† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3413|Trả lời: 0

Quyền Năng Của Sự Cảm Tạ Chúa

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 24-7-2011 19:53:33 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Quyền Năng Của Sự Cảm Tạ Chúa
Tác giả: Merlin R.Carothers

CHƯƠNG MỘT : Quyền năng của tâm hồn biết ca ngợi
CHƯƠNG HAI : Một tin vui
CHƯƠNG BA : Một quyền năng vô giới hạn
CHƯƠNG BỐN : Hãy xem đó như là một nguồn vui trọn vẹn
CHƯƠNG NĂM : Khi chim sẻ rơi xuống đất
CHƯƠNG SÁU : Hết than vãn
CHƯƠNG BẢY : Niềm vui nơi Chúa

QUYỀN NĂNG CỦA TÂM HỒN BIẾT CA NGỢI
Jim có người cha uống rượu từ 30 năm nay. trong suốt những năm đó, mẹ của Jim và sau này chính anh cùng với vợ anh ta đã cầu xin Chúa chữa lành cha mình, nhưng vô hiệu. Cha anh không chịu thú nhận mình say rượu chè, và vùng vẫy khi nghe nói đến tôn giáo.
Một hôm Jim nghe nói về năng lực phóng thích khi chúng ta ca ngơi Chúa trước mỗi biến cố trong cuộc sống của mỗi chúng ta, thay vì năn nỉ xin Chúa thay đổi những gì khó chịu cho mình.
Jim mang về nhà bản ghi âm cuộc họp và cho các bạn nghe lại. Rồi một ngày kia nẩy ra một ý kiến: chưa bao giờ anh thử ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh cha anh đang sống. Vui mừng quá anh chia xẻ với vợ anh.
Em à, chúng ta hãy ca ngợi Chúa cho người cha say rượu của chúng ta, vì đó cũng ở trong chương trình tuyệt diệu của Chúa đã hoạch định cho cuộc sống của cha.
Và ngày hôm đó, cả hai vợ chồng cảm tạ và ca ngợi Chúa về tất cả mọi mặt của hoàn cảnh. Chiều đến cả hai cảm thấy một niềm vui và hy vọng mới.
Ngày hôm sau, Cha mẹ của Jim đến thăm các con như thường lệ mỗi trưa chủ nhật. Thường ngày cha của Jim không thích ở lâu và xong bữa là ra về. Nhưng lần này, trong khi uống cà phê, ông đột nhiên hỏi:
Con nghĩ sao về cái gọi là “Cách mạng của Jêsus”?
Quay về phía Jim ông tiếp:
Hôm qua trên truyền hình đã chiếu vài đoạn. Có phải đó là mốt mới không? Hay thật sự những đứa trẻ hút ma túy đã được chinh phục và được đổi lòng?
Câu hỏi đó là khởi điểm cho cuộc tranh luận dài và chân thật về Cơ Đốc Giáo và Cha mẹ Jim ở lại đến chiều.
Sau vài tuần, cha Jim chấp nhận là ông không uống rượu. Ông đã trở về với Chúa Jêsus và ngừng hẳn rượu, cùng với gia đình, ông kể cho tất cả mọi người xung quanh nghe về những điều Chúa có thể làm khi chúng ta biết ca ngợi. Jim nói với tôi:
Thế mà chúng ta đã cầu xin Chúa trong 30 năm, xin ngài thay đổi cha chúng tôi, trong khi chúng tôi ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh của cha tôi trong vòng một ngày mà đã thu hoạch biết bao nhiêu.
Chúng ta dễ dàng nói một cách máy móc: “Vinh danh Chúa” và “Tạ ơn Chúa” nên chúng ta cũng dễ quên ý nghĩa thật của mỗi chữ đó.
Ca ngợi, theo tự điển có nghĩa là ca tụng một người nào đó, đề cao họ làm cho họ vẻ vang, tuyên bố công trạng và hoan hô người đó. Vậy ca tụng là góp phần mình để tán đồng về một điều nào đó. Tán đồng nghĩa là chấp nhận, là thỏa thuận về điều đó. Vậy ca tụng Chúa trước một hoàn cảnh khó khăn, một bệnh tật hay một tai họa, có ý nghĩa là chúng ta chấp nhận, chúng ta đồng ý coi những trường hợp đó như ở trong chương trình Chúa định cho mỗi cuộc sống của chúng ta.
Chúng ta không thể thực sự ca ngợi Chúa về một điểm nào mà không đồng thời cảm tạ Chúa về điểm đó. Và chúng ta không thể thực sự cảm tạ mà không vui sướng về điều mà chúng ta cảm tạ Chúa. Vậy ca ngợi đòi hỏi sự biết ơn và niềm hoan lạc.
Khi chúng ta ca ngợi Chúa, chứ không phải ca ngợi một thần vô danh của định mệnh có nghĩa là chúng ta chấp nhận rằng Chúa có trách nhiệm cho việc xảy đến cho chúng ta, nếu không thì cảm tạ ngài nào có ý nghĩa gì.
“Hãy vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đổi với anh em là như vậy” (ITe1Tx 5:16-18).
Tôi biết nhiều người có thể ca ngợi Chúa vì tất cả những gì xảy đến cho họ, chỉ vì họ chấp nhận cách đối nhân xử thế trong Kinh Thánh. Khi ca ngợi, họ thường nhận ra ngay kết quả của một thái độ cương quyết tạ ơn và hoan hỉ. Đức tin của họ mạnh hơn và họ bắt đầu sống một nếp sống mới.
Có người thì khó thuyết phục hơn. Họ nói: Tôi không thể hiểu được. Tôi cố gắng tạ ơn Chúa, nhưng tôi không thể hiểu được là Chúa đã nhúng tay trong những tai ương đến với tôi”.
Chúng ta nói chúng ta không thể hiểu được rồi chúng ta ngừng ở đó. Cách lý luận của chúng ta làm cản trở sự tiếp xúc với Chúa. Nhưng Chúa cũng có một chương trình tuyệt diệu cho khả năng lý luận của chúng ta, và khi chúng ta sử dụng khả năng này theo như Chúa muốn, thì nó không còn là một cản trở mà là một điểm tựa qúy báu cho đức tin.
“Vì Đức Chúa Trời là vua của cả trái đất, Hãy hát ngợi khen cách thông hiểu” (Thi Tv 47:7)
Chúng ta không phải cắn răng rồi bắt ép trí tuệ chúng ta nói: “Điều này vô nghĩa đối với tôi, nhưng vì nó là lối thoát duy nhất, tôi sẽ ca ngợi Chúa với bất cứ giá nào”
Như vậy không ca ngợi mà là mặc cả. Ai trong chúng ta cũng đã mặc cả với Chúa và một điều tuyệt diệu là Chúa quá yêu chúng ta nên không chiều lòng chúng ta. Chúng ta phải ca ngợi Chúa với tất cả trí thông minh của chúng ta chứ không phải chỉ miễn cưỡng mà thôi.
Chúng ta bắt đầu gặp khó khăn khi đặt câu hỏi: “Tại sao?” và “Làm thế nào được?” Trước những biến cố xảy đến cho cuộc sống mình. Chúng ta sẽ không hiểu lý do cũng như không hiểu được cách của Chúa, nhưng Chúa muốn lý trí của chúng ta chấp nhận rằng Chúa là tác giả của các sự việc đó. Đây là nền tảng của sự ca ngợi. Chúa muốn chúng ta hiểu rằng Chúa yêu chúng ta và có một kế hoạch cho chúng ta.
“Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (RoRm 8:28)
Bạn đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn ư?
Bạn đang nặng óc để giải thích vì sao có điều đó. hãy cố gắng tìm hiểu rằng Chúa thương bạn, và Ngài cho phép những điều đó xảy ra vì Ngài biết nó có ích cho bạn.
Hãy ca ngợi Chúa vì những gì xảy ra trong đời bạn: Hãy cố làm điều đó và để cho trí tuệ của bạn có phần trong đó.
Một hôm, một cặp vợ chống nghe tôi nói về sự ca ngợi Chúa trong mọi sự, họ trở về nhà, lòng trí bối rối. Trong suốt mấy tháng họ đã khóc than vì đứa con gái của họ phải vào bệnh viện tâm thần vì họ đã nghe tuyên bố bệnh thần kinh của con họ vô phương cứu chữa.
Nhiều nhóm đã cầu nguyện xin Chúa đoái thương, và cha mẹ cô gái đó đã mỗi ngày xin Chúa chữa con cho mình. Nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Họ bị thách thức khi phải ca ngợi Chúa vì bệnh tình con gái họ: điều này làm cho họ đau lòng và ngỡ ngàng.
Bà mẹ phản ứng: “Thật là phạm thượng” Cảm tạ Chúa vì một điều bỉ ổi như vậy! Phải chăng là kết án Chúa cố tình làm hại con mình! Điều này khác xa với những điều tôi nghĩ về Đức Chúa Trời yêu thương”
Và người cha cũng họa thêm:
Không, điều này không có vẻ hợp lý. Nhưng giả sử giảng viên có lý.
Người vợ ngơ ngác nhìn chồng:
Tôi không hiểu được.
Dù sao đi nữa, chúng ta đâu có mất mát gì nếu chúng ta thử. Vậy chúng ta hãy thử xem.
Và cả hai người quỳ xuống. Người chồng bắt đầu:
“Lạy Chúa chúng con biết rằng Chúa yêu thương chúng con và Chúa yêu đứa con này hơn cả chúng con yêu nó. Chúng con đặt niềm tin vào Chúa, và chúng con tin rằng điều Cha cho phép xảy ra cho nó là điều tốt nhất. Chúng con cảm tạ Chúa vì bệnh tình của nó, cảm ơn Chúa vì nay con gái của chúng con đang ở bệnh viện; cảm ơn Chúa vì các bác sĩ đã chưa tìm được cách trị bệnh. Chúng con ca ngợi Chúa vì sự khôn ngoan và tình yêu Chúa đối với chúng con…”.
Trong khi cầu nguyện họ xác tín rằng điều đã xảy ra đó là điều tốt đẹp nhất cho họ.
Sáng hôm nay họ được cú điện thoại của bác sĩ bệnh viện tâm thần:
Thưa ông, có một việc lạ lùng vừa xảy ra cho con gái ông. Mời ông đến chứng kiến.
Chưa đầy hai tuần sau, cô gái ra khỏi bệnh viện. Một năm sau, một thanh niên đến gặp tôi trong một buổi nhóm, tự giới thiệu là anh của cô gái anh cho hay rằng cô đã lập gia đình và đang mang thai, cô hiện nay là nguời phụ nữ hạnh phúc nhất đời…
Một bà mẹ đến xin tôi cầu nguyện cho con gái bà, là một vũ nữ trong một hộp đêm. Tôi trả lời rằng tôi rất vui mừng và tạ ơn Chúa vì con bà đang sống như vậy. Bà nhìn tôi kinh ngạc:
Thưa ông, ông đừng nói rằng tôi phải cảm tạ Chúa, vì đứa con gái đã quên hết thuần phong mỹ tục và chỉ còn biết nhạo báng tôn giáo. Phải cảm tạ ma quỷ thì có, chứ không nên cảm tạ Đức Chúa Trời yêu thương.
Người mẹ này bị đặt trước một sự lựa chọn cam go. Suốt cả đời, bà chỉ biết cảm ơn Chúa vì những điều tốt lành, còn bao nhiêu điều dữ bà cho là do ma quỷ đặt ra. Chúng tôi cũng tìm lại trong Kinh Thánh những đoạn nói rằng Chúa có thể biến mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho ai tin cậy và yêu Chúa, và những đoạn nói rằng chúng ta phải biết cảm ơn Chúa, dù gặp cảnh gian nan nào đi nữa. Tôi nói với bà:
Bà vẫn có thể nghỉ rằng con bà đang ở dưới quyền kiểm soát của ma quỉ, nhưng vì bà thiếu tin vào uy quyền vô tận của Đức Chúa Trời, nên Ngài cũng khó thực hiện kế hoạch tuyệt hảo của Ngài trên con bà.
Nhưng trái lại bà cũng có thể tin rằng chính Chúa đang hoạt động và bà nên cảm tạ Chúa về mọi sự. Nhờ vậy và để cho uy quyền của Chúa có dịp can thiệp và hoạt động trong cuộc sống con gái bà.
Cuối cùng bà mẹ đau khổ thưa tiếp:
Tôi không hiểu được, nhưng tôi muốn tin rằng Chúa biết rõ điều Chúa làm và tôi sẽ cám ơn Ngài.
Sau một lúc cầu nguyện chung, bà ra về với một sự bình an mới trong lòng. Bà thú nhận với một nét mặt hân hoan:
Lần đầu tiên tôi không lo lắng cho con gái của tôi.
Về sau, bà kể cho tôi nghe điều gì đã xảy ra.
Ngay trong đêm chúng tôi cầu nguyện chung, thì con gái bà như thường lệ vẫn đang khiêu vũ hầu như khỏa thân trên cái bục nhỏ, có một chàng thanh niên bước vào vũ trường. Anh lại gần cô, nhìn thẳng vào mặt cô và nói:
Chúa Jêsus yêu cô!
Cô gái này quên nghe đủ mọi thứ ngôn ngữ của đàn ông, nhưng cô chưa bao giờ nghe một câu như vậy. Cô bước xuống sân khấu và lại ngồi gần chàng trai, cô hỏi:
Tại sao anh lại nói vậy:
Anh ta thuật lại là đang khi đi ngoài đường, anh được thúc giục đi vào nơi này để nói cho cô vũ nữ biết rằng Chúa Jêsus muốn tặng cô ân huệ nhưng không của cuộc sống vĩnh cửu.
Như bị sét đánh ngang tai, cô ấy nhìn anh ta. và rưng rưng nước mắt cô bình tĩnh nói:
Tôi muốn được sự sống ấy!
Và ngay tại bàn ăn của họ đêm ấy, cô đã tiếp nhận sự sống.
Ca ngợi Chúa không phải là liều thuốc, một thần dược để sử dụng luôn luôn hiệu nghiệm hoặc là một phép lạ, là một cách thế sống đặt nền tảng vững chắc trên lời Chúa.
Chúng ta ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh đang có, chứ không phải ca ngợi Chúa khi thấy kết quả.
Khi nào chúng ta chỉ ca ngợi Chúa với hy vọng, chúng ta tự lừa dối mình, và chúng ta có thể chắc chắn rằng mình không được đổi mới cũng như hoàn cảnh không đổi mới.
Nền tảng của sự ca ngợi là chấp nhận toàn diện hiện tại cách vui vẻ, coi như hiện tại ở trong chương trình, ý định hoàn hảo của Đức Chúa Trời yêu thương. Ca ngợi không căn cứ trên điều chúng ta suy nghĩ hay hy vọng sẽ xảy đến trong tương lai.
Đó là một định luật cụ thể của ca ngợi.
Chúng ta ca ngợi Chúa, không phải vì chúng ta hy vọng sẽ xảy đến cho chúng ta và chung quanh chúng ta, nhưng vì Chúa là Chúa ở chỗ chúng ta đang đứng.
Một điều chắc chắn rằng khi chúng ta thật tình ca ngợi, thì sẽ có một chuyển biến xảy ra. Uy quyền của Chúa xuất hiện trong hoàn cảnh chúng ta đang sống, và chúng ta sẽ nhận ra, không chóng thì chầy, có một sự thay đổi trong ta và nơi người khác. Sự thay đổi đó tạo nên niềm vui và hạnh phúc ngay chính giữa hoàn cảnh bế tắc, hoặc là chính hoàn cảnh cũng sẽ đổi thay. Và sự thay đổi đó luôn luôn sẽ là, hậu quả của sự ca ngợi, chứ không phải là lý do để ca ngợi. Ca ngợi không phải là mặc cả. Chúng ta không nói: “Lạy Chúa, con ca ngợi Chúa, sau đó Chúa chúc phước cho con nhé!”
Ca ngợi Chúa là tìm hạnh phúc của chúng ta nơi Chúa như tác giả Thi Thiên đã viết:
“Cũng hãy khoái lạc ở Đức Giêhôva, thì Ngài sẽ ban cho chúng ta điều mà lòng mình ao ước” (Thi Tv 37:4).
Hãy chú ý đến thứ tự trong câu này, chúng ta bắt đầu lập danh sách tất cả các ước muốn của chúng ta rồi mới tìm cách vui trong Chúa với mục đích được toại nguyện. Nhưng chúng ta bắt đầu tìm khoái lạc nơi một mình Chúa mà thôi, và một khi chúng ta đã được sung mãn và hoan hỉ trong Chúa, chúng ta sẽ dần dần khám phá rằng tất cả chỉ là thứ yếu. Nhưng Chúa vẫn muốn ban cho chúng ta những gì lòng ta ao ước. Đó là tất cả ý định của Ngài và kế hoạch của Ngài trên chúng ta.
Mong sao chúng ta chỉ luôn tìm niềm vui trong Chúa, trước hết và mọi nơi, mọi lúc.
Một gia đình tín hữu có hai đưa con. Một đứa là sự hãnh diện và niềm vui của gia đình, nó sống trong nhà, chia xẻ đức tin sống động và nồng nhiệt của cha mẹ nó.
Một hôm trong bữa cơm tối, họ tâm sự với tôi rằng đức con trai đầu đã bất mãn và bỏ nhà ra đi. Nó học hành rất giỏi, để phản đối cha mẹ và xã hội, nó trở thành hippi chạy rong lang thang khắp xứ, hầu như không mục đích, không lý tưởng. Cha mẹ nó không biết phải làm sao, xin tôi giúp ý kiến. Tôi trả lời rằng ông bà phải tin rằng Chúa đã ban cho một đức con như vậy, và Chúa đáp lời khẩn của ông bà để đứa con được cứu rỗi, nếu ông bà chân thành cầu khẩn, ông bà nên chắc chắn rằng cuộc sống của cháu đang sống hiện nay ở trong chương trình Chúa đã hoạch định cho cháu và ông bà.
Ông bố trả lời:
Tôi hiều lầm chứ, chúng tôi muốn điều thiện cho con tôi, và Chúa cũng chỉ muốn điều tốt lành cho mỗi nguời chúng ta.
Sau khi ăn, chúng tôi cầu nguyện cảm tạ Chúa đã thực hiện chương trình của Chúa theo ý Ngài. Lúc đứng dậy hai bậc cha mẹ cảm thấy nhẹ nhõm và bình an hơn.
Cách ít lâu họ viết cho tôi.
Từ ngày chúng tôi gặp nhau, họ vẫn tiếp tục kiên trì ca ngợi Chúa vì cuộc sống của họ, mặc dù họ không hiểu nổi. Nhưng một ngày kia, đứa con trai đầu lòng đó bị tai nạn xe hơi và bị thương nặng ở chân, vì bị què quặt nên nó quyết định trở về nhà, nó tuyên bố với cha mẹ là nó còn rất nhiều hóa đơn chưa trả. Cha mẹ nó cầu nguyện và kết luận rằng nếu Chúa hoạt đông trong cuộc sống con ông bà thì Chúa cũng thấy trước hóa đơn phải thanh toán đó. Hai ông bà cám ơn Chúa cho mỗi hóa đơn và lần hồi trả hết.
Người con thấy vậy ngã ngữa! Anh ta nghĩ rằng thế nào cũng bị khiển trách và cha mẹ sẽ từ chối trả thay cho anh. Nhưng mọi sự lại trái ngược: cha mẹ anh rất thoải mái và âu yếm anh, ông bà có vẻ chấp nhận cách anh ăn mặc chải tóc mà không phê bình chỉ trích.
Một tối nọ, có một nhóm nhỏ đến thăm người em. Anh cả tỏ vẻ bực bội, nhưng vì đau chân nên phải ngồi nhà.
Đám thanh niên này hăng hái nói lên rằng Đức Chúa Trời đã hoạt động thế nào trên đời sống họ. Lúc đầu anh ngạo nghễ phê bình quan niệm này ngây thơ và không thực tế của đám trẻ trước cuộc sống, nhưng ần dần anh lắng tai nghe họ và đặt câu hỏi. Trước khi trời tối, người anh đã dâng trọn cuộc đời cho Chúa Jêsus.
Trong một bức thư tràn đầy niềm vui, cha mẹ anh đã kể cho tôi nghe sự thay đổi toàn diện của đứa con: anh đã nhất quyết bước theo Chúa Jêsus và phục vụ Ngài, anh say sưa đọc Kinh Thánh và ngày hôm sau anh nhận lãnh báptêm bằng Thánh Linh như các môn đồ đã nhận lãnh trong ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên, sau khi Chúa Jêsus đã chết và phục sinh. Sau đó ít lâu, anh gặp một thiếu nữ tín hữu và hai tuần kế đó anh đã đính hôn với cô ta.
Bao nhiêu tháng cầu nguyện trong lo âu và vất vả đã không mang lại thay đổi nào nơi chàng trai này, nhưng khi cha mẹ anh đã trở lại với Chúa, chấp nhận hiện trạng của con mình, thì Chúa đã can thiệp và đã thực hiện dự án tuyệt diệu của Ngài trên mỗi con người.
Chúa thật có một chương trình tuyệt diệu trên đời sống bạn và tôi.
Nếu cứ xét về cảnh sống của mình, chúng ta càng thấy hoàn cảnh bi đát và khó gỡ. Càng cầu nguyện, càng xin Chúa giúp mình chừng nào, thì những khó khăn đã không thay đổi mà lại càng tăng thêm chừng ấy. Cuộc sống chỉ thay đổi khi chúng ta ca ngợi Chúa vì hoàn cảnh đó thay vì xin Chúa cất hoàn cảnh đó đi.
Một thiếu phụ viết thư cho tôi nói rằng cô ta xuống tinh thần quá mức. Cô đã gặp nhiều khó khăn và quên hết tự trọng, cô bắt đầu ăn mặc lôi thôi lếch thếch.
“Tôi đã tìm trong việc ăn uống một sự bù trừ và tôi lên cân đến nỗi giống như cái thùng tônô. Chồng tôi đi tìm bạn bè khác, và một ngày kia bỏ nhà ra đi, làm đơn xin ly dị.
Các hóa đơn dồn dập kéo đến, thiếu phụ này sống căng thẳng và lại càng suy nghĩ đến việc tự tử.
Trong suốt thời gian này tôi không ngừng cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, đi nhà thờ, xin bạn bè cầu nguyện cho tôi. Các bạn trong nhóm thông công của tôi khuyên nhủ: “Hãy vững đức tin đừng nản lòng, ngày mai sẽ khá hơn”. Nhưng tình hình càng ngày càng trầm trọng. Một hôm có một người bạn cho tôi một quyển sách “Từ ngục tù đến ca ngợi”. Tôi đọc qua nhưng không thể tin rằng những điều trong đó đều đáng tin. Một người biết suy nghĩ thì không thể nào lại đi cám ơn Chúa khi gặp tai họa, nhưng càng đọc quyển sách ấy tôi càng khóc.
Dần dần tôi thấy những điều ghi chép trong ấy đều đúng. Những đoạn văn trích trong Kinh Thánh đều nói là phải cảm tạ Chúa, tôi đọc đi đọc lại Kinh Thánh mà không bao giờ hiểu cả.
Cô đã nhất định bắt đầu cảm ơn Chúa. Nghĩ cho cùng cô có mất mát gì đâu. Cô đã mập đến nỗi cô biết rằng bệnh đau tim có thể phát ra bất cứ lúc nào. Với một niềm hy vọng yếu ớt, cô quì xuống cầu nguyện:
“Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì cuộc sống của con hôm nay, Chúa đã để cho hoàn cảnh đưa đẩy con đến đây. Nếu không phải vì một lợi ích lớn nhất cho con chắc Chúa đã không để mọi sự xảy ra như vậy. lạy Chúa, Chúa yêu con thật sự, con biết rằng Chúa yêu con”.
Trong khi cô đang đọc Kinh Thánh thì có tiếng chó sủa ông phát thư. Mỗi khi có khách đến, chó sủa inh ỏi, đó là một trong những nguyên nhân làm cô ta bực mình. Cô đứng lên mắng chó như thường lệ, nhưng sực nhớ rằng mình nên tạ ơn Chúa trong mọi sự. Vậy, lạy Chúa, con tạ ơn Ngài vì con chó của con sủa không ngừng .
Ông phát thư trao cho một lá thư: Cô nhận được tuồng chữ. Thật không thể tưởng tượng được. Đã mấy tháng nay chồng cô không viết thư cho cô. Chúa có thể trả lời mau như vậy được chăng! Tay run lẩu bẩy cô bóc thư và đọc: “Nếu em muốn, chúng ta có thể tìm được một giải pháp cho các nan đề của chúng ta”.
Chúa thật đã canh giờ một cách tuyệt diệu. Người phụ nữ này đã ý thức rằng tất cả có thể đổi thành sự ích lợi. Cô xuống bớt cân, người cô gọn lại và các bạn khen cô: “Lúc này trông chị khá lắm! Có chuyện gì vui vậy, chị khác hẳn lúc trước”.
Cô còn giống như trước không. Cô vẫn là người đó, nhưng hiện nay đang sống trong vũ trụ của đức tin, cô biết rằng mỗi chi tiết của cuộc sống cô đều có lợi ích cho cô cả. Chồng cô đã trở về gia đình và họ sống hòa thuận. Cô viết cho tôi: “có những buổi sáng tôi thức dậy và thấy mình đang thưa với Chúa” “Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa cho ngày tốt đẹp này, con yêu Chúa”.
Sự thay đổi đã bắt đầu trong cuôïc sống khi cô chấp nhận với lòng tri ân về tất cả những hoàn cảnh mà cô đã gặp. Nơi đấy đã được minh họa bởi thực tế nguyên tắc thiêng liêng là Chúa có một kế hoạch tiêu diệt trên cuộc sống chúng ta nhưng Ngài chỉ có thể tiến hành các dự định của Ngài nếu chúng ta vui vẻ chấp nhận hoàn cảnh hiện tại của chúng ta xem như nó đang nằm trong kế hoạch đó, rồi việc gì xảy ra nữa? Đó là việc của Ngài chứ không phải việc của chúng ta.
Có những người không chấp nhận những nguyên tắc đó. Thấy có sự chuyển biến trong cuộc đời của những người bắt đầu cảm tạ Chúa về mọi sự, thì họ cho rằng cũng dễ hiểu thôi: họ chủ trương rằng: Một thay đổi thái độ là nguyên nhân của một thay đổi hoàn cảnh. Đó là tâm lý thô sơ nhất. Khi bạn không còn than vãn nữa, bạn cảm thấy dễ chịu hơn, bạn vui cười và người xung quanh đối xử với bạn khác với lúc trước. Tất cả cuộc sống của bạn biến chuyển theo chiều tích cực. Tôi đồng ý với câu: “Hãy cười lên và người ta sẽ cười với bạn; cứ khóc đi và bạn sẽ khóc một mình”. Câu đó đúng đến một mức độ nào đó.
Ca ngơi Chúa đi xa hơn là thái độ thay đổi. Quyền năng của sự ca ngợi Chúa không chỉ tệ hại trong những câu ngợi khen của chúng ta, cũng không chỉ tệ hại trong những thái độ tri ân hay vui mừng của chúng ta. Tất cả quyền năng mà chúng ta chứng kiến xuất phát từ Đức Chúa Trời. Phải luôn luôn nhớ rằng chúng ta dễ rơi vào cạm bẫy để tin rằng nhờ đã đọc vài câu Kinh Thánh mà chúng ta có thể chế ngự trong hoàn cảnh.
Khi chúng ta thật tình chấp nhận hoàn cảnh chúng ta đang phải sống, và khi chúng ta chân thành cảm tạ trong sự xác tín rằng những điều đó là Chúa cho phép xảy tới, thì sẽ có một sức mạnh thần tượng đến biến đổi các biến cố đó khác hẳn với cách diễn tiến bình thường và tự nhiên của chúng.
Lúc tôi còn làm tuyên úy ở Jort Benning bên Georgie, một anh lính trẻ và nguời vợ đến gặp tôi, xin tôi giúp đỡ. Vợ anh trước kia nghiện ma túy và hiện nay đang còn chịu hậu quả của việc hút sách này. Các bác sĩ đã chuyên trị nhưng không hiệu quả mấy. Trước kia cô ta xinh đẹp bao nhiêu, thì nay nét mặt bị dày vò bởi sự sợ hãi và đau thương bấy nhiêu.
Cô nói: “Tôi không ngủ được, mỗi khi nhắm mắt tôi toàn nhìn thấy những con thú dữ khủng khiếp xuất hiện và nhảy chồm lên tôi”.
Chồng tôi cắt nghĩa cho tôi rằng vợ anh cứ la hét thất thanh mỗi khi vừa chợp mắt sau khi đã mệt đừ.
“Tôi cố gắng đánh thức vợ tôi dây, nhưng phải đến mười phút nhà tôi mới tỉnh và trong suốt lúc đó cứ la hét khiếp đảm làm cho tôi cũng tuyệt vọng luôn”.
Tôi nghe hết câu chuyện bị đát và kết luận:
- Tôi chỉ có một điều khuyên anh chị, chúng ta cùng quì xuống và cảm tạ Chúa vì hoàn cảnh anh chị đang sống.
Hai vợ chồng nhìn tôi bàng hoàng, nghĩ rằng chắc tôi không muốn nói điều đó. Tôi cắt nghĩa cho họ một cách tỉ mỉ điều tôi đã hiểu rõ : Chúa muốn chúng ta ca ngợi Ngài trong tất cả mọi sự.
- Tất cả những gì xảy ra đưa đẩy anh chị có ngày hôm nay, tôi chắc rằng Chúa yêu thương anh chị, và Ngài sẽ làm một việc lạ lùng cho anh chị, bây giờ Ngài muốn anh chị cám ơn Ngài về tất cả những biến cố đã đưa anh chị đến với Ngài.
Tôi giở Kinh Thánh và cho họ xem những đoạn tôi đã gạch sẵn. Cả hai đều chấp nhận, quì xuống và cảm tạ Chúa về tất cả những gì xảy đến cho họ, đặc biệt những hậu quả của ma túy. Tôi cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong căn phòng. Tôi nói với họ:
- Chúa Thánh Linh hiện diện nơi đây và sẽ chữa lành cho chị.
Tôi đặt tay lên đầu chị và cầu nguyện:
- Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài đang chữa lành ngay cho chị này lúc này.
Chị ấy ngạc nhiên mở mắt nhìn tôi:
- Thưa ông, có chuyện lạ vừa xảy ra: lần đầu tiên tôi nhắm mắt được và tôi không thấy gì.
- Chúa đã chữa lành cho chị, bây giờ Ngài muốn trở thành Đấng cứu độ cho chị. Chị có muốn không?
Hai vợ chồng quỳ gối ngay và họ mời Chúa bước vào cuộc sống của họ. Họ rời văn phòng tôi lòng đầy hoan hỉ vui mừng.
Thiếu phụ này hoàn toàn khỏi bệnh. Cô không còn bị những hình ảnh quái gở ám ảnh. Quyền năng của Đức Chúa Trời đã bẻ gãy uy lực của ma túy.
Các người có thẩm quyền trong giới y khoa đều công nhận họ bất lực không trục xuất được các chất độc do ma túy để lại trong cơ thể. Nhưng họ đã chứng kiến những trường hợp lành bệnh sau 10 năm, 20 năm và cả 30 năm hút ma túy. Điều này đã xảy ra vì có một sự can thiệp linh thiêng của Đức Chúa Trời.
Không ai có thể tự mình thay đổi chỉ vì tự cho mình có một thái độ mới hoặc có một quyết tâm cao. Đó chính là do sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động trong cuộc sống chúng ta.
Những lời cầu nguyện chân thành đã giải phóng và để cho uy quyền của Đức Chúa Trời hoạt động trong đời sống chúng ta. Và lời tạ ơn hữu hiệu hơn mọi hình thức khác cầu xin khác. Kinh Thánh cho chúng ta thấy nhiều ví dụ chứng minh điều này.
Trong Thi Tv 22:3 “Còn Chúa là Thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự ngợi khen của Ysơraên”. Vậy Chúa ở nơi đây và uy quyền của Ngài hoạt động khi chúng ta ca ngợi Ngài. Ngài lưu lại, Ngài ở giữa ngay lời ca ngợi của chúng ta.
Trong IISu 2Sb 20:1-37 chúng ta có một ví dụ nổi bật về những điều Chúa có thể làm khi chúng ta ca ngợi Ngài.
Giôsaphát là vua xứ Giuđa, một ngày kia ông khám phá ra rằng vương quốc bé nhỏ của ông đang bị các thù địch liên minh bao vây: Đó là con cháu Môáp, con cháu Ammôn. Biết rằng mình không có hy vọng nào thắng trận cả Giôsaphát cầu khẩn cùng Chúa:
“Vì nơi chúng tôi chẳng có sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đương đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm, nhưng con mắt của chúng tôi ngữa trông Chúa” (20:12).
Khi chúng ta ngợi Chúa, điều tiên quyết là không nhìn vào tình hình và ngoại cảnh mà chỉ chăm chú nhìn Chúa.
Hãy để ý riêng Giôsaphát không nhắm mắt trước các nguy cơ bao vây Vương Quốc ông như thế là không có kẻ thù nào ngay bên cạnh, trái lại, ông thấy rõ tình thế, nhận định được sự bất lực của mình và hướng về Chúa xin cứu giúp.
Chúng ta không thể cố ý làm ngơ trước sự dữ đang tấn công xung quanh chúng ta, và chúng ta phải đánh giá cho đúng. Điều này khiến chúng ta gia tăng lời ca ngợi Chúa, cảm tạ Ngài can thiệp và hoàn toàn làm chủ sự dữ. Chúng ta không được để cho nguy cơ đang rình mình trong bóng tối đánh bại chúng ta, nhưng hãy nhìn thẳng vào nó, đo lường sự bất lực của chúng ta, và quay mặt về phía Chúa, Chúa nói với Giôsaphát: “Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi đám quân đông đảo này, vì trận giặc chẳng phải bởi các ngươi đâu bèn là của Đức Chúa Trời” (20:15).
Đối với tôi, đây là lời tuyên bố kỳ diệu, chúng ta có khả năng kiềm chế hoàn cảnh sống của chúng ta, vì thế cuộc tranh chiến này không phải là của chúng ta mà là của Chúa: “Trong trận này các ngươi chẳng cần gì tranh chiến hãy dàn xa đứng yên lặng mà xem có thấy sự giãi cứu của Đức Giêhôva ở cùng các ngươi. Hỡi Giuđa và Giêrusalem, chớ sợ, chớ kinh hãi: ngày mai hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giêhôva ở cùng các ngươi”, (20:17).
Thật là một lời hứa lạ lùng! Nhưng Chúa muốn Giôsaphát đứng ở tư thế nào trong khi chờ đợi và quan sát Chúa hành động.
Sáng hôm sau, Giôsaphát ra lệnh cho quân đội ông. Ông sắp đặt các ca sĩ thay phiên ca tụng Chúa, họ tiến bước trước quân đội hát vang lên “Hãy ngợi khen Đức Giêhôva vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời” (20:21).
Giôsaphát dàn cảnh như thế đó, đối diện với đạo binh đối phương sẵn sàng xông ra trận để thanh toán quân địch khi thấy đám ca sĩ tiến về phía họ để giao chiến không?
Tôi là tuyên úy đã chứng kiến nhiều lần ra trận, nhưng tôi chưa bao giờ thấy một ông tướng ngồi yên chờ địch , trong khi sai một nhóm ca sĩ tấn công xông lên chiến trường.
Đó hẳn là một ý kiến kỳ quặc phải không? và trong một hoàn cảnh tương tự, lý trí của chúng ta phải đầu hàng có người sẽ nói: “Khi gặp đường cùng thì cũng nên ca ngợi Chúa vậy”. Nhưng chúng ta cũng đừng lố bịch. Châm ngôn có câu: “Phải tự giúp mình thì trời mới giúp cho”. Điều tối thiểu là phải chiến đấu trước đã, phải anh hùng chiến đấu rồi Chúa sẽ hoàn tất công việc.
Nhưng còn Giôsaphát và đạo quân của ông thì sao?
“Đương lúc chúng ta ca hát và ngơi khen, thì Đức Giêhôva đặt phục binh xông vào Ammôn và dân Moáp dấy lên đánh dân ở núi Sêriơ, đặng diệt chúng đi; khi đã diệt dân ở Sierơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau”: (20:22-23).
Một điều hiển nhiên là nếu Giôsaphát đã nói: Mình phải cầu may, và nếu ông ra lệnh tiến quân thì chắc chắn kết quả sẽ khác.
Nhiều người trong chúng ta dễ bị biến cố đánh bại vì họ không chịu để Chúa chiến đấu và chỉ dùng sức họ mà thôi. Cả khi thấy mình bất lực trước địch thù, chúng ta còn sợ không dám trao tất cả cho Chúa, sợ dựa vào quyền uy của Ngài. Chúng ta để cho lý trí mình cho ấn một chỗ rộng khi chúng ta tuyên bố: “Tôi không hiểu được, vậy tôi không tin”.
Về điểm này, lời Chúa rất rõ ràng, chúng ta chỉ có thể giải quyết được vấn đề này trong đức tin; nhận ra rằng lời Chúa hứa là đúng, chấp nhận chúng và dám tin rằng lời lời ấy sẽ đưa chúng ta đến sự hiểu biết đúng. Nguyên tắc mà Kinh Thánh đã nhiều lần chứng minh: phải chấp nhận và vâng lời trước khi hiểu biết tại sao.
Lý do cũng dễ hiểu thôi. Tầm hiểu biết của chúng ta hạn hẹp làm sao hiểu thấu suốt được kế hoạch cao vời của Chúa dành cho mỗi thọ tạo của Ngài. Và nếu chúng ta chỉ hiểu rồi chấp nhận thì chúng ta chẳng nhận được bao nhiêu.
Giôsaphát sẽ không bao giờ dám ra trận theo kiểu của Chúa nếu ông đã có ý muốn hiểu rõ. Việc Chúa đề nghị và hứa hẹn quả không mấy hợp lý. Nhưng ông đã tin và ông phó thác cho Chúa. Lý trí của ông hạ mình, ông đã tin và trao phó tất cả cho Chúa.
Giôsuê cũng là một vị lãnh đạo đã nhận chỉ thị của Chúa, ông được lệnh ra trận theo cách Chúa chỉ cho ông giao chiến, chắc khác hẳn với những điều ông quan sát suy nghĩ và sắp đặt, và có thể là một số đông người có mặt tại đấy đã nhạo cười ông.
Chúng ta đều biết căn nguyên câu chuyện như sau: Giôsuê đã giao chiến với thành Giêricô và thành lũy này đã sụp đổ.
Thành Giêricô là một pháo đài cổ thành lũy kiên cố bao quanh và dân Do Thái, sau 40 năm du hành trong sa mạc chắc đã không còn đủ sức lực và vũ khí để tấn công thành này. Nhưng ông Giôsuê đã tin vào Chúa khi Ngài hứa sẽ trao thành này vào tay Ysơraên.
Chúa nói với Giôsuê đi quanh thành Giêricô trong sáu ngày, đến ngày thứ bảy họ phải thổi kèn và ca hát, thì vách thành sẽ sập xuống, rồi dân sự sẽ leo lên, mỗi người ngay trước mặt mình” (Gios Gs 6:5).
Ông Giôsuê tin vào Chúa, nhưng chúng tôi tự hỏi nếu bạn hoặc tôi là một quân lính của ông, chúng ta sẽ nghĩ gì?
Có lẽ chúng ta đã phản đối và từ chối tuân theo một mệnh lệnh điên cuồng và phi lý như vậy. Tôi tự hỏi dân thành Giêricô sẽ nghĩ gì khi đứng bên kia thành kiên cố nhìn thấy dân Ysơraên rước hòm giao ước đi quanh thành của họ.
Trong một thời gian rất lâu, tôi vẫn nghĩ rằng câu chuyện ông Giôsuê và cuộc chiến ở Giêricô không có thật. Nhưng khi các nhà khảo cổ đã tìm thấy tàn tích của một cổ thành và có nhiều dấu vết chứng minh rằng đá tường quả thật có sụp đổ vào một thời kỳ lịch sử ăn khớp với thời đại mà Kinh Thánh đã ghi chép.
Chúa ra tay uy quyền trong khi người Do Thái chứng minh đức tin và lòng trông cậy của họ. Tường thành Giêricô đã thật sự sụp đổ.
Câu chuyện của Giôsaphát và của Giôsuê chứng minh một cách hiển nhiên là Chúa thắng trận nhờ những phương tiện và dựa trên những nguyên tắc hầu như bất hợp lý và ngược hẳn với sự khôn ngoan và chiến lược của chúng ta.
Chúng ta được kêu mời tin lời Chúa phán, ca ngợi Ngài và sau đó nhìn Ngài hành động. Đó chính là điều Jêsus Christ đã làm trong suốt cuộc đời Ngài, Ngài đã nói rõ ràng tự Ngài, Ngài không làm nên sự gì. Phần của Ngài là làm theo ý Cha Ngài trong sự đầu phục, vững lòng cậy trông và tin yêu để cho quyền năng của Đức Chúa Trời đáp ứng nguyện vọng của con người.
Chúng ta hãy đặt lại lời cầu nguyện của Chúa Jêsus trước hoàn cảnh khó khăn:
Năm ngàn người đã theo Chúa nghe Ngài giảng dạy. Họ đói lã. Chỉ có một cậu bé đã mang theo đồ ăn năm cái bánh và hai con cá.
Chúa Jêsus đã cầu nguyện như thế nào? Ngài có xin Đức Chúa Trời một phép lạ không? Không
Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời tạ ơn, rồi bẻ ra mà trao cho môn đồ đặng phát cho đoàn dân; lại cũng chia hai con cá cho họ nữa. Ai nấy no nê rồi, người ta lượm được mươi hai giỏ đầy những miếng bánh và cá còn thừa lại (Mac Mc 6:41-43).
Có người trong chúng ta phản đối: Chúa Jêsus làm điều đó vì Chúa biết điều Chúa làm, còn chúng ta thì khác.
Nhưng Chúa Jêsus đã nói với các môn đồ của Ngài: “Quả thật, quả thật. Ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc Ta làm lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về cùng Cha. Các ngươi nhân danh Ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, Ta sẽ làm cho để Cha được sáng danh nơi Con” (GiGa 14:12-13).
Chúa Jêsus đã tuyên bố rằng chúng ta sẽ làm những điều lớn lao hơn nữa, thế có phải là Chúa có một kế hoạch cho nạn đói của thế giới, giải quyết vấn đề thiếu lương thực mà các chuyên viên về môi trường sống và các chuyên gia nông sản đã nghiêm nghị tuyên báo sao?
Tôi nghĩ rằng có thể có. Tôi biết có những trường hợp có những người đã đơn sơ tin lời Chúa, họ đã cảm tạ Chúa ngợi khen Ngài trước một chút lương thực và họ đã có thể cung cấp đủ cho một số người lớn hơn trù định.
Khi Chúa Jêsus đứng trước mộ của Laxarơ, Ngài đã nói lời tạ ơn. Khi người ta mở cửa huyệt mã đã chôn cất Laxarơ được 4 ngày rồi. Chúa Jêsus ngước mắt lên trời nói: “Thưa Cha, con tạ ơn Cha vì đã nhậm lời con” (11:41).
Rồi Ngài ra lệnh cho Laxarơ hãy bước ra khỏi mộ. Ngay khi ấy, Laxarơ đã chết 4 ngày rồi bước ra khỏi mộ.
Kinh Thánh chép rằng Chúa Jesus đến thế gian để dạy chúng ta ca ngợi Chúa. Êsai, vị tiên tri đã loan báo sự giáng sinh của Chúa Jesus : “Đặng giảng Tin Lành cho kẻ khiêm nhường ... đặng rịt những kẻ tan vỡ tấm lòng, đặng rao bán cho kẻ bị nô lệ xiềng xích được tự do ... đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu, ban mão hoa cho kẻ than khóc ở Siôn thay vì tro bụi, ban đầu vui mừng thay vì tang chế, ban áo ngợi khen thay vì lòng năng nề” (EsIs 61:1-3).
Bạn có thấy tên mình trên danh sách đó không? lòng bạn có bị tan nát không? Bạn có bị tê liệt, bệnh hoạn trong thân thể hay trong tâm linh không? Bạn có bị một điều gì đó giam hãm bạn, nó khiến bạn nô lệ nó không, bạn có phải là nạn nhân của một sự mù quáng không? Có phải bạn đang khóc lóc? Và không thể vui lên được để tạ ơn hay ca ngợi Chúa? Tâm linh bạn có đang ủ dột nặng nề không?
Có lẽ bạn chưa hiểu rõ Tin Mừng Chúa Jesus mang đến cho bạn đó.
Khi Chúa vén màn cho chúng ta thấy rõ điều Chúa đã làm và đang còn làm cho chúng ta và cho người chung quanh ta, qua trung gian Chúa Jesus và trong Thánh Linh. Chúng ta chỉ có thể ca ngợi Chúa mà thôi. Nhưng nếu chúng ta nghi ngờ việc Chúa làm thì chúng ta khó lòng mà ca ngợi Chúa.
Chúng ta sẽ luôn gặp cản trở khi ca ngợi Chúa nếu chúng ta nghi ngờ Tin Mừng Chúa Jesus mang đến. Đừng nghi ngờ và đừng lưỡng lự thì mới có thể hết lòng ca ngợi Chúa trong mọi hoàn cảnh được.

MỘT TIN VUI
Nếu tôi tặng bạn một đồng, chắc bạn sẽ không mấy phấn khởi, bạn sẽ tự hỏi không biết vì sao tôi lại tặng bạn một đồng này, và có thể bạn phát cười lên.
Nếu tôi lại tặng cho bạn một đồng nữa và nói: “Làm quà cho bạn đây”, chắc bạn còn ngạc nhiên hơn. Và nếu tôi cứ tiếp tục đưa từng đồng cho đến khi bạn được 20 đồng thì bạn càng khoái, nhưng bạn vẫn chưa hiểu tôi đang muốn làm trò gì.
Nhưng nếu thay vì cho một đồng, tôi biếu bạn một ngân phiếu 1.000 đồng tôi chắc bạn sẽ vui sướng ngay. Và nếu tôi tiếp tục đưa thêm cho bạn 100.000 đồng, bạn sẽ nhìn tôi ngây ngất: “Sao mình gặp may quá vậy!”. Bạn sẽ nhảy nhót vui mừng và bạn sẽ muốn chạy đi kể lại những gì vừa xảy ra cho bạn. Thật là một tin vui! Và còn sống ngày nào chắc bạn còn muốn kể lại câu chuyện ấy.
“Anh còn nhớ câu chuyện lạ lùng 100.000 đồng trên trời rơi xuống ngày hôm qua đó mà !”.
Và Chúa đã gởi cho chúng ta biết bao nhiêu quà. Mỗi người vẫn có thể xin Chúa hay không xin. Chúng ta có lẽ đã nhận nhiều món quà giá một đồng, nhưng mấy ai hí hửng trước món quà một đồng? Vì vậy chúng ta cũng đâu sung sướng đến nổi phải khóc lên hay phải cảm tạ Chúa đã rộng tay ban phát ơn lành? Lỗi tại ai? Có phải lỗi ở Chúa không? Chắc chắn là không. Vũ trụ chúng ta sống chỉ phát hành một đồng thôi.
Nhiều Cơ đốc nhân thuộc hạng có suy nghĩ vẫn coi cuộc sống ở cõi vĩnh cữu như món quà chỉ đáng giá một đồng. Họ nghĩ rằng chỉ cần sống một cuộc đời đạo đức cho đúng món quà đó thôi và họ cố gắng cho đúng mức nên họ mệt mỏi đến nổi họ cần nghĩ có cần là một Cơ đốc Nhân không.
Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi thấy họ đâu có hớn hở đi báo tin vui cho người khác. Đối với họ đời sống Cơ đốc nhân là đi lễ ngày chủ nhật, từ khước mọi khoái lạc của trần gian và hơn thế nữa là sau tuần lễ lao tác khó nhọc lại phải góp tiền dâng.
Nếu đó là “Sự cứu rỗi” thì quả nhiên tôi không lạ gì khi thấy tối nào bạn cũng xem tivi và không bao giờ bạn muốn chạy sang bên cạnh hay mời khách lạ qua đường đứng lại nghe nói về tình yêu của Chúa cả. Bạn chỉ hiểu rằng món quà Chúa ban cho chỉ đáng giá 1 đồng bạc, vậy đâu cần có thêm. Những thứ hàng rẻ tiền, không có cũng chẳng sao. Nhưng nếu món quà 1.000 đồng, bạn sẽ sẵn sàng đi lãnh một món quà khác tương tự như thế nữa. Và bạn sẽ chỉ dẫn cho những người khác đi lãnh món quà của họ.
Ai cũng thích những món quà 1.000 đồng (dollar). Người ta tiêu bạc triệu mỗi năm với hy vọng chỉ cần đặt ít mà lại được lợi nhiều. Và Chúa không chỉ tìm những người có hạnh kiểm tốt để thưởng đâu? Đức Chúa Jêsus đã trả tất cả những món quà mà Chúa muốn ban cho chúng ta rồi.
Chúa phán: “Ta sẽ hủy phá sự khôn ngoan của người khôn ngoan, tiêu trừ sự thạo biết của người thạo biết” (ICo1Cr 1:19). Được sự tha thứ các tội khiên, được sống đời đời không giống như những điều chúng ta thường gặp thấy hằng ngày. Sao chúng ta lại nghĩ rằng mình chỉ nhận những gì mình đóng góp hay mình có thể mua được? Chúa há không thể cho chúng ta một ân thưởng nào sao? Điều này thật khó nghĩ đến nỗi chúng ta phải tự bào chữa, mình chỉ có thể lãnh được nếu mình có điểm này hay điểm khác.
Thánh Phaolô viết: “Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình và sự nên Thánh và sự cứu chuộc cho chúng ta” (ICo1Cr 1:30).
Nghe tin vui đó vấn đề của bạn có thể chấp nhận được rằng Chúa Jêsus có thẩm quyền và quyền năng ban cho chúng ta sự sống đời đời hay không, mặc dầu chúng ta bất xứng. Và nếu ta nghĩ rằng Ngài không có quyền năng và không có thẩm quyền vậy thì bạn phải tự làm một cái gì đó để dàn xếp với Đức Chúa Trời. Suốt đời sẽ cố vươn lên cho xứng đáng với những đòi hỏi của Chúa. Nhưng lời Chúa quả quyết rằng cho dù bạn cố gắng tối đa, bạn sẽ không bao giờ sống được như Chúa muốn bạn sống đâu. và càng chứng minh mình đúng, bạn càng kết án Chúa về tội nói dối.
“Nhờ Ngài chúng ta nhận lãnh ân điển và chức nhiệm sứ đồ, để vì danh Ngài mà dẫn người ta trong muôn dân đến sự vâng phục của Đức tin” (RoRm 1:5).
Phaolô đã đút túi vài ngân phiếu giá bạc ngàn và ông rất vui sướng nếu ông muốn tuyên bố cho mọi người nghe.
“Vì trong Tin Lành này đã bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời do đức tin đến đức tin, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin” (1:17).
Phaolô quả quyết rằng Chúa chuẩn bị và cho chúng ta khả năng để nên công bình. Nếu Chúa ra tay làm, chắc hẳn việc Chúa làm là tốt đẹp. Ai còn có thể làm khá hơn nữa đâu? Bạn có sẵn sàng đối diện với Chúa cuối cuộc đời mình chăng? Bạn đã để Chúa tạo hình bạn theo ý muốn Ngài chưa?
Mặc dù bạn cố gắng một cách phi thường đi nữa, bạn không thể tự mình làm cho mình nên “tốt” được đâu. “Vì chẳng có một người nào nhờ công việc luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vì do luật pháp mà người ta biết tội” (3:29). Bạn càng biết điều thiện, bạn càng thấy mình xấu xa. Chỉ có một tâm trí tự phụ mới dám nhận là lòng mình nhân hậu. Chúa Jêsus là quyền năng duy nhất trên trần gian này mới có thể giải thoát tội lỗi và ích kỷ. Chính sự hiện diện của Ngài mới biến đổi bạn thành con người hoàn hảo.
“Đã vậy thì sự khoe khoang ở đâu? Đã bị loại ra rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của công việc chăng? Không phải, bèn là bởi luật pháp của đức tin. Vậy nên, chúng ta kể rằng người được xưng công bình đức tin chứ không phải bởi việc làm theo luật pháp” (3:27-28).
Thánh Phaolô nhận xét điều này không có gì là mới cả, đâu phải vì làm việc thiện mà Ápraham được Chúa chấp nhận, nhưng vì đức tin của ông. So với tiêu chuẩn luân lý thời đó Aùpraham chưa phải là người “tốt”. Khi ông sống đời sống du mục, tạm trú ở xứ người, ông biết rằng người ta có thể tước đoạt tài sản, gia súc và ngay cả người vợ đẹp của ông nữa. Và để có thể tránh được hiểm họa đó, ông tính toán, bàn định với Sara, vợ ông, coi nàng là em gái mình. Ông nghĩ rằng nếu làm thế ông không những thoát khỏi nguy hiểm mà còn được lợi. Việc xảy ra đúng như vậy. Vua Abimelét thấy Sara và đòi cưới. Bà được đưa tới cung vua, và Ápraham được lãnh nhiều quà tặng. Aùpraham đã làm gì ? có phải ông đang tìm cách cứu nguy cho người vợ của ông không? Không, ông đã cầu may, và Chúa đã phải can thiệp vào vụ này và vạch rõ cho vua Abimêlét thấy Ápraham đã lừa nhà vua.
Bạn có sẵn sàng nhận Ápraham làm một thành viên trong chi hội của bạn không? Hãy suy nghĩ rồi trả lời.
Thật ra Chúa đã chọn Ápraham không phải vì ông đã là người tốt, nhưng vì ông đã tin vào Chúa. Đức tin của Ápraham đã được Chúa chấp nhận thay cho các việc lành ông làm. Đối với chúng ta, Ápraham không phải tốt, nhưng đối với Chúa, Ápraham tốt lành vì ông đã tin.
Bạn có thể nghĩ trong lòng bạn khá hơn Aùpraham hay khá hơn ai đó mà bạn quen, nhưng đối với Chúa, chúng ta chỉ là một tội nhân mà thôi. đâu có phải vì tỷ lệ bách phân của “điều thiện” hay “điều ác” mà chúng ta được cứu rỗi hay làm lợi cho nước trời. Ápraham không trả “vé” vào nước trời bằng những việc thiện của ông.
Phaolô viết :” Còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin kẻ ấy là công bình cho mình” (4:5)
Chúng ta đã trở lên tốt lành trước mặt Chúa. Nếu bạn thực sự tin điều đó, bạn lại không muốn nhảy mừng hay sao ? Bạn lại không tuyên bố rằng trở thành Cơ Đốc Nhân dễ lắm sao ? Bạn có bao giờ nghĩ rằng có hàng triệu người đang tưởng rằng mình phải ráng lắm mới trở lên Cơ Đốc Nhân được. Và nếu biết rằng dù cố gắng hết sức mà cũng không bao giờ đạt hạnh kiểm tốt, thì tương lai sẽ đen tối và buồn bã biết bao ! Chính những người đó cần được nghe tin mừng.
Đức Chúa Trời cho chúng ta miễn phí ơn cứu rỗi. Phaolô viết :”Nhưng bởi ơn thì chẳng phải bởi việc làm nữa, nếu vậy việc làm thì ơn không phải là ơn” (11:6) Tin vui như thế lẽ ra phải được lan truyền khắp chốn, nhưng lạ thay nhiều Cơ Đốc Nhân lại cứng miệng khi phải rao truyền tin đó.
Đã có lần bạn đã chỉ dùm cho người khác trạm xe búyt hay tiệm bánh mỳ gần nhất. Lúc đó bạn đâu có sợ tái mặt hay lo sợ hồi hộp, nhưng tại sao bạn lại sợ sệt khi phải nói cho một người lạ nghe về những gì Chúa Jesu có thể làm cho người đó.
Chúa muốn chúng ta kể lại Tin Vui cho anh em. Chính chúa Jesu đã dặn dò các môn đồ của Ngài phải đi kể lại cho đến tận cùng quả đất những gì Chúa đã làm cho chúng ta. Bạn hãy nghĩ xem, có ai muốn giữ kín điều đó không ?
Phải có một kẻ thù đang rảo quanh chúng ta, và thủ đoạn của nó là gây sự sợ hãi, gây hoang mang khi phải chia sẽ của những người lãnh quà. Những nếu chúng ta chắc chắn rằng Chúa đã làm việc lạ, nếu chúng ta biết rõ mình đã được lãnh nhiều ngân phiếu trị giá bạc ngàn thì chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui và đi kể cho mọi người nghe.
Có một số người vẫn còn lo lắng, khi được Chúa tha thứ và Ngài ban cho cuộc sống vĩnh cửu, thì cần phải thêm đức tính nào nữa không. Hãy lời sứ đồ Phaolô :”Vậy phước đó há chỉ chú cho kẻ chịu cắt bì mà thôi, hay là cũng chúc cho kẻ không chịu cắt bì nữa? Vì chúng ta nói rằng đức tin của Áprarham được công nghĩa cho mọi người” (4:9). Và Phaolô kết luận gọn gàng : Ápraham không theo luật Do Thái vì lý do là lúc đó chưa có luật.
“Vì chẳng phải do luật pháp mà có lời hứa cho Ápraham và dòng dõi người rằng, người sẽ thừa thọ thế gian, bèn là sự công bình đức tin” (4:13).
Đối với chúng ta cũng vậy, Chúa hứa hẹn một phần gia sản không phải để thưởng cho việc ăn ở tốt lành của chúng ta, nhưng để đáp lại lòng tin của chúng ta. Bạn có thể không đồng ý với cách làm việc của Chúa, nhưng đó là lời giải đáp cho nan đề của bạn.
Người Do Thái nhất định không chịu chấp nhận rằng họ là kẻ có tội. Nhiều Cơ Đốc Nhân cũng không hiểu được câu Chúa trả lời cho người Do Thái. Chúa quả quyết rằng luật của Ngài tinh truyền hơn điều họ tưởng tượng.Ví dụ họ cho rằng họ không phạm tội ngoại tình, nhưng Chúa Jêsus giải thích nếu một người đàn ông đã cưới vợ mà còn thèm muốn người đàn bà khác thì đã phạm tội ngoại tình. Chúa Jêsus còn nói thêm thà rằng bị mù mắt còn hơn duy trì dịp phạm tội. Ngài biết rõ tư tưởng lòng người. Nếu ai quyết tâm không phạm tội. Ngài biết rõ tư tưởng lòng người. Nếu ai đã quyết tâm không phạm tội thì đã khám phá trong thâm tâm mình có một con người thứ hai đang muốn phạm tội, và chúng ta cứ quanh quẩn đấu tranh với chính mình.
Đức Chúa Jêsus muốn dạy bảo chúng ta điều gì? Ngài có dạy chúng ta phải cố gắng thêm nữa để chu toàn luật pháp chăng? Chắc chắn là không Ngài chỉ muốn cho chúng ta thấy chúng ta cần đến Ngài. Mỗi một lời phán, mỗi một sự dạy dỗ của Ngài chứng minh rằng chúng ta cần một Đấng Cứu Thế. Tin vào Chúa Jêsus là phương thế duy nhất để thực hiện luật pháp, thánh Phaolô đã tuyên bố như vậy.
Bạn có thể hành xác bạn, bắt nó phải phục tùng luật này, luật nọ. Như vậy bạn đã làm được việc gì? hãy coi chưa làm việc gì cả. Chúa Jêsus đã cắt nghĩa rõ ràng nếu bạn chỉ phạm một luật thì cũng giống như bạn đã vi phạm tất cả luật rồi.
Chúa Jêsus không tìm cách làm cho bạn nản lòng, nhưng Ngài không muốn khích lệ bạn đó, Ngài đã nói rằng chính Ngài sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề.
“Vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình” (10:4)
Khi Chúa Jêsus bước vào cuộc sống bạn, xác thịt của bạn vẫn còn nhưng ước muốn bất chính không còn nữa, có một sự khác biệt lớn: “Vậy nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy dựng nên mới, những sự cũ qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (8:10).
Trong thâm tâm bạn có một hữu thể thiêng liêng hoàn toàn mới, vì Chúa Jêsus từ nay cư ngụ trong bạn qua thân vị Thánh linh. Một ngày nào đó thân thể của bạn sẽ chết, bạn sẽ sống mãi mãi với Chúa Jêsus.
Tôi có dịp nói chuyện với cả ngàn người đi nhà thờ, và tôi hỏi họ: “Theo ý bạn, bạn phải làm gì để được lên thiên đàng?” “Tôi đã hỏi nhiều người Mỹ, toàn là những người học Kinh Thánh và 90% đã khai ra những điều phải làm: Tuân theo điều răn, đi nhóm đều đặn, dâng hiến tiền bạc, đừng làm gì hại người khác... một danh sách vô tận về những điều họ phải làm.
Những người thường hay lui tới nhà thờ đã nghe hay và tin thất thiệt này “Sự cứu rỗi của chúng ta tùy thuộc vào những điều chúng ta làm”. Thế thì có lạ gì nếu tin mừng được ít người đón tiếp? Ai lại muốn đi nhà thờ để lãnh được một đồng bạc, và lại nếu chỉ có thể thì loan tin đó làm gì?
Bạn có cảm nghĩ rằng ân huệ của Chúa chỉ đáng một đồng nữa thôi? Bạn có còn nghĩ rằng để đón nhận ơn lành của Chúa chỉ cần đức tin công thêm cái gì nữa không?
Nếu bạn quả quyết rằng những phước lành của Đức Chúa Trời chỉ dành riêng cho những người xứng đáng thì bạn coi thường lời hứa của Chúa và đức tin đâu còn ý nghĩa ?
“Vì nếu nhờ luật pháp mà hướng nghiệp, thì đức tin hóa ra vô ích, lời hứa cũng bỏ rồi, vì luật pháp gây ra sự phẫn nộ, nhưng đâu không có luật pháp, đó cũng không có sự phạm luật” (4:14-15).
Như vậy có phải Chúa không thỏa lòng khi chúng ta cố làm theo điều tốt và giữ luật pháp của Ngài chăng? Chắc chắn là không, nhưng Ngài thấu rõ lý do khiến chúng ta giữ luật lệ Ngài, nếu vì chúng ta sợ bị phạt, thì cố gắng của chúng ta không có giá trị gì.
Nếu chúng ta cố gắng vâng lời để được chúc phước thì cũng uổng công. Như vậy cố gắng để làm gì? Thà cứ ở xấu xa vì thế nào cũng được sự cứu rỗi. Nói như vậy là phi lý. Lý do duy nhất khiến chúng ta làm điều thiện là chúng ta muốn làm đẹp lòng Chúa. nếu chúng ta hiểu rõ sự tuyệt diệu của món quà Chúa ban thì chúng ta sẽ lấy hết lòng thành của mình mà đáp lại tình yêu của Ngài.
Nhưng nếu bạn cứ nhất quyết nghĩ rằng phải làm điều tốt thì mới xứng đáng được Chúa chúc phước, thì bạn sẽ không bao giờ học cách yêu Chúa và thưởng thức những món quà của Chúa cả.
Bây giờ Chúa chỉ chúng ta một lối khác để lên trời không phải một lối sống trơn tru với một hạnh kiểm tốt, nhưng là một lối đi mới mẻ (tuy không mới mẻ lắm vì Kinh Thánh đã nói đến vấn đề này từ lâu rồi). Chúa Jêsus khẳng định rằng Ngài chấp nhận chúng ta và đã tha thứ cho chúng ta, chúng ta không còn là một tội nhân nữa nếu chúng ta trao mình cho Chúa Jêsus để Ngài tẩy rửa tội lỗi chúng ta, dù tội chúng ta nặng đến mức nào đi nữa, thì Ngài vẫn cứu vớt chúng ta (3:21-22). Điều kiện là giao mình cho Chúa Jêsus. Còn nghĩ rằng mình xứng đáng hay đâu có tồi tệ là làm trái ngược lại.
Đấng Christ đã làm gì cho chúng ta?
“Đức Chúa Jêsus là Đấng được Đức Chúa Trời sử dụng làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin, tin vào huyết của Đấng ấy thì Ngài bỏ qua các tội phạm trước kia và kể là công bình (3:25).
Hai yếu tố này cần thiết, không thể thiếu một được. Đấng Christ hoàn tất phần của Ngài, nhưng điều đó không đi đến đâu nếu chúng ta không tin. Nếu chúng ta lúng túng trong những “điều phải làm”, chúng ta sẽ không bao giờ được tự do để tin.
“ Ngài đã bị nộp (tuyên án) vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự công bình của chúng ta” (4:25). “Hầu cho như tội lỗi đã nhơn sự chết mà làm vua thế nào, thì ơn điển cũng phải nhơn sự công bình mà làm vua thể ấy, để dẫn đến sự sống đời đời bởi Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (5:21).
Một điều rõ ràng là chúng ta cần chọn giữa sự nhơn hậu của Chúa và sự phán xét công bằng của. Một bên là quà tặng của đời sống vĩnh cữu, một bên là sự chết.
Tôi còn nhớ đến một cô nữ y tá quân đội, trẻ đẹp, hành nghề tại một bệnh viện quân y nơi tôi làm tuyên úy. Lúc đầu mới đến thì cô tràn đầy sức sống và hy vọng, nhưng dần dần nụ cười tắt hẳn trên môi cô. Cô không thể chịu được cảnh tượng những quân nhân trẻ tuổi bị trọng thương mà người ta khiêng từ chiến trường về. Cô thường đến văn phòng tôi tâm sự. Một hôm cô hỏi:
Làm sao có thể nghĩ rằng Chúa thương con người khi thấy bao đau khổ như vậy?
Cô nên giãi bày cho Chúa tất cả những lo âu của cô về các bệnh nhân và tin rằng Chúa lo cho họ. Chúa yêu thương những người lính đó còn hơn cô và tôi có thể thương họ.
Cô y tá lắc đầu:
Thưa ông, tôi không thể làm thế được. có lẽ một ngày nào đó tôi làm được, nhưng bây giờ chưa được, lòng tôi bị xé tan trước những đau khổ này. Tôi không thể cám ơn Chúa được.
Cô ít lui tới văn phòng của tôi. Nét mặt vui vẻ của cô nhuộm vẻ âu sầu và tôi có thể đoán là cô phải uống thuốc để chống cơn khủng hoảng tinh thần. Cô không còn thiết tha gì với bên ngoài. Cô được đổi đi nơi khác và tôi mất liên lạc với cô. Gần đây tôi được một bức thư của một người phụ nữ đang ở tù tại miền tây nước Mỹ.
Sau khi tôi gặp lại ông lần chót, tôi đã lang thang trên nhiều nẻo đường và trên những quãng đường đó tôi đã đánh mất những gì tốt đẹp nhất trong tôi. Tôi không tìm được bình an trong tâm hồn, và tôi đã xuống dốc.
Câu chuyện bắt đầu khi ở bệnh viện, tôi đã phải chứng kiến những cái chết phi lý hay những cuộc giải phẩu cắt xéo trên thân thể của những quân nhân trẻ tuổi. Tôi lên án Chúa và bây giờ tôi hiểu rằng những oán trách của tôi chỉ làm cho tôi xa cách Chúa và tự hủy diệt mà thôi. Hiện nay tôi không còn đủ nghị lực để tha thiết với bất cứ ai và bất cứ điều gì tôi sống cuộc đời buồn bã, bất hạnh và rỗng tuyếch.
Tôi biết rằng Chúa là lời giải đáp.
Tôi không muốn chấp nhận điều này từ mấy hôm nay nhưng bây giờ tôi thấy rõ. Tôi đã muốn viết thơ cho ông từ lâu nhưng tôi hổ thẹn. Tôi nhớ lại những lần đến thăm ông từ phòng tuyên úy, lúc đó tôi không muốn chấp nhận giải đáp. Tôi hy vọng rằng đã không quá muộn. Xin ông cầu nguyện cho tôi...
Nữ y tá trẻ tuổi này đã từ chối món quà Gởi cho cô. Bây giờ cô thấy hậu quả của thái độ đó. Bạn đã có thể thấy cô đã khổ sở biết chừng nào !
Đón nhận món quà của cuộc sống vĩnh cửu, đó là một việc dễ nhất mà bạn có thể làm trong đời bạn. Có khó gì đâu, đâu cần phải tốt lành hay thông minh, một em bé cũng có thể làm được ?
Thánh Phaolô viết :”Nhưng còn nói làm sao? Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy. Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì người sẽ được cứu” (10:8-9). Vậy tại sao vẫn có những người ngần ngại ? Tại sao họ lại sợ ? Cô ý tá kinh sợ đặt niềm tin vào một Đức Chúa Trời có thể để cho nhưng người lính phải chết trên chiến trường hoặc trở thành phế binh. Cô không tin vào tình thương của Chúa. “Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cất bỏ sự sợ hãi, vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ sợ hãi thì không trọn vẹn trong tình yêu thương” (IGi1Ga 4:18) Đức Chúa Trời là tình yêu. Tất cả những gì Chúa làm là hoạt động của tình yêu.
Vấn đề là chúng ta có một tầm nhìn rất hạn hẹp về tình yêu. Chúng ta đã bị phản bội và mang thương tích do những tình yêu của con người gây ra, một tình yêu biết tán thưởng khi chúng ta làm điều tốt, còn lại trừng phạt khi chúng ta làm điều quấy. Nhưng tình yêu của Chúa thì khác hẳn.
Trong bản thân văn Hylạp, Tân Ước dùng hai từ khác nhau mà chúng ta đều dịch bằng chữ “yêu”.
Philie : Tình yêu huynh đệ, nghĩa là lòng cảm mến, tình cảm sâu xa, riêng biệt và tự nhiên.
Arape : Tình yêu của Đức Chúa trời.
Thánh Phaolô dùng từ Agpe khi ông diễn tả tình vợ chồng. Đó là một sự trao hiến có ý thức, có quyết tâm, tự do và thiêng liêng không tùy thuộc vào cảm xúc nhất thời. Đó là một tác động yêu thương hữu ý, bắt nguồn trong ý chí. Tình yêu này không đổi thay, người ta có thể tin được, người được yêu không lo mình đáng được yêu hay không.
Đó là cách Chúa yêu chúng ta. Chúa yêu chúng ta khi chúng ta phụ tình Ngài, khi chúng ta bất tuân, khi chúng ta nghèo khổ. Chúa yêu chúng ta khi chúng ta phí phạm cuộc sống. Và Ngài luôn luôn sẵn sàng đón tiếp, tha thứ và cho chúng ta dư dật niềm vui và sự bình an của Ngài.
Món quà vô giá của Đức Chúa Trời là sự sống vĩnh cửu trong Đức Chúa Jesus Chris. Và cuộc sống này gần kề chúng ta như môi với miệng hay trái tim của chúng ta. Chúng ta chỉ cần đón nhận những gì Chúa Jesus làm cho chúng ta, tin trong lòng Chúa rằng Chúa đang sống và loan tin đó cho người khác. Có gì khó đâu, nhưng vẫn có người không làm được, cho dù họ biết giá trị của món quà.
Ông Nicôđem, một người Do Thái sùng đạo, đến gặp Chúa Jesus vào một buổi tối để hỏi Ngài cách nào để vào nước trời. Ông biết rằng Chúa Jesus phán :”Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời !”
Người đã già thì sanh lại làm sao được ? Có thể nào trở vào lòng mẹ mà sanh lần thứ hai sao?
“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước trời. hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt, kẻ chi sanh bởi Thánh linh là thần” (GiGa 3:1-6).
Ông Nicôđem biết Chúa là ai rồi, nhưng điều này chưa đủ, chúng ta phải hành động theo điều chúng ta hiểu biết đón nhận Chúa Jêsus Christ là Đấng Cứu Thế của cuộc đời mình. Được tái sinh, chúng ta mới biết được Đức Chúa Trời. Chưa tái sinh, chúng ta là những người chết về mặt thiêng liêng.
Phaolô viết: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải tôi sống nữa nhưng Đấng christ sống trong tôi nay tôi còn sống trong xác thịt, là tôi sống trong đức tin của con Đức Chúa Trời là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi” (GaGl 3:20).
Phaolô khuyên tín hữu thành Côrinhtô: “Chính anh em hãy tự xét, để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ sống trong đức tin của con Đức Chúa Trời là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi” (3:20).-
Phaolô khuyên tín hữu thành Côrinhtô: “Chính anh em hãy tự xét, để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao, miễn là anh em không đáng bị bỏ” (IICo 2Cr 13:5).
Bạn có thật là một Cơ đốc Nhân không?
Bạn đã tái sanh chưa?
Trong các giáo đường, nhà thờ có nhiều Nicôđem lắm. Họ học hỏi Kinh Thánh và cầu nguyện hàng giờ. Họ tham gia các nhóm Kinh Thánh và các nhóm cầu nguyện. Họ là người đã dạy Kinh Thánh, giáo lý, có người là giảng viên nữa. Nhiều người đã được sinh ra , lớn lên trong giáo hội và tự xưng là đạo gốc.
Họ biết rất rõ giáo lý. Họ biêt rằng Chúa Jêsus đã chết vì tội lỗi của họ. Họ biết Chúa đã sống lại nhưng họ chưa bao giờ giao phó cuộc sống cho Chúa. xin Ngài trở nên Đức Chúa Trời và Vị Cứu Thế của họ. Cả hàng nghìn người trung tín đi lễ, tham dự các buổi thờ phượng, chu toàn tất cả các bổn phận bề ngoài của đạo, nhưng chưa bao giờ kinh nghiệm sự sống của Chúa Jêsus ở trong đời sống của họ.
Món quà cứu rỗi là sống vĩnh cửu vì sự sống vĩnh cửa là món quà qúy giá. Bạn không cần làm gì để xứng đáng món quà đó, nhưng bạn chỉ cần ngửa tay ra đón nhận và nó trở thành sở hữu của bạn. Trong tình yêu của Ngài, Chúa đã định trước và thu xếp mọi hoàn cảnh để chúng ta cảm thấy cần đến Ngài, và Ngài thu hút chúng ta.
Có một anh binh nhì công giáo đi với một anh bạn cùng đơn vị đến gặp tôi. Anh bạn này bị bỏ tù vì nghiện ma túy. Từ hồi trẻ anh đã hút xách nhưng khi nhập ngũ tình trạng còn tệ hơn.
Tôi đã phung phí tuổi xuân, bây giờ quá trễ chắc không thể thay đổi được.
Cặp mắt anh đầy thất vọng.
Tôi hỏi ngay:“ Vậy anh có Chúa chứ ? Ngài có thể thay đổi được anh”.
Anh lính nhún vai :
Tại sao Chúa lại làm điều đó ? Tôi có bao giờ làm gì cho Ngài đâu ?
Ngài yêu thương anh, Ngài đã phái Chúa Jêsus đền những tội ác cho anh, Ngài có thể chữa lành bệnh cho anh.
Anh lính vẫn tiếp tục buồn bã nhìn tôi :
Tôi đã nghe đến Jêsus. Tôi muốn xin Ngài cứu tôi nhưng tôi nghĩ rằng bây giờ đã quá trễ. Mặc dù cố gắng nhiều, tôi vẫn không thể ngừng hút xách được, tôi đã làm mồi cho ma túy quá lâu.
Đức Chúa Trời có thể chữa lành bệnh. Anh không nghĩ rằng Chúa mạnh hơn Á phiện sao ?
Anh lính suy nghĩ ... vị tuyên úy nói tiếp :
Anh muốn thử không ?
Anh lính gật đầu :
Tôi sẽ thử bất cứ cái gì miễn là tôi thoát khỏi cái địa ngục này.
Như vậy anh hãy cảm ơn Chúa vì những gì Chúa sẽ làm cho anh trong vài phút nữa, và anh hãy cảm ơn Chúa vì những gì đã xảy ra trong cuộc đời anh dẫn đưa anh đến đây.
Anh lính có vẻ bàng hoàng:“Sao có chuyện đó? Ông muốn nói rằng tôi phải cảm ơn Chúa vì tất cả những gì đã xảy đến cho tôi ngay cả tình trạng nghiện nghập này ư ?
Chính mình anh nghiện Ma túy quá nên anh tìm đến Chúa phải không? Nếu Chúa chữa lành cho anh, tha thứ cho anh và ban cho anh một đời sống mới đời sống vĩnh cửu trong Chúa Jêsus, anh có nghĩ rằng anh phải cảm tạ Chúa đã khiến anh cảm thấy cần ngài không ?
Anh lính ngần ngại, vị tuyên úy nói tiếp :
Anh có muốn tôi cầu nguyện cho anh không ? Và anh ta bằng lòng. Tôi đặt tay lên đầu anh và cầu nguyện :
Lạy Cha trên trời, con cảm tạ Chúa đã yêu mến chàng trai này, và kéo chàng lại gần Cha. Xin Ngài gởi Thánh Linh xuống để giúp anh tin rằng đang hành động mỗi giây phút trong cuộc đời đen tối và cô đơn của anh để dẫn anh đến với Chúa Jêsus .
Khi tôi dứt lời; ánh mắt anh sáng lên, anh nói:
Có một điều lạ lùng, tôi không hiểu vì sao nhưng tôi tin rằng Chúa đang biến đổi những tai vạ của đời tôi thành những điều hữu ích cho tôi.
Rưng rưng nước mắt, anh cuối đầu và bộc phát cầu nguyện xin Chúa tha thứ cuộc nổi loạn của anh và xin Chúa Jêsus hướng dẫn đời anh.
Tôi không thể diễn tả được dây phút sau đó. Tôi đặt tay lên đầu anh ta lần thứ hai. Tôi cầu xin Chúa chữa lành anh, lấy ra khỏi anh sự thèm muốn hút ma túy và ban cho anh đầy tình yêu thương. Tôi cảm thấy có một sức mới nơi anh lính trẻ. Nét mặt ánh sáng ngời lên, và anh khóc sướt mướt anh reo lên :
Tôi không cần Á phiện nữa. Chúa Jêsus sống trong tôi.
Đối với chàng thanh niên này, đó là lúc tái sanh. Anh không còn là người cũ nữa. Anh tái sanh, không phải vì anh cảm nhận sự hiện diện của Chúa nhưng vì anh đã quyết tâm tin.
Nếu mối tương quan của chúng ta lệ thuộc vào cảm xúc của chúng ta, có lẽ chúng ta không chọn như thế, chúng ta đâu có làm chủ những cảm xúc của chúng ta nhưng chúng ta có thể trông cậy, quyết định tin và cầu xin. Kinh Thánh nói chúng ta được cứu rỗi nhờ lòng tin. Nhưng nhiều người trong chúng ta hiểu sai về lòng tin. Họ nói “Tôi không có đức tin để tin” như thế có nghĩa là “Tôi không cảm thấy tôi tin”
Đức tin và cảm xúc là hai bình diện hoàn toàn khác.
“Vả đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đường trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy” (HeDt 11:1)
Đức tin không phải là sản phẩm của cảm xúc hay cảm giác. Đức tin là do ý chí. Chúng ta nhất quyết nhận định điều nào đó là sự thật, cho dù giác quan không nhận định được.
Được cứu nhờ đức tin, nghĩa là chấp nhận Chúa Jêsus làm Đấng Cứu Thế đó là hành động của trí nhớ không phải của cảm xúc. Chúng ta được tái sinh trong đức tin, được cứu rỗi nhờ đức tin, điều đó có nghĩa là lời Chúa trở thành sự thật khi chúng ta tiếp nhận Chúa Jêsus vào lòng mình. Có thể chúng ta không cảm thấy mình được tái sanh, nhưng không phải vì vậy mà chúng ta được cứu rỗi thật sự.
Chúng ta đã nói nhiều lần rằng lý trí có thể cản trở đức tin. Nhưng có một mối nguy hại tương đương ấy là cảm xúc mà đo lường lòng tin. Từ lâu chúng ta có thói quen nghĩ rằng những điều mình cảm thấy đều là sự thật. Tôi cảm thấy ốm đau, vậy tôi đau. Nhưng cảm xúc của chúng ta thay đổi mau lắm, tùy khí trời, tùy thức ăn, vì mất ngủ hay vì gặp người khó tánh. Cảm xúc của chúng ta là một hàn thử biểu ít trung thực ki ta muốn biết rõ sự thật. Như vậy lấy nó làm thước đo mà đo lòng kính yêu của Chúa thì quá sai. Chúa Jêsus đã phán :”khi cầu nguyện, hãy tin đã được chắc điều đó sẽ được ban cho! Làm sao cầu nguyện với lòng tin được khi chúng ta lại muốn lấy cảm xúc mà đo lường kết quả. Theo Kinh Thánh chân lý của Đức Chúa Trời đôi khi thúc dục chúng ta đi ngược lại cảm xúc mình.
Chúa Jêsus phán :”Hãy yêu kẻ thù nghịch” Sao Chúa lại không biết rõ tâm tình của mình đối với kẻ thù ? Vậy mà Chúa nói với chúng ta đừng để cảm xúc làm chủ ra lệnh cho chúng ta nói hay làm điều gì. Chúng ta tự do lựa chọn yêu mến, ngay cả kẻ thù.
Chúng ta hoàn toàn tự do chấp nhận lời Chúa như là một thực tại đối với chúng ta, gạt qua một bên nào là cảm xúc, nào là cảm giác, cả trí tuệ và tình cảm nữa! Cuộc sống mới trong Chúa Jêsus là một cuộc sống đức tin nói cách khác là một cuộc sống được tư do, thoát khỏi sự bạo ngược của cảm xúc, của trí tuệ và cảm giác. Chúng ta không cần để ý đến chúng.
Kinh Thánh ghi rằng chúng ta được cứu rỗi nhờ đức tin, chữa lành nhờ đức tin, được xưng công bình nhờ đức tin, bảo toàn và che trở đức tin chúng ta tiến bước, tăng trường nhờ đức tin, đứng vững nhờ đức tin, sống nhờ đức tin, chúng ta giàu sang nhờ đức tin, chúng ta cầu nguyện trong lòng tin, thắng thế gian nhờ đức tin và ca tụng Chúa trong đức tin.
Kinh nghiệm sự cứu rỗi trở nên sự thật khi chúng ta chấp nhận trong lòng tin. Chúa đâu có nhìn vào cảm xúc chúng ta, Chúa nhìn vào quyết tâm của chúng ta có thể bị nghi ngờ sâu xé, cảm thấy mình khốn nạn, nhưng khi chấp nhận Chúa Jêsus bằng đức tin, công việc đã được thỏa thuận. Sau khi trao lại cuộc đời mình cho Chúa Jêsus , bạn có cảm thấy gì hay không cảm thấy gì, điều đó không quan trọng. Chúa đã chấp nhận sự đầu hàng của ý chí bạn, bạn đã được Thánh Linh tái sinh.
Tôi lo ngại khi có người nói với tôi : “Tôi biết rằng hôm nay Chúa chúc phước cho tôi, vì tôi cảm thấy điều đó” một vài ngày sau, cũng người đó trở lại buồn rầu nói :”Tôi không chắc mình có được cứu rỗi không, vì tôi không còn cảm thấy Chúa hiện diện nữa.
Tạ ơn Chúa nếu Ngài cho bạn cảm thấy Ngài ở gần bạn. Nhưng đừng để đức tin của bạn lệ thuộc vào tình cảm. Cơ Đốc Nhân nào lấy cảm xúc mình làm một bằng chứng, chứng minh mình được cứu rỗi thì nó sẽ bị nghi ngờ hành hạ.
Một phụ nữ viết thư cho tôi :
“Tôi đã dâng cuộc đời mình cho Chúa Jesus cách đây nhiều năm, nhưng không có gì xảy ra cả. Tôi không cảm thấy gì hết, và sau một thời gian tôi mất hy vọng và buông xuôi lời cam kết sống cho Jêsus . Từ đó cuộc sống tôi sụp đổ ... Tôi đã đọc cuốn sách của ông tựa đề là “Từ ngục tù đến ca ngợi” và tôi thèm khát Chúa Jesus. Tôi cầu xin tha thứ và tôi muốn trao phó cuộc đời tôi trong tay Chúa. Tôi đón nhận Jêsus Christ là Đấng cứu tinh và tôi muốn gia nhập Vương Quốc của Ngài...nhưng tôi vẫn không cảm thấy gì thay đổi. Xin ông cầu nguyện cho tôi vì tôi không thể tiếp tục sống như thế này được nữa:.
Một thanh niên đang bị ở tù viết cho tôi :
“Tôi tin Jêsus Christ và cố gắng tin Ngài hết lòng. Cách đây hai năm tôi đón nhận Ngài làm vị Cứu Thế của tôi. Lúc đó tôi chân thành và trong hai ngày đầu tôi cảm thấy mọi sự đều tốt lành. Nhưng sau đâu lại vào đó. Từ đó đến nay có những lúc tôi sống ngây ngất nhưng chỉ là những phút quá ngắn. Tôi muốn thờ phượng Chúa nhưng tôi không tìm được Chúa. Tôi đã đọc được cuốn sách “từ ngục tù đến ca ngợi”, và biết rằng tôi thiếu những điều ông nói trong cuốn sách đó. Làm sao tìm được Ngài? Ông nghĩ là tôi chưa khao khát Ngài đủ phải không? Làm sao khao khát hơn nữa ? Tôi đã phung phí cuộc sống của tôi và nay sống đối với tôi không có ý nghĩa gì cả. Tôi đã học Kinh Thánh nhưng cũng chẳng đi đến đâu tôi rât muốn tìm được Chúa Jesus. Tôi sắp ra khỏi tù và tôi mong làmlại cuộc đời với tình yêu của Ngài trong lòng tôi. Xin ông cầu nguyện cho tôi để tìm được Ngài, và kinh nghiệm được niềm vui Ngài đã hứa trong Kinh Thánh...”
Tôi đã nhận hàng trăm bức thư tương tự và bất cứ ở đâu tôi cũng gặp những người nói với tôi là họ không biết đã gặp Chúa hay chưa.
Và vì lý do nghi ngờ của họ luôn luôn giống nhau: “Tôi không cảm thấy”. Họ là tù nhân của chính cảm xúc của họ, và họ tin vào họ hơn là tin vào Chúa.
Khi chúng ta phó mình cho Chúa Jesus , Ngài nói với chúng ta: “Ta ban cho nó tự sống đời đời, nó chẳng chết bao giờ và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta” (GiGa 10:28).
Vậy thì làm gì để thắng cảm xúc và nghi ngờ.
Phaolô viết: “Miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề rời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe là đạo được giảng ra giữa mọi người mọi vật dựng nên ở dưới và chính tôi, Phaolô là kẻ giúp việc của đạo ấy” (CoCl 1:23)
Những nghi ngờ và cảm xúc tấn công đức tin chúng ta, chúng ta phải lập tức bám vững vào tảng đá lời Chúa.
Tôi có quen biết một bà kia có một cách cụ thể làm điều đó. Khi nghi ngờ điều gì, bà đi tìm một câu Kinh Thánh nói về chân lý liên quan đến điều đó. Bà ghi đoạn Kinh Thánh ấy vào một tờ giấy, mỗi khi cảm thấy nghi ngờ, bà lấy ra đọc.
Mỗi khi bà thấy tuyệt vọng, bà thường nghĩ : “Mà chắc gì Chúa đã nhận lời bà khi bà tin Đấng Christ trở nên Đấng Cứu Thế cho bà”, rồi bà tìm ra đoạn sau:”Nầy là điều chúng ta dạn dĩ trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài” (IGi1Ga 5:14-15). Bà chép đoạn này và thêm “Hôm nay 14-1-1969 tôi đã xưng tội và xin Chúa Jêsus Christ đi vào cuộc đời tôi làm Đấng Cứu Thế và chủ lòng tôi. Tôi làm điều đó vì lời cầu xin của tôi cũng ở trong kế hoạch và điều Chúa muốn cho tôi”.
Bà đặt tấm giấy trên giường phòng ngủ bà và mỗi khi bà cảm thấy nghi ngờ trong lòng, bà tìm miếng giấy và đọc lớn tiếng: “Tôi biết rằng tôi được tái sanh tôi biết Đức Chúa Trời đã đón nhận và ngày hôm đó tôi đã cầu xin Chúa Jesus trở nên Đấng Cứu Thế của tôi. Và tôi không đặt câu hỏi để biết tôi được cứu rỗi hay không”.
Một hôm bà cảm thấy mặc cảm tội lỗi sau khi đã xưng tội và nghĩ rằng : Chúa chưa tha tội cho bà. Bà tìm lời giải đáp trong Kinh Thánh: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (IGi1Ga 1:9)
Dưới đoạn Kinh Thánh đó bà viết tội bà đã xưng, ghi ngày tháng và hàng chữ:”Halêlugia, tôi đã được tha tội”.
Dần dần bà bớt nghi ngờ và sau hết hẳn.
Bạn có thể chống lại các nghi nan và cảm xúc của bạn bằng cách lập danh sách các quyết định bạn đã làm trong giờ cầu nguyện, ghi rõ ngày tháng và đoạn Kinh Thánh dẫn chứng lời hứa của Chúa.
Nếu bạn là một Cơ Đốc Nhân lâu năm và đôi khi bạn còn nghi ngờ về sự cứu rỗi hay về tình yêu của Chúa, đừng để cho những nghi nan hay cảm xúc của bạn lừa dối nữa. Hãy tuyên xưng lại những lời bạn đã hứa và viết trên một mảnh giấy, đừng quên ghi ngày. Có nhiều người giữ trong túi Kinh Thánh của họ những bước tiến quan trọng trong cuộc hành trình thiêng liêng của họ.
Cuộc đời Cơ Đốc Nhân là một hành trình trong đức tin. Ghi chép lộ trình cũng là một điều hay vì nó sẽ nhắc nhở chúng ta trong những ngày đen tối khi chúng ta không thấy mình tiến bộ.
Khi nhìn lại quảng đường đã qua, chúng ta có thể cảm tạ Chúa và ca ngợi Chúa vì đã tiến tới được đó.
Đức tin của chúng ta dự trên lời Chúa hứa chứ không dựa trên tình cảm của chúng ta. Và Chúa hứa cho chúng ta được kinh nghiệm sự bình an và niềm vui của Ngài trên đường đời chúng ta đi.
Hãy vui mừng khi lòng rạo rực niềm vui nhưng cũng hãy tỏ ra vui mừng khi bạn cảm thấy khô héo và rỗng tuyếch. Ơn cứu rỗi lúc đó cũng là một thực tại tuyệt diệu. Lúc đó hãy lấy đi tất cả ý chí cương quyết mà nói:”Lạy Chúa con muốn tin. Con bám vào lời Chúa”.
Bạn hãy thử đi.
Bạn sẽ thấy ông bạo chúa “cảm xúc” sẽ không còn ghì bạn nữa. Bạn sẽ được tự do để tin. Chúa Jesus đã hứa :”Các người sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các người” (GiGa 8:32).
MỘT QUYỀN NĂNGVÔ GIỚI HẠN
Việc gì sẽ xảy ra khi chúng ta đặt niềm tin cậy nơi Cứu Chúa Jêsus Christ ?
“Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời” (Eph Ep 1:3)
Do sự kết hợp với Đấng Christ, chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta đã vào nước Chúa. Tất cả mọi năng lực, ưu đãi quyền lợi dành riêng cho con cái Chúa đều thuộc về chúng ta:”Đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời”, Chúa ban cho chúng ta không phải vì công việc của chúng ta, nhưng vì chúng ta kết hiệp cùng Đấng Christ, thuộc về Đấng Christ.
Một đứa bé không thể lớn lên vì ráng sức duỗi mình dài ra. Nó cũng không tìm đủ mọi cách để xứng đáng nhận sự chăm sóc của những người chung quanh. Nó được nuôi nấng được ăn mặc, được yêu thương, cha mẹ nó bao bọc, chăm lo cho nó rất chu đáo, chỉ vì nó là đứa con của họ. Họ đáp ứng mọi nhu cầu của nó. Nó lớn lên một cách tự nhiên. Không một chút cố gắng ăn đầy đủ, ngủ và sinh hoạt đều đặn. Hãy tưởng tượng một đứa bé không chịu ăn, ngủ và nói với mẹ nó : “Mẹ ơi ! Con chưa sẵn sàng, con đang kéo người ra cho lớn lên, khi nào con lớn thêm được 10 phân thì con sẽ ăn”.
Nhưng đó lại là một điều rất nhiều Cơ Đốc Nhân đã làm. Chúa đã chuẩn bị cho họ đủ mọi thứ để lớn lên : Thức ăn giấc ngủ, tình thương và sự săn sóc. Nhưng họ đừng ỳ ra một chỗ, để xứng đáng với ân huệ đó, họ cố tự mình lớn lên một cách vô hiệu quả!
Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta từ rất lâu rồi, trước cả khi các bạn và tôi ra đời :”Trước khi sáng tạo Ngài đã chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên Thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (Eph Ep 1:4)
Ai là người được Chúa Thánh hóa ?
Bạn có biết người nào đã được Thánh hóa hay chưa? Nếu không thì có lẽ Chúa đã trễ mãi trong chương trình của Ngài ? Chúa đã bắt đầu Thánh hóa bản thân bạn hay chưa ?
Hãy đọc tiếp:”Không chỗ trách được”. Có lẽ nào Chúa đã quyết định làm cho các Cơ Đốc Nhân trở lên trọn hảo, không ai trách cứ vào đâu được, và Ngài đã thất bại nặng nề với tất cả những người mà chúng ta quen biết ?
Nhưng chúng ta hãy đọc tiếp: “Trước mặt Đức Chúa Trời”, Chúa đã cho chúng ta nên Thánh không chỗ trách được trước mặt Chúa. Chúa đã làm cho chúng ta một điều lớn lao, Chúa biến đổi chúng ta “Trước mặt Chúa”. Chính Chúa đang nhìn chúng ta bây giờ, một cách khác, chỉ mới một mình Chúa có thể nhìn thấy con người nơi chúng ta thôi. Ai có thể nhìn bằng con mắt của Chúa ? Không ai cả, trừ một mình Chúa. Ngài đã dùng con người mới để ca ngợi vinh quang của Chúa.
Khi các người khác nhìn bạn, họ luôn luôn chỉ thấy một con người đó mà thôi. Nhưng họ không phải là Chúa. Chính bạn, bạn có thể nhìn vào một tấm gương và tự thuyết phục bạn chưa nên Thánh, cũng chưa trọn hảo, nhưng bạn phải nhớ rằng bạn không phải là Chúa.
Bạn dám nói rằng Chúa không thể nhìn thấy điều Chúa muốn nhìn sao ? Cái gì quan trọng đối với bạn hơn: để Chúa nhìn thấy bạn thánh thiện hay là bạn tự nhịn thấy bạn thánh thiện ?
Hàng ngàn người và có lẽ hàng triệu Cơ Đốc Nhân cố gắng uốn mình vào một cái khuôn hòa hảo mà chính họ hoặc những người khác có thể chiêm ngưỡng khi họ thất bại và đó là điều không thể tránh được họ thấy chán nản và thất vọng ê chề. Tôi đã nghe những câu tự thú về sự thất bại nhiều đến nỗi tôi có thể hiểu trước cả khi người ta kể lại cho tôi.
Nhưng làm sao Chúa đã thực hiện kỳ diệu này là chúng ta nên thánh trước mặt Chúa. Thánh Phaolô nói :”Bởi sự yêu thương Ngài đã định trước cho chúng ta (Eph Ep 1:5). Chúa đã ấp ủ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Rồi sau đó ngài đã lùi lại để nhìn và Chúa thấy ở nơi ta.
Bạn và những người sẽ nhìn thấy chính bạn, còn Chúa, Chúa nhìn thấy tình yêu của Chúa. Bấy nhiêu chưa đủ để dấy lên hồi chuông vui mừng trong tâm hồn bạn và làm cho lòng bạn đầy lòng tri ân và ca ngợi sao ?
Và tại sao Chúa đã thực hiện cho chúng ta môt sự màu nhiệm như thế? Tại sao? Phaolô tiết lộ ”...Cho chúng ta được trở lên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ theo ý tốt của Ngài có quyền và khả năng để cho chúng ta tất cả những gì Ngài muốn, tất cả phước lộc trên trời và những món quà quí giá sao ?”
Tại sao Chúa đã chọn tự mình làm việc đó ? Tôi nghĩ rằng vì đối với Chúa đó là điều duy nhất để chắc chắn rằng công việc ấy sẽ được hoàn thành tốt đẹp. Vì nếu việc đó do bạn hay tôi thì Chúa sẽ không bao giờ có một chương trình gì, sự vinh hiển hoàn toàn thuộc về Chúa chứ không phải con người.
Thánh Phaolô viết :”Hầu cho sự vinh hiển của Ngài nhờ chúng ta là kẻ đã trông cậy trong Đấng Christ trước nhất mà ngợi khen” (1:12)
Kết quả sẽ vẻ vang khi ta đặt trọn niềm tin vào những gì Chúa làm cho chúng ta!“Trong Ngài chúng ta nhờ đưc tin mà được tự do đến gần Đức Chúa Trời cách dạn dĩ” (3:12)
Có quá nhiều lời cầu nguyện xuất phát từ lời than thở và một sự khiêm nhường như giả dối, chúng ta không cần tự bào chữa trước mặt Chúa, Chúa biết chúng ta quá nhiều. Chúa đã quan sát hàng triệu con người và Chúa biết rõ tất cả những sự yếu đuối của chúng ta.
Nhưng bây giờ Chúa muốn chúng ta tin chắc rằng nhờ trung gian của Đấng Christ chúng ta có quyền đến gần Chúa và xin những ơn chúng ta cần. Chúa muốn ban cho chúng ta những sự tốt lành, Chúa muốn chúng ta sung sướng. Ít khi người tín đồ của Christ ý thức rõ điều đó.
Gia đình chúng tôi không giàu, và chúng tôi thường phải sống nhờ lòng bác ái của người khác. tôi lớn lên mang trong lòng một mối uất hận với những người muốn làm ơn cho tôi hoặc muốn cho tôi một cái gì, bởi vì tôi không tin đó là do lòng ước muốn chân thành của họ.
Tôi thích làm ra tiền hoặc xứng đáng với những gì tôi sắm được. Và tôi đã giữ thói xấu này trong mối quan hệ với Chúa. Tôi có thể tin rằng Chúa muốn cho tôi nhiều hơn là những điều tôi cần dùng. Và chăng tại sao Chúa lại làm như vậy. Tôi lý luận như thế. Cái nhìn của tôi đối với Đức Chúa Trời đầy tình yêu và chỉ muốn điều tốt lành nhất cho tôi rất giới hạn.
Rồi một hôm, lúc tôi làm tuyên úy ở Jort Benning, tôi đang ở một tiểu bang khá xa Georie, tôi không thể trở về căn cứ đúng giờ làm việc chuyến bay mà tôi định đi đã bị hủy bỏ vì thời tiết quá xấu, và chuyến bay sau thì quá trễ, không có cách nào đi xe hơi, tôi đứng sững sờ, rất bực mình. trong suốt thời gian làm công tác tuyên úy, tôi chưa bao giờ nhận một công việc gì cản trở một công việc thường xuyên của tôi trong đơn vị, mà bây giờ tôi phải bỏ công việc bổn phận. Tôi cầu nguyện: ”Lạy Chúa, Chúa biết trong suốt giai đoạn công tác của con, con không bao giờ đi trễ. Vậy con xin đặt hoàn cảnh này vào tay Chúa. Con biết rằng Chúa có một chương trình hoàn hảo cho con. Con xin cám ơn Chúa và tin chắc rằng Chúa sẽ giúp con giải quyết tình thế.”
Trong buổi họp mà tôi phải thuyết trình, tôi gặp một phi công quân đội. Anh ra ở một căn cứ gần đó và khi nghe trường hợp của tôi, anh nói :”Tôi đi điện thoại cho ông đại tá của tôi để xem thử có thể giúp được gì cho tuyên úy không?”.
Ông đại tá trả lời ngay: ”Dĩ nhiên là được. Việc ấy cũng giúp tôi, chính tôi đang cần bay. Tôi rất sung sướng được đưa tuyên úy đến Jort Benning. Xin anh mời tuyên úy đến đây, sáng mai lúc 6 giờ”.
Tôi được mời đến nghỉ đêm tại nhà anh phi công và sáng hôm sau lúc 6 giờ chúng tôi cùng đi vào phi trường. Tôi cảm thấy phấn khởi và rất vui vì Chúa trả lời tôi. Nhưng tôi chưa thể ý thức được với cách nào và đến mức độ nào Chúa đã trả lời. Tôi ngước mắt tìm chiếc máy bay mà tôi sẽ ra đi. Ở đây có một dãy những bến chiếc động cơ khổng lồ nhưng tôi không thể nghĩ rằng một chiếc nào trong đó sẽ bay một chuyến ngắn để chở tôi.
Tôi tưởng tượng đến một chiếc máy bay nhỏ, ít tiện nghi, một chiếc vừa đủ để chở tôi về đơn vị cho kịp giờ. Tôi tự nghĩ đó là tất cả những gì tôi cần.
Ông bạn phi công ngừng lại và nói với tôi: ”Thưa ông. đây rồi, xin mời tuyên úy lên !” Trước mặt tôi là chiếc máy bay to nhất của sân bay, to gần bằng một cái nhà đồ sộ. “Lạy Chúa, chiếc ấy không thể để con đi” lòng tôi kêu lên. Rồi như trong giấc mộng, tôi bước lên máy bay, theo sau một nhân viên của phi hành đoàn, người ấy dẫn tôi đến một chiếc ghế bành êm ái, trong một phòng khác rộng lớn. Tôi là người hành khách duy nhất và chiếc máy bay được trang bị đầy đủ tiện nghi. Ông đại tá đến chào tôi và nói rằng ông mong tôi sẽ hài lòng về chuyến bay này. Tôi chỉ có thể ấp úng mấy câu cám ơn mơ hồ. Tôi còn quá ngạc nhiên. Tôi đã biết rằng Chúa đã chuẩn bị một chiếc máy để đưa tôi đến Jort Benning đúng giờ đã định, nhưng tại sao lại có chiếc máy bay khổng lồ và sang trọng như thế này? Tại sao Chúa không chọn một chiếc tầm thường hơn? Quả thật tôi cảm thấy mình không xứng đáng. Và bỗng trong trí tôi thoáng qua một ý nghĩ: Máy bay khổng lồ này dành cho một mình tôi là một điều phí phạm. Tôi choáng váng hỏi:”Lạy Chúa, tại sao vậy?”. Câu trả lời đến ngay rất ngắn gọn :”Chỉ vì Ta thương con”, Ta chỉ muốn cho con thấy đó là cách Ta ban tặng cho con cái Ta, và đáp lại lòng tin tưởng của chúng .
Thưa Chúa, con bắt đầu hiểu.
Và niềm vui tỏa sáng trong tôi trong lúc cuộc đối thoại bên trong tiếp tục.
Ta muốn con nói với tất cả những ai muốn nghe rằng họ phải cảm tạ Ta về từng chi tiết nhỏ trong đời sống của họ, và Ta sẽ mở cửa trời đổ xuống trên họ bao nhiêu ân huệ quá sức cầu xin hay ao ước.
Cám ơn Chúa, tôi suýt bật lên cười .
Và con hãy nhớ rằng, tiếng nói trong tôi tiếp tục, không bao giờ con có thể xứng đáng với những ân huệ của Ta. Chính Ta ban cho con như một món quà do lòng nhân ái của Ta, điều đó phải hiểu và chấp nhận.
Những lần trước, mỗi lần phải đi đâu, tôi đều mượn máy bay quân đội và tôi đổ xuống cách chỗ làm việc 15 cây số. Lần này chiếc máy bay khổng lồ 4 động cơ đổ tôi xuống Jort Benning cách chỗ tôi phải đi đến chỉ vài trăm thước. Khi đến nơi nhìn đồng hồ :Tôi đến vừa đúng giờ, không sớm trước một phút.
Chúa thật sự cung cấp cho chúng ta những điều chúng ta cần và Chúa ban cho một cách rộng rãi.
Điều mà chúng ta phải làm là cầu xin mà thôi. và món quà đầu tiên Chúa muốn ban cho con cái mình là baptem trong Thánh Linh. Thật vậy được baptem trong Thánh Linh là bình sữa đầu tiên của những người mới sinh ra trong ơn Thánh. Họ cần điều đó để lớn lên.
Đức Thánh Linh đến cư ngụ trong người mới có đức tin khi người này tiếp nhận Christ làm Đấng Cứu Thế của mình. Đức Chúa Jêsus cũng đã truyền cho các môn đồ hãy đợi cho được nhận lãnh Baptem bằng Thánh Linh trước khi họ có thể ra đi làm chứng nhận cho ngài và đi rao giảng Tin Lành với quyền năng và uy tín.
Các môn đồ chờ đợi tại thành Giêsusalem như Chúa Jesus đã dặn họ.Vào ngày Lễ Ngũ Tuần: ”Thình lình có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi. Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đâu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” (Cong Cv 2:2-4)
Và từ đó Hội Thánh hình thành. Vốn là những người nhút nhát, các môn đồ của Đấng Christ bây giờ trở nên những chứng nhận dạn dĩ và can đảm. Lập tức họ bắt đầu rao giảng Tin Lành với quyền năng và uy tín, và Chúa Jesus thực hiện những phép lạ đi kèm lời giảng dạy của các môn đồ. Chúa Jêsus đã từng nói với họ: “Quả thật, ta cùng các người, kẻ nào tin ta cũng sẽ làm việc ta làm, lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì Ta về cùng Cha” (GiGa 14:12).
Hàng triệu người đã gia nhập Hội Thánh đầu tiên. Đọc sách Công Vụ Các Sứ Đồ, chúng ta nhận thấy rằng thường thường những kinh nghiệm được Báp tem trong Thánh Linh đi sau các cuộc trở lại đạo. Khi Phierơ ở Sêsarê giảng cho tất cả nhà Cọtnây thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo” (Cong Cv 8:15). Lúc Tin Lành được giảng ra ở Samari có rất nhiều người tin nhận Chúa Jesus là Đấng Cứu Thế và chịu báp tem bằng nước.
Người ta liền phái Phierơ và Giăng, khi ấy đang ở Giêrusalem đến “Hai người tới nơi cầu nguyện cho các môn đồ mới, để cho được nhận lấy Đức Thánh Linh” (8:15) Phierơ và Giăng không bảo họ chờ đợi hay học hỏi Kinh Thánh hoặc cầu nguyện hay chuẩn bị. Các môn đồ ở Giêsusalem xuống chỉ lo một điều là Đức Thánh Linh chưa xuống trên các tân chiến hữu và lập tức “Phierơ và Giăng đặt tay trên các môn đồ, thì đều được nhận lấy Đức Thánh Linh” (8:17).
Phép báp tem bằng Thánh Linh đã được hứa ban cho những nguời tin vào Chúa Jêsus Christ. Chính Chúa Jesus đã phán :”Nếu người nào khát hãy đến cùng Ta mà uống. Kẻ nào tin Ta thì sông nước Hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy” (GiGa 7:37-39).
Được báp tem (nhận chìm, dìm mình) trong Thánh Linh là một ân huệ miễn của Chúa. Chúng ta không thể tự tạo ra. Chúa Jesus đã ban cho chúng ta ơn cứu rỗi và Đức Thánh Linh: “Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi đời đời, tức là Thần Lẽ Thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài, nhưng các người biết rõ Ngài, vì Ngài vẫn ở với các người và sẽ ở trong các người”. (14:16-17).
Chúa Jesus là Đấng sẽ gởi Đức Thánh Linh đến, chính Chúa Jesus làm baptem cho chúng ta bằng Thánh Linh.
Đức Chúa Trời phán cùng Giăng Báptít khi ông làm Baptem trên sông Giô đanh: “Đấng mà người sẽ lấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Đấng làm phép Baptem bằng Đức Thánh Linh” (1:33).
Tại sao có quá nhiều Cơ Đốc Nhân vẫn còn đấu tranh thất vọng? Tôi đã thấy ở khắp mọi nơi những khuôn mặt buồn bã và thất vọng. Họ tự hỏi: ”có cái gì không suôn sẻ nơi tôi ? Có phải tôi không xứng đáng hay quá yếu ớt ? Tôi rất cần quyền năng của Đức Chúa Trời trong đời sống tôi kia mà?”.
Một giáo viên trường Chúa Nhật viết cho tôi: ”Tôi cần đến quyền năng của Đức Thánh Linh. Tôi cố gắng về mọi phương diện để biết vâng và giống Chúa Jesus hơn. Tôi nghĩ rằng tôi đã ít đọc Kinh Thánh nên tôi cố dậy sớm buổi sáng để đọc một tiếng đồng hồ và cầu nguyện thêm nửa tiếng nữa. Nhưng tôi vẫn không thấy có thêm một sức mạnh mới nào trong đời tôi và tôi vẫn chưa được nhận lãnh baptem trong Thánh Linh. Tôi đã xưng tất cả tội lỗi mà tôi nhớ. Tôi đã là Cơ Đốc Nhân từ 20 năm nay nhưng tôi bày tỏ rất ít phẩm chất tốt và tôi tự hỏi không biết mình có được hay không ?
Những người này giống như những đứa bé muốn tự duỗi dài người ra để lớn lên hầu có thể ăn bữa ngon lành mà người ta dọn sẵn cho họ từ lâu. Đói nhưng lại từ chối ăn uống ví họ muốn vượt qua mọi vấn đề riêng tư của họ trước đã.
Một số tín hữu Hội Thánh đầu tiên cũng đã gặp những khó khăn đó: Họ nghĩ rằng họ phải đạt đến mức độ thánh thiện nào đó để có thể nhận lãnh những ân huệ của Đức Chúa Trời.
Phaolô viết: “Hỡi những người Galati ngu muội kia, ai đã ếm anh em là người mà trước mắt đã được phô bày ra Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá ? Tôi chỉ hỏi anh em câu này: Ấy là cậy các việc làm luật pháp hay là nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh ? sao anh em ngu muội dường ấy ? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?” (GaGl 3:1-3).
Những tín hữu Galati đã nhận Đức Thánh Linh bởi đã tin vào Chúa Jêsus Christ nhưng họ bị cám dỗ vì tưởng rằng chính họ có trách nhiệm trong mức trưởng thành thuộc linh của mình, do đó họ đã đi đến chỗ không dựa trên đức tin mà sống.
Lòng kiêu ngạo và khuynh hướng tự cảm thấy chính mình là tác giả của những tiến bộ thuộc linh rình rập người tín hữu trong mọi giai đoạn của cuộc đời. Satan cám dỗ chúng ta qua hai cách: hoặc là nó đến nhỏ to bên tai chúng ta: :”Chà mày quá tiến bộ trên con đường thuộc linh hãy cố gắng thêm một chút nữa sẽ trở thành rất mạnh” hoặc nó nói “Hãy nhìn xem mày yếu đuối và bất lực đến chừng nào. Tao không ngạc nhiên gì khi thấy Chúa không tin ở mày và không ban ơn cho mày nữa”.
Bạn có thể tự khen những tiến bộ thuộc linh của mình hoặc chế trách những thất bại của mình, đàng nào cũng thế. Bạn hãy đặt trách nhiệm và công việc nơi Bạn chứ không phải nơi Chúa mới có quyền lãnh trách nhiệm.
Một mục sư có một yếu đuối mà ông không thể thắng được mặc dù ông đã cố gắng nhiều. Cuối cùng ông bị vào tù vì lầm lỗi đó và vì sử dụng của gian. Mục sư này là người mới thi hành chức vụ. Bị thất bại vì sự sai lầm của mình, ông thành thật hỗi lối. Ông tin rằng Chúa chắc sẽ không tiếp tục dùng ông để đưa những người khác đền ơn cứu rỗi.
Vào một ngày nọ có một người bạn của ông gởi tặng ông một quyển sách “Từ tù ngục đến ca ngợi”. Trong sách ấy ông thấy Chúa dùng mọi sự để biến cải nên tốt ngay cả những tội lỗi của chúng ta. Phấn khởi bởi một niềm hy vọng mới mẻ, ông dám cám ơn Chúa vì những tội lỗi của chính mình và sự bị tù của mình. Tôi có thể ca ngợi và cám ơn Chúa cho bất cứ một chi tiết nhỏ nào trong đời tôi. Tôi chưa bao giờ ý thức sự cao cả và thâm sâu trong lòng nhân từ Chúa. Tôi nghĩ rằng mình rất tốt trong việc phục vụ Chúa. Bây giờ thật sung sướng biết bao khi con người cũ đầy kiêu ngạo của tôi phải chết đi, nhường chỗ cho Đấng Christ sống trong tôi, và chỉ một mình Chúa thôi.
Phòng giam của ông Mục sư trở thành ngôi nhà chúc tạ hồng ân của Chúa, và nhiều người khác đã được nghe giảng Tin Lành và họ tiếp nhận Chúa Jêsus.
Nếu chúng ta nghĩ rằng do chúng ta hoặc do người khác mà chúng ta “khá tốt” hay “chưa tốt đủ” để phụng sự Chúa thí chúng ta rơi vào một cạm bẫy rất nguy hiểm. Chính Chúa Jêsus đã bảo trước cho những người theo Chúa: “Các người đừng xét đoán ai để mình khỏi bị xét đoán” (Mat Mt 7:1).
Chỉ có Chúa mới có thể xét đoán và Chúa nói rằng chúng ta thanh khiết và không chỗ trách được trước mắt Chúa, nếu chúng ta được bao bọc trong tình yêu của Chúa.
Như thế làm sao ta còn dám đặt ra những tiêu chuẩn để phán đoán bản thân ta hoặc phán đoán người khác ? Chỉ có Chúa mới có thể lên án những lỗi lầm của chúng ta hay của người khác có ra sao đi nữa thì điều đó chỉ liên hệ đến một mình Chúa thôi.
Khi chúng ta bắt đầu đoán xét nhau thì thường là chúng ta nói: “Anh ấy hút thuốc, chị kia đánh phấn môi son, họ uống rượu và đi xem phim nọ, phim kia…”
Bạn hãy nói cho tôi, bạn sẽ chọn một người dạy giáo lý hoặc một giáo viên trường Chúa Nhật như thế nào đây? Hãy tưởng tưởng bạn sẽ phải chọn giữa hai người: Người thứ nhất cân nặng vừa phải, có một thân hình cân đối và bạn biết ông ấy hút thuốc; Người thứ hai thật phì lũ, đó là một đống thịt, nhưng ông ta có một nụ cười hiền hậu, hay đi nhà thờ và đọc Kinh Thánh. Bây giờ giữ hai người, bạn sẽ chọn người nào để giải thích về bài học, “Làm thế nào để phát triển đức tự chủ, tiết độ trái của Thánh Linh”. Hút thuốc là một thói quen rất xấu, có hại cho sức khỏe và đó là dấu hiệu của sự vô kỷ luật cá nhân. Nhưng ra sẽ nghĩ gì về người ăn uống quá độ với những người say sưa vào cùng một loại và tuyên bố cả hai đều đáng chết. Người tham ăn đi nhanh đến cái chết và người hút sách cũng vậy.
Tôi không khuyên bạn lên án những người hút thuốc và những người phát phì đâu, không có trường hợp nào để cho chúng ta xét đoán cả.
Khi hai người đưa đến cho Chúa Jêsus người đàn bà bị bắt quả tang, người đàn bà này bị bắt quả tang vê tội tà dâm, và trong luật pháp Môise có truyền cho chúng ta rằng phải ném đá những hạng người như vậy còn Thầy thì nghĩ sao ?” (GiGa 8:4-5).
“Ai trong các người là người cô tội, hãy trước nhất ném đá vào người” (8:7).
Ai trong chúng ta xứng đáng để ném viên đá phê bình phán đoán và buộc tội. Đo lường độ “tốt” và độ “xấu” của chúng ta, đó là một cách bào chữa trước mặt Chúa dựa trên những việc lành chứ không phải do đức tin. Khi ta nói đến đức tin và việc lành, ta thường trích dẫn câu: Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Eph Ep 2:10).
Điều đó không chứng tỏ rõ ràng rằng chúng ta được tái sanh để làm việc lành cho Chúa sao ?
Nhưng hãy nhìn những dòng trước :”Vả ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời” (2:8) “Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu hết cho ai không khoe mình” (2:8).
Sứ đồ Phaolô muốn nói rằng chúng ta được cứu rỗi cứu rỗi nhờ đức tin, rồi sau đó chúng ta phải tự lo liệu một mình sao? Điều đó không có nghĩa gì cả phải không ?
Phần trên bức thư, sứ đồ Phaolô đã nói chúng ta đã được Thánh hóa và không ít tì vít trước mắt Chúa đã ban cho chúng ta mọi phước lộc trên trời.
Hay đọc thư của sứ đồ Gia cơ: Nếu có ai nói mình có đức tin, nhưng không có việc làm thì có ích lợi gì chăng? đức tin đó cứu người ấy được chăng Ápraham tổ phụ chúng ta, khi dâng con tim mình và Ysác trên bàn thờ, há chẳng từng cậy việc làm được xưng công bình hay sao?” (Gia Gc 2:4, 21).
Việc ấy thuộc loại việc lành nào ? Tại sao lên núi đem đứa con đặt trên bàn thờ làm của tế lễ theo lệnh truyền của Đức Chúa Trời , và đó chính là đứa con mà Chúa đã hứa cho Aùpraham để ban phước cho ông và làm cho dòng dõi đông đảo.
Gia cơ tiếp:”Thế thì ngươi thấy đức tin đồng công với việc làm, và nhờ việc làm mà đức tin được trọn vẹn”. Vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng:” Aùpraham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người, và người được gọi là bạn hữu của Đức Chúa Trời” (2:22-23).
Vậy thì chúng ta phải làm những việc lành nào? Một ngày nọ các môn đồ cũng đặt cho Chúa Jêsus một câu hỏi tương tự: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện sự công bình của Đức Chúa Trời”. Chúa Jêsus trả lời rằng việc mà Đức Chúa Trời đòi hỏi là chúng ta phải tin vào Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, chúng ta phải gắn bó với chức vụ của Ngài và đặt niềm tin tưởng và trông vậy vào Ngài.
Đó chính là điều Aùpraham đã làm. Việc lành của Aùpraham là gì? Chính là tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ lời hứa, không bao giờ Aùpraham yếu lòng tin nơi Chúa. Vì vậy Đức Chúa Trời đã quyết định đặt Aùpraham làm tổ phụ của Ysơraên.
Chúa Jêsus đã hứa với những kẻ theo Ngài rằng họ sẽ làm nhiều việc lớn hơn cả Ngài làm, và chúng ta biết rằng sau khi đã nhận lãnh phép baptem bằng Đức Thánh Linh các môn đồ đã rao giảng Tin Lành với quyền năng và nhiều phép lạ.
Trong các việc này phần đóng góp của các môn đồ là đức tin, quyền làm phép lạ không thuộc về họ. Quyền đó từ Đức Chúa Trời mà đến và diễn ra bên ngoài đời sống của họ vì họ đã tin.
Chúng ta sẽ tự lùa gạt mình hoàn toàn khi nghĩ rằng phép baptem trong Thánh Linh cho chúng ta một quyền năng, nó làm chúng ta mạnh thêm tăng khả năng và khuynh hướng làm việc lành cho Chúa; và chịu baptem này khiến chúng ta trở thành người hoàn hảo về mặt thuộc linh. Nghĩ như thế là điều sai lầm trầm trọng.
Vậy thì tại sao có phép baptem trong Thánh Linh? Do phép baptem này con người riêng của chúng ta bị hạ xuống để cho sự quyền năng của Đức Chúa Trời có thể cai trị chúng ta và bày tỏ ra bên ngoài qua đời sống chúng ta.
Chính Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta, Sứ đồ Phaolô viết:“Vả Đức Chúa Trời, bởi quyền lực cảm động trong chúng ta, có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin và suy tưởng” (Eph Ep 3:20). Rõ ràng là nếu chúng ta càng tin cậy vào Chúa và càng ít lệ thuộc vào chúng ta thì Chúa càng hoạt động dễ dàng.
Vập phép baptem trong Thánh Linh là gì? Chúa Jêsus thường nói đến Đức Thánh Linh và Thần Lẽ Thật đến thì ngài dẫn các ngươi vào lẽ thật: (GiGa 16:13).
Thần Lẽ Thật sống trong mỗi tín hữu và dìu dắt họ. Nhưng được baptem trong Thần Lẽ Thật còn có nhiều nghĩa khác nữa. Chữ mà chúng ta dịch là “baptem” trong kinh thánh có nghĩa là “nhận chìm” vào nước hoặc bảo hòa (no ứ). Trong ngôn ngữ Hy lạp, người ta dùng chữ ấy diễn tả ý “thấm ướt”.
Như thế là xin Chúa Jêsus làm phép baptem chúng ta có nghĩa là chúng ta được nhận chìm, được hoàn toàn thấm ướt bởi chân lý.
Chúa Jêsus cầu xin Cha Ngài cho chúng ta: “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên Thánh: lời cha là lẽ thật” (GiGa 17:17).
Phép baptem bằng Thánh Linh là gột rửa,lau sạch tất cả. Đó là cuộc triển làm mọi góc cạnh, xó xỉnh của đời ta ra dưới ánh sáng thấu suốt của chân lý Đức Chúa Trời. Đó là sự tẩy rửa hoàn toàn để chúng ta thoát khỏi sự tự mãn, kiêu ngạo, những bóng mờ của sự dối trá mà ta cứ bám vào tất cả những gì cản trở đức tin, luồng sinh khí của sự hiện diện đầy quyền năng của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta.
Việc thanh tẩy của Thánh Linh hay trong Thánh Linh có hai mục đích thanh lọc và chuẩn bị cho cái bình, nghĩa là đời sống chúng ta, chứa đựng quyền năng của Đức Chúa Trời, và đổ đầy tràn sức mạnh của Chúa vào. Hai việc này cùng xảy ra một lúc: Khi Thần Lẽ Thật bắt đầu thấm nhuần bản thân ta, thì cũng cho ta thấy sự già cỗi và cặn bã trong con người chúng ta để tống ra ngoài. “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các người, thì các người sẽ nhận lấy quyền phép…) (Cong Cv 1:8)
Chúa không có ý nói rằng quyền năng này thuộc về chúng ta, nhưng nó sẽ xuống đầy tràn trên chúng ta và hoạt động qua chúng ta. Mỗi người chúng ta là một cái bình chứa đựng, là con sông cho dòng nước chảy. Dù chúng ta có cố gắng đến mức độ nào đi nữa, thì chúng ta không thể là sức mạnh đó. Chúng ta giống như cái ly đựng nước mát, nước có thể làm xoa dịu cổ họng rát bỏng vì khát, nhưng cái ly không thì không thể làm ai bớt khát được cả.
Sứ đồ Phaolô viết :”Nhưng chúng tôi đựng của quí này trong chậu bằng đất, hầu cho tổ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi” (IICo 2Cr 4:7)
Nếu chúng ta nói rằng chúng ta không cần chịu bap tem trong Thánh Linh thì cũng như nói rằng chúng ta không cần được rửa sạch để nhận lãnh ánh sáng chân lý của Chúa. Và chúng ta cũng không cần quyền năng nơi Chúa hoạt động dồi dào nơi chúng ta qua và qua chúng ta.
Chúa Jêsus phán với các môn đồ :” Trong các người có ai làm Cha, khi con mình xin bánh mà cho đá chăng? hay là xin cá mà cho rắn thay vì cá chăng? Hay là xin trứng mà cho bò cạp chăng? Vậy, nếu các người vốn là xấu mà biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Thánh Linh cho người xin ngài sao? (LuLc 11:11-13)
Vì thế chúng ta có thể xin Chúa Jêsus làm phép Baptem cho chúng ta bằng Đức Thánh Linh và biết chắc chắn rằng Chúa sẽ nhận lời.
Mỗi tuần lễ tôi nhận được nhiều thư kể cho tôi biết rõ những người đã xin Chúa Jêsus làm báp tem cho họ bằng Thánh Linh nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Tại sao có sự trục trặc đó? Điểm sai lầm của những người này là họ chỉ chú ý đến cảm giác của họ, thay vì chăm chú lắng nghe những gì Chúa phán ra. Trở ngại luôn luôn do cảm xúc.
Nhưng thật ra cũng có một số người có những cảm xúc lạ lùng họ nhận lãnh báp tem trong Thánh Linh, cũng như có những người khác gặp Chúa Jêsus với xúc động mạnh mẽ, khi lần đầu tiên trong đời họ tiếp nhận Ngài làm vị cứu tinh của cuộc đời mình.
Nhưng chúng ta không được cứu rỗi do cảm xúc, cũng vậy, chúng ta nhận Thánh Linh cũng không do cảm xúc. Những cảm xúc, những cảm giác không tạo nên sự biến đổi trong cuộc sống. Phép báp tem trong Thánh Linh là sự biến đổi trong Thánh Linh là sự biến đổi từ trong.
Và sau đó Thánh Linh mới cho thấy những dấu hiệu bên ngoài làm chứng của kết qua bên ngoài làm chứng của kết quả của sự biến đổi bên trong: Một quyền năng mạnh mẽ, một uy tín mới để làm chứng cho Đấng Christ, sự biểu hiện của những ân tứ Thánh Linh và sự phát triển của những ơn đó là tình thương, sự vui mừng và sự bình an...
Những điều này giác quan của chúng ta cảm nghiệm được, nhưng thật ra đó là chỉ là kết quả của sự chấp nhận để Chúa làm việc nơi ta. Và điều đó không thể đo lường bằng cảm xúc được.
Chính ta phải quyết định chấp nhận lời Chúa bằng đức tin và nhất quyết không chú ý đến cảm giác nữa. Nếu không, chẳng bao giờ chúng ta đưa đức tin mình đến hành động được.
Hãy nói với Chúa rằng bạn muốn nắm chắc lời Chúa, và muốn tin rằng Chúa Jêsus làm báp tem cho bạn trong Thánh Linh ngay từ khi bạn tin Chúa. Hãy vững vàng trong đức tin và tin chắc mọi sự sẽ hoàn thành.
Một thanh niên viết cho tôi : “Tôi định xin vô học ở trường thần đạo nhưng đời sống thuộc linh tôi còn yếu ớt quá. Tôi có liên hệ với những tín đồ chịu báp tem trongThánh Linh. Họ cầu nguyện mạnh mẽ và nói nhiều thứ tiếng và cũng có kinh nghiệm trong việc đặt tay chữa bệnh và làm phép lạ. Tôi tin rằng tất cả những điều đó hợp với Kinh Thánh, tôi cầu nguyện xin nhận lãnh Thánh Linh. Nhưng không hiểu vì lý do gì nào mà tôi vẫn chưa nhận lãnh gì cả. Tôi nghĩ rằng Thánh Linh không ban ân tứ cho ai để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ, nhưng là để cho người đó chuẩn bị để làm công việc mà Chúa sẽ giao phó cho. Nhưng Chúa cũng chưa cho tôi các kinh nghiệm đó, tại sao? Tôi tự hỏi còn thiếu gì nữa. Tôi tin Chúa Jêsus là Đấng Cứu rỗi tôi và với hết cả lòng tôi, tôi muốn theo Ngài. Tôi đã nói với Chúa như thế nhiều lần. Tôi xưng tội tại nhà thờ và trong lúc tôi cầu nguyện riêng, tôi biết rằng tôi đã được tha thứ và thanh tẩy. Tôi muốn phục vụ Chúa Jêsus và tôi cần được báp tem trong Thánh Linh để có thể phục vụ hữu hiệu hơn. Vậy thì tại sao không có gì xảy ra cả? Tôi đã làm điều gì sai đến nỗi Chúa không nhận lời ?
Hôm qua trong lúc chúng tôi học Kinh Thánh, tôi đã quỳ xuống và xin được báp tem trong Thánh Linh. Các bạn tôi đã đặt tay lên đầu tôi và cầu nguyện cho tôi. Nhưng tôi chẳng thấy gì cả. Mục sư có vui lòng cầu nguyện cho tôi không ?
Điều quan trọng nhất không phải do nơi bạn ở, hay là lời bạn dùng để xin được báp tem trong Thánh Linh, cũng không phải do bạn cầu nguyện một mình hay có nhiều người đặt tay trên đầu bạn. Việc được báp tem trong Thánh Linh và người báp tem cho bạn là Đấng Christ mà thôi.
Bạn chỉ cầu xin một lần là đủ rồi, rồi cảm ơn Chúa đã nghe lời bạn cầu xin và nhận lời bạn. Nếu bạn đã cầu nguyện tuần trước và theo bạn hình dung không có gì xảy ra thì bạn hãy trút bỏ những cảm giác lừa dối đó đi. Chúa Jêsus đã hoàn tất công việc của Ngài, còn bạn, bạn phải tin rằng mọi sự sẽ được thực hiện.
Bạn có thể không cảm thấy gì cả nhưng có một dấu hiệu rõ ràng mà bạn có thể xin ngay để rút kinh nghiệm đó là ơn ngôn ngữ. Trong sách Công vụ các sứ đồ, ơn nói tiếng lạ là một hậu quả của việc được báp tem trong Thánh Linh. Vào ngày lễ Ngũ Tuần, đó là dấu hiệu thứ nhất của những ân đức thuộc linh nơi người có đức tin.
Khi tôi xin Chúa Jêsus làm báp tem cho tôi trong Thánh Linh thì tôi không cảm thấy gì cả. Có một bà đã đặt tay lên đầu tôi và cầu nguyện bằng một ngôn ngữ khác. Tôi không có một cảm giác nào cả và tôi nghĩ rằng có lẽ không có gì xảy ra. Nhưng bà ấy bảo tôi phải tin rằng mình đã được báp tem trong Thánh Linh và đừng dựa vào giác quan và suy đoán hãy cảm tạ Chúa về điều đã nhận được. Tôi không làm theo lời bà, nhưng tôi cảm thấy mình không được tự nhiên. Bà ta còn nói rằng tôi có thể nói tiếng lạ nếu tôi chỉ mở miệng ra cho ngôn ngữ có thể phát âm ra ngoài. Tôi ngần ngại nghĩ rằng tôi trở thành ngớ ngẩn. Nhưng tôi biết Kinh Thánh đã xác quyết rằng ơn nói tiếng lạ là ơn tứ Thánh Linh, và vì hiện nay tôi đầy rẫy Thánh Linh, dù tôi có cảm thấy hay không, cho nên tôi phải chờ đợi ơn Chúa sẽ biểu hiện ra bên ngoài qua tôi và bởi tôi. Quả nhiên tôi thấy có những hình lạ trong đầu tôi. Tôi mở miệng và nói to lên, những tiếng ấy không có nghĩa gì cả và phản ứng đầu tiên của tôi là nghĩ rằng:”Đó là một sự lừa bịp chính mày đã tạo ra những tiếng líu lo đó”. Nhưng tôi cũng ý thức được rằng ta không thể đưa vào những cảm giác để phê phán việc gì đã xảy ra khi ta nói bởi đức tin. Tôi quyết định chấp nhận lời Chúa và không để ý đến những điều mà tôi đã nghĩ lúc nãy.
Tôi vẫn không cảm thấy gì cả nhưng tôi quyết định tin. Dấu hiệu đầu tiên rõ ràng, mà tình cảm tôi có thể nhận ra đó là một ý thức rất chắc chắn rằng chính Chúa Jêsus là Đấng Cứu Chuộc tôi và Ngài là Chúa tôi.
Qua lời Chúa, tôi biết rằng Chúa Thánh Linh được ban cho chúng ta là để làm chứng về Chúa Jêsus; và bỗng nhiên tôi ý thức rõ ràng chưa bao giờ tôi ý thức như vậy Chúa Jêsus và ai là Chúa Jêsus có ý nghĩa gì cho đời sống tôi.
Dấu hiệu thứ hai tôi cảm thấy một cách rõ ràng nữa là tình thương sâu sắc đối với người khác. Điều đó cũng được lời Chúa nói đến: trái Thánh Linh là yêu thương.
Từ đó tôi cảm nhận một số ơn tứ Thánh Linh nơi tôi và Ngài hành động qua tôi, tôi tin giản dị rằng Chúa Jêsus đã hành động qua tôi bởi quyền năng của Thánh Linh, khi tôi tin và chờ đợi sự can thiệp của Ngài.
Nếu có người nào được lành bệnh vì tôi đã cầu nguyện và đặt tay lên đầu thì đó không phải là tôi đã trở thành siêu thánh (thánh đồ bậc thượng thặng). Tôi chỉ là một con sông để cho dòng sông ân điển chảy qua. Kho cầu nguyện, tôi cảm nghiệm rằng năng lực chữa trị đến từ Đức Chúa Trời, đôi khi tôi không còn cảm thấy gì cả.
Thành quả hoàn toàn không do những cảm quan của chúng ta, nhưng chỉ do đức tin mà thôi, một khi chúng ta xác quyết rằng chính Đức Chúa Trời hành động.
Khi do đức tin bạn mở miệng để nói tiếng lạ, có lẽ bạn sẽ bị cám dỗ mà nghĩ như tôi đã nghĩ là chính mình đã đặt những tiếng đó ra.
Bạn đừng để cho những ý tưởng ấy lừa dối mình và ngăn trở bạn tiếp tục. Nếu bạn đã thành thật giao phó trọn vẹn đời sống mình cho Đức Chúa Trời, kể cả tiếng nói, môi miệng, nếu bạn đã tin Đức Thánh Linh cho bạn những lời cần thiết để cầu nguyện thì bạn có thể xác tín rằng Chúa nhận lời bạn dù bạn chẳng hiểu những lời líu lo bạn thốt ra. Dù sao những tiếng ấy không quan trọng bằng sự kiện là qua con người bạn, bạn đang cầu nguyện với Đức Chúa Trời.
Có người hỏi: Tại sao phải cầu nguyện trong ngôn ngữ mẹ đẻ hay một ngôn ngữ cảm hứng nếu Chúa đã biết trước những gì chúng ta cần trước khi chúng ta cầu xin ?
Chúng ta cầu vì cầu nguyện nằm trong chương trình của Chúa dành cho chúng ta và các con Ngài. Và đó cũng là huấn lệnh của Chúa:“hãy cầu nguyện không thôi” (ITe1Tx 5:17).
Hãy để thì giờ mỗi ngày cầu nguyện bằng ngôn ngữ cảm hứng, tiếng lạ đó là điều quan trọng. Vì nó có nghĩa là Thần Lẽ Thật đang nói qua môi miệng chúng ta. Chúa Jesus đã hứa? “Kẻ nào tin ta thì sông nước Hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như kinh thánh đã chép vậy” (GiGa 7:38). Chúa nói về mặt nước chân lý sẽ chảy từ chúng ta nếu tất cả con người chúng ta được chìm ngập trong Thánh Linh và thấm nhuần bởi Thánh Linh.
Chúng ta thường nghĩ rằng chân lý thường đến từ chúng ta đến từ những người khác. Nhưng bây giờ hãy nghĩ đến những người khác. Nhưng bây giờ hãy nghĩ đến những gì chân lý đó phải thể hiện trong chúng ta. Nó sẽ đem ánh sáng những dối trá che đậy tội lỗi và sợ hãi, tất cả những xó xỉnh tối tăm của quá khứ chìm trong những kỷ niệm hoặc tiềm thức của chúng ta. Chúng ta không thể nói ngay với Chúa bằng trí khôn ngoan của chúng ta. Đó là một trong những lý do khiến Chúa đã chuẩn bị khía cạnh này trong lời cầu nguyện. Khi chúng ta nói tiếng lạ, trí khôn chúng ta trực tiếp liên hệ với Đức Chúa Trời. Thánh Linh cầu nguyện thay cho chúng ta và óc phán đoán của chúng ta không thể kiểm nghiệm được. Chúng ta nói những chữ mà chúng ta không hiểu. Thần lẽ thật dò tận đáy sâu thẳm con người chúng ta. Vì thế nói tiếng lạ là khí cụ để chữa bệnh rất kỳ diệu trong đời ta. Sau đó chúng ta khám phá rằng khi chúng ta cầu nguyện trực tiếp cho những nhu cầu của họ, mà nếu chỉ với trí khôn chúng ta, chúng ta không thể hiểu được, và rất nhiều khi, những người mà ta cầu nguyện không hề ý thức về gốc rễ của những việc đó.
Một bà mẹ bị chứng bệnh thần kinh và tâm lý từ lúc còn là thiếu nữ, bà nhận Đấng Christ và Đấng Cứu Thế của bà, nhưng bà không thoát khỏi căng thẳng sâu kín trong con người bà. Bà bèn đọc Kinh Thánh về vấn đề báp tem trong Thánh Linh, bà quả quyết rằng Chúa muốn ưu đãi và ban cho bà kinh nghiệm đó.
Một ngày nọ bà quỳ xuống trong nhà mình và cầu nguyện: “lạy Chúa Jesus, con xin dâng trọn con con người con cho Chúa xin hãy rửa con sạch tất cả những gì không thuộc con cho Chúa và thanh tẩy con trong Thánh Linh. Con xin cảm tạ Chúa và con tin rằng Chúa làm điều đó cho con”.
Lúc ấy bà không cảm thấy gì đặc biệt, bà trỗi dậy và tiếp tục công việc nội trợ. Nhưng trong suốt ba tuần sau bà cảm thấy có một cái gì bất thường xảy ra trong bà. Bà khóc thường xuyên và bà cảm thấy sống lại những năm đau khổ thời thơ ấu.
Những việc xảy ra từ xưa đã quên từ lâu, nay trở lại trong trí nhớ, nỗi khổ cực mà bà phải chịu đựng và đã để lại nơi bà một dấu vết của một vết thương lòng và sự sợ hãi; những đau khổ mà đến phiên bà, bà đã gây cho người khác. Mỗi kỷ niệm lại làm bà khóc nức nở vì hối hận và đã xin Chúa tha thứ cho bà và cho những người đã làm bà đau khổ, và xin Chúa xoa dịu, chữa lành những nỗi đau khổ này nhờ tình thương của Chúa. Bà chỉ có thể cắt nghĩa những giọt nước mắt mình bằng lời Kinh Thánh:” Cũng một lẽ ấy, đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta, vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta”. (RoRm 8:26). Khi bà ngừng khóc bà cảm thấy nhẹ nhõm. Và một chiều nọ, vào cuối tuần lễ thứ ba bà lại khóc nức nở thảm thiết. Về sau bà kể :”Tiếng nức nở phát xuất từ đáy lòng tôi. Rồi bỗng tôi trở lại bình tĩnh giống như một cơn giông tố nhường chỗ cho một sự bình an tuyệt hảo. Tôi chìm ngập trong sự an bình này, rồi bỗng nhiên tôi hiểu rằng có một luồng ánh sáng đang chiếu dịu dàng ở trên tôi. Tôi cảm nghiệm hơn là tôi thấy và tôi biết đó là tình yêu của Chúa Jesus đang ấp ủ tôi”. Mọi căng thẳng của bà hầu như đã biến mất, tuy cũng còn chút đỉnh. Những ngày sau đó bà cảm thấy nhẹ nhõm như chưa từng có. Dù đang làm việc trong nhà hay ra ngoài phố bà lẩm bẩm hát câu giản dị này :”Chúa Jesus con yêu Ngài quá”. Câu hát mang ý nghĩa mới mà bà sung sướng vô cùng. Một buổi chiều, đang ngồi trên xe ra phố, bà sực nhớ mình đang tìm chữ để phổ vào một bản nhạc.
Sau đó bà thú nhận rằng: “Lúc ấy tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi không chú ý tới những đoạn Kinh Thánh bàn về việc nói tiếng lạ, nhưng tôi đang hát trong một tiếng khác và tôi bỗng ý thức rằng những chữ không phải tôi đặt ra mà có liên hệ đến việc báp tem trong Thánh Linh”.
Bà tiếp tục hát bằng tiếng là trong mỗi ngày và dần dà qua nhiều tuần, nhiều tháng, chứng bệnh tâm lý của bà biến hẳn. Bà nói:” Bác sĩ bảo tôi chỉ còn cách là chấp nhận sự suy nhược về thần kinh. Nhưng tạ ơn Chúa, Chúa đã chữa lành bệnh. Tôi được chữa bằng các bài hát, hát trong tiếng lạ”.
Nếu bạn đã cầu nguyện xin được báp tem trong Thánh Linh, bạn có thể mở miệng ra ngay bây giờ để nói ra từng chữ, những âm vừa xuất hiện ra trong trí nhớ bạn với niền tin rằng những chữ âm đó là do Thánh Linh Chúa ban cho bạn khả năng để nói tiếng lạ với điều kiện là bạn muốn. Nếu bạn không thấy một tác động hay một cảm giác gì thì bạn hãy cảm ơn Chúa mà thôi. Một ngày kia sẽ cảm giác được điều đó, nhưng bây giờ Chúa ban cho bạn một ơn đặc biệt để lớn lên trong đức tin.
Hãy đọc Kinh Thánh tất cả những gì Chúa Jesus nói về Thánh Linh. Hãy đọc sách công vụ các sứ đồ và các bức thư gửi cho các Hội Thánh đầu tiên nói về Thánh Linh và những ân tứ của Thánh Linh. Tât cả những điều đó bây giờ đều có liên hệ với bạn.
Hãy chờ đợi những việc này xảy ra trong chính cuộc đời bạn. Hãy nói với Đức Chúa Trời rằng bạn muốn được dùng như một dòng sông để tình yêu của Chúa chảy đến những người khác, và bạn sẵn sàng chấp nhận mọi yêu sách của đức tin.
Hãy cảm tạ Chúa trong mọi trường hợp, dù thuận lợi hay không. Và hãy tin rằng Chúa dùng mọi hoàn cảnh để thực hiện chương trình tuyệt diệu của Chúa trên cuộc đời của bạn.

HÃY XEM ĐÓ NHƯ LÀMỘT NIỀM VUI TRỌN VẸN
“Hỡi anh em hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, vì biết rằng sự thử thách nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn không thiếu thốn chút nào” (Gia Gc 1:2-4)
Chúa đã có một chương trình đặc biệt cho bạn từ lâu rồi, trước khi cả bạn chưa sinh ra. Chúa đã tạo dựng bạn với nhiều tình yêu và chăm nom săn sóc bạn. Mỗi chi tiết cụ thể, mỗi đặc điểm đã được lựa chọn theo dự tính và ý muốn của Chúa,hình dáng của bạn, khả năng, quê quán, gia đình bạn... không có gì liên hệ đến bạn mà do tình cờ hay ngẫu nhiên. Chúa đã tìm kiếm bạn và lôi kéo bạn về với Ngài vì tình thương của Chúa thông qua những hoàn cảnh chuẩn bị cho mục đích duy nhất đó.Chúa đã tái sinh bạn, cho bạn cuộc sống mới nhờ Thánh Linh khi bạn tiếp nhận Đấng christ là Đấng Cứu Tinh của mình, và khi bạn được báp tem, chìm ngập trong Thánh Linh. Và chương trình của Chúa bây giờ là làm bạn toàn hảo trọn vẹn.
Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta (RoRm 5:1), là Đấng đã làm cho chúng ta cậy đức tin vào trong ơn này là ơn chúng ta hiện đương đứng vững, và chúng ta khoe mình trong sự trông cậy về vinh hiển Đức Chúa Trời (5:2). Chúa muốn chúng ta kiện toàn. Dĩ nhiên chúng ta biết điều đó. Chúa muốn chúng ta có thêm tình thương, lòng nhân ái, lòng kiên nhẫn, đức tin, sự bình an, dịu hiền, khiêm nhu, tự chủ để chúng ta trở thành những chứng nhân đích thực khắp mọi nơi. Có phải vậy không ?
Chính thế, nhưng phần đông chúng ta nghĩ rằng điều ấy có nghĩa là phải có một chương trình hành động chặt chẽ để có thể thánh hóa mình bằng cách trở nên thân mật hơn, kiên nhẫn hơn, khiêm nhu và tự chủ hơn. Và càng cố gắng người ta càng thất vọng.
Chính Chúa thay đổi chúng ta chứ không phải chúng ta tự thay đổi mình. Chúa muốn chúng ta tin tưởng vào Chúa để Chúa làm mọi sự.
“Vậy hỡi anh em tôi lấy sự thương sót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm lễ sống và thánh đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (12:1-2)
Chúa thay đổi chúng ta như thế nào ? Làm sao Chúa có thể xóa bỏ những suy nghĩ và những hành động xưa cũ mà chúng ta có từ nhiều năm qua, tất cả những tính tình, nhân cách, thiện cảm, và ác cảm tự nhiên nhưng ưa thích, những chống đối... dưới ánh sáng của Thần Lẽ Thật những điểm đó lộ ra rõ ràng thuộc bản năng vị kỷ, hung hăng, ích kỷ mà từ bao nhiêu năm đã làm chúng ta xa cách Chúa và xa cách anh em.
Chúa dùng phương pháp nào để đổi thay chúng ta?
“Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh bị sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu, hầu cho sự thử thách đức tin anh em quý hơn vàng hay hư nát, dầu bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra” (IPhi 1Pr 1:6-7)
Như thế đức tin của chúng ta lớn lên và chúng ta đã thấy ở trên rằng kiên nhẫn, bền bỉ dẻo dai tăng trưởng khi cuộc đời chúng ta đầy những khó khăn, thử thách và rắc rối.
Một vài người nói: “Nếu đó là phương tiện duy nhất để tăng thêm tính kiên nhẫn và đức tin, thì tôi muốn có loại đức tin yếu hơn một chút”. Nếu đó là tư tưởng của bạn thì chưa chắc tin cậy Chúa. Trong đáy lòng bạn, bạn nghi ngờ chương trình của Chúa và tình yêu của Chúa đối với bạn.
Khi Chúa sai tiên tri Giêrêmi nói với dân Do Thái bị lưu đày ở Baybilôn rằng cuộc lưu đày sẽ lâu dài (70 năm) và dân Do Thái phải biết thích nghi với hoàn cảnh, thì Chúa nói thêm:”vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các người là ý tưởng bình an không phải tai họa, để cho các ngươi được trông cậy trong lúc cuối cùng của mình” (Gie Gr 29:11). Những đau khổ ở Babylôn cũng nằm trong chương trình hoàn hảo nhất đưa đến tương lai và hy vọng.
Chương trình của Chúa đối với bạn và tôi là chương trình dễ dàng và sung sướng sao? Có chứ, nhưng nó còn tuỳ thuộc theo mức độ của đức tin và của lòng trông cậy của chúng ta đối với những lời hứa của Chúa. Nhưng sự thanh lọc và những thử thách của đức tin phải được thể hiện qua những biến cố và đó là sự thách đố đối với ý chí để chúng ta tin vào lời Chúa để chỉ dựa vào lời Chúa mặc dầu tất cả những gì mà cảm quan của chúng ta có thể xúi dục gợi lên cho ta.
Từ lâu chúng ta quen cho những cảm giác, những xúc động hay lý trí hướng dẫn chúng ta. Ta phải dứt bỏ thói quen này để có thể tin vào đức tin, hãy nhớ kỹ rằng đức tin chính là ý chí quả quyết muốn đặt niềm tin trông cậy vào một cái gì mà chúng ta không thể thấy cũng không thể cảm thụ được.
Như thế đức tin tăng trưởng Chúa đã nói rằng Ngài hướng mọi sự vào điều tốt lành cho chúng ta, cả khi mọi sự có vẻ đi ngược lại khi chúng ta tin chắc vào lời Chúa và biết cảm ơn Chúa vì tất cả mọi sự xảy ra.
Theo ý bạn, đức tin của Ápraham đã lớn lên như thế nào ?
Bạn có thể tin đến độ đưa đứa con trai duy nhất của bạn lên núi để làm của lễ dâng lên Đức Chúa Trời chỉ vì lời phán của Ngài và cứ tiếp tục tin rằng do đứa con trai duy nhất đó Chúa sẽ chúc phước và gia tăng dòng dõi của bạn ?
Nếu bạn là người của Ápraham, bạn có thể nhìn hành động điên rồ của ông trong niềm tin và ca tụng, nghĩ rằng dù ông có sai lầm gì Chúa cũng hướng mọi sự vào điều tốt lành cho người bạn của bạn không ?
Chỉ có Chúa mới tái tạo chúng ta, uốn nắn chúng ta từ bên trong phần chúng ta thì hãy theo lời dạy của sứ đồ Phaolô khi ông nói với các tín hữu tại La mã:”Hãy dâng chính mình cho Đức Chúa Trời như người từ kẻ chết sống lại, và chi thể mình làm đồ dùng của sự công bình” ... hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhẫn nại trong sự hoạn nạn ... hãy chúc phước chớ nguyền rủa ... Vả, mọi sự hiệp lại là ích cho kẻ thương yêu Đức Chúa Trời.
Chắc bạn cũng đã được nghe câu chuyện của một mục sư nọ. Ông cầu nguyện xin Chúa cho ông kiên nhẫn hơn: Sáng hôm sau, ông bỗng nghe tin người thư ký rất giỏi, tận tâm, có trách nhiệm, từ lâu với ông đã ngã bệnh. Người đến thay thế là một cô gái rất chậm chạp. Ông tức bực và giận dữ nhiều lần, mãi đến khi ông nhận thấy rằng cô thứ ký này là lời đáp của Chúa cho lời cầu xin của ông. Nếu không có người này làm sao ông có thể thêm kiên nhẫn được! Ông lập tức cảm tạ Chúa và ca ngợi Ngài đã chọn cho ông một người thư ký mới đó, và cô này sau khi biết việc thì trở lên nhanh nhẹn.
Đức tin và lòng kiên nhẫn là những nét căn bản của chứng nhân Cơ Đốc. Nhưng ta không lên quên một điểm khác mà nếu không có nó thì ta không thể hiểu Tin Lành. Phaolô viết cho các tín hữu thành Côrinhtô :”Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương” (ICo1Cr 14:1)
“Nếu các ngươi yêu nhau thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta” (GiGa 13:35).
“Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi được trọn vẹn. Điều răn của ta đây này: Các ngươi hãy yêu nhau cũng như ta đã yêu các ngươi (15:11-12).
Tình yêu đối với chúng ta có một giá trị cao hơn mọi sự ở trên đời chúng ta được tạo dựng nên để kính yêu Chúa và yêu thương nhau. Khi chúng ta không biết thương yêu thì đã xảy ra bao điều kinh khủng. Chúng ta phải gặp lại nhau đầy dẫy hận thù, căm tức, đầy mặc cảm tội lỗi và chúng ta nợ nhau.
Những nỗi xúc động của chúng ta, những nỗi lo sợ và thất vọng, bản năng tự vệ và hung hăng ... tất cả đều do thiếu tình thương.
Những nhà giáo dục, những nhà tâm lý học, những nhà xã hội học và các nhà chuyên môn khác đều nói đến cái ảnh hưởng đầy hiệu lực của tình yêu trong việc phát triển nhân cách của con người.
Tình yêu thương đó biết chấp nhận người khác, tin cậy người khác, tốt bụng và kiên nhẫn, không bao giờ ích kỷ hay ghen ghét, kiêu ngạo, một tình yêu thương vô vị lợi và không tìm cách khuất phục người khác, không hờn giận cũng không gắt gỏng, không để tâm thù oán cũng không nghiêm khắc đối với những sai lầm của người khác; một tình thương chân thành biết tin tưởng và chờ đợi cái tốt nơi người khác và không vui mừng vì cái xấu của người ta, nhưng luôn sung sướng vì chân lý đã thắng. Một tình thương như thế sẽ chấp nhận tất cả để vượt lên trên hoàn cảnh mà không bị sa ngã.
Đó chính là tình yêu thương mà Chúa đã yêu thương chúng ta và muốn chúng ta cùng yêu nhau. Đó là thứ tình yêu có thể chữa lành những vết thương cũ xóa bỏ những sự sợ hãi và làm tan biến những nỗi chua chát giận ghét. Đó là những thứ tình yêu cứu chữa chúng ta và làm cho chúng ta có khả năng yêu thương trở lại mà không sợ bị xúc phạm hay bị xua đuổi.
Đó là tình yêu thương mà người Hy lạp gọi là bác ái (agape). Một sự thân ái huyền diệu, tự do, có ý thức và chủ đích. Chính tình yêu thương này là trái của Thánh Linh và khi đạt đến độ viên mãn (trọn vẹn) thì trở thành ánh sáng lôi cuốn người ta về nguồn. Nguồn đây là tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta qua Đấng Christ.
Mỗi ân huệ và mỗi sự biểu hiện cho chúng ta chỉ có một mục đích mà thôi, đó là cho chúng ta thấy tình yêu của Đức Chúa Trời với sự ưu ái của Chúa đối với mỗi nhu cầu chúng ta. Chúa chữa lành vì Chúa yêu thương. Chúa là tình yêu và năng lực của Chúa trong chúng ta và qua chúng ta là tình yêu một tình yêu riêng biệt, thắm thiết thiêng liêng và huyền diệu cho mỗi loài thọ tạo.
Điều Chúa đến thông báo cho nhân loại là mọi bức thông điệp cho tình yêu, và chúng ta phải trở lên sứ giả cho tình yêu đó, trở lên những kẻ mang tình yêu của Chúa đến cho người khác. Nhưng để chúng ta hoàn thiện nhiệm vụ này, Chúa muốn làm cho chúng ta trở thành những người biết yêu.
Nhưng nếu tình yêu chỉ từ Đức Chúa Trời đến, nếu nó là trái của Thánh Linh, thì tại sao Chúa Jêsus lại truyền cho chúng ta phải biết yêu thương. Ở đây chúng ta đứng trước lời hứa của Đức Chúa Trời mà chúng ta phải biết chấp nhận trong đức tin.
Tình yêu là trái của Thánh Linh và Kinh Thánh nói rằng Thánh Linh sống trong chúng ta. Vì thế chúng ta phải biết tìm thấy tình yêu nơi chúng ta. Chúng ta nhận được khả năng để yêu nhưng chúng ta phải biết tin tưởng và khi muốn yêu phải đi vào con đường tình yêu.
Hãy nhớ rằng bác ái là một tình yêu có ý chí và có ý thức. Chúng ta phải yêu ngay cả khi mình không còn cảm thấy một chút tình yêu nào cả.
Việc gì xảy ra khi chúng ta quyết định hành động theo lời Chúa ? Chúng ta hiểu rằng thái độ tin cậy này sẽ giải phóng năng lực huyền diệu của tình yêu thiêng liêng, chính năng lực này sẽ bắt đầu biến đổi chúng ta, làm cho chúng ta ngày càng trở nên biết yêu thương mà chúng ta chấp nhận yêu thương một cách tự do.
Dù việc này đã xảy ra trong thực tế như thế nào?
Tôi xin Chúa cho tôi có khả năng yêu thương mỗi ngày nhiều hơn và tôi đã đến chỗ hiểu rằng, về phương diện này, những thành quả tôi đạt được cũng khả quan. Trong khi đi đây đi đó để làm việc và trò chuyện với nhiều người đã được “Phước qua chức vụ của tôi”, tôi sung sướng cảm thấy luôn luôn yêu thương người khác nhiều hơn.
Cho tới một ngày nọ, tôi chạm trán với một nhân vật kinh tởm và khốn nạn chưa từng thấy! Trước cảnh tượng của sự truy lạc đó tôi ý thức một cách hãi hùng rằng tôi không có một chút tình thương nào cho cô ta mà trái lại chỉ có một sự ghê tởm tự nhiên. Tất cả điều tôi ao ước là mong cho cô ta đi khuất mắt tôi.
Đó là một cô gái tội nghiệp đến bàn giấy của tôi với một người lính, bạn cô ta. Khuôn mặt cô đã ẩn dưới một lớp sáp cũ và đầy những ghét bẩn. Tóc cô ta buông lòng thòng, cứng như những sợi kẽm gai. Aùo quần dơ bẩn rách rưới. Đôi chân đầy vết sẹo và dính đầy bùn. Người cô ta toát ra mùi hôi tanh khó chịu tràn ngập căn phòng. Mặt cô cau có, cái nhìn đầy hận thù và cặp mắt sưng lên vì đã khóc quá nhiều.
Cô gái đau khổ này đến Jort Bening để báo cho người lính này biết cô đang mang thai. Người lính này nhận lãnh trách nhiệm nhưng anh ta không muốn cưới cô. Cô ta nổi giận đến nỗi cô dọa sẽ giết anh ta. Cô từng có một đứa con hoang rồi, nên lần này cô nhất quyết phải lấy chồng nếu không cô sẽ tự tử.
Tôi nhìn cô ta và nghĩ rằng tôi chưa bao giờ gặp một người khắc khoải, bị bỏ rơi và ít gây thiện cảm với người khác như thế. Ngay cả ý muốn cầu nguyện cho cô ta cũng làm tôi kinh hãi. Tôi không chạm tới cô ta.
“Lạy Chúa , tôi cầu nguyện thầm, tại sao Chúa đưa cô này đến với con”?
Đó là một trong những đứa con của ta. Câu trả lời đến ngay. Cô ta bị bỏ rơi. Cô cần tình thương của Ta và Ta chữa lành. Ta đưa cô ấy đến đây để con yêu thương và nói về tình thương yêu của Ta đối với cô.
Bỗng nhiên tôi xác nhận một cách đau đớn rằng tôi đã quá kiêu căng khi nghĩ mình có khả năng biết yêu thương, bây giờ tôi chỉ cảm thấy kinh tởm khi đứng trước một người tuyệt vọng cần được yêu thương.
“Lạy Chúa, xin tha lỗi cho con. Con cảm ơn Chúa đã cho con thấy rằng tình yêu của con có thể hời hợt và ích kỷ biết chừng nào. Xin Chúa hãy lấy đi sự bất lực của con và ban cho con tình yêu mà Chúa muốn con trao cho người đàn bà này”.
Cô gái khóc nức nở, cặp mắt đen tối và thất vọng dưới hai mí mắt sưng mọng và nhòe nhoẹt dưới phấn sáp.
Thưa ông, cô ta nói xin ông làm một cái gì cho tôi.
Cô có tin Đức Chúa Trời không?
Có, cô gật đầu lẩm bẩm.
Cô có tin rằng Chúa có thể giúp cô không?
Cô ngập ngừng và chậm rãi nói.
Tôi biết rằng Chúa có thể giúp tôi, nhưng tôi không tin rằng Chúa muốn giúp. Tôi là một Cơ Đốc Nhân, nhưng bây giờ hãy nhìn tôi! dù Chúa có muốn giúp tôi, thì làm sao Chúa có thể kéo tôi ra khỏi hoàn cảnh éo le này?
Chúa có thể và muốn giúp chị, tôi trả lời quả quyết nhưng không cảm thấy vững dạ.
Cô lắc đầu hai vai sụp xuống với một thái độ thất vọng hoàn toàn. Tôi nói :
Tôi xin cô, cô hãy cố gắng hiểu rằng Chúa thương cô. Chúa muốn ban cho cô tràn đầy niềm vui và sự bình an của Chúa, và giải quyết mọi vấn đề của cô ngay ngày hôm nay trước khi cô rời bàn giấy của tôi. Cô gái mở to cặp mắt, há hốc miệng nhìn tôi. Còn người lính thì có vẻ tưởng rằng tôi sẽ buộc anh ta cưới cô ấy.
Tôi tiếp :
Chính Chúa đã đưa cô đến đây ngày hôm nay, Chúa đã cho phép cô chịu đựng tất cả những sự khó khăn này để cô ý thức rằng Chúa thương cô vô cùng. Chúa có một chương trình rất kỳ diệu cho đời cô. Nếu cô biết tin cậy vào Chúa và cám ơn Chúa vì tất cả những gì xảy đến cho cô, thì bây giờ cô đã khám phá rằng Chúa đang giúp cô.
Cám ơn Chúa? Cặp mắt cô ta lại ánh lên một sự giận dự. Tất các điều tôi xin là được ông này cưới tôi để cho đứa con tôi ít ra cũng có được một cái tên.
Hãy nhìn đây. Tôi chỉ cho cô ta một câu trong Kinh Thánh:”Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa, vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy“ (ITe1Tx 5:18). Rồi lật tiếp các trang và đọc câu này:”Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (RoRm 8:28).
Cô ta nhìn tôi, không tin, và tôi nhận thấy rằng không thể nói về tình yêu của Chúa hoặc một tình thương nào khác cho một người đã bị cuộc đời hành hạ đến thế. Cô ta không hiểu ý nghĩa của hai chữ yêu thương. Chỉ có Chúa mới có thể làm nảy ra trong trí nhớ cô tia sáng giúp cô hiểu ý nghĩa đó thôi.
Tôi có thể cầu nguyện cho cô được không?
Được chứ, tại sao lại không. Cô trả lời mệt mỏi.
Sắp sửa đặt tay trên đầu cô ta để cầu nguyện, tôi để ý rằng cô rất bẩn và cần phải được tắm rửa. Tôi rùng mình ghê tởm.
“Lạy Chúa, tôi thì thầm, tình yêu của Chúa đối với chúng con thật vô biên, nó to lớn cao cả biết bao so với tình yêu nhỏ bé mà chúng con có thể trao đổi cho nhau. Lạy Chúa, con xin Chúa hãy chạm đến cô ta bằng tình yêu và cho con biết yêu thương cô ta”.
Với một cử chỉ quả quyết tôi đặt tay lên đầu cô và bắt đầu cầu nguyện lớn tiếng:
“Lạy Chúa, con biết rằng thánh ý Chúa muốn chúng con ca tụng Chúa trong mọi sự. Không có gì xảy ra ở đời này mà Chúa không muốn và không cho phép. Đứa con yêu quý của Chúa đã bị đau khổ vì cuộc đời. Nó đau đớn, bị thương và bị bỏ rơi. Người ta xua đuổi nó. Xin cám ơn Chúa vì tất cả mọi biến cố đã đưa cô ta đến điểm này. Xin Chúa hãy giúp con thực hiện tình yêu của Chúa và giúp cô ca ngợi Chúa ngay từ bây giờ”.
Dưới bàn tay tôi, tôi cảm thấy cô ta run rẩy, Chúa đang chạm đến bởi tình yêu của Chúa .
Cô có thể cảm tạ Chúa vì tất cả mọi sự ngay từ bây giờ không?
Cô nức nở :
Vâng lạy Chúa, con cảm tạ Chúa. Con thành thật cảm ơn Chúa vì mọi sự .
Tôi tiếp tục cầu nguyện.
Lạy Chúa, con tin rằng bây giờ Chúa chữa lành trái tim đau khổ của cô, Chúa đặt trong cô một đời sống mới, Chúa ban cho cô niềm vui thay vì tiếng khóc, sự đắc thắng thay vì sự thất bại.
Khi tôi vừa dứt lời, nét mặt cô rạng rỡ qua màn lệ.
Có việc gì vừa xảy ra! Cô kêu lên, tôi cảm thấy rất khá. Tôi không còn giận dữ nữa. Tôi cảm thấy rất bình an. Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy được sung sướng, thật sự sung sướng.
Cô ta rất đỗi kinh ngạc.
Tại sao thế nhỉ ?
Chính Chúa đã làm cho cô đấy, vì chúng ta đã tin vào Chúa và đã ca tụng Ngài.
Tôi trả lời cho cô và bỗng nhiên ý thức một phép lạ cũng vừa xảy ra trong tôi.
Tôi nhìn cô. Cô trở thành một người khác. Tôi muốn ôm lấy cô ta. Cô có vẻ rất trong sạch, rất thánh thiện và rất đẹp !
“Cám ơn Chúa“, tôi cảm thấy vui vô cùng.
“Thưa Chúa con đã thương được cô gái tội nghiệp này. Cảm ơn Chúa thay đổi lòng con”.
Tôi sẽ không bao giờ thành công để thương cô ta một chút nào nếu tôi cố gắng thay đổi thái độ của mình. Chính Chúa đã thay đổi tôi. Phần tôi, tôi phải chấp nhận là mình yêu thương và xưng tội đó ra sau đó đặt mình dưới quyền năng của Chúa và tin tưởng vào sự biến cải hiệu nghiệm của Ngài.
Chúng ta càng cố gắng để sửa trị chúng ta, thì chúng ta càng thất vọng và đau khổ vì những thất bại của mình.
Chúa chỉ cần cho chúng ta vài người để cho chúng ta thấy rằng chúng ta không có khả năng tự mình yêu thương kẻ khác. Chúa làm như thế không phải để cho chúng ta bối rối, nhưng để chúng ta có dịp kinh nghiệm tình yêu của Chúa vì nó có thể làm xáo trộn cả cuộc đời chúng ta và cuộc đời của con người mà Chúa muốn chúng ta yêu thương.
Bạn có cảm tạ Chúa vì những người rất khó yêu ở xung quanh bạn không. Bạn có một người láng giềng rất khó tính không? Có một người chỉ huy khó chịu không? Nếu có, thì hãy cảm tạ Chúa vì Chúa yêu thương bạn và muốn niềm vui của bạn được hoàn toàn khi bạn có khả năng yêu thương những người khác.
Phải, Chúa yêu thương họ và muốn nhờ bạn đưa tình yêu của Chúa đến với họ. Chính tại trong gia đình chúng ta mà ta có một dịp rất tốt để yêu thương, và ai đó cũng là chỗ khó khăn nhất.
Có thể rằng đức lang quân hoặc phu nhân của bạn chỉ biết làm cho bạn nổi giận. Hoặc là tính tình của cha mẹ rất khó khăn. Hoặc con cái bạn cứng đầu không chịu vâng lời !
“Các ngươi hãy yêu thương nhau”, Chúa Jêsus phán vậy. Hãy chấp nhận nhau. Hãy cảm tạ Chúa vì người này người nọ.
Cám ơn Chúa vì một người sau rượu, hoặc một đứa con vô ơn, chống thì thật khó khăn. Không dễ thương một người từ chối tình yêu của mình.
Cũng không dễ nhìn thấy “cái đã trong mắt mình” hay cái “công bình của riêng mình”, “lòng tự ái”, và “cái vài trò tử đạo” mà mình đã gánh từ mấy năm nay.
Chúng ta có can đảm để xin Chúa của mình những con người có thể giúp chúng ta nhìn thấy “Cái đà trong mắt mình” không?
Chúng ta có thể cảm ơn Chúa vì những người này chỉ vì họ khó tính không. Chúng ta có thể đem đến cho Chúa ý chí chúng ta muốn yêu thương rồi phó thác mình trong tay Chúa để Chúa nhào luyện, tái tạo chúng ta để chúng ta có thể yêu thương họ một cách hoàn hảo và hợp với chương trình cùng ý thánh của Chúa trên chúng ta sao?
Nếu có, thì chúng ta có thể đợi chờ một phép lạ của Chúa nơi chúng ta cái ấy có thể đến tức khắc; chẳng hạn người ta đang cảm nhận tình yêu nóng bỏng của mình đang nguội dần, rồi xin Chúa làm nóng lại; nhưng cũng có người ngồi đó chờ nó nóng lại mà không cố gắng gì cả.
Để có thể yêu thương một cách chủ động và tự do như Đấng Christ đã yêu chúng ta, thì phải luôn luôn dùng đến lý trí của mình. Lúc ban đầu, chúng ta cảm thấy yêu hay không yêu thì điều ấy không thay đổi gì vào việc chúng ta yêu thương. Chúa sẽ chỉ cho chúng ta phương thức rõ ràng và đặc biệt để cho chúng ta bày tỏ tình yêu cho người mà Chúa đã chỉ trên con đường đời của chúng ta. Không bao lâu chúng ta sẽ cảm thấy một tình yêu sâu sắc hơn trước nhiều. Đó là một thứ tình yêu chân thành và bền vững, vì nó bắt đầu từ nơi nơi cao xa hơn giới hạn bình thường của chúng ta. Đó là tình yêu của Chúa tràn ngập lòng chúng ta và chảy lai láng qua những người sống xung quanh chúng ta.
Đây là sự đâm rễ vào trong tình yêu của Chúa. trong mảnh đất màu mỡ này, khả năng yêu thương của chúng ta mỗi ngày mỗi phát triển.
Đó chính là kết quả của Thánh Linh hành động trong chúng ta.
Một Cơ Đốc Nhân có người chồng nghiện rượu từ nhiều năm qua. Một hôm người đàn ông này bị phạm pháp và bị ở tù. Người vợ cố gắng tranh đấu để có thể nuôi mấy đứa con bằng số tiền trợ cấp xã hội ít ỏi. Bà ta siêng năng đưa con gái đi thờ phượng, và được nhiều người yêu mến, quí trọng. Các bạn của bà nói:”Tội nghiệp chị E, chị nuôi con một mình mà không bỏ ngày chủ nhật nào, cũng không than thở, còn ông chồng thì vô tài, không làm việc gì cả mà lại say sưa suốt ngày. Anh ấy làm gia đình mất thể diện và xấu hổ”.
Bây giờ chồng chị bị tù, chị E nghĩ rằng mình có đủ lý do để xin lý dị. Như thế chị có thể nuôi con xa ảnh hưởng của cha nó.
Một hôm chị nhận được món quà, đó là quyển sách:”Từ địa ngục đến ca ngợi”.
Đối với chị E. Thật khó lòng mà cám ơn Chúa vì những năm tháng nghèo túng, đói rách vừa qua. Nhưng khi đọc lại, chị thấy sự ca ngợi đã thay đổi nhiều cuộc sống, và chị quyết định thử.
Chị bắt đầu cầu nguyện:”Xin cảm tạ Chúa vì những Ai đã nghiện rượu. Xin cảm tạ vì những năm tháng nghèo túng, đau khổ và cô đơn đã trải qua”. Chẳng bao lâu chị nghe tin chồng chị đã được ra tù và trở lại uống rượu. Nhưng chị vẫn tiếp tục cảm ơn Chúa.
Dần dần chị khám phá ra một số sự kiện trong đời chị mà chị không hề ý thức. Trong khi tiếp tục cảm tạ Chúa cho chồng chị, xin Chúa giúp chị chấp nhận và yêu thương chồng, chị bỗng nhận thấy rằng mình phạm một tội lỗi rất nặng, nặng hơn cả tật nghiện rượu: Ấy là chị đã quen nhìn thấy “Cọng rác” trong mắt anh mà không thấy “cái đà” trong mắt mình. Chị đã phê phán anh ấy vì anh ấy nghiện rượu. Chị tự xem mình tốt hơn và xứng đáng hơn chồng, rồi chị cảm thấy thương mình, tự cho mình là người chịu bao đau thương để rồi đi đến sầu muộn và thất vọng trong nhiều năm. Cuối cùng chị quỳ xuống và kêu: “Lạy Chúa, con ý thức rằng tội con còn nặng hơn tội chồng con, Chúa đã dạy chúng con phải biết yêu thương nhau và biết vui mừng khi bị thử thách. Con đã không yêu con cũng thấy niềm vui, xin Chúa tha thứ cho con. Con cảm tạ Chúa cho anh A làm chồng con để con có thể nhìn thấy con người thật của mình. Xin Chúa cũng tha tội cho anh A. Xin Chúa chữa lành cho những nỗi khổ đau của anh ấy và xin Chúa hãy lấy tình yêu của Con Độc Sanh của Chúa mà chạm đến anh ấy”.
Từ ngày ấy chị cảm thấy vui vẻ dễ dàng trong mọi hoàn cảnh. Chị đã biết rằng Chúa đã cho phép tất cả mọi hoàn cảnh này xảy ra để cuộc đời chị tràn đầy tình thương và niềm vui. Dần dần trong lúc chị cầu nguyện và ca tụng Chúa những cảm giác thương hại mình và những nỗi chán chường tan biến mất.
Mỗi ngày chị lại có một kinh nghiệm mới mẻ và rất vui. Chị ý thức sâu sắc sự hiện diện của Chúa Jêsus trong đời chị.
Sau đó ít lâu, chồng chị, không hiểu tại sao, lại đến dự buổi thờ phượng tại nhà thờ nọ. Anh tiếp nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình và anh được giải thoát khỏi sợi dây ràng buộc đã trói chặt anh từ 15 năm nay. E và A trở lại chung sống, xây dựng lại tổ ấm gia đình. Và anh A ghi tên học Kinh Thánh để bắt đầu cuộc sống mới phục vụ Chúa.
Vì tình yêu, Đức Chúa Trời có thể cùng một mối liên hệ khó khăn giữa hai người, hoặc nhiều hơn hoàn cảnh cực khổ để cho chúng ta có dịp lớn lên và bày tỏ sự sống thuộc linh, hoặc cho chúng ta thấy một số nhược điểm tính tình của mình hoặc một lỗi lầm về hạnh kiểm.
Dù vì lý do nào, chúng ta đều có cớ để vui mừng. Mỗi một lỗi lầm, nhỏ hoặc lớn, ẩn kín đến mức độ nào cũng là một khe hở có thể làm sụp độ một tòa nhà.
“Bởi cớ đó, tội các ngươi như tường nẻ sắp vỡ, lồi ra trên cao, chỉ trong giây phút sẽ thình lình đổ xuống” (EsIs 30:13).
Không bao lâu khe hở này sẽ làm cho cả tòa nhà sụp đổ hết. Ta có thể sửa chữa những khe hở mà ta nhìn thấy. Ta có thể xưng tât cả những yếu đuối và những tội lỗi mà ta ý thức được, và một khi đã xưng ra thì biết chắc nó đã được tha thứ và tình yêu của Chúa sẽ xoa dịu mọi đau khổ và chữa lành mọi vết thương. Nhưng làm sao chữa những khe hở quá ẩn kín, những lỗi lầm mà chúng ta ý thức một cách mơ hồ bởi một tình cảm e ngại, khắc khoải, bất ổn, giận hờn hoặc những triệu chứng khác, mà chúng ta đều biết qua kinh nghiệm.
Tội lỗi đặc biệt mà Êsai đã nói trong đoạn trích ở trên là sự từ chối bướng bỉnh của dân Do Thái. Họ không vâng theo những chỉ thị của Đức Chúa Trời. Họ chỉ tìm kiếm lời khuyên của loài người. Họ muốn đặt sự tin cậy nơi chính con người của mình, chứ không phải vào Đức Chúa Trời.
Sự tin tưởng vững trãi vào mình, sự tự mãn bao giờ cũng là những khe hở nguy hiểm cho công cuộc xây dựng. Nếu Chúa cho phép trong đời sống ta có những hoàn cảnh, những lãnh vực chúng ta tin và mình thì tại sao chúng ta không cảm ơn Chúa đã đặt ngón tay lên điều đó. Tại sao ta không vui mừng vì Chúa ban cho sức lực để chiến thắng tội ác.
Một sĩ quan trẻ tuổi đang tập huấn tại Jort Benning bị rơi vào một hoàn cảnh rất khó khăn. Anh thú thật với tôi :”Tôi cần được giúp đỡ, nếu không tôi sẽ điên mất”.
Trước kia anh tưởng mình có thể đương đầu với mọi hoàn cảnh dễ dàng. Sự tin cậy này khiến anh rất kiêu ngạo. Nhưng từ khi anh đến học tại trường sĩ quan, anh không có khả năng phản ứng như trước và những ý tưởng anh nghĩ về mình cũng như về cuộc đời nói chung đã bị sụp đổ.
Việc luyện tập nghiêm ngặt của những sinh viên sĩ quan trẻ này không phải chỉ mục đích dạy cho họ những yếu đuối, sơ sót mà một ngày kia khi ra trận họ có thể làm hại đến tính mạng những người dưới quyền họ. Họ phải chịu những điều căng thẳng, mệt nhọc cả thể xác lẫn tinh thần để thử thách sự dẻo dai và lòng can đảm của họ. Nếu họ không chịu nổi thì tốt hơn là thấy điều đó trước khi trao cho họ một đạo quân.
Những người huấn luyện viên cảm thấy nơi người học trò này, dưới mặt nạ tự mãn và kiêu ngạo, ẩn dấu lòng thiếu tự tin.
Bài trắc nghiệm đầu. Từ sáng đến chiều anh ta bị theo dõi. Không một thái độ cử chỉ nào bị bỏ sót.
Chuẩn úy, anh không đi nhanh được hơn sao?
Anh không thể làm những gì người ta bảo sao?
Bao giờ anh cũng ăn như heo vậy?
Anh thật là một con ốc sên!
Anh muốn tôi gọi mẹ anh đến giúp anh à.
Hãy chạy quanh nhà mấy vòng đi để tập giơ chân lên.
Lòng tự tin của anh tan biến rất nhanh. Bị sỉ nhục, thât bại, đuối sức, anh ta muốn đào ngũ và muốn trốn ra nước ngoài để tránh những nỗi khổ tâm đó.
Anh kể cho tôi nghe rằng anh chưa bao giờ tin thật sự vào Đức Chúa Trời và cũng chẳng hiểu gì về Kinh Thánh. Nhưng nếu tôi có một Đức Chúa Trời để giúp đỡ thì anh sẵn sàng tin ngay.
Tôi đọc cho anh nghe những gì Kinh Thánh nói về trường hợp của anh, và những thử thách anh chịu đựng cũng nằm trong chương trình đó và Chúa phải giải phóng anh khỏi những căng thẳng nội tâm nếu anh trao đời anh cho Chúa hướng dẫn và nếu biết cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Viên chuẩn úy cau có, Khuôn mặt và cặp mắt để lộ sự mệt mỏi thần kinh căng thẳng vì thiếu ngủ.
Đây là lần đầu tiên mà tôi bị đẩy vào tình thế này (anh lắc đầu). Thật tôi chịu không nổi nữa. Và Mục Sư vừa bảo rằng Đức Chúa Trời đã đặt tôi vào ngõ cụt này sao?
Ta nên hiểu rằng Chúa đã cho phép những việc ấy xảy ra. Tôi trả lời. Tôi chắc chắn rằng Chúa muốn anh quay về với Chúa và chấp nhận tất cả những gì Chúa dành sẵn cho anh, không cần phải trải qua những đau khổ này. Nhưng anh luôn luôn tự cho rằng có thể thành công một mình ở đời, nên vì tình yêu Chúa đã chọn phương tiện trực tiếp nhất để chỉ cho anh thấy tỏ tường rằng anh cần đến Chúa biết bao. Tôi đọc cho anh nghe đoạn thơ của sứ đồ Phaolô gửi các tín hữu Côrinhtô! “vả hỡi anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng biết những sự khốn khó đã xảy đến cho chúng tôi trong sứ Asi, và chúng tôi đã bị đè nén quá chừng, quá sức mình, đến nỗi mất lòng trông cậy vào sự sống. Chúng tôi lại hình như đã nhận xử tử, hầu cho chúng tôi không trông cậy mình, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng khiến kẻ chết sống lại” (IICo 2Cr 1:8-9)
Người thanh niên có vẻ suy nghĩ ... rồi anh bằng lòng để tôi cầu nguyện cho anh, tuy không tin tưởng và lợi ích của việc này.
Tôi đặt niềm đặt tay trên đầu anh và bắt đầu cảm tạ Chúa vì hoàn cảnh này. Xin Chúa cho viên chuẩn úy đó nhận ra tình yêu của Chúa và lòng nhân từ của Chúa đối với từng chi tiết trong cuộc đời anh. Trong lúc tôi cầu nguyện người thanh niên bắt đầu run rẩy, nước mắt tuôn tràn trên má anh. Một lúc sau anh nổi lên cười.
Cảm ơn Chúa, anh ta kêu lên, ngợi khen Đức Chúa Trời. Con thấy rằng Chúa chăm sóc con và con tin rằng Chúa yêu thương con.
Tôi ngắm anh, một niềm vui sướng chiếu tỏa trên anh.
Chính Chúa đã đưa tôi vào trường võ bị sĩ quan này phải không? Chúa đã biết chính nơi đây tôi sẽ tìm ra lời giải đáp. Bây giờ tôi cảm thấy trở thành người khác.
Quả vậy, anh đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình và ít lâu sau đó anh đã thành công rực rỡ trong các kỳ thi.
Cuộc khủng hoảng mà anh đã trải qua chứng tỏ có khe hở trong cuộc đời anh. Từ lúc anh có thể nhìn thấy và nhận ra bàn tay của Chúa trong hoàn cảnh của anh và cảm tạ Chúa thì anh đã được chữa lành.
Những biến cố làm lung lay nền móng của sự tự mãn thực ra đều là những phước lành ẩn kín chúng ta có thể chân thành chúc tụng Chúa và cảm tạ Chúa vì những lời châm chọc nó đánh tan mọi ảo tưởng mà chúng ta có về mình. Càng cảm tạ Chúa thì sự chuyển biến trong chúng ta càng dễ dàng niềm vui gia tăng và nỗi khổ đau bớt dần đi. Rồi chúng ta lại khám phá ra việc này nữa. Càng bị thử thách thì chúng ta càng ý thức sự hiện diện của Chúa và sức mạnh của Đấng Christ trong chúng ta.
Tất cả những thử thách, những khó khăn là những cơ hội để chúng ta tăng trưởng, làm cho chúng ta có đủ điều kiện để trở thành dòng sông chuyên chở tình yêu và mục đích thiết thực của Đức Chúa Trời.
Một cô gái nọ gặp nhiều khó khăn, mẹ và hai anh của cô đều qua đời Cha cô tục huyền, rồi li dị, rồi lại tái hôn. Còn cô thì không thành công trong việc học hành và cô bắt đầu uống rượu. Một ngày nọ cô nghe nói về Chúa Jêsus cô tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa đời mình. Thời gian đầu cô rất vui và nhờ lời làm chứng của cô, nhiều người trở lạ cùng Chúa, mọi việc đều tốt đẹp và cô tưởng rằng những nỗi khổ của cô hoàn toàn bay đi.
Chính lúc đó là những nỗi bực dọc của cô trở lại rất nhiều. Cô bị tai nạn xe hơi hai lần liên tiếp và cô đã bị thương. Rồi cô có một cái nhọt ở cổ, phải bị mổ rất đau đớn. Một ngày nọ cô ngã bệnh nặng vì uống một chai sôđa người ta bỏ thuốc độc vào đó. Khi cô đi học, lại bị một kẻ dơ dao ra dọa. Một lần khác có kẻ giơ súng muốn bắn cô. Một đêm kẻ gian lén vào nhà cô, cạy cửa và định hãm hiếp cô. Và đau khổ hơn nữa, ông của chủ lại cho cô nghỉ việc vì cho rằng cô phạm tội ác ghê gớm lắm nên mới bị nhiều thử thách khó khăn như vậy.
Trải qua tất cả những thử thách đó, cô gái tranh đấu để giữ vững đức tin. Điều gay cấn nhất phải chịu đựng là những sự nghi ngờ của các Cơ Đốc Nhân trong cộng đồng sinh hoạt của cô.
Sau khi cô nhận được quyển sách “Từ ngục tù đến ca ngợi”. Cô đọc và nảy sinh ra niềm hy vọng mới. Đức Chúa Trời chắc phải có lý do nào đó để cho phép tất cả sự gian truân này xảy ra. Cô bắt đầu cảm tạ Chúa vì mỗi một nỗi khổ mà cô phải chịu đựng vừa qua. Không bao lâu niềm vui thay thế sự sợ hãi cứ ám ảnh cô. Cô kể rằng :”Tôi bỗng nhiên hiểu rằng Chúa là tất cả những gì tôi có được. Những người khác có thể có được sự yên ổn, còn tôi, tôi chỉ có Chúa là tất cả những gì xảy ra làm tôi ý thức điều đó rất rõ ràng”.
Bây giờ cô gái có một năng lực mới để làm chứng về Đấng Cứu Chuộc mình. Cô có khả năng thông cảm và thương yêu sâu sắc những người bị đau khổ như cô.
Cô đã hiểu và tin rằng tất cả những hoàn cảnh trong quá khứ của cô đều được bàn tay của Đức Chúa Trời yêu thương kiểm soát và có có thể bình tĩnh nhìn những thử thách mới mà nói rằng: “Tôi biết rằng chính Chúa đã cho phép, điều đó chỉ làm lợi ích cho tôi thôi”.
Một người đàn bà trẻ tuổi khác vừa bị mất chồng. Vì hai người không có con nên bà bổng trở thành trơ trọi. Lúc bà trở về thăm gia đình để tìm sự an ủi và thiện cảm thì mọi người trong nhà tỏ vẻ lãnh đạm, không nói chuyện với bà và làm như không có bà ở đó. Bà không thể nào hiểu nổi những phản ứng này. Trước kia gia đình bà không bao giờ đối xử với bà như vậy. Sự khắc khoải vì bị bỏ rơi và bị lẻ loi làm cho bà không thể chịu đựng nổi. Bà đau khổ trong tâm hồn lẫn thể xác, và bà bị mất ngủ bà gầy tóp đi.
Ngày đêm bà chỉ biết khóc đến nỗi quên cả giờ giấc. Bà ý thức rằng mình đang đi dần đến chỗ loạn tâm trí.
Một ngày kia, bà thấy trong biên sách ở khu vực bà ở có quyển “Từ tù ngục đến ca ngợi”. Cầm quyển sách lên bà đọc phía sau bìa, tác giả là một tuyên úy quân đội, và vội đặt quyển sách trở lên kệ. Chồng bà cũng ở trong quân đội lúc ông ta qua đời và bây giờ bà sợ phải nhớ lại những kỷ niệm ấy. Bà trở về nhà tay không, nhưng suốt ngày bà nhớ đến tự quyển sách. Một ý tưởng cứ trở đi trở lại :”Mình phải đọc quyển sách đó”.
Chưa bao giờ bà cảm thấy cần phải đọc một quyển sách nào rõ rệt như lúc bây giờ. Vì vậy bà trở lại hiệu sách và mua cuốn sách ấy.
Vừa về đến nhà, bà vội mở sách ra đọc, và bà không thể cầm được nước mắt. Đôi khi bà khóc nhiều nhiều đến nỗi không còn phân biệt các hàng chữ nữa. Có lúc bà bỗng nhận thấy mình đang quỳ dưới đất và tiếp tục đọc sách.
Bà chắc rằng Chúa nói trực tiếp với bà qua cuốn sách đó. Nhưng bà không hiểu rõ: Có thật Chúa bảo bà phải cám ơn Chúa bảo bà phải cám ơn Chúa vì chồng bà đã chết không? Làm sao Chúa có thể tàn ác như thế? Tất cả mọi phần trong cơ thể bà đều dường như chống đối ý tưởng này. Nhưng dần dần càng đọc bà càng cảm thấy một nỗi bình an mới xâm nhập trong tâm hồn và bà không khóc nữa. Từ từ tư tưởng bà chuyển biến.
Bà nghĩ :”Chúa cho phép tất cả những việc đó xảy ra để giúp đỡ tôi Chúa biết rằng không bao giờ tôi tìm kiếm Chúa nếu chồng tôi còn sống. Nếu anh tôi và gia đình tôi đã khuyên giải yêu thương tôi thì chắc tôi đã bám vào họ. Bây giờ tôi đã hoàn toàn trơ trọi lên tôi mới quay về với Chúa. Lạy Chúa Jêsus, con cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Chúa ở đây với con và con ca tụng cảm ơn Đức Chúa Trời vì ngài đã đẩy con đến với Chúa”.
Sự bình an mà bà cảm thấy bây giờ rất êm dịu hơn tất cả mọi sự mà bà cảm nghiệm được từ trước đến nay. Những ngày sau đó bà càng rạng rỡ một niềm vui làm cho bạn bè và hàng xóm của bà ngạc nhiên quá đỗi, vì họ đã theo dõi bà và lo ngại khi thấy sự đau khổ làm bà suy kiệt dữ dội.
Ít lâu sau, người anh của bà đến thăm bà và cặp mắt đầy lệ, anh thú thật em có thể tha lỗi cho anh không? Vì đã có một sự hiểu lầm. Có người nói với gia đình anh rằng em đã nói anh từ chối không giúp đỡ khi chồng em hấp hối. Và cả nhà đã nghe lời nói ấy và bị tổn thương, nên hôm nọ không ai muốn nhìn em hay nói với em cả.
Người anh của bà rất xấu hổ và hối hận.
Bây giờ thì anh biết điều đó là câu chuyện của một bà góa khác, và anh đã nhận ra rằng anh đã bỏ rơi em trong lúc em cần đến anh.
Rất bình tĩnh, bà trả lời.
Anh đừng hối tiếc gì cả. Trái lại anh hãy sung sướng vì đã làm điều sai lầm đó, và cám ơn Chúa vì nó xảy ra.
Anh bà không hiểu giáp ất gì cả.
Anh đã bỏ rơi em khi em cần đến anh, thế mà em lại bảo anh cám ơn Chúa vì điều đó sao?
Bà cười trả lời :
Phải chính thế! Vì nếu anh không bỏ em một mình thì không bao giờ em hiểu được Chúa yêu thương em đến mức độ nào. Câu chuyện này không có mục đích tha thứ cho việc nghe người ta nói xấu kẻ khác, hoặc không giúp đỡ người cần đến ta đâu. Nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta hiểu rằng nếu chúng ta trao phó cho Chúa tất cả cuộc đời chúng ta thì không ai có thể đối xử với chúng ta một cách bất công cả, trừ phi Đức Chúa Trời cho phép vì lợi ích của chúng ta. Chúng ta có thể cám ơn Chúa về từng lời khó chịu, từng nhận xét xảo trá, nham hiểm đụng đến chúng ta. “Vì nhơn có lương tâm đối với Đức Chúa Trời, mà chịu khốn nạn khi chịu oan ức, ấy là một phước lành. Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà nhịn chịu thì có đáng khoe gì? Nhưng nếu anh em lành mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Đức Chúa Trời” (IPhi 1Pr 2:19-20).
Một cây bông hồng phải được chiếc cành mới trổ hoa.
“Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho. Hễ nhánh nào trong ta mà không kết quả thì ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả được sai trái hơn. Các người đã được trong sạch vì lời ta đã bảo cho” (GiGa 15:1-3).
Vì Chúa Jêsus đã truyền:”Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết trí nhớ mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây cũng vậy:”Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình” (Mat Mt 22:37-39).
Tình yêu mà Chúa Jêsus đã đề cập ở đây là một tình yêu có ý thức và tự do, một tình yêu đòi hỏi sự can thiệp của ý chí và hành động trong đức tin và. Đó chính là tình yêu của Chúa Jêsus đã nói: ”Các ngươi hãy yêu nhau như ta đã yêu các ngươi” (GiGa 15:12).
Tất cả những gì ngăn cản chúng ta vâng theo điều răn này đều phải được trù diệt khỏi con đường của chúng ta. Chúng ta chỉ làm trì hoãn và ngăn chặn công việc của Chúa trong chúng ta nếu chúng ta cằn nhằn và than thở vì những hoàn cảnh khó khăn mà Chúa dùng để Thánh Hóa chúng ta. Những hoàn cảnh không đến với chúng ta một cách may rủi hay do một định mệnh tàn ác, nhưng vì Cha chúng ta cũng là chủ vườn nho, đã yêu thương và chăm sóc đến chúng ta. Chúng ta có thể vui mừng và cảm tạ Chúa vì Chúa biết cái gì đẹp nhất và lợi ích nhất cho ta.
Một chuẩn úy ở Jort benning, một Cơ Đốc Nhân, vừa hay tin vợ anh ta bị đưa vào bệnh viện vì một cơn thần kinh nặng. Các bác sĩ đều bi quan về trường hợp này. Cô ta phải ở bệnh viện một thời gian vô định. Khi J. đến tìm tôi tại phòng làm việc, anh ta không thốt được một tiếng. Tôi nhìn đôi vai to lớn của anh khi khóc nức nở.
Tại sao những việc ấy xảy ra?
Anh cố gắng nói một cách khó khăn:
Vợ tôi và tôi luôn cố gắng sống theo những Cơ Đốc Nhân tốt, tại sao Chúa lại bỏ rơi chúng tôi.
Tôi trả lời :
Chúa không bỏ rơi anh đâu. Chúa có một lý do rõ rệt bắt vợ anh phải nằm nhà thương. Tại sao chúng ta không quì xuống bây giờ để cảm ơn Ngài?
J. mở to cặp mắt :”Tôi theo đạo Tin Lành, và tôi chưa bao giờ thấy điều đó trong Kinh Thánh”.
Thế còn câu này:”hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Vì mọi sự ta ơn Đức Chúa Trời là Cha chúng ta” (Eph Ep 3:20) thì sao?
j. lắc đầu : “ Vâng tôi biết đoạn đó, nhưng tôi cứ nghĩ là phải cảm tạ Chúa vì những ơn lành. Tôi không nghĩ rằng Kinh Thánh bảo chúng ta cảm tạ về sự giữ. Tôi đã nhớ rằng sứ đồ Phaolô đã bị quá trớn khi ông nói rằng ông sung sướng trước sự tàn tật yếu đuối của ông”.
Tôi cũng đã từng nghĩ như thế, nhưng bây giờ tôi thấy sứ đồ Phaolô nói rằng các thánh đồ vui mừng trong sự hoạn nạn của mình, điều đó không có nghĩa là chúng ta cảm thấy dễ chịu trong chính những nỗi khổ đó, nhưng chúng ta phải nhìn sự đau khổ một viễn tượng mới. Các Thánh Đồ khám phá ra rằng sự đau khổ có thể phục vụ một mục đích cao cả và nó ở trong chương trình yêu thương của Chúa đối với anh”.
J. có vẻ suy nghĩ, anh nói chậm chạp:”Tôi không biết, điều đó với tôi có vẻ vô lý lắm”.
Phaolô cũng đã học kinh nghiệm, và cũng không phải dễ dàng đâu. Anh hãy nhớ đến câu cái giằm xóc vào thịt ông”.
J. gạt đầu. Tôi nói:”ba lần Phaolô đã xin Chúa lấy cái đó đi. Lúc bấy giờ ông không có vẻ gì sung sướng vì sự đau khổ cả. Mỗi lần Chúa đều trả lời: Không, ta ở với con, đó là tất cả những gì con cần. “Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối của con. Vậy, tôi sẽ rất vui mừng khoe mình vì sự yếu đuối của tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (IICo 2Cr 12:9). Tôi nói tiếp :”Phaolô không hãnh diện trong chính sự tàn tật đó, đó là điều ông cắt nghĩa cho tính hữu Côrinhtô” Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó, vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ (IICo 2Cr 12:10).
J. chậm chạp dỡ từng trang Kinh Thánh, suy nghĩ và cuối cùng kết luận. Tôi tin rằng Chúa hoạt động trong mọi sự, nhưng điều khó khăn nhất đối với tôi là phải vui mừng vì mọi sự.
Nếu chúng ta nói rằng chúng ta tin mà không hề vui mừng, thì điều đó có nghĩa là chúng ta chưa quyết tin rằng Chúa hành động vì lợi ích cao nhất của chúng ta.
J. im lặng, rồi anh gật đầu quả quyết :
Mục sư nói có lý, tôi muốn làm thử. Chúng tôi quì xuống. J. lại nức nở trong khi cầu nguyện.
Lạy Chúa, con biết Chúa thương vợ con hơn là con có thể yêu nàng. Con tin rằng Chúa đang thực hiện cho chúng con một chương trình tuyệt diệu.
Những dòng nước mắt vẫn tiếp tục chảy trên má, nhưng cái nhìn của anh đã ánh lên một tia hy vọng mới.
Thưa tuyên úy, Chúa biết việc Chúa làm tôi biết chắc như vậy.
Vài ngày sau J. được thuyên chuyển đến gần bệnh viện mà vợ anh đương dưỡng bệnh. Đơn xin của anh được chấp nhận và anh đến chào tôi. Anh nói có vẻ phấn khích :”Hãy đợi những điều sắp xảy ra”. Điều tốt nhất vẫn chưa đến. Chúa đã hứa sẽ chưa bệnh cho vợ tôi, lúc tôi gặp lại nàng và đặt tay lên đầu nàng mà nói :”Hãy lành bệnh, nhơn danh Chúa Jêsus Christ”.
Mọi sự nghi ngỡ thoáng qua trí tôi:”Nếu J. quá hăng say thì anh ta sẽ đi trước điều Chúa muốn thật sự”. Nhưng tôi cũng nhận được sự xác nhận của Đức Thánh Linh. Tôi đặt hai tay trên anh và cầu nguyện cho anh.
Lạy Chúa, Chúa đã phán rằng nếu có hai người đồng ý cầu nguyện xin một ơn gì Chúa sẽ nhận lời. Bây giờ, J. và con, chúng con xin Chúa chữa bệnh cho vợ J. Khi anh đặt tay lên nàng.
Hai tuần lễ sau J. anh viết cho tôi :
Mọi sự xảy ra giống y như Chúa đã hứa với chúng ta. Vợ tôi ở trong phòng bác sĩ khi tôi đến gặp nàng. Thật kinh khủng, sắc diện của nàng và sự sợ hãi khiến tôi nghĩ không còn có hy vọng gì nữa. Nhưng tôi biết rằng tôi phải làm điều Chúa dạy. Tôi đến gần nàng và đặt tay lên đầu nàng. Lúc tôi đụng đến nàng, nàng rùng mình chấn động và tôi biết nàng đã được chữa lành. Tôi nói với bác sĩ rằng vợ tôi đã khỏe và ông ta nhìn tôi như thể tôi cũng cần được đưa vào bệnh viện để điều trị. Hôm sau bác sĩ gọi tôi đến và nói :”Tôi không hiểu gì cả”, “nhưng vợ anh có vẻ lành mạnh rồi”. Và nàng trở về nhà sung sướng hơn bao giờ hết. Những thử thách mà nàng đã chịu đựng đã giúp nàng lớn mạnh và cả hai chúng tôi bây giờ cảm tạ Chúa vì mọi sự. Chúng tôi đã hiểu lời cảm tạ Chúa làm phát xuất quyền năng chữa trị của Đấng Christ”.
Chúa thay thế sự yếu đuối của chúng ta bằng sức mạnh của Chúa khi chúng ta nhận sự thất bại của mình. Nhưng rất nhiều khi chúng ta xấu hổ vì phải thú nhận rằng mình yếu đuối, vì sợ Chúa và người khác chấp nhận những nhược điểm đó. Cách suy nghĩ bắt nguồn từ nhận định sai lầm là chúng ta phải làm sao cho xứng đáng với tình yêu của Chúa.
Một đại tướng là Cơ Đốc Nhân, ngày nọ đến tìm tôi và thú thật rằng cố gắng mà ông buộc mình phải tuân theo để có hình ảnh toàn hảo trước mặt binh lính của ông đi đến chỗ có thể sát hại ông. Trong lúc nói chuyện tôi ý thức được rằng người đàn ông này, mà tôi vẫn khâm phục vì vẻ quân bình và chững chạc bên ngoài, thật ra chưa bao giờ biết chấp nhận mình. Ông bị ám ảnh bởi ý tưởng là ông sẽ làm cho gia đình và sư đoàn của ông thât vọng vô cùng nếu ông buông xuôi tất cả.
Tôi gợi ý rằng sự căng thẳng này sẽ mất nếu ông cảm tạ Chúa đã tạo dựng ông như thế. Ông kêu lên:”Tuyên úy muốn nói như vậy bây giờ sao?â Bây giờ tôi đây rất căng thẳng và sợ hãi”. Tôi gật đầu.
Ông tưởng rằng Đức Chúa Trời tạo dựng vũ trụ và đặt các ngôi sao trên trời lại không chú ý khi tạo dựng ông sao? Không, dĩ nhiên. Và tất cả mọi hoàn cảnh trong đời ông cũng vậy. Chúa đã chọn để cho ông thấy Chúa yêu ông dường nào!
Ông đại tướng trở lại phòng tôi nhiều lần. Ông đọc Kinh Thánh và đọc quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi”, rât say mê. Ông đi đến chỗ nhận thức rằng Chúa có chương trình tuyệt hảo cho đời sống và sự căng thẳng mà ông chịu đựng thường xuyên chỉ có mục đích là đưa ông đến chỗ tin cậy Chúa mà thôi.
Ông bắt đầu cảm tạ Chúa vì những sự lo âu khắc khoải của mình, và 1 cảm giác bình an dần dần thay thế những lo ngại. Lần đầu tiên trong đời ông, ông sung sướng sống bằng con người thật của mình. Ông tâm sự :
Bao lâu tôi còn nghĩ rằng Chúa không thể yêu tôi với những yếu đuối này thì tôi cố gắng dấu kín và do đó tôi từ từ đi xa sự thật. Khi tôi biết nhìn nhận mình yếu đuối và cảm tạ Chúa đã tạo dựng lên tôi như thế thì tình yêu của Chúa đã biến đổi tôi và cho tôi sự bình an.
Vua Đavit viết : “Hỡi các dân, hãy chúc tụng Đức Chúa Trời chúng ta, và làm cho vang tiếng ngợi khen Ngài. Chính Ngài bảo tồn mạng sống chúng ta, Trời ơi, Chúa đã thử thách chúng tôi, rèn luyện chúng tôi y như luyện bạc. Chúa đã đem chúng tôi vào lưới, chất gánh nặng quá trên lưng chúng tôi. Chúa khiến người ta cưỡi lên đầu chúng tôi, chúng tôi đi qua lửa qua nước, nhưng Chúa đem chúng tôi ra nơi giàu có ... Tôi lấy miệng tôi kêu cầu Ngài và lưỡi tôi tôn cao Ngài. Nếu lòng tôi có chú về điều ác, ắt Chúa chẳng nghe lời tôi. Nhưng Đức Chúa Trời thật có nghe, Ngài đã lắng tai nghe tiếng cầu nguyện của tôi... Hỡi cả trái đất, khá cất tiếng reo mừng Đức Chúa Trời, hãy hát ra sự vinh hiển của danh Ngài, hãy ngợi khen và tôn vinh Ngài!” (Thi Tv 66:8-12, 17-19; 67:1-2).
Đavít muốn trở thành một Chúa. Đavit biết tất cả những gì không trong sạch nơi ông sẽ ngăn chặn không cho tình yêu của Chúa tràn đến ông và chảy qua Ông. Vì thế Đavít đã vui vẻ chấp nhận phương thế đau khổ và thanh lọc mà Chúa đã bắt ông chịu đựng. Đavit vui mừng khi những thử thách làm tỏ hiện, phô bày ra những lỗi lầm ẩn kín của ông. Ông xưng tội và được chữa lành. Chính Chúa đã chỉ cho ông con đường đi.
“Ta há ăn thịt bò đực, hay uống huyết dê đực sao? Hãy dâng sự cảm tạ làm của lễ cho Đức Chúa Trời, và trả sự hứa nguyện ngươi cho Đấng chí cao. Trong ngày gian truân, hãy kêu cầu ta, ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ ca ngợi ta”.
“Nhưng Đức Chúa Trời phán cùng kẻ ác rằng: Nhơn sao ngươi thuật lại các luật lệ ta? Vì cớ gì miệng các ngươi nói về các lời giao ước ta? Thật các ngươi ghét sự sửa dạy, bỏ sau lưng các lời phán ta”.
“Vậy hỡi các người quên Đức Chúa Trời, khá suy xét điều đó, kẻo ta xé nát ngươi, không ai giải cứu chăng? Kẻ nào dâng sự cảm ta làm của lễ, tôn vinh ta, còn người nào đi theo con đường ngay thẳng, ta sẽ cho thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời” (50:13-17, 22-23).
Con đường của Chúa là con đường chúc tạ ngợi khen .

KHI CHIM SẺ RƠI XUỐNG ĐẤT
“Hai con chim sẻ há chẳng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý muốn cha các ngươi, thì chẳng hề có một con nào rơi xuống. Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi. Vậy đừng sợ chi hết, vì các ngươi quí trọng hơn nhiều chim sẻ” (Mat Mt 10:29-30).
Chúa Jêsus nói với các môn đồ của Ngài rằng Cha các ngươi trên trời chăm sóc đến nỗi con chim sẻ và Ngài biết số tóc trên đầu chúng ta. Vậy mà nhiều khi chim sẻ rơi xuống đất ... và ta viết những bi kịch. Những đứa trẻ vô tội chết dưới bánh xe do tài xế say rượu lái; một người thân của chúng ta bị ung thư và chết mặc dù chúng ta đã sốt sắng cầu nguyện. Đức Chúa Trời chẳng có thể làm cho chim sẻ đừng rơi được không? Chúa há không thể ngăn cản đứa trẻ khỏi bị tai nạn và sự ngăn ngừa sự tàn phá của bệnh ung thư sao ?
Phần đông chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời có thể ngăn ngừa sự dữ nếu Ngài muốn. Và chúng ta tự hỏi ngăn ngừa sự dữ nếu Ngài muốn. Và chúng ta hỏi: Tại sao Chúa cho phép điều mà ta cho là sự toàn thắng của sự ác sự thiện?
Đôi khi chúng ta suy ra rằng Đức Chúa Trời nhẫn tâm dửng dưng hoặc bât công. Hoặc chúng ta nghĩ rằng những nạn nhân của sự ác đó đau khổ vì tội lỗi của chính họ hoặc của kẻ khác. Trong cả hai trường hợp, các kết luận của chúng ta ngược hẳn với sứ điệp của Kinh Thánh dạy cho chúng ta rằng Đức Chúa Trời là tình yêu và chúng ta không cần phải tốt lành để xứng đáng với sự chăm sóc ân cần của Chúa.
Không thể ca tụng Chúa về mọi sự mà bạn nghĩ Chúa không thực sự có trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra, hoặc Chúa dửng dưng với những khốn khổ của chúng ta.
Tôi thường nhận được thư của những người hỏi tôi cảm tạ Chúa vì sự dữ có đúng không, trong lúc Kinh Thánh dạy chúng ta ghét sự dữ. Học trích dẫn:”Hỡi những kẻ yêu mến Đức Giêhôva hãy ghét sự ác”. (Thi Tv 97:10) và “hãy ghét điều dữ mà ưa điều lành” (AmAm 5:15). Nhưng các câu Kinh Thánh đó dạy chúng ta đừng tán thành sự dữ và cũng đừng thực hành, đừng theo cũng như đừng cam chịu nó”.
Ngợi khen Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh không có nghĩa là chúng ta tán thành hoặc chấp nhận sự dữ nơi bản chất của nó. Khi Phaolô nói đến việc vui mừng không phải vì sự đau thương nhưng vì chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời hành động bởi và qua sự đau thương đó.
Đức Chúa Trời không tạo dựng nên sự dữ. Ngài là tình yêu. Nhưng Đức Chúa Trời tạo dựng nên những con người có ý chí tự do và có thể làm điều ác. Sự dữ là một hậu quả của việc con người chống lại Đức Chúa Trời, có Chúa cho phép nó mới tồn tại được trên thế gian này. Nhưng nó luôn luôn lệ thuộc ý Chúa. Không có sự dữ nào xảy đến cho chúng ta mà Đức Chúa Trời không cho phép.
Và vì có sự dữ, nên Đức Chúa Trời đã sai một Ngài chịu trên thập tự giá để bẻ tan quyền lực của sự dữ đó trong đời sống của tất cả những ai tin nơi Ngài.
“Người ác phục trước mặt người thiện, và kẻ dữ cúi lạy ở cửa của người công bình” (ChCn 14:19). Chúng ta, những kẻ tin, chúng ta nhận lãnh quyền chiến thắng thế gian.
“Ai tin Chúa Jêsus là Đấng Christ thì sanh bởi Đức Chúa Trời... vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian ấy là đức tin của chúng ta” (IGi1Ga 5:1, 4).
Mà đức tin chúng ta phải đặt nền tảng trên cái gì? Ta phải tin gì để chiến thắng? Ta tin ở Chúa Jêsus Christ, nhưng còn điều khác nữa: Tin hoàn toàn nơi Chúa Jêsus cũng có nghĩa là chấp nhận Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và cũng chấp nhận rằng không điều gì xảy đến mà Ngài không cho phép hoặc không biết.
Nếu chúng ta quyết định tin vững vàng điều ấy và ngợi khen Đức Chúa Trời về mọi hậu quả bên ngoài của sự dữ xung quanh ta, tôi tin chắc rằng mọi hoàn cảnh khó khăn, mọi thảm trạng sẽ được biến đổi do bàn tay Đức Chúa Trời.
Khi xác quyết điều này tôi biết rằng phần lớn trong các bạn sẽ kết luận ngay rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến mọi hoàn cảnh như chúng ta sẽ làm trong địa vị của Ngài. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn nó chút nào cả.
Khi chúng ta tin tưởng hoàn toàn nơi Đức Chúa Trời trong một hoàn cảnh khó khăn bằng cách ngợi khen và cảm tạ Ngài vì hoàn cảnh đó thì, quyền năng của Chúa sẽ biến đổi đảo ngược, hoặc thắng vượt ý tưởng và chương trình của sự dữ đang hoành hành bằng cách biến đổi hoàn toàn cảnh đó cho phù hợp với mục đích cao cả sơ khởi và hoàn hảo của Đức Chúa Trời trên đời sống chúng ta.
Chúng ta có thể không hiểu được chương trình của Đức Chúa Trời và cũng không thấy khía cạnh tích cực của chương trình đó, nhưng hễ chúng ta bắt đầu khen ngợi Chúa, chúng ta làm cho quyền năng của Chúa hiển lộ để làm lợi ích cho chúng ta trong hoàn cảnh hiện tại.
Quan niệm lành dữ của chúng ta thường sai lầm. Thí dụ một đứa bé được hưởng gia tài bạc triệu, người ta liền kêu lên “tuyệt quá !” nhưng nếu đứa trẻ ấy chết và lên thiên đàng, thì người ta sẽ than “tai họa thật”. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một gia tài lớn có thể gây thảm trạng, còn lên thiên đàng là điều rất phước hạnh.
Nếu chúng ta ngợi khen Chúa trong mọi hoàn cảnh, tôi chắc rằng có những con chim sẻ sẽ không rơi xuống đất, có những đứa trẻ không chết, và bệnh ung thư sẽ được chữa trị. Nhưng không nên để cho điều này là động cơ thúc đẩy chúng ta ngợi khen Chúa, vì sẽ luôn có những chim sẻ rơi xuống đất, những trẻ con chết yểu, và những người bị bệnh ung thư. Chúng ta vẫn phải ca tụng Đức Chúa Trời vì những trường hợp đó nữa.
Như vậy, ca tụng Chúa vì sự dữ Ngài cho phép xảy ra trong đời sống chúng ta vì tin rằng Chúa có một mục đích rõ ràng trong trường hợp đó. Rồi còn phải làm gì nữa? Phải phản ứng thế nào trước sự đó khi ta đối diện với nó? tại chỗ này, có rất nhiều tư tưởng.
Chúa Jêsus đã nói với những kẻ theo Ngài: “Song ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ” (Mat Mt 5:19). Tuy nhiên ta đọc thấy rằng, khi Chúa Jêsus trông thấy phường buôn bò, chiên, bồ câu và quân đổi bạc ngồi trên sân đền thờ, “Ngài bện một cái roi bằng dây, bèn đuổi hết thảy khỏi đền thờ, chiên và bò nữa, vãi tiền người đổi bạc và đổ bàn của họ” (GiGa 2:15). Nơi đây chúng ta thấy Chúa Jêsus hành động công khai chống lại sự dữ. Tuy vậy Ngài đã không kháng cự chút nào khi người ta đến bắt Ngài tại vườn Ghếtsêmanê, và Ngài đã quở môn đồ muốn dùng gươm mà bảo vệ Ngài.
Như vậy có những trường hợp Chúa muốn đưa ta đến hành động rõ rệt chống lại sự dữ và những trường hợp khác Ngài bảo chúng ta đừng kháng cự. Nhưng làm sao biết được khi nào phải hành động, khi nào không?
Tôi thiết tưởng điều duy nhất ta có thể làm được là nhìn nhận rằng sức mình, chúng ta không thể nào thắng sự dữ được, sức mạnh để chiến thắng là chính Đức Chúa Trời. Ngài dạy chúng ta phải tập ngước mắt lên nhìn Ngài, nguồn mạch của mọi chiến thắng, chứ không đăm đăm nhìn vào sự dữ mà ta phải đương đầu. Như vậy, từng bước một, Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn hành động chúng ta. Phaolô đã viết cho tín hữu Rôma:”Đừng để điều ác thắng mình, nhưng phải lấy điều thiện thắng điều ác” (RoRm 12:21).
Trong trường hợp người ta bắt và đóng đinh Chúa Jêsus, chính hành vi không kháng cự của Chúa đã đập tan quyền lực của sự dữ trong thế gian.
Qua hành vi trên, Chúa Jêsus đã cho chúng ta thấy có một cách tốt đẹp hơn nhiều người để giải quyết vấn đề sự dữ, tốt đẹp hơn là bảo vệ chống lại sự dữ theo nghĩa thông thường của chúng ta, tức là dùng vũ khí, ăn miếng trả miếng, dùng vũ lực chống vũ lực. Làm như vậy chúng ta phản ứng lại với các nghịch cảnh thay vì đón nhận sự hiện diện và chỉ thị của Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh đó.
Mỗi lần chúng ta hành động theo các biến cố bên ngoài thay vì bởi đức tin của chúng ta nơi sự can thiệp của Đức Chúa Trời và sự kiểm soát hoàn hảo của Ngài trên hoàn cảnh, thì chúng ta để cho sự chiến thắng chúng ta thay vì thắng vượt được trước nó nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus không chủ hòa (theo nghĩa chúng ta hiểu ngày nay) khi Chúa phán: “Đừng chống cự kẻ dữ”. Chúa muốn nói chúng ta phải nhìn nhận một cách chủ động quyền năng của Chúa trên sự dữ và nhìn nhận rằng đôi khi Chúa chọn hoàn cảnh đó để thực hiện ý muốn của Ngài.
Trong trường hợp đó cưỡng lại sự dữ là đi ngược lại chương trình hoàn hảo của Chúa. Nếu các môn đệ ngăn cản sự bắt Chúa trong vườn Ghếtsêmanê, họ đã làm hỏng kế hoạch của Chúa mặc dù họ tưởng mình đã thắng được sự dữ.
Chúa Jêsus đã đến để chiến thắng chứ không phải để dạy ta biết thua và không than vãn đâu.
Các sứ đồ Gia cơ và Phierơ đều bảo chúng ta chống lại Satan nếu chúng ta xem nội dung sứ điệp của các ông, ta thấy rõ ràng các ông đều hoàn toàn nhất trí với Chúa Jêsus và sứ đồ Phaolô.
“Vậy, hãy phục Đức Chúa Trời, hãy chống trả ma quỷ thì nó sẽ lánh xa anh em” (Gia Gc 4:7). “Hãy tiết độ và tỉnh thức kẻ thù nghịch anh em là ma quỷ như sư tử rống đi rình mò xung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự nó” (IPhi 1Pr 5:8-9).
Chống lại Satan sự bảo vệ độc nhất của chúng ta là quyền năng của Đức Chúa Trời. và quyền năng đó được phát lộ khi chúng ta tin quyết rằng Đức Chúa Trời âu yếm điều khiển hoàn toàn mỗi chi tiết của hoàn cảnh. Và chúng ta diễn tả lòng tin đó bằng cách ca tụng và cảm tạ Chúa vì những hoàn cảnh cụ thể đó.
Kinh Thánh dạy ta phải tỉnh thức và coi chừng sự tấn công của kẻ thù nhưng tất cả sự chú ý của chúng ta phải hướng về Chúa, chứ không phải hướng về Satan. Vẫn biết chúng ta ý thức sự đe dọa của kẻ thù, nhưng chúng ta được bảo vệ, không phải bằng cách rình mò kẻ thù mà là một cách đắc lực hơn qua sự nhìn nhận quyền năng của Đức Chúa Trời.
Nếu chúng ta để cho sự sợ hãi và sự nghi ngờ cùng lo lắng về kẻ thù tràn ngập trong lòng chúng ta, chúng ta ngăn cản sự phát lộ của quyền năng của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải học cách xem sự dữ dưới một cách nhìn đúng đắn, nó ở dưới sức mạnh toàn năng của Chúa, và quyền năng của Chúa điều khiển nó để đem lại lợi ích cho chúng ta theo chương trình hoàn hảo của Chúa.
Phần việc của chúng ta là vững tin bằng cách vâng theo sự điều khiển dẫn dắt của Thánh Linh trong hoàn cảnh đó; chúng ta phải luôn luôn để cặp mắt nội tâm mình đăm đăm nhìn Chúa, bằng cách ca ngợi Chúa và cảm tạ Ngài trong mọi sự vì lòng nhơn từ, yêu thương vô biên của Ngài.
Vững tin là dùng ý chí của chúng ta mà quyết tâm chấp nhận rằng Chúa làm chủ tình thế như Kinh Thánh dạy ta bất chấp cảm giác của chúng ta và hoàn cảnh bên ngoài.
Kinh Thánh khẳng định với chúng ta rằng Đức Chúa Trời kiểm soát mọi bão táp, động đất, cuồng phong, chiến tranh, đói kém, dịch lệ, chết chóc, sinh nở. Ngài kiểm soát mỗi cánh hoa đồng nội, mỗi con chim sẻ và mỗi sợi tóc trên đầu chúng ta.
Chúng ta tin tưởng những điều đó hay không là tùy chúng ta quyết định.
Có người nói :”Tôi muốn chấp nhận rằng Chúa chịu trách nhiệm về một số sự việc, nhưng tôi không thể chấp nhận rằng Ngài chịu trách nhiệm về mọi sự được.
Quan niệm này không khiến ta ngợi khen Chúa và khi ta từ chối không chịu thấy bàn tay Đức Chúa Trời trên lãnh vực rõ rệt, ta không thể hy vọng một sự đáp lời cầu nguyện của chúng ta là sự chứng thực quyền năng biến đổi của Ngài được.
Hãy xem Kinh Thánh nói gì về các lãnh vực riêng biệt đó, và ta khó nhìn nhận bàn tay Chúa.
Habacúc là một tiên tri đã phàn nàn về tình hình quê hương ông như trong số chúng ta đã phàn nàn về tình hình thế giới hiện nay.
“Hỡi Đức Giêhôva, tôi kêu van, mà Ngài không nghe tôi đến chừng nào ?” Habacúc than vãn, ông ta không thèm nghĩ rằng Chúa đang lắng nghe ông, và ở điểm này nhiều Cơ Đốc Nhân ngày nay đông ý với ông ta :”Tôi sợ sự bạo ngược kêu van cùng ngài, mà ngài chẳng muốn giải muốn cứu ? Nhơn sao Chúa khiến tôi thấy sự gian ác, và ngài nhìm xem sự ngang trái? Sự tàn hại bạo ngược ở trước mắt tôi; sự tranh đấu cãi lẫy dấy lên. Vậy nên pháp luật không quyền, sự chánh trực không hề tỏ ra. Kẻ hung ác vây xung quanh người công bình,vì cớ đó sự xét đoán ra trái ngược” (HaKb 1:2-4).
Có khi nào bạn đã miêu tả thế giới Âu Tây ngày nay bằng những lời lẽ giống như vậy chăng ? Đối với tôi thì có!
Và Đức Chúa Trời đã trả lời với Habacúc: ”Hãy nhìn trong các nước và xem, hãy lấy làm lạ và sững sờ. Vì ta đang làm ra trong ngày các ngươi một việc, mà dầu có ai thuật lại cho các ngươi, các ngươi cũng không tin. Nầy ta khiến người Canh đê dấy lên, nó là một dận dữ tợn hung hăng, hay đi khắp đất chiếm lấy chỗ ở không thuộc về mình. (HaKb 1:5-6)
Chúa sẽ nói rằng Chúa sẽ khiến một quốc gia hung tàn lật độ thế giới. Bạn có thấy khác gì với đạo binh ta đã thấy nói lên từ hồi đó hay không ?
Đức Chúa Trời không những đã cho phép người xứ Canh đê thống trị, mà chính Chúa đã dấy họ lên, Còn Nã Phá Luân, Hít le? Chúng ta có thể cảm tạ Chúa đã dấy họ lên không? chúng ta có thể chấp nhận lời Chúa phán rằng mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho chúng ta không? Habacúc đã phẫn uất khi biết điều Chúa sắp làm: ”Hỡi Đức Giêhôva, Đức Chúa Trời tôi, Đấng Thánh tôi! Ngài há chẳng phải là đời đời vô cùng sao? Vậy chúng tôi sẽ không chết! Hỡi Đức Giêhôva Ngài đã lập dân này lên đặng làm sự xét đoán của Ngài. Hỡi vầng đá, Ngài đã đặt nó làm sự sửa phạt! mắt Chúa Thánh sạch chẳng nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi?” (1:12-13)
Có khi nào bạn tự hỏi vì sao Chúa lại cho phép những người gian ác độc dữ làm hại kẻ vô tội không? Tôi đã tự hỏi? Và Habacúc nói tiếp :”Sao Ngài khiến loài người như cá biển và như loài côn trùng vô chủ? Nó đã dùng lưỡi móc lấy cả, thâu góp trong chài mình và nhóm lại trong lưới mình, vậy nên nó vui mừng và lấy làm thích” (1:14-15).
Đức Chúa Trời không làm ngơ giả điếc trước tất cả câu hỏi đó, Chúa đã ra lệnh cho Habacúc viết lên câu trả lời để cho mọi người biết và nhớ lấy.
“Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định, sau cùng nó sẽ kíp đến, không phỉnh dối đâu: Nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi, bởi nó chắc sẽ đến, không chậm trễ” (2:3).
Đức Chúa Trời không bao giờ chậm trễ. Lịch Ngài lúc nào cũng đúng. Chúng ta đây mới là người luôn luôn lo lắng vì chúng ta dự tính sai. Chúa còn phán: “Này, lòng người kiêu ngạo, không có sự ngay thẳng không bờ bến, làm họ thất bại nặng nề và vinh quang giả tạo của họ chẳng bao lâu đã biến thành tủi hổ. Trong khi hậu quả tội ác của họ đổ lại lên đầu họ cho tới lúc khắp trái đất đầy rẫy sự hiểu biết vinh quang Đức Chúa Trời.
Bây giờ Habacúc mới có thể trông thấy tất cả sự uy nghi cao cả của kế hoạch Đức Chúa Trời. Vì vậy, ông đã hát mừng và reo mừng chiến thắng:
“Hỡi Đức Giêhôva tôi đã nghe danh Ngài thì sợ hãi... Đức Chúa Trời đến từ Thê man, Đấng Thánh đến từ núi Pharan, vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, đầy đất sự khen ngợi Ngài” (3:2-3).
“Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng, những tia sáng ra từ tay Ngài, quyền năng Ngài dấu trong nơi đó. Ôn dịch đi trước mặt Ngài, tên lửa ra nơi chân Ngài. Ngài đứng và đo đất. Ngài nhìn xem làm tan tác các dân tộc, các núi hằng còn đều tan nát, các đồi đời đời đều quỳ xuống: Các đường lối Ngài giống như thuở xưa” (3:4-6).
Habacúc kinh hãi bởi khải tượng người mới trông thấy. Ông không còn đặt câu hỏi tại sao có hoả hoạn, động đất, đói kém dịch lệ và giặc dã nữa. Môi ông run rẩy vì khiếp sợ, toàn thể con người ông đều kinh hoàng nhưng ông hát lên cùng Chúa :
“Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho, cây ôlive không sinh sản và chẳng có ruộng nào sinh ra đồ ăn, bầy chiên sẽ bị dứt khỏi sàn, và không có bầy bò trong chuồng nữa. Dầu vậy tôi sẽ vui mừng trong Đức Giêhôva, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi. Đức Giêhôva là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm chơn tôi giống như chơn con hươu. Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình (3:17-19).
Habacúc bị khủng khiếp bởi cảnh tượng tương lai mà Đức Chúa Trời vừa mới cho ông thấy. Nhưng ông cũng ý thức được rằng Đức Chúa Trời là Đấng thương yêu, công bình và nhân từ. Habacúc không ngần ngại tân hiến đời sống mình trong tay Ngài bằng cách ca ngợi Ngài vì kế hoạch hoàn hảo Ngài đã vạch ra cho Ysơraên.
Điều mà Chúa cũng đã truyền cho chúng ta là ca tụng ngài, cho dù môi chúng ta run lên vì sợ và dù chúng ta bị khủng khiếp bởi những hoàn cảnh bên ngoài của kế hoạch của Ngài đối với chúng ta.
Bởi tiên tri Êsai. Chúa đã cho đã cho dân Ngài biết ý định của Ngài ấy là Ngài vừa dấy vua Siru lên Siru là vua nước Batư, ông đứng lên chinh phục và lật đổ nhiều quốc gia. Vua Siru không biết Đức Chúa Trời, nhưng Ngài quyết định dùng ông ta để đưa người Do thái bị lưu đày từ Babylôn về để xây dựng lại Giêsusalem và đền thờ.
Tại sao Chúa lại dùng Siru, một vua ngoại bang để thực hiện ý của Ngài? Chúa đã trả lời cho những ai hỏi Ngài:
“Ấy chính là Đấng gây nên sự sáng và dựng nên sự tối tăm, làm ra bình an và dựng nên tai vạ chính là đức Giêhôva làm moị sự đó” (EsIs 45:7).
“Khốn thay cho kẻ cãi lại với Đấng tạo nên mình, một bình trong các bình bằng đất, đất sét há nói cùng thợ gốm là người nhối mình mà rằng: Nó không có tay (c9).
“Đức Giêhova, Đấng thánh của Ysơraên, tức là Đấng đã làm ra Ysơraên phán như vậy: Các ngươi hãy hỏi về những sự sẽ đến, hãy bảo ta về các con trai ta và về việc làm bởi tay ta. Ấy chính ta làm ra đất, dựng lên loài người ở trên đất, chính ta, tức là tay ta, đã giương ra các từng trời, và đã truyền bảo các cơ binh nó” (c11,12).
“Ấy chính là ta đã dấy lên trong sự công bình, và sẽ ban bằng mọi đường lối người. Người sẽ lập lại thành ta, và thả kẻ bị đày của ta, không cần gia chuộc, cũng không cần phần thưởng. Đức Giêhôva vạn quân phán vậy” (c.13).
Khi chúng ta từ chối không chịu công nhận bàn tay Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh, thì chúng ta khác gì đất sét cãi lại với thợ gốm. Ta nói:”nếu tôi là Chúa, tôi sẽ làm cách khác kia. Tôi sẽ khiến cho động đất ở Pêru, không cho em bé này chết vì bệnh ung thư máu, tôi sẽ không cho phép những người này giảng về tà thuyết làm mê hoặc kẽ dễ tin... và chắc chắn tôi sẽ không cho phép những người buôn Matúy đến cám dỗ trẻ con!”
Chúa biết rõ chúng ta nghĩ gì về tất cả những điều đó, và Chúa cũng biết sự hiểu biết của chúng ta hạn hẹp biết bao. Ngài dùng tôi tới Ngài để phán:
“Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi bấy nhiêu. Vả như mưa và tuyết xuống từ trên trời và không trở lại nữa, mà đượm nhuần đất đai, làm cho sanh ra và kết nụ, đặng có giống kẻ gieo, có bánh cho kẻ ăn, thì lời nói của ta cũng vậy, đã ra từ miệng ta thì chẳng trở về vô ích, mà chắc sẽ làm trọng điều ta muốn, thuận lợi công việc đã sai khiến nó (55:8-11).
Sự nghi ngờ và tuyệt vọng của chúng ta do sự thiếu tin cậy nơi Chúa mà ra. Chúng ta không hoàn toàn xác tín rằng Chúa muốn làm điều tốt cho chúng ta.
Chúng ta hỏi vì sao một trẻ con vô tội lại phải chết dưới bánh xe của một tài xế say rượu lái để cho người này cần đến Đức Chúa Trời. Vậy Chúa lo cho linh hồn của ông tài xế say rượu hơn là mạng sống của một đứa trẻ hoặc nỗi tang tóc của cha mẹ nó sao?
Hết thảy chúng ta đều đặt vô số câu hỏi như thế, nhẩm đi nhẩm lại trong trí nhớ chúng ta. Bị xâu xé bởi vấn đề đó, chúng ta không có sự bình an. Và thêm nữa nỗi khắc khoải của chúng ta chẳng phải giải quyết gì được cho hoàn cảnh.
Phương thế độc nhất để ra khỏi khó khăn của chúng ta là chấp nhận Chúa trong đức tin, nghĩa là bất chấp tất cả những gì có thể nghĩ, thấy hoặc cảm thấy. Lời Chúa nói rằng Chúa thương yêu chúng ta và cái chết của môt đứa trẻ vô tội nằm trong kế hoạch tình yêu của Chúa đối với mỗi người bị tang tóc.
Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta cũng như các lời khác của Kinh Thánh chỉ có thể chấp nhận trong đức tin mà thôi. Chúng ta phải quyết định tin rằng tình yêu đó là sự mặc khải của Đức Chúa Trời về chính mình ngài, dù chúng ta cảm thấy mình đươc yêu thương hay không.
Tin Lành của Kinh Thánh là Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta bằng tình yêu tha thiết, kiên nhẫn, tế nhị và lo lắng cho hạnh phúc và sự thoải mái của chúng ta hơn bất cứ tình yêu nhân loại nào khác. Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta và Ngài có một kế hoạch hoàn hảo cho mỗi cuộc đời của chúng ta. Ngài đã sai Con Một Ngài chết thế cho chúng ta để ban cho chúng ta một cuộc sống mới sung mãn, bình an và hoan hỉ trong một thế giới đầy đau khổ.
Với trí hiểu phàm trần quá hạn của chúng ta, chúng ta không thể nào hiểu được tất cả sự tuyệt vời của kế hoạch của Chúa đối với thế giới này và đối với chúng ta. Cũng như Habacúc, chúng ta phẫn uất trước hành động của Chúa trong việc dùng những trận động đất và chiến tranh, dùng sự chết để thực hiện ý muốn của Ngài.
Những kế hoạch của Đức Chúa Trời là kế hoạch hoàn hảo. Đó là kế hoạch duy nhất đã thành công trong thế giới bị sự dữ và sự bội nghịch của con người cai trị. Bạn hãy nhìn xem sự đổ vỡ mà loài người chúng ta đã gây qua các thế kỷ khi chúng ta muốn tự mình lo liệu lấy. Chúa phán với Ê sai rằng kế hoạch cũ của Chúa không ăn khớp điều chúng ta làm vì tư tưởng của ngài vượt trên tư tưởng của chúng ta, mênh mông vô tận biết chừng nào.
Đức Chúa Trời chỉ muốn điều tôt nhất cho chúng ta mà thôi.
“Vì các ngươi sẽ đi ra vui vẻ, được đưa đi trong sự bình an. Trước mặt ngươi, núi đồi sẽ trổi tiếng ca hát, mọi cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay. Cây tùng sẽ mọc thay cho bụi gai, và cây sim sẽ lớn lên thay cho gai gốc, điều đó sẽ làm cho biết danh Giêhôva, và là một dấu đời đời không hề tuyệt diệt.” (EsIs 55:12-13).
Đức Chúa Trời muốn ban đầy rẫy phước lộc của Ngài cho chúng ta. Ngài muốn săn sóc chúng ta bằng mọi cách và ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Còn chúng ta thì cứ ngừng các hoàn cảnh và biểu hiện bên ngoài của kế hoạch của Chúa rồi tự hỏi vì sao và cách nào để Chúa làm điều này điều nọ, trong lúc Chúa truyền dạy chúng ta cứ nhìn vào Chúa và tin tưởng Ngài.
Ở giai đoạn này chúng ta cũng như lúc chúng ta mới trở thành lại tin Chúa, ta phải nhất quyết gạt sang một bên ý muốn của chúng ta là hiểu biết và hiểu rõ điều Chúa đang thực hiện, và ta phải đặt tất cả ý chí của mình vào sự nhất quyết tin nơi lời Chúa. Kế hoạch của Chúa nơi chúng ta luôn luôn tốt đẹp, lời Chúa khẳng định như thế, vậy chúng ta có tin không?
Kế hoạch của Chúa đối với Gióp cũng tốt đẹp nữa. Nhưng đó là một kế hoạch đã thử thách đức tin ông một cách khốc liệt và làm trí khôn của ông không biết đằng nào mà lý luận được.
Gióp là một người liêm chính, Chính Chúa nói về ông ”Người có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng, nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn ngay thẳng Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác” (Giop G 1:8). Việc gì xảy đến cho Gióp vậy? Ông đã mất hết tài sản, chiên cừu của ông, bò lạc đà... Và một hôm, ông mất cả con cái khi mái nhà sụp đổ.
Nếu việc ấy xảy đến cho bạn hoặc một trong những người láng giềng của bạn, bạn có thể nói việc ấy do Đức Chúa Trời hay do Satan mà đến?
Trong trường hợp của Gióp; đúng là Satan. Nhưng việc ấy xảy đến như thế nào? Satan đến gặp Chúa và xin phép Chúa làm khổ Gióp.
Satan có đóng một vai trò trong thảm kịch của cuộc sống chúng ta, nhưng nó chỉ là diễn viên mà thôi. Chính Chúa mới là đạo diễn và giám đốc.
Ông Gióp đã phản ứng thế nào? Ông xé áo, sấp mình thờ lạy Chúa.
“Tôi trần truồng lọt ra khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về; Đức Giêhôva đã ban cho, Đức Giêhôva cất đi, đáng khen Đức Giêhôva” (1:21).
Thế vẫn chưa xong, Satan trở lại xin phép thử Gióp thêm nữa và Chúa đã cho phép Satan.
Lần này thân hình ông Gióp đầy lở loét. Ông trông dị dạng ghê tởm đến nỗi không ai dám nhìn ông cả. Ngay cả vợ ông cũng bảo ông nguyền rủa Chúa chết đi. Những người bà con láng giềng trước kia vẫn kính trọng ông đâm ra chế nhạo ông và tránh xa ông. Ba người bạn tốt nhất của ông đến nói với ông rằng nỗi đau khổ của ông là do tội lỗi của ông và khuyên ông ăn năn hối cải.
Ông Gióp không nghi ngờ là chính Đức Chúa Trời đã gây nên tai họa cho ông. Ông xin Chúa tha tội cho ông nhưng với niềm xác tín rằng không phải vì tội lỗi của ông mà ông đau khổ. Trong thâm tâm ông biết rằng ông ngay thẳng và tin tưởng ở Chúa “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cạy nơi Ngài, nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài”. (13:15). Ông Gióp tin chắc rằng Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm về các sự thử thách của ông, nhưng lý trí của ông chất vấn ông tại sao ông phải khổ sở. Những câu hỏi đó chúng ta chẳng có lúc nào đặt vấn đề sao?
“Lạy Chúa, tại sao Chúa cho phép người này người kia phải nghèo khổ? Tại sao Chúa cho phép kẻ vô tội đau khổ? Tại sao những kẻ làm điều dữ lại sống sung sướng và không có vấn đề gì? Tại sao Chúa không để con chết đi cho con rồi để con khỏi khổ và con được ở bên Chúa?
Lời đáp của Chúa cho Gióp là lời quở trách nghiêm khắc của một người cha đối với người con mình (38:1-38).
“Khi ta đặt nền trái đất thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi không thông sáng tỏ bày đi” (C 4).
“Ánh sáng phân ra bởi đường nào, và gió đông theo lối nào mà thổi ra trên đất “ (C 24).
“Từ khi người sanh, ngươi há có sai khiến buổi sáng, và phán định chỗ cho hừng đông” (C.12).
“Ngươi có thể biết các dây chằng sao rua lại, và tách các siềng cầy ra sao chăng? Ngươi có thể làm cho các cung huynh đạo ra theo thì, và dẫn đường cho Bắc đẩu với các sao theo nó chăng? (C31-32).
“Ai đặt sự khôn ngoan trong lòng, và ban sự thông sáng cho trí não” (C.36).
“Ai để cho con lừa rừng chạy long đong? Ai đã mở trói cho con lừa lẹ làng kia” (Giop G 39:8).
“Có phải ngươi ban sức lực cho ngựa, và phủ cổ nó lông gáy rung rung chăng?” (C.22).
“Có phải theo lịnh người mà chim ưng cất lên và đóng ổ nó tại nơi cao ?” (C.30).
“Kẻ bắt bẻ Đấng Toàn Năng há sẽ tranh luận cùng Ngài sao? Kẻ cải luận cùng Đức Chúa Trời. hãy đáp điều đó đi ! (C.35).
Và Gióp đã thưa: “Tôi vốn là vật không ra gì, sẽ đáp cho với Chúa? Tôi đặt tay lên che miệng tôi. Tôi đã nói một lần, song sẽ chẳng còn đáp lại; Phải tôi đã nói hai lần, nhưng không nói gì thêm nữa” (C37-38).
Chúa kể tiếp các vật kỳ diệu Ngài đã dựng nên, các loài thú, sức mạnh, tập quán của chúng, quyền uy cao cả của Ngài.
“Chẳng ai đủ gan dám trêu chọc nó. Vậy ai sẽ đứng trước mặt ta cho nổi? Ai ban cho ta trước đã, mà ta phải trả lại cho? Phàm vật chi ở dưới trời đều thuộc về ta” (41:1-2).
Gióp đáp lời Chúa rằng: “Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm. Kẻ này là ai, không hiểu biết gì, lại dám che ý của Chúa? Phải, tôi đã nói những điều tôi không hiểu đến, tức các sự lạ lùng quá cho tôi, mà tôi chẳng thông biết ... Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tội, và ăn năn trong tro bụi : (42:2-3, 5-6).
Chúa đã nghiêm nghị quở trách ba người bạn của Gióp, vì họ hiểu sai lý do tại sao Gióp chịu đau khổ. Chúa đã cho họ thấy việc phán đoán sai lầm của họ và ra lệnh cho họ dâng một của lễ thiêu Chúa bảo ông Gióp cầu nguyện cho họ.
Ba người bạn đã làm theo lời Chúa, và “khi Gióp đã cầu nguyện cho bạn hữu mình rồi, Đức Giêhôva bèn đem người ra khỏi cảnh khốn người, và ban lại cho Gióp gấp bằng hai các tài sản mà người đã có trước” (42:10).
Ta nên ghi nhận rằng Đức Chúa Trời đã chúc phước cho ông Gióp khi ông ta chúc lành cho những kẻ đã tố cáo ông một cách bất công. Gióp đã học được một bài học; không bao giờ ông dám chất vấn Chúa về cách Ngài cai quản vũ trụ nữa. Ông sẽ không bao giờ nhìn hoặc nghe điều gì với khả năng tự nhiên, từ nay ông sẽ sử dụng cái nhìn mới của ông, cái nhìn thuộc linh.
Đức Chúa Trời đã có môt kế hoạch tuyệt hảo đối với ông Gióp. Các thử thách của ông được Satan thực hiện nhưng Chúa đã cho phép như vậy để tăng cường đức tin và sự khôn ngoan của ông, và chứng tỏ cho ông thấy uy quyền và tình yêu của Chúa.
Đức Chúa Trời có một kế hoạch tuyệt hảo đối với ông Gióp. Cách thử thách của ông được Satan thực hiện nhưng Chúa đã cho phép như vậy để tăng cường đức tin và sự khôn ngoan của ông, và chứng tỏ cho ông thấy uy quyền và tình yêu của Chúa.
Đức Chúa Trời có một kế hoạch tuyệt diệu cho bà Rutơ, người xứ Môáp. Nhưng người ta có cảm tưởng rằng tai ương đuổi theo bà. Bà góa chồng, sau đó bà trở về nhà mẹ chồng ở Bếtlêhem. Cả hai đều nghèo đến nỗi Rutơ phải đi mót lúa trong đồng ruộng của những nhà phú hộ. Sự việc xảy ra trong không có vẻ sáng sủa và đẹp đẽ phải không? Nhưng Rutơ tin tưởng nơi Chúa. Ngoài đồng bà gặp Bôô yêu Rutơ và họ cưới nhau. Chương trình của Chúa đã thành công. Rutơ trở thành mẫu tổ của Đavít.
Ta phải nó thế nào về chương trình tuyệt hảo của Chúa đối với Giôsép? Chúa đã định cho Giôsép trở thành phụ tá của vua xứ Aicập, vì Ngài dự tính dùng ông đúng lúc về sau này để cứu dân Ysơraên khỏi nạn đói kém.
Giôsép bị các anh em bán cho đoàn nói buôn đi Ai cập làm nô lệ. Đó là màn đầu tiên của kế hoạch của Đức Chúa Trời trong lúc các anh em của Giôsép không hề ngờ rằng họ đã phục vụ ý định của Ngài. Họ ghét người em của họ và chỉ muốn một điều là tống cổ nó đi cho xong. Về sau Giôsép trở thành người tin cậy của một người Ai cập giàu có và quyền thế. Dường như ông đã được lên cao về mặt xã hội nhưng ông bị tố cáo oan là mưu hãm hiếp vợ của vị quan Ai cập kia, và ông đã bị tống giam. Nếu việc xảy ra cho bạn có nghĩ rằng kẻ thù vừa thắng thế không? Hay là bạn đã chấp nhận việc này như là một điều nằm trong chương trình hoàn hảo của Đức Chúa Trời !
Trong ngục tù Chúa cho Giôsép tiếp xúc với quan tửu chánh của vua Ai cập và ông ấy để cho Giôsép giải thích giấc mộng của mình. Giôsép nhờ quan biện hộ giải thích giấc mộng của mình. Giôsép nhờ quan biện hộ cho ông. Viên quan đã hứa, nhưng một khi ông được tha ông lại quên mất. Giôsép còn ở tù hai năm nữa. Tất cả câu chuyện này xem như đổ dồn trên đầu ông, nhưng Chúa có ngày giờ của Ngài.Vua Ai cập có hai giấc mộng mà không ai giải thích được. Bỗng nhiên, quan tửu chánh sực nhớ đến người mà ông đã gặp trong tù mấy năm về trước. Giôsép được giới thiệu với vua Ai cập và Chúa mặc khải cho ông ý nghĩa của giấc mộng: Bảy năm đói kém kinh khủng tiếp theo là bảy năm được mùa. Vua Aicập chấp nhận lời giải mộng của Giôsép và đặt ông làm người phụ trách việc dự trữ lương thực trong bảy năm được mùa, và phân phối lương thực trong bảy năm hạn hán mất mùa.
Khi anh em của Giôsép đến Ai cập mua lúa, Giô sép đã tỏ ra cho họ. Sợ hãi và hối hận, họ sấp mình xuống trước mặt Giô sép, nhưng ông nói với họ :
“Bây giờ đừng sầu não và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị đày đến xứ này; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh. Kìa hai năm rồi trong sứ tôi bị đói kém, và còn năm năm nữa sẽ không có cày cấy chi, gặt hái chi được hết. Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước đặng làm cho các anh còn nối dòng mặt đất và nương một sự giải cứu lớn đặng giữ gìn sự sống cho anh em. Không, chẳng phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Đức Chúa Trời; Ngài đường đặt tôi làm cha Pharaôn, cai quản cả nhà người, và trị các xứ Êdíp tô... Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi hầu cho sự sống của nhiều người” (SaSt 45:5-8; 50:20).
Đức Chúa Trời đã chuyển đổi tội ác thành điều thiện! Chúng ta chấp nhận rằng Chúa có thể làm cho mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho chúng ta, như Kinh Thánh dạy, nhưng chúng ta nghĩ rằng Chúa chỉ dùng tất cả những gì xảy đến cho chúng ta, lợi dụng nó tối đa và chúng lành cho ta qua sự việc đó. Nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ bị động. Vai trò của Ngài không phải chỉ biến đổi ác thành thiện thôi đâu. Chính ngài là Đấng khởi xướng mọi sự. Chúng ta phải luôn nhớ điều ấy.
Vâng, Đức Chúa Trời nắm tất cả phần sáng trong cái chết của Ê tiên (Cong Cv 7:1-60). Ê tiên là một người đầy dẫy Thánh Linh và trung thành phục vụ Chúa. Khi Ê tiên chết, một thanh niên Saulơ thành Tạtsơ, hăm hở bắt bớ Hội Thánh có mặt trong số các khán giả.
Ê tiên vững tin rằng Chúa là, chủ tình thế vì trong lúc người ta ném đá ông, ông quì gối và lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội này cho họ”. Và ông chết. Ông biết rằng những kẻ hành hình ông chỉ nghĩ đến sự ác mà thôi, nhưng Đức Chúa Trời đã dự tính được việc này để gây nên sự thiện.
Bạn có thể nào cảm tạ về việc hạ sát một Cơ Đốc Nhân, và bạn có thể tin rằng Đức Chúa Trời dùng thảm kịch đó để làm vinh hiển danh ngài không?
Saulơ thành Tạtsơ đã trở thành môn đồ Phaolô, sau một kinh nghiệm cải hoán đặc biệt trên con đường Đamách. Trong lúc rao giảng Tin Lành, người đã nếm đủ phần “tai họa” và “khó khăn”.
Một hôm đến thành Philip, Phaolô và Sila bị vu cáo là phá rối an ninh của thành phố đó. Họ lột áo xống của các ông, và đánh đòn nhừ tử, rồi họ tống các ông vào vào khám sâu nhất và cùm chân các ông lại (16:20-24).
Tuy vậy Phaolô và Sila không nghĩ rằng Satan vừa mới thắng một trận và Chúa bảo họ. Họ xác tín rằng Chúa đã gọi họ đi rao giảng ở thành Philíp và Chúa đã làm cho mọi sự rốt cuộc thực hiện chương trình toàn hảo của ngài đối với Phaolô và Sila. Vậy nên họ không hề than vãn, rên rỉ chút nào. Họ cũng xin Chúa cứu giúp họ. Họ ở trong ngục, với các vết máu khô trên các vết thương đau nhức, không cần cựa quậy được, chân bị cùm và họ cầu nguyện hát thi thiên chúc tạ Chúa.
“Lối nữa đêm, Phaolô và Sila đương cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời, và những thủ phạm đều nghe. Bất thình lình có cơn động đất rất lớn, đến nỗi đền ngục rúng động cùng lúc các cửa mở ra xiềng tù phạm thảy đều tháo cả. Người đề lao giật mình thức dậy, thấy các cửa ngục đều mở, tưởng tù đã trốn hết, bèn rút gươm toan tự giết mình. Nhưng Phaolô kêu lớn tiếng rằng: Chớ làm hại mình, chúng ta còn đều ở đây cả. Người đề lao bèn kêu lấy chân đèn, chạy lại run sợ lắm, gieo mình nơi chân Phaolô và Sila. Đoạn hai người ra ngoài và hỏi rằng : Các Chúa ơi tôi phải làm chi cho được cứu rỗi. Hai người trả lời rằng : Hãy tin Đức Chúa Jêsus thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi” (16:25-31).
Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch trọn hảo đối với thành Philíp. Ngài phái Phaolô và Sila đến đó để làm chứng và nhưng người này có lòng tin rằng Chúa đang thực hiện kế hoạch của Ngài dù Ngài dùng hoàn cảnh mà không định trước được.
Chúng ta luôn luôn muốn tưởng tượng điều Chúa sắp làm chúng ta thấy Ngài hành động trong một trường hợp nào đó, và khi xảy đến một trường hợp tương tự thì ta mong đợi ngài can thiệp như thế. Nhưng Phaolô thường không được Chúa làm phép lạ cho thoát ngục. Đôi khi ông phải ở hàng năm trong tù.
Phaolô gặp nhiều gian truân trong đời ông, nào là bị ném đá tưởng đã chết rồi, nào là bị đắm tàu, bị rắn cắn, đau ốm, bị bách hại.. nhưng không bao giờ ông nghĩ Chúa không điều khiển mọi biến cố trong cuộc đời ông. Mọi sự đối với ông đều là đề tại để ông vui mừng và ngợi khen Chúa. Phaolô lô biết rằng đau khổ là tốt cho ông.
Trong nhiều năm tôi phải chịu đựng cơn nhức đầu kinh khủng. Tôi tham khảo Kinh Thánh, tìm những lời Chúa hứa chữa lành bịnh nhưng chẳng thấy lý do nào cho cực hình đó nó vẫn không rời tôi.
Đồng thời tôi bị ray rứt bởi những nghi nan. Luôn luôn tôi để trí mình buông theo lý luận về nguyên do sự đau khổ của tôi. Tại sao Chúa không làm gì để chữa lành cho tôi.
Ma quỉ thì thầm: “Mày cầu nguyện cho kẻ khác và họ được lành. Còn mày, mày vẫn tiếp tục đau”.
Tôi trằn trọc nhiều đêm trong đau nhức không sao ngủ được, và các tư tưởng đó luôn luôn ám ảnh tôi :”Xem kìa, mày khổ sở thật! Nếu Chúa công bình và biết mày đau khổ bao nhiêu, Ngài sẽ không giận mày nếu mày tự vẫn. Chỉ cần làm thế nào cho kẻ khác không nghĩ rằng mày tự vận thôi. Không ai sẽ bối rối về việc đó, còn mày, mày sẽ được thoát khổ.
Những tư tưởng đó cũng như các lý lẽ của những bạn hữu Gióp có vẻ hợp lý khi ta bị khổ đau giày vò, nhưng kỳ thực đó chỉ là những điều xảo trá do chính Satan cha của sự lừa dối, đặt bày ra, nó chỉ có thể mon men đến với ta với sự cho phép của Đức Chúa Trời mà thôi.
Những kẻ cáo tội ta và phá quấy tra buộc nó phải đi xa khi ta đến gần Đức Chúa Trời và nghe sự thật của Ngài.
Những cơn nhức đầu của tôi không hết ngay được nhưng tôi quyết tâm tin rằng Chúa không thể cho điều gì xảy ra cả nếu nó không sinh ích cho tôi. Vì vậy, chứng nhức đầu xảy ra cùng nhằm gây ích lợi cho tôi, và mỗi lần tôi lại cảm tạ, ngợi khen Chúa vì nó, lúc bấy giờ có một điều kỳ diệu xuất hiện. Việc này có vẻ kỳ lạ, nhưng chứng nhức đầu lại đem phước hạnh cho tôi. Càng đau, tôi càng cảm tạ, ngợi khen Chúa, và do đó tôi cảm nhận một niềm vui mới mẻ, sâu xa tràn ngập tất cả người tôi.
Mục sư Richard Wurmbrend thuật lại những gì xảy đến cho ông trong các trại giam, khi nổi đau đớn về thể xác và sự đày đọa về tinh thần quá mức chịu đựng. Ba năm giam giữ một mình và tra tấn đe dọa làm người bị mất trí. Trong lúc hết sức chịu đựng, người vẫn tiếp tục tin cậy Chúa và ngợi khen Ngài vì lòng nhơn từ của ngài luôn luôn hiện diện. Chính lúc đó niềm hân hoan bắt đầu xâm chiếm toàn thể người ông và tràn ngập xà lim của ông.
Đức Chúa Trời đã định trước những đau khổ của ông sẽ đem lại điều tốt lành. Sứ vụ Richard Wurmbrend bây giờ chiếu tỏa khắp thế giới vì những gì người đã chịu.
Thi Tv 18:30 chép: “Còn Đức Chúa Trời, các đường lối ngài là trọn vẹn, Lời của Đức Giêhôva đã được luyện cho sạch. Ngài là cái khiên cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài”.
Đường lối Chúa có thể dẫn ta qua lửa, nhưng khắp mọi nơi sự hiện diện của Chúa theo dõi ta và bàn tay Ngài dẫn dắt ta, như Kinh Thánh đã chép.
Làm sao có thể nghi ngờ được? Thiên Chúa đã tạo dựng nên người chiến sĩ với vũ khí của anh ta, Ngài đã tạo nên bão táp lửa và nước Đại Hồng Thủy. Mọi sự đều dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Ngài.
Tại sao Chúa lại cho phép một cơn bão táp trên hồ nơi Chúa Jêsus đang đi thuyền với các môn đồ Ngài vậy? Chỉ để chứng tỏ quyền uy của Ngài trên thiên nhiên (Mac Mc 4:1-401).
Tại sao Chúa cho phép một người mù bẩm sinh?
Một hôm cùng đi với Chúa Jêsus, môn đồ Ngài thấy người mù từ thuở mới sinh. Họ hỏi ngài rằng: “Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù vậy?” Chúa Jêsus đáp lại: ”Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ người đã phạm tội, nhưng để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người” (GiGa 9:2-3).
Các môn đồ lý luận theo con người, còn Chúa Jêsus Ngài nhìn trường hợp này dưới sự quan phòng và quyền năng của Đức Chúa Trời.
Chính cách nhìn của chúng ta xác nhận thái độ của chúng ta.
Tôi đã nhận được hàng trăm lá thư của tác giả quyển “Từ tù ngục đến ca ngợi”. Ba phần tư bức thư ấy do những người đã khen ngợi Chúa vì một hoàn cảnh khó khăn và đã được những kết quả lạ lùng. Những người khác cũng kể những hoàn cảnh giống thế nhưng họ không tin được Chúa hành động nên họ không thể khen ngợi Ngài được. Chán nản và tuyệt vọng, họ sống trong sự thất bại.
Sự khác biệt không nằm trong hoàn cảnh nhưng nằm trong phương hướng ta đã lựa chọn. Nhiều người kể cho tôi nghe về một cái chết của thân nhân hay bạn bè.
Một bà viết: “Tom đau nhiều lắm. Chúng tôi đưa anh đến những buổi cầu nguyện trị bệnh trong khắp xứ. Có một lúc anh đã khá và hy vọng của chúng tôi đã trở lại. Rồi bệnh ung thư lại tái phát và sau nhiều tháng đau đớn Tom đã chết trẻ như vậy? Anh tin Chúa và muốn phục sự Chúa. Nếu trước hết Chúa muốn chỉ dạy chúng ta một điều gì, tại sao Tom phải đau đớn nhiều như thế? Ngợi khen Chúa vì việc đã xảy ra như thế, tôi thấy phi lý quá”.
Và đây là một bức thư khác:
“Charles đã tiếp nhận Chúa Jêsus chưa đầy một năm nay. Anh là một chứng nhân xán lạng của Chúa. Sáu tháng sau anh bị ung thư. Anh phải bị mổ hai lần, nhưng nhọt ở phổi tái phát. Anh mời các vị trưởng lão Hội Thánh anh đến xức dầu và cầu nguyện cho anh. Anh được lành, khi khám lần sau nhọt biến mất. Charles rất sung sướng và ngợi khen Chúa dữ dội. Người ta đưa anh vào bịnh viện để khám, và hai ngày sau anh chết vì ung thư não.
Một Mục Sư, bạn của gia đình ấy đáp máy bay đến giảng trong buổi lễ an táng. Trong chuyến bay ông nói chuyện với người trẻ tuổi ngồi cạnh ông, kể lại câu chuyện của Charles và trước khi máy bay hạ cánh, anh ta đã hiến dâng đời sống anh cho Chúa. Đến Nouvelle Orleas, vị Mục Sư đổi máy bay ngồi cạnh thiếu nữ. Cô hỏi ông đi đâu và ông cũng kể lại câu chuyện anh Charles. Trước khi máy bay hạ cánh, cô ấy đón nhận Chúa Jêsus làm Đấng Cứu Thế. Lễ an táng là một dịp ca nợi Chúa tất cả những gì Ngài đã thực hiện trong đời sống của Charles. Ở nhà thờ ra, có hai người đàn ông tiếp nhận Chúa Jêsus. Sau đó quan tài của Charles được chở bằng máy bay đến nhà Charles để an táng. Trong suốt buổi lễ tôi không rời mắt khỏi khuôn mặt của quả phụ trẻ tuổi. Bà chiếu tỏa niềm vui và bình an nội tâm. Trong năm đó bà Charles đã khám phá được niềm vui khen ngợi Chúa vì mọi sự. “Sự chết đã bị sự thắng nuốt mất” (ICo1Cr 15:54), bà nói với tôi:”không lý do gì để than khóc cả, vinh hiển thuộc về Chúa”.
Hai bức thư trên đây trình bày những hoàn cảnh giống nhau, nhưng hai bức thư khác nhau biết bao! Một bức diễn tả sự thất bại, bức kia là sự toàn thắng. Một bức thì có cái nhìn lý trí, hợp lý hay không, còn bức kia có cái nhìn quay hướng về Đấng Christ.
Vâng Kinh Thánh dạy rằng chúng ta có thể nhìn và suy tư như Đấng Christ: “Hãy có một tâm tình như Đấng Christ đã có” (Phi Pl 2:5), và “Phải làm thế nên mới trong tâm trí mình” (Eph Ep 4:23). Phaolô không để nghị một điều không thể nào xảy ra được đâu. Nhưng những từ ngữ chủ chốt trong hai câu này là “Hãy có” và “Làm nên mới”. Bởi sức chúng ta, chúng ta không thể nhìn và nghĩ như Đấng Christ, nhưng chính Đức Chúa Trời làm nên mới cách nhìn của chúng ta nếu chúng ta để cho Chúa làm.
Nếu chúng ta muốn có sự biến cải đó, chúng ta có thể thưa với Chúa và chờ đợi Ngài thực hiện. Phần việc của chúng ta là tin rằng Chúa đã làm.
Đavít muốn hiểu rõ Chúa về chính cuộc đời mình, nhưng ông tự biết rằng không thể nào thay đổi được con tim của mình, ông xin với Chúa: “Xin hãy dang xa tôi con đường dối trá, làm ơn cho tôi biết luật pháp của Chúa; tôi đã chọn con đường thành tín, đặt mạng lệnh Chúa trước mặt tôi, khi Chúa mở rộng lòng tôi thì tôi sẽ chạy theo con đường điều răn Chúa” (Thi Tv 119:29-30, 32).
Đavít biết rằng điều duy nhất ta có thể làm được là muốn con đường tốt. Chính Chúa cất sự dữ để tạo nên sự thiện và ban cho Đavít một con tim tốt lành.
Đối với chúng ta Chúa cùng sẽ làm như thế, nếu ta quyết định để Chúa hành động và nếu chúng vững tin nơi sự biến đổi Chúa đã thực hiện. Dù hoàn cảnh thế nào đi nữa, ta cũng cứ việc ngợi khen và cảm tạ Chúa đã chọn để cất sự dữ và gây sự thiện nơi chúng ta, và ban cho chúng ta một quả tim tốt lành.
Việc ngợi khen Chúa sẽ phát lộ quyền năng của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta vào trong hoàn cảnh vì khen ngợi là tin một cách chủ động. Nếu chúng ta hoàn toàn tin cậy nơi Đức Chúa Trời, Ngài được tự do hành động, và luôn luôn toàn thắng. Có thể là một sự toàn thắng thay đổi được hoàn toàn hoặc một sự toàn thắng trong hoàn cảnh. Hoặc là ta khỏi chết không còn nọc độc của nó nữa.
Ngợi khen là luôn chấp nhận và luôn chấp nhận lại những gì Chúa làm trong đời sống chúng ta. Chúng ta đi vào thái độ ấy bằng động tác ý Chúa, bằng quyết tâm ngợi khen Chúa bất chấp ta cảm thấy thế nào. Đavít viết :”Trong ngày sợ hãy tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa; tôi nhờ Đức Chúa Trời và ngợi khen lời Ngài, tôi để lòng tin cậy nơi Chúa, ắt sẽ chẳng sợ gì, người xác thịt sẽ làm chi tôi” (56:3-4).
“Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc, lòng tôi vững chắc; tôi sẽ hát, phải tôi sẽ hát ngợi khen (57:7).

HẾT THAN VÃN
Gặp một buổi sáng đẹp trời bạn đi chơi, chắc bạn đã hít một hơi không khí mát mẻ và cảm ơn Chúa vì tạo dựng tuyệt trần của Ngài.
Nhưng bạn đã làm gì khi ngày mai nhìn qua cửa sổ bạn thấy bầu trời, xám xịt và mưa rơi? Bạn có cảm thấy xuống tinh thần hay không? có lẽ bạn không nói lớn ra nhưng thật tình, bạn đã cảm thấy gì nào?
Có phải bạn có thói quen chỉ cảm ơn Chúa vì những gì bạn thích, và lằm bằm than thở, dù chỉ có tí xíu thôi, khi mọi sự không như ý bạn không? Thật sự, than thở một chút có hại gì đâu? Điều này không quan trọng lắm nó có thayđổi gì đâu?
Có chứ, nó thay đổi tất cả. Mọi sự đều tùy thuộc cách ta phản ứng đối với những việc nhỏ trong cuộc sống.
Có những cố vấn hôn nhân sẽ nói với bạn rằng sự đổ vỡ của gia đình thường do những chuyện bá láp. Chỉ cần có một cái đinh cũng đủ chọc thủng một lớp xe. Một lỗi kỹ thuật nhỏ cũng làm tan tành một chiếc máy bay khổng lồ. Một sự hiểu lầm đơn giản có thể gây chiến tranh. Một lời tức giận có thể gây nên một cuộc bắn giết lẫn nhau. Những điều nhỏ nhặt quan trọng lắm! Chính sự nhỏ nhặt ấy quyết định cuộc sống hằng ngày của ta, tính gắt gỏng của ta khi ăn sáng và tính nóng nảy của ta lúc xếp hàng ở quầy siêu thị, chiều thứ sáu ...
Ta dễ càu nhàu đến nổi thường ta không ý thức là mình đang càu nhàu. Nhưng than thở là ngược lại với cảm tạ. Những lời lằm bằm trái ngược lại với sự trông cậy. Trách móc vợ đã để miếng thịt cháy là ngược lại với thái độ âu yếm.
Theo tự điển, than thở là một sự đổ lỗi. Thực sự, bởi các lời lằm bằm oán trách, chúng ta đỗ lỗi cho Chúa không biết điều khiển các chi tiết trong ngày của chúng ta. Một thái độ ngợi khen phát lộ quyền năng của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta, một thái độ lằm bằm và than thở làm cho quyền năng ấy bị nghẽn lại.
"Lại cũng chớ lằm bằm như mấy người trong họ đã lằm bằm mà bị chết bởi kẻ hủy diệt. Những sự ấy có nghĩa hình bóng, và đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời" (ICo1Cr 10:10-11).
Phalô nói về thái độ của dân Ysơraên trong cuộc hành trình về đất hứa. Họ đã làm gì? Hậu quả khủng khiếp của thái độ của họ ra sao?
"Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều đó chẳng đẹp tai Đức Giêhôva. Đức Giêhôva nghe, cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Đức Giêhôva cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại quân" (Dan Ds 11:1)
Môise đã dẫn dân Ysơraên ra khỏi Ai Cập, và Đức Chúa Trời đã ban cho họ những dấu hiệu đặc biệt về sự hiện diện và chăm sóc của Ngài. Ngài đã rẽ biển đỏ cho họ đi qua, và Ngài đã cho nước tràn đạo binh Ai Cập đuổi theo họ. Đức Chúa Trời đã hứa dẫn dân Ngài đến đất hứa. Ngài đã hứa nuôi nấng họ trong sa mạc và xua đuổi kẻ thù trước mặt họ với điều kiện duy nhất là họ trông cậy nơi Ngài, một trụ mây đi với họ ban ngày và một trụ lửa đi ban đêm.
Nhưng Ysơraên không trông cậy nơi Đức Chúa Trời. Họ kêu ca một cách chua cay, trước hết vì thiếu nước và lương thực rồi vì họ không thích nước Chúa ban và chán thức ăn Ngài ban cho họ, họ cằn nhằn, thổi phồng những chuyện nhỏ nhặt nhất ... và hậu quả ra sao?
Đức Chúa Trời đã kiên nhẫn chiều theo những đòi hỏi của con cái khó tính của Ngài. Ngài chiều nữa, chiều mãi. Ngài thỏa mãn các nhu cầu của họ ... cho đến lúc rõ ràng rằng họ bất trị! Khi họ chán nản và xin thịt. Chúa trả lời và Ngài sẽ ban thịt cho họ. Không phải một hai ngày mà cả một tháng: "Cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi, và các ngươi ngán đi, vì các ngươi đã bỏ đi Đức Giêhôva ở giữa mình" (11:20).
Trong bốn mươi năm dân Do Thái đã lang thang trong sa mạc và mỗi khi gặp khó khăn, họ đã kêu ca chua chát và đòi hỏi trở về với nồi thịt Ai Cập.
Tại sao họ phải trải qua bốn mươi năm để đi không đầy 300 cây số? Dù có đàn bà, trẻ con và súc vật, họ vẫn có thể làm cuộc hành trình đó trong vài tuần thôi. Nhưng họ lại bị giữ ở sa mạc vì những sự lằm bằm và những sự từ chối không chịu tin rằng Chúa vẫn giữ lời hứa và đáp ứng mỗi nhu cầu của họ.
Đến nơi biên giới của đất hứa, họ phát hiện rằng những người to lớn bất thường cư ngụ trong những thành trì kiên cố. Thay vì vui mừng vì những chướng ngại và ngợi khen Đức Chúa Trời đã hứa sẽ xua đuổi quân thù trước mặt họ, họ đã nổi loạn chống lại Môise và đòi trở về với nồi thịt Aicập. Họ cáo tội Môise đã lừa dối họ.
Trong số những người đã trong thấy những người khổng lồ và thành trì kiên cố chỉ có Giusuê và Calép vẫn tin cậy lời Đức Chúa Trời hứa ban nước đó cho dân Ysơraên. Nhưng chẳng ai chịu nghe Giôsuê và Calép cả. Chúa chịu đựng hết nổi, Ngài thề để cho dân Ysơraên chết ngạt trong lời kêu ca của họ. Không một ai trong những người than thở được đặt chân lên đất hứa. Trái lại toàn thể dân Ysơraên sẽ lang thang trong sa mạc suốt 40 năm cho đến lúc một thế hệ khác lớn lên, thế hệ này sẽ vào đất hứa với sự hướng dẫn của Giôsuê và Calép, hai người sống sót trong cuộc hành trình sa mạc.
Đức Chúa Trời đã kiên nhẫn với họ trong 40 năm mặc dù họ đã hạch xách và thách đố Ngài, Ngài vẫn tiếp tục làm những phép lạ cho họ. Chúa phán: "... tổ phụ các ngươi thấy công việc ta làm trong 40 năm mà còn thử để dò xét ta! nhơn đó ta giận dòng dõi này, và phán rằng: lòng chúng nó lầm lạc luôn, chẳng từng biết đường lối ta" (HeDt 3:9-10).
Chính sự lằm bằm nhỏ nhen của họ đã làm cho họ không thể được và đất hứa.
Cũng vậy, những sự than van và kêu ca của chúng ta chống lại Chúa trong những điều nhỏ nhăït có thể làm cho chúng ta không hiểu được dự định tuyệt hảo của Đức Chúa Trời đối với đời sống của chúng ta.
"Hỡi anh em, hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng?" (3:12).
Dân Ysơraên đã lằm bằm vì bất tín, chính sự bất tín này là cội rễ tất cả sự than thở nho nhỏ của chúng ta. Thật vậy, chính sự vô tín đã ngăn cản dân Ysơraên vào Canaan. Đức Chúa Trời đã có những dự tính to tát hơn nhiều cho họ vào một nơi nào đó thôi đâu, đất hứa cũng là một nơi an nghĩ trọn vẹn một thái độ trông cậy và bình an nội tâm hoàn hảo.
"Vậy, đang khi con có lời hứa cho vào sự yên nghỉ Chúa, hãy lo sợ, kẻo trong chúng ta có ai bị trừ ra chăng. Vì Tin Lành này đã rao truyền cho chúng ta cũng như cho họ; những lời họ đã nghe không ích chi hết, vì trong khi nghe, chẳng lấy đức tin nhận lời đó thuộc về mình. Về phần chúng ta là kẻ đã tin, thì vào sự yên nghỉ, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: "Nầy là lời thề ta đã lập trong cơn thịnh nộ chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ của ta. Dầu vậy công việc của Ngài đã xong rồi từ buổi sáng thế" (4:1-3).
Đức Chúa Trời có một nơi an nghỉ hoàn toàn cho ta ngay từ bây giờ. Đó là thái độ trông cậy hoàn toàn nơi Ngài mà hết thảy chúng ta đểu có thể có được lòng tin. Nhưng muốn được như vậy, ta phải từ bỏ tội vô tín của ta, các sự lằm bằm và càu nhàu của ta. Vô tín là một tội năng đối với Đức Chúa Trời.
Chúa Jesus phán: "Về tội lỗi, vì họ không tin ta" (GiGa 16:9).
Vô tín cũng như mọi tội khác đều là một hành động dụng ý phản nghịch đối với Đức Chúa Trời, chúng ta lựa chọn tin hoặc không tin.
Theo tự điển, vô tín là từ chối không chịu tin thì chúng ta chịu trách nhiệm về thái độ của mình và phải ăn năn. Cũng như đối với các tội khác. Việc đầu tiên ta phải làm là xưng nó ra.
Trong nhiều năm tôi tự hào là không cằn nhằn, nghĩa là tôi không nói lớn lên sự bất bình của tôi. tôi luôn giữ một bộ mặt tươi cười, nhưng bên trong tôi lại là một người hay cằn nhằn. Mà bao lâu tôi không tự coi là mình có lỗi đó, thì bấy lâu tôi chẳng được thay đổi trong lãnh vực đó.
Tôi nghĩ rằng những sự than vãn của tôi đều chính đáng cả. Tôi cằn nhằn khi tôi chưa ngủ đủ và phải dậy sớm thấy mình không khoan khoái dễ chịu. Tôi cằn nhằn bên trong khi trông thấy đồ đạc để trong phòng lộn xộn; tôi lại cằn nhằn nữa khi phải ăn sáng vội vã. Tôi cằn nhằn khi có điều gì trục trặc ở văn phòng và người ta chưa làm xong công việc tôi đã giao. Tôi cằn nhằn vì các hóa đơn phải thanh toán, vì xe hơi tôi không nóng máy, và vì các đèn đỏ trên lộ trình của tôi. Tôi cằn nhằn khi phải thức khuya để làm việc ... và sáng hôm sau tôi lại cằn nhằn nữa. Mãi cho đến ngày Thánh Linh chỉ cho tôi thấy điều mà Kinh Thánh nói về việc cảm ơn Chúa trong mọi trường hợp, tôi mới thấy được rằng trong bao nhiêu năm qua tôi đã làm ngược lại điều Chúa dạy nhưng vẫn không biết mình phạm tội.
Bước đầu tiên của tôi trên con đường thay đổi thái độ là nhìn nhận rằng tôi cằn nhằn suốt ngày.
Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta muốn cởi bỏ tội lỗi của chúng ta, chúng ta phải trị chúng một cách cương quyết và tận gốc! Trước hết, nhìn nhận chúng, xưng chúng ra, xin lỗi Chúa và dốc quyết không sa ngã nữa. Xin Chúa cứu chúng ta thoát khỏi tội đó và thêm đức tin, sức mạnh để chống trả mọi cám dỗ. Cuối cùng cảm ơn Chúa và mạnh dạn tiến bước tin rằng Chúa đã làm như ta xin.
Sau khi quyết định trước mặt Chúa rằng chúng ta không dám cằn nhằn nữa và hứa cám ơn Chúa về tất cả những gì thường gây bất bình cho ta, ta có thể mong chờ Ngài hành động.
Ta không thể tự mình biến đổi từ thái độ vô tín hay cằn nhằn của chúng ta thành thái đôï biết ơn và đầy lòng vui mừng được. Chỉ có một mình Chúa mới có thể thay đổi được chúng ta mà thôi. về phần chúng ta, hãy quyết định không kêu ca nữa và ngợi khen Chúa. Phần chúng ta là đăm đăm nhìn vào Chúa Jesus và cám ơn Đức Chúa Trời về những gì Ngài đã làm nơi chúng ta. Thật vậy, chúng ta phải khám phá rằng Chúa đã đưa đến đời sống chúng ta những hoàn cảnh để phát lộ tính hay than thở lằm bằm của chúng ta. Vì thế, khi thấy những hoàn cảnh đó chúng ta hãy cảm tạ và ngợi khen Chúa vì Ngài dùng những việc trái ý nhỏ nhặt ấy để biến đổi chúng ta, Trước kia những việc đó làm chúng ta trượt bước, bây giờ chúng ta nhận biết quyền năng của Chúa và Ngài dùng những việc đó làm đức tin của chúng ta lớn lên.
Việc chấp nhận một cách vui vẻ và biết ơn về mọi sự trái ý nhỏ nhặt xảy đến sẽ bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời nơi chúng ta và qua chúng ta. Và rồi ta sẽ cảm thấy vui thật sự. Nhưng ta đừng tìm cảm giác đó như là một dấu chỉ thiết yếu. Lời ngợi khen và tạ ơn của ta dựa trên đức tin nơi lời Chúa, chứ không dựa trên các tình cảm của ta.
Một trong những điều mà tôi bực mình trong bao nhiêu năm là tôi không có khiếu nhạc. Mỗi khi tôi nghe nhạc hay, tôi không thưởng thức trọn vẹn được và tôi cứ tiếc nuối không biết đàn hoặc đơn ca giỏi.
Một hôm đang dự buổi hòa tấu, một câu hỏi bỗng thoáng qua trí tôi: "Con có biết cám ơn Chúa vì con không biết chơi loại đàn nào cả không?". Tôi biết câu hỏi này từ chính Thánh linh đến và tôi cảm thấy khó chịu.
Lạy Chúa không, con không nghĩ rằng con biết ơn Chúa.
Vậy con có muốn biết ơn ta không?
Lạy Chúa, vâng. Con muốn và con hiểu rằng đó là điều Chúa muốn cho con. Chúa có thể ban cho con năng khiếu nhạc và cho phép con phát triển tài năng đó, nếu đó là ý Chúa. Con cảm ơn Chúa đã làm cho con như ý muốn Chúa.
Nói thế, tôi tràn ngập một niềm bình an sâu xa và tôi ý thức rằng tôi thực sự sung sướng với con người thật của tôi.
Đó chính là điều ta muốn con hiểu, Chúa Thánh Linh lại nói trong tôi. nếu con đàn hát tuyệt vời, con sẽ làm cho một số người thích thú, nhưng khi con ngợi khen Đức Chúa Trời, con làm đẹp lòng chính Ngài.
Đối với Chúa, việc tôi không có khiếu nhạc không bao giờ là một khuyết điểm. Nó chỉ là một khuyết điểm đối với tôi thôi. Chính tôi là người không bằng lòng về cách Chúa đã tạo dựng nên tôi, Ngài bao giờ cũng hài lòng về công trình của Ngài.
Một số người mất cả đời để tiếc nuối vì mình không có tài năng hoặc khả năng đó hay không có dịp phát triển nó. Họ phàn nàn và than vãn trong lòng, tin rằng nếu hoàn cảnh cho phép thì họ đã trở thành minh tinh màn bạc, vô địch thể thao, đại doanh thương hay bác sĩ.
Riêng bạn có một đề tài nào kêu ca đặc biệt không? Bạn có thể tự nhủ nếu có thể làm lại bạn sẽ chọn một nghề khác, một chỗ ở khác hay một người bạn đường khác không?
Bạn có thể chấp nhận rằng bạn ở đúng chỗ mà Đức Chúa Trời muốn cho bạn không ? Rằng Ngài không bỏ qua một chi tiết nào không? Rằng Ngài có thể can thiệp khi bạn làm điều bạn xem là "điều ngu xuẩn xủa đời bạn" không?
Dĩ nhiên có những sự lựa chọn sai lầm. Chúng ta đã bàn về trách nhiệm của chúng ta trong các sự lựa chọn và hậu quả của chúng. Nhưng Đức Chúa Trời hứa làm cho mọi sư ïgây ích cho ta, kể cả sự lầm lạc của ta, nếu ta tin tưởng nơi Ngài.
Có thể đức chúa trời muốn kéo bạn ra khỏi địa vị hoặc công việc hiện tại của bạn. Điều cốt yếu bây giờ là bạn vui vẻ chấp nhận điều đó và cám ơn Đức Chúa Trời. Thật vậy, nếu ta cám ơn Chúa vì mọi khó khăn, tuân theo Thánh ý Ngài mỗi bước, lúc đó Chúa có thể đặt ta nơi Ngài muốn.
Bạn hãy nhớ lại rằng Ngài đã khiến Siru, một ông vua ngoại bang dấy lên đúng nơi và đúng lúc Ngài muốn, trong lúc chính ông ta cũng chưa biết Chúa. Nếu Chúa muốn hôm nay bạn ở một nơi khác, hãy biết chắc rằng Ngài đã đặt bạn tại nơi đó rồi. Hãy cảm tạ Ngài về hoàn cảnh của bạn đi.
Nếu Đức Chúa Trời dùng Thánh Linh của Ngài chỉ cho bạn thấy sự lầm lạc của bạn đã làm cách đây 15 năm, khi bạn có ý lựa chọn điều trái ngược với ý của Ngài về đời bạn, bây giờ bạn hãy xưng tội, xin lỗi Chúa, cám ơn Ngài và xin Ngài hướng dẫn bạn để đền bù lại sự thiệt hại có thể gây ra cho kẻ khác. rồi bạn hãy hoàn toàn phó thác cuộc đời còn lại trong tay Chúa. Ngay từ bây giờ, hãy tin rằng chính Chúa lo cho bạn. Hãy tiếp tục cảm tạ Chúa và ngợi khen Chúa vì các hoàn cảnh hiện tại của đời bạn hoàn cảnh cụ thể thực đó, trong các chi tiết nhỏ nhặt.
Có lẽ bạn sẽ khám phá ra rằng quyền năng của Chúa sẽ nhanh chóng kéo bạn ra khỏi hoàn cảnh hiện tại, hoặc là bạn sẽ nhận thấy quyền năng của Ngài biến đổi bạn ngay trong hoàn cảnh đó. Dù xảy ra điều gì nữa, cũng hãy tiếp tục cảm tạ Chúa. Chính Ngài nắm giữ mọi sự.
Một ngày nọ, có một thương gia tín hữu hiến dâng đời mình cho Đấng Christ một cách sâu xa hơn, và ít lâu sau, ông bị mất chỗ quản lý, một địa vị quan trọng và được lương cao. Ông ta đi tìm công việc khác, nhưng việc hạn chế nhân viên gây nhiều người thất nghiệp trong ngành kỹ nghệ. Gia đình ông gặp nhiều khó khăn về tài chánh và trong lúc các hóa đơn chồng chất lên nhau và dường như những lời cầu xin không được chấp nhận, ông càng lo lắng. Ông ta thất nghiệp được một năm, thì một chiều thứ bảy, ông ta nghe tôi nói chuyện về sự cần thiết phải cảm tạ Chúa về mọi sự. Bỗng dưng ông ta hiểu rằng Đức Chúa Trời có những lý do của Ngài để không tìm ra việc làm cho ông, và ông cảm ơn Chúa vì sự thất nghiệp và vì nỗi khó khăn xảy đến cho ông và gia đình ông trong thời gian thất nghiệp đó.
Suốt ngày Chúa Nhật ông vẫn tiếp tục ngợi khen Chúa và ông nhận thấy các nỗi lo âu và bực tức của ông về địa vị của ông giảm đi, nhường chỗ cho một niềm vui thật sự.
Sáng thứ hai, điện thoại reo thật sớm. Một ông giám đốc hỏi ông có thể đến cộng tác với ông ta không.
Thưa ông, tôi sẳn sàng, người tín đồ trả lời.
Khi nào ông có thể bắt đầu được?
Thưa ngày mai.
Vậy, ông đến văn phòng tôi lúc 9 giờ, sẳn sàng bắt tay vào việc nhé!
Công việc mới của ông được lương cao hơn và hơn nữa ông có dịp tiếp xúc với nhiều thương gia. Như vậy, ông có thể làm chứng cho Chúa và đưa họ đến với Chúa Jesus, tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa đời mình.
Chính ông ta đã kể cho tôi:
Bao lâu tôi còn lo sợ và chua xót địa vị của tôi, bấy lâu tôi ngăn cản Chúa thể hiện điều Ngài đã dự định cho tôi. Nhưng hễ tôi tin cậy Ngài và ngợi khen Ngài thì đời sống hiện tại của tôi, Ngài có thể làm chủ đời tôi và đặt tôi ở nơi Ngài muốn.
Một cô giáo trẻ tuổi nghỉ hè ở miền núi, khi văn phòng gởi giấy mời cô đi dự buổi họp phân công tác cho năm học mới, nhưng cô không nhận được tấm giấy đó, vì vậy cô không đến họp, và chỗ của cô được giao cho một người khác.
Nghỉ hè về cô mất chỗ làm.
Phản ứng đầu tiên của cô là hoảng hốt trở về nhà cha mẹ cô ở tiểu bang khác. hai tuần sau là nhập học và không có thêm chân giáo viên nào trong vùng , cô còn phải thanh toán tiền học phí khá nặng.
Nhưng cô vừa đọc quyển: “Từ ngục tù đến ca ngợi”, và cô hiểu rằng hoàn cảnh của cô cho cô dịp thực hiện điều cô đã học. Cô trấn an được phản ứng hoảng hốt của mình và cảm ơn Chúa đã cho phép cô mất chỗ làm và đã có một kế hoạch hoàn hảo cho cô.
Trong hai ngày ca tụng Chúa, trong lúc chấn áp mọi cám dỗ tuyệt vọng. Ngày thứ ba, một bà láng giềng gọi cô từ bên kia bờ rào vườn cô:
Cô phải dạy trong một trường Tin Lành,bà ấy nói với cô, sao cô không gọi điện thoại cho ông Hiệu Trưởng trường con trai tôi?
Cô liền điện thoại và rất ngạc nhiên biết rằng chỗ dạy trẻ con 6 tuổi bổng dưng còn trống. Cô đến trình diện và được nhận.
“Tôi ý thức rằng Chúa có thể can thiệp vì tôi đã tin cậy Chúa đến nổi ngợi khen Ngài”, cô kể cho tôi nghe vậy. “Nếu tôi nghe theo bản năng sợ hãi của tôi và chạy đến gặp cha mẹ tôi, có lẻ tôi còn thất nghiệp và sẽ trách Chúa là không lo cho tôi”.
Công việc mới của cô thích hợp với cô hơn chỗ cũ nhiều. Bây giờ trong lớp của cô, cô có thể làm chứng cho đức tin của cô, và cầu nguyện một cách tự do với những đứa trẻ có vấn đề.
Đức Chúa Trời có một kế hoạch và một nơi hoàn hảo cho cô giáo trẻ tuổi cũng như cho nhà thương gia tín hữu nọ. Ngài đã đóng cửa những chỗ làm cũ của họ và Ngài đã mở cửa tốt đẹp khi tin cậy Ngài và ngợi khen Ngài vì sự thất nghiệp của họ.
Sự lo sợ, chua xót, than vãn, oán trách làm trì trị việc thực hiện kế hoạch của Đức Chúa Trời trên chúng ta. kế hoạch của Chúa được đo đúng từng giây, từng phút một cách hoàn hảo, nhưng ta phải hiểu rằng nó luôn luôn trùng hợp với kế hoạch của ta đâu.
Tôi luôn tự hào về sự đúng giờ giấc của tôi về khả năng quản lý tốt “Thời gian của Chúa”. tuy vậy, một hôm tôi ở trong một chuyến máy bay đi El - Paso (tiểu bang Texaa), nơi tôi phải nói chuyện với một nhóm thương gia. Tôi nôn nóng nhìn kim đồng hồ của tôi, gần 14 giờ 30 trong lúc tôi dự trù đến nơi vào lúc 14 giờ. Tôi tự hỏi xem điều tốt lành nào có thể bắt nguồn từ việc tôi đến trễ đó không.
Lạy Chúa, tại sao Chúa cho phép như vậy? Tôi hỏi một cách hơi bực tức.
Thay vì trả lời,Chúa lại hỏi tôi:
Con có biết ơn vì đi trễ không?
Vấn đề không nằm ở đó, tôi trả lời. Chính những người lương thiện này mời con đến, họ đài thọ phí tổn cho con, và trông mong con đến đúng giờ, và chính họ sẽ phải học biết ơn.
Mà con có biết ơn không? Tư tưởng vẫn kiên trì.
Bổng chốc sự thật đánh động tôi. Thật ra tôi không lo lắng bao nhiêu cho những người tham dự buổi họp đó. chính bản thân tôi cảm thấy phật ý. Chính tôi không tin rằng Đức Chúa Trời làm chủ hoàn cảnh. Chính vì tôi lo lắng và kì kèo về cách Chúa quản lý thì giờ của tôi”.
Con xin lỗi Chúa, tôi thì thầm. Con tin thật Chúa biết quản lý thì giờ của con hay hơn chính mình con. Nếu Chúa cho phép con phải đến trễ, tức là điều đó nằm trong kế hoạch hoàn hảo của Chúa, con cám ơn Chúa về điều đó. Con phó thác cho Chúa việc quản lý thì giờ của con và con tin cậy Chúa về kết quả.
Tôi ngã lưng trên ghế máy bay và thở phào một cái. Đồng hồ của tôi chỉ 14 giờ 45 nhưng tôi hoàn toàn bình an. Cùng lúc đó cô chiêu đãi viên đi qua ... đồng hồ của cô ngay trước mắt tôi : nó chỉ 13 giờ 45!
Tôi chồm dậy:
Thưa cô, đồng hồ cô 13 giờ 45, cô có chắc chắn là đúng giờ không?
Thưa ông đúng ạ. Chúng tôi mới vào một tuyến giờ khác và bây giờ là 13 giờ 45.
Tôi reo mừng trong lòng :
Cám ơn Chúa đã dạy tôi không nên lo giờ.
Máy bay tiếp tục bay. Khi đến 14 giờ tôi cảm thấy lại lo lắng nữa. Đến 14 giờ 15 chúng tôi sắp sửa hạ cánh xuống El-paso và dường như tôi phải trễ vài phút.
Lạy Chúa con tiếc là đã nóng nảy, tôi thì thầm. Nhưng con chưa bao giờ đi trễ một cuộc họp nào mà con không hiểu được tại sao Chúa cho phép điều đó xảy ra và cho con hôm nay.
Con biết ơn không?
Thưa Chúa chắc rồi! Con muốn biết ơn. Cám ơn Chúa vì bây giờ là 14 giờ 20 và cám ơn Chúa vì nơi con đến.
Khi ra khỏi máy bay, đồng hồ tôi chỉ 14 giờ 25 tôi móc chương trình buổi họp trong túi ra xem lại địa chỉ và mắt tôi rơi vào giờ họp là 14 giờ 30.
Tôi lao vào bến taxi gần nhất. Lạy Chúa hay quá! Tôi kêu lên trong lòng. Chúa đã dạy con biết trông cậy vào Chúa về cách quản lý thì giờ của con mà khỏi thiệt thòi ai cả. Thật ra Chúa luôn luôn hành động như thế. Ta tưởng rằng người khác có lẽ sẽ chịu hậu quả của lỗi lầm chúng ta, nhưng Chúa cũng điều khiển hoàn cảnh đời sống họ nữa, và Ngài cũng thương yêu họ như thương yêu chúng ta.
Người lái xe nhìn tôi như thể hỏi:
Thưa ông muốn đi đâu?
Đến El-paso Kilton, tôi trả lời còn hổn hển. Lái xe cho tôi đến đó nhanh nhất.
Ông ta bật cười và chỉ phía bên đường :
Ồ đấy ngay trước mặt ông đấy ạ!
Khi đi ngang qua ngưỡng cửa của phòng đại hội, tôi liếc nhìn đồng hồ: đúng 14 giờ 30. Người ta đang hướng về khán đài, và tôi nhẹ nhàng đi sau họ về phía ghế của tôi.
Thời khóa biểu của Chúa chính xác một cách không thể sai được! Êm dịu thay được biết rằng chúng ta được ở trong đó!
Bạn hãy phó thác cho Chúa việc tổ chức thì giờ của bạn. Chúa sẽ lo liệu cho bạn đến đúng nơi và đúng lúc nếu bạn tin cậy Chúa. Chương trình của Chúa hoàn toàn cho những buổi hẹn cũng như cho mỗi phút trong đời ta, Chúa không áp đặt thời khóa biểu của Chúa trên ta đâu, nhưng nếu chúng ta dâng cho Chúa ngày giờ của chúng ta Ngài sẽ biết làm cho chúng ta đến nơi Chúa muốn theo giờ của Chúa.
Điều này không muốn nói rằng ta có thể ngồi nghĩ trong ghế bành của ta và nói: “Nếu Chúa muốn cho ta đến đó, thì Ngài cứ lo sao cho tôi đến đó. Tôi cứ việc ở đây, ngủ yên cho tới lúc Chúa chở tôi đi nơi khác”.
Chúng ta có phần việc của ta, nhưng không nên tính toán từng giây từng giờ của chúng ta. Chúng ta làm hết sức mình: dậy đúng giờ buổi sáng, chuẩn bị đúng giờ đến các buổi hẹn, rồi cám ơn Chúa vì tất cả những gì xảy đến ngoài ý muốn chúng ta, dù cho có thể xảy ra việc ta không nghe đồng hồ báo thức, ta trễ vì một sự bất ngờ hay bị giữ lâu giờ một đứa con cần đến sự chăm sóc hoặc một người hàng xóm nói chuyện lâu.
Khi Chúa dạy ta trông cậy vào Ngài và ngợi khen Chúa trong tất cả mọi sự. Ngài theo đuổi hai mục đích: bày tỏ quyền năng của Ngài trong hoàn cảnh đó, và dùng chúng ta để thu hút người khác đến với Chúa.
Trong một thời gian tôi làm việc với một nhạc trưởng chuộng sự hoàn hảo. Mỗi khi tiết mục của bài hát trong sự thờ phượng đều được sắp đặt trước và thực hiện một cách chính xác, nhưng vị nhạc trưởng đó làm việc trong căng thẳng đến nỗi ông ta truyền nó cho các ca sĩ. Họ hát rất hay nhưng không có niềm vui.
Một hôm người ấy đến bàn giấy tôi và nói chuyện.
Anh Bob à, tôi nói với ông ta, tôi thiết tưởng anh sẽ thoải mái hơn và vui vẻ dạy cho ca đoàn anh hát nếu anh cám ơn Chúa vì tất cả mọi điều xảy đến cho anh.
Anh ta nhìn tôi một lát rồi thú thật với tôi :
Đã sáu tháng nay tôi quan sát ông. Ban đầu tôi tưởng rằng : Ông muốn tỏ ra bề mặt vui vẻ bên ngoài, không ai có thể tỏ ra vui tươi mãi như vậy được. Ông ấy mỉm cười rồi nói tiếp : Đôi khi tôi phạm lỗi trong lúc điều khiển nhưng bao giờ ông cũng phản ứng một cách vui vẻ ... Tôi không thể hiểu được ông làm thế nào, nhưng tôi ao ước được như ông.
Chúng tôi nói chuyện như vậy cho đến giờ tập hát, và Bob nhanh nhẹn ra khỏi bàn giấy của tôi anh ta không có thì giờ chuẩn bị và tôi tự nghĩ anh ta sẽ phản ứng như thế nào trước hoàn cảnh bất ngờ đó.
Sau này anh kể với tôi : “Tôi bắt đầu căng thẳng khi nghĩ đến các dụng cụ, nhưng tôi bỗng nghĩ ra đó là hoàn cảnh mà chúng ta đã bàn về vấn đề ngợi khen; tôi liền ngợi khen Chúa. Ngay lúc đó 4 ca sĩ đến, họ đến sớm trước giờ tập hát và hỏi tôi có việc gì cho họ phụ với không. Đó là lần đầu tiên từ bao nhiêu tháng tôi điều khiển ca đoàn này”.
Tôi sửng sốt, “Cám ơn Chúa”. Tôi thốt lên trong lòng ; “Chúa lo liệu thật nhanh chóng”.
Suốt buổi đó Bob lơ lửng trên chín tầng mây, anh ta chưa bao giờ ý thức rằng Chúa chân thành lo lắng cho các chi tiết của đời anh và quyền năng của Chúa tỏ ra ngay khi anh Bob hết căng thẳng và nói cám ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh. Cuộc khám phá đó đã biến đổi Bob trong việc dạy hát của anh.
Chẳng bao lâu sau đó, lúc đơn ca anh ca vấp nhiều chỗ, thường thường việc đó làm anh tuyệt vọng. Nhưng thay vì ráng lên cao ở mỗi nốt cao, anh ta ngợi khen Chúa đã cho phép những khuyết điểm đó. Kết quả là anh cảm thấy những niềm vui của anh lớn lên mỗi khi anh hát, và đối với chúng tôi những kẻ nghe anh, thấy gương mặt anh chiếu tỏ hạnh phúc và giọng hát của anh diễn tả một chiều hướng mới của niềm vui.
Liên hệ của anh Bob đối với ca đoàn cũng thay đổi nhiều. Thường anh chào nói một tiếng : “Chào các bạn” cách buồn bã, bây giờ anh rộng miệng cười và nói vui vẻ “Chào anh em ! Hôm nay đẹp quá nhỉ!”.
Buồn bã không phải một tội cho đến lúc ta ý thức rằng đó là cách diễn tả trái ngược với một đức tin hạnh phúc và đầy hy vọng, tức là một thái độ vô tín.
Ai trong chúng ta cũng biết những câu nói sau đây “Vâng chúng ta hết thảy đều có những ngày không may mắn, những lúc thăng trầm” chúng ta nói và không suy nghĩ những nguy hiểm lắm vì như vậy có nghĩa là những “Thăng trầm” đó là đời sống Cơ Đốc Nhân trung bình, Kinh Thánh nói rằng hoàn cảnh bên ngoài có thể thay đổi, tốt hay xấu, nhưng thái độ bên trong (nội tâm) của chúng ta phải có thái độ luôn luôn hoan lạc trong Đấng Chist.
Tháng Phao Lô ở trong tù đã viết : “Vì tôi hễ gặp cảnh ngộ nào cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dù no hay đói, dù dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ năng lực của Chúa ban cho” (Phi Pl 4:11-13).
Chúng ta thường ít thấy lỗi của mình khi chúng ta thiếu lòng biết ơn trong những điều nhỏ nhặt. Nhưng một hôm tôi đã học một bài học thích đáng.
Buổi sáng ấy chúng tôi rất bận việc trong văn phòng tuyên uý ở Jort Benninb, và mọi việc đều không chạy. Người phụ trách không đến và những người kia có vẻ không biết phải làm gì. điện thoại reng, giấy tờ chất đống, và tôi bắt đầu bực tức với người vắng mặt. Dĩ nhiên điều đó không làm cho anh ta đến và không làm cho hoàn cảnh tốt hơn. Tôi càu nhàu trong lòng một phần lớn trong ngày hôm đó.
Hôm sau người ấy trở lại kể cho chúng tôi biết anh ấy phải đi bệnh viện để khám nghiệm và ở đấy họ báo cho anh biết là anh có một nhọt ung thư trong sống mũi; khiếp đảm bởi tin đó, anh về nhà và đi nằm, mà cũng không cần biết mình có đủ sức dậy hay không.
Tôi đã bị lương tâm cắn rứt. Tôi làm to chuyện vì một chút trễ nãi không quan trọng trong công việc của tôi, thay vì cảm ơn Chúa cho người vắng mặt. Hôm đó những sự lằm bằm của tôi đã làm ngăn cản tôi làm nhiệm vụ dẫn tình yêu và quyền năng của Chúa hành động nơi bệnh nhân đó.
Điều quan trọng là ta phải tập phản ứng bằng đức tin và lời ngợi khen trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù hậu quả có trông thấy được hay không. Ta càng tập nhấn nút ngợi khen thay vì nút hoảng hốt, đời sống và thái độ của ta bởi đó càng biến đổi dù nguyên nhân bên ngoài có bi đát hay không, không quan trọng.
Một hôm, một người đi làm về và lái xe trên con đường đóng băng cứng. Không biết rõ tình hình của lòng đường, anh ấy đã trượt tại ngã ba và đụng một chiếc xe khác. không ai bị thương nhưng hai chiếc xe bị hư nặng. Người lái xe gây tai nạn đó rất bực tức về sự thiếu ý thức của mình. bỗng nhiên anh ta nhớ lại những gì anh ta đã được học gần đây về việc ngợi khen Chúa về mọi sư.
Cảm ơn Chúa về tai nạn ấy, anh tự nhủ.
Tức thì anh nghe một tiếng nhỏ khác vừa thì thầm trong tai anh :
Đồ ngu ! Mày vừa phạm một lỗi lớn, mày còn muốn làm nặng thêm bằng cách giả đò hài lòng về việc đó à ?
Chúa đã hứa làm mọi sự để gây ích cho tôi, anh ấy trả lời.
Mày chẳng bao giờ xem thấy sự gì tốt từ một chuyện như vậy đâu?
Nhưng anh ấy vừa kiên trì.
Có chứ nếu tôi vẫn cứ cảm ơn Chúa về việc ấy.
Anh tiếp tục cảm ơn Chúa vì tai nạn mặc dù chẳng có gì thay đổi cả. Người lái xe kia không được dẫn đến Đấng Chist mà lại đến gara, không ai có vẻ chú ý đến bộ mặt vui tươi của anh.
Vậy anh có lợi gì mà cư xử như thế không?
Trong chính ngày đó, một cái nhìn lạ lùng bắt đầu xảy đến nơi người anh ấy. Anh ta càng cám ơn Chúa, anh lại cảm thấy đầy một niềm bình an chưa từng có. Vào khoảng 12 giờ trưa, anh ta lại cảm thấy đầy một niềm vui khác thường, muốn cười dòn lên. Và mỗi lần anh nói lên lòng tri ân đối với Chúa, vì tai nạn, anh cảm thấy giải toả được một cái gì : Như thế nút thắt được gỡ ra trong nội tâm anh.
Trước kia anh là một Cơ Đốc Nhân trung bình, nhưng từ ngày đó đời sống anh đã biến đổi. Anh đã đi sâu vào một chiều hướng mới của đời sống khải hoàn trong Chúa Jesus , và điều ấy nhờ quyết tâm của anh muốn nhìn nhận bàn tay Chúa trong điều mà thoạt nhiên anh tưởng là một sự lầm lẫn ngu xuẩn và rủi ro.
Một người khác đã nghe nói về sự ngợi khen trong mọi sự và đã hứa với Chúa sẽ cám ơn Ngài về mọi sự xảy đến cho anh kể từ đó.
Anh cùng gia đình đi nhóm về dưới một trận bão tuyết và nhiệt độ dưới không độ C. họ về đến nhà khuya khoắt và khi họ bước qua cửa, họ ý thức rằng có việc gì trục trặc đây : Nhà lạnh ngắt và hệ thống sưởi không chạy nữa.
Tất cả gia đình leo lên thang gác, còn người cha chạy xuống hầm nhà để kiểm tra lại máy đun nước. Ôâng ta không biết gì về hệ thống sưởi cả và không biết nguyên nhân việc hỏng máy đó.
Ông ta đứng ngây ra đó, đăm đăm nhìn máy đun nước lạnh ngắt và im bặt và phản ứng đầu tiên của ông là xin Chúa giúp ông làm cho nó chạy được. với trời lạnh như thế, chắn ông phải đưa gia đình đi nơi khác trong đêm nay.
Thình lình có ý nghĩ xảy đến với ông :
Con có biết ơn bây giờ không?
Ông phải nhìn nhận rằng trước tình hình giá lạnh của căn nhà và nghĩ đến gia đình ông phải run lên vì rét, ông quá xúc động khiến ông không thể cám ơn Chúa vì hoàn cảnh đó.
Lạy Chúa, con rất tiếc, con đã quên biết ơn, ông cầu nguyện như vậy. Nhưng con biết ơn Chúa đã định trước điều này vì ích lợi cho con, vậy con cám ơn Chúa vì máy đun nước này trong tình trạng hiện tại của nó.
Lúc đó ông nghe rất rõ gợi ý này trong trí : “Con hãy xem cái quạt”.
Cái quạt? Con không biết nó nằm đâu nữa.
Con hãy nhìn sau tấm kim khí, phía tay phải, có tiếng trả lời như thế.
Ông ta nhìn thấy một cái vặn ốc và bắt đầu tháo ốc của một tấm thiết. Bỗng chốc cảnh tượng có vẻ lạ lùng làm sao, có phải do trí tưởng tượng của ông chăng? Cái quạt có thật ở sau tấm thiếc này không? Ông ta đang nghĩ nếu Chúa đang giúp ông trực tiếp như vậy thì ông phải tiếp tục làm.
Các ngón tay của ông cóng lên vì rét, nhưng tấm thiếc đã bật ra và ông trông thấy cái quạt.
Rồi bây giờ phải làm gì nữa đây? Ông ta suy nghĩ.
Con hãy tìm dây chỉ của cái quạt, nó đã bị cháy.
Trời tối quá không sao thấy được gì bên trong lò đun nước. Ông kiếm một cây đèn và soi ở lỗ lò. Ông ta phân biệt được dây chỉ của cái quạt đang lơ lửng trên không. Ông đưa nó vào trục chánh của quạt và rút tay ra. Lò đun nước vẫn im lìm.
Rồi làm gì nữa đây ?
Con hãy bật nước lên. Ông nghe có tiếng nói. Ông vừa mới bật nút thì lò đun lửa đã đỏ rực, ông vội vàng chạy lên cầu thang kể lại cho gia đình nghe việc Chúa vừa mới ban phước cho họ ra sao qua kinh nghiệm lò đun nước hỏng đó.
Nếu ông ta không ngợi khen Chúa trong trường hợp éo le đó thì cả gia đình đã phải khốn đốn nhiều. Bởi vì cái lò đun nước bị tắt đó, Chúa đã cho ông cơ hội học biết một cách cụ thể rằng lời ngợi khen gây nên quyền năng và sự điều khiển của Đức Chúa Trời.
Câu chuyện cái lò đun nước đó đáng dấu một bước ngoặc trong cuộc đời người ấy. Từ đó ông bắt đầu nghe tiếng Chúa trong mọi hoàn cảnh và ngày nay ông có một sự nhạy cảm hiếm có đối với các sự cảm động của Thánh Linh. Một lỗ tai lắng nghe tiếng Chúa đã làm cho ông ta trở thành dụng cụ ơn Chúa.
Bước đầu của ông là một động tác đức tin : tin rằng một lò đun nước bị tắt vào một buổi tối bão tuyết là một cách diễn tả sự chăm sóc của Chúa đối với ông và gia đình ông. Có thể ông bị mất dịp tiên đó, nhưng chắc chắn Chúa sẽ ban cho ông dịp khác. Tất cả chúng ta đây đều có dịp nhận ra bàn tay của Chúa trong các hoàn cảnh đời sống hằng ngày của chúng ta, nhưng chúng ta bỏ mất biết bao nhiêu dịp rồi !
Kết quả các phản ứng của chúng ta dồn dập lên nhau và giúp nhau lớn lên càng tin ta càng dễ tin hơn. Cũng vậy mỗi khi ta để cho sự vô tín phủ nhận sự hiện diện và tình yêu của Đức Chúa Trời trong một hoàn cảnh khó khăn các hậu quả tiêu cực chồng chất lên nhau và ta càng khó huy động ý chí của ta để tin, dù là một chút thôi, ta càng lằm bằm và kỳ kèo, ta càng lún sâu trong vũng bùn thất bại. Các sự kêu ca nhỏ của ta thêm dồn đến nỗi trở thành một núi than vãn.
Một cô y tá tín hữu vừa trải qua những năm khổ sở. Cô ấy viết cho tôi : “Khi nào cũng là chuyện không đâu, đã làm cho tôi bực tức và chán nản. Đời sống của tôi càng ngày càng khổ sở. Tôi xin ơn Chúa giúp cho tôi nhưng chẳng thấy gì cả. Tôi bắt đầu uống thuốc bổ để có sức buổi sáng, và uống thuốc để ngủ buổi tối. Mỗi sáng tôi sợ đối diện với một ngày mới. Tôi không còn quét dọn nhà cửa được nữa. Ở bệnh viện tôi bị đè bẹp dưới sức nặng của dịch vụ đối với bệnh nhân.
Mỗi ngày lại tệ hại hơn trước. Rốt cuộc tôi không làm những việc nhỏ nhặt nhất mà mấy tháng trước tôi làm dễ dàng. Tôi lâm vào sự chán nản tuyệt vọng đến nỗi tôi xin Chúa cho tôi chết đi cho rảnh. Cuộc sống đã trở thành địa ngục thực sự đối với tôi”.
Rồi hôm đó, cô ấy đọc truyện “Từ ngục tù đến ca ngợi”, cô viết cho tôi. : “Thật như là tia hy vọng đã hừng lên trong tôi” ! Cô ấy quyết định ngợi khen Chúa vì mọi sự và kể một danh sách dài những đề tài tạ ơn, bắt đầu từ những gì đã gây căng thẳng tinh thần cô. Chẳng bao lâu cô đã trông thấy kết quả.
Từ ngày Chúa Jesus vào trong lòng tôi, có sự thay đổi biết bao trong đời tôi ! Đó là tất cả những gì tôi có thể nói lên bây giờ. Không còn sợ thất bại nữa! Tôi không để cho mình bị bực tức và bối rối như trước nữa. Điều gì có vẽ không xuôi chảy, tôi chỉ ngước mắt lên và thưa : “Lạy Chúa, cám ơn Chúa” và điều đó làm cho tôi vui lên.
Bạn có bị bao vây bởi những điều tưởng như là núi lầm than hoặc những hang chuột chù khó chịu, cách giải quyết vẫn thế thôi. Bạn hãy xưng thú các sự lằm bằm, ta thán của bạn như là một tội và hứa với Chúa sẽ bắt đầu biết ơn Chúa.
Nếu bạn dốc quyết như vậy và kiên trì trong đức tin. Chúa sẽ ban cho bạn sức thực hiện điều đó. Một khi bạn đã dấn thân, các cơ hội tạ ơn Chúa sẽ chắc chắn đến bất chấp ít nhiều.
Trong một cuộc tĩnh tâm gần Jort Bengning, vài người lính trẻ hứa cám ơn Chúa về mọi sự. Ngày hôm sau một người trong nhóm họ được tin bác anh ta, người anh thương yêu nhất, đã mất vì tai nạn máy kéo vì ông ta là một nông dân. Ý nghĩa đầu tiên của anh là : “Kìa mày hãy nhìn xem điều gì đã xảy ra ! mày đã quyết định ngu xuẩn là bất cứ điều gì cũng ngợi khen Chúa. Và Bác mày không được trở lại nữa !.
Nhưng ngay khi người lính trẻ ý thức được tư tưởng ấy từ đâu đến và chống lại cơn cám dỗ kêu ca về cái chết của bác anh ta, thay vì than thở, anh đã cầu nguyện : “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu bác con đến mức nào rồi, nhưng Chúa còn yêu mến con nhiều hơn nữa. Chắc chắn có lý do thích đáng để bác con chết. Con cám ơn Chúa và ngợi khen Chúa đã làm điều tốt nhất cho bác con”. Sau khi cầu nguyện anh được an tâm về cái chết của bác anh, nhưng anh không thể không lo lắng cho người anh họ của anh mới vừa tiếp nhận Chúa Jesus làm cứu Chúa của mình. Anh ấy sẽ phản ứng như thế nào trước sự ra đi của thân phụ mình ? Người lính trẻ xin nghỉ phép để đi đưa đám hầu nâng đỡ tinh thần của anh họ mình, nhưng anh không được giấy phép.
Lạy Chúa con chấp nhận, anh thưa. Chúa biết rất rõ anh con, vậy con cám ơn Chúa vì không đi được.
Anh định điện thoại cho Cha mẹ anh để nhờ nhắn anh họ đến phòng điện thoại. Anh ngạc nhiên làm sao khi chính giọng của anh họ mình bên kia đường dây :
Em mạnh khỏe chứ ?
Còn anh thì sao ? Người lính ngơ ngác hỏi.
Cám ơn Chúa, anh ấy trả lời. Cả nhà đều quá sung sướng vì ba anh đã tiếp nhận Chúa trước vài ngày trước khi xảy ra tai nạn. Ba có thì giờ tuyên xưng với mọi người những gì Chúa làm cho ba. Chúng tôi chắc chắn rằng ý Chúa muốn ba lên thiên đàng ngay bây giờ.
Người lính này trở về thuật lại cho những người khác về việc đó. Một trong những người tham dự buổi họp mặt ấy, vợ của một mục sư tuyên uý hứa với Chúa sẽ ngợi khen Ngài vì tất cả những gì xảy đến trong đời bà.
Ngay tối hôm đó trên xe về nhà, bà có cơ hội đầu tiên để ngợi khen Chúa. Từ 18 năm lái xe, bà chưa bao giờ bị phạt cả. Lần này một cảnh sát lưu thông bắt bà đậu xe và lập biển bản vì bà đã băng qua ngã tư trái phép.
Bà tốn công giải thích cho ông cảnh sát là ông lầm. Một chiếc xe khác giống chiếc xe của bà đã không chịu dừng và qua mặt bà trong lúc chính bà đã dừng lại. Ông cảnh sát không chịu tin bà và bà sắp nổi giận ta thán về nỗi bất công bà phải gặp. Bỗng nhiên bà nhớ đến lời hứa sẽ biết ơn Chúa trong mọi sự.
Lạy Chúa, bà cầu nguyện, con tin đó là ý Chúa, con cám ơn Chúa về kinh nghiệm đó.
Bà lập tức ý thức một niềm vui tràn ngập. Ngày hôm sau bà trở lại kể câu chuyện đó cho chúng tôi nghe.
Kỳ diệu thay, phải không ạ? Bà nhận xét. Chúng ta không cần sợ người ta lợi dụng mình, hoặc đối xử bất công đối với mình nữa. Ngay cả những trường hợp đó nữa cũng có thể trở thành một nguồn vui và sức mạnh khi chúng ta nhìn thấy trong đó bàn tay của Chúa và ta cám ơn Chúa.
Vâng, có nhiều người khác thu hút đến cùng Chúa khi chúng ta chúc tụng Ngài. Nếu chúng ta càu nhàu và phàn nàn một cách chua cay về muôn nghìn sự trái ý trong cuộc sống hàng ngày như những người chưa tin Chúa thì họ sẽ kết luận rằng có đức tin hay không có đức tin cũng chẳng có khác nhau gì cả. Nếu họ không thể trông thấy trong cuộc sống tầm thường mỗi ngày của chúng ta có sự hiện diện của Đấng Chist gây nên một sự khác biệt thật sự, làm sao ta có thể hy vọng rằng họ tin chúng ta khi ta nói với họ rằng họ cần đến Chúa Jesus ?
Không phải những gì ta nói, nhưng con người của chúng ta và việc làm của chúng ta thu hút kẻ khác đến với đời sống của Đấng Chist mà chúng ta được sở hữu. Không gì bày tỏ chúng ta cho bằng cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Ta phản ứng thế nào trước sự chậm trễ và khó khăn trong công tác, những sự vội vàng, những sự gặp gỡ tình cờ mỗi ngày ? Ta có hành động thế nào mà không ai thấy được là ta khác sao? Hay là cách phản ứng của chúng ta khiến họ suy nghĩ và nhận xét : “Người này không giống như người khác. Họ có cái gì mà tôi không có”.
Hai ông bà nọ đọc quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi” và cả hai đều xác định rằng Chúa muốn họ thực sự biết ơn Ngài về mọi sự. Một hôm khoảng 2 giờ 30’ sáng, họ bị đánh thức bởi một tiếng kính vỡ rất lớn. Ông ta nhìn ra cửa sổ thấy tất cả các kính xe hơi của ông đều bị vỡ tan do một băng thanh niên vừa chạy trốn qua góc phố. Hai ông bà đều đồng ý rằng Chúa đã ban cho họ một dịp ngợi khen Ngài. Họ quỳ gối gần giường của họ và tạ ơn về điều mới xảy ra.
Sáng hôm sau người chồng lái xe ra gara và giải thích đầu đuôi câu chuyện.
Ngợi khen Chúa, ông ấy nói. Tôi chắc chắn Chúa có một kế hoạch kỳ diệu với sự ấy.
Ông chủ gara lắc đầu :
Nếu việc đó xảy ra cho tôi, tôi làm đến cùng để bọn cướp ranh con đó phải bồi thường cho tôi.
Người thân chủ mỉm cười đáp lại :
Không cần thiết ông bạn ạ, chính Chúa lo việc này, tôi không còn lo lắng.
Ông chủ gara trố mắt nhìn và nói :
Tôi tin Chúa đã bao nhiêu năm nhưng chưa bao giờ tôi nghe nói phải ca ngợi chúa vì sự phá hoại cả !
Họ tiếp tục bàn luận như vậy và người thân chủ bàn đến việc phép báptem trong Thánh Linh và quyền năng của Chúa được thi thố bởi lòng ngợi khen.
Xin ông đừng nói nữa ! Ông chủ gara hét lên. Người ta nói với tôi nhiều về phép Báptem bằng Thánh Linh đến nỗi tôi phát ngán. Một thân chủ của tôi đều nói toàn điều đó thôi. Nhưng xin ông nói tiếp tục với tôi về sự ngợi khen. Điều này xem chừng hấp dẫn đấy !
Người thân chủ giải thích rằng theo ý ông, hai đề tài chỉ là một thôi, vì cả hai đều liên quan đến sự phó thác tin tưởng hoàn toàn nơi Đức Chúa Trời. Cuối cùng người chủ gara bằng lòng đến dự buổi họp đó, chính ông ta cũng chấp nhận Báptem bằng Thánh Linh.
Sau đó ông đã quyết định ngợi khen Chúa vì mọi sự và dẫn đầu danh sách là cái gara của ông. Thật vậy, từ hai năm nay việc làm của ông sa sút.
Chiều hôm sau, một trong những người làm công với ông đến báo tin thất vọng. An ấy vừa bị tai nạn và xe vận tải của họ bị hỏng. Điều này có thể làm cho cơ nghiệp của ông bị sụp đổ. Ông chủ gara bèn nhìn người làm công trẻ tuổi của ông, xanh xao và run rẩy đang chờ đợi ông nổi trận lôi đình, nhưng ông chủ lại nhoẻn một nụ cuời tươi tắn, ôm vai người thanh niên và nói với ông ấy :
Ta ngợi khen Chúa vì tai nạn này, và hãy tin rằng Chúa sẽ làm cho nó sinh lợi cho chúng ta.
Người ta làm thủ tục thông thường nơi công ty bảo hiểm và ông chủ gara ngạc nhiên thấy số tiền bồi thường đã giúp ông thanh toán cả các hoá đơn khẩn cấp nữa. Tai nạn trên đây đã đánh dầu một bước ngoặc trong diễn tiến của cơ nghiệp ông ta. Ông thu lợi được nhiều. Trong đời sống ông chủ gara, sự thay đổi lại còn rõ hơn nữa. Bây giờ ông được hưởng một niềm vui và bình an càng ngày càng lớn trong mỗi lãnh vực của đời sống. Dần dần nhiều thân chủ trông thấy niền vui chiếu tỏa của ông cũng được biết Chúa Jesus nữa.
Khi niềm vui của Đấng Chist được biểu lộ trong đời sống chúng ta, nó thu hút kẻ khác đến với Chúa.
Một tối sau một buổi họp khuya khoắt, tôi vào quán ăn để gọi một ly sữa. Tươi cười cô hầu bàn biến mất sau nhà bếp và một lúc sau trở ra, vẻ phật ý.
Thưa ông, rất tiếc những tủ lạnh đã khóa và tôi không thể dọn sữa cho ông được.
Phản ứng hồn nhiên của tôi là : “Lạy Chúa cám ơn Chúa”.
Cô hầu bàn nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:
Tại sao ông nói vậy.
Tôi đã tập cám ơn Chúa vì mọi sự vì tôi nghĩ rằng Chúa làm mọi sự gây ích cho ta nếu ta để Chúa hành động.
Ông theo tôn giáo nào? Cô hỏi có vẻ không tin .
Giáo phái John Wesley (Methodist)
Tôi theo giáo phái Báptist, nhưng chưa bao giờ họ cám ơn Chúa vì những chuyện này cả.
Cô có phải là một tín đồ Báptish chân chính không?
Cô ngần ngừ:
À, tôi nghĩ vậy, nhưng không chắc lắm.
Cô có thể hoàn toàn chắc chắn điều đó. Chúa Jesus đã đến trong thế gian để ban sự sống cho chúng ta. Tất cả những gì ta phải làm là xin Ngài tha thứ tội lỗi chúng ta và tin rằng Ngài tha thứ. Cô có muốn tôi cầu nguyện để xin Chúa ban cho cô ơn không?
Ồ, thưa ông, tôi thật lòng muốn, cô vồn vã trả lời.
Lúc đó chúng tôi cuối đầu, tôi đặt tay trên vai cô và ở đó, trong quán ăn bây giờ vắng khách, hơn nửa đêm một chút, tôi đã xin Chúa ban đức tin cho cô và cho cô sự xác tín rằng mình có sự sống đời đời trong Chúa Jesus.
Nước mắt tuôn tràn cô nói:
Đây là lần đầu tiên trong đời cảm thấy như vậy. Giống như thể một gánh nặng vừa trút khỏi vai tôi. Tôi chắc chắc mình là môn đồ của Đấng Christ ngay bây giờ.
Muốn cám ơn Chúa vì đã không mua được ly sữa có thể xem như không quan trọng. Tuy nhiên khi chúng ta tập quen ca ngợi Chúa về một điều nhỏ nhặt. Chúa dùng lời ca tụng của ta để thu hút những nguời mệt mỏi và cùng cực đến với Ngài. và Ngài có thể biến đổi những lo âu lớn như núi của họ thành dòng suối an lạc và bình an.
Một hôm ngồi trong phòng đợi của một sân bay, chờ lên máy bay, một người lạ mặt bỗng đụng cặp xách tôi để bên cạnh tôi, trên một cái bàn thấp. Vì tôi để cặp mở nên các thứ trong đó đều rơi xuống đất, giấy tờ bay tứ phía, và bàn chãi đánh răng của tôi rơi ra khỏi hộp nằm dưới đất đầy bụi.
Tôi dẹp ngay ý muốn nói những lời tức giận với anh chàng vụn về kia và thì thầm trong lòng: “Vâng, con lạy Chúa, con cám ơn Chúa về điều mới xảy đến, con biết Chúa có lý do đích đáng để cho phép điều ấy”.
Rất lúng túng, người lạ mặt xin lỗi và vội vã nhặt các đồ đạc của tôi đã tung ra. Khi tôi nhặt giúp ông ta, ông ấy ngẩng đầu lên, vừa nhìn tôi vừa hỏi:
Ông không nhớ tôi sao?
Thưa ông có lẻ ạ.
Ông âý giải thích cho tôi rằng chúng tôi đã gặp nhau trong chốc lát cách đây mấy tháng, và bây giờ ông ấy vừa mới đi qua sân bay, mệt nhọc và chán nản, ông xin Chúa dẫn ông đến một người giúp ông ta.
Tôi đã trông thấy ông và tôi muốn dời chỗ cặp xách của ông để có thể ngồi gần ông. Ông ấy nói tiếp, bây giờ tôi chắc chắn rằng chính Chúa dẫn tôi đến với ông. Ông có thể giải thích cho tôi nghe làm sao ông có thể giữ bình tĩnh như vậy, khi tất cả các đồ đạc của ông rơi xuống đất hay không?
Tôi vui mừng biết bao khi nói với ông rằng nếu chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời, Ngài có thể làm mọi sự gây ích cho chúng ta , và những dịp vừa rồi là những dịp cảm tạ Chúa và trông thấy hành động.
Người ấy rất đỗi ngạc nhiên và đặt nhiều câu hỏi nữa. Khi đến giờ tôi phải lên máy bay, ông ấy đề nghị với tôi:
Tôi có thể mời ông đến thăm tôi ở Jort Landerdale được không? Bao giờ ông rãnh?
Bấy giờ đếnn lượt tôi ngạc nhiên vì tôi đã có xin Chúa cho tôi có dịp đi Jort Landerdale, tôi đã nghe nói nhiều công trình Chúa thực hiện ở đây trong đời sống của nhiều tín hữu.
Ngày xưa Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu ở thành Philíp: “Phàm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự, hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch được trở nên con cái của Đức Chúa Trời, không vết, không tì, không chỗ trách được, lại giữ dòng dõi ấy giữ lấy đạo sống chiếu sáng như đuốc trong thế gian ... Hỡi anh em, hãy vui mừng trong Chúa! Tôi chẳng hề sợ phiền mà lại viết những điều này cho anh em nữa, vì điều đó ích lợi cho anh em” (Phi Pl 2:14-15; 3:1).
Chính nhờ không than vãn và bởi niềm vui vủa chúng ta trong Đấng Christ mà chúng ta có thể chiếu rạng như đuốc sáng và bày tỏ lời sự sống trong thế giới đen tối và lạnh lẽo này. Điều này đúng với Thành Philíp ngày trước và còn đúng với hiện nay nữa. Vậy ta ngừng than thở và hãy ca tụng Chúa vì sự tối tăm và sự dữ đang bao vây chúng ta. Ta hãy làm như thế và ta sẽ thấy ánh sáng của Đức Chúa Trời chọc thủng tối tăm.



NIỀM VUI NƠI CHÚA
Nêhômi nói cùng dân chúng: “Chớ buồn thảm, vì sự vui vẻ của Đức Giêhôva là sức lực của các ngươi” (NeNe 8:10).
Không lạ gì Chúa Jesus đã nhắc đi nhắc lại cho các môn đồ hiểu rằng Ngài đã đến không những để đem sự cứu rỗi bằng sự chết trên thập tự giá mà còn ban cho các môn đồ niềm vui mãnh liệt nơi Ngài nữa.
Chúa nói cùng các môn đồ: “Đến bây giờ các ngươi chưa từng nhơn danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ hầu cho sự vui mừng của các ngươi được trọn vẹn” (GiGa 16:24).
Niềm vui của Chúa thuộc về chúng ta, chúng ta chỉ việc cầu xin Ngài niềm vui ấy.
Trước khi bắt giữ Chúa Jesus đã cầu nguyện: “Nhưng bây giờ con về cùng Cha, và đương khi còn ở thế gian, con nói những điều đó, hầu cho trong lòng họ được đầy dẫy sự vui mừng của con” (GiGa 17:13).
Mọi Cơ Đốc Nhân đã được tái sanh điều hiểu rằng ơn cứu rỗi là một hồng ân nhưng không, biết rằng mình đã được tái sanh bởi Thánh Linh ngay khi đón nhận Chúa Jesus Đấng Cứu Thế bằng đức tin. hơn nữa một số tín hữu đã khám phá ra rằng món quà của Đức Chúa Trời đem đến cho chúng ta không những là ơn tái sanh mà còn cho chúng ta nhận lãnh phép báptem trong Thánh Linh. Ít ai trong chúng ta kinh nghiệm rằng ngay lúc đó Chúa Jesus cũng ban cho chúng ta niềm vui nơi Ngài. Chúng ta phải xin và lãnh nhận trong đức tin niềm vui ấy như phần còn lại của món quà được ban tặng.
Nếu quả thực niềm vui của Chúa là sức mạnh của chúng ta, thì điều dĩ nhiên là chúng ta không đạt đến niềm vui ấy bằng quá trình của một đời sống thiêng liêng như một loại kem người ta trang trí trên mặt cái bánh. Đó là điều chúng ta cần phải có ngay trong bước đầu của đời sống thuộc linh để nâng đỡ và củng cố chúng ta trong nhiệm vụ rao truyền Tin Lành khắp thế gian.
Phaolô đã viết cho tín hữu Côrinhtô: “Không phải chúng tôi muốn cai trị đức tin anh em, nhưng chúng tôi muốn giúp thêm sự vui vẻ của anh em, và anh em đứng vững vàng trong đức tin” (IICo 2Cr 1:24).
Phaolô không có ý là ông sẽ làm cho các tín hữu vui vẻ bằng cách thay đổi điều kiện sống của họ. Ông chỉ muốn nhắc nhở họ về niềm vui họ đã nhận lãnh. Ông muốn họ tập sống trong hân hoan biết trao đổi niềm vui mà Thánh Linh đã đặt để trong tâm hồn họ.
Phaolô biết rằng đối với một số tín hữu việc làm chứng một cách tích cực cho niềm vui thì phải gặp nhiều thử thách và đau khổ, chỉ có ở trong Chúa Jesus mới có sự hoan lạc.
“Duy Đức Thánh Linh đã báo trước cho tôi rằng ngay từ thành này sang thành khác, dây xích và hoạn nạn đang đợi tôi đó. Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí miễn chạy cho xong cuộc đua và chức vụ tôi đã nhận lãnh nơi Đức Chúa Jesus, để làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời” (Cong Cv 20:23-24).
Nếu Chúa Jesus đã ban cho chúng ta niềm vui của Ngài thì tại sao phần đông tín hữu lại sống cuộc đời quá buồn thảm?
Chúa Jesus đã cầu nguyện đề niềm vui của Ngài được trọn vẹn với chúng ta, điều ấy có nghĩa không đủ khả năng để tự tạo cho mình niềm vui, cũng không thể tự cứu lấy chúng ta hay là làm cho lòng mình tràn đầy niềm vui và bình an. Nhưng điều chúng ta có thể làm được là sự tự nguyện chấp nhận và tin vào Chúa Jesus đã làm những gì cho chúng ta và để cho Ngài gieo vào trong chúng ta niềm vui trọn vẹn của Ngài.
Trong cuộc sống hằng ngày, điều đó có nghĩa là chúng ta dứt khoát cố gắng sống vui, bất chấp mọi tình cảm bằng cách tin rằng Chúa đang hoạt động. Ngài biến đổi âu sầu thành niềm vui trong sáng như Ngài đã hứa.
Tình yêu thương, sự vui mừng, bình an và hoa quả của Thánh Linh nơi chúng ta. Chúa Jesus đã giải thích cho các môn đồ biết phải vun trồng hoa quả ấy như thế nào.
“Như Cha đã yêu thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy; hãy cứ ở trong sự yêu thương của ta. Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì cũng ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta và cứ ở trong sự yêu thương Ngài” (GiGa 15:9-10).
Chúng ta vui không vì hoàn cảnh hạnh phúc nhưng vì chúng ta được biết điều răn, luật pháp của Chúa Jesus, chúng ta tuân giữ và như thế chúng ta cứ ở trong Ngài.
Giêrêmi viết rằng: “Tôi vừa nghe những lời Ngài thì đã ăn lấy rồi, Lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy” (Gie Gr 15:16)
Đavít đã học được bí quyết của sự hoan lạc: “Khá lâu việc Đức Giêhôva cách kính sợ và mừng rỡ cách run rẩy” (Thi Tv 2:11)...” Bây giờ đầu tôi sẽ được ngước cao lên hơn các kẻ thù nghịch vây quanh tôi, trong trại Ngài tôi sẽ dâng của lễ bằng sự vui vẻ, tôi sẽ hát mừng và ca tụng Đức Chúa Trời” (27:6).
Trong một thời gian dài tôi tưởng đã nếm được niềm vui trong sự toại nguyện và an toàn. Bây giờ tôi mới hiểu niềm vui không phát xuất từ tình cảm, nhưng nó được giải thoát bởi ý chí và đó là một trong những yếu tố của đời sống ca ngợi.
Ước chi niềm vui của mỗi người công chính vươn lên như lời chúc tụng Đức Chúa Trời: “Hỡi người công bình hãy vui vẻ nơi Đức Giêhôva , sự ngợi khen đáng cho người ngay thẳng: (33:1)”.
Niềm vui lòng biết ơn, lời ca ngợi không thể tách rời nhau. quyết tâm cảm tạ và ngợi Chúa trong mọi sự sẽ đưa được trọn vẹn nếu chúng ta chưa quyết tâm vui sống trong mọi hoàn cảnh.
Một bà tín hữu lớn tuổi đã từng kinh nghiêm về cuộc sống phong phú trong Thánh Linh, đã nhiều năm phụng sự Chúa một cách hăng say, đã gặp phải trở ngại vì chứng sưng khớp xương. Những năm đau khổ đã làm bà mất đi mọi thú vui để sống. Một công việc cực nhỏ cũng trở nên cực hình đối với bà, và bà sống trong cuộc khủng hoảng tinh thần ngày càng tăng. Bà nghĩ rằng Chúa có thể làm cho bà hết bịnh và bà đã tham gia nhiều buổi cầu nguyện cho các bịnh nhân, nhưng không có gì thay đổi cả. Tình trạng bịnh lý ngày càng trầm trọng. Sau đó bà nghe nói đến hiệu quả của quyền năng Đức Chúa Trời khi người ta biết ca ngợi Ngài trong mọi sự và bà cũng quyết tâm thử. Điều đó không phải là dễ vì bà đau nhức đêm ngày. Nhưng bà nhất định cảm tạ Chúa với tất cả lòng thành về mọi mặt của cuộc sống , kể cả sự đau nhức.
Một hôm trong khi di chuyển một cách khó khăn trong nhà bếp, bà mất thăng bằng và làm rơi xuống đất một cái mâm dày. Không còn cách nào để bà cúi xuống lượm lên lại vì những ngón tay đã trở nên cứng đơ và cái lưng đau nhức. Thường khi một việc xảy ra như vậy bà hay than thở về số phận của bà. Nhưng lần này bà nhớ lại lời hứa là ca ngợi Chúa. Bà cầu nguyện: “Cảm tạ Chúa đã để con làm rơi chiếc mân xuống đất. Con tin rằng điều đó ích lợi cho con”.
“Trong chớp nhoáng bà thấy sự hiện diện của nhiều nhân vật bên cạnh bà trong nhà bếp. Cho đến lúc đó bà vẫn cô đơn, nhưng bây giờ bà có bạn rồi. Rất ngạc nhiên, bà cảm thấy được các thiên sứ vây xung quanh. Bà biết rằng các thiên sứ hoan hỉ vì bà. Bỗng nhiên bà hiểu: “Ta nói cùng các ngươi, trước mặt các thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng vậy, sẽ mừng rỡ cho kẻ có tội ăn năn” (LuLc 15:10).
Vâng, bà là một tội nhân đã được cứu chuộc, lòng bà được thay đổi một cách nhiệm màu. Trong nhiều năm bà đã than vãn về số phận của bà, đã trách Chúa để bà đau khổ, đã van nài xin Chúa chữa lành và đã nghĩ thầm là Chúa bỏ rơi bà. Cuối cùng bà đã nghĩ ra rằng những lời than vãn đó nẩy mần từ sự thiếu tin cậy Chúa và bây giờ các thiên sứ hoan hỉ vì niềm tin của bà khá vững mạnh để bà có thể ca ngợi Chúa trong cuộc sống bất hạnh của bà.
Bà cảm thấy một niềm vui xâm nhập căn nhà bếp và tràn ngập trong tâm hồn bà. Thanh thản trong lòng, bà chân thành cảm tạ Chúa đã để bà gặp nhiều đau khổ và đau khổ này đem lại cho bà niềm vui ấy.
Một thời gian ngắn, bà tham gia buổi cầu nguyện cho các bịnh nhân, bà tấn tới trông niềm tin cậy. Bà ý thức được rằng căn bịnh đó đã làm tê liệt niềm tin của bà. Nhưng từ nay đức tin của bà không còn dựa trên cảm giác, cường độ đau khổ không còn ảnh hưởng trên niềm tin của bà nữa. Chiều ngày hôm ấy bà đã được khỏi bệnh trong phút chốc. Mọi đau nhức không còn nữa, những khớp xương cong queo đã được chữa lành.
Do bản tính tự nhiên, chúng ta thường hay lệ thuộc vào thói quen. Từ lâu chúng ta để cho giác quan điều khiển hành động chúng ta. Nhưng Chúa Jesus đã ngự trị trong lòng chúng ta để niềm vui của Ngài nên trọn vẹn nơi chúng ta.
Sự phấn khởi không thể phát xuất từ những cảm xúc, kể cả những lý luận của chúng ta mà nó phát xuất từ nơi tâm linh, chỗ Thánh Linh khởi động. Chính tại đó ý chí ngự trị; chúng ta cần để ý chí quyết định hành động của chúng ta. Thay vì bắt ý chí thối lui trước tình cảm, chúng ta có thể phản ứng vui vẻ trước mọi hoàn cảnh với lời ca ngợi tạ ơn. Dần dần chúng ta sẽ bớt lệ thuộc vào tình cảm và kiên trì trong đường hướng đó chúng ta sẽ khám phá rằng niềm vui phát xuất từ ý chí, từ tâm linh sẽ lan tràn đến tình cảm của chúng ta.
Những gì ban đầu là một sự vâng phục Lời Đức Chúa Trời, sau càng sẽ tạo nên tâm hồn chúng ta đã cảm nghiệm được từ trước.
Khi chúng ta hoàn toàn tuân phục thánh ý Chúa, mọi cản trở sẽ được quét sạch, chúng ta được nhồi luyện, tu bổ, biến đổi thành của lễ quý giá tôn vinh Đức Chúa Trời. Chính lúc ấy chúng ta sẽ thể hiện niềm vui trọn vẹn của Chúa nơi chúng ta.
Trong gần 20 năm, tôi bị đau dạ dày. Nhiều thức ăn gây cho tôi phiền toái. Tôi đi khám bịnh và uống đủ loại thuốc, nhưng vô hiệu. Tôi cầu nguyện và cố gắng tin vào Chúa để được Ngài chữa nhưng cũng không kết quả. Nhiều người cầu nguyện cho tôi, kể cả những tín hữu nổi tiếng về kết quả đã đạt được trong công tác cầu nguyện hay các bạn tôi, nhưng bệnh tình vẫn không thay đổi.
Tôi dựa vào lời hứa của Chúa Jesus trong Tin Lành Mác 16, theo đó thì không có một chất độc nào có thể hại tôi và tôi thuờng dùng những món ăn người ta đã dọn. Nhưng luôn luôn tai họa luôn xảy ra, tôi cảm thấy đau nhức không ngủ được và tôi lại thương hại mình vì gặp nhiều khốn khổ.
Sau hết, tôi nhất quyết chấp nhận trong đức tin là tôi sẽ được lành bệnh nhờ sự chết của Chúa Jesus trên thập tự giá và triệu chứng của căn bịnh sẽ biến mất khi Chúa muốn. Trong những năm kế tiếp, dựa trên sự vững tin ấy, tôi ca ngợi Chúa về mọi ơn lành. Mà Chúa ban cho qua mọi thử thách nầy.
Trước khi tôi được giãi ngũ, bác sĩ quyết định giãi phẩu dạ dày. Nhưng họ không thể giải thích được sự đau nhức mà tôi phải chịu đựng từ lâu, và chẳng có cách gì để tình trạng tốt hơn. Nằm trên giường bệnh tại bệnh viện, sau giãi phẩu, cơn đau tăng đến cực độ. Thuốc men và những viên an thần đều vô hiệu nghiệm. Thời gian qua tôi không sao ngủ được tưởng chừng như sự đen tối của căn phòng đè nặng trên tôi. Tôi hình dung là mình chỉ cần quơ tay là đụng ngay quyền lực của sự dữ đang bao vây . Tôi chống trả lại cơn cám dỗ lùi bước trước thế lực của sự sợ hãi. Tôi không muốn chết, nhưng sự run sợ khi nghĩ rằng tôi sẽ tiếp tục sống trong tình trạng bi đát như vậy.
Trong khi sự tối tăm có vẻ dày đặc hơn bao giờ hết, tôi kêu lên cùng Chúa: “Lạy Chúa, mặc cho những gì đang diễn ra, kể cả khốn khổ, con cảm tạ Ngài đã cho con kinh nghiệm này. con biết rằng Chúa sẽ dùng nó để làm nên một việc tuyệt diệu”.
Tức thì sự đen tối của căn phòng bị đánh tan đi bởi một ánh sáng chói lòa, rực rỡ hơn mặt trời. Ánh sáng ấy cũng rực rỡ như ánh sáng mà tôi được trông thấy mấy năm trước đây và Thánh Linh giải thích cho tôi. Đó là câu chuyện của cụm mây đen bay ngang qua đồng cỏ xanh tươi, bên trên cụm mây có ánh sáng chói lòa: đó là trạng thái hân hoan chan hòa hạnh phúc mà Chúa Jesus đã đạt được cho chúng ta. Nhưng để đạt được trạng thái đó, chúng ta phải trèo lên một chiếc thang băng ngang qua cụm mây đen tối của đau khổ. Tiến vào trong cụm mây ấy không thể nào dùng giác quan như tai, mắt, chân tay để định hướng. Chỉ có thể bước lên mỗi bậc của chiếc thang ấy bằng đức tin và lời ca ngợi Chúa mà thôi. khi tiến lên dần dần thì sẽ được giải thoát khỏi sự chế ngự của giác quan, cảm xúc và ta sống dựa vào Chúa. Chiếc hang của lời ca ngợi sẽ nâng chúng ta lên và đem chúng ta vào cõi thiên đàng, chỗ đã dành cho chúng ta, bên cạnh Chúa Jesus.
Trong khi nằm trên giường bệnh, chìm đắm trong ánh sáng tuyệt diệu ấy, bổng nhiên tôi cảm nghiệm ánh sáng ấy trở nên thật.
Trong những năm sống trong đức tin rằng Chúa dùng sự đau khổ. Thời gian vượt qua cụm mây tối tăm và bất ổn, để đem lợi ích đến cho tôi. nếu không có cụm mây ấy, tôi không bao giờ biết rời bỏ giác quan tình cảm. Từ nay tôi chân thành ngợi khen Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống trông cậy vào Đức Chúa Trời? Làm thế nào để tôi có thể sống khác hơn niềm vui trọn vẹn ấy?
Khi rời bệnh viện, tôi cũng khám phá ra sự chăm sóc của Chúa đối với dạ dày của tôi: những thức ăn thường khi làm cho tôi đau nhức trong nhiều giờ bây giờ không còn gây xáo trộn nào cả và tôi hoàn toàn tự do nếm những trái táo, trái dâu, trái chuối, những loại kem và những thức ăn ngon khác mà tôi phải kiên cử từ lâu. Chúa đã chọn cách cũng cố đức tin của tôi bằng cách hướng dẫn tôi sống Lời Chúa trong khi đó nhiều bệnh nhân được lành bệnh tức khắc khi tôi cầu nguyện cho họ.
Lời ca ngợi đã làm cho quyền năng của Đức Chúa Trời được hiệu nghiệm trong việc chữa trị, sự lành bệnh tự nó chỉ có giá trị tương đối mà thôi. Cho đến khi nào chúng ta còn bận tâm về con người chúng ta và ước muốn được chữa lành để được giải thoát sự đau đớn của thể xác, thì khi ấy chúng ta không sống trong sự thật, và đối với chúng ta những mối bận tâm như vậy làm hạn chế Chúa và đặt lại vấn đề chương trình của Chúa đối với chúng ta.
Trong nhiều năm tôi đã run sợ khi nghĩ đến răng của tôi sẽ bị hư hết. Một hôm nha sĩ cho tôi biết là nướu răng của tôi bị nhiễm độc, chân răng sẽ bị hư dần, sự quan xác về mấy tấm phim đã được xác nhận định sự thật phủ phàng ấy; Răng sẽ từ từ rụng hết.
Tôi tuyệt vọng khi rời khỏi phòng nha sĩ. Lẽ dĩ nhiên tôi phải ca ngợi Chúa về tất cả những gì xảy đến cho tôi, nhưng điều này không làm tôi hài lòng lắm.
Cảm tạ Chúa, cảm tạ Ngài đã để răng của con lâm vào tình trạng này. Con tin chắc rằng Chúa biết hơn con những gì thích hợp cho con, vì thế con ca ngợi Chúa.
Khi đang cầu nguyện, tôi cảm thấy lòng biết ơn gia tăng, và khi tôi gặp một người bạn, tôi liền cho người ấy biết một cơ hội đến với tôi để tôi cảm tạ Chúa.
Người ấy hỏi: “Anh có cầu nguyện để được chữa lành không?”
Tôi trả lời: “Không! tôi vừa hiểu được rằng sự rụng răng không phải là một điều bất hạnh vì điều đó không thể xảy ra nếu Chúa không cho phép”
Còn tôi, tôi nghĩ rằng Chúa muốn cho răng của anh được hoàn toàn tốt, anh ấy trả lời như vậy, và đặt nhẹ bàn tay lên vai tôi và cầu nguyện: “Cảm tạ Chúa đã để cho răng anh Merlin bị hư như vậy. Chúng con ca ngợi Chúa để danh Ngài được tôn vinh, chúng con xin Chúa đụng đến Merlin và chữa lành cho anh”
Ba ngày sau, tôi trở lại nha sĩ. Tôi quan sát ông khi ông đang xem chăm chú những tấm phim mới. Ông có vẻ bực dọc. Ông đặt phim xuống và khám lại răng. Ông lắc đầu và lẩm nhẩm một điều gì. Tôi nghĩ thầm “Có lẽ tệ hơn những gì ông đang dự đoán chăng !”.
Sau cùng, ông lùi lại một bước nhìn tôi từ đầu đến chân và hỏi:
Ông đã làm gì cho bộ răng của ông?
Không làm gì hết!
Thế thì tôi không thể hiểu được!
Cái nhìn của ông nha sĩ lướt từ tấm phim cũ đến tấm phim mới.
Chân răng hoàn toàn tốt, và nướu răng không bị nhiễm độc, cũng không sưng, tóm tắt là tất cả đều tốt.
Tôi hân hoan trong lòng. Thật tuyệt diệu khi thấy Chúa chữa lành cho tôi! Nhưng đó chưa phải là chiến thắng tốt đẹp nhất. Mối lo sợ phải mang bộ răng giả đã làm cho tôi hao mòn nay biến mất. Tôi hiểu rằng có răng tốt hay không, điều đó không thành vấn đề, điều thiết yếu là sự giao thông trọn vẹn với Chúa và niềm tin vào sự chăm sóc của Chúa trên từng mọi chi tiết của cuộc đời tôi với tất cả tình yêu của Ngài.
Một bà ở New Hampshire vừa viết thơ cho tôi. Bà sống với cậu con trai còn niên thiếu. Bà bị tê liệt phải nằm trên giường đau đớn nhiều sau hai lần giải phẫu.
Bà ấy viết: “Ngợi khen Chúa vì lòng trung tín của Ngài. Tôi tuyệt vọng sau lần giải phẫu thứ hai, khi tôi nhận được quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi”, tôi nhất quyết ca ngợi Chúa về căn bịnh của tôi và luôn hướng nhìn lên Chúa Jesus. Từ đó dù cơn đau nhức vẫn không giảm xuống nhưng tôi vẫn tìm hiểu Chúa một cách thỏa lòng. Vài bạn hữu tôi đã nói rằng Chúa để tôi đau khổ để trừng phạt tôi. Nhưng tôi biết rằng điều đó không đúng sự thật. Chúa Jesus không bao giờ hạch tội tôi, ngược lại Ngài luôn luôn bộc lộ tình thương trong những tháng gần đây. Ngài dùng lời của Ngài vạch rõ cho tôi thấy những điều cần phải biến mất trong cuộc sống của tôi, trong con người của tôi: những tư tưởng hoặc tình cảm không xuất phát từ Chúa Jesus.
Trong tình yêu tuyệt diệu của Ngài, Chúa đã tha thứ cho tôi và chữa lành mọi vết tích đau thương trong tâm hồn tôi.
Tôi học hỏi việc cảm tạ Chúa trong khi gặp khó khăn, kể cả khi đau khổ. Tôi yêu mến Chúa Jesus hết lòng. Tôi không biết Chúa dẫn dắt tôi thế nào, nhưng tôi sung sướng tìm niềm vui trong bệnh tật, và đi theo con đường đó vì Chúa, và như thế tôi ca ngợi Chúa hết lòng.
Có thể tôi phải trở lại bệnh viện để giải phẫu lần thứ ba. Tôi cảm tạ Chúa vì tôi xác tín rằng điều đó sẽ đem ích cho tôi. Tôi biết Chúa có thể cho tôi khỏi bệnh, và tôi cảm tạ Ngài đã lựa chọn cho tôi trong tình thương của Ngài”
Bức thư tràn đầy niềm vui và lòng biết ơn! Cho dù thân thể còn đang bị cơn đau dày vò, nhưng bà ấy đã kiểm nghiệm rằng đời sống tình cảm, đời sống nội tâm của bà đã được đổi mới. Bà đã đi vào trong sự hiệp thông tuyệt vời với Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus. Tất cả mọi điều khác, kể cả sự lành bệnh điều trở nên phụ thuộc.
Sống liên hiệp với Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus là cứu cánh mà sứ đồ Phaolô nhắm đến. Chúa Jesus biết rằng mục đích của Ngài khi thành nhục thể là để phá vỡ bức tường tội lỗi gây ra, để Đấng Cứu Thế có thể tái hợp với loài thọ tạo như ý Ngài đã định từ thời nguyên thủy.
Trước khi chết trên thập tự giá, Chúa Jesus đã cầu xin cho chúng ta “Ấy chẳng phải vì họ mà con cầøu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ đã nghe lời họ mà tin đến con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha trong Con và Con ở trong Cha, lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, để thế gian tin rằng chính Cha đã sai con đến. Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho con, để cho họ hoàn toàn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai con đến và Cha đã yêu thương họ cũng như cha đã yêu thương con. Cha ơi. Con muốn con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu con trước khi sáng thế. Hỡi Cha công bình, thế gian chẳng từng nhận biết Cha, song Con nhận biết Cha, và những kẻ này nhận rằng chính Cha đã sai con đến. Con đã tỏ danh Cha ra cho họ. Con sẽ lại tỏ ra nữa, để cho tình yêu thương của Cha dùng để yêu thương Con ở trong họ, và chính mình con cũng ở trong họ nữa. (GiGa 17:20-26).
Chúa Jesus đã cầu nguyện như thế và chúng ta cũng sẽ tin chắc rằng chúng ta sẽ ở cùng Chúa Jesus tại thiên đàng. Chúa ở cùng chúng ta, trong Ngài chúng ta trở nên một với Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa sâu xa của sự kiện đã hoàn tất thì mọi việc sẽ được đặt đúng vị trí của nó trong cuộc sống chúng ta.
Cho đến bây giờ những hoàn cảnh bên ngoài đã lấn áp sự hiệp một của chúng ta với Chúa Jesus và đã làm cho chúng ta lưu tâm rất nhiều đến chúng. Từ nay chúng ta hiểu rằng những hoàn cảnh đó được hoàn toàn sắp xếp theo kế hoạch của Đức Chúa Trời. Đấng dẫn dắt cuộc đời chúng ta.
Cho dù chúng ta chưa hiểu dự định đó, chúng ta phải hiểu biết rằng Chúa Jesus là Chúa và là Thầy, và chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời có dự án và dự án đó luôn luôn tốt đẹp
Từ khi xuất bản quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi”, tôi nhận được nhiều thư từ cá nhân từ các trại giam gởi đến, một tù nhân viết :
Tôi bị kết án tử hình, tôi biết rằng tôi phải chết. Từ lâu tôi không có một hy vọng nào cho cuôïc sống đời sau. Sự sợ sệt đã chế ngự trong mọi tư tưởng của tôi và tôi cảm thấy bị Chúa và loài người ruồng bỏ. Khi đọc quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi:, thì tâm trí tôi hình như bừng sáng lên. Tôi tin sự hiện hữu của Chúa là có thật và Ngài đang hoạt động trong cuộc sống để đưa ta đến sự tiếp nhận con Ngài làm vị cứu tinh của mình.
Tôi duyệt lại quá khứ nghèo nàn của tôi và nhận thấy rằng không có gì xảy ra ngoài ý thánh của Chúa cả. Phải có tất cả những biến cố đó để tôi bắt đầu tìm kiếm Ngài. Tôi đã làm điều đó và trong chớp nhoáng tôi hiểu rằng Chúa cho phép để làm cho mọi việc quy về lợi ích cho tôi và làm sáng danh Ngài. Bây giờ có thể nói là tôi hoàn toàn tự do, tràn đầy bình an và niềm vui của Ngài.
Một tội nhân khác viết :
“Tôi đã ghét mọi sự và mọi người. Mặc dù cố gắng nhiều, tôi vẫn không thể tìm thấy một lý do nào để vui sống. Rồi tôi nhận được quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi”, sau khi đọc qua một lần tôi cảm thấy cuốn sách ấy phi lý.
Nhưng càng suy nghĩ, tôi càng muốn bắt đầu cảm tạ Chúa về cuộc sống hư đốn của tôi. Suy cho cùng tôi đã ở dưới đáy vực thẳm, tôi đã mất mát gì ? Từ những gì xảy ra trong đời tôi diễn lại trong tâm trí, tôi bắt đầu duyệt lại các sự kiện đó. Tất cả đều nằm trong chương trình của Chúa.
Đối với tôi, hành động có vẻ điên rồ, nhưng tôi cố gắng đi đến cùng. Từ đó có một cái gì đang xảy ra trong tôi. Tôi tin chắc rằng Chúa chăm sóc cách riêng về sự thất bại của tôi. Chúa đã quan tâm đến tôi. Nhiều điều xảy ra trong dĩ vãng đã vạch ra một con đường trong ký ức tôi. Trước đó, những sự kiện đó có vẻ thảm khốc, bây giờ tôi hiểu rằng Chúa để tất cả mọi việc đó xảy ra để lôi cuốn tôi về với Ngài và cho tôi thấy rằng tôi cần đến Ngài.
Tôi ca ngợi Chúa trong mỗi chi tiết cuộc đời. Tôi cảm Ngài thế cho những người đã ghét tôi, đối xử tệ bạc đối với tôi, nói xấu và phản bội tôi.
Tôi cảm thấy tràn đầy bình an, Chúa đã cho tôi quên mọi kỷ niệm đau thương. Tôi không còn thấy những bức tường của nhà tù đang bao vây tôi nữa. Thay vào đó, sự bình an của Chúa đã chế ngự tôi. Những bức tường những song sắt không còn làm cho tôi nghĩ rằng tôi là một tù nhân. Tôi được tự do trong Chúa, Vinh danh Chúa !
Tôi vừa nhận được một bức thư khác của một tù nhân ở Sở công an miền tây nước Mỹ.
“Ngợi khen Chúa ! sự tham gia vào nhóm kinh thánh buổi chiều ở phòng nhóm chúng tôi không ngừng gia tăng. Tuần qua 03 người đã tiếp nhận Chúa Jesus làm cứu Chúa của họ. Hãy tưởng tượng xem điều đó sẽ như thế nào nếu mỗi tuần bên trong các bức tường có ba linh hồn trở về với Chúa Jesus ? (Lá thư thứ hai báo cho tôi biết trong tháng kế tiếp có 12 người đã hoán cải và bốn người trong nhóm đã nhận Báptem trong Thánh Linh). Chúng tôi đáng giá cao những lời cầu nguyện của anh em ở Jort Benning. Hơn bao giờ hết, Chúa đã bày tỏ sự hiện diện của Ngài nơi lao xá của chúng tôi ... Chúa đã nhận lời cầu xin của chúng tôi, và một ngày kia chúng tôi sẽ thấy một số lớn tù nhân trở về với Chúa Jesus . Quyển “Từ ngục tù đến ca ngợi” quả là một hồng phúc. Chúng tôi rất vui mừng khi nghĩ đến việc chúng tôi sẽ dùng đến máy ghi âm để có thể ở bên trong bốn bức tường theo dõi và vận dụng những lời giảng dạy của anh em tín hữu ở bên ngoài.
Chúa thật vĩ đại! Đã tám năm qua, tôi bước qua cửa của nơi này với bản án tù từ 10 đến 80 năm về tội cướp bóc có vũ khí. Tôi đã cố gắng thử mọi chương trình cải huấn, nhưng khi người ta thả tự do tạm cho tôi, tôi say rượu liên miên trong 3 tháng 25 ngày cho đến khi người ta bắt tôi vào tù lại. Tôi đã cố gắng để thay đổi, nhưng không kết quả.
Sau đó, từ sáu tháng nay, trong chớp mắt, Chúa Jesus đã biến đổi tôi như lời Kinh Thánh: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người được dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới!” (IICo 2Cr 5:17).
Từ khi Chúa Jesus đã thanh tẩy đời sống tôi. Ngài đã chiếu sáng những hẽm hốc tối tăm đầy mạng nhện. Ngợi khen Chúa! Không ai có thể đề nghị một chương trình cải huấn nào bằng Chúa Jesus. không ai có thể thay đổi được lòng người, chỉ Chúa Jesus mới làm được điều ấy mà thôi.
Tôn vinh Jesus tuyệt vời! Ngài đã đổ trên tôi tình yêu nồng ấm của Ngài. Ngày nầy qua ngày nọ, niềm vui sống của tôi với Chúa càng đậm.
Cảm tạ Chúa đã đến gặp chúng con trong lời cầu nguyện, để gia tăng sự tỉnh thức giữa những tù nhân, và để cũng cố đức tin ở những người đã tiếp nhận Ngài ...
Người anh em đó đã sống và ca ngợi Chúa trong những hoàn cảnh đen tối và khó khăn cũng như hoàn cảnh nhiều nguời trong chúng ta. Tuy thế, đối với người ấy có một sự biến đổi hoàn toàn. Người ấy cảm nghiệm được niềm vui sống nơi Chúa và mọi điều khác đều trở nên phụ thuộc trong cuộc sống. Ông ấy đã tập sống vui vẻ, cầu nguyện không ngừng và cảm tạ Chúa trong mọi việc. Bởi chính điều đó là điều Chúa muốn cho những ai thuộc về Chúa (ITe1Tx 5:16-18).
Hãy xem John Wesley đã bắt đầu viết thư như thế nào? “Hãy luôn luôn vui vẻ, một tình trạng hạnh phúc liên tục trong Đức Chúa Trời. Hãy cầu nguyện không thôi, đó là thành quả của hai hành động trên, đó là sự toàn thiện của Cơ đố nhân. Chúng ta không thể nhắm xa hơn và chúng ta cũng không thể mãn nguyện trong những gì kém hơn điều đó. Chúa đã đặt niềm vui ấy cũng như đã mang sự cứu chuộc. Chúng ta sung sướng trong tình thương của Chúa vì đã được cứu chuộc. Lời tạ ơn không thể tách rời lời cầu nguyện đích thực, nó được gắn liền một cách chặt chẽ. Một người cầu nguyện liên tục, cho dù sống trong hạnh phúc hay đau khổ vẫn cứ ca ngợi Chúa không ngớt. Người ấy chúc tụng Chúa trong mọi sự, lúc thịnh vượng cũng như khi khốn khổ, vì người ấy xem việc đó như đến từ bàn tay của Chúa và đón nhận vì danh Ngài; người ấy không lựa chọn, không khước từ, không ưa chuộng, cũng không loại bỏ, tiêu chuẩn duy nhất là phù hợp với thánh ý của Chúa”.
Vui sống mãi trong Chúa, nhìn mọi hoàn cảnh từ nơi Ngài đến và cảm tạ đó là sự toàn thiện của một Cơ đốc nhân.
Không có gì là ngẫu nhiên trong chương trình của Chúa đối với cuộc sống chúng ta. Không có gì, hoàn toàn không có gì, kể cả những gì lạ thường, phi lý hay xấu xa có thể xảy ra, không có gì xảy ra ngoài sự ưng thuận của Đức Chúa Trời.
Một bà đã thuật cho tôi một câu chuyện lạ lùng tiêu biểu cho chân lý ấy.
Bà chỉ có một bàn tay khi sinh ra. khi bà bắt đầu hiểu bà khác trẻ em khác, bà luôn luôn choàng một chiếc khăn quàng cánh tay cụt để che dấu tật nguyền. Bà luôn luôn ý thức một cách đau đớn điều đó, và khi là thiếu nữ, bà hay uống rượu để quên đi sự đau khổ ấy.
Bà đã 56 tuổi khi viết thư cho tôi:
“Cách đây sáu tháng khi tôi đi thăm chị tôi, tôi được nghe một cuộn băng nói về sự ngợi khen Chúa trong mọi vấn đề hay mọi rủi ro của cuộc đời. Trong khi nghe ông tôi cảm tưởng như bị một trận đòn. Tôi ngã bệnh. Sau khi trong nhiều năm đã trách Chúa để cho tôi đau khổ, tôi không thể ca ngợi Chúa bây giờ. Lạy Chúa, con cám ơn Chúa đã giải thoát con khỏi những cơn nghiện rượu, nhưng con không thể cám ơn Chúa về điều con đau khổ.
Tuy thế, mặc dù tôi cố gắng, tôi cũng không thể xua đuổi khỏi tâm trí tôi sự cảm tạ Chúa. Nó theo dõi tôi đêm ngày. Cuối cùng tôi thét lên “Lạy Chúa, sao Chúa không để con an tâm? con đã làm hết sức cho Chúa, nhưng điều đó thì không thể được!” Nhưng không làm sao tôi tìm được sự bình an. Để chấm dứt, tôi nghe cuộn băng lại một lần nữa và lần này tôi ghi lại những điều mà tôi chưa chú ý đến: Ông đã nói là anh lính trẻ và cô vợ đã thú thất rằng không thể cám ơn Chúa về tấm thảm kịch đang đe dọa họ, nhưng sau cùng thử ngợi khen Chúa. mọi sự dường như trở nên dễ dàng. Lúc đó tôi gần như đồng ý để thử được an tâm. Tôi nói với Chúa rằng tôi cũng đồng ý để thử trong khi đó tôi cũng chắc rằng tôi không làm được. khi tôi nói lên lời ấy thì dường như gánh nặng tôi mang trên vai từ bao nhiêu năm bỗng rơi xuống. Tôi bắt đầu ngợi khen Chúa, nước mắt chảy dài, như trong Thi thiên có câu “Niềm vui thiên quốc tràn ngập tâm hồn tôi” Tôi hân hoan trong khi đó Chúa lại nói với tôi: “Hãy chờ đợi, ta chưa xong chuyện với con đâu”. Tôi sững người. Chúa còn đòi hỏi tôi điều gì nữa? Tôi vừa mới làm một việc hy sinh tột bực, tôi vừa cảm tạ Chúa về tật nguyền mà suốt cả đời tôi chán ghét ! nhưng tôi nghe một cách rõ ràng trong lòng tôi giờ này:
Bây giờ con đừng choàng khăn quanh cánh tay con nữa.
Trong một giây tôi cảm thấy chết điếng trong người.
Không, lạy Chúa, điều ấy quả sức con, đừng bắt con làm điều đó.
Cho đến khi nào con còn giấu tay con, con chưa thực sự biết ơn. Con cản thấy xấy hổ.
Lời oán trách đó làm tôi ứa lệ, nhưng phải công nhận điều đó đúng sự thật.
Con muốn thử, nhưng chính Chúa sẽ giúp con làm được điều đó.
Cơ hội đầu tiên đến khi tôi dự một cuộc họp. Tôi mặc quần áo, và một cách tự động, tôi định lấy chiếc khăn quàng. Tức khắc tôi nghe lời nhắc nhở” “Không! không, chớ lấy cái đó:
Lạy Chúa, con đồng ý, con muốn ra đi mà không có chiếc khăn, nhưng con không hứa là không trở về tìm nó.
Lần đầu tiên trong đời, tôi rời nhà mà không có chiếc khăn che đậy cánh tay cụt. Khi vừa đóng cửa nhà, mọi xấu hổ, mọi lúng túng hay mặc cảm biến mất. Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nghiệm thế nào là tự do đích thực. Tôi hiểu rằng Chúa yêu mến tôi với con nguời của tôi”.
Chúa đã đặt để mọi hoàn cảnh trong cuộc sống với ý định để chúng ta tham gia vào sự thực hiện chương trình đầy tình thương của Ngài đối với chúng ta. Chúa đã để bà ấy sinh ra có một bàn tay vì Chúa thương bà. Chúa đã để cho Satan giày vò Gióp bởi vì Chúa thương ông. Chúa đã để Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá vì thương con Ngài và chúng ta. Đức Chúa Trời đã để cho quyền lực sự dữ có vẻ chiến thắng bề ngoài, theo cái nhìn của chúng ta, nhưng thật sự kế hoạch hoàn hảo của Chúa hoàn tất ngay trong điều ấy để Cứu chuộc thế gian.
Không ai biết rõ điều ấy hơn Chúa Jesus. Vài bạn đọc đã viết cho tôi nói rằng Chúa Jesus trên thập tự giá đã than: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi”. Nghĩ rằng Chúa Jesus đang than vãn là nguợc lại với những gì Ngài đã loan báo về sự chết của Ngài: không ai có thể thấu hiểu mọi chương trình cứu chuộc thế gian bằng chính Chúa Jesus. Ngài thường đề cập với các môn đồ về sự chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã dẫn chứng các đoạn Thi thiên, trích dẫn các lời tiên tri dự đoán về sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá, và khích lệ môn đồ về những gì sẽ xảy đến.
“Các ngươi từng nghe ta nói rằng: ta đi và trở lại cùng các ngươi. Nếu các ngươi yêu mến ta, thì sẽ vui mừng vì điều ta đi đến cùng Cha, bởi vì Cha tôn trọng hơn ta” (GiGa 1428).
Ngài cũng đã nói rằng không ai có thể cướp lấy mạng sống của Ngài nếu Ngài không đồng ý.
“Nầy, tại sao Cha yêu ta; ấy vì ta phó sự sống mình để được lấy lại. Chẳng ai cất sự sống ta đi, nhưng ta tự phó cho: ta có quyền phó sự sống và có quyền lấy lại: ta đã lãnh mạng lệnh này nơi Cha ta” (10:17-18).
Các môn đồ biết trọn vẹn chân lý ấy, nhưng khi bắt đầu lại gặp trở ngại họ phản ứng lại sự chiến thắng bên ngoài của sự dữ, họ xông xáo che chở Chúa Jesus khi quân lính đến bắt Ngài.
Chúa Jesus đã ngăn cản họ : “Hãy nạp gươm vào vỏ, vì hễ nếu ai cầm gươm thì sẽ chết vì gươm. Ngươi tưởng ta không thể xin cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao? Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc này tất phải xảy đến?” (Mat Mt 26:52-54).
Chúa Jesus biết rằng lời Đức Chúa Trời phải được ứng nghiệm. Không một hoàn cảnh nào,một hành động nào của chúng ta có thể cản trở lời Chúa trở thành sự thật. Chính Chúa Jesus cũng đã tuân phục lời Đức Chúa Trời, cho dù chính Ngài là một ngôi lời nhập thể.
Dân Do Thái tập họp xung quanh thập tự giá thừa hiểu những đoạn Cựu Uớc loan báo Đấng cứu thế sẽ bị đóng đinh vì tội lỗi của họ. Khi Chúa Jesus thốt lên : “Đức Chúa Trời trời tôi ơi, Đức Chúa Trời trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi” Ngài đã dùng lời dẫn đầu trong Thi Tv 22:1-31, một bài ca ngợi và chiến thắng để nói về sự đóng đinh và sự trị vì của Đấng Cứu Thế.
Cơn hấp hối của Chúa Jesus trên thập tự giá là thật, những cây đinh đâm thấu bàn tay Ngài, làm Ngài cũng đau đớn như chúng ta nếu chúng ta ở địa vị Ngài. Nhưng Chúa Jesus biết rằng sự đau đớn ấy không phải là sự chiến thắng của Satan và quyền lực của sự dữ ở trên Ngài, nhưng sự đau đớn ấy nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời. Chúa Jesus ca ngợi Đức Chúa Trời vì qua cực hình ấy, Ngài đem lại sự chiến thắng cuối cùng trên sự dữ đến thế gian.
Chúa Jesus đã kêu: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi ...” và Thi thiện tiếp tục:
Nhơn sau Ngài đứng xa không giúp đỡ tôi và chẳng nghe lời rên xiết tôi? ...
Còn Chúa là thánh Ngài là Đấng ngự giữa sự ngợi khen của Ysơraên, tổ phụ chúng tôi nhờ cậy nơi Chúa,
Họ nhờ cậy, Chúa bèn giải cứu cho ...
Họ kêu cầu cùng Chúa, và được giải cứu;
Họ nhờ cậy nơi Chúa, không bị hổ thẹn.
Nhưng tôi là một con trùn chớ chẳng phải người đâu,
Là điều ô nhục của loài người, và vật khinh dễ của dân sự,
Hễ kẻ nào thấy tôi đều nhạo cười tôi, trề môi, lắc đầu mà rằng:
Người phó thác mình cho Đức Giêhôva, Ngài khá giải cứu người vì Ngài yêu người!...
Có nhiều bò đực bao quanh tôi, những bò đực hùng mạnh của Satan vây phủ tôi, chúng nó há miệng ra cùng tôi, khác nào sư tử hay cắn xé và gầm thét.
Tôi bị đổ ra như nước các xương cốt tôi đều rời rã, trái tim tôi như sáp, tan ra trong mình tôi, sức lực tôi khô như miếng gốm, và lưỡi tôi dính nơi ổ gà; Chúa đã để tôi nằm trong bụi tro sự chết.
Vì những chó bao quanh tôi, một lũ hung ác bao phủ tôi, chúng nó đâm lủng tay và chân tôi ...
Chúng nó chia nhau áo sống tôi, bắt thăm về áo dài tôi ...
Tôi sẽ rao truyền danh Chúa cho anh em tôi, và ngợi khen Chúa giữa hội chúng.
Hỡi các ngươi kính sợ Đức Giêhôva, hãy ngợi khen Ngài;
Ô hết thảy dòng dõi Ysơraên, hãy kính sợ Ngài, vì Ngài không khinh bỉ chẳng gớm ghiếc sự hoạn nạn của kẻ khốn khổ, cũng không dấu mặt Ngài cùng người;
Nhưng khi người yêu cầu cùng Ngài, thì bèn nhậm lời.
Sự ngợi khen của tôi tại giữa hội lớn do Chúa mà ra; tôi trả xong sự hứa nguyện tôi trước mặt kẻ kính sợ Chúa.
Kẻ hiền từ sẽ ăn và được no nê; những ngừơi tìm Đức Giêhôva sẽ ngợi khen Ngài.
Nguyện lòng các ngươi được sống đời đời.
Bốn phương thế gian sẽ nhớ và trở lại cùng Đức Giêhôva: các họ hàng muôn dân sẽ thờ lạy trước mặt Ngài. vì nước thuộc về Ngài, Ngài cai trị trên muôn dân.
Một dòng dõi sẽ hầu việc Ngài người ta sẽ kể dòng dõi ấy là dòng dõi của Chúa. Dòng dõi ấy sẽ đến rao ra sự công bình của Ngài thuật cho dân tộc sẽ sanh ra rằng Đức Giêhôva đã làm việc ấy (Thi Tv 22:1-31).
Một trong những bản dịch mới nhất Kinh Thánh, bản Ampli ied Bible, đã thêm vào hàng cuối thi thiên này chữ “đã hoàn tất”, lời nói cuối cùng của Chúa Jesus trước khi trút linh hồn trên thập tự giá. (GiGa 19:30).
Nhiều lần Chúa Jesus đã nhắc đến Tiên tri Êsai, người đã tiên đoán một cách chính xác về cuộc sống, cái chết cũng như sự ngự trị vì của Ngài: nhưng Ngài đã vì tội lỗi của chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác của chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa phạt Ngài chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi Ngài chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc ai theo đường nấy. Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị bắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng. Bởi sự ức hiếp và xử đoán, nên sự sống ngươi đã bị cất, trong những kẻ đồng thời với người có ai suy xét rằng người đã bị dứt khỏi đất kẻ sống, vì là cớ tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt? Người ta đã đặt mồ người với những kẻ ác, nhưng khi ngươi chết, người được chôn với kẻ giàu, dầu người chẳng hề làm điều hung dữ và chẳng có sự dối trá trong miệng (EsIs 53:5-9).
Đức Giêhôva lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau khổ. Sau khi đã dâng mạng sống người làm của lễ chuộc tội, người sẽ thấy dòng dõi mình, những ngày người sẽ thêm dài ra, và ý chỉ Đức Giêhôva nhờ tay người được thịnh vượng. Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn. Tôi tớ công bình của ta sẽ lấy sự thông biết về mình làm cho nhiều người được xưng công bình, và người sẽ gánh lấy tội lỗi họ. Vậy nên, ta sẽ chia phần của người đồng với người lớn. Người sẽ chia của bắt với những kẻ mạnh vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết, đã bị kể vào hạng kẻ dữ, đã mang lấy tội lỗi của nhiều người và cầu thay cho những kẻ bị phạm tội” (EsIs 53:10-12).
Chúa Jesus biết rằng cái chết của Ngài không đi ngược lại với chương trình của Đức Chúa Trời, nhưng trái lại. Ngài hoàn tất chương trình ấy. Môn đồ không hiểu điều đó. Đối với họ sự đóng đinh ấy kết thúc những ước mơ và hy vọng của họ. Họ đã quên lời Chúa Jesus “Chẳng khác gì với các ngươi đang ở trong cơn đau đớn, nhưng ta sẽ thấy các ngươi, thì lòng các ngươi vui mừng, và chẳng ai cướp lấy sự vui mừng của các ngươi được” (GiGa 16:22).
Họ không chờ đợi gặp lại Chúa và khi được tin Chúa không còn ở trong phần mộ, họ nghĩ ngay là người ta cắp xác của Ngài.
Cùng ngày ấy, hai môn đồ từ Giêrusalem về Emmaus, họ bàn chuyện về cái chết của Chúa Jesus, khi Chúa Jesus đột ngột hiện diện với họ, nhưng họ không nhận biết Ngài.
Ngài thấy họ lo lắng nên hỏi: “Các ngươi đương đi đường nói chuyện gì cùng nhau vậy?”
“Có phải ông là khách lạ ở Giêrusalem sao mà không hay việc gì xảy đến tại đó các mấy bữa nay sao?”, một trong hai người tên Cơlêôba trả lời. Và Chúa Jesus đã nghe họ thuật lại câu chuyện của Jesus Naxarét tuyệt diệu đã làm nhiều phép lạ mà họ tưởng rằng đã tìm thấy nơi người Đấng Cứu Thế mà Ysơraên trông đợi, nhưng bây giờ những người lãnh đạo tôn giáo đã nộp người vào tay người La mã và người ta đã đóng đinh người. Hai người vừa thuật lại như vừa chứng kiến bi kịch của thời đại. Và điều lạ hơn nữa là xác của ông Jesus đã sống lại. Còn về phía các môn đồ, họ tin chắc rằng tin tức cuối cùng là một câu chuyện thần thoại.
Chúa Jesus trả lời: “Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy mới vào được sự vinh hiển mình sao? Đoạn Ngài bắt đầu từ Môise kế đến mọi Đấng tiên tri cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh” (LuLc 24:25-27)
“Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh chúc tạ, đoạn bẻ ra cho họ. Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài, nhưng Ngài thoạt biến đi không thấy” (LuLc 24:30-31).
Sau cùng họ tin! từ lâu họ dừng lại ở những gì bên ngoài và không đủ khả năng để thấu hiểu diễn tiến của chương trình tuyệt hảo của Đức Chúa Trời.
Môn đồ thấy Thầy của họ bị đóng đinh, một sự chiến thắng bề ngoài của sự ác trên sự thiện, và họ kết luận Chúa đã ruồng bỏ họ trong khi đó nếu họ tin ở lời Chúa do các tiên tri loan báo thì những biến cố đó đã chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời ở giữa họ đang hoàn tất chương trình của Ngài.
Chúng ta cũng vậy, giống các môn đồ, khi thử thách và đau khổ xảy đến, phản ứng đầu tiên của chúng ta là: “Lạy Chúa, sao nở bỏ con”
Ngưng Chúa Jesus đã nói: “Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình an trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng , ta đã thắng thế gian rồi” (GiGa 16:33).
Nếu chúng ta thật lòng tin vào lời Chúa Jesus những điều xảy đến cho chúng ta đều chứng minh rằng Chúa ở cùng chúng ta, và chúng ta sẽ ca ngợi và cảm tạ Ngài, thay vì than vãn và giận dỗi.
Chúng ta lắc đầu khi đánh giá tình trạng của thế giới hôm nay và chúng ta nghĩ rằng: “Tất cả đều chứng tỏ rằng Chúa không làm điều gì lớn lao, Ngài đã buông xuôi tất cả”
Nhưng Chúa Jesus đã nói rằng chúng ta phải biết là có chiến tranh, động đất, đói kém những vụ nổi dậy phản loạn, dịch lệ, ô nhiễm ... và có thể lập một danh sách dài ... đó là hình ảnh chính xác về thế giới chúng ta với sự hứa hẹn là tình trạng này có thể tệ hơn nữa.
Nhưng Ngài tiếp tục: “Chừng nào các việc đó khởi xảy đến, hãy đứng thẳng lên, ngước đầu vì sự giãi cứu của các ngươi gần tới” (LuLc 21:28) Chúa Jesus đã mời gọi các môn đồ hân hoan về cái chết của Ngài. nếu họ đã tin lời Ngài, họ đã nếm được sự vui mừng, thay vì đau buồn. Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy lạc quan trong thử thách.
Phierơ viết: “Dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, lấy sự vui vẻ không thể nói được và đầy vinh hiển và mừng rỡ cả thể (IPhi 1Pr 1:8)
Bạn sẽ tin vào ai? Bạn sẽ sống buồn bã suốt cuộc đời như hai môn đo àEmmaus, lo âu và để hoàn cảnh bên ngoài đè nặng trên bạn, xác tín rằng Chúa rất xa bạn sao? Hay bạn sẽ mở mắt nhìn và tạ ơn.
Hãy đón nhận bánh, lời Chúa sự sống, sự bình an, niềm vui mà Chúa ban tặng. Hãy nhìn nhận rằng Chúa Jesus ở gần bạn và Chúa dùng mọi biến cố trong cuộc đời để đáp ứng nhu cầu của bạn.
Những gì bạn cho rằng Đức Chúa Trời bỏ rơi, thì trong thực tế đó là phương tiện mà trong tình thương của Ngài, Ngài đã dùng để lôi kéo bạn đến với Ngài, và đề cho niềm vui của bạn được nên trọn vẹn.
Hãy mở mắt nhìn và ca ngợi Chúa, Chúa yêu thương bạn và Chúa ngự trong lời ca ngợi của dân Ngài.
“Tôi sẽ chúc tụng Đức Giêhôva luôn luôn,
Sự ngợi khen Ngài hằng nơi miệng tôi.
Linh hồn tôi sẽ khoe mình về Đức giehôva,
Những người hiền từ sẽ nghe và vui mừng.
Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giêhôva,
Chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh của Ngài.
Tôi đã tìm cầu Đức Giêhôva, Ngài đáp lại tôi,
Giải cứu tôi khỏi các điều sợ hãi.
Chúng ngữa trông Đức Giêhôva thì được chói sáng,
Mặt họ chẳng hề bị hổ thẹn
Kẻ khốn cùng này có kêu cầu, Đức Giêhôva nhận lời.
Giải cứu người khỏi các điều gian truân.
Thiên sứ Đức Giêhôva đóng trại chung quanh những kẻ kính sợ Ngài, và giải cứu họ.
Khá nếm thử xem Đức Giêhôva tốt lành dường bao?
Phước cho người nào nương náu mình nơi Ngài!
Hỡi các Thánh của Đức Giêhôva, hãy kính sợ Ngài
Vì kẻ nào kính sợ Ngài chẳng thiếu thốn gì hết.
Thi Tv 34:1-9


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:45 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách