nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 4124|Trả lời: 0

Sách Đa-ni-ên Và Sách Khải Huyền

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 24-7-2011 19:57:16 | Xem tất |Chế độ đọc

Sách Đa-ni-ên Và Sách Khải Huyền
Tác giả: David D. Duncan

Giới Thiệu Khóa Trình
ĐƠN VỊ MỘT :
TRỌNG TÂM CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
1. Khái Lược Về sách Đaniên
2. Viễn Cảnh của Người Cai Trị Thế Giới Hầu Đến
3. Viễn Cảnh của Những Thời Kỳ Khó Khăn Hầu Đến
ĐƠN VỊ HAI :
KHỞI ĐẦU CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
4. Tìm Hiểu Sách Khải Thị
5. Những Gì Giăng Trông Thấy
6. Các Thơ Gởi Cho Eâphêsô, Simiệcnơ và Bẹtgăm
7. Các Thơ Gởi cho Thiatirơ, Sạtđe, Philadenphia và Laođixê
ĐƠN VỊ BA :
DIỄN TIẾN CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
8. Hội Thánh và Cơn Đại Nạn
9. Bắt đầu của Tuần Lễ Thứ Bảy Mươi
10. Những Biến Cố giữa Cơn Đại Nạn
11. Tiến Trình Hé Mở Bức Tranh Tiên Tri
ĐƠN VỊ BỐN :
KẾT THÚC CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
12. Con Rồng Và Những Công Cụ của Nó
13. Những Biến Cố Cuối Cùng Của cơn Đại Nạn
14. Sự Cai Trị 1000 năm của Christ và về sau
Chú giải từ ngữ.


Giới Thiệu Khoá Trình
Lời Tiên Tri Của Kinh Thánh
Điều gì đang xảy ra trong thế giới chúng ta? Chúng ta đứng trước điều gì? Chương trình của Đức Chúa Trời cho thế giới nầy, cho loài người, cho kẻ thù chúng ta là Ma quỷ, cho những thánh đồ và những người không tin là gì? Tất cả đang diễn tiến đến cuối cùng như thế nào? Một trong những chủ đề của Lời Đức Chúa Trời, lời tiên tri, trả lời cho những câu hỏi nầy. Lời tiên tri được định nghĩa là “lịch sử được viết trước”. Dĩ nhiêââán, chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể viết chính xác về lịch sử trước thời gian. Đaniên và Khải Thị là hai sách tiên tri nổi bật trong Kinh Thánh. Qua một loạt những sự hiện thấy, sách Đaniên trình bày bí mật của kế hoạch của Đức Chúa Trời thời gian biểu của Đức Chúa Trời cho những quốc gia trên thế giới, đặc biệt cho dân Ysơraên. Sách Khải Thị phác họa cực điểm của chương trình của Đức Chúa Trời cho toàn thể tạo vật của Ngài. Nếu không có lời tiên tri của Kinh Thánh, đặc biệt là sự Mặc Khải Tiên Tri của Jesus Christ, chắc hẳn chúng ta chẳng biết thế giới nầy diễn ra như thế nào. Kinh Thánh sẽ là một câu chuyện không có kết thúc, một điều bí mật còn để chúng ta suy đoán. Hơn nữa nó cũng cướp đi một phần của hy vọng phước hạnh của chúng ta, vì chúng ta không thể biết những gì đang chờ đợi người trung tín. Trái lại, cùng với Phao lô chúng ta có thể thấy trước thời kỳ cuối cùng;
Điều mắt chưa thấy, táai chưa nghe, chưa có tâm trí nào ấp ủ (và lòng người chưa từng nghĩ đến) thì Đức Chúa Trời đã dự bị cho kẻ thương yêu Ngài. (ICo1Cr 2:9).
Chúng tôi cầu xin Chúa cho bạn khi nghiên cứu Đaniên và Khải Thị, bạn sẽ nhận được sự mặc khải tươi mới về sự vinh hiển, quyền năng và vương quốc Đức Chúa Trời, đặc biệt là con Ngài. Chúng tôi mong ước rằng sự học tập những cuốn sách nầy sẽ ban cho bạn sự nhận thức lớn hơn bao giờ hết về việc Đức Chúa Trời đang điều khiển trọn vẹn. Mong ước bạn cũng biết được rằng chương trình của Ngài sẽ được hoàn tất trong mọi loài thọ tạo của Ngài theo đúng thời điểm. Qua sự nghiên cứu với tinh thần cầu nguyện, chúng tôi hy vọng bạn sẽ nhận khảõi tượng tươi mới về Chúa Jesus là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn Chúa. Nguyện bạn sẽ tin chắc rằng: “Mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, đều nhơn danh Chúa mà quì xuống, và mọi lưỡi phải thừùa nhận Jesus Christ là Chúa, để quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời là Cha” (Phi Pl 2:10-11).
Mô Tả Loạt Bài Học
Đaniên và Khải Thị là loạt bài nghiên cứu lời tiên tri của Kinh thánh có liên quan đến những biến cố trong thời kỳ cuối cùng. Những đoạn Kinh Thánh khác trong Cựu Ước và Tân Ước cũng được trích dẫn để làm sáng tỏ, giúp bạn hiểu biết nhiều hơn về lới tiên tri của Kinh Thánh. Những tưạ đề của Đơn Vị chỉ ra những diễn tiến của những biến cố trong thời kỳ cuối cùng. Trong đơn vị cuối cùng của loạt bài, lời tiên tri của Kinh Thánh di chuyển vượt qua thời gian để đến cõi vĩnh hằng. Sự tái lâm của Đấng Christ là chủ đề trọng tâm của loạt bài. Bài học nầy còn có sự nhấn mạnh về đạo đức: dụng ý của bài học là giúp đỡ học viên sẵn sàng đón Chúa trở lại và động viên những người khác chuẩn bị đón Ngài hồi lai (IGi1Ga 3:3).
Những Mục Tiêu Của Bài Học
Học xong loạt bài nầy bạn có thể:
1. Nhận diện những biến cố, thời kỳ, tiến trình thời gian, và những nhân vật chính được nhắc đến trong những sách Khải Thị và Đaniên.
2. Mô tả những sứ điệp của Chúa Jesus cho bảy Hội Thánh và giải thích những sứ điệp ấy liên quan đến những Hội Thánh địc phương, những cá nhân, và toàn thể thời đại Hội Thánh như thế nào.
3. Mô tả bức tranh về Antichrist được mô tả trước ở sách Đaniên và so sánh sự giống nhau cùng sự khác nhau của bức tranh nầy với cách mô tả đặc biệt hơn về Antichrist trong sách Khải Thị.
4. Giải thích thế nào sự thống trị thế giới. Dân ngoại được nói trước trong Đaniên và thế nào điều nầy lên đến tột đỉnh trong thời kỳ Đại nạn và chiến trận Hạtmaghêđôn.
5. Mô tả sự hình phạt mà đức chúa Trời giáng trên những người không tin Chúa trong sách Khải Thị khi những tiếng kèn được thổi lên, và bảy tai nạn từ những bát thạnh nộ của Đức Chuá Trời được đổ xuống.
6. Mô tả Thiên Hy Niên và liệt kê những chi tiết của cuộc sống trên đất trong thời kỳ nầy.
7. So sánh và đưa ra sự tương phản của những gì sẽ xảy ra cho kẻ gian ác và người công bình trước và sau Thiên Hy Niên và nền tảng định đoạt cho số phận của mỗi người.
8. Mô tả trời mới, đất mới và cuộc sống trong thành Giêrusalem mới.
9. Đánh giá ý nghĩa của Hy vọng phước lạc trong đời sống của tín hữu và như vậy quyết định tự chuẩn bị đời sống mình và giúp những người khác sẵn sàng đón Chúa trở lại.
Sách Giáo Khoa.
Bạn sẽ xử dụng cuốn Đaniên và Khải Thị, Sách Tham Khảo Tự Học, vừa là sách giáo khoa và sách hướng dẫn cho loạt bài học nầy. Kinh Thánh (bản nhuận chánh Quốc Tế, NIV) và sách giáo khoa khác cần thiết. Hầu hết những câu Kinh Thánh trích dẫn đều từ bản nhuận chánh Quốc Tế (NIV). Chỗ nào dẫn chứng từ những bản dịch khác, chúng tôi sẽ ghi chú bên cạnh.
Thời gian Học
Thời gian học mỗi bài lệ thuộc vào kiến thức của bạn về đề tài và sức học cần thiết trong việc tự học. Thời gian bạn sử dụng còn lệ thuộc vào việc bạn theo sự hướng dẫn và phát triển những kỷ năng cần thiết cho việc tự học. Hãy lập thời gian biểu để bạn có đủ thì giờ đạt được mục tiêu do tác giả loạt bài đưa ra cũng như đạt được chỉ tiêu do bạn đề xuất.
Phương Pháp Học.
Nhớ đọc cẩn thận và nghiên cứu phần giới thiệu phương pháp học được đề cập trong túi dành cho học viên. Những điều đó sẽ giúp bạn biết những gì chương trình Hàm Thụ ICI mong đợi bạn khi học một bài, ôn để làm bài trắc nghiệm (bản đánh giá tiến trình học sau một Đơn Vị) và chuẩn bị bài kiểm tra cuối khóa gồm tất cả những bài học. Nếu bạn không học theo cách ICI giới thiệu, bạn có thể học theo cách nào thuận tiện nhấùt để đạt được hiệu quả về loạt bài.
Cách Nghiên cứu Loạt Bài
Nếu bạn tự học một mình loạt bài nầy, ngoại trừ bài kiểm tra cuối khóa, bạn có thể gởi bằng thơ đến văn phòng Viện Hàm Thụ. Mặc dù viện Hàm thụ có ý định dùng loạt bài nầy để bạn tự học, nhưng bạn vẫn có thể học chung trong một nhóm hay trong một lớp học. Nếu thế, hãy theo sự chỉ đạo của vị hướng dẫn viên hay trợ giáo.
Đề Cương Bài Học và Cách Học
Mỗi bài học gồm có:
1) Tựa đề, 2) Nhập đề, 3) Dàn ý, 4) Những mục tiêu của bài học, 5) Những hoạt động học tập, 6) Những chữ căn bản, 7) Triển khai bài học gồm có những câu hỏi nghiên cứu, 8) Bài tập trắc nghiệm và 9) Giải đáp những câu hỏi nghiên cứu.
Dàn ý và những mục tiêu của bài học sẽ giúp bạn tổng lược đề tài, tập trung chú ý vào những điểm chủ yếu khi bạn học và sẽ biết nội dung mình sẽ học.
Phần triển khai bài học trong loạt bài nầy sẽ làm cho bạn dễ dàng nghiên cứu tài liệu sách thông suốt. Cứ học từng phần một lúc sẽ giúp bạn dễ dàng sắp xếp thì giờ trong từng giai đoạn ngắn, thay vì chờ đợi cho đến khi có đủ thì giờ học cả bài một lượt. Những phần trình bày, bài tập và câu trả lời đều có dụng ý giúp bạn đạt được những mục đích của bài học.
Một số câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học có chừa khoảng trống để bạn trả lời, cũng có những câu trả lời cũng đòi hỏi bạn phải viết vào sổ tay nhớ ghi số câu hỏi và tựa đề bài học. Điều này sẽ giúp bạn ôn bài để làm bản đánh giá tiến trình học tập Đơn Vị I.
Đừng xem phần giải đáp trước khi bạn trả lời các câu hỏi. Nếu bạn tự trả lời, bạn sẽ nhớ kỹ những gì mình trả lời. Hãy kiểm tra câu trả lời của mình với phần giải đáp được đưa ra ở cuối bài học. Sau đó hãy sửa lại những câu bạn trả lời chưa đúng.
Những câu hỏi nghiên cứu nầy rất quan trọng, vì sẽ giúp bạn nhớ những ý tưởng chính được trình bày trong bài học. Đồng thời chúng sẽ giúp bạn phát triển và tăng cường kiến thức cùng sự phục vụ Chúa của bạn. Những hoạt động gợi ý cũng giúp bạn xử dụng kiến thức mình vào thực tế.
Túi Dành Cho Học Viên
Kèm với cuốn sách tự học nầy, bạn cũng nhận được tập sách mỏng dành cho học viên gồm có phần hướng dẫn làm bản đánh giá tiến trình học tập, và phiếu trả lời, cùng những mẫu quan trọng khác. Xử dụng phần kiểm tra ở ngoài bìa để xem phần nào mình đã gởi đến cho vị trợ giáo và đã gởi khi nào.
Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Và Bài Kiểm Tra Cuối Khóa
Dù điểm của những câu hỏi nghiên cứu, phần bài tập trắc nghiệm, và những bảng đánh giá tiến trình học đơn vị không được kể vào điểm của bài học để cấp chứng chỉ, nhưng bạn cũng nên gởi phiếu trả lời về bảng đánh giá tiến trình học tập cho vị trợ giáo của bạn để vị ấy sửa và góp ý vào việc học tập của bạn. Sau đó bạn có thể ôn lại những phần bài học trong sách giáo khoa và Kinh Thánh có liên quan đến những điểm bạn khó hiểu. Oân phần những mục tiêu của bài học, những bài tập trắc nghiệm, và những bản đánh giá tiến trình học tập sẽ giúp bạn chuẩn bị cho bài kiểm tra cuối khóa.
Chứng chỉ Học Loạt Bài Nầy
Để đạt được giấy chứng nhận của văn phòng ICI về loạt bài học nầy, bạn phải đậu kỳ thi cuối khóa. Phần nầy được đại diện của văn phòng ICI tổ chức, Vì chúng tôi có nhiều vị giám khảo ở nhiều quốc gia khác nhau, nên không khó cho bạn gặp được một vị tại địa phương của bạn. Vị trợ giáo của bạn sẽ bàn thêm chi tiết với bạn.
Ngoài ra, loạt bài học nầy có thể được đánh giá bằng thực tế hơn là giấy chứng nhận. Trong trường hợp nầy bạn không cần gởi bài tập nào hay dự thi cuối khóa. Nghiên cứu loạt bài sẽ làm phong phú đời sống bạn dù bạn có nhận được chứng chỉ hay không.
Chứng Nhận Qua Kỳ Thi
Bạn cũng có thể nhận được giấy chứng nhận học loạt bài học nầy mà không cần học cuốn tham khảo tự học. điều này có thể thực hiện qua việc đậu kỳ thi cuối khóa. Tuy nhiên, vì những bài tập trong cuốn tham khảo tự học nầy và bài tập trắc nghiệm chủ yếu là chuẩn bị cho bạn kỳ thi cuối khóa, nên tốt hơn là bạn học tài liệu nầy. Hãy hội ý với vị Giám đốc ICI tại quốc gia bạn về mọi chi tiết.
Điểm Xếp Hạng Của Loạt Bài
Điểm xếp hạn của loạt bài dựa vào bài thi cuối khóa.Điểm của bạn sẽ được xếp loại A cho bài giỏi, B cho bài trên trung bình (khá), C cho bài trung bình, D dưới trung bình, U không cấp giấy chứng nhận, INC chưa làm xong, WP bỏ không thi, WU bỏ thi không được chấp nhận.
Những Chuyên Gia Soạn Nội Dung Sách
George W.Westlake Jr, Mục sư Niên trưởng của Sheffield Assemblies of God Church ở thành phô Kansas, Missouri, ông giữ chức vụ nầy tại đấy 14 năm. Kinh nghiệm mục vụ của ông gồm có công tác truyền thanh, truyền hình, giảng và dạy ở những cuộc cắm trại, và dạy tại trường Kinh Thánh. Hiện nay ông là Viện Trưởng Đại Học Kinh ThánhTrung Ương của Springfield mở rộng tại Kansas Citi, Missouri, tại đây ông cũng giảng dạy nữa. Tại Nam Phi ông cũng tổ chức những chiến dịch tại thành phố ở Guyana, và ông đã giảng ở Venezuela.
ÔÃÀÁâng Westlake đã tốt nghiệp B.A. (Cử nhân) và M.A, (Cao học) tại Đại Học Kinh Thánh Trung Ương Springfield, Missouri. Oâng cũng tốt nghiệp M.Div (Cao học Thần Học) tương đương với D.Min (Tiến sĩ mục vụ) của Viện Thần Học Fuller, Pasadena, California.
David Duncan, đã là giáo sĩ 17 năm và hiện nay đang là chuyên gia tư vấn triển khai của Viện Hàm Thụ Quốc Tế (ICI). Trước khi đến tại Viện Hàm Thụ Quốc Tế, ông đã làm hiệu trưởng của Viện Kinh Thánh Calvary, Majro, Marshall Islands được tám năm. Oâng đã tốt nghiệp B. A. ở Đại Học Quốc Gia Fullerton tại California và đã hoàn thành các yêu cầu của Học vị Tiến sĩ ở Viện Thần Học của California.
Vị Trợ Giáo ICI
Vị trợ giáo ICI nầy sẵn sàng giúp đỡ bạn được càng nhiều càng tốt. Hãy hỏi vị ấy về những câu hỏi liên quan đến kỳ thi cuối khóa. Hãy sắp xếp thì giờ cho thuận tiện đối với vị ấy và bạn. Nếu vài người muốn học chung, hãy xin vị ấy xếp đặt thì giờ thuận tiện cho cả nhóm.
Nguyện xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bắt đầu nghiên cứu Đaniên và Khải Thị. Nguyện cuốn sách nầy sẽ làm phong phú đời sống bạn và chức vụ của bạn cùng giúp cho bạn hoàn tất phần của mình trong thân thể của Christ cách hữu hiệu hơn.
Khái Lược về Sách ĐANIÊN
Chúng ta bắt đầu nghiên cứu sách Đaniên và Khải Thị với phần khái lược về sách Đaniên. Nói chung, người ta thường nhận xét rằng sách Đaniên là sách lịch sử tiên tri của quyền lực thế giới Dân Ngoại từ thời cai trị của Vua Nêbucátnếtsa cho đến lúc Christ tái lâm. Nhìn chung các tiên tri thường nhấn mạnh về quyền năng và sự tể trị tối cao của Đức Chúa Trời liên quan đến dân Ysơraên khi Ngài hướng dẫn vận mạng của tuyển dân của Ngài đi qua nhiều năm cho đến lần khôi phục cuối cùng của họ. Trái lại, Đaniên nhấn mạnh về sự cai trị tối cao của Đức Chúa Trời liên quan đến những đế quốc thế giới Dân Ngoại. Những lời tiên tri của ông bày tỏ Đức Chúa Trời là Đấng cai trị trong mọi hành động của Dân Ngoại cho đến thời kỳ họ bị tiêu diệt khi Christ tái lâm.
Điều cần thiết cho học viên nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh là phải học toàn bộï sách Đaniên để nhận được lợi ích trọn vẹn của sứ điệp của sách. Cuốn sách nầy trình bày một sứ điệp tiên tri vĩ đại, nhưng cũng còn chứa đựng những sứ điệp thuộc linh cụ thể. Mặc dù nội dung của sách cảm thúc độc giả bằng viễn tượng về tương lai, nhưng nó còn mang sự an ủi cho những người bị áp bức. Khi chúng ta khảo sát bối cảnh, cấu trúc và những sự nhấn mạnh khác nhau, chúng tôi cầu xin Chúa ban cho bạn nhạy bén với sự hướng dẫn của Thánh Linh khi Ngài làm cho những lẽ thật tiên tri nầy có ý nghĩa sâu xa đối với bạn.
Bối Cảnh của Sách Đaniên.
Những Yếu Tố Thiết Yếu của Sách Đaniên.
Lịch Sử Cá Nhân của Sách Đaniên.
Cuộc Xung Đột Thứ Nhất: Bài Trắc Nghiệm Đức Tin Đầu Tiên .
Cuộc Xung Đột Thứ Hai: Pháp Thuật Ngoại Giáo trái với sự khôn ngoan Thiên Thượng.
Cuộc Xung Đột Thứ Ba: Thần Tượng trái với sự trung thành.
Cuộc Xung Đột Thứ Tư: Sự kiêu ngạo của Vua trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời.
Cuộc Xung Đột Thứ Năm: Sự bất kỉnh trái với sự tể trị thiên thượng.
Cuộc Xung Đột Thứ Sáu: Ghen tị trái với sự chăm sóc thần hựu của Đức Chúa Trời.

Học xong bài nầy bạn có thể:
· Mô tả bối cảnh xuất hiện sách Đaniên và những yếu tố lịch sử, chính trị và cấu trúc giúp chúng ta hiểu được sách.
· Thảo luận ý nghĩa của chữ những thời kỳ của Dân Ngoại.
· Nhận diện những yếu tố cơ bản trong lịch sử cá nhân của Đaniên.
1. Đọc phần giới thiệu loạt bài học. Chú ý đặc biệt đến phần đề cương bài học và cách học. Phần nầy gồm có những lời khuyên góp phần quan trọng vào sự thành công của bạn. Hãy chú ý những mục tiêu chung của toàn bộ loạt bài. Tất cả những đều này thật quan trọng, nhưng có lẽ có vài phần nổi bật đối với bạn.
2. Nghiên cứu dàn ý bài học và những mục tiêu học tập. Những điều nầy sẽ giúp bạn nhận diện những điều bạn cần nghiên cứu kỹ trong bài học nầy.
3. Nghiên cứu phần triển khai bài học. Nhớ đọc hết những câu Kinh Thánh trích dẫn , làm phần bài tập bắt buộc, và kiểm tra phần trả lời của bạn.
4. Làm phần Bài Tập Trắc Nghiệm ở cuối bài học, và kiểm soát cẩn thận câu trả lời của mình với phần giải đáp trong Túi dành cho học viên. Oân lại câu nào bạn trả lời chưa đúng.
Hiểu ý nghĩa của những chữ căn bản đã liệt kê ở đầu mỗi bài học sẽ giúp bạn khi bạn học tập. Bạn nên dò tìm ý nghĩa của chữ được sắp theo mẫu tự ABC ở phần chú giải Từ Ngữ ở cuối sách. nếu bạn còn nghi ngờ về bất kỳ chữ nào trên bản liệt kê, bạn có thể xem bây giờ, và sau đó khi gặp chữ nầy ở bài, bạn có thể lật lại để xem lần nữa.
Bất kỉnh (impiety)
Bê tha (self-indulgence).
Bói toán (divination).
Bội đạo ( apostasy).
Chiêm tinh (astrology).
Kiêng khem (abstinence).
Mất tinh thần (demoralized).
Phù thủy (sorcerers).
Thuyết huyền bí (occultism)
Tạm thời (temporaly)
Bối Cảnh Của Sách Đaniên Thành Phố Babylôn.
Bối cảnh đầu tiên của sách Đaniên là thành phố Babylôn, trung tâm của đế Quốc Babylôn. Babylôn là thành phố hoàng kim của thời đại hoàng kim. công trình đào xới thành phố cổ cho thấy sự vinh hiển của Babylôn đã một lần đạt tới. Bên trong những bức tường đồ sộ là những đại lộ rộng rãi, những kênh đào, những đền thờ và những cung điện. Cổng Ishtar dẫn qua hai hàng công sự kép được trang trí bằng những hàng con bò và rồng được làm bằng gạch men. Một tháp to lớn bằng kim tự tháp được xây dựng bằng tám tầng nhìn bao quát thành phố. Những vườn treo của thành phố, theo người Hy lạp, là một trong những kỳ quan của thế giới. Babylôn đạt đến đỉnh cao của vinh quang mình vào thời Nêbucátnếtsa (605-562 B.C.). Mục tiêu của ông ta là muốn phô trương sức mạnh của mình cùng làm cho thành phố lộng lẫy và an ninh.
Địa Hình Của Babylôn Cổ Đại
Babylôn cổ đại nằm giữa sông Tigris và sông Ơphơrát ở trong một vùng thường được gọi Hình Lưỡi Liềm Màu Mỡû (Fertile Crescent - còn gọi là Đế quốc Thổ Nhỉ Kỳ). Từ hai con sông lớn bắt nguồn từ những rặng núi ở Armenis (Thổ Nhỉ Kỳ hiện tại) đất được mang xuôi dòng bằng nhiều thế kỷ hướng về vịnh Batư, rồi đắp thành bình nguyên phù sa màu mỡ. Vùng bình nguyên nầy đã trở thành cái nôi của nền văn minh cổ. Thật vậy, những nhà văn cổ thường ví sánh Babylôn như cái giỏ bánh mì của thế giới.
Thành phố Babylôn định vị hơi gần phần phía nam của bình nguyên nầy. Kết hợp với đất màu mỡ, hệ thống thủy lợi phát triển, và khí hậu điều hòa thuận lợi cho việc trồng trọt đã cho phép Babylôn có thể cung cấp lương thực cho số lượng dân đông đảo. Chắc chắn những khả năng tự nhiên tích cực nầy cũng đã động viên cho sự phát triển văn hóa, giáo dục và những việc làm dân sự táo bạo.
Bối Cảnh Lịch sử.
Đế quốc Babylôn cổ xưa đã được hưng thịnh ở vùng Trung đông cổ xưa trước Đấng Christ hai ngàn năm. Hơn một ngàn năm sau một đế quốc babylôn Mới được dấy lên như là một quốc gia hùng mạnh vào năm 626 B. C. (trước Christ) Khi Nabopolassar thành công trong việc chống lại của đế quốc Assyri muốn cai trị Babylôn, là vua Babylôn chính thức, ông tiến nhanh đến việc tập trung quyền hành của mình. Oâng quyết định thành lập việc kiểm soát những con đường buôn bán sinh lợi và phát triển thương mại ở phía Đông Địa Trung Hải. Mặc dù con trai ông Nêbucátnếtsa dấn thân vào những chiến dịch quân sự trong vùng nầy vào khoảng 605 B.C, nhưng khi Nabopolassar qua đời, ông để lại vương quốc và đế quốc và đế quốc đang phát triển cho con trai mình. Và dưới tài lãnh đạo có khả năng của ông, Babylôn vương lên nổi bật thành một đế quôc.
Đầu năm 605 B.C. Nêbucátnếtsa đánh bại đội quân Ai cập tại trận chiến Carchemish và thành lập Babylôn nên quyền lục chính trị nổi bật trong vùng đó. Kết quả, ông dành quyền kiểm soát Giuđa vốn đã ở dưới quyền cai trị của người Eâdíptô từ năm 609 B.C. khi vua Giôsia bị đánh bại ở Mêghiđô (Gie Gr 46:2). Trước khi trở về để công bố hình thành vương quốc, Nêbucátnếtsa ghé lại Babylôn và dẫn phu tù (trong số đó có Đaniên và những người bạn của ông) cùng lấy những châu báu ở Giêrusalem, rồi về Babylôn (DaDn 1:1-7).
Nêbucátnếtsa trở lại Babylôn vào năm 597 B.C. để tái lập sự kiểm soát trên người Giuđa vì vua Giêhôgiakim đã không triều cống cũng không trung thành với sự cai trị của Babylôn. Thật vậy, vua Giêhôgiakim đã trở về Eâdíptô xin giúp đỡ. Trong cuộc vây thành Giêrusalem, Giêhôgiakim qua đời, và con trai ông Giêhôgiakim, đầu hàng Nêbucátnếtsa (IVua 1V 23:34-24:14). Như phần Kinh thánh trưng dẫn trước mô tả , Nêbucátnếtsa lấy đi hết thảy vàng bạc từ đền thờ của Chúa và hoàng cung. Oâng cũng đem đi nhiều người ở Giêrusalem làm phu tù, kể cả những quan chức, chiến sĩ, thợ chạm, thợ thủ công, vua và gia đình hoàng tộc. Sau đó khoảng năm 586 B.C. sau khi vây thành lâu ngày, Nêbucátnếtsa, đem vua Sêđêkia sang Babylôn, và chỉ để lại những người nghèo nhất để trồng trọt và làm vườn nho (IIVua 2V 24:18-25:12).
Bối Cảnh Tôn Giáo.
Trong khoảng một trăm năm cuối trước khi người Giuđa bị lưu đày sang Babylôn, thì dời sống tôn giáo của quốc dân được đánh dấu bằng một quy trình bội đạo và phục hưng. Sự cai trị của Athali, Aháp, và Manase mang lại sựï thờ hình tượng không kiềm hãm nổi đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Nhưng sự phục hưng tôn giáo bắt đầu dưới thời Giô ách được tăng cường mạnh lên dưới thời Oâxia và đạt đỉnh cao của sự khôi phục dưới thời Eâxêchia. Tuy nhiên, tiếp theo sự cai trị của Eâxêchia. Manase đưa Giuđa vào sự thờ hình tượng trắng trợn hơn, kể cả sự thờ phượng tinh tú, dâng lễ hy sinh bằng con người, và thờ phượng ma quỷ. Oâng chấp thuận việc dùng chiêm tinh (astrology), bói toán (divination), và thuyết huyền bí (occultism) - tất cả những điều đó được xử dụng thường xuyên. Dù ông có sự thay đổi đáng kể sau khi bị lưu đày ở Babylôn, nhưng sự phục hưng mà ông khởi đầu không tiêu biểu cho sự phục hưng thật. Giuđa đã phạm tội thờ hình tượng và trở lại thờ hình tượng sau khi ông qua đời.
Giôsia, lên ngai vàng khoảng năm 640 B.C. đã đưa Giuđa vào sự lãnh đạo kỉnh kiền và sự phục hưng chân thật. Dường như Đức Chúa Trời đã hoãûn lại việc trừng phạt về tội tà dâm thuộc linh và không kính sợ Đức Chúa Trời của Giuđa. Dưới thời cai trị của Giôsia, Giuđa nới rộng biên giới của mình vì ảnh hưởng suy thoái của Asiry. Tinh thần lạc quan thắng thế: Luật pháp được tuân theo cách mà trước kia chưa từng có và chức vụ tiên tri của Giêrêmi (bắt đầu từ năm cai trị thứ mười ba của Giôsia - khoảng năm 627 B.C.). Đã có ảnh hưởng mạnh mẽ cho sự công bình.
Truyền thuyết cho rằng vào năm 614 xứ Asshur đã suy sụp vào năm 612 Ninive cũng suy sụp khiến cho Giôsia dấn thân vào những công tác quốc tế. Vì lý do nào đó, ông đã quyết định chống lại Pharaôn Nêcô trong lúc đi giúp đỡ lực lượng suy thoái của Asiry chống lại Babylôn. Quyết định nhẹ dạ của ông đã dẫn đến cái chết, đưa Giuđa một lần nữa vào sự bội đạo thuộc linh và chỉ còn dẫn đến sự hình phạt. Như vậy, Đaniên và dân sự của ông bị bắt đi làm phu tù sang Babylôn, và đạo quân của Nêbucátnếtsa hoàn toàn phá hủy thành Giêrusalem và bình địa vùng thôn quê (IISu 2Sb 36:17-21). Theo lời tiên tri báo trước của Giêrêmi, những sự hoang vu này kéo dài bảy mươi năm (Gie Gr 25:11). Thật vậy, DaDn 9:1-2 mở ra bằng lời nói trích dẫn lời tiên tri nầy.
Với sự tự do của tổ quốc bị mất, đền thờ bị phá hủy, dân sự bị bắt làm phu tù, dân Giuđa còn sót lại bị mất tinh thần (demoralized). Đây là lúc bối rối, bi thảm và bất hạnh lớn. Trong điều kiện như thế liệu dân sự còn tin nơi Đức Chúa Trời không? có thể nào sống với tôn giáo của mình nơi vùng đất xa lạ không? Có tương lai nào cho dân sự Đức Chúa Trời không hay phải chăng điều này là tận thế? Những câu hỏi như thế ở trong lòng và môi miệng của những người Giuđa nhiệt tình bị lưu đày (xem ThiTh137:1-6; để có cái nhìn vắn tắt về ảnh hưởng hoang vu của sự lưu đày đã đặt trên người Giuđa).
Hơn nữa những người phần lớn bị bắt làm phu tù, bị lôi cuốn bởi sự giàu có hào nhoáng của Babylôn, đã sẵn sàng lìa bỏ tôn giáo mình vì cớ sự thành công và thạnh vượng vật chất. Một số người phu tù Do Thái cảm thấy thất vọng vì đức tin cũ đã chấm dứt nên sống theo văn minh ngoại giáo và phong tục Babylôn. Vào thời điểm ấy Đaniên được dấy lên để khích lệ anh em thất vọng của mình. Bằng đời sống kính sợ Đức Chúa Trời cách trung tín, ông đã chứng minh rằng một người có thể sống cho Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh ngoại giáo và phải trả giá để hầu việc Đức Chúa Trời. Những khải tượng Đức Chúa Trời ban cho ông bảo đảm cho những kẻ bị đày biết rằng Đức Chúa Trời vẫn điều khiển lịch sử và tương lai của họ sẽ được bảo đảm.
1. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễm đạt ĐÚNG.
a. Thành phố Babylôn có vị trí gần cuối phía bắc của Hình Lưỡi Liềm Màu Mỡ sát với tài nguyên của những con sông Tigris và Ơphơrát.
b. Khí hậu, thời tiết và những đặt điểm tự nhiên của Babylôn thuận lợi cho việc phát triển của dân số đông đảo.
c. Người thành lập đế quốc Babylôn mới là Cha của Nêbucátnếtsa, tên là Nabopolassar.
d. Vua Giôsia dẫn dắt dân sự trở lại với Đức chúa Trời và ông cũng mở rộng ảnh hưởng chính trị của Giuđa lợi dụng sự suy thoái của đế quốc Asiri.
e. Để duy trì sự cân đối quyền lực trong vùng, quân đội của Ai cập trên đường đi hổ trợ đế quốc Asiry đang suy sụp để chống lại Babylôn thì vua Giôsia lại can thiệp.
f. Cuộc sống lưu đày tại Babylôn vượt hơn hẳn cuộc sống ở Giuđa, nên hầu hết những người Giuđa vội vàng từ bỏ tôn giáo của mình để thờ thần tượng .
2. Dựa vào phần nghiên cứu của bạn về điểm nầy và đọc cẩn thận IISu 2Sb 36:15 -17, Giuđa bị bắt đi làm phu tù vì cớ
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
3. Đaniên được dấy lên làm một nhà tiên tri trong thời kỳ lưu đày trước tiên là để
a. Nhắc nhở cho những người bị lưu đày biết rằng hình phạt của họ ít hơn điều họ đáng phải chịu.
b. Động viên dân sự của Chúa là những người thất vọng và vỡ mộng.
c. Bảo đảm cho dân sự Ngài rằng Đức Chúa Trời đang kiểm soát dòng lịch sử.
d. Làm những gì được ghi nhận ở a,b, và c.
e. Làm những gì được ghi nhận ở câu b và c.
Những Sự Kiện Thiết Yếu Về Sách Đaniên Cấu Trúc Của Sách Đaniên.
Nội dung của sách Đaniên có thể tạm chia thành hai phần bằng nhau. Một học giả Kinh Thánh đã cho chúng ta một bố cục trong đó từ đoạn 1 đến đoạn 6 được coi là phần tường thuật tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương có liên quan đến sáu sự xung đột đạo đức liên hệ với Đaniên và nhữûng bạn hữu của ông. Đoạn 7 đến 12, theo dàn ý của tác giả nầy, liên quan đến những khải tượng và lời tiên tri về cánh tay điều khiển của Đức Chúa Trời khi Ngài dàn dựng những quan cảnh trong câu chuyện tiếp diễn của lịch sử. Thoạt nhìn, gợi ý nầy dường như chia cuốn sách làm hai phần riêng rẻ tường thuật và tiên tri. Tuy nhiên, ở đoạn 2 chúng ta thấy một trong những lời tiên tri nổi bật nhất trong lòi của Đức Chúa Trời. Vì những mục đích của việc học tập của chúng ta, chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung của sách theo dàn ý sau:
I. Tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương của Đaniên.
A. Đoạn 1: Cuộc xung đột thứ nhất: Bài trắc nghiệm đức tin đầu tiên.
B. Đoạn 2: Cuộc xung đột thứ hai: Pháp thuật ngoại giao trái với sự khôn ngoan thiên thượng.
C. Đoạn 3: Cuộc xung đột thứ ba: Thần tượng trái với sự trung thành
D. Đoạn 4: Cuộc xung đột thứ tư: Sự kiêu ngạo của vua trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời
E. Đoạn 5: Cuộc xung đột thứ năm: sự bất kỉnh (impiety) trái với sự tể trị thiên thượng
F. Đoạn 6: Ghen tị trái với sự chăm sóc quan phòng (Providence) của Đức Chúa Trời
II. Những quốc gia ngoại bang, Ysơraên và người cai trị thế giới trong lời tiên tri.
A. Đoạn 7: Bốn Con Thú.
B. Đoạn 8: Chiên Đực Và Dê Đực.
C. Đoạn 9: Bảy Mươi Tuần Lễ.
D. Đoạn 10: Sự Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời.
E. Đoạn 11: Dòng Lịch Sử Từ Mêđô Batư đến thời kỳ cuối cùng.
F. Đoạn 12: Cơn Đại Nạn và sự Phục Sinh.
Vấn Đề Tác Quyền
Người ta biết rất ít về tác giả của cuốn sách phi thường nầy. Tuy nhiên, dường như Đaniên xuất thân từ dòng dõi qúi tộc hay hoàng tộc (DaDn 1:3). Điểm nổi bật Đaniên từ tuổi trẻ cho đến tuổi già là sự can đảm về đạo đức hay sự can đảm về đạo đức hay sự tin kính không dời đổi của ông. Đaniên là một trong số vài người mà Đức Chúa Trời chỉ nói đến điều tốt mà thôi. Thật vậy, Đaniên được gọi là người “rất được yêu qúi” (highlyesteemed đánh giá rất cao) (9:23, 10:11, 19). Chúng ta không thể không liên hệ đức tin đầu tiên và sự can đảm về đạo đức của Đaniên với ảnh hưởng của vị vua kính sợ Chúa là Giôsia và tiên tri Giêrêmi. Chính vào năm thư ù ba của đời vua Giêhôgiakim mà Đaniên bị bắt sang Babylôn làm phu tù (1:1). Vua Giôsia qua đời được bốn năm. Nếu Đaniên bị bắt sang Babylôn khoảng muời tám hay hai mươi tuổi, chắc lúc ông được mười bốn hay mười sáu tuổi thì vua Giôsia qua đời.
Vua Giôsia cai trị rất lâu ( ba mươi mốt năm) và dường như Đaniên được sinh ra vào khoảng giữa thời gian cai trị của ông. Là một hậu tự của hoàng tộc, chắc hẳn Đaniên được gần gủi với nhà vua và những hoạt động tin kính của ông như việc tìm được sách Luật pháp, tái thiết đền thờ, khôi phục sự thờ phượng , và kỳ giữ lễ vượt qua cách long trọng toàn quốc (IISu 2Sb 35:1-19) đã ảnh hưởng đời sống Đaniên cách sâu xa. Trong năm thứ mười ba của triều đại Giôsia, Giêrêmi bắt đầu chức vụ công khai đầy quyền năng (Gie Gr 25:3) mà nó vẫn còn thực hiện tại Giêrusalem khi ông bị đem đi làm phu tù. Aûnh hưởng của hai con người vĩ đại nầy không bao giờ bị mất đi trong vị thủ tướng tương lai. Hơn sáu mươi năm về sau chúng ta thấy Đaniên còn ngẫm nghĩ về những lời của Giêrêmi liên quan đến việc bảy mươi năm lưu đày (9:2).
Mặc dù có một số học giả hiện đại cố gắng bất tín nhiệm bản chất tiên tri của sách và tình trạng của tác giả, nhưng những vấn đề lại được Chúa chúng ta xác định. Ngài gọi cách đặt biệt là “tiên tri Đaniên” (Mat Mt 24:15) và về lòi tiên tri của ông về “sự tàn nát gớm ghiếc” trong tương lai (Mac Mc 13:14) vốn được nhấn mạnh ở DaDn 9:27. Như vậy Chúa chúng ta đã xác nhận sách là sách tiên tri, và tác giả là nhà tiên tri.
Thời Gian viết Và Chủ Đề.
Khung thời gian bao gồm trong sách Đaniên trải dài khoảng bảy mươi năm. Nó gồm toàn thể thời gian Giuđa bị bắt làm phu tù ở Babylôn và mở rộng sang vương quốc Mêđô Batư. Dường như sách nầy được viết vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước Christ.
Đaniên không hướng lời tiên tri cho dân sự ở trong thời đại của ông, Oâng cũng không trách dân sự về tội lỗi của họ. Oâng cũng chẳn đứ ra sự kêu gọi ăn năn hay phục hưng . Sứ điệp của ông là sự mặc khải về sự oai nghiêm và sự tể trị của Đức Chúa Trời. Có lẽ bạn dẽ ghi nhận chữ mà ông thường dùng “Chúa trên trời” (God of heaven - Đức Chúa Trời của từng trời). Trong sách nầy chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời, trong sự khôn ngoan vô hạn và quyền năng của Ngài, cai trị mọi hoạt động của những đế quốc, và dân cư, và cả hai đều cúái đầu trước ý muốn của Ngài. Vậy chủ đề của sách là sự tể trị của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng còn thấy sự chú ý đặc biệt được nhấn mạnh về thời kỳ của dân ngoại và những biến cố đưa thời đại Hội Thánh vào kết thúc vinh quang đắc thắng.
4. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Sách Đaniên tạm chia thành hai phần bằng nhau: Đoạn 1 đến 6 và Đoạn 7 đến 12.
b. Tất cả nội dung tiên tri của sách Đaniên đều tập trung vào phần cuối của sách.
c. Có ít dữ kiện trong Kinh Thánh hỗ trợ cho lời công bố rằng Đaniên là sách tiên tri.
d. Theo bản chất sách Đaniên có thể được mệnh danh là “sách quở trách tội lỗi và lời kêu gọi ăn năn”.
e. Thời gian viết sách Đaniên vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu trước Christ.
5. Trong sổ tay của bạn, hãy thảo luận về cấu trúc, thời gian viết, chủ đề và tác giả của sách Đaniên.
Lịch Sử Cá Nhân Của Đaniên.
Để giúp bạn hiểu rõ về bản chất lịch sử và lời tiên tri của sách Đaniên , chúng ta sẽ dùng dàn ý đề xuất ở trên. Điều nầy sẽ giúp chúng ta thấy được diễn tiến của những biến cố cả ở trong đời sống của Đaniên và trong những biếùn cố lịch sử được vị tiên tri báo trước. Vì phần nhấn mạnh của chúng tôi trong loạt bài nầy là phần tiên tri, nên chúng ta sẽ tập trung vào những đoạn có lời tiên tri hơn là những đoạn thuần túy tường thuật về lịch sử.
Cuộc Xung Đột Thứ Nhất Bài Trắc nghiệm Đức Tin Đầu Tiên
1:1-21
Mới bước vào sách, chúng ta gặp ngay cuộc xung đột đầu tiên của những thanh niên bị lưu đày. Đây là sự xung đột giữa sự bê tha của ngoại giáo và sự kiêng khem của sự kính sợ Đức Chúa Trời (Pagan selfindulgence and godly abstinence). Tại điểm nầy Đaniên và ba người bạn của ông Hanania, Misaên và Axaria - đang được huấn luyện trong đại học của vua để phục vụ cho vua. Họ được truyền lệnh phải dự phần trong một thực đơn mà chứa đựng những điều theo điều cấm trong Cựu Ước ( câu 3-5). Trong hoàn cảnh nầy, vấn đề dường như chỉ là điều nhỏ, tuy nhiên nó lại là phần duy nhất trong toàn bộ chính sách muốn phá hoại đức tin của những người trẻ ở nơi Đức Chúa Trời. Câu 6 và 7 cho thấy những thanh niên nầy được ban cho tên mới. Hiển nhiên đây là một cố gắng muốn tẩy xóa thời qúa khứ của họ với sự nhấn mạnh vào Đức Chúa Trời và để đồng hóa với người Babylôn. Trong lúc những tên cũ của họ đồng nhất với Đức Chúa Trời của Ysơraên, thì những tên mới của họ đồng nhất họ với những thần tượng ngoại bang của người Babylôn.
Ý nghĩa của tên bằng tiếng Hybálai
Ý nghĩa của tên bằng tiếng Babylôn
Bốn hoàng tử trẻ tuổi Do thái nầy đối diện với ảnh hưởng bại hoại của cuộc sống triều đình ngoại giáo, sự thờ hình tượng của những thầy giáo của họ, và phong tục không kính sợ Đức Chúa Trời của Babylôn. Hơn nữa, quê hương của họ bị hoang vu, trung tâm tôn giáo của họ bị phá hủy, và sự tự do của họ cũng biến mất. Nhưng những điều đó không ảnh hưởng gì trên họ vì họ quyết định trong lòng mình trung thành với Đức Chúa Trời (câu 8). Những câu 8 đến 20 cho thấy rằng vì họ quyết định đặt Đức Chúa Trời lên trên hết, nên Đaniên và những bạn hữu mình được Đức Chúa Trời tôn trọng. Không có dấu hiệu nào cho thấy họ lưỡng lự, vì họ biết điều nào đúng và quyết định làm điều ấy. Như vậy, bài trắc nghiệm đức tin đầu tiên nầy chứng minh đây là bước ngoặc đầu tiên cho sự phục vụ có trách nhiệm hơn là cho lời làm chứng hiệu quả hơn cho Đức Chúa Trời. Hơn nữa, điều nầy cho thấy điều ưu tiên mà những người trẻ nầy đặt để và giá trị họ đạt được với đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời.
6. Những câu nào trong đoạn 1 trình bày vấn đề của cuộc thử nghiệm thứ nhất và phương pháp mà bốn người trẻ nầy dùng để đắc thắng?
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
7. Giải thích bản chất của cuộc thử nghiệm thứ nhất và tại sao nó quan trọng như thế?
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Cuộc Xung Đột Thứ Hai - Pháp Thuật Ngoại Giáo Trái với Sự Khôn Ngoan Thiên Thượng
2:1-49
Pho tượng (Những thời kỳ của dân ngoại).
Như bạn đã biết khi bạn đọc Đaniên đoạn 2, cuộc xung đột chính thứ hai liên quan đến sự thách thức giữa tà thuật ngoại giáo với sự khôn ngoan thiên thượng. Chúng ta hãy xem bối cảnh nầy.
Giống như nhiều vị vua tham vọng trước và sau mình, Nêbucátnếtsa quan tâm đến đế quốc rộng lớn mà ông đang xây dựng và những sự sẽ xảy ra trong tương lai (câu 29). Nó sẽ tồn tại không? Không biết những hậu tự khôn ngoan có duy trì được những thành tựu ông đạt được không? Hoặc những thành tựu của ông sẽ bị mất vì cớ những hậu tự của ông thiếu khả năng, không quan tâm và ngu dốt chăng? Trong sự quan tâm của ông Đức Chúa Trời đã ban cho vị vua ngoại đạo nầy một giấc mơ bày tỏ nét phác họa về lịch sử của thế giới từ triều đại của ông cho đến khi Christ trở lại.
Chẳng bao lâu sau khi Nêbucátnếtsa lên ngôi vua, ông thấy một giấc mơ rất kỳ dị, lạ lùng (câu 1). Giấc mơ nầy khiến ông bối rối đến nổi ông không ngủ được. Tuy nhiên, điều tệ hại hơn là ông quên khuấy những gì mình đã thấy trong giấc mơ. do đó, ông mời những thuật sĩ, thầy bói đến để dùng những quyền lực tà thuật của họ để giúp ông nhớ lại và giải thích giấc mơ, nhưng không ai thực hiện được điều đó . Một điều đòi hỏi làm nhiều người rối trí, vì không người có thể biết được đã mơ thấy gì (2:7). Đồng bóng, pháp thuật của ngoại giáo không thể đáp ứng được sự thách thức của nhà vua, vì vậy, ông ra chiếu chỉ giết hết thảy những người khôn ngoan của Babylôn, kể cả Đaniên và ba người bạn của ông.
Khi Đaniên biết được quyết định của nhà vua, ông hỏi người thi hành pháp luật rằng tại sao nhà vua truyền lệnh gấp như thế. Khi ông biết rằng pháp thuật ngoại giáo đã thất bại, và tạo nên tình huống nghiêm trọng nầy, thì Đaniên xin được phép tâu cùng nhà vua. Chàng thanh niên khôn ngoan nầy bảo đảm với nhà vua rằng chàng có thể giải nghĩa điềm chiêm bao nếu chàng được gia hạn trong một thời gian nữa ( câu 14-16). Nói ra bằng đức tin và biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng bày tỏ mọi sự màu nhiệm, nên Đaniên động viên những bạn hữu của mình cầu xin Đức Chúa Trời bày tỏ giấc mơ cùng lời giải thích. Giải pháp nầy sẽ đáp ứng đòi hỏi của nhà vua, và nó sẽ bày tỏ sự siêu việt của sự khôn ngoan thiên thượng vượt trội mọi pháp thuật ngoại giáo. Hơn nữa, điều nầy sẽ giải cứu Đaniên cùng những người bạn của mình thoát khỏi án chết.
8. Oân những câu 17-28 cẩn thận. Những câu này cho thấy tình trạng thuộc linh của Đaniên và những bạn hữu của ông như thế nào?
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Những câu 28-30 chứa đựng ba cụm từ chìa khóa để giúp ta hiểu được giấc mơ rõ hơn. Đaniên nói về “những ngày sau rốt” (câu 28) “sự xảy đến sau nầy” (câu 29), “sự sẽ xảy đến” (câu 29). Những cụm từ nầy nhấn mạnh sự kiện giấc mơ là một bức tranh về những điều trong tương lai. Đó là lờøi tiên tri và nó liên quan đến những điều chưa xảy ra. Nó liên quan đến những ngày gần tới- cũng như cả tương lai xa.
Vua Nêbucátnếtsa ngồi nghe say sưa khi Đaniên thuật chính xác những gì ông thấy trong chiêm bao. Nhà vua đã thấy một pho tượng không lồ kỳ dị. Cái đầu được làm bằng vàng, ngực và cách tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng, ống chơn bằng sắt, và bàn chơn và ngón chơn cùng bằng sắt và đất sét. Chăm chăm nhìn pho tượng cho đến khi nhà vua thấy một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra. Hòn đá nầy đến đập vào bàn chơn bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát. Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều cùng nhau tan nát cả, trở nên như rơm rác trên sân đạp lúa mùa hạ,phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó. Nhưng hòn đá đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất (câu 31-35).
Để dân sự Đức Chúa trời khỏi quên trọng tâm của giấc mơ nầy là tương lai, nên Ngài đã đưa ra một điểm chính xác: cái đầu bằng vàng (câu 36-38). Pho tượng, vốn tượng trưng cho chính quyền loài người những hình ảnh dấy lên của sự kế tục của đế quốc, đã có ảnh hưởng đầu tiên trên dân sự Đức Chúa Trời từ vương quốc Babylôn đến việc thành lập vương quốc của Cứu Chúa Jesus Christ chúng ta. Những đế quốc này không phải là những đế quốc của thế giới, nhưng mỗi đế quốc, theo điều chúng ta sẽ thấy, đều có ảnh hưởng sâu sắc trên số phận của dân Ysơraên.
Nhà tiên tri, theo sự cảm thúc của Thánh Linh, đã đưa ra lời giải thích. Nhà vua, là đầu của vương quốc Babylôn, là đầu bằng vàng (câu 36-38). Sẽ có một vương quốc khác kế tiếp tiêu biểu bằng bạc (câu 39). so sánh câu 32 với 39, chúng ta thấy rằng vương quốc kế tiếp được tiêu biểu bằng hình ảnh của hai cánh tay và ngực. Lịch sử cho thấy rằng Babylôn đã thua trận tại cuộc chiến ở Trung Đông để phân thành hai phần của vương quốc Mêđi và Batư (chúng ta sẽ dùng từ ngữ Mêđô - Batư).
Mêđô- Batư đã điều hành vương quốc nầy hơn hai trăm năm. Kế đó, “vương quốc thứ ba” (câu 39) được dấy lên, tiêu biểu bằng hình ảnh của bụng và vế bằng đồng của pho tượng. Một lần nữa lịch sử thế giới ghi lại rằng, khi đế quốc Mêđô-Batư suy thoái, vương quốc Hy lạp mạnh mẽ, dưới sự lãnh đạo của một nhà lãnh đạo nổi tiếng, Alịchsơn đại đế nổi lên. Aûnh hưởng Hy lạp được lan truyền do sự chinh phục của Alịch sơn đại đế ở vùng đất rộng lớn từ Hy lạp sang Batư và qua phần Trung Đông, kể cả Ai Cập trải gần ba trăm năm.
Khi nền văn minh Hy lạp suy vi, thì một đế quốc mới, ở xa hơn, mạnh mẽ hơn được dấy lên. Nó được tiêu biểu bằng hai ống chơn bằng sắt của pho tượng (câu 40). La mã tiếp thu những gì của các vương quốc đi trước đã kiểm soát và thêm nhiều vùng khác vào những lãnh thổ trên. Bạn cũng có thể biết thêm rằng, đế quốc La mã bị chia thành hai phần: đế quốc phía Đông và đế quốc phía Tây. La mã là thủ đô của đế quốc phía Tây, kéo dài đến năm 476 sau Christ, nhưng đế quốc phía Đông với thủ đô là Constantinople đứng vững đến năm 1453 sau Christ. Dù đế quốc như thế bị suy tàn, nhưng một số những quốc gia vẫn tạo thành nó cứ tồn tại là những quôc gia độc lập.
Phần giải nghĩa cứ tiếp diễn với những sự giải thích về một chính phủ khác sẽ dấy lên, tượng trưng ở trên pho tượng bằng hai bàn chơn và những ngón chơn với một phần đất sét. Vị tiên tri nói rằng, đơn vị chính phủ tương lai nầy sẽ nữa mạnh, nữa giòn. Và nó tiêu biểu cho nó lực lượng cuối cùng của con người sẽ được biểu trưng bằng những người thiếu sự khao khát và sự thuận phục để hình thành một chính quyền thống nhất cả thế giới. Vào thời điểm của sự không hiệp nhất trong cái gọi là liên bang mười quốc gia nầy (câu 44 “ trong thời của những vị vua ấy”), Đức Chúa Trời sẽ phá tan công việc cai trị của con người để thành lập vương quốc không bao giờ chấm dứt của Ngài. (Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết về chính phủ mười nước nầy ở bài sau).
Trong giấc mơ nầy có sự giảm dần khi Babylôn giảm xuống Batư, rồi Hy lạp, rồi La mã. Sau đó đơn vị cai trị lỏng lẻo của thời kỳ cuối cùng. Vài học giả Kinh Thánh tin rằng giống như bàn chơn và ống chơn là sự nối tiếp của ống chơn, thì cũng vậy biểu tượng của pho tượng nầy là gợi ý rằng đơn vị cai trị cuối cùng sẽ xuất phát từ những quốc gia hay những dân tộc thuộc về đế quốc La mã cũ. Tuy nhiên, soạn giả loạt bài học nầy tin rằng vì sắt tiêu biểu cho La mã ở pho tượng nầy, vì bàn chơn và ngón chơn một phần sắt, một phần đất sét, nên ông ấy cho rằng sự kết hợp cuối cùng nầy sẽ gồm một phần từ đế quốc La mã cũ , tiêu biểu cho sắt, và một phần từ những nước không thuộc về đế quôc La mã cũ, tiêu biểu cho đất sét.
Hãy chú ý rằng không có lý do tự nhiên nào nói về việc rơi hòn đá, vì nó “được đục từ núi ra, nhưng không do bàn tay con người” (câu 45). thời đại hoàng kim mà con người đã tự nhiên mong ước sẽ không xuất hiện theo tiến trình tự nhiên nhưng do sự can thiệp thiên thượng trong công việc của con người. Một sự di chuyển mới từ bên ngoài vào thế giới và toàn bộ hệ thống của nó sẽ thay đổi tiến trình lịch sử. Hòn đá đập vỡ, tiêu biểu cho sự can thiệp thiên thượng, hủy phá pho tượng biểu trưng vào thời của bàn chơn và ngón chơn, nghiền nát pho tượng thành bụi. Khi vương quốc loài người chấm dứt, chẳng có thứ gì còn lại cả, nhưng Hòn Đá hóa ra thành một ngọn núi lớn và đấøy khắp mặt đất. Công trình của con người thì tạm thời (temporal), chỉ có công tác của thiên thượng thì trường cửu, Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại đời đời.
Khi chúng ta kết luận phần nầy, chúng tôi muốn đặt giấc mơ nầy phép phối cảnh. Khởi đầu với việc Nêbucátnếtsa chinh phục Giuđa, thời kỳ bắt đầu cho giờ tiên tri của Đức Chúa Trời mà chúng ta gọi là “thời kỳ Dân ngoại” (LuLc 21:24). Nói chung từ ngữ nầy ám chỉ thời kỳ quốc gia Ysơraên và đất nước ở dưới quyền kiểm soát của những quốc gia ngoại bang. Thời kỳ nầy sẽ chấm dứt bằng sự hủy diệt toàn bộ sự cai trị của con người ở hình thức cuối cùng: một liên bang mười nước đứng đầu bởi một người mà chúng ta sẽ học biết rằng đó là Antichrist. Người ấy sẽ bị đánh bại khi Đấng Christ hiện đến lần thứ hai.
Như vậy kết thúc sự xung đột thứ hai. Nêbucátnếtsa đầy lòng biết ơn khi ông cảm tạ vị tiên tri về sự phục vụ lạ lùng nầy (câu 46). Ngoài ra, mặc dù nhà vua là người ngoại giáo, nhưng ông đã bày tỏ cảm nghĩ chơn thật của mình: Đức Chúa Trời của Đaniên là “Đức Chúa Trời của các thần , và Chúa của các vua” (câu 47). Pháp thuật của ngoại giáo rõ ràng là không phù hợp với sự khôn ngoan thiên thượng. Hơn nữa, Đaniên và ba người bạn của ông được thăng chức trong sự điều hành công tác hành chánh ở Babylôn.
9. Xếp đặt phần của pho tượng với vương quốc hay chính quyền mà nó ám chỉ.
....a. Đế quốc Mêđô Batư
....b. Đế quốc La mã.
....c. Liên bang mười nước.
....d. Đế quốc Babylôn.
....e. Đế quốc Hy lạp.
10. Cuộc xung đột thứ hai của Đaniên có liên quan:
a. Bềngoài của tôn giáo, những qui định về lễ nghi, và sự thỏa hiệp.
b. Sự vượt trội của sự khôn ngoan thiên thượng đối với pháp thuật ngoại giáo.
c. Sự đấu tranh giữa những nền văn hóa khác nhau về quyền ưu tiên.
d. Cá nhân tương phản với nhóm tôn giáo.
11. Ý nghĩa của giấc mơ về pho tượng là gì, và từ ngữ về thời kỳ Dân Ngoại là gì?.......................................................................................................................
..........................................................................................................................
Cuộc Xung Đột Thứ Ba: Thần Tượng Trái Với Sự Trung Thành
DaDn 3:1-30.
Đoạn 3 đưa ra chi tiết của sự nổ lực của Nêbucátnếtsa muốn đặt để sự thống nhất hệ thống tôn giáo trên thần dân của mình. có thể ông tin rằng điều nầy sẽ làm cho đế quốc của ông đoàn kết chặt chẽ. Dù bất cứ lý do nào đi nữa, nhưng việc ông làm ấy là dựng một pho tượng thật cao và lớn, và bắt buộc mọi người phải thờ lạy hễ khi nào có hiệu lịnh. Không có chỗ nào dành sự trung thành với thần khác. Vấn đề đơn giản là : người ta chỉ chọn hoặc thờ lạy trước tượng đó, hoặc bị ném vào lò lửa hực. Chiếu chỉ nầy có nghĩa là những thanh niên Do thái hiện là tôi tớ dân sự phải quyết định hoặc là giữ sự xác quyết thuộc linh của mình và trung thành với Đức Chúa Trời, hoặc chấm thuận tiêu chuẩn do người Babylôn đặt để. May mắn thay, quyết định nầy không khó vì những thanh niên nầy đã bày tỏ đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời và đầu phục lời của Ngài.
Vì vậy thời điểm đã đến, họ đã quyết định rồi. Họ bày tỏ bằng hành vi của mình, thà làm tôi tớ thật của Đức Chúa Trời hơn là tuân theo lệnh truyền của nhà vua để phản lại niềm tin của mình. Kết quả là họ bị kết án chết ngay lập tức, tuy nhiên, khi cả đám đông chứng kiến, đức tin của những thanh niên nhiệt tình nầy đã được tưởng thưởng. Ở giữa lò lửa hực, họ được tự do, được người Thứ Tư giống như con trai của vị thần (câu 25) ở với. Họ bước ra khỏi lò lửa tử thần để dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời và được sự tôn trọng của tập thể những người lãnh đạo Babylôn. Một lần nữa họ được thăng chức trong bộ máy điều hành của Babylôn.
12. Mô tả vắn tắt vấn đề trong cuộc xung đột thứ ba.
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Cuộc Xung Đột Thứ Tư: Sự Kiêu Ngạo Của Vua Trái Với Sự Tể Trị CủaĐức Chúa Trời
4:1-37.
Khi bạn đọc đoạn 4 bạn có thể nhận thấy rằng vua Nêbucátnếtsa đã được ban cho một số kinh nghiệm quan trọng có liên quan đến “Đức Chúa Trời Tối Cao” cho dù Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng và sự khôn ngoan của Ngài cho nhà vua, nhưng dường như chẳng thay đổi được tính cao và kiêu ngạo của nhà vua. Như chúng ta sẽ thấy, Đức Chúa Trời cảnh cáo ông qua một khải tượng đáng lưu ý về thái độ táo bạo của ông, nhưng còn phải đòi hỏi nhiều điều nữa trước khi vị vua hạ mình xuống và đặt Đức Chúa Trời vào đúng chỗ trong sự suy nghĩ và hành động của mình. Hãy ghi nhớ điều nầy khi bạn khảo sát cuộc xung đột nầy.
Nêbucátnếtsa đang hưởng sự hòa bình trong thành phố rộng lớn tiếp sau những cuộc viễn chinh của ông. Năng lực của ông đã được chuyển từ công tác cũng cố vương quốc của mình sang việc chỉnh đốn sự cai trị của mình trên mọi lãnh vực của Babylôn. Chính phủ của ông đang chạy đều giống chư một bộ máy đầy đủ chạy tốt. Kết quả, ông có thể thay đổi sự chú ý của mình vào những sự phát triển bên trong. Oâng bắt đầu kiến thiết những công trình công cộng đồ sộ, kể cả việc xây dựng những công sự, hệ thống kênh đào, và hệ thống cung cấp nước ngọt cho thành phố. Những con đường được lót đá, thực phẩm được dự trử dồi dào. Thành phố trông thật đẹp với những cung điện, đền thờ, những dinh thự sang trọng và những vườn treo nổi tiếng .
Hiển nhiên nhà vua thỏa lòng với những thành tựu thuộc về đế quốc lẫn quốc nội, tuy nhiên, vào thời điểm nầy Đức Chúa Trời ban cho Nêbucátnếtsa một giấc mơ (câu 4-17) với ý định làm cho ông thay đổi thái độ và hành vi của mình. Đaniên, người giải thích giấc mơ (câu 19-27), khuyên nhà vua ăn năn và thay đổi thái độ để tránh sự hình phạt. Cho dù phản ứng thái độ như thế nào, thì chẳng bao lâu sau đó nhà vua đã quên lời khuyên. Chỉ một năm sau, ông lớn tiếng khoe khoang, “Đây chẳng phải là Babylôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao?” (câu 30). Tức thì sự hình phạt giáng xuống.
Kết quả là nhà vua mất trí, và trong một giai đoạn khá lâu, ông sống tách biệt loài người ở trong cánh đồng trống (câu 30-33). Trong thời gian nầy vương quốc của ông vẫn được duy trì do những cố vấn của ông. Sau thời kỳ bị mất phẩm giá cùng cực đó, ông được khôi phục trở lại vương quốc mình. Kết quả của việc xung đột nầy, tinh thần kiêu ngạo của vua bị đánh hạ và những ưu tiên thuộc linh của ông được tái xếp đặt khi ông vui mừng nhìn biết sự cai trị của Đức Chúa Trời trên vương quốc loài người (câu 17,25,32). Điểm chính của đoạn nầy là nhấn mạnh vào tâm trí của chúng ta rằng là Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao trong sự thành lập và duy trì những vương quốc của loài người.
13. Bài học chính hay chân lý dạy dỗ trong Đaniên đoạn 4 là:
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Cuộc Xung Đột Thứ Năm: Sự Bất Kỉnh Của Loài Người Trái Với Sự Tể Trị Thiên Thượng.
DaDn 5:1-31.
Chương 5 giới thiệu cảnh cuối cùng trong lịch sử Babylôn. Vương quốc Babylôn suy thoái rõ ràng. Quân đội Mêđi và Batư đang vây thành. Vua Nabonidus đi xa khỏi thành phố và con trưởng nam của ông, Bênxátxa, hành động như vua nhiếp chính (king-regent) khi ông vắng mặt. Đây là bối cảnh trong đó vua nhiếp chánh trẻ Bênxátxa chọn việc mở một buổi tiệc linh đình. Hứng khởi vì rượu, nhà cai trị trẻ kiêu ngạo truyền đem những khí mạnh thánh mà vua Nêbucátnếtsa đã lấy trong đền thờ Giêrusalem ra dùng để uống rượu và chúc mừng những thần của Babylôn. Sự tự cao bất kỉnh (không kính sợ Đức Chúa Trời) nầy khiến Đức Chúa Trời hành động tức thì: những ngón tay của bàn tay hiện ra và viết một sứ điệp kỳ lạ trên tường (câu 5). Nhà vua khiếp vía, run rẩy, còn những quan đại thần thì bỡ ngỡ. Vậy đây là cuộc xung đột của đoạn 5.
Vua truyền vời các thuật sĩ, chiêm tinh gia, và thầy bói đến để giải thích sứ điệp, nhưng chẳng ai giúp đỡ được, cũng không đọc và cắt nghĩa được . Tuy nhiên, bà thái hậu, nhớ lại những gì Đaniên đã làm trong triều đại vua Nêbucátnếtsa (câu 10-12). Vì vậy, vua mời Đaniên và hức ban phần thưởng lớn cho ông nếu ông có thể giải nghĩa được những chữ viết đó. Oâng sẽ dự phần vào chức thứ ba trong việc chính trị nhà nước (Bênxátxa như chúng ta đã đề cập, cùng cai trị với cha ông, Nabonidus, trên vương quốc nầy). Bỏ qua một bên những phần thưởng đã hứa, Đaniên lập tức giải thích ý nghĩa của sứ điệp bí ẩn.
Đây là giờ phút nghiêm trọng trong lịch sử của Babylôn. Mặc dù ông biết rằng ông nội mình (grandfather) Nêbucátnếtsa đã bị hạ hục vì cớ sự ngạo mạn, nhưng Bênxátxa đã không để ý đến trách nhiệm của mình đối với Đức Chúa Trời. Hơn nữa ông đã phạm thượng cùng Đức Chúa Trời là Đấng kiểm soát sự sống bằng việc đem những khí mạnh đã được dâng cho Đức Chúa Trời mà dùng để uống rượu. Ngoài ra, ông còn dám ca ngợi những thần tượng không có sự sống và không có giá trị của Babylôn. Vì thế hành động nầy được cân trên cái cân thiên thượng, và ông được coi như thiếu hẳn những gì Đức Chúa Trời đòi hỏi. Vương quốc Babylôn đã đến chỗ tận cùng, và nó đã bị nước Mêđi và Batư chiếm lấy (ngực và cánh tay bằng đồng của pho tượng ở Đaniên đoạn 2).
Đaniên đoạn 5 chấm dứt bằng một câu ngắn gọn: “Ngay đêm đó, vua người canh đê là Bênxátxa bị giết” (câu 30). Với lời bình luận trang trọng nầy chúng ta thấy rằng con người phải chịu trách nhiệm về ánh sáng và kiến thức mà chúng ta nhận từ nơi Ngài. Câu 18-21 cho thấy phạm vi của sự hiểu biết của Bênxátxa về Đức Chúa Trời và các câu 22-23 cho thấy ông ta cố tình từ khước sự hiểu biết nầy. Tội lỗi nghịch lại ánh sáng Lời của Đức Chúa Trời và ý chí được gọi là tội cố tình và tội tự phụ. Hàng trăm năm trước, Đavít đã cầu xin Chúa giải cứu mình khỏi loại tội nầy (Thi Tv 19:13), và mỗi chúng ta, tương tự như thế, cũng phải biết rằng mình cần phải sống có trách nhiệm trong ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Như vậy, Babylôn sụp đổ và vương quốc Mêđô-Batư kế tục.
14. Lời mô tả đúng nhất về cuộc xung đột thứ năm là:
a. Thiên tài của con người trái với sự thương xót của Đức Chúa Trời.
b. Sự yếu đuối của con người tương phản với sự thành tín của Đức Chúc Trời.
c. Sự không biết chắc của con người trái với sự toàn tri của Đức Chúa Trời.
d. Sự bất kỉnh của con người trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời.
15. Giải thích vắn tắt tội lỗi của Bênxátxa.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Cuộc Xung Đột Thứ Sáu: Ghen Tị trái Với Sự Chăm Sóc Quan Phòng Của Đức Chúa Trời.
DaDn 6:1-28.
Khi đoạn 5 chấm dứt, chúng ta thấy đế quốc Babylôn sụp đổ và Đariút người Mêđi tiếp nhận vương quốc cho đế quốc Mêđô-Batư. Bấy giờ Đaniên và những người bạn lưu đày của ông ở dưới quyền kiểm soát của đế quốc nầy. Tuy nhiên, chúng ta thấy Đaniên có đặt điểm nổi bật là một trong ba quan thượng thơ (một ở trong ba nhân vật chính lãnh việc cai trị cả vùng) (câu 1-2). Ở địa vị nầy Đaniên rất lỗi lạc đến nổi nhà vua định lập người trên cả nước (câu 3). Tuy nhiên ý định nầy tạo ra sự chỉ trích và ghen tị trong số những quan thượng thơ và trấn thủ.
Dù Đaniên là người ngoại quốc vừa là người Do thái bị lưu đày, nhưng cũng là một tôi tớ chăm sóc việc nước xuất sắc: đáng tin cậy, siêng năng, và không có điều lỗi nào (câu 4-5). Lý do của phản ứng của những kẻ thù của Đaniên là ghen tị vì ông ta được thăng chức và có lẽ thành kiến vì đất nước, dân tộc và tôn giáo của ông. Từ câu 6 đến 9 nói về âm mưu của họ trong việc rập bẫy Đaniên về sự vi phạm chỉ dụ không thay đổi và mắc phải án chết.
Những kẻ do thám biết rằng họ có thể hy vọng nơi thái độ kiên trì của Đaniên với Đức Chúa Trời (câu 10). Một chứng cớ mạnh mẽ làm sao! Vì thế, lời cầu nguyện của Đaniên với Đức Chúa Trời được dùng làm bằng cớ để ủng hộ cho lời buộc tội cho Đaaniên rằng ông không trung thành với vua và đáng tội chết (câ 11- 14). Vì họ không thể thay đổi luật pháp của xứ Mêđi và Batư, nên ấn lệnh được thi hành. Dầu vậy, nhà vua biết được quyền năng của Đức Chúa Trời của Đaniên có thể giải cứu ông, và ông khuyến khích Đaniên tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu ông (câu 16). Thật vậy, Đức Chúa Trời đã can thiệp, đem sự che chở và giải cứu cho Đaniên, và tiêu diệt kẻ thù của ông (câu 17-24). Một lần nữa, đức tin kiên định nơi Đức Chúa Trời ở giữa cơn xung đột và đương đầu với điều ác đã đem vinh hiển cho Đức Chúa Trời và sự tôn trọng cho tôi tớ Ngài. Bằng cớ ở đây ấy là sự chăm sóc quan phòng của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài có thể xảy ra trong mọi hoàn cảnh. Người nào đặt đức tin mình và tin cậy nơi Đức Chúa Trời sẽ không bị hổ thẹn.
16. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Sử nhấn mạnh của lời tường thuật chuyển từ đế quốc Babylôn sang lãnh vực của người Mêđi và Batư.
b. Ngay khi đế quốc Babylôn sụp đổ, mọi người do thái bị phu tù lập tức trở về quê hương.
c. Sự phục vụ của Đaniên như là người cố vấn dưới thời Nêbucátnếtsa và những người kế vị ông đến vị trí có quyền hành dưới thời cai trị của Mêđô Batư.
d. Cuộc xung đột thứ sáu gợi ý rằng khi một người xây dựng đời sống mình trên đức tin và tin cậy Đức Chúa Trời, thì người ấy có thể trông đợi sự chăm sóc quan phòng của Đức Chúa Trời được bày tỏ.
e. Những kẻ thù của Đaniên không quan tâm nhiều đến sự khác biệt giữa dòng tộc, tôn giáo hay văn hóa như họ quan tâm đến phẩm chất của ông trong công tác chung.

Bài Kiểm Tra
Sau khi bạn ôn bài nầy, hãy làm bài tập trắc nghiệm. Sau đó hãy dùng phần giải đáp ở túi học viên kiểm soát lại những câu trả lời của bạn. Oân lại bất kỳ câu hỏi nào bạn trả lời chưa dúng.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước lời diễn đạt đúng. Viết chữ S nếu câu đó sai.
....1. Những đặc điểm vị trí và tự nhiên của Babylôn thuận tiện cho việc phát triển một đế quốc đông dân và dám làm những việc táo bạo.
....2. Đế quốc tân Babylôn mạnh mẽ đạt đến tuyệt đỉnh đạt đến trong sự chinh phục và phát triển dưới người sáng lập mạnh mẽ là Nabôpôlátsa.
....3. Những năm trước khi Giuđa bị rời vào sự kiểm soát của babylôn (640-610 B.C)có thể được gọi là thời kỳ phục hưng lan rộng ở Giuđa.
....4. Kinh thánh cho thấy rằng, là một thanh niên trong những năm cuối trước khi Giuđa bị mất, Đaniên đã chịu ảnh hưởng của tiên tri Giêrêmi lẫn vị vua tin kính Giôsia.
....5. Về mặc cấu trúc chúng ta có thể nói rằng sách Đaniên được chia làm hai phần bằng nhau: 6 đoạn đàu thuần túy là sự tường thuật, và 6 đoạn sau là phần mô tả.
....6. nói về tác giả của sách Đaniên, dường ông thuộc hoàng tộc hay dòng dõi qúi tộc, một người kính sợ Đức Chúa Trời mà Kinh Thánh chỉ nói điều tốt cho, và chức vụ của người được Chúa chúng ta xác nhận.
....7. Chủ đề của sách tiên tri Đaniên liên quan đến sự tể trị của Đức Chúa Trời.
....8. Bài thử nghiệm đức tin đầu tiên trong sách Đaniên liên quan đến những giá trị và những ưu tiên của những người trẻ phu tù đối ngược với bối cảnh của những giá trị và thói tục của ngoại giáo.
....9. Ý nghĩa của chữ “thời kỳ Dân Ngoại” trong lời tiên tri của Kinh Thánh nằm ở sự kiện là điều ấy chứng tỏ sự cai trị của Dân Ngoại trên Ysơraên trong một thời gian và báo hiệu thời kỳ cuối cùng đang đến.
....10. Lịch sử cá nhân của Đaniên chứng tỏ rằng ông chỉ là một viên chức tầm thường trong đế quốc Babylôn, nhưng thỉnh thoảng được nổi tiếng nhờ khả năng giải thích chiêm bao , chứ không bao giờ đạt được sự nổi bật liên tục trong công việc hành chánh quốc gia.
SẮP XẾP CHO PHÙ HỢP. Sắp xếp kết quả hiển nhiên trong đó mỗi quốc gia tiêu biểu trong pho tượng của Đaniên đoạn 2 phải xuất hiện.
....11. Đế quốc Hy lạp.
....12. Đế quốc la mã.
....13. Đế quốc babylôn.
....14. Đế quốc mêđô Batư.
....15. Liên bang muời nước.
1) Thứ nhất
2) Thứ nhì
3) Thứ ba
4) Thứ tư
5) Thứ năm

Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
Những câu trả lời nầy đã được xáo trộn để bạn không tình cờ thấy trước câu trả lời của bạn. Cố gắng đừng nhìn trước câu trả lời, nhưng hãy viết câu trả lời của bạn cho mỗi câu hỏi trước khi đối chiếu với câu trả lời của chúng tôi đưa ra. Điều nầy sẽ giúp bạn nhớ những điều mình đã học.
1. a. Sai.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Sai.
2. Dân sự khinh dể Lời của Đức Chúa Trời và không bước đi theo Luật pháp của Ngài, vì thế, sau khi sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời lên đến mức (Ngài không chịu đựng được nữa) thì Ngài phải giáng sự hình phạt xuống trên dân sự, thành phố và đất đai của họ.
3. e. Làm những gì được ghi nhận ở câu b, và c.
4. a. Đúng.
b. Sai.
c. Sai.
d. Sai.
e. Đúng.
5. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm sự kiện là dàn ý tạm thời của sách Đaniên gồm có từ đoạn 1 đến 6 nói về tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương, trong khi đoạn 7 đến 12 liên quan đến những quốc gia Ngoại giáo, dân Ysơraên, và nhà cai trị thế giới trong lời tiên tri. Thời gian viết vào thế kỷ thứ sáu trước Christ. Chủ đề của sách là sự tể trị của Đức Chúa Trời. Đaniên là tác giả của sách, ông là hậu tự của hoàng tộc hoặc thuộc dòng dõi qúi tộc. Tác quyền của ông được Chúa Jesus xác nhận trong các sách phúc âm.
6. Những câu 3 đến 5 trình bày những điều kiện chung, và câu 8 đưa ra chi tiết đặc biệt hơn.
8. Câu trả lời của bạn. Họ đã có đặc tính thuộc linh chân thật, đức tin sâu sắc nơi Đức Chúa Trời, tin nơi khả năng của Ngài và sự khao khát đáp ứng nhu cầu của họ. Họ sống bằng đức tin trong sự tôn kính và hạ mình.
9 . a. 2) Ngực và cánh tay bằng bạc.
b. 4) Oáng chơn bằng sắt.
c. 5) Bàn chơn bằng sắt và đất sét.
d. 1) Đầu bằng vàng.
e. 3) Bụng và vế bằng đồng .
10. b) Sự vượt trổi của sự khôn ngoan thiên thượng đối với pháp thuật ngoại giáo.
11. Giấc mơ và pho tượng đưa ra cái nhìn chung về lịch sử từ Nêbucátnếtsa cho đến khi Chúa tái lâm. Thời kỳ Dân Ngoại chỉ về thời gian mà dân Ysơraên và đất đai ở dưới quyền kiểm soát của Dân Ngoại.
12. Câu trả lời của bạn. Nó liên quan đến vấn đề trung thành của ba thanh niên Hy bálai với Đức Chúa Trời và sự sẵn lòng chết của họ, nếu cần, để chứng minh sự xác quyết của họ.
13. Đức Chúa Trời tể trị trong việc thành lập và duy trì những vương quốc của loài người.
14. d. Sự bất kỉnh trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời.
16. Đúng.
b. Sai.
c. Đúng.
d. Đúng
e. Sai.
Viễn Cảnh của Người Cai Trị Thế Giới Đầu Tiên
Trong bài 1 chúng ta được giới thiệu về sách Đaniên và lịch sử cá nhân của vị tiên tri trong các đoạn từ 1 đến 6. Ngoài những sự kiện về bối cảnh của lịch sử, chúng ta còn khảo sát những khía cạnh quan trọng của lời tiên tri của Kinh Thán. trong số những điều ấy, chúng ta tập trung chú ý vào cụm từ “ thời kỳ Dân Ngoại”và những gì ám chỉ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho lịch sử nhân loại. bây giờ quây sang phần thứ hai của sách Đaniên, đoạn 7 đến 12 để thêm vào những kiến thức chúng ta đã đạt được. Vì vấn đề quá bao quát, nên chúng ta sẽ chia nội dung thành hai bài học gần bằng nhau. Bài 2 sẽ gồm có những đoạn từ 7 đến 9, và bài 3 bàn về những đoạn từ 10 đến 12.
Từ dàn ý được đưa ra ở bài 1, chúng ta biết được nội dung của phần thứ hai của sách Đaniên, như tựa đề của bài nầy cho biết, nói về tương lai. Một số quốc gia Dân Ngoại, dân Ysơraên, và người cai trị thế giớí hầu đến được giới thiệu và khảo sát từ đoạn 7 đến 12.
Chúng tôi cầu xin Chúa cho bạn học được những gì Kinh Thánh phải nói về những đề tài quan trọng nầy. Chúng tôi cũng tin rằng bạn không để tình cảm hay sự suy đoán sai lầm của bạn đi lạc hướng khi bạn khảo sát những vấn đề nầy và điều chỉnh đời sống mình cho phù hợp. Nguyện xin Thánh Linh đặc biệt soi sáng tâm trí bạn khi bạn bắt đầu bài học nầy và nguyện Ngài làm cho bạn khao khát lớn lên về mặt hiểu biết về lẽ thật và áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình.
Bốn Con Thú.
Chiên Đực và Dê Đực.
Bảy Mươi Tuần Lễ.
Oân Tập và Aùp Dụng.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Nhận diện những biến cố tượng trưng trong các sự hiện thấy của Đaniên chứng minh trong lịch sử và báo trước sự hoàn tất của chương trình Cứu Chuộc của Đức Chúa Trời.
• Thảo luận liên bang mười nước sẽ cai trị vào cuối thời đại nầy, người lãnh đạo và kết quả cuối cùng của liên bang ấy.
• Nhìn nhận những yếu tố của bảy mươi tuần lễ ở Đaniên đoạn 9 và ý nghĩa của điều đó.
• Đánh giá cao ân điển của Đức Chúa Trời vốn mang chúng ta đến sự Cứu Chuộc và cung cấp cho chúng hy vọng phước hạnh là được ở đời đời với Ngài vào cuối thời đại nầy.
1. Trước khi bạn bắt đầu nghiên cứu bài học, hãy đọc trước Đaniên 7-9 để có cái nhìn tổng quát về nội dung. Sau đó đọc kỷ mỗi đoạn khi bạn nghiên cứu phần triển khaibài học.
2. Theo tiến trình đưa ra ở Bài 1, bạn nghiên cứu Bài 2.
Độc ác, hiểm ác (Diabolical).
Liên minh (Coalition).
Mưu đồ (Intrigue).
Tàn bạo (Atrcities).
Thực thể (Entity).
Vận động (Manipulation).
Bốn Con Thú
Sự hiện thấy của Nêbucátnếtsa trong đoạn 3 thường được gọi là giấc mơ về pho tượng (Image vision). Trong sự hiện thấy ấy Đức Chúa Trời bày tỏ thời kỳ Dân Ngoại cai trị sẽ xảy ra từ thời Nêbucátnếtsa cho đến cuối thời kỳ Dân Ngoại (times of the Gentiles). Nội dung của đoạn 7 thường được gọi là khải tượng con thú (beast vision). Bạn có thể nhận thấy chủ đề trong hai sự hiện thấy nầy tương tự với nhau. Tuy nhiên, trong một khải tượng, theo quan điểm của con người, của một nhà cai trị ngoạøi bang, thì thấy rằng sự cai trị của con người thật tiến bộ, huy hoàng và càng ngày càng cải tiến. Còn ở khải tượng kia, theo cái nhìn của Đức Chúa Trời thì sự cai trị của con người chẳng khác gì loài thú, thoái hóa và mục nát.
Trong cả hai sự hiện thấy, chúng ta thấy bốn vương quốc hay bốn thực thể chính trị (Political tities) xuất hiện đều có vai trò quan trọng trong chương trình của Đức Chúa Trời. Trong đoạn 2 Đức Chúa Trời ban cho chiếc chìa khóa để giải thích ý nghĩa sự tượng trưng qua pho tượng. Vì thế ý nghĩa nầy chúng ta hiểu được lịch sử qua những giai đoạn khác nhau cho đến thời kỳ cuối cùng của sự cai trị của loài người. Khi chúng ta khảo sát đoạn 7, chúng ta hãy xem có chìa khóa tương tự ấy trong nội dung không, hầu có thể tìm thấy vài dấu vết để nhận diện những yếu tố khác nhau.
Đaniên nhìn thấy bốn con thú từ dưới biển đi lên. Theo KhKh 17:15, biển tiêu biểu cho “những dân tộc, những đám đông, những nước, và những thứ tiếng. Từ biển nhân loại, con thú thứ nhất đi lên. Nó giống như con sư tử và có cánh chim ưng. Vị tiên tri thấy những cánh của nó bị nhổ, nó bị cất lên khỏi đất, đứng hai chơn như người ta, và nó được ban cho lòng loài người (câu 4). Con thú thứ hai, giống như con gấu, nó đứng nghiêng cửa mình, có ba cái xương sườn trong miệng, giữa những răng, và người ta bảo nó rằng: Hãy chổi dậy, hãy cắn nuốt nhiều thịt (câu 5). Kế đó, có một con khác giống như con beo, ở trên lưng có bốn cánh như chim, con thứ đó có bốn đầu, và được ban cho quyền cai trị (câu 6). Cuối cùng vị tiên tri thấy một con thú không mô tả được (nondescript). nó dữ tơn, rất mạnh và có sức lắm, nó có những răng lớn và sắt. Nó nuốt ăn và nghiền nát, dùng chơn đạp vật gì còn lại. Nó cũng có mười sừng. Tuy nhiên, Đaniên nhìn thấy có một cái sừng nhỏ khác ở giữa những sừng ấy mọc lên, và ba cái trong những sừng trước bị nhổ đi trước mặt nó. Sừng nhỏ nầy có mắt in như mắt người và một cái miệng nói lời xấc xược (câu 7-8). Tuy nhiên, sự ngạo mạng của cái sừng nhỏ của con thú bị cất đi và con thú bị sự chỉ định thiên thượng tiêu diệt (câu 9). Sau đó có một vị giống như con người (son of man) lãnh trách nhiệm làm vua đời đời (câu 13-14).
Từ câu 9 - 14 chúng ta thấy trước sự uy nghi rực rõ của sự kết thúc thời đại nầy. Đấng Thượng cổ ở trong toàn sự vinh hiển của Ngài và những đạo binh thiên sứ trên trời ai vào chổ nấy để chứng kiến kết cuộc của sự phản loạn và tội lỗi. Không những là quang cảnh vinh hiển oai nghi trước lúc mọi sự chống đối bị hủy diệt, nhưng còn có sự xuất hiện của Con Người để thành lập vương quốc đời đời của Ngài. Khải tượng nầy cho chúng ta hưởng trước tiên vị của sự vinh hiển đang chờ đợi chúng ta khi Christ trở lại, lúc thân thể chúng ta được thoát khỏi những ảnh hưởng của sự rủa sả và chúng ta sẽ giống như Cứú Chúa chúng ta (ICo1Cr 15:35-55, Phi Pl 3:20-21, ITe1Tx 4:13-18, IGi1Ga 3:2).
Trước khi chúng ta sang phần giải thích, chúng ta hãy khảo sát vài điểm tương tự giữa hai sự kiện trong những đoạn 2 và 7. Cả hai đều liên quan đến tiến trình của những vương quốc hay của những thực thể chính trị. Một chế độ mười nước (mười ngón chân và mười sừng) xuất phát từ vương quốc thứ tư của mỗi khải tượng. (Oáng chân bằng sắt là vương quốc thứ tư của DaDn 2:40, và con thú không mô tả được là vương quốc thứ tư của đoạn 7). Trong cả hai sự hiện thấy Đức Chúa Trời đếu can thiệp vào thời điểm thể chế mười nước để chấm dứt sự cai trị của con người và thiết lập sự cai trị đời đời. Trong đoạn 2 dường như chúng ta có dàn ý chung, nhưng trong đoạn 7 chúng ta có những chi tiết có ích để cho chúng ta có bức tranh đầy đủ hơn.
1. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Theo Kinh Thánh, biểu tượng biển là sự hung dữ của thiên nhiên.
b. Chúng ta không thể chính xác nhất thiết rằng sự hiện thấy của Đaniên trong đoạn 7 có ít chi tiết về viễn cảnh tương lai hơn sự hiện thấy của Nêbucátnếsa.
c. Những sự hiện thấy của vua và của tiên tri gợi ý về điểm kết thúc của những vương quốc trần gian và sự cai trị chăc chắn của Đức Chúa Trời trong tương lai.
d. Hoạt động của hòn đá đục ra trong đoạn 2 dường như tương tự với hoạt động của Con Người ở đoạn 7, trong đó người ấy tiếp nhận sự cai trị hoàn vũ.
e. Những quang cảnh cuối cùng của sự cai trị của loài người và sự lên ngôi của Con Người giúp chúng ta hiểu được diễn tiến của tương lai.
2. Trong sổ tay của bạn hãy mô tả sự hiện thấy về những con thú của đoạn 7.
Giải Thích Đaniên 7:15-28
Đaniên rất bối rối do sự hiện thấy nầy và mong muốn được hiểu rõ ý nghĩa. Như vậy, ông đã hỏi một người hiện ra trong khải tượng ý nghĩa của mọi sự ấy (câu 15-16). Người nầy cho Đaniên biết rằng bốn con thú tượng trưng cho bốn vương quốc trần gian, tuy nhiên, phát ngôn viên cũng nhanh nhẹn nói thêm rằng, “Nhưng các thánh của Đấng Rất Cao sẽ nhận lấy nước, và được nước làm của mình đời đời” (câu 18). Bất hạnh thay, lời giải thích ngắn gọn nầy không nói cho chúng ta cách đặc biệt về những con thú tiêu biểu cho vương quốc nào”.
Như chúng ta sẽ thấy trong đoạn 8, có sự liên tục nhắc đến những vương quốc có tác động mạnh mẽ trên dân sự của Đức Chúa Trời trong thời Đaniên và những ngày kế tiếp. Điều nầy khiến cho vài học giả Kinh Thánh tin rằng Đaniên đoạn 7 chỉ nhấn mạnh diễn tiến của những vương quốc được đưa ra trong đoạn 2. Tác giả của bạn gợi ý rằng ba con thú đầu tiên nầy có thể tượng trưng cho những quốc gia hiện thời sẽ ủng hộ cho nhà cai trị thế giới hầu đến. Oâng ta tin rằng câu 17 ám chỉ rằng bốn vưong quốc sẽ dấy lên trong tương lai, và Đaniên viết trong thời kỳ Tân Babylôn (New Babylonian pariod), vốn đã tồn tại trong một thời gian. Bạn cũng sẽ nhận thấy khi chúng ta thảo luận KhKh 13:1-17, ba con thú nầy được đề cập liên hệ với nhà cai trị cuối cùng của thế giới ở câu 2. DaDn 7:1-28 và KhKh 13:1-17 là những chổ duy nhất trong Kinh Thánh mà biểu tượng ba con thú nầy xuất hiện với nhau.
Dù sao thì số phận của dân sự Đức Chúa Trời vẫn bị cột chặt với số phận của những quốc gia biểu trưng trong những khải tượng được ban cho trong sách Đaniên. Chúng ta thấy trong đoạn 2 thời kỳ dân ngoại bắt đầu với sự việc người Babylôn chinh phục Giuđa. Hơn nữa, sự cai trị của Mêđi và Batư giúp cho việc bảo tồn quốc gia Ysơraên sau thời gian phu tù và đem lại sự tái định cư cho những người Giuđa phu tù. Sự cai trị của Hylạp cho Ysơraên sẽ thấy trước, trong số những điều khác, sự cai trị vào thời kỳ cuối cùng của một nhà cai trị phản bội và khôn ngoan. Sự cai trị của người La mã mang lại cho Ysơraên vừa những lợi ích lớn vừa hạn chế bớt sự bồng bột trong khoảng thời gian dài. Chúng ta hãy giũ những sự kiện về lịch sử Ysơraên trước khi chúng ta tiếp tục phần giải thích.
Người giải thích nói rằng con thú thứ tư, là một vương quốc hay thực thể chính trị sẽ có ảnh hưởng lớn trên quả đất. Sự cai trị của nó sẽ lan rộng cách hiệu quả và không bị ai chông cự (câu 23). Mười vua hay những nhà lãnh đạo chính phủ kết hợp với nhau trong một loại xếp hàng sẽ phát xuất từ vương quốc nầy (câu 24). Rồi sau khi liên minh (coalition) mười nước dấy lên, thì một vua khác với mười vua nầy sẽ đánh đổ ba trong mười vua ấy (câu 24). Được mô tả trước là cái sừng nhỏ, sau khi kiểm soát được lãnh thổ của ba vua kia, người cai trị nầy sẽ làm cho mình trở nên người cai trị tối cao. Người ấy sẽ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời và sẽ đàn áp dân sự của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, nhà lãnh đạo đầy quyền lực nầy sẽ cố gắng thay đổi những thời kỳ và luật pháp vốn thiêng liêng và rất ý nghĩa. Người ấy sẽ thành công trong mục đích của mình trong “một kỳ, những kỳ và nửõa kỳ” (câ 25). Tuy nhiên, người ấy sẽ bị tước đoạt quyền hành và bị hủy diệt do vương quốc hầu đến của Đức Chúa Trời (câu 26). Bấy giờ dân sự của Đức Chúa Trời sẽ cai trị quả đất dưới quyền của Ngài (câu 27). Những sự kiện nầy cho chúng ta cái nhìn chung về những biến cố kết thúc của thời đại nầy bổ sung vào những gì chúng ta khảo sát trong đoạn 2. Bây giờ chúng ta hãy tập trung sự chú ý của mình vào vài kiện từ những câu hỏi của vị tiên tri, cùng lời giải và đặt chúng vào tương lai.
Từ một vương quốc thứ tư nầy một liên minh mười nước sẽ dấy lên vào thời kỳ cuối cùng (câu 24). Từ thực thể chính trị nầy một vua khác hay nhà lãnh đạo khác sẽ dấy lên (so sánh câu 7 với câu 8). Theo diễn tiến thì đến một lúc người nầy được gọi là cái sừng nhỏ sẽ nổi bật và thay thế ba trong mười vua (câu 8, 20, 21, 24-25). Trong từ ngữ thực tế ông ta sẽ gánh trách nhiệm kiểm soát liên minh hay đế quốcvà dùng sức mạnh loại trừ ba trong mười nhà lãnh đạo, tự lập cho mình thành người cai trị mạnh mẽ. Người nầy rất kiêu ngạo, khoe khoang, gây ấn tượng mạnh mẽ và dường như được cảm thúc bởi mục đích thuộc địa ngục. Người nầy tích cực chống nghịch Đức Chúa Trời, nói những lời phạm thượng với Ngài và đàn áp dân sự Ngài. Thật vậy, người ấy công kích Đức Chúa Trời qua dân sự Ngài và thành công trong việc đánh bại họ trong thời gian ba năm rưỡi, 42 tháng hay 1260 ngày, hay một kỳ, những kỳ và nữa kỳ (câu 22, 25). Sau đó người ấy bị phán xét và bị tiêu diệt, những dân sự của Đấng Tối Cao sẽ cai trị dưới quyền của Đức Chúa Trời cho đến đời đời.
Phần Thời Gian Lặp Lại Trong Đaniên Và Khải Thị
Khi chúng ta nhìn trước viễn cảnh của tương lai, chúng ta có thêm một số chi tiết đặc biệt để đóng góp vào những gì chúng ta học được ở đoạn 2. Mặc dù chúng ta không bàn về việc nhận diện ba con thú đầu vốn không được đưa ra rõ ràng, nhưng chúng ta có thể biết chắc điều điều nầy: liên minh mười nước sau cùng sẽ dấy lên từ đế quốc thứ tư (có lẽ ở hình thức sửa đổi). Hơn nữa chúng ta sẽ thấy rằng một vị lãnh tụ mạnh mẽ sẽ nắm quyền kiểm soát vương quốc nầy. Vậy, lần đầu tiên trong phần ký thuật của Kinh Thánh, chúng ta có cái nhìn lướt qua về một nhân vật, cùng với những danh xưng khác, được gọi là Antichrist. Và chúng ta cũng học được một so1 điều về bản chất, phương pháp thực hiện và số phận cuối cùng của người ấy. Trên hết mọi sự, chúng ta đạt được những chi tiết quan trọng vè những biến cố của thời kỳ cuối cùng. Những điều nầy có thể giúp chúng ta hiểu thêm về những thời kỳ trong đó chúng ta sống và trách nhiệm của chúng ta trong ánh sáng của những sự kiện nầy.
3. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Người giải thích cho Đaniên biết rằng bốn con thú tiêu biểu cho bốn khía cạnh của sự cai trị của con người.
b. Những quốc gia tượng trưng bằng những khải tượng về pho tượng và con thú bày tỏ sự quan trọng vì cớ ảnh hưởng của những quốc gia ấy trên số phận của dân sự Đức Chúa Trời.
c. Chúng ta có thể nói rằng Đaniên chú ý nhiều đến con thú thứ tư và những gì tiến triển từ đó hơn là đối với ba con thú đầu.
d. Liên minh mười nước hay đế quốc là một thực thể trong quá khứ mà chúng ta có thể nhận diện được cách dểõ dàng.
e. Cái sừng nhỏ hay một vua khác là những từ ngữ dùng để mô tả một người sẽ đạt được quyền kiểm soát thực thể mười nước.
f. Phương pháp là một người được gọi là “cái sừng nhỏ dùng để nắm quyền cai trị liên minh là tài ngoại giao hòa bình”.
4. Người lãnh đạo của thực thể mười nước sẽ sử dụng quyền hành.
a. Trong thời gian ba năm rưỡi.
b. Trên dân sự Đức Chúa Trời, đánh bại họ trong khi người ấy cai trị.
c. Chỉ trong khu vực kiểm soát về hành chánh.
d. Trong những điều được gợi ý ở câu a, b, và c.
e. Chỉ trong những điều được ghi nhận ở câu a và b ở trên.
5. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt tiêu biểu cho ví dụ giải thích đúng đắn về những gì phát xuất từ nội dung Kinh Thánh.
a. Bốn con thú tiêu biểu cho Babylôn, Mêđô-Batư , Hy lạp và La mã.
b. Thực thể mười nước là điển hình chót của thời đại cuối cùng về sự cai trị của loài người.
c. Lãnh tụ của thực thể mười nước sẽ sử dụng sức mạnh để phô bày sự kiểm soát của mình trên đế quốc.
d. Ngay trước khi con Người trở lại, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ bị đàn áp cách mạnh mẽ do một người cai trị không kính sợ Đức Chúa Trời, người ấy sẽ nói nghịch với Đức Chúa Trời và được thịnh vượng khi áp bức dân sự Đức Chúa Trời.
e. Những con thú đại diện cho quyền lực chính yếu của thế giới ngày nay dưới sự lãnh đạo tập thể của Tổ Chức Liên Hợp Quốc.
6. Trong sổ tay của bạn , cho biết tín hữu Cơ Đốc có thể biết điều gì về những biến cố trong thời kỳ cuối cùng dựa vào nội dung những đoạn Kinh Thánh chúng ta đã học.
Chiên Đực Và Dê Đực
DaDn 8:1-27
Trong năm cuối của đời Bênxátxa cai trị, Đaniên nhận được sự mặc khải vốn phác họa cho diễn tiến của hai đế quốc thuộc tương lai hơi gần. Khi bạn đọc từ câu 1- 14, có lẽ bạn nhận thấy có hình ảnh của hai con vật nổi bật trong khung cảnh hoạt động: con chiên đực và con dê đực. Sự nhấn mạnh đầu tiên nhắm đến con chiên đực khi nó di chuyển sang phía Nam, phía Bắc và phía Tây theo ý muốn của mình. Không có điều gì có thể ngăn cản bước chân của nó khi nó lớn lên và mạnh mẽ. Tuy nhiên, sau đó nhà tiên tri thấy một con dê với một cái sừng nổi bật mọc giữa hai con mắt từ phía Tây chạy nhanh đến tấn công con chiên đực, và thắng thế hoàn toàn. Đến lượt con dê đực trở thành to lớn, nhưng đến đỉnh cao của sức lực của nó chiếc sừng đáng để ý ấy bị gãy. Thế chổ cho sừng đó có bốn chiêc sừng khác mọc lên,nhưng từ một trong bốn chiếc sừng nầy lại có một chiếc sừng khác nữa lại mọc lên. Nó khởi đầu nhỏ, nhưng dần dần lớn lên về hướng Nam hướng Đông và đến Đất Vinh Hiển (Beautiful Land). Khi nó lớn lên, nó đánh hạ những sừng khác xuống tự lập mình lên làm vua, được thịnh vượng một thời gian, nó đưa điều ác lên và ném bỏ lẽ thật xuống đất. Vị tiên tri được cho biết rằng thời kỳ hỗn loạn nầy sẽ kéo dài khoảng 2300 ngày hoặc gần bảy năm. Sau đó lẽ thật sẽ được tái lập và sự công bình sẽ thắng thế.
Đây là thực chất của lời mặc khải mà Đaniên nhìn thấy. Tự nhiên, ông bối rối và tìm cách hiểu được ý nghĩa ấy. Ngay lúc đó, một thiên sứ đến để giúp đỡ ông (câu 15-18). Giống như trong đoạn 2, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta chìa khóa chúng ta cần để mở ra sự đồng nhất của hai quốc gia được tượng trưng bằng con chiên đực và con dê đực. Con chiên đực tượng trưng cho đế quốc đồng trị Mêđi và Batư (câu 20). Hai sừng tiêu biểu cho hai vua vủa vương quốc nầy. So sánh kỹ câu 3 với lịch sử thế giới, chúng ta thấy một điều đáng chú ý : Mêđi là phần mạnh hơn của vương quốc chung nầy vào lúc bắt đầu, nhưng dần dần Batư trở nên có ưu thế hơn. Kinh Thánh chép rằng: ‘Một trong hai cái thì cao (dài, theo bản tiếng Anh) hơn cái kia, nhưng cái dài hơn mọc sau” (câu 3). Lịch sử thế giới ghi lại rằng những cuộc chinh phục của Mêđô-Batư tiến sang phía Nam, phía Bắc, và đặc biệt phía Tây. Gần hai trăm năm đế quốc mạnh mẽ nầy càn quét Trung Đông, nhưng sau đó nó gặp một lực lượng không thể chống cự được từ phía Tây.
Câu 21 cho chúng ta nhận diện con dê và giải thích ý nghĩa sự kiện được đưa ra ở câu 5-7. Con dê đực tượng trưng cho vương quốc Hy lạp và cái sừng là vua thứ nhất. Theo lịch sử thế giới chúng ta học biết về sự dấy lên của Alịchsơn đại đế và những cuộc viễn chinh nhanh như chớp của ông khi ông càn quét sang phía Đông để chiếm đế quốc Mêđô-Batư. Vì cuộc chinh phục của ông ta quá hoàn hảo đến nổi chúng ta thường ám chỉ vương quốc mà ông chinh phục là Nền Văn Minh Hy lạp (Hellenistic Civilisation trong tiếng Hy lạp- Greek - còn gọi là Hellenes). Tuy nhiên, công tác của Alịchsơn kết thúc sau mười hai năm và đế quốc của ông bị chia ra bốn trong những tướng lãnh của ông. Hai vị tướng trong bốn người nầy có ý nghĩa cho việc nghiên cứu sách Đaniên là Ptolemy và Seleucus. Ptolemy phát triển một vương quốc hùng mạnh ở Ai Cập và Seleucus phát triển mạnh ở vùng Syri, mà sau khi bắt đầu thế kỷ thứ hai bao gồm cả phần đất palestine của Kinh Thánh. Như vậy vương quốc của Alịchsơn bị chia ra và bốn nhánh của vương quốc nầy không có sức mạnh như ông đã có (câu 22).
Bây giờ chúng ta hãy sang nội dung của câu 9-14, vốn được giải thích trong những câu 23-25. Tiên tri được báo cho biết rằng một nhà lãnh đạo mạnh mẽ sẽ dấy lên từ một trong bốn nhánh của đế quốc Hy lạp. Oâng ấy khởi đầu nhỏ bé nhưng lớn lên mạnh mẽ qua mưu đồ (intrugue), tài ngoại giao, và vận động chính trị. Khi đạt được quyền hành, ông cai trị tàn ác, bắt người khác phải theo ý muốn mình và các giá trị gian ác. Hơn nữa, ông sẽ tấn công dân thánh (holy people), loại trừ những giá trị thuộc linh, và được thành công trong một thời gian. Tuy nhiên, Đaniên được cho biết rằng nhà lãnh đạo nầy sẽ tự dấy mình lên chống lại Hoàng tử của các Hoàng tử , người ấy sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta hãy xem sự mặc khải nầy có sứ điệp gì cho dân sự của Đức Chúa Trời vào thời đó và sứ điệp gì, nếu có, cho dân sự Đức Chúa Trời vào thời kỳ cuối cùng.
Lịch sử và văn chương tôn giáo của thời kỳ nầy cho chúng ta tin tức có giá trị về số phận của đế quốc rộng lớn của Alịchsơn. Chẳng hạn, Josephus, một sử gia người Do tháiđã để cho chúng ta một tài liệu phong phú về sự chia cắt của đế quốc Alịchsơn (Alexander) và số phận những người kế vị ông trong cuốn Việc Đời Xưa của Người Do Thái (Antiquities of the Jews). Và Ngụy Kinh (Apocrypha) một loạt văn phẩm không được cảm thúc được viết ra trong thời kỳ nầy, cung cấp cho chúng ta thêm tài liệu về những vương quốc của Ptolemy và Seleucus cùng những người kế vị họ.
Trước đầu thế kỷ thứ hai trước Christ (khoảng 175 B.C), ngai vàng của đế quốc Seleucus bị bỏ trống. một thành viên trong gia đình Seleucus , Antiochus IV là người ở Hy lạp vào lúc bấy giờ, quyết định nắm quyền kiểm soát ngai vàng cho dù ông ta không phải là người kế nghiệp chính thức. Với sự giúp đỡ của một vị vua vốn có cảm tình với những mục đích của Antiochus, là người mà ông ta thề hứa kết bạn và giúp đỡ trong tương lai, thì Antiochus dành được quyền kiểm soát vương quốc Seleucus. Một khi ông ta nắm được quyền hành, thì ông cũng cố địa vị của mình bằng sự tặng qùa và hối lộ. Lịch sử cho biết rằng Antochus nắm quyền hành bằng sự nịnh hót, hối lộ và lừa gạt. Oâng ta bắt đầu bằng con đường nhỏ bé, nhưng chẳng bao lâu trở thành vĩ đại. Thật vậy, chỉ có trong thời gian ngắn mà ông đã kiểm soát toàn vương quốc Ptolemai nữa. Tuy nhiên, tham vọng kết hợp hai vương quốc Seleucid và Ptolemaic thành mộât bị Thượng Viện La mã ngăn cấm. Vào thời điểm nầy, vị vua thất vọng nầy chuyển năng lực của mình sang nơi khác.
Cai trị được khoảng tám năm, vị vua lừa dối ngạo mạn nầy quay sang Đất Vinh Hiển (câu 9) và dân thánh (câu 9), rõ ràng là ám chỉ về đất palestine và người Do thái, khi hai từ ngữ nầy được dùng trong sách (DaDn 9:24). Trong nổ lực muốn phá hủy căn gốc của tinh thần quốc gia Do thái và áp đặt một hệ thống đồng nhất về sự trung thành tôn giáo trên nhiều dân tộc qui phục mình, Antiochus cấm thờ phượng của người Do thái. Lịnh cấm nầy bao gồm việc cấm đọc sách Luật Pháp, thi hành những hình thức lễ nghi tôn giáo và nghi lễ cắt bì. Hơn nữa, ông còn ra chỉ dụ buộc thần dân người Do thái phải đổi tôn giáo của họ sang sự trung thành với ông ta, chấp nhận những giá trị ngoại giáo và tôn trọng những buổi lễ của tà thần. Biết được cường độ mãnh liệt của đức tin người Do thái, nên Antiochus nổ lực sử dụng lực lượng quân sự để bắt họ phải tuân theo chỉ thị. Từ năm 168 B.C. đến ba năm rưỡi sau đó, những người Do thái nhiệt tình chịu đựng sự bách hại tàn bạo (atrocities) khi nhà vua độc ác nầy không từ một phương pháp nào để phá vỡ tinh thần Do thái và như vậy cho phép ông ta đạt được mục đích của mình.
Antiochus thay thế vị thầy tế lễ thượng phẩm đương kim bằng một người có thể thực hiện những chính sách bất kỉnh của ông ta. Oâng ta thẳng tay giết những người làm phép cắt bì cho bé trai sơ sinh và những người giữ các lễ nghi của Do thái. Tuy nhiên sự xúc phạm cao độ của ông ta và làm ô uế những cuộn sách thánh Torah bằng cách nhúng vào mỡû heo trước khi đem đốt. Rồi đặt con heo lên bàn thờ trong đền thờ để bày tỏ sự khinh bỉ của ông ta đối với Luật pháp. Tự nhiên, điều nầy dẫn đến việc những người do thái kính sợ Đức Chúa Trời bày tỏ sự thờ phượng trong đền thờ. Tuy vậy, những lực lượng của nhà vua xua đuổi dân chúng vào làng mạc của họ để bắt họ chấp nhận chính sách mới. Những người trung thành buộc phải làm ô uế mình bằng việc ăn thịt heo, hoặc bị giết, nhưng đây là điều đòi hỏi quá nhiều. Mattathias, một thầy tế lễ kính sợ Đức Chúa Trời, đã phất cờ làm cuộc cách mạng, và một trong những con trai ông là Judas Maccabacus, lãnh tụ của một đạo quân thiện chiến, và cuối cùng đuổi được quân đội Seleucid ra khỏi đất nước. Tuy nhiên nhà vua khong hiện diện để chứng kiến việc thất bại của hệ thống của ông. Trái lại, trong lúc ông đang ở phần đất phía đông của vương quốc mình thì bị chết cách lạ lùng và huyền bí.
Chúng ta thấy đây là điều hé mở của lời tiên tri liên quan đến vương quốc Mêđô- Batư, Hy lạp, và các yếu tố của đế quốc Hy lạp bị chia ra. Cẩn thận phần hợp lý bối cảnh nầy tiết lộ cho chúng ta thấy một nhà lãnh đạo tàn ác (diabolicalleader) là người có quyền hành do những mưu đồ độc ác và sức mạnh. Nhà lãnh đạo Seleucid nầy được nhận diện rõ ràng trong lịch sử, và dường như điều nầy đã ứng nghiệm lời tiên tri một cách chính xác và đúng hệt. Vì mọi yếu tố của lời tiên tri nầy được ứng nghiệm quá chính xác, nên đã có người hỏi,”Tại sao Đức Chúa Trời lại nhấn mạnh sự chú ý quá nhiều vào một giai đoạn quá ngắn trong lịch sử của Ysơraên?”. Chúng tôi có cảm nhận rằng , vấn đề đó sẽ dẫn chúng ta khảo sát những lời tiên tri khác giống như thế được báo trước. Đoạn 2 bày tỏ về thực thể chính trị của thời kỳ cuối cùng, nhưng không đưa ra dấu hiệu nào của người lãnh đạo. Tuy nhiên, đoạn 2 nói rõ về liên minh mười nước và một nhà lãnh đạo ngạo mạn sẽ gây chiến với dân sự của Đức Chúa Trời trong thời gian ba năm rưỡi cho đến khi người ấy bị tiêu diệt khi Đấng Christ đến . Như vậy chúng ta sẽ thấy một người khác giống như Antiochus sẽ nắm quyền vào thời kỳ cuối cùng. Điều nầy dẫn nhiều học giả Kinh Thánh đi đến kết luận rằng trong con người Antiochus IV chúng ta thấy trước Antichrist hầu đến. Vậy hãy ghi nhớ sự kiện nầy khi bạn đọc Đaniên và Khải huyền.
7. Dựa vào phần nghiên cứu của chúng ta đến đây, trong những bản tóm tắt sau đây, câu nào tóm tắt tốt nhất về nội dung và mục đích của Đaniên đoạn 8?
a. Sự nhấn mạnh chủ yếu là trên sự dấy lên, phát triển và số phận của Mêđô-Batư và Hy lạp trong lịch sử.
b. Đoạn 8 nhấn mạnh bối cảnh, sự xuất hiện, và sự sụp đổ của các đế quốc Mêđô- Batư và Hy lạp để định vị trí và nhận diện một vị vua là người có mối quan hệ quan trọng đặc biệt đối với dân sự của Đức Chúa Trời.
c. Đoạn 8 nhìn qua các vương quốc Mêđô-Batư, Hy lạp và những vương quốc phát xuất đế quốc nầyđể tập trung và nhận diện chính xác người cai trị thế giới hầu đến.
8. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Như trong đoạn 2, có một chìa khóa để nhận diện hai hình ảnh chính được tượng trưng trong đoạn 8.
b. Những chi tiết từ lịch sử thế giới góp phần lớn vào sự hiểu biết của chúng ta về dàn ý được đưa ra trong sứ điệp tiên tri của đoạn nầy.
c. Dù đế quốc của Alịchsơn bị chia thành bốn phần, nhưng sự nhấn mạnh trong sách Đaniênchỉ vào hai phần thôi.
d. Phần ký thuật của Kinh Thánh chứng tỏ rõ rằng thủ lãnh tàn bạo sẽ nắm quyền bằng sức mạnh mà thôi.
e. Theo phần ký thuật của Kinh Thánh, người lãnh đạo tàn ác hoàn toàn không thành công trong nổ lực của mình trong việc phát huy sự lừa dối, đàn áp dân sự của Đức Chúa Trời, và công khai chống cự Đức Chúa Trời.
f. Nhìn về tương lai, trong đó Đaniên 2 và 7 cũng đưa ra một số chi tiết về những biến cố của những thời kỳ cuối cùng, cái sừng nhỏ tương lai sẽ không bị bất cứ kẻ thù con người nào tiêu diệt, nhưng bị chính bàn tay của Đức Chúa Trời xử lý.
Bảy Mươi Tuần Lễ
DaDn 9:24-27
Đọc cẩn thận Đaniên đoạn 9 chúng ta thấy vài sự kiện quan trọng. Trong số những điều khác, chúng ta thấy Đaniênnói về sự tàn phá của quê hương. nó phải ở trong tình trạng hoang vu trải qua nhiều năm. Thật vậy, lời Chúa sẽ phán qua tiên tri Giêrêmi, nói rằng tình trạng nầy sẽ kéo dài bảy mươi năm (Gie Gr 25:11, 29:10). “Tại sao bị hoang vu?” “Tại sao lại bảy mươi năm ?” bạn có thể hỏi như thế. Dĩ nhiên, lý do trực tiếp của sự hoang vu là tội lỗi của dân sự Đức Chúa Trời, những người từ khước Lời của Ngài, những sứ giả và sự phán xét đầu tiên (IISu 2Sb 36:15-21). Tuy nhiên, nguyên nhân lâu dài dường như là dân sự đã từ khước việc tôn trọng hệ thống của Đức Chúa Trời về năm Sa bát (so sánh LeLv 25:1-4 với IISu 2Sb 36:21). Vì Ysơraên đã không cho đất hưởng năm Sa bát ( cứ sáu năm thì nghỉ một năm ) trong thời gian 490 năm, nên họ đã nợ không cho đất nghỉ bảy mươi năm.
9. Từ những phần Kinh Thánh được trưng dẫn ở trên, Đức Chúa Trời truyền lịnh cho Ysơraên phải để đất nghỉ một năm.
a. 7 năm
b. 70 năm.
c. 490 năm.
d. 50 năm.
Tác giả tin rằng Đaniên đang nghĩ về thời kỳ 490 năm đầu khi ông cầu nguyện trong DaDn 9:1-19. Thời kỳ phán xét đã chạy gần hết vòng của nó. bây giờ đến lúc khôi phục nên tác giả cầu thay cho dân sự mình. tại điểm nầy, Gápriên đến để cho ông biết về thời kỳ 490 năm khác có liên quan đến tương lai của Ysơraên. Những câu bạn đọc trong 9:24-27 thường được gọi là “lời tiên tri của bảy mươi tuần lễ” (Bản KJV dịch chữ “tuần lễ” (weeks), còn bản NIV dịch là “những lần bảy” (sevens). Những học giả bảo thủ xem thời kỳ nầy là “những tuần lễ năm” nghĩa là “bảy năm” cho một tuần lễ.
Khởi đầu với câu 24, chúng ta khảo sát sáu điều mà Gápriên nói sẽ xảy ra cho dân của Đaniên (Ysơraên), và với thành thánh (Giêrusalem). Nên nhớ lời tiên tri nầy trực tiếp cho người Ysơraên, chứ không cho Hội Thánh. Sáu yếu tố nầy xuất hiện để cho thấy toàn bộ mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho dân Ysơraên. Rồi trong những câu 25 và 26, Gápriên giải thích thời kỳ nầy với từ ngữ đặc biệt là “tuần lễ” theo chi tiết. Trước hết, hãy ghi nhận có bao nhiêu “tuần lễ” đứng giữa chiếu chỉ cho hồi hương và tái xây dựng thành Giêrusalem cho đến khi Đấng xức dầu đến. Có cả thảy sáu mươi chín “tuần lễ” (tuần lễ năm hay bảy năm). Ở giữa những sự kiện dường như bao bọc những câu nầy, chúng ta thấy rằng:
1. Giêrusalem (từ chổ đứng của Đaniên) phải được tái thiết trong thời kỳ khó khăn (tiếp theo những năm bị tù).
2. Sáu mươi chín “tuần” Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi và không có gì cả .
3. Dân của người cai trị hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh, báo hiệu cho sự tàn phá, chiến tranh và hoang vu.
Bây giờ chúng ta phải khảo sát những sự kiện nầy hơi chi tiết hơn. Đấng chịu xức dầu, là Jesus Christ. Tiếng Hêbơrơ là Mêsi (Messiah) có nghĩa là Đấng chịu xức dầu giống như nghĩa của chữ Hy lạp “Christ”. Cụm từ “ sẽ bị trừ đi” rõ ràng là chỉ về sự hiện diện đến lần thứ nhất của Jesus. Giữa chiếu chỉ tái thiết Giêrusalem và việc Đấng Christ bị trừ đi có hai phần thời gian đi liền với nhau. Có thể mô tả theo sơ đồ sau:
Bảy “tuần” (7x7)=49 năm
Sáu mươi hai “tuần” (62x7)=434năm
= Sáu mươi chín “tuần” (69x7) =483 năm
Thời gian báo trước = 70 “tuần” = 490 năm
Chiếu chỉ tái thiết
Giêrusalem đến Đấng Mêsi = 69 “tuần” = 483 năm
Thời gian còn lại = 1 “tuần” = 7 năm
Trong bản chiết tính nầy chúng ta thấy còn môt “tuần lễ”còn một “tuần lễ” còn lại mới hoàn thành sáu điều đuợc đề cập trong câu 24 cho dân sự của Đaniên, Ysơraên, và thành thánh của ông, Giêrusalem. Bây giờ chúng ta hãy khảo sát câu 26 để thấy những gì xảy ra cho Đấng chịu xức dầu, thành thánh và nơi thánh . Đấng chịu xức dầu phải “bị trừ đi”. Một số học giả đã tính toán rằng từ khi có chiếu chỉ tái thiết Giêrusalem đến khi Chúa Jesus cởi lừa vào thành Giêrusalem vào lễ lá (Palm Sunday), qua hành động nầy Ngài công bố chính Ngài là Đấng Mêsi (XaDr 9:9 và Mat Mt 21:4-11) được 483 năm. Ít lâu sau đó Ngài bị trừ đi khi Ngài dâng mạng sống mình làm của lễ hy sinh chuộc tội cho tội nhân, sự chết của Chúa Jesus xảy ra trong thời gian giữa năm 29 và năm 33 A.D.
Thứ hai, thành phố của Đaniên, thành Giêrusalem, cũng như nơi thánh, bị hủy phá (câu 26). Tuy nhiên, biến cố lịch sử nầy mãi đến năm 70 A.D. mới xảy ra. Sau thời gian vây thành lâu dài và quyết diệt Titus, một tướng lãnh của La mã đã phá hủy thành. Vì quá giận dữ của sự chống cự mạnh mẽ của người Do thái, nên quân đội của ông đã đốt cháy đền thờ nguy nga tráng lệ mà Hêrốt đã xây cất. Trong sức nóng dữ dội, vàng của đền thờ chảy ra và chảy vào kẻ đá xây cất đền thờ. Để lấy vàng , những người lính La mã đã cạy từng hòn đá của đền thờ, ứng nghiệm trọn vẹn những lời phán của Chúa Jesus trong 24:2: “...chẳng còn hòn đá nào còn lại trên hòn đá nào mà không bị đổ xuống”. Làm thế nào để chúng ta tính khoảng trong giữa lúc Chúa Jesus chịu chết và sự hủy phá thành Giêrusalem? Trong lời tiên tri những tiên tri ký thuật những biến cố khi sự mặc khải đến với họ, tuy nhiên, họ thường không hiểu được những yếu tố thời gian trong sự ứng nghiệm. Phierơ hiểu được những khoảng trống nầy trong sự ứng nghiệm khi ông ta ghi nhận sự quan tâm của những người dự ngôn về sự chịu khổ của Christ và sự vinh hiển theo sau (IPhi 1Pr 1:11). Tác giả của bạn tin rằng ở dây có một khoảng trống thời gian tiên tri khoảng bốn mươi năm mà hiển nhiên Đaniên chẳng biết gì cả.
DaDn 9:27 ở đây nói về ‘người ấy” (he). Đây là “người cai trị hầu đến” ở câu 26. Người cai trị nầy khác hẳn với người được đề cập ở câu 25. Ở câu 26, người ấy được nói đến ở thì tương lai. Bây giờ trong câu 27 chúng ta đi đến một phần khác của yếu tố thời gian được Gápriên đề cập. Sáu mươi chín “tuần” đã đi qua đi, chỉ còn một “tuần”, “tuần lễ” thứ bảy còn lại. Tác giả của bạn tin rằng có một khoảng trống thời gian không biết xảy ra giữa những biến cố xảy ra trong sáu mươi chín tuần lễ đầu và những gì chưa xảy ra trong “tuần lễ” cuối cùng được chỉ thị ở câu 24. Gần 2000 năm trôi qua kể từ những biến cố của sáu mươi chín “tuần lễ” đầu xảy ra trong lịch sử, nhưng những biến cố được nói tiên tri cho “tuần lễ” cuối cùng, chúng ta tin rằng, đang nằm ngay trước mặt.
Chúng ta hãy khảo sát kỷ câu 27. “Người ấy’ được nói đến chính là người được gọi là “Antichrist”. Chúng ta đã thảo luận về người nầy ở đoạn 7 và 8 với một số chi tiết, và chúng ta sẽ nhấn mạnh thêm về người ấy cách đặc biệt ở Khải huyền 13 và 17. Ở đây, Đaniên ghi nhận rằng người nầy sẽ lập giao ước với Ysơraên trong thời gian “một tuần lễ”, nghĩa là bảy năm. Tuy nhiên, vào giữa “tuần lễ” nầy, người sẽ phá giao ước, chấm dứt sự tự do tôn giáo, và lập một hệ thống thờ phượng giả dối. Sự cai trị của người ấy cứ tiếp tục cho đến hết kỳ đã định tại Armageddon. Chúng ta có thể tóm tắt một biểu đồ 490 năm được chỉ thị trong bảy mươi “tuần lễ” của 9:24-27.
DIỄN TIẾN THỜI GIAN TRONG BẢY MƯƠI “TUẦN LỄ” CỦA ĐANIÊN 9:24-27.
10. 9:24-27 liên quan đến dân sự của Đaniên và thành thánh. Nói tên dân sự nầy và thành thánh nầy.
.................................................................................................................................
11. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Trong Đaniên 9, có xuất hiện hai (2) thời kỳ 490 năm: một liên quan quá khứ và một có liên quan đến tương lai của Ysơraên.
b. Chữ được dịch là “bảy” (sevens) trong 9:24-27 tiêu biểu cho thời gian bảy năm và đã được gọi là “tuần lễ năm”.
c. Thời gian tổng cộng được nhìn thấy trong 9:24-27 là bảy mươi “tuần”, và chỉ trong thời gian 490 năm nầy chương trình Cứu Chuộc của Đức Chúa Trời cho Ysơraên được hoàn tất.
d. Sự hủy phá thành và nơi thánh mà Gápriên nói đến đã xảy ra vào năm 70 A.D. do tướng La mã là Titus.
e. Vua (người cai trị) hầu đến sẽ lập giao ước bảy năm với Ysơraên, nhưng người sẽ phá giao ước và cấm tự do tôn giáo sau ba năm rưỡi.
f. Giữa sáu mươi chín “tuần lễ” đầu và “tuần lễ” cuối, có một khoảng trống lớn trong đó Đấng chịu xức dầu sẽ mở ra kỷ nguyên công bình đời đời.
12. 9:25 chứng tỏ rằng giữa chiếu chỉ cho phép tái thiết Giêrusalem và sự hiện diện đến lần thứ nhất của Christ sẽ là
a. 490 năm
b. 483 năm
c. 434 năm
d. 49 năm
Điều quan trọng phải hiểu là bảy năm cuối nó liên quan đến sự hoàn tất của Đức Chúa Trời về những điều được nói trong lời tiên tri về bảy mươi “tuần lễ” để khôi phục quốc gia Ysơraên. Đọc cẩn thận Gie Gr 31:31-40 và RoRm 9:11 cho thấy rằng : 1) Đức Chúa Trời chọn dân Ysơraên, 2) Họ bị mù trong một thời gian, và 3) Họ sẽ được khôi phục lại. Chúng ta tin rằng sự khôi phục nầy sẽ xảy ra trong thời kỳ bảy năm cuối cùng. Một lần nữa chúng tôi xin bạn nhớ kỷ rằng bảy mươi nầy dành cho Ysơraên chứ không phải cho Hội Thánh.
Vì vậy chúng ta có thể tóm tắt những biến cố của thời kỳ cuối cùng có liên hệ với Ysơraên. Thứ nhất, Antichrist, một nhân vật mạnh mẽ hiển nhiên, sẽ lập một giao ước bảy mươi năm với Ysơraên. Có thể sức mạnh nầy là sự bảo đảm an ninh cho Ysơraên giữa những quốc gia xung quanh Ysơraên. Hiệp ước ấy cũng bảo đảm cho nền hòa bình ở Trung Đông. Tuy nhiên, dân Ysơraên , với sự tự mản rất lớn, rất cần điều gì đó để buộc họ nhìn nhận rằng mình cần một Cứu Chúa. Khi hiệp ước bị phá hủy, người Do thái bị mất tự do tôn giáo và chịu đựng sự ngược đãi chưa từng có như chúng ta sẽ thấy.
13. Khoanh tròn mẫu tự trước lời hoàn chỉnh ĐÚNG.
Trong “tuần lễ” thứ bảy mươi, dân Ysơraên sẽ
a. Ký một hiệp ước an ninh với một nhà lãnh tụ mạõnh mẽ.
b. Tiếp tục tự mãn cho đến khi Chúa đem sự công bình đời đời đến.
c. Chịu khổ khi hiệp ước của họ bị phá vỡ và sự tự do thuộc linh của họ bị cấm đoán.
d. Công nhận nhu cầu tối hậu của mình về một Cứu Chúa khi sự tự do tôn giáo của họ bị mất.
e. Đối diện một tương lai cực kỳ khốn khổ khi Đức Chúa Trời hoàn tất một chương trình Cứu Chuộc cho họ.
Ôn Tập Và Áp Dụng
Trong Bài 2 chúng ta đã thêm những sự kiện đặc biệt hơn vào kiến thức của mình về những biến cố tương lai. Mỗi sự hiện thấy đã thêm vào những sự kiện quan trọng, giúp chúng ta nhìn thấy tiến trình trong sự mặc khải thiên thượng và có một bức tranh đầy đủ hơn về những biến cố kết thúc của thời đại nầy. Bây giờ chúng ta hãy trở lại cách vắn tắt những gì chúng ta đã học ở đây và ở bài 1.
Đaniên đoạn 2 cho chúng ta một dàn ý tổng quát về diễn tiến của sự cai trị của con người từ thời Nêbucátnếtsa cho đến Hòn Đá bị đục. Chúng ta đã thấy rằng có bốn vương quốc mà những hoạt động của họ quyện lẫn với những hoạt động của dân sự Đức Chúa Trời. Rồi từ vương quốc thứ tư, chúng ta học biết rằng hình thức cuối cùng của sự cai trị của con người sẽ là thể chế hay liên minh mười nước sẽ xuất hiện để nắm quyền cai trị. Tuy nhiên, nó sẽ không có những yếu tố cần thiết để phát sinh sự hiệp nhất chân thật và lâu dài. Nó được cấu tạo bằng sắt và đất sét, tượng trưng cho nữa mạnh nữa giòn, một sự kết hợp chằng phát sinh sự hiệp nhất hay lâu bền. Tuy nhiên, sự chấm dứt của liên minh nầy phải do sự kết hợp lỏng lẻo đó, nhưng do việc Đức Chúa Trời can thiệp vào công tác của loài người. Chúng ta đã quan sát, vương quốc của Đức Chúa Trời phát triển cho đến khi nó đầy khắp đất, nghiền nát sự cai trị của con người và mang lại một trật tự mới, trường cửu.
Đoạn 7 thêm chi tiết vào dàn ý tổng quát được đưa ra trong đoạn 2 và giúp chúng ta tăng cường kiến thức của mình về những biến cố tương lai, nhấ mạnh vào những gì có liên quan đến những màn kết thúc của lịch sử nhân loại. Chúng ta học biết rằng liên minh mười nước của đoạn 2 sẽ ở dưới sự lãnh đạo của một nhân vật được mô tả là cái sừng nhỏ tương phản với những sừng khác của con thú thứ tư (vương quốc thứ tư). Người lãnh đạo nầy sẽ loại bỏ ba nhà lãnh đạo của liên minh khi ông ta gánh toàn quyền kiểm soát và cũng cố vị trí của mình. Hơn nữa, ông ta sẽ tích cực chống lại Đấng Tối Cao và có những lời nói và hành động phạm thượng, áp bức dân sự của Đức Chúa Trời, thay dổi thì giờ và luật lệ. Chúng ta thấy, người ấy sẽ thịnh vượng trong những chính sách gian ác và ngạo mạn của mình trong ba năm rưỡi, nhưng đến cuối cùng, người ấy sẽ bị hủy diệt do quyền năng và sự oai nghi của Đức Chúa Trời khi Chúa chúng ta sẽ khởi đầu vương quốc đời đời của Ngài. Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát những sự kiện đặc biệt về sự phán xét, số phận của kẻ ác, sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ, và vương quốc hầu đến của Chúa chúng ta.
Đoạn 8 cho chúng thấy viễn cảnh về người lãnh đạo hầu đến (vua hầu đến) gồm có việc người ấy nắm quyền hành, bản chất lừa dối, những thủ đoạn và kết cuộc. Trong gương mặt lịch sử của Antiochus IV, chúng ta thấy nhiều phẩm chất gian ác sẽ là đặc điểm của người lãnh đạo thời kỳ cuối cùng, tuy nhiên, người cai trị trong tương lai sẽ biểu lộ chúng trên bình diện rộng lớn hơn. Chẳng hạn, Antiochus là con người gian ác, lường gạt và tàn bạo. Oâng ta cũng là người ngược đãi dân sự Đức Chúa Trời, dân Do thái và thành công trong một thời gian, nhưng ông bị hủy diệt không do quyền lực của con người. Những điều nầy gợi ý rằng người lãnh liên minh trong tương lai sẽ nắm quyền bằng sự kết hợp của sự vận động ngầm và tài ngoại giao. Khởi đầu người ấy có thể “có bàn tay sắt nằm trong bao tay bằng nhung”, khi người tiến đến việc kiểm soát cả liên minh, nhưng chẳng bao lâu, người ấy sẽ biểu lộ bộ mặt thật của mình khi đánh hạ ba nhà lãnh đạo khác và nắm quyền cai trị toàn bộ. Bấy giờ, người sẽ bắt đầu chính sách chống lại dân sự Đức Chúa Trời, chống lại lẽ thật và sự công bình,chống lại chính Đức Chúa Trời, nhưng đến cuối cùng người ấy sẽ bị hủy diệt bởi sự phán xét thiên thượng.
Cuối cùng trong đoạn 9 chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời hãy bày tỏ một thời gian biểu có ý nghĩa cho dân sự Ngài gồm có bảy mươi “tuần lễ”. Trong thời gian biểu nầy Đức Chúa Trời có ý định chấm dứt tội lỗi, chuộc tội cho kẻ gian ác, và đem lại sự công bình đời đời. Chúng ta biết rằng giữa chiếu chỉ cho phép tái thiết Giêrusalem và sự hiện đến của Đấng Mêsi là sáu ươi chín “tuần lễ” cuối cùng hay “tuần lễ” thứ bảy mươi còn lại chưa hoàn tất, và chắc chắn nó sẽ đến. Chúng ta học biết rằng trong thời gian bảy năm cuối cùng nầy, Antichrist sẽ đến lập một hiệp ước bảy năm với người Do thái (DaDn 9:27). Biến cố nầy hứa hẹn sẽ được hoan nghinh như là một cú đập sáng chói nhất về tài ngoại giao trước nay chưa từng có, vì nó sẽ bảo đảm cho nền hòa bình tại vùng Trung Đông bị chiến tranh xé nát. Tuy nhiên, giữa thời gian ký hiệp ước nầy, người lãnh đạo lừa dối nầy sẽ thay đổi chính sách, chấm dứt sự tự do tôn giáo và khởi đầu những chính sách ghê tởm sẽ làm cho đền thờ hoang vu, và đuổi những người Do thái trung tín thờ phượng ra ngoài. Chính sách sẽ tiếp tục cho đến kết cuộc được báo trước cho con người bất kỉnh nầy gọi là Antichrist.
Với cái nhìn trước về tương lai và về dân tộc có liên quan trong những biến cố kết thúc, chúng ta được trang bị để sống và hiệu quả hơn. Theo ý nghĩa thực tế, kiến thức nầy sẽ giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của những biến cố sẽ xảy ra trong thế giới chúng ta khi chúng ta đang tiến nhanh đến thời kỳ kết thúc của thời đại nầy. Điều nầy cũng có ý nghĩa thúc giục chúng ta nhanh chóng hoàn tất công tác chưa làm xong của việc đem phúc âm của Chúa Jesus đến cho những người hư mất.
14. Dựa vào phần học tập của chúng ta về điều nầy, hãy xếp đặt cho phù hợp của những biến cố với những hành động hay những biến cố được liệt kê.
....a. Hiệp ước giữa người lãnh đạo dối gạt và người Do thái bị phá vỡ.
....b. Liên minh mười nước bị hủy diệt và được thay thế bằng vương quốc hầu đến của Hòn Đá Nghiền Nát.
....c. Vua lừa dối sẽ lập một hòa ước bảy năm với dân sự Đức Chúa Trời, người Do thái.
....d. Sự tự do tôn giáo bị tước đoạt khỏi dân sự của Đức Chúa Trời, nhiều người trong vòng họ bị giết, và một số hình thức xúc phạm Đức Chúa Trời làm cho đền thờ bị hủy phá.
....e. Qua sự tàn bạo và tài ngoại giao của vua lừa dối kiểm soát liên minh mười nước.
15. Dùng chữ tiến trình được mặc khải trong Đaniên 2,7, và 8 cũng như 9 có ý nghĩa gì.
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
16. Ý nghĩa của tiến trình được mặc khải:
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốc nhất.
1. Trong Đaniên đoạn 7, con thú được giải thích là tượng trưng cho
a. Đặc tính của nhân loại.
b. Bản chất của người không có Đức Chúa Trời.
c. Những vương quốc dấy lên từ quả đất.
d. Phẩm chất của những vương quốc đã hiện hữu trong qúa khứ.
2. Cái sừng nhỏ của đoạn 7 (little horn) và cái sừng nhỏ (small horn) mọc từ một trong bốn sừng nổi bật xuất phát từ con dê đực trong đoạn 8 tiêu biểu rõ ràng
a. Cùng một người.
b. Người cai trị có sức mạnh trong thời kỳ cuối cùng.
c. Lãnh tụ của thực thể mười nước.
d. Tất cả những câu ở trên: a), b), và c).
e. Chỉ có những gì được nói ở câu a) và b).
3. So sánh Đaniên đoạn 8 và lịch sử thế giới từ khoảng năm 330 B.C. Chứng tỏ rằng lời tiên tri liên quan đến cái sừng nhỏ (small horn) ứng nghiệm đầy đủ trong con người của.
a. Alịchsơn đại đế.
b. Antiochus IV.
c. Ptolemy Philadelphus.
d. Kerxes.
4. Hiển nhiên những chi tiết được đưa ra liên quan đến cái sừng nhỏ của Đaniên dụng ý để
a. Phục vụ như là sự báo hiệu trước về sự hiện đến của Antichrist.
b. Báo cho Ysơraên về những ngày khó khăn trong tương lai dưới sự cai trị của người Seleucid.
c. Cung cấp thêm chi tiết cho những sử gia trần tụd.
d. Làm những gì được ghi nhận ở trên: a), b) và c).
e. Làm những gì được ghi nhận ở câu a), và b).
5. Hai con vật trong đoạn 8, con chiên đực và con dê đực, tượng trưng những vương quốc trong lịch sử:
a. Lamã và Babylôn.
b. Mêđi và Batư.
c. Mêđô Batư và Hy lạp.
d. Hy lạp và La mã.
6. Dựa vào phần học tập của chúng ta ở điểm nầy, dường như liên minh mười nước có lẽ có thể xuất phát từ
a. Vài hình thức của đế quốc La mã cổ.
b. Một thực thể gồm những yếu tố hoàn toàn khác với bất kỳ với đế quốc nào trước kia.
c. Sự sáng tạo hiện hành của việc chọn lựa những quốc gia xuất sắc.
d. Một thực thể thuộc giáo hội vừa thuộc về lịch sử vừa thịnh hành.
7. Dường như con người sẽ được mọi người biết là Antichrist sẽ nắm quyền kiểm soát liên minh mười nước bằng phương tiện
a. Thuần túy quân sự nhờ đó người ấy sẽ chà đạp đối thủ.
b. Của sự kết hợp sự vận động ngầm, lừa dối và cuối cùng là quân sự.
c. Sự nhất trí chung của những nhà lãnh đạo của liên minh mười nước.
d. Của sự ủng hộ rộng rãi mà ông ta có được trong dân chúng.
8. Vua lừa dối sẽ thành công trong những mưu định gian ác của mình nghịch lại Đức Chúa Trời và dân sự Ngài cho đến lúc người kết thúc đời mình.
a. Bằng sự thất bại trong chiến trận khi người ấy chống lại liên minh.
b. Trong tay của những nhà lãnh đạo của liên minh là những người phẩn uất ông ta.
c. Bằng cái chết tự nhiên sau thời gian dài cai trị thành công.
d. Bằng sự việc bị vài phương tiện thiên nhiên hủy diệt.
9. Sáu mươi chín “tuần lễ” đầu của bảy mươi “tuần lễ” của sự hiện thấy của Đaniên liên quan đến
a. Chiếu chỉ khôi phục Giêrusalem, Đấng Chịu Xức Dầu, và việc Ngài bị trừ đi.
b. Phá hủy thành Giêrusalem và sự hiện đến của Antichrist.
c. Sự xuất hiện và sụp đổ của Babylôn và sự phát triển đến suy sụp của La mã.
d. Sự dấy lên của La mã, việc nó đối xử với Đấng Chịu Xức Dầu, và sự dấy lên của Antichrist.
10. “Tuần lễ” thứ bảy mươi của Đaniên 9 liên quan đến
a. Tương lai, gồm cả sự mặc khải về Antichrist.
b. Việc lập và phá vỡ giao ước giữa Antichrist và người Do thái.
c. Sự tái lâm của Christ để hủy diệt liên minh mười nước và sự chống cự sự cai trị của Ngài.
d. Mọi câu trên: a), b), và c).
e. Chỉ câu b), và c).
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. a. Sai
b. Sai
c. Đúng
d. Đúng
e. Đúng
2. Bạn có thể chứng tỏ sự dấy lên tiếp bốn con thú, nhưng đặc biệt con thú thứ tư, và nó được mô tả như thế nào. Bạn nên ghi nhận sự dấy lên của cái sừng nhỏ xíu và việc nó nhổ được ba trong mười sừng có trước. Cuối cùng bạn nên ghi nhận việc nó chấm dứt đời mình trong tay Đấng Thượng Cổ, và tiếp theo đó vương quốc ở dưới sự cai trị của con người.
3. a. Sai
b.Đúng
c.Đúng
d. Sai
e.Đúng
f. Sai
4. e. Chỉ những gì được ghi nhận ở câu a) và b).
5. Bạn phải khoanh tròn câu b), c), và d).
6. Câu trả lời của bạn. Ngay trước lúc Chúa chúng ta trở lại, một lãnh tụ có sức mạnh sẽ cầm quyền cai trị thực thể mười nước, thay thế ba trong mười lãnh tụ của thực thể đó. Người ấy sẽ chống đối Đức Chúa Trời cách mạnh mẽ, một kẻ hà hiếp dân sự Đức Chúa Trời, và rất thành công trong những nổ lực của mình trong ba năm rưỡi. Sau đó người ấy sẽ bị lật đổ và bị tiêu diệt bởi sự phán xét của Đức Chúa Trời, và sự cai trị của người ấy sẽ bị thay thế bằng sự trị vì đời đời của Chúa chúng ta là Jesus Christ.
7. b. Đoạn 8 nhấn mạnh bối cảnh, sự xuất hiện và sụp đổ của các đế quốc Mêđô-Batư và Hy lạp để định vị trí và nhận diện một vị vua là người có mối quan trọng đặc biệt đối với dân dự Đức Chúa Trời.
8. a. Đúng
b. Đúng
c. Đúng
d. Sai
e. Sai
f. Đúng.
9. a. 7 năm.
10. Dân sự là người Do thái, thành là Giêrusalem.
11. a. Đúng
b. Đúng
c. Sai
d. Đúng
e. Đúng
f. Sai
12. b. 483 năm
13. Bạn phải khoanh tròn câu a), c), d), và e).
14. a. 3) Thứ Ba.
b. 5) Thứ năm
c. 2) Thứ nhì
d. 4) Thứ tư
e. 1) Thứ nhất
15. Cách cơ bản, từ ngữ nầy ám chỉ về sự di chuyển từ dàn ý chung của những vấn đề tương lai ở trong đoạn 2 đến những chi tiết đặc biệt hơn trong mỗi đoạn tiếp theo.
16. Chúng ta có được bức tranh hoàn hảo.

Viễn Cảnh của Thời Kỳ Khó Khăn Hầu Đến

Bây giờ chúng ta đã khảo sát được 9 đoạn trong số 12 đoạn của sách Đaniên. Trong bài hai chúng ta đã đi theo tiến trình mặc khải từ dàn ý chung được đưa ra trong đoạn 2 của nhiều chi tiết được thêm vào trong đoạn 7, 8 và 9. Bây giờ chúng ta tiếp tục với phần thứ hai của tài liệu liên quan đến những quốc gia Ngoại bang, Ysơraên và nhà cai trị thế giới ở những đoạn 10-12.
Hầu hết chúng ta ít khảo sát về người hoặc điều gì có liên quan đến lãnh vực thuộc linh. Chẳng hạn, có bao giờ bạn ngạc nhiên vì chúng ta không nhận được sự đáp lời của một số lời cầu nguyện của chúng ta ngay lập tức không? Đoạn 10 cho chúng ta thấy lý do của ít nhất một số việc trì hoãn của việc đáp lời cầu nguyện. Kế đó đoạn 11, cung cấp cho chúng ta những chi tiết từ lịch sử vài điều trong số những biến cố được báo trước của tương lai. Cuối cùng đoạn 12 cho chúng ta cái nhìn sắc bén về “tuần lễ” thứ bảy mươi, kể cả những sự kiện về nguồn gốc của sự giúp đỡ mà Đức Chúa Trời sẽ ban cho dân sự Ngài trong thời kỳ khó khăn nầy.
Khi chúng ta kết thúc đơn vị I, chúng tôi sẽ tin rằng nội dung sẽ ban cho bạn ý nghĩ tươi mới về công tác truyền giáo và có nhận thức đúng đắn về sự khẩn cấp trong việc phục vụ Christ. Chúng tôi cũng ước mong đơn vị học tập đầu tiên nầy sẽ tạo sự khao khát trong lòng bạn để biết nhiều hơn về chân lý tiên tri và sự áp dụng những điều đó vào nếp sống Cơ Đốc và sự phục vụ Chúa của bạn.
Sự Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời
Sự Mặc Khải Khiến Hôn Mê
Trận Chiến Thuộc Linh
Dòng Lịch Sử: Từ Mêđô- Batư Đến Thời Kỳ Cuối Cùng
Batư và Hy lạp
Đế Quốc Ptolematic và Seleucid đến Antiochus IV Epiphanes :Mẫu đầu tiên của Antichrist.
Antichrist hầu đến
Thời Kỳ Khó Khăn
Học xong bài nầy bạn có thể
• Giải thích tại sao Đức Chúa Trời ban những sự mặc khải cho các đầy tớ Ngài.
• Liệt kê những ví dụ về các lời tiên tri được ứng nghiệm và nói cho biết tại sao những điểm ấy rất quan trọng.
• Nhận diện thời gian khi những biến cố rõ ràng xảy ra trong tuần lễ thứ bảy mươi.
1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình được đưa ra trong bài 1 và làm bài tập trắc nghiệm khi bạn học xong phần triển khai bài học.
2. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để hiểu những chữ bạn chưa hiểu.
3. Oân kỷ từ bài 1 đến bài 3 để chuẩn bị cho bản đánh giá học tập Đơn Vị I. Đọc phần hướng dẫn của Túi dành cho học viên. Lấy ra phần bản đánh giá Tiến Trình Học Tập Đơn Vị I và Phiếu Trả Lời. Theo sự chỉ dẫn để làm Phiếu Trả Lời, rồi nộp cho vị trợ giáo ICI của bạn, là người sẽ chấm bài cho bạn biết kết quả.
Báo thù (avenge).
Bồi thường (indomnity).
Hôn mê, chấn thương (trauma).
Kẻ hoài nghi (skeptics).
Kẻ cướp ngôi (usurper).
Khởi nghĩa (insurrection).
Kinh hoàng (awesomeness).
Khinh bỉ (contemptible).
SỰ VINH HIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Đến phần học tập nầy, chúng ta gặp thế giới của những lực lượng thuộc linh ở trên trời (Eph Ep 6:12). Qua kinh nghiệm của tiên tri Đaniên, chúng ta có thể hiểu đầy đủ hơn một phần của cuộc chiến thuộc linh đó đang tác động trên những hoạt động của con người và của quốc gia. Đoạn 10 cho chúng ta một bối cảnh của một sự hiện thấy khác trong những sự hiện thấy của Đaniên, đồng thời cũng cho chúng ta thấy sự đau đớn về tình cảm và thuộc linh khi Đaniên từng trải kinh nghiệm nầy. Mục đích đầu tiên của khải tượng là đưa ra sự giải thích chi tiết về số phận của Dân Do thái trong tương lai dưới sự cai trị của những đế quốc Mêđô-Batư, Hy lạp và Siria (Seluecid). Rồi sau đó nói nhanh đến sự cai trị của một trong những vua của đế quốc Seluecid, Antiochus IV để cho chúng ta thấy trước hình ảnh về người cai trị thế giới sắp đến, Antichrist, mà Antiochus IV là mẫu đầu tiên của Antichrist. Sự mặc khải trong các đoạn 10-12 chỉ mở rộng nội dung của đoạn 8 và cho thấy rằng những lời tiên tri nầy được triển khai trong một tiến trình. Những gì khởi đầu trong đoạn 2 như là một dàn ý tổng quát về tương lai của sự cai trị của con người thì được mở rộng trong đoạn 7, 8, 9 và 10, 11 bao gồm những chi tiềt liên quan đến những bước ngoặc đặc biệt mà dân sự của Đaniên sẽ trải qua.
SỰ MẶC KHẢI KHIẾN HÔN MÊ:
DaDn 10:1-12.
Khi chúng ta bắt đầu phần học tập những đoạn chót của Đaniên, trước hết chúng ta hãy khảo sát sự oai nghi và vinh hiển của Đức Chúa Trời mà tiên tri đã nhận được và ghi lại trong đoạn 10. Theo câu 1, sự mặc khải khiến Đaniên lo lắng nhiều. Có lẽ mối quan tâm của ông là cho dân sự mình, như chúng ta sẽ thấy về sau. Mối quan tâm nầy khiến ông kiêng ăn trước mặt Chúa và làm cho ông rất yếu (so sánh câu 2, 3 ).
Chúng ta nên nhớ rằng Đaniên đã không trở về quê hương mình hai năm trước khi ban hành chiếu chỉ cho phép người Do thái hồi hương (IISu 2Sb 36:23). Có lẽ vì cảnh ngộ của anh em người Do thái của ông và sự điêu tàn của quê hương khiến ông đau đớn và kiêng ăn suốt ba tuần lễ nầy.
Một số học giả Kinh Thánh tin rằng sự khó khăn của việc những người bị phu tù trở về khiến cho Đaniên quan tâm rất nhiều (Exo Er 4:1-5) . Hơn nữa, việc người Samari chống đối việc tu sửa thành thánh cũng là gánh nặng cho ông nữa (4:24).Tuy nhiên, cuối thời kỳ ba tuần lễ nầy, Đaniên được một hữu thể siêu nhiên đến thăm viếng hiển nhiên là để đáp lời cầu nguyện của ông. Tác giả của bài tin rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Đaniên khải tượng vinh diệu nầy cốt để xóa tan những sự sợ hãi và lo âu của ông về những biến cố kinh khiếp trong tương lai, chắc chắn là tình trạng chiến tranh hãi hùng được kể trong “tuần lễ” thứ bảy mươi. Điều này cũng ban cho ông sự hiểu biết khi những biến cố nầy xảy ra và để tăng cường sức lực cho ông.
Tác giả của bạn tin rằng hữu thể siêu nhiên mà Đaniên nhìn thấy là con Đức Chúa Trời trước khi thành nhục thể (preincernate son of God). Có nhiều lần khi người nào đã tận hiến trọn vẹn trong sự cầu nguyện và kiêng ăn, Ngài cũng đã hiện ra với họ trong vài biểu hiện vinh diệu của ân điển và quyền năng tối thượng của Ngài. Sự vinh hiển và sự sáng hết sức của vị khách thiên thượng nầy khiến cho vị tiên tri té sấp trước mặt Ngài. Giây phút kinh hoàng nầy đập mạnh vào vị tiên tri với cảm nhận về sự bất lực của mình, sự nhận thức bị tan biến và ông bị rơi vào sư hôn mê. Trong bản so sánh dưới đây, hãy chú ý đến sự giống nhau giữa hữu thể thiên thượng trong sự hiện thấy của Đaniên và sự hiện thấy của Giăng về Chúa Jesus Christ ở Khải thị đoạn 1.
Ngoài sự vinh hiển của sự hiện thấy nầy, chúng ta còn thấy ý nghĩa tượng trưng rất phong phú. Chiếc áo dài của thầy tế lễ trong thời Cựu Ước được may từ vải gai mịn (XuXh 28:39-43). Vải gai mịn chỉ về những hành động công bình và trong sạch như chúng ta sẽ thấy khi học về sách Khải huyền. Đai hay dây nịt bằng vàng nói về địa vị nhà vua, và bích ngọc (crysolite) là vật liệu xây dựng nền thứ bảy trong Giêrusalem Mới (KhKh 21:19-20).
DaDn 10:7 chép rằng những người ở với Đaniên không một ai nhìn thấy khải tượng. Những gì xảy ra cho họ dường như ám chỉ rằng họ không phải là nguời của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời chọn việc bày tỏ những lẽ thật thuộc linh cho những đầy tớ của Ngài không phải cho những người khác. So sánh 10:8-10 cho thấy khải tượng vinh diệu nầy tác động trên Giăng.
Đối với tác giả của bạn dường như 10:10 có điều gì khác hơn với những gì được mô tả trong những câu 5 và 6, bây giờ vị tiên tri chống đầu gối và tay trên đất. Đaniên cần sự giúp đỡ vì cớ sự hôn mê khi thấy khải tượng và sự kiệt sức của ông sau ba tuần kiêng ăn. Sự cầy thay của Đaniên trong đoạn 9 và sự kiêng ăn của ông trong đoạn nầy chứng tỏ Đaniên thuộc loại người nào. Vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi đọc thấy những câu 19 ông được gọi là “người rất được yêu qúi”, vì ông gần gũi với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu thương tất cả dân sự của Ngài, những người mà Ngài có thể bày tỏ những lẽ thật lớn hơn (Hãy xem XuXh 33:11, và Gia Gc 2:23, là những ví dụ của điều nầy). Bạn có khao khát ở gần gũi với Chúa Jesus không? Chính Chúa Jesus rất mong muốn bạn gần gũi với Ngài. 4:8 chép, “Hãy đến gần Đức Chúa Trời và Ngài sẽ đến gần anh em”. Bạn có thể quyết định mình cần sống gần gũi và mật thiết với Chúa, nhưng bạn cần phải tuân theo sự quyết định ấy với những thói quen trong đời sống mình để đưa bạn đến gần gũi Ngài.
1. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Khải tượng mà Đaniên nhận được liên quan đến sự phán xét sắp đổ xuống trên dân sự của ông, tức là người Do thái.
b. Chiến tranh được bày tỏ cho Đaniên dường như liên quan đến “tuần lễ” thứ bảy mươi ở trong tương lai.
c. Sự hiện thấy mang Đaniên đến sự hiểu biết về sự mặc khải ông nhận được và cái nhìn thoáng qua về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
d. Dường như những sự hiện thấy được ban cho là để động viên và cũng như để báo trước cho dân sự Đức Chúa Trời về những diễn tiến của tương lai.
e. Sự hiện thấy đã ban cho Đaniên một số sự hiểu biết, khi cùng với những điều khác những biến cố được nói tiên tri sẽ xảy ra.
f. Chúng ta có thể phỏng đoán cách an toàn rằng sự mặc khải và những sự hiện thấy đặc biệt đặc biệt không được bày tỏ cho tất cả dân sự của Đức Chúa Trời nhưng được dành cho những ai sống gần gũi Ngài cách đặc biệt.
Trận Chiến Thuộc Linh
Khi chúng ta đọc đến phần cuối của đoạn 10, Đức Chúa Trời cho chúng ta cái nhìn lạ lùng vào bản chất của chiến trận thuộc linh. Câu 13 cho chúng ta biết tại sao Đaniên phải chờ đợi quá lâu về sự trả lời cho lời cầu nguyện mà ông đã cầu nguyện và Đức Chúa Trời đã nghe trước đó ba tuần lễ. hãy chú ý trong câu 13 về nhân vật cản trở sứ giả thiên sứ đến cùng Đaniên, và người ấy đã ngăn trở sứ giả bao lâu. Cũng hãy chú ý nhân vật đến giúp đỡ sứ giả nầy. (Chúng tôi chọn từ nầy gọi vị nầy là sứ giả để phân biệt vị ấy với Con Đức Chúa Trời chưa thành nhục thể. Rõ ràng là con Đức Chúa Trời không cần bất kỳ sự trợ giúp từ Micaên hay bất kỳ ai khác).
Từ phần thảo luận trong những câu nầy và trong các câu 20 và 21, dường như có những thiên sứ làm đại diện cho những vương quốc khác nhau. Trong trường hợp nầy thiên sứ đại diện cho Batư được nhìn thấy và kẻ thù của sứ giả của Đức Chúa Trời. Để phá vỡ hàng rào thuộc linh, Micaen (Micaên), vị thiên sứ trưởng, đến để giúp vị sứ giả và đắc thắng sự cản trở của thiên sứ gian ác.
Tại đây chúng ta thấy một nguyên tắc thuộc linh: trong bầu trời làn sóng điện trong sáng chung quanh chúng ta có vô số lực lượng thuộc giới linh (spiritual forces). (Sứ đồ Phao lô mô tả đây là những lực lượng giới linh gian ác trong Eph Ep 6:12). Đặc biệt hơn nưã, có những thiên sứ gian ác đặc biệt có nhiệm vụ chống lại hay ngăn trở mục đích của Đức Chúa Trời liên quan đến một quốc gia. Có lẽ ở đây, vua gian ác nầy tìm cách ngăn trở vương quốc batư trong việc giúp đỡ người Do thái hồi hương và khôi phục quê hương của họ. Sau ba tuần trì hoãn, Micaên, thiên sứ bảo vệ người Do thái (DaDn 12:1), được sai đến để tham gia chiến trận, giúp đõ vị sứ giả thiên sứ nầy, để sự trả lời có thể đến với Đaniên. Và mặc dù trong giây lát sự xung đột giữa thiên sứ nầy của Đức Chúa Trời và các thiên sứ gian ác bị gián đoạn, nhưng trận chiến vẫn còn tiếp diễn (câu 20:21).
Mục đích của sự hiện thấy nầy, được đưa ra trong câu 14, là “để bảo cho ngươi hiểu sự sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt, vì sự hiện thấy nầy chỉ về nhiều ngày lâu về sau”. Và chắc chắn các chi tiết được đưa ra lâu tiếp theo ở những đoạn 11 và 12, là điều đúng và hiểu được liên quan đến tương lai của dân Ysơraên dưới thời Antiochus, như lịch sử ghi lại.
Giá trị thực tiễn của ví dụ nầy nằm ở trong cái nhìn liên quan đến trận chiến thuộc linh. Mặc dù ví dụ đặc biệt nầy liên quan đến một quốc gia, nhưng nguyên tắc chống đối thuộc linh cũng tương tự cho từng cá nhân. Satan là kẻ kiện cáo tín hữu, một công việc mà nó theo đuổi ngày và đêm (KhKh 12:10). Chúng ta biết rằng sự trì hoãn trong việc đáp lời cầu nguyện của chúng ta không phải là sự từ chối. Đức Chúa Trời nghe chúng ta như Ngài đã nghe Đaniên, nhưng có những sự cản trở, những chướng ngại vật mà nó có thể làm cho chúng ta tưởng chừng như các bầu trời cứng như đồng ở trên chúng ta. Hiển nhiên, trong sự tể trị của Đức Chúa Trời, Ngài cho phép những sự trì hoãn nầy tăng cường đức tin cho chúng ta, nhưng, như trong trường hợp nầy, sự trả lời cuối cùng cũng đếùn.
2. Bàn về cuộc chiến thuộc linh được mô tả trong đoạn 10, chúng ta có thể nói chính xác rằng
a. Trường hợp đặc biệt nầy không phải là ví dụ tốt cho cuộc chiến thuộc linh bình thường.
b. Ở đây chúng ta có một ví dụ về sự chống đối thông thường với Đức Chúa Trời và những đầy tớ của Ngài vốn tiếp diễn liên tục.
c. Mặc dù có những thiên sứ đứng binh vực cho các quốc gia, nhưng sự chống đối thuộc linh không mở rộng cho cá nhân.
d. Ở đây hoặc những nơi khác trong Kinh Thánh chưa có đủ những bằng cớ để chứng tỏ về bản chất thật của cuộc chiến thuộc linh.
3. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Sự đáp lời cầu nguyện có thể thỉnh thoảng bị trì hoãn vì cớ sự chống đối thuộc linh.
b. Ngoài những sứ giả từ Đức Chúa Trời và những thiên sứ thay mặt cho những quốc gia, Kinh Thánh dường như ám chỉ rằng có một hàng ngũ thiên sứ có quyền năng mạnh mẽ hơn mà tiêu biểu là Micaên.
c. Sự chống đối thuộc linh chỉ đến khi có liên quan đến những vấn đề tương lai.
4. Mô tả cách ngắn gọn những gì liên quan đến cuộc chiến thuộc linh.
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
DÒNG LỊCH SỬ : TỪ MÊĐÔ-BATƯ ĐẾN THỜI KỲ CUỐI CÙNG
Trong sự hiện thấy cuối cùng nầy, Đức Chúa Trời đã cho Đaniên thấy trước sự diễn tiến của đế quốc ở dưới quyền cai trị của người Batư, người Hy lạp, người Ptolemaic, và seleucid. điều nầy rất cần thiết vì sự thịnh vượng của người Do thái lệ thuộc vào những vương quốc nầy. Họ kiểm soát đất đai của người Do thái, và những chính sách độc tài của họ có tầm ảnh hưởng quan trọng trên những giá trị tôn giáo, văn hóa và chính trị tôn giáo,văn hóa và chính trị của người Do thái.
Mặc dù không phải tất cả những viễn cảnh tiên tri của lịch sử đều được ban cho cách chi tiết, nhưng nhiều biến cố nói trước đã được ứng nghiệm cách chính xác đáng kinh ngạc. Điều nầy thúc đẩy nhiều người hoài nghi (skeptics) trước kia khẳng định rằng phần ký thuật của Đaniên chắc phải được siêu tầm theo sự ký thuật lịch sử sau khi những biến cố xảy ra chứ không phải có giá trị tiên tri. Đối với con người phủ nhận yếu tố siêu nhiên nơi Lời Đức Chúa Trời, và trong mối quan hệ của Đức Chúa Trời với con người, thì đây là kết luận hợp lý. Tuy nhiên, những ai chấp nhận yếu tố phép lạ trong việc Đức Chúa Trời đối xử với con người thì công nhận rằng siêu nhiên chỉ liên quan với sự can thiệp của Đức Chúa Trời trong sự đình chỉ những qui luật tự nhiên của Ngài. Họ hiểu rằng Đức Chúa Trời vô hạn thường chọc thủng phạm vi hữu hạn của con người để phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của con người và bày tỏ những biến cố tương lai với sự rõ ràng phải nể. Vô số những lời tiên tri được ứng nghiệm là bằng cớ của sự kiện nầy.
Một học viên nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh đã chứng tỏ rằng trong 35 câu đầu của Đaniên 11, có khoảng 135 lời diễn đạt tiên tri tất cả những điều ấy đang được ứng nghiệm. Luận điểm của tác giả nầy là sự chính xác của những lời tiên tri trong trường hợp nầy cho chúng ta sự xác quyết đ tin rằng những gì chưa được ứng nghiệm sẽ được ứng nghiệm với mức độ chính xác y như thế.
Chúng ta không đủ chổ để liên hệ hết những lời tiên tri trong DaDn 11:1-35, nhưng chúng ta đã liệt kê một số lời tiên tri và sự ứng nghiệm đã tăng cường đức tin của bạn nơi sự chính xác của lời tiên tri của Đức Chúa Trời.
Batư Và Hy lạp:
11:1-4.
Lời nói của Đaniên có thể tái xác nhận cho vua Batư rằng triều đại của ông sẽ tiếp tục một thời gian nữa. Không có sự nguy hiểm cấp bách về sự thay thế. Theo lời tiên tri nầy, còn ba vua Batư nữa, mỗi người không khác với người mà ông ta đã kế vị cai trị cho đến khi vua thứ tư đáng để ý sẽ kế vị ngai vàng. Oâng ấysẽ giàu có và công kích những nước láng giềng. Thật vậy, Đaniên tiên đoán rằng người ấy sẽ hổ trợ cho thần dân mình đi chinh phục Hy lạp bằng cách xui giục, kích động tình cảm mọi người đến lên cao độ cho mục đích nầy.
Nói về vua thứ tư, chúng ta nhận diện ông ta là vua Xerxes I (486-468 B.C), ba vua trước vua thứ tư đáng lưuý nầy là Cambyses (529-522 B.C.), Smerdis (522-521 B.C.) và Đarius Hytaspes (521-486 B.C). Chúng ta hãy chú ý đến những gì lịch sử nói về Xerxes I. Các vua trước Xerxes I tích lũy rất nhiều của cải qua sự chiến thắng Lydia, Balylôn và Ai cập, cũng như kế hoạch thu thuế nghiêm nhặt của họ. Xerxes thêm vào sự giàu có nầy, vì ông đã có một mục tiêu lớn: chinh phục Hy lạp và trả thù cho trận đại bại trước kia. Như thế, ông ta thành lập một đạo quân hùng mạnh cho mục đích nầy, nhưng nổ lực chinh phục của ông bị thất bại vào năm 480 B.C. ở trận Salamis. và với sự thất bại nầy thế lực và sự vinh quang của Batư bắt đầu suy sụp, mặc dù đế quốc đã kéo dài hơn 150 năm nữa.
Một trong những kết quả có ý nghĩa của Chiến Dịch Hy Lạp của Xerxes I là nó làm cho người Hy lạp giận dữ. Vì thế khi Alịch sơn đại đế nắm quyền tham vọng nung nấu của ông ta là nghiền nát lực lượng quân sự của Hy lạp và hủy diệt mọi dấu vết của đế quốc Hy lạp.
Câu 3 và 4 nói trước về sự dấy lên của một vị vua hùng mạnh là người sẽ cai trị với uy quyền lớn và làm theo ý mình. Tuy nhiên, sau khi đến đỉnh cao, thì ông ta lại ra đi, để lãnh thổ của mình bị chia thành bốn hướng, nhưng không phải cho hậu tự của mình.
Lịch sử tiết lộ rằng nhất dưới tay Phi líp của Maxêđoan (338 B.C.) tuy nhiên, trước khi ông ta bắt tay xây dựng đế quốc thì ông ta bị ám sát (336 B.C.). Con trai ông, Alexandre, gánh vác quyền điều hành vương quốc, và trong một mệnh lệnh ngắn ông đã đối đầu và đánh bại mọi sự chống cự của Batư. Như vậy, trong thời gian chưa đầy mười hai năm, Alịch sơn đã xây dựng được một vương quốc từ Hy lạp ở phía Tây sang Ấn Độ ở phía Đông. Tuy nhiên, vào năm 323 B.C. tại đỉnh cao của cuộc chinh phục của ông, ông qua đời, ông có người thừa kế thích hợp. Một trong những tướng lãnh của ông ráng sức điều hành vương quốc, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, vương quốc ấy bị chia ra cho bốn tướng của Alịch sơn. Như vậy sự thống nhất toàn cõi bị phá vỡ cùng với giác mơ của Alịch sơn về việc thiết lập nền văn minh Hy lạp. Trên tất cả mọi sự, lời tiên tri nói rằng “không truyền lại cho con cháu” đã ứng nghiệm từng chữa một.
Đế quốc của Alexandre đã bị phân chia thành bốn vùng do bốn tướng lãnh: Cassander, Lysamachus, Ptolemy và Seleucus. Trong bốn người nầy có hai người sau liên quan đến sự cân đối của lời tiên tri nầy. Ptolemy nắm quyền kiểm soát xứ Ai cập và Ysơraên, và Seleucus chiếm Batư, Siry, và Tiểu Á . Chính cuộc xung đột của hai vương quốc nầy và ảnh hưởng của họ trên dân Ysơraên liên quan đến những câu sau.
Chúng ta thấy khải tượng di chuyển nhanh qua thời kỳ của Batư và những hành động liều lĩnh của Alịch sơn đại đế, một khoảng thời gian kéo dài trên hai trăm năm (539-323 B.C.). Sau đó, khải tượng nhấn mạnh đến thời kỳ đế quốc rộng lớn của Alịch sơn bị chia thành bốn thực thể chính trị.
5. Khoanh tròn mẫy tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Sứ điệp liên quan đến tương lai của Đế quốc Batư là điều có khuynh hướng động viên vua Batư.
b. Những cuộc chiến tranh của người Batư chống lại người Hy lạp dấy lên sự ghen ghét cực độ trong người Hy lạp, và dẫn đến sự sụp đổ của vương quốc Hy lạp.
c. Vị vua mạnh mẽ vốn làm những gì mình thích, cai trị vương quốc mình bằng uy quyền vĩ đạivà không để vương quốc mình lại cho con cháu, được nhận diện là Cyrus of Persia.
d. Vương quốc bị chia thành bốn phần sau khi một vị vua mạnh mẽ chết thì lại lớn mạnh hơn trước.
Những Đế Quốc Của Ptolemy Và seleucus Đến Antiochus IV.
11:5-20.
Nói trước rằng đế quốc của Alịch sơn sẽ bị tan rã và chia theo bốn hướng gió của trời, thì thiên sứ nói về hai nhánh của đế quốc nầy. Trước hết, nhánh của Seleucid hay Siry nằm về phíc bắc của Ysơraên, và sẽ ở dưới quyền cai trị của Seleucus và con cháu của ông. Nhánh thứ hai, người Eâdíptô, nằm phía nam của Ysơraên và sẽ ở dưới sự cai trị của Ptolemy và hậu tự của ông.
Ý nghĩa của sứ điệp tiếp tục của thiên sứ, vốn chỉ nói về hai nhánh nầy, nằm ở sự kiện là Ysơraên nằm giữa hai nhánh đó và chịu ảnh hưởng liên tục trong lịch sử của họ. Suốt trong thời gian giữa năm 300 B.C. và 198 B.C. có cuộc chiến tranh gián đoạn giữa những đế quốc nầy. cả hai đế quốc đều xử dụng đất thánh làm chiến địa, làm hoang vu đất đai và giết dân cư. Vì hai đế quốc nầy nằm ở phíc Bắc và phía Nam của Ysơraên, nên những lãnh tụ của họ ở đây được gọi là các vua phương Bắc và các vua phương Nam.
Triều đại của Ptolemy kiểm soát đất đai Ysơraên từ lúc đế quốc của Alịch sơn bị tan rã (323 B.C.). đến năm 198 B.C., khi nó chuyển sang quân đội của Antiochus III đại đế, Với những sự kiện lịch sử nầy ở trước mắt chúng ta, chúng ta sẽ khảo sát ngắn gọn những lời tiên tri của những câu 5-20, vốn bao trùm thời gian 140 năm, và thế nào những lời ấy được ứng nghiệm cách đáng sợ. Thật vậymột lợi ích lớn của những sự kiện nầy là việc so sánh lời tiên tri với lịch sử cho chúng ta thấy lời tiên tri có giá trị tuyệt vời.
Câu 5 ám chỉ về Ptolemy I Soter, vua của Aicập. “Một trong các tướng của vua” là Seleucus I, vốn có thời gian làm một vị tướng trong quân đội của Ptolemy. Tuy nhiên, sau đó Seleucus I đánh thắng những cuộc chiến lớn và chính mình làm vua Siry. Oâng ta cường thịnh hơn sau khi đánh bại Batư và thiết lập một triều đại Seleucid vững chắc.
Câu 6 ám chỉ về Ptolemy II Philadelphus, vua của Aicập, và Antiochus II Theo vua của Seleucid hay đế quốc Siry. Vì sức mạnh của Ai cập, Antiochus li dị vợ mình. Laodice, và kết hôn với Bernice, con gái vua Ai cập. Chúng ta hãy xem lời tiên tri trong Kinh Thánh ứng nghiệm chính xác làm sao. Hai vua nầy đã liên minh với nhau và mối quan hệ nầy được đánh dấu bằng hôn nhân của Antiochus và Bernice. Tuy nhiên, sau đó ít lâu Ptolemy chết (trong vòng hai năm), Antiochus li dị Bernice và tái hôn với Laodice. Trước hết Laodice bỏ tù Bernice, và sau đó bỏ tù chồng bà là Antiochus II, vì bà ta sợ ông ấy. Sau đó bà lập con trai mình là Seleucus Callinicus lên ngai vàng.
Câu 7-9 liên quan đến Ptolemy III Euergetes, là người tấn công vua phương Bắc, để trả thù cho chị mình là Bernice bị giết. Oâng ta không những trả thù cho cái chết của chị mình nhưng còn mang vàng bạc, châu báu về xứ Eâdíptô nữa, đúng y như điều Kinh Thánh đã báo trước. Oâng ta có thể chinh phục được cả xứ Siry vào lúc bấy giờ, nhưng trái lại lưỡng lự không làm thế. Trái lại, ông ta quay sự chú ý của mình vào những vấn đề nội bộ trong nước. Đến lúc Seleucus đi chinh phục Ai cập, thì ông ta lại đại bại và trở về nhà với đám tàn quân.
Câu 10-12 nói về những người con của Seleucus Callinicus III Ceraunus và Antiochus III nổi tiếng khi họ chiến đấu chiếm quyền tối cao trong khu vực và thành công trong việc mở rộng quyền hành. Tuy nhiên, chỉ sau hai năm, Seleucus III ceraunus bị ám sát, và người em của ông, Antiochus III, cai trị vương quốc, và thách Ptolemy IV Phiopater, vua của Ai cập. Đầu tiên, Antiochus III bị đánh bại với sự mất mát lớn về người và đồ trang bị (câu 11-12). Có một thời kỳ hòa bình giữa vua phương nam và vua phương bắc khoảng mười hai năm. Trong thời gian nầy Antiochus mở rộng sự kiểm soát của mình sang Batư, Bactria, và đến Ấn độ khi ông ta đưa vương quốc mình lên tột đỉnh vinh quang.
Câu 13 chỉ về việc ông tin chắc rằng lần nầy ông ta sẽ không thất bại trước vua phương nam nữa. Được Philíp vua của xứ Macedonia, và một số người Do thái phản bội (renegede Jews) (câu 14) hổ trợ, Antiochus III hoàn toàn nghiền nát được những lực lượng của Ptolemy V Epiphanes (câu 15). Kết quả của sự thắng trận nầy, sự cai trị của người Ptolemic trên dân Ysơraên gián đoạn tạm thời, và Antiochus III đã lập sự cai trị vững chắc ở “Đất Vinh Hiển” (câu 16). Tuy nhiên, Antiochus cũng có ý định lật đổ Ptolemy V,do đó ông ta bắt đầu lập kế hoạch chiếm xứ Ai cập. Ngoài ra, ông ta còn tự mình liên kết với kẻ thù và bảo đảm việc thương lượng nầy bằng việc gả con gái, Cleopatra cho Ptolemy (đây không phải là Cleipatra của lịch sử La mã). Oâng ta nghĩ rằng sau hôn nhân con gái của ông sẽ làm việc cho ông mà chống lại chồng mình, nhưng như Kinh Thánh chứng tỏ, kế hoạch của ông ta không thành công (câu 17).
Câu 18 và 19 nói trước về kết cuộc của vị vua tham vọng nầy. Antiochus III, như những câu Kinh Thánh nầy cho biết, quay những sự chú ý của mình sang những cuộc chinh phục xa hơn, và đến năm 196 B.C. ông ta đã chiếm hầu hết vùng Asia Minor (Tiểu Á). Đế quốc của ông ta trải dài từ phía tây Tiểu Á sang India (Ấn độ) nhưng tham vọng thèm khát đất của ông ta vẫn chưa thỏa mãn. Vì vậy, vào năm 192 B.C. ông ta quay sang phương tây và chinh phục Hy lạp, với ý định là sát nhập nước nầy vào lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, trong một loạt chiến đấu với tướng lãnh của La mã là Scipio, Antiochus bị đại bại hoàn toàn như là điều Đaniên đã báo trước (câu 18). Kết quả, ông ta không những bị mất phần mình ở Hy lạp nhưng còn mất luôn cả ở Tiểu Á. Hơn nữa, ông ta còn phải trả một số lượng tiền lớn cho La mã và nộp 20 con tin cho La mã, trong đó có con trai ông là Antiochus IV, để bảo đảm sự hòa bình. Tuy nhiên, trong việc thu góp số tiền bồi thường lớn cho người Lamã, nhà vua bắt đầu cướp phá những đền thờ. Và trong lúc làm như thế, ông ta bị giết, ứng nghiệm lời tiên tri của Đaniên, “người chắc phải vấp ngã, và chẳng được tìm thấy nữa” (câu 19). Con trai của Antiochus III, Seleucus IV Philopater, rơi vào cùng cái bẫy như cha mình. Trong việc tìm cách kiếm, cho đủ số tiền lớn mà La mã đòi buộc phải bồi thường, ông ta sai những người thâu thuế đi ra để thu bất kỳ thuế nào kiếm được. Heliodurus, một nhân viên của ông, cố tìm cách ăn cắp châu báu của đền thờ ở Giêrusalem, nhưng dường như bị ngăn trở cách kỳ lạ. chẳng bao lâu sau đó, Heliodorus đánh thuốc độc giết chết chủ mình, một lần nữa xác nhận lời tiên tri của Đaniên rằng ông ta “sẽ phải bại hoại, chẳng vì cơn giận dữ hay trận chiến tranh nào cả” (câu 20). Sân khấu giờ đây dành cho người kế vị ngai vàng Seleucid.
6. Theo phần thảo luận của chúng ta, những vua Ptolemys và Seleucids rất quan trọng trong lịch sử của Kinh Thánh vì
a. Cả hai là những đế quốc lớn trên thế giới trong những ngày thịnh vượng của họ.
b. Họ là những hậu tự trực tiếp của alịch sơn đại đế.
c. Ysơraên nằm giữa hai vương quốc nầy và có liên quan trong lịch sử của họ.
d. Họ sinh ra đế quốc La mã.
7. Từ năm 323 B.C. cho đến năm 198 B.C. chúng ta có thể nói cách chính xác rằng đất nước Ysơraên ở dưới quyền kiểm soát của
a. Dòng họ Ptolemy, các vua phương nam.
b. Dòng họ Seleucids, các vua phương bắc.
c. Các vua của phương nam, và rồi các vua của phương bắc từng hồi từng lúc tranh nhau kiểm soát vùng nầy.
d. Những lãnh tụ của mỗi vương quốc, Ptolemy và seleucid, trong thời gian bằng nhau.
8. Giải thích giá trị của những sự kiện tiên tri được đưa ra trong những câu 5-20 đối với học viên nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh.
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Antiochus IV Epiphanes: Mẫu Đầu Tiên Của Antichrist.
11:21-35.
tại điểm nầy, Kinh Thánh nhấn mạnh vào Antiochus IV Epiphanes, một vị vua mặt chay mày dạn, ông trùm của sự vận động ngầm mà chúng ta đã thảo luận trong bài 2. Trong phần đó chúng ta ghi nhận rằng ông ta là biểu tượng hay bức tranh của Antichrist hầu đến. Trong những đoạn sau chúng ta cần nghiên cứu cả lời tiên tri lẫn sự ứng nghiệm và mối liên hệ khả dĩ giữa những sự kiện của lịch sử và xuất hiện của một người mà những điều đó dường như miêu tả trước.
Những câu 21-24 mô tả cách sống động về việc Antiochus IV lên ngai vàng, những phương pháp ông ta đã xử dụng, và ông ta khởi đầu như “kẻ đáng khinh dễ”(trong những điều khác mà Antiochus đã làm trong tiến trình chiếm đoạt quyền hành và mang tước hiệu Epiphanes, có nghĩa là Illustrious (nổi danh, trứ danh), và cũng cho chúng ta thấy phần nào về sự dối gạt của ông ta). Tại Athên, khi ông ta được biết rằng anh mình Seleucus IV Philopater đã chết, ông ta lập tức lên kế hoạch nắm quyền kiểm soát vương quốc Seleucid. Trước hết, ông ta tìm được sự giúp đỡ của Eumenes II, vua của Pergammum, để giúp ông ta nắm quyền kiểm soát vương quốc. Eumenes II rất sung sướng làm vậy vì ông ta quan tâm đến sự lớn lên mạnh mẽ của La mã đe dọa xứ sở ông, và cảm thấy mình cần một liên minh trong tương lai. Vị vua mới trước hết cũng cố địa vị của mình rồi sau đó thiết lập sự kiểm soát về hành chánh và kinh tế có hiệu quả khắp vương quốùc của mình ( bạn có thể nhớ lại rằng vì Antiochus III bị thua La mã, nên số lượng tiền bồi thường khổng lồ đã phải giao nộp cho người La mã). Thật vậy, Antiochus đã có thể kiếm được tiền thuế để có thể bồi thường cho La mã và cũng đã cung cấp được tiền bạc để xài cho nếp sống phung phí của mình nữa.
Mọi sự chống nghịch xảy đến cho triều đại mới đều bị phá vỡ. Heliodorus, thủ quĩ của vương quốc của ông anh qúa cố của ông ta và kẻ sắp cướp ngôi, cố tìm cách chiếm lại ngai vàng , nhưng không hiệu quả (câu 22 ). Hơn nữa Antiochus IV cắt chức Oniad III, thầy tế lễ thượng phẩm tại Giêrusalem, và thay thế bằng một người gian ác, tìm kiếm tư lợi. Làm thế, ông ta đã hủy diệt vua của sự gian ác. Mục tiêu dài hạn của ông ta là tiêu diệt đức tin của người Do thái và bắt buộc mọi thần dân của ông ta phải trung thành với cùng những thần tượng ngoại bang (và về sau chuyển cả sự trung thành và sự thờ phượng cho ông).
Lời tiên tri nói trong những câu 23 và 24 là về các phương pháp của Antiochus IV. Những lời ấy cho thấy rằng trước tiên ông xử dụng tài ngoại giao để đạt những mục đích chính trị, nhưng sau đó, ông ta sẽ lường gạt, chẳng biết những điều khoản gì của hòa ước. Và vì kẻ thù không chuẩn bị sẵn để chống lại sự tấn công quân sụ của ông ta, nên ông ta đã chiến thắng cách thần tốc là những tổ phụ của ông ta chưa từng thấy. Ngoài ra, ông ta còn phân chia của cướp được từ những cuộc chinh phục cho những kẻ theo mình. Lịch sử đã ghi lại với sự chính xác đáng sợ rằng điều này xảy ra đúng y như việc Antiochus IV đã dùng để nắm quyền.
Lời tiên tri tiếp tục trong những câu 25-28 với sự tiên đoán về sự đắc thắng của Antiochus IV trong cuộc chiến với Ai cập. Kinh Thánh báo trước rằng vua phương nam sẽ bị ngăn trở do những âm mưu nghịch cùng ông và hòa ước lường gạt lập ra với ông trùm của sự vận động ngầm (master of intrique) từ phương bắc. Kinh Thánh cũng nói trước về hậu quả của sự chiến thắng của Antiochus và chính sách của ông ta nghịch cùng giao ước thánh. Chúng ta hãy xem lịch sử ghi lại vấn đề này ra sao.
Antiochus IV thành công trong lần đầu tiên chinh phục xứ Ai cập. Những thần dân của ông phải công nhận lời tuyên bố của ông về đế quốc Seleucid, và xác nhận cháu họ của ông, Ptolemy IV Philometer lên ngai vàng của Ptolemy. Phần của chính sách của Antiochus IV, cho ông uy quyền tạm thời trong những vấn đề thuần túy nội bộ của Ptolemy là sự lừa dối. Cả ông lẫn cháu ông đều xử dụng sự lừa dối khi họ cùng ngồi bàn thương nghị, không người nào giũ lời hứa mình cả (câu 27).
Trên con đường từ Ai cập về Antiốt, Antiochus dừng lại tại Giêrusalem và bắt đầu chương trình Hy lạp hóa (Helleenization) bắt buộc. Oâng ta lập thầy tế lễ thượng phẩm gia3 hiệu (puppet high priest) khi ông ta đã tiêu diệt “vua của sự giao ước” (câu 22), và lấy đi sự vinh dự dành cho chức vụ đó. Tất cả những điều nầy thích hợp với mục đích cho ông ta là thống nhất những dân tộc khác nhau ở trong lãnh địa của ông bằng cách bắt buộc họ có một nền van hóa, tôn giáo và tiếng nói chung. Tất cả mọi thần dân của ông ngoại trừ những người Do thái chính thống đều tuân theo chỉ thị nầy, cho dù điều nầy có nghĩa là làm điều hoàn toàn xa lạ với di sản thuộc linh và đức tin của họ. Hơn nữa ông vua gian ác nầy đi đến đâu cũng được thịnh vượng, nên ông ta xử dụng của cải cướp được mà mua bạn bè cùng chiếm được lòng thần dân ở xa.
Những câu kế tiếp trong lời tiên tri nầy (29-35) trình bày những nổ lực của vua gian ác nầy trong việc mở rộng vương quốc của mình cho đến Ai cập và sự thất bại bất ngờ của ông do những chiếc tàu thuộc vùng ven biển phía tây. Những câu nầy cũng nói về nổ lực của ông trong việc hủy phá giao ước thánh, tiêu diệt những ai trung thành với giao ước, cũng như sự chống cự can đảm của họ, và sự thất bại cuối cùng của ông. Một lần nữa chúng ta hãy xem lịch sử đã gợi gì về khía cạnh nầy của tên trùm vận động ngầm nầy.
Vào năm 168 B.C. Antiochus IV chinh phục Ai cập với ý định lấy lại quyền kiểm soát đó. Khi ông ta chuẩn bị tấn công Alexandre, thì một tướng La mã ra lịnh cho ông phải ngưng và trở về nhà. Thất vọng do bị hạ nhục và sự đảo ngược của những biến cố, đồng thời có tin về cuộc khởi nghĩa tại Giêrusalem, Antiochus trở về Antiốt bằng con đường ngang qua Giêrusalem và trút đổ cơn giận của mình lên dân cư của thành phố. Ngoài ra, ông ta bắt đầu ép buộc người Do thái phải chấp nhận quốc giáo của ông.
Để nhanh chóng thực hiện tiến trình phá hoại sự chống cự của người Do thái đối với những chính sách của ông, Antiochus IV xúc phạm đến đền thờ và hủy bỏ sự dân hiến hằng ngày. Oâng ta làm ô uế những cuộn sách Torah trong đền thờ, cũng ra lệnh đốt những cuộn sách thánh khác. Oâng ta ép buộc những thầy tế lễ và dân sự phải ăn thịt heo, cấm giữ những ngày thánh và làm lễ cắt bì cho những bé trai. Hơn nữa, ông ta bắt buộc người Do thái phải giữ những lễ nghi của người ngoại giáo. Tuy nhiên tệ hại hơn cả là ông ta dựng tượng của Zeus Olympus trong đền thờ (được coi như là hiện thân trong Antiochus IV). Đây là “sự gớm ghiếc làm ra sự hoang vu” (cau 31). Thật vậy, chính satan hà hơi cho vua nầy để làm hành động “tức giận nghịch cùng giao ước thánh” (câu 30).
Những người do thái trung thành kinh hoảnh trước sự xúx phạm nầy và vội vàng chống lại nổ lực của ông ta. Tuy nhiên, nhiều người đã từ bỏ. Đối với những người mà ông ta không thể dụ dỗ để từ bỏ đức tin, thì ông ta lại dùng sự nịnh hót và hối lộ để phá hoại đức tin (câu 32). Khi con người điên cuồng nầy tiếp tục tăng cường sự gian ác cho những chính sách của mình, thì sự chống đối chất chồng như núi. Như chúng ta đã học trong bài 2, những người trung tín dấy lên một cuộc cách mạng. Cả về quân sự và tôn giáo họ hành động để đánh đổ ách thống trị và trở lại thờ phượng Đứa Giêhôva cho đúng chỗ.
Thời kỳ chịu khổ kinh khủng nầy phục vụ cho vài mục đích : 1) Kẻ ác cứ được vững vàng trong sự ngu dại mình, 2) và người khôn sáng được luyện lọc và tẩy sạch, đức tin của họ được tăng cường khi họ đầu phục Đức Chúa Trời trọn vẹn (câu 33-35).
Những người trung tín ngã xuống trong một lát nhưng như chúng ta đã thấy trong bài 2, họ hiệp một đàng sau Mattathias và con trai ông Judas Maccabaeu. Trước hết những lợi lộc của vua Seleucid ở vùng thôn quê không thu được vì có những chiến dịch đánh di kích có hiệu quả. Sau đó, trong bốn cuộc chiến chính, lực lượng quân sự của Maccabaeu đánh bại các đội quân tinh nhuệ nhất của đế quốc Seleucid và bình tịnh được lãnh thổ bị chiếm đóng. Sau đó, họ tẩy sạch đền thờ và tái lập những lễ nghi của giao ước cùng sự thờ phượng thích đáng.
Phần ký thuật bi kịch rùng rợn nầy nói trước sự tàn sát hàng loạt dưới thời Antichrist và cho ta thấy trước tương lai để chúng ta có thể biết rằng sự tồn tại của những người trung tín có thể xảy ra. Sau những câu hỏi ôn tập, chúng ta sẽ sang phần nói trưóc về điều sẽ xảy ra .
9. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt có liên quan đến những yếu tố chính xác của lời tiên tri về Antiochus IV đã được ứng nghiệm trong lịch sử.
a. Antiochus IV lên ngai vàng xứ Siry như là người thừa kế chính thức, tự nhiên.
b. Khởi đầu trong sự cai trị của Antiochus IV, ông ta bị thất bại nhiều trận, nhưng qua thời gian, ông ta ngày càng thành công.
c. Phương pháp mà Antiochus IV chỉ đạo về ngoại giao có thể được mô tả tốt nhất là sự lừa dối.
d. Nổ lực của Antiochus IV trong việc mở rộng sự kiểm soát của mình bao gồm cả vương quốc của Ptolemy bị người La mã đình chỉ vĩnh viễn.
e. Những công sức của Antiochus trong việc xóa đi tôn giáo của người Do thái dựa vào sự khao khát của ông ta nhằm thống nhất tất cả mọi sự cho lãnh địa của mình.
f. Chính sách Hy lạp hóa bắt buộc thất bại vì những sự chống đối của những người do thái trung tín là những người liều chết để giữ đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời.
Antichrist Hầu Đến
11:36-45
Từ đầu của câu 36, hãy chú ý sự dứt quãng tinh vi trong sợi dây lịch sử. Như chúng ta đã ghi nhận ở trên, lời tiên tri tự nó không có liên quan đến lịch sử nói chung, lịch sử quan trọng hay có ý nghĩa khi nó ảnh hưởng trên người Do thái và đất nước của họ. Chúng ta tin rằng Antiochus IV là người quan trọng trong dòng lịch sử vì trước tiên ông ta cho chúng ta hình ảnh về Antichrist hầu đến. Và vì lý do nầy chúng ta đột nhiên ý thức rằng lời tiên tri không còn ám chỉ về Antiochus IV nữa. Trái lại, lời tiên tri vượt qua những năm ở giữa và di chuyển về thời kỳ cuối cùng, khi Antichrist sẽ làm nhiều điều mà Antiochus IV đã làm trong kế hoạch Hy lạp hóa cưỡng bách của mình. Cái sừng nhỏ cuối cùng (DaDn 7:8, 24-26) sẽ cai trị trong tuần lễ thứ bảy mươi. Sự cai trị của vua ấy sẽ đánh dấu sự kiện đầu của sự phán xét cuối cùng, kinh khủng có liên quan đặc biệt đối với Ysơraên.
Trong những câu 5-20 chúng ta khảo sát những cuộc chiến đấu giữa hai triều đại: Seleucus Ptolemy. Các vua của mỗi triều đại được gọi chung các vua phương nam (Ptolemys) trên cơ sở về vị trí của những vương quốc nầy đối với Ysơraên. Rồi trong những câu 21-35, sự chú ý tập trung vào triều đại của con người bị khinh dể ban đầu, nhưng trong thời gian ngắn đã nắm quyền kiểm soát vương quốc Seleucid: Antichus IV. Tuy nhiên, bây giờ ở câu 36, chúng ta có một người được gọi đơn giản là “Vua”. Nghiên cứu kỷ đặc tính của “Vua” cho thấy những sự khác nhau rõ ràng giữa ông ta và Antiochus IV, nhân vật của những câu ở trước chúng ta có thể ghi nhận vài sự khác nhau trong phần so sánh ngắn gọn sau.
Những câu 36-39 cho thấy phần mô tả những đặc tính của vua vốn gợi ý rằng ông vừa mới được giới thiệu. Vì những câu 21-35 đã đưa ra cái nhìn về những phẩm chất của Antiochus IV, nên chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy chúng được lặp lại ở đây. Trong những câu 40 -45 chúng ta thấy những điều kiện được mô tả không tương hợp với những gì chúng ta được biết về Antiochus IV. Oâng ta đã không tấn công Liban và Ethiopi, và ông ta không quan tâm đến những tin tức từ phíc bắc và phía đông. Chính sức mạnh của La mã đã ngăn trở ông chinh phục Ai cập lần thứ ba. Hơn nữa trong câu 40, ông ta được phân biệt với vua phương bắc, trong khi Antiochus IV là một vị vua phương bắc.
Theo lời tiên tri, những cuộc chinh phục của vua sẽ làm cho nhiều quốc gia đổ xuống. Trái lại, các khuynh hướng giống như chiến tranh của Antiochus đã không gây sự sụp đổ trong nhiều quốc gia. Kết quả trong sự cai trị của ông, những cuộc chiến ông ta tham gia chỉ là những cuộc chinh phạt địa phương. Và mặc dù ông ta làm đất thánh ra hoang vu, nhưng ông đã không đặc tổng hành dinh của mình tại đấy. Những sự kiện cho thấy rằng những câu 36-45 chỉ trước về nhân vật Antichrist sắp đến và không phải là nhân vật lịch sử của những câu 21-35.
Những câu 40-45 bàn về những cuộc va chạm chính ở vùng Trung Đông vốn sẽ dấy lên một người lãnh đạo tàn bạo thi hành ý muốn mình trong mọi công việc ở vùng nầy. Từ những quan điểm trước kia của chúng ta về người lãnh đạo hùng mạnh nầy, chúng ta sẽ thấy rằng ông ta sẽ đứng đầu trong một liên minh hùng mạnh, và vài nhà lãnh đạo thế giới khác sẽ có thể thách thức người. Nếu ông ta không phải là người ở Trung Đông, thì có thể ông ta tức giận cực độ với những người trong khu vực bằng sự không nhạy bén với di sản văn hóa và tôn giáo của họ. Một người chống lại sự kiểm sóat của ông sẽ là vua phương nam. Như chúng ta đã thấy vua phương nam chỉ về vua của Ai cập. Nhưng hiện tại Ai cập có thể lực rấùt yếu ớt, nên có thể nói rằng đây có thể chỉ về một liên minh Ả rập ở dưới sự lãnh đạo của một người Ai cập. Vào thập niên 950, Ai cập đứng đầu một liên minh được gọi là Cộng hòa Ả rập Thống Nhất (United Arab Republic - UAR).. Cộng hòa Ả rập Thống Nhất đã không tồn tại một phần vì tinh thần quốc gia của người Ả rập và phần khác vì nền tảng Hồi Giáo chỉ là bước khởi đầu. Tuy nhiên một liên minh mới và mạnh mẽ hơn của những nước Ả rập có thể dấy lên để ứng nghiệm những đòi hỏi của lời tiên tri nầy. Đây là điều khả dĩ thú vị khi chúng ta xem xét để đánh giá vua Phương Nam tưong đương.
Người lãnh đạo tàn bạo nầy sẽ khơi dậy sự phẩn nộ của một vị vua phương bắc trong tương lai. Như chúng ta đã thấy, vua nầy trong lịch sử được áp dụng cho các vua của triều đại Seleucid hay đế quốc Syri. Tuy nhiên Syri ngày nay chẳng phải là một lực lượng quân sự chính cũng chẳng có thể thách thức với quyền lực mạnh mẽ hơn trong chiến trận, và Syri không có những đoàn tàu hổ trợ mình trong cuộc tấn công như câu 40 gợi ý. Nhưng nằm phíc bắc Syri là một trong những cường quốc của thế giới, và nước đó cũng có một trong những đoàn tàu mạnh nhất thế giới. Lãnh tụ phương bắc với nền tảng sức mạnh như thế rõ ràng có thể thách thức vua nầy. Điều thú vị là Soviet Union lại quan tâm sâu xa đến vùng nầy về mặc quân sự và kinh tế.
Một lần nữa chúng ta không thể nhận diện những nhà lãnh đạo của thời kỳ cuối cùng nầy, nhưng điều thú vị là nhìn thấy thế nào sự chú ý của thế giới ngày càng gia tăng đến vùng Trung đông. Những sự căng thẳng về chính trị, những nguồn tài nguyên dồi dào, vị trí chiến lược và tinh thần quốc gia trưởng thành khiến nhiều quốc chú ý đến vùng nầy. Chúng tôi đề nghị bạn đọc Eâxêchiên 38 và 39 để khảo sát những biến cố tương lai có liên quan đến Ysơraên bây giờ vốn đã được tái hội tụ từ bốn góc đất. Một điều chắc chắn ấy là sẽ có một cuộc chinh phục ồ ạt từ phương Bắc và tiến trình thời gian do Eâxêchiên gợi ý sẽ phù hợp chính xác với phần thứ hai của “tuần lễ” thứ bảy mươi”.
Đaniên cho thấy rằng Ysơraên sẽ bị đàn áp sau khi con người dàn xếp hòa bình quay lại chống Ysơraên vào giữa “tuần lễ” thứ bảy mươi (câu 41, 44-45). Nhiều nước kể cả Ai cập sẽ sụp đổ, nhưng Eâđôm, Mô áp và lãnh đạo người Amôn sẽ được giải cứu khỏi tay người ấy. Dường như nhà cai trị hùng mạnh nầy sẽ tập trung nổ lực của mình vào Bắc Phi, đặc biệt là Ai cập, Libi và Eâthiôpi. Nhưng trong khi antiochus IV đối đầu với sự công kích từ phương Tây (Lamã), thì người cai trị nầy sẽ đối đầu với sự chống nghịch nầy và nhiều người sẽ chết (câu 44). Người ấy sẽ lập tổng hành dinh ở Ysơraên, nhưng sự cai trị của người ấy sẽ chấm dứt đột ngột khi người ấy đương đầu với một lực lượng không thể chống cự nổi từ trên trời: Hòn Đá nghiền nát của Đaniên 2: 34-35, 44).
10. Hãy trình bày hai mảnh sự kiện từ câu 36-45 để phân biệt vua với Antiochus IV được mô tả ở những câu 21-35.
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
11. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Bằng cớ cho thấy rằng Antiochus IV (Đệ Tứ) xuất hiện trong lịch sử để cho người ta thấy trước hình ảnh của Antichrist sắp đến.
b. Trung Đông sẽ nổi bật trong “tuần lễ” thứ bảy mươi, nó sẽ là bối cảnh của sự chiến đấu căng thẳng.
c. Bằng sự so sánh vua của phương nam và vua của phương bắc trong lịch sử với những gì được nói về những con người tương tự nầy trong tương lai, chúng ta suy ra rằng Ai cập và Syri không được nói đến.
d. Ở đây Kinh Thánh gợi ý rằng vua, người mà chúng ta nhận diện rằng là Antichrist hầu đến, sẽ tập trung vào Trung Đông, không dính dáng gì đến Bắc Phi.
e. Antichrist tương lai sẽ bị thách thức đối đầu chủ yếu là những lực lượng từ phương Tây.
Thời Kỳ Khó Khăn
DaDn 12:1-13
Trong đoạn 12 chúng ta thấy chủ đề về sự cai trị của Antichrist vẫn tiếp tục và mở rộng. Ở đây chúng ta cũng thấy mục đích của thời kỳ khó khăn, chương trình của Đức Chúa Trời dành cho người trung tín và tương lai lạ thường của những người đắc thắng.
Ở giữa “tuần lễ” thứ bảy mươi như chúng ta đã thấy trong đoạn 9, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đối diện với những sự khốn khổ nhất mà họ chưa từng biết, và họ sẽ cần sự giúp đỡ. Đức Chúa Trời sẽ không bỏ rơi họ, Ngài sẽ chỉ định Micaên, một thiên sứ mạnh mẽ để bảo vệ Ysơraên, để giải cứu họ. KhKh 12:7-9 cho thấy một đôi điều về cuộc chiến đấu thuộc về giới linh mạnh mẽ nầy vốn sẽ đưa đến kết quả cuối cùng là sự giải cứu dân sự Ngài (câu 1) Mat Mt 24:21-29 và LuLc 21:20-26 nói về mức độ của sự khốn khổ trong thời kỳ nầy. XaDr 13:8-9 và 14:2 cũng ám chỉ về sự hoang vu sẽ xảy ra khi những ngày nầy sắp chấm dứt. Nhưng người còn sót lại sẽ được kết hợp với những người được ghi tên trong sách của Đức Chúa Trời.
Câu 2 chỉ về vô số đông đảo người sẽ được sống lại. Nhóm thứ nhất được đề cập là người công bình sẽ được sống lại để vào phước hạnh thiên hy niên sau thời gian khốn khổ nầy. Nhóm thứ hai, kẻ gian ác sẽ sống lại sau thời kỳ trị vì thiên hy niên của Christ để chịu sự xấu hổ, nhuốc nhơ đời đời (so sánh KhKh 20:4-6 với 20:11-15). Phần thưởng cho người công bình và trung tín sẽ là phước hạnh đời đời (câu 3). Đaniên được báo cho biết là những điều nầy được dành cho thời kỳ cuối cùng, nên ông được truyền lệnh phải đóng dấu những lời của cuộn sách (câu 4).
Tại điểm nầy có hai thiên sứ khác hiện ra và kết hợp với người mặc vải gai. Một trong hai người hỏi: “Đến cuối cùng những sự lạ nầy được bao lâu?” (câu 5-6). Giơ cả hai tay lên trời để chứng tỏ sự nghiêm trọng của sứ điệp, vị thiên sứ mạnh mẽ nầy nói: “ Nó sẽ trải qua một kỳ, những kỳ và nữa kỳ, và khi quyền của dân thánh tan tác hết, thì các sự nầy đều xong” (câu 7). Như vậy, ba năm rưỡi sẽ liên quan đến thời kỳ khó khăn nầy . Tuy nhiên, hãy xem những gì được thực hiện : quyền của dân sự Đức Chúa Trời bị tan tác. Trong thời kỳ khó khăn nầy, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ bị nghiền nát hoàn toàn đến nổi lúc ấy họ sẽ ngước đầu lên. Như vậy, khi thời điểm khó khăn ở cuối của “tuần lễ” thứ bảy mươi đến hồi bi kịch nhất, thì người Do thái mới nhìn xem Đức Chúa Trời xin giải cứu. Và Ngài sẽ đổ trên họ Thần Ơn Phước và Thần nài xin, và những dân sót của Ysơraên sẽ được cứu (XaDr 12:10-14; 13:1-6).
Theo như câu 10 cho thấy, những ngày cuối cùng sẽ đưa ra một sự nghịch lý. Sự gian ác sẽ hiện rõ khắp mọi nơi và sẽ nổi lên như làn sóng không thể kháng cự được, và kẻ ác sẽ không hiểu. Đây là thời kỳ kinh khủng mà Phao Lô nói đến trong IITi 2Tm 3:1-5. Đối với dân cư của thế giới, sẽ chỉ có tối tăm và tuyệt vọng ở đằng trước. Một thi sĩ đã diễn tả cảnh tượng nầy, tương lai nầy khi ông viết: “ thế giới sẽ không chấm dứt bằng tiếng nổ vang rầm nhưng bằng sự khóc than rên rỉ” (the world won’t end with a bang but with a whimper). Tuy nhiên, trong thời kỳ khốn khổ nầy Đấng tinh luyện vàng sẽ làm cho dân sự Ngài được luyện lọc, tinh ròng và trở thành dân sự trọn vẹn.
Những câu 11 và 12 nói về những ngày vượt quá 1260 ngày hay ba năm rưỡi. Chúng ta không biết chính xác tại sao những ngày thừa ra nầy, tuy nhiên, có thể cần những ngày nầy để tẩy sạch đất và đền thờ. Một số những học giả Kinh Thánh gợi ý rằng trong những ngày nầy sự phán xét các quốc gia sẽ xảy ra (Mat Mt 25:31-46). Cũng thể những ngày thừa ra nầy để thành lập chính quyền mới và chuẩn bị người ta vào thời kỳ bình thường sau sự cai trị của Antichrist. Dù điều nầy có liên quan đến điều gì đi nữa, thì Đaniên vẫn được thúc giục thực hiện công việc của mình và ông được bảo đảm rằng trong tương lai ông sẽ được sống lại và nhận lấy cơ nghiệp đời đời của mình.
Như vậy chúng ta đã kết luận phần nghiên cứu của sách Đaniên. Chúng tôi tin rằng bạn đã nhận được một nền tảng tốt về sự nghiên cứu lời tiên tri. Chúng tôi tin rằng điều nầy sẽ giúp đỡ bạn chuyển sang phần nghiên cứu những lời tiên tri khác trong sách Khải Huyền.
12. Trong sổ tay của bạn, hãy viết ra phần mô tả ngắn gọn và những biến cố của “tuần lễ” thứ bảy mươi dựa vào những gì chúng ta đã học ở điểm nầy.
13. Trong sổ tay bạn, hãy trình bày bằng cớ cho thấy khi nào những biến cố của Đaniên 12 sẽ xảy ra.
Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ ĐÚNG ở khoảng trống trước câu nào Đúng. Chữ SAI nếu câu ấy Sai.
....1. Những sự hiện thấy (sự mặc khải) được ban cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời để động viên họ, tăng cường sức lực trong công tác của họ và cho họ biết đức tin.
....2. Vì Đức Chúa Trời không thiên vị người nào, nên chúng ta có thể nói cách an toàn rằng Đức Chúa Trời ban cho sự mặc khải cách bất kỳ người nào và không kể đến mối thông công của họ đối với Ngài.
....3. Sự mặc khải của Đaniên ở đoạn 10 tăng cường kiến thức của chúng ta về bản chất của cuộc chiến thuộc linh rất nhiều.
....4. Giá trị chính của lời tiên tri được ứng nghiệm là khả năng của nó làm cho lịch sử có hiệu lực.
....5. Sự ứng nghiệm cách kinh ngạc của lời tiên tri cho chúng ta sự tin quyết để tin rằng những gì chưa được ứng nghiệm sẽ được hoàn tất theo cùng mức độ chính xác.
....6. Sự ứng nghiệm của lời tiên tri nói rằng vua Xerxed I sẽ giàu có hơn những vua Batư ở trước ông, và ông sẽ khích động mọi người chống lại Hy lạp chỉ cho thấy sự chính xác của lời tiên tri.
....7. Một trong những lời tiên tri lạ lùng nhất ấy là một người mạnh mẽ sẽ xuất hiện, cai trị bằng uy quyền lớn, và chết đi, không để đế quốc mình lại cho hậu tự nhưng cho bốn người khác. Chúng ta thấy điều nầy ám chỉ về Alịch sơn đại đế.
....8. Sự dấy lên nắm chính quyền của Antiochus IV được chứng thực rõ ràng trong lịch sử, nhưng không được những lời tiên tri nói trước.
....9. Thời kỳ khó khăn sắp đến cho người Do thái sẽ xảy ra trong phần thứ hai của “tuần lễ” thứ bảy mươi vốn ở trong tương lai.
....10. Đaniên 12 chứng tỏ rằng sẽ có một cuộc sống lại chung trong đó mọi người chết, cả thiện lẫn ác, sẽ đối diện với một tương lai tươi sáng.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu.
1. a. Sai
b. Đúng
c. Đúng
d. Đúng
e. Đúng
f. Đúng
2. b. Ở đây chúng ta có một ví dụ về sự chống đối thông thường đối với Đức Chúa Trời và những đầy tớ Ngài vẫn tiếp tục.
3. a. Đúng
b. Đúng
c. Sai
4. Dựa vào những gì chúng ta đọc trong đoạn 10, chúng ta thấy sự nhậm lời cầu nguyện của dân sự của Đức Chúa Trời có thể bị những thiên sứ gian ác cản trở. Tuy nhiên, điều quan trọng ấy là không quyền lực nào có thể ngăn trở những lời cầu nguyện đến với Đức Chúa Trời. Và nếu chúng ta kiên nhẫn, sự đáp lời cầu nguyện sẽ đến với chúng ta.
5. a. Đúng
b. Đúng
c. Sai. Người lãnh đạo nầy được nhận diện là Alexander the Great (Alịch sơn Đại đế). Cyrus of Persia không có quyền như vua mạnh mẽ nầy đã xử dụng.
d. Sai
6. c. Nước Ysơraên nằm giữa hai quốc nầy và có liên quan trong lịch sử.
7. a. Dòng họ Ptolemy, các vua phương nam .
8. Giá trị của những sự kiện tiên tri nầy nằm trong khả năng chứng thực sự chính xác của lời Đức Chúa Trời. Bằng cớ cho thấy rằng mỗi lời tiên tri nhận lấy sự ứng nghiệm đáng kinh ngạc.
9. Bạn có thể khoanh tròn những câu: c) d), e) và f.
10. Câu 40 phân biệt vua nầy khác với vua của phương bắc. Câu 40 cũng nói vua nầy sẽ đi chinh phục nhiều nước, kể cả Ethiopi và Libi nhưng điều nầy không đúng với Antiochus IV trong lịch sử.
11. a. Đúng
b. Đúng
c. Đúng
d. Sai
e. Sai
12. Câu trả lời của bạn sẽ bao gồm những điểm chính mà chúng tôi đã liệt kê. “Tuần lễ” thứ bảy mươi sẽ bắc đầu bằng sự nắm quyền của một lãnh tụ nổi bật của liên minh mười nước. Người ấy sẽ lập giao ước hòa bình với Do thái trong bảy năm, nhưng sau ba năm rưỡi, người ấy sẽ hủy bỏ giao ước, và tìm cách tiêu diệt họ, tuy nhiên, dân Do thái được thiên sứ trưởng Micaên (Michael Michên) giúp đỡ, và những người kính sợ Đức Chúa Trời sẽ giải cứu. Trước khi Ngài thành lập vương quốc đời đời Đức Chúa Trời sẽ chấm dứt sự cai trị của Antichrist và những con người bất kỉnh của thời kỳ cuối cùng. Sau đó kẻ gian ác sẽ được sống lại và để chịu xấu hổ, và người công bình được sống lại để hưởng phước hạnh đời đời.
13. Bằng cớ trong đoạn 12 cho thấy rằng thời kỳ khôn khổ lớn nhất sẽ xảy ra ở phần thứ hai của “tuần lễ” thứ bảy mươi. Đoạn 12 cho thấy rõ ràng điều nầy sẽ xảy ra trong ba năm rưỡi. So sánh những bằng chứng nầy với những gì được đưa ra ở Đaniên đoạn 9 về bảy mươi “tuần lễ”, chúng ta kết luận rằng thời kỳ khốn khổ lớn nhất sẽ bắt đầu khi vua hầu đến phá vỡ giao ước mình với dân Do thái.
Tìm Hiểu Sách Khải Thị
Đaniên và Khải Thị là hai trong những sách tiên tri nổi bật trong Kinh Thánh. Những sách nầy có một sứ điệp quan trọng cho Cơ Đốc nhân ngày nay. Hai sách nầy cho chúng ta thấy rằng Đấng Tạo Hóa, Đấng khởi đầu thế giới và tạo dựng muôn vật trong đó cũng sẽ đem mọi sự đến phần kết thúc như Ngài đã dự kiến. Những sách đó cũng cho chúng ta thấy rằng Ngài là Đức Chúa Trời của lịch sử. Ngài trọn quyền kiểm soát tương lai. Trong bài học nầy chúng ta sẽ khảo sát toàn bộ sách Khải huyền. Ở những bài học tiếp theo chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng sứ điệp đặc biệt.
Khi bắt đầu học sách Khải Thị, chúng ta sẽ khảo sát chủ đề và nội dung của sách, chúng ta cũng sẽ xem hình thức đặc biệt mà sách được viết ra. Chúng ta cũng sẽ học cách giải nghĩa sách Khải Thị nữa. Muốn thế chúng ta sẽ học những nguyên tắc giải thích để giúp chúng ta hiểu rõ sứ điệp của sách.
Quan trọng hơn hết, chúng ta sẽ khám phá rằng sách Khải Thị bày tỏ Chúa Jesus Christ. Ngài là Chủ Đề và Đối Tượng Lớn của sách. Chúa Jesus là Đấng mà mọi kế hoạch của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn thành trong Ngài. Chúng tôi cầu xin Chúa ban cho mỗi học viên khi học từng bài học của loạt bài nầy sẽ nhận được sự mặc khải tươi mới về vương quốc, quyền năng và vinh hiển của Đức Chúa Trời, đặc biệt về con Ngài. Chúng tôi ước mong rằng sự mặc khải nầy sẽ động viên mỗi đời sống cho Chúa Jesus bằng sự tận hiến nhiệt tình hơn bao giờ hết.
Khái Lược Về Sách Khải Thị.
Mô Tả Nội Dung Của Sách.
Những Nguyên Tắc Chỉ Đạo Để Hiểu Sứ Điệp của Sách.
Học Xong Bài Nầy Bạn Có Thể:
• Nhận diện những sự kiện cơ bãn về tên, chủ đề, đề tài, tác giả, và thời điểm viết sách Khải Thị.
• Tóm tắt nội dung của sách Khải Thị.
• Mô tả những nguyên tắc chỉ đạo cần phải tuân theo trong việc giải thích sứ điệp của sách Khải Thị.
1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình đưa ra ở bài 1.
2. Nhớ viết câu trả lời của bạn về những câu hỏi nghiên cứu trước khi xem phần giải đáp ở cuối bài học. Phương pháp nầy sẽ giúp bạn học tập tài liệu nhanh chóng hơn.
3. Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài học, và xem phần giải đáp ở túi dành cho học viên. Nhớ ôn kỷ câu trả lời nào bạn làm chưa đúng.
Aån dụ ( Allergery).
Bản Bảy Mươi (Septuagint).
Khải Thị (Khải Huyền) (Apocalyptic).
Mở Ngoặc Khai Triển (Parentheticalenlargement).
Thuộc về Đấng Mê Si (Mesisanic).
Thiên Hi Niên (Millennium).
KHÁI LƯỢC VỀ SÁCH KHẢI THỊ.
Chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu sách Khải Thị với cái nhìn sơ lược về tên gọi, đề tài và tác giả của sách.
Tên gọi và chủ đề.
Tên gọi của sách trong Kinh Thánh rất quan trọng. Chẳng hạn, sách thứ nhất của Kinh Thánh được gọi là Sáng Thế Ký, chữ nầy phát xuất từ ngôn ngữ Hy lạp có nghĩa là “những thế hệ, những dòng dõi” (Generations). Cụm từ “Đây là dòng dõi của” xuất hiện đi xuất hiện lại trong sách và thực sự đánh dấu những phần chính của sách. Trong tiếng Hybálai, ngôn ngữ đầu tiên của sách, tên của sách là Bereshith, một cụm từ có nghĩa là “sự khởi đầu”. Cụm từ nầy được dùng trong câu đầu tiên của sách. Tên của cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh cũng tìm thấy trong câu thứ nhất của sách.
1. Mở KhKh 1:2 và hãy viết vào sổ tay của bạn cụm từ có nói đến tên của sách.
Chữ “Khải Thị” (Revelation) là một chữ dịch từ tiếng Hy lạp, danh từ Apokalupsis, có nghĩa là “điều được tiết lộ”. Hình thức động từ là Apokalupto, “tiết lộ” cũng được tìm thấy trong Tân Ước Hy lạp. Những chữ nầy được dùng trong những đoạn Kinh Thánh khác nhau để diẽn đạt hai ý tưởng chính. Trước hết nó chỉ về hành động của Đức Chúa Trời trong việc bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu. Thứ hai, nó chỉ về sự xuất hiện nhìn thấy được của Chúa Jesus Christ. Tuy nhiên, ý tưởng thứ ba cũng còn có thể tìm thấy trong Tân Ước. Cụm từ nầy được tìm thấy trong IPhi 1Pr 1:13, chẳng hạn, không nhất thiết phải ám chỉ về sự xuất hiện trong tương lai của Chúa Jesus Christ. Chữ nầy cũng có thể được dịch là “Aân điển vốn đang được mang đến cho anh em vào lúc Khải Thị của Chúa Jesus Christ” (the grace that is being brought to you at the revelation of Jesus Christ) (thì hiện tại lại tiếp diễn được dùng ở cụm từ nầy). Chân lý được bày tỏ ở đay là bây giờ chúng ta có thể được mạnh mẽ vì có sự bày tỏ ở đây là bây giờ chúng ta có thể được mạnh mẽ vì có sự bày tỏ liên tục của Chúa Jeus cho chúng ta khi chúng ta cùng đi với Ngài.
2. Xếp đặt cho phù hợp ý tưởng chính (phải) với đoạn Kinh Thánh (trái).
....a. Mat Mt 11:25
....b. 16:17
....c. IPhi 1Pr 1:7
....d. 1:12
Ý tưởng chính thứ hai, sự xuất hiện nhìn thấy được của Chúa Jesus Christ, là chủ Đề của sách Khải Thị. Chủ đề nầy vang dội như tiếng kèn thổi trong đoạn 1 câu 7: “ Kìa, Ngài cởi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy, hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, Amen.
3. Trong sổ tay của bạn, hãy trình bày ý nghĩa của chữ “Khải thị” và đưa ra chủ đề của sách Khải Thị.
Đề Tài.
Như bạn có thể nhận thấy rằng, tựa đề của sách Khải thị không chỉ đơn giản là “Sự Khải Thị” mà là sự Khải Thị của ChúaJeus Christ. Như vậy, đây là sự tiết lộ, sự bày tỏ, biểu hiện của một thân vị, Jesus Christ.
4.Đọc LuLc 24:13-27 và trả lời những câu hỏi sau:
a. Chúa Jesus đã nói với những môn đồ về ai ? (câu 27).
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
b. Ngài đã dạy từ phần Kinh Thánh nào? (câu 27).
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Bạn có biết rằng Kinh Thánh là cuốn sách nói về Chúa Jesus không? Từ chữ “ban đầu” của sách Sáng Thế Ký cho đến chữ cuối cùng “Amen” của sách Khải Thị, chỉ có một hình ảnh co trọng bước đi trên từng trang giấy của cuốn sách của Đức Chúa Trời, đó là con của Đức Chúa Trời. Ngài là chủ đề và đối tượng của mọi sự. Hơn nữa, trong những đoạn cuối cùng của sách, Ngài được chúng ta nhìn thấy trong sự toàn vẹn của thân vị, vị trí và sự hoàn tất của Ngài- quá khứ, hiện tại, và (hầu hết) tương lai.
5. Sách Khải Thị chứa đựng nhiều bức tranh của chủ đề vĩ đại của sách. Hãy chép lại danh sách về những hình ảnh dưới đây vào sổ tay của bạn, chừa chỗ trống sau mỗi bức tranh. Khi bạn đọc suốt sách Khải Thị, một số câu hỏi nghiên cứu đòi hỏi bạn viết đoạn và câu sau mỗi bức tranh hoặc mỗi hình ảnh.
- Đấng phán xét Hội Thánh của Ngài.
- Anpha và Ômêga.
- Đầu tiên và cuối cùng.
- Đấng Amen.
- Trước hết và sau chót.
- Sanh đầu nhứt từ trong kẻ chết.
- Đấng cầm chìa khóa Aâm phủ và sự chết.
- Đấng Thành Tín và Chứng Nhân Chân Thật.
- Sư tử của chi phái Giuđa.
- Chồi rễ của Đavít.
- Chiên Con.
- Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.
- Đấng giữ dấu ấn của Đức Chúa Trời.
- Đấng Cai trị các vua ở trên đất.
- Con Trai Loài Người ( Con Người).
- Đấng Hằng Sống.
- Đấng Chủ Tể của đất và biển.
- Đấng vung lưỡi liềm của mùa gặt.
- Con trai, con trai của Ysơraên.
- Đấng coi lò ép nho của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
- Đấng cỡi ngựa trắng.
- Vua của các vua.
- Chúa của các Chúa.
- Sao mai .
- Aùnh sáng vĩnh cửu.
- Đấng Go’el (Đấng chuộc Sản Nghiệp của hàng gần- Kinsman Redeemer).
Trong sách Khải Thị, Chúa Jesus rất tích cực. Ngài nói, duy chuyển, chinh phục, phán xét và cai trị. Ngài truyền lệnh cho Giăng chép những gì Ngài đọc cho và gởi cho bảy Hội Thánh. Ngài gọi Giăng “Hãy lên đây” (KhKh 4:1). Ngài lấy cuốn sách có bảy dấu ấn từ tay Cha của Ngài. Ngài mở sách. Ngài đứng trên núi Siôn với những người Ysơraên tin Ngài. Ngài gặt mùa gặt trên đất, Ngài cởi Ngựa trắng, đạp thùng ép nho của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời và cai trị suốt cõi vĩnh hằng.
Sách Khải thị không chỉ là sự khải thị nhưng cũng là sự khải thị từ Ngài cho những tôi tớ Ngài về những loạt biến cố sẽ xảy ra để hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Trời.
6. Chủ đề của sách Khải thị là.
a. Cuộc đời của Chúa Jesus trên đất và mối quan hệ của Ngài đối với Hội Thánh.
b. Chính Chúa Jesus Christ, những gì Ngài đã làm, đang làm và sẽ làm.
c. Giải thích những sự dạy dỗ của Chúa Jesus Christ về Đức Chúa Trời.
Tác giả và thời điểm viết sách.
Trong sách Khải Thị có vài phần trưng dẫn để chúng ta có thể nhận diện tác giả của sách.
7. Đọc 1:1, 4:9, 22:8 và trả lời những câu hỏi sau đây trong sổ tay của bạn, trưng dẫn đoạn và câu cho mỗi câu trả lời.
a. Ai nói rằng người ấy là tác giả của sách?
b. Người ấy có mối quan hệ gì với Chúa Jesus Christ?
c. Người ấy có mối quan hệ gì với những người mà người ấy gởi sứ điệp đến?
Ngoài những phần tham chiếu mà bạn vừa học, còn có vài sự kiện khác về sách Khải Thị chứng tỏ rằng Giăng đã viết sách ấy.
Một số những nhà lãnh đạo của Hội Thánh đầu tiên, trong những tác phẩm của họ, đã qui tác quyền của sách Khải Thị cho sứ đồ Giăng. Trong những vị ấy có Justin Martyr (163-217 S.C. ). Tertullian (145-220 S.C.) và Origen (185 -254 S.C). Những giáo phụ của Hột Thánh đầu tiên được nổi tiếng là những người trọn thành và đầu phục Chúa Trọn vẹn. Vì thế, lời làm chứng của họ có trọng lượng trong những vấn đề của lịch sử Hội Thánh đầu tiên. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, những người khác vào thời đó cũng có những sự xác quyết khác nhau về tác quyền của Giăng. Hơn nữa, sách Khải thị được viết chính xác vào thời điểm nào vẫn chưa khẳng định chắc chắn được. Một số học giả đã đặt thời điểm viết vào những năm 64 và 68 S.C. trong thời kỳ cai trị của hoàng đế Lamã Nêrô. Tuy nhiên, những tác giả của Hội Thánh đầu tiên là người nói về thời điểm viết, lại đặt thời điểm viết vào giữa năm 91 và 96 S.C. trong thời kỳ cai trị của Domitian. Đây dường như là sự chọn lựa hợp lý nhất dựa vào bằng cớ nội tại, lịch sử thế gian, và lời chứng của những nhà lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên .
Như đã ghi nhận ở trên, một số học giả không tin chắc rằng Giăng đã viết sách Khải thị, và họ đã khước từ tác quyền của ông. Lý lẽ căn bản của họ là cách hành văn trong sách Khải Thị hoàn toàn khác với cách viết văn của ông trong sách Phúc Âm Giăng và những thơ tín của Giăng. Những cách hành văn khác nhau là điều không chối cãi, nhưng chúng khác vì đề tài khác nhau . Có vài phần trưng dẫn trong Cựu Ước trong sách Phúc Aâm Giăng và các thơ tín của Giăng, vì đề tài khác nhau. Sự nhấn mạnh trong những sách đó là Đức Chúa Trời tiếp xúc với loài người trong Con Ngài là Jesus Christ, và sự sống con người có trong Ngài là một kết quả. Trái lại, trong sách Khải Thị, người ta phỏng tính có khoảng ba đến bốn trăm chỗ trưng dẫn ở Cựu Ước. Điều nầy đúng vì chủ đề của sách Khải thị là sự phán xét vĩ đại, và Giăng đang trình bày những lời tiên tri của Cựu Ước tiếng Hybálai theo ngôn ngữ tiếng Hy lạp.
Mặc dù chủ đề chính của sách Khải thị khác với các văn phẩm khác của Giăng, nhưng sách Khải thị lại rất tương tự với những sách đó. Chẳng hạn, Giăng là tác giả Tân Ước duy nhất xử dụng chữ Hy lạp logos “lời” theo các cá nhân. Oâng gọi Chúa Jesus là “Ngôi lời” trong những đoạn Kinh Thánh sau: GiGa 1:1-3, 14; IGi1Ga 1:1, KhKh 19:13. Oâng cũng dùng chữ Hy lạp nikao (overcome- đắc thắng) trong GiGa 16:13, IGi1Ga 12:13-14, 4:4, 5:4-5 và 17 lần trong sách Khải huyền. Ngoài những tác phẩm của Giăng, chữ nầy được dùng chỉ có ba lần (LuLc 11:22, RoRm 3:4, 12:21). Lời tiên tri của sách XaDr 12:10 được trích dẫn ở GiGa 19:37 và được nói đến ở sách KhKh 1:7. Trong cả hai chữ nầy động từ Hy lạp ekkenteo được dùng, một chữ không thấy ở nơi nào khác trong Tân Ước hay trong bản Bảy Mươi. Những điểm tương tự nầy rất có ý nghĩa. Cùng với bằng cớ khác về việc Giăng đã viết sách Khải thị, điều ấy là bằng cớ mạnh mẽ rằng tác giả của sách nầy cũng là người đã viết sách Phúc Âm và những thơ tín của Giăng. Bằng cớ trên cho thấy rằng tác giả của sách Khải thị là sứ đồ Giăng, môn đệ yêu dấùu của Chúa Jesus.
8. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê bốn sự kiện hỗ trợ cho kết luận rằng sách Khải thị được sứ đồ Giăng viết vào thới kỳ cai trị của Domitian (91-96 S.C.).
MÔ TẢ NỘI DUNG CỦA SÁCH.
Những phần chính.
Trong KhKh 1:19, chính Chúa Jesus đã trình bày ba chủ đề của sứ điệp của Ngài.
9. Theo 1:19, Giăng phải viết ba điều gì?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Hãy nghiên cứu dàn ý sau đây, vốn đước chia theo ba chủ đề nầy và dựa vào chữ viết của bản văn Hy lạp.
SÁCH KHẢI THỊ.
I. Mở đề, 1:1-8.
II. Những gì ngươi đã thấy, 1:9-20 (sự hiện thấy về Christ).
III. Điều hiện có 2:1-3:22 (các sứ điệp cho những Hội Thánh).
IV. Điều Về Sau Phải Xảy Đến , (4:1-22:6) (Sau những điều ở trên).
A. Hội Thánh trong sự vinh hiển, 4:1-5:14.
B. Cơn Đại Nạn, 6:1-19:21.
C. Thiên Hy Niên, 20:1-6.
D. Gót và Magót, 20:7-10.
E. Tòa Aùn Trắng Lớn. 20:11-15.
F. Mọi sự đều mới, 21:1-22:6.
V. Tái Bút, 22:7-21 (Phải Sẵn Sàng).
Dĩ nhiên, có những cách phân dàn ý khác về sách Khải Thị. Một trong những cách nổi tiếng là dàn ý dựa vào những loạt số bảy được tìm thấy trong sách. Dàn ý nầy cũng được giới thiệu trong loạt bài ICI về tổng luận Tân Ước (new Testamennt survey).
10.Hãy viết số của phần dàn ý chính của sách Khải thị ở trước mỗi tựa đề, tiêu đề, và những phần trưng dẫn thuộc về phần phân chia.
....a. Mọi sự đều mới.
....b. Sự hiện thấy về Christ.
....c. Điều ngươi đã thấy.
....d. Phải Sẵn Sàng.
....e. Các sứ điệp cho những Hội Thánh.
....f. 1:1-8.
....g. 2:1; 3:22.
1) Mở đề I.
2) Phần chính II.
3) Phần chính III.
4) Phần chính IV.
5) Tái Bút V.
Mở ngoặc khai triển.
Trong cách hành văn, phần mởõ ngoặc khai triển là phần nhìn gần, mô tả đầy đủ hơn về một phần của một vấn đề đã được đề cập. Chẳng hạn, một người có thể nhận thấy toàn cảnh của một thành phố từ xa và có cái nhìn khái quát. Sau đó người ấy có thể đến gần từng căn nhà và nhận xét chi tiết từng cảnh vật. Cái nhìn gần của căn nhà giống như phần mở ngoặc khai triển.
Có một ví dụ điển hình về phần mở ngoặc khai triển trong phần ký thuật về sự tạo dựng trong Sáng thế ký 1 và 2. Trong đoạn 1, sáu ngày tạo dựng được giới thiệu, kể cả sự tạo dựng người nam và người nữ được đưa ra ở những câu 26-30. Sau đó trong đoạn 2:4-25, có một phần mô tả dài hơn và chi tiết hơn về một sự kiện của ngày thứ sáu: sự tạo dựng người nam và người nữ.
Sách Khải thị cũng đươc trình bày theo cách tương tự. Giăng đưa ra phần ký thuật theo thứ tự chính xác. Sau đó ông mở rộng những đề tài quan trọng mà ông đã đề cập. Để giải thích sách Khải thị cách chính xác điều quan trọng là phải đặt những phần mở ngoặc khai triển nầy vào đúng chổ. Ngoại trừ, đoạn 14, phần mở ngoặc khai triển đưa ra những chi tiết của những biến cố đã trình bày rồi. Tuy nhiên, đoạn 14, hướng về phía trước, hay nói trước những biến cố sẽ theo sau. Những phần mở ngoặc khai triển của sách Khải thị được liệt kê như sau:
CHỦ ĐỀ CỦA PHẦN MỞ NGOẶC KHAI TRIỂN
7:1-17 144.000 Người Ysơraên và đám đông mặc áo dài trắng.
10:1-11 Thiên sứ mạnh mẽ với cuộn giấy
11:1-19 Hai nhân chứng
12:1-18 Người đàn bà, con trai và con rồng
13:1-18 Hai con thú
14:1-20 144.000 Ysơraên (lặp lại), sự rao giảng Phúc âm lần cuối, lời tuyên bố về Babylôn đổ xuống, mùa gặt cuối cùng, bàn ép rượu.
17:1-18 Hai Con Thú và đại dâm phụ.
18:1-24 Babylôn.
11. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi ví dụ về phần mở ngoặc khai triển.
a. Phần kỳ thuật sự Tạo dựng trong SaSt 1:1-31.
b. Phần mô tả đầy đủ hơn về một đề tài đã được đề cập vắn tắt ở một phần tường thuật khác.
c. Phần ký thuật theo thứ tự một loạt những biến cố trong trình tự đúng.
d. Bức tranh về Babylôn trong KhKh 18:1-24.
e. Sự mô tả về người nam và người nữ trong SaSt 2:4-25.
NHỮNG NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO ĐỂ HIỂU SỨ ĐIỆP CỦA SÁCH.
Bạn đã học vài sự kiện căn bản về chủ đề và nội dung của sách Khải thị. Trong phần nầy, bạn sẽ khảo sát vài nguyên tắc để theo khi bạn tìm hiểu sứ điệp của sách.
Bốn quan điểm cơ bản về ý nghĩa của sách.
Có bốn quan điểm cơ bản hay bốn hệ thống giải thích sách Khải thị. Những quan điểm đó là thuyết quá khứ (Preterist), Thuyết Lịch Sử (Historicist), Thuyết Lý Tưởng hay thuộc linh (idealist or spiritual) và Thuyết Tương Lai (futurist). Chúng ta sẽ đánh giá mỗi quan điểm cách vắn tắt, và sẽ tiếp xúc với những mặt mạnh và những mặt yếu của mỗi quan điểm.
Thuyết Qúa Khứ (Preterist). Những người chủ trương quan niệm nầy dạy rằng những lời tiên tri của sách Khải thị đã được ứng nghiệm trong những sự chiến đấu của những Cơ Đốc Nhân Hội Thánh đầu tiên với người Lamã. Những con thú được đề cập trong sách tiêu biểu cho đế quốc Lamã dưới tyriều đại của các Sêsa, là những người bắt buộc mọi người phải thờ phượng họ như là Đức Chúa Trời. Những biến cố nói trước trong sách cũng đạt đến cao điểm hoặc là sự hủy phá thành Giêrusalem vào năm 70 S.C. hay sự sụp đổ của đế quốc La mã vào năm 476 S.C. Như vậy, sứ điệp nầy có ý nghĩa rất ít hay chẳng có ý nghĩa rất ít hay chẳng có ý nghĩa gì cả cho thời hiện tại.
Thuyết Theo Lịch Sử (Historicist), Theo quan điểm nầy cuốn sách trình bày một sự mô tả của tiến trình lịch sử dẫn đến thời đại chúng ta. Những cá nhân chủ trương thuyết nầy nhận diện những lời tiên tri khác nhau của sách với sự dấy lên của Huns, Napole’on, Hồi Giáo, v..v... Khó tìm thấy hai người chủ trương quan điểm nầy lại nhất trí với nhau về ý nghĩa tượng trưng của biểu tượng nào.
Thuyết Lý Tưởng Hay Thuyết Thuộc Linh (Idealist or Spiritual). Theo quan điểm nầy sách là một ẩn dụ thuộc linh cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời chiến thắng Satan, điều thiện thắng điều ác. Cuốn sách cũng không ám chỉ về những biến cố đặt biệt nào. Những trang sách Khải thị bày tỏ những nguyên tắc mô tả trận chiến liên tục của những lực lượng của Satan và những lục lượng của Đức Chúa Trời.
Thuyết Tương Lai (Futurist). Những người theo thuyết tương lai tin rằng sách nói theo nghĩa đen. Nói về nghĩa đen không có nghĩa là Antichrist sẽ có bảy đầu và mười sừng. Trái lại họ tin rằng những biến cố và những nhân vật được ám chỉ trong sách là những biến cố và những con người có thật. Theo quan điểm nầy thì hầu hết những lời tiên tri chưa được ứng nghiệm. Những điều ấy sẽ đước ứng nghiệm trong “tương lai”. Những biến cố mô tả trong những đoạn 1-3, theo quan điểm nầy, đã xảy ra rồi, tuy nhiên, còn những điều khác nằm trong tương lai ấy là sự phán xét, sự phục sinh, sự cất lên, Antichrist, tiên tri giả, Cơn Đại Nạn, Trận chiến Hạtmaghêđôn, Thiên Hi Niên và trời mới đất mới. Những người theo thuyết tương lai chỉ ra rằng tự cuốn sách là lời tiên tri.
Một số học giả Kinh Thánh vốn nghiên cứu kỹ sách Khải thị thì chủ trương rằng không thể nào phân loại cách cứng ngắt vào một trong những quan điểm nêu trên. Chẳng hạn, có nhiều người theo quan điểm thuộc linh nhưng họ cũng đồng ý rằng có một biến cố tiên tri ở trong sách và những biến cố cuối cùng sắp xảy ra. Tuy nhiên, không giống như những người theo thuyết tương lai, họ không tin rằng những lời tiên tri của sách chỉ về những biến cố đặt biệt vốn có thể định nghĩa rõ ràng.
Chắc hẳn người ta tin rằng Hội Thánh đầu tiên đã nhìn vào sách Khải thị như là một bức tranh của đế quốc Lamã trong sự chống đối và ngược đãi Cơ đốc Nhân. Là motä phần của mục đích của sách, chắc chắn sách nầy góp phần động viên cho Hội Thánh đang chiến đấu của ba thế kỷ đầu tiên. Hiển nhiên rằng sách Khải thị cũng cho chúng ta thấy chiến thắng tối hậu của Đức Chúa Trời trên những lực lượng của Satan. Ngoài sứ điệp an ủi của sách cho Hội Thánh đầu tiên và sự bảo đảm giản đơn rằng điều thiện sẽ thắng điều ác, thì có rất ít điều khác ám chỉ lời tiên tri nầy cho những Cơ Đốc Nhân đầu tiên.
Như vậy, dù công nhận vài ưu điểm của những quan điểm khác, nhưng quan điểm được trình bày trong loạt bài học nầy cơ bản theo Thuyết Tương Lai. Chúng tôi tin rằng quan điểm nầy phù hợp tốt nhất với nội dung của sách, vì cuốn sách mô tả những biến cố phải xảy ra để hoàn tất kế hoạch của Đức Chúa Trời- những biến cố sẽ xảy ra trong tương lai.
12. Viết số hệ thống thông giải sách Khải Huyền vào cho thích hợp
....a. Những lời tiên tri ám chỉ về những biến cố thực sự sẽ xảy ra trong tương lai để hoàn tất kế hoạch của Đức Chúa Trời.
....b. Những lòi tiên tri được ứng nghiệm trong thời kỳ những Cơ Đốc Nhân đầu tiên bị chính quyền La mã ngược đãi.
....c. Một số người chủ trương thuyết nầy tin rằng những lời tiên tri đã ứng nghiệm khi thành Giêrusalem bị phá hủy vào năm 70 S. C.
....d. Những biến cố được mô tả tiêu biểu cho một ẩn dụ thuộc linh của một cuộc chiến đấu liên tục giữa Đức Chúa Trời và Satan.
....e. Những lời tiên tri được đồng nhất với những nhân vật đặc biệt và những biến cố đặc biệt trong quá khứ, như Napole’on và sự dấy lên của người Hồi Giáo.
Những nét đặc biệt của hình thức của sách.
Như bạn đã biết, Kinh Thánh gồm có những tác phẩm thuộc nhiều chủ đề khác nhau và ở nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn, Kinh Thánh có những Thi Thiên của Đavít viết. Những câu Châm ngôn của Salômôn, những lời tiên tri của Eââsai và những bức thư của Phao Lô. Một số những tác phẩm tiên tri trong Kinh Thánh được ra ở hình thức được gọi là “Khải thị” (ar calyptic-Khải huyền), đây là thể loại văn có vài đặc điểm . Bốn sách của Kinh Thánh được kể là thuộc vào hình thức Khải thị là những lời tiên tri của Đaniên, Eâxêchiên, Xachari và Khải huyền (Revelation).
Khi bạn tiếp tục nghiên cứu, bạn sẽ học nhiều hơn về những đặc điểm khải thị của hai sách Đaniên và Khải thị cùng ý nghĩa của những điều đó. Những đoạn sau hay tiêu biểu cho ba đặc điểm chính của thể loại Khải thị mà chúng ta có thể tìm thấy trong sách của Kinh Thánh, cùng với những ví dụ từ sách Khải Huyền.
1. Trong những tác phẩm theo thể loại khải thị, những dấu hiệu và những biểu tượng được dùng để chuyển giao chân lý thuộc linh. Chẳng hạn, hãy chú ý cụm từ “Made it known” (đem các điềm tỏ) ở KhKh 1:1. Chữ nầy được dịch từ tiếng Hy lạp nghĩa đen có nghĩa là “nói lên ý nghĩa”, “bày tỏ bằng những dấu hiệu”. Những dấu hiệu và những biểu tượng được dùng suốt cả sách. Giăng mô tả “Tôi đã thấy” (I saw) hơn 60 lần, (xem 1:12 và 14:6). Oâng nói “Tôi đã nghe” (I heard) 28 lần (xem 5:1 và 12:10, chẳng hạn.). Ngoài ra ông đặc biệt cho thấy rằng ông đã được cho xem ( xem 4:1, 17:1 , 21:9-10 và 22:1, chẳng hạn).
2. Những sách khải thị cho thấy sự chiến thắng trong tương lai của những lực lượng của Đức Chúa Trời trên những lực lượng của Satan. Chẳng hạn, hãy xem sự chiến thắng Satan được trình bày trong 12:7-12 và 20:7-10.
3. Trong những sách Khải thị, các hữu thể thiên sứ xuất hiện để giải thích những sự kiện. Điều nầy được chứng minh bằng sự xuất hiện của thiên sứ trong 10:9-11 và 17:15-18.
Thể loại Khải thị (apocalyptic style) cũng còn được những nhà văn không thuộc linh Kinh Thánh viết. Dù những tác phẩm của họ giống với những sách của Kinh Thánh ở vài phương diện, nhưng có vài sự khác biệt quan trọng. Chẳng hạn, những sách khải thị không thuộc Kinh Thánh chứa đựng quan điểm bi quan của cuộc sống của những người thánh thiện (godly). Trái lại, những tác giả của Kinh Thánh là những người lạc quan. Họ cho thấy rằng dù những người thánh thiện có chịu khổ vì ngược đãi, nhưng Đức Chúa Trời ban cho họ sự bình an và vui mừng ở giữa cuộc thử nghiệm và thử thách đức tin. Họ có mối thông công với Ngài và không điều gì có thể phá hủy.
13. Khoanh tròn mẫu tự trước lời mô tả về đặc điểm phân biệt của văm phẩm khải thị với điều được tìm thấy trong sách Khải huyền .
a. Dùng những dấu hiệu và biểu tượng để chuyển giao chân lý thuộc linh .
b. Nhận diện sứ đồ Giăng là tác giả của sách.
c. Xử dụng chữ apokalypsis.
d. Có sự xuất hiện của những thiên sứ để giải thích những sự kiện.
e. Quan điểm bi quan về cuộc sống của những người thánh thiện.
f. Đưa ra hình ảnh về sự chiến thắng tối hậu của Đức Chúa Trời trên Satan.
Những nguyên tắc giải thíùch ý nghĩa của sách.
Có bốn nguyên tắc quan trọng cần phải tuân theo khi một người giải thích sứ điệp tiên tri của sách Khải thị. Chúng tôi liệt kê sau đây. Ba nguyên tắc đầu cần phải được áp dụng vì Khải huyền là một sách tiên tri. Nguyên tắc thứ tư cũng được áp dụng vì lời tiên tri của sách Khải huyền được viết dưới hình thức thể loại Khải thị.
Nguyên tắc số 1: Hãy để Kinh Thánh giải thích Kinh Thánh. Trong sách Khải huyền, sứ đồ Giăng ghi lại những bức tranh và những quan cảnh ông đã thấy, và công việc của chúng ta là giải thích những dấu hiệu nầy dựa trên những sự dạy dỗ của phần còn lại của lời Đức Chúa Trời. Hai điều cần nhớ khi chúng ta giải thích những dấu hiệu nầy là: 1) Kinh Thánh là lời giả thích tốt nhất của chúng ta, và 2) khi điều rõ ràng làm cho có ý nghĩa tốt nhất, thì những điều khác trở nên không có ý nghĩa. Nội dung của sách Khải huyền là toàn thể cuốn Kinh Thánh.
Nguyên tắc số 2: Aùp dụng nguyên tắc của viễn cảnh tiên tri. Như sứ đồ Phierơ chỉ ra trong IPhi 1Pr 1:11, những tiên tri đã nhìn thấy biến cố của tương lai, nhưng không phải lúc nào học cũng thấy những yếu tố thời gian liên quan đến sự ứng nghiệm những điều đo. Thường thường, khi học lời tiên tri giống như việc nhìn lên bầu trời và thấy vô số sao. Chúng ta không biết được những khoảng cách giữa những vì sao cũng như không biết rằng có những vì sao gần chúng ta hơn những vì sao khác.
14. Hãy đọc EsIs 61:1-2 và LuLc 4:16-21. Trong tay của bạn, hãy viết một đoạn văn ngắn giải thích tại sao bạn nghĩ rằng Chúa Jesus ngưng đọc tại chổ đó.
Mặc dù Eâsai đã thấy “năm ban ơn của Chúa” và “ngày báo thù của Đức chúa Trời chúng ta” trong cùng một sự hiện thấy, nhưng ông không thấy khoảng cách thời gian giữa hai biến cố nầy. Ở đây cần có cái nhìn về viễn cảnh tiên tri chính xác. Biến cố thứ nhất ứng nghiệm khi Chúa Jesus thi hành chức vụ trên đất, biến cố thứ hai mãi cho đến Cơn Đại Nạn mới ứng nghiệm. Vì biến cố thứ hai chưa ứng nghiệm, nên khoảng cách giữa hai biến cố đã gần 2.000 năm rồi.
Nguyên Tắc số 3: Công nhận có thể có hai lời ứng nghiệm cho lời tiên tri. Những tiên tri có các dịp ghi trong Cựu Ước vốn trước tiên là người giảng cho thế hệ của họ, chứ không phải là người nói trước tương lai. Họ cảnh cáo dân sự trong thời của họ về ngày của Chúa sẽ nhanh chóng đến như là thời điểm đoán phạt tội lỗi và sự thờ hình tượng của họ. Những sứ điệp của họ đã đi vượt quá những gì xảy ra trong thời điểm của họ và hướng về Ngày Lớn của Chúa vôn được mô tả trong sách Khải huyền. Chẳng hạn, tiên tri Giôên đề cập ngày của Chúa (Gio Ge 1:15, 2:1-2, 11-31). Trong thời Giôên, chắc chắn sự phán xét sẽ giáng xuống trên Giuđa trong tương lai gần, tuy nhiên, còn có Ngày của Chúa chưa xảy đến nữa, đó là một bức tranh trong KhKh 19:1-21. Như vậy, lời tiên tri Giôên sẽ có hai lần ứng nghiệm.
Nguyên tắc số 4: Hiểu cách dùng những dấu hiệu và biểu tượng. Nhiều dấu hiệu và biểu tượng như những Con Thú, màu sắc, con số, và những đồá vật hiện ra trong suốt sách Khải huyền . Những điều đó được dùng để bày tỏ những ý nghĩa nhất định. Theo một tác giả, J. B. Bmith, có 46 biểu tượng mà cuốn sách tự giải thích. Tuy nhiên, có một sự nhất trí chung về ý nghĩa của nhiều biểu tượng trong số đó đã được xử dụng. Sau đây là biểu đồ đưa ra vài ý nghĩa của những biểu tượng quan trọng nhất được xử dụng trong sách Khải huyền cùng với ý nghĩa thường được gán cho những điều đó.
Loại Biểu Tượng
Biểu tượng
Ý Nghĩa
Những con số
Sau khi nghiên cứu kỹ sách Khải huyền, tác giả của bạn tin rằng những ý nghĩa của những biểu tượng ở bản trên vẫn liên tục trong suốt cả sách .
Bạn đã được giới thiệu vài hình ảnh về những bức tranh của Christ được tìm thấy trong sách Khải huyền và chắc chắn bạn biết rõ rằng Đức Chúa Trời đang điều khiển tương lai. Chúng tôi ước mong rằng phần nghiên cứu nầy sẽ thách thức bạn sống một đời sống Cơ Đốc Nhân kiên định khi chúng ta càng gần đến ngày Chúa chúng ta trở lại.
Bài Tập Trắc Nghiệm.
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Hãy khoanh tròn mẫu ở trước mỗi câu trả lời tốt nhất.
1. Khi dùng tựa đề cho sách Khải huyền (Khải thị), chữ Khải thị (revelation) có nghĩa là.
a. Bày tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm thuộc linh.
b. Sự hiện ra thấy được của Chúa Jesus.
c. Ban sự hiểu biết thuộc linh cho tín hữu.
d. Bày tỏ cho tín hữu hiểu biết nhiều điều.
2. Chủ đề chính của sách Khải huyền là mô tả về.
a. Những sự kiện trong đời sống tại trần gian của Chúa Jesus.
b. Những lực lượng thuộc về giới linh đang dàn trận nghịch cùng những người trách thiện.
c. Chính Chúa Jesus Christ trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
d. Những biểu hiện liên quan đến số phận của Ysơraên.
3. Bằng chứng cho thấy sứ đồ Giăng đã viết sách Khải huyền là.
a. Oâng xử dụng những chữ Hy lạp logos và nikao.
b. Có nhiều sự trích dẫn từ Cựu Ước.
c. Chữ Hy lạp apokalypsis được dùng trong đó.
d. Đặc tính của thể loại Khải thị (apocalyptic) của sách.
4. Tiểu Đề “Mọi sự đều mới” thuộc về phần chia chính nào?
a. Mở đề.
b. Điều Ngươi đã thấy.
c. Điều hiện có.
d. Điều về sau phải xảy đến.
e. Tái Bút.
5. mục đích của phần mở rộng khai triển trong Kinh Thánh là để.
a. Giới thiệu một đề tài trước kia chưa đề cập .
b. Kéo dài khoảng cách giữa hai sự kiện có một bản chất tương tự .
c. Làm ngắn lại khoảng cách giữa hai sự kiện có một bản chất tương tự .
d. Đưa thêm tài liệu, tin tức về chủ đề đã đề cập vắn tắt ở một nơi nào đó.
6. Theo cách giải thích của Thuyết Qúa Khứ của sách Khải huyền, thì sách mô tả.
a. Tất cả lịch sử từ quá khứ đến hiện tại.
b. Chiến thắng của điều thiện trên điều ác nằm trong sách ẩn dụ.
c. Những cuộc tranh đấu của những Cơ Đốc Nhân đầu tiên nghịch lại người La mã.
d. Những biến cố của điều chưa xảy ra.
7. Đối lập với những tác phẩm thể loại Khải thị của những nhà văn không thuộc về Kinh Thánh, thể loại Khải thị trong sách Khải huyền chứa đựng những điều dưới đây, NGOẠI TRỪ.
a. Sự bao gồm sự xuất hiện của thiên sứ để giải thích những sự kiện.
b. Trình bày quan điểm bi quan của đời sống của những người tin kính, thánh thiện.
c. Sự xử dụng dụng những dấu hiệu và biểu tượng để chuyển giao chân lý thuộc linh.
d. Việc bày tỏ chiến thắng tương lai của những lực lượng thuộc Đức Chúa Trời trên những lực lượng của Satan.
8. “Sự giải thích về chiên con có nghĩa là Chúa Jesus” liên quan gần gũi nhất với nguyên tắc nào ở đây?
a. Xử dụng những dấu hiệu và những biệu tượng.
b. Dùng Kinh Thánh giải thích Kinh Thánh.
c. Viễn cảnh tiên tri.
d. Sự ứng nghiệm hai lần.
TRẢ LỜI NGẮN. Trả lời những câu hỏi sau đây ngắn gọn. Câu trả lời của bạn có thể có dòng văn khác với câu trả lời của chúng tôi ở phần giải đáp, nhưng vẫn đúng với nội dung thì thôi. Hãy viết câu trả lời của bạn vào khoảng trống được chừa ở dưới.
9. Chúa Jesus khuyên bảo Giăng viết ba điều gì vào sách Khải huyền.
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
10. Hãy nêu tên bốn quan điểm căn bản về ý nghĩa của sách Khải huyền và cho biết quan điểm nào được trình bày trong loạt bài nầy.
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. Câu trả lời của bạn có thể là “sự khải thị của Chúa Jesus Christ”.
2. a. 1) Sự bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu.
b. 1) Sự bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu.
c. 2) Sự xuất hiện nhìn thấy được của Chúa Jesus.
d. 1) Sự bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu.
3. Câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: Tên của sách Khải Huyền là apokalypsis của Jesus Christ. Chữ apokalypsis trong tên nầy có nghĩa là “sự hiện ra thấy được” Hay sự “khải thị” của Chúa Jesus Christ. Chủ đề của sách là sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ. Chủ đề nầy được nói trong KhKh 1:7.
4. a) Câu 27 nói về “chính Ngài”.
b) câu 27 cho thấy Ngài đã dạy từ Cựu Ước.
5. Bạn nên viết bản liệt kê nầy vào sổ tay để xử dụng về sau nầy.
6. b) Chính Chúa Jesus, những gì Ngài đã làm, đang làm và sẽ làm.
7. a. Giăng (1:1, 4, 9; 22:8).
b. Ông là đầy tớ của Chúa Jesus Christ (1:1).
c. Ông ấy là anh em và bạn hữu của họ (1:9).
8. Những sự kiện của bạn có thể bao gồm, bất cứ thứ tự nào: a) Xử dụng chữ Hy lạp logos. b) Xử dụng chữ Hy lạp Nikao và ekkenteo. c) Chứng cớ của những người lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên như Justin Martyr, về tác quyền của Giăng. d) lời chứng của những người lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên về thời điểm sách được viết. e) Bằng cớ nội tại của sách Khải huyền liên quan đến việc Giăng bị tù ở đảo Bát mô.
9. Ông được truyền phải viết : 1) Điều ngươi đã thấy, 2) Điều hiện có, và 3) Điều về sau phải xảy đến.
10. a. 4) Phần Chính IV.
b. 2) Phần Chính II.
c. 2) Phần Chính II.
d. 5) Tái Bút V.
e. 3) Phần Chính III.
f. 1) Mở Đề I.
g. 3) Phần Chính III.
11. Bạn có thể khoanh tròn chữ b), d) và e).
12. a. 4) Thuyết Tương Lai.
b. 1) Thuyết Qúa Khứ.
c. 1) Thuyết Qúa Khứ.
d. 3) Thuyết Tương Lai.
e. 2) Thuyết Lịch Sử.
13. Bạn có thể khoanh tròn chữ a) ,d) và f.
14. Ngài dừng lại sau cụm từ “năm ban ơn của Chúa” vì Ngài biết rằng chưa đến thời điểm để ứng nghiệm lời tiên tri của phần kế tiếp ở trong Eâsai: “ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta”.
15. a. 3) Nguyên tắc ứng nghiệm hai lần.
b. 4) Nguyên tắc xử dụng các dấu hiệu.
c. 2) Nguyên tắc về viễn cảnh tiên tri.
d. 1) Nguyên tắc lấy Kinh Thánh giải thích Kinh Thánh.
e. 2) Nguyên tắc viễn cảnh tiên tri.

ĐIỀU SỨ ĐỒ GIĂNG ĐÃ THẤY
Trong bài 4 chúng ta thảo luận vài điều trong những đặc điểm của sách Khải thị : Tên, chủ đề, đề tài đầu tiên, tác giả và thời điểm viết sách. Chúng ta đã khảo sát vài hệ thống giải thích được dùng để giải thích những chữ tiên tri. Chúng ta cũng đã chú ý đến vài nguyên tắc giải thích. Chúng tôi tin rằng phần nghiên cứu đầu tiên nầy sẽ làm cho loạt bài học của chúng ta dễ hiểy hơn.
Bây giờ chúng ta sang chương 5 và phần chính thứ hai được đưa ra trong bài 4: Điều Ngươi Đã Nhìn Thấy. Tại đây chúng ta sẽ gặp một số đề tài rất quan trọng. Trong số những điều khác, chúng ta sẽ thảo luận nguồn gốc và mục đích của “sự Khải thị”, những phước lành của sách Khải huyền, Ngày của Chúa, và ngôi sao cùng những chơn đèn. Cuối cùng, chúng ta sẽ khảo sát ngắn gọn ý nghĩa của sự chết và âm phủ (Hades) trong đoạn văn về vị trí của Chúa là đầu của Hội Thánh.
Khi bạn nghiên cứu từng phần của bài học, nguyện xin Chúa ban cho bạn sự xức dầu mới để tiếp nhận chân lý Ngài dành cho bạn. Cầu xin Chúa cho bạn có thể áp dụng lẽ thật nầy cách có hiệu quả trong Kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân của mình.
Dàn ý bài học.
Nguồn gốc và Mục đích của sách Khải huyền.
Ý nghĩa của chữ En Tachei.
Những ý nghĩa của chữ Thiên sứ (Angel).
Bảy phước lành của sách Khải Huyền.
Bảy linh của Đức Chúa Trời.
Sự mô tả Tam Diện về Chúa Jesus.
Ý nghĩa của chữ “nhìn thấy” (see).
Anpha và Ômêga.
Ngày của Chúa.
Tiếng nói. Lệnh truyền và sự Hiện Thấy.
Sự chết và âm phủ .
Những ngôi sao và những chơn đèn.
Những mục tiêu của bài học.
· Định nghĩa, tóm tắt, hay mô tả những bức thư, những chữ, những hữu thể và những đồ vật được trình bày trong dàn ý của bài học.
· Chúng tỏ sự ứng nghiệm đầy đủ hơn về phần Đức Chúa Trời ban cho bạn trong sự thực hiện mục đích của Hội Thánh.
Những Hoạt Động Học Tập.
1. Tiến hành học tập theo phương pháp được đưa ra ở Bài 1.
2. Đọc đoạn 1 của sách Khải Huyền một lần nữa trước khi bạn triểãn khai bài học.
3. Đọc lại những hình ảnh về Chúa Jesus Christ mà bạn ghi trong sổ tay ở bài 4. Trưng dẫn câu nào trong đoạn 1 có liên hệ với hình ảnh đó. Trước khi bạn đọc bài nầy, hãy viết vào sổ tay của bạn mỗi hình ảnh được giới thiệu trong đoạn nầy có ý nghĩa gì đối với một Cơ Đốc Nhân như bạn.
Từ Ngữ .
Điều hành ( administried).
Khẩu hiệu ( watchword).
Phước lành ( beatitude).
Sắp xảy ra ( imminent).
Thiên sứ trưởng ( archangel).
Thân thể vật lý (physique).
Toàn tri (omniscience) .
Vật ám chỉ (referent).
Vật hữu hình (tangible).
Xác nhận (affrmation).
Triển Khai Bài Học
MỤC TIÊU 1: Trình bày nguồn gốùc của lẽ thật ở trong sách Khải Huyền và mục đích đầu tiên của việc công bố lẽ thật nầy.
NGUỒN GỐC VÀ MỤC ĐÍCH CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN.
Câu đầu của Khải huyền 1 cho chúng ta biết rõ rằng Đức Chúa Trời là nguồn gốc của lẽ thật dồn chứa trong sách. đồng thời cũng cho chúng thấy mục đích của việc công bố lẽ thật trong sách nầy. câu 1 cho thấy rằng Chúa Jesus có nhiện vụ phải công bố chân lý nầy cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời trên đất. Chúa Jesus có thể bày tỏ cho những đầy tớ Ngài những điều sắp xảy ra để hoàn thành lẽ thật được nói tiên tri ở trong sách Khải huyền.
Những người không phải là đầy tớ của Đức Chúa Trời không tài nào hiểu được sách Khải thị. Những điều đó đối với họ thật ngu xuẩn chẳng khác gì “ Sứ điệp thập tự giá đối với những kẻ hư mất là ngu dại” (ICo1Cr 1:18). Tuy nhiên, còn đối với chúng ta là những đầy tớ của Đức Chúa Trời, thì Khải huyền là cuốn sách vĩ đại đầy sự đắc thắng và vui mừng trong Jesus Christ Cứu Chúa chúng ta.
1. Ai là nguồn gốc của lẽ thật trong sách Khải thị?
2. Mục đích đầu tiên của việc công bố lẽ thật được đưa ra trong sách Khải huyền là gì?
3. Những người không phải là đầy tớ của Đức Chúa Trời không thể nào hiểu được sách Khải huyền vì.
a. Họ không hiểu hầu hết những chữ ở trong sách.
b. Họ không có đủ sự khôn ngoan của con người.
c. Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian nầy trở nên ngu dại.
d. Họ không có sự khôn ngoan Đức Chúa Trời ban cho.
MỤC TIÊU 2: Mô tả ý nghĩa của chữ “kíp” (một cách mau chóng khi nói về việc Chúa trở lại).
Ý NGHĨA CỦA CHỮ EN TACHEI Khải Huyền 1:1.
KhKh 1:1 bày tỏ không những bản chất và mục đíùch của cuốn sách nhưng còn nói về đặc tính của việc Đấng Christ trở lại. Từ ngữ được dịch là “kíp” trong tiếng Hy lạp là “en tachei”, cụm từ nầy có nghĩa là “một cách mau lẹ” (kíp) trong LuLc 18:8 và một lần nữa chữ “kíp” trong RoRm 6:20. “Kíp” trong KhKh 1:1 chỉ về thì giờ của Đức Chúa Trời- chứ không phải của chúng ta. Thì giờ của Đức Chúa Trời không giống như thì giờ của chúng ta. Thơ Phierơ thứ hai đoạn 3 câu 8 cho thấy Đức Chúa Trời nhìn mọi ngày như bây giờ ở thì hiện tại. Chữ “phải” trong 1:1 đã đưa những học giả không theo thuyết quá khứ tin rằng chữ “ en tachei” ám chỉ, “sự ứng nghiệm cách chắc chắn”. Như vậy, họ tin rằng điều nầy chứng tỏ rằng những lời tiên tri chắc chắn sẽ ứng nghiệm. Tuy nhiên, từ ngữ “en tachei” còn có thể được dịch bằng những chữ khác hơn là chữ “kíp” hay “một cách mau lẹ” . Chẳng hạn cụm từ Hy lạp nầy có thể có nghĩa là “thình lình”, vì thế không nhất thiết có nghĩa là “những điều kíp phải xảy đến” thì phải xảy ra lập tức sau khi sách Khải huyền được viết xong. Cuối cùng, chữ “en tachei” được dùng có nghĩa là “sắp xảy ra” ám chỉ rằng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Trong bài 4 chúng ta thấy rằng chủ đề của sách Khải huyền là sự loan báo về sự hiện đến của Chúa Jesus Christ (KhKh 1:7) . Sự hiện đến của Ngài là “điều kíp phải xảy ra”. Như chúng ta đã thấy trong đoạn trước, cụm từ năm chữ nầy ở trong 1:1 ám chỉ cách mạnh mẽ rằng Khẩu hiệu của Cơ Đốc Nhân là “Sẵn sàng” đón Chúa Jesus trở lại. Sự trở lại của Chúa Jesus bao gồm hàng loạt biến cố. Loạt biến cố nầy bắt đầu ở 4:1, và được mô tả chi tiết hơn. Một khi những biến cố nầy khởi sự thì chắc chắn sẽ không có sự trì hoãn trong việc kết thúc chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Theo luật phối cảnh tiên tri, những biến cố xảy ra sẽ không còn có sự xen vào giữa nữa. Nó chỉ về những trang cuối của kế hoạch của Đức Chúa Trời của mọi thời đại.
4. Chúa Jesus đã sai thiên sứ Ngài chỉ cho Giăng đầy tớ Ngài điều gì?
5. Cụm từ Hy lạp “en tachei” được dịch sang tiếng Anh (rồi được dịch bằng tiếng Việt) Bốn chữ nào?
MỤC TIÊU 3: Giải thíùch những phương cách khác nhau trong đó chữ mà Kinh Thánh dịch là “thiên sứ” (angel) được dùng và nhận diện thiên sứ đã bày tỏ cho Giăng trong 1:2 sứ điệp nào.
NHỮNG Ý NGHĨA CỦA CHỮ “THIÊN SỨ”
1:1-2.
1:1 chứng tỏ rằng một thiên sứ bày tỏ Jesus Christ cho Giăng, tác giả của sách Khải huyền. Ở đây chúng ta thấy rằng chữ được dịch “thiên sứ” có nghĩa là “sử giả” (messaanger). Bất cứ nơi nào trong Kinh Thánh chữ được dịch là “thiên sứ” đôi khi ám chỉ những gì chúng ta thường gọi là thiên sứ, nghĩa là,một sứ giả thiên thượng hay thuộc về trời (SaSt 19:1, 15, Thi Tv 103:20, 148:2, Mat Mt 1:20). Có những chỗ khác chữ nâỳ chỉ về một sứ giả loài người (SaSt 32:3, ISa1Sm 6:21, ISu1Sb 14:16, Mat Mt 11:10, LuLc 9:52). Vì những chữ được dịch là “thiên sứ” (angel) có thể ám chỉ hoặc là sứ giả loài người hay sứ giả thiên thượng, nên chúng ta phải đọc kỷ mạch văn để hiểu đó là ai. Điều quan trọng cần nhớ là ở đây nhấn mạnh về sứ điệp chứ không phải là sứ giả. Hoặc người ấy là loài người hoặc thuộc thiên thượng thì không phải là mối quan tâm đầu tiên của chúng ta.
Trong KhKh 1:2 hãy chú ý đến hai điều mà thiên sứ bày tỏ cho Giăng: “Lời của Đức Chúa Trời là Lời chứng của Chúa Jesus Christ”. Như chúng ta đã học trong bài 4, thiên sứ truyền đạt sứ điệp nầy cho Giăng bằng phương tiện những dấu hiệu và biểu tượng. Như vậy, sứ điệp của sách Khải thị được truyền đạt do một sứ giả thiên thượng và được Giăng ghi lại, ông là một nhân chứng trung tín những gì ông đã thấy và đã nghe.
6. Bằng cách nào 1:1 chữ thiên sứ có nghĩa là “sứ giả”?
7. Trong Kinh Thánh chữ “thiên sứ” ám chỉ về hai loại sứ giả nào?
8. Sự khải thị được truyền đạt hay để tỏ cho Giăng do một thiên sứ qua những phương tiện gì ? Thiên sứ.
a. Chuyển giao cho Giăng qua những giấc mơ để bày tỏ lẽ thật thiên thượng.
b. Truyền đạt những lẽ thật qua sự xử dụng nững dấu hiệu và những biểu tượng.
c. Nói qua những điềm trong thế giới vật lý.
d. Cảm thúc Giăng hình dung ra tương lai dựa vào lời tiên tri trong Cựu Ước.
9. Hai điều bày tỏ cho Giăng trong 1:2 là.
a. Lời làm chứng và con Đức Chúa Trời.
b. Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Chúa Jesus Christ.
c. Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con trong Ba ngôi Đức Chúa Trời.
d. Lời của Chúa Jesus và lời chứng của Thánh Linh.
MỤC TIÊU 4: Trình bày những lợi ích có liên quan với phước lành đầu tiên trong bảy phước lành của sách Khải huyền.
BẢY PHƯỚC LÀNH CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN.
1:3-5.
Những phước lành nỗi tiếng được tìm thấy trong Mat Mt 5:1-12. Sau khi đọc những phước lành đó, người ta có thể giải thích vì sao KhKh 1:3 được gọi là những phước lành của sách Khải huyền. Những phước lành khác được tìm thấy trong sách 14:13; 16:15;; 19:9; 20:6; 22:7; và 22:14. Sau khi bạn tìm được, hãy viết bảy phước lành của sách vào sổ tay của bạn. Những điều nầy sẽ cung cấp tài liệu cho bạn nghiên cứu Kinh Thánh hay giảng dạy. Hãy đọc kỹ cho đến khi bạn viết thuộc lòng vào bài kiểm tra nếu bạn được yêu cầu làm thế.
Bây giờ chúng ta hãy quan sát đặt điểm bản chất của phước lành thứ nhất của sách Khải huyền . Trước hết, người nào đọc sách tiên tri nầy sẽ được phước. Điều thứ hai quan trọng nhất là những phước hạnh được hứa ban cho những ai nghe và áp dụng những gì được viết ra. Đối với tín hữu lời tiên tri nầy có tầm quan trọng ở chổ là những phước hạnh hứa ban cho những người tiếp nhận và áp dụng sứ điệp của những lời tiên tri ấy vào kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân của mình.
Trong 1:4, Giăng bắt đầu viết thơ cho những Hội Thánh. Oâng bắt đầu với hai chữ thường dùng trong lời chào của Tân Ước: Aân điển và bình an. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết rằng một người phải hưởng được ân điển của Đức Chúa Trời trước khi người ấy có sự bình an thật. tại sao? Hãy chú ý trong 1:4-5, hai ngôi vị và nhóm người nhận lời chào thăm chúc được ân điển và bình an : Rõ ràng ngôi vị thứ nhất là Đức Chúa Cha hiện hữu đời đời vì ngôi vị thứ hai được giới thiệu trực tiếp là Chúa Jesus christ.
10. Giải tại sao 1:3 được gọi là phước lành?
11. Oân lại bảy phước lành cách cẩn thận. rồi sau đó cố gắng tóm tắt thuộc lòng vào sổ tay của bạn, nhớ ghi rõ đoạn và câu.
12. Tại sao một người phải kinh nghiệm ân điển của Đức Chúa Trời trước khi người ấy có sự bình an thật?
13. Phước lành đầu tiên trong bảy phước lành của sách Khải huyền liên quan đến.
a. Người trung tín chịu đựng sự cám dỗ và rồi được vào sự sống đời đời.
b. Người chịu những hoàn cảnh khó khăn để giữ được đức tin.
c. Những người đọc, nghe và áp dụng sứ điệp của lời tiên tri nầy.
MỤC TIÊU 5: Quyết định để nhận diện bảy linh được đề cập trong 1:4.
BẢY LINH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
1:4.
Chúng ta hãy trình bày hai quan niêm liên quan đến việc nhận diện bảy linh được đề cập trong 1:4. Trước hết, vì những thiên sứ được gọi là “những linh phục vụ” trong HeDt 1:14, nên vài người tin rằng bảy linh nầy là những thiên sứ. Một số truyền thống Do thái tin rằng có bảy thiên sứ dùng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. LuLc 1:19 chỉ về một thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Vài truyền thống cho rằng những vị thiên sứ hiện diện trước mặt Đức Chúa Trời đó là những vị thiên sứ trưởng. Nhưng chỉ có một thiên sứ được gọi là thiên sứ trưởng trong Lời Đức Chúa Trời (ITe1Tx 4:16, và Giu Gd 1:9). Một ý kiến thông thường khác là bảy linh tượng trưng cho sự đầy đủ của chức vụ của Thánh Linh. Tác giả của bạn nhất trí với ý kiến nầy vì ta không thấy có lý do nào nói về bảy thiên sứ trong KhKh 1:4. Hơn nữa quan điểm của ông ấy chịu ảnh hưởng do sự dạy dỗ về công tác bảy mặt của Thánh Linh trong EsIs 11:2-3 có bảy điều mà Thánh Linh phục vụ cho Nhánh, tức là Chúa Jesus Đấng Mêsi.
14. Trong EsIs 11:2-3 bảy khả năng mà Thánh Linh phục vụ cho Đấng Mêsi là gì?
15. Theo tác giả của bạn, bảy linh được đề cập trong KhKh 1:4 tượng trưng điều gì liên quan đến chức vụ của Thánh Linh?
MỤC TIÊU 6: Trình bày ba điều nói về Chúa Jesus ở trong 1:5.
SỰ MÔ TẢ TAM DIỆN VỀ CHÚA JESUS
1:5-6.
Hãy chú ý ba sự mô tả về Chúa Jesus được đưa ra trong 1:5. Chúng ta hãy khảo sát ba điều nầy cùng một lúc.
1. Ngài Là Chứng Nhân Thành Tín. Chứng nhân là người đưa ra bằng chứng, một người làm chứng cho một nguyên cớ, một người có sự hiểu biết về cá nhân về điều gì đó, một người đưa ra sự xác nhận công khai bằng lời nói hay gương mẫu. Làm thế nào để chúng ta có thể hiểu được Đức Chúa Trời? Khi chúng ta nhìn xem Đấng Christ, nghe những lời của Ngài, và chứng kiến sự thương xót của Ngài, thì chúng ta thấy Đức Chúa Trời (GiGa 14:9). Làm thế nào để chúng ta biết quyền năng của Đức Chúa Trời? Chúng ta biết điều đó khi chúng ta nhìn thấy Chúa Jesus chữa những người bịnh được lành, kêu người chết sống lại và tẩy sạch người phung cùi. Làm thế nào để chúng ta biết được kiên nhẫn của Đức Chúa Trời ? Chúng ta chứng kiến sự kiên nhẫn khi chúng ta nhìn thấy Chúa Jesus trong sự nhịn nhục lâu dai với những môn đệ của Ngài. Làm thế nào để chúng ta biết được tình yêu của Đức Chúa Trời? Tình yêu của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Chúa Jesus khi Ngài đưa tay giúp đỡ những người có nhu cầu và khi Ngài nói, “Lạy Cha xin tha tội cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (LuLc 23:34, KJV). Như vậy, Chúa Jesus là phần chứng trọn vẹn, Ngài giới thiệu đặc tính và những thuộc tính của Đức Chúa Trời cách trung thực cho dân sự Ngài.
Bây giờ hãy chú ý đến Cong Cv 1:8 chỉ về sự hiện đến của Thánh Linh trên tín hữu để khiến họ nhận lãnh điều gì và trở nên người nào. Họ sắp được Báp têm trong Thánh Linh và sự hiện diện nội trú của Thánh Linh sẽ thay đổi cuộc sống của họ đáng kinh ngạc. Những môn đệ của Christ sẽ nhận lãnh quyền năng để làm những nhân chứng cho Chúa của mình. Điều nhấn mạnh ở đây ấy là những tín hữu là loại người nào (what they are) hơn là họ làm gì (what they do) , vì những gì tín hữu làm phát sinh từ những gì họ là. Giống như khi người ta nhìn vào Chúa Jesus họ thấy Đức Chúa Cha, thì chúng ta cũng được đầy dẫy Thánh Linh đến nỗi người ta sẽ nhìn thấy Chúa Jesus Christ trong đời sống chúng ta và muốn tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của đời sông mình.
16. 1:8 cho thấy sự hiện đến của Thánh Linh trên tín hữu sẽ khiến họ nhận điều gì và trở thành người nào?
2. Chúa Jesus Là Đấng Sanh Đầu Nhứt Từ Trong Kẻ Chết. Sanh đầu nhất (sanh trước nhất- firstborn) không có nghĩa là Chúa Jesus được tạo dựng tại thời điểm đó vì Con Đức Chúa Trời vẫn luôn luôn hiện hữu (GiGa 1:1-3, 14). Từ ngữ “sanh đầu nhất” được làm sáng tỏ trong CoCl 1:18. Dùng từ ngữ “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết”, sứ đồ Phao lô ám chỉ sự phục sinh của Đấng Christ từ trong kẻ chết ở trên đất của Ngài, ông nhấn mạnh rằng Ngài hiện đang sống, và chỉ đến sự phục sinh của những người khác đã ngủ trong Christ (ITe1Tx 4:14).
17. Cụm từ “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết” KHÔNG
a. Chỉ về cách thức mà Chúa Jesus hiện hữu từ ban đầu.
b. Nhấn mạnh sự kiện rằng Chúa Jesus hiện đang sống.
c. Aùm chỉ về sự phục sinh của Chúa Jesus từ sự chết của Ngài trên thập tự giá.
d. Chỉ đến những sự phục sinh kế tiếp.
3. Chúa Jesus Là Nguyên Thủ Của Các Vua Trên Đất. Ngài đang có toàn quyền kiểm soát. Tạm thời dường như Satan sắp nắm quyền kiểm soát, nhưng sách Khải huyền cho thấy ai thực sự đang chịu trách nhiệm.
Trong KhKh 1:5-6 chúng ta hãy quan sát vài điều quan trọng. Trước hết, chúng ta nhìn thấy thái độ của Chúa đối với chúng ta. Thứ hai, chúng ta thấy rằng tình yêu nầy rất tích cực, nó cảm động Ngài giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi bằng giá của mạng sống của Ngài. Thứ ba, kết quả của tình yêu cứu chuộc của Ngài, Ngài đã nâng vực chúng ta từ tình trạng những tộâi nhân xa cách lên chiếm hữu địa vị của công dân vương quốc và những thầy tế lễ của Ngài. Như vậy, mỗi tín hữu là một thầy tế lễ và có thể đến gần Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus Christ không cần có người nào làm trung gian (HeDt 4:14-16).
18. KhKh 1:5-6 chứng tỏ rằng thái độ và hành động của Chúa đối với chúng ta đã làm cho chúng ta hưởng được tình trạng nào?
a. Chúng ta được bảo đảm an ninh đời đời ở trong Ngài bất chấp đời sống phẩm chất của Cơ Đốc Nhân và sự phục vụ của chúng ta.
b. Chúng ta trở nên những công dân của vương quốc của Ngài và những thầy tế lễ để phục sự Ngài.
c. Chúng ta được bảo đảm rằng không có sự cám dỗ nào đến với chúng ta mà cá nhân chúng ta không thể kháng cự được.
1:6 chấm dứt với lời công bố ca ngợi Đức Chúa Trời lần thứ nhất trong sách Khải huyền. Người ta chỉ có thể nghiên cứu Kinh Thánh với điều lợi ích nhất khi học tập ca ngợi Ngài trong cuốn sách nầy. Hãy viết lời ca ngợi nầy vào sổ tay của bạn, và khi chúng ta học đến lời ca ngợi khác, chúng ta sẽ viết tiếp theo nữa. Ngoài ra, hãy viết ra ý nghĩa của mỗi lời ca ngợi và bạn sẽ khám phá những điều chúng ta cần ca ngợi Đức Chúa Trời.
19. Trong phần tóm tắt phần nầy, hãy trình bày ba điều mà Chúa Jesus được nói đến trong 1:5.
MỤC TIÊU 7: Công nhận những ý nghĩa khác của chữ được dịch là “trông thấy” ở sách Khải huyền.
Ý NGHĨA CỦA CHỮ “TRÔNG THẤY”
1:7.
Vài chữ Hy lạp khác nhau được dịch là “trông thấy” (see) do tác giả của sách Khải huyền. Trong bài 1 chúng ta đã nói là lời loan báo về sự hiện đến của Chúa Jesus là Chủ đề của sách Khải huyền. “Mọi mắt sẽ trông thấy Ngài” (KhKh 1:7) là sự diễn đạt mô tả sự đáp ứng của con người ở trên đất đối với sự hiện đến của Chúa Jesus . Chữ Hy lạp dịch là “trông thấy” trong lời diễn đạt nầy gợi ý rằng ở đây chữ nầy có dụng ý chỉ về sự hiểu biết của con người hơn là cái nhìn bằng mắt của họ. Sự nhấn mạnh nầy được xác nhận bằng cụm từ “hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc” khi họ nhìn thấy Chúa Jesus hiện đến. Họ khóc vì họ hiểu rằng việc Chúa trở lại có ý nghĩa gì.
Một ý nghĩa khác của chữ được dịch là “trông thấy” ám chỉ về cái nhìn bằng con mắt thể xác. chẳng hạn, Giăng nói rằng “Mari.... nhìn thấy tảng đá đã được dời đi” (GiGa 20:1). Ý nghĩa thứ ba của chữ dịch là “trông thấy” xảy ra trong GiGa 20:6. Kinh Thánh chép rằng “Phierơ .... đã thấy (saw) vải gai còn nằm ở đó”. Ý nghĩa được nhấn mạnh ở đây là sự lý luận, thắc mắc, và kinh ngạc của Phierơ. Trong 20:8 Giăng thấy với sự hiểu biết. Như vậy, những chữ “trông thấy” có thể chỉ về “sự nhìn thấy bằng mắt thể chất”, nhấn mạnh về “sự lý luận, thắc mắc và kinh ngạc”.
Người ta cũng nhìn thấy Chúa Jesus bằng những cách khác nhau. Một số chế giễu Ngài, một số thờ ơ với Ngài và một số từ khước trong việc đến với Ngài khi Ngài kêu gọi. Trong KhKh 1:12 chữ dịch là “trông thấy” gợi ý rằng Giăng chỉ quay lại để nhìn bằng mắt mình. Chữ “thấy” trong 1:17, lại gợi ý rằng Giăng nhìn thấy với sự hiểu biết, và vì thế, đã sấp mình dưới chơn Chúa Jesus. Nghĩa là điều mà mọi người sẽ làm trong một ngày nào đó (Phi Pl 2:10-11).
20. Trong phần nầy chúng ta đã thấy những chữ được dịch là “trông thấy” trong sách Khải huyền bao gồm những ý nghĩa nào? Khoanh tròn mẫu tự trước điều bạn chọn).
a. cái nhìn bằng mắt thể chất.
b. Sự hiểu biết siêu đẳng của con người.
c. Sự hiểu biết.
d. Kinh ngạc và thắc mắc.
e. Cái nhìn của thầy phủ thủy.
Lời cầu nguyện của chúng tôi ấy là khi chúng ta tiếp tục những bài nầy, nguyện Chúa cho mỗi người chúng ta sẽ “nhìn thấy” Chúa Jesus bằng sự hiểu biết hơn bao giờ hết. Cũng xin Chúa Cũng cho chúng ta có khả năng để chia sẻ về Ngài cách có hiệu quả hơn để họ có thể “nhìn thấy” và “hiểu” Ngài nhiều hơn.
MỤC TIÊU 8: Giải thích tại sao Chúa Jesus được gọi là Anpha và Ômêga.
ANPHA VÀ ÔMÊGA.
KhKh 1:8.
Trong 1:8 Đức Chúa Trời ám chỉ Ngài là “Anpha và Oâmêga”. Lối nói nầy giống như nói “chữ A và chữ Z” trong tiếng Anh (chữ A và chữ Y trong tiếng Việt) vì chữ Anpha va Oâmêga là mẫu tự đầu tiên và mẫu tự cuối cùng trong bản chữ cái Hy lạp. Hai phần tham chiếu khác về Đức Chúa Trời là “Apha và Oâmêga” cũng nằm ở cụm từ “đầu tiên và cuối cùng” (KhKh 21:6, và 22:13). Đức Chúa Trời Tam Nhất (The Triune God) là “Trước nhất và Sau Rốt” (The First and the Last) (21:6). Cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đều được gọi là Anpha và Oâmêga trong sách Khải huyền, và trong sách Hy bá lai phẩm chất tương tự cũng được qui cho Thánh Linh (HeDt 9:14). KhKh 22:13 ám chỉ cách trực tiếp hơn là hai câu khác nói về Chúa Jesus là Anpha và Oâmêga. Đức Chúa Cha đã tạo dựng muôn vật quan con Ngài là Jesus christ (GiGa 1:1-4, 10; CoCl 1:15-18 và HeDt 1:1-4).
21. Trong sổ tay của bạn, Hãy giải thích vắn tắt vì sao Chúa Jesus được gọi là Anpha và Ômêga?
MỤC TIÊU 9: Trình bày ý nghĩa của từ Ngày của Chúa trong KhKh 1:10.
NGÀY CỦA CHÚA.
Trong 1:9 Giăng cho chúng ta biết ông ở đâu và tại sao ông ở đấy. Hãy chú ý những gì Giăng nói trong câu nầy về “sự chịu khổ”. Oâng cho thấy rằng ông ở trên đảo Bátmô vì Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Chúa Jesus. Sự kiện ông tự nhận mình là một anh em và một người bạn trong sự chịu khổ chứng tỏ rằng ông bị đày đến đảo nầy vì cớ đức tin của ông.
Truyền thống cho chúng ta biết rằng Hoàng đế Lamã Domitian đã cố sức nấu Giăng trong chảo dầu sôi, nhưng không được. Vì thế, Hoàng đế đã đày Giăng ra hòn đảo dành cho tù nhân là Bát mô. Hơn nữa, cách thúc trong đó Giăng thảo luận về sự chịu khổ chứng tỏ rằng đây là kết quả tự nhiên hay thông thường của người chứng trung thành của Chúa Jesus. Những đoạn Kinh Thánh sau đây cho thấy sự chịu khổ vì chính nghĩa của Christ là bình thường và đang chờ đợi (HeDt 10:32-39; 11:35-38; Gia Gc 5:10; IPhi 1Pr 1:6-7; 4:12-19; 5:8-10).
Dù bị cô lập ở trên đảo, nhưng Giăng công bố rằng ông ở trong linh (bản văn Hy lạp nói rõ ràng ông “ trở nên ở trong Linh” (became in the Spirit) vào ngày của Chúa (câu 10). Mặc dù thân thể ông biệt lập khỏi đám đông, nhưng linh của ông được tự do để bay vào sự hiện diện cuả Đức Chúa Trời. Hơn nữa, điều nầy xảy ra vào ngày của Chúa.
Cụm từ “ngày của Chúa” có nghĩa gì trong sách Khải huyền? Vài người tin rằng Giăng được đưa vào tương lai và kinh nghiệm ngày của Đức Giêhôva vốn được mang tên gọi khác của Cơn Đại Nạn. Tuy nhiên cụm từ Hy lạp được dịch là Ngày của Chúa (the Day of the Lord) lại khác với cụm từ dịch ở đây là ngày của Chúa (the Lord’s Day). Cụm từ Hy lạp sau chỉ về ngày thứ nhất của tuần lễ, Chúa nhật. Như vậy, câu nói của Giăng, “Nhằm ngày của Chúa tôi ở trong Linh” chứng tỏ rằng vào ngày Chúa nhật Giăng “cảm Thánh Linh”.
22. “Ngày của Chúa” chỉ về gì trong KhKh 1:10?
MỤC TIÊU 10: Giải thích ngắn gọn về sự mô tả Chúa Jesus khi Giăng nhìn thấy Ngài và sứ điệp mà người nhìn thấy được truyền phải ghi lại.
TIẾNG NÓI, LỆNH TRUYỀN VÀ SỰ HIỆN THẤY.
1:10-16.
Khi Giăng ở trong Linh (cảm Thánh Linh), ông nghe một tiếng nói lớn như tiếng kèn ở phía sau ông (câu 10). Hiển nhiên kinh nghiệm nầy quấy động tác giả rất mạnh. tiếng nói truyền lệnh cho người trông thấy phải viết vào sách điều mình đã thấy và gởi cho bảy Hội Thánh (câu 11). Bảy Hội Thánh nầy là những Hội Thánh ở trong bảy thành phố của tỉnh Asi thuộc La mã, mà chúng ta sẽ thảo luậïn hoàn chỉnh hơn ở hai bài học tiếp theo.
Giăng quay lại nhìn xem ai đang nói với ông và ông đã thấy “bảy chơn đèn bằng vàng” (câu 12). Trong số những chơn đèn ấy có một người nói tiếng mà ông đã nghe. Tại đây, Giăng đã có sự hiện thấy về Chúa Jesus, Đấng đã ra lệnh cho ông phải viết (câu 13-16). Bản liệt kê dưới đây liên quan đến những điều và biểu tượng về những gì Giăng đã thấy trong Khải tượng về áo và thân thể thấy được của Chúa Jesus.
1. Aùo dài: Sự cao trọng của Chúa Jesus là tiên tri, thầy tế lễ nhà vua.
2. Đầu và tóc: Sự trong sạch, sự khôn ngoan và sự trường cửu của Chúa Jesus.
3. Mắt: Sự toàn tri và thấu suốt của Chúa Jesus.
4. Chơn: Sự phán xét của Chúa Jesus trên những người khác.
5. Tiếng nói: Quyền năng và sức lực của Chúa Jesus.
6. Tay hữu: Sự quan tâm, sự giúp đỡ và sự điều khiển của Chúa Jesus.
7. Miệng: Lời nói có uy quyền trọn vẹn của Chúa Jesus.
8. Mặt: Sự vinh hiển, sự cao trọng và sự thánh khiết của Chúa Jesus.
Sự hiện thấy mà Giăng được thấy rất sinh động, oai nghiêm và áp đảo tinh thần. Được nhìn thấy Đấng Christ vinh hiển ở bảy chơn đèn bằng vàng, Cứu Chúa mà ông đã thông công gần gũi trong ba năm rưỡi trong thời gian Ngài thi hành chức vụ, đã làm cho vị sứ đồ ngã xuống bất tỉnh. Những tín hữu trong mọi thời đại đã được động viên và cảm giục bằng một khải tượng tươi mới về Cứu Chúa của mình.
23. Trong sổ tay của bạn hãy mô tả ngắn gọn về Chúa Jesus theo điều Giăng đã nhìn thấy trong sự hiện thấy và về lệnh truyền Chúa Jesus bảo ông.
MỤC TIÊU 11: Giải thích chữ Parađi (paradise) và thảo luận vị trí của chỗ nó.
SỰ CHẾT VÀ ÂM PHỦ
KhKh 1:17-18.
Phản ứng của Giăng đói với sự hiện thấy lạ lùng nầy có thể đoán được. Trước đó vài thế kỷ tiên tri Đaniên cũng có phản ứng tương tự khi ông nhìn thấy một khải tượng tương tự (DaDn 10:4-12). Chúa Jesus đặt tay trên Giăng và nói, “Đừng sợ” (KhKh 1:17). Sự đụng chạm của Chúa Jesus cất đi sự sợ hãi và đem lại sự tin quyết. Chúng tôi ước mong rằng mỗi người học loạt bài học nầy, thực tế về uy quyền của Chúa Jesus sẽ nắm chặt cuộc đời của người ấy để người ấy biết rằng Cơ Đốc Nhân chẳng có điều gì sợ hãi cả. Hãy chú ý đến điều Chúa Jesus đã phán với Giăng trong KhKh 1:18, “Ta là Đấng sống, ta đã chết, nầy ta sống cho đến đời đời vô cùng, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ”. Vì chữ “Chìa khóa” chỉ về uy quyền, nên cách xử dụng chữ ấy ở đây chỉ về quyền năng của Chúa Jesus trên sự chết.
Khi con người trong Cựu Ước qua đời, linh của họ đi xuống dưới đất, đến sheol (Aâm phủ), một chữ Hy bá lai. Chữ tương đương của tiếng Hy lạp trong Tân Ước là Hades. Chúa Jesus đã mô tả Hades của Cựu Ước trong LuLc 16:18-31. Đoạn nầy chứng tỏ rằng Hades có hai phần. Mộtt phần là nơi hình phạt, phần khác được gọi là Paradise (lạc viên), là nơi an ủi, 23:42-43 và Mat Mt 12:39-40 gợi ý rằng Hades ở dưới sâu trong lòng đất (down in the earth) vào thời điểm nầy. Tuy nhiên, trong IICo 2Cr 12:1-6 sứ đồ cho thấy rằng bây giờ Paradise ở trên (above). Trong Mat Mt 16:18 , Chúa Jesus chứng tỏ rằng Ngài có uy quyền trên Hades (Aâm phủ). Như vậy, Hades nghĩa là địa ngục (hell) không thể đắc thắng người ở trong Đấng Christ.
Chúa Jesus Christ có uy quyền trên sự chết và Aâm phủ (Hades, hell). Khi Cơ Đốc Nhân rời khỏi cõi đời nầy, người ấy không đi vào Hades như những người tin kính qua đời trong thời Cựu Ước. Phần Paradise trước kia thuộc về Hades bây giờ trống không. IICo 2Cr 5:6-18 (đặt biệt câu 8) và Phi Pl 1:18-26 cho thấy khi Cơ Đốc Nhân qua đời người ấy đi trực tiếp đến với Chúa. Chúng thảo luận những gì xảy ra cho những người ở phía hình phạt của Hades phần sau của loạt bài nầy.
24. Dựa vào phần Kinh Thánh được trích dẫn trong phần nầy, hãy giải thích trong sổ tay bạn từ ngữ Paradise (vườn phước lạc) và thảo luận vị trí của nó trong thời Cựu Ước và vị trí của nó bây giờ.
MỤC TIÊU 12: Mô tả ý nghĩa tượng trưng của những ngôi sao và những chơn đèn trong Khải huyền 1.
NHỮNG NGÔI SAO VÀ CÁC CHƠN ĐÈN
KhKh 1:19-20.
Trong phần cuối của bài học nầy, chúng ta sẽ nhấn mạnh về hai câu chót của Khải huyền đoạn 1. Chúng ta đã dùng nội dung của câu 19 như là những điểm chính ở trong dàn ý của sách Khải huyền. Câu 20 nói về bảy ngôi sao và bảy chơn đèn trong cách rõ hơn. Bảy ngôi sao tượng trưng cho những thiên sứ của bảy Hội Thánh được đề cập trong 1:11. Bảy chơn đèn tượng trưng cho bảy Hội Thánh.
Ý nghĩa của những chơn đèn và Con Người ở giữa đó là gì ? Rõ ràng chức năng của những chơn đèn là chiếu sáng và soi sáng. Nói rỏ hơn, ý nghĩa của điều này là Hội Thánh phải có nhiệm vụ chiếu ra sự sáng của Phúa âm cho thế gian. Hơn nữa, những thiên sứ ở đây là những sứ giả của Hội Thánh. Vậy những ai chịu trách nhiệm về Hội Thánh được nhìn thấy là đang chiếm một vị trí đặt biệt trong sự quan tâm của Chúa.
25. Những ngôi sao và những chơn đèn của 1:20 tượng trưng cho
a. Sự vinh hiển và quyền năng của Đức Chúa Trời.
b. Bảy Hội Thánh và bảy thiên sứ hay những sứ giả của Hội Thánh.
c. Vẻ đẹp và sự trong sạch của Hội Thánh.
26. Trong sổ tay của bạn, hãy đưa ra ý nghĩa tượng trưng của chơn đèn và ngôi sao được nêu hình ảnh ở trong những câu 12, 13, và 16.
Cầu xin Đức Chúa Trời giúp chúng ta luôn luôn nhìn thấy phần của mình trong sự thực hiện mục đích của Hội Thánh. Nguyện Chúa cho chúng ta luôn luôn nhớ rằng vương quốc, quyền năng và vinh hiển thuộc về Chúa Jesus cho đến đời đời.
Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đó.
1. Mục đích đầu tiên của sự công bố lẽ thật trong Khải huyền là để
a. Nhắc nhở những thiên sứ về lẽ thật nầy.
b. Thách thức những qủi sứ về lẽ thật nầy.
c. Giải thích lẽ thật nầy cho những người không tin kính.
d. Bày tỏ lẽ thật nầy cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời.
2. Chữ nào trong những chữ dưới đây KHÔNG PHẢI là chữ tiếng Anh được dịch từ cụm từ Hy lạp en tachei.
a. Soon (Kíp).
b. See (trông thấy).
c. Quickly (một cách nhanh chóng mau lẹ).
d. Suddenly (thình lình, lập tức).
e. Imminent (Sắp xảy ra).
3. Hai loại sứ giả mả chữ thiên sứ (angels) ám chỉ trong Kinh Thánh là:
a. Những sứ giả thuộc linh và những sứ giả xác thịt.
b. Những sứ giả có thể lệ thuộc và những sứ giả không thể lệ thuộc.
c. Những sứ giả loài người và những sứ giả thiên thượng.
d. Những sứ giả chính thức và những sứ giả không chính thức.
4. Bảy linh được đề cập trong 1:4 tượng trưng cho.
a. Sự toàn vẹn của công tác của Thánh Linh.
b.Sự phức tạp của công tác của Thánh Linh.
c. Sự đơn giản của công tác của Thánh Linh.
d. Quyền năng của công tác của Thánh Linh.
5. Những chơn đèn bằng vàng là những biểu tượng thích hợp của Hội Thánh vì.
a. Những điều ấy nói lên sự qúi giá của cơ chế tổ chức của con người.
b. Giá trị của những điều ấy và chức năng làm đồ trang trí.
c. Mục đích của chúng là soi sáng và bày tỏ.
d. Những điều đó chứng tỏ nhu cầu trang trí lộng lẫy và đắc giá trong nhà thờ.
6. Sự hiện diện của Chúa Jesus ở giữa những chơn đèn ám chỉ rằng mục đích của Hội Thánh là bày tỏ Ngài cho
a. Những thiên sứ thiên thượng.
b. Thánh Linh.
c. Satan.
d. Con người.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ, trước câu Đúng, S trước câu Sai.
....7. “Phước cho người chết là chết trong Chúa” là phần trích dẫn của một trong những những phước lành của sách Khải huyền.
....8. Sự mô tả ba mặc về Chúa Jesus trong sách 1:5 mô tả Ngài là Nguyên Thủ của các vua trên đất.
....9. Sự kiện Đức Chúa Cha tạo dựng nên muôn vật qua Chúa Jesus Christ là lý do để gọi Chúa Jesus là Anpha.
....10. Bài học nầy chỉ cho thấy cụm từ “Ngày của Chúa” (the Lord’s Day) trong 1:10 chỉ về Cơn Đại Nạn.
....11. Những thiên sứ hay những sứ giả của bảy Hội Thánh được nhận diện rõ ràng là những người lãnh đạo của những Hội Thánh nầy.
....12. Chúng ta tìm thấy sự ám chỉ trong Kinh Thánh rằng trong thời Cựu Ước, Paradise (vườn phước lạc) ở sâu trong lòng đất.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. Đức Chúa Trời.
2. Để bày tỏ lẽ thật nầy cho những tơi tớ của Đức Chúa Trời.
3. d) Họ không có sự khôn ngoan cần thiết mà Đức ban cho.
4. Điều kíp phải xảy ra.
5. “Kíp”, một cách nhanh chóng”, “thình lình” , và “sắp xảy ra”.
6. Bắng sự chứng tỏ rằng Chúa Jesus được bày tỏ cho Giăng do một thiên sứ.
7. “Phước cho kẻ giặt áo mình, hầu cho được phép đến nơi cây sự sống” (22:14). (Hãy học thuộc lòng để sẵn sàng trích dẫn).
8. b) Truyền đạt sự thật qua những dấu hiệu và biểu tượng.
9. b) Lời của Đức Chúa Trời là lời chứng của Jesus Christ.
10. Vì điều đó chỉ ra và mô tả phước hạnh đặt biệt trên con người.
11. Những phần trích dẫn từ bản NIV:
1) “Phước cho kẻ đọc cùng kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần rồi (1:3).
2) “Phước thay cho kẻ chết là chết trong Chúa... họ sẽ nghỉ ngơi” (14:13).
3) “Phước cho kẻ thức canh và giữ áo xốâng mình , kẻo e người đi lỏa lồ và người ta thấy sự xấu hổ ngưởi chăng!” (16:15).
4) “Phước cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên con” (19:9).
5) “Phước và thánh thay cho kẻ có phần trong sự sống lại thứ nhất. Sự chết thứ nhì không có quyền bính gì trên họ(20:6).
6). “Phước cho kẻ giữ lời tiên tri trong sách nầy”.
12. Vì ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của người ấy là nền tảng cho sự bình an thật.
13. c) Những người đọc, nghe và áp dụng sứ điệp của lời tiên tri nầy.
14. Sự khôn ngoan, sự hiểu biết, sự khuyên bảo, quyền năng (sức mạnh), tri thức sự kính sợ , và sự đẹp lòng (thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giêhôva, Ngài lấy sự kính sợ Đức giêhôva làm vui).
15. Sự trọn vẹn của chức vụ đó.
16. Để nhận lãnh quyền năng và làm những chứng nhân cho Đấng Christ.
17. Chỉ về cách thức mà Chúa Jesus hiện hữu từ ban đầu.
18. b) Chúng ta trở nên những công dân của vương quốc của Ngài và những thầy tế lễ để phục vụ Ngài.
19. 1) Chứng nhân thành tín .
2) Đấng sanh đầu nhất từ trong kẻ chết.
3) Nguyê thủ của các vua trên đất.
20. Bạn nên khoanh tròn a), c), và d.
21. Chúa Jesus được gọi là Anpha và Oâmêga vì đây là mẫu tự đầu tiên và cuối cùng của bản mẫu tự Hy lạp, chứng tỏ Ngài là Đấng qua đó Đức Chúa Cha tạo dựng muôn vật và là Đấng qua đó Đức Chúa Cha sẽ đem mọi sự đến kết thúc (Bạn có thể trình thêm những điều đúng đắn khác).
22. Cụm từ nầy chỉ về nầy chỉ về ngày thứ nhất của tuần lễ , tức Chúa nhật. Giăng ở trong (cảm) Thánh Linh vào ngày nầy.
23. Giăng đã nhìn thấy Chúa Jesus trong sự vinh hiển của Ngài: sáng chói, đáng kính sợ, và oai nghiêm. Sự cao trọng, tinh khiết, quyền năng và sự thương xót của Con Người đang làm con người run sợ. Sứ điệp Giăng nhận được là ghi lại những gì ông đã thấy vào cuốn sách và gởi cho bảy Hội Thánh.
24.Paradise (Lạc viên) chỉ về nơi an ủi dành cho những thánh đồ trong thời kỳ Cựu Ước. Lúc ấy nó ở trong quả đất, nhưng bây giờ nó được đem lên khỏi đất.
25. b) Bảy Hội Thánh và những thiên sứ hay những sứ giả của Hội Thánh.
26. Mục đích của chơn đèn là soi sáng, chiếu ra. Mục đích của Hội Thánh là chiếu ra, bày tỏ Chúa Jesus cho mọi người. Những câu tiếp theo nầy ám chỉ mục đích đó bằng sự giới thiệu Chúa Jesus ở giữa những chơn đèn (nghĩa là Hội Thánh). Ngài ở giữa họ và Ngài nắm giữ những thiên sứ hay những sứ giả trong tay phải của Ngài.

Các Thơ Tín Gởi Cho Êphêsô, Simiệcnơ và Bẹtgăm
Chúng ta sẽ hoàn tất việc nghiên cứu về điểm thứ nhất của dàn ý được đưa ra ở Khải huyền đoạn 1. Điểm nầy liên quan đến “những gì ông ta thấy” trong Khải huyền đoạn 1: Chúa vinh hiển ở giữa những chơn đèn. Chân dung nầy biểu lộ vài sự kiện có ý nghĩa: 1) Vai trò của Hội Thánh là chiếu sáng, 2) Chúa ở gần Hội Thánh, và 3) Những sứ giả của Hội Thánh ở trong ở trong tay của Chúa. Sự hiện diện oai nghi của Chúa đã có tác dụng đặt biệt trên tác giả tiên tri, và một khải tượng tương tự của Chúa sẽ thay đổi đời sống của chúng ta. Bây giờ chúng ta sang điểm thứ hai của dàn ý: “Điều Hiện Có”.
Trong hai bài học tiếp theo sự nhấn mạnh sẽ chuyển sang bảy Hội Thánh. Chúa của Hội Thánh lần lượt gởi cho từng Hội Thánh. Trong Khải huyền đoạn 2 và 3 Ngài nói cách đặt biệt về những tình trạng đang hiện hữu trong mỗi Hội Thánh. Không điều gì khuất khỏi mắt Ngài, vì Đấng Toàn Tri đang bước đi giữa họ. Ngài chỉ ra những yếu tố đáng khen tặng và tuyên dương; Ngài cũng nhìn thấy những khía cạnh không xứng đáng của Hội Thánh Ngài mà Ngài nghiêm khác khiển trách. Trong bảy Hội Thánh nầy chúng ta thấy những phẩm chất vốn nêu được đặc điểm của Hội Thánh suốt lịch sử.
Chúa Jesus đứng giữa hai đoạn nầy như là Vị Thẩm Phán của Hội Thánh. Ý kiến của Ngài có giá trị nhiều gấp bội ý kiến của những người khác. Ngài nghĩ gì về chúng ta khi Ngài nhìn thấu lòng chúng ta và những hoạt động của chúng ta? Hãy để lời của Chúa phán vào lòng chúng ta và hãy chú ý đến những gì Ngài chấp nhận và những gì Ngài không chấp nhận. Hãy ghi nhớ lời hứa của Ngài dành cho người đắc thắng và lời cảnh cáo của Ngài đối với những ai không đắc thắng.
Mục Đích Tam Diện của Bảy Bức Thơ.
Dàn Ý của Bảy Bức Thơ.
Lịch Sử Hội Thánh Được Trình Bày Trong Bảy Bức Thơ.
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Êphêsô.
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Simiệcnơ
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Bẹtgăm.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Trình bày những mục đích mà những bức thơ nầy được viết cho bảy Hội Thánh, những điều bày tỏ về những Hội Thánh nầy, và mối liên hệ tượng trưng của mỗi Hội Thánh đối với toàn thể thời kỳ Hội Thánh.
• Nhận diện những sự kiện có ý nghĩa về mỗi bức thơ đối với bảy Hội Thánh, kể cả bối cảnh lịch sử của mỗi bức thơ và những chi tiết của sứ điệp dành cho Hội Thánh.
• Vâng theo cách trọn vẹn hơn những lời khuyên của những sứ điệp của Chúa Jesus cho bảy Hội Thánh, và như vậy, hưởng thụ được một đời sống Cơ Đốc sung mãn và sự phục vụ Chúa có hiệu quả hơn.
1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình đã cho trong Bài 1.
2. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ những chữ nào bạn chưa hiểu nghĩa.
3. Để áp dụng thực tế bài học của mình, bạn có thể tóm tắt mỗi bức thơ bằng cách làm dàn ý bài giảng hay dàn ý của bức thơ của Giăng gởi cho từng Hội Thánh để Hội Thánh bạn nghiên cứu trong từng phần đó.
4. Làm bài tập trắc nghiệm.
Aïttêmít (Artemis).
Chính thống (orthodox).
Cống nước (aqueducts).
Cổ xưa (Pristine).
Mêsi (Messiah).
MỤC ĐÍCH TAM DIỆN CỦA BẢY BỨC THƠ.
Chúng ta được biết có ba lý do hay mục đích tam diện cho bảy bức thơ. Thứ nhất, bảy Hội Thánh nhận thơ là bảy Hội Thánh có thật trong tỉnh Asi của Lamã. Hơn nữa, những vị trí mà Chúa chúng ta mô tả thực sự xảy ra trong bảy Hội Thánh nầy, và chúng cần được xử lý do Chính Đầu của Hội Thánh. Hãy xem bản đồ ở cuối sách nầy hoặc ở cuốn Kinh Thánh của bạn nếu có (Bản đồ số 9) và tìm tỉnh Asi của Lamã. Rồi sau đó tìm vị trí của bảy thành phố có Hội Thánh được ghi trong Khải huyền 2-3.
Thứ hai, bảy bức thơ nầy là để động viên, cảnh cáøo và quở trách mọi chi thể của thân thể của Christ. Lời khuyên cho mỗi cá nhân được tìm thấy ở gần hay cuối của mỗi bức thơ: “Ai có tai (He who has an ear chỉ về số ít), hãy nghe đều Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh “. Trong những bức thơ nầy Cơ Đốc Nhân có thể có một số điều cần tránh và một số điều làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể tự khảo sát tất cả những điều đó trong ánh sáng của những bức thơ nầy và sự kiện Chúa Jesus đến mau chóng.
Một số học giả cho rằng hai mục đích trên chỉ là mục đích duy nhất của bảy bức thơ nầy, nhưng nhiều học giả khác lại thấy có hơn hai mục đích. Trong 1:20 chữ mầu nhiệm được dùng liên hệ với bảy Hội Thánh. Dường như ở đây ám chỉ có điều gí đó sẽ xảy ra. Vì thế, mục đích thứù ba, chúng ta tin rằng toàn thể lịch sử của Hội Thánh từ ngày khai sinh vào ngày lễ Ngũ Tuần của Công Vụ đoạn 2, qua lịch sử cho đến ngày của Đứa Giêhôva (The Day of the Lord) được miêu tả trong những bức thơ gởi đến cho bảy Hội Thánh.
1. Theo 1:20, chữ mầu nhiệm chứng tỏ.
a. Sự thiếu khả năng của người bình thường trong việc giải thích lẽ thật thuộc linh.
b. Còn có nghĩa khác hơn trong nội dung đoạn văn hiểu theo nghĩa đầu tiên.
c. Phải có nhìn thấu suốt để giải thích những ý nghĩa tượng trưng.
Hiển nhiên bảy Hội Thánh địa phương có thực nầy được lựa chọn không phải vì chúng ta quan trọng hơn những Hội Khác trong khu vực đó, nhưng vì hoàn cảnh tồn tại trong những Hội Thánh nầy có thể mang đặc điểm Hội Thánh ở những giai đoạn khác nhau qua suốt thời kỳ hiện hữu của Hội Thánh.
2. Theo biểu đồ về những biểu tượng ở Bài 4, sự kiện con số của những Hội Thánh mà Giăng gởi thơ là số bảy chứng tỏ.
a. Sự hoàn tất về chính trị.
b. Sự trọn vẹn thiên thượng .
c. Sự hoàn thành cuối cùng.
d. Không điều nào đúng cả.
3. Trong sổ tay của bạn hãy viết bản tóm tắt mục đích tam diện của những bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong Khải huyền đoạn 2 và 3.
DÀN Ý CỦA BẢY BỨC THƠ.
Mỗi bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh ở Khải huyền đoạn 2 và 3 đều chứa đựng những phần sau đây , trừ những điều được ghi nhận bên cạnh dàn ý ở dưới. Đôi khi thứ tự của những phần nầy hơi khác ở từng bức thơ.
I. Lời chào thiên sứ (người lãnh đạo) của mỗi Hội Thánh.
II. Những đặc điểm của Chúa Jesus, Nguồn gốc của những bức thơ.
III. Điều Chúa Jesus biết về mỗi Hội Thánh.
IV. Điều Chúa Jesus chấp nhận trong mỗi Hội Thánh (ngoại trừ Laođixê).
V. Điều Chúa Jesus không chấp nhận trong mỗi Hội Thánh (trừ Simiệcnơ và Philadenphi).
VI. Những lời khuyên đặc biệt hay lời hứa cho Hội Thánh.
VII. Lời khuyên bảo
cho mỗi Hội Thánh phải nghe.
VIII. Lời hứa cho những người đắc thắng trong mỗi Hội Thánh.
4. Nghiên cứu những bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong Khải huyền đoạn 2 và 3. Rồi hãy phân tích cẩn thận những bức thơ ấy theo dàn ý căn bản ở trên. Viết thuộc lòng vào sổ tay bạn những phần chính của những điều mà bức thơ bày tỏ về nguồn gốc và đề tài của những bức thơ.
LỊCH SỬ HỘI THÁNH ĐƯỢC TRÌNH BÀY TRONG BẢY BỨC THƠ.
Một số những nhà giải thích lời tiên tri của Kinh Thánh, trong đó có tác giả của bạn, tin rằng mỗi bức thơ trong bảy bức thơ trình bày những đặc tính có liên quan đến một thời kỳ nào đó trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên, những ai nhìn thấy toàn bộ cảnh sắc của thời đại Hội Thánh phản ảnh trong những bức thơ nầy, chấp nhận có hơi khác nhau về thời điểm cho những thời kỳ khác nhau. Những thời điểm (dates) chúng tôi đưa ra chỉ là phỏng đoán và trình bày dàn ý chung về lịch sử của Hội Thánh, chúng tôi tin rằng những đặc tính của bốn Hội Thánh cuối cùng sẽ còn tồn tại cho đến thời điểm được cất lên.
Hội Thánh tại Eâphêsô đối với chúng ta dường như tiêu biểu cho tình trạng sơ khai của Hội Thánh sứ đồ từ lúc mới khai sinh cho đến cuối thế kỷ thứ nhất. Tuy nhiên, gần cuối thế kỷ thứ nhất, có một sự thay đổi đáng chú ý xảy ra trong những hoàn cảnh văn hóa của Hội Thánh dường như bắt đầu cho thời kỳ thứ hai. Thế giới thù nghịch bắt đầu một loạt bách hại vốn kéo dài trên hai trăm năm. Một lần nữa, một sự thay đổi đáng chú ý xảy ra trong những hoàn cảnh bên ngoài của Hội Thánh và đã ảnh hưởng đến cuộc sống bên trong của Hội Thánh. Chúng ta kết hợp điều nầy với thời kỳ thứ ba của Hội Thánh. Những loại thay đổi khác nhau nầy trong thời kỳ khác nhau đối với chúng ta dường như chứng minh đặc điểm của mỗi Hội Thánh với một thời kỳ tương ứng của lịch sử của Hội Thánh.
5. Theo phần thảo luận của chúng ta, những sứ điệp cho bảy Hội Thánh tiêu biểu những đặc tính trong bảy Hội Thánh địa phương mà dường như tương ứng với
a. Những điều kiện mang đặc tính Hội Thánh trong một thời kỳ nào đó, cũng như suốt lịch sử của Hội Thánh.
b. Chỉ những tình trạng của Hội Thánh ở thế kỷ thứ nhất mà thôi.
c. Những thời kỳ và những biến cố đặc biệt trong lịch sử vốn được xác định rõ ràng.
Chúng ta sẽ nghiên cứu những bức thơ gởi cho bảy Hội Thánh trong bài học nầy và Bài 7 dựa vào những thời kỳ tương ứng của lịch sử Hội Thánh mà mỗi Hội Thánh tiêu biểu. Để thực tập và nắm vững bài học, sau khi học mỗi Hội Thánh, chúng tôi động viên bạn hãy dùng nội dung học được trong những phần câu hỏi và trả lời để làm dàn ý cho bài giảng hay lớp học Kinh Thánh.
Thơ Gởi Cho Hội Thánh Êphêsô.
2:1-7.
Eâphêsô là một thành phố dẫn đầu ở tỉnh Asi. Nó có một hải cảng rộng và nằm trong một khu vực nông nghiệp trù phú. Hơn nữa, thành nầy rất giàu có, đền thờ Aïttênít (Artemis) đứng sừng sững giữa thành phố. Nó là một trong những bảy kỳ quan của thế giới cổ. Người Eâphêsô rất kính trọng thần Aïttêmít, nữõ thần của Hội sung túc có nhiều nương long (the many- thánh đó breasted goddess of fertility), và họ tin rằng tượng nầy “từ trời sa xuống” (Cong Cv 19:35). Họ hãnh diện rằng thành phố của họ được gọi là thành phố Canh Giữ Đền Thờ của Aïttêmít (Đi anh lớn) (Temple Warden of Artemis). Nhiều thầy tế lễ được dâng hiến cho Aïttêmít, và có hơn 3500 nữ thầy tế lễ tận hiến để phục vụ nữ thần. Chúng ta biết rằng thần tượng luôn luôn phát sinh sự vô luân, vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi biết rằng thành phố đầy dẫy sự vô luân và trụy lạc, cũng như tôn giáo, triết học và văn hóa.
6. Hãy đọc bối cảnh lịch sử trong 18:18; 20:38 trong đó phúc âm được giới thiệu cách có quyền năng tại Ephêsô. Hãy chú ý đặc biệt những tên người được nêu lên, thời gian Phaolô lưu lại ở Eâphêsô, và những biến cố chính đã xảy ra. Sau đó trả lời vào sổ tay bạn những câu hỏi sau đây:
a. Ai giới thiệu phúc âm cho Êphêsô?
b. Người Eâphêsô đáp ứng với Phúc âm như thế nào?
c. Phao lô đã phục vụ tại Eâphêsô bao lâu?
d. Ai giúp sứ đồ thiết lập công việc Chúa tại Êphêsô?
e. Sự đáp ứng công khai chủ yếu nào đối với sự rao giảng Phúc âm đã dẫn đến sự náo loạn?
Những đặc tính của Chúa Jesus vốn được ngụ ý cách tượng trưng trong KhKh 2:1 chứng tỏ rằng Ngài đang tích cực trong Hội Thánh tại Eâphêsô. Ngài bước đi ở giữa dân sự Ngài tại đấy và Ngài quen với những hoạt động và sự phục vụ của họ. Đây là bức tranh xuất sắc của Hội Thánh đầu tiên, là nơi người ta nhìn thấy sự hiện diện của Chúa liên tục trong quyền năng mạnh mẽ để cứu vớt linh hồn và thi hành nhiều phép lạ khác. Chúa của chúng ta vẫn còn khao khát hiện diện trong quyền năng như thế trong sự phục vụ của Hội Thánh ngày nay. Biết rằng Ngài ở đó là một điều, còn để cho Ngài bày tỏ chính mình Ngài trong những sự phục vụ của Hội Thánh là điều khác. Khuôn mẫu của chúng ta phải khít khao với chương trình của Ngài chứ - chứ không đòi hỏi Ngài phải khít khao với chương trình của chúng ta. Ngài biết cách chính xác những gì cần phải thực hiện và thực hiện như thế nào? Khi chúng ta học tập lệ thuộc vào sự dẫn dắt của Chúa, Ngài sẽ tiếp tục xây dựng Hội Thánh của Ngài qua chúng ta (xem Mat Mt 16:18).
7. Trong KhKh 1:20, hãy đọc lại định nghĩa về những ngôi sao và những chơn đèn. Trong sổ tay của bạn, hãy giải thích ý nghĩa của hai đặc tính của Chúa Jesus được đề cập cách tượng trưng trong 2:1.
Trong mỗi bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong 2:1-3:22. Chúa Jesus cho biết đôi điều Ngài biết về Hội Thánh. Trong năm bức thơ, Ngài phán, “Ta biết công việc ngươi”. Ngài cũng biết những hoạt động của chúng ta, và những hoạt động đó nữa.
Trong 2:2, 6, Chúa Jesus chấp nhận năm điều trong Hội Thánh tại Eâphêsô. Câu “Ta Biết Công Việc Ngươi” chứng tỏ Hội Thánh Eâphêsô là một Hội Thánh hoạt động. Mặc dù “những công việc lành” chẳng cứu được ai, nhưng những điều đó là chứng cớ của sự sống động thuộc linh của người ấy. Chúng ta phải nhớ kỷ rằng một người được cứu không do đức tin và việc làm (faith and woeks) nhưng do đức tin xuất phát hành động (faith that works). “Sự Lao Khổ” được chọn ra như là một đức tính đáng khen, đôi khi có nghĩa là làm việc đến mức độ kiệt sức. “Sự Nhẫn Nại” là một đức tính khác của Hội Thánh, nó có nghĩa là quyết định cứ tiến bước bất chấp sự chống đối.
Người Eâphêsô tin rằng họ là nhóm người nhạy cảm. Họ đưa ra một điều tiêu chuẩn về sự ngay thẳng, và họ cẩn thận cân nhắc mọi sự dạy dỗ với tiêu chuẩn của Kinh Thánh. Họ là một nhóm người chính thống và không dung thứ cho những sự dạy dỗ giả dối. Mặc dù, có thể sự chính thống ấy đã trở thành ưu tiên cao nhất của họ, nhưng dần dần tình yêu của họ càng tẻ lạnh (câu 4). Nhu cầu của họ không phải là họ cần sự nhạy bén hơn để phân biệt hay giữ giáo lý thuần chánh, trái lại, họ cần phải bày tỏ tình yêu trong mọi mối quan hệ của họ- ngay cả đối với những người có sự dạy dỗ trái với Lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không yêu những gì tội nhân làm, mà Ngài yêu con người tội nhân. Cũng vậy, chúng ta phải yêu những con người không biết Chúa Jesus Christ và phải hết sức mình loan báo sứ điệp Phúc âm của cho họ. Trong lúc đó, Cơ Dốc Nhân phải thử nghiệm những người công bố rằng mình được Đức Chúa Trời sai đến. Lời của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn để làm những cuộc thử nghiệm nầy. Chúng ta phải biết chắc rằng người được Đức Chúa Trời sai đến thì chẳng bao giờ có sứ điệp trái với Lời của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 4:5; 10:17; 11:4; GaGl 1:6-10; IGi1Ga 2:18-27). Tín hữu Êphêsô đã làm điều đúng khi cân nhắc giáo lý của những người khác theo tiêu chuẩn của Kinh Thánh, nhưng họ không đúng khi loại bỏ tình yêu của mình trong tiến trình nầy.
Những tín hữu Êphêsô cũng được khen về thái độ của họ đối với những người thuộc đảng Nicôla, và ghét công việc của họ nữa. Có hai cách giải thích về chữ Nicôla, (Nicolatians). Trước hết, chữ nầy xuất phát từ hai chữ Hy lạp có nghĩa là “những người chinh phục” (people conquerors). Những chữ nầy có thể mang ý nghĩa đầu tiên là những thầy tế lễ và những mục sư được nâng cao lên một địa vị đặc biệt hơn những Cơ Đốc Nhân khác. Chúng ta có thể nói rằng điều nầy tiêu biểu cho sự khởi đầu của cơ chế tổ chức của Hội Thánh trong đó có sự phân biệt giữa hàng giáo phẩm và giáo dân. Chắc chắn có một uy quyền liên quan đến sự phục vụ, nhưng uy quyền được mô tả trong IPhi 1Pr 5:1-4 có liên quan đến sự khiêm tốn và sự phục vụ. Thứ hai, một số người cho rằng tên Nicôla liên quan đến một nhóm người công bố mình là Cơ Đốc Nhân nhưng lại phạm đủ mọi tội về vô luân và đồi trụy. Ignatius, một môn đệ của sứ đồ Giăng ám chỉ những người nầy là “những người Nicôla bất khiết... những người yêu mến lạc thú... những kẻ hủy hoại xác thịt mình”. Chúng ta không biết chính xác giáo lý của họ là gì, nhưng chúng ta biết rằng Chúa ghét những hành động của họ và Ngài đã khen Hội Thánh Eâphêsô chống lại họ.
8. Trình bày vắn tắt năm điều mà Chúa Jesus chấp nhận trong Hội Thánh tại Êphêsô:
..................................................................................................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................................................................................................
Mặc dù hầu hết bức thơ có sự khen ngợi Hội Thánh nầy, nhưng những câu 4 và 5 cho chúng ta biết về sự khen ngợi của Chúa về một sắc thái của đời sống và hành vi của Hội Thánh. Ngài cảnh cáo những tín hữu về sự mất tình yêu ban đầu của họ và Ngài cho họ biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ bỏ qua lời cảnh cáo của Ngài. Ở đây, tình yêu được dịch từ chữ Hy lạp agape. Tình yêu nầy được định nghĩa trong GiGa 3:16 và ICo1Cr 13:1-8. Tình yêu agape là tình yêu hoàn toàn từ bỏ bản ngã của mình, không giữ lại chút gì cả mà dâng hết cho Đức Chúa Trời. Hội Thánh Eâphêsô đã từ bỏ yếu tố sống động của mối quan hệ nầy. Tình yêu của tín hữu đối với Đức Chúa Trời đã không còn sự tươi mới và sống động, vì thế, Chúa của Hội Thánh đã nghiêm nghị cảnh cáo: “Hãy ăn năn”. “Aên năn” có nghĩa đơn giản là thay đổi tâm trí mình và kết quả là thay đổi hướng đi của mình. Nếu những mối quan hệ vẫn còn nguyên vẹn, chúng ta phải nhắm mục đích của mình sống gần gũi với Chúa Jesus như trước kia đã có. Mối quan hệ của chúng ta đòi hỏi tình yêu nhiệt tình đó.
9. Trong sổ tay của bạn, hãy diễn tả tình trạng ở trong Hội Thánh tại Eâphêsô mà Chúa không chấp nhận, kết quả là Ngài cảnh cáo, và những gì sẽ xảy ra nếu Hội Thánh coi thường sự cảnh cáo của Ngài.
10. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê một số điều khiên cho tình yêu của một người đối với Chúa Jesus nguội lạnh dần, và một số điều cứ giữ cho tình yêu ấy luôn luôn tươi mới. Nếu bạn đã có gia đình hay sắp lập gia đình, hãy liệt kê một số điều có thể khiên cho tình yêu của bạn đối với người bạn đời lạnh nhạt dần. Cũng ghi ra một số điều đề giữ gìn tình yêu ấy.
Trong KhKh 2:7, người đắc thắng được hứa ban cho một chỗå phước hạnh trong lạc viên của Đức Chúa Trời. Ai là những người đắc thắng? Đối với một số người, những người đắc thắng là những Cơ Đốc Nhân đã đạt đến mức độ trưởng thành trong Christ. Đối với những người khác, những người đắc thắng tiêu biểu cho những ai sống cuộc sống hết sức khắc khổ những người có cuộc sống mang đặc tính bằng “phải làm” và “đừng làm” (do and don’t). Tuy nhiên Kinh Thánh là lời giải thích tốt nhất. Chữ “đắc thắng” (overcome) có nghĩa là “thắng trận” (to win the victory over) (IGi1Ga 5:5 và KhKh 15:2). Nó ám chỉ về những người thắng được sức ép và sự cám dỗ bên ngoài cũng như những tư tưởng, những động cơ và những thái độ kho6ng phù hợp với Quyền Chủ Tể của Chúa Jesus Christ trong đời sống mình.
Những đặc tính của Hội Thánh tại Eâphêsô nhiệt thành binh vực giáo lý đứng đắn, chuyên cần, siêng năng phục vụ, và có hành động mạnh mẽ - chứng tỏ thời kỳ của Hội Thánh đầu tiên. Những đặc tính nầy nói chung đều đúng cho Hội Thánh từ lúc bắt đầu cho đến gần cuối của thế kỷ thứ nhất.
11. Khoanh tròn mẫu tự trước lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Hội Thánh tại Eâphêsô mang đặc tính.
a. Là một phần của thành phố cảng giàu có ở trong một vùng nông nghiệp trù phú vốn được ghi nhận rõ nét về sự thờ hình tượng của nó.
b. Do sự nhiệt tình thuộc linh đầu tiên và công việc của người truyền bá Phúc âm ở đó.
c. Hâm hẩm, mệt mỏi trong sự phục vụ, và thỏa hiệp với những kẻ làm điều ác.
d. Là một thân thể hoàn toàn chống lại những người Nicôla gian ác.
e. Chính thống về giáo lý và có khả năng nhận thức những sự dạy dỗ giả dối.
f. Bằng sự kiện là Hội Thánh đó không bao giờ mất lòng kính mến ban đầu.
Để nắm vững bài, hãy ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời trong phần nầy về Hội Thánh Eâphêsô và sử dụng tài liệu nầy để làm dàn ý bài giảng hay dàn ý học Kinh Thánh theo bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Êphêsô.
Thơ Gởi Cho Hội Thánh Tại Simiệcnơ
KhKh 2:8-11.
Vào thời huy hoàng của mình, Simiệcnơ được mô tả là “thành phố đẹp nhất thế giới” . Simiệcnơ tọa lạc trên vịnh Aegean Sea và được gọi là “mão miện của Ionia, vật trang sức của Asi”. Thành phố giàu có về mặt kiến trúc và văn hóa. Từ chữ Simiệcnơ (Smyrna) phát xuất ra chữõ “murrh” (một dược) một hương liệu để ướp xác chết. Bạn có thể liên tưởng đến việc những người thông thái mang một dược đến cho Chúa Jesus khi Ngài giáng sinh, có lẽ như là lời tiên tri về sự chết của Ngài cho toàn thể nhân loại.
Thời kỳ nầy gắn liền với sự bách hại trong đế quốc Lamã, sau đó lan rộng và đôi khi sang thẳng từ cuối thế kỷ thứ nhất cho đến khoảng năm 313 S.C. Giăng đang viết một bức thơ cho Hội Thánh bị ngược đãi. Một người nên viết gì cho một Hội Thánh như thế? Thông thường người ấy an ủi và động viên những người đang ở dưới sự thử thách nghiêm trọng như thế cứ giữ vững đức tin và can đảm nhìn xem gương mẫu của những vị anh hùng những người khác đã đắc thắng. Như vậy, trong những câu 8 và 9 vài sự kiện được đưa ra để thúc giục sự tin quyết nầy. Trước hết, Chúa chúng ta “BIẾT” dân sự của Ngài đang ở đâu, họ đang trải qua điều gì, và những hạn chế của sự chịu đựng của họ. Ngài động viên họ neo chặt trong sự trung tín. Thứ hai, Đấng khuyến khích họ chịu khổ chính mình Ngài cũng đã đối đầu với sự thử thách tột độ và đã đắc thắng . Trong Ngài, mỗi tín hữu đều có tiềm năng đắc thắng.
12. Hai đặc tính của Chúa Jesus được bày tỏ cho Hội Thánh tại Simiệcnơ tại Simiệcnơ ở KhKh 2:8 là gì?
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Không những dân sự của Hội Thánh nầy bị áp bức, nhưng họ còn nghèo nữa. Tuy nhiên, Chúa của họ phán rằng sự nghèo khổ của họ chỉ tạm thời, thực sự họ rất giàu. Sự giàu có tốt nhất và vững chắc lâu bền nhất của họ không phải là vật chất, mà là thuộc linh. Vậy, theo nghĩa nầy, những tín hữu tại Simiệcnơ giàu có. Cơ Đốc Nhân nói chung đều trải qua sự ngược đãi suốt lịch sử của Hội Thánh. Sứ đồ Phao lô chứng tỏ rằng số phận chung của những môn đệ Cơ Đốc chân thật có liên quan đến sự khó khăn (Cong Cv 14:22). Thật vậy, hoạn nạn được mô tả là kinh nghiệm riêng của ông (IICo 2Cr 6:4-10, 11:22-23), những điều đó không làm giảm đi điều khao khát của ông trong sự duy trì đức tin và trở nên người đắc thắng thật sự (RoRm 8:18).
13. Khảo sát phần nhận định của chúng ta trong đoạn trước, câu đầu tiên của KhKh 2:9 ám chỉ rõ điều gì về sự chịu khổ của Hội Thánh tại Simiệcnơ? Hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời.
Những tín hữu trong Hội Thánh tại Simiệcnơ phải bị khổ nạn vì những “người nhạo báng” xuất phát từ những người Do Thái giả (câu 9). Những người được gọi là người Do thái nầy có thể là người Do Thái theo dòng dõi và tôn giáo, nhưng họ không phải là người Do thái thật sự, vì họ đã khước từ Jesus là Đấng Mêsi của họ và bắt bớ Hội Thánh của Ngài. Cũng có thể những người Do thái giả nầy là những người Giuđa, là những người đòi buộc mọi Cơ Đốc Nhân phải giữ những quy luật Cựu Ước ( như chịu phép cắt bì, những ngày tháng và không ăn một số thực phẩm). Dù họ là ai, thì họ không phải là dân sự của Đức Chúa Trời. Thực sự, họ được nhận diện là những người “thuộc Satan” và họ đã nhạo báng dân sự của Đức Chúa Trời tại Simiệcnơ.
14. Giả định những phần tử của cộng đồng tôn giáo ở Simiệcnơ lầm lỗi, thì họ đã làm điều gì cho những tín hữu thật?
a. Họ nhạo báng những tín hữu thật.
b. Họ bỏ tù những người trung tín.
c. Họ ngược đãi những người đó.
d. Trong vài trường hợp họ giết những tín hữu nầy.
Bây giờ họ nhận lại lời khuyên đặc biệt và khái niệm chung chung về tương lai sắp đến (câu 10). Trước hếùt, Chúa của Hội Thánh phán “Chớ sợ. Sự xung đột sắp đến, và maqủi sẽ thử thách ngươi có giới hạn. Tù đày và bắt bớ sẽ đến. Hãy sẵn sàng binh vực đức tin ngay cả đến chết!” Thứ hai, Đấng Chiến Thắng - Đấng Chiến Thắng của chúng ta - khuyên? “Phải Trung tín” rồi sau đó là lời hứa phước hạnh Ta Sẽ Ban Cho Ngươi Một Mão Miện Sự Sống”.
Nhìn rỏ ràng về trận bão tiến đến gần bày tỏ rằng sự thử thách và ngược đãi chỉ giới hạn vào thời gian đặc biệt: “mười ngày”. Một số học giả tin rằng số “mười” trong KhKh 2:10 chỉ về tình trạng kéo dài của sự ngược đãi, dù không thường trực. Những học giả khác lại tin rằng “ mười ngày” bị ngược đãi nầy “chỉ về một thời kỳ đầy đủ, hoặc dài hoặc ngắn, mà cuối cùng rồi cũng chấm dứt”. Còn những học giả khác nữa lại tin rằng thơi gian bị ngược đãi mười ngày nầy tiêu biểu cho mười thế kỷ ngược đãi khác nhau mà Hội Thánh chịu đựng dưới thời đế quốc Lamã từ cuối thế kỷ thứ nhất đến năm 313 S.C. Dù mườùi ngày ngược đãi có ý nghĩa gì đi nữa, nhưng chúng ta biết rằng nó chỉ về môt cuộc thử thách xảy đến trước mắt, và những người đắc thắng cách thành công sẽ nhận được “ mão miện sự sống”. Dĩ nhiên, phần thưởng cuối cùng cho những tín hữu trung tín là mão miện vốùn là sự sống sự sống đời đời trong sự hiện diện của Ngài.
15.Đọc mỗi phần Kinh Thánh sau đây. Bên cạnh mỗi phần Kinh Thánh hãy ghi lại mão miện được đề cập, và từ đó ghi lại mão miện được đề cập, và từ đó ghi ra lý do của việc ban mão miện.
a. ICo1Cr 9:25................................................................
b. ITe1Tx 2:19............................................................
c. IITe 2Tx 4:8.................................................................
d. Gia Gc 1:12.......................................................................
e. IPhi 1Pr 5:4.....................................................................
16. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời nói phản ảnh những sự kiện chính xác liên quan đến Hội Thánh tại Simiệcnơ.
a. Simiệcnơ là một cộng động nông nghiệp ở đại lục vốn chịu nghèo khổ quá độ.
b. Tên của thành phố liên quan đến loại hương liệu có tên là một dược (myrrh).
c. Chúa của Hội Thánh gởi cho những thánh đồ của Simiệcnơ trong vai trò của Ngài là Đấng Đời Đời Đầu tiên và cuối cùng.
d. Những tín hữu của Simiệcnơ bị nhạo báng do những người có thể có nguồn gốc và tôn giáo Do thái, nhưng họ đã chối bỏ Đấng Mêsi và khước từ dân sự của Ngài.
e. Chúa đã hứa gìn giữ những tín hữu khỏi mọi thử thách vì những thử thách chứùng tỏ người nào ở ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời.
f. Ngược đãi là điều được Chúa báo trước và cho phép, nhưng không phải sự thử thách là điều không chấm dứt.
Vấn đề “Hoạn nạn trong mười ngày” trong thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Simiệcnơ có thể tiêu biểu cho thời kỳ của mười cuộc bách hại chính xảy ra cho những Cơ Đốc Nhân do đế quốc Lamã từ cuối thế kỷ thứ nhất cho đến năm 313 S.C. Chắc chắn đó là thời kỳ được đánh dấu bằng sự khoang dung cho Cơ Đốc Giáo và thời kỳ nầy được chấm dứt bằng sắc chỉ Milan (Edict of Milan) vốn đem sự hòa bình cho toàn quốc Lamã. Hơn nữa, nó giới thiệu một thời kỳ mới vốn được đánh dấu bằng những điều kiện cực kỳ khác nhau. Mặc dù Hội Thánh chịu khổ trong thời kỳ thứ hai phải đấu tranh để sống còn, nhưng thời kỳ tiếp theo Hội Thánh được biệt riêng bằng sự khoan nhượng cực độ trong đó Hội Thánh dần dần quyện lẫn với thế giới ngoại giáo mà nó là một phần, nên đã mất đi sự tinh sạch riêng biệt và khải tượng trong tiến trình của mình, như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo.
Để hữu hiệu trong phần thực tập, hãy ôn những câu hỏi và câu trả lời trong phần nầy và xử dụng tài liệu đã học để làm dàn ý bài giảng hoặc bài học Kinh Thánh về lá thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Simiệcnơ.
Thơ Gởi cho Hội Thánh Bẹtgăm.
KhKh 2:12-17.
Thành phố bẹt găm, dù không phải là thành phố quan trọng về mặc thương mại như Ephêsô và Simiệcnơ, nhưng nó lại quan trọng hơn vì đó là trung tâm chính trị và tôn giáo. Về thành phòng ngự, Bẹtgăm đã xây dựng một bàn thờ thật cao cho thần Zeus và đền thờ cho Athena. Bẹtgăm cũng là thành phố đầu tiên của tỉnh Asi hổ trợ cho sự thờ phượng hoàng đế. Tại đây, mọi công dân bị bắt buộc phải thờ hoàng đế : Từ chối có nghĩa là chấp nhận bản án phản bội. Một số học giả liên hệ cụm từ “chỗå có ngôi của Satan” (câu 13) với sự nổi bật của Bẹtgăm như là trung tâm thờ phượng hoàng đế. Có một trung tâm y khoa lớn tại Bẹtgăm mang tên theo thần rắn Asclepius, và thành phố nầy cũng nổi tiếng về trường học dành cho những nhà tu giỏi y khoa (college of medical priests). Những điều nầy giúp chúng ta thấy tại sao Bẹtgăm được gọi là “chỗ có ngôi của Satan... nơi Satan ở” (câu 13). Bẹtgăm có một thư viện lớn chứa 200.000 cuốn sách. Giống như những thành phố khác, thành phố nầy là nơi dành cho tôn giáo ngoại bang, vô luân, triết học và giáo dục.
Trong việc nghiên cứu sự giải thích Khải huyền đoạn 2, chúng ta cần nhấn mạnh rằng mỗi Hội Thánh tương ứng với một thời kỳ của lịch sử Hội Thánh. Theo quan điểm của chúng tôi, thời kỳ thứ ba nâỳ trải dài từ năm 313 S.C. cho đến khoảng năm 600 S.C. Sau một thời kỳ căng thẳng không chấp nhận tôn giáo, hoàng đế Lamã chấp nhận chổ đứng của nó và cuối cùng nhìn nhận Cơ Đốc Giáo. Trong khi bị ngược đãi, Hội Thánh phát triển mạnh và bành trướng mau chóng, nhưng dưới sự mỉm cười của việc được công khai chấp nhận, đức tin mất đi tính sinh động và khải tượng. Dưới sự đỡ đầu của hoàng đế Constantine, Cơ Đốc Giáo được công khai hoạt động. Tôn giáo giả tạo thay thế cho tôn giáo chân chính, lễ nghi thay thế cho kinh nghiệm cá nhân với Đức Chúa Trời. Số lớn người ngoại đạo chịu Báp têm nhưng chẳng bao giờ có mối quan hệ cá nhân với Đấng Christ. Tình yêu ban đầu vốn đã bị từ bỏ tạm thời trong thời kỳ đầu tiên bây giờ lại bắt đầu chịu đựng một sự giảm sút tận gốc trong sự sống của mình và sự làm chứng cho Đấng Christ.
Chúa là Đấng gởi thơ cho Hội Thánh nầy mang đặc điểm như thanh gươm hai lưỡi (câu 12). Gươm ở đây tượng trưng cho Lời Đức Chúa Trời được xử dụng để quở trách những sự dạy dỗ sai lầm mà Hội Thánh đã cho phép. Lời của Đức Chúa Trời vẫn là tiêu chuẩn để đo lường những sự dạy dỗ của Hội Thánh. Những sự dạy dỗ nào không phù hợp với tiêu chuẩn nầy phải bị khước từ.
17. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Bẹtgăm là trung tâm chính trị và tôn giáo của Tiểu Á (Asia Minor).
b. Sự thờ phượng hoàng đế Lamã được nuôi dưỡng tại Bẹtgăm và sự thờ phượng hoàng đế trở thành cuộc thử nghiệm và lòng trung thành.
c. Vì Bẹtgăm là một trung tâm mê tín, nên học vấn và văn hóa không quan trọng mấy tại đây.
d. Trong thời kỳ nầy, Hội Thánh lớn lên nhanh chóng về số lượng và về sự trưởng thành thuộc linh.
18. Đặc tính của chúa Jesus nêu lên trong câu 12 tượng trưng cho điều gì?
..................................................................................................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................................................................................................
Trong câu 13 chúng ta quan sát những điều mà Chúachúng ta chấp nhận. Trước hết, Hội Thánh tại Bẹtgăm trung thành với danh Chúa. Danh của Ngài thay thế cho bản chất của Ngài. Trung thành với Danh của Ngài có nghĩa là công nhận rằng chúa Jesus là con Đức Chúa Trời, rằng chúng ta phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi, và chúng ta phải đến gần Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus (GiGa 14:6, và ITi1Tm 2:5). Sự nhắc đến tên Antiba ám chỉ rằng sự chấp nhận đặc biệt của Chúa về đức tin nơi Ngài vốn mang đặc điểm của những người trong Hội Thánh nầy trong thời kỳ bị thử thách lớn. Đừng quên rằng Chúa chúng ta luôn luôn chấp nhận khi chúng ta giữ vững đức tin của mình nơi Ngài, đặc biệt khi đức tin chúng ta bị thử thách nghiêm trọng.
19. Trong câu 13, điều gì trong Hội Thánh tại Bẹtgăm được Chúa chúng ta chấp nhận?
..................................................................................................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................................................................................................
Sau khi khen Hội Thánh về những phẩm chất đáng được ca ngợi, thì Chúa của Hội Thánh chỉ ra hai vấn đề mà Ngài kết án mạnh mẽ (câu 14-15). Điều đầu tiên là Ngài kết án sự thờ hình tượng và sự gian dâm. Có thể có điều khác ở đây nữa. Balaam, người được đề cập trong bức thơ nầy đề xướng việc thỏa hiệp với sự thờ thần tượng và gian dâm trong Cựu Ước. Chắc chắn ông ta là người tiên phong của tất cả những ai động viên sự thỏa hiệp với thế gian. Câu 14 ám chỉ rõ ràng rằng khi người ta cố ý ăn “của cúng thần tượng” thì người phạm tội thờ hình tượng. Sự ăn uống như thế ủng hộ cho niềm tin cho rằng những hình tượng đó cung cấp những nhu cầu thuộc linh cũng như những nhu cầøu thuộc thể cho con người.
Trong thời kỳ Bẹtgăm, những hình tượng của các thánh được đặt trong số lượng lớn nhà thờ. Người ta nói rằng những hình tượng đó được đặt trong nhà thờ là để nhắc nhở người ta thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng luôn luôn có nguy cơ là sự hiện diện của hình tượng đó khiến người ta thờ phượng hình tượng đó hoặc những thánh hơn là thờ phượng Đức Chúa Trời. Không được để bất cứ điều gì thay thế cho việc chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời. Điều thứ hai Chúa Jesus kết án là họ “ giữ theo giáo lý của đảng Nicôla” (câu 15). Cả việc thỏa mãûn về thuộc thể và sự phân biệt thuộc linh dường như không được uốn nắn trong Hội Thánh vốn hiện hữu trong thời kỳ lỏng lẻo về mặt thuộc linh.
Trong câu 16, Chúa Jesus cảnh cáo những người trong Hội Thánh Bẹtgăm phải ăn năn những điều mà Ngài đã kết án. Nếu họ không ăn năn, Ngài sẽ chiến đấu chống lại họ bằng thanh gươm ở miệng Ngài- Lời Đức Chúa Trời. Chúa Jesus vẫn còn cảnh cáo những điều nầy cho chúng ta ngày nay khi chúng ta còn làm những điều Ngài không chấp nhận. Thật kinh khủng biết bao khi Cứu Chúa của Hội Thánh trở thành Đấng Tiêu Diệt Chìa Khóa của sự khôi phục thuộc linh là ăn năn thành thật.
20. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê hai điều chính tại Hội Thánh Bẹtgăm (câu 14- 15) mà Chúa Jesus kết án.
Trong câu 17, những người đắc thắng trong Hội Thánh Bẹtgăm là những người hứa ban phần thưởng chắc chắn: mana giấu kín và hòn sỏi trắng. Mana giấu kín là thực phẩm thuộc linh mà một người hiện đang tiếp nhận khi người ấy dự phần với Christ. Viên đá trắng tượng trưng cho sự tuyên bố trắng án trái ngược với viên đá đen vốn chỉ về sự kết tội mà tòa án công bố. Người đắc thắng được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ theo phương cách là người ấy được hoàn toàn không bị kết tội. Người ấy được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ và đã trả xong nợ tội ở trước ngai của Đức Chúa Trời.
21. Chúa chúng ta hứa ban cho những người đắc thắng trong Hội Thánh tại Bẹtgăm hai điều nào?
..................................................................................................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................................................................................................
Những đặc tính của Hội Thánh tại Bẹtgăm dường như tiêu biểu cho Hội Thánh trong thời kỳ từ năm 313 S.C. đến khoảng 600 S.C. Chúng tôi nhấân mạnh một lần nữa đây chỉ là sự ước tính phỏng định về khung thời gian mà mỗi thời kỳ của Hội Thánh .
Để nắm vững bài (bài tập không bắt buộc), hãy ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời ở phần bài học về Hội Thánh Bẹtgăm, và xử dụng tài liệu nầy làm dàn bài giảng hoặc bài học Kinh Thánh về thơ của sứ đồ Giăng gởi cho Hội Thánh tại Bẹtgăm.
Bài Tập Trắc Nghiệm.
CÂU HỎI LỰA CHỌN, Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất.
1. Trừ một trong những lời dưới đây là mục đích tam diện của những bức thơ gởi cho bảy Hội Thánh. Điều nào KHÔNG PHẢI là mục đích vừa nói?
a. Hoàn cảnh mô tả tồn tại trong những Hội Thánh, và cần được Đầu của Hội Thánh xử lý.
b. Nội dung có dụng ý nhắc nhở cho mọi chi thể của thân thể Đấng Christ.
c. Những hoàn cảnh mô tả trong những bức thơ là những sự ngẫu nhiên có tính cách giả thuyết và không liên quan đến những điều kiện thực sự trong Hội Thánh của Chúa Jesus Christ.
d. Toàn thể lịch sử của Hội Thánh từ đầu cho đến Ngày của Đức Giêhôva được hình dung trong những thơ.
2. Trong những bức thơ gởi cho bảy Hội Thánh chúng ta có thể nói chính xác rằng
a. Nói chung tất cả đều giống nhau trong cách cấu tạo, có hơi khác nhau theo từng bức thơ.
b. Mỗi bức thơ đều đồng nhất trong cấu trúc, nội dung và bút pháp.
c. Chúng theo cùng khuôn mẫu giống y hệt từ đầu chí cuối.
d. Có một sự tiến hóa trong những bức thơ vốn phản ảnh giai đoạn thời gian và sự trưởng thành của Hội Thánh.
3. Sự ngoại lệ đáng chú ý đối với sự bày tỏ thuộc linh của Hội Thánh Eâphêsô có liên quan.
a. Đến sự khoan dung của Hội Thánh với kẻ ác.
b. Đến sự mất lòng kính mến ban đầu.
c. Đến sự thiếu sự phân biệt thuộc linh.
d. Đến sự thiếu khả năng của tín hũu trong việc khó nhọc giữ được danh của Christ.
4. Từ phần nghiên cứu của chúng ta về đảng Nicôla, chúng ta biết rằng nhóm người nầy có thể có sự nhấn mạnh
a. Sự tự do của Cơ Đốc Nhân nhiều hơn trách nhiệm của Cơ Đốc Nhân.
b. Sự thỏa hiệp của những giá trị Cơ Đốc Nhân để đạt được những đặc ân của thế gian.
c. Những đòi hỏi theo luật pháp của Cựu Ước áp đặt trên mọi Cơ Đốc Nhân.
d. Sự nâng vực giai cấp giáo phẩm lên trên giáo dân trong Hội Thánh.
5. Hội Thánh tại Simiệcnơ được thông báo rằng Chúa biết và cho phép điều gì để phát triển đặc tính Cơ Đốc?
a) Nghèo khó.
b) Sự đau đớn.
c) Sự nhạo báng.
d) Hoạn nạn.
6. Mặc dù những chữ “bị hoạn nạn trong mười ngày” được những học giả Kinh
Thánh giải thích bằng nhiều cách khác nhau, nhưng nói chung yếu tố thời gian cho thấy rằng
a. Nó ám chỉ thời kỳ ngắn ngủi.
b. Một thời kỳ không rõ ràng được báo cho biết.
c. Motä giai đoạn thời gian, có thể ngắn hay dài, nhưng nó sẽ chấm dứt.
d. Hội Thánh sẽ chịu ngược đãi có hạn.
7. Ý nghĩa tượng trưng về Chúa chúng ta có thanh gươm nhọn hai lưỡi ám chỉ về
a. Lời Đức Chúa Trời.
b. Vũ khí chống đỡ của tín hữu.
c. Dụng cụ mà bởi đó Ngài sẽ phán xét kẻ ác.
d. Sự báo thù Ngài dành cho những kẻ thù của Hội Thánh.
8. Theo phần nghiên cứu của chúng ta, sự dạy dỗ của Balaam mà Hội Thánh tại Bẹtgăm dung túng có thể liên quan đến
a. Sự thỏa hiệp của tiêu chuẩn Cơ Đốc đối với tội lỗi và sự thánh khiết.
b. Giới thiệu về sự dạy dỗ về những cách làm cho Hội Thánh thịnh vượng.
c. Sự chuyển động do những người lãnh đạo làm cho Cơ Đốc giáo được thế gian chấp nhận.
d. Sự tái xuất hiện của người Giuđa trong Hội Thánh.
9. Trong ba Hội Thánh mà chúng ta đã thảo luận trong bài nầy, Hội Thánh nào tọa lạc trong thành phố nơi có đền thờ của Ạttêmit?
a. Simiệcnơ.
b. Bẹtgăm.
c. Êphêsô.
10. Hội Thánh nào hiện hữu trong một thành phố nơi có một trung tâm y khoa được dâng cho thần rắn?
a. Êphêsô.
b. Bẹtgăm.
c. Simiệcnơ.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. b. Còn có ý nghĩa khác hơn trong nội dung đoạn văn hiểu theo ý nghĩa đầu tiên.
2. b. Sự trọn vẹn thiên thượng.
3. Câu trả lời của bạn nên bao gồm những sự kiện sau, Giăng viết thơ để gởi sứ điệp của Chúa Jesus để động viên, cảnh cáo và quở trách những Hội Thánh địa phương có thật, tất cả mọi chi thể của thân thể Đấng Christ, và toàn thể Hội Thánh từ ban đầu đến suốt thời kỳ hiện hữu của Hội Thánh.
4. 1) Những đặc điểm của Chúa Jesus.
2) Những điều Chúa Jesus biết về những Hội Thánh đặc biệt.
3) những điều Chúa Jesus chấp nhận trong những Hội Thánh đặc biệt.
4) Những điều Chúa Jesus không chấp nhận trong những Hội Thánh đặc biệt.
5) Những điều như những lời khuyên bảo, những lời hứa, và sự dạy dỗ mà Chúa truyền đạt cho những Hội Thánh đặc biệt.
5. a. Những điều kiện mang đặc tính Hội Thánh trong một thời kỳ nào đó, cũng như suốt lịch sử của Hội Thánh.
6. a. Phaolô giới thiệu Phúc âm tại đó (Cong Cv 19:1-5).
b. Nhiều người tin Phúc âm (19:17-18).
c. Sứ đồ phục vụ tại đấy ba năm (20:31).
d. Bêrítsin và Aquila giúp đỡ ông thành lập Hội Thánh (18:18-28).
e. Nhiều người đốt những cuộn sách về phù phép của họ cách công khai. Điều nầy tiêu biểu cho sự chiến thắng lớn của Phúc âm nhưng nó làm cho những người kiếm sống bằng nghề làm và buôn bán thần tượng giận dữ. Phản ứng của những người thợ thủ công chống lại Phúc âm phát sinh một cuộc náo loạn lớn tại Eâphêsô (19:23-41).
7. Trước hết, sự hiện diện của Ngài ở giữa những Hội Thánh chứng tỏ sự quan tâm của Ngài đối với họ, săn sóc họ và chú ý đến sự thịnh vượng thuộc linh của họ. Thứ hai, sự kiện những nhà lãnh đạo của Hội Thánh ở trong tay Ngài chứng tỏ rằng Ngài hướng dẫn Hội Thánh qua họ và họ có tầm quan trọng đối với Ngài.
8. Làm việc khó nhọc, kiên nhẫn, không dung thứ kẻ ác, thử thách những lời công bố giả dối, và ghét những kẻ theo đảng Nicôla.
9. Tình trạng ấy là từ bỏ tình yêu mến ban đầu . Sự cảnh cáo ấy là phải làm điều trước kia họ đã làm. Kết quả của sự coi thường sự cảnh cáo của Ngài là xa cách Đức Chúa Trời.
10. Câu trả lời của bạn. Một điều chung cho mọi mối quan hệ: hãy duy trì nó. Cách chắc chắn để giết đi một mối quan hệ là lơ la,ø bỏ rơi nó. Mối quan hệ của chúng ta với Chúa là ưu tiên cao nhất và với người bạn đời cũng phải theo sau gần gũi với điều trên.
11. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Sai.
12. Chúa Jesus là Đấng Đời Đời, Đấng Đầu tiên và cuối cùng, và Ngài sống lại từ sự chết tạm thời để vào sự sống đời đời.
13. Dường như Chúa chúng ta chấp nhận sự hoạn nạn. Ngài dùng sự hoạn nạn là phương tiện để hình thành phẩm chất Cơ Đốc mạnh mẽ, kiên nhẫn và tin cậy nơi Ngài. Tác gỉa của thơ Hêbơrơ bình luận vắn tắt điều nầy (HeDt 12:1-11).
14. a. Họ nhạo báng những tín hữu thật.
15. a. Mão miện không hay hư mất. Được ban cho sự phục vụ trung tín trong việc chinh phục người hư mất.
b. Mão miện vinh hiển hoặc trong đó chúng ta khoe mình. Được ban cho sự phục vụ trung tín.
c. Mão miện công bình. Được ban cho những người yêu mến sự hiện ra của Ngài để phục vụ trung tín.
d. Mão miện sự sống. Ban cho sự phục vụ trung tín trải qua sự thử nghiệm đối với những người yêu mến Chúa của mình.
e. Mão miện vinh hiển. Ban cho những người lãnh đạo trung tín chăm sóc bầy của Đức Chúa Trời.
16. bạn nên khoanh tròn chữ b; c; d; và f.
17. Bạn nên khoanh tròn câu a) và b).
18. Chúa Jesus là Đấng sở hữu và xử dụng Lời Đức Chúa Trời. Dường như ở đây điều nầy chứng tỏ rằng mục đích là để chỉnh đốn giáo lý sai lầm.
19. Ngài chấp nhận sự trung thành của tín hữu đối với Danh của Ngài. Ngài cũng chấp nhận sự kiên định của họ trong thời kỳ thử thách lớn.
20. Ngài kết án : 1) Sự dạy dỗ của Balaam liên quan đến sự thờ hình tượng và gian dâm, và 2) sự dạy dỗ của đảng Nicôla.
21. Ngài hứa ban “mana giấu kín” và “một hòn đá trắng”. Những điều nầy ám chỉ sự nuôi dưỡng thuộc linh và việc tín hữu được chấp nhận ở trước ngai của Đức Chúa Trời.

Các Thơ Tín Gởi Cho Thiatirơ, Sạtđe Philađenphi và Laođixê
Trong Bài 6 chúng ta bắt đầu nghiên cứu những bức thơ gởi cho Hội Thánh. Chúng ta đã khảo sát những mục đích trong việc gởi những bức thư nầy cũng như cấu trúc của những bức thơ của những bức ấy nữa. Sau đó chúng ta chuyểân sang phần nghiên cứu đặc biệt về mỗi Hội Thánh của những thời kỳ của ba Hội Thánh đầu tiên. Hy vọng phần mở đầu nầy đã cho chúng ta về sự thấu triệt hữu ích về những loại nan đề mà mỗi Hội Thánh đối diện, và làm thế nào mỗi Hội Thánh đáp ứng được những thách thức của thời đại của mình. Bây giờ chúng ta tiếp tục nghiên cứu bốn Hội Thánh còn lại.
Khi chúng ta tiếp tục khảo sát những nét tích cực và tiêu cực trong những Hội Thánh nầy, hãy nhớ rằng những đặc tính riêng biệt của những Hội Thánh tương ứng không chấm dứt với thời kỳ đó. Vấn đề mất lòng kính mến ban đầu của Hội Thánh Eâphêsô vẫn là vấn đề tiềm tàng cho mỗi Hội Thánh và mọi tín hữu của thời đại Hội Thánh. Tinh thần yêu mến thế gian và thỏa hiệp mà Hội Thánh Bẹtgăm phải chiến đấu vẫn còn là những nan đề chính trong Hội Thánh. Những tên gọi của những nan đề giáo lý của Balaam, đảng Nicôla, Giêsabên- có thể thay đổi, nhưng bản chất của những nan đề thuộc linh vẫn tồn tại. Chúng ta cần phải hiểu những nguyên tắc nằm dưới kinh nghiệm thuộc linh nếu chúng ta muốn hoàn thành sự kêu gọi của mình để làm xong công việc của Đức Chúa Trời ở trên đất.
Khi bạn học bài nầy, hãy nhạy bén nghe tiếng phán của Thánh Linh. Hãy để Ngài giúp bạn nhìn nhận những nan đề tiềm ẩn trong kinh nghiệm của mình vốn hạn chế sự hiệåu quả của bạn trong đời sống Cơ Đốc Nhân. Khi bạn sẵn lòng, Ngài sẽ mở mắt bạn để nhìn xem những thách thức lớn hơn ở thế giới chung quanh bạn, mà bạn cần có quyền năng của Ngài để đáp ứng cho nhu cầu của họ.
Giới thiệu.
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Thiatirơ.
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Sạtđe.
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Philađenphi.
Thơ gởi cho Hội Thánh tại Laođixê.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Công nhận những sự kiện về mỗi Hội Thánh trong bốn Hội Thánh mà bạn nghiên cứu, kể cả bối cảnh lịch sử, những nan đề thuộc linh, và những lời cảnh cáo liên quan đến những nan đề của Hội Thánh đó.
• Thảo luận ý nghĩa của những sứ điệp gởi cho bảy Hội Thánh đối với thân thể chung của Christ ở mọi thời điểm và dòng lịch sử được trình bày.
• Đánh giá đầy đủ hơn về nhu cầu đối với Hội Thánh và cá nhân tín hữu để khảo sát phẩm chất của đời sống thuộc linh và sự phục vụ mà họ dành cho Chúa yêu dấu của mình.
1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình thường lệ.
2. Bạn có thể cùng Kinh Thánh để trả lời những câu hỏi nghiên cứu và những câu hỏi trong bài tập trắc nghiệm.
3. Oân từ bài 4 đến bài 7 để chuẩn bị làm bản đánh giá học tập đơn vị II và phiếu trả lời cho phiếu dành cho học viên và điền vào phiếu trả lời theo sự chỉ dẫn. Khi làm xong bài, hãy nộp cho vị trợ giáo ICI, là người sẽ chấm bài và gởi kết quả cho bạn.
Bất hạnh, nghịch cảnh (adversity).
Mẫu đầu tiên (prototype).
Ngoại Kinh Thánh (extra Biblical).
Sự trừng phạt (retribution).
Tượng thánh (icon).
Thời Trung cổ (Medieval).
Tự xưng ( professing).
GIỚI THIỆU.
Như chúng ta đã thấy trong bài 6, cấu trúc chung của những bức thơ gởi cho các Hội Thánh đều giống nhau. Những khác nhau chỉ xảy ra trong những đặc tính của Chúa vốn được bày tỏ cho từng Hội Thánh. Dĩ nhiên, những điều khen ngợi, kết án hay cả hai, thì khác nhau đối với từng Hội Thánh. Tuy nhiên, sứ điệp chung cho Hội Thánh là chứng nhân của Ngài cho thế gian nầy. Lời chứng nầy phải được thực hiện bằng cả lời công bố năng động và đời sống Cơ Đốc kiên định điều làm cho sứ điệp trở thành có thật. Hãy nghiên cứu cẩn thận tình trạng của mỗi Hội Thánh từ quan điểm của Chúa khi chúng ta quan sát những chi tiết của sứ điệp của Chúa gởi cho mỗi Hội Thánh.
THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH THIATIRƠ.
KhKh 2:18-20.
Thiatirơ là một thành phố trong lục địa vốn có lịch sử về quân đội lâu dài. Thiatirơ tọa lạc trong một vùng nông nghiệp trù phú, và nó cũng là trung tâm thương mại quan trọng. Thành phố nầy nổi tiếng về nghề nhuộm màu tía, và nó được hổ trợ cho kỷ nghệ buôn vải màu tía vốn được sản xuất dưới sự kiểm soát của những tập đoàn buôn bán có tổ chức chặt chẽ. Thiatirơ không phải là trung tâm tôn giáo hay chính trị và cũng không ủng hộ mạnh mẽ cho việc thờ phượng hoàng đế. Bạn có thể liên tưởng đến “Lyđia, quê ở Thiatirơ, buôn hàng sắc tía” (Cong Cv 16:14) đã tin Chúa khi Phao lô rao giảng Phúc âm ở thành Phi líp.
1. Trong sổ tay của bạn hãy mô tả vắn tắt địa điểm của thàùnh phố Thiatirơ và những sự kiện về lịch sử, địa lý, và kinh tế liên quan đến thành phố.
Câu 18 cho chúng ta ba đặc tính nữa về Cứu Chúa chúng ta. Trước hết, đây là trường hợp duy nhất trong sách Khải huyền nơi Chúa Jesus được gọi là Con Đức Chúa Trời. Đặc ân của chúng ta là thờ phượng Ngài vì Ngài là Đấng nào. Thứ hai, con mắt của Ngài như ngọn lửa có thể nhìn thấy suốt qua diện mạo bên ngoài của chúng ta vào lòng của chúng ta. Đôi mắt ấy cũng chiếu sự giận dữ khi có tội lỗi trắng trợn. Thứ ba, chơn của Ngài như đồng sáng sẽ giày đạp mọi kẻ thù của Ngài.
2. Ba đặc tính của Chúa Jesus được nêu lên trong câu 18 là gì?
........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Chúa chúng ta chỉ bốn điều mà Ngài chấp nhận trong Hội Thánh tại Thiatirơ. Nên nhớ rằng Ngài cũng chấp nhận những điều tương tự như thế khi Ngài tìm thấy những điều đó trong chúng ta. Trong nguyên bản, Chúa Jesus đặc biệt đề cập đến chữ công việc 2 lần: đầu câu 1 lần và cuối câu 1 lần. Mặc dù đây là lãnh vực được chấp nhận, nhưng sự ám chỉ có thể nói rằng Hội Thánh nầy lệ thuộc quá nhiều vào việc làm. Như chúng ta đã ghi nhận ở trên, chúng ta được cứu không do việc làm; chúng ta chẳng bao giờ được hưởng cứu rỗi do công đức riêng. Hơn nữa, công việc không thể nào thay thế cho tình yêu đối với Chúa và trung thành với mục đích của Ngài.
3. Trình bày bốn điều đưa ra trong câu 19 mà Chúa Jesus chấp nhận tại Hội Thánh ở Thiatirơ.
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Như bạn đọc trong KhKh 2:20, bạn có thể nhớ lại những điều chính mà Chúa Jesus kết án về Hội Thánh tại Thiatirơ. Chúng ta biết rằng có một phụ nữ ngoại quốc là Giêsabên, vốn là nhân vật nổi bật trong sự phát huy việc thờ hình tượng trong Ysơraên, lý do ấy là khi Aháp, vua Ysơraên, cưới bà nầy đã bắt đầu hầu việc và thờ phượng Baanh (IVua 1V 16:29-34). Bắt đầu khoảng năm 600 S. C. hội Thánh bắt đầu xử dụng hình tượng, thờ phượng bà Mari và các thánh, và xem những văn phẩm ngoại Kinh Thánh cũng có uy quyền như Kinh Thánh. Như vậy, Hội Thánh nầy đã bắt đầu chứng tỏ những đặc tính khoan dung nhiều đến nỗi chẳng cần gì đến sự giúp đỡ của Kinh Thánh cho đời sống thuộc linh của tín hữu. Những đặc tính nầy sẽ tồn tại suốt trong lịch sử Hội Thánh cho đến khi bước vào Cơn Đại Nạn.
Hội Thánh trong thời kỳ nầy trải qua một thời đại xuống dốc sâu về mặt thuộc linh. Nó thử kết hợp đức tin Cơ Đốc với triết lý ngoại giáo và những hành vi của tôn giáo trần gian. Sự nổi bật của Đấng Christ phục sinh vốn mang đặc tính của Hội Thánh thời các sứ đồ đã mở đường cho sự nổi bật của mẹ Chúa Jesus. Người ta có khuynh hướng đưa bà lên ngang hàng với Đức Chúa Trời, và vai trò của bà làm người trung bảo của con người với Đức Chúa Trời trở thành nổi bật trong sự dạy dỗ của Hội Thánh thời Trung cổ. Những hình tượng, các thánh tích, và những giáo lý của con người vốn bào vào Hội Thánh là những dấu hiệu của sự thờ hình tượng thuộc linh. Hội Thánh không còn có sức mạnh của sự vui mừng của tín hữu khi họ lấy mọi vật làm của chung ở ngày Ngũ Tuần (Cong Cv 2:44).
Tuy nhiên, nhìn gần hơn về nan đề đặc biệt của Hội Thánh tại Thiatirơ, chúng ta thấy rằng Hội Thánh đã dung thứ cho một nữ tiên tri giả, mà Giêsabên là khuôn mẫu đầu tiên. Hội Thánh đầu tiên thật đã quen với sự dạy dỗ được cảm thúc qua việc nói tiên tri, và chức vụ tiên tri được tôn trọng ( ICo1Cr 12:14 và Eph Ep 4:11). Thật vậy, trước khi Tân Ước xuất hiện, những gì sứ đồ và tiên tri truyền đạt sự mặc khải về lẽ thật thiên thượng ( 3:5). Tuy nhiên, những nguyên tắc nghiêm khắc được đưa ra để điều chỉnh những ân tú thuộc linh, và Hội Thánh được động viên phải thử linh sau khi lời tiên tri được nói ra (IGi1Ga 4:1-3). Tuy nhiên, Thiatirơ đã có một nữ tiên tri giả mà những thành viên của Hội Thánh đã công nhận, nhưng họ đã không mạnh tay có hành động chống lại bà ta (câ 20-27). Dù bà ta là mối đe dọa cho sự sống động thuộc linh của Hội Thánh qua việc công khai chủ trương sự gian dâm và hình tượng, nhưng bà ta vẫn được phép sống chung trong Hội Thánh với những tín hữu thật. Chúa Jesus nhìn thấy người đàn bà nầy là một bịnh truyền nhiễm, đe dọa cho sự sống của toàn thể Hội Thánh. Cần phải có sự chữa trị tận gốc.
Lời cảnh cáo của Phao lô “một ít men làm dậy đống bột” ( GaGl 5:9) đúng vào trường hợp nầy. Đã cảnh cáo - mà người đàn bà nầy chẳng quan tâm - và không quyết định thay đổi, nên Chúa Jesus phán, Ngài sẽ trừng phạt nó nặng nề ( câu 22-23). Những người chấp nhận giáo lý gian ác của nó, trở thành con cái của nó sẽ bị giết. Bấy giờ, khi những tín hữu của những Hội Thánh khác nhìn thấy sự trừng phạt nầy, họ sẽ biết có sự báo trả thiên thượng Đức Chúa Trời không dung thứ cho việc xem nhẹ tội lỗi.
4. Trình bày hai điều chính mà Chúa Jesus đã quở trách trong Hội Thánh tại Bẹtgăm và một lần nữa Ngài không chấp nhận (câu 20) trong Hội Thánh tại Thiatirơ.
......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
5. Trong những câu 24-25 Chúa Jesus gởi cho một nhóm người không liên quan đến những giáo lý của Giêsabên và cho họ lới khuyên đặc biệt. Lời khuyên ấy là
a. Cố gắng thuyết phục Giêsabên và những người theo nó.
b. Quở trách những giáo lý và hành động của Giêsabên.
c. Cứ giữ vững những điều họ có.
d. Cầu xin sức lực để chống lại những sự dạy dỗ của Giêsabên.
Những tín hữu của Thiatirơ là những người không chịu ảnh hưởng những sự dạy dỗ giả dối được khuyến khích bền đỗ - giữ vững vàng đức tin của họ (câu 24-25). Những người bền đỗ cho đến cuối cùng những Cơ Đốc Nhân đắc thắng được hứa ban sự đồng trị với Đấng Christ trên các dân (câu 26). Họ cũng được hứa ban cho “ngôi sao mai” (câu 28) có thể ám chỉ về lời hứa được vinh hiển đang chờ đợi người đắc thắng (xem DaDn 12:3) hoặc đến nơi nổi bật trong sự vinh hiển ( Giop G 38:7).
6. Khoanh tròn những mẫu tự ở trước những câu ĐÚNG nói về những sự kiện mang đặc điểm của Hội Thánh tại Thiatirơ
a. Thiatirơ đầu tiên nổi tiếng là trung tâm chính trị và tôn giáo.
b. Kỹ nghệ của Thiatirơ dựa trên nghành nhuộm màu tía và buôn bán sắc tía.
c. Những tín hữu ở Thiatirơ nổi tiếng về những công việc yêu thương, đức tin, sự phục dịch và sự nhận nại.
d. Những nan đề của Thiatirơ mà Chúa quở trách ấy là sự dung túng cho kẻ ác.
e. Nan đề Giêsabên trong Hội Thánh dấy lên từ sự kiện là bà ta là nữ tiên tri, và Kinh Thánh không cho phép phụ nữ nói tiên tiên tri.
f. Tội lỗi vô luân về tính dục (gian dâm) và thờ hình tượng mà Chúa cảnh cáo Hội Thánh Thiatirơ thì không có trong những Hội Thánh khác.
g. Trong hệ thống của chúng ta trong việc nhận diện trong bảy Hội Thánh với một thời kỳ trong lịch sữ Hội Thánh, chúng ta tin rằng Thiatirơ tiêu biểu cho những những đặc tính của Hội Thánh từ năm 600 S.C. cho đến Cơn Đại Nạn.
Những đặc tính của Hội Thánh nầy giống như những đặc tính tồn tại trong Hội Thánh từ khoảng năm 600 S. C. trở đi. Nghĩa là Hội Thánh nói chung đã khoang dung quá nhiều đến nỗi sự dạy dỗ của Kinh Thánh và sự dạy dỗ thuộc linh không mang lại lợi ích, và những đặc điểm nầy sẽ mang tính chất là “Hội Thánh hữu danh vô thực” cho đến Cơn Đại Nạn.
Là bài tập không bắt buộc, bạn có thể ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời trong phần về Hội Thánh Thiatirơ nầy, và xử dụng tài liệu để làm bài giảng hay bài học Kinh Thánh về thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh ở Thiatirơ.
THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH TẠI SẠTĐE.
KhKh 3:1-6.
Thành phố Sạtđe được xây dựng trên một ngọn đồi cao hơn những đồng bằng chung quanh trên 1000 feet ( 304,8). Công dân ở đây đã có cảm nghĩ mình được an ninh vững chắc vì họ tin rằng kẻ thù không thể nào đánh thắng được họ. Sạtđe được coi là một thành phố giàu có, nổi tiếng về nữ trang, tơ lụa và thuốc nhuộm. Một đền thờ dâng cho nữ thần Aïttêmít tọa lạc tại đây làm cho thành phố trở nên trung tâm tôn giáo ngoại giáo mạnh mẽ. Hơn nữa, thành phố nằm trên con đường buôn bán quan trọng xuống thung lũng Hermus. Satđe ít có quyền hạn mạnh mẽ dưới thời cai trị của đế quốc La mã hơn trước kia.
7. Trong sổ tay của bạn hãy viết ra năm chi tiết về bối cảnh lịch sử của Sạtđe được đề cập ở đoạn trên.
3:1 cho chúng ta hai đặc tính mà Chúa bày tỏ chính mình Ngài cho Hội Thánh Sạtđe. Ngài có bảy linh của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao. Những điều nầy bày ỏ rằng sự khôn ngoan trọn vẹn của Ngài và sự toàn quyền kiểm soát những sứ giả hay những nhà lãnh đạo. Chúa Jesus biết những hoạt động của Hội Thánh. Ngài không bao giờ bị sai lạc bởi sự xưng nhận hay cái gọi là sự tiếng tăm của Hội Thánh. Như chúng ta đã thấy trong 1:20, những ngôi sao tiêu biểu cho những sứ giả, hay những nhà lãnh đạo cho bảy Hội Thánh. vì những người lãnh đạo trong tay Đấng Christ, nên chúng ta biết rằng họ phải chịu trách nhiệm với Ngài và sự lãnh đạo của họ có thẩm quyền.
8. Hai đặc tính của Chúa Jesus được bày tỏ cho Hội Thánh tại Sạtđe gợi ý điều gì?
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Trong phần cuối của câu một chúng ta thấy điều Chúa kết án trong Hội Thánh tại Sạtđe. Hội Thánh nầy được tôn trọng trước mặt mọi người. Thật vậy, nó có thể có một mẫu mực tổ chức tốt và chương trình tốt, nhưng danh tiếng tốt của Hội Thánh trước mặt con người nào có đáng gì đâu! Điều qúi báu nhất ấy là Chúa nghĩa gì về chúng ta. Nhiều Hội Thánh được sinh ra trong một cuộc vận hành lớn của Thánh Linh Đức Chúa Trời bây giờ chỉ là cơ quan xã hội từ thiện. Giúp đỡ người ta về mặt vật chất là điều tốt, nhưng đưa một người đến với Chúa để được sự cứu rỗi - biết Chúa cách cá nhân là điều quan trọng gấp bội. Hãy chú ý đến năm động từ mà Chúa dùng trong câu 2 và 3 để truyền lệnh cho Hội Thánh phải từ bỏ những gì Ngài không chấp nhậïn. Qua Thánh Linh, Chúa Jesus đang phán với chúng ta trong lệnh truyền tương tự khi Ngài nhìn thấy trong chúng ta những gì Ngài đã không chấp nhận trong Hội Thánh tại Sạtđe.
Phần cuối của câu 3 vang dội một lời cảnh cáo lớn cho hầu hết dân sự tại Hội Thánh Sạtđe vì họ không còn chấp nhận Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời nữa. Tóm lại, lời cảnh cáo không nhầm lẫn của Chúa về Hội Thánh nầy khuyên tất cả tín hữu tại Hội Thánh Sạtđe. Cửa thương xót vẫn còn mở, nhưng họ phải đáp ứng trong khi món qùa đang dở ra, những người coi thường sẽ bị hư mất đời đời. Nếu một người không chấp nhận lẽ thật của Kinh Thánh vốn cho chúng ta biết Ngài sắp trở lại, thì người chẳng biết chi về thì giờ Ngài trở lại. Chúa Jesus cho biết rằng chẳng người nào, hay thiên sứ biết ngày hay biết giờ: “nhưng về ngày và giờ đó chẳng ai biết... duy Cha biết mà thôi” (Mat Mt 24:36). Tuy nhiên, chúng ta có thể nói được những điều đang xảy ra trong thế giới chúng ta- những dấu hiệu về thời kỳ cho biết thời gian đó gần rồi. “Nhưng trong ngày Nôê thể nào, thì sự hiện đến của Con Người cũng sẽ thể ấy” (24:37).
9. Dựa vào phần thảo luận ở hai đoạn trên, tình trạng khiến Chúa không chấp nhận trong câu 1 là.
a. Không quan tâm đến vấn đề xã hội.
b. Thiếu tinh thần nhân bản.
c. Từ chối việc thực hiện những hoạt động thuộc linh.
d. Sự chết về phần thuộc linh.
Như chúng ta đã trình bày ở trên, nhiều Hội Thánh được Thánh Linh sinh ra trong thời Cải chánh đã rơi đi khỏi Cơ Đốc giáo của Kinh Thánh. Dù vậy, ngày nay vẫn còn một số người trong từng Hội Thánh của giáo phái được Thánh Linh sanh ra đang rao giảng Phúc âm của Christ. Cũng vậy, vẫn còn một số ít người trong Hội Thánh tại Sạtđe không từ bỏ Đức Chúa Trời. Những người nầy được Chúa của Hội Thánh công nhận rất đặc biệt (câu 4). Họ được mặt áo trắng, tượng trưng cho sự trong trắng. Hơn nữa, tên của họ vẫn còn đời đời ở trong sách sự sống và được thừa nhận trước mặt Đức Chúa Trời cùng những thiên sứ của Ngài.
10. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Người Sạtđe đã nghĩ rằng họ được an ninh, không bị kẻ thù có thể tấn công họ.
b. Chúa Jesus được bày tỏ cho thành phố nầy là Đấng “có bảy Linh của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao”.
c. Hội Thánh tại Sạtđe được chọn ra vì vài điểm mà Chúa của Hội Thánh cảm thấy đáng được khen ngợi.
d. Nan đề với Hội Thánh Sạtđe nằm ở chỗ là Hội Thánh “xuất hiện như điều mà Hội Thánh thực sự không có”.
e. Ở giữa tình trạng chết về thuộc linh nói chung, vài tín hữu ở Sạtđe sống một cuộc đời trong sạch và tận hiến cho Chúa Jesus Christ.
Sự bội đạo trong Hội Thánh Sạtđe vốn được mô tả trong thơ gởi cho Hội Thánh nầy dường như tương ứng với những đặc điểm trong Hội Thánh từ khoảng năm 1517 S.C. và vào Cơn Đại Nạn. Tại thời điểm lịch sử được ghi rõ niên lịch ngày bắt đầu, có một sự thức tỉnh thuộc linh rộng rãi, nhưng chẳng bao lâu sau đó nó bị trôi dạt vào sự chính thống chết ngắt. Hội Thánh, mặc dù vẫn còn mang vài đặc tính trên, nhưng được thức tỉnh khỏi giấc ngủ của mình do phong trào giáo sĩ hiện thời vốn đạt được mạnh mẽ trong thế kỷ thứ mười tám (thập niên 1800). Những đặc tính của những thời kỳ Hội Thánh khác nhau mà chúng ta đã thảo luận dường như chứng tỏ những nguyên tắc của sự sống thuộc linh là khó có hể xác định chính xác thời điểm bắt đầu hay kết thúc.
Vì thế sự mất lòng kính mến ban đầu của Eâphêsô, sự thỏa hiệp của Bẹtgăm, sự dung thứ điều ác được tìm thấy trong Thiatirơ, và sự chết cứng về mặt thuộc linh của Sạtđe vẫn là những nan đề mà Hội Thánh phải đối đầu cho đến khi được cất lên.
Làm bài tập tự chọn không bắt buộc, bạn hãy ôn lại những câu hỏi và câu trả lời trong phần vềø Hội Thánh Sạtđe và sử dụng tài liệu nầy để làm dàn ý bài giảng hay dàn ý bài học Kinh Thánh của bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Sãtđe.
THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH TẠI PHILAĐENPHI.
KhKh 3:7-13.
Thành phố Philađenphi được vua của Bẹtgăm, Attalus Philadelphus xây dựng và mang tên của ông. Đó là nơi thường bị động đất, và thành phố bị phá hủy hai lần trong thế kỷ thứ nhất sau Chúa. Đó là trung tâm thờ phượng ngoại giáo và nổi tiếng là “Tiểu Athên”. Điều nầy chứng tỏ rằng triết học, tôn giáo và sự dâm loạn vô luân của thành phố lớn Athên hiện diện tại Philađenphi.
11. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê năm chi tiết về bối cảnh lịch sử của Philađenphi mà Giăng viết thơ cho Hội Thánh tại đấy, dựa vào đoạn văn trên.
Trong câu 7, chúng ta thấy những đặc tính Chúa đã bày tỏ chính Ngài cho Hội Thánh nầy. Đoạn Kinh Thánh trong EsIs 22:21-22 soi sáng cho câu nầy. Đoạn nầy được những học giả Do thái xem như là lời tiên tri về Đấng Mêsi, Đấng sẽ có sự vinh hiển (ngai) và chìa khóa (uy quyền) của nhà Đavít.
12. Những đặc tính của Chúa Jesus trong thơ của giăng gởi cho Hội Thánh tại Philađenphi được ghi ra trong câu 7 là gì?
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
Cửa mở ra trước mặt Hội Thánh tại Philađenphi cho chúng ta biết rằng đó là cơ hội truyền bá Phúc âm (câu 8). Có nhiều cánh cửa khác nhau đang mở ra ho Hội Thánh chúng ta ngày nay. Hãy liệt kê trong sổ tay của bạn những cánh cửa mà bạn có thể nghĩ đến. Sau đó hãy tự hỏi, “Tôi đang làm gì để lợi dụng cơ hội những cửa đang mở nầy để phục vụ Chúa Jesus?” Bạn cũng có thể xem ICo1Cr 16:9, IICo 2Cr 2:12 để có thêm ý tưởng về “cánh cửa mở”.
Phần thứ hai của câu 8 tiết lộ điều Chúa Jesus khen trong Hội Thánh tại Philađenphi. Ngài khen Hội Thánh nầy vì có “ít năng lực”. EsIs 40:28-31 giải thích thế nào dân sự của Đức Chúa Trời của mọi thời đại đã kinh nghiệm sự đắc thắng thuộc linh bằng cách lệ thuộc chủ yếu vào sức lực Đức Chúa Trời ban cho họ hơn là dựa vào sức lực của mình. Mặc dù những tín hữu ở Philađenphi bày tỏ sức mạnh bằng việc công nhận và tiếp thu lời của Chúa Jesus và giữ lời của Ngài vốn y như vậy, nhưng họ lệ thuộc chủ yếu vào sức lực thiên thượng để duy trì thái độ của mình đối với lời của Chúa Jesus và đáng nhận được lời khen của Chúa ở đây. Giống như Phao lô, chúng ta có thể “làm được mọi sự qua Christ” (Phi Pl 4:13, KJV) nếu chúng ta lệ thuộc vào sức của Christ trong mức độ Phao lô đã làm.
13. Trình bày ba điều trong phần thứ hai của câu 8 mà Chúa Jesus khen Hội Thánh ở Philađenphi.
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
Không có điều nào Chúa Jesus quở trách tại Hội Thánh Philađenphi cả. Chữ Philađenphi” có nghĩa là “tình yêu anh em”. Đây là lời mô tả thích hợp cho một Hội Thánh gồm có những những người kiên nhẫn, trung thành với sự kêu gọi của mình và siêng năng phục vụ.
Câu 10, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn trong Bài 8, khen ngợi những tín hữu Philađenphi về sự vâng lời trung tín của họ dưới sự thử thách; là giờ sắp đến cho khắp thiên hạ (Cơn đại nạn hầu đến cho toàn thế giới).
14. Trong sổ tay của bạn, hãy nói ý nghĩa của lời hứa đặc biệt trong câu 10, và lời khuyên đặt biệt trong câu 11.
15. Trong sổ tay của bạn, hãy ghi ra bốn điều Chúa Jesus hứa trong câu 12 mà Ngài sẽ làm cho những người đắc thắng trong Hội Thánh ở Philađenphi.
16. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG về những nét quan trọng của Hội Thánh tại Philađenphi.
a. Philađenphi là một thành phố vốn bị những cơn động đất chính.
b. “Cửa mở” trước mặt những tín hữu Philađenphi có thể ngụ ý về cơ hội công bố Phúc âm.
c. Hội Thánh nầy được khen ngợi vì sức lực vĩ đại và sự chính thống cứng ngắt của mình.
d. Người Phlađenphi được khen ngợi chủ yếu vì “sự ít năng lực” của họ.
e. Sự kiên nhẫn chịu đựng được tín hữu Philađenphi bày tỏ sẽ được thưởng bằng việc được gìn giữ khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ.
Lời hứa đặc biệt của Chúa Jesus trong câu 10 cho Hội Thánh tại Philađenphi là lời khuyên đặc biệt của Ngài trong câu 11 dường như gợi ý rằng Hội Thánh nầy tiêu biểu cho Hội Thánh thật tin Kinh Thánh ở phần cuối của kỷ nguyên Hội Thánh vốn sẵn sàng đón Chúa trở lại.
Là bài tập tự chọn không bắt buộc, bạn hãy ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời trong phần về Hội Thánh Philađenphi và xủ dụng tài liệu nầy để làm bài giảng hay dàn ý học Kinh Thánh về bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Philađenphi.
THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH TẠI LAOĐIXÊ.
KhKh 3:14-22.
Thành phố Laođixê được đặt theo tên của vợ của vua Antiochus II, là Laođixê. Đây là một trung tâm thương mại phồn thịnh. Thành phố nầy nổi tiếng về thuốc men, dầu nhỏ lỗ tai, và thuốc xức mắt. Vì Laođixê không có nguồn cung cấp nước, nên nước từ suối nước nóng cách đó sáu dặm (khoảng 9 km) về phía nam của thành phố được mang qua những ống nước lớn vào thành phố để cung cấp cho cộng đồng. Khi nước chảy về thành phố, thì nó hâm hẩm rồi. Người Laođixê dễ nhận diện về phản ứng của Chúa đối với tình trạng hâm hẩm của họ, vì họ biết đối với người khát nước, nước hâm hẩm lợm giọng như thế nào. Khi thành phố nầy bị một cơn động đất phá hoại vào năm 60 S.C. những người lãnh đạo chỉ nói lời sau để từ chối sự giúp đỡ của người Lamã, họ nóiïõ nói. “Ta giàu rồi ta không cần chi nữa”.
17. Trong sổ tay của bạn, hãy ghi ra năm chi tiết về bối cảnh lịch sử được đề cập ở đoạn trên về thành phố Laođixê.
Đặc tính đầu tiên trong ba đặc tính mà Giăng qui cho Chúa Jesus trong câu 14 ấy là Ngài là Đấng Amen. Amen có nghĩa là “sự thật” hay “thật vậy”. Sự nhấn mạnh dường như nói về sự chính xác của sự phán đoán của Chúa Jesus. Một học giả Kinh Thánh nói rằng Amen là tước hiệu của Christ “biểu lộ sự tối cao của Ngài và sự chắc chắn hoàn thành lời hứa của Ngài”.
18. Ba đặc tính của Chúa Jesus mà thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Laođixê được nêu trong câu 14 là gì?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Chúa Jesus chẳng khen điều gì ở Hội Thánh tại Laođixê cả. Chữ “ Laođixê” có nghĩa là “sự nhận định phổ biến” (popular judgment) hay “sự chấp nhận phổ biến” (popular approval). Trong Hội Thánh, loại chấp nhận nầy thường bày tỏ ý muốn của con người hơn là ý muốn của Đức Chúa Trời. Nó ám chỉ rằng những mục sư hay những nhà lãnh đạo thuộc linh xem việc làm đẹp lòng người ta hơn là làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Hãy quan sát cách đặc biệt tình trạng trong câu 15-19 mà Chúa Jesus kết án ở Laođixê. Những thành viên của Hội Thánh chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng trong tình trạng thuộc linh của mình. Lạnh có nghĩa là “xa cách Đức Chúa Trời nhưng biết được nhu cầu cần thông suốt đối với Ngài”. Hâm hẩm gợi ý “xa cách Đức Chúa Trời mà lại không ý thức điều đó”. Những tín hữu Laođixê đuợc Chúa khuyên phải mua “vàng thử lửa” (câu 18), ám chỉ về sự giàu có thuộc linh mà Cơ Đốc Nhân nhận được qua sự thử thách và trắc nghiệm đức tin của mình. Giop G 23:10 và IPhi 1Pr 1:7 dạy chúng ta rằng những sự thử nghiệm và chịu khổ như thế phát sinh sự trong sạch trong dân sự Đức Chúa Trời giống như vàng thử lửa. Hiển nhiên, đây là những gì người Laođixê hết sức cần. Lời Chúa Jesus ở câu 19, “ Phàm kẻ ta yêu mến thì ta bẻ trách sửa trị”, là bằng cớ cho thấy Đức Chúa Trời được nhận được phước hạnh trong nghịch cảnh, và cũng cho thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến sự trưởng thành và phát triển đời sống thuộc linh của chúng ta. Nhưng tiếp sau câu nầy là lời khuyên cho thấy người Laođixê cần phải thực hành lời khuyên của Ngài: “ vậy, hãy sốt sắng và ăn năn đi”.
19. Trong những câu 15-19 điều Chúa Jesus kết án trong Hội Thánh tại Laođixê ấy là tín hữu.
a. Không biết nhu cầu về sự giàu có thuộc linh của họ.
b. Thiếu sự nhận biết về nhu cầu về sự giàu có thuộc linh của họ.
c. Rất giàu về vật chất.
d. Nghèo khổ nhiều về phương diện vật chất.
Lời của Chúa ở phần đầu của câu 20, “Nầy Ta đứng ngoài cửa mà gõ” cho chúng ta thất rằng Ngài ở ngoài cửa của Hội Thánh tại Laođixê. Ngài không ở trong Hội Thánh gì cả. Tác giaả của bạn tin rằng Hội Thánh nầy tiêu biểu cho nhiều Hội Thánh giả của thời đại cuối cùng nầy- những Hội Thánh công bố mình là giáo hội Cơ Đốc nhưng chẳng có mối quan hệ gì với Chúa Jesus Christ. Những sự dạy dỗ của họ đến từ ý kiến của con người - không phải từ Lời của Đức Chúa Trời. Nhiều giáo hội phủ nhận thần tính của Chúa Jesus. Ngài vẫ đang gõ cửa, vì Ngài muốn tất cả mọi người được cứu ( IIPhi 2Pr 3:9). Trong phần cuối của câu 20, Chúa Jesus có lời hứa đặc biệt cho những cá nhân trong Hội Thánh ở Laođixê. “Nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho, thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bửa tối với người, và người với Ta”. Đây là bửa tiệc thuộc linh sẽ thỏa mãn sự khao khát của mọi tấm lòng tìm kiếm.
Đức Chúa Trời thỏa thích nơi tình yêu và sự thông công của con người. Kinh Thánh chủ yếu là câu chuyện của Đức Chúa Trời tìm kiếm con người ( LuLc 19:10). Trong SaSt 3:9, Đức Chúa Trời gọi con người,”Ngươi ở đâu?” Trong Giăng đoạn 4, trong câu chuyện của Chúa Jesus và người phụ nữ Samari, Chúa Jesus hỏi khi Ngài đến gần bà ta, “Ngươi cho Ta uống được không?” (câu 7). ngài không tìm nước ở trong cái giếng ; Ngài tìm sự đáp ứng vốn chứng tỏ tình yêu và sự thông công thuộc linh. Điều nầy giải thích tại sao Chúa Jesus đã không muốn ăn khi những môn đồ đi mua thức ăn trở về. Đây là lý do Ngài phán: “Ta có đồ ăn để ăn mà các ngươi không biết” (câu 32). Ngài cần tình yêu và sự thông công của bạn giống như thế. Mối quan hệ yêu thương thuộc linh là bửa tiệc cho chúng ta và Ngài nữa.
20. Trong sổ tay của bạn, hãy đưa ra lời khuyên đặc biệt mà Chúa Jesus ban phát ở phần cuối cùng câu 19 cho Hội Thánh hâm hẩm ở Laođixê, và lời hứa đặc biệt Ngài sẽ làm cho những cá nhân ở phần cuối của câu 20.
21. Chúa Jesus hứa điều gì trong câu 21 cho những ngươòi đắc thắng ở Hội Thánh Laođixê? Trong ánh sáng của những gì được trình bày trước đây ở trong bài học nầy, lời hứa nầy có nghĩa là?
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
22. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG nhận diện những đặc điểm có ý nghĩa liên quan đến Hội Thánh ở Laođixê.
a. Người Laođixê xử dụng nước hâm hẩm được mang vào thành phốù qua những ống nước lớn từ một nguồn nước ở bên ngoài thành phố.
b. Từ những thái độ của những tín hữu ở Laođixê chúng ta có thể phỏng đoán rằng họ rất tự mãn, chưa trưởng thành về mặt thuộc linh, và đáng buồn và thiếu khải tượng.
c. Laođxê, gống như ngững Hội Thánh khác, cũng có những điểm tốt và những điểm xấu, đáng được khen ngợi cũng như đáng bị quở trách.
d. Laođixê là hình ảnh của lịch sử Hội Thánh thời kỳ cuối cùng và liên quan đến sự bội đạo tột điểm.
Làm bài làm tự chọn không bắt buộc, bạn hãy ôn lại những câu hỏi và câu trả lời trong phần về Hội Thánh Laođixê và xử dụng tài liệu nầy để làm dàn ý bài giảng hoặc bài học Kinh Thánh về bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Laođixê.
Bài Tập Trắc Nghiệm
Chúng tôi gồm cả chương 6 và 7 trong phần Bài Tập Trắc Nghiệm nầy. Bạn có thể khảo sát những mục tiêu và Bài Tập Trắc Nghiệm của Bài 6 và ôn những mục tiêu của Bài học nầy trước khi bạn làm bài.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Trả lòi những câu hỏi nầy cách vắn tắt bằng lời riêng của bạn. Viết câu trả lời vào khoảng trống được chừa dưới đây.
1. Trình bày mục đích ba mặc của bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh ở Khải huyền đoạn 2 và 3.
........................................................................................................................................
2. Hãy nói lên hai điều quan trọng mà những bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong Khải huyền đoạn 2 và 3 bày tỏ có liên quan đến Chúa Jesus, nguồn gốc chủ yếu của những bức thơ.
........................................................................................................................................
3. Viết thuộc lòng tên của bảy Hội Thánh ghi nhận trong Khải huyền đoạn 2 và đoạn 3 theo thứ tự mà Giăng đã ghi ra. Đồng thời, với mỗi Hội Thánh hãy liệt kê ít nhất là một trong những đặc điểm chính yếu của Hội Thánh ấy.
................................................................................................................................................................................................................................................................................
XẾP ĐẶT CHO PHÙ HỢP. Theo những lời chỉ dẫn đặc biệt để xếp đặt cho phù hợp những câu dưới đây.
4. Hãy xếp mỗi thơ gởi cho Hội Thánh phù hợp với đặc tính của ChúaJesus được đề cập hoặc nghĩa đen, hoặc nghĩa bóng.
....a. Chúa Jesus phục sinh.
....b. Chúa Jesus có và xử dụng Lời Đức Chúa Trời.
....c. Chúa Jesus bước đi giữa những Hội Thánh.
....d. Chúa Jesus ban Thánh Linh cho những tín hũu.
....e. Chúa Jesus có đôi mắt nhìn thấy tất cả.
....f. Chúa Jesus là Đấng Amen.
....g. Chúa Jesus là Đấng Mêsi.
5. Hãy xếp số của mỗi bức thơ với vấn đề, đặc tính hay niềm tin có liên quan đến thơ đó.
....a. Đền thờ vĩ đại của Zeus.
....b. Tin rằng tượng Aïttêmít từ trời giáng xuống.
....c. Nổi tiếng là đồ trang sức của Asi.
....d. Nước được cung cấp qua ống dẫn nước lớn.
....e. Nổi tiếng là “Tiểu Athên”.
....f. Tọa lạc trên đồi cao.
....g. Chế tạo vũ khí, thuốc nhuộm và vải vóc.
6. Hãy xếp số của bức thơ với mỗi điều mà Chúa Jesus không chấp nhận hoặc nghĩa đen, hoặc nghĩa bóng (Ghi chú: Bạn phải viết hai trong những con số của cột phải vào một trong những khoảng trống của 6 chỗ ở cột trái).
....a. Sự dạy dỗ của Giêsabên về thờ hình tượng và vô luân tình dục.
....b. Tình trạng chết thuộc linh ở hầu hết mọi người.
....c. Không có gì cả.
....d. Thiếu sự nhận biết về nhu cầu giàu có thuộc linh.
....e. Mất lòng kính mến ban đầu.
....f. Sự dạy dỗ của Balaam về thờ hình tượng và vô luân tình dục.
7. Hãy xếp những bức thơ thích hợp với điều Chúa Jesus chấp nhận hoặc nghĩa đen hay nghĩa bóng.
....a. Không điều nào được khen.
....b. Giữ Lời của Chúa.
....c. Mặc áo không dơ bẩn hay sự trung tín của một số người.
....d. Sự dâng hiến phục vụ.
....e. Giữ đức tin nơi Ngài qua sự thử thách lớn.
....f. Sự giàu có thuộc linh ở giữa sự nghèo khổ về vật chất.
....g. Thử những lời công bố giả dối.
8. Hãy xếp mỗi bức thơ với mỗi lời hứa mà Chúa Jesus hứa cho những người đắc thắng hoặc nghĩa đen hay nghĩa bóng.
....a. Chúa Jesus chẳng bao giờ xóa tên họ khỏi sách sự sống.
....b. Chúa Jesus sẽ ban cho họ uy quyền trên các nước.
....c. Chúa Jesus sẽ cho họ được quyền ngồi với Ngài trên Ngai của Ngài.
....d. Chúa Jesus sẽ làm cho họ thành những cây cột trong đền thờ của Đức Chúa Trời của Ngài.
....e. Chúa Jesus sẽ cho quyền được ăn trái cây sự sống.
....f. chúa Jesus hứa rằng họ sẽ không bị chết đời đời làm hại.
....g. Chúa Jesus sẽ ban cho họ thực phẩm thuộc linh và được tẩy sạch khỏi lỗi lầm.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. 1) Thiatirơ có lịch sử về quân sự.
2) Kỷ nghệ của thành phố đó nổi tiếng.
3) Thành phố đó có những tập đoàn buôn bán.
4) Thuốc nhuộm và vải vóc là sản phẩm đứng đầu.
5) Lyđia, được Phao lô dẫn dắt tin Chúa, xuất thân từ thành phố này.
2. Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời. Ngài có đôi mắt nhìn thấy mọi sự và Ngài chà
đạp những kẻ thù nghịch Ngài dưới chơn.
3. Tình yêu, đức tin, sự phục vụ và sự kiên nhẫn.
4. Ngài không chấp nhận sự vô luân tình dục và thờ hình tượng.
5. c. Cứ giữ vững những điều họ có.
6. a. Sai.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Sai.
f. Sai.
g. Đúng.
7. Thành phố Sạtđe:
1) Tọa lạc trên ngọn đồi cao.
2) Nằn trên con đường thương mại quan trọng.
3) Một thành lũy kiên cố.
4) Giàu có.
5) Ít quyền hành dưới thời đế quốc Lamã hơn trước kia.
8. Những điều đó gợi ý rằng Chúa Jesus có sự hiểu biết trọn vẹn về những hành động của Hội Thánh. Những mục sư chịu trách nhiệm với Ngài và sự lãnh đạo của họ có quyền.
9. d. Sự chết về mặt thuộc linh.
10. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai.
d. Đúng.
e. Đúng.
11. Thành phố Philađenphi:
1) Được vua của Bẹrgăm xây dựng.
2) Được đặt tên của người xây dựng.
3) Là nơi có động đất.
4) Là trung tâm thờ ngoại giáo.
5) Được gọi là “Tiểu Athên”.
12. Chúa Jesus là:
1) Đấng Thánh và chơn thật.
2) Đấng Mêsi.
3) Đấng có mọi uy quyền năng.
13. Ngài khen:
1) Họ có ít năng lực.
2) Họ đã giữ Lời của Ngài.
3) Họ không chối danh Ngài.
14. Lời hứa đặc biệt: “Ta sẽ... giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ” có thể ám chỉ về việc Hội Thánh được gìn giữ khỏi Cơn Đại Nạn. Lời khuyên của Chúa Jesus ban cho, dường như nghịch lại với bối cảnh của việc Ngài đến mau chóng, hãy ghi nhận điều quan trọng đối với tín hữu và duy trì mối quan hệ với Ngài hầu cho họ có thể đạt được phần thưởng cho sự phục vụ của Ngài.
15. Ngài sẽ:
1) Làm cho họ trở nên rường cột trong đền thờ của Đức Chúa Trời.
2) Ngài lấy danh của Đức Chúa Trời viết lên trên họ.
3) Ngài viết trên họ danh của thành của Đức Chúa Trời.
4) Viết trên họ danh mới của Ngài.
16. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai.
d. Sai.
e. Đúng.
17. Thành phố Laođixê:
1) Được đặt tên theo tên hoàng hậu Laođixê.
2) Giàuu có.
3) Nổi tiếng về thuốc men.
4) Được cung cấp nước qua những ống dẫn nước.
5) Nạn nhân của một cuộc động đất tàn phá.
18. Chúa Jesus là Đấng Amen, trung tín và chứng nhân chân thật, và là Đấng cai trị Công bình Tạo dựng của Đức Chúa Trời.
19. b. Thiếu sự nhận biết về nhu cầu của sự giàu có thuộc linh của họ.
20. Lời khuyên của Ngài là Hãy sốt sắng và ăn năn. Ngài hứa nếu người nào mở lòng mình ra cho Chúa Jesus thì người ấy và Chúa sẽ hưởng một bửa tiệc thuộc linh với nhau. (Hãy chú ý ở đây Chúa Jesus đưa ra lời khuyên theo nghĩa đen, nhưng Ngài cũng ban lời hứa theo nghĩa bóng).
21. Ngài hứa ban cho quyền được ngồi với Chúa Jesus trên Ngai của Ngài. Điều nầy có nghĩa là họ sẽ cai trị với Chúa Jesus và ở dưới quyền của Chúa Jesus trong thời đại Thiên Hi Niên.
22. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai.
d. Đúng.
e. Đúng.


Hội Thánh và Cơn Đại Nạn
Chúng ta đã hoàn tất hai điểm đầu của dàn ý được Chúa Jesus cho biết trong KhKh 1:19. Điểm thứ nhất bạn đã học là trong khải tượng vĩ đại của Giăng về Chúa Jesus Christ Đấng bày tỏ sự vinh hiển và uy nghi của Ngài, liên quan đến “Điều ngươi (Giăng) đã thấy”. Rồi bạn khảo sát những lời nói động viên, lời hứa, lời cảnh cáo, và sự phán xét của Chúa Jesus liên quan đến “Điều hiện có”. Bây giờ chúng ta sẵng sàng qua điểm thứ ba “ Điều sẽ xảy đến” để thấy Đức Chúa Trời hoàn thành kế hoạch của Ngài như thế nào. Bài học nầy giới thiệu quan điểm của nhiều học giả Kinh Thánh về việc Hội Thánh sẽ được giữ khỏi Cơn Đại Nạn. Khải huyền đoạn 4, và những đoạn khác của Kinh Thánh sẽ được thảo luận để ủng hộ cho quan điểm nầy.
Trong Eph Ep 1:9-10 sứ đồ Phao lô cho biết rằng Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ sự màu nhiệm của ý muốn Ngài để mang mọi sự trên trời dưới đất để hợp làm một dưới một Nguyên thủ (cái Đầu) là Đấng Christ. Những biến cố còn lại là những sứ điệp trong sách Khải huyền sẽ giúp đỡ để giải thích thế nào Đức Chúa Trời đã “bày tỏ cho chúng ta” liên quan đến kế hoạch của Ngài sẽ “được hữu hiệu”. Phần còn lại của sách tham khảo tự học nầy sẽ giúp bạn hiểu “việc đem mọi người trên trời và dưới đất hợp làm một dưới... Đấng Christ” sẽ xảy ra như thế nào. Khi bạn nghiên cứu bài nầy, bạn sẽ biết cách chắc chắn hơn rằng Đức Chúa Trời đang nắm trọn quyền kiểm soát vũ trụ của Ngài. nguyện phần học tập nầy sẽ làm cho bạn xác quyết rõ ràng hơn về điều Đức Chúa Jesus Christ muốn mình trở thành và điều Ngài muốn bạn làm trong những giờ chót của thời gian.
Ý Nghĩa Của Cụm Từ “Sau Những Điều Đó”.
Một Cánh Cửa Mở Trên Trời.
Tính Độc Nhất Của Cơn Đại Nạn.
Cách Dùng Của Những Chữ “Hội Thánh” và “Ra Khỏi”.
Sự Hiện Đến Của Chúa Jesus Trong ITe1Tx 4:13-5:11.
Ý Nghĩa Của Những Chữ Liên Quan Đến Sự Tái Lâm Của Chúa Jesus.
Thảo Luận Ba Câu Hỏi Về Thời Kỳ Cuối Cùng.
Đấng Ngăn Trở Sự Bội Đạo và Antichrist.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Xử dụng Khải huyền đoạn 4 và những đoạn khác từ sách Khải huyền, Đaniên, các thơ tín của Phao lô, và Mathiơ để ủng hộ cho quan điểm về sự Cất lên xảy ra trước Cơn Đại Nạn.
• Nhận xét từ Bài Giảng ở trên núi Oâlive về vị trí của những câu hỏi được nêu lên trong Mat Mt 24:3 có ý nghĩa gì trong việc chỉ cho tín hữu biết về sự kíp trở lại của Đấng Christ.
• Hãy bày tỏ bằng đời sống và hành động của mình rằng Chúa Jesus đến rất gấp.
1. Đọc KhKh 4:1-11; Mat Mt 24:1-25-25:13; IITe 2Tx 2:1-12 trước khi bạn nghiên cứu bài học nầy.
2. Nghiên cứu bài học nầy và làm bài tập trắc nghiệm theo tiến trình được đưa ra trong Bài 1
3. Bạn có thể xử dụng Kinh Thánh để trả lời những câu hỏi nghiên cứu và những câu trả lời trong bài tập trắc nghiệm.
4. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để tìm hiểu ý nghĩa của những từ mới đối với bạn.
Aên cắp (thief).
Bảo vệ riêng (selectively protected).
Cất lên (Rapture).
Độc nhất (Uniqueness).
Hạtmaghêđôn (Armagedon).
Kên kên (vultures).
Kết thúc (Consummation).
Ý NGHĨA CỦA CỤM TỪ “SAU CÁC VIỆC NẦY”
KhKh 4:1.
Trong phần dàn ý về sách Khải huyền ở Bài 4, phần IV bàn về những gì xảy ra “Sau các Việc Nầy”. “Sau Các Việc Nầy” là bản dịch sát nghĩa của cụm từ Hy lạp meta tauta. Như vậy phần IV của dàn ý nầy mô tả những điều phải xảy ra sau những điều Giăng thấy, và những điều hiện có. Vì chúng ta tin rằng Bài 6 và Bài 7 mô tả về thời đại Hội Thánh, nên những điều sẽ xuất hiện phải ở sau thời đại Hội Thánh. 4:1 bắt đầu với cụm từ hy lạp được dịch là “Sau Các Việc Nầy” (After these things), và chấm dứt với cụm từ tương tự. Theo quan điểm của chúng tôi việc dùng từ nầy rất quan trọng vì Chúa Jesus đã xử dụng từ nầy trong dàn ý Ngài đưa ra trong 1:19. Hơn nữa trong 4:1, Chúa chúng ta đã dùng chữ “phải” để ám chỉ về sự cần thiết của những điều sẽ xảy ra. Và thời gian của những sẽ xảy ra đó là meta tauta hay sau những biến cố mô tả ở 2:1-3:22
1. Theo phần thảo luận của chúng ta về ý nghĩa của cụm từ Hy lạp meta tauta, thì nó gợi ý.
a. Một dàn ý đặc biệt về những biến cố tương lai.
b. Về điều xảy ra trong thời của Giăng.
c. Về những gì xảy ra sau thời đại Hội Thánh.
d. Những biến cố đặc biệt trong lịch sử Hội Thánh.
MỘT CÁNH CỬA MỞ TRÊN TRỜI.
KhKh 4:2.
Ngoài diễn tiến thời gian chúng ta đã khảo sát ở 4:1, một đề tài khác được giới thiệu ở đây và trong câu sau, chúng ta tin rằng đó là chìa khóa để giải thích những biến cố của thời kỳ cuối cùng. Giăng nhìn thấy một cài cửa mở ra trên trời và nghe tiếng nói mà ông đã nghe lần đầu tiên giống như tiếng kèn (KhKh 1:10-18). Tuy nhiên, lần nầy tiếng nói nầy gọi ông “đi lên” trời. Sau đó Giăng được Thánh Linh đem ông lên khỏi đất qua cánh cửa mở để vào trên trời. Mặc dù cụm từ “tức thì tôi cảm Thánh Linh”, được một số người hiểu rằng đây là việc ám chỉ giăng rơi vào trạng thái xuất thần, nhưng chúng ta cần nhớ rằng vị tiên tri nầy đã ở “trong Thánh Linh” rồi (1:10). Điều rõ ràng ở đây là Giăng được đem lên vì trong câu 2 ông ở “trước... một ngai ở trên trời”. Phần còn lại của Khải huyền đoạn 4 là phần mô tả về cái ngai nầy ở trên trời và những hoạt động liên quan với ngai ấy. Chúng ta sẽ dỡ sang đoạn 4 ở bài học kế tiếp , nhưng để quân bằng bài học nầy chúng ta sẽ thảo luận về Hội Thánh liên quan đến Cơn Đại Nạn như thế nào.
Trong phần nghiên cứu của chúng ta , đoạn 4:1-2 mang chúng ta đến điểm đặc biệt ích lợi. Vì chúng ta đã trình bày quan điểm có những đặc điểm của Hội Thánh suốt toàn quá trình của thời đại Hội Thánh trong đoạn 2 và 3, nên bây giờ chúng ta khảo sát những biến cố xuất hiện tiếp theo sau sự cất lên của Hội Thánh vốn được biểu trưng bằng việc Giăng lên trời được mô tả ở trên. Chúng ta tin rằng Hội Thánh sẽ được cất lên khi thời đại Hội Thánh chấm dứt. Điều này dường như đuợc tượng trưng bằng việc Giăng “được cất lên” trời sau những biến cố mang đặc điể của thời kỳ Hội Thánh. Biểu tượng nầy Giăng được đem lên trời- dường như gợi ý rằng Hội Thánh sẽ không ở trên đất trong Cơn Đại Nạn vốn bắt đầu trong 6:1.
2. Nhận diện, cho biết đoạn và câu, về tiếng nói Giăng được nghe trong 4:1.
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
3. Trong sổ tay của bạn, hãy cho biết trong 4:1, Giăng được truyền lệnh phải làm điều gì , và ý nghĩa của mệnh lệnh đó.
4. Dựa vào thảo luận của chúng ta ở phần nầy, hãy giải thích vào sổ tay bạn thế nào việc Giăng đi từ đất lên trời qua cánh cửa mở có thể được một số người giải thích là sự cất lên của Hội Thánh, và điều nầy có liên quan với Hội Thánh và Cơn Đại Nạn như thế nào.
Trước khi chúng ta nghiên cứu sang điểm kế tiếp, chúng ta cũng nên biết thêm rằng có nhiều người nam, người nữ kính sợ Đức Chúa Trời có những quan điểm khác nhau về thời kỳ được cất lên. Một số người tin rằng Hội Thánh sẽ cứ ở trên thế gian ít nhất là một phần của Cơn Đại Nạn. Những người khác lại tin rằng Hội Thánh sẽ ở trên đất trong suốt thời gian Đại Nạn, và được che chở đặc biệt không bị cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giống như người Ysơraên được bảo vệ khỏi những tai ương làm hại xứ Ai Cập (XuXh 7:12). Đây là những người nam người nữ yêu mến Chúa Jesus Christ và họ có ý kiến rất thành thật. Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng bạn khảo sát cẩn thận phần tài liệu được đưa ra trong bài học về đề tài nầy.
TÍNH ĐỘC NHẤT CỦA CƠN ĐẠI NẠN.
Tựa đề của bài học nầyđề cập về Hội Thánh có liên quan đến Cơn Đại Nạn. Nếu bạn chưa nghiên cứu trước về lời tiên tri của Kinh Thánh, có thể bạn không quen thuộc với từ ngữ nầy. Hướng về những biến cố sẽ xảy ra sau khi Hội Thánh được cất lên, chúng ta thấy rằng kẻ ác những cá nhân, những quốc gia và những thể chế, tập đoàn trên toàn thế giới, cùng tập thể của những người không tin Đức Chúa Trời sẽ đối diện với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Khi Ngài đền tội tập thể loài người xảy ra, thì điều nầy được gọi “ngày thạnh nộ lớn của Đức Chúa Trời” (KhKh 6:17), và “Cơn Đại Nạn” (7:14). Điểm nhấn mạnh ở đây là sự kết thúc kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời đối với những người từ khước ân điển của Ngài và nổ lực cản trở công việc của Ngài trên đất.
Trong ánh sáng của phần trước, Cơn Đại Nạn không có liên quan gì đến Hội Thánh đắc thắng. Chúng ta không tin rằng Hội Thánh sẽ trải qua sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời như được bày tỏ trong Cơn Đại Nạn. Tuy nhiên, những người khác lại cho rằng Cơ Đốc Nhân đã trải quan Cơn Đại Nạn suốt lịch sử Hội Thánh rồi. Họ nói, “tại sao Hội Thánh của những ngày cuối cùng lại được thót khỏi sự đau đớn về thể chất và tinh thần, hoặc ngay cả sự tử đạo?” Kinh Thánh có nói đến sự khó khăn và hoạn nạn (Cong Cv 14:22, KJV) xảy ra cho nhiều tín hữu trên thế giới nầy ( IITi 2Tm 3:10-13, GiGa 16:33), nhưng, “sự hoạn nạn” nầy không tiêu biểu cho “sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời”. Chỉ có trong nội dung của đoạn văn chỉ về thời kỳ cuối cùng cơn thạnh nộ chồng chất của Đức Chúa Trời mới đổ xuống. Nó được mô tả như là “rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trên chén thạnh nộ Ngài” KhKh 10:11. Như vậy, trong Cơn Đại Nạn, “sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời chấm dứt” (15:1).
Rõ ràng trong lịch sử loài người kể từ khi Nước Lụt, chưa có sự phán xét nào đụng chạm đến quá nhiều người, và không có những phương tiện nào trừng phạt giống như những điềi mô tả trong Kinh Thánh về “ngày thạnh nộ lớn của Đức Chúa Trời” (6:17). Vì thế, Cơn Đại Nạn là điều độc nhất trong lịch sử về bản chất, mục đích và phạm vi. Ngày nay nhiều Cơ Đốc Nhân đang chịu khổ nạn , và chắc chắn sẽ có nhiều người nữa sẽ chiụ hoạn nạn trước khi Chúa Jesus đến, tuy nhiên, sự đau đớn nầy không thấm vào đâu so với Cơn Đại Nạn.
5. Tại sao Cơn Đại Nạn là kinh nghiệm không tiền khoáng hậu (độc nhất) trong lịch sử loài người trên đất?
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
CÁCH DÙNG CỦA NHỮNG CHỮ “HỘI THÁNH” và “RA KHỎI”.
Chữ Hội Thánh được dùng 7 lần và chữ “Những Hội Thánh” (churches) được dùng 12 lần trong ba đoạn đầu của sách Khải huyền . Sau khi Giăng được cất lên ở đoạn 4:1, thì không có chữ nào trong hai chữ nầy được dùng cho đến khi đề cập đến chữ “những Hội Thánh” (churches) ở Khải huyền 22: 16. Không có chữ nào trong hai chữ trên chỉ về Hội Thánh sẽ ở trên đất trong thời kỳ Cơn Đại Nạn. Sự vắng mặt của các chữ liên quan đến Hội Thánh trong thời kỳ trọng đại nầy dường như cho thấy rằng Hội Thánh sẽ không ở trên đất trong thời gian nầy.
Chữ ek của tiếng Hy lạp là một giới từ (preposition). Những giới từ chỉ về mối quan hệ hay vị trí. Đó là những chữ như ở trong (in) ở dưới (under) qua (through), từ (from), ở trên (upon) và bên cạnh (beside). Giới từ ek có nghĩa là “ra khỏi” (out of). Lời hứa cho dân sự của Hội Thánh tại Philađenphi là Chúa Jesus sẽ giữ họ ek (out of- khỏi) “giờ thủ thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ, để thử những người trên đất” (3:10). Ở đây không nói là Hội Thánh sẽ được giữ trong giữa (in the midst of) cơn hoạn nạn đó. Trái lại, theo ý nghĩa của chữ Hy lạp ek ám chỉ rằng Hội Thánh sẽ được gìn giữ khỏi điều đó (out of it).
6. trình bày trong sổ tay của bạn thế nào những chữ Hội Thánh và ra khỏi được dùng trong sách Khải huyền ám chỉ rằng Hội Thánh sẽ không ở trên đất để trải qua chút gì của Cơn Đại Nạn.
7. Đọc cẩn thận LuLc 21:34-36 trong đó Chúa Jesus nói với môn đồ của Ngài về Cơn Đại Nạn . “Ngày Đại Nạn” nầy sẽ giáng trên bao nhiêu người? Cơn Đại Nạn nầy như thế nào mà Cơ Đốc Nhân phải cầu nguyện để được thoát khỏi.
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
SỰ HIỆN ĐẾN CỦA CHÚA JESUS TRONG I TÊSALÔNICA 4:13- 5:11.
Trong ITe1Tx 4:16, sứ đồ Phao Lô mô tả sự hiện đến của Chúa tiếng kêu bảo (với tiếng kêu lớn). Tác giả của bạn tin rằng hiển nhiên đây là tiếng gọi như là tiếng kèn của Chúa Jesus kêu Giăng “Hãy lên đây” (KhKh 4:1). Đối với ông, dường như tiếng gọi nầy quắp đi hay đem lên không những Giăng nhưng đồng thời toàn thân thể của Christ. Dĩ nhiên, sau tiếng kêu nầy, thân thể của Christ, Hội Thánh thật sẽ không còn ở trên đất nữa. Trong ITe1Tx 4:13-5:11, Phao lô đưa ra thứ tự về thời gian cho sự cất lên của Hội Thánh và sự khởi đầu “Ngày của Chúa”, vốn là một tên gọi khác của Cơn Đại Nạn.
Trước hết, hãy chú ý ai là người sẽ “ở với Chúa Jesus (KhKh 4:14) khi Ngài từ trời giáng xuống với tiếng kêu lớn” (4:16). Phao lô hứa rằng có hai điều sẽ xảy ra khi Chúa đến theo cách nầy. Kế đó, hãy xem 4:16-17, họ là ai, và thứ tự sự kiện xảy ra. Câu 18 giải thích cách Cơ Đốc Nhân đối xử với những người khác vì cớ “hy vọng phước lạc”. Cuối cùng. hãy chú ý đến biến cố sẽ đến “giống như kẻ trôm trong ban đêm vậy” (5:2). Đoạn nầy chứng tỏ rằng sự cất lên của Hội Thánh sẽ xảy ra trước khi bắt đầu Cơn Đại Nạn. Nên nhớ: không có sự phân chia giữa hai đoạn nầy khi Phao lô viết ra.
Trong IICo 2Cr 5:1-10 Phao lô nói về thân thể vật lý của Cơ Đốc Nhân giống như cái trại (câu 1). Hãy quan sát trong câu 6-8 tại đây ông nói rõ ràng phần vô thể chất của một Cơ Đốc Nhân sẽ ra đi lúc người ấy chết về thể chất. Bây giờ, dựa vào những đoạn ở I Têsalônica và II Côrinhtô hãy trả lời những câu hỏi sau:
8. Ai sẽ ở với Chúa Jesus khi Ngài từ trời giáng xuống với tiếng kêu lớn?
.......................................................................................................................................
9. Hai điều gì xảy ra khi Chúa Jesus từ trời giáng xuống với tiếng kêu lớn? Điều nào sẽ xảy ra trước?
........................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
10. Dựa vào phần thảo luận của chúng ta trong đoạn nầy, tại biến cố gọi là sự cất lên Chúa Jesus sẽ đem:
a. Thân thể của Cơ Đốc Nhân cùng đi với Ngài để kết hợp với linh được sống lại của họ.
b. Thân thể và linh của Cơ Đốc Nhân được đi với Ngài.
c. Không phải thân thể cũng chẳng phải linh của họ với Ngài.
d. Linh của Cơ Đốc Nhân cùng đi với Ngài để kết hợp với thân được sống lại của họ.
Ý NGHĨA CỦA NHỮNG CHỮ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ TÁI LÂM CỦA CHÚA JESUS.
Đối với những người tin rằng sự cất lên của Hội Thánh sẽ xảy ra trước Cơn Đại Nạn thì gọi chữ cất lên là parousia, chữ nầy từ tiếng Hy lạp viếùt bằng chữ Anh. Trong tiếng Hy Lạp, chữ parousia có nghĩa là “thân hành” (chính bản thân đến - apersonal arrival or coming). Trong Tân Ước chữ nầy được dùng để chỉ về việc đến của những người khác nhau ( ICo1Cr 16:17). Tuy nhiên, khi chữ parousia được dùng để chỉ về sự hiện đến của Chúa Jesus trong tương lai, thì không bao giờ được dùng một mình để mô tả việc Ngài trở lại vào kết thúc thời kỳ đại nạn như là Vua của các Vua, và Chúa của các Chúa. Vậy, chữ nầy được dùng để chỉ về việc Ngài đến với Hội Thánh ở lúc cất lên.
Sự cất lên và sự tái lâm hay sự khải thị của Chúa chúng ta cách nhau bởi một thời kỳ bảy năm - “tuần lễ” thứ bảy mươi của lời tiên tri của Đaniên. Trong thời kỳ nầy, chúng ta tin rằng Hội Thánh sẽ ở với Chúa. Trọn thời kỳ bảy năm nầy đôi khi còn được gọi là parousia. Như vậy parousia bắt đầu với sự cất lên của Hội Thánh và chấm dứt với sự trở lại của Chúa tại chiến trận Hạtmaghêđôn (KhKh 16:16-19:2). Trong Tân Ước Hy lạp parousia được dùng trong ITe1Tx 2:19, 3:13. 4:15, và 5:23 liên quan đến sự cất lên.
Mặc dù chữ “cất lên” không có trong bản dịch King James của Kinh Thánh, nhưng ý niệm vẫn không sai. Chữ “cất lên” phát xuất từ chữ Latinh repare có nghĩa là “dùng sức mạnh quắp lên” (snatch up with force). Chữ Hy lạp là herpadzo trong I Têsalônica 4:17; cũng có nghĩa tương tự. Nó được dịch là “chụp lấy đem lên”.
IITe 2Tx 2:8 gọi sự hiện đến của Chúa Jesus ở tại Hạtmaghêđôn là “vinh quang của sự hiện diện của ngài”. Bản văn Hy lạp gọi điều nầy là epiphaneia của parousia của Ngài. Trong trường hợp nầy, parousia được dùng với chữ khác để giải thích rằng một phần của parousia trông thấy được. Phierơ dùng từ tương tự ephanes trong Cong Cv 2:20. Ở đó chữ nầy được dịch là sự : hiển hách” (glorious). Dường như rõ ràng là Phierơ nói đến cùng một biến cố như đã ghi nhận trong IITe 2Tx 2:8, là sự hiện đến của Chúa Jesus tại Hạtmaghêđôn . Nói theo nghĩa đen, epiphaneia là “rực rỡ”, “sáng chói”. Điều nầy được dùng để chỉ về sự xuất hiện của Chúa Jesus như con người ở trên đất nầy trong IITi 2Tm 1:10, về sự cất lên khi Cơ Đốc Nhân sẽ thấy Chúa Jesus trong sự rực rỡ của Ngài, và khi Ngài đến tại Hạtmaghêđôn thế giới sẽ thấy Ngài trong sụ rực rỡ của Ngài.
11. Xếp đặt cho phù hợp chữ Hy lạp với định nghĩa.
....a. Dùng sức mạnh quắp lên.
....b. Sáng chói hay rực rỡ.
....c. Thân hành đến.
1) Parousia.
2) Harpadzo.
3) Epiphaneia.
THẢO LUẬN BA CÂU HỎI VỀ THỜI KỲ CUỐI CÙNG.
Mat Mt 24:1-25:13.
Chúng tôi tin rằng bạn đã đọc 24:1-25:13 theo lời đề nghị của chúng tôi trong phần những hoạt động học tập trước khi bạn nghiên cứu bài nầy. “Bài giảng trên núi Ô li ve” là đoạn văn hấp dẫn, và nó đã thách thức khả năng của nhiều thế hệ học giả Kinh Thánh uyên bác. Nhiều người trong số những học giả nầy tin rằng đoạn Kinh Thánh trên ám chỉ cách riêng biệt cho dân Ysơraên. Tuy nhiên chúng ta tin như nhiều người khác rằng Hội Thánh cũng như Ysơraên được đặt trong bối cảnh Kinh Thánh nầy. Chúng ta sẽ khảo sát vắn tắt từng phần, khởi đầu từ 24:1-3.
Sau khi Chúa Jesus cùng môn đồ Ngài từ đền thờ lên núi Ô li ve, các môn đồ chú ý đến vẻ đẹp của đền thờ và sự uy nghi lộng lẫy của nó. Chúa Jesus trả lời bằng việc cho họ biết rằng toàn thể công trình đó sẽ hoàn toàn bị phá hủy. Những môn đồ sững sốt khi nghe như thế và hỏi ba câu hỏi đặc biệt: 1) Lúc nào đền thờ sẽ bị phá hủy? 2) Dấu hiệu (điềm) gì chỉ về sự hiện đến của Ngài? 3) Dấu hiệu gì chỉ về chung kết đời? Mathiơ không ghi lại câu trả lời của Chúa Jesus cho câu hỏi thứ nhất, nhưng Luca ghi lại điều đó trong đoạn văn tươn tự ở LuLc 21:20-21. Mathiơ liệt kê những câu trả lời của Chúa Jesus cho những câu hỏi khác trong đoạn 24 và phần đầu của đoạn 25. Bây giờ chúng ta sẽ nhấn mạnh sự chú ý vào câu hỏi số 3 vốn được thảo luận trong Mat Mt 24:4-31.
Câu hỏi số 3 có liên quan đến những dấu hiệu về sự chung kết đời. Cuối thời đại nầy sẽ đến trận chiến tại Hạtmaghêđôn khi Chúa Jesus trở lại làm Vua của muôn Vua, Chúa của các Chúa. Chúng ta hãy xem vài sự kiện đặc biệt được đưa chi tiết trong câu 4-31.
1. Những câu 4-14 cho chúng ta thấy trước về kinh nghiệm của dân sự Đức Chúa Trời trong suốt lịch sử trên đất trước khi chung kết đời. Hãy chứ ý, trong những điều nầy có việc công bố phúc âm khắp thế giới trước khi tận thế đến.
2. Những câu 15-25 nói về ba năm rưỡi sau của Cơn Đại Nạn. Bạn nên đặt biệt chú ý đến sự kiện “sự gớm ghê của phá hoang” (câu 15). Lời nói của Chúa Jesus ở đây tái nhấn mạnh lời tiên tri của DaDn 9:27 về điều gì sẽ xảy ra ở giữa thời kỳ bảy năm cuối cùng. Chúng ta sẽ thấy nhiều chi tiết hơn về ba năm rưỡi cuối ở bài học sau.
3. Những câu 26-28 cảnh cáo việc nguy cơ tiếp nhận những Christ giả ở bất kỳ thời điểm nào, bây giờ hay trong Cơn Đại Nạn. Lờøi cảnh cáo nầy gợi ý rằng khi Chúa Jesus đến những ai theo các Christ giả sẽ giống như những con kên kêntụ họp lại ăn xác chết. Chữ “chớp” ở đây được dùng để ám chỉ về sự “rực rỡ” (sáng chói) khi chúa hiện đến, như chúng ta đã ghi nhận ở trên ( IITe 2Tx 2:8). Phần thảo luận về sách Khải huyền về sau, chúng ta sẽ thấy quốc gia Ysơraên sẽ không tìm kiếm Chúa Jesus sau trận chiến Hïatmaghêđôn. Ngài sẽ đi nơi nào có dân sự Ngài và bày tỏ chính mình Ngài cho họ.
4. Những câu 29 - 31 mô tả về ngày tận thế . Bạn sẽ nhận thấy sự giống nhau giữa câu 30 và KhKh 1:7. bạn sẽ nhớ lại trong bài 4 trong đó chúng ta đề cập nội dung của câu nầy là chủ đề của sách Khải huyền. Ở đây Chúa chúng ta nói rằng Ngài sẽ sai thiên sứ Ngài “nhóm họp tuyển dân của Ngài... từ cuối đầu trời cho đến tận góc trời kia” (câu 31). Dường như người được chọn ở đây ở trên trời tiêu biểu cho một phần của bằng cớ khác cho rằng Hội Thánh sẽ không trải qua Cơn Đại Nạn.
Bây giờ chúng ta sang câu hỏi 2, “Điềm gì chỉ về sự hiện đến của Ngài (Chúa Jesus)?” Câu hỏi nầy là phần nhấn mạnh của Mat Mt 24:32-25:13. Chúng ta hãy khảo sát vài sự kiện đặt biệt liên quan đến phần thảo luận nầy.
1. Những câu 32-33 so sánh việc nứt chồi non của cây vảvới sự hoàn thành những dấu hiệu loan báo về sự hiện đến của Chúa Jesus. Chồi non của cây vả cho thấy mùa hè đã gần, và nhữõng dấu hiệu về thời gian đuợc trình bày trong bài giảng nầy chứng tỏ Chúa Jesus gần đến rồi.
2. Câu 34 gợi ý rằng “dòng dõi nầy” sẽ không qua đi cho đến khi tất cả những gì được nói tiên tri ứng nghiệm. Phải thừa nhận rằng , lời nói nầy gây ra nhiều câu hỏi. Có phải Chúa Jesus ám chỉ về những điều Ngài đã nói trong câu hỏi 1, liên quan đến sự phá hủy đền thờ, hay câu hỏi 3, liên quan đến thời kỳ Đại Nạnï? Hoặc chúng ta có thể hiểu rằng chữ được dịch là “Thế hệ” (generation) có thể được dịch là “dòng dõi”(race) chỉ về dòng dõi do thái? Nếu không kể đến quan điểm mà chúng ta xử dụng về câu hỏi nầy, thì chúng ta có thể nhìn trong câu nầy sự chắc chắn của việc ứng nghiệm lời tiên tri.
3. Những câu 36 đến 25:13 liên quan đến sự xuất hiện bất ngờ của Chúa chúng ta ở lúc khởi đầu của parousia. (Chữ Hy lạp Parousia được dùng trong câu 37 và 39 chỉ về sự Chúa đến). So sánh với những ngày của thời kỳ Nôê cho thấy rằng ngày Chúa đến sẽ xảy ra thình lình và không báo trước.
4. Những câu 42-44 nhấn mạnh về sự bất ngờ và sự kín đáo của parousia . Biến cố nầy sẽ là điều bất ngờ như khi kẻ trộm đến với những người không tin ( ITe1Tx 5:1-9). Trái lại, khi Chúa Jesus tái lâm ở trận chiến Hạtmaghêđôn 73 vào cuối của thời đại, thì mọi mắt sẽ trông thấy Ngài. Bấy giờ Ngài sẽ không đến như những kẻ trộm nữa. Thật vậy, những đạo binh của thế giới sẽ biết rằng Ngài đang đến, và họ sẽ chiến đấu chống lại Ngài. Trong ẩn dụ của Mười Người Nữ Đồng Trinh (Mat Mt 25:1-13) Chúa Jesus dạy về sự xuất hiện thình lình của Ngài vào lúc khởi đầu của parousia.
Từ phần nghiên cứu của chúng ta về “Bài giảng ở trên núi Ô li ve”, chúng ta thấy nhiều chi tiết về diễn tiến và sự kết thúc của thời đại . Những dấu hiệu của thời kỳ dưòng như ám chỉ rằng chẳng bao lâu rất sớm chúng ta sẽ nghe tiếng la to : “Kìa tân lang đến! Hãy đi ra nghinh tiếp chàng!” (25:6). Bạn có sẵn sàng cho lời triệu tập nầy chưa?
12. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời ĐÚNG.
a. Mathiơ không ghi lại câu trả lời của Chúa Jesus cho câu hỏi 1, nhưng Luca có ghi.
b. Diễn tiến của thời đại mang đặt tính bằng sự phản bội, Christ giả, ghen ghét, và ngược đãi tín hữu.
c. Cùng với sự bội đạo của nhiều người thì Phúc âm sẽ được rao giảng trên khắp thế giới.
d. Parousia được mô tả là một phần của những từ ngữ : đó là một công việc riêng, bí mật mà nó sẽ chụp lấy mọi người bằng sự ngạc nhiên.
13. Trong sổ tay của bạn, hãy trình bày ý nghĩa về ba câu hỏi của thời kỳ cuối cùng mà những môn đệ của Chúa Jesus đã hỏi Ngài trong 24:1-3.
ĐẤNG NGĂN TRỞ SỰ BỘI ĐẠO VÀ ANTICHRIST.
IITe 2Tx 2:1-12.
Trước khi chúng ta học đến phần cuối của bài học nầy, chúng ta hãy liệt kê từ sự dạy dỗ của Phao lô trong ITe1Tx 4:13-5:11 thứ tự của những biến cố của thời kỳ cuối cùng. Trước hết, việc Hội Thánh được cất lên sẽ xảy ra. Sau đó, ngày của Chúa, nghĩa là Cơn Đại Nạn sẽ bắt đầu. Từ phần đọc IITe 2Tx 2:1-2, chúng ta học biết rằng những tín hữu của Hội Thánh tại Têsalônica lo lắng nhiều về ngày của Chúa sắp đến. Hiển nhiên, vài báo cáo viên giả đã cho những Cơ Đốc Nhân Têsalônica biết rằng ngày của Chúa đả đến rồi. Chữ nầy khiến họ tin rằng sự cất lên đã xảy ra rồi và họ là những người bị bỏ lại . Để trả lời cho sự hoang mang của họ, Phao lô kêu gọi họ chú ý đến những biến cố của thời kỳ cuối cùng cho họ biết thứ tự những điều sẽ xảy ra.
Trong câu 1, khi sứ đồ nói đến “sự hiện đến của Chúa chúng ta là Jesus Christ, và việc chúng ta hội hiệp cùng Ngài”, thì ông nói về sự cất lên của Hội Thánh. Trong câu nầy ông dùng chữ Hy lạp “parousia” vốn được dịch là “sự hiện đến”. Sau khi bảo đảm cho tín hữu, Phao lô cho thấy hai điều phải xảy ra trước Ngày của Chúa có thể bắt đầu (câu 3). Trước hết sự phản bội sẽ xảy ra. “Phản bội” (Rebellion) được dịch từ tiếng Hy lạp có nghĩa là “ bội đạo” (apotasy). Bội đạo chỉ về việc từ bỏ đức tin, Cơ Đốc giáo giả. Chúng ta tin rằng nó chỉ về một hệ thống tôn giáo lớn ảnh hưởng toàn thế giới được gọi là “đại dâm phụ” trong KhKh 17:1. Hệ thống tôn giáo nầy sẽ xử dụng quyền hành rất lớn trong những ngày cuối cùng cho đến khi nó bị con người bất pháp loại trừ (17:15-18).
Điều thứ hai phải xảy ra trước khi Ngày của Chúa có thể bắt đầu là sự xuất hiện của :con người bất pháp... con của sự hư mất” (câu 3). Con người nầy không ai khác là Antichrist mà chúng ta đã khảo sát trong phần học tập về sách Đaniên. Người ấy sẽ chống đối mọi sự có liên quan đến Đức Chúa Trời và tự xưng mình cao hơn Đức Chúa Trời, đòi hỏi phải được người ta thờ phượng mình. Hơn nữa người ấy sẽ rất ngạo mạn, đến đỗi ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, tự xưng là Đức Chúa Trời. Con người đầy quyền lực, ngạo mạn, và hung ác nầy sẽ hiển lộ trưóc khi Ngài của Chúa bắt đầu.
Bạn có thể hỏi, “ Làm thế nào để một người có thể mong đợi hạ bệ Đức Chúa Trời và đòi hỏi người ta kính thờ mình? Làm thế nào để một người có thể đến vị trí nổi bật trên toàn thế giới, chinh phục được sự tin cậy của quần chúng, và dành được quyền hành động lớn như thế?” Trong những câu 9-12 sứ đồ vạch ra tiến độ của việc nắm quyền hành của người ấy. Người ấy sẽ làm đủ thứ quyền năng, dấu kỳ và phép lạ dối gạt, nên nhớ là nó sẽ là tên trùm của sự lừa dối, làm mọi điều gian ác. Người ta sẽ chạy theo hắn không những vì sức thu hút kỳ bí gian ác của hắn, nhưng cũng vì họ cố tình chống cự lẽ thật và ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Rơi vào lỗi lầm nầy, họ sẽ bị kết án đời đời.
Trong câu 6 vị sứ đồ chứng tỏ rằng nguyên tắc gian ác nầy đang hành động trên thế giời. Oâng cũng ghi nhận điều đang ngăn trở sự biểu lộ của Antichrist và sự biểu lộ của Antichrist và sự khởi đầu sự bội đạo vô song. Trong câu 7 Phao lô dùng đại từ Đấng (he) để mô tả về một nhân vật đang ngăn trở sự bội đạo. Hãy quan sát câu đầu của 22:17 đại diện hai phần (the two agency) đang kêu gọi dân sự đến với Đức Chúa Trời. Thánh Linh là đại diện là đại diện không thấy được của Đức Chúa Trời ở trên đất, Hội Thánh, tân phụ là đại diện thấy được. Dường như sự kết hợp của điều và Vị (What and Who) chỉ về hành động của Thánh Linh qua Hội Thánh. Điều nầy chứng tỏ rằng hiện nay Thánh Linh đang vận hành qua Hội Thánh là sức mạnh đã và đang ngăn trở sự bội đạo vô song và Antichrist. Tuy nhiên, khi Hội Thánh được cất lên thì sự hành động của Thánh Linh quan Hội Thánh vốn cản trở điều ác sẽ rời khỏi nên điều ác lập tức hoành hành trên thế giới. Dầu vậy, điều này không ám chỉ rằng Thánh Linh, Đấng hiện diện khắp mọi nơi, sẽ rời khỏi qủa đất. Vấn đề là nhiều người trên đấtsẽ được cứu trong thời Đại Nạn là bằng cớ cho thấy chính Thánh Linh sẽ ở trên đất vào thời điểm nầy. Vì Thánh Linh là Đấng ban sự sống (GiGa 6:63) nên không ai có thể được cứu trong thời gian đó nếu không có Đức Thánh Linh hiện diện để kéo họ đến với Chúa Jesus. Tuy nhiên, Hội Thánh công vụ độc nhất Đức Chúa Trời đã chọn và qua đó Thánh Linh vận hành để truyền giáo thế giới, sẽ được đem đi. Bấy giờ Ngày của Chúa sẽ bắt đầu.
14. hãy nói vắn tắt điều các báo cáo viên giả tạo đã nói với những Cơ Đốc Nhân Têsalônica.
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
15. Hai điều nào phải xảy ra trước Cơn Đại Nạn có thể bắt đầu?
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
16. Ai đang ngăn trở sự bội đạo và Antichrist, và việc nầy kết thúc như thế nào?
......................................................................................................................................
17. Khoanh tròn trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Aûnh hưởng kiềm hãûm trên thế giới hiện nay dường như là Thánh Linh, Đấng vận hành qua Hội Thánh để dẫn người ta đến với Đấng Christ.
b. Tiếp theo sự cất lên của HộÄi Thánh, sự hiện diện của Thánh Linh sẽ rời khỏi qủa đất.
c. Con người bất pháp sẽ nắm quyền hành dựa trên cơ sở lừa dối và làm phép lạ; tuy nhiên, người t a sẽ sẵn sàng tiếp nhận hắn vì họ cố tình phản đối lẽ thật.
d. Khi thế giới tiến tới ngày cuối cùng, làn sóng vô luật và gian ác sẽ dấy lên đến đỉnh cao dưới sự cai trị của Antichrist.
Bài Tập Trắc Nghiệm.
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời bạn chọn.
1. Việc Giăng đi từ đất lên trời qua cánh cửa mở tiêu biểu cho sự cất lên của Hội Thánh theo cách ám chỉ rằng Hội Thánh sẽ được gìn giữ.
a. Qua Cơn Đại Nạn.
b. Khỏi nửa phần sau của Cơn Đại Nạn.
c. Qua hầu như gần hết Cơn Đại Nạn.
d. Khỏi hẳn Cơn Đại Nạn.
2. Sự kiện Cơn Đại Nạn là “ngày thạnh nộ lớn” của Đức Chúa Trời làm cho nó
a. Khác với mọi Cơn Đại Nạn khác.
b. Khác với hầu hết những Cơn Đại Nạn khác.
c. Tương tự như mọi Cơn Đại Nạn.
d. Đồng nhất với mọi Cơn Hoạn Nạn khác.
3. Khi Chúa Jesus đến để đem Hội Thánh chân thật lên trời thì Ngài sẽ
a. Mang thân thể Cơ Đốc Nhân cùng đi với Ngài để kết hợp với linh được phục sinh của họ.
b. Mang linh của Cơ Đốc Nhân cùng đi với Ngài đề kết hợp với thân thể được sống lại của họ .
c. Mang với Ngài những Cơ Đốc Nhân không trải qua sự chết thuộc thể.
d. Không mang loại Cơ Đốc Nhân theo sự mô tả trên.
4. Trong mối quan hệ với sự hiện đến của Chúa Jesus, chữ Hy lạp parousia có nghĩa
a. Sáng chói.
b. dùng sức mạnh quắp đi.
c. Đích thân đến .
d. Vinh quang .
e. Rực rỡ.
5. Sự tái lâm của Christ ở trận chiến Hạtmaghêđôn được mô tả rõ bằng chữ Hy lạp epiphaneia có nghĩa
a. Đích thân đến.
b. Đến bằng sức lực dữ dội.
c. Dùng sức mạnh quắp lên.
d. Sáng chói hay rực rỡ.
6. Giáo lý về sự cất lên được gợ ý cho chúng ta bằng chữ Hy lạp harpadzo có nghĩa là
a. Đến bằng sức lực dữ dội.
b. Chính bản thân xuất hiện.
c. Dùng sức mạnh quắp lên.
d. Đến bằng sự sáng chói và rực rỡ.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước câu hỏi đúng, viết chữ S nếu câu đó sai.
....7. “Với những điều nầy” là nghĩa đen của chữ Hy lạp meta tauta.
....8 Sự kiện là không có việc dùng chữ Hội Thánh hay những Hội Thánh trong sách Khải huyền vào thời kỳ Đại Nạn chứng tỏ rằng Hội Thánh không ở dưới đất để chịu bất kỳ điều nào trong sự hoạn nạn đó.
....9. Trong Cơn Đại Nạn Thánh Linh sẽ vận hành qua Hội Thánh để ngăn trở sự bội đạo và Antichrist.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Hãy trả lời những câu hỏi sau cách vắn tắt theo lời riêng của bạn. Viết câu trả lời ở phần trống ở dưới.
10. Theo bài học nầy, việc Giăng được “cất lên” trước những biến cố của Cơn Đại Nạn bắt đầu tượng trưng điều gì ?
......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
11. Liệt kê ba câu hỏi mà những môn đồ của Chúa hỏi Ngài được ghi lại ở Mat Mt 24:3.
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
12. Sự xảy ra của sự bội đạo qui mô của ngày cuối cùng và sự hiển lộ của Antichrist liên quan đến thời kỳ Đại Nạn như thế nào?
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
........................................................................................................................................
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. c) Về những gì sẽ xảy ra sau thời đại Hội Thánh.
2. Rõ ràng là tiếng nói của Chúa Jesus như đã nói trong KhKh 1:10-18.
3. Lệnh truyền gọi Giăng “Hãy lên đây”. Điều nầy có nghĩa là khung cảnh được thay đổi lập tức từ đất lên trời.
4. Sự “cất lên” của Giăng trong 4:1-2 dường như tiêu biểu cho sự cất lên của Hội Thánh. Điều nầy cũng ám chỉ rằng Hội Thánh sẽ được gìn giữ khỏi Cơn Đại Nạn.
5. Đó là sự hoạn nạn duy nhất có thể gọi cách chính xác là ngày thịnh nộ hết sức của Đức Chúa Trời.
6. Sự kiện không có chữ Hội Thánh và những Hội Thánh được xử dụng trong phần tường thuật của Kinh Thánh vốn mô tả Cơn Đại Nạn ám chỉ rằng Hội Thánh sẽ không ở trên đất để chịu bất kỳ sự hoạn nạn nào của Cơn Đại Nạn. Trong 3:10, chữû ek được dùng theo cách chứng tỏ rằng Hội Thánh không phải được gìn giữ trong giữa Cơn Đại Nạn, hoặc được đem ra từ giữa Cơn đại Nạn. Trái lại Hội Thánh được đem “ra khỏi” Cơn Đại Nạn.
7. Nó sẽ xảy ra cho mọi người trên đất. Những tín hữu phải cầu nguyện để tránh khỏi ngày đó.
8. Những ai ở trong Christ đã trải quan sự chết thuộc thể.
9. Trước hết, người chết trong Christ sẽ sống lại. Sau đó người sống tin Chúa sẽ được cất lên cùng với những người chết đã được sống lại để gặp Chúa Jesus.
10.d) Linh của Cơ Đốc Nhân cùng đi với Ngài để kết hợp với thân thể được sống lại của họ .
11. a. 2) Harpadzo.
b. 3) Epiphaneia.
c. 1) Parousia.
12. a. Đúng .
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Sai. chữ nầy còn có nghĩa công khai trong đó cuối Cơn Đại Nạn mọi mắt sẽ trông thấy Ngài.
13. Bạn có thể ghi nhận rằng để trả lời cho ba câu hỏi nầy, Chúa Jesus tóm tắt vừa cả kinh nghiệm lịch sử trước mắt và lâu dài của dân Do thái. Ngài nói về sự phá hủy của đền thờ và thành Giêrusalem. Ngài cũng nói về những đặc tính của thời đại sẽ dẫn đến kỳ chung kết đời, và Ngài cho biết những dấu hiệu đặc biệt sẽ đi trước lúc chung kết đời và sự hiện đến của Ngài. Sứ điệp nầy cho chúng ta sự hiểu biết tốt đẹp về chương trình của Đức Chúa Tròi cho Hội Thánh và cho người Do thái nữa.
14. Những báo viên giả tạo đã nói với họ rằng Ngày của Chúa đã đến gần rồi và điều nầy khiến cho họ tin rằng họ không được cất lên.
15. Sự bội đạo lớn lao của thời kỳ cuối cùng phải xảy ra, và Antichrist phải hiển lộ.
16. Thánh Linh hoạt động qua Hội Thánh đang ngăn trở sự bội đạo và Antichrist.
17. a. Đúng.
b. Sai.
c. Đúng.
d. Đúng.
Bắt Đầu Tuần Lễ Thứ Bảy Mươi

Sau khi chúng ta giới thiệu vắn tắt Khải huyền đoạn 4 ở Bài 8 thì chúng ta trình bày vấn đề của những biến cố từ sự cất lên của Hội Thánh cho đến lúc kết thúc chương trình của Đức Chúa Trời. Phần trình bày của chúng ta nói đến giáo lý về sự cất lên, vị trí của Hội Thánh trong thời kỳ Đại Nạn, bản thân Cơn Đại Nạn, Đấng ngăn trở, và vài câu hỏi quan trọng của thời kỳ cuối cùng. Bây giờ chúng ta trở lại đoạn 4, tại đây chúng ta xem quang cảnh của điều Giăng thấy tại trên trời, và chúng ta hãy xem xét trong những đoạn từ 4-6 về những biến cố diễn tiến từ ngai của Đức Chúa Trời khi Ngài bắt đầu kết thúc kế hoạch của Ngài.
Chắc chắn cảnh tượng Giăng đã thấy ở trên trời làm cho ông choáng váng. Hãy đặt mình vào vị trí của Giăng khi ông kinh ngạc trước quang cảnh nầy, đến quang cảnh khác. Trong những biến cố nầ, Đức Chúa Trời đã tiết lộ cho Ôâng những biến cố sẽ xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, ở giữa tất cả những sự việc nầy, trong Khải tượng của mình, Giăng đã nghe và đã nhìn thấy một nhân vật đầy tràn vinh hiển. Nhân vật đó là sư tử Chiên Con, Đấng được giới thiệu trong 5:5-7.
Sự rực rỡ, oai nghi, và kinh khủng bao trùm toàn cảnh vật ở đoạn 4 kết quả trong sự thờ phượng tôn kính Đức Chúa Trời Toàn Năng. Ngoài ra, Chiên Con christ nhận được khen ngợi của vũ trụ trong đoạn 5 khi ân điển cứu độ của Ngài được nhắc lại. Toàn thể vũ trụ dường như sấp mình thờ lạy Đức Chúa Trời vì Ngài là Ai và đã làm điều gì trong những bối cảnh của Kinh Thánh. Nguyện bài học nầy sẽ giúp bạn tăng cường sự hiểu biết của bạn về việc tại sao mọi người được chuộc, giống như Đavít ở Thi Tv 34:1, luôn luôn ngợi khen Đức Chúa Trời.
Đấng Ngự Trên Ngai Trời.
Nhận Diện Hai Mươi Bốn Trưởng Lão.
Nhận Diện Bốn Con Sanh Vật.
Cuộc Sách Đóng Bảy Ấn và Đấng Cứu Chuộc.
Đấng Christ Chiên Con Được Khen Ngợi Trịnh Trọng.
Việc Mở Sáu Ấn Đầu Tiên.
Những Mục Tiên Của Học Tập.
Học xong bài nầy bạn có thể.
• ·Nhận Diện Đấng Ngự Trên Ngai Trời, hai mươi bốn trưởng lão và bốn sanh vật.
• Giải thích ý nghĩa tượng trưng của cuộn sách có bảy dấu ấn và nhận diện Đấng mở cuộn sách ấy.
• Liệt kê những biến cố xảy ra khi mở mỗi ấn trong sáu ấn đầu tiên.
• Hiểu rõ hơn tại sao mỗi người được chuộc phải liên tục ca ngợi Đấng Christ qua sự dâng hiến cuộc đời mình và dấn thân trong sự phục vụ.
1. Đọc Khải huyền từ đoạn 4-6 trước khi bạn học bài nầy. Khi đọc hãy chú ý Ai đang ở trên ngai trong đoạn 4 và 5. Hãy đọc hết những đoạn Kinh Thánh trích dẫn trong bài học.
2. Bạn có thể dùng Kinh Thánh của mình để trả lời câu hỏi nghiên cứu và bài tập trắc nghiệm.
3. nghiên cứu bài học và làm bài tập trắc nghiệm theo sự chỉ dẫn ở Bài 1.
Chuộc (ransomed).
Hiện thân (personified).
Hỗn loạn (turbulent).
Khế ước (indenture).
Lộng lẫy (resplendant).
Sao băng (meteorites).
Vương quyền (diadems).
ĐẤNG NGỰ TRÊN NGAI TRỜI.
KhKh 4:3.
Đấng mà Giăng nhìn thấy ngự trên ngai trời không những là Đấng ngự trên ngai đó nhưng còn là Đấng sở hữu ngai đó vì Ngài là Đấng tạo dựng nó (KhKh 4:11). Đấng nầy là Đức Chúa Trời Toàn Năng (4:8). Trong CoCl 1:15 nói Ngài là Đấng không thấy được, nhưng ở đây Giăng mô tả trong đoạn 4 và 5 thì Ngài đã lấy những đặt điểm thấy được. Mặc dù tại đây nhiều câu khác mô tả về sự oai nghi vương quyền của Ngai, nhưng KhKh 4:11 đưa ra sự xác nhận về địa vị tiên tri thấy rất khó giải thích về sự vinh hiển của diện mạo Đức Chúa Trời, nên ông chỉ có thể so sánh sự vinh hiển ấy với sự lộng lẫy rực rỡ của những viên đá quí hiếm (4:3).
Sự trong sáng của bích ngọc gợi lên sự tinh khiết, trong khi màu đỏ của hồng bửu thạch nói về sự cứu chuộc và sự phán xét. Hơn nữa chúng ta có sự biểu thị về Đức Chúa Trời là Đấng Đời Đời (4:9-11) Ngài là Đấng xử dụng ý muốn (câu 11), và Ngài quan tâm đến sự cứu chuộc loài người nhiều đến nỗi đã đưa ra sự hy sinh tột điểm: Ban con Một của Ngài (5:9-10). Câu 3 cho chúng ta thấy điều bao quanh ngai và so sánh với SaSt 9:12-16 cho biết ý nghĩa của điều tượng trưng nầy.
1. Đấng ngự và sở hữu thường trực của ngai trên trời là:
a. Chúa Jesus Christ chưa thành nhục thể.
b. Đức Chúa Trời Toàn Năng.
c. Đấng Christ phục sanh và đắc thắng.
2. Điều nào trong những khía cạnh sau đây mô tả chính xác về Đấng ngự trên ngôi trong KhKh 4:4-6.
a. Ngài là Đấng oai nghi đáng sợ, bao phủ mình bằng sự phán xét, và mọi tạo vật trốn chạy trước sự hiện diện của Ngài.
b. Ngài được xem như mới vừa được lên ngôi, do những thần dân khúm núm sợ sệt phục vụ và sống ở giữa cảnh tối tăm đời đời.
c. Ngài được trình bày như Đấng sống trong sự vinh hiển, bao bọc bằng những thần dân cung kính tôn thờ, và được phục vụ bằng hiện tượng tạo sự sợ hãi.
3. Cái mống bao quanh ngai (4:3) tượng trưng cho
a. Sự thấy được của Đức Chúa Trời.
b. Sự không thấy được của Đức Chúa Trời.
c. Những lời hứa của Đức Chúa Trời.
d. Sự phán xét của Đức Chúa Trời.
NHẬN DIỆN HAI MƯƠI BỐN TRƯỞNG LÃO.
4:4.
Con số đặc biệc của những trưởng lão được đề cập trong 4:4 dường như chứng tỏ rằng những trưởng lão nầy là nhóm người đại diện cho điều gì đó. Trong Cựu Ước, nhiều thầy tế lễ được chia thành hai mươi bốn cấp bậc, mỗi cấp bậc có một đại diện. Khi những đại biểu nầy họp lại, họ tiêu biểu cho hàng ngũ tế lễ. Một số học giả Kinh Thánh tin rằng những trưởng lão nầy là những thiên sứ. Thường thường những học giả ấy tin rằng Hội Thánh sẽ trải qua Cơn Đại Nạn, nhưng không chỗå nào trong Kinh Thánh cho thấy những thiên sứ được gọi là trưởng lão. Tuy nhiên, trong Cong Cv 20:17-18 chúng ta thấy một ví dụ về những người được gọi là trưởng lão, và họ không phải là thiên sứ.
Trong KhKh 4:4 hãy quan sát hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi ở đâu, họ ăn mặc như thế nào, và có gì trên đầu họ. Bây giờ chúng ta hãy đọc lại những lời hứa của Chúa Jesus đã ban cho những Hội Thánh ở 2:10; 3:4-5, 18, 21. Từ những câu Kinh Thánh nầy rõ ràng là hai mươi bốn trưởng lão của 4:4 đã nhận được những điều Chúa Jesus hứa cho người đắc thắng, Hội Thánh đắc thắng ở khải huyền 2 và 3. Những người được chuộc mặc áo trắng được đề cập trở lại ở 6:11 và 7:9, 14. Về những vương miện của họ, có hai loại vương miện được đề cập ở 4:4 là stephanos hay vương miện chiến thắng có thể được so sánh với những huy chương ban thưởng cho những vận động viên thắng trận trong những cuộc so tài Olympic hiện nay. Loại khác, diademata (19:12) là vương miện của Vua. Những vương miện bằng vàng được hai mươi bốn trưởng lão trong 4:4 đội và bằng cớ chứng tỏ rằng họ là những người đắc thắng tội lỗi và Satan.
4. Trong 4:4, các trưởng lão ngồi ở đâu, họ mặc gì và họ đội gì trên đầu.
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
5. Trong sổ tay của bạn, hãy đưa ra bốn sự biểu thị cho thấy hai mươi bốn trưởng lão của 4:4 là những người được chuộc hơn là thiên sứ, dựa trên những gì chúng tôi đã nói trong đoạn nầy.
Hai mươi bốn trưởng lão của 4:4 đại diện cho ai? Nhiều học giả Kinh Thánh cho rằng họ chỉ đại diện cho Hội Thánh. Họ tin rằng không có người Do thái nào được ở trong nhóm nầy vì vào thời điểm đó quốc gia Ysơraên chưa chấp nhận Jesus là Cứu Chúa. Những học giả nầy thường xử dụng DaDn 12:2 để chứng tỏ rằng những người công bình thời Cựu Ước mãi đến trước hoặc sau trận chiến Hạtmaghêđôn mới sống lại. Chúng tôi không đồng ý với kết luận đó dựa vào câu Kinh Thánh nầy. Một số người nam người nữõ của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước không phải là người Ysơraên (Nôê chẳng hạn). Theo lối lập luận nầy thì hai mươi bốn trưởng lão không đại diện cho người Ysơraên nào, Nô ê sẽ sống lại khi Hội Thánh được cất lên, còn vua Đavít thì không. Vì vậy, lập luận nầy dường như không có giá trị.
Trái với quan điểm trên, chúng tôi và nhiều học giả khác tin rằng con số hai mươi bốn trưởng lão ở KhKh 4:4 tiêu biểu cho mọi người công bình ở Cựu Ước, và mọi người công bình ở Tân Ước. Tại sao? Khi chúng ta đọc HeDt 11:1-40, chúng ta thấy đó là câu chuyện về những vị anh hùng đức tin thời Cựu Ước của Đức Chúa Trời. Một số người Do thái, một số không phải. Câu 39 và 40 chứng tỏ rằng người công bình của thời Cựu Ước được làm nên trọn vẹn hoặc kết hợp với những thánh đồ Tân Ước, Hội Thánh, mà được trọn vẹn. Bây giờ hãy khảo sát phần mô tả về Giêrusalem mới, nhà ở của Tân phụ của Christ, trong KhKh 21:12-14. So sánh những câu Kinh Thánh nầy chứng tỏ rằng những người công bình của thời Cựu Ước cùng với người công bình của thời Tân Ước đều có đại diện trong Giêrusalem mới bằng hai mươi bốn đại biểu: mười hai chi phái và mười hai sứ đồ.
6. Theo 21:12-14, ý nghĩa của những bức tường bao bọc quanh Giêrusalem mới là
a. Những chi phái của Ysơraên sẽ được đặt cho những cái cổng và những nền.
b. Tên của những sứ đồ của Đấng Christ sẽ đượa đặt cho những cái cổng và những nền.
c. Những cổng sẽ đượa đặt theo tên của những sứ đồ của Christ, và những nền được đặt theo tên của những chi phái Ysơraên.
d. Những cửa sẽ được đặt theo tên của mười hai chi phái Ysơraên, và những nền sẽ được đặt theo tên của mười hai sứ đồ của Christ.
7. Trong sổ tay của bạn, hay giải thích vì sao HeDt 11:39-40 và KhKh 21:12-14 dường như chứng tỏ rằng hai mươi bốn trưởng lão của Khải huyền 4:4; tiêu biểu cho mọi người công bình ở Cựu Ước và tất cả người công bình ở Tân Ước.
Trước khi sang phầân kế tiếp của bài học nầy, hãy khảo sát những biểu tượng trong 4:5 vốn chứng tỏ rằng ngai của Đức Chúa Trời được thành lập để phán xét.
NHẬN DIỆN BỐN SANH VẬT.
4:6-11.
Bốn sanh vật được mô tả trong 4:6-8, và trong Eâxêchiên 1 cũng cho chúng ta thấy có bốn sanh vật. Khi đọc một lúc hai đoạn Kinh Thánh nầy chúng ta có thể thấy phần mô tả trong Eâxêchiên khác với Khải thị. Tuy nhiên, cách dùng của những chữ như sư tử, bò, con người, và chim ưng trong phần mô tả dường như chỉ về sự tượng trưng cho cùng một điều ở mỗi đoạn văn.
Vào thời điểm nói tiên tri, Eâxêchiên được ba mươi tuổi, tuổi khởi đầu chức vụ tiên tri. Đức Chúa Trời muốn cho thầy tế lễ trẻ nầy và vị tiên tri tương lai, qua khải tượng về bốn sanh vật, biết rằng Đức Chúa Trời vẫn còn cai trị trên các công việc của loài người. Eâxêchiên thấy một nhân vật ngồi trên ngai có lửa chạy lên chạy xuống khắp thân hình. Đấng nầy được bao bọc bằng ánh sáng chói lói, và sự vinh hiển bao bọc quanh Ngài giống như ánh sáng của cái mống trong mây đang khi mưa (câu 27-28). Chúng ta tin rằng cái mống gợi ý về tất cả những lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ được hội tụ trong một người, trong khi lửa cho thấy rằng Con Người nầy sẽ tẩy sạch và phán xét. Toàn thể quang cảnh nầy rực rỡ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
8. Trong câu 28, Eâxêchiên thuật lại Khải tượng của ông về bốn sanh vật đối với Đức Chúa Trời như thế nào?
................................................................................................................................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................................................................................................................................
Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời tiêu biểu cho bản chất, quyền năng và đặc tính của Ngài. Những gì về một người có thể nói về Đức Chúa Trời có thể tóm tắt bằng chữ vinh hiển. HeDt 1:3 chứng tỏ rằng Đức Chúa Con dự phần vào sự vinh hiển vô hạn nầy.
Bạn đã thấy sư tử, con bò, con người, và chim ưng trong Eâxêchiên 1. Bây giờ chúng ta hãy xem chúng ở đây trong KhKh 4:7. Hãy nhớ tựa đề của sách Khải huyền 1. Đó là sự khải thị của Chúa Jesus Christ (1:1). Vì khải tượng của Eâxechiên là sự hiện thấy của sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Chúa Jesus là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nên bốn sanh vật nầy tiêu biểu cho đặt tính của Chúa Jesus trong cả hai sách Eâxêchiên và Khải huyền. Điều nầy không phải là điều mới, một số tác giả của Hội Thánh đầu tiên thuộc thế kỷ thứ hai đã có ý kiến tương tư. Họ tin rằng bốn sách Phúc âm nêu rõ đặc tính của đời sống của Chúa Jesus vốn được biểu thị bằng con sư tử, con bò, con người, và chim ưng. Một trong những đặc điểm của Ngài được nhấn mạnh trong từng cuốn sách Phúc âm. Biểu đồ sau đây về bốn sanh vật của 4:7 sẽ giúp ta thấy lẽ thật nầy rõ ràng hơn.
9. Kinh Thánh chỉ ai là sự chói sáng của sự vinh hiển của Đức Chúa Trời?
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
10. Dựa vào phần thảo luận của chúng ta ở trong phần nầy, nhân vật dường như mang đặc tính của bốn sinh vật trong đoạn 4 là.
a. Đức Chúa Trời Toàn Năng.
b. Jesus Christ, Con Đức Chúa Trời.
c. Môi se, người khởi xướng luật pháp.
d. hoặc Gápriên hay Michên.
11. Oân lại biểu đồ trên rồi xếp lại đặc tính của mỗi sinh vật cho phù hợp với phần mô tả về Chúa Jesus có liên quan đến đặc tính đó.
....a. Sự trọn vẹn vô tội.
....b. Vua của Ysơraên.
....c. Sự kết hợp Đức Chúa Trời con người.
....d. Tôi tớ vâng phục.
1) Sư tử.
2) Con bò.
3) Người.
4) Chim ưng.
Làm bài tập tự chọn, bạn có thể viết vào sổ tay của mình một đề cương về sự thờ phượng được ghi trong 4:8-11. Điều đó sẽ giúp bạn có một phần dàn ý tốt đẹp khi bạn chia sẻ với những người khác. Sự thờ phượng và sự phục vụ phải đi kèm với nhau trong mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời (Mat Mt 4:10). Sự tự tôn mình lên của Satan (EsIs 14:12-15) và khao khát được người khác tôn thờ mình (Mat Mt 4:9) khiến cho nó bị hạ xuống, nhưng Chúa Jesus luôn luôn làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Nguyện chúng ta luôn luôn cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài giúp chúng con suy tôn Ngài lên ngôi của tấm lòng của chúng con thay vì bản ngã của chúng con không theo ý chúng con, nhưng ý Ngài được nên trong đời sống chúng con”.
CUỘN SÁCH ĐÓNG BẢY ẤN VÀ ĐẤNG CỨU CHUỘC
Gie Gr 32:1-44, KhKh 5:1-5.
Khi đọc KhKh 5:1-5, chúng ta hãy quan sát trong sách mô tả của cuộn sách đóng bảy ấn những điều sau đây: 1) Vị trí của bản văn trên cuộn sách, 2) Câu hỏi mà thiên sứ hỏi, và 3) Câu trả lời cho câu hỏi của thiên sứ. Nên nhớ chính Kinh Thánh là lời giải thích tốt nhất. Để có thêm ánh sáng về cuốn sách bị thắc mắc, chúng ta hãy đọc hết Giêrêmi đoạn 32 cẩn thận trước khi chúng ta có thể nhận diện cuộn sách niêm bảy ấn nầy.
Trong Cựu Ước chúng ta tìm thấy một từ hybálai go’el, có thể dịch là “người bà con có quyền chuộc gia tài” (kinsmanredeemer), hay “bà con gần nhất” (nearestrelative). Cách dùng của chữ nầycó liên quan đến quyền sở hữu tài sản và tài sản được chuyển từ thế hệ nầy sang thế hệ khác như thế nào. Trong thời kỳ nầy tài sản được những con người hợp lệ gìn giữ. Trong trường hợp một người cầm cố tài sản mình, và về sau không thể chuộc được, thì “go’el” (người bà con gần nhất) của người ấy có thể chuộc tài sản lại cho người ấy. LeLv 25:8-55 đưa ra những chi tiết về quyền sở hữu tài sản của dân Ysơraên, kể cả tình trạng bán và thời gian chuộc lại sản nghiệp. Bối cảnh của đoạn Kinh Thánh nầy cũng bao gồm việc viết khế ước, nghĩa là, trường hợp trong đó những người nghèo có thể lập giao kèo làm việc cho người khác trong thời gian được ấn định.
Trong câu chuyện của Ru tơ ở trong Kinh Thánh, chúng ta có sự áp dụng thực tế của nguyên tắc “go’el’ trong đó Bô-ô đã làm những gì khi ông cưới Ru tơ (Ru R 3:9-12; 4:1-12). Oâng ta chuộc, hay mua lại, tài sản của Ru tơ cho nàng. Thời gian của bản thỏa ước về chủ quyền được ghi bên trong cuộn sách và đưa ra những gì cần phải làm để chuộc lại sản nghiệp (xem câu 11 trong Giêrêmi 32). Bên ngoài của cuộn sách là chữ ký của những nhân chứng và tên của “go’el’. Nó được cuộn lại và niêm phong để chi tiết của bản thỏa ước ở bên trong, còn tên của những chứng nhân và “go’el” ở bên ngoài. Trong trường hợp người mất tài sản và không thể chuộc được, thì chỉ có “go’el” có thể mở những con dấu để xem những gì phải làm để chuộc lại sản nghiệp.
Với sự sơ lược vắn tắt về bối cảnh của cuộn sách trong câu chuyện của Kinh Thánh và thấy được vấn đề về “người bà con gần có quyền chuộc sản nghiệp “,chúng ta hãy đọc lại KhKh 5:1-5 trước khi chúng ta trả lời những câu hỏi sau. Khi bạn ngẫm nghĩ từng cảnh tượng diễn ra trên trời được ghi lại ở đây, hãy tưởng tượng đến cảm nhận của Giăng (câu 4) khi sự tác động của giây phút nầy giáng trên ông. Có thể ông chợt thấy hình ảnh toàn thể nhân loại ở dưới xiềng của tội lỗi cho đến khi người bà con có quyền chuộc sản nghiệp đến để chuộc mọi người bằng giá rất cao. Có lẽ ý nghĩa chơn thật về thập tự giá và sự cần thiết trong việc cứu chuộc chúng ta tuôn đổ trên vị tiên tri với sức mạnh mới. Christ là “Bà con gần của chúng ta”. Ngài sẵn sàng chuộc chúng ta, và Ngài có thể làm điều đó. Cảm tạ Đức Chúa Trời đã chuộc chúng ta.
12. Bản văn trên cuộn sách niêm bảy ấn trong Khải huyền đoạn 5 được đặt ở vị trí
a. bên trong cuộn sách mà thôi.
b. Ở bên trong nhưng vài chữ ký ở bên ngoài.
c. Ở bên ngoài nơi mà mọi người có thể nhìn thấy nội dung.
d. Cả trong lẫn ngoài cuộn sách.
13. Một thiên sứ hỏi về cuộn sách ấy:
a. “Ai là người bà con gần nhất”?
b. “Có những người bà con gần nhất ở đây không”?
c. “Ai đáng mở sách và tháo ấn nó”?
d. “Ai tình nguyện mở sách và tháo ấn nó”?
14. Một trong những trưởng lão trả lời câu hỏi của thiên sứ:
a. “Trong vũ trụ nầy không ai đáng mở sách và tháo ấn cả”.
b. “Kìa sư tử của phái Giuđa...có thể tháo ấn và mở sách”.
c. “Đức Chúa Trời sẽ tìm một người vừa sẵn sàng, vừa xứng đáng để mở sách”.
d. “Sẽ có cuộc tìm kiếm để tìm cho được một “go’el” xứng đáng cho trường hợp nầy”.
15. Theo phần thảo luận của chúng ta trong phần nầy và phần nghiên cứu của chúng ta về Kinh Thánh, chữ Hybálai “go’el” có nghĩa
a. Bất cứ người nào có khả năng và sẵn sàng chuộc người khác.
b. Một người bà con gần, người bà con có quyền chuộc sản nghiệp.
c. Những ai có lòng thương xót người có nhu cầu.
d. Người được cảm động bởi những tình trạng khốn khổ của xã hội.
Cuộn sách niêm bảy ấn tượng trưng cho kết quả của tội lỗi vốn phân rẽ con người với sự sống đời đời mà họ đã được tạo dựng để hưởng thụ. Việc mở cuộn sách nầy tiêu biểu cho hành động làm cho con người có thể nhận được sự sống đời đời. Cuộn sách niêm bảy ấn ở đây tiêu biểu cho thời kỳ để chuộc dân sự hầu họ có thể thừa hưởng sự cung ứng của Đức Chúa Trời: sự sống đời đời. ICo1Cr 15:20-21 cho chúng ta thấy rằng trong Ađam mọi người đều chết và bị xa cách sự sống đời đời, và cũng nói rằng, trong Christ, Đấng Cứu Chuộc Họ Hàng Gần, sự sống đời sẵn sàng ban cho người tiếp nhận sự Cứu Chuộc của Ngài. Ađam được tạo dựng trở thành cái đầu của dòng dõi loài người và được sống trong sự tương giao trọn vẹn với Đức Chúa Trời, yêu mến Ngài và vâng lời Ngài. Nhưng Ađam và Eâva đã quay lưng lại vơi Đức Chúa Trời (SaSt 3:1-6). Trong IGi1Ga 2:15-17 chúng ta thấy một định nghĩa vắn tắt về sự yêu mến thế gian, và thế nào nó đã phân rẽ con người khỏi sự sống đời đời.
16. Cuộn sách niêm bảy ấn ở đây tiêu biểu cho
a. Thời kỳ Cứu Chuộc dân sự ra khỏi tội lỗi để họ có thể hưởng được sự sống đời đời.
b. Tội lỗi của con người sẽ được dùng làm cơ sở để kết án tội lỗi.
c. Bản liệt kê đơn giản về mọi tội lỗi của loài người.
d. Danh sách của những người đã tiếp nhận sự Cứu Chuộc của Đức Chúa Trời.
17. Ý nghĩa của cuộn sách niêm bảy ấn của KhKh 5:1-5 theo phần nghiên cứu của chúng ta là
a. Nếu không có công tác Cứu Chuộc của Christ, vốn được tượng trưng ở đây, thì con người vẫn cứ còn ở dưới sự nô lệ của tội lỗi.
b. Công tác chuộc tội của Đấng Christ sẽ không được hoàn tất nếu không có cảnh tượng tiêu biểu nầy.
c. Tất cả những biểu tượng của Kinh Thánh phải được thể hiện trong đời sống thực sự.
Để tóm tắt quang cảnh nầy, trong 5:4 chúng ta thấy Giăng khóc dầm dề vì ông hiểu rõ cuộn sách niêm bảy ấn nầy có nghĩa gì. Oâng biết rằng nếu không ai có thể mở đường cho cơ nghiệp đời đời mà Ađam đánh mất, thì nhân loại cứ tiếp tục tình trạng hư mất vô hy vọng. Satan sẽ tiếp tục như sư tử rống, tội lỗi, đau đớn, khổ nạn, chiến tranh, oán ghét, thành kiến, và đau khổ vẫn cứ tiếp tục. Giăng biết rằng con người không bao giờ có thể được giải cứu khỏi sự rủa sả của tội lỗi và nước của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ đến trên đất trừ phi có người mở được cuộn sách nầy, cứu chuộc con người khỏi tình trạng lạc mất của họ. Cảm tạ Đức Chúa Trời, đã tìm được co Người ấy.
18. Xếp đặt mỗi chữ hay cụm từ phù hợp với phần mô tả thích hợp.
....a. Phải là họ hàng gần, sẵn sàng.
....b. Chứa đựng thời gian chuộc.
....c. Từ dùng để mô tả là một người bà con gần, một người họ hàng có quyền chuộc sản nghiệp.
....d. Hành động tượng trưng cho việc làm mất hiệu lực các điều khoản của bản hợp đồng, như vậy, giải cứu một người khỏi những điều ràng buộc của hợp đồng đó.
....e. Tượng trưng cho hợp đồng vẫn có hiệu lực cho đến khi thời gian được hoàn tất do người nầy lập ra nó hay do “go’el” của người ấy.
ĐẤNG CHRIST CHIÊN CON ĐƯỢC TRỊNH TRỌNG KHEN NGỢI.
5:6-14.
Trong sách Khải huyền, lần đầu Đấng christ được đề cập như Chiên Con ở 5:6. Giăng Báp Tít đã nói về Chúa Jesus rằng Ngài là “Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi” (GiGa 1:29). Nói về sự cứu chuộc thuộc linh của chúng ta, Phierơ cho chúng ta biết rằng chúng ta được cứu nhờ “Huyết quí báu của Đấng Christ, chiên con không tì vít” ( IPhi 1Pr 1:19). Thật vậy, Bô-ô đã chuộc sản nghiệp của Ru-tơ, nhưng Đấng christ đã chuộc những người tin cậy Ngài về thuộc linh và trường cửu. Hãy luôn luôn nhớ rằng bạn được chuộc khỏi những hậu quả của tội lỗi bằng huyết của Christ, Chiên Con bị giết. “Nếu không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (HeDt 9:22). Chúa Jesus đã hy sinh sư sống vô tội của Ngài vì bạn và tôi, cùng tất cả mọi người, kể cả những người chưa nghe về điều đó. Nên nhớ rằng việc tội lỗi của chúng ta được tha thứ không đem chúng ta ra khỏi sự cám dỗ để phạm tội trở lại. Tuy nhiên, Đấng Christ đã đắc thắng mọi cám dỗ xui cho phạm tội (LuLc 4:1-12), sống trong chúng ta (GaGl 2:20) và qua đức tin của chúng ta nơi Ngài, Ngài cho phép chúng ta đắc thắng mọi cám dỗ ( ICo1Cr 10:13).
Trong KhKh 5:6-7, Giăng nhìn thấy Chiên con đến lấy sách ở tay hữu Đấng ngự trên ngai. Rõ ràng Chiên Con Christ đang cần cuốc sách để mở ra. Vì Giăng đã nói về khía cạnh sư tử của Đấng Christ ở câu 5, có thể ông trông đợi Con Sư tử đến để lấy cuốn sách hơn là Chiên Con. Tuy nhiên, việc mở sách nầy tiêu biểu cho hành động làm cho con người một lần nữa hưởng được sự sống đời đời, nên Đấng Christ là Chiên Con sẽ mở sách ấy. Như vậy, Con Đức Chúa Trời là go’el của chúng ta tiến hành việc nhận cuốn sách từ tay Đức Chúa Cha (câu 7). Không ai khác có thể hay đã từng làm hay dám thử điều đó.
19. Giải thích tại sao chúng ta được ban cho sức lực để đắc thắng mọi sự cám dỗ của chúng ta?
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
20. Tại sao khía cạnh Chiên Con bị giết của Đấng Christ được nhấn mạnh hơn khía cạnh sư tử của Ngài trong việc Ngài mở cuộn sách niêm bảy ấn.
........................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Bây giờ hãy khảo sát cẩn thận 5:8-14. Đoạn nầy bày tỏ sự trịnh trọng ca ngợi Đấng Christ là Chiên Con. Chúng ta thấy rằng mỗi một sinh vật và hai mươi bốn trưởng lão đang dùng đờn cầm và những bát vàng đầy hương (câu 8) để ca ngợi Ngài. Hơn nữa, chúng ta thấy mỗi tạo vật trong cả vũ trụ đang ca ngợi Ngài (câu 13). Những dụng cụ âm nhạc thường dùng để ca ngợi Đức Chúa Trời trong Thi thiên. Chúng ta tin rằng lời cầu nguyện của những người công bình phải là “Nước cha được đến” như trong Mat Mt 6:10.
Làm Bài tập tự chọn, bạn hãy viết một dàn ý về những chi tiết của lời ca ngợi vĩ đại nầy ở KhKh 5:8-14. Đó sẽ là bài giảng tuyệt vời hay dàn ý bài học Kinh Thánh.
21. Mô tả trong sổ tay của bạn tầm mức rộng lớn của sự ca ngợi trong 5:8-14 về Christ và Chiên Con (Christ the Lamb).
Ngày ca ngợi vĩ đại làm sao diễn ra cho những người biết Chúa Jesus Christ. Từ những gì đang xảy ra trên thế giới chúng ta, hiển nhiên rằng ngày ấy sắp đến rồi. Chúng ta phải cho mọi người biết về Jesus vì thì giơ gần đến khi Ngài hiện đến để tiếp rước chúng ta về với Ngài đời đời.
VIỆC MỞ SÁU ẤN ĐẦU TIÊN.
6:1-17.
Trong Khải huyền đoạn 6 Christ Chiên Con mở sáu trong bảy ấn của cuộn sách niêm bảy ấn. Khi Ngài làm như thế, một trong bốn con sanh vật nói “Hãy đến” chữ được dịch là “đến” (come) trong câu 1; 3; 5; 7 cũng có thể được dịch là “Hãy đi” (go). Rõ ràng chữ đi phải được dùng ở đây vì đi chỉ cho thấy rõ ràng không điều gì có thể rời khỏi thiên đàng nếu không có sự cho phép.
Đáp ứng cho sự triệu tập nầy, Giăng nhìn vào khung cảnh được mở ra tiếp theo. khi ấn thứ nhất bị tháo ra, Giăng thấy con ngựa bạch, người cởi trên có một cái cung. Hơn nữa, người ấy còn được ban cho một mão miện đắc thắng, và tiến về phía trước như người chinh phục say sưa trong chiến thắng. có nhiều ý kiến khác nhau về sự nhận diện về người cỡi ngựa trắng (ngựa bạch) ở câu 2. Một số người tin rằng đó là Chúa Jesus; một số giải thích người cỡi ngựa tiêu biểu cho thời đại Cơ Đốc, một số cảm thấy rằng người ấy đại diện cho Lời Đức Chúa Trời đang công bố.
Tuy nhiên, đa số những người tin rằng Hội Thánh sẽ không trải qua bảy năm của thời kỳ đại nạn, thì tin rằng người cỡi ngựa nầy là Antichrist. Tại sao? Trước hết, chữ Anti không phải lúc nào cũng mang một ý nghĩa chống lại (against), đôi khi còn nghĩa là thay thế (insteadof ). Antichrist sắp làm con người của thế giới và dân Ysơraên chấp nhận người ấy làm Christ của họ thay thế cho Christ thật. Thứ hai, chúng ta đã thấy trong II Têsalônica 2 Antichrist sẽ bước vào sân khấu để khởi đầu thời kỳ hoạn nạn. Khi Chúa Jesus trở lại trong Khải huyền 19, Ngài cũng sẽ cỡi ngựa bạch nữa, tuy nhiên, ở đây trong 6:2; người cỡi ngựa trắng dường như là một sự bắt chước. Thứ ba, Chúa Jesus sẽ có vương miện của vua (diadems) trên đầu Ngài. Thứ tư, cung là một vũ khí chiến trận có thể tiêu biểu cho sức mạnh quân sự của Antichrist. Vũ khí duy nhất Chúa Jesus cần là Lời của Ngài, sắc hơn gươm hai lưỡi. Điểm cuối cùng liên quan đến việc nhận diện người cỡi ngựa bạch đó là việc Christ Chiên Con được bày tỏ khi mở ấn thứ nhất trong khi Ngài đồng thời là motä nội dung của việc mở ấn đó dường như không phù hợp.
Việc mở những dấu ấn đánh dấu cho việc khởi đầu Cơn Đại Nạn. Như vậy biến cố chính đầu tiên liên quan đến việc tiết lộ con người sẽ chịu trách nhiệm rất nhiều cho những gì sẽ xảy ra trong thời kỳ náo loạn nầy. Có lẽ bạn sẽ nhìn thấy rằng chúng tôi dùng chữ Cơn Đại Nạn để chỉ toàn thể thời kỳ bảy năm của Cơn Đại Nạn. Một số người chỉ gọi nửõa sau của bảy năm là Cơn Đại Nạn, nhưng chúng ta sẽ thấy khi chúng ta sang đoạn 7 thì toàn thể thời kỳ bảy năm có lẽ phải được gọi là Ngày của Chúa. Đây là thời kỳ đặc biệt trong đó chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất mục đích của Ngài cho Ysơraên và cho những quốc gia trên thế giới.
Những đoạn Kinh Thánh mà chúng ta cảm thấy chứng tỏ rằng thời kỳ nầy dài hơn những gì ám chỉ về phân nữa của thời kỳ bảy năm là EsIs 2:13-21; 13:9-16; Gio Ge 1:15; 2:11; 2:28-32; 3:9-12; AmAm 5:18-20; ApOv 1:15-17 và SoXp 1:7-18; XaDr 12:1-14:21 nhấn mạnh cả sự phán xét của Đức Chúa Trời trên các dân và sự khôi phục của dân Ysơraên. Gie Gr 30:7 gọi nó là “kỳ tai hại của Gia Cốp”, trong khi DaDn 12:1 chứng tỏ đó là thời kỳ khó khăn, tai nạn nhất ở trong lịch sử nhân loại. Cơn Đại Nạn là thời kỳ của cơn thịnh nộ của của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ thấy điều nầy khi chúng ta tiếp tục học sách Khải huyền. Khi chúng ta cố gắng vạch rõ điều nầy, và như ITe1Tx 5:9 trình bày rõ, Cơ Đốc Nhân chẳng bị dự định cho sự thạnh nộ.
22. Hầu hết những người không tin rằng Hội Thánh sẽ trải qua bảy năm của Cơn Đại Nạn đều tinrằng người cỡi ngựa bạch là
a. Antichrist.
b. Chúa Jesus Christ.
c. Lời Đức Chúa Trời.
d. Thời đại Cơ Đốc được hiện thân.
Như chúng ta đã thấy, trong Kinh Thánh, Antichrist được gọi bằng nhiều tên. Nhiều phần Kinh Thánh khác nhau để chỉ về con người ấy như:
· Antichrist ( IGi1Ga 2:18).
· Cái sừng nhỏ (DaDn 7:8, 23-26).
· Người có bộ mặt hung dữ ( 8:23).
· Vua hầu đến ( 9:26-27).
· Kẻ chăn vô ích ( XaDr 11:15-17).
· Kẻ bất pháp ( vô luật pháp ) ( IITe 2Tx 2:1-12).
· Con người dành cho sự hủy diệt ( kẻ dại tội) (2:3).
Những phần mô tả khác về Antichrist cũng được tìm thấy trong Kinh Thánh. Nó có đặc tính của một:
· Người ăn nói nói xấc xược, khoe khoang ( DaDn 7:8).
· Người dùng sức mạnh quân đội ( 8:24).
· Tên trùm có nhiều mưu đồ ( Master of intrigue) ( 8:24).
· Người thành công ( 8:24).
· Người kiêu ngạo ( 8:25).
· Người dùng lời nịnh hót để phá hoại ( 11:32).
· Người nhấc mình cao hơn Đức Chúa Trời ( 11:36).
Chúng ta sẽ thảo luận nhiều hơn về Antichrist khi học đến Khải huyền 13 và 17. Trong một thời gian có lẽ nó sẽ mang sự hòa bình và giải quyết nền kinh tế thế giới. Vài học giả Kinh Thánh giải thích sự kiện là con người nầy đem bằng cái cung mà không có tên là bằng cớ cho thấy những cuộc chinh phục đầu tiên của người ấy tiêu biểu bằng con đường ngoại giao chứ không có sự đổ máu. Tuy nhiên, rất lâu trước khi người ấy sẽ phải thực hiện chương trình thống nhất kinh tế và hòa bình thế giới thì chắc chắn có sự mất mát nhiều mạng sống. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta hãy xem xét những hoàn cảnh đi tiếp sau việc xuất đầu lộ diện của con người nầy.
Khi ấn thứ hai được mở ra, một con ngựa sắc hồng (đỏ dữ tợn-fiery red) hiện ra. Kẻ ngồi trên ngựa mang một thanh gươm lớn. Người cỡi ngựa được phép cất sự hòa bình khỏi đất (câu 3-4). Sự khẩn cấp của người ấy chỉ về chiên tranh sẽ theo sau. Kế đó, khi mở ấn thứ ba, có con ngựa ô (đen) đi ra, kẻ ngồi trên tay cầm cái câu. Rõ ràng điều nầy tiêu biểu cho sự thiếu thốn lương thực ( câu 5). Trong thời chiến, vô số người đã bỏ việc sản xuất lương thực để ra đi chinh chiến, nên nạn đói thường theo sau. Tuy nhiên với sự bùng nổ dân số thế giới, việc con người không đủ khả năng cung cấp lương thực cho mình chắc chắn sẽ làm cho vấn đề càn tệ hại hơn. Thực phẩm sẽ rất đắc giá trong tiến trình thiếu thốn nầy (câu 6), ngay cả trong thời kỳ khó khăn nầy cũng có một số người sẽ tìm dầu và rượu vốn là loại xa xí phẩm. Người ta sẽ bán linh hồn mình vì những thứ xa xí phẩm nầy. Họ không hiểu được ý nghĩa của điều Chúa Jesus nói với người đàn bà Samari, “Ai uống nước nầy vẫn còn khát nữa, nhưng ai uống nước ta cho sẽ chẳng bao giờ khát” ( GiGa 4:13-14). Chúa Jesus đang giải thích sự thỏa mãn phát xuất từ những gì con người có từ bên trong. Những công việc mang lại hạnh phúc từ trong ra ngoài -chứ không phải từ ngoài vào trong. Xa xí phẩm có tốt lành gì đâu khi không đủ thức ăn?
Khi ấn thứ tư được mở ra, có một con ngựa xanh tái (xám - pale) đi ra, kẻ cỡi lên trên tên là Chết, và Aâm phủ (Hades). Ở đây Aâm phủ và sự chết hiện thân, tức là, những điều ấy được coi như những con người. Sự hiện thân là điều thông thường trong Cựu Ước. Chẳng hạn, trong Châm Ngôn sự khôn ngoan được đối xử như là một phụ nữ (ChCn 1:20). Quang cảnh nầy nói lên sự chết rộng rãi sẽ xảy ra trong Cơn Đại Nạn. Hades luôn luôn theo sau sự chết của người không tin Chúa.
Khi mở ấn thứ năm, Giăng thấy có nhiều người tử đạo. Một số học giả Kinh Thánh tin rằng những người bị giết nầy tiêu biểu cho những người tử đạo vì đức tin cơ Đốc trong suốt lịch sử. Những người tin rằng Hội Thánh sẽ trải qua Cơn Đại Nạn thì xem họ như là những Cơ Đốc Nhân bị giết trong thời kỳ chót nầy, Chúng tôi tin rằng những người bị giết nầy là người tiếp nhận Chúa Jesus Christ trong nữa phần đầu của cơn Đại Nạn, họ sẽ bị giết vì cớ đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời. Họ sẽ “ở dưới bàn thờ” (câu 9) vì Đức Chúa Trời coi sự chết của họ như là của lễ hy sinh.
Khi ấn thứ sáu được mở ra (câu 12-14) chúng ta thấy một trong những bức tranh quan trọng nhất trong Lời Đức Chúa Trời. Một vài sự mô tả tương tự hay so sánh khi dùng những chữ giống như (like) hay như (as) để làm cho lời nói gợi hình sống động hơn. Những phần mô tả khác xử dụng ngôn ngữ trực tiếp theo nghĩa đen.
Ngay sau khi Giăng nhìn thấy một cơn động đất lớn, có hiện tượng giống như nhật thực, mặt trăng thay đổi bất thường đến nổi dân cư trên đất thấy nó đỏ giống như huyết (có lẽ là kết quả của tro hay bụi của núi lửa trong bầu không khí do trận động đất đem lại). Hơn nữa, nhiều vì sao (có lẽ sao băng, các thiên thể), rơi xuống đất, trong lúc đó bầu trời ở trên thình lình biến mất, giống như những núi và đảo của hành tinh nầy bị quăng khỏi chổ mình. Câu 15-17 cho chúng ta thấy phản ứng của con người trước những cảnh tượng kinh khủng nầy. Sự sợ hãi tràn ngập vào lòng mọi người khi họ biết rằng thời điểm nầy không giống như những lúc khác trong lịch sử nhân loại. Thỉnh thoảng người ta cũng thấy sự thịnh nộ của con người. Tuy nhiên, khi thấy trời dời đi, bây giờ dường như họ có thể thấy trực tiếp ngôi của Đức Chúa Trời, và họ biết rằng họ đang đối diện cơn giận của Đức Chúa Trời của hoàn vũ.
Đây mới là sự khởi đầu của Cơn Đại Nạn, Ngày của Chúa. Nên nhớ rằng Đức Chúa Trời yêu thương con người nhiều đến nỗi Ngài đã sai Con Ngài chịu chết thay cho toàn thể nhân loại. Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta đến nỗi Ngài sai Con Ngài trẻ giá hình phạt tội lỗi thay cho chúng ta - chết thế chỗ thay cho chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời còn là Đức Chúa Trời của sự thánh khiết và công bình. Ngài không thể dung thứ tội lỗi vốn làm cho xa cách con người với Ngài. Bản chất thật của Ngài đòi hỏi Ngài phải trừng phạt tội lỗi củ nghững người không tiếp nhận sự tha thứ mà Ngài đã cung cấp qua sự hy sinh của Con Ngài. Vì thế, khi biết những gì nằm đằng trước, Cơ Đốc nhân phải dùng mọi sức lực của mình loan báo sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho mọi người. Đây là công tác của Hội Thánh trên thế giới, và đây cũng là trách nhiệm của mỗi cá nhân tín hữu nữa.
23. Nhận diện một số điều xảy ra khi mở mỗi ấn trong sáu ấn đầu tiên bằng cách sắp xếp mỗi ấn với những điều xảy ra khi ấn được mở.
....a. Sự xuất hiện của người cỡi ngựa vốn là hiện thân của Sự Chết và Aâm phủ.
....b. Cơn động đất lớn và sự náo loạn cả thể chất và trên trời.
....c. Sự xuất hiện của người cỡi ngựa vốn được phép cất sự hòa bình khỏi thế giơói.
....d. Nhiều người bị giết vì cớ đức tin Cơ Đốc của họ.
....e. Sự xuất hiện của người cỡi ngựa với cái cung.
....f. Sự xuất hiện của người cỡi ngựa với cái cân.
Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất.
1. Đấng thường trực ngự trên ngôi trời là
a. Sư tử của chi phái Giu đa.
b. Chiên Con bị giết của Đức Chúa Trời.
c. Đức Chúa Trời Toàn Năng.
2. Sự ca ngợi Đấng Christ cách rộng rãi trong Khải huyền 5: 8-14 phát xuất từ
a. Bốn con sinh vật và hai mươi bốn trưởng lão.
b. Vô số thiên sứ.
c. Tất cả mọi tạo vật trong vũ trụ.
d. Tất cả những câu a) b) c).
e. Chỉ có những gì ghi ở câu a) và b) ở trên.
3. Nhân vật dường như tiêu biểu bốn sinh vật ở Eâxêchiên 1 và Khải huyền 4 là
a. Đức Chúa Cha.
b. Chúa Jesus Christ.
c. Một thiên sứ mạnh sức.
d. Bản thân Êxêchiên.
4. Chữ hybálai go’el có nghĩa
a. “Mão miện của người đắc thắng” hay “vương miện của vua”.
b. “Đến” hoặc “đi”.
c. “chống lại” hay “thay thế”.
d. “Người bà con có quyền chuộc sản nghiệp “ hay “Người bà con gần nhất”.
5. Khải huyền 6 chứng tỏ rằng một cơn động đất lớn xảy ra lúc tháo ấn thứ
a. Sáu.
b. Năm.
c. Bốn.
d. Ba.
e. Hai.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào chỗ trống trước câu đúng. Chữ S nếu câu nói đó không đúng.
....6. Khía cạnh con bò liên quan mật thiết với Chúa Jesus là một sự kết hợp giữa Đức Chúa Trời và con người.
....7. Khía cạnh sư tử của Christ hơn là khía cạnh Chiên Con được nhìn thấy khi Ngài mở cuộn giấy niêm bảy ấn.
....8. Ý nghĩa của cuộn sách niêm bảy ấn của KhKh 5:1-5 ấy là nếu không có công tác cứu chuộc của Đấng Christ, được tượng trưng ở đây, thì con người sẽ đời đời ở dưới xiềng xích của tội lỗi.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Trả lời vắn tắt những câu hỏi dưới đây vào chỗ đã chừa sẵn.
9. Giải thích thế nào HeDt 11:39-40 dường như ám chỉ rằng 24 trưởng lão của KhKh 4:4 tiêu biểu cho mọi người công bình của Cựu Ước và cả những người công bình ở Tân Ước.
...............................................................................................................................................................................................................................................................................
...............................................................................................................................................................................................................................................................................
10. Trình bày mối quan hệ của Đấng Christ đối với sự sống đời đời cho con người.
................................................................................................................................................................................................................................................................................
...............................................................................................................................................................................................................................................................................
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. b) Đức Chúa Trời Toàn Năng.
2. c) Ngài được trình bày như là Đấng sống trong sự vinh hiển, bao bọc bằng những thần dân cung kính tôn thờ, và được phục vụ bằng hiện tượng thiên nhiên tạo sự sợ hãi.
3. c) Những lời hứa.
4. Họ trên những chiếc ngai, họ mặc đồ trắng, và đội mão miện bằng vàng.
5. 1) Không nơi nào trong Kinh Thánh nói những thiên sứ được gọi là trưỡng lão. 2) Hai mươi bốn trưởng lão trong 4:4 đã nhận được lời hứa của Chúa Jesus về sự chiến thắng, những tín hữu Hội Thánh đắc trong Khải huyền đoạn 2 và 3. 3) Aùo trắng được đề cập ở phần sau của sách khải huyền là áo của những người được chuộc.
4) Mão miện bằng vàng trong 4:4 hiển nhiên được ban cho những người được chuộc vì họ đắc thắng tội lỗi và Satan.
6. d) Những cửa sẽ được đặt theo tên của mười hai chi phái Ysơraên, và những nền sẽ được đặt theo tên của mười hai sứ đồ của Christ.
7. HeDt 11:39-40 dường như gợi ý rằng bằng việc đưa ra điều nầy những người công bình của Cựu Ước sẽ được làm nên trọn vẹn cùng với những người công bình của thời Tân Ước, tức là Hội Thánh. KhKh 21:12-14 dường như chứng tỏ điều nầy bằng sự kết hợp mười hai chi phái của Ysơraên, đại diện cho những người công bình thời Cựu Ước, với mười hai sứ đồ của Chiên Con, ám chỉ về những người công bình thời Tân Ước, với nhà của Tân phụ của Christ, Giêrusalem mới.
8. Ông cho thấy rằng khải tượng nầy là “chân dung của sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”.
9. Đức Chúa Con, Jesus Christ.
10. b) Jesus Christ.
11. a. 3) Người.
12. d) Cả trong lẫn ngoài cuộn sách.
13. c) “Ai đáng mở cuốn sách và thấu ấn nó?”
14. b) “Kìa, Sư tử của phái Giu đa... có thể tháo ấn và mở sách”.
15. b) Một người bà con gần, người bà con có quyền chuộc sản nghiệp.
16. a) Thời kỳ cứu chuộc dân sự ra khỏi tội lỗi để họ có thể hưởng được sự sống đời đời.
17. a) Nếu không có công tác cứu chuộc của Christ vốn được tượng trưng ở đây, thì con người vẫn còn ở dưới sự nô lệ của tội lỗi.
18. a. 5) Những phẩm chất của người được cứu chuộc.
b. 1) Cuộn sách.
c. 2) Go’el.
d. 4) Tháo ấn.
e. Dấu ấn.
19. Bằng đức tin của chúng ta nơi Christ là Đấng sống trong chúng ta.
20. Vì sự tháo cuộn sách tiêu biểu cho hành động cứu chuộc của Ngài làm cho sự sống đời đời có hiệu lực cho con người.
21. Sự ca ngợi rộng rãi nầy phát xuất từ bốn sinh vật và hai mươi bốn trưởng lão, muôn ngàn thiên sứ, và mọi tạo vật trong vũ trụ. Nó trổi lên một bài ca hùng mạnh lan tỏa khắp nơi cho đến khi dường như dội vang trên khắp vũ trụ.
22. a) Antichrist.
b. 1) Sư tử.
c. 4) Chim ưng.
d. 2) con bò.
23. a. 4) Ấn thứ tư.
b. 6) Ấn thứ sáu.
c. 2) Ấn thứ hai.
d. 5) Ấn thứ năm.
e. 1) Ấn thứ nhất.
f. 3) Ấn thứ ba.
Những Biến Cố Giữa Cơn Đại Nạn
Trong bài học vừa rồi, chúng ta đã giới thiệu những vấn đề liên quan đến sự khởi đầu của Cơn Đại Nạn. Chúng ta đã quan sát sự xuất đầu lộ diện của Antichrist và sự xuất hiện của chiến tranh, đói kém và bịnh tật không tiền khoáng hậu. Sự chết giống như con thú đói chạy theo ba điều trên để bắt vô số con mồi bỏ đầy Ââm phủ. Trong khi đó giữa những khó khăn nầy cõi thiên nhiên lại bị chấn động bằng tai ương chưa từng thấy. Sự sợ hãi tràn ngập những con ngừi hiện đang sống khi họ hướng về Đấng Tối Cao mà mọi tạo vật phải khai trình. Bây giờ chúng ta đi qua phần khởi đầu Cơn Đại Nạn để đến những biến cố dường như có liên quan đến điểm giữa của thời kỳ đại nạn nầy.
Hai tập thể con người được nhìn thấy trong đoạn 7: 144.000 người và vô số người mặc áo trắng, tay cầm lá chà là. Chúng ta sẽ khảo sát những tập thể nầy và ý nghĩa của điều đó trong những biến cố thời kỳ cuối cùng. Tiếp theo cảnh tượng nầy, chúng ta thấy thế nào tiếng kèn phán xét trổi lên thì sự tàn phá giận dữ bị trút xuống quả đất và dân cư trên đó. Mặc dù chúng ta hy vọng người ta sẽ đáp ứng với những biến cố kinh khủng tiếp theo sau việc mở ấn bằng sự ăn năn, nhưng chúng ta thấy rằng hầu hết mọi người chẳng ăn năn. Trái lại họ càng cứng lòng hơn vì họ yêu mến tội lỗi. Họ bị giữ chặt trong nanh vuốt của tội lỗi và làm nô lệ cho mưu chước của nó. Nếu họ không ý thức rằng chỉ có quyền năng của Phúc Aâm mới phá vỡ xiềng xích của tội lỗi, thì họ vẫn cứ làm nạn nhân của những thói quen dơ bẩn, và bản chất xác thịt. Công tác của chúng ta là chia sẻ tin mừng rằng sự sống chân thật -”sự sống... sung mãn” (GiGa 10:10) đang có sẵn cho họ trong Đấng Christ. Ngài có thể thỏa mãn mọi mong ước, khao khát và chủ đích của họ.
Giới Thiệu.
Tổng Lược Khải Huyền từ đoạn 4 đến 22.
Bốn Thiên Sứ và Thiên Sứ Đánh dấu.
144.000 người.
Nhận Diện 144.000 người.
Quần Chúng Rất Đông Mặc Aùo Trắng.
Thiên Sứ Cầm Lư hương Vàng.
Tiếng Vang của Sáu Kèn Đầu Tiên.
• Giải thích hành động đáng dấu cho dân sự của Đức Chúa Trời, hành động nầy chen vào điều gì, tại sao chi phái Đan và Eùpraim không được đề cập.
• Nhận diện quần chúng rất đông mặc áo trắng, ý nghĩa tượng trưng của thiên sứ cầm lư hương vàng, ngôi sao rơi xuống, và những gì xảy ra khi tiếng vang của mỗi chiếc kèn trong sáu chiếc.
• Chia sẻ sứ điệp của Christ cách hiệu quả hơn cho những người khác.
1. Đọc cẩn thận KhKh 7:1-8:13; 9:1-21 trước khi bạn nghiên cứu bài học nầy.
2. Bạn có thể xử dụng Kinh Thánh của bạn để trả lời câu hỏi nghiên cứu và những câu hỏi ở bài tập trắc nghiệm.
3. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để tìm hiểu ý nghĩa của những chữ bạn chưa biết.
4. Nên nhớ phải viết câu trả lời của mình trước khi xem phần giải đáp ở cuối bài. Phưong pháp nầy sẽ giúp bạn học tài liệu nhanh hơn.
5. Nghiên cứu bài học nầy và làm bài tập trắc nghiệm theo tiến trình đưa ra trong Bài 1.
Biến động đột ngột (upheaval).
Bình hương (lư hương) (cencer).
Cây Oâlive được vun trồng
(cultivate olivetree).
Đồng tồn (coexist).
Hương (incense).
Làm dấu (sealing).
GIỚI THIỆU.
Theo tựa đề của bài học, chúng ta đang quan tâm đến những biến cố xảy ra trong thời kỳ đại nạn. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy có một số thắc mắc khi đến điểm nầy, nghĩa là, những biến cố Kinh Thánh nào đánh dấu cho sự khởi đầu của nó. một số học giả tin rằng khải huyền 12 đánh dấu sự xuất hiện của nó, trong khi những người khác tin rằng nó bắt đầu trong khi những bát thạnh nộ trút xuống ở đoạn 16. Còn những người khác xác quyết rằng điểm giữa của Cơn Đại Nạn xảy ra khi mở cái ấn thứ sáu trong Khải huyền đoạn 6, vì sự tàn phá ở đây tương tự như những gì được đưa ra trong Mat Mt 24:29. theo quan điểm của chúng tôi và nhiều giáo sư Kinh Thánh khác, thì những biến cố mô tả trong đoạn 7 xảy ra ở giữa của thời kỳ 7 năm. Chúng ta có thể nói thêm rằng ngay cả những người đặc điểm giữa của cơn Đại Nạn ở chổ khác trong sách Khải huyền thì cũng đồng ý rằng các biến cố được mô tả trong đoạn 7 dường như ở gần hay ngay điểm giữa của Cơn Đại Nạn.
Những biến cố xảy ra trong đoạn 7 dường như gợi ý rằng nũa phần sau của thời kỳ đại nạn bắt đầu giữa việc mở ấn thú sáu và thứ bảy. Tuy nhiên, theo ý nghĩa rộng, chúng ta tin rằng tất cả tài liệu chúng ta sẽ học trong những đoạn 7-9 liên quan đến giữa thời kỳ bảy năm. Vì vậy, việc chúng ta tiếp xúc với những điều nầy sẽ phản ảnh niềm tin cơ bản của chúng ta.
TỔNG LƯỢC KHẢI HUYỀN TỪ ĐOẠN 4-22.
Trước khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu những biến cố trong sách Khải huyền 7-9, chúng ta hãy khảo sát biểu đồ sau về Khải huyền từ đoạn 4 đến 22. Mục đích của chúng tôi khi làm điều nầy là giúp bạn hiểu rõ hơn thú tự của những biến cố khi bạn nghiên cứu loạt bài nầy. Hãy khảo sát biểu đồ nầy cách cẩn thận trưóc khi bạn nghiên cứu câu hỏi 1. Biểu đồ ở trang kế.
1. Hãy sắp xếp năm phần thì giờ (time segment) được khảo sát trong phần nầy (phải) với biến cố (trái) vốn có liên quan đến từng phần.
....a. Tòa án trắng và hồ lửa.
....b. Mở cái ấn cuối cùng.
....c. Hai bát cuối được đổ ra.
....d. Trời mới và đất mới.
....e. Sự cất lên của người công bình giữa Cơn Đại nạn.
....f. Sự cai trị 1.000 năm của đấng Christ.
Trong bài học nầy chúng ta sẽ nhấn mạnh chủ yếu dựa vào biểu đồ theo thứ tự của những biến cố liên quan đến việc những người công bình ở giữa Cơn Đại Nạn được cất lên và những biến cố khác xảy ra giữa Cơn Đại Nạn. Chúng ta cũng phải thêm vài biến cố chính ghi nhận ở biểu đồ ở đầu và cuối của biểu đồ ở thời kỳ được nêu lên. Chẳng hạn, hai bát cuối và trận Hạtmaghêđôn xảy ra ở cuối của bảy năm rưỡi thứ hai trước khi thiên hi niên bắt đầu. Với cái nhìn tổng quát về khung thời gian nầy, chúng ta hãy khảo sát những biến cố giữa những Cơn Đại Nạn trong Khải huyền đoạn 7-9.
BỐN THIÊN SỨ VÀ THIÊN SỨ ĐÓNG ẤN.
KhKh 7:1-3.
Bấây giờ Giăng đang thấy bốn thiên sứ đang đứng theo cách chiến lược tại bốn góc đất, cầm bốn hướng gió lại để không thổi trên mặt đất. Câu 1 không cho chúng ta biết hoặc đó là gió phước lành hay gió của sự phán xét. Tuy nhiên, trong câu 2 và 3 chu1ng ta thấy ngay đó là gió gây thiệt hại. Tại điểm nầy, một thiên sứ khác đến để nhấn mạnh vào những người có dấu của Đức Chúa Trời hằng sống. Người kêu gọi bốn thiên sứ kia phải đình chỉ sự phán xét cho đến khi “chúng ta đã đóng ấn trên trán những đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta” (câu 3).
Trong nội dung gần và rộng hơn (đoạn 7-9), dường như con dấu là sự che chở vì sự phán xét sắp đổ ra. Trong đoạn 9:3-4, rõ ràng là con dấu phục vụ cho sự bảo vệ những người được đóng dấu tránh khỏi sự thiệt hại do sự phán xét khi tiếng kèn thứ năm nổi lên. Tại đây tiến trình phán xét bị ngăn giữ không đụng đến 144.000 người được đóng dấu vốn là dấu hiệu của việc họ được bảo vệ. Nó dễ thấy vì ở ngay trên trán.
2. Bốn thiên sứ trong Khải huyền đoạn 7 :1-3 cầm giữ bốn hướng gió với dự định để
a. Làm quả đất sống động, tốt đẹp.
b. Làm hại quả đất.
c. Làm cho dân cư trên đất hồi sinh.
d. Đem bãõo mạnh mẽ đến trên đất.
3. Trong khi bốn thiên sứ cầm giữ bốn hướng gió, một thiên sứ khác đến nhấn mạnh trọng trách của người làû để
a. Kiềm hãûm sự phán xét trong khi Phúc Aâm được rao giảng.
b. Động viên những thiên sứ đang thi hành sự trừng phạt phải hoàn tất công tác của mình càng sớm càng tốt.
c. Cho biết đầy tớ nào của Đức Chúa Trời đáng được đóng dấu.
d. Đóng dấu trên trán những đầy tớ của Đức Chúa Trời.
4. Mục đích của việc đóng dấu 144.000 người là để
a. Làm phong phú cuộc sống của nhữûng người được đóng dấu.
b. Ban quyền năng cho những người nhận con dấu của Đức Chúa Trời để phục vụ.
c. Ban sự bảo vệ cho họ ở giữa sự phán xét.
d. Khuyến khích họ làm những việc quyền năng trong thời kỳ bị phán xét.
MỘT TRĂM BỐN MƯƠI BỐN NGÀN
7:4.
Có rất nhiều quan điểm liên quan đến việc nhận diện 144.000 người. Một số người cho rằng 144.000 người nầy đã lên trời rồi, trong lúc dân sự Đức Chúa Trời còn lại làm việc để thừa kế quả đất. Hoàn toàn không có cơ sở Kinh Thánh cho niềm tin như thế. Những người khác dạy rằng 144.000 người là những Cơ đốc Nhân giữ ngày Sabát của cựu Ước như là một phần của sự cứu rỗi của họ. Một lần nữa, chúng ta có thể trả lời rằng không có bằng chứng Kinh Thánh cho sự dạy dỗ như thế. Có hai quan điểm chính nầy những người chủ trương việc nhận diện nhóm người 144.000 nầy khởi xướng. Thường thường có sự phân chia giữa những người tin rằng hội Thánh phải trải qua Cơn Đại Nạn và những người không tin như thế. Những người tin rằùng Hội Thánh sẽ trải qua Cơn Đại nạn nghĩ rằng con số 144.000 là đại diện của mọi dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ hiện tại. Họ cho rằng tập thể đại diện nầy tạo thành do những người Do thái và Dân ngoại đã tiếp nhận Jesus Christ làm cứu Chúa. những người nầy tin rằng 144.000 người đại diện cho Hội Thánh. Tuy nhiên một số người khác tin rằng dân Ysơraên sẽ được khôi phục và đồng tồn với Hội thánh trên đất.
Những người tin rằng 144.000 người đại diện cho tất cả những người sẽ được cứu trong Cơn Đại Nạn đặt niềm tin của họ dựa vào một số câu Kinh Thánh mà cho tin rằng Hội Thánh nhận những phước lành vốn được Đức Chúa Trời cho Aùpraham từ thuở ban đầu. Một số câu Kinh Thánh họ dùng là RoRm 2:28-29; 4:1-25 (đặc biệt câu 16); và GaGl 3:6-9. Họ cũng trình bày rằng nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước cũng được ban lại trong Tân Ước cho Hội Thánh. Họ nói rằng một ví dụ của loại lặp lại nầy là phần trích dẫn Gie Gr 31:31-34 ở HeDt 8:8-12.
Tuy nhiên, hãy chú ý điều Phao lô ghi nhận trong RoRm 9:1-5 và cố tìm xem ông đang nói về Hội Thánh như là Ysơ raên thuộc linh hay dòng dõi thể chất của Ysơraên. Những điểm sau đây từ 9:11 có thể giúp chúng ta xác định 144.000 người được đóng dấu từ mười hai chi phái Ysơraên đại diện cho ai.
1. Không phải hết thảy con cái Aùpraham đều thừa kế những lời hứa Đức Chúa Trời ban cho Aùpraham, những lời hứa nầy phải được chiếm hữu bằng đức tin (9:6-9).
2. Đức Chúa Trời chọn Ysơraên dựa trên ý muốn của Ngài chứ không phải trên công việc của con người (9:10-18).
3. Đa số dân Ysơraên đã lìa bỏ Đức Chúa Trời vì cớ không tin ( 9:27-33).
4. Bất cứ người nào dù Do thái hay Ngoại bang, con đường duy nhất để họ có thể được cứu là tin nơi Chúa Jesus Christ (10:6-13).
5. Những người Ngoại bang tin Chúa đã được tháp vào gốc của cây Oâliveđược trồng (11:11-24).
6. Sự đui mù thuộc linh của Ysơraên sẽ được cất đi khi “số dân Ngoại bang được đầy đủ” (11:25).
7. Quốc gia Ysơraên sẽ được cứu và được tháp trở vào sự công bình của Đức Chúa Trời (6-32).
Cụm từ “cả dân Ysơraên” (11:26) ám chỉ những gì Cựu Ước gọi là “dân sót của Ysơraên”, chẳng hạn, xem EsIs 10:20-21. Chính quốc gia Ysơraên của ngày cuối cùng sẽ trở lại cùng Đấng Christ trong Cơn Đại Nạn. Điều nầy không có nghĩa là mọi người Do thái sẽ tiếp nhận Jesus Christ làm Cứu Chúa khác hơn mọi người dân Ngoại tiếp nhận Ngài bây giờ. Tuy nhiên, những ai tiếp nhận Ngài sẽ được coi như là “dân sót”. Việc gọi tên những chi phái đặc biệt trong KhKh 7:5-8 dường như chỉ những con người từ quốc gia Ysơraên sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời bằng đức tin và cũng sẽ trở thành dân Ysơraên thuộc linh nữa. Vì vậy, trong những câu nầy, số 12, số tượng trưng cho sự hoàn tất cuôùi cùng, những lần mười hai chỉ về số dân sót của Ysơraên tiếp nhận Đấng Christ. Chúng ta tin rằng sự chấp nhận nầy sẽ đem đến nửõa phần cuối của Cơn Đại nạn, một quan điểm sẽ được 12:1-18 và DaDn 12:1-13 hổ trợ. Chúng ta có thể thêm vài quan điểm nữa cho rằng 144.000 người là trái đầu mùa của toàn quốc gia Ysơraên sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời. Nghĩa là, 144.000 người nầy chỉ là “Phần ứng trước” của toàn bộ mùa gặt từ quốc gia Ysơraên cuối cùng sẽ được cứu. Dù chúng ta không ám chỉ điều nầy, nhưng đây là một gợi ý thú vị để suy gẫm khi chúng ta học hỏi.
5. Trong RoRm 9:1-5 Phao lô đang nói rõ
a) Không phải Hội Thánh cũng không phải quốc gia Ysơraên.
b) Cả Hội Thánh và quốc gia Ysơraên.
c) Về Hội Thánh hơn là quốc gia Ysơraên.
6. Trong sổ tay của bạn, hãy giải thích 144.000 người từ mười hai chi phái Ysơraên đại diện cho ai.
NHẬN DIỆN 144.000 NGƯỜI.
KhKh 7:5-8.
Bây giờ chúng ta sang phần thảo luận về những chi phái Ysơraên được kể trong số 144.000 người, và tại sao một số chi phái trong những chi phái được đề cập trước trong Kinh Thánh lại không có trong 7:5-8, SaSt 35:23-26 cho chúng ta danh sách đầu tiên của những người con trai của Ysơraên. Về sau, Ysơraên công bố phước lành đặc biệt trên những đức con của Giô sép, Eùpraim và Manase (48:11-20) cho Giô sép “cơ nghiệp gấp đôi” bằng việc kể hai con trai ông là những người thừa kế trong vòng những chi phái của Ysơraên. Mộtsự thay đổi nữa xảy ra trong danh sách những người thừa kế của Ysơraên khi Đức Chúa Trời chọn chi phái Lê vi thay vì những con trai trưởng nam của chi phái của Ysơraên. Như vậy, chi phái Lê vi không có cớ nghiệp nào trong xứ Canaan. Tuy nhiên, trong danh sách những chi phái được đóng dấu đưa ra ở KhKh 7:5-8, thì dường như Lêvi đã được điền vào thay cho Đan, và Giô sép thay cho Épraim.
Bạn có thể thắc mắc, “Tại sao Đan và Eùpraim không được đề cập?” Chúng tôi tin rằng đầu mối để trả lời cho câu hỏi nầy được tìm thấy trong lịch sử Cựu Ước. Chẳng hạn, rõ ràng Đan là chi phái đầu tiên thiết lập sự thờ hình tượng (Cac Tl 18:30-31). Hơn nữa, sau cái chết của Salômôn, nước Ysơraên bị chia ra, thì Giêrôbôam, vua của vương quốc phía Bắc, đã lập hai trung tâm thờ lạy hình tượng chính thức cho dân sự của ông: một tại Đan, và trung tâm kia tại Bêtên, một thành phố thuộc đất Eùpraim. Lướt nhìn XuXh 20:3-4, và PhuDnl 16:21-22, chúng ta được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời ghét sự thờ hình tượng. Hướng về phía trước vào thời đại trị vì của Antichrist, chúng ta thấy rằng hắn sẽ cố gắng dẫn dân Ysơraên một lần nữa từ bỏ Đức Chúa Trời và thờ lạy hình tượng, tượng của chân dung của hắn. Nó sẽ cấm thờ phượng theo Luật pháp, và bắt buộc mọi người phải thờ phượng hắn và tượng của hắn. Đây là sự tàn phá gớm ghiếc mà Đaniên nói đến (DaDn 9:27) và là điều Chúa Jesus ám chỉ (Mat Mt 24:15). Sự biểu lộ cuối cùng về sự thờ hình tượng, giống như tất cả những trường hợp khác trước đây, sẽ khiến cho Đức Chúa Trời giáng cơn thịnh nộ của Ngài trên Antichrist và vương quốc của hắn. Như vậy chúng ta tin rằng, việc thiếu sót Đan và Eùpraim trong bản danh sách nầy có quan hệ trực tiếp với cảm nghĩ của Đức Chúa Trời về sự thờ hình tượng.
7. Theo sự nghiên cứu của chúng ta trong phần nầy, hãy giải thích tại sao tên của chi phái Đan và Eùpraim bỏ sót trong danh sách những chi phái Ysơraên được đóng ấn trong KhKh 7:5-8.
.................................................................................................................................
QUẦN CHÚNG RẤT ĐÔNG MẶC ÁO TRẮNG.
7:9-12.
Bây giờ Giăng mô tả quần chúng đông đảo mặc áo trắng xuất hiện trong sự nhìn thấy của ông tại ngay điểm giữa của Cơn Đại Nạn. Oâng cho biết rằng quần chúng đông đảo nầy được tạo thành từ vô số người, không có thể đếm được. Oâng nhìn thấy họ khi họ đứng trước ngai trước mặt Chiên Con. Họ đang mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là. Giăng thấy họ cất tiếng lớn trong bài hùng ca ngợi khen Đức Chúa Trời, và ông nghe những thiên sứ, các trưởng lão và bốn con sinh vật đáp ứng lời xác nhận rằng Đức Chúa Trời xứng đáng nhận lời ca tụng của cả vũ trụ.
Làm bài tập tự chọn, hãy viết vào sổ tay bạn dàm ý chi tiết của lời ca ngợi được ghi trong 7:10-12 khi bạn được khích lệ để đưa vào sự thờ phượng của mình cùng với sự phượng trong 4:8:11, và lời ca ngợi trong 5:8-14.
Tiếp theo sự bày tỏ lời ca ngợi vĩ đại và vinh diệu như thế, Giăng được một trong những trưởng lão cho biết rằng quần chúng đông đảo mặc áo dài trắng nầy “đã ra khỏi Cơn đại nạn” (have come out of the great tribulation) và “đã giặt áo mình... trong huyết Chiên con” (câu 14). Rõ ràng, nhóm ngưởi nầy đã được cứura khỏi Cơn Đai nạn. Đây là những sự kiện mà chúng ta sẽ trình bày cách vắn tắt.
Chúng ta sẽ thảo luận về hai mươi bốn trưởng lão là những người phục vụ trong sự kiện của Đức Chúa Trời. Trong phần nầy chúng ta thấy một nhóm khác. với mục điách so sánh, chúng tôi soạn một biểu đồ để cho bạn thấy vài điểm khác nhau quan tro5ng giữa 24 trưỡng lão của 4:4 và đám đông vô số nầy của 7:9. Chúng ta đặc biệt thấy rằng những trưỡng lão phục vụ ngay trước ngôi; đám đông đứng thay vi2 ngồi trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Những trưởng lão đội mũ triều thiên, trong khi đó đám đông không có. Những trưởng lão có đờn và bát hương chỉ về sự phục vụ của họ, đám đông là một tập thể vĩ đại của những người được chuộc ngợi khen Đức Chúa Trời.
Chúng ta đã thảo luận luận phần mô tả về đám quần chúng đông đảo nầy và họ đến từ đâu. Bạy giờ chúng ta phải nhận diện nhóm nầy và ý nghĩa của nó trong sơ đồ tổng quát của chúng ta về những biến cố thời kì cuối cùng. Tại điểm nầy, có ba quan niệm chính về việc nhận diện nhóm người nầy. Một số học giả Kinh Thánh tin rằng sự cất lên xảy ra ở giữa thời kì bảy năm đại nạn. Họ đặt niềm tin của mình vào câu 14 vốn nói rằng ”Đây là những kẻ ra khỏi Cơn Đại Nạn”. Quan niệm thứ hai cho rằng đám đông vĩ đại nầy gồm có những người tử đạo là những người chưa được phục sinh phần thân thể. Quan điểm của chúng tôi và của nhiều học giả Kinh Thánh khác cho rằng quần chúng đông đảo nầy đại diện cho những ngưởi được đem lên trời trong “sự cất lên lần thứ hai” (second rapture) xảy ra ngay giữa của thời kì Đại Nạn. Từ những sự kiện được đưa ra ở đây rõ ràng rằng những người ở trong đoàn đông mặc áo trắng đã tiếp nhận Jesus Christ trong nữa phần đầu của Cơn Đại nạn. Có lẽ chúng ta được an toàn khi nói rằng một số thành viên trong đoàn đông nầy đã bị giết vì đức tin của mình. Tuy nhiên, không có điều nào ám chỉ rằng tất cả những người nầy đều là người tử đạo. Từ đoàn người đông đảo nầy, chúng ta học biết rằng nhiều người sẽ đực cứu trong thời gian đại nạn và họ sẽ được tiếp lên để đứng trước sự hiện của Chúa, tại đấy họ sẽ sống mãi mãi.
8. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Đoàn đông người hiện ra trước mắt nầy không liên quan gì đến sự phục vụ trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
b. Chiếc áo được giặt trong Huyết của chiên con chỉ về sự tử đạo.
c. Phần nghiên cứu của chúng ta về điểm nầy và ở nội dung trực tiếp chúng tỏ rằng đám đông nầy tiêu biểu cho Hội Thánh được cất lên.
d. Từ phần nghiên cứu về đoàn đông người vô số nầy, chúng ta học được rằng người ta sẽ được cứu trong thời kì đại nạn và được cất lên để đứng trước sự hiện diện của Chúa.
e. Từ phần Kinh Thánh trích dẫn nầy, chúng ta thấy rằng đám đông vô số nầy xuất phát từ mọi quốc gia, dân tộc, bộ tộc và ngôn ngữ.
f. Số phận của đám đông vô số người mặc áo dài trắng nầy không được trình bày rõ trong sự hiện thấy của Giăng.
9. Trong sổ tay của bạn, hãy nhận diện đám đông vô số người của 7:9-17 và đưa ra ý nghĩa của nó.
THIÊN SỨ CẦM LƯ HƯƠNG VÀNG
8:1-5
Khi mở ấn thứ bảy, cái ấn cuối cùng, thì cuộn sách niêm bảy ấn hoàn toàn được mở ra. Tuy nhiên, lạ lùng làm sao, không điều gì xảy ra cả. Trái lại, có sự yên lặng trên trời khoảng nữa giờ. Tại sao? Sự yên lặng nầy có thể nhấn mạnh lòng khao khát của mọi loài thọ tạo muốn biết điều gì ở bên trong cuộn sách niêm bảy ấn nầy. Có lẽ tất cả tạo vật nầy đang muốn biết con người sắp nhận cơ nghiệp của mình như thế nào, thời đại nầy sẽ chấm dứt ra sao, và thế nào mọi vật sẽ đạt vào đúng vị trí của mình.
Bấy giờ, Giăng thấy ”bảy thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời” (câu 2) được nhận bảy cái kèn. Tuy nhiên trước khi những thiên sứ nầy thổi kèn, thì một hoạt động khác xảy ra song song : một thiên sứ khác bước vào cảnh vật. Vị ấy cầm một lư hương vàng được ban cho nhiều hương để pha vào lời cầu nguyện của cả các thánh đồ (người công bình) trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngai. Giăng thấy khói hương cùng với lời cầu nguyện của các thánh đồ bay lên trước mặt Đức Chúa Trời.
Chúng ta tin chắc rằng, vị thiên sứ khác ở câu 3 là một hình ảnh khác của thân vị và chức vụ của Chúa Jesus Christ trong sách Công vụ các sứ đồ. Bạn có thể nhớ lại rằng trong Cựu Ước, lư hương vàng dùng để dâng hương ở trong nơi Chí Thánh trong ngày Đại Lễ Chuộc Tội (LeLv 16:12-13). HeDt 4:14-15 dạy chúng ta rằng Chúa Jesus là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta. Thứ hai, lời cầu nguyện của các thánh đồ được ban cho vị thiên sứ khác nầy trong KhKh 8:3 để dâng lên cho Đức Chúa Trời cùng với mùi hương. Điều nầy nói lên hình ảnh về chức vụ của Chúa Jesus là ”Đấng trung bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người” ( ITi1Tm 2:5), cầu thay cho họ và trình bày sự cầu xin của họ cho Đức Chúa Trời. Mùi hương còn mang ý nghĩa là mùi vị thỏa lòng Đức Chúa Trời. Sự ngọt ngào của hương được đốt bay lên làm của lễ dâng cho Đức Chúa Trời gợi ý sự thỏa lòng thuộc linh mà Đức Chúa Trời nhận từ việc dâng hương và những lời cầu nguyện nầy.
10. Trên trời yên lặng nữa giờ có lẽ nhấn mạnh sự khao khát của muôn vật muốn biết thế nào
a. Con người sắp nhận cơ nghiệp của mình.
b. Thời đại nầy sẽ chấm dứt ra sao.
c. Mọi vật sẽ được đặt vào đúng vị trí.
d. Tất cả những điều trên : a) ; b) ; và c)..
e. Chỉ có những điều ghi ở a ) và b).
11. Trong sổ tay của bạn, hãy đưa ra hai lí do tại sao dường như rõ ràng là vị thiên sứ ở KhKh 8:3 với lư hương vàng là một hình ảnh của Chúa Jesus Christ.
Trước khi chuyển sang phần kế, hãy chú ý 8:5 để thấy rằng vị thiên sứ có lư hương bằng vàng nầy xử dụng bình hương theo cách khác hẳn với cách người đã dùng trong hai câu trước. Trước hết vị ấy xử dụng vì cớ dân sự của Đức Chúa Trời, nhưng trong câu 5, người ấy xử dụng điều ấy liên hệ với sự phán xét phải đổ ra trên đất. Khi Giăng nhìn xem, chắc chắn ông ngạc nhiên, vị thiên sứ bỏ đầy lửa của bàn thờ vào lư hương, rồi đổ xuống đất. Lập tức, sấm sét, tiếng lớn, chớp nhoáng và động đất xảy ra. Không khó hiểu khi thấy mối quan hệ.
Giữa lời cầu nguyện của người công bình, giống như những tiếng kêu cầu cùng Đức Chúa Trời ở 6:10 vốn kêu gọi sự phán xét kẻ ác, và sẽ khởi đầu sự phán xét tiếp theo khi những tiếng kèn được thổi lên. Nói cách khác, lời cầu nguyện của những người công bình ở đây được nhậm nhậm trong việc Đức Chúa Trời đoán xét kẻ ác.
TIẾNG VANG CỦA SÁU KÈN ĐẦU TIÊN.
3:6-9:21.
Dù ảnh hưởng của tiếng sấm vang rền, động đất mạnh mẽ, và những tia chớp sáng chói vẫn còn sờ sờ trong tâm trí ông, nhưng Giăng nhìn thấy bi kịch bắt đầu hé mở. Với kèn ở sẳn trong tay, bảy vị thiên sứ chuẩn bị thổi kèn lên, và vị tiên tri chứng kiến sự khởi đầu của cuộn phán xét thảm khốc. Như chúng ta sẽ thấy, có vài sự phán xét được mô tả theo trình tự kéo dài trong khi có vài sự phán xét khác chỉ được giới thiệu thôi, những hậu quả được mô tả và sự xác nhận được ghi nhận cách vắn tắt.
Khi thiên sứ thứ nhất thổi kèn, liền có mưa đá, và lửa pha với huyết tung xuống đất. Một phần ba quả đất bị cháy một phần ba cây cối bị cháy, và mọi thứ cỏ xanh cũng bị cháy. Cuộc phán xét như thế cũng phát sinh không những sự sợ hãi nhưng còn có hậu quả nghiêm trọng cho sự phát sinh khí Oxy cho đất. Theo tiến trình quang hợp, khả năng của đất phát sinh Oxy ban sự sống phụ thuộc vào sự sống của cây xanh và cỏ.
Khi tiếng kèn thứ hai được thổi lên, bèn có hình như một núi lớn lửa cháy bị quăng xuống biển, một phần ba biển biến ra huyết, một phần ba sanh vật trong biển đều chết, và một phần ba tàu bè cũng bị hủy hoại. Thiên sứ thứ ba thổi kèn, bèn có một ngôi sao lớn, cháy như đuốc từ rời sa xuống, ngôi sao nầy được gọi là ”Ngải Cứu” (Woem wood), phá hại một phần ba nước ngọt trên đất, và nhiều người chết vì cớ nước đắng. Kèn thứ tư thổi lên mang lại ảnh hưởng xấu trên mặt trời, mặt trăng và ngôi sao đến nổi ánh sáng của chúng bị rút khỏi lại khỏi đất một phần ba thời gian. Rõ ràng sự phán xét nầy vượt quá quả đất mà đến hệ mặt trời và vũ trụ.
Vài người có thể khước từ ảnh hưởng của ba sự phán xét của bốn tiếng kèn nầy đối với những người sống trên đất, nhưng ảnh hưởng của những tai họa nầy không phải ở địa phương, mà nó đụng đến hành tinh và cả vũ trụ. Con người sẽ thấy bất lực trong việc ngăn ngừa những sự mất trật tự trong vũ trụ và thiên nhiên nầy. Giống như những thuật sĩ của Pharaôn trước sự phán xét của Đức Chúa Trời, những người chưa được cứu sẽ phải công nhận rằng : ”Đây là bàn tay của Đức Chúa Trời” (Xuất ê díp tô kí 8:19;). Tuy nhiên, tại điểm nầy, một tiếng kêu lớn khác vang lên. Giăng nghe một con chim ưng bay giữa trời, kêu tiếng lớn rằng: ” Khốn thay, khốn thay cho những kẻ ở trên đất, vì cớ tiếng kèn mà ba thiên sứ khác còn phải thổi nữa” (câu 13)
12. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Bối cảnh của những tiếng kèn phán xét đưa người ta đến chổ kết luận rằng dân cư trên đất phải kinh nghiệm những giờ phút sợ hãi.
b. Tiếng kèn thứ nhất, vốn mang đến mưa đá, lửa và huyết xuống đất, chỉ là sự trừng phạt nhỏ hay sự sử sai có định ý làm thay đổi thái độ của dân sự.
c. Khi những từ như các ngôi sao và núi được dùng trong Kinh Thánh, như trong sự phán xét khi kèn thứ hai và thứ ba thổi lên, thì nó ám chỉ cách tượng trưng về sự hủy diệt của những người quan trọng.
d. Ảnh hưởng của những sự phán xét qua bốn tiếng kèn thổi sẽ tác động ruậng rãi trên nhiều vùng của quả đất và trên hệ thống mặt trời nữa.
e. Sự loan báo tiếp theo sau bốn tiếng kèn đã thổi dường như chỉ cho thấy rằng những sự phán xét tiếp sau sẽ nghiêm trọng hơn.
9:1-12 chứng tỏ rằng khi tiếng kèn thứ năm thổi lên, Giăng nhìn thấy một ngôi sao để rơi từ trời xuống quả đất. Sao được ban cho chìa khóa mở hầm vực sâu (Abyss) (câu 1). Từ phần nghiên cứu của chúng ta từ sách 1:20, chúng ta biết rằng những ngôi sao trong bối cảnh đó được nhận diện là các thiên sứ hay những sứ giả. Trong nhiều trường hợp Kinh Thánh cho thấy rằng những sứ giả là những hữu thể có thân vị, nghĩa là họ có những phẩm chất của thân vị ( Personality). Hơn nữa, sự kiện ngôi sao nầy được nói đến ở câu 2 bằng đại từ xưng hô ”Vị ấy”, thì hiển nhiên đây là hữu thể có thân vị. Một sự kiện đáng để ý nữa là thiên sứ nầy đã rơi xuống trước, nghĩa là, trước khi tiếng kèn thứ năm thổi lên, dẫn chúng ta đến chổ phỏng đoán rằng thiên sứ nầy không ai khác là Satan. Chúng ta có thể nhớ lại lời Chúa Jesus phán rằng Ngài ”thấy Satan từ trời sa xuống như chớp” ( LuLc 10:18). Ngòi ra việc thiên sứ rơi xuống đất nầy được ban cho quyền hành tượng trưng bằng chiếc chìa khóa của hầm vực sâu hổ trợ cho ý niệm rằng ngôi sao rơi xuống nầy là Satan. Nói về hầm vực sâu (Abyss), 8:30-31 ám chỉ đó là nơi nhốt ma quỉ (demons) (So sánh 8:31 với IIPhi 2Pr 2:4 và Giu Gd 1:6).
Khi ngôi sao mở vực sâu (Abyss), thì giăng nhìn thấy có luồng khói từ hầm bay lên,và từ luồng khói ấy đạo quân ma quỉ lên mặt đất. Trong LuLc 8:32-33, những con quỉ nhập vào bầy heo, nhưng ở đây chúng nhập vào châu chấu. những con châu chấu nầy có năng lực của bò cạp trên đất, và chúng nó có sứ mạng đặc biệt: làm khổ loài người trong năm tháng. Sự đau đớn chúng gây ra sẽ đem khổ não đen cho tất cả những người không có con dấu trên trán. Trong những ngày đó người ta sẽ cầu chết mà không sao chết được, nhưng họ phải trải quan sự phán xét mà Đức Chúa Trời đã định,
Phần mô tảû về những châu chấu ma quỉ nầy cùng số lượng của chúng thật kinh khủng. Vua của chúng ta được gọi là ” thiên sứ” (sứ giả) của vực sâu (Abyss)” (câu 11). Tên của nó là Abaddon là tiếng Hi bá lai, còn tiếng Hi lạp là Apollyon, có nghĩa là ”hủy diệt và ”kẻ hủy diệt”, và trong sự vùng dậy của đạo quân quỉ quái nầy thì chỉ có đau đớn và ước ao cho chết. Sự phán xét nầy tiêu biểu cho tai nạn thứ nhất, còn hai tai nạn kinh khủng hơn nữa đang chờ đợi dân cư trên đất.
13. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG.
a. Ngôi sao từ trời rơi xuống đất, nhân vật được ban cho chìa khóa của vực sâu, có thể nhận diện là Satan.
b. ”Thiên sứ của vực sâu” phải là một hữu thể có thân vị vì nó có một cơ thể bình thường.
c. Đại từ nhân xưng vị ấy (he) được dùng để chỉ về thiên sứ của vực sâu, là một biểu hiện của thân vị tính.
d. Vực sâu được nói rõ ràng trong Kinh Thánh mà chúng ta đã được học ở phần nầy là nơi người chết ở.
e. Sự phán xét của tiếng kèn thứ năm sẽ kéo dài trong năm tháng.
f. Abaddon có nghĩa đen là ”Người được xức dầu”.
14. Sự phán xét của tiếng kèn thứ năm đem đến một đạo quân vô số châu chấu quỉ sứ, có nhiệm vụ.
a. Hủy diệt dân cư trên đất.
b. Làm tổn thương những người không có con dấu của Đức Chúa Trời.
c. Tra tấn những người chống lại sự phán xét của Đức Chúa Trời.
d. Hoàn trả cho những người gian ác một số hành vi gian ác.
15. Liệt kê ba điều gợi ý rằng ”ngôi sao rơi xuống” của KhKh 9:1 là Satan.
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
9:13-21 mô tả tiếng kèn thứ sáu. Khi quang cảnh mở ra, Giăng nghe một tiếng nói phát xuất từ một cái sừng của bàn thờ bằng vàng ở trước mặt Đức Chúa Trời. Tiếng nói nầy truyền lệnh cho thiên sứ cầm kèn thứ sáu mở trói cho bốn thiên sứ đang bị trói trên bờ sông lớn Ơphơrát. bạn có thể liên tưởng trước đây có bốn thiên sứ đang cầm giữ những cơn gió phán xét (7:1). Các thiên sứ nầy không bị trói. Theo quan chúng tôi, những thiên sứ bị trói là kẻ ác (evil-ma quỉ). rõ Rõ ràng ở đây chúng là những kẻ lãnh đạo của đạo quân vĩ đại được đề cập ở câu 16 vốn được thả ra để làm hại một phần ba loài người (câu 15). ”Sông Ơphơrát” (câu 14) được xem là ranh giới giữa phương Đông và phương Tây (16:12). Câu nầy có thể chỉ về sự duy chuyển của những đạo quân từ Đông phương chống lại Antichrist. Có một lời ám chỉ trong Đaniên :44-45 rằng những đạo quân phương Đông sẽ di chuyển về Phương Tây vì trận chiến trong đất Ysơraên cắt đứt sự chinh phục của Antichrist. Đoạn Kinh Thánh nầy cũng có thể ám chỉ về hành động quân sự tương tự ở 16:12.
Đạo quân lính kị khổng lồ hai trăm triệu được sửa soạn cho thời điểm và mục đích đặc biệt nầy (câu 15). Vẻ bề ngoài khủng khiếp và hành động gây ra chết chóc, đội kị binh ma quỉ nầy sẽ giết số lượng người chưa từng thấy trong lịch sử của nhân loại. Lửa, khói và lưu huỳnh sẽ kết hợp lại để diệt đi một phần ba dân cư trên đất. Nhưng, ngay cả khi đoi diện với sự phán xét kinh khủng nầy thì Giăng thấy số dân cư trên đất còn lại vẫn còûn bị bẫy rập tội lỗi vướng mắc đến nỗi họ chẳng ăn năn hay từ bỏ con đường gian ác của mình (câu 20). Họ tiếp tục thờ phượng ma quỉ và thần tượng, không chút cảm nhận sự hủy diệt mà họ đương đầu (câu 20-21). Chữ ”không cảm nhận” (senseless) chúng ta đã dùng khiến chúng ta suy nghĩ đặc biệt đến phần ”tà thuật” (magical arts) (câu 20) đóng vai quan trọng trong việc làm mất cảm giác của kẻ ác. Bạn sẽ thấy chữ tà thuật phát xuất từ chữ Hi lạp vốn mô tả phép phù thủy liên quan đến việc xử dụng ma túy. Chữ của chúng ta ”Hiệu thuốc Tây” (pharmsacy) cũng phát xuất từ chữ Hi lạp nầy. Có thể lắm khi Cơn Đại Nạn giáng trên con người, thì họ lại gia tăng việc xử dụng ma túy chăng? Điều nầy có thể giải thích rằng tại sao họ dường như không biết những tai họa rơi trên họ và họ cứ tiếp tục phạm tội.
16. Theo phần nghiên cứu của chúng ta ở tiêu mục nầy, những thiên sứ ở 9:14-15 dường như là ma quỉ vì chúng
a. Bị xiềng.
b. Đã chuẩn bị sẵn sàng.
c. Được nhận diện rõ ràng như thế.
d. Đang ở trên sống cái Ơphơrát.
17. Những người ở trên đất bị giết do sự phán xét của tiếng kèn thứ sáu bao nhiêu phần?
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
18. Mô tả vắn tắc ảnh hưởng của sự phán xét của kèn thứ sáu trên thái độ của những người không bị giết?
.......................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
19. Nhận diện những gì xảy ra khi mỗi tiếng kèn trong sáu tiếng được thổi lên bằng sự xếp đặt mỗi kèn với lời mô tả về sự phán xét đi kèm với nó.
....a. Một phần ba nước bị trở nên đắng.
....b. Những con châu chấu từ vực sâu lên làm hại những người không kính sợ Đức Chúa Trời.
....c. Mưa đá, lửa và máu bị đổ xuống đất.
....d. Những đạo quân hai trăm triệu giết đi nhiều người.
....e. Một phần ba mặt trời, mặt trăng, ngôi sao trở nân tối tăm.
....f. Vật gì giống như hòn núi khổng lồ, cháy đỏ rực bị quăng xuống biển.
Bài Tập Trắc Nghiệm.
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi sau đây.
1. Theo phần nghiên cứu của chúng ta trong Bài Học nầy, việc mở sáu cái ấn đầu tiên sẽ xảy ra trong
a. Trong thời đại trường cửu khi thời gian chấm dứt.
b. Khi Đấng Christ cai trị một ngàn năm.
c. Nữa phần cuối của Cơn Đại Nạn.
d. Nửõa phần đầu của Cơn Đại Nạn.
2. Mục đích con dấu của Đức Chúa Trời hằng sống là để
a. Ban quyền năng cho người phục vụ trong thời kì Đại Nạn.
b. Đánh dấu trên những ai nhận con dấu của sự phán xét.
c. Ban sự che chở cho những người được đóng dấu.
d. Làm dấu những người có con dấu được phần thưởng.
3. Theo bằng cớ trình bày trong bài học nầy, 144.000 người được đóng dấu đại diện cho.
a. Những người công bình vốn được cất lên ở giữa Cơn Đại Nạn.
b. Dân Ysơraên thuộc linh của thời kì cuối cùng.
c. Toàn thể đám đông mặc áo dài trắng.
d. Hội Thánh được cất lên trước thời kì Đại nạn.
4. Bài học nầy gợi ý rằng ”ngôi sao rơi xuống” trong 9:1 có thể là Satan vì
a. Ngôi sao sa xuống nầy được dùng để chỉ như một hữu thể có thân vị.
b. Chúa Jesus đã thấy Satan từ trời sa xuống như chớp.
c. Ngôi sao sa xuống nầy được ban cho quyền hành trên vực sâu.
d. Tất cả những câu trên : a) n; b) và c).
e. Chỉ những gì được ghi nhận ở câu b); và c).
5. Những châu chấu từ vực sâu bay lên sẽ làm khổ những người không kính sợ Đức Chúa Trời khi
a. Kèn thứ nhất được thổi.
b. Kèn thứ sáu được thổi.
c. Kèn thứ ba được thổi.
d. Kèn thứ năm được thổi.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào chỗ trống trước mỗi câu diễn đạt đúng, viết chữ S nếu sai.
....6. Hành động đánh dấu 144.000 người sẽ chấm dứt việc làm hại trên đất cách thường trực trong thời kì Đại Nạn.
....7. Sự thiếu sót tên của Đan và Epraim trong danh sách những chi phái được đóng dấu dường như tượng trưng cho việc Đức Chúa Trời ghét sự thờ phượng hình tượng.
....8. Bài học nầy hổ trợ cho lí thuyết cho rằng đám đông vô số người là tất cả những người tử đạo nhưng chưa được phục sinh thân thể của họ.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Trả lời ngắn gọn những câu hỏi sau theo lời riêng của bạn. Viết câu trả lời của bạn vào khoảng trống ở dưới.
9. Chức năng của những cơn gió mà bốn thiên sứ giữ lại cách tạm thời là gì?
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
10. Ý nghĩa của lời khốn nạn được loan báu sau tiếng kèn thứ tư được thổi lên là gì?
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................

Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. a. 4) 1.000 năm.
b. 1) Ba năm rưỡi đầu.
c. 3) Ba năm rưỡi sau.
d. 5) Cõi đời đời.
e. 2) Giữa hai thời kì ba năm rưỡi.
f. 4) 1.000 năm.
2. b) Làm hại quả đất.
3. d) Đóng dấu trên trán của những đầy tớ của Đức Chúa Trời.
4. c) Ban sự bảo vệ cho họ ở giữa cơn phán xét.
5. c) Quốc gia Ysơraên hơn là Hội Thánh.
6. Câu trả lời của bạn có lẽ hơi khác với điều chúng tôi gợi ý, nhưng nó phải bao gồm cùng ý tưởng chung. Họ tượng trưng cho dân sót, nghĩa là những người là những người từ quốc gia Ysơraên của ngày cuối cùng vốn sẽ trở thành Ysơraên thuộc linh, người Ysơraên sẽ chấp nhận Jesus Christ làm cho Cứu Chúa ở điểm giữa của thời kì Đại Nạn.
7. Dường như hai chi phái nầy là những lãnh tụ của sự bội đạo. Nói cách tượng trưng, việc hai chi phái nầy không có trong danh sách chứng tỏ Đức Chúa Trời ghét sự thờ hình tượng.
8. a) Đúng.
b) Sai.
c) Sai.
d) Đúng.
e) Đúng.
f) Sai.
9. Đoàn người đông đảo mặc áo trắng gồm có những người được chuộc vốn đã tiếp nhận Jesus làm Cứu chúa của mình trong nữa phần đầu của Cơn Đại Nạn. Đám đông nầy đã được tiếp lên trời từ mọi nơi trên trái đất ở ngay thời điểm giữa của Cơn Đại Nạn. Sự kiện nầy ám chỉ rằng người ta có thể được cứu trong Cơn Đại Nạn và có thể được cất lên trời để đứng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
10. d) Tất cả những câu trên a); b) và c).
11. Câu trả lời của bạn có thể hơi khác chút đỉnh, nhưng nó phải bao gồm những tài liệu cơ bản mà chúng tôi đã đưa ra. Thứ nhất, Cựu Ước cho thấy rằng chỉ có thầy Tế Lễ Thượng Phẩm mới được xử dụng lư hương bằng vàng để cầu thay cho dân sự Đức Chúa Trời trước mặt Ngài. Thứ hai, tân Ước đặc biệt chứng tỏ Chúa Jesus là Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người.
12. a) Đúng.
b) Sai.
c) Sai.
d) Đúng.
e) Đúng.
13. a) Đúng.
b) Sai.
c) Đúng.
d) Sai.
e) Đúng.
f) Sai.
14. b) Làm hại những người không được làm dấu bằng dấu của Đức Chúa Trời.
15. Nó được ám chỉ là đã rơi xuống trước. Thứ hai, sự kiện Chúa Jesus nói rằng Ngài đã thấy điều nầy xảy ra cho Satan dẫn chúng ta đến việc liên kết hai biến cố cuối cùng, thiên sứ nầy đã kiểm soát vực sâu , được biểu thị bằng việc hắn có chìa khóa của vực sâu.
16. a) Bị xiềng.
17. Một phần ba số dân cư sẽ bị giết.
18. Chúng cứ tiếp tục thờ lạy ma quỉ và hình tượng và phạm tội giết người, tà dâm cũng như làm tà thuật.
19. a. 3) Kèn thứ ba.
b. 5) Kèn thứ năm.
c. 1) Kèn thứ nhất.
d. 6) Kèn thứ sáu.
e. 4) Kèn thứ tư.
f. 2) Kèn thứ hai.
Tiến Trình Hé Mở Bức Tranh Tiên Tri

Chúng ta đã khảo sát những biến cố sẽ xảy ra vào giữa thời kỳ Đại nạn trong Bài vừa rồi. Chúng ta nhấn mạnh sự chú ý vào những cuộc phán xét qua tiếng kèn thổi, và chúng ta thảo luận sự nhận diện cùng ý nghĩa của hai đoàn đông người xuất hiện tại điểm nầy. Hơn nữa chúng ta cũng khảo sát ảnh hưởng của những sự phán xét qua tiếng kèn thổi trên dân cư trên đất như thế nào. Bây giờ chúng ta chuyển sang những hoạt động khác đột ngột phá vào dòng hoạt động tiên tri. Chúng ta cũng sẽ gặp những diễn viên khác vốn có vai trò trong sự hé mở bi kịch ảnh hưởng trên dòng những biến cố.
Trước hết, chúng ta thấy thiên sứ mạnh mẽ ở đoạn 10 và lời công bố lớn tiếng của người. Chúng ta cũng thấy tác động của những lời chỉ dẫn của người ở trên vị tiên tri. Sau đó chúng ta chuyển đến sự đo đền thờ và vai trò của hai chứng nhân trong đoạn 11. Cuối cùng chúng ta gặp một người đàn bà mặc mặt trời và con trai của nàng ở đoạn 12, và chúng ta biết được manh mối để nhận diện nhân vật, vai trò cùng số phận của họ. Phần lớn tài liệu ở trong phần nầy gồm có những phần mở ngoặc khai triển (parentical enlargements).
Khi chúng tôi trình bày tiến trình tiếp diễn của bi kịch tiên tri nầy, chúng ta đừng quên rằng mọi tín hữu đều phải có mục tiêu ban đầu. Sau khi chúng ta được cứu, chúng ta phải chia sẻ tình yêu của Đức Chúa Trời với những người chưa biết Ngài. Vì chúng ta biết rằng sự phán xét kinh khiếp đang chờ những người chưa tin, chúng ta phải làm hết sức mình để mọi người trong thế hệ chúng ta đều biết rõ Đấng Christ.
Thiên sứ mạnh mẽ và cuộn sách nhỏ.
Thiên sứ mạnh mẽ .
Giăng lãnh nhiệm vụ nói tiên tri.
Mở ngoặc khai triển trước tiếng kèn thứ bảy.
Đo Đền thờ.
Hai Chứng Nhân.
Tiếng Vang của kèn thứ bảy,
Người đàn bà và Con Rồng.
Người đàn bà mình mặc mặt trời.
Con trai của người đàn bà: Kẻ Cai Trị.
Sự bảo vệ người đàn bà và hậu tự của nàng.
Học xong bài nầy bạn có thể.
• Đưa ra những lời giải thích về sự nhận diện Thiên sứ với cuộn sách nhỏ và giải thích sứ điệp của người.
• Giải thích ý nghĩa của việc đo đền thờ và mục đích đầu tiên của hai nhân chứng.
• Nhận diện và đưa ra ý nghĩa về người đàn bà mình mặc mặt trời, con trai nàng và hậu tự của nàng .
Nghiên cứu bài học và làm bài tập trắc nghiệm theo phương pháp được đưa ra trong Bài 1.
Bạn có thể xử dụng Kinh Thánh của mình để trả lời câu hỏi nghiên cứu và bài tập trắc nghiệm.
đoạn từ bài 8 đến 11 để sửa soạn làm bản đánh giá tiến trình học tập Đơn Vị 3. Theo sự chỉ dẫn được đưa ra trong túi dành cho học viên để làm bài đánh giá nầy. Khi bạn làm xong, hãy gởi bài nầy cho vị trợ giáo của bạn. Vị ấy sẽ sửa bài và cho bạn biết kết quả.
Hãy xin vị trợ giáo sắp đặt thì giờ cho bạn làm bài kiểm tra cuối khóa.
Ẩn dụ định mức (measuring metaphor).
Chết yểu (abortive).
Cân nhắc, suy nghĩ (ponder).
Điều không tưởng (Utopia).
Đón trước (Proleptic)
Nghiêm nhặt (stringent).
THIÊN SỨ MẠNH MẼ VÀ CUỘN SÁCH NHỎ .
Chúng ta đã thấy những kết quả của sự phán xét khi tiếng kèn thứ năm và thứ sáu thổi lên và sự khốn nạn thứ nhất trong đoạn 9. Tuy nhiên, bốn đoạn kế tiếp trong sách Khải thị (10-13) gồm phần lớn và triển khai mở ngoặc. Trong bài nầy chúng ta sẽ thảo luận ba trong bốn đoạn nầy. Phần mở ngoặc triển khai đầu tiên liên quan đến thiên sứ mạnh sức và cuộn sách nhỏ.
Thiên Sứ Mạnh Mẽ.
10:1-7.
Trước khi mở ra những cuộc phán xét tiếp, Giăng nhìn thấy một thiên sứ mạnh mẽ khác từ trời xuống. Chúng ta đã thấy từ ”thiên sứ khác” trước đây ở 7:2, và 8:3. Trong mỗi trường hợp chữ nầy được dùng để phân biệt những Thiên sứ hiện có trong cảnh vật và có chức năng khác hay hoạt động khác phải thực hiện. Trong đoạn 7 thiên sứ khác có dấu của Đức Chúa Trời hằng sống. Đoạn 8 bày tỏ Thiên sứ khác có lư hương bằng vàng để dâng hương cùng với lời cầu nguyện của những người công bình. Bây giờ chúng ta thấy Thiên sứ khác, vị Thiên sứ mạnh mẽ, hiện ra trong Kỳ vinh hiển để hoàn thành chức năng đặc biệt.
Câu hỏi thường được nêu lên: ”Vị Thiên sứ nầy là ai?” Chúng ta sẽ nhận diện vị nầy trước. Sau đó chúng ta sẽ thảo luận ý nghĩa của hoạt động của vị ấy.
Vấn đề nhận diện Thiên sứ mạnh mẽ nầy liên quan đến việc hoặc vị Thiên sứ nầy hiểu theo nghĩa đen hay là biểu tượng của Chúa chúng ta. Nhiều học giả Kinh Thánh không đồng ý với nhau về điều nầy. Một số người cho rằng vị Thiên sứ mạnh mẽ tượng trưng cho Chúa Jesus Christ. Họ thấy những điểm giống nhau giữa sự mô tả ở đây và những gì mô tả về Chúa Jesus được đưa ra ở 1:13-15. Cả hai phần mô tả nầy cũng giống với sứ giả từ trời được ghi lại ở DaDn 10:3-5. Một số học giả không tin rằng sứ giả nầy với cuộn sách nhỏ là Chúa Jesus vì Ngài chỉ trong câu 6 rằng Ngài thấp hơn Đức Chúa Trời.
Tác giả của bạn tin rằng Thiên sứ mạnh mẽ nầy tượng trưng cho Chúa Jesus Christ. Theo quan điểm của ông ấy, Thiên sứ mạnh mẽ ở đây tượng trưng cho hành động mà Chúa chúng ta chính thức công bố quyền sở hữu trái đất và Ngài là bà con gần của chúng ta. Điều nầy được biểu thị bằng hành động đặt một chân trên đất và một chân trên biển (câu 2). Trong ngôn ngữ hình bóng, Đức Chúa Trời sắp đặt để mọi sự dưới quyền của Ngài (HeDt 2:8). Chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời sắp kết thúc, và thời điểm hoàn tất nầy đang tiến với tốc độ rất nhanh để đến đích.
Tại điểm nầy (câu 6) vị thiên sứ trong thế đứng oai nghi đầy ý nghĩa một chân trên đất, một chân trên biển dõng dạc tuyên bố: ”không còn trì hoãn nữa”. Lời công bố nầy được gọi là lời đón trước (proleptic statement). Lời nói đón trước là lời nói về tương lai dường như đã xảy ra rồi. EsIs 9:6 là ví dụ của lời đón trước nầy. Nó nói dường như Chúa Jesus đã ra đời khoảng 750 năm trước khi Ngài giáng sinh. Lời nói của Thiên sứ trong 10:6 là lời công bố chấm dứt. Bản văn Hy lạp theo nghĩa đen là ”không còn thì giờ nữa” (that time no longer shall be). Câu nói nầy dường như chỉ rõ rằng thời gian phải chấm dứt ngay. Tuy nhiên, từ sự kiện là ngày, tháng và năm vẫn còn đề cập ở phần còn lại của sách Khải huyền, nên chúng ta biết rằng đây không phải ý nghĩa chủ định (intended meaning). Tại đây lời công bố có nghĩa là sẽ không còn trì hoãn trong việc đưa đến sự chiến thắng Satan. Thì giờ của Satan hành động như là vua cầm quyền chốn không trung (Eph Ep 2:2) và dẫn người ta đi xa lạc mục đích của Đức Chúa Trời dành cho đời sống họ và số phận đời đời của họ đang đến lúc kết thúc. Ngoài ra, hiện thân của Satan, Antichrist, mà chúng ta khảo sát dài dòng ở Bài 9, đang đối diện với sự cáo chung của nổ lực đoản mạng của hắn để cai trị thế giới (facing the end of his abortive bid for world rule).
Chúng ta đã khảo sát việc nhận diện và mục đích của thiên sứ trong khung cảnh nầy. Chúng ta hãy khảo sát thêm vài điểm nữa liên quan đến cuộn sách nhỏ người cầm trên tay và phản ứng của tiếng kêu lớn đầu tiên của người (câu 2-4). Giăng thấy vị Thiên sứ mạnh mẽ nầy có một cuộn sách nhỏ ”mở ra trong tay người”(câu 2). Một số học giả cho rằng ”cuộn sách nhỏ” nầy khác với cuộn sách niêm bảy ấn vì Kinh Thánh chép rằng nó nhỏ. Chúng ta tin rằng sở dĩ cách được ghi lại là nhỏ vì nếu so sánh với cỡ của cơ nghiệp của loài người thì nó nhỏ thật. Cuốn sách mở ra và những biến cố được ghi trong đó sắp xảy ra. Điểm quan trọng ấy là cuộn sách nhỏ nầy có ý nghĩa trong tiến trình của chức vụ của tiên tri, như chúng ta sẽ thấy trong những câu tợ 8-11.
Giăng nhận thấy khi vị thiên sứ mạnh mẽ đạp chơn hữu trên biển, chơn tả trên đất và kêu lớn tiếng thì có bảy tiếng sấm rền vang. Chúng ta không được biết sứ điệp nầy là gì, vị tiên tri không được phép chép lại (câu 40. Chúng ta chỉ biết rằng kết cuộc của mọi sự đang ở trước mắt và dòng biến cố đang di chuyển mạnh đến đích.
1. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Từ ngữ một Thiên sứ mạnh mẽ khác được dùng ở KhKh 10:1 cho biết vị nầy là một thiên sứ trưởng.
b. Cuộn sách nhỏ mà Thiên sứ cầm được mô tả khác với cuộn sách niêm bảy ấn có thể chứng tỏ đây là một cuộn sách khác.
c. Ý nghĩa tượng trưng của thế đứng của Thiên sứ một chân trên biển, một chân trên đất ám chỉ lời công bố chính thức về việc nhận quyền sở hữu.
d. Lời tuyên bố dõng dạc rằng không còn trì hoãn nữa chứng tỏ sự chiến thắng trên điều ác sắp được thực hiện.
e. Một lời nói đón trước ám chỉ hành động đã xảy ra trong lịch sử quá khứ rồi.
2. Trong sổ tay của bạn, hãy trình bày bằng cớ chứng tỏ Thiên sứ mạnh mẽ là biểu tượng của Chúa Jesus và bằng cớ cho thấy vị ấy không phải là một hữu thể Thiên thượng.
3. Giải thích ý nghĩa của lời công bố của Thiên sứ ”không còn trì hoãn nữa”.
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
GIĂNG LÃNH SỨ MẠNG NÓI TIÊN TRI .
KhKh 10:8-11.
Một lần nữa Giăng nghe một tiếng nói từ trời bảo ông rằng hãy đến lấy sách mở ra từ tay Thiên sứ. Giăng vâng lời và đến gần Thiên sứ xin sách đó. Thiên sứ đưa sách cho tiên tri và bảo ông hãy ăn đi. Thiên sứ nói thêm ”Hãy lấy và ăn đi, nó sẽ khiến bụng ngươi đắng (chua), nhưng trong miệng ngươi nói sẽ ngọt như mật ong” (câu 9). Giăng làm theo lời thiên sứ truyền và thấy những gì vị thiên sứ bảo xảy ra đúng chính xác. Cuộn sách nhỏ đã làm cho miệng ông ngọt như mật ong, nhưng nó làm cho bao tử ông chua.
Để hiểu được ý nghĩa của hoạt động tượng trưng nầy, chúng ta hãy mở sang sách Êxêchiên. Êxêchiên ghi lại kinh nghiệm với kinh nghiệm tương tự của Giăng trong sách tiên tri của ông đoạn 2 và 3. Tại đấy ông được giao cho một cuốn sách trên đó viết về những lời than thở (Ca thương) và cảnh cáo cùng khốn nạn (2:9-10) đoạn được truyền bảo phải ăn cuộn sách mà ông sẽ thấy ngọt như mật trong miệng (3:1-3). Lập tức sau đó ông được truyền lệnh phải đến cùng nhà Ysơraên và nói lời của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài (3:4). Dường như rõ ràng hoạt động nầy tiêu biểu cho sứ mạng nói tiên tri của Êxêchiên theo cách tượng trưng. Lời giải thích nầy thích hợp với Khải huyền đoạn 10.
Biểu tượng của việc ăn sách nhỏ cho thấy rằng vị tiên tri phải thấu triệt sứ điệp tiên tri. Chúng ta thấy rằng cuộn sách niêm bảy ấn liên quan đến thời kỳ hoàn tất mục đích cứu chuộc loài người của Đức Chúa Trời. Cuộn sách nhỏ ở đây dường như tái nhấn mạnh sự hoàn thành chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Giăng phải hiểu sứ điệp tiên tri nầy cách trọn vẹn. Làm vậy, ông sẽ thấy rằng điều nầy phát sinh cảm giác xáo trộn trong ông. Biết rằng Đức Chúa Trời sắp hoàn thành kế hoạch của Ngài cho thế giới nầy bằng sự khôi phục mọi sự trong nó theo ý muốn của Ngài là một kinh nghiệm ngọt ngào vui mừng trong mọi tín hữu. Mặt khác, biết rằng những người ở ngoài Đấng Christ, kể cả những người thân yêu phải đối diện với sự kết án đời đời là sự cay đắng cho mọi tín hữu khi ăn vào. Chắc chắn sự kiện nghiêm trọng nầy phải thúc đẩy mọi tín hữu phải làm mọi cách mình có thể chinh phục người hư mất tại bất cứ nơi nào mình đi.
Khi nhận được sứ mạng tiên tri tươi mới, vị tiên tri được giao mạng lịnh ”Ngươi còn cần phải nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa”. (câu 11) Mặc dù ở cuối cuộc đời mình, nhưng lời nói nầy báo trước về tác động mà lời tiên tri sẽ có, khi cùng với những phần còn lại của Lời Đức Chúa Trời được cảm thúc, được công bố trên toàn thế giới để làm chứng cho muôn dân (Mat Mt 24:14).
4. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Lời truyền lịnh cho Giăng ăn cuốn sách nhỏ chỉ là kinh nghiệm không được nói trước trong Sách Thánh.
b. Hành động ăn cuốn sách tiêu biểu cho việc thấu triệt được nội dung của sách.
c. Sứ điệp liên quan đến việc hoàn tất mục đích của Đức Chúa Trời cho loài người trên đất phát sinh cảm xúc xáo trộn trong những người hiểu rõ điều đó.
d. Giăng được truyền bảo rằng, là một tiên tri, ảnh hưởng của ông, mặc dù điều đó rất lớn, nhưng sẽ bị hạn chế trong quãng đời trên đất của ông .
5. Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả việc Giăng ăn cuộn sách nhỏ dường như tượng trưng cho điều gì .
CÁC LẦN MỞ NGOẶC KHAI TRIỂN TRƯỚC TIẾNG KÈN THỨ BẢY
11:1-14.
Khi chúng ta nhấn mạnh phần thứ nhất của đoạn 11, chúng ta thấy có nhiều phần mở ngoặc khai triển. Một số học giả Kinh Thánh cố gắng đưa ra ý nghĩa thuộc linh của đoạn nầy, họ nói rằng không có những biến cố thực sự nào được mô tả. Trong trí họ, nội dung nầy chỉ trình bày chân lý thuộc linh mà thôi. Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý với quan niệm nầy. Chúng tôi tin rằng những sự mô tả được ghi ra ở đây liên quan đến những biến cố thật và hành động thật vốn là phần sống động trong sự hoàn thành kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho nhân loại. Bây giờ chúng ta chuyển sang phần mở ngoặc khai triển thứ nhất trong Đoạn 11.
Đo Đền Thờ.
11:1-2.
Trong câu 1 và 2 Giăng được truyền lệnh phải đo đền thờ, nền thờ và những người thợ lạy tại đó. Nhưng phải loại sân ngoài đền thờ vì chỗ đó đã ban cho dân Ngoại bang. Hơn nữa, ông được cho biết lý do tại sao sân ngoài bị loại ra: “Vì chỗ đó đã ban cho các dân Ngoại bang, họ sẽ giày đạp thành thánh bốn mươi hai tháng” (cầu). Chúng ta phải làm gì với những lời chỉ dẫn nầy?
Trong những câu nầy người ta có thể thấy những lời tiên tri bảo vệ và sự cứu chuộc cuối cùng của dân Do thái. Thời gian ngắn trước khi bùng nổ chiến tranh La mã Do thái (66 S.C.), những cơ đốc nhân Do thái đã chạy trốn thoát khỏi cảnh xung đột nầy. Tự nhiên, điều nầy đưa đến vấn nạn là họ phải trung thành với tổ quốc mình và hơn nữa họ phải chịu đựng với mối quan hệ cộng đồng do thái chủ cựu. Sau đó khi chiến tranh đạt đến cao điểm và dẫn đến số phận cuối cùng vào năm 70 S.C. Khi thành phố Giêrusalem và đền thờ bị phá hủy. Bấy giờ những cơ đốc nhân người do thái hỏi câu hỏi mà trước kia Phao lô đã hỏi liên quan đến tính ương ngạnh của người Do thái về kỳ nhận biết Chúa Jesus làm Đấng Mêsi của mình: ”Đức Chúa Trời há xua bỏ dân Ngài chăng?” (RoRm 11:1). Đối với câu hỏi nầy, Phao lô trả lời: ”Đời nào có vậy”. Sau đó trong Rô ma từ đoạn 9 đến 11, ông xem xét kỹ lưỡng vấn đề và kết luận rằng sự sa ngã của người Ysơraên không phải là vấn đề thường trực. Trái lại quốc gia sẽ được tái lập như là một phần của dân sự Đức Chúa Trời (11:26). Đây là sự dạy dỗ rõ ràng trong ba đoạn nầy. Và lời phán của Chúa Jesus trong LuLc 21:24 phù hợp với sự giải luận nầy: ”Giêrusalem sẽ bị Dân Ngoại giày đạp cho đến chừng thời kỳ Ngoại bang được trọn”. KhKh 11:1-19, cho chúng ta lời tiên tri nói trước về sự bảo vệ và cứu chuộc cuối cùng của dân do thái.
Trong 11:1-2 Giăng trở thành một cộng tác trong Khải tượng ông tiến nhận (trước kia ở 10:8-11 ông đã là người dự phần rồi). đoạn được truyền bảo phải đo đền thờ của Đức Chúa Trời và bàn thờ; tuy nhiên, ông phải loại trừ sân ngoài của đền thờ vì đã được giao cho Dân Ngoại. Aẩn dụ định mức đo lường nầy có nghĩa gì? Trước hết chúng ta hãy khảo sát khía cạnh vật chất cửa trước đền thờ và sao đó hãy xem xét ý nghĩa.
Chính đền thờ (nơi Thánh và nơi chí Thánh) được bao bọc do ba hành lang. Hành lang đầu tiên hay: Hành lang của những thầy tế lễ gồm có bàn thờ dâng của lễ thiêu và chậu rửa rất lớn. Phần nầy chỉ dành cho thầy tế lễ mà thôi. Kế đó là hành lang của người Ysơraên được chia làm đôi: một dành cho nam, một dành cho nữ. Người Ysơraên nào được tẩy sạch theo lễ nghi có thể tụ tập tại đây để thờ phượng ở tại những vùng phía sau. Bên ngoài hành lang nầy là hành lang của Dân Ngoại, vốn mở ra cho mọi người quan tâm đến Chúa Người Ngoại bang cũng như người Do thái.
Trong Khải tượng hiện tại tất cả hành lang bên trong và nơi Thánh, cùng với những người thờ phượng được tách riêng khỏi hành lang bên ngoài-Hành lang của Dân Ngoại. Khi chúng ta suy nghĩ về ẩn dụ đo đạc nầy, chúng ta thấy rằng: Đo một thành phố ”có nghĩa khác hơn việc biết được phạm vi của nó. Trái lại, so sánh hình ảnh tượng trưng nầy với cách dùng của việc ấy ở một chỗ khác trong Kinh Thánh dẫn chúng ta đến kết luận rằng, việc đo lường tượng trưng cho việc đặt một thành phố riêng ra hoặc là để giải cứu hoặc là để hủy diệt nó. Tác giả của bạn cũng tin rằng trong vài đoạn Kinh Thánh, sự đo đạc ám chỉ về quyền sở hữu của Đức Chúa Trời (Xem IIVua 2V 21:13, EsIs 34:11, CaAc 2:8) trong trường hợp nầy chúng ta thấy có sự tương phản: Nơi thánh và hành lang trong được bảo vệ, còn hành lang ngoài và thành Thánh không được bảo vệ,
Tại đây rõ ràng cả hành lang ngoài và thành Giêrusalem bị đánh dấu để bị Dân Ngoại giày đạp. Từ sự nhắc đến của Chúa Jesus trong LuLc 21:24 đến việc thành Giêrusalem bị giày đạp, thì chúng ta thấy rằng, trong bối cảnh nầy thành phố thay cho tập thể dân Ysơraên. Một lần nữa trong trường hợp hiện tại, Giêrusalem thay thế cho người Do thái. Vì thành phố tương phản với đền thờ và những người thờ phượng, vốn được cứu, nên ý nghĩa dường như nói rằng toàn thể quốc gia tương phản với một phần nhỏ, dân sót, là những người thờ phượng thật của Đức Chúa Trời.
Dường như rõ ràng đền thờ và những người thờ phượng không tiêu biểu cho tất cả Ysơraên, vì họ đã tương phản với hành lang ngoài và thành Giêrusalem vốn tượng trưng cho tất cả quốc gia Ysơraên. Điều nầy cho thấy có sự tương phản giữa những dân sót người Ysơraên trung thành với Đức chúa Trời vốn là những người thờ phượng thật, với cả thành phố nói chung. Quốc gia Ysơraên sẽ bị những quốc gia khác giày đạp, và người do thái sẽ rơi vào sự hình phạt thiên thượng vì họ đã bội đạo thuộc linh. Sự kiện nầy được hỗ trợ ở câu 8 nơi Giêrusalem bị gọi cách tượng trưng là Sô đôm và Ai cập nơi Chúa bị đóng đinh. Những nơi khác trong Kinh Thánh trong đó Giêrusalem đại diện cho toàn quốc gia là Thi Tv 137:5-6. EsIs 40:1-2, và Mat Mt 23:37.
Câu 2 nói rằng: ”họ sẽ giày đạp thành thánh bốn mươi hai tháng” đưa chúng ta trở lại DaDn 9:27, tại đây Kinh Thánh chép rằng Vua hầu đến sẽ lập giao ước bảy năm với dân Ysơraên. Vì thế, trong nữa phần đầu của Cơn Đại Nạn, người Do thái sẽ được tự do thờ phượng trong đền thờ của họ, và họ sẽ cảm thấy mình ở tại Giêrusalem. Tuy nhiên, phần mở ngoặc khai triển nầy trong 11: 1-2 dường như chỉ về giữa Cơn Đại Nạn, vào ngay thời điểm mà chính sách cởi mở của Antichrist bắt đầu kết thúc. Sau đó, vào giữa thời kỳ ký kết hiệp ước nầy, Nghĩa là sau 42 tháng hay ba năm rưỡi, Antichrist sẽ phá hiệp ước với người Do Thái, bãi bỏ sự tự do thờ phượng và tự do dân sự (vì sự trung thành) và đặt tượng của hắn vào đền thờ bắt người ta phải thờ lạy. Đây là hành động tàn phá gớm ghê lập ra trong nơi thánh (Mat Mt 24:15). Cuối của thời kỳ ba năm rưỡi nầy đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ Dân Ngoại (LuLc 21:20-24). DaDn 7:25 chép ”Nó sẽ nghịch cùng Đấng Tối Cao và bách hại những thánh đồ của Ngài... một kỳ, những kỳ và nữa kỳ”. Tuy nhiên, dân sót gồm những người trung thành sẽ được bảo vệ do Thiên thượng trong thời kỳ đại nạn nầy.
6, Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Việc đo đền thờ và bàn thờ và đếm số người thờ phượng tại đây nói về sự cứu độ của những người Do thái.
b. Sự đo đền thờ ở đoạn 11:1-2 chỉ về việc tìm biết kích thước của một vật.
c. Sự giày đạp Giêrusalem, thay thế cho quốc gia Ysơraên, và sự cứu độ những người thờ phượng chỉ về dân sót là những người thờ phượng thật của Đức Chúa Trời.
d. Thời kỳ 42 tháng trong đó thành thánh bị giày đạp chỉ về thời kỳ ba năm rưỡi của Cơn Đại Nạn, trong đó Antichrist sẽ ngược đãi những người Do thái trung thành.
e. Mặc dù ba năm rưỡi của việc Antichrist cai trị được đánh dấu bằng chính sách tôn giáo cởi mở, nhưng điều nầy sẽ chấm dứt vào điểm giữa của thời gian cai trị của ông ta.
f. Dù dân Do thái sẽ tự do thờ phượng trong đền thờ của họ trong ba năm rưỡi, nhưng họ vẫn không thấy mình thực sự ở nhà mình tại Giêrusalem.
g. Cuối thời kỳ ba năm rưỡi thứ hai sẽ đem lại sự kết thúc thời kỳ Dân Ngoại.
Hai Chứng Nhân.
KhKh 11:3-14.
Câu 3-14 cho chúng ta biết chi tiết của chức vụ của hai nhân chứng đầy quyền năng nầy là những người sẽ nói tiên tri trong thời gian bốn mươi hai tháng đau đớn của thời kỳ đại nạn. Mặc dù một số học giả cho rằng hai chứng nhân nầy tượng trưng cho Hội Thánh đang hoạt động trong sự làm chứng đạo, nhưng chúng ta được dẫn dắt bởi những lời mô tả chi tiết về hai chứng nhân để thấy rằng họ thực sự là cá nhân của thời kỳ cuối cùng được sai đến với dân Ysơraên để giảng cho họ sự ăn năn. Trong phần nầy chúng ta sẽ khảo sát mục đích, nhận diện, thời gian công tác, mô tả chi tiết và sự chết của họ.
Chúng ta sẽ ghi nhận mục đích của họ: Họ là hai chứng nhân được ban quyền năng đặc biệt để hoàn thành công tác đặc biệt trong thời gian 1.260 ngày nay 42 tháng (câu 3). Một học giả Kinh Thánh nhận định rằng họ là các tiên tri kết tội được tượng trưng bằng sự kiện là họ mặc áo vải gai (sackcloth). Áo vải gai là một loại vải thưa làm bằng sợi lông dê, nhám, để những người có tang mặc (SaSt 37:34), KhKh 6:12). Loại áo thô sơ làm bằng vải gai cũng còn mặc trong những lúc gặp tai ương và trong thời kỳ ăn năn để bày tỏ sự buồn rầu về tội lỗi ( IISa 2Sm 3:31-32, IVua 1V 20:32, Mat Mt 11:21).
Hai chứng nhân nầy được diễn tả là ”Hai cây Ôlive, và hai giá đèn đứng trước mặt Chúa của đất” (câu 4). Bạn có thể liên tưởng đến Giêhôsua thầy tế lễ thượng phẩm và Giêrubabên được dấy lên làm những chứng nhân trong thời kỳ Xachari. Họ phục vụ trong quyền năng Thánh Linh được tượng trưng bằng bằng dầu Ôlive dùng trong những chơn đèn ( XaDr 4:1-6). Trong những ngày đó, Đức chúa Trời nhắc nhở dân sự rằng ”Ấy chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, nhưng bởi Thần ta” để đạt mục đích của Ngài. Tương tự như thế, hai chứng nhân của thời kỳ cuối cùng nầy sẽ thi hành chức vụ tiên tri qua quyền năng của Thánh Linh.
Ngoài chức vụ được xức dầu của họ, hai người nầy còn được ban quyền năng rất rộng rãi (câu 5-6). Họ được sự bảo vệ Thiên thượng chống lại sự tàn hại của kẻ thù, quyền năng trên những yếu tố thiên nhiên, kể cả khả năng ngăn trở trời mưa, và dùng các thứ tai hại đánh hại đất bao nhiêu lần tùy ý. Một học giả của lời tiên tri của Kinh Thánh ghi nhận rằng hai tiên tri của Kinh Thánh ghi nhận rằng hai tiên tri nầy sẽ có quyền năng lớn lao nhất mà chưa có tiên tri nào trước họ đã có. Điều nầy kể đến khả năng sống còn của họ trước mọi nổ lực muốn tiêu diệt họ trong thời gian 42 tháng.
Hai chứng nhân nầy thực hiện công tác của mình vào thời điểm nào trong bảy năm đại nạn thì không rõ ràng. Một số học giả tin rằng họ phục vụ vào thời kỳ ba năm rưỡi đầu của Cơn Đại Nạn. Những học giả nầy tin rằng chức vụ của họ rất cần thiết trong việc đem 144.000 người đến sự cứu rỗi. Họ cũng khẳng định rằng vì Dân Ngoại sẽ chà đạp Giêrusalem trong phần thứ hai của Cơn đại Nạn, nên hiển nhiên sẽ không có lý do nào cho họ để làm chứng cả. Những học giả khác lại tin rằng trong thời kỳ ba năm rưỡi sau của Cơn Đại Nạn mới thực sự cần thiết cho chức vụ làm chứng khi Antichrist hiển lộ và dốc toàn lực lượng của mình tấn công vào dân Do thái. Những học giả nầy cũng cho thấy rằng thời kỳ ba năm rưỡi thứ hai mới là thời điểm đặc biệt của sự phán xét, vì vậy phù hợp với mục đích của chức vụ của hai chứng nhân.
Theo quan điểm chúng tôi, nhiều người trở lại cùng Chúa trong thời kỳ nữa giai đoạn đầu của Cơn Đại Nạn là bằng cớ của chức vụ của hai nhân chứng nầy. Hoặc là hành đọng lớn của Đức Chúa Trời là kết quả của chức vụ tiên tri của họ, của 144.000 người hay cả hai, tay chỉ là sự hành động thiên thượng của Thánh Linh không được trình bày rõ ràng. Chúng ta chỉ biết rằng hai chứng nhân này là một sứ điệp mạnh mẽ, năng động, quan trọng được kèm theo bằng những dấu kỳ phép lạ (câu 3-6). So sánh với XuXh 7:1-11:10 và IVua 1V 17:1-7 với KhKh 11:6, chứng tỏ rằng họ có cùng quyền năng liên quan đến máu, tai họa và mưa mà Môi se và Êli đã làm.
Mặc dù những quyền năng liệt kê trong câu 6 có thể gợi ý về sự nhận diện hai chứng nhân nầy, nhưng Kinh Thánh không nhận diện họ cách đặc biệt. Một số học giả nhấn mạnh rằng họ là Hê nóc và Ê li, là những người phải quay lại trái đất để kinh nghiệm sự chết, vì theo như đã định mọi người phải chết một lần (HeDt 9:27). Rõ ràng chỉ có hai người trong toàn thể nhân loại đã sống trên đất là không trải qua kinh nghiệm nầy. Nhưng có lẽ những học giả nầy lướt qua sự kiện là toàn thể thế hệ tín hữu lúc được cất lên cũng sẽ không qua sự chết.
Một số những học giả lại khẳng định rằng hai chứng nhân nầy là Môi se và Ê li vì họ sẽ thi hành chức vụ giống y hệt những tiên tri trước kia. Ý kiến thứ hai nầy dựa vào sự kiện là Môi se và Ê li hiện ra với Chúa Jesus trên núi hóa hình (Mat Mt 17:1-7). Hơn nữa MaMl 4:5 nói rằng Ê li sẽ đến ”trước ngày lớn và khủng khiếp của Đức Giê ho va đến”. Ê li tượng trưng cho chức vụ tiên tri được thực hiện trong quyền năng mạnh mẽ (LuLc 1:17). Chúng ta tin rằng Môi se và Ê li đứng trên núi với Chúa Jesus vì họ đa hoàn thành Luật pháp, do Môi se đại diện. Mặc dù chúng ta không biết rõ chính xác việc nhận diện hai nhân chứng nầy, nhưng chúng ta tin rằng họ sẽ là những tiên tri thuộc loại Cựu Ước, vì họ sẽ phục vụ trong thời kỳ một phần dân Ysơraên sẽ trở lại cùng Chúa.
7. Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả vắn tắt hai chứng nhân, quyền năng của họ, và manh mối về cách nhận diện họ.
Khi những tiên tri nói ra sứ điệp của Đức Chúa Trời, thì chắc chắn họ sẽ đương đầu với sự chống đối của những người không tin kính. Tuy nhiên, sự ngấm ngầm tiêu diệt họ hoàn toàn vô hiệu trong việc làm tổn thương họ. Thật vậy, nếu họ cố thử, họ sẽ bị tiêu diệt ngay (câu 5). Chúng ta phải nhớ rằng sự sống của dân sự Đức Chúa Trời ở trong tay của Ngài. Chúng ta có thể phục vụ Đức Chúa Trời không sợ hãi gì, vì ngài sẽ giữ gìn chúng ta cho đến khi công tác của chúng ta hoàn tất. Khi đến lúc chúng ta từ giả cõi đời, chúng ta có thể nói như Phao lô ”tôi đã giữ được đức tin” ( IITi 2Tm 4:7). Tuy nhiên, khi họ làm xong công tác của mình, thì một con thú từ vực sâu (Abyss) bay lên tấn công hai người và thắng hơn họ và giết họ đi (câu 7). Lần thứ nhất trong sách Khải huyền chúng ta thấy trước sự xuất hiện của Antichrist, con thú trong KhKh 13:1-18.
Câu 8-10 bày tỏ phản ứng nhẫn tâm của những người không tin kính đối với cái chết của hai chứng nhân nầy. Trái với sự nhân đạo và lịch sử theo lễ nghi, thi thể của hai người nằm phơi trần và không được chôn cất ba ngày rưỡi trên đường phố Giêrusalem. Nói theo nghĩa bóng Giêrusalem được coi là Sôđôm và Êdíptô (Ai cập). Sôđôm nói về sự bại hoại luân lý, và Êdíptô tượng trưng cho sự áp bức, nô lệ và thờ hình tượng, tuy nhiên, sự nhận diện đúng đắn về thành phố nầy được nêu rõ trong câu 8.
Sự chết của những chứng nhân nầy sẽ khích động sự ăn mừng trên cả thế giới khi người ta lầm lẫn tin rằng những tai ương, thống khổ và hình phạt đều phát xuất từ hai người nầy chứ không phải từ Đức Chúa Trời của họ (So sánh câu 12 với 4:1). Tuy nhiên, với phương tiện truyền thông tin tức hiện đại và sự phơi bày những phần còn lại rùng rợn của những vị tiên tri, và khi sự hội hè vui mừng của họ lên đến tột điểm, thì những chứng nhân được sống lại ngay trước mắt của kẻ thù của họ. Sự thay đổi đột ngọt nầy khiến những kẻ xem thấy đều sợ hãi quá đỗi khi có lời truyền lệnh từ trên trời: ”Hãy lên đây” (câu 12). Bấy giờ những kẻ thù của họ nhìn xem thấy những tiên tri được biến hóa lên trời. Nhưng trước khi kẻ thù của họ có thể trở lại con đường tội ác của mình, thì thành phố bị rung động mạnh do cơn động đất thật lớn, khiến cho 1/10 thành phố bị phá hủy. những người sống sót sợ hãi và tôn vinh Đức Chúa Trời (câu 13). Khốn nạn thứ nhì đã qua, kìa khốn nạn thứ ba đến mau chóng (câu 14).
8. Dựa vào kiến thức của bạn về sự truyền thông tin tức hiện đại, làm thế nào mọi người trên đất, các sắc tộc, các ngôn ngữ, các quốc gia thấy được thi thể của những chứng nhân trong thời gian ba ngày rưỡi.
9. Kết hợp sự kiện là đám đông sẽ được cứu ra khỏi cơn Đại nạn với sự kiện là hai chứng nhân sẽ có chức vụ đầy quyền năng để gợi ý rằng chức vụ của họ sẽ
a. Hạn chế cho người Do thái nói chung và Giêrusalem nói riêng.
b. Có ảnh hưởng khiêm tốn trong việc chỉ rằng cơn đoán phạt hầu đến.
c. Thành công cao độ trong việc quay dân sự trở lại cùng Đức Chúa Trời và trong việc chỉ cho họ việc con người phải khai trình với Đức Chúa Trời.
d. Chỉ thành công trong việc nói tiên tri về sự phán xét, và chuẩn bị dân sự cho cơn thạnh nộ hầu đến của Đức Chúa Trời.
10. Xếp đặt cho phù hợp người với lý do tại sao người ấy thường được nhận diện hay không được nhận diện là một trong hai chứng nhân của Khải huyền 11.
....a. Được nhận diện là đại biểu của luật pháp, đã hiện ra trên núi hóa hình với Chúa Jesus.
....b. Người đầu tiên được biến hóa lên trời, một trong hai người có đặc điểm là không trải qua sự chết.
....c. Đại diện cho chức vụ tiên tri, hiện ra với Chúa Jesus trên núi Hóa Hình.
....d. Không có phẩm chất trên cơ sở là ”theo như đã định, mỗi người phải chết một lần ” (HeDt 9:27).
....e. Được nhận diện bởi lời tiên tri Cựu Ước và được Chúa xác nhận là người sẽ đến ”trước ngày lớn và khủng khiếp của Chúa” (MaMl 4:5).
Tiếng Vang Của Kèn Thứ Bảy.
KhKh 11:15-19.
Khoảng giữa của tiếng kèn thứ sáu và thứ bảy bây giờ đã kết thúc. Sứ mạng tiên tri của Giăng đã được phấn chấn, đền thờ đã được đo xong, và hai chứng nhân đã đến rồi đi. Bây giờ tiếng kèn thứ bảy mới có thể vang dội được, để giới thiệu cho thời kỳ cuối cùng của ngày tận thế (10:7). Tuy nhiên, rõ ràng ở đây là lời đón trước, nghĩa là nói hướng về lúc kết thúc sự xung đột ở đoạn 19, nói lên dường như là một sự kiện hoàn tất rồi. Nhưng như chúng ta sẽ thấy, thời kỳ cuối cùng nầy liên quan đến thời gian dài.
Khi tiếng kèn thứ bảy thổi lên thì không có sự khốn nạn nào kèm theo. Trái lại, có tiếng lớn trên trên công bố rằng: ”Nước của thế gian đã trở nên nước của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài sẽ làm vua cho đến đời đời vô cùng”. Điều nầy có nghĩa là thời gian cho Satan, kẻ bất pháp và những kẻ nó kiểm soát đang sắp hết. Đáp ứng cho lời công bố nầy hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống thờ lạy Đức Chúa Trời. Họ nêu lên sự đắc thắng của Đức Chúa Trời trong việc dẹp tan mọi quyền lực chống đối khi Ngài thiết lập sự cai trị. Hãy chú ý những yếu tố liên quan đến sự lên ngôi nắm quyền của Ngài.
1. Các dân nổi giận (câu 18). Như vậy, cuối cùng không phải là sự kết quả của một thế giới hòa bình không tưởng nhưng trái lại là sự đối đầu giữa Đức Chúa Trời thánh khiết và con người thách đố.
2. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã đến (câu 180. Đến điểm nầy sự chịu đựng và kiên nhẫn của Ngài được nhấn mạnh.
3. Phần kết thúc mang lại sự phán xét (câu 18). Trong quang cảnh ở đây sự sống lại của con người công bình đã chết, là để nhận phần thưởng. Đó cũng là lúc những kẻ phá hoại bị hủy diệt.
Khi quang cảnh nầy kết thúc, sự nhấn mạnh chuyển sang đền thờ của Đức Chúa Trời được mở ra, trong đền thờ thấy có hòm giao ước của Ngài.Trong phần trước chúng ta thấy rằng những người công bình đã chạy trốn khỏi đền thờ ở Giêrusalem, nhưng họ không cần phải chạy trốn khỏi đền thờ của Đức Chúa Trời ở trên trời (câu 19). Quang cảnh trên trời với hòm giao ước nhắc nhở chúng ta rằng giống như việc Đức Chúa Trời giữ giao ước Ngài trong Cựu Ước, thì Ngài luôn luôn giữ Lời của Ngài. Con người, giống như dân Ysơraên trong quá khứ, có thể vi phạm giao ước của mình, nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn thành tín với Lời của Ngài. Trong thời kỳ khó khăn sắp đến, Đức Chúa Trời vẫn có thể đưa dân sự Ngài an toàn qua khỏi để họ nhận phần thưởng của mình. Một học giả ghi nhận rằng việc đền thờ được mở ra trên trời có ý nghĩa là báo trước cho chúng ta sự được phép đi thẳng vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong mối thôn công không có trung gian. Thật tuyệt vời khi đức tin đưa chúng ta vào sự dện kiến Ngài và chúng ta sẽ thấy Ngài như vốn là thật vậy (Igiăng 3:2;). Những hiện tượng kèm theo như sấm, chớp tiếng rền, động đất và mưa đá lớn vừa bày tỏ sự hiện diện của Ngài vừa mang ý nghĩa là sự thạnh nộ của Ngài đang xảy ra.
11. Trong sổ tay của bạn, hãy giải thích vắn tắt tầm quan trọng của tiếng kèn thứ bảy.
NGƯỜI ĐÀN BÀ VÀ CON RỒNG.
12:1-6:13-17.
Trong phần cuối của bài học nầy chúng ta khảo sát đoạn 12. Đây là một phần mở rộng khai triển khác. Mặc dù toàn thể đoạn được nhấn mạnh, nhưng chúng ta sẽ khảo sát trước tiên những câu 1-6 và 13-17, để lại đề tài mô tả về Con Rồng Lớn Sắc Hồng (Con Rồng đỏ dữ tợn - Enormous Red Dragon) (câu 7-12) cho Bài 12. bây giờ chúng ta hãy khảo sát người đàn bà mình mặc mặt trời, con trai nàng và những kẻ khác của dòng giống nàng.
Người Đàn Bà Mặc Mặt Trời .
12:1-6:13-16.
Giăng ghi lại sự xuất hiện một dấu lạ lớn ở trên trời (câu 1). Dấu lạ nầy hiện ra trên trời để chỉ về một thực tế ở dưới đất. Giăng thấy một người đàn bà mầu nhiệm đang có thai mình mặc mặt trời, chơn đạp mặt trăng, đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao. Nàng có thai và kêu la quặng thắt vì đau đẻ, trong khi đó có một con rồng lớn sắc hồng đứng cạnh người đàn bà gần đẻ, chờ khi đẻ rồi thì ăn nuốt con của nàng (câu 2-4). Tuy nhiên, người đàn bà được an toàn khi sinh đức trẻ, bé trai, vốn lập tức được đưa lên cùng Đức Chúa Trời. Trong khi đó, người đàn bà chạy trốn vào một nơi được Đức Chúa Trời chuẩn bị cho nàng an toàn trong thời gian 1.260 ngày. Đây là cái nhìn đầu tiên của vị tiên tri về người đàn bà, con trai nàng, và con rồng lớn màu hồng. Bây giờ chúng thảo luận về sự hiện diện, ý nghĩa và tương lai của người đàn bà nầy.
Nhiều học giả Kinh Thánh tin rằng người đàn bà tiêu biểu cho dân Ysơraên. Một nhà phê bình Kinh Thánh nói rằng bà tượng trưng cho dân Ysơraên như cái dạ con mà từ đó Đấng Christ ra đời. Những người phũ khá được đề cập trong Khải huyền như Giêsabên (2:20), người đại diện cho hệ thống tôn giáo giả tạo; dâm phụ (17:1-7, 16-18) tượng trưng cho Hội Thánh bội đạo trong tương lai; và Tân phụ, vợ của Chiên Con (19:7;), đại diện cho Hội Thánh được kết hợp với Đấng Christ trong sự vinh hiển. Điều thú vị là chỉ có chỉ có một chỗ khác trong Kinh Thánh là nơi biểu tượng nầy xuất hiện có liên quan với Ysơraên (KhKh 37:9).
Trong Cựu Ước dân Ysơraên được đề cập như là một phụ nữ có chồng, vợ của Đức Giêhôva (EsIs 54:1, Gie Gr 3:1-14, OsHs 2:14-23). Thật vậy, Ysơraên là nhóm người duy nhất của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh được ám chỉ là người phụ nữ có chồng. Trái lại Hội Thánh, lại được ám chỉ là một trinh nữ ( IICo 2Cr 11:2), Không bao giờ là một người mẹ sắp sinh. Trong Cựu Ước dân Ysơraên cũng được ám chỉ là người đàn bà có thai gần đẻ (EsIs 2:17, và 66:7; MiMk 4:10; 5:3). Vậy, chúng ta có thể kết luận rằng người đàn bà tiêu biểu cho dân Ysơraên. Và sự quặng thắt vì đau đẻ cho thấy sự sinh đẻ sắp đến, như vậy sự đau đớn của người đàn bà có thể tiêu biểu cho những dấu hiệu mà Chúa Jesus nói vốn dẫn đến sự kết thúc của thời đại nầy (Mac Mc 13:8).
Trước khi chúng ta khảo sát về đứa con trai được sinh ra, chúng ta phải nhấn mạnh về số phận và tương lai của người đàn bà. Câu 6 và 14 cho thấy rằng nàng sẽ trốn khỏi con rồng lớn màu đỏ (mà chúng ta sẽ khảo sát ở bài 12). Hai câu nầy ám chỉ đôi điều về chỗ người đàn bà sẽ chạy trốn, nàng có thể đến đó an toàn như thế nào, sẽ được chăm sóc ra sao, và thời gian nàng sẽ được che chở khỏi con rồng.
Như chúng ta đã ghi nhận trước đây, tại điểm giữa của Cơn Đại Nạn Antichrist sẽ phá hủy giao ước với Ysơraên . Thời gian hòa giải với dân Ysơraên kết thúc đột ngột, và nàng bị bắt buộc phải trốn vào ”một chỗ đã được chuẩn bị”. Nhiều học giả Kinh Thánh tin rằng nàng sẽ trốn vào một chỗ an toàn trong vùng Giô đanh hiện đại được gọi là Petra. Trong thời Kinh Thánh nó được gọi là Sela có nghĩa là ”vầng đá” ( IIVua 2V 14:7, EsIs 16:1). DaDn 11:41 cho biết rằng Antichrist sẽ chinh phục nhiều quốc gia Trung Đông, bao gồm Ysơraên, nhưng vì lý do nào đó Êđôm, Mô áp và Am môn sẽ được giải cứu khỏi quyền lực của hắn. Điều có ý nghĩa ấy là Petra ở trong vùng Jordan hiện đại hiện nằm ở vị trí trong một phần của ba quốc gia cổ nầy. Hơn nữa, Đức Chúa Trời phán qua tiên tri Ôsê rằng Ngài sẽ dẫn dân Ysơraên vào sa mạc (đồng vắng) và đối xử dịu dàng với nó ( OsHs 2:14).
Petra đứng sừng sững như một rặng núi lớn trong Sa mạc Giô đanh. Đầu tiên nó là nơi ở của người Êđôm, nhưng khoảng 300 T.C. Nabatan biến đổi nó thành một thành phố đục trong núi Petra (the amazing rockcut city of Petra). Để vào Petra, người ta phải đi bộ hay cỡi ngựa qua một lối đi hẹp nhỏ nầy, vì Petra là nơi hơi khó đến nên nó cũng tăng lên sự cô lập. Bên trong là một vùng đất hai mươi hai dặm vuông được bao bọc bằng những vách núi nhọn hoắc. Petra có những đền thờ, nhà ở và những khu vực để sống khác được đục ở bề mặt của khối đá. Một số học giả phỏng chừng có khoảng một triệu rưỡi người có thể sống tại Petra. Những sự kiện được ban cho trước không phải là thái quá khi nói rằng đó là nơi được chuẩn bị trước (a prepared place).
Chúng ta không biết chính xác làm thế nào để người đàn bà tránh được cản trở khi nàng đi trốn, tuy nhiên, câu 14 cho thấy rằng nàng sẽ được sự giúp đỡ thiên thượng. Có lẽ có những sự đe dọa từ bên ngoài xảy ra thình lình có phương hại đến quyền lực của Antichrist nên sẽ làm lạc hướng chú ý của Antichrist trong thời gian vừa đủ để người đàn bà được trốn thoát. Bất chấp nguy hiểm, người đàn bà sẽ được an toàn đến chỗ đã được chuẩn bị tại đó Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc nàng trong thời gian 1.260 ngày (câu 6) Hay ”một kỳ, những kỳ và nữa kỳ” (câu 14) (Khung thời gian vẫn như nhau dù chúng ta có thể nói 42 tháng, 1.260 ngày, hay ba năm rưỡi). Như vậy trong bán phần của Cơn Đại Nạn người đàn bà sẽ được che chở ở vùng sa mạc rất xa.
12. Theo phần nghiên cứu của chúng, người đàn bà mình mặc mặt trời, đội mũ bằng mười hai ngôi sao và chân đạp mặt trăng tiêu biểu cho
a. Thân phụ của Christ.
b. Hội Thánh bội đạo của ngày cuối cùng.
c. Quốc gia Ysơraên.
d. Nguyên tắc gian ác.
13. Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả sự chạy trốn của người đàn bà và nàng được che chở như thế nào.
Con Trai Của Người Đàn Bà: Người Cai Trị.
KhKh 12:5-6.
12:1-18 trình bày một người đàn bà tượng trưng sinh một con trai tượng trưng, vốn được dự kiến là sẽ cai trị những quốc gia bằng cây gậy sắt. Với bất cứ hình ảnh tượng trưng nào, thì cũng luôn luôn có những quan điểm khác nhau để nhận diện. Một số nhà giải Kinh lý luận rằng vì người đàn bà tượng trưng cho quốc gia Ysơraên, nên nàng sẽ sinh ra đứa con của mình, tức là tập thể Ysơraên. Họ tin rằng con trai nầy tượng trưng cho 144.000 người được đóng dấu ở Khải huyền đoạn 7 ở trên đất và sẽ xuất hiện ở 14:1-5 ở trên trời. Cũng có những quan điểm khác, nhưng chúng tôi tin rằng những điều đó thiếu sự đáng tin cậy theo sự khảo sát sau đây.
Câu: ”Nàng sanh một con trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà chăn muôn dân” (câu 5) nêu rõ đặc điểm con trẻ. Đó là người được Đức Chúa Trời xức dầu để cai trị toàn thể trái đất. Câu Kinh Thánh nầy có liên quan rõ đến Thi thiên 2 vốn cho biết trước rằng con trai được xức dầu sẽ nhận những quốc gia làm cơ nghiệp và sẽ cai trị bằng cây phủ việt bằng sắt (Thi Tv 2:6-9). trong thời kỳ thiên hy niên Đấng Christ thật sự sẽ cai trị các quốc gia theo cách nầy. Hãy chú ý rằng Giăng không đề cập đến những biến cố chen vào giữa sự giáng sinh của Đấng Christ và sự thăng thiên của Ngài. Chúng ta biết rằng những nỗ lực muốn giết Chúa Jesus từ lúc mới sanh đều không thành công. Điểm chính ấy là do công tác cứu độ thành công của Cứu Chúa chúng ta, Ngài đã phá kế hoạch của Satan. Hơn nữa, chức vụ của Chúa Jesus lên đến tột điểm trong sự thăng thiên và được nhắc lên của Ngài (Phi Pl 2:5-11). Giăng ghi nhận thêm, sau khi con rồng thất bại trong việc muốn tiêu diệt con trẻ thì nó lại quay sang người đàn bà và những kẻ khác của dòng giống nàng. Nhìn về tương lai, điều nầy có nghĩa là Antichrist sẽ trút cơn thạnh nộ của nó trên Ysơraên và đặc biệt trên những người trung tín tin theo Chúa Jesus Christ. 14. Rõ ràng là con trai của người đàn bà được dự kiến là nhân vật vĩ đại, bởi cớ đó con rồng tập trung nổ lực để tiêu diệt từ lúc mới sanh. Trong sổ tay của bạn hãy thảo luận về sự nhận diện và ý nghĩa của con trẻ.
Hậu Tự Khác Của Người Đàn Bà.
KhKh 12:7.
Trong phần cuối của bài học nầy, chúng ta sẽ lưu tâm đến câu 17. Mặc dù con rồng thất bại trong nổ lực tiêu diệt con trẻ và người đàn bà, nhưng nó sẽ tìm cách hủy diệt ”những kẻ khác của dòng giống của người đàn bà” (câu 17). Một học giả Kinh Thánh lão luyện đã nhận định rằng Ysơraên bị ma quỉ ghen ghét không những vì những đặc điểm riêng biệt của mình nhưng còn vì nó được Đức Chúa Trời lựa chọn và quan trọng trong mục đích tổng thể của Ngài cho thời gian và cõi vĩnh hằng. Một số học giả Kinh Thánh tin rằng giống như cộng đồng Cơ Đốc nhân Palestine trốn khỏi sự tàn bạo của chiến tranh Do thái (66-70 S.C), thì cũng vậy dân Do thái còn sót trung tín sẽ chạy vào thành Petra để được an toàn. Tuy nhiên hình ảnh rõ ràng của dân sót nầy được mô tả là ”những người giữ điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Chúa Jesus ”, sẽ không đi trốn. Những người trung thành nầy ở khắp nơi trên thế giới sẽ là đối tượng của sự thạnh nộ của con rồng.
Tóm lại, dường như người đàn bà sẽ đáp ứng với lệnh truyền của Chúa Jesus và chạy trốn đến ”chỗ được chuẩn bị sẵn” ( Mat Mt 24:16). Tuy nhiên, sẽ có những người là dân sót của Ysơraên vốn không chạy trốn vào nơi đã chuẩn bị sẵn, bấy giờ những người sống sót rải rác nầy sẽ được coi như là hậu tự khác của người đàn bà. Con rồng sẽ tấn công những người trung tín của Ysơraên tại nơi nào họ ở hầu hủy diệt họ hoàn toàn.
15. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Người đàn bà tượng trưng cho Ysơraên, con trai rõ ràng tượng trưng cho Chúa Jesus Christ, và hậu tự khác được nhận diện là Hội Thánh.
b. Lý do thật sự tại sao con rồng tức giận là vì nó đã thất bại trong việc hủy phá chương trình cứu chuộc nhân loại của Đức Chúa Trời.
c. Cơn thạnh nộ của con rồng trực tiếp vào hậu tự khác của người đàn bà vì cớ công tác tích cực của họ rong Cơn Đại Nạn chống lại quyền cai trị của nó.
16. Giải thích hậu tự khác của người đàn bà là ai.
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời bạn chọn.
1. Thiên sứ mạnh mẽ trong KhKh 10:6-7 liên quan đến một sứ điệp có ý nghĩa rất cao cho những ở trên đất bằng sự ám chỉ rằng sẽ
a. Có sự trì hoãn trước khi tiến trình chiến thắng đạt được.
b. Có sự trì hoãn không hạn chế trước khi chương trình của Đức Chúa Trời kết thúc.
c. Có sự kết thúc ngay tức khắc về chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
d. Không có sự trì hoãn nữa trong tiến trình dẫn đến sự đắc thắng thiên thượng.
2. Ý nghĩa tượng trưng của việc đo đền thờ là
a. Nó cho chúng ta biết về phạm vi vật chất.
b. Phần của đền thờ được biệt riêng để bảo vệ và một phần khác dành cho sự phá hủy.
c. Một cách tượng trưng để quyết định ai là chủ của nó.
d. Những phần khác nhau của đền thờ được đo nói lên những yếu tố khác nhau mà Hội Thánh được xây dựng.
3. Thời gian 42 tháng khi dân sót trốn khỏi Giêrusalem vì nó đang bị người Ngoại bang giày đạp gợi ý.
a. Một thời gian được hạn chế sau thời kỳ đại nạn.
b. Rằng bán phần cuối của Cơn đại Nạn đang ở trước mặt.
c. Rằng bán phần đầu của Cơn Đại Nạn đang ở trước mặt.
d. Một thời kỳ ngay trước khi cơn Đại Nạn bắt đầu.
4. Tiếng kèn thứ bảy trổi lên, vốn nhấn mạnh quang cảnh của đền thờ của Đức Chúa Trời với hòm giao ước ở trong đó, gợi ý đặc biệt rằng Đức Chúa Trời.
a. Chúc phước cho người công bình.
b. hủy diệt kẻ ác.
c. Giữ phần của Ngài về giao ước mà Ngài đã hứa.
d. Cho phép chúng ta giữ phần của chúng ta trong giao ước Ngài lập ra.
5. Người đàn bà trong Khải huyền 12, vốn tượng trưng cho dân Ysơraên, sẽ trốn đến nơi đã được chuẩn bị và ở tại đấy
a. Suốt cả thời kỳ Đại Nạn.
b. Trong bán phần thứ nhất của Cơn Đại Nạn.
c. Trong bán phần thứ hai của Cơn Đại Nạn.
d. Ngay sau Cơn Đại Nạn.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào chỗ trống trước câu Đúng, chữ S vào trước câu không đúng.
....6. Hai chứng nhân trong Khải huyền 11 có một mục đích có ý nghĩa: họ quay lòng của dân sự Đức Chúa Trời về cùng Đức Chúa Trời trong thời kỳ đại gian ác và bội đạo thuộc linh.
....7. Sự ngọt ngào trong miệng Giăng khi ông ăn cuộn sách nhỏ tượng trưng cho niềm vui của con cái Đức Chúa Trời sẽ kinh nghiệm khi Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt kẻ ác.
....8. Dường như rõ ràng rằng những người còn lại của dòng giống người đàn bà được đề cập trong đoạn 12 là những người Ysơraên tin kính vốn không ở tại nơi được chuẩn bị cho người đàn bà khi bà chạy trốn khỏi con rồng.
CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Trả lời câu hỏi dưới đây cách vắn tắt trong khoảng trống được chừa bên dưới:
9. Làm thể nào để cụ Giăng già cả có thể tiếp xúc được với nhiều người mà ông nhận nhiệm vụ nói tiên tri cho họ một lần nữa?
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
10. Chúng ta có thể nhận diện rõ ràng về con trai của người đàn bà vì điều gì?
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................

Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Sai.
2. Lời mô tả của Giăng về thiên sứ mạnh mẽ tương tự như hình ảnh của Chúa Jesus được xem thấy ở KhKh 1:13-15. Hành động của vị thiên sứ đó cũng công bố quyền sở hữu quả đất, giọng nói lớn tiếng của người, và sự công bố của người gợi lên tầm quan trọng của người vượt quá những gì gán cho thiên sứ bình thường. Trái lại sự kiện cho thấy Kinh Thánh chẳng bao giờ gọi Chúa Jesus là thiên sứ và thiên sứ nầy chỉ Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa mà thề chứng tỏ rằng vị ấy ở địa vị thấp hơn Đức Chúa Trời.
3. Lời công bố ám chỉ rằng sẽ không còn trì hoãn trong tiến trình dẫn đến việc chiến thắng điều ác nữa.
4. a. Sai.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Sai.
5. Câu trả lời của bạn phải ghi nhận rằng hành động của Giăng tượng trưng cho việc tiếp thu sứ điệp chứa đựng trong cuộn sách .Điều nầy rất quan trọng vì nó tái nhấn mạnh sự hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời cho con người trên đất, sẽ đem phần thưởng đời đời cho tín hữu, và đem sự hình phạt cho người không tin. Sự hiểu biết nầy đem lại sự cảm giác lẫn lộn trong những người hiểu toàn bộ ý nghĩa.
6. a. Đúng.
b. Sai.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Sai.
g. Đúng.
7. Câu trả lời của bạn. Bạn phải kể áo của họ (áo bằng vải gai), quyền năng của họ (đem đến tai họa, đổi nước thành máu...) , mục đích của họ (phục vụ cách có quyền năng như những tiên tri), nhận diện họ (có lẽ Môi se hay Eli hay Hê nóc), và tại sao bạn tin như vậy.
8. Câu trả lời của bạn. Với phương tiện truyền thông hiện đại qua vệ tinh và những mạng lưới thông tin khác nhau, những tin tức được thu hình ngay khi nó xảy ra và truyền đi khắp nơi trên thế giới. Nơi nào có đài nhận tin tức và có đĩa nhận tin từ vệ tinh, thì người ta có thể nhìn thấy sự việc đang xảy ra. Càng ngày càng có nhiều sự phát minh mới, khả năng nầy càng tối tân hơn nên hiện tượng đề cập ở trên đều có thể xảy ra.
9. c) Thành công cao độ trong việc quay dân sự trở lại cùng Đức Chúa Trời.
10. a. 1) Môi se.
b. 3) Hê nóc.
c. 2) Ê li.
d. 1) Môi se.
e. 2) Ê li.
11. Tiếng kèn thứ bảy nhấn mạnh sự hiện đến của vương quốc, rằng sự phán xét cũng sắp đến, sự chung kết đang đến gần, và Đức Chúa Trời giữ lời hứa của Ngài.
12. c) Quốc gia Ysơraên.
13. Câu trả lời của bạn phải ám chỉ rằng người đàn bà, Ysơraên, chạy trốn khỏi sự cai trị của Antichrist tại điểm giữa của Cơn Đại Nạn. Nàng được giúp đỡ chạy trốn đến một chỗ đã được chuẩn bị, có lẽ ở vùng Petra, thuộc nước Jordan hiện tại. Nàng sẽ được Đức Chúa Trời bảo vệ ba năm rưỡi.
14. Câu trả lời của bạn phải ghi nhận rằng Chúa Jesus rõ ràng trong hình ảnh trước mắt là một con trai được dự kiến sẽ cai trị các nước. Kế hoạch của Satan từ lúc mới đầu là muốn hủy phá kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho con người. Nó dường như đã thành công trong vườn Eđen khi Ađam thất bại, nhưng sự giáng sanh, sự chết, và sự phục sinh của Chúa Jesus báo hiệu sự thất bại hoàn toàn của nó. Như chúng ta sẽ thấy, Chúa Con được dành cho uy quyền lớn lao khi Ngài cai trị trên toàn thể vương quốc của Đức Chúa Trời.
15. a. Sai.
b. Đúng.
c. Sai.
16. Kinh Thánh chứng tỏ rằng hậu tự khác của người đàn bà là những tín hữu Ysơraên trung tín được tắm trong huyết là những người sống rải rác trên khắp thê giới.
Con Rồng và Những Công Cụ Của Nó
Trong Bài 11 chúng ta thấy rằng những biến cố di chuyển nhanh chóng trên dòng hành động của lời tiên tri. Sự hồi sinh của công tác tiên tri, việc đo đền thờ và công tác của hai chứng nhân; cùng lời mô tả, hoạt động và số phận của người đàn bà mầu nhiệm, con trai của nàng và những con cái khác thuộc dòng giống của nàng đều bao gồm trong những biến cố nầy. Chúng ta có thể thêm những sự kiện nầy vào sự hiểu biết mà chúng ta đạt được từ những bài học trước kia. Bây giờ chúng ta sang phần khảo sát một gương mặt chiếm vai trò chính trong những biến cố của Cơn Đại Nạn:
Con Rồng là một dấu hiệu lớn trên trời, chúng ta thấy con rồng vĩ đại sắc đỏ xuất hiện khi người đàn bà mầu nhiệm được giới thiệu (KhKh 12:3). Trong 12:9 con rồng được nhận diện là ”con rắn xưa, gọi là Ma quỉ và Satan, đứa lừa dối cả thiên hạ”. Nó là kẻ thù của Đức Chúa Trời, kẻ thù của người đàn bà, và kẻ thù của chúng ta nữa. Nó xuất hiện suốt cả Kinh Thánh ngoại trừ hai đoạn đầu và và hai đoạn cuối cuốn Kinh Thánh để tìm đủ cách phá hủy kế hoạch của Đức Chúa Trời và sự sống của con người . Trong bài học nầy bạn sẽ thấy con rồng vĩ đại sắc đỏ có những công cụ đi ra thực hiện ý muốn nó để chống lại Đức Chúa Trời. Qua sự so sánh những sự kiện trong bài nầy với những gì chúng ta đã học ở sách Đaniên chúng ta càng thấy rõ hơn những công cụ của Satan sẽ đạt được quyền hành như thế nào trong việc cố gắng tiêu diệt Ysơraên. Khi học bài, chúng tôi ước mong bạn nhìn nhận rằng dù Satan là kẻ thù có quyền, nhưng nó không có toàn quyền. Bạn hãy chống trả Satan và vâng lời Chúa làm những gì mình có thể để thực hiện công tác truyền giảng còn dang dở trong lúc còn thì giờ.
Con Rồng Lớn Sắc Đỏ.
Con Thú Từ Biển Đi Lên.
Tiên Tri Giả.
Con Đại Dâm Phụ.
Những Lời Tiên Tri của Lúc Tận Chung.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Phân biệt những thành viên trong ba ngôi của Satan (satanic trinity) và mô tả công tác, đối tượng và số phận của chúng.
• Thảo luận hậu quả của những chính sách của con thú của dân cư trên đất và những thể chế mà nó sẽ dùng để củng cố quyền hành.
• Nhận diện những khía cạnh của những lời tiên tri khác của thời kỳ cuối cùng.
Nghiên cứu bài học theo tiến trình của bạn. Nhớ đọc hết những phần Kinh Thánh trưng dẫn.
bạn có thể xử dụng Kinh Thánh để trả lời câu hỏi nghiên cứu và bài tập trắc nghiệm.
Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để hiểu những từ mới.
Nhớ trả lời câu hỏi nghiên cứu trước khi bạn dò phần giải đáp ở cuối bài học. Phương pháp nầy sẽ giúp bạn học tài liệu nhanh hơn.
Báo oán (requitad).
Chiếm bậy (arrogate).
Đặc quyền (prerogative).
Giả dối (counterfeit).
Hiểm ác (malevolent).
Xuyên tạc (perverted).
CON RỒNG LỚN SẮC ĐỎ
Bây giờ chúng ta gặp diễn viên đầu tiên trong các diễn viên trong vở kịch của thời kỳ cuối cùng vốn được giới thiệu theo hình ảnh tượng trưng. Những nhân vật tượng trưng nầy thường được nhận diện, giống như con rồng, trong mạch văn chung để chúng ta biết được chức năng và công việc của mỗi nhân vật.
Con Rồng.
12:3-4.
Đôi khi trong tiến trình của sự mặc khải thiên thượng, Đức Chúa Trời dường như vén màn lên và cho chúng ta thấy lướt qua những biến cố trong thế giới thuộc linh. Chẳng hạn trong Đaniên 10 Đức Chúa Trời bày tỏ bản chất của chiến trận thuộc linh. Tại đây ở 12:3 Satan được phô bày giống như con rồng lớn sắc đỏ. Tiếp tục với cách tượng trưng nầy, Giăng ghi nhận rằng ”đuôi của con rồng kéo một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất” (câu 4). Bạn có thể liên tưởng đến 1:1-20, ta thấy ngôi sao tiêu biểu cho những thiên sứ hay những sứ giả của Hội Thánh. Trong mối quan hệ với 12:4 ở đây, chúng ta có thể nói rằng có một cuộc phản loạn của Satan với Đức Chúa Trời ở trên trời trong đó 1/3 thiên sứ đi theo Satan và mất chỗ ở riêng mình (Giu Gd 1:6).
Trong 12:9 chúng ta được biết Satan lừa dối cả thiên hạ, cả thế giới. Tiếng Hy lạp được dịch là thế giới (World) xuất phát từ một chữ mà chúng ta rút ra chữ cosmic (vũ trụ, có tổ chức ) và có nghĩa là ”cơ cấu xã hội” (the structured society- xã hội có tổ chức). Satan thực hiện ảnh hưởng quyền lực trên những nhà cầm quyền, phương tiện truyền thông, những tổ chức, những sự quản lý, lao động và giáo dục. Những cái đầu và những cái sừng nhấn mạnh rằng Satan là kẻ cai trị của một vương quốc thuộc thế giới linh khổng lồ và đứng đàng sau những chính quyền không kính sợ Đức Chúa Trời, đặc biệt trong những ngày sau rốt. Biểu đồ dưới đây nói về ba tên gọi của con rồng trong Khải huyền 12, có thể giúp bạn hiểu nhiều hơn về những khía cạnh của bản tính của nó.

TÊN VÀ CÂU
Ý NGHĨA
TRƯNG DẪN
Con rắn xưa (câu 9)
Ma quỉ (câu 9)

Satan (câu 9)

1. Cho biết con rồng là ai và ý nghĩa của những hoạt động của nó.
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
TRẬN CHIẾN Ở TRÊN TRỜI.
12:7-12, 17:7-18.
12:7-12 cho chúng ta thấy một cuộc xung đột không thể tin được ở trên trời. Thêm vào những sự kiện chúng ta thu thập được ở Đaniên 10, Phao lô cho chúng ta biết có ”một vua cầm quyền chốn không trung, thần hiện nay đang hành động trong con cái không vâng lời” (so sánh Eph Ep 2:2 với 6:10-16). So sánh với những lời Phao lô nói với những gì nói về Satan ở Giop G 1:6-12, và 2:1-7, chúng ta biết rằng Satan đã chiếm những vùng bên trên quả đất và đã gần gũi với sự hiện diện của Đức Chúa Trời từ lúc nó khởi sự phản loạn cùng Đức Chúa Trời cho đến hiện nay. Nó sẽ giữ vị trí đó cho đến khi nó bị quăng xuống đất vào thời kỳ cuối cùng (KhKh 12:9). Như vậy, khi cơn đại nạn lên đến tột đỉnh, Satan và những quỉ sứ (thiên sứ gian ác) đi theo nó sẽ mất vị trí trên những bầu trời khi Mi chên cùng những thiên sứ khác của Đức Chúa Trời đắc thắng chúng.
Trận chiến trên các từng trời nầy sẽ có tác động mạnh mẽ trên đất. Thật vậy, những người sống trên đất được cảnh cáo rằng thì giờ không còn bao lâu nữa (câu 12). Với thì giờ sắp hết nầy, Satan sẽ giận hoảng dùng sư giận dữ ác độc trong cố gắng cuối cùng để phá hoại chương trình của Đức Chúa Trời. Đến điểm nầy Satan vẫn là kẻ kiện cáo (accuser) nổi tiếng. Nó đã xử dụng phương pháp đặc biệt để buộc tội, tấn công những người kính sợ Đức Chúa Trời suốt trong lịch sử. Như chúng ta đã thấy trong trường hợp của Gióp, Satan kiện cáo tín hữu trước mặt Đức Chúa Trời, và cố làm cho họ vẫn cảm thấy mình còn lầm lỗi cho dù họ đã được tha thứ rồi. Tuy nhiên, từ khi bị quăng xuống đất, nó sẽ không còn là ”vua cầm quyền chốn không trung nữa” (Eph Ep 2:2). Dĩ nhiên, nó không còn được phép đến gần Đức Chúa Trời và các thiên binh trên trời, nó bị hạn chế ở quả đất vật chất nầy. Thật là giờ phút kinh khủng khi nó không còn bị sự hạn chế nào trong việc xử dụng quyền lực độc ác của mình để tấn công vào loài người trên đất.
Lời tiên tri nầy , nói về việc Satan rời khỏi vị trí của nó trên các từng trời và mất đi khả năng để buộc tội dân sự của Đức Chúa Trời trước mặt Ngài, cho chúng ta chiếc chìa khóa để giới thiệu sự đắc thắng của Satan . Dân sự của Đức Chúa Trời đã thắng nó bằng ”huyết Chiên Con và lời làm chứng của mình” (câu 11). Bất chấp sự kiện cáo của Satan, tín hữu có sự đắc thắng khi người ấy đầu phục sự kiểm soát của Thánh Linh nội trú và để Ngài hướng dẫn hành vi của mình (Phi Pl 2:13). Chúng ta không trọn vẹn, nhưng chúng ta đang ở trong tiến trình trở nên giống Chúa Jesus. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ giống như Ngài, vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài vốn thật là vậy ( IGi1Ga 3:2).
2. Từ sự phản loạn đầu tiên cho đến khi Satan bị quăng khỏi các từng trời, phương pháp của nó dùng để tấn công dân sự Đức Chúa Trời là.
a. Làm đau đớn về thể chất trước.
b. Chủ yếu tấn công về mặt tâm lý.
c. Nói bóng gió với một người rằng người ấy đã thất bại.
d. Kiện cáo một người với Đức Chúa Trời và buộc tội chính người đó.
3. Hãy mô tả trận chiến ở trên trời và sự thắng trận.
....................................................................................................................................................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................................................................................................................................................
CON THÚ TỪ BIỂN ĐI LÊN.
KhKh 13:1-10.
Khi quang cảnh nầy mở ra, Giăng nhìn thấy con rồng đứng trên bờ biển. Ngôn ngữ Giăng dùng ám chỉ rằng con rồng đang chờ đợi biến cố kế tiếp xảy ra. Giăng tiếp tục ”Đoạn tôi thấy một con thú từ dưới biển lên, có mười sừng bảy đầu, các sừng đội vương miện và trên các đầu có danh hiệu lộng ngôn” (câu 1). Kinh Thánh nói rõ rằng con rồng là Satan trong nội dung của đoạn 12. Tương tự, con thú được nhận diện trong đoạn văn kế tiếp. Giăng nói thêm, ”Con rồng lấy năng lực mình, ngôi mình và quyền bính rất lớn mà cho nó” (câu 2). Con thú là con người của Satan ( Satan's - hiện thân của Satan), một công cụ qua đó Satan hành động trong thời kỳ cuối cùng.
Chúng ta đã thảo luận điều nầy trước đây như là cái sừng nhỏ của Đaniên đoạn 7, và như là người cỡi ngựa trắng khi cái ấn đầu tiên được mở ra của Khải huyền đoạn 6. Chúng ta đã quan sát người trong nội dung đoạn văn của DaDn 9:24-27 như là vua hầu đến là người sẽ lập giao ước với dân Ysơraên, và chúng ta đã khảo sát những hoạt động của người nầy trong IITe 2Tx 2:1-12 vốn có liên quan đến sự phản loạn lớn. Tại đây Giăng mô tả diện mạo của nó cũng như vai trò của nó trong cơn đại nạn với nhiều chi tiết hơn.
Nói rằng con thú từ dưới biển lên là điều rất có ý nghĩa. KhKh 17:15 gợi ý rằng biển và con thú nầy sẽ xuất hiện tiêu biểu cho dân cư trên đất. Như vậy Kinh Thánh cho thấy rằng con thú thuộc về nguồn gốc con người từ nhiên và nó có xuất xứ từ những dân cư trên đất. Antichrist sẽ là con người nổi bật trong thế giới khi cơn đại nạn bắt đầu. Đến đúng lúc, con rồng sẽ bày tỏ công cụ của nó, và Antichrist sẽ nhanh chóng đến nhận vị trí là người cai trị thế giới.
Bảy đầu và mười sừng của con rồng (12:3) và những cái đầu của con thú (13:1) tiêu biêu cho sự tượng trưng khó hiểu. Bạn có thể ghi nhận rằng trong đoạn 12 những cái mão miện được để trên đầu của con rồng, trong lúc ở đoạn 13, những mão miện lại ở trên mười cái sừng. Phần lớn các học giả tin rằng bảy cái sừng tiêu biểu cho bảy nước chính có tác động lớn trên dân sự của Đức Chúa Trời và trên chương trình cứu chuộc của Ngài. Họ cũng cảm thấy rằng lời giải thích sự mầu nhiệm nầy trong 17:9-14 thích hợp với sự giải thích nầy. Chúng ta hãy khảo sát vắn tắt lời giải thích đó.
17:9-10 cho biết bảy cái đầu thay thế cho bảy vua hay bảy nước. Giăng được cho biết: “năm đã đổ, một còn đây; một chưa đến; khi vị ấy đến, thì cần phải ở lại ít lâu thôi”. Ai cập, Asiri, Babylôn, Mê-đô-Ba-tư, và Hy lạp đã đến và tạo ảnh hưởng mạnh mẽ trên lịch sử của dân sự Đức Chúa Trời. Một, chắc chắn dường như chỉ về La mã mà vào thời của Giăng, đang gần lên cao điểm quyền lực của mình. Tuy nhiên, là một đế quốc La mã đã sống dậy và thực hiện quyền uy rất lớn, nhưng đế quốc nầy không khôi phục như hình thức nguyên thủy. Tuy nhiên, vua thứ bảy hầu đến sẽ nắm toàn quyền trong thời gian ít thôi. Điều nầy khiến cho những học giả nầy xác nhận rằng có lẽ những yếu tố tạo nên đế quốc La mã cũ sẽ khôi phục cách ngắn ngủi trong liên minh mười nước như chúng ta thấy trong Đaniên đoạn 7 trước khi vua thứ tám Antichrist, nắm toàn quyền để bắt mọi người làm theo ý mình.
Chắc chắn đây là cách giải thích có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, như đã đưa ra trước kia, những học giả khác lại nhìn thấy có vài yếu tố thuộc đế quốc La mã cũ và vài yếu tố không thuộc đế quốc La mã cũ trong liên minh cuối cùng được tượng trưng bằng bàn chân nữa sắt nữa đất sét trong DaDn 2:1-49. Hãy ghi nhớ những lời giải thích nầy khi chúng ta đi sang phần mô tả về ý nghĩa và những hoạt động của Antichrist.
Cả 7:24 và KhKh 17:12 chỉ rằng bảy cái sừng của con thú là mười vua. Những đoạn Kinh Thánh nầy cho thấy Antichrist là một người cai trị nắm toàn quyền điều khiển mười vua hay mười nhà lãnh tụ trong một giờ. Phần ghi nhận nầy cho thấy sự cai trị ngắn ngủi của Antichrist và những kẻ ở dưới quyền của hắn.
4. Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG.
a. Con thú được nhận diện dễ dàng trong nội dung tổng quát là công cụ của Satan.
b. Theo 17:15, con thú từ biển đi lên, biển tiêu biểu cho Địa Trung Hải.
c. Con thú từ biển đi lên nhận lấy quyền bính và năng lực từ những dân tộc mà nó xuất phát.
d. Kinh Thánh cho thấy rằng biển mà ừ đó con thú đi lên tiêu biểu cho những dân cư của thế gian và Antichrist là loài người.
e. Theo một số học giả Kinh Thánh, bảy cái đầu thay thế cho bảy nước đã có tác động chính trên số phận dân sự của Đức Chúa Trời.
f. Mười sừng tiêu biểu cho mười lãnh tụ của thời kỳ cuối cùng là những người sẽ xử dụng quyền hành dưới quyền của Antichrist trong thời gian ngắn.
Câu 3, 12, và 14 của đoạn 13 nói đến một vết thương có nguy hiểm đến tánh mạng (vết thương đến chết) của con thú dưới biển đi lên. Những học giả vốn nói trước về sự khôi phục của đế quốc La mã cho biết rằng chỉ có một trong những cái đầu của con thú bị thương đến chết. Như vậy, đế quốc La mã cũ, vốn đã chết, rồi sẽ sống lại trong hình thức cải tiến dưới thời Antichrist.
Tuy nhiên, một số người giải thích điều nầy có nghĩa là chính Antichrist sẽ nhận cú đánh đến chết. Như vậy, câu 3 và 4 cho thấy sự ngạc nhiên của nhân loại khi thấy con thú sống lại. Sau đó, chiến công nầy khích động sự tôn thờ và làm cho mọi người khắp mọi nơi đều sợ hãi, khiến người ta tự hỏi : ”Ai giống như con thú, ai có thể giao chiến được cùng nó?”.Do đó, họ được chuẩn bị đáp ứng cách tích cực khi con thú từ đất lên khiến ”đất và những kẻ ở trên đó thờ lạy con thú thứ nhất, là thú có vết thương đến chết được chữa lành” (câu 12), và ra lịnh người ta ”phải tạo hình tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm mà lại sống” (câu 14). Dù câu nầy có nghĩa là sự chết và sự sống lại thực sự của Antichrist, hay sự chết và sự khôi phục của một vương quốc, thì chúng ta biết rằng Antichrist sẽ bày tỏ những quyền hạn đáng để ý mà nó sẽ làm cho mọi người thấy rằng nó là một nhân vật lãnh đạo trọn vẹn.
Giăng đưa thêm những chi tiết chính xác về sự cai trị hoàn toàn của người lãnh đạo nầy trong những câu 5-8 . Giăng nói rằng con thú sẽ xử dụng quyền hành trong 42 tháng, trong thời gian đó nó sẽ nói những lời lộng ngôn, những lời xấc xượt ngạo mạn cùng Đức Chúa Trời. Phần mô tả nầy và khung thời gian thích hợp chính xác với lời giải thích Đức Chúa Trời ban cho Đaniên liên quan đến nhà lãnh đạo nầy ( DaDn 7:24-25). Sự kiện người lãnh đạo nầy ngược đãi dân sự Đức Chúa Trời chỉ để nhấn mạnh những gì Đaniên được báo cho biết trước. Những lời tiên tri chúng ta học chứng tỏ rằng, con thú sẽ đến để nắm quyền và cũng cố quyền hành của mình trong bán phần đầu của tuần lễ thứ bảy mươi của Đaniên, tuy nhiên, nó sẽ xử dụng quyền hành không hạn chế chỉ có 42 tháng trên những dân cư trên đất.
Sự kiểm soát của con thú được trọn vẹn khi nó nhận sự thờ lạy của moi dân cư trên đất- tất cả những người đi theo sự lừa dối của nó ( IITe 2Tx 2:9-12). Tuy nhiên, dân sự của Đức Chúa Trời, sẽ chẳng bao giờ thờ lạy nó hay thuận phục sự cai trị của nó (câu 8). Chúng ta cũng cần ghi nhận thêm một sự kiện có ý nghĩa về quyền bính của con thú trong những câu 5-7: cụm từ thụ động: được ban cho. Điều này chứng tỏ con thú nhận quyền hành từ con rồng, nhưng cuối cùng nó chỉ có thể làm những gì do Đức Chúa Trời cho phép. Điều quan trọng hơn nữa, sự cai trị của nó chỉ được giới hạn trong một thời kỳ ngắn ngủi.
Câu 9 và 10 có thể được giải thích rằng sự ngược đãi và sự chết là điều không tránh khỏi, hoặc cũng có thể giải thích là sự phán xét sẽ giáng trên kẻ thù của Đức Chúa Trời vì chúng ta thù nghịch và ngược đãi dân sự của Đức Chúa Trời. Dù sao đi nữa, thời kỳ cai trị của những công cụ của con rồng kêu gọi sự kiên nhẫn chịu đựng của dân sự của Đức Chúa Trời.
5. Giải thích tại sao người ta sẽ thờ lạy con thú trong thời gian 42 tháng?
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
6. Ý nghĩa của quyền bính và những hoạt động của con thú là gì?
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
TIÊN TRI GIẢ
KhKh 13:11-18.
Chúng ta đã thảo luận về con rồng của đoạn thứ 12 và con thú từ biển đi lên của đoạn 13. Bây giờ chúng ta được Kinh Thánh giới thiệu một con thú khác ở đoạn 13:11-18. Chúng ta thấy rằng con rồng được nhận diện là Satan (12:9) con thú từ biển đi lên là công cụ của Satan, Antichrist (13:2-4). Con thú thứ hai của đoạn 13 được nhận diện trong ba chỗ là tiên tri giả ( 16:13, 19:20, và 20:10). Chúng ta hãy ôn cách vắn tắt vài sự kiện về con thú nầy.
1. Nó từ đất đi lên.
2. Nó giống như chiên con, nhưng nói như rồng.
3. Nó thi hành cả quyền bính của Antichrist.
4. Nó làm những dấu lạ lớn.
Trong sách Khải huyền, Chúa Jesus được tượng trưng là một con chiên con (5:6), và Satan, tượng trưng bằng hình thức con rồng (12:9). Ở đây con thú từ đất đi lên được cho biết là giống như một con chiên con nhưng nói như rồng. Con thú thứ hai tựa hồ tiêu biểu như Chúa Jesus Christ nhưng nói giống như Satan. Chúng ta tin rằng con thú thứ hai tiêu biểu cho cơ đốc giáo giả hay Hội Thánh bội đạo của ngày cuối cùng . Con thú thứ hai là hình ảnh của một phát ngôn viên cá nhân là người mang Hội Thánh và chính quyền lại với nhau theo cách ngoại Kinh Thánh. Người ấy sẽ lãnh đạo một Hội Thánh trần tục không theo Kinh Thánh trong thời kỳ cuối cùng. Làm như thế, người ấy sẽ thống nhất dân cư trên thế giới theo cách mà chưa từng có người nào làm như thế. Chẳng ngạc nhiên gì khi người nầy được coi là tiên tri giả.
Với phần giới thiệu của con thú thứ hai của Khải huyền 13, chúng ta có trước mắt những thành phần của ba ngôi của Satan (satanic trinity: Satan : anti-God chống lại Đức Chúa Trời).
Con thú : Anti-Christ (chống lại Christ).
Tiên tri giả: Anti-Spirit (chống lại Thánh Linh). Về mặt hoạt động chúng ta thấy Antichrist tiêu biểu hay mặc khải Satan, và tiên tri giả tôn vinh Antichrist khi nó hướng dẫn vô số người thờ lạy Mêsi của maqủi (devil's messiah). Hoạt động nầy tiêu biểu cho sự bắt chước lớn nhất chưa từng có về Đức Chúa Trời Chủ Tể đáng kính, nhưng nó không kéo dài lâu. Rồi chúng ta sẽ thấy, những thành viên của ba ngôi của Satan sẽ bị tước đoạt quyền hành của nó.
7. Mô tả con thú từ đất lên và trình bày nét nhận diện của nó.
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
QUYỀN BÍNH VÀ NHỮNG PHÉP LẠ CỦA TIÊN TRI GIẢ.
13:12-15.
Giăng cho chúng ta biết tiên tri giả sẽ thực hiện quyền hành như thế nào và ông nhận diện nguồn gốc của uy quyền nầy. Tiên tri giả sẽ nhơn danh Antichrist mà hành động và làm cho người ta trên đất thờ lạy con thú có vết thương đến chết và được chữa lành. Ngoài ra, Giăng giải thích nó lừa dối dân cư trên đất như thế nào. Nó sẽ dùng những dấu kỳ phép lạ để gây ấn tượng cho dân cư trên đất biết về quyền năng dường như không hạn chế của nó (câu 13-15). Tuy nhiên, Phao lô nhận rằng song song với quyền lực quỉ quyệt của nó, nó sẽ xử dụng những phép lạ giả tạo (couterfei miracles) và dấn thân vào mọi loài độc ác, có lẽ chọc tức người ta bằng lời nói hoàn toàn bất chấp luật pháp của nó ( IITe 2Tx 2:9-11): Câu 15 ghi nhận cách đặc biệt là nó sẽ làm một cái tượng của Antichrist, và rồi, điều khó tin, nó làm cho tượng ấy nói và thở được. Bấy giờ nó mới cưỡng bách người ta hoặc là thờ lạy con thú hoặc bị giết.
Như vậy, tiên tri giả sẽ khích động lòng khao khát của con người thờ phượng theo hướng mới, nghĩa là, hướng về tôn giáo toàn cầu: thờ phượng con thú . Tuy nhiên, tôn giáo không có Đấng Christ chỉ là một dụng cụ của Satan cho dù nó mang cái tên cơ đốc nhân (Christian) hay điều gì khác. Tiên tri giả sẽ thực hiện những phép lạ với một lý do: lừa gạt những kẻ ở trên đất (câu 10). Chữ thở (breth hơi sống) trong câu 15 có thể được dịch sát nghĩa là linh (spirit). Chúng ta tin rằng giống như ác linh (evil sprirt) trong LuLc 8:26-29 được nhận diện là quỉ (demon), và những ác linh (evil sprirt) trong KhKh 16:13-14 được gọi là linh của quỉ (spirits of demoms), thì cũng vậy tiên tri giả sẽ sai một linh của quỉ nhập vào tượng của Antichrist. Vì thế, sau khi nhập vào tượng, linh của quỉ sẽ khiến cho nó nói để lừa gạt hàng triệu người trên thế giới.
Hơn nữa, tiên tri giả sẽ xử dụng phương tiện khác để lừa gạt làm cho người ta trung thành với con thú. Nó sẽ xử dụng sự sợ hãi làm dụng cụ gây khiếp đảm: ai không thờ lạy con thú sẽ bị giết. Sự sợ hãi sẽ bao trùm quả đất đến mức độ mà con người chưa từng thấy. Biết được cơn thịnh nộ gian ác của Antichrist và cũng biết sự phán xét của Đức Chúa Trời trên tội lỗi, chúng ta phải hoàn thành công tác loan báo tin mừng cho nhân loại với tính khẩn cấp chưa từng có.
8. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Tiên tri giả, vốn sẽ nhơn danh con thú để xử dụng quyền lực lớn lao, lấy uy quyền của mình từ thế lực chính trị của con thú.
b. Mục tiêu trước mắt của tiên tri giả là làm những gì có cần để lừa dối dân cư của quả đất vào sự thờ phượng của Antichrist.
c. Mục tiêu dài hạn của tiên tri giả và con thú (Antichrist) là phục vụ lợi ích của con rồng và phá hoại chương trình của Đức Chúa Trời.
d. Mặc dù tiên tri giả có thể được gọi bằng tên như kẻ lừa đảo (trickster) hay kẻ làm dấu kỳ phép lạ, nhưng nó chỉ có khả năng lừa dối mà không xử dụng thực quyền.
DẤU HIỆU, DANH XƯNG VÀ CON SỐ.
13:16-18.
Chúng ta đã thấy rằng tiên tri giả sẽ thi hành quyền lực kinh khủng trên con người trên đất. Câu 16-18 cho thấy phương tiện nó sẽ dùng để kết hợp con người trên đất để ủng hộ cho công cụ của Satan, Antichrist. Nó bắt buộc mọi người phải tiếp nhận dấu hiệu, danh xưng và con số để nhận diện trên tay phải hay trên trán. Như chúng ta sẽ thấy, những điều nầy chứng tỏ sự ủng hộ và trung thành với những chính sách và những mục đích của Antichrist. Để hiểu được bản chất độc ác của chính sách nầy, chúng ta phải thấy rằng mọi dịch vụ thương mại đều bị ảnh hưởng. Không có dấu hiệu nầy chẳng ai mua hoặc bán được. Không người nào, gia đình nào, tiểu bang nào, quốc gia nào có thể điều hành những dịch vụ hành chánh, tài chánh hay nhận sự tín nhiệm trong hệ thống tiền tệ thế giới nếu không nằm trong hệ thống của Antichrist. Điều nầy khiến cho người ta phải quyết định: mình có nên nhận dấu hiệu, tên và số của con thú để tránh sự bắt buộc độc ác? Hay khước từ và chấp nhận sự chết?
Nhiều người cố giải thích ý nghĩa của con số của con thú. Chúng ta chỉ biết đó là số 666, nhưng chúng ta không biết chính xác con số nầy có ý nghĩa gì . Đối với chúng ta dường như trong sách Khải huyền con số của Đức Chúa Trời là 777 tượng trưng cho Ba Ngôi Thánh: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Hơn nữa chúng ta được hướng dẫn để tin rằng con số 666 là con số của loài người và thay cho ba ngôi của Satan: Satan, thần giả (false god); Antichrist, Christ giả (the false christ), và tiên tri giả, linh giả (the false sprirt).
Như vậy đoạn 13 giới thiệu cho chúng ta một cảnh tượng nghiêm trọng của nhân loại dưới hệ thống một thế giới. Giống như những đoạn trước của Đaniên, và Khải huyền, điều nầy bày tỏ thêm những yếu tố đầy chi tiết về tương lai. Tại đó không những có một nhà độc tài vô thần, một kẻ áp bức dân sự của Đức Chúa Trời cách tàn bạo vô cùng, những dấu hiệu khủng khiếp khi thế giới thiên nhiên quay cuồng lảo đảo dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời, nhưng còn là một hệ thống kinh tế áp bức và sự điều khiển về tôn giáo cách gian ác trên mọi lãnh vực của cuộc sống của con người.
Chắc chắn, những sự kiện nầy phải khiến cho mỗi tín hữu đầu phục quyết định sống cho Đức Chúa Trời và sẵn sàng cho sự hiện ra của Chúa chúng ta. Đối với những người không tin Chúa tương lai là tuyệt vọng và đen tối, tuy nhiên, đối với tín hữu, tương lai thì sáng sủa, vì được chung hưởng sự sống đời đời với Chúa Jesus. Nguyện hy vọng nầy ảnh hưởng mạnh mẽ trên chúng ta để mong ước điều Giăng nói trong IGi1Ga 3:2.
9. Thảo luận vắn tắt con dấu của con thú.
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
10. Ý nghĩa của con dấu của con thú là nó
a. Sẽ dùng áp lực buộc mọi người trên thế giới quyết định hoặc ủng hộ hay chống đối lại chính sách hay những mục đích của con thú .
b. Chỉ nói về sự hổ trợ theo tính tượng trưng về một chính sách hay một con người và không nói đến một con dấu thể chất thật sự.
c. Xuất hiện như điều quan trọng bậc nhất vì một người phải quyết định hoặc là ủng hộ những chính sách của Antichrist hoặc bị giết.
d. Được chứng tỏ bằng tất cả những câu trên (a, b, c, ).
e. Chỉ gồm những điều ghi ở câu a, và c, .
ĐẠI DÂM PHỤ.
KhKh 17:1-18.
Chúng tôi đã cố gắng trình bày bản chất diễn tiến của lời tiên tri của Kinh Thánh trong phần nghiên cứu nầy. Nói chung, chúng tôi đã cố gắng theo trình tự của Kinh Thánh về những biến cố. Tuy nhiên, bây giờ, vì chúng ta có hệ thống tôn giáo giả mạo của thời kỳ cuối cùng và nhấn mạnh đến vai trò của tôn giáo nầy trong sự cai trị của Antichrist, nên chúng ta phải lướt nhanh đến đoạn 17 để khảo sát đề tài nầy trong chi tiết rộng rãi hơn.
Con người được tạo dựng để thờ phượng, để đáp ứng với Đức Chúa Trời, nhưng suốt cả lịch sử Satan đã làm lệch khuynh hướng bên trong nầy để hướng về những cứu cánh gian ác. Từ lịch sử đầu tiên, con người đã thờ phượng mọi thứ từ thiên nhiên đến những hành tinh. Tại đây tôn giáo giả được mô tả bằng hình ảnh rất chính xác là một đại dâm phụ. Khi con người hiện đại càng ngày càng không quan tâm đến Đức Chúa Trời, từ khước qui luật tự nhiên, những tiêu chuẩn đạo đức, và chịu trách nhiệm về hành động của mình, và người ấy càng nghiêng về thế tục ở một mặt và nghiêng về sự kiểm soát của các ác linh ở mặt khác. Kết quả người ấy từ chối lời chứng của Đức Chúa Trời trong thiên nhiên và trong sự mặc khải. Vì con người thờ phượng công việc của tay mình làm ra và lòng mình hướng về sự gian ác, nên người ấy phạm tội tà dâm thuộc linh (spiritual adultery). Chúng ta hãy khảo sát bức tranh Giăng nhìn thấy khi ông được đem vào đồng vắng (câu 3).
Giăng thấy một dâm phụ ăn mặc lòe loẹt ngồi trên con thú có bảy đầu và mười sừng (câu 4). Đây là sự kiện có ý nghĩa. Điều nầy ám chỉ rằng đầu tiên trong sự cai trị của Antichrist, tôn giáo bội đạo hay tôn giáo giả được tượng trưng bằng con đại dâm phụ, sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc thống nhất thế giới vào dưới quyền của Antichrist. Khi con thú bước vào nắm quyền, Hội Thánh bội đạo hay tôn giáo giả sẽ tìm cách phát huy sự thống nhất trên toàn thế giới bất chấp những giá trị đạo đức và những nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời. Hội Thánh bội đạo, sẽ phổ biến sự ủng hộ huyền bí của đông phương và triết lý phi Cơ đốc, sẽ tìm cách bày tỏ những mục đích của mình qua thế lực chính trị: liên kết với Antichrist.
Những hệ thống tôn giáo không có Đức Chúa Trời về phương diện lịch sử đã chống đối Đức Chúa Trời và ngược đãi Hội Thánh của Chúa Jesus Christ, vì thế họ đã có lỗi trong việc làm đổ máu dân sự của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, họ đã phô trương những hành vi bại hoại của mình trước mặt Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài. Hiển nhiên, con đại dâm phụ sẽ thành công trong thời gian con thú được dấy lên để nắm quyền hành. Điều nầy được chứng tỏ bằng hình ảnh của vị trí của con đại dâm phụ ở trên con thú: người đàn bà cỡi trên con thú và điều khiển mọi sự di chuyển của nó trong bức tranh tượng trưng nầy.
Chúng ta ghi nhận rằng bảy cái đầu được giải thích là bảy ngọn đồi (hòn núi) cũng như bảy vua hay bảy nước (câu 9). Một số học giả Kinh Thánh tin rằng nói về bảy ngọn đồi tức là nói về thành phố như La mã, nơi sẽ điều khiển hệ thống tôn giáo giả của thời kỳ cuối cùng. Một số học giả khác đã truy tìm sự duy chuyển của tôn giáo mầu nhiệm Babylôn rất cố đến La mã. Những học giả nầy ghi nhận rằng có một số thói tục của người ngoại xâm nhập vào niềm tin Cơ Đốc, tạo nên những nhầm lẫn và làm mờ đi những đói hỏi thiết yếu của nếp sống Cơ đốc.
Trải qua nhiều thế kỷ, truyền thống của con người đã thay thế cho những điều răn của Lời Đức Chúa Trời. Thật vậy, những lỗi lầm đã hiện diện trong Hội Thánh từ thời xa xưa, nhưng khuynh hướng trong nhiều Hội Thánh Cơ Đốc ngày nay là từ khước tiêu chuẩn của Kinh Thánh và thay thế vào vô số điều do con người tạo lập. Khuynh hướng nầy sẽ gia tăng nhanh chóng khi giáo lý của ma quỉ sẽ tìm cách đi vào hệ thống tôn giáo giả của thế giới. Nó sẽ lên đến đỉnh cao vào giữa tuần lễ thứ bảy mươi khi công cụ của Satan gieo những giáo lý lừa dối của nó và chinh phục được ngưỡng mộ của đa số đông người trên cả trái đất. Mức độ thành công của hệ thống giả tạo sẽ đạt đến được chỉ rõ trong câu 15 . ”Những dòng nước người đã thấy, trên có dâm phụ ngồi đó, tức là các dân các chi tộc, các nước và các thứ tiếng”. Sau đó trong chính sách và sự thay đổi đột ngột rất phản loạn, con thú và dâm phụ cấu xé lẫn nhau.
Một lúc sau giữa, có lẽ lần cuối tuần thứ bảy mươi, con thú sẽ quay lại chống hệ thống giả và tiêu diệt nó hoàn toàn (câu 16). Sau đó Antichrist sẽ trở thành biểu tượng tối cao của sự thờ phượng và tiên tri giả sẽ hướng dẫn đám đông vô số người hoàn toàn thuận phục nó. Trong một thế giới kiểm soát nghiêm nhặt, người ta không thể làm gì ngoại trừ việc ủng hộ những chính sách bất kỉnh của công cụ của Satan. Hơn nữa, với mười lãnh tụ của liên minh thời kỳ cuối cùng ủng hộ mình, hệ thống của Antichrist sẽ hành động dường như có quyền trên cả vũ trụ cho đến khi Lời của Đức Chúa Trời được hoàn tất. Nói dễ hiểu hơn, Kinh Thánh gọi dâm phụ là thành lớn thi hành quốc quyền trên các vua trên đất (câu 18).
11. Khoanh tròn mẫu tự trước câu nói ĐÚNG.
a. Con người được tạo dựng để thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng lòng khao khát thờ phượng Đức Chúa Trời đã bị ma quỉ bẻ cong để hướng về những mục đích gian ác.
b. Khi con người thờ phượng bất cứ điều gì ngoài Đấng tạo hóa của mình, người ấy phạm tội tà dâm thuộc linh.
c. Từ bằng cớ được đưa ra dường như dâm phụ nầy chỉ được gọi là vì nó bán rẽ những nguyên tắc của mình để đạt được sự thống nhất bất chấp các giá trị được ban cho trong lời của Đức Chúa Trời.
d. Dâm phụ nầy ó thể được nhận diện là Hội Thánh bội đạo của thời kỳ cuối cùng hay Hội Thánh giả.
e. Dâm phụ sẽ thành công trong suốt tuần lễ thứ bảy mươi và đồng trị với Antichrist.
f. Hội Thánh giả là một đặc điểm của thời kỳ cuối cùng và như vậy đây là điều mới trong lịch sử nhân loại.
g. Điều rõ ràng là con thú sẽ dùng dâm phụ để đạt được sự thống nhất toàn cầu, tuy nhiên nó không quan tâm đến tôn giáo của con người.
h. Trong bán phần thứ hai của tuần lễ thứ bảy mươi, tiên tri giả sẽ lãnh đạo người ta trên cả thế giới đi vào sự thuận phục con thú cách sâu xa, nghĩa là ủng hộ những chính sách và những mục đích của con thú.
NHỮNG LỜI TIÊN TRI CỦA THỜI KỲ CUỐI CÙNG.
Phần cuối của bài nầy đặt nền tảng trên đoạn 14. Đoạn nầy là một phần mở ngoặc khai triển khác. Nó bàn vể những biến cố sẽ xảy ra trong thời kỳ đại nạn thời kỳ được gọi là tuần lễ thứ bảy mươi của DaDn 9:24-27 đến chấm dứt. Đây là bản liệt kê về sáu điều, theo 9:24, sẽ được hoàn tất trong bảy mươi tuần lễ của Đaniên.
1. Sự phạm pháp sẽ được chấm dứt.
2. Tội lỗi sẽ được đem đến chỗ tận cùng.
3. Kẻ gian ác sẽ được chuộc tội.
4. Sự công bình đời đời sẽ được đem vào.
5. Sự hiện thấy và lời tiên tri sẽ được đóng dấu.
6. Đấng rất thánh (Nơi Chí Thánh trên cao) sẽ được xức dầu.
Chúng ta tin rằng mục thứ ba trong bản liệt kê theo thứ nầy được Đấng Christ hoàn lại thập tự giá rồi. Chúng tôi tin rằng mục thứ năm sẽ đước hoàn tất do sự chết của hai nhân chứng trong Khải huyền 11 vì hiển nhiên họ là những lời tiên tri cuối cùng. Những mục đích còn lại trong bảng liệt kê sẽ được hoàn tất khi Chúa chúng ta tái lâm.
CON CHIÊN VÀ 144.000 NGƯỜI.
KhKh 14:1-5.
Trong 14:1-5, Giăng nhìn thấy một khải tượng về mục đích của Đức Chúa Trời liên quan đến dân sự được chọn của Ngài, dân Ysơraên và cho thấy rằng họ sẽ ở trên núi Siôn khi những khía cạnh chưa ứng nghiệm của DaDn 9:24 được hoàn tất. Theo quan điểm của chúng tôi, 144.000 người có danh Chiên Con và danh của Cha Chiên Con được viết trên trán cũng là 144.000 người nhận con dấu trên trán của họ ở KhKh 7:3-4. 14:1 là phần mở rộng khai triển của 7:3-4, vì nó nhận diện con dấu trên trán của họ.
14:1-5 không nói rõ hoặc 144.000 người nầy đang ở trên đất hay ở trên trời, vì núi Siôn có thể tượng trưng cho Giêrusalem hay trên trời. Hơn nữa, việc nhận diện họ là ai vẫn không chắc chắn và đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau. Một số học giả xem nó đồng nhất với con trai của người đàn bà mầu nhiệm trong đoạn 12 vốn được cất lên trời. Họ tin rằng vào thời điểm nầy 144.000 người đó ở trên trời. Tuy nhiên, một số học giả khác tin rằng 144.000 người vẫn là tập thể đã được giới thiệu trong đoạn 7. Chúng tôi tin rằng họ đại diện cho quốc gia Ysơraên tại trần gian là những người sẽ thừa hưởng đất hứa sau cơn đại nạn. Thật vậy, một trong những mục đích của Thiên Hi Niên, mà chúng ta sẽ thảo luận ở 20:1-15, sẽ là con cháu Apraham sẽ thừa hưởng đất nầy, một cơ nghiệp sẽ trở thành vĩnh viễn (SaSt 17:8). Một chút bằng cớ để ủng hộ quan điểm nầy cho rằng họ ở trên đất là sự nói gián tiếp trong KhKh 9:4 rằng chỉ hành hại ”những người không có con dấu của Đức Chúa Trời ở trên trán”. Phần đề cập nầy chứng tỏ họ được bảo vệ ở trên đất chứ không phải trên trời. Phù hợp với những gì chúng ta đã ghi nhận trong phần nghiên cứu của 7:1-17 và chức vụ của hai chứng nhân trong đoạn 12, dường như 144.000 người được mang dấu của Đức Chúa Trời sẽ có một lới chứng mạnh mẽ trong những ngày đen tối của cơn đại nạn.
Trong phần mô tả về nhóm người được lựa chọn trên núi Siôn, Giăng thuật rằng ông đã nghe một tiếng từ trời như tiếng nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn; đó là tiếng hòa thanh của 144.000 người hát một bài ca mới về sự cứu chuộc (câu 2-3). Đây là bài ca mà chỉ những người được chuộc mới có thể học và hát được. Ở câu 3, chúng ta được biết rằng ”một trăm bốn mươi bốn ngàn người đã được mua chuộc khỏi đất”. Họ ”làm trái đầu mùa cho Đứa Chúa Trời và cho Chiên Con” (câu 4) từ quốc gia Ysơraên. Những người nầy đại diện cho của đặt cọc của một bộ phận lớn hơn từ quốc gia Ysơraên sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời.
Câu ”những kẻ ấy chưa bị ô uế với đàn bà vì còn độc thân”, không có nghĩa là chưa kết hôn. Hôn nhân là diều được mọi người tôn trọng (HeDt 13:4). Theo nội dung của đoạn văn, sự trinh khiết thuộc linh của họ tương phản với tinh thần thờ hình tượng phổ biến, vốn là sự ngoại tình thuộc linh.
Nói về 144.000 người là những trái đầu mùa của dân Ysơraên sẽ quay về cùng Đức Chúa Trời, thì EsIs 63:1-6, và MiMk 2:12-13 cho chúng ta biểu thêm một số điều. Chúng ta biết rằng những đoạn nầy sẽ giúp chúng ta hiểu những gì sẽ xảy ra cho dân Ysơraên đã trốn vào nơi Đức Chúa Trời sẽ chuẩn bị cho họ trong đồng vắng (KhKh 12:4). Những gì sẽ xảy ra cho dân sự Đức Chúa Trời liên quan đến việc ứng nghiệm sáu điều chúng ta đã đề cập trong DaDn 9:24.
Bức tranh mà Esai mô tả về Chúa chúng ta trong ngày báo thù của Ngài thật có ý nghĩa. Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi xuất phát từ Bốt ra (Bozrah). Bốt ra có nghĩa là vầng đá hay là nơi che chở, và nó mô tả hoàn toàn chính xác với thành phố Petra mà chúng ta đã học trong bài trước. Mi chê thêm phần mô tả về địa lý của thời gian chiến thắng sau khi những lực lượng gian ác bị đánh bại và Chúa đem dân sự Ngài ra khỏi nơi được che chở để đến trung tâm của cuộc sống quốc gia của họ: Giêrusalem. Mi chê nói cách đặc biệt những gì liên quan đến sự giải cứu của Ysơraên trong MiMk 2:12-13.
1. Đức Chúa Trời sẽ thâu góp phần còn lại của Ysơraên.
2. Dân sự của Ngài sẽ giống như chiên, bầy chiên trong đồng cỏ (chữ Hêbơrơ, Bốt ra, có nghĩa là ”đồng cỏ”).
3. Một người sẽ lên trước mở đường cho chúng nó.
4. Chúng nó xông đến cửa thành mà ra.
5. Vua chúng nó đi qua trước mặt chúng nó, và Đức Giê hô va đi đầu chúng nó.
Ba lời cuối cùng trong bản liệt kê ở trên đặc có ý nghĩa trong quan điểm thảo luận của chúng ta về thành Petra ở Bài 11. Chúng ta có thể nói rằng sẽ có một cuộc chấn thương kinh khủng của cơn đại nạn khiến dân sự của Đức Chúa Trời phải công nhận mình cần đến Ngài. Đôi khi một người không thể ngước lên cho đến khi nằn ngữa. Cũng vậy, khi dân Ysơraên đương đầu với những khủng khiếp hoảng sợ của cuộc sống trên gian nầy do sự điều khiển của một nhà độc tài có một không hai, nhằm mục đích hủy diệt họ, thì dân Ysơraên quay về cùng Đức Chúa Trời.
Vậy, tóm lại, chúng ta tin rằng Chúa Jesus sẽ dẫn Ysơraên ra khỏi Bốt ra hay Petra về Giêrusalem. Núi Ôlive ở về phía Đông của Giêrusalem sẽ nứt làm hai từ đông sang tây và hình thành một thung lủng lớn (XaDr 14:4). Chúa chúng ta sẽ dẫn dân sự Ngài vào qua cửa đông và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sẽ đầy dẫy vùng đền thờ tại Giêrusalem trở lại. Chúng tôi tin rằng những điều còn lại của DaDn 9:24 chưa được ứng nghiệm sẽ đước hoàn tất trong những ngày ngoại trừ (extra days) được ghi trong 12:11-12 theo sau 1260 ngày. Như vậy, kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất và sự cai trị trong hòa bình sẽ bắt đầu. Những sự quá phạm sẽ được chấm dứt, tội lỗi sẽ bị trừ đi, sự cai trị công bình sẽ bắt đầu, và nơi Chí Thánh (The Most Holy Place) sẽ được xức dầu. Sự bình an mà con người vẫn hằng mong ước sẽ hiện hữu và được con trai của Đavít hướng dẫn.
12. Xếp đặt mỗi mục về một số phẩm chất của 144.000 người với định nghĩa hay lời mô tả thích hợp.
....a. 144.000 người là những người trong sạch về thuộc linh, được chuộc khỏi đất, được đánh dấu trên trán và theo Chúa.
....b. 144.000 người tiêu biểu cho dân sót của Ysơraên là người sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời và thừa kế đất hứa tiếp theo cơn đại nạn.
....c. 144.000 người đi theo Chiên Con được bảo vệ có thể thực hiện lời chứng có quyền năng trong cơn đại nạn.
....d. 144.000 người được bảo vệ bằng con dấu của Đức Chúa Trời để tránh khỏi sự đoán phạt của Ngài trong cơn đại nạn.
NHỮNG LỜI CÔNG BỐ CỦA BA THIÊN SỨ.
KhKh 14:6-13.
Trong những câu 6-11 Giăng nghe ba thiên sứ công bố những sứ điệp quan trọng cho dân cư trên đất và trong câu 13 ông nghe tiếng nói từ trời công bố một phước hạnh cho những người chết trong Chúa từ thời điểm nầy. Tất cả những câu nầy nhấn mạnh về sự thờ phượng thật và sự thờ phượng giả: ai đáng phải thờ phượng, và không được thờ phượng đối tượng nào. Họ chỉ rõ kết quả của cả sự thờ phượng giả tạo. Hãy xét các điểm sau nỏi bật trong những câu nầy:
1. Thiên sứ thứ nhất công bố đáng phải thờ phượng ai (câu 7).
2. Thiên sứ thứ hai công bố đón trước về sự hủy diệt của Hội Thánh bội đạo hay tôn giáo giả (câu 8).
3. Thiên sứ thứ ba đưa ra lời công bố không được thờ phượng đối tượng nào và đưa ra sự rủa sả sẽ gây ra cho sự thờ phượng giả (câu 9-11-).
4. Phước hạnh từ trời được công bố trên những người bền đỗ trong sự thờ phượng thật (câu 13).
Tiếng kêu của những người tử đạo trong 6:9-11, là những người đã bị giết vì Lời Đức Chúa Trời và lời làm chứng họ đã chia sẻ, cùng sự hiểu biết rằng tôn giáo giả đã ngược đãi dân sự Đức Chúa Trời quá nhiều đến nỗi có thể giải thích được sự công bố trước về sự sụp đổ của Babylôn (câu 8). Những ai ở trên đất vào thời điểm nầy là người đã quay về với Đức Chúa Trời và đang chịu ngược đãi trong tay của hệ thống của con thú sẽ chắc chắn hoan nghinh lời nói kết thúc hệ thống mục nát nầy đang ở trước mắt.
14:9-11 nói về sự hình phạt những người quyết định có ý thức trong việc đầu phục hệ thống của con thú. Những người nầy đồng ý nhận dấu hiệu của con thú và như vậy đồng nhất với nó. Quyết định nầy sẽ trả giá cho cuộc sống an toàn trong thời gian ngắn; tuy nhiên , nó sẽ phô bày cho họ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và kết án đời đời. Hậu quả, những người có dấu con thú sẽ tự tử về phương diện thuộc linh bằng hành động nầy.
Lửa lưu hoàng Giăng nói đến trong câu 10 là lửa đời đời mà Chúa Jesus ám chỉ trong Mac Mc 9:42-48. Sự thống khổ nầy không dành cho loài người, nhưng nó được ”chuẩn bị cho ma quỉ cùng các sứ giả nó” (Mat Mt 25:41). Tuy nhiên những người chọn việc theo Satan sẽ ở đời đời với nó. Họ sẽ không được hưởng sự sống sung mãn mà Chúa Jesus cung cấp cho chúng ta. Khi chúng ta đọc về hình phạt đời đời của họ, chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một sự thúc giục khẩn cấp để giới thiệu Chúa Jesus cho thế giới hư mất.
Ngược lại, những người thờ phượng trung thành của Đức Chúa Trời là những người qua đời từ thời điểm nầy sẽ được phước hạnh. Dù bị con thú và hệ thống gian ác của nó ngược đãi và giết đi, nhưng họ lại là người thắng trận trong Chúa của mình. Những kẻ đắc thắng ở trong Đấng Christ nầy sẽ được phước hạnh vì được nghỉ ngơi, thoát khỏi những vất vả của cuộc sống trong thời kỳ cuối cùng và họ sẽ được thưởng dựa vào những việc làm của họ (câu 13). Thật vậy, tất cả những ai đã phục vụ Chúa cách trung tín suốt mọi thời đại đều được thưởng, và chúng ta được thấy Ngài mặt đối mặt.
13. Dựa vào KhKh 14:6-13, hãy trả lời những câu hỏi sau:
a. Tại sao thiên sứ thứ nhất nói mọi người hãy kính sợ Đức Chúa Trời? (câu 6-7).
..........................................................................................................................................
b. Tại sao lời tiên tri về sự sụp đổ của Babylôn được loan báo? (câu 8).
..........................................................................................................................................
c. Hình phạt cho những kẻ trung thành với con thú và hệ thống của nó là gì? (câu 9-11).
..........................................................................................................................................
d. Điều gì xảy ra cho người chết trong Chúa trong thời kỳ đại nạn từ điểm nầy trở đi (câu 13)?
..........................................................................................................................................
MÙA GẶT VÀ BÀN ÉP NHO.
14:14-20.
Phần sau của đoạn 14 cho chúng ta bức tranh về mùa gặt. Ẩn dụ về mùa gặt được dùng trong nội dung về những biến cố kết thúc của tuần lễ thứ bảy mươi rất có ý nghĩa. Trong giờ phút cuối cùng của lịch sử nhân loại chắc chắn sẽ có một mùa gặt linh hồn rất lớn khi vố số người sẽ quay về cùng Đức Chúa Trời. Chúa Jesus đã dùng ẩn dụ mùa gặt để giải thích Phúc âm sẽ được lan rộng ra như thế nào (GiGa 4:35). Ngoài ra chúng ta sẽ thấy bằng cớ rõ ràng về một mùa gặt để trừng phạt (judicial harvest) trong những câu nầy.
Chúng ta tin rằng những câu 14-16 ám chỉ về một mùa thu hoạch linh hồn rất trúng trong bán phần thứ hai của cơn đại nạn. Chắc chắn vô số người sẽ bị giết vì họ sẽ chống lại những chính sách của Antichrist. Dù con thú tựa hồ như bành trướng sự cai trị của mình trên toàn thế giới, nhưng nó sẽ thực hiện sự kiểm soát gắt gao trên những lãnh vực gần trung tâm điều hành của nó nhất. Để tăng cường sức lực cho những chính sách của mình bằng sự nghiêm nhặt tương tự trên bình diện thế giới chắc hẳn nó cần phải có thời gian dài hơn là sự cai trị hạn chế đã cho phép nó. Dường như nhiều người sẵn sàng liều mạng sống để cứu linh hồn mình và như thế góp phần vào phần thu hoạch Phúc âm vĩ đại nầy.
Theo quan điểm của chúng tôi, những câu 17-20 tiêu biểu cho mùa gặt để trừng phạt. Sự phán xét được mô tả ở đây sẽ được thực hiện trong trận Chiến hạtmaghêđôn, vốn được diễn tả trong câu 19 như ”lò ép rượu lớn của sự phẩn nộ của Đức Chúa Trời”. Tại thời điểm nầy Đức Chúa Trời sẽ đòi kẻ ác khai trình về việc chúng chốn đối Ngài và những hành vi gian ác của chúng. Những chữ ”điên tiết” và ”thạnh nộ” (fury and wrath) chứng tỏ phản ứng của Đức Chúa Trời thánh khiết vô hạn của chúng ta chống lại cả nguồn gốc và những hoạt động khác nhau của tội lỗi suốt cả lịch sử của con người. Mặc dù sự kiên nhẫn và thương xót của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ từ sự sa ngã đầu tiên của con người, nhưng Ngài đã định một ngày mà Ngài sẽ chấm dứt sỳ kêu gọi kẻ nào muốn được cứu (KhKh 22:17). Bấy giờ cơn thạnh nộ của Ngài sẽ biểu lộ, sự biểu lộ của điều nầy ấy là huyết sẽ chảy vào trong trũng chạy từ bắc chí nam qua đất Ysơraên. Từ núi Mêghiđô ở phía bắc của Ysơraên có thể nhìn thấy thung lũng nầy. Thật vậy, đây là nguồn gốc của tên Hạtmaghêđôn, có nghĩa là núi của Mêghiđô.
14. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Ẩn dụ mùa gặt, được dùng trong phần nầy, ám chỉ duy nhất về sự phán xét.
b. Lời tiên tri của Kinh Thánh chứng tỏ khả năng của mùa gặt của linh hồn trong cơn đại nạn.
c. Gặt nho để bỏ vào lò ép nho gợi ý về mùa gặt để trừng phạt.
d. Nho bị ép trong lò ép nho là lời nói tượng trưng được dùng để mô tả sự tắm trong huyết sẽ xảy ra khi Đức Chúa Trời phán xét kẻ ác.

Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Con rồng trong đoạn 12 và 13 được nhận diện.
a. Rõ ràng là nguyên tắc gian ác trong mọi thời đại.
b. Là Satan, kẻ kiện cáo con người và chống đối Đức Chúa Trời.
c. Cách gián tiếp là một con người gian ác trên đất trong những ngày cuối cùng.
d. Rõ ràng là một biểu hiện của sự gian ác trong xã hội.
2. Con thú của 13:1 mà Giăng thấy từ biển đi lên được nhận diện là
a. Antichrist là người sẽ nổi bật trong tuần lễ thứ bảy mươi.
b. Con người vô luật được Phao lô đề cập trong IITe 2Tx 2:1-12.
c. Thành viên thứ hai trong ba ngôi của Satan.
d. Con người được ghi nhận ở ba điểm nói trên: a) ; b) ; và c.
e. Con người được ghi nhận ở câu a) và c) ở trên.
3. Con thú thứ nhì của Khải huyền 13, mà Giăng thấy từ đất đi lên, được nhận diện trong ba chỗ là
a. Tiên tri giả và thành viên thứ ba trong ba ngôi của Satan.
b. Antichrist, kẻ lừa dối dân cư trên đất.
c. Quyền lực của Antichrist và nguồn gốc của quyền hành của nó.
d. Hiện thân của điều ác.
4. Kinh Thánh chứng tỏ rằng dân cư ở trên đất sẽ nhìn con thú.
a. Bằng sự kinh ngạc và ngưỡng mộ .
b. Bằng sự sợ hãi và không tin cậy.
c. Xứng đáng để họ thờ lạy và trung thành.
d. Với tất cả những gì được đề cập ở trên: a) ; b); và c).
e. Những gì được đề cập ở câu a) ; và c) ở trên.
5. Theo một điểm về đoạn 13, có thể người ta sẽ kinh ngạc con thú vì nó hiển nhiên
a. Đạt được những chiến thắng về ngoại giao.
b. Đạt những chiến thắng về quân sự.
c. Sống lại từ cõi chết.
d. Đạt được những thành tích về chính trị.
6. Con thú thứ hai của Khải huyền 13 sẽ hoạt động chủ yếu là
a. Phát huy con người, chính sách, và những kế hoạch của con thú thứ nhất.
b. Tìm kiếm những con người đi theo mình.
c. Chia phần cai trị luân phiên với con thú thứ nhất.
d. Gây thất bại về xã hội và phát triển chính trị trên đất.
7. Con thú thứ nhất rút năng lực và uy quyền.
a. Cơ sở chính trị của nó.
b. Những người nó điều khiển.
c. Sức thu hút kỳ bí của nó.
d. Con rồng.
8. Khải huyền 13 chứng tỏ rằng Antichrist sẽ tăng cường những chính sách của nó bằng phương diện
a. Đòi hỏi sự trung thành triệt để với sự cai trị của nó.
b. Bắt buộc người ta phải nhận con dấu của nó thì mới có thể mua và bán.
c. Đe dọa bỏ tù, tra tấn và bị ngược đãi.
d. Tất cả những gì ghi nhận ở câu a) ; b) ; và c).
e. Những gì ghi nhận ở hai câu a) và b) ở trên.
9. Hình phạt dành cho những người đồng nhất với Antichrist là
a. Mất sự sống mình .
b. Mất cần thưởng của mình.
c. Bị hình phạt đời đời và xa cách tự hiện diện của Đức Chúa Trời.
d. Có thề bị xấu hổ trong hiện tại.
10. Về con đại dâm phụ, Hội Thánh bội đạo, chúng ta có thể nói cách chính xác nhất rằng
a. Nó bán những nguyên tắc thuộc linh của mình để đổi lấy sự thống nhất về tôn giáo.
b. Đặt những giá trị của mình trên truyền thống hơn là trên Lời Đức Chúa Trời .
c. Nó sẽ năng động về chính trị trong nổ lực đạt được sự thống nhất thế giới.
d. Tất cả những câu trên đều đúng.
e. Chỉ có những câu b) và c) ở trên là đúng.
11. Vì con đại dâm phụ cỡi con thú, nên chúng ta có ấn tượng rằng
a. Hội Thánh bội đạo sẽ không được hệ thống chính trị hổ trợ.
b. Hội Thánh bội đạo sẽ có vai trò chính trong thời gian con thú dấy lên nắm quyền .
c. Vì cớ sự ngoại tình của nó, nó là kẻ đứng đầu ngạo mạn, và muốn công khai tối đa.
d. Ở đây chúng ta có một sự kết hợp của những nguyên tắc gian ác và lừa dối.
12. KhKh 17:15-18 chứng tỏ rằng khi con thú và mười vua ủng hộ nó trở mặt ghen ghét con đại dâm phụ và tiêu diệt nó, thì chúng ta có bằng cớ về.
a. Antichrist sẽ xử dụng Hội Thánh bội đạo để đạt cứu cánh của nó.
b. Sự khoang dung tôn giáo sẽ không kéo dài trong thời kỳ đai nạn.
c Sự ngoại tình thuộc linh của Hội Thánh bội đạo, Sự gắn chặt của Hội Thánh bội đạo với Antichrist sẽ đưa đến sự thất bại .
d. Những điều ghi nhận ở ba câu trên là đúng.
e. Chỉ có những gì đưa ra ở câu b) và c) ở trên.
13. Sự biểu thị rằng những người chết trong Chúa trong cơn đại nạn sẽ nhận được
a. Sự thừa nhận về cuộc sống can đảm, liều mình mà họ đã sống.
b. Một chỗ trong bản danh sách của những anh hùng đức tin.
c. Sự nghĩ ngơi để khỏi làm việc và nhận được phần thưởng cho công việc của mình.
d. Những phần thưởng lớn hơn những người không trải qua cơn đại nạn.
14. Ẩn dụ về mùa gặt được dùng trong Khải huyền 14 nói về
a. Một mùa gặt để trừng phạt.
b. Một mùa thu hoạch linh hồn.
c. Sự kiện là con người đang sống trong ngày cuối cùng.
d. Cả mùa gặt để trừng phạt và mùa thu hoạch linh hồn.
15. Hình ảnh nho bị nghiền trong lò ép nho nói rất rõ về
a. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ được bày tỏ trong cơn đại nạn.
b. Vô số mùa gặt trong thế giới và tuần lễ thứ bảy mươi.
c. Tượng trưng cho sự kết quả và có chất lượng cao.
d. Kết quả của đất Ysơraên được khôi phục.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. Nó được nhận diện là Satan và cái đuôi của nó kéo 1/3 ngôi sao từ trời xuống có thể ám chỉ về cuộc nỗi loạn quá khứ ở trên trời.
2. d) Kiện cáo một người với Đức Chúa Trời và buộc tội chính người đó.
3. Satan và những sứ giả gian ác của nó sẽ bị Michên và các thiên sứ của người đánh bại. Kết quả Satan bị trục xuất xuống đất.
4. a. Đúng.
b. Sai.
c. Sai.
d. Đúng.
e. Đúng.
e. Đúng.
f. Đúng.
5. Dường như nó sẽ có quyền hành và khả năng rất lớn. Điều này có thể liên quan đến sự sống lại từ trong kẻ chết của nó, nó sẽ khiến cho người ta hết sức tôn trọng và thờ phượng. Nó sẽ ngạo mạn tự xưng mình có đặc quyền thiên thượng, và tiên tri giả sẽ tăng cường sức mạnh cho những lời công bố nầy cho con thú.
6. Nó là công cụ của Satan và sẽ xử dụng quyền lực được ban cho để thống nhất thế giới trong sự gian ác hầu chống lại Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài (chắc chắn chính những hoạt động của nó chống lại dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đẩy họ đến với Đức Chúa Trời).
7. Nó xuất hiện giống như Chiên con, nhưng Kinh Thánh nói nó như con rồng. Nó là một công cụ khác của Satan. Nó được nhận diện là tiên tri giả.
8. a. Sai.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Sai.
9. Đó là con dấu tiêu biểu cho sự trung thành với hệ thống của Antichrist. Nó bắt buộc cho mọi dịch vụ buôn bán ở bất kỳ hình thức nào ở trên trái đất vào thời điểm đó.
10. e) Chỉ gồm có những điều ghi ở câu a) và c).
11. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng
e. Sai.
f. Sai.
g. Đúng.
h. Đúng.
12. a. 4) Những đặc điểm.
b. 3) Nhận diện.
c. 1) Vai trò.
d. 2) Vị trí.
13. a. Vì giờ phán xét của ngày hầu đến.
b. Để khuyến khích, động viên những người đang chịu khổ trong cơn đại nạn rằng thì giờ còn lại dành cho tôn giáo giả xử dụng quyền hành bị hạn chế.
c. Những kẻ trung thành với con thú sẽ ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, chịu khổ đời đời và hoàn toàn xa cách Đức Chúa Trời.
d. Họ sẽ được yên nghỉ trong Chúa, và được phần thưởng dựa trên công việc của mình.
14. a.Sai.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.

Những Biến Cố Cuối Cùng Của Cơn Đại Nạn
Trong bài học vừa qua chúng ta được biết vài nét trong những đặc điểm chính của thời kỳ đại nạn. Chúng ta đã thảo luận một số sự kiện về mỗi thành viên trong ba ngôi của Satan, kể cả công việc và những phương pháp của Antichrist và công cụ của nó, tiên tri giả. Hơn nữa một lần nữa chúng ta lại nhận diện 144.000 người và mục đích của 144.000 người nầy cũng như đã khảo sát kỹ lời công bố của ba thiên sứ trong đoạn 14 trong ánh sáng của những ẩn dụ mùa gặt. Vì cuối của cơn đại nạn đang tiến nhanh đến phần nhấn mạnh, nên chúng ta sẽ khảo sát chi tiết của những biến cố cuối cùng.
Càng tiến đến hồi chung cuộc, những chính sách của Antichrist trong nổ lực thống nhất toàn cầu dưới lá cờ của Satan càng làm cho người ta không chịu đựng nổi. Trong lúc đó, sức căng của sự phán xét của Đức Chúa Trời trên dân cư trên đất lại càng hiển hiện. Như vậy, đây là giai đoạn đế quốc Antichrist sắp kế thúc khi ”hòn đá chẳng bởi tay đục ra” (DaDn 2:34) đập vào bàn chơn của pho tượng và tiêu hủy mọi vết tích của sự cai trị của con người. Hành động là một bức tranh tượng trưng về sự kết thúc của đế quốc của Antichrist, vốn sẽ xảy ra khi Đấng Christ tái lâm. Đấng Christ trở lại là điều sắp đến tận tay và chúng ta phải sửa soạn chính mình để đón sự kiện nầy, làm tất cả những gì mình có thể để loan báo sự cứu rỗi của Ngài cho mọi người. Khi chúng ta tham gia vào công tác truyền giảng, chúng ta có thể đảm bảo rằng thì giờ đang đến gần khi chúng ta nghe Ngài phán, ”Được lắm! Hãy đi vào hưởng sự vui mừng của Chúa”.
Chuẩn bị và trút bảy bát thạnh nộ.
Dấu hiệu lớn thứ ba.
Sự trút bảy bát thạnh nộ.
Sự sụp đổ Babylôn chính trị hay thương mại.
Sự phán xét Babylôn.
Sự tái lâm của Đấng Christ.
Cảm tạ về sự phán xét Babylôn.
Tiệc cưới Chiên Con.
Sự xuất hiện của Đấng Mêsi chiến sĩ.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Thảo luận những bát phán xét và phản ứng của những điều đó trên dân cư.
• So sánh và nhận xét sự tương phản của Babylôn giáo hội và babylôn thương mại.
• Nhận diện những biến cố chính liên quan đến sự tái lâm của Chúa Jesus.
1. Nghiên cứu bài học theo trình tự bình thường và đọc Kinh Thánh trưng dẫn ở mỗi phần.
2. Chúng tôi động viên bạn viết câu trả lời những câu hỏi nghiên cứu trước khi bạn mở phần giải đáp để xem lại câu trả lời của mình.
3. Bạn có thể dùng Kinh Thánh để trả lời câu hỏi nghiên cứu và bài tập trắc nghiệm.
4. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để tìm ý nghĩa của những từ mới.
Ăn uống đến ngáy (sated).
Âïn hận (penitential).
Bồi hoàn, báo oán (requital).
Bài hát truy điệu (dirge).
Câu hỏi hùng biện (rhetorial question).
Công bằng (equity).
Đói ghê gớm (ravenous).
Giải tán tan rã (dissolution).

CHUẨN BỊ VÀ TRÚT BẢY BÁT THẠNH NỘ .
Phần chen vào, khởi đầu tiếp theo tiếng kèn thứ bảy và tiếp tục qua những đoạn 12, 13, và 14, bây giờ mở đường cho việc sửa soạn cho những bát thạnh nộ sẽ trút xuống. Đoạn 15, vốn là đoạn ngắn nhất trong sách Khải huyền, giới thiệu một dấu hiệu lớn khác: bảy thiên sứ và bảy tai họa cuối cùng. Sau khi họ nhận bảy bát thạnh nộ, thì những thiên sứ trút những bát thạnh nộ xuống trên dân cư ở trên đất trong đoạn 16. Tuy nhiên, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống cách phân biệt, nó chỉ rơi trên những người mang dấu của con thú và thờ lạy tượng của con thú.
DẤU HIỆU LỚN THỨ BA.
KhKh 15:1-8.
Trong dòng mặc khải, Giăng nhìn thấy ”một dấu hiệu khác vừa lớn vừa kỳ lạ” (câu 1). Bạn có thể liên tưởng đến việc Giăng nhìn thấy hai dấu lạ như thế ở đoạn 12:1-3: trước hết là người đàn bà mình mặc mặt trời, và thứ hai là con rồng lớn sắc đỏ. Ở dây Giăng nhìn thấy có bảy thiến sứ cầm bảy tai họa chót của cơn đại nạn. Mặc dù câu nầy nhấn mạnh chữ chót (last cuối cùng) trong nguyên văn Hy lạp ,những số bảy cũng quan trọng nữa. Nó nói về sự trọn vẹn! Trong trường hợp nầy, nó ám chỉ về sự hoàn tất và sự chắc chắn của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời chống lại kẻ không công bình. Như vậy sự phán xét của Đức Chúa Trời trở nên càng căng thẳng hơn khi cơn thạnh nộ di chuyển nhanh đến tột đỉnh.
Một số học giả Kinh Thánh tin rằng những sự phán xét trong những bát thạnh nộ nầy chỉ lặp lại những biến cố được tượng trưng trong phần mở những cái ấn và mở những cái kèn. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng những học giả nầy có khuynh hướng quên rằng sự nhấn mạnh ởø đây là vào những tai họa chót (last plagues). Vì những sự phán xét nầy được gọi là những tai họa chót, nên có nghĩa là những sự phán xét qua những viecä mở ấn và thổi kèn đều khác với những sự phán xét qua những cái bát và cũng xảy ra trước sự phán xét nầy.
Việc những sự phán xét qua những bát thạnh nộ là những sự phán xét cuối cùng thêm vào những sự phán xét đã xảy ra trước, đồng thời cũng nói rõ là sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời dứt hẳn. Lời loan báo trước có thể ám chỉ rằng dấu hiệu nầy là lời cảnh cáo chót của Đức Chúa Trời cho thế giới không chịu hối cải nầy. Tại thời điểm nầy tất cả những gì còn lại là sự phán xét cuối cùng .
Câu 2 cho thấy những kẻ đắc thắng con thú đứng trên biển pha lê tay cầm đàn, được Đức Chúa Trời ban cho họ. Biển pha lê xuất hiện như được trộn với lửa có thể ám chỉ rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời xuất phát từ sự thánh khiết của Ngài. Con thú tưởng rằng hắn đã chinh phục được họ bằng việc giết họ đi, nhưng cái chết của họ chỉ liên quan đến sự thay đổi địa điểm, từ quả đất ở giữa sự phán xét để bước vào sự bình an trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Khi những người chiến thắng nầy đứng bên cạnh biển pha lê, họ hát bài ca ngợi khen Đức Chúa Trời. Chủ đề của bài ca là sự giải cứu. Giống như dân Ysơraên ngợi khen Đức Chúa Trời về việc họ được giải cứu khỏi dân Êïdíptô (Xuất Ê díp tô ký 15), Thì cũng vậy những người nầy được chuộc khỏi cơn đại nạn, khỏi sự ghen ghét và thù địch của con thú, nên họ sẽ hát bài ca về sự giải cứu cho Đức Chúa Trời. Câu 3 và 4 cho chúng ta vài điều trong số nhiều đặc tính của Đức Chúa Trời mà họ sẽ vui mừng ngợi khen.
Câu hỏi hùng biện được nêu lên, ”Lạy Chúa, ai dám không kính sợ tôn vinh danh Ngài? (câu 4). Mặc dù các nước không tôn vinh Ngài, không kính sợ Ngài bằng tấm lòng bị tội lỗi làm cứng lại trong thời kỳ đại nạn, nhưng ngày đến họ sẽ vừa kính sợ Ngài vừa nhìn biết Ngài là Chúa (cũng xem Gie Gr 10:7 và KhKh 14:7). Mọi quốc gia đều thờ phượng Đức Chúa Trời cách giống nhau là chủ đề quen thuộc của những lời tiên tri, chúng ta sẽ thấy điều nầy trong câu kế tiếp : ”Vì chỉ một mình Ngài là thánh. Mọi dân đều sẽ thờ lạy trước mặt Ngài” (cũng xem Thi Tv 2:17; 9:6-7; 66:18-23, DaDn 7:14, SoXp 2:11, XaDr 14:9).
Lời nói trước nầy không có nghĩa là mọi người sẽ được cứu, nhưng có nghĩa là nước của Đức Chúa Trời sẽ bao gồm một mối liên kết của thành viên phát xuất từ mọi quốc gia. Họ sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời và chúc tôn mọi công việc công bình của Ngài.
Bây giờ Giăng nhìn thấy nhà trại Chứng Cớ ở trên trời (câu 5-6). Vì bảy thiên sứ cầm sự hủy diệt từ đền thờ đi ra chứng tỏ rằng những tai họa cuối cùng phát xuất từ sự hiện diện của Đức Chúa Trời và là sự bày tỏ của sự không thay đổi của Ngài trong việc chống đối tội lỗi. Chúng ta tin rằng những sự phán xét nầy được tập trung trong bản chất của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời là công bình khi Ngài trừng phạt kẻ gian ác và tha thứ những người ăn năn tội lỗi mình.
Một trong bốn sanh vật ban cho bảy thiên sứ bảy cái bát bằng vàng đựng đầy sự phẫn nộ của Đức Chúa Trời (câu 7-8). Bát vàng được đề cập ở một nội dung khác là KhKh 5:8. Đầy là những cái bát đầy hương tức là lời cầu nguyện của các thánh đồ. Một số người nhìn thấy sự liên hệ giữa lời cầu nguyện của các t hánh đồ và sự trút cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất. Nghĩa là, họ cảm thấy có mối quan hệ giữa lới cầu nguyện và sự báo oán thiên thượng.
Vì trong câu 7 Đức Chúa Trời được gọi là Đấng ”Hằng sống đời đời”, nên chúng ta được nhắc nhở rằng dù điều ác dường như cai quản mọi ông việc của lịch sử loài người, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Hằng sống mà con người hay sự chống cự của Satan không thể nào cản trở chương trình của Ngài được.
Bây giờ những bát thạnh nộ đã được giao cho các thiên sứ ; đền thờ đầy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Vì thế chẳng ai có thể vào đền thờ cho đến khi nào bảy tai họa đã được thực hiện. Đối với chúng ta dường như việc đi vào nơi thánh sẽ can thiệp vào việc Đức Chúa Trời đang trút cơn thạnh nộ của Ngài trên thế giới vì sự phản loạn của nó chống lại tình yêu mà Ngài bày tỏ trong con Ngài.
1. Dấu hiệu lớn thứ ba, được giới thiệu trong 15:1 là
a. Người đàn bà mình mặc mặt trời.
b. Con rồng lớn sắc đỏ.
c. Bảy thiên sứ mang bảy bát thạnh nộ.
2. Tựa đề chính xác của Kinh Thánh cho thấy những cơn đoán phạt qua những bát thạnh nộ
a. Giống như sự phán xét qua tiếng kèn và tháo ấn.
b. Ít căng thẳng hơn những sự phán xét trước kia.
c. Chỉ là sự lặp lại những sự phán xét trước kia.
d. Đi theo những sự phán xét trước kia vào đúng thới điểm.
3. Giải thích tại sao dấu hiệu lớn thứ ba lại rất quan trọng.
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
SỰ TRÚT BẢY BÁT THẠNH NỘ.
16:1-21, XuXh 7:1-12:50.
Trong đoạn 15 Giăng thuật lại những sự chuẩn bị cho loạt hình phạt cuối cùng và hoạt động diễn tiến ở trên trời. Tuy nhiên cả đoạn 16 quan tâm chủ yếu đến những diễn tiến thực sự của những sự phán xét qua những bát thạnh nộ. Có sự tương đồng nổi bật giữa những sự phán xét tiếng kèn và loạt tai họa trong hiện tại. Nhưng dù có vài điều giống nhau người ta cũng không khẳng định rằng những điều đó đồng nhất. Rõ ràng, những tai họa từ tiếng kèn tựa như là kết quả chỉ một phần trong khi những tai họa từ những cái bát là toàn thể. Và dù loạt tiếng kèn theo một ý nghĩa đó là sự kêu gọi con người ăn năn, nhưng loạt tai họa từ những cái bát tiêu biểu cho sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Trong khi con người chịu ảnh hưởng gián tiếp do bốn tiếng kèn thổi, thì bây giờ con người lại chịu ảnh hưởng trực tiếp cho những bát thạnh nộ khi bắt đầu loạt phán xét sau cùng nầy. Hơn nữa, những cái bát bình dường như nối tiếp nhau trong một tiến trình rất nhanh.
Chắc chắn người nào khảo sát kỹ luỡng về những tai họa nầy sẽ thấy sự tương tự giữa những tai họa nầy với những tai họa xảy ra Ê díp tô. Chúng tôi giới thiệu sách Ê díp tôký để bạn có thể thấy sự giống nhau.
Tại đây, chúng tôi giới thiệu bản so sánh những sự phán xét từ cái ấn, cái kèn và cái bát. Hãy ôn kỹ lưỡng điều đó trước khi bạn tiếp tục học phần còn lại của phần nầy.
CÁI ẤN
CÁI KÈN
CÁI BÁT

Giăng nghe ”một tiếng lớn từ đền thờ ra phán với bảy thiên sứ rằng: ”Hãy đi! Trút bảy bát phẫn nộ của Đức Chúa Trời xuống đất” (câu 1). Chúng ta tin rằng tiếng nói nầy của chính Đức Chúa Trời, vì tất cả những người khác không được phép vào đền thờ cho đến khi bảy thiên sứ đã hoàn tất những nhiệm vụ của mình. Đáp ứng với tiếng kêu ấy, Giăng thấy vị thiên sứ thứ nhất trút trút bát mình xuống trên những kẻ đã nhận dấu của con thú (câu 2). Những người mang dấu của con thú trong cơn đại nạn giờ đây sẽ mang dấu của sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Tai họa nầy sẽ mang ghẻ hờm ác độc trên những người có những con dấu của con thú. Trong thời đó, tôn giáo sẽ không còn là điều thuần túy tiện lợi. mọi người sẽ công bố sự trung thành của mình hoặc với Christ hoặc với Antichrist (So sánh tai họa nầy với tai họa thứ sáu của xứ Êïdíptô, trong đó người và súc vật bị ghẻ có mủ (XuXh 9:9-11)).
Khi bát thứ hai được trút xuống, mọi vật sống trong biển đều chết (câu 3). Giống như tai họa xảy ra ở Ê díp tô (7:20-21) và tiếng kèn thứ hai (8:8-9), nước hóa thành huyết. Tai họa nầy còn có tác động xa hơn vì mọi sinh vật ở biển đều chết. Mọi nguồn thực phẩm từ biển đều bị mất, và biển bị ô nhiểm không xử dụng cho việc gì được. Tiếp theo trong sự diễn tiến nhanh, Giăng thấy bát thứ ba được trút xuống và mọi nước ngọt ngào đều biến ra huyết (câu 4). Nước rất cần cho sự sống và tồn tại, và ngay cả trong lúc bình thường thiếu nước cũng phát sinh sự khủng hoảng rồi. Nhưng tai họa nầy sẽ mang sự khủng hoảng cho đến toàn cầu.
Câu 5 và 6 ghi lại những lời nói của vị thiên sứ chịu trách nhiệm về nước. Vị ấy nói rằng hình phạt nầy rất thích hợp cho những kẻ thờ lạy con thú. Chúng đã uống cho đến ngấy huyết của các người tử đạo, vì thế bây giờ chúng phải uống huyết. Đức Chúa Trời công bình trong sự phán xét, hình phạt nầy đáng với tội phạm.
Khi bát thứ tư được trút xuống, Đức Chúa Trời lại can thiệp vào tiến trình của thiên nhiên, cho phép mặt trời làm hại con người. Bây giờ mặt trời được ban cho quyền năng để lấy lửa làm sém người ta (câu 8-9). Người ta bị lửa quá nóng làm sém, thay vì những tội nhân cứng lòng nầy ăn năn, trái lại họ nói phạm thượng, lộng ngôn đến danh của Đức Chúa Trời là Đấn có quyền bính trên những tai họa đó. Điều nầy chứng tỏ rằng những kẻ thờ phượng con thú nhìn nhận sự toàn năng của Đức Chúa Trời, nhưng khước từ sự ăn năn và trái lại nói phạm thượng với Đức Chúa Trời. Dù cho bầu không khí bị nóng hơn hay hoạt động bất thường của mặt trời xảy ra, thì con người bị đau đớn khủng khiếp vì tai họa nầy.
Bát thứ năm trút trên vương quốc của con thú làm cho nó chìm vào sự tối tăm giống như sự tối tăm xảy ra cho người Eạdíptô trước khi dân Ysơraên ra khỏi Aicập (10:21-23). Một lần nữa, khi con người bị đau đớn dữ dội, thay vì trở lại cùng Đức Chúa Trời, họ chửi rủa Ngài vì sự đau đớn (câu 10-11). Chúng ta không được biết tại sao người ta khổ não và nghiến răng. Có lẽ sự tối tăm tăng cường sự lạnh qúa lúc mà người ta không chuẩn bị trước. Dù điều gì đi nữa, chúng ta có thể biết chắc rằng sự tối tăm không những làm căng thẳng sự đau đớn của tai họa trước nhưng bản thân sự tối tăm cũng làm cho người ta sự sợ hãi.
Câu 12 chép ”Vị thứ sáu trút bát mình xuống sông cái Ơphơrát, nước sông liền cạn khô, để dọn đường cho các vua từ phía mặt trời mọc đến”. Rõ ràng, đây là đoạn khó hiểu. Nó kết hợp với những sự sửa soạn cho trận chiến Hạtmaghêđôn. Vấn đề được nêu lên là: Tại sao những thành viên của ba ngôi của ma qủi lại muốn qui tụ những nhà lãnh đạo thế giới để chiến đấu chống Đức Chúa Trời? Chúng biết rằng Chúa Jesus sẽ trở lại để cai trị trên đất như các Vua các vua, và Chúa của các Chúa. Chúng cố thuyết phục những nhà lãnh đạo thế giới rằng dưới sự lãnh đạo của chúng, Chúa Jesus có thể bị chúng đánh bại khi Ngài trở lại. Dường như đây là một lý do để chúng qui tụ những nhà lãnh đạo thế giới đến Hạtmaghêđôn. KhKh 19:19 chứng tỏ rằng ”các vua trên đất” đã tụ họp tại đó với mục đích là gây chiến với Chúa Jesus khi Ngài trở lại. Nên nhớ là sau khi Antichrist bị thương đến chết và được sống lại, thì người ta sẽ hỏi, ”Ai có thể giao chiến với nó được” (13:4). Hạtmaghêđôn sắp xảy ra và mọi dân cư trên đất sẽ thấy ai là người sẽ đánh bại Antichrist trong chiến trận.
Những câu từ 13-16, một số người cho rằng đó là phần chen vào giữa cái bát thứ sáu và bát thứ bảy, tuy nhiên, những người khác lại xem đó như là phần giải thích thêm cho câu 12. Câu 13 cho chúng ta biết rằng Giăng đã thấy ”ba uế linh hình như ếch nhái ra từ miệng rồng, miệng thú và miệng tiên tri giả” (Tại đây con thú thứ hai của Khải huyền 13 được gọi lần đầu tiên là tiên tri giả). Những uế linh nầy được nhận diện ở câu 14 là linh của các qủi làm phép lạ. Sứ mạng của chúng là qui tụ các vua thế giới nhóm họp lại để tham gia cuộc chiến. Chúng là những phái viên của ba ngôi bất khiết (unholy trinity). Và, giống như trong ngày của Aháp, những qủi nầy sẽ thành công trong việc qui tụ những nhà lãnh tụ của các quốc gia nhóm lại.
Câu 15 xen vào tiến trình của những biến cố để nhắc nhở ”Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ thức canh và giữ áo xống mình, kẻo e người đi lỏa lồ và người ta thấy sự xấy hổ người chăng”. Dụng ý của sự nhắc nhở nầy là dân sự của Đức Chúa Trời cần phải tỉnh thức. Họ không quá lười biếng mà nói rằng ”bình hòa và an ổn” khi tai họa thình lình vụt đến (ITe1Tx 5:3). Họ cũng không được nói rằng sự an ninh của họ có thể được tìm thấy trên bình diện con người thay vì duy trì mối thông công của mình với Christ.
Khi cái bát thứ bảy được trút xuống, một lời nói đón trước phát ra ”Xong rồi” (câu 17) chứng tỏ rằng mọi sự được giải quyết hết. Nghĩa là, tất cả những tai họa đã được trút hết rồi và giờ đây con người đứng trước ngưỡng cửa đời đời. Hãy so sánh khi trút bát thứ bảy với những gì xảy ra khi mở ấn thứ bảy (KhKh 8:5) và tiếng kèn thứ bảy thổi lên (11:9). Phản ứng lúc bấy giờ là: chớp, tiếng, sống và động đất (câu 18). Giăng nhìn thấy thành phố lớn ở đây gọi là Babylôn, chắc chắn sẽ là trụ sở trung ương thế giới của sự cai trị toàn cầu vào thời bấy giờ, bị xé ra làm ba phần, các thành phố của các nước đều đổ xuống (câu 19). Hơn nữa, mặt đất thay đổi tận gốc và các núi biến mất (câu 20). Vị tiên tri cũng thấy có mưa đá lớn từ trời rơi xuống nặng chừng một ta lâng (khoảng 100 pounds - 45 kg) trúng nhằm người ta trong tai nạn khủng khiếp nầy (câu 21). Cuối cùng hãy ghi nhận rằng người ta không ăn năn trong tai họa nầy. Trái lại, họ lộng ngôn cùng Đức Chúa Trời. Không điều nào cho thấy người ta ăn năn trong bất cứ hình phạt nào trong lúc bảy bát thịnh nộ trút xuống.
4. Chúng ta có thể nói cách chính xác rằng những hình phạt qua bát thịnh nộ trút xuống tiêu biểu
a. Sự kêu gọi ăn năn.
b. Cho điểm giữa của cơn đại nạn.
c. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
d. Phần chen vào trước loạt hình phạt kế tiếp.
5. Lời nào trong những lời sau đây tiêu biểu cách chính xác sự nhấn mạnh của sách tham khảo tự học ở phần nầy:
a. Có một sự tương đồng nổi bật giữa những tai họa do kèn thổi và những tai họa qua sự trút bát thạnh nộ.
b. Có sự giống nhau giữa những tai họa giáng xuống xứ Êïdíptô và nhữøng tai họa qua sự trút bát thạnh nộ.
c. Ở đây Giăng đưa ra một tiêu chuẩn cho sự thạnh nộ ở mọi thời đại.
d. Tất cả những điều trên tiêu biểu cách chính xác những sự nhấn mạnh nầy.
e. Chỉ có những câu a) và b) tiêu biểu cho những sự nổi bật nầy cách chính xác.
6. Satan, Antichrist, và tiên tri giả sẽ qui tụ những nhà lãnh đạo thế giới đến Hạtmaghêđôn để
a. Lập một trong những người ấy sẽ làm đầu chính quyền của thế giới.
b. Đánh bại Chúa Jesus Christ khi Ngài trở lại quả đất.
c. Khôi phục sự hòa bình đã bị tản mát do chiến tranh thế giới.
7. Câu nào trog những câu sau đây tiêu biểu cho ảnh hưởng của những sự hình phạt qua việc trút bát thạnh nộ trên nhân loại?
a. Những bát thạnh nộ nầy dẫn người ta đến sự ăn năn và thờ phượng Đức Chúa Trời.
b. Những bát thạnh nộ làm người ta sợ hãi và khiến họ kính sợ Đức Chúa Trời.
c. Người ta trở thành cứng lòng hơn trong tội lỗi mình và ngạo mạn cùng Đức Chúa Trời.
d. Đa số nhân loại biết rất ít về những bát thạnh nộ nầy.
SỰ SỤP ĐỔ BABYLÔN CHÍNH TRỊ HAY TƯƠNG MẠI.
Khi chúng ta nghiên cứu về vương quốc của con thú ở Bài 12, chúng ta thấy rằng Babylôn giáo hội (ecclesiastical) thay thế cho tôn giáo giả và được tượng trưng bằng đại dâm phụ. Chúng ta thấy rằng sau một thời gian công tác có hiệu quả với con thú (Antichrist), thì nó quay sang cắn xé tân phụ và tiêu diệt nó hoàn toàn. Bây giờ chúng ta quay sang thực thể chính trị, những kẻ sống sót của mối quan hệ trái phép sau những biến cố của đoạn 17:16-18.
Giăng thấy rằng, sau khi trừ bỏ được con đại dâm phụ, nghĩa là loại trừ ảnh hưởng của tôn giáo giả, thì con thú lên mình kiêu ngạo, muốn nhận cho mình mọi sự ca ngợi, tôn trọng và vinh hiển. Thật vậy, chúng ta sẽ chứng kiến sự giải tán và hủy diệt của đế quốc của nó trong đoạn 18.
SỰ PHÁN XÉT BABYLÔN.
18:1-24.
Mặc dù Babylôn trong đoạn 17 thay thế cho tôn giáo giả và được tượng trưng bằng con đại dâm phụ, nhưng Babylôn của đoạn 18 lại được tượng trưng cho nền văn minh phản loạn của Antichrist. Nó được nhận diện là ngôi chính trị và thương mại của nhà cầm quyền Antichrist. Một số số người cho rằng thành phố ở đây là La mã, mà họ thấy rằng nó là trụ sở trung ương quốc tế của Hội Thán bội đạo. Những người khác lại tin rằng dù Rô ma sẽ là tôn giáo của thế giới, nhưng Babylôn tái lập sẽ là trung tâm chính trị và thương mại chính quyền của thế giới. Tuy nhiên, khó có thể thấy được thế nào một thành phố có thật theo nghĩa đen tương tự như thế đã được tái thiết và nổi tiếng trong thoời gian nhanh như thế. Hơn nữa, EsIs 13:19-22 chứng tỏ rằng một khi thành phố bị phá hủy thì chẳng bao giờ có dân cư sinh sống trở lại.Vì những lý do sau nầy, chúng tôi xem Babylôn chỉ đơn giản là trụ sở trung ương của nhà cầm quyền thế giới hầu đến, vì chúng ta không có cách nào để biết chính xác nó tọa lạc tại đâu. Nó có thể ở tại London, Zurich, Brussels, hoặc bất cứ thành phố lớn nào khác trên thế giới.
Vì câu 1 bắt đầu với những chữ :sau việc ấy” (After this), nên chúng ta hiểu rằng đây là sự mặc khải sau cùng. Hơn nữa, sự khải thị nầy được kèm theo với điều khác, nghĩa là , thiên sứ nầy khác với thiên sứ được đề cập ở KhKh 17:1. Và mặc dù thiên sứ đang hiện diện được mô tả trong chi tiết vinh diệu và được biết vị ấy là Đấng Christ. Một học giả đã ghi nhận rằng vì vị ấy ở gầ gũi sự hiện diện của Đức Chúa Trời nên vinh quang người sáng tỏa khắp đất. Thật vậy, Kinh Thánh cho thấy người nào đến gần sự hiện diện của Đức Chúa Trời được đánh dấu bằng sự sáng chói kéo dài (lingering radiance) (XuXh 34:29-35).
Thiên sứ kêu lớn tiếng rằng: ”Babylôn đã đổ rồi, đổ rồi” (câu 2). Khi sự việc nầy xảy ra kế tiếp với sự sụp đổ của Babylôn giáo hội, khiến người ta có thể nghĩ rằng hai biến cố xảy ra cùng một lúc. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, đây là hai biến cố riêng biệt.
Đoạn 17 nói rõ rằng hệ thống tôn giáo giả dối được tiêu biểu bằng con đại dâm phụ sẽ cỡi trên con thú. Nghĩa là, hệ thống tôn giáo giả dối đã giúp đỡ cho hệ thống chính quyền thế giới lên nắm quyền hành. Đầu về chính trị, con thú hay Antichrist, sẽ xử dụng những sự phục vụ của con đại dâm phụ để đạt cứu cánh của mình: cũng cố sự kiểm soát của mình trên nhiều dân tộc, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, và kinh tế của cộng đồng thế giới. Người phụ nữ của nó sẽ công bố sự vinh hiển của nền an ninh tập thể qua sự thống nhất toàn cầu. Nhưng khi nó đạt được mục đích của mình, nhà độc tài thế giới sẽ nhanh chóng loại bỏ con đại dâm phụ.
Tuy nhiên, đoạn 13 nói rõ rằng con thú sẽ phạm thượng với Đức Chúa Trời, gây chiến với dân sự Ngài, và khiến mọi người trên đất thờ lạy hắn (câu 5-8). Rõ ràng bước ngoặc của những biến cố nầy đòi hỏi nhà độc tài ngạo mạn nầy ohải kết hợp tạm thời với tôn giáo giả. Như vậy, thay thế cho nhiều đức tin, nhiều tôn giáo mà Hội Thánh siêu đẳng (superchurch) nầy đã trộn lộn với nhau để đạt được mục đích thống nhất toàn cầu, con thú sẽ bắt buộc mọi người thờ lạy nó. Tiên tri giả, Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền của nó (His Minister of Propaganda) sẽ thiết lập một hệ thống để bắt buộc người ta thờ lạy con thú (KhKh 13:11-17). Chỉ có những người có dấu ấn của nó sẽ sống; tất cả những người khác sẽ bị đánh dấu để giết chết. Những người chống đối sự công nhận dấu của con thú sẽ không được tham gia vào những hoạt động thương mại. Con thú sẽ thực hiện việc bao vây kinh te,ï hủy diệt con đại dâm phụ, những hoạt động của nó sẽ chiếm ngự trong vòng bốn mươi hai của tuần lễ thứ bảy mươi. Vào cuối thời kỳ nầy sự phán xét sẽ rơi trên nước của nó. Và chính sự sụp đổ được báo trước nầy đang được công bố ở đoạn 18.
Câu 2 cho thấy mức độ của sự hủy diệt là là sự trừng phạt nghiêm khắc đối với Babylôn chính trị và thương mại. Đó là điều toàn bộ, cuối cùng và không thể nhân nhượng! Tội ngạo mạn, những hệ thống thế giới không kính sợ Đức Chúa Trời đang đi đến số phận kết thúc của nó. Tính say sưa nóng nảy của những tổ chức chính trị của con người trong suốt lịch sử khởi đầu từ thời Nimrốt cho đến thời đại của con thú đã phát sinh ra tinh thần độc lập và thách thức chống trả Đức Chúa Trời và luật pháp của Ngài, mục đích chính là dồn chứa sự giàu có của thế giới nầy. Bấy giờ, ngày báo oán đã đến.
Trước quang cảnh của sự xét đoán sắp đến, một lời kêu gọi cảnh cáo khác vang lên: ”Hỡi dân ta, hãy ra khỏi nó” (câu 4) và những lý do được nêu lên. Dân sự của Đức Chúa Trời phải chạy ra khỏi thành sắp bị hủy diệt đó nếu không sẽ đồng phần tội lỗi nó, mà chịu tai họa của nó. Lời kêu gọi tương tự được Giê rê mi loan báo: ”Hỡi dân ta, hãy ra khỏi giữa nó, ai nấy khá cứu mình” (Gie Gr 51:45. Lời nhắc nhở nầy ám chỉ rằng con thú đã không hoàn toàn thành công trong việc nhổ tận gốc rễ những tín hữu. Có người nói rằng thì giờ đến để chạy ra khỏi chợ Hư hoa thuộc linh, vì tội lỗi của Babylôn đã dồn lên đến tận trời. Và Đức Chúa Trời không thể quên nó (câu 5).
Tiếng nói từ trời vẫn tiếp tục, nhưng bây giờ chủ đề thay đổi. Bây giờ những thiên sứ thi hành sự trừng phạt được lệnh phải báo ứng cho thành nầy gấp bội (câu 6). Đây không phải là sự báo thù nhưng là sự báo ứng (hoàn lại). Babylôn đã làm đổ máu của những thánh đồ và tiên tri, và bây giờ nó sắp nhận cùng loại phần thưởng cho sự gian ác nham hiểm của nó. So sánh sự xa hoa mà nó huởng thụ trong sự ngạo mạn, tự tín, thì sự hoang vu sắp đến tiêu biểu cho sự thay đổi số phận tận gốc rễ (câu 7). Giống như việc nó nhanh chóng đạt được tiếng tăm, và quyền lực, thì cũng vậy sự sụp đổ của nó cũng nhanh chóng thể ấy.
Câu 9 và 10 cho chúng ta biết phản ứng của những nhà lãnh đạo thế giới đối với sự sụp đổ của thủ đô thế giới. Không ngờ được khi thấy rằng hình thức tối cao của trật tự chính trị, kinh tế, xã hội của con người lại đối diện với số phận khốn khổ thình lình như thế. Chúng ta ghi nhận rằng, dù họ than khóc cho số phận của Babylôn, nhưng họ không chạy đên để cứu nó. Trái lại họ đứng ngoài xa và than khóc cho số phận của nó.
Người ta bị lừa dối khi nhìn dáng vẻ bêân ngoài của nó. Giăng ghi nhận rằng trung tâm điều hành của thế giới dường như rất lớn và hùng mạnh, bên cạnh đó, quyền lực của Hội Thánh dường như vô nghĩa. Trong sự xa hoa của nó, dường như nó có thể thách thức Đức Chúa Trời và giết dân sự Ngài theo ý muốn mình. Nhưng, chỉ trong một giờ số phận của nó được phô bày. Bấy giờ, sẽ không còn người nào giúp đỡ nó, vì chúng đã từ khước Đức Chúa Trời và bày tỏ sự trung thành với con thú.
Những câu 11-19 đưa ra một bức tranh về phản ứng của những thướng gia trên đất về sự sụp đổ của Babylôn. Sự khóc lóc đau đớn của họ chẳng phải là vì sự thương hại cho số phận của Babylôn kiêu ngạo kia, nhưng vì số phận của Babylôn làm thiệt hại đến nền kinh tế của họ. Những nhà lãnh đạo chính quyền, những thương gia, những chủ nhân của phương tiện chuyên chở đều tham gia vào bản ai ca nầy. Và tại sao họ lại không than khóc được? Của cải của họ ở dưới đất là nơi sâu mọt và ten rét làm hư và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy. Họ đã mất tất cả, và bây giờ họ lại đối diện với một số phận tệ hại hơn: mất linh hồn.
Tuy nhiên, trái lại, các thánh đồ, sứ đồ và các tiên tri trên trời được động viên để vui mừng, vì Đức Chúa Trời đã binh vực sự công bình và thánh khiết của Ngài (câu 20). Trong những câu 21-24, Giăng nhìn thấy bức tranh về sự hủy diệt Babylôn. Một thiên sứ mạnh mẽ quăng hòn đá như cối xay lớn xuống biển, tượng trưng cho việc thành phố sẽ bị ném xuống biển giống như vậy. Số phận của Babylôn sẽ xảy ra vào cuối cơn đại nạn trong thời điểm không được biết trước. Kết quả, tại đây không còn tiếng âm nhạc và sự vui vẻ, xây cất, kỷ nghiệp điêu khắc, ánh sáng hay tiệc cưới. Từ điều nầy chúng ta thấy rằng thành phố sẽ bị chết: yên lặng và tăm tối.
Như vậy, với sự hủy diệt của Babylôn, con đường sẽ được mở ra cho sự trình bày chủ đề chính của sách Khải huyền: sự trở lại của Đấng Christ. Nhưng khi chúng ta rời khỏi đề tài về sự hủy diệt Babylôn, chúng ta tin rằng điều nầy nhắc nhở chúng ta rằng đoạn 18 nhấn mạnh về thái độ của thế giới đối với của cải vật chất. Chúng ta đang sống trong thời đại mà người ta xác quyết rằng của cải vật chất dù sao cũng mang lại hạnh phúc. Ngay cả Cơ đốc nhân cũng bị kừa dối để nghĩ rằng có nhiều của cải vật chất là bằng cớ cho thấy họ là người thuộc linh. Tuy nhiên, đây không phải là sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Chúa Jesus phán, ”Hãy coi chừng, và giữ mình khỏi mọi thứ tham lam ; vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu” (LuLc 12:15). Mat Mt 6:19-34, và ITi1Tm 6:3-11 tái nhấn mạnh lẽ thật nầy và cho chúng ta sự hiểu biết về những giá trị thuộc linh thật. Hơn nữa, mạng lịnh Chúa truyền cho chúng ta trong KhKh 18:4, ”Hỡi dân ta, hãy ra khỏi nó”, chứng tỏ rằng dân sự của Đức Chúa Trời không cần phải chia sẻ những giá trị của thế hệ cuối cùng. Nên nhớ: có của cải vật chất không phải là điều sai lầm, nhưng để chúng chiếm hữu chúng ta mới là điều sai lầm.
8. Babylôn thương mại hay chính trị có thể được nhận diện là
a. Thành phố, thủ đô hay trụ sở trung ương của chính phủ của con thú.
b. Trung tâm tôn giáo của kiên minh của thời kỳ cuối cùng.
c. Một thành phố mà Antichrist sẽ xây dựng và gọi nó là thủ đô của mình.
d. Một tinh thần hay một thái độ đồng nhất với những người ham thích vật chất.
9. Sự hủy diệt Babylôn được nêu hình ảnh ở Khải huyền 18 dụng ý đặc biệt là để giới thiệu số phận của
a. Tất cả những thành phố ham muốn vô độ.
b. Những giai cấp thương mại và người buôn bán ở trong xã hội.
c. Sự tái thiết và hồi sinh thành phố Babylôn lịch sử.
d. Sự tổ chức chính trị, văn minh thế tục của con người trong suốt lịch sử.
10. Babylôn thương mại, theo phần nầy, cho chúng ta một ví dụ trọn vẹn về
a. Hoạt động thương mại tinh vi cao độ của thời kỳ cuối cùng.
b. Khả năng của con người muốn làm trọn vẹn vị trí của mình trên đất .
c. Thái độ của người không tin Chúa với của cải vật chất.
d. Sự sống động thuộc linh thấp kém của những tín hữu thời kỳ cuối cùng.
11. Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả sự sụp đổ của Babylôn tương trưng điều gì.
SỰ TÁI LÂM CỦA ĐẤNG CHRIST.
Phần đầu của Khải huyền 19 tiếp tục với sự cảm tạ về sự hủy phá thành Babylôn. Đây là bài ca cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài đã xét xử con đại dâm phụ. Sự cảm tạ nầy tương phản với sự than khóc của những nhà lãnh đạo, thương gia, những người đi biển của Khải huyền 18, mà số phận của họ cũng tiêu trầm cùng với sự hủy diệt của thủ đô kinh tế của con thú. Từ điểm nầy trở đi, giọng văn của Khải huyền thay đổi. Từ sự khủng khiếp của cơn đại nạn, bây giờ độc giả chuyển sang thì giờ phước hạnh. Đoạn 19 mở ra biến cố lớn nhất chưa từng thấy: Đấng Christ tái lâm. Biến cố nầy phục vụ như chiếc cầu nối cơn đại nạn với Thiên Hi Niên.
CẢM TẠ VỀ SỰ PHÁN XÉT BABYLÔN.
19:1-5.
Với sự chống đối sự đạp đổ, và sự công bình của Đức Chúa Trời được binh vực, Giăng được nghe tiếng lớn của quần chúng rất đông từ trên trời, kêu rằng: ”Halêlugia”. Thật vậy, phần đầu của Khải huyền 19 nói về một sự ca ngợi vĩ đại ở trên trời. Chúng ta thấy rằng có một đám người rất đông tham gia cùng với hai mươi bốn con sanh vật. Ngoài ra trong câu 5, một cá nhân lớn tiếng ca ngợi và khuyên bảo mọi người kính sợ Đức Chúa Trời hãy ngợi khen Đức Chúa Trời.
Chúng ta xúc động khi thấy trong 19:1, chữ Halêlugia được sử dụng đầu tiên trong Tân Ước. Đó là Hy bá lai có nghĩa là ”ngợi khen Chúa”. Vì chữ nầy được dùng bốn lần trong đoạn nầy (câu 1; 3; 4; và 6), nên người ta có khuynh hướng nghĩ rằng 19:1-6 là bản hợp ca Halêlugia của Tân Ước. Đức Chúa Trời đáng được ngọi khen vì bản chất của Ngài cũng như công việc của Ngài. Ngài cai trị. Vì vậy, trong sự hiện hữu của Ngài lần đầu tiên con người có thể sống trong bầu không khí trọn vẹn dưới những điều kiện hoàn toàn công bình và bình đẳng.
Sự ngợi khen còn nói đến sự cứu rỗi, vinh hiển và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời. Trong mạch văn nầy sự ngợi khen có ý nghĩa rộng rãi hơn sự cứu chuộc cá nhân; nó liên quan đến sự bảo vệ an toàn của toàn thể chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Không những Đức Chúa Trời giữ lời hứa của Ngài và hoàn thành lời hứa cứu chuộc nhưng Ngài cũng còn phán xét cách công bình và trong lẽ thật. Ngài đã kết án hệ thống tôn giáo vốn làm bại hoại quả đất và Ngài đã báo thù huyết của những tôi tớ Ngài (câu 2).
Trong những câu nầy , phần lớn những người tham gia trong sự thờ phượng và cảm tạ đều được nhận diện rõ ràng. Tuy nhiên, tiếng nói phát ra từ ngai (câu 5), khuyến khích mọi đầy tớ kính sợ Đức Chúa Trời phải ca ngợi Ngài, có thể là cứu Chúa Jesus Christ. HeDt 2:12 vốn dựa vào Thi Tv 22:22-23, dường như nói tiên tri về việc Chúa Jesus sẽ hướng dẫn anh em mình ca hát ngợi khen Đức Chúa Trời. tiếng nói phát ra từ ngai ở KhKh 19:5 có thể hoàn thành lời tiên tri nầy.
12. Hãy nói lên những người dâng lên lời ca ngợi Đức Chúa Trời ở trên trời.
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
13. Chủ đề ca ngợi của những người ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời trong 19:5 là
a. Sự đạp đổ, sự chống cự của Satan và sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời.
b. Đặc tính và bản chất của Đức Chúa Trời, Đấng khởi đầu cứu chuộc loài người.
c. Sự cai trị của Đức Chúa Trời đã đến để bắt đầu một thời điểm chưa từng có trong lịch sử con người.
d. Những điều được đề cập ở trên a) b) và c).
e. Những điều được đề cập ở a) và c) mà thôi.
TIỆC CƯỚI CHIÊN CON.
19:6-10.
Câu 6 cho chúng ta cái nhìn khác về sự ca ngợi thiên thượng. Tiếng mà Giăng được nghe giống như tiếng của một đám đông rất nhiều người, giống như tiếng ào ào của một thác nước rất lớn, và như tiếng sấm lớn. Lời giới thiệu như thế thích hợp cho lời công bố rằng cuối cùng Đức Chúa Trời thành lập vương quốc của Ngài trên đất. Đám đông người trên trời đáp ứng với lời công bố bằng tiếng Halêlugia và ca ngợi Đức Chúa Trời.
Bây giờ tiếng nói từ ngai công bố tiệc cưới của Chiên Con, nhưng sự kiện nầy không được mô tả ở đâu cả. Lời tuyên bố chỉ nêu cách đơn giản là đến giờ xảy ra tiệc cưới. Tiệc cưới là cách nói ẩn ý chỉ về hành động cuối cùng của sự cứu chuộc khi Đức Chúa Trời ở với loài người. Ngài sẽ sống với họ sẽ là dân sự của Ngài. Hơn nữa, chính Đức Chúa Trời sẽ ở với họ đời đời.
Chữ dịch là lễ cưới (wedding) trong câu 7 cũng là chữ được dịch là tiệc cưới (weddig supper) trong câu 9. Chữ nầy được dùng 22 lần trong Tân Ước với ý nghĩa chủ yếu chỉ về tiệc cưới. Theo phong tục Trung Đông trong thời Tân Ước, tiến trình hôn nhân gồm mấy phần.
Trước hết, cha mẹ của đôi bạn sắp kết hôn xếp đặt giao ước hôn nhân. Chúng ta có thể nói cách dễ hiểu sự xếp đặt nầy là lễ đính hôn. Nếu giao ước nầy bị phá vỡ, thì cần phải có một sự li dị công khai (Mat Mt 1:18-19). Thứ hai, khi cha mẹ của đôi bên đồng ý cho đôi bạn tiến đến hôn nhân, thì chàng rễ phải đến tại nhà cô dâu để đem nàng vềnhà mình làm đám cưới. (Phong tục nầy phù hợp với ngụ ý của Chúa Jêsus trong Mat Mt 24:36 về thì giờ Ngài sẽ trở lại dưới sự kiểm soát của Cha Ngài. Như vậy, đến lúc Đức Chúa Cha nói đến giờ rồi, thì Chúa Con sẽ đến nhà Tân Phụ của Ngài và rước nàng về nhà mình). Thứ ba, có một bữa tiệc khoản đãi quan khách. Đó là giờ phút vui mừng nhất. Những ví dụ về tiệc cưới được tìm thấy trong Mat Mt 22:1-14. Bạn có thể liên tưởng đến việc Chúa Jêsus đã thực hiện phép lạ đầu tiên của Ngài tại một tiệc cưới ở Cana tại xứ Galilê (GiGa 2:1-11).
Những học giả đã bàn cải không biết tiệc cưới sẽ diễn ra tại đâu, tại trên trời hay sau khi Chúa Jêsus và Tân Phụ của Ngài trở lại quả đất. Nếu nó xảy ra tại trên trời, có lẽ xảy ra trong thời kỳ có cơn đại nạn đang trút xuống đất. Nhưng lời công bố ở đây dường như ám chỉ rằng việc nầy xảy ra sau khi Chúa Jêsus trở lại quả đất à đắc thắng Satan tại Hạtmaghêđon.
Một số học giả không tin rằng dân sự của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước sẽ là một phần của Tân Phụ của Christ. Họ khẳng định rằng dân sự của Đức Chúa Trời của thời Cựu Ước và Ysơraên ở trần gian sẽ là những quan khách ở tiệc cưới. Đối với chúng ta, rõ ràng rằng cả dân sự của Tân Ước và dân sự Đức Chúa Trời của Tân Ước tạo thành Tân Phụ của Christ. Dường như những quan khách được mòi ở tiệc cưới sẽ là thiên sứ và dân sự còn sót lại trên đất.
Liên hệ với tiệc cưới, chúng ta được biết cô dâu đã tự sửa soạn rồi (câu 7). Mặc dù sửa soạn thích hợp cho thiên đàng là sự tái sinh, vốn là công tác của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, nhưng còn phải có sự đáp ứng của con người. IGi1Ga 3:2-3 cho chúng ta sự ngụ ý về sự đáp ứng nầy và IICo 2Cr 7:1 xác nhận trách nhiệm đó.
Áo của cô dâu là chiếc áo do chàng rễ tặng. Đó là món quà Thiên thượng, tuy nhiên, những ai được đặc ân mặc chiếc áo nầy phải trải qua sự chịu đựng và bền đỗ trong đức tin mình (KhKh 14:12). Câu 8 thêm rằng ”vải gai mịn tức là việc làm công bình của các thánh đồ”. Chữ ở số nhiều ”những công việc” (acts) dường như gợi ý rằng chiếc áo của cô dâu được tạo thành bằng rất nhiều hành động trung tín vâng lời do những con người trung tín cho đến cuối cùng. Dù chúng ta được cứu không phải do việc làm của mình, nhưng sau khi chúng ta được cứu, công việc của chúng ta phải bày tỏ rằng có một sự thay đổi trong đời sống chúng ta.
Giăng được truyền lệnh để viết về phước hạnh của những người được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con. Dựa vào KhKh 3:20, chung dự một bữa ăn nói lên mức độ thân mật thực sự. Vì đây là lời mời Thiên thượng, nên những quan khách ở tại tiệc cưới nầy có ý nghĩa đặc biệt.
Sau những sự việc được bày tỏ, Giăng sấp mình nơi chân thiên sứ để thờ lạy, nhưng thiên sứ không cho phép. Thiên sứ cho biết rằng người cũng chỉ là tôi tớ đồng nghiệp với Giăng và nói rằng sự thờ phượng chỉ qui về một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Hãy chú ý câu 10 thế nào thiên sứ đã kết hợp lời chứng của Chúa Jesus với lời tiên tri. Câu nầy cho thấy rằng cả Kinh Thánh đều tập trung về Chúa Jesus Christ, mọi lời tiên tri đều nhấn mạnh chủ yếu vào Ngài.
14. Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả tiệc cưới của Chiên Con.
15. Theo phần thảo luận của chúng ta, điều nào trong những điều sau đây nhận diện chính xác về ý nghĩa của chiếc áo của cô dâu?
a. Áo của cô dâu tượng trưng cho sự xứng đáng để được cứu chuộc.
b. Nó tiêu biểu cho việc lành vốn là nền tảng của sự cứu rỗi của một người.
c. ÁÂo của cô dâu tiêu biểu cho những hành động vâng lời cách trung tín vốn là đặc điểm của đời sống tín hữu.
d. Vải gai mịn tiêu biểu cho sự thanh lịch của cô dâu đối chọi với sự thô lỗ của những người theo con thú.
SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐẤNG MÊSI CHIẾN SĨ.
KhKh 19:11-21.
Được học biết về tiệc cưới của Chiên Con, vốn nói trước về sự trở lại của Đấng Christ, bây giờ Giăng nhận được khải tượng về biến cố của sự trở lại của Ngài. Như bạn đã biết, chỉ có một khía cạnh của sự trở lại của Đấng Christ được nhấn mạnh: chiến thắng của Ngài trên các lực lượng gian ác. Ý niệm về Đấng Mêsi chiến sĩ (warrior-Messiah) được tìm thấy trong những tác phẩm tiên tri Cựu Ước (so sánh EsIs 13:4; 31:4; Exe Ed 38:1-39:29, Gio Ge 3:1-21 và XaDr 14:3), và trong văn chương Khải thị (apocalyptic literature). Bứctranh quan trọng nhất của ý niệm nầy được tìm thấy trong EsIs 1:6 là nơi nói về một chiến sĩ vô danh mặc chiếc áo nhuộm huyết, tiến ra trả thù những kẻ thù của Ngài. Ngài đạp trên bàn ép rượu của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, và áo của Ngài đã vấy máu của kẻ thù của Ngài. Nhưng trong tiến trình phán xét sự cứu rỗi của Ngài được lập cho những kẻ tiếp nhận Ngài. Như vậy, Giăng nhìn thấy Đấng Christ hiện đến như một chiến sĩ đắc thắng, mạnh mẽ mặc áo nhuộm trong huyết phá hủy mọi sức mạnh của kẻ thù.
Ý niệm Đấng Mê si Chiến sĩ phù hợp với sự dạy dỗ của Tân Ước. Chẳng hạn, trong IITe 2Tx 1:7-8, Phao lô nói về điều này như sau: ”Điều nầy sẽ xảy ra khi Chúa Jesus từ trời hiển hiện với các thiên sứ qua quyền năng Ngài giữa ngọn lửa hừng, để báo ứng cho những kẻ nhận biết Đức Chúa Trời, và kẻ không vâng phục Phúc âm của Chúa chúng ta là Jesus”. Tuy nhiên, ý niệm về Đấng Mêsi Chiến sĩ không loại bỏ ý tưởng thông thường của Cơ Đốc Nhân về sự tái lâm của Đấng Christ vốn là hy vọng phước hạnh của tín hữu. Trái lại, đó là chủ đề bổ túc cho những gì Phao lô tiếp tục trong những câu 9-10.:
Họ sẽ bị hình phạt diệt vong đời đời cách biệt với sự hiện diện của Chúa và vinh hiển của quyền năng của Ngài khi Ngài đến trong ngày đó để tỏ mình vinh diệu trong các thánh đồ Ngài, và lạ lùng trong mọi kẻ tin.
Đây là sự trở lại của sư tử của chi phái Giu đa, Vua của các vua, Chúa của các Chúa trước mặt Ngài mọi đầu gối sẽ qùi xuống. Lúc Chúa Jesus trở lại, Hạtmaghêđôn, trận chiến của mọi trận chiến sẽ xảy ra. Chúng tôi tin rằng khi bạn đọc đoạn nầy, bạn sẽ nhận biết ai có liên quan đến trận chiến, thứ tự của những biến cố trong chiến trận, và kết quả. Chúng ta hãy lướt qua những diễn tiến cách vắn tắt.
Thình lình Giăhg thấy trời mở. Chúa Jesus Christ hiện ra trước mặt ông đầy sự rực rỡ, oai nghi, thánh khiết. Biến cố nầy là cao điểm của chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Nó đứng trong vị trí hoàn toàn tương phản với những sự phán xét kinh khiếp đã xảy ra trước đó. Tại giớ phút cao điểm nầy, Con người sẽ trở lại, chiếu sáng bầu trời giống như tia chớp. Hết thảy dân cư trên đất sẽ than khóc vì cớ Ngài (KhKh 1:7). Sự than khóc của Ysơraên là sự ăn năn, trong khi đó, những người không tin sẽ khóc lóc vì sự khủng khiếp của sự phán xét thiên thượng sẽ xảy đến bất ngờ trên họ.
Giăng nhìn thấy Chúa chúng ta trở lại trên con ngựa trắng (ngựa bạch) (câu 11). Đây là biểu tượng của phong tục thời xưa, trong đó người thắng trận cỡi con ngựa bạch là một dấu hiệu chiến thắng. Một trong những danh xưng của Ngài là Thành Tín Chân Thật. Trong nội dung của đoạn văn nầy, danh hiệu nầy ám chỉ rằng chúng ta có thể tin cậy Ngài là Đấng luôn luôn giữ giao ước của Ngài. Ngài hiện đến bằng sự công bình, Ngài xét đoán và tranh chiến theo sự công chính. Vị tiên tri xác quyết rằng sự hình phạt giáng trên con thú và những kẻ theo nó không phải là sự bắt buộc hay là một hành động trả thù cá nhân, nhưng nó hoàn toàn phù hợp với sự công bằng và lẽ thật.
Mắt Ngài, chiếu sáng như ngọn lửa, nói về sự phán xét công bình trên tội lỗi (câu 12). Không điều gì có thể tránh khỏi cái nhìn thấu suốt của Ngài. Ngài đội nhiều vương miện của vua, như đã nói ở trước), ám chỉ rằng Ngài có uy quyền vô hạn. Phần ám chỉ về danh bí mật của Ngài có thể có nghĩa là danh xưng che dấu mọi tạo vật, hoặc có thể diễn đạt sự mầu nhiệm của Thân vị của Ngài. Chắc chắn sẽ có một sự mầu nhiệm về Cứu Chúa chúng ta và tâm trí hữu hạn của chúng ta không thể hiểu được điều nầy.
Ngài mặc áo nhuộm huyết tượng trưng cho sự chiến thắng của Ngài trong sự xung đột sắp đến (câu 13). Danh của Ngài, Lời của Đức Chúa Trời, nhấn mạnh rằng chính bản thân của Ngài là Lời của Đức Chúa Trời ưu việt par excelence hiện thân của toàn thể chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Ngài cũng là bản tuyên ngôn có uy quyền mà bởi đó mọi quốc gia trên thế giới bị phá hủy.
Những đạo quân ở trên trời thiết tưởng gồm có những người được chuộc, những người tử đạo, và những thiên sứ (câu 14). Đoạn KhKh 17:14 cho thấy những người đi theo Ngài là những kẻ được kêu gọi, lựa chọn, và trung tín. XaDr 14:5 chép: ”Bấy giờ, Giêhôva Đức Chúa Trời ta sẽ đến, hết thảy các thánh đồ sẽ ở cùng Ngài”. ÁÂo trắng và sạch nói về sự công bình. Kinh Thánh chẳng nói gì về vũ khí của họ hay sự tham gia của họ trong chiến trận, điều nầy chỉ thuộc về Đấng Mêsi mà thôi. Tuy nhiên, những người theo Ngài chung hưởng sự đắc thắng với Ngài.
Hoạt động của Đấng Mêsi Chiến sĩ được đưa ra trong ba ình ảnh ở câu 15. Thứ nhất, thanh gươm bén, tiêu biểu cho sự chiến thắng do quyền năng của một thanh gươm (xem EsIs 11:4). Đức Chúa Trời tạo dựng vũ trụ bằng lời phán. Ngài chỉ nói ra và vật được thành hình (SaSt 1:3 và tiếp theo HeDt 1:2). Tại đây sự phán xét cuối cùng được thực hiện qua lời của Đấng Mêsi. Thứ hai, hình ảnh của việc cai trị bằng cây gậy sắt ám chỉ về sự phá hủy, tiêu diệt hơn là sự cai trị cứng ngắc. Đay là cây gậy báo ứng, nó mạnh mẽ và không lay chuyển trong sứ mạng trừng phạt. Thứ ba, hình ảnh của việc Ngài đạp lò rượu ám chỉ về sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Một học giả nghiên cứu lời tiên tri đã nhận định ”Nơi nào ân điển bị hắt hủi, thì chẳng có sự mềm dẻo nào ngoài việc thẳng tay trừng trị của thiên thượng”.
Danh xưng VUA CỦA CÁC VUA VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA (câu 16) nhấn mạnh về sự toàn quyền trên vũ trụ của Ngài. Quyền cai trị cuối cùng của Ngài phải đến việc cai trị quả đất.
Câu 17-19 đưa chúng ta đến trận chiến Hạtmaghêđôn, vốn được thông báo ở KhKh 16:12-16. Tại đây chúng ta thấy rằng những linh của quỉ được dùng để lừa gạt các vua trên đất tham gia trận chiến. Rõ ràng sự hòa bình của Antichrist dễ vỡ, và có lẽ nó gần vỡ ra tại thời điểm nầy. Kinh Thánh cho chúng ta sự kiện để hỗ trợ cho ý tưởng rằng một cuộc chiến đấu sẽ tiếp diễn trong vương quốc toàn cầu ngay trước khi Đấng Christ tái lâm. Tuy nhiên, sự hiện ra của Chúa khi Ngài là thủ lãnh của những đạo quân trên trời, chắc chắn sẽ khiến những vương quốc trần gian quên đi mối bất hòa của mình và hiệp nhất để chống trả Ngài.
Trái với tiệc cưới lớn mà thánh đồ được mời đến, thì bây giờ những loài chim háu ăn tìm mồi được mời đến để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời. Giống như bửa tiệc lớn của Đức Chúa Trời. Giống như bửa tiệc được đề cập trong Êïxêchiên 39, tiệc nầy được Đức Chúa Trời cung cấp. Câu 18 đề cập đến thịt của mọi người. Điều nầy ám chỉ về những người đã nhận dấu của con thú (14:9-11).
Câu 19 mô tả sự đối đầu giữa Christ và Antichrist. Những gì chúng ta có ở đây không phải là sự chiến đấu tượng trưng trong đó sự chống đối từ từ bị đánh bại, nhưng là một sự của sự xung đột giữa những đạo quân của Đức Chúa Trời và những đạo quân của Satan. Câu 20-21 cho chúng ta biết về sự hủy diệt của con thú và tiên tri giả bị bắt và bị quăng xuống hồ lửa lưu hoàng đang cháy. Có người đã nhận định rằng con thú là hiện thân của quyền lực trần tục chống đối lại Hội Thánh, trong khi đó tiên tri giả tiêu biểu cho vai trò của tôn giáo giả trong việc thuyết phục người ta thờ lạy quyền lực của Antichrist. Cả hai- con thú và tiên tri giả là công trình tuyệt tác của Satan, sẽ cùng với chủ mình đi đến chỗ hình phạt đời đời.
Câu 21 tiết lộ sự hủy diệt của những đồng minh của Antichrist. Hiển nhiên có vô số người vẫn giữ tấm lòng cứng cõi không ăn năn. Họ chẳng trông mong gì ngoài việc đón nhận sự trừng phạt và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Đoạn nầy kết thúc bằng nốt nhạc rầu rĩ: hết thảy chim chóc đều no nê thịt của kẻ ác.
16. Trong sổ tay của bạn, hãy thảo luận vai trò của Đấng Mêsi chiến sĩ dựa vào KhKh 19:11-21 và liên hệ với sự dạy dỗ của Tân Ước.

Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước câu ĐÚNG, chữ S, trước câu SAI.
....1. Những bát thạnh nộ tiêu biểu cho sự kêu gọi cuối cùng của Đức Chúa Trời đối vời những kẻ không tin để họ ăn năn.
....2. Kết quả của những hình phạt qua việc trút bảy bát thạnh nộ, người ta sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời và tiếp nhận Đấng Mê si khi Ngài trở lại lần thứ hai.
....3. Ba ngôi của Satan sẽ hiển nhiên quy tụ những nhà lãnh đạo của thế giới tại Hạtmaghêđôn để đánh bại Chúa Jesus khi Ngài trở lại trên đất.
....4. Mặc dù Babylôn trong Khải huyền 17 thay thế cho tôn giáo giả và được tượng trưng bằng con đại dâm phụ, nhưng Babylôn trong đoạn 18 thay thế cho xã hội phản bội của Antichrist.
....5. Babylôn thương mại hình như tiêu biểu cho trụ sở trung ương của nhà cầm quyền thế giới sắp đến.
....6. babylôn giáo hội hiển nhiên sẽ có vai trò chính trong việc đem lại sự hiệp nhất toàn cầu.
....7. Tiệc cưới Chiên Con được mô tả đầy đủ trong Khải huyền, và cũng là thời điểm kết hợp với việc tín hữu được thưởng công việc của họ.
....8. ÁÂo cô dâu chỉ về sự trong trắng của nàng và sản phẩm của nàng trong phục vũ chàng rễ.
....9. Giăng mô tả sự tái lâm của Christ trước tiên như là một biến cố trong đó vai trò của Đấng Christ như là Đấng Cứu Thế và Đấng Chăn Chiên được nhấn mạnh.
10. Sự tái lâm của Đấng Christ là cao điểm của chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. c. Thái độ của người không tin Chúa với của cải vật chất.
2. d. Đi theo những sự phán xét trước kia vào đúng thời điểm.
3. Vì nó tiêu biểu cho những sự trừng phạt cuối cùng của Đức Chúa Trời trên con người trong thời kỳ đại nạn và bày tỏ sự thạnh nộ của Ngài.
4. c. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
5. e. Chỉ những câu a) và b) tiêu biểu cho sự nổi bật nầy cách chính xác.
6. b. Đánh bại Chúa Jesus Christ khi Ngài trở lại quả đất. 15. c. ÁÂo của cô dâu tiêu biểu cho những hành động trung tín vâng lời vốn là đặc điểm của đời sống tín hữu.
7. c. Người ta trở thành cứng lòng hơn trong tội lỗi mình và ngạo mạn cùng Đức Chúa Trời.
8. a. Thành phố, thủ đô hay trụ sở trung ương quốc tế của chính phủ của con thú.
9. d. Tổ chức chính trị, văn minh thế tục của con người trong suốt lịch sử.
11. Câu trả lời của bạn có thể ghi nhận rằng hình thức cuối cùng của thế chiến chính trị, xã hội và kinh tế của con người tất phải chịu sự sụp đổ không thể thay đổi được. Như chúng ta đã thấy trong Đaniên đoạn 2 và 7, chính quyền của con người phải được thay thế bằng vướng quốc của Chúa Jesus Christ chúng ta. Con người trần tục tưởng rằng họ có thể tiến hóa thẳng lên, tuy nhiên sự thật cho thấy rằng con người vẫn bị bản chất tội lỗi chế ngự, và vị trí của con người vàng tệ hại hơn cho đến cuối cùng. Đức Chúa trời có một giải pháp duy nhất cho vấn đề nầy mà chúng ta sẽ thấy ở phần sau của bài học nầy.
12. Bạn có thể ghi nhận là có một đám đông rất lớn hai mươi bốn trưởng lão, và bốn con sanh vật thờ phượng Đức Chúa Trời. Bạn có thể nói thêm rằng Chúa của chúng ta có lẽ cũng đã động viên họ trong sự thờ phượng.
13. d. Những điều được đề cập ở trên a) ; b) và c).
14. bạn có thể ghi nhận rằng tiệc cưới Chiên Con được thông báo trong Kinh Thánh, nhưng không mô tả. Đó là thì giờ đoàn tụ trong đó Đấng Christ và dân sự của Ngài sẽ kết hợp. Nó sẽ xảy ra khi Đức Chúa Trời nhận thấy đúng lúc rồi. Chỉ có những người được mời đến mới đến, nghĩa là những ai có đời sống được ân điển của Đức Chúa Trời biến đổi. Những người vốn là bộ phận của Tân phụ được mang đặc điểm bằng đặc điểm bằng sự trong sạch và nhiệt tình hoạt động cho Chàng Rễ.
16. Bạn có thể ghi nhận rằng Chúa chúng ta vừa là tác nhân của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và là sự hoàn thành hy vọng của tín hữu. Chúng ta thấy Đấng Christ đã thực hiện sự trừng phạt khốc liệt cho kẻ ác, nhưng Ngài là nguồn an ủi và là sự vinh hiển cho dân sự Ngài là những người chứng kiến sự công bình trọn vẹn về sự cai trị của Ngài.
Sự Cai Trị 1000 Năm Của Đấng Christ và Về Sau
Bài 13 đưa chúng ta qua giai đoạn chót của thời kì đại nạn. Chúng ta đã thấy những sự phán xét qua việc trút những bát thạnh nộ, và tác động của những điều đó tên nhân loại vào thời điểm nầy. Chúng ta cũng khảo sát sự sụp đổ của Babylôn thương mại hay chính trị- nhấn mạnh về sự ca ngợi tiếp theo sau khi Đức Chúa Trời thi hành sự phán xét công bình của Ngài, tiệc cưới Chiên Con, sự tái lâm của Đấng Christ, và trận chiến Hạtmaghêđôn. Bây giờ chúng ta chuyển sang nội dung của KhKh 20:22.
Sau khi phá hủy vương quốc của Satan và đồng minh của nó, Chúa Jesus sẽ cai trị trên đất bằng cây gậy sắt. Dân Ysơraên còn sót lại sẽ hưởng phần đất Đức Chúa Trời đã ban cho Ápraham. Và dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đồng cai trị với Chúa Jesus như đã báo trước bởi bốn con sinh vật và hai mươi bốn trưởng lão (5:10). Đây là thời đại hoàng kim mà con người hằng mong ước kể từ khi bị trục xuất khỏi vườn Eđen. Tuy nhiên, Thiên Hi Niên sẽ chấm dứt. Sau đó, sau khi Satan phản loạn trong thời gian ngắn, tình trạng vĩnh cửu mới bắt đầu, và tín hữu sẽ ở đời đời với Chúa của mình. Một cao điểm thích hợp làm sao khi chúng ta được nghiên cứu về các sách Đaniên và Khải huyền.
Thiên Hi Niên.
Satan bị xiềng.
Sự sống lại thứ nhất.
Những quan điểm về Thiên Hi Niên.
Sau thời kì Thiên Hi Niên.
Satan nổi loạn.
Sự phán xét cuối cùng.
Trật tự mới.
Trời Mới Đất Mới.
Giêrusalem Mới.
Tái Bút về sự Tái Lâm của Chúa Jesus.
Phước hạnh, những lời khuyên và động viên.
Học xong bài nầy bạn có thể:
• Nhận diện những điều kiện sẽ tồn tại trong thời đại Thiên Hi Niên, và trạng thái của Chúa chúng ta, dân sự của Chúa chúng ta, dân sự của Ngài và Satan trong thời kì nầy.
• Thảo luận những biến cố sẽ xảy ra hay những điều kiện sẽ hiện hữu ở lúa khởi đầu, trong thời gian đó và ngay sau thời gian Thiên Hi Niên.
• Công nhận những điểm chính của ba quan điểm về Thiên Hi Niên.
• Công nhận những lời khuyên, những phước hạnh và những điều động viên được ban cho Giăng và ý nghĩa của nó.
1. Tiến hành việc học tập như những bài trước và làm bài tập trắc nghiệm khi bạn học xong phần triển khai bài học.
2. Tuân theo phần chỉ dẫn trong túi dành cho học viên để ôn những bài học từ 12 đến 14. Rồi hoàn tất phiếu trả lời của bản đánh giá tiến trình học tập đơn vị 4, và gởi bài cho vị trợ giáo của bạn. Nếu bạn chưa chuẩn bị làm bài kiểm tra cuối khóa, thì bây giờ hãy xin vị trợ giáo của bạn xếp đặt.
3. Soạn lại cả loạt bài học để chuẩn bị bài kiểm tra cuối khóa. Xem những lời chỉ dẫn đặc biệt trong túi dành cho học viên.
Bóp méo (distortion)
Canh tân (renovated)
Giam cầm (detention)
Hùng vĩ (grandeur)
Hối hận (remorse)
Nhất thời (transitory)
Nhận thức (authenticate)
THIÊN HI NIÊN.
Theo tựa đề của bài học nầy, chúng ta sẽ khảo sát hai chủ đề chính có liên quan đến Thiên Hi Niên. Phần thứ nhất sẽ liên quan đến Thiên Hi Niên, và phần thứ hai sẽ bàn về những biến cố xảy tiếp sau đó. Phần nầy cũng nhấn mạnh đến những vấn đề phán xét và ban thưởng, bản chất của sự sống sau khi Chúa tái lâm, bản chất và tình trạng đời đời cho những người được ban phước và những kẻ bị kết tội, nơi ở dành cho những kẻ bị kết tội và của những người được cứu chuộc. Cùng với những đề tài nầy còn có những lời khuyên bảo, và những lời cảnh cáo thích hợp để hoàn tất nội dung cuốn sách.
SATAN BỊ XIỀNG.
20:1-3.
Ở phần kết luận của Bài 13 chúng ta thấy những gì xảy ra cho Antichrist và tiên tri giả. Bây giờ Giăng nhìn thấy điều xảy ra cho thành viên thứ ba của ba ngôi của Satan là Satan. (Bạn có thể nhận thấy ở đây tên lãnh đạo gian ác nầy cũng được gọi bằng bốn tên như được dùng ở 12:9). Một thiên sứ từ trời xuống, bắt Satan, và xiềng nó lại trong một ngàn năm. Rõ ràng sự mô tả sống động ở đây được dùng bằng ngôn ngữ tượng trưng và liên quan đến việc kiềm chế tận gốc quyền lực và hoạt động của Satan. Hoặc, theo sự nhận định của một học giả, Satan không những bị hạn chế, nhưng nó được tạo nên hoàn toàn thụ động. Khi Satan bị xiềng sẽ không còn có chiến trận thuộc linh nữa. Việc kẻ cám dỗ bị xiềng sẽ làm cho sự hòa bình và an ổn mà các tiên tri đã nói trước có thể thực hiện được (như chúng ta sẽ thấy); kết quả thời đại Thiên Hi Niên có thể bắt đầu. Vì thế, thời đại vinh hiển nầy nổi bật sự tương phản với cơn đại nạn ở trước đó và sự phản nghịch ở sau nó.
Kết quả của việc Satan bị giam cầm ấy là nó không thể nào lừa dối những nước trong thời kì nầy. Một sự hòa bình toàn cầu sẽ là một thực tế- chứ không phải là mục tiêu. Sau đó nó sẽ được thả ra, và đúng với bản chất của nó, nó sẽ trở lại bằng những cách lừa dối của mình.
1. Hãy ghi ra một tình trạng thuộc linh đáng để ý sẽ hiện hữu trong thời đại Thiên Hi Niên và tại sao điều ấy có được.
................................................................................................................................................................................................................................................................................
SỰ SỐNG LẠI THỨ NHẤT.
20:4-6.
Câu 4 là một câu khó giải thích nhất, nó bao gồm hai nhóm người: 1) Nhóm người được nhận diện là họ được ban cho quyền xét đoán, và 2) Những người đã tiếp nhận Đấng Christ trong cơn đại nạn. Một số người tin rằng nhóm thứ nhất gồm có hai mươi bốn trưởng lão mà chúng ta đã thảo luận ở Khải huyền đoạn 4 và 5 và thấy bằng cớ cho quan điểm nầy ở LuLc 22:29-30. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh chung của Kinh Thánh ấy là tất cả những người đắc thắng sẽ cùng đồng trị với Đấng Christ (KhKh 5:9-10; DaDn 7:27; và ICo1Cr 6:2). Vì bằng cớ không được rõ ràng nên chúng ta phải chờ đợi và xem thế nào.
Giăng nói về những linh hồn của những Thánh tử đạo, “Họ đều được sống và đồng làm vua với Đấng Christ một ngàn năm” (câu 4). Ý nghĩa của chữ được dịch là được sống (came to life) đã khiến cho nhiều người giải thích có nhiều nan đề. Những người theo thuyết bất Thiên Hi Niên (amillennialists), mà chúng ta sẽ khao khát một ít, thấy rằng đây là “sự sống lại thuộc linh” của những linh hồn của những người công bình khi chết. Tuy nhiên, chữ tương tự như thế trong tiếng Hi lạp được dịch là sự sống lại của thân thể (bodily resurrection) trong GiGa 11:25; RoRm 14:9; KhKh 1:18; 2:8; và 13:14. Kết quả, nhiều học giả tin rằng đây là ý nghĩa của 20:5.
Hoặc những người trong nhóm thứ hai nầy được sống lại vào thời điểm đó, hay những người được nói đến ở 7:9-17 hoặc trong mùa gặt của đoạn 14:14-16, thì vấn đề tranh luận vẫn ở trong vòng những học giả. Trong bất kì trường hợp nào, thì bây giờ họ đã sống lại và đồng trị với Đấng Christ.
Trong câu 5 cũng nêu lên một vấn đề tranh luận nữa, “hãy là sự sống lại thứ nhất”. Những người tin rằng Hội Thánh sẽ trải qua cơn đại nạn dựa vào điểm nầy làm bằng cớ để nói rằng đến thời điểm nầy thì chưa có ai được sống lại từ trong kẻ chết. Tuy nhiên, chúng ta có hai chứng nhân được sống lại từ trong kẻ chết trước sự kiện nầy rất lâu và họ được cất lên trời (11:11-12). Rõ ràng, một câu nầy cho chúng ta thấy cách minh bạch rằng đây không phải là ý nghĩa của câu nói để thắc mắc. Hơn nữa, 20:6 ám chỉ rõ về sự liên hệ đến sự chết thứ hai (tức là hồ lửa câu 14), đó là sự sống lại thứ nhất chỉ liên quan đến những người công bình mà thôi và đó là sự phục sinh để hưởng sự sống đời đời.
So sánh câu 4 và 5 chúng ta thấy rằng có hai loại của sự sống lại: loại thứ nhất có liên quan đến sự sống lại của người công bình, và loại thứ hai có liên quan đến kẻ ác. Tân Ước không đưa ra sự dạy dỗ rõ ràng về sự sống lại lưỡng diện nầy, dù nó có ám chỉ điều nầy (GiGa 5:28-29). Hiển nhiên sự sống lại thứ nhất bao gồm tất cả dân sự của Đức Chúa Trời, kể cả những người tử đạo; vì thế, những người chết còn lại phải gồm tất cả những người không biết Đấng Christ. Nhóm thứ hai sẽ sống lại sau thời đại Thiên Hi Niên, và điều nầy được mô tả ở câu 12, khi những người chết còn lại được sống lại để ứng trước ngai của Đức Chúa Trời để chịu phán xét.
Câu 6 công những phước hạnh dành cho những ai dự phần trong sự sống lại thứ nhất. Theo HeDt 9:27, sự chết thứ nhất là sự chết được chỉ định cho tất cả mọi người (trừ những người đang sống khi Đấng Christ tái lâm). Sự chết thứ hai được đề cập ở đây là sự chết đời đời (hãy xem câu 14, và Mat Mt 10:28 khi sự chết của thân thể và linh hồn được đối chiếu phân biệt). Phước hạnh của những người có phần trong sự sống lại thứ nhất là họ sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ. Một học giả Kinh Thánh giải thích rằng họ làm thầy tế lễ vì họ được đến gần sự hiện diện của Đức Chúa Trời và cùng cai trị với Ngài trong vương quốc Thiên Hi Niên.
Trước khi chúng ta rời phần nầy, hãy ghi nhớ điều nầy, hãy ghi nhớ điều nầy: Hiển nhiên những người được phước là những người có thân thể phục sinh; trong khi đó, dân cư của các nước 9 câu 8) vẫn có thân thể tự nhiên. Điều nầy không làm khó chịu ai cả, vì Chúa chúng ta đã sống giữa các môn đồ của Ngài trong bốn mươi ngày bằng thân thể phục sinh của Ngài. Đây là một trong những điều mầu nhiệm đang chờ chúng ta trong trạng thái vinh hiển.
2. Những người dự phần trong sự sống lại thứ nhất được nhận diện cách chính xác trong Kinh Thánh là
a. Những kẻ gian ác đã chết nay được sống lại để đối diện sự phán xét.
b. Dân sự của Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước.
c. Hội Thánh, thân thể của Đấng Christ.
d. Những người công bình, kể cả những người tử đạo trong thời kì đại nạn.
3. Theo phần thảo luận của chúng ta, trong thời đại Thiên Hi Niên, chúng ta được biết hoạt động mà những người chết được sống lại tham gia là
a. Chia sẻ sự cai trị trong vương quốc Thiên Hi Niên.
b. Hòa giải những quốc gia có chiến tranh.
c. Truyền giảng cho thế giới để sửa soạn cho tình trạng đời đời.
d. Dự tiệc cưới Chiên Con suốt một ngàn năm.
NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ THIÊN HI NIÊN.
Đến đây, chúng ta thấy cần phải định nghĩa từ ngữ Thiên Hi Niên vốn là điểm nhấn mạnh chính của phần nầy. Đó là một thuật ngữ Thần học, rút ra từ hai chữ La tinh mille, thiên (một ngàn), và annum (niên-năm). Chữ nầy được đặt dựa vào cụm từ “một ngàn năm” trong những câu 2; 3; 4; 5; 6; và 7 của Khải huyền 20. Nó thường được dùng để chỉ về thời kì cai trị một năm của Đấng Christ trong tương lai có liên quan đến sự thiết lập vương quốc trên cả Ysơraên.
Vấn nạn liên quan đến “ngàn năm”, vốn phát xuất từ đoạn 20, đã dấy lên sự tranh cãi không dứt trong Hội Thánh. Thật vậy, nhiều hệ thống giải thích khác nhau liên quan đến những biến cố của thời kì cuối cùng đã có huynh hướng đồng nhất với cách mà họ quan niệm về Thiên Hi Niên. Mặc dù có nhiều quan điểm chính và có sự khác biệt của những quan điểm về Thiên Hi Niên tồn tại nhưng chúng ta sẽ khảo sát ba trong số những quan điểm thịnh hành nhất và sự nhấn mạnh chính yếu của mỗi quan điểm: Thuyết Tiền Thiên Hi Niên, Thuyết Hậu Thiên Hi Niên, và Thuyết Vô Thiên Hi Niên.
Những người theo Thuyết Vô Thiên Hi Niên (hay Bất Thiên Hi Niên- Amillen nialist) không tin rằng có một Thiên Hi Niên theo nghĩa đen. Theo quan điểm của họ, một ngàn năm là con số tượng trưng và tiêu biểu cho thời kì giữa sự phục sinh của Đấng Christ và sự Tái lâm của Ngài. Những phần tường thuật về những biến cố diễn tiến liên tục trong sách Khải huyền không hỗ trợ cho quan điểm nầy. Trái lại, họ tin rằng quan điểm của họ tóm tắt những điều đã xảy ra, chẳng hạn như trong chức vụ của Chúa. Theo họ, việc xiềng và cầm tù Satan trong một ngàn năm (20:1-3;) được đồng nhất với sự chiến thắng của Chúa chúng ta trên Satan trong lúc Ngài thi hành chức vụ tại trần gian.
Những người theo Thuyết Hậu Thiên Hi Niên (Post millennialists) tin rằng Phúc âm sẽ đắc thắng và Chúa Jesus Christ sẽ tái lâm khi Hội Thánh chuẩn bị cho thế gian sẵn sàng nghinh tiếp Ngài. Đối với những người nầy, Thiên Hi Niên được nhìn như là sự chiến thắng cuối cùng của Phúc âm trong thời đại hiện tại. Họ tin rằng qua sự rao giảng Phúc âm thế giới càng ngày càng tốt đẹp. Đối với những người theo Thuyết Hậu Thiên Hi Niên, thì khải huyền 19 không phải là hình ảnh của sự tái lâm của Đấng Christ. Trái lại, theo cách tượng trưng đó là sự chiến thắng của những nguyên tắc Cơ Đốc trong công việc nội bộ của con người và sự chiến thắng của Đấng Christ qua Hội Thánh. Tuy nhiên, không có chỗ nào trong Kinh Thánh mô tả việc rao giảng Phúc âm sẽ đem lại thời đại hoàng kim cho nhân loại, Phúc âm sẽ được loan báo (Mat Mt 24:14), nhưng khi ngày cuối cùng đến, nó sẽ được trình bày vì cớ sự bội đạo chứ không phải sự phục hưng toàn cầu (IITi 2Tm 3:1-5).
Những người theo Thuyết Tiền Thiên Hi Niên ( Premillennialists) tin rằng những biến cố được ghi ở KhKh 20:1-15 ám chỉ hoàn toàn về thời kì cuối cùng. Họ tin rằng sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ sẽ xảy ra sau khi satan bị xiềng và bị cầm tù, và sự phục sinh của người công bình, là những người sẽ tham gia với Chúa trong sự cai trị của Ngài trong vương quốc tạm thời trên đất. Thời đại vương quốc nầy sẽ chấm dứt khi Satan nổi loạn lần chót và sự phán xét cuối cùng.
Sự khác nhau của quan điểm nầy thuộc về Thuyết Thời Đại (dispen sationalism). Những người theo thuyết thời đại tin rằng vương quốc Thiên Hi Niên là một khía cạnh trong kế hoạch thần quyền của Đức Chúa Trời. Người ấy cảm nhận rằng “thời đại vương quốc” (kingdom age) là sự ứng nghiệm lời hứa được ban cho Đavít rằng nước người sẽ tồn tại đời đời. Người ấy cho rằng 1000 năm chỉ là một thời gian hiểu theo nghĩa đen. Hơn nữa, người ấy xem đó là một thời kì mà Đấng Christ sẽ cai trị thực sự trên đất như là nhà cai trị tối cao. Ysơraên sẽ chiếm vị trí nổi bật trong vương quốc nầy, và dân ngoại cũng sẽ được phước. Sự nổi bật của quan điểm nầy ấy là sự khôi phục chức vụ tế lễ, những của lễ hi sinh và những lễ nghi được nói đến trong Exe Ed 40:48. Hơn nữa, những người theo thuyết thời đại không thấy bất kì khía cạnh thuộc linh nào của vương quốc được hoàn tất trong Hội Thánh.
Mặc dù những câu 4-6 cho chúng ta vài tài liệu về Thiên Hi Niên, nhưng những phần Kinh Thánh khác cho chúng ta những đặc điểm của thời kì đại vương quốc nầy. Hình thức cai trị sẽ là thần quyền vì Christ sẽ cai trị, và thủ đô của vương quốc của Ngài sẽ là Giêrusalem. Như vậy, Đấng Christ sẽ có một trụ sở trung ương tại trần gian ở thành Thánh và đất thánh. Những đặc tính khác sẽ như sau: sẽ có:
1. Sự hòa bình toàn cầu (Thi Tv 46:9), EsIs 2:4, 9:6-7, MiMk 4:3-4).
2. Sự thịnh vượng toàn cầu (EsIs 65:21-24, AmAm 9:13-15, MiMk 4:4-5).
3. Sự chính trực toàn cầu (EsIs 11:3-5, Gie Gr 23:5).
4. Sự nhận biết Chúa khắp toàn cầu (EsIs 11:9, HaKb 2:14, XaDr 8:22-23).
5. Trái đất được khôi phục lại tình trạng ban đầu đầy hoa quả (EsIs 35:1-2, AmAm 9:11, 13-15; Exe Ed 36:8-12).
6. Không có bản chất hung dữ nơi loài vật (EsIs 11:6-9).
7. Có sự thay đổi trong việc quả đất tiếp nhận ánh sáng của mặt trời và mặt trăng (30:26).
8. Tuổi thọ của con người được kéo dài (65:20-22).
Còn có thêm nhiều đặc tính của thời đại Thiên Hi Niên được ghi trong XaDr 8:4, 12-13, 16-21. Những đoạn 40-48 của sách Êxêchiên cho chúng ta sự mô tả chi tiết về Ysơraên sau khi dân Ysơraên trở về cùng đất hứa ban cho Ápraham. Thiên Hi Niên mới có thể làm ứng nghiệm lời hứa nầy, và sau thời kì Thiên Hi Niên, hậu tự của Ápraham sẽ ở trong đất nầy đến đời đời. Đức Chúa Trời giữ lời hứa của Ngài.
4. Chữ Thiên Hi Niên (Millennium) phát xuất từ chữ la tinh có nghĩa
.......................................................................................................................................
5. Hãy xếp cho phù hợp mỗi quan điểm chính về Thiên Hi Niên với phần mô tả quan điểm đó.
....a. Chúa Jesus sẽ trở lại khi thế giới sẵn sàng đón tiếp Ngài.
....b. Thế giới sẽ kinh nghiệm sự cai trị của Đấng Christ trong một ngàn năm hiểu theo nghĩa đen, sau khi Ngài tái lâm.
....c. Thế giới sẽ không kinh nghiệm theo nghĩa đen sự cai trị 1000 năm của Đấng Christ trên đất. Khải huyền đã tóm tắt những biến cố đã xảy ra rồi.
....d. Khải huyền 20 hướng về sự ứng nghiệm trong tương lai. Như vậy, sự tái lâm của Christ xảy ra sau khi Satan bị xiềng và bị cầm tù cũng như sau khi người công bình được sống lại để đồng trị vì với Đấng Christ 1000 năm.
6. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu nói ĐÚNG.
a. Đấng Christ sẽ cai trị thế giới trong thời đại Thiên Hi Niên, và hình thức cai trị mà Ngài sẽ là đầu được gọi là thần quyền.
b. Theo Kinh Thánh, Babylôn sẽ ngôi của sự cai trị của Đấng Christ trong thời đại Thiên Hi Niên.
c. Dựa vào chúng ta đã học về Thiên Hi Niên, chúng ta có thể phỏng đoán rằng sẽ không có sự thất nghiệp, không chiến tranh, không có sự bất công và không có sự nghèo khổ.
d. Quả đất sẽ được khôi phục trở lại tình trạng đầu tiên đầy hoa quả và cuộc sống con người sẽ kéo dài ra.
e. Người Ysơraên sẽ chiếm hữu phần đất được ban cho Ápraham từ thời điểm nầy trở đi cho đến đời đời.
SAU THỜI ĐẠI THIÊN HI NIÊN.
Ở phần sau của đoạn 20, chúng ta khảo sát hai vấn đề quan trọng xảy ra sau thời đại Thiên Hi Niên: Satan nổi loạn lần chót, và sự phán xét cuối cùng. Những đề tài nầy cho phép chúng ta tập trung sự chú ý của mình vào số phận cuối cùng của Satan và của những người bị nó lừa dối.
SATAN NỔI LOẠN LẦN CHÓT.
KhKh 20:7-10.
Giăng ghi nhận rằng một khi Satan được thả ra, nó lập tức phất cờ nổi loạn, không phí phạm một chút thì giờ nào. Nó thực hiện sự lường gạt các nước ở bốn phương trên đất. Những người mà nó cố lừa dối hiển nhiên là những thánh đồ sống sót sau cơn đại nạn và con cái của những người được sống trong thời đại Thiên Hi Niên. nhìn bề ngoài, những người nầy có vẻ như thần phục sự cai trị của Đấng Christ và vâng lời. Tuy nhiên, ở bên trong, sẽ không có sự đầu phục cách thực tế, kết quả, khi Satan được thả ra thì nhiều người trong số đó sẽ theo Satan để phản loạn cùng Đức Chúa Trời.
Từ phần kí thuật ở đây, dường như rất đông người sẽ đi theo Satan trong cuộc nổi loạn nầy (câu 8). Tuy nhiên, chưa có cuộc chiến thực sự xảy ra, vì khi chúng bao vây dinh thánh đồ, thành thánh mà Ngài yêu mến, thì Đức Chúa Trởi can thiệp và tiêu hủy toàn lực lượng phản loạn (câu 9). Như vậy, chỗ đứng cuối cùng của Satan sẽ trở nên tấm kịch lịch sử, và cùng với con thú và tiên tri giả, nó sẽ bị quăng xuống hồ lửa lưu hoàng cho đến đời đời (câu 10).
Trong quang cảnh có nhiều người hỗ trợ cho Satan trong việc nổi loạn nầy, chúng ta tự hỏi, “Tại sao Đức Chúa Trời lại thả Satan ra?” Biểu hiện rõ ràng ấy là có thể Đức Chúa Trời thả Satan ra vì những người ra đời trong thời gian Thiên Hi Niên không có cơ hội chọn lựa hoặc sống với Đấng Christ hay chống lại Ngài. Bạn có thể liên tưởng 19:15; và những đoạn Kinh Thánh cho thấy Chúa chúng ta sẽ cai trị các quốc gia nầy bằng cây gậy sắt. tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn cho mọi người có quyền tự do chọn lựa.
Con người máy (robot) không thể yêu; tình yêu là vấn đề chọn lựa. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và điều nầy bao gồm khả năng chọn lựa. Suốt cả Kinh Thánh Đức Chúa Trời cho phép con người có quyền chọn người mình phục vụ. Ađam và Êva đã quyết định chọn lựa, và mỗi người trong trật tự của Ađam đều được quyền chọn lựa hoặc tin cậy Đức Chúa Trời, hoặc chống nghịch Ngài. Sự hiện diện của Satan trong vòng những người sinh trưởng trong thời kì Thiên Hi Niên sẽ cho họ có cơ hội chọn lựa. Theo một ý nghĩa, kết quả là một kết luận biết trước. Con người vẫn còn thích sống theo đường lối riêng của mình. Thật vậy, vô số con người của thế hệ đó sẽ phó mình cho sự cám dỗ và bao vây thành thánh để thách thức quyền tể trị Thiên Thượng trên đất nầy. Nhưng trước khi chúng có thể gây chiến, thì chúng bị lửa từ trời rơi xuống thiêu nuốt chúng và nổ lực phản loạn bị sụp đổ hoàn toàn (câu 9).
7. Trong sổ tay của bạn hãy ghi cho biết tại sao Satan được thả ra, và hậu quả của điều nầy.
SỰ PHÁN XÉT CUỐI CÙNG.
20:11-15.
Bây giờ chúng ta đến sự phán xét cuối cùng, sự sống lại thứ hai, và sự phán xét cùng kết tội những kẻ ác đã chết. Trong giai đoạn nầy của Khải tượng, Giăng nhìn thấy trời và đất trốn khỏi sự oai nghiêm của Đức Chúa Trời khi Ngài ngồi trên Ngai phán xét của Ngài. Một học giả Kinh Thánh đã ghi nhận rằng vì trời đất trốn khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời nên chẳng còn một chỗ nào cho một vũ trụ đang run rẫy. Giống như tác giả Thi thiên, mọi người đều ý thức rằng không có chỗ nào để con người có thể trốn khỏi sự hiện của Đức Chúa Trời (Thi Tv 139:7).
Tất cả những người chết ở mọi lối đi của cuộc đời và ở mọi mức độ quan trọng đều xuất hiện trước ngôi. Vì họ đang đứng, nên chúng ta có thể đoán rằng họ biết trước những sự phán quyết và đang chờ án lệnh. Không có sự sai lầm nào cả. Mỗi người bị xét xử dựa vào cơ sở của những hành động của mình. Tất cả đã được ghi lại, bản ghi đó không nói dối. Nhưng ngoài những nền tảng khác để xét đoán: Sách sự sống. Những ai không được ghi tên trong sách sự sống nầy thì bị kết án chết đời đời và bị quăng xuống hồ lửa.
Vấn đề phán xét ở đây không làm cho chúng ta nhầm lẫn. Những gì được nhấn mạnh ở điểm nầy ấy là sự cứu chuộc không do việc làm, nhưng việc làm là bằng cớ của sự cứu chuộc. Chúng ta được cứu bởi ân điển qua đức tin, nhưng đức tin luôn luôn được biểu lộ qua những công việc nó phát sinh.
Trong những câu 13 và 14 Sự Chết và Âm phủ được nhân cách hóa, giống như chúng ta được nhân cách hóa ở KhKh 6:7-8. Khi bạn đọc về Âm phủ (Hades), bạn có nghĩ về những người ở đó được sống lại không? Đó là tư tưởng rất trầm tĩnh, tuy nhiên, chỉ có những ai đã chết ở trong tình trạng chưa được cứu sẽ ở đấy.
Bây giờ Sự Chết và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa ám chỉ không những là sự trừng phạt nghiêm khắc chờ đợi những kẻ thù của người công bình nhưng còn là sự thất bại cuối cùng của chúng. Đó là sự chết thứ hai, nghĩa là số phận của những người tạm thời được sống lại để rồi lãnh hậu quả là rơi vào sự chết và sự hình phạt đời đời.
8. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Sự phán xét cuối cùng là sự phán xét chung cho mọi người đã chết hoặc đó là người công bình hay gian ác.
b. 20:11-15 chứng tỏ rằng một người được cứu hay bị hư mất dựa vào nền tảng của việc lành.
c. Hoặc người ta có bị kết án đời đời hoặc không thì nần tảng để xét xử là người ấy có được ghi tên trong sách sự sống hay không.
d. Số phận cuối cùng của những người từ khước quà tặng cứu chuộc của Đức Chúa Trời là hồ lửa.
TRẬT TỰ MỚI.
Trong những đoạn cuối của sách Êsai, tác giả đã nói trước về sự tạo dựng trời mới và đất mới (EsIs 65:17) và nó sẽ tồn tại vĩnh viễn (66:22). Sự ứng nghiệm của lời báo trước nầy đang bắt đầu xảy ra trước mắt Giăng, và được ghi lại trong hai đoạn cuối của sách Khải huyền. Đây là thành Thánh, Giêrusalem mới, từ trời mà xuống để chiếm vị trí của mình trên quả đất mới hình thành sự kiện chính yếu cuối cùng của sách (KhKh 21:1-22:5).
TRỜI MỚI ĐẤT MỚI .
21:1.
Trong 20:11, Giăng mô tả sự biến mất của trời cũ đất cũ. Trong mô tả tượng hình ông mô tả việc chúng trốn khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Bây giờ ông thấy trời mới đất mới. Mặc dù có một số người xem câu nói nầy là một sự tạo dựng mới, nhưng nhiều học giả Kinh Thánh nổi tiếng khác cảm nhận rằng lời nầy ám chỉ về sự đổi mới của những gì đã hiện hữu. Suốt cả Kinh Thánh, người ta có thể thấy rõ ràng rằng số phận của dân sự của Đức Chúa Trời là số phận thuộc về đất (the destiny of God's people is an earthly destiny). Theo quan điểm nhị nguyên (dualistic fashion), người Hi lạp tin rằng vũ trụ được chia làm hai lãnh vực: Thế giới trần tục hay tạm thời, và thế giới thuộc linh hay cõi đời đời. Đối với họ, sự cứu rỗi có liên quan đến việc linh hồn được bay từ tinh cầu tạm thời nầy sang thực tế đời đời. Trái lại, sự dạy dỗ của Kinh Thánh cho rằng con người vẫn ở trên quả đất được cứu chuộc (a redeemed earth), chứ không phải ở trên lãnh vực thuộc về trời xa cách sự hiện hữu của quả đất.
Tại điểm nầy, thiết tưởng chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của cụm từ “đất mới” và “đất thứ nhất đã qua rồi” (câu 1). Trong Kinh Thánh có ba chữ Hi lạp được dịch là thế giới (thế gian - world): Aion: phải dịch chính xác là “thời đại” (age); Kosmos: chỉ về “xã hội có tổ chức” (the structured socity); Ge: thường có nghĩa là “đất” (earth- quả đất). Những chữ Aion và Kosmos đôi khi nói về những gì không còn hiện hữu nữa, những chữ Ge không bao giờ ám chỉ những gì không còn hiện hữu. Hiểu được điều nầy, chúng ta hãy xem cụm từ “đất thứ nhất đã qua rồi” thực sự có ý nghĩa gì.
Khi Phao lô dùng cụm từ “sự cũ đã qua đi” (IICo 2Cr 5:17), “đã qua đi” (has gone) cơ bản cũng có nghĩa “đã qua rồi” (passed away) KhKh 21:1. Từ ngữ mà Phao lô dùng ám chỉ về việc một người tiếp nhận Đấng Christ. Câu hỏi được nêu lên ấy là: khi một người tiếp nhận Đấng Christ, liệu người ấy không còn hiện hữu nữa để mở đường cho con người mới mà người ấy phải trở thành không? Dĩ nhiên là không. Tuy nhiên, khi một người được dựng nên mới, người ấy được thay đổi. Cũng vậy, “đất thứ nhất đã qua rồi” trong 21:1 đơn giản có nghĩa là đất thứ nhất sẽ được thay đổi - chứ không phải là chấm dứt sự hiện hữu.
RoRm 8:18-22 cho chúng ta vài gợi ý về sự thay đổi sẽ xảy ra trong trật tự được tạo dựng. Sau đó Phierơ đã vẻ một bức tranh sinh động của tiến trình xảy ra sự thay đổi (IIPhi 2Pr 3:10-13). Trong nội dung nầy, chữ được dịch là “tiêu tán” (destroyed) cũng có thể được dịch là “nới lỏng” (loosed), một bản dịch hoàn toàn phù hợp với ý niệm của chúng ta về quả đất được thay đổi. Phierơ mạnh mẽ nhấn mạnh lời cuối của đoạn nầy, “trời mới đất mới là nơi ở của sự công bình”. Chúng ta tin rằng sự thay đổi lớn nhất của quả đất sẽ từ chỗ đầy sự gian ác sang “nơi ở của sự công bình”.
9. Theo phần nghiên cứu của chúng ta ở đây, cụm từ “trời mới đất mới” được dùng theo ý nghĩa.
a. Vũ trụ nầy sẽ hoàn toàn bị tiêu tán và cần phải có một sự tạo dựng mới hoàn toàn .
b. Trời và đất hiện có nầy sẽ trải qua sự canh tân.
c. Sự tạo dựng của trật tự tương lai không được mô tả ở đây hay ở nơi nào khác trong Kinh Thánh.

GIÊRUSALEM MỚI.
KhKh 21:2- 22:5.
Vì phần nầy của bài học nhấn mạnh về Giêrusalem mới, nên chúng ta đưa ra dàn ý ba điểm của đoạn hơi dài nầy về Giêrusalem mới. Chúng tôi sẽ xử dụng dàn ý nầy vào phần thảo luận và những câu hỏi.
I. Mô tả tóm tắt về Giêrusalem mới (21:2).
II. Nơi ở của Đức Chúa Trời cùng với dân sự Ngài (21:3-8).
III. Mô tả chi tiết về Giêrusalem mới và đời sống ở trong đó (21:9-22:5).
I. Mô tả tóm tắt về Giêrusalem mới (21:2).Mặc dù chúng ta thường nghĩ rằng Giêrusalem trên trời là nơi ở thường trực của Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài sẽ rời quả đất để đến đó (GaGl 4:26, Phi Pl 3:20, HeDt 12:22), nhưng nó chỉ là nơi ở tạm thời của dân sự của dân sự của Đứ Chúa Trời giữa thời gian họ chết về thân thể và lúc họ được sống lại (IICo 2Cr 5:8, Phi Pl 1:23, KhKh 6:9-11). Tuy nhiên, trong trật tự mới, Giêrusalem trên trời sẽ tái tọa lạc trên đất.
Sự kiện Giêrusalem từ trời mà xuống dường như ám chỉ rằng nó thực sự đã hiện hữu. Theo quan điểm của chúng tôi, ở dây chúng ta cần bàn về đề tài Tân phụ của Đấng Christ. Khi so sánh câu 2 với những câu 9 và 10, chúng ta cảm thấy có thể gây ra vài sự ngộ nhận về Tân phụ của Đấng Christ với thành phố được chuẩn bị cho nàng. Chẳng hạn, một số tín hữu đã công bố rằng thành phố, chứ không phải tín hữu là Tân phụ của Christ. Tuy nhiên, từ những phần mô tả trước về Tân phụ nầy, rõ ràng Tân phụ không phải là thành phố. Điều đó có thể hoàn toàn nhầm lẫn. Chúng ta hãy minh họa điểm nầy.
Trong LuLc 13:34 khi Chúa Jesus phán, “tại Giêrusalem, Giêrusalem ơi, ngươi giết các Tiên tri, ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi ”, thì Ngài đã không nói về những bức tường, nhà cửa, cổng và đường phố chịu trách nhiệm về việc giết những tiên tri. Ngài muốn nói về con người sống trong thành phố đó. Tương tự như thế, dường như Chúa Jesus đang quở trách những thành phố trong Mat Mt 11:20-24; tuy nhiên, Ngài thực sự quở trách những con người sống trong các thành phố đó. như vậy, Giêrusalem mới không phải là Tân phụ của Christ, nhưng sẽ là nơi ở cho những tín hữu vốn sẽ tạo thành Tân phụ đó.
II. Nơi ở của Đức Chúa Trời cùng với dân sự Ngài (KhKh 21:3-8).
Trong trật tự mới đời đời, Giêrusalem mới sẽ là nơi ở của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài. Trong tổ chức của thời Cựu Ước, sự hiện diện của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong đền tạm và về sau trong đền thờ trong sự vinh hiển (shekinah or glory). Rồi trong thân vị của Đấng Christ, Ngài ở giữa chúng ta trong thời gian ngắn (GiGa 1:14). Hiện tại, Ngài ở giữa Hội Thánh Ngài qua Thánh Linh của Ngài, và chúng ta biết sự hiện diện của Ngài bằng đức tin. Nhưng trong tương lai, trong trật tự đời đời chúng ta sẽ thấy mặt Ngài (KhKh 22:4).
Trong tương lai, Đức Chúa Trời sẽ lau ráo mọi giọt lệ khỏi mắt dân sự Ngài (câu 4, 7:17; và EsIs 25:8). Sẽ chẳng còn sự kêu khóc, vì tất cả đau yếu bệnh tật và điều ác vốn áp bức nhân loại sẽ đời đời bị loại trừ khi sự rủa sả bị cất đi (KhKh 22:3). Sự nhấn mạnh ở đây không phải trên sự hối hận của con người nhưng trên sự an ủi mà Đức Chúa Trời ban cho. Đức Chúa Trời cũng lau ráo những giọt lệ của tín hữu kết quả từ những việc khóc cho người thân yêu của họ vốn đã bị quăng vào hồ lửa ở sự phán xét cuối cùng. Không những nước mắt không còn nữa, nhưng chết chóc, đau đớn, than khóc cũng sẽ không còn nữa. Tất cả những kinh nghiệm của tình cảm đau thương bi kịch dầu qua đi, vì chúng gắn liền với những sự cũ (câu 4).
Đấng ngự trên ngai phán rằng Ngài sẽ làm mới lại mọi sự (câu 5). mọi sự đều mới cho thấy những điều đó mới trong bản chất và mới trong ý nghĩa của những gì vừa mới được tạo ra. Có một sự thay đổi quyết liệt. Như vậy, thế giới vật chất sẽ được giải cứu khỏi xiềng xích của sự rủa sả (RoRm 8:21). Vì thế, Giăng được dạy bảo phải ghi những gì ông nghe và thấy, vì những điều được bày tỏ là đáng tin. Hơn nữa, cụm từ “xong rồi” có ý nghĩa là Đức Chúa Trời đang kết thúc công việc của Ngài liên quan đến toàn thể lịch sử con người cho đến tình trạng đời đời. Không những chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất nhưng tương lai cũng được bảo đảm do Đấng vốn là Đầu Tiên và Cuối Cùng, Tác giả của sự tạo dựng và Cứu chuộc (câu 6).
Kẻ nào khát sẽ được hứa ban cho nước suối sự sống. Ở đây khát mô tả sự khao khát của linh hồn tìm kiếm Đức Chúa Trời. Đavít phản ảnh điều nầy trong Thi Tv 42:1 “Đức Chúa Trời ôi, linh hồn tôi mơ ước Chúa như con nai cái thèm khát khe nước” (xem thêm 36:9, 63:1 và EsIs 55:1). Đức Chúa Trời là “nguồn nước sống” (Gie Gr 2:13) làm thỏa mãn sự khao khát và mạch nước văng ra cho đến sự sống đời đời (GiGa 4:4). Khi áp dụng lời hứa trong câu 6 cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta, Chúa Jesus đã hứa rằng những ai thực sự tin và giao thác đời sống mình cho Ngài thì sẽ có dòng sông sự sống tuôn tràn từ trong lòng mình (7:37-39). Chúa Jesus xử dụng từ “nước sống” để chỉ Thánh Linh. Chúng tôi nhiệt tình cầu nguyện để Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn sự khao khát nước sống nầy hầu cho bạn được đổ đầy và sẽ tuôn tràn ra, và tạo sự khao khát tương tự nơi người khác.
Tất cả những điều nầy là lời hứa cho người được đắc thắng, Tuy nhiên, người ấy phải trung tín và trung thành với Đấng Christ khi gặp sự chống đối (câu 7). Trái lại, những ai không tiếp nhận ân điển của Đức Chúa Trời thì không thể mong chờ điều gì cả ngoại trừ sự kết án đời đời trong hồ lửa có diêm cháy phừng phừng (câu 8). Hãy chú ý đến tám loại người không kính sợ Đức Chúa Trời bị bỏ vào hồ lửa. Kẻ nhát sợ, là người đứng đầu bản liệt kê, là những kẻ sợ tiếp nhận Đấng Christ, sống cho Ngài và xưng danh Ngài. Loại thứ hai, kẻ chẳng tin, nhắc nhở chúng ta rằng tin quan trọng hơn là biết bằng lí trí. (So sánh 3:16 với Gia Gc 2:19, và GiGa 1:12). Tin đòi hỏi một người tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình, sống tích cực và hữu hiệu cho Ngài.
III. Mô tả chi tiết về Giêrusalem mới và đời sống ở trong đó (KhKh 21:9-22:5).
Bây giờ chúng ta khảo sát Giêrusalem mới, thành phố được sửa soạn trước (so sánh câu 3 với GiGa 14:1-3), là nơi dân sự của Đức Chúa Trời sẽ cư ngụ đời đời. Giăng được cảm Thánh Linh, được đem đến nơi để xem thấy vẻ đẹp của thành thánh không chi so sánh bằng. Chắc chắn quang cảnh nầy đồng nhất với cảnh tượng ở KhKh 17:1, tại đó Giăng cũng được đem đến để thấy quang cảnh của Babylôn. Chắc hẳn Giăng có ý định so sánh sự tương phản của thành phố dâm loạn với thành thánh là nơi Đức Chúa Trời ngự.
Điều nổi bật nhất trong quang cảnh ấy là thành phố mang sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhấp nháy trong ánh sáng phản chiếu của Đức Chúa Trời, thành phố lấp lánh như viên kim cương nhiều mặt.
Một số người ngạc nhiên tại sao thành phố lại có tường. Chúng ta phải nhớ rằng, điều nầy có thể là một phần của cách mô tả về một thành phố lí tưởng theo quan niệm của những người xưa, là những người có thói quen nghĩ rằng họ sẽ được an toàn khi ở tại một thành phố có những bức tường vững mạnh bao bọc bên ngoài. Thành phố nầy cũng có những cánh cổng bằng ngọc, thật vậy, có mười hai cửa cả thảy câu 12), mỗi cửa gồm có một viên ngọc. Và trên những cửa có ghi tên mười hai chi phái Ysơraên. Điều nầy nhấn mạnh sự nối tiếp của Hội Thánh của thời Tân Ước với dân sự của Đức Chúa Trời ở dưới thời giao ước cũ. Và tên của mười hai sứ đồ trên mười hai cái nền về sự hiệp nhất của Ysơraên cổ với Hội Thánh. Từ phần mô tả về những cái cửa và nền dường như rõ ràng rằng cả dân sự của Đức Chúa Trời của Cựu Ước và Tân Ước đều ở trong Tân phụ của Đấng Christ.
Gần cuối của Bài 14 chúng ta nói về ý nghĩa của các con số, trong đó số 12 có ý nghĩa là sự hoàn tất cuối cùng. Hãy chú ý trong 21:12, 14, 16, 21 và 22:2 ý nghĩa của con số 12 và những con số nhân liên quan đến Giêrusalem.
Những câu 15-17 ghi lại việc đo thành phố. Không giống như việc đo được ghi lại trong đoạn 11, việc nầy được thực hiện để chỉ về kích thước hùng vĩ và sự cân đối toàn vẹn. Thành phố đo được một vạn hai nàn dặm (12000 stadia= 1400 dặm Anh= 2200 km) bề dài, bề rộng và bề cao cũng bằng nhau. Đó là một khối vuông trọn vẹn. Những chiều nầy phản ảnh sự đối xứng, chiều rộng và sự hoàn hảo trọn vẹn.
Những câu 18-21 mô tả bức tường dày 144 thước mốt (khoảng 200 feet = 65 mét) xây bằng bích ngọc đặt trên 12 nền, mỗi nền là một loại ngọc quí. Mười hai cửa cũng làm bằng mười hai viên ngọc lớn và đường của thành bằng vàng ròng. Người ta có thể thưởng ngoạn ảnh hưởng của ánh sáng trong thành như nó được lọc qua nhiều màu sắc của những nền bằng ngọc và những viên ngọc trong suốt của tường thành rồi khuếch tán trong sự dịu dàng lóng lánh của những con đường bằng vàng.
Giăng không thấy có đền thờ nào, vì đền thờ được thay thế bằng Đức Chúa Trời Toàn Năng và Chiên Con (câu 22). Đền thờ là chỗ ở tối cao của sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Nhưng bây giờ biểu tượng đó đã thành hiện thực. Cũng chẳng cần ánh sáng của các thiên thể nữa, vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời soi sáng cho thành (câu 23). Thành phố nầy có một không hai do những điều nó thiếu: không có đền thờ, không mặt trời, không mặt trăng, không bóng tối, không ô uế, không nước mắt, không chia tay, không đau đớn, không khát, không đói và không chết.
Câu 14 chứng tỏ rằng các dân sẽ đi trong ánh sáng của thành. Giăng có ý muốn nói rằng trong tình trạng đời đời những người được chuộc sẽ gồm mọi dân tộc, mọi chi phái, mọi thứ tiếng, và họ không mất nét riêng biệt của dân tộc mình. Nếu không thì nó chỉ có thể là một sự xác nhận phổ quát của sự hiểu biết của Đức Chúa Trời.
Việc đến gần thành chỉ hạn chế cho những ai được ghi tên vào sách sự sống của Chiên Con. Cửa thành luôn luôn mở vì kẻ ác đã bị hủy diệt nên không còn cần phải bảo vệ nữa. Ngoài ra, tại đấy không có ban đêm. Một người đã ghi nhận rằng trong lời của Đức Chúa Trời, sự tối tăm là một ẩn dụ ám chỉ sự phân cách khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Mat Mt 6:23, 8:12, 22:13); tuy nhiên, mọi tối tăm sẽ bị tiêu trừ trong ánh sáng hiện diện của Đức Chúa Trời và Chiên Con.
Khải tượng Giăng nhìn thấy bắt đầu của đoạn 21 được tiếp tục và chấm dứt ở đoạn 22. Những câu 1-5 cho chúng thêm chi tiết liên quan đến thành Giêrusalem trên trời. Trước hết, chúng ta được biết con sông sự sống trong suốt như pha lê chảy từ ngai của Đức Chúa Trời ra đường phố lớn của thành. Như vậy sông nầy nằm ở trung tâm của thành. Câu chuyện về cuộc sống trần gian của con người khởi đầu bên bờ sông (SaSt 2:10), và bây giờ tiếp tục vĩnh viễn bằng nguồn gốc của sự sống. Điều nầy gợi hứng cho một học giả Kinh Thánh lỗi lạc ghi nhận rằng sự hiện hữu của dòng sông sự sống là một cách nói gợi hình để diễn tả rằng sự chết cùng với mọi tính chất độc ác của nó đã bị tiêu hủy hoàn toàn và sự sống lên ngôi tối cao.
Cây sự sống mà Ađam và Êva đã bị đuổi đi bây giờ tái xuất hiện, ra trái mỗi tháng một lần (câu 2). Nó không cần trải qua chu kì nẩy chồi nở hoa, kết quả và thu hoạch, nhưng chỉ cho một hay hai mùa mỗi năm. Trái lại, ở đây cây sự sống cứ mỗi tháng đều nặng trĩu quả, điều nầy cũng khiến cho một học giả ghi nhận rằng đó là sự đắc thắng hoàn toàn của sự sống trên sự chết. Trái cây nầy sẽ phát huy sự vui mừng của cuộc sống đến đầy trọn. Hơn nữa, sự rủa sả sẽ bị cất đi. Sự kiện nầy đã cảm thúc J.B.Smith viết như sau:
Chẳng còn có sự rủa sả nữa - sự khôi phục trọn vẹn. Nhưng ở trong thành có ngai của Đức Chúa Trời và Chiên Con- sự quản trị trọn vẹn. Các đầy tớ Ngài sẽ phục vụ Ngài - sự thuận phục hoàn toàn. Họ được thấy mặt Ngài-sự biến hóa trọn vẹn. Và danh của Ngài sẽ ở trên trán họ - sự nhận diện trọn vẹn đêm không còn có nữa, họ không cần ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ tỏa sáng họ - sự chiếu sáng trọn vẹn. Và họ sẽ cai trị đến đời đời vô cùng - sự hoan hỉ trọn vẹn .(Sự mặc Khải của Chúa Jesus Christ- A Revelation of Jesus Christ).
Mặc dù Môi Se không thể nhìn mặt Đức Chúa Trời mà còn sống, nhưng những kẻ được chuộc sẽ nhìn thấy mặt Đức Chúa Trời. Danh của Ngài sẽ ở trên trán của họ. Trong tình trạng vinh hiển, những người được chuộc sẽ được biến hóa hoàn toàn, họ sẽ giống như Ngài và họ sẽ phản chiếu sự giống Ngài. Dấu ấn trên trán còn chỉ về quyền sở hữu và sự giống nhau.
Thật khó tưởng tượng Giêrusalem mới với sự sống ở trong đó. Dĩ nhiên Giăng đã xử dụng ngôn ngữ trần gian để mô tả những gì quá tuyệt vời đến nỗi không thể diễn tả được. Thành Giêrusalem vĩ đại tuyệt vời làm sao! Nó vượt quá khả năng mô tả và tưởng tượng của chúng ta.
10. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Giêrusalem trên trời là nơi ở thường trực của Đức Chúa Trời.
b. Theo phần nghiên cứu của chúng ta, Giêrusalem mới được nhận diện là Tân phụ của Christ.
c. Khi đoạn văn nói về sự khao khát thuộc linh, nó có nghĩa là sự khao khát của linh hồn về Đức Chúa Trời.
d. Tất cả những gì được hứa đều dành cho người đắc thắng.
e. Những cửa của Giêrusalem mới, vốn mang tên của mười hai chi phái của Ysơraên, và bức tường trên đó có ghi tên của mười hai sứ đồ của Chiên Con là để nhấn mạnh sự hiệp nhất của Hội Thánh với những dân sự của Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước.
f. Không có đền thờ trong Giêrusalem mới vì thì giờ và nhu cầu thờ phượng đã chấm dứt.
g. Trong tình trạng vinh hiển, những người được cứu chuộc sẽ thực hiện nhìn thấy mặt của Đức Chúa Trời.
TÁI BÚT VỀ SỰ TÁI LÂM CỦA CHÚA JESUS.
KhKh 22:6-21 trước tiên là phần tái bút về đề tài tối quan trọng của sự trở lại nhanh chóng của Cứu Chúa Jesus (câu 7, 12, 20). Bấy giờ, tại thời điểm đó chúng ta sẽ bước vào điểm khởi đầu của cuộc sống vĩnh cửu là nơi chúng ta sẽ thấy những lời diễn tả của 22:3-5 về cuộc sống tại Giêrusalem mới được ứng nghiệm, và chúng ta sẽ biết qua kinh nghiệm rằng những gì chúng ta chịu khổ trên đất không đáng gì so với sự vinh hiển chúng ta sẽ hưởng thụ (RoRm 8:18).
PHƯỚC HẠNH KHUYÊN BẢO VÀ ĐỘNG VIÊN.
KhKh 22:6-21.
Trong câu 6 thiên sứ mang sứ điệp mô tả bản chất của sứ điệp, người công bố: “Những lời nầy đáng tin, và chân thật”. Hơn nữa, lời nói của Thiên sứ về Chúa là “Đức Chúa Trời của linh của các tiên tri” chứng tỏ mối quan hệ giữa những tiên tri và lời tiên tri: mọi tiên tri chân chính là những tiếng nói hay những ống dẫn của Linh của Đức Chúa Trời vì họ đã dâng linh của mình để Ngài kiểm soát và hướng dẫn. Cuối cùng, thiên sứ cho thấy rằng người đã được sai đến để “tỏ ra cho các đầy tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra”. Kíp phải xảy đến (Must soon take place) làm cụm từ tương tự với điều chúng ta thấy ở 1:1 và đã được hảo luận ở bài học trước. Chữ kíp được nhấn mạnh lần nữa trong câu 7 trong lời nói của Chúa Jesus “kìa ta đến mau chóng”. “Mau chóng” (soon-kíp) có nghĩa là chắc chắn và bất ngờ trong cả hai câu 6 và 7. Hội Thánh trong mọi thời đại luôn luôn được động viên phải sống trong sự trông chờ (xem Mat Mt 24:42-44).
Trong bài 5 chúng ta thấy có bảy phước lành trong sách Khải huyền. Hai phước lành chót nằm ở câu 7 và 14 của đoạn 22. Trong câu 7 một phước lành được công bố cho những người giữ những lời tiên tri nầy, và trong câu 14 phước lành được công bố cho những người “GIẶT ÁO MÌNH”, nghĩa là làm điều Đức Chúa Trời truyền bảo. Vì “GIỮ NHỮNG LỜI TIÊN TRI” (câu 7) thực sự có nghĩa là làm những gì lời Chúa phán, nên cả hai phước lành nầy đều chứng tỏ rõ ràng rằng những người nhận phước lành phải làm gì lời Chúa phán chứ không chỉ nghe mà thôi (Gia Gc 1:20). Những ai tiếp nhận phước hạnh trong câu 14 được quyền đến nơi cây sự sống và bởi những cửa vào trong thành. Chúng ta phải nhớ rằng mục đích đầu tiên của Đức Chúa Trời trong việc cho chúng ta những lời tiên tri trong sách Khải huyền là để chúng ta biết cách sống chứ không phải làm đầy sự hiểu biết của chúng ta.
Ở câu 8 Giăng nhận diện mình là một người quen thuộc với những Hội Thánh ở Tiểu Á. Như vậy, ông không cần phải giới thiệu thêm tên nào khác. Tuy nhiên, ông giải thích rõ những Khải tượng và những kinh nghiệm ở đây. Đáp ứng như trong trường hợp trước, Giăng sấp mình xuống nơi chân thiên sứ để thờ lạy, nhưng thên sứ bảo ông đừng làm như vậy mà hãy thờ lạy Đức Chúa Trời (câu 9).
Bạn có thể liên tưởng đến phần thảo luận của chúng ta trong DaDn 12:1-13, tại đấy Đaniên được truyền bảo phải “đóng lại những lời nầy và hãy đóng ấn sách nầy cho đến kì cuối cùng” (câu 4,9). Tuy nhiên, cùng với một sứ điệp tương tự, thiên sứ bảo Giăng: “Chớ niêm (đóng ấn) những lời trong sách nầy” (KhKh 22:10). Tại sao Đaniên nhận mệnh lệnh phải đóng ấn sứ điệp trong khi Giăng lại nhận mệnh lệnh công bố nó ra? Rõ ràng, lời tiên tri của Đaniên rất khó hiểu cho đến khi Giăng viết sách Khải huyền. Trước lúc ấy, nó vượt quá sự hiểu biết của con người. Sứ điệp của Giăng là sự mặc khải mà suốt thời kì Hội Thánh con cái Đức Chúa Trời phải nghe đến. Những lời cảnh cáo của sách Khải huyền rất quan trọng cho mỗi Hội Thánh ở mọi thời đại. Sách Khải huyền cho thấy Đức Chúa Trời mong đợi gì nơi dân sự Ngài, và nó nhắc nhở dân sự Ngài. theo quan điểm của chúng tôi, ý nghĩa ở trong câu 10 và 11 rõ ràng là dủ lời công bố của sứ điệp tiên tri trong sách Khải huyền không làm cho người ta ăn năn, nhưng nó sẽ động viên tín hữu chân thật tiếp tục làm điều công bình và giữ mình thánh khiết.
Lời khuyên bảo trong câu 11 áp dụng cho cả tín hữu và người không tin. Những ai sống thánh khiết được nhắc nhở phải duy trì sự thánh khiết trong lúc những người sống kính sợ Đức Chúa Trời lại bị thách thức cứ duy trì trong sự bất nghĩa của họ nữa đi. Một học giả Kinh Thánh đã ghi nhận điều quan trọng của câu nầy là không có, có ở khoảng giữa, trung dung. Một người hoặc theo Phúc âm hoặc chống lại Phúc âm. Tại đây sự chọn lựa của một người hình thành bản chất của người đó, tuy nhiên, sẽ đến một lúc không thể nào thay đổi được. Những sự chọn lựa hiện thời có khuynh hướng trở thành bản chất thường trực.
Một lần nữa Chúa nhấn mạnh rằng sự hiện đến của Ngài sẽ không báo trước và Ngài sẽ mang phần thưởng đến để trả cho mỗi người tùy công việc họ làm. Chúng ta đã thấy phần thưởng của những người không tin là tại tòa phán xét cuối cùng trong KhKh 20:11-15, và của người kính sợ Đức Chúa Trời ở 21:1-22:5. Có những phần thưởng chắc chắn cho người phục vụ Đức Chúa Trời. Hơn nữa, chúng ta cũng thấy rõ là sự phán xét trên cơ sở việc làm được nhấn mạnh suốt Tân Ước (RoRm 2:26, ICo1Cr 3:10-15, IICo 2Cr 5:10, KhKh 2:23.
Những câu 13-16 bày tỏ sự hoài nghi của Đấng Đời Đời, Đấng chứng thực cho lời tiên tri. Giống như 21:8, ngoài những câu nầy cũng liệt kê những người cũng ở bên ngoài thành phố đời đời của Đức Chúa Trời, đó là hồ lửa có diêm cháy phừng phừng. Câu 15 cảnh cáo đặc biệt cho con người rằng nếu họ được vào Giêrusalem mới thì họ không thể nào tiếp tục phạm tội. Họ phải ăn năn, thay đổi tâm trí và hành vi của mình, tiếp nhận Jesus Christ là Chúa của họ, và sống cho Ngài. Câu 15 liệt kê loài chó trong số những người ở ngoài thành. Trong EsIs 56:9-12, loài chó là chữ ám chỉ những tiên tri hay những người chăn chiên giả mạo, không biết chi hết. RoRm 1:24-27 và ICo1Cr 6:9-10 giải thích chữ gian dâm gồm có những điều nào.
Trong câu 16 Chúa chúng ta đề cập đến hai danh xưng của Ngài. Là Cội Gốc và Hậu tự của Đavít, Chúa Jesus ứng nghiệm lời tiên tri trong IISa 2Sm 7:16, trong đó Đavít được hứa rằng sẽ có một hậu tự đời đời cho Ngai của ông. Cội rễ (Root) nói về Chúa Jesus là Đức Chúa Trời, Đấng ban cho dòng họ Đavít một sự sống vô tận. Chữ Hậu Tự nói về Chúa Jesus là Con Người là hậu tự thừa kế hợp pháp của ngai Đavít. Sao Mai Sáng Chói nói về Chúa Jesus là Đấng trước hết mang lại Thiên Hi Niên, sau đó là trật tự mới, trường cữu của những sự vật. Ngôi sao nầy báo trước sự xuất hiện của một ngày vinh quang. Tuy nhiên để hưởng được ngày đó, chúng ta phải biết Chúa Jesus, Sao Mai sáng chói.
Câu 17, lời mời chót của Kinh Thánh được ban cho con người để sống tự do và đời đời với Đức Chúa Trời, để đến với nguồn của sự sống thuộc linh. Hãy chú ý đặc biệt về bản chất bốn mặt của lời mời nầy. Chữ được dịch “muốn” không những có nghĩa là cần, khao khát nhưng còn có nghĩa là xử dụng ý chí của mình để đạt được điều mình mong muốn. Thánh Linh, Tân phụ của Đấng Christ đưa ra lời mời gọi cuối cùng nầy, đồng thời những ai được nghe lời mời cũng phải truyền đạt lời mời nầy. (Chữ nghe ở đây ám chỉ không những nghe bùng lỗ tai thể chất, nhưng còn chỉ về việc tiếp nhận Đấng Christ bằng tâm trí và tâm linh của mình). Như vậy, người nào tiếp nhận Đấng Christ phải lập tức mời người khác đến tiếp nhận Ngài.
Câu 18 và 19 cho chúng ta lời cảnh cáo cuối cùng trong Kinh Thánh. Đó là lời cảnh cáo chống lại việc làm giả mạo hay xáo trộn lời kí thuật tiên tri được mặc khải từ Thiên thượng. Trong thời Cựu Ước, dân Ysơraên được truyền bảo phải tránh điều tương tự (PhuDnl 4:2). Điều Giăng nói ở đây là sự bóp méo và xuyên tạc có chủ ý về Lời đầy uy quyền của Thiên thượng.
Câu 20 mở ra bằng lời làm chứng rằng Chúa Jesus đến không trì hoãn và kết thúc với chữ Amen của Giăng, vốn vang dội sự khao khát của Hội Thánh cho cơ hội vĩ đại nầy. Sự khao khát nầy đứng tại trung tâm của đức tin Cơ Đốc, nếu Đấng Christ không trở lại, thì công tác cứu chuộc của Ngài vẫn chưa hoàn tất cho đến đời đời. Sự trở lại của Ngài là hi vọng vững chắc duy nhất về tương lai của thế giới.
Giăng kết luận bằng lời chúc phước rất thích hợp (câu 21). Ông công bố điều ấy trên những ai đọc lời tiên tri và nghe lời nầy được đọc lên. Trong khi chúng ta chờ đợi sự hiện đến của Chúa, nguyện chúng ta cùng với Giăng nói rằng, “Amen, Lạy Chúa Jesus, xin Ngài đến” (câu 20). Và nguyện chúng ta giống như Chúa chúng ta trong những ngày Ngài sống trên đất, có mục đích làm xong công việc của Cha (LuLc 2:49).
Để kết luận phần nghiên cứu nầy, chúng tôi tin rằng bạn đã được soi sáng và được thách thức do những sự mặc khải về tương lai. Chúng tôi tin rằng những gì bạn học được sẽ động viên bạn áp dụng những khả năng, ta dâng và thì giờ mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn để hoàn thành công tác vĩ đại về sự rao giảng Phúc âm cho mọi tạo vật. Nguyện sự hiểu biết nầy hướng bạn đến sự cảm nhận về việc khẩn cấp trong công việc của bạn. Đây là lời cầu nguyện của chúng tôi.
11. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG.
a. Từ ngữ “Chúa là Đức Chúa Trời của linh của các tiên tri gợi ý rằng những tiên tri là những ống dẫn của Thánh Linh và họ ở dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của Ngài”.
b. Phước lành được công bố trong KhKh 22:7, 14 liên quan đến những người làm, nghĩa là, hoàn thành những mạng lệnh của Đức Chúa Trời.
c. Lời tiên tri của Đaniên còn đóng dấu vì nó chỉ thích hợp với thời Cựu Ước.
d. Mạng lịnh cho một người vốn thánh khiết cứ tiếp tục được thánh gợi ý rằng sự chọn lựa hiện tại hình thành cá tính của một người.
e. Sự phán xét cả trong Khải huyền và suốt cả Kinh Thánh phải dựa vào công việc của một người.
f. Trong số những người không tin không thể vào Giêrusalem mới có loài chó sẽ bị kết án đời đời.
g. Lời mời cuối cùng trong Kinh Thánh được dành cho những người dự tiệc cưới Chiên Con.
h. Lời khuyên cuối cùng trong Kinh Thánh là người ta không thể thêm điều gì của Lời Đức Chúa Trời được sự mặc khải Thiên thượng.

Bài Tập Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Điều nào trong những điều kiện sau đây tồn tại trong Thiên Hi Niên?
a. Sẽ không còn chiến trận thuộc linh.
b. Chiến tranh sẽ bị hạn chế thuần túy cho những sự chiến đấu tại địa phương.
c. Người ta sẽ không còn là đối tượng để chịu thử thách thuộc linh hay cám dỗ.
d. Sẽ đạt được tất cả những tình trạng trên.
e. Sẽ đạt được những điều liệt kê ở câu a) và c).
2. Điều nào trong những điều sau đây sẽ xảy ra lúc khởi đầu của Thiên Hi Niên?
a. Sự phán xét cuối cùng.
b. Sự tái lâm của Christ.
c. Sự sống lại của người công bình đã chết.
d. Cuộc nổi loạn cuối cùng của Satan.
3. Điều nào trong những lời nói sau đây nhận diện đúng tình trạng của Chúa chúng ta, dân sự Ngài và Satan trong thời đại Thiên Hi Niên?
a. Chúa chúng ta sẽ cai trị trong suốt thời kì Thiên Hi Niên.
b. Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đồng trị với Christ trong thời kì cai trị một ngàn năm.
c. Satan sẽ bị xiềng trong suốt 1000 năm.
d. Tất cả những câu trên đều đúng.
e. Chỉ có câu a) và b) ở trên mới đúng.
4. Theo phần nghiên cứu của chúng ta, Thiên Hi Niên sẽ đước biểu thị bằng những đặc điểm.
a. Hòa bình toàn cầu, thịnh vượng, công bằng, hiểu biết và tuổi thọ kéo dài ra, vắng bóng của những con vật hung dữ, và sự cai trị thần quyền.
b. Sự thức tỉnh thuộc linh của vô số người rồi họ sẽ phục vụ Christ phát xuất từ tình yêu và sự đầu phục Ngài.
c. Một cuộc truyền giảng rất lớn chưa từng có khi Thánh Linh được tuôn đổ trên mọi loài xác thịt.
d. Một sự dấy lên của sự phản loạn ngấm ngầm chống lại sự cai trị của Chúa Jesus Christ.
5. Những người theo thuyết vô Thiên Hi Niên tin rằng
a. Thế giới sẽ không kinh nghiệm nghĩa đen sự cai trị 1000 năm của Đấng Christ trên đất.
b. Dân cư của thế giới sẽ được cứu do sự rao giảng Phúc âm.
c. Sự mặc khải tóm tắt những biến cố đã xảy ra.
d. Tất cả những câu trên đều đúng về Thiên Hi Niên.
e. Những gì ghi nhận trong câu a) và c) đúng cho Thiên Hi Niên.
6. Thuyết Tiền Thiên Hi Niên quan niệm rằng
a. Sách Khải huyền đã tóm tắt những biến cố đã xảy ra.
b. 1000 năm chỉ là con số tượng trưng và tiêu biểu cho thời kì giữa sự hiện đến lần thứ nhất và sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ.
c. Thế giới sẽ kinh nghiệm thực tế 1000 năm dưới sự trị vì của Đấng Mêsi sau khi Đấng Christ tái lâm.
d. Thiên Hi Niên tượng trưng cho sự chiến thắng cuối cùng của Phúc âm trong thời đại hiện tại.
7. Thuyết Hậu Thiên Hi Niên tin rằng
a. Sự tái lâm của Christ xảy ra sau khi Satan bị xiềng, sự phục sinh của những người công bình và sự cai trị một ngàn năm của Christ.
b. Phúc âm sẽ chiến thắng và Chúa Jesus sẽ trở lại sau khi thế giới sẵn sàng đón tiếp Ngài.
c. Thế giới sẽ không kinh nghiệm một ngàn năm của Christ.
d. Một ngàn năm là một thuật ngữ thuần túy tượng trưng.
8. Sau Thiên Hi Niên, Satan sẽ lãnh đạo cuộc phản loạn chống lại Đức Chúa Trời. Những người theo nó là.
a. Kẻ ác đã chết được sống lại.
b. Những người từ những quốc gia bị Chúa chúng ta đánh bại tại Hạtmaghêđôn.
c. Những người sống sót qua cơn đại nạn và con cái của những người đi vào Thiên Hi Niên.
d. Những thiên sứ phạm tội đầu tiên.
9. Sự phán xét cuối cùng tiếp theo Thiên Hi Niên, có thể được mô tả cách tốt nhất là
a. Sự phán xét chung cho tất cả những người đã chết hoặc người công bình, hay người gian ác.
b. Sự phán xét trong đó người công bình được xét xử theo những công việc của họ.
c. Sự phán xét của kẻ ác chỉ về nơi chúng ta hướng tới nếu chúng ta không ăn năn.
d. Sự phán xét cuối cùng tại đó những người hiện diện được xét xử theo nền tảng họ có tên trong sách sự sống hay không.
10. Điều nào trong những lời sau nầy gồm những lời dạy bảo, mời gọi hay động viên trong phần cuối của sách Khải huyền?
a. Những độc giả được cảnh cáo không được giả mạo hay thêm bớt phần kí thuật tiên tri được mặc khải.
b. Những độc giả được mời đến nguồn sự sống thuộc linh.
c. Những độc giả được động viên sống đời sống thánh khiết.
d. Tất cả những câu trên a) b) và c).
e. Chỉ câu a) và c) ở trên.
Bây giờ bạn đã làm xong công việc của loạt bài nghiên cứu tự học nầy. Hãy ôn từ Bài 12 đến Bài 14 cẩn thận, rồi trả lời những câu hỏi trong bảng đánh giá tiến trình học tập số 4. Gởi phiếu trả lời cho vị trợ giáo của bạn, cùng những tài liệu khác theo yêu cầu của túi dành cho học viên. Nếu bạn chưa xếp đặt thì giờ thi cuối khóa, hãy xin vị trợ giáo của bạn xếp đặt càng sớm càng tốt. Hãy ôn kĩ bài trước khi thi.

Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. Sẽ không còn có sự lừa dối thuộc linh trên đất vì Satan sẽ bị xiềng trong một thời kì một ngàn năm.
2. d. Những người công bình kể cả những người tử đạo trong thời kì đại nạn.
3. a. Chia sẻ sự cai trị trong vương quốc Thiên Hi Niên.
4. 1000 năm .
5. a. 2) Hậu Thiên Hi Niên.
b. 1) Tiền Thiên Hi Niên.
c. 3) Vô Thiên Hi Niên.
d. 1) Tiền Thiên Hi Niên.
6. a. Đúng.
b. Sai.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
7. Bạn có thể ghi nhận rằng hiển nhiên Satan sẽ bị giam cầm để cho những người sinh ra trong thời kì Thiên Hi Niên có cơ hội chọn lựa hoặc theo hay chống lại sự cai trị của Đức Chúa Trời. Kết quả của sự thả ra nầy, vô số người sẽ theo nó phản nghịch lại và bao vây thành Giêrusalem. Tuy nhiên, trước khi chúng tấn công, thì lửa từ trời sẽ rơi xuống và tiêu diệt chúng ta và Satan sẽ bị xiềng đời đời ở nơi hồ lửa diêm sinh.
8. a. Sai .
b. Sai.
c. Đúng .
d. Đúng.
9. b. Trời và đất hiện có nầy sẽ trải qua sự canh tân (đổi mới).
10. a. Sai .
b. Sai.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Sai.
g. Đúng.
11. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Đúng.
g. Sai.
h. Đúng


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 05:27 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách