đối với chồng mình được bày tỏ bằng sự ............................của người ấy đối với quyền lãnh đạo của chồng.
c. Con cái ............................................... cha mẹ mình được Đức Chúa Trời ban phước.
d. Do nơi sự kính sợ Đấng Christ. Mỗi thành viên trong gia đình sẽ có thái độ ....................đối với nhau và sống một đời sống đầy ...................................
Mục tiêu 4 : Nhận những phương cách mà bạn có thể bày tỏ cho gia đình thấy vị trí ưu tiên của nó trong
MỘT CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH QUÂN BÌNH

Để thêm vào sự nhận thức những nguyên tắc Kinh Thánh mà chúng ta vừa mới xem xét, bạn là một nhà lãnh đạo Cơ Đốc có thể làm gì để bày tỏ cho những thành viên trong gia đình bạn hiểu rằng họ chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống bạn? Có nhiều phương cách thực tế bạn có thể dùng đem lại sức mạnh và sự quân bình cho cuộc sống gia đình của bạn.
1. Giúp cho gia đình của bạn hiểu được sự kết ước của bạn với chức vụ. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi bạn vào chức vụ lãnh đạo Ngài đã không có ý loại bỏ gia đình của bạn. Hãy nhận xét những lời sau đây của Delmar R. Guynes (Zimmerman, trang 124, 125):
Một số mục sư tự nghĩ mình đã được Đức Chúa Trời định để làm một số chức vụ đến nỗi họ đã dự định chuẩn bị một cách riêng tư về chính mình vào chức vụ đó mà ít để ý đến những thành viên trong gia đình của mình. Thật cám ơn Chúa cũng có những người có khả năng độc đáo để đưa gia đình của họ cùng với họ đến chỗ hiểu biết rõ về mục đích thiên thượng... vợ và con cái,là những người không có sự thúc giục lớn lao đó, có thể cảm nhận rằng mình cần thiết đối với chức vụ và sự kết ước của chồng và cha mình, những người được hiểu như vậy rất ít khi bị buồn giận bởi những sự hy sinh mà họ phải chịu. Thật là tuyệt diệu khi thấy.... cả gia đình của tôi tớ Chúa đều đã kết ước với sự kêu gọi mà Đức Chúa Trời đặt để trên gia đình.
Trung tâm điểm của các hoạt động ..... gia đình cần phải làm trọn sự kêu gọi mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho đời sống của mục sư. Việc vị mục sư làm gương trong sự kêu gọi và những điều ông kết ước cách cá nhân với Chúa là điều trở nên cần thiết. Những sự kết ước đó cần phải được truyền đạt rõ ràng cho gia đình để không có một thắc mắc nào về những điều ưu tiên”
2. Danh những thì giờ có giá trị cho gia đình bạn.
Việc dùng thì giờ của người lãnh đạo là một lãnh vực cần nhiều suy xét mà người ấy cần phải có kỷ luật. Chúng ta sẽ thảo luận về điều này đầy đủ hơn trong phần sau của bài học này. Đức Chúa Trời không bao giờ có ý định để cho bạn quá dấn thân vào công việc Ngài đến nỗi gia đình của bạn phải bị tan rã. Nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc trong Thánh Kinh đã phải mang tấm lòng đau đớn vì gia đình riêng của họ đã mất ổn định : Hêli, Samuên và Đavít chính là những con người đó.
Bạn là người lãnh đạo, bạn phải lập kế hoạch để dùng những thì giờ tốt nhất với gia đình mình. Bạn làm gì khi bạn quây quần với gia đình riêng của mình cũng có tầm quan trọng ngay với việc bạn để dành bao nhiêu thì giờ cho việc nhóm gia đình lại. Những cuộc đi chơn xa nhà, những thì giờ tiêu khiển, những ngày đặc biệt trong năm như các ngày sinh nhật và các lễ kỷ niệm hàng năm, những bữa ăn gia đình, và những thì giờ dâng hiến của gia đình cần phải được hoạch định cẩn thận như là một phần của thời khóa biểu hàng tuần.
3. Nói chuyện ở một mức độ sâu xa với mỗi một thành viên trong gia đình.
Cách gia đình truyền thông cho nhau là một yếu tố khác rất cần thiết cho cuộc sống gia đình ổn định. Chúng ta đã nói về nhu cầu trong việc một người lãnh đạo phải truyền thơng về sự kết ước của mình với chức vụ cho gia đình mình được hiểu rõ. Đôi khi một người lãnh đạo có khả năng nói chuyện với mọi người trong Hội thánh ngoại trừ với gia đình riêng của mình. Bức thư đã được trình bày trong hình 6.2 đã được vợ của một mục sư bỏ vào một hộp tiền dâng như là phương sách cuối cùng để làm cho ông chú ý. Mỗi phần tử của gia đình bạn phải cảm nhận được rằng mình có một cơ hội để bày tỏ nhu cầu và sẽ được thông cảm. Một cách truyền thông như vậy phải cởi mở trực tiếp và yêu thương.
5. Hãy xem các lá thư ở Hình 6.1 và 6.2. Rồi đánh dấu X vào những cột dưới đây để bày tỏ mức độ có thể có hoặc không thể có việc nhận một lá thư nhứ vậy từ những thành viên trong gia đình của bạn.
a. “ Ba kính mến” ................................................................................................
Khả năng có thể có rất ít
b. “ Mục sư kính mến” ..........................................................................................
Khả năng có thể có rất lớn
Nếu câu trả lời của bạn thiên về phía bên tay phải của các cột trên cho một trong hai bức thư này, bạn cần phải hành động ngay để cải thiện việc truyền thông của bạn với những thành viên trong gia đình có liên hệ. Đôi khi các con của những người lãnh đạo cảm thấy bị bỏ quên đến nỗi chúng có một quyết định cá nhân cho chính mình là không bao giờ sẽ trở thành một người lãnh đạo Hội Thánh.
4. Bày tỏ sự quí mến và yêu thương. Quá quen thuộc với nhau hoặc xem thường nhau tạo ra một không khí rất tiêu cực trong gia đình. Một người lãnh đạo và gia đình người ấy phải bày tỏ sự quí trọng lẫn nhau trong tình thương yêu, hỗ trợ và chăm sóc lẫn nhau. Đây không phải là một việc chỉ thỉnh thoảng xảy ra; nó là kết quả của sự trau giồi và vun xới.
Hãy dạy dỗ cho những thành viên trong gia đình bạn biết bày tỏ những đặc tính tích cực mà họ thấy trong nhau. “ Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.... Hãy ở với nhau cách nhơn từ và đầy dẫy lòng thương xót” (Eph Ep 4:29, 32). Hỡi những người cha, hãy dạy cho con cái bạn bày tỏ sự quí trọng đối với mẹ của chúng về tất cả những điều nàng làm cho gia đình. Cách lý tưởng nhất mà bạn có thể thực hiện được điều này ấy là chính bạn phải làm gương. Hãy để cho các con của bạn thấy được sự quí trọng của bạn dành cho vợ. Hỡi các bà mẹ, tương tự như vậy, các bà cần phải hỗ trợ cho chồng mình bằng sự thừa nhận và tin cậy.
5. Tránh những cuộc nói chuyện tiêu cực. Đôi khi những nhà lãnh đạo Cơ Đốc trở nên quá nặng gánh về những nan đề trong chức vụ đến nỗi người ấy nói công khai về những việc ấy trước mặt các con của mình. Một nhà lãnh đạo khôn ngoan sẽ bảo vệ gia đình mình khỏi những ảnh hưởng tiêu cực như vậy để cho họ sẽ khỏi bị ngã lòng.
6. Hướng dẫn gia đình bạn trong sự thờ phượng chung. Bàn thờ đã luôn luôn là trung tâm điểm của sự thờ phượng trong thời Nôê và Áp-ra-ham. Tôi không gợi ý rằng bạn phải xây dựng một bàn thờ bằng đá ở đâu đó, nhưng tôi tin rằng một nhà lãnh đạo cần phải có một chỗ và một thì giờ mỗi ngày dùng làm nơi người ấy hướng dẫn gia đình mình thờ phượng. Làm điều này bạn sẽ nhấn mạnh được vị trí ưu tiên của sự cầu nguyện, thờ phượng và lời của Đức Chúa Trời trong đời sống chức vụ của riêng bạn. Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh giá trị của gương mẫu trong điều mà bạn muốn gia đình mình thực hành.
Thì giờ thờ phượng của gia đình cần phải được thu xếp tùy theo lứa tuổi của con cái. Đối với các trẻ nhỏ hơn, giờ thờ phượng phải ngắn và trình bày thế nào để lôi cuốn sự chú ý của chúng. Điều quan trọng là phải bền đỗ và chứng tỏ cho con cái thấy rằng thờ phượng Chúa là điều ưu tiên hàng đầu trong đời sống của bạn của chúng.
6. Để phản ảnh bạn là loại gương mẫu nào đối với con cái trong những lãnh vực sau đây. Đánh dấu X vào cột nào mô tả điều bạn nghĩ về mỗi mực.
a. Mối thông công của bạn với Đức Chúa Trời.
Tôi muốn con tôi bắt chước tôi
Tôi không muốn con tôi bắt chước tôi
b. Giá trị của bạn.
c. Đời sống cầu nguyện của bạn
d. Thái độ của bạn về Kinh Thánh
e. Cách bạn sử dụng tiền bạc
f. Cách bạn cư xử với những áp lực.
g. Cách bạn dùng thì giờ
h. Thái độ của bạn đối với bề trên
I. Cách bạn liên hệ với người khác
j. Cách bạn bày tỏ sự quí mến
k. Cách bạn nói chuyện với con cái
l. Cách bạn nói chuyện với vợ hoặc chồng
7. Nếu bạn xem lại cột tôi không muốn con cái bắt chước tôi về mỗi mục trên đây, bạn có thể làm gì để cải thiện gương mẫu của mình?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 5 : Nhận rõ những cách thiết lập các điều ưu tiên đúng đắn trong việc sử dụng thì giờ và tiền bạc.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ SỰ QUẢN LÝ CỦA MÌNH
Sử dụng thì giờ
Chúng ta đã đề cập đến tầm quan trọng của việc sử dụng thì giờ một cáh khôn ngoan trong mối liên hệ với gia đình của bạn. Bạn dành bao nhiêu thì giờ cho mỗi hoạt động trong ngày sẽ nói lên rất nhiều về những điều ưu tiên của bạn. Owen Carr nói về điều này như sau ( Zimmermen, trang 71):
“ Chắc chắn Đức Chúa Trời không chỉ định về số giờ dùng trong việc học Kinh thánh và cầu nguyện. Tuy nhiên, nếu chúng ta xác định rằng điều quan trọng nhất trong đời sống chúng ta là một mối thông công đúng đắn với Đức Chúa Trời, và rồi một mối thông công đúng đắn với Đức Chúa Trời, và rồi dùng 2 giờ mỗi ngày để xem truyền hình và 30 phút mỗi ngày để cầu nguyện, Đức Chúa Trời chắc chắn biết rõ điều ưu tiên của bạn là gì... “ Bảng liệt kê về những điều ưu tiên” của chúng ta và “ những điều ưu tiên thực thi” của chúng ta có lẽ khác rất xa. Những điều chúng ta biết là quan trọng, và đạt ở trên danh mục của chúng ta không luôn luôn là điều đúng ta trung thành đưa vào thực tế... Một số mục sự luôn luôn có thể kiểm ra thì giờ để chơi “ golf” nhưng rất khó khăn trong việc kiếm giờ cầu nguyện và nghiên cứu. Một số mục sư luôn luôn có thì giờ để thông công với các tín hữu trong Hội thánh và với các bạn đồng công khác, nhưng rất khó kiếm được thì giờ để thông công với Đức Chúa Trời”.
8. Đây là một bài tập để giúp bạn đem “bảng liệt kê về những điều ưu tiên “so với” những điều ưu tiên thực thụ”.
a. Lấy ra một tờ giấy và viết xuống những điều ưu tiên của bạn trong tuần lễ sắp đến.
b. Bên cạnh mỗi điều ưu tiên hãy viết lượng thời gian mà bạn dự định cống hiến cho mỗi hoạt động.
c. Bây giờ hãy viết bản cạnh mỗi điều ưu tiên bạn đã thực sự dành bao nhiêu thì giờ cho nó trong tuần rồi.
d. Cuối cùng, hãy viết xuống bất cứ hoạt động nào bạn có tham dự mà không thuộc về những điều ưu tiên đã được liệt kê, và bao nhiêu thì giờ bạn dành cho mỗi hoạt động này.
Làm bài tập trên đây có chứng tỏ cho bạn thấy mình phải quản lý thì giờ tốt hơn không? Hãy suy nghĩ về những nhà lãnh đạo thành công mà bạn biết là hình như đã hoàn tất được nhiều việc trong chức vụ của họ. Họ có cùng một lượng thì giờ mỗi ngày giống như bạn. Cách bạn dùng thì giờ của mình sẽ quyết định mức độ hiệu quả của chức vụ bạn. Nhà lãnh đạo phục vụ sẽ tìm cách đầu tư thời gian của mình thế nào để có thể gặt hái được giá trị muôn đời.
Việc tự kỷ luật theo một thời biểu hằng tuần và một lịch kế hoạch sẽ giúp bạn hoàn tất trách nhiệm của mình dễ dàng hơn mà không phải chịu áp lực quá sức. Thêm vào những trách nhiệm trong chức vụ của bạn, bạn cần lập thời biểu dành cho sự phát triển thuộc linh cá nhân cho những hoạt động gia đình, và dành cho thì giờ giải lao nữa.
9. Điều nào sau đây mô tả việc dùng thì giờ của bạn?
a. Tôi thường lười biếng và phụng phí nhiều thì giờ mỗi ngày.
b. Tôi cố gắng tổ chức và tuân theo một thời biểu; tuy nhiên tôi thường bị lạc khỏi kế hoạch và làm những điều tôi không dự định làm, hoặc bỏ qua không làm những điều mà tôi cần phải làm.
c. Tôi tự kỷ luật tốt trong cơ cấu sử dụng thì giờ của mình và trong việc tuân theo một kế hoạch thời biểu mỗi ngày.
Sử dụng tiền bạc
Sứ đồ Phaolô khuyên Timôthê tránh khỏi những sự tìm kiếm tiền bạc, và thay vào đó phải “ tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại” (ITi1Tm 6:11). Đây là một lời khuyên ích lợi cho người lãnh đạo Cơ Đốc. Điều ưu tiên trên hết của chúng ta có liên quan đến tiền bạc phải là “ Tôi có thể ban cho bao nhiêu?” chứ không phải là “ Tôi có thể nhận được bao nhiêu?”.
Thái độ của bạn đối với tiền bạc và cách bạn sử dụng nó nói lên rất nhiều về những điều ưu tiên của bạn. Chúa Giêxu đã phán” Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoát vách mà lấy. Nhưng phải chứa của cải ở trên trời là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoát vách mà lấy. Vì chưng của cải ngươi ở đâu thì lòng người cũng ở đó” (Mat Mt 6:19-21). Trong một thời đại mà sự thành công được đo lường bằng tài sản thu đạt, thường ngay cả trong chức vụ Cơ Đốc cũng vậy, chúng ta cần những nhà lãnh đạo quyết định sống một đời sống chừng mực và làm gương tốt cho thuộc cấp trong thái độ của họ về tiền bạc. Gương mẫu này bao gồm:
1. Dâng hiến rộng rãi cho công việc của Đức Chúa Trời bằng những phần mười và các của dâng.
2. Sống “ với điều mình có” và thanh toán các khoản phí ngay để bạn không bị quở trách trong cộng đồng của mình.
3. Tìm kiếm ý Chúa cho chức vụ của bạn hơn là tìm kiếm những địa vị có tiền lượng cao nhất.
4. Sẵn lòng để “ lấy chính tay mình làm lụng” nếu cần thiết ( những công việc bình thường ở đời), giống như Sứ đồ Phaolô đôi khi đã làm, để chu cấp cho gia đình của bạn trong khi hoàn thành chức vụ mà Chúa đã kêu gọi bạn.
10. Hãy đọc ITi1Tm 6:6-19 và trả lời những câu hỏi này.
a. Những hiểm nguy nào đã được Phaolô đề cập đến đối với những người muốn trở nên giàu có?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
b. Bốn điều nào Phaolô nói những người giàu cần phải được khuyên bảo?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
11. Hãy xem hình 5.4 trong bài 5. Những điều yêu cầu nào của Kinh Thánh đề cập đến tiền bạc dành cho các nhà lãnh đạo Hội thánh dưới đây?
a. Giám mục ..........................................................................................................
b. Chấp sự ..............................................................................................................
c. Trưởng lão .........................................................................................................
Bây giờ chúng ta sẽ sang đến một lãnh vực rất quan trọng thuộc những điều ưu tiên của nhá lãnh đạo phục vụ. Mối liên quan của người đó với Đức Chúa Trời. Điều này bao gồm thái độ của người lãnh đạo đối với Lời Chúa, và việc nghiên cứu Lời cũng như đời sống cầu nguyện của người ấy.
Mục tiêu 6 : Nhận ra những câu phát biểu mô tả được tầm quan trọng của Lời Chúa đối với người lãnh đạo Cơ Đốc.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ LỜI CHÚA
Điều ưu tiên hàng đầu của một nhà lãnh đạo Cơ Đốc là mối liên hệ của người đó với Đức Chúa Trời. Owen Carr nhấn mạnh điều này như sau (Zimmerman, trang 72 - 73).
“ Một mối liên hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời được thiết lập thông qua một sự hiểu biết Lời Ngài, vâng theo Lời đó là dành thì giờ để hiệp thông và thông công với Chúa ..... Mục sư không thể bỏ qua việc tìm kiếm Lời Chúa và giữ một mối liên hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời cứ lập đi lập lại, đánh động vào lòng những lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải biết. Vì vậy mục sư phải hằng ngày tìm kiếm Lời Chúa”.
Những cuộc khảo cứu gần đây từ TK Hội bày tỏ hay sự kiện thầm kín. Trước hết, ngày nay có nhiều Kinh Thánh và những phần Kinh Thánh đã được in và phân phát hơn bất cứ thời đại nào khác trong lịch sử. Thứ đến, mặc dù những phần Kinh Thánh này được bán với số lượng lớn. Ngày nay Kinh Thánh thực sự lại ít được đọc hơn trong các thế hệ trước! Hiển nhiên là có nhiều người mua Kinh Thánh hơn, nhưng họ không đọc Kinh Thánh.
Đây là một sự phát triển bị xáo trộn, và khuynh hướng này có thể dễ dàng thâm nhập vào sự lãnh đạo Cơ đốc. Chúng ta cần phải được thức tỉnh lại về sự độc đáo của Lời Đức Chúa Trời và tầm quan trọng của Lời Chúa đối với sự sống thuộc linh của chúng ta.
Sự tràn ngập về sách vỡ nói đến sự tăng trưởng đổi mới và truyền giáo của Hội thánh có thể gợi ý cho những nhà lãnh đạo thiếu sáng suốt thấy rằng Kinh Thánh bây giờ đã lỗi thời. Hãy để ý về số lượng sách Học làm người ( How To Books) bán ở các cửa hàng. Dường như một cuốn sách đã được viết ra để trả lời cho mỗi một thắc mắc làm thế nào để đáp ứng cho một ngân sách, đến việc hướng dẫn các cuộc nghiên cứu của cộng đồng.
Mặt khác, Kinh Thánh trình bày những vấn đề như sự cứu rỗi, cuộc sống, cõi đời đời, sự xét đoán và sự công nghĩa. Kinh Thánh là thẩm quyền nguyên thủy, tốt nhất và duy nhất về tất cả những vấn đề này. Học giả và các tác giả tân thời không thể thay thế Kinh Thánh. Đức Chúa Trời truyền đạt qua lời của Ngài sự hiểu biết tươi mới và sống động cho mỗi một thế hệ. Lẽ thật này đáng chú ý đối với bạn là một người lãnh đạo phục vụ. Cơ Đốc nhân nào tưởng rằng có thể rút ra những chất liệu quan trọng hơn từ những cuốn sách không phải là Kinh Thánh thì đã bị đánh lừa rồi. Sau hai mươi lăm năm trong chức vụ giữa công chúng. Billy Graham đã nói: “ Nếu tôi có thể sống được lại hai mươi lăm năm đã qua, tôi sẽ dùng nhiều thì giờ hơn với chính Kinh Thánh và ít thì giờ hơn với những sách nói về Kinh Thánh”.
Chúng ta hãy ôn lại sáu lý do sao Kinh Thánh vẫn còn là nguồn giá trị đáng tin cậy nhất của chúng ta của những thông tin về Thượng Đế và chương trình của Ngài cho đời sống của chúng ta:
1. Kinh Thánh là sự điệp được sự hà hơi của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Phaolô đã viết : “ Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn” (IITi 2Tm 3:16-17). Kinh Thánh là Lời được Đức Chúa Trời hà hơi. Những trước giả viết Kinh Thánh đã được Đức Thánh Linh giúp đỡ để Lời Đức Chúa Trời đã trở thành lời của họ. Họ đã viết điều Đức Chúa Trời bảo họ phải viết. Chính Đức Chúa Trời là tác giả của Kinh Thánh.
2. Kinh Thánh có sự thống nhất. Kinh Thánh đã được viết trải qua suốt một thời gian khoảng 1400 năm do hơn 40 trước giả từ mỗi một bước chân trong đời sống. Nó đã được viết ở ba lục địa khác nhau : Châu Aâu, Châu phi và Châu Á. Nó đã được viết bằng ba loại ngôn ngữ khác nhau : Hybálai, Aram, và Hy Lạp. Mặc dù, đây là sự phối hợp đáng kể của nhiều trước giả, thời đại và nhiều văn hóa, có một sự hòa hợp toàn vẹn trọng chủ đề của Kinh Thánh. Mỗi một sách dựa trên các sách khác để tiếp tục câu chuyện, và chúng cùng nhau làm thành một sự thống nhất.
3. Kinh Thánh tồn tại : Một vài phần Kinh Thánh của chúng ta có nguồn gốc từ bốn nghìn năm trước, và toàn bộ Kinh Thánh hoàn tất từ hai ngàn năm trước. Câu chuyện về sự tồn tại của Kinh Thánh thật diệu kỳ. Suốt lịch sử, nhiều con người đã quyết định hủy diệt Kinh Thánh, các vị vua, các hoàng đế, các nhà giáo dục và ngay cả các con người trong tổ chức nhà thờ đã cấm chỉ, đốt cháy Kinh Thánh và hành hạ, đọa đày những người dám in Kinh Thánh. Tất cả những cuộc tấn công này đã không thành công - Kinh Thánh tiếp tục lan tràn. Xé một quyền Kinh Thánh giống như xé một phần bản đồ của một con đường : Điều đó không phá hủy được con đường !
4. Kinh Thánh đem lại những kết quả : Kinh Thánh là sự truyền thông của Đức Chúa Trời cho chúng ta về chính mình Ngài. Đức Chúa Trời chia xẻ với chúng ta về Ngài là Đấng như thế nào, tạo sao chúng ta đang đi theo đường lối của mình, và Chúa Cứu Thế Giêxu có thể đem chúng ta đến một mối thông công với Đức Chúa Trời bằng cách nào. Trong Lời Ngài, Chúa nêu lên những nguyên tắc mà Ngài muốn chúng ta sống theo. Lời Ngài cũng hành động như ánh sáng cho đường lối chúng ta, và chúng ta khám phá rằng mỗi ngày Ngài chỉ cho chúng ta hướng đi và sự dẫn dắt cho những quyết định chúng ta cần phải làm. Thi thiên 119 đầy những phước hạnh chúng ta nhận được qua việc đọc lời Chúa và làm theo như Ngài phán. Đời sống chúng ta được thay đổi khi Lời Ngài trở thành sự thật cho chúng ta.
5. Kinh Thánh chứa đựng hy vọng: Đọc Kinh Thánh giống như đọc tờ nhật báo ngày mai. Nó không chỉ đề cập đến lịch sử trong quá khứ nhưng chứa đựng lịch sử vẫn còn sống động ! Đức Chúa Trời đã bày tỏ nhiều điều về kế hoạch tương lai của Ngài cho nhân loại, cho Hội Thánh và về Cứu Chúa Giêxu. Sách Khải huyền nói cho chúng ta về cách cuối cùng Đức Chúa Trời sẽ lập vương quốc của Ngài và hủy diệt mọi thế lực thuộc linh, chính trị và tôn giáo chống lại với vương quốc của Ngài. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự soi sáng về những mục đích đời đời của Ngài cho những người nào đã được giải hòa với Ngài qua Cứu Chúa Giêxu Christ. Khi người lãnh đạo đọc và suy gẫm lời Đức Chúa Trời cách riêng năng, người ấy sẽ tràn đầy hy vọng và sự tin quyết có được qua Chúa Cứu Thế của người ấy là Giêxu Christ.
6. Kinh Thánh đáng tin cậy: Không có sự mâu thuẫn trong Kinh Thánh. Không thể nào tạo một lỗi lầm nghiêm trọng trong các vấn đề giáo lý nếu chúng ta so sánh cần phần Kinh Thánh với nhau. Tất cả những chủ đề chính đều có nguồn gốc từ Cựu Ước. Chúng ta được phát triển và hoàn thiện trong con người của Chúa Cứu Thế Giêxu như đã được bày tỏ trong Phúc âm, và được tiếp diễn trong cuộc đời và sự dạy dỗ của Hội Thánh đầu tiên.
Chắc chắn Kinh Thánh không giống với một cuốn sách nào trong thế giới này, bởi vì nó không phải là sách của người ! Nó là Lời của Đức Chúa Trời. Ít nhất có 3800 lần trong Cựu Ước chúng ta đã thấy được câu : “ Đức Chúa Trời đã phán” hoặc “ Đức Giêhôva phán”. Giêrêmi đã tuyên bố 100 lần rằng sứ điệp của ông đến trực tiếp từ Đức Giêhôva là một người lãnh đạo Cơ đốc. Bạn có thể có lòng tin cậy rằng Đức Chúa Trời đã phán bảo với bạn trong lời Ngài đề cập đến mọi điều bạn cần phải biết về Đức Chúa Trời, về chính bạn và về Hội thánh. Kinh Thánh là cẩm nang của bạn và nó phải có một vị trí quan trọng trong đời sống bạn mỗi ngày.
12. Điều nào sau đây là những câu ĐÚNG về Kinh Thánh tầm quan trọng của nó đối với nhà lãnh đạo Cơ Đốc?
a. Chúng ta đã dùng bao nhiêu thì giờ để đọc và suy gẫm lời Chúa là một sự bày tỏ về tầm quan trọng thật của nó đối với chúng ta.
b. Nghiên cứu các sách về Kinh Thánh có cùng một giá trị đối với người lãnh đạo cũng như nghiêm cứu chính Kinh Thánh.
c. Câu nói : “ Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn” chứng minh rằng Đức Chúa Trời là tác giả của cả Kinh Thánh.
d. Bởi vì các sách của Kinh Thánh đã được viết trải qua một thời gian dài, có rất nhiều sự mâu thuẫn và một thiếu sót nghiêm trọng về sự hiệp nhất trong cấu trúc và chủ đề tổng quát của nó.
e. Chúng ta biết Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời vì những kết quả nó đem lại trong cuộc sống con người khi họ đọc và vâng theo Kinh Thánh.
f. Người lãnh đạo có thể nghiên cứu Kinh Thánh và sống theo những mạnh lệnh của nó bởi vì người ấy biết nó hoàn toàn đáng tin cậy.
g. Kinh Thánh là sự dẫn dắt của chúng ta về mọi lãnh vực của đời sống.

Mục tiêu 7 : Phát biểu tầm quan trọng của một chức vụ hữu hiệu về điều bạn học tập và cách bạn học tân.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ SỰ HỌC TẬP CỦ NGƯỜI ẤY

Những nhà lãnh đạo vĩ đại của Hội Thánh thường là những con người đọc và nghiên cứu trọn cuộc sống của họ. Câu chuyện được kể về William Tyndale, nhà cải chánh người Anh và là nhà phiên dịch Kinh Thánh, là người đã phải ở tù một thời gian ngắn trước khi ông tuận đạo vào năm 1536 SC. Ông đã viết cho nhà cầm quyền yêu cầu gửi cho ông một số đồ đạc của ông.
.... Một cái mũ ấm, một cây đèn cầy, một miếng vải để vá giày ống của tôi... Và xin vui lòng cho phép tôi được có cuốn Kinh Thánh Hêbơrơ của tôi, sách văn phạm Hy Lạp và Tự điển Hêbơrơ, để tôi co1 thể dùng thì giờ nghiên cứu chúng.
Điều này nhắc chúng ta về lời yêu cầu của Phaolô trong tù, khi ông yêu cầu Timôthê gửi những cuốn sách của ông và đặc biệt là những cuộc giấy da cừu cho ông (IITi 2Tm 4:13). Trong khi Phaolô chắc chắn đã có lời Kinh Thánh trong trí, có lẽ ông cũng cho Timôthê đem đến cho ông một vài sách lịch sử Do Thái và sách chú giải Cứu Ước. Phaolô đã không mong ăn không ngồi rồi, nhưng muốn dùng thì giờ của mình để nghiên cứu.
Chúng ta cần nghiên cứu Kinh Thánh và cầu nguyện để trở nên càng giống Chúa Giêxu hơn.
John Wesley, người sáng lập hội Giám lý, có một khát khao lớn về việc đọc sách và làm việc đó hầu hết những thì giờ trên lưng ngựa ! Ngoài Kinh Thánh Tân ước bằng tiếng Hy Lạp của ông, ông có ba cuốn khác mà ông ưa thích và nghiên cứu rất kỹ : Sự kêu gọi đứng đắn, Sự noi gương Đấng Christ và Cuộc sống và sự chết thánh thiện. Wesley đã dùng nhõng cuốn sách này làm nền tảng cho việc lãnh đạo thuộc linh mà sau đó ông đã khai triển để chỉ dẫn cho vô số những nhà lãnh đạo và giảng đạo trẻ tuổi.
Hãy để ý rằng rất cả những nhà lãnh đạo này ưu tiên nghiên cứu Kinh Thánh. Việc nghiên cứu lời Chúa của bạn cần phải dành trước hết cho sự tăng trưởng thuộc linh cá nhân. Một mục sư viết “ Có một mối nguy thực sự trong việc luôn luôn tìm kiếm những khúc Kinh Thánh và cầu nguyện để tìm bài giảng. Tốt hơn chúng ta cần nghiên cứu Kinh Thánh và cầu nguyện để trở nên càng giống Chúa Giêxu hơn. Những bài giảng sẽ trở thành một sản phẩm phụ của loại kinh nghiệm này với Chúa” ( zimmerman, trang 73).
13. Lợi ích nào bạn nhận được từ việc nghiên cứu Kinh Thánh mà không thể nhận được từ những người khác?
...............................................................................................................................
Phải Đọc Điều gì?
Ngoài Lời Chúa, bạn cần phải đọc thêm điều gì? Một số nhà hiền triết khôn ngoan đã nhìn nhận rằng cũng như một người được công ty mà ông quản lý biết đến, thì đặc điểm của một người được phản ánh bởi những sách mà người ấy đọc. Sách của một người là một sự biểu lộ bên ngoài của những ý tưởng và ưa thích bên trong của người ấy. Bạn biết nhờ kinh nghiệm rằng bạn có thể mau chóng đạt được một ấn tượng về người khác nhờ quan sát những cuốn sách và tạp chí trong nhà họ.
14. Hãy nhìn quanh nhà của bạn. Điều nào sau đây mà bạn có nhiều hơn hết ?
a. Nhật báo hoặc các tập san tin tức xuất bản định kỳ.
b. Tạp chí trần gian
c. Sách trần gian
d. Tạp Chí Cơ đốc
e. Sách Cơ Đốc dạy làm người
f. Những tiểu sử Cơ đốc
g. Sách Chú giải Kinh Thánh
h. Những sách khác ...............................................................................................
Ngày nay tại hầu hết các nước phương Tây các Cơ Đốc phải chọn từ một số lượng lớn những sách báo và các nhà xuất bản Cơ Đốc. Câu hỏi được nêu lên cho những nhà lãnh đạo Cơ Đốc là loại nào là tốt nhất? Đây là hai đề nghị hy vọng là sẽ chỉ cho bạn vào hướng đúng.
1. Tiểu sử : Các tiểu sử là một phương tiện đầy năng quyền để thông tin và linh cảm cho các nhà lãnh đạo Cơ Đốc. Bạn có thể được thúc đẩy vào sự phục vụ lớn hơn và đức tin Cơ Đốc tận hiến hơn nhờ đọc về những nhà lãnh đạo Cơ Đốc vĩ đại như William Carey, Hudson Taylor và William Booth. Theo một tác giả, giá trị thật của tiểu sử đó là chúng giúp cho một người có thể đánh giá được giá trị thật của đức tin và đạt được một khải tượng hoặc một mục tiêu cho đời sống riêng của một người chắc chắn nó thúc giục để thấy được rất nhiều đường lối Đức Chúa Trời dùng một đời sống tận hiến để hoàn tất những mục đích của Ngài.
2. Tập san định kỳ : Nhiều tập san định kỳ có lợi điểm ở một vị trí của tờ báo dẫn đầu trong các lãnh vực đáng chú ý của chúng. Các nhà chuyên môn và những người có liên quan tích cực vào một số lãnh vực, hợp tác hỗ tương với nhau về một chủ để đang thịnh hành. Theo cách này những vấn đề đương thời có thể được nhận định từ nhiều góc nhìn xuyên văn hóa và không phải là một quan điểm đơn độc của chỉ một tác giả. Việc đặt mua một hoặc hai tập san định kỳ có mục tiêu về Đấng Christ sẽ giúp cho một nhà lãnh đạo bận rộn, với thì giờ có bạn, có thể cập nhật hóa những sự kiện đương thời và cũng đem lại cho người lãnh đạo này những tài liệu sẽ trở thành một sự cảm thúc và thách thức.
Tập san định kỳ nào một người cần phải đọc là một sự chọn lựa cá nhân. Nhiều tạp chí cống hiến một số đặt mua thử để bạn có thể xác định sự bổ ích của tạp chí nào đối với mình. Hiển nhiên, một số tạp chí đáng tin cậy hơn, thu hút các tác giả tốt hơn và đem lại nhiều giá trị hơn một số tạp chí khác. Đọc một số tài liệu về các giáo phái cũng có lợi cho bạn vì sẽ đem lại cho bạn một tầm nhìn rộng rãi về những nhận thức thần học và lãnh đạo.
Ngoài những tiểu sử và tập san định kỳ, các sách giúp bạn trong việc nghiên cứu Lời Chúa cũng sẽ là một phần quan trọng trong tủ sách của bạn. Thảo luận với các lãnh đạo Cơ Đốc khác và tìm ra những cách nào đã đặc biệt hữu ích cho họ. Phải bảo đảm là những sách bạn chọn là những sách có nền thần học tốt và được viết bởi những tác giả có tiếng tốt và được ơn Chúa.
Phải đọc sách thế nào?
Hãy học tập để đọc sách với một cây bút trên tay. Đánh dấu những đoạn mà bạn muốn khi khác sẽ xem lại, vì làm vậy sẽ giúp xác định vị trí của chúng dễ dàng hơn. Hầu hết các cửa hiệu bán dụng cụ văn phòng có bán các loại bút đặc biệt dùng để đánh dấu làm nổi bật nội dung cho bạn bằng những màu sáng. Những dụng cụ này đặc biệt hữu ích vì bạn cũng có thể dùng chúng để đánh dấu các trang Kinh Thánh mà không làm lem phía đối diện của trang giấy.
Bạn sẽ thấy giữ một cuốn vở ghi chép bên cạnh để ghi xuống những đoạn trích và ghi chú vị trí các tiết mục bạn cần xem lại là những điều rất hữu ích. Phân chia các trang vở theo các mẫu tự và ghi lại các khoản mục theo thứ tự ABC. Ví dụ, một phần trích về chủ đề cầu nguyện sẽ được ghi chép trong những trang đánh dấu C, trong khi tựa đề của một cuốn sách về kiêng ăn sẽ được ghi chú ở các trang đánh dấu K bạn sẽ nhanh chóng xây dựng được một bộ sưu tập về các tài liệu rất phong phú sẽ luôn luôn có sẵn khi bạn cần đến.
Một phương tiện quen thuộc khác để lưu dữ liệu đó là dùng các mẫu giấy nhỏ. Tiện lợi của các mẫu giấy nhỏ là bạn có thể luôn luôn mang theo trong túi một ít để ghi lại ngay những tin tức mới. Nguyên tắc chính ở đây là phải có một hệ thống ghi chép tin tức để bạn có thể lưu trữ nhanh chóng. Hãy học tập để tìm kiếm những ý tưởng chính của một tác giả mà bạn có thể dùng trong chức vụ của mình.
15. Hãy nêu ba thói quen nghiên cứu sẽ giúp bạn nhớ được và sử dụng được điều bạn đã nghiên cứu.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 8 : Dựa trên những khúc Kinh Thánh đã cho, hãy giải thích tại sao những lời cầu nguyện đôi khi không được đáp lời và tại sao cầu nguyện và kiêng ăn là điều ưu tiên cần thiết cho một nhà lãnh đạo Cơ Đốc.
NHÀ LÃNH ĐẠO VÀ SỰ CẦU NGUYỆN
Một trong những điều huyền nhiệm của đời sống là một hoạt động chúng ta gọi là cầu nguyện. Cầu nguyện là một trong những phước hạnh sâu xa nhất mà Chúa đã ban cho chúng ta là dân sự của Ngài, Ngài khích lệ chúng ta cầu nguyện về mỗi hoàn cảnh cuộc sống của chúng ta. Từ việc chữa lành ngón tay của một đứa trẻ cho đến việc chữa lành cho cả một dân tộc, không có điều gì là quá lớn hoặc quá nhỏ đến nỗi Ngài không chú ý đến.
Nếu Chúa đã kêu gọi bạn để lãnh đạo dân sự của Ngài, thì Ngài cũng kêu gọi bạn để cầu nguyện cho dân sự đó. Chúa mong đợi bạn cầu nguyện về chức vụ và sự lãnh đạo của bạn. Bạn có thể nhớ lại rằng Samuên đã nói với dân sự “ Còn ta đây, cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giêhôva mà thôi cầu nguyện cho các ngươi” (ISa1Sm 12:23).
Điều tuyệt diệu về cầu nguyện đó là mặc dù có vẻ như là một nhiệm vụ khó khăn và lãng phí thì giờ, nhưng thực sự nó làm tươi mới cho chúng ta ! Chúng ta là người cầu nguyện cũng nhận lãnh được những lợi ích thuộc linh như những kẻ mà chúng ta cầu thay cho. Nếu chúng ta quá bận không cầu nguyện được, thì rõ ràng là chúng ta đã bận rộn quá mức thông thường của một người chắc chắn cầu nguyện phải là điều ưu tiên hàng đầu của những nhà lãnh đạo Cơ Đốc thành công.

Gương Mẫu của Đức Chúa Giêxu
Gương mẫu của Chúa Giêxu dạy chúng ta tầm quan trọng của sự cầu nguyện. Ngài đã dạy cho các môn đệ cách cầu nguyện (Mat Mt 6:5-18) cũng xem LuLc 11:1-4). Sức mạnh trong thân thể và trong mục đích của Ngài đã được duy trì nhờ sự cầu nguyện thâu đêm Ngài. Sau khi Ngài nghe rằng Giăng Báptít đã bị chém đầu, “ Ngài lên núi để cầu nguyện riêng; đến chiều tối Ngài ở đó một mình” (Mat Mt 14:23). Chúng ta lại đọc thấy : “ Trong lúc đó, Đức Chúa Giêxu đi lên núi để cầu nguyện và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời” (LuLc 6:12). Sự Hóa hình đã diễn ra khi Ngài “ lên trên núi để cầu nguyện. Đương khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường” (9:28-29).
Chúa Giêxu đã dạy các môn đệ Ngài rằng “ phải cầu nguyện luôn chớ hề mỏi mệt” (LuLc 18:1-8). Ngài đã chứng tỏ rằng một cuộc sống cầu nguyện bền đỗ : “ Còn đến chiều ( mỗi buổi chiều) Ngài đi lên núi, gọi là núi Oâlive mà ở đêm tại đó” (21:37) : “ Đức Chúa Giêxu ra đi, lên núi Oâlive theo như thói quen .... quì xuống mà cầu nguyện (22:39, 41).
16. Hãy mô tả điều mà gương mẫu của Chúa Giêxu dạy chúng ta về tầm quan trọng của sự cầu nguyện đối với người lãnh đạo.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Sự cầu nguyện trong Hội Thánh Đầu Tiên
Cầu nguyện là một yếu tố quan trọng trong sự trưởng thành và phát triển của Hội Thánh đầu tiên. Người ta cầu nguyện chung với nhau lẫn cầu nguyện riêng. Sách Công vụ đầy dẫy những phần ký thuật về những nhà lãnh đạo Hội Thánh ở trong sự cầu nguyện và những kết quả đã xảy ra. Hãy xem xét một số các trường hợp đó.
17. Hãy tìm những khúc Kinh Thánh này trong sách Công vụ và ghi xuống ai đã cầu nguyện và họ đã cầu nguyện ở đâu.
AI ĐÃ CẦU NGUYỆN ? Ở ĐÂU?
a. Cong Cv 1:12-14, 23-26 ...............................................................................................
b. 2:42-47 ...........................................................................................................
c. 3:1 ....................................................................................................................
d. 10:9 ..................................................................................................................
e. 16:25 ................................................................................................................
f. 21:5 ..................................................................................................................
g. 27:35 ...............................................................................................................
18. Hãy nối kết mỗi khúc Kinh Thánh với kết quả của sự cầu nguyện mà nó bày tỏ
1. 2:1-4; 4:31 2. 6:6; 13:2-3 3. 9:40 4. 12:5-17 5. 28:8
Vì vậy chúng ta thấy rằng cầu nguyện đã là một phần thiết yếu cho sức sống và sự thành công thuộc linh của những nhà lãnh đạo trong Hội thánh đầu tiên. Họ đã khám phá ra rằng họ sẽ không để vấp ngã nếu họ đã bước đi bằng đầu gối cầu nguyện ! Phúc âm được tiến triển khi các tín hữu cầu nguyện. Sau khi các bạn của Phierơ và Giăng hiệp với nhau trong sự cầu nguyện, “ thì nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ”. (4:31). Những Cơ Đốc nhân đó đã biết quyền năng của sự cầu nguyện nóng cháy và công bình ! Những lời cầu nguyện sốt sắng của họ đã đem lại sự trả lời ngay tức khắc. Đức Chúa Trời đã phán với Anania rằng ông phải chấp nhận Saulơ ( cũng được gọi là Phaolô) ở trên đường ngay thẳng “ vì người đang cầu nguyện” (9:11). Ngay khi Phaolô đã cầu nguyện xin sự hướng dẫn thiên thượng, nguyện vọng của ông đã đang được trả lời !
19. Khi quan sát về điều đã diễn ra trong sách Công vụ, bạn sẽ đáp ứng thế nào với một người lãnh đạo nhóm, là người muốn dành nhiều thì giờ hơn cho việc giảng dạy và giảm bớt thì giờ cầu nguyện?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Cầu Nguyện và Thánh Linh của Đức Chúa Trời
Cầu nguyện không phải chỉ là cố gắng của chúng ta để hướng đến Đức Chúa Trời, nhưng nó còn gồm cả sự cộng tác của Chúa nữa. Chính Đức Thánh Linh là Đấng thúc giục và ban ý nghĩa cho sự cầu nguyện. “ Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các Thánh Đồ vậy.” (RoRm 8:26-27).
Hai câu Kinh Thánh này rất quan trọng đối với chúng ta. Có những suy nghĩ và mong ước trong lòng chúng ta, chúng quá sâu xa đến nỗi không thể được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người. Tuy nhiên, chúng không vượt khỏi sự chú ý của Đức Chúa Trời và ĐTL cầu thay cho chúng ta “ theo ý Đức Chúa Trời” (Câu 27).
20. Hãy áp dụng Eph Ep 6:18 vào đời sống của bạn là một người lãnh đạo Cơ Đốc.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Những trở lực chính của sự cầu nguyện.
Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng những lời cầu nguyện của chúng ta có thể bị cản trở bởi vì những điều cần phải sửa đổi trong đời sống của chúng ta. Một vài trở lực chính cho lời cầu nguyện của chúng ta được nhậm là :
1. Cầu xin sai lầm (Gia Gc 4:1-4)
2. Những động cơ sai lầm (Mat Mt 6:5-8)
3. Kiêu ngạo (Thi Tv 138:6)
4. Một tinh thần không tha thức (Mat Mt 5:23-24)
5. Sự cay đắng (HeDt 12:15).
6. Nghi ngờ (Gia Gc 1:5-7)
21. Tìm những khúc Kinh Thánh sau đây và phát biểu mỗi khúc Kinh Thánh bày tỏ tại sao những lời cầu nguyện của chúng ta có thể không trả lời :
a. IISu 2Sb 7:14 ....................................................................................................
b. 15:2 ....................................................................................................
c. Thi Tv 66:18 ................................................................................................
d. ChCn 21:13 ............................................................................................
e. 28:9 ..............................................................................................
f. Mat Mt 17:20-21; 21:22 ................................................................................
g. IPhi 1Pr 3:7 ......................................................................................................
h. IGi1Ga 3:22 .....................................................................................................
I. 5:14-15 ...............................................................................................
Cầu nguyện và Kiêng ăn
Có một sự liên kết không thể nhầm lẫn được trong Kinh Thánh giữa sự cầu nguyện và kiêng ăn. Là một người lãnh đạo Cơ Đốc bạn cần phải biết những nguyên tắc kiêng ăn và dùng chúng để bổ sung cho đời sống cầu nguyện của bạn.
Kiêng ăn gì ? Kinh Thánh không định nghĩa kiêng ăn. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát thấy nó bao gồm cả sự tiết chế trong một thời gian về mọi thứ thực phẩm lẫn việc chỉ ăn sơ sài một số loại thức ăn trong một khoảng thời gian. Kiêng ăn không phải là ăn kiêng khem ! Mục đích chính của nó là đem thân thể chúng ta đến chỗ lệ thuộc vào linh hồn chúng ta để chúng ta có thể cống hiến mình hoàn toàn vào sự cầu nguyện. Thánh Kinh dạy chúng ta rằng có những lãnh vực chiến thắng thuộc linh mà chỉ có thể được bảo đảm thông qua kỷ luật trong sự cầu nguyện và kiêng ăn.
Danh sách các nhà lãnh đạo trong Kinh Thánh đã kiêng ăn vì những lý do đặc biệt rất là cảm động. Gồm có những con người như : Môise, Đavít, Nêhêmi, Đaniên, Eâli, Giêxu, và Phaolô. Tại sao họ đã kiêng ăn? Khi Đavít kiêng ăn, ông đã hạ mình trước Đức Chúa Trời (Thi Tv 69:10). Đức Chúa Trời phán bảo qua Giôên và nói cho dân sự “ Hãy hết lòng trở lại cùng ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu” (Gion Gn 2:12). Trong trường hợp này kiêng ăn kèm theo những lời cầu nguyện ăn năn, Đaniên đã “ Để mặt hướng về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khấn nguyện, nài xin với sự kiêng ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm “để cầu thay cho dân sự (DaDn 9:3). Sự nhiệt thành trong cầu nguyện của ông đem lại một sự mặc khải từ Đức Chúa Trời.
Các nhóm người cũng đã kiêng ăn. Họ gồm có dân Ysơraên trước núi Sinai, dân sự trước sông Giôđanh, Giêhôsa phát và cả Giuđa trước trận chiến,và cả thành Ninive trong sự ăn năn của họ. Khi dân sự Ninive kiêng ăn, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã xoay khỏi họ (Gion Gn 3:5, 10 ). Hội Thánh đầu tiên đã kiêng ăn trước khi phái Phaolô ra đi truyền giáo (Cong Cv 13:2) và trước khi phong chức cho những trưởng lão (14:23).
Hội Thánh Cơ Đốc đã luôn luôn nhìn nhận giá trị của việc kiêng ăn. Nhiều người năm và người nữ vĩ đại của Đức Chúa Trời trải qua hằng bao thế kỷ đã đều đặn kiêng ăn như một phần trong kỷ luật thuộc linh của họ. Kiêng ăn đã là một trong những dấu hiệu bảo đảm của phong trào kinh viện trong thời tăng lữ. Nó là một nét đặc trưng của đời sống theo chủ nghĩa tận hiến ( Pietistic) đã sản sinh nhiều con người thánh thiện. John Wesley đã nhấn mạnh việc kiêng ăn và yêu cầu các thầy giảng trong cuộc Phấn Hưng Giám Lý phải kiêng ăn hai ngày mỗi tuần cho đến bốn giờ chiều.
Chúng ta cũng phải có lời khuyến cố về sự kiêng ăn. Sự kiêng ăn cũng như bất cứ kỷ luật thuộc linh nào khác, có thể trở thành thiếu ý nghĩa thực sự và không đem lại gì cho sự tăng trưởng thuộc linh của chúng ta cả. Chúng ta đã xem xét lời cảnh cáo của Chúa cho các nhà lãnh đạo Ysơraên thông quan tiên tri Êsai (EsIs 58:1-8) trong bài 5 ( xem Hình 5. 5). Dân sự đã giữ một sự kiêng ăn trống rỗng khi bỏ qua sự phục vụ cho những nhu cầu xã hội của con người. Chúa Giêxu cũng đã quở trách các nhà lãnh đạo đồng thời với Ngài vì cớ họ chỉ giữ hình thức bề ngoài tương tự về những điều thuộc linh (Mat Mt 15:1-9). Chúng ta phải bảo đảm rằng việc kiêng ăn của chúng ta được dựa trên một động cơ chính đáng và được thực hiện trước sự chứng kiến của Chúa chứ không phải con người.
22. (Hãy chọn những câu trả lời đúng). Những gương mẫu kiêng ăn trong Kinh Thánh và từ lịch sử dạy chúng ta rằng :
a. Những lời cầu nguyện của chúng ta sẽ không được nhậm nếu chúng ta không kiêng ăn.
b. Kiêng ăn giúp cho thân thể chúng ta đầu phục với phần tâm linh hầu cho chúng ta có thể tập trung vào việc đạt đến ngôi Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện.
c. Mục đích của việc kiêng ăn là để bày tỏ cho các thuộc cấp của chúng ta rằng chúng ta có kỷ luật thuộc linh.
d. Khi những nhà lãnh đạo có những nhu cầu lớn lao, họ thấy tầm quan trọng của kiêng ăn và cầu nguyện trong việc giúp đỡ họ tìm kiếm mặt Chúa và nhận được sự trả lời từ nơi Ngài.
e. Kiêng ăn có thể là giả hình nếu những động cơ của chúng ta sai lầm.
f. Trong sự kiêng ăn cầu nguyện chân thành có năng quyền thuộc linh.
Rõ ràng là sức mạnh của chức vụ lãnh đạo của bạn tùy thuộc vào sức mạnh trong đời sống cầu nguyện của bạn và sự tận tụy của bạn đối với Lời Chúa. Trong khi một nhà lãnh đạo có rất nhiều điều ưu tiên quan trọng, không điều nào có thể vượt qua những điều này, là những điều thiết yếu cho sự phát triển thuộc linh của bạn, giúp bạn trở thành càng giống Chúa Giêxu, là Đấng lãnh đạo Phục vụ vĩ đại !.
Bài kiểm tra
CÂU CHỌN LỰA. Những câu sau đây thể hiện những ứng dụng của các nguyên tắc mà chúng ta đã bàn luận trong bài học này là bài học đề cập đến những điều ưu tiên của một người lãnh đạo phục vụ. Hãy viết :
A. Vào khoảng trống nếu có là một sự áp dung đúng .
B. Nếu sự áp dụng KHÔNG đúng .
....1. Bởi vì Michael tin nơi điều ưu tiên hàng đầu của mình trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời, ông sẽ không để cho điều gì làm gián đoạn thời khóa biểu mỗi ngày để đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, kể cả một việc khẩn cấp của gia đình đi nữa cũng vậy.
....2. Khi Robert hoạch định cho thời khóa biểu hàng tuần của mình, anh có kể một giờ để giải trí với gia đình mình ít nhất bốn lần mỗi tuần. Khi anh phải đi xa nhà nhiều ngày, lúc trở về anh để ra ít nhất nửa ngày để giải trí với gia đình.
....3. Alfredo là một mục sư bận rộn của một Hội Thánh lớn. Chương trình mỗi ngày của anh bao gồm nghiên cứu và cầu nguyện, hướng dẫn khải đạo, chuẩn bị bài giảng, đôi khi có những cuộc hẹn nói chuyện, và họp ban ngành. Trong hầu hết các thì giờ đó, vợ của ông có nhiệm vụ phải làm các công tác gia đình, bởi vì Alfredo không có thì giờ cũng như sức lực để làm những công việc đó.
....4. Sara là nhạc trưởng của Hội thánh. Cô cố gắng đọc Kinh Thánh và cầu nguyện mỗi buổi sáng, nhưng cô nhìn nhận rằng điều ưu tiên hàng đầu trong sự cầu việc Chúa của cô là việc soạn và tập các bản nhạc cho các buổi thờ phượng của Hội Thánh.
....5. Johannes, một mục sư, đã được giao cho một vị trí quan trọng trong đoàn truyền giáo thuộc giáo phái của ông, ông không chấp nhận vị trí này bởi vì vợ và các con ông sẽ phải bị rời khỏi nơi sinh sống lâu nay vì thì giờ của ông dành cho họ sẽ bị giới hạn nghiêm trọng.
....6. Steven gán cho sự thành công về tài chánh của ông là do những lời cầu nguyện sốt sắng hàng ngày của mình rằng Đức Chúa Trời sẽ làm cho chức vụ của ông được thành công đến nỗi ông có thể chu cấp đầy đủ cho gia đình mình. Ông tin rằng gia đình của ông sẽ là một vai trò gương mẫu để bày tỏ cho thế giới rằng sự sung túc của Cơ Đốc nhân tùy thuộc vào đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Hãy theo lời chỉ dẫn dành cho mỗi nhóm câu hỏi.
7. Hãy nhận xét những điều ưu tiên sau đây và đánh số cho chúng tùy theo lượng thời gian mà bạn vừa dành cho mỗi điều ưu tiến. Số 1 sẽ là điều ưu tiên trên hết.
...a. Thì giờ rãnh rỗi cá nhân
...b. Những công việc gia đình
...c. Cầu nguyện
...d. Những việc liên quan đến chức vụ
...e. Những cuộc nói chuyện tích cực với các thành viên trong gia đình
...f. Kiếm tiền
...g. Đọc Kinh Thánh và suy gẫm
...h. Đọc những văn phẩm, tạp chí hoặc nhất báo của đời này.
...I. Đọc các sách hoặc ấn phẩm Cơ đốc.
...j. Cầu nguyện kiêng ăn
8. Đánh giá những điều ưu tiên của bạn trong mỗi một lãnh vực sau đây và phát biểu những điều thay đổi nào bạn đang làm trong những điều ưu tiên của mình như là kết quả của điều bạn đã nghiên cứu trong bài học này.
a. Bạn và gia đình của mình : ................................................................................
...............................................................................................................................
b. Bạn và việc quản lý của mình : .........................................................................
...............................................................................................................................
c. Bạn là Lời Chúa : .............................................................................................
...............................................................................................................................
d. Bạn và việc nghiên cứu : ...................................................................................
...............................................................................................................................
e. Bạn và đời sống cầu nguyện của bạn : ..............................................................
...............................................................................................................................
PHẦN ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ THEO ĐƠN VỊ 2
Bây giờ hãy ôn lại các bài học từ 4 đến 6 để chuẩn bị cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị 2. Bạn sẽ tìm ra nó và biểu mẫu trả lời trong tập học viên của bạn. Trả lời tất cả các câu hỏi mà không được xem sách Giáo khoa nghiên cứu độc lập, vở ghi chép hoặc Kinh Thánh. Gởi bản trả lời của bạn cho nhân viên hướng dẫn ICI cùng với những tài liệu khác được chỉ định trong tờ bìa của tập học viên. Rồi bạn có thể tiếp tục việc nghiên cứu bài 7.

Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu
1. Câu trả lời của bạn, những yếu tố này bày tỏ rằng gia đình chúng ta cần phải giữ một thứ tự ưu tiên trong chương trình cho các hoạt động của chúng ta.
2. Các câu trả lời gợi ý :
a. Trước tiên, cha mẹ có thể bày tỏ rằng mình yêu mến Chúa với cả tấm lòng, linh hồn và sức mạnh. Thứ đến, họ có thể dạy lẽ thật Kinh Thánh cho con cái mình và khắc sâu vào lòng chúng tầm quan trọng trong sự vâng lời Chúa. Thứ ba, nói chuyện về Đức Chúa Trời cần phải là một phần tự nhiên trong các mẫu đối thoại của gia đình Cơ Đốc.
b. Họ và con cái của họ sẽ thỏa lòng sống lâu. Họ sẽ được phước và thêm lên nhiều.
c. Bởi vì tuân theo những điều đó sẽ đem lại cuộc sống gia đình phước hạnh nhất.
3. Đức Chúa Trời ghét việc ly dị bởi vì Chúa đã dựng nên chồng và vợ là một thịt để họ có thể lưu truyền một dòng dõi thánh.
4.a. Tình yêu
b. Sự vâng phục
c. Vâng phục hoặc kính trọng
d. Vâng phục yêu thương
5. Câu trả lời của bạn. Tôi hy vọng rằng khả năng bạn có thể nhận được những lá thư như thế là rất nhỏ.
6. Câu trả lời của bạn. Điều này có bày tỏ lãnh vực yếu đuối nào không?
7. Câu trả lời của bạn
8. Câu trả lời của bạn cần phải bày tỏ một vài sự khác biệt giữa những điều ưu tiên được liệt kê và trong thực tế, rồi phải chỉ định rõ những thay đổi mà có lẽ bạn cần phải làm.
9. Tôi hy vọng rằng bạn đã trả lời câu c
10.a. Họ rơi vào cám dỗ và bẫy rập cũng như những tham muốn vô lý thiệt hại. Bị lầm lạc trong đức tin và chuốc lấy nhiều điều đau đớn.
b. Đừng kiêu ngạo hoặc để lòng trông cậy nơi của cải, nhưng phải đề lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời. Làm điều lành và làm nhiều điều phước đức. Phải có lòng rộng rãi và sẵn sàng chia xẻ.
11.a. Người ấy không được là một người ham tiền bạc
b. Người ấy không được tham lợi phi nghĩa
c. Người ấy không được tham lợi phi nghĩa
12. Các câu trả lời a,c e,f và g là những câu đúng
13. Câu trả lời của bạn. Lợi ích chính yếu đó là khi chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta được trực tiếp nghe tiếng phán của Ngài. Không quyển sách nào khác có thể đem lại điều này.
14. Câu trả lời của bạn. Bạn có nghĩ rằng mình đã có một sự quân bằng tốt đẹp trong việc đọc sách báo không?
15. Đánh dấu những đoạn nỗi bật bằng một cây bút màu, ghi chú về điều bạn đọc, lưu trữ các dữ liệu vào những mẫu giấy nhỏ.
16. Gương mẫu của Chúa Giêxu cho chúng ta thấy sự giao thông bền đỗ với Đức Chúa Cha đã là nguồn năng lực lớn nhất của Ngài. Đây cũng là nguồn năng lực và nguồn dẫn dắt lớn lao nhất của chúng ta.
17 a. 120 môn đồ. Ở tại Phòng Cao.
b. Các tín hữu. Ở nhà
c. Phierơ và Giăng. Tại đền thờ
d. Phierơ. Trên mái nhà
e. Phaolô và Sila. Trong tù
f. Hội Thánh. Ở bờ biển
g. Phaolô. Trên một con tàu gặp bão
18. a 4) Cong Cv 12:5-7
b 2) 6:6, 13:2-3
c. 5) 28:8
d. 1) 2:1-4; 4:31
e 3) 9:40
19. Câu trả lời của bạn. Tôi sẽ khích lệ người lãnh đạo tiếp tục với thì giờ cầu nguyện và đừng giảm bớt.
20. Chúng ta cần phải cầu nguyện bền đỗ trong Thánh Linh ở mọi hoàn cảnh bằng mọi cách kêu xin và cầu nguyện cho những người mà chúng ta đang lãnh đạo.
21.a. Thiếu sự khiêm nhường có hành vi gian ác.
b. Khi chúng ta lìa bỏ Đức Chúa Trời
c. Sẵn sàng phạm tội
d. Không để ý đến người nghèo khổ
e. Không muốn nghe lời Chúa
f. Không tin, thiếu đức tin
g. Thiếu sự quí trọng các thành viên trong gia đình.
h. Thiếu sự vâng lời
I. Không cầu nguyện theo ý muốn Đức Chúa Trời.
22.b. Kiêng ăn giúp cho thân thể chúng ta đầu phục...
d. Khi những nhà lãnh đạo có những nhu cầu lớn lao...
f. Trong sự kiêng ăn cầu nguyện chân thành có năng quyền thuộc linh.
Trong đơn vị này chúng ta sẽ xem xét nếp sống của ba nhà lãnh đạo nổi bật trong Kinh Thánh. Chủ tâm chính của chúng ta là khám phá ra phương cách vận dụng của mỗi người trong một chức vụ đặc biệt và độc đáo. Chúng tôi đã chọn sứ đồ Phaolô vì phương thức áp dụng loại lãnh đạo của ông đã đáp ứng các hoàn cảnh khác nhau. Nêhêmi được chọn vì ông minh chứng được sự lãnh đạo phối hợp và Banaba minh họa khả năng của một người lãnh đạo phục vụ kèm với các nhà lãnh đạo khác. Qua tất cả các gương mẫu này những người lãnh đạo Cơ Đốc ngày nay có thể nhận được những lời giáo huấn và sự hà hơi .

PHAO LÔ : LÃNH ĐẠO THEO HOÀN CẢNH
Sứ đồ Phaolô là một trong những nhân vật vĩ đại trong Tân Ước. Theo một quyển sách được viết vào thế kỷ thứ hai cho biết rằng : “ Ông là một người có dáng vóc nhỏ bé, đầu hơi hói, chân không thẳng, có một thân thể cường tráng với đôi mắt nhỏ và cái mũi hình móc câu” ( tenney, trang 625). Phaolô thật sự giống ai vẫn còn ở trong tưởng tượng có nghĩa là chúng ta không biết chắc. Điều quan trọng hơn đối với chúng ta là điều ông suy nghĩ, lời giáo huấn ông đã viết, và kiểu mẫu nếp sống Cơ Đốc mà ông đã sống.
Kinh Thánh mô tả Phaolô là một người quảng đại, nỗng nhiệt, đầy đức tin và hoàn toàn phó mình cho sự rao giảng Phúc Âm của Chúa Giêxu. Một trong những ân tứ lãnh đạo vĩ đại là khả năng dễ thích nghi của ông. Trải qua nhiều năm trong chức vụ, các thư tín của ông bày tỏ một sự khai triển, thanh lọc một vài sự hiểu biết về giáo lý và mô tả sự khả năng chu toàn nhiệm vụ của một người lãnh đạo theo hoàn cảnh. Nói cách khác, Phaolô thay đổi theo nhu cầu của các Hội Thánh và các đồng công của ông. Ông có sự khoan dung giữa những dị biệt văn hóa của người Do Thái và người Hy Lạp. Khi công việc mở mang và trách nhiệm của Phaolô gia tăng, ông đã có sự sửa đổi rất sáng tạo trong các phương cách làm việc khác nhau.
Các tình huống mà chúng ta là những người lãnh đạo Cơ Đốc phải đối diện cũng đòi hỏi những hành động thích nghi. Tôi tin Phaolô có thể cho chúng ta một vài kiến thức quan trọng trong điều này. Chúng ta hãy học tập đôi điều liên quan đến hình thức lãnh đạo năng động này từ người thầy giáo có tên là Phaolô người Tạc Sơ
Dàn bài
Sự năng động của chức vụ lãnh đạo theo hoàn cảnh
Nếp sống của Phaolô: Cái nhìn khái quát
Sự lãnh đạo của Phaolô: Bốn trường hợp học tập
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể :
Giải thích các nguyên tắc lãnh đạo theo hoàn cảnh
Ứng dụng vào các hoàn cảnh đã cho bốn loại lãnh đạo theo hoàn cảnh khác nhau.
Phân tích các lý do về loại lãnh đạo Phaolô đã dùng cho mỗi một tình huống trong bốn hoàn cảnh khác nhau.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo phương cách bình thường. Trả lời các câu hỏi nghiên cứu trước khi kiểm tra lại với câu trả lời chúng tôi đã đưa ra ở cuối bài họ.
Bài học này dựa trên những phần Kinh văn khác nhau trong sách Công vụ và bốn thư tín của Phaolô. Phải đọc kỹ các phần Kinh Thánh khi bạn gặp chúng trong phần khai triển bài học. Ghi chú lại để có thể nhớ và hiểu nội dung.
Làm bài kiểm tra và xem lại các câu trả lời của bạn.

Các từ then chốt
Làm cho hoạt động
Sự đối nghịch
Mối bất đồng
Thôi thúc, bó buộc
Xung khắc
Động viên
Làm hư hong, xuyên tạc
Sự biện hộ
Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Học thuộc biểu đồ minh họa sự năng động của việc lãnh đạo theo hoàn cảnh và áp dụng các quan niệm này vào các hoàn cảnh được cho.
SỰ NĂNG ĐỘNG CỦA CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO THEO HOÀN CẢNH
Trong đơn vị nghiên cứu đầu tiên chúng tôi có một lời giới thiệu khái quát và thuật lãnh đạo theo hoàn cảnh. Bây giờ chúng tôi muốn nghiên cứu quan điểm này ở một mức độ sâu hơn, vì đây là một trong các nguyên tắc có giá trị hơn hết mà người lãnh đạo Cơ Đốc có thể học tập được. Một khi nhìn vào tính năng động của thuật lãnh đạo theo hoàn cảnh chúng ta sẽ thấy chúng thể hiện trong chức vụ của Phaolô.
Phaolô đã không mô tả loại lãnh đạo của mình là “ theo hoàn cảnh”. Từ này là sản phẩm của khám phá hiện đại. Tuy nhiên, triết lý của chức vụ Phaolô bày tỏ rõ ràng là ông rất nhạy bén và uyển chuyển theo mỗi hoàn cảnh. Ông viết như sau “ Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối hầu được những người yếu đuối; Tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người để cứu được một vài người không cứ cách nào” (ICo1Cr 9:22). Đây là lời nói của một người lãnh đạo theo hoàn cảnh. Phaolô có thể sửa đổi phương cách của mình cho thích hợp với mỗi một hoàn cảnh ông đối diện, khả năng này giúp ông trở nên một trong những nhà truyền giáo hiệu quả nhất của Hội Thánh ban đầu.
Điều gì đã khiến cho những thành đạt của Phaolô càng đáng để ý khi ông chỉ là một công nhân bán thời gian! Ông đã chọn nghề may trại có nghĩa là ông chỉ có ít thời gian mỗi ngày để rao giảng, dạy dỗ, viết lách, thăm viếng và khích lệ các tín hữu. Thật Đức Chúa Trời đã chúc phước một cách đầy quyền năng những thì giờ mà Phaolô đã có thể cống hiến cho chức vụ !
1. Để ôn lại những gì chúng ta đã học về thuật lãnh đạo theo hoàn cảnh trong bài 1. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu đúng.
a. Thuật lãnh đạo theo hoàn cảnh bao gồm một loại lãnh đạo lý tưởng duy nhất.
b. Những người lãnh đạo hiệu quả tùy thuộc vào mức độ mà họ có thể sửa lại các phương cách của mình để đáp ứng các nhu cầu của các thuộc hạ.
c. Mỗi một hoàn cảnh đòi hỏi người lãnh đạo có một các đáp ứng duy nhất.
d. Mối liên hệ giữa người lãnh đạo và các thuộc hạ không phải là một yếu tố quan trọng sự lãnh đạo theo hoàn cảnh.
e. Người lãnh đạo theo hoàn cảnh xử lý với mỗi bối cảnh khác nhau.
f. Những người lãnh đạo theo hoàn cảnh xử lý với mỗi nhóm thuộc hạ một cách khác nhau.
Một trong các cách dễ hiểu nhất về tính năng động của sự lãnh đạo theo hoàn cảnh là nắm vững biểu đồ được trình bày trong hình 7.1. Tôi đã lấy kiểu mẫu Phổ thông của đời này được Hersey và Blanchard khai triển và thay đổi một ít để giúp cho các nhà lãnh đạo Cơ Đốc. Sau khi giải thích biểu đồ, tôi thường dùng nó để minh họa các điểm nào đó khi chúng ta quan sát bốn trường hợp học tập liên hệ đến sứ đồ Phaolô.
Cũng như nhiều biểu đồ khác, Hình 7.1 có giới hạn của nó. Các sự việc lúc nào cũng không đơn giản đến nỗi có thể vẽ ra một cách gọn ghẽ trên một cái họa đồ. Họa đồ cũng không hiệu quả trong các hoàn cảnh có sự giao lưu văn hóa. Bạn có thể ở trong một bối cảnh đòi hỏi một sự đáp ứng khác nhau tận gốc rễ đối với những điểm đã chọn lọc trong Hình 7.1. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo trẻ từ nhiều quốc gia đã thấy rằng các nguyên tắc này giúp họ có một kiến thức hữu dụng trong việc phát triển các kỹ năng lãnh đạo của họ.
CAO
BIỂU ĐỒ LÃNH ĐẠO THEO HOÀN CẢNH
3 PHỐI HỢP
Chia xẻ các ý kiến và lập quyết định liên kết
4 ỦY THÁC
Chuyển sang cho các thuộc cấp lập các quyết định
2 THUYẾT PHỤC
Giải thích các quyết định và tìm kiếm sự hợp tác
1 TUYÊN BỐ
Lập quyết định và tuyên bố ra.
THẤP
NHIỆM VỤ
2. Lấy một tờ giấy và thực hành vẽ lại biểu đồ trong Hình 7.1 cho đếnkhi bạn có thể vẽ lại biểu đồ hoàn toàn từ trong trí nhớ.
Như hình 7.1 bày tỏ, lãnh đạo theo hoàn cảnh là chọn lựa kiểu lãnh đạo phù hợp nhất cho một hoàn cảnh đặc biệt từ bốn thể loại thay đổi. TUYÊN BỐ, THUYẾT PHỤC, PHỐI HỢP VÀ ỦY THÁC.
1. TUYÊN BỐ : Tuyên bố là sự truyền thông một chiều. Người lãnh đạo chỉ tuyên bố hoặc cho các thuộc cấp biết điều gì, cách nào, và khi nào sự việc phải được thi hành. Không có dịp tiện nào dành cho sự phối hợp hoặc hỏi ý kiến- Người lãnh đạo trông đợi một đáp ứng tức khắc, sẵn lòng. Sự hoàn tất nhiệm vụ được xem là vấn đề quan trọng nhất.
Các từ then chốt : Phán bảo, hướng dẫn, chỉ huy, thiết lập, tuyên bố.
2. THUYẾT PHỤC Người lãnh đạo dùng những cố gắng theo kiểu này để “bán” các ý tưởng và làm cho các thuộc hạ tin rằng một số hành động và đối xử là đáng giá. Nhiệm vụ vẫn được xem là quan trọng nhưng mối liên hệ con người cũng được xem như vậy. Một cố gắng được thực hiện để làm cho các thuộc cấp cảm thấy rằng họ là chủ của dựa án.
Các từ then chốt : Giải thích, làm cho tin, làm cho hoạt động, động viên, thôi thúc.
3. PHỐI HỢP : Người lãnh đạo và các thuộc cấp bây giờ gắn bó với nhau trong việc lậpm quyết định. Đây là công việc của nhóm. Người lãnh đạo khởi xướng một cách tổng quát và giữ vai trò chính yếu, nhưng những thuộc cấp dự phần rất nhiều vào những gì đang diễn ra. Các cuộc thảo luận đều dựa trên căn bản “Chúng ta có thể làm việc này như thế nào?” ý tưởng về phát triển một nhóm chiếm phần ưu thế hơn việc chỉ hoàn tất nhiệm vụ.

Các từ then chốt : Dự phần, tham dự, tiếp nhận, chia xẻ.
4. ỦY THÁC : Với cách này, những thuộc cập được giao phó để “ tự giải quyết lấy”. Người lãnh đạo hành động trong vai trò cố vấn và thường sẵn sàng để chịu các thuộc hạ bác bỏ nếu họ quyết định theo một phương pháp khác để hoàn thành nhiệm vụ. Người lãnh đạo tiếp xúc tối thiếu với các thuộc cấp và có lẽ không hề có một mối liên hệ cá nhân thân mật với họ. Điều quan trọng ở đây chính là cách các thuộc cấp có thể làm việc với nhau mà ít được người lãnh đạo điều khiển.
Các từ then chốt : quan sát, giao phó, ủy quyền, cho phép.
Hiểu biết sự khác biệt giữa những nhiệm vụ ( công việc) và các mối liên hệ (Hỗ tương tác dụng với những thuộc cấp) là điều chủ chốt đối với bạn, là người lãnh đạo, để bạn sẽ biết được chính xác cách nào cần được nhấn mạnh. Nhiều người lãnh đạo đã phải chịu đựng thất bại vì một lý do đơn giản là họ đã dùng một phương pháp tốt ở một thời điểm không phù hợp !
Ý tưởng đã có một thời được quen thuộc đó là những người lãnh đạo tự nhiên đã có khuynh hướng về nhiệm vụ lẫn về những mối liên hệ con người. Bạn có thể nhận biết cách cá nhân về những nhà lãnh đạo tập trung về nhiệm vụ đã được mô tả bằng từ ngữ “ người ham công việc” và “ những cấp cao năng luyện tập” ( drill sergeants”). Những nhà lãnh đạo khác có thể thấy dường như quan tâm nhiều hơn về những thuộc cấp, họ để khá nhiều thì giờ giải quyết những vấn đề của nhân viên. Hai loại người này được xem là xung khắc với nhau. Nhà lãnh đạo đã phải chọn hoặc người ấy sẽ tập trung vào nhiệm vụ phải thực hiện, hoặc chuyên chú về sáng tạo và duy trì những mối quan hệ hòa hợp.
Bây giờ chúng ta biết rằng một nhà lãnh đạo cần phải chọn hoặc nhiệm vụ hoặc các mối liên hệ trở nên thể loại lãnh đạo chủ yếu của mình. Nhà lãnh đạo cần phải trưởng thành và được cho biết đầy đủ để thay đổi đường lối của mình tùy theo nhu cầu của thuộc cấp và bối cảnh. Nhà lãnh đạo hữu hiệu ngày nay là một người có thể uyển chuyển được và có thể chuyển từ một đường lối này sang một đường lối khác nếu tình huống đòi hỏi như vậy.
3. Hãy phát biểu đường lối của thuật lãnh đạo theo hoàn cảnh phù hợp với mỗi một điều mô tả sau đây:
a. Thấp nhất về khuynh hướng nhiệm vụ lẫn khuynh hướng liên hệ
...............................................................................................................................
b. Quan tâm đều nhau về khuynh hướng nhiệm vụ lẫn về khuynh hướng mối liên hệ
...............................................................................................................................
c. Quan tâm nhiều nhất về khuynh hướng nhiệm vụ
...............................................................................................................................
d. Quan quan nhiều nhất về khuynh hướng các mối liên hệ
...............................................................................................................................
4. Nối kết mỗi một đường lối theo hoàn cảnh với những từ có thể chuyển đổi then chốt mô tả chức năng của nó

5. Hãy cho biết đường lối nào trong bốn đường lối lãnh đạo theo hoàn cảnh được dùng trong mỗi trường hợp sau :
a. Mục sư Green đang cố gắng để làm cho nhân viên của ông tin rằng mỗi thành viên cần phải thăm viếng ít nhất là năm gia đình mỗi tuần.
...............................................................................................................................
b. Mục sư Blane và ban trị sự của ông đều dự phần vào một nhóm cố gắng truyền giáo cho hàng xóm.
...............................................................................................................................
c. Mục sư Hill đã chuyển giao toàn bộ trách nhiệm về Trường Chúa Nhật và việc huấn luyện các giáo viên cho nhân viên chỉ đạo giáo dục của ông.
...............................................................................................................................
d. Giám đốc truyền giáo đã triệu tập một cuộ họp của tất cả các nhà truyền giáo trong vùng để chỉ đạo cho họ về phương pháp phải áp dụng để làm báo cáo tài chánh cho Ban Giám Đốc truyền giáo.
...............................................................................................................................
6. Đường lối lãnh đạo theo hoàn cảnh được mô tả đầy đủ nhất trong câu nào sau đây?
a. Có khuynh hướng nhiệm vụ nhiều hơn khuynh hướng mối liên hệ.
b. Có khuynh hướng về mối liên nhiều hơn là khuynh hướng nhiệm vụ.
c. Uyển chuyển
d. Xung khắc
Mục tiêu 2 : Trở nên quen thuộc với cuộc đời của Phaolô bằng cách đọc những khúc Kinh Thánh được cho để mô tả những sự kiện về ba cuộc hành trình truyền giáo của ông.
NẾP SỐNG CỦA PHAO LÔ : CÁI NHÌN KHÁI QUÁT
Chúng ta sẽ nghiên cứu sự lãnh đạo của Phaolô bằng cách xem xét một vài sự kiện nổi bật nhất trong đời sống của ông. Điều tập trung của chúng ta là những hành động lãnh đạo nêu lên những nguyên tắc lập quyết định theo hoàn cảnh.
Chúng ta sẽ chấp nhận sự phán đoán của số đông học giả Phúc Âm đối với các sự kiện liên tục trong đời sống Phaolô và thứ tự mà ông đã viết các thư tín.
Có một dàn bài đơn giản cho thứ tự các sự kiện trong chức vụ của Phaolô là một điều rất hữu ích. Những đồ biểu được cho trong các trang sau đây : Hình 7.2, Hành trình Truyền giáo thứ nhất. Hình 7.3, Cuộc hành trình Truyền giáo thứ hai, Hình 7.4, Cuộc hành trình Truyền giáo thứ ba.
7. Theo các bố cục được cho ở Hình 7,2,7,3, và 7,4, hãy đọc các khúc Kinh Thánh trong Công vụ để có được một cái nhìn khái quát về các sự kiện chính trong ba cuộc hành trình truyền giáo của Phaolô. Có thể bạn sẽ muốn ghi chú thêm những chi tiết được khám phá khi bạn đọc Kinh Thánh.
CUỘC HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO LẦN THỨ I CỦA PHAOLÔ
Cong Cv 13:1-15:29
1. Hội thánh Antiốt đã sai phái Phaolô và Banaba (13:1-3)
2. Họ đi với Giăng Mác đến Chíprơ (13:4)
3. Họ giảng đạo trong các nhà hội Do Thái ỏ Salamin (13:5)
4. Quan trấn thủ tin nhận Chúa tại Baphô (13:6-12)
5. Giăng Mác trở lại Giêrusalem (13:13)
6. Phaolô giảng tại Antiốt xứ Bisiđi với thành quả rất lớn, theo sau là sự bắt bớ (13:14-50)
7. Phaolô giảng tại Ycôni và bị bắt bớ (13:51-14:5).
8. Đoàn Truyền giáo kinh nghiệm thời kỳ kết quả ở Líttrơ và Đẹtbơ, cũng chịu bắt bớ nữa (14:6-21)
9. Phaolô và Banaba giục các môn đồ trong nhiều thành phố để họ vững lòng, rồi trở lại Antiốt (14:21-28)
10. Phaolô và Banaba dự Giáo hội nghị tại Giêrusalem (15:1-29).
HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO LẦN THỨ II CỦA PHAOLÔ
Cong Cv 15:30-18:23
1.Quyết định của Giáo Hội Nghị tại Giêrusalem được tuyên bố tại Antiốt (15:30-35)
2. Phaolô cùng Sila trở lại với các Hội Thánh (15:36-41)
3. Timôthê gia nhập đoàn truyền giáo tại Líttrơ (16:1-5)
4. Phaolô nhận lời kêu gọi để đi đến xứ Maxêđoan (16:6-10)
5. Luca gia nhập đoàn truyền giáo đi thuyền đến Philíp ở Maxêđoan (16:11-12)
6. Lyđi trở lại tin Chúa tại Philíp (16:13-15)
7. Phaolô và Sila bị bỏ tù (16:13-15)
8. Phaolô giảng tại Têsalônica (17:1-9)
9. Phaolô chạy trốn qua Bêrê (17:10-13)
10. Phaolô đi đến Athên và chờ đợi Timôthê (17:14-34
11. Phaolô giảng tại Côrinhtô (18:1-18)
12. Phaolô đi đến Eâphêsô với Bêrítsin và Aquila (18:18-21)
13. Phaolô phục vụ tại Sêsarê, Antiốt và xứ Galati và Phirigi (18:22-23)
HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO LẦN THỨ BA CỦA PHAOLÔ
19:1-28:16
1. Phaolô đi ngang qua Galati đến Eâphêsô (19:1-22)
2. Dân chúng ở Eâphêsô nổi loạn nghịch lại Phaolô (19:23-41)
3. Phaolô từ giã để đi đến xứ Maxêđoan (20:1)
4. Phaolô đến Côrinhtô (20:2-3)
5. Phaolô trở lại Maxêđoan sau khi khám phá một âm mưu để hại ông (20:3-5)
6. Phaolô giữ lễ vượt qua tại Philíp (20:6)
7. Phaolô phục vụ tại Trôách và Milê (20:6-38)
8. Phaolô đi lên Giêrusalem và đi ngang qua Tyrơ và Sêsarê (21:1-15).
9. Phaolô phục vụ tại Giêrusalem, một viên quan quản cơ La Mã ngăn cản cuộc bạo loạn (21:27-36)
10. Phaolô được gửi tới Sasarê và trải qua việc xét xử trước Phêlít và Phêtu (21:23-25:8)
11. Phaolô kêu cầu đến Sêsa (25:9-26:32)
12. Phaolô đi thuyền đến La Mã và bị đắm tàu tại Malta (27:1-28:10)
13. Phaolô đến Rôma ( 28:11-16)
14. Phaolô giảng tại Rôma dưới sự canh gác (28:17-31)
Bây giờ bạn đã ôn lại các sự kiện trong chức vụ của Phaolô. Bạn đã sẵn sàng để xem xét bốn trường hợp nghiên cứu để minh họa cho đường lối lãnh đạo theo hoàn cảnh của ông. Mỗi một trường hợp nghiên cứu có liên quan đến một Hội Thánh ở trong một tỉnh đặc biệt. Têsalônica, Galati, Philíp và Côrinhtô. Bốn vì mỗi một trường hợp đều riêng biệt và độc đáo, Phaolô đã điều chỉnh cách lãnh đạo cho thích nghi với hoàn cảnh đã cho.
Mục tiêu 3 : Mô tả một trường hợp mà Phaolô đã dùng mỗi một đường lối lãnh đạo theo hoàn cảnh
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA PHAOLÔ : BỐN TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu trường hợp số 1 : Hội Thánh tại Têsalônica I Têsalônica 1 : 1- 5 : 28
Têsalônica là một thành phố tọa lạc ở cuối bờ biển phía bắc của xứ Maxêđoan, cách thành Athên vài trăm dặm về phía bắc. Phaolô đến viếng thành phố này trong hành trình truyền giáo lần thứ nhì của ông cùng với Sila, và trong ba tuần ông giảng dạy trong một đền thờ của người Do Thái ( Công vụ 17:1; -4). Sự giảng dạy của họ có kết quả được rất nhiều người” trở nên tín hữu, vì thế Phaolô đã có thể thành lập một Hội Thánh thứ nhì ở Aâu Châu.
8. Nhìn vào hình 7.3 Hội Thánh đầu tiên đã được Phaolô thành lập ở Âu Châu là Hội Thánh nào ( Trong xứ Maxêđoan)?
...............................................................................................................................
Mục tiêu 4 : Nhận ra những cách mà Phaolô đã dùng làm phương pháp về sự thuyết phục được minh họa trong lá thư của ông cho người Têsalônica
Thời sau trong cùng một hành trình giáo, Phaolô có cơ hội gửi Timôthê trở lại để giúp đỡ cho Hội Thánh đang tăng trưởng nhanh chóng tại Têsalônica ( ITe1Tx 3:1-6). Đa số những tín hữu ở Têsalônica là người ngoại bang, nhưng thật kém may mắn thay họ lại tấn công bởi những người Giuđa là những kẻ thù mạnh mẽ nhất đối với Phúc âm. Có lẽ trong việc đáp ứng với báo cáo của Timôthê, Phaolô đã quyết định viết thư cho Hội Thánh. Chúng ta được biết lá thư đó là I Têsalônica. Mục đích của lá thư có bốn phần :
1. Phaolô đã mong muốn khen ngợi những nhà lãnh đạo của Hội Thánh bởi vì họ đã tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời (2:13) và đã chống lại những tấn công của người Giuđa (2:14-16).
2. Phaolô cần phải bảo đảm với các tín hữu ở đó rằng việc ông cần vội vã chạy khỏi xứ ( Cong Cv 17:14) không có nghĩa là ông đã bỏ ho. Ông đa phải tái lập sự tín nhiệm của mình ( ITe1Tx 2:17).
3. Phaolô đã muốn khuyến cáo những tín hữu phải giữ mình khỏi sự đồi bại ( 4:3).
4. Phaolô cần phải trang bị Hội Thánh về sự trở lại của Chúa ( 5:1-11).
9. Hãy đọc đoạn đầu tiên của I Têsalônica điều gì đã là đặc điểm nổi bật của Hội Thánh Têsalônica mà Phaolô đã không cần phải nói thêm?
...............................................................................................................................
Từ đầu lá thư của mình, Phaolô đã bày tỏ rõ rằng ông không tuyên bố cho các tín hữu Têsalônica điều họ phải làm, cũng không bỏ mặc họ phải tự giải quyết bằng giải pháp của mình. Phaolô đã tìm cách thuyết phục họ kết ước chính mình với một số hành động và lối cư xử ( Xem hình 7. 1). Phương pháp của Phaolô là xây dựng một ý thức cộng đồng trong vòng Hội Thánh và đêm ông đến bên những tín hữu trên nền tảng những lợi ích chung, những giá trị chung và những niềm tin Cơ Đốc.
10. Phương pháp của Phaolô đã bày tỏ điều nào sau đây?
a. Lưu tâm nhiều đến nhiệm vụ của Hội Thánh hơn là về mối liên hệ của ông với những tín hữu.
b. Lưu tâm nhiều về mối thông công với các tín hữu hơn là về nhiệm vụ của Hội Thánh.
c. Quan tâm bằng nhau về mối liên hệ cũng như về nhiệm vụ.
Phaolô bắt đầu đoạn 1 bằng cách kể ra tên của những người cùng làm việc với ông : Sila và Timôthê. Đây không phải là lời liên hệ duy nhất của Phaolô đến các đồng nghiệp của ông. Qua thư tín, Phaolô thường dùng từ chúng tôi để nhấn mạnh sự hiệp nhất trong nhóm của ông và sự hiệp nhất của thân thể Đấng Christ ( Hãy xem, ví dụ như 2:1 và 4:1). Hơn nữa, ông đã gửi thư đến cho “ Hội Thánh ở thành Têsalônica” chứ không gửi cho một vài cá nhân nào đó (1:1). Từ ngữ Hội Thánh được dùng trên một trăm lần trong Thánh Kinh Tân ước, và hầu như luôn luôn áp dụng cho những nhóm địa phương của các tín hữu đã báp têm, trong danh Chúa Giêxu. Nó không hề được áp dụng cho “ mọt tòa nhà”. Hội Thánh là một thân thể làm nên bởi những tế bào sống. Phaolô và các tín hữu ở Têsôlônica thực sự đã là một trong Chúa Giêxu Christ và là những thành viên thuộc một Hội Thánh.
11. Khi Phaolô gửi lá thư của ông cho “Hội Thánh tại Têsalônica” ông đã có ý nhắc đến :
a. Nhà hội địa phương của người Giuđa.
b. Công đồng đồng địa phương của các tín hữu đã chịu báp têm trong Chúa Giêxu.
c. Những nhà lãnh đạo, trong đó có ông, là những người thành lập Hội Thánh đó.
d. Tòa nhà mà trong đó những người mới tin đang nhóm.
Lời khuyên của Phaolô cho các Cơ Đốc nhân là để cho họ “ ráng tập ăn ở cho yên lặng, săn sóc việc riêng mình, lấy chính tay mình mà làm lụng” (4:11). Hội Thánh đã phải tập trung vào sự kiện là một cộng đồng của Chúa, đã được gọi ra khỏi tội lỗi và các quốc gia trong thế gian nhờ Lời của Đức Chúa Trời.
Phaolô cũng đã thúc giục các tín hữu phải “ khuyên bảo nhau, gây dựng cho nhau” ( 5:11). Là những Cơ Đốc nhân, họ có một trách nhiệm liên đới đối với nhau, và điều này bao gồm cả những người lãnh đạo và các thuộc cấp. Dĩ nhiên, Hội Thánh ở tại Têsalônica cũng có những nhà lãnh đạo riêng được công nhận, nhưng Phaolô đã không phân biệt giữa những người lãnh đạo và các thuộc cấp. Trong một cộng đồng Cơ Đốc như họ đang gây dựng, trách nhiệm về sự yêu mến và hỗ trợ lẫn nhau được giao phó cho mỗi một thành viên.
Chúng ta để ý đặc biệt là Phaolô đã thách thức người Têsalônica phải tăng trưởng trong cộng đồng Cơ Đốc này, từ quan điểm của mối liên hệ riêng của ông đối với họ. Họ đã nhận biết về ông một cách thân thiết, và do đó mà họ đã được khuôn mẫu của đời sống ông cũng như những lời ghi chép của ông hướng dẫn họ. Phaolô đã mong muốn nhắc nhở họ về cách mà họ đã làm chứng “ cách ăn ở của chúng tôi đối với anh em có lòng tin, thật là thánh sạch, công bình, không chỗ trách được” (2:10). Điều này thật đã đầy sức thuyết phục, đầy sự thúc giục đối với họ. Phaolô không chỉ nói với họ, phán bảo với họ là phải bước đi cách xứng đáng với Chúa ( 2:12), phải lánh xa tội lỗi ( 4:3), phải sẵn sàng cho ngày của Chúa ( 5:2) và phải cầu nguyện luôn luôn ( 5:17). Ông đã làm gương cho họ biết phải sống như thế nào. Thực ra, ông vẫn luôn ở với họ trong tâm linh và trong sự cầu nguyện không thôi ( 3:10).
Cho nên chúng ta thấy rằng Phaolô đã có thể thúc giục các tín hữu Têsalônica hướng đến sự tốt lành và khích lệ họ tiếp tục tiến bước trong đời sống Cơ Đốc của họ. Ông đã không làm điều này bằng cách tìm thế để lèo lái họ, nhưng cố gắng để gây ảnh hưởng trên họ để làm cho sự kết ước hứa nguyện của họ được mạnh mẽ thêm nhầm sống vượt trên tội lỗi. Phaolô biết rất rõ về sự tranh chiến mà mỗi một Cơ Đốc nhân đều có thể sống trong sự thánh khiết. Như vậy Phaolô đã có thể thuyết phục Hội Thánh tại Têsalônica phát triển ý thức của họ về cộng đồng Cơ Đốc nhờ ở ảnh hưởng của đời sống ông trên Hội Thánh.
12. Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau đây trong I Têsalônica 2 và phát triển bốn điều mà sự lãnh đạo của Phaolô trên Hội Thánh đã KHÔNG dựa vào.
a. 2:3 Phaolô đã không có ...................................................................................
b. 2:4 Ông đã không cố gắng để ..........................................................................
c. 2:5 Ông đã không phạm tội ..............................................................................
d. 2:6 Ông đã không tìm kiếm .............................................................................
Thực ra, Phaolô đã có thể tuyên bố rằng ông và những người đồng công với ông đã không tìm kiếm uy thế nào hơn là một người mẹ săn sóc chính con mình vậy ( 2:7).
Do đó, điều này là chìa khóa của việc lãnh đạo bằng sự thuyết phục. Có thể nên lên gương mẫu của riêng mình và thuyết phục các thuộc cấp tin rằng cách cư xử và hành động họ đang thấy là điều Chúa muốn họ phải sống. Sứ điệp của Phaolô đã hoàn toàn được bổ sung bằng chính đời sống của ông.
13. Lá thư thứ nhất của Phaolô gửi cho người Têsalônica bày tỏ rằng cách hữu hiệu nhất cho một nhà lãnh đạo có thể dạy các thuộc cấp cách sống một cuộc đời làm rạng danh Chúa và xứng đáng cho Chúa ấy là làm điều nào sau đây?
a. Cảnh cáo họ về hậu quả của một đời sống tội lỗi bằng cách bày tỏ cho họ điều đã xảy ra cho dân sự trong Kinh Thánh là những người đã không vâng lời Chúa.
b. Dạy các bài học Kinh Thánh dựa trên cuộc đời Chúa Cứu Thế Giêxu.
c. Dạy về những nhà lãnh đạo đã làm gương tốt trong Kinh Thánh.
d. Dạy những nguyên tắc Thánh Kinh với sự minh chứng bằng chính đời sống của mình trong cách mình áp dụng những nguyên tắc đó.
Mục tiêu 5 : Phân tích lá thư của Phaolô gửi cho người Galati để biết lúc nào người lãnh đạo đối chất với các thuộc viên của mình.
Nghiên cứu Trường Hợp số 2 : Các Hội Thánh ở Galati
GaGl 1:1-6:8
Một trong những khó khăn Phaolô đã gặp trong chức vụ của mình là xử lý với một nhóm “ người bị Do Thái hóa”. Dường như nhóm này bao gồm cả các Cơ Đốc nhân Do Thái lẫn không Do Thái đã theo Phaolô khi ông rao giảng Tin Lành, họ đòi hỏi rằng những người mới tin. Phải giữ luật pháp Môise và chịu cắt bì. Những người Do Thái hóa này đã rao giảng đường lối của họ đến vùng Galati, nơi mà chức vụ của Phaolô rất thành công.
Thư tín của Phaolô gửi cho người Galati được viết ra để xử lý với vấn đề Thần học nổi lên giữa vòng các Hội Thánh tại miền Galati qua các giáo sư giả. Những giáo sư này tố cáo Phaolô là một sứ đồ giá và cho là Phúc âm của ông không đúng theo Kinh Thánh. Thư tín của Phaolô tìm cách giải quyết các vấn đề này và thuyết phục những người mới qui đạo giữ đúng theo sứ điệp nguyên thủy của ông. Đối với Phaolô, tâm điểm của nan đề gây tranh luận nằm trong câu hỏi này : “ Người ta được cứu chỉ bởi đức tin hay bởi sự kết hiệp của đức tin cộng thêm với công việc”.
Chúng ta có thể khám phá là từ đầu bức thư Phaolô không sử dụng một âm thanh dịu dàng, có sự thuyết phục như thư gửi cho người Têsalônica.
Phaolô bắt đầu bằng cách tuyên bố rằng họ đã thất bại ở điểm nào và bây giờ họ cần phải làm gì để điều chỉnh lại giáo lý của họ ( xem hình 7 .1).
Phaolô đã hành động theo truyền thống của các nhà tiên tri trong Cựu ước khi ông thách thức các Cơ Đốc nhân cùng các giáo sư giả ở tại Galati. Sự thực hành của các tiên tri là phải phản ứng một cách cương quyết bất cứ khi nào Lời của Đức Chúa Trời bị công kích. Họ không quan tâm đến việc thanh danh của họ bị sụp đổ hay chủ tâm của họ bị nghi vấn. Họ rất giận dữ khi lời của Đức Chúa Trời bị lạm dụng. Những nhân vật như Eâsai, Giêrêmi, Eâxêchiên, Amốt, hay Oâsê tuyên báo cách mạnh mẽ về nhận định của họ với những người xem thường Lời của Đức Chúa Trời và Phaolô cũng vậy. Những lời tường trình từ Galati kích thích ông bước vào sự hành động và thư tín của ông cho các tín đồ ở Galati mạnh mẽ chưa từng có.
Ông bày tỏ rằng câu nói thẳng thừng sau đây : “ Phaolô, làm sứ đồ chẳng phải bởi loài người, cũng không nhờ một người nào bèn là bởi Đức Chúa Giêxu Christ và Đức Chúa Trời tức là Cha” (1:1). Các độc giả không có một nghi vấn nào về việc Phaolô đang hành động bằng uy quyền của một sứ đồ và sự vâng phục. Ông không đưa ra lời chào hỏi cá nhân và ngay cả sự kết thúc bức thư với một lý lẽ mà không ai dám trang luận với ông về nội dung của bức thư cả.
Chúng ta hãy xem xét một vài câu trong thư tín này cho thấy tại sao ông lại phán ứng trong uy quyền như vậy.
1. “ Thật chẳng phải có Tin Lành khác nhưng có mấy kẻ làm rối trí anh em và muốn đánh đổ Tin Lành của Đấng Christ”. ( 1:7).
2. “ Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi hoặc thiên sứ trên trời truyền cho anh em một Tin Lành nào khác với Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh thì người ấy đáng bị anathem !” ( 1:8).
3. “ Hỡi người Galati ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người mà trước mắt đã được rỏ bày ra Đức Chúa Giêxu bị đóng đinh trên thập tự giá?.... Sau khi đã khởi sự nhờ Tin Lành, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn” ( 3:1, 3).
4. “ Nhưng hiện nay anh em biết Đức Chúa Trời, lại được Đức Chúa Trời biết đến nữa, sao còn trở hướng về lề thói hèn yếu nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư?” ( 4:9).
5. “ Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi” ( 5:4).
6. “ Anh em đã chạy giỏi; ai đi ngăn trở anh em đặng không cho vâng phục lẽ thật? Sự xui giục đó không phải đến từ Đấng gọi anh em” ( 5:7-8).
Phaolô dùng uy quyền đối với thuộc cấp khi lời Chúa bị thách thức và bẻ cong.
Anh em lưu ý Phaolô bênh vực cho chính mình hoặc cố gắng chứng minh ông là ai. Ông đang nắm lấy một chỗ đứng nơi mà sứ điệp của Đức Chúa Trời đang bị hiểu lầm và sai lệch. Ông bảo vệ sự ngay thẳng của Lời Chúa. Ông nhận thức rằng có sự tổn hại rất lớn, có thể gây cho Hội hánh do các giáo sư giả lừa dối những tín hữu bằng cách làm méo mó Phúc âm hơn là mối nguy hại của những người vô thần hoặc người chỉ trích bên ngoài Hội Thánh.
Có rất nhiều gương mẫu trong Kinh Thánh để các nhà lãnh đạo có thể dùng uy quyền đối xử với các thuộc cấp nào làm cho Lời của Đức Chúa Trời bị méo mó, đây là điều rất rõ ràng đối với tôi. Chúng tôi đã dẫn chứng các tiên tri đã dùng uy quyền của mình để phản ứng chống lại tình trạng thiếu đức tin thông thường. Chúng ta đã thấy thể nào Phaolô đã sử dụng quyền bính khi lẽ thật bị uốn cong. Thật ra, Chúa Giêxu đã thẳng tay chỉ trích những người đặt truyềnt thống của con người cao hơn mạng lệnh của Đức Chúa Trời ( Mat Mt 15:1-20).

14. Chữ nào dưới đây mô tả đúng nhất phương pháp Phaolô sử dụng để công cố các quyết định của mình cho những người Galati?
a. Thuyết phục
b. Động viên
c. Sự đối chất
d. Sử dụng uy quyền.
Như chúng ta đã thấy, lãnh đạo đòi hỏi sự đối đầu và xử lý một cách hiệu quả các hoàn cảnh nan giải. Các thuộc cấp cần phải chịu kỷ luật vì cớ hành vi không thể chấp nhận được của họ. Giáo lý của họ cần được điều chỉnh vì lời giáo huấn giả dối, hoặc các hậu quả khác đòi hỏi người lãnh đạo phải đối chất với họ. Phần lớn những người lãnh đạo thấy được phản ứng không hài lòng của các thuộc hạ khi họ phải đối chất với những người ấy trong nhóm. Cảm giác tương giao gần gũi mất đi, nhóm cảm thấy khó chịu trong một thời gian dài trước khi ổn định trở lại. Đôi lúc mối quan hệ này liên tục căng thẳng.
Vì cớ những tác dụng phụ tiêu cực có thể xảy ra, một số nhà lãnh đạo tránh dùng lối tuyên bố hoặc lãnh đạo kiểu đối chất, và cố gắng khám phá một số sách lược khác để đối xử với các vấn đề. Chắc chắn là có thể có một số cách khác để điều chỉnh giáo lý sai lầm trong thời bấy giờ, nhưng Kinh Thánh bày tỏ rõ về hiệu quả của sự đối chất trong những trường hợp như thế. Phaolô đã làm gương cho chúng ta về cách điều này có thể thực hiện với sự kiên quyết trong khi muốn bày tỏ một thái độ quan tâm. Ông đã đối chất với các Hội Thánh ở Galati nhưng vẫn giữ được một mối liên hệ gần gũi, thân mật với họ bởi vì ông đã bày tỏ rằng ông yêu mến họ. Tôi có thể tưởng tượng được rằng Phaolô và các Hội Thánh đã càng thân mật hơn bao giờ hết qua việc làm của bức thư này.
Đây là một số phương cách mà Phaolô đã dùng bổ túc cho sự tuyên bố quyết liệt của ông đối với giáo lý sai lầm của người Giuđa. Ông đã dùng lời xác nhận yêu thương về các tín hữu như những con người :
1. “ Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Đấng Christ thành hình trong các con, ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói, vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử ( 4:19-20).
2. “ Trong Chúa..... tôi đối với anh em có lòng tin cậy này, là anh em chắc không có ý khác” ( 5:10).
3. “ Nguyền xin sự bình an và sự thương xót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực này... Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Giêxu Christ chúng ta ở với tâm thần anh em !” ( 6:16, 18).
15. Câu nào trong đoạn 4 bày tỏ sự xác định và tin tưởng riêng của Phaolô đối với các Hội Thánh ở Galati và tình yêu mà ông chia xẻ với họ?
...............................................................................................................................
16. Dựa trên phần nghiên cứu về vấn đề trong các Hội Thánh ở Galati, câu nào sau đây mô tả đúng nhất cho những hoàn cảnh khi một nhà lãnh đạo cần phẩn đối chất với các thuộc cấp bằng cách tuyên bố trong lãnh đạo?
a. Khi người ấy muốn thúc đẩy trong công tác phục vụ CD của họ.
b. Khi người ấy thấy họ thiếu sự tôn trọng đối với địa vị lãnh đạo của mình.
c. Khi người ấy muốn họ dự phần với mình để thực hiện một nhiệm vụ.
d. Khi người ấy cần phải chỉnh lại một điều dạy dỗ sai lầm về Kinh thánh.
e. Khi một thuộc cấp gây cho các thuộc cấp khác bị lạc khỏi chân lý trong Lời Chúa.
Mục tiêu 6 : Tìm các chứng cứ và mục đích của loại lãnh đạo phối hợp giữa người lãnh đạo và các thuộc cấp trong lá thư của Phaolô gửi cho người Philíp.
Nghiên cứu Trường hợp số 3 : Hội Thánh tại Philíp
Phi Pl 1:1-4:23
Các học giả nói chung đều đồng ý rằng Phaolô đã viết lá thư này vào khoảng năm 60 - 61 SC, từ thành phố La Mã. Thư này với các thư của Phaolô gửi cho Philêmôn, Eâphêsô và Côlôse tạo thành các ngục trung thư của Phaolô.
Phaolô đã có một mối liên hệ đặc biệt ưu thích với Hội Thánh lại Philíp. Ông đã viếng thăm phố này trong hành trình truyền giáo lần thứ hai của ông, và tin rằng Chúa đã đặc biệt kêu gọi ông giảng dạy tại Maxêđoan ( Cong Cv 16:9-10). Bởi vì có ít người Giuđa chấp nhận Phúc âm, Hội Thánh tại Philíp được thành lập chủ yếu là nhờ những người ngoại bang tin Chúa. Những Thành viên đầu tiên có lẽ đã gồm có Ly đi, cai ngục La Mã, có bé nô lệ đã bị tà ma ám, Cơ lê măng, Eâvôđi và Synticơ, Khi Phaolô rời thành phố Philíp, có lẽ ông đã cho Luca ở lại để tiếp tục chức vụ.
Phaolô trở lại viếng thăm Hội Thánh này trong chặng cuối hành trình truyền giáo lần thứ ba của ông, trước khi trải qua mùa đông ở Côrinhtô ( 20:1-3). Khi mùa xuân đến ông đã trở lại Philíp nơi ông dự lễ vượt qua với những người bạn thân của ông. Hiển nhiên là các lá thư đã được viết giữa Phaolô và các Hội Thánh trong nhiều khoảng thời gian khác nhau. Thư tín được ghi lại của Phaolô gửi cho Hội Thánh Philíp là lá thư riêng tư và đầy nhiệt tâm nhất trong số các lá thư trong Kinh Thánh Tân ước.
17. Hãy đọc lá thư của Phaolô gửi cho người Philíp. Lá thư này thật tràn ngập những lời khích lệ và những câu nói tích cực. Khó mà tin được rằng Phaolô đang ở tù khi viết lá thư này. Tuy nhiên, có nhiều đầu mối nêu lên việc Phaolô đang ở tù. Bạn có thể kiếm được ít nhất là một đầu mối không?
Lá thư Phaolô gửi cho người Philip mô tả một tình huống mà ông đã không ngần ngại để phối hợp với những thuộc cấp của mình ( Xem Hình 7. 1). Lá thư của ông bao hàm ba lãnh vực chính mà ông và các thuộc cấp có thể chia xẻ cuộc sống của họ là những người góp phần trong việc truyền Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giêxu ( Xem 1:4-5).
Một trong những lý do chính của Phaolô khi viết thư là để khen ngợi các bạn của ông ở Philíp về cách họ đã giúp đỡ cụ thể cho chức vụ của ông. “ Tôi được rất vui mừng trong Chúa, vì nay anh em lại lo tưởng về tôi lẫn nữa; anh em vẫn tưởng đến điều đó lắm, nhưng không có dịp tiện” ( Phi Pl 4:10). Việc thiếu dịp tiện để chu cấp cho Phaolô không phải là lỗi của họ. Phaolô đã đi nhiều nơi xa xôi và phương tiện truyền thông thì bấy giờ còn chậm chạp. ( Trước khi có phương tiện bằng điện!). Hội Thánh tại Philíp đã không thiếu tình yêu; chỉ thiếu dịp tiện để bày tỏ tình yêu của mình mà thôi. Phaolô dựa trên sự kiện Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho những người đã giúp đỡ ông như thể là chính họ cũng đã giảng Phúc Âm cho những người mà Phaolô tiếp xúc ( 4:17).
Trong Phi Pl 1:7 Phaolô viết : “ Anh em cũng có dự phần ân điển đã ban cho tôi” Phaolô được vui mừng bởi vì những tín hữu Philíp đã hiệp một với trong đức tin, tình yêu và niềm vui Cơ Đốc. Từng chữ của lá thơ tràn ngập tinh thần vui mừng và hớn hở. Thật vậy, ông dùng những chữ vui mừng và hớn hở mười bốn lần và không thấy dùng chữ tội hay những tội lỗi trong lá thư. Phaolô không phàn nàn về lối cư xử của các tin hữu trong Hội Thánh Philíp hoặc phê bình một chút nào về giáo thuyết của họ. Hơn thế nữa, đây là một lá thư của sự ca ngợi ! Thật là một sự tương phản với lá thư của Phaolô cho người Galati.
Ca ngợi Chúa nối kết, ràng buộc các nhà lãnh đạo và những thuộc cấp với nhau theo một phương pháp độc đáo.
Tiến sĩ C. Peter Wagner, một tác giả quốc tế Hội Thánh tăng trưởng, đã khám phá thấy rằng hầu hết những Hội Thánh mạnh mẽ, tăng trưởng có đặc trưng bằng những thì giờ ca ngợi làm một phần của nếp sinh hoạt Hội Thánh. Đây là những dịp các Cơ Đốc nhân hiệp lại với nhau chỉ với một mục đích vai trò duy nhất để thờ phượng Chúa bằng một cách vui mừng và đầy ý nghĩa. Ca ngợi có nghĩa là cảm thúc, thờ phượng và vui mừng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời ! Ca ngợi Chúa nối kết, ràng buộc các nhà lãnh đạo và những thuộc cấp với nhau theo một phương pháp độc đáo.
Ngay từ câu 4, Phaolô đã nói về sự vui mừng, rồi gieo rắc trong cả lá thư bằng sự cảm tạ Thượng Đế vì cớ tình thân hữu của ông đối với tín hữu Hội Thánh Philíp. Chúng ta thấy rằng ông tiếp theo ngay trong câu 5 để nối kết sự vui mừng của ông với sự dự phần của họ với Phúc Âm. Sức mạnh trong mối thông công của họ thật sâu xa và chân thật bởi vì đã dựa trên sự kết ước với nhau để truyền ra Phúc Âm. Cả Phaolô và các tín hữu Philíp đều có sự sống bắt nguồn từ Đấng Christ, sự sống của họ đã ở trong Đấng Christ, và sự sống đó vì có Đấng Christ.
18. Hãy ôn lại đoạn 1 của thư Philíp. Viết ra những chữ mô tả mối liên hệ phối hợp giữa Phaolô, người lãnh đạo, và các tín hữu Philíp, là những thuộc cấp.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Phaolô đã viết lá thư này vào khoảng cuối đời của ông. Các học giả đã không các định được thời điểm viết thư, nhưng rõ ràng là ông đang phải đối diện với sự xét xử và cái chết đang khi ở trong tù.
Phaolô có những lời rất cảm động khi chúng ta nhìn nhận tình yêu và sự quan tâm của ông đối với các bạn tại Philíp. Ông khuyến khích họ sống nếp sống thánh thiện và bắt chước ông trong gương mẫu giữ gìn đức tin cho đến cuối cùng ( Phi Pl 3:12-17). Gương mẫu của ông để sống, phục vụ và chết là Chúa Cứu Thế Giêxu.
Trong 2:5-11, Phaolô viết về một trong những điều huyền nhiệm tuyệt diệu của Thánh Kinh. Ông dùng từ ngữ Hy Lạp ekenosen để mô tả giáo lý về sự từ bỏ chính mình của Cứu Chúa, sự khiêm nhượng, hạ mình hoàn toàn trong sự chuyển đổi vị trí của Ngài là Logos ( Ngôi lời) vĩnh hằng trong vinh hiển để mang lấy xác thịt loài người như một em tại Bếtlêhem. Vị sứ đồ này cũng tìm cách để hoàn toàn đầu phục với ý chỉ của Đấng Christ Cha và mong muốn rằng các bạn của ông ở Philíp dự phần trong thách thức này với ông ( 2:2).
19. Trong 2:2, Phaolô nói về “hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm đồng tư tưởng”. Dựa vào nội dung của lá thơ này, điều nào sau đây mô tả rõ nhất cho những nhiệm vụ hoặc những mục đích mà Phaolô và Hội Thánh Philíp đã cùng chia sẻ?
a. Làm cho Phúc âm của Đấng Christ được tiến triển
b. Mau đem ra khỏi ngục tù
c. Duy trì sự sống bằng bất cứ giá nào
d. Bắt chước Chúa Giêxu, có đồng một tâm tình như Ngài.
e. Canh chừng vì cớ lợi ích riêng của họ
f. Chiếm hữu Đấng Christ và được thấy thuộc về Ngài.

Mục tiêu 7 : Phân tích những khúc Kinh Thánh đã cho trong I Côrinhtô và mô tả phương pháp của Phaolô trong việc xử trí với những vấn đề liên hệ.
Nghiên Cứu Trường Hợp Số 4 : Hội Thánh Tại Côrinhtô
ICo1Cr 5:1-13; 6:1-11; 14:1-40.
Đến lúc này, chúng ta quen thuộc với cách chúng ta tiếp cận với một số thách thức trong lãnh đạo mà Phaolô phải đối diện. Chắc chắn Phaolô đã phải đối diện với nhiều hoàn cảnh khác nhau rất xa có liên quan đến nhiều bối cảnh thuộc các nền văn hóa mà ông đã chạm trán trong các cuộc hành trình của ông. Sự kiện hầu hết các lá thư của ông đều được gửi cho Hội Thánh mới thành lập để bày tỏ rằng ông phải xử trí với những điều khó khăn hết sức đặc biệt.
Nghiên cứu cuối cùng của chúng ta về đường lối lãnh đạo của Phaolô là sự ủy thác ( Xem hình 7 .1). Trong phần này bạn sẽ khám phá ra một thay đổi trong phương pháp luận nghiên cứu. Bạn sẽ được lôi cuốn nhiều hơn vào cuộc nghiên cứu vì hai lý do : 1. nó sẽ giúp bạn trở nên nhạy bén hơn trong việc tìm những nguyên tắc lãnh đạo trong Kinh Thánh, là đối tượng hàng đầu của môn học này. 2. Việc nghiên cứu đến từ lá thư nhứ nhất của Phaolô gửiu cho Hội Thánh Côrinhtô, là lá thư nổi tiếng nhất trong số các lá thư của ông. Hy vọng rằng bạn quen thuộc với lá thư này, nhưng trong trường hợp bạn cần có một cái nhìn tổng quát, tôi đã chu cấp một bản rút ngắn dưới đây cho bạn ( Hình 7.6).
BỐ CỤC CHO I CÔRINHTÔ
Phần giới thiệu 1:1-9
Những sự chia rẽ trong Hội Thánh 1:10-4:21
Những sự mất trật tự trong Hội Thánh 5:1-6:20
Các câu hỏi về :
Hôn nhân 7:1-40
Những điều biệt riêng ra thánh 8:1-11:1
Phụ nữ trong sự thờ phượng công cộng 11:2-16
Tiệc thánh 11:17-34
Các ân tứ Thánh Linh 12:1-14:40
Sự sống lại 15:1-58

Phaolô đã thiết lập Hội Thánh Côrinhtô trong cuộc hành trình truyền giáo thứ nhì của ông, khi ông lưu lại ở Côrinhtô trong mười tám tháng. Côrinhtô đã là một thành phố có nền kinh tế thạnh vượng nổi tiếng về sự sùng bái nhục dục thờ nữ thần Venus. Các thành viên trong Hội Thánh pha trộn nhiều dân tộc : Giuđa, Hy Lạp và các dân ngoại.
Trong khi Phaolô đang ở tại Eâphêsô trong hành trình truyền giáo thứ ba của ông, ông đã nhận được những tin tức xấu từ Côrinhtô. Các người nhà của Cơlôê đã cho ông biết về việc vô luân và mối bất hoà trong Hội Thánh. Hầu như vào cùng một thời điểm đó, ông cũng đã nhận được một số yêu cầu xin lời khuyên về hôn nhân, về vai trò của người phụ nữ, về tiệc thánh, về các của cúng thần tượng, các ân tứ Thánh Linh và việc dâng hiến. Trên hết các việc đó, sự phục sinh của Đấng Christ là điều đang bị tấn công.
Để giải quyết với tất cả những vấn đề này, Phaolô đã gửi lá thư thứ nhất cho Hội Thánh Côrinhtô xử trí với các vấn đề trong Hội Thánh, ông chuyển hầu hết việc lập quyết định cho các tín hữu của Hội Thánh này. Trong khi chu cấp cho họ một số nguyên tắc, theo một suy nghĩ rất thực tế, ông giao cho họ trách nhiệm phải “ tự giải quyết lấy cho mình”. Theo một cách nói khác, ông đã ủy thác cho họ phần trách nhiệm. Khoảng cách giữa họ với ông đã là một nhân tố chính, nhưng dường như rõ ràng là Phaolô đã muốn Hội Thánh nhận lấp phần trách nhiệm khôi phục và duy trì sự quân bình thuộc linh trong Hội Thánh của họ.
Chúng ta không có thì giờ để khảo sát tất cả những lời chỉ dẫn và dạy dỗ của Phaolô trong I Côrinhtô, nhưng chúng ta sẽ chú ý đến ba vấn đề :
1. Tội lỗi về tình dục ( 5:1-3)
2. Giải quyết các việc kiện tụng ( 6:1-11)
3. Thứ tự trong sự thờ phượng ( 14:1-40)
20. Vấn đề 1 : Hãy đọc 5:1-13 và trả lời những câu hỏi sau :
a. Tội lỗi của người đàn ông là gì? ( Câu 1)
..............................................................................................................................
b. Tại sao Hội Thánh đã không thi hành kỷ luật ( Câu 2)
..............................................................................................................................
c. Phaolô đã đề nghị phải làm gì ? ( Câu 4)
..............................................................................................................................
d. Mục đích của cuộc họp mặt đặc biệt là gì? ( Câu 5)
..............................................................................................................................
e. Tội lỗi này ảnh hưởng trên cả Hội Thánh như thế nào? ( Câu 6).
..............................................................................................................................
f. Trách nhiệm của Hội Thánh đối với những thành viên sống trong sự phóng túng, cố ý phạm tội là gì? ( Các câu 11 - 12).
...............................................................................................................................
g. Phaolô có còn cần phải xen vào Hội Thánh nữa không nếu trong tương lai có những trường hợp phạm tội? ( Hãy giải thích câu trả lời của bạn).
...............................................................................................................................
h. Ai phải chịu trách nhiệm xét xử tội lỗi của hội chúng trong tương lai?
...............................................................................................................................
I. Đến lúc này, Hội Thánh đã có thể tự duy trì được sự trọn vẹn về luân lý của mình chưa? ( Hãy giải thích câu trả lời của bạn).
...............................................................................................................................
21. Vấn đề 2 : Hãy đọc 6:1-11 và trả lời các câu hỏi sau :
a. Phaolô khen các tín hữu hay quở trách họ về việc kéo nhau ra tòa án? ( câu 1)
...............................................................................................................................
b. Các Cơ Đốc nhân nên giải quyết các vụ kiện tụng của họ trước sự chứng kiến của ai? ( câu 12)
...............................................................................................................................
c. Dựa trên nền tảng nào mà các Cơ Đốc nhân có thể hành động như những quan tòa? ( Các câu 2 -3)
...............................................................................................................................
e. Đã có giải pháp nào tốt hơn là để phải bị tòa án của những người không tin xét xử ? ( Câu 7)
...............................................................................................................................
22. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câub bạn là ĐÚNG với vấn đề 2.
a. Phaolô nêu ra sự khác biệt giữa những tín hữu và những người không tin bằng cách nói cho các tín hữu Côrinhtô rằng họ khác biệt bởi vì họ đã được rửa sạch, được làm nên thánh và được xưng công nghĩa trong danh của Chúa Cứu Thế Giêxu và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
b. Phaolô đã bày tỏ trong các câu này ( 6:1-11) rằng những tín hữu Côrinhtô đã không đủ phẩm chất thuộc linh để xét xử những điều tranh tụng giữa vòng họ với nhau.
c. Cơ Đốc Nhân có thể đạt được sự công bằng trong các cuộc bàn cãi bằng cách áp dụng các nguyên tắc từ trong Lời Chúa.
d. Người Côrinhtô không những chỉ kéo nhau đến tòa án nhưng theo Phaolô, họ cũng còn lừa phỉnh nhau nữa.
23. Vấn đề 3 : Đọc 14:1-40 và trả lời những câu hỏi sau đây :
a. Phaolô có tán thành việc dùng lời tiên tri và tiếng lạ trong sự thờ phượng không? (Câu 1)
...............................................................................................................................
b. Các Cơ Đốc nhân cần phải tìm kiếm để trỗi hơn về điều gì? ( Câu 12)
...............................................................................................................................
c. Những lời chỉ dẫn nào Phaolô đã dạy có liên quan đến việc nói tiếng lạ giữa một buổi nhóm? ( Các câu 27 - 28).
...............................................................................................................................
d. Theo Phaolô, bao nhiêu tiên tri có thể nói ở giữa một buổi nhóm? ( Câu 29)
...............................................................................................................................
e. Phaolô đã nêu những lời chỉ dẫn nào có liên quan đến cách các tiên tri nên nó? (câu 31)
...............................................................................................................................
f. Phaolô đã kết luận thế nào trong những lời dạy dỗ của ông có liên quan đến cuộc thờ phượng? ( câu 40)
. .............................................................................................................................
g. Phaolô có nêu tên những nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm cho các buổi thờ phượng không?
...............................................................................................................................
h. Ông có ủy thác cho có nhóm tín hữu cái trách nhiệm phải thực hiện chức năng của một thân thể không?
...............................................................................................................................
I. Theo ý bạn, sự ủy thác của Phaolô về trách nhiệm này cho cả Hội Thánh chung là khôn ngoan hay không khôn ngoan? ( Giải thích cho câu trả lời của bạn).
...............................................................................................................................
24. Để ông lại điều chúng ta đã nghiên cứu trong bài học này, hãy mô tả ngắn gọn theo trí nhớ một hoàn cảnh đã đưa Phaolô đến chỗ phải dùng mỗi loại đường lối lãnh đạo sau đây:
a. Thuyết phục .......................................................................................................
...............................................................................................................................
b. Uûy thác ..............................................................................................................
...............................................................................................................................
c. Tuyên bố ...........................................................................................................
...............................................................................................................................
d. Phối hợp ............................................................................................................
...............................................................................................................................
Qua bài học này, bạn đã thấy tùy theo từng hoàn cảnh. Phaolô phải đối diện, ông đã có thể đối phó với những khủng hoảng, giải quyết các vấn đề, lập các quyết định, phát huy những nhà lãnh đạo và hướng dẫn các Hội Thánh. Ông đã có đủ uyển chuyển để lãnh đạo tuyên bố, thuyết phục, phối hợp hoặc ủy thác đối với các thuộc cấp. Chẳng lạ gì nhờ đó ông đã được thành công trong những hoàn cảnh có nhiều khác biệt về văn hóa và tôn giáo. Ông đã biết cách thích nghi với mỗi một hoàn cảnh để đạt được kết quả to lớn nhất. Gương mẫu của Phaolô có đem lại cho bạn những nhận thức mới trong các uyển chuyển lãnh đạo của mình để đạt được những mục tiêu vĩnh hằng không? Phương pháp mà bạn là một nhà lãnh đạo sử dụng sẽ quyết định cho sự thành công của bạn.

Bài kiểm tra
CÂU CHỌN LỰA : Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất
1. Điều nào dưới đây mô tả rõ nhất cho một người lãnh đạo theo hoàn cảnh?
a. Có khuynh hướng về mối liên hệ
b. Có khuynh hướng nhiệm vụ
c. Uyển chuyển
d. Cứng rắn
2. Điều nào sau đây đã diễn ra trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ hai của Phaolô?
a. Phaolô và Banaba làm cho vững chí các môn đồ ở nhiều thành phố, rồi trở lại Antiốt.
b. Phaolô bị chìm tàu ở đảo Manta
c. Phaolô nhận lời kêu gọi đến Maxêđoan
3. Ai là bạn đồng hành với Phaolô trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ hai?
a. Sila
b. Giăng Mác
c. Phierơ
d. Banaba
4. Lời giải thích nào sau đây mô tả đường lối lãnh đạo của Phaolô đối với các Hội Thánh ở tại Galati?
a. Ông đã dự phần với các Hội Thánh trong việc lập các quyết định
b. Ông đã cố gắng để thuyết phục cho các Hội Thánh chấp nhận quan điểm của ông.
c. Ông đã để cho các thuộc cấp tự lo cho Hội Thánh của họ.
d. Ông đã đối chất với các Hội Thánh và ra lệnh rõ ràng cho họ về điều phải làm.
5. Trong cách trường hợp nghiên cứu của chúng ta, trường hợp nào Phaolô đã khen ngợi về việc hợp tắc với ông trong công tác truyền bá Phúc âm?
a. Hội thánh Galati
b. Hội Thánh Côrinhtô
c. Hội Thánh Philíp
d. Hội Thánh Têsalônica
6. Đường lối lãnh đạo nào sau đây Phaolô đã dùng để đối phó với vấn đề người Giuđa dạy giáo lý sai lầm trong Hội Thánh?
a. Tuyên bố
b. Uûy thác
c. Phối hợp
d. Thuyết phục
CÂU NỐI KẾT. Hãy theo lời chỉ dẫn riêng cho mỗi nhóm câu hỏi
7- 14. Nối kết mỗi đường lối lãnh đạo (bên phải) với lời giải thích mô tả cho đường lối đó ( bên trái) dựa trên biểu đồ lãnh đạo theo hoàn cảnh. Hãy ghi mẫu tự nào đại biểu cho chọn lựa của bạn vào trước mỗi lời giải thích.
15 -20. Nối kết đề tài của mỗi một trường hợp nghiên cứu đã được xem xét trong bài học với những phần mô tả nó.

Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu

1. Các câu b,c e và f là những câu đúng
2. So sánh câu trả lời của bạn với Hình 7.1
3. a) Uûy thác
b) Thuyết phục
c) Tuyên bố
d) Phối hợp
4. a 1) Tuyên bố
b 3) Phối hợp
c 2) Uûy thác
d 1) Tuyên bố
e 4) Thuyết phục
f 2) Uûy thác
g 4) Thuyết phục
5. a) Thuyết phục
b) Phối hợp
6 c) Uyển chuyển
7. Câu trả lời của bạn.
8. Hội Thánh tại Philíp
9. Đức tin nơi Đức Chúa Trời của họ, là điều đã được đồn khắp mọi nơi.
10. c) Quan tâm bằng nhau về mối liên hệ cũng như về nhiệm vụ.
11.b. Cộng đồng địa phương của các tín hữu đã chịu báp têm trong Chúa Giêxu.
12. a. Những động cơ không trong sạch
b. Làm vui lòng người.
c. Dua nịnh hoặc tham lam
d. Sự vinh hiển đến từ loài người.
13. d) Dạy những nguyên tắc Thánh kinh với sự minh chứng bằng chính đời sống của mình.
14. c) Sự đối chất
15. Các câu 12 -15
16.d) Khi người ấy phải chỉnh lại một điều dạy dỗ sai lầm về Kinh Thánh
e) Khi một thuộc cấp gây cho các thuộc cấp khác bị lạc khỏi chân lý trong Lời Chúa.
17. Một trong số các đầu mối sau đây (bạn cũng có thể tìm ra những điều khác nữa) :
Cong Cv 1:7 có nhắc đến việc ở trong vòng xiềng xích.
1:13-14 có nhắc đến chốn công đường và xiềng xích của ông.
1:17 có nhắc đến việc ở trong vòng xiềng xích
4:22 có nhắc đến người nhà của Sêsa, ngụ ý về sự giam giữ ông.
18. Tôi đã thấy những điều này :
câu 5 : thông công
câu 7 : dự phần
câu 19 : nhờ anh em cầu nguyện.
câu 25 : tôi sẽ cứ còn lại và ở hết thảy anh em.
câu 27 : một lòng đứng vững, đồng tâm chống cự.
câu 30 : là phải chịu cùng một cuộc chiến tranh như anh em đã thấy ở nơi tôi.
19. Các câu trả lời a, d và f mô tả những mục đích này.
Các câu trả lời b,c và e không phải là các mục tiêu của họ.
20. a) Người ấy phạm tội loạn luân với vợ kế của cha mình - họ đã đang sống với nhau.
b) Vì cớ kiêu ngạo
c) Hội thánh phải triệu tập một hội đồng hoặc một buổi họp bất thường.
d) Là để dứt phép thông công với người đàn ông tội lỗi đó.
e) Bởi vì Hội thánh là một thân thể, nếu một phần bị ảnh hưởng tội lỗi thì cả thân thể cũng bị ảnh
hưởng.
f) Xét đoán họ và cách ly Hội Thánh khỏi họ.
g) Không, bởi vì ông đã cho họ những lời chỉ dẫn rõ ràng ở đây, là điều mà Hội Thánh có thể áp dụng
cho các vấn đề trong tương lai.
h) Hội Thánh địa phương trong biểu tượng là một thân thể.
I) Được rồi, nếu họ tuân theo những lời chỉ dạy của Phaolô.
21. a) Ông quở trách họ.
b) Trước mặt các tín hữu khác.
c) Trên nền tảng một ngày kia họ sẽ xét đoán thế gian và các thiên sứ.
d) Có, Phaolô ngụ ý rằng có các tín hữu đủ khôn ngoan để làm điều này.
e) Tốt hơn nên chịu mình là lẫm lỗi, là gian lận và đừng để bị kẻ không tin xét đoán.
22. Tất cả các câu này đều đúng ngoại trừ câu b.
23. a)
b) Các ân tứ để dựng Hội Thánh.
c) Không nên có trên hai hoặc ba người nói cùng một lúc, và phải có người thông giải điều nói ra. Nếu
không có người thông giải, người nói phải im lặng.
d. Hai hoặc ba
e. Họ nên nói lần lượt
f. Mọi sự đều nên làm cho phải phép và sau thứ tự.
g. Không, ông không nêu tên
h. Có, rõ ràng đây là điều ông đã trông đợi.
I. Điều này là khôn ngoan bởi vì no1 nhấn mạnh sự hiệp nhất của thân thể Đấng Christ, với tất cả các
thành viên làm việc cùng nhau vì lợi ích của cả thân thể.
24. Các câu trả lời của bạn. Dưới đây là các gợi ý của tôi :
a. Phaolô đã dùng phương pháp này để khích lệ cho các tín hữu ở Têsalônica trong bước đường theo
Chúa của họ. Ông đã làm điều này bằng cách nêu ra cho họ gương mẫu của chính ông và thuyết phục
họ theo gương đó.
b. Phaolô đã ủy thác quyền uy cho thân thể Hội Thánh gồm các tín hữu ở Côrinh để giải quyết với
nhiều vấn đề khác nhau trong Hội Thánh nhờ tuân theo các giáo huấn hướng dẫn của ông.
c. Phaolô đã rất thẳng thắn trong sự đối chất với Hội Tha1nh tại Galati liên quan đến việc dùng sai lời
Chúa và trong việc truyền bá Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giêxu và trong sự cầu thay cho nhau.
NÊHÊMI : THUẬT LÃNH ĐẠO PHỐI HỢP
Bây giờ chúng tôi muốn xem xét đời sống của Nêhêmi một trong những người lãnh đạo lớn trong Cựu Ước, hầu khám phá ra một vài nguyên tắc có thể sử dụng được cho chức vụ của chính chúng ta. Chúng ta quan sát các kỹ lưỡng một thời gian của đời sống Nêhêmi tức là thời kỳ tái xây dựng các bức tường thành Giêrusalem sau thời gian lưu đây ở Babylôn. Qua Nêhêmi, chúng ta học được nhiều bài học và khi nghiên cứu sự lãnh đạo của ông, chúng ta sẽ có dịp ôn lại nhiều lẽ thật lãnh đạo căn bản chúng ta đã học.
Một vận đôïng viên thế vận trong môn nhảy sào trước đây tên là Bob Richards phân tích sự thành công của hàng trăm lực sĩ. Richards nói rằng : Bí mật thành công của họ không phải vì chiều kích hay sức mạnh, nhưng là sự quyết tâm của họ ! Khi nhìn vào sự lãnh đạo của Hêhêmi, chúng ta nhớ lại rằng sự quyết tâm là một phẩm chất chính đối với người lãnh đạo. Nêhêmi là một người lãnh đạo có quyết tâm đã đối diện với sự chống đối và đã xây lại tường thành.
Một trong những đặc điểm nổi bật trong chức vụ lãnh đạo của Nêhêmi đối với sự trở về Giêrusalem là đường lối hòa nhịp với những người khác. Ông dẫn dắt các người theo mình trong một vị trí là cùng đi với họ, chứ không đi trước hay cố gắng đẩy người khác tiến tời từ phía sau. Chúng tôi gọi đây là sự lãnh đạo phối hợp. Qua ý nghĩa của từ ngữ này, điều này có nghĩa là hòa hợp với những người theo mình và bày tỏ sự quan tâm đến sự thịnh vượng của họ. Đây là loại lãnh đạo chiếm ưu thế của Nêhêmi. Bạn đã tìm thấy cả những lợi ích lẫn những bất lợi trong sự lãnh đao phối hợp. Khi bạn nghiên cứu, hãy tìm ra các áp dụng bạn có thể sử dụng vào chính chức vụ của mình.
Dàn bài
Trường hợp học tập: Tái thiết các bức tường
Những lợi ích của chức vụ lãnh đạo phối hợp
Những bất lợi của sự lãnh đạo phối hợp

Mục tiêu bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn có thể :
Mô tả loại lãnh đạo của Nêhêmi trong việc tái thiết tường thành Giêrusalem
Giải thích những lợi ích và bất lợi của sự lãnh đạo phối hợp
Aùp dụng các nguyên tắc phối hợp vào trong chức vụ phối hợp được thể hiện qua Nêhêmi.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo tiến trình đã giải thích trong bài học 1.
Đọc Eâxơra chương 1 - 6 và Nêhêmi chương 1 - 6 làm nền tảng cho bài học này. Đọc kỹ các đoạn Kinh Thánh đã nêu để rút ra nhiều kiến thức thực tế và thuộc linh.
Làm bài kiểm tra và soát lại các câu trả lời của bạn.
Những từ then chốt
creditability : sự tín nhiệm
depressed : ngưng trệ
distinctives : những phân biệt
elect ( n) : sự tuyển chọn
initiates : khởi xướng
internal : nội bộ
intimidated : đe dọa
option : điều phải chọn lọc
perceptive : khả năng nhận định
pessimism : sự bi quan
usury : cho vay lấy lãi cao
vested interest : quyền lợi cố hữu
vulnerable : dễ bị tấn công

Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Dựa trên sự chuẩn bị tái thiết tường thành Giêrusalem, nêu lên một nguyên tắc lãnh đạo giúp bạn thành công trong việc giải quyết nan
TRƯỜNG HỢP HỌC TẬP : TÁI THIẾT NHỮNG BỨC TƯỜNG
NeNe 1:1-6:16
Bối Cảnh
Vào năm 586 TC, Đức Chúa Trời cho phép quốc gia Babylôn đánh bại dân Giuđa và bắt phần lớn dân chúng đi làm phu tù. Trong giai đoạn cuối của thời kỳ lưu đày. Quyền lực của Babylôn bị sụp đổ. Người Mêđô Batư chinh phục xứ Babylôn. Vào năm 538 TC, Vua Siru, nhà cai trị mới cho phép nhiều người Giuđa bị bắt làm phu tù trở về Giêrusalem để tái thiết đền thờ ( Exo Er 1:1-3). Mặc dù Xôrôbabên đã đặt nền móng của đền thờ, nhưng nó đã không hoàn tất cho đến năm 515 TC, ( Xem 1:1-6:22).
Công việc tái thiết thành phố Giêrusalem hoang vu rất khó khăn. Nguồn cung ứng vật liệu thì hiếm hoi, kẻ thù ngăn trở công việc, còn dân chúng lại không quan tâm. Eâxơra, một thầy tế lễ, cũng là một người lãnh đạo rất có khả năng, trở về xứ Giuđa vào khoảng 471 TC để xem xét những nan đề này, cả đến những vấn nạn thuộc linh lớn hơn. Tuy nhiên, dân chúng đã không hết lòng đáp ứng với mối lưu tâm của ông. Qua sự lãnh đạo và cầu nguyện của Nêhêmi cho thành Giêrusalem Đức Chúa Trời đã giảm các thách thức bất năng của việc tái thiết trở nên một công việc có thể điều khiển được.
Phần lớn các học giả Tin Lành tin rằng Nêhêmi đã viết quyển sách mang tên của ông, mặc dù sau đó các chi phái đã thêm vào một sự dữ kiện lịch sử. Trong Kinh Thánh Hêbơrơ cổ, các sách Eâxơra và Nêhêmi là một quyển duy nhất.
Nêhêmi được vua đáp ứng
Chương một sách Nêhêmi cho chúng ta biết là trong khi Nêhêmi làm tù binh ở tại Babylôn, Hanani, một người em của ông đến thăm. Hanani đã cho Nêhêmi biết về tình trạng của thành Giêrusalem. Kể từ khi nhóm lưu đày thứ hai được phép trở về - với Eâxơra là hai mươi năm rồi, dầu vậy các bức tường vẫn ở trong tình trạng đổ nát còn các cửa thành vẫn bị cháy dở. Dân sự bị quấy nhiễu, tình trạng đạo đức thấp kém, cùng với sự bất đồng chính trị.
Nghe tin này, Nêhêmi đã ngồi xuống và khóc. Không ăn uống nhiều ngày và để thì giờ cầu nguyện với Đức Chúa Trời, cầu thay cho đất nước và nài xin Chúa tha thứ các tội lỗi của dân sự.
1. Đọc lại Nêhêmi chương 1 và khoanh tròn mẫu tự của câu trả lời đúng. Khi Nêhêmi cầu nguyện ông :
a. đổ tội cho dân sự của ông vì cớ tình trạng bị lưu đày
b. đổ tội cho Đức Chúa Trời vì những gì đã xảy đến cho dân Giuđa.
c. Đồng nhất chính mình với dân sự của Ngài trong sự thùa nhận các tội lỗi của dân tộc.
d. Bày tỏ sự đầu phục của ông đối với sự dẫn dắt của Chúa bằng cách gọi chính mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời.
Khi Nêhêmi đang phục vụ bốn tháng sau đó, vua đã hỏi ông : “ Nhơn sao ngươi mặt mày buồn, dầu ngươi không có bệnh? Điều đó chỉ là sự buồn rầu trong lòng mà thôi !” (NeNe 2:2). Nêhêmi sợ hãi, vì cau có, chau mày trước mặt vua là một sự chống nghịch có thể bị tử hình. Tuy nhiên, ông lấy bình tĩnh và thưa với vua về thành Giêrusalem chưa được sửa chữa. Ngạc nhiên, vua đã hỏi phải làm gì với nan đề này, và đồng ý với lời kêu cầu của Nêhêmi là ông cũng được sai đến Giuđa và tái thiết thành Giêrusalem. Hơn nữa, vua đã viết thư cho phép Nêhêmi trở về và nhấn lấy gỗ từ các khu rừng của hoàng gia.
Nêhêmi quan sát hoàn cảnh
Khi trở về Giêrusalem, Nêhêmi khám phá ra rằng thành phố ấy ở trong một tình trạng thật ngưng trệ. Những người bị lưu đày khác trở về đã không làm gì cả trong việc sửa sang lại cổng và vách thành. Vậy nên, không có gì an toàn trước các băng cướp địa phương hoặc các đảng cướp.
Sự ngăn trở công việc sửa sang đến từ hai hướng. Trước nhất là sự chống đối bên trong. Thành phố ở trong sự hoang vu, dân sự mất lòng can đảm và sợ hãi. Những ai có của cải trở nên ích kỷ và chèn ép những người còn lại ít may mắn hơn. Thứ hai, có sự chống đối bên ngoài. Các kẻ thù của thành Giêrusalem không muốn thấy thành phố tái thiết, vì thế họ dùng những lời rủa sả hăm dọa khiến cho dân sự nãn chí.
Nêhêmi cầu nguyện và hành động sau đó
Sự quyết tâm của Nêhêmi không bị những quyền lực chống đối bên trong lẫn bên ngoài làm cho suy yếu. Ông không để cho những chính trị gia địa phương làm cho kế hoạch của mình sụp đổ, cũng không theo dấu chân của các nhà lãnh đạo đi trước không định được những gì mình phải thực hiện. Đây là một trong những nguyên tắc đầu tiên của việc lãnh đạo có hiệu quả chúng ta bắt gặp qua gương mẫu của Nêhêmi : Ông không bao giờ tránh trút hoặc trì hoãn xử lý một vấn đề. Nêhêmi cầu nguyện và hành động.
Chúng ta đoán chắc rằng Nêhêmi đã cầu nguyện rất nhiều cho nan đề của thành phố. Thật ra, chúng ta chú ý thấy rằng chỉ trong hai chương đầu, Nêhêmi đã cầu nguyện hai lần, vì thế đây cũng là điều hợp lý để suy đoán rằng cầu nguyện là một đặc điểm quan trọng trong đời sống ông. Ông thấy rằng cầu nguyện là thuốc chữa bệnh nãn chí tốt nhất.
2. Giải thích điều gì đã thúc đẩy Nêhêmi cầu nguyện trong hai trường hợp sau :
a. 1.4......................................................................................................................
b. 2. 4.....................................................................................................................
3. Trong hai lần cầu nguyện suốt bốn tháng (chương 1,4 và 2,4) nhưng ông vẫn tiếp tục cầu nguyện tìm kiếm mặt Chúa để làm gì?
...............................................................................................................................
4. Ông vẫn tiếp tục cầu nguyện khi đến Giêrusalem trong chương hai bày tỏ điều gì?
...............................................................................................................................
William Carcy, một giáo sĩ người Anh truyền giáo cho Aán Độ vào thế kỷ thứ 18 đã cho chúng ta một lời thách thức rất cảm động như sau : “ Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời vĩ đại, hãy mong ước những điều vĩ đại từ Ngài. Hãy nỗ lực làm những điều vĩ đại cho Đức Chúa Trời”. Chúng ta cần ghi nhớ những lời này. Nếu các kế hoạch của chúng ta lúc nào cũng nhỏ bé, Đức Chúa Trời ít quan tâm. Tuy nhiên, những người lãnh đạo nào có một nếp sống cầu nguyện và đức tin luôn luôn suy nghĩ đến các kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời.
Nêhêmi đã bao phủ mục tiêu của mình bằng sự cầu nguyện và điều này đã làm cho những sự kiện dường như không thể tiến hành được trở nên dễ dàng. Cầu nguyện đã ban cho ông một nguồn năng lực vô tận. Đức Chúa Trời đã phát ngôn khi ông cầu nguyện và ban cho ông một viễn ảnh mới, điều nào phải ưu tiên trước, cũng như một kế hoạch hữu hiệu.
Lạ thật, nhiều người lãnh đạo dường như thích cầu nguyện và không làm gì ! Họ không hiểu sự nhậm lời cầu xin những việc quyền năng vĩ đại và Đức Chúa Trời đã hành động qua các phương tiện tự nhiên hay siêu nhiên cho bất cứ ai cầu nguyện Nêhêmi đã cầu nguyện và bắt tay vào công việc.
HÃY DỪNG LẠI VÀ SUY GẪM
Tôi là ai? Tôi không bao giờ có những hành động sai lầm nhưng vì cớ tôi mà nhiều cuộc đời đã lạc đường, nhiều chuyến tàu bị lật, nhiều chiếc thuyền bị đắm chìm xuống tận đáy biển, nhiều trận chiến đại bại. Tôi không bao giờ đánh ai, cũng không nói ra những lời vô lễ nhưng vì cớ tôi nhiều gia đình tan vỡ, bạn bè lạnh nhạt, tiếng cười của trẻ con đừng lại, những người vợ hiền đổ nước mắt cay đắng, anh chị em quên nhau, nhiều tấm lòng của các bậc cha mẹ đã tan vỡ cho đến khi xuống mồ. Tôi là ai?
Trả lời : CHỂNH MÃNG
Vô danh


Nêhêmi không chểnh mảng. Ông đã hành động với một kế hoạch dựa trên sự việc và đức tin, ông bí mất quan sát thành phố lúc đêm tối, sau đó đến với những người lãnh đạo tôn giáo và chính trị để đề bạt một phương hướng rõ rệt sự tái thiết vách thành và các cửa cổng ( 2:11-17).
Nêhêmi biết rằng nếu dân sự ủng hộ chức vụ lãnh đạo của ông, ông phải hành động ngay trước khi lòng nhiệt thành của họ trở nên nguội lạnh như trước đây. Thật may mắn, những người lãnh đạo trong thành phố nhận biết rằng tay Chúa ở với kế hoạch của Nêhêmi và họ đồng ý tiến hành ngay ( 2:18).
5. Dựa trên gương mẫu của Nêhêmi, khi nghe các nan đề tại Giêrusalem, hãy nêu lên một nguyên tắc hướng dẫn người lãnh đạo Cơ Đốc đi đến chỗ thành công. Nêu lên tóm gọn trong một câu.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 2 : Đánh giá bối cảnh và mức độ trưởng thành của những thuộc cấp tại Giêrusalem, và mô tả đường lối lãnh đạo Nêhêmi chọn dựa trên những yếu tố nầy.
CHỌN MỘT LOẠI LÃNH ĐẠO
Trước khi xem xét Nêhêmi đã tổ chức công việc và các công nhân như thế nào, chúng ta sẽ ôn loại cách mà một người lãnh đạo quyết định dẫn dắt các thuộc hạ của mình bước vào trong một hoàn cảnh mới. Điều này giúp chúng ta hiểu tại sao Nêhêmi chọn sự phối hợp để dẫn dắt những người theo mình trong việc tái thiết tường thành.
Bạn sẽ nhớ lại trong bài hai chúng ta học tập tầm quan trọng của việc chọn lựa một loại lãnh đạo có liên hệ đến hai sự kiện quan trọng sau :
1. Bối cảnh cần được cân nhắc
2. Loại lãnh đạo phải phù hợp với sự trưởng thành của các thuộc cấp.
Hình 8.2 là một bản dịch của một biểu đồ được Hersey và Blanchards tìm ra. Đây là một biểu đồ được dùng để nhận ra các thuộc cấp nào có đủ trưởng thành để hoàn tất công tác mà người lãnh đạo muốn họ hoàn tất. Nhưng thuộc cấp rất trưởng thành ở cột bên trái, còn những thuộc cấp không trưởng thành ở phía phải của biểu đồ.
THUỘC CẤP TRƯỞNG THÀNH - KHÔNG TRƯỞNG THÀNH
- Các thuộc cấp trưởng thành
Ao ước và có thể hoàn tất một công việc cần theo dõi sơ qua hoặc không cần theo dõi.
- Các thuộc cấp không trưởng thành
Không muốn và không thể hoàn tất một công việc cần theo dõi sơ qua hoặc không cần theo dõi
6. Dựa trên những gì bạn biết được về tình cảnh tại Giêrusalem lúc Nêhêmi trở về, bạn có tin rằng những người theo ông đã trưởng thành chưa?
Trước nhất, Nêhêmi nghiên cứu bối cảnh. Ông nhận thức rằng những người theo ông tại Giêrusalem rất là nãn chí. Đa số các phu tù trở về với Eâxơra ở tại Giêrusalem mười hai năm rồi. Tuy vậy, họ đã không làm gì cả trong việc phục hồi tường thành. Họ bị những kẻ đối nghịch đe dọa và không còn lòng trí nào để thực hiện công việc to lớn trước mắt. Từ Babylôn, họ trở về với niềm lạc quan và đầy hi vọng nhưng các cảm xúc này đã tàn lụi.
Kế đó, Nêhêmi đã lựa chọn một loại lãnh đạo. Một người lãnh đạo thiếu khả năng nhận định sẽ chọn loại uy quyền, ông cũng bị cám dỗ sử dụng đến quyền ép buộc bắt người khác làm việc. Tuy nhiên, Nêhêmi biết rằng dù ông là quan trưởng, ông vẫn là “ người ngoài cuộc”. Ông mới đến thành phố này chưa bao nhiêu ngày sau một thời gian dài vắng mặt. Ông biết rằng cần có nhiều thời gian để thuyết phục và nhận được sự tín nhiệm. Nêhêmi đánh giá bối cảnh và mức độ trưởng thành của những người theo mình. Trong sự nhận thức của mình ông đã quyết định xử sự với họ trong mức độ ngang hàng và chọn lấy điều chúng ta đã mô tả là loại lãnh đạo phối hợp.
7. Điều nào trong những điều này mô tả loại lãnh đạo phối hợp?
a. Người lãnh đạo chia xẻ các ý kiến và liên kết các quyết định với những thuộc cấp của mình.
b. Người lãnh đạo giải thích các quyết định của mình và tìm các phối hợp.
c. Người lãnh đạo đưa ra các quyết định cho các thuộc hạ.
d. Người lãnh đạo quyết định và tuyên bố.
e. Người lãnh đạo khởi xướng và đóng vai chính trong một toán làm việc.
f. Người thuộc hạ làm việc chung với nhau và người lãnh đạo giám sát sơ qua.
Mục tiêu 3 : Mô tả thái độ của Nêhêmi dẫn ông đến chỗ gia nhập với các công nhân trong việc tái thiết.
NHẬP BỌN VỚI CÔNG NHÂN
Lời của 2:17 minh họa rất rõ về người lãnh đạo bằng nguyên tắc phối hợp : “ Hãy đến, chúng ta hay xây cất các vách thành Giêrusalem lại, hầu cho chúng ta chẳng còn bị sỉ nhục nữa”.
Câu này đã khuấy động tinh thần yêu nước cực điểm của người Giuđa trong mỗi tấm lòng của người nghe. Những người theo ông bắt đầu làm việc khi họ thấy rằng mình đã trở về nên quá sĩ hổ và những người láng giềng không coi ra gì. Những lời này cũng cho thấy rằng Nêhêmi ao ước hoàn toàn đồng hóa mình với họ. Ông không giống với những người cai trị khác chỉ thu lấy số tiền trợ cấp quá cao và chèn ép người nghèo ( 5:14-18). Thay vì tìm kiếm tư lợi, Nêhêmi hết lòng quan tâm đến dân sự, ông ao ước sống và làm việc ở giữa họ.
8. So sánh lời của 2:17 với sự xưng nhận của ông đối với Đức Chúa Trời trong 1:5-7. Hai câu này cho ta thấy Nêhêmi quan hệ với những người theo mình như thế nào?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Sự lãnh đạo phối hợp của Nêhêmi trong việc tái thiết các tường thành Giêrusalem cho chúng ta thấy rằng có nhiều lợi ích lớn lao trong loại lãnh đạo này. Nhưng cũng có một vài bất lợi người lãnh đạo phải xem xét khi chọn lấy loại này. Chúng ta sẽ xem xét những vấn đề này khi học tập đời sống của Nêhêmi.
Mục tiêu 4 : Cho biết những áp dụng thực tiễn cho Hội Thánh ngày này qua điều mà Nêhêmi dạy chúng ta về những lợi ích của sự lãnh đạo phối hợp.
NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO PHỐI HỢP
Rút tỉa từ kinh nghiệm của Nêhêmi, chúng ta hãy xem xét một vài lợi ích của chức vụ chúng ta đã sử dụng loại lãnh đạo này; vì vậy chúng tôi muốn có một kiến thức đầy đủ về điều này.
1. Sự phối hợp đáp ứng cho vấn đề tự đồng hóa mình
Chúng ta đã thấy cách Nêhêmi giục giã tinh thần yêu nước của người Giuđa. Những thế hệ trước kia đã kinh nghiệm được nhiều năm thịnh vượng về mặt thuộc linh lẫn thuộc thể. Dưới sự trị vì của Đavít và Salômôn, quốc gia đã dấy lên và trở nên một quốc gia hùng cường nhất trong vùng. Người Do Thái đã nhìn thấy sự ứng nghiệm lời Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham là dòng dõi của ông sẽ trở nên một quốc gia lớn ảnh hưởng đến toàn thế giới.
Về phương diện dân số thành Giêrusalem vào thời Nêhêmi. Nhiều năm trước đây, mười chi phái vương quốc phía bắc đã rơi vào tay người Assiri. Sau đó vương quốc Giuađa phía nam đã bị người Babylôn xâm chiếm. Các nước láng giềng đã hàng phục và bị người Giuđa kiểm soát trong nhiều năm và phải nộp triều cống. Còn bây giờ các quốc gia này chế nhạo những người còn lại tại Giêrusalem cũng như những người trở về. Họ cũng bắt lấy các bầy gia súc và thu lấy mùa màng của người Giuđa.
Bởi đồng nhất với dân sự trong việc cùng nhau xây lại vách thành, Nêhêmi đã nhen lại các cảm xúc của niềm tự hào quốc gia. Dẫu sao, người Giuđa cũng là dân của giao ước, sự tuyển chọn của Đức Chúa Trời và Ngài đã không từ bỏ họ. Bây giờ Ngài đã sai một quan trưởng mới đến với họ là người có khải tượng khôi phục lại tường thành cùng các cửa cổng của thành phố. Thật ra, Nêhêmi có ý định đồng nhất với họ đến chỗ sẵn sàng cùng lao khổ trên tường thành. Ý thức được sống còn là khả năng phục hồi thành phố của Đavít bắt đầu lớn lên.
Nhu cầu tự đồng nhất là một cảm xúc rất mạnh trong nhiều người. Có tên trong danh sách hội viên của một Hội Thánh tự nó không đem lại một kinh nghiệm thỏa mãn nào. Một ý thức về sự lệ thuộc lẫn nhau và sự tin quyết mình là dân sự của Đức Chúa Trời là hai sự kiện rất quan trọng được tìm thấy trong các Hội Thánh yêu thương và tăng trưởng. Nhưng trong nhiều thành viên của các Hội Thánh không có một quan niệm rõ ràng về việc gắn kết với thân thể Đấng Christ ở chỗ nào, họ cũng không biết Hội Thánh có nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời cho quốc gia của họ như thế nào. Nhu cầu tự đồng nhất này có thể đáp ứng được khi người lãnh đạo đặt mình vào trị trí làm một chi thể rất bình thường và đồng nhất với họ trong việc thực hiện ý chí của Đức Chúa Trời.
9. Bạn có thể suy nghĩ đến một tình huống nào trong bối cảnh bạn, một người lãnh đạo có thể bỏ qua vị trí uy quyền chính thức và bước vào địa vị “ chúng ta cùng xây dựng” với những người theo mình chưa?
a. Mô tả tình huống đó
...............................................................................................................................
b. Giải thích những người đi theo phải làm gì để có được sự tự đồng nhất đáp ứng hoàn cảnh nào.
...............................................................................................................................
2. Sự phối hợp dẫn đến chỗ cùng cộng tác giải quyết các vấn đề phổ quát. Những người nam nữ từ nhiều cách sống khác nhau đã hiệp lại làm việc chung trên tường thành ( Xem Nêhêmi chương 3). Những thầy tế lễ và người Lêvi, dân sự cùng với người cai trị, người bảo vệ và người giữ cửa, các thương gia và người phụ giúp trong đền thờ, các con trai, con gái, thợ kim khí cũng như dược sĩ, tất cả đều đồng công với nhau. Ghi chú đặc biệt nhất đến những phụ nữ làm việc (câu 12) vì trong thời ấy, phụ nữ làm công tác xây dựng là điều bất thường. Thêm vào đó, dường như có một số người không có quyền lợi cố hữu trong thành phố cũng muốn tham gia làm việc.
10. Đọc 3:5. Tại sao những người quyền quý của Têkoa từ chối làm việc dưới sự giám sát của họ ?
...............................................................................................................................
Phần lớn những giai cấp khác nhau này có thể đưa ra những lý do cứng rắn tại sao họ không thể lao động. Những loại người như thương gia hay thợ kim khí có thể tuyên bố rằng họ không có sức để làm công việc tay chân. Các thầy tế lễ có thể trình bày quan điểm giáo lý của họ để không hòa nhập vào việc xây dựng tường thành ! Một sự kiện đáng ngạc nhiên là Thầy tế lễ thượng phẩm Eâliashíp nêu gương mẫu khi ông và gia đình xây dựng cửa thiên. Dân sự gạt bỏ sự phân biệt giai cấp, kinh tế, xã hội để kết hiệp với Nêhêmi bước vào địa thế phải xây dựng đã được giao phó. Nêhêmi đánh vần chữ thành công như thế nào? Đó là ĐỘI LIÊN KẾT !
11. Dan Ds 32:1-5 đề cập đến chi phái Rubên và Gát yêu cầu Môise rằng nếu được họ có thể ở lại vùng đất màu mở xanh tươi bên này sông Giôđanh hơn là đi ngang qua Giôđanh vào Đất hứa. Môise biết rằng sự nhiệt thành của họ không còn khi các cá nhân không còn ủng hộ họ.
a. Môise đã cho họ biết họ phải làm gì?
...............................................................................................................................
b. Sự hợp tác và cùng liên kết ấy đã đem lại kết quả gì?
...............................................................................................................................
c. Đưa ra những ứng dụng các điều này vào trong trách nhiệm của người lãnh đạo Hội Thánh ngày nay.
...............................................................................................................................
3. Sự phối hợp ta càng hiểu biết vấn đề : Qua Nêhêmi chương ba và bốn chúng ta thấy rằng mọi người đã dâng mình và hòa nhịp với nhau trong sự tái thiết tường thành khi họ thật sự hiểu tầm quan trọng của công việc. Chắc chắn là những nhà lãnh đạo trước đây đã cố gắng thúc đẩy nhân dân trong thành phố xây lại các bức tường, nhưng đã không thành công. Có lẽ họ sử dụng cả đến uy quyền. Kế hoạch của Nêhêmi thì khác. Khi ông dẫn dắt bằng cách phối hợp, dân sự đã có sự thân mật hơn, được biết nhiều hơn và họ có thể thấy được tầm quan trọng thực sự của tường thành.
Trước đây, vào năm thứ bảy đời vua Attaxétxe, Exơra đã được ban cho tài chánh dư dạt và nhiều tiếp viên để trở về Giêrusalem ( Exo Er 6:8-10). Nói về mặt lý thuyết, điều này có thể giúp cho dân Giuđa có một khởi đầu mới, vì họ có điều kiện về kinh tế và gia tăng về số lượng.
Tuy nhiên, đến năm thức hai mươi đời vua này, Giuđa lại rơi vào sự suy đồi. Làng mạc bị các nhóm gần đó cướp bóc, dân dự bị bắt cóc làm phu tù, cướp của giết người xảy ra thường xuyên. Giêrusalem càng trở nên hoang vu và đền thờ thì đổ nát chưa được phục hồi. Con đường duy nhất để phục hưng quốc gia, duy trì luật pháp Môise và đặt nền tảng cho sự độc lập tương là là tái thiết vách thành và các cửa cổng. Một khi Giêrusalem trở nên vững chắc và không bị người ngoại bang tấn công, sau đó chính quyền dân sự hoạt động trở lại. Hơn nữa, sự an toàn của thành phố cũng có nghĩa là các thầy tế lễ là người Lêvi được khích lệ và có thể trở lại chức vụ. Tường thành đem lại sự đổi mới thuộc linh, thuộc thể.
Ngoại trừ giai cấp quyền quý của Têkôa, mọi người đều thấy khải tượng về bức tường thành có ý nghĩa gì đối với thành phố và bắt đầu nhiệt tâm xây dựng.
Qua sự truyền đạt khải tượng cho các thuộc cấp, người lãnh đạo có thể đưa ra một trong những sức mạnh giục giã mạnh mẽ nhất cho người khác. Trong bảng dịch King James ChCn 29:18 chúng ta thấy được kết quả cụ thể khi thiếu khải tượng : “ Đâu thiếu khải tượng, dân sự bị diệt vong?”.
12. Dựa trên điều chúng tôi đã bàn trong phần trên đây, câu nói nào dưới đây là ĐÚNG?
a. Nêhêmi giúp mọi người thấy được tình trạng của thành phố là sự sĩ hổ cho họ.
b. Giai cấp quyền quí của Têkôa không có một quyền lợi gì trong Giêrusalem, điều này giải thích được việc họ từ chối bắt tay vào công tác.
c. Mọi công dân Giêrusalem nhờ sự cộng tác hoàn toàn đã được nhiều lợi ích trong việc tái thiết tường thành.
d. Tường thành sẽ vẫn không hoàn tất nếu mỗi người không thấy nhu cầu của mình trong việc tham gia công tác.
e. Mọi người đều được phân phối công việc theo khả năng của mình.
f. Mọi người đều thích công tác nhiều hơn nếu họ hiểu các nan đề đòi hỏi sự phối hợp của họ.
g. Ngày hôm nay công việc của Đức Chúa Trời vẫn chưa hoàn tất trừ phi các nhà lãnh đạo Cơ Đốc giúp các tín hữu thấy được nhu cầu của họ là tham gia vào công tác.
4. Sự phối hợp làm cho sự đối kháng bị chống trả kịch liệt hơn.
Lý do chính Nêhêmi có thể dẫn dắt dân sự một cách thành công là nhờ ông chiến thắng được sự đối kháng. Làm thế nào ông có được điều này? Bởi phối hợp với các công nhân của mình ông đã gia thêm được sự chống trả với các sức mạnh đối kháng.
Trong NeNe 2:10-20 chúng ta thấy được tình huống này. Ở đây chúng ta học được sự chống đối của hai nhà lãnh đạo lân cận là Sanbalét và Tôbigia. Trước khi khởi sự công việc, những người này tìm cách cáo buộc Nêhêmi vào tội phản loạn. Khi mưu định này bất thành, họ sỉ vã khinh miệt những người tham gia làm việc ( 4:1-3). Rồi khi thấy điều này không làm những công nhân này nãn lòng, họ lập kế hoạch tấn công những người xây thành bằng quân đội ( 4:7-8, 11). Nêhêmi đã đánh bại mục tiêu này bằng cách trang bị vũ khí cho các công nhân.
Sanbalát và Tôbigia sử dụng nhiều kế hoạch để dụ Nêhêmi ra khỏi sự an toàn trong thành phố để có một “ hội nghị hòa bình” ( 6:2). Tuy nhiên, Nêhêmi đã thấy được sự lừa dối của họ và từ chối không bỏ công việc của mình. Cuối cùng, kẻ đối địch đã lập mưu ám sát Nêhêmi trong đền thờ, nhưng ông đã biện biệt được tiên tri ấy là giả dối và từ chối phân rẽ khỏi các đồng công của mình (6:10-14).
Trong lúc đó, cũng có sự chống đối bên trong thành phố cần phải giải quyết. Hàng đống rác rưởi khắp nơi cũng là lý do gây ra sự nãn chí. Những người dân nghèo đã phải cầm đất đai, con cái họ để thế nợ ( 5:1-3, 5) mà những công dân giàu có đã cho vay lấy lãi quá cao ( 5:7).
13. Đọc Nêhêmi chương 5. Chúng ta có thể thấy rằng Nêhêmi giống như Sứ đồ Phaolô có thể thay đổi loại lãnh đạo cho thích hợp theo bối cảnh. Trong chương 5 loại lãnh đạo nào Nêhêmi đã dùng để xử lý với các nan đề nội bộ được mô tả trong chương 5?
a. Tuyên bố
b. Thuyết phục
c. Cử đại biểu
d. Phối hợp
Bằng cách sử dụng kế hoạch Chúa ban là gom lại tất cả mọi nguồn trong thành phố để chống trả sự đối kháng, Nêhêmi đã có thể đẩy lui các sức mạnh chống đối này.
Đây là một bài học quan trọng cho chúng ta trong việc xử lý với các quyền lực chống đối lại công tác của Đức Chúa Trời. Nếu đứng một mình, chúng ta rất dễ bị kẻ thù tấn công, và chúng ta cũng ít được bảo vệ chống lại các quyền lực đang tập hợp lại đối kháng chúng ta. Tuy nhiên, khi cùng đứng với nhau, chúng ta sẽ có một sức mạnh tổng hợp như một đồn lũy mà không một kẻ thù nào có thể chống nỗi. Nêhêmi đã giúp cho dân thành Giêrusalem kinh nghiệm sự năng động của nguyên tắc này. Nhờ sự giúp sức của Đức Chúa Trời, họ đã cùng nhau quét sạch mọi thế lực chống đối và xây lại tường thành trong một thời gian ngắn không thể nào tin được là năm mươi bốn ngày. Họ đã hoàn tất công tác không có máy cày, hoặc máy trục hàng để nâng những viên đá nặng nề vào chỗ của nó ! Các quốc gia láng giềng đã kinh ngạc trước diễn tiến mà dân thành Giêrusalem có được sau mười hai năm bất động.
14. Đọc Eph Ep 4:4-6, 11-13, 16; 6:10-17 và áp dụng nguyên tắc sức mạnh của sự hiệp một được minh họa qua Nêhêmi đối với các trận chiến thuộc linh chống lại kẻ thù của Đức Chúa Trời hôm nay.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
15. Qua 5:10-17 và lập một minh họa giống với hình 8.3 trình bày thế nào bạn là một người lãnh đạo trong Hội thánh là thân thể của Đấng Christ có thể giúp cho những người theo bạn có thể giành được chiến thắng trước những chiến lược của kẻ ác. Dùng mép giấy còn lại của quyền sách này hay vẽ lại trong vở ghi chép của bạn.
Mục tiêu 5 : Nhận ra các lý do gây ra nan đề có thể xảy ra trong sự lãnh đạo phối hợp.
NHỮNG BẤT LỢI CỦA SỰ LÃNH ĐẠO PHỐI HỢP
Chúng tôi muốn nhắc lại rằng không một thể loại nào là hoàn toàn cả. Để giúp bạn có một sự hiểu biết thực tế rằng sự phối hợp cũng chỉ là một thể loại. Bây giờ chúng ta sẽ xét đến một vài nhược điểm của nó. Điều này giúp chúng ta giữ được sự quân bình và không coi sự phối hợp là câu trả lời cho mọi nan đề chúng ta đối diện khi làm người lãnh đạo ! Hãy nhớ đến điều kiện có thể thay đổi để thích nghi với bối cảnh nên bạn cần xem xét nhiều sự kiện trước khi chọn bất cứ loại đặc biệt nào.
1. Sự phối hợp có thể được xem như một sự cố gắng trốn tránh trách nhiệm .
Đôi lúc các thuộc cấp giải thích sự phối hợp mà người lãnh đạo đề ra sự yếu đuối. Họ cảm thấy rằng ông ta đang lẫn trốn trách nhiệm cá nhân mình bằng cách bắt nhóm gánh lấy bổn phận của mình.
Chắc hẳn chức vụ lãnh đạo của Nêhêmi chịu một vài đảo lộn khi ông trở lại thăm vua Batư ( NeNe 13:6-7). Kinh Thánh không tường trình việc ông rời khỏi Giêrusalem bao lâu nhưng cũng để cho những người lãnh đạo tạm thời đưa ra những quyết định nào đó. Kẻ thù lúc trước của họ là Tôbigia đang sống trong các phòng của đền thờ là khách của Eâliasíp, thầy tế lễ thượng phẩm ! Những hôn nhân pha trộn được cho phép, người Lêvi không còn được cung cấp nữa, ngày Sabát không còn được giữ theo luật pháp Môise.
Điều này minh họa rằng những diễn biến tiêu cực có thể xảy ra khi các thuộc cấp tưởng rằng sự phối hợp có nghĩa là người lãnh đạo từ bỏ chức vụ của mình và chấp nhận bất cứ quyết định nào nhân danh ông. Những điều đó có thể xảy ra ngày hôm nay như một người lãnh đạo Hội Thánh có thể đi du lịch một nơi nào đó trở về và thấy rằng có nhiều thay đổi lúc ông vắng mặt. Một vài người lãnh đạo có thể còn khám phá rằng mình không còn là người lãnh đạo nữa !
16. Đọc Nêhêmi chương 13, có điều gì cho biết Nêhêmi đã mất đi vị trí lãnh đạo của mình khi ông trở lại không? Hãy trích dẫn Kinh Thánh để bênh vực cho câu trả lời của bạn.
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
2. Sự phối hợp đòi hỏi người lãnh đạo phải dành nhiều thì giờ hơn . Trong sự lãnh đạo phối hợp, đây là một yếu tố có thể gây ra các nan đề. Thật ra, nhóm thuộc cấp càng đông, người lãnh đạo càng phải có thời gian để đạt đến chỗ thống nhất và xử lý với mọn nan đề sẽ dấy lên. Nếu bạn đang phục vụ trong một ủy ban, bạn biết là phải hoàn tất nhiệm vụ chính bao lâu rồi.
Chúng ta có thể ghi nhận trong việc xử lý với sự hiện diện của Tôbigia trong đền thờ. Nêhêmi đã không bàn bạc với những người lãnh đạo tôn giáo cũng không tìm sự giúp đỡ của họ trong việc ném các vật dụng của Tôbigia ra đường. Có nhiều lần khi phải quyết định cách khẩn cấp, Nêhêmi đã lập tức phản ứng đối với một vấn đề nguy ngập.
17. Trong ví dụ này loại lãnh đạo của Nêhêmi là gì?
c. Thuyết phục d. Tuyên bố
18. Nêu lên hai lý do tại sao sự lãnh đạo phối hợp đòi hỏi nhiều thì giờ của người lãnh đạo hơn các loại lãnh đạo khác.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
3. Sự phối hợp đòi hỏi người lãnh đạo cần có khả năng vượt bực .
Lãnh đạo bằng sự phối hợp có vẻ dễ dàng. Nhiều nhà lãnh đạo đã chọn loại này vì nó ít gây ra nan đề hơn những loại lãnh đạo trực tiếp hơn. Sự thật thà không phải như vậy. Sự phối hợp đòi hỏi người lãnh đạo có một khả năng vượt bực và phải rất cẩn thận.
Có nhiều ví dụ trong Kinh Thánh nói đến sự lãnh đạo phối hợp này gây nên các hậu quả khủng khiếp cho người lãnh đạo lẫn các thuộc cấp. Hãy xem các ví dụ sau đây :
Xuất Eâdíptô ký 32, Arôn phạm tội bằng cách kết hiệp với dân sự để dựng nên con bò vàng,
I Samuên 13. Saulơ đã dâng của lễ chay cho Samuên để làm vui lòng dân sự .
II Sử ký 10. Rôbôam chấp nhận lời khuyên của những bạn bè cùng lứa và gây nên sự rạn nứt trong đất nước.
Luca 23. Philát đã chấp nhận lời đòi hỏi của những người tố cáo Chúa Giêxu và kết án Ngài để giữ được sự hâm mộ của dân chúng.#
19. Trong bốn gương mẫu Kinh Thánh trên đây yếu tố nào trong các yếu tố dưới đây thiếu mất?
a. Người lãnh đạo và thuộc cấp cùng dự phần trong công việc.
b. Người lãnh đạo khởi xướng hành động phải chọn.
c. Người lãnh đạo và các thuộc hạ cùng đưa ra các quyết định.
d. Người lãnh đạo và các thuộc hạ hòa hợp với nhau trong nỗ lực cộng tác chung.
20. Yếu tố nào người lãnh đạo không để ý đến trong bốn gương mẫu trên đây?
a. Nhiệm vụ phải được hoàn tất.
b. Bối cảnh và mức độ trưởng thành của các thuộc cấp.
c. Những mong ước của các thuộc hạ.
d. Khả năng của người lãnh đạo trong việc đưa ra một quyết định đúng.
Nêhêmi đã chứng minh cho chúng thấy rằng sự lãnh đạo phối hợp là loại lãnh đạo phù hợp với Kinh Thánh và rất có hiểu quả. Nhiều công tác được hoàn tất qua việc sử dụng loại lãnh đạo này khi nó phù hợp với bối cảnh và sự trưởng thành của các thuộc cấp.
Là những những lãnh đạo, chúng ta phải thừa nhận rằng mình rất giới hạn trong sự hiểu biết cũng như nhạy bén với các nguồn cung ứng. Hơn bao giờ hết chúng ta cần có các ân tứ thuộc linh cùng những công việc thực tiễn của những người lãnh theo chúng ta. Khả năng chọn lựa một người thích hợp cho mỗi một công tác là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của một người lãnh đạo có nhiều hiệu quả. Nêhêmi đã cung cấp cho chúng ta một gương mẫu sáng chói những gì có thể thành đạt được qua người lãnh đạo và các thuộc hạ cùng chung vai sát cánh.
Trong Nêhêmi chúng ta cũng thấy được một người lãnh đạo không ngại khó. Như điều như Thomas Edison người phát minh nổi tiếng đã nói : “ Tài năng có một phần trăm thiên hứng và chín mươi chín phần trăm đổ mồ hôi”. Michelangelo tuyên bố rằng nếu người ta biết cách làm việc chăm chỉ để thấu triệt được thuật điêu khắc và kiến trúc thì những công trình nghệ thuật không có gì sáng giá cả ! Chúng ta không chỉ cần một khải tượng, một kế hoạch từ Đức Chúa Trời nhưng cũng phải ao ước làm việc siêng năng để hoàn tất công việc. Nguyện Chúa giúp chúng ta làm trọn sự ủy thác này !

Bài kiểm tra
CHỌN LỰA: Khoanh tròn mẫu tự đứng trước các câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Câu hỏi của Nêhêmi về tin tức tình trạng thành Giêrusalem ở Nêhêmi chương 1 là câu nào?
a. Nổi giận về những gì mà các người định cư ở đó cho phép xảy ra.
b. Chấp nhận rằng dân dự đáng chịu những việc đang xảy ra.
c. Từ chối liên hệ đến tình trạng này vì cớ cách cư xử gian ác của dân sự.
d. Đổ nước mắt cầu nguyện khi tự đồng nhất chính mình đối với dân sự của ông và tội lỗi của họ.
2. Khi Nêhêmi trở về Giêrusalem, ông đã thấy được hoàn cảnh nào?
a. Dân cư ở đó chống trả quyết liệt với kẻ thù của họ bên ngoài thành phố là những người không muốn thấy tường thành được sửa lại.
b. Sự chống đối bên trong thành phố do sự tham lam và sợ hãi, nhưng lại được những láng giềng bên ngoài thành phố ủng hộ.
c. Sự chống đối mạnh mẽ cả bên trong của các cư dân lẫn kẻ thù bên ngoài thành phố.
d. Nhiều công dân nhiệt tâm ao ước tường thành được xây lại.
3. Nêhêmi đã theo các kế hoạch nào khi trở về Giêrusalem?
a. Ông cầu nguyện và hành động sau đó.
b. Ông tuyên bố kế hoạch của mình, rồi bắt đầu những người khác tham gia.
c. Ông cầu nguyện để Chúa dấy lên một người lãnh đạo giữa vòng dân sự.
d. Ông lập tức khởi sự việc tái thiết một phân tường thành.
4. Điều nào dưới đây mô tả đúng nhất mà bài học này đã nêu mức độ trưởng thành của những người theo Nêhêmi ở Giêrusalem?
a. Ao ước và có thể hoàn tất một công tác mà không cần theo dõi hay theo dõi sơ qua.
b. Không ao ước và không thể hoàn tất một công tác khi không cần theo dõi hay xem sơ qua.
c. Không ao ước nhưng có thể hoàn tất một công tác mà không cần theo dõi hay theo dõi sơ qua.
d. Ao ước nhưng không thể hoàn tất công tác mà không cần theo dõi hay theo dõi sơ qua.
5. Điều nào mô tả đúng nhất loại lãnh đạo của Nêhêmi trong việc tái thiết tường thành?
a. Những người theo ông làm việc chung với nhau và Nêhêmi rất ít theo dõi họ.
b. Nêhêmi chia xẻ ý kiến của mình và làm việc rất gần gũi với những người theo mình.
c. Nêhêmi thay đổi các quyết định đối với người theo mình.
d. Nêhêmi quyết định và tuyên bố các quyết định ấy cho các thuộc hạ.
ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ trong khoảng trống trước các câu mô tả đúng một lợi ích hay bất lợi của sự lãnh đạo phối hợp. Viết chữ S nếu không đúng.
....6. Phối hợp dẫn đến sự hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề phổ quát.
....7. Phối hợp có thể được xem như một sự cố gắng trốn tránh nhiệm vụ.
....8. Phối hợp gia tăng sự hiểu biết một vấn đề.
....9. Phối hợp đáp ứng nhu cầu tự đồng nhất.
....10.Phối hợp không đòi hỏi nhiều thì giờ của người lãnh đạo như các loại lãnh đạo khác.
....11. Phối hợp đòi hỏi người lãnh đạo có khả năng vượt bực.
....12. Sự phối hợp làm cho sự chống đối ít bị chống trả hơn.

PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.c) Tự đồng nhất mình với dân sự của Ngài.
d) Bày tỏ sự đầu phục của ông.
2. a. Ông nghe về tình trạng của Giêrusalem.
3. Ong than thở, kiêng ăn và cầu nguyện trong nhiều ngày và được chuẩn bị bằng một kế hoạch mà Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng ông ( xem NeNe 2:12).
4. Ông luôn cho thấy rằng Đức Chúa Trời đang hướng dẫn các hành động của ông ( câu 12,18,20).
5. Đây là sự đề nghị của tôi : Nếu một người lãnh đạo Cơ Đốc, thành thật cầu nguyện về một vấn đề và sau đó hành động theo những gì Đức Chúa Trời đã hành động trong lòng họ, người ấy sẽ thành công.
6. Tôi sẽ đặt họ vào cột phải cuối cùng của biểu đồ ( những thuộc hạ rất không trưởng thành).
7. Các câu trả lời a và c miêu tả loại lãnh đạo phối hợp
9.a. Câu trả lời của bạn. Gương mẫu có thể là thiếu quan tâm rao giảng Phúc âm. Nếu người lãnh đạo phối hợp với các thuộc cấp trong việc khai triển và thực hiện chương trình rao giảng Phúc âm, mọi người sẽ thấy cần phải hòa nhịp vào đó.
b. Nhu cầu tự động nhất của những thuộc hạ sẽ được đáp ứng bởi sự hòa nhịp với người lãnh đạo trong sự khai triển và thực hiện chương trình.
10 Câu trả lời của bạn. Có lẽ vì sự kiêu ngạo của họ nên không muốn đầu phục sự giám sát của người khác; hoặc có lẽ họ tự xem họ quá quan trọng nên không lao động. Bạn có bao giờ thấy những người lãnh đạo và các thuộc hạ có thái độ này chưa?
11. a. Làm cho người Do Thái nản chí với những gì Đức Chúa Trời muốn họ thực hiện.
b. Đây là một sự khích lệ cho mọi người tham gia và đi đến chỗ thành công.
c. Người lãnh đạo Hội Thánh chịu trách nhiệm cổ vũ một tinh thần hợp tác và một đội liên kết trong thân thể của Christ để hoàn tất các mục tiêu của nó
12. Câu trả lời a,c d,f và g là đúng#.
b. Vua hỏi ông cần gì, ông đã cầu nguyệ để vua ban đặc ân và giải quyết các yêu cầu của ông ( xem NeNe 1:11).
13.a) Tuyên bố ( ông quyết định và bảo hộ điều phải làm).
b) Thuyết phục ( ông giục giã họ noi gương của mình).
14. Đức Chúa Trời đã lựa chọn những người lãnh đạo thuộc linh để gây dưng thân thể của Đấng Christ trong sự hiệp nhất của đức tin và trang bị đầy đủ để chống lại với các quyền bính tối tăm.
15. Câu trả lời của bạn phải giống như vầy
16. Không, ông không mất đi vị trí lãnh đạo nhưng ông phải hành động một cách mau chóng để điều chỉnh các nan đề. Ông đã thành công : 1. Ông ném các vật sở hữu của Tôbigia ra khỏi đền thờ ( 13:7-9); 2. Ông khôi phục lại chúc vụ Lêvi và các người ca hát (13:10-11); 3. Ông phục hồi việc giữ ngày Sabát ( 13:15-22); 4. Ông quở trách những người lấy vợ ngoại bang và bắt họ phải thề nguyền ( 13:13-27).
17.b. Tuyên bố
18. Cần có nhiều thì giờ hơn để đạt đến chỗ thống nhất hành động và xử lý các nan đề dấy lên.
19.b. Người lãnh đạo khởi xướng hành động phải chọn.
20.b Bối cảnh và sự trưởng thành của những người đi theo.
- CÁC QUYỀN LỰC CHỐNG TRẢ:
THÂN THỂ CỦA CHRIST ĐƯỢC TRANG BỊ BẰNG MỌI KHÍ GIỚI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI, LẼ THẬT , SỰ CÔNG BÌNH, TIN LÀNH BÌNH AN, ĐỨC, SỰ CỨU CHUỘC, LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
- CÁC QUYỀN LỰC CHỐNG ĐỐI:
Chủ quyền, Thế lực, Vua Chúa của thế gian mờ tối. Các thần dữ ở các miền trên trời
BANABA : PHỤ TÁ LÃNH ĐẠO
Banaba là một trong số những nhân vật Tân Ước được tôi ưa thích nhất. Tuy nhiên, vì cớ hình ảnh nổi bật của Saulơ người Tạt sơ ( sau này được gọi là Phaolô), Banaba thường bị bỏ qua trong các bài học về sự lãnh đạo. Hơn bất cứ người nào khác, Banaba đã nhận ra sự hoán cải chân thật của Saulơ đối với Chúa Cứu Thế và ông đã bị một phương tiện để đưa Saulơ vào chức vụ, mặt khác chức vụ của Banaba chủ yếu là nhận ra sự kêu gọi Saulơ vào chức vụ sứ đồ và hổ trợ sự lãnh đạo của ông ta.
Chúng ta gọi chức vụ hỗ trợ đó là phụ tá lãnh đạo. Đây là một khái niệm rất quan trọng, bởi vì nhiều người lãnh đạo được kêu gọi để giữ một vai trò hỗ trợ bên cạnh các nhà lãnh đạo khác có các vị trí chức vụ quan trọng hơn. Một số các lãnh đạo trẻ tuổi có lẻ cảm thấy không an tâm lắm về cách một chức vụ hỗ trợ như vậy có thể hoạt động như thế nào, hoặc thậm chí có thể họ tự hỏi không biết Kinh Thánh quan niệm ra sao về những chữ hoạt động dưới quyền của một người lãnh đạo khác. Khi nghiên cứu về cuộc sống của Banaba, chúng ta sẽ thấy đây không chỉ là một quan niệm của Kinh Thánh, mà thường là điều cần thiết để các người lãnh đạo cùng làm việc với thái độ hỗ trợ cho nhau.
Chúng ta cũng sẽ khám phá ra giá trị cho Nước Trời về những người lãnh đạo, có năng lực để biết rõ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho những người lãnh đạo nổi bật.
Thật vậy, không có gì đáng buồn cả khi bạn tiếp thu ý tưởng cho rằng Đức Chúa Trời có thể đang chuẩn bị bạn bước vào vị trí phụ tá lãnh đạo. Những người lãnh đạo như thế giữ một vai trò rất quan trọng trong thân thể Đấng Christ. Mỗi Phaolô đều cần có một Banaba.
Dàn bài
Trường hợp nghiên cứu 1: Những nhà lãnh đạo nổi bật
Trường hợp nghiên cứu 2: Những nhà lãnh đạo phụ tá
Các nguyên tắc về chức vụ lãnh đạo phụ tá .

Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn có thể
Diễn đạt được những khái niệm về phụ tá lãnh đạo và mạng lưới hoạt động của các lãnh đạo.
Thảo luận được tầm quan trọng về gương mẫu của Banaba trong hội thánh đầu tiên và chức vụ của ông cùng với Phaolô.
Giải thích được những nguyên tắc liên quan đến việc trợ giúp cho các nhà lãnh đạo nổi bật, việc chuyển đổi quyền lãnh đạo, và việc giải quyết những xung đột trong giới lãnh đạo.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học theo tiến trình bình thường. So sánh với một số nhà lãnh đạo khác trong TK, có rất ít thông tin về Banaba. Cố gắng dẫn Kinh Thánh càng nhiều càng tốt.
Làm bài kiểm tra và soát lại các câu trả lời của bạn. Sau đó ôn lại từ bài 7 - 9 và trả lời những câu hỏi trong đơn vị tiến trình đánh giá 3 lấy từ tập bài dành cho học viên của bạn.

Những từ then chốt
chịu trách nhiệm ( accountable)
độc đoán ( dogmatic)
nổi bật ( emerging)
thương lượng ( negotiable)
mạng lưới làm việc ( networking)
thuộc về mối quan hệ ( relational)
sự chuyển đổi ( transition)

Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Nhận ra những đặc điểm trong chức vụ quản lý của Banaba cho thấy thái độ của ông đối với tài sản.
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU 1 : CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO NỔI BẬT
Cong Cv 4:32-5:11; 9:1-31, 11:22-24
Banaba khích lệ Hội Thánh
4:32-5:11
Trước hết Banaba được sự chú ý của Hội thánh đầu tiên là do việc ông đã dâng hiến rộng rãi số tiền bán tài sản của mình để trợ giúp cho các Cơ Đốc nhân ở tại Giêrusalem. Phần Kinh Thánh nhắc đến sự xuất hiện của Banaba trong Hội thánh đầu tiên thì không dài, nhưng đã thật sự tỏ rõ sự kết ước trọn vẹn của tấm lòng ông dành cho sự hầu việc Đức Chúa Trời Giêxu Christ - lần đầu tiên ông được đề cập đến, là “ Giôsép, một người Lêvi, quê ở Chíprơ, được các sứ đồ gọi là Banaba ( nghĩa là con trai của sự yên ủi)” ( 4:36). Ông ta sở hữu một miếng đất, và hình như đã di trú đến Giêrusalem làm một Cơ Đốc nhân trẻ tuổi để gia nhập với một số thành viên trong gia đình ông.
Một nhà văn giàu tưởng tượng đã đưa ra giải thuyết cho rằng Banaba chính là người trai trẻ giàu có mà Chúa Giêxu đã bảo : “ Hãy bán hết gia tài mình, phân phát cho kẻ nghèo, thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời. Bây giờ, hãy đến mà theo ta” ( LuLc 18:22). Có lẽ Chúa Jêsus muốn ông loại bỏ sự ngăn trở này với Đức Chúa Trời bởi vì Banaba là một người Lêvi, theo luật pháp Môise, người Lêvi không được phép có tài sản riêng ( PhuDnl 14:29). Mặc dầu đây là một ý tưởng thú vị, song chẳng có bằng cớ nào trong Kinh Thánh hậu thuẫn cho điều đó. Nhưng Cong Cv 4:36 tường thuật rằng Banaba đã bán tài sản mình và dâng của cải cho Hội Thánh.
Chúng ta đều biết rằng tinh thần rộng rãi và sự quan tâm đến nhau là một đặc trưng của Hội Thánh đầu tiên vào thời điểm đó. Những người giàu có trong hội chúng đã có sự cung cấp dự dật cho những kẻ nghèo thiếu. Không ai được phép cố ý ở trong tình trạng thiếu thốn hoặc đói kém. Những người có tài sản đều bán đi để ứng cho nhu cầu chung của cộng đoàn. Số tiền bán tài sản được mang đến Hội Thánh và giao cho các sứ đồ để phân phát cho những người nghèo.
1. Đọc 5:11. Hãy so sánh tặng phẩm của Banaba với của Anania và Saphira. Mỗi người trong bọn họ đều đã bán tài sản, và đem tiền bán được đặt dưới chân các sứ đồ. Thậm chí có thể số lượng tiền dâng của Anania và Saphira nhiều hơn số tiền dâng của Banaba. Nhưng điều khác nhau trong sự dâng hiến của họ là gì?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
2. Anania và Saphira đã phạm tội nào trong các tội này?
a. Bán tài sản của mình để có thể đóng góp cho nhu cầu của các tín đồ nghèo hơn.
b. Giữ lại một phần số tiền cho chính mình.
c. Nói rằng học đã đặt dưới chân các sứ đồ toàn bộ số tiền họ bán tài sản.
Như hai gương trên đã bày tỏ, Đức Chúa Trời thường hay thử nghiệm một người lãnh đạo nổi bật trong lãnh vực tài chánh. Banaba đã đáp ứng nhu cầu của Hội Thánh bằng việc dâng hiến một số tiền lớn, có thể là toàn bộ gia tài của ông để thỏa đáp những nhu cầu của các Cơ Đốc Nhân nghèo thiếu ở tại Giêrusalem. Không lạ gì khi ông đã nhận được danh hiệu người yên ủi.
3. Theo bạn, điều nào trong những điều này đã mô tả được động cơ khiến Banaba dâng hiến? Ông muốn
a. Gây ấn tượng tốt cho những nhà lãnh đạo Hội Thánh.
b. Sử dụng những của cải của mình để làm phúc cho dân sự của Đức Chúa Trời.
c. Trở thành một người lãnh đạo Hội Thánh.
d. Để mua sự cứu rỗi cho mình.
e. Thực hiện một sự kết ước trọn vẹn với chánh nghĩa của Đấng Christ.
Mục tiêu 2 : Giải thích lý do vì sao cộng đoàn Cơ Đốc Nhân e Ngại Phaolô và điều Banaba đã làm để xóa tan sự sợ hãi của họ.
Banaba ủng hộ Saulơ
9:1-31
Trong Công vụ đoạn 9 chúng ta có phần mô tả thật cảm động về sự hoán cải của Saulơ người Tạt sơ. Đang khi mở rộng chiến dịch chống lại các Cơ Đốc Nhân ở ngoài địa phận Giêrusalem - Saulơ đã đối đầu với Giêxu Christ, Chúa phục sinh - trên con đường đến thành Đamách. Vì cớ Saulơ tạm thời bị mù mắt bởi khải tượng, các bạn đồng hành phải dẫn ông đến thành Đamách. Tại đó, ông trải qua ba ngày ba đêm không ăn không uống và cầu nguyện và sự đặt tay của người này trên Saulơ, ông ta đã sáng mắt trở lại.
Sau khi Saulơ trở lại với Cơ Đốc giáo, ông được biết rằng những bạn cũ người Do Thái trước kia nay đã trở thành những kẻ thù gay gắt của ông. Phản ứng của họ trước việc ông giảng dạy ở tại thành Đamách dữ dội đến nỗi ông phải trốn thoát khỏi thành bằng cách được dòng xuống ngoài tường thành vào ban đêm trong một cái thùng ( 9:20-25).
4. Theo quan điểm của bạn. Vì sao sự hoán cải của Saulơ lại gây cho giới cầm quyền Do Thái xôn xao đến như vậy?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Khi Saulơ từ Đamách trở về Giêrusalem, ông khám phá ra rằng việc ông trở lại thủ đô đã gây ra một phản ứng sợ hãi tràn lan giữ vòng cộng đoàn Cơ Đốc. Các tín đồ có lẽ là có một lý do hợp lý khi nghi ngờ sự hoán cải của Saulơ là không tha5t. Có thể họ ân hận vì đã đưa ông đến với Hội Thánh và nghĩ rằng ông sẽ tìm cách nộp họ cho giới cầm quyền Do Thái. Có lẽ các lãnh tụ người Do Thái khác đã toan gài bẫy cộng đồng Cơ Đốc nhân bằng phương tiện lừa dối đó. Trong suốt những tuần lễ đó, dường như Saulơ đã bị cô lập khỏi Hội thánh, và những nhà lãnh đạo trong cộng đồng Cơ Đốc cũng định đặt câu hỏi xem sự hoán cải của ông có thật chẳng ( 9:26).
Chính vào thời điểm đó, Banaba lại tái xuất hiện và giới thiệu Phaolô cho các sứ đồ ( 9:27). Banaba thật sự đã liều bỏ thanh danh của chính mình khi làm chứng cho Saulơ và đưa ông vào trong vòng những người lãnh đạo Cơ Đốc. Chúng ta không biết trước kia ông can thiệp cho Saulơ trong tình huống khó khăn này, ông có từng biết Saulơ hay không, nhưng rõ ràng là ông tin lời làm chứng của Saulơ và đã thấy được tiềm lực lãnh đạo lớn lao của Saulơ. Trong khi các sứ đồ tê liệt vì sợ hãi và nghi ngờ, thì Banaba lại nhận biết sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống của Saulơ. Dẫu cho Banaba không hề được nhắc đến trong sách Công vụ nữa, duy hành động này cũng đã tỏ rõ ông ta luôn luôn là một gương mẫu trong việc nhận ra và ủng hộ cho các nhà lãnh đạo mới xuất hiện.
5. Vì sao các tín hữu ở tại Giêrusalem lại quá nghi ngờ Saulơ như vậy?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
6. Banaba làm chứng gì để thuyết phục các sứ đồ rằng sự hoán cải và chức vụ của Saulơ là thật ( Xem 9:26-30).
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 3 : Tìm ra những bằng cớ trong Kinh Thánh chứng tỏ Banaba là một người được Chúa chỉ dẫn, hiệu quả và đủ tư cách cho chức vụ lãnh đạo trong Hội Thánh.
Banaba dẫn dắt Hội Thánh Antiốt
( 11:22-24)
11:19-24) thuật lại việc Tin lành đã lan rộng đến Antiốt như thế nào. Antiốt trước kia từng là một thành quan trọng của vương quốc. Hylạp thuộc xứ Syri. Những người Do Thái theo Cơ Đốc giáo trốn khỏi cuộc bắt bớ tại Giêrusalem đã chạy đến Antiốt và truyền giáo cho một số người Do Thái tại đó. Một số người Hylạp từ Chíprơ và Syren cũng đã đến Antiốt, tại đó họ rao giảng cách mạnh dạn cho những người Hylạp trong thành. Qua việc truyền giảng Tin lành đó, một số đông người trong thành đã đặt đức tin nơi Đấng Christ.
Những báo cáo về công tác chức vụ đó đã được đưa về Hội Thánh tại Giêrusalem, và các vị lãnh đạo tại đây muốn biết chính xác điều đang xảy ra tại Antiốt- Khi Philíp đem Tin lành đến vùng Samari, Hội Thánh đã cử Phierơ và Giăng đến đấy để xem xét tình hình. Dường như đó cũng là điều tự nhiên khi các vị lãnh đạo phải quyết định cử một đội tương tự đến tại Antiốt. Ai là người có đủ tư cách để nhận định các hoạt động của những người Giuđa đến từ Chíprơ hơn là một người Giuđa đến từ Chiprơ? Việc họ chọn Banaba chứng tỏ ông được ơn thần hựu ( tức là được Chúa hướng dẫn) và ông đã được ủy nhiệm để tiến hành công tác ở tại Hội Thánh Anitốt.
Khi Banaba đến Antiốt,ông rất vui mừng vì điều ông đã thấy và ông khuyên giục các Cơ Đốc nhân hãy trung tín với Chúa. Đoạn Kinh Thánh này dường như che đậy tầm quan trọng của việc Banaba hậu thuẫn cho Hội Thánh Antiốt. Liệu ông có đưa ra một báo cáo tiêu cực về Hội Thánh Antiốt cho các lãnh tụ tại Giêrusalem chăng, điều đó có thể dễ dàng hạn chế việc mở rộng Hội Thánh của dân ngoại suốt nhiều năm. Nhưng như đã thấy, Banaba đã đưa sự sống của thân thể Đấng Christ qua một giai đoạn cấp bách bởi việc nhận biết Antiốt thật sự đúng là một Hội Thánh của Đức Chúa Giêxu Christ.
7. Hãy đọc 11:22-24. Có bằng cớ gì cho thấy Banaba đã :
a. Được Chúa hướng dẫn để đi đến Antiốt?
...............................................................................................................................
b. Là một người làm chức vụ tin lành hữu hiệu?
...............................................................................................................................
e. Đủ tư cách là một nhà lãnh đạo Hội Thánh?
...............................................................................................................................
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU 2 :
Mục tiêu 4 : Chọn đúng những câu liên quan đến chức vụ của Banaba và Saulơ tại Antiốt.
NHỮNG NGƯỜI PHỤ TÁ LÃNH ĐẠO
11:25-30; 12:25, 13:1-15; 15:35
Banaba và Saulơ cùng làm việc với nhau
11:25-26
Bấy giờ, khi cơ khủng hoảng đã qua Banaba có trách nhiệm trông nom việc Hội Thánh được thành lập sao cho vững chắc. Ông đã biểu lộ tính khiêm nhường, khi trì hoãn việc trở thành một người cha tinh thần và đã quyết định lui bước để nhường chỗ cho một vị lãnh đạo khác có tài năng hơn. Theo nhận định của Banaba chỉ có một người xứng đáng cho vài trò đó, vì ông đã ra đi, đến Tạt sơ để tìm Phaolô ( 11:25).
Dường như Banaba không tìm được Saulơ ngay, bởi vì động từ được dùng trong câu 25 ( được dịch là “ để tìm”) ngụ ý tìm kiếm cách khó khăn ( giống như động từ đã được dùng để diễn tả việc Mari và Giôsép tìm kiếm Con trẻ Giêxu trong LuLc 2:44). Khi Banaba đã tìm được Saulơ ông đưa Saulơ đến Antiốt, và họ cùng nhau dẫn dắt và dạy dỗ Hội Thánh trong suốt năm kế tiếp. Kết quả thật tốt đẹp hết sức - họ đã “ dạy dỗ nhiều người” ( Cong Cv 11:26). Một ghi nhận có ý nghĩa của việc Banaba và Saulơ cùng hợp tác trong chức vụ ở tại thành Antiốt, đó là “ Lần đầu tiên các môn đồ ở tại Antiốt được gọi là “ Cơrêtiên” (c.26). Những người khác đã phát hiện ra danh hiệu ấy, điều này giữ lại một kỷ niệm sống động về đặc trưng thuộc linh của Cơ Đốc giáo mà Banaba và Saulơ đã giúp cho Hội Thánh Anitốt.
Thời kỳ ở tại Antiốt này là thời kỳ chuẩn bị của Phaolô. Sự chuẩn bị này đem Saulơ vào sứ mạng lịch sử của ông dành cho thế giới ngoại bang và đưa ông vào xu hướng chủ đạo của giới lãnh đạo Cơ Đốc giáo.

8. Dựa trên 11:25-26, chúng ta có thể xem những câu nào trong số những câu này là ĐÚNG?
a. Sau khi liên kết với Banaba ở tại Antiốt, Saulơ lập tức trở thành “ mục sư cao cấp hơn” của Hội Thánh.
b. Banaba dùng Saulơ như người phụ tá mình tại Antiốt, còn Banaba đảm trách toàn bộ công việc.
c. Thời kỳ Saulơ ở tại Antiốt là một thời kỳ chuẩn bị hay là thời kỳ huấn luyện dành cho ông.
d. Banaba và Saulơ làm việc bên nhau ở tại Antiốt, người này phụ tá cho chức vụ công tác của người kia.
e. Banaba chọn Saulơ bởi vì ông nhìn biết Đức Chúa Trời kêu gọi Saulơ trở thành một sứ đồ.
f. Banaba sợ rằng Saulơ sẽ trở thành một nhà lãnh đạo nổi tiếng hoặc kết quả hơn ông ta.
g. Banaba và Saulơ có thể đã cùng làm việc hữu hiệu hơn là mỗi người làm việc một mình ở tại Antiốt.
Mục tiêu 5 : Nhận ra một tình huống làm việc liên kết lý tưởng và những ích lợi của việc các nhà lãnh đạo cùng liên kết làm việc với nhau.
Mạng lưới cộng tác của các nhà lãnh đạo cùng làm việc với nhau.
11:27-30; 12:25, 15:1-21
Đang khi Banaba và Saulơ đang cùng nhau làm việc để dẫn dắt Hội Thánh tại Antiốt, thì một số các tiên tri từ Giêrusalem đến Antiốt để gây dựng cho Hội Thánh. Chịu xức dầu bởi Thánh Linh, một trong số các tiên tri đã báo trước một lời tiên tri từ Chúa về một trận đói sắp xảy đến. Để đáp ứng trước sứ mạng tiên tri này, các Cơ Đốc Nhân ở tại Antiốt đã quyết định một cuộc quyên góp để gởi đến cho các tín đồ tại Giuđê. Một khi quỹ cứu trợ đã được thâu góp, họ giao trách nhiệm phân phát cho Banaba và Saulơ. Hai người đã trung tín mang tặng phẩm đến Giêrusalem và sau đó đã lưu lại đó một khoảng thời gian trước khi trở về lại Antiốt cùng với Giăng Mác ( 12:25).
Kinh Thánh không ghi chép về công việc Banaba và Saulơ đã thực hiện ở tại Giêrusalem, nhưng rõ ràng là hai người đã gặp gỡ cả những vị lãnh đạo lâu năm lẫn những vị lãnh đạo mới. Mạng lưới hoạt động với các nhà lãnh đạo khác đó đã giúp cho Banaba và Saulơ được tăng thêm sự tín nhiệm và lòng tin. Cuộc thăm viếng ấy có lẽ đã dọn đường cho các vai trò chủ chốt mà Banaba và Saulơ sẽ phải nắm giữ sau này trong giáo hội nghị ( 15:1-41). Cuộc hội nghị này được triệu tập vì Hội Thánh tại Giêrusalem tìm cách giải quyết những vấn đề có liên quan đến sự phát triển nhanh chóng trong vòng các Hội Thánh dân ngoại - Những lời làm chứng của Banaba và Saulơ tại hội nghị rõ ràng là gây được ảnh hưởng, cũng như Giacơ đã cho họ vinh dự nói lên những lời nhận xét cuối cùng trước khi ông đưa ra những lời khuyên bảo có tính cách kết thúc ( 15:12-13).
9. Những điều nào trong số những điều dưới đây là những lợi ích do việc các nhà lãnh đạo cùng cộng tác với nhau mà chúng ta đã thấy trong 11:27-29; 12:25 và 15:21.
a. Chia xẻ lại những lời chứng về điều Chúa đang làm ở tại các Hội thánh địa phương.
b. Sửa chữa lỗi lầm về tín lý.
c. Đáp ứng các nhu cầu về tài chánh của các tín hữu ở các khu vực khác nhau.
d. Giúp đỡ những lãnh đạo mới xuất hiện tìm ra được những vị trí chức vụ.
e. Nhận được sự khích lệ qua việc cùng nhau thờ phượng.
f. Thiết lập sự tín nhiệm và lòng tin cậy qua mối tương giao và thông công liên lạc lẫn nhau.
10. Giả sử bạn là một người hầu việc trẻ tuổi vừa mới bước đầu hành chức. Tình huống nào trong những tình huống dưới đây có thể sẽ đem lại những cơ hội công tác hoạt động tốt nhất giữa bạn với các vị lãnh đạo khác?
a. Đi ra nước ngooài với một chính sách mới gồm các hội truyền giáo để thành lập một Hội Thánh tại một khu vực chưa được truyền giáo.
b. Gia nhập đội ngũ lãnh đạo của một Hội Thánh truyền giáo đang phát triển, với tư cách là một thành viên cấp dưới của đội.
c. Thành lập Hội Thánh riêng của mình không lệ thuộc vào bất cứ một nhóm tổ chưc Hội Thánh nào cả.
Mục tiêu 6: Giải thích vai trò của cả Phaolô lẫn Banaba khi đi theo giai đoạn quá độ trong việc lãnh đạo.
Một tình trạng chuyển tiếp trong việc lãnh đạo
13:1-15:25
13:1-35 thuật lại chuyến truyền giáo chính thức đầu tiên được đưa vào thế giới của dân ngoại - Tuy nhiên, vì mạch văn có lối hành văn quá ư là đều đều khiến chúng ta hầu như bỏ qua một bước tiến quan trọng vĩ đại mà chuyến truyền giáo ấy đã thực hiện cho Tin Lành của Đức Chúa Giêxu Christ. Với bước bành trướng quan trọng này. Tin lành cuối cùng đã đang trên đường tiến đến các đầu cùng đất.
Trong đoạn này có hai sự kiện đáng được ghi nhớ để cho chúng ta nghiên cứu. Thứ nhất chúng ta lưu ý Banaba và Saulơ được Hội Thánh nhà Antiốt ủy thác cho họ công tác truyền giáo cho Dân Ngoại. Điều này phản ánh rằng thế giới Cơ Đốc xem Banaba và Saulơ là người đã truyền đạt cho Hội Thánh trẻ ở tại Antiốt. Không phải các sứ đồ hoặc Hội Thánh Giêrusalem trước hết đã nhận lời thách thức của Đại Mạng lệnh, mà chính là Banaba và những sự thay đổi của chính Saulơ !
Thứ hai, vào lúc bắt đầu cuộc truyền giáo, đã có một sự hoán vị có tính cách quyết định trong các vai trò lãnh đạo. Ở đây, chúng ta lưu ý tên của Saulơ đã được đổi thành Phaolô (13:8) ( Saulơ là tên theo tiếng Do Thái, còn Phaolô là tên theo tiếng Hylạp). Cũng từ đó, quyền lãnh đạo của Phaolô đã chỉ phố sách Công vụ. Khi bạn đọc đến những đoạn còn lại của sách Công vụ, bạn sẽ không còn thấy Banaba, Phierơ và những vị lãnh đạo khác nữa, song Phaolô thì được Đức Chúa Trời sử dụng như một mũi nhọn để loan truyền Tin Lành cho thế giới.
11. Bạn hãy lưu ý, trong Công vụ đoạn 11 và 12, hai nhà lãnh đạo đã được nhắc đến trong mọi trường hợp đều là “ Banaba và Saulơ”. Nhưng đã có sự thay đổi gì theo như sự chỉ định trong Công vụ đoạn 13 và 14 được xem như là một dấu hiệu tinh tế về sự hoán vị trong các vai trò lãnh đạo và trong chức vụ của Saulơ nhấn mạnh đến Dân Ngoại?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Cuộc đối đầu với Eâlyma, tay phù thủy trên hòn đảo Chíprơ đã là một bước ngoặt trong sự quá độ về quyền lãnh đạo. Tên tiên tri giả này, ra sức ngăn trở người cầm quyền, là quan trấn thủ Sêgiút Phaulút không thể nghe được lời rao giảng của Phaolô, nhưng Phaolô đã quở trách hắn và khiến hắn đột ngột tạm thời bị mù mắt. Kinh ngạc trước hậu quả của cuộc chạm trán quyền năng bất ngờ ấy và chứng kiến sự thất bại hoàn toàn của tay thuật sĩ ở chung với mình, Sêgiút Phaulút bằng lòng trở thành một tín đồ của Đấng Christ.
Banaba hẳng đã là người đầu tiên nhận biết sự khẳng định thiên thượng về Phaolô là một vị lãnh đạo mới. Lần đầu tiên khi Banaba đưa Phaolô đến gặp các sứ đồ, ông đã chứng minh cho từng trãi mù lòa của Phaolô trên đường Đamách như là một cuộc đối đầu bất ngờ với Đức Chúa Trời. Bây giờ Banaba làm chứng Phaolô là một công cụ của quyền năng Đức Chúa Trời để đem sự mù lòa tạm thời đến trên một kẻ nghịch lại Tin lành. Tôi tin rằng Banaba đã rộng lượng chấp nhận phép lạ này như là một bằng chứng về việc Phaolô được xức dầu. Ông sẵn sàng trao quyền lãnh đạo đoàn truyền giáo cho Phaolô và tập trung những kỷ năng huấn luyện của mình vào người anh em chú bác là Giăng Mác, 13:13 nói rõ rằng Giăng Mác đã đồng hành với Banaba và Phaolô khi họ rời Antiốt đến hầu việc Chúa tại Chíprơ.

Sau khi đoàn truyền giáo rời quê hương của Banaba ở tại Chíprơ, họ chèo thuyền đến vùng đất giáp giới với quê hương của Phaolô. Vì một lý do nào đó không được giải thích, Giăng Mác đã đột ngột rời khỏi đoàn truyền giáo và quay trở về Giêrusalem.
Các nhà văn đã có nhiều cố gắng để tìm ra một lý do hợp lý cho việc Giăng Mác rút lui, tuy nhiên vì thiếu sự kiện, hầu hết những sự giải thích ấy đều còn ở trong vòng suy đoán.
Mặc dầu ông và Phaolô về sau có lẽ đã không đồng ý với nhau về việc cho Giăng Mác vào lại đội truyền giáo, song không hề có chút gợi ý gì cho thấy Banaba có ý tưởng chống lại hoặc hối tiếc việc Phaolô trở thành một nhà lãnh đạo nổi bật. Thay vào đó, Banaba đã sống xứng đáng với sự mong mỏi của danh hiệu “ con trai của sự yên ủi”. Ông ta tiếp tục hậu thuẫn cho Phaolô và cùng với Phaolô làm chức vụ một cách kết quả sau khi Giăng Mác rời họ tại Pamphily ( 13:13-15:35)
12. Đọc 13:13-16, 42-52, 14:1-28 và trả lời những câu hỏi sau. Dùng các đoạn Kinh Thánh trên để hậu thuẫn cho các câu trả lời của bạn.
a. Ai là phát ngôn viên chính của đoàn truyền giáo?
..............................................................................................................................
b. Banaba có những trách nhiệm gì?
...............................................................................................................................
c. Một số kết quả của các nổ lực công tác của họ là gì?
...............................................................................................................................
Mục tiêu 7 : Chọn những câu hậu thuẫn cho những lẽ thật chúng ta học hỏi được từ cuộc đối đầu giữa Phaolô và Banaba.
A. Sự đối đầu giữa các nhà lãnh đạo
13. Đọc 15:36-40. Vì sao Phaolô và Banaba đã quyết định chia tay?
...............................................................................................................................
Nguyên nhân của việc rắc rối dẫn đến sự phân rẻ của họ dường như là vì Phaolô và Banaba đã có những quan điểm khác nhau về cùng một sự việc. Phaolô coi việc Giăng Mác rời khỏi đoàn truyền giáo là một hành động đào ngũ không thể tha thứ được và đã không cho phép anh ta gia nhập trở lại đoàn truyền giáo. Banaba ngược lại, đã hòa giải với Giăng Mác và ủng hộ việc anh ta mong muốn gia nhập lại đoàn truyền giáo. Có lẽ ông đã xem cố gắng của Giăng Mác để đến thăm viếng họ tại Antiốt như là một dấu hiệu cho thấy quyết định mới của anh ta.
14. Có phải một người thất bại có nghĩa là Đức Chúa Trời đã đặt một người lãnh đạo sang một bên? Hãy cho một ví dụ trong Kinh Thánh hậu thuẫn câu trả lời của bạn
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Chúng cần đánh giá đúng việc Banaba và Phaolô mỗi người giữ một vị trí thích hợp với cá tính riêng và phẩm chất Cơ Đốc nhân của người ấy. Là một người lãnh đạo. Phaolô rất khắt khe đối với chính mình và với bất cứ ai làm việc chung với ông. Ông đòi hỏi một sự kết ước hoàn toàn đối với Tin Lành và phải sẵn sàng để chịu đựng những gian khổ trên đường.
Tính khí của Banaba dẫu sao cũng dễ gần gũi hơn, giống như ông đã từng ủng hộ Phaolô trong những năm trước, khi ông tranh đấu để tạo dựng một người lãnh đạo, Banaba hiện nay đã đứng bên cạnh Giăng Mác, là người vừa được phục hồi.
Dường như điều đáng buồn là hai vị sứ đồ đã không thể đi đến chỗ đồng ý với nhau trên một vấn đề, vì vậy họ đã chia tay nhau ( 15:39). Banaba đem Giăng Mác xuống thuyền và vượt qua đảo Chíprơ, còn Phaolô thì chọn Sila và đi đến vùng Tiểu Á. Dường như như Hội Thánh tại Antiốt cũng đã bị lôi cuốn vào cuộc tranh cãi ( 15:40), kết quả là Hội Thánh chúc phước cho Phaolô và Sila để tiếp tục đến Syri và Silici.
Chúng ta không thể đoán xét hay đổ lỗi cho một vị sứ đồ nào cả, bởi vì cả hai đều ra sức để chứng minh những xác tin cá nhân của mình là đúng. Có lẽ vấn đề thật sự ở đây là không biết Phaolô có còn nhớ kinh nghiệm trước kia của chính ông, khi ông ở trong một tình huống hết sức khó khăn, cần có một người nào đó bày tỏ tình huống hết sức khó khăn, cần có một người nào đó bày tỏ lòng tin cậy đối với ông. Cũng nên rộng lượng mà nghĩ rằng Phaolô đã làm mọi cố gắng để chiếu cố đến thất bại trước của Giăng Mác.
Có một nguyên tắc hữu ích để nghi nhớ khi chúng ta bị liên lụy vào một cuộc xung đột tương tự : đối với một mạng lệnh trực tiếp trong lời Đức Chúa Trời không được lay chuyển và không nên dung hòa. Còn trong những vấn đề khác thì hãy mềm dẻo và rộng lượng để dung hòa. Chúng ta sẽ bàn đến nguyên tắc này cách đầy đủ hơn trong phần cuối của bài học này.
Mặc dầu Đức Chúa Trời đã làm mọi sự hiệp lại để ích lợi và việc tách đôi Banaba và Saulơ đã dẫn đến kết quả gấp hai trong việc ra đi truyền giáo, song vẫn có một kết thúc buồn bã cho một đội truyền giáo được xức dầu tuyệt vời và kết quả như vậy. Kinh Thánh không cho thấy hai vị sứ đồ ấy còn gặp lại nhau nữa, nhưng tôi tin rằng hiện nay họ đang đứng với nhau được vinh hiển ở trước ngai Đức Chúa Trời !
Chúng ta không còn nghe nhắc đến Banaba nữa ngoại trừ hai câu trưng dẫn gián tiếp. Trong ICo1Cr 9:6 Phaolô đã nhắc đến Banaba khi liên hệ đến chức vụ của sứ đồ và việc dâng hiến tiền bạc. Và chúng ta cũng ngạc nhiên một cách thú vị khi tìm thấy trong CoCl 4:10 Phaolô đã khen ngợi người anh em chú bác của Banaba, là Giăng Mác, và truyền bảo Hội Thánh hãy tiếp rước người tử tế nếu anh ta có thể thu xếp đến thăm Hội Thánh của họ. Lòng tin cậy Banaba đã dành cho Giăng Mác hình như cuối cùng đã được xác minh là đúng !
15. 4:10 có cho thấy một sẵn sàng nào về phía Phaolô nhằm chiếu cố đến thất bại lúc trước của Giăng Mác không? Giải thích câu trả lời của bạn.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
16. Bạn hãy viết chữ A trước mỗi câu HỖ TRỢ CHO điều đã được dạy trong bài học này. Hãy viết chữ B nếu câu ấy KHÔNG HỖ TRỢ CHO những gì chúng ta đã thảo luận.
.....a. Việc Phaolô quyết định không nhận Giăng Mác ( Cong Cv 15:36-40) rõ ràng là một sai lầm.
....b. Nếu một người lãnh đạo đã làm buồn lòng Chúa, người ấy cần được một cơ hội thứ hai.
....c. Trừ phi việc bất đồng liên can đến một mạng lệnh trực tiếp từ Đức Chúa Trời như đã được bày tỏ trong Lời Ngài, còn những bất đồng khác nên sẵn sàng được uyển chuyển và đạt đến một sự thoả hiệp nếu cần thiết.
....d. Sự lan rộng của Tin Lành đã đã bị cản trở lớn bởi sự bất đồng giữa Phaolô và Banaba.
....e. Cuộc đối đầu giữa các nhà lãnh đạo luôn luôn là sai.
....f. Quyết định Banaba đã thực hiện hiện khi ông và Phaolô bất đồng ý kiến là phù hợp với cá tính và phẩm chất Cơ Đốc của ông.
Đến đây chúng ta tạm dùng phần nghiên cứu về cuộc đời và chức vụ của Banaba, con trai của sự yên ủi. Sự ra đời của ông, những ân tứ và sự nhận thức của ông, ông đã là một con người thích hợp lý tưởng để đem Tin Lành đến cho dân ngoại. Với tư cách là một người khích lệ, ông đã được Đức Chúa Trời sử dụng một cách mạnh mẽ để đưa Phaolô, Giăng Mác và có lẽ vô số các Cơ Đốc nhân non trẻ khác vào vị trí lãnh đạo trong Hội Thánh. Nhưng trên hết, ông đã sẵn sàng cung ứng chức vụ phụ tá lãnh đạo cho vị trí lãnh đạo nổi bật của Phaolô. Điều này đã giúp cho cả hai vị sứ đồ đều cùng nhau làm chức vụ kết quả hơn là mỗi người đơn độc thi hành chức vụ.
Mục tiêu 8 : Áp dụng các nguyên tắc của chức vụ lãnh đạo phụ tác đặt cơ sở trên những gương mẫu đã được nêu lên trong chức vụ của Banaba và Phaolô.
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO PHỤ TÁ
Sau khi đã trình bày các trường hợp nghiên cứu của chúng ta về chức vụ phụ tá lãnh đạo, bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ hơn một số các nguyên tắc đã nổi lên qua phần nghiên cứu ấy. Đây là những nguyên tắc sẽ hướng dẫn chúng ta khi chúng ta được đưa vào trong chương trình của Đức Chúa Trời dành cho đời sống mình và giúp đỡ nhưng người khác tìm được vị trí của họ trong chương trình của Ngài.
NGUYÊN TẮC: Đức Chúa Trời sẽ thử nghiệm một người lãnh đạo mới về lãnh vực tiền bạc .
Trong bài học thứ 6, chúng ta đã xem xét vắn tắt chức vụ quản lý các quyền ưu tiên của người lãnh đạo Cơ Đốc kể cả việc người ấy sử dụng tiền bạc. Thật là lý thú khi ghi nhận hết mười sáu câu chuyện trong ba mươi tám câu chuyện của Chúa Cứu Thế là bàn đến vấn đề tiền bạc. Trong Tân ước, tiền bạc còn được nói đến nhiều hơn cả thiên đàng và địa ngục ! Trong khi phần đông chúng ta có khuynh hướng nhấn mạnh đến năm trăm câu Kinh Thánh nói về đức tin và sự cầu nguyện trong Tân Ước, thì chúng ta lại thường ít lưu ý đến hai ngàn câu Kinh thánh liên quan đến quyền sở hữu và tiền bạc.
Giáo lý cơ bản nhất của Kinh Thánh về vấn đề tiền bạc và của cải đó là Đức Chúa Trời sở hữu hoàn toàn về điều đó là những Cơ Đốc nhân, chúng ta được giao cho chức vụ quản lý thân thể, tiền bạc, của cải, thì giờ và những khả năng của mình. Nếu chúng ta thừa nhận lẽ thật ấy, thì chúng ta cần phải xem xét ba điều ngụ ý bắt nguồn từ điều đó.
1. Đức Chúa Trời có quyền sử dụng bất cứ điều gì Ngài cần dùng cho Nước Ngài.
2. Mỗi quyết định chi dùng đều là một quyết định có tính cách thuộc linh.
3. Kiểu cách chúng ta chi dùng phản ảnh các giá trị thật sự của chúng ta.
17. Dựa trên SaSt 1:28, Thi Tv 89:11 IICo 2Cr 9:6-15, những điều nào dưới đây là ĐÚNG.
a. Đức Chúa Trời là chủ của tất cả mọi sự
b. Chúng ta chịu trách nhiệm trước Chúa về mọi điều mình có
c. Những người dâng cho Chúa nhiều thì sẽ nhận lãnh nhiều từ nơi Ngài
d. Tặng phẩm chúng ta dâng cho Chúa là cách chúng ta cảm tạ Ngài về những ơn phước Ngài ban cho chúng ta.
e. Sự dâng hiến rộng rãi của chúng ta đối với công việc Chúa là một bằng chứng cho người khác về sự thực hữu của Tin lành của Đấng Christ.
Đức Chúa Trời đã từng thử nghiệm nhiều nhà lãnh đạo xuất chúng trong các giai đoạn đầu về quyền lãnh đạo của họ trong lãnh vực tài chánh. Một gương mẫu tuyệt vời đó là Thánh Francis người Assisi, người sáng lập Dòng tu Franciscan. Được nghe bài giảng trong Mat Mt 10:7-10, ông cảm thấy được thách thức để từ bỏ của cải mình và tập trung vào việc quan tâm đến những người nghèo. Một gương mẫu nổi tiếng khác C.T .Studd, từng là một người trẻ tuổi giàu có ở tại Anh quốc vào thế kỷ thứ 19. Đức Chúa Trời đã kêu gọi anh từ bỏ của cải và danh tiếng của mình trong thể thao để đi đến Trung Hoa như là một nhà truyền giáo. Studd đã vâng phục và cuối cùng đã trở thành người tiên phong cho một trong những tổ chức truyền giáo có đức tin lớn nhất trên thế giới, đó là Chiến Dịch Truyền Giáo Toàn Cầu ( WEC)
Dĩ nhiên không phải mọi nhà lãnh đạo phải từ bỏ tất cả tài sản của mình. Tuy nhiên mỗi người lãnh đạo cần phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời thường thử nghiệm thái độ của một người lãnh đạo mới xuất hiện đối với tiền bạc và sự đáng tin cậy của người ấy đối với tiền bạc.
18. Thói quen chi tiêu của một người lãnh đạo cho chúng ta biết gì về những giá trị của người ấy?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
19. Bạn có từng nhận biết chủ quyền của Đức Chúa Trời trên tất cả những gì bạn “sở hữu” không? Bạn có nhận biết vai trò của bạn như là một người quản lý,hành động như một người giám hộ và ủy quyền trông nom những sở hữu của Đức Chúa Trời không? Nếu không bạn có bằng lòng cân nhắc trong tinh thần cầu nguyện để ký nhận vào biểu mẫu trong khung 9.1?
VĂN BẢN CỦA QUYỀN SỞ HỮU
“ Đất và muôn vật trên đất; thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giêhôva” (Thi Tv 24:1)
NHỮNG SỞ HỮU CỦA TÔI ĐỀU THUỘC VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI
Chữ ký
Ngày, tháng

NGUYÊN TẮC 2: Phải lấy khả năng nhận thức về thuộc linh để nhận biết và hỗ trợcho những lãnh đạo mới xuất hiện. Bạn có nghĩ rằng có thể ngày nay những nhà lãnh đạo có tiềm năng đã bị mất ảnh hưởng đối với Hội Thánh bởi vì những người lãnh đạo hiện thời đã không nhạy cảm trước sự kêu gọi dành cho họ không? Bạn có thấy những ông, những bà đã nhanh chóng bị thu nhỏ khỏi tâm trí của những bậc lãnh đạo hiện hành như là : vì “ quá trẻ tuổi”, “ còn mới quá”, “ cấp tiến quá”, “ trầm lặng quá” hoặc là “ già quá” không? Bạn có nhận biết những Cơ Đốc nhân non trẻ đã bị loại khỏi thành phần lãnh đạo của Hội thánh bởi vì họ bị quên lãng cho đến khi họ mất cả mọi ý thức về việc được Chúa kêu gọi vào sự hầu việc Cơ Đốc không? Banaba đã để lại cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời bởi việc ông sẵn sàng đề bạt và hậu thuẫn cho một vị lãnh đạo “ không đáng tin”
Khi suy nghĩ về điều này, bạn sẽ nhận ra có nhiều vị lãnh đạo trong Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời đã lập nên là những ứng viên không đáng tin cho những công tác Ngài đã kêu gọi và trang bị họ thực hiện. Giôsép đã bị tố cáo phạm tội cưỡng hiếp ( Sáng thế ký đoạn 39). Giép thê là người con ngoài giá thú và là lãnh tụ của một nhóm du đãng ( Các quan xét 10 và 11). Giêrêmi là một người trẻ tuổi không biết cách nói năng cho Đức Chúa Trời ( Giêrêmi 1). Nêhêmi là một người nô lệ lo việc hầu bàn ( Nêhêmi 1). Đavít từng là một cậu bé chăn chiên (I Samuên 16). Phierơ là một người đánh cá tầm thường(Mathiơ 4).Một số đông những người khác cũng là những nhà lãnh đạo không chắc chắn !
20. Hãy nghĩ đến những Tân tín hữu mà bạn biết. Sự thực hành tích cực gì về phần bạn sẽ làm tăng thêm sự nhạy cảm của bạn để nhận ra những lãnh đạo có tiềm lực giữa vòng họ?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
NGUYÊN TẮC THỨ 3: Phải cần ơn của Chúa để nhường vị trí lãnh đạo cho người khác hơn là bước đến vị tri lãnh đạo .
J. Oswald Sanders đã viết : “ Tầm cỡ thuộc linh của Banaba được nhìn thấy trong sự buông tha hoàn toàn khỏi tánh vị kỷ của mình, là khi con người tài năng, được ông bảo trợ đó, Phaolô, đã vượt qua ông và trở thành một thành viên nổi bật trong đoàn truyền giáo ( trang 217). Mặc dầu Banaba đã vui hưởng sự thành công lớn lao như là một người lãnh đạo của Hội Thánh Antiốt trước khi Phaolô gia nhập với ông. Ông vẫn nhận Phaolô có những ân tứ thuộc linh có ích cho Hội thánh. Ông đã tìm kiếm Phaolô và khiến Phaolô dự phần trong đội ngũ công tác ở tại Antiốt để cho Hội Thánh được mạnh mẽ và được lập vững chãi. Banaba đã cung ứng một nơi huấn luyện cho Phaolô và đã khích lệ Phaolô bằng chính gương lãnh đạo của mình.
Một vị lãnh đạo thế tục đã đòi hỏi “nếu như người ấy không huấn luyện người khác thực hiện tốt hơn chính mình, thì người ấy hẳn sẽ thất bại” ( Sanders, trang 221). Nhất định đó là một đặc điểm của người lãnh đạo vĩ đại nhằm đem lại cơ hội cho các nhà lãnh đạo có tiềm lực dưới quyền lãnh đạo của mình để họ phát triển và cuối cùng vượt qua người ấy. Chúng ta mang ơn Banaba về gương mẫu rộng lượng của ông khi chấp nhận sự thay đổi quyền lãnh đạo từ chính mình sang Phaolô và sau đó hậu thuẫn trọn vẹn cho chức vụ của Phaolô. Ông đã quan tâm đến sự hoàn thành tốt đẹp của công tác và được ở trong trung tâm ý muốn của Đức Chúa Trời hơn là chính mình được vinh hiển riêng.
21. Những câu nào trong số những câu dưới đây được bạn xem là ĐÚNG?
a. Một người lãnh đạo có quyền cảm thấy bị tổn thương khi người ta đề bạt những người khác mà lại bỏ qua chính mình.
b. Người lãnh đạo nên từ chức nếu không được thăng chức
c. Đức Chúa Trời có quyền bổ nhiệm những người nào Ngài muốn.
d. Đức Chúa Trời sẽ xếp đặt những ân tứ và những khả năng của chúng ta cho tương xứng với những công tác của chúng ta
e. Đức Chúa Trời sẽ đôi khi thay đổi vai trò của người lãnh đạo
f. Người lãnh đạo vĩ đại là người sẵn sàng rộng lượng nhường chỗ cho một người lãnh đạo khác đủ tư cách hơn.
Có một câu chuyện kể về một giáo sư lớn tuổi ở tại 1 trường trung học Cơ Đốc, ông được thay thế bởi một giáo sư trẻ tuổi hơn, được đào tạo tốt hơn. Khi người chủ nhiệm khoa gặp người thầy giáo cao tuổi, ông ta không biết vị thầy ấy sẽ có phản ứng gì. Và ông thật sửng sốt khi nghe một lời đáp thật độ lượng “ Ngợi khen Chúa ! Tôi tự hỏi điều kế tiếp Ngài sẽ dành cho tôi là điều gì”.
NGUYÊN TẮC THỨ 4: Đức Chúa Trời khẳng quyết sự chọn lựa của Ngài về một người lãnh đạo .
Banaba đã nhìn biết rằng kinh nghiệm của Phaolô trên đường Đamáh và phép lạ xảy ra trong cuộc đối đầu giữa Phaolô với tay thuật sĩ Eâlyma chính là sự xác nhận của Đức Chúa Trời về quyền lãnh đạo của Phaolô. Có nhiều điển hình trong Kinh Thánh Đức Chúa Trời khẳng định sự chọn lựa của Ngài dành cho người lãnh đạo.
22. Bạn hãy tìm những đoạn Kinh Thánh dưới đây và hãy phát biểu các Đức Chúa Trời khẳng định sự chọn lựa của Ngài dành cho mỗi nhà lãnh đạo ấy.
a. Môise ( XuXh 4:1-7)
b. Ghiđêôn ( Cac Tl 5:36-40)
e. Eâsai ( EsIs 6:1-6)
d. Đavít (ISa1Sm 16:1-13, 17:1-50)
23. Bạn có thể nói rõ một phương cách mà theo đó Đức Chúa Trời khẳng định việc kêu gọi bạn trở thành một nhà lãnh đạo không?
...............................................................................................................................
NGUYÊN TẮC 5: Những người lãnh đạo Cơ Đốc phải cứng rắn và không được dung hòa đối với mạng lịnh trực tiếp trong lời Đức Chúa Trời. Còn trong các vấn đề khác, họ phải linh động và cởi mở để dung hòa .
Khi chúng ta nhìn vào nhiều cuộc tranh cãi đã chia rẽ những đồng công Tin Lành qua nhiều thế kỷ, chúng ta khám phá ra rằng một số đáng ngạc nhiên trong những điều đó nằm trên những vấn đề không thuộc về Kinh Thánh. Một số là những xác tín dựa trên kết quả của việc giải thích Kinh Thánh theo cá nhân, một điển hình về điều đó là cách những Cơ Đốc nhân trong một số các nền văn hóa đã phân rẽ nhau qua những vấn đề như : việc phụ nữ sử dụng những mỹ phẩm, Cơ Đốc nhân phải ăn mặc như thể nào, hoặc cách cư xử như thế nào là thích hợp cho những Cơ Đốc nhân. Một điển hình về cách những người lãnh đạo Cơ Đốc đã tìm cách để áp đặt những giá trị văn hóa của chính họ trong thế kỷ vừa qua đó là các nhà truyền giáo Anh Quốc ở tại các hòn đảo miền nam Thái Bình Dương đã mang lại những thay đổi về mặc trung dân tộc với những bộ quần áo và mũ chóp cao dành cho việc phục sự thờ phượng.
Chỉ cứng rắn và không dung hòa đối với những mạnh lệnh trực tiếp trong lời Đức Chúa Trời. Còn trong các vấn đề khác, hãy linh động và cởi mở để dung hòa.
Những người lãnh đạo Cơ Đốc cần phải biết sự khác nhau giữa điều Đức Chúa Trời ban truyền và những khác biệt trong niềm tin mà Ngài trông đợi chúng ta giải quyết theo khả năng hiểu biết bình thường và theo sự nhạy cảm về văn hóa. Trong bài học thứ năm chúng ta đã nhìn xem sự khác biệt giữa những tuyệt đối thiên thượng với những tiêu chuẩn của cộng đoàn, và những sự xác tín cá nhân. Để ôn lại chúng ta hãy nhìn vào bảng so sánh về những điều tuyệt đối và những điều không tuyệt đối trong hình 9.2
NHỮNG ĐIỀU TUYỆT ĐỐI
Không phạm tội tà dâm
Không được giết người
Không được lấy danh Chúa làm chơi
Không được trộm cắp
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG TUYỆT ĐỐI
Bắt đầu giờ thờ phượng lúc 11 giờ trưa
Mặc những áo quần tốt nhất đến nhà thờ
Sử dụng các quyển Thánh ca
Nhận lễ Tiệc thánh mỗi Chúa nhật
24. Bạn hãy nghĩ ra ít nhất hai ví dụ về những điều tuyệt đối và không tuyệt đối để viết vào các hàng để trống trong hình 9.2.
Đối với tôi thì dường như những người lãnh đạo Cơ Đôc chỉ nên cứng rắn và độc đoán khi xảy đến những vấn đề mang tính tuyệt đối theo như lời Đức Chúa Trời. Còn mọi lãnh vực khác thì phải liên hệ theo cách thương lượng và có thể giải quyết qua sự bàn luận, sự cầu nguyện, kiêng ăn, tha thứ và dung hòa.
25. Khoanh tròn những mẫu tự đứng trước các khoảng dưới đây nếu bạn thấy là không tuyệt đối, và vì vậy có thể thương lượng khi có sự khác nhau về quan điểm.
a. Sự thành thật
b. Sự suy gẫm lời Chúa
c. Sự kiêng ăn
d. Bài giảng không quá hai mươi phút
e. Các mục sư phải được huấn luyện tại Thần học viện
f. Truyền giáo
g. Chọn một người đồng công
h. Loại nhạc thích hợp cho những buổi nhóm lại tại nhà thờ
I. Dâng phần mười
NGUYÊN TẮC 6: Đức Chúa Trời nối kết những lao tác viên lại với nhau
NGUYÊN TẮC 7: Mỗi lãnh đạo đều có một chức vụ độc đáo được Đức Chúa Trời đánh giá ca
Mỗi lãnh đạo đều có một chức vụ độc đáo được Đức Chúa Trời đánh giá cao
Chúng ta kết thúc bài học này với các nguyên tắc 6 và 7. Cả hai nguyên tắc trên đều được bày tỏ trong các chức vụ của Banaba và Phaolô. Tôi đã tỏ cho thấy sự bất hạnh như thế nào vì dường như đối với tôi Banaba đã còi cọc đi trong câu chuyện truyền bá Tin Lành vì cớ sự chi phối của Phaolô. Mức độ thuộc linh của Phaolô, số các thư tín của ông trong Tân ước, và vô số bản tiểu sử viết về cuộc đời ông có khuynh hướng thu nhỏ đi vai trò của Banaba trước hàng tá những sách vở ấy ! Để minh chứng, tôi xin kể : Khi tôi ghé vào một thư viện thần học để tìm tài liệu cho bài học này, tôi đã khám phá ra rằng chỉ có một bản tiểu sử viết về Banaba. Trong khi có đến bốn giá sách viết về cuộc đời của Phaolô !
Khi nghiên cứu sát hơn về sách Công vụ, chúng ta thấy rõ Banaba không bao giờ chỉ là một người dự phần vào chức vụ của Phaolô. Một cái nhìn chính xác hơn đó là coi Phaolô và Banaba như là một đội ngũ mà qua họ, Đức Chúa Trời đã đem đến một số những biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Hội thánh. Đức Chúa Trời đã nối kết họ lại với nhau để hoàn thành công việc của Ngài một cách tốt đẹp. Mỗi người đều làm trọn vai trò mà Chúa đã giao phó cho người ấy. Trong chức vụ, họ là anh em của nhau và cùng nhau xác định hướng đi của Hội thánh qua nhiều tình huống nguy cấp, những bước ngoặt của Hội thánh. Nếu như Phaolô đã có nói về Banaba, người bạn đồng công của mình, thì tôi tin rằng ông sẽ làm chứng rằng món nợ mà ông chịu ơn Banaba chỉ kém thua món nở của ông đối với Chúa Giêxu Christ mà thôi.
Chúng ta phải nhớ rằng không thể đánh giá được tầm quan trọng của những vị lãnh đạo Cơ Đốc hoặc so sánh người này với người kia trong những giới hạn của việc Đức Chúa Trời định giá mỗi người nhiều bao nhiêu. Đức Chúa Trời không có những lãnh đạo “ được mến chuộng hơn”, những người khác. Ngài cũng không đánh giá họ theo “ địa vị” của họ. Đức Chúa Trời xét đoán và đối xử với các nhà lãnh đạo dựa trên sự trung tín của họ đối với Ngài và đối với ý muốn Ngài đã bày tỏ cho đời sống họ.
26. Sau bước quá độ về quyền lãnh đạo từ Banaba chuyển sang Phaolô, theo bạn đoán, Phaolô đã nghĩ gì về Banaba trong số những cách dưới đây ( chọn một sự đáp ứng)
a. Là một cựu lãnh đạo đáng kính mà nay sự hiệu quả của người ấy đã bị hạn chế
b. Như là một lao tác viên dưới quyền của mình và để cho Phaolô thực hiện mọi quyết định
c. Như là một người đồng công ngang hàng và tận tụy trong việc thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời dành cho chức vụ của họ.
d. Như là một người lãnh đạo không thành công và hiện nay không còn hữu ích trong việc thực hiện những việc lớn lao cho Đức Chúa Trời nữa.
Bài kiểm tra
CÂU CHỌN LỰA. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất của mỗi câu hỏi.
1. Banaba xem những sở hữu vật chất của mình là
a. Điều ông phải chia xẻ cho những người khác
b. một phương tiện để giành được sự tôn kính trong Hội Thánh
c. để vui hưởng về sử dụng một cách chính đáng
d. có ích trong việc giúp mình hỗ trợ cho chức vụ của mình
2. Lời làm chứng của Banaba về Saulơ đã giúp cho những Cơ Đốc nhân ở tại Giêrusalem thấy Saulơ.
a. đang tìm cách lừa dối họ
b. chưa sẵn sàng để bắt đầu một chức vụ rao giảng
c. đã thật sự được hoán cải và là một người giảng truyền kết quả
d. một người cuồng tín muốn tiêu diệt Cơ Đốc giáo.
3. Người nào trong số những người nầy đã được Hội Thánh Giêrusalem lần thứ nhất phái đến để dẫn dắt Hội Thánh Antiốt?
a. Philíp
b. Phierơ và Giăng
c. Phaolô
d. Banaba
4. Cong Cv 11:22-24 mô tả Banaba như là một người lãnh đạo, ông đã
a. được biết đến bởi chính các phép lạ ông ấy đã thực hiện
b. đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin
c. được giáo dục ở trình độ cao về luật pháp của người Giuđa
d. Không có đầy đủ tư cách trở thành một người lãnh đạo Hội Thánh.
5. Ai đã yêu cầu Phaolô phụ tá Banaba trong công tác ở tại Antiốt?
a. Hội đồng tại Giêrusalem
b. Phierơ
c. Philíp
d. Banaba
6. Banaba và Phaolô đã giúp việc Hội Thánh Antiốt theo cách nào trong những phương cách sau đây:
a. Như là những người phụ tá lãnh đạo, mỗi người làm việc cùng với người kia trong công tác gây dựng Hội Thánh.
b. Như là một mục sư và một phụ tá.
c. Như là các chấp sự với những người lãnh đạo địa phương ở trên họ.
d. Như là các giáo sư không có những trách nhiệm lãnh đạo.
7. Điều nào trong những điều dưới đây KHÔNG PHẢI là kết quả của mạng lưới làm việc giữa các vị lãnh đạo trong Hội Thánh đầu tiên?
a. Những lãnh đạo mới xuất hiện đã được giúp đỡ để tìm được các vị trí trong chức vụ.
b. Những sai lầm về giáo lý được sửa chữa.
c. Một mạng lưới điều hành được triển khai tạo cho Phierơ có được vị trí quyền bính đầu nhất.
d. Các nhà lãnh đạo chia xẻ những lời làm những về điều Chúa đang làm qua chức vụ của họ.
8. Ngay trước giai đoạn quá độ về quyền lãnh đạo từ Banaba chuyển sang Phaolô, hai vị sứ đồ này đã được ủy thác vào việc truyền giáo cho Dân Ngoại bởi :
a. Các sứ đồ khác tại Giêrusalem
b. Một khải tượng mầu nhiệm
c. Hội thánh nhà của họ ở tại Antiốt
d. Quan trấn thủ Sêgiút Phaulút
9. Cuộc đối chất giữa Phaolô và Banaba về việc Giăng Mác đã cho chúng ta biết điều nào trong những điều này là điều chắc chắn :
a. Việc đó đã kết thúc chức vụ của Giăng Mác
b. Chúng ta không thể trách một vị sứ đồ nào cả bởi vì mỗi vị đều giữ một vị trí phù hợp với cá tánh riêng của mình.
c. Phaolô có thể bị trách móc vì đã không sẵn sàng tạo cho một người lãnh đạo mới nổi lên một cơ hội khác.
d. Banaba có thể bị trách móc vì đã tiếp nhận một người không thật sự đủ tư cách trở thành một lãnh đạo.
10. Trường hợp nào trong những trường hợp dưới đây người lãnh đạo nên cứng rắn và không dung hòa.
a. Trong việc ủng hộ những niềm xác tín riêng.
b. Trong việc khăng khăng đòi những người lãnh đạo phải làm gương
c. Trong việc dựa vào quyền hành của người ấy với tư cách là một người lãnh đạo được Đức Chúa Trời kêu gọi
d. Trong việc giữ gìn một mạng lệnh trực tiếp trong lời của Đức Chúa Trời.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN - Bạn hãy viết ra những nguyên tắc được minh họa bởi từng ví dụ sau đây :
11. Sự kêu gọi của Phaolô đối với chức lãnh đạo Cơ Đốc đã được khẳng định bởi kinh nghiệm của ông trên Đường Đa Mách và bởi phép lạ đã xảy ra vào lúc ông trở thành người lãnh đạo nổi bật.
...............................................................................................................................
12. Đôi khi trong một nhóm người trong Hội Thánh đã có những sự bất đồng ý kiến về phương thức tiến hành sự thờ phượng phải như thế nào
...............................................................................................................................
13. Cách chúng ta sử dụng tiền bạc phản ánh những giá trị thật của chúng ta.
...............................................................................................................................
14. Mục sư A hầu việc Chúa với một Hội thánh gồm 4.000 tín hữu, trong khi Mục sư Ba chủ tọa một Hội Thánh chỉ có 150 tín hữu. Mục sư B cảm thấy mình không hầu việc Chúa nhiều bởi vì Hội Thánh của mình nhỏ quá
...............................................................................................................................
15. Trong một thời gian Phaolô và Banaba đã cùng hầu việc Chúa với nhau, sau đó Sila đã đi theo Phaolô trong một cuộc hành trình truyền giáo, và Banaba đem Giăng Mác đi với mình để hầu việc Chúa ở một vùng khác.
...............................................................................................................................
PHẦN ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ ĐƠN VỊ 3
Oân lại từ bài 7 đến bài 9 vào lúc này để chuẩn bị cho phần đánh giá tiến bộ theo đơn vị 3. Bạn sẽ tìm thấy Bảng Đánh Giá, tờ trả lời trong tập học viên của mình. Hãy trả lời tất cả những câu hỏi mà đừng xem lại sách giáo khoa của bạn hay là Kinh Thánh. Hãy gởi phiếu trả lời đến cho người hướng dẫn ICI của bạn kèm với tất cả những tài liệu nào khác được ghi rõ ngoài bìa tập học viên của bạn. Sau đó hãy tiếp tục nghiên cứu bài 10.
PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1. Banaba thật sự đã dâng hết số tiền bán được. Anania và Saphira nói rằng họ đã dâng hết số tiền họ bán đất, nhưng thật ra đã giữ lại một phần cho chính họ.
2.c. Nói rằng số họ đặt dưới chân các sứ đồ là toàn bộ số tiền họ bán đất.
3.b. Sử dụng của cải mình để làm ích cho dân Chúa
e. Thực hiện một sự kết ước hoàn toàn đối với chánh lẽ của Đấng Christ.
4. Cho đến lúc đó, Phaolô vẫn đang là một thành viên cầm đầu của Tòa Công Luận, hội đồng quốc gia của người Do Thái. Sự quy đạo của ông đối với Cơ Đốc giáo là một đòn nghiêm trọng giáng vào chiến dịch của họ nhằm tiêu diệt Cơ Đốc giáo.Thật ra, ông đang đưa nhiều người đến với chánh nghĩa của Đấng Christ.
5. Họ không thể biết chắc sự quy đạo của ông là thật. Họ sợ đó là một âm mưu để lừa gạt họ để ông nộp cho họ giới cầm quyền Do Thái.
6. Banaba đã khẳng định kinh nghiệm thay đổi cuộc đời của Phaolô trên Đường Đa Mách và việc ông Phaolô rao giảng Tin Lành không chút sợ sệt ở tại Đa Mách.
7.a. ông được đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin.
b. Qua chức vụ của ông, một số lớn dân chúng được về với Cứu Chúa.
c. Ơng là một người tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin.
8. Chúng ta có thể cho rằng :Những câu c,d,e và g là đúng
9. Tất cả những câu trả lời từ a đến f đều ích lợi.
10. Có thể b. Gia nhập đội ngũ lãnh đạo của một Hội Thánh truyền giáo đang tăng trưởng với tư cách là một thành viên dưới quyền của đội.
11. Bắt đầu ở Cong Cv 13:9, tên của Saulơ được đổi thành Phaolô. Kể từ thời điểm này, hai vị lãnh đạo hầu như luôn luôn được nhắc đến theo thứ tự Phaolô và Banaba, tên Phaolô đứng trước.
12.a.Phaolô (14:12)
b. Ông dạy dỗ (13:42), khích lệ những người mới quy đạo (13:43), bênh vực những lời giảng dạy của Phaolô (13:46), bị bắt bớ (13:50), vui mừng (13:52), giảng lời Chúa cách kết quả và dạn dĩ (14:1, 3), làm những phép lạ, dấu kỳ (14:3)
c. Đưa được nhiều người quy đạo và phải chịu bắt bớ
13. Họ đã có một sự bất đồng ý kiến gay gắt khi Banaba muốn đem Giăng Mác cùng đi với họ trong chuyến hành trình truyền giáo nhưng Phaolô đã từ chối bởi gì Giăng Mác đã bỏ đoàn truyền giáo trong lần trước.
14. Không phải. Có nhiều điển hình trong Kinh Thánh cho thấy Đức Chúa Trời đã ban cho họ một cơ hội thứ hai. Trong số những người như Nôê, Vua Saulơ, Đavít và sứ đồ Phierơ. Bạn có thể nêu tên những người khác.
15. CoCl 4:10-11 cho thấy rằng dường như về sau này Giăng Mác đã trở thành một công nhân đi theo Phaolô và là một sự yên ủi cho ông. Điều này cho thấy Giăng Mác đã có một thái độ tha thứ. Điều này cũng bày tỏ rằng cuối cùng Phaolô đã nhìn nhận sự kết ước của Giăng Mác đối với Tin Lành và đã sẵn sàng làm việc cùng với ông.
16. a.B.
b. A
c. A
d. B
e. B
f. A
17. Những câu a,b d và e là đúng
18. Những thói quen chi dùng của một người lãnh đạo. Bạn cho thấy những giá trị thật sự của người ấy.
19. Câu trả lời của bạn
20. Một hành động tích cực đó là : cầu nguyện luôn cho các tân tín hữu và trông xem những dấu hiệu về tiềm năng lãnh đạo cũng như sự xác nhận của Đức Chúa Trời trên vị trí lãnh đạo của họ.
21. Những câub trả lời của bạn sẽ phản ánh thái độ của bạn liên quan đến những vấn đề này. Tôi mong là bạn sẽ coi những câu c,d,e và f là đúng và những câu a,b là sai.
22.a. Bàn tay bị phung được chữa lành, cây gậy biến thành con rắn.
b. Lớp sương xuất hiện trên lốt chiên.
c. Ơng đã nhận được một khải tượng của Đức Chúa Trời môi ông được một hòn than lửa đỏ chạm đến.
d. Ơng đã được xức bằng dầu bởi Samuên, ông đã giết chết Gôliát.
23. Câu trả lời của bạn
24. Câu trả lời của bạn
25. Theo ý kiến của tôi, những điều không tuyệt đối là d,e,g và h
26. c. Như một người đồng công ngang hàng và tận tụy.
Trong các đơn vị trước chúng ta đã tập trung vào các đường lối qua đó các lãnh tụ có thể gia tăng hiệu quả của mình. Bây giờ trong đơn vị nghiên cứu cuối cùng chúng tôi muốn bàn đến các nhiệm vụ của một người lãnh đạo. Trước hết chúng ta nghiên cứu đến một vài yếu tố cần thiết của vấn đề đào tạo các người lãnh đạo trong sự phục vụ Chúa. Chúng ta cũng hãy xem xét phương cách sử dụng một mô hình có thể giúp ta tạo ra những thay đổi cần thiết về phương tiện tổ chức nhưng không gây bất hòa và phật ý. Kế đó chúng ta sẽ xét đến các nguyên tắc lãnh đạo các nhóm, đặc biệt nhấn mạnh đến các nhóm nhỏ. Cuối cùng, chúng ta sẽ học tập làm thế nào để đánh giá các kể quả. Điều này giúp chúng ta lãnh đạo có mục đích rõ ràng qua đó đạt được các mục tiêu Chúa đặt trên ta.
ĐÀO TẠO CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CƠ ĐỐC
Trong bài 1 chúng tôi đã định nghĩa một nhà lãnh đạo Cơ Đốc là một người được Chúa cho khả năng và trách nhiệm có ảnh hưởng trên người khác hướng về các mục đích của Đức Chúa Trời đặt để trên họ. Qua ảnh hưởng đó người lãnh đạo là người có triển vọng hoặc là những người nổi bật. Một trong những đặc tính quan trọng nhất người lãnh đạo sở hữu được là khải tượng huấn luyện những người lãnh đạo khác. Mỗi một thế hệ lãnh đạo cần phải đào tạo thế hệ tiếp theo. Khi viết thư gửi cho thanh niên Timôthê. Sứ đồ Phaolô đã đưa ra lời khuyên như sau :
“ Những điều mà con đã nghe nơi ta trước sự hiện diện của nhiều người làm chứng, hãy phó thác cho những người đáng tin cậy, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác” (IITi 2Tm 2:2).
Timôthê được Phaolô huấn luyện và ông sắp phải chuyển giao cho các nhà lãnh đạo tương lai.
Đức Chúa Trời cần các nhà lãnh đạo có khải tượng trong mọi lãnh vực trong Hội Thánh. Mạng lệnh “ môn đồ hóa mọi dân tộc” chỉ có thể hoàn tất nhờ kết quả mà các nhà lãnh đạo tận hiến được ủy thác và có thể đạt được. Trong bài này chúng ta sẽ xem xét các lãnh vực lãnh đạo trong Hội Thánh và ôn lại các phương cách thực tiễn theo Kinh Thánh của các nhà lãnh đạo được xem là nổi bật. Kế đó chúng ta sẽ thảo luận về các phương pháp huấn luyện và làm thế nào để có một chương trình huấn luyện quân bình.
Khải tượng Chúa ban về nhu cầu đang khai triển dành cho những nhà lãnh đạo đang được đào tạo có thể bị thay đổi hướng đi và ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo của bạn. Nó cũng sẽ giúp bạn nhạy bén với những ai được Đức Chúa Trời kêu gọi vào chức vụ lãnh đạo và thúc đẩy bạn tìm cách phát triển điều đã có trong họ.
Dàn bài
Cần có những người lãnh đạo
Các lãnh vực của chức vụ lãnh đạo trong Hội Thánh.
Lựa chọn và huấn luyện người lãnh đạo.
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn có thể :
Thảo luận nhu cầu phổ thông đối với các nhà lãnh đạo Cơ Đốc trong các lãnh vực khác nhau của chức vụ.
Mô tả các chức năng của những nhà lãnh đạo khác nhau trong vương quốc của Đức Chúa Trời.
Nói lên các nguyên tắc lựa chọn và huấn luyện các người lãnh đạo Cơ Đốc dựa trên gương mẫu của Chúa Giêxu.
Đánh giá được nhiệm vụ của Hội Thánh chưa hoàn tất đối với thế giới.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo thường lệ. Khi bạn học, hãy sầu xin Chúa mở rộng khải tượng của bạn ngõ hầu sản sinh những người lãnh đạo để hoàn tất nhiệm vụ truyền đạt Tin Lành của Chúa Giêxu Christ cho mọi dân tộc.
Làm bài kiểm tra và kiểm lại các câu trả lời của bạn ở phần cuối mỗi bài học.
Những từ then chốt
Adherents : Những người ủng hộ
Indigenous : thuộc về bản xứ
Lay leaders : những người lãnh đạo không chuyên
Mandate : mệnh lệnh, ủy thác - sự ủy nhiệm
Methodology : phương cách
Nominal Christians : các Cơ Đốc nhân hữu danh võ thực
People group : nhóm dân
Process of climination : diễn trình laọi bỏ
Receptive : đáp ứng với
Vision : khải tượng
Phần khai triển bài học
NHU CẦU CẦN CÓ NHŨNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Mục tiêu 1 : Chọn những câu giải thích rõ tại sao có nhu cầu cấp thiết cần có các người lãnh đạo Cơ Đốc ngày nay.
Ngày hôm nay dân chúng trong nhiều quốc gia đang nghe và đáp ứng với Phúc âm của Chúa Giêxu Christ. Kết quả là trên toàn thế giới. Hội Thánh có sự tăng trưởng khủng khiếp. Chúng ta hãy nhìn xem nhiều việc lạ lùng Đức Chúa Trời đang hành động trong thế kỷ này. Các sự kiện này cổ vũ chúng ta bắt lấy một khải tượng mới qua các cơ hội mở ra trước mắt và qua nhu cầu rất lớn về các nhà lãnh đạo trong các chức vụ giao lưu văn hóa.
1. Số lượng trong các Cơ Đốc nhân Tin Lành thuần túy ở Phi châu, Mỹ Châu La tinh và một số khi vực ở Á Châu tiếp tục phát triển hơn mức độ gia tăng dân số.
2. Hiện nay đa số Cơ Đốc Nhân Tin lành thuần túy không còn tập trung ở các quốc gia Tây phương nữa. Đây là tình trạng đảo lộn trọng đại so với một trăm năm mươi năm trước khi đa số các Cơ Đốc nhân sống trong các nước phương Tây.
3. Phi châu nhanh chóng trở nên nơi được truyền bá Phúc âm mạnh nhất, tuy vậy đây là lục địa có các Cơ Đốc nhân vẫn còn hữu danh vô thực. Hơn 50% người Phi châu hiện nay tuyên bố mình là Cơ Đốc Nhân.
4. Gần đây có sự tiến triển vượt bực ở các quốc gia theo chủ nghĩa Cộng sản. Các Hội Thánh tại các nước này có sự tăng trưởng và đầy nhựa sống.
Đức Chúa Trời đang làm việc bằng những phương cách thần diệu để duy trì và làm cho vương quốc của Ngài lan rộng. Đã có nhiều sự tăng trưởng khi có các người năm lẫn nữ tận hiến mình cho công tác truyền giảng Phúc Âm Toàn Cầu. Hơn nữa, trong các quốc gia không phải là Tây phương đã có nhiều sự tăng trưởng lớn lao nhờ các chức vụ lãnh đạo tự lập tự trị của người bản xứ. Những người lãnh đạo này đã hiểu đúng nguyên tắc mọi người tin đều là các thầy tế lễ và áp dụng các ân tứ thuộc linh một cách hữu hiệu trong thân thể Đấng Christ.
Đang khi vui mừng với sự tràn lan của Phúc âm trong các ngày nay, chúng ta cần phải ý thức được khối lượng công tác còn dang dở phía trước. Là Hội Thánh của Chúa Giêxu Christ, chúng ta chưa hoàn tất mạng lệnh của Chúa chúng ta, ấy là đem Phúc âm đến với mọi dân tộc (Mat Mt 28:19-20). Hãy ghi nhớ rằng mỗi một công tác chưa hoàn tất đang cần một người lãnh đạo đáp ứng cách hiệu quả. Khải tượng của chúng ta cần trải rộng hơn cộng đoàn địa phương mình ! Bây giờ chúng ta hãy xét đến các dân tộc vẫn cần được nghe Phúc âm.
1. Người theo Hồi Giáo : Có khoảng hơn 500.000 người theo Hồi giáo (Muslims) đã tiếp nhận Chúa trong thế kỷ này. Khi thấy tôn giáo này có khoảng một tỉ tín đồ và cũng là tôn giáo chính trong 35 nước, chúng tôi nhận thức rằng Cơ Đốc giáo đã có quá ít ảnh hưởng trên những con ngườ này hiện nay.
2. Phật giáo : Là một tôn giáo cố hữu ở bảy quốc gia trong vùng Đông Nam Á châu. Có nhiều người đã là Cơ Đốc nhân nhưng sau đó lại trở về với Phật giáo. Những người di trú đã đem Phật Giáo đến Phương Tây và hiện này đang được tích cực cổ động.
3. Aán Giáo : Có hàng triệu hội viên, số người tiếp nhận Christ được phỏng đoán chưa đến một phần trăm.
4. Những dân tộc chưa gần gũi được : Trên toàn thế giới có vô số các nhóm này. Ngay cả trong những thành phố lớn nhất cũng có một số lượng quan trọng các nhóm dân này. Ông Donald. McGavran là nhà chuyên môn về lãnh vực này đã định nghĩa chữ “nhóm dân” này như sau : “ một bộ tộc hoặc một giai cấp trong xã hội khó gia nhập, một đại học hoặc một dòng họ hoặc một số phần tử keo kết khắng khít với nhau trong bất cứ xã hội nào”. Một tổ chức truyền giáo là Hội Hoàn cầu Khải tượng đã cung cấp một bản đồ thế giới cho thấy nhiều nhóm lớn này.
5. Các Cơ Đốc nhân hữu danh vô thực : Thật đáng buồn nhiều người tự xưng mình là tín đồ nhưng lại không được biến đổi và tận hiến mình cho Chúa Giêxu. Họ là những người chỉ mang danh là Cơ Đốc nhân vì đời sống họ thiếu liên hệ với Lời Chúa. Các nhà chuyên môn đã thống kê và dự đoán có khoảng 35 phần trăm Cơ Đốc nhân loại này. Những người này tạo nên một lãnh vực truyền giáo chính trong mỗi một quốc gia và trong nhiều cộng đoàn Hội Thánh !
Chúng ta dễ dàng bị các nhu cầu của Hội Thánh địa phương mình chiếm hữu đến nỗi không thể thấy được những đòi hỏi của thế giới bên ngoài cũng cộng đồng riêng của ta. Chúng ta bố trí chương trình giáo dục Cơ Đốc cũng như các lớp thanh thiếu niên, xây dựng những tòa nhà mới, rao giảng và dạy dỗ Lời Chúa, giúp đỡ người nghèo, khuyên lơn, dẫn dắt nhiều người bước vào chức vụ. Gây dựng thân thể Đấng Christ trong Hội Thánh địa phương của chúng ta điều rất quan trọng, nhưng mạng lệnh của Đức Chúa Trời cũng muốn chúng ta đem Tin lành đến với mọi dân tộc. Ngài muốn có các Hội Thánh Tân ước rải rác mỗi một nhóm ngôn ngữ khắp thế giới.
Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ thay đổi sự ủy quyền việc rao giảng Phúc âm của Ngài nếu còn một xóm làng nào đó trên quả địa cầu này chưa có Hội Thánh.
Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ thay đổi sự ủy quyền việc rao giảng Phúc âm của Ngài nếu còn một xóm làng nào đó trên quả địa cầu này chưa có Hội Thánh. Chúa Giêxu nói với các môn đệ của Ngài rằng : “ Tin Lành của vương quốc này sẽ được rao giảng khắp đất để làm chứng cho mọi dân tộc, bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” (Mat Mt 24:14). Mang lệnh của Đức Chúa Trời và nhu cầu của kẻ hư mất phải là những áp lực chính đằng sau khải tượng chọn vào huấn luyện người lãnh đạo. McGranvan thách thức chúng ta bằng những lời này :
Điều duy nhất có thể trì hoãn việc môn đồ hóa muôn dân trên đất. Nếu trong ngày gặt hái, ngày thâu hoạch lớn nhất Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh của Ngài, các đầy tớ đã không đáp ứng, bởi đó các trái chín không được thu hoạch.... Điều có thể đoạt được lại thất thu.
1. Dựa trên bài thảo luận về nhu cầu hiện tại cần có những người lãnh đạo câu nào là đúng?
a. Trong lịch sử hơn bao giờ hết hiện nay có nhiều người tiếp nhận sứ điệp Phúc âm.
b. Đa số các quốc gia có nhiều Cơ Đốc Nhân theo Tin Lành thuần túy hơn các tín đồ của các tôn giáo khác.
c. Càng có nhu cầu nhiều hơn bao giờ hết về những người lãnh đạo trong các công tác giao lưu văn hóa.
d. Những người lãnh đạo không chuyên trong các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có thể đem Phúc Âm đến cho dân tộc của họ một cách hiệu quả.
e. Ngày hôm nay chúng ta có thể vui mừng vì sứ điệp Phúc âm đã được rao giảng cho mọi nhóm dân.
f. Cần đào tạo các nhà lãnh đạo Cơ Đốc cho cả các công tác của Hội Thánh địa phương lẫn các sứ mạng giao lưu văn hóa.
g. Sự ủy thác của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh chuẩn bị cho mọi dân tộc có dịp nghe và đáp ứng với Phúc âm.
h. Đa số những người sống ở các quốc gia phương Tây đã tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa và Cứu Chúa của họ.
2. Xem lại lời của Donald Mc Gavran mà chúng tôi đã trích dẫn. Câu nào cho thấy nhu cầu huấn luyện các nhà lãnh đạo Cơ Đốc nhân hôm này là gì?
........................
................
Mục tiêu 2: Nhận ra những lãnh vực khác nhau của chức vụ lãnh đạo dựa trên các gương mẫu của Kinh Thánh và năm loại chức vụ lãnh đạo do McGavran để xướng .
CÁC LÃNH VỰC TRONG CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH
Khi bạn nhìn vào chức vụ lãnh đạo của các Hội Thánh khác nhau cũng như các tổ chức truyền giáo, chắc chắn ta có thể khám phá ra mức độ khác biệt về các kiểu mẫu cá tính cùng các chức năng. Có một sự dị biệt lớn trong công tác Cơ Đốc xuất phát từ việc nghiên cứu Kinh Thánh cục bộ của các nhóm tế bào, của cộng đoàn các tổ chức giáo phái với phạm vi quốc tế. Đức Chúa Trời dấy lên và cung cấp vô số con người có các ân tứ thuộc linh cần thiết để thực hiện công tác làm chứng cho Phúc âm.
Chúng ta cần xác định mỗi loại công tác đều có giá trị đối với Đức Chúa Trời. Trong cái nhìn của Chúa một người lãnh đạo đều ngang nhau (bình đẳng). Ngài đã xếp đặt người lãnh đạo để phục vụ dựa trên căn bản các ân tứ của ân điển :
Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể trong thân, bạn cho mỗi phần địa vị tùy Ngài muốn. Nếu hết thảy là một chi thể thì thân ở đâu? Song nay chi thể dầu nhiều nhưng chỉ có một thân (ICo1Cr 12:18-20).
Đây là công tác chủ động của Thánh Linh và chúng ta phải nhận lấy vai trò mà Ngài đã chọn. Người gác cửa không cần phải cầu cho mình được làm nhạc trưởng. Người dạy Kinh Thánh đừng ghen tị với vai trò của người lãnh đạo Đoàn thông công truyền giáo quốc tế. Mỗi một Cơ Đốc nhân phải thỏa lòng với nhiệu vụ mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho mình và học tập trung tín với điều ấy.
3. Giải thích 12:12 mỗi một người lãnh đạo cần có sự bổ túc của các nhà lãnh đạo khác như thế nào?
...............
.............
Bây giờ chúng ta hãy xét đến một vài loại lãnh đạo Cơ Đốc dựa trên hình thức khác nhau mà Ông McGavran đã nhận ra.
Các tiêu chuẩn này không được đưa ra để phân loại cao thấp. Chúng được liệt kê ở đây để cho thấy phạm vi khác nhau trong nhiệm vụ lãnh đạo cũng như mức độ cần có để lựa chọn và huấn luyện hầu đáp ứng các yêu cầu trong tương lai của Hội Thánh.
Loại 1 : Những người lãnh đạo không chuyên tại địa phương :
Những người này bao gồm các chấp sự, các giáo viên trường Chúa nhật, nhân viên trật tự, các trưởng lão, những người thăm viếng các chi thể đau yếu... Mức độ lãnh đạo này không chỉ là điểm khởi đầu từ nhưng người lãnh đạo trẻ tiến đến vị trí cao hơn. Những nhà lãnh đạo này góp phần vào sự gây dựng Hội Thánh tiêu biểu cho tấm lòng phục vụ thân thể Đấng Christ trong Hội Thánh địa phương.
Ngay cả những người cộng sản cũng nhận biết vai trò chủ chốt của những người lãnh đạo này có trong Hội Thánh. Khi chiếm lấy Trung Hoa vào những năm 1940, người cộng sản tập trung nỗ lực của họ dẹp bỏ Hội Thánh bằng cách chỉ trích công tác cùng sự tín nhiệm mà những người lãnh đạo không chuyên tại địa phương. Những người lãnh đạo này là cái khung sường hình thành thân thể. Hội Thánh không thể chu toàn nhiệm vụ nếu không có các nhà lãnh đạo loại 1 này !
Loại 2 : Những nhà lãnh đạo truyền giảng Phúc âm tình nguyện.
Những công nhân tình nguyện này tích cực đi đến với cộng đồng bên ngoài Hội Thánh là những người cần Chúa. Họ có thể đến học Kinh Thánh chung tại tư gia, giúp đỡ trong bệnh viện hay nhà tù, rao giảng Phúc âm ngoài đường phố, cũng như các công tác khác để giúp người khác nhận biết Christ. Những người lãnh đạo này được Đức Chúa Trời sử dụng để mở rộng Hội Thánh. Họ cung ứng mối liên kết sống động giữa Hội Thánh và cộng đồng.
Loại 3 : Các Mục sư ở các Hội Thánh nhỏ :
Những người lãnh đạo này có thể nhận được một phần lương bổng hoặc không nhận được đồng nào trong công tác phục sự Hội Thánh. Họ có thể dẫn dắt một buổi nhóm tại tư gia khoảng bốn hay năm gia đình nhóm lại đều đặn. Họ phục vụ như những người chăn bầy hay các giám thị làm cho Hội Thánh vững vàng và đi đúng hưởng.
Loại 4 : Các Mục sư ở các Hội chúng lớn, vững vàng :
Những người lãnh đạo này được trả lương chuyên nghiệp và dâng trọn thì giờ cho sự phụng vụ. Họ đóng một vai trò quan trọng trong thân thể của Christ bằng cách cung cấp cả về mặt quản trị, lãnh đạo thuộc linh và khải tượng cho Hội Thánh.
Loại 5 : Các nhà lãnh đạo thuộc các giáo phái hoặc người quản lý các khu vực :
Những người lãnh đạo này thực hiện nhiệm vụ này ngoài địa phương hoặc miền. Họ là những chuyên gia cung cấp người lãnh đạo cho các Hội Thánh nhờ nghiên cứu và kỷ thuật thần học.
4. Nghiên cứu họa đồ ( hình 10.1) lưu ý giáo phái A có rất ít người lãnh đạo loại 2 so sánh với người loại 1. Giáo phái B có nhiều người lãnh đạo loại 2 hơn. Hãy xét mức độ tăng trưởng của A và B. Điều gì đã làm cho hai giáo phái tăng trưởng khác nhau?
5. Trên một miếng giấy hãy vẽ một hình vẽ nói lên sự phỏng đoán của bạn về tỉ lệ những người lãnh đạo phân theo từng loại trong Hội Thánh của bạn. Bạn có kết luận gì qua bản vẽ này?
.....................
6. Có nhiều loại người lãnh đạo Hội Thánh được đề cập trong sách Công vụ và các thư tín. Hãy mở Kinh Thánh và ghi lại loại lãnh đạo trong mỗi chương.
a. Cong Cv 20:17 ...........
b. 20:28 ..........
c. ITi1Tm 3:1............
d. 3:8 .........
7. Đọc lại Eph Ep 4:11-13, sau đó liệt kê các nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm chuẩn bị cho dân sự của Đức Chúa Trời các công tác phục vụ và gây dựng thân thể của Đấng Christ hầu đạt đến chỗ trưởng thành “ tầm thước vóc giạc là sự đầy đủ của Đấng Christ”.
.................
..............
Thêm vào các loại lãnh đạo Cơ Đốc ông McGavran đề nghị còn có hai loại khác chúng ta cần xem xét :
Các nhà lãnh đạo thuộc các tổ chức bên cạnh Hội Thánh.
Đây là những tổ chức phi giáo phái với các công tác đặc biệt bổ túc cho sự phục vụ của các giáo phái hay các Hội Thánh địa phương. Các gương mẫu của loại phục vụ này là Thanh niên Quốc tế Sống cho Christ, Hoàn cầu Khải tượng, Tổ chức Kinh Thánh Quốc tế. Cũng có thể bao gồm các nhà xuất ban văn phẩm Cơ đốc, phòng sách Cơ Đốc trong cộng đồng của bạn, các cô nhi viện, các công tác đặc biệt cho trẻ con hoặc sinh viên đại học. Những nhà lãnh đạo trong các tổ chức này thường là những nhà chuyên môn trong lãnh vực khả năng hoặc tri thức họ thấy được vai trò phục vụ Chúa, Hội Thánh Ngài cùng những người hư mất.
Các nhà lãnh đạo trong các tổ chức thế tục :
Chức vụ lãnh đạo Cơ Đốc không nhất thiết giới hạn trong các tổ chức hay nhóm nhánh Cơ đốc, các Cơ Đốc nhân chu toàn nhiệm vụ lãnh đạo của mình trong nhiều lãnh vực. Họ có thể là những bác sĩ, hộ sinh, giáo viên đại học, quản đốc nhà máy, chủ nhà băng, hiểu trưởng .... Các nguyên tắc lãnh đạo Cơ Đốc phù hợp với những người lãnh đạo bất cứ nơi nào hoạt động và họ có thể được Chúa sử dụng để dẫn dắt những người cấp dưới họ trở lại với Đấng Christ. Thế giới nghề nghiệp là một lãnh vực truyền giáo phong phú cho bất cứ người lãnh đạo Cơ Đốc nào.
8. Câu nào bao gồm trong 5 loại người lãnh đạo do McGavran đề nghị ?
a. Trưởng ban thanh niên tại một Hội Thánh trung bình
b. Hội trưởng Hội truyền giáo quốc tế của giáo phái bạn.
c. Giáo viên trường Chúa Nhật của bạn.
d. Hiệu trưởng trường Kinh Thánh đào tạo mục sư cho giáo phái của bạn.
e. Giám đốc chương trình ICI khu vực bạn ở
f. Thị trường thành phố bạn ở.
Mục tiêu 3: Áp dụng thực tế dựa vào phương pháp Chúa Giêxu chọn 12 sứ đồ .
CHỌN LỰA VÀ HUẤN LUYỆN NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Nhiều người lãnh đạo Cơ Đốc thừa nhận việc họ chọn người vào vị trí lãnh đạo dựa trên căn bản may rủi. Thông thường nếu một người lãnh đạo từ chức hoặc về hưu cần có người thay thế. Sau đó mọi người thở phào nhẹ nhỏm khi tìm thấy được một người khác. Hiển nhiên trong mỗi một Hội Thánh hoặc nhóm truyền giáo một số người quan trọng được chọn vào địa vị lãnh đạo sẽ không được vào chức vụ. Có phải đây là điều tốt nhất chúng ta mong đợi hãy còn có phương pháp hữu hiệu khác theo Kinh Thánh mà ta có thể sử dụng để tuyển chọn người lãnh đạo tiến đến chỗ trưởng thành?
9. Nhận ra phương pháp Hội Thánh bạn sử dụng để thay thế những người lãnh đạo.
a. Họ được tuyển chọn bằng cách bỏ phiếu kín.
b. Vị mục sư chỉ định người lãnh đạo mới.
c. Các thành viên tự nguyện bước vào chức vụ.
d. Phương pháp khác ...........
Qua đời sống và chức vụ của Chúa Giêxu cho ta một vài sự hiểu biết rất quan trọng về việc tuyển chọn người lãnh đạo. Điểm mà Chúa quan tâm đầu tiên là gì? Trước nhất, Ngài đến để bảo đảm sự cứu rỗi cho thế giới bằng cách trở nên Ađam thứ hai và dâng mạng sống mình cho nhiều người ( xem Rôma 5:12; - 21). Thứ hai, chủ tâm của Ngài là lựa chọn và huấn luyện một nhóm người trung tín rao giảng sứ điệp của Ngài cho thế giới.
Chúng ta biết rằng Chúa Giêxu đã thành công trong hai mục tiêu này. Ngài đã chết trên thập tự giá làm một sinh tế cuối cùng và trọn vẹn, các môn đệ của Ngài đã đem phúc âm của Ngài đến mọi phương trời. Chúa Giêxu đã chọn những người lãnh đạo như thế nào? Ngài sử dụng phương pháp huấn luyện nào? Ngài có thể để lại cho chúng ta các nguyên tắc gì trong việc tuyển chọn chức vụ này không? Để giải đáp các câu hỏi này chúng ta xem phương cách của Chúa Giêxu và học hỏi để biết làm thế nào áp dụng nó cho bối cảnh của mình.
10. Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu phương cách của Chúa Giêxu hãy đọc Mat Mt 4:12-25; 8:1-10:4, Mac Mc 1:14-3:19; LuLc 5:1-6:19; GiGa 1:19-51; 6:1-17:1. Ghi lại tên của mỗi một môn đồ được đề cập đến trong khúc Kinh Thánh. Bên cạnh mỗi tên viết ra bất cứ mẫu tin đặc biệt nào trong Kinh Thánh về việc thế nào một người trở nên một môn đệ của Chúa Giêxu.
1. Chúa Giêxu tuyển lựa rất kỹ lưỡng.
Ngài đã không tuyển chọn một cách bừa bãi, nhưng Ngài đã kêu gọi người Ngài muốn. Ngài khởi xướng việc chọn lựa các môn đệ. Ngài vận dụng năng lực chọn lọc để tuyển người mà Ngài có ý định đào tạo.
2. Chúa Giêxu tuyển lựa Mười hai giữa nhiều môn đệ (LuLc 6:12-13).
Chúng ta có thể thấy diễn trình loại bỏ. Khi Chúa Giêxu khởi đầu chức vụ. Ngài ở với đám đông (1:5) bao gồm nhiều môn đệ (5:17). Cuối cùng Ngài bám lấy mười hai môn đệ là những người Ngài có chủ tâm chia xẻ sự sống của Ngài :
Đoạn, Chúa Giêxu lên núi, gọi những người Ngài muốn, thì họ đến cùng Ngài. Ngài bèn lập mười hai người, để ở cùng Ngài và sai đi giảng đạo, lại ban quyền bính đuổi quỉ (Mac Mc 3:13-15).
11. Vấn đề này trình bày điều gì về thuật lãnh đạo của Chúa Giêxu : “Ngài lập mười hai người .... để ở cùng Ngài”?
.......................
..................
Vào lúc Chúa Giêxu chọn lựa mười hai người, Ngài đã thi hành chức vụ một năm rồi. Trong lúc đó Kinh Thánh không đưa ra các chi tiết đặc biệt, hiển nhiên Ngài đã để nhiều thì giờ đáng kể quan sát những người theo Ngài trong nhà của họ, nơi công khai, mối quan hệ với người khác trước khi lựa chọn mười hai người giữa vòng họ.
3. Chúa Giêxu chọn những người đáp ứng với Ngài.
Một vài người lãnh đạo chọn lấy những người được huấn luyện và hi vọng rằng họ sẽ trở nên những tín đồ trung thành và phó thác. Không như các nhà lãnh đạo ấy, Chúa Giêxu chọn con người đã bày tỏ một sự ao ước trung thành của họ với Ngài.
12. Hãy để ý cách Chúa Giêxu kêu gọi Simôn Phierơ, Anhrê, Giacơ, Giăng và Mathiơ. Qua các phần Kinh Thánh bạn đọc có điểm nào trình bày các môn đệ đã phó mình cho Chúa Giêxu trước khi Ngài chọn họ trở nên một trong mười hai người?
.........................
.................
4. Chúa Giêxu khai triển mối quan hệ độc nhất với nhiều môn đề của Ngài. Giữa vòng mười hai có ba người Ngài có mối liên hệ đặc biệt. Trong một ý nghĩa tiêu cực họ không được mến chuộng, tuy vậy họ có được đặc ân thông công mật thiết với Ngài, Ngài đã đem họ vào những hoàn cảnh biệt lập ( xem Mac Mc 9:2, 14:33). Không có một lời nào trình bày các môn đồ khác buồn giận khi không được tham dự trong các trường hợp ấy.
5. Chúa Giêxu lựa chọn mười hai sau khi đã cầu nguyện nhiều và trông đợi Đức Chúa Trời (LuLc 6:12-13).
Mặc dù theo quan điểm thuộc linh cũng như con người sự lựa chọn thật hiển nhiên rõ ràng nhưng Chúa Giêxu đã không quyết định cho đến khi Ngài đã cầu nguyện về vấn đề đó. Sau khi biệt riêng suốt một đêm cầu nguyện Ngài nhóm các người theo mình lại và chọn lấy mười hai người.
13. Khoanh tròn những chữ đứng trước các câu đúng dựa trên điều Kinh Thánh trình bày liên hệ đến việc Chúa Giêxu tuyển chọn mười hai sứ đồ.
a. Chúa Giêxu rất kỹ lưỡng trong việc lựa chọn mười hai môn đệ.
b. Ngài khai triển mối quan hệ đặc biệt với ba môn đệ được Ngài huấn luyện.
c. Chúa Giêxu chỉ huấn luyện những môn đệ nào tình nguyện làm người lãnh đạo.
d. Mười hai môn đệ mà Chúa Giêxu tuyển chọn để được huấn luyện cách đặc biệt là những nhà lãnh đạo Do Thái có tiếng tăm.
e. Chúa Giêxu cầu nguyện trước khi tuyên bố ai là môn đệ của Ngài.
f. Chúa Giêxu ao ước có một mối quan hệ khắng khít với các môn đệ.
g. Mười hai môn đệ mà Chúa Giêxu đã chọn mình chứng rõ ràng sự chung thủy của mình với Ngài.
Chúng ta có thể học được nhiều nguyên tắc qua phương cách tuyển chọn mười hai môn đệ .
Chọn người lãnh đạo :
1. Tuyển chọn người lãnh đạo từ nhiều bối cảnh khác nhau.
Chúa Giêxu chọn những người bình thường như ngư phủ hay người thu thuế để huấn luyện họ làm người lãnh đạo. Mỗi một người đóng góp phần độc nhất của mình vào nước của Đức Chúa Trời. Việc lựa chọn người được huấn luyện của chúng ta cần phải thay đổi nếu muốn sản sinh ra người lãnh đạo mới có thể phục vụ trong một phạm vi rộng lớn về phương diện nhu cầu và cá tính con người cách hữu hiệu.
2. Sử dụng diễn trình loại bỏ trong sự tuyển chọn người lãnh đạo.
Chúng ta phải chống lại sự cám dỗ mau mắn quyết định trong việc chọn lựa những người thích hợp nhất làm người lãnh đạo. Cần có thời gian để biết ai có các phẩm chất và đời sống phó thác cần thiết để trở nên người lãnh đạo có kiến hiệu. Thông thường Hội Thánh tìm kiếm những phương pháp tốt hơn, nhưng Chúa muốn ta tìm những nam nữ tốt hơn !
3. Chọn người trên căn bản thuộc linh và có sự đáp ứng
Các tín hữu sẽ không thay đổi đức tính của họ hay trở nên thuộc linh hơn chỉ vì anh em chọn họ làm người lãnh đạo. Họ thường đem vào chức vụ của mình những gì họ đã đánh giá và thực hành. Trước khi chọn những người lãnh đạo có triển vọng, có khả năng, hãy quan sát các đặc tính như quan tâm đến người khác, cầu thay cho người khác, hoặc sử dụng các ân tứ thuộc linh của họ để gây dựng thân thể của Đấng Christ. Những điều này là các dấu hiệu minh chứng Đức Chúa Trời đang kêu gọi họ vào chức vụ lãnh đạo và họ đang sẵn sàng để được huấn luyện.
4. Cho phép Chúa có thời gian xác định sự lựa chọn của bạn.
Hãy dành nhiều thì giờ đặc biệt để cầu nguyện và trông đợi sự bình an bên trong trước khi tuyên bố quyết định của bạn. Bạn cần thời gian quan sát cách người lãnh đạo tương lai đáp ứng với Lời Chúa, người ấy có đầu phục chức vụ lãnh đạo hiện hữu không và anh ta đối đầu với những khó khăn, thử nghiệm như thế nào. Hãy cẩn thận kiểm tra xem người được huấn luyện phản ứng như thế nào đối với quyền bính. Bất cứ một tín hữu trẻ tuổi nào có một thái độ tiêu cực hoặc có một tâm linh phản loạn với quyền bính không được tham gia và khóa huấn luyện người lãnh đạo cho đến khi nan đề được điều chỉnh. Hãy trông đợi sự xác định của Đức Chúa Trời và cho phép Ngài dẫn dắt quyết định của bạn. Bạn cần thời gian quan sát cách người lãnh đạo tương lai đáp ứng với Lời Chúa, người ấy có đầu phục chức vụ lãnh đạo hiện hữu không và anh ta đối đầu với những khó khăn, thử nghiệm như thế nào. Hãy cẩn thận kiểm tra xem người được huấn luyện phản ứng như thế nào đối với quyền bính. Bất cứ một tín hữu trẻ tuổi nào có một thái độ tiêu cực hoặc có một tâm linh phản loạn với quyền bình không được tham gia và khóa huấn luyện người lãnh đạo cho đến khi nan đề được điều chỉnh. Hãy trông đợi sự xác định của Đức Chúa Trời và cho phép Ngài dẫn dắt quyết định của bạn.
14. Một người lãnh đạo có khả năng đầu phục chức vụ lãnh đạo hiện hữu có các dấu hiệu nào trong những điều này?
a. Có thể được huấn luyện
b. Có đủ điều kiện bước vào vị trí lãnh đạo
c. Một người yếu đuối
d. Một người lãnh đạo mạnh bạo
e. Trưởng thành thuộc linh
15. Điều nào trong những điều này đúng với phương cách áp dụng của Chúa Giêxu trong việc chọn lựa người lãnh đạo?
a. Hội chúng Ba ngôi đã đăng ký vào mục quảng cáo trên một tờ báo địa phương để tìm một người lãnh đạo trẻ có trình độ đại học.
b. Mục sự Berger điều khiển một lớp huấn luyện chức vụ lãnh đạo đều đặn trong Hội Thánh của mình. Bất cứ lúc nào cần thay thế người lãnh đạo, ông chọn người mà ông đã để ý trong một thời gian dài.
c. Maryanne, một tân tín hữu tình nguyện dạy lớp thiếu niên vì không ai khác thiết tha chỗ đứng này, mục sư đã cắt đặt Maryanne.
d. Robert, một tín hữu liên tục tìm cơ hội làm chứng cho người khác. Anh đã dẫn dắt nhiều người đến với Christ và đem họ vào Hội Thánh. Mục sư của anh xem anh là người được chọn để trở nên trưởng ban truyền giảng của Hội Thánh.
Các Nguyên Tắc Kinh Thánh Trong Việc Huấn luyện Chức Vụ Lãnh Đạo.
Mục tiêu 4 : Đưa ra những gương mẫu và những ứng dụng các yếu tố then chốt trong sự huấn luyện các môn đệ của Chúa Giêxu.
Khi nghiên cứu đến các công việc thế tục cũng như các phương pháp huấn luyện các hoạt động thương mại, chúng ta khám phá ra rằng người ta đã tập trung mọi nổ lực vào công việc này. Ví dụ như việc đào tạo một bác sĩ hay một phi công. Có thể nào mô tả điều này bằng các từ như bất cẩn, không quan trọng, tình cờ không? Dĩ nhiên là không. Những người làm việc trong các ngành nghề này cần tiếp nhận sự đào tạo quy mô và rất chuyên sâu để đối đầu với trách nhiệm đến sinh mạng con người. Là những công dân Cơ Đốc, ta há không có trách nhiệm lớn hơn sao? Chúng ta đang mang sứ điệp cứu rỗi đời đời cũng như cung cấp lời của sự sống cho quần chúng. Vì vậy, huấn luyện người lãnh đạo phải có hệ thống, phải cẩn trọng và có kế hoạch rõ ràng.
Trong các sách Phúc âm chúng ta thấy Chúa Giêxu mô tả việc giáo dục người lãnh đạo có ý nghĩa gì. Sau khi lựa chọn mười hai môn đệ, Ngài đã hết sức chú tâm đến họ. Các sách Phúc Âm phô bày phẩm chất đào tạo mà Chúa Giêxu đã giúp đỡ cho những người cần được huấn luyện. Bây giờ chúng ta hãy kiểm tra một vài yếu tố then chốt chương trình huấn luyện của Chúa kỹ càng hơn.
1. Điều tiên quyết : Chúa Giêxu đã hết sức tập trung sự lưu tâm của mình vào mười hai môn đồ phần lớn thì giờ của đời sống Ngài. Sau khi giao thông với Cha, họ là người thứ hai Ngài chú tâm. Thực ra, Chúa Giêxu cho ta thấy các môn đồ cũng quan trọng như mẹ Ngài cũng như gia đình Ngài (Mat Mt 12:47-50). Chúng ta tin rằng Chúa Giêxu nhận được sự yêu thương sự tôn kính từ những môn đệ thân tín nhất lý do Ngài là con Đức Chúa Trời. Chúa Giêxu đánh giá cao thời gian Ngài lưu ngụ với họ và Ngài rất mong ước được thông công với họ ( xem LuLc 22:15 ). Phúc âm Giăng có ghi lại những lời này : “ Ngài đã yêu những kẻ thuộc về mình trong thế gian thì cứ yêu đến cùng” (GiGa 13:1). Sau đó là câu chuyện Chúa Giêxu rửa chân cho các môn đồ. Ngài tiếp tục huấn luyện họ, bày tỏ tình yêu của Ngài cho họ đến khi kết thúc đời sống trên đất.
16. Huấn luyện người lãnh đạo là hành động tiên quyết của Chúa Giêxu. Tại sao chúng ta phải xem điều này là việc làm ưu tiên trong công tác lãnh đạo của chúng ta?
..................
................
2. Cùng phối hợp : Chúa Giêxu kỳ mong các môn đệ Ngài chỉ nhìn xem trong khi Ngài thi hành chức vụ. Họ không được phép làm khán giả! Chúa Giêxu đã giao thác cho họ những công việc phải làm cả trong lãnh vực thuộc linh lẫn thực tế. Ngài theo sát những điều này, chờ đợi họ suy nghĩ và trả lời. Các môn đồ được phân công các công tác như tổ chức quần chúng ngồi ăn (GiGa 6:1-71) rao giảng đuổi quỷ (Mac Mc 6:10-56), sắp xếp bữa tiệc cuối cùng (14:1-72).
Qua tất cả những kinh nghiệm đáng học tập này Chúa Giêxu trông nom các sứ đồ. Ngài khích lệ khi thất vọng, điều chính những gì học hiểu sai, sửa lại thái độ của họ. Ngài không bao giờ để họ bối rối hay ngã lòng với những thất bại tạm thời ( xem Mat Mt 17:14-20). Ngài hết lòng cùng chia xẻ với họ.
Sau này Giăng có viết lại rằng : “ Ngôi lời đã trở nên xác thịt, đã sống ở giữa chúng” (GiGa 1:14). Động từ “ sống” có thể được dịch là “ đóng trại” cho thấy rằng sự quan tâm và gần gũi của Chúa Giêxu đối với các môn đệ để lại một ấn tượng lâu dài trong tâm trí của Giăng.
17. Chúng ta có những ứng dụng thực tế nào liên hệ đến việc huấn luyện các nhà lãnh đạo tương lai qua bài học trên đây?
..........................
...............
3. Sự truyền thông : Chúa Giêxu có một khả năng truyền đạt lẽ thật cho các môn đệ của Ngài. Hãy để ý đến những phương pháp khác nhau Chúa thường dùng để truyền đạt những gì Ngài muốn họ học tập. Ngài đã dùng những ví dụ bài học tượng hình từ thiên nhiên, đặt những câu hỏi, nắm lấy mọi dịp tiện để củng cố các bài học đó. Ngài nói đến những vấn đề rất thực tiễn và phổ thông như tiền bạc, quần áo, hành lý, chim chóc, người gieo giống, người con phí của và người giàu hất hủi người nghèo. Mục đích của sự thông công này là truyền đạt những lẽ thật thuộc linh.
Hiệu quả của phương pháp này nhằm giúp cho các môn đệ được học tập và chịu sự tác động của Chúa suốt ngày. Ngài dùng thực tế sống đem nó vào kinh nghiệm học tập. Trận bão giữa biển giúp họ học bài đức tin (Mat Mt 8:26). Lễ vượt qua dẫn họ đến gương khiêm nhường (GiGa 13:12-17). Trên đường làng là lúc Phierơ thừa nhận Chúa Giêxu là Đấng Christ (Mac Mc 8:29). Qua đó Chúa Giêxu đã truyền đạt cho các môn đệ của Ngài một Phúc âm hoàn toàn sáng tỏ, làm kiểu mẫu cho họ, và dễ dàng kể lại cho người khác.
Chúng ta học tập được nhiều điều qua cách mà Chúa Giêxu thông công với các môn đệ của Ngài. Chúng ta có thói quen nỗ lực dạy dỗ lẽ thật trong phòng học và giới hạn trong việc sử dụng các kinh nghiệm sống. Là người huấn luyện người lãnh đạo, bạn cần cảnh giác luôn luôn hầu tìm dịp tiện truyền đạt một vài kỹ năng hoặc bài học cho người được huấn luyện. Đây là vấn đề quan trọng vì chúng ta không chỉ dạy dỗ những thông tin về Đức Chúa Trời; nhưng đang truyền đạt tính năng động của chức vụ và nếp sống thuộc linh. Học viên của chúng ta chịu ảnh hưởng chính chúng hơn là những gì chúng ta nói. Vì thế chúng ta cần thực tế hơn là lý thuyết suông trong việc huấn luyện người lãnh đạo; chúng ta cần được giao thông liên tục với chính vị giáo sư của mình.
18. Chúa Giêxu truyền đạo lẽ thật thuộc linh cho các môn đệ chủ yếu các phương pháp nào?
a. Thí dụ
b. Các kinh nghiệm sống mỗi ngày.
c. Dạy kiểu ngồi trong phòng học
d. Các bài giảng dành cho đám đông theo Ngài
4. Sự lặp lại : Chúng ta có một sự ao ước là dạy người khác mọi bài học chúng ta nghĩ rằng họ cần phải biết nhưng lại đi quá nhanh. Chúng ta đã chất đầy những tin tức trên học viên mà không nhận thức rằng họ không thể thực hiện những gì họ đọc được.
Chúa Giêxu dạy dỗ rằng cách lặp đi lặp lại. Ngài dạy những bài học quan trọng bằng cách thường xuyên đặt lại vấn đề đó và trên những khía cạnh khác nhau. Ví dụ như sự cầu nguyện. Trong các buổi ban đầu huấn luyện các môn đồ xin Chúa dạy họ biết cầu nguyện và Ngài đã trả lời và trao cho họ bài cầu nguyện mà ta gọi là “ Bài cầu nguyện của Chúa” (LuLc 11:1-4). Sau đó Ngài cho họ một thí dụ nói lên giá trị của sự cầu nguyện bền lòng kiên trì (11:5-13).Tuy thế, bài học này không phải là bài đầu tiên cũng không phải là bài cuối cùng. Trong suốt những năm còn lại sống với nhau, Chúa Giêxu tiếp tục ghi khắc vào các môn đệ những nguyên tắc cầu nguyện. Ngài luôn lặp đi lặp lại chủ đề cầu nguyện và thỉnh thoảng Ngài quở trách họ. Ngay cả giờ phút bị phản bội trong vười Ghếtsêmanê, Chúa Giêxu vẫn là mẫu mực cho các môn đồ về tầm quan trọng của sự cầu nguyện (Mac Mc 26:36-44).
19. Giải thích hai phương pháp lặp lại :
a. Dạy một vấn đề bằng cách thường xuyên lặp lại
.............
b. Dạy một vấn đề với những phương diện khác nhau
..........
........
20. Nêu lên đề tài mà chúng tôi đã lặp đi lặp lại trong bài học về chức vụ lãnh đạo này mà chúng tôi đã đặt vấn đề với những phương diện khác nhau
Giữ Một Sự Huấn Luyện Quân Bình
Mục tiêu 5 : Dựa trên mẫu hai đường rầy, nhận ra các sự kiện có tầm trọng giữ gìn một sự huấn luyện quân bình
Hầu hết mọi người chúng ta bận rộn với việc huấn luyện thường phải đấu tranh để giữ một sự quân bình trong những gì chúng ta đang cố gắng truyền đạt. Chúng ta có thể chuyên biệt về một lãnh vực như dạy dỗ các quan niệm Kinh Thánh, nhưng chểnh mãng sự áp dụng thực tiễn những gì chúng ta dạy. Tôi muốn chia xẻ với anh em một công cụ rất hữu dụng để bảo đảm rằng anh em có một sự quân bình trong chương trình huấn luyện của anh em. Chương trình này rất hữu dụng cho sự huấn luyện một hoặc cũng hữu hiệu trong việc xem xét học viên huấn luyện.
Tiến sĩ F. Hollander đã đưa ra “ mẫu hai đường rầy”. Nhưng bạn thấy, mẫu này dựa trên hình ảnh quen thuộc của đường xe lửa chạy.
HUẤN LUYỆN NGƯỜI LÃNH ĐẠO
GIỮ SỰ QUÂN BÌNH : MẪU HAI ĐƯỜNG RẦY
A. SỰ HÌNH THÀNH THUỘC LINH
Thảm đá để mọi thứ tựa trên đó
B. SỰ PHẢN ÁNH
Thanh gỗ giữ đường rầy bằng thép vào đúng vị trí.
C. TRUYỀN ĐẠT TRI THỨC
Đường rầy bằng thép thứ nhất
D. KINH NGHIỆM BƯỚC VÀO CHỨC VỤ
Đường rầy bằng thép thứ hai
Bây giờ tôi sẽ mô tả chi tiết hơn mẫu hai đường rầy :
A. SỰ HÌNH THÀNH THUỘC LINH : Đây là sự năng động thuộc linh của sự huấn luyện. Là sự tăng trưởng cá nhân và phát triển trong nếp sống thuộc linh của người huấn luyện. Điều xác định học viên thuộc loại nào. Đây là phần mong đợi của chương trình nhưng ít khi được xét đến. Đa số những người dẫn dắt chương trình huấn luyện chức vụ lãnh đạo hi vọng rằng sự hình thành thuộc linh sẽ xảy ra. Kết quả là họ nhấn mạnh đến tri thức nhưng lại thiếu kém về mặt con người.
B. SỰ PHẢN ÁNH : Điều này liên hệ đến những lần hội tụ lại. Đây là diễn trình đem mọi sự lại với nhau. Người lãnh đạo cùng người người được huấn luyện giao thông qua lại và củng cố các bài học đã học. Điều này thường xảy ra tại các khóa hội thảo. Có một sức mạnh đặc biệt khi đặt sự liên lạc giữa những ý tưởng trong phần truyền đạt ( C) và kinh nghiệm sống ( D). Người dẫn dắt dạy làm thế nào liên hệ những ý tưởng đã truyền đạt với kinh nghiệm.
C. TRUYỀN ĐẠT TRI THỨC : Đây là nội dung của buổi huấn luyện. Gồm có sách giáo khoa, các bài giảng thuyết và công việc trong lớp học. phần này xác định điều học viên hiểu biết. Truyền đạt là chữ thường được dùng để mô tả mọi tri thức và kỹ năng được phổ biến cho người được huấn luyện khiến người ấy kinh nghiệm sự thay đổi sự sống bề trong.
D. KINH NGHIỆM BƯỚC VÀO CHỨC VỤ : Đây là chức vụ thật do người được huấn luyện dẫn dắt. Kinh nghiệm này bao gồm mọi điều thực tiễn mà người ấy phải thực hành đầy đủ điều đã học được. Đây là diễn trình trong sự huấn luyện dẫn đến chỗ khai triển các kỹ năng lãnh đạo và chức năng của các ân tứ thuộc linh. Nói cách khác, điều này giúp chúng ta học tập qua kinh nghiệm.
Chức vụ lãnh đạo và công tác trở nên đúng đắn khi nó thực tế và hiện thực. Nếu không có sự ứng dụng, huấn luyện chỉ là sự thảo luận về các ý tưởng và lý thuyết và không thích hợp với đời sống thực tế. Qua việc áp dụng các lời dạy mà những người được huấn luyện có thể kinh nghiệm sự tăng trưởng và trưởng thành. Các học viên được phân công các nhiệm vụ đòi hỏi họ cầu nguyện chuẩn bị và lập kế hoạch. Đây là phương cách Chúa huấn luyện các môn đệ và hôm nay vẫn còn hữu hiệu !
21. Đặt mỗi phần của mẫu hai đường rầy để có sự huấn luyện người lãnh đạo quân bình với lời giải thích.
......a. Thanh gỗ nắm giữ hai thanh sắt đường rầy đúng chỗ
......b. Đường rầy thứ hai
......c. Kết hiệp các ý tưởng và kinh nghiệm lại với nhau
......d. Thảm đá để mọi thức tựa trên đó
1. Sự hình thành thuộc linh. 2. Truyền đạt tri thức 3. Sự phản ảnh 4. Kinh nghiệm bước vào chức vụ
Khi kết luận bài học này, hãy tự yêu cầu mình bằng các câu hỏi sau : “Chức vụ lãnh đạo của tôi đem lại lợi ích gì cho Hội Thánh, cho cộng đồng và thế giới? Sự huấn luyện các người lãnh đạo của tôi theo phương cách nào để góp phần vào sự tăng trưởng của vương quốc Đức Chúa Trời hiện nay và trong tương lai? Đây là các câu hỏi liên quan đến việc tìm kiếm hồn người nhưng nó cũng khuấy động chúng ta để trở nên loại người lãnh đạo mà Chúa mong muốn.
Bài kiểm tra
ĐÚNG SAI Hãy theo sự hướng dẫn đặc biệt cho từng mục 1 -6. Viết chữ D trước mỗi câu đúng dựa trên các sự kiện được trình bày trong bài học liên quan đến các nhóm dân khác nhau. Viết chữ S nếu câu đó không đúng.
....1. Hơn 50 phần trăm dân số thế giới hiện nay tuyên tố mình là Cơ Đốc nhân.
....2. Ngày nay các Hội Thánh Cơ Đốc trong các quốc gia cộng sản đang tăng trưởng rất nhanh chóng.
....3. Phần lớn các nhóm dân không tiếp xúc được đang sống ở Phi Châu.
.....4. Những người lãnh đạo không chuyên tại địa phương góp phần vào sự tăng trưởng trong các quốc gia không phải Tây phương.
....5. Theo Mac Gavran, chúng ta đang sống trong ngày người ta dễ tiếp nhận sứ điệp Phúc Âm.
....6. Con số thống kế cho thấy người Phật giáo trở lại với Cơ Đốc giáo vẫn trung tín và thường gây ảnh hưởng trên những Phật tử khác để đem họ đến với Chúa.
7 -13. Viết chữ Đ vào chỗ trống nếu câu đó đúng về phương cách chọn lọc và huấn luyện các môn đệ của Chúa Giêxu. Viết S nếu câu đó sai.
......7. Chúa Giêxu chọn một số môn đệ và với những người ấy Ngài có thể có một mối liên hệ thầy trò khắng khít.
.....8. Chúa Giêxu huấn luyện các môn đồ bằng cách hòa trộn họ vào trong chức vụ của Ngài.
....9. Chúa Giêxu chủ yếu lựa chọn những người nổi tiếng và có học thức để huấn luyện làm người lãnh đạo.
....10. Chúa Giêxu chờ đợi người ta tình nguyện phục vụ làm người lãnh đạo.
.....11. Giêxu mong ước những người Ngài huấn luyện học tập các bài học một cách thông suốt bài học đầu tiên mà họ được dạy dỗ.
.....12. Các môn đệ mà Chúa Giêxu chọn lọc đầu phục quyền lãnh đạo của Ngài.
......13. Chúa Giêxu quan sát nhiều môn đệ của Ngài trong một thời gian trước khi chọn lọc mười hai người trong họ để huấn luyện.
CHỌN CÁC CÂU PHÙ HỢP. Hãy theo sự hướng dẫn đặc biệt cho mỗi đề mục.
14 - 19 Chọn mỗi một nhóm người với sự mô tả trong bài học
.....14. Họ là tôn giáo chính trong ba mươi
lăm quốc gia với hơn một triệu tín đồ.
.....15. Họ tuyên bố rằng mình tin cậy Đấng Christ nhưng nếp sống của họ không phù hợp với lời mình nói.
.....16. Họ là tôn giáo lớn tại bảy quốc gia ở Đông Nam Á châu với nhiều đạo hữu hiệu nay di cư qua các nước Tây phương.
....17. Họ bao gồm nhiều phần tử trong xã hội chưa được nghe giảng Tin Lành.
.....18. Trong thế kỷ này có không hơn 500.000 người trong thế kỷ nào.
....19. Mặc dù tôn giáo của họ có hàng trăm triệu tín đồ nhưng không có hơn 1 phần trăm tiếp nhận Christ
a. Người Phật giáo
b. Người Aán độ giáo
c. Hồi giáo
d. Các Cơ Đốc nhân hữu danh vô thực
e. Các nhóm dân chưa tiếp xúc được
20 - 25 Chọn mỗi một loại lãnh đạo của Mc Gavran với sự mô tả ý nghĩa của nó
......20. Những người tình nguyện đến với người khác bên ngoài Hội Thánh
......21. Các giám mục trong các Hội Thánh nhỏ.
......22. Bao gồm các chấp sự, các trưởng lão, giáo viên trường Chúa nhật.
......23. Những chuyên gia hoàn thành công tác bên ngoài địa phương hoặc miền.
......24. Những nhà chuyên nghiệp có nhận lương đang dẫn dắt các Hội Thánh lớn.
......25. Mc Gavran xem là loại hữu hiệu nhất trong việc giúp Hội Thánh tăng trưởng về số lượng.
a. Loại 1
b. Loại 2
c. Loại 3
d. Loại 4
e. Loại 5
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Các đề mục này dựa trên mẫu hai đường rầy để giữ sự quân bình trong việc huấn luyện người lãnh đạo.
26. Thảm đá mà mọi sự khác tựa lên đó là .........
...........
27. Đường rầy số một là ..........
.........
28. Đường rầy số hai là .............
.............
29. Thanh gỗ nắm giữ đường rây đúng vị ví là ...
........
30. Lãnh vực nào nói đến sự ứng dụng những gì họ được dạy dỗ.
..........
Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu
1. Các câu trả lời a,c,d,b và g đều đúng
2. Bạn hãy trả lởi câu của bạn. Đây là câu trả lời của tôi : Các nhà lãnh đạo Cơ Đốc ngày nay cần thiết hơn bao giờ hết. Vì càng có nhiều người tiếp nhận Phúc Âm trên toàn thế giới, chúng ta cần chuẩn bị các người lãnh đạo cho sự giao lưu văn hóa cũng như cho các công tác địa phương. Nếu không huấn luyện đủ người lãnh đạo, những người hư mất sẽ không có cơ hội đáp ứng với Phúc âm
3. Chỉ khi nào mỗi người lãnh đạo thực hiện phần của mình trong công tác của Đức Chúa Trời thì toàn thể công việc mới hoàn tất.
4. Số lượng lớn loại lãnh đạo 2 trong giáo phái B đem lại sự tăng trưởng hơn vì có các nhà lãnh đạo tập trung vào việc truyền giảng Tin Lành. Điều này cho thấy càng có nhiều người lãnh đạo loại 2 trong hội chúng, thì càng có sự gia tăng về mặt số lượng.
5. Hãy trả lời câu của bạn. Bạn có thể khám phá ra rằng nhóm của bạn cần vun xới nhiều nhà lãnh đạo loại 2.
6.a. Các trưởng lão
b. Các người coi sóc
c. Người coi sóc
d. Chấp sự
7. Các sứ đồ, các tiên tri, các nhà truyền giảng Phúc âm các mục sư và giáo sư.
8. Có lẽ b,d và e.
9. Câu trả lời của bạn phải dẫn bạn đến chỗ để ý đến hiệu quả của phương pháp bạn đang theo.
10. Phần tóm lược của bạn có thể bao gồm các sự kiện này : Simôn, Phierơ và Anhrê
11. Điều này trình bày tầm quan trọng của việc mười hai môn đệ được chọn có thời gian thông công khắng khít và được Ngài huấn luyện vì công tác truyền bá Phúc Âm.
12. Hiển nhiên họ là ngư phủ. Khi Chúa Giêxu gọi họ theo Ngài, họ lập tức vâng phục, Giăng và Giacơ đang đánh các với cha của họ. Khi Chúa Giêxu kêu gọi họ, lập tức họ bỏ cha theo Ngài. Mathiơ đang ngồi ở sở thâu thuế. Khi Chúa kêu gọi ông, lập tức ông đứng dậy bỏ mọi sự mà theo Ngài. Giêxu gặp Philíp vâng phục ngay. Chúa chọn mười hai người giữa nhiều môn đồ theo Ngài. Ngài chọn Simôn, Phierơ, Anhrê, Giacơ ( con của Xêbêđê), Giăng Philíp, Bathêlêmy, Thôma, Mathiơ, Giacơ (con của Anhphê), Tha đê, Simôn người Canaan và Giuđa Ích ca ri ốt. ( Giuđa ích ca ri ốt là một môn đệ trong số mười hai không giữ lòng trung tín với Chúa nhưng phản Ngài). Trung tín trong một khoảng thời gian dài trước khi được chọn làm một trong mười hai sứ đồ.
13. Các câu trả lời a,b,c, f và g là đúng
14.a. Có thể huấn luyện được
15. Các câu trả lời b và d là sự áp dụng đúng.
các câu a và c KHÔNG áp dụng đúng.
16. Câu trả lời của bạn phải bày tỏ được rằng việc huấn luyện người lãnh đạo mới rất thiết thực làm cho công tác của Đức Chúa Trời được liên tục và Phúc âm lan rộng.
17. Gương mẫu của Chúa Giêxu dạy chúng ta rằng những người được huấn luyện có thể học tập qua sự hòa trộn tích cực với chúng ta trong sự giúp đỡ người khác. Nếu họ phạm lỗi, chúng ta có thể dùng những điều này để giúp đỡ họ. Qua sự làm gương của ta, chúng ta có thể cho họ thấy cách dẫn dắt người khác
18. b. Các kinh nghiệm cuộc sống mỗi ngày.
19. a. Lặp lại thường xuyên những gì bạn đã dạy về một chủ đề
b. Nhìn vào chủ đề từ nhiều quan điểm khác nhau và thêm vào những kiến thức mới mà bạn đã được dạy dỗ.
20. Hãy trả lời câu của bạn. Có nhiều tên bạn có thể gọi như 1. Các giá trị của chức vụ lãnh đạo theo hoàn cảnh, 2. Tầm quan trọng của sự ngay thẳng trong chức vụ lãnh đạo hoặc 3. Các phẩm chất của chức vụ lãnh đạo hoặc 3. Các phẩm chất của chức vụ lãnh đạo có tính cách phục vụ. Có lẽ bạn còn nghĩ đến các cách gọi khác.
21. a. Sự phản ảnh 3.
b.4. Kinh nghiệm bước vào chức vụ.
c. 3. Sự phản ảnh
d.1. Hình thành thuộc linh
e.4. Kinh nghiệm bước vào chức
f.1 Hình thành thuộc linh
g.2. Truyền đạt tri thức

THỰC HIỆN SỰ THAY ĐỔI VỀ MẶT TỔ CHỨC
Trong bài học này chúng ta tiếp tục nhìn vào cơ cấu tổ chức của các nhóm trong Hội Thánh địa phương và hoạt động của nó. James E. Hamill định nghĩa một tổ chức như sau : “ Sự cố ý cộng tác của một số người ao ước cùng hoàn tất điều gì đo hoặc nhận thức các mục tiêu chung nào đó” ( Zimmerman trang 435). Hamill tiếp tục cho biết rằng : “ Mục đích trường tồn và sứ mạng của Hội Thánh của Chúa Giêxu Christ là thờ phượng Đức Chúa Trời, cung phụng cho người tin và truyền tin lành cho thế giới. Nếu ai hoàn tất sứ mạng ấy, người đó phải nỗ lực và kết hợp với những người khác để thực hiện điều đó một cách hiệu quả nhất” ( trang 435).
Khi nghiên cứu sự thành lập và phát triển của Hội Thánh đầu tiên trong sách Công vụ, chúng ta đã thấy các nhà lãnh đạo Hội Thánh nỗ lực và kết hiệp với những người khác cùng thực hiện. Khi Hội Thánh tăng trưởng, đôi lúc cũng cần thay đổi về mặt tổ chức để không có một lãnh vực nào bị bỏ quên ( ví dụ xem Cong Cv 6:1-6).
Ngày nay, cũng như trong Hội Thánh ban đầu, các người lãnh đạo cần có sự thay đổi về mặt tổ chức trong Giáo hội. Đôi khi sự thay đổi đó có nhiều người chỉ trích. Bài học này giúp ta hiểu được sự năng động của việc thay đổi về mặt tổ chức hầu bạn có thể tránh được những lời bình phẩm tiêu cực và có ý hướng phá đổ. Hướng về mục tiêu này, chúng ta sẽ xem xét hai trường hợp học tập sau đó áp dụng những bước thích hợp để thực hiện sự thay đổi về mặt tổ chức có hiệu quả.
Dàn bài
Cơ cấu tổ chức trong Hội Thánh
Khi cần thay đổi có hai trường hợp học tập
Tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức

Khi hoàn tất bài học này bạn có thể :
Những mục tiêu bài học
Bàn thảo cơ cấu tổ chức khi liên hệ đến Hội Thánh địa phương
Nhận ra và kết luận nan đề bên trong một tổ chức.
Giải thích các bước liên quan đến việc thực hiện sự thay đổi hiệu quả.
Mô tả kỹ thuật để có sự thay đổi ổn định bên trong một tổ chức.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo thường lệ. Bạn có thể tìm thấy nhiều từ mới với bạn trong bài học này. Bạn phải tìm ra định nghĩa những từ này trong phần chú giải những từ then chốt ở cuối sách.
Làm bài kiểm tra và kiểm lại các câu trả lời của bạn ở phần cuối bài học.
Những từ then chốt
Brainstorm : nhanh chóng gom ý
Organization : tổ chức
Catalyst : người cổ động
Change agent : cộng tác viên
Change process : diễn trình thay đổi
Controversial : đang được tranh cãi
Diagnosis : lời kết
Facilitates : tạo thuận lợi cho
Measurable : có thể đánh giá được
Opinion leader : người lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng
Process helper : người thực thi diễn trình
Resource linker : người liên kết các nguồn
Resources : các nguồn cung ứng
Stabilize : ổn định
Structure : cơ cấu
Trusters : những người bảo quản tài sản
Phần triển khai bài học
Mục tiêu 1: Giải thích các chức năng quản trị của các người lãnh đạo Hội Thánh và tầm quan trọng của cơ cấu tổ chức trong Hội Thánh .
CƠ CẤU TỔ CHỨC TRONG HỘI THÁNH
Các gương mẫu trong Hội thánh thời Tân ước
Trong bài 10 chúng ta đã thấy nhiều loại lãnh đạo trong Hội thánh cùng những chức năng cơ bản của mỗi loại. Chúng ta đã thấy các người lãnh đạo trong Hội Thánh thông thường gồm những người chuyên nghiệp có hưởng lương và nhiều công nhân không chuyên tình nguyện. Bây giờ chúng ta cần tập trung vào khía cạnh quản trị của người lãnh đạo Hội Thánh và những người mang trách nhiệm với các chức năng nhẹ nhàng như các bạn ngành, và các chương trình của Hội Thánh.
Như chúng ta đã học, nhiều người lãnh đạo các Hội Thánh địa phương được đề cập đến trong Tân Ước :
1. Mục sư (Eph Ep 4:11) Trong tiếng Hi Lạp chữ này là poimen có nghĩa là “ người chăn bầy, một người chăm sóc đàn gia súc”.
2. Giám thị (ITi1Tm 3:1) Chữ Hi Lạp là episcopos đôi khi được dịch là giám mục.
3. Trưởng lão (Cong Cv 20:17) Đây có thể là những người giảng đạo không chuyên tự nguyện trong Hội Thánh. Điều này dường như sáng tỏ qua sách 20:17, 28. Ba chữ mục sư, giám mục và trưởng lão đều liên hệ đến những người có trách nhiệm chủ chốt trong Hội Thánh địa phương. Chúng ta hãy xem lại hai câu Kinh Thánh này :
Từ Milê, Phaolô sai người đến Eâphêsô mời các trưởng lão của Hội thánh đến. Khi họ đến nơi, ông nói với họ rằng ... “ Hãy giữ mình và cả bầy mà Đức Thánh Linh lập anh em làm giám mục. Hãy làm những người chăn bầy của Hội Thánh Đức Chúa Trời” ( Chữ in nghiêng do tác giả).
Hamill nhấn mạnh vai trò quản trị của mục sư như sau :
Mục sư là người quản trị chính về phương diện con người .... người quản trị được Đức Chúa Trời chỉ định về chương trình thuộc linh của Hội Thánh địa phương. Ông quản lý các mạng lệnh như báp têm, tiệc thánh. Ông hướng dẫn các nghi thức của Hội Thánh như tiệc cưới, đám tang, lễ dâng hiến, lễ nhận chức và ....phải quản lý sự thờ phượng, công tác, sự làm chứng của Hội Thánh. Mục sư chịu trách nhiệm về mặt tài chính.
Mục sư chịu trách nhiệm tuyển chọn, huấn luyện tổ chức, lôi kéo và hướng dẫn những công nhân tình nguyện cũng như được trả lương trong Hội Thánh.
4. Chấp sự : (6:1-6; ITi1Tm 3:8-13). Trong bài 4 hãy lưu ý chữ Hy Lạp là diakonia từ đó lấy ra chữ chấp sự nói đến việc phục vụ người khác trong các công tác thực tế. Các chấp sự trong Tân ước là những người kính sợ Chúa đảm nhiệm các nhiệm vụ phục vụ thực tế để mục sư có thể dành trọn vẹn thì giờ của mình cho sự cầu nguyện và rao lời. Một vài người như Philíp và Eâtiên cũng được Đức Chúa Trời sử dụng trong các chức vụ thuộc linh cho thân thể của Christ (xem Cong Cv 6:8, 8:5).
1. Đọc HeDt 13:17. Sau đó khoanh tròn các mẫu tự trước những câu đúng liên quan đến những sự dạy dỗ trong câu Kinh Thánh này.
a. Người lãnh đạo trong Hội Thánh như các mục sư có quyền bính trên các tín hữu trong Hội Thánh.
b. Vâng phục những người lãnh đạo là tạo ảnh hưởng tốt đối với những tín hữu khác.
c. Các người lãnh đạo trong Hội Thánh có trách nhiệm phải giải thích trước mặt Đức Chúa Trời về trách nhiệm của mình.
d. Trong quan điểm của Đức Chúa Trời người lãnh đạo Hội Thánh quan trọng hơn những thuộc viên.
e. Đức Chúa Trời đòi hỏi những tín hữu phải đầu phục các người lãnh đạo của Hội Thánh.

CÁC GƯƠNG MẪU NGÀY NAY
Sự quản trị của các Hội Thánh địa phương ngày nay giống với cơ cấu đã thấy trong Hội Thánh thời Tân Ước. Mặc dù không thấy sơ đồ tổ chức nào trong Tân ước, chúng ta không biết Hội Thánh có các nhà lãnh đạo mang vác trách nhiệm quản trị như lập kế hoạch, dẫn dắt, thực hiện các mục tiêu cho các nhóm trong Hội Thánh. Đôi lúc các ban, nhóm trong Hội Thánh làm việc chung với nhau để phục sự với các nhu cầu thuộc linh hoặc thực tế của dân sự Đức Chúa Trời.
Hình 11.1 cho thấy thế nào một Hội Thanh nhỏ và một Hội Thánh lớn có thể được tổ chức ngày nay để thực hiện các yêu cầu thực tế và công tác của cộng đồng Hội Thánh địa phương.
- TỔ CHỨC CỦA MỘT HỘI THÁNH NHỎ
Mục sư
Chấp sự ( thường là ba hoặc hơn)
Những người lãnh đạo các bạn
- TỔ CHỨC CỦA MỘT HỘI THÁNH LỚN
Đội ngũ Mục sư :
Mục sư
Mục sư phụ tá
Mục sư về giáo dục
Mục sư về âm nhạc
Mục sư về thanh thiếu niên
Quản lý sự vụ
Các Trưởng lão
Ban Chấp sự ( thường là bảy hay hơn)
Ban bảo quản tài sản
Những người lãnh đạo các ban ngành.
Bạn có thể thấy có phạm vị rất rộng lớn trong việc chọn lựa người lãnh đạo để thực hiện các chức năng quản trị của Hội Thánh. Trong các Hội Thánh nhỏ Mục sư có thể là người duy nhất dâng trọn thì giờ được Hội Thánh trả lương. Hội Thánh lớn hơn có thể được trả lương cho đội ngũ mục sư cũng như một thư ký, một người quản lý sách vở, người bảo vệ và những người chuyên môn khác. Như chúng ta đã thấy trong bài 10, một Hội Thanh tăng trưởng, dù lớn hay nhỏ tùy thuộc vào một số lượng lớn những người lãnh đạo, tình nguyện hướng dẫn các chức vụ khác nhau trong Hội Thánh.
Đội ngũ mục sư thường được mục sư của Hội Thánh lựa chọn. Một vài Hội Thánh có các chấp sự, họ cũng có chức năng bảo quản tú trì các tài sản của Hội Thánh, cũng như phương diện tài chánh. Các Hội Thánh khác có các Uûy ban riêng biệt để hoàn tất các công tác của những chấp sự và những nhân viên quản lý tu trì. Các ban này thường được hội chúng tuyển chọn phó. Mục sư là một thành viên của Uûy ban và thường làm chủ tọa.
Nhiều Hội thánh có sự liên kết lại để sở hữu tài sản. Mỗi một Hội Thánh này có một luật riêng trong việc cai trị tư cách của tín đồ, điều kiện để bước vào chức vụ lãnh đạo và sự quản trị Hội Thánh. Các tín hữu tham gia nhóm họp và biểu quyết về các vấn đề liên quan vấn đề chi tiêu của Hội Thánh như mua bán tài sản hoặc những vấn đề khác. Họ cũng có thể bỏ phiếu chọn một câu mục sư hay các nhà lãnh đạo khác trong Hội Thánh.
2. Liệt kê vào một tờ giấy rời vị trí lãnh đạo tình nguyện hay được trả lương trong Hội Thánh của bạn và chức năng của các người lãnh đạo trong từng vị trí.
3. Hội Thánh bạn có những chức vụ nào trong những chức vụ này?
a. Một mục sư được trả lương hoặc một đội ngũ mục sư
b. Các trưởng lão
c. Các chấp sự
d. Những người bảo quản tu trì tài sản
e. Những người lãnh đạo các ban ngành
f. Luật riêng
g. Số tín hữu trong Hội Thánh
h. Người chủ hữu tài sản
Hiển nhiên là các giám mục của một Hội Thánh địa phương có một trách nhiệm rất lớn trong việc điều hành các chi tiết quản trị theo thực tế công việc. Họ phải hoàn toàn liêm khiết trong việc quản lý tài chánh của Hội Thánh cũng như các tài sản khác. Họ không chỉ chịu trách nhiệm trước các tín đồ mà còn phải chịu trước mặt Đức Chúa Trời nữa !
4. Xem xét những gì chúng tôi đã nói trong phần đầu của chương này cũng như phần vừa đề cập đến và hoàn chỉnh các câu dưới đây :
a. Sự quản trị của một Hội Thánh địa phương trước hết là trách nhiệm của
.......
b. Hai lý do tại sao một Hội Thánh địa phương muốn được liên kết và có bộ luật riêng là :
............
c. Một định nghĩa một tổ chức như đã được áp dụng cho Hội Thánh địa phương là :
..............
Mục tiêu 2: Nhận ra lý do tại sao sự thay đổi về mặt tổ chức trong trường hợp B bất thành .
KHI CẦN THAY ĐỔI : CÓ HAI TRƯỜNG HỢP HỌC TẬP
Trường hợp học tập A
Roger và Doug ngồi với nhau suốt giờ giải lao tại một hội đồng các mục sư của khu vực. Roger làm mục sư của một Hội Thánh trong một thành phố có khoảng 200 tín hữu, còn Dong là một mục sư tiên phong của một Hội Thánh nhỏ trong một vùng ngoại ô.
Roger nói : “ Thật khó giữ một Hội Thánh tăng trưởng trong thành phố những ngày này. Có rất nhiều thành viên của chúng ta đã dời ra khỏi thành phố và gia nhập vào các Hội Thánh ngoại ô”.
Doug đáp lời không muốn nhận, nhưng điều này thật sự giúp đỡ chúng tôi để có thêm nhiều thành viên của anh được kia gia nhập Hội Thánh của tôi. Thật khó để đem những người không tin trở lại ăn năn. Phần lớn các Hội Thánh tăng trưởng của chúng tôi năm nay do các tín hữu chuyển đến các Hội Thánh khác”.
Họ bỏ dở câu chuyện khi một mục sư quản nhiệm khu vực của họ đến. “ Hai ông có khoe không?” Fred hỏi. Ông là mục sư của một thành phố lớn có chương trình huấn luyện người lãnh đạo vững vàng.
Roger nói : “ Chúng tôi chia xẻ với nhau một trận chiến còn tồn đọng trong những ngày này. “ Anh có thể gởi những người lãnh đạo có năng lực đến giúp chúng tôi trong các chương trình của thanh niên không?”
Fred trả lời : “ Chúng ta ai cũng có năn đề. Nan đề chính của tôi tất cả các thanh niên hiện nay đang ở trong chương trình huấn luyện của chúng tôi đều muốn chuyên sâu trong âm nhạc hoặc có đi nữa thì họ chưa đủ trưởng thành để được sai đi. Tôi xin lỗi vì bây giờ chưa sai ai đi được.
Ba năm su ba nhân vật này lại ngồi chung bàn, suốt kỳ hội đồng khác. “ Sao rồi?” Doug hỏi Roger “ Hội chúng của anh còn đi ra ngoại ô không?”
Roger vừa cười vừa trả lời : “ Anh muốn nói hội chúng nào? Anh muốn biết về công tác của chúng tôi với nhóm người khác tứ tiếng nội thành, hay nhóm sinh viên đại học, nhóm độc thân, nhóm phụng vụ thờ phượng ngày Chúa nhật, hay trung tâm huấn luyện thị thành?
Doug thở ra. “ Trong vòng ba năm mà anh đã thành lập được các nhóm ấy rồi sao? Anh làm cách nào vậy?”
Roger bắt đầu giải thích : “ Sau kỳ hội đồng ba năm trước trở về, tôi đã dành thì giờ, cầu nguyện nhiều. Tôi bị thuyết phục phải thay đổi chiến thuật và tổ chức của Hội Thánh. Tôi khai triển xoay quanh vấn đề sự giảm sút của Hội Thánh và đưa ra các kế hoạch khó và liều lĩnh. Đến nay Hội Thánh của chúng tôi đã thực hiện được 50 phần trăm các kế hoạch ấy và sự tăng trưởng của Hội Thánh chúng tôi sống động trở lại. Số tín hữu dần dần tăng lên, bây giờ tôi bận rộn với công tác huấn luyện.
Họ đứng dậy và tiếp tục phần việc tiếp tục theo cùng với các mục sư khác.” Roger ơi, ta có thể nói chuyện với nhau vào bữa ăn trưa này nhé?” Dough hỏi với vẻ mặt đầy tư lự.
Trường hợp học tập B
Stan là một mục sư phụ tá trong một Hội Thánh đang tăng trưởng. Vai trò của ông là đoán trước các nhu cầu của hội chúng đang phát triển và xem xét các hiệu quả thực tế như tìm kiếm và huấn luyện người cho các lớp học mới. Nhiều lần ông được thuyết phục Hội Thánh cần một nhà thờ mới trong khoảng một hay hai năm sắp đến.
Hội Thánh đã gặp một vài nan đề vào những dịp đặc biệt đã không đủ chỗ chứa. Stan cũng thấy trước sẽ có một ngày kia ngay cả buổi nhóm thờ phượng mỗi Chúa Nhật cũng sẽ không đủ chỗ. Ông chia xẻ điều này với vị mục sư cao niên hơn và được phép thảo luận vấn đề này với một kiến trúc sư. Một vài tháng sau, Stan trở lại với vị mục sư nọ với một kế hoạch rất tốt đẹp hầu đáp ứng nhu cầu của hội chúng trong nhiều năm tới. Vị mục sư đồng ý để cho Stan trình bày kế hoạch cho các tín hữu trong Hội Thánh vào buổi nhóm công tác sắp đến của họ.
Stan đã nhiệt tâm trình bày kế hoạch của mình trong buổi nhóm công tác ; tuy vậy, ông không chuẩn bị trước phản ứng của các thành viên. Bình thường mà nói, họ không thích thú gì với lời đề nghị của ông. Nhiều người phản ứng chống lại và bắt đầu có những lời cáo buộc Stan. Cú sốc cuối cùng đến với Stan khi mục sư cao niên kết thúc buổi thảo luận và hoãn lại vấn đề này ít nhất là ba năm nữa. Stan rời buổi họp trong sự xúc động mạnh và sỉ nhục. Ông đã làm đơn từ chức sau đó.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI TRƯỜNG HỢP
Ở đây có hai trường hợp rất khác biệt thử thực hiện sự thay đổi về mặt tổ chức. Một trường hợp thành công, còn trường hợp kia là tai họa. Sự khác biệt ở đây là gì? Có phải kế hoạch của Stan tạo ra sự tranh luận hơn kế hoạch của Roger không?
Sự khác biệt chính giữa hai bối cảnh là kế hoạch thay đổi năng động. Trường hợp A có còn B thì không. Roger hiểu được tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức và thành công khi thực hiện khải tượng của mình. Đây là các nguyên tắc mà mọi người lãnh đạo cần biết vì tất cả đều gặp sự thay đổi này. Nếu Stan hiểu và áp dụng các nguyên tắc này, ông đã có thể tránh thoát những sự việc đau lòng. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ xét đến tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức này. Chúng ta cũng sẽ lưu ý đến nhiều yếu tố dẫn đến sự thành công hay thất bại trong hai trường hợp tập nêu trên và học tập thực hiện công tác này một cách hiệu quả.
5. Tại sao sự thay đổi có tính cách tổ chức trong trường hợp B lại bất thành?
............
...........
Mục tiêu 3: Mô tả các bước gồm tóm trong tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức
TÍNH NĂNG ĐỘNG CỦA SỰ THAY ĐỔI THUỘC VỀ TỔ CHỨC
Bước 1 : Kết luận vấn đề
Mục tiêu 4: Chọn lọc các hành động theo thứ tự đem lại sự thay đổi về phương diện tổ chức
Bước đầu tiên tạo ra sự thay đổi là phải xác định chính xác vấn đề. Bằng cách hỏi một số câu hỏi liên quan đến 1/ bản chất của vấn đề 2/ Lịch sử vấn đề 3/ Những ai chịu ảnh hưởng bởi nan đề ấy 4/ Mối liên hệ của vấn đề với những người còn lại trong tổ chức và nhiều câu hỏi khác. Nếu bạn không thể định nghĩa nan đề một cách rõ ràng, bạn khó có thể đem lại sự thay đổi ngõ hầu giải quyết cách ổn thỏa. Khi một chiếc máy không chạy trơn tru, người thợ máy phải xác định được bộ phận nào liên quan. Anh ta sẽ không thay đại các bộ phận nào đó rồi hi vọng phương pháp của mình dầu tình cờ nhưng lại có hiệu quả ! Chúng ta phải kết luận một cách chính xác và nhận ra nan đề thực thụ của ta là gì trước khi xử lý.
Bạn sẽ ngạc nhiên khi khởi sự quan sát một hoàn cảnh và xác định các sự kiện. Thông thường có những yếu tố cơ bản và những yếu tố này rất quan trọng. Trong trường hợp B khi Stan trình bày kế hoạch xây dựng một nhà thờ mới trước các tín hữu trong Hội Thánh ông đã không xem xét đến sự kiện mà vị mục sư cao niên kia đã có kế hoạch hồi lại ba năm nữa. Bởi điều này, ông mục sư đã không chuẩn bị về việc bất đồng ý kiến có thể gây ra đổ vỡ trong khi ông còn là mục sư. Hãy lưu ý rằng chính ông đã kết thúc buổi thảo luận ! Một khi ông nhận biết rằng các thành viên chống đối kế hoạch xây dựng, ông thay đổi sự ủng hộ của mình trước kia và bắt đầu xem lại “ Kế hoạch của Stan”.
Có một vài yếu tố then chốt khác mà Stan đã không để ý nhưng lại rất quan trọng đối với mục sư cũng như các thành viên khác. Một năm trước hội chúng đã dâng một số tiền đặc biệt để bù vào số nợ khi xây dựng kiến ốc đang sử dụng khiến cho vấn đề tài chánh trong Hội Thánh đỡ căng thẳng. Nay hội chúng không muốn có bất kỳ chương trình xây dựng nào đang khi vị mục sư cao niên kia vẫn còn tại chức.
6. Dựa trên bài học mà chúng tôi đã đưa ra, trình bày điều mà Stan cần biết :
a. Bản chất của vấn đề.
.......
b. Lịch sử của vấn đề.
...........
c. Những người bị vấn đề đó tác động.
...........
d. Vấn đề đó liên quan thế nào với những người còn lại trong tổ chức.
........
Bạn có kinh nghiệm đi khám bệnh, khi nói tôi đau ở đây, nhưng bác sĩ chỉ hỏi một vài câu hỏi dường như không liên quan gì đến sự đau đớn của bạn chưa? Ví dụ bạn bị tấy đó ở đầu gối nhưng bác sĩ lại hỏi bạn về thức ăn bạn đã dùng hay kiểm tra tim của bạn ! Hành động như vậy vì ông đã học tập phải cần trong nước khi đưa ra những kết luận chăn xéc. Đầu gối của bạn có thể do các vấn đề khác.
Cũng vậy, chúng ta phải cần thận không vội vã quyết định dựa trên những gì trước mắt. Bạn thường tìm thấy nan đề ở một điểm thứ yếu hay đang dấu kín. Trong trường hợp B, vấn đề dường như là nhà thờ đã quá chật. Nhưng nan đề nằm ở chỗ các thành viên thiếu tin cậy vị mục sư đã có gần ba mươi năm trong chức vụ.
Chúng ta thấy một gương mẫu trong Kinh Thánh về một người nắm giữ một ẩný kín dấu bên trong. Trước hết, Giôna đã chạy trốn và không nhận sự chỉ định đi rao giảng cho thành Ninive vì sợ sự độc ác và tàn bạo của dân cư thành ấy (Gion Gn 1:1-3). Thực tế ông chạy trốn vì ông biết người Assiri sẽ ăn năn và trở về với Đức Chúa Trời (4:1-2). Giôna thích chết hơn là thấy kẻ thù của xứ sở mình nhận được sự thương xót của Đức Chúa Trời ! Ông thừa nhận lý do thật chỉ khi Đức Chúa Trời xử lý.
Ở đây có một vài câu hỏi giúp bạn kết luận vấn đề cụ thể cho một hoàn cảnh xảy đến với Hội Thánh và thu lượm được một sự hiểu biết đầy đủ mặt trái của vấn đề.
1. Các mục đích tổng thể dành cho Hội Thánh là gì?
2. Ai hệ thống hóa các mục đích này?
3. Có phải đây là các mục đích thực sự của Hội Thánh?
4. Các mục đích này có thực tế hay không?
5. Các mục đích này có thể đánh giá được không?
6. Các mục đích này có bao gồm mọi lãnh vực trong Hội Thánh không?
7. Hội Thánh có đảm nhận các mục đích này không?
8. Có phương cách nào hữu hiệu giúp đạt được các mục đích này không?
9. Các thành viên trong Hội Thánh có kết hiệp cùng các người lãnh đạo thảo luận công khai các mục đích này không?
10. Hội Thánh có xếp đặt chu đáo để đạt các mục đích này không?
11. Tổ chức Hội Thánh có dễ thay đổi không?
12. Hội Thánh có cần tài chánh để đạt đến mục tiêu không?
13. Có đủ thành viên để đạt đến mục tiêu không?
14. Những phương tiện hiện có đủ đáp ứng cho tương lai gần đây không?
15. Các thành viên có được khích lệ gì khi đã đóng góp vào việc thành đạt các mục đích của Hội Thánh không?
17. Có phải nan đề vừa mới xuất hiện không?
18. Ai trong Hội Thánh đồng ý cho nan đề ấy hiện hữu?
19. Các ban khác trong Hội Thánh có lâm vào nan đề ấy không?
20. Nan đề ấy có cần giải quyết ngay không?
7. Giả sử Stan đã hiểu được tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức. Bắt đầu với số 1 là bước khởi đầu, hãy đánh số các bước kế tiếp hầu giải quyết một nan đề theo thứ tự ưu tiên.
....a. Tìm sự giúp đỡ của các chi thể khác.
....b. Xem xét vấn đề khi nó liên hệ đến toàn thể kế hoạch của Hội Thánh.
....c. Tìm kiếm các nan đề phụ thuộc ( thứ yếu)
....d. Nhấn mạnh đến những lợi ích hơn là những bất lợi mà sự thay đổi có thể gây ra.
....e. Hãy nói chuyên với mọi người bị ảnh hưởng bởi nan đề đó.
....f. Oân lại lịch sử của Hội Thánh.
....g. Quyết định nan đề đó thực sự là gì?
Mục tiêu 5: Chọn một hành động là vai trò của một người cổ động, người đưa ra cách giải quyết, người liên kết các nguồn, người thực diễn trình .
Bước 2 : Nhận ra những cộng tác viên
Một cộng tác viên là một người giúp đỡ thực thi sự thay đổi đã được trù hoạch. Ai lãnh đạo đều có các thay đổi, nhưng chữ then chốt của câut trên là được trù hoạch. Sự thay đổi thành công là sự thay đổi đã được trù hoạch. Tiến trình thay đổi là cách mà các sự thay đổi đã được lên kế hoạch phát triển.
Những nhà chuyên môn trong lãnh vực thay đổi năng động này cho chúng ta thấy nhiều loại người khác nhau liên quan đến diễn trình thay đổi : đối với những người lãnh đạo không chỉ là một vấn đề đơn giản của việc khải tượng hay một tư tưởng tốt và mong muốn hội cúng chấp nhận. Cộng tác viên phải biết những vai trò nào cần cho tiến trình thay đổi và tìm người giữ các vai trò đó. Ông Ronald G. Havelock đề nghị có bốn loại người quan trọng và người lãnh đạo phải làm việc với họ. Họ là người cổ động, người liên kết các nguồn và người thực thi diễn trình. Chúng ta hãy xem mỗi một loại chức năng này hoạt động như thế nào.
1. MỘT NGƯỜI CỔ ĐỘNG : Thông thường, ít ai muốn thay đổi. Họ thích giữ nguyên đường lối cũ ( hiện trạng) thay đổi là phá đổ và gây nhiều phiền phức. Vì lý do này, cần có người cổ động. Họ là những người có khả năng thuyết phục “ hiện trạng” và giúp mọi người bàn thảo vấn đề.
Người cổ động không đưa ra tất cả các đường lối để giải quyết một vấn đề. Họ cũng không thực sự tạo ra sự thay đổi. Vai trò chủ yếu của họ là nhấn mạnh đến yêu cầu cần phải có sự thay đổi. Họ giúp mọi người thấy được những nhược điểm trong bối cảnh hiện tại hoặc những nan đề mà nó tạo ra. Ví dụ một người có cổ động có thể loan báo cho các thành viên trong Hội Thánh biết về việc nhiều sinh viên ngoại quốc đang nhóm lại bị sự phá giá tiền tệ tại đất nước của họ tác động. Kết quả sau khi nhận được sự thông báo này, các thành viên nhận thức rằng cần phải giúp đỡ các sinh viên.
8. Trong trường hợp B, trong những vấn đề dưới đây vấn đề nào là vai trò của người cổ động?
a. Đề nghị giải quyết nan đề không có đủ chỗ cho các buổi sinh hoạt của Hội Thánh.
b. Thuyết phục các thành viên khác hầu cho họ có thể đưa ra một kế hoạch xây dựng.
c. Đề nghị mục sư chấm dứt các buổi hội họp đặc biệt để tránh tình trạng quá đông đúc.
d. Giúp cho các thành viên biết rằng nếu Hội Thánh tiếp tục phát triển chỗ nhóm lại cần được nới rộng.
2. NGƯỜI ĐỀ XƯỚNG CÁCH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Phần lớn các thành viên trong Hội Thánh đều có những ý hướng xác định để giải quyết các nan đề trong Hội Thánh nhưng hiếm khi nào họ nói ra. Một người đề xướng cách giải quyết nan đề có thể đưa ra nhiều ý có giá trị giải quyết vấn đề. Người cộng tác cần chất vấn các thành viên trong Hội Thánh một cách cẩn thận để tập hợp các cách giải quyết khác nhau. Nhiều người có ân tứ biện biệt có thể có những đề nghị hữu ích. Những thành viên khác có nhiều kinh nghiệm trong Hội Thánh đã từng hiểu cách giải quyết cùng nan đề ấy một cách thành công trước kia. Một trong những thành viên này có thể cung cấp chìa khóa giải quyết vấn đề của bạn.
9. Câu nào trong những câu này có thể là cách giải quyết của người đề xướng trong trường hợp học tập B?
a. “ Hội thánh mà tôi thường đến nhóm có nan đề này và đã giải quyết bằng cách chia buổi thờ phượng sáng Chúa nhật thành hai xuất nhóm để đủ chỗ chứa”.
b. “ Trong ba năm chúng tôi sẽ không thể nào sắp xếp để có đủ chỗ ngồi cho mọi người đến tham gia nhóm họp”
c. “ Chúng ta sẽ bắt đầu tích lũy quỹ xây dựng từ bây giờ để có điều kiện nới rộng chỗ nhóm của chúng ta hai hay ba năm tới”.
d. “ Hội Thánh của chúng ta đã đủ chỗ rồi, cứ để vậy đi”.
3. NGƯỜI LIÊN KẾT CÁC NGUỒN: Một yếu tố quan trọng trong tiến trình thay đổi là trao đổi các ý tưởng và nguồn cung ứng với các nhóm khác. Khi nghiệm xét bối cảnh trường hợp học tập A chúng ta khám phá một vài ý giúp ta hiểu được sự thành công của Roger. Chúng ta thấy Roger sai một trong những người lãnh đạo xuất sắc để ra ba tuần lễ đến học tập với các nhà lãnh đạo của một Hội Thánh đã đối diện với cùng một vấn đề. Roger đã khám phá những người lãnh đạo của mình và qua đó có thể sử dụng một vài ý tưởng và các nguồn cung ứng cho Hội Thánh của mình. Phương cách các chi thể của thân thể Đấng Christ chia xẻ các kinh nghiệm của họ là một sự hòa trộn trách nhiệm Cơ Đốc và ý thức chung.
Vì vậy người liên kết các nguồn là người nối kết nhóm của bạn với các nhóm khác để có lợi ích hỗ tương. Mỗi nhóm có các kỹ năng, kinh nghiệm, sự phong phú và sự hiểu biết đặc biệt có giá trị đối với người khác. Ví dụ trong trường hợp học tập B, nếu Stan chia xẻ khải tượng của mình với các thành viên khác trong Hội Thánh ông có thể khám phá rằng con trai của một tín đồ hữu nọ là chủ tịch của ban xây dựng cho một Hội Thánh gần đó. Một hệ thống như vậy sẽ rất hữu ích cho Stan.
10. Trong trường hợp học tập A, ai là người liên kết các nguồn
a. Một thành viên ít ai biết đến trong Hội Thánh.
b. Roger
c. Người lãnh đạo đã đến bàn hỏi với các nhà lãnh đạo của Hội Thán khác.
d. Những người lãnh đạo của Hội Thánh kia.
4. NGƯỜI THỰC THI DIỄN TRÌNH : Một người thực thi diễn trình là người giúp cho sự thay đổi dễ dàng hơn. Nói cách khác, anh ta nắm bắt các ý kiến cũng như cách giải quyết được nhóm trình bày và cho nhóm biết làm thế nào để 1/ nhận thức được vấn đề, 2/ đưa ra một số cách giải quyết khác nhau, 3/ chọn cách giải quyết tốt nhất, 4/ thực hiện sự thay đổi, 5/ đánh giá các kết quả sau khi đã có sự thay đổi và 6/ ổn định sự thay đổi.
Một vài thành công của trường hợp học tập A có được vì Roger sử dụng một người thực thi diễn trình rất hiệu quả. Một trong các thành viên trong Hội Thánh là Tiến sĩ Maria Hall đã có một khả năng đặc biệt trong việc nhận thức và định nghĩa vấn đề đánh giá các cách giải quyết và đòi hỏi các nguồn cung cấp cần thiết cho một kế hoạch như vậy. Là một nhà quản lý hành chánh của giáo phái cô đã liên kết với một hệ thống lãnh đạo hữu hiệu. Sự thật mà nói, Roger sẽ không đạt được mục tiêu của mình nếu không có sự giúp đỡ của cô Hall. Người thực thi diễn trình là thành phần chủ yếu của tiến trình thay đổi. Tổ chức càng lớn yêu cầu đối với người thực thi diễn trình càng cao hầu thực hiện được những thay đổi trong Hội Thánh. Lý do là vì các vân nạn càng trở nên phức tạp hơn khi thay đổi một tổ chức lớn hơn và khó thay đổi hơn.
11. Vai trò của người thực thi diễn trình là quan trọng nhất
a. Vào lúc khởi sự diễn trình thay đổi
b. Trong việc đánh giá các kết quả của sự thay đổi sau khi đã hoàn tất
c. Suốt diễn trình từ đầu đến cuối.
12. Xếp đặt cho phù hợp mỗi một cộng tác viên với chức năng của anh ta
....a. đưa ra những ý kiến có giá trị để có sự thay đổi cần thiết
....b. nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải thay đổi
....c. liên kết nhóm này với nhóm khác để có lợi ích hỗ tương
....d. cho biết cách làm thế nào để nhận ra các nan đề và giải quyết.
1. người cổ động
2. người thực thi diễn trình
3. người liên kết các nguồn
4. người đề xướng cách giải quyết vấn đề.
Mục tiêu 6: Đề nghị các câu hỏi yêu cầu để chọn lọc trong một hoàn cảnh nào đó .
Bước 3 : Chọn một giải pháp
Sự thay đổi thường liên quan đến việc chọn lọc giữa hai hay nhiều vấn đề. Để có một sự thay đổi thành công bí quyết đơn giản là chọn lấy điều tốt nhất có sẵn ! Hãy lưu ý hành động đầu tiên của Rôbôam khi nối nghiệp cha mình là Salômôn, vua của dân Ysơraên ( xem IVua 1V 12:1-15). Dân sự đã đến yêu cầu ông giảm nhẹ những đòi hỏi mà Salômôn đặt để trên họ. Để trả lời ông xin ba ngày để xem xét vấn đề. Trước hết, ông bàn bạc với các trưởng lão đã phục vụ cha của ông và họ khuyến ông nên theo lời yêu cầu của dân sự. Nhưng Rôbôam từ chối lời khuyên của họ và bàn bạc với những thanh niên đang phục vụ ông. Họ khuyên ông phải cứng rắn hơn Salômôn. Bây giờ Rôbôam có hai ý kiến để chọn ra một giải pháp. Rủi thay, ông đã chọn lầm. Khi ông loan báo cho dân dự rằng ông có ý định gia tăng những đỏi hỏi của mình, các chi phái phía bắc đã nổi loạn. Mười chi phái ấy đã hình thành nước Ysơraên và bỏ lại hai chi phái hình thành nước Giuđa. Sau đó họ đã lập Giêrôbôam làm vua của họ (12:16-20).
Đôi lúc các nhà lãnh đạo thấy khó khai triển các giải pháp khác nhau để chọn ý kiến tốt nhất. Chúng tôi muốn đưa ra một vài nguyên tắc giúp bạn hình thành một số ý từ đó bạn có thể đưa ra quyết định cuối cùng :
Trước hết, phải ghi nhớ rằng hiếm có một giải pháp lý tưởng. Mỗi một giải pháp theo một ý nghĩa nào đó là một sự hòa giải. Hãy ghi nhớ bảy chữ này, nó sẽ giúp bạn không bị căng thẳng trong chức vụ lãnh đạo của mình : không có một giải pháp lý tưởng ! Vì mỗi một giải pháp là một sự hòa giải, kế hoạch hành động tốt nhất có thể được làm gom góp các giải pháp khác nhau từ đó chọn một.
Thứ hai, trong việc tìm tòi các giải pháp khác nhau, đừng quá để ý đến những chướng ngại có thể xảy ra như giá cả, sự thiếu hụt của ban lãnh đạo, cần có bãi đậu xa, giới hạn thời gian hoặc những yếu tố tiêu cực khác. Đến giai đoạn này hãy xem xét các ý kiến có thể giải đáp câu hỏi như : “ Giải pháp tốt nhất cho nan đề này là gì nếu không có một chướng ngại nào phải vượg qua?”
Thứ ba, nhanh chóng gom ý ( braistorm) của các thành viên khác của nhóm. Đây là một cách hữu hiệu để có các ý kiến. Khi gom góp các ý kiến, các thành viên của nhóm được khích lệ để đưa ra mọi ý kiến họ suy nghĩ đến để giải quyết vấn đề. Họ đưa ra bất cứ lời đề nghị nào họ có được cùng phát biểu những nhược điểm của từng ý kiến. Người lãnh đạo cố gắng giữ các ý kiến xoay vần và khích lệ sự thay đổi các đề nghị trước kia. Dĩ nhiên có một vài ý kiến không thực tế, nhưng những ý kiến khác có thể là những ý đã được thảo luận nhiều dẫn đến một giải pháp rất sáng tạo.
13. Các ý kiến sau đây là kết quả góp ý của một nhóm nhỏ cần một chỗ nhóm thờ phượng. Hãy nêu thêm hai hay ba lời đề nghị của bạn.
Mua đất và xây dựng
Thuê một ngôi nhà hàng tháng
Hợp đồng thuê một căn nhà
Dùng một căn nhà trong trường học
Nhóm lại tại các tư gia khác nhau
Sử dụng một cái nhà nguyện làm đám tang
Ý kiến khác ..................
..............
.................
Hãy suy nghĩ về trường hợp học tập A. Roger có nhiều biện pháp giải quyết đối với tình trạng suy thoái của Hội Thánh nội thành. Ông loại bỏ một vài ý kiến không thực tế và quyết định chọn lọc biện pháp cuối cùng qua các ý sau :
Giải pháp 1: Roger đánh giá các ưu khuyết điểm chức vụ hiện tại của mình trong giáo phái đang sinh hoạt. Ông đã là thành viên của giáo phái mười năm rồi. Trong thời gian này tâm linh ông lớn lên và trưởng thành. Tuy nhiên, trong các lãnh vực huấn luyện người lãnh đạo, truyền giáo, chức vụ giao lưu văn hóa, truyền đạo trong thành phố, các phương diện này ông chưa được giáo phái giúp đỡ. Vì vậy, sự lựa chọn đầu tiên của Roger là ra khỏi giáo phái và đến một nhóm hăng say phổ biến Tin Lành hơn, ở đây ông sẽ dâng mình làm một mục sư cho một Hội Thánh trong thành phố.
Giải pháp 2 : Ý kiến thứ hai là thiết lập một trung tâm huấn luyện độc lập cho công tác trong thành phố để phát triển những người lãnh đạo cùng những người được huấn luyện nhờ các Hội thánh Tin lành và các nhóm truyền giáo. Kế hoạch sẽ liên kết với các học viên huấn luyện hiện có, tại đây những người được huấn luyện sẽ học tập chuyên biệt về một vấn đề. Các học viên sẽ thu nhận kinh nghiệm thực tế phục vụ qua các Hội Thánh các thành phố, các nhóm truyền giáo và các học viên huấn luyện khác. Tài chánh nhờ vào số lệ phí, các Hội Thánh giúp đỡ, các bạn hữu ủng hộ và các nguồn khác. Những người được chọn sẽ hoạt động như những người thực thi diễn trình và liên kết trung tâm với các tổ chức khác trong khắp đất nước.
Giải pháp 3 : Điểm thứ 3 mà Roger phải chọn là cứ ở trong Hội Thánh hiện tại và xác định lại các mục tiêu công tác. Ông bắt đầu suy nghĩ những chi tiết của mục đích này :
a. Thực hiện công tác giao lưu văn hóa
b. Thu về một số lợi tức bằng cách thuê các phương tiện của Hội Thánh để tổ chức lớp học nhạc suốt tuần.
c. Bắt đầu huấn luyện một số thanh niên trong Hội Thánh trên căn bản một một. Khi Roger suy nghĩ đến điều này, ông nhận biết đã có hai Hội Thánh cũng trong giáo phái của ông đang vận dụng loại công tác này. Ông có thể sai một trong những người lãnh đạo của mình để xem xét theo dõi các chương trình của họ.
Giải pháp 4 : Ý kiến cuối cùng là từ chức mục sư và kiếm một công việc làm tạm thời. Cùng lúc ấy, ông sẽ thu lượm các tin tức và tìm hiểu nhu cầu huấn luyện các chức vụ Cơ Đốc trên quốc gia mình. Sau đó ông sẽ ghi tên vào học viên huấn luyện một phần thời gian. Ông cũng có thể làm việc tạo được tín nhiệm và có dịp trở nên một phần của những người lãnh đạo trọn thời gian.
14. Bạn có thể suy nghĩ ra ý kiến thứ 5 mà Roger có thể lưu ý đến?
Bây giờ đến lúc Roger chọn một trong các giải pháp đã nêu ra. Để tập hợp các ý kiến lại với nhau và để sửa soạn một vài nền tảng hầu đánh giá mỗi một giải pháp. Roger vẽ lại họa đồ hình 11.2. Ông đánh giá vấn đề với tỉ lệ 0 đến 5, số 0 tương ứng với ý kiến vô giá trị và số 5 tương ứng với giá trị cao nhất. Sau khi ghi điểm đánh giá trị cho mỗi ý kiến, ông tìm được một giải pháp tốt nhất.
- LOẠI DO LƯỜNG
Gia đình tôi có đồng ý?
Nó giúp ích cho bao nhiêu người?
Có bằng cớ nào đem lại hiệu quả không?
Có phải là kế hoạch dài hạn?
Có bao nhiêu cố vấn của tôi ủng hộ ý kiến này?
Có thể nào thử thách trong một thời gian ngắn không?
- GIẢI PHÁP
Số 1: 1, 3, 1, 3, 1, 3 = 12
Số 2: 2, 4, 2, 4, 2, 2 = 17
Số 3: 5, 5, 4, 5, 4, 1 = 24
Số 4: 2, 2, 2, 2, 2, 4 = 14
Giải pháp thứ ba, tức là vẫn cứ ở trong Hội Thánh và tái lập lại công tác của mình, là ý kiến tốt nhất của Roger. Bây giờ ông tập trung ý đã được chọn lọc này và phát họa chương trình thay đổi năm năm và sau đó bắt đầu thực hiện.
15. Tất cả các câu hỏi trong hình 11.2 bàn đến những phương diện thực tế hơn xem giải pháp nào là đúng. Dựa trên hoàn cảnh của riêng bạn, bạn có thể suy nghĩ về các câu hỏi khác cần phải thẩm tra. Bạn có thể suy nghĩ về các câu hỏi khác mà Roger phải đặt vấn đề liên hệ đến các phương diện thuộc linh không?
.................
...................
Bước 4 : Thắng hơn sự chống đối

THỰC HIỆN SỰ THAY ĐỔI VỀ MẶT TỔ CHỨC
Trong bài học này chúng ta tiếp tục nhìn vào cơ cấu tổ chức của các nhóm trong Hội Thánh địa phương và hoạt động của nó. James E. Hamill định nghĩa một tổ chức như sau : “ Sự cố ý cộng tác của một số người ao ước cùng hoàn tất điều gì đo hoặc nhận thức các mục tiêu chung nào đó” ( Zimmerman trang 435). Hamill tiếp tục cho biết rằng : “ Mục đích trường tồn và sứ mạng của Hội Thánh của Chúa Giêxu Christ là thờ phượng Đức Chúa Trời, cung phụng cho người tin và truyền tin lành cho thế giới. Nếu ai hoàn tất sứ mạng ấy, người đó phải nỗ lực và kết hợp với những người khác để thực hiện điều đó một cách hiệu quả nhất” ( trang 435).
Khi nghiên cứu sự thành lập và phát triển của Hội Thánh đầu tiên trong sách Công vụ, chúng ta đã thấy các nhà lãnh đạo Hội Thánh nỗ lực và kết hiệp với những người khác cùng thực hiện. Khi Hội Thánh tăng trưởng, đôi lúc cũng cần thay đổi về mặt tổ chức để không có một lãnh vực nào bị bỏ quên ( ví dụ xem Cong Cv 6:1-6).
Ngày nay, cũng như trong Hội Thánh ban đầu, các người lãnh đạo cần có sự thay đổi về mặt tổ chức trong Giáo hội. Đôi khi sự thay đổi đó có nhiều người chỉ trích. Bài học này giúp ta hiểu được sự năng động của việc thay đổi về mặt tổ chức hầu bạn có thể tránh được những lời bình phẩm tiêu cực và có ý hướng phá đổ. Hướng về mục tiêu này, chúng ta sẽ xem xét hai trường hợp học tập sau đó áp dụng những bước thích hợp để thực hiện sự thay đổi về mặt tổ chức có hiệu quả.
Dàn bài
Cơ cấu tổ chức trong Hội Thánh
Khi cần thay đổi có hai trường hợp học tập
Tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức
Những mục tiêu bài học
Khi hoàn tất bài học này bạn có thể :
Bàn thảo cơ cấu tổ chức khi liên hệ đến Hội Thánh địa phương
Nhận ra và kết luận nan đề bên trong một tổ chức.
Giải thích các bước liên quan đến việc thực hiện sự thay đổi hiệu quả.
Mô tả kỹ thuật để có sự thay đổi ổn định bên trong một tổ chức.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo thường lệ. Bạn có thể tìm thấy nhiều từ mới với bạn trong bài học này. Bạn phải tìm ra định nghĩa những từ này trong phần chú giải những từ then chốt ở cuối sách.
Làm bài kiểm tra và kiểm lại các câu trả lời của bạn ở phần cuối bài học.
Những từ then chốt
Brainstorm : nhanh chóng gom ý
Organization : tổ chức
Catalyst : người cổ động
Change agent : cộng tác viên
Change process : diễn trình thay đổi
Controversial : đang được tranh cãi
Diagnosis : lời kết
Facilitates : tạo thuận lợi cho
Measurable : có thể đánh giá được
Opinion leader : người lãnh đạo có nhiều ảnh hưởng
Process helper : người thực thi diễn trình
Resource linker : người liên kết các nguồn
Resources : các nguồn cung ứng
Stabilize : ổn định
Structure : cơ cấu
Trusters : những người bảo quản tài sản
Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Giải thích các chức năng quản trị của các người lãnh đạo Hội Thánh và tầm quan trọng của cơ cấu tổ chức trong Hội Thánh.
CƠ CẤU TỔ CHỨC TRONG HỘI THÁNH
Các gương mẫu trong Hội thánh thời Tân ước
Trong bài 10 chúng ta đã thấy nhiều loại lãnh đạo trong Hội thánh cùng những chức năng cơ bản của mỗi loại. Chúng ta đã thấy các người lãnh đạo trong Hội Thánh thông thường gồm những người chuyên nghiệp có hưởng lương và nhiều công nhân không chuyên tình nguyện. Bây giờ chúng ta cần tập trung vào khía cạnh quản trị của người lãnh đạo Hội Thánh và những người mang trách nhiệm với các chức năng nhẹ nhàng như các bạn ngành, và các chương trình của Hội Thánh.
Như chúng ta đã học, nhiều người lãnh đạo các Hội Thánh địa phương được đề cập đến trong Tân Ước :
Muïc sö laø ngöôøi quaûn trò chính veà phöông dieän con ngöôøi trong moät Hoäi Thaùnh ñòa phöông.

1. Mục sư (Eph Ep 4:11) Trong tiếng Hi Lạp chữ này là poimen có nghĩa là “ người chăn bầy, một người chăm sóc đàn gia súc”.
2. Giám thị (ITi1Tm 3:1) Chữ Hi Lạp là episcopos đôi khi được dịch là giám mục.
3. Trưởng lão (Cong Cv 20:17) Đây có thể là những người giảng đạo không chuyên tự nguyện trong Hội Thánh. Điều này dường như sáng tỏ qua sách 20:17, 28. Ba chữ mục sư, giám mục và trưởng lão đều liên hệ đến những người có trách nhiệm chủ chốt trong Hội Thánh địa phương. Chúng ta hãy xem lại hai câu Kinh Thánh này :
Từ Milê, Phaolô sai người đến Eâphêsô mời các trưởng lão của Hội thánh đến. Khi họ đến nơi, ông nói với họ rằng ... “ Hãy giữ mình và cả bầy mà Đức Thánh Linh lập anh em làm giám mục. Hãy làm những người chăn bầy của Hội Thánh Đức Chúa Trời” ( Chữ in nghiêng do tác giả).
Hamill nhấn mạnh vai trò quản trị của mục sư như sau :
Mục sư là người quản trị chính về phương diện con người .... người quản trị được Đức Chúa Trời chỉ định về chương trình thuộc linh của Hội Thánh địa phương. Ông quản lý các mạng lệnh như báp têm, tiệc thánh. Ông hướng dẫn các nghi thức của Hội Thánh như tiệc cưới, đám tang, lễ dâng hiến, lễ nhận chức và ....phải quản lý sự thờ phượng, công tác, sự làm chứng của Hội Thánh. Mục sư chịu trách nhiệm về mặt tài chính.
Mục sư chịu trách nhiệm tuyển chọn, huấn luyện tổ chức, lôi kéo và hướng dẫn những công nhân tình nguyện cũng như được trả lương trong Hội Thánh.
4. Chấp sự : (Cong Cv 6:1-6; ITi1Tm 3:8-13). Trong bài 4 hãy lưu ý chữ Hy Lạp là diakonia từ đó lấy ra chữ chấp sự nói đến việc phục vụ người khác trong các công tác thực tế. Các chấp sự trong Tân ước là những người kính sợ Chúa đảm nhiệm các nhiệm vụ phục vụ thực tế để mục sư có thể dành trọn vẹn thì giờ của mình cho sự cầu nguyện và rao lời. Một vài người như Philíp và Eâtiên cũng được Đức Chúa Trời sử dụng trong các chức vụ thuộc linh cho thân thể của Christ ( xem Cong Cv 6:8, 8:5).
1. Đọc HeDt 13:17. Sau đó khoanh tròn các mẫu tự trước những câu đúng liên quan đến những sự dạy dỗ trong câu Kinh Thánh này.
a. Người lãnh đạo trong Hội Thánh như các mục sư có quyền bính trên các tín hữu trong Hội Thánh.
b. Vâng phục những người lãnh đạo là tạo ảnh hưởng tốt đối với những tín hữu khác.
c. Các người lãnh đạo trong Hội Thánh có trách nhiệm phải giải thích trước mặt Đức Chúa Trời về trách nhiệm của mình.
d. Trong quan điểm của Đức Chúa Trời người lãnh đạo Hội Thánh quan trọng hơn những thuộc viên.
e. Đức Chúa Trời đòi hỏi những tín hữu phải đầu phục các người lãnh đạo của Hội Thánh.
CÁC GƯƠNG MẪU NGÀY NAY
Sự quản trị của các Hội Thánh địa phương ngày nay giống với cơ cấu đã thấy trong Hội Thánh thời Tân Ước. Mặc dù không thấy sơ đồ tổ chức nào trong Tân ước, chúng ta không biết Hội Thánh có các nhà lãnh đạo mang vác trách nhiệm quản trị như lập kế hoạch, dẫn dắt, thực hiện các mục tiêu cho các nhóm trong Hội Thánh. Đôi lúc các ban, nhóm trong Hội Thánh làm việc chung với nhau để phục sự với các nhu cầu thuộc linh hoặc thực tế của dân sự Đức Chúa Trời.
Hình 11.1 cho thấy thế nào một Hội Thanh nhỏ và một Hội Thánh lớn có thể được tổ chức ngày nay để thực hiện các yêu cầu thực tế và công tác của cộng đồng Hội Thánh địa phương.
- TỔ CHỨC CỦA MỘT HỘI THÁNH NHỎ
Mục sư
Chấp sự ( thường là ba hoặc hơn)
Những người lãnh đạo các bạn
- TỔ CHỨC CỦA MỘT HỘI THÁNH LỚN
Đội ngũ Mục sư :
Mục sư
Mục sư phụ tá
Mục sư về giáo dục
Mục sư về âm nhạc
Mục sư về thanh thiếu niên
Quản lý sự vụ
Các Trưởng lão
Ban Chấp sự ( thường là bảy hay hơn)
Ban bảo quản tài sản
Những người lãnh đạo các ban ngành.
Bạn có thể thấy có phạm vị rất rộng lớn trong việc chọn lựa người lãnh đạo để thực hiện các chức năng quản trị của Hội Thánh. Trong các Hội Thánh nhỏ Mục sư có thể là người duy nhất dâng trọn thì giờ được Hội Thánh trả lương. Hội Thánh lớn hơn có thể được trả lương cho đội ngũ mục sư cũng như một thư ký, một người quản lý sách vở, người bảo vệ và những người chuyên môn khác. Như chúng ta đã thấy trong bài 10, một Hội Thanh tăng trưởng, dù lớn hay nhỏ tùy thuộc vào một số lượng lớn những người lãnh đạo, tình nguyện hướng dẫn các chức vụ khác nhau trong Hội Thánh.
Đội ngũ mục sư thường được mục sư của Hội Thánh lựa chọn. Một vài Hội Thánh có các chấp sự, họ cũng có chức năng bảo quản tú trì các tài sản của Hội Thánh, cũng như phương diện tài chánh. Các Hội Thánh khác có các Uûy ban riêng biệt để hoàn tất các công tác của những chấp sự và những nhân viên quản lý tu trì. Các ban này thường được hội chúng tuyển chọn phó. Mục sư là một thành viên của Uûy ban và thường làm chủ tọa.
Nhiều Hội thánh có sự liên kết lại để sở hữu tài sản. Mỗi một Hội Thánh này có một luật riêng trong việc cai trị tư cách của tín đồ, điều kiện để bước vào chức vụ lãnh đạo và sự quản trị Hội Thánh. Các tín hữu tham gia nhóm họp và biểu quyết về các vấn đề liên quan vấn đề chi tiêu của Hội Thánh như mua bán tài sản hoặc những vấn đề khác. Họ cũng có thể bỏ phiếu chọn một câu mục sư hay các nhà lãnh đạo khác trong Hội Thánh.
2. Liệt kê vào một tờ giấy rời vị trí lãnh đạo tình nguyện hay được trả lương trong Hội Thánh của bạn và chức năng của các người lãnh đạo trong từng vị trí.
3. Hội Thánh bạn có những chức vụ nào trong những chức vụ này?
a. Một mục sư được trả lương hoặc một đội ngũ mục sư
b. Các trưởng lão
c. Các chấp sự
d. Những người bảo quản tu trì tài sản
e. Những người lãnh đạo các ban ngành
f. Luật riêng
g. Số tín hữu trong Hội Thánh
h. Người chủ hữu tài sản
Hiển nhiên là các giám mục của một Hội Thánh địa phương có một trách nhiệm rất lớn trong việc điều hành các chi tiết quản trị theo thực tế công việc. Họ phải hoàn toàn liêm khiết trong việc quản lý tài chánh của Hội Thánh cũng như các tài sản khác. Họ không chỉ chịu trách nhiệm trước các tín đồ mà còn phải chịu trước mặt Đức Chúa Trời nữa !
4. Xem xét những gì chúng tôi đã nói trong phần đầu của chương này cũng như phần vừa đề cập đến và hoàn chỉnh các câu dưới đây :
a. Sự quản trị của một Hội Thánh địa phương trước hết là trách nhiệm của
...............................................................................................................................
b. Hai lý do tại sao một Hội Thánh địa phương muốn được liên kết và có bộ luật riêng là :
...............................................................................................................................
c. Một định nghĩa một tổ chức như đã được áp dụng cho Hội Thánh địa phương là :
...............................................................................................................................
Mục tiêu 2 : Nhận ra lý do tại sao sự thay đổi về mặt tổ chức trong trường hợp B bất thành.
KHI CẦN THAY ĐỔI : CÓ HAI TRƯỜNG HỢP HỌC TẬP
Trường hợp học tập A!
Roger và Doug ngồi với nhau suốt giờ giải lao tại một hội đồng các mục sư của khu vực. Roger làm mục sư của một Hội Thánh trong một thành phố có khoảng 200 tín hữu, còn Dong là một mục sư tiên phong của một Hội Thánh nhỏ trong một vùng ngoại ô.
Roger nói : “ Thật khó giữ một Hội Thánh tăng trưởng trong thành phố những ngày này. Có rất nhiều thành viên của chúng ta đã dời ra khỏi thành phố và gia nhập vào các Hội Thánh ngoại ô”.
Doug đáp lời không muốn nhận, nhưng điều này thật sự giúp đỡ chúng tôi để có thêm nhiều thành viên của anh được kia gia nhập Hội Thánh của tôi. Thật khó để đem những người không tin trở lại ăn năn. Phần lớn các Hội Thánh tăng trưởng của chúng tôi năm nay do các tín hữu chuyển đến các Hội Thánh khác”.
Họ bỏ dở câu chuyện khi một mục sư quản nhiệm khu vực của họ đến. “ Hai ông có khoe không?” Fred hỏi. Ông là mục sư của một thành phố lớn có chương trình huấn luyện người lãnh đạo vững vàng.
Roger nói : “ Chúng tôi chia xẻ với nhau một trận chiến còn tồn đọng trong những ngày này. “ Anh có thể gởi những người lãnh đạo có năng lực đến giúp chúng tôi trong các chương trình của thanh niên không?”
Fred trả lời : “ Chúng ta ai cũng có năn đề. Nan đề chính của tôi tất cả các thanh niên hiện nay đang ở trong chương trình huấn luyện của chúng tôi đều muốn chuyên sâu trong âm nhạc hoặc có đi nữa thì họ chưa đủ trưởng thành để được sai đi. Tôi xin lỗi vì bây giờ chưa sai ai đi được.
Ba năm sau ba nhân vật này lại ngồi chung bàn, suốt kỳ hội đồng khác. “ Sao rồi?” Doug hỏi Roger “ Hội chúng của anh còn đi ra ngoại ô không?”
Roger vừa cười vừa trả lời : “ Anh muốn nói hội chúng nào? Anh muốn biết về công tác của chúng tôi với nhóm người khác tứ tiếng nội thành, hay nhóm sinh viên đại học, nhóm độc thân, nhóm phụng vụ thờ phượng ngày Chúa nhật, hay trung tâm huấn luyện thị thành?
Doug thở ra. “ Trong vòng ba năm mà anh đã thành lập được các nhóm ấy rồi sao? Anh làm cách nào vậy?”
Roger bắt đầu giải thích : “ Sau kỳ hội đồng ba năm trước trở về, tôi đã dành thì giờ, cầu nguyện nhiều. Tôi bị thuyết phục phải thay đổi chiến thuật và tổ chức của Hội Thánh. Tôi khai triển xoay quanh vấn đề sự giảm sút của Hội Thánh và đưa ra các kế hoạch khó và liều lĩnh. Đến nay Hội Thánh của chúng tôi đã thực hiện được 50 phần trăm các kế hoạch ấy và sự tăng trưởng của Hội Thánh chúng tôi sống động trở lại. Số tín hữu dần dần tăng lên, bây giờ tôi bận rộn với công tác huấn luyện.
Họ đứng dậy và tiếp tục phần việc tiếp tục theo cùng với các mục sư khác.” Roger ơi, ta có thể nói chuyện với nhau vào bữa ăn trưa này nhé?” Dough hỏi với vẻ mặt đầy tư lự.
Trường họp học tập B
Stan là một mục sư phụ tá trong một Hội Thánh đang tăng trưởng. Vai trò của ông là đoán trước các nhu cầu của hội chúng đang phát triển và xem xét các hiệu quả thực tế như tìm kiếm và huấn luyện người cho các lớp học mới. Nhiều lần ông được thuyết phục Hội Thánh cần một nhà thờ mới trong khoảng một hay hai năm sắp đến.
Hội Thánh đã gặp một vài nan đề vào những dịp đặc biệt đã không đủ chỗ chứa. Stan cũng thấy trước sẽ có một ngày kia ngay cả buổi nhóm thờ phượng mỗi Chúa Nhật cũng sẽ không đủ chỗ. Ông chia xẻ điều này với vị mục sư cao niên hơn và được phép thảo luận vấn đề này với một kiến trúc sư. Một vài tháng sau, Stan trở lại với vị mục sư nọ với một kế hoạch rất tốt đẹp hầu đáp ứng nhu cầu của hội chúng trong nhiều năm tới. Vị mục sư đồng ý để cho Stan trình bày kế hoạch cho các tín hữu trong Hội Thánh vào buổi nhóm công tác sắp đến của họ.
Stan đã nhiệt tâm trình bày kế hoạch của mình trong buổi nhóm công tác ; tuy vậy, ông không chuẩn bị trước phản ứng của các thành viên. Bình thường mà nói, họ không thích thú gì với lời đề nghị của ông. Nhiều người phản ứng chống lại và bắt đầu có những lời cáo buộc Stan. Cú sốc cuối cùng đến với Stan khi mục sư cao niên kết thúc buổi thảo luận và hoãn lại vấn đề này ít nhất là ba năm nữa. Stan rời buổi họp trong sự xúc động mạnh và sỉ nhục. Ông đã làm đơn từ chức sau đó.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI TRƯỜNG HỢP
Ở đây có hai trường hợp rất khác biệt thử thực hiện sự thay đổi về mặt tổ chức. Một trường hợp thành công, còn trường hợp kia là tai họa. Sự khác biệt ở đây là gì? Có phải kế hoạch của Stan tạo ra sự tranh luận hơn kế hoạch của Roger không?
Sự khác biệt chính giữa hai bối cảnh là kế hoạch thay đổi năng động. Trường hợp A có còn B thì không. Roger hiểu được tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức và thành công khi thực hiện khải tượng của mình. Đây là các nguyên tắc mà mọi người lãnh đạo cần biết vì tất cả đều gặp sự thay đổi này. Nếu Stan hiểu và áp dụng các nguyên tắc này, ông đã có thể tránh thoát những sự việc đau lòng. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ xét đến tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức này. Chúng ta cũng sẽ lưu ý đến nhiều yếu tố dẫn đến sự thành công hay thất bại trong hai trường hợp tập nêu trên và học tập thực hiện công tác này một cách hiệu quả.
5. Tại sao sự thay đổi có tính cách tổ chức trong trường hợp B lại bất thành?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 3 : Mô tả các bước gồm tóm trong tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức .
TÍNH NĂNG ĐỘNG CỦA SỰ THAY ĐỔI THUỘC VỀ TỔ CHỨC
Mục tiêu 4 : Chọn lọc các hành động theo thứ tự đem lại sự thay đổi về phương diện tổ chức
Bước 1 : Kết luận vấn đề
Bước đầu tiên tạo ra sự thay đổi là phải xác định chính xác vấn đề. Bằng cách hỏi một số câu hỏi liên quan đến 1/ bản chất của vấn đề 2/ Lịch sử vấn đề 3/ Những ai chịu ảnh hưởng bởi nan đề ấy 4/ Mối liên hệ của vấn đề với những người còn lại trong tổ chức và nhiều câu hỏi khác. Nếu bạn không thể định nghĩa nan đề một cách rõ ràng, bạn khó có thể đem lại sự thay đổi ngõ hầu giải quyết cách ổn thỏa. Khi một chiếc máy không chạy trơn tru, người thợ máy phải xác định được bộ phận nào liên quan. Anh ta sẽ không thay đại các bộ phận nào đó rồi hi vọng phương pháp của mình dầu tình cờ nhưng lại có hiệu quả ! Chúng ta phải kết luận một cách chính xác và nhận ra nan đề thực thụ của ta là gì trước khi xử lý.
Bạn sẽ ngạc nhiên khi khởi sự quan sát một hoàn cảnh và xác định các sự kiện. Thông thường có những yếu tố cơ bản và những yếu tố này rất quan trọng. Trong trường hợp B khi Stan trình bày kế hoạch xây dựng một nhà thờ mới trước các tín hữu trong Hội Thánh ông đã không xem xét đến sự kiện mà vị mục sư cao niên kia đã có kế hoạch hồi lại ba năm nữa. Bởi điều này, ông mục sư đã không chuẩn bị về việc bất đồng ý kiến có thể gây ra đổ vỡ trong khi ông còn là mục sư. Hãy lưu ý rằng chính ông đã kết thúc buổi thảo luận ! Một khi ông nhận biết rằng các thành viên chống đối kế hoạch xây dựng, ông thay đổi sự ủng hộ của mình trước kia và bắt đầu xem lại “ Kế hoạch của Stan”.
Có một vài yếu tố then chốt khác mà Stan đã không để ý nhưng lại rất quan trọng đối với mục sư cũng như các thành viên khác. Một năm trước hội chúng đã dâng một số tiền đặc biệt để bù vào số nợ khi xây dựng kiến ốc đang sử dụng khiến cho vấn đề tài chánh trong Hội Thánh đỡ căng thẳng. Nay hội chúng không muốn có bất kỳ chương trình xây dựng nào đang khi vị mục sư cao niên kia vẫn còn tại chức.
TÍNH NĂNG ĐỘNG CỦA SỰ THAY ĐỔI VỀ MẶT TỔ CHỨC
1. Kết luận vấn đề.
2. Nhận ra các cộng tác viên
3. Chọn một giải pháp.
4. Thắng hơn sự chống đối.
5. Thực hiện sự thay đổi.
6. Ổn định sự thay đổi

6. Dựa trên bài học mà chúng tôi đã đưa ra, trình bày điều mà Satan cần biết :
a. Bản chất của vấn đề.
b. Lịch sử của vấn đề.
c. Những người bị vấn đề đó tác động.
d. Vấn đề đó liên quan thế nào với những người còn lại trong tổ chức.

Bạn có kinh nghiệm đi khám bệnh, khi nói tôi đau ở đây, nhưng bác sĩ chỉ hỏi một vài câu hỏi dường như không liên quan gì đến sự đau đớn của bạn chưa? Ví dụ bạn bị tấy đó ở đầu gối nhưng bác sĩ lại hỏi bạn về thức ăn bạn đã dùng hay kiểm tra tim của bạn ! Hành động như vậy vì ông đã học tập phải cần trong nước khi đưa ra những kết luận chăn xéc. Đầu gối của bạn có thể do các vấn đề khác.
Cũng vậy, chúng ta phải cần thận không vội vã quyết định dựa trên những gì trước mắt. Bạn thường tìm thấy nan đề ở một điểm thứ yếu hay đang dấu kín. Trong trường hợp B, vấn đề dường như là nhà thờ đã quá chật. Nhưng nan đề nằm ở chỗ các thành viên thiếu tin cậy vị mục sư đã có gần ba mươi năm trong chức vụ.
Chúng ta thấy một gương mẫu trong Kinh Thánh về một người nắm giữ một ẩný kín dấu bên trong. Trước hết, Giôna đã chạy trốn và không nhận sự chỉ định đi rao giảng cho thành Ninive vì sợ sự độc ác và tàn bạo của dân cư thành ấy (Gion Gn 1:1-3). Thực tế ông chạy trốn vì ông biết người Assiri sẽ ăn năn và trở về với Đức Chúa Trời (4:1-2 ). Giôna thích chết hơn là thấy kẻ thù của xứ sở mình nhận được sự thương xót của Đức Chúa Trời ! Ông thừa nhận lý do thật chỉ khi Đức Chúa Trời xử lý.
Ở đây có một vài câu hỏi giúp bạn kết luận vấn đề cụ thể cho một hoàn cảnh xảy đến với Hội Thánh và thu lượm được một sự hiểu biết đầy đủ mặt trái của vấn đề.
1. Các mục đích tổng thể dành cho Hội Thánh là gì?
2. Ai hệ thống hóa các mục đích này?
3. Có phải đây là các mục đích thực sự của Hội Thánh?
4. Các mục đích này có thực tế hay không?
5. Các mục đích này có thể đánh giá được không?
6. Các mục đích này có bao gồm mọi lãnh vực trong Hội Thánh không?
7. Hội Thánh có đảm nhận các mục đích này không?
8. Có phương cách nào hữu hiệu giúp đạt được các mục đích này không?
9. Các thành viên trong Hội Thánh có kết hiệp cùng các người lãnh đạo thảo luận công khai các mục đích này không?
10. Hội Thánh có xếp đặt chu đáo để đạt các mục đích này không?
11. Tổ chức Hội Thánh có dễ thay đổi không?
12. Hội Thánh có cần tài chánh để đạt đến mục tiêu không?
13. Có đủ thành viên để đạt đến mục tiêu không?
14. Những phương tiện hiện có đủ đáp ứng cho tương lai gần đây không?
15. Các thành viên có được khích lệ gì khi đã đóng góp vào việc thành đạt các mục đích của Hội Thánh không?
17. Có phải nan đề vừa mới xuất hiện không?
18. Ai trong Hội Thánh đồng ý cho nan đề ấy hiện hữu?
19. Các ban khác trong Hội Thánh có lâm vào nan đề ấy không?
20. Nan đề ấy có cần giải quyết ngay không?
7. Giả sử Stan đã hiểu được tính năng động của sự thay đổi về mặt tổ chức. Bắt đầu với số 1 là bước khởi đầu, hãy đánh số các bước kế tiếp hầu giải quyết một nan đề theo thứ tự ưu tiên.
....a. Tìm sự giúp đỡ của các chi thể khác.
....b. Xem xét vấn đề khi nó liên hệ đến toàn thể kế hoạch của Hội Thánh.
....c. Tìm kiếm các nan đề phụ thuộc ( thứ yếu)
....d. Nhấn mạnh đến những lợi ích hơn là những bất lợi mà sự thay đổi có thể gây ra.
....e. Hãy nói chuyên với mọi người bị ảnh hưởng bởi nan đề đó.
....f. Oân lại lịch sử của Hội Thánh.
....g. Quyết định nan đề đó thực sự là gì?
Mục tiêu 5 : Chọn một hành động là vai trò của một người cổ động, người đưa ra cách giải quyết, người liên kết các nguồn, người thực diễn trình.
Bước 2: Nhận ra những cộng tác viên
Một cộng tác viên là một người giúp đỡ thực thi sự thay đổi đã được trù hoạch. Ai lãnh đạo đều có các thay đổi, nhưng chữ then chốt của câut trên là được trù hoạch. Sự thay đổi thành công là sự thay đổi đã được trù hoạch. Tiến trình thay đổi là cách mà các sự thay đổi đã được lên kế hoạch phát triển.
Những nhà chuyên môn trong lãnh vực thay đổi năng động này cho chúng ta thấy nhiều loại người khác nhau liên quan đến diễn trình thay đổi : đối với những người lãnh đạo không chỉ là một vấn đề đơn giản của việc khải tượng hay một tư tưởng tốt và mong muốn hội cúng chấp nhận. Cộng tác viên phải biết những vai trò nào cần cho tiến trình thay đổi và tìm người giữ các vai trò đó. Ông Ronald G. Havelock đề nghị có bốn loại người quan trọng và người lãnh đạo phải làm việc với họ. Họ là người cổ động, người liên kết các nguồn và người thực thi diễn trình. Chúng ta hãy xem mỗi một loại chức năng này hoạt động như thế nào.
1. MỘT NGƯỜI CỔ ĐỘNG : Thông thường, ít ai muốn thay đổi. Họ thích giữ nguyên đường lối cũ ( hiện trạng) thay đổi là phá đổ và gây nhiều phiền phức. Vì lý do này, cần có người cổ động. Họ là những người có khả năng thuyết phục “ hiện trạng” và giúp mọi người bàn thảo vấn đề.
Người cổ động không đưa ra tất cả các đường lối để giải quyết một vấn đề. Họ cũng không thực sự tạo ra sự thay đổi. Vai trò chủ yếu của họ là nhấn mạnh đến yêu cầu cần phải có sự thay đổi. Họ giúp mọi người thấy được những nhược điểm trong bối cảnh hiện tại hoặc những nan đề mà nó tạo ra. Ví dụ một người có cổ động có thể loan báo cho các thành viên trong Hội Thánh biết về việc nhiều sinh viên ngoại quốc đang nhóm lại bị sự phá giá tiền tệ tại đất nước của họ tác động. Kết quả sau khi nhận được sự thông báo này, các thành viên nhận thức rằng cần phải giúp đỡ các sinh viên.
8. Trong trường hợp B, trong những vấn đề dưới đây vấn đề nào là vai trò của người cổ động?
a. Đề nghị giải quyết nan đề không có đủ chỗ cho các buổi sinh hoạt của Hội Thánh.
b. Thuyết phục các thành viên khác hầu cho họ có thể đưa ra một kế hoạch xây dựng.
c. Đề nghị mục sư chấm dứt các buổi hội họp đặc biệt để tránh tình trạng quá đông đúc.
d. Giúp cho các thành viên biết rằng nếu Hội Thánh tiếp tục phát triển chỗ nhóm lại cần được nới rộng.
2. NGƯỜI ĐỀ XƯỚNG CÁCH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Phần lớn các thành viên trong Hội Thánh đều có những ý hướng xác định để giải quyết các nan đề trong Hội Thánh nhưng hiếm khi nào họ nói ra. Một người đề xướng cách giải quyết nan đề có thể đưa ra nhiều ý có giá trị giải quyết vấn đề. Người cộng tác cần chất vấn các thành viên trong Hội Thánh một cách cẩn thận để tập hợp các cách giải quyết khác nhau. Nhiều người có ân tứ biện biệt có thể có những đề nghị hữu ích. Những thành viên khác có nhiều kinh nghiệm trong Hội Thánh đã từng hiểu cách giải quyết cùng nan đề ấy một cách thành công trước kia. Một trong những thành viên này có thể cung cấp chìa khóa giải quyết vấn đề của bạn.
9. Câu nào trong những câu này có thể là cách giải quyết của người đề xướng trong trường hợp học tập B?
a. “ Hội thánh mà tôi thường đến nhóm có nan đề này và đã giải quyết bằng cách chia buổi thờ phượng sáng Chúa nhật thành hai xuất nhóm để đủ chỗ chứa”.
b. “ Trong ba năm chúng tôi sẽ không thể nào sắp xếp để có đủ chỗ ngồi cho mọi người đến tham gia nhóm họp”
c. “ Chúng ta sẽ bắt đầu tích lũy quỹ xây dựng từ bây giờ để có điều kiện nới rộng chỗ nhóm của chúng ta hai hay ba năm tới”.
d. “ Hội Thánh của chúng ta đã đủ chỗ rồi, cứ để vậy đi”.
NGƯỜI LIÊN KẾT CÁC NGUỒN:
Một yếu tố quan trọng trong tiến trình thay đổi là trao đổi các ý tưởng và nguồn cung ứng với các nhóm khác. Khi nghiệm xét bối cảnh trường hợp học tập A chúng ta khám phá một vài ý giúp ta hiểu được sự thành công của Roger. Chúng ta thấy Roger sai một trong những người lãnh đạo xuất sắc để ra ba tuần lễ đến học tập với các nhà lãnh đạo của một Hội Thánh đã đối diện với cùng một vấn đề. Roger đã khám phá những người lãnh đạo của mình và qua đó có thể sử dụng một vài ý tưởng và các nguồn cung ứng cho Hội Thánh của mình. Phương cách các chi thể của thân thể Đấng Christ chia xẻ các kinh nghiệm của họ là một sự hòa trộn trách nhiệm Cơ Đốc và ý thức chung.
Vì vậy người liên kết các nguồn là người nối kết nhóm của bạn với các nhóm khác để có lợi ích hỗ tương. Mỗi nhóm có các kỹ năng, kinh nghiệm, sự phong phú và sự hiểu biết đặc biệt có giá trị đối với người khác. Ví dụ trong trường hợp học tập B, nếu Stan chia xẻ khải tượng của mình với các thành viên khác trong Hội Thánh ông có thể khám phá rằng con trai của một tín đồ hữu nọ là chủ tịch của ban xây dựng cho một Hội Thánh gần đó. Một hệ thống như vậy sẽ rất hữu ích cho Stan.
10. Trong trường hợp học tập A, ai là người liên kết các nguồn
a. Một thành viên ít ai biết đến trong Hội Thánh.
b. Roger
c. Người lãnh đạo đã đến bàn hỏi với các nhà lãnh đạo của Hội Thán khác.
d. Những người lãnh đạo của Hội Thánh kia.
4. NGƯỜI THỰC THI DIỄN TRÌNH : Một người thực thi diễn trình là người giúp cho sự thay đổi dễ dàng hơn. Nói cách khác, anh ta nắm bắt các ý kiến cũng như cách giải quyết được nhóm trình bày và cho nhóm biết làm thế nào để 1/ nhận thức được vấn đề, 2/ đưa ra một số cách giải quyết khác nhau, 3/ chọn cách giải quyết tốt nhất, 4/ thực hiện sự thay đổi, 5/ đánh giá các kết quả sau khi đã có sự thay đổi và 6/ ổn định sự thay đổi.
Một vài thành công của trường hợp học tập A có được vì Roger sử dụng một người thực thi diễn trình rất hiệu quả. Một trong các thành viên trong Hội Thánh là Tiến sĩ Maria Hall đã có một khả năng đặc biệt trong việc nhận thức và định nghĩa vấn đề đánh giá các cách giải quyết và đòi hỏi các nguồn cung cấp cần thiết cho một kế hoạch như vậy. Là một nhà quản lý hành chánh của giáo phái cô đã liên kết với một hệ thống lãnh đạo hữu hiệu. Sự thật mà nói, Roger sẽ không đạt được mục tiêu của mình nếu không có sự giúp đỡ của cô Hall. Người thực thi diễn trình là thành phần chủ yếu của tiến trình thay đổi. Tổ chức càng lớn yêu cầu đối với người thực thi diễn trình càng cao hầu thực hiện được những thay đổi trong Hội Thánh. Lý do là vì các vân nạn càng trở nên phức tạp hơn khi thay đổi một tổ chức lớn hơn và khó thay đổi hơn.
11. Vai trò của người thực thi diễn trình là quan trọng nhất
a. Vào lúc khởi sự diễn trình thay đổi
b. Trong việc đánh giá các kết quả của sự thay đổi sau khi đã hoàn tất
c. Suốt diễn trình từ đầu đến cuối.
12. Xếp đặt cho phù hợp mỗi một cộng tác viên với chức năng của anh ta
....a. đưa ra những ý kiến có giá trị để có sự thay đổi cần thiết
....b. nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải thay đổi
....c. liên kết nhóm này với nhóm khác để có lợi ích hỗ tương
....d. cho biết cách làm thế nào để nhận ra các nan đề và giải quyết.
1. người cổ động
2. người thực thi diễn trình
3. người liên kết các nguồn
4. người đề xướng cách giải quyết vấn đề.
Mục tiêu 6 : Đề nghị các câu hỏi yêu cầu để chọn lọc trong một hoàn cảnh nào đó.
Bước 3: Chọn một giải pháp
Sự thay đổi thường liên quan đến việc chọn lọc giữa hai hay nhiều vấn đề. Để có một sự thay đổi thành công bí quyết đơn giản là chọn lấy điều tốt nhất có sẵn ! Hãy lưu ý hành động đầu tiên của Rôbôam khi nối nghiệp cha mình là Salômôn, vua của dân Ysơraên ( xem IIVua 2V 12:1-15). Dân sự đã đến yêu cầu ông giảm nhẹ những đòi hỏi mà Salômôn đặt để trên họ. Để trả lời ông xin ba ngày để xem xét vấn đề. Trước hết, ông bàn bạc với các trưởng lão đã phục vụ cha của ông và họ khuyến ông nên theo lời yêu cầu của dân sự. Nhưng Rôbôam từ chối lời khuyên của họ và bàn bạc với những thanh niên đang phục vụ ông. Họ khuyên ông phải cứng rắn hơn Salômôn. Bây giờ Rôbôam có hai ý kiến để chọn ra một giải pháp. Rủi thay, ông đã chọn lầm. Khi ông loan báo cho dân dự rằng ông có ý định gia tăng những đỏi hỏi của mình, các chi phái phía bắc đã nổi loạn. Mười chi phái ấy đã hình thành nước Ysơraên và bỏ lại hai chi phái hình thành nước Giuđa. Sau đó họ đã lập Giêrôbôam làm vua của họ (12:16-20).
Đôi lúc các nhà lãnh đạo thấy khó khai triển các giải pháp khác nhau để chọn ý kiến tốt nhất. Chúng tôi muốn đưa ra một vài nguyên tắc giúp bạn hình thành một số ý từ đó bạn có thể đưa ra quyết định cuối cùng :
Trước hết, phải ghi nhớ rằng hiếm có một giải pháp lý tưởng. Mỗi một giải pháp theo một ý nghĩa nào đó là một sự hòa giải. Hãy ghi nhớ bảy chữ này, nó sẽ giúp bạn không bị căng thẳng trong chức vụ lãnh đạo của mình : không có một giải pháp lý tưởng ! Vì mỗi một giải pháp là một sự hòa giải, kế hoạch hành động tốt nhất có thể được làm gom góp các giải pháp khác nhau từ đó chọn một.
Thứ hai, trong việc tìm tòi các giải pháp khác nhau, đừng quá để ý đến những chướng ngại có thể xảy ra như giá cả, sự thiếu hụt của ban lãnh đạo, cần có bãi đậu xa, giới hạn thời gian hoặc những yếu tố tiêu cực khác. Đến giai đoạn này hãy xem xét các ý kiến có thể giải đáp câu hỏi như : “ Giải pháp tốt nhất cho nan đề này là gì nếu không có một chướng ngại nào phải vượg qua?”
Thứ ba, nhanh chóng gom ý ( braistorm) của các thành viên khác của nhóm. Đây là một cách hữu hiệu để có các ý kiến. Khi gom góp các ý kiến, các thành viên của nhóm được khích lệ để đưa ra mọi ý kiến họ suy nghĩ đến để giải quyết vấn đề. Họ đưa ra bất cứ lời đề nghị nào họ có được cùng phát biểu những nhược điểm của từng ý kiến. Người lãnh đạo cố gắng giữ các ý kiến xoay vần và khích lệ sự thay đổi các đề nghị trước kia. Dĩ nhiên có một vài ý kiến không thực tế, nhưng những ý kiến khác có thể là những ý đã được thảo luận nhiều dẫn đến một giải pháp rất sáng tạo.
13. Các ý kiến sau đây là kết quả góp ý của một nhóm nhỏ cần một chỗ nhóm thờ phượng. Hãy nêu thêm hai hay ba lời đề nghị của bạn.
Mua đất và xây dựng
Thuê một ngôi nhà hàng tháng
Hợp đồng thuê một căn nhà
Dùng một căn nhà trong trường học
Nhóm lại tại các tư gia khác nhau
Sử dụng một cái nhà nguyện làm đám tang
Ý kiến khác ..........................................................................................................
..............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Hãy suy nghĩ về trường hợp học tập A. Roger có nhiều biện pháp giải quyết đối với tình trạng suy thoái của Hội Thánh nội thành. Ông loại bỏ một vài ý kiến không thực tế và quyết định chọn lọc biện pháp cuối cùng qua các ý sau :
Giải pháp 1: Roger đánh giá các ưu khuyết điểm chức vụ hiện tại của mình trong giáo phái đang sinh hoạt. Ông đã là thành viên của giáo phái mười năm rồi. Trong thời gian này tâm linh ông lớn lên và trưởng thành. Tuy nhiên, trong các lãnh vực huấn luyện người lãnh đạo, truyền giáo, chức vụ giao lưu văn hóa, truyền đạo trong thành phố, các phương diện này ông chưa được giáo phái giúp đỡ. Vì vậy, sự lựa chọn đầu tiên của Roger là ra khỏi giáo phái và đến một nhóm hăng say phổ biến Tin Lành hơn, ở đây ông sẽ dâng mình làm một mục sư cho một Hội Thánh trong thành phố.
Giải pháp 2 : Ý kiến thứ hai là thiết lập một trung tâm huấn luyện độc lập cho công tác trong thành phố để phát triển những người lãnh đạo cùng những người được huấn luyện nhờ các Hội thánh Tin lành và các nhóm truyền giáo. Kế hoạch sẽ liên kết với các học viên huấn luyện hiện có, tại đây những người được huấn luyện sẽ học tập chuyên biệt về một vấn đề. Các học viên sẽ thu nhận kinh nghiệm thực tế phục vụ qua các Hội Thánh các thành phố, các nhóm truyền giáo và các học viên huấn luyện khác. Tài chánh nhờ vào số lệ phí, các Hội Thánh giúp đỡ, các bạn hữu ủng hộ và các nguồn khác. Những người được chọn sẽ hoạt động như những người thực thi diễn trình và liên kết trung tâm với các tổ chức khác trong khắp đất nước.
Giải pháp 3 : Điểm thứ 3 mà Roger phải chọn là cứ ở trong Hội Thánh hiện tại và xác định lại các mục tiêu công tác. Ông bắt đầu suy nghĩ những chi tiết của mục đích này :
a. Thực hiện công tác giao lưu văn hóa
b. Thu về một số lợi tức bằng cách thuê các phương tiện của Hội Thánh để tổ chức lớp học nhạc suốt tuần.
c. Bắt đầu huấn luyện một số thanh niên trong Hội Thánh trên căn bản một một. Khi Roger suy nghĩ đến điều này, ông nhận biết đã có hai Hội Thánh cũng trong giáo phái của ông đang vận dụng loại công tác này. Ông có thể sai một trong những người lãnh đạo của mình để xem xét theo dõi các chương trình của họ.
Giải pháp 4 : Ý kiến cuối cùng là từ chức mục sư và kiếm một công việc làm tạm thời. Cùng lúc ấy, ông sẽ thu lượm các tin tức và tìm hiểu nhu cầu huấn luyện các chức vụ Cơ Đốc trên quốc gia mình. Sau đó ông sẽ ghi tên vào học viên huấn luyện một phần thời gian. Ông cũng có thể làm việc tạo được tín nhiệm và có dịp trở nên một phần của những người lãnh đạo trọn thời gian.
14. Bạn có thể suy nghĩ ra ý kiến thứ 5 mà Roger có thể lưu ý đến?
Bây giờ đến lúc Roger chọn một trong các giải pháp đã nêu ra. Để tập hợp các ý kiến lại với nhau và để sửa soạn một vài nền tảng hầu đánh giá mỗi một giải pháp. Roger vẽ lại họa đồ hình 11.2. Ông đánh giá vấn đề với tỉ lệ 0 đến 5, số 0 tương ứng với ý kiến vô giá trị và số 5 tương ứng với giá trị cao nhất. Sau khi ghi điểm đánh giá trị cho mỗi ý kiến, ông tìm được một giải pháp tốt nhất.
-LOẠI DO LƯỜNG
Gia đình tôi có đồng ý?
Nó giúp ích cho bao nhiêu người?
Có bằng cớ nào đem lại hiệu quả không?
Có phải là kế hoạch dài hạn?
Có bao nhiêu cố vấn của tôi ủng hộ ý kiến này?
Có thể nào thử thách trong một thời gian ngắn không?
GIẢI PHÁP
Số 1: 1, 3, 1, 3, 1, 3 = 12
Số 2: 2, 4, 3, 2, 4, 2 = 17
Số 3: 5, 5, 4, 5, 4, 1 = 24
Số 4: 2, 2, 2, 2, 2, 4 = 14

Giải pháp thứ ba, tức là vẫn cứ ở trong Hội Thánh và tái lập lại công tác của mình, là ý kiến tốt nhât của Roger. Bây giờ ông tập trung ý đã được chọn lọc này và phát họa chương trình thay đổi năm năm và sau đó bắt đầu thực hiện.
15. Tất cả các câu hỏi trong hình 11.2 bàn đến những phương diện thực tế hơn xem giải pháp nào là đúng. Dựa trên hoàn cảnh của riêng bạn, bạn có thể suy nghĩ về các câu hỏi khác cần phải thẩm tra. Bạn có thể suy nghĩ về các câu hỏi khác mà Roger phải đặt vấn đề liên hệ đến các phương diện thuộc linh không?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Bước 4: Thắng hơn sự chống đối
Thắng có n ghĩa là xử lý và cố thắng hơn các nan đề và những khó khăn. Những sự thay đổi đã đề ra trong một Hội Thánh thường gây ra đối kháng. Ít có ai tiếp đón các sự đổi thay trừ phi hoàn cảnh quá khổ đau và không thể nào dung chịu được nữa. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người ta thường gánh chịu hơn là thay đổi ý kiến của họ hoặc thói quen hằng ngày. Bạn có thể nhớ lại thế nào Môise thường phải đối diện với sự đối kháng khi ông tìm cách dẫn dắt cộng đoàn Isơraên.
Chúng ta có thể được yên ủi rằng mỗi một ý tưởng mới phải chiến đấu cho sự hiện hữu của nó. Lịch sử đầy dẫy các gương mẫu này. James Simpson bị chế nhạo khi biện hộ cho việc sử dụng thuốc tê trong các ca giải phẫu. Phải mất rất nhiều năm người ta mới chấp nhận các khám phá về phương pháp diệt khuẩn của Joseph Listen. Để cứu lấy mạng sống mình Copernicus phải rút lại quan điểm của mình là trái đất xoay quanh mặt trời.
Vào năm 1986, một chính trị gia người Mỹ tên là Robert Kennendy đã góp nhặt kinh nghiệm của nhiều nhà lãnh đạo khi ông tuyên bố rằng “ có một phần năm dân chúng lúc nào cũng chống lại mọi sự”. Vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên khi các thay đổi được đề ra gặp các thế lực chống đối bên trong tổ chức. Sự xung đột là điều bình thường và không thể tránh được. Tuy nhiên, một vài tín đồ xem mình như là những người canh giữ các phương diện giáo lý, tài chính và đúng luật của Hội Thánh địa phương. Bất cứ khi nào các sự thay đổi được đề xướng, những con người này tự động phản đối và nỗ lực đạp đổ bất cứ tiến trình nào trong việc xem xét các đề nghị mới.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi sự đối kháng đều gây sự tàn phá hết đâu ! Chúng ta cần mọi người trong các Hội Thánh khôn ngoan cân nhắc mọi sự hơn thiệt của một vấn đề trước khi phó mình họ vấn đề đó. Thông thường kỷ cương trong việc bàn bạc và biện minh một vài phương diện của các đề nghị nêu ra thật sự đem đến một kế hoạch tốt hơn. Nếu bạn chống lại những lời bàn ra các lời đề nghị của bạn, điều này khiến người ta nghi ngờ khả năng của anh em trong việc cân nhắc mọi yếu tố liên hệ. Kiểm tra và cân nhắc là dấu hiệu của một Hội Thánh vững vàng.
Tuy nhiên, dường như một vài người đặc biệt nghi ngờ động cơ của người lãnh đạo. Kết quả là họ chống đối với mọi sự thay đổi. Bạn có bao giờ nghe câu nói của một Hội Thánh đang dẫy chết chưa ? Đó là “ chúng tôi chưa bao giờ thực hiện vấn đề ấy theo phương cách này trước kia !”
16. Tại sao thái độ này có tác hại cho Hội Thánh?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Làm thế nào chúng ta có thể giúp đỡ Hội Thánh chuyển động vượt qua sự đối kháng và nhận lấy một giải pháp cho một vấn đề? Câu giải đáp là phải nhờ sự ủng hộ của những người được gọi là những người lãnh đạo có ảnh hưởng (opinion leaders). Trong Hội Thánh có một vài cá nhân mà ý kiến của họ được các thành viên khác đánh giá cao. Những người này thường ở trong Hội thánh nhiều năm và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Hội Thánh. Người lãnh đạo hoặc cộng tác viên phải chinh phục những người lãnh đạo có ảnh hưởng này và dùng ảnh hưởng của họ để thuyết phục các chi thể bình thường khác. Họ được chọn làm đại diện của các chi thể khác của Hội Thánh trong việc quyết định những vấn đề và họ được những tín hữu khác tin cậy.
Nếu bạn là một cộng tác viên, ở đây có một vài bước bạn có thể dùng để chinh phục sự chống đối:
1. Đưa ra các ý kiến để giải quyết nan đề trước các chi thể chủ chốt của nhóm. Nếu Hội Thánh của bạn có một ban trị sự, bạn phải giới thiệu ý kiến của bạn cho họ. Nếu không, hãy chọn những người đại diện của cộng đồng và cũng là những người có một quá trình không có thành kiến trong những vấn đề quan trọng. Hãy tránh những người mà chúng ta tin rằng họ ngầm chống lại lời đề nghị của bạn !
2. Hãy tổng hợp tất cả những giải pháp có thể được từ nhóm chủ chốt. Hãy cẩn thận xem xét từng ý kiến một, đừng vội vả bỏ qua bất cứ đề nghị nào. Điều này sẽ dẫn bạn đến một giải pháp càng có hiệu quả hơn là điều bạn suy nghĩ.
3. Một khi đã đồng ý với một giải pháp đặc biệt là sự chọn lọc tốt nhất, hãy khởi sự nhờ sự giúp đỡ của những người lãnh đạo có ảnh hưởng để truyền đạt sự ủng hộ của họ đối với lời đề nghị.
4. Tránh sự đối chất giáp mặt với các thành viên trong Hội Thánh. Bạn cần biết điều gì ủng hộ bạn đưa ra lời đề nghị trước khi tìm kiếm sự chấp thuận tổng quát kế hoạch của bạn. Thí dụ như trường hợp học tập B. Sự nói chuyện tình cờ với vài người lãnh đạo có ảnh hưởng sẽ giúp Stan nhận biết rằng có ít người ủng hộ kế hoạch của ông trong việc xây dựng một ngôi nhà thờ mới. Biết được điều này, chắc hẳn ông sẽ trì hoãn sự trình bày của mình cho các tín hữu cho đến khi ông nhận được sự ủng hộ của họ, ông đã hoãn lại kế hoạch của mình và giải cứu chức vụ của ông khỏi sự nản chí !
5. Hãy học tập tha thứ. Chúng ta phải biết tha thứ những tín hữu đối kháng và tệ bạc với chúng ta. Một vài người có thể thành thật tin rằng họ đang đứng trên các nguyên tắc Kinh Thánh hoặc những quy luật hợp pháp khi chống lại những lời đề nghị của chúng ta. Nhiều người khác cũng không bao giờ muốn nỗ lực vì Chúa nên họ vội vã kết án nỗ lực của bạn. Những phản ứng tiêu cực ấy khiến ta khó sống chung hay buồn giận đối với những người chống đối chúng ta. Nhưng Kinh Thánh dạy chúng ta phải luôn luôn có một thái độ tha thứ.
Trước hết, Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải tha thứ, đây là bổn phận Cơ Đốc của chúng ta (Mac Mc 11:25) . Thứ hai, Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng ta dựa trên căn bản chúng ta tha thứ cho những người chống nghịch (Mat Mt 6:14). Chúng ta phải tha thứ để được tha thứ. Chúng ta tha thứ bao nhiêu lần rồi? Bao nhiêu lần tùy yêu cầu (18:21-22).
Chúng ta cũng cần nhận biết rằng có nhiều lần chính chúng ta cũng xin người khác tha thứ điều mình sai phạm. Tất cả chúng ta đều gây ra lỗi lầm và làm người khác tổn thương. Đức Chúa Trời sẽ chúc phước trên chúng ta khi chúng ta can đảm thừa nhận những tội lỗi này và xin được tha thứ.
17. Một người cổ động có thể đem lại sự thay đổi như thế nào khi người khác chống đối sự thay đổi ấy?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
18. Bạn phải tìm kiếm những điều nào trong những điều này trong nhóm thành viên chủ chốt mà bạn muốn trình bày các ý kiến đưa đến sự thay đổi? Những người :
a. Những người không thành kiến trong cái nhìn của mình.
b. Chắc chắn đồng ý với bạn.
c. Có thể giúp bạn tìm ra giải pháp tốt hơn.
d. Đại hiện cho toàn bộ tín hữu.
e. Không bao giờ có bất cứ ý kiến rằng của họ.
19. Thái độ mà một người lãnh đạo phải có khi đối viện với sự chống đối không phân minh và những lời chỉ trích?
...............................................................................................................................
Mục tiêu 7: Phân tich trường hợp đã nêu ra để xác định xem yếu tố thời gian ảnh hưởng như thế nào đối với diễn trình thay đổi.
Bước 5: Thực hiện sự thay đổi
Tìm ra giải pháp chỉ mới là một nửa bước thi hành sự thay đổi ! Phần đáng ngại nhất của diễn trình thay đổi là thực hiện sự thay đổi đã đề ra một cách thành công. Thời gian hay chọn một tốc độ chính xác để chuyển động là điều tối quan trọng. Khuynh hướng tự nhiên của một người lãnh đạo khi đã khám phá ra một giải pháp sáng tạo cho một vấn đề sử dụng hết năng lực của mình để hoàn tất một cách mau chóng. Ông ta có thể nỗ lực thắng lướt bất cứ sự chống đối nào giữa vòng các tín hữu băng cách giục giã, tranh luận, lôi kéo và cuối cùng là quở mắng ngay cả trên tòa giảng. Nếu chuyển động quá mau lẹ họ có thể bỏ những tín hữu đằng sau mình và họ sẽ phản loạn.
Những người chuyên môn trong sự thay đổi năng động có lời khuyên đối với những người lãnh đạo sử dụng “ quy luật ngón tay” để thêm vào 50 phần trăm thời gian mà họ mong ước ngỏ hầu diễn trình thay đổi được hoàn tất. Nói cách khác, nếu bạn phỏng đoán phải mất bốn tháng để thực hiện toàn bộ kế hoạch thay đổi, sau đó bạn cần phải mất thêm hai tháng hoặc nhiều hơn nữa vào chương trình đó, có lẽ bạn cảm thấy mình không có đủ sức trì hoãn vì nan đề cấp bách ấy. Tôi muốn khích lệ bạn nhận lấy lời khuyên của những người khác đã học được trong những phương thức khó khăn ! Dù sao đi nữa thì bạn cần chuẩn bị chuyển động chậm hơn thời gian bạn đã trù hoạch. Khi bước vào công cuộc thực hiện sự thay đổi tốt hơn là đi chậm !
20. Ôn sơ lại trường hợp học tập A. Có thời gian xác định nào đã được lên kế hoạch để thực hiện sự thay đổi trong hoàn cảnh này không?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
21. Trong trường hợp B, Satan đã chuyển động
a. quá chậm chạp
b. Quá nhanh
22. Đáp ứng của các tín hữu như thế nào nếu diễn trình thay đổi quá nhanh chóng?
Mục tiêu 8 : Hãy xếp cho phù hợp một kế hoạch ổn định sự thay đổi các bằng chứng xảy ra trong một hoàn cảnh đã nêu ra.
Bước 6: Ổn định sự thay đổi
Một khi diễn trình thay đổi hoàn tất, hãy nổ lực bảo đảm rằng sự thay đổi sẽ trở nên ổn định và là thói quen bình thường. Thông thường những người lãnh đạo bị xúc động mạnh và ngạc nhiên vì những tín hữu từ chối sự thay đổi khi thực hiện nhiều tháng hay nhiều năm trước đó.
Cổ động viên có thể quên một vấn đề đặc biệt và sự thay đổi được tái lập để điều chỉnh, và phải hoãn lại. Sự thay đổi càng cơ bản, thì chúng ta càng có sự tin tưởng rằng sẽ có một sự rút lui. Một kế hoạch được nêu ra để ngăn ngừa điều này. Kế hoạch ấy bao gồm : 1) thường các tín hữu, 2) liên tục đánh giá sự thay đổi và 3) tạo ra một thái độ tích cực đối với sự thay đổi.
1. Thường các tín hữu : Các thành viên trong Hội Thánh phải cảm thấy rằng hoàn cảnh mới cho họ những lợi ích lâu dài trong những phương diện quan trọng. Những lợi ích hoặc phần thưởng là điều mà mọi thành viên phải thấy được. Các nhà giáo dục chuyên môn cho nguyên tắc này là sự củng cố tích cực. Ví dụ, có lẽ có sự thay đổi chủ yếu trong chương trình trường Chúa Nhật. Ban lãnh đạo trường Chúa nhật cần đo lường các lợi ích vào những dịp đặc biệt với sự hiện diện của mọi thành viên trong Hội Thánh. Qua đó nỗ lực của các giáo viên được mọi người nhận biết. Được vinh dự như vậy càng giúp họ cảm thấy tích cực với những sự thay đổi đã được thực hiện.
2. Tiếp tục đánh giá : Duyệt lại các vấn đề trước kia không được liệt vào các biện pháp mới. Trong việc xem xét và đánh giá các sự thay đổi, đừng cho các tín hữu thấy rằng quyết định của mình là không chắc chắn. Là một cộng sự viên có trách nhiệm bạn sẽ có thêm uy tín. Chúng ta thấy một gương mẫu minh họa điều này trong ISa1Sm 14:24-25 Saulơ có thể tránh sự sỉ nhục thuộc hạ ông bằng cách gạt sang một bên lời tuyên bố công khai trước đó nếu ông không tin cậy vào sự khôn ngoan của ông. Thay vào đó, ông đã dại dột nắm giữ vị trí sai trật của mình dù cho Giônathan phải chết. Những đánh giá liên tục này không phải là sự nghiên cứu thấu suốt như là những đánh giá nguyên thủy dẫn đến sự thay đổi. Có thể là một lời vắn tắt nhưng có sự đánh giá chính xác về bối cảnh hiện tại. Sự nghiên cứu này được thực hiện tốt nhất bởi người nào không liên hệ trực tiếp đến các lãnh vực mà sự thay đổi ấy ảnh hưởng đến.
3. Tạo ra một thái độ tích cực : Bạn có thể hướng dẫn các tín hữu trở nên những cộng tác viên. Bạn có thể giúp họ đạt đến khả năng này bằng cách tạo ra trong hội chúng một thái độ tích cực đối với những thay đổi trong tương lai. Các nhóm trong Hội Thánh có thể được khích lệ nhanh chóng góp ý hầu tìm ra ý kiến giải quyết các nan đề riêng của nhóm họ. Nếu giải pháp mà họ đề nghị tốt hơn giải pháp của người lãnh đạo, có một viễn ảnh trong sáng hơn để nhóm có thể chuyển động thành công qua cuộc diễn trình thay đổi.
23. Giải sử Hội Thánh của bạn có một lớp nghiên cứu Kinh Thánh cho người lớn. Vì đây là một lớp học đông đảo nên chỉ có một phần ba người tham dự. Bạn thấy rằng nếu có năm lớp học cho những trung niên naỳ bạn sẽ hấp dẫn nhiều thành viên khác đến học Kinh Thánh. Bạn thực hiện toàn thể diễn trình thay đổi này một cách hữu hiệu. Bây giờ bạn muốn ổn định. Hãy xếp đặt cho phù hợp mỗi một kế hoạch các bằng chứng nói lên sự thay đổi đã được ổn định.
1. Phần thưởng
2. Đánh gia
3. Thái độ tích cực
......a. Bạn phám phá rằng vì đã mở ra năm lớp học Kinh Thánh có hai phần ba tham gia.
......b. Vì các lớp học bây giờ nhỏ hơn nên có sự thông công tốt đẹp hơn và càng có nhiều học viên tham gia thảo luận.
......c. Vào cuối mỗi buổi học nghiên cứu Kinh Thánh lại có một giáo viên mới, vì vậy nhiều người có dịp dạy dỗ. Có sự thay thế như vậy nên các giáo viên được tôn kính.
.....d. Bạn có thể gặp tất cả những người lãnh đạo của chương trình nghiên cứu Kinh Thánh và khích lệ họ góp ý nhanh chóng đề nghị các môn học mới để học tập cải tiến chương trình sau mỗi buổi học.

TẠI SAO HỘI THÁNH CẦN MỘT TỔ CHỨC TỐT
Mục đích trường tồn và sứ mạng của Hội Thánh của Chúa Giêxu Christ là thờ phượng Đức Chúa Trời, cung phụng cho những người tin và truyền Tin Lành cho thế giới. Nếu ai hoàn tất sứ mạng ấy, người ấy phải nỗ lực và kết hợp với những người khác để thực hiện điều đó một cách hiệu quả nhất. Lập kế hoạch, lên chương trình và hiệp nhất sức mình với những người khác là một định nghĩa khác của tổ chức.Một tổ chức tốt là một trong những yếu tố cơ bản trong một Hội Thánh thành công
Bài kiểm tra
LỰA CHỌN NHIỀU PHẦN. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi.
1. Các nhà lãnh đạo nào trong những người lãnh đạo theo Kinh Thánh KHÔNG có trách nhiệm lãnh đạo chính trong một Hội Thánh địa phương.
a. Người giám mục
b. Chấp sự
c. Trưởng lão
d. Mục sư
2. Poimen trong Hi văn có nghĩa là “một người chăn bầy” được dịch ra Việt ngữ là:
a. Người giám thị
b. Chấp sự
c. Trưởng lão
d. Mục sư
3. Theo Hamill, ai là người quản lý được Đức Chúa Trời chỉ định về chương trình huấn luyện người lãnh đạo, thuộc linh, tài chính của Hội Thánh địa phương?
a. Chấp sự
b. Người bảo quản tài sản
c. Mục sư
d. Quản lý các sự vụ
4. Lý do chính để có một tổ chức Hội Thánh địa phương là :
a. Nỗ lực hoàn thành mục đích và sứ mạng của Hội Thánh là liên kết với người khác để thực hiện điều này.
b. Cho người ta có dịp nắm lấy các chức vụ quan trọng.
c. Đáp ứng các yêu cầu cho mọi thành viên trong Hội Thánh.
d. Giúp cho các chi thể kiểm soát những vấn đề tài chính và chọn lọc một mục sư.
5. Bước đầu tiên thực hiện sự thay đổi là :
a. Nhận ra các cộng sự viên
b. Chọn một giải đáp
c. Chẩn đoán nan đề hay định nghĩa một cách chính xác
d. Liệt kê các công việc của một người thực thi diễn trình
6. Người cổ động là người :
a. Liên kết nhóm này với nhóm khác để có lợi ích hỗ tương
b. Cho nhóm biết phải chuyển động như thế nào trong diễn trình thay đổi.
c. Đưa ra những ý kiến hoặc lời đề nghị có giá trị
d. Giúp người khác thấy được nhu cầu cần thay đổi
7. Trong trường hợp học tập A, khi Roger sai một người lãnh đạo của mình đến bàn bạc với nhóm có cùng các nan đề, ông đang làm tròn nhiệm vụ của một.
a. Người thực thi diễn trình
b. Người nối kết các nguồn
c. Người cổ động
d. Người để xướng cách giải quyết vấn đề.
8. Điều nào trong những điều này là phương cách chọn một giải pháp từ nhiều ý kiến khác nhau?
a. Tìm giải pháp lý tưởng
b. Nhanh chóng gom ý của các thành viên khác trong nhóm
c. Xét mọi chướng ngại có thể xảy ra đối với vấn đề ấy.
d. Mọi điều trên đây là phương cách đúng.
9. Sự đối kháng chống lại sự thay đổi đó được trù hoạch có thể có ích lợi nếu nó dẫn đến :
a. Sự xung đột tích cực
b Làm tiến trình thay đổi chậm lại
c. Một kế hoạch tốt hơn
d. Thực hiện những điều theo cách mà bạn vẫn thường hành động.
10. Mục tiêu của những người lãnh đạo có ảnh hưởng là:
a. Truyền đạt với các chi thể khác sự ủng hộ của họ đối với một sự đổi thay.
b. Gom góp các đề xướng từ các thành viên khác để có một sự thay đổi.
c. Khởi sự một phong trào bí mật để chống lại sự thay đổi
d. Thực hiện sự thay đổi
11. Trong việc thực hiện một sự thay đổi, kế hoạch nào trong các kế hoạch này là tốt nhất.
a. Tiếp xúc với càng ít người càng tốt.
b. Chuyển động mau chóng trước khi các thành viên khác thay đổi ý kiến của họ.
c. Chỉ định người đã chống đối sự thay đổi hướng dẫn diễn trình thay đổi.
d. Chuyển động một cách chậm chạp
12. Điều nào trong những điều này là ĐÚNG về sự đánh giá liên tục của một sự thay đổi sau khi đã tiến hành?
a. Quá trình này sẽ phô bày cho những tín hữu các quyết định của bạn là không chắc chắn.
b. Nó sẽ thêm uy tín cho bạn như một cộng tác viên có trách nhiệm.
c. Nó phải là một sự nghiên cứu thấu suốt như là sự nghiên cứu dẫn đến sự thay đổi.
d. Nó được thực hiện bởi người trực tiếp liên quan đến các lãnh vực mà sự thay đổi tác động đến.
Phần trả lời các câu hỏi nghiên cứu
1. Các câu trả lời a,b c và e là đúng
2. Câu trả lời của bạn sẽ giúp bạn nhận thức cơ cấu tổ chức trong Hội Thánh bạn.
3. Câu trả lời của bạn sẽ tỏ ra tầm quan trọng của cơ cấu tổ chức đối với Hội Thánh của bạn.
4.a. Mục sư
b. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm : sở hữu tài sản, quản lý các yêu cầu của các thành viên, giúp cho cả thành viên bỏ phiếu.
c. Sự liên kết của một số người ao ước thờ phượng Đức Chúa Trời, cung phụng cho những người tin và truyền Tin Lành cho thế giới và là những người nổ lực và kết hiệp với những người khác thực hiện những điều này cách hữu hiệu.
5.d. đại diện cho toàn bộ các tín hữu.
6. Các câu trả lời của bạn có thể giống như vậy:
a. Bản chất thật của vấn đề là cộng đồng miễn cưỡng đối với các kế hoạch dài hạn trong phương diện tài chánh khi mục sư của họ gần nghỉ hưu.
b. Trong quá khứ đã có một sự kiện quan trọng là các thành viên đã giúp giảm bớt gánh nặng về tài chánh của họ.
c. Các thành viên hiện tại là những người bị nạn đề tác động lên nhiều nhất. Nếu họ đồng ý với một chương trình xây dựng, họ phải chịu trách nhiệm về phương diện tài chánh trong một thời gian rất lâu dài sau khi mục sư đã ra đi.
d. Nếu phần lớn số tích lũy của Hội Thánh phải đóng góp để trả cho một kiến ốc mới, những lãnh vực phát triển khác sẽ bị tổn hại.
7. Tôi sẽ ghi lại thứ tự các con số những bước như vầy :
a 5
b 2
c 3
d 7
e 4
f 1
g 5
8. d. Giúp các thành viên biết được.
9.a. “Hội Thánh tôi thường...
b. “ Chúng ta sẽ bắt đầu tích lũy
10. c. Người lãnh đạo đã đến bàn hỏi với các nhà lãnh đạo của Hội Thánh khác.
11. c. Suốt diễn trình từ đầu đến cuối.
12. a. 4) Người đề xướng cách giải quyết
b1) Người cổ động
c 3) Người nối kết các nguồn
d 2) Người thực thi diễn trình
13. Gương mẫu của bạn. Ví dụ nhóm có thể sử dụng một Hội Thánh khác nào ngày nào đã sắp đặt trước, thuê một phòng họp của một khách sạn hoặc mua tòa nhà cũ rộng rãi.
14. Câu trả lời của bạn. Ví dụ, ông ta có thể quyết định xây dựng một nhà thờ mới trong khi vực khác của thành phố và tập trung vào một nhóm chủng tộc nào đó.
15. Câu trả lời của bạn. Ví dụ, ông ta có thể đặt những câu hỏi này : Ân tứ thuộc linh của tôi có thể phục vụ ở đâu hữu hiệu nhất? Ý kiến nào tôi cảm thấy tin cậy và quan tâm nhất khi tôi cầu nguyện? Tôi có bình an khi lựa chọn điều này không? Tôi có thấy đây là ý muốn của Đức Chúa Trời đối với tôi không? (đây là một vài câu hỏi mà một người lãnh đạo với tinh thần phục vụ có thể xem là quan trọng nhất.
16. Vì nó ngăn trở Hội Thánh sửa lại các nguyên tắc thực hành sự thay đổi về mặt tổ chức. ( Điều này có cho bạn thấy rằng vì mục sư của Hội Thánh yếu về mặt sửa soạn huấn luyện người lãnh đạo cho Stan hoặc hướng dẫn Stan?)
17. Bởi hoạt động qua một nhóm các người lãnh đạo có ảnh hưởng và được sự ủng hộ của họ trước nhất.
18. a. Không thành kiến trong cái nhìn của mình
c. Có thể giúp bạn tìm ra một giải pháp tốt hơn.
19. Một thái độ tha thứ
20. Đây là kế một kế hoạch năm năm đạt được 50 phần trăm hoàn tất sau ba năm.
21. b. quá nhanh
22. Họ sẽ phản loạn và chống lại sự thay đổi.
23. a. 2. Đánh giá
b. 1. Phần thưởng
c.1. Phần thưởng và 3. Thái độ tích cực
d. 2. Đánh giá và 3. Thái độ tích cực

DẪN DẮT CÁC NHÓM NHỎ
Tại sao chúng tôi lại đem bài học về các nhóm nhỏ này vào chương trình nghiên cứu về chức vụ lãnh đạo? Vì gần 2000 năm qua các Cơ Đốc nhân đều nhóm họp trong các nhóm nhỏ. Trong các bối cảnh rất khác nhau, từ các phòng khách đến cái chòi nhỏ trong các làng mạc, trong các trại tập trung đến hầm mộ, các nhóm Cơ Đốc đã cổ vũ, dạy dỗ và đem lại sự sống mới cho vô số người.
Thật ra, gần hai ngàn năm trước đây, Hội thánh đầu tiên đơn sơ nhóm lại trong các nhóm nhỏ, theo kiểu mẫu của Công vụ chương 2. Đại đế Constantine cho phép tự do thờ phượng cho các thần dân và trở cấp cho các Hội Thánh bằn quỹ tích lũy của nhà nước.
Chúng ta đã thấy trong bài thứ 11 là các Hội Thánh địa phương thường có một cơ cấu tổ chức. Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến bản chất của
Hội Thánh không thuộc về một tổ chức. Nói đúng hơn, đây là một cơ cấu hữu cơ sống động nhận lấy sự sống và sự hướng dẫn từ Đầu là Chúa Giêxu Christ. Vì các Cơ Đốc nhân là các chi thể của một thân, họ cần liên hệ với nhau trong một tâm linh của công đoàn Cơ Đốc. Các nhóm nhỏ cung cấp một hoàn cảnh tự nhiên để mang lấy gánh nặng trong tình yêu và việc lành và được xây dựng trong đức tin. Vì vậy, chúng ta cần biết sự năng động của các nhóm nhỏ và làm thế nào để dẫn dắt các nhóm này là điều thật sáng tỏ.

Dàn bài
Giá trị của các nhóm nhỏ
Các loại nhóm nhỏ
Người lãnh đạo và nhóm của mình
Đánh giá một nhóm nhỏ

Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài này, bạn có thể :
Thảo luận các lợi ích của các nhóm nhỏ.
Mô tả các loại nhóm nhỏ khác nhau trong Hội Thánh và các chức năng chính của mỗi loại.
Giải thích làm thế nào để khởi sự một nhóm nhỏ và hướng dẫn một cách hiệu quả.
Aùp dụng những gì bạn học trong bài học này bằng cách hướng dẫn một nhóm nhỏ trong Hội Thánh của bạn.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học theo các phương pháp đã áp dụng
Làm bài kiểm tra và soát lại các câu trả lời.
Nếu bạn chưa thực hiện như vậy, hãy sắp xếp với giám đốc chương trình ICI của bạn để được thi cuối khóa ngay sau khi học xong.
Những từ then chốt
cell group : Nhóm tế bào
community : cộng đồng ( cộng đoàn )
conditioning : làm cho phù hợp
convenor : người thực tập
corporate : tập thể
enabler : người cung ứng
evaluation : sự đánh giá
intiative : bước khởi đầu
institutional : của một tổ chức
koinonia : thông công
organism : cơ cấu hữu cơ
relevant : thích đáng

Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Giải thích tại sao các nhóm nhỏ có tầm quan trọng về việc rao giảng Phúc âm.
GIÁ TRỊ CỦA CÁC NHÓM NHỎ
Lịch sử cho ta biết rằng các nhóm nhỏ có tầm quan trọng trong việc rao giảng Phúc âm hơn các tòa nhà lớn. Khi các quan sát viên từ phương Tây được phép đến Trung Hoa lần đầu tiên từ khi bị người cộng sản cai trị trong những năm 1904, họ rất quan tâm đến tình trạng Hội Thánh tại đây. Họ rất ngạc nhiên khi thấy Hội Thánh không chỉ đứng vững trước những tấn công bạo tàn nhưng lại còn thực sự nhân lên nữa! Các thành viên của hàng ngàn các nhóm nhỏ vẫn trung tín với Chúa và nhóm họp đều đặn trong các tư gia để khích lệ và gây dựng lẫn nhau. Những tín hữu này cho ta một bằng chứng về ảnh hưởng đầy quyền năng của các nhóm nhỏ đối với xã hội. Họ đã nhân lên bằng cách chia nhóm của họ ra rất nhiều lần khi các Cơ Đốc nhân mới thêm vào.
Đức Chúa Trời đã sử dụng các nhóm nhỏ sản sinh ra các phong trào vĩ đại trong việc truyền Tin Lành và sự tăng trưởng của Hội Thánh. Giáo phái giám lý thật sự bắt đầu với một nhóm thông công nhỏ chỉ có bốn sinh viên Đại học Oxford. Các sinh viên lập một giao ước với nhau cùng nghiên cứu Kinh Thánh, sống một nếp sống Cơ Đốc và làm chứng về Chúa Giêxu Christ. Vì vậy, không lấy gì làm ngạc nhiên về cơn phục hưng của người Giám lý đã bùng nổ tại Anh quốc, đặc tính nổi bật là các buổi nhóm nhỏm trong các lớp học. Các nhóm này đã đánh đổ các hàng rào xã hội cứng ngắt thời bấy giờ. Họ đem đến sự hiệp một và một ý thức gia đình làm thay đổi cộng đồng dân chúng.
Ngày hôm nay các nhóm nhỏ đang minh chứng rằng đây là phương tiện làm sống lại vô số Hội Thánh và các giáo phái trên toàn thế giới. Trên hai thập kỷ vừa qua. Hội Thánh đã kinh nghiệm điều được mô tả như là “ một cuộc cách mạng thầm lặng”.
Một số những dấu hiệu rõ ràng nhất của Đức Chúa Trời hành động qua linh của Ngài có thể nhìn thấy được qua các nhóm nhỏ.

1. Giải thích câu nói này : “Các nhóm nhỏ có tầm quan trọng trong việc rao truyền Tin Lành hơn các tòa nhà lớn”
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 2 : Mô tả vài ảnh hưởng tốt của một nhóm Cơ Đốc nhỏ ít khi được tìm thấy trong một cộng đoàn lớn.
Các nhóm nhỏ đem lại sự thông công
Các nhóm nhỏ cung cấp một ngoại cảnh tự nhiên với mục đích làm cho sự gặp gỡ các tín hữu khác được thêm giàu có, phong phú, vì Hội Thánh là con người chứ không phải là một nơi chốn. Các Cơ Đốc nhân bắt đầu suy nghĩ về Hội Thánh là các tín hữu gần gũi với họ chứ không phải là cái nhà mà họ đến đó để thờ phượng. Khi các Cơ Đốc nhân chia xẻ nếp sống của họ một cách sâu xa đầy ý nghĩa họ kinh nghiệm được điều mà Tân Ước gọi là Koinonia nghĩa là thông công.
Theo quyển tụ điển Tân ước của Vine chữ Koinonia có nghĩa là “ thông công, tương giao và chia xẻ chung”. Trong Tân ước chữ này được dùng theo cách mà Cơ Đốc nhân sống trong tình bằng hữu với nhau.
Ngày hôm nay phẩm chất trong nếp sống Cơ Đốc này trong nhiều Hội Thánh rất là hiếm hoi, điều này thật hiển nhiên. Nhiều Hội Thánh được tổ chức lại như một cái học viện và hoạt động trên căn bản công việc theo một số quy luật nào đó. Khi Hội thánh nhấn mạnh điều này, các tín hữu không có dịp tiện biết nhau hoặc quan tâm đến nếp sống của nhau. Trong các cộng đồng lớn, nan đề này càng tệ hại, những người thờ phượng chung là khách lạ của nhau.
Nếu vẽ một họa đồ về một Hội thánh địa phương phải như thế nào. Chính xác nhất là vẽ một cái vòng tròn. Theo cách này chúng ta sẽ bao gồm mọi tín hữu và cũng biểu hiện thế nào chúng ta là một thân thể độc nhất. Bên trong vòng tròn này, chúng ta có thể xem mỗi một nhóm nhỏ là một phần của sự tương giao trong các tín hữu.
Các nhóm nhỏ có sự thân mật dễ thích nghi quan tâm đến cá nhân.
Các nhóm nhỏ có :
Sự thân mật
Dễ thích nghi
Quan tâm đến cá nhân
Dưới đây là một vài ảnh hưởng tốt của các nhỏm nhỏ vượt ra khỏi lãnh vực hoạt động của các Hội Thánh trong một hiệp hội nghiêm khắc.
1. Các nhóm nhỏ này rất thân mật : Nhiều người vui hưởng sự thân mật trong các nhóm nhỏ này. Những người mới có thể thoải mái với ngoại cảnh tự nhiên này trong tư gia đông đúc và tham gia nói chuyện cách thân thiện. Những người đã lìa bỏ các Hội Thánh đầy nghi thức có thể trở lại với Christ khi họ hưởng được sự thông công trong bầu không khí thân mật của một nhóm nhỏ.
2. Các nhóm nhỏ này dễ thích nghi : Không giống với một buổi nhóm được tiến hành trong nhà thờ, các thành viên của một nhóm nhỏ có thể sắp xếp thời gian, nơi chốn nhóm họp để chu cấp các nhu cầu của họ. Họ có thể thay đổi số lần nhóm họp khi cần thiết : và dễ dàng thông báo cho nhau. Ví dụ trong một tập thể trong nông trại thì giờ tổ chức nhóm họp có thể thay đổi lại khi có cần để thích hợp công việc bình thường hằng ngày của một nông trại.
3. Có sự khích lệ tham gia : Trong phần cuối của bài học này chúng ta sẽ thấy người lãnh đạo có thể thông công với nhóm bằng cách sử dụng nhiều câu hỏi thích hợp. Những ai không phải là Cơ Đốc nhân có thể hỏi các câu hỏi chân thành của riêng họ. Nhu cầu của họ có thể được giải đáp trước khi tin Chúa. Thật là dễ dàng thảo luận các câu hỏi một cách thành và rộng mở trong bầu không khí thân mật của một nhóm nhỏ.
4. Có sự quan tâm cá nhân : Trong một nhóm nhỏ mỗi một thành viên đều quan trọng. Aán tượng đẹp nhất mà các thành viên trong nhóm có thể ghi khắc trên những người khác là có một sự quan tâm thích đáng. Mỗi người trong nhóm đều cảm thấy được quan tâm và thông cảm.
2. Giải thích vắn tắt các lợi ích của những đặc tính trong một nhóm nhỏ mà các cộng đồng lớn thường thiếu khả năng.
a. thân mật ............................................................................................................
b. dễ thích nghi .....................................................................................................
c. tham gia ............................................................................................................
d. cá nhân .............................................................................................................
Mục tiêu 3 : Chọn những từ miêu tả các cách thức một nhóm nhỏ đem lại sự tăng trưởng thuộc linh cho từng thành viên.
Nhóm nhỏ đem đến sự tăng trưởng thuộc linh.
Nhiều tác giả Cơ Đốc chính yếu hiện nay tuyên bố rằng nhiệm vụ của Hội Thánh ngày nay là phải trở về với sự thông công và những kiểu mẫu liên hệ được tìm thấy trong Tân Ước.
Một trong những tác giả này là Lawrence Richards, nhất quyết không chấp nhận một cơ cấu được thành lập theo thói quen đối với Hội Thánh. Ông đã tưởng tượng ra một Hội Thánh có ba nhóm chính :
1. Đơn vị gia đình
2. Nhóm tế bào tăng trưởng.
3. Hội chúng.
Richaards trước hết nhấn mạnh đến những nhóm nhỏ. Ông tin rằng con đường hướng về sự tương giao và ảnh hưởng lẫn nhau đem đến sự trưởng thành thuộc linh mạnh mẽ.
Một trong các hình thức hữu hiệu nhất của nếp sống các nhóm nhỏ trong nhiều nền văn hóa là kiểu mẫu được Lyman Coleman mô tả là : sự tăng trưởng nhờ các nhóm. Trong kiểu mẫu nầy các nhóm nhỏ trong Hội Thánh nhờ những người không chuyên dẫn dắt và có một sự nhấn mạnh quân bình trên việc nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện, chia sẻ và hoạt động (các hoạt động công tác). Họ cũng có sự năng động trong việc chia chính họ thành các nhóm mới khi đã trở nên quá lớn.
Cầu trúc thực sự của một nhóm nhỏ đến mức độ nầy không quan trọng đối với chúng ta. Cũng không quan trọng trên các tên gọi như các, các nhóm hoặc các sự gặp gỡ tăng trưởng. Vai trò của các nhóm nhỏ trong việc đem lại sự tăng trưởng thuộc linh có tầm quan trọng gì? Hiện nay, các nhà lãnh đạo nhận thức rằng khi các thành viên của các nhóm nhỏ diễn tả hi vọng, sự sợ hãi, những ưu phiền, niềm vui, các kiến thức của họ đối với Lời của Đức Chúa Trời nó sẽ sản sinh ra sự tăng trưởng thuộc linh và sự phát triển cá nhân.
Điều gì đã làm cho một nhóm nhỏ trở nên một phần sống động trong thân thể của Christ? Thành phần nào cầm được thêm vào để khiến nó phù hợp với Kinh Thánh? Ai hình thành những quy luật cai trị một nhóm nhỏ? Nhóm này hoạt động như thế nào? Làm thế nào nhóm nhỏ đem lại sự trưởng tiến thuộc linh?
Để trả lời các câu hỏi này những nhóm khác nhau chấp nhận các giá trị văn hóa riêng của họ và quan tâm đến các yếu tố theo bổi cảnh đặc biệt của họ. Tôi có đề nghị bốn đặc điểm cho các nhóm nhỏ trong Hội Thánh đem lại sự tăng trưởng thuộc linh là tình yêu thương, sự cầu nguyện, sự sẵn sàng, và sự khai thông.
Các nhóm nhỏ này đem đến sự tăng trưởng thuộc linh qua :
Tình yêu thương
Sự cầu nguyện
Sự sẵn sàng
Sự khai thông
1. Tình yêu thương. Điều này phải là dấu ấn đầu tiên của nhóm. Mạng lệnh của CJ đối với các môn đồ của Ngài là yêu thương nhau vẫn còn trói buộc chúng ta như ngày xưa Chúa truyền phán ( Giăng 15:17;). Thỉnh thoảng chúng ta có khi không đồng ý với nhau, nhưng đừng bao giờ để bất cứ điều gì ngăn trở chúng ta yêu nhau. Yêu thương là một loại “ keo” dán các Cơ Đốc nhân lại với nhau trong cộng đồng đức tin.
Tình yêu thương thật phát triển nhờ sự chung thủy. Đức Chúa Trời mặc khải qua Oâsê Ngài thất vọng với tình yêu không vững bền của người Ysơraên ( Eâpraim) và Giuđa. Ngài nói : ‘ Ta sẽ làm gì cho ngươi, hỡi Eâpraim? Ta sẽ gì cho ngươi, hỡi Giuđa? Vì tình yêu của các ngươi giống như mây buổi sáng như sương sớm tan ra” ( OsHs 6:4). Các nhóm nhỏ có thể dạy chúng ta làm thế nào để yêu Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài cách trung tín.
2. Sự cầu nguyện : Hội Thánh đầu tiên luôn là kiểu mẫu giúp chúng ta biết làm thế nào cầu nguyện cho nhau. Trong cách nhóm nhỏ, chúng ta được ủy thác cho chức vụ cầu nguyện. Chúng ta có đặc quyền và trách nhiệm để cầu nguyện cho bất cứ điều gì và cho mọi sự. Chúng ta có thể cầu nguyện cho bất cứ điều gì và cho mọi sự. Chúng ta có thể cầu nguyện cho bất cứ điều gì và cho mọi sự. Chúng ta có thể cầu nguyện cho sức khoẻ, công việc làm ăn, gia đình, sự bảo vệ, cho đất nước, các dịp tiện để làm chứng, cũng như nhiều vấn đề khác. Không một điều gì ở ngoài lãnh vực cầu nguyện cả ! Nếu quá bận rộn cầu nguyện cho người khác, chúng ta là một người bận rộn. Các nhóm nhỏ có năng lực thuộc linh khi các chi thể nhấn mạnh đến sự cầu nguyện cho nhau.
3. Sự sẵn sàng : Trong sách Công vụ chúng ta quan sát thấy rằng các Cơ Đốc nhân luôn luôn sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của các tín hữu. Họ hết lòng cung cấp cho người khác điều họ cần: thì giờ, tài sản, sự tiếp khách, sự khích lệ và công tác thuộc linh.
Nếp sống Cơ Đốc là một nếp sống chia xẻ. Dâng hiến cho Hội Thánh một số tượng trưng từ số lương bổng dư dật khó có thể chia xẻ sự sống của mình với dân sự của Đức Chúa Trời. Điều lý tưởng đối với mọi tín hữu là góp phần vào sự thịnh vượng chung của các anh chị em thuộc linh của họ.
3. Đọc Gia Gc 2:15-16 và giải thích bài học thực tiễn trong khúc Kinh Thánh này.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
4. Sự khai thông: Các tín hữu trong Hội Thánh đầu tiên có sự khai thông với nhau. Tình trạng văn hóa của chúng ta thật khó thành thực và ngay thẳng với các Cơ Đốc nhân khác. Tuy nhiên, theo 5:16 chúng ta cần nhận tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được chữa lành. Đôi lúc chúng ta cần kỷ luật và có được các lợi ích của sự điều chỉnh hỗ tương.
Thiếu sự khai thông là một trong những nhược điểm chính của các vua Ysơraên trong Cựu Ước. Họ từ chối thông công với các thầy tế lễ và các tiên tri về các hành động của họ. Họ đã cai trị bằng gươm, kết cuộc thật là bi thảm.
Qua của tất cả những dấu hiệu này, anh em lưu ý các nhóm nhỏ Cơ Đốc hướng về mục đích chia xẻ cho nhau. Các Cơ Đốc nhân cần ký thác chính mình cho sự tương đồng tập thể. Không ai dám tuyên bố rằng mình biết mọi câu trả lời hoặc hiểu Kinh thánh trọn vẹn. Mỗi người đến với nhóm như một người tìm kiếm và góp phần vào mục đích chung để biết Christ và Linh nội trú trong chúng ta. Kết quả là sự tăng trưởng thuộc linh.
4. Điền vào chỗ trống để hoàn tất các câu này hầu phô bày được cần yếu cho sự tăng trưởng thuộc linh trong một nhóm nhỏ.
a. Cách tốt nhất mà các thành viên trong nhóm có thể giúp đỡ nhau là nhờ ........................................................................
b. Các Cơ Đốc nhân cung cấp cho người khác điều họ cần chính họ trở nên những người.....................................................
c. Dấu ấn đầu tiên của nhóm phải là ....................... được phát triển nhờ .............
d. Một thành viên trong nhóm ao ước mở ra và thành thật trong sự quan hệ của mình nhận lấy kỷ luật để được ............................................với người khác.

Mục tiêu 4 : Nhận ra các đặc điểm và các mục đích của các loại nhóm nhỏ khác nhau.

CÁC LOẠI NHÓM NHỎ
Khi chúng ta nhìn vào các loại nhóm nhỏ đang mang lấy trách nhiệm trong Hội Thánh ngày nay. Tôi muốn nhắc nhở ảnh em rằng không phải mọi nhóm nhỏ đều tự động thành công hết đâu. Một vài nhà lãnh đạo đến với các nhóm nhỏ để có được câu giải đáp cho mọi nan đề trong Hội Thánh của họ. Sau đó họ không kinh nghiệm được điều gì cả khi các nhóm không còn sản sinh ra các kết quả tốt đẹp nữa. Hình thành các phần nhỏ không bảo đảm là có sự thành công đâu. Nếu có những động cơ bất xứng, ví dụ như sử dụng các nhóm nhỏ để quyến rủ các thành viên của những Hội Thánh khác hay đơn giản là đem một người nào đó vào vị trí lãnh đạo, bạn đã không tạo ra một hoàn cảnh thuận lợi cho sự chúc phước của Đức Chúa Trời hoặc cho sự đổi mới thuộc linh.
Đang khi có một số lớn các nhóm hoạt động bên trong một Hội Thánh địa phương, các nhóm này phải có một yếu tố chung : chúng phải hiện hữu đáp ứng các nhu cầu của những người trong nhóm. Các nhóm này không hoạt động để đáp ứng các nhu cầu của người lãnh đạo cũng không cấp một nền tảng huấn luyện cho những người lãnh đạo có khả năng. Mục đích của các nhóm này là đáp ứng các nhu cầu thực của các thành viên trong nhóm.
Bây giờ chúng ta hãy thử quan sát các loại nhóm cơ bản thương được tìm thấy trong các hội chúng Cơ Đốc và các chức năng của họ.
Nhóm học Kinh Thánh
Học Kinh Thánh có thể là chức năng bình thường nhất của các nhóm trong một Hội Thánh nhỏ. Các thành viên của nhóm hiệp lại để học hỏi của Đức Chúa Trời. Khi họ chia xẻ, thảo luận, và áp dụng Kinh Thánh vào các hoàn cảnh đặc biệt cho từng cá nhân họ kinh nghiệm được sự tăng trưởng thuộc linh. Người lãnh đạo phải sử dụng các phương pháp dạy dỗ tốt nhất để bảo đảm rằng việc học tập không chỉ là lý thuyết hay vận dụng khả năng trí tuệ hơn thế nữa. Lời trở nên sự sống và thích hợp với mỗi một thành viên trong nhóm.
nhóm cầu nguyện
Nhiều Hội Thánh có một sự lưu tâm nhiều đến các thành viên tích cực trong sự cầu nguyện. Những người có gánh nặng tham gia vào việc cầu thay rất có sức sống cho Hội Thánh. Có một sự năng động thắng thế trong sự cầu nguyện chung mà không có một cá nhân nào có thể kinh nghiệm được khi cầu nguyện riêng. Các thành viên của một nhóm cầu nguyện không chỉ cầu nguyện cho nhau và cho Hội Thánh địa phương của họ ; họ cũng cầu thay cho nhiều cá nhân bên ngoài Hội thánh và ngay cả cho những người ở các quốc gia khác. Họ tin vào điều mà Kinh Thánh nói : “ Sự cầu nguyện của người công nghĩa có nhiều quyền lực rất hiệu nghiệm” (Gia Gc 5:16).
Nhóm truyền giảng Phúc Âm
Nhóm truyền giảng Phúc âm chỉ là một trong nhiều phương cách tham gia truyền giảng Phúc âm. Đây là một phương pháp rất hữu hiệu trong việc đem tin lành đến cho mọi người. Tôi tin rằng mỗi một Hội Thánh phải có ít nhất một nhóm nhỏ với một chức năng biệt là chinh phục những người hư mất cho Chúa. Những ai được mời vào nhóm phải hiểu rằng đây là mục tiêu chính của nhóm.
Tôi đề nghị rằng bạn phải chờ đợi cho đến khi bạn có một cái nhân nhiều tín hữu trước khi lao vào con đường này. Hai hoặc ba Cơ Đốc nhân trưởng thành khác sẽ hết sức giúp bạn trong việc cung cấp các nguồng cung ứng bạn cần để nuôi dưỡng người mới.
Thông thường những người lãnh đạo loại 2 ( xem bài 10) liên kết với nhóm rao giảng Phúc âm vì tiêu điểm của nó là đến với người hư mất và những người ở ngoài Hội Thánh. Nhóm này sẽ tìm cách tìm kiếm và áp dụng những phương pháp hiệu quả để đem người khác tiếp xúc với các hoạt động của Hội Thánh. Ví dụ các thành viên có thể mời một anh em đáng tin đến dự một dịp đặc biệt nào đó của gia đình họ. Đôi lúc các nhóm nhỏ này có thể đặc biệt nào đó của của gia đình họ. Đôi lúc các nhóm nhỏ này có thể trực tiếp đi ra rao giảng Phúc âm qua những đội nhỏ trong các công tác đặc biệt hay được chỉ định ra đi.
Nhóm chăm sóc xã hội
Mỗi một người đều cần có bạn và hưởng lấy tình bằng hữu trong xã hội. Những nhóm nhỏ trong Hội Thánh có thể cung cấp mọi hoạt động xã hội cho mọi người theo những quan tâm hay độ tuổi của họ. Những nhóm như vậy nhóm với nhau trong các buổi nhóm xã hội thân mật để vui chơi và hưởng thụ. Thông thường trong các hoạt động tiêu khiển, những người lãnh đạo làm một thành viên cùng vui chơi hơn là làm người lãnh đạo. Những điều này sẽ giúp các thành viên có một ý thức rằng mình thuộc về nhóm này.
Các Cơ Đốc nhân mới giống như các em bé sơ sinh cần sự chăm sóc và nâng đỡ. Một nhóm nhỏ chăm sóc trong Hội Thánh có thể giúp đỡ trong việc chăm sóc này và tạo ra một khung cảnh lý tưởng cho người mới tin. Tại đây các Cơ Đốc nhân trẻ học tập lớn lên trong sự yêu thương và trở nên vững vàng trong niềm tin mới của họ. Những người lãnh đạo có thể đưa ra các giáo lý căn bản của Hội Thánh và khi người tín hữu trẻ ấy lớn lên trong tâm linh phải có sự chăm sóc của mục sư.
Nhóm quan tâm đặc biệt
Đôi lúc người ta nhóm lại trong những nhóm có khuynh hướng theo đuổi những điều họ quan tâm đặc biệt. Có thể bao gồm cả việc phát huy những kỹ năng trong các lãnh vực thủ công, may thêu, rèn luyện sức khoẻ hoặc săn sóc các bà mẹ mang thai. Họ cũng nhấn mạnh đặc biệt đến mối quan tâm hệ cá nhân hầu cho không ai cảm thấy bị bỏ rơi. Đôi lúc nhóm này sử dụng tài khéo của họ để làm ra những món quà ích lợi cho việc truyền giáo hay những người trong cộng đồng có các nhu cầu đặc biệt. Qua sự tìm tòi nghiên cứu những người vô tín, tham gia trong các nhóm này dễ dàng nhận lời mời để đến sinh hoạt với Hội Thánh.
5. Trong những vấn đề này điều nào là lý do chính để thành một nhóm nhỏ?
a. Cung cấp một địa điểm nơi đó các nhá lãnh đạo được huấn luyện.
b. Thu hút người khác đến với Hội Thánh.
c. Giúp cho những người ở trong Hội Thánh một vài hoạt động để tiêu pha thì giờ.
d. Đáp ứng các nhu cầu của những người hình thành nhóm.
6. Cột bên trái là những lời mô tả về các nhóm tiêu biểu được tìm thấy trong Hội Thánh nhận ra chức năng hoặc các chức năng chính của mỗi nhóm bằng cách xếp nó vào đúng với loại nhóm
1. Học Kinh Thánh
2. Cầu nguyện
3. Rao giảng Tin lành
4. Chăm sóc
5. Xã hội
6. Quan tâm đặc biệt.
.....a. Nhóm này dành cho các nam học sinh bao gồm các bé trai học thuộc lòng Kinh Thánh, dạy những bài học Kinh Thánh để hướng dẫn cách cư xử, dạy nghề thủ công để các em có thể làm đồ gồ.
.....b. Nhóm các bà học về những người nữ quan trọng trong Kinh Thánh với sự áp dụng thực tế vào nếp sống hiện tại.
....c. Nhóm này liên hệ đến công tác trong tù, các thành viên hướng dẫn các buổi nhóm thờ phượng cho các tù nhân và sau đó thờ phượng cho các tù nhân và sau đó từng cá nhân đến với từng tù nhân để chinh phục họ cho Christ.
....d. Mục sư dẫn dắt một lớp học cho người mới qua đó ông dạy giáo lý căn bản và giúp các thành viên làm quen với các chức vụ trong Hội Thánh địa phương của họ.
....e. Nhóm này bao gồm các người nam gặp nhau vào mỗi bữa ăn sáng và mỗi sáng thứ bảy để cầu nguyện nhấn mạnh đến các nhu cầu đặc biệt của Hội Thánh địa phương và mọi thành viên.
....f. Một số thành viên của Hội Thánh chia thành những nhóm mười người mỗi tháng nhóm lại một lần nhằm mục đích hiểu biết lẫn nhau. Hoạt động của họ có thể bao gồm nhiều điều khác nhau như dạo mát, ăn tối với nhau, tham gia các trò chơi, hoặc nghe hòa nhạc, tham gia các trò chơi, hoặc nghe hòa nhạc. Sáu tháng một nhóm được tổ chức lại để các thành viên liên tục quen với người mới.
....g. Nhóm người này trước đây chính xì ke nhóm lại để khích lễ lẫn nhau và đi tìm những người khác với cùng cảnh ngộ.
Mục tiêu 5 : Chọn lọc tư cách mà một người lãnh đạo nhóm Cơ Đốc phải có.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ NHÓM CỦA ÔNG
Tư cách của một người lãnh đạo
Hiển nhiên là những người lãnh đạo của các nhóm nhỏ phải có đủ điều kiện để dẫn dắt. Phẩm chất quan trọng nhất mà một người phải có là sự trưởng thành. Đây không phải là một vai trò của các Cơ Đốc nhân mới hoặc những người chỉ tìm kiếm địa vị quyền bính trong Hội Thánh. Một cơ đốc nhân trưởng thành là người đã minh chứng được ân tứ của mình trong Hội Thánh và có sự biểu hiện của các bông trái thuộc linh (GaGl 5:22-23).
7. Vấn đề nào trong các điều này bạn tin là đúng? Người dẫn dắt các nhóm nhớ phải
a. Nhận biết mỗi thành viên của nhóm có sự tích cực góp phần vào việc xây dựng nhóm.
b. Có một chức vụ giảng dạy mạnh mẽ.
c. Tự xem mình là một tôi tớ của nhóm, chứ không phải là một lãnh chúa.
d. Kiên nhẫn chờ đợi nhóm trưởng thành và phát triển.
e. Tin cậy vào những kinh nghiệm đã qua để dẫn dắt nhóm hơn là có những sự chuẩn bị đặc biệt của mình trong chức vụ lãnh đạo nhóm.
f. Quyết định cho nhóm sau khi xem xét mọi sự chọn lọc.
g. Khích lệ các thành viên của nhóm tham gia vào các quyết định.
h. Tạo ra cảm giác vững chức và thuộc về nhóm.
I. Xác định các mục tiêu của nhóm
j. Là một người hay lắng nghe.
k. Là một mục sư dâng trọn thì giờ được trả lương trong Hội Thánh.
l. Là một Cơ Đốc nhân trưởng thành.
Mục tiêu 6 : Giải thích người lãnh đạo phải làm gì để khởi sự một nhóm nhỏ và dẫn dắt nhóm này.
CÁC CÔNG VIỆC CỦA NGỪỜI LÃNH ĐẠO
Khởi sự một nhóm nhỏ
Có nhiều sách nói về chủ để khởi sự một nhóm nhỏ. Nhưng khi nghèo cứu những quyển sách này chúng ta thấy rằng không một phương pháp nào trổi hơn phương pháp nào. Các nhóm khởi sự bằng nhiều cách khác nhau. Có lẽ đa số các nhóm khởi sự từ kết quả của hai người cảm thấy nhu cầu nhóm nhau lại để đạt đến một mục tiêu chung !
Phạm vi giới hạn của sự nghiên cứu này không cho phép chúng ta khám phá ra vô số phương cách khởi sự các loại nhóm khác nhau, vì thế chúng tôi sẽ tập trung vào một vài bước căn bản có tầm quan trọng.
1. Cầu nguyện : Phần lớn các nhóm trong Hội Thánh khởi sự sau khi các cá nhân để thì giờ cầu nguyện tìm kiếm sự dẫn dắt và sự chúc phước của Đức Chúa Trời. Trong nhiều vấn đề, sự cầu nguyện giúp ta xác định được động cơ thật của chúng ta. Chúng ta có muốn khởi sự một nhóm để được nổi tiếng không? Chúng ta có thỏa mãn bản ngã của mình khi làm một người lãnh đạo không? Chúng ta có đang tìm kiếm các thuộc hạ không? Khi cầu nguyện về vấn đề hình hành một nhóm. Đức Chúa Trời sẽ thuyết phục và điều chỉnh các động cơ của chúng ta nếu nó bất xứng.
Qua sự cầu nguyện Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt chúng ta đến với những người Ngài đã chuẩn bị trở nên một phần tử của nhóm. Ngài biết những ai có các nhu cầu cá nhân có thể được đáp ứng đầy đủ nhất trong một bối cảnh yêu thương và quan tâm đến nhau qua nhóm.
8. Nêu lên hai lý do tại sao người lãnh đạo Cơ Đốc phải cầu nguyện trước khi thành lập một nhóm.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
2. Lắng nghe : Một nhóm nhỏ không thể nào tránh khỏi việc liện hệ với người khác. Bạn cần lắng nghe điều Đức Chúa Trời đang phát ngôn qua họ : Một yếu tố quan trọng đối với việc lắng nghe là khám phá ra ý nghĩa của nó sau những lời nói ấy. Lắng nghe không phải là chờ đến lượt bạn nói ! Nhưng có nghĩa là tiếp thu điều mà người truyền đạt đang chia xẻ. Lắng nghe với lòng mong đợi Đức Chúa Trời dẫn dắt và khuyên lơn qua người đang nói. Điều này đòi hỏi chúng ta tránh đưa ra những sự xét đoán vội vã về người đang phát ngôn hoặc đang nói trước điều người kia đang muốn giải bày. Lắng nghe có nghĩa là hòa trộn cảm xúc cùng sự nhạy bén thuộc linh của mình vào nhiều người đối diện chia xẻ.
9. Người lãnh đạo ao ước lắng nghe một cách cẩn thận những gì người khác nói sẽ
a. Có dịp thuận lợi để thuyết phục họ về ý tưởng của mình
b. Biết anh ta có muốn họ ở trong nhóm của mình không.
c. Được giúp đỡ để khai triển các ý kiến của riêng mình không.
d. Có lẽ không được khích lệ để khởi sự một nhóm.
3. Có sự hội ý và được chấp thuận : Nếu là một thành viên trong Hội Thánh, bạn phải truyền đạt khải tượng của mình trong việc khởi sự lập một nhóm nhỏ với mục sư hay những người lãnh đạo thích hợp. Điều quan trọng là bạn tiến hành với sự chấp thuận của các người lãnh đạo, vì Đức Chúa Trời sẽ không chúc phước cho một nhóm đứng lên từ sự bất đồng ý kiến. Hãy cầu nguyện với nhõng người lãnh đạo của bạn và giải thích thế nào bạn tin rằng nhóm của bạn có thể đem lại ích lợi cho công và sự đi của Hội Thánh.
4. Hãy khởi sự bước đầu tiên : Rất có thể bạn là thành viên đầu tiên trong nhóm ! Đứng chờ đợi cho đến khi có một danh sách đông đảo muốn gia nhập nhóm. Bạn sẽ người khác sẽ được sự sống lối kéo đến hơn là cái quan niệm lập nhóm. Sự sống sẽ sinh ra sự sống. Sự nhiệt thành của bạn đối với những gì Đức Chúa Trời đang thực hiện trong nhóm của bạn sẽ thu hút người khác.
10. James không thỏa lòng với người lãnh đạo nhóm Kinh Thánh của anh. Anh cảm thấy như vậy vì anh là một giáo sư có khả năng hơn, anh muốn khởi sự một nhóm mới. Bạn phải khuyên anh ta làm gì qua những điều này?
a. Hãy khởi sự.
b. Có sự hội ý và được chấp thuận.
Cung ứng cho nhóm
Khi chúng ta bàn về các nhóm nhỏ, đúng ra là không nên sử dụng chữ người lãnh đạo. Tốt hơn là dùng từ như các thầy giáo, người hướng dẫn hay người triệu tập. Những từ này cho thấy rằng một nhóm nhỏ có ý nói đến một nơi học tập chia xẻ. Không ai cho rằng mình là người cai trị các buổi thảo thuận của nhóm. Buổi nhóm không được dẫn dắt theo các quy luật bàn cãi thảo luận.
Người “ lãnh đạo” của nhóm nhỏ có trách nhiệm bảo đảm rằng mọi chi thể đều có một cơ hội như nhau để đưa ra hay nhận lấy công việc. Người ấy hiểu được vai trò của mình là nâng đỡ người khác. Một từ phổ thông được nhiều Hội Thánh sử dụng ngày hôm nay là chữ người cung ứng ( enabler). Chữ này trình bày một người lãnh đạo phải 1) Cung cấp các nguồn cho những nhu cầu của nhóm, 2) Khuyến khích sự chia xẻ 3) Tạo điều kiện để các thành viên vận dụng các ân tứ thuộc linh của mình và 4) Nêu gương mẫu về tư cách Cơ Đốc. Kiểu mẫu đặc biệt này có nghĩa một người lãnh đạo là một người cùng học tập. Ông đến với mỗi buổi nhóm của nhóm với chủ tâm học tập nhiều hơn về nếp sống Cơ Đốc qua các kinh nghiệm mà những thành viên khác chia xẻ. Người lãnh đạo giữa vòng các thành viên nâng đỡ họ chứ không ở trên họ.
11. Điều nào trong những điều này mô tả tốt nhất kiểu lãnh đạo của một người cung ứng?
a. Người chăn có tinh thần tôi tớ.
b. Để cho làm theo tùy thích.
c. Có uy quyền
Cùng chia xẻ chức vụ lãnh đạo
Chúng tôi đã nhấn mạnh rằng trong các nhóm nhỏ mọi người đều ngang bằng với nhau. Sự phát triển tự nhiên của điều này là suy nghĩ đến chữ cùng chia xẻ chức vụ lãnh đạo. Điều này rất đúng với những gì chúng ta tìm thấy trong Tân ước là các Cơ Đốc nhân chia xẻ trách nhiệm lãnh đạo với nhau. Hãy nhớ Phaolô đã nói đến những đồng công của mình? Ông cũng viết về các sự khác nhau trong ân tứ và trong sự phục vụ (ICo1Cr 12:4-11).
Cùng chia xẻ chức vụ lãnh đạo không có nghĩa là người lãnh đạo chỉ nắm giữ một vài công tác để nhẹ bớt gánh nặng riêng của mình ! Đôi lúc nó đòi hỏi người lãnh đạo phải cung hiến thì giờ của mình nhiều hơn bao giờ hết để làm việc, đặc biệt nếu nhóm gồm nhiều người mới. Ích lợi của một sự tận hiến thì giờ như vậy rất có ý nghĩa đối với các thành viên của nhóm.
Đôi lúc chúng ta mang ý tưởng là không ai khác trong nhóm có khả năng lãnh đạo. Chúna ta quên rằng đa số các thành viên là những người có khả năng trong các lãnh vực nghiên cứu của họ hoặc trong lãnh vực nghề nghiệp. Chúng ta cần sử dụng ân tứ của họ và các khả năng để tổ chức, dạy dỗ, chăm sóc gia đình hoặc lập kết hoạch một ngày làm việc. Họ sẽ đóng góp nhiều cho nhóm khi cùng chia xẻ chức vụ lãnh đạo của nhóm.
Chúng ta cũng thường hay thấy nhiều thành viên trong nhóm lệ thuộc vào người lãnh đạo và chỉ muốn “ ngồi dưới chân thầy”. Họ cảm thấy không bảo đảm nếu chức vụ lãnh đạo có nhiều người dự phần. Có khi họ cảm thấy bị đe dọa nếu những người khác mong đợi họ tham gia vào việc quyết định điều gì đó. Người lãnh đạo phải tìm cách giúp các chi thể này khám phá ra mục đích thực tế của nhóm là làm việc chung, cùng quan tâm, cùng nâng đỡ, cùng gây dựng.
12. Loại chức vụ lãnh đạo cùng chia xẻ trong một nhóm nhỏ giống với loại nào trong những loại lãnh đạo này?
a. Dân chủ
b. Độc tài chuyên chế
c. Cùng phối hợp
Khuyến khích thảo luận
Phương pháp hữu dụng nhất để khích lệ sự thảo luận và giúp cho nhóm biết suy nghĩ là đặt các câu hỏi. Tuy nhiên bạn cần phải cẩn thận để hỏi các câu hỏi đúng. Nếu không, bạn sẽ không đi đúng mục tiêu và tạo ra sự tranh luận.
Các câu hỏi cần có một câu trả lời chính xác phải tránh. Ví dụ, đừng hỏi các câu hỏi như : “ Frank, anh có thể cho chúng tôi biết ông vua nào trong Cựu ước ngủ trên một cái giường sắt?” ( xem PhuDnl 3:11 nếu bạn tò mò !) “ Marie, hãy cho biết tên thành phố mà Phaolô được dòng xuống vách thành trong một cái gió”. Nếu các thành viên không biết các câu trả lời họ sẽ ngượng nghịu trước mặt các bạn hữu và có một cảm xúc tiêu cực về buổi thảo luận. Những người khách viếng thăm sẽ rất lo lắng vì đoán trước mình sẽ bị hỏi.
Đôi lúc sự thảo luận có thể đi chậm nhưng người lãnh đạo đừng vội vã xen vào. Vấn đề này có thể là một kinh nghiệm học tập có giá trị của nhóm và thường điều này cho thấy rằng các thành viên đang suy nghĩ vấn đề trước khi đưa ra câu trả lời.
13. Nghiên cứu hai vòng tròn dưới đây, cái bên trái minh họa một nhóm nhỏ có sự thảo luận vây quanh người lãnh đạo. Điền vào vòng tròn bên phải theo các nghiên cứu của chúng ta, những sự thảo luận đã đề nghị phải được hướng dẫn như thế nào.
Lập các chương trình
Bạn có thể đồng ý với các nguyên tắc chúng ta đã thảo luận và biết rằng các nhóm nhỏ là cách hữu hiệu để đem người khác vào gia đình của Đức Chúa Trời. Tuy vậy, bạn vẫn chưa biết làm thế nào lập một chương trình thích hợp. Ở đây có một vài ý kiến để bạn xem xét !
1. Video và băng từ: Có nhiều băng video rất tốt trong nhiều chủ đề khác nhau, bao gồm cả việc nghiên cứu Kinh Thánh. Các chủ đề liên quan đến những vấn đề như nuôi dưỡng con cái, quản lý tiền bạc, hoặc giải quyết vấn đề buồn chán có thể được dùng để thảo luận. Video là những dụng cụ hữu dụng trong việc dẫn dắt người khác đến chỗ được yên ủi và giúp đỡ mà Christ ban cho.
2. Sách vở : Đôi lúc những người lãnh đạo của các nhóm nhỏ dùng một quyển sách làm văn bản cho sự thảo luận của nhóm. Người lãnh đạo cung cấp một bản sao cho mỗi một thành viên và phân công nhau đọc. Sau đó các thành viên chuẩn bị thảo luận phản ứng của họ đối với quyển sách khi nhóm lại. Chọn sách là một vấn đề quan trọng. Phải chọn lọc cách cẩn thận và phù hợp với nhu cầu của các thành viên hoặc các thành viên khác sẽ tham dự.
3. Diễn giả mới : Trong một buổi nhóm thân mật. một diễn giả có thể thảo luận một đề tài như một thú tiêu khiển khác thường hoặc một chuyến du lịch và sau đó có sự áp dụng thuộc linh để rao giảng Phúc Âm, điều này rất hiệu quả. Có một diễn giả mới cũng giúp cho người lãnh đạo mời các thân hữu khi họ không đến để nghe ông ta ! Khi có một diễn giả như vậy, hãy nhớ để thì giờ kết thúc buổi nói chuyện để nhóm thảo luận và đặt câu hỏi.
4. Phỏng vấn : Phỏng vấn một Cơ Đốc nhân trưởng thành có thể là một phương tiện hiệu quả trong việc rao giảng Phúc âm. Người phỏng vấn có thể đặt nhiều câu hỏi mà những gnười vô tín đang có trong trí. Phương pháp này cũng có thể hiệu quả nếu bạn phỏng vấn một Cơ Đốc nhân tưong đối mới. Người lãnh đạo cũng có thể mời các thành viên hỏi các câu hỏi và hướng dẫn bất cứ sự tranh luận nào có thể xảy đến.
Bạn có thể nhớ ra những điều lợi mà một nhóm nhỏ có thể đem lại không? Đây là những điều quan trọng cần nhắc lại một khi bạn lập kế hoạch cho các buổi nhóm của nhóm bạn. Hãy cố gắng làm cho buổi nhóm thật thân mật, dễ chịu. Hãy giúp cho mọi người biết tên của nhau. Hãy cho phép Thánh Linh tự do dẫn dắt buổi thảo luận vào các lãnh vực mà bạn có thể không định trước. Chỉ Chúa biết nhu cầu thực sự của những người đang hiện diện ! Hãy dành dịp tiện cho từng thành viên chia xẻ các tư tưởng và cảm xúc của mình.
14. Hãy nêu lên ba mục tiêu bạn phải xem xét khi bạn lập các chương trình cho một nhóm nhỏ.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 7 : Viết thuộc lòng các câu hỏi đánh giá người lãnh đạo một nhóm phải hỏi.
ĐÁNH GIÁ MỘT NHÓM NHỎ
Bạn có bao giờ có kinh nghiệm tiêu cực về việc làm một thành viên của nhóm nhưng lại không đi đến đâu cả? Tôi đã từng ở trong các nhóm mà mỗi buổi nhóm ấy đều có thể tiên liệu được buổi nhóm ấy có gì hoặc chỉ có một người cai trị các buổi thảo luận.
Việc đánh giá là một yếu tố chính của sự năng động trong nhóm nếu nhóm vẫn khoẻ mạnh và tiếp tục tăng trưởng. Không phải mọi lời phê bình đều có tính phá hoại đâu ! Chỉ qua diễn trình xem xét và điều khiển thường xuyên nhóm có thể lớn lên về số lượng và về phương diện thuộc linh.
Chúng ta có một bối cảnh tương xứng với sức khoẻ vật lý của chính mình. Nếu cẩn trọng khám bệnh định kỳ để xác định sức khoẻ của chúng ta ở mức độ nào. Nếu bỏ qua lời khuyên của bác sĩ liên quan đến sức khoẻ của chúng ta, sức khoẻ của chúng ta đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Cũng vậy, chúng ta phải chẩn đoán nhóm nhỏ của mình thường xuyên để xem xác thành viên có khoẻ không. Sự đánh giá này rất có ý nghĩa và các thành viên trong nhóm sẽ biết ơn về sự quan tâm của bạn cho sự thịnh vượng chung.
Có ít nhất bốn lãnh vực mà bạn lần lượt phải đánh giá : mục đích, nội dung, sự diễn tiến của nhóm, và sự tăng trưởng các nhân.
1. Mục đích : Chúng ta có đạt được mục đích của mình không?
Câu trả lời của bạn sẽ xác định được nhóm của bạn có đạt được mục tiêu đã dự định hay không. Ví dụ nếu là nhóm đi ra rao giảng Phúc âm, hãy hỏi các câu hỏi này : Trong ba tháng qua, đã có bao nhiêu người trở về với Chúa? Mỗi một thành viên trong nhóm có hiểu và đồng ý với mục tiêu này không?
2. Nội dung : Chúng ta đã học tập được gì?
Sự đánh giá này xét đến hiệu quả của sự dạy dỗ và các phương pháp học tập mà nhóm đang sử dụng. Các thành viên có thể áp dụng các lẽ thật được dạy dỗ hay không? Nội dung có quá lý thuyết không? Bạn có chuẩn bị cho nhóm ôn lại các bài học trước không? Có dấu hiệu nào cho thấy sự dạy dỗ có kết quả trong sự tăng trưởng thuộc linh cho từng thành viên không?
3. Diễn tiến của nhóm : Chúng ta làm việc chung với nhau như thế nào?
Câu trả lơi này sẽ xác định các thi thể có một ý thức chung về nhóm nhỏ như một toán hay không. Câu hỏi này có đem chúng ta chú ý đến những sự phát triển tiêu cực như người lãnh đạo đang cai trị nhóm hay là một thành viên đang nỗ lực buộc mọi người tiến tới các mục tiêu cá nhân.
4. Sự tăng trưởng cá nhân : Là các cá nhân về phương diện thuộc linh chúng ta kinh nghiệm được điều gì?
Mỗi một thành viên cần kinh nghiệm các phước hạnh thuộc linh là kết quả mong đợi của sự nhóm lại trong một nhóm nhỏ. Điều này gồm có sự nâng đỡ yêu thương, sự chăm sóc, quan tâm, và dịp tiện để vận dụng các ân tứ thuộc linh của mình. Nếu các thành viên không thấy rằng họ đang kinh nghiệm sự tăng trưởng thuộc linh cá nhân trong nhóm thì bạn cần phải nghiêm khắc tái đánh giá lại vấn đề.
15. Người lãnh đạo nhóm phải hỏi những câu hỏi đánh giá nào liên quan đến mỗi một điều này? ( Nêu lên các câu hỏi này từ ký ức của bạn).
a. Mục đích của nhóm
...............................................................................................................................
b. Nội dung đã được dạy dỗ
...............................................................................................................................
c. Diễn tiến của nhóm
...............................................................................................................................
d. Sự tăng trưởng cá nhân của các thành viên.
...............................................................................................................................
Tôi hi vọng rằng sự nghiên cứu bài học này và bài học trước đã cho bạn các kiến thức mới vào các đường lối mà bạn có thể hòa trộn với các thách thức vĩ đại nhất đó là lãnh đạo Hội Thánh của Chúa Giêxu Christ khi tiến bước vào cuối thế kỷ thứ 20. Trong bài học cuối cùng, chúng ta sẽ xem sự đánh giá chức vụ lãnh đạo. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho bạn khi bạn hoàn tất bài học nghiên cứu này !

Bài kiểm tra
CHỌN LỰA NHIỀU PHẦN
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời cho mỗi câu hỏi.
1. Một nhóm nhỏ Koninonia nhấn mạnh điều gì trong những điều này?
a. Ra đi truyền giảng Phúc âm
b. Dạy nghề thủ công
c. Cầu nguyện
d. Thông công
2. Biểu đồ chính xác nhất mà một Hội Thánh địa phương phải như thế nào có thể là
a. Một biểu đồ về cơ cấu tổ chức có chức vụ mục sư ở đầu bảng, những người lãnh đạo khác ở dưới ông và hội chúng ở dưới cùng.
b. Một vòng tròn lớn đầy những vòng tròn nhỏ giống hệt nhau.
c. Một biểu đồ với mục sư ở dưới cùng và các thành viên ở trên ông.
d. Hình của một thân người với mục sư là đầu và hội chúng là chân và tay.
3. Lawrance Richards đã mô tả nhóm người nào KHÔNG phải là nhóm chính của một Hội Thánh.
a. Những người lãnh đạo chuyên nghiệp có lòng
b. Hội chúng
c. Đơn vị gia đình
d. Nhóm tế bào tăng trưởng
4. Vấn đề nào trong những điều này KHÔNG bao gồm trong kiểu mẫu nhóm nhỏ của Lyman Coleman?
a. Được những người không chuyên lãnh đạo.
b. Đòi hỏi các giáo sư được huấn luyện.
c. Nhấn mạnh quân bình trong việc học Kinh Thánh, cầu nguyện, chia sẻ và hoạt động.
d. Có sự năng động tự phân chia khi lớn lên.
5. Điều nào trong những điều này là dấu ấn đầu tiên của một nhóm Cơ Đốc ?
a. Truyền giảng Phúc âm
b. Yêu thương
c. Cầu nguyện
d. Thông công
6. Đặc điểm nào cần thiết để các thành viên đáp ứng các nhu cầu của nhau?
a. Trung tin nhóm lại
b. Sự khai thông
c. Sự sẵn sàng
d. Ao ước cầu nguyện cho nhau.
7. Điều quan trọng nhất mà một người lãnh đạo phải xem xét trước khi khởi sự lập một nhóm nhỏ là
a. Động cơ của ông là
b. Khả năng của ông ta
c. Hội Thánh đã có bao nhiêu nhóm rồi.
d. Nhóm của ông ta có trổi hơn nhóm khác trong Hội Thánh hay không.
8. Chức năng bình thường nhất của các nhóm của một Hội Thánh nhỏ là
a. Thông công
b. Cầu nguyện
c. Chăm sóc
d. Học Kinh Thánh
9. Có nhóm đi ra truyền giáo trong Hội thánh là
a. Cách hữu hiệu nhất để Hội Thánh đến với người hư mất.
b. Một phương cách hữu hiệu đối với việc chinh phục linh hồn nhưng có sự huấn luyện tốt cho các thành viên.
c. Phương cách ít hữu hiệu nhất để đến với người hư mất.
10. Nhóm nào trong những nhóm này là nhóm săn sóc và nâng đỡ người mới tốt nhất?
a. Nhóm chăm sóc
b. Nhóm xã hội
c. Nhóm quan tâm đặc biệt
d. Nhóm đi ra rao giảng Phúc âm
11. Điều nào trong những điều này KHÔNG phải là sự đòi hỏi tuyệt đối dành cho người lãnh đạo một nhóm nhỏ trong một Hội Thánh.
a. Là một Cơ Đốc nhân trưởng thành
b. Là một người lắng nghe tốt
c. Có thể khích lệ sự tham gia của nhóm
d. Là một giáo sư nổi bật
12. Chữ thầy giáo, người hướng dẫn, người triệu tập, người cung ứng cho biết một nhóm nhỏ.
a. Rất hữu hiệu khi hướng dẫn như một công việc
b. Rất giống một lớp học trong trường
c. Có khuynh hướng trở nên một nơi học tập chia sẻ.
d. Cần có chức vụ lãnh đạo đầy uy quyền.
13. Lược đồ của người lãnh đạo như một người cung ứng minh họa ông ta là :
a. Ở giữa vòng các thành viên và nâng đỡ họ.
b. Ở trên các thành viên và chịu trách nhiệm về các hành động của họ.
c. Người ra quyết định của nhóm
d. Người trả lời mọi câu hỏi trong sự thảo luận của nhóm
14. Trong việc đánh giá diễn tiến của nhóm bạn phải hỏi câu hỏi nào?
a. Chúng ta có đạt được mục đích của mình không?
b. Chúng ta học được gì?
c. Chúng ta làm việc với nhau như thế nào?
d. Là các cá nhân, về phương diện thuộc linh chúng ta đã kinh nghiệm được điều gì?
PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
2.a) Trong một nhóm nhỏ người ta cảm thấy dễ chịu và gần gũi hơn.
b) Một nhóm nhỏ dễ dàng thay đổi nơi nhóm họp hoặc cả thì giờ khi cần thiết.
c) Trong một nhóm nhỏ để lôi kéo mỗi thành viên vào các hoạt động của nhóm có sự dễ dàng hơn.
g 3) Đi ra rao giảng Phúc âm và 4) Chăm sóc
3. Câu trả lời của bạn phải trình bày được rằng chúng ta không thể ao ước sự chúc phước của Đức Chúa Trời trên người khác trừ phi chúng ta giúp đỡ họ một cách thực tế.
4. a) Cầu nguyện
b) Sẵn sàng
c) Yêu thương, trung tín
d) Sự khai thông
5. d) Đáp ứng nhu cầu của người hình thành nhóm.
6 a. 6) Quan tâm đặc biệt
b 1) Học Kinh Thánh
c 3) Đi ra rao giảng Phúc âm
d 1) Học Kinh Thánh và 4) chăm sóc
e 2) Cầu nguyện
f 3) Xã hội
7. Các câu trả lời a,c d,g, h,j, và l là đúng. Câu trả lời b chỉ đúng khi sự dạy dỗ là mục đích chính của nhóm.
8. Câu trả lời của bạn. Tôi muốn nói : Hãy đoán chắc động cơ của bạn là đúng, nhận lấy sự dẫn dắt trong việc tìm kiếm những ai Đức Chúa Trời muốn đem vào nhóm.
Câu trả lời của bạn cho phép tôi nói : Các nhóm nhỏ có thể nhóm lại bất cứ nơi đâu. Khi những tín hữu làm chứng về Christ, họ sẽ đem người mới vào nhóm. Khi các nhóm nhỏ này tăng trưởng, chúng sẽ chia thành nhiều nhóm nhỏ khác.
9. c) được giúp đỡ để khai triển các ý kiến của riêng mình nhờ những gì người khác đóng góp. d. Trong nhóm nhỏ cũng dễ quan tâm đến mỗi một nhóm thành viên hơn.
10. b) Có sự hội ý và được chấp thuận
11. a) Người chăn có tinh thần tôi tớ
12. c) Cùng phối hợp
13. Câu trả lời của bạn phải giống như vậy:
14. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm : 1) Đáp ứng nhu cầu của các thành viên, 2) Trình bày Phúc âm, 3) Áp dụng các lẽ thật Kinh Thánh, 4) Khuyến khích sự tăng trưởng thuộc linh, 5) Khích lệ sự thảo luận và tương giao
15. a) Chúng ta có đạt được mục tiêu của mình không?
b) Chúng ta đã học được điều gì?
c) Chúng ta đã làm việc với nhau như thế nào?
d) Là các cá nhân, về phương diện thuộc linh chúng ta kinh nghiệm được gì?

ĐÁNH GIÁ CÁC MỤC TIÊU LÃNH ĐẠO
John Hyde ( 1865 - 1912) là một nhà truyền giáo cho Aán độ đầu thế kỷ thứ hai mươi, ông được gọi là “ Hyde cầu nguyện”. Chức vụ của ông đáng kể nhất là sự cầu thay liên tục và các nổ lực truyền giảng Phúc âm cá nhân. Đầu năm 1908, trong khi cầu nguyện ông nhận được đức tin là trong năm này mỗi ngày đều có một người được cứu qua chức vụ của mình. Đây là sự trở lại với Chúa qua sự xưng nhận công khai bằng cách chịu báp têm.
Suốt năm ấy, John đã siêng năng làm việc và cuối năm cá nhận ông đem 400 người trở về với Chúa. Ông vẫn chưa thỏa lòng và sai khi cầu nguyện nhiều, ông được Đức Chúa Trời bảo đảm rằng Ngài sẽ ban cho ông hai linh hồn mỗi ngày trong năm 1909. Và cuối năm ấy đã có 800 người bằng lòng trở lại với Chúa. Mục tiêu của ông vào năm 1910 là bốn người tiếp nhận Chúa mỗi ngày. Vậy mà ông vẫn kêu than với Chúa rằng : “ Chúa ôi, hãy ban cho con những linh hồn hoặc là con chết” ( Whitaker trang 172 - 178).
Câu chuyện của John Hyde minh họa tầm quan trọng của người lãnh đạo Cơ Đốc đối với các mục tiêu đặc biệt dựa tên mục đích của Đức Chúa Trời dành cho họ. Chúng ta cần phải đánh đá các mục tiêu của công tác và cá nhân mình để bao đảm chức vụ lãnh đạo của chúng ta ở trong sự quân bình, đạt được các mục tiêu Đức Chúa Trời đã hướng dẫn, và đáp ứng các nhu cầu các tín hữu. Đây là các vấn đề chúng ta sẽ nêu lên trong bài học cuối này. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho bạn khi bạn hoàn tất bài học này và thực hành điều bạn đã học.
Dàn bài
Định nghĩa tiến trình đánh giá .
Khai triển các mục tiêu của bạn .
Đánh giá các mục tiêu của chức vụ .
Những mục tiêu của bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn có thể :
Giải thích tiến trình đánh giá chức vụ lãnh đạo của bạn.
Viết ra các mục tiêu đề ra có thể thực hiện được và các mục tiêu dài hạn cho các công tác lãnh đạo của mình.
Khai triển các mục tiêu của chức vụ và cá nhân trong năm tới và hướng dẫn những sự đánh giá định kỳ dựa trên các mục tiêu này.
Hướng dẫn tự đánh giá các phẩm chất và loại lãnh đạo.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học này theo các phương pháp đã áp dụng, làm bài kiểm tra và soát lại các câu trả lời. Sau đó ôn lại các bài học Đơn vị 4 và trả lời các câu hỏi trong đơn vị diễn trình đánh giá 4. Hãy theo sự hướng dẫn trong phần của học viên.
Sắp xếp với đại diện ICI để thi kỳ thi cuối khóa, nếu bạn muốn nhận văn bằng ICI.
Những Từ Then Chốt
criteria : các tiêu chuẩn
data : các dữ kiện
goal : mục đích
obiective : mục tiêu
process : diễn trình
scope : phạm vi

Phần khai triển bài học
Mục tiêu 1 : Dùng một biểu đồ và các gương mẫu đã nêu để nhận ra những từ liên hệ đến diễn trình đánh giá.
ĐỊNH NGHĨA DIỄN TRÌNH ĐÁNH GIÁ
Không có sự đánh giá công tác của chúng ta sẽ chịu nhiều tổn thất vì chúng ta sẽ không biết được các lãnh vực nào yếu kém hoặc chễnh mảng với chương trình đã đề ra cho đến khi quá trễ. Vì thế, một trong những công tác quan trọng của người lãnh đạo Cơ Đốc phải làm là đánh giá điều đã hoàn tất trong chức vụ của mình. Vậy đánh giá là gì? Chúng ta cần hiểu rõ tất cả những từ ngữ liên hệ đến định nghĩa về sự đánh giá để biết được một cách rõ ràng.
TỰ ĐÁNH GIÁ
Đánh giá là một diễn trình thâu thập tất cả những dữ kiện thông tin dựa tên các mục tiêu đã đề ra, sử dụng các dữ kiện này để kết luận và đưa ra những quyết định dựa trên những kết luận này.

1. Diễn trình. Chữ này có nghĩa là “ một chuỗi hành động hoặc những hoạt động dẫn đến một kết quả đặc biệt”. Hãy xem cách sử dụng chữ diễn trình trong hình 13.1. Đánh giá không phải là một cứu cánh trong chính nó nhưng nó bao gồm các hành động đúng lúc cũng sẽ được đánh giá. Chúng ta hãy minh họa diễn trình này trong một cái biểu đồ :
2. Các dữ kiện : Định nghĩa chữ dữ kiện trong tự điển là “ các thông tin chứa đựng những sự kiện ( như đo lường hay thống kê) được sử dụng như một căn bản để lý luận, bàn thảo hay cân đo”. Thông tin được thâu thập trong diễn trình đánh giá sẽ giúp bạn có những quyết định về các mục tiêu của bạn, làm thế nào để chấn hưng nó, có tiếp tục hay phát triển ra không... Dù phải mất nhiều thời gian và nỗ lực để sưu tầm những tin tức này, biết được các sự kiện liên quan đến chức vụ sẽ giúp bạn có những quyết định hữu hiệu nhất cho những ngày sẽ đến.
3. Mục tiêu : Định nghĩa đơn giản mục tiêu là “ điều gì đó hướng đến bằng nỗ lực : một mức tới, một mục đích hay cứu cánh của một hành động”. Còn trong chức vụ hay công tác lãnh đạo Cơ Đốc. Mục tiêu có thể được định nghĩa là “ một mục đích có chủ tâm định ra một phạm vi rõ ràng và đề ra các phương hướng mà người lãnh đạo và các tín hữu phải nỗ lực tiến đến”. ( Phạm vi ám chỉ lãnh vực hoạt động hay mức độ hành động). Không có các mục tiêu chính xác thì cũng không thể có một sự lượng giá có ý nghĩa được.
4. Các kết luận : Khi gom góp mọi thông tin thích hợp, bạn đang ở trong vị trí tốt để đưa ra các kết luận hoặc đưa ra “ một đoán định hợp lý” dựa trên khám phá của bạn. Bạn phải thành thật trong điểm này và xét lại bất cứ nhược điểm nào đã thấy được, cả đến những nhược điểm cá nhân ảnh hưởng đến hậu quả.
5. Đưa ra quyết định : Trong các thuật ngữ lãnh đạo, đưa ra quyết định là “hành động xác định trong tâm trí của một người đường hướng thực hiện”. Nó bao gồm sự chọn lọc, dựa trên một số tiêu chuẩn, vì sự lựa chọn một hai hoặc nhiều chi tiết.
Diễn trình đánh giá là câu trả lời tốt nhất đối với các áp lực liên tục trên người lãnh đạo để trắc nghiệm các ý kiến sau cùng. Nếu bạn đưa ra các quyết định dựa trên việc đánh giá xuyên suốt các mục tiêu của bạn, sử dụng những dữ kiện đã được thâu thập từ sự tìm tòi cẩn thận và sự trả lời của các tín hữu, bạn sẽ hoạt động trong một vị trí trưởng thành và được thông tin. Các tín hữu sẽ đánh giá sự thanh liêm của bạn và cộng tác với bạn để hoàn tất các mục tiêu mà bạn chia sẻ.
Chúng ta có thể tóm tắt định nghĩa sự đánh giá như vầy : Sự đánh giá là so sánh với các mục tiêu của nhóm hoặc các mục tiêu với các thực tế của mỗi hoàn cảnh để có một hành động khác và đã được điều chỉnh.
7. Ôn lại hình 13. 2 và các định nghĩa trong phần này. Sau đó nghiên cứu tất cả các ví dụ từ a đến e và đặt mỗi phần của diễn trình đánh giá với các ví dụ phù hợp với nó.
1. Các mục tiêu trước khi đánh giá
2. Các dữ kiện
3. Các kết luận
4. Các quyết định
5. Sự điều chỉnh ( các mục tiêu sau khi đánh giá).
....a. Một mục sư địa phương sẵn sàng truyền đạo. Chúng tôi có thể nhóm một trong năm Hội Thánh phối hợp. Tất cả năm Hội Thánh đồng ý cùng chia sẻ số tiền phải chi tiêu.
....b. Chúng tôi không thể đáp ứng được các mục tiêu này. Chúng tôi phải chọn giữ hai điều này : Không có chiến dịch truyền giảng Phúc âm hay dự trù một chiến dịch mà chúng tôi có thể thực hiện.
....c. Hướng dẫn chiến dịch truyền giảng Phúc âm hai tuần lễ với năm Hội Thánh phối hợp. Mời một mục sư địa phương rao giảng. Nhóm lại trong nhà thờ lớn nhất trong năm cái. Các Hội Thánh phối hợp sẽ chia sẻ ngang nhau chi phí của chiến dịch.
....d. Chỉ có nắm trong mười lăm nhóm của Hội Thánh ao ước dự phần. Người truyền đạo được chọn không thể đến được. Phòng diễn thuyết của thành phố quá đắt.
....e. Hướng dẫn một chiến dịch truyền giảng Tin Lành hai tuần lễ khắp thành phố bao gồm tất cả các nhóm trong thành phố. Mời một truyền đạo nổi tiếng đến rao giảng. Thuê một phòng diễnn thuyết của thành phố năm ngàn chỗ ngồi cho công tác này.
Mục tiêu 2 : Chọn các quan điểm có thể giải thích một cách chính xác tầm quan trọng của các mục tiêu
KHAI TRIỂN CÁC MỤC TIÊU CỦA BẠN
Tầm quan trọng của các mục tiêu
Nếu không có mục đích, không có mục tiêu, không có các kết quả mong ước thì không có lý do gì để chức vụ lãnh đạo Cơ Đốc tồn tại. Thật ra, định nghĩa một người lãnh đạo Cơ Đốc mà chúng ta đã nhấn mạnh trong khóa học này là : “người có anh hưởng trên dân sự của Đức Chúa Trời hướng đến mục đích mà Ngài dành cho họ”. Để thực hiện điều này mục đích hay mục tiêu phải được nêu lên bằng những từ chính xác và rõ ràng.
Nhiều người lãnh đạo không thể tiến hành đánh giá chức vụ lãnh đạo của họ vì lý do đơn giản là họ không có mục tiêu để đo lường bất cứ điều gì. Mọi người trong nhóm, người lãnh đạo lẫn các thuộc cấp có thể hết lòng làm việc và tham gia nhón họp. Tuy vậy, không ai biết được kết quả mong ước của mọi hoạt động của họ là gì hoặc phải đạt được điều gì. Vì thế, không có một tiêu chuẩn nào cân đo được các kết quả.
Các thành viên của lớp học trường Chúa Nhật có thể cảm thấy tranh chiến trong lòng nếu họ biết rằng không có một thành viên mới nào được thêm vào suốt năm vừa qua. Những người lãnh đạo Hội Thánh có thể chịu thách thức mở rộng nếu họ biết hội chúng sẽ phát triển vượt bực trong hai năm tới so với mức độ tăng trưởng hiện hành. Người quản lý lớp học trường Chúa nhật có thể thêm một lớp giữ trẻ nếu người ấy biết có nhiều người muốn tham gia nhóm họp nhưng vì bận bịu với con trẻ vì họ d8ã không có một chương trình thích hợp. Những sự kiện này không bao giờ được tiết lộ vì Hội Thánh không có mục đích.
Tiến sĩ George R. Terry một quản trị gia nổi tiếng đã nói như vầy :
Phải thấy rằng các mục tiêu có một năng lực cố hữu bên trong chính nó để kích thích hành động. Một khi đã biết rõ hay được miêu tả tỉ mỉ, chúng sẽ giúp ta nhận ra điều mình phải thực hiện và giảm đi tính hay quên và sự hiểu lầm. Thông thường, các nỗ lực trở nên vô hiệu quả vì cớ năng lực đã bị tiêu hao vào vô số chỉ thị không đâu cùng những xung đột giữa các con người. Nhu cầu tiên quyết của phần lớn các kế hoạch đại sự cần nhiều nổ lực là một mục tiêu độc nhất hoặc nhiều điểm chính yếu cần nỗ lực của mọi thành viên và đặc biệt là các người lãnh đạo được cuốn hút bởi một sức mạnh khủng khiếp.
2. Các câu nào trong những câu này là ĐÚNG dựa trên điều Terry đã nói?
a. Nếu một người lãnh đạo nêu ra một mục tiêu đặc biệt, những thuộc hạ dễ dàng cộng tác với ông để đạt đến mục tiêu ấy.
b. Nếu các mục tiêu không được nêu lên rõ ràng hay viết lại, những thuộc cấp dễ dàng quên đi hay hiểu lầm.
c. Càng có nhiều mục đích, càng dễ đạt đến.
d. Thường nỗ lực của một nhóm trở nên vô hiệu quả vì nhóm ấy không có các mục tiêu xác định để đạt đến.
Mục tiêu 3 : Giải thích những nguyên tắc quan trọng để phát huy các mục tiêu có thể đạt được.
CÁC NGUYÊN TẮC DÀNH CHO NHỮNG MỤC TIÊU CÔNG TÁC
Dưới đây có một vài nguyên tắc đơn giản giúp bạn khai triển các mục tiêu mà bạn có thể chu toàn ( trích của Terry trang 101 -1 02)
1. Những người chịu trách nhiệm hoàn tất các mục tiêu phải phối hợp khai triển các mục tiêu. Khi người nào góp phần vào việc hình thành các mục tiêu họ sẽ tích cực hơn trong việc theo đuổi mục tiêu. Ví dụ trong trường hợp học tập B ở bài 10, mục tiêu của Stan là nới rộng nhà thờ hoàn toàn bị chống đối. Những người có trách nhiệm phải chi phí cho kế hoạch này đã không được bàn bạc chung.
2. Mọi mục tiêu không quan trọng phải nâng đỡ các mục tiêu công tác tổng quát. Ví dụ : giả sử các mục tiêu tổng quát trong chức vụ của bạn là 1. đem người khác về với Chúa, 2. gây dựng người mới lớn lên trong đức tin và 3. huấn luyện các môn đồ đem người khác trở lại với Chúa. Tất cả các mục tiêu khác phải đi đến chỗ hoàn tất ba mục tiêu này.
3. Các mục tiêu phải là những vấn đề thực tiễn hợp lý. Theo quy luật bình thường, tốt hơn là đánh giá thấp khả năng tiến đến mục tiêu của mình hơn là vội vã lôi kéo những người theo mình đi quá xa. Người ta có khuynh hướng rất dễ nản lòng nếu phải buộc vào các công việc quá khó khăn. Ví dụ, một vài Hội Thánh có quá nhiều gánh nặng với số nợ vì đã xây dựng lại nhà thờ đến nỗi phải đầu tư thì giờ, năng lực, tài chánh và ngăn trở họ đát đến các mục tiêu quan trọng khác.
4. Các mục tiêu phải làm cho những người theo mình cảm thấy được thách thức. Terry mô tả một mục tiêu đầy thách thức là mục tiêu “ có điểm kết thúc”. Lịch sử Hội Thánh đầy dẫy những mẩu về những người lãnh đạo dám tin vào Đức Chúa Trời và với đến được những điều vĩ đại. Về mặt khách quan mục tiêu này phải hiện thực, đồng thời cũng cần có sự biểu hiện của đức tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp bạn đắc thắng mọi chướng ngại và đạt đến đích. Người lãnh đạo phải nhiệt tâm tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời khi Ngài dẫn dắt những người tin tiến lên trong đức tin.
5.Các mục tiêu cần được hạn chế về một số lượng và được sắp xếp theo mức độ quan trọng của nó. Ví dụ, giả sử ba mục tiêu tổng quát của bạn dành cho Hội Thánh địa phương được nêu trên nguyên tắc 2. Những nguyên tắc khác dành cho các bạn, các nhóm trong Hội Thánh cần được giúp đỡ để hoàn tất các mục tiêu này nhưng không được ở trong mọi phạm vi quá rộng. Chúng ta có thể gọi các mục đích thứ yếu này là “ các mục tiêu có khả năng thực hiện”. Chúng ta sẽ bàn sâu hơn trong phần sau.
6. Các mục tiêu phải được ôn lại định kỳ, soát lại khi cần thiết, và luôn cập nhật. Nhiều tổ chức thế tục hướng dẫn việc đánh giá của họ theo từng năm. Các hoạt động như phân tích buôn bán trong năm, phân công tác các vị trí lãnh đạo, bàn tháo gia tăng lương bổng được xem là một bộ phận quan trọng và cần thiết trong các chức năng của một tổ chức. Đây không phải là loại đánh giá mà chúng ta bàn đến. Khi nói đến việc đánh giá các mục tiêu công tác, chúng ta đang xét đến các sự việc xảy ra trong năm. Chúng ta đánh giá điều gì đã được hoàn tất và xem xét những điều đã được chúng ta khám phá chống lại các mục tiêu đề ra. Cần phải đánh giá thường xuyên để giữ các mục tiêu luôn cập nhật.
3. Ai dự phần vào việc khai triển các mục tiêu?
...............................................................................................................................
4. Điều gì xảy ra nếu các mục tiêu không thực tế?
...............................................................................................................................
5. Tại sao một mục tiêu phải có “điểm kết thúc”?
...............................................................................................................................
6. Các mục tiêu phải đánh giá thường xuyên như thế nào?
...............................................................................................................................
7. Có mối liên hệ nào giữa các mục tiêu chính và các mục tiêu có khả năng thức hiện liên hệ đến :
a. Sự ủng hộ?.........................................................................................................
b. Phạm vi : ..........................................................................................................
Mục tiêu 4 : Nhận ra các mục tiêu có thể đánh giá được và viết ra các mục tiêu ấy dựa trên tiêu chuẩn đã nêu

Viết ra các mục tiêu có thể đánh giá được.
Để hiểu rõ hơn làm thế nào khai triển các mục tiêu có ý nghĩa mà bạn có thể đạt được, hãy xem các mục tiêu điển hình từ các loại nhóm khác nhau :
1. Một xưởng sản xuất ôtô
Mục tiêu : sản xuất 10.500 chiếc xe mỗi tháng trong năm này.
2. Một lớp học về lịch sử
Mục tiêu : có thể nêu tên thủ đô năm mươi quốc gia trên thế giới.
3. Một tổ chức truyền giáo :
Mục tiêu : Thiết lập ba Hội Thánh mới tại một khu vực đã định trong vòng 12 tháng.
Các mục tiêu gồm đủ cở, đủ kiểu. Một Hội Thánh có thể có một mục tiêu có được mười lăm ngàn tín hữu mới trong vòng năm năm trong khi đó một Hội Thánh nhỏ ở miền quê sẽ lập hai nhóm tư gia mới trong vòng một năm tới. Một lớp học Kinh Thánh của các bà có thể có một mục là mỗi thành viên sẽ nhận được một văn bằng khi hoàn tất khóa nghiên cứu sách Rutơ trong Cựu ước. Mục tiêu cấp bách của lớp trường Chúa nhật là phải diễn tả một ở kịch giáng sinh cho hội chúng.
Phần lớn các mục tiêu quan trọng được những người đề ra xem là quan trọng. Nhưng có một sự kiện giúp bạn nhận ra các mục tiêu có thể đạt được. Nếu mục tiêu ấy có thể đánh giá được thường có tầm quan trọng lớn hơn. Tôi có ý nói gì ở đây? Cho phép tôi giải thích bằng cách sử dụng sáu mục tiêu điển hình sau. Bạn sẽ dễ dàng nhận bốn mục tiêu có thể đánh giá được
8. Khoanh tròn các mẫu tự đứng trước các mục tiêu có thể đánh giá được
a. Cuối năm này phải làm báp têm cho 20 người.
b. Nêu lên ba lý do tại sao Saulơ mất địa vị làm vua của mình.
c. Gia tăng lợi tức hàng tháng năm phần trăm bắt đầu từ 31 tháng 3.
d. Yêu quê hương của tôi hơn.
e. Tiếp xúc với mỗi một thân hữu mỗi tuần trước buổi nhóm thờ phượng ngày Chúa nhật.
f. Có mối thông công khắng khít hơn với Chúa và không biết Ngài nhiều hơn.
Bạn có thấy mục tiêu d và f trong bài tập trên đây “ không rõ ràng” trong khi các mục tiêu khác đều có thể đánh giá được không? Ví dụ, chúng ta có thể xem xét mục tiêu a bằng cách hỏi rằng : “ Cuối năm này có bao nhiêu người chịu báp têm?” Nếu câu trả lời là hai mươi hay hơn nữa thì chúng ta đã đạt được mục tiêu. Nếu câu trả lời là ít hơn hai mươi có nghĩa là chúng ta chưa đạt đến mục tiêu của mình.
9. Chúng ta có thể hỏi các câu hỏi nào cho mỗi một mục tiêu trong bài tập trên đây để khám phá ra rằng chúng ta có đạt được mục tiêu hay không?
a. Mục tiêu b..........................................................................................................
b. mục tiêu c .........................................................................................................
c. mục tiêu c .........................................................................................................
Trong khi đó “ yêu quê hương hơn” và “ biết Chúa nhiều hơn” là những việc tốt cần làm nhưng lại thật rất khó để xác định rằng chúng ta đã đạt đến hai mục tiêu này đến mức độ nào. Như đã nêu, các mục tiêu này lệ thuộc vào những lời giải thích khác nhau qua những con người khác nhau. Các mục tiêu này cần được nói lại nếu muốn có một phương hưởng đánh giá tôi có đạt được hay không. Ví dụ như tôi có thể nói hư vầy :
Mục tiêu d : Tỏ tình yêu quê hương bằng cách viết thư cảm thông với đại diện chính quyền địa phương.
Mục tiêu f : Để ra ba mươi phút mỗi ngày cầu nguyện và đọc một sách trong Kinh Thánh mỗi tuần để có mối thông công khắng khít hơn với Đức Chúa Trời và biết Ngài nhiều hơn.
Khi chúng ta suy nghĩ đến các mục tiêu thuộc linh, dĩ nhiên chúng ta nhận thức rằng không có cách nào đánh giá một cách chính xác sự trưởng tiến thuộc linh của một người. Nhưng cũng có những bảng chỉ dẫn giúp chúng ta thực hiện điều này. Ví dụ, nếu chúng ta lập kế hoạch để dạy bài nghiên cứu Kinh Thánh, chủ đề là “ các ân tứ Thánh Kinh”. Tôi có thể nêu lên một vài mục tiêu như vầy :

CÁC MỤC TIÊU : Kết thúc chương trình học, các học viên có thể :
1. Liệt kê các ân tứ Thánh Linh mà Phaolô đã nêu.
2. Đưa ra một gương mẫu của việc sử dụng mỗi một ân tứ của Thánh Linh một cách đúng đắn.
3. Vận dụng các ân tứ thuộc linh họ có để cung phụng cho nhau.
Thật là dễ dàng để đánh giá hai mục tiêu đầu tiên có đạt được hay chưa? Mục tiêu thứ ba thì lại không thể đánh giá một cách chính xác được, nhưng bạn có thể thấy một vài dấu hiệu là ân tứ thuộc linh có được vận dụng như các chi thể để cung phụng cho nhau không? Tuy nhiên, dù không được đánh giá cách chính xác thì vẫn có một mục tiêu giá trị trong trường hợp này. Rõ ràng nó là điểm quan trọng nhất trong ba mục tiêu đã đề ra.
10. Viết lại các mục tiêu “không rõ ràng” này để có thể đánh giá được và nêu lên các điều kiện hoặc phạm vi có liên hệ ( Dùng trí tưởng tượng của bạn, vì có rất nhiều câu trả lời có khả năng đúng).
a. Mục tiêu : Gia tăng người tham gia nhóm họp
...............................................................................................................................
b. Mục tiêu : Dắt những người mới trở lại qua chiến dịch truyềng giảng Tin Lành.
...............................................................................................................................
c. Mục tiêu : Hiểu mười điều răn.
...............................................................................................................................
d. Mục tiêu : Có đủ tiền để nới rộng nhà thờ
...............................................................................................................................
11. Hãy xem lại câu chuyện của John Hycle ở trang đầu của bài học này và trả lời các câu hỏi sau :
a. Bạn nêu lên mục tiêu đầu tiên của ông ta như thế nào?
...............................................................................................................................
b. Ông đã thêm các điều kiện nào vào mục tiêu này hầu giúp ông ta đo lường các kết quả?
...............................................................................................................................
c. Có các kết quả nào?
...............................................................................................................................
d. Khi đạt được mục tiêu thứ nhất, John Hyde đã làm gì sau đó?
...............................................................................................................................
Mục tiêu 5 : Dựa trên tiêu chuẩn đã nêu, viết ra các mục tiêu có thể đạt được đã nâng đỡ mục tiêu công tác chính.
XẾP LOẠI CÁC MỤC TIÊU
Trước đây chúng tôi có trình bày các mục tiêu cần phải giới hạn về số lượng và xếp loại theo tầm quan trọng của nó. Phần này giúp bạn biết phải làm thế nào. Khóa này gồm có 13 bài học, mỗi bài nêu lên một khía cạch của chức vụ lãnh đạo cơ Đốc. Trong khóa học này có ba mức độ.
1. Các mục tiêu tổng quát của khóa học : mười lăm mục tiêu này được nêy lên trong phần giới thiệu khóa học. Các mục tiêu này cho biết kết quả hoặc những gì học viên có thể thực hiện sau khi hoàn tất khóa học. Phạm vi của mỗi mục tiêu khá rộng. Tuy nhiên, bạn cần chú ý là hầu như mục tiêu nào cũng có thể đánh giá được.
2. Các mục tiêu chính của bài học : khởi đầu mỗi bài học, chúng tôi nêu lên những gì học viên có thể thực hiện sau khi hoàn tất bài học. Phạm vi này không rộng lớn như các mục tiêu của khóa học, nhưng mỗi một mục tiêu này sẽ dẫn học viên đến chỗ hoàn tất được một hay nhiều mục tiêu của khóa học. Một lần nữa, phần lớn các mục tiêu này có thể đánh giá được.
3. Các mục tiêu có thể đạt được của bài học : khởi đầu mới phần chính của bài học, chúng tôi đã nêu lên ít nhất một mục tiêu có thể đạt được. Những mục tiêu này ở trong một phạm vi rất nhỏ hẹp và mô tả một câu trả lời đặc biệt hoặc kết quả khi hoàn tất phần đó. Tất cả các mục tiêu này đều có thể đánh giá được và khả năng của bạn để hoàn tất mỗi một mục tiêu được đánh giá qua một câu hỏi nghiên cứu vào cuối mỗi phần. Các mục tiêu có thể đạt được này nâng đỡ các mục tiêu chính của bài học.
Nguyên tắc hệ thống nêu ra các mục tiêu là : các mục tiêu cho bạn biết điều bạn phải nhắm đến. Nếu bạn có thể hoàn tất mục tiêu có thể đạt được của bài học. Bạn sẽ đạt được các mục tiêu chính của bài học không khó khăn gì. Nếu đạt được các mục tiêu chính của bài học, bạn sẽ không gặp khó khăn khi hoàn tất các mục tiêu chíhn của khóa học. Nếu vậy, bạn dễ dàng vượt qua kỳ thi cuối khóa.
Chúng ta có thể áp dụng sụ xếp loại của các mục tiêu cho một Hội Thánh địa phương. Trước mắt, chúng ta nêu lên ba mục tiêu chính có tính cách dài hạn.
1. Đem người ta trở lại với Christ
2. Gây dựng thân thể của Đấng Christ
3. Huấn luyện các môn đồ đi ra chinh phục linh hồn.
Dưới mục tiêu “ Gây dựng thân thể Đấng Christ” bạn có thể nêu lên một vài mục tiêu đặc biệt hơn, có thể đánh giá được giúp bạn thực hiện điều này:
1. Tổ chức các lớp học trường Chúa nhật cho mọi nhóm tuổi trong Hội Thánh trong vòng sáu tháng.
2. Dạy các giáo lý căn bản qua các bài giảng và học Kinh Thánh vào các buổi sáng Chúa Nhật và mỗi chiều thứ tư.
3. Bắt đầu một nhóm học Kinh Thánh tại tư gia mỗi mười người láng giềng xung quanh Hội Thánh trong vòng một năm.
4. ........
5. ........
Chúng ta hãy xem mục tiêu “ Bắt đầu một nhóm học Kinh Thánh tại tư gia”. Dưới đây là một vài mục tiêu có thể đạt được mà một nhóm như vậy có thể đề ra :
1. Sắp xếp chỗ ngồi thành hình vòng tròn để các thành viên đối diệu với nhau.
2. Cung cấp một quyển sách nghiên cứu cho mỗi thành viên
3. Mỗi tuần có một thành viên khác nhau ôn bài học tuần trước năm phút.
4. Cầu nguyện cho các nhu cầu của nhau ít nhất mười lăm phút mỗi lần nhóm lại.
5. Mỗi ba tháng có một diễn giả mới.
6. Hướng dẫn học Kinh Thánh các nhu cầu thực tế, các nan đề, hoàn cảnh sống của các chi thể.
7. Kết thúc buổi nhóm không trễ hơn 9.30.
12. Bây giờ hãy thêm ba lời đề nghị của bạn vào bảng liệt kê trên đây của một nhóm học Kinh Thánh tại tư gia.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
13. Hãy làm bài tập sau trong một tờ giấy đôi.
a. Viết ra ba mục tiêu chính hay mục đích công tác của bạn.
b. Chọn một trong các mục tiêu chính của bạn đã nêu viết ra bốn mục tiêu phụ có thể đánh giá được hầu hoàn tất mục tiêu chính ấy.
c. Chọn một trong các mục tiêu phụ ( thứ yếu) và viết ra ít nhất 4 mục tiêu có thể đạt được.
Tôi hi vọng những minh họa cùng các bài tập này giúp bạn hiểu diễn trình khai triển các mục tiêu trong “ điểm kết thúc” và các bước cần thiết để hoàn tất các mục tiêu ấy.
Mục tiêu 6 : Nêu lên bốn lý do tại sao các mục đích không hoàn thành.
ĐÁNH GIÁ CÁC MỤC TIÊU CÔNG TÁC
Điều gì xảy ra khi các mục đích không đạt được? Câu hỏi căn bản trong hoàn cảnh này là : các mục đích này có thực tế không? Những người lãnh đạo Cơ Đốc cùng các tín hữu bước đi trong đức tin là điều đáng khen nhưng đôi lúc các mục đích ấy không thực tế chút nào. Một Hội Thánh có đến bốn mươi thành viên không thể sắp đặt hai mươi giáo sĩ dâng trọn thì giờ trong chức vụ giao lưu văn hóa trong một năm. Người lãnh đạo trong một Hội Thánh nhỏ vun xới kinh nghiệm không thể vun xới mục tiêu hai năm Hội Thánh mới trong vòng ba năm. Một Hội thánh không có sự tăng trưởng trong vòng năm năm không thể thình lình tăng số lượng lên gấp ba lần nhờ vào một chiến dịch truyền giảng Tin Lành. Cho nên một mặt các nhóm Cơ Đốc nhân cần có đức tin, mặt khác các mục tiêu cần thực tế nếu họ sắp cổ vũ và giục giã các tín hữu.
14. Các điều nào trong những vấn đề này bạn thấy là các mục đích thực tế đối với một Hội Thánh có bốn trăm thành viên trong năm năm?
a. Gia tăng số thành viên trong Hội Thánh mười phần trăm một năm trong vòng năm năm tới.
b. Qua chiến dịch truyền giảng Phúc âm hai tuần lễ đem hai mươi người trở về với Chúa.
c. Bắt đầu bốn nhóm tương giao mới tại tư gia trong năm tới.
d. Gởi một quyển Tân Ước cho mỗi một tư gia trong một thành phố có 100.000 dân.
e. Mục sư sẽ đến thăm ở nhà riêng mọi thành viên trong Hội Thánh một thángmột lần.
f. Lớp học Kinh Thánh của các bà sẽ nghiên cứu sâu xa cách 1 và 2 Các vua chiều thứ năm tới.
Câu hỏi thứ hai phải đặt ra khi bạn và những người theo bạn không đạt được mục tiêu là : “ Mục đích không thực tế có phải vì thiếu khả năng đáp ứng không?” Chắc chắn là người ta không thể làm việc như mong đợi. Vì họ không biết cách thực hiện nhiệm vụ của họ : Người thủ quỹ của Hội Thánh không thể có bản báo cáo về tài chính chuẩn bị mỗi tháng vì ông không hiểu phương pháp kế toán. Người chấp sự có thể luôn luôn từ chối dịp tiện phục vụ tại bàn của Chúa vì ông âm thầm sợ lẫn lộn. Giáo viên trường Chúa nhật không đem lại kết quả nào mỗi Chúa nhật bởi vì cô không biết sắp xếp thì giờ và vì thế chưa khi nào hoàn tất bài học.
Bất cứ lúc nào người ta thiếu các kỹ năng làm việc đều gây ra nan đề, cần có các chương trình huấn luyện thích hợp. Các thuộc hạ sẽ được khích lệ vì sự quan tâm của bạn và vui mừng khai triển khả năng của họ. Bạn có thể tiến hành như sau : 1)Nhận ra các nhu cầu huấn luyện, 2) Xem xét các nguồn cung ứng và chọn các nguyên liệu huấn luyện thích hợp nhất và 3) Tổ chức khóa huấn luyện.
Nếu thiếu khả năng thì đây không phải là lý do thất bại của người theo bạn, để đánh giá hãy hỏi các câu hỏi sau :
1. Mục tiêu này có quan trọng không? Nếu không đạt được mục tiêu của mình có nan đề gì không? Nếu bỏ mặc như vậy có phải là tốt nhất không?
2. Mục tiêu này của bạn hay của những người theo bạn?
Bạn có mong ước người theo bạn hoàn tất một mục tiêu mà người ấy cảm thấy không vững vàng không? Người ấy có nêu lên ý kiến hình thành mục tiêu ấy không?
3. Nếu vẫn cứ tiếp tục giữ chức vụ, thuộc viên có được ích lợi không? Anh ta có được hưởng điều gì mà bạn có thể không biết không?
4. Có một nan đề thuộc linh nào khiến cho thuộc viên ấy không đạt được mục tiêu không? Anh ta có đang cố gắng chạy trốn trách nhiệm một cách thầm kín không?
5. Có nan đề gì trong sức khỏe của người ấy không? Sức khỏe của anh ta có hoàn thành được công việc ấy không?
Đến lúc này trong diễn trình đánh giá 1) bạn phải gom góp mọi dữ kiện để xét xem các mục tiêu được đáp ứng hay chưa, 2) đưa ra các kết luận về các giá trị và những nhược điểm của mục tiêu và 3) quyết định xem phải có những điều chỉnh nào để hoàn tất mục tiêu.
Bước cuôùi cùng trong diễn trình đánh giá là phải cập nhật và điều chỉnh các mục tiêu của bạn.
15. Nêu lên bốn lý do tại sao một mục đích không thành đạt được.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Mục tiêu 7 : Dựa trên sự tự đánh giá về các phẩm chất lãnh đạo, hãy viết ra các mục tiêu đặc biệt mà bạn ao ước đạt được trong năm tới.
ĐÁNH GIÁ CÁC MỤC TIÊU CÁ NHÂN
Chúng ta đã tập trung thảo luận nhiều về công tác đặc biệt. Bây giờ chúng tôi muốn ôn lại một vài dữ kiện giúp bạn đánh giá chức vụ lãnh đạo của chính bạn và hình thành các mục tiêu xác định cho công tác và sự tăng trưởng thuộc linh của các nhân bạn. Các lãnh vực bạn sẽ đánh giá liên hệ đến các đề mục mà chúng tôi đã nhấn mạnh trong khóa học về thuận lãnh đạo này.Hãy suy nghĩ mỗi một mục và đưa ra một câu trả lời thành thật trước khi qua mục khác. Câu trả lời của bạn sẽ giúp bạn có một sự nhận xét chính xác về chức vụ lãnh đạo hiện tại của bạn và cần có sự điều chỉnh nào.
A. LOẠI LÃNH ĐẠO
16. Đánh giá đường lối lãnh đạo hoặc sự định hướng của bạn bằng cách đánh dấu X vào các ô vuông cho biết bạn thường xuyên sử dụng mỗi một mục được liệt kê dưới đây như thế nào.
- Dân chủ
- Để cho làm theo tùy thích
- Độc đoán
- Uy quyền
- Phối hợp
- Phụ thuộc
- Theo hoàn cảnh
Không bao giờ; Hiến khi; Đôi lúc; Thường thường; Luôn luôn
Có khuynh hướng nhiệm vụ
Có các mối liên hệ
Dễ thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh
Cố định bất kể hoàn cảnh
Không bao giờ; Hiến khi; Đôi lúc; Thường thường; Luôn luôn
17. Theo loại lãnh đạo chiếm ưu thế của bạn, những thuộc viên của bạn mô tả nó loại gì?
...............................................................................................................................
18. Loại lãnh đạo chiếm ưu thế này có thích hợp với bối cảnh và mức độ trưởng thành của các thuộc viên không?
...............................................................................................................................
B. CÁC NỀN TẢNG SỨC MẠNH
19. Đánh giá các nền tảng sức mạnh dụa vào đó bạn vận dụng chức vụ lãnh đạo theo mức độ thường xuyên của mình
- Nền tảng sức mạnh
- Quyền uy có tính ép buộc
- Quyền uy chuyên môn
- Quyền uy hợp pháp
- Quyền uy ban thưởng
- Quyền uy liên đới
Không bao giờ; Hiến khi; Đôi lúc; Thường thường; Luôn luôn
C. CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO CÓ TINH THẦN TÔI TỚ
20. Đánh giá mức độ mà bạn áp dụng các nguyên tắc của người lãnh đạo có tinh thần tôi tớ trong nếp sống của bạn dựa vào các tiêu chuẩn sâu đây :
- Làm vui lòng Đức Chúa Trời
- Phục vụ Đức Chúa Trời
- Cung phụng nhờ các ân tứ thuộc linh
- Bắt chước Christ
Không bao giờ; Hiến khi; Đôi lúc; Thường thường; Luôn luôn
D. CÁC GIÁ TRỊ CHÍNH
21. Đánh giá thái độ và sự thực hành của bạn liên hệ đến các giá trị chính sau đây :
- Biết được sự ngay thẳng của mình
- Biết công nhận và thực hành các tiêu chuẩn KT
- Biết vươn lên trên những lời chê bai
- Đóng góp cho mọi thuộc viên
- Lo lắng đến các nhu cầu xã hội của người ta
Không bao giờ, Hiến khi, Đôi lúc, Thường thường, Luôn luôn
E. CÁC QUYỀN ƯU TIÊN
22. Đánh giá các quyền ưu tiên của bạn theo các tiêu chuẩn sau :
Tôi cố gắng giữ một tâm linh tươi mới
Trong đời sống tôi cầu nguyện là điều chính
Đọc KT cũng là điều chính trong đời sống tôi
Tôi dành thì giờ chủ yếu cho gia đình tôi
Tôi thông công sâu xa với gia đình tôi
Gia đình tôi chia sẻ mối quan tâm của mình đối với chức vụ
Tôi bày tỏ sự biết ơn và yêu thương gia đình tôi
Tôi tránh những lời tiêu cực
Tôi dẫn dắt gia đình bước vào sự thờ phượng
Cách sử dụng thì giờ của tôi là dấu hiệu điều gì thật quan trọng đối với tôi.
Cách sử dụng tiền bạc của tôi bày tỏ quyền ưu tiên thật của tôi.
Không bao giờ; Hiến khi; Đôi lúc,Thường thường, Luôn luôn
F. BẠN VÀ THUỘC CẤP CỦA BẠN
23. Kể từ khi bạn nắm quyền lãnh đạo, điều nào trong những điều này mô tả sự ký thác cho nhau của các tín hữu?
a. Càng khắng khít với nhau hơn.
b. Ít khắng khít với nhau
c. Không còn khắng khít với nhau
24. Nếu các thuộc cấp của bạn mô tả chính bạn trong một từ ngữ nào hay một nhóm chữ. Điều nào trong những điều này là chính xác nhất?
a. bạn
b. cố vấn
c. Thầy giáo
d. chủ tọa
e. mục sư
f. người lãnh đạo có khải tưởng
g. đầy tớ
h. giáo sĩ
I. những điều khác ..........
25. Bạn nghĩ điều nào là điều mà những thuộc cấp mô tả chính bạn?
a. Là một người lãnh đạo dạy các giáo lý đúng.
b. Là một người lãnh đạo có sự chăm sóc yêu thương.
c. Là một người nhạy bén với mục đích của Đức Chúa Trời dành cho họ.
d. Là người lãnh đạo thúc đẩy họ đến chỗ toàn hảo.
e. Là người nhận lấy lời phê bình cách vui vẻ.
f. Là người phản ứng tiêu cực trước lời phên phán.
g. Là người lãnh đạo có động cơ đúng đắn.
26. Nếu bạn dự định một sự thay đổi về mặt tổ chức điều nào trong những điều sau đây mô tả phạm vi của những gì bạn đang trù hoạch?
a. Chỉ có những thay đổi nhỏ
b. Một số thay đổi chính
c. Những thay đổi rất trọng đại
27. Các thuộc viên của bạn
a. Biết các mục tiêu của bạn trong tương lai không? ...............
b. Chia sẻ các mục tiêu trong tương lai của bạn? ............
28. Điều nào mô tả chính bạn?
a. Điều quan trọng lớn nhất của tôi là khai triển kỹ năng lãnh đạo của mình.
b. Quan tâm lớn nhất của tôi là huấn luyện người khác trở thành người lãnh đạo.
c. Tôi có thể nhận biết những người trẻ mà Đức Chúa Trời kêu gọi họ vào chức vụ lãnh đạo.
29. Ôn lại các câu hỏi và câu trả lời trong phần này. Sau đó viết ra các mục tiêu mà bạn muốn đạt được trong thời gian sắp đến vào một tờ giấy rời. Cố gắng viết ít nhất một mục tiêu cho mỗi loại câu hỏi. Tôi hy vọng rằng bạn sẽ thực hiện điều này trong sự cầu nguyện và một ước ao thành thật để trở nên mọi sự mà Đức Chúa Trời muốn trong nếp sống cá nhân cũng như một người lãnh đạo Cơ đốc.
Các bài tập như vậy nếu được thực hiện đều đặn sẽ giúp bạn giữ chức vụ của mình trong sự thuộc linh và hiệu quả. Nó cũng có ích lợi khi bạn hỏi những người gần gũi đánh giá chính mình trong các lãnh vực đã xét đến để bạn biết họ nhận xét chức vụ của bạn như thế nào. Hãy tỏ lòng biết ơn khi họ thành thật ! Điều này giúp bạn có những điều chỉnh hơn trong các mục tiêu đã đề ra cho chức vụ lãnh đạo và sự thăng tiến thuộc linh của bạn.
Nguyện Chúa ở với bạn và thêm sức cho bạn bằng Thánh Linh Ngài khi bạn tìm cách tạo ảnh hưởng trên dân sự Ngài hướng về những mục đích của Đức Chúa trời dành cho họ !

Bài kiểm tra
CÂU CHỌN LỰA. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Bước đầu tiên trong quá trình đánh giá là điều nào?
a. đưa ra các quyết định
b. có sự điều chỉnh
c. gom góp các dữ kiện
d. Đưa ra các kết luận
2. “Điều gì đó hướng đến bằng nổ lực, một mức tới một mục đích hay cứu cánh của một hành động”, là là định nghĩa của chữ
a. dữ kiện
b. sự đánh giá
c. đưa ra quyết định
d. một mục tiêu
3. Điều nào KHÔNG PHẢI là một nguyên tắc tốt cho các mục tiêu Chúng phải
a. thực tế
b. có phạm vi rất rộng lớn
c.có “ điểm kết thúc”
d. Được những người có trách nhiệm nêu ra cùng khai triển.
4. Điều nào là một mục tiêu KHÔNG thể đánh giá được?
a. Uống hai ly sữa mỗi ngày.
b. Có đức tin đến Đức Chúa Trời để có những thành tựu vĩ đại.
c. Tập thể dục bằng cách đi bộ ba mươi phút mỗi tuần.
d. Để ra nửa ngày mỗi tuần để giải trí với các con.
5. Mục tiêu nào trong các mục tiêu này được các mục tiêu khác nâng đỡ.
a. Mục tiêu chính
b. Mục tiêu phụ
c. Mục tiêu có thể đạt được
6. Các mục tiêu có thể đạt được là :
a. Có phạm vi rộng hơn mục tiêu chính
b. Có phạm vi giới hạn hơn các mục tiêu chính
c. Thường không thể đánh giá được
d. Xếp loại cao hơn các mục tiêu chính.
7. Câu hỏi cơ bản phải trả lời khi các mục tiêu không được đáp ứng (chưa đạt)?
a. Các mục tiêu có thực tế không?
b. Các mục tiêu có “ điểm kết thúc” không?
c. Cần có các mục tiêu không?
d. Tôi có thật muốn trở nên một người lãnh đạo không?
8. Hành động xác định trong tâm trí của một người đường hướng thực hiện được gọi là
a. Sự đánh giá
b. Diễn trình
c. Đưa ra các quyết định
d. Thực tế đối diện
CÂU TRẢ LỜI NGẮN HAY ĐIỀU VÀO CHỖ TRỐNG. Hãy theo sự hướng dẫn đặc biệt cho mỗi phần.
9. Để có định nghĩa sự đánh giá đầy đu, hãy điền vào chỗ trống.
Sự đánh giá là .......... thâu thập tất cả ...................thông tin dựa tên ................ đã đề ra, sử dụng các ...............để và đưa ra .................... dựa tên ....................này.
10. On lại câu chuyện nói về John Hyde ở trang đầu của bài học. Giả sử bạn là John Hyde. Bây giờ là tháng Giêng năm 1909, bạn đã chuẩn bị để đánh giá mục tiêu chính trong năm 1908. Hãy tiến hành diễn trình đánh giá theo sự suy nghĩ của bạn ông ta sẽ thực hiện như vậy.
a. Mục tiêu chức vụ trước khi đánh giá
...............................................................................................................................
b. Các dữ kiện
...............................................................................................................................
c. Quyết định
...............................................................................................................................
d. Điều chỉnh ( mục tiêu của chức vụ sau khi đánh giá).
...............................................................................................................................
ĐƠN VỊ DIỄN TRÌNH ĐÁNH GIÁ 4 VÀO KỲ THI CUỐI KHÓA
Bây giờ bạn đã kết thúc tất cả bài làm trong sách giáo khoa tự học. Oân lại cẩn thận bài 10 đến bài 13 và sau đó trả lời các câu hỏi trong đơn vị diễn trình đánh giá 4. Gởi câu trả lời của bạn cho người hướng dẫn chương trình ICI. Nếu bạn đã làm xong, hãy xếp đặt với người hướng dẫn để thi cuối khóa. Để ông lại thi cuối khóa đã học lại các mục tiêu của khóa học, các mục tiêu của bài học, các bài kiểm tra, và đơn vị đánh giá diễn trình. Oân lại, nội dung cần thiết của bài học để nhớ lại. Nếu ôn lại cẩn thận bạn có thể chu toàn các mục tiêu và trải qua kỳ thi cuối khóa không gặp khó khăn.

PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1. a. 4) các quyết định
b 3) các kết luận
c 5) các điều chỉnh : các mục tiêu sau khi đánh giá
d 2) các dữ kiện
e 1) các mục tiêu trước khi đánh giá
2. Câu a,b, d là đúng
3. Người chịu trách nhiệm đến với họ.
4. Người ta sẽ chán nản và cũng có thể bị ngăn trở không đạt đến các mục tiêu khác.
6. Cần thường xuyên giữ cập nhật luôn.
7. a. Các mục tiêu có thể đạt được phải nâng đỡ các mục tiêu chính.
b. Các mục tiêu có thể đạt được không có phạm vị rộng hơn.
8. Các mục tiêu a,b c và e có thể đánh giá được. Các mục tiêu d và t không đánh giá được.
9.a Các học viên có nêu lên ba lý do tại sao Saulơ mất chức vụ làm vua của mình không?
b. Thu thập của Hội Thánh hàng tháng có gia tăng năm phần trăm từ 31 tháng 3 này không?
c. Những người có trách nhiệm thực hiện mục tiêu này mỗi tuần có tiếp xúc với mỗi thân hữu cách cá
nhân trước buổi thờ phượng sáng Chúa Nhật không?
10. Câu trả lời của bạn có thể không giống với tôi nhưng phải có các đặc điểm chung. Đây là ý kiến
của tôi :
a. Gia tăng số người tham dự từ mức hiện tại là 500 đến mức 575 trong tháng 8.
b. Đem hai mươi người trở lại với Đấng Christ suốt chiến dịch truyền giảng tin lành trong hai tuần và
báp têm họ trong đêm cuối cùng của chiến dịch.
c. Đọc thuộc lòng mười điều răn và giải thích ý nghĩa của từng điều.
d. Đưa ra họa đồ thiết kế và giá phải mở rộng nhà thờ, tăng số quỹ cần thiết qua những dịp dâng hiến
đặc biệt trong vòng một năm.
11.a. Mục tiêu : Đem một người trở lại với Christ mỗi ngày trong năm này.
b. Mỗi người tôi đã dẫn về với Chúa sẽ công khai xưng nhận Chúa và chịu báp têm dưới nước.
c. Ông đã đem hơn 400 người đến với Chúa trong năm đó, ông đã vượt chỉ tiêu đề ra.
d. Ông lập một chỉ tiêu mới và nhiều hơn. Dẫn hai người đến với Christ mỗi ngày trong suốt năm tới.
12. Câu trả lời của bạn : Hãy bảo đảm rằng mục tiêu của bạn nâng đỡ mục tiêu chính và có thể đánh
giá được.
13 . Câu trả lời của bạn. Tôi hi vọng bạn có thì giờ để thực hiện điều này như một bài tập có giá trị
giúp bạn tập trung vào những gì quan trọng đối với bạn và làm thế nào để đạt đến được.
14. Tôi tin a,b c là những mục tiêu thực tế. Mục
tiêu d có thể không thực tế, tuy nhiên, không thể thâm nhập nhiều tư gia theo cách này. Mục tiêu e và
f không phù hợp.
15. Các câu trả lời có thể bao gồm bất cứ điều nào trong những điều này : Mục tiêu không thực tế.
Thiếu khả năng đáp ứng mục tiêu. Mục tiêu không được xem là quan trọng. Những người có trách
nhiệm không phối hợp khai triển mục tiêu. Có một nan đề thuộc linh. Có một vấn đề về sức khỏe
16 -19 Không có các câu trả lời chính xác cho các câu hỏi tự đánh giá. Các câu trả lời của bạn sẽ giúp
bạn có thêm được sự hướng dẫn có giá trị cho các mục tiêu của cá nhân cũng như chức vụ bạn cần
phải làm việc hướng đến sự thành đạt của mình.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 25-5-2018 08:59 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách