† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3097|Trả lời: 0

Quân Bình Đời Sống Cơ Đốc

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 24-7-2011 19:38:24 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Quân Bình Đời Sống Cơ Đốc
Tác giả: Charle Ryrie

MỘT ĐỀ NGHỊ
Đây là đề nghị căn bản, hoặc nếu bạn muốn, là đề án của quyển sách này: Tính cách thuộc linh chân chính và lành mạnh, là mục đích của toàn thể sinh hoạt Cơ Đốc nhân.
Rất có thể rằng chính tính cách đơn giản của đề nghĩ này có ẩn tàng hoặc là sự lừa dối hay ít ra cũng không tạo dựng được một ấn tượng thật đúng nơi người đọc nó; cho nên chúng tôi xin phép xét qua các từ ngữ then chốt này.
Khi dùng chữ chân chính là tôi ngụ ý muốn nói là theo đúng Kinh Thánh, vì chỉ ở trong Kinh Thánh, chúng ta mới có chân lý đáng tin, không chối cãi, tranh biện gì được. Vì lý do đó, Kinh Thánh phải là sách chỉ nam và là bảng trắc nghiệm đối với mọi từng trải của sinh hoạt thuộc linh của Kinh Thánh là tính cách thuộc linh chân chính duy nhất. Tầm quan trọng thực tiễn của việc này chỉ đơn giản là mọi từng trải của sinh hoạt thuộc linh phải được chân lý của Kinh Thánh trắc nghiệm và nếu có từng trải nào, cho dầu có thể là có thật đến đâu đi chăng nữa nhưng lại không vượt qua được cuộc trắc nghiệm này, thì đều phải bị loại trừ. Lẻ dĩ nhiên là nói thì dễ hơn làm rất nhiều, nhưng đây là con đường duy nhất dẫn tới tính cách thuộc linh chân chính hay đúng theo Kinh Thánh.
Một từ ngữ thứ hai trong đề nghị nguyên thủy là chữ lành mạnh. Khi nói lành mạnh là tôi ngụ ý muốn nói quân bình, cân bằng. Chẳng co1 gì phá hại việc thực hành sinh hoạt thuộc linh nhiều hơn là tình trạng bất quân bình, không cân bằng. Có một trong những vị giáo sư trước đây của tôi vẫn luôn luôn nhắc nhở chúng tôi rằng một sự thiếu cân bằng trong thần học cũng nghĩa với một giáo thuyết không lành mãnh. Điều này cũng được áp dụng cho lãnh vực sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Việc ứng dụng cho lãnh vực sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Việc ứng dụng không cân bằng các giáo lý liên hệ với tính cách thuộc linh của Kinh Thánh sẽ tạo ra hậu quả là một nếp sống Cơ Đốc nhân mất thăng bằng. Nhấn mạnh quá đáng vào điều thần bí có thể che mờ việc thực thi nếp sống thuộc linh trong khi chú trọng quá đáng vào phần thực hành có thể đưa đến hậu quả là thiếu mất khải tượng. Cứ luôn luôn nhắc đi nhắc lại nhu cầu phải hiến thân đi hiến thân lại nhiều lần, có thể dẫn tới một nếp sống Cơ Đốc nhân tù đọng, trì trệ không có sự tăng trưởng đều đặn, có căn cơ. Nhấn mạnh quá đáng vào việc xưng tội có thể tạo ra thái độ tự xét mình không lành mạnh, trong khi không chú trọng đúng mức việc làm ấy la5i có khuynh hướng tạo ra sự vô cảm, chai lì đối với tội lỗi. Thế quân bình là chìa khóa, là bí quyết của một đời sống thuộc linh lành mạnh.
Nếu đây là một quyển sách luận về tính cách thuộc linh, thì thiết tưởng ngay từ đầu, cần phải khảo xét một số tổng quát của từ ngữ thuộc linh. Lẽ dĩ nhiên là chữ này vốn được xây lên từ ngữ căn chỉ phần (tâm) linh do đó, có nghĩa là 'liên hệ với, thuộc về phần (tâm) linh'. Thật ra nó vốn được sử dụng trong một phạm vi hết sức rộng rãi, nhưng tất cả đều phù hợp với cái ý niệm căn bản là liên hệ, thuộc về phần (tâm) linh này. 1. Trong một trường hợp (Eph Ep 6:12) từ ngữ (thuộc) linh này đã được dùng chỉ các đạo quân ma quỉ với tư cách là các tà linh (hữu thể thuộc linh Spirit beings), khác với loài người (human beings). 2. Trong Một lần khác, nó được dùng để chỉ đặc điểm của Luật pháp Môi-se là thuộc linh (RoRm 7:14) cách ám chỉ này cho thấy luật pháp vốn có ý hướng tốt là phong phú hóa sinh hoạt thuộc linh của người Y-sơ-ra-ên mà nó ã được ban cho. 3. Sự phục sinh trong tương lai của người tín hữu được gọi là một thân thể thuộc linh, tương phản với thân xác tự nhiên mà người ấy vẫn có cho đến lúc qua đời (ICo1Cr 15:44). Cách dùng từ ngữ này ở đây chỉ cho phép chúng ta định nghĩa từ ngữ này bằng những từ ngữ chỉ cái phi thể xác mà thôi. Thân thể thuộc linh là loại thân thể giống như thân thể của Chúa sau khi Ngài sống lại, cũng có thịt xương, nhưng có phẩm chất mới và khác hẳn của sự phục sinh (LuLc 24:39)
Hơn nữa, 4. có một phạm vi hết sức rộng lớn của các hoạt động và các mối liên hệ tiếp xúc của người tín hữu, đã được gọi là (có tính cách) thuộc linh. Người tín hữu chu toàn trọng trách được giao phó cho mình nhờ vận động các ân tứ thuộc linh vốn được Đức Thánh Linh ban xuống (RoRm 1:11; ICo1Cr 12:1; 14:1). Việc toàn thể các Cơ Đốc nhân kết hợp lại như những viên đá trong một ngôi nhà được Phê-rơ gọi là ngôi nhà thuộc linh, và ông cũng dạy các tín hữu hãy dâng lên các của lễ thuộc linh đẹp lòng Thượng Đế (IPhi 1Pr 2:5). Việc con cái Y-sơ-ra-ên được bảo tồn, nâng đỡ cũng được gọi là nhờ thịt (thức ăn) và thức uống thuộc linh, còn Chúa Cứu Thế thì được gọi là 'Vầng Đá' thuộc linh đã đi theo họ (ICo1Cr 10:3, 4). Cơ Đốc nhân diễn tả việc ca ngợi tán tụng của mình bằng các bài hát, thánh ca, và bài ca thuộc linh (CoCl 3:16). Tâm trí người ấy phải được đổ đầy sự khôn ngoan thuộc linh (CoCl 1:9), còn địa vị của người ấy trên thiên đàng bao gồm việc được chúc phước bằng đủ thứ các phước hạnh thuộc linh (Eph Ep 1:3).
Tuy nhiên cách dùng phân biệt, 5.từ ngữ thuộc linh trong Tân ước, là khi đề cập sự tăng trưởng và trưởng thành của người tín hữu trong sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Một người thuộc linh trước hết phải là người đã từng trải công tác tái sanh (làm nên mới, làm mới lại) của Đức Thánh Linh ban cho người ấy, một sự sống mới trong Chúa Cứu Thế. Sứ đồ Phao-lô đặt tương phản con người thuộc linh với con người tự nhiên (ICo1Cr 2:14-15), tức là con người không có Đức Thánh Linh, cho nên rõ ràng là một người không được tái sanh (TC Giuđe 19). Nhưng tính cách thuộc linh bao hàm nhiều điều hơn là chỉ có sự tái sanh mà thôi, cho nên trong quyển sách này, mục đích của chúng tôi là thảo luận về các vấn đề ấy. Việc này sẽ đòi hỏi phải nghiên cứu một số giáo lý của Kinh Thánh. Nếu thiếu mất phần nền móng đó, rất có thể rằng các kết luận của chúng ta sẽ không thể dẫn tới tính cách thuộc linh chân chính. Nó cũng đòi hỏi phải xét đến một số các trách nhiệm cá nhân và nhiều vấn đề thực tế trong việc phát huy chân lý của Kinh Thánh trong đời sống một cách cân bằng. Chúng ta cũng sẽ được giúp ích khi khảo xét một số điểm nhấn mạnh sai chỗ trong thời cận đại cũng sai lầm như vậy, hầu đặt chân lý vào một tiêu điểm sắc bén hơn. Tất cả vấn đề ấy đều phải đưa ra được một viễn cảnh đứng đắn về tính cách thuộc linh theo Kinh Thánh.
Thiết tưởng chẳng cần gì (hay cũng cần?) phải nói rằng một chủ đề như chủ đề này đặc biệt đòi hỏi phải có chức vụ dạy dỗ của Đức Thánh Linh, nếu chúng ta muốn được học hỏi cho có kết quả. Đây là một lãnh vực trong đó sự cần thiết của thế quân bình thuộc linh thích đáng có thể được minh họa. Có người dường như cảm thấy rằng chức vụ dạy dỗ của Đức Thánh Linh loại trừ nhu cầu học hỏi nghiên cứu, trong khi nhiều người khác lại kết luận rằng học hỏi nghiên cứu thật đầy đủ loại bỏ nhu cầu về chức vụ dạy dỗ của Đức Thánh Linh. Chức vụ dạy dỗ chân lý của Thượng Đế của Đức Thánh Linh là cần thiết. Nhưng mấy câu Kinh điển đề cập việc ấy (GiGa 16:13; ICo1Cr 2:12) không hề dạy rằng chức vụ ấy luôn luôn có tính cách trực tiếp. Thật vậy, đã chẳng hề có câu nào đề cập các phương tiện mà Đức Thánh Linh có thể dùng để dạy dỗ chúng ta. Nó có thể là trực tiếp như khi một người suy gẫm về một khúc sách, nhưng nó cũng có thể nhờ các phương tiện trung gian. Một trong số các phương tiện như thế là các sách do nhiều người viết ra, các giáo sư đã được ban cho Hội thánh, các sách phù dẫn và ngay đếnc ác bộ từ điển nữa. Cuối cùng thì chính Đức Thánh Linh đích thân thực hiện việc dạy dỗ mặc dầu Ngài có chọn sử dụng các phương tiện trung gian vừa kể trên hay không. Và muốn cho chúng talãnh hội được chân lý, thì chính Ngài phải đích thân làm cái công tác ấy.
TÍNH CÁCH THUỘC LINH LÀ GÌ?
Có một điều khá kỳ quặc, là tuy ý niệm 'tính cách thuộc linh' (Spirituality) là một đề tài vốn được giảng dạy rất nhiều, được viết thành sách cũng lắm, được thảo luận bàn cãi khá sôi nổi, nhưng lại rất ít khi được định nghĩa. Thường thường thì những gì gần gần như một câu định nghĩa đều chỉ làm cái công việc mô tả các đặc điểm của 'cái thuộc linh', nhưng người ta chỉ phí công vô ích nếu muốn đi tìm một câu định nghĩa chính xác, ngắn gọn cho chính ý niệm ấy. Lý do của việc này, là vì ý niệm về tính cách thuộc linh bao hàm yếu tố, mà đan dệt tất cả các yếu tố ấy lại với nhau thành một câu định nghĩa quân bình, thì không phải là dễ dàng. Rồi ngay đến câu duy nhất trong Kinh Thánh gần nhất với một định nghĩa cũng rất khó giải nghĩa “Nhưng người thuộc linh xét đoán (phê phán, phán xét) mọi sự” (ICo1Cr 2:15, theo bản Anh văn). Hậu quả là câu ấy bị tránh né. Tuy nhiên, cần phải cố gắng đưa ra một định nghĩa, vì nó cũng giống như tảng đá góc nhà định hình cho cả ngôi nhà vậy.
Ý NIỆM VỀ TÍNH CÁCH THUỘC LINH
Tính cách thuộc linh chân chính bao hàm ba yếu tố thứ nhất đã được chúng ta nêu ra rồi - đó là sự tái sanh. Chẳng hề có ai trở thành được (người) thuộc linh theo ý nghĩa của Kinh Thánh nếu trước hết (người ấy) chưa từng trải sự sống mới đã được cho không tất cả những ai tin Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Cứu Chúa cho riêng mình. Tính cách thuộc linh mà không có sự tái sanh là cải cách, sửa đổi mà thôi.
Thứ hai, trong việc tạo ra tính cách thuộc linh, thì Đức Thánh Linh dự phần nổi bật, tích cực. Nói như thế không có nghĩa rằng các Ngôi khác trong Thượng Đế Ba Ngôi chẳng có phần gì trong đó, cũng không phải là bản thân người tín hữu chẳng còn các phương tiện nào khác của ân điển; nhưng là để khẳng định vai trò chủ yếu của Ngài trong tính cách thuộc linh. Các chức vụ của Đức Thánh Linh bao gồm dạy dỗ (GiGa 16:12-25), hướng dẫn (RoRm 8:19), xác nhận (RoRm 8:16), cầu nguyện (RoRm 8:26), vận dụng các ân tứ thuộc linh (ICo1Cr 12:7) và tranh chiến chống lại xác thịt (GaGl 5:17). Tất cả các chức vụ này đều tùy thuộc vào việc được đổ đầy Thánh Linh để được biểu hiện thật đầy đủ, trọn vẹn (Eph Ep 5:18).
Được đổ đầy (đầy dẫy) Đức Thánh Linh có nghĩa là được Đức Thánh Linh cai trị, kiểm soát. Đầu mối cho cách định nghĩa này được tìm thấy trong Eph Ep 5:18, chỗ có sự tương phản và đối chiếu giữa say rượu và được đổ đầy Thánh Linh. Đây là điểm so sánh để đưa ra đầu mối, vì như một người say rượu bị rượu cai trị kiểm soát làm sao, thì Cơ Đốc nhân được đổ đầy Thánh Linh cũng được Ngài cai trị, kiểm soát y như vậy. Hệ quả là người ấy sẽ hành động theo một cung cấp không tự nhiên đối với chính mình - không phải là theo một cung cách sai lầm hay bất bình thường - nhưng là theo một cung cách trái hẳn với nếp sống xũ. Được Đức Thánh Linh cai trị, kiểm soát là một phần cần thiết của tính cách thuộc linh.
Yếu tố thứ ba tham dự tính cách thuộc linh là thời gian. Nếu con người thuộc linh phải phê phán hay khảo xét, hay biện biệt mọi sự (ICo1Cr 2:15), thì phải có thời gian để có thể có được sự hiểu biết và thu thập kinh nghiệm để biện biệt mọi sự. Bản dịch diễn ý của câu này là “Người có Thánh Linh hiểu giá trị mọi điều; nhưgn người khác không hiểu họ”. Việc này không thể thực hiện chỉ trong đầu hôm sớm mai; nó là cái gì chỉ có thể nghiệm đúng nơi một Cơ Đốc nhân trưởng thành.
Từ ngữ trưởng thành dường như là chiếc chìa khóa cho ý niệm về tính cách thuộc linh vì sự trưởng thành của Cơ Đốc nhân là sự tăng trưởng mà Đức Thánh Linh làm phát triển qua một thời gian nơi người tín hữu. Lẽ tất nhiên, không phải là cũng một số thời gian bằng nhau đều bị đòi hỏi đối với từng cá nhân, những có một số thời gian nào đó là cần thiết cho tất cả mọi người. Cũng không phải chính thời gian tự nó tạo ra được sự trưởng thành; đúng ra thì sự tiến bộ và sự tăng trưởng mà mỗi người thực hiện được, mới là tối quan trọng. Tốc độ nhân cho thời gian thành ra khoảng cách, cho nên khoảng cách để đạt được mức trưởng thành có thể được vượt qua trong một thời gian ngắn hơn, nếu tốc độ gia tăng nếu chẳng có sự kiểm doát nào đáng lẽ phải dành cho Đức Thánh Linh bị bản ngạ ngăn chận.
Đây là một định nghĩ cho tính cách thuộc linh, có thể là chính xác ngắn gọn, đồng thời cũng ghi khắc được các yếu tố vừa được thảo luận trên đây vào tâm trí mọi người. Tính cách thuộc linh là mối liên hệ ngày càng tăng trưởng với Đức Thánh Linh. Trong khi điều này có thể được nói lên một các khác hết sức đơn giản, là tính cách thuộc linh là sự tăng trưởng của Cơ Đốc nhân, nó còn cố gắng mô tả công khai hơn các yếu tố mà Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát trong một thời gian nào đó. Điều chắc chắn là câu định nghĩa này thỏa jmãn được các đòi hỏi của phần mô tả về một con người thuộc linh trong ICo1Cr 2:15, vì một người đang từng trải một mối liên hệ ngày càng tăng thêm trong Đức Thánh Linh, sẽ có thể biện biệt được mọi sự, và đồng thời sẽ không được người khác hiểu biết, thông cảm với mình.
Nếu đây là một định nghĩa đúng, thì có một vài dây mơ rễ má của nó cầnđ ược chúng ta suy nghĩ thật thông suốt.
1. Một Cơ Đốc nhân mới không thể được gọi là thuộc linh, chỉ đơn giản là vì người ấy chưa có đủ thời gian để tăng trưởng và phát triển trong sự thông hiểu và từng trải của một Cơ Đốc nhân. Một tín hữu mới có thể được Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát nhưng khu vực chịu kiểm soát tùy thuộc phạm vi rộng lớn của tiến trình tăng trưởng thông thường của một Cơ Đốc nhân. Thí dụ một Cơ Đốc nhân quá trẻ vẫn chưa được đối đầu với nhiều khu vực nằm bên trong lãnh vực tổng quát của cách ăn ở ứng xử của một Cơ Đốc nhân; và tuy anh ta có thể là rất sẵn sàng để cho Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát cuộc đời và hành động của mình, nhưng anh ta vẫn chưa có được sự từng trải và trưởng thành nhờ đã từng trực diện với các vấn đề ấy và đưa ra được các quyết định để đối phó với chúng nhờ có sự cai trị điều khiển của Đức Thánh Linh. Lúc người ấy, mới vừa được cứu, người ấy vẫn chưa biết cả việc có một người là một anh em yếu đuối hơn mình và tuy có lẽ là anh ta không phải là không sẵn sàng hi sinh quyền tự do của mình vì cớ người anh em ấy, anh ta vẫn chưa phải trực diện với việc phải làm như thế, chứ chưa nói chi tới chuyện người ấy có thể hướng dẫn được người khác đưa ra được những quyết định đúng đối với các vấn đề như thế. Đức Thánh Linh có thể cai trị kiểm soát đời sống một Cơ Đốc nhân mới trong phạm vi người ấy có sự hiểu biết về cuộc đời ấy trong tình trạng được tái sanh củ amình, nhưng khi sự hiểu biết của người ấy gia tăng và sự tăng trưởng của người ấy cứ tiến triển, thì nhiều khoảng trống mới mẻ của đời sống sẽ đột ngột xuất hiện trước mặt người ấy, mà người ấy cũng phải phải đầu phục một cách có ý thức sự hướng dẫn của Thượng Đế nữa. Thì giờ để đạt đến mức trưởng thành là cần thiết cho tính cách thuộc linh chân chính.
2. Một Cơ Đốc nhân lâu năm hơn có thể là không thuộc linh, không phải vì anh ta không có đủ thời gian, nhưng là vì qua suốt nhiều năm của cuộc đời cho Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát mình. Trong khi một Cơ Đốc nhân mới có thể bị thiếu số thời gian đòi hỏi phải có để trở thành thuộc linh, thì người tín hữu lâu năm hơn có thể bị thiếu sự đầu phục. Và nếu không được Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát trọn vẹn và liên tục, thì người ấy không thể trở thành thuộc linh. Lĩ nhiên đây chính là gánh nặng của trước giả lúc thư gửi người Hy bá vì các độc giả của nó đang lâm đúng vào tình trạng này.
3. Một Cơ Đốc nhân có thể thụt lùi trong một vài lãnh vực của đời sống, mà không bị mất mọi cơ sở mình đã thu đoạt được trong đời sống làm Cơ Đốc nhân của mình. Xác thịt có thể cai trị kiểm soát các hành động của người ấy trong giai đoạn sa ngã thụt lùi đó nhưng khi người ấy quay trở lại với Chúa, người ấy không nhất thiết phải lại bắt đầu tiến trình tăng trưởng một lần khác nữa. Thí dụ, một tín hữu có thể thối lui trong việc tự học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng một khi người ấy đã hồi tâm, thì không phải là người ấy đã quên hết tất cả những gì mình đã biết trước đó. Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng cho tất cả các lãnh vực của đời sống, bởi vì có một vài phương diện trong đời sống, như sự không chung thủy trong hôn nhân, mà một khi đã vi phạm thì sẽ chẳng bao giờ có thể cứu vãn được. Tội lỗi có thể được tha, sự thông công có thể được vãn hồi, nhưng phần đất làm nền móng đã mất đi, thì không bao giờ có thể chiếm trở lại được.
4. Trong khu vực trưởng thành có nhiều giai đoạn tăng trưởng. Thí dụ minh họa hay nhất là có người tuy đã trưởng thành rồi, vẫn còn tiếp tục tăng trưởng, phát triển và trưởng thành. Con người thuộc linh đã từng trải mối liên hệ cứ ngày càng tăng thêm với Đức Thánh Linh thì không dậm chân tại chỗ, không bị tù đọng trong sinh hoạt làm Cơ Đốc nhân của mình, vì người ấy vốn có một mối liên hệ cứ ngày càng tăng trưởng trong khis ánh bước với Chúa mình. Trong cuộc đời này, chúng ta chẳng bao giờ đạt tới một vùng cao nguyên, một bình diện nào là quá cao, vượt khỏi phần nền móng mà mình phải đạt tới. Thế thì, tính cách thuộc linh là mối liên hệ đang tăng trưởng và cứ ngày càng tăng trưởng, với Đức Thánh Linh.
5. Tìh trạng ấu trĩ không cần phải kéo dài. Xin đừng ai cố tìm cách ẩn mình vào một loại tin kính gian lận làm giảm giá hay chẳng biết gì tới các tiến trình tăng trưởng đáng lẽ phải đẩy mình từ chối không chấp nhận sự khiêm nhu giả tạo nhiều khi là lý do của việc không chịu thừa nhận sự trưởng thành như vậy, và đó là điều đã từng thực sự xảy ra. Dầu sao thì lúc Phao-lô viết thư ICổ, các tín hữu ấy chắc đã được khoảng bốn năm tuổi đạo rồi, và ông ông trông mong cho họ đã trở thành những con người thuộc linh vào lúc ấy rồi tuy lúc ông còn ở với họ, ông đã không thể nói với họ như với những người thuộc linh (vì bấy giờ họ vẫn còn là những con đỏ trong Chúa Cứu Thế), ông đã dự tính thật kỹ rằng vào lúc ông viết bức thư ấy của mình cho họ thì họ đã phải trưởng thành đến mức ông có thể viết cho họ như cho những người thuộc linh (ICo1Cr 3:1, 2). Chỉ cần qua đôi ba năm, tuổi ấu trị cũng phải biến mất đi.
CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH CÁCH THUỘC LINH
Có thể nêu ra các đặc tính của tính cách thuộc linh dễ dàng hơn là định nghĩa nó. Và trong các đặc điểm theo Kinh Thánh của tính cách thuộc linh, chúng ta có nhiều cách trắc nghiệm cụ thể để có thể xác định xem mình có thuộc linh hay không. Thật vậy, chúng rất đặc thù để chúng ta có thể an tâm! Làm thế nào để một người biết mình có thuộc linh hay không? Sau đây là các bảng trắc nghiệm.
TÍNH CÁCH THUỘC LINH SẼ BỘC LỘ HIỂN NHIÊN NƠI NGƯỜI TÍN HỮU
Trong cá tính (character: tính cách) của người ấy. Nếu tínhc ách thuộc linh bao hàm việc Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát (Eph Ep 5:18), và nếu Đức Thánh Linh sở dĩ đã đến là để tôn vinh Chúa Cứu Thế (GiGa 16:14), thì một con người thuộc linh sẽ bày tỏ Chúa Cứu Thế ra trong cá tính và các hành động của mình. Tôn vinh là phơi bảy, trình bày, hay bộc lộ, bày tỏ ra. Chứng cứ hiển nhiên rằng Đức Thánh Linh đang cai trị kiểm soát một đời sống không được tìm thấy trong việc bày tỏ chính Đức Thánh Linh ra, nhưng là trong việc phơi bày Chúa Cứu Thế. Trái của Thánh Linh (GaGl 5:23) là phần mô tả thật trọn vẹn đặc tính của Chúa Cứu Thế; cho nên một Cơ Đốc nhân thuộc linh sẽ phải bày tỏ ra tình yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhẫn nại, hiền lương, thành tín, hòa nhã và tự chủ. Đó là những nét sẽ mô tả cá tính của người ấy.
Trong cách ăn ở ứng xử của mình, người tín hữu thuộc linh sẽ bắt chước Chúa Cứu Thế. Có một trong những điểm nhấn mạnh trong những lời truyền dạy về một cuộc đời đắc thắng hiện nay là hạ giá góc cạnh này của chân lý. Chúng ta không được bảo phải bắt chước Chúa Cứu Thế vì việc của xác thịt; mà trái lại, chúng ta chỉ cần để cho Chúa Cứu Thế sống cuộc đời của Ngài qua trung gian chúng ta. Thật ra thì chẳng có gì cần thiết để phải chọn một trong hai quan điểm này; cả hai đều đương theo Kinh điển cả. Chúa Cứu Thế đang sống trong tôi, và đời sống mà tôi sống đây, là tôi sống bởi đức tin vào Con Thượng Đế (GaGl 2:20), nhưng tôi cũng vẫn còn được khuyến giục phải “bước theo các dấu chân Ngài” (IPhi 1Pr 2:22) và bước đi y như Ngài đã bước đi (IGi1Ga 2:6). Rõ ràng là nếu Đức Thánh Linh được phép tạo ra cá tính của Chúa Cứu Thế nơi một cá nhân, thì đời sống của người ấy sẽ là bắt chước Chúa Cứu Thế. Có một trong những phần thưởng lớn lao nhất khi chúng ta nghiên cứu các sách Phúc âm, là ghi nhận các chi tiết của cuộc đời Chúa chúng ta, mà với tư cách những người theo Ngài, chúng ta rất nên bắt chước. Sau đây là một vài gợi ý:
Trong cuộc đời và chức vụ bày tỏ lòng nhân từ thương xót (Mat Mt 9:36; 14:14; 15:32; 20:34; 8:2; LuLc 7:13). Tình yêu thương của Ngài đối với dân chúng bao giờ cũng bộc lộ hết sức rõ ràng (Mac Mc 10:21; LuLc 19:41). Ngài luôn luôn ra tay trợ giúp kẻ khác trước khi được yêu cầu (Mac Mc 8:7; 12:15; LuLc 13:12-13, GiGa 5:6) để phục vụ cho cả các nhu cầu thuộc thể lẫn thuộc linh của họ (6:1-71). Ngài tìm đến với người ta để có thể truyền giảng thông điệp của Thượng Đế cho họ (Mat Mt 4:18; 9:35; 15:10; Mac Mc 4:1; 6:2; LuLc 4:14), và Ngài luôn luôn duy trì mối thông công với Cha Ngài trên trời bằng việc cầu nguyện (Mat Mt 14:23; Mac Mc 1:35; LuLc 5:16; 6:12; 9:18, 29; 11:1). Trên đây là một số các chi tiết của cái khuôn mẫu mà một Cơ Đốc nhân phải un đúc chính đời sống mình để từ đó, vinh quang của Chúa có thể chiếu ra. Một Cơ Đốc nhân thuộc linh có một cá tính giống như Chúa Cứu Thế và phơi bày nó ra trong cách ăn ở ứng xử giống như Chúa Cứu Thế của mình.
Trong sự thông biết của người ấy. Thức ăn đặc của Lời Thượng Đế thuộc về các Cơ Đốc nhân đã trưởng thành (HeDt 5:14), và Phao-lô trông mong các tín hữu người Cổ-linh, sau bốn hoặc năm năm từng trải trong cuộc đời làm Cơ Đốc nhân, thì phải có khả năng thấu triệt thức ăn đặc của Lời Thượng Đế. Sữa của Đạo chỉ dành cho các con đỏ trong Chúa Cứu Thế, và Phao-lô đã không chê trách người Cổ-linh vì họ chỉ uống sữa lúc mới ăn năn quy đạo. Nhưng khi họ cứ tiếp tục chỉ uống sữa mà thôi, thì cũng như trước giả thư Hy-bá, ông đã tố cáo là những Cơ Đốc nhân đang có khuyết điểm. Đâu là các thức ăn đặc của chân lý? Lẽ dĩ nhiên là Kinh Thánh không hề dán lên cho các khúc sách trong đó cái nhãn hiệu cho biết khúc sách nào sữa hay thịt, cho nên không phải là luôn luôn dễ dàng trả lời được câu hỏi này. Tuy nhiên, có một chủ đề vốn được chỉ rõ là thịt, là thức ăn đặc, và đó là vấn đề mà trước giả đã nhắc nhở người Hy-lạp trong việc họ đã không hiểu nổi những gì ông viết trong đó. Và chủ đề ấy là chân lý về Mên-chi-xê-đéc và chức vụ thầy tế lễ của vua ấy (HeDt 5:10-11). Đây là một thí dụ ngay trong Kinh Thánh về thịt, tức là thức ăn đặc, của Đạo, và nó có thể được sử dụng thật phải lẽ để trắc nghiệm tính cách thuộc linh của một người. Bạn biết được bao nhiêu về Mên-chi-xê-đéc? Hay là hiện giờ, bạn biết được gì về vua ấy nhiều hơn điều bạn đã biết một năm trước đây? Đây không phải là một giáo lý dễ hiểu - chúng ta phải thừa nhận như vậy - nhưng nó là một giáo lý được dùng để trắc nghiệm nhằm xác định tình hình tiến bộ của một người trong sự thông hiểu Lời của Thượng Đế, vốn là một đặc điểm chủ yếu của tính cách thuộc linh chân chính.
Trong các thái độ của người ấy một Cơ Đốc nhân thuộc linh phải bày tỏ ít nhất là hai thái độ căn bản suốt đời sống của mình. Trước hết là một thái độ sống của mình. Trước hết là một thái độ tri ân. “Gặp bất cứ việc gì, cũng luôn luôn nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu cảm tạ Thượng Đế Cha chúng ta” (Eph Ep 5:20). Lời khuyến cáo được đư ra tiếp ngay sau lệnh truyền phải đầy dẫy Thánh Linh (c.18), do đó, nó là một trong nhiều đặc điểm của một đời sống được đổ đầy Thánh Linh. Đây phải là một thái độ luôn luôn có trong đời sống một người tín hữu. Nó phải 'luôn luôn' được đem ra áp dụng và ứng dụng vào mọi hoàn cảnh ("gặp bất cứ việc gì"). Không hề loại trừ lúc nào hay hoàn cảnh nào cả. Điều này có nghĩa là lằm bằm, chê bai chỉ trích, bất mãn,v.v... đều không phải là đặc điểm của một Cơ Đốc nhân thuộc linh. Như thế không có nghĩa là người ấy không bao giờ có thể không hài lòng đối với việc phải thực thi đứng đắn khát vọng phải sống tin kính, cũng không phải là người ấy chẳng bao giờ nên phê bình theo ý nghĩa là thực thi việc biện biệt tốt xấu thiện ác (Phi Pl 1:9-10). Nhưng loại thái độ phiền trách Thượng Đế về những gì chúng ta không thích hay không hài lòng trong cách Ngài đối xử với chúng ta, thì không phải là đặc điểm của tính cách thuộc linh chân chính.
Thái độ thứ hai của đời sống vốn là đặc điểm của một Cơ Đốc nhân thuộc linh, theo lời Phao-lô, là “cố gắng sống bình an hòa thuận để giữ sự hợp nhất trong Thánh Linh” (Eph Ep 4:3). Đây không phải là một vấn đề hòan toàn có tính cách vị trí, địa vị, nghĩa là không phải nó chỉ có liên hệ với sự hợp nhất trông thân thể Chúa Cứu Thế mà Đức Thánh Linh đã đem đến khi làm phép báp-tem cho từng tín hữu một trong thân thể ấy mà thôi (ICo1Cr 12:13). Quả thật là chúng ta chẳng bao giờ thực hiện được một sự hiệp nhất như thế, nhưng chúng ta được khuyến giục phải cố gắng duy trì, bảo vệ nó. Chính sự kiện từ ngữ 'giữ' được sử dụng cho thấy sự hợp nhất đã được Thánh Linh tạo ra rối, nhưng sự kiện lại còn có lời khuyến giục này nữa, chứng tỏ rằng chúng ta không nên phá vỡ sự hợp nhất ấy. Rõ ràng là đã chẳng hề có vấn đề gì trong việc giữ sự hợp nhất với các chi thể trong thân thể Chúa Cứu thế đã qua đời trước tôi rồi; cũng chẳng hề có khó khăn gì trong việc duy trì sự hợp nhất với các Cơ Đốc nhân mà tôi không hề quen biết hay chưa bao giờ tiếp xúc. Do đó, lãnh vực duy nhất mà lời khuyến giục này có chút liên hệ nào, chính là nhóm các tín hữu mà tôi đang hòa mình tiếp xúc với họ. Và thiết tưởng chẳng cần gì phải nói là có rất nhiều vấn đề thực tiễn trong việc cố gắng giữ sự hợp nhất của Thánh Linh giữa vòng các tín hữu mà tôi quen biết - và đối với các tín hữu có quen biết với tôi thì sự việc cũng đúng y như thế! Nhưng tuy có thể là khó khăn đấy, nó lại là một đòi hỏi của tính cách thuộc linh.
Chính do bị thiếu thái độ ấy, đã khiến Phao-lô tố giác người Cổ-linh kịch liệt (ICo1Cr 3:1-7; TC 1:12-13). Sự thiếu hợp nhất đã phát triển giữa vòng các tín hữu đáng lẽ ra phải cùng nhóm lại thờ phượng chung với nhau. Sự thật là đã có đến bốn phe tại Cổ-linh (1:12). “Phe của Phao-lô có lẽ là nhóm đông nhất trng Hội thánh đã nhờ Phao-lô dẫn dắt ăn năn quy đạo và tiếp tục gắn bó với ông. Và trường hợp vẫn thường xảy ra là dường như họ có thái độ 'quá khích' hơn cả Phao-lô và đánh giá thấp một số người có ân tứ khác, và tất cả mọi điều đó đã gây hậu quả là làm ô danh Chúa Cứu Thế. “Phe của A-bô-lô (Cong Cv 18:24-28) cũng gồm một số người do cách truyền giảng đầy hùng biện của ông. Có lẽ một số người sở dĩ đã theo ông là vì lời truyền dạy của ông có tính cách tiến bộ hơn lời truyền giảng Phúc âm, bộc trực hơn của Phao-lô, hoặc họ vốn bị thu hút nhiều hơn bởi cung cách có học vấn văn hóa hơn của ông. “Phe của Phê-rơ” chắc gồm các tín hữu người Do-thái bảo thủ đã liên minh với vị anh hùng của ngày lễ Ngũ tuần. Còn “Phe của Chúa Cứu Thế” có lẽ là nhóm mà người ta khó hòa nhập hơn hết, vì những người trong nhóm này tự hào là những môn đệ của chính Ngài, chớ không phải chỉ là của các môn đệ Ngài mà thôi. Họ là tiền thân của nhưng người theo Trí huệ phái, và chắc là họ vốn huênh hoang tự cho là mình cao hơn tất cả. Đó là loại tình hình, thái độ, và hoạt động mà Phao-lô đã không chút phân vân dán cho cái nhãn hiệu là “sống theo xác thịt” (ICo1Cr 3:3), vì nó phá tan sự hợp nhất của Thánh Linh.
Tuy nhiên, hợp nhất là một lãnh vực rất cần có những tư tưởng hết sức thận trọng để tạo thế quân bình, vì mọi chia rẽ không nhất thiết đều là sai lầm, cũng như mọi đoàn kết hợp nhất đều không tự chúng là phải là đúng cả. Trong cùng một thư tín ấy (11:19), Phao-lô đã viết “Có gặp hoàn cảnh ấy mới biết người đúng kẻ sai (tà giáo)”. Danh từ kẻ tà giáo chỉ được dùng một lần trong Tân ước (Tit Tt 3:10), nhưng danh từ tà giáo thì được dùng hai lần (ở đây và GaGl 5:20, nơi hành động ấy bị kết án là một công việc của xác thịt). Từ ngữ này có nghĩa là sự cố ý tự chọn lấy cho mình, mà kết quả là một bè phái gây chia rẽ. Tuy tà giáo là một việc làm của xác thịt thường do một Cơ Đốc nhân xác thịt thực hiện, nó có thể có ích lợi để những người không theo tà giáo được nổi bật hẳn lên trong Hội thánh. Nhưng dường như kẻ theo tà giáo dấn thân làm một việc sai lầm khiến trong Hội thánh có sự chia rẽ. Gặp những trường hợp như thế, kẻ theo tà giáo phải bị khiển trách hai lần, rồi bị bỏ mặc (Tit Tt 3:11), trong khi thành phần trong nhóm người bị chia rẽ không noi theo điều sai lầm cứ tiếp tục chứng minh cho giáo lý thuần chánh bằng cách càng công tác dư dật hơn cho Chúa. Như vậy, muốn đánh thăng bằng giữa ICo1Cr 3:1-5 với 11:19, chúng ta có thể kết luận: Việc chia bè đảng khi có tà giáo chen vào có thể là hữu ích và ca8n thiết, nhưng đầu óc chia rẽ do nhằm vào nhân vật này hoặc nhân vật khác là công việc của xác thịt.
Mặt khác, vài góc cạnh hợp nhất cũng cần được suy nghĩ cẩn thận, thấu đáo. Một mặt hợp nhất không nhất thiết hàm ý là to lớn. Sự hợp nhất của Hội thánh rõ ràng là không hề bị phá tan khi các môn đệ của Chúa phải tan lạc do bắt bớ bách hại (Cong Cv 11:19). Sự hợp nhất vẫn tồn tại giữa Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem và các Hội thánh tại An-ti-ốt, cả khi chúng bị phân cách về mặt địa lý (Cong Cv 11:22, 23). Sự hợp nhất được nhiều Hội thánh chứng minh bằng cách tham gia công cuộc quyên trợ cho các thánh đồ ở Giu-đe (IICo 2Cr 8:1 và tt). Sự hợp nhất của chỉ một Hội thánh trong một thành phố nhất định nào đó vào thời Tân ước không hề bị xâm phạm do sự kiện có nhiều Hội thánh nhóm nhau lại trong các tư gia nằm rải rác khắp thành phố ấy Lẽ dĩ nhiên, khi đọc Tân ước, người ta có cảm tưởng rằng Chúa thích có nhiều hội chúng nhỏ, hơn là chỉ có một nhóm đông người tại một địa điểm nhất định nào đó. Và dường như quền phép cũng không hề nảy sinh kém hơn do việc thiếu độ lớn.
Hơn nữa, việc bộc lộ các sở thích cá nhân, hay lợi dụng nhiều phương thức đa dạng cũng không nhất thiết gây tổn hại cho sự hợp nhất của Hội thánh. Lẽ dĩ nhiên là nhờ sử dụng nhiều ân tứ thuộc linh khác nhau mà sự hợp nhất của thân thể được duy trì và sự tiến triển của thân thể được đẩy mạnh (ICo1Cr 12:25-35). Phao-lô có thể thích Si-la, trong khi Ba-na-ba thích Ma1c (Cong Cv 15:39-40), nhưng cuối cùng, Phao-lô vẫn nhìn nhận giá trị của Mác trong chức vụ (IITi 2Tm 4:11). Ý kiến chân thành khác nhau có thể được biểu lộ bên trong các sợi dây ràng buộc của sự hợp nhất trong thân thể Chúa Cứu Thế.
Hai thái độ căn bản của đời sống phải là đặc điểm của tính cách thuộc linh chân chính, đúng theo Kinh Thánh, là luôn luôn tri ân cảm tạ bất luận gặp hoàn cảnh nào và duy trì sự hợp nhất trong phần chi thể của thân thể Chúa Cứu Thế mà tôi đang sống trong đó và có liên hệ với tôi - với tất cả các hàm ý của nó.
Trong cách ăn ở ứng xử của người ấy. Tính cách thuộc linh cũng được chứng minh nơi một cá nhân bằng cách ăn ở ứng xử đứng đắn, hậu quả của cách sử dụng sự hiểu biết của mình một cách phải lẽ, đúng nơi và trưởng thành (HeDt 5:13-14). Chúng ta đã ghi nhận rằng việc thông hiểu Đạo như thức ăn đặc là điều kiện tiên quyết cho tính cách thuộc linh, nhưng sự hiểu biết đó còn phải được sử dụng thật thích đáng mới khiến được người ta trở thành người thuộc linh. Các độc giả thư Hy-bá vốn không biết sử dụng khôn khéo lời công chính (c.13); nghĩa là lời lẽ của đạo liên quan đến tích cách công minh chính trực trong cả giáo lý lẫn cách hành đạo. Hậu quả là họ không thể phân biệt được tốt, xấu, đúng, sai (c.14). Điều này không phải chỉ giới hạn trong điều tốt xấu thiện ác đạo đức mà thôi, nhưng được mở rộng cả cho những điều cao thượng so với những điều thấp kém những điều tốt nhất so với những điều đã khá tốt rồi. Một Cơ Đốc nhân thuộc linh sẽ có tể vạch cho mình một lối đi hết sức thận trọng vô cùng phức tạp, để chẳng những người ấy có thể làm được những việc phải và đúng theo Kinh điển, mà còn hữu ích và có lợi cho tha nhân nữa. Xin lu ý là trong một khúc sách trước đây, một lần nữa thì giờ lại góp phần vào sự trưởng thành hoặc tính cách thuộc linh. Những người như thế vốn có thì giờ để thực hiện những gì mà họ cảm biết là thuộc linh tuy họ đã không làm nhưvậy. Nhưng thời gian là điều đòi hỏi phải có để có thể đạt được tình trạng ấy và hoàn tất tài năng sử dụng thật khéo léo thuần thục Lời của Thượng Đế.
NGƯỜI TA CÓ THỂ THẤY TÍNH CÁCH THUỘC LINH TRONG NHÀ RIÊNG CỦA NGƯỜI TÍN HỮU.
Nơi chốn để người ta trở thành (người) thuộc linh dễ dàng nhất là trước công chúng. Còn nơi khó khăn nhất là tại nhà riêng. Các mối liên hệ tại nhà riêng vốn mật thiết và liên tục, trong khi các hoạt động và ấn tượng tạo ra tại chỗ công cộng lại gián đoạn và thỉnh thoảng mới có. Định lý cần phải nhớ luôn này đặc biệt cần thiết cho các cán bộ Cơ Đốc giáo, vốn quá thường có thể trình diễn một tính cách thuộc linh chuyên nghiệp trong chức vụ công khai, trong khi lại sống một cuộc đời xác thịt tại nhà riêng.
Tôi xin minh họa bằng cách thay đổi cách so sánh một chút. Hồi mới bắt đầu đi dạy học, tôi được giao cho một lớp vỡ lòng môn Hi-văn trong Tân ước, dạy vào mỗi buổi sáng, từ thứ Hai đến thứ Sáu, lúc tám giờ. Trong một lớp học như thế suốt một niên khóa ở cấp đại học trong những hoàn cảnh như thế, người ta rất dễ quen biết với các sinh viên trong lớp - và họ cũng rất quen với vị giáo sư. Nếu đến cuối niên học, các học viên của lớp học ấy cần chứng thực tấm gương về đời sống, chức vụ, và tính cách thuộc linh của vị giáo sư của họ đã có ý nghĩa gì cho họ, thì điều đó rất có nhiều giá trị. Nhưng trái lại nếu đến một nhà thờ nào đó chỉ một lần duy nhất rồi giảng một bài thật hay cho hội chúng và sau giờ nhóm lại có một số người bảo với tôi rằng tôi phải là một người rất mực thuộc linh mới giảng nổi một bài như vậy, thì thật ra điều đó chẳng có ý nghĩa chi cả. Trong trường hợp của lớp học, họ đã được quen biết, được quan sát tôi qua rất nhiều hoàn cảnh vui buồn; họ đã có thể quan sát thường xuyên tính kiên trì nhẫn nhục (hay không kiên trì nhẫn nhục) của tôi cũng như các thói quen trước sau như một của tôi. Nhưng việc tiếp xúc tình cờ của tôi với một hội chúng không tạo ra được cơ hội để có thể đánh giá tính cách thuộc linh của vị mục sư. Các hoàn cảnh sống ở nhà riêng còn cung cấp được một cơ hội tốt hơn cả một lớp ọc Hi-văn hằng ngày, vào lý 8 giờ sáng.
Một lần nữa, khúc sách trong thư Ê-phê-sô về vấn đề đầy dẫy Thánh Linh (Eph Ep 5:18-21) lại cung cấp một cơ sở theo Kinh Thánh cho đặc điểm này của tính cách thuộc linh. Tiếp sau lệnh truyền phải đầy dẫy Thánh Linh (c.18) là bốn mệnh đề có liên hệ với nhau, mỗi mệnh đề đều bắt đầu bằng một phân từ. Bốn phân từ đó là xướng họa, trổi nhạc (c.19), cảm tạ (c.20) và tùng phục (c.21), và từ ngữ cuối cùng này chẳng những là kết luận của mấy câu 1-21 mà còn là mệnh đề làm đề mục cho phần tiếp theo sau đó, bắt đầu với câu 22. Nói khác đi, tùng phục vốn là chứng cứ hiển nhiên cho việc được đổ đầy Thánh Linh là điều sẽ được thấy một cách sống động nhất trong các mối liên hệ ở nhà riêng.
Từ ngữ tùng phục có nghĩa là tự đặt mình vào địa vị một thuộc cấp. Điều này có nhiều ý nghĩa phân biệt nhau cho người chồng, người vợ tại nhà riêng, nhưng cả hai điều tùng phục lẫn nhau (chớ không phải chỉ có người vợ tùng phục chồng mà thôi, như nhiều người vẫn thường dạy. Đối với người chồng, nó bao gồm ít nhất ba điều: 1. Người ấy phải lãnh đạo, vì người ấy là đầu vợ (c.23). Điều này không biến người ấy thành một nhà độc tài, nhưng à người lãnh đạo có trách nhiệm của gia đình, chẳng những được đặc quyền mà còn phải có trách nhiệm đưa ra quyết định sau cùng nữa. 2. Người ấy phải yêu vợ mình (c.25). người chồng cần ghi nhớ điểm này vì theo bản tính, người đàn ông rất dễ ít bày tỏ thái độ, nếu không nói là ít bộc lộ tình yêu thương, hơn người phụ nữ. 3. Người ấy phải nuôi dưỡng vợ mình (c.29). Từ ngữ được dịch ra là 'nuôi dưỡng' có nghĩa là đưa đến mức trưởng thành và chỉ được dùng một lần trong Tân ước ở câu này và ở 6:4. Từ ngữ chăm sóc có nghĩa là sưởi ấm và chỉ được dùng ở đây và ở ITe1Tx 2:7 trong Tân ước. Điểm ngụ ý muốn nói chỉ đơn giản là người chồng có trách nhiệm tối hậu phải giúp đỡ để đưa vợ mình và gia đình đạt mức trưởng thành thuộc linh. Sở dĩ thảm kịch đã xảy ra cho thời cận đại, chỉ vì trường hợo lại thường là trái ngược hẳn lại. Thường thường thì chính người vợ mới là người thật sự thuộc linh và có thể nói là người bị bắt buộc phải xô đẩy chồng mình trên suốt con đường. Cả hai người đều phải khôn ngoan khéo léo về phương diện thuộc linh, và chính người chồng phải chịu trách nhiệm lãnh đạo, là vấn đề quan trọng hơn hết.
Người vợ thuộc linh phải tùng phục quyền lãnh đạo của chồng mình (c.13,24). Nói khác đi, vợ không nên hành động trái ngược với các mục đích mà chồng mình lãnh đạo gia đình nhằm đạt tới. Điều này không có nghĩa là người vợ chẳng được quyền lên tiếng, vì người chồng đã như một quan chức cầm đầu mọi người trong gia đình rồi (từ ngữ này được dùng ở ITi1Tm 3:4). Lẽ dĩ nhiên là chẳng hề có ai khiến được cho ai khác trở thành thuộc linh, nhưng trách nhiệm của chồng trong gia đình thật nặng nề, là hải chủ động và lãnh đạo sinh hoạt thuộc linh của gia đình. Như vậy, tính cách thuộc linh của một người sẽ được thấy rõ trong việc người ấy thực hiện thích đáng các trách nhiệm trong gia đình của mình.
CÓ THỂ THẤY TÍNH CÁCH THUỘC LINH TRONG MỐI THÔNG CÔNG VỚI HỘI THÁNH CỦA NGƯỜI TÍN HỮU.
Khu vực chính yếu khác nữa trong đótính cách thuộc linh của một người được chứng tỏ, là trong Hội thánh. Chúng ta đã thấy một người thuộc linh sẽ cố gắng giữ sự hợp nhất của Thánh Linh trong lãnh vực có liên hệ nhiều nhất với mình - đó là chính chi hội địa phương của mình. Một tinh thần chia bè kết đảng là chứng cứ hiển nhiên của tánh xác thịt.
Đóng góp tích cực của một Cơ Đốc nhân thuộc linh cho Hội thánh là do việc người ấy thực thi các ân tứ thuộc linh của mình. Chúng ta cần khảo xét chi tiết toàn vẹn vấn đề này về sau, cho nên ở đây, thiết tưởng chỉ cần vạch ra rằng một tín hữu thuộc linh sẽ thực thi các ân tứ thuộc linh của mình trong quyền phép của Đức Thánh Linh, liên hệ với Hội thánh phổ quát và địa phương. Cơ Đốc nhân ấu trĩ, chưa trưởng thành gây chia rẽ; còn Cơ Đốc nhân trưởng thành thì tạo sự hợp nhất bằng cách sử dụng các ân tứ của mình (ICo1Cr 12:25). Như vậy, thiết tưởng chẳng cần gì phải nói (hay cũng cần phải nói?) rằng một thành viên trong Hội thánh cứ luôn luôn tạo vấn đề và thường xuyên đòi hỏi được cung phụng, thì không phải là một người thuộc linh chân chính. Nhưng người phục vụ Chúa bằng việc làm thăng tiến sự an vui phúc lợi cho Hội thánh thì tự chứng minh một đời sống thuộc linh trưởng thành. Tố cáo anh em mình là công tác của ma quỉ (KhKh 12:10); chăm sóc anh em mình là công tác của Chúa thông qua các con cái trưởng thành của Ngài.
Đó là tính cách thuộc linh chân chính và lành mạnh. Ý niệm thuộc linh là ý niệm về một mối liên hệ trưởng thành và đang trưởng thành với Đức Thánh Linh, được chứng minh bằng đời sống riêng tư, trong gia đình và trong Hội thánh của một người. Đây là tính cách thuộc linh đúng theo Kinh Thánh.
CON NGƯỜI LÀ GÌ?
Chính con người Cơ Đốc nhân là kẻ mà Thượng Đế đang cố gắng biến thành thuộc linh, và tính cách thuộc linh chỉ có thể được chứng minh qua trung gian những con người mà thôi. Cả các thiên sứ lẫn các loài vật đều không thể phát triển để trở thành thuộc linh; do đó, có một vài phương diện thấu triệt tính cách thuộc linh. Vậy cần phải khảo xét một số nét đặc trưng của bản tính con người có liên hệ với tính cách thuộc linh.
CON NGƯỜI ĐƯỢC THƯỢNG ĐẾ SÁNG TẠO.
Kinh thánh sạy rằng con người là một loài thọ tạo, và điều này có liên hệ quan trọng với việc khảo xét tính cách thuộc linh. Trái với chủ trương sáng tạo là thuyết tiến hóa. Nếu con người do tiến hóa mà có, thì thật ra, sẽ chẳng cần gì phải có một Cứu Chúa, sự tái sanh, một bản tính mới hay siêu nhiên để giúp nó sống một cuộc đời tốt lành, thiện hảo. Nếu con người vốn có mặt là do tất cả các phương cách mà thuyết tiến hóa đã rêu rao, thì nó sở dĩ có là do cac tiến trình tự nhiên; vậy cần gì phải có sự can thiệp siêu nhiên vào đời sống của nó? Các lực lượng thiên nhiên đã phục vụ nó rất tốt rồi. Mà như thế thì Thượng Đế chỉ là một phụ liệu không cần thiết cho sự phát triển của nó. Lẽ dĩ nhiên khi đề cập Thượng Đế là tôi muốn nói đến Thượng Đế của Kinh Thánh, đã được Kinh Thánh mặc khải, và đã nhập thể nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vì Thượng Đế này rất vô tích sự trong bức tranh tiên hóa, tuy một vị thần do chính con người tạo ra sẽ chẳng những có thể sống chung với giáo điều của thuyết tiến hóa, mà còn thường là một phần của cái hệ thống ấy nữa. Thượng Đế chân chính là không cần thiết cả khi Ngài có thể được đưa vào đó một cách ngẫu nhiên.
Mặt khác, nếu con người vốn được sáng tạo ra (chúng tôi xin phép đi trước đoạn sách tiếp sau một chút) nếu nó đã thất bại và sa ngã vào tội lỗi, thì nó cần đến sự can thiệp siêu nhiên để cứu vớt nó ra khỏi tình trạng đó và giúp nó sống được một cuộc đời đẹp lòng Thượng Đế. Giáo lý về công cuộc sáng tạo loài người kéo theo nó cái ý niệm có tính cách hệ luận, là trách nhiệm của con người. Nếu Thượng Đế đã tạo ra con người, thì có một cái gì đó ở ngoài nó, để nó phải chịu trách nhiệm. Bản thân nó không phải và không thể làm chủ được chính vận mệnh của nó; nó không phải là thẩm quyền tối hậu cũng không pha3i là kẻ duy nhất mà nó phải trả lời chung cuộc. Đã có Đấng Tạo Hóa thì điều đó hàm ý là phải có những con người thọ tạo có trách nhiệm - chịu trách nhiệm đối với Đấng Tạo Hóa ấy.
Nhưng phải chăng hãy còn một cách chọn lựa thứ ba nữa, tức là thuyết tiến hóa hữu thần? Thuyết tiến hóa hữu thần (là thuyết chủ trương Thượng Đế đã sáng tạo ra sự sống nguyên thủy, rồi sự tiến hóa tự nhiên tác động tiếp theo đó) là một quan điểm khá phổ biến, nhưng sự thật là nó không tạo ra được một cách chọn lựa nào mới mẻ hơn hai cách đã được kể trẹn rồi. Vì nếu Thượng Đế đã 'sáng tạo' mọi sự bằng cách lợi dụng các tiến trình tiến hóa, thì có thể phải quan niệm rằng con người có thể được cứu chuộc hay ít ra có thể sống được một cuộc đời làm Cơ Đốc nhân nhờ các tiến trình tiến hóa nữa. Dường như thuyết tiến hóa hữu thần sở dĩ trở thành phổ biến chủ yếu là đối với số người muốn chọn những phần nào đó trong Kinh Thánh để họ sẽ chấp nhận trọn vẹn, còn những phần khác thì bị họ cho là những dụ ngôn. Như vậy, có thể chấp nhận cái 'lực đẩy đầu tiên (the thrust)” của Kinh Thánh, ("Sáng 1 nói cho chúng ta biết Đấng Tạo Hóa là ai, chớ không phải Ngài đã thực hiện công trình sáng tạo như thế nào") mà không thừa nhận các chi tiết của sự mặc khải đó ("nhưng phải chăng Ngài đã không thực hiện việc ấy thông qua sự tiến hóa?")
Thật ra cả Cơ Đốc nhân tin vào Kinh Thánh lẫn người theo thuyết tiến hóa đều chẳng có ai chịu chấp nhận thuyết tiến hóa hữu thần - nhưng chỉ có người theo thuyết tiến hóa hữu thần mới chấp nhận nó mà thôi! Kinh Thánh nhấn mạnh rõ ràng con người đã được sáng tạo ra từ bụi đất (SaSt 2:7). Hơn nữa, con người đầu tiên của Kinh Thánh đã được tạo dựng theo hình tượng của Thượng Đế, do đó cũng không giống với những con người đầu tiên của thuyết tiến hóa. Người theo thuyết tiến hóa cũng không thừa nhận ý niệm sáng tạo hữu thần chỉ vì lý do đơn giản là nếu chấp nhận bất luận một đểm nào của siêu nhiên chủ nghĩa, thì cũng đều trực tiếp chống lại thuyết của họ. Julian Huxley khẳng định rằng siêu nhiên chủ nghĩa “chống lại toàn thể kiến thức khoa học của chúng ta...Đưa ra một định đề về sự can thiệp của Thượng Đế vào các biến đổi vật chất và năng lượng vào một khoảnh khắc đặc biệt nào đó trong lịch sử địa cầu, là vừa không cần thiết, vừa bất hợp lý” (J.Huxley, Evolution in Action, p.20). Như vậy, sự kiện con người vốn được sáng tạo khiến người ta phải tập trung chú ý vào sự kiện và sự cần thiết phải có sự can thiệp siêu nhiên và vào trách nhiệm của con người thọ tạo phải làm đẹp lòng Đấng Tạo Hóa mình.
CON NGƯỜ ĐÃ SA NGÃ
Lẽ dĩ nhiên, chân lý về sự sa ngã của loài người là mặt trái của đồng tiền là sự kiện nó vốn được Thượng Đế tạo dựng, và có rất nhiều hậu quả quan trọng trong vấn đề tính cách thuộc linh.
Không phải tất cả mọi người tin rằng sư5 sa ngạ là một biến cố lịch sử, cả khi rất có thể là họ đã thừa nhận sự kiện về tội lỗi. Nhưng một quan điểm không tin vào sử tính của Sáng 3 chỉ gây rối mù thêm cho phần chi tiết về các hậu quả của tội lỗi đã được liệt kê trong chương sách ấy mà thôi. Một tác giả đã viết:
Trừ phi chúng ta là những người bảo thủ bất khả thuyết phục, chúng ta biết rằng đáng lý ra 3:1-24 phải được xem là 'vượt huyền thoại có thật' - rằng tuy vườn Ê-đen chẳng nằm trên một tấm bản đồ nào cả, và sự sa ngã của A-đam đã chẳng khớp đúng vào một niên lịch nào của sử ký cả, rằng chương sách ấy làm chứng cho một chiều kích của kinh nghiệm con người như đã xảy ra hồi đó, khi lịch sử mới bắt đầu lố dạng - thì cứ thẳng thắn mà nói, chúng ta vốn là những con người thọ tạo đã sa ngã và câu chuyện của A-đam và Ê-va là sự tích của bạn và tôi (Arichbald M.Hunter, Interpreting Paul's Gospel, p.77).
Đây chỉ là một nỗ lưc nhằm giữ lại sự kiện tội lỗi mà không có sự sa ngạ, và lờ đi các hậu quả của tội lỗi vốn bị buộc hcặt vào với sự sa ngã trong phần ký thuật có tính cách sử ký của 3:1-24.
3:1-24 ghi lại một biến cố lịch sử có thật - một biến cố đã gây hậu quả tai hại nhất trong cả lịch sử loài người. Phương pháp của đứa cám dỗ thật là quỷ quyệt. Cái bẫy mà nó giăng ra là “Sao, có phải Thượng Đế đã phán dặn rằng các ngươi không được phép ăn trái của tất cả các cây trong vườn không?” Chắc chắn là trong giọng nói của nó, nó đã nhấn mạnh vào mấy tiếng tất cả. Sở dĩ chúng ta hiểu được như vậy, là căn cứ vào câu trả lời đầu tiên đã đến với tâm trí bà Ê-va “Chúng ta được ăn các trái cây trong vườn”. Chất mồi câu mà Sa-tan cố gắng khiến cho bà Ê-va phải nuốt, là nghĩ đến sự kiện Thượng Đế ban cho họ tất cả mọi sự. Nói khác đi, nó đã gieo vào tâm trí của bà Ê-va cái ý niệm là trong kế hoạch hoàn toàn của một Thượng Đế toàn thiện toàn hảo đã chẳng hề có những hạn chế. Câu trả lời của bà Ê-va đã cho thấy bà cảm thấy rằng theo mưu định hết sức thực tế của Thượng Đế, Ngài đã ban cho họ tất cả. “Chúng ta được ăn các trái cây trong vườn”, hay nói khác đi “Lẽ tất nhiên, Thượng Đế đã ban cho chúng ta tất cả mọi sự”. Chỉ đến chừng đó, bà mới nhớ lại là có một hạn chế; cho nên bà mới nói tiếp, hầu như chỉ là một ý nghĩ phụ mà thôi “Song về phần trái của cây mọc giữa vườn Thượng Đế có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng”. Điều quan trọng cần lưu ý trong phần này của câu trả lời của bà Ê-va, là các tư tưởng của bà đã tập trung và điểm bị hạn chế trong kế hoạch của Thượng Đế.
Sau khi đã ăn phải bã của Sa-tan và bắt đầu tập trung vào điểm bị hạn chế trong kế hoạch của Thượng Đế, bà Ê-va đã bị yếu đi phần nào đối với đợt tấn công tiếp theo “Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâul nhưng Thượng Đế biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Thượng Đế biết điều thiện điều ác”. Lẽ dĩ nhiên là Sa-tan không hề cho bà Ê-va biết rằng nếu bà nghe theo hắn, đời sống của bà sẽ bị thu ngắn lại, và bà sẽ trở nên giống như chính ma quỉ vậy. Nó hứa với bà rằng bà sẽ trở thành giống như Thượng Đế vậy.
Bước tiếp theo của bà Ê-va là hợp lý hóa điều sai quấy mình vừa vi phạm. Bà bắt đầu quan sát trái cấm và vạch ra cho mình tất cả những gì là tốt đẹp của nó. Bà lý luận: dầu sao thì đó chẳng phải là một thức ăn ngon lành sao, há chẳng phải Thượng Đế muốn cho họ ăn thức ăn ngon lành sao? Và phải chăng người phụ nữ vốn đặc biệt thèm ăn của ngon vật lạ trước chồng mình? Há không phải đó là trách nhiệm của người phụ nữ trước mặt Thượng Đế hay sao? Bà cũng suy nghĩ về vẻ đẹp của nó và cũng lý luận theo cùng một cách như vậy. Tại sao Thượng Đế là Đấng rõ ràng là đã sáng tạo ra một thế giới đẹp đẽ mà không cho bà được hưởng? Rồi nếu sự khôn ngoan là điều đáng ao ước, và nếu trái cây này có thể khiến người ta khôn ngoan thế thì ăn trái cây ấy phải là điều hợp lý. Giờ đây, sự kiện chính yếu và tối quan trọng là Thượng Đế đã công nhiên cấm ăn trái của cây ấy, đã bị bà quên hết. Tâm trí bà chỉ đầy ắp các lý luận để hợp lý hóa và sau khi đã tự biện hộ trước cho hành động của mình như vậy rồi, bà Ê-va đã ăn trái cấm và công khai bất tuân hành ý chỉ của Thượng Đế đã được bày tỏ ra cho bà.
Từ hành động này đã nảy sinh rất nhiều hậu quả - các hậu quả cho con rắn, cho đất đai, cho các phụ nữ, nhưng chủ yếu (trong phạm vi của mục đích của chúng ta trong phần thảo luận này) là cho cả nhân loại. Khi ông A-đam và bà Ê-va đã ăn trái cấm, thì họ lập tức kinh nghiệm sự chết mà Thượng Đế từng cảnh cáo. Theo bất luận cách dùng nào của từ ngữ ấy, chết không bao giờ có nghĩa là hết. Nó luôn luôn có nghĩa là chia cách. Ngay lúc các tổ tiên đầu tiên của chúng ta ăn trái cấm, họ đã bị phân cách với Thượng Đế. Họ cảm thấy điều đó, vì việc họ trốn tránh sự thông công với Thượng Đế đã chứng minh điều ấy thật sống động. Vì 'rau nào sâu nấy' con cái họ bị' sanh ra trong tình trạng chết thuộc linh hay tình trạng phân cách với Thượng Đế, và các hành động của những người con đầu tiên của họ đã chứng minh điều ấy quá rõ ràng (SaSt 4:4, 8)
Tân ước khẳng định rất nhiều lần sử tính của sự sa ngã của A-đam và hậu quả của sự chết thuộc linh. Chúa chúng ta đã xem ông A-đam là con người lịch sử đã thật sự sống trên đời này lúc lịch sử mới bắt đầu (Mat Mt 19:4). Việc Sa-tan lừa gạt bà Ê-va đã được Phao-lô xác nhận trong IICo 2Cr 11:3. Việc đã có sự phạm tội thì được vạch rõ trong ITi1Tm 2:14, và tội này đã đem sự chết thuộc linh đến cho toàn thể nhân loại theo RoRm 5:12 “Vì A-đam, tội lỗi đã xâm nhập thế gian, đem theo sự chết. Do đó, mọi người đều phải chết, vì mọi người đều phạm tội”. Tính cách song đối của khúc sách này (RoRm 5:12-21) đặc biệt khiến chúng ta kinh ngạc. Vị sứ đồ đặt tương phản con người tên A-đam với Chúa Cứu Thế, hành động tội lỗi của con người ấy với hành động thay thế của Chúa, và hậu quả của việc A-đam bị định tội, với việc xưng công chính cho tất cả những người tin nhận Chúa Cứu Thế. Tính cách song đối ấy có thể được lập thành giản đồ dưới đây cho rõ ràng:
Một người (A-đam) Một Đấng (Chúa Cứu Thế)
Một hành động (ăn trái cấm) Một hành động (chết thay chúng ta)
Một hậu quả Một hậu quả (tất cả mọi người đều bị định tội) (xưng công chính cho các tín hữu)
Nếu bạn cất mất sử tính của A-đam khỏi nền thần học của mình (như những người theo Barth và theo tự do chủ nghĩa vẫn làm), thì tính song đối này sẽ còn lại gì? Nếu bạn phủ nhận việc thật sự có sự sa ngã và hệ quả của nó là sự chết thuộc linh, thì bạn còn gì trong tính cách song đối này? Trái lại, nếu bạn thừa nhận sử tính của Chúa Cứu Thế Giê-xu và sự thật của cái chết của Ngài, thì kết quả là có một ông A-đam từng làm một việc gì đó, cũng đã từng là một người sống trên thế gian này. Không thể có người này mà lại không có người kia.
Nếu con người vốn được thọ tạo và đã sa ngã như hai mệnh đề trên đây khẳng định, thì một loại nền móng hết sức đặc thù đã được đặt xong, để người ta có thể xây lên đó một giáo lý về tính cách thuộc linh. Nếu ngược lại, con người là một sinh vật nhờ tiến hóa mà đạt tới tình trạng hiện nay đồng thời cũng tiến triển về phương diện luân lý đạo đức, thì giáo lý về tính cách thuộc linh của Kinh Thánh sẽ trở thành vô nghĩa. Nói khác đi, nếu các lực lượng thiên nhiên sản sinh ra con người, và nếu hồi còn là con người sơ khai nó có xấu xa đến đâu đi chăng nữa, thì sự hiểu biết và tiến bộ đã xoá mất con người ấy rồi, và chỉ còn rất ít chỗ nếu không nói là chẳng còn chỗ nào cả cho siêu nhiên chủ nghĩa. Việc Thượng Đế tái sanh con người, việc con người có thể sống một cuộc đời lệ thuộc vào Đức Thánh Linh vô hình và mọi phương diện của Cơ Đốc giáo siêu nhiên đều trở thành không cần thiết.
Quan điểm chống siêu nhiên này đã được diễn tả một cách bình dân (cả khi 'Đấng Tối Cao' vẫn được người ta đối xử lễ phép) trong một bài viết được đăng ít lâu trước đây trên tạp chí Reader's Digest. Nó có nhan đề là 'Hướng thượng' và ngụ ý là vẽ lại quá trình tiến hóa của con người. Ngày nay, chỉ cần đề cập công trình tự phóng mình ra ngoại tầng không gian của con người là người ta đã tự chứng tỏ là mình đã 'thời thượng' rồi. Nếu không thì tai hại thay, cái hình ảnh tiêu biểu trước đây mà mọi người có được về con người chỉ là 'trèo lên'. Bài viết ấy có hình thức của một vở kịch đã gần đến hồi kết thúc.
Hồi Một: Từ một ngôi đại thánh đường bằng năng lượng cổ đại nào đó của tổ tiên chúng ta trong khoảng không lạnh lẽo, tối đen, của vũ trụ muôn đời, xuất hiện dấu vết của vật chất, mặt trời và hậu duệ của nó, là địa cầu.
Hồi Hai: Từ dấu vết của vật chất xuất hiện một tế bào sống, rồi các cơ thể đã bào dưới biển. Từ đáy biển ấy loài lưỡng thê thực hiện việc trèo lên được một tấc Anh (inch) đầu tiên, tiếp theo là loài bò sát, rồi loài chim, và với loài chim là việc thăm dò thám hiểm ngoại tầng không gian có giới hạn.
Hồi Ba: Một chi nhánh khác, loài động vật có vú phát triển bộ não, và tài năng sử dụng các công cụ và cuối cùng là một linh hồn, tự rèn lấy những phương tiện để tự nâng mình lên khỏi mặt đất vài tấc, rồi đẩy mình lên không trung được một đặm. Rồi 10. Rồi 20 dậm... Nhằm thám hiểm cõi chưa từng biết, con người đã phóng một vệ tinh thăm dò bay nhiều ngàn dặm vào không gian dõi theo con đường dài dằng dặc tìm về cõi nguồn của nó...
Có lẽ đối với Đấng Tối Cao ấy, chiếc đồng hồ đang chỉ những giây cuối cùng trong cuộc chiến đấu hướng thượng của con người bằng cả thể xác lẫn tâm hồn, xuyên qua thời và không gian hướng về cái cõi nguồn bí mật mà nó đã từ đó ra (Beirne Lay, Jr. 'Upward' Reader's Digest (Mar., 15), p.224)
Hai điểm quan trọng cần lưu ý là:
1. Linh hồn cũng như thể xác của con người đều tiến hóa nhờ các phương tiện là các nguyên nhân tự nhiên, và 2. nhờ các phương tiện khoa học, con người đạt được địa vị tối cao. Những ý niệm như vậy đối lập thật cân xứng với lời truyền dạy của Kinh Thánh về việc sáng tạo con người và việc loài người đã từ địa vị toàn hảo sa vào địa vị tội lỗi (chớ không phải là loài người vốn từ chỗ ngu dốt vươn lên để đạt địa vị toàn hảo).
CON NGƯỜI VỐN TỘI LỖI
Lần nọ, một y khoa bác sĩ hàng đầu tham dự một hội nghị về bệnh tâm thần trong thành phố quê hương của tác giả quyển sách này, có tuyên bố “Trong khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy), không có chỗ nào cho ý niệm về tội lỗi cả. Đưa cả ý niệm ấy vào là hết sức bập bênh. Đừng bao giờ nên chê trách một người về bất cứ điều gì người ấy làm”. Giả sử có một đồng nghiệp nào đó cũng dự hội nghị ấy đứng lên và tuyên bố “Trong y khoa cũng chẳng có chỗ nào dành cho cái ý niệm về bệnh tật. Đưa cái ý niệm ấy vào là hết sức bấp bênh. Đừng bao giờ nên chê trách một người là đã mang một căn bệnh". Chắc ông này sẽ bị toàn thể cử tọa lớn tiếng cười nhạo. Các triệu chứng của bệnh tật vốn hết sức rõ ràng, ở đâu cũng thấy và nếu không nhìn nhận là có một nguyên nhân thì rất ít hi vọng có thể chữa trị hữu hiệu được. Với tội lỗi cũng vậy. Thế nhưng xuyên suốt lịch sử, loài người đã cố gắng bỏ qua, lờ đi, hoặc loại trừ ý niệm về tội lỗi.
Tội lỗi là gì? Có người đã tuyên bố rằng đó là sự thiếu hiểu biết hoặc chưa đạt đúng mức tiến hóa để bước vào tình trạng tiến bộ về mặt luân lý đạo đức. Nhiều người khác tỏ ra giỏi hơn về thần học đã định nghĩa tội lỗi là vị kỷ. Thoạt nghe thì đó là những câu định nghĩa rất hay, nhưng điểm khó khăn là nó vẫn chưa bao quát được tất cả mọi trường hợp. Tuy phần lớn các tội đều có một phần vào đặc tính là vị kỷ, có một số trường hợp có người lại phạm tội mà không hề vị kỷ.
Người ta có thể quan niệm một trường hợp trong đó kẻ trộm không hề vi phạm nhằm mục đích vị kỷ, thế nhưng trộm xắp vẫn là một tội. Một kẻ sống ngoài vòng pháp luật như Robin Hood phải chăng là vô tội, mặc dầu ông ta trộm cướp của kẻ giàu để đem chia cho người nghèo?
Kinh Thánh định nghĩa tội là phạm luật (IGi1Ga 3:4). Đây là một định nghĩa hết sức đơn giản, nhưng lại bao quát được rất nhiều điều mà mắt người không thể nhìn thấy được. Muốn hiểu tội lỗi theo định nghĩa này, chúng ta lại phải định nghĩa luật pháp, vì nếu chúng ta không hiểu thế nào là định chuẩn, thì sẽ không biết thế nào là đi lệch khỏi chuẩn mực, là phạm luật. Luật pháp là gì? Câu trả lời tùy thuộc việc bạn đang nghĩ đến giai đoạn nào của lịch sử loài người. Luật pháp trong vườn Ê-đen là một việc; còn luật pháp vào thời của Áp-ra-ham gồm một số các lệnh truyền và giới mạng đặc thù (SaSt 26:5). Trong thời của Mai-sen, luật pháp gồm 613 điều luật của bộ luật Mai-sen mà Thượng Đế cậy ông làm trung gian để truyền cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngày nay luật pháp có nghĩa là hàng mấy trăm mạng lịnh đặc thù của Tân ước, và theo câu định nghĩa trên đây, thì vi phạm bất cứ một mạng lịnh nào trong số đó cũng là phạm tội cả. Thật ra, tất cả các lệnh truyền và nguyên tắc của Tân ước bắt nguồn từ cái nguyên tắc duy nhất bao quát tất cả của ICo1Cr 10:31 “Làm mọi việc, anh em phải nhắm mục đích tôn vinh Thượng Đế, dù ăn uống hay bất cứ việc gì khác”. Phạm tội là bị hụt mất, không phản chiếu được vinh quang Thượng Đế (RoRm 3:13).
Tội lỗi là phổ quát “Mọi người đều phạm tội” (RoRm 3:23; 5:12). “Chẳng một người nào công chính dù chỉ một người thôi. Chẳng có ai hiểu biết Thượng Đế, không ai tìm kiếm Ngài” (RoRm 3:10, 11) “Kìa tôi sanh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (Thi Tv 51:5). “Trước kia, tâm linh anh em đã chết vì tội lỗi gian ác. Anh em theo nếp sống xấu xa của người đời, vâng phục Sa-tan, bạo chúa của đế quốc không gian, hiện đang hoạt động trong lòng người chống nghịch Thượng Đế. Tất cả chúng ta một thời đã sống xác thịt và ý tưởng gian ác của mình. Vì bản tính tội lỗi đó, chúng ta đáng bị Thượng Đế hình phạt như bao nhiêu người khác” (Eph Ep 2:1-3). Từ mấy câu trên, có hai sự kiện nổi bật: Tất cả mọi người đều phạm tội bằng hành động hoặc hành vi cử chỉ của mình, và theo bản tính thì tất cả mọi người đều là tội nhơn.
Nhưng vấn đề thích hợp nhất với chủ đề về tính cách thuộc linh, là Cơ Đốc nhân có phạm tội không? Câu trả lời là khẳng định và bao gồm toàn thể các tín hữu. Ngay đến Phao-lô, vào cuối đời mình, và với tư cách là một con người trưởng thành thuộc linh, ũng từng nhận xét “Chúa Cứu Thế Giê-xu đã xuống trần gian để cứu vớt người tội lỗi. Trong những người được cứu, ta nặng tội nhất” (ITi1Tm 1:15). Hoặc xin hãy lắng nghe lời chứng của một sứ đồ trưởng thành khác, vốn rất từng trải trong cuộc đời làm Cơ Đốc nhân của mình. Giăng viết “Nếu chúng ta chối tội là chúng ta tự lừa dối và không chịu nhìn nhận sự thật. Nhưng nếu chúng ta thú tội với Chúa, Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạc tất cả lỗi lầm chúng ta, đúng theo bảng tính công chính của Ngài. Nếu chúng ta bảo mình vô tội là cho Thượng Đế nói dối, và Lời Ngài không ở trong chúng ta” (IGi1Ga 1:8-10). Thế thì có tới ba lời xưng tội trong mấy câu này. Thứ nhất là lời xưng nhận nguyên tắc của tội lỗi (c.8). Tuy câu này, Giăng ngụ ý thừa nhận rằng chúng ta đang giữ trong người mình mầm mống gốc rễ của tội, tương phản với các hành động tội lỗi đặc thù. Ở đây ông đang viết cho các Cơ Đốc nhân (lưu ý mấy chữ 'các con' trong 2:1) là nếu chúng ta không thừa nhận sự hiện diện của tội lỗi, thì điều đó chỉ đưa chúng ta đến chỗ đi sai lạc và chân lý không ở trong chúng ta. Chúng ta đang sống trong một bầu không khó mà sự tối tăm là do chính mình tự tạo ra. Thứ hai là việc xưng nhận các tội lỗi riêng biệt (c.9). Xưng nhận một tội riêng biệt có nghĩa là nói y như là cũng phải trả một giá nào đó. Thứ ba là xưng nhận các tội lỗi cá nhân (c.10). Người ta có thể thừa nhận hai câu 8 và 9 theo nghĩa trừu tượng mà chẳng bao giờ chịu thừa nhận bản thân đã phạm tội. Hành động như vậy là cho rằng Thượng Đế nói dối, và điều đó chứng minh chúng ta chẳng hề hiểu biết Lời (Đạo) Ngài. Mấy câu này viết cho các Cơ Đốc nhân chứng tỏ mọi người đều đã phạm tội, và chẳng hề có người tín hữu nào dầu có thuộc linh hay trở thành đến mức nào đi chăng nữa, đều chẳng bao giờ có thể đạt được mức trọn lành trong đời sống trên thế gian này.
CON NGƯỜI MUÔN MẶT
Bản tính con người gồm nhiều góc cạnh, và có thể phân loại các góc cạnh ấy theo nhiều cách. Về căn bản, thì con người là vật chất (thân xác) và phi vật chất (hồn). Với thân xác của mình, con người ta có nhiều chức năng. Chức năng thấy không giống với chức năng nghe; hệ thần kinh tuy khác nhau, phân biệt nhau, nhưng lại có mối liên hệ giữa hai cơ quan thính thị. Đó là hai chức năng phân biệt nhau nhưng lại có liên hệ với nhau của phần vật chất của con người.
Cũng vậy, phương diện phi vật chất của con người ta cũng có các chức năng tuy khác nhau nhưng cũng có liên hệ với nhau. Hồn, linh, tâm, trí, ý chí, lương tâm, đều là các mặt khác nhau của bản tính phi vật chất nơi con người và thường rất khó phân biệt giữa chúng một cách nhanh chóng được. Thí dụ hồn là phần để chúng ta yêu mến Thượng Đế (Mat Mt 22:37); chính nó đang tranh chiến với xác thịt (IPhi 1Pr 2:11). Nó có thể ca ngợi Chúa như phần linh vậy (LuLc 1:46, 47). Thế nhưng phần linh có thể dự phần vào sự băng hoại (ICo1Cr 7:1). Nếu người ta nghiên cứu các chức năng của cái tâm của một người (tấm lòng, quả tim phi vật chất), thì sẽ thấy mặt này của con người thường có những điều mà người ta vẫn gán cho hồn, linh, và trí. Vấn đề chỉ đơn giản là vì con người ta là muôn mặt, dầu được nhìn từ góc cạnh vật chất hay phi vật chất của nó. Tuy việc nghiên cứu các chức năng và góc cạnh khác nhau đó của con người (hồn, linh, tâm...v.v..) rất có lợi, ở đây, nó không phải là vấn đề của chúng ta. Do đó, chúng ta phải dành phần thảo luận chi tiết cho các chương sau. Trong phạm vi hình thành các ý niệm căn bản liên quan với tính cách thuộc linh, ý niệm về con người đa diện cảnh giác chúng ta về sự kiện đời sống thuộc linh sẽ phải được đặt liên hệ và có ảnh hưởng đối với các phương diện đó của bản tính con người. “Công thức để chiến thắng” chẳng hạn, sẽ không phải chỉ đơn giản là một công thức chỉ có liên hệ với một mình phần (tâm) linh mà thôi. Chắc chắn là rồi chúng ta cũng sẽ phải đưa vào đó cả phần tâm, trí, lương tâm và vân vân nữa.
CON NGƯỜI LÀ MỘT ĐƠN VỊ THỐNG NHẤT
Tuy con người là một hữu thể đa diện, và tuy các phương diện ay của con người đến tham dự cuộc tranh chiến giữa hai bản tính cũ và mới khi người ấy trở thành một tín hữu mới, con người ấy vẫn là một người và hành động một cách thống nhất. Hễ cái gì tôi làm, là chính tôi làm, chớ không phải chỉ có một phần nào đó của tôi làm mà thôi. Thật là si lầm khi bảo rằng 'việc này việc nọ là bản tính cũ của tôi làm' hoặc bảo rằng 'việc ấy bắt nguồn từ hồn (soul) chớ không phải là từ linh (spirit) của tôi'. Quả thật là có một vài phương diện nào đó của bản thân tôi có thể đã là nguyên nhân làm nảy sinh một hành động, nhưng hành động đó là do chính tôi thực hiện chớ không phải là một phần nào đó của tôi. Chúng ta quá thường nói như vậy, thường có khuynh hướng muốn tự bào chữa về một 'hành động xấu xa gian ác nào đó, bằng cách đổ thừa cho một phần nào đó của con người chúng ta mà vì một lý do nào đó, đã tách riêng ra, khiến chúng ta khỏi phải chịu trách nhiệm.
GaGl 2:20 thường được dùng để hậu thuẫn cho loại ý niệm như vậy. Người ta có cảm tưởng là Chúa Cứu Thế đã làm tất cả những điều đó chớ không phải tôi. Tôi đã bị cho đi an trí, để cho Chúa Cứu Thế sống cuộc đời của Ngài qua trung gian là tôi, khiến tôi chỉ được bảo đảm là sẽ chiến thắng về mặt thuộc linh, nếu tôi chịu rút lui, đứng ra ngoài lề. Nhưng câu ấy không phải chỉ bảo rằng có một mình Chúa Cứu Thế sống trong tôi mà thôi, nhưng là Chúa Cứu Thế sống trong tôi, và cuộc đời ấy là do chính tôi sống - là tất nhiên là bởi đức tin, nhưng dầu sao thì cũng là chính tôi đang sống cuộc đời đó. Bất cứ việc gì được thực hiện, dầu thiện dầu ác, đều là do chính tôi làm, vì ngoài phần trung gian là chính tôi ra, thì chẳng có bản tính cũ, bản tính mới, hay hồn, linh, hoặc bất luận một phương pháp nào khác của con người tôi lại có thể làm được gì cả. Do đó mà tôi phải chịu trách nhiệm về các hành động của tôi và không thể đổ trút sự chê trách lên bất klỳ một phần nào mà tôi cố gắng đổ thừa là không phải một thành phần của chính tôi cả. Bàn tay đã bấm cò súng để giết người sẽ đưa con người toàn diện vào nhà tù hoặc cái chết; con mắt tham dự đưa bệnh tật đến cho toàn thể cái thân xác đã phạm tội tà dâm; cái tâm trí đã hợp lý hóa con đường sai lệch với ý chỉ Thượng Đế gây ảnh hưởng đến cả cuộc đời; tấm lòng trìu mến một đối tượng sai lầm thu hút sự nỗ lực của con người toàn diện. Chẳng ai có thể bảo rằng chỉ có bàn tay, con mắt, trí hoặc tâm mình là đáng chê trách mà thôi. Cả con người phải chịu chê trách.
Ngược lại, nhờ ân phúc Thượng Đế, khi bởi quyền năng Ngài tôi có thể làm được một điều thiện nào, thì Ngài thừa nhận đó là chính tôi đã làm và do đó, cả con người tôi sẽ được phần thưởng. Cả khi hành động ấy bắt nguồn từ bản tính mới hay tâm trí đã được đoi mới, và tuy đó là quyền năng Ngài khiến cho hành động ấy được thực hiện, thì đó vẫn chính là do tôi làm, và Chúa thừa nhận điều đó bằng cách ban cho tôi một phần thưởng. Nếu trái lại, Ngài đã làm mọi việc hoàn toàn ở ngoài tôi, hoặc qua trung gian một con người hoàn toàn thụ động là tôi, thì chừng đó, chắc Ngài phải tự thưởng cho mình trong ngày phán xét. Nhưng trường hợp vốn không phải là như vậy, và sở dĩ như thế chỉ vì nhiều phương diện của con người đều tạo nên một con người hợp nhất.
Vậy, đó là một vài đặc điểm căn bản của con người liên hệ với đời sống thuộc linh. Có một số vẫn còn cần phải thảo luận cặn kẽ hơn, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ cần đặt một cái nền cho cái ý niệm ấy trong tư tưởng của quý độc giả mà thôi.

CON NGƯỜI CŨ VÀ CON NGƯỜI MỚI
Ngay khi một người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Cứu Chúa mình, thì người ấy trở thành một người mới (IICo 2Cr 5:17). Sự sống của Thượng Đế trong lòng người ấy sinh ra một con người mới, sẽ ở lại với người ấy bao lâu người ấy còn sống. Hiểu rõ sự hiện diện, địa vị và mối liên hệ giữa đời sống cũ và đời sống mới trong cuộc đời một Cơ Đốc nhân rất thiết yếu để từng trải một đời sống thuộc linh lành mạnh và quân bình.
Chúng ta đã thấy rằng tất cả mọi người sanh ra trên thế gian này đều là tội nhơn vì cớ bản tính tội lỗi mà người ấy đã mang theo mình khi được sanh ra đời. Sứ đồ Phao-lô nói là do bản tính, chúng ta đều là các con cái của sự thạnh nộ, và bản tính ấy sanh ra đủ thứ hành động tội lỗi (Eph Ep 2:3). Nhiều khi bản tính tội lỗi đó được gọi là xác thịt. Thật ra, từ ngữ xác thịt có rất nhiều nghĩa. 1) Có khi nó chỉ có nghĩa đơn giản là thân xác vật chất của một người (ICo1Cr 15:39). 2) Nó thường được dùng chỉ về mọi người nói chung (RoRm 3:2). 3) Nhưng nó thường được Kinh điển sử dụng để chỉ bản tính tội lỗi (RoRm 7:18). Khi được dùng như vậy, thì nó có nghĩa gì? Muốn trả lời câu hỏi này, cần phải tìm một định nghĩa, thỏa đáng cho từ ngữ bản tính. Khi nghĩ đến bản tính tội lỗi và bản tính mới, nhiều người thường vẻ ra hai con người phân biệt nhau cùng sống bên trong thân thể mình. Một người thì dễ sợ, đáng ghê tởm, thoái hóa, còn người kia thì đẹp đẽ, trẻ trung, trông ra vẻ một con người đắc thắng. Nhưng cách hình dung như vậy không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn tuy chúng thường dẫn tới cái ý niệm là thật ra, không phải chính tôi đã làm điều này điều nọ, mà chính là 'con người nhỏ bé' ở trong tôi kia. Nói khác đi, chúng thường dẫn tới việc tách rời một cách giả tạo nhân cách cá nhân, riêng tư của một con người.
Định nghĩa bản tính bằng các từ ngữ chỉ tài năng thì đúng hơn nhiều. Như vậy, bản tính cũ của xác thịt là tài năng mà mọi người đều có để phục vụ và làm đẹp lòng lòng chính mình (bản ngã, cái ta của mình). Hoặc có thể nói đó là cái tài năng bỏ mặc Thượng Đế đứng bên ngoài đời sống mình. Chỉ định nghĩa bản tính tội lỗi là tài năng làm xấu làm ác mà thôi thì vẫn chưa bao quát đủ, vì nó vốn vượt xa phạm vi ấy. Có những điều tự chúng không nhất thiết là xấu, nhưng chúng vốn xuất phát từ bản tính cũ. Chúng chỉ đơn giản là những điều bỏ mặc Thượng Đế ở ngoài. Vậy thì, xác thịt là cái tài năng xưa cũ mà mọi người phải sống đều có để loại bỏ Thượng Đế. Trong Cơ Đốc nhân thì xác thịt là chính cái tài năng bỏ mặc Thượng Đế đứng ngoài cuộc đời và các hành động của mình đó.
Bản tính tội lỗi còn được gọi là con người cũ (RoRm 6:6; CoCl 3:9). Câu này dường như nhấn mạnh nguồn gốc của cái tài năng tự đề cao thay vì tôn vinh Thượng Đế; nghĩa là nó đưa chúng ta trở về với A-đam là con người mà do đó, chúng ta tiếp nhận các bản tính tội lỗi của mình.
Việc ăn năn quy đạo cùng đem theo nó một tài năng mới nhờ đó, bây giờ chúng ta có thể phục vụ Thượng Đế và sự công chính. Trước khi được cứu chúng ta làm nô lệ cho tội lỗi, nhưng bây giờ, chúng ta trở thành nô lệ của sự công chính (RoRm 6:18-20). người không được cứu chỉ có một tài năng, nhưng Cơ Đốc nhân có đến hai. Điều này có nghĩa rằng người không được cứu chỉ có một loại hành động - để phục vụ tội lỗi và chính mình (bản ngã) hoặc bỏ mặc Thượng Đế đứng bên ngoài cuộc đời mình - trong khi người tín hữu thì được quyền lựa chọn. Người ấy có thể phục vụ Thượng Đế, và bao lâu người ấy còn sống trong thân xác của một con người, người ấy vẫn còn khả năng chọn việc bỏ mặc Thượng Đế để sống theo bản tính cũ của mình.
Bản tính mới vốn từ chính Thượng Đế đến (IIPhi 2Pr 1:4). Phao-lô thì gọi nó là con người mới, tương phản với con người cũ “Hãy vứt bỏ con người cũ, là nếp sống cũ đã bị hư hỏng vì dục vọng lừa dối. tâm hốn anh em phải đổi mới. Anh em phải trở nên người mới, có bản tính tốt đẹp thánh sạch giống Thượng Đế (Eph Ep 4:22-24). Giữa bản tính mới và quyền phép Đức Thánh Linh có một mối liên hệ hết sức mật thiết (GaGl 5:25), và luôn luôn có xung đột tranh chấp giữa hai ài năng mới và cũ này (GaGl 5:17; RoRm 7:16-25; 8:6).
Hai tài năng này không giống như hai cuộn băng trên đó ghi như hai loạt hành động mà một máy điện toán có thể ghi lại. Thật ra, cùng một hành động có thể thuộc về cả hai bản tính.
Thí dụ như nghỉ ngơi giải trí không phải là một việc xấu. Thế nhưng người ta có thể lao vào đó để chứng minh rõ ràng cái tài năng cũ là bỏ mặc Thượng Đế đứng ngoài; và nhân một cơ hội khác, nó lại là một phần tối quan trọng của sinh hoạt thuộc linh của một người. Điều phân biệt bản tính cũ với bản tính mới không nhất thiết là chính hành động, nhưng là cách sử dụng nó. Như vậy, cả hai cuộn băng đều có thể có trên chúng cùng những hành động giống y nhau. Lẽ dĩ nhiên là rất có thể rằng phần lớn những gì chúng ta làm trong sinh hoạt hằng ngày đều có thể do cả hai phần tài năng kia, do đó, đều xuất hiện trẽn cả hai cuộn băng trong thí dị minh họa; nhưng Tôi chính là người bấm nút cho mỗi hành động để định đoạt việc nó đến từ cuộc băng nào. Và chính là Tôi, chớ không phải chỉ có một nửa con người tôi, là người đã thực hiện cái hình động đó; vì tôi, là chiếc máy tính, vẫn in ra cái hành động đó trong sinh hoạt hằng ngày. Một khi đã nhìn nhận cái tài năng song phương đó trên từng người tín hữu riêng biệt, điều cũng rất quan trọng là phải hiểu rằng mỗi một phương diện của nhân cách người tín hữu cũng có thể tham gia nhiều hành động bắt nguồn từ cả bản tính lẫn bản tính mới.
TÂM TRÍ
Những từ ngữ được cả Cựu lẫn Tân ước dùng chỉ tâm trí (mind) diễn tả nhiều ý niệm khác nhau. Kinh Thánh không có chữ nào để chỉ bộ óc cả; dó đó, ý niệm tâm trí không có nghĩa là cái cơ quan thể xác ấy, mà ám chỉ các chức năng khác nhau của trí tuệ, ý chí và tình cảm, vốn được Kinh điển kết hợp với tâm trí. Các ý niệm đó bao gồm tài năng suy nghĩ hoặc lãnh hội, phê phán, cảm nghĩ, quyết định; suy nghĩ để chê bai chỉ trích; tiến trình nắm bắt để lãnh hội hầu dẫn tới một hệ quả. Bản thân tâm trí dường như có tính cách trung lập, phẩm chất đạo đức của nó là do hoặc cái tài năng cũ hoặc mới sai khiến nó định đoạt.
âm trí của người không được cứu vốn không được Kinh điển mô tả bằng những lời lẽ lịch sự. Nó là xấu (SaSt 6:5); nó hư đốn sa đọa (RoRm 1:28). Sở dĩ như vậy, là vì loài người chối bỏ ánh sáng mặc khải mà Thượng Đế ban cho bản tính của tất cả mọi người (RoRm 1:18-21). Nói khác đi, chính việc con người tự ý chối bỏ điều mình có thể biết được về quyền phép của Thượng Đế nhờ sự mặc khải của Thượng Đế qua trung gian công trình sáng tạo của Ngài, đã khiến họ tự quyết định đi vào sự hư đốn sa đọa. Vì đã sa bại, con người không được cứu bị mất hẳn cái năng khiếu tra xét để phê phán (RoRm 3:11) khi cần phải hiểu biết những điều thuộc về Thượng Đế. Nói như tế không có nghĩa là bảo rằng người ấy không có sự hiểu biết hay trí khôn, nhưng là bảo rằng tâm trí người ấy đã trở nên tối tăm và vô dụng (Eph Ep 4:17-18). Nó thật sự tranh chiến với Thượng Đế (RoRm 8:6-7). Nó bị ô uế (nghĩa đen là bị nhuộm màu khác, Tit Tt 1:15) và băng họai (ITi1Tm 6:5). Sở dĩ có tất cả mọi điều đó, là do sự kiện Sa-tan đã làm mù tăm trí của con người không được tái sanh “khiến họ không nhìn thấy ánh sáng Phúc âm không hiểu lời truyền giảng về vinh quang của Chúa Cứu Thế, là hiện thân của Thượng Đế” (IICo 2Cr 4:4). Đây là câu tối quan trọng cần phải nhớ khi chúng ta đi làm chứng đạo, vì nó nhắc nhở chúng ta rằng đưa một người đến chỗ được cứu rỗi đòi hỏi nhiều hơn là việc chỉ thuyết phục được họ về chân lý của Phúc âm. bạn có thể lý luận, bắt bẻm thuyết phục để khiến một ai đó phải đồng ý, nhất trí với mình, nhưng nếu chưa cất đi được sự tối tăm mù quáng mà Sa-tan đang áp đặt trên người ấy, thì người ấy sẽ chẳng bao giờ có thể ăn năn quy đạo được. và lẽ dĩ nhiên là chẳng hề có ai là con người mà có đủ quyền năng để cất đi một sự đui mù như thế - nhưng chỉ có Thánh Linh của Thượng Đế mới có quyền ấy mà thôi. Các luận cứ của trí khôn vốn có vai trò dành riêng cho chúng - và chắc chắn là tôi không hề biện luận để bênh vực cho việc giới thiệu, trình bày Phúc âm thiếu khôn ngoan - nhưng chúng phải được trình bày bằng quyền phép của Đức Thánh Linh, thì mới có hiệu quả để cứu được người ta.
Các đặc điểm mà Kinh Thánh mô tả tâmt rí người chưa được cứu trên đây không có nghĩa rằng người ấy không thể suy nghĩ đúng hay hành động đúng. Do lòng nhân từ đầy ân huệ của Ngài, Thượng Đế đã ban cho nhân loại nhiều con người có tâm trí phi thường mà họ đã sử dụng để tạo ra công ích. Đó là các ân tứ của ân đức phổ biến của Ngài. Tất cả chúng ta đều thọ ơn nhiều người chưa được cứu về những tiến bộ mà tâm trí họ đã đem đến cho nền văn minh cận đại. Thế nhưng, mặc dầu có được mọi phẩm chất tốt như thế mà tâm trí loài người có thể có được, họ vẫn bị ảnh hưởng của các đặc tính chẳng ai muốn có mà Kinh điển đã mô tả, tuy các đặc tính ấy có thể không phải là hiển nhiên ở một người này hơn một người khác. Và chúng cũng không hiển nhiên trong tất cả mọi lãnh vực của tư tưởng và đời sống nữa. Nhưng chúng đặc biệt được nhận thấy khi người chưa được cứu cố gắng ứng dụng tâm trí tự nhiên là ngược lại, điều đó cũng ảnh hưởng trên toàn thể quan điểm về cuộc đời của người ấy đến một chừng mực nào đó.
Hơn nữa, cần nhớ rằng Cơ Đốc nhân cũng có thể chọn để cho phép các đặc điểm của tâm trí cũ đó tự bộc lộ ra trong đời sống mình. Thượng Đế đã phán xét cái tài năng cũ với phần nguyên tắc hướng dẫn nó rồi, cho nên chúng ta không nên để cho nó vẫn chưa bị dập tắt, và chúng ta vẫn còn có thể bị nó cai trị kiểm soát. Nếu nó được cho phép hoạt động, nó sẽ có thể tự bộc lộ là một tâm trí xấu xa gian ác, hư đốn sa đọa, xác thịt, không biết phải trái, tối ăm, vô dụng, ô uế băng hoại và mù quáng như nó vốn có.
Đồng thời với phép lạ tái sanh, tâm trí của Chúa Cứu Thế cũng đến với chúng ta (ICo1Cr 2:16). Tâm trí của Chúa Cứu Thế là gì? Trên hết mọi sự, nó là cái thái độ không coi trọng bản thân chúng ta hơn chính địa vị đích thực của mình và đó chính là phần nòng cốt của cái tâm trí mà chúng ta phải nuôi dưỡng (Phi Pl 2:5). Đây là một thí dụ khác nữa về nhu cầu phải có sự cân bằng trong sinh hoạt thuộc linh, liên hệ với phần tâm trí. Chúng ta có tâm trí (tinh thần) của Chúa Cứu Thế, cho nên bị bắt buộc phải suy nghĩ thật khiêm hạ. Thượng Đế đã làm một việc gì đó rồi, và chúng ta cũng phải làm một việc gì đó để bày tỏ ra điều Ngài đã làm. Ở đây có cả phần của Thượng Đế lẫn phần của con người tham gia công tác. Nhưng điều chúng ta phải suy nghĩ đó là gì? Chúng ta phải hoàn toàn noi theo gương trọn lành của Chúa Cứu Thế để suy nghĩ hoàn toàn phù hợp với ý chỉ Thượng Đế.
Muốncó cùng một tâm trí (tâm tình, tinh thần) với Chúa Cứu Thế, muốn đầu phục ý chỉ Thượng Đế, chúng ta phải hiểu rõ ý chỉ Thượng Đế là gì, và điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ (Eph Ep 5:17). Nếu việc biện biệt ý chỉ Thượng Đế xảy ra trong lãnh vực những điều thắc mắc nghi ngờ liên hệ đếnc ác ăn ở ứng xử của Cơ Đốc nhân chúng ta sẽ phải cần vận dụng tâm trí để đi đến chỗ kết luận (RoRm 14:5). Chức vụ dạy dỗ sự hiểu biết của chúng ta của Đức Thánh Linh sẽ được cần đến (GiGa 16:13 TC LuLc 14:45). Hơn nữa, chúng ta còn phải chuẩn bị tâm trí mình (IPhi 1Pr 1:13) để khỏi có những tư tưởng sai lạc, vô kỷ luật; chuẩn bị sẵn sàng là việc làm cần thiết để bắt phục tâm trí (IICo 2Cr 10:5). Đặc biệt là trong những ngày hiện nay, các trách nhiệm ấy rất quan trọng. Hiện đang có rất nhiều tư tưởng sai lạc (nếu quả thật là người ta đang suy nghĩ!). Thiên hạ đang đổ xô nhau chạy theo các cảm xúc thay vì chạy theo trí tuệ trong sinh hoạt Cơ Đốc nhân và thay vì hướng dẫn họ đến cho đầu phục để làm nô lệ cho sự tham dục. Tâm trí chúng ta phải được kích thích bằng Cơ Đốc giáo chớ không phải là bằng thế gian này; thế nhưng thay vào đó, chính sự kích thích của thế gian này đang cai trị tâm trí chúng ta.
Đâu là phương pháp để thực hành tâm trí của Chúa Cứu Thế. Có một 'bí quyết' chiến thắng nào cho lãnh vực này không? Vâng, có, và nó chẳng phải là điều bí mật chi cả! Công thức của nó là luôn luôn đổi mới tâm trí (RoRm 12:2). Cần lưu ý rằng đây là một sự biến hóa hoàn oàn chớ không phải chỉ là một sự thay đổi trên bề mặt mà thôi. Cũng cần lưu ý rằng động từ trong câu này thuộc thì hiện tại, cho thấy đây là một tiến trình liên tục. Điều này lại nhắc nhở chúng ta một lần nữa sự kiện tính cách thuộc linh không phải là việc hoàn tất chỉ trong phút chốc nhưng là một sự hoàn thiện đòi hỏi phải có thời gian để trưởng thành. Trong RoRm 12:2 Phao-lô vạch ra phương diện tiêu cực của sự biến hóa do việc đổi mới tâm trí bằng câu “đừng đồng hóa với người đời”. Từ ngữ 'đồng hóa' này cũng xuất hiện trong IPhi 1Pr 1:14, và đáng lẽ trong RoRm 12:2, nó phải được dịch là “đừng khuôn rập theo người đời”. Bức tranh ở đây là quét một lớp sơn hào nhoáng rẻ tiền của thế gian lên trên cuộc đời chân thật của người tín hữu. Thường thường thì nước sơn (véc-ni) là một vật hiện đắt tiền được phủ lên trên loại gỗ rẻ tiền, nhưng bức tranh trong câu này thì trái ngược hẳn lại. Phao-lô bảo rằng việc chẳng bao giờ nên làm, là đem nức sơn rẻ tiền là thế gian để phết lên công tác vô cùng đắt giá là sự tái sanh. Điều này có nghĩa là mọi tư tưởng, lý tưởng, chuẩn mực, cao vọng, quan niệm đều phải phù hợp với ý chỉ Thượng Đế, và chúng ta phải thường xuyên đổi mới tâm trí mình về các phương diện ấy, hầu phơi bày tâm trí của Chúa Cứu Thế ra.
Còn có một phương diện khác nữa của cái công thức chiến thắng liên hệ v\1i tâm trí này, và đó chính là giáo lý về “Quyền năng của Tư Tưởng Tích Cực” của Phao-lô trong Phi Pl 4:8 “Sau hết, xin anh em nghiền ngẫm những điều chân thật cao thựơng (đáng kính đáng trọng), công bằng (công chính trước mặt Thượng Đế và vượt xa các tiêu chuẩn của thế gian ngày nay), trong sạch (biệt riêng cho Thượng Đế như người Na-xi-rê vậy), đáng yêu chuộng (được hâm mộ tán thưởng khiến bạn được thúc giục để làm giống như vậy), và đáng khen ngợi. Hãy suy nghiệm những công việc nhân đức. Hãy tập trung tâm trí vào những điều làm cho anh em nức lòng ca tụng Chúa”. Chúng ta có trách nhiệm phải suy gẫm những điều đó trong một thế giới đang đầy dẫy đủ thứ chống đối và xung đột, với phần tâm trí cũ luôn luôn tranh chiến bên trong chúng ta. Luther được bảo là từng nói “Bạn không thể cấm một con chim bay qua đầu bạn, nhưng có thể ngăn trở nó làm tổ trên tóc bạn”. Luôn luôn đổi mới các ý niệm căn bản của tâm trí (RoRm 12:2) và kiên trì tập trung vào các tư tưởng đúng (Phi Pl 4:8) là bí quyết để biểu hiện thành công tâm trí (tinh thần, tâm tình) của Chúa Cứu Thế trong sinh hoạt hằng ngày. Đây là đặc điểm của tính cách thuộc linh chân chính.
TẤM LÒNG
Trong tất cả các từ ngữ đề cập một góc cạnh nào đó của phần phi vật chất của con người (kể cả hồn và linh), thì từ ngữ lòng có ý nghĩa rộng rãi và thường được sử dụng nhất. Dường như nó chỉ được dùng có hai lần để chỉ trong khu vực đời sống thuộc thể (IISa 2Sm 18:14; IIVua 2V 9:24); trong tất cả hơn bảy trăm lần xuất hiện khác của nó, nó đều liên quan với một phương diện nào đó của bản tính phi vật chất của con người.
1. Lòng là trung khu của sinh hoạt trí thức của chúng ta và theo nghĩa đó thì nó đồng nghĩa với tâm trí. Tấm lòng có những tư tưởng (HeDt 4:12), và các tư tưởng gian ác vốn từ đó mà ra (Mat Mt 15:19). Thế nhưng đó cũng là chỗ mà chúng ta phải giấu sự hiểu biết về Lời Thượng Đế của mình (Thi Tv 119:11).
2. Lòng cũng là trung khu của sinh hoạt tình cảm của chúng ta. Đây là cách dùng mà phần lớn chúng ta phải nghĩ đến trước nhất khi khảo xét ý nghĩa của chữ lòng. Tấm lòng biết yêu thương (PhuDnl 6:5), vui mừng (Thi Tv 104:15), buồn rầu (RoRm 9:2), ao ước (Thi Tv 37:4) và diễn tả nhiều cảm xúc khác nữa.
3. Lòng cũng có thể là ý chí. Mưu định hay quyết tâm có liên hệ với tấm lòng (ICo1Cr 9:7). Tấm lòng cũng chọn lựa (XuXh 7:23), nó có thể thay đổi (XuXh 4:5) tìm kiếm (PhuDnl 4:29), và có thể bị chai cứng (HeDt 4:7)
4. Nhiều khi từ ngữ lòng được dùng theo nghĩa bóng để chỉ tâm điểm hay phần bên trong của một điều gì đó. Kinh điển có đề cập lòng biển (XuXh 15:8), lòng trời (PhuDnl 4:11) và lòng đất (Mat Mt 12:40). Cách dùng này chẳng liên quan gì với sinh hoạt thuộc linh cả.
5. Mối bận tâm chính của chúng ta trong cách dùng từ ngữ lòng là khi nó có liên hệ với sinh hoạt thuộc linh, nhưng trước hết, chúng ta cần lưu ý các tài năng cũ và mới có thể ảnh hưởng đến tấm lòng như thế nào.
Thật ra thì tấm lòng của người không được cứu có đặc tính được mô tả bằng những từ ngữ khá nghiêm khắc. Điều này có nghĩa rằng các góc cạnh trí thức, tình cảm, ý chí và thuộc linh đều bị ảnh hưởng của các đặc tính ấy. Tấm lòng được gọi là ngoan cố, không hối cải (RoRm 2:5). Từ ngữ ngoan cố có nghĩa là cứng cỏi, chai lì, hay vô cảm đối với những điều thuộc linh. Nó còn không chịu ăn năn hối cải, là điều tự nhiên tiếp sau sự vô cảm. Nó là đui mù (Eph Ep 4:18), là xấu xa gian ác (Gie Gr 3:17), và không chịu cắt bì (Cong Cv 7:51). Nó có thể bị lừa dối (Gia Gc 1:29) mà cũng có thể lừa dối nữa (Gie Gr 17:9). Nó có thể sa vào tình trạng không tình nghĩa, không thương xót theo lẽ tự nhiên (RoRm 1:31).
Sự cứu rỗi đem đến cho đời sống một tài năng mới, và với tài năng mới ấy là một khả năng mới mẻ để suy nghĩ đúng, yêu mến Thượng Đế, quyết tâm làm theo ý chỉ Thượng Đế và có một tấm lòng được thay đổi. Tấm lòng của Cơ Đốc nhân (và điều này có nghĩa là sinh hoạt tri thức, tình cảm, ý chí và thuộc linh của người ấy) bấy giờ có thể trở thành chân thật và thuần khiết (HeDt 10:22). Bây giờ nó đã được cắt bì (RoRm 2:29) nghĩa là đã vứt bỏ phần xác thịt tội lỗi. Giờ đây tấm lòng có thể trở thành một trung tâm sống động của sinh hoạt thuộc linh của người tín hữu.
Bằng tấm lòng, một người có thể trở thành người công chính (RoRm 10:10), và bằng một tấm lòng ngay thẳng, người công chính có thể sống cuộc đời làm Cơ Đốc nhân. Tấm lòng là nơi cư trú để Chúa Cứu Thế (Eph Ep 3:17) và Đức Thánh Linh (IICo 2Cr 1:22) ngự vào. Tấm lòng là trung tâm của sự vâng lời theo nhiều phương diện của sinh hoạt Cơ Đốc nhân (RoRm 6:17). Chính là bằng tấm lòng mà chúng ta yêu mến Thượng Đế (Mat Mt 22:37) và tình yêu thương của Thượng Đế cũng được đổ tràn ngập vào đó (RoRm 5:5). Vậy có thể nói rằng việc Chúa Cứu Thế và Đức Thánh Linh ngợ vào lòng chúng ta, sẽ ảnh hưởng đến mọi phương diện của con người chúng ta (vì tấm lòng bao gồm tất cả các phương diện ấy), rồi đến lượt mình, chúng ta phải yêu mến và vâng lời Thượng Đế bằng mọi phương diện của bản tính chúng ta (nghĩa là hết lòng).
Nhưng việc này không xảy ra bên ngoài hành động có trách nhiệm của con người. Chúng ta đã được cảnh cáo nghiêm khắc rằng tấm lòng của người tín hữu có thể trở thành cứng cỏi, nghĩa là chai lì hay vô cảm đối với những điều thuộc linh (HeDt 3:8, 13). Tội lỗi rất giỏi lừa dối và nó có thể gài bẫy để đưa một người sa vào vị trí không thể đáp ứng lại những thôi thúc của Chúa và Thánh Linh Ngài, cả khi hai người ấy vẫn tiếp tục ngự trong lòng mình. Sự lừa dối của tội lỗi tạo ra sự chai lì trong lòng, che mờ không cho Ba Ngôi Thượng Đế đang ngự trong lòng một người được bày tỏ ra. Trong khúc sách Hy-bá kể trên, có nêu ra ba phương pháp để ngăn ngừa việc một Cư-đốc nhân có thể bị cứng lòng. Thứ nhất là phải khuyên bảo nhau hằng ngày (3:13). Một Cơ Đốc nhân cô lập có thể trở thành một Cơ Đốc nhân chai lì, vì cần được các tín hữu khác khích lệ và quan tâm chăm sóc cho. Thứ hai là Lời Thượng Đế phải được sử dụng trong đời sống để tạo ảnh hưởng trên mọi thành phần của nó (lưu ý là cả hồn, linh, và thân thể đều được đề cập trong 4:12). Câu ấy không có nghĩa là Lời Thượng Đế chia rẽ hồn và linh theo cách là cắt cho phần hồn tách rời khỏi con người chúng ta, còn phần linh thì để lại. Nếu nó dạy như vậy thì cũng dạy rằng phải cắt bỏ phần cốt tủy còn các khớp xương thì để lại! Câu ấy vạch rõ rằng Lời Chúa phân biện hay mổ xẻ đúng vào nhưng thành phần sâu kín nhất của nội tâm con người, cả phần phi vật chất (hồn và linh), lẫn phần vật chất (cốt tủy và các khớp xương). Nói khác đi, Lời Chúa vạch trần mọi thành phần của con người chúng ta để phơi bày ra mọi góc cạnh của cuộc đời chúng ta cho những lời truyền dạy của Ngài. Lẽ tất nhiên, một cuộc đời chịu để cho việc ấy xảy ra, sẽ chẩng bao giờ có một tấm lòng đã bị chai lì.
Cách ngăn ngừa chai lì thứ ba là sinh hoạt cầu nguyện (HeDt 4:14-16). Khi nào chúng ta cần được giúp đỡ như việc rất thường xảy ra, chúng ta có thể tìm được nó trước ngôi thi ân. Nhưng chúng ta phải tự đến đó. Các thì của động từ trong mấy câu này không chỉ về một nguồn cung cấp ân phúc cứ tuôn chảy mãi, nhưng chỉ những loạt, những đợt ân phúc được ban cho mỗi lần chúng ta đến. Như vậy, trách nhiệm phải đến của chúng ta đã được nhấn mạnh; nếu không, chúng ta sẽ không nhận được phần ân phúc đang được dành sẵn cho mình. Ba phương pháp ấy - thông công, Lời Chúa và sự cầu nguyện - sẽ giúp người tín hữu từng trải cuộc đời mới trong lòng mình, tức là trong trí tuệ, tình cảm, ý chí và sinh hoạt thuộc linh.
LƯƠNG TÂM
Lương tâm của con người là cái năng khiếu nhờ đó người ấy phân biệt được phải trái, đúng sai về mặt luân lý đạo đức. Điều lý thú là trong Cựu ước, là nơi từ ngữ này không hề xuất hiện lần nào, cái ý niệm ấy đã được diễn tả bằng từ ngữ lòng (IISa 2Sm 24:10; Giop G 27:6), chứng minh một lần nữa rằng ý niệm về lòng là ý niệm rộng nghĩa nhất liên hệ với các góc cạnh thuộc về phần phi vật chất của con người.
Tất cả mọi người đều có lương tâm (RoRm 2:15) và nó có thể là một hướng dẫn viên đứng đắn (GiGa 8:9). Dường như nó cũng có vẻ đứng đầu khi thật ra nó đang hướng dẫn người ta đi xuống theo con đường lầm lạc (Cong Cv 23:1). Cho nên trong sự cứu rỗi chúng ta cần được tẩy sạch khỏi lương tâm xấu (HeDt 10:22), vì cả trong thực hành, lương tâm có thể ngưng hoạt động theo đúng chức năng của nó và trở thành ô uế (Tit Tt 1:15) và chai đá (ITi1Tm 4:2).
Lương tâm được thanh tẩy của Cơ Đốc nhân phải được đem ra sử dụng trong sinh hoạt làm Cơ Đốc nhân. Điều khá lạ lùng là trong rất nhiều lãnh vực của đời sống, lương tâm đã bị cho là có ảnh hưởng trên một Cơ Đốc nhân thuộc linh. Việc Cơ Đốc nhân tuân thủ luật pháp của xứ sở mình được căn cứ trên việc người ấy chú ý lắng nghe tiếng nói của lương tâm mình (RoRm 13:5). Điều không may là phần lớn những cuộc thảo luận về trách nhiệm của Cơ Đốc nhân đối với quê hương mình trong khúc sách này đều thuộc về thời kỳ có chiến tranh. Đáng lý ra chúng còn phải nhấn mạnh vào một vấn đề càng tầm thường hơn nữa, như lái xe theo lương tâm của một Cơ Đốc nhân chẳng hạn.
Đối ới một tín hữu thuộc linh, thì làm việc thật tốt cho một ông chủ không xứng đáng cũng là một vấn đề của lương tâm (IPhi 1Pr 2:19). Một Cơ Đốc nhân mà phung phí hay sử dụng sai lầm thì giờ của chủ để 'làm một việc gì đó cho Chúa', là không phải lẽ. Lương tâm chúng ta phải có thể chứng thực cho phẩm chất của lời chúng ta làm chứng cho Chúa (IICo 2Cr 1:12), và lương tâm của số người khác mà chúng ta phục vụ cho cũng phải nhất trí với nhau rằng lời chứng của chúng ta là đúng (ICo1Cr 4:2). Có bao giờ bạn gặp một Cơ Đốc nhân nào cảm thấy là mình chẳng có trách nhiệm gì đối với bất kỳ một Cơ Đốc nhân nào khác cả, và ào chữa cho việc mình thiếu quan tâm đó trên cơ sở là mình có một đường dây trực tiếp với thiên đàng mà không thông qua mọi người khác, lương tâm của họ và chính lương tâm của mình nữa, hay không? Khi Phao-lô muốn nhờ một chứng nhơn để làm chứng một điều gì đó mà ông nói là thật, là chân lý thì ông kêu gọi đến lương tâm của ông trong Đức Thánh Linh (RoRm 9:1).
Có một trong những góc cạnh quan trọng và phức tạp nhất trong đời sống một Cơ Đốc nhân, đó là các hoạt động xã hội của người ấy, và ngay cả những hoạt động ấy cũng phải được lương tâm cai trị, kiểm soát nữa. Trường hợp ở đây là lương tâm của một người yếu đuối hơn, một anh em sống gò bó hơn, phải được xem là người hướng dẫn cho đời sống của một anh em mạnh mẽ hơn (ICo1Cr 8:7, 10, 12). Đây là một nguyên tắc rất khó thực hành, nhưng là một nguyên tắc phải được Cơ Đốc nhân trưởng thành, thuộc linh đem ra áp dụng.
Như vậy, tuy lương tâm có thể dẫn một người chưa được cứu đi đúng đường trong một vài khu vực, nó không thể cứu được người ấy, vì nó đã bị ô uế, chai đá và xấu xa gian ác. Nhưng trong việc tái sanh, nó được Chúa thanh tẩy và sử dụng để hướng dẫn người tín hữu trong các mối liên hệ chính trị, nghề nghiệp, thuộc linh và xã hội của mình.
HỒN VÀ LINH
Các ý niệm hàm chứa trong hồn (soul) và linh (spirit) rất phức tạp và không phải là dễ phân biệt. Người ta phải khó khăn lắm mới tìm ra được những từ ngữ để định nghĩa, rồi một định nghĩa đưa ra có thể lại chỉ giúp được rất ít hoặc chẳng giúp ích được gì cả. Như sau đây là một định nghĩa “Hồn trong con người ta là chủ thể của đời sống cá nhân, trong đó linh là nguyên tắc”. Thật ra, nhằm vào các chủ đích của chúng ta, chúng tôi chỉ cần đưa ra vài nhận xét về hồn và linh mà thôi.
1. Mỗi người có một linh. Sở dĩ người ta phải khẳng định sự kiện này, là vì thỉnh thoảng lại có người chủ trương rằng trước khi được cứu thì một người không có phần linh, và sau khi ăn năn quy đạo thì chính phần linh (Linh) là nguyên nhân duy nhất của đời sống thuộc linh. Mọi người sanh ra đời đều có phần linh là điều được Kinh Thánh dạy hết sức rõ ràng. Xin lưu ý Gia Gc 2:26 “Xác không có linh (spirit) thì chết, đức tin không có hành động cũng chết như vậy “Nói khác đi, muốn sống thì một người phải có phần linh; nếu không có một linh thì là người chết. Thư ICo1Cr 2:11 cũng vạch rõ ràng mọi người đều có phần linh và chính phần này khiến người ta biết cảm thông hiểu biết lẫn nhau. Phần linh của con người là một phương diện của nhân cách (personality); Đức Thánh Linh đến ngự trong người tín hữu lúc người ấy ăn năn quy đạo là một Thân vị (a Person: một Nhân vị). Ngài hành động qua trung gian phần linh của con người (Cong Cv 13:4), nhưng Ngài không phải là phần linh vốn đã có trong một người rồi.
2. Chỗ khác nhau giữa hồn với linh (khi được dùng liên hệ với phần phi vật chất của con người) không phải là sự khác nhau về bản chất (substance) nhưng là về chức năng (function) - nhưng cả đến những điểm dị biệt về chức năng này cũng không phải bao giờ cũng rõ ràng. Nhưng cả hồn và linh đều phi vật chất. Trong thế gian này thật ra chỉ có hai loại thể chất: thể vật chất và thể phi vật chất. Do đó, khi đề cập sự cấu tạo nên con người theo phương diện thể chất, thì người ta phải kết luận rằng sự cấu tạo ấy gồm hai mặt - vật chất và phi vật chất (bởi vì không hề còn có một loại thứ ba nào nữa). Nhưng khi mô tả các chức năng của con người, thì rõ ràng là sự cấu tạo về phương diện chức năng như thấy, nghe, hệ thần kinh v.v... Trong phần phi vật chất thì số chức năng đa dạng được diễn tả bằng lòng, trí, lương tâm, hồn, linh, ý chí v.v... Lắm khi các chức năng ấy trùng lắp lên nhau, nhưng lắm khi chúng lại có thể phân biệt được.
3. Các chức năng của hồn và linh nhiều khi giống nhau, mà nhiều khi lại khác nhau. Cả hồn và linh đều có thể tôn vinh Thượng Đế (LuLc 1:46-47). Cả hồn và linh đều dự phần trong sự hi sinh của Chúa Cứu Thế (GiGa 10:15; 19:30). Thế nhưng dường như Đức Thánh Linh chỉ hành động qua trung gian phần linh, chớ không phải là phần hồn (RoRm 8:16), và khi hai từ ngữ căn bản ấy bị biến thành hình dung từ, thì sự tương phản trở thành hết sức rõ rệt. Con người thuộc hồn là con người không được cứu (ICo1Cr 2:14 TC Giu Gd 1:19) trong khi con người thuộc linh là người đã có đời sống được liên kết phải lẽ với Thượng Đế. Trong ICo1Cr 15:44 thân xác thuộc hồn là cái thân xác chưa phục sinh hiện tại, trong khi thân thể thuộc linh thì phù hợp với kinh nghiệm phục sinh. Do đó mà người ta có thể nói rằng nhiều khi hai ý niệm này khác nhau ở chỗ là phần thuộc hồn dường như có liên hệ với thế gian này còn phần thuộc linh thì liên hệ với Thượng Đế.
4. Nhưng không nên đem sự phân biệt này vào trong sinh hoạt thuộc linh hiện tại đến mức bảo như một số người đã chủ trương, rằng bất cứ điều gì có liên hệ với phần hồn thì tự nhiên tự động là xác thịt cả, trong khi bất cứ điều gì liên hệ đến phần linh đều được bảo đảm là sẽ tạo ta tính cách thuộc linh. Cả phần hồn lẫ phần linh đều có thể đẩy mạnh sinh hoạt thuộc linh của người tín hữu, và cả hai cũng đều có thể gây trở ngại cho nó. Phần hồn pha3i yêu mến Thượng Đế (Mat Mt 22:37) và nó ra mặt chống lại các tham dục của xác thịt (IPhi 1Pr 2:11). Phần linh thì làm chứng để bảo đảm (RoRm 8:16), và việc ca hát và dâng của lễ của người tín hữu phải có tính cách thuộc linh (CoCl 3:16; IPhi 1Pr 2:5). Cả hồn lẫn linh phải đẩy mạnh sinh hoạt thuộc linh. Nhưng cả hai đều có thể gây trở ngại nếu không được điều động và kiểm soát phải lẽ. Phần linh của người tín hữu có thể dự phần vào sự băng hoại (IICo 2Cr 7:1), còn phần hồn của người tín hữu thì cần thức canh (HeDt 13:17). Cả hai đều cần mở rộng ra cho Lời của Thượng Đế (HeDt 4:12), và bất chấp người ta có lý giải thế nào lời truyền dạy của ITê-sa-long-ca về các thành phần cấu tạo nên con người ("Cầu xin tâm linh, tâm hồn và thân thể anh em được bảo vệ trọn vẹn") chắc chắn là câu ấy tuyên bố rằng cả hồn lẫn linh đều cần phải được đưa vào tiến trình thánh hóa hằng ngày. Đã chẳng hề có câu nào trong các câu ấy dạy là phải xa lánh phần hồn mà chỉ lo nuôi dưỡng phần linh trên con đường dẫn tới chiến thắng.
Như thế, chúng ta đã nhận thấy rằng ý niệm liên hệ đến vấn đề là cả hai đều có chức năng riêng nhằm làm thăng tiến sinh hoạt thuộc linh. Có một tác giả đã tóm tắt thật hay những điểm khó khăn của hai từ ngữ này như sau “Có rất ít từ ngữ nào đã được những người tin kính sử dụng một cách mơ hồ hơn, hay đã đưa cra nhiều khó khăn rắc rối hơn cho người có học thức, hoặc đã mở rộng thêm các môi trường suy tư lý luận của con người chịu suy nghĩ, cho bằng các từ ngữ này” (E.G.Ounchard, 'The Epistle of St.James', A Bible Commentary for English Readers, ed. Charles John Ellicott, VIII, 361).
Ý CHÍ
Thật ra thì Kinh Thánh chú trọng vào việc thảo luận về ý chỉ của Thượng Đế, nhiều hơn là vào việc khảo xét ý chí của con người. Và khi đề cập ý chí con người thì Kinh Thánh lại làm cái công việc ấy một cách không có hệ thống. Hơn nữa, sự phân biệt giữa một ý chí cũ với một ý chí mới vốn chẳng có liên hệ gì với chính từ ngữ ấy, mà chỉ liên hệ với hai tài năng bên trong người tín hữu mà thôi. Với từ ngữ tâm trí, chúng ta đã thấy khá rõ ràng sự phân biệt tái sanh với tâm trí của Chúa Cứu Thế. Nhưng với ý niệm về ý chí, sự phân biệt giữa cũ và mới còn được vạch ra rõ ràng hơn nữa bằng những việc tôi làm hoặc ý chí tôi muốn gì, của cả hai tài năng mới và cũ.
Đây là vài cách dùng ý niệm ý chí khá lý thú trong Kinh điển. Một mw5t, một người chưa được cứu có thể có ý (chí) muốn làm một việc tốt, như viên đội trưởng đã làm khi ông ta 'muốn cứu Phao-lô' nên truyền lịnh không được tàn sát các tù nhân đang ở trên tàu (Cong Cv 27:43). Như lương tâm của một người chưa tin Chúa có thể hướng dẫn đúng cho người ấy làm sao, thì người ấy cũng có thể có ý (chí) muốn làm một việc tốt việc thiện y như vậy. Người tín hữu với các tài năng để làm theo ý chỉ Thượng Đế hoặc ý riêng, có thể muốn (ý chí) làm điều phải (Tit Tt 3:8) cũng như làm nhiều việc sai quấy (ITi1Tm 6:9; GiGa 4:4).
Hai tài năng này tự bộc lộ tùy theo ý muốn của một tín hữu đã được thấy rõ trong RoRm 7:15-25. Trong đoạn sách này có một vài sự kiện thường không mấy rõ ràng. Một mặt, vấn đề trước mắt là về kinh nghiệm của người tín hữu; nếu không phải là như vậy, thì Phao-lô đã không thể nói “Tôi vẫn yêu thích luật Thượng Đế” (c.22). Mặt khác, khúc sách này chắc chắn nhằm mục đích chứng minh rằng bản tính con người (cả của người tín hữu nưa) chủ yếu là không tốt lành thiện hảo (c.18). Rồi cường độ của các từ ngữ trong phân đoạn ấy cũng chứng minh rằng đó chính là kinh nghiệm bản thân của Phao-lô.
Vị sứ đồ đã nói gì trong đoạn sách này? Rất nhiều người khi dạy về một cuộc đời đắc thắng, khẳng định rằng ông Phao-lô của La 7, đang sống trong sự yếu đuối xác thịt, chưa trưởng thành, và ông chưa nắm được bí quyết để chiến thắng cho đến khi ông bước vào trng luồng ánh sáng của chương 8. Do đó, họ kết luận rằng chúng ta phải bỏ mặt chương 7 của thư La-mã để bước vào trong chương 8. Tác giả sách này không thể đồng ý với quan điểm ấy vì nó sẽ không thể giải nghĩa thỏa đáng được những câu như “tội lỗi chủ động trong tôi” (c.17 - thế có gì xảy ra cho nó khi ông bước vào chương 8?) hay"tôi vẫn yêu thích luật Thượng Đế” (c.22; cách diễn tả vẫn chưa có theo quan điểm ấy, nó chỉ có trong chương 8 mà thôi). Hơn nữa, nếu chúng ta tôn trọng trật tự của mấy chương sách này thì chương 7 đi tiếp ngay sau chương 6, trong đó Phao-lô đã nêu ra bí quyết để chiến thắng rồi. Điều Phao-lô ngụ ý muốn nói trong 7:15-25 gồm hai phương diện: thứ nhất, ông bảo rằng toàn thể các Cơ Đốc nhân đều có cả hai tài năng vừa kể trên trong con người mình - tài năng để phục vụ tội lỗi và tài năng yêu thích luật Thượng Đế. Và hai tài năng ấy vẫn ở lại với Cơ Đốc nhân bao lâu người ấy còn sống. Thứ hai, ông cũng thú nhận rằng trong cuộc chiến đấu thường xuyên giữa hai bản tính, thì thỉnh thoảng bản tính cũ lại bùng lên. Cần lưu ý là ông bảo rằng lắm khi ông làm điều ác mình không muốn làm (c.19). Nói khác đi, hai tài năng ở trong ông luôn luôn xung đột, tranh chấp nhau, và ngay đến Phao-lô cũng không luôn luôn sống trong sự đắc thắng thường xuyên đối với bản tính cũ. Để khỏi có ai tưởng rằng về sau, ông đã thực hiện được nếp sống chiến thắng ấy, cần nhớ lời chứng của ông rằng vẫn còn là người đứng đầu các tội nhơn vào cuối cuộc đời mình (ITi1Tm 1:15). Cơ Đốc nhân không thể sống một cuộc đời bị thất bại, nhưng phải sống suốt đời với bản tính tội lỗi. Thượng Đế đã cung ứng phương pháp để chiến thắng, nhưng vì Ngài cũng đã ban cho chúng ta một ý chí, chúng ta có thể chọn việc không sử dụng điều mà Ngài đã dành sẵn cho mình. Và cũng vì Thượng Đế đã chẳng khiến cho xác thịt trong người tín hữu tốt hơn thêm được chút nào, vì nó chẳng hề được tinh luyện, nó là một kẻ thù mạnh mẽ mà chúng ta phải sống chung vời.
Điều này làm nảy sinh một câu hỏi khác: Ý chí có được tự do không? Người ta đã tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực để viết về “ý chí tự do con người” với quyền tể trị của Thượng Đế. Theo một ý nghĩa, thì ý chí con người ta được tự do chọn lựa. Trong ICổ 7, Phao-lô nói nhiều lần rằng ý chí có thể lựa chọn giữa nhiều việc tốt, điều phải, do đó, bất luận sự lựa chọn nào cũng là tốt, là phải cả (cc.36,37,39). Tất cả những lời kêu gọi đến ý chi1 con người của Kinh Thánh đều hàm ý rằng con người thật sự có thể có sự chọn lựa một cách có trách nhiệm. Thế nhưng chẳng hề có ai có được một ý chí hoàn toàn tự do cũng là đúng. Nó vốn bị cai trị và hạn chế về nhiều mặt, chỉ vì các giới hạn của con người. Chúng ta không được tự do sống nhiều tháng nếu không được ăn uống. Chúng ta không thể sống mà không ngủ. Hơn nữa, chúng ta còn bị các hoàn cảnh hạn chế nữa. Chúng ta không thể mốn có mặt tại nhiều hơn là một điểm cùng một lúc. Và rồi chúng ta cũng bị hạn chế bởi các mưu định của Thượng Đế về thế gian này. Điều này không có nghĩa là Thượng Đế đang cai trị như một nhà độc tài, nhưng có nghĩa rằng Ngài là Nhà Vua tối cao của vũ trụ này, là Đấng hoạch định mọi việc trong đó để tự tôn vinh chính Ngài. Có lẽ các diễn tả hay nhất để quân bình hóa hai ý niệm này (là con người dường như có một phần tự do chọn lựa nào đó, nhưng đồng thời Thượng Đế lại nắm quyền kiểm soát trọn vẹn) sẽ là bảo rằng Thượng Đế đã thật sự giao trách nhiệm cho con người đối với các hành động của mình, và trong việc hoàn thành trách nhiệm ấy thì con người thật sự được chọn lựa.
Vấn đề thực tiễn ở đây liên hệ với sinh hoạt thuộc linh chỉ đơn giản là điều gì tôi làm, ấy là vì tôi muốn (ý chí) làm, do đó, tôi phải chịu trách nhiệm. Không phải là một cái gì đó, một thực thể nào khác, hay 'một con người nhỏ bé' ở trong tôi đã làm những việc mà tôi không muốn làm nhưng là chính tôi đã làm. Ý chí của tôi đã chọn, và tôi phải chịu trách nhiệm. Tôi có trách nhiệm và phải trả lời, phải lãnh nhận hậu quả. bạn có để ý là trong cả phần thảo luận này, Kinh Thánh không hề đưa ra một bức tranh về hai tâm trí, hai tấm lòng, hai lương tâm, hai phần hồn, hai phần linh và hai ý chí nằm bên trong một người không? Đã có hai tài năng, nhưng các tài năng chỉ tự bộc lộ qua trung gian của chỉ một trí, một lòng, một lương tâm, một hồn, một linh và một ý chí duy nhất mà thôi. Hai tài năng của người tín hữu đều tự bộc lộ qua nhiều mặt riêng biệt của một cá nhân. Và dường như chính ý chí đang thúc đẩy cả hai tài năng cũ hoặc mới.
Khuynh hướng hiện nay trong tâm lý học đang rời xa cái ý niệm về ý chí là một năng khiếu, để hướng về cái quan điểm rằng nó là phần bộc lộ ra của bản ngã hay nhân cách toàn diện. Sinh hoạt bình thường bao gồm cái tài năng đưa ra các quyết định, và người ta phải chịu trách nhiệm về các chọn lựa của mình. Sự chọn lựa khiến cho tất cả mọi lựa chọn khác trở thành có ý nghĩa là hến thân cho Chúa Cứu Thế. (Everett F.Hanison, 'Will', Baker's Dictionary of Theology, p.552).
Và sự hiến thân đó là bằng một hành động của ý chí nằm trong một sự đáp ứng có trách nhiệm với tiếng gọi của Thượng Đế. “Tôi nài khuyên anh em dâng thân thể mình cho Thượng Đế” (RoRm 12:1). Các chi tiết trong kế hoạch của Thượng Đế, là Đấng vừa cai trị mọi sự mọi việc, vừa cho phép con người được tự do chọn lựa thật phức tạp biết bao thế nhưng tất cả đều quy vinh về cho chính Ngài qua trung gian những con người đã được cho phép chọn lựa giữa cái cũ với cái mới.

HỢP NHẤT VỚI CHÚA CỨU THẾ
Có lẽ sự kiện quan trọng nhất về mặt giáo lý làm nền móng cho sinh hoạt thuộc linh là sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế của người tín hữu. Nó là nền tảng của chân lý về việc Cơ Đốc nhân cùng bị đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Cứu Thế, để đến lượt nó, chân lý này lại là cơ sở cho việc Cơ Đốc nhân được giải phóng khỏi quyền lực của tội lỗi. Rủi thay, ý niệm này lại ít được biết tới được trình bày rất mấtthăng bằng, và không được đem ra ứng dụng.
Ý NIỆM
Ý niệm về hợp nhất với Chúa Cứu Thế chủ yếu đã được Phao-lô khai triển khi ông sử dụng và giải thích mệnh đề 'trong Chúa Cứu Thế'. Chúa chúng ta từng thông báo cái ý niệm này trong phòng cao trước khi Ngài chịu đựng đóng đinh vào thập tự giá, khi Ngài tuyên bố rằng “ngày ta sống lại, các con sẽ biết ta ở trong Cha, các con ở trong ta, và ta ở trong các con” (GiGa 14:20). Ngài cũng minh họa cho mối liên hệ ấy khi đề cập các nhánh nho sống trong cây nho (GiGa 15:4). Nhưng Phao-lô đã đưa ra cho chúng ta sự mặc khải thấu đáo nhất về ý nghĩa của ý niệm này.
Ông sử dụng ý niệm ấy trong mối liên hệ với sự kêu gọi từ trên trời của chúng ta (Phi Pl 3:14); sự tuyển chọn trong Chúa Cứu Thế (Eph Ep 1:4); sự tha tội (Eph Ep 1:7; 4:32; CoCl 1:14), sự cứu chuộc (RoRm 3:24), việc được giải thoát khỏi bị định tội (RoRm 8:1), được giải phóng khỏi luật pháp (GaGl 2:4), sự xưng công chính (GaGl 2:17) và sự sống (RoRm 6:11, 23; 8:2). Nói khác đi, sự xưng công chính, hay sự cứu rỗi chúng ta vốn có liên hệ sống động với việc được hiệp nhất, được “ở trong Chúa Cứu Thế”. Rồi sự phục sinh của thân thể của chúng ta trong tương lai cũng được việc “được ở trong Chúa Cứu Thế” bảo đảm cho nữa (ICo1Cr 15:22). Nhưng mối bận tâm chính của chúng ta trong ý niệm này, là mối liên hệ của nó vứi sự thánh hóa hiện tại của chúng ta hay với sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Phao-lô dạy rằng trong Chúa Cứu Thế, các tín hữu được thánh hóa (ICo1Cr 1:2), đâm rễ và lớn lên (CoCl 2:7), được dạy dỗ (Eph Ep 4:21), được che chở bảo vệ (Phi Pl 4:7), được đưa tới chiến thắng khải hoàn (IICo 2Cr 2:14), và được vững lòng bước đến gần Thượng Đế (Eph Ep 3:12). Thật là dễ thấy rằng nhiều hoạt động sống động của sinh hoạt Cơ Đốc nhân vốn được căn cứ trên địa vị của chúng ta trong Chúa Cứu Thế.
Ý niệm này có nghĩa gì? Câu định nghĩa của tôi rất đơn giản như sau: ở trong Chúa Cứu Thế là ở trong môi trường mới thuộc lãnh vực của sự sống phục sinh của người đã được cứu chuộc. Từ ngữ then chốt là môi trường, vì ở trong Chúa Cứu Thế không phải là một tình trạng trống không hay hầu như chỉ là một chân ý đề cập một địa vị không có thật (như nó thường được trình bày), nhưng là một sự dấn thân sống động, linh động và đang hoạt động. Đặc điểm chính của môi trường này là sự sống phục sinh của nó, là sự sống của chính Chúa Cứu Thế. Một tác giả khác, khi đề cập cùng một địa vị ấy của người tín hữu, đã mô tả nó như sau “Người ấy đã được cấy vào một khu đất mới và một khí hậu mới, và cả đất lẫn khí hậu ấy đều là Chúa Cứu Thế” (J.S.Stewart, A Man in Christ, p.157).
Trong khi cố gắng định nghĩa hay mô tả một ý niệm khó khăn như ý niệm này, chúng ta thường được giúp ích nếu nhìn vào ý niệm đối lập với nó. Điều gì là trái ngược với việc được ở trong Chúa Cứu Thế? Đó là ở trong A-đam, và bị môi trường của sự chết bao vây (ICo1Cr 15:22. Đó là địa vị của mọi người khi được sanh ra đời, vì trong A-đam mọi người đều phạm tội (RoRm 5:12). Hãy lưu ý điểm tương phản torng từng lãnh vực một - xưng công chính, thánh hóa, được tôn vinh - giữa việc ở trong A-đam và ở trong Chúa Cứu Thế.
Khi vực Trong A-đam Trong Chúa Cứu Thế
Xưng công bình Chẳng được gì cả Trọn vẹn
(bị định tội) (sống vĩnh cửu)
Thánh hóa Nô lệ cho tội lỗi Tôi tứ của sự công bình
Được tôn vinh Sự chết thứ hai Được phục sinh
Như vậy, trong mối liên hệ với sự thánh hóa hay sinh hoạt thuộc linh là mối quan tâm chính của chúng ta trong quyển sách này, được ở trong Chúa Cứu Thế giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và khiến chúng ta sống công chính trước mặt Thượng Đế. Tuy nhiên, trước khi thấy việc này được thực hiện như thế nào, điều cần thiết là phải xét để chúng ta có được cái địa vị đó? Chúng ta được đặt vào trong Chúa Cứu Thế như thế nào?
CÁC PHƯƠNG TIỆN
Lời đáp cho câu hỏi trên là: Chúng ta được đặt vào trong Chúa Cứu Thế không phải là nhờ bất cứ việc gì mình có thể làm, nhưng là nhờ công tác làm phép báp-tem tối cao của Đức Thánh Linh. “Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu phép báp-tem để gia nhập vào một thân thể. Tất cả chúng ta - người Do thái và nước ngoài, người nô lệ và tự do - đều nhận lãnh một Đức Thánh Linh” (ICo1Cr 12:13). Nói khác đi, địa vị vốn là cơ sở cho mọi nếp sống chiến thắng này được thực hiện nhờ một việc mà Thượng Đế làm cho chúng ta qua trung gian công tác làm phép báp-tem của Đức Thánh Linh.
Có lẽ chẳng có công tác nào của Đức Thánh Linh lại rất hay bị lẫn lộn nhiều hơn là công tác này. Nhiều người đã có được từng trải thuộc linh đột ngột ngay sau khi được cứu, đá dán lên cho nó cái nhãn hiệu là 'phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh'. Và họ đã bị cái từng trải quý báu ấy gói chặt đến độ rất khó lãnh hội được về giáo lý này của Kinh Thánh. Điều này lại sinh ra nhiều dây mơ rễ má tai hại, vì sự thiếu biết về giáo lý về công tác làm phép báp-tem của Đức Thánh Linh sẽ che mờ cái chân lý quan trọng về sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế, vốn là nền móng cho tính cách thuộc linh chân chính.
Có ít nhất bốn đặc điểm trong công tác làm phép báp-tem của Thánh Linh:
1. Tất cả các tín hữu đều đã được Thánh Linh làm phép báp-tem cho. Chức vụ này của Ngài không phải chỉ dành riêng cho một số ít người mà thôi. Nếu quả đúng như thế, thì thân thể Chúa Cứu Thế sẽ chỉ gồm toàn những người đã tuyển chọn hay có đủ phẩm cách để chịu phép báp-tem. Trong khúc sách then chốt (ICo1Cr 12:13) cần lưu ý là Phao-lô không hề bảo rằng chỉ có những người thuộc linh tại Cổ-linh mới được làm phép báp-tem cho mà thôi. Ông nói tất cả. Cũng xin chú ý là ông đã không khuyến giục họ hãy chịu phép báp-tem rồi mới trở thành (người) thuộc linh như một vài nhóm người ngày nay chủ trương. Nếu đây là một giải pháp có giá trị, thì chắc chắn đó là một giải pháp quá dễ dàng cho các vấn đề nảy sinh từ tính cách xác thịt trong Hội thánh tại Cổ-linh. Nhưng tự nó và trong nó, phép báp-tem chẳng hề ban cho quyền năng; nó chỉ thu xếp một mối liên hệ, để rồi đến lượt nó, mối liên hệ ấy có thể giải tỏa quyền năng. Có một chứng cứ hiển nhiên khác nữa cho việc tất cả các tín hữu đều đã được làm phép báp-tem cho, ấy là xuyên suốt Tân ước, người ta thấy thiếu hẳn những lời khuyến cáo hay lịnh truyền phải chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Sự kiện đã không có chỗ nào dạy như vậy, xác nhận rằng toàn thể các tín hữu đã từng trải được công tác ấy của Thánh Linh rồi.
2. Mỗi một tín hữu đều chỉ được Thánh Linh làm phép báp-tem cho một lần duy nhất mà thôi. Mỗi một tín hữu đều đã chịu phép báp-tem lúc ăn năn quy đạo, và không hề có câu nào trong Kinh điển cho thấy cùng một người ấy lại chịu phép báp-tem một lần thứ hai. Lẽ dĩ nhiên, thì của động từ Hi văn baptize trong ICo1Cr 12:13 cho thấy một kinh nghiệm không hề được lặp lại. Hãy định thần một chút để suy nghĩ về các hàm ý của việc lập lại nhiều phép báp-tem. Vì phép báp-tem của Thánh Linh đặt một người vào trong thân thể Chúa Cứu Thế, một phép báp-tem thứ hai nữa sẽ có nghĩa rằng người ấy người ấy đã bị cất ra khỏi cái thân thể ấy sau khi đã chịu phép báp-tem lần thứ nhất, cho nên nhân cơ hội này, người ấy lại được đặt một lần thứ hai nữa vào trong thân thể Chúa Cứu Thế. Một ý niệm như vậy vốn hoàn toàn xa lạ đối với Kinh điển.
3. Mỗi một tín hữu chỉ chịu phép báp-tem một lần, và tất cả các tín hữu đều đã chịu phép báp-tem cho dầu họ có biết hay không. Đó là việd Thượng Đế khiến xa3y đến cho chúng ta, cho dầu chúng ta có ý thức hay không. Tôi không ngụ ý bảo rằng chẳng hề có kinh nghiệm nào cho thấy các hậu quả của địa vị mới mẻ này, nhưngbản thân phép báp-tem việc người tín hữu thật sự được đặt vào thân thể Chúa Cứu Thế, là một việc xảy ra bất chấp chúng ta có kinh nghiệm hay ý thức hoặc sự hiểu biết nào về nó hay không.
4. Sự kiện toàn thể các tín hữu đầu chịu phép báp-tem để được đưa vào trong thân thể Chúa, tự nó không bảo đảm cho việc quyền năng ấy sẽ được kinh nghiệm hay phơi bày ra trong đời sống. Các tín hữu tại Cổ-linh - mà tất cả đều đã chịu phép báp-tem - cảm thấy rất yếu kém trong việc bày tỏ ra quyền năng của Thượng Đế trong đời sống của họ. Họ đã chịu phép báp-tem rồi; nhưng vẫn còn là người xác thịt. Người Ga-la-ti cũng đã chịu phép báp-tem nhưng vẫn chưa phải là những Cơ Đốc nhân thuộc linh (GaGl 3:27 TC 1:6; 4:9). Việc chứng minh quyền phép đi đôi với địa vị mới mẻ của chúng ta còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác nữa, nhưng chính cái địa vị đó thể chỉ có thể đạt được bằng công tác làm phép báp-tem của Đức Thánh Linh chớ không phải bằng một phương pháp nào khác.
Như vậy, hợp nhất với Chúa Cứu Thế có nghĩa người tín hữu được đưa vào cái môi trường mới của sự sống của Chúa Cứu Thế nhờ công tác làm phép báp-tem của Đức Thánh Linh. Trước kia, chúng ta vốn ở trong A-đam, còn bây giờ thì được ở trong Chúa Cứu hế, một sự thuyên chuyển nhờ phép lạ của ân phúc Thượng Đế.
Hồi tôi còn là sinh viên, thì ghép giác mạc cho mắt là một việc làm mới mẻ vừa được bắt đầu mà thôi. Có một trường hợp cá biệt đã được quảng cáo rầm rộ vì đó là việc lấy giác mạc của một tên tử tội sắp thọ hình, đem ghép cho một công dân mù của một quốc gia nọ. Người sắp nhận được giác mạc mắt đến viếng người tặng nó cho mình trước khi anh ta bị hành quyết, và việc này lại còn được quảng cáo rầm rộ hơn nữa trên các nhật báo. Rồi cuộc hành quyết được thi hành đúng giờ quy định, cuộc giải phẫu cũng hoàn tất, và người vốn mù kia đã có thể thấy được. Chiếc giác mạc này minh họa rất hay cho điều đã thật sự xảy ra cho tất cả các tín hữu trong Chúa Cứu Thế. Cũng như con mắt của người tử tội nọ, trước kia mỗi một Cơ Đốc nhân đều ở trong A-đam, và đã bị kết án tử hình theo lẽ công bằng. Đã không còn hi vọng vượt thoát nào cả, trừ ra một sự can thiệp bằng phép lạ. Và đó đúng là việc đã xảy ra khi người ấy tin nhận Chúa Cứu Thế. Một phép lạ đã xảy ra, và người ấy được đưa từ địa vị bị định tội chết trong A-đam, để đặt vào trong Chúa Cứu Thế do công tác làm phép báp-tem của Thánh Linh. Và như thế, người từng bị định tội chết kia đã được kể là công chính (vô tội) và được đặt vào bầu không khó mới mẻ của đời sống phục sinh với đầy đủ đặc quyền và trách nhiệm. Đây đúng là câu chuyện của từng người tín hữu một trong Chúa Cứu Thế.
CÁC HẬU QUẢ
Nếu hợp nhất với Chu1a Cứu Thế là được dự phần với Ngài về đủ mọi phương diện, thì hậu quả quan trọng nhất của sự hợp nhất này trong phạm vi liên hệ với đời sống đắc thắng, ấy là nó là phương tiện để tạo ra việc chúng ta cùng chịu đóng đinh vào thập tự giá với Ngài (CoCl 2:12 đặc biệt chú ý RoRm 6:1-10). Được kết hợp với Chúa Cứu Thế bằng việc chịu phép báp-tem trong sự chết, bị chôn, và được sống lại với Ngài là cơ sở cho việc bản tính tội lỗi của người tín hữu bị đóng đinh vào thập tự giá, và việc người ấy sẽ chiến thắng tội li; mà điều này thì hoàn toàn được căn cứ trên việc chúng ta hợp nhất với Ngài, đã được công tác làm phép báp-tem của Thánh Linh hoàn tất cho chúng ta.
Một số người vn quá bận tâm với vấn đề chẳng hay phép báp-tem trong La 6 có phải là phép báp-tem bằng nước hay không, đến nỗi họ không nắm bắt được vấn đề của khúc sách này. Có một phe cực đoan muốn chắc chắn rằng phép báp-tem bằng nước đã được truyền dạy ở đây để biện minh cho cách làm phép báp-tem bằng việc trầm mình vào trong nước; nhưng phe cực đoan đối lập lại tìm cách loại nước ra khỏi hẳn khúc sách này để né tránh câu kết luận rằng việc trầm mình trong nước là hình thức thích hợp cho nghi lễ này. Có một số sự kiện dường như đã hiển nhiên.
1. Phép báp-tem bằng nước theo bất kỳ cách thức nào, hay tất cả các cách thức đó họp lại, đều chẳng bao giờ hoàn tất được điều mà khúc sách này bảo là đã được hoàn tất. Nước không thể đóng đinh con người cũ vào thập tự giá và tạo cơ sở cho người ta không còn phải làm nô lệ để phục vụ cho tội lỗi nữa (c.6). 2. Mặt khác, muốn cất hình ảnh về việc trầm mình trong nước khỏi mấy câu này, thì không phải chuyện dễ dàng. Phép báp-tem liên hệ với sự chết, bị chôn và được sống lại là một bức tranh rõ rệt của việc trầm mình trong nước. Cách giải quyết thích đáng nhất cho vấn đề ở đây, là thừa nhận rằng tuy chính công tác làm phép báp-tem của Thánh Linh đã thực hiện việc ấy, thì việc làm đã được hình dung ra ở đây là phép báp-tem bằng nước. Phép báp-tem bằng nước là đối tượng của bài học khách quan này, nhưng chính công tác của Thánh Linh mới khiến cho bài học này trở thành sự thật.
Đã có gì xảy ra? Có một cái chết đã xảy ra cho người tín hữu bởi vì sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế trong sự chết Ngài. Sự chết là gì? Có một số quan điểm về đời sống chiến thắng bị bắt buộc phải định nghĩa chết là hết, là tàn tắt, vì đã dạy rằng bản tính tội lỗi đã chết, nghĩa là đã bị xóa sạch. Nhiều quan điểm khác ôn hòa hơn xem chết là thôi, là ngưng lại, vì họ dạy rằng tuy bản tính tội lỗi hãy còn hiện diện trong người tín hữu, người ấy có thể ngưng thôi không phạm tội nữa trong đời sống này. Như vậy, cết có nghĩa ngưng mọi hoạt động (nhưng không ngưng được hiện diện) của bản tính tội lỗi. Dường như đó là ấn tượng mà nhiều diễn giả giảng về khúc sách này đã tạo ra. Nhưng chết không thể có nghĩa cả là tàn tắt lẫn thôi, ngưng; nó luôn luôn có nghĩa là chia cách. Chết thuộc thể là sự phân cách giữa phần phi vật chất của con người là con người bị tàn tắt hay người ấy đã thôi hiện hữu hay ngưng hoạt động. Chẳng hạn như kẻ vô tín chết đi nhưng vẫn còn ý thức và hoạt động tuy là bên ngoài cái thân thể vật lý, trần gian này (LuLc 16:19-31). Chết thuộc linh chắc chắn không phải là tàn tắt hay thôi hoạt động. Tất cả những người chưa được cứu đang bước đi trên mặt đất này hôm nay đều đã chết thuộc linh, nhưng đồng thời vẫn còn tồn tại và hoạt động. Tuy nhiên, họ đã bị chia cách với Thượng Đế, và đó chính là điều đã khiến họ chết thuộc linh. Sự chết thứ hai là tình trạng chia cách vĩnh viễn mà những người vô tín sẽ từng trải trong hồ lửa. Sẽ không thể có một từng trải như vậy, nếu chết có nghĩa là tàn tắt hay ngưng nghỉ. Chết bao giờ cũng có nghĩa là chia cách, và trong La 6 cũng vậy.
Vậy thì sự đóng đinh vào thập tự giá của La 6 là chia cách với cái gì? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta chỉ cần nhớ lại chủ đề của chương sách ấy “Chúng ta còn tiếp tục phạm tội để Thượng Đế gia tăng ân phúc không?” (c.1). Nói khác đi, sự chết đối với tội lỗi của La 6 là sự cách biệt với quyền năng của bản tính tội lỗi khiến người tín hữu cứ tiếp tục phạm tội. Nó là sự cách biệt với quyền đô hộ của tội lỗi trên đời sống Cơ Đốc nhân. Điều này được thực hiện bằng việc thực hiện đóng đinh bản tính tội lỗi khiến chúng ta để 'tiêu diệt' thân thể tội lỗi khiến chúng ta không còn cần phục vụ tội lỗi nữa (c.6). Từ ngữ 'tiêu diệt' này không có nghĩa là triệt tiêu, là hư vô hóa để do đó mà suy diễn ra rằng bản tính tội lỗi đã bị xóa sạch trong Cơ Đốc nhân. Hãy lưu ý cách từ ngữ ấy được dùng trong IITe 2Tx 2:8 “Người Tội ác mới xuất hiện, Chúa Giê-xu sẽ trở lại, dùng hơi thở từ miệng Ngài thiêu hủy nó, và vinh quang Ngài sẽ tiêu diệt nó”. Người tội ác bị 'tiêu diệt' lúc Chúa Cứu Thế tái lâm, thế nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại trong hồ lửa, nơi mà một ngàn năm sau đó, ma quỉ cũng bị ném vào (KhKh 20:10 trong bản Hi văn động từ theo số nhiều 'sẽ bị đau đớn' cho thấy tất cả ba hữu thể (being: sinh vật, tức là Quỷ vương, con thú và tiên tri giả) đều còn sống mãi mãi trong hồ lửa. Một cách dùng đáng chú ý nữa của từ ngữ ấy, là trong LuLc 13:7 “Ông bảo người làm vườn: Ba năm nay, tôi đến hái trái mà không thấy. Anh đốn nó đi, để làm gì choán đất”. Ở đây từ ngữ ấy đã được dịch là 'choán'. Rõ ràng là cây vả đã không hề 'tiêu diệt' đất theo nghĩa là 'hư vô h1a' mà nó khiến cho đất ấy trở thành vô dụng hay ở dưng, chẳng phục vụ được cho một chủ đích tốt lành nào cả. Theo cùng một nghĩa ấy, bản tính tội lỗi bị 'tiêu diệt', nghĩa là nó đã bị vô hiệu hóa, khiến ra vô dụng, do đó, chúng ta không cần phải tiếp tục phạm tội nữa.
Kinh điển đề cập cả việc đóng đinh vào thập tự giá cái bản tính cũ (RoRm 6:6) lẫn chính con người (GaGl 2:20). Ở đây chẳng hề có mâu thuẫn, mà trái lại, chỉ là một cách minh họa khác cho sự hợp nhất của con người. Như vậy, điều đã được nói hay gán cho một phương diện nào đó của con người cũng có thể thuộc về chính người ấy. Tuy Chúa Cứu Thế sống trong tôi, nhưng cuộc đời ấy vốn do chính tôi sống (GaGl 2:20). Tuy ngoài Ngài chúng ta chẳng làm chi được (GiGa 15:5), chúng ta vẫn cố gắng lao khổ để được Ngài vui lòng tiếp nhận mình (IICo 2Cr 5:9). Con người ta được xưng công chính là do lòng tin, cho nên tôi tin. Các tư tưởng xấu xa gian ác vốn từ tấm lòng mà ra, và tôi tư tưởng những điều xấu điều ác. Xác thịt làm nảy sinh hận thù, tranh chấp, ganh ghét, giận dữ, khích bác (GaGl 5:20) thế nhưng chính tôi là kẻ xâu xé, cắn nuốt người khác (GaGl 5:15). Cho nên khi Kinh điển đề cập việc đóng đinh bả tính và con người cũ vào thập tự giá thì chẳng có gì là lạ hay lạc đề cả.
Xin ôn lại: sự hợp nhất của chúng ta với Chúa Cứu Thế có nghĩa là một sự phân cách khỏi quyền thống trị của bản tính tội lỗi, vì nó đã bị đóng đinh vào thập tự giá rồi. Nhưng nó cũng có nghĩa là có sự sống lại để có một đời sống mới (RoRm 6:4). Xuyên suốt đoạn Kinh điển này, không những chỉ dạy về sự chết mà thôi, mà dạy cả sự sống lại nữa. Chân lý này không phải chỉ có sự kiện phân cách khỏi cái cụ mà thôi, nhưng còn có sự kết hợp vô cùng quan trọng với cái mới nữa, tức là sự sống của Chúa Cứu Thế đã phục sinh. Điều này được đề cập trong từng câu một của RoRm 6:4-10. Do đó, kết hợp với Chua Cứu Thế không những chỉ đập tan quyền lực của cái tài năng cũ, mà còn kết hợp chúng ta với Đấng ban quyền năng để sống theo tài năng mới.
Tất cả những việc ấy đã hoặc đang xảy ra khi nào? Về phương diện lịch sử mà nói, là lúc Chúa Cứu Thế đã chịu chết rồi sống lại. Sự chết và sống lại của Ngài là cơ sở cho mọi hậu quả tiếp sau đó. Nhưng trong phạm vi lịch sử của riêng chúng ta, thì sự kết hợp với Chúa Cứu Thế đã không xảy ra trước khi chúng ta tin nhận Cứu Chúa, và ngay lúc ấy, chúng ta đã được Đức Thánh Linh làm phép báp-tem cho để được tham dự thân thể Ngài. Các hành động trong lịch sử của sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế trở thành một phần của lịch sử của riêng chúng ta khi chúng ta chịu phép báp-tem để được tham dự thân thể Ngài. Nhưng trên thực tế, các chân lý ấy có thể có mặt hoặc vắng mặt trong từng trải hằng ngày của chúng ta. Sự kiện chúng ta đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Cứu Thế - nghĩa là năng lực của bản tính tội lỗi đã bị đập tan và trở thành vô luân, và chúng ta chẳng cần gì phải phục vụ tội lỗi nữa - vốn không thay đổi và không tùy thuộc vào bất kỳ việc gì do tôi làm. Nhưng đem nó ra thực hành thì phải lệ thuộc vào một số điều kiện, mà một trong số đó là phải nhìn nhận rằng những điều đó là thật (c.11). Điều đó có nghĩa là phải cân nhắc trọng lượng và chân lý của các sự kiện mà tôi đã được mặc khải trong mấy câu 1-10, và kể rằng chúng là đúng, là thật cho tôi. Nó có ý niệm về tra xét, đánh giá và kể cho riêng tôi tất cả những gì mà việc Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh vào thập tự giá vốn có ý nghĩa cho tôi trong việc quyền lực của tội lỗi trong đời sống tôi đã bị đập tan. Không chịu làm bài toán căn bản này thường là lý do khiến cho việc thực hành các chân lý này bị vắng mặt trong từng trải hằng ngày của người tín hữu. Những gì Chúa chúng ta đã làm giúp chúng ta có thể sống cuộc đời làm Cơ Đốc nhân; đưa cái có thể làm ra thực hành gồm một số yếu tố khác nữa, phần lớn gồm luôn việc vận dụng ý chí của con người. Chúng ta không thể lựa chọn việc tạo ra hay đập tan sự hợp nhất với Chúa Cứu Thế; nhưng chúng ta có thể chọn để thụ hưởng các lợi ích của việc ấy hay không. Chúng ta không thể tạo ra một bản tính mới hay đập tan quyền lực của bản tính cũ; nhưng chúng ta có thể lựa chọn việc nghe theo bản tính cũ và vâng lời nó, cả sau khi quyền lực của nó đã bị đập tan rồi. Khi một người sống dưới ách của một tên độc tài trong một xứ nào đó, anh ta chẳng còn có chọn lựa nào khác hơn là phải tuân thủ các luật lệ độc tài đó. Nếu tên độc tài đã bị một chế độ dân chủ lật đổ và đưa đi lưu đày sang một xứ khác, thì các công dân được tự do sống một cuộc đời mới. Nhưng việc rất có thể quan niệm được, ấy là có thể có một số người trong xứ ấy lại thích tên độc tài đã bị hạ bệ kia và tìm cách phục vụ hắn, tuy quyền lực của hắn đã bị đập tan rồi. Mà muốn phục vụ hắn, họ có thể nhận các chỉ thị của hắn qua một đài phát thanh lậu rối thi hành theo đó mà khước từ cái quyền tự do mà họ đã được đưa vào. Bản tính tội lỗi cũng giống như tên độc tài mất chức, đã bị sự chết của Chúa Cứu thế lật đổ rồi. Các Cơ Đốc nhân là những công dân của thiên đàng, được quyền tư do mớiđể sống những cuộc đời đẹp lòng Thượng Đế. Nhưng bản tính tội lỗi vẫn chưa bị xóa sạch mà ý chí cá nhân cũng chưa bị hư vô hóa, do đó, nó rất có thể chọn nghe theo và làm theo sự thôi thúc của tội lỗi, nhưng tội lỗi thì chẳng bao giờ có thể tái lập được quyền thống trị và kiểm soát như nó vốn có trước khi người tín hữu ăn năn quy đạo.


CHÚNG TA ĐƯỢC THÁNH HÓA NHƯ THẾ NÀO?
Lẽ dĩ nhiên, đặt một nhan đề như vậy cho chỉ một chương sách, là có phần nào tự phụ, kiêu căng, vì thật ra nó chính là vấn đề mà cả quyển sách này đang tìm cách giải đáp. Nhưng tôi xin liều mạng tỏ ra 'tự phụ' như vậy để 'lạm dụng' nó ở đây, vì bây giờ chúng ta cần khảo xét ít nhất là một số nhân vật (persons: các thân vị Ba Ngôi Thượng Đế) và sự việc khác nhau có tham dự vào tiến trình thánh hóa. Chúng ta đã đặt một số nền móng cho tính cách thuộc linh, bây giờ chúng ta phải quay sang tra xét các trách nhiệm vốn thiết yếu cho việc thực hành một nếp sống thuộc linh chân chính. Trong đoạn này, chúng ta sẽ nhìn vào một số các lãnh tụ đặc thù khác nhau của trách nhiệm nhưng trước hết, chúng ta cần trả lời cho các câu hỏi: Thánh hóa là gì? và Ai và điều gì thánh hóa cho Cơ Đốc nhân?
Thánh hóa là gì? Từ ngữ thánh hóa về căn bản có nghĩa là để riêng ra. Nó có cùng một ngữ căn với thánh đồ và thánh khiết. Với Cơ Đốc nhân, thánh hóa có ba phương diện. Phương diện đầu tiên thường được gọi là địa vị được thánh hóa. Đây chỉ đơn giản là cái địa vị mà mỗi một tín hữu đều được hửng nhờ được trở thành người trong gia đình Thượng Đế, bởi đức tin đặt vào Chúa Cứu Thế. Nó gồm có việc được biệt riêng ra với tư cách một thành viên của gia đình Thượng Đế, và thật sự đúng là như vậy, bất chấp trình độ thuộc linh của người ấy. Với người Cổ-linh và tất cả các vấn đề liên hệ đến tội lỗi của họ, Phao-lô viết “Nhưng anh em đã được rửa sạch tội lỗi, được thánh hóa và kể là công chính nhờ Danh Chúa Cứu Thế Giê-xu và Thánh Linh của Thượng Đế” (ICo1Cr 6:11 các thì của động từ trong Hi văn cho thấy một sự kiện đã hoàn tất, chớ không phải là một cái gì phải đạt tới). Như vậy, có một ý nghĩa theo đó toàn thể tín hữu đều đã là thánh đồ vì đều đã được thánh hóa (cũng xem ICo1Cr 1:1-2:16; HeDt 10:10).
Phương diện thứ hai của việc thánh hóa là công tác được từng trải và có tính cách tiệm tiến hiện tại, để cứ tiếp tục được biệt riêng ra suốt cuộc đời làm Cơ Đốc nhân của chúng ta. Mỗi một lời khuyến giục trong Lời Chúa, kêu gọi hãy sống tin kính, đều có liên hệ với góc cạnh này của sự thánh hóa (IPhi 1Pr 1:16), và tính cách thuộc linh mà Kinh Thánh quan tâm là thuộc khi vự cnày.
Nhưng cũng theo một ý nghĩa khác nữa, là chúng ta sẽ chẳng bao giờ được biệt riêng trọn vẹn cho Thượng Đế trước ngày chúng ta được nhìn thấy Chúa Cứu Thế và trở nên giống như Ngài vốn có (IGi1Ga 3:1-3). Cho nên có một phương diện của sự thánh hóa thường được gọi là sự thánh hóa tối hậu, nghĩa là việc chờ đợi cho đến khi chúng ta đạt được sự vinh hiển trọn vẹn với các thân thể phục sinh (Eph Ep 5:26, 27; Giu Gd 1:24, 25). Sự thánh hóa tiệm tiến là tiến trình trưởng thành trong một đời sống phản ảnh đúng địa vị của chúng ta, trong khi sự thánh hóa tối hậu xảy ra khi phần thực hành và địa vị của chúng ta đã hoàn toàn khớp đúng với nhau.
Có một thí dụ minh họa tuy đơn giản nhưng thật hay cho ba giai đoạn thánh hóa vừa kể trên. Có một bé gái vừa ra khỏi quán bán bánh kẹo, cầm trên tay một cây kẹo mà em vừa mua bằng số tiền để ăn quà của mình, thì thấy cô bạn thân nhất của mình từ đầu phố kia đi lại. Vốn là con nhà giáo cô bé biết rằng nếu mình không nhanh trí thì thế nào cũng bị bắt buộc phải tặng cây kẹo nọ cho bạn. Nan đề giữa phép lịch sự và thèm ăn đã được giải quyết bằng một hành động thật nhanh chóng, chắc chắn và dứt khoát 'thánh hóa' (để riêng ra) cây kẹo để chỉ dành riêng cho mình ăn mà thôi, và cái hành động ấy chỉ đơn giản là liếm cây kẹo ở cả hai mặt trước và sau, trước khi cô bạn kia chạm mặt với mình. Bằng việc liếm cây kẹo, cô bé đã biệt riêng nó ra cho chính mình; bây giờ nó không còn là một vật mà cô bạn kia có thể cần đến nữa. Điều này cũng giống với địa vị được thánh hóa. Ngay lúc chúng ta tin nhận Chúa Cứu Thế làm Chúa mình, Thượng Đế đã việt riêng chúng ta ra cho chính Ngài tức khắc, chắc chắn và vĩnh viễn.
Nhưng chỉ mới liếm qua thì chưa có bao nhiêu ý nghĩa so với việc cô bé sáng trí kia phải ăn trọn cây kẹo. Tuy nhiên, cô bé rất thận trọng để giải quyết ngay vấn đề của mình. Cô ta cứ tiếp tục liếm cây kẹo mà như thế là đang biến thành thực tế vật vốn ở trong 'địa vị' là thuc về mình rồi - cây kẹo là của riêng cô ta mà! Đây là sự thánh hóa tiệm tiến, và đây là một tiến trình được tiếp tục suốt cả cuộc đời. Nhưng cuối cùng sẽ có lúc cả cây kẹo đều hoàn toàn vào miệng và dạ dày của cô bé, và cô bé đã chiếm hữu trọn vẹn cây kẹo rồi. Sự việc cũng y như thế khi chúng ta về với Chúa Cứu Thế. Chừng đó, chúng ta sẽ được thánh hóa hoàn toàn hay được biệt riêng và được Ngài chiếm hữu trọn vẹn. Nhưng đó chính là tiến trình phải thực hành sau khi chúng ta đã có được địa vị, và điều mà cuối cùng chúng ta sẽ trở thành, là điều có liên hệ với sinh hoạt để trưởng thành của Cơ Đốc nhân, và là điều phải được thực hiện bởi nhiều người và nhiều phương tiện khác nhau. Bảo rằng chỉ một mình Thượng Đế phải làm tất cả mọi việc đó là đơn giản hóa quá đáng sự việc, còn tưởng rằng Ngài làm việc ấy mà chẳng cần đến một phương tiện nào cả, là một suy diễn sai lầm.
CÔNG VIỆC CỦA THƯỢNG ĐẾ TRONG VIỆC THÁNH HÓA.
Thường thường thì các diễn giả giảng về cuộc đời chiến thắng nhấn mạnh hoặc là công tác của Chúa Cứu hế ngự trong lòng người tín hữu để thánh hóa, hoặc là chức vụ của Đức Thánh Linh. Thật ra thì Kinh điển có một chức vụ trong việc này. Trong thí dụ minh họa về cây nho và các nhánh nho, Chúa chúng ta tuyên bố rằng Đức Chúa Cha là người trồng nho, làm công việc tỉa sửa nhành nào không kết quả để được sai trái hơn (GiGa 15:2). Chính Chúa đã dâng lời cầu nguyện “Xin Cha dùng Chân lý thánh hóa họ. Lời Cha chính là Chân lý” (GiGa 17:7) lên cho Đức Chúa Cha. Phao-lô cũng xin “Cầu xin chính Thượng Đế hòa bình thánh hóa anh em hoàn toàn” (ITe1Tx 5:23, theo bản Anh văn).
Đức Chúa Con cũng có một vai trò quan trọng trong việc thánh hóa người tín hữu. Chính Chúa Cứu Thế đang ngự trong lòng và dùng quyền năng Ngài khiến cho Cơ Đốc nhân có thể sống đẹp lòng Thượng Đế (GaGl 2:20). Chủ đích của Chúa là 'thánh hóa và thanh tẩy' Hội thánh để dâng Hội thánh lên không vết không nhăn trong Ngày Ngài hiện ra (Eph Ep 5:26, 27 TC CoCl 1:22). Sự chết của Chúa là nền móng cho địa vị được thánh hóa của chúng ta (HeDt 13:12; TC 10:10, và cùng một Chúa ấy, trong cùng thư tín ấy, đã được gọi là Đấng thực hiện sự thánh hóa tiệm tiến (HeDt 2:11 cả phân từ lẫn động từ trong Hi văn đều thuộc thì hiện tại, cho thấy một hành động liên tục).
Và để trung thành với điểm nhấn mạnh trong Kinh điển, chúng ta phải ghi nhận rằng công tác của Đức Thánh Linh đã được dành cho quyền áp đảo trong tiến trình thánh hóa. Mục tiêu của sự thánh hóa là trở nên giống với hình ảnh của Chúa Cứu Thế, và chính Đức Thánh Linh biến hóa chúng ta để “được...giống như hình ảnh vinh quang của Ngài” (IICo 2Cr 3:18). Bởi quyền năng của Thánh Linh, chúng ta “giết chết những hành vi xấu của thể xác"(RoRm 8:13). Đức Thánh Linh là Linh của sự khôn ngoan và mặc khải trong sự nhận biết Chúa Cứu Thế (Eph Ep 1:17). Tình yêu thương của Thượng Đế đã được Thánh Linh đổ tràn ngập trong lòng chúng ta (RoRm 5:5). Và lẽ dĩ nhiên là phần mô tả đầy đủ nhất việc giống hệt Chúa Cứu Thế được tìm thấy trong bảng liệt kê về trái của Thánh Linh (GaGl 5:22-23). Công tác phân biệt của Thánh Linh là ngự vào lòng người tín hữu hầu tác động hữu hiệu và liên tục trong đời sống ấy, để mỗi người đều được đổ đầy sự đầy dẫy của Thượng Đế và bước đi xứng đáng với tiếng gọi chúng ta.
CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI TÍN HỮU TRONG VIỆC THÁNH HÓA
Có lẽ nhu cầu quân bình hóa của chúng ta chẳng ở đâu quan trọng hơn trong khu vực này. Chúng ta rất dễ xuyên tạc những điểm nhấn mạnh, và trong củ đề này, chúng ta phải thừa nhận rằng tuy sự thánh hóa là công việc của Thượng Đế, nó cũng còn là công việc của người tín hữu nữa. Có một hoạt động trầm lặng chủ nghĩa phổ biến loại trừ mọi hoạt động của phía con người như là 'của xác thịt'. Câu khẩu hiệu cho loại chủ trương này là “Hãy bỏ mặc mọi sự cho Thượng Đế”. Lẽ dĩ nhên rõ ràng đây là một điểm nhấn mạnh hoàn toàn phải lẽ khi đó là vấn đề hiến thân cho Chúa. Chúng ta phải từ bỏ mọi ý chí, ham muốn, tham vọng riêng tư và nhưỡng cho Thượng Đế tự do làm việc trong đời sống chúng ta. Nhưng trong vấn đề thánh hóa tiệm tiến, có một người tín hữu phải đảm nhận mà dứt khoát là người ấy không thể phó mặc. Dưới đây là một đoạn phát biểu điển hình cho việc phải nhấn mạnh như vừa nói trên:
Sự kiện quant rọng và quang vinh, là khi ban Đức Thánh Linh, Thượng Đế đã ban cho ban tất cả những gì bạn có cần cho cả cuộc đời và chức vụ của bạn. Vấnđ ề không phải bạn là ai, hay bạn không phải là ai; vấn đề không phải là bạn có thể làm gì hay bạn không thể làm gì, mà một khi đã có Ngài là bạn đã có tất cả rồi. Ngài đã không được ban cho bạn lúc bạn đang tận dụng mọi sở trường; Ngài đã được ban cho để làm mọi sự, bởi vì ngay trên, những gì là hay nhất, giỏi nhất, tốt nhất mà bạn có thể làm ra, thì Thượng Đế đã phê rằng “việc chẳng ra gì”... Đức tin là tránh đường để cho Ngài làm. Đức tin là “Hãy bỏ mặc mọi sự cho Thượng Đế”... Sự 'đầu phục' duy nhất mà Ngài đòi hỏi bạn, là sự đầu phục đồng ý thôi làm việc và để mặc cho Ngài làm hết tất cả (David Tryon, But How pp.16-17).
Nếu điều này là thật, là đúng, thì tất cả các quyết lệnh khác trong Tân ước đều chỉ là những lệnh truyền nông nổi dành cho con người lầm lạc. Nhưng đó không phải là trường hợp ở đây, vì Kinh điển dạy rõ ràng rằng tôi phải làm một vài việc vốn là một phần quan trọng của tiến trình thánh hóa. Nếu không, chúng ta phải hiểu thế nào một câu như thế này “Thưa anh em yêu quý! Theo lời hứa của Chúa, chúng ta hãy tẩy sạch mọi điều ô uế của thể xác và tâm hồn, để được thánh khiết trọn vẹn trong niềm kính sợ Thượng Đế” (IICo 2Cr 7:1). Và lẽ dĩ nhiên là hãy còn hằng mấy chục những câu Kinh Thánh khác nữa truyền dạy chúng ta phải làm nhiều điều vốn là một phần của tiến trình thánh hóa toàn diện. Mỗi người đều được truyền dạy phải làm những việc như “hãy xa lánh việc thờ cúng thần tượng” (ICo1Cr 1:14); “phải tránh dục vọng tuổi trẻ. hãy hợp tác với người có lòng trong sạch, tin kính” (IITi 2Tm 2:22); “phải hết lòng chăm lo trau dồi các ân tứ ấy” (ITi1Tm 4:15); “đừng phí thì giờ tranh luận về chuyện phàm tục, hoang đường” (ITi1Tm 4:7); “hãy ghé vai chung gánh với nhau những nhiệm vụ lớn lao” (GaGl 6:2). Lẽ dĩ nhiên là người muốn xem nhẹ vai trò của con người trong việc thánh hóa sẽ bảo rằng những câu như thế có nghĩa rằng chúng ta phải để cho Đức Thánh Linh (hay Chúa Cứu Thế đang ngự trong lòng ta) làm những việc ấy thông qua chúng ta. Nhưng cả trong những câu chét rằng Thánh Linh đang tham gia thực hiện lời khuyến giục, cá nhân vẫn cũng được gồm luôn vào đó như là một thành phần cần thiết cho tiến trình ấy. Xin lưu ý sự cân bằng rõ rệt giữa cá nhân con người với Thánh Linh ngay trong chính vấn đề căn bản là giết chết các hành vi của thân thể “Nhưng nếu (anh em) nhờ Thánh Linh giết chết những hành vi xấu của thể xác, anh em sẽ sống” (RoRm 8:13). Chủ từ của động từ 'giết chết' là 'anh em', chớ không phải là 'Thánh Linh'. Tuy nhiên, bất cứ tôi làm gì, là tôi 'nhờ Thánh Linh' mà làm. Công việc của Thượng Đế không hề bị đình chỉ bởi vì tôi làm; cũng không phải bao giờ Thư]5ng Đế cũng hành động riêng rẽ, bên ngoài việc làm của tôi. Một lần nữa, con người và Thượng Đế đã họp tác với nhau trong vấnđ ề bước đi trong Thánh Linh (GaGl 5:16). Cuộc đời không làm trọn các dục vọng của xác thịt là cuộc đời bước đi nhờ Thánh Linh, thế nhưng chính tôi đã được lệnh truyền phải bước đi nhờ Thánh Linh, thế nhưng chính tôi đã được lệnh truyền phải bước đi nhờ Thánh Linh. Ngay đến 2:20 cũng nhắc nhở tôi rằng Chúa Cứu Thế đang sống trong tôi và chính tôi phải tự sống lấy cuộc đời mình. Nói khác đi, Kinh điển đã dạy hết sức rõ ràng rằng có một mối liên hệ và một sự liên quan giưa hai tác nhân là con người và Thượng Đế trong sự thánh hóa. Loại trừ hay thiếu nhấn mạnh phía này hoặc phía kia đều là thiếu sót một phương diện quan trọng của chân lý, dẫn đến một tính cách thuộc linh mất thăng bằng, sai lệch.
CÁC PHƯƠNG TIỆN KHÁC CỦA SỰ THÁNH HÓA
Chẳng những chỉ có Thượng Đế với chúng ta có phần trong tiến trình thánh hóa, mà còn có nhiều phương tiện khác nữa của ân điển đã được Kinh điển mặc khải.
1. Lời Thượng Đế. Chúng ta đã ghi nhận rằng Chúa từng cầu nguyện xin Đức Chúa Cha lấy Lời Ngài thánh hóa các tín hữu (GiGa 17:17). Hội thánh nguyên thủy nhận thấy việc phải tiếp tục giáo lý của các sứ đồ là quan trọng (Cong Cv 2:42). Chính chúng ta cũng đã nêu gương sáng nhất về nhu cầu phải có và sử dụng thích hợp Lời Thượng Đế để đứng đầu với cám dỗ (Mat Mt 4:1-11). Trọng tâm của các chuyến du hành truyền giáo của Phao-lô là truyền giảng Lời Thượng Đế (Cong Cv 13:5, 44-46; 17:2; 18:4; 20:32). Sử dụng Lời Chúa là căn bản và tối quan trọng cho việc thánh hóa.
Điều này bao gồm mọi phương diện các Lời Thượng Đế. Như các con đỏ thích sữa nguyên chất của vú mẹ thế nào, người tín hữu cũng phải tiếp tục ham thích sữa thuộc linh tinh khiết được tìm thấy trong Kinh điển y như vậy (IPhi 1Pr 2:2). Câu 'như trẻ em' không hề có nghĩa rằng sữa của Đạo (Lời Chúa) chỉ được dành cho những người mới ăn năn quy đạo mà thôi. Trái lại, nó là việc so sánh giữa điều mà tất cả các trẻ em đều ham thích với điều mà toàn thể các tín hữu đáng lý ra phải yêu thích. Chẳng hề có ai trong chúng ta lại vượt qua được nhu cầu phải suy gẫm trên các cơ sở là Lời Thượng Đế. Vấn đề không phải là các Cơ Đốc nhân cần tránh việc sử dụng sữa của Đạo, mà đúng hơn, thì vấn đề thông thường là các Cơ Đốc nhân chưa trưởng thành vẫn hài lòng với việc mình chẳng bao giờ vượt khỏi được giai đoạn ấu trĩ. Như vậy, các chân lý 'đặc' (thịt) của Kinh Thánh cũng phải là một phần trong thực đơn của người tín hữu để người ấy có thể pát triển đúng mức và có được phần căn cơ thuần chánh về phương diện thuộc linh.
Tuy việc sử dụng Kinh Thánh trong sự thánh hóa, có hai đối cực mà người ta cần phải tránh. Một là phải gọi đúng tên chứng trầm cảm thuộc linh (spiritual Schizophrenia) 'loại tâm bệnh có đặc điểm là mất tiếp xúc với môi trường chung quanh và phân tán nhân cách'. Nói khác đi, người trầm cảm thuộc linh là người chẳng bao giờ để cho Kinh Thánh tiếp xúc được với hoàn cảnh trong đó mình đang sinh sống. Tính cách 'chính thống' của người ấy vốn chẳng chê trách vào đâu được nhưng tính cách 'thực tế' của nếp sống của người ấy vẫn còn nhiều sơ sót. Hoặc nói theo lời lẽ của Kinh điển, thì người ấy chỉ biết nghe Lời Thượng Đế, chớ không chịu làm theo đó. Kiến thức về Đạo (Lời Chúa) cu3a người ấy đã không hòa nhập được vào các tập tục sinh hoạt của người ấy. Chúng ta đừng bao giờ nên phân rẽ giáo lý với thực hành.
Trong những năm hành nghề giảng huấn, tôi biết là mình đã làm phát triển nhiều tật xấu cá nhân. Tôi biết chắc là mình vốn không ý thức được một số các thói xấu ấy, nhưng có một thói xấu mà tôi biết rất rõ, ấy là phản ứng không hề thay đổi đối với vị mục sư diễn giả nào khi đứng lên tòa giảng mà lại bắt đầu bức thông điệp của mình như thế này “Thưa các bạn hôm nay tôi sẽ xin hết sức thực tế trong bài giảng của mình. Tôi sẽ gát qua một bên phần giáo lý mà các giáo sư của các bạn và của các lớp học - tôi chỉ đề cập những việc hoàn toàn thực tiễn mà thôi”. Ngay lúc ấy, tôi đã không muốn nghe diễn giả ấy nói nữa rồi, vì o6ng ta đã phạm vào một sai lầm căn bản là tách rời giáo lý với thực hành. Mọi giáo lý đều phải thực tế, và mọi hành vi thực tiễn đều phải đặt nền móng trên giáo lý thuần chánh. Giáo lý không thực tế không phải là giáo lý thuần chánh, còn hành vi mà không đúng với giáo lý thì không có cơ sở đứng đắn.
Rõ ràng là những người nam (tương phản với các phụ nữ) đặc biệt cần đến lời cảnh cáo này, vì Gia-cơ tuyên bố rằng người nào đọc Lời Chúa rồi đi ra mà chẳng thay đổi chút gì trong nếp sống của mình cả, thì giống như người (từ ngữ Hi văn được dùng trong Gia Gc 1:23) có nghĩa là người đàn ông) soi mặt mình trong gương, rồi quên ngay những gì mình được thấy trong đó đi. Thí dụ minh họa này thật sắc sảo, vì thường thường một người đàn ông dầu khi soi gương mà có thấy một điều gì 'bất ổn' thì cũng chẳng hề bận tâm đề 'cứu vãn tình hình'. Nhưng chẳng có gì xua đuổi được một phụ nữ khỏi chiếc gương soi của mình, trước khi người ấy đã toại nguyện rằng mọi sự đều có thứ tự ngăn nắp. Tai hại thay, sự việc cũng đúng như thế đối với quyển Kinh Thánh. Các ông, vì kém mẫn cảm hơn, vốn ít sẵn sàng chịu để cho Lời Chúa buộc mình phải 'di chuyển' hơn các bà. Phao-lô cũng từng đề cập trách nhiệm của đàn o6ng trong vấn đề biết và làm theo Đạo. Nếu các phụ nữ được khuyên là nên về nhà để hỏi chồng mình về các vấn đề trong Kinh Thánh, thì rõ ràng là điều ấy giả thiết rằng người chồng chắc phải biết các câu trả lời (ICo1Cr 14:35). Như vậy, các ông nói riêng và toàn thể các tín hữu nói chung, cần am hiểu Lời Chúa để rồi sau đó, sẽ đem các kiến thức của mình ra thực hành.
Đối cực kia là phải tranh việc sử dụng Kinh Thánh theo thần bí chủ nghĩa. Những người tỏ ra ta đây là thuộc linh, thường gặp chuyện rắc rối này. Một số các triệu chứng là “Chúa không để cho tôi đi nhà thờ”, “Sáng nay, Chúa đã cho tôi một ý nghĩ lạ lùng từ một câu Kinh Thánh nào đó”, một câu mà khi khảo xét thật kỹ, người ta chẳng thấy cái ý tưởng đó ở đâu cả; “Tôi chẳng cần ai dạy Kinh Thánh cho mình cả - Đức Thánh Linh là vị giáo sư duy nhất mà tôi cần”. Lẽ dị nhiên là chính Đức Thánh Linh dạy dỗ chúng ta về ý nghĩa của Lời Chúa, và chức vụ của Ngài là cần thiết (GiGa 16:13; ICo1Cr 2:12). Nhưng Kinh Thánh không hề bảo rằng chức vụ dạy dỗ của Ngài bao giờ cũng là trực tiếp. Lẽ dĩ nhiên điều thường xảy ra nhất vẫn là qua trung gian các giáo sư có ân tứ của quá khứ và hiện tại mà Thượng Đế đã ban cho Hội thánh. Lắm khi chức vụ này có thể là trực tiếp khi một người kiên trì và thông minh tìm tòi tra cứu ý nghĩa của một khúc sách. Nhưng thường thường thì nó đến qua trung gian của một giáo sư, hoặc một bộ Thánh Kinh phù Dẫn hay nhiều sách nữa của cả những người còn sống hay đã qua đời rồi.
Sử dụng một phương pháp tiếp cận có tính cách thuần tuý thần bí để thông hiểu Lời Chúa có thể dẫn tới nhiều sai lầm nghiêm trọng. Một mặt, nó có thể đưa tới chỗ bị dốt nát về Lời Chúa, vì nó có thể là một lời biện hộ cho việc không chịu học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh. Người ta cứ chớ đợi cho đến khi mình được 'mách bảo' một điều gì đó mà cuối cùng có thể là sai lầm, bởi vì mình không hiểu rõ ý nghĩa đích thực của khúc sách mình đang suy gẫm. người ta có thể tự nhủ là chính Chúa đã mách bảo mình cái ý nghĩa đặc biệt này, và thật ra là tự thôi miên mình để tưởng rằng đây mới là nghĩa đúng hay một nghĩa sâu nhiệm hơn nào đó, mà chưa hề có ai thấy được. Như thế, Kinh điển sẽ không còn là một sách chỉ nam để hướng dẫn đời sống của chúng ta nữa, mà trở thành một lời bào chữa, biện bạch cho các hành động của chúng ta.
Rồi thần bí chủ nghĩa còn đưa tới việc hướng dẫn hết sức kỳ quặc nếu không nói là sai lầm của 'Chúa' nữa. Tôi từng nghe những người tự cho mình là thuộc linh ngồi ở các vị trí lãnh đạo bảo rằng Chúa đã hướng dẫn họ đừng đến các buổi nhóm lại của Hội thánh, mà trái lại, tự tổ chức lấy các buổi họp mặt tại tư gia để trực tiếp tranh đua với chi hội mà họ vẫn còn là một thành viên và họ vẫn còn phục vụ khi có cơ hội thuận tiện, thật là thảm hại khi thấy một sinh viên vào một trong những giờ tĩnh tâm lúc sáng sớm nào đó, lại 'được Chúa hướng dẫn' lìa bỏ trường học (thường là vào buổi sáng sớm hôm sau ngày mà người ấy đã làm một bài thi rất tồi). Đã có gì xảy ra cho lời kêu gọi của Thượng Đế về đời sống của anh ta? Đó là loại hướng dẫn gì, trong khi anh ta từng tin quyết rằng chính Thượng Đế đã hướng dẫn anh ta đến học trong trường ấy? Thật là dễ căn cứ vào một sư suy gẫm không được sự hiểu biết cai trị để bảo rằng “Chúa đã hướng dẫn tôi”, để rồi sau đó lại biện minh cho hành động của mình viện lẽ là mình dốt nát về Lời Ngài. Đây là cách suy nghĩ 'tùy hứng' chớ không phải là sự hướng dẫn thuộc linh.
Thế thì tôi có thể học hỏi nghiên cứu Lời Chúa như thế nào cho có lợi, để Chúa có thể dùng nó làm một phương tiện để thánh hóa đời sống tôi? Câu trả lời thật là đơn giản: Tôi phải đọc, hiểu và vâng theo Lời Chúa. “Bí quyết để làm theo điều minh đã đọc là sự kiên trì nhẫn nhục, và nên đọc Lời Chúa hằng ngày, mỗi ngày một ít, thì tốt hưn là đọc thật nhiều mỗi tuần mà giữa đó lại chẳng đọc chi cả. Theo thiển ý thì người Cơ Đốc mới có thể bắt đầu đọc bất cứ sách nào mình thích chớ không phải là làm theo điều mà một ai đó bảo với mình là kế hoạch tốt nhất. Nhưng vấn đề quan trọng là đọc, đọc mãi và cứ đọc luôn.
Về vấn đề đọc bản dịch Kinh Thánh nào cho dễ hiểu, thì có vài điều có thể giúp ích cho bạn. Nhất là nên đọc một bản dịch nào dễ hiểu hơn là bản King James. Với một số người thì điều đó có nghĩa là nên dùng một trong số các bản nhuận chánh trong khi có một số khác lại thích một trong số khá nhiều bản dịch diễn ý tốt đã được ấn hành hiện nay. Nhưng xin đừng để cho bản King James với loại Anh văn của thế kỷ thứ mười bảy của nó trói buộc mình.
Một phương pháp căn bản khác nữa để hiểu Kinh Thánh - mà người ta rất hay bỏ qua - là quyển tự điển Anh văn. Những từ ngữ như ephah, ephod, spikenard và timbrel đều được tự điển định nghĩa. Ngay đến các từ ngữ có tính cách thần học nhiều hơn như lễ Ngũ tuần, Hội thánh, huyền nhiệm đều được tự điển giải theo nghĩa thần học. Tôi dám chắc rằng sở dĩ nhiều người không hiểu được Kinh Thánh là vì họ không hiểu các từ ngữ Anh văn mình đọc (Điều này thường đặc biệt gây khó chịu khi bạn nghe một người đọc Kinh Thánh lớn tiếng trong một buổi nhóm thờ phượng!) (Điều này dành riêng cho các độc giả đọc nguyên bản Anh văn)
Sau khi bạn đã hiểu ý nghĩa của những từ ngữ mình đang đọc, hãy thực hành theo điều mà bạn biết chắc là mình đã hiểu rõ ràng rồi. Khá tin quyết là Thượng Đế muốn dạy bảo bạn một điều gì đó qua Lời Ngài, và Ngài không hề muốn gây hoang mang lẫn lộn cho bạn, nhưng là Ngài đang phán thẳng với bạn một cách rõ ràng. Đừng tìm kiếm những 'ẩn ý' hay một cách lý giải 'sâu nhiệm hơn' nào khác. Xin đừng bận tâm đến những gì bạn chưa hiểu, mà chỉ quan tâm đến những gì bạn đã lãnh hội rõ ràng rồi mà thôi. Nếu bạn kiên trì, bạn sẽ ngày càng khám phá ra nhiều điều mình có thể hiểu được hơn từ Kinh Thánh.
Nếu bạn muốn hiểu Kinh Thánh càng đầy đủ hơn nữa, hãy bắt đầu lợi dụng một vài trong số khá nhiều học cụ tuyệt diệu sẵn có hiện nay. Có những sách chú giải rất tốt được viết cho các tín đồ thường được in thật đơn giản, không đắt tiền. Sử dụng một sách Thánh Kinh Phù Dẫn sẽ đưa bạn đến với nhiều chân lý mà bạn chưa hề biết trước đây. Chỉ cần chọn một chữ nào đó (như sợ chẳng hạn) và theo dõi cách từ ngữ ấy đã được dùng xuyên suốt bộ Kinh Thánh. Một lớp học Kinh Thánh trong xóm hay vào buổi tối do một Thánh Kinh học tập chính quy hơn và rất đáng cho bạn đầu tư thì giờ và công sức vào đó. Nhiều viện Thần học có mở các lớp học hàm thụ mà bạn có thể tự học ở nhà, tùy sức riêng của bạn.
Nhưng, như chúng tôi đã lưu ý trước đây, hiểu biết mà không vâng lời thì chẳng thâu được kết quả gì. Vậu hãy cố gắng để sao cho các pản ứng của bân đối với những gì bạn đã học hỏi được luôn luôn là điều sẽ kéo bạn đến gần hơn với Thượng Đế, chớ chẳng bao giờ là điều sẽ kéo bạn xa lìa Ngài. Với người chịu kiên trì và vâng lời, Thượng Đế sẽ giúp cho người ấy ngày càng thông hiểu nhiều hơn về chân lý và ý chỉ Ngài. Đức Thánh Linh đã được đặc biệt sai phái đến để giúp chúng ta thông hiểu những điều thuộc về Chúa Cứu Thế và Đấng vốn là tác giả Lời Thượng Đế sẽ chẳng bao giờ chịu thất bại trong công tác của Ngài.
2. Cầu nguyện. Một phương tiện thánh hóa thứ hai là cầu nguyện. Đây cũng lại là một trong những đặc điểm của Hội thánh nguyên thủy (Cong Cv 2:42 TC 3:1; 4:24; 6:4; 9:40; 10:4, 31; 12:5; 13:3; 16:13, 16; 28:8) và được gắn liền vào với các tín hữu. Chúa chúng ta dạy các môn đệ Ngài phải bền lòng cầu nguyện, không được chán nản (LuLc 18:1). Từ ngữ chán nản có nghĩa là 'ngã lòng hay mệt mỏi'. Sứ đồ Phao-lô truyền dạy “Anh em nên kiên nhẫn cầu nguyện, đề cao cảnh giác và tri ân Thượng Đế” (Cong Cv 4:2). Ông cũng dạy “Cầu nguyện không ngừng” (ITe1Tx 5:17). Tuy trên đây là mấy câu Kinh Thánh rất quen thuộc, chúng đã không nói giống y nhau. Từ ngữ bền lòng được dùng trong LuLc 18:1 là từ ngữ được Tân ước dùng theo nghĩa là luôn luôn, nghĩa là trong mọi trường, mọi hoàn cảnh. Từ ngữ kiên nhẫn trong CoCl 4:2 là một động từ kép gồm một gốc có nghĩa là sức mạnh, do đó có nghĩa là 'ban sức lực cho' việc cầu nguyện của bạn. Hoặc chúng ta có thể dịch động từ ấy là 'hãy tận tụy, dành thì giờ cầu nguyện' hoặc 'hãy tận dụng năng lực của anh em để cầu nguyện'. Ý niệm về cầu nguyện không ngừng (ITe1Tx 5:17) tương tự như ho khan ho không dứt. Ngoài Tân ước, nó được dùng theo nghĩa đó. Nhưng khi bạn bị ho khan, thì không phải là bạn thật sự ho luôn, nhưng là bạn cảm thấy dường như cơn ho bao giờ cũng có mặt trong cổ bạn. Điều kiện kinh niên cứ liên tục ở đó, nhưng nó chỉ phát ho vào những lúc nào đó. Đó là ý nghĩa của việc cầu nguyện không ngừng. Thái độ sẵn sàng cầu nguyện phải có luôn nơi chúng ta, và cái thái độ ấy sẽ phát sinh nhiều lần trong một ngày. Cầu nguyện là một phương tiện sinh động cho sự thánh hóa.
Nhưng vấn đề thực tế nhất trong việc cầu nguyện là biết cách cầu nguyện theo ý chỉ Thượng Đế, để chúng ta có thể trông mong được nhậm lời. Những lời hứa dành cho việc cầu nguyện luôn luôn kèm theo một điều kiện “hợp ý Chúa” (IGi1Ga 5:14), “tin” (Mat Mt 21:22), “Nnếu các con tiếp tục ở trong ta và lời ta ở trong các con” (GiGa 15:7). Như vậy, nếu tả vẻ việc cầu nguyện như là Thượng Đế ban cho người tín hữu một tấm ngân phiếu hãy còn để trống, tức là chỉ hình dung được một phần của bức tranh toàn diện mà thôi. Ngay đến một từ ngân phiếu còn chừa trống vẫn phải được điền vào cho phải phép, mới có thể đựơc trả bằng tiền mặt. Mà muốn điền vào một tấm ngân phiếu người ta cũng phải biết cách viết nó, đề ngày vào, và số tiền được lãnh là bao nhiêu. Chẳng hề có ngân hàng nào chịu chi tiền cho một tấm chi phiếu trắng, cả khi nó đã được ký tên rồi. Nó phải được điền vào thật hợp cách. Cũng vậy, Thượng Đế không nhậm những lời cầu nguyện được trình lên trắng trơn, cả khi Ngài đã ký tên vào đó rồi. Có những điều kiện chúng ta phải thỏa mãn khi cầu nguyện.
Một thí dụ về một hoàn cảnh bất thường có thể giúp chúng ta hiểu cầu nguyện nhân danh Chúa Cứu Thế có nghĩa gì. Hồi tôi sắp xuất ngoại du học, tôi phải lo sao cho mọi công việc của mình được thực hiện chu đáo lúc tôi ra khỏi xứ mình. Điều cần thiết là phải làm thế nào để tôi có thể có tiền dễ dàng và theo dõi số tài sản nhỏ bè mà tôi đã sở hữu. Để khiến các vấn đề này được dễ dàng, tôi đã ký một giấy ủy quyền rất dài và rất chi tiết để cha tôi được quyền nhan danh tô làm bất luận việc gì. Lẽ dĩ nhiên một giấy uỷ quyền chỉ có thể được sử dụng để thực hiện một vấn đề đặc thù nào đó mà thôi. Nhưng giấy ủy quyền của tôi thì bao hàm mọi sự có thể xảy ra lúc tôi vắng mặt, để cha tôi sẽ lo liệu thay tôi. Tôi thú nhận là khi đọc bản tài liệu ấy lần đầu tiên, tôi đã king ngạc khi thấy mình lại giao vào tay một người khác quá nhiều quyền hành như vậy, mặc dầu người ấy chính là cha tôi. Ông có thể nhân danh tôi để vay tiền, và tôi phải chịu trách nhiệm. Ông có thể nhân danh tôi để mua bán tài sản và tôi phải chịu trách nhiệm. Ông có thể đi nghỉ hè một chuyện và tiêu rất nhiều tiền nhân danh tôi để ký nhiều chi phiếu, và tôi phải chịu trách nhiệm. Tôi đã giao cho ông trọn vẹn quyền hạnh, nhưng không hề bận tâm lo lắng chút nào, vì tôi biết rằng cha tôi sẽ chẳng bao giờ làm một việc gì mà tôi lại không tán thành. Đó là một chi phiếu còn để trắng, nhưng tôi tin cậy ông sẽ điền vào đó đúng như điều mà bản thân tôi cũng sẽ điều vào đó vậy.
Các lời hứa của sự cầu nguyện cũng có quyền lực như một từ uỷ quyền về mặt pháp lý vậy, nhưng một con cái Thượng Đế có sự thông công v1i Cha trên trời của mình sẽ chẳng bao giờ lạm dụng nó. Nếu chúng ta thử lạm dụng nó, thì Thượng Đế là Đấng đang cai trị kiểm soát mọi dự, sẽ từ chối những lời khẩn xin của chúng ta và sẽ đặt chúng ta vào chỗ mà chúng ta sẽ biết sử dụng nó cách phải lẽ thích hợp. Khi lời Ngài đã ở trong chúng ta, chúng ta sẽ chỉ cầu xin những gì Ngài muốn mà thôi - chúng ta sẽ chỉ dùng quyền năng của Ngài khi nào Ngài muốn mà thôi. Khi nào bạn quỳ gối xuống để sử dụng quyền hành của tờ giấy uỷ quyền mà Thượng Đế đã ban cho bạn, hãy tự hỏi “Thượng Đế có muốn làm như vậy trong hoàn cảnh này hay không?” hay “Có gì tốt hơn cho các quyền lợi của Ngài hay không?” Đó là cầu xin theo đúng ý chỉ Ngài. Đó là cầu xin bởi đức tin, có nghĩa là bằng một lòng tin cậy đặt cơ xở trên việc biết rõ ý chỉ Ngài. Đức tin không nảy sinh từ một thứ tự thôi miên được lặp đi lặp lại nhiều lần, mà đúng hơn, thì nó được củng cố do sự biết rõ Đấng vốn là đối tượng để chúng ta đặt nó vào, và loại hiểu biết xuất phát từ việc học hỏi nghiên cứu Lời Thượng Đế và qua các từng trải mà chúng ta đã có được với Ngài suốt đời sống của chúng ta.
3. Thông công và thờ phượng. Thêm cho việc chú trọng vào giáo lý và cầu nguyện, Hội thánh nguyên thủy còn tiếp tục đứng vững trong việc thông công và bẻ bánh nữa. Lẽ dĩ nhiên là cả hai việc trên đây đều liên hệ với sự thờ phượng tập thể của Hội thánh, vốn cũng là một phương tiện khác nữa của sự thánh hóa. Samuel Rutherford từng nói “càng có nhiều than thì lò lửa càng cháy mạnh”, và Kinh Thánh cũng khẳng định nhu cầu của sự thông công theo từng nhóm từng tổ. Trước giả thư Hy-bá nhắc nhở các độc giả của mình “Cũng hãy lưu ý khích lệ nhau trong việc yêu thương tương trợ và làm đủ các việc lành. Đừng xao lãng việc nhóm họp như một số người thường làm, nhưng hãy khuyến khích nhau nhất là lúc này, vì Chúa gần trở lại” (HeDt 10:24-25). Sự thờ phượng theo từng nhóm nhỏ phải bao gồm việc khích lệ khuyến giục (HeDt 1:25) gây dựng (ICo1Cr 14:26), giữ Tiệc thánh (Cong Cv 20:7; ICo1Cr 11:17 và tt), đọc Lời Thượng Đế (CoCl 4:16), làm chứng cho người chưa được cứu (ICo1Cr 14:24), có những diễn giả đặc biệt truyền giảng (Cong Cv 20:7), sửa trị (ICo1Cr 5:4-5), và thực thi tổng quát các ân tứ thuộc linh (12:1-14:39). Tất cả mọi việc ấy đều cần thiết cho sự tiến bộ của sinh hoạt thuộc linh, và phải được thực thi bởi chi hội địa phương.
Nhiều khi bạn có thể gặp một quan điểm bất quân bình về một đời sống đắc thắng xem nhẹ chi hội địa phương và các hoạt động của nó. Một quan điểm như thế thường lập luận như sau: Vì Hội thánh nguyên thủy nhóm họp trong các tư gia cho nên chúng ta cũng phải làm như vậy. Họ cũng thường nói them rằng vì các chi hội địa phương không tán thành việc chúng ta chú trọng vào một đời sống đắc thắng, cho nên chúng ta bị bắt buộc phải chú trọng đặc biệt vào lời truyền dạy này trong các buổi họp tư gia của chúng ta. Việc chuyên môn hóa như vậy thường tập trung vào một người, một nhóm người, hay các sách vở như thế.
Sai lầm của một lời truyền dạy như vậy gồm hai phương diện: Trước hết, sở dĩ Hội thánh nguyên thủy phải nhóm lại trong các tư gia, chỉ vì họ chưa có thể xây dựng được những tòa nhà để nhóm lại. Nơi nhóm lại không phải là một đặc tính để phân biệt của một Hội thánh địa phương. Cá tính của những người tự xưng là tín hữu, hiện diện của những con người của các trưởng lão và chấp sự biết tổ chức, các chủ đích của nhóm người nhóm nhau lại nhằm đểy mạnh Lời Sai Phái Trọng Đại, là những gì phân biệt chi hội địa phương vơí một nhóm tín hữu chỉ nhóm lại ở bất cứ nơi nào. Thứ hai, vì những nhóm người vô tổ chức nhóm lại bất cứ nơi nào nhằm đẩy mạnh quan điểm về một đời sống đắc thắng của họ thường sai lầm vì họ không học hỏi nghiên cứu và truyền bá mưu tính toàn diện của Thượng Đế (Cong Cv 20:27). Họ thường cũng chẳng cố gắng cả đến việc truyền giảng Phúc âm nữa, mà trái lại, chỉ lo cải giáo các nhóm Cơ Đốc nhân khác mà thôi. Do đó, vì họ thường chẳng thực hiện các chủ đích theo lệnh truyền của Thượng Đế cho một chi hội địa phương, họ không đủ tư cách để được gọi như thế, cả khi họ nhóm lại trong một tư gia như đáng lẽ phải làm trong thời của các sứ đồ. Trong Tân ước, Thượng Đế đã nhấn mạnh rất nhiều trên chi hội địa phương; do đó, chúng ta phải hoài nghi bất cứ một lời truyền dạy nào làm suy giảm sự nhấn mạnh đó, bất luận bằng cách nào.
Có một phần sinh động của việc thờ phượng của Hội thánh, là giữ các thánh lễ. Phép báp-tem và Tiệc thánh tự chúng và trong chúng không hề chia xẻ ân phúc Thượng Đế cho ai cả, nhưng chúng có thể đựơc Thánh Linh sử dụng như những công cụ để qua đó chúc phước và giúp đỡ cho các tín hữu. Phép báp-tem phải nhắc nhở những người đã chịu pháp bép-tem và những người đang chờ đợi được hợp nhất với Chúa Cứu Thế về tính cách mới mẻ của đời sống của họ (RoRm 6:1-10). Trong Tiệc thánh, chúng ta kỷ niệm Chúa, cả về cuộc đời trọn vẹn của Ngài và về sự hiệu nghiệm của sự chết Ngài. Chuẩn bị thích hợp cho Tiệc thánh bao gồm việc tự xét mình và xưng ra các tội lỗi mà mình biết (ICo1Cr 11:27-32), và thiết tưởng chẳng cần gì phải nói rằng, nếu thánh lễ ấy được thực thi, thì nó là một đóng góp quan trọng cho việc thánh hóa trong thực tế. Rõ ràng là các thánh lễ này có thể là những phương tiện để thánh hóa chúng ta; điều đáng buồn là ngày nay, chúng thường chỉ được thực hiện như một thói quen máy móc, mà con số thành viên trung bình của Hội thánh ít khi thấy hiểu ý nghĩa của chúng.
4. Những phương tiện thánh hóa khác. Chẳng có gì để nghi ngờ là một bảng liệt kê các phương tiện cho sự thánh hóa có thể cứ được kéo dài thêm mãi, vì thật ra, mọi hoạt động và hoàn cảnh sóng đều có thể được lợi dụng để kéo chúng ta đến gần với Thượng Đế hơn. Nhìn nhận các phước hạnh của ân huệ chung của Thượng Đế sẽ tạo được một tinh thần tri ân. Các tài năng tự nhiên có thể được sử dụng để tôn vinh Chúa, đem phước hạnh đến cả cho người biết lợi dụng chúng lẫn cho những người được hưởng các lợi ích của chúng. Sự hợp nhất giữa chồng với vợ nói lên điểm giống nhau của mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế với Hội thánh Ngài phải luôn luôn nhắc nhở chúng ta sống sao cho đẹp lòng Ngài. Mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái chủ với thợ, nhà cầm quyền với kẻ bị cai trị, đều có thể là những phương tiện để thanh tẩy đời sống. Lẽ tất nhiên là mọi hoàn cảnh đều có thể đem điều tốt lành đến cho các con cái Thượng Đế (RoRm 8:28) “An phúc Ngài mở ra nhiều chân trời vô hạn, và các tác nhân qua đó nó được đưa đến cũng có nhiều và đa dạng như chính sự sống vậy” (Frank E.Gaebelein, 'Oden Means of Grace', Basic Christian Doctrines, p.267)
Chẳng có gì để thắc mắc về việc Thượng Đế vốn cung cấp ân huệ Ngài vô hạn và theo nhiều phương diện cho chúng ta; Ngài vẫn làm phần việc của Ngài. Nhưng như chúng ta đã thấy, con người cũng phải thực hiện phần công việc của mình. Tuy Thượng Đế có quyền lợi dụng mọi mối liên hệ và hoàn cảnh, tình hình để đem lợi ích đến cho chúng ta, chúng ta cũng có thể khiến cho ân phúc của Ngài gặp thất bại trong các vấn đề ấy. Cho nên, chúng ta được mệnh lệnh là phải kiên quyết ý thức sự kiện Thượng Đế đang vận hành qua nhiều từng trải khác nhau của đời sống, và chúng ta phải tìm cách để học tập từ các bài học ấy. Có một gợi ý hết sức thực tiễn liên hệ với vấn đề này, ấy là: Hằng ngày, phải cố gắng sao cho mỗi phản ứng của bạn đối với từng hoàn cảnh một sẽ kéo được bạn đến gần hơn với Chúa, chớ chẳng bao giờ là đẩy bạn xa khỏi Ngài. Hãy cầu xin Ngài đặt một bộ thắng (hãm phanh) trên các cảm giác và thái độ nào của bạn có thể ngăn trở việc Ngài quản trị các ân huệ thông qua mọi hoàn cảnh mà bạn phải đối đầu hằng ngày. Mọi phương tiện của ân phúc Thượng Đế dành cho việc thánh hóa đều có sẵn cho chúng ta, chỉ cần chúng ta chịu sử dụng chúng thật đầy đủ để tôn vinh Ngài.

SỰ HIẾN THÂN
Có lẽ không có vấn đề nào quan trọng liên hệ đến đời sống thuộc linh hơn là sự hiến thân cho Thượng Đế. Thế nhưng, cái ý niệm rất căn bản này lại thường bị đặc biệt nhầm lẫn trong khi nó lại là một thành phần của cái 'công thức' tạo ra một cuộc đời đắc thắng. Có người trình bày sự hiến thân như toàn thể lời đáp cho mọi vấn đề của đời sống Cơ Đốc nhân. Nhiều người khác chỉ dành cho nó mộr vai trì nhỏ bé; và phần đông trong toàn thể vấn đề này. Nhầm lẫn ở điểm này, là gây tai hại cho toàn thể lời truyền dạy của Kinh Thánh liên hệ đến nếp sống Cơ Đốc nhân.
NỀN MÓNG CỦA SỰ HIẾN THÂN
Xuyên suốt Kinh điển, lời kêu gọi hiến thân luôn luôn được đặt cơ sở trên các phước hạnh đã được ban cho rồi. Nói khác đi, Thượng Đế kêu gọi các con cái Ngài cống hiến đời sống họ cho Ngài, là căn cứ trên sự kiện Ngài đã từng ban các phước hạnh hết sức phong phú dồi dào cho họ rồi. Trong cả Cựu lẫn Tân ước,các phước hạnh đều có liên hệ với địa vị của người thuộc về Thượng Đế, dầu là trong cộng đồng dân Y-sơ-ra-ên hay trong Hội thánh, là thân thể Chúa Cứu Thế. Tuy 'lòng thương xót' của Thượng Đế nhằm thúc đẩy người tín hữu hiến thân cho Ngài vốn có nhiều, có lẽ lòng thương xót chủ yếu trong bối cảnh của sự hiến thân là sự cứu chuộc. 'Lòng thương xót' (theo số nhiều) của Thượng Đế trong RoRm 12:1 vốn là cơ sở để Phao-lô kêu gọi người ta dâng thân thể mình là sinh tế cho Thượng Đế chắc bao gồm cả hai lần ông đề cập sự cứu chuộc trước đó. Trong RoRm 3:24, vị sứ đồ đã nhắc nhở các độc giả của mình rằng địa vị của họ trong Chúa Cứu Thế đã được một Thượng Đế công chính biện minh cho, là “do công lao cứu chuộc...của Chúa Cứu Thế Giê-xu”. Trong 8:23, ông nhìn thấy trước việc sẽ xảy ra nhờ sự cứu cuộc của thân thể Chúa Giê-xu. Cùng một lời kêu gọi như vậy cũng được ông đưa ra trong ICo1Cr 6:19-20 “Anh em không biết thân thể anh em là đền thờ Thánh Linh và Ngài sống trong anh em sao? Thượng Đế đã ban Thánh Linh cho anh em nên anh em không còn thuộc về chính mình nữa. Anh em đã được Thượng Đế chuộc với giá rất cao, nên hãy dùng thân thể tôn vinh Ngài”. Như vậy, sự chuộc tội đã được dùng làm cơ sở để khuyến giục chúng ta dùng thân thể mình tôn vinh Thượng Đế.
Vì sự cứu chuộc rất căn bản cho sự hiến thân như vậy, thiết tưởng nhìn qua một vài điều bao hàm trong ý niệm này cũng không phải là không hợp thời. Lời truyền dạy về sự cứu chuộc trong Tân ước vốn được căn cứ trên ba từ ngữ gợi lên cái ý niệm ấy từ ngữ thứ nhất là một từ đơn giản có nghĩa là mua, hay trả một giá cho một vật gì, một điều gì đó. Chẳng hạn như nó đã được dùng với nghĩa bình thường, thông dụng hằng ngày trong ẩn dụ về của báu chôn trong một đồng ruộng, đã thúc đẩy một người đi mua (chuộc) đồng ruộng ấy (Mat Mt 13:44). Liên hệ với sự cứu chuộc chúng ta, từ ngữ ấy có nghĩa là trả cái giá mà tội lỗi chúng ta đòi hỏi, để chúng ta có thể được chuộc (KhKh 5:9; IIPhi 2Pr 2:1). Và chỉ có máu của Chúa Cứu Thế mới có thể trả được cái giá đó.
Từ ngữ thứ hai chỉ sự cứu chuộc cũng chính là từ ngữ thứ nhất nhưng được thêm vào phía trước một liên từ. Nó có sức mạnh tăng cường ý nghĩa, và có nghĩa là (từ...mà ra).. Vì chữ gốc là cứu chuộc là một từ dùng ở ngoài chợ (do đó có nghĩa là trả một giá theo thị trường, ở ngoài chợ), từ ngữ thứ hai này có nghĩa là mua ngoài chợ. Nói khác đi, ý muốn nói của từ ngữ thứ hai là sự chết của Chúa Cứu Thế chẳng những trả một giá để cứu rỗi chúng ta, mà còn cất chúng ta ra khỏi cái chợ tội lỗi để bảo đảm rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ còn phải trở lại dươ1i ách nô lệ và những hình phạt dành cho tội lỗi nữa. Sở dĩ Chúa Cứu Thế đã đến là để “giải phóng những người làm nô lệ của luật pháp, và cho họ quyền làm con Thượng Đế” (GaGl 4:5). Cách dùng từ ngữ phức hợp trong câu này bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta chẳng bao giờ bị mất đi cái quyền của những người con đã được thừa nhận để trở lại dưới ách nô lệ nữa.
Từ ngữ thứ ba chỉ sự cứu chuộc là một từ ngữ Hi vwn hoàn toàn khác, và có nghĩa là người đã được mua chuộc cũng được giải phóng và được trả tự do theo nghĩa đầy đủ nhất của nó. Lại cũng chính Phao-lô là người bảo rằng sở dĩ Chúa Cứu Thế chịu chết là để “cứu ta khỏi mọi tội lỗi, luyện lọc ta thành dân tộc riêng của Ngài để ta sốt sắng làm việc thiện” (Tit Tt 2:14). Như vậy, sự cứu chuộc theo nghĩa đầy đủ nhất của nó, có nghĩa là vì cớ Chúa Cứu Thế đã đổ máu ra, cho nên các tín hữu đã được mua được chuộc, được đưa đi chỗ khác và được giải phóng.
Vì sự cứu chuộc bao gồm cả ý nghĩa tự do, điều này có nghĩa là người làm con cái Thượng Đế không tự động trở thành tôi tớ cho ông chủ mới đã mua mình. Nếu có như vậy, thì ách nô lệ của tội nhơn chỉ bị chuyển từ một ông chủ này (tội lỗi) sang một ông chủ khác (Chúa Cứu hế) mà thôi. Sự thật thì Chúa Cứu Thế đã mua chuộc chúng ta, là để trả tự do cho chúng ta, và Ngài không hề bắt buộc những tôi tớ hay nô lệ không tự ý tự nguyện để đưa đi đày. Đó là ý nghĩa của những lời khuyên giục, chớ không phải là những lệnh truyền, mà chúng ta đọc thấy trong Tân ước, để chính chúng ta sẽ tự ý tự nguyện cống hiến đời sống mình cho Chúa. Hay nói theo một cách khác, thì những người đã được giải phóng khỏi ách nô lệ được yêu cầu tự nguyện bước vào một lãnh vực phục vụ mới, và lời yêu cầu này có cơ sở là chính hành động đã giải phóng cho họ. Cái giá kinh khủng phải trả là chính sinh mạng của Con Thượng Đế phải vượt hẳn một động cơ thúc đẩy theo nghĩa rộng rãi nhất của nó, để khiến mỗi một con cái Thượng Đế đều hăng hái muốn đặt trở lại vào tay Chúa chính cái quye8n tự do mà sự chết của Ngài đã mua.
Tất cả điều này đã được minh họa thật đẹp đẽ trong một trong các quy tắc luật pháp Mai-sen. Người Hy-bá lai làm nô lệ được ông chủ người Hy-bá-lai của mình phóng thích vào năm thứ bảy, có thể chọn ở lại để phục vụ người chủ ấy trọn đời. Lẽ dĩ nhiên việc lựa chọn này là hoàn toàn tự nguyện về phía người nô lệ nhưng nếu mối liên hệ là việc phục vụ trọn đời được đưa vào thì sự đồng ý đó được người chỉ ấn chứng bằng việc lấy dùi xỏ tai người nô lệ ấy “Nhưng nếu kẻ tôi mọi người nói rằng: Tôi không muốn đi ra khỏi nhà chủ - vì nó mến ngươi và gia quyến ngươi, lấy làm thỏa lòng phục dịch ngươi - thì bấy giờ, ngưi phải lấy một cái dùi, để tai người kế cửa mà xỏ, vậy người sẽ làm tôi tớ ngươi luôn luôn. Ngươi cũng phải làm như vậy cho tớ gái mình” (PhuDnl 15:16-17). Cần lưu 1 hai lý do để một người nô lệ có thể chọn việc này: vì người ấy mến chủ và vì người chủ đã đối xử tốt với mình. Lòng thương xót của Thượng Đế, là nền móng của việc chúng ta hiến thân cho Ngài, vốn vô cùng lớn lao hơn lòng thương xót của bất luận một ông chủ nào là loài người, và các phước hạnh của một cuộc đời cống hiến cho việc phục vụ Thượng Đế cũng chắc chắn hơn sự giàu có của họ rất nhiều. Tại sao nhiều người lại phân vân không chịu tự hiến thân cho Ngài quả thật là khó hiểu.
LÃNH VỰC CỦA SỰ HIẾN THÂN
Cơ Đốc nhân phải cống hiến gì? Câu trả lời là chính bản thân người ấy “Hãy dâng trọn thể xác mình cho Thượng Đế” (RoRm 6:13) “dâng thân thể mình cho Thượng Đế” (RoRm 12:1), “hãy dùng thân thể tôn vinh Ngài” (ICo1Cr 6:20), “hãy phục tùng Thượng Đế” (Gia Gc 4:7) - đây là tiếng gọi trước sau như một trong Kinh điển, và nó nhằm vào chính thân thể chúng ta. Nếu quả thật là như vậy, thì hậu quả sẽ là sự cống hiến ấy liên hệ đến các năm của đời sống một người, vì đó chính là giai đoạn duy nhất trong đó thân thể với đời sống hiện nay, chớ không phải là đời sau.
Hiện nay, sự hiến thân thường bị pha lẫn với sự cứu rỗi. Chúng ta không nên đi lạc đề quá lâu ở điểm này, trừ phi phải nói rằng sự cứu rỗi liên hệ với mối liên hệ cá nhân giữa tôi với Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng đã chịu chết thay cho tội lỗi tôi, mà nếu tôi không trả nổi thì nó sẽ đưa tôi đến chỗ bị định tội đời đời. Sự hiến thân liên hệ với việc tôi đặt đời sống mình quy phục Chúa Cứu Thế trọn đời sống mình. Sự cứu rỗi liên hệ với vấn đề tội lỗi, còn sự hiến thân thì liên hệ với vấn đề phục tùng. Nhưng nhiều diễn giả đề cập một đời sống đắc thắng lại thường biến sự hiến thân thành ra một điều kiện để được cứu rỗi, và như vậy thì chẳng khác gì thêm việc làm vào cho ân phúc Thượng Đế. Chúng ta sẽ xét kỹ hơn việc này trong một chương về sau.
Nếu việc hiến thân liên quan tới các năm của đời sống một người, thì trước nhất, nó hướng tới vấn đề cai trị kiểm soát đời sống ấy. Nói thật đơn giản, thì hiến thân liên hệ tới việc chẳng hay chúng tôi điều khiển đời sống mình, hay Chúa Cứu Thế sẽ làm việc ấy. Chỉ sau đó, sự hiến thân mới liên hệ đếnc ác vấn đề hay các chi tiết của đời sống, thế nhưng những điều ấy lại thường bị đưa ra để làm bản chất cho việc hiến thân. Điều tôi muốn nói ở đây là: sự hiến thân chẳng bao giờ đặt vấn đề, chẳng hạn như một người có nên đi làm giáo sĩ hay không; nó cũng không hề đặt vấn đề chẳng hay một người có nên giao hết công cuộc làm ăn kinh doanh của mình cho Chúa hay không. Nó đặt Cơ Đốc nhân trực diện với vấn đề ai sẽ làm chủ các năm của đời sống mình. Một khi vấn đề này đã được giải quyết, thì vấn đề đi làm giáo sĩ hay công việc làm ăn kinh doanh cũng như tất cả các chi tiết khác của đời sống sẽ tự động được bao gồm trong cái quyết định căn bản này.
Nhưng quả thật là Đức Thánh Linh thường đặt một Cơ Đốc nhân trực diện với vấnđ ề căn bản là việc cai trị kiểm soát, bằng một trong những vấn đề thứ yếu về chi tiết. Thường thường thì chính là một quyết định làm ăn kinh doanh hay công việc làm cho cả đời sống nào đó sẽ đưa lên hàng đầu vấn đề làm chủ trọn vẹn đời sống. Nhưng đừng bao giờ nên hình dung ra vấn đề hiến thân như là vấn đề phục tùng một điều gì hay trong một lãnh vực nào đó, mà nó luôn luôn phải được hướng về một người nào đó, tức là chính Chúa vậy.
Lẽ dĩ nhiên là hiến thân cho một lãnh vực nào đó hay liên hệ đến một việc gì đó, sẽ có nghĩa là chỉ có lãnh vực đó hay điều đó của đời sống, mới được đặt dưới quyền cai trị kiểm soát của Chúa mà thôi. Rồi theo thời gian một vấn đề hay một quyết định sẽ được đặt ra trước mặt người ấy, và người ấy sẽ phải quyết định xem mình có chịu phục tùng ý chỉ của Chúa về phương diện ấy không. Chừng đó thì một chọn lựa khác sẽ nảy sinh. Một ngã tư đường sẽ xuất hiệ, và cứ như thế như thế mãi suốt cả cuộc đời. Mỗi một lần như vậy, người tín hữu đều phải quyết định về mối liên hệ căn bản của mình với ý chỉ Thượng Đế. Sự việc cũng như cỏ dại ở trong vường vậy. Năm nay, bạn nhổ một bụi, năm sau bạn lại nhổ một bụi khác. Trong khi chờ đợi, cỏ dại lại mọc lên càng nhiều hơn, và chẳng bao giờ bạn có cách thu xếp căn bản đối với ý chỉ của Thượng Đế cả. Nhưng nếu một người cống hiến cả đời sống mình với toàn thể các vấn đề, quyết định, hoàn cảnh và tình hình - cả những gì mình biết lẫn không biết - thì khi vấn đề quyết định được đặt ra, chúng đều luôn có thể được đương đầu trong ánh sáng của sự kiện là đã có một hiến thân căn bản, hoàn toàn và suốt đời cho ý chỉ Thượng Đế rồi.
Như vậy, lãnh vực của sự hiến thân là trọn vẹn cuộc đời của một người. Lãnh vực này sẽ bao gồm nhiều chi tiết của đời sống, nhưng chúng không can thiệp vào đó như những phương tiện hiến thân, nhưng như các hậu quả của việc hiến thân.
CÁC THÀNH PHẦN CẤU TẠO CỦA SỰ HIẾN THÂN
Cuộc đời cống hiến cho Thượng Đế (cái hành động hiến thân đầu tiên cộng với sự dấn thân liên tục vào đó) bao gồm ít nhất là ba nét đặc trưng phức hợp, Chúng đã được phân định rõ ràng trong RoRm 12:1-2, chắc chắn là khúc sách trung tâm và được ưa thích (tuy không phải là luôn luôn được lý giải đúng) về chủ đề này.
1. Cuộc đời cống hiến cho Chúa phải được bắt đầu bằng việc người tín hữu tự hiến thân làm một sinh tế. Phao-lô đã viết cho các độc giả của mình và gọi họ bằng anh em, thế nhưng ông cảm thấy cần phải khuyến giục họ thi hành việc cống hiến hay hiến thân đó. trong khi thì bất định (aorist tense) của động từ Hi văn tự nó không cho thấy hành động nó chỉ ra là thuộc về quá khứ, hiện tại, hay tương lai, cho nên rõ ràng là ở đây, nó không chỉ về một hành động của quá khứ. Nếu không, chắc Phao-lô đã chẳng cần gì phải khuyến giục họ làm như vậy một khi đáng lẽ ra họ đã phải làm việc ấy rồi. Trái lại, ông đang khuyến giục họ thực hiện việc dâng mình mà họ chưa từng làm trước đây. Hơn nữa, việc dâng thân thể cho Chúa là phải lẽ, hay hữu lý, hoặc hợp lý, vì cớ các ơn thương xót vĩ đại của sự cứu rỗi của Thượng Đế. Đây cũng là việc hiến tế vì chúng ta được yêu cầu phải sống cho Chúa Cứu Thế trong nếp sống theo thói quen hằng ngày cũng như trong những trường hợp bất thường hơn của đời sống. Chúng ta phải sống như những sinh tế, chớ không phải như những của lễ chết. Và lẽ dĩ nhiên là việc hiến thân này phải là một sự cống hiến trọn vẹn. Nó bao gồm trọn vẹn các thân thể của chúng ta, hay như Phao-lô nói là “dâng trọn thể xác” trong La 6:13;. Điều này rõ ràng có nghĩa là một sự cống hiến trọn vẹn, chớ không phải chỉ là một phần mà thôi, và nó bao gồm tất cả những gì chúng ta biết về chính mình lúc chúng ta hến thân và cả cõi tương lai chưa biết nữa. Nó bao hàm cả cái tốt lành thiện hảo lẫn cái xấu xa gian ác của chúng ta. Không phải chúng ta chỉ dâng cho Chúa các phương diện của đời sống mình hay những gì mà chúng ta muốn vứt bỏ đi mà thôi, nhưng là chúng ta dâng cho Ngài mọi sự kể cả các nét tốt đẹp và các tài năng của mình nữa. Và tất cả đều được dâng lên để Ngài sử dụng hoặc không sử dụng tùy theo Ngài thấy làm thế nào là thích hợp. Đây là một sự hiến thân hợp lý, có tính cách của một của lễ, trọn vẹn và dứt khoát.
2. Cuộc đời cống hiến cho Chúa cũng bao gồm việc phân rẽ, hay không khuôn rập đời gian ác mà chúng ta đang sống trong đó nữa (GaGl 1:4). Có lẽ chúng ta có thể hiểu rõ hơn không khuôn rập là thế nào bằng cách nhìn vào những gì trái với nó. Thật ra, đặc tính của sự khuôn rập là giả hình, vì nghĩa của từ ngữ được dùng ở đây, là diện mạo bề ngoài của chúng ta rất giống với người đời này cả khi sự biến hóa do sự tái sanh đã xảy ra trong lòng chúng ta rồi. Vậy khuôn rập, đồng hóa, là sống hai mặt, và lắm khi nó rất giống với đặc tính của Sa-tan, vì tuy từ bên trong nó vốn là kẻ nói dối từ lúc banm đầu, nó vẫn có thể tự biến hóa thành một thiên sứ thật sự sáng chói (IICo 2Cr 11:14 đây là một từ ngữ có cùng một gốc). Thật là tai hại nhưng là sự thật, ấy là có quá nhiều các tín hữu tuy vốn là các con cái của ánh sáng, lại tự khoác lên người đủ thứ nọc đọc của thời hiện tại.
Ý nghĩa của việc không đồng hóa bao gồm ý niệm khuôn rập. Lần xuất hiện duy nhất của từ ngữ Hi văn này trong RoRm 12:2 gợi lên cho chúng ta cách dùng từ ngữ chớ khuôn rập để định nghĩa ý niệm ấy. Phi-e-rơ dùng từ ngữ này trong IPhi 1Pr 1:14, và được dịch ra là “đừng buông mình theo”. Đây là một nhóm từ rất sống động, soi sáng cho Lời của Thượng Đế, đề cập nhiều tham vọng, hoạt động, mục đích, tiêu chuẩn và chương trình của chúng ta, rất thường được phỏng theo các phương pháp thời thượng, thay vì tôn vinh Thượng Đế. Phân rẽ thế gian hay không đồng hóa, là không khuôn rập, và đây là một đặc điểm cần thiết của một cuộc đời cống hiến cho Thượng Đế.
3. Nét đặc trưng thứ ba của một đời sống cống hiến cho Chúa là biến hóa. Cả sự phân rẽ lẫn sự biến hóa đều bị đòi hỏi. Cái này là phần tiêu cực, còn cái kia là tích cực. Cái này có tính cách mặt ngoài nhiều hơn, còn cái kia là bề trong. Sự biến hóa tích cực vốn do Đức Thánh Linh thực hiện (IICo 2Cr 3:18) nhưng trung tâm của nó là tâm trí. Thế nhưng trong khúc sách này, chính tâm trí mới là trung tâm của hoạt động biến hóa của Đức Thánh Linh trong đời sống người tín hữu. Chúng ta quá thường nghĩ rằng sự băng hoại hoàn toàn chỉ ảnh hưởng đến con người ta loại trừ cái đều ra khỏi vùng ảnh hưởng của tội lỗi. Hệ quả là chúng ta kết luận rằng điều chúng ta suy nghĩ hay các thái độ của chúng ta vốn được tự do đối với các hậu quả của sự sa ngã. Sự thật không phải là như vậy, và sự kiện việc biến hóa đời sống được tập trung vào tâm trí chứng minh cho điều đó. Muốn cho cuộc đời mình thay đổi để trở nên giống như Thượng Đế, chúng ta phải suy nghĩ về các định chuẩn của Ngài. Đấng vốn là ánh sáng, hự thánh khiết, và chân lý mới là chuẩn mực cho chúng ta, chớ không phải là thế gian này với đủ thứ lựa chọn, gian dối của nó. Để tóm tắt nhu cầu phải phân rẽ và biến hóa giáo phụ Tertullian đã nói như sau “Nhưng Chúa Cứu Thế của chúng ta đã tự đặt cho Ngài cái biệt danh là Chân lý, chớ không phải là phong tục tập quán”
THƯỜNG XUYÊN HIẾN THÂN
Hành động hiến thân có phải lặp lại hay không? Chúng tôi đã nói khá đủ để cho thấy rằng tác giả sách này không tin việc ấy. Chỉ cần cách dùng thì bất định của động từ trong mấy câu đề cập sự hiến thân, cũng đủ để biện hộ cho một kết luận như thế. Chỉ có lời giảng của một vài diễn giả liên hệ với một đời sống đắc thắng và nhu cầu rõ rệt của nhiều Cơ Đốc nhân dường như mới biện luận cho việc tái hiến thân. Đâu là sự thật trong vấn đề này?
Bức tranh mà Kinh điển tả vẻ, là một hành động hiến thân đầu tiên, bao hàm tất cả bản thân và đời sống của một người chỉ một lần là dứt khoát. Việc này chẳng bao giờ có thể 'lấy lại' được. Do đó, khi một người đã hiến thân đi đến một ngã tư của đời sống hay đối đầu với một quyết định, thì người ấy không hề trực diện với việc phải quyết định một lần nữa xem mình sẽ làm theo ý chỉ Thượng Đế hay không. Việc ấy vốn đã được giải quyết rồi, và giải quyết dứt khoát, vĩnh viễn trong sự hiến thân tối quan trọng trước kia rồi. Người ấy chỉ cần tìm xem đâu là ý chỉ Thượng Đế trong trường hợp này; rồi người ấy sẽ vui vẻ làm theo đó. Đây là bức tranh của Kinh Thánh về một cuộc đời đã cống hiến cho Thượng Đế. Nhưng lẽ dĩ nhiên là khi các Cơ Đốc nhân gặp một ngã tư, một quyết định như vậy, lắm khi họ lại chọn việc không làm theo điều mà họ biết là ý chỉ Thượng Đế. Trong những trường hợp như thế, thì tội lỗi đã chen vào, và sự hiến thân của họ đã bị vi phạm. Họ đã không làm theo ý chỉ Thượng Đế, và đưa ý riêng của mình để thay vào đó trong hoàn cảnh cá biệt ấy. Họ có thể đi sai ý chỉ của Thượng Đế trong một lãnh vực hoặc lớn hoặc nhỏ nào đó của đời sống, nhưng trong cả hai trường hợp, họ đều quay trở lại với lời thề nguyện hiến thân của mình.
Khi gặp những trường hợp như vậy, thì điều gì là cần thiết để cứu vãn tình hình? Có hay không một sự tái hiến thân? Theo một ý nghĩa thì người ta có thể gọi nó như vậy, nhưng đó là cách sử dụng từ ngữ hiến thân căn bản theo một nghĩa khác. Việc tái hiến thân (nếu người ta gọi nó như vậy) không phải là làm lại cùng một việc như người ấy đã từng làm lúc hiến thân cho Chúa trước kia do đó, việc tái hiến thân nói lên một cái gì khác với việc hiến thân. Trong cách dùng chữ như vậy, tái hiến thân có nghĩa là trở lại với dấu vết bởi đó bạn đã bắt đầu lúc bạn hiến thân cho Chúa. Có lẽ tốt hơn là nên gọi điều đó là sự phục hồi để cứu vãn và nó xảy ra nhờ việc xưng tội. Chọn làm theo ý riêng cả sau khi bạn đã hiến thân cho Chúa rồi là điều rất có thể thật sự xảy ra, vì Thượng Đế chẳng bao giờ cất khỏi chúng ta quyền tự do lựa chọn khi chúng ta tự hiến thân cho Ngài, khi nào chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng chúng ta đã phạm tội như vậy, thì việc cứu vãn không phải là tái hiến thân, nhưng là thú tội và phục hồi địa vị thông công. Sau đó, chúng ta có thể tiếp tục sống cuộc đời hiến thân cho Thượng Đế. Việc này không nhất thiết là một sự bắt đầu trở lại; và tuy tội lỗi có để lại dấu vết của nó, nó không hề có nghĩa rằng tất cả đã bị mất đi. Do đó, việc xưng tội và được phục hồi địa vị có thể rất thường xảy ra trong đời sống Cơ Đốc nhân đã hiến thân cho Chúa rồi. Lẽ dĩ nhiên là nó sẽ xảy ra trong mỗi đời sống Cơ Đốc nhân bao lâu chúng ta còn sống trong thân thể này. Nhưng một sự tái hiến thân (theo nghĩa là cùng làm việc giống như việc đã làm lúc hiến thân cho Chúa) thật ra không phải là một cách nói chính xác để diễn tả sự cứu vãn kia.
Nhưng nếu tái hiến thân thật ra không phải là một ý niệm sai lầm (nếu nó có nghĩa là phục hồi địa vị) thế tại sao lại phải bàn cãi về cách sử dụng từ ngữ ấy? Lý do là thế này. Trong thực tế, nhấn mạnh việc tái hiến thân cho Chúa gợi lên cho người ta cái hình ảnh về việc cần thiết phải gỡ cái tội ấy ra, xóa sạch điều sai lầm ấy đi, thay đổi hẳn cái lỗi lầm đó, sao cho nếu bạn tái hiến thân thật đầy đủ và thường xuyên, thì cuối cùng bạn sẽ trở thành người đã hiến thân cho Thượng Đế. Việc tái hiến thân trở thành phương tiện cho sự hiến thân, chớ không phải là con đường dẫn tới việc phục hồi địa vị. Chính vì lý do ấy mà việc nhấn mạnh như trên thường tạo ra lẫn lộn nếu không phải là gây tổn hại cho sự tăng trưởng bình thường của Cơ Đốc nhân. Mỗi diễn giả đều bị cám dỗ thích thấy hàng loạt quyết định liên hệ đến nhiều vấn đề cá biệt trong đời sống, hơn là chỉ có một lần hiến thân đích thực, trọn vẹn và dứt khoát duy nhất, và đó chính là lý do tại sao việc tái hiến thân cho Chúa rất thường được truyền giảng. Nhưng thà nói ra cho rõ ràng tính cách đầy đủ trọn vẹn của việc hiến thân cho Chúa, và dứt khoát hỏi người ta rằng họ đang đứng ở phía nào trên lằn ranh của sự hiến thân cho Thượng Đế, và làm sáng tỏ chỗ khác nhau giữa sự hiến thân đích thực với một sự vi phạm việc hiến thân cho Chúa, là điều đòi hỏi phải xưng tội đề được phục hồi địa vị để cứu vãn tình hình thì còn tốt hơn nhiều.
Vậy tôi xin phép đưa ra lời khuyên riêng của mình cho rõ ràng và sắcnét. Mỗi một tín hữu đều đang đứng tại phía này hay phía kia của sự hiến thân cho Chúa. Hoặc là chúng ta đã thực hiện viếc dấn thân suốt đời đó rồi, hoặc là chưa. Hoặc là chúng ta đã trực diện với vấn đề ai là chủ của đời sống cúng ta, hoặc là cứ mỗi lần, chúng ta chỉ được cất đi một tội duy nhất mà thôi. Nếu đã chưa bao giờ có việc cống hiến cả đời sống thì bước đi của quý độc giả sẽ là bước thứ hai. Nếu đã có rồi, thì xét lại tình trạng hiện tại của đời sống đã cống hiến cho Chúa đó, bao giờ cũng hữu ích. Nếu có một lanh vực nào đó của sự hiến thân cho Chúa của một người lỡ bị vi phạm vì một lý do nào đó, thì phương pháp cứu vãn là thú tội với Thượng Đế để được Thượng Đế phục hồi địa vị cho. Chính việc này cũng có thể được thực hiện bất cứ lúc nào - cả khi bạn đang đọc mấy lời này.
CÁC HẬU QUẢ CỦA VIỆC HIẾN THÂN CHO CHÚA
Có rất nhiều hậu quả chi tiết của việc hiến thân cho Thượng Đế, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ xin cô đọng các hậu quả ấy vào hai lãnh vực chính yếu của đời sống. Trước hết, hiến thân cho Chúa liên hệ với ý chỉ Thượng Đế. RoRm 12:2 dạy rằng hậu quả của việc dâng thân thể mình, phân rẽ và biến hóa, là để “nhờ đó anh em có thể tìm biết ý muốn của Thượng Đế, và hiều rõ điều gì tốt đẹp, trọn vẹn, hài lòng Ngài”. Điều này có nghĩa là việc làm và sự hưởng thụ, hài lòng về ý chỉ của Thượng Đế trong cuộc đời này. Một cuộc đời sống trong ánh sáng của ý chỉ Thượng Đế không phải là một đời sống vô tội, nhưng là một đời sống tiến tới trong nẻo đường chính đáng; đó là một đời sống vẫn tăng trưởng và trưởng thành hằng ngày.
Nhưng sự hiến thân cho Chúa cũng có liên hệ với việc được đổ đầy Thánh Linh. Được đầy dẫy Thánh Linh có nghĩa là được Thánh Linh cai trị kiểm soát. Cống hiến đời sống mình cho Thượng Đế có nghĩa là giao quyền cai trị kiểm soát cho Ngài. Như vậy, hiến thân cho Chúa cho phép Thánh Linh đầy dẫy cuộc đời người tín hữu. Một cuộc đời không chịu cống hiến cho Chúa giữ lại cho mình quyền cai trị kiểm soát, do đó ngăn trở Thánh Linh cũng bị vi phạm, thì chức vụ đổ đầu của Thánh Linh cũng bị ngăn trở; nhưng nếu không có sự hiến thân nguyên thủy, thì không ai có thể thật sự từng trải chức vụ sinh động đó của Thánh Linh. Như vậy, hiến thân cho Chúa là điều kiện tiên quyết để được đầy dẫy Thánh Linh, điều đó chưa phải là tất cả mọi sự có can dự vào, nhưng phần còn lại của câu chuyện phải chờ một chương sách khác nữa.
Trên đây là một vài phương diện của việc hiến thân và một cuộc đời cống hiến cho Thượng Đế. Đây là khởi điểm của một đời sống đắc thắng. Nếu không có nó, sẽ chẳng bao giờ có chiến thắng; với nó, nền móng của sự chiến thắng đã được thiết đặt.

TIỀN BẠC VỚI TÌNH YÊU THƯỢNG ĐẾ
Đây là một trong những chứng cứ hiển nhiên quan trọng nhất của tính cách thuộc linh chân chính rất ít được thảo luận trong sách vở hoặc các bài giảng liên hệ đến chủ đề ấy. húng ta rất sẵn sàng để vẽ ra hình ảnh của tính cách thuộc linh bằng nhiều màu sắc về sự thông hiểu Kinh Thánh sâu nhiệm, những thì giờ dài dằng dặc cho sự cầu nguyện, hay ưa điểm của việc làm cho Chúa, là những điều không những có tính cách lừa dối mà còn dễ gây chán nản cho người tín hữu bình thường chẳng bao giờ hình dung ra được các nét đặc trưng ấy như là một phần của đời sống mình. Do đó mà người ấy kết luận rằng những biểu hiện chính yếu đó của tính cách thuộc linh sẽ chẳng bao giờ được nhìn thấy trong cuộc đời mình.
Lẽ tất nhiên, một sinh hoạt thuộc linh sinh động vốn liên hệ với sự thông công với Chúa trong Lời Ngài, với sự cầu nguyện và việc phục vụ Chúa bằng những công việc chúng ta làm cho Ngài. Nhưng tình yêu của chúng ta đối với Thượng Đế còn có thể được chứng minh bằng một cái gì vốn là một thành phần quan trọng trong đời sống mỗi người, và đó là cách sử dụng tiền bạc của chúng ta. Chúng ta sử dụng tiền bạc như thế nào, chứng minh cho thực tại của tình yêu của chúng ta đối với Thượng Đế. Bằng nhiều cách, nó chứng minh cho tình yêu của chúng ta dứt khoát hơn là chiều sâu của kiến thức, chiều dài của những bài cầu nguyện và tính cách nổi bật của sự phục vụ. Những điều này có thể là giả vờ, nhưng cách sử dụng các tài sản của chúng ta chứng tỏ chúng ta thật ra là người như thế nào.
DÂNG TẶNG TIỀN BẠC
Sứ đồ Giăng kết hợp tiền bạc với tình yêu thương của Thượng Đế “Nếu một tín hữu có của cải sung túc, thấy anh em mình thiếu thốn mà không chịu giúp đỡ, làm sao có thể gọi là người có tình thương của Thượng Đế?” (IGi1Ga 3:17). Trước câu này, là một câu dạy rằng chúng ta phải hi sinh mạng sống mình vì anh em để nêu chứng cứ tối hậu của tình yêu thương. Nhưng lẽ dĩ nhiên là đa số các Cơ Đốc nhân chẳng bao giờ có cơ hội làm việc ấy, cả khi họ sẵn sàng bắt lấy cơ hội đó nếu nó đến. Thế thì, làm sao một Cơ Đốc nhân trong các hoàn cảnh bình thường, có thể chứng tỏ tình yêu thương của mình đối với anh em mình, và do đó, là đối với Thượng Đế? Câu trả lời thật đơn giản: Bằng cách dâng tặng tiền bạc và phẩm vật cho anh em mình. Nếu không làm như thế, thì chẳng những người ấy chứng tỏ mình chẳng hề yêu thương gì anh em mình, mà còn chứng minh rằng mình cũng chẳng hề yêu thương gì Thượng Đế nữa. Rất ít có ai không thể ban cho; do đó tất cả mọi người đều có thể nhờ phương tiện này để đo tình yêu thương của mình đối với Thượng Đế. Ban tặng tiền bạc và phẩm vật là phần bộc lộ và là trách nhiệm của một đời sống thật sự thuộc linh.
Vậy, chúng ta làm thế nào để chu toàn phải lẽ trọng trách ấy?
Tân ước chẳng cần biện giải gì cả, mà nhấn mạnh rất nhiều đến chủ đề dâng tặng. Có nhiều lệnh truyền, điều gợi ý thực tiễn, lời cảnh cáo, những gương sáng và lời khuyến giục liên hệ với chức vụ quan trọng này. Xuyên suốt bộ Kinh Thánh, thói keo kiệt, tham lam và hà tiện đều bị tố giác; còn lòng hào hiệp hiếu khách và nhân ái thì được đề cao. Tiền bạc không phải là một chủ đề xác thịt hay thuộc về thế gian này để phải tránh né hay chỉ đề cập sau khi nhiều 'vấn đề quan trọng hơn' đã được dùng chỉ sự thông công giữa chúng ta với Chúa, cũng được dùng chỉ việc thông công là quyên góp tiền bạc (IICo 2Cr 8:4). Điều này nahn mạnh rõ ràng đặc tính thuộc linh của việc dâng tặng tiền bạc. Hơn nữa, dâng tặng tiền bạc còn là một ân tứ thuộc linh (RoRm 12:8) mà tất cả các tín hữu đều có thể được ban cho để sử dụng. Và đó là một ân tứ mà toàn thể các Cơ Đốc nhân đều có thể thực thi bất chấp tình hình tài chính cá nhân.
Khi chúng ta đọc các khúc Kinh Thánh đề cập tiền bạc hoặc kẻ giàu, chúng ta luôn luôn có khuynh hướng ứng dụng chúng cho một người khác nào đó. Chúng ta luôn luôn nhìn vào con người bị liệt vào hạng có lợi tức cao hơn mình và chuyển những lời truyền dạy của những khúc sách như thế sang cho anh ta. Chúng ta rất dễ quyên rằng vẫn còn một ai đó thuộc hạng có lợi tức kém hơn chúng ta đang nhìn vào chúng ta để ứng dụng lời truyền dạy ấy cho chúng ta! Mỗi người chúng ta đều là một kẻ giàu đối với một khác đó; cho nên, những lời truyền dạy này vốn ứng dụng cho toàn thể chúng ta.
Kim chỉ nam cho việc dâng tặng tiền bạc rời rộng phải là thế nào? Chắc chắn khúc Tân ước trình bày ngắn gọn nhất các nguyên tắc dâng tặng tiền bạc là ICo1Cr 16:2 “Anh em nên dành một phần lợi tức theo khả năng Chúa cho từng người, và quyên góp đều đặn mỗi Chúa nhật đừng đợi 'nước tới trôn mới nhảy'. Chỉ trong câu duy nhất này, có bốn nguyên tắc dâng tặng tiền bạc đã được được quy định:
1. Dâng tặng tiền bạc là bắt buộc đối với từng người một - 'anh em....từng người' Ân phúc Thượng Đế không xem việc dâng tặng tiền bạc là một việc làm mà chúng ta được tùy ý chọn lựa để làm hoặc không làm; nó vừa là một đặc ân mà cũng vừa là trách nhiệm của từng Cơ Đốc nhân một, và nó là sự bộc lộ cụ thể tình yêu thương của người ấy đối với Thượng Đế. Dâng tặng tiền bạc là một vấn đề riêng tư, trong đó mỗi người tín hữu phải chịu trách nhiệm trực tiếp và cá nhân với Chúa, dường như người ấy là Cơ Đốc nhân duy nhất trên thế gian này. Bạn dâng tặng gì là công việc riêng của bạn, bao lâu bạn còn dâng tặng và làm việc ấy bằng cách hội ý với Đấng mà trước mặt Ngài mọi sự đều trở thành trần trụi và phơi bày cả ra.
2. Dâng tặng tiền bạc phải theo đúng tỷ lệ “tuỳ theo khả năng Chúa cho”. Trong các nguyên tắc dâng tặng tiền bạc của Tân ước, người ta không thể tìm thấy một luật lệ nào là khắt khe, gay gắt cả. Điều này tương phản rõ rệt với các quy tắc của Cựu ước, đòi hỏi phải dâng cho người Lê-vi một phần mười của mọi tài vật (LeLv 27:30-33), rồi đến lượt họ người Lê-vi lại phải lấy một phần mười của những gì họ nhận được để dâng cho các thầy tế lễ. Thêm vào đó, người Do-thái cũng hiểu là còn phải dành một phần mười thứ hai nữa (một phần mười của chín phần mười còn lại) cho một của lễ thiêng liêng dâng lên tại Giê-ru-sa-lem (PhuDnl 12:5, 6, 11, 18 những người sống quá xa Giê-ru-sa-lem thì có thể đem tiền đến). Hơn nữa, mỗi ba năm lại có một phần mười khác nữa được thu cho người Lê-vi, các khách lạ, trẻ mồ côi và quả phụ (PhuDnl 14:28-29). Như vậy, tỷ lệ đã được quy định hết sức rõ ràng và mỗi người Y-sơ-ra-ên đều phải dâng cho Chúa trên dưới 22 phần trăm lợi tức hằng năm của mình. Trái lại, Tân ước chỉ dạy là “tùy theo khả năng Chúa cho”. Câu này có thể có nghĩa là 8,12,20,50 phần trăm - bất luận là bao nhiêu phần trăm, tùy trường hợ của từng người. Nó cũng có thể có nghĩa là có sự thay đổi về tỷ lệ từ năm này sang năm khác, vì chẳng hề có lý do gì để tin rằng tỷ lệ thích hợp cho năm nay, sẽ là thỏa đáng cho năm sau đó. Như với phần đông các Cơ Đốc nhân, thì khi càng được hưng thịnh thì phải dâng tặng càng nhiều hơn, chớ không nhất thiết phải mua sắm nhiều hơn. Mỗi một lần dâng tặng tiền bạc, Cơ Đốc nhân phải phản ảnh đúng về phước hạnh mà Thượng Đế đã ban cho đời sống mình và quyết định phải dâng trả lại cho Ngài theo tỷ lệ nào. Sự khác nhau về tỷ lệ chỉ có nghĩa như thế này: đây không phải là việc tặng hay giảm chỉ căn cứ vào số tiền dâng tặng mà thôi, nhưng là sự thay đổi tỷ lệ của số lợi tức mà một người dâng nó cho Chúa (điều dĩ nhiên cũng thay đổi số tiền dâng tặng nữa).
3. Dâng tặng tiền bạc là của được dành riêng - 'dành'. Trái với sự tin tưởng thông thường, Cơ Đốc nhân không được dạy bảo phải nộp của dâng tặng của mình vào ngân quỹ của Hội thánh vào mỗi chúa nhật. Từ ngữ Hi văn chỉ 'dành' ở đây, có nghĩa là dành dụm, thu nhặt rồi để riêng ra, chất chồng lên, thâu chứa; còn đại danh từ phản tỉnh cho mình (theo bản Anh văn) cho thấy của dâng tặng ấy phải được giữ riêng, chớ không phải là đưa vào kho tàng công cộng. Bức tranh trong câu này rõ ràng là một ngân quỹ riêng mà người tín hữu bỏ vào đó các của dâng tặng theo một tỷ lệ nhất định nào đó, và người ấy sẽ lấy từ đó ra để phân phối cho nhiều việc làm chính nghĩa đặc thù. Điều này không có nghĩa rằng, hoặc số tiền bỏ vào ngân quỹ ấy, hoặc việc xuất tiền từ ngân quỹ ấy ra để chi trả, là có tính cách định kỳ đều đặn. Nó cũng không hề có nghĩa rằng một sự dâng tặng đều đặn hoặc cả là do thề nguyện là trái với các nguyên tắc dâng tặng tiền bạc của Tân ước (TC IICo 2Cr 8:10-11 là chỗ có sự thề nguyện, khi Phao-lô khuyến giục họ làm trọn lời hứa nguyện kia). Nhưng nó có nghĩa là dầu nhỏ nhặt đến đâu, mỗi ngày đều cần có một số tiền dành riêng ra để sẵn sàng dâng tặng theo sự chỉ dẫn của Thánh Linh, cả thường xuyên lẫn bất thường.
4. Việc dâng tặng phải theo định kỳ - 'mỗi Chúa nhật'. Chúng tôi đã vạch rõ rằng dâng tặng tiền bạc không phải là một việc sai lầm. Việc dành tiền riêng ra để đưa vào chỗ cất giữ phải được thực hiện vào Chúa nhật. Ngày của Chúa là ngày đã được chỉ định để tính toán sổ sách, xác định tỷ lệ, rồi để riêng ra bằng cách cất giữ, lưu trữ. Kinh điển không đề cập nhiều những gì một Cơ Đốc nhân nên làm hay không nên làm vào Chúa nhật, trừ ra việc người ấy phải cùng nhóm lại với các tín hữu khác để thờ phượng (HeDt 10:25) và để dâng tặng tiền bạc (ICo1Cr 16:22). Tuy không cần gì phải biến vấn đề đem của dâng cho Chúa vào Chúa nhật thành ra một nghi lễ thiết tưởng chúng ta cũng không nên xem nhẹ nó. Đấy là một lệnh truyền của Chúa mà chúng ta cần phải quan tâm lưu ý. Tôi đã tập thành thói quen để thực hành việc ấy, và điều dường như khá lạ lùng, là làm việc ấy nhân Chúa nhật dường như lại đem đến một phước hạnh phụ trội. Thường thường thì Ngày của Chúa dường như cũng cung cấp một thì giờ tốt hơn đe quên đi các nhiệm vụ trong tuần lễ hầu suy nghĩ càng rõ ràng và cặn kẽ hơn về vấn đề quan trọng này. Có một sinh viên của tôi đã thử làm như thế suốt một năm và chứng thực phước hạnh nó đã em đến cho gia đình anh. Vì nhờ cả nhà anh nhóm lại với nhau vào buổi chiều Chúa nhật để cùng suy nghĩ, cầu nguyện về những gì họ đã dâng cho Chúa, mà các mối dây liên hệ thuộc linh giữa họ đã được củng cố thêm. Một khi Thượng Đế đã gợi ý như vậy, chăc chắn nó là điều rất xứng đáng cho chúng ta cố gắng thử xem.
Nhưng có người sẽ bảo tại sao lại phải bận tâm với tất cả những việc đó như vậy? Tại sao lại chẳng lấy vừa đúng một phần mười của tất cả các ngân phiếu chúng ta lãnh được, rồi bỏ vào hộp (hay túi hoặc dĩa) thu tiền dâng vào Chúa nhật tuần sau? Từ ngữ phần mười chỉ thấy trong Tân ước có tám lần mà thôi (Mat Mt 23:23; LuLc 11:42; 18:12; HeDt 7:5, 6, 8, 9). Trong những lần được đề cập trong các sách Phúc âm, nó được dùng liên hệ với việc mà người Pha-ri-si vẫn làm để giữ trọn vẹn mà luật pháp Mai-sen bắt buộc họ. Trong mấy lần được đề cập trong thư Hy-bá, phần mười được dùng để chứng minh rằng chức vụ tế lễ của người Lê-vi vốn thấp kém hơn chức vụ tế lễ của Mên-chi-xê-đéc. Vì Lê-vi nộp các phần mười qua trung gian Áp-ra-ham lúc Áp-ra-ham gặp Mên-chi-xê-đéc, ông đã chứng minh là mình thừa nhận tính cách cao trọng hơn của Mên-chi-xê-đéc và của chức vụ tế lễ của vua ấy. Khúc sách ấy đã không được tiếp tục để bảo rằng (một cách mặc nhiên, theo ngụ ý) do đó, chúng ta là Cơ Đốc nhân, cũng phải dâng một phần mười cho Chúa Cứu thế, là Thầy Tế lễ Tối cao của chúng ta.
Phần mười rõ ràng là một phần của luật pháp Mai-sen (LeLv 27:30-33) và là một yếu tố quan trọng trong thể chế của dân Y-sơ-ra-ên. Luật pháp chẳng bao giờ được ban bố cho ngời ngoại quốc và đã công nhiên bị bãi bỏ đối với các Cơ Đốc nhân (RoRm 22:14; IICo 2Cr 3:7-13; HeDt 7:11, 12). Cả lời lẽ trong Mal 3 cũng không được dành cho Cơ Đốc nhân, vì người tín hữu căn cứ vào đâu để tự nhận mình là một con trai của Gia-cốp, mà khúc sách ấy đang ngỏ lời (c.6)? Hơn nữa, ngày nay, phước hạnh vật chất không hề đươc hứa ban cho như một phần thưởng tự động cho lòng trung tín trong bất kỳ một lãnh vực nào của nếp sống sinh họat Cơ Đốc nhân, kể cả lãnh vực dâng tiền bạc. Điều mà Thượng Đế hứa ban cho, là phước hạnh thuộc linh (Eph Ep 1:3) và việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất (Phi Pl 4:19). Được hưng vượng về mặt vật chất không nhất thiết là dấu hiệu của sự tin kính sâu nhiệm bằng việc trung tín dâng phần mười; và ngược lại, sự nghèo thiếu không phải là dấu chỉ cho thấy việc đi sai lệch khỏi ý chỉ Thượng Đế (TC trường hợp của chính Phao-lô trong 4:12).
Nhưng ta có thể thắc mắc đặt vấn đề vì dâng phần mười từng được thực thi trước khi có luật pháp, phải chăng sự kiện ấy biến tất cả những gì đã được nói trên đây thành bất hợp thời, và dâng phần mười vẫn được xem là nguyên tắc thích hợp phải noi theo khi dâng tặng tiền bạc? Vì cả Áp-ra-ham la0n Gia-cốp đều từng dâng phần mười, và vì các hành động ấu của các vị vốn có trước luật pháp, phải chăng việc ấy khiến cho việc dâng phần mười phục hồi được các góc cạnh hợp (với luật) pháp của nó, và khiến nó trở thành một nguyên tắc có giá trị để noi theo ngày nay? Câu tả lời sẽ là phải, nếu không có những chỉ dẫn nào khác đã được ban ra trong Tân ước. Nếu Tân ước im lặng về vấn đề này thì lẽ dĩ nhiên chúng ta phải tìm sự chỉ dẫn ở bất cứ chỗ nào chúng ta có thể tìm ra được trong Kinh Thánh, nhưng vì Tân ước có nêu ra cho chúng ta nhiều nguyên tắc rõ ràng để cai trị việc dâng tặng tiền bạc của chúng ta, cho nên chúng ta chẳng cần gì phải quay lui trở về với hai tấm gương lẻ loi ấy trong Cựu ước để tìm sự chỉ dẫn. Sự kiện một điều gì đó đã được thi hành trước khi có luật pháp, rồi sau đó được đưa luôn vào trong luật pháp không nhất thiết biến điều ấy thành một gương sáng cho ngày nay, nhất là nếu Tân ước có đưa ra sự chỉ dẫn thêm về vấn đề ấy. Ngay cả người dâng phần mười nhiệt thành nhất cũng không thể bảo rằng ngày nay, chúng ta phải giữ ngày Sa-bát, bởi vì nó đã được tuân giữ trước khi luật pháp (XuXh 16:23-26), thế nhưng đó chính lại lý luận đã được dùng để đề cập phần mười hiện nay. Tân ước đã dạy chúng ta về một ngày mới để thờ phượng, mà cũng ban cho chúng ta nhiều chỉ dẫn mới để dâng tặng tiền bạc. Bảo rằng ngày nay phải dâng một phần mười theo gương những người đã làm việc ấy trước khi có luật pháp, sẽ có nghĩa rằng chỉ có 10 phần trăm những gì người ta có sẽ được dành cho Chúa mà thôi, và việc ấy cũng chỉ xảy ra nhân một số các cơ hội nào đó mà thôi; dâng phần mười căn cứ theo lời truyền dạy của luật pháp sẽ có nghĩa là 22 phần trăm sẽ được dâng cho Chúa để trả phần chúng ta mắc nợ Ngài; nhưng dâng tặng căn cứ vào các nguyên tắc của Tân ước có thể có nghĩa là bất kể bao nhiêu phần trăm, và việc dâng tặng được thừa nhận là 100 phần trăm đều thuộc cả về Ngài. Công việc chia xẻ chẳng bao giờ thiếu hậu thuẫn nếu chúng ta truyền giảng và thực hành các nguyên tắc dâng tặng tiền bạc theo Tân ước.
Dâng tặng tùy theo khả năng không phải là bắt đầu với một phần mười, rồi dâng thêm nữa khi nào chúng ta có thể dâng thêm. Dâng tặng tùy theo khả năng là dâng tặng tùy theo mức hưng thịnh mà Thượng Đế ban cho chúng ta. Nếu có ai sau khi cầu nguyện mà cảm thấy tỷ lệ phải lẽ mình nên dâng là 10 phần trăm, thì tôi xin gợi ý người ấy hãy dâng 9 hoặc 11 phần trăm để tránh con số 10 phần trăm chẵn đi. Người dâng 9 hoặc 11 phần trăm sẽ tự cảm thấy mình dễ thay đổi cái tỷ lệ 'tùy theo khả năng' mà Chúa đã dạy hơn là nếu người ấy dâng 10 phần trăm.
Mỗi một tín hữu đều nợ 100 phần trăm đối với Thượng Đế về tình trạng hiện tại của mình cũng như về những gì mình đang có. Thế thì, vấn đề không phải chỉ là tôi phải dâng bao nhiêu, nhưng cũng là bản thân tôi tiêu pha bao nhiêu. Chỉ có phương pháp dâng theo tỷ lệ, tùy khả năng, mới có thể đưa ra lời đáp đúng cho vấn đề này và cho mỗi một giai đoạn của đời sống. Sở dĩ chúng ta dâng tặng, là vì chính Ngài đã ban cho, chớ không phải là vì Ngài đã truyền dạy; chúng ta dâng tặng là vì chúng ta muốn dâng tặng, chớ không phải vì chúng ta bị bắt buộc phải dâng tặng; chúng ta dâng tặng là vì chúng ta yêu mến Ngài,v à chúng ta chứng tỏ tình yêu thương một cách cụ thể nhất bằng cách ấy. Nếu đến lượt Ngài, Thượng Đế ban phước cho chúng ta về phương diện vật chất, chúng ta ca ngợi tán tụng Ngài; nếu không, chúng ta vẫn cứ ca ngợi Thượng Đế, và đây là chứng cứ cho tình yêu thương Thượng Đế của chúng ta.
Nhiều năm trước đây, Lewis Sperry Chafer có viết mấy lời thật trau chuốt về chủ đề “Dâng (tặng tiền bạc) theo sự chỉ dẫn của Thánh Linh”. Ông định nghĩa việc này là “chỉ trông cậy Đức Thánh Linh hướng dẫn các của dâng tùy trường hợp riêng của từng người, và sau đó, sẵn sàng sống bằng các hậu quả của lòng tin quyết và trông cậy đó”. Tuy ông không hề phủ nhận nhu cầu phải biết rõ các nhu cầu, ông diễn tả nỗi lo sợ rằng “có quá nhiều các Hội thánh của chúng ta đã được huấn luyện để chỉ đáp ứng cho lời kêu cứu thống thiết của con người ta mà thôi, và việc làm ấy, cũng như một số thuốc men, đòi hỏi một liều lượng cứ ngày càng gia tăng để tạo ra tác dụng mong muốn”. Thực thi nguyên tắc thông tin không chút phân vân, D.M.Stearps thường đọc cho hội chúng của mình các thư từ do các cán bộ Cơ Đốc giáo gởi đến rồi dạy họ cứ giữ lại các của dâng của họ, trừ phi khi nào không dâng tặng sẽ là gánh nặng (không chi nổi) đối với tâm hồn họ. “Người dâng tiền phải thận trọng giữ mình khỏi bất kỳ một hình thức nào và tất cả mọi hình thức của áp lực của con người sẽ có thể dẫn người ấy đi sai lệch trong việc chu toàn trách nhiệm mà Thượng Đế đã giao phó cho mình, cái trách nhiệm phải tìm cho ra và làm đúng theo ý chỉ Thượng Đế!... Phải chăng việc dâng tiền bạc của bạn là vâng theo tiếng nói êm dịu, nhỏ nhẹ của Thánh Linh Thượng Đế? Phải chăng chính bạn cũng là một phần trong cái hệ thống vĩ đại của đạo Ngài?” Đó là sự dâng tặng tiền bạc theo ân phúc Thượng Đế, vì đó mới chính là sự dâng tặng được Thánh Linh hướng dẫn, và đây là một trong nhiều từng trải phước hạnh nhất mà một tín hữu có thể có được.
MUA SẮM
Nhưng dâng tặng tiền bạc chỉ là phân nửa câu chuyện về tiền bạc và tình yêu thương Thượng Đế của chúng ta. Nếu tất cả mọi sự đều từ Chúa mà ra và thuộc về Ngài, và nếu chúng ta đã hiến thân cho Ngài, thì chẳng những chỉ có những gì chúng ta dâng cho Ngài mới quan trọng, mà cả đến những gì chúng ta tự tiêu pha cho bản thân cũng là một dấu chỉ của tình yêu thương của chúng ta nữa. Thật là một sai lầm về lý luận khi tưởng rằng sau khi chúng ta đã dâng một phần lợi tức cho Chúa rồi, thì phần còn lại là thuộc về chúng ta. Tất cả đều là của Ngài, chúng ta chỉ được sử dụng một phần trong s đó cho bản thân mà thôi.
Tuy lợi tức trung bình của gia đình đã tăng lên rất nhiều so với mấy năm trước đây, lời than phiần phổ quát vẫn là “Tôi không có đủ tiền”. Mỗi người dường như đều muốn có nhiều hơn, và tự nó, điều ấy vốn không phải là sai lầm. Tuy nhiên, người ta phải ngạc nhiên tự hỏi thiên hạ cần có nhiều tiền hơn là nhằm mục đích gì? Dường như có rất ít người mà theo họ, thì mục đích ấy là để tăng thêm phần dâng tặng cho công việc Chúa. Sau khi đã xem xét mọi sự, thì mục đích trong quá nhiều các trường hợp dường như là để có thêm nhiều vật dụng hơn. Ngày nay, nếp sống kinh tế, sung túc đã trở thành nếp sống cần thiết.
Nhưng chắc có người đang suy nghĩ rằng có thêm nhiều tài vật, thì có gì sai quấy? Những điều vốn là xa xí phẩm của thế hệ trước, nhưng bây giờ lại trở thành nhu yếu phẩm cho thế hệ này, thì có gì là tiến bộ hay sao? Và phải chăng Thượng Đế không muốn cho chúng ta hưởng thụ mọi sự? Dầu sao thì Kinh Thánh đâu có định tội các đồ vật - nhưng chỉ lên án lòng yêu thích, ham hố các đồ vật mà thôi.
Chẳng có gì để thắc mắc, là cách sử dụng tiền bạc của Cơ Đốc nhân là đối tượng của những xô đẩy, chèn ép từ mọi phía, dầu là từ kỹ nghệ quảng cáo, chính các dục vọng của chúng ta, hay từ cái thế giới đang vây quanh ta. Mỗi một con cái Chúa cần được giúp đỡ để phát giác đâu là đúng đâu là sai trong việc sử dụng tiền bạc, nhất là trong một thời đại của sự hưng thịnh và có đầy đủ việc làm. Nếu tình hình đang khó khăn và tiền bạc khan hiếm, thì nhiều vấn đề chắc sẽ tự động biến mất đi. Có một sự thật hiển nhiên mà người ta rất thường hay quên, ấy là người ta dễ sống bởi đức tin khi mình không có tiền hơn là khi mình có tiền. Dầu sao thì khi bạn chỉ có đôi tay trắng, bạn sẽ phải ít lựa chọn hơn việc mình phải sống như thế nào. Bạn sẽ có khuynh hướng nếu không thật sự bị bắt buộc, sống hoàn toàn trông cậy nơi Chúa nhiều hơn. Nhưng một khi bạn đã có tiền gởi trong ngân hàng, thì bạn phải chọn lựa. Bạn có thể tiêu tiền bởi đức tin hay tiêu pha theo sự điều khiển, hướng dẫn của bản ngã. Như thế, trong hoàn cảnh dư dật thừa thải, điều trở thành quant rọng hơn hết là phải sử dụng thích đáng những gì Thượng Đế ban cho chúng ta.
Kinh Thánh dạy gì về cách sử dụng tiền bạc? Phải chăng các xa xí phẩm là thuộc về thế gian này? Chẳng hạn có thể nào sắm một chiếc ô tô mới, một chiếc ô tô to nữa, là theo ý chỉ Thượng Đế, hay không? Lẽ dĩ nhiên là Kinh Thánh không bảo một số đồ vật cá biệt nào đó là đúng hay sai nếu chúng ta mua sắm chúng. Nhưng Kinh điển có nêu ra một số nguyên tắc rõ ràng để chỉ đạo cách sử dụng mọi loại tiền bạc, vì Thượng Đế không những chỉ quan tâm dâng cho Ngài, mà chú ý đến 100 phần trăm số tiền bạc mà chúng ta có.
Khúc Kinh Thánh nêu ra các nguyên tắc ấy lại rất ít khi được nghĩ đến khi tiền bạc được đề cập; đó là ITim 6. Có một nét lý thú của ITi-mộ thư, là mối liên hệ giữa các giáo sư giả với tiền bạc. Thế nhưng đó không phải là một sự liên hệ gây ngạc nhiên, vì các giáo sư giả thường là vị kỷ trong việc tham tiền, và tà giáo sẽ ảnh hưởng đến cách sử dụng tiền bạc thích đáng cũng nhanh nhạy như bất luận một phương diện này của đời sống. Một thái độ không đúng theo Kinh điển đối với tiền bạc là một nguy cơ thuộc linh vĩ đại.
Tương phản với lời dạy của các giáo sư giả, nguyên tắc chỉ đạo toàn diện của Phao-lô liên hệ đến của cải là “Niềm tin kính và lòng mãn nguyện là lợi ích lớn” (ITi1Tm 6:6). Lợi ích lớn không nhất thiết phải do hai chiếc ô tô để trong nhà xe mới có, nhưng nó do niềm tin kính và lòng mãn nguyện. Từ ngữ lợi ích này có nghĩa là 'các nhu cầu căn bản' tin kính và mãn nguyện là nhu cầu căn bản của đời sống Cơ Đốc nhân. Bất chấp một người có gì khác, nhưng nếu không có điều này, thì người ấy chỉ có một thượng tầng kiến trúc không có phần nền móng.
Tin kính là gì? Nó bao gồm ít nhất là những gì Phao-lô mô tả trong câu 11, như công chính, đức tin, yêu thương, nhẫn nại, hiền hòa. Mãn nguyện bao gồm các nguồn tài nguyên nội tâm do ân phúc Thượng Đế đặt vào đời sống người tín hữu, khiến người ấy mãn nguyện với mọi hoàn cảnh đổi thay của cuộc đời. Đó là sự mãn nguyện vì biết rằng “ở đâu và lúc nào...tôi vẫn luôn vui thỏa” (Phi Pl 4:12). Điều đó không có nghĩa là người ta đừng bao giờ nên thử cải thiện số phận của mình trong đời này, nhưng có nghĩa rằng mãn nguyện bao hàm việc học tập để biết yêu mến ý chỉ Thượng Đế bất chấp các hoàn cảnh có đưa đẩy con người ta tới đâu đi chăng nữa. Gặp thiếu thốn cũng hài lòng, được dư dật cũng vui thỏa - và nhớ rằng nhiều khi người ta rất khó mãn nguyện khi được dư dật hơn là khi gặp thiếu thốn. Đây là nguyên tắc quan trọng đầu tiên để hướng dẫn người tín hữu đi xuyên suốt cái mê cung là cuộc đời sống dư dật, sung túc.
Trong các điều kiện của sinh hoạt hằng ngày ngoài nhiều điều khác ra, nguyên tắc có nghĩa rằng việc mua sắm các vật dụng theo kiểu mới nhất không phải là vấn đề quan trọng nhất không phải là vấn đề quan trọng nhất trên đời. Người tín hữu không có đủ thứ vật dụng thuộc đời mới nhất vây quanh mình chớ nên chán nản thất vọng cả khi nếu những người láng giềng và các Cơ Đốc nhân khác chỉ nhìn thiên hạ ở bề ngoài mà thôi. Trong lòng các con cái Ngài, Chúa muốn tìm thấy trước nhất là niềm tin kính có thể chứng tỏ lòng yêu mến các tài vật và là một bằng cớ của việc chúng ta thiếu lòng yêu mến Thượng Đế.
Xin đừng có ai tưởng rằng, nguyên tắc này bào chữa cho kẻ ở dưng, suốt ngày chỉ suy gẫn viễn vông, mà chẳng quan tâm gì đến các trách nhiệm tài chánh. Phao-lô đã vạch ra rất rõ ràng rằng Cơ Đốc nhân bị bắt buộc phải cấp dưỡng cho người phục vụ (minister: mục sư) mình (ITi1Tm 5:17, 18) cũng như cho gia đình mình (5:8). Không làm việc này là tự xếp mình vào hạng người còn tồi tệ hơn là bất trung nữa.
Một nguyên tắc quan trọng khác nữa của chương sách này là: Đừng tham mê tiền bạc hay những gì mà nó có thể mua được. “Vì lòng ham mê tiền bạc là căn nguyên của mọi tội ác” (6:10). Một mặt, nó có nghĩa rằng Cơ Đốc nhân đừng bao giờ nên ham mê tiền bạc hoặc những gì nó có thể mua được. Mặt khác, mệnh lệnh này không hề dạy rằng Cơ Đốc nhân không được hưởng thụ những điều Thượng Đế ban cho mình nếu chúng được đặt trong viễn cảnh thích đáng và được mua sắm theo ý chỉ Thượng Đế. Điều cũng quan trọng là sự kiện câu này không hề dạy rằng tiền bạc tự nó là xấu, nhưng chỉ có thái độ của người ta đối với nó mới có thể là xấu, là ác mà thôi. Lẽ dĩ nhiên là ngay trong chính chướng sách này, Phao-lô đã bảo rằng Thượng Đế rộng rãi ban mọi vật cho chúng ta được hưởng (c.17). Có một số người ngoan đạo giả hiện vốn hãnh diện hay tỏ ra khiêm tốn giả dối về những gì họ không có! Một khi chính Thượng Đế đã ban cho bạn một vật gì đó, thì không nên tỏ ra thái độ khiên tốn giả dối hoặc cả cảm thấy xấu hổ nữa. Và nếu quả thật đó là một điều gì mới mẻ trong ý chỉ Thượng Đế, thì hãy tạ ơn Ngài, hưởng thụ nó, và đừng tỏ ra e thẹn, xấu hổ vì mình vừa có được một cái gì tốt đẹp, mới mẻ. Mặt khác, nếu một vật dụng kiểu cũ của năm trước đã là tốt lắm rồi, trong khi các Cơ Đốc nhân khác lại mua sắm vật dụng ấy thuộc 'đời' mới nhất, bạn hãy để cho niềm tin kính và lòng mãn nguyện - tức là lòng không yêu mến đồ vật - cai trị lòng mình. Một điều cũng quan trọng cần ghi nhớ là mua một vật gì đó với giá hạ không nhất thiết khiến nó trở thành phải lẽ đâu. Đồ vật mua sắm có thể là sai quấy dầu được mua bằng bất cứ giá nào.
Lẽ dĩ nhiên là có rất nhiều 'đồ vật', tự chúng, vốn chẳng có đặc tính luân lý đạo đức chi cả. Chính thái độ của người tín hữu đối với các đồ vật, chớ không phải tự thân các đồ vật ấy, mới tạo ra tốt xấu đúng sau. Một chiếc xe hơi chẳng có gì xấu cả. Một chiếc ô tô mới chẳng có gì xấu cả. kiểu đẹp nhất của một chiếc ô tô mới cũng chẳng có gì xấu. Nhưng sử dụng một chiếc xe hơi rẻ tiền nhất có thể là một điều xấu rõ ràng, vì Cơ Đốc nhân ấy đã bị choáng váng vì nợ nần, lại keo kiệt trong việc dâng tiền cho Thượng Đế nữa. Hệ thống của đời này vẫn loại hẳn Thượng Đế ra bên lề. Cho nên, bất luận một việc mua sắm nào loại trừ Thượng Đế ra, cũng là 'bắt bồ' với hệ thống trần gian. Người ta lý luận “Cái đó đắt tiền quá!” và người ta hợp lý hóa nó. “Nhưng đó là giá hạ, bán rẻ mà!” Đó không phải là lối lý luận bào chữa được cho việc mua sắm một số tiền nào nào ngoài ý chỉ của Thượng Đế.
Như vậy, giáo lý về việc phải mua sắm như thế nào, hay phải chứng tỏ lòng yêu mến Thượng Đế trong bất cứ tình hình kinh tế nào, về cơ bản, là thế này: 1. Hãy học tập mãn nguyện theo ý chỉ Thượng Đế trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc đời; và 2. Yêu mến Thượng Đế hơn bất kỳ một 'đồ vật' nào dẫn chúng ta đã có nó rồi, hay đang ao ước nó. Khi sự hưng vượng đến như nhiều tín hữu đã gặp, Cơ Đốc nhân thuộc linh sẽ lợi dụng nó để dâng tặng càng nhiều hơn cho Chúa (theo khả năng, tỷ lệ, chớ không phải chỉ căn cứ vào số tiền mà thôi), chớ không nhất thiết là để mua sắm thêm.
Phao-lô kết thúc chương sách về các nguyên tắc để quản lý tài chính cá nhân này bằng lời nhắc nhở (và nên nhớ rằng mấy lời này không phải chỉ áp dụng cho những người thuộc hạng có lợi tức cao hơn mà thôi, nhưng nó áp dụng cho phần lớn Cơ Đốc nhân ngày nay) “Con hãy khuyên bảo người giàu có ở đời này: đừng kiêu ngạo và tin tưởng nơi tiền của không bền lâu, nhưng phải đặt hy vọng nơi Thượng Đế, Đấng rộng rãi ban mọi vật cho chúng ta được hưởng. Hãy khuyên họ làm điều lành, chuyên lo việc từ thiện, mở lòng rộng rãi và sẵn sàng cứu trợ, tích trữ một kho tàng tốt đẹp cho đời sau để được hưởng sự sống thật” (ITi1Tm 6:17-19).
Một Cơ Đốc nhân thuộc linh sẽ dâng tiền bạc cho Chúa thật đầy đủ trong khi vẫn làm việc thật đầy đủ, lạm phát trong việc dâng tiền trong một nền kinh tế lạm phát, và luôn luôn thận trọng trong việc mua sắm. Và do cách người ấy sử dụng cả số tiền mình có, người ấy sẽ chứng minh được hay không chứng minh được tình yêu thương của mình đối với Thượng Đế.
LỢI DỤNG CÁC ÂN TỨ
Một trong những cách dùng chính của từ ngữ thuộc linh là để chỉ các ân tứ thuộc linh mà Thượng Đế ban cho người thuộc về Ngài (RoRm 1:11; ICo1Cr 12:1; 14:1). Đó là các ân tứ tuộc linh, bởi vì Thánh Linh đã ban chúng cho họ, và việc sử dụng chúng một cách thích đáng, phải lẽ, là trách nhiệm của người sống đời sống thuộc linh. Thế nhưng có nhiều tín hữu lại chẳng hề có quan niệm gì về ý nghĩa của các ân tứ thuộc linh, chẳng hay biết gì về ân tứ của họ là gì, và chẳng biết phải lợi dụng các ân tứ ấy như thế nào để phục vụ người khác; hệ quả là họ không thể sống để biểu hiện đầy đủ đời sống thuộc linh của mình. Trái lại, người thuộc linh thì biết và lợi dụng các ân tứ thuộc linh của mình.
MỘT ÂN TỨ THUỘC LINH LÀ GÌ?
Tuy từ ngữ Hi văn chỉ ân tứ thuộc linh đã được dùng theo một ý nghĩa hết sức rộng rãi trong Tân ước, nó thường ám chỉ các ân tứ hoặc khả năng đặc biệt mà Thượng Đế phú cho con người. Ngoại trừ ở IPhi 1Pr 4:10, từ ngữ này chỉ được một mình Phao-lô sử dụng trong Tân ước mà thôi. Có ba chỗ, chủ đề đã được thảo luận chi tiết - RoRm 12:1-21; ICo1Cr 12:1-31 và Eph Ep 4:1-33. Một ân tứ thuộc linh là một tài năng thiên phú để phục vụ Ngài. Câu định nghĩa đơn giản này bao hàm nguồn gốc của các ân tứ (thiên phú: do Thượng Đế ban), ý nghĩa của các ân tứ (tài năng), và mục đích mà các ân tứ nhằm vào (phục vụ Chúa). Nếu chúng ta in trí rằng một ân tứ thuộc linh trước hết là một tài năng, nó sẽ giúp chúng ta khỏi lẫn lộn như nhiều người vẫn hay nhằm lẫn về chủ đề này. Nhiều người tưởng rằng một ân tứ thuộc linh là một chức vị trong Hội thánh, chỉ có một số ít người được đặc ân đặc quyền mới có thể chiếm giữ mà thôi. Nếu không phải như thế, thì họ lại xem các ân tứ thuộc linh vốn vượt khỏi tầm tay của người tín hữu bình thường mà hi vọng cao nhất của họ chỉ là có một ngày nào đó, họ tình cờ phát giác ra một ân tứ nhỏ nhặt nào đó và được phép thực thi nó trong một phạm vi hết sức nhỏ hẹp. Cả hai cách quan niệm trên đây đều là sai.
Một ân tứ (thiên tử) trước hết, là một tài năng được phú cho một cá nhân. Điều này có nghĩa là ân tứ không phải là một vị trí, một địa vị để phục vụ, vì ân tứ là một tài năng, chớ không phải là nơi là chỗ để thi thố cái tài năng ấy. Chẳng hạn ân tứ làm mục sư thường được kết hợp với chức vị hay địa vị của một người có thể chiếm giữ trong hàng mục sư. Nhưng ân tứ là cái tài năng để chăm sóc người khác như người chăn chiên lo lắng chăm sóc bầy chiên vậy, bất chấp công tác ấy được thực hiện ở đâu. Lẽ dĩ nhiên, người chiếm giữ địa vị mục sư phải có và thực thi ân tứ của vị mục sư, nhưng một ông hiệu trưởng của một trường học Cơ Đốc giáo thì cũng phải làm như vậy. Lẽ dĩ nhiên (tuy việc này thoạt nhìn có vẻ kỳ lạ), tại sao một nữ Cơ Đốc nhân lại không thể được ban cho ân tứ của vị mục sư để sử dụng giữa đám trẻ con trong xóm, hay trong lớp học Trường Chúa nhật của bà ta, hay với tư cách là nữ hiệu trưởng? Tôi không hề ngụ ý bảo rằng các phụ nữ phải trở thành mục sư cho các Hội thánh để làm công tác giảng dạy và lãnh đạo tín đồ. Tôi nghĩ rằng chức vụ hay địa vị mục sư chỉ dành riêng cho các ông mà thôi; nhưng điều đó không có nghĩa rằng cái ân tứ hay cái tài năng đó không thể được ban cho các bà. Bạn há chưa từng biết một phụ nữ nào phục vụ với tư cách người thăm viếng hội chúng của Hội thánh (và thường là được Hội thánh cung lương cho nữa) hay sao?
Một thí dụ rất hay nữa để soi sáng cho điểm khác nhau giữa ân tứ và nơi mà nó được thực thi, là ân tứ dạy dỗ. Phần đông chúng ta đều kết hợp ân tứ dạy dỗ với quang cảnh của một lớp học chính thức. Lẽ tất nhiên là cái ân tứ ấy phải được thực thi tại đó, nhưng nó vẫn còn có thể được lợi dụng trong nhiều tình huống khác nữa. Người phụ nữ thân yêu đang kiên trì và tự nguyện hướng dẫn câu lạc bộ Kinh Thánh mà các con tôi nhóm lại hằng tuần trong nhà xe, tại nhà của người bạn của tôi, há không phải cũng đang thực thi ân tứ dạy dỗ hay sao? Đây không phải là một khung cảnh của một trường học chính thức nhưng một phần lớn công tác dạy dỗ vẫn được thực thi tại đó. Lẽ dĩ nhiên là Kinh điển có khuyên giục các phụ nữ, cao tuổi “huấn luyện phụ nữ trẻ tuổi biết yêu chồng thương con” (Tit Tt 2:4). Ở đây, việc dạy dỗ đã được thực thi trên cơ sở cá nhân. Ân tứ là tài năng, chớ không phải là nơi chốn mà tài năng ấy được sử dụng. Hội thánh của Chúa Cứu Thế sẽ được lợi ích lớn lao biết bao, nếu mỗi một thành viên đều nhận thức được rằng mình có thể lợi dụng các ân tứ thuộc linh bất kỳ lúc nào và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Một ân tứ thuộc linh không phải trước hết là một nơi chốn để phục vụ; cũng không phải là một chức vụ dành riêng cho một hạng tuổi nào đó. Ta thường nghe có người bảo rằng mình có ân tứ để công tác với thanh niên. Thật ra, đã không hề có một ân tứ như vậy (cũng như chẳng hề có một ân tứ để công tác với người già - một ân tứ thuộc linh mà tôi chưa hề nghe một người nào xưng là mình vốn có!). Đúng ra thì các hạng tuổi khác nhau chỉ là những nơi tiếp nhận khi các ân tứ được thực thi. Lẽ tất nhiên là có nhiều kỹ thuật chuyên môn cho các hạng tuổi khác nhau, nhưng ân tứ thuộc linh là cái tài năng căn bản Chúa ban, được dẫn truyền qua nhiều kỹ thuật khác nhau để đến được với nhiều người khác. Cũng có nhiều phương pháp có thể lợi dụng khi thực thi các ân tứ, nhưng các phương pháp ấy không phải là chính các ân tứ. Chẳng hạn viết là một phương pháp nhưng dạy dỗ và khuyến giục là các ân tứ có thể được sử dụng trong một chức vụ nói miệng hay viết lách. Như vậy, ân tứ thuộc linh tự nó vốn đã là một ân tứ, chớ không phải là nơi chốn hay cái phương pháp trong đó hoặc bởi đó cái tài năng ấy được thực thi.
Có lẽ một thí dụ minh họa sẽ giúp làm sáng tỏ thế nào là một ân tứ thuộc linh. Tôi biết một người nọ rõ ràng là có ân tứ (thiên tư) làm việc bằng đôi tay. Người ấy có thể làm bất cứ việc gì. Trong nhà ông ta có nhiều hang động ghép bằng ván thật đẹp do chính tay ông ta làm ra. Tân trang hay sửa chữa các vật dụng trong nhà thì đối với ông ta chẳng có gì là khó khăn cả. Tuy nhiên, làm các công việc ấy vốn không phải là nghề nghiệp của đời sống ông. Ông ta là một nha sĩ. Và ông ta là một nha sĩ giỏi, vì cùng một tài năng đã được chứng minh qua tất cả những gì ông ta đã tự làm lấy ở nhà, cũng khiến cho vàng được giát thật vừa vặn vào các chiếc răng của bạn. Ân tứ (thiên tư) của ông ta là gì? Không phải là nghề nha sĩ (đó là địa vị hay chức vụ của ông ta), cũng không phải là nghề thủ công trên gỗ hay trên vàng (đó chỉ là các phương pháp mà ông ta lợi dụng). Đó là tài năng làm thủ công. Cũng vậy, các ân tứ thuộc linh không phải là những địa vị mà chúng ta chiếm giữ trong Hội thánh, cũng không phải là các phương pháp chúng ta sử dụng, chúng là các tài năng căn bản Chúa ban để chúng ta phục vụ Ngài.
ĐÂU LÀ CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH?
Kinh Thánh liệt kê hơn một chục đủ đầy các ân tứ thuộc linh đặc thù. Các ân tứ thuộc linh đã được liệt kê đặc biệt trong Kinh Thánh (không phải tất cả đều nhất thiết phải được ban cho từng thế hệ một), là các ân tứ sau đây: làm sứ đồ nói tiên tri, làm phép lạ, nói các ngoại ngữ (tiếng lạ), truyền giảng Phúc âm, làm mục sư, phục dịch, biện biệt các linh, bày tỏ lòng thương xót, bố thí và cai trị. RoRm 12:1-21; ICo1Cr 12:1-21 và Eph Ep 4:1-32 đưa ra phần truyền dạy chính yếu về vấn đề này trong Tân ước. Tuy nhiên, có ba trng số các ân tứ ấy, có lẽ là toàn thể các Cơ Đốc nhân đều có thể có và đưa ra sử dụng nếu họ muốn. Đó là phục dịch, cứu tế và an ủi người đau khổ (tỏ lòng thương xót) (RoRm 12:7, 8). Phục dịch có nghĩa là phục vụ; trong ICo1Cr 12:28, cùng một ân tứ ấy đã được gọi là người phục vụ (giúp đỡ). Đó là tài năng căn bản để giúp đỡ người khác, và chẳng hề có lý do nào để từng Cơ Đốc nhân một không thể có và sử dụng ân tứ này. Lẽ tất nhiên là một Cơ Đốc nhân thuộc linh phải thực thi ân tứ ấy. An ủi người đau khổ (bày tỏ lòng thương xót) có bà con với bố thí và phục dịch, và bao gồm việc tiếp cứu những người đang đau yếu hay gặp khó khăn. “Đối với Thượng Đế - Cha chúng ta - người theo Đạo thanh khiết, không tì vít, là săn sóc các cô nhi quả phụ...” (Gia Gc 1:27). Không phải tất cả mọi người đều được ban cho cơ hội bằng nhau để làm việc này, nhưng nếu không có loại hành động này, sẽ không thể có tính cách thuộc linh chân chính. Bố thí là tài năng phân phát tiền riêng của mình cho tha nhân, và việc này phải được thực hiện thật đơn giản, nghĩa là chẳng hề nghĩ đến việc được báo đáp hay lợi lộc cho bản thân bất luận bằng cách nào. Trong chương trước, chúng ta đã thấy nào việc dâng tặng tiền bạc chứng minh rằng người ấy có thuộc linh hay không dưới mắt Thượng Đế.
Vậy, có thể chúng ta nói đúng, rằng mỗi một Cơ Đốc nhân đều có thể có nhiều hơn là một ân tứ thuộc linh. Trừ phi trường hợp chúng ta không vâng lời Chúa, dường như tất cả mọi người đều có ba ân tứ để sử dụng hầu phục vụ Thượng Đế. Nhiều người vốn có nhiều hơn, với nhiều cách kết hợp khác nhau, trong đời sống của họ. Các ân tứ có thể xuất hiện để được sử dụng vào nhiều thời điểm khác nhau trong đời sống người tín hữu, nhưng điều chắc chắn là một Cơ Đốc nhân thuộc linh sẽ lợi dụng bất luận một sự kết hợp các ân tứ nào để tôn vinh Thượng Đế. Phục vụ không phải bằng cách sử dụng các ân tứ thuộc linh đều không phải là sự phục vụ thuộc linh; nó chỉ là việc biểu lộ hoạt động của bản ngã mà thôi.
SỰ PHÁT TRIỂN CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH
Tu chính Thượng Đế là Đấng ban các ân tứ thuộc linh cho chúng ta, và tuy chính Đức Thánh Linh là Đấng ban quyền năng để chúng ta lợi dụng chúng, bản thân người tín hữu có thể góp một phần vào việc làm phát triển các ân tứ thuộc linh của mình. Ngay đến việc hiến thân có tính cách hi sinh hơn hết cũng không nhất thiết bảo đảm được cho cách tận dụng tối ưu các ân tứ thuộc linh mà một người có được. Sự phục tùng không thể thành hình do thiếu phát triển phải lẽ các ân tứ, tuy sự phát triển thích đáng chẳng bao giờ có thể xảy ra nếu không có sự phục tùng.
Kinh Thánh có nêu ra hai chỉ dẫn cho việc phát triển thích đáng các ân tứ thuộc linh. Chỉ dẫn thứ nhất được diễn tả như sau “Anh em hãy khao khát (các) ân tứ tốt hơn” (ICo1Cr 12:31). Đây rõ ràng là một thí dụ trong đó từ ngữ khao khát đã không được dùng theo nghĩa xấu. Nghĩa gốc của chữ này là 'nhiệt thành theo đuổi', có thể hướng vào các cứu cánh hoặc thiện hoặc ác. Trong câu này, nó có nghĩa là sự nhiệt thành, thiết tha theo đuổi các ân tứ tốt hơn. Các ân tứ tốt hơn ấy vừa mới được Phao-lô liệt kê trong câu 28, chỗ ông xếp thứ tự để dành quyền ưu tiên cho một vài ân tứ thuộc linh.
Làm thế nào để một người có thể tha thiết, nhiệt thành theo đuổi các ân tứ tốt nhất? Chắc chắn đây không phải là vấn đề khoanh tay ngồi đó, và phỏng đoán xem phải có bao nhiêu đức tin mới có thể nhận được một tia chớp từ trên giáng xuống như vậy. Lẽ dĩ nhiên là chữ nhưng bắt đầu câu ấy (theo bản Anh văn) chỉ rõ chúng ta phải góp phần vào đó.
Câu 31a sửa sai cách suy diễn mà một bản tính lười biếng hay một phê phán bạc nhược có thể rút ra từ mấy câu 29 và tiếp theo, cho rằng sự sắp xếp của quyền tể trị của Thượng Đế vốn có ưu thế áp đảo đối với nỗ lực của con người. Sự phấn đấu của chúng ta vốn có một phần đóng góp vào đồng thời với điều Thượng Đế ban xuống trong những (ân tứ) thuộc linh mà chúng ta có được; do đó mà có chữ nhưng chỉ nétt tương phản này (GG.Findlay, 'The First Epistle of Paul to the Corinthians', Expositor's Greek Testament, II, 896).
Trong một vài giới, lẽ dĩ nhiên là chỉ cần có ai gợi ý rằng con người cũng có một phần nào đó trong một vấn đề như vậy, thì cũng đủ để bị 'trục xuất' rồi. Chúng ta được bảo cho biết rằng đó hoàn toàn là cộng việc của Thượng Đế. Nhưng chúng ta có thể lý giải câu này khác hơn như thế nào đây? Khao khát các ân tứ tốt đẹp nhất là một vấn đề của sự tự chuẩn bị chu đáo hầu có thể dâng lên cho Chúa chính các tài năng tốt đẹp nhất của mình để được lợi dụng nhằm thực thi các ân tứ thuộc linh mà Ngài ban cho. Chẳng hạn nếu có ai khao khát ân tứ dạy dỗ đứng hàng thứ ba trong bảng liệt kê về quyền ưu tiên của Phao-lô, thì chắc chắn là người ấy sẽ phải dành ra nhiều năm để phát triển cái ân tứ ấy. Một vị giáo sư dạy Kinh Thánh thông thao các ngôn ngữ gốc của Kinh điển sẽ là vị giáo sư giỏi hơn một người không biết chúng (trong khi tất cả các yếu tố khác đều ngang hàng nhau). Nhưng học Hi văn hoặc Hy-bá-lai văn không phải là một vấn đề của đức tin; nó đòi hỏi rất nhiều gian khổ. Một giáo sư giỏi cũng phải am hiểu các kỹ thuật tốt nhất để truyền thông chân lý. Điều chắc chắn là chúng có thể được học hỏi bằng kinh nghiệm, nhưng chính cái phương pháp này cũng đòi hỏi phải có việc tự chuẩn bị bằng cách tuân thủ một kỷ luật khắt khe y như phương pháp càng có tính cách hình thức nhiều hơn trong một lớp học ở nhà trường.
Theo thiển ý, thì dường như cả khi chỉ khao khát một ân tứ hết sức cơ bản là phục dịch (giúp đỡ) đã được Phao-lô đề cập trong khúc sách về bảng liệt kê theo thứ tự ưu tiên (và là một ân tứ mà mỗi một tín hữu đều có thể có được), cũng đòi hỏi việc phải tự chuẩn bị chu đáo rồi. Đây là điều tôi muốn nói: Có nhiều người sẽ chẳng bao giờ có thể lợi dụng được ân tứ phục dịch, bởi vì họ không có thì giờ dành cho tha nhân do họ quá bị bận rộn về các công việc riêng của họ. Thế nhưng lý do đích thực vốn không phải là thiếu thì giờ - nó là sự thiếu kỷ luật (tự chủ) đáng lẽ ra phải giúp được họ thiết lập và tuân thủ một thời dụng biểu, chẳng những sẽ cho họ có thì giờ dành cho người khác, mà còn cho phép họ chăm lo thật đầy đủ cho các công việc riêng của họ nữa. Trong thí dụ này, chính cái kỷ luật về một thời dụng biểu là cần thiết khi có ai khát khao theo đuổi ân tứ tốt hơn là phục dịch.
Đây là chỉ dẫn đầu tiên đã phát triển các ân tứ thuộc linh. Cơ Đốc nhân thuộc linh chắc chắn phải thường xuyên hỏi Chúa, chẳng hay mình có đang làm tất cả những gì có thể làm được để phát triển các ân tứ Thượng Đế đã ban cho mình không.
Chỉ dẫn thứ hai là thế này: Cần lưu ý đến chức vụ của những người khác. Khi nói lên ước muốn đến Rô-ma để thăm các tín hữu tại đó, Phao-lô bảo có một trong số các mục đích của ông là “để chia xẻ ân tứ tâm (thuộc) linh giúp anh em ngày càng vững mạnh” (RoRm 1:11). Điều hiển nhiên mà Phao-lô muốn làm cho người Rô-ma là đạo sâu và mở rộng phạm vi của các mưu định của Thượng Đế bằng việc thực thi ân tứ dạy dỗ của ông không phải Phao-lô có thể ban xuống cho họ các ân tứ ấy, nhưng ông chỉ có thể chia xẻ phần lợi ích của các ân tứ thuộc linh của ông cho họ mà thôi. Nhưng lẽ dĩ nhiên là nếu sự lợi ích đầy đủ phải được các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma tiếp nhận, chắc họ phải lưu ý đến chức vụ của ông. Thí dụ, một tín hữu sẽ chẳng hề nhận được một lợi ích nào, nếu người ấy cứ ở nhà trong lúc Phao-lô đang phục dịch hội chúng. Một người khác sẽ chỉ nhận được ít lợi ích hơn nếu người ấy vẫn hiện diện trong buổi nhóm, nhưng lại đề cho tâm trí mình đi dông đi dài trong lúc Phao-lô đang giảng. Những điều hết sức đơn giản ấy - bỏ nhóm lại và thiếu chú ý - hiện nay vẫn còn là những lý do để một số người chẳng bao giờ phát triển đầy đủ được các ân tứ thuộc linh của họ. Thượng Đế đã ban cho Hội thánh nhiều người có â tứ “để chúng ta phục vụ đắc lực cho Ngài, cùng nhau xây dựng Hội thánh, là thân thể Ngài” (Eph Ep 4:12). Tiến trình này phải là một chu kỳ bất tận. Những người có ân tứ phục dịch cho nhiều người khác, nhờ đó họ được phát triển, để đến lượt họ, lại có tể phục dịch nhiều người khác nữa, do đó lại gây dựng để rồi họ lại thực thu các ân tứ của họ cho người kác, để đến lượt họ... Chúng ta là những người duy nhất có thể phá vỡ chu kỳ này, hoặc là bằng cách không lợi dụng, hoặc không phát triển đầy đủ các ân tứ mà Thượng Đế đã ban xuống cho chúng ta vô điều kiện bởi ân phúc Ngài.
Như vậy, chỉ dẫn thứ hai này cho chúng ta biết rằng chẳng hề có một Cơ Đốc nhân nào, dầu là người thuộc linh hơn hết, lại có thể vượt được cái điểm là họ không được lợi ích gì cả khi có những người khác thực thi các ân tứ thuộc linh của mình. Trên đây là những hướng dẫn để làm phát triển các ân tứ thuộc linh.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TÔI KHÁM PHÁ ĐƯỢC CÁC ÂN TỨ CỦA TÔI?
Lẽ dĩ nhiên đây là một câu hỏi mà tất cả mọi người đều muốn biết câu trả lời và nó không phải là một câu hỏi dễ giải đáp. Tuy nhiên, có ba gợi ý có thể giúp giải đáp nó.
Thứ nhất là: Hãy tìm hiểu. Nói khác đi, bạn phải biết các ân tứ thuộc linh hiện có. Rất có thể rằng bạn đạ biết là mình có được một hoặc hai ân tứ rồi. Một số người đọc mấy trang sách này đã được bảo cho biết là mỗi một Cơ Đốc nhân đều mới có được một ân tứ mà thôi, nhưng bây giờ, bạn lại biết được rằng rất có thể bạn có đến ba ân tứ mà mình có thể lợi dụng. Có thể có nhiều người khác lại không biết rằng tỏ ra tử tế, hoà nhã với người khác cũng là một ân tứ thuộc linh.
Một bạn đồng liêu của tôi thường kể một câu chuyện lý thú về chính anh ấy. Vợ chồng anh rất ước ao được đứng từ trên nóc một khách sạn rất đắt tiền, có đông đảo người đến, để được nhìn một phong cảnh ngoạn mục từ trên đó. Nhưng vì họ chỉ sống bằng một đồng lương eo hẹp, họ quyết định phương pháp duy nhất để có thể làm được việc ấy, là đến khách sạn ấy để dùng điểm tâm là bữa ăn rẻ tiền nhất trong ba bữa ăn. Và họ làm như vậy, hơn nữa, còn gọi bữa điểm tâm rẻ tiền nhất theo thực đơn. Tuy nhiên, khi anh bạn tôi đến trả tiền bữa điểm tâm, anh nhận thấy mình phải trả một giá 'cắt cổ' cho chỉ hai chiếc bánh nhỏ xíu (pandakes). Vợ chồng anh vô cùng kinh ngạc hỏi rằng tại sao bảng thực đơn không ghi một giá tiền nào cả cho từng món ăn, thì được cho hay rằng loại bánh nhỏ kia là rẻ tiền nhất. Cho nên họ buồn rầu khi khám phá ra rằng cả đến hai mẫu bánh nhỏ xíu, mà lại cũng đắt tiền đến thế. Sau đó, họ mới biết sự thật. Số là bảng thực đơn ấy vốn được tính tiền bàn, chớ không phải tính theo tiền các món ăn, và họ có thể ăn bất kỳ món nào hoặc ăn tất cả các món ăn có ghi trong bảng thực đơn, thì cũng chỉ phải trả đồng giá với hai chiếc bánh nhỏ xíu kia mà thôi. Nhưng đến lúc ấy thì đã quá muộn để có thể tận hưởng điều đã được dành cho họ! Với quá nhiều Cơ Đốc nhân cũng vậy. Họ vốn không biết hay nhiều khi họ không hề muốn biết tất cả những gì Thượng Đế có thể ban cho họ qua con đường các ân tứ thuộc linh. Cho nên hãy tìm hiểu thật cặn kẽ.
Thứ hai: hãy ước ao thèm muốn. Nếu chúng ta không ước ao, không thích một lãnh vực nào đó, thì Thượng Đế sẽ không thể để cho chúng ta sử dụng một vài ân tứ nào đó; và ngược lại nếu chúng ta hoàn toàn sẵn sàng làm một việc gì đó hay đi một nơi nào đó, thì Chúa có thể cho chúng ta phát hiện các ân tứ mà chúng ta chẳng bao giờ dám mơ ước là mình có. Tôi nhớ có lần tôi hỏi một sinh viên chủng viện học năm tốt nghiệp anh ta định làm gì sau khi ra trường. Anh ta đáp anh ta tin rằng mình có ân tứ dạy dỗ và hỏi tôi có biết có khu vực nào đang cần người như thế không.
Tôi bảo là có, và đó một chân để anh ta có thể bắt đầu dạy ngay môn Anh văn. Tôi nghĩ ngay đến một chân dạy Anh văn ở bên kia lục địa, trong khi anh ta lại đang học một sinh ngữ thứ hai. Nhưng khi tôi trả lời là có, thì anh ta đâm ra nghi ngờ, và tức khắc cho tôi biết rằng anh ta không hề cảm thấy mình được kêu gọi đi truyền giáo. Tôi chỉ đơn giản hỏi anh ta rằng như thế thì có gì khác nhau. Rốt cuộc phải chăng anh ta không hề cảm thấy là mình đã được kêu gọi vào công tác dạy dỗ? Thế thì, có gì khác nhau, nếu anh ta thực thi công tác ấy ở đâu? Thế nhưng anh ta lại không chịu xét đến bất luận một công tác gì nằm bên ngoài các hải phận của lục địa Hoa-kỳ, cho nên không gắn bó với khung cửa mở mà tôi đề nghị. Hậu quả là qua suốt những năm thi hành 'chức vụ của mình, anh ta đã chẳng bao giờ được ở trong khung cảnh giáo huấn. Tôi chẳng có thể nghĩ gì khác hơn là chính sự thiếu ý chí của anh ta, đã đặt giới hạn để Chúa không thể tận dụng ân tứ dạy dỗ của anh ta thật đúng mức.
Thiết tưởng chẳng cần gì phải dùng đến một thí dụ đáng buồn như vậy để minh họa cho vấn đề này. Có rất nhiều quý ông quý bà là tín đồ thường sở dĩ đã không tận dụng được các ân tứ của mình, chỉ vì không chịu gắn bó với một lớp học hằng tuần của Trường Chúa nhật, hay ngay đến một công tác quản trị đơn giản trong một Chi hội. Chúng ta phải hoàn toàn và không do dự để làm bất cứ một việc gì nếu chúng ta muốn biết thế nào là tận dụng được các ân tứ thuộc linh của mình.
Gợi ý thứ ba, là hãy hoạt động tích cực việc thực thi một ân tứ này có thể dẫn tới việc phát hiện nhiều ân tứ khác nữa. Thí dụ, ông Phi-líp vốn có ân tứ gì? Khi lần đầu tiên ông được giới thiệu với chúng ta trong sách Công vụ, chúng ta thấy ông đang thi hành ân tứ phục vụ (Cong Cv 6:5). Nếu muốn bạn có thể gọi ông là một chấp sự (tuy dường như rất khó có thể rằng lúc đó, chức vị ấy đã được thiết lập rồi), nhưng việc làm của ông là cấp phát tiền cứu tế cho một nhóm phụ nữ lắm chuyện, mà có chẳng phải là một công tác cao cả gì. Nhưng rõ ràng là ông đã trung tín hoàn thành nó và đã tự chứng tỏ được tài năng của mình trong một công tác khó khăn và nhỏ nhặt như thế, cho nên Chúa đã ban thêm cho đời sống ông ân tứ truyền giảng Phúc âm (8:5). Gỉa sử Phi-líp bảo với các sứ đồ rằng ông không cảm thấy là mình đã được kêu gọi để phục dịch các quả phụ. Chắc ông đã không thể nào được phép đi truyền giảng Phúc âm cho dân Sa-ma-ri. Hoạt động trung tín trong một lãnh vực đưa tới việc phát hiện một ân tứ trong một lãnh vực khác.
Thật ra, với ân tứ đầu tiên, chúng ta không thấy Kinh Thánh ghi chép về việc đi tới căn bản của Phi-líp vốn là phục dịch, trợ giúp hay quản trị. Phải chăng điều này tạo được mộ đầu mối cho đời sống chúng ta? Thay vì ngồi chờ để phát hiện xem chúng ta có thể được ban cho những ân tứ nào tại sao chúng ta lại không chỉ đơn giản bắt đầu thực thi ân tứ phục dịch (giúp đợ) hay bày tỏ lòng thương xót (an ủi người đau khổ) hoặc cả ân tứ dâng tặng tiền bạc (bố thí) nữa? Trong khi chúng ta trung tín sử dụng các ân tứ căn bản biết đâu Thưông Đế lại chẳng soi sáng cho chúng ta thấy nhiều ân tứ khác nữa trong đời sống mình?
Đây là giáo lý về các ân tứ thuộc linh. Cơ Đốc nhân thuộc linh sẽ phục vụ Thượng Đế bằng cách tận dụng các ân tứ đã phát triển của mình. Loại hoạt động này là một trong những trọng trách đầu tiên của sinh hoạt thuộc linh.

LÒNG TRUNG TÍN ĐÃ THÀNH NỀN NẾP
Các bài giảng về đời sống thuộc linh quá thường chú trọng vào các từng trải đột ngột của đời sống người tín hữu. Những lời khuyên giục trong những bài giảng như thế thường kêu gọi một quyết định cấp bách, đột ngột. Nêu một Cơ Đốc nhân cứ được nghe những bài giảng như thế từ năm này sang năm khác thì hoặc là người ấy sẽ trở thành vô cảm, chai cứng đối với hồi chuông báo động cứ th-ường xuyên vang lên, hoặc là người ấy sẽ chỉ có phản ứng, chỉ chú ý về phương diện thuộc linh khi kêu gọi phải quyết định , và chắc chắn là các nguyên tắc thuộc linh phải được đem ra ứng dụng trong các cơn khủng hoảng của đời sống. Nhưng điều cũng đúng, cũng thật ấy là vì phần lớn thì giờ trong cuộc đời chúng ta vốn được dùng cho những thói quen đã trở thành nền nếp, chúng ta cũng phải thích ứng hóa về mặt thuộc linh với các khu vực ấy nữa.
Căn bản để một Cơ Đốc nhân sẽ chịu 'phán xét' là lòng trung tín. “Đức tính thiết yếu của quản gia là trung thành” (ICo1Cr 4:2). Điều cũng rất thật rất đúng, là phần lớn các hoạt động của Cơ Đốc nhân bao gồm các công việc làm theo thói quen đã trở thành nền nếp. Do đó chính là trong khu vực sống theo các thói quen đã trở thành hầu như 'máy móc' này, mà lòng trung thành được đòi hỏi nhiều nhất. Có bao giờ bạn lưu ý rằng khi tóm tắt cách ăn ở ứng xử của Cơ Đốc nhân, Phao-lô đã gắn liền nó với các hoạt động thông thường của đời sống hay không “Làm mọi việc, anh em phải nhắm mục đích tôn vinh Thượng Đế, dù ăn uống hay bất cứ việc gì khác” (ICo1Cr 10:31)? Hầu như cũng chẳng có gì cần thiết để ông phải nói đại khái như “Vậy, dù cầu nguyện hay làm chứng (đạo) anh em hãy làm như thế là nhắm mục đích tôn vinh Thượng Đế”. Theo lẽ tự nhiên, chúng ta vốn thường nghĩ đến việc tôn vinh Chúa trong các vấn đế ấy hơn là khi ăn uống. Như vậy, chính là trong các thói quen hầu như máy móc đã trở thành nền nếp ( cũng như trong những cơn khủng hoảng nữa) mà một người thuộc linh sẽ chứng tỏ lòng trung thành với Chúa mình. Và đây lại thường là những lãnh vực gặp nhiều khó khăn nhất.
Chẳng những khu vực của các thói quen đã trở thành nền nếp vốn là một vấn đề của sinh hoạt thuộc linh, mà thực hành thường xuyên, trước sau như một cũng đã là một vấn đề rồi. Có rất ít người không thể tự chuẩn bị thật sẵn sàng đối với cái bất thường. Phần đông có thể tự lo liệu khi gặp trường hợp cấp bách. Điều này cũng đúng trong các vấn đề thuộc linh. Nếu chúng ta được mời hướng dẫn một buổi cầu nguyện công cộng hay được yêu cầu tham gia một loại chiến dịch nào đó liên hệ đến công việc Chúa, hoặc chúng ta bị dồn vào chân tường vì cớ đức tin của mình, phần đông chúng ta có thể tìm được lối thoát cần thiết cho những hoàn cảnh như vậy. Nhưng phần đông chúng ta đều có khuynh hướng lơi lỏng việc 'canh gác' đối với các thói quen đã trở thành nền nếp của mình. Và nếu cùng một thói quen lại bắt buộc chúng ta phải noi theo như đi trên một con đường mòn quá lâu, thì điều đó không thể tránh được là chúng ta đều trở thành mệt mỏi, và thường chán nản, chỉ vì các thói quen 'làm chúng ta xuống tinh thần'. Nhưng nếu các nguyên tắc của Kinh Thánh về sinh hoạt thuộc linh là đúng, thì chúng chắc chắn phải có hiệu lực trong nếp sống theo thói quen đã trở thành nếp và phải cứ có kiến hiệu liên tục.
Thượng Đế có một lời nói quan trọng cho tình hình này, và là một lời mà chúng ta phải chú ý nếu muốn sống một cuộc đời thuộc linh. Điều Ngài cần nói được gắn liền với chỉ một từ ngữ trong Tân ước - một từ ngữ đã được dịch ra nhiều cách khác nhau, nhưng về căn bản thì có nghĩa là ngã lòng. Đây không phải là một sự thất bại thực thể hay chỉ là sự lười nhác suông, nhưng có tính cách của một sự sa sút tinh thần nhiều hơn, lắm khi còn có thể đến rất gần với sự hèn nhát nữa. Trong việc sử dụng từ ngữ ấy (và nó chỉ được tìm thấy bảy lần trong Tân ước mà thôi), dường như Thượng Đế đặt ngón tay của Ngài vào các lãnh vực căn bản của đời sống mà chúng ta cần chú ý đặc biệt, kẻo e chúng ta sẽ bị ngã lòng.
TRUNG TÍN KHI GẶP KHÓ KHĂN
“Vì thế, chúng ta chẳng nản lòng. Dù người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ ngày càng đổi mới” (IICo 2Cr 4:16). Khi viết mấy lời này, Phao-lô vốn có nhiều từng trải hơn là chỉ san sẻ các vấn đề khó khăn của riêng ông mà thôi. Ngay với chức vụ cho người Cổ-linh của mình, ông đã gặp rất nhiều gian khổ rồi. Lần đầu tiên khi ông vào thành phố ấy, người Do-thái đã công khai chống lại ông kịch liệt đến nỗi ông sẵn sàng lìa khỏi đó để đi nơi khác. Chỉ nhờ việc Chúa hiện đến trong một khải tượng ban đêm mới ngăn được ông và giữ ông ở lại Cổ-linh đến một năm rưỡi (Cong Cv 18:6-11). Cả sau khi đã được Chúa bảo đảm cho ông vẫn bị điệu đến trước tòa án của Ga-li-ôn, vì bị người Do-thái tố cáo. Tất cả những việc ấy đã xảy ra trong phần cuối của vòng lưu hành truyền giáo thứ hai của ông. Lúc vòng lưu hành truyền giáo thứ ba bắt đầu, Phao-lô đang ở tại Ê-phê-sô, và ông tự ví sánh các vấn đề ông đang gặp ở đó với việc phải đánh nhau với các thú dữ (ICo1Cr 15:32). Tại thành phố này, không những chỉ có người Do-thái chống lại ông, mà các công dân của thành phố Ê-phê-sô cũng bị đám thợ bạc sách động để thực hiện một cuộc biểu tình vĩ đại nhằm chống lại các Cơ Đốc nhân. Đó mới chỉ là một số ít sự việc Phao-lô vừa từng trải gần đây lúc ông viết IICo 2Cr 4:16.
Nếu có ai được quyền chán nản ngã lòng, thì chắc chắn là Phao-lô có được quyền đó khi trực diện với những vấn đề như thế. Nhưng ông bảo là ông chẳng bao giờ làm như vậy vì hai lý do. Thứ nhất, vì cớ chứa vụ, bất cứ việc gì cần phải chịu khổ, thì cũng đều là xứng đáng cả Nếu qua đời sống những người đã được trợ giúp, mà người ta nhìn thấy được ân phúc Thượng Đế, thì các vấn đề phải kiên trì chịu đựng chỉ là nhỏ nhặt mà thôi. Thứ hai, Phao-lô tự bảo đảm với mình bằng lời hứa rằng Thượng Đế làm mới lại con người bề trong hằng ngày, cả khi con người bề ngoài phải chịu đủ thứ áp lực và vấn đề khó khăn.
Tấm gương và lời dạy dỗ nêu ra thật là rõ ràng. Một người thuộc linh phải tỏ ra kiên trì nhẫn nhục chớ không phải là chán nản ngã lòng sẽ không bỏ cuộc khi việc làm theo thói quen đã thành nếp bắt đầu ray rứt đến tận tâm hồn. Trái lại, người ấy sẽ chứng tỏ lòng trung tín trước sau như một và kiên trì nhẫn nhục đối với nhiệm vụ mình đã được gọi đến.
Khoảng sáu năm sau đó, Phao-lô đã tự cảm thấy mình lâm vào những hoàn cảnh khác hẳn. Do việc khiếu nại lên hoàng đế La-mã, ông đã bị quản thúc tại gia ở Rô-ma để chờ ngày xét xử. Luật La-mã quy định rằng khi gặp trường hợp như thế thì bị cáo phải chờ cho đến khi nào những đương đơn đến nơi để đầu cáo đã. Nếu các nguyên đơn chọn việc thôi không kiện cáo nữa, thì người bị cầm tu2 phải chờ đến mười tám tháng tròn, hồ sơ vụ án sẽ có thể bị xếp lại. Đám người Do-thái tố cáo Phao-lô rõ ràng là đã bỏ qua vụ án do thiếu bằng cớ, vì lần này Phao-lô đã ở Rô-ma trọn hai năm rồi, thật ra thì đó là hành động khôn ngoan của họ; giá như họ vẫn đem vấn đề ra xét xử, chắc Phao-lô cũng được trắng án, và do đó, chức vụ của ông lại cũng được thắng thế hơn. Nhưng vì không tố cáo thêm nư4a, chẳng những họ đã cầm chân Phao-lô được đến hai năm, mà còn đánh được một dấu hỏi trên chức vụ của ông vì ông đã chẳng hề được trắng án vì xét thấy là vô tội. Nhưng trong khi chờ đợi, Phao-lô đã phải kiên trì nhẫn nhục, và giới bạn thân cũng đang chờ đợi tại đó với ông cũng vậy. Ông đã viết cho các bạn thân khác của ông tại Tiểu Á-châu rằng “Vậy, anh em đừng nản lòng khi thấy tôi mắc vòng lao lý vì anh em” (Eph Ep 3:13). Ông không muốn họ chán nản ngã lòng vì những hoạn nạn mà ông phải chịu đựng. Chắc nhiều người đã cầu nguyện để ông được mau chóng trắng án và trả tự do, và họ cần kiên nhẫn và được khích lệ khi gặp vấn đề này. Với những tháng dài lê thê như vậy, người ta sẽ cứ ngày càng chán nản ngã lòng là chuyện hết sức dễ dàng và tự nhiên. Biết bao lần phần đông chúng ta đã thốt lên khi gặp một vấn đề khó giải quyết “Ôi, thà nó cứ xong đi, thế nào cũng được. Tôi bất chấp dầu nó có làm hại cho tôi - miễn là xong đi cho rồi. Tôi không chịu nổi tình trạng dây dưa này mãi đâu”. Phao-lô đã rất có thể nói như vậy, và các bạn thân của ông cũng thế. Nhưng thay vào đó, lời ông khuyến giục tất cả mọi người chúng ta, là hãy trung tín khi phải đối đầu với các vấnđ ề dây dưa không giải quyết được, hãy cứ phó thác chúng cho Thượng Đế và nhẫn nại chờ cách giải quyết của Ngài. Chắc chắn rằng loại lòng trung thành như thế sẽ là đặc điểm của Cơ Đốc nhân thuộc linh.
TRUNG TÍN CẦU NGUYỆN
Lãnh vực thứ hai mà chúng ta cần trung tín trong thói quen đã thành nếp vì chúng ta rất dễ nản lòng, là trong sinh hoạt cầu nguyện của chúng ta. Chúa chúng ta từng dạy là phải cầu nguyện luôn và chớ nên nản lòng. Cử tọa được nghe mấy lời ấy lần đầu tiên là số người vừa được nghe Ngài phán dạy về sự tái lâm của Ngài (LuLc 17:20 và tt), khiến ẩn dụ này được đặc biệt dành cho những ai trong chúng ta đang sống vào chính thời iểm mà Hội thánh sắp được cất lên không trung (the rapture). Nhiều khi chúng ta là số người đang ấp ủ niềm hi vông phước hạnh trong lòng đã có thể bị tố cáo rất phải lẽ là cứ ngày càng tỏ ra lười biếng trong công việc Chúa đang khi chúng ta chờ đợi sự tái lâm của Ngài. Đó là việc không nên có; trái lại, chúng ta phải hăng hái nhiệt thành càng hơn. Và lẽ tất nhiên là phần việc thiết yếu nhất của bất luận một Cơ Đốc nhân nào, là công tác cầu nguyện.
Câu chuyện trong ẩn dụ là một cuộc nghiên cứu những nét tương phản. Một quả phụ vốn chẳng có chút quyền hạn gì trong xã hội, đã được đặt tương phản với một vị thẩm phán bất công (nghĩa đen là một quan tòa mà lại hành động trái với công lý) rõ ràng là chẳng phải trả lời, chẳng phải chịu trách nhiệm với ai cả. Quả phụ bị ức hiếp kêu nài được xét xử công bằng và chỉ vì bà ta cứ kiên trì đem nội vụ đến quấy rầy vị thẩm phán, mà bà ta đã nhận được điều mình đòi hỏi. Từ câu chuyện này, Chúa đã rút ra ba lời hứa liên quan với sự cầu nguyện.
Trước hết, là trái với vự thẩm phán bất công kia, vốn chẳng bận tâm gì đến những kẻ đến với mình, Cha chúng ta ở trên trời đang hết sức quan tâm tới những người đến cùng Ngài. Thứ hai là hệ luận của điều thứ nhất: trái với địa vị chẳng có quyền hạn gì của người quả phụ nọ, chúng ta là số người được tuyển chọn của Thượng Đế với đầy đủ các đặc quyền mà một mối liên hệ như vậy đem đến. Chúng ta đến với Cha mình trên trời với tư cách những người đã được Đức Chúa Cha tuyển chọn để thừa kế muôn vật. Thế thì, tại sao chúng ta lại nản lòng trong việc cầu nguyện?
Nhưng nhiều khi chúng ta nói dường như Thượng Đế chẳng hề nghe lời cầu nguyện của chúng ta, chớ đừng nói chi là đáp lại những lời cầu xin ấy. Lời hứa thứ ba trả lời cho phản bác này, vì Chúa hứa rằng Ngài sẽ “vội vàng cứu giúp họ”. Mấy chữ được dịch ra là 'vội vàng' không phải là không chút trì hoãn, chẳng cần phải chờ đợi lâu la gì cả; chúng chỉ đơn giản có nghĩa là nhanh chóng khi đã đến giờ để đáp lời. Lời hứa không phải là lời đá sẽ đến ngay sai khi lời kêu xin được dâng lên; lời hứa là khi đã đến giờ để đáp lời, thì mọi mảnh rời rạc của trờ chơi đố nát íc sẽ được sắp xếp đâu vào đấy cả ngay tức khắc. Cũng một thành ngữ ấy cũng đã được dùng trong KhKh 1:1, là lời hứa rằng tất cả các biến cố được mặc khải trong sách ấy sẽ thình lình xảy ra khi chúng bắt đầu xuất hiện. Lời hứa ấy không phải là chúng sẽ bắt đầu xảy ra trong đời của Giăng. Cũng vậy, sự phải chờ đợi, trì hoãn trong việc đáp lại lời cầu nguyện cho chúng ta không hề mâu thuẫn với ý nghĩa của lời hứa rằng chúng ta sẽ được vội vàng cứu giúp. Trong khi chờ đợi, chúng ta đừng bao giờ nên chán nản ngã lòng trong việc cầu nguyện, vì biết rằng khi đến đúng giờ, đúng lúc, thì lời đáp sẽ thình lình đến.
Vậy, ba lời hứa đó là chúng ta có một Cha trên trời, một địa vị trong thiên đàng, và một lời hứa thiên thượng. Đó là những khích lệ để chúng ta trung tín trong việc cầu nguyện theo thói quen đã thành nếp. Cơ Đốc nhân thuộc linh chẳng bao giờ nản lòng trong sự cầu nguyện.
TRUNG TÍN TRONG VIỆC THIỆN
Bạn có biết một người nào do quá thuộc linh đến độ chẳng làm được gì ích lợi cho ai cả không? Lắm khi bạn nghe thiên hạ nói rằng người ấy chỉ hướng tâm trí mình về thiên đàng, đến nỗi chẳng làm được điều gì ích lợi cho trần gian này cả. Chúa đã đặt ngón tay Ngài vào lãnh vực này bằng cách nhắc nhở chúng ta hai lần trong Tân ước là chớ bỏ qua các việc thiện (GaGl 6:9; IITe 2Tx 3:13). Trong mấy câu ở thư Ga-la-ti, phạm vi của các việc thiện thông thường này được phân định là 'cho mọi người nhất là cho anh em tín hữu'. Loại công tác từ thiện này là bắt chước cuộc đời của Chúa Cứu Thế đã “đi khắp nơi làm việc thiện” (Cong Cv 10:38). Trong mấy câu ở thư Tê-sa-long-ca, lời khuyến giục làm việc thiện được đưa ra trước cách ăn ở cư xử trái ngược lại của một số tín hữu trong Hội thánh ấy. Rõ ràng là một vài người đã bỏ việc dưới lớp ngụy trang là ngoan đạo giả tạo, đang chờ ngày tái lâm của Chúa. Số người này không phải là ở dưng, nhưng là những kẻ 'phá đám' thay vì là những con người bận rộn với công việc. Rõ ràng là đám người ấy chỉ bận bịu lo thuyết phục người khác noi theo ý kiến của họ, là phải bỏ hết công ăn việc làm vì ngày Chúa trở lại đã gần lắm rồi (c.11). Loại lời thuyết phục thuộc linh giả mạo này chắc vốn rất khó đứng vững, vì dường như kẻ ấy đang chống lại việc phải đẩy mạnh thái độ chờ mong, hướng về ngày tái lâm của Chúa. Phao-lô đã trình bày tính cách vô lý của một câu chuyện như thế, và khuyến khích những người đang trung tín trong công việc theo thói quen đã thành nếp của đời sống rằng họ đang làm đúng công việc phải làm.
Đây là một trong số nhiều lãnh vực mà các cán bộ Cơ Đốc giáo gặp vấn đề. Thật là sễ dàng cho một người làm việc trọn vẹn là mình bị thiếu thì giờ cho các công việc Chúa. Sự thiếu sót trong cách suy nghĩ như vậy chỉ đơn giản là thế này: những công việc thiện tầm thường cũng là công việc Chúa, và chẳng hề có ai trong chúng ta, kể cả những cán bộ làm việc trọn vẹn thì giờ lẫn các Cơ Đốc nhân thuộc linh, lại có thể khước từ việc phải thực thi chúng.
TRUNG TÍN LÀM CHỨNG ĐẠO
Một cuộc đời làm việc thiện phải đi đôi với việc trực tiếp và tích cực truyền giảng Phúc âm (IICo 2Cr 4:1). Làm việc thiện mà không kèm theo công tác chứng đạo mà không ha là một Phúc âm thiếu trang điểm. Nếu chúng ta nản lòng trong lãnh vực này, hậu quả của nó sẽ tai hại biết bao cho tha nhân, còn chính đời sống thuộc linh của chúng ta sẽ trống trải và vô sinh Trong câu này, có hai lý do đã được nêu ra để chúng ta phải truyền giảng đạo Chúa, bất luận khi nào gặp cơ hội. Thứ nhất là vì chính đạo Chúa. Theo IICo 2Cr 3:1-18, thì đây là đạo sự sống, quang vinh, công chính tự do, và có quyền năng biến cải. Lý do thứ hai chỉ đơn giản là vì bản thân chúng ta đã từng trải được quyền năng biến cải ấy, và vì do chính kinh nghiệm cá nhân chúng ta biết rõ Phúc âm có thể làm gì cho nên chúng ta được thúc đẩy phải nói cho người khác biết nữa. Chúng ta chẳng bao giờ nên nản lòng, bởi vì chúng ta đã biết rõ đạo, và bởi vì chúng ta biết rõ đạo.
Làm chứng đạo có kết quả (đưa người đến chỗ ăn năn quy đạo, tin Chúa) là việc chỉ một mình Thượng Đế mới có thể làm được, nhưng làm chứng đạo là việc chúng ta phải làm. Chúa chúng ta từng cảnh cáo rằng sẽ có rất nhiều người dường như đã tiếp nhận đạo, nhưng sau một thời gian, đã bị thất bại, không kết quả được và tự chứng tỏ là đã không (thật sự) tin (đạo, Chúa) để được cứu (LuLc 8:4-15). Phao-lô cũng cảnh cáo chúng ta rằng trong những ngày sau rốt sẽ có rất nhiều hình thức mệnh danh là đạo đức, nhưng sẽ tự chứng minh là không có sự đổi mới trong đời sống, vì là vô quyền (IITi 2Tm 3:5). Tuy nhiên, trách nhiệm của chúng ta vẫn còn nguyên - phải gieo hạt giống là Đạo (Lời) Thượng Đế. Người nào nản lòng trong lãnh vực này thì không có một sự sống thuộc linh đích thực và sinh động.
Vậy, trên đây là bốn khu vực của đời sống, trong đó chúng ta có thể tự chứng minh hằng ngày là mình có thuộc linh hay không. Biết cách sống đắc thắng khi trực diện với các vấn đề khó khăn, biết kiên trì nhẫn nhục cầu nguyện cả khi phải chờ đợi Chúa đáp lời, làm việc thiện thật đơn sơ giản dị đối với tha hân, và trung tín làm chứng cho Phúc âm của ân phúc Thượng Đế là những lãnh vực trong đó chúng ta có thể tỏ lòng trung thành trong nếp sống theo thói quen đã thành nền nếp, chứng tỏ mức độ thuộc linh của chúng ta.
Hay nói một cách khác (mà tôi mong là sẽ chẳng làm phật lòng ai cả), điểm nhấn mạnh của lời truyền dạy chớ nản lòng này chỉ đơn giản là: tự chuẩn bị cho cuộc sống đều cặn có thể gây nhàm chán vốn quan trọng hơn là tự lao mình với tốc độ cao vào những công việc lớn lao vĩ đại mà thôi. Càng được sống lâu, tôi càng tin quyết rằng tính cách thuộc linh chân chính thật ra đã không được chứng minh từ tòa giảng hay trong lớp học hoặc trong Trường Chúa nhật hay các buổi họp ban trị sự; trái lại, nó được chứng minh rõ ràng nhất bằng một đời sống trước sau như một là vì thượng Đế trước nhất, rồi sau đó, là trước mặt những người thân yêu gần gũi nhất với chúng ta ngay trong nhà riêng của chúng ta. Có thể nhìn thấy một hình thức của tính cách thuộc linh như trong một cuộc diễn hành vậy; loại tính cách thuộc linh mà Thượng Đế ưa chuộng là nuôi dưỡng và thực hành trước sau như một và kiên trì nếp sống đã trở thành thói quen hầu như 'máy móc' rồi.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT TÔI ĐÃ ĐƯỢC ĐẦY DẪY THÁNH LINH?
Công thức để chiến thắng thuộc linh thường được phát biểu bằng câu “Phải đầy dẫy Thánh Linh” - và nói như vậy là đúng. Lẽ dĩ nhiên, người thuộc linh là người được đổ đầy Thánh Linh. Nhưng được đổ đầy thánh Linh có nghĩa gì? Đâu là các đặc điểm của một đời sống đầy dẫy Thánh Linh? Một người có thể biết là mình đã được đầy dẫy Thánh Linh hay không? Các câu hỏi trên tuy rất quan trọng, nhưng không phải là dễ trả lời, và một khi được giải đáp, các lời đáp thường không mấy rõ ràng. Nhưng chúng ta phải cố gắng tìm ra những câu trả lời rõ ràng trong Lời Thượng Đế, vì đầy dẫy Thánh Linh là nền móng cho một sinh hoạt thuộc linh quân bình.
ĐẦY DẪY THÁNH LINH LÀ GÌ?
Cũng như đối với phần lớn các ý niệm một định nghĩa rõ ràng là vô cùng quan trọng, chẳng những để thấu hiểu cái ý gốc làm rõ các dây mơ rể má từ đó mà ra nữa. Phần thượng tầng kiến trúc xây trên một ý niệm vốn chẳng là gì tốt hơn việc định nghĩa nó ngay từ nền móng.
Câu hướng dẫn để định nghĩa đúng sự đầy dẫy Thánh Linh được tìm thấy trong Eph Ep 5:18 “Đừng say rượu, vì say sưa là phóng đãng, nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh”. Đây chỉ đơn giản là việc đối chiếu giữa say rượu với đầy dẫy Thánh Linh. Câu này không phủ nhận là có sự tương phản rõ rệt giữa hai tình trạng trong câu ấy, mà chỉ muốn nói rằng việc so sánh cả hai với nhau có thể đưa ra cho chúng ta một đầu mối để định nghĩa đúng sự đầy dẫy Thánh Linh. Và đầu mối căn bản là ý niệm cai trị kiểm soát. Đây là điều chúng ta thấy trong việc đối chiếu, vì cả người say rượu lẫn người thuộc linh đều là những người bị cai trị kiểm soát - người này thì bị rượu mạnh cai trị kiểm soát, còn người kia thì được Thánh Linh mà mình tiếp nhận cầm quyền điều khiển. Khi một người bị rượu mạnh cai trị và điều khiển thì anh ta hành động và suy nghĩ không tự nhiên. Cũng vậy, một Cơ Đốc nhân được Thánh Linh nắm quyền tự nhiên. Điều này không hề hàm ý rằng rồi đây cuộc đời của người ấy sẽ là lầm lạc, bất bình thường nhưng có nghĩa rằng người ấy sẽ không sống một cuộc đời bị những gì là tự nhiên đối với người ấy - tức là bản tính cũ của người ấy cai trị kiểm soát nữa. Như vậy, được đầy dẫy Thánh Linh, là được Thánh Linh cai trị kiểm soát.
Một sự kiện khác nữa về việc được đầy dẫy Thánh Linh cũng được chỉ rõ trong 5:18, là nó là một từng trải được lặp đi lặp lại. Thì của động từ trong câu ấy là thì hiện tại, gợi ý một hành động liên tục, tương phản với một hành động duy nhất, xảy ra tức thì. Nói khác đi, một Cơ Đốc nhân có thể được đổ đầy, rồi lại được đổ đầy, đổ đầy thêm nhiều lần nữa. Điều này được minh họa trong từng trải của các sứ đồ vào những ngày đầu tiên của Hội thánh. Vào ngày lễ Ngũ tuần, các vị đã được đổ đầy Thánh Linh (Cong Cv 2:4). Một thời gian ngắn sau đó, sau một buỗi nhóm lại cầu nguyện chứng tỏ sự mạnh dạn, cùng nhóm người ấy lại được đầy dẫy Thánh Linh một lần nữa (Cong Cv 4:31). Điều lý thú và quan trọng cần chú ý, là các sứ đồ đã chẳng cần gì phải được đổ đầy lần thứ hai này bởi vì đã có một tội đặc thù nào đó xâm nhập đời sống các vị sau ngày lễ Ngũ tuần. Sở dĩ việc đổ đầy lần thứ hai này là cần thiết, chỉ vì các vị cần được kiểm soát trong một khu vực mới (thái độ mạnh dạn, táo bạo) khi phải trực diện với một vấn đề mới (việc Hội đồng Quốc gia Do-thái cấm truyền giảng Phúc âm). Nói khác đi, việc lặp lại sự đổ đầy có lẽ sở dĩ cần thiết vì có những lãnh vực mới của đời sống xuất hiện, cần phải được đặt dưới quyền cai trị kiểm soát của Thánh Linh. Dĩ nhiên, một Cơ Đốc nhân cần được đổ đầy nhiều lần khi tội lỗi (do bản ngã kiểm soát) đã phá vỡ sự cai trị của Thánh Linh.
Hãy còn một sự kiện khác nữa về sự đầy dẫy Thánh Linh được Eph Ep 5:18 gợi ý. Cơ Đốc nhân bị đòi hỏi phải đầy dẫy Thánh Linh (động từ 'đầy dẫy'). Các tín hữu được chờ đợi phải được đầy dẫy Thánh Linh, họ không được quyền chọn lựa. Rồi sách Công vụ cũng minh họa điều đó, vì việc đổ đầu đã được đề cập ít nhất chín lần và luôn luôn được kết hợp với tình trạng được ước ao hay lý tưởng của cá nhân hoặc Hội thánh. Và lẽ tất nhiên là Thánh Linh vẫn đang sẵn sàng để làm y như vậy cho Hội thánh ngày nay.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ MỘT NGƯỜI ĐƯỢC ĐẦY DẪY THÁNH LINH?
Phương pháp để được đầy dẫy Thánh Linh thường được kết hợp với một thứ chờ đợi hay khẩn khoảng cầu xin chỉ vì các môn đệ- Chúa đã được dạy là phải chờ đợi tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày lễ Ngũ tuần (Cong Cv 1:4). Thật ra, chờ đợi và khẩn khoản cầu xin không phải là các điều kiện tiên quyết để được đổ đầy Thánh Linh. Điều họ được bảo phải chờ đợi trước ngày lễ Ngũ tuần đã được Chúa gọi là 'điều Cha hứa' và sau đó, được giải thích thêm là việc làm ứng nghiệm lời hứa “được báp-tem bằng Thánh Linh” (Cong Cv 1:5). Họ đã chờ đợi để được phép báp-tem bằng Thánh Linh, và việc ấy sẽ xảy ra vào ngày lễ Ngũ tuần - đồng thời với việc họ được tiếp nhận sự đổ đầy Thánh Linh (Cong Cv 11:15-16 TC 2:4).
Chính sự lẫn lộn giữa phép báp-tem và sự đầy dẫy Thánh Linh này thường dẫn tới cái công thức sai lầm để được đầy dẫy Thánh Linh.
Nếu sách Công vụ ghi lại các trường hợp làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh (trong ngày lễ Ngũ tuần và tại nhà Cọt-nây (Cong Cv 1:5; 11:15-16), thì giải thích có gì xảy ra khi một người chịu phép báp-tem đã không được đưa ra trong sách Công vụ. Ý nghĩa của việc làm phép báp-tem của Đức Thánh Linh chỉ được giải thích trong ICo1Cr 12:13 câu ấy dạy rằng nhờ công tác ấy mà chúng ta được kết hợp vào với thân thể Chúa Cứu Thế. Chính vì lý do ấy mà chúng ta có thể quả quyết rằng phép báp-tem là việc chỉ xảy ra một lần duy nhất (vì một khi Cơ Đốc nhân đã được kết hợp, gắn liền vào với Chúa Cứu thế, thì sẽ chẳng bao giờ còn có thể tách rời được nữa), rằng nó xảy ra khi một người được cứu (nếu không, sẽ có những người được cứu mà không được kết hợp vào với Chúa Cứu Thế để trở nên hợp nhất với Ngài), và rằng, trước hết, nó là một vấn đề về địa vị, chớ không phải là về quyền năng. Tất cả những điều đó đều hàm chứa trong câu Kinh Thánh nhằm giải thích, là 12:13, trong đó thì của động từ chịu báp-tem chỉ một biến cố đã hoàn tất, trong đó 'tất cả' các tín hữu đều được thâu tóm vào (trong số đó, có một vài người chưa hề nói ngoại ngữ 12:30), và trong đó hậu quả là địa vị của họ đã được vạch rõ là một bộ phận, một chi thể trong thân thể Chúa Cứu thế.
Hơn nữa, không có chỗ nào trong Tân ước chỉ cho thấy là sau ngày lễ Ngũ tuần, việc chờ đợi còn được đòi hỏi như một điều kiện tiên quyết để được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Trường hợp đặc biệt duy nhất khác về việc làm báp-tem xảy ra trong sách Công vụ, là tại nhà Cọt-nây (Cong Cv 10:45; 11:15-16), và nó xảy ra tại đó đúng lúc mọi người tin Chúa, giữa khi Phao-lô đang còn giảng cho họ. Mẫu mực cho việc người ngoại quốc được nhận vào thân thể Chúa Cứu Thế đã được quy định trong nhà Cọt-nây không bao gồm việc cầu nguyện, khẩn khoản hay chờ đợi chi cả, mà chỉ có tin Chúa Cứu Thế Giê-xu, rồi để đáp lại Thượng Đế đã làm phép báp-tem cho họ bằng Thánh Linh ngay tức khắc. Ngày nay, Thượng Đế vẫn còn tiếp tục noi theo cùng một mẫu mực ấy.
Nhưng về việc đầy dẫy Thánh Linh thì thế nào? Đâu là các điều kiện để được như vậy? Một lần nữa, cho dầu chúng ta có lật tìm trong các trang Tân ước cũng chỉ là vô ích mà thôi, vì chẳng hề thấy có một thí dụ nào về việc các tín hữu cầu nguyện xin được đầy dẫy Thánh Linh sau ngày lễ Ngũ tuần. Thí dụ gần gũi nhất với một trường hợp như vậy, là lời cầu nguyện của Phao-lô cho các tín hữu người Ê-phê-sô trong thư Eph Ep 1:17. Thế nhưng, cả trường hợp này cũng không phải là một lời cầu nguyện xin được đầy dẫy Thánh Linh. Thật ra, đã không hề có một thí dụ nào như vậy, tuy nhiều người vẫn tưởng rằng đó chính là phương pháp để được đầy dẫy Thánh Linh.
Tuy Thượng Đế không còn đòi hỏi chúng ta hoặc là chờ đợi, hoặc là cầu nguyện khẩn thiết để được đầy dẫy Thánh Linh nữa, điều đó không có nghĩa là việc được đầy dẫy Thánh Linh là vô điều kiện. Tắt một lời, thì điều kiện là vâng lời, và nếu việc cầu nguyện có thể bao hàm trong việc đáp ứng các điều kiện vâng lời, thì điều kiện tiên quyết cho việc được đầy dẫy Thánh Linh là phục tùng. Lẽ dĩ nhiên, điều này hàm ngụ đúng ý niệm về cai trị kiểm soát, vì Thánh Linh không hề ép buộc, áp đặt quyền cai trị kiểm soát của Ngài trên đời sống chúng ta, mà chúng ta phải phục tùng, tự đặt mình dưới quyền cai trị kiểm soát của Ngài, và hậu quả của việc làm đó sẽ là việc được Thánh Linh đầy dẫy hay cai trị kiểm soát.
Phục tùng bao hàm cả hành động đầu tiên, đột ngột và hoàn toàn của việc hiến thân (như đã được thảo luận trong chương 7), lẫn việc bước đi hằng ngày trong sự tin cậy, tùy thuộc vào quyền năng của Thánh Linh. Góc cạnh sau cùng này chính là điều đã được đề cập trong GaGl 5:16 “Vậy tôi khuyên anh em đi theo sự hướng dẫn của Thánh Linh, để thoát khỏi dục vọng của bản tính cũ”. Ở đây, thì của động từ là hiện tại cho thấy một sự lệ thuộc liên tục vào Đức Thánh Linh. Thật ra thì theo bản tính của nó, bước đi là những hành động lệ thuộc liên tiếp theo nhau. Khi một chân được cất lên để đặt nó lên trước chân kia, hành động ấy được thực hiện với đức tin là chân còn lại trên mặt đất sẽ đỡ lấy toàn thể trọng lượng của thân thể. Mỗi chân thay phiên nhau để làm một cái giá đỡ, trong khi chân kia tiến tới. Việc bước đi chỉ có thể thành công nhờ các hành động liên tiếp theo nhau của đức tin vào năng lực của cái chân kia của chúng ta. Cũng vậy, bước đi của Cơ Đốc nhân chỉ thành công nhờ sự lệ thuộc thường xuyên vào quyền cai trị kiểm soát của Đức Thánh Linh trên đời sống chúng ta.
Vậy, được đầy dẫy Thánh Linh, là được Thánh Linh cai trị kiểm soát. Mà muốn được cai trị kiểm soát như thế đòi hỏi phải có sự phục tùng, có việc cống hiến cả cuộc đời và sự lệ thuộc hằng ngày vào quyền năng của Thánh Linh. Cầu nguyện và nỗ lực của con người có thể bao gồm trong việc đáp ứng các điều kiện ấy, nhưng một khi các điều kiện ấy đã được thỏa mãn rồi, thì việc cai trị kiểm soát của Thánh Linh (do đó là sự được đổ đầy, được đầy dẫy Ngài) sẽ tự động xảy ra.
Đến đây, thì một câu hỏi hết sức thực tiễn được đặt ra: Có bao giờ bạn có thể nói được là mình đang đầy dẫy Thánh Linh không? Nếu bạn từng có mặt trong một buổi nhóm lại, và diễn giả yêu cầu những người đã được đầy dẫy Thánh Linh nêu ra vài dấu chỉ cho thấy họ biết là như vậy, chắc bạn đã lưu ý rằng đa số đều không muốn làm như vậy. Sự phân vân đó có phải là không, hay một người có thể biết mình được đầy dẫy Thánh Linh thì không thể im lặng mà phải đưa tay lên cho mọi người đều biết? Có một số lãnh tụ cảm thấy không cần gì phải ngại ngùng và và khuyến giục mọi người: 1. hãy phục tùng và 2. đứng lên tuyên bố rằng họ hiện đang được đầy dẫy Thánh Linh. Làm thế nào là đúng - phân vân ngần ngại, như phần đông chúng ta dường như cảm thấy như vậy, hay cách khẳng định mạnh bạo mà một số người muốn chúng ta phải có?
Theo một ý nghĩa, thì cả hai cách nhấn mạnh trên đây đều đúng cả. Quả thật là khi một người đã phục tùng sự cai trị tự kiểm soát của Thánh Linh, thì Ngài chiếm hữu đời sống người ấy và hướng dẫn nếp sống của người ấy. Đó là sự đầy dẫy, và một người có thể biết chắc mình đã được cai trị kiểm soát hay đầy dẫy bao lâu mình tự ý, tự nguyện phục tùng Đức Thánh Linh. Thế thì tại sao lại còn phân vân ngần ngại? Sở dĩ như vậy là vì chúng ta vốn nhận thức được rằng chẳng hề có ai trong chúng ta đã đạt được mức ấy rồi, và luôn luôn còn có những khu vực của đời sống được đưa ra ánh sáng, trong đó chúng ta cần được đặt dưới quyền cai trị kiểm soát của Đức Thánh Linh khi đời sống cứ tiến triển. Bước đi chưa phải là đã đến nơi. Mỗi bước đều phải thực hiện bằng sự lệ thuộc, tin cậy nơi Ngài, và ở mỗi bước đều có thể có sự va vấp. Do đó, mọi người đều ngần ngại, không dám đưa tay lên để cho thấy họ biết mình đã được đầy dẫy Thánh Linh; sở dĩ như vậy chỉ đơn giản là tuy họ nhận thức được - dầu là mơ hồ hay rõ ràng - rằng các vấn đề và hoàn cảnh của ngày mai sẽ đưa đến nhiều trắc nghiệm kiểm tra mới, và chừng đó thì mới có thể quyết định được.
Phao-lô từng viết về sự chắc chắn và không chắc chắn như vậy trong cùng một câu. “Tôi biết rằng tôi chẳng có gì đáng trách, nhưng không vì thế mà tôi được kể là công chính. Chúa là Đấng sẽ xét xử tôi” (ICo1Cr 4:4). Liên hệ với vấn đề được đầy dẫy Thánh Linh, có một số người cần được bảo đảm rằng họ có thể từng trải được quyền cai trị kiểm soát của Ngài; nhiều người khác cần được cảnh cáo đối với thai độ tự tin quá đáng, kẻo e họ cảm thấy là chẳng còn có trận đánh nào nhằm cai trị kiểm soát bản thân mà chúng ta cần phải chiến thắng nữa cả.
ĐÂU LÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT ĐỜI SỐNG ĐẦY DẪY THÁNH LINH?
Làm thế nào để biết là mình đã được đầy dẫy Thánh Linh? Đời sống mình sẽ như thế nào? Các Cơ Đốc nhân đầy dẫy Thánh Linh khác nhau và giống nhau với các Cơ Đốc nhân khác như thế nào? Lời đáp cho các câu hỏi này rất quan trọng, để có những hướng dẫn phù hợp với một đời sống đầy dẫy Thánh Linh, và để tránh các mẫu mực chủ quan mà chúng ta bắt buộc các tín hữu phải rập khuôn nếu họ muốn chứng minh rằng họ đã được đầy dẫy Thánh Linh.
1. Giống với Chúa Cứu Thế. Giống với Chúa Cứu Thế là biểu hiện đầu tiên của việc được đầy dẫy Thánh Linh. Nó cũng là một đặc điểm phổ quát của việc ấy; nghĩa là tất cả những ai được đầy dẫy Thánh Linh đều bày tỏ những nét đặc trưng giống như chính Chúa Cứu Thế trong đời sống của họ. Nhưng giống với Chúa Cứu Thế là gì? Chắc phần đông chúng ta đều có khuynh hướng muốn đem nhân cách của chúng ta để soi vào một tấm gương nhằm so sánh nó với ý niệm về giống với Chúa Cứu Thế, mà không chịu tìm cách để thay đổi nhân cách của chúng ta sao cho phù hợp với Chúa Cứu Thế của Kinh Thánh. Những người ngoại hướng chắc tưởng rằng Chúa Cứu Thế vốn là một người ngoại hướng hung hăng, luôn luôn sốc tới Những người nội hướng chỉ có thể hình dung ra Ngài là một Con Người nhu mì hiền hậu, chẳng bao giờ tự khẳng định mình. Một Cơ Đốc nhân hành nghề kinh doanh xốc xáo, có lẽ tưởng rằng Chúa Cứu Thế phải trở thành triệu phú nếu Ngài chịu chọn nghề kinh doanh; trong khi người tín hữu tầm thường, rụt rè cũng tin chắc rằng Chúa chẳng bao giờ có thể dính dáng gì với nghề kinh doanh, đầu cơ tích trữ, và tất cả những gì có liên quan với tài chánh. Việc không thể tránh né vào đâu được, là chúng ta vốn có khuynh hướng tự phản chiếu bản thân chúng ta vào ý niệm giống Chúa Cứu Thế của riêng mình.
Giống với Chúa Cứu Thế đích thực là gì? Cho dầu có quan tâm hay chẳng quan tâm tới vấn đề ấy, phần đông đều nhất trí rằng đó là trái của Thánh Linh; mà điều đó, theo như GaGl 5:22, 23 bao gồm chín đặc điểm. Nếu Đức Thánh Linh cai trị kiểm soát cuộc đời của một người, thì trái của Thánh Linh sẽ được phô bày ra, và đó là giống với Chúa Cứu Thế. Nhưng trái của Thánh Linh lại quá thường được hiểu theo một đường lối quá ư nông cạn, đưa đến một ý niệm sai lệch về việc giống với Chúa Cứu thế.
Thật ra, chín nét đặc trưng về trái của Thánh Linh ngụ ý nói gì? Chẳng hạn yêu thương có nghĩa gì? Chắc chắn đây không phải chỉ là một tình cảm thoáng qua, thiếu căn cơ vững chắc. Yêu thương là làm theo ý chỉ Thượng Đế, và nó có thể bao hàm đủ thứ hành động khác nhau. Chẳng hạn như Chúa chúng ta, vốn là Thượng Đế, là tình yêu thương, chắc đã không thể làm một việc gì không có tình yêu thương khi Ngài bị bắt buộc phải đánh đuổi những kẻ đổi bạc ra khỏi đền thờ. Lắm khi tình yêu thương có thể che đậy tội lỗi bằng cách không phơi bày nó ra, nhưng cũng chẳng bao giờ dung tha tội lỗi. Giống với Chúa Cứu Thế bao gồm một tình yêu thương căn bản nhằm vâng theo ý chỉ Thượng Đế, mà trong một trường hợp nhất định nào đó có thể tự chứng minh bằng một hành động mà nhìn trên bề mặt, thì có thể thấy là chẳng tử tế, tốt đẹp gì.
Cũng vậy, sự vui mừng không tùy thuộc vào bề mặt của hoàn cảnh, nhưng theo Kinh Thánh nó có liên hệ về căn bản với việc nhìn thấy các tín hữu khác tiến bộ trong sự thông hiểu chân lý (IIIGi 3Ga 1:4; Phi Pl 2:2; ITe1Tx 2:19). Nói khác đi sự vui mừng giống với Chúa Cứu Thế nảy sinh từ việc chúng ta đã phục vụ hữu hiệu cho tha nhân như chính Chúa Cứu Thế từng làm (HeDt 12:2).
Bình an là sự an lòng mà chỉ người tín hữu mới có thể có được vì người ấy vốn có mối liên hệ phải lẽ, đứng đắn với Thượng Đế (RoRm 5:1; Eph Ep 2:17). Nó không đến do có sự an ninh trần gian mà nhiều khi của cải đời này tưởng có thể đem đến được (Mat Mt 8:20). Sự bình an với Thượng Đế có thể được từng trải ngay giữa lúc người ta gặp nhiều rắc rối nhất trong các mối liên hệ trần gian (10:34), vì nó có cơ sở trước nhất là mối liên hệ theo chiều thẳng đứng của chúng ta với Thượng Đế. Lẽ tất nhiên là cũng có các dây mơ rễ má theo chiều ngang nữa, nhưng Kinh Thánh có cảnh cáo là không phải chúng ta luôn luôn sống hòa bình được với tất cả mọi người (RoRm 12:18).
kiên trì chịu khổ (nhẫn nại) là thế quân bình trong cá tính và cách ăn ở ứng xử của một người, giúp người ấy chẳng bao giờ tỏ ra ước muốn báo thù. Nó bao gồm nét đặc trưng của sự kiên nhẫn, mà cũng có sự kìm chế tích cực để làm việc với mọi người hầu làm thăng tiến vinh quang của Thượng Đế trong họ. Nó có thể bao hàm việc chê trách một ai đó (GiGa 14:9) nhưng luôn luôn là nhằm mục đích làm thăng tiến sự tăng trưởng của người ấy trong ân phúc Thượng Đế.
Nhân từ và hiền lành là hai mặt của cùng một đồng tiền. Từ ngữ trước có nghĩa là các tư tưởng đem đến lợi ích, và từ ngữ sau có nghĩa là các hành động tử tế, tốt lành. Rõ ràng là Chúa chúng ta luôn luôn giống với Chúa Cứu Thế, vì cả khi Ngài hành động để tận diệt cả một bầy heo, Ngài vẫn không hành động trái với tánh hiền lành.
Trung tín có nghĩa là phục vụ và sống bình dị, tận dụng mọi cơ hội mà Thượng Đế ban cho chúng ta. Nó bao hàm những việc làm sự thờ phượng và làm chứng đạo theo thói quen đã thành nếp. Lẽ dĩ nhiên là nó cũng gồm luôn những cơn khủng hoảng của đời sống, nhưng với tất cả mọi người chúng ta, thành tín phần lớn là một vấn đề của lòng tin kính trước tính cách nhàm chán của cuộc đời. Chúa chúng ta từng chứng tỏ điều này nhân các hoàn cảnh phải chịu khổ nhọc (LuLc 2:52; 4:39; HeDt 5:8), và trái này của Thánh Linh là điều đòi hỏi toàn thể các tín hữu phải có (ICo1Cr 4:2).
Hòa nhã là tính cách của con người quân tử. Nó không phải là yếu đuối (chú ý cách Chúa chúng ta đối phó với những kẻ chống đối Ngài trong Mat Mt 15:1-39). Kinh Thánh từng nói về Mai-sen, vị lãnh tụ vĩ đại, là người hòa nhã nhất trong toàn thể mọi người trên đất (Dân 12:3;). Trong thời của chúng ta ngày nay, quyền lãnh đạo quá thường được xây dựng trên một nhân cách năng động hay sức thu hút cá nhân; sự hòa nhã theo Kinh Thánh là nền móng của tính cách vĩ đại.
Tự chủ là đặt mọi lãnh vực của đời sống dưới kỷ luật, nhất là lãnh vực luân lý đạo đức. Nó có nghĩa là đặt mọi phương diện của đời sống vào việc phục tùng kỷ luật để cuộc đời ấy chịu đầu phục ý chỉ Thượng Đế càng được ngoan ngoãn chừng nào, càng hay chừng nấy. Chắc chắn nó không hề có nghĩa là lười nhác, nhu nhược, vô mục đích và dễ dãi.
Tất cả chín nét đặc trưng trên đây họp lại tạo thành trái của Thánh Linh. Sự kiện cả chín nét đặc trưng kể trên chỉ là một trái - chớ không phải là nhiều trái - của Thánh Linh nhắc cho chúng ta nhớ rằng tất cả chín trái phải hiện diện đồng thời, hoàn toàn hoà nhập vào nhau, và tác động lẫn nhau để tạo ra một đời sống quân bình, được Thánh Linh cai trị kiểm soát, và tạo kết quả.
Đến đây thì một vấn đề thực tiễn được đặt ra. Tôi xin minh họa như thế này. Tôi từng nghe nhiều lời làm chứng của các sinh viên mới, đại khái như sau “Lần đầu tiên vào trường, tôi đến lớp học của Tiến sĩ gì gì đó, và rất ngưỡng mộ ông ta. Tôi nghĩ là mình sẽ phải trở nên giống như ông ta vậy. Rồi tôi đến với lớp học của giáo sư chi chi đó, và ông ta đã bắt phục tôi, khiến tôi học biết rằng tôi phải trở nên giống như ông ta. Việc ấy cứ tiếp tục xuyên suốt các lớp học của tôi, và mỗi một vị giáo sư đều dường như chính là nhân vật mà tôi muốn dùng làm mẫu cho đời sống tôi sau này. Nhưng chẳng bao lâu, tôi cảm thấy thất vọng vì biết rằng tôi không thể nào trở thành giống như tất cả các vị ấy được, cho nên cuối cùng, tôi nhận thức được rằng Thượng Đế muốn tôi phải trở thành người đại diện tốt nhất cho chính tôi trong phạm vi tôi có thể làm được. Và đó là điều mà tôi đang cố gắng để trở thành “Lẽ dĩ nhiên, điểm sai lầm rõ rệt trong câu kết luận này, là Thượng Đế muốn tôi phải trở thành người đại diện tốt nhất cho Chúa Cứu Thế trong phạm vi tôi có thể trở thành. Thế nhưng sau khi đã nói như vậy rồi, tôi nhận thức được rằng đó vẫn chưa phải là toàn thể câu chuyện, vì Thượng Đế vẫn còn ban cho nhiều điểm dị biệt khác nữa giữa bạn với tôi. Do đó mà vấn đề thực tiễn về việc trở hành giống với Chúa Cứu thế được đặt ra là thế này: Nếu toàn thể các tín hữu đều trở thành giống với Chúa Cứu Thế, thì mọi người chúng ta sẽ trở thành giống nhau và khác nhau như thế nào?
Câu trả lời nằm trong mối liên hệ hỗ tương giữa việc trở nên giống với Chúa Cứu Thế, các ân tứ tự nhiên, các ân tứ thuộc linh và nhân cách. Những điểm dị biệt về các thiên bẩm tự nhiên kể cả các nét đặc trưng cá nhân đều là của riêng của mọi người chúng ta. Một số các điểm dị biệt ấy vốn phi-đạo-đức, nghĩa là tự chúng vốn không tốt cũng không xấu, chẳng thiện cũng chẳng ác. Nhưng một số vốn do bản tính tội lỗi và phạm vi theo đó nó bị kiểm soát hoặc kìm chế. Là các tín hữu, chúng ta còn được ban thêm cho nhiều ân tứ thuộc linh theo cách phối hợp khác nhau tùy từng người. Bản tính cũ trong người tín hữu vẫn chưa bị xóa đi và nó có thể tiếp tục bộc lộ các đặc điểm của nó trong đời sống. Khi chúng ta trở thành Cơ Đốc nhân, những điểm dị biệt tự nhiên không nhất thiết bị xóa sạch. Thế nhưng giống với Chúa Cứu Thế là một lý tưởng tuyệt đối chẳng có gì khác nhau cho từng tín hữu một. Tất cả các tín hữu đều phải bộc lộ cùng một loại cá tính và cách ăn ở ứng xử vốn là trái do Thánh Linh khiến nảy sinh. Tất cả các tín hữu đều bày tỏ ra trái của Thánh Linh, nhưng mỗi người sẽ làm việc đó thông qua nhân cách riêng và các ân tứ riêng của mình. Sẽ có những điểm khác nhau vì cớ các thiên tư; sẽ có những điểm giống nhau vì có sự cai trị kiểm soát của Thánh Linh. Sẽ chẳng có cách nào để bào chữa, biểu lộ vì không sẵn sàng để cho Chúa thực hiện việc thay đổi trong nhân cách chúng ta, hoặc vì chúng ta cho phép bản tính tội lỗi chiếm ưu thế.
Nói cụ thể hơn, thì một tín hữu có thương số thông minh thấp, có thể bày tỏ tình yêu thương, sự vui mừng, bình an, v.v...; còn người tín hữu có thương số thông minh cao cũng phải làm như vậy trong lãnh vực hoạt động của mình. Người tín hữu có các ân tứ kém hơn phải vận dụng chúng, để kết quả cho Thánh Linh; cũng vậy đối với người tín hữu có nhiều ân tứ vượt trội hơn. Một người ngoại hướng hay 'qua mặt' người khác vì cớ nhân cách hay lấn lướt của mình, phải tìm cách để cho Thánh Linh biến cải mình và tạo ra sự hòa nhã trong con người mình. Cơ Đốc nhân lười biếng đừng bao giờ bào chữa cho sự hư hèn của mình là do bẩm sinh, mà phải để cho Thánh Linh sinh ra quả tự chủ trong đời sống mình. Đặc tính giống với Chúa Cứu Thế và cách ăn ở ứng xử của các Cơ Đốc nhân phải giống nhau; những điểm khác nhau do Thượng Đế phú cho và có tính cách phi-đạo-đức khiến chúng ta thành những con người khác nhau; còn những điểm khác nhau có tính cách tội lỗi thì chẳng bao giờ nên dung dưỡng. Tôi phải là người đại diện tốt nhất cho chính tôi trong phạm vi tôi có thể làm được và do điều Chúa có thể làm cho tôi, bao lâu hình ảnh đó biểu lộ tính cách giống với Chúa Cứu Thế trong cách vận dụng các đức hạnh riêng biệt mà Thượng Đế ban cho đời sống tôi. Loại đời sống như vậy, là loại đời sống được Thánh Linh cai trị kiểm soát và đổ đầy.
2. Một đời sống phục vụ “Ngày chót trong kỳ lễ là ngày long trọng nhất. Chúa Giê-xu đứng lên, lớn tiếng kêu gọi: Người nào khát hãy đến với tôi mà uống. Người nào tin tôi, các mạch nước hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng, đúng như Thánh Kinh đã chép (Chúa ngụ ý nói về Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ tiếp nhận vào lòng. Lúc ấy Thánh Linh Chúa giáng xuống vì Chúa Giê-xu chưa được quang vinh)” (GiGa 7:37-39). Suốt bảy ngày trước đó của lễ Lều tạm, lễ quán bằng nước múc từ ao Si-lưu đem về đã được dâng lên lúc dâng của lễ ban mai. Đến ngày thứ tám, lúc Chúa Giê-xu phán mấy lời này, rõ ràng là đã chẳng có lễ quán nào được dâng lên cả, khiến việc Ngài tự xưng là Đấng có thể thỏa mãn được cơn khát của mọi người càng trở thành đáng kinh ngạc hơn nữa. Nhưng không phải Ngài chỉ bảo là Ngài có thể thỏa mãn cơn khát mà thôi, nhưng thêm vào đó, Ngài còn tiên báo Thánh Linh sẽ được đổ xuống tràn trề trên đời sống người tín hữu, khiến cho phước hạnh người ấy nhận được sẽ lan tràn ra. Nhưng lẽ dĩ nhiên là Thánh Linh phải được cho phép làm việc đó khi Ngài được dành cho quyền cai trị kiểm soát trên đời sống người tín hữu.
Người tín hữu đầy dẫy Thánh Linh sẽ thực hiện loại công tác phục vụ nào? Câu trả lời nói chung, là người ấy sẽ vận dụng quyền năng của Thánh Linh, kết hợp với các ân tứ thuộc linh của riêng mình. Nhưng hãy còn một câu trả lời cụ thể hơn thế nữa, và nó đến từ một trường hợp lý thú nữa, và nó đến từ một trường hợp lý thú tiếp sau việc được đầy dẫy Thánh Linh trong sách Công vụ. Xin chú ý các trường hợp mà việc đổ đầy được ghi lại và những gì xảy ra sau đó.
Sự đầy dẫy vào ngày lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:4) được nối tiếp bằng việc ăn năn quy đạo của ba ngàn người (2:41). Lúc lên tiếng trước Hội đồng Quốc gia Phê-rơ lại được đầy dẫy một lần nữa (4:8). Sau khi nhóm người ấy cảnh cáo ông chớ nên truyền giảng Chúa Giê-xu nữa, thì khi nghe tường thuật lại, các môn đệ Chúa cầu nguyện xin được lòng mạnh dạn để làm điều mà họ đã bị cảnh cáo là chớ nên làm. Một lần nữa, họ lại được đổ đầy Thánh Linh (4:31) và nhiều người tiếp tục được cứu (5:14). Việc tuyển chọn bảy chấp sự để giúp các sứ đồ trong chương 6 (một điều kiện về phẩm cách để số người này được chọn, là được đầy dẫy Thánh Linh - c.3) dẫn đến kết quả là một số đông các thầy tế lễ đã trở về với Chúa (6:7). Sau cái chết của Ê-tiên, một trong số bảy chấp sự, là việc ăn năn quy đạo của sứ đồ Phao-lô (8:1 TC 9:5). Lúc bắt đầu cuộc đời mới trong Chúa Cứu Thế, Phao-lô đã được đầy dẫy Thánh Linh (9:17), và kết quả của đời sống ông thì ai nấy đều biết rõ (TC 13:9). Phần ghi lại việc đổ đầy Thánh Linh cho đời sống Ba-na-ba cũng được nổi tiếng trong cùng một câu, là “Ông dìu dắt nhiều người đến với Chúa” (11:24).
Trong mọi trường hợp đổ đầy Thánh Linh trong sách Công vụ, việc đổ đầy Thánh Linh để cai trị kiểm soát các môn đệ Chúa trong việc họ phục vụ Ngài, đều có kết quả là nhiều linh hồn đã được cứu. Mắc xích nối liền việc đầy dẫy với việc cứu rỗi linh hồn người ta còn trực tiếp hơn nữa trong đời sống nhiều Cơ Đốc nhân. Quả thật là vào thời Hội thánh nguyên thủy và cho đến tận ngày nay, đó là sự biểu hiện của việc được đầy dẫy Thánh Linh. Để cho chắc chắn hơn cũng còn có những mắc xích gián tiếp, nhưng cũng sống động y như vậy nữa. Điều chẳng có gì để nghi ngờ, là Hội thánh nguyên thủy đòi hỏi số người giúp việc phải thực hiện nhiều công tác ngoạn mục mà các kết quả đã được ghi lại trong sách Công vụ. Những người chuyên tâm cầu nguyện (2:24) vốn có phần trong việc dẫn dắt nhiều người đến với Chúa, và chắc chắn là số người đã dâng hết tài sản mình để Hội thánh khỏi bị thiếu thốn về tài chánh (4:34) vốn có liên hệ mật thiết với việc đưa được nhiều người đến với Chúa Cứu Thế, nhưng Hội thánh - trong đó mỗi người đều thực thi các ân tứ riêng biệt của mình dưới quyền cai trị kiểm soát của Đức Thánh Linh, đã được thấy nhiều linh hồn được cứu và các thành viên của mình được đầy dẫy Thánh Linh. Thế thì chúng ta phải kết luận rằng việc phục vụ của Cơ Đốc nhân tạo được kết quả là có nhiều người đến với Chúa Cứu Thế, vốn là một đặc điểm của cuộc đời đầy dẫy Thánh Linh.
3. Ca tụng thờ phượng, cảm tạ, và tùng phục nhau. Câu Kinh Thánh cổ điển về việc được đầy dẫy Thánh Linh trong Eph Ep 5:18 được nối tiếp bằng một bảng liệt kê bốn đặc điểm của loại đời sống như thế. Đặc điểm thứ nhất là việc bộc lộ ra ngoài lòng ca ngợi tán tụng bằng cách “dùng lời hay ý đẹp trong Thi thiên thánh ca mà xướng họa với nhau”. Đặc điểm thứ hai là thái độ thờ phượng bên trong được chứng minh bằng việc nức lòng trổi nhạc ca ngợi Chúa. Đặc điểm thứ ba là 'gặp bất cứ việc gì cũng luôn nhơn danh Chúa Cứu Thế Giê-xu cảm tạ Thượng Đế'. Câu này có tính cách hết sức bao quát, và được viết ra bởi một người đang bị cầm tù tại Rô-ma. Đặc điểm thứ tư là tùng phục nhau, vốn có ảnh hưởng đến các mối liên hệ trong đời sống, sao cho sự bình an và hài hòa sẽ trị vì giữa chồng với vợ, cha mẹ với con cái, chủ nhân với công nhân.
Mỗi một đặc điểm trên đây của một cuộc đời đầy dẫy Đức Thánh Linh trở thành một bảng trắc nghiệm xác định xem bạn có được đầy dẫy Thánh Linh hay không. Chẳng hề có niềm vui nội tâm hay việc bộc lộ thành bài ca và lời làm chứng nào, lại không có nghĩa là có sự cai trị kiểm soát của Thánh Linh. Một thái độ phiền trách là do bản ngã, chớ không thể do Thánh Linh, là Đấng muốn chúng ta luôn luôn dâng lên lòng tri ân cảm tạ Chúa và sự bất hòa trong gia đình hay tại nơi làm việc vốn không từ Chúa mà đến, nhưng là từ bản ngã. Đến đây chúng ta đang quay trở lại với đúng điểm chúng ta đã bắt đầu, vì ngay từ đầu, tôi đã nói rằng tính cách thuộc linh được chứng minh rõ ràng nhất là ngay tại nhà riêng.
Làm thế nào để biết là tôi có được đầy dẫy Thánh Linh hay không? Câu trả lời đơn giản nhất là một bảng trắc nghiệm duy nhất: trong phạm vi hiểu biết và tài năng tột cùng của mình, tôi có đặt đời sống tôi dưới quyền cai trị kiểm soát của Ngài không? Nếu câu trả lời là có, thì bạn đã được đầy dẫy Thánh Linh. Nhưng điều này không có nghĩa là nó sẽ tồn tại, dầu chỉ là một ngày thôi. Vì ngày mai, một vấn đề mới hoặc một tình huống mới sẽ có thể nảy sinh, trong đó bạn sẽ giành lấy quyền cai trị kiểm soát và trong lãnh vực đó, bạn sẽ không được đầy dẫy Thánh Linh.
Cách trắc nghiệm căn bản, là trắc nghiệm về quyền cai trị kiểm soát, các chứng cứ có liên hệ với việc được đầy dẫy Thánh Linh, là những đặc điểm vừa thảo luận trên đây. Nếu việc trở nên giống như Chúa Cứu Thế đang được phát triển (nó chẳng bao giờ trở thành trọn vẹn hay được phát triển thật đầy đủ ngay trong đời này), nếu cuộc đời bạn đang được phó dâng cho việc cứu rỗi linh hồn người ta, và nếu sự ca tụng, thờ phượng, cảm tạ và tùng phục lẫn nhau đang ngự trị trong lòng bạn và các hành động của bạn, thì Thánh Linh đang cầm quyền cai trị kiểm soát. Bạn chẳng cần gì phải tìm kiếm một sự biểu hiện gây kinh ngạc nào của sự đầy dẫy Thánh Linh, cũng chẳng cần chi phải khẩn khoản cầu xin một từng trải có tính cách xuất thần nào đó. Hãy giao quyền cai trị kiểm soát đời sống bạn cho Thượng Đế; hãy cứ giữ vững thái độ ấy, và tận dụng mọi quyền năng đang dành cho bạn để phát triển các đặc điểm của một đời sống đầy dẫy Thánh Linh đúng theo Kinh Thánh dạy.

CÁC MƯU CHƯỚC CỦA MA QUỈ
Một mưu chước là một âm mưu được sắp đặt trước, một mánh khóe gian xảo nhằm mục đích lường gạt. Các mưu chước của Sa-tan là mối bận tâm chính yếu của Cơ Đốc nhân muốn sống thuộc linh. Thế nhưng trong nhiều lãnh vực khác của sinh hoạt thuộc linh, đây cũng là một vấn đề cần quân bình. Có một số các tín hữu thấy rõ hành động của Sa-tan trong từng chi tiết của đời sống; nhiều người khác lại chẳng hề nhận thấy hoạt động nào của nó cả. Điểm lạ lùng đáng nói, là có một số người lại thật sự, hay ít ra là trên phương diện thực tế, vẫn phủ nhận sự thực hữu của nó. Rõ ràng là có nhiều người cho rằng Sa-tan chỉ hiện hữu trong tâm trí của con người ta mà thôi; do đó, sự kiện chúng ta tưởng rằng nó hiện hữu chính là sự hiện hữu duy nhất của nó. Tuy nhiên, Kinh điển dạy rằng Sa-tan đã sống trước cả lúc loài người được tạo dựng; như vậy là nó đã hiện hữu trước cả một tâm trí của con người để quan niệm về nó hay thừa nhận sự hiện hữu của nó (Exe Ed 28:13-15). Hơn nữa, tất cả những lời Chúa chúng ta đề cập ma quỉ đều là chứng cứ cho sự thực hữu của nó (Mat Mt 13:39; 25:41; LuLc 10:18; GiGa 12:31; 16:11), nếu không, người ta sẽ bị bắt buộc phải kết luận rằng Chúa Cứu Thế đã chẳng biết mình nói gì. Lẽ dĩ nhiên là thần học hiện đại giải thích những câu đề cập ấy là do Chúa Cứu Thế muốn tự hòa mình với sự ngu dốt của quần chúng vào thời của Ngài, nhưng nếu quả thật là có sự hòa mình như vậy, thì nó sẽ làm mất giá trị của toàn thể bức thông điệp của Ngài. Sa-tan hiện hữu. Cả Kinh Thánh lẫn Chúa chúng ta đều chứng thực cho sự kiện này.
Nhưng - hãy quay trở lại với các mưu chước hay quỉ kế của Sa-tan - làm thế nào Sa-tan lại khôn khéo như vậy? Có ít nhất ba yếu tố góp phần vào việc giúp nó nắm vững nghệ thuật lừa dối. Về một phương diện, nó thuộc về một trật tự thọ tạo cao hơn loài người (HeDt 2:7). Nó là một thiên sứ, tuy bây giờ đã sa ngã rồi, và trong hàng các thiên sứ, nó vốn là một chê-ru-bin (Exe Ed 28:14). Như vậy, dường như Sa-tan vốn hưởng được một quy chế cao hơn con người.
Theo một phương diện, Sa-tan vốn có nhiều từng trải hơn bất luận một người nào. Nhờ sống lâu, Sa-tan đã thâu thập được nhiều kinh nghiệm cả theo chiều rộng lẫn chiều sâu, khiến nó vượt hẳn sự hiểu biết giới hạn của con người. Nó từng quan sát nhiều tín hữu khác trong mọi hoàn cảnh khả dĩ quan niệm được, do đó, có thể tiên đoán thật chính xác chúng ta sẽ đáp ứng như thế nào đối với các hoàn cảnh. Tuy Sa-tan không phải là vô sở bất tri, từng trải và khả năng quan sát con người rất dày dạn, rộng rãi của nó xuyên suốt toàn thể lịch sử thế gian này, khiến nó có được sự hiểu biết vượt xa điều mà bất luận một người nào có thể có được. Rõ ràng là Sa-tan cũng biết Kinh Thánh; do đó một tín hữu không hề chiếm được ưu thế riêng biệt so với nó cả trong lãnh vực này nữa.
Một lợi thế nữa của Sa-tan là nó có tài biến hóa thiên hình vạn trạng. Nó luôn luôn hiện hình theo nhiều cách, khi thì như một thiên sứ sáng chói còn các thuộc hạ của nó thì như những người phục dịch cho sự công chính (IICo 2Cr 11:14, 15), khi thì như một rồng có cả sừng lẫn đuôi (KhKh 12:3). Tuy cách hiện hình sau này thường được bảo là không phải ở trong Kinh Thánh, sự thật là quả có như vậy; và sở dĩ điều đó đã được chép trong Kinh Thánh, là nhằm giúp chúng ta nhận thức được bản tính hung bạo của Sa-tan khi nó dấn thân vào cuộc chiến tranh nhằm chống lại những người thuộc về Thượng Đế.
Để tóm tắt: Do được hưởng quy chế cao hơn con người, được hiểu biết nhiều hơn, và đặc tính có thể biến hóa thiên hình vạn trạng như con kỳ nhông vậy, quỉ Sa-tan là một kẻ thù mà bất luận một Cơ Đốc nhân nào cũng không thể xem thường các mưu chước của nó.
KẾ HOẠCH CỦA SA-TAN
Kể từ ngày vừa mới phạm tội cho đến ngày phải chịu thảm bại cuối cùng, kế hoạch và ý đồ của Sa-tan đã, đang và luôn luôn sẽ là tìm cách thiết lập một quyền cai trị đối địch trong Nước Trời. Nó đang hình thành một hệ thống trong đó nó đứng đầu, và chống lại Thượng Đế cũng như quyền cai trị của Ngài trong vũ trụ.
Nhưng muốn đẩy mạnh chương trình của nó, Sa-tan sử dụng một kế hoạch cực kỳ gian dối vì tính cách tế vi của nó. Thay vì đưa ra một vương quốc có những đặc điểm hoàn toàn trái nghịch với các nét đặc trưng của quyền cai trị của Thượng Đế, nó tìm cách giả mạo chương trình của Thượng Đế cho thế gian này. Giả mạo ý chỉ Thượng Đế, vốn là đang là, và sẽ là kế hoạch của nó bao lâu nó còn được tự do.
Lẽ dĩ nhiên là giả mạo thì chỉ nhằm vào một ý đồ duy nhất, đó là tạo ra một cái gì đó càng giống với nguyên bản càng hay, và làm như thế bằng các phương pháp đi ngang về tắt. Nếu bạn muốn làm những giấp bạc Mỹ kim giả, mà bạn lại đưa ảnh của Tổng thống Linclon vào đó, thì thật là dại dột, vì thiên hạ sẽ nhận ra ngay rằng đó là các giấy bạc giả. Bạn phải đặt ảnh Tổng thống Washington vào đó, để khiến nó càng giống với các tờ bạc thật được bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Nhưng bạn phải dùng một con đường đi tắt - có lẽ là một phương pháp khắc họa kém chính xác hơn, do đó cũng bất toàn - và như thế sẽ tố cáo dễ dàng việc làm bạc giả của bạn với các chuyên gia. Nhưng trong mọi đường nét và hình dáng mặt ngoài, những tờ giấy bạc giả phải có vẻ giống hệt các giấy bạc thật.
Kế hoạch của Sa-tan là giả mạo kế hoạch của Thượng Đế, và đây là sự kiện quan trọng nhất cần biết về mọi ý đồ của nó trên thế gian này. Nếu bạn đã nắm vững được điểm này. Nếu bạn đã nắm vững được điểm này, bạn sẽ được an toàn trên con đường dẫn tới việc phòng thủ thành công chống lại nó. Nếu không, nó sẽ càng được dễ dàng hơn về đủ mọi phương diện để lừa gạt bạn. Nó là tay giả mạo bậc thầy, và đang cố gắng ngụy tạo một cái gì đó giống hệt - chớ không phải là khác hẳn - với kế hoạch và ý chỉ Thượng Đế. Với tất cả trí thông minh và từng trải lâu đời của nó, Sa-tan biết rằng nếu nó đặt một điều gì đó rõ ràng là gian ác xấu xa trên đường đi của một Cơ Đốc nhân, người ấy sẽ đề cao cảnh giác đối với sự kiện ấy, biết rằng nó vốn từ Sa-tan đến, và hậu quả là sẽ cẩn thận giữ mình. Nhưng nếu Sa-tan có thể đưa ra một điều gì đó tuy tự nó là tốt nhưng vẫn chưa phải là điều tốt nhất thì nó sẽ dễ có thể thắng hơn người tín hữu.
Sa-tan đã táo bạo thông báo sách lược giả mạo này của nó ngay lúc nó mới vừa phạm tội. Trong EsIs 14:14, có chép về nó rằng nó công bố việc nó chống lại Thượng Đế theo cách này “Ta sẽ ...làm cho mình bằng Đấng Rất Cao”. Đã có một sự giả mạo Đấng Rất Cao dầu có giống hay không giống.
Chúng ta từng khảo xét việc Sa-tan đã trình bày việc ấy cho ông A-đam và bà Ê-va trong vườn Ê-đen, ở Sáng 3. Nó đề nghị ban cho bà Ê-va cái giá đầy cám dỗ là trở thành giống như Thượng Đế, biết điều thiện và điều ác, bằng cách dụ dỗ bà ăn một thức ăn ngon, lại đẹp mắt nữa, và làm phát sinh sự hiểu biết. Tất cả đều có vẻ tốt lành, ngoại trừ ăn trái cây ấy là trái với ý chỉ tỏ tường của Thượng Đế.
Lúc cám dỗ Chúa Cứu Thế, Sa-tan cũng cố gắng áp dụng cùng một phương pháp tiếp cận giả mạo đó. Việc đề nghị cho thức ăn tự nó chẳng có gì là xấu cả. Đề nghị Chúa Cứu Thế tự gieo mình trên nóc đền thờ xuống mà chẳng hề hấn gì (giá như Ngài làm như thế) để cho dân chúng đều thừa nhận Ngài, hoàn toàn đúng là điều Ngài có thể làm được. Được hưởng quyền cai trị các nước thế gian là đặc quyền của Ngài, và trong tương lai, Ngài sẽ cai trị trên chúng. Thật ra, các tiết mục mà Sa-tan đề nghị với Chúa Cứu Thế (tự nuôi mình, được danh tiếng và quyền thế) tự chúng đều chẳng có gì sai lầm cả, cũng không phải là những điều mà Chúa Cứu Thế chẳng bao giờ nên có. Nhưng chỗ sai lầm là cách Sa-tan đã dùng những điều đó để cám dỗ Chúa chúng ta; vì nếu làm như thế, tức là Ngài muốn chiếm được tất cả những vinh quang ấy mà khỏi phải dấn thân chịu khổ, nhất là sự đau khổ của cái chết trên thập tự giá. Những cứu cánh mà Sa-tan đề nghị là đúng, và Chúa Cứu Thế có được chúng là phải lẽ, nhưng các phương tiện sử dụng là một lối đi tắt bằng cách bỏ qua thập tự giá. Đây là một sự giả mạo khôn khéo, và hoàn toàn phù hợp với phương pháp thông dụng của Sa-tan.
Khi chúng ta tiến dần đến những ngày cuối cùng của kỷ nguyên này, Sa-tan sẽ nhờ các quỉ sứ của nó đưa ra một giáo thuyết sai lầm (ITi1Tm 4:1) với ý đồ tạo ra trong dân chúng một hình thức tin kính giả mạo mà không có được quyền phép thật sự của Thượng Đế (IITi 2Tm 3:5). Đây lại là một sự giả mạo khác nữa - một điều giống như sự tin kính, nhưng không phải là sự tin kính, mà là việc loại trừ quyền phép Thượng Đế.
Nhưng Sa-tan có đồng thời xúc tiến việc làm ác hay không? Vâng, có. Sự giả hình bằng cách nói dối của A-na-nia và Sa-phi-ra vốn do Sa-tan đưa đến (Cong Cv 5:3) và bất trung là một cám dỗ đến từ Sa-tan (ICo1Cr 7:5). Và lẽ tất nhiên là tất cả những điều 'tốt lành, thiện hảo' giả mạo của Sa-tan đều là xấu, là ác. Điểm cần ghi nhớ là Sa-tan sẽ làm bất cứ việc gì và làm tất cả mọi việc mà nó có thể làm được để dụ dỗ chúng ta đi sai lệch ý chỉ Thượng Đế. Giả mạo bằng cách thay một điều gì đó có vẻ như tốt lành cho kế hoạch của Thượng Đế là phương pháp nó rất thích làm, nhưng nó sẽ không thể luôn luôn thực thi được điều mà nó thích. Cho nên nó sẽ làm bất cứ việc gì nó có thể làm được và chống lại người ta bằng bất cứ cách nào, ở một điểm nào và trên cấp bậc, bình diện nào nó có thể làm được, bất chấp phương tiện nó sử dụng đó có xấu hay 'tốt'.
CÁC MƯU CHƯỚC CỦA SA-TAN
Để thi hành ý đồ giả mạo kế hoạch của Thượng Đế, Sa-tan xử dụng rất nhiều mưu mô. Hơn nữa, nó sẽ dùng chúng vào bất cứ lúc nào và bằng đủ mọi cách phối hợp. Nhưng đã cảnh giác, tức là đã tự vũ trang sẵn sàng rồi.
1. Chúng ta từng nhấn mạnh rằng Sa-tan là kẻ giả mạo bậc thầy. Đây là một mưu mô để lường gạt. Một thí dụ khác nữa của chiến thuật này là gieo cỏ dại vào trong ruộng lúa của thời đại này (Mat Mt 13:24-30, 36-42). Cỏ dại ở đây là một giống cỏ có lẽ rất khó phân biệt với cây lúa. Vì người ta không thể ăn hột cỏ dại được, cho nên phải tách rời chúng với hột lúa, là việc có thể làm khá dễ dàng khi lúa đã chín rồi. Dưới thời cai trị của người La-mã, gieo cỏ dại vào trong một đồng lúa nhằm ý đồ trả thu, bị xem là một trọng tội. Trong ẩn dụ này, Chúa Giê-xu ví sánh cỏ dại mà Sa-tan gieo ra với con cái của vua quỉ, trong khi lúa tiêu biểu cho con cái Thượng Đế. Khi gieo cả hai thứ vào đồng ruộng (là thế gian), ngày nay ma quỉ đang lừa dối nhiều người. Những người thật ra vốn là cỏ dại có thể bị lừa dối để tưởng rằng họ là lúa, vì họ tự xưng là Cơ Đốc nhân và phô bày ra một số đặc điểm của các tín hữu. Việc này tạo ra cho họ một ý thức giả tạo về an ninh. Điều chắc chắn là hiện đang có nhiều cỏ dại ngồi trên các hàng ghế trong nhà thờ, và đang phục vụ trong Ban Trị sự của Hội thánh nhưng không hề biết là có một 'lò lửa là nơi đầy tiếng khóc và nghiến răng” đang chờ đợi họ (Mat Mt 13:42). Tôi thường nghĩ rằng Sa-tan vốn hài lòng với số người chưa được cứu vẫn đi nhà thờ mỗi sáng Chúa nhật, hơn là với những kẻ đang chơi đánh cù (golf) hoặc vẫn còn ngủ do mệt mỏi, vì số người trước rất dễ tưởng rằng họ đang được an toàn trong khi đám người không đi nhà thờ có thể ý thức hoặc cảm thấy là họ không được an toàn. Đó là một trong nhiều cách mà Sa-tan lừa dối người thế gian.
2. Nhiều khi Sa-tan dùng việc công khai chống đối công việc Chúa nhằm bóp nghẹt sức tiến triển của nó. Trong Kinh Thánh có nhiều thí dụ về việc này.
Lúc Phao-lô ở Cổ-linh, ông viết bức thư thứ nhất gởi đến cho người Tê-sa-long-ca, nói lên sự mong ước của ông muốn trở lại Tê-sa-long-ca để củng cố cho Hội thánh non trẻ ấy; nhưng ông nói “quỷ Sa-tan đã ngăn cản chúng tôi” (ITe1Tx 2:18). Sự ngăn trở này rõ ràng là ám chỉ tình hình an ninh hay chiếc rào cản mà Gia-sôn đã phải bảo đảm, gồm có việc nhất trí rằng Phao-lô sẽ không trở lại thành phố ấy nữa để khỏi gây phiền hà cho dân chúng (Cong Cv 17:9). Phao-lô thấy hành động đó của các nhà cầm quyền thành phố Tê-sa-long-ca là một hành động của ma quỉ.
Ít lâu sau đó, Chúa phục sinh đã cảnh cáo Hội thánh tại Si-miệc-nơ “Này, quỷ vương sẽ thử thách con, tống giam một vài người vào ngục tối và con sẽ bị khủng bố” (KhKh 2:10). Đây là sự chống đối công khai do Sa-tan vô tín để bắt bỏ tù một vài tín hữu.
Đồng thời, Hội thánh tại Bẹt-găm được bảo “thành phố các con là ngai của Sa-tan” (KhKh 2:13). Câu này có thể ám chỉ hoặc là việc thờ lạy hoàng đế La-mã, hay thần Zeus tại chiếc bàn thờ nguy nga của thần ấy ở Acropolis, hoặc các thần Hi-lạp trong đền thờ. Hoặc lẽ dĩ nhiên, ngai của Sa-tan cũng có thể ám chỉ mọi hình thức thờ phượng ngoại đạo. Vấn đề là trong trường hợp ở đây, Sa-tan đang công khai chống lại Phúc âm bằng hình thức là đạo giả - một chiến thuật nó vẫn còn sử dụng hiện nay bằng cả hình thức là các tôn giáo chống lại Cơ Đốc giáo lẫn các đạo thờ cúng mệnh danh là 'theo Cơ Đốc giáo'. Phần hình thức và lễ nghi có thể là rất đẹp, các tiêu chuẩn cũng có thể là hợp luân lý đạo đức nữa, nhưng một khi cái chết để cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã bị loại ra, thì đó là một hệ thống sai trái của Sa-tan.
3. Nhằm đẩy mạnh việc tuyên truyền cho các cứu cánh có ý đồ lường gạt của nó, Sa-tan thường lợi dụng một loại thần học có hệ thống nhằm kêu gọi, thu hút tánh kiêu ngạo trí thức của con người ta. Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ được cảnh cáo về việc tin nhận “lẽ thâm thúy của Sa-tan” (KhKh 2:24). Rõ ràng là có một nữ tiên tri giả trong Hội thánh ấy (mà tên thật có thể hoặc không thể là Giê-sa-bên) đang cổ xúy cho việc sống vô luân vô đạo (gian dâm) và thờ lạy hình tượng (c.20) bằng cách đưa các tội này vào trong một hệ thống giáo thuyết, có thể đã biến nó thành ra có vẻ không phải là tội lỗi. Phao-lô từng cảnh cáo rằng đặc điểm của những ngày cuối cùng sẽ là “lời dạy của ác quỷ” (IITi 2Tm 4:1, 2) mà lạ lùng thay sẽ bao gồm giáo thuyết khắc khổ chủ nghĩa như một phương tiện để người ta cố gắng làm đẹp lòng Thượng Đế và nhận được ân huệ của Ngài. Sự kiêng cữ, chớ không phải là việc dung dưỡng, sẽ là một phần của cái hệ thống thần học của Sa-tan cho những ngày cuối cùng.
Nhiều người từng bảo rằng người ta sẽ tìm thấy công việc làm của Sa-tan trong một chủng viện, dễ dàng hơn là trong một quán rượu. Điều chắc chắc là nó sẽ làm việc tại bất cứ nơi nào nó gặp cơ hội, nhưng có lẽ nó ít bận tâm tới một quán nhậu, nơi mà chính các tham dục riêng của con người đang chiếm ưu thế, hơn là đến ngôi chủng viện, nơi nó đang chiến đấu để chiếm lấy tâm trí người ta, và một khi thành công, nó sẽ có thể bỏ thuốc độc vào ngay tại đầu nguồn của một giòng suối.
4. Có một mưu mô mà Sa-tan thường dùng là tạo áp lực trên người tín hữu theo nhiều cách. Đó có thể là áp lực nảy sinh từ sự thiếu khả năng thực hiện tốt một hành động. Quả thật là có một số phụ nữ đã phải đi vào một đời sống tự chối mình, được chứng minh là quá khe khắt đối với họ. Khi gặp thất bại, họ đành phải theo Sa-tan. Phần áp lực đối với nếp sống tự chối mình đó vốn quá nặng nề, và sự hoang mang bối rối do nó đưa đến sẽ dẫn tới các hậu quả là phải nhận rằng nó có tính cách áp đảo quá mạnh; do đó mà họ đành chịu thua áp lực của Sa-tan (ITi1Tm 5:14-15).
Trong một trường hợp khác, Phao-lô từng cảnh cáo rằng Sa-tan có thể dễ dàng chuyển một sự hối hận chính đáng về một lương tâm có một gánh nặng tội lỗi thành ra một cơ hội khác nữa để phạm tội thêm (IICo 2Cr 2:11). Muốn ngăn ngừa chuyện này, Hội thánh chẳng những cần tha thứ mà còn cần phục hồi địa vị cho người anh em nào đã biết thú nhận tội lỗi và từ bỏ con đường tội lỗi. Bằng không, Sa-tan sẽ có thể gây áp lực trên người ấy bằng cách tiếp tục khiến người ấy cứ tự buộc tội mình sẽ dẫn đến việc người ấy cũng phạm tội thêm. Cứ tự xét mình mãi, thường tạo thêm cơ hội cho Sa-tan gây áp lực trên người tín hữu.
Hai thí dụ trên đây cho thấy nhiều áp lực có thể đến do việc tự ý bước ra khỏi ý chỉ Thượng Đế (ITi1Tm 5:1-25) hoặc do thấy những người khác không làm theo ý chỉ Ngài (IICo 2Cr 2:1-17). Thường thường thì Sa-tan chẳng cần gì phải bước vào bức tranh quá sớm hoặc thường xuyên, vì chúng ta có thể bị dẫn đi sai lạc là do chính các tham dục của chúng ta, hoặc dấn thân vào một hoàn cảnh do chính ta tạo nên. Kiêu ngạo và tham lam nhiều khi đưa người tín hữu đến chỗ muốn chiếm đoạt một cái gì đó tự nó vốn chẳng tốt mà cũng không phải là xấu. Nhưng muốn chiếm được nó đòi hỏi người ta phải làm thêm việc, mà điều này sẽ dẫn tới việc bỏ bê gia đình, việc này đến lượt nó lại tạo ra nhiều áp lựa mà Sa-tan có thể lợi dụng để đánh bạo Cơ Đốc nhân ấy. Lại nữa, các hoạt cảnh sinh sống của thế kỷ hai mươi này cứ ngày càng phức tạp thêm nên đòi hỏi càng cần được Chúa hướng dẫn nhiều hơn nữa, sao cho mỗi người biết rõ khi nào có thể nói vâng và lúc nào thì phải bảo không, hầu tránh được việc phải phơi mình ra cho các áp lực mà Sa-tan có thể lợi dụng làm một chiếc đòn bẫy để chống lại mình. Chúng ta có thể chắc chắn một điều - nó sẽ tận dụng mọi lợi thế mà chúng ta dành cho nó.
5. Nhiều mưu mô khác nữa của Sa-tan (mà một số sẽ được chúng ta xem xét chi tiết hơn về sau) gồm có sự thất vọng, tẻ tách khỏi chính đạo, cám dỗ, trì trệ và lẽ tất nhiên là bất kỳ một quỷ kế nào có thể ngăn trở người tín hữu trưởng thành một cách bình thường và phải lẽ trong đời sống thuộc linh.
CÁCH TỰ VỆ CỦA NGƯỜI TÍN HỮU
Việc quá thường xảy ra, là có người lại có những tư tưởng thái quá về phía cả hai cực đối với Sa-tan và cách nó tấn công người tín hữu. Có một số người vốn quá bận tâm đến nó, mà hậu quả là thấy Sa-tan luôn luôn tích cực và quan tâm thiết thân đến mọi vấn đề hay hoàn cảnh nào có trục trặc trong đời sống của họ. Mới đây, tôi nghe một lực sĩ trẻ là Cơ Đốc nhân, cứ mỗi lần bắn sai mục tiêu, lại cảm thấy là mình đã đi sai ý chỉ Thượng Đế và đang bị Sa-tan tấn công. Nhờ những việc như vậy mà Sa-tan được hưởng lợi trong nhiều chiến công mà thật ra nó chẳng cần phải làm gì cả. Chúng ta cần nhớ rằng ngay bên trong con người chúng ta vốn có khả năng chủ động đi bước trước, đẩy mạnh việc phạm tội. Sống lẫn lộn với thế gian, với bản tính tội lỗi, là hai kẻ thù vốn có thể chiến thắng một Cơ Đốc nhân mà chẳng cần gì Sa-tan can dự vào. Quá bận tâm lo lắng về Sa-tan cũng có thể dẫn tới việc tự xét mình một cách bệnh hoạn, khiến chẳng những từng hành động mà cả đến từng động cơ thúc đẩy đều bị xét nét quá tỉ mỉ dưới thứ ánh sáng có thể là có liên hệ với Sa-tan. Mặt khác, mối bận tâm không phải lẽ đến Sa-tan đó nhiều khi có thể khiến một người tự đưa ra những lời bào chữa bất công đối với các hành động của mình. “Ồ, đó là việc Sa-tan làm mà!” trở thành câu nói đầu môi của một người để tự an ủi về trách nhiệm của mình sau khi phạm tội. Nhưng lẽ dĩ nhiên là Sa-tan chỉ làm việc ấy thông qua chính người ấy, là người phải chịu trách nhiệm về hành động của mình, chớ không phải trái với ý muốn của mình.
Tương phản với việc quá bận tâm đến Sa-tan, là thái độ trái ngược hẳn lại tức là đánh giá quá thấp hoạt động của nó trong đời sống người tín hữu. Chẳng có gì để nghi ngờ là Sa-tan rất hài lòng khi nó có thể tạo ra một sự lừa dối như vậy vì nếu người tín hữu không nhận thức được nguồn gốc của vấn đề là chính Sa-tan, thì không thể tấn công đúng vào đó. Khuynh hướng của thời đại ngày nay là tìm cách lý giải mọi sự bằng các hiện tượng tự nhiên, chắc đã tạo cho Sa-tan một chiếc mặt nạ để nó ẩn nấp đàng sau đó mà hành động. Chẳng hạn, nhiều khó khăn về tình cảm riêng tư, nhiều vấn đề của Hội thánh, các nghịch cảnh rất ít khi được gán cho Sa-tan. Lẽ dĩ nhiên là làm như thế có vẻ là điên dại nhưng nếu không làm như vậy thì có lẽ còn điên dại hơn nhiều! Một thế cân bằng thích đáng đang nằm ở đâu đó giữa hai đối cực trên, nhưng đạt được nó không phải bao giờ cũng dễ dàng. Chúng ta cần cảnh giác đối với mọi mưu mô có thể có của Sa-tan, vì nó đang thực hiện công việc tấn công, lừa dối, giả mạo và tìm đủ cách để đánh bại người tín hữu bất cứ khi nào có cơ hội. Tạ ơn Thượng Đế, chúng ta đã không bị bỏ mặc, vô phương tự vệ. Đã có các biện phát được dành sẵn cho chúng ta nhằm đối phó với các cuộc tấn công của nó.
1. Trong Tân ước, có hai chỗ bảo cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-xu đang sống trên thiên đàng là để cầu thay cho các con cái Ngài (RoRm 8:34; HeDt 7:25). Rõ ràng là công tác cầu thay cho chúng ta này gồm hai phương diện: chữa trị và phòng ngừa. Phần chữa trị là cần thiết để duy trì sự thông công một khi chúng ta lỡ phạm tội (IGi1Ga 2:1); phần phòng ngừa giúp chúng ta giữ mình để khỏi phạm tội, nhất là khi chúng ta lo Sa-tan tấn công. Chúa đã ban cho chúng ta một cái nhìn thông tuệ vào vấn đề này trong một bài khẩn nguyện Ngài dâng lên cho Cha Ngài trước lúc chịu đóng đinh vào thập tự giá. Ngài thưa với Đức Chúa Cha “Con không cầu xin Cha rút họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha giữ họ khỏi điều ác” (GiGa 17:15). Từ ngữ gian ác trong câu này có thể thuộc về giống trung tính (điều ác) hoặc giống nam (kẻ ác - Sa-tan). Nghĩa sau là nghĩa Giăng dường như rất thích dùng trong các văn phẩm của ông (TC IGi1Ga 2:13, 14; 3:12; 5:18, 19). Như vậy, Chúa Cứu Thế đang cầu xin Cha Ngài bảo vệ các tín hữu khỏi Sa-tan. Những lời lẽ xin giữ chúng ta khỏi bị Sa-tan tấn công có nghĩa gì thì chúng ta không thể hiểu hết được vì đó là phương diện của thiên đàng, nhưng căn cứ vào đó, chúng ta có thể học biết được rằng toàn thể công tác cầu thay đó của Chúa chúng ta đều được dành riêng cho chúng ta nhằm đánh bại kẻ thù của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên đây là một sự bảo vệ mà chính Ngài làm trọn vì cớ chúng ta; chúng ta chẳng có phần gì vào đó, trừ ra nhận lãnh các lợi ích của nó.
3. Một tuyến phòng thủ thứ hai nữa cho người tín hữu, là biết rằng trong số các mưu định của Thượng Đế thỉnh thoảng cũng gồm có những cơ hội Ngài lợi dụng Sa-tan để dạy cho chúng ta một bài học đặc biệt. Gặp những trường hợp như vậy, thì phần tự vệ của chúng ta là phải học hiểu bài học Thượng Đế muốn dạy chúng ta, cả khi Ngài có thể lợi dụng Sa-tan trong tiến trình dạy nó. Lẽ dĩ nhiên, đó chính là việc Thượng Đế đã làm trong trường hợp của Gióp, khi Ngài cho phép Sa-tan sử dụng và thực hiện các mưu định của Ngài cho đời sống ông. Một việc tương tự cũng xảy ra trong đời sống Phao-lô (IICo 2Cr 12:7-10), khi Chúa sai một sứ giả của Sa-tan mang đến cho ông một thứ 'gai nhọn đâm vào thịt' ông để giữ ông khỏi kiêu ngạo về sự mặc khải mà Thượng Đế đã ban cho ông. Bài học mà Phao-lô đã học được đó là ân phúc Thượng Đế vốn đã đầy đủ cho ông rồi. Trông cậy vào đó là phương pháp duy nhất để ông có thể đánh bại Sa-tan và phục tùng ý chỉ Thượng Đế, mà cả Sa-tan lẫn người tín hữu đều đồng thời thường không thể nhận ra; thế nhưng nó vẫn xảy ra.
3. Muốn đánh bại Sa-tan, thì điều quan trọng hàng đầu luôn luôn có thái độ thích hợp đối với nó. Tuy chúng ta có quyền phép của Thượng Đế đứng về phía mình, quyết đoán rằng chiến thắng tự động được bảo đảm cho chúng ta, chẳng bao giờ là khôn ngoan cả. Nhớ rằng mình đang chiến đấu với một kẻ thù mạnh mẽ, lớn nhất trong toàn thể các loài thọ tạo của Thượng Đế, là có được một thái độ thích hợp đối với Sa-tan. Thí dụ về việc này được chép trong Giu-đe 9, nơi chúng ta được nhắc nhở rằng cả đến vị thiên sứ lớn là thiên sứ trưởng Mi-ca-ên vẫn không dám tự mình gây chuyện với Sa-tan, mà chỉ quở trách nó khi được lệnh của Chúa. Thế thì, chẳng bao giờ nên có một Cơ Đốc nhân nào tự cho là mình đủ khôn ngoan hay năng lực để gây chuyện với Sa-tan nếu không hoàn toàn trông cậy vào Chúa.
4. Một quyết tâm dứt khoát chống lại Sa-tan về phía người tín hữu, là thiết yếu cho sự chiến thắng. Tại sao chúng ta lại nói như vậy? Có phải đó là điều tự nó là hiển nhiên không? Vâng, quả đúng như vậy, nhưng sở dĩ nhiều Cơ Đốc nhân chẳng bao giờ chiến thắng nổi ma quỉ, chỉ vì họ chẳng bao giờ quyết tâm giữ vững lập trường chống lại nó. Họ vẫn còn 'bắt bồ' với tội lỗi hoặc sự cám dỗ mà Sa-tan 'gài' trên đường đi của họ. Có thể họ cũng đã thiết tha cầu nguyện xin được chiến thắng và ngoan ngoãn nói lên ước vọng được trợ giúp của họ, nhưng từ trong lòng, họ vẫn còn muốn dung dưỡng và đầu phục nếu có cơ hội gặp một tội lỗi nhỏ nhặt nào đó. Chỉ có một quyết định dứt khoát giữ vững lập trường chống lại kẻ ác mới có thể đặt họ trên con đường dẫn đến chiến thắng.
Khi viết về vấn đề này, Gia-cơ đã dùng một thì của động từ có nghĩa là giữ một lập trường dứt khoát, khi ông nói “Hãy.... chống lại Quỷ vương, nó sẽ tránh xa anh em” (Gia Gc 4:7). Cũng vậy, sở dĩ người tín hữu được cấp cho toàn bộ binh giáp là để có thể giữ vững vị trí để chống lại kẻ thù mình (Eph Ep 6:11, 13, 14). Một lập trường như thế là một căn cứ hành quân để dựa vào đó mà tiếp tục cuộc chiến đấu sắp tới, ngoài nó ra, chúng ta sẽ chỉ có rút lui và thua trận mà thôi. Với nó, chúng ta mới có thể chiến thắng, tuy không phải là khỏi tiếp tục chiến đấu.
5. Có một công thức thật ra rất đơn giản và ngắn gọn để đánh bại Sa-tan đã được đề ra trong KhKh 12:11 “Họ đã thắng nó nhờ máu Chiên Con và nhờ lời chứng của mình. Họ đã hi sinh tính mạng, không luyến tiếc”. Công thức này gồm ba thành tố. Thứ nhất, cơ sở cho mọi chiến thắng đối với Sa-tan, là máu của Chiên Con. Đây không phải là việc dùng máu gần như theo nghĩa đen một cách thần bí hay phù phép như một số người hiện nay tin và rêu rao, hay việc trầm mình vào một thùng đựng máu. Máu của Chiên Con đã bị đổ ra trên một ngọn đồi thuộc ngoại thành Giê-ru-sa-lem, và điều đó đã trở thành chứng cứ minh nhiên rằng cái chết đã xảy ra. Máu không có trên thiên đàng; chỉ Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh đã phải đổ máu mới đánh bại được Sa-tan (CoCl 2:15). Và chiến thắng của Ngài mới mở đường để chúng ta cũng có thể chiến thắng. Đó là ý nghĩa của việc chiến thắng Sa-tan nhờ máu của Chiên Con.
Thành tố thứ hai của công thức trên là một điều gì đó chúng ta có thể làm được để ứng dụng chiến thắng của Chúa Cứu Thế cho đời sống chúng ta - phải tích cực và trước sau như một làm chứng cho Chúa chúng ta. Tin rằng nếu đức tin vào cái chết của Chúa Cứu Thế mới là đòi hỏi bắt buộc, còn làm chứng cho Ngài chỉ là một việc làm được tùy ý chọn lựa theo sở thích là một sai lầm tai hại. Không làm chứng cả bằng đời sống lẫn bằng môi miệng đều có nghĩa là Sa-tan không bị đánh bại. Chúa từng nhắc nhở các môn đệ Ngài “Các con là ánh sáng của thế giới, như một thành phố sáng rực trên đỉnh núi cho mọi người nhìn thấy trong đêm tối. Không ai thấp đèn rồi đậy kín nhưng đem đặt trên giá đèn để soi sáng mọi người trong nhà” (Mat Mt 5:14, 15). Như ngọn đèn bị úp dưới cái thùng, một lời chứng bị tánh hèn nhá, thỏa hiệp với người thế gian, sống theo đời này, hay thái độ dửng dưng chểnh mảng che lấp, sẽ bị tắt đi. Nhiều khi (tôi mong là mình không lầm khi nói ra điều này) một Cơ Đốc nhân thua trận chẳng cần gì phải cầu nguyện hay đọc Kinh Thánh càng nhiều hơn - người ấy cần phải đi ra làm chứng đạo càng nhiều hơn.
Nét đặc trưng thứ ba của chiến thắng là một thái độ căn bản đối với chính đời sống - một thái độ hi sinh đến độ hoàn toàn sẵn sàng chịu chết vì Chúa Cứu Thế. Một thái độ như thế sẽ đặt toàn bộ các giá trị của đời sống vào trong viễn cảnh đúng càng nhanh chóng hơn làm bất cứ việc gì khác. Muốn đánh bại Sa-tan đòi hỏi phải có tinh thần tuận đạo “Ai tham sống sợ chết, sẽ mất mạng, nhưng ai vì ta và vì Phúc Âm mà hi sinh tính mạng sẽ được sống” (Mac Mc 8:35).
6. Cuối cùng, chiến thắng Sa-tan đòi hỏi phải thường xuyên sử dụng toàn bộ binh giáp mà Thượng Đế đã cung cấp cho Cơ Đốc nhân (Eph Ep 6:11-18). Bộ binh giáp này gồm có chân lý, như một chiếc thắt lưng giữ chặt mọi sự hòa hợp với nhau đâu vào đấy và tạo định hướng thích đáng cho cuộc đời. Lẽ dĩ nhiên, đó là chân lý của Thượng Đế, chớ không phải là sự khôn ngoan của loài người, và cần làm nền móng để chúng ta nhìn vào mọi việc khác. Tài chánh và bạn bè, các hoạt động và thái độ, gia đình và thú vui, khoa học và tâm lý học tất cả đều phải do chân lý của Thượng Đế như đã được mặc khải trong Kinh điển điều khiển cai trị.
Sự công chính là giáp che ngực để bảo vệ các cơ quan chủ yếu cho sinh mạng. Phải chăng muốn ở trong Chúa Cứu Thế, chúng ta phải có sự công chính không bị mẻ sứt? Lẽ tất nhiên. Phải chăng hằng ngày chúng ta phải sống bằng sự công chính toàn diện? Lẽ tất nhiên. Phải chăng hằng ngày chúng ta phải sống bằng sự công chính toàn diện? Lẽ tất nhiên. Bởi vì một đời sống công chính cần phải được đặt trên một lập trường công chính, mà một lập trường công chính không tự bộc lộ bằng một nếp sống tin kính thì có lẽ là không có thật, cho nên cả hai đều rất cần thiết.
Đôi chân chúng ta phải được chuẩn bị sẵn sàng để làm theo ý chỉ và làm việc cho Thượng Đế, vì chúng ta đã từng trải sự bình an mà Phúc âm đã đem đến. Đặc điểm của một Cơ Đốc nhân là chẳng bao giờ nên vấp váp hay té ngã.
Đức tin là chiếc khiên rộng lớn che chở cho cả thân thể. Đây không phải chỉ đơn giản là đức tin trong những cơn khủng hoảng của cuộc đời, mà là đức tin để chiến thắng kẻ cám dỗ trong nếp sống theo thói quen hằng ngày. Chúng ta bước đi bằng đức tin, chớ không phải bằng mắt thấy.
Chung quanh là chiếc nón sắt của sự cứu rỗi. Có biết bao nhiêu Cơ Đốc dường như chỉ cần sự cứu rỗi từ cổ trở xuống mà thôi! Chúng ta đã ghi nhận rằng một đời sống cống hiến cho Chúa phải bắt đầu bằng việc đổi mới tâm trí (RoRm 12:2); sinh hoạt tư tưởng của chúng ta cần từng trải các hiệu quả của sự cứu rỗi.
Vũ khí tấn công duy nhất là gươm của Thánh Linh là Lời Thượng Đế. Đây không phải chỉ cớ Lời thành văn, vì từ ngữ cá biệt được dùng ở đây và dịch ra là 'lời' có nghĩa là lời được nói ra. Như vậy, gươm của Thánh Linh là việc truyền rao Lời thành văn bằng lời nói. Đây không phải chỉ đơn giản là một quyển Tân ước được mang theo trong túi, cho dầu nó có tốt đẹp đến đâu; đúng hơn, đó là lời làm chứng được nói ra bằng chính môi miệng chúng ta. Gươm của Thánh Linh của Eph Ep 6:17 là lới chứng của KhKh 12:11.
Nét đặc trưng cuối cùng của bộ binh giáp là sự cầu nguyện, không phải chỉ là những lời khẩn xin bằng đầu môi chót lưỡi, nhưng là sự cầu nguyện được Thánh Linh hướng dẫn.
Đây là bộ binh giáp được cung cấp nhằm bảo vệ chúng ta phải mặc vào. Chúng ta có trách nhiệm phải tự mặc lấy (c.13), và đây là một sự dấn thân suốt đời. Lẽ tất nhiên là chúng ta có thể mặc nó vào bất cứ lúc nào, nhưng phát triển được cách sử dụng khéo léo đòi hỏi phải thực hành suốt cả một đời. Chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng Sa-tan sẽ tìm kiếm những chỗ rách trên chiếc áo giáp của chúng ta trong cuộc chiến tranh không ngừng nghỉ của nó chống chúng ta.
Tôi xin kết thúc chương về các mưu chước của ma quỉ này bằng cách nhắc lại cho bạn các phần của ba câu Kinh Thánh mà một diễn giả đã dịch theo phương pháp diễn ý và xếp chung lại với nhau cho tôi nhiều năm trước đây, và điều đó vốn là một nguồn của sự bảo đảm đích thực cho tôi “Chúa Cứu Thế sống trong tôi” (GaGl 2:20) “Trong tôi có Đấng mạnh mẽ hơn thần linh ở trong thế gian” (IGi1Ga 4:4) “Ngài không bao giờ bỏ tôi, chẳng khi nào quên tôi” (HeDt 13:5). Chúa chúng ta là sự chiến thắng của chúng ta. Hãy tin cậy Ngài và sử dụng các phương tiện Ngài đã cung cấp cho chúng ta để đánh bại kẻ thù quan trọng nhất của linh hồn chúng ta.

SỰ CÁM DỖ
Sự cám dỗ rất phổ biến đối với một con người. Hay như Tân ước diễn tả nó “Nhưng, nên nhớ điều này - các ham muốn sai quấy trong lòng các bạn vốn chẳng phải là điều gì mới mẻ và khác thường đâu. Nhiều người khác trước các bạn đã từng phải đương đầu với những vấn đề đúng y như các vấn đề của các bạn vậy” (ICo1Cr 13:10a - theo tác giả trích bản dịch The Living New Testament). Thật vậy, cả đến các bậc anh hùng trong Bản Tuyên Dương Anh Hùng của Kinh Thánh cũng từn bị tai tiếng. Bạn có nhớ sự say sưa của Nô-ê không? Hay sự hèn nhát của Áp-ra-ham là nói dối trước một nhà vua ngoại đạo? Hay tánh tự cao của Mai-sen đã giục ông đập vào tảng đá, khiến ông không thể vào được đất hứa? Hay các âm mưu của Gia-cốp? Hay việc các vị tộc trưởng ngược đãi Giô-sép? Hay lời lằm bằm của Ê-li? Hay Đa-vít phạm đồng thời đến hai trọng tội? Hay sự phô trương của Ê-xê-chia? Hay tinh thần phản loạn của Giô-na? Hay Phê-rơ đã chối Chúa mình? Hay Giăng Mác đã lầm lỗi? Hay cuộc cãi nhau giữa Phao-lô với Ba-na-ba? Một số nhân vật cao thượng trong Kinh Thánh không những chỉ từng gặp cám dỗ, mà còn bị thua năng lực của nó nữa.
Nhưng khi đọc sách báo hoặc nghe kể lại về đời sống thuộc linh của một số người, người ta có thể tưởng rằng con người mệnh danh là Cơ Đốc nhân chiến thắng ấy chưa từng gặp cám dỗ, hay nếu có, kinh nghiệm ấy chỉ là nhẹ nhàng và thoáng qua, chẳng tạo ra cho người ấy một vấn đề thật sự nào cả. Tôi vừa chăm chú đọc lại nửa chục đủ đầu những quyển sách viết về sinh hoạt thuộc linh. Chỉ có một quyển sách trong số đó có đề cập sự cám dỗ, nhưng chỉ nói đến nó trong hai phân đoạn mà thôi. Có lẽ thái độ thiếu chân thực đối với thực tại của sự cám dỗ đó là nguyên nhân của sự thất vọng của một số tín hữu vốn tưởng rằng mình đã nắm được 'bí quyết' chiến thắng bỗng thình lình tự thấy mình không những đang trự cdiện với sự cám dỗ, mà còn bị nó thật sự áp đảo mình nữa.
Nhưng, trong khi sự cám dỗ là chuyện thông thường của con người, thì người tín hữu không cần phải chịu thua nó, vì trong sự nhân từ thương xót của Thượng Đế, Ngài đã mở lối thoát để chúng ta có thể chịu đựng nó. Như vậy, tuy người tín hữu chẳng bao giờ tránh được việc bị phơi mình ra cho sự cám dỗ, người ấy không nhất thiết phải ngã quỵ khi gặp nó. Lẽ dĩ nhiên, chính các tín hữu thuộc linh lại thường phải đương đầu với cám dỗ hơn.
Có người đã nói rất đúng rằng các tín hữu thuộc linh đã được tôn vinh khi phải chiến đấu trong các công sự ngoài tiền tuyến. Họ từng cảm thấy áp lực dữ dội của kẻ thù. Nhưng họ cũng được đặc quyền chứng kiến việc kẻ thù bị nghiền nát và bại trận; quyền năng của Thượng Đế vốn hết sức dồi dào, và do đó, người tín hữu thuộc linh cũng được đề cao (Lewis Spery Chafer He That is Spiritual, p.182).
CÁC CHỦ ĐÍCH CỦA SỰ CÁM DỖ
Nếu sự cám dỗ vốn phổ quát thì phải có một lý do nào đó - kể cả việc có thể có một lý do tốt đẹp. Và đây là lý do ấy. Một mặt, Thượng Đế dùng việc trắc nghiệm để thử thách và thử nghiệm các con cái Ngài. Phê-rơ từng nhớ lại một số các thánh đồ đã chịu khổ hồi thế kỷ thứ nhất. “Vậy, hãy vui mừng lên! Vì cuối cùng anh em sẽ được hạnh phúc vô biên, dù hiện nay phải chịu đủ thứ đau buồn, thử thách ít lâu. Mục đích của những thử thách đó là để tôi luyện niềm tin anh em vững bền, tinh khiết, cũng như lửa thử nghiệm và tinh luyện vàng. Đối với Thượng Đế, đức tin anh em còn quý hơn vàng ròng, nếu đức tin anh em giữ nguyên tính chất thuần khiết qua cơn thử lửa, anh em sẽ được khen ngợi, tuyên dương và hưởng vinh dự khi Chúa Giê-xu trở lại” (IPhi 1Pr 1:6, 7). Trong khúc sách này, hai từ ngữ chính chỉ sự cám dỗ hay thử thách đã được sử dụng. Chữ đầu ở cuối câu 6 được dịch là 'cám dỗ' (theo bản Anh văn; bản diễn ý dịch là đau buồn thử thách'), về căn bản, có nghĩa là từng trải sự thử thách mãnh liệt dó đó, chỉ ý niệm thử thách hay thử nghiệm. Như loại thử thách cám dỗ này bắt nguồn từ Thượng Đế như rõ ràng là trường hợp của các độc giả của Phê-rơ ở đây, nó không thể bị xem là xấu, mà đúng hơn là nhằm mục đích thử nghiệm cá tính của những người bị thử thách. Gia-cơ nói rõ rằng “Thượng Đế không hề làm điều sai quấy và chẳng bao giờ cám dỗ ai” (1:13). Cho nên khi Thượng Đế thử thách hay thử nghiệm, như Phê-rơ nói trong câu 7, là nhằm mục đích thử nghiệm đức tin. Từ ngữ này thường bao hàm ý niệm sự thử thách mà người ta đã vượt qua được, và kết quả là người chịu thử nghiệm được tán thưởng. Phao-lô từng được tán thưởng như vậy sau những thử thách trong những năm đầu tiên làm Cơ Đốc nhân của ông và cả trước khi bắt đầu vòng lưu hành truyền giáo thứ nhất của ông nữa. Sau khi đã chịu thử thách, trắc nghiệm ông có thể nói rằng mình đã “làm hài lòng Thượng Đế, Đấng dò xét lòng người” (ITe1Tx 2:4). Loại thử thách này không đem đến điều tai hại, mà là điều tốt hơn cho chúng ta.
Tuy nhiên, Sa-tan cũng có thể là nguồn gốc của sự cám dỗ hay thử thách (từ ngữ thứ nhất, như được dùng ở ICo1Cr 7:5 chẳng hạn), và mục đích nó nhằm vào đã được nhìn nhận là khiến cho chúng ta sa ngã. Lẽ dĩ nhiên, nếu chúng ta bị thua một cám dỗ như vậy, chúng ta sẽ không được Thượng Đế hài lòng, mà sẽ bị chê trách nữa. Từ ngữ thứ hai là thử nghiệm, chẳng bao giờ được dùng liên hệ với việc Sa-tan cám dỗ Cơ Đốc nhân, vì rõ ràng là nó không hề có ý định tạo cơ hội cho người tín hữu được (Thượng Đế) hài lòng, tán thưởng.
Tôi nghĩ rằng điểm khó khăn chính nảy sinh từ nhiều ý niệm khác nhau hàm chứa trong ý niệm cám dỗ này, ấy là vì đối với phần đông chúng ta, cám dỗ tự nó vẫn là một điều xấu hay ít nhất cũng dẫn đến điều xấu. Chúng ta không thể tránh được việc có một ý niệm như thế, vì người ta thường bị sự cám dỗ đè bẹp để bị chê trách thay vì được tán thưởng khen ngợi. Nói khác đi, từ ngữ cám dỗ đối với số đông người chỉ có nghĩa là một cái gì gần gũi với điều xấu mà thôi. Chúng ta còn cần phải nhớ rằng nó vốn có ý niệm về trắc nghiệm, thử thách, thử nghiệm nữa; và nếu Thượng Đế chính là nguồn gốc từ đó nó phát xuất thì không hề có sự gần gũi với điều xấu. Tuy nhiên, cả Sa-tan lẫn xác thịt chúng ta đều có thể tham dự vào, mà những điều đó, chớ không phải là Thượng Đế, mới là các nguồn gốc xấu. Một hoàn cảnh thử thách có thể do Thượng Đế chủ động đi bước trước nhằm thử nghiệm chúng ta; nhưng đến một điểm nào đó thì xác thịt chúng ta có thể bị quyến rũ, mê hoặc và kéo chúng ta vào một hậu quả xấu (Gia Gc 1:14-15). Nhưng chủ đích của Thượng Đế là luyện lọc còn Sa-tan với chính bản tính tội lỗi của nó, có thể phá hỏng caí chủ đích ấy.
Trước khi kết thúc phần thảo luận về chủ đích 'thử thách' của sự cám dỗ như đã được vạch rõ trong IPhi 1Pr 1:6, 7 thiết tưởng cần lưu ý là giữa những 'cám dỗ thử thách' như thế, một tín hữu cảm thấy buồn rầu, nặng nề do chịu thử thách, thì chỉ là điều hợp lý. Người ấy vẫn không bị mất niềm vui căn bản của mình nhờ đang được sống trong sự an toàn thuộc linh (1:3-6a) nhưng nềm vui đó có thể bị đám mây buồn rầu của khoảnh khắc ấy che mờ. Tưởng rằng niềm vui với nhau là một ý niệm phi thực về tính cách thuộc linh. Và lẽ dĩ nhiên là nó không đúng với Kinh Thánh.
Một chủ đích thứ hai để Thượng Đế có thể đưa thử thách đến do đời sống một tín hữu, là để dạy cho người ấy những điều mà người ấy không thể học hỏi được bằng các phương pháp khác. Chính vì lý do ấy mà Phê-rơ mới khuyến giục chúng ta đừng hoang mang bỡ ngỡ, cả khi phải gặp những cơn thử thách dữ dội, vì Chúa chúng ta vốn từng chịu khổ trong những ngày Ngài còn sống trong xác thịt (IPhi 1Pr 4:12, 13). Sự đau khổ làm được gì cho Thượng-Đế-làm-Người trọn vẹn? Kinh điển chép rằng trong những ngày khổ nạn, Ngài đã học tập phục tùng Thượng Đế (HeDt 5:8). Như vậy, thử nghiệm, thử thách phải khiến được cho người tín hữu biết phục tùng Thượng Đế và ý chỉ Ngài.
Những cơn cám dỗ thử thách cũng có thể được lợi dụng để tăng thêm tình yêu thương Thượng Đế của chúng ta. “Người nào bị cám dỗ mà biết giữ mình không phạm tội, là kẻ có phúc. Thượng Đế sẽ đặt trên đầu họ mũ miện sự sống, vì Ngài đã hứa ban phần thưởng ấy cho những người yêu mến Ngài” (Gia Gc 1:12). Thử thách cũng phải dạy được cho chúng ta biết kiên trì chịu đựng, như nó từng làm cho các Hội thánh đầu tiên (KhKh 2:3, 13). Thử thách cũng khiến chúng ta biết tự phó thác mình cho Thượng Đế học tập sống trông cậy vào Ngài theo như những cách thức mà chúng ta không hề biết được nếu không có nó. Những cơn thử thách này có thể đến bằng hình thức chống lại lập trường vì cớ Chúa Cứu Thế của chúng ta (IICo 2Cr 1:8-10) hay lắm khi là bằng bối rối hoạn nạn thuộc thể (IICo 2Cr 12:7-9). Các bài học với sự cám dỗ này có thể dạy chúng ta rằng vâng lời, yêu thương, kiên nhẫn, sống lệ thuộc vào Chúa, là cần thiết để hoàn thiện sự trưởng thành của sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Những cơn cám dỗ có bao nhiêu phương diện, thì cũng có bấy nhiêu mặt để dạy dỗ cho chúng ta nhiều bài học khác nhau.
Nhưng cũng như với tất cả những cuộc cám dỗ, một thử thách mà Thượng Đế muốn đưa đến để dạy chúng ta một bài học nào đó, cũng có thể gây thất bại cho chúng ta, và chúng ta không học được bài học ấy. Gặp trường hợp như vậy, thì giải pháp duy nhất là phải thú ti, tự xét lại mình, học hỏi bài học về sự yếu đuối của xác thịt, và càng trông cậy nhiều hơn nữa vào quyền năng của Thượng Đế.
Nhưng phải chăng bạn sẽ nói rằng các nguy cơ như thế vốn quá lớn phải chi Thượng Đế loại bỏ các cám dỗ khỏi đời sống chúng ta thì chẳng hay hơn sao? Câu trả lời là không, vì thử thách là con đường để đời sống làm Cơ Đốc nhân của chúng ta được tán thưởng và tăng trưởng. Muốn thử nghiệm thì đòi hỏi phải thử thách; khi phải đương đầu với sự chống đối, thì sự tăng trưởng mới phát triển nhanh hơn; muốn thâu hoạch được nhiều kết quả lớn lao, thì những nguy cơ cũng phải trầm trọng. Thử thách là phương pháp Thượng Đế dùng để tạo cơ hội cho chúng ta được khen lao tán thưởng và tăng trưởng; chúng là phương pháp để đánh bại Sa-tan. Còn chúng ta muốn đi theo con đường nào, thì tùy thuộc nơi chúng ta.
SỰ BẢO VỆ KHI GẶP CÁM DỖ
Thư ICo1Cr 10:13 là một lời hứa quan trọng cho toàn thể các tín hữu “Anh em không phải đương đầu với một cám dỗ vào quá sức chịu đựng của con người. Thượng Đế luôn luôn thành tín. Ngài không để anh em bị cám dỗ quá sức đâu, nhưng trong cơn cám dỗ Ngài cũng mở lối thoát để anh em đủ sức chịu đựng”. Thật ra, các lừa hứa của Thượng Đế về việc bảo vệ trong cơn cám dỗ có hai chiều hướng - phạm vi của nó, và lối thoát trong đó.
1. Thượng Đế bảo đảm giới hạn cường độ và loại cám dỗ mà Ngài biết là chúng ta có thể chịu nổi. Đây là một lời hứa đặc biệt kỳ diệu khi bạn nhớ rằng nó vn được đưa ra trên cơ sở là sự hiểu biết trọn vẹn và đầy đủ các khả năng riêng biệt về cá nhân của chúng ta để chịu thử thách. Nó không được căn cứ trên điều chúng ta tưởng là mình có thể chịu đựng, nhưng là điều Ngài biết chúng ta có thể chịu đựng. Nó còn có ý nghĩa thêm nữa, là mỗi trắc nghiệm đều chẳng những phải được chịu đựng, mà còn phải thắng vượt nữa. Chẳng hề có, một Cơ Đốc nhân nào lại có quyền bảo rằng Thượng Đế đã trông đợi quá nhiều nơi mình căn cứ vào lời hứa này. Thượng Đế đã cẩn thận theo dõi các thử thách đã được đưa đến cho Gióp; thế nhưng Ngài vẫn cho phép Sa-tan trút cả cơn thịnh nột của nó trên ông và gia đình ông, vì Ngài biết ông đủ sức chịu đựng. Và ông đã chịu nổi. Biết bao lần Phao-lô đã bị chèn ép vượt mức, nhưng chẳng bao giờ là quá sức chịu đựng của ông (IICo 2Cr 1:6-10; 6:4-10). Cả khi ông chán sống, Thượng Đế vẫn đo đúng phạm vi để thử thách ông. Các thí dụ minh họa trên đây cho thấy một thử thách càng lớn, thì có nghĩa rằng sự tin cậy cũng càng lớn. Thượng Đế không thể để cho người tín hữu yếu đuối, chưa trưởng thành bị thử thách nặng nề, vì biết rằng đương sự sẽ chẳng chịu nổi.
2. Thượng Đế hứa là cung cấp một lối thoát - nghĩa đen là một con đường để ra khỏi. Ngài làm việc ấy đồng thời với việc thử thách cám dỗ, và xin lưu ý là Ngài thử thách tùy theo câu Kinh Thánh này. Điều này cũng cố cho điều ông đã nói trong đoạn sách trước về việc Thượng Đế cần lợi dụng các thử thách để khiến cho đời sống thuộc linh của chúng ta tăng trưởng. Người tín hữu nào tưởng mình sống vượt trên sự cám dỗ, là người đang sống trong thế giới của chiêm bao chớ không phải là cái thế giới mà Thượng Đế đã định sẵn cho người ấy. Lối thoát ở đây là gì? Rõ ràng nó không phải vượt thoát nhờ từng trải; nếu không, mệnh đề cuối của câu Kinh Thánh này sẽ trở thành vô nghĩa, vì người được cứu khỏi cám dỗ đã chẳng hề chịu đựng nó. Đây cũng không phải là một lừa được giải thoát khỏi những cơn thử thách tương lai; trái lại, đây là một lời hứa giúp đỡ được cắt đúng theo khuôn khổ của cơn thử thách cá biệt để thêm sức chịu đựng giữa cơn cám dỗ.
Một lời hứa tương tự cũng được đưa ra trong HeDt 2:18 “Vì Chúa từng chịu khổ khi đương đầu với các cơn cám dỗ, nên Ngài có thể giải cứu những người đang bị màng lưới cám dỗ vây bọc “Rốt cuộc đâu là lối thoát được cung cấp, thì tuỳ thuộc từng hoàn cảnh riêng biệt, nó sẽ bao gồm luôn việc trông cậy nơi quyền năng nâng đỡ của Chúa. Nhưng nó cũng có thể bao gồm các nguồn tài nguyên khác nữa mà Thượng Đế ban cho, sẽ được thảo luận trong đoạn sách tiếp theo đây.
Cuối cùng, cần lưu ý là trong ICo1Cr 10:13, là chính Thượng Đế thực hiện việc cám dổ thử thách, và đưa ra lối thoát đồng thời với nhau. Các thử thách đến với đời sống đó, là do chính Ngài truyền lệnh, sắp xếp, còn lối thoát cho từng trường hợp thì không phải là một ý nghĩ chỉ nảy sinh về sau. Hay nói cách khác, ngay lúc cơn thử thách bắt đầu, thì đã có sẵn lối thoát rồi. Thượng Đế không chờ xem chúng ta sẽ xoay trở ra sao để đối phó với cơn thử thách, rồi sau đó, thình lình đến với một lối thoát nếu chúng ta chịu phục tùng; lối thoát đã có sẵn rồi suốt tiến trình của cơn thử thách.
Lời hứa của Thượng Đế là sẽ bảo vệ chúng ta khỏi từng cơn thử thách một - một sự ước lượng cẩn thận phạm vi trong đó chúng ta có thể chịu thử thách, và một lối thoát được cung cấp mỗi khi chúng ta chịu đựng từng trải ấy.
CÁC PHƯƠNG PHÁP CẦN SỬ DỤNG KHI GẶP CÁM DỖ
Bằng thí dụ và lời truyền dạy trực tiếp, Kinh Thánh đưa ra khá nhiều lời khuyên về cách đối phó với cám dỗ. Những điều riêng biệt được chia thành hai loại: 1. các trách nhiệm tổng quát trong mọi cảnh, và 2. các nguồn tài nguyên đặc biệt cho những hoàn cảnh cá nhân.
Khi đối diện với bất kỳ một cám dỗ nào hay tất cả mọi trường hợp gặp cám dỗ, người tín hữu có ba trách nhiệm chính. Thứ nhất, người ấy cần vui mừng giữa cơn thử thách. “Phải chăng anh em hiện đương đầu với bao nhiêu gian lao thử thách? Hãy vui mừng lên” (Gia Gc 1:2). Đây không phải là thái độ của kẻ cay cú hay khắc kỷ, nhưng là của một Cơ Đốc nhân đắc thắng, đối đầu với sự cám dỗ không phải bằng sự chống cự thụ động, nhưng bằng niềm vui tích cực. Đó là thái độ của các môn đệ nguyên thủy của Chúa, đã vui mừng vì được kể là xứng đáng được chịu khổ vì danh Ngài (Cong Cv 5:41). Phao-lô làm chứng rằng ông vui mừng giữa mọi gian khổ (RoRm 5:3). Làm thế nào để có thể có thái độ như thế được? Cả hai Phao-lô lẫn Gia-cơ đều đồng thanh. Chúng tôi có thể vui mừng vì biết rằng một khi đã chiến thắng được một cuộc trắc nghiệm, thì đức tin và sự kiên trì chịu đựng sẽ nảy sinh trong đời sống, và nhiều khi những điều đó chỉ có thể có trong hoạn nạn gian khổ mà thôi.
Thứ hai các Cơ Đốc nhân có trách nhiệm chịu đựng cám dỗ “Người nào bị cám dỗ mà biết giữ mình, không phạm tội, là kẻ có phúc” (Gia Gc 1:12). Chúng ta đã thấy rằng lời hứa quan trọng trong ICo1Cr 10:13) không hứa giảm bớt sự cám dỗ, nhưng giúp chịu đựng nó. Chịu đựng có nghĩa là kiên trì nhận chịu cuộc trắc nghiệm bằng thái độ bền bĩ không lằm bằm than vãn, sờn lòng hay phạm thượng. Có lẽ có người sẽ hỏi “Làm sao có thể như thế được?” Nhưng người tín hữu chứng tỏ kiên trì chịu đựng thi hành công việc của Ngài khi thử nghiệm hầu tạo ra sự tăng trưởng và làm phát triển các ân phúc của Ngài trong đời sống mình. Chịu thua là phạm tội, lằm bằm là thất bại; chịu đựng là học bài học mà Thượng Đế muốn dạy mình thông qua thử thách.
Thứ ba người tín hữu phải cầu nguyện khi gặp cám dỗ. Có một câu trong Bài Cầu Nguyện Vhung là “Xin đừng đưa chúng con vào vòng cám dỗ” (Mat Mt 5:13). Vì biết mình vốn yếu đuối, con cái Chúa cần cầu xin Cha trên trời của mình đừng bỏ mặc mình tự xoay sở lấy, vì làm như vậy mình sẽ lâm cảnh đơn độc để đối phó với quyền năng áp đảo của Sa-tan. Đây là một lời cầu xin dành cho những ai nhận biết mình vốn yếu đuối, rất dễ bị thua điều ác và xin Chúa chớ quá thường cho phép họ gặp cám dỗ nặng nề, và trong những cơn thử thách hầu đến, ma quỉ sẽ không thắng được mình. Lời cầu xin này không dành riêng cho các bậc anh hùng và những con người cầu toàn, nhưng là cho những con người bình thường nhưng thực tế, biết xác thịt mình vốn yếu đuối và có thể bị thất bại mỗi lần chịu thử nghiệm.
Thêm vào các trách nhiệm tổng quát vừa kể trên, là một số các nguồn tài nguyên đặc biệt được Lời Thượng Đế liệt kê để chúng ta sử dụng khi gặp cám dỗ.
Thứ nhất và khá lạ lùng, ấy là nhiều khi người tín hữu sẽ chứng tỏ được là mình mạnh mẽ và khôn ngoan nhất, nếu biết chạy trốn hoàn cảnh trong đó mình gặp cám dỗ. Một số người ngoan đạo quá khích có thể xem thái độ đó là hèn nhát, nhưng hành động như thế là đúng theo Kinh điển. Lệnh truyền phải làm như vậy thật là rõ ràng “Hãy xa lánh (chạy trốn) việc thờ cúng thần tượng” (ICo1Cr 10:14). “Con phải (trốn) tránh dục vọng tuổi trẻ” (IITi 2Tm 2:22). Các gương sáng được nêu ra cũng rất rõ ràng. Trong chuyến du hành truyền giáo đầu tiên, Phao-lô đã trốn khỏi thành phố Y-cô-ni khi ông bị chống đối mạnh mẽ (Cong Cv 14:5, 6) và gặp trường hợp đó thì hành động như thế là khôn ngoan hơn. Trong SaSt 39:1-23 có một thí dụ thật đẹp về nguyên tắc chạy trốn này. Ông Giô-sép là một nô lệ trong nhà Phô-ti-pha, được vợ Phô-ti-pha đề nghị phạm tội ngoại tình với mình. Khi được yêu cầu lần đầu tiên, ông cương quyết trả lời không. Ông vốn thấy rõ các hậu quả của việc chịu thua một cám dỗ như thế, vì ông nói “Thế nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy. mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?” (c.9). Chẳng hề có chút đùa cợt phân vân, thỏa hiệp nào. Nhưng sự cám dỗ đã không tan biến ngay sau lần từ chối đầu tiên này, vì vợ của Phô-ti-pha vẫn nài nỉ ông 'thường ngày' (c.10). Cuối cùng mụ ta “bèn nắm áo chàng mà rằng: Hãy nằm cùng ta! nhưng chàng liền tuột áo để lại trong tay người mà chạy trốn ra ngoài” (c.12). Lắm khi chạy trốn một hoàn cảnh trong đó mình có thể bị thua sự cám dỗ thì tốt hơn là ở lại để chiến đấu với nó nhiều. Đây không phải là phủ nhận quyền năng của Thượng Đế, nhưng là một thái độ chân thành thừa nhận sự yếu đuối của xác thịt.
Một nguồn tài nguyên thứ hai mà người tín hữu có sẵn trong một vài hoàn cảnh gặp cám dỗ, là phá hủy điều có thể trở thành một công cụ hay phương diện phạm tội đi. Nguyên tắc này được phát biểu trong RoRm 13:14 “Hãy để Chúa Cứu Thế Giê-xu bảo bọc anh em như áo giáp. Đừng chiều theo các ham muốn của xác thịt”. Đừng cuung phụng cho xác thịt những gì nó ham muốn, có thể có nghĩa là cất một vài phần nào đó của nó trong đời sống, thì sẽ khiến được một người khỏi phạm tội.
Một thí dụ rất hay cho điều này được tìm thấy trong các biến cố xảy ra tại Ê-phê-sô trong chức vụ của Phao-lô tại thành phố lớn này nhân chuyến du hành truyền giáo thứ ba của ông (Cong Cv 19:11-20). Đang khi Cơ Đốc giáo tràn lan trong thành phố có một số người mới ăn năn quy đạo bị cáo trách về số tài sản và cách hành một nghề có tính cách 'nghệ thuật huyền bí' của họ (c.14). Họ vốn sử dụng một số thần chú được viết trên nhiều cuộc sách và trên các lá bùa. Một số là những chữ được viết trên mão miện, trên dây thắc lưng và dưới chân tượng thần Đi-anh, dựng trong ngôi đền thờ lớn của Đi-đanh tại Ê-phê-sô. Khi các tín hữu bị cáo trách về việc họ đã liên tục sử dụng các sách về bùa chú đó, họ thâu góp tất cả lại và đem thiêu hủy đi thành một đống lửa lớn. Chỉ các cuộn sách mà thôi, đã được định giá khoảng 15.000 Mỹ kim. Tuy chúng ta không thể định giá thật chính xác số tài liệu đó, chắc chắn chúng phải có trị giá rất cao.
Lẽ dĩ nhiên là ngày nay, chúng ta chắc đã khôn ngoan và tiến bộ hơn nhiều, chớ không phải chỉ biết có chuyện đốt sách mà thôi. Cả khi nếu chúng ta nghĩ rằng những chuyện mê tín dị đoan, các tài liệu về chiêm tinh, về 'khoa học huyền bí' như những trang tử vi hằng ngày đăng trên các nhật báo vốn đã lỗi thời trong đời sống Cơ Đốc nhân, chúng ta không nên thiếu khôn ngoan đến độ sợ bị thiệt hại về tiền bạc mà không chịu tiêu hủy chúng. Có lẽ chúng ta cử ra một tiểu ban lo thu nhặt các vật ấy rồi đem bán chúng cho các hàng sách cũ. Lẽ tự nhiên là số tiền ấy sẽ được sung vào quỹ xây dựng! Nhưng điều cũng dĩ nhiên, chuyện có thể xảy ra là nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay chẳng bao lâu lại gặp những quán bán sách cũ như thế và mua lại các tài liệu đã bị vứt đi ấy. Có thể đó là một phương pháp khôn ngoan để gây công quỹ, nhưng nhất định nó không thể nào dẫn đến việc chiến thắng cám dỗ. Lắm khi chính việc thiêu hủy ngay những vật có thể dụ dỗ chúng ta phạm tội đó lại là phương pháp duy nhất dẫn đến sự chiến thắng thuộc linh.
Mới đây tôi có đến truyền giảng cho một trại hè của thanh niên về đề tài này, lấy biến cố trong Cong Cv 19:1-41 làm một thí dụ minh họa. Tuy tôi chẳng đề cập gì chuyện ứng dụng việc ấy vào sinh hoạt hiện đại, Đức Thánh Linh đã phán với một người trong đám cử tọa vừa mới biết Chúa Cứu Thế vài tuần lễ trước đây thôi về loại âm nhạc vốn đã can dự một phần rất lớn vào cuộc đời của anh ta. Hậu quả là anh ta đã thật sự em thiêu hủy các bản nhạc và đĩa hát anh ta có và anh ta biết là từng kích thích nhiều đam mê cho tấm lòng và tâm trí anh ta. Các nốt nhạc, các lời lẽ trong bài ca, trong âm nhạc tự chúng vốn không phải là tội lỗi, nhưng chúng có thể được phối hợp theo một cách thức nào đó nhằm quyết rũ và kích thích các ước muốn có thể dẫn đến việc phạm tội. Nếu quả là như vậy, thì hành động hay nhất là nên thanh toán chúng đi.
Nhiều thí dụ khác nữa không phải là khó kể ra. Thường thường thì chính những 'sự việc sự vật' được đưa vào (một hành động nào đó) tự chúng vốn chẳng có gì sai lầm, nhưng lại có thể trở thành một công cụ để đánh bại chúng ta. Nhận biết các nhược điểm của mình, thì tốt hơn hết là đừng nên để quanh mình những gì có thể tạo cơ hội cho xác thịt thỏa mãn các tham dục của nó. Đó cũng là một phương pháp để chiến thắng.
Một nguồn tài nguyên thứ ba nữa mà người tín hữu có thể lợi dụng để giúp mình chiến thắng cám dỗ, là giao du với những con người tốt. Sau khi khuyên Ti-mô-thê tránh các dục vọng tuổi trẻ, Phao-lô thêm “Hãy hợp tác với người có lòng trong sạch, tin kính Chúa để theo đòi sự công chính, đức tin, yêu thương và bình” (IITi 2Tm 2:22). Bạn bè tốt có thể giúp ngăn chận sự cám dỗ dẫn đến hậu quả xấu. Có một câu Châm ngôn dạy rằng “Ai giao tiếp với người khôn ngoan, trở nên khôn ngoan; nhưng kẻ làm bạn với bọn điên dại sẽ bị tàn hại” (ChCn 13:20). Liên kết với các kẻ thù Chúa Cứu Thế là một trong những bước đã đưa Phê-rơ đến chỗ chối Chúa trong đêm Ngài bị đóng đinh vào thập tự giá (LuLc 22:55).
Nói như thế không có nghĩa là chúng ta chẳng bao giờ nên liên kết với các bạn bè, chưa được cứu, e rằng họ sẽ đưa chúng ta đến chỗ bị cám dỗ, nhưng chỉ có nghĩa rằng khi có người bạn nào hay người chưa tin Chúa nào muốn kéo chúng ta xuống một bình diện thấp kém hơn thì chúng ta phải tránh kẻ ấy như xa lánh thuốc độc vậy, vì sự việc quả đúng là như thế.
Đó là những gì Kinh Thánh đã nói về sự cám dỗ. Thượng Đế vốn có ý định lợi dụng nó để thử nghiệm, dạy dỗ và làm tăng thêm tình yêu thương của chúng ta đối với Ngài. Chẳng hề có lời mời gọi nào của điều xấu điều ác vốn từ Ngài đến. Việc ấy chỉ xảy ra khi chúng ta để các tư tưởng, dục vọng xấu xa thôi thúc, lôi kéo mình (Gia Gc 1:14). Nhưng Thượng Đế cũng đã hứa là chẳng bao giờ thử thách chúng ta vượt quá khả năng chịu đựng, và Ngài sẽ trợ giúp và cung cấp các nguồn tài nguyên cho chúng ta chịu đựng nổi và đạt được thành công. Cơ Đốc nhân thuộc linh có thể chờ đợi sự cám dỗ đến, và người ấy sẽ vượt qua sự cám dỗ với ngọn cờ phất cao!
VIỆC THÚ TỘI VÀ THA TỘI
Một lãnh vực khác nữa của sinh hoạt thuộc linh từng đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn hiện nay, liên hệ với việc xưng tội. Xưng tội là gì? Phải chăng Thượng Đế đã tha tội cho chúng ta rồi lúc chúng ta thú tội với Ngài? Hay Ngài vẫn chưa tha thứ cho chúng ta? Chúng ta bị bó cuộc gì liên hệ với việc tha thứ nhau? Trên đây là vài câu hỏi có thể đưa ra nhiều lời giải đáo, và đó là những câu hỏi cần phải được trả lời, nhưng là trả lời căn cứ theo Kinh điển.
XƯNG TỘI CHÚNG TA.
1. Thú tội là gì? Theo nghĩa đen từ ngữ thú nhận có nghĩa là nói y như, nghĩa là hoàn toàn đồng ý hoặc nhìn nhận. Như vậy, xưng tội là việc thừa nhận rằng mình nhất trí với một định chuẩn, và bao hàm việc nhìn nhận một điều mà mình không đồng ý trước đó. Khi một người xưng nhận Chúa Cứu Thế là Cứu Chúa, là người ấy nhìn nhận rằng trước đây mình từng nghĩ sai về Chúa Cứu Thế, nhưng bây giờ, mình nhất trí với Thượng Đế rằng sự chết của Chúa Cứu Thế đã trả xong cái giá phải trả cho tội lỗi mình. Khi một Cơ Đốc nhân xưng ra các tội lỗi đặc thù trong đời sống mình, là người ấy đồng ý với những gì Thượng Đế đã phán liên hệ với tội lỗi, và nhìn nhận sự bất đồng ý kiến hay lầm lỗi của mình trong quá khứ. Chuẩn mực bao giờ cũng là Lời không nhầm lẫn vào đâu được của Thượng Đế.
2. Phải chăng việc xưng tội luôn luôn bao gồm việc ăn năn hối cải và xây bỏ tội lỗi? Đây không phải là một câu hỏi dễ trả lời. Người ta rất muốn trả lời là vâng, sự xưng tội đích thực bao giờ cũng bao hàm việc xây bỏ cái tội mà mình đã xưng ra. Chẳng có gì để nghi ngờ là sự việc đáng lẽ phải xảy ra đúng như thế, nhưng sự thật lại không phải là luôn luôn đúng như vậy. Đã không có bị thánh nào lại chẳng sa trở vào cùng một tội mà mình đã xưng ra trước rồi và (đã tưởng là mình) đã được tha thứ rồi?
Thế phải trả lời sao đây? Một mặt, thì căn cứ vào nghĩa của từ ngữ này, rõ ràng là xưng tội không phải chỉ là nói ra một tội cá biệt nào đó. Đồng ý với Thượng Đế về một tội không phải chỉ là nhìn nhận suông rằng điều Ngài đã bảo là tội quả đúng là tội, nhưng cùng là có cùng một quan điểm với Ngài về cái tội ấy, là điều chắc chắn đã gồm luôn thái độ muốn từ bỏ luôn tội ấy, thì chỉ là đồng ý một phần với Thượng Đế về vấn đề ấy mà thôi. Như vậy, sự xưng ti đích thực không thể chỉ là nói ra bằng lời suông về một điều gì đó, và thế hệ là việc ấy tự động tạo ra sự tha tội.
Mặt khác, thế tại sao đã có quá nhiều người từng xưng tội, bỏ tội lỗi ấy, nhưng rồi lại sa trở vào đó nữa? Rõ ràng là sai lầm này vốn không do việc xưng tội hãy còn thiếu sót, mà đúng hơn là do chưa áp dụng đúng mức các phương tiện đã được dành sẵn để chiến thắng vấn đề. Thế nhưng nhiều khi như thế vẫn chưa phải là tất cả vấn đề, vì vẫn còn một số người, bất chấp những gì có thể làm, lại còn sa vào cùng một tội ấy một lần nữa, do bị quyền lực của xác thịt hoặc của Sa-tan thắng hơn mình. Nhưng trong các thí dụ vừa kể trên việc xưng tội vốn không phải là thiếu sót. Như bạn đã thấy, chúng ta cần phân biệt nhiều việc khác nhau” sự xưng tội, đời sống tiếp sau đó, quyền lực của tội lỗi. Nói khác đi, dường như trong Lời Chúa đã không hề có bảo đảm là cả khi một tội đã được xưng nhận và tha thứ rồi, thì người tín hữu được loại trừ hẳn để không còn lại sa vào cùng một tội ấy nữa trong suốt cả phần còn lại của đời sống mình. Như vậy, sự xưng tội đích thực phải gồm luôn việc đau buồn về tộu và từ bỏ nó, nhưng sự xưng tội cá biệt nào đó sẽ không bao giờ bị tái phạm. Nếu có tái phạm, thì nó sẽ phải được xảy ra.
3. Khi nào chúng ta phải xưng tội mình? Nói chung thì câu trả lời là: Khi nào chúng ta chú ý đến nó và sẵn sàng, tự nguyện nhìn nhận nó là tội, và từ bỏ nó. Nhưng nói riêng, thì Kinh điển có đưa ra hai giới hạn về thời gian cho vấn đề này. Thứ nhất là lúc ban đêm, và thứ hai là khi dự Tiệc thánh. Nguyên tắc của Eph Ep 4:28 “Đừng giận cho đến chiều tối” - dường như cho thấy vết đen cần phải được xóa đi trước giờ nghỉ ngơi ban đêm. Các hoạt động trong ngày, kể cả các sai lầm trong đó, có thể được duyệt xét lại thật phù hợp lúc ấy, rồi xưng ra với Chúa. Nhưng nếu việc ấy không được thì hành trong giấc ngủ ban đêm, thì các hoạt động của ngày hôm sau lại đem đến sự vô cảm và quên khuấy đi, để lại đưa đến một tội nặng hơn nữa, hay ít ra cũng làm mất đi sự thông công vì có một tội chưa xưng ra.
Thì giờ tương giao khi dự Tiệc thánh cũng là thì giờ để tự xét mình và thú tội. Nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ có thể bị Thượng Đế xét xử bằng hình thức bệnh tật, hoặc cả bằng sự chết thuộc thể nữa (ICo1Cr 11:27-32). Về mặt lý tưởng mà nói, tội lỗi phải được xưng ra khi nó bị lôi ra ánh sáng, nhưng không thể bỏ qua mà không chịu xưng ra trước lúc là mình đi ngủ; nếu vì một lý do nào đó mà việc này xảy ra, thì chẳng bao giờ nên lại bỏ qua lúc dự Tiệc thánh.
4. Còn có phương pháp nào khác hơn là xưng tội hay không? Từ trước cho đến đây trong phần thảo luận của chúng ta, chúng ta đã ngụ ý bảo rằng xưng tội là việc kể lại với Thượng Đế bằng lời nói ra hoặc bằng cách im lặng, các tội lỗi của chúng ta trong khi cầu nguyện. Chắc chắn đó là một phương pháp để thú tội. Nhưng việc thú tội cũng có thể thực hiện bằng hình thức một tư tưởng mà chỉ trong một khoảnh khắc thời gian, bao gồm cả việc kể ra, nhìn nhận, từ bỏ và tất cả những gì bao gồm trong một lần xưng tội đích thực. Xưng tội cũng có thể mặc lấy hình thức của một quyết định thay đổi hẳn các đường lối (sống) của một người. Lẽ dĩ nhiên là mọi việc xưng tội đều phải đưa đến hậu quả này, nhưng đây cũng có thể là hình thức duy nhất của một sự xưng tội cá biệt. Loại thú tội này vốn có tiếng nói rất vang dội.
Tôi từng có kinh nghiệm về một buổi nhóm khá dài, trong đó việc xưng tội được thực hiện công khai do các học sinh của một trường nọ. Một số những lời xưng tội như vậy thật cần thiết và có kết quả rất hữu ích nữa. Nhưng đặc biệt là có lời thú tội của một cô gái nghe ra không thành thật. Nó khá dài và rất chi tiết, tuy không thật sự cụ thể, mà dường như được 'bọc đường' bằng thái độ tin kính giả tạo. Nếp sống theo thói quen trong học đường chấm dứt đúng lúc, và nếp sinh hoạt lại được tiếp tục trong thung lũng. Vào một ngày sau đó chẳng bao lâu, tôi tình cờ đứng xếp hàng chờ bữa điểm tâm tại một quán cà-phê, thì chính cô gái ấy lại chen vào đứng lên đầu hàng. Một học sinh đứng trước mặt tôi quay sang một học sinh khác và nói “Tao thấy con bé ấy lại ngựa quen đường cũ rồi. Thật là quá tệ, vì cô ta đã không chiến thắng nổi việc vi phạm luật phải xếp hàng như vậy!” Nhiều khi được thấy vẫn tốt hơn là được nghe một lời xưng tội.
5. Về việc xưng tội công khai thì thế nào? Chúng ta cần đề cập vấn đề này chi tiết hơn về sau, nhưng ở đây, thiết tưởng chỉ cần nói rằng trước hết, việc xưng tội là thú tội với Thượng Đế. Tuy nhiên, cũng có nhiều cơ hội mà một loại nhận tội công khai là cần thiết và thích hợp. Công chúng có thể chỉ là người khác kia (Mat Mt 5:21) hoặc toàn thể Hội thánh (Mat Mt 8:17) hoặc có cần hoặc không cần sự đền bồi. Điều quan trọng cần nhớ là việc công khai xưng ra những tội đặc thù thường hoàn toàn bất thích hợp. Một cuộc đời được biến đổi là một lời xưng nhận công khai, nhưng kể ra một vài tội trước công chúng có thể là hoàn toàn không đúng chỗ. Đây đã từng là một chuyện rắc rối của riêng tôi tại một điểm của đời sống mình, và tôi từng hỏi một vị trưởng lão vốn là một thái độ rất khôn ngoan ông sẽ khuyên bảo như thế nào để chỉ dẫn tôi về việc xưng tội công khai. Ông đưa ra hai lời khuyên: 1. Ai đã thúc giục việc công khai xưng tội - Thượng Đế, Sa-tan hay chính bạn? Nếu không phải Thượng Đế nhất định dẫn đến việc ấy thì đó việc không nên làm. Chuyện quá thường xảy ra, là chúng ta có thể tự bảo mình là rõ ràng có lời khuyên bảo phải xưng tội trước công chúng. 2. Việc xưng tội công khai đó có xây dựng Hội thánh không? Kinh Thánh dạy rất rõ ràng rằng mọi việc trong những buổi nhóm lại công cộng đều phải được thực hiện nhằm mục đích gây dựng và một cách thích hợp và trong vòng trật tự (ICo1Cr 14:26, 40). Bất luận một trường hợp xưng tội công khai nào vi phạm lời chỉ dẫn này, thì thà bỏ qua, chớ đề cập còn tốt hơn.
6. Xưng tội đưa đến kết quả là loại tha tội nào? Vì sinh hoạt Cơ Đốc nhân là một mối liên hệ có tính cách gia đình, tốt nhất là nên xem xét vấn đề tha thứ trong bối cảnh đó. Khi nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa cho riêng mình, thì chúng ta được nhận vào gia đình của Thượng Đế. Việc được tái sanh để được gia nhập gia đình nầy có tính cách vĩnh viễn; chúng ta sẽ chẳng bao giờ bị truất khỏi gia đình ấy. Tuy nhiên, các mối liên hệ trong gia đình cũng tương tự như trong một gia đình của trần gian này. Thỉnh thoảng có một mối liên hệ giữa người cha với con cái mình bị cắt đứt. Không vâng lời người cha sẽ dẫn tới việc ấy, và nếu nó chưa trục xuất người con khỏi gia đình, nó vốn có ảnh hưởng đến mối thông công của người ấy, và việc người ấy được hưởng các mối liên hệ cũng như các đặc quyền trong sinh hoạt gia đình. Một sự việc giống như vậy cũng xảy ra khi chúng ta phạm tội với Cha chúng ta ở trên trời. Ngài không loại trừ chúng ta nhưng Ngài bị buồn lòng, và chúng ta không thể hưởng được sự thông công trọn vẹn trong gia đình. Huyết Chúa Cứu Thế từng bị đổ ra có hiệu lực giữa chúng ta lại trong gia đình cả khi chúng ta phạm tội (IGi1Ga 1:7), và Đấng Biện Hộ (hay người đỡ đầu, vị trạng sư hay người bạn thân) cho chúng ta là Chúa Giê-xu luôn luôn đảm nhận vụ án của chúng ta khi chúng ta phạm tội và nhắc nhở Đức Chúa Cha rằng sự chết của Ngài đã trả giá cho mọi tội lỗi chúng ta (IGi1Ga 2:1).
Mối thông công vĩnh viễn vì thuộc về gia đình chẳng bao giờ có thể tan vỡ được, nhưng mối thông công tạm thời là vui hưởng tinh thần gia đình có thể bị tội lỗi làm gián đoạn. Huyết Chúa Cứu Thế duy trì mối thông công vĩnh viễn; việc thú tội của chúng ta tái lập mối thông công bị mất đi tạm thời. Khi chúng ta thú tội, “Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạch tất cả lỗi lầm chúng ta, đúng theo bản tính công chính của Ngài” (IGi1Ga 1:9).
Nhưng các mối liên hệ trong gia đình Thượng Đế không phải chỉ có với Đức Chúa Cha mà thôi, mà còn gồm luôn các thành viên khác nữa của gia đình, là các Cơ Đốc nhân khác nữa. Kinh Thánh nhấn mạnh rằng duy trì mối thông công phải lẽ với các tín hữu khác, thì cần phải có tinh thần tha thứ.
THA THỨ LẪN CHO NHAU
Thú tội mình là cần thiết cho mối thông công trong gia đình Thượng Đế, và tha thứ nhau cũng vậy. Lẽ dĩ nhiên là có một nguyên tắc hết sức rõ rệt trong Tân ước, và đó là như vầy: Mối thông công trong gia đình Thượng Đế tùy thuộc mối thông công với nhau trong gia đình. Hay nói khác đi, các mối liên hệ tốt đẹp với Đức Chúa Cha tùy thuộc các mối liên hệ tốt đẹp với các con cái Ngài.
1. Nguyên tắc tha thứ nhau trong lời truyền dạy (Mat Mt 5:21-26). Trong phần lý thú này của Bài Giảng Trên Núi, Chúa truyên bố rằng những việc nhỏ mọn như tức giận một anh em, rất có thể đưa tới tội sát nhân, do đó, phải sa hỏa ngục (cc.21-22). Cũng vậy, một việc nhỏ nhặt như một anh em có điều gì làm phật ý bạn, có thể dẫn đến việc mất thông công với Cha trên trời (cc.23-24). Lẽ dĩ nhiên, thu xếp mọi sự cho tốt đẹp, cả giữ các thành viên trong gia đình Thượng Đế quan trọng đến nỗi nó phải được xếp trước việc của lễ cho Ngài nữa Cần lưu ý là lời truyền dạy này có một phạm vi hết sức rộng lớn, vì việc hòa giải vẫn chưa có thể thực hiện được trước khi người anh em phạm tội chịu xưng nhận việc sai quấy của mình. Nếu bạn (rõ ràng là vô tội trong vấnđ ề này) nhớ rằng có một ai đó đã lầm lỗi một điều gì đó với mình (dầu người ấy làm như vậy là bất công), thì trách nhiệm cua bạn là phải đến với người ấy để tìm cách giải hòa. Phần đông chúng ta đều hành động theo cái nguyên tắc là người làm quấy phải đi bước trước, và nếu người ấy không chịu làm thế, thì chúng ta không bị bă1t buộc phải cải thiện tình hình. Nhưng Chúa dạy sự việc không phải là như thế. Chính bạn phải chứng tỏ tinh thần tha thứ bằng cách đến với người ấy và cố gắng thu xếp mọi việc cho thỏa đáng. Nếu không, sự phục vụ và thờ phượng Thượng Đế của bạn sẽ bị ảnh hưởng bất lợi. Các mối liên hệ tốt đẹp với Đức Chúa Cha tùy thuộc các mối liên hệ tốt đẹp với các con cái Ngài.
2. Nguyên tắc tha thứ nhau trong ẩn dụ (Mat Mt 18:21-35). Nhưng giả sử một người anh em cứ phạm tội chống lại tôi mãi? Tôi có bị bắt buộc phải cứ tha thứ cho anh ta mãi không? Vào thời của Chúa Cứu Thế, các ra-bi bảo rằng một người bị đòi hỏi phải tha thứ chỉ hai lần cho cùng một người mà thôi. Lúc Phê-rơ đưa vấn đề này ra với Chúa, ông tưởng việc gợi ý tha thứ đến bảy lần đã là chứng tỏ một tinh thần rộng lượng lắm rồi (c.21). Nhưng Chúa đã dạu rằng việc tha thứ cho nhau phải là vô giới hạn, vì đó chính là loại tha thứ mà Thượng Đế ban cho chúng ta. Rồi Ngài kể một ẩn dụ về một tên đầy tớ mắc nợ chủ mình một số nợ không tài nào trả nổi (có lẽ ti1nh theo giá trị ngày nay thì phải đến 10 triệu Mỹ kim) và khi anh ta đến khẩn khoản thì được chủ tha hết nợ cho. Nhưng rồi người được tha nợ vừa đi ra, gặp một người bạn cùng làm tôi tớ như mình chỉ thiếu anh ta có hai mươi lăm Mỹ kim tiền nợ, tì liền bằt buộc người ấy phải trả nợ cho mình. Chúa dùng ẩn dụ này để làm sáng tỏ hai điểm: các con cái của Đức Chúa Cha phải bắt chước Ngài (cc.32,33), và một kẻ không chịu tha thứ thì đừng trông mong chính mình sẽ được tha thứ (c.35).
3. Nguyên tắc tha thứ nhau bằng hình ảnh (GiGa 13:1-17). Lúc Chúa rửa chân cho các môn đệ Ngài, Ngài đã đưa ra một bức tranh sống động về sự tha thứ. Thật ra bức tranh minh họa này gồm hai mặt. Việc Ngài rửa chân cho các môn đệ vẽ ra bức tranh Ngài luôn luôn giữ cho chúng ta tinh sạch bằng chức vụ cầu thay của Ngài. Chúng ta đã được rửa sạch lúc được cứu rỗi, nhưng chúng ta cần được giữ luôn trong sự thông công nữa, là điều Ngài làm cho chúng ta bằng việc rửa chân cho chúng ta (c.10) đây cũng chính là chức vụ đã được đề cập trong IGi1Ga 2:2.
Nhưng Chúa cũng truyền dạy một điều răn căn cứ vào bức tranh này. “Các con cũng phải rửa chân cho nhau” (c.14). Câu này chỉ có thể có nghĩa là chúng ta phải tha thứ cho nhau y như Chúa đã tha tội cho chúng ta vậy. Rủi thay, nhiều người đã đọc câu này mà chỉ thấy việc Chúa Cứu Thế làm cho người tín hữa mà không thấy việc người tín hữu phải làm lễn cho nhau. Mà đây là chức vụ tha thứ lẫn nhau. Xin lưu ý một lần nữa là phía vô tội phải chủ động đi bước trước trong việc tha thứ cho người có đôi chân bị dơ.
Trong đêm trước hôm chịu đóng đinh vào thập tự giá, hành động đó của Chúa đã gợi ý về một số chi tiết lý thú trong việc rửa chân lẫn cho nhau. Một mặt, Ngài không hề tuyên bố rùm beng về việc Ngài sắp làm. Việc rửa chân phải được thi hành âm thầm lặng lẽ. Điều cũng hết sức rõ ràng, là muốn rửa chân cho một người khác, thì người ta phải cúi thấp xuống đến tận đôi bàn chân của người kia! Tại vị trí bạn rửa chân cho một tín hữu khác, bạn không thể có thái độ tỏ ra mình là ông chủ để sai khiến người kia. Mà đây đúng là điều chúng ta được khuyến giục phải nhớ trong GaGl 6:1 “Thưa anh em thân yêu, nếu có tín hữu nào bị tội lỗi quyến rũ, anh em là người có Thánh Linh hãy lấy tinh thần dịu dàng khiêm tốn dìu dắt người ấy quay lại đường chính đáng. Anh em phải cẩn thận giữ mình để khỏi bị quyến rũ”. Cơ Đốc nhân thuộc linh chủ động đi bước trước để phục hồi địa vị cho người anh em phạm tội; nhưng phải làm việc ấy cách khiêm tốn, luôn nhớ rằng chính mình cũng có thể sa vào cùng một tội y như vậy. Hình ảnh này cũng gợi ý rằng sự tha thứ phải hoàn toàn. Đây không thể là một hành động nửa vời, vì chỉ rữa một phần của đôi chân bẩn thì chúng vẫn còn lấm bùn, chớ không hoàn toàn sạch sẽ. Ta không thể có thái độ “Tôi tha cho anh đấy, nhưng mà...”
4. Nguyên tắc tha thứ trong khi cầu nguyện (Mat Mt 6:12). Trong bài cầu nguyện kiểu mẫu, Chúa Giê-xu nhắc nhở các môn đệ Ngài (và cả chúng ta nữa) rằng chỉ khi nào chúng ta tha thứ cho người khác, thì mới có thể trông mong Cha chúng ta tha tội cho chúng ta (không phải trong việc cứu rỗi, nhưng trong sinh hoạt và các mối liên hệ gia đình). Lời cầu xin trong bài cầu nguyện chung phải được dịch là “Xin tha nợ cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha cho những người mắc nợ chúng tôi”. Nói khác đi, các mối liên hệ tốt đẹp với Đức Chúa Cha tùy thuộc các mối liên hệ tốt đẹp với các con cái Ngài. Chúng ta được dạy dỗ khi lưu ý rằng trong số tất cả mọi điều trong bài Cầu Nguyện Chung, chỉ duy nhất có vấn đề này là đã được nhấn mạnh mà thôi (cc.14,15). Rõ ràng là nó có tầm quan trọng đứng hàng đầu.
5. Nguyên tắc tha thứ trong thực hành. Thực hành nguyên tắc tha thứ này không phải là dễ dàng, do đó, tôi xin đưa ra nhiều gợi ý có thể giúp ích.
Thứ nhất, như chúng ta đã thấy nhiều lần, tôi không nên chờ đợi cho đến khi anh em tôi thấy và nhận sự sai quấy của mình, rồi mới chịu tha thứ. Ngay khi tôi thấy điều ấy, thì tôi phải tha thứ ngay, bất chấp người ấy có thấy hay không. Điều đó có nghĩa là tôi phải đến với người ấy và tìm cách chỉ cho người ấy điểm sai lầm (như GaGl 6:1 cho thấy), hoặc có thể là tôi đang ở vào địa vị không thể tự mình nói chuyện đó với người ấy. Nhưng trong cả hai trường hợp tôi đều phải tha thứ.
Thứ hai, cũng như phần lớn các nguyên tắc khác, nguyên tắc này trước nhất phải được thực thi đối với những người thân cận gần gũi nhất với chúng ta. Phần đông chúng ta vốn chẳng hề có vấn đề phải tha thứ cho những người mà chúng ta không quen biết hoặc những người mà tội lỗi họ chỉ có ảnh hưởng rất ít đến chúng ta. Đây là vấn đề trước hết phải tha thứ cho các bạn là thành viên trong Hội thánh, chớ không phải là những người thuộc một giáo phái khác. Nó liên hệ đến các bạn đồng học, vị mục sư, các bạn giáo viên cùng dạy Trường Chúa nhật của tôi.
Thứ ba, khi thực hành việc tha thứ tôi không hề dung thứ tội lỗi. Một người có thể tha thứ, nhưng vẫn bất đồng ý kiến trong những lãnh vực có thể có ý kiến khác nhau thật sự. Nguyên tắc này không được sử dụng để áp chế các niềm tin quyết chân chính của chúng ta, nhưng nó phải hoạt động để giữ hòa khí giữa nhau và với Chúa. Tôi vẫn muốn mình là người cuối cùng bảo rằng chúng ta không thể pha lẫn, các niềm tin quyết đúng theo Kinh điển; nhưng cũng muốn là người đầu tiên bảo rằng tha thứ cho nhau là một lệnh truyền của Kinh điển và thiết yếu tuyệt đối để duy trì một nếp sống thuộc linh lành mạnh.
Xưng tội mình và tha thứ cho người khác - là hai nhu cầu thường xuyên trong sinh hoạt thuộc linh. Thú tội giữ cho chúng ta luôn luôn hoàn thuận với Thượng Đế và các tín hữu khác; tha thứ giữ chúng ta luôn luôn hòa thuận với các tín hữu khác và với Thượng Đế.

HỢP PHÁP VÀ THEO LUẬT PHÁP CHỦ NGHĨA (chủ trương phải giữ luật pháp (legalism)
Những phức tạp của sinh hoạt Cơ Đốc nhân cứ nhân bội hằng năm. Trước kia, việc xác định phải trái đối với một tín hữa, cả trong lãnh vực có những điều cần tranh luận, vốn khi đơn giản; nhưng ngày nay, không những càng có nhiều điều cần tranh luận hơn, mà dường như ngay giữa vòng các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo cũng có nhiều bất đồng ý kiến hơn trong các vấn đề ấy. Nhiều người trong chúng ta đã lớn lên trong những ngày (cũng chẳng làm gì cho lắm!) chưa có máy thu hình, chưa có phim hoạt họa của Walt Disney tràn ngập khắp nơi, cũng chưa có phong trào mê túc cầu vào ngày Chúa nhật. Sự ra đời của chỉ một vài trò chơi mới mẻ đó đã khiến những rắc rối gia tăng. Thêm vào đó, cái cảm giác của nhiều Cơ Đốc nhân rằng toàn thể ý niệm về luật pháp và luật pháp chủ nghĩa trong sinh hoạt Cơ Đốc nhân cần phải được xét lại, thế là bạn đã có được một bức tranh cứ ngày càng phức tạp thêm. Nhưng Kinh Thánh phải có các giải đáp và chỉ dẫn cho các vấn đề ấy một cách hữu hiệu, cả trong thế kỷ hai mươi có học vấn cao này.
Ngay từ đầu, xin làm sáng tỏ vài điều về luật pháp và ân điển. Theo một phương diện, chúng vốn là hai ý niệm tương khắc (antithetical) và tính tương khắc đó chủ yếu có liên hệ với sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Khi Phao-lô trả lời câu hỏi tại sao tội lỗi không thống trị được người tín hữu, thì câu trả lời là vì chúng ta không còn bị luật pháp trói buộc nữa mà được hưởng ân phúc của Thượng Đế (RoRm 6:14). Ở đây, liên hệ với việc thánh hóa chúng ta, 'bị luật pháp trói buộc', tương phản rõ rệt với 'được hưởng ân phúc của Thượng Đế'. Nói khác đi, luật pháp với ân điển trong văn mạch ở đây dường như đối lập nhau, và phương pháp duy nhất để một Cơ Đốc nhân từng trải một đời sống thánh khiết, là được sống dưới ân điển.
Chúng đối lập nhau theo nghĩa nào? Theo nghĩa là một định luật của đời sống đang cai trị đời sống người ta, định luật này là luật pháp, còn định luật là ân điển. Nghĩa là ngay trước ngày Chúa Cứu Thế giáng lâm, người ta được trông đợi phải sống theo định luật của đời sống đã được luật pháp Mai-sen trình bày thật chi tiết; nhưng ngày nay, bộ luật đang cai trị đời sống của những người thuộc về Thượng Đế được gọi là ân điển, bởi vì đó là luật của Chúa Cứu Thế, Đấng đã đem ân điển đến cho thế gian này (GiGa 1:17). Giờ đây, một định luật cho đời sống bao gồm ít nhất ba phương diện: các luật lệ đặc thù, năng lực khiến người ta có thể tuân thủ chúng, và động cơ thúc đẩy. Như vậy, khi chúng ta đề cập luật pháp và ân điển như những định luật cai trị đời sống, là chúng ta bao gồm vào đó chẳng những là các lệnh truyền đặc thù, mà còn là cả phần năng lực và động cư thúc đẩy, vốn cũng là một phần của định luật về sự sống nữa. Và theo ý nghĩa này thì ân điển với luật pháp tương khắc, đối lập nhau vì luật lệ, năng lực và động cơ thúc đẩy dưới luật pháp vốn khác hẳn vớc các luật lệ, năng lực và động cơ thúc đẩy dưới ân điển. Nói cách cụ thể, thì chúng trông có vẻ như thế này.
Luật pháp Ân điển
Luật pháp 613 điều luật trong luật Nhiều trăm mạng lịnh cũng
pháp Mai-sen cụ thể như vậy trong luật
Chúa Cứu Thế
Năng lực Đức Thánh Linh (nhưng không Thánh Linh ngự trong lòng
được bảo đảm thường xuyên (được bảo đảm thường xuyên)
Động cơ Trước hết là 'phải' và sợ hãi Trước hết là 'muốn' và yêu
mến.
Tuy có phần nào được đơn giản hóa, lược đồ trên đây vạch rõ, các phản đề giữa luật pháp và ân điển khi chúng được quan niệm như các định luật của đời sống của những người thuộc về Thượng Đế.
Nhưng theo một ý nghĩa khác, thì luật pháp và ân điển không tương khắc rõ rệt với nhau, vì dưới luật pháp vẫn có ân điển, và dưới ân điển cũng có luật pháp nữa. Đây là một điểm rất quan trọng cho nếp sống thánh khiết, vốn thường bị các tín hữu hiểu lầm. Chẳng hạn, có nhiều người đặt luật pháp và ân điển tương phản rõ rệt với nhau đến mức kết luật rằng chẳng thể nào có được những luật lệ đặc thù, cụ thể, dưới tiêu chuẩn hiện nay của ân điển. Đưa vào bất kỳ một luật lệ nào cũng trở thành luật pháp chủ nghĩa cả. Tai hại thay, việc lẫn lộn về giáo lý này nhiều khi lại trở thành cơ sở cho một loại sinh hoạt lỏng lẻo, buông thả, được nhân danh việc thực thi quyền tự do làm Cơ Đốc nhân để biện minh cho.
Sự thật trong vấn đề này, ấy là ngay trong luật pháp Mai-sen vẫn có ân điển (một chân lý mà chúng tôi không thể khai triển ở đây), và ở dưới ân điển, cũng có luật pháp nữa. Tân ước có đề cập “luật pháp toàn hảo... là luật pháp đem lại sự tự do” (Gia Gc 1:25), “luật Thánh Linh” (GaGl 6:2), và “luật của Thánh Linh hằng sống” (RoRm 8:12). Lẽ dĩ nhiên, đó chính là các lệnh truyền đặc thù của Tân ước cấu thành luật của Chúa Cứu Thế, và chẳng khó khăn gì để nhớ rằng đã có hằng mấy trăm những lệnh truyền như vậy. Chúng bao trùm mọi lãnh vực của đời sống, và cũng dứt khoát đến mức có thể đựơc gọi là luật pháp. Và chúng cũng là một phần chủ yếu của điều vẫn có nghĩa là sống 'dưới ân điển'.
Để cố tìm hiểu thêm điều này, xin chúng ta xét đến một vài loại nếp sống dưới ân điển và các đặc điểm của những người đang sống cuộc đời ấy.
MỘT SỐ ĐIỀU VỐN HỢP PHÁP
Sống dưới ân điển người ta luôn luôn có thể làm một số việc phải lẽ hay hợp pháp. Trong Tân ước, có nhiều lệnh truyền rõ ràng, tích cực mà người tín hữu được trông đợi phải làm theo. Họ không cần phải tranh luận hay thắc mắc đặt vấn đề về chúng, cũng không cần phải tìm kiếm các nguyên tắc ẩn tàng trong chúng, hay cầu nguyện hỏi xem mình có nên vâng theo chúng hay không. Chúng vốn dứt khoát rõ ràng và bắt buộc Bảng liệt kê có thể là rất dài, nhưng sau đây là một vài thí dụ. Mọi người phải vâng phục chính quyền thì bao giờ cũng hợp pháp (RoRm 13:1) mọi việc trong Hội thánh phải thực hiện cách thích hợp và trong vòng trật tự thì bao giờ cũng hợp pháp (ICo1Cr 14:10) chúng ta phải ghé vai chung gánh với nhau những nhiệm vụ lớn lao (GaGl 6:2) vợ phải phục tùng chồng (Eph Ep 5:22) phải kiểm soát các tư tưởng của tâm trí (Phi Pl 4:8) cũng như lời nói của mình (CoCl 4:6) chúng ta phải cầu nguyện không ngừng (ITe1Tx 5:17). Làm điều thiện luôn luôn là hợp pháp (IITe 2Tx 3:13) tư tưởng đứng đắn luôn luôn là phải lẽ (Tit Tt 2:2, 4, 6) và gương tốt của cuộc đời Chúa Cứu Thế là mẫu mực cho cách ăn ở ứng xử của người tín hữu (IPhi 1Pr 2:21; IGi1Ga 2:6). Nói khác đi, tất cả những gì tích cực giúp ích cho việc thánh hóa người tín hữu thì bao giờ cũng hợp pháp cả.
VÀI VIỆC BẤT HỢP PHÁP
Tuy có một số người không chịu chấp nhận, quả thật là trong Cơ Đốc giáo cũng có những tiêu cực. Có một số điều bao giờ cũng là sai trái đối với người tín hữu. Đồng hóa với người thế gian là bất hợp pháp (RoRm 12:2) thờ thần tượng (ICo1Cr 10:7), làm buồn Thánh Linh (Eph Ep 4:30), trách mắng con cái quá nặng nề (CoCl 3:21), dập tắt Thánh Linh (ITe1Tx 5:19), hổ thẹn làm chứng cho Chúa (IITi 2Tm 1:8) xao lãng việc nhóm hợp (HeDt 10:25), nói xấu nhau (Gia Gc 4:11), lấy ác trả ác (IPhi 1Pr 3:9), rước giáo sư giả vào nhà (IIGi 2Ga 1:10). Các việc trên đây, cũng với nhiều việc tiêu cực đặc thù khác nữa, chẳng bao giờ là phải lẽ đối với Cơ Đốc nhân thuộc linh.
MỘT SỐ ĐIỂM HỢP PHÁP VÀ BẤT HỢP PHÁP
Chẳng có một vấn đề nào ít ra là về nhận thức vốn rõ ràng là đúng hoặc sai đối với người tín hữu. Tuy khi có thể có những vấn đề mà chúng ta sẵn sàng tuân thủ, ít nhất là do đã có những lời truyền dạy rõ ràng. Tuy nhiên, có nhiều điều mà Cơ Đốc nhân gặp, vốn là phải trong một số trường hợp nhưng lại là sai trong một số trường hợp khác. Sở dĩ như thế là vì chính việc ấy (và có nhiều góc cạnh phức tạp của đời sống được kể vào loại này) vốn không đúng cũng không sai - nó vẫn phi đạo đức; hoặc nhiều khi vì một điều đúng có thể trở thành sai trong một số hoàn cảnh hay một số các mối liên hệ nào đó. Thí dụ y phục vốn phi đạo đức, nhưng cách ăn mặc của một người có thể biến nó thành một lối phục sức khiêm tốn hay không (ITi1Tm 2:9). Thức ăn là vật phù hợp và cần thiết, nhưng lạm dụng nó sẽ dẫn tới hậu quả là ăn uống vô độ, tham ăn tục uống, và như thế là tội.
Có nhiều góc cạnh của đời sống mà khi đặt vào đó, một hành động rất khó xác định. Tôi xin đưa ra một số câu hỏi không hề có thành kiến nào về cách chúng ta phải trả lời như thế nào để minh họa cho tính cách phức tạp của nhiều vấn đề mà một Cơ Đốc nhân nhiệt thành hiện nay phải đối đầu. Túc cầu và dã cầu là hững hoạt động lành mạnh cả cho người tham gia lẫn kẻ chỉ là khán giả. Điều này thật rõ ràng. Nhưng phải chăng bức tranh sẽ thay đổi hẳn khi hai môn thể thao này được chơi vào ngày Chúa nhật? Một tín hữu có nên đi xem một trận đấu nhà nghề vào Chúa nhật hay không? Còn xem trận đấu ấy trên máy thu hình vào Chúa nhật? Con cái người ấy sẽ bị cấm hay được phép ra sân cỏ ngày Chúa nhật? Đó là những câu hỏi hợp pháp về một điều gì đó tự nó là tốt, nhưng có thể trở thành đầu mối tranh luận vì có liên hệ với Ngày của Chúa.
Những vấn đề tương tự cũng có thể được đặt ra đối với một tiện nghi có vẻ như chẳng có gì rắc rối là phim ảnh. Vấn đề nó được sử dụng trong tôn giáo hay ngoài đời vốn không phải là một chuẩn mực để phê phán là nó có thích hợp không, vì nhiều Cơ Đốc nhân vẫn thường xem các phim ảnh ngoài đời nhằm mục đích mua vui thuần túy. Cuốn phim được chiếu ở đâu càng không còn là vấn đề được đặt ra làm định chuẩn nữa, vì hiện nay, nhiều cuộn phim rất xấu vốn có thể được xem trên máy thu hình tại nhà riêng, còn những cuốn phim tôn giáo thật tốt vẫn có thể được chiếu trong các rạp hát. Và rắc rối tăng lên với việc sử dụng ngày càng gia tăng hình thức nghệ thuật này nhằm các mục đích Cơ Đốc giáo dục.
Hoặc lấy việc đầu tư sản xuất. Tôi có quen một người mà tôi tin chắc là chẳng bao giờ đầu tư vào thuốc lá hay rượu mạnh, mà theo tôi, đó là một việc làm đáng khen. Ngày nọ, tôi hỏi ông ta có đầu tư vào một công ty hóa chất nào đó không, và ông ta bảo là có. Tôi bèn hỏi chẳng hay ông ta có biết rằng công ty ấy là một trong những nhà sản xuất giấy được dùng để vấn thuốc lá hay không. Việc ấy thì ông ta không biết, nhưng kết luận rằng vì công ty ấy hoạt động và sản xuất rất đa dạng, nên điều ấy cho phép ông ta cứ tiếp tục đầu tư vào đó. Hay, nếu bạn phát giác ra rằng một phần lớn lợi tức của một dây chuyền các hiệu thực phẩm được dùng vào việc hậu thuẫn cho một đạo thờ cúng trong xứ này, thì bạn sẽ nghĩ sao? Bạn có quyền tự do đầu tư vào đó không? Hoặc bạn có đóng góp bằng cách mua các sản phẩm của các cửa hiệu ấy hay không?
Lắm khi luận cứ đưa ra là các Cơ Đốc nhân phải tránh việc dính dáng với một vài ngành kỹ nghệ nào đó, bởi vì những kẻ dấn thân vào đó dường như làm điều xấu xa nhiều hơn số người bình thường. Có lẽ là đúng như thế, nhưng bạn căn cứ vào đâu để rút ra kết luận ấy? Rất có thể rằng người ấy bán sữa cho bạn là một tên đại gian ác, hay làm sao bạn biết được người đốn cây súc để làm ra chiếc ghế bạn đang ngồi, là hạng người như thế nào? Trong mọi ngành nghề, đều có những kẻ gian ác, xấu xa; thật là không tài nào tránh nổi họ được.
Hay hơn nữa, bầu không khí của một vài địa điểm vốn được cho là đã khiến người ta không thể nào tin Chúa được, và trong nhiều trường hợp, đây là một nguyên tắc có giá trị. Nhưng những kẻ luôn miệng chửi thề và say sưa rất thường được thấy và nghe trên các buổi tường thuật thể thao cũng tạo cùng một ba8u không khí chẳng tốt đẹp gì y như vậy trên vợ con bạn là những người xem các buổi tường thuật ấy, thì sao? Bạn làm cách nào để vạch ra một lằn ranh phân biệt?
Một tín hữu nhiệt thành quyết định các vấn đề phức tạp ấy như thế nào? Tuy Kinh Thánh không trực tiếp đưa ra lời giải đáp cho nhiều vấn đề cụ thể, bộ sách ấy có quy định các nguyên tắc chỉ đạo có thể ứng dụng cho những hoàn cảnh như thế. Sau đây là một số các nguyên tắc ấy.
1. Hãy lợi dụng nhưng chớ lạm dụng thế gian. Phao-lô vạch rõ ràng rằng Cơ Đốc nhân sống trong thế gian và lợi dụng các vật trong đó, kể cả việc kết hợp với những người không mấy đứng đắn nữa. Phương pháp duy nhất để tránh được việc đó là từ bỏ thế gian (ICo1Cr 5:10). Tôi thì gọi việc làm như thế là phân rẽ bằng tự sát! Đây là điều không nên làm vì chúng ta phải lợi dụng thế gian và những vật những người sống trong đó. Nhưng Phao-lô cũng cải cáo là không nên lạm dụng, cả đến những điều tốt (ICo1Cr 7:31). Xin lưu ý một số điều ông đề cập trong văn mạch của khúc sách ấy, đó là buồn rầu than khóc, vui mừng, mua bán, chăm lo cho vợ. Tất cả những việc ấy đều tốt và hợp pháp, nhưng chúng có thể trở thành bất hợp pháp đối với người tín hữu nếu người ấy lạm dụng chúng. Và như thế là họ đã sai quấy. Đây là lằn ranh giữa cách lợi dụng phải lẽ, với lạm dụng dẫn tới phạm tội? Điều này không phải là bao giờ cũng xác định được một cách dễ dàng, nhưng Chúa có thể và sẽ chỉ rõ cho bất luận một con cái nào của Ngài cầu hỏi Ngài về chuyện ấy.
2. Hưởng thụ nhưng đừng say mê thế gian. Người tín hữu thuộc linh hoànt oàn có quyền theo đúng Kinh Thánh để hưởng thụ những điều Thượng Đế ban cho mình (ITi1Tm 6:17). Một người hi sinh hết mình có thể là cực kỳ xác thịt, bởi vì anh ta có thể lên mình kiêu ngạo vì những hi sinh của anh ta; trong khi người thuộc linh có thể phô trương sự dư dật và sung túc của mình. Các tín hữu không cần gì phải biện bạch nếu Thượng Đế ban cho mình một điều gì đó; thật ra thì chẳng có sự tin kính nào lại gian dối hơn là nghe một Cơ Đốc nhân biện bạch cho vật mà mình đã có được. “Tôi đã gặp may mua được nó với giá rẻ mạt đó thôi” thường được các người mua sắm các vật dụng đưa ra để tự biện minh. Bản thân tôi là người đầu tiên với gốc gác Tô cách Lan của mình để tìm kiếm một vật được dịp may với giá rẻ, nhưng chúng ta nên nhớ rằng nếu mua một vật mà ngay từ đầu đã là sai trái rồi, thì làm hạ giá nó không nhất thiết biến được việc ấy thành ra phải lẽ! Nếu Thượng Đế ban nó cho bạn, thì đừng biện bạch gì về nó cả và hãy cảm thấy là mình được tự do hưởng thụ nó.
Mặt khác, chúng ta được truyền dạy chớ yêu thế gian và những vật trong đó (IGi1Ga 2:15). Câu này dường như có nghĩa là: Chớ biến một vật gì thành thần tượng, cả khi chính Thượng Đế đã ban nó cho bạn; trái lại, hãy nhận biết đã có Ngài là đủ rồi, sao cho nếu tất cả những gì bạn có đều bị cất khỏi bạn cả, bạn vẫn còn là một Cơ Đốc nhân vui vẻ, hạnh phúc. Đánh thăng bằng gữa việc hưởng thụ phải lẽ với ham mê (yêu mến) không phải lẽ vốn không phải là chuyện dễ dàng. Có một số người chẳng bao giờ biết vui hưởng những điều Thượng Đế cho phép mình có, vì họ sợ e mình có tể yêu mến và thần tượng hóa các vật ấy quá mức; nhiều người khác lại hưởng thụ quá mức đến độ thần tượng hóa chúng. Bản thân người tín hữu thuộc linh cần học tập để biết xử trí và gìn giữ như tế nào các vật hợp pháp.
3. Đừng bao giờ gây trở ngại cho sự tăng trưởng thuộc linh của một Cơ Đốc nhân khác. Đặc biệt là trong lãnh vực của các hoạt động này, điều bạn cảm thấy mình được tự do làm, có thể gây trở ngại thật sự cho sự tăng trưởng của một tín hữu khác. Nếu có như thế, thì Kinh Thánh đã dạy rất phải lẽ, là chúng ta chớ nên làm như vậy (ICo1Cr 8:13). Trong nhiều trường hợp, làm như thế có thể là phạm tội. Nói khác đi, một hoạt động hợp pháp sẽ trở thành bất hợp pháp nếu một tín hữu khác bị ngăn trở.
Nhưng làm thế nào một người biết được nếu có một việc gì đó thật sự ngăn trở hay sẽ chống lại việc bạn sắp làm đó chỉ tìm cách áp đặt tiêu chuẩn làm Cơ Đốc nhân của riêng người ấy trên bạn mà thôi? Đây cũng là một câu hỏi không phải dễ trả lời. Một mặt, quả thật là nếu bạn chịu nhìn lâu và xa đủ, rất có thể bạn sẽ nhận biết một Cơ Đốc nhân nào đó sẽ phản đối bất kỳ việc gì bạn muốn làm. Mặt khác, chúng ta cần thận trọng để đừng trở thành v6 cảm hay có lương tâm chai lì đối với các tín hữu khác, vì làm như vậy là phạm tội đối với họ. Làm thế nào để lập thể thăng bằng đây?
Có hai chỉ dẫn đã giúp ích cho cá nhân tôi. Thứ nhất là: Người phản đối đó có thật muốn tăn trưởng và tiến bộ trong đời sống thuộc linh của mình, hay anh em ta chỉ ngồi ngoài lề cuộc chạy đua để rình rập bắn lén những kẻ đang tham dự cuộc đua mà thôi? Nếu người ấy đang thật sự cùng tham dự cuộc chạy đua với tôi, thì tôi cần làm mọi sự có thể làm được để giúp đỡ người ấy để người ấy cũng sẽ trở thành kẻ thắng cuộc nữa. Nhưng nếu anh ta chỉ tự lập mình làm quan tòa trên toàn thể những người chạy đua, trong khi chính anh ta chỉ tiến bộ rất ít hay chẳng tiến bộ gì cả trong đời sống làm Cơ Đốc nhân, thì tôi không thấy mình bị bắt buộc gì đối với các cảm nghĩ hay lương tâm của anh ta.
Thứ hai là: Có bao nhiêu người rõ ràng là bị ảnh hưởng của điều mà tôi cảm thấy mình được tự do làm? Đây là một trong những chỉ dẫn được Hội thánh nguyên thủy sử dụng để yêu cầu các tín hữu người ngoại quốc 'hi sinh' quyền tự do của họ vì cớ Chúa Cứu Thế, chỉ đơn giản là vì có quá đáng các Cơ Đốc nhân là người Do-thái mà đời sống thuộc linh của họ sẽ bị ngưng trệ do các thói quen hợp pháp của các tín hữu ngoại quốc mới ăn năn quy đạo (Cong Cv 15:19-29). Nguyên tắc này có thể hướng dẫn cho chúng ta khi đi từ một vùng này sang một vùng khác của một xứ mà các tín hữu có những tiêu chuẩn (sống) khác nhau hay khi vượt qua các biên giới văn hóa hoặc quốc gia.
Như vậy, hai chỉ dẫn đó là: Ai bị ngăn trở - người đang tham dự cuộc đua hay kẻ tụt hậu? Và có bao nhiên người bị ảnh hưởng? Nhưng nguyên tắc tổng quát là: Đừng làm, bất cứ việc gì có thể gây trở ngại cho sự tăng trưởng của một Cơ Đốc nhân khác. Hay phát biểu tích cực hơn nữa, là hãy làm tất cả những gì có thể làm được kể cả việc hạn chế quyền tự do của bạn để khích lệ nếp sống thuộc linh của người tín hữu, bạn mình.
4. Làm mọi sự nhắm mục đích tôn vinh Thượng Đế (ICo1Cr 10:31). Lẽ dĩ nhiên đây là nguyên tắc chỉ đạo quan trọng cho sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Câu hỏi: Việc này hay cách làm này có làm rạng sanh Thượng Đế không? có thể và phải được người tín hữu thuộc linh đặt ra trước mọi góc cạnh của đời sống mình. Tôn vinh Thượng Đế là gì? Đó là việc thể hiện bất cứ một thuộc tính nào, hay tất cả các thuộc tính của Ngài. Nói khác đi, đó là việc phơi bày Thượng Đế ra cho thế gian. Như vậy, những điều tôn vinh Thượng Đế là những điều bày tỏ các đặc điểm của Ngài cho người thế gian.
Các nguyên tắc này thật rõ ràng; nhiều khi việc áp dụng chúng khá khó khăn. Nhưng chẳng hề có người tín hữu nào nên tránh né khó khăn vì không sẵn sàng vâng theo Lời Thượng Đế.
MỘT SỐ VIỆC ĐƯỢC HỢP PHÁP HÓA.
Trong đời sống làm Cơ Đốc nhân, vài tín hữu nên hợp lý hóa một vài quy luật về cách ăn ở cư xử vì cớ người khác, là việc rất phải lẽ. Tôi biết chắc là một lời phát biểu như trên sẽ lập tức gây phản ứng theo nhiều cách khác nhau - phần nhiều là tiêu cực - nhưng nó không phải là không đúng. Có một số việc trong cách ăn ở cư xử của Cơ Đốc nhân vốn đã được hợp pháp thật phải lẽ. Đây không phải là một sự vi phạm ân phúc Thượng Đế, vì ngay từ đầu chương sách này, chúng ta đã thấy là thời đại mà chúng ta dán cho cái nhãn hiệu thời đại ân điển vẫn còn có luật pháp. Cả việc hợp pháp hóa cũng không phải là luật pháp củ nghĩa như chúng ta sẽ thấy trong đoạn sách tiếp theo đây.
Điều này được đặc biệt nghiệm đúng trong hai khu vực, là khu vực ăn ở cư xử trong gia đình và cách ăn ở cư xử đứng đắn trong Hội thánh. Lệnh truyền con cái phải vâng phục cha mẹ chắc chắn cũng gồm luôn các mạng lịnh đặc thù mà Kinh Thánh không đề cập nhưng dầu sao cũng cần thiết và có tính cách bó buộc đối với những kẻ làm con cái. Chẳng hạn Kinh Thánh chẳng hề đá động gì đến một thanh niên được phép thức muộn đến giờ nào về đêm; thế nhưng việc kiểm soát khu vực này là rất phải lẽ, để những bậc làm cha mẹ điều phối các giờ giấc của con cái, và điều này có ảnh hưởng đến lời làm chứng cho Cơ Đốc giáo của cả những người làm cha mẹ lẫn của người thanh niên ấy trong gia đình đó.
Trong thư Hy 13, chúng ta được nhắc nhở hai lần, rằng trong Hội thánh có những người dìu dắt lãnh đạo (cc.7,17) mà trách nhiệm của họ sẽ là chỉ dẫn, có quyền thực thi kỷ luật và đặt luật lệ cho các thành viên. Đúng ra công việc đó là gì và nó có thể đi xa đến đâu thì không thấy vạch rõ, nhưng phần nguyên tắc thì đã được thiết lập rõ ràng. Nếu thiếu nó, sẽ có tình trạng lộn xộn, 'vô chính phủ' trong Hội thánh.
Có thể nói cùng một nguyên tắc ấy phải được áp dụng cho các tổ chức Cơ Đốc giáo. Nếu một tín hữu là thành viên của một nhóm như thế, thì người ấy được trông đợi phải vâng lời và phục tùng họ; nếu anh ta không bằng lòng, thì nên tự rút lui. Thật ra, khi có bất đồng ý kiến giữa những người lãnh đạo và những người chịu lãnh đạo, thì chỉ có ba cách để chọn lựa: vâng phục vô điều kiện, cố gắng thay đổi các luật lệ nếu các phương thức hành động cho phép việc làm ấy, hay là ly khai.
MỘT SỐ NGƯỜI THEO LUẬT PHÁP CHỦ NGHĨA
Luật pháp chủ nghĩa thường được nói đến nhiều hơn là được định nghĩa, và khi nó được định nghĩa thì nhiều khi nó cũng biện minh được cho việc làm của người định nghĩa nó và kết án những người khác! Lẽ dĩ nhiên là nên biết rằng luật pháp chủ nghĩa vốn không phải là một từ ngữ của Kinh Thánh, do đó, bất cứ một định nghĩa nào cũng phải có cơ sở là theo hàm ý của Kinh điển chớ không phải là những câu phát biểu trực tiếp. Có lẽ cách đơn giản nhất để hiểu luật pháp chủ nghĩa là định nghĩa điều vốn không phải là nó rồi bằng tiến trình loại bỏ, sẽ thấy nó là gì.
Điều quan trọng đầu tiên là phải hiểu rằng luật pháp chủ nghĩa không phải là hiện diện của luật pháp. Tai hại thay, phần đông người lại hiểu nó là như thế, và ngay khi có một luật lệ nào đó xuất hiện ở chân trời, thì họ đã la hoảng lên “Luật pháp chủ nghĩa!” Nếu hiện diện của luật pháp là luật pháp chủ nghĩa thì lẽ dĩ nhiên Thượng Đế bị tố cáo đã sản sinh ra nó, vì chính Ngài từng ban bố cho con người vô số luật lệ xuyên suốt lịch sử nhân loại. Hơn nữa, các bậc làm cha mẹ, các lãnh tụ Hội thánh và các chính quyền cũng sẽ là những người theo luật pháp chủ nghĩa, nếu ý niệm về luật pháp chủ nghĩa như trên là đúng. Luật pháp chủ nghĩa không phải là sự hiện diện của luật pháp.
Tiếp theo, có một số người định nghĩa luật pháp chủ nghĩa là việc áp đặt luật pháp lên một người khác. Nhưng một lần nữa, ịnh nghĩa này không đưa vào được mạng lịnh theo Kinh Thánh dạy các bậc làm cha mẹ và các lãnh tụ Hội thánh phải áp đặt luật lệ trên gia đình và nhóm người thuộc về Hội thánh của họ. Cả sự hiện diện của luật pháp lẫn việc áp đặt luật pháp đều không phải là chiếc chìa khóa để hiểu rõ luật pháp chủ nghĩa.
Luật pháp chủ nghĩa là gì? Đó là thái độ sai trái đối với bộ luật mà một người đang sống bên dưới nó. Luật pháp chủ nghĩa bao trùm sự hiện diện của luật pháp, phần động cơ sai lầm thúc đẩy người ta tuân thủ luật pháp ấy, và thường thường là cách sử dụng sai lầm phần quyền lực đã được cung cấp để bảo vệ luật pháp ấy, nhưng về căn bản nó là một thái độ sai lầm. Như vậy, luật pháp chủ nghĩa có thể được định nghĩa là 'một thái độ xác thịt tuân thủ một bộ luật nhằm mục đích tự đề cao'. Bộ luật là bất kỳ một định chuẩn khách quan nào được áp dụng cho con người vào một thời kỳ riêng biệt nào đó (như ngày nay là của luật pháp của Chúa Cứu Thế); động cơ thúc đẩy là nhằm tự đề cao và lập công chớ không phải nhằm mục đích tôn vinh Thượng Đế vì những gì Ngài đã làm; còn cái quyền lực được sử dụng để tuân thủ luật vốn do xác thịt chớ không phải là của Đức Thánh Linh. Điều hết sức quan trọng cần lưu ý là người theo luật pháp chủ nghĩa giữ luật pháp; anh ta không phải là kẻ vi phạm luật pháp. Không vâng giữ luật pháp của Chúa Cứu Thế là bất pháp (lawlessness), chớ không phải là được tự do. Vâng giữ nó để tự đề cao, là theo luật pháp chủ nghĩa. Cả người theo luật pháp chủ nghĩa lẫn không theo luật páp chủ nghĩa ít ra cũng đều tỏ ra bề ngoài là mình tuân thủ luật pháp mà mình đang sống dưới nó.
Hãy trắc nghiệm cái ý niệm này. Trước hết hãy quan sát một người sống dưới luật pháp Mai-sen. Toàn thể những người Y-sơ-ra-ên sống dưới luật pháp đều phải làm một số việc để duy trì mối liên hệ phải lẽ giữa họ với cộng đồng Y-sơ-ra-ên. Kẻ theo luật pháp chủ nghĩa tuân thủ là nhằm tự đề cao, và đây là loại ăn ở cư xử mà Ê-sai từng nghiêm khắc tố cáo (EsIs 1:11-15). Mặt khác, người Y-sơ-ra-ên được Thượng Đế hướng dẫn và thúc giục đem các sinh tế và của lễ đến dâng lên để tôn vinh Thượng Đế, đã chứng tỏ mình có một thái độ đứng đắn, thích hợp. Cả hai người đều cũng đem các sinh tế đến và đều tuân giữ luật pháp mà họ đang sống bên dưới.
Thiết tưởng không phải là nhấn mạnh quá đáng khi bảo rằng bị bắt buộc phải làm một việc gì đó không phải là theo luật pháp chủ nghĩa, nhưng chính cái thái độ sai lầm khi làm việc ấy mới là theo luật pháp chủ nghĩa. Trong thí dụ vừa kể trên, cả hai người Y-sơ-ra-ên đều bị bắt buộc phải mang các sinh tế đến; nếu không, họ đều phải chịu một số trừng phạt nào đó. Nhưng chính thái độ của họ đối với việc họ phải làm, đã xác định việc họ có theo luật pháp chủ nghĩa hay không. Hay nếu dùng một thí dụ minh họa ngoài Kinh Thánh, thì một lực sĩ nghiêm túc cần phải tuân thủ các quy luật huấn luyện. Cho dầu chúng có khe khắt đến đâu phần đông các lực sĩ đến vui vẻ tuân thủ chúng chỉ đơn giản là vì họ yêu thích thể thao. Một số sở dĩ tuân thủ là nhằm mục đích tạo vinh quang cho đội ngũ của mình, hoặc để tự đề cao. Thái độ phải lẽ là yêu thích thể thao; thái độ sai trái nhằm tự đề cao, là theo luật pháo chủ nghĩa. Cả hai thái độ vừa kể đều có liên hệ với cùng một bộ luật lệ, và cả hai đều khiến người ta phải tuân thủ bộ luật ấy.
Dưới ân điển, chúng ta cũng bị bắt buộc phải làm một số việc. Chúng ta được trông đợi phải giữ các lệnh truyền tích cực; chúng ta bị bắt buộc không vi phạm các lệnh truyền tiêu cực; chúng ta phải rèn luyện ý thức thuộc linh bằng cách ứng dụng các nguyên tắc của Kinh Thánh vào các lãnh vực đang còn tranh luận; và chúng ta bị đòi hỏi phải tuân thủ các luật lệ đã được hợp pháp hóa trong gia đình và các đoàn thể trong Hội thánh. Nếu người nào vâng giữ với mục đích là tôn vinh Thượng Đế, thì người ấy không theo luật pháp chủ nghĩa. Cả khi có người không tuân thủ hay không hiểu lý do tại sao các cấp lãnh đạo Hội thánh lại quy định một số luật lệ nào đó chẳng hạn, nhưng mặc dầu vậy, người ấy vẫn tuân thủ với mục đích tôn vinh Thượng Đế, thì đó không phải là theo luật pháp chủ nghĩa. Mặt khác, khước từ tuân thủ có thể là theo luật pháp chủ nghĩa, bởi vì kẻ không chịu tuân thủ (cả khi người ấy có thể có trọn quyền làm như vậy) thường chỉ nhằm mục đích tự đề cao bằng cách phô trương 'quyền tự do' của mình cho cả thế gian đều thấy. Và chính việc phô trương kia đã khiến anh ta trở thành người theo luật pháp chủ nghĩa.
Cho nên, sở dĩ một số Cơ Đốc nhân trở thành người theo luật pháp chủ nghĩa không phải vì luật pháp chính luật pháp chủ nghĩa, nhưng vì một thái độ sai trái mà tất cả mọi người chúng ta đều có thể có. Sống đúng đắn, ngay lành, là đều cho vinh quang của Thượng Đế làm động cơ thúc đẩy từng hành động một, và để cho Đức Thánh Linh cung cấp quyền năng cho chúng, kể cả những việc chúng ta sở dĩ phải làm là vì phải tuân thủ luật pháp của Chúa Cứu Thế.
MỘT SỐ NGƯỜI ĐƯỢC GIẢI PHÓNG.
Đối lập với tự do là nô lệ, chớ không phải là luật pháp chủ nghĩa (tuy lẽ tất nhiên nếp sống theo luật pháp chủ nghĩa bao hàm một thứ chế độ nô lệ). Ý niệm của Kinh Thánh về quyền tự do của Cơ Đốc nhân là địa vị mới mẻ của người ấy trong Chúa Cứu Thế, là được giải phóng khỏi ách nô lệ và sự trói buộc của tội lỗi và xác thịt (RoRm 6:22; IIPhi 2Pr 2:19). Một tín hữu có thể có địa vị được tự do nhưng lại thực hành luật pháp chủ nghĩa trong cách ăn ở ứng xử xủa đời sống mình. Địa vị với thái độ không phải chỉ là một; do đó, quyền tự do với luật pháp chủ nghĩa vốn không phải là cặp đối lập gắn liền vào nhau.
Nói cho chắc chắn, thì địa vị cũng có một cách thực hành phải lẽ tương ứng. Quyền tự do đã khiến chúng ta được tự do đã khiến chúng ta được tự do trở thành một nô lệ của sự công chính (RoRm 6:18). Cần ghi nhận kỹ rằng quyền tự do của Cơ Đốc nhân không ban cho người tín hữu cái quyền được chọn lựa sống tùy thích, bất luận là sống như thế nào; đó là sự phóng túng. Nó đặt người ấy vào một vị trí để có thể sống đẹp lòng Thượng Đế, điều người ấy không thể làm được khi hãy còn là một người chưa được tái sanh. Đời sống tự do không phải là một đời sống không bị giới hạn, kìm chế.
Vậy, đâu là những giới hạn của Kinh Thánh đối với đời sống đã được giải phóng của một Cơ Đốc nhân? Lời đáp cho câu hỏi này là cực quan trọng, có liên hệ với sự thử thánh hóa, vì quyền tự do không hạn chế là phóng túng; và quyền tự do bị hạn chế sai lầm, là luật pháp chủ nghĩa. Quyền tự do theo sự hạn chế của Kinh Thánh là đời sống thuộc linh được giải phóng. Đâu là sự hạn chế phải lẽ? Câu trả lời là tình yêu thương. Phao-lô đã nói thật ngắn gọn “Thưa anh em, Chúa đã cho anh em được tự do, nhưng chớ hiểu lầm tự do là phóng đãng, buông trôi theo dục vọng. Anh em được tự do để phục vụ lẫn nhau trong tình yêu thương” (GaGl 5:13).
Yêu thương là gì? Chúng ta thường bắt đầu nghĩ về nó như một sự bộc lộ tình cảm bằng các hành động khả ái. Trong phạm vi rộng rãi của nó, đó là một cách mô tả rất hay. Nhưng thỉnh thoảng tình yêu thương cũng được bộc lộ bằng những hành động sửa sai, vì nó muốn tạo ra điều tốt điều phải hoặc ngăn chận điều xấu điều sai; và đây cũng là yêu thương. Bà mẹ nựng nịu con cái mình, nhưng cũng khẽ tay nó, và cả hai đều bộc lộ tình yêu thương. Điều gì là tốt là phải? Người tín hữu vốn biết rằng điều tốt điều phải tối hậu phải được định nghĩa trong các điều kiện của ý chỉ Thượng Đế. Như vậy, yêu thương là tìm cầu ý chỉ Thượng Đế nơi người mà mình yêu thương, và quyền tự do của Cơ Đốc nhân phải được chính loại tình yêu thương đó định giới hạn.
Một tình-yêu-thương-hạn-chế-quyền-tự-do như thế sẽ tự bộc lộ trong các hành động của Cơ Đốc nhân. Đó là điều ẩn đàng sau cái nguyên tắc của ICo1Cr 8:13. Phao-lô bảo một Cơ Đốc nhân chắc chắn được tự do ăn thịt đã cúng cho các thần tượng, nhưng có một số thực hữu lại không cảm thấy mình được tự do thực thi cái quyền ấy. Do đó, những ai cảm thấy mình có thể ăn, phải hạn chế quyền tự do của mình, vì yêu thương người anh em kia. Cần lưu ý là cả hai người mạnh hơn và yếu hơn đều kiêng cữ, không ăn là do hai lý do khác nhau.
Quyền tự do là tình yêu thương hạn chế cũng tự bộc lộ nơi thái độ của người tín hữu. Điều quá thường xảy ra, là một Cơ Đốc nhân sẽ kìm hãm hành động của mình, nhưng vẫn có thái độ xấu với người anh em yếu đuối hơn kia. Cũng vậy, người anh em yếu đuối cũng có thể bộc lộ thái độ sai lầm bằng cách phê phán người anh em mạnh hơn kia vì cảm thấy mình được tự do làm một việc việc g2 đó, dầu anh ta có làm hay không (RoRm 14:3). Cả hai đều có thể sai lầm vì các thái độ trên.
Nếp sống được giải phóng là nếp sống yêu thương có hạn chế, và đó là tính cách thuộc linh chân chính. Chúng tôi từng nói trước đây rằng một trong những chứng cứ hiển nhiên đầu tiên của tính cách thuộc linh, là trở nên giống Chúa Cứu Thế. Và Đấng vốn có quyền tự do ấy, chỉ bị bản tính của chính Thượng Đế hạn chế mình mà thôi, đã tự nguyện nhận lấy các hạn chế của hình thể một tôi tớ để có thể phục vụ chúng ta. Quyền tự do của Ngài đã bị tình yêu thương lớn lao của Ngài đối với chúng ta hạn chế, và địa vị được giải phóng của chúng ta trong Chúa Cứu Thế phải được bộc lộ hằng ngày trong một đời sống phục vụ. Chỉ chừng đó, chúng ta mới noi gương Chúa chúng ta. “Dù có lòng tin vững mạnh, chúng ta cũng không nên làm thỏa lòng mình, nhưng phải lưu tâm làm vui lòng anh em mình, để giúp ích và xây dựng cho họ. Chính Chúa Cứu Thế cũng không làm thỏa lòng mình” (RoRm 15:1-3a).

TÔI CÓ NÊN TÌM CÁCH NÓI TIẾNG LẠ KHÔNG?
Chẳng có gì để nghi ngờ sự kiện Kinh Thánh dạy rằng nói tiếng lạ (ngoại ngữ) là một ân tứ thuộc linh đích thức. Cũng chẳng có gì để nghi ngờ là không ít các Cơ Đốc nhân rêu rao là mình có ân tứ ấy và từng trải do các hậu quả của ân tứ ấy có vẻ rất ích lợi cho sinh hoạt thuộc linh của họ. Với việc tràn lan của tiếng lạ đến nhiều nhóm bên ngoài các nhóm thường gắn liền với nó, nhiều tín hữu đang tự hỏi chẳng hay đó có phải là một điều cần tìm cầu hầu đẩy mạnh sự tăng trưởng thuộc linh của họ hay không. Nếu tôi không tìm cầu ân tứ nói tiếng lạ, thì tôi có thật sự từng trải mọi điều Thượng Đế muốn cho tôi có hay không?
Lẽ dĩ nhiên, phải tìm câu trả lời cho thắc mắc này và tất cả các câu hỏi khác về tiếng lạ trong những gì Kinh Thánh dạy về vấn đề ấy, chớ không phải nơi từng trải mà một ai đó dường như muốn chứng minh hay bài bác. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng các từng trải mà nhiều người đang có hiện nay là không có tha-t; lẽ dĩ nhiên là chúng ta có thật. Tuy nhiên, vấn đề vô cùng quan trọng hơn là: Đó có phải là các từng trải đúng theo Kinh điển hay không? Chắc bạn đã thấy là người ta rất có thể có một từng trải đích thực mà tuy không chống lại Kinh điển, nhưng lại không thấy có trong Kinh Thánh. Phương pháp duy nhất để xác định xem một từng trải nào đó có trong Kinh Thánh hay không là dùng Kinh Thánh để trắc nghiệm nó, chớ chẳng bao giờ là việc làm ngược lại.
Nhiều năm trước đây, tôi có giúp việc cho một Hội thánh, trong đó có một bà luôn uôn thấy chiêm bao về tôi và hai 'nhà truyền đạo trẻ' khác đang cùng công tác ở đấy. Thông qua các giấc mơ, bà ta muốn truyền thông cho chúng tôi các bức thông điệp mà Thượng Đế muốn gởi cho chúng tôi, và các bức thông điệp ấy bao giờ cũng chứa đựng những tư tưởng tốt đẹp, những lời an ủi và những cảm tình đúng theo Kinh điển. Theo điều tôi nhớ lại, thì trong các tư tưởng ấy, đã chẳng hề có gì không hợp với Kinh điển; thế nhưng vấn đề nghiêm trọng đã được đặt ra là chẳng hay người phụ nữ Cơ Đốc nhân thân yêu ấy có thật sự được từng trải theo Kinh Thánh trong việc truyền thông sự mặc khải từ Thượng Đế qua các giấc mơ của bà ta hay không. Một từng trải bao giờ cũng phải chịu sự trắc nghiệm của Kinh Thánh, như là thẩm quyền tối hậu của chúng ta.
Chúng ta có thể học hỏi được gì từ Kinh Thánh về tiếng lạ, sẽ giúp chúng ta biết nó có vai trò gì trong việc quân bình hóa sinh hoạt thuộc linh? Nếu chúng ta tiếp cận vấn đề này một cách tích cực (xin lưu ý cách đặt câu hỏi ở đây 'Chúng ta có thể học hỏi được gì...?'), có lẽ chúng ta sẽ tránh được nhiều cuộc bàn cãi vô bổ thường đi kèm, theo chủ đề này. Đây là năm điều chúng ta có thể biết thật dứt khoát.
1. Bạn có thể chịu phép báp-tem bằng Thánh Linh mà không nói tiếng lạ. Như chúng ta đã thấy, mỗi một Cơ Đốc nhân đều đã được Thánh Linh làm phép báp-tem cho, và do đó, đều đã được đặt vào trong thân thể Chúa Cứu Thế. Đây là một từng trải chỉ xảy ra một lần duy nhất trong đời sống mỗi tín hữu. Trái lại, việc đầy dẫy Thánh Linh có thể được từng trải nhiều lần và đem quyền năng đến cho đời sống Cơ Đốc nhân khi người ấy phục tùng quyền cai trị kiểm soát của Ngài. Nhưng hiện diện của tiếng lạ không nhất thiết phải đi kèm hay làm chứng cho phép báp-tem bằng Thánh Linh. Hãy lưu ý trường hợp của người Cổ-linh. Phao-lô bảo (ICo1Cr 14:5) rằng không phải tất cả mọi người đều nói ngoại ngữ, nhưng ông vạch rõ rằng tất cả mọi người giữa vòng họ đều đã được làm phép báp-tem bằng Thánh Linh (ICo1Cr 12:13). Vậy, rõ ràng là một số người đã được phép báp-tem nhưng không nói ngoại ngữ. Hơn nữa, cũng không có lần nào trong bức thư ấy, Phao-lô khuyến giục những người chưa nói ngoại ngữ nên tìm cách để cũng làm như vậy. Đó không phải là một dấu hiệu cần thiết của phép báp-tem bằng Thánh Linh, và bất kỳ một lời truyền dạy nào nhấn mạnh vào điểm đó, đều không theo đúng Kinh điển.
2. Việc phân phối với ân tứ thuộc linh bị giới hạn theo nhiều cách. Một mặt, không phải mỗi một Cơ Đốc nhân đều có đầy đủ các ân tứ. Lẽ dĩ nhiên, nếu có tín hữu nào (với ngoại lệ có thể có đối với một vài vị sứ đồ) được ban cho đầy đủ mọi ân tứ, thì đó là một việc đáng ngờ. Chính việc kết hợp đa dạng các ân tứ mà mỗi chúng ta đều có, khiến chúng ta phải lệ thuộc lẫn nhau để thân thể Chúa Cứu Thế có thể hoạt động phải lẽ, thích đáng.
Hơn nữa, tất cả các ân tứ không nhất thiết được ban cho mỗi thế hệ Cơ Đốc nhân, ty chúng ta thường được bảo rằng nếu Thượng Đế ban một số ân tứ nào đó một thế hệ này, thì Ngài phải ban cùng những ân tứ ấy cho một thế hệ khác, bởi vì Ngài vốn y nguyên bất biến. Cách lý luận này thường làm nảy sinh ra các ân tứ càng ngoạn mục hơn hiện nay, nhưng có hai điều sai ẩn đàng sau lối tư tưởng như thế. Trước hết, tính cách 'vẫn y nguyên' về quyền năng của Thượng Đế không hề bị ảnh hưởng gì nếu Ngài thay đổi chương trình của mình. Ban một ân tứ cho thế hệ này rồi rút nó lại đối với thế hệ kế tiếp không hề có nghĩa rằng quyền phép của Thượng Đế bị kém sút đi về bất kỳ phương diện nào; nó chỉ cho thấy việc Ngài thay đổi chương trình mà thôi. Hoặc là Ngài thay đổi việc xảy ra để làm thí dụ - nếu Thượng Đế quyết định sai một trận động đất đến để giải thoát hai sứ đồ Phao-lô và Si-la khỏi một nhà tù tại Phi-líp, nhưng về sau lại không quyết định giải thoát Phao-lô khỏi xà lim tử tội của người La-mã thì điều đó không có nghĩa rằng Ngài không thể làm như vậy. Điều đó cho thấy rằng vì những lý do tốt nhất mà chỉ có một mình Ngài biết, các mưu định của Ngài sẽ được thành tựu tốt nhất trong trường hợp này, còn trong trường hợp kia thì do việc Phao-lô khong được giải thoát, các mưu định của Ngài mới được phục vụ càng tốt hơn. Hay một lần nữa, nếu Thượng Đế từng ban cho Phao-lô phép lạ chữa bệnh khiến ông đã có thể chữa lành cho nhiều người khác, thế nhưng lại không cho phép ông lợi dụng chính ân tứ ấy để đối phó với chính cái gai trong xác thịt ông, thì điều đó không hề có nghĩa rằng quyền phép của Thượng Đế không còn y nguyên nữa. Cũng vậy, nếu Thượng Đế muốn ban ân tứ nói ngoại ngữ cho một số người hồi thế kỷ thứ nhất, nhưng chẳng hế ban cho ân tứ ấy, vào bất kỳ một thế kỷ nào sau đó, thì việc ấy không hề là dấu chỉ cho thấy Ngài không phải cũng là một Thượng Đế như trước kia.
Điểm sai thứ hai trong lý luận này là không nhận thức được rằng bất luận một ân tứ nào chỉ được ban một lần duy nhất cho một cá nhân trong cả lịch sử Hội thánh, tức là một ân tứ được ban cho toàn thể Hội thánh. Chẳng hạn nhưa 6n tứ làm sứ đồ đã chỉ được ban cho một số rất ít người, nhưng hôm nay, có ai là người không còn thừa hưởng được các lợi ích của nó? Lẽ dĩ nhiên, ân tứ làm sứ đồ và nói tiên tri vốn được cho biết là các ân tứ rất hạn chế chỉ được ban cho một số rất ít người trong kỷ nguyên thành lập Hội thánh (Eph Ep 2:20). Thật ra, vì chúng ta không còn sống trong kỷ nguyên thành lập của lịch sử Hội thánh nữa, nên chúng ta không thể trông mong Thượng Đế ban cho các ân tứ vốn chỉ thích hợp cho kỷ nguyên ấy mà thôi. Hiện nay chúng ta không cần mà cũng chẳng trông mong có được một tảng đá móng khác cho Hội thánh, cũng chẳng cần phải có các sứ đồ và các nhà tiên tri. Những điều đó vốn thuộc về phần nền, còn chúng ta thì đang sống trong giai đoạn cao của thượng tầng kiến trúc của thế kỷ thứ hai mươi này.
Nhưng về nói tiếng lạ (ngoại ngữ) thì sao? Phải chăng ân tứ ấy cũng bị giới hạn cho các Cơ Đốc nhân nguyên thủy mà thôi? HeDt 2:3, 4 gợi ý như vậy “Ta làm sao thoát khỏi hình phạt, một khi khước từ ân cứu rỗi lớn lao này? Chính Chúa đã công bố Tin Mừng cứu rỗi truyền lại cho chúng ta. Thượng Đế cũng đã xác nhận Tin Mừng bằng những dấu lạ, phép lạ và việc quyền năng, cùng ban các ân tứ Thánh Linh cho mỗi người tùy theo ý muốn Ngài”. Cần lưu ý là một số ân tứ ngoạn mục đã được ban cho những người từng nghe Chúa ("Thượng Đế cũng xác nhận...") vốn không hề được ban cho thế hệ các Cơ Đốc nhân thứ hai đã sống hồi thế kỷ đầu tiên. Nói tiếng lạ có thể là một trong những ân tứ ngoạn mục vốn bị hạn chế trong việc phân phối như thế, ngay cả trong thế kỷ thứ nhất.
3. “Tài nói ngoại ngữ sẽ ngưng”. Câu này (ICo1Cr 13:8) vạch rõ ràng rằng ân tứ nói tiếng lạ rồi sẽ bị ngưng ban xuống. Điều không được nói rõ là khi nào thì việc ấy sẽ xảy ra. Thế nhưng, ngay trong chính câu ấy, đã có một đầu mối chắc chắn là bao giờ. Có ba ân tứ đã được đề cập trong câu này - nói tiên tri, nói ngoại ngữ, và lời nói tri thức (không phải là trí thức tổng quát, nhưng là ân tứ thuộc linh để nói lời trí thức; xem ICo1Cr 12:8). Cùng một sự việc cũng đã được nói về việc đình chỉ hai trong số các ân tứ ấy, tức là nói tiên tri và nói lời tri thức, nghĩa là chúng sẽ bị bãi bỏ. Cùng một từ và cùng một giọng nói dành cho động từ ấy (thể thụ động, sẽ bị một ai đó hủy bỏ đi) đã được sử dụng cả cho việc nói tiên tri lẫn nói lời tri thức. Tuy nhiên, câu phát biểu liên hệ với nói ngoại ngữ lại khác hẳn. Động từ đã khác (ngưng) mà giọng nói của động từ cũng khác (trung tính). Trong Anh ngữ chẳng có trường hợo nào để diễn tả một giọng trung tính như vậy. Cách diễn tả gần gũi nhất với thể trung tính này là thể phản tỉnh. Thí dụ giọng chủ động của động tự là trong câu “Cậu bé tắm cho con chó của cậu ta”. Thể thụ động sẽ là “Con cho được cậu bé tắm cho” (Nói tiên tri và nói lời tri thức sẽ bị Thượng Đế hủy bỏ). Nếu chúng ta nói “Con chó tự tắm lấy”, là chúng ta dùng thể phản tỉnh, nhưng trong Hi văn thể trung tính sẽ được sử dụng (có lẽ trong Việt ngữ chúng ta, là thể 'nói trổng' - Con chó tắm!). Đó là mà việc nói tiếng lạ đã được đề cập. Tự nó sẽ ngưng hoặc thôi. Nói khác đi, Thượng Đế sẽ bị bắt buộc phải rút lại các ân tứ nói tiên tri và nói lời tri thức, nhưng với việc nói ngoại ngữ thì không phải như vậy, vì đến lúc ấy, nó sẽ tự dộng ngưng lại. Bây giờ, nếu chúng ta xếp chugn câu này với Eph Ep 2:20, là câu dạy rằng lời tiên tri vốn đợc ban xuống đồng thời với chính Chúa Cứu Thế như là tảng đá móng của Hội thánh, thì chúng ta bị bắt buộc phải kết luận rằng việc nói ngoại ngữ (nói tiếng lạ, là ân tứ thuộc linh đích thực) cũng phải mai một đi cùng với kỷ nguyên thiết lập nền móng ấy.
4. Còn có nhiều ân tứ quan trọng hơn ân tứ mà chúng ta phải tìm cầu. Lúc Phao-lô liệt kê các ân tứ theo thứ tự là tầm quant rọng của chúng, ông đặt việc làm sứ đồ lên hàng đầu, thứ đến là nói tiên tri, thứ ba là giáo sư rồi tới làm phép lạ, chữa bệnh, phục vụ, quản trị và ở cuối bảng liệt kê là nói ngoại ngự (ICo1Cr 12:28). Rồi ông dạy rằng chúng ta hãy khao khát các ân tứ tốt hơn (c.31). Đây là lời đáp cho câu hỏi đã được đặt ra làm đầu đề cho chương sách này: Tôi có nên tìm cách nói tiếng lạ hay không? Không tôi phải tìm cầu các ân tứ tốt hơn kìa! Chẳng hạn, tôi phải tìm cách thực thi ân tứ giúp đỡ (phục vụ) vốn đứng trước việc nói tiếng lạ trong danh sách. Điều này tái xác nhận những gì từng được nói trước đây, về tầm quan trọng của việc trung tính trong các thói quen đã thành nếp, như là cách bộc lộ tính cách thuộc linh chân chính trước tiên, hơn là tìm cách phô trương một điều gì ngoạn mục vốn giống như một ánh lửa lóe lên trong nòng súng. Nếu bạn quan tâm tự hỏi chẳng hay mình có nên tìm cầu ân tứ nói tiếng lạ hay không, thì hãy làm theo lời truyền dạy đơn giản và rõ ràng của Kinh điển để tìm cầu một ân tứ tốt hơn.
5. Trở nên giống Chúa Cứu Thế không lệ thuộc việc nói tiếng lạ. Mục tiêu mà mỗi một Cơ Đốc nhân đều nhằm vào là trở nên giống Chúa Cứu Thế. Theo GaGl 5:22, 23 thì trái ấy không bao gồm việc nói tiếng lạ hay làm phép lạ. Hơn nữa theo điều chúng ta biết, thì Chúa chúng ta đã chẳng bao giờ nói tiếng lạ, cho nên chúng ta hoàn toàn có thể bắt chước Ngài mà khỏi cần phải nói tiếng lạ. Cũng đừng ai để cho mình bị thúc ép bởi cái cảm thức rằng đời sống thuộc linh của mình hãy còn khuyết điểm theo một phương diện nào đó, vì mình chưa nói được tiếng lạ, bởi vì việc trở nên giống Chúa Cứu Thế không hề lệ thuộc vào đó. Mối thông công sâu nhiệm và tồn tại mãi với Chúa mà mọi người chúng ta đều khao khát và ấp ủ, là bằng việc tăng thêm sự hiểu biết càng nhiều hỏi về Chúa, và loại hiểu biết ấy là do việc càng hiểu sâu nhiệm hơn Lời Ngài.
Tại sao ngày nay, mọi người đều quá chú trọng vào việc nói tiếng lạ như vậy? Đây không phải là một câu hỏi dễ trả lời. Chẳng có gì để nghi ngờ, là đối với nhiều người, nó có liên hệ với lòng khát khao chân chính là muốn được từng trải sâu nhiệm hơn về Thượng Đế. Trong nhiều trường hợp, một sự giả mạo của Sa-tan rất có thể xảy ra, vì chúng ta biết rõ nó đang cố gắng gây ra tình hình mất trật tự và một loại tin kính giả mạo của nó trong từng trải tôn giáo. Tôi nghi ngờ chẳng hay Sa-tan có sẵn sàng và vui vẻ nhập bọn với những kẻ cuồng tín hay không nhưng có lẽ nó rất thích đẩy các tín hữu đi lạc đường bằng cách dẫn họ vào những điều mà chúng ta vừa thảo luận trong chương sách này. Sự kiện dường như được phước mà một vài từng trải như thế đưa tới không nhất thiết chứng minh được là chúng thuộc về Thượng Đế, hay chúng vốn là nguồn gốc của phước hạnh. Thượng Đế vốn có thể con thiệp vào bất luận một tình hình nào để biến nó trở thành có lợi ích.
Nhiều khi chính lúc các sinh viên vừa tốt nghiệp chủng viện, là lúc họ bị mất đi sự hướng dẫn của Chúa, và bị Sa-tan dẫn đi lệch sang một chức vụ khác. Thế nhưng suốt những năm ấy, họ vẫn được phước trong chức vụ đó. Chúng ta giải thích như thế nào việc sường như cp1 người vẫn được ban phước cho, khi họ vượt ra ngoài ý chỉ Thượng Đế? Trong trường hợp như thế, có rất nhiều yếu tố can dự vào. Sa-tan đã đưa họ đi lạc. Nhưng Thượng Đế đã cứu vãn tình hình và ban phước cho chức vụ của họ. Thế nhưng, tuy là vốn từ Thượng Đế đến, các phước hạnh ấy vẫn không biến được sự sai trái mà họ đã phạm khi bị mất sự dẫn dắt của Chúa lúc họ mới tốt nghiệp, trở thành phải, thành đúng được.
Cũng vậy, một số tín hữu có thể đánh mất hoặc hụt mất các phương tiện để nuôi nấng bồi dưỡng đời sống thuộc linh của họ, thế nhưng phước hạnh dường như vẫn đeo đuổi theo họ. Nhưng lẽ dĩ nhiên là điều đó không thể biện minh được cho việc họ đã sử dụng các phương tiện kém cỏi hơn hoặc cả là giả mạo nữa, để mong đạt được sử trưởng thành thuộc linh. Nếu có một nghi ngờ nào về một điều gì đó cần tranh luận và rõ ràng là chẳng mấy quan trọng như việc nói tiếng lạ, tại sao chúng ta lại không chịu nương vào các phương tiện rõ ràng là căn bản và đúng với Kinh điển về sự tăng trưởng thuộc linh? “Hãy khao khát (các) ân tứ tốt hơn”.

MUỐN TRỞ THÀNH CỨU CHÚA PHẢI CHĂNG CHÚA CỨU THẾ CŨNG PHẢI LÀ CHÚA TỂ NỮA?
Có một trong những ấn đề nằm trong phần lớn lời truyền dạy về đời sống thuộc linh không tránh né vào đâu được, là vấn đề quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế. Lắm khi sự tham dự của nó vào đây có tính cách ngẫu nhiên; nhưng có nhiều lần khác, nó lại là cố ý; nhưng dầu sao thì đây cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng
VẤN ĐỀ
Nếu chỉ được đặt ra thật đơn giản, thì vấn đề ấy là như vầy: Muốn được cứu rỗi, phải chăng đời sống của một người cũng phải tận hiến cho Chúa Cứu Thế, để Ngài làm Chúa tể cả cuộc đời mình? NHư4ng người trả lời khẳng định thì bảo như thế này: “Các nhà truyền đạo giảng cho tội nhơn rằng họ có thể được cứu mà khỏi phải đầu phục quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế, thì cũng sai lầm và nguy hiểm như số các nhà truyền đạo khác nhấn mạnh rằng người ta được cứu là nhờ việc làm vậy” Hoặc liên hệ với cách trình bày Phúc âm sai lầm cho người ta, một tác giả khác đặt câu hỏi “Hay việc làm ấy bỏ mặc cho họ tưởng rằng tất cả những gì họ phải làm chỉ là tin vào Chúa Cứu Thế như một gánh tội lỗi thay cho họ, mà không hề biết rằng chính họ cũng phải tự chối mình và tôn Ngài lên ngôi làm Chúa tể đời sống mình (một sai lầm có thể gọi là duy tín chủ nghĩa - only believism) nữa?” Một tác giả khác cũng hậu thuẫn cho cùng một lập trường như vậy, thì nói “Do đó, tôi gợi ý rằng điều đó cũng không đúng theo Kinh Thánh y như việc tách rời quyền làm Chúa tể với quyền làm Cứu Chúa của Chúa Cứu Thế Giê-xu vốn là phi thực vậy”. Nói khác đi, nếu một người không chịu trao quyền cai trị kiểm soát đời sống mình cho Chúa lúc nhận làm Ngài làm Cứu Chúa mình, thì người ấy không thể nào được cứu rỗi. Gần đây, đã có việc sửa đổi lập trường ấy bằng cách bảo rằng sẵn sàng chấp thuận để cho Chúa cai trị kiểm soát mình lúc được cứu rỗi, là tất cả những gì được đòi hỏi phải thêm vào với đức tin để được cứu. Nghĩa là lúc được cứu rỗi, cũng phải có một khoảnh khắc sẵn sàng dâng đời sống mình để Chúa tuyệt đối làm Chủ tể nó nữa, tuy rằng việc thực hành là tận hiến cuộc đời mình sau đó có thể sẽ không tiếp diễn hoàn toàn đúng như thế. Nhưng trong cả hai cách nói khác nhau đó của quan điểm này, thì quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế trên đời sống một người đều trở thành một điều kiện của sự cứu rỗi đồng thời với đức tin đặt vào Ngài để được tha tội.
Tầm quan trọng của vấn đề này không thể bị đánh giá quá cao trong mối liên hệ với cả sự cứu rỗi lẫn sự thánh hóa. Bức thông điệp về chỉ có đức tin mà thôi, với lời giảng về đức tin cộng thêm việc cống hiến cuộc đời, không thể đều cùng là Phúc âm cả, do đó, một trong hai phải là Phúc âm sai lầm và chịu lời nguyền rủa của một Phúc âm lệch lạc, hay truyền giảng một Phúc âm khác (GaGl 1:6-9), mà đây lại là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Trong phạm vi liên hệ với sự thánh hóa, nếu chỉ có người hiến thân cho Chúa mới được cứu mà thôi, thì đâu là chỗ dành cho các Cơ Đốc nhân xác thịt? Hay nếu chỉ có sự sẵn sàng là bị đòi hỏi lúc được cứu rỗi mà thôi, thì đâu là tầm mức, là phạm vi cần thiết của sự sẵn sàng đó? Chẳng hạn có thể nào một người đã bị tâm trí mình thuyết phục rằng hút thuốc lá là sai trái (không nhất thiết vì các lý do thuộc linh mà chỉ căn cứ đơn giản trên cơ sở y học mà thôi) thì phải chăng người ấy chỉ được cứu khi nào ít nhất là người ấy sẵn sàng chịu bỏ thuốc lá? Hay cần phải giảng cho mọi người loại hiến thân nào, nếu muốn được cứu, thì người ta đã phải cống hiến cuộc đời mình cho Chúa rồi? Trên đây là những câu hỏi rất thực tế về cái chủ đề vốn có rất nhiều dây mơ rễ má ăn sang rất nhiều lãnh vực.
VÀI THÍ DỤ VỀ CÁC TÍN HỮU CHƯA HIẾN THÂN
Trong Kinh Thánh, có rất nhiều thí dụ rõ ràng về các tín hữu (mà mối liên hệ phải lẽ với Thượng Đế vốn chẳng có gì thắc mắc để đặt thành vấn đề cả) nhưng vẫn chưa hoàn toàn hoặc chưa liên tục dâng mình cho Chúa. Những thí dụ như thế dường như sẽ giải quyết được vấn đề hết sức rõ ràng bằng cách chỉ cho thấy rằng chỉ có đức tin mới là điều đòi hỏi duy nhất để được sự sống vĩnh hằng. Nói như thế không phải là bảo rằng việc cống hiến đời sống không hề là điều được trông đợi đối với các tín hữu mà chỉ ngụ ý bảo rằng nó không phải là một trong số các điều kiện phải có để được cứu rỗi. Xin hãy nhìn vào số người như thế.
Hai nhân vật đầu tiên là các thí dụ về những tín hữu đã trải qua một thời gian nhất định rồi mới chịu dâng mình trọn vẹn. Đấng là Phê-rơ, là người nói “Lạy Chúa, con không dám” (Cong Cv 10:14) và Ba-ra-ba, là người sau một vòng lưu hành truyền giáo thành công, đã bất đồng ý kiến rõ rệt với Phao-lô về việc có nên đem Giăng Mác cùng đi với hai vị trong chuyến đi thứ hai, hay không (Cong Cv 15:39). Cả hai nhân vật này đều đã được cứu và đang phục vụ (các chứng cứ hiển nhiên cho điểm này là chức vụ nổi bật của Phê-rơ trong ngày lễ Ngũ tuần và chức vị của Ba-na-ba trong vòng lưu hành truyền giáo đầu tiên), nhưng cả hai vị đều đã khước từ quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế trong các cơ hội tiếp sau đó. Nhưng nếu một người muốn được cứu thì phải để cho Chúa Cứu Thếlàm Chúa tể cuộc đời mình đã thì chúng ta bị bắt buộc phải kết luận rằng cả Phê-rơ lẫn Ba-na-ba đều chưa được cứu, hoặc hai vị đều đã bị mất sự cứu rỗi khi từ chối quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế trong hai cơ hội vừa kể trên. Vì cả hai nhân vật ấy đều chứng tỏ rõ ràng là các vị đều có thể công khai phản chống, cho nên có lẽ chúng ta phải kết luận rằng cả hai vị đều đã thật sự được cứu rỗi.
Lẽ dĩ nhiên là có nhiều người không đồng ý với một kết luận như vậy, và họ vạch ra rằng sự thiếu sót, thối lui, phản loạn hay bất luận bạn muốn gọi nó bằng tên gì, đều là điều có thể xảy đến với một tín hữu. Nhưng họ bảo điều cần thiết là chẳng hề có lãnh vực nào chưa chịu tùng phục mà người ta được biết lúc người ấy tin nhận Chúa Cứu Thế tuy mặc dầu sau đó, xuyên suốt cuộc đời làm Cơ Đốc nhân việc sa ngã có thể là một từng trải. Nói khác đi, chính lúc tin nhận Chúa Cứu Thế, người ta phải sẵn sàng dâng trọn cuộc đời mình để Chúa Cứu Thế làm Chúa, làm Chủ cuộc đời ay mà không giữ lại một chút nào cả. Đúng lúc ấy tất cả những gì cần thiết là về sau, vẫn có thể có thiếu sót. Khoảnh khắc ấy phải hiện diện bao lâu trong trí hay trong lòng là điều không rõ ràng, nhưng nó phải có ở đó. Thí dụ thứ ba liên hệ với loại tình hình như thế.
Đó là trường hợp của những người đã ăn năn quy đạo tạo Ê-phê-sô trong chuyến lưu hành truyền giáo thứ ba của Phao-lô (Cong Cv 19:1-41). Suốt ba tháng đầu tiên ông lưu lại đó, đã có rất nhiều người ăn năn quy đạo, đến nỗi các môn đệ phải được tách riêng ra khỏi hội chúng của nhà hội để được Phao-lô dạy dỗ tại trường học của Ti-ra-un. Những người mới quy đạo nàu vốn xuất thân từ một môi trường mà bối cảnh là việc thờ lạy nữ thần Đi-anh (mà thành phố Ê-phê-sô là trung tâm thờ phượng). Có một phần trong việc thờ phượng ấy, là việc mê tín dị đoan, tin tưởng những hành động mê tín này đặt cơ sở trên các chữ được viết trên mũ miện, dây thắt lưng và trên bệ của tượng nữ thần Đi-anh đặt trong đền thờ tại Ê-phê-sô. Những câu thần chú để cần khẩn được đúc kết vào trong các quyển sách, và người Ê-phê-sô đeo những chuỗi hạt có cột những lá bùa. Lẽ dĩ nhiên là thiên hạ bảo nhau rằng lực sĩ đô vật nào có đeo bùa như thế sẽ chẳng bao giờ bị quật ngã, và hễ tháo nó ra thì sẽ bị thua trận ngay. Đó là loại bối cảnh mê tín dị đoan mà số Cơ Đốc nhân mới ăn năn quy đạo tạo Ê-phê-sô từng sinh sống trong đó.
Trong 19:18-19, chúng ta được cho biết là hơn hai năm sau lần đầu tiên mà Phao-lô đã đến Ê-phê-sô, “nhiều tín hữu đến xưng tội, khai ra những việc xấu hổ đã làm. Có những thầy phù thủy đem sách tà thuật gom lại đốt trước công chúng. Số sách trị giá độ 500.000 đồng”. Điều quan trọng là phải biết thì của động từ tin (tín hữu: người đã tin). Đó là thì quá khứ hoàn toàn cho thấy số người đốt sách hôm ấy đã tin Chúa trước lúc ấy, nghĩa là vào một lúc nào đó trong thời gian hơn hai năm mà Phao-lô đã có mặt tại Ê-phê-sô (xem cc.8 và 10). Nói khác đi, họ đã không đốt các sách tà thuật của họ ngay sau khi họ vừa trở thành Cơ Đốc nhân. Sau khi trở thành tín hữu, họ vẫn còn tiếp tục thực hành và chịu sự hướng dẫn của tà thuật theo mê tín dị đoan của môi trường có bối cảnh ngoại đạo của họ. Ta có thể tưởng tượng ra rằng chính những người đã ăn năn quy đạo trước nhất tại Ê-phê-sô vốn không nhận thức được rằng tà thuật của người Ê-phê-sô với Cơ Đốc giáo vốn không thể nào sống chung được với nhau. Nhưng thật là khó, nếu không nói là không thể nào bảo được rằng có một người nào đó đã ăn năn quy đạo sau khi Phao-lô đã phục vụ và dạy dỗ được mười hai hoặc mười lăm tháng rồi, mà lại không được cho biết rằng sau khi đã trở thành Cơ Đốc nhân, thì phải dứt khoát từ bỏ các xâu chuỗi với các sách tà thuật đi. Thế nhưng, rõ ràng là nhiều người đã trở thành các tín hữu thật sự của Chúa Cứu Thế rồi, và được biết rằng cứ tiếp tục nương cậy và chịu sự hướng dẫn của các sách tà thuật là sai trái. Và lẽ tự nhiên là theo những gì chúng ta được biết việc đốt sách đã không nảy sinh do lời truyền giảng chống lại việc các tín hữu vẫn sử dụng các sách ấy, nhưng là do lòng sợ hãi tiếp theo việc bảy thầy trừ quỷ người Do-thái đã lạm dụng danh và quyền năng của Chúa Giê-xu để đuổi quỷ. Nói khác đi, các tín hữu ấy vốn biết rằng việc họ sử dụng thói mê tín dị đoan của dân thành phố Ê-phê-sô là sai quấy, nên một khi họ đã có đủ liều lượng về lòng kính sợ Thượng Đế rồi, họ mới làm một việc gì đó để sửa sai.
Nếu tôi vẫn chưa làm sáng tỏ được điều mà thí dụ này muốn nói thật rõ ràng, trong sáng như pha lê vậy, thì tôi xin phép được nhắc lại một lần nữa. Tại Ê-phê-sô, đã có nhiều người trở thành Cơ Đốc nhân rồi, vốn biết rõ họ phải từ bỏ việc sử dụng tà thuật đi, thế nhưng họ vẫn chưa chịu từ bỏ, có một số người vẫn làm như vậy thật lâu, đến những hai năm sau ngày họ đã trở thành Cơ Đốc nhân kia! Nhưng việc họ không chịu từ bỏ đó không hề ngăn trở họ trở thành tín hữu. Sự cứu rỗi của họ không phải là tùy thuộc vào đức tin cộng với sự sẵn sàng đầu phục quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế trong cấn đề sử dụng tà thuật. Sự cứu rỗi của họ chỉ nhờ một mình đức tin mới có mà thôi, tuy mãi nhiều tháng, nhiều năm sau đó, nhiều người vẫn còn thực hành điều mà họ vốn biết là sai trái.
Thí dụ thứ tư là cả một cuộc đời dài đằng đẳng chối bỏ quyền làm Chúa tể của Thượng Đế trên một đời sống, và đó là thí dụ của ông Lót. Mỗi lần chúng ta thấy ông trong Kinh Thánh, ông đều tỏ ra một loại đời sống vị kỷ, không chịu đầu phục. “Mà Lót cũng không phải là một người có tâm hồn cao thượng. Với bao nhiêu cơ hội trước đó và với bao nhiêu lời hứa trước đó, ông Lót vốn không phải và chẳng bao giờ trở thành một con người có tâm hồn cao thượng. Qua suốt cuộc đời ông, chúng ta chẳng bao giờ được bảo cho biết ông là một con người có tấm lòng rộng rãi, hay có tâm hồn cao thượng, hay chỉ một lần thôi, rằng ông Lót là một con người biết quên mình” (Alexander Whyte, Bible Characters: Adam, to Achan, p.131). Nếu chúng ta chỉ có phần ký thuật của Cựu ước về ông Lót mà thôi chắc chúng ta có thắc mắc nghiêm trọng để đặt vấnđ ề về mối liên hệ thuộc linh giữa ông với Thượng Đế. Nhưng Tân ước lại tuyên bố rằng ông là một người công chính dưới mắt Thượng Đế ngay lúc ông đang sinh sống tại Sô-đôm (IIPhi 2Pr 2:7, 8 chỗ mà từ ngữ được dịch là người công chính trong câu 7 đã được dùng để chỉ ông Lót đến ba lần). Vậy đây là một người mà suốt đời đã chối bỏ quền tể trị của Thượng Đế trên đời sống mình, đã không ngăn trở được ông vẫn được kể là người công chính dưới cái nhìn của Thượng Đế.
Bốn thí dụ trên đây đã chứng minh rằng sự bất phục tùng tạm thời (như trường hợp tPhê-rơ và Ba-na-ba), sự không sẵn sàng lúc được cứu rỗi (như với các tín hữu tại Ê-phê-sô), và thái độ không chịu vâng lời suốt cả cuộc đời (như với Lót) đều không ngăn trở được một người trở thành công chính trước mặt Thượng Đế. Do đó mà chúng ta đặt câu hỏi: Làm thế nào để quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế trên đời sống một người lại có thể là một đòi hỏi để trở thành con cái Thượng Đế cho được? Tuy nhiên, tôi xin nhắc lại, là sự đầu phục quyền làm Chúa tể của Chúa Cứu Thế là thiết yếu cho sự phát triển của đời sống Cơ Đốc nhân; nhưng trở thành một con cái Thượng Đế với tăng trưởng để đạt mức trưởng thành vốn có những đòi hỏi khác nhau và quyền làm Chúa tể trên một đời sống không phải là một đòi hỏi để được tiếp nhận vào gia đình của Thượng Đế.
Ý NGHĨA CỦA CHỮ CHÚA
Nhưng có người có thể hỏi thế thì Chúa không phải có nghĩa là Thầy, là Chủ hay sao? Còn tin nhận Giê-xu làm Chúa, há không phải có nghĩa là nhận Ngài làm Thầy, làm Chủ cuộc đời mình hay sao? Lẽ tất nhiên, Chúa vốn có nghĩa là Chủ (Master: thấy), nhưng trong Tân ước, nó còn có nghĩa là Thượng Đế (Cong Cv 3:22), là chủ nhân (LuLc 19:33), là ông (ngài: sir - GiGa 4:11), là các thần tượng nhân tạo (ICo1Cr 8:5), và cả là người chồng (IPhi 1Pr 3:6) nữa. Khi nó được dùng liên hệ chứng tỏ lòng tôn kính (như trong GiGa 4:1-54), nhưng nó cũng có một ẩn nghĩa bất thường khiến có người thắc mắc về giá trị của nó. Mà một nghĩa như thế thì chỉ có thể dành cho một mình Thượng Đế mà thôi. Nói khác đi, khi có một ai đó, rõ ràng là chẳng khác gì hơn một con người tầm thường xuất thân từ một gia đình thợ mộc nghè khó, lại dám tự xưng là Thượng Đế, và khi danh hiệu Chúa - vốn có nghĩa là “Giê-hô-va Đức Chúa Trời” đối với người Do-thái - đã được gắn liền với Con người tên Giê-xu trong lời truyền giảng của các vị sứ đồ, thì đã có sự chia rẽ. Sự chia rẽ ấy có thể đã chẳng quá ư rõ rệt nếu Chúa Giê-xu chỉ có nghĩa là 'ông Giê-xu' 'ngài Giê-xu' hoặc 'thầu Giê-xu' mà thôi; nhưng nếu nó lại có nghĩa là 'Thượng Đế Giê-xu' hay 'Đức Giê-hô-va Giê-xu' thì người ta có thể giải nghĩa được sự chia rẽ và tranh luận về loại lời tự xưng như vậy.
Nếu Chúa có nghĩa là Thượng Đế, và do đó, Chúa Giê-xu có nghĩa là Thượng-Đế-làm-người, thì xin hãy lưu ý một số dây mơ rễ má của ý niệm ấy. Trong ICo1Cr 12:3, Phao-lô nói “Không ai công nhận Giê-xu là Chúa (nguyên văn: Chúa Giê-xu) nếu không do Thánh Linh hướng dẫn”. Chúa theo nghĩa này phải có nghĩa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời chỉ vì lý do đơn giản là những người chưa được cứu cũng có thể nói Chúa theo nghĩa là ông là ngài, khi gọi Chúa Cứu Thế ngay trước khi họ có Thánh Linh của Thượng Đế. Hơn nữa, làm thế nào Phê-rơ vốn đã được Thánh Linh hướng dẫn lại có thể nói “Lạy Chúa (Thầy), con không dám” (Cong Cv 10:14)? Phải chăng Thánh Linh đã hướng dẫn ông nói một điều mâu thuẫn như vậy? Nhưng lẽ dĩ nhiên, nếu Chúa có nghĩa là Thượng Đế trong một câu như thế, thì điều đó có ý nghĩa vì người ta có thể thừa nhận thần tánh của Chúa Giê-xu mà không sẵn sàng đầu phục quyền tể trị của Ngài trong một vấn đề cá biệt, và đó chính là việc mà Phê-rơ đã làm.
Tại sao Chúa Giê-xu (nghĩa là Thượng Đế làm người) lại trở thành có ý nghĩa quan trọng trong một câu như thế, đến nỗi nó chỉ có thể do một người được Thánh Linh hướng dẫn thốt ra mà thôi? Sở dĩ như vậy vì đây chính là yếu tính của sự cứu rỗi chúng ta, nó được tập trung vào tính cách độc nhất vô nhị của Cứu Chúa. Hầu như tất cả các 'cứu tinh' (saviors viết thường, trong khi chữ được chúng ta dịch là Cứu Chúa là Savior, viết hoa) đều đòi hỏi quyền làm chủ trên đời sống những kẻ theo mình. SDẽ chẳng có gì là độc đáo trong mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế với những người theo Ngài cả, nếu tất cả ý nghĩa của chữ Chúa Giê-xu chỉ là Thầy Giê-xu hay ông chủ Giê-xu mà thôi. Ngay đến các lãnh tụ của các đạo thờ cúng (cults) cũng tự xưng như vậy. Nhưng có tôn giáo nào ngoài Cơ Đốc giáo lại có được một vị cứu tinh dám tự xưng mình vừa là Thượng Đế đồng thời cũng là một Người trong cùng một người mà thôi? Nếu chữ Chúa trong câu Chúa Giê-xu chỉ có nghĩa là Thầy, là Chủ, thì lời tự xưng độc nhất vô nhị sẽ không có mặt. Nếu chữ Chúa trong câu Chúa Giê-xu có nghĩa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời, thì Chúa Giê-xu mới là độc nhất vô nhị, và đây chính là cốt lõi, là trái tim của bức thông điệp cứu rỗi trong Cơ Đốc giáo.
Trong lúc một con người tring bình quan sát và lắng nghe con người tên Giê-xu quê ở Na-xa-rét giảng dạy, anh ta chẳng hề cảm thấy khó chịu khi nhận rằng đây là một con người khác hẳn, có thể là cả một nhà tiên tri khác hẳn nữa. Anh ta cũng chẳng hề thắc mắc khi người tên Giê-xu này được cả một đoàn mười hai hoặc bảy mươi môn đệ suy tôn làm Thầy. Nhưng điều đã gây chia rẽ giữa đám quần chúng, ấy là Ngài cũng tự xưng là Thượng Đế nưa. Điều khiến họ nổi giận không phải là có người tự xưng làm thầy, làm chủ, nhưng là có kẻ lại dám tự xưng là Thượng Đế. Đã có lần người Do-thái từng nói rõ ràng rằng “Không phải vì thầy làm phép lạ mà chúng tôi ném đá, nhưng vì thầy xúc phạm Thượng Đế. Thầy là người mà dám tự xưng là Thượng Đế” (GiGa 10:33). Điều gây xúc phạm là lời tự xưng Thượng Đế làm Người chớ không phải là một con người làm thầy, làm chủ.
Tại sao đó lại là một vấn đề tốt quan trọng cho sự cứu rỗi chúng ta? Chỉ vì lý do hết sức đơn giản là chẳng hề có loại cứu tinh nào lại có thể cứu rỗi người ta khỏi tội lỗi ngoại trừ một Thượng Đế làm người. Thần tánh và nhơn tánh phải kết hợp lại mới có thể cung cấp được sự cứu rỗi thỏa đáng. Cứu Chúa phải là một con người mới có thể chịu chết để tự hòa mình, tự đồng nhất hóa với con người đã bị nguyền rủa. Rồi vị ấy còn phải là Thượng Đế nữa, để cái chết ấy có hiệu lựa cho con số vô hạn không đếm xuể của nhân loại. Phao-lô viết về Phúc âm cho người Rô-ma, ông bảo rằng Phúc âm liên hệ với Con Thượng Đế, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, rồi sau đó, ông chỉ khai triển trau chuốt hai sự kiện thiết yếu liên hệ đến Chúa Cứu Thế Giê-xu: nhơn tánh của Ngài ('về thể xác Chúa giáng thế làm người theo dòng Đa-vít') và thần tánh của Ngài ('chứng tỏ Ngài là Con Thượng Đế đầy uy quyền về quyền tể trị của Chúa Cứu Thế trên đời sống những người tin nhận Ngài như là một thành phần cốt yếu của Phúc âm. Chỉ đến chương 12, Pha-lô mới ngỏ lời với các tín hữu về vấn đề dâng mình. Thượng Đế làm người cứu rỗi, vị Vhúa tể mới cai trị kiểm soát và thánh hóa.
Cùng một cách nhấn mạnh nhơ vậy cũng được thấy trong RoRm 10:9 “Nếu miệng anh em xưng nhận Giê-xu là Chúa...thì anh em được cứu rỗi”. Chính việc xưng nhận Chúa Giê-xu là Thượng Đế và do đó đặt tin vào Thượng Đế làm người, đã cứu người ta khỏi tội. Đây cũng chính là điểm mà Phê-rơ đã trực tiếp đề cập trong ngày lễ Ngũ tuần khi ông nói “Vậy xin toàn thể đồng bào nhận thức cho chắc chắn: Chúa Giê-xu mà đồng bào đóng đinh trên cây thập tự đã được Thượng Đế tôn làm Chúa tể vũ trụ và Cứu Tinh của nhân loại” (Cong Cv 2:36). Do phục sinh rồi thăng thiên, con người tên Giê-xu đã được chứng minh là Chúa tể, là Thượng Đế và là Chúa Cứu Thế, là Đấng Mê-si-a. Họ phải đặt đức tin vào Ngài hơn hẳn là vào một người thường; đức tin ấy phải đặt vào Đấng vốn cũng chính là Thượng Đế và là Đấng Mê-si-a đã hứa trong Cựu ước.
Đó là điều Phê-rơ ngụ ý muốn nói về sự hối cải khi ông được dân chúng hỏi họ phải làm gì sau khi đã được bài giảng của ông soi sáng cho (Cong Cv 2:38). Lẽ sĩ nhiên, từ ngữ hối cải cố nghĩa là đổi ý về một việc gì đó. Nhưng việc gì đó là tối quan trọng cho ý nghĩa của việc hối cải trong bất kỳ một bối cảnh nhất định nào. Một phạm nhân có thể hối cải về lầm lỗi mình đã phạm, với ý định sẽ đổi ý không phải là về tính khí tổng quát của mình, nhưng chỉ là trong ăn ở cư xử mà anh ta vừa xưng nhận, để lần sau, anh ta sẽ không phạm vào cùng một sai lầm như thế nữa. Các Cơ Đốc nhân phải hối cải về các tội đặc thù trong đời sống họ (IICo 2Cr 7:10). Nội dung của sự hối cải đem đến sự sống vĩnh hằng và là điều mà Phê-rơ đã truyền giảng vào ngày lễ Ngũ tuần, là việc đổi ý về Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nếu đám quần chúng đã nghe ông trong ngày ấy trước kia vốn tưởng rằng Chúa Giê-xu chỉ là một người thường, thì bây giờ, họ được yêu cầu hãy tin nhận Ngài là Chúa (Thượng Đế) và là Chúa Cứu Thế (Đấng Mê-si-a đã hứa). Làm như thế, họ sẽ được cứu. Điều cũng được nghiệm đúng, ấy là ăn năn hối cải tội lỗi có thể đưa một người chưa được cứu đến chỗ quay về với Chúa Cứu Thế; nhưng hối tiếc về tội lỗi mình hoặc cả là đổi ý nữa và do đó cũng đổi ý về cuộc đời của mình nữa, tự nó sẽ không đem đến sự cứu rỗi được. Lại còn phải có việc đổi ý về Chúa Cứu Thế Giê-xu nữa, để tin và nhận Ngài làm Cứu Chúa của riêng mình, tức là Đấng đã cứu mình khỏi tội lỗi.
MỘT SỰ SO SÁNH
Phải chăng việc nhấn mạnh trên thần tánh của Chúa Cứu Thế này có nghĩa rằng nhóm từ Chúa Giê-xu vốn chẳng bao gồm một ý nghĩa nào khác hơn là từ ngữ Chúa tể? Dứt khoát là không, nhưng điều đó có nghĩa rằng thần tánh là điểm nhấn mạnh chủ yếu và là tiêu điểm của đức tin trong phạm vi của sự cứu rỗi khỏi tội. Chắc chắn là từ ngữ Chúa còn bao hàm nhiều ý niệm khác nữa.
Nhưng xin chúng ta hay ngưng theo đuổi nó trong chốc lát. Trái lại, hãy nhìn vào danh Giê-xu. Tất cả mọi người đều đồng ý rằng đây là tên theo loài người của Chúa chúng ta và nhấn mạnh Ngài là một người có thật, nhưng là một người trọn vẹn. Vì Thượng Đế không thể chết được, cho nên đặt đức tin vào Con người Giê-xu có thể chết và đã chịu chết, là cần thiết cho sự cứu rỗi. Chúa Cứu Thế phải là một con người (vì sự phán xét của Thượng Đế giáng trên con người), mà con người ấy là Chúa Giê-xu. Như vậy danh Giê-xu thu hút sự chú ý vào Thân vị (Ngôi vị: Person) vốn là người, đã nêu gương cho người tín hữu về chính cuộc đời và sự phục vụ của Ngài (IPhi 1Pr 2:21; IGi1Ga 2:6). Vâng, gương của Chúa Cứu Thế rất quan trọng và là thiết yếu nữa; và nó có liên hệ trực tiếp với nhơn tánh của Ngài. Nhưng điểm này không thuộc về Phúc âm. Khi tôi yêu cầu mọi người tin nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa mình, thì khi dùng tên Giê-xu, là tôi cố gắng đặt họ trực diện với Đấng đã chịu chết thay họ, chớ không phải là Đấng nêu gương cho đời sống họ. Tuy ý niệm nêu gương ẩn tàng trong danh Giê-xu, nó không làm nảy sinh sự cứu rỗi. Ngay đến các nhà truyền đạo giảng về quyền làm Chúa tể của Ngài cũng không ngụ ý bảo như vậy.
Hơn nữa, nhơn tánh của Chúa chúng ta rất quan trọng trong ngày Ngài tái lâm “Chúa Giê-xu vừa được tiếp đón về trời cũng cũng sẽ trở lại y như cách Ngài lên trời” (Cong Cv 1:11). “Chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm” (XaDr 12:10). Con người tên Giê-xu là Đấng sẽ trở lại, nhưng muốn đợc cứu, thì người ta có phải tin vào Chúa Giê-xu là Đấng sắp tái lâm hay không? Không, vì bức thông điệp về sự cứu rỗi liên hệ với Chúa Giê-xu, là Đấng đã chịu chết.
Vậy, nếu khi sử dụng danh Giê-xu để truyền giảng Phúc âm, chúng ta chỉ nhấn mạnh trên nhơn tánh của Ngài trong mối liên hệ với sự chế của Ngài, chớ không nhấn mạnh nhơn tánh của Ngài như một gương tốt hay liên hệ với sự tái lâm của Ngài, thì phải chăng cũng là sai lầm khi nhấn mạnh Chúa theo như cách từ ngữ ấy vẫn được dùng trong thông điệp Phúc âm nhằm nhấn mạnh thần tánh Ngài, chớ không phải là vào nhiều phương diện hay đặc tính khác của Thượng Đế?
Thí dụ, Chúa là Thượng Đế cũng là Đấng Tạo Hóa. Một người có phải tin rằng Chúa cũng chính là Đấng Tạo Hóa của riêng mình, thì mới được cứu không? Hay một lần nữa, Chúa cũng là Đấng Phán xét. Một người có phải tin rằng Chúa Cứu Thế cũng sẽ phác xét mình, thì mới được cứu không? Hoặc thêm nữa, Chúa cũng là Đấng cầm quyền tể trị trên mọi sự. Muốn được cứu, một người có phải thừa nhận rằng Ngài là Đấng Tể trị trên chính đời sống của riêng mình, chẳng khác chi người ấy cũng phải tin rằng Ngài là Đấng tể trị trên sân Y-sơ-ra-ên hay trên cả thế giới trong Thiên hi niên, hay không? Nói khác đi, nếu Phúc âm của Chúa Giê-xu gồm luôn quyền làm Chúa tể trên đời sống tôi, thì rất có thể nó cũng gồm luôn việc cần thiết phải tin rằng Ngài là Đấng Tạo Hóa, Đấng Phán xét, nhà vua hầu đến, tấm Gương sáng, vị Giáo sư, vân vân và vân vân của tôi nữa, nghĩa là gồm luôn mọi thuộc tính của Thần tánh Ngài và mọi phương diện của nhơn ánh trọn vẹn của Chúa Giê-xu nữa. Nếu mấy chữ Chúa Giê-xu chẳng loại trừ một điều nào trong số những điều vừa kể cả, thì điểm nhấn mạnh mà Kinh Thánh dành cho mấy chữ ấy (như chúng ta đã cố gắng dùng Cong Cv 2:1-47 để chứng minh, chẳng hạn) là nhằm vào con người của Ngài với tư cách là Thượng Đế làm Người, là Con Người để chịu chết, còn Thượng Đế thì khiến cho cái chết ấy trở thành đã bắt đầu thêm một điều gì khác vào Phúc âm đã được mặc khải trong Kinh Thánh, thì bạn sẽ dừng lại ở đâu đây? Nếu bạn thêm vào quyền làm Chúa tể trên đời sng, thế bạn có quyền gì để chỉ đưa vào độc một điểm đó mà thôi? Và nếu bạn thêm vào trong Phúc âm nhiều ý niệm khác bao hàm trong Lời Chúa, thế tại sao bạn lại không thêm vào luôn các ý niệm khác nữa bao hàm trong danh Giê-xu? Và lẽ dĩ nhiên là nếu bạn làm bất luận việc nào trong số đó, tức là bạn đã khiến cho Phúc âm trở thành phức tạp vượt quá tầm hiểu biết và có thể có hiệu lực.
Ý NGHĨA CỦA BỔN PHẬN LÀM MÔN ĐỆ
Thật ra, dạy rằng Chúa Cứu Thế phải làm Chúa tể của đời sống rồi mớit rở thành Cứu Chúa được, là gây lẫn lộn, xáo trộn cho một số các phương diện của bổn phận người làm môn đệ. Một môn đệ là gì? Một môn đệ là một người tiếp nhận lời giáo huấn của một người khác; anh ta là một học trò. Trong Tân ước, từ ngữ ấy rất thừơng được dùng trong các sách Phúc âm, thỉnh thoảng (nói theo cách so sánh) cũng được dùng trong sách Công vụ, và chẳng hề được dùng đến sau sách Công vụ. Có các môn đệ của Mai-sen (GiGa 9:28), của Giăng Báp-tít (GiGa 3:25) và của Chúa Cứu Thế. Về các môn đệ của Chúa Cứu Thế, có một số chỉ tạm thời theo Ngài và một thời gian sau đạ bỏ cuộc, không theo Ngài nữa (GiGa 6:66); một số rất thân cận với Ngài (Phê-rơ, Gia-cơ và Giăng); một người đã phản Ngài (Giu-đa). Lẽ dĩ nhiên, Giu-đa nêu gương về một môn đệ không được cứu; như thế, từ ngữ môn đệ không nhất thiết hàm ý ăn năn quy đạo thật sự. Tuy nhiên, từ ngữ ấy thường được dùng theo nghĩa là người ăn năn quy đạo, và trong sách Công vụ nó trở thành đồng nghĩa với tín hữu.
Nhưng đào tạo môn đệ là đối tượng của lời Uỷ thác Trọng đại (Mat Mt 28:19). Các môn đệ của Chúa Cứu Thế có hai đặc điểm họ được làm phép báp-tem cho (một dấu hiệu rõ ràng của đức tin đặt vào Chúa Cứu Thế của họ), và họ thường xuyên học tập. Phép báp-tem là một biến cố chỉ xảy ra một lần duy nhất, còn họ tập là một tiến trình suốt đời. Điều được phép báp-tem chứng thực có thể được thực hiện bằng một hành động của đức tin. Điều được truyền dạy trong 'mọi mệnh lệnh ta' lại không thể hoàn tất suốt cả một đời. Có một điều kiện cho phép báp-tem: đức tin (Cong Cv 16:31-34); có rất nhiều điều kiện cho sự tăng trưởng. Sự lộn xộn chen vào khi chúng ta muốn đem các điều kiện để tăng trưởng để biến thành các điều kiện để trở thành môn đệ, hay khi chúng ta biến các đặc điểm của cuộc đời làm môn đệ trở thành các điều kiện để trở thành môn đệ.
Chưa đủ phân biệt hai phương diện này của bổn phận làm môn đệ - việc bắt đầu bước vào để trở thành môn đệ, và cuộc đời tiếp theo đó - trong hai bài giảng nhỏ nằm sát cạnh nhau. Trong LuLc 14:16-24 Ngài kể lại ẩn dụ về bữa tiệc lớn, trong đó việc tham dự không bị giới hạn, hoàn toàn tự do, và dành cho tất cả mọi người. Trong 14:25-33, Ngài dạy về các hạn chế của cuộc đời tiếp tục noi theo Ngài trong tiến trình làm môn đệ. Biến các điều kiện của đời sống làm môn đệ thành ra các đòi hỏi để trở thành một môn đệ, là hoàn toàn gây xáo trộn cho Phúc âm bằng cách hòa lẫn chất nước trong của ân phúc Thượng Đế với các công việc như bùn nhơ của loài người.
Nhưng chuyện ngẫu nhiên vẫn xảy ra rất đáng lưu ý, ấy là các đặc điểm của bổn phận làm môn đệ đòi hỏi phải có hành động chớ không phải chỉ có ý chí sẵn sàng muốn hành động mà thôi. Do đó, lời truyền dạy khác về quyền làm Chúa tể như đã được đề cập trước đây, bảo rằng muốn được cứu, một người vừa phải tin nhận Chúa Cứu Thế, và ít ra cũng ngya trong khoảnh khắc ấy, cũng phải đồng thời chịu đầu phục Ngài, không thể được mấy câu Kinh Thánh này hậu thuẫn cho. Thí dụ nếu 14:33 không thể được quan niệm là các điều kiện được đề ra để người ta được cứu rỗi, thì cậu ấy cũng không hề bảo rằng chúng ta chỉ phải sẵn sàng bỏ hết mọi điều mình có mà thôi; nó bảo rằng chúng ta phải từ bỏ hết mọi điều mình có. Hoặc là nếu Mat Mt 19:21 đề cập việc phải làm thế nào để được cứu, thì Chúa chẳng hề dạy chàng thanh niên nọ chỉ sẵn sàng chịu bán hết gia tài mà thôi; Ngài đã bảo anh ta hay làm ngay việc ấy đi.
TIN THÌ DỄ QUÁ
Như đã nói trước đây, lời truyền dạy rằng một người được cứu rỗi là nhờ ân điển và bởi đức tin vào Thượng Đế làm Người là Cứu Chúa và là Đấng chịu chết thay cho tội lỗi chúng ta mà thôi, đã bị gọi là 'duy tín chủ nghĩa dễ dãi'. Tuy nhiên, không phải những người trong chúng ta đã tin như vậy, lại phủ nhận việc đặt Chúa Cứu Thế lên ngai để cai trị đời sống một người, là điều không quan trọng. Chúng tôi đã nói rằng việc tôn Chúa Cứu lên ngai không phải là điều kiện để được cứu rỗi, và đúng hơn thì đó là hậu quả của sự cứu rỗi. Nhưng vấn đề vẫn tồn tại, ấy là cái nhãn hiệu là 'duy tín chủ nghĩa dễ dãi' đó có đúng hay không? Thật ra, tin có phải là quá dễ không? Hãy khảo xét hai tư tưởng đáng chú ý.
1. Đối tượng của đức tin chúng ta bao gồm những đòi hỏi rất khó tin. Ngài là Đấng vô hình; Ngài sinh sống trong một quá khứ xa xôi; những phần ký thuật cận đại về Ngài vốn do các bạn thân của Ngài lưu truyền lại; và ngày nay, chẳng còn một nhân chứng nào từng thấy Ngài tận mắt để kiểm chứng những lời tự xưng của Ngài. Tin một việc như vậy có phải là dễ dàng không? Tín dụng là một dịch vụ kinh doanh khổng lồ khắp thế giới hiện nay, nhưng tín dụng chỉ mở rộng đến số người có một số bảo đảm nào đó. Chúng ta thường quan sát qua con người ấy; chúng ta thu thập các thông tin về người ấy; và trong một vài trường hợp, chúng ta yêu cầu nhiều người khác bảo lãnh cho người ấy. Đối với những người được chúng ta yêu cầu hãy tin Chúa Giê-xu, đã không thể có được một điều nào trong số những điều vừa kể trên. Điều chắc chắn là có những tài liệu được ghi chép lại về Ngài, nhưng có người sẽ bảo rằng chúng không đáng tin. Và cũng có nhiều người xưng nhận là họ đã được Ngài cứu chuộc cách diệu kỳ, nhưng rất có thể là đã bị lừa dối. Có thật là tin vào một Chúa Cứu Thế vô hình là dễ dàng không?
2. Nội dung của đức tin chúng ta bao gồm nhiều đòi hỏi rất khó tin. Chúng ta bảo thiên hạ tin vào một Con người không thấy được để được tha tội và sự sống vĩnh hằng trên cơ sở là cái chết của Con người ấy mà chúng ta bảo là để tay thế cho chúng ta. Làm như thế có dễ dàng không? Nếu chúng ta chỉ được yêu cầu tin cậy nơi Chúa Cứu Thế để điều khiển các công việc của đời này mà thôi, là điều chẳng quan trọng bao nhiêu, vì dường như chúng ta có thể sống tpơng đối hạnh phúc và thành công mà chẳng cần gì đến sữ cai trị kiểm soát của Ngài (tuy lẽ dĩ nhiên là chúng ta không thể đem nó ra để so sánh với một cuộc đời được Ngài cait rị kiểm soát), thì có dễ dàng không? Nhưng điều vô cùng chắc chắn là chúng ta sẽ không dám liều lĩnh, đến độ có thể bị mất đi sự tha tội, vì cõi vĩnh hằng không phải chỉ là một vài năm ngắn ngủi của đời sống. Một khi tất cả những điều đó đều được đổ trút vào trong nội dung của chúng ta, chúng ta có thể bảo rằng tin là dễ hay không?
Chắc tôi đã có thể kết luận bằng một thí dụ minh họa rồi chứ? Mấy năm trước đây, tôi có cùng một sinh viên đi tàu hỏa từ Athens đến Istambul. Dọc đường, có một người trông có vẻ đứng đắn cùng ngồi một bàn ăn với chúng tôi, đã bắt chuyện với chúng tôi. Cuộc đàm thoại có phần khó khăn vì ngôn ngữ chung duy nhất của chúng tôi là tiến Pháp. Nhưng cuối cùng, tôi hiểu ra rằng ông ta muốn đổi một ít tiền Thổ-nhĩ-kỳ để lấy Mỹ kim. Lúc ấy là những ngày được tự do trao đổi tiền bạc theo giá hối đoái hoàn toàn hợp pháp, và đồng đô-la rất tiện lợi, được mọi người ưa chuộng. Lẽ tự nhiên là tôi rất dè dặt đối với người xa lạ mà lại muốn nói chuyện tiền bạc đó, nhưng thì giờ trôi qua, khi sắp đến Istambul chúng tôi đồng ý với nhau là sẽ gặp lại tối hôm ấy tại khách sạn mà tôi với người bạn của tôi tạm trú. Màn kịch “chiếc áo choàng ngắn bên trong có giấu lưỡi dao găm” diễn ra đêm ấy trong ngôi khách sạn hạng ba đó hầu như là vở hài kịch mỗi khi tôi nhìn trở lại. Tôi với người bạn của tôi mỗi người đều ngồi trên một trong hai chiếc giường sắt trong căn phòng nhỏ hẹp; còn họ thì ngồi trên hai chiếc ghế trơn (là loại trang thiết bị duy nhất còn lại trong phòng). Sau vài câu nói đùa thông thường, chúng tôi bắt đầu mặc cả với nhau. Lẽ dĩ nhiên là buổi chiều hôm đó, tôi đã đi hỏi dò tỷ lệ hối đoán, nên chẳng bao lâu chúng tôi đồng ý việc đổi chác mà kết quả sẽ khiến chuyến lưu lại Thổ-nhĩ-kỳ của chúng tôi giảm được 25 phần trăm chi phí. Các tờ giấu bạc đã được trao đổi, chúng tôi chào từ biệt nhau; và mọi sự dường như đã đến hi kết thúc.
Mấy tuần lễ sau, do hoàn cảnh không dự định trước được, tôi với người bạn phải chia tay nhau, và tôi phải một mình trở về Tô-cách-lan. Do phải thay đổi kế hoạch bất ngờ, tôi cần mua một vé máy bay để rời Istambul. Cho nên tôi nhất định đi tìm lại người đã đổi bạc với tôi (mà tôi còn giữ địa chỉ, cũng chẳng biết vì lý do gì) để thử xem chẳng hay mình cũng sẽ mua được vé máy bay rẻ hơn 25 phần trăm hay không! Từ đại lộ đi qua năm đường phố nhỏ, với sáu con dốc tôi tìm thấy ngôi nhà của anh ta và gõ cửa. Người em xuất hiện (và chắc chắn là anh ta) và chẳng bao lâu cả ba người chúng tôi đều nhớ lại chuyến gặp nhau trước đây. Tôi nói tốt lắm, cùng một vấn đề như lần trước đã đưa tôi trở lại đêm này - tôi đang cần thêm tiền Thổ-nhĩ-kỳ. Chẳng hay anh ta có cần thêm Mỹ kim hay không? Vâng, có, rồi anh ta kể lại câu chuyện của mình cho hay bản thân anh ta là một người từ một xứ thuộc vùng Balkan đi tị nạn cộng sản và trốn sang Thổ-nhĩ-kỳ. Nhưng vợ và gia đình anh thì đã đượx định cơ bên Gia-nã-đại rồi nhờ có một hội cứu tế thế giới, vì bà ta là một y khoa bác sĩ. Vì không có nghề chuyên môn anh ta không thể cùng đi với họ được, nhưng tham vọng cuối cùng của đời sống anh ta, là sẽ lại đưa cả gia đình về Thổ-nhĩ-kỳ để được đoàn tụ. Muốn làm việc ấy, cần phải có loại chỉ tệ ổn định như đồng đô-la, nhưng chuyển ngân cho vợ anh ta không phải là chuyện dễ. Anh ta nói anh ta rất muốn giúp tôi, nhưng mà...
Tôi có một sáng kiến. Chẳng hey anh ta có muốn gặp tôi sáng hôm sau, mua vé máy bay cho tôi, và tin cậy tôi, để tôi viết thư cho cha tôi bên Hoa-kỳ, yêu cầu cha tôi gởi dố tiến tương đương từ trương mục ngân hàng của tôi cho vợ anh ta bên Gia-nã-đại hay không? Bạn đã nhìn rõ bức tranh rồi chứ? Tôi đã yêu cầu anh ta tin cậy tôi (mà anh ta chẳng biết là ai cả) sẽ lấy tiền từ trưng mục của tôi tại một nước xa xôi qua trung gian cha tôi, là người là anh ta cũng chẳng hề nhìn thấy hoặc biết, là đang có mặt trên đời này, mà chỉ về mặt chân thành mà thôi, anh ta cũng chẳng có cách nào để tìm biết, để sẽ trả lại tiền cho anh ta! Anh ta sẽ bằng lòng làm như thế hay không? Quyết định của anh ta thật là không dễ dàng, vì tôi đang yêu cầu anh ta lấy đức tin để đáp ứng một số đòi hỏi thật khó tin.
Thế nhưng, anh ta đã chịu tin, và lẽ dĩ nhiên là tôi cũng giữ được phần lợi lộc của mình. Số Mỹ-kim đã được gởi đến cho vợ anh ta đúng hạn, và điều đó đã giúp được việc bắt đầu tiến trình đoàn tụ gia đình của anh ta. Cuối cùng, họ đã gặp lại nhau, và trong số các tài sản có giá trị của tôi, có những bức thư cám ơn của cả hai vợ chồng anh ta. Tin có dễ dàng không?
Nếu bạn từng gặp cám dỗ hay thêm chút gì vào phần ân phúc vô cùng giản dị của Thượng Đế, thì trước hết, hãy làm sáng tỏ như pha lê xe Đối tượng của đức tin bạn là ai và nội dung của đức tin đó là gì. Rồi hãy chỉ cho thiên hạ đến với Ngài, là Chúa Giê-xu, Thượng Đế làm Người và là Cứu Chúa đang sẵn sàng ban sự tha tội vĩnh viễn cho tất cả những ai tin Ngài.

SINH HOẠT QUÂN BÌNH CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
Nếu muốn cho ngoạn mục hơn, tôi có thể đặt tiêu đề cho chương sách cuối cùng này là “Bí quyết để thành công trong đời sống thuộc linh” hay “Công thức cho một cuộc đời chiến thắng” hoặc một tiêu đề tương tự. Tuy nhiên, tôi có phần nghi ngờ là mấy chữ 'công thức' hoặc 'bí quyết' sẽ làm gia tăng nhiều vấn đề cho mọi người hơn là vạch rõ cho họ thấy các giải pháp, người này nói “Hãy thử làm thề này”, kẻ khác bảo “Hãy thử làm thế khác” xem sao. Hậu quả của số rất nhiều tiếng nói ấy và sự bất đồng ý kiến nói chung về thật ra Kinh Thánh đã dạy gì về mức trưởng thành của Cơ Đốc nhân dường như đã làm nảy sinh hai loại tín hữu. Có một số người vốn chẳng biết hoàn toàn chắc chắn cả đến việc chẳng hay mình có đang đi đúng trên nẻo đường của một đời sống Cơ Đốc nhân bình thường hay không, trong khi một số khác lại hết sức chắc chắn là mình đã đi được đến nơi đến chốn rồi! Hay để đổi cách ví von, dường như chung quanh mọi người đang có quá nhiều bậc 'thầy đời' đến độ một số người đang vô cùng bối rối vì không phân biệt được đâu là đâu khi nhìn thấy quá nhiều các món ăn mà họ thì đang chết đói, trong khi nhiều người khác lại cho rằng các thức ăn đang được dọn ra cho họ đều sẽ gây chứng khó tiêu, và có một số ít thì thề sẽ trung thành đầu phục người này, và tin quyết rằng tất cả những người khác đều là bọn lừa đảo!
Trong chương sách này, chúng tôi mong làm ba việc: 1. Tóm tắt và vẽ sơ đồ của một vài con đường; 2. đẩy xa bến đậu trên nẻo đường đi, để chẳng ai còn có thể tưởng rằng mình đã đến nơi rồi; và 3. Soi sáng trên nẻo đường, để tất cả mọi người đều có thể thấy được các phương tiện theo Kinh Thánh để một người đạt được mức trưởng thành, và do đó, sống được một cuộc đời làm Cơ Đốc nhân thăng bằng.
NHIỀU ĐIỂM NHẤN MẠNH
Khi muốn tóm tắt và vẽ lược đồ những điểm nhấn mạnh của nhiều lời truyền dạy khác nhau về đời sống đơn giản hóa quá đáng. Tuy nhiên, chỉ cần sắp xếp các sự việc bên cạnh nhau cũng đã đủ để làm sáng tỏ rồi, và đó là mục đích của chúng tôi. Thiết tưởng cũng cần nói rằng trong việc liệt kê các điểm nhất mạnh khác nhau, tôi không hề gợi ý rằng toàn thể lời truyền dạy đó là sai; theo thiển ý thì nội dung của nó sở dĩ mất thăng bằng là vì một vài phương diện nào đó của sinh hoạt thuộc linh đã bị nhấn mạnh quá mức đến độ mất cân đối so với vai trò hay địa vị mà Kinh điển dành cho nó.
Trước hết, có quan điểm nhấn mạnh cái ý niệm rằng Thượng Đế làm thay cho cúng ta tất cả những gì cần phải làm trong đời sống thuộc linh. Chẳng những chúng ta chẳng cần làm gì cả; mà còn phải chẳng làm gì cả nữa; bằng không, chúng ta sẽ gây trở ngại cho công tác của Thượng Đế trong đời sống chúng ta. Thường thường, quyết định bỏ mặc cho Thượng Đế làm tất cả này dẫn tới một điểm gây khủng hoảng cho từng trải của một người; đến chừng đó, chúng ta mới học tập được là 'hãy tiến lên và để mặc Thượng Đế' là bí quyết của một đời sống đắc thắng.
(Biểu đồ 1)
Điều chắc chắn là có thể có những lần lên xuống trên cấp bậc của đời sống cao hơn, nhưng những lên xuống này sẽ tương đối nhỏ một khi người ta đã trải qua cơn khủng hoảng của sự phục tùng.
Nếu ý niệm đầu tiên này nhấn mạnh phương diện có khủng hoảng trong việc dâng mình của sinh hoạt thuộc linh đến độ giảm thiểu phương diện chiến đấu, thì một biến dạng tập trung chú ý vào cuộc chiến đấu liên tục, và loại ra bất kỳ lời truyền dạy nào liên hệ với việc dứt khoát đoạn giao với tội lỗi bằng một hành động dâng mình. Biểu đồ của nó như sau:
(Biểu đồ 2)
Một cuộc chiến đấu thành công sẽ dẫn tới một cuộc chinh phục từ từ nhưng chắc chắn tội lỗi, và torng một số biến dạng của ý niệm này là đế việc xóa sạch nó đi.
Lẽ dĩ nhiên là có một quan điểm chủ trương có sự xoá sạch ngay tức khắc, dạy rằng bản tính tội lỗi đã bị cất đi hoàn toàn lúc từng trải khủng hoảng xảy ra, khi người ta thoả mãn các điều kiện của nhóm cá biệt chủ trương như vậy; trong khic ác chủ trương khác trước đây bảo rằng một trận đánh thành công dẫn tới việc xóa sạch cuối cùng. Biểu đồ về 'sự xóa sạch thình lình' sẽ như sau đây
(Biểu đồ 3)
Một quan điểm khác nữa nhấn mạnh những lần dâng mình hoặc 'được phấn hưng liên tục hay được lặp đi lặp lại là các phương tiện của đời sống thuộc linh. Ch3u trương này không nắm được quan điểm của thì của động từ đã được sử dụng, chẳng hạn như trong La 12 là thì hiện tại. Nó ngụ ý chỉ một biến cố, chớ không phải là nhiều biến cố liên tục như đã được thảo luận ở chương 7. Điều chắc chắn là sau một hành động dứt khoát, hay khủng hoảng hay dâng mình, có thể còn có những từng trải thối lui, sa ngã. Tuy nhiên, cách cứu vãn là xưng tội, và thường là việc tái xác nhận sự hiến thân nguyên thủy. Nếu muốn bạn có thể gọi nó là việc tái hiến thân tuy đây không phải là một chữ chính xác nói lên đúng lời truyền dạy của Kinh Thánh; nhưng không chủ trương việc có hàng loạt những lần tái hiến thân như là điều đáng ước ao trong đời sống làm Cơ Đốc nhân, hay như một điều gì đó dầu sao cũng làm mất ý nghĩa của việc làm nguyên thủy là một hành động dâng mình dứt khoát và hoàn toàn vốn vô cùng quan trọng kia. Biểu đồ của chủ trương này có thể vẽ như sau:
(Biểu đồ 4)
Cuối cùng tôi phải đề cập một cách nhấn mạnh mà thỉnh thoảng người ta cũng gặp. Ấy là ý niệm cho rằng phương tiện chính yếu đưa tới sự thánh hóa là cái gọi là sự cởi mở. Nó bao gồm rất nhiều lần xưng tội công khai và tập thể vừa như một liều thuốc tẩy lẫn một nhiệt tình muốn sống tốt hơn. Chúng ta đã thảo luận chủ đề xưng tội trong chương 14, nên không cần nhắc lại ở đây nữa. Nhưng hiện nay, điểm nhấn mạnh sai lầm thỉnh thoảng mặc lấy hình thức của một cuộc tự xét vượt quá được tiến trình ấy một cách thành công hướng dẫn. Những buổi họp 'tự khám phá' ấy (nhiều khi gồm cả một loạt những bảng tự kiểm) được cho là có thể đưa người ta đến chỗ trưởng thảnh theo một loại hạng nào đó. Sở dĩ tôi nói 'theo một loại hạng nào đó' vì cảm tưởng của tôi là thường thường sự trưởng thành theo cảm tính đã được các nhóm người này đem thay thế cho sự trưởng thành thuộc linh đích thực, mà cho dầu nó có tốt đẹp đến đâu đi chăng nữa, cũng không thể là vật thay thế như vậy được. Điều xảy ra cũng dường như là mục đích của nó vốn có phần kém hơn là việc học tập tự chấp nhận với tất cả những lỗi lầm và nhược điểm của mình thông qua quá trình tự do nói toạc ra những việc riêng tây ấy trước mặt cả một nhóm người.
Lẽ dĩ nhiên là cũng có một nơi để tự biết mình và tìm sự ổn định cho phần tình cảm của một đời sống, và lắm khi sự can thiệp của tập thể cũng hữu ích. Nhưng điều dường như hãy còn thiếu trong phong trào này - mà đây là những thiếu sót căn bản và quan trọng - trước hết, là một chuẩn mực khác quan để tự đo đạc bản thân, và thứ hai, là việc tiếp nhận quyền năng của Thánh Linh đang ngự trong lòng mình để thực hiện những thay đổi cần thiết hầu theo đuổi việc trở nên giống với Chúa Cứu Thế. Người ta có thể thật sự thực hiện được gì cho tính cách thuộc linh của chính mình, hoặc cả đến những gì được người khác chấp nhận? Qua sự mặc khải của Lời Ngài, thì chính Thượng Đế mới là chuẩn mực mà chúng ta phải dùng để tự đo đạc mình, chớ không phải là một bảng tự kiểm nào đó. Rồi phải có sự thay đổi - những thay đổi cá nhân ngay trong chúng ta, chớ không phải chỉ là những thay đổi mà một nhóm người trong vòng chúng ta chấp nhận. Chỉ đến chừng đó, chúng ta mới đứng được trên con đường đúng để tiến tới sự trưởng thành thuộc linh (Dường như không có cách nào để vẽ được một biểu đồ hữu ích về những ý niệm đó)
THỰC HIỆN MỘT MỤC ĐÍCH)
Thực hiện mục đích của đời sống Cơ Đốc nhân là một tiến trình liên tục và suốt cả cuộc đời. Nói thật đơn giản, thì mục đích đó là trở nên giống như Chúa Cứu Thế, nhưng muốn hoàn thành việc ấy, thì phải chờ đợi cho đến ngày chúng ta được hưởng vinh quang tối hậu kia (RoRm 8:29-30)! Vì người nào khẳng định rằng mình đã thành đạt trong đời sống làm Cơ Đốc nhân, thì cũng phải có thể nói rằng mình đã giống y Chúa Cứu Thế rồi (và phải luôn luôn trưng ra bằng chứng nữa) cho dầu người ấy có thể sống vô tội trong cuộc đời này (mà điều này là bất khả) người ấy vẫn còn phải biểu hiện các đặc điểm tích cực của Chúa chúng ta nữa, vì giống như Chúa Cứu Thế vốn vượt xa việc không phạm tội mà thôi.
Nhưng chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu trong cuộc đời này tuy chúng ta không thể đạt được đó trước khi chúng ta được chuyển về thiên đàng, và trong Tân ước có rất nhiều lời răn bảo, khuyến giục chúng ta cứ tiếp tục tiến lên.
Phê-rơ khuyến giục chúng ta “Nhưng anh em hãy tăng trưởng trong ân phúc Chúa và học biết nhiều hơn về Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng Cứu rỗi chúng ta”, và từ ngữ tăng trưởng thuộc thì hiện tại, vạch rõ một tiến trình tăng trưởng. Chẳng hề có lúc nào mà một Cơ Đốc nhân không còn cần tăng trưởng thêm trong đời sống làm Cơ Đốc nhân nữa. Giăng thì nhắc nhở chúng ta về việc Chúa Cứu Thế “tẩy sạch tất cả tội lỗi chúng ta” (IGi1Ga 1:7) - một thì hiện tại khác nữa vạch rõ tính cách liên tục của nhu cầu của chúng ta. Phao-lô chỉ rõ ràng con người mới phải thường xuyên đổi mới (CoCl 3:10). Dưới ánh sáng của mấy câu Kinh Thánh vừa kể trên, thật rõ ràng là chẳng hề có ai từng thành đạt trong đời sống làm Cơ Đốc nhân. Có một ngày tất cả chúng ta đều đạt được nó, nhờ ân phúc Thượng Đế, trong khi chờ đợi, chúng ta cứ phải luôn luôn theo đuổi cái mục tiêu được đặt trước mặt chúng ta.
NẺO ĐƯỜNG ĐÚNG.
Đâu là nẻo đường đúng của tính cách thuộc linh đích thực? Đâu là các yếu tố cấu thành một công thức quân bình cho sự tăng trưởng của Cơ Đốc nhân? Theo thiển ý thì có bốn, và nếu chúng đều đã được thảo luận theo cách này hoặc cách khác trong các chương sách trước đây rồi, thiết tưởng xếp chúng lại với nhau thành một hình thức tóm tắt cuối cùng, sẽ rất hữu ích cho chúng ta.
1. Dâng mình. Trước bất luận một sự tiến bộ sẽ tồn tại mãi nào mà chúng ta có thể thực hiện trên con đường sinh hoạt thuộc linh, người tín hữu phải là một người đã hiến thân cho Thượng Đế. Tuy đây không phải là một đòi hỏi để được cứu rỗi, nó là nền móng cho sự thánh hóa. Nhưng chúng tôi đã vạch rõ, sự dâng mình là một dấn thân hoàn toàn có tính cách của một cơn khủng hoảng, của bản ngã suốt các năm của đời sống một người. Một sự hiến thân như thế có thể phát sinh do một vấn đề hay một quyết định nào đó mà người ta phải đối đầu, nhưng nó liên quan tới chính con người đó, người con cái của Thượng Đế đó, chớ không phải là một hành động hay một tham vọng hoặc một kế hoạch cho tương lai. Một người dâng mình cho Thượng Đế sẽ có các kế hoạch và các cao vọng cũng đã được cống hiến; nhưng các kế hoạch đã cống hiến cho Chúa không nhất thiết; đòi hỏi một sự hiến thân của người thiết lập kế hoạch.
Dâng mình cho Chúa là đoạn giao với việc tự mình cai trị kiểm soát lấy chính cuộc đời mình, và giao quyền cai trị kiểm soát ấy cho Chúa. Nó không giải quyết tức khắc và tự động được mọi vấn đề, nhưng cung cấp phần nền móng cho giải pháp, cho sự tăng trưởng và tiến bộ trong cuộc đời làm Cơ Đốc nhân. Nói khác đi, giả dụ nếu có một người dâng đời sống mình cho Chúa vào buổi nhóm tối nay, thì khi thức dậy sáng hôm sau người ấy sẽ không thấy là tất cả mọi vấn đề của mình đã được giải quyết. Nhưng người ấy đã có một nền móng vững chắc để giải quyết chúng. Bất luận một 'công thức nào dẫn đến chiến thắng, tả vẽ sự dâng mình như là việc thình lình và tự động được cất nhắc lên một bình diện cao hơn về từng trải, cũng là sai lầm.
Thượng Đế có thể làm việc với những cuộc đời chịu phục tùng Ngài, nhưng công việc ấy chỉ mới được bắt đầu mà thôi. Sự dâng mình, hãy còn nhiều điều cần thiết khác nữa.
2. Yếu tốt thứ hai trong quan điểm quân bình của sinh hoạt thuộc linh là kỷ luật. Phao-lô viết “nếu nhờ Thánh Linh giết chết những hành vi xấu của thể xác, anh em sẽ sống” (RoRm 8:13). Đây là một câu hết sức lý thú, tạo thế thăng bằng quan trọng cho đời sống thuộc linh. Một mặt, nó tuyên bố rằng những ai đã đóng đinh xác thịt vào thập tự giá rồi (GaGl 5:24) vẫn còn phải xử tử các việc làm của thể xác nữa. Thì của động từ là thì hiện tại, có nghĩa rằng có một việc gì đó cần phải được thực hiện lặp đi lặp lại nhiề lần tuy chúng ta đã bị đóng đinh vào thập tự giá rồi (thì aorist cho thấy một biến cố đã hoàn tất). Mặt khác, câu này tuyên bố rằng chính chúng ta phải làm việc ấy - dĩ nhiên là nhờ vào Thánh Linh, nhưng chúng ta đóng một vai trò chủ yếu. “Anh em” là chủ từ của động từ giết chết, và câu này được nói lên bằng một giọng tích cực. Chính tôi phải làm việc ấy. Nếu đây là một giọng thụ động, thì nó sẽ có nghĩa là có một ai khác sẽ làm việc đó thay tôi. Đức Thánh Linh ban khả năng, nhưng chính tôi phải làm việc ấy. Đây là một sự kiện gay go rất khó đưa vào bất luận một quan điểm nào về đời sống thuộc linh nhưng lại mô tả là Thượng Đế đang làm tất cả; nhưng câu này vốn hết sức rõ ràng.
“giết chết” có nghĩa gì? Chết luôn luôn có nghĩa là phân rẽ, chớ chẳng bao giờ là dập tắt, cho nên giết chết các việc làm của thể xác không thể có nghĩa là xóa sạch chúng đi. Điều đó chẳng hề xảy ra trong cuộc đời này. Nhưng nó có nghĩa là tự tôi phân rẽ với những điều đó. Tôi đã nói chết có nghĩa là phân rẻ. Xin lưu ý: chết thuộc thể có nghĩa là phân rẽ thể vật chất với thể phi vật chất, chớ không phải là việc dập tắt bất luận thể nào. Chết thuộc linh là phân rẽ với Thượng Đế, chớ không phải là dập tắt sự hiện hữu của con người vốn đã chết thuộc linh rồi. Sự chết thứ hai không phải là sự dập tắt, dầu là trong hồ lửa. Giết chết bản ngã không phải là dập tắt sự sống của bản ngã, nhưng là phân rẽ khỏi quyền lực của nó. Như vậy, giết chết các hành vi ấy của thể xác không có nghĩa là các hành vi ấy sẽ không còn là một phần của đời sống chúng ta nữa, nhưng có thể có nghĩa là chúng không còn cần thiết là một phần của kinh nghiệm, từng trải của chúng ta nữa.
Đâu là một số 'hành vi của thể xác'? Đã có lời áp cho câu hỏi này trong Cơ 3, nơi cùng một chữ hành vi (hành động, c.4) này được sử dụng và một số hành vi ấy được liệt kê. Xin lưu ý một số các hành động đó. Câu 5 liệt kê nhiều điều bị xếp vào loại các việc ô uế, nhất là trong lãnh vực tình dục. Gian dâm, ô uế, đam mê tình dục và các ham muốn xấu xa - đó là những hành động ô uế của thể xác mà một tín hữu thuộc linh phải xa lánh, biệt mình riêng ra. Chắc chắn điều này có nghĩa là chẳng tham dự vào những việc như thế; phải chăng nó cũng có nghĩa là phân rẽ với chúng trong vấnđ ề đọc và xem nữa?
Một thói quen khác thuộc về con người cũ là tham lam (c.5), và ở đây, cũng như ở tất cả những chỗ khác trong Tân ước, nó được gọi bằng đúng tên tên thật của nó - thờ thần tượng. Xin nhớ lại chương 8 đề cập vấn đề tiền bạc và nhớ rằng lòng tham chẳng bao giờ tự động biến mất một khi người ta đã có nhiều tiền hơn. Người ta có thề tham lam khi có ít nhiều tiền hoặc đang ở giữa hai tình trạng ấy, vì tham lam vốn nảy sinh từ tấm lòng, chớ không phải do hoàn cảnh của đời sống.
Trong câu 8 có đề cập các tội do lời nói. Đây cũng là các hành vi của thể xác mà người tín hữu thuộc linh phải phân rẽ. Đó là giận dữ, căm hờn, gian ác, nguyền rủa và nói tục. Nhiều khi có những người có vẻ như tuộc linh nhất lại tỏ ra không tự kìm chế trong khu vực thuộc phạm vi của cái lưỡi, do đó, tự tố cáo điều được cho là thuộc linh của họ.
Kỷ luật trong các khu vực thuộc về xác thịt, tiền bạc và lời nói là một phần thiết yếu của sinh hoạt thuộc linh, và giữ kỷ luật phải là việc tôi cần làm.
3. Phương diện thứ ba của một đời sống thuộc linh quân bình, là sự lệ thuộc, nương cậy. “Vậy tôi khuyên anh em đi theo sự hướng dẫn của Thánh Linh để thoát khỏi dục vọng của bản tính cũ” (GaGl 5:16). Thường xuyên nương cậy vào quyền năng của Thánh Linh Thượng Đế đang ngự trị trong lòng chúng ta rất thiết yếu cho sự tăng trưởng thuộc linh và chiến thắng. Theo bản tính của chính nó, bước đi vốn là một số hành động nương cậy liên tục. Khi một chân này được cất lên để đặt trước chân kia thì việc làm ấy đã được thực hiện bởi đức tin - tin rằng bàn chân còn lại sẽ chịu đựng toàn thể trọng lượng của thân thể. Bạn chỉ có thể bước đi bằng cách thực thi đức tin mà thôi. Bạn cũng chỉ có thể sống cuộc đời làm Cơ Đốc nhân bằng cách lệ thuộc, nương cậy vào Đức Thánh Linh mà thôi. Sự lệ thuộc này sẽ tạo hậu quả là Thánh Linh sẽ cai trị kiểm soát các hành vi của xác thịt (GaGl 5:17-21) và Ngài sẽ tạo ra trái của Thánh Linh (cc.22-23).
Trông cậy nơi quyền phép Thượng Đế và nỗ lực về phía người tín hữu không hề loại trừ lẫn nhau. Tự khép mình vào lỷ luật và nương cậy vào Thánh Linh, có thể và phải được thực thi đồng thời trong một đời sống thuộc linh thăng bằng. Tự nó lệ thuộc, nương cậy là một thái độ, nhưng thái độ ấy vốn không tự động nảy sinh, nó thường đòi hỏi phải có sự nuôi dưỡng. Có biết bao nhiêu Cơ Đốc nhân chân chính cứ sống lây lất qua này mà chẳng hề cảm thấy cả đến cái nhu cầu phải lệ thuộc, nương cậy vào Ngài. Từng trải, thói quen đã thành nếp, kiêu ngạo, tự tín, chúng ta ra khỏi cái ý thức muốn lệ thuộc nương cậy vào Thượng Đế mà chúng ta cần phải có nếu muốn sống và hành động phải lẽ công chính.
4. Cuối cùng đời sống thuộc linh phải là một đời sống phát triển liên tục. Không có câu nào diễn tả việc này hay cho bằng IGi 1:7; (tuy thoạt nhìn dường như nó không phải là một chứng cứ cho việc ấy) “Nếu chúng ta sống trong ánh sáng như Thượng Đế chúng ta sẽ giao hảo với nhau, và hết Chúa Giê-xu Con Ngài tẩy sạch tất cả tội lỗi chúng ta”. Tiêu chuẩn cho toàn thể các Cơ Đốc nhân là chính Thượng Đế (c.5). Thượng Đế chẳng bao giờ hạ thấp hay lập lờ về định chuẩn này, Ngài là chuẩn mực để đo lường mọi cách ăn ở ứng xử, thái độ và mục tiêu. Chính vì thế mà tội lỗi có thể được định nghĩa là sự bị hụt mất, không phản chiếu đúng mức vinh quang của Thượng Đế (RoRm 3:23). Đây chính là điều phải nhớ luôn khi sống trong cái thế hệ theo thực dụng chủ nghĩa và cái xã hội hợp lý hóa này. Nhưng chắc bạn sẽ bảo là mình chẳng bao giờ đạt được định chuẩn ấy; thế thì khi Thượng Đế đề ra một lý tưởng mà chúng ta chẳng bao giờ thực hiện nổi, thì phải chăng là Ngài muốn chế nhạo chúng ta? Câu trả lời là không; vì trong khi định chuẩn là chính Thượng Đế, thì điều bước đi trong ánh sáng (c.7). Chúng ta không được trông đợi phải trở thành ánh sáng, nhưng được kỳ vọng phải bước đi trong ánh sáng. Vậy, đó là một đòi hỏi mà tất cả mọi người vừa đều được trông đợi phải thỏa mãn, vì nó vốn được cắt đúng theo từng giai đoạn trưởng thành của mỗi một tín hữu và vào bất cứ lúc nào. Định chuẩn là ánh sáng vốn cố định và bất biến; điều đòi hỏi pháp đáp ứng lại với ánh sáng ấy, vốn khác nhau và đều có thể đạt được trong từng trường hợp một. Các khu vực của đời sống mà ánh sáng của Thượng Đế và Lời Ngài soi rọi vào bao giờ, cũng được mở rộng trong tiến trình tăng trưởng của đời sống Cơ Đốc nhân bình thường. Điều này nghiệm đúng trong sự tăng trưởng thuộc thể, và cũng nghiệm đúng trong sinh hoạt thuộc linh.
Nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, sẽ có hai hệ quả kèm theo. Chúng ta đợc giao hảo với các tín hữu khác và huyết Chúa Cứu Thế sẽ cứ tẩy sạch chúng ta. Tôi đã từng vô tình đọc câu này như sau qua một thời gian rất lâu: nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng chúng ta sẽ giao hảo với nhau, nhưng nếu chúng ta không bước đi trong ánh sáng, thì huyết Chúa Cứu Thế tẩy sạch chúng ta. Nhưng đó không phải là điều câu ấy muốn nói, câu ấy tuyên bố rằng chúng ta cần đựơc tẩy sạch trong khi được giao hảo với Chúa, chớ không phải là khi chúng ta đã đánh mất sự giao hảo ấy. Do đó, thường xuyên được tẩy sạch là hậu quả của việc bước đi trong ánh sáng.
Điều này có nghĩa gì? Nó chỉ có nghĩa đơn giản: Khi nào chúng ta bước đi trong sự giao hảo với Chúa, thì ánh sáng của Thượng Đế soi rọi vào các khu vực pụ trội của đời sống chúng ta để chỉ ra các tội lỗi và nhược điểm của chúng ta cần đến quyền phép tẩy sạch của Chúa Cứu Thế hầu chúng ta có thể tiếp tục bước đi trong ánh sáng ấy. Đó có thể là các khu vực được chiếu sáng trong tiến trình tăng trưởng thuộc thể, và hoặc thuộc linh bình thừơng. Thí dụ, là một Cơ Đốc nhân hãy còn ấu trĩ, tôi vốn chẳng bận tâm gì tới vấn đề chẳng hay tôi sẽ phục vụ Chúa hay không; lúc tôi mới dâng đời sống mình cho Chúa, tôi sẽ phục vụ Ngài trong khu vực nào vốn chưa phải là một vấn đề; trước khi tôi có con cái vấn đề chẳng hay tôi có sẽ dâng chúng cho Chúa hay không, trong phạm vi một người cha mẹ có thể làm được, cũng chưa phải là một vấn đề. Nhưng tất cả các vấn đề ấy nảy sinh trong tiến trình thông thường của đời sống, và khi chúng xuất hiện và tôi đáp ứng tích cực với ý chỉ Thượng Đế, thì uyết Chúa Cứu Thế cứ tẩy sạch mọi tội lỗi tôi. Đây là sự tẩy sạch liên hệ với sự tăng trưởng, chớ không phải là sự tẩy sạch do hậu quả của việc xưng ra một tội mà tôi biết rõ và cố tình vi phạm (IGi1Ga 1:9).
Đây là sự phát triển bình thường của đời sống Cơ Đốc nhân. Bước đi trong ánh sáng đem đến ánh sáng phụ trội, và sự tẩy sạch các khu vực đã bị khiến nên tối tăm trước đó. Trong khi chúng ta bước đi như vậy trong ánh sáng gồm luôn các khu vực phụ trội ấy nữa, thì sẽ có càng nhiều khu vực hơn được đặt dưới ánh sáng dò xét của Thượng Đế. Bước đi (do chính chúng ta), soi sáng (do Lời Chúa), tẩy sạch (bằng huyết) - là chu kỳ cứ được lặp đi lặp lại luôn của sự phát triển của Cơ Đốc nhân.
Đây là con đường của đời sống thuộc linh - một đời sống đã cống hiến cho Chúa, biết tự khép mình vào kỷ luật, biết lệ thuộc, nương cậy vào Thánh Linh và đang phát triển. Đây là 'bí quyết' của sự thành công thuộc linh; thế nhưng nó chẳng có gì là bí mật cả, vì đã được mặc khải rõ ràng trong Lời Thượng Đế. Có hai điều khó khăn đang trực diện với tất cả mọi người chúng ta: giữ cho các phương diện khác nhau của chân lý trong thế quân bình thích hợp, và sau đó là làm những gì chúng ta biết là cần thiết.
Mong rằng quyển sách này giúp được chúng ta đối với khó khăn thứ nhất. Nguyện Chúa giúp đỡ mọi người chúng ta trong điều khó khăn thứ hai.

† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 23-7-2018 07:41 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách