† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3429|Trả lời: 0

Sáng Thế Ký

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 24-7-2011 20:04:46 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Sáng Thế Ký

TỔNG QUAN VỀ SÁNG THẾ KÝ
Câu gốc: Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi. XuXh 3:14
Kinh Thánh: SaSt 1:1-31; XuXh 3:1-22
I. TRƯỚC GIẢ
Đa số đều công nhận Môise là tác giả vì nhiều lý do:
1. Sáng thế ký là sách đầu tiên trong “Ngũ kinh Môise”. GiGa 5:46. LuLc 24:27.
2. Các sách còn lại trong “Ngũ kinh”đều cho biết Môise là tác giả.
3. Các tác giả Cựu Ước đều mặc nhiên công nhận Môise là tác giả.
4. Tân Ước cũng xem Môise là tác giả “Ngũ Kinh”.
5. Sách Talmud của người Do Thái cổ dạy rằng Môise là tác giả Ngũ kinh.
6. Môise là nhân chứng trực tiếp các biến cố từ Xuất đến Phục truyền.
7. Sáng thế ký có nhiều từ Aicập thích hợp với thời Môise sống tại Aicập.
8. Phép cắt bì được xem là luật Môise được thấy ở SaSt 17:12, XuXh 12:48.
9. Sáng thế ký và Xuất mới tạo nên một bộ sách đầy đủ.
II. ĐẶC TÍNH CỦA SÁCH
1. Tựa đề: Sáng thế ký được gọi là quyển sách của mọi khởi đầu: Khởi đầu của vũ trụ, của loài người, của đời sống gia đình, của tội lỗi, của sự cứu chuộc, của xã hội băng hoại, của các quốc gia, của các ngôn ngữ, của dân Hêbơrơ.
. Những đoạn đầu bị phê phán kịch liệt. Nhưng nếu cẩn thận giải thích và hiểu đúng đắn các sự kiện được nêu sẽ thấy rằng không ai có thể bài bác được.
. Mục đích sách Sáng thế ký không nhằm giải thích sự sáng tạo. Chỉ có một đoạn được dành cho vấn đề nầy như một sự thật đã được công nhận trong khi 38 đoạn dành cho lịch sử của một tuyển dân.
2. Chủ đề chính: Tội lỗi con người và những bước đầu tiên của sự cứu chuộc thể hiện qua giao ước thánh với tuyển dân mà lịch sử sơ khai của họ đang được mô tả.
3. Chữ chìa khóa: Ban đầu.
4. Lời hứa cứu chuộc đầu tiên: SaSt 3:15.
BỐ CỤC SÁCH SÁNG THẾ KÝ
I. LỊCH SỬ SÁNG TẠO
1. Sáng tạo vũ trụ : Bảy ngày sáng tạo SaSt 1:1-25
2. Sáng tạo loài người : Ađam Êva 1:26-31. 2:18-24.
II. CÂU CHUYỆN LOÀI NGƯỜI TỐI CỔ
1. Câu chuyện tội lỗi: Thử thách, cám dỗ và sa ngã. Kẻ cám dỗ. Hình phạt. Lời hứa về Đấng giải cứu 3:1-24.
2. Câu chuyện Cain và Abên 4:1-26.
3. Gia phổ và sự chết của các tổ phụ 5:1-32.
4. Nô Ê và trận đại hồng thủy 6-8.
5. Giao ước cái mống và tội lỗi của Nô Ê 9:1-29.
6. Con cháu của Nô Ê 10:1-32.
7. Tháp Babên và các ngôn ngữ 11:1-33.
III. LỊCH SỬ TUYỂN DÂN
1. Sự nghiệp của Ápraham : Sự kêu gọi thánh (12). Ápraham và Lót (13-14) Những khải tượng và lời hứa thánh cho Ápraham về con cái, đất thánh, dân tộc thánh (15-17). Cầu thay cho Sôđôm Gômôrơ (18-19). Ysác ra đời (20-21). Thử nghiệm trên núi Môria (22). Ápraham chết (25:8).
2. Sự nghiệp của Ysác: Ra đời 21:3. Lập gia đình 24. Con cái 25-26/ 27.
3. Sự nghiệp Giacốp: Chiếm quyền trưởng nam 27:1-29. Khải tượng chiếc thang 28:10-22. Lập nghiệp tại Charan 29-31.
4. Sự nghiệp của Êsau
5. Câu chuyện Giôsép: Tại nhà cha 37. Tại nhà Phôtipha 39. Ở trong tù 40. Trên ngôi Ai cập 41-50.
III. NĂM VĨ NHÂN SÁNG THẾ KÝ
1. Hênóc: Người đồng đi cùng Đức Chúa Trời 5:22-24.
2. NôÊ: Người an ủi 5:29. Người được ơn 6:9. Người vâng lời 6:22. Người đóng tàu để cứu nhà mình HeDt 11:7. Thầy giảng đạo công bình IIPhi 2Pr 2:5.
3. Ápraham : Cha của mọi kẻ có đức tin RoRm 4:18.
4. Giacốp: Người được thay đổi nhờ chiến đấu cầu nguyện SaSt 32:30.
5. Giôsép: Người kính sợ Đức Chúa Trời trong mọi nơi mọi lúc.
NHỮNG CÂU HỎI CĂN BẢN VỀ SÁNG TẠO
Kinh Thánh : SaSt 1:1-2
I. KHI NÀO ?
1. Ban đầu (bereshith ): Lúc khởi đầu của vũ trụ. Khởi đầu tuyệt đối.
2. Vũ trụ đã có một khởi đầu: Trước đó nó chưa hiện hữu. Từ chỗ không không, nó đã được Đức Chúa Trời tạo thành từ thuở ban đầu (HeDt 11:3). Nhưng có khởi đầu thì cũng có lúc kết thúc (IIPhi 2Pr 3:10-11).
3. Kinh Thánh không xác định thời điểm. Ý niệm thời gian không thể chi phối Đức Chúa Trời.
II. AI ĐÃ SÁNG TẠO ?
1. Đức Chúa Trời ( Elohim ): Đức Chúa Trời Quyền Năng. Elohim là danh từ số nhiều hàm ý Đức Chúa Trời Ba Ngôi.
2. Đức Chúa Trời hiện hữu trước lúc ban đầu: Ngài Tự hữu, Hằng hữu.
3. Đức Chúa Trời Toàn Thiện, Toàn Mỹ có đầy đủ mọi sự trong Ngài.
III. SÁNG TẠO ĐIỀU GÌ ?
1. Trời (heavens ): Nhiều bầu trời của hàng tỉ thiên hà (galaxies) đang di chuyển với tốc độ hàng triệu cây số mỗi giờ.
2. Đất (earth ): Một trái đất cho loài người có thể ở được. Trái đất thuộc Thái dương hệ (với 9 hành tinh) thuộc Ngân hà (1 thiên hà).
Lưu ý: Từ “dựng nên”(bara) chỉ dùng cho Đức Chúa Trời và chỉ khi Ngài sáng tạo điều gì mới hoàn toàn (ex nihilo).
IV. SÁNG TẠO NHƯ THẾ NÀO ?
1. Đất vô hình và trống không: Không có hình thể và không có gì ở đó. (Giống như các hành tinh mới được khám phá trong vũ trụ).
. Thuyết“Tiền Ađam”(Gap theory, Recreation theory) cho rằng vũ trụ được sáng tạo trong SaSt 1:1 đã bị phá hủy bởi sự nổi loạn của thiên sứ trưởng biến thành Satan. Vì thế từ 1:2 trở đi là sự tái tạo trái đất đã bị phá hủy đó.
2. Sự mờ tối ở trên mặt vực: Trái đất đang nằm trong nước sâu, bị bao phủ bởi sự mờ tối chung quanh.
3. Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước: Đức ThánhLinh chịu trách nhiệm trong sự sáng tạo. (Do Thái giáo xem Thần ở đây là quyền lực hay quyền năng). GiGa 1:1-3 giải thích vai trò Ngôi Lời trong sáng tạo.
NGÀY THỨ NHẤT : SÁNG TẠO ÁNH SÁNG
Kinh Thánh: SaSt 1:3-5
I. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN
1. Đức Chúa Trời phán: Ngài dùng Lời để sáng tạo (HeDt 11:3). GiGa 1:1-3 giải thích vai trò của Ngôi Lời (Chúa Jesus) trong sự sáng tạo.
2. Phải có (hayah ): Mạng lệnh mạnh mẽ tuyệt đối. Mọi tạo vật phải vâng phục. Từ không có (ex nihilo) phải trở nên hiện hữu bởi Lời Chúa.
3. Phải có sự sáng: Có bốn cách giải thích:
. Chúa khiến hàng tỉ mặt trời trong vũ trụ bắt đầu phát sáng.
. Chúa khiến luật thiên nhiên bắt đầu vận hành trên vũ trụ đã được tạo ra.
. Chúa tạo một ánh sáng độc lập với các thiên thể.
. Chúa khiến mây và sương dầy đặc trên mặt đất tan đi để áng sáng đến. Gap theory cho rằng Chúa hình phạt trái đất chìm trong bóng tối vì Satan.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI THẤY
1. Chúa thấy sáng là tốt lành:
. Bản chất sự sáng là tốt lành: Đức Chúa Trời là Sự Sáng (IGi1Ga 1:5). Sự sáng bày tỏ đức thánh khiết, vinh quang của Chúa.
. Sự sáng vô cùng ích lợi: Khiến vạn vật phát triển. Đem hơi nóng và sự ấm áp. Phơi bày mọi sự (màu sắc, vẻ đẹp, sự thật). Khiến con người chiêm ngưỡng Chúa và hoàn tất sứ mạng Chúa giao cho mình.
2. Chúa phân sáng ra cùng tối: Sự hiện diện của ánh sáng sẽ xua tan bóng tối. Khi chưa có sự sáng thì không có sự phân biệt, chỉ có bóng tối.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐẶT TÊN
1. Chúa đặt tên: Chúa là Chủ tuyệt đối cả ngày lẫn đêm.
2. Chúa đặt tên sự sáng là ngày (Ban ngày ): Thì giờ làm việc, thì giờ sống cho Đức Chúa Trời (GiGa 9:4). “Ngày”của ngày thứ nhất khác với “ngày” của ngày thứ tư vì lúc ấy chứ có mặt trời cho trái đất.
3. Chúa đặt tên sự tối là đêm: Thì giờ yên nghỉ trong Đức Chúa Trời. Thì giờ để chấm dứt công việc và lượng giá một ngày trong cuộc sống.
. Cả ngày lẫn đêm đều tốt đẹp cho con người ở trong sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, suy gẫm lời Chúa (Thi Tv 1:2).
4. Vậy có buổi chiều và buổi mai: Một ngày Do Thái được tính từ 6 giờ chiều hôm nay đến 6 giờ chiều hôm sau.
NGÀY THỨ HAI : SÁNG TẠO “TRỜI”
Kinh Thánh: SaSt 1:6-8
I. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN
1. Phải có (hayah ): Mạng lệnh mạnh mẽ tuyệt đối phải được thực hiện.
2. Một khoảng không (ragia ) ở giữa nước: Ragia là sự căng ra, trương ra.
. Mây và sương dầy đặc phải rời mặt nước để bay lên để treo lơ lững trên không.
. Bầu khí quyển và không khí được thành lập để chuẩn bị cho sự sống.
3. Đặng phân rẽ nước cách với nước: Ở chính giữa nước nhưng không phải là nước. Dù cũng có bản chất là nước nhưng một số được đem lên chốn cao hơn để tạo nên bầu khí quyển tốt đẹp cho sự sống.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM
1. Ngài làm nên khoảng không: Chính Đức Chúa Trời hành động chứ không phải do ngẫu nhiên hay do định luật thiên nhiên. Chính Đức Chúa Trời tạo ra mọi định luật. Đức Chúa Trời phán thì Ngài làm đúng y như vậy. Ngài đã bắt đầu thì Ngài làm cho hoàn tất.
2. Thì có như vậy: Câu nầy được lập lại 6 lần chứng tỏ:
. Đức Chúa Trời là Chủ tể của vũ trụ, của mọi quyền lực.
. Mọi việc Ngài làm đều tốt đẹp theo ý muốn Ngài.
. Không quyền lực nào có thể chống nghịch Ngài được.
. Mọi mạng lệnh của Ngài phải được thi hành.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐẶT TÊN
1. Đức Chúa Trời đặt tên: Ngài là Chủ tuyệt đối của không trung.
2. Ngài đặt tên khoảng không là “trời” (shamayim ): Theo quan điểm của người Do Thái, có ba tầng trời:
. Tầng trời thứ nhất: Bầu khí quyển mà sinh vật có thể sống.
. Tầng trời thứ hai: Ngoại tầng không gian, nơi chứa các thiên hà.
. Tầng trời thứ ba: Thiên đàng, nơi con dân Chúa sống với Ngài.
3. Thánh kinh cho biết bầu trời được dựng nên vì nhiều lý do:
. Bày tỏ sự vinh hiển, quyền năng và tri thức của Chúa (Thi Tv 19:1).
. Tưới nước cho đất, làm cho kết quả/ (65:9-10).
. Chứa tuyết và mưa đá cho sự hình phạt (Giop G 38:22-23).
4. Vậy có buổi chiều và buổi mai: Một ngày được trôi qua trong quyền năng và sự chăm sóc của Chúa, chuẩn bị cho sự sống con người.
NGÀY THỨ BA : SÁNG TẠO ĐẤT VÀ CÂY CỎ
Kinh Thánh: SaSt 1:9-13
I. SÁNG TẠO ĐẤT LIỀN
1. Đức Chúa Trời phán: a. Nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi: Nước đang bao phủ khắp đất, đang gào thét vô trật tự phải đi vào trật tự, gom lại vào đúng chỗ của nó trong sông rạch, ao hồ và biển cả.
b. Phải có chỗ khô cạn bày ra: Có lẽ những áp lực vĩ đại trên vỏ trái đất khiến phát sinh hiện tượng núi lửa và đất liền với những lục địa, những hòn đảo xuất hiện theo những định luật do Chúa định.
c. Thì có như vậy: Mọi sự xảy ra đúng như lời Chúa phán: Đất liền xuất hiện, đẩy lùi hàng triệu triệu tấn nươc vào các vực sâu, các thung lũng/
2. Đức Chúa Trời đặt tên:
a. Chỗ khô cạn là đất: Đất là của Chúa. Ngài có toàn quyền ban và lấy lại.
b. Nơi nước tụlại là biển: Biển là của Chúa, ở dưới quyền kiểm soát của Chúa. Sóng gió đều ở trong sự cho phép của Chúa.
3. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành: Sự trật tự, vâng phục mạng lệnh Chúa là tốt lành. Đất và biển đều làm trọn mục đích Chúa dành cho chúng vì thế, chúng rất có giá trị để cung cấp nơi ở và thực phẩm cho con người.
II. SÁNG TẠO CÂY CỎ
1. Đức Chúa Trời phán: a. Đất phải sanh: Đất phải làm trọn sứ mạng của mình. Nó phải phát huy tiềm năng và các định luật Chúa ban cho nó.
b. Sanh cây cỏ (deshe): Các cây xanh và ẩm ướt. Các loại cây cỏ không hạt nằm ở ngay trên hay ngay dưới mặt đất.
c. Sanh cỏ kết hạt giống (esebh): Các thứ rau, các thứ hoa, lúa /
d. Sanh cây trái kết quả tùy theo loại: Đủ loại cây sinh trái theo đúng loại của nó chứ không tiến hóa từ loại nầy sang loại kia.
f. Thì có như vậy: Đất vâng phục Chúa làm đúng như lời Chúa truyền.
2. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành: Đất đã vâng phục thật tốt lành. Thực vật được sinh ra thật tốt lành và hữu ích (Cung cấp thức ăn. Cung cấp dưỡng khí cho khí quyển nhờ quang hợp. Giúp kiểm soát khí hậu. Giữ đất khỏi bị xoi mòn).
NGÀY THỨ TƯ : SÁNG TẠO CÁC VÌ SÁNG
Kinh Thánh: SaSt 1:14-19
I. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN
1. Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời:
. Chúa đã sáng tạo các vì sáng trong 1:1. Ngài đã khiến chúng chiếu sáng trong ngày thứ nhất (1:3).. Ngài khiến đám mây mang nước phía trên bầu trời tan ra để ánh sáng bắt đầu ngự trị trên trái đất.
2. Thì có như vậy: Mọi lời Chúa phán đều phải thành sự thật. Phải được vâng phục. Không ai có quyền hoặc có thể chống lại mạng lệnh Chúa.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM
1. Nhấn mạnh Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo các vì sáng :
. Mặt trời: Vì sáng lớn cai trị ban ngày.. Mặt trăng: Vì sáng nhỏ hơn, nhận ánh sáng từ mặt trời nhưng cũng rất quan trọng: Cai trị ban đêm, ảnh hưởng trên thủy triều/. Các ngôi sao: Phát sáng hay phản chiếu ánh sáng; ở gần hay xa đều vô cùng quan trọng.
2. Nhấn mạnh mục đích Chúa sáng tạo các vì sáng.
III. MỤC ĐÍCH CÁC VÌ SÁNG
1. Để chia ngày và đêm: Chia thì giờ làm việc với thì giờ nghỉ ngơi.
. Trái đất tự quay quanh mình trong 23 giờ 56 phút 4,1 giây: Vùng đất đối diện với mặt trời là ngày, vùng đất quay khỏi mặt trời là đêm.
2. Dùng làm dấu: Dấu (othoth) là đánh dấu hay khắc dấu.
. Làm dấu chỉ phương hướng để đi trên đất liền hay trên biển cả.
. Làm dấu chỉ tình trạng thời tiết (dấu hiệu mưa bão/ ).
. Làm dấu chỉ sự vinh quang của Chúa để đưa con người đến với Chúa.
. Làm dấu để điều khiển biển và thủy triều từ ngày nầy qua ngày khác.
3. Để định thì tiết (bốn mùa ), ngày và năm:
. Trái đất quay quanh mặt trời theo quỹ đạo ellip chu vi 583. 400. 000 dặm với tốc độ 66. 000 dặm mỗi giờ. Phải mất 365 ngày 1/4 mỗi chu kỳ:1 năm.
. Hơn nữa trái đất nghiêng 23 độ 1/2. Trái đất tự quay tạo ra ngày và đêm.
. Do vị trí đối với mặt trời thay đổi nên có bốn mùa trong năm.
IV. CHÚA ĐẶT CÁC VÌ SÁNG TRONG KHOẢNG KHÔNG
1. Chúa đặt đúng vị trí: Không xa hay gần hơn, nhanh hay chậm hơn
2. Chúa thấy điều đó là tốt lành: Trật tự, vâng lời, hữu ích, làm vinh hiển
NGÀY THỨ NĂM : SÁNG TẠO CÁ VÀ CHIM
Kinh Thánh: SaSt 1:20-23
I. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN
1. Nước phải “sanh” các vật sống cho nhiều: Chữ “sanh”ở đây là sinh sôi nẩy nở đông đúc (teem). Nước (vật chất) không thể sinh ra các sinh vật sống.
2. Các loài chim (có cánh) phải bay trên đất: Chim, gia cầm. Côn trùng.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN
1. Dựng nên (bara ): Giống như 1:1. Chúa sáng tạo một loại hoàn toàn mới, từ không có, không như bốn ngày trước chỉ là sắp đăt, làm hoạt động những vật đã được sáng tạo ở 1:1.
2. Ba loại sinh vật: Các loài cá lớn (tanninim) như cá voi, cá mập, cá sấu/ Các vật sống hay động nhờ nước như các cá nhỏ, tôm, cua/ Các loài chim hay bay (có cánh).
3. Tùy theo loại: Mỗi loài có cấu tạo khác nhau, có đặc tính di truyền theo đúng loại của nó.
4. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành: Mọi sinh vật nầy đã hoàn tất mục đích và sứ mạng của nó, trở nên có giá trị: Khiến trái đất sinh động, đẹp đẽ, đa dạng, bày tỏ vinh quang của Chúa/
III. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN PHƯỚC
1. Ngài ban phước: Chữ “ban phước”lần đầu tiên xuất hiện vì sự ban phước tương quan với sự ban sự sống cũng như sự rủa sả tương quan với sự chết. Đức Chúa Trời là nguồn của sự sống và nguồn của mọi ơn phước dành cho những sinh vật có sự sống.
. Đây là những vật sống (nephesh) hay hồn sống (living souls), nghĩa là có hơi thở, sự sống, tri giác, sự linh hoạt.
2. Ngài ra lệnh chúng sinh sản đầy dẫy: Chúng phải truyền sự sống cho các thế hệ kế tiếp, tạo ra những thế hệ theo đúng loại mà Chúa ban cho.
3. Vậy có buổi chiều và buổi mai: Thêm một ngày hữu ích, trật tự, vâng phục, được phước trong quyền tể trị khôn ngoan của Chúa.
NGÀY THỨ SÁU : SÁNG TẠO LOÀI THÚ VÀ LOÀI NGƯỜI
Kinh Thánh: SaSt 1:24-31
I. SÁNG TẠO LOÀI THÚ
1. Đức Chúa Trời phán: Chúa là Đấng điều khiển, Đấng Sáng tạo.
2. Đất phải sinh: Các vật sống đều ra từ đất, có bản chất của đất, nhưng phải có quyền năng Chúa hành động chứ đất không thể tự sinh ra (2:19 cho biết chính Chúa nắn nên chúng).
3. Các vật sống ( nephesh): Các hồn sống (living souls) cũng giống như cá biển, chim trời có hơi thở, sự sống, tri giác, linh hoạt/
4. Tùy theo loại: Mỗi loài phát triển tùy theo loại. Có thể có sự phát triển, sự thích ứng nhưng không có sự chuyển đổi từ loại nầy qua loài khác. Hơn 100 năm nghiên cứu vật hóa thạch, các nhà sinh vật học, sinh hóa/ vẫn không tìm được sự chuyển đôíi như thuyết tiến hóa.
. Ở đây đề cập đến ba loại chính: Loại Súc vật (behemah) là các gia súc hay thú thuần hóa như trâu bò, lạc đà, ngựa, lừa, chó, chiên/ Loại côn trùng (remes) là các loài bò bằng bụng hay bằng chân nhỏ như rắn, trùn, kiến, côn trùng. Loại thú rừng (chayyah haarets) là sư tử, beo, chó sói.
5. Thì có như vậy: Lời Chúa phán phải thành sự thật. Mạng lệnh Chúa phải được thi hành. Không ai ngăn được bàn tay Chúa hành động.
6. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành: Mọi việc Chúa làm đều tốt lành, đều có giá trị là khi chúng hoàn tất sứ mạng Chúa giao, hoàn tất ý muốn của Chúa cho mình.
II. SÁNG TẠO LOÀI NGƯỜI
1. Chúng ta: Ba Ngôi Đức Chúa Trời trực tiếp tham dự trong sự sáng tạo loài người : a. Chúa Jesus đã mặc khải giáo lý Ba Ngôi (GiGa 14:16-17, 26). b. Thánh Kinh cho biết Ba Ngôi đều tham dự trong sự sáng tạo (SaSt 1:1-2. GiGa 1:3. CoCl 1:16. HeDt 1:1-2). c. Chữ “Chúng ta”là số nhiều, chỉ Ba Ngôi Đức Chúa Trời chứ không phải chỉ về các thiên sứ (SaSt 1:26-27).
2. Hãy làm nên: Khác với các sự sáng tạo trước ‘Chúa phán: Phải có”. Khi sáng tạo loài người Chúa có một “hội nghị”để tạo nên con người. Con người là tuyệt đỉnh của sự sáng tạo.
3. Loài người như hình Ta (Chúng ta) và theo tượng Ta: Đức Chúa Trời vô hình nên “hình”và “tượng”ở đây chỉ về sự giống Đấng Tạo hóa về bản tính đạo đức, tâm linh, tình cảm cũng như sự vinh quang. Đây là điểm phân biệt giữa loài người với loài vật nhờ sanh khí của Đức Chúa Trời ban cho loài người (2:7).
. Tuy nhiên, loài người chỉ giống Đức Chúa Trời chứ loài người không phải là Đức Chúa Trời (giống như mặt trăng không phải là mặt trời).
. Hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người bị phá hỏng khi con người phạm tội (RoRm 3:23. Gie Gr 17:9). Dầu vậy, hình ảnh đó lại được tái tạo khi con người ăn năn tội, tin nhận Chúa và được tái sinh.
4. Người nam cùng người nữ: Chỉ nhấn mạnh cho con người. Nhấn mạnh cả nam lẫn nữ đều mang hình ảnh của Đức Chúa Trời, cùng chia xẻ hạnh phước của Chúa và cùng chia xẻ sứ mạng Chúa giao.
5. Đức Chúa Trời ban phước: Đây là đề tài thấu suốt ngũ kinh Môise. Đức Chúa Trời ban sự sống đặc biệt cho con người cũng ban phước đặc biệt cho con người cũng như giao cho con người sứ mạng đặc biệt.
6. Đức Chúa Trời ra lệnh: Có ba mạng lệnh cho con người:
. Phải sinh sản thêm nhiều: Phát triển dòng dõi tốt đẹp mang hình ảnh của Đức Chúa Trời khắp đất.
. Phải làm cho đất phục tùng: Cai quản, chăm sóc, phát triển tài nguyên/
. Phải quản trị các vật sống: Cai quản, kiểm soát, chăm sóc/
7. Đức Chúa Trời chăm sóc: Ngài lo thức ăn cho cả loài người (ngũ cốc) lẫn loài vật (cỏ xanh).
8. Đức Chúa Trời rất hài lòng: Ngài thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành, các tạo vật Ngài dựng nên cũng rất tốt lành. Tuy nhiên con người chỉ rất tốt lành khi còn mang hình ảnh của Đức Chúa Trời.
9. Vậy có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ sáu: Thêm một ngày phước hạnh trôi qua trong sự tể trị, hành động và ban phước của Đức Chúa Trời.
NGÀY THỨ BẢY
Kinh Thánh: SaSt 2:1-3
Tại sao Chúa không sáng tạo vũ trụ trong chỉ 1 ngày mà phải có 7 ngày ? Ấy là để con người biết đo lường thời gian bằng ngày và tuần lễ, cũng như biết dành một trong bảy ngày để nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa.
I. TRỜI ĐẤT MUÔN VẬT ĐÃ DỰNG XONG RỒI
1. Chữ “Dựng xong” : có nghĩa là đã hoàn tất và hoàn toàn tốt đẹp. Chúa đã sáng tạo mọi yếu tố căn bản của vũ trụ. Chúa đã tổ chức vũ trụ trật tự theo những định luật. Chúa đã sáng tạo mọi vật cần thiết để duy trì sự sống trên đất. Chúa đã sáng tạo mọi sinh vật tốt đẹp, nhất là con người.
2. Trời đất và muôn vật: Nguyên văn là đạo quân muôn vật: Đã nghe lệnh Chúa, đã vâng phục, đã tiến hành trật tự, đã hoàn tất ý muốn của Chúa.
II. NGÀY THỨ BẢY
1. Đức Chúa Trời làm xong: Đức Chúa Trời công bố hoàn tất, công bố chấm dứt công tác sáng tạo. Muốn hưởng trọn ngày nghỉ phước hạnh, ta phải làm hết công việc mình trong 6 ngày như Lời Chúa dạy (XuXh 20:9).
2. Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm:
. Nghỉ ở đây là ngừng lại, không làm nữa chứ không phải nghỉ ngơi vì Ngài không mệt mỏi, không bị một gánh nặng hay áp lực nào chi phối. Nó còn có nghĩa là Ngài rất hài lòng về mọi việc Ngài đã sáng tạo.
. Công việc (melakhah) là công việc đặc biệt. Ơ đây là công việc sáng tạo. Chúa chỉ nghỉ công tác sáng tạo chứ Ngài không nghỉ làm việc.
3. Ngài ban phước cho ngày thứ bảy: Ngày duy nhất được ban phước, được tôn trọng hơn. Đây là cơ hội nhận phước hạnh từ nơi Chúa.
4. Chúa đặt là ngày thánh: Chúa biệt riêng ngày nghỉ để làm nên ngày thánh. Đây là ngày nhất định trong tuần được biệt riêng ra để nghỉ ngơi và làm nên thánh, nghĩa là cung hiến cho Đức Chúa Trời để làm những việc theo ý muốn Chúa.
III. NGÀY CHÚA NHẬT
1. Ngày kỷ niệm sự Tái sáng tạo: Ngày Chúa phục sinh, là ngày của Chúa (KhKh 1:10), ngày Chúa đắc thắng sự chết để tái sáng tạo con người.
2. Ngày nghỉ: Sabát là ngưng lại. Con người cần một ngày nghỉ ngơi và biệt ra thánh để thờ phượng Chúa, cảm tạ Chúa, phục vụ Chúa.
TRÁI ĐẤT THỜI TIỀN SỬ
Kinh Thánh: SaSt 2:4-6
I. ẤY LÀ GỐC TÍCH TRỜI VÀ ĐẤT
1. Ây là gốc tích: Chữ “Gốc tích”(toledoth) có nghĩa là câu chuyện, bản tường thuật hay những thế hê. Như thế, đoạn một và 2:1-3 là bản tóm tắt nguồn gốc của trời đất thời tiền sử.
2. Trời và đất khi mới dựng nên: Trời đất đã được Chúa dựng nên, không phải tư nhiên mà có, hoặc do sự bùng nổ ngẫu nhiên của vật chất có sẵn.
II. ĐẤNG DỰNG NÊN
1. Đức Chúa Trời (Elohim ): “Elohim”là Đức Chúa Trời Quyền năng nhấn mạnh đến năng lực và quyền phép của Chúa trong sự sáng tạo, qua đó, Ngài là Đấng Tể trị Tối Thượng của cả vũ trụ.
2. Giêhôva Đức Chúa Trời: “Jehovah”hay “Yahweh”là một Danh xưng:
a. Có tính cách cá nhân: Ngài là Đấng “Tự hữu, Hằng hữu”, là Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật, Đấng duy nhất có thể thiết lập mối tương giao cá nhân với con người. Đây là đặc ân cao quý Chúa dành cho con người là tạo vật mà Ngài rất yêu mến.
b. Có tính cách mặc khải: Ngài là Đấng “Tự hữu, Hằng hữu”đã mặc khải cho con người biết Ngài cũng như biết những sự thật về con người và vũ tru. Ngài mặc khải cho con người qua Chúa Jesus (GiGa 1:18), qua Thánh Linh (GiGa 16:14), qua Thánh Kinh (IITi 2Tm 3:16), qua thiên nhiên (Thi Tv 19:1)/
c. Có tính cách cứu chuộc: Ngài là Đấng “Tự hữu, Hằng hữu”đã mang lấy thân xác con người để sống giữa con người và chịu chết để cứu con người khỏi tội lỗi, sựchết và hỏa ngục.
III. TRÁI ĐẤT THỜI TIỀN SỬ
1. Lối giải thích thứ nhất: Câu 5 và 6 mô tả trái đất trước ngày thứ nhất: Không có cây cỏ, không có con ngươi, không có mưa mà chỉ có hơi nước bao phủ khắp đất. Từ chỗ không có, Chúa đã sáng tạo mọi sự, biến đổi mọi sự trở nên tốt lành theo ý muốn Ngài.
2. Lối giải thích thứ hai: Chữ cây nhỏ và ngọn cỏ là nói đến gai gốc. Việc cày cấy đất chỉ có sau khi con người phạm tội. Vì thế câu 5-6 mô tả thế giới tốt đẹp trước khi con người phạm tội. Lúc ấy, chưa có mưa, chỉ có hơi nước từ đất bay lên. Khí hậu rất ôn hòa nên người ta sống rất lâu.
CON NGƯỜI ĐẦU TIÊN
Kinh Thánh: SaSt 2:7
I. ĐỨC GIÊHÔVA LẤY BỤI ĐẤT NẮN NÊN HÌNH NGƯỜI
1. Chúa nắn nên (yatsar ): Yatsar là nhồi nắn, tạo hình, tạo nên. Đây là hình ảnh người thợ gốm dùng tài khéo của mình để nhồi nắn đất sét sau khi đã có một ý tưởng trong đầu về hình ảnh mình sẽ tạo nên.
. Như thế con người được dựng nên bởi Đấng Thợ gốm vĩ đại bởi sự Toàn Tri và Toàn Năng của Ngài.
2. Nắn nên từ bụi đất: Từ một thứ vật liệu thấp hèn là bụi đất. Điều nầy nhắc nhở chúng ta phải khiêm nhu nhận biết mình và cảm tạ Chúa yêu thương, quyền năng đã tạo nên chúng ta (Thi Tv 8:4. 103:14-15).
3. Giêhôva Đức Chúa Trời: Danh xưng đặc biệt nầy nhắc chúng ta:
. Chúa ban cho ta mối tương giao cá nhân thân thiết ngọt ngào với Ngài.
. Chúa sẵn sàng mặc khải chính Ngài cho chúng ta.
. Chúa sẵn sàng giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi và mọi hậu quả của nó.
Như thế, chúng ta được tạo dựng bởi “bàn tay”của Chúa để được tương giao với Chúa, biết Chúa, thờ phượng Chúa và phục vụ Ngài.
II. HÀ SANH KHÍ VÀO LỖ MŨI
1. Sanh khí: Thần linh (ruach ) của Đức Chúa Trời: Được ban cho con người bụi đất để con người mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Không phải Ngài ban khí trời cho buồng phổi của Ađam mà ban chính Thần của Ngài cho Ađam.
2. Sanh khí: Sự sống của Đức Chúa Trời: Được ban cho con người để con người nhận sự sống đời đời để sống với Đức Chúa Trời.
. Tuy nhiên, tội lỗi đã phá hỏng cả Thần Linh lẫn Sự Sống của Chúa ban cho con người, khiến con người phải trở về bụi đất như cũ (TrGv 12:7).
III. NGƯỜI TRỞ NÊN LOÀI SANH LINH
1. Trở nên hồn (nephesh ) sống: Có hơi thở, tri giác, sự sống, sự linh hoạt như loài chim, cá, súc vật; khác với loài cây cỏ.
2. Trở nên loài sanh linh đặc biệt: Khác hẳn muông thú vì nhận sanh khí của Đức Chúa Trời là Thần Linh và Sự Sống của Chúa để mang hình ảnh của Chúa trong đời sống, nghĩa là có Linh Hồn.
VƯỜN ÊĐEN
Kinh Thánh: SaSt 2:8-14
I. ĐỨC GIÊHÔVA LẬP MỘT CẢNH VƯỜN TẠI ÊĐEN
1. Một khu vườn thật: Xác định rõ vị trí về hướng đông (đối với Êđen hay đối với đồng vắng Môise đang ở ?). Xác định những địa danh và bốn con sông (Xác định được hai sông Tigris (Hiđêke) và Ơphơrát).
2. Một khu vườn (gan ): Một nơi được rào lại, bảo vệ, che chở bởi chính Chúa. Nó phân biệt với vùng đất chung quanh và do Chúa thiết lập.
3. Êđen (Edhen ): Nghĩa là nơi thích thú, vui thỏa, hạnh phúc: Địa Đàng. Chúa lập một nơi tốt nhất cho con người.
II. CHÚA ĐẶT NGƯỜI Ở ĐÓ
1. Chúa đặt Ađam vào vườn Êđen: Chúa sắm sẵn mọi điều tốt lành rồi mới đưa con người vào ở đó.
2. Êđen là nơi tốt nhất: Chúa biệt riêng nơi phước hạnh cho con người là tạo vật đã được Ngài biệt riêng khỏi muôn vật.
III. CHÚA CHU CẤP NHU CẦU CHO CON NGƯỜI
1. Chúa khiến đất mọc lên những thứ cây đẹp mắt: Chúa biết nhu cầu mỹ thuật của con người, khiến người thoải mái với môi trường chung quanh.
2. Trái thì ăn ngon: Chúa lo liệu nhu cầu thực phẩm, khẩu vị/ cho con người.
3. Giữa vườn có cây sự sống: Chúa dự liệu cho con người được sống đời đời với Ngài. Ngài đặt cây sự sống ở nơi con người dễ thấy nhất. Ngài khích lệ con người lựa chọn sự sống cho mình, lựa chọn sự hiện diện của Chúa, lựa chọn bình an, vâng phục yêu mến Chúa/.
4. Cùng cây biết điều thiện và điều ác: Chúa ban cho con người cơ hội sử dụng sự tự do và năng lực lựa chọn. Chỉ một cây bị cấm ở giữa muôn thứ cây ngon ngọt và cây sự sống không bị cấm.
IV. CHÚA CHU CẤP NƯỚC CHO CON NGƯỜI
1. Chúa ban một con sông: Chúa ban nhu cầu nước uống và nhu cầu tưới vườn để tiếp tục ra trái đáp ứng nhu cầu con ngươi.
2. Một con sông chia làm bốn nhánh: Một con sông lớn cung cấp nước dư dật cho Êđen. Sự cung ứng của Chúa thật vô cùng phong phú, chu đáo, đẹp đẽ và hạnh phước.
MỤC ĐÍCH ĐỜI NGƯỜI
Kinh Thánh: SaSt 2:15-17
Con người không sống trên đất vô mục đích. Họ phải khám phá lý do:
I. ĐỂ TIẾP NHẬN SỰ NHƠN TỪ VÀ ÂN ĐIỂN CHÚA
1. Chúa lập vườn Êđen cho con người: Chúa đã dựng nên thế giới thật tốt lành. Nhưng Ngài muốn dành những điều tốt lành nhất cho con người. Con người phạm tội bị đuổi khỏi vườn chứng tỏ bên trong rất tốt đẹp.
2. Chúa đem người vào ở trong vườn Êđen: Từ bên ngoài vườn, Ađam được đem vào bên trong vườn để chiêm ngưỡng và tiếp nhận những điều tốt nhất Chúa dành cho mình với lòng biết ơn Chúa. Chữ “đem”theo nguyên văn có ý nói đến sự nghỉ ngơi, an toàn và cung hiến cho Chúa. Như thế, con người được đem vào vườn để được an nghỉ, an toàn và sống trong sự tương giao với Đức Chúa Trời.
II. ĐỂ TRỒNG VÀ GIỮ VƯỜN
1. Trồng (abhadh ): Nghĩa là làm việc, trồng trọt, cày cấy/ Con người sinh ra để làm việc chứ không phải ở không và hưởng thụ. Dù Chúa đã làm hết những gì cần làm cho con người, Ngài cũng muốn con người dự phần cùng làm việc với Ngài.
2. Giữ (shamar ) vườn: Nghĩa là canh chừng, chăm sóc, gìn giữ vườn cứ ở luôn trong tình trạng tốt lành. Ngài muốn con người chứng tỏ mình là kẻ quản trị có tinh thần trách nhiệm, năng động, tự trọng, có mục đích.
Lưu ý: Túc từ “vườn”ở đây là giống cái trong khi cái vườn là giống đực. Hơn nữa, việc cày cấy đất là hậu quả của tội lỗi. Vì thế, có người đề nghị dịch là “thờ phượng và vâng phục Chúa”.
III. ĐỂ LỰA CHỌN SỐNG VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Con người có đủ lý do để lựa chọn Đức Chúa Trời: Ngài đã làm tất cả những gì cần làm để ban cho con người những điều tốt nhất.
2. Con người có tự do để lựa chọn: Chúa không ép buộc, cũng không tạo con người như cái máy. Ngài muốn họ tự nguyện chọn Ngài, yêu Ngài.
3. Con người cũng được cảnh cáo về kết quả sự lựa chọn sai lầm: Đó là sự chết, nghĩa là bị phân cách với Chúa (Chết tâm linh) dẫn đến chết thân xác và chết đời đời trong hỏa ngục.
NGƯỜI NỮ ĐẦU TIÊN
Kinh Thánh: SaSt 2:18-25
I. LÝ DO CÓ NGƯỜI NỮ
1. Người nam ở một mình thì không tốt: “Không tốt”nghĩa là không đầy đủ, chưa hoàn tất, chưa đầy đủ, còn thiếu sót. Ađam không thể sống vui để hoàn tất mọi sứ mạng Chúa giao cho mình.
2. Người nam cần một người giúp đỡ giống như mình: “Giống như”hay thích hợp (keneghdo) là vừa vặn, là “tâm đầu ý hợp”. Nghĩa là người nữ cùng bản chất, giai cấp với người nam để cùng hiệp tác về tâm trí, vật chất, luân lý... để trở nên cha mẹ của dòng dõi loài người.
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA NGƯỜI NỮ
1. Dù Ađam đã có nhiều bạn: Đức Chúa Trời đã lấy đất nắn nên đủ loài thú đồng và chim trời để làm bạn với Ađam trong vườn Êđen.
2. Dù Ađam có địa vị cao quý: Ađam đặt tên nghĩa là sở hữu mọi vật, có quyền lực, khôn ngoan, phẩm chất cao hơn mọi loài vật.
3. Ađam không tìm được một ai giúp đỡ giống như mình: Có một vực sâu ngăn cách giữa người và vật. Ađam nhận biết mình cần một người giống mình, để khi được Chúa ban, Ađam sẽ thấy quý và yêu mến hơn.
III. SÁNG TẠO NGƯỜI NỮ
1. Chúa làm cho Ađam ngủ mê: Tardemah là giấc ngủ sâu giống như khi ngửi thuốc mê trong giải phẩu. Ađam thụ động nhưng Chúa chủ động.
2. Chúa lấy một xương sườn: Không phải xương đầu hay xương chân mà là xương ở giữa, ở lồng ngực bảo vệ tim và phổi.
3. Chúa dùng xương sườn để tạo nên người nữ: Để dạy người nữ ra từ người nam, cùng bản chất với người nam, liên hệ mật thiết với nhau.
. Lưu ý Chúa chỉ dựng nên một người nữ cho một người nam (Mat Mt 19:4).
4. Chúa đưa đến cùng Ađam: Chính Chúa lo liệu mọi nhu cầu cho con người và Ngài chủ động trong việc thiết lập hôn nhân cho con người.
III. NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN
1. Một người giúp đỡ trong mọi lãnh vực sống vật chất lẫn tâm linh.
2. Một người giống như mình trong bản chất, hướng đi, tâm tình, tâm linh.
3. Một người do chính Chúa đưa đến.
4. Lìa cha mẹ để liên hiệp với nhau, trở nên một.
NHỮNG BƯỚC SA NGÃ
Kinh Thánh: SaSt 3:1-6
A. KẺ CÁM DỖ
1. Trong các loài thú đồng có con rắn: Một số học giả cho rằng ma quỷ ám vào con rắn. Một số khác cho rằng ma quỷ mượn hình con rắn. Một số khác cho rằng con rắn là biểu tượng của ma quỷ (Khải 12:9;).
2. Giống quỷ quyệt hơn hết: Nguyên văn là “khôn ngoan”. Con rắn chỉ cần nói hai câu là đánh gục con người. Nhưng cậy sự khôn ngoan riêng đúng là điên dại (Lucifer EsIs 14:12-15. Salômôn IVua 1V 11:9). Êva điên dại khi tìm khôn ngoan riêng, không cần Đức Chúa Trời.
I. BƯỚC MỘT: THẤT BẠI TRONG TƯ TƯỞNG
1. Êva đã đứng sai chỗ: Thay vì đứng bên cây sự sống, bà lại đứng bên cây cấm. Đi sai chỗ, đứng sai chỗ sẽ đưa ta vào thất bại (Thi Tv 1:1).
2. Êva đã nhìn sai hướng: Thay vì nhìn vào những điều tốt đẹp mình đang có để cảm tạ Chúa, bà lại nhìn vào điều cấm đoán mình không có.
II. BƯỚC HAI: SUY NGHĨ THEO SỰ CÁM DỖ
1. Rắn nói: “Mà chi /. ”. Rắn nhấn mạnh đến điều Đức Chúa Trời cấm, điều Êva không có, rằng không ăn được trái cấm cũng như không ăn được chi cả, vì trái cấm vô cùng ngon ngọt và quý giá. Maquỷ đang gieo sự nghi ngờ về tình thương của Chúa đối với Êva.
2. Êva suy nghĩ điều ma quỷ gieo vào đầu: Bà hướng suy nghĩ vào trái cấm mà quên những trái cây khác. Bà chỉ nói “được ăn trái”thay vì ‘được tự do ăn tất cả trái cây trong vườn”như lời Chúa trong SaSt 2:16.
. Lưu ý: Ta không cản được cám dỗ nhưng có thể thoát khỏi cám dỗ, không tránh được cám dỗ trong cái nhìn đầu tiên nhưng có thể tránh cám dỗ trong cái nhìn thứ hai, không tránh được ý tưởng xấu nhưng có thể tránh suy nghĩ về ý tưởng xấu đó. Hãy nhờ Chúa để dừng lại đúng lúc.
3. Êva thay đổi lời Chúa: Thay vì bảo “chắc chắn sẽ chết”, bà chỉ nói “e phải chết chăng?”. Bà bắt đầu dao động khỏi lời của Chúa.
III. BƯỚC BA: NGHI NGỜ CHÚA
1. Rắn nói: Hai ngươi chẳng chết đâu/: Ma quỷ gieo nghi ngờ về giá trị của lời Chúa và nghi ngờ về quyền năng và sự khôn ngoan của Chúa.
2. Êva nghi ngờ: Có lẽ Chúa không nỡ phạt nặng chỉ vì một lần phạm lỗi. Một trái cấm không có gì nghiêm trọng lắm/ Chúa cũng thông cảm.
IV. BƯỚC TƯ: SẬP BẪY
1. Êva nhìn chăm vào trái cấm: Thấy cái cấm vô cùng hấp dẫn, đẹp mắt, bộ ăn ngon. Một sự thèm khát dậy lên trong lòng: Mê tham của mắt dẫn đến mê tham của xác thịt.
2. Êva cân nhắc về giá trị trái cấm: Bị ma quỉ lừa dối, bà nghĩ rằng trái cấm vô cùng quý giá vì sẽ mở trí khôn. Bà sẽ được mở mắt ra, biết điều thiện và điều ác, khôn ngoan như Đức Chúa Trời. Thật ra, Đức Chúa Trời dự liệu cho con người sự khôn ngoan, biện biệt, để quản trị muôn vật. Điều ma quỷ hứa hẹn, có chăng chỉ là biết điều ác để làm ác !
. Chúa cảnh cáo rằng Ngài chống cự kẻ kiêu ngạo (Gia Gc 4:6), nhất là kiêu ngạo thuộc linh (LuLc 18:11. GiGa 9:41).
V. BƯỚC NĂM : PHẠM TỘI
1. Êva đã phạm tội trong tư tưởng: Bà đã suy nghĩ, đã trò chuyện với ma quỷ, đã nghi ngờ Chúa và lời Ngài, đã ham muốn.
2. Êva hái ăn: Bà đã bỏ qua hoặc khước từ lời Chúa, bất tuân mạng lệnh Chúa, chống nghịch với Chúa và lời Ngài.
. Hãy nhớ rằng tội lỗi chỉ sinh ra khi đã được cưu mang trong trí và trong lòng (Gia Gc 1:14-15). Vì thế, cám dỗ phải được triệt hạ ngay từ sự tấn công đầu tiên. Hãy tránh việc đứng sai chỗ, nhìn sai hướng, tránh suy nghĩ những tư tưởng xấu vì cách tốt nhất là chạy trốn thật xa khỏi cám dỗ.
VI. BƯỚC SÁU: CÁM DỖ NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI
1. Trao cho chồng đứng gần mình: Êva được dựng nên để làm người giúp đỡ Ađam. Nhưng ở đây, bà lại là người cám dỗ Ađam phạm tội. Êva đã thấy, đã hái, đã ăn và đã trao cho chồng. Tội lỗi có đặc tính lan rộng. Nó đã lan khắp tâm trí Êva đến hành động rồi nó lan sang Ađam.
2. Ađam cũng ăn nữa: Ađam được xem là người đem tội lỗi vào trần gian chứ không phải Êva (RoRm 5:12-14). Có lẽ vì Ađam đứng gần bên vợ và cũng có cùng quyết định như vợ. Tuy nhiên có học giả cho rằng Êva bị ma quỷ lừa dối (ITi1Tm 2:14) còn Ađam tự quyết định nên nặng tội hơn.
Hãy nhờ sức toàn năng của Chúa để chiến đấu ngay từ cái nhìn đầu tiên hay ý nghĩ đầu tiên do ma quỷ đem đến. Chúa đang định sẵn cho chúng ta sự chiến thắng (ITe1Tx 5:9).
HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI
Kinh Thánh: SaSt 3:7-13
I. SỰ HỔ THẸN
1. Mắt hai người mở ra: Đây là con mắt của tâm trí, của lương tâm.
2. Biết rằng mình lỏa lồ: Họ đã bị cởi bỏ Chiếc áo của sự rất tốt lành, ngây thơ, trong trắng, Chiếc áo vinh hiển và công chính. Tội lỗi khiến con người đánh mất sự vinh hiển của Chúa (RoRm 3:23). Nhưng con cái Chúa sẽ nhận lại vinh quang khi Chúa tái lâm (IGi1Ga 3:3).
3. Bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân: Con người tội lỗi thường cố gắng che đậy tội lỗi cũng như trấn an mặc cảm phạm tội vì cớ hổ thẹn về tội lỗi mình. Nhưng sự che đậy đó không được lâu dài vì lá vả sẽ khô. Tuy nhiên điều đáng sợ hơn là khi con người chai lỳ không còn biết hổ thẹn.
II. PHÂN CÁCH KHỎI ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Lối chiều, Chúa đi ngang qua vườn: Chúa có thói quen đến thăm viếng ông bà để tương giao với họ, ban phước cho họ.
2. Ađam và vợ nghe tiếng Chúa: Chúa luôn muốn con người nghe tiếng Ngài. Ngài chủ động tìm kiếm và trò chuyện với con dân Ngài.
3. Ađam và vợ ẩn mình giữa bụi cây: Cây cối trong vườn đẹp đẽ đầy trái ngon ngọt đã trở nên vật cản giữa tội nhân với Đức Chúa Trời.
4. Để tránh mặt Chúa: Tội lỗi khiến con người bị ngăn cách khỏi Chúa. Tội nhân sợ hãi, không dám đối diện với Đưc Chúa Trời thánh khiết. Họ không dám đối diện với hậu quả của tội lỗi do chính mình gây nên.
III. PHÁ ĐỔ MỌI MỐI TƯƠNG GIAO TỐT ĐẸP
1. Giêhôva Đức Chúa Trời kêu Ađam: Ngươi ở đâu? Câu trả lời không dành cho Đức Chúa Trời mà dành cho con người. Họ phải nhận rõ mình đang ở đâu, đang ở trong tình trạng nào. Họ cũng cần nhận biết rằng Chúa đang đi tìm họ và họ không thể trốn chạy khỏi Ngài.
2. Ađam đổ lỗi: Ađam gợi vợ mình là “người nữ”, đánh mất mối tương giao thiêng liêng. Ông muốn đổ hết tội cho Êva, nghĩa là đánh mất tình yêu đối với vợ. Ađam còn đổ lỗi cho Chúa vì Chúa đã để “người nữ”ở gần bên ông để bà cám dỗ ông phạm tội.
3. Êva đổ lỗi: Êva đổ lỗi cho con rắn, gián tiếp đổ lỗi cho Đức Chúa Trời đã cho con rắn ở trong vườn Êđem để cám dỗ bà.
HÌNH PHẠT KẺ CÁM DỖ
Kinh Thánh: SaSt 3:14-15
I. LÝ DO HÌNH PHẠT
1. Vì mầy: Những hình phạt dành cho con rắn không thể hiểu theo nghĩa đen vì con rắn không ăn bụi đất. Vì thế chữ mầy ở đây chỉ về Satan thì hợp lý hơn (RoRm 16:20. KhKh 12:9).
2. Đã làm điều nầy: Đã có ý định, lập chương trình, khởi xướng sự cám dỗ, đưa con người vào sự phản loạn, phạm tội và chết trong tội lỗi.
II. MẦY SẼ BỊ RỦA SẢ
1. Hơn các loài súc vật: Bởi tội lỗi con người mọi vật đều bị rủa sả. Tuy nhiên, kẻ cám dỗ bị rủa sả nhiều hơn. Mọi vật còn có cơ hội đổi mới nhưng Satan không có cơ hội đổi mới: Nó bị định cho hồ lửa (20:10)
2. Mầy sẽ bò bằng bụng: Có người cho rằng trước khi bị rủa sả, rắn đứng được. Tuy nhiên, nếu áp dụng cho ma quỷ thì “bò bằng bụng”tượng trưng cho sự hạ cấp bị ghét bỏ và sống trong khốn khổ.
3. Ăn bụi đất trọn cả đời: “Ăn bụi đất”tượng trưng cho việc bị đánh bại bị bêu xấu. Ma quỷ đã cố gắng tấn công nhưng không thể chiến thắng.
III. SỰ RỦA SẢ LIÊN HỆ VỚI NGƯỜI NỮ
1. Hai dòng dõi nghịch thù nhau: Dòng dõi người nữ là nhân loại do Êva sinh ra. Cựu Ước giải thích là con cháu Ysơraên. Tân ước giải thích là Chúa Jesus vì chữ “dòng dõi”ở số ít và Chúa Jesus do trinh nữ sinh ra.
. Dòng dõi con rắn: Không thể hiểu là rắn con, cũng không phải là ma quỉ con vì ma quỷ không thể sinh sản. Chữ “nghịch thù”(ebhah) chỉ dùng cho người. Vì thế dòng dõi con rắn là người sống theo xác thịt (GiGa 8:44), chối bỏ chống nghịch Chúa (CoCl 1:21), kẻ tà dâm (Gia Gc 4:4), kẻ phạm tội (IGi1Ga 3:8), kẻ không làm điều công bình, không yêu anh em mình (3:10).
2. Người sẽ giày đạp đầu mầy: “Người”ở đây là số ít giống đực nên phải hiểu là Chúa Jesus là “Người Dòng dõi”. Lưu ý, không phải giày đạp dòng dõi mầy mà là giáy đạp đầu mầy (Satan).
. Chúa giày đạp đầu Satan bởi sự chiến thắng cám dỗ (Mat Mt 4:1-11), bởi sự chết thay nhân loại (HeDt 2:14), bởi sự sống lại vinh quang (CoCl 2:12)/
3. Mầy sẽ cắn gót chơn Người: Chúa chịu nhục nhã đau đớn tại Gôgôtha, Chúa chịu đau đớn vì con cái Ngài theo ma quỷ làm buồn lòng Ngài.
HÌNH PHẠT NGƯỜI NỮ
Kinh Thánh: SaSt 3:16
I. ĐẶC TÍNH CỦA SỰ CHÚA SỬA PHẠT CON NGƯỜI
1. Luôn luôn công bằng và hợp lý: Chúa không bao giờ thiên vị. Con người nhận đúng điều họ đáng phải chịu, không hơn, không kém.
2. Luôn luôn khôn ngoan, có mục đích và đầy nhơn từ: Chúa khôn ngoan ấn định mức độ và cách sửa phạt, với mục đích đưa họ vào sự ăn năn, quay về với Chúa để được thương xót.
3. Ađam Êva đại diện cho cả dòng dõi loài người: Sự sửa phạt có giá trị cho cả dòng dõi loài người vì người “chết”thì sinh ra dòng dõi chết.
II. THÊM ĐIỀU CỰC KHỔ BỘI PHẦN
1. Đủ loại cực khổ: Nguyên văn chữ “trong”(trong cơn thai nghén) là “và”có nghĩa là “nhất là”. (H. C. Leupold). Như thế, người nữ phải chịu đủ loại cực khổ (itstsebhon: rắc rối, phiền muộn, đau đớn).
. Người nữ chịu cực khổ vì bản tính của mình là nhạy cảm, yếu đuối, chú ý đến tiểu tiết/nên dễ buồn rầu hơn người nam do sống bằng xúc cảm.
2. Nhất là trong cơn thai nghén: Khi trước, đây là phước hạnh vì làm trọn sứ mạng Chúa giao. Nhưng nay là điều khổ sở, mệt nhọc đầy lo lắng.
3. Phải chịu đau đớn mỗi khi sinh con: Chữ “sinh con”không chỉ nói đến sự sinh nở mà còn nói đến sự đem một người vào thế gian với đầy đủ sự nuôi nấng, săn sóc. Với bản tính của mình, người mẹ sẽ thấy đau đớn khi thấy con mình đau đớn khốn khổ hay hư hỏng/
III. ĐỐI VỚI NGƯỜI CHỒNG
1. Dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng: “Dục vọng”(teshuqah) là mong muốn, thèm khát. Không phải chỉ nói về thân xác mà nói đên sự mong muốn ổn định trong một gia đình. (Thiếu niên nữ nói về bạn trai nhiều hơn thiếu niên nam nói về bạn gái). Một phần vì nữ giới đông hơn nam giới. Một phần khác vì người nam ít gắn bó với gia đình hơn người nữ và gây đổ vở gia đình nhiều hơn.
2. Chồng sẽ cai trị ngươi: Êva đã dành quyền quyết định, đưa gia đình vào khốn khổ. Nay bà phải trở về đúng vị trí của mình. Uy quyền, luật pháp và trật tự là điều không thể thiếu trong xã hội lẫn gia đình và cuộc sống (Eph Ep 5:22-23).
HÌNH PHẠT NGƯỜI NAM
Kinh Thánh: SaSt 3:17-19
I. LÝ DO BỊ PHẠT
1. Vì ngươi nghe theo lời vợ: Đáng lẽ Ađam phải hướng dẫn vợ trở lại cùng Chúa, ông lại nghe theo sự thuyết phục của Êva.
2. Ăn trái cây Ta dặn không nên ăn: Đáng lẽ vâng lời Chúa dặn, ông lại vâng lời vợ dù Êva không ép buộc! Ađam tự nguyện chọn con đường bất tuân, chống lại mạng lệnh Chúa và chính Chúa.
II. THẾ GIỚI BỊ RỦA SẢ
1. Đất bị rủa sả vì ngươi: Ađam ra từ đất (thuộc về đất) và đất là ngôi nhà của Ađam (thuộc về Ađam). Vì thế, đất cũng bị rủa sả vì Ađam. Những vật ra từ đất cũng bị rủa sả : cây cỏ, súc vật / mọi vật trên đất. Vì thế muôn vật đang trông mong thoát khỏi hư nát (RoRm 8:19-21).
2. Đất sẽ sanh chông gai và cây “tật lê? ”: Khi sự tốt lành không còn thì chỉ còn gai gốc làm đau đớn, khốn khổ. Thay vì tự sinh ra cây trái ngon ngọt, đất phải được cày xới, trồng trọt mới có cây trái cho con người.
III. CUỘC SỐNG KHÓ NHỌC
1. Trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc (itstsebhon ): Phải đối diện với sự đau đớn, khổ sở, khó nhọc/ cả tinh thần lẫn vật chất trọn cả đời.
2. Ngươi phải làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn: Thiên nhiên tốt đẹp không còn phục dưới con người. Con người phải chống chọi với thiên nhiên để đáp ứng nhu cầu căn bản của mình. Mồ hôi, nước mắt và khó nhọc phải đổ ra chỉ để tìm được cái ăn.
III. SỰ CHẾT
1. Cho đến ngày ngươi trở về đất: Hơi sống Đức Chúa Trời khiến bụi đất trở nên loài sanh linh. Nhưng tội lỗi đã khiến họ trở về bụi đất.
2. Họ đã, đang và sẽ chết: Họ đã chết về tâm linh, đang đi vào cái chết thân xác và sẽ bước vào cái chết đời đơi. Vì tội lỗi, kết thúc thật bi thảm!
I V. CHÚA JESUS CHỊU ĐOÁN PHẠT THAY
1. Chúa đã chịu cực khổ: Chịu phục dưới luật pháp (GaGl 4:4). Trở nên rủa sả vì chúng ta (ISa1Sm 3:13). Bị gai đâm (Mac Mc 15:17). Đổ mồ hôi như giọt huyết (LuLc 22:44). Linh hồn buồn bực cho đến chết (Mat Mt 26:38. EsIs 53:11).
2. Ngài đã chết vì tội nhân: Vâng phục cho đến chết (Phi Pl 2:8. IPhi 1Pr 3:18).
SAU LỜI TUYÊN ÁN
Kinh Thánh: SaSt 3:20-21
I. AĐAM GỌI VỢ LÀ ÊVA
1. Lần đầu tiên tên Êva xuất hiện: Trước đây Êva được Đức Chúa Trời gọi là kẻ giúp đỡ, được Ađam gọi là người nữ, Kinh Thánh gọi Êva là người nữ hay vợ.
2. Êva (Chavvah ): Nghĩa là sự sống, là sống, ban sự sống hay là mẹ của cả loài người (loài sống).
3. Sự đặt tên bày tỏ đức tin của Ađam: Ađam đã tin lời Chúa hứa trong 3:15-16 rằng người nữ sẽ sinh con cái và nhất là sẽ sinh ra một người dòng dõi sẽ giày đạp đầu con rắn, giải cứu con người. Vì thế ông đã đặt tên bà là Êva nghĩa là sự sống.
. Hành động đức tin đó cũng chứng tỏ sự ăn năn của ông vì người có đức tin thật phải là người biết ăn năn.
II. VIỆC CHÚA LÀM CHO CON NGƯỜI
1. Chúa lấy da thú kết thành áo dài cho Ađam Êva: Chúa đã bày tỏ tình yêu và sự chăm sóc kỳ diệu cho loài người. Ngài biết tội lỗi đã làm hư hỏng thế giới khiến thời tiết thay đổi, loài người cần áo dài để bảo vệ.
. Chúa muốn chỉ cho con người thấy rằng dù họ khước từ Ngài, Ngài vẫn yêu họ. Ngài muốn họ tin cậy và bước theo Ngài, làm đúng điều Ngài dạy để kinh nghiệm sự chăm sóc kỳ diệu của Ngài cho mọi nhu cầu thiết thực của họ (Mat Mt 6:33).
. Chúa muốn dạy họ thế nào là hậu quả của tội lỗi. Họ học biết thế nào là sự chết khi thấy các sinh vật bị giết để lấy da làm áo cho họ.
. Chúa muốn dạy họ sinh tế là cần thiết dường nào để giải quyết cho tội lỗi của họ.
2. Chúa mặc áo cho họ: Mặc cảm tội lỗi và hổ thẹn là kết quả của tội lỗi. Họ không thể tự che đậy hoặc che giấu. Họ cần chạy đến với Chúa, thừa nhận tội và để chính Chúa mặc áo cho mình.
. Chiếc áo công nghĩa của Chúa Jesus mới che đậy sự hổ thẹn và mặc cảm tội lỗi của tội nhân biết ăn năn.
. Họ thấy rõ lòng thương xót của Chúa cho mình và cần phải sống nương nhờ nơi lòng thương xót kỳ diệu của Chúa với lòng biết ơn.
ĐUỔI KHỎI VƯỜN ÊĐEN
Kinh Thánh: SaSt 3:22-24
I. VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
1. Về phân biệt điều thiện điều ác: Bây giờ, loài người không những biết điều thiện mà còn biết thêm điều ác ! Họ đã quay lưng với Chúa, khước từ, chối bỏ Chúa, bất tuân lời Chúa, phản nghịch với Ngài. Họ đã làm điều ác để phân biệt được thiện ác. Một sự tri thức phải trả giá quá đắt !
2. Loài người đã thành một bực như chúng ta: Có một hố sâu khác biệt giữa con người với Đức Chúa Trời về tri thức về điều thiện và điều ác:
. Đức Chúa Trời biết điều thiện vì Ngài là thiện, suy nghĩ, thực hiện điều thiện; trong khi con người chỉ nhận ra điều thiện mà không có sức làm.
. Đức Chúa Trời biết điều ác vì nó bày ra trước cái nhìn toàn tri của Ngài; trong khi con người biết điều ác bằng kinh nghiệm: Suy nghĩ, hành động và đắm mình trong tội lỗi.
II. QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Không để con người hái trái cây sự sống: Con người tìm cách chống lại số phận chết (Tìm thuốc trường sinh giống Ađam tìm cây sự sống).
2. Không để con người làm tội nhân đời đời trong thế giới hư hỏng: Vì như thế, họ sẽ không bao giờ tìm lại sự hiện diện của Chúa. Họ sẽ bị rủa sả đời đời, khốn khổ đời đời.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI HÀNH ĐỘNG
1. Chúa đuổi loài người ra khỏi Êđen: Chúa muốn đưa con người vào thế gian để thấy giá trị của quyết định bất tuân lời Chúa. Nhưng Ngài cũng ban cho họ một cơ hội mới để chứng tỏ sự vâng phục: Nuôi dưỡng đức tin nơi Người Dòng dõi sẽ giải cứu họ khỏi tội lỗi, đưa họ trở lại địa vị công bình, toàn hảo.
. Đây là hành động của tình yêu: Đáng lẽ đưa con người vào phần mộ, vào địa ngục hoặc để mặc họ sống trong tội lỗi thì tình yêu đã khiến Chúa ban cho họ một cơ hội mới trong thế gian để Người Dòng dõi sẽ đến.
2. Chúa đặt các Chêrubin giữ cây sự sống: Ngài muốn cản ý định điên rồ tìm sự sống mà không có Đức Chúa Trời. Ngài muốn họ nhận ra rằng họ chỉ có thể trở về thiên đàng nhờ tình yêu Chúa qua Người Dòng dõi.
HAI SỰ THỜ PHƯỢNG
Kinh Thánh: SaSt 4:1-5
I. HAI NGƯỜI CON TRAI ĐẦU TIÊN
1. Êva sanh Cain: Sau chín tháng chờ đợi, Cain ra đời:
. Cain là niềm vui vô tả cho Ađam Êva vì là đứa con đầu tiên trên đất.
. Cain là niềm hy vọng lớn lao cho Ađam Êva vì họ nghĩ rằng “Người Dòng dõi”đã đến. Cain (ganah) nghĩa là đạt được, sở hữu được.
. Sự đặt tên và lời cảm tạ Chúa của Êva bày tỏ đức tin của ông bà.
2. Êva lại sanh Abên: Abên (hebhel) nghĩa là hư không, tạm bợ, hơi thở, là vô nghĩa. Có lẽ Ađam Êva đã nhận biết Cain không phải Người Dòng dõi. Có lẽ họ đã cảm thấy cuộc sống trên đất thật mong manh, vô nghĩa khi chưa có Người Dòng dõi đến.
3. Hai nghề khác nhau: Cain làm ruộng còn Abên chăn chiên. Hai nghề nhằm đáp ứng hai nhu cầu quan trọng con người là thức ăn và quần áo. Hai nghề đều tốt đẹp theo sự dạy dỗ của Chúa và của cha mẹ.
II. HAI SỰ THỜ PHƯỢNG
1. Thời gian và địa điểm: “Cách ít lâu”nguyên văn là cuối các ngày. Có thể là cuối mùa gặt, hay là cuối tuần (ngày sabát), hay là khi họ ra riêng. Địa điểm không được nêu. Có lẽ là cửa vườn Êđen vì đó là khao khát của con người.
2. Của dâng: Cain dùng thổ sản để dâng: Sản vật đầu mùa hay sản vật tốt nhất của đất. Abên dâng chiên đầu lòng cùng mở nó, một sinh tế.
III. ĐÁP ỨNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Chúa đoái xem Abên và nhậm lễ vật người: HeDt 11:4 giải thích là vì cớ đức tin của Abên thể hiện bằng việc dâng sinh tế (một hình ảnh tượng trưng cho sự thay thế của Chúa) và đời sống công bình. Chúa đoái xem tiếp nhận cả Abên lẫn của lễ của Abên dâng lên cho Chúa.
2. Chúa không đoái xem Cain và không nhậm lễ vật người: Có người bảo vì ông không vâng lời Chúa dâng sinh tế (KT không nói). IGi1Ga 3:12 giải thích vì Cain là người thuộc về ma quỉ, người làm những việc dữ (Đối chiếu với SaSt 4:7 “Nếu ngươi làm lành”).
. Như thế, Chúa đoái xem người dâng trước rồi Ngài mới đoái xem của lễ. Chúa thấy rõ tấm lòng và đời sống người dâng.
TỘI GIẾT NGƯỜI ĐẦU TIÊN
Kinh Thánh: SaSt 4:5b-8
I. BƯỚC ĐẦU TIÊN : GIẬN DỮ
1. Cain giận lắm: Lòng đốt cháy với cơn giận hung dữ :
. Cain giận Đức Chúa Trời đã không nhận của lễ và ban phước cho mình. Một sự phản loạn vì không biết mình là ai trước mặt Chúa. Đáng lẽ Cain phải giận với chính mình đã xúc phạm Chúa khiến Ngài không nhậm.
. Cain giận em mình vì ganh tỵ. Rõ ràng tình yêu không hiện hữu trong gia đình đầu tiên. Đáng lẽ Cain biết vui với kẻ vui thì Abên sẽ khóc với kẻ khóc để tình thương đưa họ vào sự trọn lành (CoCl 3:14).
2. Cain gầm nét mặt: Ước mơ không thành, Cain trở nên giận dữ bực bội với mọi người, tự cô lập mình. Cúi gầm mặt thay vì cúi gập mình trước Chúa để ăn năn, tìm sự tha thứ, sự an uỉ, cứu giúp từ nơi Chúa.
II. XEM THƯỜNG LỜI CẢNH CÁO
1. Chúa phán hỏi Cain: Cớ sao ngươi giận. ? Ngươi giận như thế có hợp lý không, có nên không? Chúa xoay Cain vào việc tìm hiểu lý do thất bại.
2. Chúa giải đáp: “Nếu ngươi làm lành?”Hỏi là trả lời. Chúa muốn dạy Cain lý do thất bại là vì ông đã không làm lành, không làm đúng điều Chúa muốn: Chúa muốn Cain thừa nhận tội, ăn năn để Ngài tha thứ.
3. Chúa cảnh cáo: Nếu không làm lành thì tội lỗi rình trước cửa: Quay lưng với Chúa là tiến gần đến ma quỷ. Tội lỗi (chattath) là nhắm, bắn sai mục tiêu. Đáng lẽ yêu Chúa thì Cain yêu mình, yêu ma quỷ. Đáng lẽ chống ma quỷ và bản ngã thì ông lại chống Chúa và chống em mình.
. Tội lỗi thèm ngươi lắm: Ma quỷ thèm muốn chiếm hữu, nuốt trọn Cain.
. Ngươi phải quản trị nó: Phải nhờ Chúa để bắt phục tội lỗi, bản ngã, ý riêng. Phải sống tự do chứ đừng làm nô lệ cho bất cứ điều ác nào.
III. GIẾT CHÍNH EM MÌNH
1. Cain thuật lại cùng em mình: Đúng ra là Cain rủ em mình đi ra đồng. Một sự lừa dối có tính toán: Đưa Abên vào chỗ vắng vẻ để không ai thấy.
2. Cain xông đến và giết em mình đi: Tội ác kinh khiếp: Giết chính em mình với âm mưu, với thủ đoạn lừa dối. Sáu lần Kinh Thánh cho biết việc Cain làm là với “Abên, em mình”. Thật đúng,“Giận”là “Giết người”.
HÌNH PHẠT KẺ GIẾT EM MÌNH
Kinh Thánh: SaSt 4:9-15
I. CUỘC XÉT XỬ
1. Lời chất vấn: Chúa hỏi Cain: “Abên, em ngươi, ở đâu ?”.
. Không phải hỏi cung để biết mà Chúa muốn Cain đối diện với tội mình.
. Chúa nhấn mạnh để đánh thức Cain về mối liên hệ thiêng liêng giữa Abên với Cain. Qua đó Cain thấy được mức độ trầm trọng của tội mình.
. Chúa nhắc Cain thấy trách nhiệm lớn lao của một người anh đối với em.
2. Lời bào chữa: Cain thưa: “Tôi không biết, tôi là người giữ em tôi sao ?”
. Cain tiếp tục phản loạn, nói dối với Chúa, không nhận tội. Thật ra, Cain đã biết mình đã phạm tội nặng nên sợ hình phạt, không dám nhận. Điều nầy chứng tỏ Cain chưa biết gì về Chúa (thì dâng của lễ để làm gì ?).
. Cain khước từ trách nhiệm đối với em. Cain thật ích kỷ và bất công.
. Cain càng lún sâu vào tội khi ngu dại muốn che giấu tội lỗi mình.
. Cain cứng lòng, không chịu hạ mình nhận tội và ăn năn trước mặt Chúa.
3. Lời buộc tội: “Máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến Ta”.
. Abên dẫu chết vẫn còn nói (HeDt 11:4) lên án kẻ tội lỗi như một tiên tri của Đức Chúa Trời (LuLc 11:50-51).
. Máu của Abên kêu gào sự phân xử công bình của Đức Chúa Trời. Nhưng tạ ơn Chúa, máu của Chúa Jesus công bố sự cứu chuộc kẻ ăn năn.
. Chúa khẳng định chính tay Cain làm đổ máu em mình (c. 11).
II. ĐOÁN PHẠT KẺ GIẾT EM MÌNH
1. Tuyên bố đoán phạt: Cain bị rủa sả từ trong tâm hồn khiến bất an, khốn khổ vì bị đuổi khỏi sự hiện diện của Chúa (17). Đất bị ô uế bởi tội làm đổ huyết nên bị rủa sả thêm khiến Cain trồng tỉa không còn được huê lợi (là điều Cain đã hãnh diện). Cain sẽ phải lưu lạc và trốn tránh trên đất.
2. Lời than vãn, khiếu nại: Cain xem đây là hình phạt quá nặng, quá sức chịu đựng của con người. Đổ lỗi Chúa từ bỏ Cain chứ không phải Cain từ bỏ Chúa, Chúa đưa ông vào nguy hiểm bị người ta giết chết. (Có người bảo rằng đây là lời ăn năn, khẩn xin Chúa tha thứ, giảm bớt hình phạt).
3. Đặc ân Chúa ban: Chúa cho biết dù vì cớ có tội, Cain phải bị hình phạt, nhưng Chúa vẫn nhớ đến ông, bảo vệ ông khỏi chết nhờ dấu hiệu mà Ngài làm trên mình Cain. Thật Chúa đầy lòng nhơn từ thương xót.
DÒNG DÕI CAIN
Kinh Thánh: SaSt 4:16-24
I. DÒNG DÕI TỪ CHỐI ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Cain bèn lui khỏi mặt Đức Giêhôva: Chúa vẫn yêu thương, cảnh tỉnh Cain, đưa Cain vào sự ăn năn, nhưng Cain vẫn muốn sống cách xa Chúa.
2. Ở tại xứ Nốt, phía đông Êđen: Cain muốn sống xa Chúa, xa cha mẹ càng xa càng tốt, trở nên con cái ma quỷ, kẻ bước theo ma quỷ.
. Nốt (erets nodh) nghĩa là bất an. Không có Chúa không thể có yên nghỉ.
II. DÒNG DÕI TÌM VINH QUANG RIÊNG
1. Đặt tên con là Hênóc: Hênóc (chanoch) là khởi đầu. Khởi đầu một dòng dõi không có Đức Chúa Trời.
2. Cain xây thành: Tự tìm cách bảo vệ mình hơn là tin lời Chúa hứa.
3. Đặt tên thành là Hênóc: Muốn lưu danh mình và con mình cho hậu thế. Muốn mình trở thành bất tử.
4. Lập tôn giáo riêng: Đặt tên con “Yrát”là công dân hay niềm vinh dự. “Mêhudaên”là tẩy sạch bởi Chúa. “Mêtusaên”là người của Chúa. Họ có tôn giáo nhưng là tôn giáo không có Chúa hay một Chúa do họ đặt ra.
III. DÒNG DÕI TỰ TỔ CHỨC BẰNG SỨC NGƯỜI
1. Giabanh: Chăn nuôi súc vật và sáng chế lều trại.
2. Giubanh: Tự làm dịu căng thẳng cuộc sống bằng đánh đàn thổi sáo.
3. Tubanh Cain: Rèn đủ thứ khí giới bằng đồng và bằng sắt để phòng thủ và chiến tranh. Tổ chức quân sự.
4. Em gái là Naama: Nổi tiếng vì Naama là đẹp đẽ hấp dẫn, thú vị.
III. DÒNG DÕI BĂNG HOẠI
1. Đa thê: Lêméc có hai vợ có hai tên cho biết họ rất đẹp và hấp dẫn. Lêméc là người đầu tiên có hai vợ, khởi xương chủ nghĩa đa thê, đặt nền tảng trên sự sùng bái vẻ đẹp và dục tính, phát triển đến ngày nay.
2. Ca ngợi hận thù: Lêméc trả thù người đánh mình bằng việc giết người mà không chút cảm xúc. Tự giải quyết mối bất hòa bằng chiến tranh và hận thù.
3. Xấc xược: Kiêu căng về tội ác của mình và còn đùa cợt trên lòng nhơn từ của Chúa đối với tổ phụ mình là Cain.
Hạt giống trần tục không có Chúa sinh ra cả dòng dõi phản loạn ô uế.
DÒNG DÕI THÁNH
Kinh Thánh: SaSt 4:25-26
I. DÒNG DÕI DO ĐỨC CHÚA TRỜI CHỈ ĐỊNH
1. Sết (Sheth): Nghĩa là ổn định, chỉ định, bổ nhậm. Hàm ý người được Chúa bổ nhậm để ổn định mọi rắc rối. “Sết”còn có nghĩa là thay thế.
2. Đức Chúa Trời đã cho tôi: Êva không nói “Nhờ Chúa giúp, tôi mới sanh”( 4:1), nhấn mạnh đến “tôi”. Ở đây, bà nhấn mạnh đến “Chúa”. Bà nhận biết đây chính là người sẽ sinh ra Người Dòng Dõi mà bà mong đợi. Có lẽ ông bà đã khẩn nguyện Chúa ban Người Dòng Dõi và bây giờ một dòng dõi thánh đã bắt đầu.
3. Thế cho Abên: Êva đã thấy được đời sống thánh thiện, đầy đức tin của Abên. Bà đau đớn không những vì mất hai đứa con mà còn vì mất đi Abên là người có thể sinh ra Người Dòng Dõi.
4. Đã bị Cain giết rồi: Bà không thể quên được tội ác ghê tởm của Cain, làm tiêu tan kỳ vọng bà đặt nơi Abên. Tuy nhiên, bà cần trông đợi Chúa.
II. DÒNG DÕI THÁNH Ý THỨC SỰ YẾU ĐUỐI, TẠM BỢ
1. Sết đặt tên con là Ênót: Ênót có nghĩa là mong manh, chết chóc, yếu đuối, tật bệnh. Có lẽ vì Ênót có những dấu hiệu tật bệnh ốm yếu. Cũng có lẽ vì Sết nhận thức đời người mong manh chóng qua.
2. Đây là bí quyết được mạnh mẽ: Càng ý thức sự yếu đuối, mong manh của mình chừng nào, chúng ta lại càng chạy đến Chúa để cầu xin năng lực, sự cứu giúp để sống sung mãn.
III. DÒNG DÕI THÁNH CẦU KHẨN DANH CHÚA
1. Người ta bắt đầu cầu khẩn: Có lẽ Ađam Êva đã dạy dỗ con cái mình kính sợ Chúa. Nhưng tai họa xảy đến cho Abên đã làm một số sợ hãi. Mãi cho đến khi Ênót được sinh ra: Khi ý thức sự yếu đuối, mong manh của mình, con người mới kêu cầu Chúa cứu giúp.
2. Cầu khẩn Danh Đức Giêhôva: Trước tiên cần nhận biết Chúa Tự hữu Hằng hữu là Đấng Cứu Chuộc sẵn sàng bày tỏ lòng thương xót. Sau đó, cần xác nhận sự hiến dâng đời sống mình cho Chúa cai quản. Chuối cùng mới phát triển được mối tương giao với Chúa.
TÓM TẮT CUỘC ĐỜI AĐAM
Kinh Thánh: SaSt 5:1-5
I. ĐƯỢC ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN
1. Chính Đức Chúa Trời dựng nên: Không bởi ngẫu nhiên, không do phản ứng trong thiên nhiên hay theo thuyết tiến hóa. Đức Chúa Trời có chương trình và mục đích cho con người trên đất.
2. Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời: Với những phẩm chất cao quý, rất tốt lành để có thể tương giao với Ngài.
3. Ngài dựng nên người nam và người nữ: Để yêu thương nhau giúp đỡ nhau, an ủi nhau trong sứ mạng quản trị trái đất và đêí lưu truyền dòng dõi loài người.
II. ĐƯỢC CHÚA BAN PHƯỚC
1. Được hưởng Êđen: Khu vườn tốt nhất trong thế giới rất tốt lành.
2. Được tương giao với Chúa: Mỗi ngày được gặp Chúa, trò chuyện với Chúa và được Chúa dạy dỗ, dẫn dắt.
3. Được Chúa đặt tên: Được thuộc riêng về Chúa. Tên của ông bà là Ađam nghĩa là người bụi đất hay đất đỏ, nhấn mạnh đến bản chất bụi đất đã được bàn tay Chúa tạo dựng nên tốt lành nên thuộc riêng về Ngài.
4. Được Chúa giao quản trị trái đất: Tạo vật tốt lành nhất, mang hình ảnh Chúa, thay mặt Chúa để quản trị mọi vật Ngài dựng nên.
III. ĐƯỢC CHÚA THƯƠNG XÓT
1. Sanh một con trai giống như hình tượng mình: Không giống như hình Đức Chúa Trời (c. 1), vì tội lỗi đã phá hỏng, khiến con ngươi đầy khuyết điểm và lầm lỗi.
2. Đặt tên là Sết: Người được Chúa bổ nhậm để ổn định mọi rắc rối, người thay thế Abên, người sẽ sinh ra Người Dòng Dõi theo lời Chúa hứa.
IV. ĐƯỢC YÊN NGHỈ
1. Sanh con trai con gái: Thực hiện sứ mạng làm đầy dẫy đất. Nhưng đây là dòng dõi thánh của những người biết cầu khẩn Danh Chúa, biệt lập với dòng dõi thế tục của Cain. Lưu ý là Cain không có tên trong danh sách.
2. Hưởng thọ 930 tuổi rồi qua đời: Dù phải trở về cát bụi theo lời đoán phạt nhưng Ađam có thể yên nghỉ vì hy vọng nơi Người Dòng Dõi.
TỪ SẾT ĐẾN HÊ NÓC
Kinh Thánh: SaSt 5:6-20
I. BẢN LIỆT KÊ NHỮNG NGƯỜI TIN CHÚA
1. Những người tin Chúa và tin lời Chúa: Họ nhận biết Chúa là Đức Chúa Trời của mình, tin Chúa và tiếp nhận lời Chúa dạy, lời Chúa hứa cho mình.
2. Những người cầu khẩn Danh Chúa: Nhờ cậy Chúa, bước đi theo Chúa và làm theo lời Chúa dạy, chờ đợi lời Chúa hứa về Người Dòng Dõi.
II. BẢN LIỆT KÊ NHỮNG NGƯỜI CÙNG MỘT GIA ĐÌNH
1. Dòng dõi thánh không vì huyết thống: Cain cùng huyết thống mà không được ở trong dòng dõi thánh (Chúa không có “cháu nội”).
2. Do tin nhận Chúa nhờ giáo dục của cha mẹ: Cha mẹ phải có bổn phận dạy con cái về Chúa bằng lời nói và cuộc sống cũng như sự cầu nguyện khẩn thiết cho con cái.
. Cha mẹ phải dạy dỗ con cái biết Chúa, biết lời Chúa để tin nhận Chúa, yêu Chúa và bước đi theo Chúa, vâng phục Ngài.
3. Nhiều người con không được ghi tên: Trong số đó, có người tin Chúa, có người không tin vì “con cái loài người”rất đông. Trong trường hợp nầy, cha mẹ cần chiến đấu trong sự cầu nguyện cho con cái mình.
III. HÊ NÓC RA ĐỜI
1. Ý nghĩa tên của Hênóc: Hênóc (Chanokh) là cung hiến, cũng có nghĩa là người khởi xướng và giáo sư.
2. Đặc điểm sơ khởi của Hênóc: Qua tên gọi, Hênóc thật đã chứng tỏ :
. Hênóc hoàn toàn tận hiến đời sống mình cho Đức Chúa Trời.
. Hênóc là người khởi xướng một đời sống sâu nhiệm trong Chúa, một đời sống tương giao thân thiết, sống động, bền vững với Chúa.
. Hênóc là giáo sư dạy con người về cuộc sống và sự bước theo Chúa : Đồng đi cùng Đức Chúa Trời.
CUỘC ĐỜI HÊ NÓC
Kinh Thánh: SaSt 5:21-24
I. HÊ NÓC ĐỒNG ĐI CÙNG ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Ý nghĩa: “Đồng đi”trước tiên hàm ý mối tương giao thân thiết, sống động, bền vững giữa Hê Nóc với Chúa. “Đồng đi”còn hàm ý tiến tới trước, liên tục tiến tới không dừng lại không tẻ tách cũng không quay lại.
. “Đồng đi cùng Đức Chúa Trời”chứng tỏ Hê Nóc biết rõ Chúa, tin cậy Chúa cũng như hết lòng tìm kiếm Chúa (HeDt 11:5-6).
. Muốn đồng đi cùng Đức Chúa Trời Hê Nóc phải xác định hướng đi của mình, ý muốn của mình rập theo khuôn của Chúa.
. Ngoài ra, Hê Nóc cũng phải có cùng sự sống với Chúa mới có thể cùng đi với Chúa.
2. Điểm khởi đầu: Hê Nóc đồng đi cùng Chúa sau khi sanh Mêtusêla. Rõ ràng, Hê Nóc nhận thức sâu xa trách nhiệm đối với con cái, làm sao để nó sống trong một gia đình thánh, nó cần tin cậy và vâng phục Chúa trong khi ông chỉ là con người bất toàn ! Vì thế, con đường duy nhất là quay về với Chúa, bước vào tương giao với Chúa để nhận năng quyền hướng dẩn con cái mình. Vì thế, Hê Nóc đã là giáo sư, không những cho nhà mình mà còn cho thế gian lúc bấy giờ (Giu Gd 1:14-16).
3. Yêu cầu: Đồng đi cùng Đức Chúa Trời là điều KT đòi hỏi, là gương các thánh tổ (SaSt 5:22, 24; 6:9).
4. Ap dụng: Chúng ta phải đồng đi với Chúa: Đi trước mặt Chúa (17:1). Đi theo sau Chúa (GiGa 10:4, 27). Bước đi trong Chúa (CoCl 2:6). Bước đi trong sự sáng, trong lẽ thật, trong Thánh Linh. Bước đi bằng đức tin chứ không bằng mắt thấy (IICo 2Cr 2:7),
II. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ TIẾP NGƯỜI LÊN
1. Đồng đi cùng Chúa trong 300 năm: Sống ở thế gian (sinh con cái)mà có nếp sống thiên đàng.
2. Đức Chúa Trời tiếp người đi: Hê Nóc không thấy sự chết vì: Hê Nóc nhờ ở gần Chúa đã có đời sống từ chối chính mình. Vì để khích lệ người khác cùng sống với Chúa.
TỪ MÊTUSÊLA ĐẾN NÔ Ê
Kinh Thánh: SaSt 5:25-52
I. MÊTUSÊLA
1. Ý nghĩa : “Mêtusêla”có nghĩa là khí giới là cây lao cây giáo. “Mêtusêla”còn có nghĩa là “Khi người chết, “nó ” sẽ đên”.
. Hênóc là người thánh của Đức Chúa Trời, vì thế Chúa chắc đã mặc khải cho ông về sự đoán xét sắp đến (bởi nước lụt).
. Hênóc đã giảng về sự phán xét những kẻ không tin kính (Giu Gd 1:15).
. Vì thế, hoặc chính Chúa đặt tên, hoặc Hênóc được mặc khải để đặt tên con là Mêtusêla, nghĩa là “Khi người chết, sự phán xét sẽ đến”.
2. Ưng nghiệm: Mêtusêla lớn hơn Lêméc 187 tuổi. Lêméc lớn hơn Nô Ê 182 tuổi. Như thế, Mêtusêla lớn hơn Nô Ê 369 tuổi. Khi Mêtusêla chết ở tuổi 969 thì Nô Ê được 600 tuổi, là lúc đại hồng thủy sắp bắt đầu.
. Mêtusêla là người sống lâu nhất, là người làm chứng lâu nhất về ân điển lạ lùng của Chúa cho dòng dõi thánh trên đất cũng như làm chứng về cơn đoán phạt của Chúa dành cho kẻ không chịu ăn năn.
II. NÔ Ê
1. Lêméc đặt tên con: “Nô Ê”có nghĩa là an ủi và nghỉ ngơi. Lêméc chắc hẳn đã quá mỏi mệt khi chiến đấu với cuộc sống mỗi ngày trên đất. Điều nầy bật lên trong ông niềm hy vọng về Người Dòng Dõi. Sự đặt tên bày tỏ đức tin năng động của Lêméc nơi Đức Chúa Trời.
2. Sứ mạng của Nô Ê: Lêméc nói rằng Nô Ê sẽ an ủi lòng ông về công việc và sự nhọc nhằn mà đất bị rủa sả đã bắt tay ông phải làm. Nô Ê thật đã yên ủi ông ít nhất là về bốn phương diện:
a. Nô Ê bảo tồn dòng dõi loài người qua cơn nước lụt.
b. Nô Ê bảo tồn dòng dõi thánh qua cơn nước lụt.
c. Nô Ê bảo tồn hy vọng về Chúa Cứu Thế (Người Dòng Dõi).
d. Nô Ê bảo tồn hy vọng về sự giải thoát trái đất khỏi sự rủa sả do tội lỗi.
CON TRAI ĐỨC CHÚA TRỜI
Kinh Thánh: SaSt 6:1-4
I. CON TRAI ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Có người cho là các thiên sứ: Vì sách Gióp gọi thiên sứ là con trai Đức Chúa Trời. Điều nầy giải thích sự xuất hiện của người cao lớn (6:4) và thiên sứ cũng thường xuất hiện trong thân xác con người. Tuy nhiên lối giải thích nầy đi ngược lời dạy của Chúa Jesus trong Mat Mt 22:30.
2. Đa số cho là dòng dõi thánh của Sết: Vì Chúa thường gọi Ysơraên là con trai Ngài, văn mạch ở đây cũng phải hiểu như thế.
II. HÔN NHÂN KHÔNG ĐẸP LÒNG CHÚA
1. Loài người thêm nhiều trên đất: Cả dòng dõi trần tục lẫn dòng dõi thánh đều thêm nhiều. Tuy nhiên, bao giờ cũng vậy, người trần tục thì đông hơn người thánh.
2. Con trai Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp: Khuynh hướng chuộng bề ngoài, đi theo mắt mình ưa, lòng mình thích đã được phát triển giữa dòng dõi thánh !
3. Bèn cưới người nào vừa lòng mình: Họ đã tự đồng hóa bản chất mình với người tội lỗi trước khi cưới họ làm vợ !
III. KẾT QUẢ TRƯỚC MẮT
1. Loài người lầm lạc trong xác thịt: Khuynh hướng thiêng liêng không còn nữa, cái xấu ảnh hưởng đến cái tốt nhanh hơn điều ngườc lại. Loài người chỉ biết sống cho xác thịt, cho những nhu cầu thân xác.
2. Người cao lớn mạnh dạn được sinh ra: Nephilim nguyên văn là rơi xuống, té xuống, đúng ra phải dịch là kẻ sa đọa hung dữ đầy bạo lực. Xã hội tràn ngập tội lỗi, bạo hành, sa đọa /
III. KẾT QUẢ LÂU DÀI
1. Thần Chúa không ở trong loài người nữa: Đấng thánh khiết không thể ở trong lòng kẻ tội lỗi. Chúa không thể cáo trách kẻ không chịu ăn năn.
2. Đời người là 120 năm: Có người cho rằng tuổi thọ còn người chỉ còn 120 năm. Tuy nhiên, con cháu Nô Ê vẫn còn sống rất thọ hơn xa con số 120. Vì thế, phải hiểu rằng Chúa ban cho loài người cơ hội cuối cùng là nghe lời Nô Ê giảng trong 120 năm, khi ông vừa đóng tàu vừa giảng đạo.
LOÀI NGƯỜI HUNG ÁC
Kinh Thánh: SaSt 6:5-7
I. ĐỨC GIÊHÔVA THẤY
1. Chúa thấy: Không điều gì có thể giấu được khỏi Chúa, vì Ngài là Đấng thấy từ trong tấm lòng, trong tư tưởng của mọi người.
2. Sự hung ác của loài người rất nhiều: Chữ “Rất nhiều”có nghĩa là gia tăng gấp bội, càng ngày càng hơn. Tội lỗi loài người đã lên đến tột đỉnh.
3. Các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn: Những sự tưởng tượng và suy nghĩ của lòng người luôn luôn là xấu. Dù con người cũng có làm điều tốt, nhưng ngay cả điều tốt đó cũng không đạt tiêu chuẩn. Con người hung ác, hư hỏng hoàn toàn vì:
. Con người mang bản chất tội lỗi từ Ađam nên thất bại và phạm tội.
. Con người bất toàn nên không thể làm việc chi trọn lành được.
. Con người mang bản chất chết nên chỉ làm được những việc chết.
Vì thế, từng ngày, từng giờ, những tưởng tượng và tư tưởng sai lầm tràn ngập tâm trí con người.
“Ý tưởng của lòng họ”: Tấm lòng kiểm soát các tư tưởng trong trí. Tấm lòng tốt sẽ loại bỏ ngay các tư tưởng gian ác. Tuy nhiên, ở đây, tấm lòng con người hư hoại nên các tư tưởng gian ác tràn ngập tâm trí họ.
. Chúa Jesus gọi đời sống gian ác là “muối mất mặn” Mat Mt 5:13, “cây xấu sanh trái xấu” 7:17, “dòng dõi hung ác gian dâm” 12:39, “lòng cứng cỏi” 19:8 /.
II. CHÚA TUYÊN BỐ ĐOÁN PHẠT
1. Chúa tự trách đã dựng nên loài người: Tự trách (yinnahem) là than thở, rên siết, phiền não vì sự khốn khổ của mình hay của người khác. Ở đây, Chúa phiền não về con người Ngài đã dựng nên:
. Họ đã đem tội lỗi vào trong thế gian và càng ngày càng làm hỏng nó.
. Họ đã làm Chúa đau lòng như sự đau lòng của cha đối với đứa con hư.
. Họ đã chọc giận Chúa khiến cơn giận thánh khiết Ngài phải đổ trên họ.
. Họ đã tự kết án chính mình khi tự phân rẽ mình với Chúa.
2. Chúa tuyên án: Chúa sẽ hủy diệt cả loài người lẫn những vật dưới quyền quản trị của loài người là súc vật, côn trùng, chim trời/
NÔ Ê ! NGƯỜI ĐƯỢC ƠN
Kinh Thánh: SaSt 6:8-10
I. NÔÊ ĐƯỢC ƠN TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Đức Chúa Trời giàu ơn: Dù tuyên bố hủy diệt loài người, Chúa vẫn nhớ lời hứa của Ngài về Người Dòng Dõi sẽ giải cứu nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết. Ngài cũng hứa ban một dòng dõi thánh.
2. Nô Ê được ơn: Nô Ê tin nơi lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ ban cho mình “sự an ủi và nghỉ ngơi”(đúng như tên của ông) qua Người Dòng Dõi.
3. Đức Chúa Trời ban ơn: Chúa tuôn đổ ân điển, đặc ân của Ngài trên Nô Ê: Ngài thương xót Nô Ê, chọn lựa Nô Ê trở nên người được cứu khỏi cơn đoán phạt, người khởi đầu một dòng dõi thánh, dòng dõi được cứu nhờ ân điển và đức tin (Eph Ep 2:8).
II. ĐẶC TÍNH NGƯỜI ĐƯỢC ƠN
1. Nô Ê là người công bình: Từ ngữ “Công bình”(tsaddig) có 2 ý nghĩa:
. Được xưng công bình trước mặt Chúa, được Chúa kể là công bình. Nô Ê cũng như chúng ta hôm nay, được xưng công bình bởi đức tin (RoRm 5:1).
. Có đời sống công bình, đối xử với mọi người trong lẽ phải và sự công bằng. Nghĩa là sống chân thật, thanh liêm, đạo đức, làm theo lời Chúa.
Như thế, không phải chúng ta chỉ xưng nhận đức tin nơi Chúa, mà chúng ta phải có đời sống công bình trước mặt Chúa và người ta đúng như điều mình xưng nhận.
2. Nô Ê là người trọn vẹn: Trọn vẹn (tamim) là không bị chê trách trước mặt người khác chứ không có nghĩa là toàn hảo và vô tội. Đó là người chân thật, tốt lành.
3. Nô Ê đồng đi cùng Đức Chúa Trời: Giống như Hê Nóc, Nô Ê đã có một mối tương giao thân thiết, sống động, liên tục với Chúa, có cùng sự sống, cùng hướng đi để mỗi ngày tiến tới trong sự dẫn dắt của Chúa.
. Rõ ràng, Nô Ê có đời sống trái ngược với những người đương thời. Ông đã lội ngược giòng đời. Điều nầy đòi hỏi một đức tin mạnh mẽ và một lòng can đảm lớn lao.
4. Nô Ê giáo dục con cái về niềm tin nơi Chúa: Hai lần nhắc đến tên ba người con của Nô Ê, chứng tỏ Nô Ê đã thành công trong giáo dục con cái khiến cả gia đình ông đều được cứu, không thiếu người nào cả.
LỜI DẠY VỀ SỰ ĐÓNG TÀU
Kinh Thánh: SaSt 6:11-16
I. ĐỨC CHÚA TRỜI NHÌN XEM
1. Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian: Chúa chăm sóc thế giới và con người mà Ngài đã dựng nên. Chúa nhìn thấu suốt vì mọi sự đều bày ra ở trước mặt Chúa, không ai giấu được điều chi khỏi Ngài.
2. Đức Chúa Trời thấy thế gian đều bại hoại: Hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại. Con người phá hỏng chính mình và phá hỏng trái đất mà Chúa đã ban cho mình.
3. Đất đầy dẫy sự hung hăng (violence ): Đầy dẫy mọi hình thức tội lỗi và hư hoại xúc phạm đến cả Chúa lẫn con người.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI KHẲNG ĐỊNH ĐOÁN PHẠT
1. Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đến: Chúa mặc khải cho Nô Ê biết Ngài sẽ chấm dứt dòng dõi loài người trên đất và Ngài cũng giải thích cho Nô Ê biết lý do vì sao Ngài phải hành động như thế. Đây thật là một tin tức đáng kinh khiếp, không thể tưởng.
2. Chúa khẳng định đoán phạt: Hai lần Chúa đề cập đến việc nầy với lời khẳng định “Ta sẽ diệt trừ họ cùng đất”, không còn có thể sửa đổi. Có lẽ vì Chúa không muốn thế gian tội lỗi sẽ ảnh hưởng trên gia đình duy nhất kính sợ Chúa của Nô Ê, hoặc thế gian tội ác sẽ giết chết gia đình nầy.
III. CHÚA DẠY NÔ Ê ĐÓNG TÀU
1. Ngươi hãy đóng một chiếc tàu: Đây là một mạng lệnh có lẽ là khó nhất trong lịch sử loài người. Một việc làm sẽ bị xem là điên rồ, sẽ bị chống đối, bắt bớ, nhất là trong một thời gian quá lâu.
2. Chúa dạy rất cẩn thận: Vật liệu là gỗ gô phe rất đặc biệt cho việc đóng tàu (hiện nay không còn) lại được trét chai cả ngoài lẫn trong, bảo đảm an toàn. Kích thước rất lớn 150m x 25m cao 15m, với ba tầng để chứa được nhiều súc vật và lương thực, có chia thành từng phòng để tổ chức được trật tự. Tàu có một cửa sổ để thông gió và lấy ánh sáng.
. Điều quan trọng là tàu chỉ có một cửa bên hông. Đây là biểu tượng cho thấy chỉ có một con đường an toàn, chỉ có một cánh cửa của sự sống.
. Nô Ê cần tiếp nhận tất cả lời dạy với tất cả đức tin và vâng lời. Ông cần phải đứng về phía Đức Chúa Trời để sẵn sàng nghịch lại với cả thế gian.
TIN CẬY - VÂNG LỜI
Kinh Thánh: SaSt 6:17-22
I. LỜI CHÚA HỨA
1. Chúa sẽ hủy diệt loài người: Nô Ê cần tin chắc rằng:
. Chính Chúa sẽ thi hành sự đoán phạt: “Ta đây, Ta sẽ dẫn nước lụt”. Chính Đâng Sáng Tạo Yêu thương sẽ là Đấng Đoán xét mọi tạo vật.
. Sự đoán phạt bằng nước lụt chắc chắn sẽ đến.
. Mọi xác thịt có sanh khí dưới trời sẽ bị tuyệt diệt: Mọi vật sống dưới đất đều bị tuyệt diệt. Một số cá dưới nước có lẽ cũng bị chết khi các nguồn vực lớn nổ ra (7:11).
2. Chính Chúa lập giao ước cùng Nô Ê: Lần đầu tiên chữ “lập giao ước”được ghi, dù Chúa đã từng lập giao ước với Ađam rồi với Êva. Đây là giao ước về sự cứu rỗi chắc chắn dựa trên giao ước về Người Dòng Dõi mà Chắc hẳn Lê Méc là cha Nô Ê đã từng nghe chính Ađam dạy dỗ.
. Giao ước nầy đem sự cứu rỗi cho cả tám người trong gia đình của Nô Ê. Nô Ê có thể hoàn toàn yên nghỉ trên lời hứa của Chúa.
II. CHÚA TRUYỀN LỆNH
1. Nô Ê sẽ đưa gia đình vào tàu: Chúa muốn cứu toàn vẹn cả gia đình Nô Ê. Nô Ê có trách nhiệm hướng dẫn họ theo ông vào tàu.
2. Nô Ê sẽ dẫn các loàu súc vật xuống tàu: Nô Ê không cần đi săn. Mỗi loài vật muốn được bảo tồn sự sống phải đến cùng Nô Ê để ông đưa chúng xuống tàu. Ở đây, Chúa nhấn mạnh Nô Ê có trách nhiệm giữ tròn sự sống cho các loài vật.
3. Nô Ê phải đem theo các thứ đồ ăn: Chúa lo cho sự sống, Chúa cũng lo cho đồ ăn. Chúa quan tâm đến mọi nhu cầu thiết thực của mọi vật.
III. NÔ Ê VÂNG LỜI
1. Dù sứ mạng quá lớn: Lo cho gia đình, con cái, lo cho súc vật xuống tàu, rồi phải lo thức ăn cho người và vật suốt một năm không phải dễ dàng.
2. Nô Ê làm y như lời Chúa phán dặn: Đức tin mạnh mẽ đã khiến Nô Ê sẵn sàng vâng lời cách tuyệt đối. Ađam phá hỏng giao ước vì sự không vâng lời. Nô Ê nhận lại giao ước nhờ đời sống tin cậy vâng lời. Còn chúng ta thì sao ?
TUẦN LỄ CUỐI CÙNG TRƯỚC NƯỚC LỤT
Kinh Thánh: SaSt 7:1-9
Giữa đoạn 6 và đoạn 7 là một khoảng thời gian dài khoảng 120 năm khi Nô Ê vừa đóng tàu vừa giảng đạo, tuyên bố đoán phạt và kêu gọi ăn năn.
I. LỜI MỜI ÂN CẦN
1. Ngươi và cả nhà ngươi: Chúa ban sự cứu rỗi toàn vẹn cho cả gia đình Nô Ê. Đây là sự an ủi, khích lệ lớn lao cho Nô Ê vì mọi thành viên luôn ở bên nhau, trong khi đóng tàu, khi giảng đạo cũng như khi được cứu sống.
2. Hãy vào tàu: Sự bền lòng vâng lời làm việc Chúa và chờ đợi đã được tưởng thưởng xứng đáng. Thật ra, chính Chúa đã chờ đợi và Ngài đã hành động đúng lúc, không sớm, không trễ dù đối với Nô Ê là quá lâu !
. “Hãy vào tàu”là lời nói dịu dàng của một người cha gọi con vào nhà. Điều nầy khiến Nô Ê vững tin vì biết Chúa cũng vào tàu với mình để chăm sóc mình như Ngài đã chăm sóc bảo vệ mình suốt 120 năm qua.
II. LÝ DO VÀO TÀU
1. Nô Ê được kể là công bình trước mặt Chúa: Nô Ê tin lời Chúa và tuyệt đối vâng theo lời Ngài, làm đúng điều Chúa muốn nên được Chúa kể là công bình. Chỉ có người công bình mới được cứu.
2. Để bảo tồn sự sống và tồn tại của mọi vật: Chúa dặn dò chi tiết hơn về số lượng súc vật đem theo vào tàu : Loài thanh sạch và chim trời mỗi thứ bảy cặp, loài không thanh sạch mỗi thứ một cặp.
3. Bảy ngày nữa, Chúa sẽ thi hành đoán phạt: Chúa ban cho con người cơ hội cuối cùng khi họ nghe Nô Ê nói về trận mưa bốn mươi ngày bốn mươi đêm, họ thấy gia đình Nô Ê và các súc vật đi vào tàu.
III. ĐÁP ỨNG CỦA NÔ Ê
1. Nô Ê làm theo mọi điều Chúa phán dặn: Nô Ê tin cậy, vâng lời Chúa một cách tuyệt đối, không bỏ một mạng lệnh nào và Ông đã cứ vâng lời Chúa cho đến phút cuối cùng, không nản lòng, không mệt mỏi.
2. Nô Ê đem gia đình vào tàu: Đời sống gương mẫu đã khiến lời nói ông đầy uy quyền, đầy sức thuyết phục.
3. Nô Ê đưa các súc vật vào tàu: Theo quyền tể trị của Chúa, súc vật cũng vâng lời Chúa, đến cùng Nô Ê để được vào tàu. Bạn đang ở trong hay ở ngoài ?
CƠN ĐOÁN PHẠT
Kinh Thánh: SaSt 7:10-24
I. QUYỀN NĂNG ĐOÁN PHẠT VĨ ĐẠI CỦA CHÚA
1. Đoán phạt phải được thi hành: Chúa đã tiên báo sự đoán xét 120 năm trước, Chúa đã báo trước 7 ngày. Rồi đúng thời điểm, Chúa làm ứng nghiệm mọi lời tuyên bố đoán phạt. Đây là một sự kiện lịch sử đã xảy ra vào ngày 17 tháng 2 năm 600 đời của Nô Ê.
2. Quyền năng từ dưới đất: Các nguồn vực lớn nổ ra. Mọi nước ngầm, nước sông, biển đều bị chấn động dữ dội bởi những cơn động đất liên tục.
3. Quyền năng từ trên trời: Các đập trên trời mở xuống : Lượng nước vĩ đại được ém trong các đám mây trong ngày thứ hai sáng tạo đã được tuôn đổ xuống một cách dữ dội. Lưu ý mưa chỉ có trong 40 ngày nhưng nước vẫn tiếp tục dâng cao, chứng tỏ sự sôi trào của lượng nước dưới đất.
II. QUYỀN NĂNG CỨU RỖI VĨ ĐẠI CỦA CHÚA
1. Nhấn mạnh quyền năng cứu rỗi: Bảng danh sách thành phần được cứu sống được nhắc đến ba lần (1-4, 7-9,13-16). Đó là vợ chồng Nô Ê, ba trai ba dâu và các loài súc vật, chim trời đến với Nô Ê để được vào tàu.
2. Nhấn mạnh sự nhơn từ thương xót của Chúa: Giữa cơn đoán phạt, Chúa vẫn còn để lại những người được cứu sống. Đây là những người biết tin cậy Chúa, vâng lời Ngài, sẵn sàng làm những điều nghịch lý.
3. Nhấn mạnh quyền của Đấng Đoán xét: Chính Chúa đóng cửa tàu, để đóng ấn sự bảo vệ của Chúa cho những người và vật ở trong cũng như ngăn trở những người và vật chống nghịch Chúa, không nắm lấy cơ hội Chúa ban để ăn năn, quay về với Chúa.
III. MỌI SỰ ĐỀU ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM
1. Chúa chân thật: Chúa quyết định thế nào, Ngài nói như thế ấy. Ngài nói như thế nào, Ngài thi hành như thế ấy.
2. Chúa thành tín: Mọi sự xảy ra đúng y như lời Chúa đã báo trước. Bốn mươi ngày trời mưa, Nước càng ngày càng dâng cao (SaSt 7:17-24). Sự kiện nầy đã được các dân tộc trên thế giới thuật lại dưới hình thức hàng trăm câu chuyện cổ tích (Sơn tinh, Thủy tinh//)
3. Sự đoán phạt được thi hành: Mọi người, mọi vật trên đất đều bị hủy diệt, không phương cứu chữa. Không còn cơ hội khi cửa đã đóng.
ĐỨC CHÚA TRỜI NHỚ LẠI
Kinh Thánh: SaSt 8:1-5
Đức Chúa Trời Êlohim là Chúa Toàn năng, Đấng sáng tạo và bảo tồn muôn vật. Ngài không bao giờ quên. Từ ngữ “nhớ lại”ở đây là yêu thương, chăm sóc, sẵn sàng làm mọi việc vì Nô Ê và mọi sinh vật.
I. ĐỨC CHÚA TRỜI KHIẾN MỘT TRẬN GIÓ
1. Chúa tể trị thiên nhiên: Gió và biển cùng mọi hình thức khác của thiên nhiên đều vâng lệnh Chúa (Mac Mc 4:39-41).
2. Trận gió làm nước dừng lại: Trận gió lớn làm tổn hại đã trở nên trận gió đem phước hạnh khi ở trong quyền tể trị của Chúa (RoRm 8:28).
II. CHÚA NGĂN NƯỚC LẠI
1. Chúa ngăn các nguồn của vực lớn: Các lượng nước ngầm, nước sông, hồ ngưng đổ vào đất nhờ quyền năng Chúa hành động.
2. Chúa ngăn các đập trên trời: Lượng nước trên khoảng không ngưng lại. Chúa định giới hạn cho mọi quyền lực thiên nhiên lẫn siêu nhiên.
III. CHÚA KHIẾN NƯỚC HẠ XUỐNG
1. Nước dâng lên dữ dội: Với 40 ngày mưa nhu trút nước và các ngườn vực lớn nổ ra, nước tràn dâng lên cao trong 5 tháng (150 ngày SaSt 7:24).
2. Nước lần lần hạ xuống: Sau 150 ngày (8:3), nước bắt đầu hạ xuống. Đây cũng là một phép lạ, vì nước đang bao trùm cả trái đất.
IV. CHÚA KHIẾN TÀU TẤP TRÊN NÚI ARARÁT
1. Thời điểm: Ngày 17. 7 năm 600 của đời Nô Ê. Như thế, sau năm tháng lênh đênh trên nước, chiếc tàu tấp trên những ngọn núi Ararát.
2. Địa điểm: Ararát có thể ở trong quốc gia Ácmêni hay miền đông Thổ nhĩ kỳ hiện nay. Ararát thuộc vương quốc Asyri cổ là Urartu. Các ngọn núi Ararát cao khoàng 17. 000 feet (5. 181 mét).
V. CHÚA KHIẾN ĐỈNH NÚI LỘ RA
1. Thời điểm: Ngày 1. 10 năm 600 của đời Nô Ê, nghĩa là sau 7 tháng 13 ngày thì đỉnh núi mới lộ ra.
2. Ý nghĩa: Chắc hẳn gia đình Nô Ê vô cùng sung sướng khi thấy các đỉnh núi lộ ra, báo hiệu cơn đoán phạt đã qua. Họ không còn phải chôn chân trong tàu nữa. Một tương lai đẹp đẽ đang chờ đợi họ.
KIÊN NHẪN ĐỢI CHỜ
Kinh Thánh: SaSt 8:6-14
I. NÔ Ê MỞ CỬA SỔ TRÊN TÀU
1. Nô Ê thả con quạ ra: Quạ là loại chim ăn xác chết có thể tìm thức ăn dễ dàng ở trên mặt nước. Vì thế quạ không trở về tàu nhưng liệng qua liệng lại và nghỉ “chân”ở bất cứ nơi nào.
. Nô Ê đợi 40 ngày sau khi thấy đỉnh núi lộ ra mới thả quạ ra để tìm hiểu tình trạng mực nước nhưng quạ là chim ô uế không hoàn thành sứ mạng.
2. Nô Ê lại thả bồ câu ra: Có lẽ Nô Ê đã đợi bảy ngày rồi mới thả bồ câu ra. Bồ câu là loại chim thường sống ở dưới đất hơn các loại chim khác nên được sử dụng để thử xem đất đã bày ra chưa.
. Bồ câu là chim thanh sạch nên không đậu trên xác chết nên bay về cùng Nô Ê (Thi Tv 1:1). Nô Ê đưa tay bắt bồ câu đem vào tàu cho thấy bồ câu đã quen với ông chủ nhơn từ nầy.
3. Bảy ngày sau, bồ câu lại được thả ra lần thứ hai : Bồ câu bay đến chiều mới về mang theo một lá ôlive tươi (lá non mới đâm) chứng tỏ đã có dấu hiệu sự sống trên mặt đất chết. Đây là tin vui mừng, hy vọng, bình an cho gia đình Nô Ê.
4. Bảy ngày sau, bồ câu được thả lần thứ ba: Lần nầy bồ câu không trở về, chứng tỏ nó đã tìm được nơi nghỉ “chân”thích hợp.
5. Lưu ý: Nô Ê thả chim cách nhau 7 ngày. Có lẽ đó là ngày Sabát, sau khi thờ phượng Chúa, Nô Ê thả chim ra với niềm hy vọng sẽ nhận tin tức tốt lành Chúa ban.
II. NÔ Ê GIỞ MUI TÀU
1. Thời điểm: Ngày 1 tháng 1 năm 601 của đời Nô Ê, nghĩa là một tháng sau khi chim bồ câu không quay về.
2. Nô Ê giỡ mui tàu mà nhìn: Nô Ê không mở cửa mà chỉ giở mui tàu vì ông kiên nhẫn chờ đợi lệnh truyền của Chúa vào đúng thời điểm.
3. Đất khô vào ngày 27 tháng 2 năm 601 đời Nô Ê: Như thế Nô Ê và phái đoàn đã ở trong tàu một năm, mười ngày. Một chuyến hải hành kỷ lục, một sự kiên nhẫn bền bĩ vì tin cậy Chúa tuyệt đối.
AĐAM THỨ NHÌ
Kinh Thánh: SaSt 8:15-20
Dòng dõi Ađam đã chết hết, ngoại trừ Nô Ê và ba con trai của ông. Vì thế, có thể nói Nô Ê là Ađam thứ nhì bước vào một thế giới mới !
I. LỆNH TRUYỀN CỦA CHÚA
Đây là lệnh truyền đầu tiên kể từ ngày Nô Ê nghe lệnh Chúa để vào tàu.
1. Hãy ra khỏi tàu với vợ, các con, các dâu ngươi: Chúa biết khi nào là đúng lúc để gia đình Nô Ê rời khỏi tàu. Dầu phải chờ đợi 370 ngày, họ vẫn phải chờ đợi trong sự kiên nhẫn tin cậy Chúa. Thành phần đầu tiên Nô Ê phải lo là gia đình ông vì Chúa yêu ông, cũng yêu gia đình ông.
2. Hãy thả ra mọi vật sống đã ở cùng ngươi: Nô Ê đã bắt đầu thì phải hoàn tất sứ mạng Chúa giao đối với mọi vật đến với ông để bảo tồn sự sống. Nếu chúng được thả ra quá sớm thì thực phẩm đúng là vấn đề nan giải. Nên nhớ cây Ôlive đã mọc lá cách đó hơn ba tháng.
. Thật Chúa thành tín và yêu thương đối với Nô Ê biết bao. Ngài không bao giờ quên ông. Ngài chu đáo tính thì giờ đúng lúc để đưa ông ra khỏi tàu mà không gặp nan đề nào cả.
II. NÔ Ê VÂNG LỜI
1. Nô Ê lập tức vâng lời: Không phải vì chờ đợi quá lâu nên nghe được tiếng Chúa ông vội vàng ra khỏi tàu. Nhưng đây chính là bản chất của Nô Ê : Sốt sắng vâng lời Chúa và làm đúng y như lời Chúa truyền phán.
2. Giá trị của sự vâng lời: Ađam thứ nhất đã không vâng lời khiến loài người bị chết. Ađam thứ hai đã hết lòng vâng lời Chúa khiến gia đình ông được phước. Nhưng Ađam sau hết với sự vâng phục, tận hiến tuyệt đối mới là Đấng ban sự sống và phước hạnh thật cho loài người.
III. NÔ Ê THỜ PHƯỢNG CHÚA
1. Nô Ê lập một bàn thờ cho Đức Giêhôva: Ông không làm ngay một ngôi nhà, cũng không tổ chức tiệc mừng hay lập kế hoạch công tác. Điều đầu tiên là lập bàn thờ (lần đầu tiên) để thờ phượng Chúa, cảm tạ Chúa.
2. Nô Ê dâng các súc vật và chim thanh sạch làm của lễ thiêu: Để bày tỏ lòng cảm tạ, ngợi khen Chúa, tái xác nhận sự cung hiến cuộc đời và cầu xin Chúa ban phước vì chỉ có Ngài là Nguồn ơn phước.
LỜI HỨA CHO DÒNG DÕI NÔ Ê
Kinh Thánh: SaSt 8:21-22
I. ĐỨC CHÚA TRỜI TIẾP NHẬN CỦA LỄ
1. Đức Giêhôva hưởng lấy mùi thơm: Không phải mùi thơm của sinh tế được đốt cháy theo sự suy nghĩ của loài người mà là mùi thơm của:
. Sự kính sợ, tôn cao Chúa của Nô Ê và gia đình.
. Sự cảm biết tội lỗi của Nô Ê và gia đình khi dâng sinh tế chuộc tội.
. Sự tái xác quyết sự cung hiến đời sống cho Chúa của gia đình Nô Ê.
. Đức tin đặt trọn vẹn nơi Chúa của gia đình Nô Ê.
. Đời sống vâng lời Chúa tuyệt đối của Nô Ê trong mọi lãnh vực sống.
2. Lý do Chúa vui lòng tiếp nhận của lễ: Không phải vì của lễ mà vì hình ảnh biểu tượng của của lễ toàn thiêu. Đó là hình bóng về Chúa Jesus, của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, khiến Ngài nguôi giận về tội lỗi nhân loại.
. Lưu ý: Ngay khi Chúa tiếp nhận của lễ, Ngài vẫn nhớ rằng tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn trẻ tuổi. Vì thế, của lễ được nhậm, không vì của lễ, không vì người dâng, mà vì đức tin của họ nơi Người Dòng Dõi.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA
1. Chúa sẽ chẳng vì loài người mà rủa sả đất nữa: Cho dù tâm tánh con người vẫn xấu xa, Chúa hứa sẽ không rủa sả đất nữa. Không phải vì tội lỗi là việc bình thường, mà vì của lễ Chúa Jesus đã dâng lên.
2. Chúa cũng sẽ chẳng hình phạt mọi vật sống bằng nước lụt nữa: Chúa sẽ không dùng trận lụt toàn cầu, nhưng Chúa có thể răn dạy nhân loại bằng sự tiêu diệt một thành phố bằng nước, lửa, động đất.
3. Chúa ban thì tiết đều hòa: Khí hậu đã hoàn toàn thay đổi và rối loạn vì cơn nước lụt. Bây giờ, Chúa bày tỏ lòng nhân từ, thương xót của Ngài cho dòng dõi người vâng lời Chúa. Họ sẽ có mùa gieo giống và gặt hái, mùa lạnh, mùa nóng, mùa hạ, mùa đông, ngày và đêm trở lại vào trật tự.
. Tuy nhiên, những điều đó được tồn tại khi đất vẫn còn. Nghĩa là, trái đất sẽ có lúc chấm dứt. Nó cần được thay thế bằng đất mới trong trời mới vì Chúa dành những điều tốt hơn cho con dân Ngài.
TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
Kinh Thánh: SaSt 9:1-7
I. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN PHƯỚC
1. Chúa ban phước cho Nô Ê cùng các con trai ông: Con người tội lỗi đã khiến đất và chính mình bị rủa sả. Nhưng người tin cậy vâng lời Chúa đã tìm được phước Chúa ban. Xây dựng một gia đình, một xã hội, một dân tộc mà không có Chúa ban phước thật là khốn khổ.
2. Chúa ban phước: Có nghĩa là tặng một món quà, ban cho một đặc ân, là bày tỏ tình yêu, sự nhơn từ, thương xót cho con ngươi một cách dư dật.
II. CHÚA TRUYỀN LỆNH
1. Về sứ mạng: Con người cần sanh sản thêm nhiều cho đầy dẫy đất. Việc sinh con cái khiến gia đình, xã hội được thành lập, mối liên hệ vợ chồng, con cái được phát triển trong tình yêu, sự tin cậy, trung thành. Hơn nữa phước Chúa cần đem đến cho nhiều người trên đất.
2. Về địa vị con người: Dù đánh mất địa vị tốt lành, con người vẫn là người quản trị thế giới trong một giới hạn nào đó. Tuy nhiên, mối liên hệ không còn là cảm thông, yêu mến mà là uy quyền và sự sợ hãi.
3. Về thức ăn cho con người: Trước đây, con người chỉ ăn thực vật, nhưng bây giờ con người được phép ăn thịt mọi sinh vật nào mình muốn.
. Có lẽ vì bầu khí quyển không còn tốt lành, đất đai không còn tốt lành, khiến thực phẩm sẽ khan hiếm. Vì vậy, con người cần thức ăn khác.
. Tuy nhiên, con người không được ăn thịt còn có máu. Lý do được nêu ở đây là hồn sống ở trong máu. Tuy nhiên, còn có nhiều lý do khác như: Bảo đảm vệ sinh, chống bệnh tật, giữ con người khỏi trở nên dã man, hung dữ. Tuy nhiên lý do chính yếu là huyết được biệt riêng làm của lễ chuộc tội, tượng trưng cho huyết Chúa Jesus.
III. CHÚA BAN LUẬT PHÁP
1. Không được giết người: Cả loài người lẫn loài vật đều không được giết người. Kẻ giết người sẽ bị Chúa phạt cũng như sẽ bị xã hội loài người lên án chết. Thật ra, luật pháp nầy cũng bảo vệ luôn cả tài sản con người.
2. Lý do không được giết người: Vì con người đã được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, kẻ giết người khiến mạng lệnh sanh sản đầy dẫy đất bị phá hủy.
GIAO ƯỚC NÔ Ê
Kinh Thánh: SaSt 9:8-17
Đức Chúa Trời thấy nỗi kinh hoàng của người và vật trước sự đoán phạt nên Ngài ban cho họ một giao ước.
I. ĐẤNG LẬP GIAO ƯỚC
1. Chỉ một mình Đức Chúa Trời: Giao ước là sự ký kết thỏa thuận giữa hai bên với những điều kiện mà hai bên phải thực hiện. Tuy nhiên, ở đây, giao ước Nô Ê chỉ do một mình Đức Chúa Trời thiết lập, một cách vô điều kiện.
2. Bản chất giao ước: Đây là giao ước một chiều, giao ước vô điều kiện, giao ước của lời hứa, giao ước của ân điển Chúa.
. Năm lần Chúa khẳng định Ngài là Đấng lập giao ước (9, 11, 12, 15, 17).
II. ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG GIAO ƯỚC
1. Cho Nô Ê, các con và dòng dõi của họ: Giao ước o Đức Chúa Trời thực hiện cho con người được hưởng. Chúng ta cũng hưởng giao ước đó.
. Tuy nhiên, từ “dòng dõi”lại là số ít, nhấn mạnh vai trò của Người Dòng Dõi trong giao ước nầy, khiến giao ước được ứng nghiệm.
2. Cho mọi vật sống: Tất cả loài vật từ tàu Nô Ê bước ra và con cháu của chúng, cũng như các loài cá dưới nước.
3. Cho trái đất: Đất cũng sẽ không bị hủy hoại bằng nước lụt nữa.
III. GIAO ƯỚC NÔ Ê
1. Đã được Chúa lập từ trước: Ngài gọi đó là “giao ước Ta”. Chữ “lập”có nghĩa là hoàn thành, tiếp tục/
2. Đây là sự khai triển của giao ước Ađam: Chúa sẽ không hủy diệt các loài xác thịt và đất bằng nước lụt nữa. Như thế, dòng dõi loài người được tồn tại để đưa Người Dòng Dõi vào trần gian, thực hiện chương trình cứu rỗi nhân loại.
IV. DẤU HIỆU CỦA GIAO ƯỚC
1. Ta đặt mống của Ta trên từng mây: Chính Chúa lập giao ước và chính Ngài bảo đảm việc thực hiện bằng dấu hiệu cái mống.
2. Giao ước Ta lập trải qua các đời mãi mãi: Giao ước kéo dài cho đến khi Chúa trở lại.
3. Ta sẽ nhớ lại: Chúa không bao giờ quên giao ước Ngài đã lập.
TỘI LỖI ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI MỚI
Kinh Thánh: SaSt 9:18-21
I. CÁC CHỦNG TỘC CỦA NHÂN LOẠI
1. Các con trai Nô Ê: Kinh Thánh chỉ ghi lại ba con trai của Nô Ê là Sem, Cham và Gia phết. Ngoài họ, Nô Ê không còn một con trai nào khác.
2. Do nơi họ mà có loài người khắp mặt đất: Nhân loại đều sinh từ ba con trai Nô Ê. Vì thế, tất cả nhân loại đều là anh em. Không thể có sự thiên vị, giai cấp, phân biệt chủng tộc.
II. SỰ THẤT BẠI CỦA NÔ Ê
1. Nô Ê khởi cày đất và trồng nho: Công việc đầu tiên của gia đình Nô Ê là cày cấy đất, trồng cây để giải quyết nhu cầu thức ăn. Tuy nhiên, khi có đầy đủ thức ăn, Nô Ê đã trồng nho để ép rượu.
2. Nô Ê uống rượu say: Dù đây là lần đầu tiên Kinh Thánh đề cập đến một người say rượu nhưng chắc hẳn đây là lối sống của con người tội lỗi trước nước lụt (chữ “rượu”có mạo từ xác định đi trước).
3. Thời điểm: Lúc nầy, Canaan đã trưởng thành đủ để chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình, mà Canaan là con thứ tư của Cham (10:6). Vì thế, việc nầy xảy ra có lẽ từ vài mươi năm đến 100 năm sau khi ra khỏi tàu.
4. Kết quả: Nô Ê lõa thể ở giữa trại mình. Tửu và Sắc bao giờ cũng đi đôi với nhau. Rượu kích thích những đòi hỏi của thân xác và khiến con người vượt khỏi giới hạn vì không còn tự kềm chế được mình.
. Nô Ê đã trở nên cớ vấp phạm và nguồn họa cho con cháu mình. Hơn nửa, KT không còn chép chi về Nô Ê ngoài việc ghi lại sự chết của ông!
III. BẢN CHẤT TỘI LỖI NÔ Ê
1. Sự bất toàn của con người: Dù Nô Ê đã từng được lời chứng tốt thì Nô Ê cũng chỉ là con người bất toàn nếu ông không còn đồng đi cùng Chúa.
2. Sự yếu đuối của con người: Nô Ê không phải là người nghiện rượu và sự cám dỗ của rượu không phải là cám dỗ quyết liệt vì nó hoàn toàn mới đối với Nô Ê. Nhưng Nô Ê đã thất bại dễ dàng (ICo1Cr 10:12).
3. Hậu quả của một tiến trình đi xuống: Nô Ê chắc hẳn đã xao lãng sự cầu nguyện và thờ phượng dẫn đến sự không vâng lời Chúa và tội lỗi là điều đương nhiên.
HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI
Kinh Thánh: SaSt 9:20-29
Nô Ê trồng nho, uống rượu say và lõa thể ỡ giữa trại mình ! Kết quả là /
I. TỘI LỖI CỦA CHAM
1. Sự kiện: Cham thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài, thuật lại cùng hai anh em mình.
2. Tội của Cham: Chữ “thấy”ở đây hàm ý vui thích. Vì thế, đây là thái độ bất xứng của người con trước sự thất bại của cha mình. Chắc hẳn Cham đã khinh bỉ cha, giễu cợt trên sự thất bại của cha và dĩ nhiên cũng xem thường luôn những lời dạy của cha mình.
II. GƯƠNG TỐT CỦA SEM VÀ GIA PHẾT
1. Đắp khuất thân cho cha: Không muốn ai khác thấy sự lõa lồ của cha vì cha bị sỉ nhục tức là mình bị sỉ nhục. Họ cảm thông với tuổi già và sự thất bại của cha.
2. Không thấy sự lõa lồ của cha: Họ đi lui để không thấy sự thất bại của cha khiến họ phải đau lòng. Họ muốn hình ảnh đẹp của cha luôn sống trong tâm thức họ vì họ luôn kính trọng cha mình.
III. HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI
1. Canaan bị rủa sả: Canaan là con thứ tư của Cham. Có lẽ Canaan có ự phần trong sự giễu cợt ông mình, hoặc Canaan đã sớm bày tỏ khuynh hướng tội lỗi, hoặc vì Cham phạm tội mà dòng dõiông phải bị rủa sả.
. Canaan bị rủa sả phải làm nô lệ cho những nô lệ của Sem và Gia phết. Hàm ý một sự rủa sả nặng nề.
2. Nô Ê cũng chết: Dù có một quá khứ thuộc linh vàng son, một lỗi lầm đã phá hỏng tất cả và Nô Ê đành phải theo con đường tổ phụ để trở về cát bụi thay vì được đồng đi với Đức Chúa Trời như Hê Nóc.
3. Sự nhơn từ của Chúa: Có lẽ Nô Ê đã đau lòng và ăn năn vì đã làm cho Chúa đau lòng. Chúa đã tha thứ và ban cho ông có thể nói tiên tri về dòng dõi của mình:
. Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sem: Sem đã kính sợ Chúa, tôn trọng Cha, đã làm cho Chúa được tôn vinh.
. Chúa mở rộng đất của Gia phết khiến Gia phết được ở trong trại của Sem, được chung niềm vui, hạnh phước với Sem về Đấng Cứu thế.
DÒNG DÕI GIA PHẾT
Kinh Thánh: SaSt 10:1-5
I. MỘT NHÂN LOẠI THỨ HAI
1. Nô Ê là Ađam thứ hai: Nô Ê là người duy nhất trong dòng dõi thánh được còn lại, trong khi dòng dõi thế tục của Cain đã bị tiêu diệt. (Nhờ sự kính sợ Chúa, đồng đi với Chúa và vâng lời Chúa của Nô Ê).
2. Nhân loại mới bắt đầu: Sau nước lụt, ba con trai của Nô Ê bắt đầu sinh con cái. Một dòng dõi nhân loại mới bắt đầu tràn ra mặt đất.
. Cần lưu ý rằng nhân loại mới sinh ra từ một người được chọn từ dòng dõi thánh ra từ Sết. Nhưng lịch sử cho thấy nhân loại mới nầy chưa có gì mới. Mãi đến khi Người Dòng Dõi đến, mới thành lập một nhân loại mới.
II. DÒNG DÕI GIA PHẾT
1. Rốt trở nên đầu: Gia Phết là con út đã được đề cập đến đầu tiên. Hơn nữa, phước hạnh dành cho Gia Phết cũng trổi vượt (SaSt 9:27).
2. Gia Phết là tổ phụ của dân Ân Âu (Indo-Europeans): Con cháu của Gia Phết cư ngụ tại Ân độ và vùng phụ cận cũng như ở lục địa Âu châu.
3. Bảy chi phái trong dòng dõi Gia Phết: Gia Phết có bảy người con trai là Gôme, Magốc, Mađai, Giavan, Tubanh, Mêsiếc, Tira.
III. CÁC CHI PHÁI
1. Gôme: Gôme có ba con trai:. Achkêna: Định cư ở phía bắc sông Ơphơrát thuộc Acmêni quanh núi Ararát. Về sau, một số di cư đến nước Đức. Riphát: Còn có tên là Điphát (ISu1Sb 1:6) có lẽ sống tại các miền xa của Âu Châu. Tôgama: Định cư vùng trên sông Ơ phơrát, giữa Acmêni và Thổnhỉkỳ. Sau đó, di cư đến nước Đức.
2. Magốc: Tổ phụ của người Sythe và Tacta phía bắc Hắc hải. Sau đó di cư đến vùng đất của nước Nga.
3. Mađai: Tổ phụ của dân Mêđi Batư, một số đến Ân độ. Các nhà thông thái thời Chúa giáng sinh đến từ dòng dõi nầy.
4. Giavan: Giavan có bốn con trai, là tổ phụ của dân Hylạp, định cư ở bờ biển phía bắc và phía đông của Địa trung hải.
5. Tubanh: Định cư ở phía đông của vùng Tiểu Á.
6. Mêsiếc: Định cư ở vùng Thổnhĩkỳ và di dân lên liên bang Nga.
7. Tira: Tổ phụ của dân Ý.
DÒNG DÕI CHAM
Kinh Thánh: SaSt 10:6-20
Cham có bốn con trai là Cúc, Míchraim, Phút và Canaan.
I. CHI PHÁI CÚC
1. Tên của Cúc: Có nghĩa là Êthiôpi. Cúc có bốn con trai. Dòng dõi Cúc định cư tại Êthiôpi tại Phi châu. Nhưng sau đó chia ra và một phần di cư đến Ả rập, vùng Trung Đông của Babylôn, nước Irắc.
2. Cúc sanh Nimrốt: Có lẽ Nimrốt là cháu của Cúc thuộc một trong bốn nhóm do bốn người con của Cúc, hoặc Nimrốt là người con thứ năm.
3. Đế quốc đầu tiên: Nim rốt là anh hùng đầu tiên trên mặt đất. Ông được giới thiệu là chiến sĩ tài ba (anh hùng), là thợ săn can đảm (săn thú và cũng có thể săn người, bắt người khác làm nô lệ cho mình).
. Nimrốt đã thành lập một đế quốc bao gồm Babên, Êrết, Acát và Cane ở xứ Sinêa. Sau đó tràn qua Asyri với Ninive, Rêhôbôti, Calách và Rêsen.
. Nimrốt có nghĩa là phản loạn, ông đã chống lại mọi quyền lực của cả loài người lẫn Đức Chúa Trời, bắt anh em làm nô lệ và tham vọng xây tháp Babên, làm cho mình rạng danh.
II. CHI PHÁI MÍCHRAIM
1. Tên của Míchraim: Có nghĩa là Aicập. Dòng dõi Míchraim định cư tại Aicập vùng Đông Bắc Phi châu. Người Aicập đã có một nền văn minh tiến bộ rất sớm.
2. Tổ phụ của bảy dân tộc: Luđim ở Tiểu Á châu (Thổ nhỉkỳ). Anamim là tổ phụ dân Syren, Bắc Phi. Lêhabim ở Lybi, Bắc Phi. Náptuhim ở miền trung Aicập. Bátrusim ở miền nam Aicập. Cáchluhim ở miền bắc Aicập, là tổ phụ dân Philitin. Cáptôrim ở đảo Cơrết.
III. CHI PHÁI PHÚT
1. Nơi định cư: Ở Phi châu, hoặc ở Liby, hoặc ở Sômali.
2. Đặc điểm: Phút bị bắt làm nô lệ khi tiếp cứu Asyri (NaNk 3:9-10).
IV. CHI PHÁI CANAAN
1. Nơi định cư: Con cháu Canaan định cư tại vùng đất Canaan, sau nầy là xứ Palettin. Họ gồm 11 dân tộc.
2. Đặc điểm: Dân Canaan là dân tội lỗi đến nỗi Chúa đã hủy diệt Sôđôm và Gômôrơ. Sau đó dân Do Thái đã tiêu diệt họ để chiếm lấy xứ Canaan.
DÒNG DÕI SEM
Kinh Thánh: SaSt 10:21-32
I. ĐẶC ĐIỂM
1. Sem là con cả mà đề cập cuối cùng: Dù rốt mà là đầu vì từ dòng dõi Sem mà có Người Dòng Dõi. Sem được đề cập sau cùng để có sự liên tục khi mô tả về lịch sử tuyển dân.
2. Các dân tộc: Sem có năm người con. Ông là tổ phụ của dân Ả rập, dân Aram (Syri) và dân Hêbơrơ. Các dân tộc nầy trải ra khắp vùng Trung Đông thuộc Á châu.
3. Hêbe (10:25): Có nghĩa là Hêbơrơ. Dòng dõi Hêbơrơ sinh ra từ Hêbe.
II. CÁC CHI PHÁI
1. Chi phái Êlam: Định cư ở miền đông của vùng Lưỡng Hà (Mêsôpôtami nằm giữa hai sông Ơphơrát và Tigrơ). Thực ra, họ trải rộng ra từ Hồng Hải đến vịnh BaTư. Về sau, họ liên kết với Mêđi để thành lập vương quốc BaTư.
2. Chi phái Asurơ: Đây là những người Asyri định cư ở phía bắc vùng Lưỡng Hà. Thủ đô của vương quốc nầy là Ninive.
3. Chi phái Abácsác: Abácsác sanh Sêlách, Sêlách sanh Hêbe là tổ phụ của người Hêbơrơ.
. Con trai của Hêbe là Bêléc, nghĩa là chia ra (Hoặc là chia ra các quốc gia, hoặc địa chấn là chia các lục địa ra, hoặc sự chia ra vì hiện tượng tháp Babên).
. Con thứ hai của Hêbe là Giốctan. Giốctan có mười ba người con, định cư tại Arập, Yemen, Sêba/
4. Chi phái Lút: Có lẽ ở tại Tiểu Á châu (Thổnhĩkỳ).
5. Chi phái Aram: Có bốn con trai là Uxơ, Hulơ, Ghête, và Mách. Họ ở vùng đồng vắng Arập vùng đất Syri và Liban. Uxơ là quê hương của Gióp.
THÁP BABÊN
Kinh Thánh: SaSt 11:1-4
I. DỮ KIỆN LỊCH SỬ
1. Thời điểm: Thời gian xây tháp Babên phải ở vào thời của Bêléc (Chiara) và Nimrốt (Vị vua của đế quốc đầu tiên trên thế giới).
2. Diễn tiến: Có lẽ đến đời thứ sáu của NôÊ sau nước lụt, dân chúng vào khoảng 30. 000 người. Nimrốt đã nổi lên nắm quyền và thiết lập vương quốc của mình. Nimrốt đã cho dời dân chúng về đồng bằng Sinêa (Hoặc do đói kém, hoặc do sự màu mỡ của đồng bằng Sinêa, hoặc do Nimrốt muốn bành trướng vương quốc).
. Chính Nimrốt đã xây dựng thành phố Babylôn ở trong xứ Sinêa.
II. HAI ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN SỰ
1. Một giọng nói và một thứ tiếng: Vì cùng từ nơi một nguồn gốc, họ có cùng một giọng nói và một thứ tiếng. Đây là một lợi điểm để họ có thể cùng liên kết với nhau, chia sẻ cho nhau, giúp đỡ nhau, làm việc chung với nhau, chơi đùa và học tập với nhau cũng như hiệp một trong sự thờ phượng Chúa.
2. Một cuộc di dân vĩ đại: Cả dân sự đều đi đến đồng bằng Sinêa có lẽ dưới quyền thống trị của Nimrốt.
3. Hiệp một trong công tác xây tháp Babên: Hiệp một hoạch định chương trình và hiệp một trong sự thi hành việc xây thành Babylôn và tháp Babên. Họ làm việc với tinh thần vô cùng hăng hái !
III. TỘI LỖI CỦA DÂN SỰ
1. Làm tháp chót cao đến tận trời: Không phải để đến gần Đức Chúa Trời mà để chống nghịch Đức Chúa Trời. Họ muốn tự bảo vệ mình khỏi cơn nước lụt nếu có, dự liệu chỗ an toàn khỏi sự đoán phạt của Chúa !
2. Ta hãy lo làm cho rạnh danh: Họ lo tìm danh tiếng cho mình để so sánh mình với Danh Đức Chúa Trời. Họ không làm vinh hiển Danh Chúa mà chỉ làm vinh hiển danh của mình.
3. E phải tản lạc khắp đất: Mạng lệnh của Chúa là sinh sản thêm nhiều để làm đầy dẫy đất. Nghĩa là họ phải đi khắp trái đất. Họ không muốn vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời. Họ chỉ đi theo ý riêng, đối kháng với ý muốn của Đức Chúa Trời.
CĂN NGUYÊN CÁC NGÔN NGỮ
Kinh Thánh: SaSt 11:5-9
I. ĐỨC GIÊHÔVA NGỰ XUỐNG
1. Chúa đã biết: Chúa đã thấy từ trong suy nghĩ của Nimrốt và nhân loại thời đó. Ngài đã thấy công việc xây thành và tháp của con người từ bước chuẩn bị đến bước hành động.
2. Chúa ngự xuống: Không phải để biết mà để bày tỏ thái độ đối với loài người gian ác khi nó làm hại đến chương trình tốt lành Chúa dành cho con dân Ngài (RoRm 8:28).
II. ĐỨC GIÊHÔVA PHÁN
1. Chỉ một thứ dân, đồng một tiếng nói: Con người đang hiệp một với nhau trong con đường gian ác, ngu dại, khước từ Đưc Chúa Trời yêu thương và chương trình phước hạnh của dành cho mình.
2. Công việc chúng nó đương khởi làm: Tội lỗi không còn ở trong tư tưởng mà đã khởi đầu biến thành hành động. Không sớm thì muộn sẽ dẫn đến hậu quả kinh khiếp cho con người, những con người sinh ra từ dòng dõi thánh !
3. Chẳng còn chi ngăn chúng nó: Sức mạnh của sự hiệp một rất lớn. Nhưng hiệp một để làm ác thì thật là kinh khủng.
4. Chúng nó làm những điều chúng nó quyết định: Họ không làm những điều Chúa muốn, nhưng kiêu căng tự hoạch định và thực hiện những điều mình muốn để xây dựng một thành phố, một ngọn tháp và một tôn giáo không có Thượng Đế !
III. ĐỨC GIÊHÔVA HÀNH ĐỘNG
1. Chúa làm lộn xộn tiếng nói: Họ không còn nghe được tiếng nói của nhau. Họ không còn hiểu nhau, hiệp một với nhau trong công việc. Họ phải ngưng lại công việc dại dột của mình. Tại đây, chúng ta thấy sự nhơn từ của Đức Giêhôva. Ngài không muốn họ tự đưa mình vào đoán phạt.
2. Chúa làm loài người tản ra khắp mặt đất: Chúa đưa họ vào việc thực hiện đúng mạng lệnh Chúa truyền cho họ là làm đầy dẫy đất, tràn ra khắp đất.
. Thành phố dở dang được đặt tên là Babên hay Babylôn, có nghĩa đầu tiên là lộn xộn, sau nầy người ta đổi ý nghĩa là “cái cổng của trời”.
MỘT DÒNG DÕI MỚI : ÁPRAHAM
Kinh Thánh: SaSt 11:10-26
I. DÒNG DÕI CỦA SEM
1. Dòng dõi được chúc phước: Nô Ê đã chúc phước cho Sem, một trong ba người con của người được chọn duy nhất của Dòng dõi thánh Sết.
2. Dòng dõi “kết thúc” với Tharê: Dù trong dòng dõi thánh, các tổ phụ của Tharê không có gì đặc biệt đã được kết thúc với Tharê là một người thờ hình tượng (Gios Gs 24:2, 14).
II. BẢNG GIA PHỔ


Tổ Phụ    Năm Sinh    Năm Chết    Tuổi Thọ    Ghi Chú      
1. Nô Ê    1056    2006    950    Lụt: 1656      
2. Sem    1558    2158    600           
3. Abácsác    1658    2096    438           
4. Sêlách    1693    2126    433           
5. Hêbe    1723    2187    464           
6. Bêléc    1757    1996    239           
7. Rêhu    1787    2026    239           
8. Sêrúc    1819    2049    230           
9. Nacô    1849    1997    148           
10. Tharê    1878    2083    205           
11. Ápraham    1948 ?        175         

III. THẮC MẮC
1. Nô Ê sống đến đời của Ápraham ? : Theo bảng gia phổ, Nô Ê phải sống đến đời Ápraham. Nhưng con cháu ông đã phạm đủ thứ tội lỗi : Có lẽ lời làm chứng của ông không được con cháu nghe theo vì tấm lòng hư hoại, hoặc đời sống ông đã không còn thành công với sức thuyết phục mạnh mẽ như trước, hoậc bảng gia phổ đã bỏ sót nhiều người mà chỉ ghi những người chính yếu (Đối chiếu với LuLc 3:36 Kainan đã bị bỏ sót).
2. Ápraham có phải là Trưởng Nam? : Nếu Tharê sinh Ápraham lúc ông 70 tuổi (SaSt 11:26) thì ông đã chết lúc Ápraham 135 tuổi. Nhưng Ápraham lìa Charan lúc 75 tuổi (12:4) khi Tharê đã chết tại Charan (Cong Cv 7:4). Như thế, Ápraham được nêu tên trước chỉ vì ông là người quan trọng, được Chúa chọn để khởi đầu một dòng dõi mới.
GIA ĐÌNH THARÊ
Kinh Thánh: SaSt 11:27-32
I. THARÊ
1. Sống tại Urơ, xứ Canhđê: Urơ là tên thần mặt trăng. Thành phố Urơ cách Babylôn 120-140 dặm về phía nam. Đây là một thành phố có nền văn hóa cao, có những kiến trúc đẹp đẽ và có nhiều đền thờ thần tượng.
2. Thuộc dòng dõi thánh: Đáng lẽ Tharê phải kính sợ Chúa, bước đi theo Chúa để trở nên bài giảng sống cho nhân loại thì ông lại là người thờ hình tượng (Gios Gs 24:2).
3. Tharê có ba con trai: Đời sống Tharê đã ảnh hưởng rất lớn trên các con, nhất là trên Haran và Nacô. Tharê đã chết tại Charan mà không đến được đất hứa.
II. HARAN
1. Haran sanh Lót: Dù Lót được xem là người công bình (IIPhi 2Pr 2:7), Lót đã sống đời sống ích kỷ và xác thịt: Chọn sống với người tội lỗi, sẵn sàng giao con gái cho đám đông dâm loạn, có các con gái loạn luân/
2. Haran chết khi cha là Tharê vẫn còn sống: Để lại một con trai là Lót và hai con gái là Minhca và Dích ca.
III. NACÔ
1. Cưới vợ là Minhca: Nacô cưới cháu gái mình là Minhca, con của Haran.
2. Không kính sợ Chúa: Nacô đã không đi theo Apram vào đất hứa (c. 31).
SaSt 31:53 cho biết Nacô thờ hình tượng và dẫn cả gia đình thờ hình tượng.
IV. ÁPRAHAM
1. Người không con: Apram là người duy nhất trong nhà không có con. Dù không được phước thân xác nhưng Ápraham đầy phước hanh tâm linh.
2. Người đi theo lời hứa: Apram đã thuyết phục được cha lìa Urơ đặng đi qua Canaan. Tuy nhiên, Tharê đã chết tại Charan. Apram cũng đã thuyết phục được Lót cùng đi, nhưng Lót cũng đi một phần con đường vì không có tấm lòng kính sợ, tin cậy Chúa như Apram.
ÁPRAHAM : AĐAM THỨ BA
SaSt 12:1-3
I. LỜI KÊU GỌI
1. Hãy ra khỏi: Ápraham được Chúa kêu gọi ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ông. Ápraham cần phải dứt khoát với một môi trường thờ hình tượng (Đa thần) cũng như dứt bỏ mọi ràng buộc gia đình có thể lôi kéo ông trở lại tôn giáo cổ truyền.
2. Hãy đi đến xứ Ta sẽ chỉ cho: Ápraham cần phải ra đi theo sự hướng dẫn tuyệt đối của Chúa. Việc của Chúa là sẽ dẫn dắt và việc duy nhất của Ápraham là vâng lời, đi theo Chúa, cho dù ông không biết mình sẽ đi đâu (HeDt 11:8).
II. LỜI HỨA BAN PHƯỚC
1. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn: Dù con cháu Ápraham chiếm cả vùng Trung Đông và người Do Thái đang chiếm những vị trí quan trọng. Nhưng con cái thật (dòng dõi đức tin) của Ápraham mới là một dân lớn đang tràn khắp thế giới.
2. Ta sẽ ban phước cho ngươi: Đức Chúa Trời đã ban phước dư dật cho Ápraham cả về vật chất lẫn về tâm linh.
3. Cùng làm nổi danh ngươi: Ápraham thật đã nổi tiếng trong đời của ông về sự giàu có, đạo đức, tình thương và sự đắc thắng Kếtrôlaome cùng các vua đồng minh/
4. Ngươi sẽ thành một nguồn phước: Trong đời Ápraham, ngoại trừ hai lần nói dối thì Ápraham quả đã đem phước hạnh đến cho nhiều người. Tuy nhiên, phước hạnh lớn nhất là Chúa Cứu thế Jesus đã được sinh ra từ ông.
III. LỜI HỨA BÊNH VỰC
1. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi: Những người chúc phước Ápraham đã được nhận phước của Chúa qua Ápraham.
2. Ta sẽ rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi: Chúa chống lại những người chống lại Ápraham. Chúa bênh vực ông khiến ông luôn bình an trong Chúa.
LẬP BÀN THỜ CHO ĐỨC GIÊHÔVA
Kinh Thánh: SaSt 12:4-9
I. VÂNG LỜI CHÚA
1. Apram đi, theo như lời Đức Giêhôva phán dạy: Ápraham đã tin và vâng theo lời Chúa. Ông đã dứt khoát với quê hương, bà con, và ra đi theo như lời Chúa phán dặn. Ápraham đã 75 tuổi khi ông ra đi.
2. Apram dẫn theo: Ápraham chịu trách nhiệm hoàn toàn về gia đình và những người đã được giao cho ông (Gia đình Lót).
3. Apram đem cả gia tài: Apram đã rất thành công tại Charan với gia tài lớn và nhiều đầy tớ. Nhưng ông sẵn sàng lìa Charan để đi theo tiếng gọi của Chúa.
II. ĐẾN Ở TẠI CANAAN
1. Đến cây dẻ bộp của Môrê tại Sichem: Đến Canaan như một khách lạ đi từ Sichem đến Bêtên, Ahi và vừa đi vừa đóng trại lần lần đến nam phương.
2. Lúc đó, dân Canaan ở tại xứ: Ápraham đến một miền đất đã có chủ. Đức tin đã được thử nghiệm vì lời Chúa hứa vẫn chỉ là lời hứa.
III. LẬP BÀN THỜ CHO ĐỨC GIÊHÔVA
1. Đức Giêhôva hiện ra: Chúa biết sức Ápraham. Ngài đã thêm đức tin cho ông nhờ sự hiện ra của Ngài để khẳng định lại lời hứa của Ngài cho ông: Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất nầy.
2. Apram lập một bàn thờ cho Đức Giêhôva tại Sichem: Ápraham lập bàn thờ để cảm tạ Chúa đã hiện ra với ông, cảm tạ Chúa vì tin lời Chúa hứa cho mình.
3. Apram lập một bàn thờ tại Bêtên: Lìa Sichem, Ápraham đi đến phía đông Bêtên và lập một bàn thờ. Bàn thờ được lập để tái xác quyết niềm tin của Ápraham nơi lời hứa của Chúa, để khẳng định đức tin, tình yêu và sự tôn thờ của ông nơi Chúa, và để cầu khẩn Chúa làm thành lời Ngài đã hứa cho ông.
. “Bàn thờ”cho Đức Giêhôva phải được lập trong mọi nơi chúng ta đi, để tái xác quyết tình yêu, lòng tôn kính, biết ơn Chúa và để nhắc nhở chúng ta sống xứng đáng với những gì Chúa đã thực hiện cho chúng ta.
ĐI XUỐNG ÊDIPTÔ
Kinh Thánh: SaSt 12:10-20
I. ĐI XUỐNG ÊDÍPTÔ
1. Trong xứ bị cơn đói kém: Đức Giêhôva vừa mới xác nhận lời hứa ban Canaan cho dòng dõi Ápraham và sau khi ông lập bàn thờ cho Chúa thì xứ bị cơn đói kém ! Một thử thách khá lớn đối với một tân tín hữu !
2. Apram xuống xứ Êdíptô mà kiều ngụ: Ápraham không cầu hỏi ý Chúa mà hành động ngay ( đáng chê hay đáng khen ? ). Tuy nhiên, ông chỉ đến đó để kiều ngụ ( tạm trú ) chứ không có ý định lập nghiệp ở đó.
II. ANH HÙNG ĐỨC TIN THIẾU ĐỨC TIN
1. Lý luận theo con người: Ápraham lý luận rằng người Êdíptô sẽ giết ông để chiếm đoạt Sara nếu ông xưng mình là chồng của Sara. Ápraham quên rằng dân tội lỗi đáng bị diệt là dân Canaan chứ không phải dân Êdíptô. Ông cũng quên lời hứa ban phước và lời hứa bảo vệ của Chúa (12:3).
2. Hãy xưng là em gái ta: Ápraham bị cám dỗ nói nửa sự thật và tự trấn an rằng mình đã nói sự thật vì Sara đúng là em gái ông (20:12) nhưng mối liên hệ hiện nay là vợ ông.
3. Mục đích nói dối: Ápraham nói dối để lừa gạt dân Êdíptô để vừa bảo toàn mạng sống ông, vừa đưa ông vào sự “trọng đãi”. Rõ ràng, Ápraham chỉ biết có mình mà không quan tâm gì đến vợ ông là Sara. Thiếu đức tin phá hỏng tương giao với Chúa và với nhau.
III. NGUỒN PHƯỚC HAY NGUỒN HỌA
1. Sara bị dẫn vào cung vua Pharaôn: Dù đã 65 tuổi, Sara vẫn còn được khen, được trằm trồ bởi triều thần Pharaôn là đẹp lắm. Đương nhiên, bà được mời ngay vào cung để làm vợ vua. Ápraham đẽ gieo họa cho vợ.
2. Pharaôn hậu đãi Apram: Vì cớ Sara, Ápraham đã được nhiều chiên, bò, lừa, lạc đà, tôi trai và tớ gái, trong số tớ gái đó có Aga. Ápraham đã gieo họa cho chính gia đình và hậu tự ông.
3. Đức Giêhôva hành phạt Pharaôn: Chắc hẳn tai họa lớn đã ngăn trở Pharaôn cưới Sara (tương tự 20:4, 6). Ápraham đã gieo họa cho Pharaôn.
4. Pharaôn hạ lệnh quan quân đưa vợ chồng Apram đi: Dân chúng chắc hẳn đã trở nên sự thù ghét, ghê tởm con người dối trá khiến ông khó ra đi an toàn nếu không có quan quân hộ tống.
ĐỐI DIỆN VỚI SỰ TRANH CÃI
Kinh Thánh: SaSt 13:1-9
I. ĐỒNG TRỞ LÊN NAM PHƯƠNG
1. Apram rất giàu có: Từ Aicập trở về, Apram được Chúa bảo vệ và ban cho giàu có về súc vật, vàng và bạc. Bởi cớ Ápraham, Đức Chúa trời cũng đã ban phước cho Lót (12:5 ).
2. Trở về Bêtên: Ápraham trở về nơi đóng trại đầu tiên, nơi ông đã lập một bàn thờ để cảm tạ Chúa, cầu khẩn Danh của Ngài.
3. Ở đó, Apram cầu khẩn Danh Đức Giêhôva: Nhận thức Chúa Tự hữu, Hằng hữu, là Đức Chúa Trời Hằng Sống, thành tín với ông. Nhận thức Chúa thương xót tha thứ và giải cứu ông. Ápraham cầu khẩn Danh Chúa.
II. VẤN ĐỀ TRANH CÃI
1. Xứ không đủ chỗ cho hai người ở chung: Chúa ban phước quá dư dật trên Ápraham và Lót nên tài vật của họ quá nhiều, súc vật quá nhiều, không có đủ đồng cỏ nhất là vì cớ lúc ấy còn có dân Canaan và dân Phêrêsít ở trong xứ. Tìm kiếm phước mà thôi, nhiều khi đã dẫn đến sự chia rẽ.
2. Có chuyện tranh giành giữa hai bọn chăn chiên: Đáng lẽ yêu thương giúp đỡ nhau khỏi sự tranh giành của dân Canaan và Phêrêsít, thì hai bọn chăn chiên đã tranh giành với nhau. Đây là điều thường xảy ra trong hàng ngũ con cái Chúa thay vì yêu thương nhau, giúp đỡ nhau để chống kẻ thù chung là ma quỷ.
III. GIẢI QUYẾT CỦA ÁPRAHAM
1. Chúng ta là cốt nhục: Ápraham nhắc nhở Lót thấy mối liên hệ thiêng liêng giữa ông với Lót. Tuy nhiên, Ápraham không áp đặt cho Lót một trách nhiệm nhưng nhận trách nhiệm về phía chính mình để cư xử làm sao xứng đáng với tình cốt nhục.
2. Chẳng nên cãi lẫy nhau: Mối liên hệ cốt nhục phải là mối liên hệ của tình yêu, sự nhường nhịn và chủ động làm điều tốt cho nhau. Thật ra, đối với người ngoài còn phải nhân từ, huống chi cho cốt nhục. Dĩ nhiên có thể có bất đồng ý kiến nhưng không thể có cãi lẫy nhau.
3. Hãy chọn trước đi: Không đòi hỏi quyền lợi, sự tôn trọng hay luật công bình. Ápraham sẵn sàng nhường cho kẻ nhỏ hơn chọn trước.
NGƯỚC MẮT LÊN
Kinh Thánh: SaSt 13:10-18
I. LÓT BÈN NGƯỚC MẮT LÊN
1. Lót lựa chọn theo mắt thấy: Lót thấy cánh đồng bằng bên sông Giôđanh có hai điều quan trọng là có nước chảy tưới khắp đến Xoa và có đồng cỏ tốt tươi, được ví như vườn của Đức Giêhôva hay như xứ Êdíptô.
. Lót chỉ bước đi bằng mắt thấy. Ông chỉ thấy được hiện tại của những điều trước mắt với tất cả sự hấp dẫn, lôi cuốn mà không thấy tương lai đen tối của sự lựa chọn của mình.
2. Lót đã lựa chọn cách vị kỷ: Lót bèn chọn hết cho mình cả cánh đồng bằng bên sông Giôđanh và đi qua phía đông. Lót chẳng cần quan tâm gì đến người chú cũng là cha nuôi, là thầy, là ân nhân của mình mà chọn hết cho mình phần mình cho là tốt nhất.
3. Lót lựa chọn thiếu cân nhắc: Lót không cần biết ảnh hưởng của Sôđôm sẽ như thế nào trên chính ông và trên gia đình con cái ông. Ông đã sẵn sàng dời trại mình đến Sôđôm, chung sống với dân tội ác/
4. Lót lựa chọn sự phân rẽ: Lót từ bỏ Ápraham để đi qua phía đông, tự mình hoạch định bước đi của mình theo mắt thấy.
II. ÁPRAHAM NHƯỚNG MẮT LÊN
1. Đức Giêhôva phán hứa cùng Ápraham : Chúa dạy Ápraham nhướng mắt lên nhìn đông tây nam bắc với con mắt đức tin và Chúa hứa:
. Cả xứ nào ông thấy sẽ được ban cho ông và dòng dõi ông đời đời.
. Dòng dõi ông sẽ đông như bụi trên đất, không thể đếm được.
Ápraham không tự chọn cho mình thì Chúa đã chọn cho ông điều tốt nhất và chỉ cho ông thấy chương trình của Ngài dành cho ông.
2. Apram lập bàn thờ cho Đức Giêhôva: Ápraham hoàn toàn tin nơi lời phán hứa của Chúa nên đã dời trại đến lùm cây dẻ bộp tại Mamrê, thuộc Hếprôn là lập bàn thờ cảm tạ Chúa, thờ phượng Chúa.
LỜI CẢNH CÁO
Kinh Thánh: SaSt 14:1-11
I. NĂM VUA DẤY LOẠN
1. Làm chư hầu 12 năm: Năm vua của Sôđôm, Gômôrơ, Atma, Xêbôim và Xoa đã làm chư hầu, triều cống cho Kếtrôlaome trong 12 năm.
2. Dấy loạn vào năm thứ 13: Cuộc sống lệ thuộc ngoại bang thật khó chịu nhưng cuộc sống nô lệ cho tội lỗi khó chịu hơn lại không được nhận ra.
II. BỐN VUA ĐƯƠNG ĐỊCH CÙNG NĂM
1. Kếtrôlaome kết hợp các đồng minh: Kếtrôlaome, vua Êlam kết đồng minh với vua Sinêa, Êlasa và Gôim. Ông ta không dễ dàng để bị mất quyền lợi, ảnh hưởng. Vì thế ông đã dấy binh chinh phạt các vua dấy loạn.
2. Bốn vua chiến thắng: Sau khi chiến thắng các dân tộc khác, Kếtrôlaome kéo binh đến trũng Siđiêm để dẹp loạn. Họ đã tiếp tục thành công tiêu diệt đạo quân dấy loạn.
3. Kết quả: Bên thắng thận cướp lấy hết của cải và lương thực của Sôđôn và Gômôrơ. Không những không thoát khỏi ách thống tri ngoại bang mà còn phải đánh mất hết những gì mình có.
III. LỜI CẢNH CÁO
1. Giặc cũng bắt Lót, cháu của Ápraham : Chia rẽ khỏi Ápraham, Lót phải nhận lấy hậu quả là mất sự bảo vệ của Chúa dành cho Ápraham và con cháu của ông. Lìa khỏi vòng tay của Chúa là tự mình hủy hoại chính mình.
2. Giặc cũng đem đi hết thảy gia tài của Lót: Lót tìm kiếm của cải, vật chất và sẵn sàng hy sinh sự tương giao với Ápraham và với Đức Chúa Trời của ông. Kết quả là Lót mất tất cả. Của cải thuộc thể thật mong manh, không bền vững trong tay những ngươi chỉ biết tôn thờ nó.
. Vì thế, lời kêu gọi là phải biết ra khỏi tội lỗi để trở lại cùng Chúa để tìm cho mình một nơi nương náu vững chắc.
. Lời kêu gọi kế tiếp là hãy ham mến những sự ở trên trời, tìm kiếm những sự ở trên trời. Đó là cơ nghiệp vững chắc cho những người tím kiếm Chúa.
CHIẾN THẮNG LẪY LỪNG
Kinh Thánh: SaSt 14:13-16
I. NHẬN TIN VỀ LÓT
1. Có một người thoát được: Chúa đã dự bị sẵn một người báo tin buồn, nhưng đã dự bị sẵn hàng tỉ người để báo tin lành.
. Cuộc chiến rất khốc liệt nên số người chạy thoát thật hiếm hoi.
2. Chạy đến báo điều đó cùng Apram: Hoặc Lót nhờ, hoặc chính người đó tự đến, cũng đều cho thấy mọi người đều có thể tin cậy nơi Ápraham, dù Lót đã đối xử không tốt đối với Ápraham. Người ta có thể tin cậy chúng ta chăng ?
II. NHỮNG CHUẨN BỊ CỦA ÁPRAHAM
1. Kết ước với ba anh em Mamrê: Đời sống nhân từ của Ápraham đã chiếm cảm tình của ba anh em nầy và nhận biết Đức Chúa Trời ban phước cho Ápraham nên họ đã kết ước với ông (21:22, 32). Vừa phát triển sự giao hảo vừa tạo được uy thế cần thiết.
2. Tập luyện các gia nhân: Những gia nhân được sinh trong nhà Ápraham đều được luyện tập, không những cho công việc mà cũng cho chiến trận để bảo vệ tài sản quá lớn của Ápraham. Sự nhơn từ của ông đã khiến họ trung thành với ông như vua của họ.
III. GIẢI CỨU LÓT
1. Chiêu tập 318 gia nhân đã luyện tập: Ápraham lập tức tuyển chọn trong số gia nhân của ông 318 người có khả năng chiến trận để đi giải cứu Lót.
2. Đuổi theo các vua đó đến Đan: Từ Hếprôn đến Đan khoảng 230 km, đoạn đường rất dài, chứng tỏ quyết tâm giải cứu Lót trong Ápraham rất cao, tình thương và trách nhiệm của Ápraham đối với Lót rất lớn.
3. Tấn công: Ápraham chia đầy tớ ra nhiếu cánh, thừa lúc ban đêm xông vào quân nghịch, đánh đuổi họ đến tận Đamách.
4. Chiến thắng: Ápraham thâu về đủ hết các tài vật mà quân giặc đã cướp. Ông cũng dẫn Lót cùng gia đình và dân chúng trở về. Một sự giải cứu tuyệt diệu, một chiến thắng lẫy lừng !
VUA MÊNCHIXÊĐÉC
Kinh Thánh: SaSt 14:18-20
I. MÊNCHIXÊĐÉC
1. “Mênchixêđéc ”: Có nghĩa là Vua của sự Công bình. Đây là đặc tính của Chúa Jesus khi Ngài làm Vua để đoán xét muôn dân (EsIs 11:3-4).
2. Vua Salem: Có nghĩa là Vua của sự Bình an. Đây cũng là một Danh xưng của Chúa Jesus (9:5).
. HeDt 7:3 cho biết Mênchixêđéc không cha, không mẹ, không gia phổ, không có ngày đầu mới sanh, cũng không có ngày rốt qua đời, như vậy là giống Con Đức Chúa Trời.
3. Là Thầy Tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao: Đây là chức Tế Lễ của Đấng Christ (7:17) là chức Tế lễ cao trọng vô cùng hơn chức tế lễ của giòng họ Lêvi. Mênchixêđéc xuất hiện trong Cựu Ước một lần và Chúa Jesus trong Tân Ước đã thực hiện chức Tế lễ một lần đủ cả và có giá trị đời đời (9:12).
II. MÊNCHIXÊĐÉC TIẾP ĐÓN ÁPRAHAM
1. Sai đem bánh và rượu ra: Trên một phương diện là thết đãi Ápraham để ăn mừng chiến thắng. Trên một phương diện khác, hình bóng về bánh và rượu trong lễ Tiệc Thánh tại phòng cao o Chúa Jesus ban.
2. Chúc phước cho Ápraham : Mênchixêđéc cầu xin Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng dựng nên trời và đất (Đấng Tạo hóa Quyền năng) ban phước cho Ápraham. 7:7 cho biết “người bực cao chúc phước cho kẻ bực thấp”, nghĩa là Mênchixêđéc cao trọng hơn Ápraham.
3. Ca ngợi Đức Chúa Trời: Mênchixêđéc ca ngợi Đức Chúa Trời chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay Ápraham. Đây là lời nhắc nhở cho Ápraham biết chiến thắng nầy là của Đức Chúa Trời ban để Ápraham không kiêu ngạo mà phải cảm tạ ca ngợi Chúa.
4. Nhận của lễ một phần mười của Ápraham dâng lên: Chiến thắng là của Đức Chúa Trời nên Ápraham phải dâng của lễ lên cho Chúa. Hành động nầy cũng bày tỏ sự tôn trọng Mênchixêđéc là Thầy Tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao (7:4).
TÔI KHÔNG NHẬN
Kinh Thánh: SaSt 14:17, 21-24
I. ĐÓN RƯỚC NGƯỜI CHIẾN THẮNG
1. Vua Sôđôm ra đón: Vua Sôđôm đã từng thất trận bỏ chạy, mất cả của cải, dân chúng. Nay được Ápraham giải thoát, nên vui mừng đi đón rước Ápraham để ca ngợi và cảm ơn.
. Vua Sôđôm cũng đề nghị Ápraham thâu lấy hết của cải lấy được từ quân giặc, chỉ giao người lại cho vua mà thôi.
2. Vua Salem tiếp rước: Mênchixêđéc đã tiếp rước, chúc phước, ca ngợi Đức Chúa Trời và nhận của lễ từ Ápraham, khẳng định chiến thắng là của Đức Chúa Trời ban cho.
II. TÔI KHÔNG NHẬN LẤY
1. Một nhận thức quý giá: Trong lời thề hứa, Ápraham đã nhận thức :
a. Đức Giêhôva là Đức Chúa Trời Chí Cao: Đức Giêhôva là Chân Thần duy nhất, là Đấng cao cả tuyệt đối mà ông phải hết linh hồn hết lòng, hết ý, hết sức mà kính mến và tôn thờ.
b. Đức Giêhôva là Chúa Tể của trời và đất: Ngài là Vua muôn vua, Chúa muôn chúa, là Đấng cầm quyền tể trị trên muôn vật. Ngài là Đấng nắm trong tay vận mạng của từng cá nhân, gia đình, quốc gia, dân tộc/. Ngài là Đấng không ai có thể chống cự được, nhưng đồng thời cũng là nơi nương tựa vững chắc cho những người kính mến Ngài.
2. Một quyết định khôn ngoan:
a. Đối với Ápraham : Ông không hề lấy một vật chi đã từng thuộc về vua Sôđôm, dù đến một sợi chỉ hay là một sợi dây giày.
b. Đối với người cùng đi: Ane, Êchcôn và mamrê có quyền lấy phần của họ vì họ xứng đáng được như thế. Ápraham không bắt họ theo quyết định của ông vì ông có lý do riêng của ông.
3. Một lý do đáng khâm phục: Ápraham không muốn gây một bất mãn hoặc một sự hãnh diện nào nơi vua Sôđôm rằng “nhờ vua mà Ápraham giàu có”.
. Ápraham muốn nói với mọi người rằng Đức Giêhôva là Đấng duy nhất mà ông nhờ cậy. Mọi tài sản cùng sự an vui hay thành công của ông đều đến từ một mình Đức Chúa Trời và mọi người phải ca ngợi Ngài qua ông.
ÁPRAHAM TIN ĐỨC GIÊHÔVA
Kinh Thánh: SaSt 15:1-6
I. LỜI PHÁN HỨA CỦA CHÚA
1. Hỡi Ápraham! Chớ sợ chi :Sau chiến thắng vang dội tại Đan, danh tiếng của Ápraham lan truyền khắp nơi. Điều nầy chắc hẳn đã làm cho Kếtrôlaome tức giận, chờ ngày trả thù. Chúa biết và giục lòng Ápraham :
2. Ta đây là cái thuẫn đỡ cho ngươi: Chúa là Đấng bênh vực ông. Chúa đã ban cho ông chiến thắng và Ngài sẽ tiếp tục bảo vệ và ban cho ông chiến thắng. Không ai có thể làm hại ông.
3. Phần thưởng của ngươi rất lớn: Chúa chính là phần thưởng lớn của Ápraham. Có Chúa, Ápraham sẽ có tất cả. Hơn nữa, Chúa sẽ ban thưởng cho người kính sợ Chúa, yêu mến Ngài và sống theo lời Ngài như ông.
II. LỜI THAN CỦA ÁPRAHAM
1. Chúa sẽ cho tôi chi ? Điều mong ước lớn nhất của ông là một đứa con. Vì thế ông thất vọng : Chúa sẽ cho tôi chi ? Chú ý vào điều mình chưa có sẽ khiến chúng ta dễ quên biết bao nhiêu điều Chúa đã ban cho mình.
2. Tôi sẽ chết không con: Thời gian cứ trôi qua, tuổi già cứ đến mà vẫn không con khiến Ápraham than trách : Chúa làm cho tôi tuyệt tự.
3. Kẻ nối nghiệp nhà tôi là Êliêse, người Đamách: Dù Ápraham rất yêu mến người quản gia trung thành, nhưng những gì ông xây dựng là để dành cho con cái mình. Đó mới là niềm vui của cha mẹ.
II. LỜI PHÁN HỨA CỦA CHÚA
1. Kẻ kế nghiệp ngươi là con ruột ngươi: Chúa cho biết không phải Êliêse mà là chính con trai của “gan ruột”Ápraham sẽ kế nghiệp ông.
2. Dòng dõi ngươi sẽ như sao trên trời: Chúa dẫn Ápraham ra ngoài và bảo ông ngó lên trời để đếm các ngôi sao và Ngài cho biết dòng dõi ông sẽ đông như sao trên trời, không thể đếm được.
IV. ÁPRAHAM TIN
1. Ápraham tin Đức Giêhôva: Tin chính Chúa và tin lời Chúa phán hứa.
2. Thì Ngài kể điều đó là công bình cho người: Dù Ápraham làm rất nhiều điều, nhưng ông được xưng công bình là bởi đức tin vì không ai có thể được xưng công bình bởi việc làm.
ÁPRAHAM NẰM CHIÊM BAO
Kinh Thánh: SaSt 15:7-21
I. CHÚA PHÁN HỨA
1. Ta là Đức Giêhôva: Chúa là Đấng Tự hữu, Hằng hữu, là Đấng Cứu chuộc với tình yêu bất biến.
2. Đã dẫn ngươi ra khỏi Urơ: Chính Chúa cùng đi với Ápraham từ Urơ đến Canaan, qua Aicập và trở về, chiến thắng Kếtrôlaome vv/
3. Để ban cho ngươi xứ nầy làm sản nghiệp: Chúa dẫn dắt Ápraham để đưa ông vào phước hạnh Chúa dành cho ông : Miền đât hứa.
II. CHÚA BAN DẤU HIỆU
1. Lời cầu xin của Ápraham : Dù Ápraham đã tin nơi lời phán hứa của Chúa, nhưng ông vẫn sống tại Canaan như một khách lạ. Vì thế, ông xin Chúa một dấu hiệu.
2. Dấu hiệu Chúa ban: Chúa bảo Ápraham dâng một của lễ gồm có một con bò, một con dê, một con chiên, một chim cu rừng, một chim bồ câu.
. Ngọn lửa lòe ngang qua của lễ, xác quyết lời phán hứa của Chúa cho Ápraham.
III. CHÚA NÓI LỜI TIÊN TRI
1. Dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong xứ chẳng thuộc về chúng nó: Dân Do Thái đã qua xứ Êdíptô trước tiên là để tránh nạn đói. Nhưng xứ Gôsen tốt tươi đã khiến họ định cư ở đó.
2. Làm tôi mọi cho dân xứ đó trong 400 năm: Dân Do Thái đã ở trong xứ Aicập 400 năm, bị hà hiếp, bị bắt làm nô lệ thật khốn khổ, vì Aicập không phải là miền đất hứa của dân Do Thái.
3. Nhưng Ta sẽ đoán phạt dân đó: Chúa đã dùng 10 tai vạ để đoán phạt dân Aicập cũng như tiêu diệt đạo quân Pharaôn trong biển đỏ. Dân Do Thái khi ra đi đã xin vàng bạc của dân Êdíptô khiến họ có nhiều của cải khi trở về xứ Canaan. Họ chỉ có thể tìm phước hạnh, bình an thật trong miền đất hứa.
IV. CHÚA LẬP GIAO ƯỚC
1. Chúa nhận của lễ: Ngọn lửa lòe ra thiêu đốt của lễ.
2. Chúa lập giao ước: Chúa ban Canaan làm cơ nghiệp cho ân Do Thái. Chúa cũng định giới hạn vô cùng rộng lớn từ sông Nile đến Ơphơrát.
Ý RIÊNG HAY Ý CHÚA ?
Kinh Thánh: SaSt 16:1-6
I. ĐỀ NGHỊ CỦA SARA
1. Nhận định: Sara nói cùng Ápraham rằng Đức Giêhôva đã làm cho bà son sẻ. Bà đã chỉ nhìn vào hiện tại mà quên nhìn vào lời hứa của Chúa cho bà trong tương lai. Bà nhơn Danh Chúa mà hành động nhưng nhơn Danh Chúa với một sự thiếu hiểu biết Chúa và chương trình Ngài.
2. Đề nghị: Sara đề nghị Ápraham ăn ở với nữ tỳ Aga để Aga sẽ thay bà mà sinh con cho Ápraham, theo phong tục bấy giờ. Bà đã hoàn toàn mất niềm tin nơi Chúa rằng Ngài sẽ ban cho bà có con với Ápraham.
. Đây là nổ lực của Sara để giúp Đức Chúa Trời thực hiện lời Ngài đã hứa với Ápraham, nhưng Đức Chúa Trời không cần con người giúp đỡ Ngài bằng cách đem ý riêng, ý người vào ý muốn tốt lành của Ngài.
II. ĐÁP ỨNG CỦA ÁPRAHAM
1. Ápraham nghe theo lời vợ: Lịch sử lại được tái diễn: Ađam thuộc thể và Ađam thuộc linh đều nghe theo lời vợ, nghe theo lời khuyên sai lầm !
2. Sau mười năm ở tại Canaan, Ápraham lấy Aga làm hầu: Có lẽ Ápraham cũng quá mòn mõi chờ đợi và đã đánh mất lòng tin nơi lời hứa của Chúa cho ông bà. Họ đã diễn dịch lời Chúa cho thích hợp với hoàn cảnh hiện tại và yên lòng làm theo ý riêng với chiêu bài giúp đỡ Chúa !
3. Aga thọ thai: Chương trình của Sara thành công mỹ mãn ! Bà đã đạt được điều bà đã bàn định với Ápraham để thực hiện ! Nhưng...
III. HẬU QUẢ TAI HẠI
1. Aga khinh bỉ bà chủ mình: Aga nghĩ rằng mình đã làm được điều mà bà chủ không làm được. Kiêu ngạo đã khiến bà quên ơn chủ, quên mình là ai, và quên rằng nếu Chúa không cho thì bà cũng chẳng làm được chi.
2. Sara đổ tội cho Ápraham: Tức giận vì bị xúc phạm, Sara đã không còn nhận ra lỗi lầm của chính mình. Đổ lỗi cho người khác là bản chất của con người ! Một lần nữa, Sara lại đem Chúa ra làm Đấng phân xử cho việc làm sai trật của chính bà. Đúng là “lấy Danh Chúa làm chơi”!
3. Sara hành hạ Aga: Aga đã nhận hậu quả xứng đáng với sự kiêu ngạo của bà nhưng thật Sara đã làm khổ cho cả Ápraham lẫn chính mình vì một hành động thiếu khôn ngoan vì thiếu đức tin nơi Chúa.
CHÚA ĐOÁI XEM
Kinh Thánh: SaSt 16:7-16
I. THIÊN SỨ ĐỨC GIÊHÔVA THẤY
1. Thiên sứ thấy Aga: Thiên sứ thấy Aga ở trong đồng vắng, gần bên suối nước, nơi mé đường đi Surơ. Có lẽ Aga muốn trốn về xứ Aicập là quê hương của mình.
2. Thiên sứ hỏi: a. Hỡi Aga, đòi của Sarai: Aga được nhắc nhở về địa vị hiện có của mình và mối liên hệ giữa Aga với Sara (có lẽ rất tốt đẹp trước khi Aga tự tạo nan đề cho chính mình bằng sự kiêu căng).
b. Ngươi ở đâu đến và sẽ đi đâu ?: Aga chỉ trốn chạy thực tế mà chưa suy nghĩ hay quyết định dứt khoát cho tương lai mình, định hướng cho cuộc đời của mình.
3. Aga trả lời: Tôi lánh xa mặt Sarai, chủ tôi: Aga chỉ muốn tránh thật xa bà chủ mình. Đối với bà, mọi sự đã sụp đổ, không còn phương cách cứu vản vì cái phước đã bị bà biến thành cái họa kinh khiếp.
II. THIÊN SỨ ĐỨC GIÊHÔVA DẠY
1. Thiên sứ dạy: Hãy trở về và chịu lụy dưới tay chủ ngươi: Aga cần quay về, thừa nhận sự sai lầm của mình và đón nhận kết quả việc mình làm trong sự thuận phục chương trình Chúa cho mình. Cần đối diện để giải quyết nan đề chứ không phải trốn chạy. Dĩ nhiên phần còn lại Chúa sẽ lo.
2. Thiên sứ hứa: Ta sẽ thêm dòng dõi ngươi nhiều không đếm được: Thiên sứ”ở đây được giải thích là chính Chúa, vì chỉ có Chúa mới có quyền ban phước hay giáng họa.
3. Lời tiên tri: Aga sẽ sanh một trai đặt tên là Íchmaên (nghĩa là Chúa nghe). Chúa thật đã nghe thấy sự sầu khổ của Aga. Dù dòng dõi Íchmaên sẽ đông đúc, nhưng Íchmaên được mô tả là con lừa rừng nổi loạn chống lại anh em mình.
III. KẾT QUẢ
1. Aga ca ngợi Chúa: Bà gọi Chúa là Đức Chúa Trời hay đoái xem. Bà sung sướng vì được thấy Chúa, được nghe Chúa hứa, Chúa dạy dỗ và bà sẵn sàng vâng phục Chúa. Do đó, cái giếng được đặt tên là Lachairoi nghĩa là Đấng Hằng Sống đoái xem tôi.
2. Íchmaên ra đời: Ápraham đặt tên con là Íchmaên như lời Chúa truyền.
TỪ ÁPRAM ĐẾN ÁPRAHAM
Kinh Thánh: SaSt 17:1-8
I. ĐỨC GIÊHÔVA PHÁN
1. Ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng: Chúa nhắc cho Ápraham nền tảng đức tin của ông phải đặt nơi chỉ một mình Chúa vì Ngài là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng duy nhất có quyền làm thành mọi lời Ngài hứa với ông.
2. Ngươi hãy đi ở trước mặt Ta, làm một người trọn vẹn: Ápraham cần biết rằng mọi việc ông làm, lời ông nói cũng như những suy nghĩ của ông đều bày ra ở trước mặt Chúa. Ông phải ý thức sự hiện diện của Chúa và luôn sống trong sự hiện diện của Ngài. Thật ra, con dân Chúa chính là đại diện của Chúa phải sống trọn vẹn như Cha mình là trọn vẹn (Mat Mt 5:48) để làm rạng Danh Cha.
3. Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, làm cho dòng dõi ngươi thêm nhiều quá bội: Chúa nhắc lại giao ước của Ngài với Ápraham, nhưng ở đây Ngài nhấn mạnh đến dòng dõi của ông.
II. ĐÁP ỨNG CỦA ÁPRAHAM
1. Đáp ứng của sự tôn kính: Ápraham sấp mình xuống đất. Ông ý thức địa vị bụi đất của mình ở trước mặt Đức Chúa Trời Toàn Năng cao cả, là Đấng Tạo Hóa của ông.
2. Đáp ứng của đức tin: Chúa nhắc đến dòng dõi khi Ápraham đã 99 tuổi. Nhưng Ápraham cúi đầu tiếp nhận lời hứa với lòng tin.
III. CHÚA LẬP GIAO ƯỚC VỚI ÁPRAHAM
1. Giao ước về dòng dõi: Chúa hứa ban cho Ápraham dòng dõi nhiều quá bội (như sao trên trời, như bụi dưới đất ).
2. Giao ước về các dân tộc: Ápraham sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc. Vì thế, Chúa đổi tên ông từ Apram là Cha cao quý thành ra Ápraham là Cha của nhiều dân tộc tràn ra nhiều nước. Nhiều vua sẽ do nơi ông mà ra, nhất là Vua muôn vua, Chúa muôn Chúa sẽ đến từ dòng dõi ông.
3. Giao ước duy trì đến các hậu tự của Ápraham: Chúa thành tín thực hiện lời Ngài hứa với dòng dõi Ápraham vì cớ chính ông nên Ngài cũng lập giao ước với cả dòng dõi ông nữa.
4. Giao ước về đất đai: Con cháu ông sẽ nhận Canaan làm cơ nghiệp đời đời vì Ngài là Đức Chúa Trời đời đời của họ.
GIỮ GIAO ƯỚC : PHÉP CẮT BÌ
Kinh Thánh: SaSt 17:9-14, 22-27
I. ĐỨC GIÊHÔVA PHÁN
1. Người giữ giao ước: Chúa cho Ápraham biết chính ông trước tiên rồi đến dòng dõi ông từ đời nầy qua đời kia sẽ phải giữ giao ước của Chúa.
2. Giao ước phải giữ: Mọi người nam hoặc sinh đẻ trong nhà, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, không thuộc dòng giống Do Thái, hể lên tám ngày tuổi đều phải làm phép cắt bì, nghĩa là cắt bỏ phần da ở đầu dương vật của đứa bé trai đó.
. Như thế, ngay từ ban đầu, giao ước đã được lập, không những với người Do Thái mà còn với những người ngoại bang.
3. Kỷ luật: Những người nam nào không nhận phép cắt bì nơi xác thịt mình sẽ bị truất khỏi dân sự. Người đó bị kể là kẻ bội lời giao ước của Chúa.
II. Ý NGHĨA PHÉP CẮT BÌ
1. Đó là dấu hiệu của giao ước đời đời Chúa lập với dân sự (17:13): Phép cắt bì là điều phân biệt người có lập giao ước với những người thế gian không lập giao ước với Chúa. Đây là dấu hiệu của sự biệt riêng khỏi thế gian.
2. Phép cắt bì thật có ý nghĩa là lột bỏ tánh xác thịt (CoCl 2:11): Đây là dấu hiệu của một người dứt khoát với cuộc sống tội lỗi của người thế gian, cung hiến đời sống của mình để bước đi theo Chúa suốt cuộc đời. Người đó sẽ không còn quay lại với con đường cũ vì không thể xóa bỏ dấu vết của giao ước trong xác thịt mình.
3. Đó là dấu hiệu của sự vâng lời Chúa (SaSt 17:23): Ápraham làm y như lời Chúa phán dạy. Sự vâng lời nầy chứng tỏ Ápraham tôn Chúa là Chủ tuyệt đối của ông. Ông luôn sẵn sàng lắng nghe và vâng phục mọi mạng lệnh Chúa truyền.
4. Đây cũng là một chỉ dẫn tuyệt hảo về phương diện y khoa: Phép cắt bì thích hợp với y học về phương diện vệ sinh và phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở những phụ nữ có chồng đã chịu phép cắt bì.
TỪ SARAI ĐẾN SARA
Kinh Thánh: SaSt 17:15-21
I. ĐỨC GIÊHÔVA PHÁN
1. Sara chứ không phải Sarai nữa: Chúa cho Ápraham biết tên của vợ ông không còn là Sarai (Công chúa của tôi) mà là Sara (Công chúa). Bà không còn chỉ là công chúa của Ápraham mà bà trở nên công chúa của mọi dân tộc do bà sinh ra.
2. Ta sẽ ban phước cho nàng: Dù bà có những lúc lầm lỗi ( Đồng tình với Ápraham nói dối, Khởi xướng“chương trình Aga”), nhưng đức tin của bà nơi Chúa rất lớn, được liệt vào danh sách anh hùng đức tin (HeDt 11:11). Chúa ban phước cho bà, vì chính bà đã tin Chúa là Đức Chúa Trời thành tín của chính mình.
3. Do nơi nàng, Ta sẽ ban cho ngươi một con trai: Chúa sẽ ban cho ông bà có một con trai trong tuổi già (ông 99 tuổi, bà 89 tuổi). Từ đứa con trai đó, bà sẽ trở nên mẹ của các dân tộc (Giuđa, Ysơraên, Êđôm). Những vua của các dân tộc sẽ từ nơi bà sinh ra, nhất là Vua Mếtsia.
II. ĐÁP ỨNG CỦA ÁPRAHAM
1. Ápraham sấp mình xuống đất: Dù không hiểu nỗi lời phán hứa lạ lùng của Chúa, Ápraham vẫn tiếp nhận với đức tin và sự tôn kính, biết ơn Chúa vì ơn phước Chúa ban cho vợ mình, cũng là cho mình nữa.
2. Ápraham cười: Nụ cười của Ápraham ở đây không nên xem là nụ cười vô tín vì thái độ vô cùng cung kính của ông đối với Chúa, mà nên xem là nụ cười của sự ngạc nhiên, không thể nào hiểu được lời hứa của Chúa.
3. Ápraham cầu xin cho Íchmaên: Trước lời phán hứa của Chúa về đứa con lời hứa, Ápraham biết Íchmaên là kết quả của hành động sai lầm của vợ chồng ông. Vì thế, ông cầu xin Chúa tha thứ và ban cho nó được sống.
III. CHÚA KHẲNG ĐỊNH LỜI HỨA
1. Sara, vợ ngươi sẽ sanh con trai: Chúa khẳng định rằng đứa con sẽ được đặt tên là Ysác (vui cười). Niềm vui nầy sẽ được thực hiện một năm sau.
2. Ta sẽ lập giao ước đời đời cùng nó: Chúa sẽ lập giao ước đời đời cùng Ysác và dòng dõi ông vì Ysác mới là đứa con của lời hứa.
3. Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho Íchmaên: Chúa không quên Íchmaên dù ông không phải là con lời hứa, nhưng ông cũng là con của Ápraham.
ĐÓN TIẾP CHÚA
Kinh Thánh: SaSt 18:1-8
I. ĐỨC GIÊHÔVA HIỆN RA
1. Đức Giêhôva hiện ra cùng Ápraham: Sau khi Ápraham vâng lời Chúa làm phép cắt bì cho mình và cả nhà, xác định việc lập giao ước với Chúa, thì Chúa lại hiện ra với ông.
2. Nơi lùm cây dẻ bộp của Mamrê: Tại nơi Ápraham đã từng lập bàn thờ để thờ phượng Chúa (13:18).
3. Cơ hội: Khi Ápraham đang ngồi nơi cửa trại lúc trời nắng: Lúc đang nghỉ ngơi và suy nghĩ về lời Chúa hứa cho mình.
II. ÁPRAHAM GẶP CHÚA
1. Ápraham nhướng mắt lên thấy ba người: Nhướng mắt lên chứ không phải cúi gầm xuống.
2. Chạy đến, sấp mình xuống đất: Dù lòng hiếu khách của Ápraham rất lớn thì ở đây, chắc hẳn Ápraham có thể nhận ra Đấng đã từng hiện ra với mình trước đó.
3. Ápraham hết lòng mời: Ông xin Chúa ghé lại nhà ông, đừng bỏ đi luôn (lưu ý ở đây dùng động từ số ít, nhấn mạnh đến chính Chúa Giêhôva).
. Ông xin phép rửa chơn cho các Đấng. Ông mời các Đấng nằm nghỉ và xin các Đấng dùng bữa ăn tại nhà ông trước khi tiếp tục lên đường.
4. Các Đấng đồng ý: Sự chân thật và hiếu khách của Ápraham khiến các Đấng vui vẻ nhận lời.
III. ÁPRAHAM PHỤC VỤ
1. Ápraham nhờ Sara làm bánh: Ông lật đật (sốt sắng, nóng nảy thực hiện) vào trại nhờ Sara lựa bột tốt nhất để làm bánh.
2. Ápraham bắt một con bò con ngon: Ông tiếp tục dâng cho Chúa những gì tốt nhất. Ông lựa bò con ngon nhất giao cho đầy tớ nấu dọn cho các Đấng.
3. Ápraham đứng hầu: Dù Ápraham là tộc trưởng giàu có, có nhiều gia nhân nhưng ông muốn chính mình đứng hầu trước mặt Chúa để bày tỏ lòng yêu mến, tôn kính và mong muốn phục vụ Chúa.
TIN MỪNG CHO SARA
Kinh Thánh: SaSt 18:9-15
I. ĐỨC GIÊHÔVA BÁO TIN MỪNG
1. Các Đấng hỏi Ápraham: Sau khi Ápraham dâng lên một của lễ với thái độ cung kính, các Đấng hỏi thăm Sara, vợ của Ápraham ở đâu? Không phải hỏi để biết mà để Sara chú ý đến điều Chúa sẽ ban cho bà. Chúa muốn bà nghe rõ tin mừng Chúa ban.
2. Báo tin mừng: Một Đấng (NIV dịch là Đức Giêhôva) phán rằng: Độ một năm nữa, Ta sẽ trở lại đây không sai, lúc đó, Sara, vợ ngươi sẽ có một con trai.
3. Sara nghe các lời nầy: Sara đã trực tiếp nghe chính lời Chúa phán hứa cho mình.
II. ĐÁP ỨNG CỦA SARA
1. Đối diện thực tại đen tối: Ápraham và Sara đã già, tuổi tác đã cao. Nhất là Sara không còn có thể sinh con.
2. Sara cười thầm: Già như tôi thế nầy, dễ còn được điều vui đó sao ? Còn chúa tôi cũng đã già rồi. Dù Sara rất mong niềm vui đó nhưng theo bà, điều đó thật bất năng đối với Ápraham, nhất là với chính bà.
III. CÂU TRẢ LỜI CỦA CHÚA
1. Câu hỏi thứ nhất: Cớ sao Sara cười rằng: Có quả thật rằng tôi già đến thế nầy lại còn sanh sản chăng? Chúa không chấp nhận thái độ hoài nghi của con cái Chúa khi tập trung vào sự bất năng của chính mình.
2. Câu hỏi thứ nhì: Há có điều chi Đức Giêhôva làm không được chăng ? Khi đối diện nan đề trong cuộc sống, chúng ta cần hỏi câu nầy, không phải để nghi ngờ vì câu trả lời chắc chắn là “không”sẽ thêm đức tin, năng lực để chúng ta tiến tới khi biết tập trung vào sự Toàn Năng của Chúa.
3. Câu khẳng định thứ nhất: Một năm nữa, Ta sẽ trở lại cùng ngươi và Sara sẽ có một con trai. Chương trình ban phước của Chúa cho ông bà không thay đổi.
4. Câu khẳng định thứ hai: Thật ngươi có cười đó. Sara sợ nên chối. Con người thường nói dối hay chối sự thật vì sợ bị phát hiện sự thật. Tuy nhiên, nói dối chỉ đem lại nhiều rắc rối hơn là đối diện sự thật để giải quyết sự việc. Chúa muốn con dân Ngài luôn nói sự thật.
NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN
Kinh Thánh: SaSt 18:16-21
I. LẼ NÀO TA GIẤU ÁPRAHAM
1. Ápraham tiễn bước các Đấng: Sau khi báo tin mừng cho gia đình Ápraham, các Đấng đem tin buồn cho gia đình Lót, người đã lìa Ápraham để chọn Sôđôm. Các Đấng đi về hướng Sôđôm. Ápraham bày tỏ sự tin cậy, biết ơn và tôn kính nên đã tiễn bước các Đấng.
2. Chúa phán: Lẽ nào Ta giấu Ápraham: Chúa nhận Ápraham làm bạn của Ngài. Chúa không muốn Ápraham không biết điều Ngài sẽ làm cho Sôđôm là nơi cháu ông đang ở. Chúa sẵn sàng bày tỏ chương trình Ngài cho kẻ Ngài yêu.
. Chúa biết Ápraham rất yêu quý Lót, dù Lót đã cư xử không tốt với ông.
II. TA ĐÃ CHỌN ÁPRAHAM
1. Chúa phán về tương lai của Ápraham: Ápraham sẽ trở nên một ân lớn và cường thạnh và điều quý hơn hết là các dân tộc trên thế gian đều sẽ nhờ ông mà được phước. Ápraham sẽ là nguồn phước cho thế gian.
2. Ta đã chọn người: Chúa chọn Ápraham, không phải vì ông công bình thánh khiết hơn người khác mà vì Ngài muốn thực hiện chương trình tốt lành cho ông và ông bằng lòng bước vào chương trình đó.
. Chúa chọn Ápraham để ông đi theo Chúa và dạy dỗ các con cùng người nhà giữ theo đạo Đức Giêhôva, nghĩa là làm các điều công bình và ngay thẳng giữa một thế gian tội ác.
3. Ta sẽ làm cho ứng nghiệm lời đã hứa với Ápraham: Đây là một lời hứa có điều kiện. Chúa rất sẵn sàng làm thành lời hứa, nhưng Ápraham cũng phải hết lòng làm điều Chúa chọn và dạy ông làm, để dòng dõi ông khi giữ theo đạo của Chúa thì sẽ kinh nghiệm lời Chúa hứa.
. Muốn con cháu hưởng trọn lời hứa, Ápraham cần làm trọn trách nhiệm mình đối với họ.
III. CHÚA KHÔNG GIẤU VỚI ÁPRAHAM
1. Tội lỗi của Sôđôm và Gômôrơ quá lớn: Những tiếng kêu oan do những hành động tội ác của họ quá nhiều, nghĩa là tội lỗi của họ thật quá lớn.
2. Chúa ngự xuống để xem xét: Thật ra không phải để biết mà để ban cho họ cơ hội cuối cùng trước khi họ sẽ bị đoán phạt.
NẾU CHỈ CÓ MƯỜI NGƯỜI !
Kinh Thánh: SaSt 18:22-33
I. ÁPRAHAM CẦU THAY
1. Ápraham đứng chầu trước mặt Đức Giêhôva: Sau khi nghe Chúa báo tin buồn về Sôđôm, Ápraham vẫn đứng chầu trước mặt Chúa, trong khi hai thiên sứ đi qua hướng Sôđôm. Ông không thể làm ngơ trước tai họa xảy đến cho Lót.
2. Ápraham lại gần và thưa: Đây là một đặc tính quan trọng của người cầu thay: Người đó phải là người biết đến gần Đức Chúa Trời. Người đó cũng phải biết mở miệng để kêu xin, dù Chúa là Đấng Toàn Tri, biết mọi điều chúng ta xin trước khi chúng ta mở miệng nói.
II. ÁPRAHAM CẦU THAY
1. Nền tảng lời cầu thay: Ápraham cầu thay dựa trên ba điều:
. Chúa là Đấng đoán xét toàn thế gian: Chúa có toàn quyền hành động, không ai có thể cản tay Ngài, và mọi người đều phải ứng hầu trước Ngài.
. Chúa là Đấng công bình: Sự đoán xét của Chúa rất công bình, Chúa không kể người công bình như kẻ độc ác và ngược lại, Chúa cũng không kể kẻ độc ác là công bình.
. Chúa đầy lòng thương xót: Chúa đã từng bày tỏ lòng thương xót đối với ông. Ông chắc rằng Chúa cũng sẽ bày tỏ lòng thương xót đối với Lót.
2. Lời cầu xin: Vì quá thương Lót, không muốn Lót phải chịu một thiệt hại nào nên Ápraham đã cầu xin Chúa đừng hủy diệt Sôđôm với lý do là tình thương của Chúa đối với người công bình trong thành.
. Ápraham mở đầu với lời cầu xin mạnh mẽ cho 50 người công bình và con số nầy cứ được giảm dần đến 45, 40, 30, 20 và lần chót là 10.
. Ápraham đã hai lần xin Chúa đừng giận để ông trình bày lời cầu xin lên Chúa vì biết cả mình lẫn lời cầu xin đều không xứng đáng.
III. ĐÁP ỨNG CỦA CHÚA
1. Ngài nhơn từ nghe lời cầu thay của Ápraham: Chúa nhẫn nại nghe lý luận của Ápraham dù lời cầu xin sẽ không được nhậm.
2. Ngài nhơn từ dạy Ápraham: Giờ cầu nguyện đã dạy Ápraham khám phá Chúa thật công bình và thật yêu thương hơn điều ông tưởng và ông có thề yên lòng trao phó mọi sự trong tay Chúa (đặt ý nình dưới ý Chúa).
TỘI ÁC CỦA SÔĐÔM !
Kinh Thánh: SaSt 19:1-11
I. LÓT TIẾP RƯỚC HAI THIÊN SỨ
1. Lót đang ngồi tại cửa thành: Khi các thiên sứ đến Sôđôm thì Lót đang ngồi tại cửa thành. Cửa thành là nơi hội họp của các viên chức cao cấp. Có lẽ vì quyền lợi, Lót đã tìm cho mình một chỗ đứng cao trong thành Sôđôm.
2. Lót tiếp rước: Khi thấy hai thiên sứ, Lót đứng dậy đi đón rước và sấp mình xuống đất. Có lẽ đây chỉ là một hình thức đón tiếp long trọng chứ không phải do lòng tôn kính vì Lót không biết họ là thiên sứ.
. Tuy nhiên, Lót rất hiếu khách. Ông đã cố mời cho được hai thiên sứ vào nhà, nhưng đáng buồn là ông đã không mời Chúa và lòng hay đời sống.
. Thiên sứ không muốn vào vì nhà Lót không phải là nơi tiếp thiên sứ như nhà của Ápraham. Dầu vậy, cuối cùng họ cũng đã vào và dùng bữa tại đó.
II. TỘI ÁC CỦA SÔ ĐÔM
1. Tội của dân thành: Tất cả người nam tại Sôđôm, từ trẻ đến già kều kéo đến bao quanh nhà Lót, đòi Lót dẫn hai thiên sứ (hai người nam) ra cho họ hành dâm (đồng tính luyến ái).
. Họ đòi hành hung Lót vì cho rằng Lót đoán xét họ. Họ lấn ép Lót và muốn phá cửa để xông vào nhà và dù quáng lòa mắt vẫn cố tìm đến cửa.
2. Tội của Lót: Lót muốn bênh vực hai người đến “núp bóng mái nha” ông bằng cách xin họ đừng làm điều ác đó với hai thiên sứ. Nhưng ông cũng đề nghị đưa hai con gái mình cho bọn đàn ông trong thành mặc tình làm chi cũng được ! Rõ ràng nếp sống tội ác của Sôđôm đã ảnh hưởng đến Lót và cả hai con gái ông.
. Có người lý luận rằng Lót chỉ làm kế hoản binh, để hoặc hai chàng rễ sẽ thuyết phục đám đông, hoặc đám đồng tính luyến ái không thích người khác phái ? ! Nhưng không có người cha nào có thể đối xử với con gái mình như thế.
III. SỰ CAN THIỆP CỦA THIÊN SỨ
1. Thiên sứ đem Lót vào nhà: Thiên sứ không cần Lót che chở mà Lót mới là người cần được che chở, giải cứu.
2. Thiên sứ haình phạt đám đông: Khiến họ bị quáng lòa mắt.
HÃY CHẠY TRỐN!
Kinh Thánh: SaSt 19:12-23
I. TƯỞNG NGƯỜI NÓI CHƠI
1. Phán quyết của thiên sứ: Các thiên sứ cho biết họ đã được Đức Giêhôva sai xuống Sôđôm để hủy diệt vì tiếng kêu oan về dân Sôđôm đã thấu đến Chúa.
2. Lời dạy của thiên sứ: Thiên sứ bảo Lót phải đem ra hết những người thuộc về ông vì Chúa muốn cứu toàn vẹn cả gia đình Lót.
3. Lót vâng lời: Ông đã đi ra nói với hai chàng rể, khuyên họ chổi dậy, đi ra khỏi thành vì Chúa sắo hủy diệt thành Sôđôm.
4. Các chàng rể tưởng người nói chơi: Lời nói của Lót thật vô giá trị. Lót thật vô dụng trong sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa. Đức tin cần phải được truyền đạt không phải chỉ bằng lời, mà phải bằng đời sống đổi mới. Lời nói của chúng ta có đáng tin không ?
II. HÃY CHẠY TRỐN CỨU LẤY MẠNG
1. Thiên sứ hối Lót: Sáng sớm, hai thiên sứ đánh thức Lót và hối Lót dẫn vợ và hai con gái ra khỏi thành ngay, kẻo bị chết lây.
2. Lót lần lữa: Lót không muốn từ bỏ tất cả những gì ông đã cố công xây dựng: Từ địa vị đến quyền lợi, danh vọng hay của cải/ Của cải ông chỉ có trong đất nên lòng ông đã hướng về đất. Với sức hút mãnh liệt của nó.
3. Thiên sứ nắm tay kéo đi: Lót được cứu “dường như qua lửa”nhưng cũng chỉ vì Đức Giêhôva thương xót Lót vì cớ Ápraham mà thôi.
4. Thiên sứ cảnh cáo: Sau khi bảo họ chạy trốn gấp để cứu lấy mạng, thiên sứ ban lời cảnh cáo: Đừng ngó lại sau (để luyến tiếc) cũng đừng dừng bước nơi đồng bằng.
5. Lót cầu xin: Lót nhân danh sự nhơn từ rất lớn của Chúa đối cùng ông để cầu xin Chúa cho mình đến ở lại Xoa. Ông không còn sức để chạy, không những vì tiếc của mà còn vì quá sợ hãi.
6. Thiên sứ đồng ý: Thiên sứ cho biết sẽ không hủy diệt thành Xoa và giục ông mau mau tiến bước vào đó.
7. Kết quả: Lót được an toàn vào đến Xoa khi mặt trời vừa mọc lôên khỏi đất.
KẾT QUẢ CỦA MỘT SỰ LỰA CHỌN!
Kinh Thánh: SaSt 19:24-38
I. MẤT HẾT TÀI SẢN
1. Đức Giêhôva giáng mưa diêm sanh và lửa: Chúa hủy diệt hai thành phố Sôđôm và Gômôrơ, cả đồng bằng, dân sự cùng cây cỏ. Những gì Lót nhướng mắt lên thấy và lựa chọn đã dành cho lửa !
2. Ápraham thấy từ đất bay lên một luồng khói: Ápraham dậy sớm, nóng lòng muốn biết kết quả lời cầu xin của ông cho Lót. Ápraham đến nơi ông đã đứng chầu Đức Giêhôva để tìm kiếm câu trả lời từ Chúa.
. Ápraham chỉ còn thấy luồng khói lớn từ đất bay lên.
. Bởi tình thương và lời cầu thay của Ápraham đối với Lót mà Chúa đã cứu Lót ra khỏi nơi hủy diệt.
II. MẤT VỢ
1. Vợ Lót quay ngó lại sau: Ông bà đã phí cả cuộc đời để xây dựng những điều dành cho lửa. Bà luyến tiếc những điều vô cùng quý giá đối với bà vi lòng bà đã thật sự để ở đó.
2. Nên hóa ra một tượng muối: Bất tuân mạng lệnh Chúa truyền qua các thiên sứ, bà phải nhận sự hình phạt xứng đáng ! Không một mạng lệng nào của Chúa mà không cần phải vâng phục.
III. MẤT HAI ĐỨA CON GÁI
1. Hai con gái lý luận: Cha các cô đã già mà không có con trai nối dõi. Các cô thì không còn có ai trên mặt đất để sánh duyên theo thế thường thiên hạ. Các cô chỉ đòi hỏi điều mình đáng lẽ phải được.
2. Hai cô phạm tội loạn luân: Quá thất vọng về tương lai đen tối, hai cô quyết định làm điều họ nghĩ là sẽ đem ích lợi cho cả các cô lẫn cha mình.
. Anh hưởng nếp sống tội lỗi của Sôđôm đã hằn rõ trong quyết định phạm tội loạn luân của các con gái của Lót vì họ còn khích lệ nhau để làm điều ô nhục đó.
. Tuy nhiên, họ biết Lót sẽ không thể chấp nhận điều đó nên đã phạm thêm một tội nữa là phục rượu cho cha mình. Lịch sử lại được tái diễn như sau đoán phạt của nước lụt, nhưng lần nầy, khi say rượu, Lót đã làm chính điều ghê tởm mà ông đề nghị dân Sôđôm làm cho hai con gái mình. Thật là những kết quả bi thảm cho một sự chọn lựa sai lầm.
ẤY LÀ EM GÁI TÔI !
Kinh Thánh: SaSt 20:1-7
I. KIỀU NGỤ TẠI GHÊ RA
1. Ápraham xuống miền nam, kiều ngụ tại Ghêra: Dù Chúa hứa ban toàn cõi Canaan cho Ápraham, nhưng ông vẫn còn là kẻ kiều ngụ hết nơi nầy đến nơi khác vì lúc đó, tội lỗi các dân tộc Canaan chưa đến cao độ.
. Ghêra là một thành phố phía nam, thuộc nước Philitin, một kẻ thù của Ysơraên suốt nhiều thế kỷ.
2. Ápraham nói dối: Một lần nữa, Ápraham lại nói dối rằng Sara chỉ là em gái mình. Ông chỉ nói một nửa sự thật nhưng trong hiện tại, đó là nói dối.
. Đời sống chúng ta, dù ở bất cứ trình độ nào, cũng có những cám dỗ đúng vào những điểm yếu của chúng ta. Hãy cẩn trọng và phó mình cho Chúa để chiến đấu và chiến thắng.
3. Abimêléc sai người bắt Sara: Với quyền lực của một vị vua, Abimêléc tự cho mình quyền bắt các người đẹp vào cung. Có lẽ câu chuyện nầy đã xảy ra rất sớm, nhưng được ghép vào đây để nói về mối liên hệ của Ápraham với các dân tộc, đặc biệt là dân Philitin.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI CAN THIỆP
1. Chúa tuyên án Abimêléc: Vì cớ hành động của Abimêléc với Sara, Chúa cho biết ông và cả nhà, cả dân tộc sẽ chết nếu không trả Sara.
2. Abimêléc tự biện hộ: Ông cho biết lỗi do cả Ápraham lẫn Sara đều nói dối, còn ông hoàn toàn ngay thẳng và thanh khiết khi cho bắt Sara, dù ông đã có nhiều hoàng hậu và cung phi !
III. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN DẠY
1. Chúa ngăn cản Abimêléc phạm tội: Chúa đồng ý về sự ngay thẳng của Abimêléc và cho biết chính Ngài đã ngăn trở ông phạm tội khi không cho ông động đến Sara. Nhiều cám dỗ mạnh mẽ mà chúng ta không biết lối thoát thì chính Chúa mở lối thoát cho kẻ kính sợ, yêu mến Ngài. Chúa giữ chúng ta khỏi vấp ngã để chúng ta có thể đứng trước mặt Ngài cách vui mừng, không chỗ trách được (Giu Gd 1:24).
2. Chúa dạy Abimêléc cách chữa trị: Việc đầu tiên của Abimêléc là phải giao trả Sara cho Ápraham ngay. Việc thứ hai là nhờ Ápraham cầu thay cho để ông và mọi người của ông được sống.
TRẢ LẠI SARA !
Kinh Thánh: SaSt 20:8-18
I. SÁNG HÔM SAU
1. Abimêléc dậy sớm: Nhận biết cơn chiêm bao là sự mặc khải của Chúa cho mình biết ý muốn Chúa, Abimêléc đã dậy sớm, sốt sắng để làm điều Chúa đã phán dạy.
2. Các tôi tớ vua lấy làm kinh ngạc: Nghe vua thuật chiêm bao, họ vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi vì nhận biết có một Đức Chúa Trời Hằng sống đang hiện hữu và đang cầm quyền tể trị.
II. CHẤT VẤN ÁPRAHAM
1. Ngươi đã làm gì cho ta vậy ? : Abimêléc cho Ápraham biết rằng Ápraham đang làm cho vua và cả nước vua phải rơi vào một tội lỗi rất lớn là đoạt vợ người, là phạm tội cùng Đức Chúa Trời.
2. Ngươi đã làm những việc không nên làm đó ! : Vua cho biết vua chưa hề làm mất lòng Ápraham mà Ápraham đã gài bẫy để vua bị hình phạt. Thật là một việc làm không phải. Vì thế, vua yêu cầu Ápraham giải thích.
III. LỜI GIẢI THÍCH CỦA ÁPRAHAM
1. Tôi tự nghĩ: Ápraham nghĩ rằng trong xứ nầy không có ai kính sợ Chúa nhưng ông quên rằng trong xứ nầy vẫn có Chúa hiện hiện với ông. Thật ra ông đã đánh giá người khác quá thấp.
2. Tôi sợ: Ápraham sợ người ta sẽ giết ông để đoạt vợ ông. Ápraham quên rằng Chúa hứa luôn ban phước, bênh vực và dẫn dắt ông.
3. Chương trình của chúng tôi: Bỏ Chúa ra ngoài suy nghĩ, ông bà bàn tính và quyết định nói dối. Ông cho rằng đó là dấu hiệu tình yêu của bà đối với ông mà quên mất dấu hiệu tình yêu của ông dành cho bà.
4. Nhưng nó cũng thật là em gái tôi: Dù là em gái cùng cha khác mẹ nhưng đã là vợ thì không còn xem là em gái.
IV. TRAO TRẢ VÀ BỒI THƯỜNG
1. Trao trả: Abimêléc trả Sara lại với một thái độ giao hảo tốt đẹp.
2. Bồi thường: Bồi thường danh dự bằng một ngàn miếng bạc. Đồng thời vua còn ban cho Ápraham súc vật và tôi trai tớ gái. Hơn nữa, còn cho phép trú ngụ bất cứ nơi nào.
3. Kết quả: Ápraham cầu thay và Chúa chữa bệnh cho nhà Abimêléc.
MỘT VIỆC VUI CƯỜI !
Kinh Thánh: SaSt 21:1-7
I. VIỆC CỦA ĐỨC GIÊHÔVA
1. Đúng kỳ Đức Chúa Trời đã định: Chúa luôn hành động theo chương trình của Ngài. Ngài luôn hành động đúng lúc dù đối với con người, ông bà Ápraham Sara đã chờ đợi quá lâu (25 năm).
2. Đức Giêhôva đến viếng Sara: Chúa bày tỏ lòng thương xót bà sau nhiều năm chờ đợi lời Chúa hứa cho hai ông bà. Chúa không bao giờ quên con cái yêu dấu của Ngài.
3. Chúa làm cho bà như lời Ngài đã nói: Chúa thành tín thực hiện mọi lời Ngài phán hứa. Ngài bày tỏ quyền năng trên thân thể khô héo của bà. Đúng như lời Chúa phán: Há có điều chi Đức Giêhôva làm không được chăng ?
II. VIỆC VUI CƯỜI CỦA ÔNG BÀ ÁPRAHAM
1. Sara thọ thai, sanh một con trai cho Ápraham: Đúng như lời Chúa tiên báo, Sara sanh một con trai cho Ápraham trong lúc tuổi đã già : Bà 90 tuổi còn ông 100 tuổi.
2. Sara vui cười: Bà cho biết đây là niềm vui không con người nào tưởng tượng nổi. Bà vui cười nói: Há ai dám nói với Ápraham rằng Sara sẽ cho con bú ư ?
3. Sara ca ngợi Chúa: Bà ca ngợi Chúa là Đấng đã làm cho bà một việc vui cười khiến mọi người đều chung niềm vui với bà.
III. NIỀM VUI TRONG SỰ VÂNG LỜI CHÚA
1. Ápraham đặt tên con là Ysác: Một năm trước, Chúa đã đến thăm ông bà và Ngài cho ông bà biết rằng ông bà sẽ có một con trai của lời hứa, người con trai sẽ kế nghiệp ông bà. Chúa cũng dặn phải đặt tên đứa trẻ là Ysác (SaSt 17:19). Ápraham vui mừng vâng lời Chúa, đặt tên con là Ysác.
2. Đúng tám ngày, Ápraham làm cắt bì cho Ysác: Đây là người đầu tiên được làm phép cắt bì đúng tuổi là 8 ngày. Ápraham vui mừng vâng lời Chúa làm phép cắt bì cho Ysác theo như lời Chúa đã phán dạy.
. Như thế, Ysác đã nhận dấu hiệu về giao ước Chúa ban cho cha mình là Ápraham, khiến mọi lời Chúa hứa cho Ápraham đều trở thành lời hứa cho Ysác và dòng dõi ông.
HÃY ĐUỔI NÓ ĐI !
Kinh Thánh: SaSt 21:8-13
I. TIỆC MỪNG YSÁC
1. Ápraham bày một tiệc lớn ăn mừng: Ysác lớn lên trong sự ban phước của Chúa và trong tình thương cha mẹ, tình thương rất lớn dành cho đứa con muộn, lại là đứa con của lời hứa, của phép lạ.
. Đến ngày Ysác thôi bú, Ápraham bày một tiệc lớn ăn mừng. Ăn mừng điều ông bà trông mong nay đã là một thực tại hạnh phước. Ăn mừng cảm tạ Chúa vì Chúa thành tín đã làm việc lớn cho ông bà.
2. Íchmaên cười cợt: Íchmaên lúc đó đã 14 tuổi, đã từng được quý mến như là con trưởng nam của Ápraham, nên đã quên mất thân phận nô lệ của mình và của mẹ mình. Íchmaên đã thật sai lầm khi coi thường Ysác.
II. HÃY ĐUỔI CHÚNG NÓ ĐI
1. Sara thấy Íchmaên cười cợt: Sara nhận thấy Íchmaên đã vượt quá chỗ đứng của mình. Lịch sử lại lập lại: Aga đã từng khinh bỉ bà chủ mình, nay con trai Aga lại khinh bỉ con trai bà chủ. Điều nầy là mối đe dọa cho địa vị của Ysác.
2. Sara bảo Ápraham đuổi hai mẹ con Aga đi: Hai kẻ thù không thể chung sống trong một mái nhà. Hơn nữa, hai mẹ con Aga lại không nhận thức địa vị mình, nên không thể tiếp tục để hậu quả của việc làm ý riêng đe dọa chương trình của lời hứa.
. Sara giải thích rằng Íchmaên không có phần chi trong sự kế nghiệp của Ysác vì Ysác mới chính là đứa con của lời hứa.
3. Ápraham buồn lòng lắm: Không phải vì sợ luật pháp lên án mà vì tình thương đối với Íchmaên, vì dầu sao, Íchmaên vẫn là con của ông.
III. LỜI CHÚA PHÁN DẠY
1. Hãy nghe theo lời Sara nói: Đây là ý nghĩa hình bóng về con cái xác thịt không thể chung sống trong nhà với con cái lời hứa.
2. Vì do nơi Ysác sẽ sanh ra dòng dõi lưu danh ngươi: Ysác mới là đứa con mà Đức Chúa Trời đã nói về dòng dõi Ápraham. Dòng dõi Ysác và nhất là Người Dòng Dõi sẽ làm nổi danh Ápraham.
3. Ta cũng sẽ làm cho đứa trai của con đòi nên một dân lớn: Vì cớ Ápraham, Íchmaên cũng sẽ được ban phước.
CHÚA NGHE TIẾNG ĐỨA TRẺ KHÓC
Kinh Thánh: SaSt 21:14-21
I. BỊ ĐUỔI ĐI
1. Ápraham dậy sớm: Chắc Ápraham đã không ngủ được vì phải chia tay với đứa con mình yêu quý từ bấy lâu. Tuy nhiên, ông cũng biết rằng mạng lệnh Chúa phải được thi hành và ông hoàn toàn tin cậy lời Chúa phán hứa về Íchmaên.
2. Lấy bánh, một bầu nước và giao Íchmaên cho Aga: Hành trang thật đơn giản cho một nô lệ và Íchmaên, điều khiến Aga hãnh hiện đến độ kiêu căng, nay trở nên gánh nặng quá lớn cho một nô lệ như Aga !
3. Rồi đuổi đi: Cả Íchmaên lẫn Aga đều không có phần chi trong gia đình Ápraham vì đây là những sản phẩm của sai lầm, của ý riêng. Dầu đau đớn nhưng Ápraham phải dứt khoát.
II. CẢ HAI ĐỀU KHÓC
1. Đứa trẻ khóc: Íchmaên đã đủ khôn lớn để nhận ra số phận hẩm hiu của mình. Càng hãnh diện về mình khi ở trong nhà bao nhiêu, Íchmaên càng tủi nhục khi ra đi bấy nhiêu. Íchmaên cũng khóc vì sắp chết khát.
2. Aga cũng khóc: Không những khóc cho thân phận mình, hối tiếc về những hành vi bất xứng của mẹ con bà mà khóc vì mình bất lực trước sự chết gần đến với con bà.
. Sau khi để Íchmaên dưới cội cây nhỏ, Aga đi thật xa để không thấy cảnh đau đớn con mình phải chịu trước khi chết. Có bao nhiêu người đang khóc về sự chết thuộc linh của con em mình ?
III. ĐỨC CHÚA TRỜI NGHE
1. Đức Chúa Trời đã nghe: Chúa đã nghe thấy nổi đau đớn, tủi nhục, và khổ sở của Íchmaên. Ngài đoái nghe những kẻ khốn cùng, cô thế.
2. Đức Chúa Trời hứa: Ngài bảo Aga đừng sợ, hãy đứng dậy, đở lấy đứa trẻ vì Ngài sẽ làm cho Íchmaên nên một dân lớn.
3. Đức Chúa Trời mở mắt Aga: Chúa khiến mà mở mắt để thấy một giếng nước ngay bên chỗ bà đang kêu khóc vì hết nước. Sự can thiệp của Chúa ở ngay bên cạnh chỗ chúng ta đang gặp nan đề !
4. Đức Chúa Trời vùa giúp: Chúa vùa giúp Íchmaên lớn lên, mạnh mẽ, có tài bắn cung, sống trong đồng vắng Pharan/
KẾT ƯỚC VỚI ÁPRAHAM
Kinh Thánh: SaSt 21:22-34
I. LÝ DO KẾT ƯỚC
1. Đức Chúa Trời vùa giúp Ápraham trong mọi việc: Abimêléc và Quan Tổng binh Phicôn nhận thấy Đức Chúa Trời đã vùa giúp Ápraham trong mọi việc ông làm. Abimêléc đã từng nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng đang tể trị muôn vật qua sự kiện Chúa can thiệp giải cứu Sara.
2. Abimêléc đã đối xử tử tế với Ápraham: Thật ra, vì sợ Đức Chúa Trời của Ápraham mà Abimêléc đã phải đối xử tử tế với Ápraham. Hãy sống làm sao để người ta có thể nhận biết Đức Chúa Trời Hằng sống quyền năng của chúng ta.
II. ÁPRAHAM KẾT ƯỚC
1. Đề nghị của Abimêléc: Vua xin Ápraham nhơn Danh Đức Chúa Trời để thề không gạt vua và dòng dõi vua (Ápraham đã một lần gạt vua !), nhưng đối xử một lòng tử tế với họ.
2. Ápraham đồng ý: Ápraham bày tỏ lòng tử tế sốt sắng khi tuyên bố : Tôi xin thề. Ápraham cũng bắt chiên bò dâng cho vua Abimêléc và hai người kết ước cùng nhau (21:27).
3. Ápraham phàn nàn: Nhân dịp, Ápraham phàn nàn với Abimêléc về việc tôi tớ vua chiếm đoạt một cái giếng của Ápraham. Ápraham lựa bảy con chiên tơ dâng cho Abimêléc để làm chứng rằng chính Ápraham đã đào giếng đó. Bởi đó, người ta gọi chỗ đó là Bê-e-Sê-ba, nghĩa là cái giếng thề nguyện.
III. KẾT QUẢ
1. Abimêléc và Phicôn trở về: Họ có thể yên lòng trở về vì được kết ước với tôi tớ của Đức Chúa Trời Chí Cao.
2. Ápraham trồng một cây me và ở đó, cầu khẩn Danh Đức Giêhôva: Ápraham ca ngợi cảm tạ Chúa là Đức Chúa Trời Hằng Hữu, đã bênh vực ông, ban phước cho ông, khiến người đời nhận biết Chúa qua ông và ông cũng được dự phần vinh quang với Chúa.
ĐỨC CHÚA TRỜI THỬ ÁPRAHAM
Kinh Thánh: SaSt 22:1-5
I. ĐỨC CHÚA TRỜI THỬ ÁPRAHAM
1. Đức Chúa Trời thử Ápraham: Không phải thử để biết vì Ngài là Đấng Toàn Tri. Ngài thử để tôi luyện đức tin của Ápraham và để Ápraham có cơ hội chứng tỏ đức tin của ông nơi Chúa, qua đó ông sẽ nhận phước hạnh của một người có đưc tin, để chia xẻ và làm gương cho con cháu.
2. Đức Chúa Trời gọi Ápraham: Chúa gọi ông như Cha gọi con. Và Ápraham sẵn sàng lắng nghe nên trả lời ngay: Có tôi đây.
II. THỬ NGHIỆM
1. Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu: Ysác không những đã thay thế Íchmaên mà còn chiếm trọn tình yêu của Ápraham. Ysác đã trở nên niềm hy vọng duy nhất của Ápraham.
2. Đi đến xứ Môria: Từ Bêesêba đến núi Môria khoảng 80 km. Ápraham phải đi lừa gần ba ngày mới đến.
3. Dâng đứa con làm của lễ thiêu: Chúa lên án việc dâng con người làm sinh tế nhưng ở đây Chúa muốn Ápraham thật sự dâng Ysác làm của lễ thiêu trong tấm lòng ông để chỉ còn có Chúa trong lòng ông thôi. Ápraham đã lìa quê hương, nhà cha, lìa Lót, lìa Íchmaên. Nay ông cũng phải lìa Ysác.
III. ĐÁP ỨNG CỦA ÁPRAHAM
1. Ápraham dậy sớm: Ápraham sốt sắng vâng lời Chúa. Ông không bàn với Sara vì chắc chắn Sara sẽ ngăn trở ông vâng lời Chúa.
2. Sắm sẵn mọi sự: Ápraham thắng lừa, đem hai đầy tớ và Ysác. Ông cũng chặt củi để dùng cho của lễ thiêu cũng như đem theo lửa. Một chuẩn bị vô cùng chu đáo để làm theo lời Chúa dạy.
IV. NGÀY THỨ BA
1. Nhướng mắt thấy Môria ở đằng xa: Suốt ba ngày Ápraham âm thầm đau đớn vì kể như Ysác đã chết. Giờ phút quyết định đã đến.
2. Dặn hai đầy tớ: Hãy ở lại với con lừa vì cả họ lẫn con lừa đều không hiểu biết ý chỉ Chúa. Họ chỉ có thể cản trở hơn là giúp đỡ ông.
3. Chúng ta sẽ đi thờ phượng rồi sẽ trở lại: Ápraham cho biết “Chúng ta”sẽ trở lại. Điều nầy bày tỏ đức tin lớn của ông (Hê 11:19;).
GIÊHÔVADIRÊ
Kinh Thánh: SaSt 22:6-14
I. TRÊN ĐƯỜNG ĐẾN CHỖ VÂNG PHỤC
1. Ápraham tiến tới: Sau khi để hai người đầy tớ ở lại với con lừa, Ápraham mạnh mẽ tiến tới: Ông chất củi lên Ysác, còn ông cầm dao và lửa. Hai cha con cùng tiến tới.
2. Câu hỏi đau lòng: Ysác trìu mến gọi cha và trình bày thắc mắc của mình rằng có củi có lửa sao không thấy chiên con để làm của lễ thiêu.
. Câu hỏi thật hợp lý nhưng dường như đang xé tấm lòng của Ápraham, vì câu trả lời đúng phải là : Chính con sẽ là chiên con của lễ thiêu đó. Một thử nghiệm chất chồng lên thử nghiệm.
3. Câu trả lời tiên tri: Không phải Ápraham trả lời cho qua chuyện hay để lừa dối con. Ápraham đã nói bằng cả đức tin như lời nói đức tin về việc cả hai sẽ trở lại. Câu nói nầy cũng bày tỏ thái độ phó thác mọi sự trong tay Chúa vì sớm biết Chúa quyền năng đầy lòng yêu thương, nhân từ.
II. GIỜ QUYẾT ĐỊNH ĐÃ ĐẾN
1. Đến chốn Đức Chúa Trời đã phán dạy: Ápraham đã nghe thật rõ và đến đúng nơi Chúa muốn mình đến.
2. Ápraham lập một bàn thờ: Chúa vẫn luôn là Đấng ông tôn thờ và vâng phục cho dù mạng lệnh có khó hiểu và khó khăn đến đâu.
3. Giờ quyết định: Ápraham trói Ysác lại, để trên đống củi trên bàn thờ và giơ tay ra cầm dao đặng giết Ysác.
. Kinh Thánh không ghi lại một sự chống đối nào từ Ysác. Ysác vâng phục, cứ để cho cha toàn quyền định đoạt số phận của mình.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI CAN THIỆP
1. Chúa bảo Ápraham dừng tay: Chúa không cho Ápraham phạm tội giết người, lại là giết chính con mình. Chúa không muốn một bậc cha mẹ nào lại làm hại chính con mình. Chúa chỉ muốn Ápraham dứt khoát chứng tỏ ông kính sợ và yêu mến Chúa hơn tất cả mọi đối tượng,
2. Chúa sắm sẵn một chiên đực thay thế cho Ysác làm của lễ thiêu: Hình ảnh của Chúa Jesus thế chỗ cho chúng ta khiến chúng ta được sống. Thật trên núi của Đức Giêhôva đã có sắm sẳn (Giêhôva Dirê).
PHƯỚC HẠNH SAU THỬ NGHIỆM
Kinh Thánh: SaSt 22:15-24
I. CHÚA NHẬN ĐỊNH VỀ ÁPRAHAM
1. Ngươi đã không tiếc với Ta chính con một ngươi: Đối với Ápraham Ysác đã không là gì cả khi so sánh với Đức Chúa Trời, dù tình thương của ông đối với Ysác vô cùng lớn lao.
. Đây là ý nghĩa của câu “Nếu ai đến theo Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con/và chính sự sống mình, thì không được làm môn đồ Ta”( LuLc 14:26). Chúa phải là đối tượng cao cả duy nhất của tình yêu chúng ta.
2. Ngươi đã vâng theo lời dặn Ta: Ápraham đã vâng lời Chúa một cách tuyệt đối mà không cần suy tính bàn luận vì ông biết rằng Chúa khôn ngoan và Chúa yêu thương nên không bao giờ bảo ông làm điều sai.
II. CHÚA HỨA BAN PHƯỚC
1. Chúa thề hứa: Chúa phán: Ta lấy chính mình Ta mà thề. Không còn ai cao hơn Chúa nên Chúa lấy Danh Ngài mà thề hứa thực hiện sự ban phước dư dật cho Ápraham và dòng dõi ông.
2. Lời hứa dòng dõi: Chúa tái khẳng định lời hứa về dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát bờ biển.
3. Lời hứa sức mạnh: Chúa hứa rằng dòng dõi của Ápraham sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch, tức là chiến thắng kẻ cai trị của quân nghịch.
4. Lời hứa nguồn phước: Ơn phước Chúa ban cho Ápraham quá lớn nên sẽ tràn ra cho mọi dân tộc. Qua Ápraham Chúa Cứu thế đã đến, đem ơn phước tuôn tràn đến cho mọi dân tộc trên thế giới.
III. THỰC HIỆN LỜI HỨA
1. Ơn phước cho Nacô: Vì cớ Ápraham, Đức Chúa Trời ban cho anh ông là Nacô có nhiều con cái.
2. Nàng Rêbeca sanh ra: Rêbeca là cháu nội của Nacô, là cháu gọi Ápraham bằng ông chú, gọi Ysác bằng chú. Chúa đang làm thành lời hức của Ngài cho Ápraham qua việc chuẩn bị cho Ysác một người vợ là Rêbeca.
GIÃ TỪ SARA
Kinh Thánh: SaSt 23:1-9
I. SARA QUA ĐỜI
1. Sara hưởng thọ 127 tuổi: Sa ra sống trên đất được một trăm hai mươi bảy năm. Lúc ấy Ápraham 137 tuổi và Ysác 37 tuổi. Môise viết “Ay là bao nhiêu năm của đời Sara”. Cuộc đời trên đất rồi cũng có ngày chấm dứt.
2. Sara qua đời tại Kiriát Araba: Kiriát Araba có nghĩa là thành phố của Araba, là thành phố của người khổng lồ Anác và ba con trai của ông. Kiriát Araba nay là Hếprôn.
. Có lẽ Ápraham đã di chuyển đến đây, hoặc có lẽ ông vẫn ở tại Bêesêba còn Sara được đưa đến Hếprôn để dương bệnh ?
II. TỪ GIÃ SARA
1. Ápraham đến chịu tang và than khóc: Theo tục lệ xưa, người ta có nhiều lễ nghi và la khóc lớn tiếng khi có người thân qua đời. Hôm nay, nhận thức phước hạnh của người chết trong Chúa, chúng ta không quá sầu não.
2. Ápraham xin mua cánh đồng Mặcbêla:
. Trước tiên, Ápraham xin mua một nơi mộ địa. Ông khẳng định ông chỉ là một người kiều ngụ, dù đây chính là vùng đất Chúa đã hứa ban cho dòng dõi ông. Dân họ Hếch (Người Hêtít) trả lời rằng: Chúa ở giữa chúng tôi như một Quan Trưởng của Đức Chúa Trời. Dù muốn hay không, họ phải thừa nhận một Đức Chúa Trời hằng sống đang tể trị và Ápraham là người đại diện đầy quyền năng cuả Chúa. Họ đề nghị Ápraham lựa chọn mộ địa tốt nhất của họ để chôn Sara.
. Ápraham cầu xin giới cầm quyền Hếp rôn nói giúp ông để ông mua hang đá Mặcbêla, về tận đầu đồng của Eprôn. Ông muốn mua đúng giá vì ông không muốn chịu ơn một người nào ngoài Đức Chúa Trời của ông.
. Dù Đức Chúa Trời đã hứa ban toàn xứ Canaan cho Ápraham, ông đã không chọn cho mình một vùng đất để định cư vì ông trông chờ một quê hương tốt hơn (HeDt 11:9-10). Ông chỉ chọn một nơi để chôn người chết, chờ đợi ngày Chúa thăm viếng, ban điều Chúa đã hứa.
MUA CÁNH ĐỒNG MẶCBÊLA
Kinh Thánh: SaSt 23:10-20
I. TÔI XIN DÂNG CHO CHÚA CÁNH ĐỒNG
1. Ápraham xin mua hang đá: Ápraham không cần đất để sống vì cả xứ đều thuộc về dòng dõi ông. Ông chỉ cần một hang đá để chôn người chết.
2. Eprôn xin dâng cả cánh đồng: Trước mặt giới chức có thẩm quyền, Eprôn đề nghị dâng cho Ápraham luôn cả cánh đồng.
. Nếu Eprôn thật lòng thì đó là điều đáng khen ngợi vì bày tỏ lòng kính mến sứ giả của Chúa.
. Tuy nhiên, theo nhiều nhà giải kinh, đây là một lời nói khéo léo của một con buôn. Eprôn biết chắc Araham sẽ không đồng ý nên ông chỉ nói để được tiếng khen của con người.
II. TA SẼ MUA CẢ CÁNH ĐỒNG
1. Ta sẽ trả giá tiền cánh đồng: Ápraham đã nhạy bén trước câu nói của Eprôn. Ông biết Eprôn không muốn đóng thuế cho cả cánh đồng lẫn hang đá nếu Ápraham chỉ mua hang đá. Nghĩa là ông ta muốn bán cả cánh đồng. Vì thế, Ápraham đòi trả tiền mua cả cánh đồng.
2. Eprôn kêu giá: Eprôn đã tận dụng cơ hội nầy để bán cánh đồng được cao giá. Tuy nhiên, ông đã khéo léo nhắc lại lời đề nghị của mình với câu “Giá bốn trăm siếc lơ bạc thì tôi cùng chúa có đáng giá chi đâu”.
3. Ápraham trả tiền ngay: Dù biết giá rất cao, Ápraham đã cân ngay bốn trăm siếc lơ bạc cho Eprôn trước mặt giới chức thẩm quyền của dân họ Hếch ( Hêtít ). Thật ra, Eprôn kêu giá theo cách của người đông phương là kêu giá gấp đôi, để người mua sẽ còn mặc cả.
III. KẾT QUẢ
1. Cái đồng Mặcbêla là sản nghiệp của Ápraham: Sản nghiệp của Ápraham trên đất chỉ là một nơi mộ địa nhưng sản nghiệp thật của ông ở thiên đàng thật vô cùng lớn lao.
. Mặcbêla hiện nay nằm ngay dưới một ngôi đền của người Hồi giáo tên là Đền thờ Ápraham tại Hếprôn. Vì thế người ta không thể khai quật nơi nầy để tìm hang đá Mặcbêla.
2. Ápraham chôn Sara trong hang đá: Sau khi đã mua cả cánh đồng, Ápraham đem an táng Sara trong hang đá Mặcbêla.
SỨ MẠNG CỦA ÊLIÊSE
Kinh Thánh: SaSt 24:1-9
I. ÁPRAHAM ĐƯỢC CHÚA BAN PHƯỚC
1. Ápraham đã già: Ápraham đã cao tuổi nhưng đức con lời hứa vẫn còn ở một mình. Dòng dõi lời hứa vẫn chưa thấy.
2. Đức Giêhôva ban phước cho người trong mọi việc: Chúa đang thực hiện lời hứa ban phước cho Ápraham. Trong mọi lãnh vực, trong mọi công tác Ápraham để Chúa toàn quyền điều khiển và ban phước.
II. SỨ MẠNG CHO ÊLIÊSE
1. Ápraham bắt Êliêse thề hứa: Ông bảo Êliêse đặt tay lên đùi ông (dấu hiệu của sự thề hứa) rồi nhơn Danh Đức Giêhôva là Đức Chúa Trời của trời và đất mà thề sẽ làm trọn lời thề cùng ông.
2. Cấm không cho cưới con gái Canaan cho Ysác: Việc cưới gả do cha mẹ toàn quyền định đoạt. Ápraham tín nhiệm người quản gia lâu đơi trong nhà trong công tác tìm vợ cho Ysác.
. Ápraham không cho cưới con gái Canaan làm vợ cho Ysác vì dân Canaan là dân sẽ bị tuyệt diệt, nghĩa là dân tộc tội lỗi không thể xứng hiệp với con cái Đức Chúa Trời.
3. Cấm không cho dẫn Ysác về quê: Ápraham sai Êliêse về quê của Ápraham để cưới một con gái trong vòng bà con của Ápraham cho Ysác. Tuy nhiên, ông không cho dắt Ysác về quê đề tìm vợ. Ápraham không muốn Ysác xem Charan là quê hương để hướng lòng về đó vì Ysác đã được Chúa chọn một quê hương khác là xứ Canaan.
III. LỜI KHÍCH LỆ ÊLIÊSE
1. Nhận thức về Chúa: Ápraham nhắc cho Êliêse nhớ Giêhôva là Đức Chúa Trời trên trời, Đấng đã đem ông ra khỏi quê hương và nhà cha ông và cũng đã ban phước dư dật cho ông cũng như ban xứ Canaan cho dòng dõi ông.
2. Nhận thức về giá trị lời thề: Nếu người con gái không bằng lòng thì Êliêse khỏi mắc lời thề.
3. Nhận thức về cách thực hiện sứ mạng: Ápraham cho biết chính Chúa sẽ sai thiên sứ đi trước Êliêse để hướng dẫn ông thực hiện sứ mạng, nghĩa là ông không làm việc một mình trước sứ mạng quá lớn Ápraham đã giao.
ÊLIÊSE CẦU XIN MỘT DẤU HIỆU
Kinh Thánh: SaSt 24:10-21
I. LÊN ĐƯỜNG
1. Chuẩn bị: Êliêse vâng lơi Ápraham, bắt mười lạc đà, và đem theo đủ các tài vật của chủ đã giao để ra đi. Một sính lễ do đoàn 10 lạc đà là một lễ vật rất lớn.
2. Ra đi: Êliêse đứng dậy đi qua xứ Mêsôpôtami (Lưỡng hà) và đến thành của Nacô, đúng như lời dặn của Ápraham.
3. Đến nơi: Êliêse cho lạc đà nằm quỳ gối xuống nghỉ ở ngoài thành, gần bên một giếng nước, đúng vào giờ các cô gái đi ra múc nước.
II. LỜI CẦU XIN CỦA ÊLIÊSE
1. Đối tượng cầu xin: Êliêse cầu nguyện với Đức Giêhôva là Đức Chúa Trời của chủ ông là Ápraham. Ông đã sớm nhận biết Đức Chúa Trời của Ápraham là Đức Chúa Trời Hằng sống.
2. Nền tảng lời cầu xin: Lòng nhơn từ của Chúa đối với Ápraham qua việc Chúa làm ơn cho Ápraham và ông cũng tin Chúa nhân từ sẽ cho ông gặp điều mà ông tìm kiếm để khỏi mắc lời thề với Ápraham.
3. Cầu xin một dấu hiệu: Thay vì tự đi tìm nhà Nacô, Êliêse xin giao việc trọng đại nầy cho Đức Chúa Trời đúng theo lời Ápraham cho biết là thiên sứ Chúa sẽ đi trước ông. Vì thế ông xin Chúa ban cho một dấu hiệu.
4. Dấu hiệu: Êliêse cầu xin một dấu hiệu không quá to lớn nhưng cũng vượt khỏi mức bình thường. Ông muốn nàng dâu phải là:
. Người phụ nữ hiếu khách: Sẵn sàng kính trọng người già cả mà cho kẻ lỡ đường nước uống.
. Người có tinh thần phục vụ: Lòng hiếu khách sẽ dừng lại ở chỗ cho người uống nước nhưng tinh thần phục vụ sẽ làm nhiều hơn điều người khác yêu cầu, sẽ tìm biết nhu cầu người khác để sẵn sàng đáp ứng.
. Người siêng năng: Một lạc đà nhịn khát một tuần có thể uống một lần 90 lít nước. Vì thế, múc nước cho 10 lạc đà uống không phải dễ làm. Việc nầy đòi hỏi tinh thần siêng năng, chịu khó và nhơn từ.
. Người Chúa chọn: Êliêse nhận biết Chúa có chương trình tốt nhất cho Ysác. Cô dâu phải là người Chúa chọn cho Ysác.
NÀNG RÊBECA XINH ĐẸP
Kinh Thánh: SaSt 24:15-21
I. CHÚA ĐÁP LỜI
1. Êliêse chưa dứt lời: Chúa nghe lời cầu nguyện của ông trước khi ông mở miệng cầu xin. Chúa thấy tấm lòng tin cậy Chúa của Ápraham lẫn Êliêse và Chúa đang tể trị để khiến mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ kính mến Ngài.
2. Nàng Rêbeca vác bình trên vai đi ra: Rêbeca được giới thiệu là con gái của Bêtuên, mà Bêtuên là con trai của Minhca và Nacô. Như thế, Rêbeca là cháu nội của Nacô, anh trai của Ápraham. Đúng là người Đức Chúa Trời đã định cho Ysác.
II. NGƯỜI ĐẸP CẢ NGOÀI LẪN TRONG
1. Vẻ đẹp bên ngoài: Rêbeca được khen là cô gái trẻ, thật rất đẹp, còn đồng trinh và chưa gả cho ai. Vẻ đẹp nầy là do Chúa ban, tự nhiên mà có. Tuy nhiên, nhiều người cũng đã tốn rất nhiều thì giờ và tiền bạc để chăm sóc cho vẻ đẹp của mình.
2. Vẻ đẹp bên trong: Vẻ đẹp bên trong của Rêbeca đã được thể hiện qua :
. Lật đật đỡ bình xuống tay và cho Êliêse uống khi ông xin một hớp nước. Một thái độ giúp đỡ nhiệt tình.
. Sau khi Êliêse uống xong, Rêbeca đề nghị để cô đi xách nước cho mười con lạc đà uống và cô thêm : “chừng nào uống đã thì thôi”. Như thế Rêbeca phải xách khoảng 500 đến 900 lít nước cho lạc đà uống. Một thái độ nhơn từ, thương xót, cảm thông và chủ động làm điều tốt cho người có nhu cầu, dù họ chưa dám mở miệng yêu cầu.
. Rêbeca lật đật đổ nước bình ra máng, chạy xuống giếng múc thêm/ Không phải chỉ là một lời nói mà là nhanh chóng, sốt sắng thực hiện điều mình biết là đúng, không chần chờ, không thối thác, dù phải tốn rất nhiều công, sức và thì giờ.
III. YÊN LẶNG CHỜ ĐỢI
1. Êliêse bắt đầu công tác: Ông lật đật chạy đến Rêbeca lúc cô ở dưới suối đi lên để xin nước uống như lời ông cầu nguyện.
2. Êliêse ngồi làm thinh: Ông yên lặng chờ đợi câu trả lời của Chúa khi thấy Rêbeca thực hiện đúng dấu hiệu ông cầu xin.
CẢM TẠ CHÚA
Kinh Thánh: SaSt 24:22-32
I. CẦU HÔN
1. Êliêse trình lễ vật: Khi lạc đà vừa thôi uống, Êliêse liền trình lễ vật là một khoanh vàng nửa siếc lơ và đôi xuyến mười siếc lơ cho Rêbeca. Ông biết chắc chắn Rêbeca là người Chúa chọn cho Ysác nên không còn lý do gì để chần chờ nữa.
2. Êliêse hỏi tên: Việc hỏi tên chỉ để xác định điều ông quyết định là đúng nên đã xảy ra sau khi ông đã lấy vàng cầm sẵn trên tay. Đức tin của Ápraham thật đã truyền cho Êliêse.
II. CẢM TẠ CHÚA
1. Rêbeca trả lời: Rêbeca cho biết cô là con gái Bêtuên, cháu nội của Minh Ca và Na Cô. Cô cũng ân cần mời phái đoàn Êliêse vào trọ cũng như sẵn sàng lo rơm và cỏ cho lạc đà. Một lần nữa, tinh thần hiếu khách và phục vụ của Rêbeca đã được bày tỏ.
2. Êliêse cúi đầu và sấp mình xuống trước mặt Đức Giêhôva: Hành động nầy rất tự nhiên nhưng không kém phần cung kính. Êliêse nhận biết Chúa có mặt ở khắp nơi cũng như Ngài thấy tấm lòng của ông. Thật, đời sống đức tin của Ápraham đã ảnh hưởnh rõ nét trên Êlêêse.
3. Êliêse cảm tạ Chúa: Ông ca ngợi Đức Giêhôva là Đức Chúa Trời của chủ ông là Ápraham. Ông ca ngợi Chúa vì Ngài không ngớt thương xót và làm ơn cho Ápraham.
. Êliêse cũng cảm tạ Chúa vì Ngài đã dẫn dắt ông đến nhà anh em của chủ ông. Không phải tình cờ, không phải do ông sắp xếp mà là do Chúa yêu thương, quyền năng tể trị mọi sự, dẫn dắt ông vào con đường của Chúa.
4. Rêbeca chạy về nhà: Ngạc nhiên trước những sự việc xảy ra, Rêbeca vội vàng chạy về nhà báo tin cho cả nhà mẹ mình hay.
TÔI KHÔNG ĂN ĐÂU
Kinh Thánh: SaSt 24:29-32
I. LABAN TIẾP ĐÓN
1. Laban chạy đến: Nghe tin có người từ nhà Ápraham đến, Laban vui mừng chạy đi đón, cho thấy danh tiếng và uy tín của Ápraham rất lớn trong gia tộc (về những gì ông làm cho Lót).
2. Laban nghe thấy: Laban thấy khoanh vàng và đôi xuyến nơi tay em mình, và nghe chuyện Rêbeca thuật lại những gì Êliêse đã nói. Laban nhận biết Ápraham cầu hôn Rêbeca cho Ysác.
3. Laban mời về nhà: Laban gọi Êliêse là người được Đức Giêhôva ban phước. Thật phước hạnh cho người được Chúa dẫn dắt. Chúa không những ban phước cho Ápraham mà Ngài còn ban phước cho Êliêse khi ông biết tin cậy Chúa, trình dâng cuộc sống cho Chúa dẫn dắt.
. Laban mời phái đoàn Êliêse vào nhà mình. Ông cho miết mình đã sửa soạn chỗ nghỉ cho cả người lẫn lạc đà.
II. VÀO NHÀ BÊTUÊN
1. Êliêse bèn vào nhà: Trước sự ân cần mời mọc cách chân thành của Rêbeca và Laban, Êliêse vui vẻ nhận lời ngay.
2. Laban phục vụ: Laban cổi yên cho lạc đà, đem cỏ cùng rơm cho chúng. Những con vật phục vụ chủ cũng được hưởng sự phục vụ tương xứng. Hơn nữa, vì cớ chủ nó mà nó được phục vụ.
. Laban cũng đem nước rửa chơn cho Êliêse và phái đoàn, đúng theo phép lịch sự của phương đông lúc bấy giờ.
III. TÔI KHÔNG ĂN ĐÂU
1. Laban mời ăn: Trong khi Laban phục vụ phái đoàn, người nhà sửa soạn bữa ăn cho họ, và Laban mời họ ăn.
2. Tôi không ăn đâu: Êliêse cho biết ông không thể ăn nếu chưa nói được những gì cần phải nói. Ông xem sứ mạng quan trọng hơn bữa ăn. Ông muốn sứ mạng cần phải được hoàn tất sớm chừng nào hay chừng nấy. Ông chỉ có thể yên lòng khi đã hoàn tất sứ mạng chủ giao cho mình.

Bài 93
BÀI LÀM CHỨNG CỦA ÊLIÊSE
Kinh Thánh: 24:33-49
I. PHẦN GIỚI THIỆU NHÂN VẬT
1. Giới thiệu chính mình: Êliêse tự giới thiệu mình là đầy tớ của Ápraham vì ông rất hãnh diện về chủ mình.
2. Giới thiệu ông chủ lớn: Ông cho biết Đức Chúa Trời đã ban phước cho Ápraham bội phần về chiên bò, bạc vàng, tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa.
3. Giới thiệu ông chủ nhỏ: Sara trong lúc già nua đã sinh Ysác cho Ápraham. Ysác đang được cha giao trọn gia tài mình.
II. PHẦN GIỚI THIỆU MỤC ĐÍCH CHUYẾN ĐI
1. Sứ mạng của chủ giao: Ápraham đã bắt Êliêse thề phải cưới một cô gái trong vòng bà con của Ápraham cho Ysác.
2. Lời khích lệ của chủ: Ápraham cho biết Đức Giêhôva sẽ sai thiên sứ đi cùng để làm thành công việc Êliêse được giao.
III. LÀM CHỨNG VỀ QUYỀN TỂ TRỊ CỦA CHÚA
1. Lời cầu nguyện của ông: Ông đã kêu cầu Chúa đoái đến mà giúp công việc ông được thành, rồi ông xin Chúa một dấu hiệu về người nữ Chúa chọn cho Ysác.
2. Sự đáp lời của Chúa: Chúa ban cho Rêbeca đến đúng lúc. Rêbeca đã làm đúng như dấu hiệu ông cầu xin Chúa là không những cho ông uống mà còn cho cả mười lạc đà của ông uống nữa.
. Rêbeca cũng cho ông biết cô là con của Bêtuên, cháu nội của Nacô, nghĩa là cô là người bà con của Ápraham, đúng như lời Ápraham dặn.
IV. CẦU HÔN
1. Trao quà cho Rêbeca: Nhận biết Rêbeca là người Chúa chọn cho Ysác, ông đã đeo khoanh nơi mũi và xuyến nơi tay của Rêbeca.
2. Cảm tạ Chúa: Ông đã cung kính ca ngợi và cảm tạ Chúa là Đấng tể trị đã ban phước cho ông hoàn tất sứ mạng.
3. Xin ý kiến gia đình: Nhơn danh lòng tử tế và trung tín của gia đình đối với Ápraham, ông xin họ cho biết ý kiến ngay.
DO NƠI ĐỨC GIÊHÔVA
Kinh Thánh: SaSt 24:50-56
I. CÂU TRẢ LỜI CỦA BÊTUÊN
1. Nhận định: Bêtuên và Laban nghe lời làm chứng chân thành đầy sức thuyết phục của Êliêse và nhận biết rằng việc hôn nhân của Rêbeca đúng là do nơi Đức Giêhôva mà ra. Ngài đã chỉ định và Ngài đã hướng dẫn mọi người vào quyết định đúng đắn theo ý muốn Ngài.
2. Quyết định: Họ cho biết họ không có quyền để phê bình việc Chúa là đúng hay sai mà chỉ có một quyết định duy nhất là làm theo sự chỉ định của Ngài mà thôi.
. Vì thế họ trả lời rằng : Kìa Rêbeca đang ở trước mặt ngươi. Hãy dẫn nó đi, để nó được làm vợ của con trai chủ ngươi. Họ xem đây là một ân phước vì đó là chương trình của Chúa cho Rêbeca.
II. SẤP MÌNH CẢM TẠ CHÚA
1. Vừa nghe lời hai người nói xong: Êliêse nghe lời hai người nói và thấy ban tay của Đức Chúa Trời đang tể trị mọi sự.
2. Êliêse sấp mình xuống đất trước mặt Đức Giêhôva: Sấp mặt xuống đất để bày tỏ sự cung kính tôn thờ Đâng Tạo hóa lớn lao, đồng thờ ý thức thân phận bụi đất bất xứng của mình.
. Trước mặt Đức Giêhôva: Nhận thức Chúa đang hiện diện, đang hành động nên dù không có bàn thờ ông vẫn có thể thờ lạy Chúa.
III. TRÌNH DÂNG CÁC SÍNH LỄ VÀ QUÀ TẶNG
1. Trình sính lễ cô dâu: Ông đem các đồ trang sức bằng bạc, vàng và áo xống trao cho Rêbeca.
2. Quà tặng: Ông cũng lấy các vật quý giá trao tặng Laban và mẹ cô dâu.
IV. XIN TRỞ VỀ
1. Bắt đầu ăn uống: Sau khi đã hoàn tất sứ mạng chủ giao, làm hết những gì cần phải làm, Êliêse và phái đoàn mới dám ngồi ăn uống và ngủ.
2. Xin trở về: Qua sáng hôm sau Êliêse xin được trở về. Sốt sắng ra đi, sốt sắng hành động và cũng sốt sắng mong trình diện mình trước mặt chủ.
. Chúng ta đang mong muốn gặp chủ mình để tương trình mpi công tác mình làm theo lệnh Chủ chăng ?
XIN CHỚ CẦM TÔI TRỄ LẠI
Kinh Thánh: SaSt 24:55-61
I. ĐỀ NGHỊ CỦA MẸ VÀ ANH CỦA RÊBECA
1. Đề nghị: Hãy cho người gái trẻ ở lại cùng chúng tôi độ chừng mười bữa, rồi nó sẽ đi. Đối với họ, Rêbeca vẫn còn là cô gái trẻ, cần sự che chở của họ. Hơn nữa, họ thật sự chưa sửa soạn sẵn sàng cho sự chia ly.
. Họ quên rằng chính Chúa đã sắp xếp thì chính Ngài cũng sẽ lo liệu chu đáo cho Rêbeca.
2. Lời cầu xin của Êliêse: Xin chớ cầm tôi trễ lại. Ông nêu lý do là vì Chúa đã làm việc đi đường của ông được thành để ông mau chóng về trình diện với chủ. Không có lý do gì để ở lại ăn ngủ trong khi chủ đêm ngày chờ tin ông. Thật là một người đầy tớ luôn nhớ đến chủ mình, mong làm cho chủ vui lòng.
II. TÔI MUỐN ĐI
1. Hỏi ý cô dâu: Trước lời cầu xin của Êliêse, họ đành gọi cô dâu đến để hỏi ý về việc cô có bằng lòng theo người đầy tớ đi ngay về Canaan chăng.
2. Câu trả lời của Rêbeca: Rêbeca trả lời ngay: Tôi muốn đi. Trước chương trình kỳ diệu Chúa dành cho mình, Rêbeca vâng phục ngay. Cô không để cho tình cảm gia đình trói buộc, hay bất cứ điều gì của thời quá khứ chi phối quyết định của cô. Cô muốn bước một bước mới mẻ trong sự hướng dẫn của chính Chúa.
III. TỪ GIÃ RÊBECA
1. Sửa soạn: Gia đình cho phép Rêbeca lìa gia đình với người vú và các nữ tì đi theo hầu hạ Rêbeca.
2. Chúc mừng: Họ chúc Rêbeca hai lời chúc: Lời chúc thứ nhất là lời chúc dòng dõi, rằng Rêbrca sẽ trở nên mẹ của ức triệu người. Lời chúc thứ hai là lời chúc về sức mạnh lớn lao sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch, tức là sẽ chiến thắng và cai trị mọi kẻ thú ngịch.
3. Ra đi: Rêbeca và các nàng đòi đứng dậy, lên cỡi lạc đà, theo người đầy tớ để trở về Canaan. Quyết định dứt khoát phải dẫn đến hành động dứt khoát.
NHƯỚNG MẮT LÊN
Kinh Thánh: SaSt 24:62-67
I. Y SÁC NHƯỚNG MẮT LÊN
1. Ysác ở tại Nam phương: Y Sác vâng phục ý muốn cha, ở lại Nam phương, giao mọi việc cho Êliêse vì tin rằng Chúa sẽ đi trước dẫn đường cho Êliêse.
2. Từ giếng Lachairoi trở về: Lachairoi là nơi Aga gặp thiên sứ của Đức Giêhôva, ban lời hứa về Íchmaên. Lachairoi có nghĩa là Đâng Hằng sống đoái xem tôi. Một nơi nhắc nhở Ysác về lòng thương xót của Chúa.
3. Lối chiều Ysác đi ra ngoài đồng đặng suy ngẫm: Trong nổi buồn mất mẹ, trong mối ưu tư về việc lập gia đình, Ysác tìm vào nơi yên tĩnh để suy ngẫm, để ôn lại những gì Chúa đã làm, để tin cậy Chúa và tiếp tục phó thác mình trong tay Chúa.
4. Y sác nhướng mắt lên: Có lẽ tiếng động của đoàn lạc đà khiến Ysác nhìn lên, và thật ra, Ysác vẫn đang chờ đợi tin tức từ Êliêse.
II. RÊBECA NHƯỚNG MẮT LÊN
1. Rêbeca chợt thấy Ysác: Đúng lúc Ysác nhướng mắt lên thì Rêbeca cũng nhướng mắt lên. Môise nhắc đến sự kiện nầy để khẳng định sự tể trị, sắp đặt của Chúa cho hai người trông thấy nhau. Dường như ngẫu nhiên nhưng thật là do Thần hựu.
2. Liền nhảy xuống lạc đà và hỏi đầy tớ: Có lẽ giác quan thứ sáu đã cho Rêbeca nhận biết người mình thấy từ xa là ai. Cô hỏi đầy tớ để xác định điều mình nghĩ. Đầy tớ thưa rằng: Ây là chủ tôi đó.
3. Rêbeca lấy lúp che mặt lại: Đây là nghi thức biểu hiệu của một cô gái chưa chồng.
III. YSÁC CƯỚI RÊBECA
1. Đầy tớ thuật mọi điều: Êliêse ssung sướng tường trình với chủ về công tác đã được hoàn tất tốt đẹp trong sự dẫn dắt của Chúa.
2. Ysác cưới Rêbeca làm vợ: Ysác vâng phục ý muốn của Chúa, dẫn Rebeca vào trại của mẹ mình và cưới Rêbeca làm vợ.
3. Kết quả: Bên cạnh sự chọn lựa của Chúa thì vẻ đẹp cả bên ngoài lẫ bên trong của Rêbeca đã chinh phục Ysác : Ysác yêu mến Rêbeca và được giải phiền về việc mẹ mình qua đời.
ÁPRAHAM QUA ĐỜI
Kinh Thánh: SaSt 25:1-11
I. ÁPRAHAM CƯỚI NÀNG KÊTURA
1. Ápraham cưới một vợ khác: Theo văn mạch thì sau khi cưới vợ cho Ysác, Ápraham mới cưới vợ kế. Nếu thế thì lúc ấy ông đã 140 tuổi.
. ISu1Sb 1:32 giới thiệu Kêtura là vợ nhỏ của Ápraham. Vì thế, nhiều người cho rằng Kêtura đã sống với Ápraham đang khi Sara còn sống vì việc có nhiều vợ trong thời các tổ phụ là hợp pháp dù không phải là ý muốn Chúa.
2. Kêtura có sáu người con trai: Ngoài Ysác là con lời hứa, Ápraham còn có Íchmaên là con của đòi Aga và sáu người con của Kêtura.
II. CHIA GIA TÀI
1. Phần của Ysác: Vì là con lời hứa và là con vợ chính, Ysác được quyền Trưởng nam và hưởng tất cả gia tài (Ít ra là gấp đôi các con khác).
2. Phần các con khác: Ápraham cho họ những tiền của (được xem như những món quà chứ không phải của thừa kế).
3. Ápraham sai họ qua đông phương: Ápraham đã khéo léo sai họ đi cách xa Ysác để khỏi có việc tranh chấp gia tài sau khi ông chết.
III. ÁPRAHAM QUA ĐỜI
1. Ápraham hưởng thọ 175 tuổi: Ápraham sống đúng một thế kỷ kể từ ngày ông lìa Charan.
2. Một kết thúc phước hạnh: Ápraham tuổi cao, tác lớn, thỏa lòng về đời mình, khác với nhận định của Giacốp về cuộc đời “ngắn ngủi và nhọc nhằn”( SaSt 47:9).
3. Chôn cất: Hai con trai là Ysác (con trưởng nam được ghi tên trước) và Íchmaên chôn Ápraham trong hang đá Mặcbêla.
IV. SAU KHI ÁPRAHAM QUA ĐỜI
1. Đức Giêhôva ban phước cho Ysác: Chúa ban phước cho người con lời hứa, người con trong chương trình của Chúa. Hơn nữa, Chúa ban phước cho Ysác là vì cớ Ápraham (nguồn phước cho con cháu).
2. Ysác ở gần bên giếng Lachairoi: Ở gần nơi địa danh phước hạnh, nhắc nhở Ysác về lòng nhơn từ của Chúa.
DÒNG DÕI ÁPRAHAM
Kinh Thánh: SaSt 25:12-23
I. DÒNG DÕI ÍCHMAÊN
1. Íchmaên, con trai của Ápraham: Íchmaên, dù không được quyền Trưởng nam, nhưng cũng được giới thiệu là con trai của Ápraham vì được xem là con của Sara do Aga là “tài sản”của Sara.
2. Íchmaên là cha của 12 vị công hầu: Đứa con của ý riêng lại sanh sản nhiều hơn con lời hứa.
3. Íchmaên qua đời: Cuộc đời Íchmaên chỉ vắn tắc trong việc sinh ra, lớn lên, sinh con và qua đời. Ông sống được 137 năm.
II. DÒNG DÕI YSÁC
1. Ápraham sanh Ysác: Ysác được giới thiệu như người con duy nhất của Ápraham, không phải vì người viết Sáng thế ký là ngươi Do Thái.
2. Ysác cưới vợ: Ysác cưới Rêbeca là người Chúa chọn cho ông lúc ông được 40 tuổi. Một người học thuộc bài học tin cậy và thuận phục Chúa từ nhỏ (tại Môria) đến lớn (cưới vợ).
3. Ysác khẩn cầu cho vợ mình: Ápraham đã chờ 25 năm mới có Ysác thì Ysác cũng phải chờ 20 năm mới có con. Nhiều khi Chúa muốn chúng ta phải chờ đợi để nhận thức mình thật sự cần điều gì, để chúng ta thấy hước hạnh lớn hơn khi được trả lời và để chúng ta trưởng thành hơn trong sự tin cậy và phó thác cho Chúa mọi sự.
. “Ysác đã khẩn cầu Đức Giêhôva cho vợ mình, vì nàng son sẻ”. Chúng ta có thể trình dâng lên Chúa bất cứ một nan đề nào trong cuộc sống.
. Đức tin của Ysác và Rêbeca đã thật sự được thử nghiệm nhưng hai người đã không rớt vào dấu xe đổ của cha mẹ mình.
III. LỜI TIÊN BÁO VỀ CÁC CON CỦA YSÁC
1. Đức Giêhôva cảm động lời khẩn cầu đó: Ysác đã bày tỏ tình yêu đối với vợ khi kiên trì khẩn cầu với Chúa cho vợ suốt gần 20 năm.
2. Chúa ban cho Rêbeca thọ thai: Thai đôi “đánh nhau”trong bụng khiến bà phải đi hỏi Chúa.
3. Đứa lớn phải phục đứa nhỏ: Chúa cho biết có hai dân tộc trong bụng bà và đứa lớn hải phục đứa nhỏ: Tiền định hay Biết trước ?
GIA ĐÌNH YSÁC
Kinh Thánh: SaSt 25:24-28
I. ÊSAU VÀ GIA CỐP ĐƯỢC SINH RA
1. Êsau: Êsau được sinh ra trước, được mô tả là một đứa bé đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông. Vì thế, đứa bé được đặt tên là Êsau.
. Dù đã chờ đợi thật lâu và mong mỏi sự ra đời của hai đứa con, nhưng Ysác và Rêbeca dường như chưa có một ý niệm nào về đặt tên con, nghĩa là không có một sửa soạn gì cho cuộc đời con cái mình : Êsau nghĩa là nhiều lông và Giacốp là nắm gót !
2. Giacốp: Giacốp được sinh ra sau, tay nắm lấy gót anh mình và thế là được đặt tên là Giacốp, một cái tên chẳng có gì là tốt đẹp vì có nghĩa bóng là chiếm đoạt địa vị người khác.
. Thật ra cái tên nầy dường như đúng với cuộc đời Giacốp trước khi gặp Chúa vì nó thể hiện bản chất con người tội lỗi.
. Từ trong bụng mẹ giữa Êsau và Giacốp đã có sự tranh chấp, khi được sinh ra, điều nầy được thể hiện qua sự nắm gót và khi lớn lên, khi trở thành hai dân tộc, điều nầy vẫn tiế tục thể hiện : Một sự thật đau lòng.
II. ÊSAU VÀ GIA CỐP LỚN LÊN
1. Êsau là thợ săn giỏi: Êsau được giới thiệu là một thợ săn giỏi. Ông thường giong ruổi nơi đồng. Vì thế, Êsau ít có dịp gần gủi với cha mẹ và em mình.
2. Giacốp là người hiền lành: Chữ “hiền lành”ở đây là yên lặng, trầm tính đối kháng với tính hiếu động, hiếu thắng của Êsau. Giacốp cứ ở lại trại, được gần gũi với cha mẹ hơn.
3. Con yêu, con ghét: Ysác yêu Êsau chỉ vì thích ăn thịt rừng, còn Rêbeca lại yêu Giacố vì Giacốp gần gũi, giú đỡ bà trong việc nhà. Tình yêu không đồng đều đó đã ảnh hưỡng rất xấu trên cuộc sống hai người con, khiến họ trở nên những kẻ thù của nhau thay vì phải yêu thương nhau.
. Được có con cái chỉ được xem là một điều phước khi cha mẹ biết dạy dỗ con cái đúng như điều Chúa muốn. Đó mới là gia đình hạnh phước.
BÁN QUYỀN TRƯỞNG NAM
Kinh Thánh: SaSt 25:29-34
I. BỐI CẢNH
1. Giacôp: Giacốp đương nấu canh. Ông đang làm công tác phụ giúp mẹ dù đã lớn và trong nhà có nhiều tôi trai tớ gái.
2. Êsau: Êsau ở ngoài đồng về, lấy làm mệt mỏi lắm.
II. MẶC CẢ QUYỀN TRƯỞNG NAM
1. Lời yêu cầu của Êsau: Êsau nói cùng Giacốp rằng: Em hãy cho anh ăn canh gì đỏ đó với, rồi ông giải thích lý do xin ăn sớm: Đó là, ông mệt mỏi lắm, nghĩa là vừa mệt, vừa đói lắm.
2. Giacốp mặc cả: Nay anh hãy bán quyền Trưởng Nam cho tôi đi ! Giacốp đã khôn ngoan nắm lấy cơ hội để đánh đổi với Êsau điều mà ông vẫn luôn trông mong, mơ ước vì ông chưa nhận được nó. Đối với ông, đó là điều quý giá nhất. Lúc nào ông cũng mong ước có thật nhiều phước.
III. BÁN QUYỀN TRƯỞNG NAM
1. Nhận định của Êsau: Êsau thổi phồng cơn đói và mệt của mình rằng mình sắp chết đến nơi rồi. Ông lý luận tiếp rằng: Một người chết thì quyền Trưởng Nam có ích gì cho anh ta. Nghĩa là ông bằng lòng báb quyền Trưởng nam cho Giacốp.
2. Đòi hỏi của Giacốp: Giacốp bắt Êsau phải thề hứa bán quyền Trưởng Nam cho ông, xác quyết việc mua bán nầy là hợp há.
3. Bán quyền Trưởng Nam: Êsau liền thề bán quyền Trưởng Nam cho Gia cốp. Có lẽ sự mệt mỏi và cơn đói đã ảnh hưởng nhiều trên Êsau. Tuy nhiên, lý do sâu xa của việc Êsau bán quyền Trưởng Nam phải là sự thiếu nhận thức giá trị thuộc linh và tinh thần của quyền Trưởng nam bên cạnh quyền lợi vật chất.
. Con Trưởng Nam sẽ được chia gia tài bầng hai phần các con cái khác. Đồng thời sẽ là Trưởng Tộc trong tương lai, và là người trực tiêp nhận lời phán hứa cùa Chúa.
. Để đổi lấy quyền Trưởng Nam, Giacốp cho Êsau ăn canh đỏ và cũng cho ăn bánh nữa.
. Êsau ăn uống xong, bèn đi. Điều nầy chứng tỏ ông rất coi thường quyền Trưởng Nam.
TA SẼ Ở CÙNG NGƯƠI
Kinh Thánh: SaSt 26:1-5
I. MẠNG LỆNH CỦA CHÚA CHO YSÁC
1. Bối cảnh: Cơn đói kém lớn lại xảy đến lần thứ nhì ( khác với cơn đói kém lần thứ nhất trong đời Ápraham ).
. Chúa hiện ra cùng Ysác trong lúc ông đang đối diện với cơn đói kém. Một sự quan tâm chăm sóc thật chu đáo dành cho con trai của Ápraham.
2. Mạng lệnh: Chúa phán cùng Ysác rằng: Chớ đi xuống Êdíptô. Có lẽ Ysác đả dự định đi xuống Êdíptô giống như cha mình đã từng làm, một sự tìm kiếm sự tiếp trợ nơi con người.
. Chúa dạy Ysác: Hãy ở lại xứ mà Ta sẽ chỉ cho và xứ mà Ngài truyền cho Ysác trú ngụ là Ghêra. Chúa muốn Ysác thấy rằng Ngài là Đấng sẵn sàng chỉ dạy Ysác trong từng bước đường và Ngài muốn ông vâng phục Ngài.
II. LỜI CHÚA HỨA CHO YSÁC
1. Ta sẽ ở cùng ngươi: Giữa hoàn cảnh đói kém, khó khăn mà được Chúa ở cùng, thật không có gì sung sướng hơn. Không một tai họa nào có thể đe dọa sự bình an của người có Chúa ở cùng.
2. Ta sẽ ban phước cho ngươi: Không những giải cứu khỏi mọi nguy khốn, Chúa còn đưa Ysác vào cuộc sống phong phú với những phươc hạnh Chúa ban:
. Đất đai: Chúa sẽ ban cho Ysác cùng dòng dõi ông xứ mà ông đang trú ngụ vì Chúa sẽ làm thành lời thề hứa của Chúa cùng Ápraham. Chúa thành tín và quyền năng sẽ làm trọn mọi lời Ngài đã hứa.
. Dòng dõi: Chúa cũng hứa ban cho ông dòng dõi đông như sao trên trời.
. Nguồn phước: Chúa cho biết rằng hết thảy dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước. Điều nầy thật đã được ứng nghiệm trong Người Dòng Dõi là Chúa Cứu Thế Jesus.
3. Lý do Chúa ban phước cho Ysác: Lý do Chúa ban phước cho Ysác là vì cớ Ápraham đã vâng lời Chúa một cách tuyệt đối (ngay cả việc dâng Ysác làm sinh tế ). Điều nầy chứng tỏ Ápraham tôn Chúa là Chủ cao cả, là Đấng ông hết lòng, hết linh hồn, hết ý, hết sức mà kính mến.
. Đới sống vâng phục của Ápraham thể hiện qua việc ông lắng nghe lời phán dạy, lệnh và luật lệ Chúa, và sau đó hết lòng thực hiện.
ẤY LÀ EM GÁI TÔI !
Kinh Thánh: SaSt 26:6-11
I. YSÁC NÓI DỐI
1. Ysác ở tại Ghêra: Ysác ở tại chính nơi mà Ápraham đã ở và đã nói dối. Đó là xứ Ghêra, thuộc vương quốc của Philitin.
2. Ysác nói dối: Vì cớ Rêbeca rất đẹp, nên khi dân Philitin hỏi thăm thì Ysác bảo rằng: Ây là em gái tôi đó.
. Lịch sử lại được tái diễn. Ápraham nói về vợ mình thế nào thuì Ysác cũng nói về vợ mình thể ấy. Có lẽ Ysác đã rập theo đúng khuôn mà cha mình đã đúc ! Đời sống của Ápraham đã ảnh hưởng rõ nét trên đời sống Ysác, cả những điều tốt lẫn những điều xấu. Đời sống chúng ta đang rập theo khuôn của ai và đang ảnh hưởng trên người khác như thế nào ?
. Lý do cũng không khác Ápraham. Ysác sợ sẽ bị giết vì cớ Rêbeca. Cần lưu ý là Ysác vừa mới nghe lời dạy và lời hứa của Chúa cho mình. Thế mà ông vẫn cứ hành động theo ý riêng, tự bảo vệ mình, chứ không giao đời sống cho Chúa bảo vệ. Thật lòng người thật là cứng cỏi, vô tín và thiếu đức tin. Thật con người dễ quên những điều đáng nhớ và chỉ nhớ những điều đáng quên.
II. KHÁM PHÁ SỰ THẬT
1. Abimêléc thấy: Vua nhìn qua cửa sổ thấy Ysác đương giỡn chơi cùng vợ mình là Rêbeca.
2. Abimêléc quở trách: Vua khẳng định Rêbeca là vợ Ysác và hỏi Ysác vì sao lại nói dối rằng “Ây là em gái tôi”? Ysác trả lời đúng như Cha mình đã từng trả lời. Lý luận của một người ích kỷ, sợ hãi và thiếu đức tin.
. Abimêléc phân tích: Nếu có một người nào cưới Rêbeca thì đó là lỗi của Ysác. Ysác đang làm cho dân sự ông phải phạm tội. Tại đây, ta thấy một vị vua ngoại giáo, vị vua của một dân tộc sẽ bị tuyệt diệt lại sống công bình hơn là tổ phụ của một dân được phước.
3. Abimêléc bênh vực: Lần nầy, Abimêléc không bắt người đẹp, không nằm chiêm bao, nhưng ông biết rất rõ điều mình phải làm cho người được Chúa ban phước. Rõ ràng, sự lo sợ của Ysác là sai. Chúa đã sắm sẵn một người kính sợ Chúa để bênh vực cho Ysác. Ngài làm trỗi hơn vô cùng mọi điều chúng ta có thể nghĩ đến.
RÊHÔBỐT
Kinh Thánh: SaSt 26:12-22
I. YSÁC HƯNG VƯỢNG
1. Đức Giêhôva ban phước: Ysác ở tại Ghêra gieo hạt thì gặt bội trăm phần. Lý do là vì Đức Giêhôva ban phước cho Ysác. Chúa thành tín đã làm thành lời Ngài hứa với Ysác.
2. Ysác trở nên thạnh vượng: Của cải càng ngày càng thêm đến nỗi Ysác trở nên rất lớn. Sự giàu có đồng nghĩa với thế lực mạnh mẽ. Ysác không những có nhiều bầy chiên, bầy bò mà ông còn có rất đông tôi tớ. Chính lực lượng tôi tớ trong nhà ông đã từng đánh bại vua Kếtrôlaome (thời Ápraham).
II. KẾT QUẢ
1. Dân Philitin ganh ghét: Thói thường người đời không muốn ai hơn mình. Vì thế, khi thấy Ysác quá hưng vượng, dân Philitin đem lònh “ganh ghẻ”. Họ lâp đất những giếng mà đầy tớ Ápraham đã đào. Đây là một hành động gây chiến khó có thể tha thứ.
2. Vua Abimêléc đuổi đi: Abimêléc đã từng tuyên bố bênh vực Ysác, nay vì lòng ganh tỵ đã khiến ông phá hỏng tất cả những gì tốt đẹp mà ông đã xây dựng. Lòng ganh tỵ có thể phá đổ tất cả.
. Abimêléc đã đuổi Ysác ra khỏi xứ mình với lời giải thích “vì ngươi thạnh vượng hơn chúng ta bội phần”. Có lẽ vua sợ sức mạnh quân sự của Ysác sẽ đe dọa vương quốc của ông.
III. ĐÁP ỨNG CỦA YSÁC
1. Ysác bỏ đi đến trũng Ghêra: Ysác không một lời than phiền. Ông sẵn sàng ra đi theo sự hướng dẫn của Chúa, không cần quan tâm môi trường mới có tốt lành cho ông không vì biết rằng Chúa sẽ cùng đi với ông.
2. Đào giếng: Ysác cho đào lại mấy cái giếng đã bị người Philitin lấp đất. Ông lại cho đào thêm mấy giếng mới, gặp nhằm giếng nước mạch.
3. Nhường nhịn: Giếng nước mạch đã bị dân Philitin tranh giành. Ysác bỏ đi nơi khác. Nhưng trước khi đi, ông không quên đặt tên cho các giếng bị giành là Êsét (tranh giành) và Sítna (giành nhau).
4. Rêhôbốt: Cuối cùng Ysác cũng đào được một cái giếng không bị giành. Ông đặt tên là Rêhôbốt với lòng tin cậy Chúa rằng Ngài đã để cho ông được rộng rãi để ông tiếp tục thạnh vượng.
TA LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA CHA NGƯƠI
Kinh Thánh: SaSt 26:23-25
I. CHÚA HIỆN RA CÙNG YSÁC
1. Ysác dời lên Bêesêba: Ysác ở tại trũng Ghêra thêm một thời gian rồi dời trại lên Bêesêba. Có lẽ vì muốn tránh xung đột với dân Philitin và vì Bêesêba là nơi sinh sống của Ápraham. Ở trong một nơi thạnh vượng mà không niềm vui của sự hoà thuận thì thà rờ khỏi nơi đó còn hơn.
2. Đức Giêhôva hiện đến cùng người: Đúng lúc Ysác dứt khoát khỏi Philitin, trở về nơi cha ông đã sống và thờ phượng Chúa thì Chúa đã hiện ra với ông.. Chúa thấy những ưu tư, suy nghĩ của Ysác và Ngài quan tâm, đáp ứng thật đúng lúc.
II. CHÚA PHÁN CÙNG YSÁC
1. Ta là Đức Chúa Trời của Ápraham, cha ngươi: Chúa muốn Ysác thấy rằng Ngài đã, đang và sẽ là Đức Chúa Trời của Ápraham và dòng dõi ông đời đời ( Chữ “là”ở thì hiện tại ). Chúa sẵn sàng bày tỏ Ngài là ai và xác định mối liên hệ gần gũi với Ysác.
2. Chớ sợ chi: Ysác không cần phải lo sợ vì Chúa vẫn đang là Đức Chúa Trời của Ápraham và của con trai Ápraham. Điều nầy cũng có nghĩa là “Hãy tin Ta”như cha ngươi đã tin. Có đức tin thì sẽ không sợ hãi.
3. Ta ở cùng ngươi: Chúa lại dùng thì hiện tại để mô tả mối liên hệ giữa Ngài với Ysác. Thật phước hạnh vì Chúa đang ở cùng.
4. Sẽ ban phước và thêm dòng dõi ngươi: Lời hứa cho Ápraham nay là lời hứa cho Ysác. Chúa dùng thì tương lai vì lúc đó Ysác chưa thấy dòng dõi đông đúc của mình. Tuy nhiên, Chúa đã ban phước thì cũng sẽ ban phước cho Ysác mỗi ngày càng hơn.
5. Vì cớ Ápraham là tôi tớ Ta: Phước hạnh của ông cha lan truyền đến con cháu. Nên nhớ, Ápraham đã là người tôi tớ trung thành với Chúa.
III. ĐÁP ỨNG CỦA YSÁC
1. Ysác lập bàn thờ cầu khẩn Danh Chúa: Ysác bày tỏ đức tin bằng sự lập lại bàn thờ và cầu khẩn Danh Chúa.
2. Ysác đóng trại tại đó và cho đào giếng: Tin cậy thể hiện bằng sự vâng lời, làm theo lời Chúa, thuận phục ý Chúa và bắt đầu cuộc sống mới.
CHÚNG TÔI THẤY RÕ RÀNG
Kinh Thánh: SaSt 26:26-33
I. ABIMÊLÉC ĐẾN VIẾNG YSÁC
1. Phái đoàn Abimêléc: Phái đoàn Abimêléc gồm có vua Abimêléc, quan tổng binh Phicôn, đại diện cho chính quyền Philitin. Bên cạnh đó là Ahusát, bạn của vua, có lẽ đóng vai trò trung gian hòa giải.
2. Thắc mắc của Ysác: Ysác trách khéo họ rằng: Các người ghét tôi, đuổi tôi ra khỏi nơi mình, sao còn đến tôi mà chi ? Một câu hỏi thật khó trả lời.
II. LẬP HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH
1. Abimêléc nhận định: Phái đoàn Abimêléc cho biết họ đã thấy rõ ràng rằng Đức Giêhôva đang phù hộ cho Ysác. Dù họ có đuổi Ysác ra khỏi giữa họ thì Ysác đi đâu cũng được Chúa cùng đi và ban phước dư dật.
2. Abimêléc đề nghị: Phái đoàn Abimêléc cho biết họ cần ký kết một giao ước hòa bình với Ysác, để Ysác sẽ không làm hại họ cũng như họ đã không làm hại Ysác ( ? ) chỉ hậu đãi ( ? ) và cho đi bình an.
. Họ muốn ký hòa ước với người được Đức Giêhôva ban phước. Dù không năng động như cha, nhưng đời sống Ysác đã cho mọi người thấy được một Đức Chúa Trời Hằng Sống Quyền năng.
3. Đáp ứng của Ysác: Ysác đã nắm lấy cơ hội để bày tỏ bản tính nhân từ của con cái Chúa (sẵn sàng tha thứ, cảm thông), bày tỏ vẻ đẹp và sự vinh hiển của Chúa.
. Ysác bày một bữa tiệc để đãi phái đoàn Abimêléc. Sáng hôm sau, họ dậy sớm và lập lời thề hứa với nhau. Sau đó, Ysác tiển đưa họ ra về bình an.
III. TIN VUI
1. Các đầy tớ báo tin: Các đầy tớ báo cho Ysác biết họ đã đào được giếng có nước, bảo đảm cho sự sống và sự thịnh vượng tương lai.
2. Ysác đặt tên giếng là Siba: Siba nghĩa là lời thề. Sau khi đã thề hứa sống hòa bình với nhau, ông đã nhận được phươc Chúa ban. Vì thế, tên thành phố ông ở được gọi là Bêesêba.
NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH SAI LẦM
Kinh Thánh: SaSt 26:34-27:5
I. ÊSAU CƯỚI VỢ
1. Êsau cưới vợ ngoại: Êsau lúc 40 tuổi cưới hai cô gái ngoại bang thuộc dân Hê Tít là dân sẽ bị tuyệt diệt. Đó là Giuđích, con gái của Bêêri và Báchmát con gái của Êlôn.
2. Hai dâu đó là sự cay đắng lòng cho Ysác và Rêbeca: Cay đắng trước tiên là Êsau đã không tìm biết ý của cha mẹ và nhất là ý Chúa trong vấn đề hôn nhân. Chắc hẳn Êsau đã được dạy dỗ về câu chuyện Ápraham sai Êliêse đi cưới Rêbeca cho Ysác với lý do thật rõ ràng, nhưng ông đã không quan tâm !
. Sự đau lòng thứ hai chắc hẳn là tính nết của hai nàng dâu với cách sinh hoạt thờ phượng ngoại giáo làm hại đến đời sống đức tin của Êsau nơi Đức Chúa Trời.
. Dù chúng ta có thể không đồng ý với tất cả những gì cha mẹ nói, nhưng biết lắng nghe sự hướng dẫn của cha mẹ là một hành động khôn ngoan.
II. YSÁC CHÚC PHƯỚC CHO ÊSAU
1. Ysác đã già, mắt làng: Tuổi già nhiều khi khiến khả năng phán đoán, phân biệt không còn chính xác. Tính tình có thể thay đổi và trở nên như con trẻ.
2. Ysác gọi Êsau: Dù Êsau đã chứng tỏ sự không xứng đáng của mình qua hôn nhân ngoại giáo và đã bán quyền trưởng nam cho Giacốp, thì đối với Ysác, Êsau vẫn là con trưởng nam. Ysác yêu Êsau nên gọi Êsau và Êsau sẵn sàng đáp lời: Có con đây ! Thật tiếc là Ysác đã không gọi Êsau để dạy dỗ khi ông còn trẻ !
3. Ysác dặn dò: Ysác cho biết ông đã già, không biết chừng nào sẽ phải chết, nên dặn Êsau ra đồng săn thịt rừng cho ông, dọn món ngon mà ông thích, để ông sẽ chúc phước cho Êsau trước khi chết.
. Vấn đề là tại sao Ysác không chúc phước ngay mà chờ đợi sau khi ăn xong mới chúc phước ? Một sự đánh đổi chăng?
4. Rêbeca có nghe: Một việc bình thường đã được sử dụng sai lầm để gây nên thảm kịch cho gia đình !
KẾ HOẠCH RÊBECA
Kinh Thánh: SaSt 27:6-14
I. MẸ CÓ NGHE
1. Rêbeca nói cùng Giacốp: Giacốp được giới thiệu là con trai của Rêbeca. Vì thế Rêbeca nói cùng Giacốp cũng như Ysác nói cùng Êsau !
2. Mẹ có nghe: Có người cho rằng Rêbeca tình cờ nghe được chương trình bí mật của Ysác. Nếu thế thì Ysác vì cớ thiên vị đã cố tình đi ngược ý Chúa được bày tỏ trong 25:23.
3. Cha dặn anh con: Ysác dặn Êsau dọn món ngon cho ông để ông sẽ chúc phước cho Êsau trước mặt Đức Giêhôva !
II. HÃY NGHE LỜI MẸ BIỂU
1. Hãy nghe và làm theo lời mẹ: Giacốp đã hơn 40 tuổi và Rêbeca chắc hơn 80 tuổi, nhưng Rêbeca nói cùng Giacốp như nói với một đứa con nhỏ. Điều nầy cho thấy sự tôn kính, yêu mến của Giacốp đối với mẹ rất lớn.
2. Chương trình Rêbeca: Thay Êsau bằng Giacốp, thay thịt rừng bằng thịt dê con tốt và chính bà sẽ nấu món ngon mà Ysác ưa thích để Ysác sẽ chúc phước cho Giacốp.
III. PHẢN ỨNG CỦA GIACỐP
1. Ngần ngại: Giacốp ngần ngại, không dám làm. Có lẽ không phải vì bản chất của chương trình là lừa dối, nhưng vì sợ chương trình bại lộ, ông sẽ bị rủa sả thay vì được phước. Nan đề đặt ra là Êsau có nhiều lông còn ông thì không có.
2. Được bảo đảm: Rêbeca bảo đảm với Giacốp rằng nếu bị rủa sả thì bà sẽ chịu. Dù chương trình lừa dối thật tàn nhẫn nhưng tại đây chúng ta thấy:
. Tình thương lớn lao của một người mẹ tranh đấu cho con, sẵn sàng trả giá cho con.
. Đức tin mạnh mẽ nơi lời tiên tri Chúa đã phán với bà khi hai đứa trẻ còn ở trong bụng. Bà muốn giúp đỡ Chúa bằng cách dùng ý riêng để đối đầu với ý riêng của Ysác.
3. Vâng lời: Vì quá yêu mến, tìm kiếm phước, Giacốp đã bằng lòng vâng lời mẹ, chấp nhận hy sinh cả cha lẫn mẹ mình.
Chúng ta đang yêu mến, tìm kiếm điều gì ? Chúng ta hy sinh điều gì ?
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
Kinh Thánh: SaSt 27:15-29
I. SỬA SOẠN
1. Rêbeca mặc áo Êsau cho Giacốp: Rêbeca lấy quần áo tốt nhất của Êsau mặc cho Giacốp vì biết Ysác quen mùi thơm của áo Êsau.
2. Rêbeca lấy da dê bao hai tay và cổ Giacốp: Bà hóa trang tật tài tình để đánh lừa ông chồng mù lòa của mình. Ysác mù lòa nên không thể phân biệt da dê với da của Êsau.
3. Rêbeca để món ngon và bánh vào tay Giacốp: Bà đã sửa soạn thật chu đáo vì biết rõ yếu điểm cùng sở thích của Ysác.
II. GIACỐP VÀO CUỘC
1. Giacốp trình diện: Giacốp bưng mâm thức ăn đến và chào cha. Ysác đáp ngay: Có cha đây, con là đứa nào đó. Ysác nhận ra ngay đây không phải là người mình mong đợi vì thính giác ông còn rất chính xác.
2. Tôi là Êsau: Giacốp lừa dối cha rằng mình là Êsau, con trưởng nam của cha và còn cho biết mình đã làm theo lời cha dặn biểu và mời cha để cha chúc phước cho ông.
3. Ysác thắc mắc: Điều thắc mắc thứ hai là vì sao Giacốp đi săn mau thế. Câu trả lời của Giacốp thật khó thể chấp nhận. Ông đã lấy Danh Chúa làm chơi khi trả lời rằng “Đức Chúa Trời của cha xui tôi gặp mau vậy”.
4. Ysác kiểm chứng: Ông bảo Giacốp lại gần để ông rờ tay. Kế hoạch Rêbeca thật hoàn hảo. Ysác hoàn toàn bị đánh lừa. Tuy nhiên ông cũng hỏi lại: Có thật con là Êsau chăng ? Vì rõ ràng hoá trang bên ngoài có thể đánh lừa Ysác nhưng tiếng nói bên trong không thể đánh lừa Ysác.
. Trước khi chúc phước, Ysác kiểm chứng lần chót bằng cái hôn để nhận ra mùi thơm của áo con mình. Giacốp lại tiếp tục thành công. Tuy nhiên cái hôn nầy được xem là “cái hôn Giuđa”.
III. YSÁC CHÚC PHƯỚC
1. Lời chúc phước: Gồm 5 lãnh vực: Sở hữu đất đai, Thịnh vượng trồng trọt, cai trị muôn dân, cai trị anh em, sự rủa sả và chúc phước.
2. Lãnh vực bỏ sót: Phước hạnh Chúa hứa là trở nên nguồn phước đã bị Ysác bỏ qua vì ông biết Êsau không quan tâm đến vấn đề thuộc linh ! Một thiếu sót quá lớn.
ÊSAU CẤT TIẾNG LÊN KHÓC !
Kinh Thánh: SaSt 27:30-40
I. ÊSAU TRÌNH DIỆN CHA
1. Êsau về lúc Giacốp vừa lui ra: Vì không hay biết việc vừa xảy ra, có lẽ Êsau rất vui mừng vì đã làm đúng theo lời cha dặn và sung sướng chờ đợi giờ sẽ được cha chúc phước. Nhưng mưu định của ý riêng con người đã bị bẻ gãy hoàn toàn trong lúc người ta hy vọng nhiều nhất.
2. Êsau dọn món ngon dâng lên cha: Êsau hãnh diện xưng mình là con trai của cha, hãnh diện về sự đi săn thành công và về món ăn ngon của mình. Ông chờ đợi lời khen và lời chúc phước của cha.
3. Ysác kinh ngạc: Dù biết rõ tiếng Êsau, bây giờ ông không còn dám tin nơi giác quan của mình nữa. Ông hỏi lại: Con là đứa nào ?
. Ysác thuật lại việc Giacốp đã làm với lời kết luận: Nó lại sẽ được ban phước vậy. Ysác biết mình không thể chống lại ý muốn của Chúa và ông đành khuất phục, không dám có một lời rủa sả nào đối với Giacốp. Ysác nhận biết đây là ngọn roi kỷ luật của Chúa dành cho ông.
II. ÊSAU KHÓC THẢM THIẾT
1. Khóc thảm thiết: Càng hy vọng mãnh liệt vào ý riêng bao nhiêu, Êsau càng vỡ mộng bấy nhiêu. Ông đã khóc, không phải vì ăn năn hay hối hận mà chỉ vì tự thương hại chính mình.
2. Nhận định về Giacốp: Ông cho rằng Giacốp đã làm đúng như tên của mình bằng cách chiếm vị của ông hai lần: Chiếm quyền trưởng nam và chiếm sự phước lành.
. Thật ra Êsai đã khinh thường quyền trưởng nam nên đã bán rẻ cho Giacốp trong đó có bao gồm sự chúc phước của cha. Hơn nữa, phước lành đã định cho Giacốp chứ không phải cho ông vì sự bất xứng của ông.
. Êsau cần lên án chính mình hơn là lên án em của mình.
3. Cầu xin cha chúc phước: Bây giờ ông mới thấy giá trị của điều mình đã đánh mất. Ông chỉ xin cha thương xót để cũng chúc phước cho. Nhưng dầu khóc lóc cầu xin, ông cũng không thể thay đổi ý cha (HeDt 12:17).
4. Điều Êsau nhận: Êsau chỉ còn phải nhận sự thiếu màu mỡ của đất, thiếu sương móc, phải nhờ gươm mới sống, phải làm tôi tớ Giacốp cho đến ngày bẻ được cái ách của em trên cổ mình.
GIA ĐÌNH MẤT PHƯỚC !
Kinh Thánh: SaSt 27:41-45
I. CHƯƠNG TRÌNH CỦA ÊSAU
1. Êsau trở lòng ghét Giacốp: Dù tánh khí khác nhau, nhưng mối liên hệ huyết thống đã khiến hai anh em vẫn yêu thương nhau. Tuy nhiên, tranh chấp quyền lợi đã phá đổ mối tương giao của anh em cùng cha cùng mẹ.
. Êsau vì quá tức giận đã không ý thức được sai lầm của mình trong việc coi thường quyền trưởng nam. Ông đã không biết ăn năn, không biết tìm hiểu ý muốn của Chúa cho mình để vâng phục mà cứ tiếp tục tuột dốc trong con đường ý riêng, xác thịt.
2. Êsau mưu tính: Người ta thường làm đám cưới chạy tang còn Êsau lại muốn làm đám tang chạy tang. Ông muốn giết Giacốp trước khi làm đám tang cho cha. Cơn giận được xem ngang hàng với tội giết người (Mat Mt 5:22) và cơn giận người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời. Vì thế sứ đồ Phaolô khuyên: Chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn và đừng cho ma quỷ nhơn dịp (Eph Ep 4:26-27).
3. Người ta thuật cho Rêbeca: Không những nói thầm trong lòng, Êsau còn tuyên bố với nhiều người chương trình của mình. Vì thế, có người đã nghe và thuật lại cùng Rêbeca. Chúa dự bị người báo tin để làm hỏng kế hoạch Êsau cũng như cứu ông khỏi phạm trọng tội.
II. KẾ HOẠCH CỦA RÊBECA
1. Cho gọi Giacốp: Bà báo tin cho Giacốp biết rằng Êsau đang muốn giết Giacốp để báo thù.
2. Khuyên Giacốp chạy trốn qua nhà Laban: Bà tin tưởng Laban sẽ là nơi nương tựa tốt đẹp cho Giacốp để trốn khỏi cơn giận của Êsau.
. Bà tin rằng thời gian sẽ làm cơn giận của Êsau sẽ đượx giải quyết.
. Bà chờ đợi ngày gặp lại con mình.
3. Nỗi bất hạnh của Giacốp: Giacốp tìm phước nhưng ông chỉ gặt lấy những ngày ngắn ngủi và nhọc nhằn (SaSt 47:9): Giacốp đã làm cho gia đình mất phước, Ông không còn cơ hội gặp lại mẹ, Anh trai ông trở nên tổ phụ của một dân tộc thù địch với Ysơraên, Ông bị cậu mình lừa dối, bị Lê-A lời dối và bị chính các con mình lừa dối.
VỀ QUÊ CƯỚI VỢ !
Kinh Thánh: SaSt 27:46-28:9
I. SAI GIACỐP VỀ PHADAN ARAM CƯỚI VỢ
1. Đề nghị của Rêbeca: Một lần nữa, Rêbeca lại bày tỏ sự khôn ngoan và chủ động của mình để Giacốp vừa tìm được một người vợ tin kính, vừa được an toàn khỏi Êsau.
. Bà đã khéo léo trình bày sự đau lòng của ông bà đối với việc Êsau cưới hai cô vợ Hêtít và buộc Ysác phải quyết định để Giacốp không đi vào dấu xe đổ của anh mình.
2. Ysác dặn biểu Giacốp: Ysác sai Giacốp đi qua xứ Phađan Aram, về nhà của Bêtuên để cưới một trong các con gái của Laban, cậu của Giacốp.
3. Ysác chúc phước cho Giacốp: Cuối cùng Ysác phải thừa nhận người thừa kế ơn phước là Giacốp. Ông chúc phước cho Giacốp nhiều hơn điều mà Giacốp đã dùng thủ đoạn để chiếm lấy.
. Ysác cầu xin phước lành của Ápraham sẽ được Chúa ban cho Giacốp và dòng dõi ông phước lành cũng như sản nghiệp Chúa hứa cho Ápraham, nghĩa là Giacốp sẽ là người thừa kế dòng dõi thánh.
4. Ysác sai Giacốp ra đi: Giacốp ra đi không phải là trốn chạy nhưng được sai phái một cách đáng tôn trọng để tìm một người vợ tin kính, xứng đáng bước vào dòng dõi thánh.
II. ÊSAU ĐẾN NHÀ ÍCHMAÊN CƯỚI VỢ
1. Êsau nhận định: Thấy Ysác chúc phước cho Giacốp và sai về Phađan Aram để cưới vợ/ Êsau nhận biết sai lầm của mình trong việc cưới hai cô vợ người Hêtít.
2. Êsau sửa chữa: Êsau tự quyết định đến hỏi cưới nàng Mahalát, con gái của Íchmaên làm vợ, để mong lấy lại lòng của cha mẹ, để cha sẽ chia phần gia tài cho mình.
. Êsau và Íchmaên đều là con trưởng và đều bị bỏ. Một người là kết quả của ý riêng, một người tự đi theo ý riêng. Cuộc hôn nhân nầy của Êsau đã chẳng đem cho ông ta thêm một phước hạnh nào vì đó cũng chỉ là sản phẩm của ý riêng.
CÁI THANG ĐẾN TẬN TRỜI
Kinh Thánh: SaSt 28:10-15
I. GIACỐP NẰM CHIÊM BAO
1. Giacốp đi từ Bêesêba đến Charan: Nhiều học giả cho rằng Giacốp đã 57 tuổi và đường từ Bêesêba đến Charan dài 750 km không phải dễ dàng cho một người đi bộ, nhất là đây là lần đầu tiên Giacốp đi xa nhà.
2. Giacốp nằm ngủ: Không có khách sạn hay quán trọ, Giacốp phải ngủ đêm ngoài đường, lấy một hòn đá để gối đầu. Có lẽ Giacốp cảm thấy thấm thía nỗi cô đơn, ray rức và lo lắng cho tương lai.
. Đường xa mõi mệt đã khiến Giacốp ngủ mê và thấy chiêm bao. Chúa thấy nỗi lòng của Giacốp và Ngài khích lệ ông bằng giấc chiêm bao nầy.
II. CHIÊM BAO CỦA GIACỐP
1. Một cái thang từ đất đến tận trời: Ý nghĩa cái thang đã được chính Chúa Jesus mặc khải khi Ngài nói với các môn đồ trong GiGa 1:51.
. Chính Ngài là cái thang bắc từ đất lên đến tận trời. Ngài là Đấng Trung Bảo duy nhất giữa con người với Đức Chúa Trời (14:6, ITi1Tm 2:5).
. Ở đây, Chúa muốn đưa Giacốp vào mối tương giao cá nhân với Ngài vì làm cháu của Ápraham chưa đủ.
2. Các thiên sứ đi lên xuống trên thang: Các thần hầu việc của Chúa được sai phái để phục vụ người được Chúa ban phước (HeDt 1:14).
3. Đức Giêhôva ngự trên đầu thang: Đây là một kiến trúc Babylôn với các bậc thanh nối tiếp lên đến đỉnh là một ngai. Chúa là Chân Thần duy nhất ngự trên đỉnh của kiến trúc nầy, là Đấng mọi người phải thờ phượng.
III. LỜI PHÁN HỨA CỦA CHÚA CHO GIACỐP
1. Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi: Ngài là Giêhôva Đức Chúa Trời của Ápraham, Ysác thì nay Ngài là Đức Chúa Trời của Giacốp.
2. Lời hứa đất đai: Chúa sẽ ban cho Giacốp và dòng dõi ông đất mà ông đang nằm ngủ (xứ Canaan).
3. Lời hứa dòng dõi: Như cát bụi tràn ra đông tây nam bắc.
4. Nguồn phước: Các chi họ thế gian sẽ nhờ Giacốp mà được phước.
5. Lời hứa chăm sóc: Chúa sẽ ở cùng, đi theo để gìn giữ, bảo vệ Giacốp. Rồi Ngài sẽ đem Giacốp về đất hứa. Chúa hứa không bao giờ bỏ ông cũng như sẽ làm thành mọi lời Ngài hứa với ông.
CỬA CỦA TRỜI !
Kinh Thánh: SaSt 28:16-22
I. GIACỐP THỨC GIẤC
1. Giacốp ngạc nhiên: Giacốp nói: Thật Đức Giêhôva hiện có trong nơi đây mà tôi không biết. Ý thức sự bất xứng của mình, Giacốp ngạc nhiên vì sao Chúa lại đến với ông.
. Thật ra, ông có nghe nói về Chúa nhưng chưa bao giờ gặp Chúa. Ông vô cùng ngạc nhiên vì Chúa có thể hiện diện ở mọi nơi.
2. Giacốp kinh sợ: Đối diện với Chúa thánh khiết, Giacốp thấy tội lỗi mình và kinh sợ. Tuy nhiên, đối với người tin kính Chúa thì đền Đức Chúa trời, cửa của trời thật là nơi phước hạnh.
II. GIACỐP THỜ PHƯỢNG CHÚA
1. Giacốp dậy sớm: Sợ hãi xen lẫn vui mừng khiến Giacốp không ngủ được. Ông dậy thật sớm, dựng hòn đá mình dùng để gối đầu lên thành một cây trụ thờ và đổ dầu lên trên chóp cây trụ đó. Đây được xem như bàn thờ đầu tiên Giacốp dựng lên cho Đức Giêhôva.
2. Giacốp đặt tên là Bêtên: Thành phố Luxơ, cách Bêesêba 60 dặm, nơi Giacốp nghỉ đêm đã được ông đổi tên là Bêtên có nghĩa là đền hay nhà của Đức Chúa Trời. Nơi nầy đánh dấu kỷ niệm đầu tiên trong đời Giacốp gặp được Chúa.
III. GIACỐP KHẤN VÁI
1. Nếu: “Nếu Chúa ở cùng tôi, gìn giữ tôi trong lúc đi đường, cho bánh ăn, áo mặc và nếu tôi trở về bình an đến nhà cha tôi”. Có hai lối giải thích về chữ nếu: a. Hoặc là Giacốp đang mặc cả với Đức Chúa Trời rằng nếu Ngài làm đúng lời Ngài hứa. b. Hoặc chữ “nếu”ở đây là “vì cớ”, nghĩa là vì cớ Chúa đã hứa và Ngài đang làm cho Giacốp.
2. Thì: a. Thì Chúa sẽ là Đức Chúa Trời của tôi. b. Thì hòn đá dựng làm trụ sẽ là đền Đức Chúa Trời, nghĩa là ông sẽ lập một bàn thờ cho Chúa tại Bêtên. Điều nầy được thực hiện khi Giacốp trở về Canaan bình yên. c. Thì tôi sẽ nộp lại cho Ngài một phần mười mọi của cải mà Ngài đã ban cho tôi.
GẶP GỠ NGƯỜI CHÚA CHỌN !
Kinh Thánh: SaSt 29:1-14a
I. GIACỐP ĐẾN CHARAN
1. Giacốp đến nơi: Sau 750 km đường bộ, Giacốp đã đặt chân đến Charan, ông thấy một cái giếng trong đồng, gần đó có ba bầy chiên đang nằm nghỉ.
2. Giacốp hỏi thăm: Trước tiên, ông hỏi thăm về nơi ở của các người chăn. Khi biết họ ở Charan đến, Giacốp liền hỏi thăm về Laban.
. Đức Chúa Trời đã thực hiện lời Ngài hứa khi dẫn Giacốp đi đến đúng nơi, gặp đúng người biết rõ Laban, và /
. Đức Chúa Trời cũng đã hướng dẫn Rachên đến đúng lúc Giacốp vừa hỏi thăm về cha nàng, nên các người chăn chiên đã giới thiệu Rachên với Giacốp ngay.
. Lịch sử đã được lập lại: Đức Chúa Trời đã hướng dẫn đầy tớ của Ysác gặp Rêbeca tại giếng nước. Nay Ngài đã hướng dẫn Giacốp gặp Rachên cũng tại một giếng nước.
II. GIACỐP GẶP RACHÊN
1. Giacốp lăn hòn đá cho Rachên: Giacốp đề nghị các người chăn cho chiên uống nước rồi thả đi ăn lại vì trời còn quá sớm. Các người chăn cho biết phải đợi đủ các bầy rồi họ sẽ hiệp nhau lăn tảng đá đậy miệng giếng.
. Tuy nhiên, khi thấy Rachên đi đến, Giacốp đã đến lăn hòn đá đậy miệng giếng cho nàng. Có lẽ vì niềm vui mừng vì được Chúa dẫn dắt đến đúng nơi, đúng lúc Rachên đi ra, hay vì muốn gây một ấn tượng đẹp trước cô chị bà con xinh đẹp mà Giacốp đã rất có cảm tình qua cái nhìn đầu tiên, mà Giacốp đã có một sức mạnh phi thường như thế.
2. Giacốp bày tỏ chính mình: Giacốp hôn Rachên rồi cất tiếng lên khóc/ Sau đó, ông cho Rachên biết ông là con trai của Rêbeca, em gái của Laban, cha nàng.
3. Giacốp được tiếp đón: Rachên vuiomừng chạy về nhà thuật lại cho cha. Laban chạy ra, ôm choàng lấy Giacốp mà hôn rồi mời Giacốp vào nhà. Giacốp kể lại mọi việc cho cậu. Laban xác nhận Giacốp đúng là cháu mình và cho ở trong nhà phụ giúp công việc cho ông. Một khởi đầu khá tốt đẹp.
7NĂM BẰNG ĐÔI BA BỮA !
Kinh Thánh: SaSt 29:14b-20
I. TIỀN CÔNG BAO NHIÊU ?
1. Giacốp ở nhà Laban một tháng: Giacốp ở nhờ nhà Laban, đã rất biết điều khi làm hết những gì có thể làm được cho Laban. Lúc ấy, Laban chưa có con trai nên sự hiện diện của Giacốp rất cần cho Laban.
2. Laban hỏi: Trước khi hỏi tiền công, Laban đã khéo léo hỏi: “Cháu giúp công không cho cậu thôi sao ?”. Dường như ông cho rằng giúp công không cho cậu là một việc bình thường vì Giacốp đang cần Laban chứ không phải Laban cần Giacốp.
. Laban không ra giá nhưng để Giacốp tự định công giá cho mình. Dĩ nhiên, một người biết điều sẽ không bao giờ đòi hỏi lương cao từ cậu mình, nhất là khi cậu lại là ân nhân của mình.
II. VÌ NÀNG RACHÊN
1. Laban có hai con gái: Lê-A có nghĩa là con bò cái và Rachên có nghĩa là con chiên cái. Lê-A bị mắt yếu ( ? ) còn Rachên hình dung đẹp đẽ, vẻ mặt tốt tươi, lại là người đầu tiên Giacốp gặp gỡ bên giếng.
2. Giacốp ra giá: “Vì nàng Rachên, con út cậu, tôi sẽ giúp việc trong bảy năm”. Các nhà khảo cổ cho biết sình lể cho một cô dâu thông thường là một đến hai năm làm công. Ở đây, Giacốp cho giá đến bảy năm :
. Vì Giacốp yêu Rachên nên đánh giá cao nàng hơn các thiếu nữ khác. Tình yêu thật và sự tôn trọng luôn đi đôi với nhau.
. Hơn nữa, Giacốp đã nhận thấy sự lợi dụng của Laban, nên ông muốn cho giá cao nhất để Laban không có lý do để từ chối.
3. Laban trả lời: Laban nói chuyện nghe rất có tình, có nghĩa, nhưng thật ra ông đã quá vui mừng vì mình đã có thể bóc lột được cháu mình mà không ai có thể lên án, bởi công giá do chính Giacốp đề nghị.
III. ĐÔI BA BỮA !
1. Giacốp phải giúp việc trong bảy năm: Asuốt bảy năm phục vụ rất khó nhọc “ban ngày chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ không được an giấc”( SaSt 31:40).
2. Bảy năm bằng đôiba bữa: Tình yêu đã thêm sức mạnh, nghị lực, kiên nhẫn cho Giacốp. Ông cảm thấy vui vẻ, nhẹ nhàng vì làm cho người yêu.
THÊM BẢY NĂM NỮA !
Kinh Thánh: SaSt 29:21-30
I. HẠN TÔI ĐÃ MÃN
1. Giacốp đòi Laban thực hiện giao kèo: Giacốp đã làm xong phần của mình. Ông đòi Laban thực hiện phần của Laban là gã con cho Giacốp.
2. Laban tổ chức tiệc cưới: Laban tổ chức một tiệc cưới và mời những người trong xóm đến dự cũng như chứng kiến cho hôn nhân của Giacốp với con gái của Laban. Tiệc cưới thường được tổ chức trong 7 ngày và cô dâu phải được che mặt rất kỹ ( khác với “lúp”ngày nay ).
3. Laban bắt LêA đưa cho Giacốp: Laban đã làm một cuộc đánh tráo rất ngoạn mục với chủ tâm lợi dụng đứa cháu cô thế, si tình !
. Một sự báo trả thỏa đáng ! Giacốp lợi dụng anh nay bị cha vợ lợi dụng. Giacốp lừa gạt cha, nay bị cha vợ và “vợ”lừa gạt. Rêbeca đem con thứ thế con trưởng thì Laban thế con thứ bằng con trưởng. Giacốp giành quyền trưởng nam thì nay ông nhận được cô trưởng nữ của Laban.
II. THÊM BẢY NĂM NỮA
1. Sáng hôm sau mới biết là LêA: Có lẽ vì trời tối, vì lúp che mặt và có lẽ vì Giacốp uống quá nhiều rượu mừng trong ngày vui ông mong đợi bấy lâu, nên Giacốp không nhận ra LêA.
2. Giacốp tức giận: Giacốp hạch hỏi Laban : “Sao cậu lừa gạt tôi ?”. Bây giờ, Giacốp mới cảm thông với Ysác và Êsau về những gì ông gây cho họ. Ông tức giận, lên án Laban mà không sẵn sàng lên án chính mình !
3. Laban giải thích: Laban đúng là tay gian ngoan. Ông ta ôn tồn giải thích với cháu rằng phong tục không cho phép gả con út trước, trong khi 7 năm trước, ông ta không đá động gì đến việc nầy !
. Laban lại sẵn sàng mở cho Giacốp một lối thoát có lợi cho cả hai. Đó là sau tuần lễ cưới với LêA, Giacốp sẽ được phép cưới Rachên, với điều kiện là giúp việc Laban thêm bảy năm nữa.
III. GIACỐP ĐỒNG Ý
1. Giacốp ở cùng LêA một tuần: Đây là một phần điều kiện để cưới Rachên trong tuần sau.
2. Laban gả Rachên cho Giacốp: Giacốp yêu Rachên hơn, vì là người ông đã chọn và vì LêA chỉ là gánh nặng bất đắc dĩ phải mang!
BỐN CON TRAI CHO GIACỐP
Kinh Thánh: SaSt 29:31-35
I. ĐỨC GIÊHÔVA THẤY
1. Đức Giêhôva thấy: Chúa hứa cùng đi với Giacốp trong mọi bước đường. Vì thế, Ngài thấy rõ mọi việc đang xảy ra cho Giacốp. Ngài thấy, Ngài cảm thông, Ngài dạy dỗ, Ngài giải cứu/
2. Ngài thấy LêA bị ghét: LêA không những không được yêu mà còn bị chồng ghét. Giacốp ghét LêA vì hôn nhân với LêA là kết quả của một sự lừa gạt, một sự ép uổng, một thất bại nhục nhã.
. Thật ra, dù LêA có lẽ vì yêu mà đồng mưu với Laban để lừa gạt Giacốp, thì LêA cũng chỉ là con cờ trong tay Laban. Bà phải là một người đáng thương hơn là đáng ghét.
II. ĐỨC GIÊHÔVA BAN CHO
1. Chúa ban cho: Chúa đã thấy nỗi sầu khổ của LêA. Chúa cảm thương và Ngài bày tỏ quyền năng để cứu giúp bà như Chúa đã từng bày tỏ cho Aga tại Lachairoi.
2. Chúa ban cho LêA sanh sản: Dù việc sinh sản là điều tự nhiên, nhưng Chúa vẫn là Đấng tể trị mọi sự. Ngài có quyền ban cho con cái và có quyền khiến cho son sẻ.
III. ĐỨC TIN CỦA LÊ A
1. Đức Giêhôva đã thấy: Khi sinh con đầu lòng, LêA đã nói rằng Đức “Giêhôva đã thấy sự cực khổ tôi”. Bà đặt tên con là Rubên (Thấy, một trai) và bà mong chồng sẽ yêu mến bà !
2. Đức Giêhôva có nghe: Khi sinh con trai thứ nhì, Lê A tiếp tục bày tỏ lòng biết ơn Chúa rằng “Đức Giêhôva có nghe tôi bị ghét, nên cho thêm đứa nầy. Bà đặt tên con là Simêôn (Nghe biết).
. Khi sinh con trai thứ ba, LêA đặt tên con là Lêvi vì nghĩ rằng chồng sẽ “dính díu”với mình !
3. Ngợi khen Đức Giêhôva: Con trai thứ tư được đặt tên là Giuđa (Ngợi khen) vì bà nói rằng: “Lần nầy, tôi ngợi khen Đưc Giêhôva”. Dù chồng không yêu bà nhưng Chúa đã là Đức Chúa Trời của bà, ban ơn cho bà và bà chỉ biết ngợi khen Chúa.
HÃY CHO TÔI CÓ CON !
Kinh Thánh: SaSt 30:1-8
I. RACHÊN GHEN GHÉT
1. Rachên thấy: Rachên, người vợ mà Giacốp hết lòng yêu mến, chọn lựa và sẵn sàng trả giá cao để cưới, lại không có con với Giacốp. Điều nầy đã xảy ra cho cả Sara lẫn Rêbeca. Rachên nhận thấy sự bất lực của mình, nhưng bà cũng thấy LêA lại có thể sinh 4 đứa con trai liên tiếp !
2. Rachên ghen ghét: Tình yêu của Giacốp dành cho Rachên đã khiến LêA ghét Rachên và bà xem việc sinh con là khí giới tấn công để chiếm đoạt Giacốp. Vì thế, Rachên đã không còn yêu mến hay thương hại chị, mà thay vào đó là sự ganh tỵ và ghen ghét.
II. RACHÊN ĐÒI HỎI
1. Rachên trách Giacốp: Quá thất vọng vì sự son sẻ, Rachên đổ lỗi vào Giacốp: “Hãy cho tôi có con, bằng không, tôi sẽ chết”.
2. Giacốp nổi giận: Bị trách oan, Giacốp tức giận trả lời: “Há ta thay được quyền Đức Giêhôva, mà không cho ngươi sanh sản sao?”. Dù nhận biết sự sinh con cái là do quyền của Chúa, Giacốp đã không làm như cha mình đã làm. Đó là cảm thông, an ủi và cầu thay cho vợ, khiến Rachên càng thêm cay đắng, khổ sở.
III. RACHÊN ĐỀ NGHỊ
1. Đề nghị Bila thế cho mình: Sara và Rachên đều theo phong tục con người để giải quyết nan đề Chúa cho phép xảy đến. Họ đã không tìm hiểu ý Chúa mà chỉ làm theo ý người, vì không phải mọi điều xã hội chấp nhận đều là điều tốt.
2. Giacốp đồng ý ngay: Giacốp đã không làm như cha mình, mà làm như ông nội mình để cưới thêm một cô vợ trẻ đẹp với chiêu bài là giúp đỡ Rachên, theo đề nghị của Rachên.
IV. RACHÊN VUI MỪNG
1. Đức Chúa Trời đã nhậm lời tôi: Thật đáng thương cho hai chị em, ai cũng nhờ Đức Chúa Trời để đối địch nhau ! Tuy nhiên, cả hai đều nói Chúa là Đấng công bình. Con trai của Bila được đặt tên là Đan.
2. ”Tôi” được thắng: Con trai thứ nhì của Bila được đặt tên là Néptali (đấu địch), và Rachên kể mình đã thắng (Có Giacốp và 2 con trai).
CUỘC CHIẾN VỀ SINH CON !
Kinh Thánh: SaSt 30:9-24
I. XINH BA THAM CHIẾN
1. LêA bắt Xinhba làm hầu cho Giacốp: LêA thấy mình thôi sinh sản và thấy Bila đã tham chiến thành công, đem chiến thắng cho Rachên. Bà liền đưa Xinhba thay mình tiếp tục sinh con cho Giacốp.
2. Xinhba thành công: Xinhba đã sinh cho Giacốp hai con trai là Gát (nghĩa là phước: LêA cho rằng đây là phước hạnh Chúa ban) và Ase (nghĩa là vui mừng: LêA vui mừng vì người ta sẽ khen bà là kẻ có phước).
II. LÊA TRỞ LẠI CUỘC CHIẾN
1. Rachên xin trái phong già: Trái phong già được xem là một loại thuốc trị bệnh hiếm muộn. Vì thế, Rachên hỏi xin LêA cho mình những trái phong già mà Rubên đã tìm được ngoài đồng.
2. LêA trách mắng: Bà gọi Rachên là kẻ cướp chồng bà trong khi chính bà mới là người đó. Dù bà là chị, và là người đâìu tiên làm vợ Giacốp thì Giacốp vẫn là chồng chính thức của Rachên.
3. Rachên đánh đổi: Rachên tin nơi vị thuốc của trái phong già nên sẵn sàng nhường chồng cho LêA một đêm.
4. Đức Chúa Trời nhậm lời LêA: Chúa ban cho LêA có con vì bà nhờ cậy Chúa, trong khi Rachên vẫn tiếp tục son sẻ dù đã tìm được thuốc ! LêA đã sinh thêm Ysaca (nghĩa là đền) và Sabulôn (nghĩa là nhà ở: LêA hy vọng Giacốp sẽ ở với bà ). Sau đó bà sinh một con gái là Đina.
III. RACHÊN CHIẾN THẮNG
1. Đức Giêhôva nhớ lại Rachên: Chúa không quên Rachên. Ngài không muốn bà nhờ cậy nơi một con người hay một thứ trái cây nào. Ngài muốn bà hoàn toàn tin cậy nơi Chúa, kêu xin với Ngài. Đúng lúc Chúa đã cho bà một con trai.
2. Đức Chúa Trời đã rửa sự xấu hổ tôi: Rachên tin rằng Chúa đã nhậm lời bà, để rửa sự xấu hổ của sự son sẻ. Bà đặt tên con là Giôsép (nghĩa là rửa hay là thêm). Bà cũng xin Chúa cho thêm một con trai nữa).
. Cuối cùng thì Giôsép cũng được sinh ra. Giôsép dù là em út, nhưng lại là vị ân nhân vĩ đại cho dân Do Thái, một gương mặt đáng yêu, có thể được xem là hình bóng về Chúa Cứu thế.
CÔNG GIÁ CHO GIACỐP
Kinh Thánh: SaSt 30:25-43
I. GIACỐP XIN TRỞ VỀ CANAAN
1. Giacốp xin Laban để về quê: Sau khi Giôsép được sinh ra, hạn 14 năm đã mãn nên Giacốp xin Laban cho mình đem vợ con trở về quê hương là Canaan, nơi Ysác đang sống.
2. Laban mời Giacốp ở lại: Laban nhận biết rằng Đức Giêhôva đã ban phước cho ông vì cớ Giacốp. Vì thế, ông muốn tiếp tục được hưởng phước của Chúa vì Giacốp, mà không nghĩ gì đến việc nhận Chúa cho chính cá nhân mình.
II. ĐỊNH CÔNG GIÁ CHO GIACỐP
1. Laban đề nghị Giacốp định công giá: Một lần nữa, Laban đã chứng tỏ sự gian xảo của mình khi bảo Giacốp định công giá.
2. Giacốp định công giá: Trước khi định công giá, Gia cốp nhắc lại sự thật là Đức Chúa Trời ban phước cho Laban kể từ ngày Giacốp đến ở trong nhà Laban. Sau đó, ông xin những con chiên, con dê có rằn, có đốm, có sắc đen. Laban đồng ý ngay vì có lẽ số chiên và dê nầy chỉ là thiểu số.
III. THỰC HIỆN GIAO ƯỚC
1. Laban cách ly các chiên và dê Giacốp xin: Thay vì giao cho Giacốp, Laban lại giao cho các con trai mình. Thay vì để Giacốp chăn, Laban đã cách ly nhóm chiên và dê đặc biệt nầy cách xa bầy Giacốp đang chăn ba ngày đường. Mục đích là để Giacốp sẽ không có cơ may có nhiều chiên và dê vì không có những con giống,
2. Giacốp thực hiện kế hoạch của mình: Giacốp lý luận rằng điều gì con vật thấy khi đang giao phối sẽ ảnh hưởng mạnh đến hình dáng đứa con sẽ ra đời của chúng. Kết quả, ông đã có một bầy súc vật mạnh khoẻ, giống tốt trong khi chiên và dê của Laban rất ốm yếu.
. Điều nầy khoa học chưa thể chứng minh. Vì thế, chỉ có một lối giải thích là Đức Chúa Trời đã tể trị để bênh vực, dẫn dắt, giải cứu Giacốp (Gène lặng ???). Điều nầy đòi hỏi đức tin rất lớn của Giacốp nơi Chúa.
3. Kết quả: Bầy súc vật của LêA càng ngày càng ốm yếu, thưa thớt so với bầy súc vật của Giacốp càng ngày càng tăng, càng khỏe mạnh. Giacốp trở nên rất giàu, nhiều bầy súc vật, tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa.
TRỐN VỀ CANAAN
Kinh Thánh: SaSt 31:1-21
I. LÝ DO TRỞ VỀ CANAAN
1. Giacốp nghe: Giacốp nghe các con trai Laban nói rằng: Giacốp đã lấy hết gia tài của cha ta, nên mới được giàu có dường ấy. Ganh tỵ là căn bệnh thường xảy ra ở người không có Chúa, khi họ thấy người khác thành công hơn họ.
2. Giacốp thấy: Giacốp thấy nét mặt của Laban chứng tỏ ông không còn đối xử với Giacốp như trước nữa. Mười lần thay đổi công giá nhưng ông vẫn không thể làm hại Giacốp khiến ông vô cùng tức giận.
3. Đức Chúa Trời phán: Chúa phán thật đúng lúc, không sớm mà cũng không trễ. Không những Chúa bảo Giacốp trở về Canaan (được gọi là xứ của tổ phụ Giacốp), Chúa còn ban lời hứa rằng Ngài sẽ phù hộ Giacốp. Nghĩa là Ngài sẽ làm thành lời Ngài hứa sẽ đem Giacốp trở về (28:15).
II. BƯỚC SỬA SOẠN
1. Cho gọi LêA và Rachên đến: Trước tiên, Giacốp giải thích về lý do việc ra đi: Ông cho biết, dù ông hết sức làm việc cho Laban, nhưng Laban đã mười lần thay đổi công giá của Giacốp.
. Sau đó, Giacốp gây dựng đức tin của hai vợ mình bằng cách giải thích lý do mình được giàu có: Đó là Đức Giêhôva (Đức Chúa Trời của Bêtên) đã bảo vệ, bênh vực và chống cự thay cho Giacốp. Laban ấn định công giá Giacốp thế nào thì Chúa khiến chiên sinh ra đúng loại chiên đó (31:8).
2. Rachên và LêA đồng ý: Họ cho biết Laban cũng đang đối xử với họ như người dưng. Ông đã tiêu sạch cả của hồi môn mà đáng lẽ ông phải biệt riêng cho họ. Ông đã thật sự bán họ để kiếm tiền cho mình.
. Họ cũng cho biết, những gì Giacốp có được là cho họ và con cái họ.
. Hơn nữa, họ cũng nhận biết lời Chúa phải tuyệt đối vâng phục.
III. RA ĐI
1. Thời điểm: Laban bận đi hớt lông chiên, không có ở nhà, nên họ trốn đi.
2. Phần Giacốp: Ông đỡ vợ và các con lên lạc đà. Ông dẫn hết thảy súc vật và của cải mình.
3. Rachên ăn cắp tượng thờ: Có lẽ để thần bảo vệ cho việc chạy trốn, hoặc để Giacốp sẽ có quyền thừa kế vì sở hữu “gia thần”!!!
CUỘC RƯỢT ĐUỔI !
Kinh Thánh: SaSt 31:22-35
I. LABAN ĐUỔI THEO GIACỐP
1. Người ta học lại cùng Laban: Đến ngày thứ ba, Laban mới được báo cáo rằng Giacốp đã trốn đi.
2. Laban đuổi theo: Tức giận vì tài sản của mình bị đem qua cho Giacốp, Laban luôn tìm cách để lấy lại thì nay là cơ hội hợp pháp. Laban đem các anh em mình đuổi theo Giacốp.
. Họ đã kiên trì đi suốt 7 ngày và đuổi kịp Giacốp tại núi Galaát cách Charan 500 km.
3. Đức Chúa Trời can thiệp: Trong cơn chiêm bao, Chúa phán dạy Laban rằng: “Dầu lành dầu dữ, ngươi phải khá giữ mình, đừng nói chi cùng Giacốp hết”. Chúa thấy rõ dã tâm của Laban và ngăn cấm ông đụng đến Giacốp.
II. BẮT KỊP GIACỐP TẠI GALAÁT
1. Laban trách móc: Laban trách Giacốp đã gạt mình để trốn đi, dẫn các con gái ông như phu tù. Thật ra, họ tình nguyện đi theo Giacốp vì chính Laban đã gạt họ !
. Laban làm ra vẻ như người cha yêu thương muốn đưa các con các cháu của mình bằng một bữa tiệc chia tay trọng thể !
2. Laban làm chứng: Ông thừa nhận rằng mình đuổi theo để làm hại Giacốp và tự cho mình có quyền đó. Nhưng Đức Chúa Trời đã can thiệp để ngăn cấm ông thực hiện ý định đó.
3. Laban đòi pho tượng gia thần: Laban đành vâng phục Chúa, chấp nhận sự ra đi của Giacốp. Nhưng, ông bộc lộ nổi ưu tư lớn nhất của mình là các gia thần mà ông nghĩ là Giacốp đã ăn cắp để bảo đảm quyền thừa kế.
III. CUỘC LỤC SOÁT
1. Giacốp khẳng định: Giacốp không ăn cắp nên ông nói rất mạnh mẽ rằng hễ Laban tìm được tượng thần nơi ai thì người đó phải chết. Suýt chút nữa ông đã làm hại chính người vợ ông yêu quý nhất.
2. Rachên nói dối: Tội lỗi không xưng ra sẽ dẫn đến tội lỗi thêm. Rachên đã phải nói dối để che đậy tội lỗi của mình. Tuy nhiên, lời khẳng định mạnh mẽ của Giacốp đã cứu bà thoát chết.
GIACỐP NỔI GIẬN !
Kinh Thánh: SaSt 31:36-44
I. GIACỐP QUỞ TRÁCH LABAN
1. Giacốp tuyên bố mình vô tội: Trước mặt những người bà con của Laban, Giacốp quở trách Laban về việc vu cáo ông ăn cắp. Ông đã cho phép Laban lục soát hành lý để xác nhận rằng ông không ăn cắp một món chi từ nhà Laban cả.
2. Giacốp truyên bố sự trung thành của mình: Ông cho biết suốt 20 năm làm việc cho Laban, ông đã hoàn tất tốt đẹp công tác được giao. Ông sẵn sàng chịu thua thiệt để bảo vệ bầy cho Laban.
3. Giacốp tố cáo sự bóc lột của Laban: Ông cho biết Laban kiếm chuyện để bóc lột ông. Cuộc sống của ông thật khổ sở khi chăn bầy cho Laban. Laban đã lừa gạt để ông phải làm không công suốt 14 năm, rồi khi làm công trong 6 năm thì Laban đã mười lần thay đôíi công giá.
4. Giacốp cảm tạ Đức Chúa Trời: Ông cho biết Đức Chúa Trời của Ápraham. Ysác đã phù hộ ông. Ngài đã thấy nỗi khổ của ông, thấy việc làm ngay thật của ông và Ngài đã xét công bình khi Ngài can thiệp không cho Laban làm hại ông.
II. LABAN ĐÁP LỜI
1. Tất cả đều là của cậu: Vì không kiếm được pho tượng hay một của cắp nào nơi Giacốp, cũng không thể tự bênh vực những hành động gian xảo của mình, cũng như không thể chống cự Đức Chúa Trời của Giacốp, Laban đành xuống giọng, làm ra vẻ dịu dàng rằng các cô gái là con của ông, các đứa trẻ là cháu của ông, các bầy súc vật cũng từ bầy của ông !
2. Đề nghị kết ước: Trước sự can thiệp của Đức Chúa Trời, Laban không thể làm chi được, đành biến cuộc rượt đuổi thành cuộc kết ước.
. Thật ra, đây là một hành động vô cùng khôn ngoan của Laban. Ông không thể đòi lại những điều đã mất thì cũng không muốn tiếp tục mất những gì đang có. Giao ước nầy sẽ bảo vệ tài sản của ông, vì cho dù Giacốp có tượng gia thần, Giacốp cũng sẽ không có quyền vượt ranh giới an toàn để đòi tài sản của ông.
Y-Ê-GA SA-HA-ĐU-TA !
Kinh Thánh: SaSt 31:45-55
I. ĐỐNG ĐÁ LÀM CHỨNG
1. Giacốp dựng một cây trụ: Tại Bêtên, Giacốp đã dựng một cây trụ bằng đá để bày tỏ lòng kính sợ Chúa Hằng hữu đã hiện ra ban lời hứa. Tại Míchba, Giacốp lại dựng moột cây trụ để bày tỏ lòng biết ơn Đấng đã thực hiện lời hứa, giải cứu ông khỏi Laban.
2. Chúng chất một đống đá: Đống đá được đặt tên là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta, hay Ga-lét, nghĩa là đống đá làm chứng ! Họ nhờ một vật vô tri giác, một vật có thể bị thay đổi để làm chứng cho giao ước của họ !
3. Đống đá ranh giới: Họ xem đống đá trên núi Galaat là ranh giới an toàn cho đôi bên. Không ai được phép vượt qua trong ý hương làm hại đối phương (Giống như tượng Chúa Cứu Thế trên núi Andes giữa Achentina và Chilê).
II. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM CHỨNG
1. Cầu xin Đức Giêhôva coi sóc: Chữ “coi sóc”ở đây có nghĩa là “canh chừng”. Họ không dám tin lời của nhau, chưa chắc chắn với đống đá, họ cầu xin Chúa canh chừng đôi bên, làm trọng tài, để bảo vệ tài sản của họ.
2. Kết ước: Laban đòi hỏi Giacốp chăm sóc các con gái ông, không được hành hạ rồi bỏ đi cưới vợ khác. Đổi lại, ông sẽ không vượt qua ranh giới để làm hại Giacốp cũng như Gia cốp không vượt qua ranh giới để làm hại ông. Ông cảnh cáo Giacốp rằng Chúa sẽ soi xét và làm chứng mọi việc.
III. THỀ HỨA
1. Xin Chúa đoán xét: Nhận thức Đức Chúa Trời Hằng hữu là Đấng có một, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đấng Ysác kính sợ (Tương giao với Chúa trong tình yêu đã cất bỏ sự sợ hãi khỏi những tổ phụ).
. Nhận thức Đức Chúa Trời là Đấng đoán xét công bình, không thiên vị.
. Họ xin Chúa đoán xét và phân xử những vi phạm của đôi bên.
2. Họ nhơn Danh Chúa mà thề: Để bảo đảm lời hứa, họ nhơn Danh Chúa là Đấng vĩ đại nhất, Đấng bất biến, Đấng đoán xét để thề hứa với nhau.
3. Họ dùng bữa với nhau: Dùng bữa chung để hiện sự đồng ý, chịu trách nhiệm hổ tương để thực hiện giao ước, sáng hôm sau, họ từ giã nhau.
ĐỐI DIỆN NAN ĐỀ !
Kinh Thánh: SaSt 32:1-12
I. MAHANAIM
1. Thiên sứ tiếp đón Giacốp: Từ giả Laban, Giacốp tiế tục đi xuống miền nam. Các thiên sứ đã đi ra tiếp đón Giacốp nơi gần biên giới đất hứa. Khải tượng nầy nâng đỡ, khích lệ Giacố rất nhiều, khiến ông vững lòng vì Chúa vẫn đang cùng đi với ông giữa mọi hoàn cảnh.
2. Giacốp đặt tên nơi đó là Mahanaim: Mahanaim có nghĩa là “hai trại quân”. Ông muốn nói rằng ông không cô đơn: Bên cạnh trại quân của ông là trại quân của Đức Chúa Trời.
II. SAI SỨ GIẢ ĐẾN CÙNG ÊSAU
1. Dặn dò sứ giả: Dầu đã mua được quyền trưởng nam và chiếm được lời chúc phước của cha, Giacốp đã rất khôn khéo khi khiêm nhường xưng mình là tôi tớ của Êsau! Ông cầu mong được ơn trước mặt Êsau.
2. Đáp ứng của Êsau: Các đầy tớ trở về báo cáo cùng Giacốp rằng Êsau đang đem 400 người để đón rước Giacốp. Không biết Êsau có định trả thù không, nhưng chắc chắc, ông không thể coi thường đứa em đã từng nổi tiếng là nắm gót, tiếm vị và lừa gạt.
III. ĐỐI DIỆN NAN ĐỀ
1. Giacốp rất sợ hãi và sầu não: Nghe tin 400 người cùng đi với Êsau, Giacốp vô cùng lo sợ, buồn bã. Đây là kết quả bình thường của một người thử dùng sức riêng để đối đầu nan đề.
2. Giacốp tính toán: Giacốp lại vận dụng trí khôn để giải quyết nan đề: Ông chia tài sản mình ra làm hai đội quân, và nhủ thầm rằng:Nếu Êsau hảm đánh một đội thì đội còn lại sẽ được thoát.
3. Giacốp cầu nguyện: Bất an trước những giải pháp của con người, Giacốp chạy đến với Chúa Giêhôva là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông.
2. Nền tảng lời cầu nguyện: Trước tiên là dựa trên đức tin nơi lời phán hứa của Chúa cho Giacốp: “Hãy trở về/ Ta sẽlàm ơn cho ngươi”.
. Thứ hai là dựa trên ân huệ và các điều chân thật Chúa đã làm cho kẻ không xứng đáng, kẻ hèn mọn là Giacốp.. Thứ ba là sự cảm tạ Chúa của Giacốp về quyền năng Chúa ban cho ông thịnh vượng. Thứ tư là tình yêu đối với vợ con và dòng dõi Chúa hứa ban.
LỄ VẬT ĐI TRƯỚC !
Kinh Thánh: SaSt 32:13-23
I. LỄ VẬT CHO ÊSAU
1. Giacốp lấy các vật hiện có trong tay: Từ một cây gậy trong tay, Giacốp đã được Chúa ban phước quá dư dật, đến nỗi tài sản của ông như hai đạo quân lớn.
2. Làm một của lễ dâng cho Êsau: Của lễ nầy gồm 200 dê cái với 20 dê đực, 200 chiên cái với 20 chiên đực, 30 lạc đà cái, 40 bò cái với 10 bò đực, 20 lừa cái với 10 lừa con. Tổng cộng là 550 con vật lớn nhỏ.
. Của lễ không phải dùng để giết thịt mà để nuôi, để tiếp tục phát triển, làm lợi ra.
. Một con người chỉ lo thâu góp làm sao có nhiều của cải, nhiều phước, nhiều quyền lợi, thì nay đã là người sẵn sàng chia xẻ cho người khác.
. Thật ra, sự dâng hiến nầy cũng lại là một sự tính toán. Có lẽ ông chưa bao giờ dâng cho Chúa một con chiên, con dê, mà nay phải dâng 550 con vật vô cùng giá trị chỉ vì muốn đánh đổi sự an toàn cho mình, trong khi Chính Chúa mới là Đấng bảo vệ, bênh vực, ban phươc cho ông thì ông lại chưa nghĩ đến việc dâng hiến !
3. Dặn dò đầy tớ: Giacốp khôn ngoan chia đầy tớ và súc vật làm nhiều toán và dặn đầy tớ lễ phép thưa với Êsau về của lễ dâng lên.
4. Giacốp thầm nghĩ: Giacốp nghĩ rằng lễ vật đi trước sẽ làm cho Êsau nguôi giận trước thì Êsau sẽ tiếp đón Giacốp tốt đẹp hơn. Đây là cách rất tốt đối với con người, nhưng lại rất xấu khi đối xử với Đức Chúa Trời. Hơn nữa, không phải chương trình của Giacốp thành công mà là bàn tay của Đức Chúa Trời đã tể trị mọi sự.
II. ĐEM MỌI SỰ QUA RẠCH GIABỐC
1. Đem gia đình và tài sản qua bên kia rạch: Sau khi sai các đầy tớ đem lễ vật đi đến Êsau, sau một giấc ngủ ngắn, Giacốp thức dậy đem gia đình và tài sản qua hết bên kia rạch Giabốc.
2. Giacốp ở lại một mình: Có lẽ Giacốp vẫn chưa yên tâm vì sợ Êsau còn giận và Giacốp chính là đối tượng Êsau sẽ tìm tiêu diệt. Vì thế, ông đưa mọi sự qua sông nhưng mình vẫn ở lại. Về phương diện con người, Giacốp thật vô cùng khôn ngoan !
VẬT LỘN CÙNG ĐỨC CHÚA TRỜI !
Kinh Thánh: SaSt 32:24-26
I. CUỘC VẬT LỘN
1. Giacốp ở lại: Giacốp ở lại bên nầy rạch Giabốc, có lẽ ông cần nhiều thì giờ ở riêng để suy gẫm về cuộc đời và hướng lòng về Chúa để cầu nguyện cho cuộc gặp gỡ ngày mai.
2. Một người vật lộn với Giacốp đến rạng đông: Giacốp nghĩ rằng đây là nơi an toàn nhất cho mình thì đây lại là bãi chiến trường. Đây là một kinh nghiệm lập đi lập lại cho ông: Những lúc ông thỏa lòng về kết quả mình đạt được thì đó chính là lúc ông phải đối đầu với biết bao nghịch cảnh.
II. BỊ ĐÁNH TRẶC XƯƠNG HÔNG
1. Người đó: Kinh Thánh không nói “Người đó”là ai và chính người đó cũng không xưng tên. Nhưng Giacốp tin rằng đó là Đức Giêhôva hoặc Thiên sứ của Đức Giêhôva, vì ông đặt tên chỗ đó là Phinêên nghĩa là “mặt của Đức Chúa Trời”.
2. Thấy mình không thắng nổi: Về phương diện thuộc linh, thật sự cuộc đời Giacốp là cuộc đời của ý riêng, cậy sức riêng, cậy khôn ngoan riêng và ông vẫn thường thành công trong cuộc đời nên không muốn đầu phục Chúa. Đây cũng là trường hợp của PhaoLô trước khi gặp Chúa.
3. Bèn đánh vào xương hông của Giacốp: Bởi lòng nhơn từ của Chúa, Ngài đã can thiệp để chận Giacốp lại khiến ông bị trặc xương hông và té xuống cũng như Phaolô đã té xuống đất trên đường Đamách. Tại đây, cả Giacốp lẫn Phaolô phải nhìn nhận sự thất bại, yếu đuối của mình.
III. LỜI CẦU XIN CHÚA BAN PHƯỚC
1. Trời đã rạng đông rồi, thôi, để cho Ta đi: Giacốp đang bước vào rạng đông của cuộc đời khi ông thật sự gặp Chúa một cách cá nhân và Chúa đã làm việc của Ngài trên đời sống ông.
2. Tôi chẳng cho người đi đâu nếu người không ban phước cho tôi: Giacốp nhận ra ngay người vật lộn với mình không phải một con người nào, mà là thiên sứ của Chúa, sứ giả của Chúa, hay là chính Chúa.
. Ông đã chiến đấu để chiếm đoạt phước và đối với người thế gian, ông đã thắng. Nhưng bây giờ, Giacốp thừa nhận sự thất bại của mình và cầu xin Chúa ban phước. Bây giờ, ông mới thấy mình phải lệ thuộc vào Chúa.
TỪ GIACỐP ĐẾN YSƠRAÊN
Kinh Thánh: SaSt 32:27-32
I. TÊN NGƯƠI LÀ CHI
1. Người đó hỏi: Giacốp vừa cầu xin Chúa ban phước. Cêu trả lời Chúa cho ông là :Tên ngươi là chi ? Dù Chúa biết rõ tên Giacốp, nhưng Ngài muốn ông xưng đúng tên của mình vì Giacốp có lần xưng mình là Êsau.
2. Giacốp đáp: Muốn nhận phước của Chúa, trước tiên Giacốp phải thừa nhận con người tội lỗi của ông đúng với cái tên mà cha mẹ đã đặt cho ông: Giacốp, kẻ nắm gót, kẻ tiếm vị. (Người đàn bà Samari bên giếng Sikha phải thừa nhận mình có năm đời chồng trước khi bà nhận Nước Sống Chúa ban).
II. ĐỔI TÊN CHO GIACỐP
1. Tên ngươi chẳng phải là Giacốp nữa: Giacốp đã bắt đầu một cuộc sống mới. Tên “Giacốp”không còn thích hợp với ông nữa vì ông đã được thay đổi. Tuy nhiên, cần thay đổi tấm lòng, bản chất hơn là thay đổi tên.
2. Tên ngươi là Ysơraên: Isra là hoàng tử, quyền lực hay người cai trị. Vì thế Israel là hoàng tử của Đức Chúa Trời, quyền lực của Đức Chúa Trời hay người cai trị từ Đức Chúa Trời.
. Isra còn có nghĩa là vật lộn, kiên trì, đắc thắng. Vì thế, Israel còn có nghĩa là vật lộn cùng Đức Chúa Trời, kiên trì cầu khẩn với Đức Chúa Trời hay kẻ đắc thắng của Đức Chúa Trời.
3. Ngươi có vật lộn và được thắng: Giacốp đã từng vật lộn với con người và ông đã thắng. Giacốp cũng đã “vật lộn”với Đức Chúa Trời và chiến thắng đã đến khi ông biết đầu hàng, thôi chiến đấu chống lại Chúa, ý thức sự thất bại của mình và cầu xin Chúa ban phước (II. Cô 12:9;).
III. BÍ QUYẾT ĐỜI SỐNG THAY ĐỔI
1. Xin cho tôi biết tên Người: Giacốp mong được biết rõ người vật lộn với mình vì nghĩ rằng đó là Chúa. (Giống ngươi đàn bà Samari GiGa 4:25).
2. Tôi thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi: Giacốp bước vào kinh nghiệm gặp Chúa cách cá nhân thật kỳ diệu. Không phải nghe nói hay thấy mà là ôm choàng lấy Ngài.
3. Linh hồn tôi được giải cứu: Bây giờ, Giacốp mới thấy nhu cầu thật của mình: Không phải bánh ăn, áo mặc/ mà là linh hồn cần được giải cứu.
NỐI LẠI TÌNH YÊU !
Kinh Thánh: SaSt 33:1-8
I. GIACỐP ĐÓN RƯỚC ÊSAU
1. Giacốp nhướng mắt lên: Giacốp thấy Êsau và 400 người từ xa đi tới. Trước khi gặp Chúa, Giacốp đã rất sợ hãi khi suy nghĩ đến điều nầy. Nhưng bây giờ, đối đầu với nó, ông đã vô cùng yên tâm.
2. Giacốp sắp xếp thứ tự: Từ bên kia rạch, sau lưng mọi người, Giacốp đã vượt qua và đi đầu phái đoàn. Thứ tự các vợ con bày tỏ tình yêu và sự chăm sóc an toàn của ông đối với họ. Không phải ông không tin Chúa có quyền giải cứu mà là sẵn sàng trả giá cho sự ăn năn của mình.
3. Giacốp sấp mình xuống đất 7 lần: Đây là nghi thức nghinh đón một vì vua. Giacốp muốn vừa bày tỏ sự tôn trọng Êsau, vừa bày tỏ lòng ăn năn của mình đối với những gì ông đã làm cho Êsau.
II. GIỜ PHÚT GẶP GỠ
1. Êsau chạy đến: Như người cha trong câu chuyện đứa con hoang đàng, Êsau đã chạy đến Giacốp khi thấy Giacốp bày tỏ lòng ăn năn khi quay về.
2. Ôm choàng cổ mà hôn: Tình yêu thay cho hận thù, cái hôn thay cho mủi gươm, Êsau đã hoàn toàn thay đổi. Không hải vì những lễ vật của Giacốp mà vì hành động của Đức Chúa Trời trong tấm lòng Êsau.
3. Hai anh em đều khóc: Họ đã khóc vì sung sướng tìm lại được điều họ đã đánh mất suốt trong 20 năm qua. Họ đã khóc vì việc Chúa làm quá kỳ diệu, vượt trổi vô cùng hơn điều họ có thể suy tưởng (Eph Ep 3:20). Họ khóc vì khám phá rằng tình anh em quan trọng hơn mọi của cải và quyền lợi.
III. TRÒ CHUYỆN
1. Các người em có đó là ai? Giacốp trả lời rằng: “Đó là con cái mà Đức Chúa Trời đã cho”. Giacốp nhận thức Đưc Chúa Trời là cội nguồn mọi ơn phước trong đời sống ông. Sau đó, vợ con Giacốp đến chào ra mắt Êsau.
2. Toán quân đi trước đó để làm chi ? Vào thời đó, lễ vật thường có môựt trong ba ý nghĩa: Hoặc để hối lộ để mua lòng, mua sự giúp đỡ của ai đó, hoặc để bày tỏ tình cảm thân thiện, hoặc để chào mừng, chào đón một nhân vật quan trọng. Lễ vật nầy thường có tương quan đến nghề nghiệp của người nhận.
HỠI EM ! ANH ĐÃ ĐỦ RỒI !
Kinh Thánh: SaSt 33:8-16
I. ÊSAU TỪ CHỐI LỄ VẬT
1. Ây để được ơn trước mặt chúa tôi: Giacốp luôn gọi Êsau là chúa và xưng mình là tôi tớ. Ông mong ước lời nói và lễ vật sẽ làm đẹp lòng Êsau.
2. Hỡi em, anh đã được đủ rồi: Êsau gọi Giacốp là em. Ông muốn khẳng định rằng mối liên hệ anh em đã được nối trở lại. Vì thế, lễ vật là điều không cần thiết và ông đã có dư dật nên ông không muốn làm tổn hại Giacốp bất cứ điều gì dù Giacốp đã từng cố tình làm hại ông.
II. GIACỐP NÀI NỈ
1. Nếu em được ơn trước mặt anh: Giacốp muốn Êsau nhận lễ vật như một bằng cớ chứng tỏ sự tha thứ của Êsau đối với tội lỗi ông trong quá khứ.
2. Hãy nhậm lấy lễ vật bởi tay em làm ra: Giacốp muốn dâng một lễ vật do chính tay mình làm ra vì giá trị không ở lễ vật mà ở “mồ hôi, nước mắt”của chính ông đã đổ ra để tạo nên nó.
3. Thấy được mặt anh khác nào thấy mặt Đức Chúa Trời: Ông đã gặp Chúa và linh hồn được giải cứu, nay ông gặp Êsau và mạng sống ông cũng được giải cứu. Chúa tha tội cho ông và Êsau cũng tha tội cho ông.
. Giacốp cố nài xin đến nỗi Êsau phải nhận của lễ giải hòa nầy.
III. TỪ GIÃ NHAU
1. Êsau mời về Sêirơ: Để đánh dấu tình yêu anh em được hàn gắn, Êsau muốn mời Giacốp về Sêirơ.
2. Giacốp khéo léo từ chối: Dù tình anh em được nối lại nhưng hai người không thể có sự hòa hợp thật sự vì hai lối sống khác nhau và nhất là hai niềm tin cũng khác nhau: Giacốp bây giờ hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Trời còn Êsau chưa có một lời tạ ơn Chúa. Hơn nữa, mạng lệnh của Chúa là trở về nhà cha chứ không phải đến Sêirơ. Vì thế, tốt nhất là nên chia tay với Êsau.
. Giacốp viện cớ các con nhỏ cùng bầy chiên bầy bò có con đương bú, không thể đi nhanh và hứa sẽ từ từ đến Sêirơ đêí thăm Êsau.
. Kết quả, Êsau trở về Sêirơ nội trong ngày. Trong mối tương giao với người thế gian, chúng ta cần biết đâu là chỗ phải dừng lại.
TỪ SUCỐT ĐẾN SICHEM !
Kinh Thánh: SaSt 33:17-34:7
I. ĐÓNG TRẠI TẠI SUCỐT
1. Giacốp đi đến Sucốt: Sau khi Êsau ra đi, Giacốp đi ngược lên đến Sucốt dù ông đã hứa sẽ đến Sêirơ. Có lẽ Giacốp thấy việc Êsau đã giải quyết xong và ông cần tìm một nơi để nghỉ ngơi.
2. Giacốp cất một cái nhà và mấy cái lều: Sucốt nằm cạnh rạch Giabốc, cách sông Giôđanh khoảng 6 km nên rất thích hợp cho đoàn người và vật của Giacốp nghỉ chân.
II. ĐÓNG TRẠI TẠI SICHEM
1. Giacốp đến thành Sichem: Vượt qua sông Giôđanh, Giacốp hướng về phía tây đến Sichem, cách sông Giôđanh khoảng 25 km.
2. Giacốp đóng trại và mua đất: Có lẽ Giacốp dự định đi về nhà cha ở Hếprôn, nhưng những đồng cỏ phì nhiêu của Sichem và những khả năng thương mại đã hấp dẫn ông khiến ông lưu lại tại Sichem, một việc làm đã khiến ông phải trả giá khá đắ nếu Chúa không can thiệp cứu giúp ông.
3. Giacốp lập một bàn thờ: Giacốp bày tỏ lòng biết ơn Chúa đã đưa ông về bình an, cũng như bày tỏ cho dân Canaan biết Giêhôva là Đức Chúa Trời vĩ đại, oai nghi của Ysơraên.
. Thời gian kiều ngụ tại Sucốt và Sichem có lẽ đã lên đến khoảng 10 năm.
III. THẢM KỊCH CHO GIA ĐÌNH GIACỐP
1. Đina bị hại: Đina, cô con gái xinh đẹp của Giacốp đã quá mạo hiểm khi đi vào thành Sichem một mình. Kết quả là hoàng tử Sichem, con trai Hêmô đã bắt nàng và hoặc dụ dỗ, hoặc hãm hiếp nàng.
. Sichem thật sự đã yêu Đina ngay trong cái nhìn đầu tiên, nhưng hành động quá vội vàng, sổ sàng đã không thể được tha thứ, dù anh ta có dùng lời ngon ngọt nói cùng nàng (Khác với Amnôn xua đuổi Tama sau khi thỏa mãn thú tính). Sichem cũng xin cha mình hỏi cưới Đina cho mình.
2. Giacốp làm thinh: Vì các con và đầy tớ ở ngoài đồng, ông không thể làm gì khác hơn là làm thinh chịu đựng sự nhục nhã mà chính ông cũng có một phần lỗi khi lực chọn định cư tại Sichem.
3. Các con Giacốp nổi giận: Tình yêu đối với em gái va danh dự gia đình khiến họ rất giận dữ với hành động của Sichem.
CUỘC THƯƠNG THUYẾT !
Kinh Thánh: SaSt 34:8-19
I. LỜI CẦU HÔN
1. Hêmô giải thích: Dù là vua của một thành phố lớn, Hêmô đã sẵn sàng đến với gia đình Giacốp để nói lên tình cảm của con trai mình đối cùng nàng Đina.
2. Đề nghị: Hêmô vừa xin cầu hôn vừa đề nghị sự cưới gả giữa hai dân tộc để thắt chặc tình thông gia.
3. Hứa hẹn: Hêmô hứa dành mọi sự dễ dãi cho gia đình Giacốp để cư ngụ, buôn bán và xây dựng cơ nghiệp.
4. Sichem nài nĩ: Sichem chứng tỏ tình yêu chân thành với Đina bằng cách đề nghị gia đình Giacốp đòi sính lễ thật cao, tổ chức một lễ cưới thật lớn và chàng sẵn sàng đáp ứng hết.
II. CÁC CON TRAI GIACỐP ĐÁP LỜI
1. Các con trai Giacốp đáp: Theo phong tục bấy giờ, các anh của cô dâu chịu trách nhiệm sắp xếp hôn lễ cho em gái mình (24:34-55).
2. Đòi sính lễ: Họ không đòi lễ vật mà chỉ đòi dân Sichem chịu cắt bì giông như họ, với lý do là hôn nhân chỉ có khi cả hai dân tộc trở nên giống nhau (Vấn đề quan trọng là ai giống ai ?). Nếu không, hôn nhân với một người không chịu cắt bì là một sự nhuốc nhơ và họ cương quyết từ chối.
3. Hứa hẹn: Họ cũng hứa sẽ có sự cưới gả giữa hai dân tộc để tất cả sẽ ở chung với nhau, trở thành một dân mà thôi. Lời hứa thật hấp dẫn nhưng Kinh Thánh giải thích rằng đó chỉ là một mưu kế !
III. THỎA HIỆP
1. Vì lời nói ấy đẹp dạ Hêmôvà Sichem: Trước những phản ứng có vẻ ôn hòa và đầy thân thiện cùng những lời hứa có lợi cho họ, họ đã rất hoan hỉ tiếp nhận.
2. Vì cớ Đina đẹp lòng Sichem: Tình yêu đối với Đina khiến Sichem không ngại bất cứ một khó khăn nào. Và vì cớ địa vị cao trọng của Sichem, thỏa hiệp dường như đã được ký kết.
CUỘC THẢM SÁT !
Kinh Thánh: SaSt 34:20-31
I. LỜI THUYẾT PHỤC
1. Nhận định: Hêmô và Sichem nhận định gia đình Giacốp là những người ăn ở hòa thuận giữa vòng dân thành Sichem.
2. Phân tích lợi hại: Với những kẻ như thế, với đất rộng như thế sẽ không có gì hại mà còn có lợi là các tài sản, các bầy sùc vật sẽ thuộc về dân thành Sichem vì gia đình Giacốp không sớm thì muộn sẽ bị đồng hóa với họ.
3. Đề nghị: Hãy cho họ sống trong xứ đặng buôn bán, rồi sau đó cưới gả với gia đình họ, chỉ với một điều kiện nhỏ là mọi người nam sẽ phải chịu phép cắt bì giống như họ (Mục đích làm giống như họ là để họ sẽ giống với mình, đồng hóa với mình !).
4. Kết quả: Lời phân tích hợp lý của Hêmô và Sichem đã khiến dân thành Sichem vâng phục. Mọi người nam đã đến để chịu phép cắt bì.
III. CUỘC THẢM SÁT
1. Giết hết thảy người nam: Đến ngày thứ ba là ngày mọi người đương đau đớn, Simêôn và Lêvi, mỗi người một thanh gươm xông vào thành giết hết thảy người nam (Có lẽ với sự giúp đỡ của những gia nhân).
2. Giải cứu Đina: Hai người giết chết Hêmô và Sichem rồi đem Đina ra khỏi nhà Sichem.
3. Cướp phá thành: Họ bắt đi các bầy chiên, bò lừa trong thành cũng như ngoài đồng. Họ cướp đi hết tài vật và cũng cướp đi các đàn bà con gái. Rõ ràng tội ác của hai người gấp ngàn lần tội lỗi của Sichem. Hơn nữa, họ đã lợi dụng một nghi lễ thiêng liêng để thực hiện mưu đồ gian ác. Thật không thể tha thứ ! (49:5-7).
III. NỖI LO SỢ
1. Giacốp lo sợ: Giacốp bối rối vì sợ người Canaan và Phêrêsít oán giận ông sẽ hiệp lại đánh thì làm sao gia đình ông có thể chống lại.
2. Simêôn và Lêvi đáp lại: Họ cho biết, họ không thể để người ta đãi em gái họ như môt con đĩ. Quá giận dữ, họ đã không lường trước kết quả việc mình làm.
TRỞ VỀ BÊTÊN
Kinh Thánh: SaSt 35:1-7
I. MẠNG LỆNH CỦA CHÚA
1. Đức Giêhôva phán: Chúa dường như yên lặng suốt 10 năm Giacốp lựa chọn sống tại Sichem để ông học một bài học cay đăỉng và khi ông học xong, Chúa can thiệp thật đúng lúc.
. Tiếng phán đó thật đã xua tan mọi bối rối lo sợ.
2. Hãy chổi dậy, đi lên Bêtên mà ở : Đã đến lúc Giacốp cần phải lìa xa nơi mà ông đã lựa chọn. Ông thật sự đã nằm xuống tại Sichem và tuyển dân suýt bị đồng hóa với dân Sichem.
. Chúa đã can thiệp để chọn cho ông một nơi ở mới. Sau khi tự lựa chọn và thất bại, Giacốp thật sẵn sàng để bước vào sự lựa chọn của Chúa.
3. Hãy lập nơi đó một bàn thờ cho Đức Chúa Trời: Giacốp cần làm phần của mình sau khi Chúa đã làm trọn phần của Ngài cho ông. Giacốp cần nhớ lại những gì Chúa đã nói, đã làm cho ông cũng như lời hứa nguyện của ông đối với Chúa.
II. GIA CỐP PHÁT ĐỘNG VIỆC RA ĐI
1. Hãy dẹp các tượng thần ngoại bang khỏi giữa các ngươi: Suốt 10 năm tại Sucốt và Sichem, họ đã giữ các thần tượng. Nay muốn đi theo tiếng gọi của Chúa, họ phải dứt khoát với mọi thứ thần tượng.
2. Hãy làm thanh sạch và thay áo xống đi: Sự tắm rửa thân thể và thay áo xống tượng trưng cho sự tẩy sạch tội lỗi bên trong thể hiện ra bằng sự đổi mới bên ngoài.
3. Đáp ứng: Họ đã đưa cho Giacốp, không những các tượng thần mà còn đưa luôn các vòng đeo tai là những bùa may mắn. Tất cả đã được chôn dưới gốc cây dẻ bộp gần thành Sichem.
III. LÊN ĐƯỜNG ĐẾN BÊTÊN
1. Đoạn chúng khởi hành: Sau khi dứt khoát mọi thần tượng và mọi điều ô uế, họ mới khởi hành đến Bêtên có nghĩa là nhà của Đức Chúa Trời.
2. Đức Chúa Trời giáng sự kinh hãi cho dân Canaan: Chúa bênh vực những người lựa chọn đứng về phía Ngài.
3. Lập bàn thờ Ên-Bêtên: Giacốp xác định trở về cùng Chúa của Bêtên chứ không chỉ trở về Bêtên (Ên-Bêtên là Đức Chúa Trời của Bêtên).
KHẲNG ĐỊNH GIAO ƯỚC
Kinh Thánh: SaSt 35:8-15
I. ALÔN BACÚT
1. Đêbôra qua đời: Đêbôra là bà vú của Rêbeca, mẹ của Giacốp. Có lẽ sau khi Rêbeca qua đời, bà vú Đêbôra đến ở với Giacốp, con trai yêu dấu của bà chủ. Nhưng rồi, bà cụ Đêbôra cũng lại ra đi, để lại bao tiếc thương cho Giacốp.
2. A-lôn Ba-cút: Bà cụ Đêbôra được chôn tại gốc cây dẻ bộp tại Bêtên. Giacốp và gia đình đã khóc rất nhiều về sự chia tay nầy. Vì thế, nơi nầy được gọi là AlônBacút, nghĩa là cây dẻ bộp khóc lóc.
II. KHẲNG ĐỊNH GIAO ƯỚC
1. Đức Chúa Trời lại hiện ra cùng Giacốp: Giữa lúc đau buồn, Giacốp đã tìm thấy sự yên ủi lớn lao khi Chúa hiện đến với ông thâật đúng lúc.
2. Chúa ban phước cho Giacốp: Chúa khẳng định rằng dù ông đã từng là Giacốp (với tất cả ý nghĩa xấu xa của tên gọi đó), thì bây giờ, tên ông không còn là Giacốp nữa. Mọi sự cũ đã chìm vào quá khứ và Chúa ném nó ra sau lưng Ngài. Tên của ông bấy giờ phải là Ysơraên, nghĩa là hoàng tử của Đức Chúa Trời hay là người chiến thắng trong Đức Chúa Trời.
3. Chúa xưng Danh Ngài: Danh Chúa ở đây là Đức Chúa Trời Toàn Năng (El Shaddai) là Đấng có quyền làm trọn mọi lời Ngài hứa và chu cấp mọi nhu cầu thiết thực cho gia đình Giacốp.
4. Chúa hứa: Chúa hứa và ra lệnh cho gia đình Giacốp sinh sản thêm nhiều. Ngài cho biết nhiều dân, nhiều vua sẽ do nơi Giacốp mà ra. Chúa cũng hứa ban cho dòng dõi Giacốp xứ Canaan, là xứ Ngài đã ban cho Ápraham và Ysác.
III. THỂ HIỆN LÒNG TIN CẬY VÀ BIẾT ƠN
1. Giacốp dựng một trụ đá: Một lần nữa, Giacốp muốn đánh dấu sự gặp gỡ phước hạnh với Chúa giữa cuộc đời đầy buồn đau, cay đắng.
2. Giacốp dâng lễ quán và tưới dầu: Giacốp tin và tiếp nhận mọi lời Chúa phán hứa nên dâng lễ quán và tưới dầu để bày tỏ lòng biết ơn Chúa. 3. Giacốp đặt tên nơi đó là Bêtên: Giacốp muốn nhắc nhở, dạy dỗ con cháu mình rằng đây là nhà của Đức Chúa Trời.
NHỮNG NỖI BUỒN CỦA GIACỐP
Kinh Thánh: SaSt 35:16-29
I. NGƯỜI VỢ YÊU QUÝ QUA ĐỜI
1. Rachên sanh khó: Chúa nhậm lời Rachên, ban cho bà thêm một đứa con trai. Nhưng sự sanh nở lần nầy thật vô cùng đau đớn !
2. Rachên đặt tên con là Bênôni: Dù bà mụ khích lệ Rachên đừng sợ, nhưng Rachên biết mình không thể sống được. Trong cơn hấp hối đau đớn, bà đặt tên con trai mình là Bênôni, nghĩa là con trai của sự đau đớn tôi.
3. Giacốp đặt tên con là Bêngiamin: Giacốp không muốn con trai của người vợ yêu quý của mình mang cái tên đau buồn suốt đời, nên đặt tên con là Bêngiamin, nghĩa là con trai tay hữu, cũng có nghĩa là con trai của sự thạnh vượng, người đem con số 12 trọn vẹn đến với gia đình ông.
4. Rachên qua đời: Niềm vui chưa trọn thì nỗi đau lớn ập tới. Người vợ yêu quý nhất của Giacốp đã phải từ giã ông trong lúc còn rất trẻ (hơn 40). Giacốp chôn cất Rachên bên đường đi về Êphơrát tức Bếtlêhem, và dựng lên một mộ bia để kỷ niệm.
II. NGƯỜI VỢ LẼ PHẢN BỘI
1. Ysơraên ra đi đến tháp Êđe: Lìa xa nơi kỷ niệm đau buồn, Giacốp ra đi đến Êđe. Lưu ý: KT gọi Giacốp là Ysơraên, khẳng định sự đổi tên và cuộc đời biến đổi của Giacốp.
2. Rubên nằm cùng Bila: Rubên về tuổi tác là trưởng nam của Giacốp, đã phạm tội loạn luân với Bila, vợ lẽ của cha mình. Đây là một trong những ảnh hưởng tai hại của trời gian lưu trú tại Sucốt và Sichem. Giacốp hay được điều đó, khiến ông vô cùng đau đớn.
III. NGƯỜI CHA YÊU QUÝ QUA ĐỜI
1. Giacốp đến ở cùng Ysác: Nhận biết ý muốn Đức Chúa Trời, Ysác đã đối xử với Giacốp như con trưởng nam ở trong nhà mình, làm người thừa kế chính thức của Ysác.
2. Ysác qua đời: KT kết luận về cuộc đời Ysác rằng “Người tuổi cao, tác lớn, thỏa mãn về đời mình”vì thấy dòng dõi đông đúc giàu có và hòa thuận nhau. Ysác qua đời ở tuổi 180. Hai con trai là Êsau và Giacốp chôn cất ông.
DÒNG DÕI ÊSAU
Kinh Thánh: SaSt 36:1-43
I. ĐÂY LÀ DÒNG DÕI ÊSAU
1. Êsau tức là Êđôm: Tên gọi Êđôm bắt nguồn từ tô canh đỏ mà Giacốp đã cho Êsau ăn để đánh đổi quyền Trưởng Nam.
. Dân Êđôm cư ngụ tại miền đông và miền nam của biển Chết. Miền đất nầy có đặc điểm là địa thế núi non hiểm trở và những vùng đồng hoang. Tuy nhiên ở đây rất giàu khoáng sản, nên có nhiều đường giao thông lớn.
2. Êsau cưới vợ: Hai vợ Ađa và Ôhôlibama là người Canaan. Vợ thứ ba là Bách mát, con gái của Íchmaên. Dòng dõi Êđôm bị ngươi Do Thái khinh thường vì sự kết hôn lẫn lộn với dân Canaan, những dân tộc đáng bị tận diệt.
II. ÊSAU Ở TẠI NÚI SÊIRƠ
1. Vì hai anh em của cải quá nhiều: Đức Chúa Trời đã ban phước cho cả Giacốp lẫn Êsau nên họ có của cải rất nhiều, bầy súc vật rất đông.
. Xứ họ đang kiều ngụ không đủ chỗ nên họ không thể ở chung với nhau.
2. Êsau dời qua ở tại núi Sêirơ: Đúng như lời chúc phước của Ysác, Giacốp ở lại xứ Canaan. Trong khi đó, Êsau, dù là trưởng nam, phải ra đi để nhường miền đất cho Giacốp, người Chúa chọn. Ông đem vợ con và của cải, súc vật đến ở tại núi Sêirơ. Có lẽ họ đã đến đó đánh đuổi dân Sêirơ ra khỏi vùng đất của họ, hoặc họ đồng hóa dân Sêirơ thành một thành phần của dân Êđôm.
III. CÁC VUA XỨ ÊĐÔM
1. Các Trưởng Tộc của Êđôm: Bản liệt kê từ câu 15-19 gồm có 14 trưởng tộc trong khi bản liệt kê từ câu 40-43 chỉ có 10 trưởng tộc.
2. Các vua xứ Êđôm: Quốc gia Êđôm thành lập rất sớm. Trong khi Ysơraên chưa có một vua nào thì Êđôm đã có nhiều vị vua nối tiếp nhau. Trong đó, có nhiều vị vua rất nổi tiếng. Sự phát triển của dòng dõi thế tục bao giờ cũng nhanh hơn sự phát triển của dòng dõi thánh.
ĐƯỢC YÊU VÀ BỊ GHÉT !
Kinh Thánh: SaSt 37:1-4
I. GIÔSÉP CHĂN CHIÊN
1. Giôsép tuổi mười bảy: Tuổi thiếu niên được xem là tuổi nổi loạn, nhưng thiếu niên Giôsép đã rất trưởng thành, ổn định. Đây là kết quả của mối tương giao gần gũi với một người cha đã thật sự gặp Chúa.
2. Chăn chiên với các anh mình: Dù là “con cưng”, Giôsép vẫn đi ra đồng chăn chiên với các anh. Chính sự siêng năng, dấn thân vào công việc đã giúp Giôsép rất nhiều trong những ngày sống kiếp nô lệ, tù tội.
3. Kết bạn cùng con của Bila và Xinh ba: Không phân biệt giai cấp, Giôsép đã kết bạn với các con của hai người nô lệ. Có lẽ vì họ cũng rất gần với tuổi của Giôsép.
II. GIÔSÉP BỊ GANH GHÉT
1. Giôsép thuật cho cha các chuyện xấu họ nói: Được dạy dỗ sống tốt đẹp, Giôsép đã rất ngạc nhiên về sự hư hỏng của các anh. Giôsép nghĩ rằng cha phải biết các việc nầy để sửa chữa kịp lúc.
. Tuy nhiên, trong khi cha yêu Giôsép hơn thì các anh bị la rầy đã có ác cảm với Giôsép, cho ông là kẻ thèo lẻo. Trong nhận thức đó, nhiều người đã chọn phương cách yên lặng khi thấy những việc xấu xa. Thực ra nhiều khi yên lặng là đồng nghĩa với đồng lỏa,
2. Ysơraên yêu Giôsép hơn: Không những là con muộn mà còn là con của người vợ yêu quý nhất, nên Giôsép được cha yêu rất đặc biệt, nhất là khi mẹ của Giôsép đã qua đời. Tình yêu đặc biệt đó thể hiện qua việc Giacốp may cho Giôsép chiếc áo nhiều màu sắc, chếc áo của các quan chức, các chủ nhân ông, chiếc áo tộc trưởng.
. Giacốp đã là một nạn nhân trong cách phân biệt đối xử của cha mẹ, nhưng ông đã không rút ra bài học áp dụng đúng đắn. Dù ông có lý khi yêu Giôsép, nhưng tình yêu của ông cũng phải chan hòa cho các con khác nữa, để khỏi làm cớ vấp phạm cho các con.
3. Kết quả: Các anh thấy cha yêu Giacốp hơn bọn họ, và nhất là vì Giôsép không sống giống họ nên họ vô cùng ganh ghét.
. Sự ganh ghét nầy lên đến tột đỉnh, đến nỗi các anh không thể lấy lời tử tế mà nói cùng Giôsép được.
GIẤC MƠ TIÊN TRI !
Kinh Thánh: SaSt 37:5-11
I. HAI GIẤC MƠ
1. Giấc mơ thứ nhất: Tuổi thiếu niên không phải là tuổi có những khải tượng, giấc mơ. Nhưng Giôsép đã có hai giấc mơ.
. Trong giấc mơ thứ nhất, Giôsép thấy bó lúa của ông đứng dựng lên còn các bó lúa của các anh đều sấp mình xuống trước bó lúa của Giôsép. Ý nghĩa của giấc mơ thật rất rõ ràng. Điều nầu được ứng nghiệm trong lần các anh gặp lại Giôsép tại Aicập. Đức Chúa Trời đã cho Giôsép thấy giấc mơ nầy để khích lệ ông mạnh mẽ tiến tới trên con đường chông gai.
2. Giấc mơ thứ hai: Giôsép thấy mặt trời, mặt trăng và 11 ngôi sao sấp mình xuống trước mặt ông. Giấc mơ thứ hai mang ý nghĩa mạnh hơn và sự lập lại hai lần khẳng định chương trình của Chúa sẽ làm cho Giôsép. Giấc mơ nầy được ứng nghiệm khi cả nhà đi xuống xứ Aicập.
3. Giôsép kể lại: Giôsép thuật lại hai điềm chiêm bao cho các anh và cha mình nghe. Dường như quá ngạc nhiên và bối rối trước giấc mơ, Giôsép đã không thể yên lặng. Ông đã kể lại một cách thành thật, đơn sơ, hơn là có ẩn ý. Tuy nhiên, Giôsép quên rằng chia xẻ niềm vui cá nhân cho những người thiếu niềm vui là một hành động thiếu tế nhị !
II. PHẢN ỨNG CỦA CÁC ANH
1. Họ chất vấn Giôsép: Họ cho rằng Giôsép đang kiêu ngạo, khẳng định tham vọng làm tộc trưởng, nên họ chất vấn Giôsép : Mầy sẽ cai trị chúng ta sao ? Mầy sẽ hành quyền trên chúng ta sao ?
2. Họ càng thêm ganh ghét: Trước đời sống tốt đẹp của Giôsép, sự thiên vị của cha trong tình yêu và nhất là hai giấc chiêm bao, các anh Giôsép đã tức giận càng thêm tức giận, đã ganh ghét lại càng thêm ganh ghét.
II. PHẢN ỨNG CỦA GIACỐP
1. Giacốp quở trách Giôsép: Giacốp không thể tin rằng ông, vợ ông và các con khác của ông phải sấp mình trước Giôsép. Ông xem đây là một sự xúc phạm nên quở trách Giôsép.
2. Giacốp ghi nhớ: Dù khó chịu về ý nghĩa của giấc mơ tiên tri, nhưng Giacốp biết rằng Chúa vẫn đang tể trị và Ngài sẽ làm thành chương trình Ngài đã mặc khải và dù ngày nay mình chưa hiểu nổi, về sau sẽ hiểu.
BỊ QUĂNG XUỐNG HỐ !
Kinh Thánh: SaSt 37:12-24
I. ĐI THĂM CÁC ANH
1. Có con đây: Giacốp sai Giôsép đi thăm các anh đang đi chăn bầy chiên của ông tại Sichem. Sichem cách Hếprôn chừng 80 km về phía bắc.
. Giôsép rất sẵn lòng vâng lời cha đi thăm các anh. Thái độ nầy chứng tỏ tình thương của Giôsép đối với cha và các anh. Vì thế, cả Giôsép lẫn Giacốp đều không hề nghi ngờ gì về hiểm nguy trước mắt.
2. Đi lạc: Vượt đường xa đến Sichem, Giôsép không thấy các anh, nên đi tìm và rồi đi lạc. Đức Chúa Trời đã can thiệp, ban cho Giôsép một người dẫn đường. Một lần nữa, tình thương của Giôsép đối với các anh đã được bày tỏ khi ông sẵn sàng đi tìm các anh tại Đôtain, cách Sichem 21 km.
II. GẶP GỠ CÁC ANH TẠI ĐÔTAIN
1. Kìa thằng nằm mộng đến kia: Giấc mơ của Giôsép đã là nỗi lo nghĩ của các anh. Họ vừa ghét Giôsép, vừa sợ rằng giấc mơ sẽ thành sự thật. Vì thế, họ gọi Giôsép là “thằng nằm mộng”.
2. Chúng ta hãy giết nó đi: Họ lập mưu để giết Giôsép, một tội ác kinh khiếp của những người được xưng là tổ phụ của tuyển dân ! Có lẽ Simêôn là người đề xuất việc nầy vì ông là người đã từng giết người không gớm tay ! Simêôn là người sau nầy bị Giôsép giữ lại trong khi chờ đợi đem Bêngiamin xuống Aicập cho Giôsép. Một lần nữa, chúng ta lại thấy hậu quả của ảnh hưởng lối sống dân Canaan trên các con trai Giacốp.
3. Ta sẽ nói rằng nó đã bị thú rừng xé ăn: Họ muốn phạm tội giết người, giết chính em mình, rồi sau đó phạm tội nói dối với cha rằng Giôsép bị thú rừng xé ăn. Thật họ chính là thú dữ muốn xé xác chính em mình.
4. Rồi sẽ xem các điềm chiêm bao của nó ra sao: Họ không tin sự mặc khải của Chúa và cũng không muốn điều đó trở thành sự thật. Họ đang cố gắng chống lại ý muốn Đức Chúa Trời.
III. BỊ QUĂNG XUỐNG HỐ
1. Rubên giải cứu: Chúa lại can thiệp khiến Rubên ngăn cản các em mình giết Giôsép. Ông đề nghị quăng Giôsép xuống hố.
2. Bị quang xuống hố: Các anh lột ngay chiếc áo tộc trưởng nhiều màu sắc của Giôsép và quăng Giôsép xuống hố, nhưng hố lại không có nước.
BỊ BÁN LÀM NÔ LỆ !
Kinh Thánh: SaSt 37:25-30
I. ĐOẠN HỌ NGỒI LẠI ĂN
1. Trong khi Giôsép bị quăng xuống hố: Giôsép bị quăng xuống hố chứa nước mưa nhưng hố không có nước. 42:21 cho biết Giôsép đã nài xin các anh nhưng họ đã cứ làm theo lòng gian ác của họ.
2. Họ ngồi lại ăn: Thật là một bữa ăn tàn nhẫn của những người vô lương tâm. Có lẽ họ đang ăn những thức ăn Giôsép mang đến. Họ vui mừng vì họ đã chiến thắng, đã hãm hại một kẻ cô thế, kẻ đã đến để bày tỏ tình thương đối với họ.
II. BỊ BÁN CHO CÁC LÁI BUÔN MAĐIAN
1. Cơ hội: Đang ngồi ăn, họ nhướng mắt lên, thấy một đoàn lái buôn Mađian. Có lẽ đây là những người Íchmaên sống trong xứ sở của dân Mađian. Họ chở đầy thuốc thơm, nhủ hương và một dược qua xứ Êdíptô.
2. Sáng kiến của Giuđa: Giuđa lý luận rằng giết em rồi giấu máu nó có ích chi đâu, nghĩa là phải hành động sao cho họ được lợi:
. Cái lợi thứ nhất là họ không tra tay trên đứa em là cốt nhục của họ. Họ đã không trực tiếp phạm tội giết em mình. Họ không cần quan tâm đến việc những lái buôn sẽ đối xử thế nào đối với Giôsép. Họ sung sướng vì đã chuyển trách nhiệm sang cho các lái buôn Mađian.
. Cái lợi thứ hai là họ sẽ được chia, mỗi người hai miếng bạc. Giuđa bán Giôsép được 20 miếng bạc. Giuđa Íchcariốt bán Chúa được 30 miếng bạc.
3. Các anh em đồng ý: Họ đã chọn lựa điều tốt hơn mà không biết lựa chọn điều tốt nhất, điều công chính.
III. RUBÊN THẤT VỌNG
1. Rubên xé áo mình: Có lẽ Rubên đang cố đánh lạc hướng các em để cứu Giôsép. Nhưng khi trở lại, không còn thấy Giôsép, ông liền xé áo mình, bày tỏ sự đau buồn, hối tiếc.
2. Còn tôi, sẽ đi đâu? : Rubên tự thương hại mình, không thể chuộc lỗi với cha mà không cần quan tâm Giôsép sẽ như thế nào khi làm kẻ nô lệ vượt đường xa để đến Êdíptô.
CHA GIÀ KHÓC CON MUỘN !
Kinh Thánh: SaSt 37:31-36
I. GỞI ÁO VỀ CHO CHA !
1. Các anh giết một con dê đực: Một con vật bị giết, không phải để dâng làm của lễ để được tha tội mà chỉ để cố gắng che đậy tội lỗi.
2. Nhúng áo Giôsép vào trong máu đó: Chiếc áo đã bị các anh xé rách khi lột khỏi người Giôsép đã được nhúng vào trong máu. Một kế hoạch thật hoàn hảo của những con thú dữ mang lốt người.
3. Gửi về cho cha: Họ không dám về ngay vì sợ chương trình bị phát hiện, nên sai người (đầy tớ) mang về cho cha. Họ muốn đăt tất cả trước một việc đã rồi, để không ai có thể tố cáo hành vi tội ác của họ.
4. Dặn nói rằng: có phải áo của con trai cha chăng ?: Họ thật nhẫn tâm và bất hiếu khi sẵn sàng lừa dối cha và cười nhạo trên sự đau khổ của cha mình. Họ gọi Giôsép là “con trai cha”, nghĩa là vừa từ chối mối liên hệ Giôsép là em của họ, vừa từ chối mối liên hệ với Giacốp là cha của họ.
II. GIACỐP KHÓC CON
1. Giacốp nhìn: Nhìn chiếc áo rách tả tơi nhuộm trong máu, Giacốp không thể nào phát hiện sự lừa dối của các con, vì kế hoạch hoàn hảo và vì ông không hề nghi ngờ rằng các con có thể lừa dối mình.
2. Giacốp xé quần áo, lấy bao quấn ngang hông và để tang lâu ngày: Đây là sự thể hiện của nỗi đau đớn tột cùng trong cảnh tang chế. Không đau đớn sao được khi đứa con ông yêu quý nhất, đứa con của người vợ yêu quý nhất đã không còn nữa !
3. Giacốp không chịu yên ủi: Hết thảy con trai, con gái hiệp lại để an ủi ! Thật là ghê tởm khi những “thú dữ”xé xác em mình đi an ủi “nạn nhân”của mình.
. Đúng là vết thương lòng của Giacốp không thể được yên ủi bởi những lời giả dối của các con trai ông, nhưng Giacốp cần học bài học vâng phục ý muốn Chúa trên đời sống mình, vì Chúa có chương trình tốt nhất cho kẻ Ngài yêu.
4. Giôsép bị bán cho Phôtipha: Trong khi đó, Giôsép đã bước vào nhà Phôtipha. Một môi trường mới lạ với thứ ngôn ngữ mới, một địa vị hèn hạ, một công việc mới/ nhưng với một Đức Chúa Trời bất biến.
BỨC TRANH ĐEN TỐI !
Kinh Thánh: SaSt 38:1-11
I. GIUĐA CƯỚI VỢ
1. Giuđa lìa xa các anh em mình: Lìa xa các anh em đồng nghĩa với lìa xa cha mình. Giuđa đã bắt đầu tự xây dựng cơ nghiệp mà không cần sự hướng dẫn của cha. Ông đến ở với Hira là một người Ađulam.
2. Giuđa cưới vợ: Giuđa thấy con gái của một người Canaan, tên là Sua, bèn cưới làm vợ. Tiêu chuẩn hôn nhân của Giuđa là mắt thấy. Ông không cần tìm biết ý cha mình hay là ý của Chúa, mà chỉ quyết định theo ý riêng, theo mắt thấy. Ông đã đi con đường của bác mình là Êsau, con đường đã từng gây cay đắng cho ông bà nội của ông. Đây là mối đe dọa rất lớn cho sự thuần chủng của tuyển dân.
. Giuđa có được ba con trai là Êrơ, Ônan và Sêla.
II. ÊRƠ CHẾT
1. Giuđa cưới vợ cho Êrơ: Một lần nữa, Giuđa lại tìm đến dân Canaan. Ông cưới nàng Tama cho con trai mình là Êrơ.
2. Êrơ chết: Kinh Thánh cho biết Êrơ là một người độc ác trước mặt Đức Giêhôva. Êrơ độc ác đến nỗi Chúa đã giết anh ta đi ngay trong tuổi thanh xuân. Thật là một bức tranh đau buồn của dòng dõi được chọn !
III. ÔNAN CHẾT
1. Giuđa bảo Ônan cưới Tama: Theo luật pháp Canaan và sau nầy là luật pháp tuyển dân (PhuDnl 25:5-6) thì khi người anh chết mà không có con thì em chồng phải cưới chị dâu để sinh con đầu lòng nối dõi cho anh mình.
2. Ônan làm rơi rớt: Ônan biết đứa con đầu lòng sẽ không thuộc về mình nên không muốn có con với Tama dù có quan hệ xác thịt với nàng. Ônan không muốn làm trọn nghĩa vụ với anh mình.
3. Ônan chết: Hành động vô trách nhiệm của Ônan không đẹp lòng Chúa nên Ngài cũng giết Ônan.
IV. GIUĐA LO SỢ
1. Giuđa bảo Tama về ở góa tại nhà cha nàng: Đối với Giuđa, Tama đã là mối họa kinh khiếp cho gia đình ông.
2. Giuđa hứa: Ông hứa khi nào Sêla khôn lớn, ông sẽ cho nó cưới Tama. Tuy nhiên, ông không muốn như thế vì sợ Sêla cũng sẽ chết !
MỘT GIA ĐÌNH TỘI LỖI !
Kinh Thánh: SaSt 38:12-30
I. GIUĐA PHẠM TỘI
1. Vợ Giuđa chết: Giuđa tự xây dựng một gia đình theo ý riêng, đã đem lại cho ông những kết quả bi thảm: Hai đứa con gian ác đã chết, và bây giờ vợ ông cũng chết. Khi đã nguôi lòng, ông cùng Hira đi đến Thimna.
2. Kế hoạch của Tama: Nhận thấy Giuđa nhất định không để Sêla cưới mình, Tama thực hiện kế hoạch cám dỗ ông gia mình bằng cách giả làm gái điếm đền thờ tà thần. Có lẽ Tama hiểu rõ điểm yếu của Giuđa, nên đã tính toán để mình có thể có chồng hợp pháp, con mình có thể hưởng gia tài của Giuđa và chính mình cũng được bảo đảm đời sống.
3. Giuđa mắc bẫy: Giuđa đã thể hiện tình trạng đạo đức tồi tệ của mình khi động lòng ham muốn trước sự cám dỗ của một gái điếm. Ông đã không ngần ngại làm như một cách thờ phượng tà thần của Canaan !
. Tama đã khôn khéo đòi của tin là con dấu, dây và cây gậy của Giuđa. Đây là những bằng cớ xác đáng khiến Giuđa không thể chối cải hành động tội lỗi của mình. Giuđa đã không còn sáng suốt khi chỉ biết nhìm chăm vào cám dỗ của xác thịt.
II. GIUĐA MANG NHỤC
1. Giuđa chuộc của tin: Giuđa nhờ Hira đem con dê con để chuộc lại những của tin, nhưng không thể tìm thấy người kỵ nữ hôm trươc. Bấy giờ, Giuđa mới biết sợ người khác khám phá điều nhơ nhuốc của mình. Nhưng đã quá trễ.
2. Giuđa lên án Tama: Sẵn sàng đến với gái điếm, nhưng khi hay tin Tama làm gái điếm thì Giuđa lại nghiêm khắc lên án. Không phải vì ông có một chút quan niệm đạo đức gì, mà chỉ vì ông muốn bảo vệ gia tài của mình khỏi Tama !
3. Giuđa mang nhục: Khi Tama đưa các của tin ra, Giuđa đành phải nhận tội. Những lời lên án nặng nề của ông trên Tama nay đã trút đôí hết trên ông. Giuđa tức tối vì biết mình bị lừa nên quyết định không ăn ở với Tama nữa. Dù thế nào đi nữa thì vết nhơ cũng không thể rửa sạch được.
4. Hai đứa con bất đắc dĩ: Kết quả của hành vi loạn luân của Giuđa với Tama là hai đứa con bất đắc dĩ : Phêrết (hư rách) và Sêrách (màu điều).
NGƯỜI NÔ LỆ THỎA LÒNG !
Kinh Thánh: SaSt 39:1-6
I. NÔ LỆ CHO PHÔTIPHA
1. Giôsép bị đem qua Êdíptô: Giôsép làm người dẫn đường, bị đem qua Êdíptô để cả nhà Giacốp sẽ được đưa qua Êdíptô, tránh được sự đồng hóa với dân Canaan.
2. Phôtipha mua Giôsép: Không phải ngẫu nhiên mà Giôsép được đưa vào nhà Phôtipha, quan thị vệ của vua Pharaôn. Đức Chúa Trời đã định các bước của Giôsép để huấn luyện chàng cho chức vụ vĩ đại tương lai.
3. Giôsép được thạnh lợi luôn: Không phải dễ dàng khi đối diện với một tương lai vô vọng bị làm nô lệ nơi xứ ngươi như Giôsép. Phải có một lòng tin cậy Chúa mãnh liệt mới khiến Giôsép có thể chấp nhận hoàn cảnh và vui sống vượt trên hoàn cảnh. Kết quả là Chúa phù hộ Giôsép, khiến Giôsép được thạnh lợi luôn.
II. QUYẾT ĐỊNH KHÔN NGOAN CỦA PHÔTIPHA
1. Phôtipha thấy Đức Giêhôva phù hộ chàng: Phôtipha thấy rõ Chúa phú hộ Giôsép nên mọi việc chàng làm đều được thạnh vượng. Chắc hẳn khi được khen ngợi, Giôsép đã giải thích cho chủ biết sự hiện diện của một Đức Giêhôva cao cả, Đấng đang phù hộ chàng.
2. Giôsép được ơn trước mặt chủ: Một người đầy tớ siêng năng, chân thật và khiêm nhường như thế chắc hẳn đã chiếm được cảm tình của chủ.
3. Phôtipha cất nhắc Giôsép làm quản gia: Có lẽ sau một thời gian dài làm nô lệ, Giôsép mới được Phôtipha giao hết của cải cùng mọi công việc nhà cho Giôsép quản lý. Đây là thời gian Giôsép thực tập làm một người cai trị, quản lý mọi thành phần nô lệ trong nhà Phôtipha.
III. KẾT QUẢ PHƯỚC HẠNH
1. Đức Giêhôva vì Giôsép ban phước cho Phôtipha: Quyết định khôn ngoan của Phôtipha đã được đền bù xứng đáng. Chúa vì Giôsép đã ban phước dư dật trên sản nghiệp Phôtipha từ trong nhà ra đến ngoài đồng.
2. Phôtipha không cần lo lắng: Ông có thể yên tâm giao phó hết mọi việc trong tay Giôsép mà không cần kiểm soát lại, vì không phải ông chỉ có một người quản lý giỏi, mà ông còn có cả Đức Chúa Trời của người quản lý ấy đang ban phước cho mình.
NGƯỜI NÔ LỆ CHIẾN THẮNG !
Kinh Thánh: SaSt 39:7-20
I. CÁM DỖ NẶNG NỀ
1. Vợ chủ đưa mắt cùng Giôsép: Vợ của quan Thị vệ chắc hẳn là một người đàn bà rất đẹp. Bị chinh phục bởi vẻ đẹp và tài năng và tính tình của Giôsép, bà ta bắt đầu tấn công bằng đôi mắt đẹp của mình. Bà đã thất bại bằng sự mê tham của mắt và muốn cám dỗ Giôsép ở khởi điểm ấy.
2. Mời mọc: Hãy lại nằm cùng ta: Cám dỗ từ đôi mắt mà không được chận đứng sẽ dẫn đến cám dỗ xác thịt. Cám dỗ nầy mạnh hơn nhiều so với cám dỗ Giuđa đã đối diện. Vì Giôsép còn trai trẻ, chưa kinh nghiệm, lại là một tên nô lệ, không có gì để mất, trái lại cám dỗ nầy còn được xem như một đặc ân của bà chủ dành cho một kẻ nô lệ.
3. Thường ngày người dỗ dành: Cám dỗ được lập đi lập lại vì Giôsép không có quyền tránh khỏi mặt bà chủ. Sức mạnh của cám dỗ tăng dần theo thời gian tiếp xúc.
II. LỜI TỪ CHỐI KHÔN NGOAN
1. Chủ đã giao nơi tay tôi mọi vật: Chủ đã tín nhiệm tôi, yêu thương tôi và tôi cũng yêu kính chủ. Vì thế, tôi không muốn phản bội chủ và phản bội chính mình.
2. Ngươi là vợ của chủ tôi: Ngươi là phụ nữ có chồng, phải chung thủy với chồng. Dù ngươi không tôn trọng hôn nhân, nhưng tôi vẫn phải tôn trọng vì hôn nhân phải do Chúa sắp đặt.
3. Thể nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy: Đó không phải là chuyện trai gái thường tình, không phải chỉ một phút yếu lòng, thất bại mà là một điều đại ác, đại ác đối với chủ, với ngươi, với ta và với Chúa.
4. Mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao: Phạm tội với vợ Phôtipha là phạm tội chống nghịch Đức Chúa Trời (Thi Tv 51:4a).
III. CHIẾN THẮNG CÁM DỖ
1. Chạy trốn ra ngoài: Khi bị vợ Phôtipha nắm áo và cám dỗ thì Giôsép vội vàng tuột áo lại và chạy trốn ngay ra ngoài. Trước sự cám dỗ quá mạnh mẽ thì phương cách chiến thắng tốt nhất phải là chạy trốn ngay.
2. Bị vu oan: Quá giận dữ vì thất bại, vợ Phôtipha đã tìm cách tiêu diệt Giôsép, vừa để che đậy tội lỗi mình. Kết quả là Giôsép bị bỏ tù.
NGƯỜI QUẢN TRỊ TÙ NHÂN
Kinh Thánh: SaSt 39:21-40:4
I. ĐỨC GIÊHÔVA PHÙ HỘ GIÔSÉP
1. Chúa phù hộ Giôsép ngay trong tù: Vừa là nô lệ, vừa là tù nhân nên số phận của Giôsép thật đen tối, vô vọng. Nhưng Chúa không để chàng một mình. Ngài đã ở cùng Giôsép và tiếp tục phù hộ cháng.
2. Chúa tỏ lòng nhơn từ cùng Giôsép: Chúa chủ động làm điều tốt lành cho Giôsép. Ngài chọn những điều tốt nhất cho Giôsép để Giôsép không nản lòng trước tình trạng đen tối trước mặt.
3. Chúa làm cho chàng được ơn trước mặt chủ ngục: Khó có một chủ ngục nào lại yêu thương phạm nhân. Nhưng Chúa đã khiến chủ ngục thấy được tính tình và khả năng của Giôsép nên có cảm tình ngay với Giôsép.
II. ĐƯỢC ƠN TRƯỚC MẶT CHỦ NGỤC
1. Chủ ngục giao hết các tù nhân vào tay Giôsép: Dù ở trong tù, Giêsép vẫn tiếp tục làm công tác của một quản gia, quán xuyến tất cả mọi việc trong tù. Công tác ở đây khó khăn hơn vì phải quản trị những thành phần bất hảo. (Lên chức hay xuống chức?).
2. Chủ ngục chẳng soát lại: Chủ ngục hoàn toàn tin cậy Giôsép. Ông có thể yên tâm hoàn toàn khi giao mọi việc vào tay Giôsép.
. Lý do là vì Đức Giêhôva luôn ở cùng và phù hộ chàng, khiến cho mọi việc chàng làm đều được tyhạnh vượng.
III. ĐƯỢC ƠN TRƯỚC MẶT PHÔTIPHA
1. Bối cảnh: Pharaôn nổi giận cùng hai quan tửu chánh và Thượng thiện, nên đem bỏ hai người vào ngục tại nhà quan thị vệ Phôtipha.
2. Quan thị vệ cắt phần cho Giôsép hầu việc hai quan đó: Dù bị bắt buộc phải ném Giôsép vào ngục, Phôtipha vẫn phải thừa nhận sự ngay thẳng, siêng năng và nhu mì của Giôsép, thích hợp cho việc phục vụ, nên đã giao việc hầu hạ hai quan tửu chánh và Thượng thiện cho Giôsép. Điều nầy chắn hẳn đã được người chủ ngục tán đồng.
. Có lẽ lời mô tả trong Thi Tv 105:18 rằng Giôsép bị “cột chơn vào cùm và bị còng xiềng”chỉ có ý nghĩa biểu tượng, vì Giôsép dương như được tự do để phục vụ cho hai vị quan bị vua giận.
NGƯỜI GIẢI MỘNG
Kinh Thánh: SaSt 40:5-23
I. QUAN TÂM THĂM HỎI
1. Cơ hội: Cùng trong một đêm, cả hai quan đều thấy chiêm bao. Đây không thể là điều ngẫu nhiên, mà phải do chính Chúa ban cho để Giôsép có cơ hội bày tỏ chính mình với triều đình Pharaôn sau nầy.
2. Giôsép thăm hỏi: Giôsép đã bày tỏ tình thương và mối quan tâm chân thành đến những người đang ở dưới sự chăm sóc của mình. Vì thế, Giôsép nhận ra ngay sắc mặt buồn bực của hai quanvà chàng liền hỏi thăm họ.
3. Câu trả lời: Trước sự chân thành của Giôsép, họ trả lời ngay. Họ cho biết họ thấy chiêm bao mà không có ai giải chiêm bao cho họ.
II. GIẢI MỘNG CHO QUAN
1. Sự bàn chiêm bao há chẳng do nơi Đức Chúa Trời ư ?: Giôsép đã nắm lấy cơ hội để giới thiệu Chúa của mình là Chúa Tể muôn vật, cũng là Đấng khôn ngoan mà không điều gì có thể giấu khỏi Ngài.
2. Xin hãy thuật điềm chiêm bao cho tôi: Mối tương giao của Giôsép với Chúa gần gũi đến nỗi chàng tin rằng Chúa sẽ ban câu giải đáp cho chàng.
3. Giải mộng cho quan tửu chánh: Bị bắt phục trước lời nói đầy đức tin như thế, quan tửu chánh đã sẵn sàng kể điềm chiêm bao của mình.
. Giôsép đã giải mộng với tất cả sự tin quyết, với một suy luận rất hợp lý và cho biết ba ngày nữa, quan tửu chánh sẽ được phục chức.
. Có lẽ Giôsép nghĩ rằng đây là cơ hội Chúa ban cho mình được tự do nên chàng đã xin quan tâu cùng Pharaôn về nỗi oan của chàng.
. Cần lưu ý là điềm chiêm bao của Giôsép vẫn chưa ứng nghiệm, nhưng Giôsép tin chắc chiêm bao của quan tửu chánh sẽ ứng nghiệm, và trong lời cầu xin, Giôsép không tố cáo người vu oan, chỉ xin được tự do.
4. Giải mộng cho quan thượng thiện: Giôsép đã nói lên sự thật sau khi nghe quan kể chiêm bao, dù sự thật đó thật đau lòng.
III. KẾT QUẢ
1. Hai chiêm bao đều được ứng nghiệm: Nhân sinh nhật của Pharaôn, hai quan được ra khỏi ngục và nhận kết quả đúng như lời Giôsép đã nói.
2. Nhưng quan tửu chánh chẳng còn nhớ đến Giôsép: Điều vô lý nầy đã ở trong chương trình của Chúa để quan sẽ nhớ đến Giôsép đúng lúc.
CƠ HỘI ĐÃ ĐẾN !
Kinh Thánh: SaSt 41:1-14
I. PHARAÔN NẰM CHIÊM BAO
1. Thời điểm: Hai năm sau ngày quan tửu chánh được phục chức, Giôsép vẫn còn ở trong tù. Giôsép có đủ cơ hội để trau giồi chính mình trở nên trưởng thành toàn vẹn, xứng đáng với chức vụ tể tướng Aicập.
2. Pharaôn nằm chiêm bao: Vua thấy hai điềm chiêm bao tương tự nhau: Bảy con bò gầy guộc nuốt bảy con bò mập tốt và bảy gié lúa lép nuốt bảy gié lúa chắc.
3. Tâm thần Pharaôn bất định: Pharaôn biết chắc chiêm bao nầy có ý nghĩa rất đặc biệt nhưng ông không hiểu nổi, và càng suy nghĩ, vua càng bối rối. Vua đòi các pháp sư, các bác sĩ đến để giải mộng cho vua nhưng không ai làm được điều đó.
. Có lẽ Đức Chúa Trời đã giấu ý nghĩa của điềm chiêm bao khỏi những người thông thái của Êdíptô để làm nổi bật đầy tớ của Ngài. Thật ra họ có thể suy luận nhưng không ai dám quyết đoán vì trách nhiệm rất lớn nếu giải nghĩa sai. Vì thế, họ đành chịu thua.
II. LỜI THÚ TỘI CỦA QUAN TỬU CHÁNH
1. Bây giờ, tôi nhớ đến lỗi của tôi: Ông đã quên Giôsép suốt hai năm trường. Dù thời gian ở chung tù với Giôsép rất ngắn nhưng ông có thể cảm nhận rằng Giôsép vô tội. Một người tốt lành bị ông quên để phải chịu cảnh tù đày thêm suốt hai năm, đúng là một tội lớn.
. Dù sao đi nữa thì ông đã nhớ đến Giôsép đúng lúc, đúng theo thời điểm của Đức Chúa Trời. Thật Đức Chúa Trời đã biến đổi những bất toàn dại dột của con người trở nên điều tốt nhất cho đầy tớ của Ngài là Giôsép.
2. Giới thiệu Giôsép: Quan tửu chánh nhắc lại việc Giôsép bàn chiêm bao cho ông và quan thượng thiện một cách rõ ràng và kết quả xảy ra đúng y như lời bàn của Giôsép. Ông chỉ còn nhớ Giôsép là một người Hêbơrơ, còn trẻ, là kẻ gia đinh của quan thị vệ.
3. Pharaôn sai đòi Giôsép: Lập tức Giôsép được tha và sửa soạn cấp tốc để ra mắt Pharaôn. Giôsép có lẽ không bao giờ ngờ đến việc nầy nhưng chàng đã sửa soạn sẵn sàng cho mọi tình huống nhờ mối tương giao thân thiết với Đức Chúa Trời.
GIẢI MỘNG CHO PHARAÔN
Kinh Thánh: SaSt 41:15-32
I. PHARAÔN THUẬT CHIÊM BAO
1. Pharaôn khen ngợi Giôsép: Pharaôn khen Giôsép là người có tài bàn chiêm bao của bất cứ ai. Ông ca ngợi Giôsép vì chắc hẳn ông đã có thể nhìn thấy vẻ tự tin thoải mái trên gương mặt của chàng, khác hẳn sự bối rối của các pháp sư.
2. Giôsép ca ngợi Đức Chúa Trời: Giôsép không dám nhận sự khen ngợi đó vì biết rằng những gì chàng nói là bởi Đức Chúa Trời mặc khải. Giôsép đã khôn ngoan đem Đức Chúa Trời đến gần Pharaôn khi nói rằng: “Đức Chúa Trời đem sự bình an đáp cho bệ hạ vậy”.
. Thật ra, không dễ đề cập đến Đức Chúa Trời giữa một cung điện sang trọng của những người thờ hình tượng. Giôsép đã xác định chỗ đứng của mình, bày tỏ Đức Chúa Trời của mình trước khi giải mộng cho vua.
3. Pharaôn thuật chiêm bao: Khi thuật chiêm bao, Pharaôn đưa ra nhận xét và thắc mắc của mình về bảy con bò xấu dạng chưa từng thấy và dù đã nuốt bảy con bò mập vào bụng, chúng vẫn xấu dạng như trước. Pharaôn cũng nhắc đến sự thất bại của các pháp sư trong việc giải nghĩa chiêm bao cho vua.
II. GIẢI MỘNG CHO VUA
1. Đức Chúa Trời mách cho bệ hạ biết: Giôsép bắt đầu lời giải nghĩa với việc xác nhận giấc mộng đến từ Đức Chúa Trời. Ngài muốn báo cho Pharaôn biết việc Ngài sẽ làm. Nghĩa là, đây là một đặc ân Chúa ban cho vua Pharaôn. Câu nói nầy được nhắc lại hai lần.
2. Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi: Giấc mơ đến hai lần được Giôsép giải thích là Chúa đã quyết định làm điều đó rồi. Giôsép muốn cho Pharaôn biết rằng Chúa là Đấng Chủ Tể có toàn quyền hành động theo ý muốn Ngài.
3. Giải mộng: Giôsép cho biết hai điềm chiêm bao có cùng một ý nghĩa. Đó là bảy năm đói kém sẽ tiếp theo bảy năm được mùa dư dật. Đói kém đến nỗi không ai còn nhớ đến sự dư dật của bảy năm được mùa và toàn xứ sẽ hao mòn vì đói kém.
TỪ TÙ NHÂN NÔ LỆ LÊN TỂ TƯỚNG !
Kinh Thánh: SaSt 41:33-46
I. LỜI ĐỀ NGHỊ CỦA GIÔSÉP
1. Cần có một tổ chức tốt: Sau khi giải mộng cho vua, Giôsép đề nghị tìm một người khôn ngoan tài giỏi để điều hành các ủy viên trong xứ để thâu góp lương thực trong 7 năm được mùa dư dật để dành cho 7 năm đói kém.
2. Cần có một kế hoạch tốt: Họ sẽ thu một phần năm số thu hoạch trong 7 năm được mùa, thâu trữ cho Pharaôn và cho các thành phố.
II. ĐƯỢC CẤT NHẮC LÊN LÀM TỂ TƯỚNG
1. Lời Giôsép đẹp ý Pharaôn và quần thần: Không những họ hoàn toàn tin lời giải mộng của Giôsép mà còn cảm phục trước cách giải quyết khôn ngoan của Giôsép.
2. Pharaôn nhận định: Ông thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Giô Sép biết mọi việc, nghĩa là Đức Chúa Trời đang ở cùng Giôsép, nên kết quả là không ai khôn ngoan tài giỏi hơn Giôsép.
3. Pharaôn quyết định: Vua Pharaôn quyết định tôn Giôsép làm người cai trị nhà của vua, xứ sở, dân tộc của vua. Nghĩa là Pharaôn lập Giôsép làm Tể Tướng của Aicập, đứng hàng thứ nhì sau Pharaôn là vua mà thôi.
4. Pharaôn thực hiện quyết định: Việc thứ nhất là cổi chiếc nhẫn trong tay mình, đeo vào tay Giôsép, nghĩa là trao ấn tín cho Giôsép. Giôsép có toàn quyền ký và đóng ấn các sắc luật.
. Việc thứ hai là truyền mặc áo vải gai mịn, đeo vòng vàng vào cổ và ngồi sau xe vua để mọi người phải quỳ xuống tung hô cả vua lẫn Giôsép.
. Việc thứ ba là đổi tên Giôsép là Xaphơnát Phanêách và cưới nàng Ach nát, con gái của Phôtiphêra, thầy cả thành Ôn cho Giôsép. Đây là dấu hiệu của sự tôn trọng vào hàng quý tộc trong triều đình.
5. Pharaôn khen ngợi Giôsép: Vua cho biết Giôsép là cứu tinh của dân tộc. Nếu không có Giôsép thì dù là Pharaôn cũng chẳng làm chi được. Nếu không được Chúa tôi luyện trong nhà nô lệ và nhà tù suốt 13 năm, chắc hẳn Giôsép đã trở nên kiêu căng trước lời khen ngợi của vua.
Ghi chú: Sở dĩ Giôsép được cất nhắc lên làm tể tướng quá dễ dàng là vì :
a. Quyền tể trị tối thượng của Chúa. b. Lòng khâm phục của vua. c. Vua thuộc triều đại Hykos là người ngoại quốc cai trị Aicập.
TỂ TƯỚNG AICẬP
Kinh Thánh: SaSt 41:46-57
I. CÔNG TÁC CỦA TỂ TƯỚNG
1. Giôsép đi tuần khắp xứ Êdíptô: Giôsép nhận chức vụ không phải để hưởng thụ mà để làm việc. Trong tư cách là “người cứu thế”, Giôsép chỉ nghĩ đến những người mình sẽ cứu sống khỏi đói kém. Vì thế, ông phải đi tuần khắp xứ Êdíptô để hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc.
2. Giôsép thâu góp hết thảy lương thực trong bảy năm: Thật khó nghĩ đến sự để dành khi mùa màng quá dư dật từ năm nầy đến năm kia. Giôsép vẫn cứ kiên trì làm công tác thu góp hoa lợi trong suốt bảy năm được mùa dư dật. Giôsép chứa hoa lợi ngay trong các thành để việc phân phối sau nầy vừa kịp lúc, vừa đở tốn kém.
. Kết quả là lúa mì được thâu góp nhiều như cát bờ biển, đếm không xuể.
II. HAI ĐỨA CON NƠI ĐẤT KHÁCH
1. Manase: Manase có nghĩa là “kẻ làm cho ta quên”. Giôsép giải thích rằng Đức Chúa Trời đã làm cho Giôsép quên những điều cực nhọc mà ông đã phải đối diện suốt 13 năm, cũng như quên những ngày vui buồn lẫn lộn trong nhà cha mình.
2. Epraim: Epraim nghĩa là hưng vượng bằng hai. Giôsép giải thích rằng Đức Chúa Trời làm cho ông được hưng vượng gấp bội chính trong xứ mà ông đã từng bị khốn khổ. Nghĩa là Chúa đã thấy nỗi sầu khổ của ông và đã đền bù gấp bội.
III. CƠN ĐÓI KÉM
1. Bảy năm được mùa bèn qua: Mọi sự xảy ra theo đúng kỳ của nó và không có gì tồn tại mãi dưới ánh mặt trời nầy. Cơ hội rồi cũng sẽ trôi qua.
2. Bảy năm đói kém xảy đến y như lời Giôsép đã bàn trước: Sự việc Chúa mặc khải qua tôi tớ Ngài phải được ứng nghiệm.
3. Đói kém thật sự: Trong năm đầu, xứ Êdíptô vẫn còn có bánh. Nhưng sau đó, lương thực đã cạn, dân chúng phải cầu cứu với Pharaôn. Tuy nhiên, vua bảo họ đến với Giôsép và Giôsép đã bắt đầu bán lúa cho họ.
. Sự đói kém quá lớn đến nỗi khắp nơi đều đến Aicập để mua lúa. Giấc mơ Giôsép sắp trở thành sự thật.
GẶP LẠI CÁC ANH
Kinh Thánh: SaSt 42:1-16
I. CÁC ANH XUỐNG AICẬP
1. Giacốp thắc mắc: Giacốp nghe nói ở Êdíptô có bán lúa mà gia đình ông đang cần. Ông thắc mắc vì sao các con ông lại không sốt sắng đi xuống Êdíptô để mua lúa. Có lẽ các anh đang lo sợ sự hình phạt của Chúa trên họ vì những gì họ đã làm cho Giôsép.
2. Giacốp sai các con xuống Aicập: Ông nhắc nhở họ về sự sống còn của cả gia tộc và sai họ xuống Êdíptô để mua lúa.
3. Giacốp không cho Bêngiamin cùng đi: Lúc bấy giờ, Bêngiamin là đứa con duy nhất của người vợ yêu quý nhất của ông là Rachên. Ông sợ điều rủi ro có thể xảy đến cho Bêngiamin như đã từng xảy ra cho Giôsép.
II. GIÔSÉP GẶP GỠ CÁC ANH
1. Các anh sấp mình trước mặt Giôsép: Các anh ra mắt Giôsép trong tư cách những người ngoại bang xin được mua lúa nơi vị tể tướng của Aicập, nên việc quỳ lạy là một lễ nghi không thể thiếu.
2. Giôsép làm mặt lạ: Giôsép nhận ra các anh ngay trong khi họ không thể nhận ra Giôsép vì không tin sự mặc khải của Chúa qua điềm chiêm bao. Họ không thể tin được một tên nô lệ nơi đất khách có thể được sống sót chứ đừng nói đến việc tên nô lệ đó trở thành tể tướng của Aicập.
. Thay vì nhận anh em ngay, Giôsép muốn đưa các anh vào sự thử nghiệm vì hình ảnh hung dữ độc ác, vô tâm của các anh đã khiến Giôsép không thể nào quên. Giôsép muốn thử xem hiện nay họ ra sao.
III. GIÔSÉP THỬ CÁC ANH
1. Các ngươi là thám tử: Tội làm “thám tử”là tội rất nặng, có thể bị giết. Giôsép đưa các anh vào tình cảnh khốn cùng để xem cách phản ứng của họ thế nào đối với nhau.
2. Hãy dẫn em út xuống đây: Các anh phải khai rõ lý lịch của mình. Họ không quên nhắc đến Giôsép là “người đã đi mất biệt”. Họ không dám nói hết sự thật vì sẽ càng bị nghi ngờ là thám tử. Tuy nhiên, họ phải nói đến Bêngiamin để nếu phải bị kiểm chứng thì họ sẽ không bị nghi ngờ.
. Giôsép liền đưa các anh vào sự thử nghiệm. Ông muốn tìm xem thái độ của họ đối với Bêngiamin và thật ra ông cũng nóng lòng muốn gặp em.
THỬ NGHIỆM !
Kinh Thánh: SaSt 42:17-24
I. BA NGÀY TRONG TÙ
1. Giôsép ra lệnh bỏ tù các anh: Giôsép không có ý định trả thù. Ông chỉ muốn họ nếm thử một phần nhỏ nỗi cay đắng mà họ đã làm cho ông. Ông muốn xem họ bày tỏ thái độ nào đối với Chúa.
2. Họ bị giam chung trong ba ngày: Giôsép cũng muốn tìm hiểu thái độ của họ đối với nhau khi bị lâm vào cảnh khốn cùng. Họ sẽ có đủ thì giờ để hồi tưởng những ngày quá khứ tội lỗi của mình để có thể ăn năn.
II. ĐẶC ÂN
1. Ta kính sợ Đức Chúa Trời: Giôsép muốn nhắc nhở các anh về quyền tể trị của Đức Chúa Trời và thái độ không thể thiếu của những người thuộc dòng dõi thánh, dòng dõi được chọn.
2. Con đường sống: Sau khi tuyên bố mình kính sợ Đức Chúa Trời, Giôsép mở ra cho các anh con đường sống. Ông muốn họ biết tạ ơn Chúa về con đường sống ông mở ra cho họ vì :
. Bởi kính sợ Chúa, Giôsép đã tha họ ra khỏi ngục.
. Bởi kính sợ Chúa, Giôsép đã quan tâm đến mạng sống của gia đình họ.
3. Điều kiện: Giôsép muốn họ có cơ hội chứng tỏ sự kính sợ Chúa, sự chân thật của mình khi đem em út xuống. Tuy nhiên, một người sẽ bị giữ làm con tin. Đây cũng lại là một thử nghiệm vì ai sẽ là người bị giữ lại.
III. CÁC ANH ĂN NĂN
1. Họ hối hận: Họ nhớ ngay đến những tội lỗi của mình đối với Giôsép hơn 20 năm trước. Bây giờ, họ mới nhớ đến tâm hồn buổn thảm của Giôsép khi ông xin nhờ ơn họ.
2. Rubên trách cứ: Ông nhắc lại lời khuyên không được đáp ứng của mình và kết luận rằng “huyết nó đòi chúng ta thường lại”, nghĩa là ông nghĩ rằng Giôsép đã chết vì sự gian ác của họ.
III. THI HÀNH THỬ NGHIỆM
1. Giôsép khóc: Thấy được sự ăn năn trong xót xa của các anh, Giôsép rất cảm động nên đã xây mặt qua chỗ khác để khóc.
2. Giôsép bắt trói Simêôn trước mặt anh em: Có lẽ Simêôn xứng đáng bị như thế và Giôsép còn thử nghiệm tình thương của họ đối với Bêngiamin.
TRỞ VỀ CANAAN
Kinh Thánh: SaSt 42:25-35
I. GIÔSÉP CHĂM SÓC CÁC ANH
1. Giôsép ra lệnh để bạc lại cho các anh: Giôsép truyền đầy tớ xúc lúa để đầy bao và để bạc lại nơi miệng bao. Ông muốn chia xẻ với họ sự dư dật mà Chúa đã ban cho ông.
2. Giôsép để thêm lương thực dùng dọc đường: Ông đã lấy ơn báo oán, chủ động làm điều tốt cho những người đã từng âm mưu giết mình. Ông tự nhận mối liên hệ anh em với họ và tự nhận trách nhiệm quan tâm chăm sóc họ, dù họ đã từng chối bỏ mối liên hệ thiêng liêng đó.
3. Đầy tớ làm y như lời: Có lẽ họ không hiểu vì sao Giôsép đã làm như thế. Nhưng việc của đầy tớ không phải là thắc mắc ý nghĩa hay mục đích của mạng lệnh, mà điều duy nhất đầy tớ phải làm là vâng lời và vâng lời đúng y như mạng lệnh Chủ truyền.
II. ĐẾN QUÁN TRỌ
1. Một người mở bao cho lừa ăn thóc: Giữa lúc đói kém mà không quên con lừa chở mình đi là một hành động đáng khen.
2. Các anh run sợ: Khi thấy bạc ở miệng bao một người, các anh rất run sợ và họ than thở: “Đức Chúa Trời đã làm chi cho chúng ta đây”. Họ nhận biết tội lỗi phải có giá trả và chính Đức Chúa Trời đang tể trị để thưởng phạt tùy việc làm mỗi người.
III. VỀ ĐẾN NHÀ
1. Thuật lại cho cha: Họ kể lại đầy đủ những diễn tiến tại nhà Giôsép cũng như lời đòi hỏi của Giôsép về việc đem Bêngiamin đi theo, với lời hứa sẽ tha và cho họ có cơ hội buôn bán với Aicập.
2. Trút lúa mì ra: Họ khám phá rằng mọi bao đều có tiền trả lại. Nghĩa là họ không tốn tiền mà có lúa mì dư dật.
3. Giacốp và các con đều sợ hãi: Đời sống tội lỗi của các anh cũng như sự thiếu đức tin của nhà Giacốp khiến họ rất sợ hãi, thay vì họ có thể cảm tạ Đức Chúa Trời về những ân phước Chúa ban cho họ. Thiếu đức tin đã khiến niềm vui trở thành nỗi hoang mang, sợ hãi.
BAY LÀM MẤT CÁC CON TAO !
Kinh Thánh: SaSt 42:36-38
I. GIACỐP THAN TRÁCH
1. Bay làm mất các con tao: Giacốp đổ hết trách nhiệm lên các con. Thật ra, chính họ đã làm hại Giôsép, còn Simêôn thì nhận lãnh kết quả việc làm gian ác của mình. Nhưng mọi rắc rối đều do sự thiếu giáo dục con cái và tình thương không đồng đều của Giacốp đối với các con.
. Đổ lỗi cho người khác dễ hơn là nhận lỗi về phần mình.
. Tuy nhiên, trên cả mọi sự là bàn tay tể trị của Đức Chúa Trời để sửa chữa những sai lầm của con dân Ngài, để đem phươc hạnh cho họ.
2. Bây giờ lại muốn dẫn Bêngiamin đi nữa sao ?: Đúng là giao Bêngiamin vào tay những người không đáng tin cậy như các anh Giôsép thật sự nguy hiểm. Nhưng Giacốp quên rằng Đức Chúa Trời vẫn đang sống và hành động.
3. Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết: Giacốp đã cố chiếm đoạt phước nhưng chẳng thấy phước. Giacốp cũng được Chúa hứa ban phước nhưng ông chỉ thấy tai họa. Điều nầy thể hiện sự thiếu đức tin của Giacốp
II. LỜI ĐỀ NGHỊ CỦA RUBÊN
1. Cha hãy giao em cho tôi, tôi sẽ dẫn về cho: Rubên quên sự bất lực của mình trong việc giải cứu Giôsép, nên rất mạnh mẽ đề nghi cha giao Bêngiamin cho mình. Thật là một người không biết lượng sức mình để hứa hẹn những điều quá sức.
2. Nếu không dẫn em về, xin cha hãy giết hai con trai tôi đi: Thật là một đề nghị ngu xuẩn và gian ác. Làm sao Giacốp có thể giết cháu nội của mình khi ông là người kính sợ Chúa, và hành động đó có giúp ích gì cho Bêngiamin đâu.
. Đề nghị đó cũng thể hiện sự thiếu tình yêu của Rubên đối với các con.
III. GIACỐP TỪ CHỐI
1. Chỉ còn một mình nó thôi: Rachên chỉ có hai người con. Đối với Giacốp, Giôsép đã bị thú dữ xé xác nên Bêngiamin là đứa con duy nhất ông yêu quý vì Rachên cũng đã chết.
2. Con út sẽ chẳng đi đâu: Dường như chỉ có Bêngiamin mới là con của ôngvì nếu Bêngiamin không đi thì Simêôn sẽ không được về !
CHA CHỊU PHẬN VẬY !
Kinh Thánh: SaSt 43:1-14
I. GIACỐP SAI CÁC CON XUỐNG ÊDÍPTÔ
1. Đói kém trong xứ lớn lắm: Đúng như lời bàn của Giôsép, hai năm đói kém đã đến, còn năm năm đói kém nữa đang đến (45:11).
2. Nội nhà đã ăn hết lương thực: Với bản tánh của một người đa mưu túc trí, chắc hẳn Giacốp đã tìm mọi cách đêí giải quyết nan đề. Nhưng thời gian cứ trôi qua và lương thực đã hết.
3. Giacốp sai các con xuống Êdíptô mua lúa: Không còn cách nào khác, Giacốp chỉ còn cách sai các con trở xuống Êdíptô. Nhiều lúc Chúa đưa vào bước đường cùng để mở ra con đường giải thoát phước hạnh.
II. GIUĐA THUYẾT PHỤC
1. Nhắc lại đòi hỏi của Giôsép: Giuđa nhắc cha nhớ rằng em út không xuống thì họ không bao giờ thấy mặt Giôsép mà còn bị xem là thám tử.
2. Giacốp quở các con: %

† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 10:47 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách