† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2766|Trả lời: 0

Sống Trong Đấng Christ

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 24-7-2011 20:13:02 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Sống Trong Đấng Christ
Tác giả: Morris Williams

Giới thiệu môn học

Đơn vị 1 : ĐỨC CHÚA TRỜI đòi hỏi điều gì ?
Bài học
1 Chuẩn bị sự cứu rỗi của con người
2 Con người thay đổi số phận của mình: sự ăn năn
3 Con người tin cậy vào Đức Chúa Trời: đức tin
4 Con người trở về cùng Đức Chúa Trời: sự quy đạo
Đơn vị 2 : Đức Chúa Trời BAN CHO ĐIỀU gì ?
5 Ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi.
6 Đức Chúa Trời dựng nên một tạo vật mới: sự tái sanh.
7 Đức Chúa Trời phán con người không phạm tội: sự xưng công bình.
8 Đức Chúa Trời đem con người vào trong gia đình của Ngài: sự nhìn nhận
Đơn vị 3 : Đức Chúa Trời hoàn tất điều gì ?
9 Sự hoàn hảo bản chất của con người: sự nên thánh
10 Hoàn tất sự cứu chuộc con người: sự vinh hiển.
Phần ngữ vựng .
Trả lời những bài tập trắc nghiệm

Giới thiệu môn học
Bạn đang chuẩn bị một môn học rất quan trọng: SỰ CỨU RỖI. Sự cứu rỗi bao gồm tất cả những điều được mua cho chúng ta tại đồi Sọ (Gôgôtha). Thêm vào đó, nó đáp ứng mỗi nhu cầu thuộc linh của chúng ta. Sự cứu rỗi bao gồm sự tha thứ tất cả những tội lỗi trong quá khứ, giải phóng ra khỏi quyền lực của tội lỗi trong hiện tại và ngay cả sự bảo vệ để chống lại sự tấn công của tội lỗi trong tương lai (Giuđe 24).
Sự cứu rỗi vừa là một sự mong đợi ở tương lai vừa là một nguồn vui sướng trong hiện tại. Tuy nhiên nhiều Cơ đốc nhân chỉ biết chút ít hoặc là chẳng biết gì về sự cứu rỗi chính là sự vui mừng trong hiện tại. Họ nghĩ về nó là cách để bước vào Thiên đàng. Tuy nhiên chúng ta sẽ nhận thấy rằng Lời Ngài bày tỏ rằng tất cả những người hưởng (nhận được) món quà của sự cứu rỗi thì được 1) Soi sáng, 2) dự phần về Đức Thánh Linh, 3) nếm đạo lành của Đức Chúa Trời và, 4) từng trải về quyền phép đời sau (HeDt 6:4-5) Vì vậy các Cơ đốc nhân sẽ kinh nghiệm một cách chắc chắn về sự vui mừng vô hạn của thiên đàng trong tương lai khi họ cùng đồng bước với Ngài trên trần gian này.
Sau khi xem xét cẩn thận về bối cảnh của sự cứu rỗi, bạn sẽ xem xét một chuỗi các sự kiện bắt đầu khi tội nhân xoay bỏ tội lỗi (ăn năn) trở về cùng Đức Chúa Trời (đức tin) và thay đổi hoàn toàn về lối sống của anh ta (sự quy đạo). Bạn sẽ đánh giá kết quả của sự tái sanh khi những người mới tin tiếp nhận một bản chất mới (tái sinh), một vị trí mới trước mặt Đức Chúa Trời (sự phán xét), và một địa vị mới trong gia đình của Đức Chúa Trời (nhận làm con). Và cuối cùng, bạn sẽ xem xét (kiểm nghiệm) trách nhiệm của kẻ tin bắt đầu tăng trưởng về phần thuộc linh ngay sau khi anh ta kinh nghiệm được cứu rỗi. Bởi vì một Cơ đốc nhân không trưởng thành thì không xứng đáng để ngợi khen Đấng Christ và quyền năng của Ngài về sự cứu chuộc. Rõ ràng rằng những người như vậy thiếu sự tăng trưởng thuộc linh bởi vì anh ta thiếu sự nuôi dưỡng thuộc linh (ICo1Cr 3:1-3; HeDt 5:11-14).
Bạn sẽ học biết rằng sự thờ ơ và sự lãnh đạm sẽ che lấp đi sự phát triển và tăng trưởng thuộc linh. Bằng cách đọc Lời của Đức Chúa Trời và hiểu được giá trị của sự cứu rỗi thì bạn có thể đắc thắng được sự thờ ơ. Tuy nhiên chỉ có thể đắc thắng được bởi công việc của Đức Thánh Linh trong lòng của bạn khi đầu phục Ngài và tiếp nhận sự đói khát về sự công bình sẽ tiêu biểu cho một sự khoái cảm thuộc linh tốt lành.
Khi bạn xem xét về công việc của Đức Thánh Linh trong lòng của các Cơ đốc nhân, làm hoàn thiện đời sống thuộc linh của họ và làm cho họ sản sinh sự trưởng thành, bạn sẽ học biết được phương pháp và mục đích của Ngài. Điều này sẽ làm phong phú thêm cho đời sống của bạn. Lời cầu nguyện của tôi rằng qua môn học này bạn sẽ đánh giá được nhiều hơn về sự cứu rỗi của bạn, hiểu nó nhiều hơn và để có thể truyền đạt nó hiệu quả hơn.
Mô tả bài học
Sống trong Đấng Christ: một bài học về sự cứu rỗi liên quan đến tín lý của sự cứu rỗi. Nó trình bày sự cứu rỗi vừa là ý muốn và công việc của Đức Chúa Trời thông qua công việc cứu chuộc của Đấng Christ.
Ân điển của Đức Chúa Trời chính là nguồn của sự cứu rỗi. Sự dạy dỗ Kinh Thánh về sự lựa chọn và sự định trước thì được xem như là bối cảnh cho sự cân nhắc về những vai trò tương ứng của Đức Chúa Trời và của con người trong sự cứu rỗi. Sự lo lắng thì được đề cập đến để tránh sự nhấn mạnh quá sức về sự bắt đầu (khởi xướng) của Đức Chúa Trời hay khởi xướng của con người trong quá trình và tiến trình của sự cứu rỗi. Bao gồm trong bài học này là những sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự ăn năn, đức tin, sự quy đạo, sự tái sinh, sự phán xét, sự thừa nhận được làm con, sự nên thánh và sự vinh hiển.
Các mục tiêu của bài học
Khi đã hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể:
Thảo luận những vai trò tương ứng (cụ thể) của Đức Chúa Trời và của con người trong sự cứu rỗi.
Sắp đặt những bước thứ tự của sự cứu rỗi.
Giải thích nền tảng Kinh Thánh về sự đảm bảo cho sự cứu rỗi.
Đối chiếu được phương pháp cứu rỗi được trình bày trong Kinh Thánh với những tiếp cận không thuộc Kinh Thánh.
Đánh giá sâu sắc hơn về tình yêu, ân điển và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự cứu rỗi của Ngài.
Các sách giáo khoa
Bạn sẽ sử dụng cuốn “SốngTrong Đấng Christ ” : một bài học về sự cứu rỗi của Đavít Duncan vừa làm sách giáo khoa vừa làm sách hướng dẫn cho môn học. Phần lớn những câu Kinh Thánh bài học này thì được trích ra trong bản NIV. Trong một vài ví dụ chúng tôi trích trong bản King James (KJV) hoặc là Today' s English version (TEV).
Thời gian học tập
Thời gian bao lâu bạn cần thực sự để học từng bài học là tùy thuộc vào kiến thức về đề tài đó và khả năng mà bạn có trước khi bắt đầu môn học. Thời gian bạn học cũng tùy thuộc vào mức độ bạn tuân theo các lời chỉ dẫn và phát huy khả năng cần thiết cho việc tự học. Hãy hoạch định thời khoá biểu học tập của bạn để xử dụng đủ thời gian nhằm đạt được những mục tiêu được đề ra của tác giả, cũng như những mục tiêu cá nhân của bạn nữa.
Tổ chức của bài học và những khuôn mẫu học tập .
Mỗi bài học bao gồm: 1) nhan đề của bài học; 2) Lời mở đầu ; 3) dàn bài học, 4) các mục tiêu bài học; 5) những hoạt động của bài học , 6) từ ngữ chìa khóa; 7) triển khai bài học bao gồm những câu hỏi nghiên cứu; 8) Bài tập tự trắc nghiệm (cuối của phần triển khai bài học); 9) trả lời những câu hỏi của bài học.
Dàn bài và những mục tiêu sẽ cho bạn một cái nhìn bao quát về đề tài, giúp bạn tập trung vào những điểm quan trọng nhất trong khi bạn nghiên cứu bài và cho bạn biết nên học những điều gì.
Phần lớn các câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học có thể được trả lời trong những khoảng trống được dành sẵn trong phần hướng dẫn của bài học này. Những câu trả lời dài hơn nên viết vào trong một cuốn vở ghi chép. Khi bạn chép (ghi) các câu trả lời trong tập ghi chép của bạn, hay nhớ ghi số và nhan đề của bài học công việc này sẽ giúp bạn trong khi ôn bài để viết bản tường trình từng đơn vị của học viên.
Đừng xem trước các câu giải đáp cho đến khi bạn đã có câu trả lời (giải đáp) của bạn. Nếu bạn đưa ra câu trả lời của chính mình thì bạn sẽ nhớ tốt hơn những gì bạn đã học. Sau khi bạn đã trả lời các câu hỏi của bài học, hãy đối chiếu (kiểm tra) các câu trả lời của bạn với giải đáp đã cho ở cuối bài học. Sau đó sửa những câu bạn trả lời sai. Các lời giải đáp không được ghi chép theo số thứ tự thông thường để cho bạn không tình cờ nhìn thấy lời giải đáp của câu hỏi kế tiếp.
Những câu hỏi của bài học này rất quan trọng. Chúng sẽ giúp bạn ghi nhớ những ý chính được trình bày trong bài học và áp dụng những nguyên tắc mà bạn vừa học.
Làm thế nào để trả lời những câu hỏi
Có nhiều loại câu hỏi bài học và những câu hỏi bài tập tự trắc nghiệm khác nhau trong phần hướng dẫn của bài học này.
Một câu hỏi lựa chọn đòi hỏi bạn phải chọn một câu trả lời trong những câu được cho.
Ví dụ :
1 Kinh Thánh có tổng số là:
a) 100 sách
b) 66 sách
c) 27 sách.
Câu trả lời đúng là b) 66 sách. Trong phần bài làm của bạn, hãy dùng viết khoanh chữ b.như sau:
Kinh Thánh có tổng số là:
a) 100 sách
b) 66 sách
c) 27 sách
Trong một số câu hỏi lựa chọn, có thể có nhiều câu trả lời đúng. Trong trường hợp đó, bạn có thể khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu trả lời Đúng.
Câu hỎi đúng sai đòi hỏi bạn chọn những câu nào là Đúng.
Ví dụ :
2 Những câu nào dưới đây Đúng?
a) Kinh Thánh có tất cả 120 sách.
b) Kinh Thánh là sứ điệp dành cho tín hữu ngày nay.
c) Tất cả những tác giả của Kinh Thánh đều viết bằng tiếng Hybálai.
d) Đức Thánh Linh cảm thúc các tác giả của Kinh Thánh.
Câu b và d đều đúng. Bạn có thể khoanh tròn cả 2 mẫu tự để chứng minh điều mình chọn như phần ví dụ trên.
Câu hỎi sẮp xẾp cho thích hỢp đòi hỏi bạn sắp xếp những phần tương ứng với nhau, chẳng hạn nhân vật với đặc tính (tính cách) nhân vật hoặc các sách Kinh Thánh với tác giả của sách.
ví dụ :
3 Viết số của tên người lãnh đạo trước mỗi cụm từ mô tả một số việc
người ấy làm.
. . . a Nhận bản luật pháp ở núi Sinai 1) Môise
. . . b Dẫn dân Ysơraên qua sông Giôđanh 2) Giôsuê.
. . . c Đi vòng quanh thành Giêricô.
. . . d sống trong cung điện Pharaôn.
Cụm từ a và d chỉ về Môise, và cụm từ b và c chỉ về Giôsuê. Bạn có thể viết số 1) bên cạnh a và d, và số 2)bên cạnh b và c giống như ví dụ trên.
Phương cách học môn học này
Nếu bạn tự học loạt bài hàm thụ ICI nầy, hãy gởi tất cả các bài làm của bạn bằng thư. Mặc dầu ICI đã được triển khai để giúp bạn tự học, tuy nhiên bạn vẫn có thể học theo nhóm hay trong lớp học. Nếu vậy, người hướng dẫn có thể triển khai thêm một số điều dạy bảo khác song song với bài học. Vì vậy bạn nên theo lời chỉ dẫn của người ấy.
Bản tường trình học tập
Nếu bạn tự học bài học hàm thụ nầy với một nhóm hoặc trong một lớp, bạn sẽ nhận thêm bản tường trình học tập kèm theo loạt bài học này. Bạn sẽ trả lời các câu hỏi trong bản tường trình theo sự hướng dẫn trong loạt bài học và bản tường trình. Bạn nên hoàn tất bài học và gởi bản trả lời của bạn đến người hướng dẫn học của bạn để vị ấy sửa chữa và ghi phần nhận xét về bài làm của bạn.
Chứng chỉ
Dựa trên sự hoàn tất thành công bài học của bạn và điểm của bản tường trình của bạn được cho bởi người hướng dẫn của bạn, bạn sẽ nhận được chứng chỉ khen thưởng.
Tác giả của môn học
David Duncan làm giáo sĩ được 12 năm và hiện nay ông đang cộng tác với Ban phát triển giáo huấn của viện hàm thụ Quốc tế (ICI). Trước khi gia nhập (đến với) ICI, ông là hiệu trưởng của viện Thần học calvary, Majuro, quần đảo Marshall được 8 năm.
Ông Duncan được cấp văn bằng cử nhân tại California State univercity. (trường đại học tiểu bang California). Ông cũng nhận được văn bằng phó tiến sĩ về khoa học xã hội trong cùng trường. Và ông đã hoàn tất khóa học yêu cầu văn bằng tiến sĩ về chức vụ tại viện nghiên cứu Thần học ở California (California, Graduate School oftheologyÔng và vợ ông Sondra sống ở Waterloo, Belgium. Gia đình ông có 3 con: 2 gái và 1 trai.
Người hướng dẫn học hàm thụ của bạn
Người hướng dẫn bạn học chương trình hàm thụ của ICI luôn sẵn lòng giúp đỡ bạn theo khả năng có được. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về bài học cũng như về bản tường trình học tập, bạn cứ tự nhiên hỏi. Nếu vài người muốn học chung môn học này, hãy sắp xếp thì giờ thuận tiện cho cả nhóm.
Cầu xin Chúa chúc phước cho bạn khi bạn khởi sự bài học “SỐNG TRONG ĐẤNG CHRIST ”:BÀI HỌC VỀ SỰ CỨU RỖI . Nguyện bài học này sẽ làm phong phú đời sống bạn và sự phục vụ Chúa của bạn, đồng thời giúp bạn hoàn thành vai trò của mình trong thân thể của Đấng Christ có hiệu quả.

Trong những năm gần đây, sự cứu rỗi được viết và được đề cập tới rất nhiều. Thuật ngữ “tái sanh ” (born again) đã xuất hiện trong nhiều tờ báo và tạp chí. Một vài tạp chí được xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Vì vậy chủ đề về sự tái sanh (new birth) và tư tưởng về sự cứu rỗi đã chiếm giữ một vị trí quan trọng trong tâm trí của công chúng. Tuy nhiên, kinh nghiệm về sự “tái sanh ” và những tín lý về sự cứu rỗi lại nằm trong những nội dung cơ bản và quan trọng mà thường bị hiểu lầm. Những nội dung cơ bản này cung cấp những vấn đề mục tiêu của chúng ta trong bài học này.
Hình thức của sự cứu rỗi đặt nền tảng trên chương trình được định sẵn của Đức Chúa Trời. Trong bài học này bạn sẽ xem xét ân điển đã định sẵn của Đức Chúa Trời đã đưa đến chương trình của sự cứu rỗi. Bạn sẽ nhận thấy rằng nguồn gốc của sự cứu rỗi phát sinh từ ân điển của Đức Chúa Trời được bày tỏ thông qua công việc cứu chuộc của Đấng Christ. Bởi đã được hoạch định từ trước sáng thế và được định trong thời gian tương ứng, vì vậy chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời đáp ứng được nhu cầu của tất cả mọi người. Và trong bài 2, 3 và 4 bạn sẽ xem xét sự dạy dỗ của Kinh Thánh xoay quanh hoạt động của nhân loại trong sự cứu rỗi.
Khi bạn nghiên cứu sâu vào sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự cứu rỗi bạn sẽ cảm nhận sâu sắc hơn về tình yêu, ân điển và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã đem sự cứu rỗi cho tất cả mọi người. Và bạn càng sẽ ngạc nhiên vì sự bảo toàn tuyệt diệu mà Ngài đã sắp đặt sẵn trong chương trình cứu rỗi.

Dàn ý bài học
Sự cứu rỗi (phát sinh) từ ân điển của Đức Chúa Trời.
Sự cứu rỗi bắt đầu từ công việc cứu chuộc của Đấng Christ.
Sự cứu rỗi đáp ứng những nhu cầu của nhân loại.
Những mục tiêu của bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể.
Trình bày được nguồn của sự cứu rỗi từ đâu và giải thích ý nghĩa của nó.
Giải thích mối liên quan giữa sự cứu rỗi của bạn và sự chết của Đấng Christ như là một của lễ chuộc cho mỗi cá nhân.
Giải thích được rằng sự cứu rỗi dựa trên công việc cứu rỗi của Đấng Christ và đáp ứng đầy đủ những nhu cầu cá nhân giống như bạn.
Những hoạt động học tập
Đọc kỹ phần mở đầu trong phần hướng dẫn nghiên cứu này.
Nghiên cứu dàn ý bài học và những mục tiêu của bài học. Điều này sẽ giúp bạn nhận ra được những điều mà bạn phải học khi bạn nghiên cứu bài học.
Đọc bài học và làm bài tập trong phần triển khai bài học. Đa số các câu trả lời của bạn có thể được trả lời trong phần hướng dẫn nghiên cứu này. Tuy nhiên nếu đã có những câu trả lời dài, bạn nên viết câu trả lời của bạn vào sổ tay. Hãy kiểm tra câu trả lời của bạn với phần giải đáp được cho ở cuối bài học.
Nhìn qua những từ vựng căn bản, bạn sẽ thấy định nghĩa của những chữ đó ở phần chú giải cuối sách. Xem nghĩa những từ mà bạn chưa hiểu.
Triển khai bài học
SỰ CỨU RỖI PHÁT SINH TỪ ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Mục tiêu 1. Định nghĩa ân điển và giải thích mối quan hệ của nó đối với sự cứu rỗi .

Khi chúng ta xem xét sự cứu rỗi, chúng ta bắt đầu với 1 chân lý rất cơ bản: một Đức Chúa Trời quyền uy, yêu thương bày tỏ sự tốt lành của Ngài cho những con người không xứng đáng bằng sự tha thứ tội lỗi của họ. Hành động tha thứ này là một bày tỏ về ân điển của Đức Chúa Trời.

Câu chuyện kể về một em bé trai mồ côi thiếu ăn tham dự một lớp học lớn của trường làng. Các em bị bắt buộc phải để đồ ăn trưa và áo khoác của các em trên lối đi vào cửa, và cũng là nơi mà các em sẽ đến lấy ăn vào buổi ăn trưa. Một ngày kia, một phần ăn trưa bị mất đi. Thầy giáo nghiêm khắc hỏi “Em nào đã lấy đi phần ăn trưa”? Cuối cùng đứa bé mồ côi nhỏ thì đưa bàn tay còm nhom và run rẩy lên. Một cách giận dữ thầy giáo rút cái roi từ hộc bàn của ông ta và bắt đứa bé bước lên phía trước để nhận sự trừng phạt. Đứa bé đứng đó, đầu cúi gằm xuống, cùng với sự mặc cảm tội lỗi, cô đơn, sụt sịt khóc trong nỗi câm lặng, toàn thân em run rẩy, sự im lặng cũng bao trùm lên các em khác. Thình lình một em vạm vỡ bước lên phía trước và thưa cùng thầy giáo: “Em sẽ nhận thế đòn roi này cho bạn ấy!” Và ngay trước lớp em vạch mông ra để chịu đòn thay cho em bé mồ côi phạm tội và trả giá cho việc vi phạm kỷ luật. Sự thương xót và sự thương cảm đã khiến cho cậu bé chịu hình phạt thay cho em bé đói khổ, không được sự chăm sóc và sự thương yêu. Tuy nhiên tình yêu của Đức Chúa Trời còn lớn hơn nhiều đã khiến Ngài ban Con Một của Ngài để nhận lấy sự hình phạt thế cho con người. Trả giá chuộc tội bằng cách nhận lấy hình phạt của kẻ khác là phương cách bày tỏ mà Kinh Thánh gọi là” ân điển”
Ân điển là một đặc ân không chỉ đơn giản có tiền là mua được. Trong ân điển của sự cứu rỗi, đó là sự tốt lành mà Đức Chúa Trời ban đặc ân cho những con người không xứng đáng được hưởng. Những con người phạm tội chỉ xứng đáng với sự đoán xét và hình phạt. Những con người không xứng đáng nhận sự tha thứ vì sự bất phục của họ đối với Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu của Ngài cho những con người phạm tội đó bằng cách ban Đấng Christ để chết thay cho họ. Bởi tình yêu Ngài đã ban con của Ngài để trả giá chuộc cho tội lỗi của họ và giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tội lỗi và được xem như chưa bao giờ phạm tội. Đây là” ân điển”
SỰ thương xót cỦa
ĐỨc Chúa TrỜi
Ngài không để cho chúng ta nhận những gì mà chúng ta đáng nhận
Ân điỂn cŨa
ĐỨc Chúa TrỜi
Ngài ban cho chúng ta những gì mà chúng ta không đáng nhận.

Ân điển không có nghĩa Đức Chúa Trời loại trừ tội lỗi. Lời của Đức Chúa Trời phán rằng tiền công của tội lỗi là sự chết (RoRm 6:23) và Đức Chúa Trời Ngài không thể nào loại bỏ thái độ công bình của Ngài đối với việc đoán xét tội lỗi. Tuy nhiên sự hy sinh của Đấng Christ trên đồi Gôgôtha đã hoàn toàn làm thỏa mãn sự công bình của Đức Chúa Trời. Vì vậy giá phải trả cho việc bất tuân luật lệ của Ngài thì phải bị hình phạt. Ân điển không phải bỏ qua tội lỗi bèn là cất tội lỗi đi.
1 Hãy sử dụng từ riêng của bạn để viết vào quyển sổ ghi chú định nghĩa của ân điển và giải thích mối liên hệ giữa ân điển và sự cứu rỗi.
Vậy ân điển phát sinh từ nơi Đức Chúa Trời. Ngài là nguồn của ân điển. Ân điển tuôn đổ ra từ Ngài như là một nguồn cung cấp vô tận, và thông qua ân sủng của Ngài ân điển đó được ban cho mỗi người.
Các loại ân điển
Mục tiêu 2. Phân biệt sự khác nhau của những ví dụ về ân điển chung và ân điển của sự cứu rỗi .
Trong mối tương giao giữa Đức Chúa Trời với nhân loại, chúng ta nhận biết loại ân điển, ân điển chung và ân điển cứu rỗi. Ân điển chung là sự tốt lành mà Đức Chúa Trời bày tỏ cho tất cả mọi người, cho dù họ là những tội nhân. Ân điển này giúp con người tránh xa những công việc gian ác và khích lệ họ làm những điều công bình. Nó giúp cho mỗi cá nhân hành động đúng đắn và nó cũng giúp họ cùng chung sống trong một xã hội hiệp nhất. Ân điển của Đức Chúa Trời đã ban cho những phước hạnh của thế giới tự nhiên (mưa, hoa màu, các mùa, thực phẩm và nhiều sự phước hạnh về mặt xã hội và vật chất khác).
2 Hãy đọc Mat Mt 5:43-48. Những câu Kinh Thánh nào cho ví dụ về ân điển chung.
..................................................................
Thêm vào cùng với phước hạnh trong thế giới tự nhiên, ân điển chung cũng ban cho sự hiện diện và sự tác động của Kinh Thánh, Đức Thánh Linh và Hội Thánh. Tự bản thân của ân điển chung thì không đủ cho sự cứu rỗi, tuy nhiên nó bày tỏ sự tốt lành của Đức Chúa Trời cho tất cả mọi người. Nó làm cho họ nhận thức về sự ban cho của Đức Chúa Trời trên đời sống của họ. Và nó tạo cho họ một điều kiện thích ứng, cho sự mặc khải và chuẩn bị cho họ sẵn sàng cho sự cứu rỗi về sau. Ân điển chung cũng ban cho tội nhân khả năng để đáp ứng đặc ân của Đức Chúa Trời.
3 Hãy đọc RoRm 2:1-11. Câu Kinh Thánh nào cho biết đặc ân (ân điển) của Đức Chúa Trời gắn liền với sự cứu rỗi?
...................................................................
Chúng ta đã nhận thấy rằng ân điển chung làm cho con người có thể đáp ứng với Đức Chúa Trời một cách hết lòng. Tuy nhiên, chính ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời đem con người đến với Đấng Christ. (GiGa 6:44) làm mới lại lòng của họ và giải phóng họ ra khỏi tội lỗi. Ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì chỉ duy nhất được minh chứng trong Đấng Christ. Trong sách Phúc âm, Giăng chép rằng: “Còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Giêxu Christ mà đến” (1:17). Điều này không có nghĩa là không có ân điển cứu rỗi trước khi Đấng Christ đến thế gian. Tất cả các Thánh đồ trong thời Cựu ước đều được cứu, được công nhận trước mặt Đức Chúa Trời bởi đức tin của họ vào sự ban cho của Đức Chúa Trời với sự vâng phục của họ vào điều răn của Ngài. Giăng ngụ ý rằng Đấng Christ là sự mặc khải trọn vẹn về ân điển cứu rỗi, và con người chỉ có thể nhận được ân điển cứu rỗi kể từ khi. Ngài đến trần gian này.
4 Hãy đọc HeDt 1:1-2. Ý tưởng trong những câu Kinh Thánh này có mối liên hệ như thế nào đối với GiGa 1:16-17? Hãy viết câu trả lời của bạn trong tập ghi chép của bạn nếu câu trả lời của bạn dài.
5 Trước những câu sau đây hãy cho biết đây là ví dụ về ân điển chung và đâu là ân điển đặc biệt bằng cách viết số 1) Ân điển chung . 2) Ân điển cứu rỗi .
..... a Mặt trời chiếu vào sự gian ác cùng sự 1) Ân điển chung
tốt lành. 2) Ân điển đặc biệt
..... b Tội nhân được kéo gần đến Đức Chúa Trời
..... c Những điều kiện tồn tại làm cho con người
có thể đáp ứng đặc ân của Đức Chúa Trời
một cách hết lòng.
..... d Những phước hạnh tự nhiên dành cho tất cả mọi người.
..... e Con người có được khả năng đáp ứng sự kêu gọi của Đức Chúa Trời và được giải phóng khỏi tội lỗi.
Ân điển trong Kinh Thánh
Mục tiêu 3. Đánh giá tầm quan trọng của ân điển trong Kinh Thánh thông qua xem xét cách dùng thường xuyên của nó trong cả Tân ước và Cựu ước .
Từ dịch ra từ “ân điển” thì được dùng 166 lần trong Kinh Thánh. Nó được dùng 38 lần trong Cựu ước và 128 lần trong Tân ước. Đức Chúa Trời thường sử dụng “ân điển” bởi vì bổn tánh của Ngài là Đấng giàu lòng thương xót (Gion Gn 4:2). Đức Chúa Trời bày tỏ ân điển Ngài qua việc 1) Ngài ban những điều tốt lành cho tất cả mọi người (Mat Mt 5:45); 2) Ngài không muốn cho người nào bị chết mất nhưng được cứu (IIPhi 2Pr 3:9); 3) Ngài ban sự giàu có của Ngài cho những kẻ tin nhận Ngài (IICo 2Cr 8:9); 4) Ngài gìn giữ các Cơ đốc nhân trong những lúc hoạn nạn, khó khăn (IPhi 1Pr 5:6-16). Và trong RoRm 5:20 sứ đồ Phaolô nhấn mạnh rằng. Ân điển của Đức Chúa Trời là vô hạn, và ân điển đó đủ cho và dư dật cho tất cả nhu cầu mà con người tội lỗi đem đến Thập tự giá. Ân điển là nguồn dư dật.
6 Ân điển được dùng trong Cựu ước, nhưng trong Tân ước thì được dùng thường xuyên hơn bởi vì.
a) Ân điển của Đức Chúa Trời luôn luôn thay đổi thời gian.
b) Chúa Giêxu bày tỏ trong Kinh Thánh Tân ước ân điển đầy trọn hơn.
c) Cựu ước nhấn mạnh về sự phán xét và Tân ước chỉ nhấn mạnh sự giải phóng.
7 Để biết được ân điển được dùng thường xuyên trong các sách thư tín như thế nào (tất cả các sách Tân ước từ Rôma cho đến sách Giuđe) trước tiên hãy xem chương một của mỗi sách Thư tín. Bạn tìm được bao nhiêu từ ân điển trong phần đầu của sách thơ tín?
..................................................................
8 Bây giờ hãy xem những câu Kinh Thánh cuối của mỗi sách Thư tín. có bao nhiêu sách không kết thúc bằng chữ ân điển? Hãy liệt kê tên các sách ra.
9 Ân điển được đề cập xuyên suốt Kinh Thánh, tuy nhiên trong Tân ước ân điển được đề cập.
a) Nó được đề cập nhiều hơn gấp hai lần trong Cựu ước.
b) Nó được đề cập gần bằng 4 lần trong Cựu ước.
Bạn có nhận thấy rằng phần cuối của các sách thư tín thì ân điển có sự gắn liền với Đấng Christ hay không? Có thể bạn nhận thấy rằng ân điển có tầm quan trọng trong những sự dạy dỗ của Tân ước và Đấng Christ là sự bày tỏ trọn vẹn nhất về ân điển của Đức Chúa Trời. Thật vậy, chính bởi ân điển của Ngài mà lòng chúng ta được kéo gần tới Ngài.
Hãy xem câu chuyện về Tigranes là vua oai hùng của Armenia, ông bị bắt trong cuộc xâm lược của quân La mã. Vị vua bại trận này cùng với vợ và con của ông đều bị đưa tới trước mặt vị tướng chỉ huy để đón nhận cái chết. Tigranes đã sấp mình dưới chân của vị tướng chiến thắng và van xin tha chết mạng sống của gia đình ông. Ông kêu van rằng “Hãy xử tôi theo điều gì ông muốn nhưng xin hãy tha cho vợ và các con tôi”.
Lời van xin của ông đã làm cảm động lòng của vị tướng La mã đến nỗi vị tướng này đã tha mạng cho toàn thể gia đình của vị vua này. Khi Tigranes và gia đình ông đã rời khỏi trại của người La mã, vị vua xoay qua hỏi người vợ ông “khanh nghĩ gì về vị tướng La mã”. Nhưng bà trả lời rằng “Tôi chưa bao giờ thấy ông ta”. Vị vua rất ngạc nhiên hỏi “khanh ở trước mặt ông ta vậy mắt khanh để đâu vậy”. Bà trả lời rằng “Nó bị gắn chặt vào người mà đã sẵn lòng chết cho thiếp vì vậy thiếp chẳng thấy ai cả”. Khi chúng ta nhìn vào sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và thập tự giá của Ngài, chúng ta chỉ thấy Chúa Giêxu, là Đấng sẵn lòng chết thay cho chúng ta. Sự chết của Đấng Christ là sự bày tỏ lớn lao nhất về ân điển của Đức Chúa Trời.
SỰ cỨu rỖi PHÁT SINH TỪ CÔNG VIỆC CỨU CHUỘC
CỦA ĐẤNG CHRIST
Mục tiêu 4. Nhận dạng những câu ngầm mô tả mối liên hệ giữa tội lỗi của nhân loại và công việc cứu chuộc của Ngài .
Nếu chúng ta hiểu được bản chất của sự cứu rỗi thì chúng ta phải xem qua công việc cứu chuộc. Cứu chuộc là một từ nói lên ý nghĩa những kẻ thù được đem lại cùng nhau để tạo nên sự bình hòa. Nó chỉ đến việc phục hồi, là sự thay đổi từ một trạng thái thù địch trở thành trạng thái của tình bạn hữu. Trong sự cứu rỗi nói lên hành động mà tội nhân được phục hồi hoặc là được đem trở về cùng với Đức Chúa Trời. Một ý nghĩa khác của sự cứu chuộc là hủy bỏ hoặc phục hồi. Bởi sự chịu khổ và sự chết của Đấng Christ mà con người tội nhân được phục hồi bởi huyết báu của Ngài và giá phải trả cho tội lỗi cũng bị hủy bỏ.
Để nắm được trọn vẹn tầm quan trọng của sự cứu chuộc và vị trí của nó trong chương trình cứu rỗi, hay suy gẫm về hình ảnh sau đây, có một người cha và con trai của ông đối khẩu rất dữ dội. Cuối cùng thì người con rời khỏi nhà và thề sẽ chẳng bao giờ sẽ quay trở lại nơi mà người cha sống. Người mẹ rất đau khổ bởi vì bà rất thương chồng lẫn con bà.
Sau nhiều tháng, đứa con nhận được một bức điện khẩn báo phải trở về nhà gấp bởi vì người mẹ bệnh rất nặng và không còn hy vọng sống nữa. Khi người con bước vào phòng của người mẹ trong bệnh viện, nó thấy người mẹ thương yêu của nó nhợt nhạt và rã rời trên giường. Cả người cha lẫn người con đều yên lặng và nhìn vào người thân yêu của mình, và nhận biết rằng người thân yêu của mình đang cận kề cái chết. Dồn hết sức lực cuối cùng của mình người mẹ vươn một tay ra nắm lấy tay của người cha và tay kia nắm lấy tay người con, với hành động yêu thương cuối cùng, bà đặt tay của người cha và người con trên ngực mình và rồi bà qua đời.
Sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá cũng là (cầu nối) để đem Đức Chúa Trời thánh khiết kết hiệp cùng với con người tội lỗi. Thông qua thập tự giá chúng ta nhận được sự cứu chuộc cho tội lỗi chúng ta. Điều này có nghĩa là tội lỗi đã được tẩy rửa bởi sự chết như là của lễ thay, là cái giá phải trả. Để rồi Đức Chúa Trời cùng con người được đến gần với nhau.
10 Những câu nào dưới đây là Đúng chỉ mối quan hệ giữa con người tội lỗi với công việc cứu chuộc của Đấng Christ.
a Tội lỗi của chúng ta đã phân cách chúng ta với Đức Chúa Trời, nhưng sự cứu chuộc đã phục hồi lại mối tương giao.
b Tội lỗi nói về sự bất phục đã làm con người phân cách với Đức Chúa Trời, nhưng sự cứu chuộc đem lại sự tẩy sạch tội lỗi và cất đi nguyên nhân làm phân cách.
c Tội lỗi của con người không phải là sự chết, sự cứu chuộc là phương tiện bày tỏ những ý định tốt của con người.... ngay cả khi con người sẽ không hoặc không thể sống trong sự vâng phục Luật pháp của Đức Chúa Trời.
Sự cần thiết của sự Cứu chuộc
Mục tiêu 5. Nhận biết tại sao sự Cứu chuộc là cần thiết .
Một số người tự hỏi rằng tại sao Đức Chúa Trời không từ bỏ con người trong tội lỗi của họ, hay là truyền phán họ là tốt lành và làm cho họ trở nên tinh sạch. Tuy nhiên, lời Kinh Thánh bày tỏ rằng Đức Chúa Trời là Thánh, là Đấng yêu thương và cũng là Đấng công bình nữa. Ngài không muốn bất cứ con người nào bị chết mất nhưng Ngài không thể gạt bỏ tội lỗi của con người hay là tiếp nhận họ trong tội lỗi của họ. Vì vậy, để phục hồi con người với chính Ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho một giải pháp thông qua công việc cứu chuộc. Giải pháp dành cho con người thông qua công việc của Chúa Giêxu Christ. Trong Đấng Christ tất cả những đòi hỏi về sự công bình đều được đáp ứng, trong cả cuộc đời của Ngài khi Ngài gìn giữ trọn vẹn luật pháp trong trần gian của chúng ta và trong sự chết của Ngài khi Ngài chết để trả giá vì cớ Luật pháp bị phá vỡ.
Trong sự cứu chuộc,mục đích của sự công bằng trọn vẹn và tình yêu Thiên Thượng đã được trọn vẹn con người được giải phóng ra khỏi quyền lực của tội lỗi cùng với mặc cảm tội lỗi và được phục hồi mối thông công với Đức Chúa Trời.
Vì vậy sự cứu chuộc là cần thiết và được bày tỏ rõ ràng trong lời Kinh Thánh. Trước hết, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời không thể tha thứ tội lỗi (XuXh 34:6-7, RoRm 3:25-26) tội lỗi được tẩy rửa và từ bỏ. Thứ 2, Luật pháp của Đức Chúa Trời phản ảnh bản chất của Ngài là điều cần thiết cho Ngài để cần có cho sự chuộc tội của Chúa cho tội nhân (Phục 27:26;) và sự chân thật của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự cứu chuộc (Dan Ds 23:19; RoRm 3:4). Đức Chúa Trời đã phán trực tiếp cùng với Ađam và Êva rằng họ sẽ chết nếu họ bất tuân mạng lệnh của Ngài (so sánh SaSt 2:16-17 với Exe Ed 18:4 và RoRm 6:23. Sự chân thật của Đức Chúa Trời đòi hỏi Ngài xác nhận lời của Ngài và đòi hỏi rằng sự trả giá này phải được thực hiện cho những kẻ phạm tội hoặc làm của lễ chuộc tội của họ và cuối cùng, giá của sự hy sinh lớn lao cho thấy rằng sự cứu chuộc là cần thiết. Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời sẽ không đòi hỏi đến sự chết của Đấng Christ mà không có mục đích (LuLc 24:26; HeDt 2:10; 9:22-23).
11 Đọc những phân đoạn Kinh Thánh liên quan đến sự cần thiết của sự cứu chuộc. Theo bạn thì phân đoạn nào giúp chúng ta dễ hiểu nhất làm thế nào mà sự cứu chuộc là cần thiết bởi vì cớ bản tánh của Đức Chúa Trời?
...................................................................
12 Câu nào hoặc những câu kết hợp nào giải thích tại sao sự cứu chuộc là cần thiết?
a) Sự thánh khiết, công bình và chân thật của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự cứu chuộc cho tội lỗi.
b) Cái giá lớn lao (ngụ ý rằng) sự cứu chuộc cần thiết.
c) Luật pháp Thiên Thượng, luật pháp bày tỏ bản chất của Đức Chúa Trời, là điều cần thiết cho Ngài để có sự cứu chuộc tội cho tội nhân.
d) Tất cả những câu ở trên giải thích tại sao sự cứu chuộc là cần thiết.
Tín lý Kinh Thánh về sự Cứu chuộc
Mục tiêu 6. Nhận ra các câu cho biết tín lý của Kinh Thánh về sự cứu chuộc .
Kinh Thánh dạy rằng con người đã rơi vào tội lỗi (bởi sự) bất vâng phục. Tuy nhiên bởi sự vâng phục mà Đấng Christ thay thế cho tội nhân để trả giá chuộc tội cho tội nhân (RoRm 5:12-19). Điều này có nghĩa rằng Đấng Christ đã chết như là của lễ thay cho chúng ta. Ngài chết thay cho chúng ta. Sự hy sinh của Ngài vì cớ tội lỗi đã khiến Đức Chúa Trời đầy ơn cho chúng ta. Hành động trả giá chuộc cho tội lỗi của chúng ta này và sự chết như là của lễ thay cho chúng ta được xem là của lễ chuộc tội.
Của lễ chuộc tội của Đấng Christ là nền tảng cho sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự cứu chuộc. Chúng ta hãy đọc trong EsIs 53:5-6
“Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt Ngài chịu chúng ta được bình an bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người”.
Những câu Kinh Thánh này (cũng như câu 53:4) dạy dỗ rõ ràng về sự cứu chuộc bằng sự thay thế.
Chúa Giêxu nói về chính mình Ngài “vì con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình song để hầu việc người ta và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người (Mac Mc 10:45).Trong GaGl 3:13, sứ đồ Phaolô viết rằng:“Đấng Christ đã chuộc chúng ta ra khỏi sự rủa sả của luật pháp”. Những lời này chỉ có thể nói về Đấng Christ, Đấng không có tội, Đấng đã từ bỏ mạng sống mình để trả cái giá mà tội nhân đáng lý phải chịu, và trong RoRm 3:21-26 Phaolô viết rất dài về chủ đề này. Ông khẳng định rằng sự cứu chuộc thông qua sự chết của Đấng Christ đã bày tỏ sự công bình và sự thương xót của Đức Chúa Trời.
13 Hãy nhận dạng những câu nào đúng dưới đây và minh chứng tín lý Kinh Thánh về sự cứu chuộc.
a Con người bởi sự bất vâng phục xứng đáng phải trả giá vì tội lỗi mình.
b Đấng Christ bởi sự vâng phục đã trả giá chuộc cho tất cả mọi người.
c Trước hết Đấng Christ chết vì tội lỗi của Ngài và sau đó cho nhân loại.
d Đấng Christ chết như là của lễ thay vì tội lỗi của nhân loại.
e Đấng Christ đến trần gian để phó mạng sống làm của lễ chuộc tội.
Các khía cạnh của sự Cứu chuộc
Mục tiêu 7. Nhận biết những định nghĩa của 5 khía cạnh về sự cứu chuộc .
Khi chúng ta nói về các khía cạnh của sự cứu chuộc, chúng ta cũng thừa nhận rằng không có thuật ngữ nào có thể tóm gọn và giải thích tất cả những sự lớn lao, kỳ diệu của công việc cứu chuộc. Những thuật ngữ được đưa ra ở đây sẽ giúp bạn hiểu được công việc cứu chuộc của Đấng Christ đầy đủ hơn.
Sự vâng phục . Trong những khía cạnh khác nhau của sự cứu chuộc, khía cạnh có thể hợp nhất toàn bộ nội dung chính là sự vâng phục của Đấng Christ. Bởi vì nó là khía cạnh tổng quát mà các khía cạnh khác phải thuộc vào, vì vậy chúng ta hãy xem xét nó trước tiên.
Trong sự ban cho sự cứu rỗi cho chúng ta, Đấng Christ đã trở nên của lễ dâng vâng phục cho chúng ta. Ngài không xem chính Ngài ngang bằng với Đức Chúa Trời nhưng Ngài đã sẵn lòng lấy hình tôi tớ (Phi Pl 2:7-8).Vì vậy cũng cần thiết cho Ngài để trở nên bị giới hạn như chúng ta trong một thời gian (HeDt 2:14). Giăng đã mô tả điều này khi nói rằng: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” (GiGa 1:14) - Như là một người. Luca thuật lại rằng khi Chúa Giêxu đã minh chứng rằng sứ mạng của Ngài tại trần gian là làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự vâng phục (6:38).
Là con của Đức Chúa Trời, Đấng Christ đã vâng theo những quy định của Luật pháp. Ngài đã vâng giữ luật dân sự khi sanh ra vì là người Do Thái và biết qua luật về nghi lễ. Ngài cũng vâng giữ luật lệ đạo đức, kính sợ Đức Chúa Trời và vâng phục cho tất cả những hình phạt gây ra bởi sự không vâng phục của con người đối với luật pháp của Đức Chúa Trời.
14 Khoanh tròn những ký tự của câu đúng dưới đây.
a Thông qua sự thảo luận của chúng ta về công việc cứu chuộc cho đến điểm này, chúng ta có thể kết luận rằng từ cứu chuộc bao gồm một số nội dung quan trọng có liên quan đến công việc cứu chuộc của Đấng Christ.
b Nội dung tổng quát (khái niệm) về sự cứu chuộc trên tất cả những nôi dung khác nằm trong sự vâng phục.
c Gương mẫu về sự vâng phục của Chúa Giêxu gắn liền với chức vụ của Ngài không phải gắn liền với đời sống cá nhân hay gia đình Ngài.
CỦA LỄ CHUỘC TỘI
SỰ VÂNG PHỤC
SỰ HY SINH SỰ LÀM LÀNH SỰ PHỤC HOÀ SỰ CỨU CHUỘC
Bên cạnh khía cạnh tổng quát của cứu chuộc là sự vâng phục, còn có 4 thuật ngữ chuyên biệt mô tả những gì Đức Chúa Trời đã thực hiện qua sự chết của Đấng Christ: Sự hy sinh, sự hòa giải, sự giảng hòa và sự chuộc tội. Mỗi thuật ngữ mô tả sự cung cấp của Đức Chúa Trời mà sẽ đáp ứng một nhu cầu đặc biệt của con người tội lỗi. Những từ này rất quan trọng bởi vì chúng là những từ được sử dụng trong Tân ước.
Sự hy sinh . Đây là một thuật ngữ rất rõ ràng và bao gồm tất cả những gì mà Đấng Christ đã thực hiện để ban sự cứu rỗi cho chúng ta. Sự hy sinh của Ngài đã bao phủ lên tội lỗi của con người. Nó hướng vào nhu cầu tạo ra bởi tội lỗi của chúng ta. Phao lô nói cùng chúng ta rằng “Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thứ hương có mùi thơm” (Eph Ep 5:2). Trong Tân ước chẳng có gì rõ hơn việc sử dụng thuật ngữ hy sinh để mô tả sự chết của Đấng Christ. Lời Kinh Thánh mô tả Ngài như chính là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh cũng phán rằng huyết của Ngài xóa sạch tất cả tội lỗi và cũng dạy rằng Ngài đã chết vì cớ tội lỗi của chúng ta, chúng ta nhận thấy rõ rằng sự chết của Đấng Christ là một sự hy sinh thật vì cớ tội lỗi chúng ta (GiGa 1:29, IGi1Ga 1:7-9, ICo1Cr 15:3). Sự chết của Ngài được mô tả là sự chết cho tội lỗi, và cất tội lỗi đi (IICo 2Cr 5:21). Đức Chúa Trời đã ban mạng sống Con Ngài làm của lễ chuộc tội (EsIs 53:10). Ngài đã trả món nợ mà chúng ta không thể nào trả được, và bôi sạch quá khứ mà chúng ta không thể nào xóa bỏ. Ngài là của lễ hy sinh cho chúng ta, bởi vì sự chết của Ngài được xem như là hành động dâng chính mình không tì vết cho Đức Chúa Trời HeDt 9:4, Eph Ep 5:2). Sự hy sinh một lần của Ngài thì đủ để xoay cơn giận của Đức Chúa Trời và cất đi tất cả những gì ngăn trở mối thông công.
15 Khoanh tròn ký tự trước những câu đúng nói về sự hy sinh của Christ
a Nó bao phủ tội lỗi của con người.
b Sự hy sinh cao cả này có kết quả đáng tin cậy ít nhất là một vài người có thể được cứu.
c Sự hy sinh là một phương cách để cất đi cơn giận từ Thiên Thượng .
d Sự hy sinh của Đấng Christ được ban cho dựa trên nền tảng một lần là đủ cả.
e Sự chết của Đấng Christ không phải là sự ám sát nhưng là sự hy sinh. Ngài đã hoàn tất ý muốn của Đức Chúa Trời là tạo một sự cứu chuộc cho tội lỗi con người và phục hồi con người với Đức Chúa Trời.
Của LỄ CHUỘC TỘI: Của lễ chuộc tội đáp ứng nhu cầu mà nổi lên từ cơn giận của Đức Chúa Trời. Của lễ chuộc tội tức là làm dịu cơn giận của Đức Chúa Trời công bình bằng một của lễ cứu chuộc (của lễ chuộc tội) . Đấng Christ được mô tả như một của lễ chuộc tội (RoRm 3:25, IGi1Ga 2:2, 4:10) cơn giận của Đức Chúa Trời thì được thấy xuyên suốt Kinh Thánh nhưng đặc biệt là trong Cựu ước. Nó nhấn mạnh về tính nghiêm trọng của tội lỗi. Bởi sự gánh chịu làm của lễ chuộc tội cho tội nhân của Chúa Giêxu Christ, thì cơn giận này thì những hình phạt dành cho tội lỗi không còn đặt trên tội nhân.
Bởi vì một số người hiểu lầm tình yêu của Đức Chúa Trời vì vậy họ phản đối ý tưởng về cơn giận của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên cơn giận của Ngài không giống như của chúng ta. Chúng ta trở nên giận dữ bởi vì chúng ta bị thương tổn, bị sỉ nhục và chúng ta bỏ qua khi chúng ta đã hả lòng trong cơn giận. Tuy nhiên cơn giận của Đức Chúa Trời là cơn giận phán xét và chống tội lỗi cùng những con người tội lỗi. Ngài không mất đi bổn tánh của Ngài.
16 Hãy khoanh tròn ký tự trước những câu đúng.
a Cơn giận của Đức Chúa Trời không phải là một cơn cuồng nộ không kiểm soát được nhưng là một cơn giận chống lại tội lỗi.
b Của lễ cứu chuộc ban cho để cất đi sự giận dữ từ thiên thượng mà nguyên nhân gây ra bởi tội lỗi bởi sự hình phạt đối với mỗi tội nhân.
Sự giảng hòa. Sự giảng hoà đáp ứng nhu cầu gây ra từ sự ngăn cách của Đức Chúa Trời với con người tội nhân. Kinh Thánh phán với chúng ta rằng tội nhân là kẻ thù nghịch với Đức Chúa Trời (RoRm 5:10-11; CoCl 1:21; Gia Gc 4:4). Mối tương giao giữa Đức Chúa Trời và con người bị phá vỡ là nguyên nhân bởi sự phạm tội của con người (EsIs 59:2). Nhưng Đấng Christ đã chết để cất đi tội lỗi của chúng ta và tội lỗi chính là nguyên nhân gây ra sự thù nghịch và sự phân cách. Để phục hồi lại mối thông công giữa Đức Chúa Trời và con người, Đức Chúa Trời đã bước đầu điều chỉnh nan đề: “Khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (RoRm 5:8) và “vì chưng Đức Chúa Trời vẫn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài” (IICo 2Cr 5:19). Vậy sự giảng hòa nhằm vào sự phán xét của những sự khác nhau giữa Đức Chúa Trời và con người. Nó làm cho mọi điều trở nên tốt lành.
17 Bạn có bao giờ phạm lỗi hay là làm tổn thương người bạn thân và sau đó giảng hòa với người bạn mình chưa? Cảm giác của bạn như thế nào? Cảm giác của anh ta như thế nào? Hãy đọc Luca 15. Bạn học được điều gì về cảm giác của Đức Chúa Trời từ chương này? Hãy trả lời những câu hỏi này trong tập ghi chú của bạn.
Sự chuộc tội. Sự chuộc tội đáp ứng nhu cầu gây ra bởi sự trói buộc của con người vào tội lỗi. Sự chuộc tội công bố sự giải thoát ra khỏi sự gian ác thông qua sự trả giá. Để giải phóng chúng ta ra khỏi tội lỗi và sự trừng phạt của nó thì cần phải trả một giá. Giá đó chính là sự chết cứu chuộc của Đấng Cứu Rỗi chúng ta. Trước giả Hêbơrơ công bố rằng “Ngài đã chết mà chuộc tội” (HeDt 9:15) để giải thoát chúng ta ra khỏi tội lỗi và Satan. Cũng vậy, Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp” (GaGl 3:13). Nếu không có sự giải thoát ra khỏi sự rủa sả của luật pháp, chúng ta không thể có sự cứu rỗi. Không chỉ giải thoát ra khỏi sự rủa sả của luật pháp, chúng ta còn được giải thoát ra khỏi sự trói buộc của luật pháp, và ra khỏi việc giữ luật pháp như là hình thức được chấp nhận với Đức Chúa Trời.
18 Sắp xếp mỗi nhu cầu hay là mô tả trong cột bên trái đúng với khía cạnh của sự cứu chuộc của cột bên phải đáp ứng nhu cầu đó hoặc làm trọn vẹn ý tưởng.
Phạm vi của sự Cứu chuộc

Mục tiêu 8. Mô tả phạm vi của sự Cứu chuộc .

Khi chúng ta thảo luận phạm vi của sự cứu chuộc, chúng ta phải xem xét những câu hỏi này: Dự định của Đức Chúa Trời cho Chúa Giêxu là chết cho tất cả mọi người? Hay Ngài dự định Đấng Christ chỉ chết cho một vài người?.

19 Hãy đọc những câu Kinh Thánh biểu trưng sau: ITi1Tm 2:4, 6; 4:10; HeDt 2:9; IIPhi 2Pr 3:9; IGi1Ga 2:2. Dùng từ của bạn để viết ra chủ đề của những phân đoạn này và nói rõ chủ đề này ảnh hưởng đến quan điểm của chúng ta về phạm vi của sự cứu rỗi như thế nào. Xin vui lòng sử dụng tập ghi chú của bạn.
Giá trị của sự cứu chuộc là “Vô hạn”, nhưng sự ứng dụng của nó thì giới hạn. Sự chết cứu chuộc của Đấng Christ thì đủ cho tất cả, nhưng nó chỉ đủ cho những kẻ tin. Đức Chúa Trời vì quá yêu nhân loại đến nỗi Ngài đã ban Con của Ngài để ban cho sự cứu rỗi. Tuy nhiên chúng ta sẽ nhận thấy trong bài kế tiếp rằng, mỗi người phải đáp ứng vào chương trình hoạch định của Đức Chúa Trời (GiGa 3:16).
SỰ CỨU RỖI ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI.
Một trong những lý do cơ bản về việc học sự cứu rỗi là vì sự cứu rỗi đáp ứng tất cả nhu cầu của con người. Trách nhiệm của chúng ta là Cơ đốc nhân phải chia xẻ Tin lành cho tất cả mọi người. Tuy nhiên để chúng ta có thể có hiệu quả trong việc bày tỏ cho họ làm thế nào Đấng Christ có thể đáp ứng nhu cầu của họ, thì chúng ta phải biết nhu cầu của họ là gì.
Tội lỗi của con người
Mục tiêu 9. Định nghĩa tội lỗi và liệt kê 2 con đường mà tất cả con người đều là những tội nhân .
Hai điều đặc trưng trong Kinh Thánh liên quan đến bản chất của con người : tội lỗi của con người và tình trạng của con người. Tội lỗi thì không thể sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời, hoặc là sẽ phá vỡ luật pháp. Tuy nhiên tội lỗi còn hơn là sự không vâng phục. Nó cũng là sự tôn cao bản ngã xác thịt và xem thường Đức Chúa Trời. Bởi vì chúng ta là những tạo vật có lý luận có suy nghĩ cho nên chúng ta biết rằng nếu chúng ta làm những điều mà chúng ta không nên làm, hoặc là không làm những điều mà chúng ta cần phải làm, hoặc là những cái chúng ta không được thì chúng ta đã phạm tội.
Mỗi người đều là một tội nhân theo hai cách. Thứ nhất là chúng ta sinh ra trong tội lỗi và thứ hai là chúng ta chọn lựa để làm những điều tội lỗi. Tội lỗi của Ađam đã truyền cho tất cả mọi người bởi vì ông là thủy tổ của loài người (RoRm 5:12). Vì vậy khi Ađam sa ngã thì loài người cũng sa ngã và tất cả mọi người đều được thừa hưởng bản tánh tội lỗi nó chịu trách nhiệm cho thái độ cứng đầu và nổi loạn trước luật pháp của Đức Chúa Trời. Hơn nữa con người cũng chịu trách nhiệm cho chính hành động tội lỗi của họ (GaGl 5:19-21).

TỘI LỖI CỦA AĐAM TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA
CẢ HAI ĐỀU PHÁN XÉT CHÚNG TA
20 Hãy dùng từ của bạn để định nghĩa tội lỗi và liệt kê hai cách mà tất cả con người đều trở nên là tội nhân. Hãy viết câu trả lời trong tập ghi chú của bạn.
Tình trạng của con người
Mục tiêu 10. Nhận ra những câu đúng bày tỏ tình trạng của con người và làm thế nào sự cứu rỗi đáp ứng nhu cầu của họ .
Kết quả tội lỗi của con người là sự phân cách với Đức Chúa Trời và những người bạn đồng công với họ. Bởi bản chất tội lỗi là kết quả của sự sa ngã, vì vậy con người hoàn toàn là gian ác. Mỗi chi thể của bản chất họ đều bị ảnh hưởng: sự tri thức của họ, xúc cảm của họ và cả ý chí nữa. Bởi những điều này vì vậy họ hoàn toàn không thể tự cứu mình được. Tâm trí của họ đã trở nên quá u ám vì cớ tội lỗi đến nỗi họ không thể nào hiểu được những sự thuộc về Thánh Linh (ICo1Cr 2:14). Đối với họ, những điều thuộc linh là rồ dại, và bởi vì họ không có nhận thức thuộc linh, họ không thể nào hiểu được chân lý về những điều của Đức Chúa Trời. Tâm trí tự nhiên của họ không thể nắm bắt được những vấn đề này, họ cần thông tin để giúp họ có thể hiểu được qua công việc của Đức Thánh Linh.
Ý muốn của con người bị trói buộc làm (tôi mọi) cho tội lỗi. Phaolô nói điều này” bởi vì chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới Luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được, vả những kẻ sống theo xác thịt thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời” (RoRm 8:7-8). Chúng ta có thể rút ra một số kết luận từ những sự kiện này.
Con người sa ngã không thể suy nghĩ, chú ý hoặc làm những gì thật sự là tốt lành.
Thỉnh thoảng họ có thể làm những việc tốt bởi vì ân điển chung.
Khả năng chọn lựa và hành động của họ bị giới hạn bởi sự tôi mọi của họ với tội lỗi (RoRm 6:17-20).
Sự giải phóng ra khỏi sự trói buộc của tội lỗi chính là ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
Thật là vui mừng khi nhận biết rằng ý muốn của con người được tự do trở về cùng Ngài, ăn năn và tin nhận Ngài. Đây là sự dạy dỗ của Lời Kinh Thánh.
21 Hãy đọc Mat Mt 3:2; 18:3; LuLc 13:3; GiGa 6:29; Cong Cv 2:38; 3:19. Những câu này bày tỏ gì về sự giải thoát của con người? xin vui lòng trả lời trong tập ghi chú của bạn.
Chúng ta nhận thấy rằng con người tội lỗi được đòi hỏi phải ăn năn nhưng nếu họ không hoàn toàn đáp ứng vào những đòi hỏi này, thì họ sẽ chắc chắn trở nên vô nghĩa. Với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, con người có thể thi hành và hành động theo mục đích tốt lành của Đức Chúa Trời: ăn năn tội lỗi của họ, tin nhận Chúa Giêxu, và tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài (Phi Pl 2:12-13). Sự cứu rỗi thông qua Đấng Christ là giải pháp duy nhất cho tội lỗi con người.
22 Hãy viết những câu đúng mô tả tình trạng của con người và làm thế nào sự cứu rỗi đáp ứng nhu cầu của họ.
a Vì cớ nan đề tội lỗi ảnh hưởng tâm trí con người cho nên đến thời điểm nó sẽ hủy hoại đời sống tư tưởng của con người và trọn đời sống con người.
b Hậu quả của tội lỗi là sự ngăn cách giữa Đức Chúa Trời và những người đồng công.
c Tội lỗi đã xâm nhập từng chi thể của con người đến nỗi trong bản tính tự nhiên của con người đều là sự gian ác: tri thức, xúc cảm, và ý chí.
d Sự cứu rỗi ban cho con người một bản tính mới và phục hồi khả năng và nguyện vọng sống theo Luật pháp của Đức Chúa Trời.
e Sự giải phóng duy nhất ra khỏi tội lỗi là sự quyết tâm của mỗi cá nhân là người đã nhận ra nhu cầu của mình để ăn năn và đặt niềm
tin vào Chúa.
Bài tập trắc nghiệm :
Hãy làm bài tập sau khi bạn đã ôn lại bài học này. Sau đó kiểm tra câu trả lời của bạn với những câu trả lời ở phía sau phần hướng dẫn nghiên cứu này. Kiểm tra bất cứ phần nào mà bạn trả lời chưa đúng.
1 Sự cứu rỗi phát sinh từ ân điển của Đức Chúa Trời. Câu nào trong những câu sau đây là câu đúng về ân điển?.
a Ân điển có thể định nghĩa như là sự biểu lộ tình yêu của Đức Chúa Trời cho con người không xứng đáng mà không đòi hỏi điều kiện nào cả.
b Một cách đơn giản, ân điển là ân huệ không xứng đáng.
c Ân điển là đặc ân mà Đức Chúa Trời bỏ qua tội lỗi.
d Ân điển của Đức Chúa Trời không tha thứ tội lỗi. Nhưng thay vào đó ân điển ban cho một cách để cất tội lỗi đi.
e Ân điển chung là ân điển thông thường đối với tất cả mọi người, và đem họ đến sự cứu rỗi.
2 Sự cứu rỗi bắt nguồn từ công việc cứu chuộc của Đấng Christ. Câu nào trong những câu sau đây là đúng về sự cứu chuộc?.
a Sự cứu chuộc rất cần thiết bởi vì sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và tội lỗi của con người cần đến nó.
b Chủ đề chính của sự cứu rỗi là che dấu hay là phớt lờ tội lỗi.
c Sự cứu rỗi cũng có ý nghĩa làm cho những kẻ thù nghịch hiệp lại với nhau.
d Của lễ chuộc tội chỉ về hình phạt đã được trả giá vì cớ tội lỗi của con người thông qua một của lễ thay thế, Giêxu Christ.
e Của lễ chuộc tội là một thuật ngữ nói về sự làm nguôi Đấng đã bị sỉ nhục.
f Khía cạnh hợp nhất toàn bộ nội dung của sự cứu chuộc là sự hy sinh .
g Sự cứu chuộc thì đủ cho sự cứu rỗi đối với tất cả mọi người nhưng nó chỉ giới hạn trong những kẻ tin.
3 Sự cứu rỗi đáp ứng những nhu cầu của con người. Hãy khoanh tròn những ký tự của những câu đúng liên hệ đến tội lỗi và tình trạng của con người.
a Tội lỗi bao gồm sự thất bại trong công việc giữ luật pháp của Đức Chúa Trời cũng như việc phá vỡ luật pháp.
b Theo Kinh Thánh,con người không có mối liên hệ với tội lỗi của Ađam.
c Tội lỗi làm cho con người cảm thấy “tự mãn” và “Xem thường Đức Chúa Trời”.
d Tình trạng của con người đó là con người bị phân cách với Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự gian ác. Vì vậy giải pháp duy nhất của Ngài là sự cứu rỗi thông qua Chúa Giêxu Christ.
e Nan đề của con người rất lớn bởi vì họ là nạn nhân của số phận. Con người không thể quay trở về với Đức Chúa Trời theo ý muốn riêng của mình bởi vì con người chỉ có thể làm những gì mà Đức Chúa Trời muốn .
f Nhiều mạng lệnh về sự ăn năn trong Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng con người không bị hướng dẫn bởi những lắt léo của số phận, con người có thể trở về cùng Đức Chúa Trời khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt con người.

Giải đáp câu hỏi nghiên cứu
Những câu trả lời cho bài tập nghiên cứu của bạn không sắp xếp theo thứ tự để bạn không thấy câu trả lời cho câu hỏi kế tiếp. Tra số câu trả lời mà bạn cần và cố gắng đừng xem trước khi bạn làm.
12 d) Tất cả những câu ở trên giải thích tại sao sự cứu chuộc là cần thiết.
1 Câu trả lời của bạn: Bạn có thể nói rằng ân điển là đặc ân không thể tự có được và cho con người không xứng đáng. Ân điển là nền tảng mà Đức Chúa Trời đảm bảo sự tha thứ cho con người không xứng đáng.
13 a Đúng d Đúng
b Đúng e Đúng.
c Sai
2 Câu 45 cho ví dụ về ân điển chung.
14 a Đúng
b Đúng
c Sai.
3 Câu 4 cho thấy rằng sự tốt lành của Đức Chúa Trời đã hướng dẫn con người đến sự ăn năn.
15 a Đúng d Đúng
b Sai e Đúng
c Đúng.
4 Cựu ước bày tỏ một phần về sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Tân ước bày tỏ trọn vẹn hơn về sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Chúa Giêxu, thông qua Ngài chúng ta nhận được sự mặc khải trọn vẹn về ân điển của Đức Chúa Trời.
16 a Đúng
b Đúng
c Sai.
5 a 1) Ân điển chung d 1) Ân điển chung
b 2) Ân điển cứu rỗi e 2) Ân điển cứu rỗi
c 1) Ân điển chung.
17 Câu trả lời của bạn. Chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời rất vui mừng khi chúng ta trở về cùng Ngài.
6 b)Theo như Tân ước thì Chúa Giêxu bày tỏ ân điển trọn vẹn hơn.
18 a 3) Của lễ chuộc tội d 5) Sự chuộc tội
b 2) Sự hy sinh e 1) Sự vâng phục Đấng Christ.
c 4) Sự giảng hòa.
7 Câu 16.
19 Câu trả lời của bạn. Rõ ràng rằng Đấng Christ đã chết vì cớ tội lỗi của cả nhân loại. Sự kiện Kinh Thánh này cho chúng ta thấy rằng sự chuẩn bị sẵn về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là vô hạn.
8 Câu 5. Giacơ 1,2 và IIGiăng, và Giuđe.
20 Câu trả lời của bạn. Chúng ta đã nhận thấy rằng tội lỗi thì không thể vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời, thậm chí còn phá vỡ luật pháp. Nó là sự tôn cao bản ngã xác thịt và xem thường Đức Chúa Trời. Tội lỗi xuất pháp từ bản tánh tội lỗi của riêng chúng ta mà chúng ta bị di truyền từ Ađam và hành động tội lỗi của chính chúng ta.
9 b) Nhiều gấp 4 lần đối với Cựu ước.
21 Câu trả lời của bạn. Chúng đều nhằm vào con người và thúc giục con người làm điều gì đó. Nếu con người không hoàn toàn đáp ứng thì những mạng lệnh này sẽ trở thành vô nghĩa.
10 a Đúng
b Đúng
c Sai.
22 a Sai,
b Đúng
c Đúng
d Đúng
e Sai (những việc tốt không cứu được chúng ta. Hành động tiếp nhận Đấng Christ rất quan trọng).
11 Câu trả lời của bạn.Theo suy nghĩ của tôi, RoRm 3:25-26 thì rất ích lợi trong việc giải thích sự cần thiết của sự cứu chuộc dựa trên bản tánh của Đức Chúa Trời. LuLc 24:26 là câu nhấn mạnh về vấn đề này.

BÀI 2: CON NGƯỜI THAY ĐỔI SỐ PHẬN CỦA MÌNH : SỰ ĂN NĂN
Có một em bé rất hảo ngọt. Đặc biệt cậu bé rất thích kẹo và bánh. Một ngày kia mẹ của cậu bé nướng bánh. Bà dặn con rằng “Nè con, sau bữa ăn tối thì con mới được ăn bánh đấy nhé”.
Thật sự cậu bé muốn ăn những cái bánh ngon và hấp dẫn này. Thời gian hôm đó chầm chậm trôi qua, thì cơn đói và lòng thèm muốn của cậu bé càng lúc càng gia tăng. Cuối cùng, cậu bé rón rén đi vào nhà bếp và mở hũ bánh ra, cậu chỉ lấy 2 hoặc 3 cái bánh mà thôi. Nhưng khi vội vã đậy nắp hũ cậu bé đã làm rớt cái hũ và nó bị vỡ tan. Khi mẹ cậu bé bước vào xem chuyện gì xảy ra thì cậu bé biết rằng mình sẽ bị đòn. Cậu bé van nài “Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ. Xin mẹ đừng đánh đòn con, con biết lỗi rồi mẹ”. Người mẹ rất hiểu và thông cảm với con, nhưng với nét mặt nghiêm nghị bà la rằng “Phải, mẹ biết con xin lỗi mẹ nhưng không phải vì chuỵện con không vâng lời mẹ và lấy bánh nhưng con xin lỗi vì con bị bắt quả tang”.
Trong trường hợp này cậu bé không ăn năn, mà cậu bé chỉ xin lỗi về hậu quả của hành động mình. Trong bài học này bạn sẽ nghiên cứu sự khác nhau giữa sự ăn năn thật và sự liên quan về hậu quả của tội lỗi. Bạn sẽ kinh ngạc về bản chất của sự ăn năn thật khi bạn nhận thấy nó bắt đầu tiến trình hiệp nhất của Đức Chúa Trời yêu thương, thánh khiết với con người tội lỗi như thế nào. Và bạn sẽ đánh giá trọn vẹn hơn về sự vận hành ngọt ngào và êm dịu của Đức Thánh Linh đã dẫn con người đến sự ăn năn.
Dàn ý bài học
Bản chất của sự ăn năn.
Các khía cạnh của ăn năn.
Mối tương quan với sự phục hồi.
Sự nhấn mạnh của Tân ước.
Kinh nghiệm về sự ăn năn.
Các mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này bạn có thể:
Giải thích tại sao sự ăn năn là một phần cần thiết của tiến trình cứu rỗi.
Phân tích các khiá cạnh của ăn năn và giải thích tầm quan trọng của từng khía cạnh.
Mô tả kinh nghiệm về sự ăn năn và kết quả của nó.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu dàn ý bài học kỹ lưỡng và đọc tất cả các mục tiêu bài học.
Hãy đọc LuLc 15:11-24 nhiều lần và kỹ.
Hãy nghiên cứu ý nghĩa của những từ mới đối với bạn.
Nghiên cứu phần triển khai bài học và trả lời những câu hỏi nghiên cứu theo tiến trình đã cho trong bài 1.


Triển khai bài học

BẢN CHẤT CỦA ĂN NĂN

Trong bài học một chúng ta đã học rằng Đức Chúa Trời ban sự cứu rỗi cho tất cả mọi người. Và thông qua sự chết chuộc tội của Đấng Christ, Ngài đã mở lối cho họ đến cùng với Ngài. Cũng vậy, chúng ta nhận thấy rằng sự cứu rỗi mà Ngài ban cho đáp ứng mỗi nhu cầu thuộc linh. Và nó dẫn đến cuộc sống dư dật, sự bình an lạ lùng. Sự vui mừng và cuối cùng là đời sống vĩnh hằng. Tuy nhiên để tiến trình sự cứu rỗi tuyệt vời được bắt đầu, con người phải đáp ứng vào sự ban cho của Đức Chúa Trời. Sự đáp ứng của con người khởi đầu bằng sự ăn năn.
Tựa đề của bài học này cho thấy rằng sự ăn năn đưa đến sự thay đổi. Đối với một vài người thì sự ăn năn dường như là một sự thay đổi không thoải mái. Bởi vì họ có khuynh hướng sống theo đường lối riêng của họ. Đối với những người không có hy vọng và mục đích thì ánh sáng Phúc âm đã ban cho họ một sự thay đổi tươi mới: sự bình an trong tâm trí, giải phóng khỏi sự sợ hãi và một niềm hy vọng vô biên. Để họ biết được ân điển của Chúa Jêsus Chúa chúng ta có thể thay đổi sự thất vọng, thay chuyển sự lầm lỗi và thay đổi cuộc đời thì ăn năn phải được công bố. Sự ăn năn là một điều kiện của sự cứu rỗi (LuLc 13:2-5). Sự ăn năn kết hợp với đức tin dẫn đến sự biến đổi.
Định nghĩa sự ăn năn.
Mục tiêu 1. Nhận ra được ý nghĩa và xác định những ví dụ về sự ăn năn .
Một em bé nhỏ đã định nghĩa sự ăn năn như sau: “Nó là sự hối tiếc để rời bỏ” Sự ăn năn cũng giống như một đồng bạc luôn có hai mặt.
1. Nó là một hành động mà một người nhận thức và xoay bỏ khỏi tội lỗi, và xưng nhận tội lỗi trước Đức Chúa Trời.
2. Nó có ý nghĩa mạnh hơn việc xoay bỏ tội lỗi, tức là phải rời bỏ hoàn toàn.
Sự ăn năn cũng bao gồm ý nghĩa cảm thấy đáng tiếc, chịu đựng sự đau khổ và tự an ủi mình. Thêm vào đó ăn năn còn có ý nghĩa “xoay trở lại, biến đổi sự rủa sả của một hành động”. Theo ý nghĩa này, ăn năn ngầm chỉ một sự biến đổi về tâm trí hoặc mục đích.
1 Trong câu hỏi sau, hãy khoanh tròn ký tự của câu mang định nghĩa về sự ăn năn trọn vẹn nhất.
a) Cảm thấy hối tiếc về tội lỗi mình.
b) Xoay bỏ khỏi tội lỗi mình bởi vì chúng gây ra sự đau khổ.
c) Nhận ra tội lỗi của mình, cảm thấy hối tiếc về tội lỗi, xoay bỏ tội lỗi và từ bỏ hoàn toàn.

ĐỪNG QUAY LẠI

TỘI LỖI

Khi bạn nghiên cứu ý nghĩa về sự ăn năn, bạn sẽ chú ý một vài câu Kinh Thánh phán rằng Đức Chúa Trời"tự trách hối tiếc” về một vài hành động. Chúng ta hãy xem xét sự bày tỏ này có ý nghĩa gì.
2 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và giải thích tại sao Đức Chúa Trời “Tự trách”. Chú ý những từ được dùng để mô tả” sự thay đổi ý nghĩa” của Ngài.
a SaSt 6:5-7 ................
b XuXh 32:7-14 ...........
c ISa1Sm 15:11 .....................
Những câu Kinh Thánh này bày tỏ rằng Đức Chúa Trời đau đớn về những thái độ và hành động của dân sự Ngài. Sự tội lỗi, sự bất phục và sự nổi loạn của họ đối kháng với tiêu chuẩn được bày tỏ của Đức Chúa Trời về hành động kêu gọi cho sự biến đổi.
3 Xem những câu Kinh Thánh sau: Thi Tv 147:5; ChCn 15:11; EsIs 46:10 và HeDt 4:13. Những câu này dạy dỗ gì cho chúng ta về Đức Chúa Trời?.
......................................................................
Chúng ta đã đọc biết rằng Đức Chúa Trời biết trước con người đáp ứng như thế nào đối với ân điển của Ngài và kế hoạch được bày tỏ của Ngài. Tuy nhiên sự tự do của con người dưới tác động của Satan và bản chất tội lỗi cho nên không thể có được sự công bình và bản tính thánh thiện mà Đức Chúa Trời đòi hỏi và mong mỏi trong dân sự của Ngài. Khi Ngài tạo dựng con người hoặc chọn lựa Ysơraên hoặc chọn lựa Saulơ, Ngài không ấn định mỗi người sẽ đáp ứng vào ân điển của Ngài như thế nào mặc dầu Ngài biết trước sự việc sẽ như thế nào. Mỗi người đều có cơ hội để đáp ứng một cách tích cực nhưng họ đã không làm như vậy. (Chúng ta sẽ nghiên cứu môn sự Toàn Tri của Đức Chúa Trời trong bài 5 kỹ hơn).
Chúng ta hãy nhớ rằng bản tính của Đức Chúa Trời thì không bao giờ thay đổi. Tất cả mọi điều Ngài làm đều nhất quán với bản tính của Ngài. Vì vậy khi Đức Chúa Trời phán về thành Ninive “còn 40 ngày nữa Ninive sẽ bị đổ xuống” (Gion Gn 3:4), thì chúng ta nhận thấy sự đoán xét và sự công bình không thay đổi của Ngài. Nhưng khi Ninive ăn năn, thì phẩm chất không dời đổi khác của Ngài đó là sự thương xót và sự nhẫn nhục càng trở nên rõ hơn khi Ngài “tự trách” và tha thứ cho Ninive. Trong hình ảnh này, Đức Chúa Trời vẫn không thay đổi, nhưng dân sự của Ninive đã thay đổi. Tất cả những câu Kinh Thánh nói về Đức Chúa Trời “tự trách” có thể được hiểu theo cách này.
4 Như đã thấy trong sự trả lời của Đức Chúa Trời đối với những tình huống được đề cập trong bài học này thì sự ăn năn có thể được giải thích hay nhất như sau:
a) Hành động mà Đức Chúa Trời thực hiện dựa trên quyền thế của Ngài.
b) Sự trả lời mà Đức Chúa Trời ban cho vì sự sa ngã của con người.
c) Mục đích không dời đổi của Đức Chúa Trời để phán xét, hình phạt và hủy diệt con người.
Trong Tân ước chúng ta thấy những ví dụ về sự ăn năn mà đã bày tỏ rõ ràng ý nghĩa của từ này là gì. Trong Mat Mt 21:28-31 Chúa Giêxu cho ẩn dụ về hai con trai. Trong ẩn dụ này, người cha yêu cầu người con lớn đi ra làm việc ở vườn nho. Đứa con trả lời rằng “con không đi”, nhưng sau đó đứa con đã thay đổi và ra đi. Từ Hy lạp dịch từ “Thay đổi quyết định” (sự ăn năn) còn có ý nghĩa “cảm thấy hối tiếc, kinh nghiệm một sự thay đổi về cảm xúc; ăn năn hối hận”. Những từ khác cũng được dùng cho sự ăn năn và sự ăn năn cho chúng ta ý nghĩa của một người đã tiếp cận đến một quan điểm khác nhau về những sự vật. Người này đã có một sự thay đổi về tâm trí và tấm lòng. Anh ta đã nhận ra lỗi và khuyết điểm của mình và anh ta thật sự hối tiếc về những lỗi đó và sẵn sàng từ bỏ nó. Những người ăn năn sẽ minh chứng một thái độ khác trước tội lỗi và trước Đức Chúa Trời.
Sự ăn năn có thể bao gồm một tâm thần thống hối (LuLc 18:13) và một tâm thần đau thương (Thi Tv 51:17). Khi một người (xưng nhận) tội lỗi của mình, người đó có thể tan vỡ bởi sự xấu xa của họ. Một số giống như Phierơ (LuLc 22:62) có thể khóc lóc thảm thiết. Tuy nhiên bất chấp sự đau khổ mà một người cảm thấy hoặc biểu lộ, điều quan trọng là xưng nhận tội lỗi và quyết định từ bỏ nó. Không có một lượng cảm xúc nào hình thành sự xưng nhận và từ bỏ tội lỗi.
5 Như đã xem trong Tân ước những từ đã giải thích về sự ăn năn thì sự ăn năn tượng trưng:
a) Sự đáp ứng mặt xúc cảm của một tội nhân đối với sự tội lỗi.
b) Hối tiếc về những tội lỗi đã phạm và có một sự thay đổi quyết định trước tội lỗi và trước Đức Chúa Trời.
c) Chủ yếu là một sự thay đổi tâm trí và thái độ nhưng không thay đổi cách cư xử.
Sự ăn năn nói đến một (sự buồn rầu theo ý muốn Đức Chúa Trời) sự hối tiếc thật sự của một người ăn năn xoay quanh một sự buồn thảm sâu sắc trong lòng, không phải vì anh ta sẽ bị trừng phạt nhưng bởi những lỗi lầm kinh khiếp mà anh ta đã làm đối với Đức Chúa Trời thánh khiết, yêu thương và đầy ân sủng.

BỎ TỘI LỖI Ở PHÍA SAU
Phaolô nói về sự buồn rầu này với những kẻ tin ở Côrinhtô: vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra hối cải và sự hối cải dẫn đến sự cứu rỗi linh hồn về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết (IICo 2Cr 7:10).
Việc nhận thức tội lỗi và xưng nhận tội lỗi thì cũng quan trọng không kém việc xoay bỏ khỏi tội lỗi và từ bỏ tội lỗi hoàn toàn. Bạn còn nhớ hình ảnh minh họa về sự hối tiếc của cậu bé đã không vâng lời mẹ và làm vỡ hũ bánh. Sự hối tiếc của cậu bé không phải là sự ăn năn thật. Tại sao vậy? Cậu bé vẫn chưa có ý định xoay bỏ những sự cám dỗ để thỏa mãn bản tính hảo ngọt của mình. Ăn năn là xoay bỏ khỏi tội lỗi.
6 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và liệt kê những điều mà con người (từ bỏ) khi họ ăn năn.
a ITe1Tx 1:9 ................
b Cong Cv 14:13-15 ...............
c 26:18 .................
Sự ăn năn không chỉ là cảm xúc hối tiếc về những hành động tội lỗi của bạn. Sự ăn năn thật đó là từ bỏ hẳn tội lỗi. Ví dụ như, Maurice bị bắt là quay bài trong kỳ thi của anh ta. Vị giáo sư trừng phạt anh ta bằng cách cho anh ta điểm 0. Maurice tiếc vì bị bắt gặp quay bài và tiếc vì bị đánh rớt nhưng anh ta lại không hối tiếc về thời gian mà anh ta quay bài và thời gian anh ta bị bắt. Anh ta chỉ tiếc chứ không phải là ăn năn. Thật ra, anh ta sẵn sàng quay bài tiếp nếu có cơ hội. Mary cũng quay bài trong kỳ thi của cô, nhưng lương tâm cô đã cắn rứt cô. Vì vậy cô đã đi tới vị giáo sư, thú nhận sự không trung thực của cô và sẵn sàng chấp nhận hình phạt. Mary ăn năn thật sự bởi vì cô đã quyết định không quay bài nữa. Một vài người nói rằng, “Thiên đàng thì đầy những con người ăn năn là những người đã từng là tội nhân. Địa ngục thì đầy dẫy những con người nuối tiếc”. Nuối tiếc hay hối tiếc về hành động nào đó thì chưa đủ, sự ăn năn đòi hỏi người nào đó đã được tha thứ và đang nhận biết sự vui mừng vì có sự tha thứ tội lỗi.
7 Hãy phân biệt giữa ví dụ về sự ăn năn thật và ví dụ không phải là ăn năn thật (hay là chỉ có hối tiếc mà thôi).
a) Một người cha nọ, sau khi uống say lái chiếc xe hơi của ông ta trên một đường cao tốc đông người, trên đường cao tốc đó ông bị một tai nạn rất nghiêm trọng. Đứa con một của ông ta bị chết và hai người khác bị thương nặng. Ông ta rất hối tiếc và đổ lỗi cho ông ta về thảm kịch đã xảy ra. Ông quyết định tìm cách để quên đi tất cả về thảm kịch đó bằng cách tiếp tục uống cho say.
b) Alonzo chạy trốn cùng với một băng cướp đường phố rất hung hãn. Băng cướp của anh ta đã đánh chết một người đàn ông trẻ.Lương tâm Alonzo đã cắn rứt anh ta. Anh ta nhận thấy sự kinh tởm về tội lỗi của mình và thú nhận sự tham gia của anh ta trong việc này cho cảnh sát. Anh ta cũng (rời khỏi) băng cướp. Anh ta được yêu cầu khai báo thường xuyên cho cảnh sát và theo sát sự chỉ dẫn của họ khoảng một năm và anh ta bắt đầu một cuộc sống mới với tư cách là một công dân tuân thủ luật pháp.
Trong câu hỏi số 7, bạn đã nhận thấy sự khác nhau giữa Alonzo và người cha. Người cha hối tiếc rất nhiều vì lỗi của ông ta tuy nhiên ông ta lại tiếp tục làm những điều mà đã gây ra tai nạn bi thương. Tuy nhiên Alonzo (vượt qua xa hơn sự hối tiếc). Anh ta đã nhận thức rõ lỗi lầm của mình và đã đi đến quyết định. Anh ta đã có sự thay đổi tâm trí và lòng mình- và đã từ bỏ cuộc đời tội phạm của mình.
Trong LuLc 16:19-31 chúng ta thấy người giàu có trong địa ngục đang kêu khóc vì hối tiếc. Ông ta đầy những sự nuối tiếc, nhưng đã quá trễ cho ông ta ăn năn. Hiện bây giờ ai là những người không ăn năn thì một ngày nào đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng trong sự tiếc nuối (Mat Mt 13:42, 50; LuLc 13:28) nhưng đây không phải là sự ăn năn thật. Một ngày kia họ sẽ nói với núi và đá lớn hãy rơi xuống chận trên họ để tránh sự phán xét của Đức Chúa Trời (KhKh 6:16-17) vì cớ họ đã không sẵn lòng xoay bỏ khỏi tội lỗi của họ.
Sự hối tiếc mà không có sự thay đổi chân thật về tâm trí và lòng thì chỉ đưa đến sự tuyệt vọng mà thôi. Nhưng sự ăn năn thật mà sự buồn rầu theo ý muốn của Đức Chúa Trời dẫn đến sự cứu rỗi (IICo 2Cr 7:10) thì bao gồm một sự thay đổi tâm trí và tấm lòng. Sự hối tiếc về sự thất bại, khuyết điểm và lỗi lầm của chúng ta (nếu không có sự thay đổi tấm lòng và tâm trí) làm cho chúng ta đặt sự chú ý của chúng ta vào sự yếu đuối và tội lỗi riêng của chúng ta. Sự hối tiếc này thậm chí làm cho chúng ta ghét bản thân mình nhưng lại làm chúng ta yêu thích sự tội lỗi. Tuy nhiên sự ăn năn đã mở rộng cánh cửa thương xót và tha thứ của Đức Chúa Trời. Sự ăn năn thật giúp chúng ta vượt qua (tình trạng) bất hạnh, khổ sở để đến với thập tự giá của Đấng Christ là nơi có sự tự do, ánh sáng và sự sống.
ĐƯỢC GIẢI PHÓNG KHỎI TỘI LỖI
8 Hãy chọn câu nào dưới đây mô tả hay nhất ý nghĩa của sự ăn năn (Nó đã được trình bày trong Lời của Đức Chúa Trời).
a) Một người nhận thấy mình đã vượt qua bởi sự yếu đuối và thất bại của mình. Anh ta cũng phạm tội bất tuân Luật pháp của Đức Chúa Trời hoặc là thất bại trong việc gìn giữ Luật pháp. Nhận thấy mình là người khổ sở, tội lỗi, đầy sự hối tiếc và giận chính bản thân anh ta bởi sự yếu đuối của mình, anh ta quyết định làm việc tích cực hơn và làm nhiều việc thiện để lấp đi đường lối tội lỗi của anh ta.
b) Một người nhận ra rằng anh ta mắc tội không vâng giữ Luật pháp của Đức Chúa Trời. Anh ta nhận thấy sự ghê tởm về tội lỗi và thật sự hối tiếc. Anh đã xưng nhận tội lỗi mình và quyết định không phạm tội nữa.
Trong câu trả lời a. Chúng ta thấy một khuynh hướng đã đưa một số người đến sự ngộ nhận hoàn toàn về bản chất của sự ăn năn. Đó là khuynh hướng mà một người có thể nhận được đặc ân của Đức Chúa Trời bằng cách làm việc thiện. Như chúng ta thấy, sự ăn năn khi được kết hợp với đức tin trong Đấng Christ đã đem đến sự thay đổi, trong khi đó làm việc thiện là công việc của một hoạch định không theo Kinh Thánh để nhận được sự ban thưởng trước mặt Đức Chúa Trời. Không có một điều gì có thể được thêm vào công việc cứu chuộc của Đấng Christ hơn thế nữa, một nguời cũng có thể làm việc thiện mà không cần phải từ bỏ tội lỗi của anh ta, và có thể anh ta sẽ tin nhầm rằng khi anh ta còn làm những công việc lành thì anh ta có thể tiếp tục trong tội lỗi của mình. Tuy nhiên trong sự ăn năn thì một tội nhân phải nhận ra tội lỗi của mình, xoay khỏi tội lỗi, xưng nhận chúng với Đức Chúa Trời và từ bỏ chúng hoàn toàn. Và chỉ có theo cách này tội lỗi của anh ta mới được tha thứ. Và chỉ theo cách này anh ta sẽ hưởng được những phúc lợi về sự cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời.
CÁC KHÍA CẠNH CỦA SỰ ĂN NĂN.
Mục tiêu 2. Nhận ra được 3 khía cạnh của sự ăn năn và giải thích ý nghĩa của chúng .
Sự ăn năn theo Kinh Thánh có 3 khía cạnh hoặc 3 quan niệm: tri thức, xúc cảm và ý chí (chúng ta sẽ đề cập ý chí như là “một hành động của ý chí” ). Để minh họa những khía cạnh của sự ăn năn này, chúng ta hãy xem xét những ví dụ sau. Giả sử bạn đang đi trên một chiếc xe buýt thình lình bạn nhận thấy rằng bạn đi lộn xe và bạn đang đi ngược lại theo hướng mà bạn muốn đến sự nhận thức này tương ứng với khía cạnh tri thức mà qua đó một người nhận ra rằng anh ta đã sai trật đường lối của Đức Chúa Trời thông qua Lời của Đức Chúa Trời. Bạn sẽ bực mình khi bạn khám phá ra bạn đã đi trật hướng. Bạn có thể sẽ trở nên lo lắng hoặc cũng có thể là sự sợ hãi nữa. Những cảm xúc này minh họa khía cạnh xúc cảm của sự ăn năn. Xúc cảm này là một sự tự buộc tội và hối cải thật sự vì cớ đã xúc phạm Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 7:9-10). Sau đó bạn sẽ bước xuống xe khi có cơ hội và tìm chiếc xe đúng chuyến. Quyết định này minh họa một hành động của ý chí: để tạo nên một sự quay trở lại hoàn toàn và bắt đầu đi theo đường lối của Đức Chúa Trời. Hình ảnh minh họa đơn giản này cho thấy rằng sự ăn năn thật tác động đến tri thức, xúc cảm và ý chí của tội nhân ăn năn.
9 Nhận ra một trong 3 khía cạnh của sự ăn năn bằng cách sắp xếp số của khía cạnh sự ăn năn bên phải với định nghĩa đúng của nó ở bên trái.
Cái giá của việc từ bỏ tội lỗi của chúng ta thì rất cao: “Nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có thì không được làm môn đồ ta” (LuLc 14:33). Sự ăn năn bao gồm mỗi khía cạnh của cuộc đời chúng ta. Nó không chỉ đơn thuần có ý nghĩa việc nhận thức về tội lỗi và hối tiếc về quá khứ nhưng còn có ý nghĩa về những ý muốn của chúng ta trong tương lai. Nó là việc từ bỏ đường lối riêng của chúng ta để theo đường lối của Đức Chúa Trời trong việc vâng phục và thông công với Ngài.
Thường chúng ta hay nghe những sứ điệp nhấn mạnh lời kêu gọi của Chúa Giêxu, “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng hãy đến cùng ta” (Mat Mt 11:28), nhưng Đấng đã phán những tội nhân có gánh nặng “hãy đến” thì Đấng đó cũng phán rằng “Hãy gánh lấy ách ta” (câu 30). Chúng ta không thể “đơn giản chỉ tiếp nhận Chúa Giêxu và được cứu” mà không có sự kết hợp. Chúng ta không thể nào tiếp nhận Chúa Giêxu là Đấng Cứu rỗi của chúng ta mà không bao gồm tri thức, cảm xúc và ý chí của chúng ta là những điều bao gồm mỗi khía cạnh của cuộc sống: những tình cảm của chúng ta, những ước muốn và những ý định của chúng ta. Cần phải có một sự đầu phục hoàn toàn trước uy quyền của Đấng Christ và một tấm lòng chân thành tiếp nhận ách của Ngài.
10 Hãy giải thích làm thế nào một trong những điều này liên quan đến sự cứu rỗi.
a Tri thức ........
b Xúc cảm .............
c Ý chí .............
MỐI TƯƠNG QUAN VỚI SỰ PHỤC HỒI
Mục tiêu 3. Trình bày mối quan hệ giữa sự ăn năn và sự phục hồi .
Trong LuLc 3:3-8 Giăng Báptít rao giảng Phúc âm cho mọi người và thúc giục họ thay đổi đường lối của họ. Trong câu 8 ông thúc giục họ “Hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn”. Tại đây Giăng đang đòi hỏi những bằng cớ minh chứng rằng sự ăn năn của họ là (chân thật). Vứt bỏ lại những gì mà chúng ta tiếp nhận sai hoặc là sửa lại những điều đã làm sai được gọi là sự phục hồi.
Sự phục hồi là một nguyên tắc được giới thiệu trong Luật pháp Cựu ước (XuXh 22:1), LeLv 6:5, Dan Ds 5:6-7). Mặc dầu phong tục tạo nên sự phục hồi cho những điều sai trật mà chúng ta đã làm là theo Kinh Thánh và được ưa chuộng trải qua thời gian dài, chúng ta phải hiểu rằng tự bản thân nó, nó không thể cứu rỗi được một người nào cả.
11 Hãy đọc LuLc 3:8-14 và 19:2-10 và hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu đúng.
a Từ 3:12-13 và 19:8 chúng ta học được rằng Xachê miễn cưỡng trong việc nhận ra tội lỗi của ông ta.
b Trong 9:8 chúng ta thấy rằng Xachê đã thật sự ăn năn.
c Bằng cách so sánh 3:8-14 với 19:2-10 chúng ta học được rằng sự phục hồi là một sự bày tỏ với Đức Chúa Trời và nhân loại rằng chúng ta đã xoay bỏ khỏi đường lối cuộc sống cũ của chúng ta.
Sự phục hồi là một minh chứng có thể thấy được về quyết định của chúng ta trong việc xoay bỏ tội lỗi mà đến với Ngài. Nó làm rõ lời làm chứng của chúng ta rằng chúng ta đang theo một vị thầy mới. Mặc dầu sự phục hồi không phải là phương tiện của sự cứu rỗi, nhưng nó là một dấu hiệu rõ ràng rằng chúng ta đang từng trải ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
12 Hãy trình bày mối quan hệ giữa sự ăn năn và sự phục hồi.
...............................................................
...............................................................
SỰ NHẤN MẠNH CỦA TÂN ƯỚC
Một sứ điệp liên tục
Mục tiêu 4. Liệt kê 4 người giảng về sự ăn năn trong Tân ước và trình bày sự nhấn mạnh của mỗi người .
Kinh Thánh công bố rằng sự ăn năn là bước đầu tiên trong việc quay trở về của linh hồn với Đức Chúa Trời (Exe Ed 14:6; 18:30; MaMl 3:7; LuLc 3:3, 5) Không có sự ăn năn thì không ai có thể được cứu. Và vậy lời cầu xin khẩn thiết cho sự ăn năn là bước đầu tiên trong sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với con người trong cả Tân và Cựu ước sự thúc giục và lời yêu cầu cấp bách của các sách tiên tri trong Cựu ước kết thúc bằng sách Malachi thì được làm sống lại qua sứ điệp về sự ăn năn đầy uy quyền được công bố bởi Giăng Báptít (Mat Mt 3:2, 8, 11; Mac Mc 1:4 LuLc 3:3, 8).
Có một sự triển khai rõ ràng về cách sử dụng từ ăn năn trong Tân ước. Trong Tân ước những từ “hãy ăn năn ” và “hối cải” xuất hiện 64 lần. Từ trong đồng vắng xứ Giuđê Giăng Báptít đã rao lên lời cảnh cáo đối với người Giuđa rằng họ phải ăn năn vì Nước Thiên đàng đã đến gần (Mat Mt 3:1-12). Sứ điệp về sự ăn năn của ông đã gây tiếng vang lớn trong lòng mọi người và hàng ngàn người đã ăn năn và tái dâng cuộc đời của họ cho Đức Chúa Trời. Không còn nghi ngờ gì nữa nhiều trong số những người đáp ứng vào bài giảng của Giăng cũng là trong số hàng ngàn người đã đến với Hội Thánh trong ngày lễ Ngũ Tuần và những ngày kế tiếp.
Chúa Giêxu bắt đầu chức vụ của Ngài tại Galilê và cũng giống như Giăng Ngài giảng dạy “Hãy ăn năn, vì Nước Thiên đàng đã đến gần” (Mat Mt 4:17 hãy so sánh với Mac Mc 1:15). Trong Mat Mt 4:17 (JEV) định nghĩa về sự ăn năn như sau: “Hãy từ bỏ tội lỗi các ngươi vì Nước Thiên đàng đã đến gần”. Sự ăn năn vẫn tiếp tục (giữ) một vị trí quan trọng trong bài giảng của Chúa Giêxu và các mộn đồ Ngài (Mat Mt 11:22; 12:41, LuLc 5:32, Mac Mc 6:12).
Một trong những mạng lệnh cuối cùng Chúa Giêxu ban cho trước khi Ngài thăng thiên đó là rao giảng cho dân các nước về sự ăn năn để được tha tội (LuLc 24:47, Cong Cv 1:8). Tuy nhiên sứ điệp triển khai trọn vẹn về sự ăn năn và đức tin xuất hiện trong sách Công vụ là sách mà sự ăn năn được nhấn mạnh từ đầu đến cuối. Phierơ giảng “Hãy hối cải” để được tha tội trong ngày lễ Ngũ Tuần và hàng ngàn người đã ăn năn (Cong Cv 2:38). Ngay sau đó ông tiếp tục giảng cùng một sứ điệp như vậy và một lần nữa nhiều người đã ăn năn tội lỗi của họ và trở lại với Đức Chúa Trời (3:19). Trong chức vụ sau cùng của ông thông qua những thơ tín ông nói về Chúa như sau: “Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (IIPhi 2Pr 3:9).

GIĂNG BÁPTÍT CHÚA JÊSUS SỨ ĐỒ PHAOLÔ
Phaolô giảng sự ăn năn cho hội đồng thành phố ở Athen (Cong Cv 17:30) và trong tường thuật chức vụ của mình ông nói rằng: “Tôi đã giảng cho người Giuđa như cho người Gờréc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin trong Đức Chúa Giêxu là Chúa chúng ta” (20:21) ông nói thêm sự kiện này về sự bỏ qua sự ăn năn: “Đức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn” (17:30).
13 Trong tập của bạn, hãy liệt kê 4 người giảng về sự ăn năn trong Tân ước và trình bày sự nhấn mạnh của mỗi người.
14 Hãy khoanh tròn ký tự của những câu đúng liên quan đến sự nhấn mạnh về sự ăn năn trong Tân ước.
a Chủ đề của sự ăn năn ngầm chỉ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với mọi người hãy nhận biết Ngài.
b Sự kêu gọi ăn năn của Giăng Báptít là một sự liên tục về lời yêu cầu cấp bách của các tiên tri Cựu ước cho việc trở lại sự công bình.
c Sứ điệp ăn năn cho sự tha thứ tội lỗi được rao giảng bởi Phierơ và Phaolô chỉ dành cho dân (Do thái) mà thôi.
d Sự ăn năn là chủ đề chính của Giăng Báptít, Chúa Giêxu và các môn đồ của Ngài và của Hội Thánh đầu tiên.
Sự ăn năn là một chủ đề luôn được lặp đi lặp lại trong Kinh Thánh. Khi nào nhu cầu về sự cứu rỗi cho tội lỗi còn thì nhu cầu về sự ăn năn vẫn còn. Điều này luôn đúng từ khi sự sa ngã của con người và sẽ tiếp tục đúng cho đến thời kỳ ân điển và cơ hội ăn năn trôi qua.
Ai sẽ ăn năn
Mục tiêu 5. Nhận ra được ai phải ăn năn và tại sao ?
Sự kêu gọi về sự ăn năn thì dành cho toàn cầu. “Đức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy con người trong mọi nơi đều phải từ bỏ con đường gian ác của họ” (17:30 TEV). Mỗi người đều được bao gồm trong sự kêu gọi này. Tất cả những người chưa tin nhận Đấng Christ đều được kêu gọi hãy ăn năn, tiếp nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời và trở nên một thành viên trong gia đình của Ngài (GiGa 3:15-17; Tit Tt 2:11, KhKh 22:17).
Cũng vậy đối với những ai đã thật sự tin nhận Đấng Christ và trở nên môn đệ Ngài cũng được kêu gọi ăn năn. Đôi lúc các Cơ đốc nhân đã đánh mất đi sự nóng cháy của họ đối với Đấng Christ, khi tình yêu của họ đối với Ngài ngày càng nguội lạnh đi. Các Cơ đốc nhân tại Hội Thánh Êphêsô cũng mắc tội này (2:5). Họ được kêu gọi ăn năn và làm mới lại mối tương giao giữa họ đối với Đấng Christ. Đối với các Cơ đốc nhân khác như ở Hội Thánh Laođixê cũng đã trở nên hâm hẩm về phần thuộc linh đến nỗi đời sống thuộc linh của họ cũng bị đe dọa (KhKh 3:15-17), sự ăn năn thật là liều thuốc duy nhất cho sự chết thuộc linh, sự hâm hẩm và sự thờ ơ. Sự ăn năn là cách duy nhất trở về cùng với Đức Chúa Trời mỗi khi bị sa ngã và phạm tội. Lời hứa về sự tha thứ của Ngài trong IGi1Ga 1:9 “Nếu chúng ta xưng tội mình ra” thì được ban trực tiếp cho các Cơ đốc nhân, mặc dầu nó có thể được áp dụng cho bất cứ ai sẵn sàng ăn năn.
15 Hãy lựa chọn những câu đúng trình bày ai phải ăn năn và lý do tại sao họ phải ăn năn dưới đây.
a) Mỗi một người chưa tin nhận Đấng Christ đều được kêu gọi ăn năn tội lỗi của mình và theo Ngài.
b) Các Cơ đốc nhân, những người bị chìm đắm trong tội lỗi, những người đã đánh mất đi tình yêu từ lúc ban đầu của họ hoặc là đã trở nên thờ ơ về phần thuộc linh thì cũng được kêu gọi ăn năn để duy trì một lương tâm trong sạch trước Đức Chúa Trời.
c) Các Cơ đốc nhân cũng như những người chưa phải là Cơ đốc nhân phải ăn năn để được cứu rỗi.
TỪNG TRẢI VỀ SỰ ĂN NĂN
Mục tiêu 6. Giải thích tại sao sự ăn năn là cần thiết , nó được hình thành như thế nào và những kết quả của nó là gì ?
Tại sao nó lại cần thiết?
Đối với câu hỏi, “Tại sao sự ăn năn là cần thiết ?”. Chúng ta có thể trả lời: “Bởi vì tất cả mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (RoRm 3:23). Điều này cũng bao gồm tất cả chúng ta, không ai là ngoại lệ cả (ngoại trừ Chúa Giêxu Christ). Bạn có thể nhớ lại trong bài học 1 rằng nếu tội lỗi thì không thể sống theo Luật pháp của Đức Chúa Trời hoặc là làm trái Luật pháp Ngài. Người kiểm soát viên đường sắt vì không đóng chặt cửa an toàn vì vậy dẫn tới nguyên nhân là xe lửa tốc hành đã tông vào một chiếc xe hơi đông người và làm nhiều người chết, ông ta bị buộc tội gây ra sự chết chóc giống như là một tội phạm cố ý bắn và giết người. Ông ta phạm tội thiếu sót bởi vì ông ta biết rõ những yêu cầu về công việc đối với ông ta nhưng ông ta lại làm trái với công việc khi thực hiện (Gia Gc 4:17). Tên tội phạm cố ý bắt và giết người thì phạm tội cố ý. Anh ta phạm tội làm trái luật pháp (GiGa 3:40). Cho dù tội lỗi của chúng ta là thiếu sót (không làm đúng theo lời yêu cầu) hoặc cố ý (làm những điều ngăn cấm) chúng ta có thể nhận biết rằng tất cả mọi sự không công bình đều là tội (IGi1Ga 5:17).
Vì cớ phạm tội, chúng ta là những tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Luật pháp đòi hỏi việc trả giá cho tội lỗi và vì tiền công của tội lỗi là sự chết (RoRm 6:23), như vậy trong tình trạng tội lỗi của chúng ta, chúng ta phải chịu bị kết án và không thể tránh được. Nhưng Đức Chúa Trời đã ban sự tha thứ và đời sống vĩnh cửu cho những ai tiếp nhận sự tha thứ của Ngài.
16 Hãy giải thích tại sao sự ăn năn là cần thiết. Hãy dùng tập ghi chép của bạn nếu cần.
......................................................................
Nó được hình thành như thế nào?
Trong RoRm 2:4 Phaolô nói rằng: “Chắc chắn rằng người nhận biết lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời đem người đến sự ăn năn sao”. Đức Chúa Trời trong sự thương xót và thương yêu đã dẫn mọi người đến sự ăn năn (GiGa 6:44).Tuy nhiên Ngài sử dụng nhiều cách để đem họ tới kinh nghiệm này. Một trong những cách thông thường là thông qua Lời của Đức Chúa Trời. Khi Giôna giảng Lời Đức Chúa Trời cho dân thành Ninive, họ tin vào điều này và đã từ bỏ cách cư xử gian ác của họ và hành động tội lỗi (Gion Gn 3:4, 8, 10).
Thêm vào đó, sự rao giảng về thập tự giá cũng đem đến sự ăn năn. Sứ điệp về tình yêu của Đức Chúa Trời được minh chứng tại thập tự giá cảm động mọi người. Sứ điệp này kêu gọi những ai đang khổ sở và không còn hy vọng trong vòng tội lỗi của họ, những người này cần sự chữa lành thuộc linh (Mat Mt 9:13). Tình yêu mà ban một hướng cho những con người không xứng đáng nhận được sự tha thứ đã dẫn đến sự ăn năn.
Một khải tượng mới về Đức Chúa Trời cũng dẫn đến sự ăn năn. Khi Gióp thấy sự oai nghi của Đức Chúa Trời được bày tỏ, ông đã hạ mình và ăn năn (Giop G 42:1-6). Sau đó bạn sẽ thấy rằng sự tốt lành của Đức Chúa Trời dẫn chúng ta đến sự ăn năn thông qua Lời của Đức Chúa Trời, thông qua sự rao giảng về thập tự giá và thông qua một khải tượng mới về Đức Chúa Trời. Còn có những cách khác mà Ngài cũng sử dụng nữa. Bạn có bao giờ nghe rằng “Thời giờ duy nhất mà một vài người bắt đầu tìm cầu là khi họ đã trở nên trắng tay.
Cha yêu thương Thiên Thượng cho phép những biến cố xảy ra trên đời sống chúng ta để cho chúng ta nhận thấy nhu cầu riêng của chúng ta (KhKh 3:19). Đôi khi khó khăn, bệnh tật hoặc bi kịch giúp chúng ta nhận ra nhu cầu của chúng ta trước Đức Chúa Trời. Hãy nhớ rằng, “Chỉ đến khi người con trai hoang đàng nhận ra được sự xấu xa về hành động của mình mà nó đã tỉnh ngộ đi tới quyết định ăn năn và trở về nhà” (LuLc 15:17-20).
Đôi khi Đức Chúa Trời sử dụng những ví dụ hoặc những lời làm chứng về Chúa và những Cơ đốc nhân hết lòng để đưa con người đến sự ăn năn, chúng ta có thể tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ sử dụng nhiều cách để phán vào lòng của mỗi người.
17 Hãy ghi ra một số cách mà Đức Chúa Trời sử dụng để đưa con người đến sự ăn năn.
..................................................................
....................................................................
Kết quả là gì?
Kết quả của sự ăn năn thật sự rất kỳ diệu. Sự ăn năn đem đến sự vui mừng trong lòng tội nhân và ngay lúc đó Thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng sẽ mừng rỡ cho kẻ có tội ăn năn (LuLc 15:10). Sự ăn năn mở cửa dẫn đến đức tin và sự tha thứ tội lỗi. Giăng nói rằng: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
Thêm vào sự vui mừng kỳ diệu mà tội nhân được kinh nghiệm khi họ ăn năn, thì còn có những phước hạnh tốt lành, khi Gióp ăn năn thì Đức Chúa Trời đã chữa lành cho ông và ban lại cho ông con cái và những sự chúc phước về vật chất. (Giop G 42:10-17) và khi Giôna ăn năn, Đức Chúa Trời đã cứu ông ta khỏi giây phút của tử thần (Gion Gn 2:1-10). Hơn thế nữa, Đức Chúa Trời đã hứa rằng “Và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, từ bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (IISu 2Sb 7:14).
Hãy tưởng tượng rằng sự cứu rỗi cũng giống như một dây xích và rồi hãy nghĩ đến sự ăn năn, đức tin và sự thay đổi chính là những mắc xích trong dây xích này. Và nếu mỗi mắc xích trong một dây xích bị tách rời ra thì “mắc xích của sự cứu rỗi” cũng giống như vậy. Mỗi mắc xích thì tách rời hẳn nhau, tuy nhiên nó được nối liền với những “mắc xích” khác. Khi tiến trình ăn năn bắt đầu, nó kích thích một “sự phản ứng dây chuyền” mà trong đó đức tin, sự quy đạo, sự tái sinh, sự công bình và sự tiếp nhận được gắn liền với nhau để đưa đến kinh nghiệm quyền năng về sự cứu rỗi.
SỰ QUY ĐẠO


SỰ ĂN NĂN ĐỨC TIN SỰ THA THỨ
18 Hãy trình bày một số kết quả của sự ăn năn.
....................................................................
....................................................................

Bài tập trắc nghiệm
Hãy khoanh tròn ký tự của câu trả lời đúng trong mỗi câu hỏi sau đây:
1 Sự ăn năn thì rất quan trọng trong tiến trình sự cứu rỗi bởi vì nó là:
a) bước đầu tiên trong việc quay trở về với Đức Chúa Trời.
b) những minh chứng sự xứng đáng của người ăn năn.
c) bày tỏ sự buồn rầu là phần quan trọng nhất của sự ăn năn.
2 Sự ăn năn được định nghĩa hay nhất là:
a) minh chứng sự buồn rầu vì cớ tội lỗi.
b) nhận ra tội lỗi, hối tiếc về những điều chúng ta đã làm, xưng nhận tội lỗi trước mặt Đức Chúa Trời và từ bỏ nó hoàn toàn.
c) sự nhận biết về những khuyết điểm và lòng mong muốn làm tốt hơn.
3 Câu chuyện về người giàu trong địa ngục kêu khóc vì tiếc nuối dạy dỗ chúng ta rằng:
a) một số người có khuynh hướng nhận thức tội lỗi của mình tại thời điểm cuối cùng của cuộc đời.
b) chúng ta phải cẩn thận tra xét đời sống của chúng ta luôn luôn để nhận biết chúng ta đang làm những điều mà chúng ta cảm thấy là đúng.
c) những ai không ăn năn ngay bây giờ sẽ khóc trong sự nuối tiếc trong một ngày nào đó........khi đã quá muộn.
4 Những khía cạnh khác nhau của sự ăn năn dạy dỗ chúng ta rằng:
a) mỗi khía cạnh của con người chúng ta thì gắn liền với hành động ăn năn.
b) về cơ bản sự ăn năn là một bước đơn giản, và cái giá mà chúng ta phải trả thì rất ít hoặc không có gì cả.
c) sự ăn năn là một món quà của Đức Chúa Trời; vì vậy nó là một hành động mà con người không có phần.
5 Vì sự ăn năn giữ một vị trí quan trọng trong suốt Kinh Thánh chúng
ta nhận thấy rằng:
a) sự ăn năn mang một vị trí ít quan trọng trong Tân ước bởi vì Tân ước nhấn mạnh vào ân điển.
b) sự ăn năn ngoài các sách Phúc âm thì không quan trọng và vì vậy cũng không quan trọng trong Tân ước.
c) Có một sự triển khai trọn vẹn của sự dạy dỗ về sự ăn năn trong Tân ước
6 Theo như sự dạy dỗ của Kinh Thánh, vậy ai là người phải ăn năn? (Hãy khoanh tròn câu trả lời đúng nhất).
a) những người chưa tin nhận Chúa phải ăn năn.
b) các Cơ đốc nhân sa ngã, và trở nên nguội lạnh về mặt thuộc linh, và tất cả tội nhân đều được kêu gọi ăn năn.
c) sự ăn năn là sự đòi hỏi cho sự chọn lựa.
7 Như chúng ta đã học trong bài học này thì sự ăn năn hình thành bởi.
a) sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Nó là một món quà và vì vậy con người không có phần trong hành động.
b) sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Và những cách mà Ngài sử dụng thông thường là sứ điệp của Ngài, sự rao giảng về thập tự giá, một khải tượng của Đức Chúa Trời hoặc là những (tình huống) khó khăn, bệnh tật và bi kịch.
c) bản tánh tốt lành của con người, là những minh chứng sự sẵn lòng đi theo đường lối của Đức Chúa Trời sau khi họ đã xem xét cẩn thận những hậu quả tội lỗi của họ.
8 Kinh Thánh dạy rằng sự ăn năn là cần thiết bởi vì:
a) tất cả mọi người đều phạm tội.
b) nó là nhu cầu cần thiết cho tất cả mọi người cho dù họ có phạm tội hay không.
c) nó là một minh chứng rằng những dự định của con người là đúng.
9 Hãy khoanh tròn ký tự của câu trả lời trọn vẹn nhất. Những kết quả của sự ăn năn là:
a) tội nhân được đầy dẫy sự vui mừng khi được làm thành viên trong gia đình của mình và cộng đồng.
b) sự vui mừng Thiên Thượng trong những tội nhân trở về với Đức Chúa Trời.
c) thế gian được tràn đầy sự vui mừng dựa trên sự thay đổi có được bởi những việc làm.
10 Sự phục hồi là một sự dạy dỗ theo Kinh Thánh. Giá trị quan trọng nhất của nó nằm trong sự kiện.
a) nó đưa đến sự ban thưởng trước Đức Chúa Trời.
b) nó đem sứ điệp đến cho thế gian:
c) nó đảm bảo sự cứu rỗi cho những ai nhận được sự phục hồi.
11 Hãy nhận diện những khía cạnh ăn năn bằng cách sắp xếp mỗi khía cạnh vào định nghĩa đúng hoặc là sự áp dụng của nó.
Trả lời những câu hỏi nghiên cứu
10 Câu trả lời của bạn có thể được diễn tả hơi khác của chúng tôi: a Khía cạnh tri thức về sự ăn năn giải quyết sự nhận thức về tội lỗi của chúng ta và sự không xứng đáng của chúng ta trước Đức Chúa Trời. b Khía cạnh xúc cảm quan tâm về sự hối tiếc và sự xấu hổ mà chúng ta cảm nhận vì cớ tội lỗi của chúng ta đã đi ngược lại ân điển và tình yêu thương của Đức Chúa Trời. c Khía cạnh ý chí trong sự ăn năn quan tâm về hành động của ý chí đem đến sự từ bỏ tội lỗi của chúng ta và trở về cùng Đức Chúa Trời.

c) Nhận ra tội lỗi của mình, hối tiếc về tội lỗi, xoay bỏ tội lỗi và tư
bỏ hoàn toàn.
11 a Sai
b Đúng
c Đúng

2 a Đức Chúa Trời “tự trách” vì cớ sự gian ác của con người. Ngài “hối tiếc” vì Ngài đã tạo dựng con người.
b Đức Chúa Trời “tự trách” bởi vì dân Ysơraên đã phạm tội và từ chối Ngài. Ngài “đã thay đổi ý định của Ngài”.
c Đức Chúa Trời “tự trách” bởi sự bất phục của Saulơ. Đức Chúa Trời nói rằng Ngài “hối tiếc” vì đã lập Sau lơ làm vua.
12 Sự phục hồi là minh chứng của sự ăn năn thật. Nó không thể cứu, nhưng nó xác nhận rằng chúng ta đã trải qua một sự thay đổi.
3 Đức Chúa Trời có sự nhận biết đầy đủ và trọn vẹn về tất cả mọi điều.
13 Giăng Báptít giảng sự ăn năn và nhấn mạnh Đấng Mêsi đã đến. Chúa Giêxu cũng giảng sự ăn năn để tha thứ tội lỗi và Nước Trời đang đến gần. Phierơ đặt để chức vụ của ông trong việc giảng cho dân Giuđa và người ngoại đạo.

4 b) sự đáp ứng của Đức Chúa Trời cho sự thất bại của con người.
14 a Đúng c Sai
b Đúng d Đúng.

5 b) Hối tiếc về tội lỗi đã phạm và một sự thay đổi quyết định trước tội lỗi và Đức Chúa Trời.

15 Câu trả lời a và b đều đúng. Câu c. sai bởi vì Cơ đốc nhân không phải ăn năn cho sự cứu rỗi. Họ ăn năn để duy trì một lương tâm trong sạch và mối thông công với Chúa của họ.

6 a Hình tượng
b Sùng bái hình tượng và sự mê tín.
c Sự tăm tối và Satan.
16 Tất cả chúng ta đều phạm tội. chúng ta không làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời và chúng ta phạm tội không làm đúng Luật pháp của Ngài cái giá phải trả của những tội nhân không ăn năn là sự chết, nhưng đối với tất cả những ai ăn năn Đức Chúa Trời ban cho sự tha thứ và sự cứu rỗi.

7 b) Alonzo chạy trốn cùng với một nhóm băng cướp đường phố...........
17 Sự tốt lành của Đức Chúa Trời đưa chúng ta đến sự cứu rỗi. Những cách mà Ngài sử dụng là thông thường qua Lời của Ngài, sự giảng về thập tự giá, và một khải tượng về Đức Chúa Trời. Khó khăn, bệnh tật và bi kịch cũng có thể đem đến cho chúng ta sự cứu rỗi. Đời sống của những Cơ đốc nhân cũng như lời làm chứng của họ là những cách mà Đức Chúa Trời sử dụng để đem đến cho chúng ta sự cứu rỗi.

8 b) Một người nhận ra rằng anh ta phạm tội làm trái luật pháp của Đức Chúa Trời
18 Sự ăn năn đem đến sự vui mừng trong tội nhân ăn năn và trong Thiên đàng. Nó có trước đức tin và dẫn đến sự tha thứ. Nó là mắc xích thứ nhất trong dây chuyền của sự cứu rỗi.

9 a 3) Một hành động ý chí
b 1) Tri thức
c 2) Xúc cảm.
BÀI 3 : CON NGƯỜI TIN CẬY VÀO ĐỨC CHÚA TRỜI: ĐỨC TIN

Một trong những câu Kinh Thánh quan trọng nhất phán rằng: “Vả không đức tin thì chẳng thể nào có thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời” (HeDt 11:6). Tại sao câu này lại rất quan trọng? Tôi chắc chắn rằng bạn sẽ đồng ý rằng đời sống của một người sẽ bị khống chế bởi những điều mà người đó tin. Và đối với những Cơ đốc nhân thì được quản trị bởi Đấng mà họ tin. Đức tin trong Chúa Giêxu Christ và sự cứu rỗi ban cho của Ngài thì thật sự quan trọng đối với mỗi người trong chúng ta và đến mỗi người trong thế gian.
Chúng ta không thể nào không khâm phục sự gan dạ, kiên trì của người đờn bà Canaan với quyết tâm cầu xin sự chữa lành cho con gái của bà (Mat Mt 15:21-28). Chúng ta cũng ngạc nhiên trước sự hạ mình của thầy đội, ông nhận rằng mình không xứng đáng để Đấng Christ vào nhà của ông (8:5-10). và chúng ta cũng ngạc nhiên trước sự cương quyết và mong mỏi của Batimê mặc dầu bị đám đông từ chối song lại kêu lớn tiếng để cầu xin sự thương xót của Chúa Giêxu (Mac Mc 10:46-52) Có thể người đờn bà Canaan, thầy đội La mã và người ăn xin mù lòa đều có những điểm chung, những điểm mà có thể đã thật sự gây ấn tượng đối với Ngài? Vâng, điều mà Chúa đã thấy và ban cho trong mỗi trường hợp này đó là đức tin. Đức tin đã thật sự làm cảm động Chúa Giêxu khi Ngài đi giữa đoàn người.
Yếu tố cơ bản trong kinh nghiệm về sự quy đạo là đức tin. Khi một người thật sự ăn năn, người đó phải đặt sự tin cậy của mình vào Chúa Giêxu. Giăng nói cùng chúng ta rằng: “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời” (GiGa 1:12). Trong bài học này, chúng ta sẽ nghiên cứu những khía cạnh tin nhận và tiếp nhận của sự quy đạo: Khi một người từ bỏ tội lỗi trở về cùng Đức Chúa Trời, và sự thay đổi kỳ diệu diễn ra trong lòng người ấy bởi Đức Thánh Linh.
Dàn ý bài học
Tầm quan trọng của đức tin.
Bản chất của đức tin
Các yếu tố đức tin.
Kinh nghiệm đức tin
Các mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất baì học này, bạn có thể:
Giải thích được tầm quan trọng của đức tin cứu rỗi trong công việc cứu rỗi.
Nhận ra các yếu tố trong đức tin cứu rỗi và giải thích ý nghĩa của từng yếu tố.
Đánh giá trọn vẹn hơn công việc của Đức Thánh Linh và Lời Đức Chúa Trời mà thông qua đó đức tin được hình thành và được duy trì.
Các hoạt động học tập
Hãy đọc kỹ Hêbơrơ 11. Khi bạn đọc, hãy nghĩ về những người tin một cách đơn sơ và trọn vẹn vào lời hứa của Đức Thánh Linh.
Hãy đọc từng mục tiêu bài học và ghi chú những sự phân loại chính của bài học trong dàn ý bài học.

Triển khai bài học
TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỨC TIN

Mục tiêu 1. Giải thích tầm quan trọng của đức tin trong đời sống Cơ đốc nhân .

Mỗi đặc trưng về sự cứu rỗi của chúng ta là mỗi công việc siêu nhiên mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện. Chúng ta hãy xem lại những đặc trưng này.
1. Sự lựa chọn Thiên Thượng từ trước vô cùng.
2. Sự hy sinh của Đấng Cứu rỗi.
3. Sự ban cho ân điển chung và ân điển cứu rỗi.
4. Tội nhân được kéo về Ngài bởi Đức Thánh Linh.
5. Công việc cứu rỗi ngay tức thời của Đức Chúa Trời trong tất cả các khía cạnh kỳ diệu của nó.
6. Công việc bảo vệ của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh.
7. Công việc giải phóng và ban cho quyền phép của Đức Thánh Linh.
8. Sự trọn vẹn cuối cùng và sự hiện diện của các Thánh trong sự vinh hiển.
Cách duy nhất mà chúng ta có thể nhận được sự cứu rỗi được ban cho cách kỳ diệu của Đức Chúa Trời là hãy tiếp nhận sự cứu rỗi được ban cho bằng đức tin. Chúng ta chỉ có thể sử dụng được của cải đời đời mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta bởi ân điển tối cao của Ngài bằng đức tin của chúng ta mà thôi.
1 Hãy đọc một trong những số câu Kinh Thánh tham khảo dưới đây và rồi hãy viết lại sau mỗi câu đức tin hoàn thành điều gì?
a Eph Ep 2:8, RoRm 5:1 ..............................................
b Hãy so sánh Cong Cv 26:18 với 15:9 ........................

c IPhi 1Pr 1:5; GiGa 5:4; RoRm 11:20

d Gia Gc 5:15, Cong Cv 14:9
e GaGl 3:2, 5:14
f RoRm 4:18-22; Mac Mc 9:23
g HeDt 11:6
h Mat Mt 15:28
I Mac Mc 2:3-5
j RoRm 14:23
Vậy chúng ta thấy rằng cùng với kinh nghiệm cứu rỗi của chúng ta, thì mỗi khía cạnh của đời sống Cơ đốc nhân còn tùy thuộc vào sự rèn luyện đức tin ở một (phạm vi) rộng hơn thì hành động của chúng ta được xác định bởi những gì mà chúng ta tin. Chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời biết tất cả mọi điều mà chúng ta nói, chúng ta làm và chúng ta tư duy; vì vậy chúng ta hãy làm những điều đẹp lòng Đức Chúa Trời.
2 Hãy giải thích tầm quan trọng của đức tin trong đời sống Cơ đốc nhân bằng tư cách riêng của bạn.
.......................................................................
Mối tương quan của đức tin và sự ăn năn
Mục tiêu 2. Nhận ra được những sự khác nhau giữa sự ăn năn và đức tin trong tiến trình quy đạo .
Trong bài học trước chúng ta đã học rằng hành động của sự ăn năn bắt đầu một “phản ứng dây chuyền”.Tuy nhiên “sự kiện cứu rỗi hình thành trong sự chuyển tiếp bao gồm cả những khía cạnh ăn năn lẫn đức tin (và những khía cạnh khác của sự cứu rỗi)”, vì vậy chúng ta nên cố gắng nhận biết những khía cạnh này khi chúng xảy ra cùng một thời gian. Tuy nhiên để dễ dàng cho việc thảo luận mỗi khía cạnh, chúng ta hãy chấp thuận thứ tự như sau: sự ăn năn, đức tin, sự quy đạo, sự tái sinh, sự công bình và sự thừa nhận.
Từ bỏ tội lỗi (ăn năn) và trở về cùng Đức Chúa Trời (đức tin) là những điều kiện cho sự cứu rỗi. Không có một công lao nào đối với sự ăn năn và đức tin. Đức Chúa Trời đã thật sự ban cho tất cả mọi điều cần thiết cho sự cứu rỗi. Tuy nhiên bởi sự ăn năn chúng ta đã cất đi rào cản để nhận phần thưởng sự cứu rỗi, và bởi đức tin chúng ta tiếp nhận phần thưởng.
Sự ăn năn đề cập đến tội lỗi và sự bất hạnh mà tội lỗi gây ra trong khi đó đức tin nhấn mạnh vào sự thương xót của Đức Chúa Trời. Đức tin là phương cách mà thông qua đó chúng ta có thể nhận được sự cứu rỗi (RoRm 10:9-10). Không có đức tin thì không thể có sự ăn năn thật bởi vì chỉ những ai thật sự hối tiếc tội lỗi của mình mới cảm thấy cần có một Đấng Cứu rỗi và sự cứu rỗi cho linh hồn của người đó. Nói một cách khác, không thể có sự ăn năn theo ý muốn Đức Chúa Trời mà lại không có đức tin vào Lời của Ngài, nếu không thì làm sao người ấy có thể tin vào sự ban cho của sự cứu rỗi và sự kinh khiếp của sự phán xét đời đời?
3 Trong bài sau hãy ghi chú sự khác nhau giữa các ví dụ về đức tin và sự ăn năn trong quá trình quy đạo bằng cách đánh dấu số 1 trước những câu chỉ sự ăn năn và số 2 trước những câu chỉ đức tin.
BẢN CHẤT CỦA ĐỨC TIN

Định nghĩa về đức tin #

Mục tiêu 3. Nhận biết ý nghĩa cơ bản của từ “đức tin ” theo như Kinh Thánh

Chúng ta đã nhận thấy rằng đức tin là một phần quan trọng, cần thiết của đời sống Cơ đốc nhân. Và chúng ta cũng đã ghi nhận rằng trong một phạm vi rộng lớn, đức tin quyết định hành động của chúng ta. Nhưng đức tin là gì? HeDt 11:1 cho chúng ta một mô tả về một trong những mục đích của đức tin nhưng vẫn chưa định nghĩa thuật ngữ này. Đối với mục đích của chúng ta, đức tin sẽ được định nghĩa như là “hành động và thái độ sẵn sàng của một người nào đó mà anh ta đặt lòng tin trọn vẹn của mình vào một thực thể đáng tin cậy và cho phép thực thể ấy điều khiển hành động của mình”. Trong thế giới thuộc linh thực thể đáng tin cậy đó là Đức Chúa Trời và hành động sẵn sàng đến bởi sự nghe và tin vào Lời của Đức Chúa Trời.
Đức tin bao gồm cả niềm tin và sự tin cậy. Trong Cựu ước thuật ngữ “tin” được dùng để dịch từ Hylạp có ý nghĩa “gây dựng, hoặc là hổ trợ, xác nhận hoặc là trung tín; tin cậy” Trong Tân ước thì từ này được dùng để dịch từ Hylạp có ý nghĩa ” có đức tin hoặc là tin cậy, đặt lòng tin cậy, hứa nguyện”. Hoặc là một từ Hylạp khác có nghĩa “tán thành, nhờ cậy, được thuyết phục, có lòng tin vào...”. Khi đi vào chi tiết chúng ta có thể thấy rằng ” tin ” khi được sử dụng với Đức Chúa Trời hoặc Đấng Christ như là thực thể của nó thì xoay quanh ba điều: 1) Hiệp nhất với chân lý mà Ngài phán hoặc bày tỏ. 2) Tiếp nhận và tin cậy Ngài cách cá nhân và 3) Hứa nguyện vâng phục Ngài. Từ “tin” được dùng thường xuyên với giới từ “trong” hoặc là “trên”; ví dụ như: Dùng để nhấn mạnh các yếu tố tin cậy và sự hứa nguyện “Hãy tin cậy Chúa Giêxu thì ngươi và cả nhà ngươi đều sẽ được cứu” (Cong Cv 16:31). Chúng ta phải cẩn thận không được giới hạn niềm tin và sự đồng lòng của tri thức mà thôi. Chân lý về Đức Chúa Trời là cần thiết bởi vì Lời Kinh Thánh phán rằng “Vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài”. (HeDt 11:6). Tuy nhiên, chỉ niềm tin vào Đức Chúa Trời thì chưa đủ: “Ngươi tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, ngươi tin phải, ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ”. (Gia Gc 2:19). Và mặc dầu ma quỉ tin, chúng vẫn là ma quỉ.
Vì vậy đức tin có nghĩa là từ bỏ tất cả sự tin cậy vào các nguồn riêng tư của chính chúng ta và đặt chúng ta hoàn toàn vào sự thương xót của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta được hướng dẫn đến sự quy đạo, Đức Chúa Trời giúp chúng ta tin vào chân lý của Kinh Thánh. Trong cách này, chúng ta đạt được lòng tin vào ân điển của Đức Chúa Trời. Đây là đức tin.
Khi chúng ta đã trở nên quen thuộc với những định nghĩa và những mô tả về đức tin. Chúng ta phải nhớ như sau: “Đức tin là sự thay đổi hướng đi của tội nhân ăn năn trở về với sự thương xót của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ”, nó giúp con người có thể nói rằng “trong đức tin cứu rỗi, ta đã từ bỏ sự vô tín và lòng tin vào cá nhân để nhận lấy Đấng Christ. Ta đặt số phận đời đời của ta vững chắc ở trong Ngài.
4 Hãy chọn câu định nghĩa chính xác, trọn vẹn ý nghĩa cơ bản của từ đức tin theo Kinh Thánh. Đức tin có thể được định nghĩa:
a) Là cái mà chúng ta hy vọng sẽ được thực hiện bởi sự cầu nguyện của chúng ta và tấm lòng khao khát của chúng ta.
b) Là hành động mà chúng ta đặt lòng tin trọn vẹn của chúng ta trong một Đấng đang tin cậy là Đức Chúa Trời và để Ngài điều khiển hành động của chúng ta.
c) Là hành động trung thành với sự quyết định vào một thực thể ao ước hoặc là mục tiêu.
Các loại đức tin
Mục tiêu 4. Nhận dạng các loại đức tin khác nhau .
Đức tin có thể được mô tả bằng nhiều cách. Tuy chúng ta thường nghĩ đức tin gắn liền với kinh nghiệm thuộc linh, tuy nhiên cũng có một đức tin không mang tính tôn giáo mà chúng ta cũng quen thuộc. Ví dụ như, vì chúng ta tin tưởng vào các hệ thống điện tử của chúng ta, cho nên chúng ta đã nhấn nút và bật đèn lên. Chúng ta cũng đặt đức tin vào hệ thống giao thông vì vậy chúng ta lái xe ở tốc độ cao theo sau các xe phía trước mà không có gì ngăn cách chúng ta ngoại trừ một đường dài trắng nhỏ trên con đường. Chúng ta đặt đức tin vào các hệ thống ngân hàng, vì vậy chúng ta chuyển tiền vào các ngân hàng. Và bởi vì chúng ta tin vào chiếc máy bay và tin tưởng vào kỹ năng của người phi công mà chúng ta đi máy bay. Đức tin không mang tính tôn giáo thì được bày tỏ rõ ràng trong những trường hợp này và nhiều trường hợp khác hàng ngày.

ĐỨC TIN SANH RA KẾT QUẢ
Và cũng có đức tin tri thức. Đức tin này chỉ tin một vài điều về Chúa Giêxu nhưng không tin hoàn toàn vào Ngài. Nhiều người trong thế giới chúng ta tin rằng có một Thượng Đế tuy nhiên sự hiểu biết của lý trí không đưa họ đến sự cứu rỗi. Và một số người tin rằng Kinh Thánh là Lời của Thượng Đế nhưng họ chẳng bao giờ đọc Kinh Thánh hoặc là vâng phục theo những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh. Đức tin tri thức còn thiếu một đặc trưng quan trọng cần thiết là hành động Gia Gc 2:18 mô tả loại đức tin này rất là sâu sắc “Hoặc có kẻ nói: người có đức tin, ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta”.
Tầm quan trọng và sự trọn vẹn nhất của loại đức tin hay là đức tin có việc làm còn được gọi là đức tin sống. Nó trái ngược với đức tin chết hoặc là đức tin không có việc làm. Đức tin sống là kết quả đức tin cứu rỗi của chúng ta và ngầm chỉ sự tăng trưởng, sự vâng phục sự hứa nguyện của đời sống chúng ta đối với Đấng Christ và mục đích của Ngài. Đối với đức tin sống, chúng ta (nương cậy) vào quyền năng của Thánh Linh để thêm sức mạnh mỗi ngày. Trong GaGl 2:20 Phaolô mô tả loại đức tin này: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa mà Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi”
Ngược với đức tin sống, đức tin chết hoặc đức tin không có việc làm sinh ra không hành động. Một lần nữa Giacơ nói về điểm này: “Vả, xác chẳng có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy”.(Gia Gc 2:26).
Một trong những phẩm chất của đức tin sống là những hành động tốt. Cũng giống như cây khỏe mạnh, tăng trưởng và sanh bông trái, cũng vậy đức tin sống thì luôn luôn cặp theo bởi những hành động tốt. Những hành động tốt này không thể cứu một con người, nhưng nó minh chứng rõ ràng đức tin sống động của người ấy. Một người làm lành bởi ân điển của Đức Chúa Trời mà người đó là tốt lành. Những hành động tốt chính là bông trái của Thánh Linh sanh ra và được tuôn chảy ra một cách tự nhiên từ đức tin sống vì cớ nguồn của nó là Đức Chúa Trời (GaGl 5:22).
5 Trong bài tập này hãy sắp xếp các loại đức tin (bên phải) với đặc tính của chúng (bên trái).
CÁC YẾU TỐ CỦA ĐỨC TIN

Mục tiêu 5. Mô tả các yếu tố của đức tin cứu rỗi và giải thích ý nghĩa của từng yếu tố .

Có ba yếu tố cơ bản trong đức tin cứu rỗi: kiến thức, sự chấp nhận và sự tin cậy. Đức tin cứu rỗi là thái độ và hành động tự nguyện của một người nào đó thông qua cách người đó đặt trọn vẹn lòng tin của mình trong Đấng Christ, để Ngài điều khiển tất cả mọi hành động. Hành động này đến bởi sự nghe và tin những sự kiện cơ bản về con người và công việc của Đấng Christ được bày tỏ trong Lời của Đức Chúa Trời. Sự kiện này đã khiến chúng ta hứa dâng trọn đời chúng ta cho Chúa Giêxu Christ. Cũng giống như sự ăn năn, đức tin cũng xoay quanh tri thức, xúc cảm và ý chí.

Sự hiểu biết . Giả sử bạn được kêu gọi để tin vào điều gì đó. Chắc chắn bạn sẽ hỏi rằng, “Tôi phải tin ai ?” Hãy chú ý rằng Kinh Thánh không có nói “chỉ tin”, nhưng Kinh Thánh phán “Hãy tin Chúa Giêxu” (Cong Cv 16:31 cũng xem trong RoRm 10:9-10). Đức tin phụ thuộc vào sự hiểu biết về Đức Chúa Trời được bày tỏ trong bổn tính và trong các sự kiện Kinh Thánh đức tin được tăng trưởng thông qua sự hiểu biết về sự dạy dỗ của Kinh Thánh nói về bản tính tội lỗi của con người, về sự cứu rỗi được ban cho thông qua Đấng Christ, nói về điều kiện của sự cứu rỗi và nhiều phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho con cái Ngài. Sự hiểu biết về Chúa Giêxu và sự hiểu biết về nội dung của niềm tin Cơ đốc được bày tỏ trong Kinh Thánh là một bước quan trọng của đức tin.
Sự chấp nhận . Sự chấp nhận xoay quanh sự hứa nguyện thuộc xúc cảm. Một mặt là sự hiểu biết các sự kiện về Kinh Thánh và Lịch sử về Đấng Christ, nhưng mặt khác thì tin rằng những điều đó là đúng. Chúng ta có thể tin rằng (tri thức) tầm quan trọng của vấn đề đời đời xoay quanh trong sự cứu rỗi tuy chúng ta chưa tiếp nhận những chân lý này vào lòng. Đức tin là sự chấp nhận (sự đồng ý) sự công bình mà chúng ta biết. Lòng chúng ta tiếp nhận tất cả những điều về Đấng Christ và tiếp nhận tất cả những điều Ngài mong ban cho chúng ta. Chúng ta cần phải hành động hơn là chỉ biết điều này đúng, chúng ta phải tiếp nhận cho chính chúng ta.
Ví dụ về một người trẻ tuổi khen một diễn giả nọ về bài giảng mà người ấy vừa giảng. Người giảng hỏi: ” Bạn có phải là Cơ đốc nhân hay không? Người trẻ tuổi trả lời: “Phải” Người giảng hỏi tiếp : “Bạn trở nên là Cơ đốc nhân được bao lâu rồi? Người trẻ tuổi nói: “Ồ! thưa ông, suốt cả cuộc đời tôi”. Người giảng tiếp tục vấn đề: “Bạn có kinh nghiệm cá nhân với Đấng Christ hoặc là kinh nghiệm nào minh chứng đức tin của bạn hay không?” Người trẻ tuổi cười và giải thích: “Thưa ông, không phải chính cá nhân tôi được cải đạo- Nhiều năm trước đây ông tổ của tôi được cải đạo và đặt đức tin trong Christ. Và cả gia đình chúng tôi đều tin. Vì tất cả các thành viên trong gia đình đều là Cơ đốc nhân, chúng ta được sanh ra trong gia đình Cơ đốc lâu đời (gia đình đạo dòng lâu đời). Người giảng nói: “ồ! rất là tốt, nhưng giả sử như bạn gặp một cặp vợ chồng trẻ đang dùng điểm tâm trong khách sạn. Bạn hỏi người đàn ông “các bạn lập gia đình bao lâu?”. Người đàn ông trả lời. “Chúng tôi không đám cưới, nhưng ông tổ của chúng tôi đã đám cưới. Chúng tôi sinh ra từ một người đã đám cưới lâu lắm rồi”. Như vậy có đủ không?”. Người trẻ tuổi thấy được vấn đề và mỉm cười. Vì vậy sự hiểu biết của chúng ta về Đấng Christ cũng cần “sự bằng lòng” tiếp nhận Ngài cho chính đời sống của chúng ta.
Sự tin cậy . Nếu một người có sự hiểu biết về Phúc âm và tiếp nhận chân lý Phúc âm nhưng lại không phó thác chính mình cho Đấng Christ thì người đó không có đức tin cứu rỗi. Đức tin Cơ đốc không chỉ là tiếp nhận sự mặc khải của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài như là chân lý. Nó không chỉ là sự bằng lòng như là điều cần thiết cho người nào đó. Nhưng sự tin cậy tượng trưng cho hành động ý chí, cho quyết định mà chúng ta phó thác chúng ta cho Đấng Christ và những gì mà chúng ta tin là những nguyên tắc hướng dẫn trực tiếp của Ngài trong cuộc sống. Chắc chắn rằng những ai không hoàn toàn dâng ý chí tự do của mình cho Đấng Christ một cách tích cực thì không thể được cứu rỗi.
6 Có lẽ chúng ta có thể hiểu được các yếu tố của đức tin rõ hơn bằng cách minh họa. Giả sử rằng một người kia có một căn bệnh. Ông đi đến bác sĩ để khám bệnh. Hãy điền vào chỗ trống các yếu tố đức tin thích hợp (sự bằng lòng, sự hiểu biết sự tin cậy).
a Bệnh nhân nhận giấy khám báo cáo về tình trạng của ông ta nơi bác sĩ.
Đây là ...............................................
b Bệnh nhân tin rằng bản báo cáo thì hợp lý và đúng
Đây là ................................................
c Bệnh nhân quyết định rằng mình sẽ áp dụng phương pháp chữa trị bệnh và giao phó bản thân cho bác sĩ điều trị (chữa trị)
Đây là ............................................
7 Hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu đúng mô tả các yếu tố về đức tin cứu rỗi và ý nghĩa của mỗi yếu tố.
a Sự hiểu biết là yếu tố của đức tin mà kêu gọi tội nhân ăn năn hãy tin và vì vậy sẽ được cứu. Hành động tin nhận, bản thân nó cũng đã có phần thưởng sự cứu rỗi.
b Sự hiểu biết đề cập đến ai, cái gì. Đức tin dựa trên sự nhận biết Chúa Giêxu Christ, sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Lời Kinh Thánh và sự dạy dỗ của Kinh Thánh khi chúng áp dụng vào tội lỗi con người và sự cứu rỗi.
c Đức tin là sự bằng lòng đối với chân lý mà chúng ta biết.
d Sự bằng lòng chỉ đề cập đến sự nhận thức chân lý.
e Yếu tố của sự tin cậy là sự phụ thuộc của người này đối với người khác.
f Sự tin cậy bao trùm hành động ý chí mà một người giao phó chính mình hoàn toàn cho Đấng Christ.
KINH NGHIỆM VỀ ĐỨC TIN
Chúng ta đã xét qua tầm quan trọng của đức tin trong đời sống Cơ đốc nhân, và chúng ta cũng đã thảo luận bản tính và các yếu tố của nó. Tuy nhiên nó chỉ là một công việc vô ích nếu chúng ta không kinh nghiệm được đức tin. Tôi quen biết một người bạn, bạn anh ta tin vào sự dân chủ, vào quyền cơ bản của con người tin vào quyền công dân trong đời sống, và tin vào sự mưu cầu hạnh phúc và quyền tham gia vào chính phủ. Người này đạt điểm xuất sắc trong các môn học về chính phủ, tuy nhiên anh ta không thể nào thực hiện được những quyền này bởi vì anh ta chưa trở thành một công dân chính thức của đất nước mà anh ta sống. Cũng vậy, mặc dầu chúng ta có thể hiểu tất cả về đức tin,nhưng nếu chúng ta không áp dụng nó và tiếp nhận những gì Đức Chúa Trời ban cho chúng ta thì chúng ta cũng giống như người xa lạ đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy giữ điều này trong tâm trí chúng ta khi chúng ta xem xét kinh nghiệm về đức tin.
Mức độ đức tin
Mục tiêu 6. Nhận diện các ví dụ chỉ những mức độ khác nhau của đức tin .
Một mối tương giao sống động với Chúa Giêxu Christ sẽ phát sinh ra lòng khao khát được tăng trưởng trong đức tin. Hãy quan sát sự trả lời của 12 môn đồ, đối với ví dụ về sự tha thứ, thương yêu của Chúa Giêxu, “Xin thêm đức tin cho chúng tôi” (LuLc 17:5) Mười hai môn đồ nhận thấy rằng để có được tình yêu Thiên Thượng và lòng thương xót. Họ cần gia tăng thêm khả năng thuộc linh- đức tin gia tăng hơn để thực hiện những điều Chúa truyền. Đức tin tăng trưởng và phát triển. Vì lý do này chúng ta có thể đề cập đến mức độ của đức tin.
Chú ý rằng khi viết cho Hội Thánh ở Côrinhtô, Phaolô bày tỏ lòng mong ước rằng đức tin của mỗi con cái Chúa sẽ tăng trưởng để Đức Chúa Trời có thể thực hiện những công việc lớn hơn giữa họ. (IICo 2Cr 10:16) và trong thơ đầu tiên gởi cho Hội Thánh Têsalônica ông cầu nguyện để có cơ hội gặp lại họ để bổ khuyết điều gì còn thiếu trong đức tin của họ (ITe1Tx 3:9-10). Vì cớ đức tin của họ còn trong trứng nước cho nên đức tin của họ cần được tăng trưởng và trưởng thành khi họ đối diện sự sợ hãi và sự đối kháng. Tuy nhiên, khi Phaolô viết trong thơ tín thứ hai gởi cho họ, ông ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa bởi vì đức tin của họ rất tấn tới (IITe 2Tx 1:3).
Thường thì chúng ta hiện có. Nhưng khi chúng ta bước đi với Chúa trong sự vâng phục và tình yêu thương thì mối tương giao của chúng ta sẽ tăng trưởng và đức tin của chúng ta sẽ gia tăng. Chắc chắn rằng sự cầu nguyện tha thiết và sự tương giao với Ngài sẽ đem đến đức tin lớn hơn và đem đến sự trả lời cho những tình huống dường như vô vọng (Mac Mc 9:29). Cầu xin lời cầu nguyện của chúng ta cũng mang tính mãnh liệt như của người cha có nhu cầu “Tôi tin, xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi” (Mac Mc 9:24) đức tin thì sống động và năng động - đức tin sống động sẽ tăng trưởng.
8 Hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu đúng dưới đây.
a Cũng giống như các vật thể sống, đức tin sống động cần phải từng trải từ sự tăng trưởng đến sự trưởng thành.
b Đức tin sống động bao hàm ý nghĩa rằng người nào đó tiến dần đến đức tin lớn hơn và trưởng thành, thì người đó sẽ chẳng bao giờ kinh nghiệm lại sự yếu đuối trong đức tin của mình nữa.
c Sự cầu nguyện là một nguồn sống của sự tăng trưởng cho đức tin sống động.
d Các môn đồ và những người mà Chúa Giêxu tiếp xúc đã minh chứng được một phần nào đó đức tin của họ, tuy nhiên phần lớn đều nhận thấy rằng cần phải có đức tin lớn hơn.
9 Hãy đọc Mat Mt 6:25-34, 8:23-27, 14:22-32, 16:5-12 và hoàn thành những câu sau với từ đúng.
a Loại đức tin minh chứng trong mỗi trường hợp là ................
b (6:31) ít đức tin sẽ không bảo vệ chúng ta khỏi ...........
c (8:26) ít đức tin sẽ không che chở chúng ta khỏi ...........
d (14:31) ít đức tin sẽ không gìn giữ chúng ta khỏi ..........
e (16:8) ít đức tin sẽ không thể nào bảo vệ chúng ta khỏi .....
Ít đức tin là một đặc tính của những con đỏ thuộc linh. Tuy nhiên Đức Chúa Trời mong đợi chúng ta tiến tới đức tin lớn hơn và trưởng thành thuộc linh. ít đức tin sẽ kiềm hãm thuộc linh và không thể thực hiện công việc của Đấng Christ. Ít đức tin làm cho chúng ta hay nghi ngờ.
Trong phần giới thiệu bài học, chúng ta thấy những ví dụ về đức tin lớn. Điều đáng chú ý là chỉ có 2 trường hợp Chúa Giêxu khen là có đức tin lớn. Trong trường hợp thứ nhất thầy đội La mã tin rằng, uy quyền trong Lời Chúa Giêxu chắc chắn đem tới sự chữa lành ngay tức khắc cho đầy tớ của ông ta mặc dầu người đầy tớ ấy ở cách xa Ngài (Mat Mt 8:5-13). Trong trường hợp thứ 2, người đờn bà Canaan liên tục cầu xin Chúa Giêxu chữa lành đứa con gái bị quỉ ám của bà mặc dầu lúc đầu Ngài không đáp ứng lời cầu xin của bà. Bà kêu cầu một lần nữa, và một lần nữa bà bị từ chối. Tuy nhiên, lần này bà cảm nhận được điều gì đó trong Lời nói của Chúa Giêxu đã đem đến cho bà hy vọng. Trong sự xác quyết của bà, bà dường như muốn nói rằng: “Chúa ôi! con có thể không phải là một người thuộc dân tộc của Ngài, nhưng con là một trong những tạo vật của Đức Chúa Trời và con tin sứ điệp của Ngài. Xin Ngài mở lòng thương xót ban cho con dù chỉ là một phần nhỏ”. Chúng ta nhận thấy rằng đức tin của bà đã không uổng công, Chúa Giêxu khen đức tin lớn của bà và chữa lành con gái của bà.
10 Nhận diện những ví dụ về ít đức tin bằng cách ghi số 1 trước những ví dụ minh họa mức độ đức tin này và ghi số 2 trước những ví dụ minh họa đức tin lớn.
Một ví dụ khác về đức tin lớn được minh chứng qua Ápraham. Mặc dầu ông đã già và vợ ông (son sẻ), ông tin Lời Đức Chúa Trời hứa rằng ông sẽ có một con trai. Cho dù tính bất khả thi về mặt vật lý, Ápraham vẫn tiếp tục tin vào Đức Chúa Trời bởi vì ông có đức tin mạnh mẽ. Đức tin mạnh sẽ giúp ông “trông cậy trọn vẹn” những gì Đức Chúa Trời hứa Ngài sẽ thực hiện (RoRm 4:18-21). Đức tin mạnh mẽ được giữ vững cho đến khi sự trả lời được bày tỏ.
Tác giả sách Hêbơrơ mô tả đức tin lớn theo một cách khác trong HeDt 10:22, ông nói rằng chúng ta được đến gần Đức Chúa Trời” với đức tin đầy dẫy trọn vẹn”. Điều này nói về lòng tin mà chúng ta có khi chúng ta được kéo đến gần Ngài. Đức tin trọn vẹn chỉ về sự trông cậy chắc chắn, sự thuyết phục được hoà giải, sự tin tưởng sâu sắc mà chúng ta có trong Chúa kỳ diệu của chúng ta.
Mỗi Cơ đốc nhân đều kinh nghiệm những mức độ đức tin khác nhau trong cuộc đời mình. Phần lớn chúng ta đều đối diện một vài tình huống có đôi lúc lay động chúng ta và chúng ta đã đáp ứng lại bằng đức tin yếu ớt. Cho dù những kinh nghiệm trong quá khứ của chúng ta ra sao đi nữa, chúng ta có thể chắc chắn rằng đức tin của chúng ta sẽ phải được thử nghiệm. Đức tin được thử nghiệm là đức tin minh chứng được sức sống của nó. Sự thử nghiệm đối với đức tin cũng giống như lửa đối với sắt thép: độ nóng của lửa làm cho sắt thép cứng thêm và cũng vậy sự thử nghiệm khai triển sức mạnh và sự chịu đựng trong đời sống Cơ đốc nhân. Khi bạn đọc Hêbơrơ 11, hãy chú ý đến các hoạt động của những người được thử thách và làm thế nào họ đứng vững qua thử thách. Số người đứng vững trong sự thử thách và trong đức tin, đạt được sự đắc thắng lớn. Một số khác đứng vững trong sự thử thách và giữ được đức tin của mình, và trong sự tuạn đạo của họ, họ được cất lên một đời sống tốt lành hơn. Cũng có những người vẫn đứng vững giữa những sự chỉ trích, đòn vọt, xiềng xích tù đày. Họ có thể sống cuộc đời bình thường, nhưng họ từ chối thỏa hiệp với sự gian ác. Những con người này sống cho những điều tốt hơn, nhịn nhục hơn những điều của trần gian. Các thánh đồ ở trong Cựu ước mong chờ Đấng Mêsi xuất hiện bằng đức tin của họ. Họ đã chết với khải tượng sáng ngời! Bây giờ họ đang chờ đợi sự trở lại của Chúa Giêxu và khi đó chúng ta cũng sẽ trở nên trọn vẹn trong sự hiện diện của Ngài- Sự cứu rỗi của chúng ta được hoàn tất.
Phierơ nói rằng mục đích của sự thử thách là để minh chứng rằng: Đức tin của chúng ta là quí giá (IPhi 1Pr 1:6-7). Và Giacơ chép rằng khi đức tin đắc thắng trong sự thử thách thì nó sẽ sanh ra khả năng nhịn nhục (Gia Gc 1:3).
Đức Chúa Trời cho phép chúng ta được thử thách để chúng ta có thể học cách trông cậy nơi Ngài hoàn toàn cho dầu hoàn cảnh của chúng ta ra sao đi chăng nữa. Khi chúng ta học biết sự nương dựa vào Ngài vì đó là nhu cầu của chúng ta, thì tình yêu của chúng ta đối với Ngài sẽ tăng trưởng và đức tin của chúng ta cũng gia tăng. Sự thử thách giúp cho đức tin mạnh hơn và chịu đựng mỗi kinh nghiệm của cuộc sống. Bởi cách này nó sẽ trở nên rất quí giá.
11 Nhận ra mức độ đức tin bằng cách đặt số thứ tự thích hợp (bên phải) với phần mô tả của nó (bên trái).
Nguồn của đức tin Mục tiêu 7. Mô tả nguồn của đức tin trong mối tương quan với Đức Chúa Trời và đối với kẻ tin . Đức tin cứu rỗi mang quan điểm của cả con người và cả Thiên Thượng. Theo quan điểm Thiên Thượng, đức tin là ơn của Đức Chúa Trời (RoRm 12:3, IIPhi 2Pr 1:1), ví dụ như trong Phúc âm Giăng chúng ta đọc :“Ví bằng Cha, là Đấng sai ta không kéo đến, thì chẳng ai được đến cùng ta” (GiGa 6:44). Trong công việc quy đạo, sự tác động quý giá của Đức Thánh Linh được ngụ ý một cách mạnh mẽ, bởi vì chính Ngài có thể cảm động ai đó ăn năn và hướng về Đức Chúa Trời (Cong Cv 3:19, Phi Pl 2:12-13. Và trong Hêbơrơ chúng ta đọc rằng: Chúa Jêsus là: “Cội rễ và cuối cùng của đức tin” (HeDt 12:2). Hơn thế nữa, Đức Thánh Linh vận hành trong Đấng Christ trong những trường hợp đặc biệt như là “ân tứ” đức tin vận hành (ICo1Cr 12:9). Và cũng chính Thánh Linh sanh ra bông trái trong đời sống của chúng, một trong những bông trái đó là đức tin. Vì vậy từ quan điểm Thiên Thượng. Đức tin là ân tứ được ban cho bởi Đức Chúa Trời.

ĐỨC CHÚA TRỜI BAN CHO - CHÚNG TA NHẬN LÃNH
Tuy nhiên, chúng ta không phải chờ ân tứ đức tin của Đức Chúa Trời đến với chúng ta một cách thụ động. Điều mà mọi người được truyền hãy tin nhận Ngài ngầm chỉ khả năng của họ và sự bắt buộc phải làm như vậy. Tất cả mọi người đều có khả năng đặt lòng tin của họ vào người nào đó hoặc một vài vật gì đó. Khi niềm tin được hướng dẫn trực tiếp vào Lời Đức Chúa Trời và đức tin được đặt trong Đức Chúa Trời và Đấng Christ, chúng ta nhận được đức tin cứu rỗi. Đức tin cứu rỗi đến bởi Lời Đức Chúa Trời (RoRm 10:7, Cong Cv 4:4). Lời Kinh Thánh bày tỏ nhu cầu của chúng ta, chỉ rõ tình trạng của chúng ta, nhấn mạnh vào những lời hứa, và chỉ ra những sự phước hạnh của sự cứu rỗi. Và sau đó, trách nhiệm của chúng ta là đọc và học Lời Đức Chúa Trời để đức tin của chúng ta sẽ được dức dấy và gia tăng trong lòng chúng ta.
12 Mô tả nguồn của đức tin trong mối tương quan với Đức Chúa Trời và kẻ tin.

Duy trì đức tin
Mục tiêu 8. Trình bày những phương cách mà Cơ đốc nhân có thể duy trì đức tin .
Vừa rồi chúng ta thảo luận tầm quan trọng của đức tin trong đời sống Cơ đốc nhân, và chúng ta cũng đã xem qua nguồn của nó là gì. Tuy nhiên, đức tin không thể bị bỏ quên, nhưng nó cần phải được duy trì. Hãy cố gắng duy trì sức sống và sự tăng trưởng trong sự từng trải Cơ đốc. Nếu không có sự nuôi dưỡng thì đức tin của một người cũng giống như việc cố gắng khởi động một chiếc xe hơi mà không có nhiên liệu. Tiềm năng sử dụng thì cũng có nhưng nó không thể thực hiện được chức năng của nó. Một so sánh khác đối với việc duy trì đức tin là đạp xe đạp: người đạp xe phải vận động liên tục nếu không anh ta sẽ ngã.
Một câu Kinh Thánh trong sách tiên tri Habacúc phán rằng: “người công bình thì sống bởi đức tin mình” (HaKb 2:4) và trong Tân ước câu Kinh Thánh này cũng lập lại 3 lần ” người công bình thì sống bởi đức tin mình” (RoRm 1:17; GaGl 3:11; HeDt 10:38). Chân lý này ngầm chỉ rằng đời sống thuộc linh tuỳ thuộc vào đức tin sống động. Vì vậy, sứ đồ Phaolô khích lệ Hội Thánh Côlôse tiếp tục tấn tới trong đức tin, vững vàng, không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành, nhờ vậy sự cứu rỗi của họ được bảo đảm chắc chắn (CoCl 1:23). Ông cũng khích lệ anh em tại Côrinhtô hãy luôn tỉnh thức và vững vàng trong đức tin, (ICo1Cr 16:13) Khi họ dâng mình vì cớ Phúc âm. Hơn thế nữa, ông cũng thách thức các Cơ đốc nhân tại Êphêsô lấy đức tin làm thuẫn để họ có thể “dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ” (Eph Ep 6:16). Vì vậy sự gìn giữ và duy trì đức tin là điều hiển nhiên. Một vài cách mà chúng ta có thể duy trì được đức tin là:
1. Cầu nguyện
2. Đọc lời Chúa.
3. Có mối tương giao với những người đồng đức tin.
4. Làm chứng.
5. Thờ phượng nhóm.
13 Hãy đọc Eph Ep 6:10-18, IPhi 1Pr 5:8-10 và IICo 2Cr 10:4-5. Sau đó hãy trả lời những câu hỏi sau trong tập của bạn, hãy trình bày những cách mà bạn có thể duy trì đức tin.
a Giáp thuộc linh của Cơ đốc nhân là gì?
b Tất cả những mảnh của áo giáp đều nhằm để phòng thủ ngoại trừ cái nào?
c Trận chiến Cơ đốc không chỉ thắng bởi giáp và việc lành. Eph Ep 6:8 chép rằng chúng ta phải có sự trợ giúp thêm vào?
d 6:10 và IPhi 1Pr 5:10 bày tỏ sức mạnh thuộc linh của chúng ta được gia tăng bởi điều gì?
e Câu 11-13 của Êphêsô 6 gọi tên (kẻ thù) là gì?
Đối với bản tánh tự nhiên, con người cần phải có thực phẩm, và sự nuôi dưỡng để sống trong một trạng thái khỏe mạnh. Cũng vậy trong đời sống thuộc linh, đức tin của con người phải được nuôi dưỡng và trau dồi. Phaolô khích kệ Timôthê “theo đuổi đức tin” (ITi1Tm 6:11-12), và sau đó, ông cũng khích lệ Timôthê “hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ mà theo đuổi.....đức tin (IITi 2Tm 2:22). Khi đức tin được duy trì, nó sẽ tăng trưởng một cách sống động và hữu ích và giúp chúng ta trở nên giống Ngài. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất cần phải nhớ là khi chúng ta trong sự hiệp nhất với Đấng Christ, Ngài đã cầu thay cho chúng ta hầu cho đức tin chúng ta không bị thiếu thốn (LuLc 22:32). Chừng nào chúng ta còn tiếp tục để Ngài kiểm soát thì chúng ta sẽ tiếp tục “tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa của chúng ta là Đức Chúa Giêxu Christ” (IIPhi 2Pr 3:18).
Những điều kiện và ảnh hưởng của đức tin
Mục tiêu 9. Hãy liệt kê một vài điều kiện và hiệu quả quan trọng của đức tin .
“Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả” (Mac Mc 9:23). Khi chúng ta đặt đức tin chúng ta trong Đức Chúa Trời, thì mọi sự khả thi đều rộng mở cho chúng ta. Đức tin là chìa khoá mở các nguồn từ Thiên Thượng cho chúng ta. Chúa Giêxu phán “Nếu các ngươi có đức tin........... không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được” (Mat Mt 17:20). Tuy nhiên, Đức tin không thể bị tách rời khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời. Giăng định rõ rằng: “Nầy là đều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin bất cứ việc gì, thì Ngài nghe chúng ta”. (IGi1Ga 5:14). Tại đây Giăng trình bày một điều kiện cho việc cầu xin và nhận lãnh. Một vài lời hứa trong Kinh Thánh thì không có điều kiện, đòi hỏi một đáp ứng thích hợp trong chúng ta nếu chúng ta muốn nhận điều đã hứa. Chúng ta cứ ở trong Ngài, và Lời Ngài ở trong chúng ta”. (GiGa 15:7) chúng ta phải vâng phục (IPhi 1Pr 1:14) và chúng ta phải bước đi theo Thánh Linh (GaGl 5:16).
Ảnh hưởng của đức tin thì không giới hạn. Bởi vì đức tin kéo những nguồn Thiên Thượng vô tận đáp ứng cho những nhu cầu của con người trên trần gian này. Và đức tin làm sung mãn đời sống họ cho dù có những khó khăn và đức tin còn ban sự bình an trong mọi hoàn cảnh.
14 Hãy liệt kê ảnh hưởng của đức tin được bày tỏ trong những câu Kinh Thánh sau:
a Cong Cv 10:43 ..........
b GaGl 3:14............
c Eph Ep 3:17.............
d RoRm 5:1............
e Phi Pl 3:9............
f GiGa 1:12...........
g GaGl 4:6............
h Cong Cv 26:18....................
i IPhi 1Pr 1:5.................
j Mac Mc 11:24..............
15 Những điều kiện của đức tin được đề cập trong phần bài học này là gì?
................................................................

Bài tập trắc nghiệm
Bài tập ĐÚNG - SAI. Hãy viết chữ Đ trước những câu đúng và S trước những câu sai.
. . . 1 Một trong những lý do tại sao đức tin có tầm quan trọng như vậy là vì những hành động của chúng ta được xác định bởi những người hoặc là những gì mà chúng ta tin.
. . . 2 Trong đức tin cứu rỗi, một người đặt sự tin tưởng của mình vào một chủ thể thiêng liêng và sống trong sự bình an, nhận biết rằng mình đã uỷ thác hoàn toàn chính mình vào một chương trình cứu rỗi.
. . . 3 Đức tin cứu rỗi là hành động và thái độ tự nguyện của một người mà thông qua đó người ấy đặt trọn vẹn sự tin tưởng của mình vào một chủ thể đáng tin cậy, và cho phép chủ thể đáng tin cậy đó điều khiển hành động của mình.
. . . 4 Đức tin tri thức có thể được định nghĩa là đức tin được minh chứng trong tất cả các khía cạnh khác nhau của đời sống hàng ngày, ví dụ niềm tin vào các ngân hàng, máy bay và một số khác.
. . . 5 Sự hứa nguyện vâng phục liên tục trong đời sống của một người đối với Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài là một đặc tính của đức tin sống động.
. . . 6 "Cái gì và ai” hình thành yếu tố hiểu biết của đức tin.
. . . 7 Sự đồng lòng xoay quanh những xúc cảm và là sự thuận lòng đối với sự công bình mà chúng ta nhận biết.
. . . 8 Hành động quyết định mà chúng ta uỷ thác chúng ta, để tin và sống bởi những điều mà chúng ta nhận thấy là những nguyên tắc hướng dẫn của cuộc sống thì gắn liền với sự tri thức.
. . . 9 Khi chúng ta đề cập đến mức độ của đức tin chúng ta muốn nói rằng khi một người rời khỏi một mức độ đức tin người đó sẽ chuyển sang một mức độ đức tin lớn hơn và sẽ chẳng bao giờ kinh nghiệm lại mức độ đức tin thấp hơn.
. . .10 Thuật ngữ “mức độ đức tin” ngầm chỉ rằng đức tin là một vật thể sống, tăng trưởng mà có thể và nên được trưởng thành trong mỗi chúng ta.
. . .11 Không thể nào mà một người vừa kinh nghiệm đức tin yếu và đức tin lớn trong cùng một thời điểm của cuộc sống.
. . .12 Trong sách Phúc âm chép lại rằng chỉ có 2 trường hợp mà Chúa Giêxu khen là đức tin lớn.
. . .13 Đức tin bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, vì vậy con người không có phần trong quá trình hoạt động này.
. . .14 Đức tin sống phải được duy trì bởi sự trau dồi thuộc linh: đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, và công việc của Đức Thánh Linh là đặc trưng của sự trau dồi thuộc linh này.
. . . 15 Nếu đức tin sống động và khỏe mạnh thì theo lời Kinh Thánh, không có sự giới hạn nào ngăn trở những điều chúng ta cầu xin và nhận lãnh.
Trả lời câu hỏi nghiên cứu
8 a Đúng d đúng
b Sai c đúng

1 a Đức tin cứu rỗi chúng ta.
b Chúng ta được tinh sạch bởi đức tin.
c Chúng ta được bảo vệ và đắc thắng thế gian nhờ đức tin.
d Chúng ta được chữa lành bởi đức tin.
e Chúng ta nhận Đức Thánh Linh bởi đức tin.
f Thông qua đức tin chúng ta vượt qua những khó khăn.
g Đức tin làm vui lòng Đức Chúa Trời. Đức tin chấp nhận mà không đặt nghi vấn về sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
i Đức tin khích lệ chúng ta đem hết những nỗ lực vì cớ người khác.
h Đức tin khích lệ chúng ta tiếp tục tin tưởng
j Thiếu đức tin (vô tín) là tội.
9 a đức tin d nghi ngờ
b lo lắng e lý luận sanh ra nghi ngờ
c sợ hãi
2 Câu trả lời của bạn. Tôi nhận thấy rằng nó (tác động) đến mỗi khía cạnh của đời sống chúng ta. Nó bao gồm việc tin cậy Đức Chúa Trời cung cấp mỗi sự cần dùng của chúng ta (Phi Pl 4:19) cả thuộc linh và vật chất.
10 a 1) ít đức tin
b 1) ít đức tin
c 2) đức tin lớn
3 a 1) sự ăn năn
b 2) đức tin
c 1) sự ăn năn
d 2) đức tin
e 1) sự ăn năn
f 2) đức tin.
11 a 2) đức tin lớn.
b 1) ít đức tin. Phierơ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải “trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài vì Ngài hay săn sóc anh em” (IPhi 1Pr 5:7).
4 b) Hành động mà chúng ta đặt trọn vẹn lòng tin của chúng ta nơi một Đấng tin cậy tức là, Đức Chúa Trời, và để Ngài điều khiển hành động của chúng ta.
12 Đức tin là một ân huệ của Đức Chúa Trời. Đức tin cũng được phát sinh bởi công việc của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên con người được đòi hỏi phải tin và điều này ngụ ý rằng khả năng của con người phải làm như vậy. Đức tin phát triển trong lòng một người khi người ấy đọc Lời Đức Chúa Trời.

5 a 4) đức tin (chết)
b 1) Đức tin tri thức
c 2) Đức tin không mang tính tôn giáo.
d 3) đức tin sống
13 a Nịt lưng của lẽ thật, giáp của sự công bình, giày dép tượng trưng sự chuẩn bị đi ra rao giảng Tin Lành, thuẫn đức tin, gươm Thánh Linh chính là Lời Đức Chúa Trời, và mũ triều thiên của sự cứu rỗi.
b gươm Thánh Linh.
c Cầu nguyện, cầu xin sự giúp đỡ từ nơi Đức Chúa Trời là quan trọng.
d Hiệp nhất với Ngài và nương cậy vào quyền năng Ngài
e Ma quỉ (không phải con người, thể chế hoặc sự thiên kiến. Chúng ta chiến đấu chống lại lực lượng thuộc linh hung ác muốn phá hủy đức tin của chúng ta).
6 a sự hiểu biết
b sự bằng lòng.
c sự tin cậy
14 a Tha thứ tội lỗi.
b Tiếp nhận Đức Thánh Linh
c nơi ngự của Đấng Christ
d sự công bình
e sự công bình
f quyền trở nên con của Ngài
g sự thừa nhận.
h sự nên thánh.
i sự gìn giữ.
j bất cứ điều gì chúng ta cầu xin.
7 a sai d sai
b đúng e sai
c đúng f đúng
15 Duy trì trong Đấng Christ, giữ lời Ngài trong lòng chúng ta, hãy vâng phục, sống trong Thánh Linh (những điều kiện khác đã được thảo luận trong bài học trước).

BÀI 4 :CON NGƯỜI TRỞ VỀ CÙNG ĐỨC CHÚA TRỜI: SỰ QUY ĐẠO
Câu chuyện kể về một đứa trẻ chạy trốn khỏi nhà bởi vì em thù ghét nhiệm vụ mà cha mẹ em giao cho em. Nhiệm vụ của em là chẻ củi và đem củi từ đống củi vào nhà khi cần dùng. Sau khi thu xếp áo quần và cùng một số đồ khác, rồi em rời khỏi nhà. Nhưng chẳng bao lâu tiền bạc cạn dần, áo quần thì dơ dáy và em thì bị cảm lạnh và cảm thấy đau nhức vì do ngủ ngoài trời gió.
Cuối cùng em cảm thấy quá khổ sở đến nỗi em quyết định gọi điện thoại về nhà. Em lắng nghe một cách hồi hộp khi cha em trả lời trên điện thoại và ông nói cho biết cảm giác của ông cho em nghe. Một cách dè dặt cậu bé hỏi "cha ơi, cha có tha thứ cho con không? con có thể trở về nhà được không ? cha của em trả lời, "con ơi, cha mẹ thương con rất nhiều và cha mẹ cũng nhớ con lắm. Dĩ nhiên cha mẹ muốn con trở về nhà nhưng khi con trở về nhà, con hãy đi ngang qua chỗ đống củi".
Một vài ngày sau đó khi người cha trở về nhà trong một buổi tối nọ và nhận thấy con của mình ngay tại đống củi, đang chẻ củi một cách chăm chỉ. Nhưng thái độ của đứa con bây giờ khác hẳn, bởi vì đứa con đang cười khi nó đang làm công việc của nó chúng ta thấy dễ dàng rằng một sự thay đổi lớn đã xảy ra. Cậu bé đã là một người được thay đổi.
Trong bài học này, chúng ta sẽ xem xét nhiệm vụ mà con người có trong sự quy đạo của chính họ mà chính điều đó khởi đầu cho kinh nghiệm sự cứu rỗi. Nó là một kinh nghiệm năng động đã thay đổi chúng ta trở nên giống như Ngài và làm cho chúng ta đáp ứng ý muốn của Ngài bằng sự vui mừng.
Dàn ý bài học
Bản chất sự quy đạo
Sự quy đạo trong Kinh Thánh
Kinh nghiệm sự quy đạo
Mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này bạn có thể.
Giải thích mối quan hệ của sự ăn năn và đức tin đối với sự quy đạo.
Nhận diện những phương cách quy đạo
Liệt kê ít nhất năm kết quả của sự quy đạo.
Các hoạt động học tập
Hãy đọc Cong Cv 9:1-31; 16:1-40; 22:1-21; 26:4-18. Những phân đoạn Kinh Thánh này sẽ đem đến cho bạn một cái nhìn khái quát về các ví dụ về sự quy đạo.
Theo sát thứ tự bài học như đã được trình bày trong bài 1.
Hãy làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài học và kiểm tra câu trả lời của bạn.
Triển khai bài học

BẢN CHẤT SỰ QUY ĐẠO

Trong phần thảo luận của chúng ta về kinh nghiệm sự cứu rỗi, chúng ta đã đề cập đến sự quy đạo. Có lẽ bạn phân vân sự quy đạo khác với sự cứu rỗi như thế nào. Chúng ta hãy cùng xem các ví dụ. Chúng ta quan sát câu chuyện một người nghiện rượu được nhiều người biết tiếng đã không còn cờ bạc, uống rượu hoặc là đi đến những nơi tội lỗi. Ông ta ghét những thứ mà trước kia ông ưa thích và bây giờ ông thích những thứ mà trước kia ông ghét những người biết ông nói rằng "ông ta được cải đạo; ông đã là một người khác". Họ chỉ đơn giản mô tả những gì họ thấy từ nơi ông theo cách nhìn con người. Tuy nhiên theo cách nhìn của Đức Chúa Trời chúng ta có thể nói rằng Đức Chúa Trời đã tha thứ ông ta và biến đổi ông ta thành một tạo vật mới. Sự quy đạo nhấn mạnh hoạt động tích cực của con người trong việc kinh nghiệm sự cứu rỗi.
Định nghĩa sự quy đạo
Mục tiêu 1. Nhận ra ý nghĩa cơ bản của sự quy đạo theo Kinh Thánh và liệt kê 3 bước cơ bản của sự quy đạo .
Sự quy đạo có thể được định nghĩa như là hành động mà chúng ta xoay bỏ tội lỗi. Và thêm vào đó, chúng ta được cứu ra khỏi tội lỗi của chúng ta và được giải thoát khỏi giá phải trả của tội lỗi.
Từ dịch sự "quy đạo" có ý nghĩa là "xoay bỏ"; "xoay bỏ hoàn toàn". Sự từ bỏ hoàn toàn này đề cập nhiều hơn là chỉ đơn giản một sự thay đổi tâm trí, thái độ và cách cư xử. Nó bao gồm mỗi khía cạnh của một con người: ước muốn của người ấy, lối sống, ý chí, tâm linh, và quan điểm về cuộc sống. Sự thay đổi của người là một sự thay đổi thuộc linh trọn vẹn. Trong hành động của sự quy đạo theo như Giăng 5: 24 thì người ấy "đã thoát chết mà vào cõi sống".
Sự thay đổi thuộc linh bởi sự quy đạo đem lại thông qua Đấng Christ thì không giống với các loại khác của sự quy đạo. Ví dụ như tôi có thể được cải đạo sang một quan điểm khác về chính trị, tôn giáo, hay về luân lý đạo đức mà không đòi hỏi phải dính líu vào sự thề ước hoàn toàn của một người đã chết đối với tội lỗi nhưng sống đối với Đức Chúa Trời (RoRm 6:1-4). Phaolô giải thích sự thay đổi cơ bản của sự đổi mới Cơ đốc bằng cách chép rằng khi "ai ở trong Đấng Christ thì ấy là người dựng nên mới, mọi sự cũ đã qua đi nầy mọi sự đều trở nên mới" (IICo 2Cr 5:17).
1 Hãy nhận ra câu nào dưới đây mang ý nghĩa cơ bản theo Kinh Thánh về sự quy đạo, sự quy đạo là.
a) Hành động mà người ấy thay đổi tâm trí mình hoặc tinh thần hoặc cách nhìn của người ấy.
b) Một sự thay đổi những cảm nghĩ về lối sống của một người nào đó.
c) Hành động mà một người kinh nghiệm được một sự thay đổi hoàn toàn trong đời sống của người đó khi người đó từ bỏ tội lỗi trở về cùng Đức Chúa Trời.
SỰ CHUẨN BỊ HÀNH DỘNG BIẾN ĐỔI
Hãy xem xét sự minh họa được cho trong phần giới thiệu bài học khi bạn ghi ra 3 bước quan trọng trong sự quy đạo. Trước hết, người ấy phải cẩn thận nhận ra lỗi lầm trong đường lối của mình. Đây là một bước quan trọng của sự chuẩn bị, bởi vì cho đến khi nào người đó nhận ra nhu cầu cần thay đổi thì người đó mới cảm thấy cần sự quy đạo. Thứ 2 phải có một quyết định trở về cùng Đức Chúa Trời. Đây là bước hành động thứ 3, phải có sự vâng phục bởi vì sự quy đạo có ý nghĩa là một đời sống được thay đổi.
Trong phần minh họa giới thiệu của chúng ta, chúng ta thấy rằng bước chuẩn bị, bước cân nhắc kỹ lưỡng hướng đi của cậu bé, bước hành động, quyết định, quyết định trở về nhà, và cuối cùng chúng ta chứng kiến sự thay đổi hoàn toàn thật rõ ràng trong đời sống cậu bé khi cậu bé tiếp tục công việc hàng ngày của mình trong sự vâng phục.
2 Hãy liệt kê 3 bước tiến đến sự quy đạo.
Mối tương quan với sự ăn năn và đức tin
Mục tiêu 2. Nhận ra mối quan hệ của đức tin và sự ăn năn đối với sự quy đạo .
Sự quy đạo gắn liền chặt chẽ với sự ăn năn và đức tin. Thật ra, thỉnh thoảng sự quy đạo được dùng để tượng trưng cho cái này hoặc cho cả hai. Và vì vậy nó tượng trưng cho tất cả những hoạt động mà chúng ta từ bỏ tội lỗi trở về cùng Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ nhớ lại rằng sự ăn năn xoay chúng ta ra khỏi tội lỗi và hối tiếc về tội lỗi bằng cách hướng chúng ta đến với thập tự giá. Sự ăn năn không phải là tìm cách để bỏ qua tội lỗi, nhưng mà nó thừa nhận hoàn toàn những tội lỗi đã phạm và thái độ đối nghịch với Luật pháp của Đức Chúa Trời. Đức Tin là một hoạt động tích cực mà thông qua đó chúng ta trở về cùng với Đức Chúa Trời. Chúng ta chăm theo Đức Chúa Trời là Đấng đã ban thập tự giá giống như là một sự chữa lành cho bệnh tật của tội lỗi đã đầu độc chúng ta. Và chúng ta tin cậy đời sống và vận mạng tương lai của chúng ta ở trong Ngài. Khi chúng ta ăn năn và tin nhận, chúng ta đã được cải đạo.
3 Hãy khoanh tròn ký tự của câu hoàn chỉnh bày tỏ chính xác mối quan hệ của đức tin và sự ăn năn đối với sự quy đạo sự ăn năn và đức tin.
a) Là những bước trong chuỗi của sự quy đạo nhưng không liên quan đến sự quy đạo.
b) Cũng giống như sự quy đạo, bởi vì trong những hành động này một người từ bỏ tội lỗi trở về cùng Đức Chúa Trời trong sự tin cậy hoàn toàn.
c) Bị phân cách bởi một yếu tố thời gian đáng kể từ sự quy đạo.
Các yếu tố của sự quy đạo
Mục tiêu 3. Sắp xếp các yếu tố của sự quy đạo hợp với định nghĩa của chúng .
Như chúng ta đã ghi chú, một người là một chủ thể toàn vẹn. Nói chung, những gì mà người ấy làm là kết qủa của những điều mà người ấy cho là toàn vẹn: tri thức, cảm xúc và ý chí. Mỗi một các yếu tố này bao gồm trong sự ăn năn và đức tin cũng bao gồm trong sự quy đạo. Một người không thể được cải đạo nếu người đó không biết mình đang làm gì. Người đó cũng không được cải đạo nếu người đó không có những cảm giác về điều mà người ấy làm và khuynh hướng về sự quy đạo. Rõ ràng rằng, người đó không thể được cải đạo trừ khi người đó mong muốn nó xảy ra.
4 Hãy khoanh tròn những ký tự của các câu đúng.
a Sự ăn năn đề cập đến khía cạnh "trở về cùng Đức Chúa Trời" trong sự quy đạo.
b Đức tin là hành động mà một người trở về cùng Đức Chúa Trời và giao phó đời sống và vận mạng của người ấy cho Ngài.
c Hành động của sự quy đạo cơ bản là một sự thay đổi trí óc.
d Sự cải đạo tác động toàn bộ thực chất của một người: tri thức xúc cảm và ý chí.
5 Hãy nhận diện các yếu tố của sự quy đạo bằng cách sắp xếp yêú tố thích hợp (bên phải) với phần mô tả của nó (bên trái)
SỰ QUY ĐẠO TRONG KINH THÁNH

Sự quy đạo là một từng trải kỳ diệu mà chúng ta trải qua khi chúng ta bắt đầu đời sống Cơ đốc nhân của chúng ta. (căn cứ vào) những kinh nghiệm cá nhân riêng của chúng ta, chúng ta có thể kể cho những người khác về những gì đã xảy ra đối với chúng ta và nó xảy ra như thế nào. Nhưng cách duy nhất để đo lường sự quy đạo chân thật là Lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn mục tiêu mà chúng ta có thể phán đoán rằng sự quy đạo là đích thực hay không.
Cách sử dụng từ ngữ Sự quy đạo
Mục tiêu 4. Phân biệt giữa các ví dụ về sự quy đạo bao gồm sự thay đổi thuộc linh và những ví dụ không bao gồm sự thay đổi .
Chúng ta nhận thấy rằng từ "quy đạo" đề cập đến một sự thay đổi hoàn toàn trong đời sống của một người nào đó. Những từ thông dụng nhất được sử dụng Kinh Thánh nói về sự thay đổi như vậy thì đều có cùng ý nghĩa theo ngôn ngữ nguyên thủy theo Kinh Thánh. Đôi lúc sự thay đổi được đề cập đến hoàn toàn là vật lý (Cong Cv 2:40 ) . Đôi khi nó ngầm chỉ một sự thay đổi đặc biệt (Cong Cv 13:46).Tuy nhiên giữa các cách sử dụng khác nhau của từ này còn có một cách sử dụng thông dụng nói về sự thay đổi tâm linh. Trong ISa1Sm 10:6 chúng ta thấy rằng khi Saulơ được biến đổi thành một người khác thì sự quy đạo đề cập một sự thay đổi tâm linh rõ ràng. (xem trong Mac Mc 4:12, Thi Tv 51:13; và LuLc 22:32). Trong Cong Cv 3:19 khi Phierơ kêu gọi "vậy, mọi người hãy ăn năn và trở lại đặng cho tội lỗi mình được xóa đi" một lần nữa chúng ta có ý tưởng về sự biến đổi tâm linh.
PHAOLÔ BẮT BỚ CÁC CĐN PHAOLÔ CHỮA LÀNH BỆNH TẬT
Còn có ý tưởng về sự lìa bỏ Đức Chúa Trời. Điều này được gọi là sự bội giáo (Gie Gr 2:27). Một ví dụ khác về sự thay đổi từ một đời sống tốt lành sang một đời sống xấu xa và sự tác động của nó được xem thấy trong IIPhi 2Pr 2:22 khi Phierơ so sánh sự bội giáo giống như chó liếm lại đồ nó đã mửa.
Chúng ta đã sử dụng một số các ví dụ về cách mà từ quy đạo được sử dụng trong Kinh Thánh, chủ yếu nó (nói đến) một người trở về cùng Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời tha thứ cho người đó.
6 Hãy chọn những ví dụ về sự quy đạo đề cập đến sự thay đổi tâm linh bằng cách viết số 1 trước những câu liên quan đến sự thay đổi tâm linh và viết số 2 trước những câu không liên quan đến sự thay đổi tâm linh.
Các ví dụ về sự quy đạo

Mục tiêu 5. So sánh và đối chiếu các ví dụ nổi bật về sự quy đạo theo Kinh Thánh .

Kinh nghiệm quy đạo của chúng ta không liên quan đến một tôn giáo, nhưng liên quan đến một (Đấng ). Để trở nên là những cơ đốc nhân, chúng ta không bị yêu cầu phải thừa nhận 10 điều răn, một tín điều của Hội Thánh hoặc là bài giảng trên núi. Nhưng chúng ta được thách thức để tin vào một Đấng và tiếp nhận Ngài làm Chúa của cuộc đời chúng ta, và tin rằng Ngài đã sống lại từ kẻ chết (RoRm 10:9-10). Tại một buổi gặp mặt của những người trẻ tuổi một phụ nữ trẻ hỏi vị diễn giả Cơ đốc về nhu cầu cho sự từng trải cá nhân với Đấng Christ. Cô hỏi rằng "thật là khó cho tôi để tiếp nhận điều này, nếu một người tin vào chủ nghĩa phát xít, thì anh ta không phải là một phát xít hay sao? Nếu anh ta tin chủ nghĩa cộng sản, anh ta không phải là một người cộng sản hay sao? Vâng, tôi tin đạo cơ đốc, vậy điều này không làm cho tôi trở nên một Cơ đốc nhân hay sao? vị diễn giả trả lời, "tôi đang dự định lập hôn nhân". Ông đáp lại "như vậy những nguyên nhân cho việc tin tưởng vào hôn nhân và lòng mong muốn lập hôn nhân của bạn là gì?". Cô trả lời rằng: "hôn nhân đem đến sự an toàn cho phụ nữ và cũng đem đến cho họ một mái ấm, một gia đình". Vị diễn giả xoay sang những người phụ nữ trẻ tuổi khác và hỏi rằng "có bao nhiêu người trong các bạn tin vào hôn nhân?" và hầu hết tất cả đều đồng ý rằng họ tin tưởng vào hôn nhân. Vị diễn giả tiếp tục "À! thật là thú vị. Tất cả các phụ nữ trẻ đều tin vào sự thành lập hôn nhân. Và bởi vì tôi là một mục sư nhiệm chức, tôi có thể cử hành lễ hôn nhân theo như luật pháp của chính quyền chúng ta. Người bạn trẻ ở đây nói rằng "nếu một người tin vào chủ nghĩa phát xít thì anh ta là một người phát xít. Nếu anh ta tin vào chủ nghĩa công sản vậy anh ta là một người cộng sản. Và nếu ai tin đạo Cơ đốc, người ấy là Cơ đốc nhân. Và vì cớ một số các bạn phụ nữ ở đây nói với tôi rằng các bạn tin vào hôn nhân, vậy xin cho phép tôi nói rằng các bạn là những người đã lập gia đình".
Thính giả đáp ứng lại trong tiếng cười vang. Vị diễn giả hỏi tiếp "Có gì sai với lập luận này?" Một người phụ nữ trẻ khác nói: "Thưa Mục sư, Mục sư biết rằng hôn nhân không phải là một triết lý giống như chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa phát xít, nó là một mối quan hệ cá nhân vị diễn giả nói "Đây chính là quan điểm của tôi, đạo cơ đốc không chỉ là một triết lý bởi vì để trở nên là một Cơ đốc nhân, một người phải có một mối tương quan cá nhân với Chúa Giêxu là một Đấng hằng sống".

CƠ ĐỐC GIÁO LÀ MỘT MỐI TƯƠNG GIAO
Vậy sự quy đạo Cơ đốc thì duy nhất khác với tất cả những sự quy đạo khác. Một ví dụ rất tuyệt vời về sự quy đạo cùng tất cả các khía cạnh của nó được chép lại trong Cong Cv 16:13-15. Trong trường hợp này Lyđi một người ngoại bang kính sợ Đức Chúa Trời là người thờ phượng Đức Chúa Trời của Ysơraên mà không tiếp nhận tất cả các luật lệ lễ nghi của người Giuđa đang nhóm lại đặng cầu nguyện. Khi Phaolô chia xẻ Phúc âm về Chúa Jêsus, bà lắng nghe sứ điệp và Chúa đã mở lòng cho bà và bà đáp ứng lại cách vui sướng. Sau đó bà minh chứng sự thay đổi của bà bằng cách chịu báptêm và bằng cách mở rộng lòng hiếu khách của bà đối với nhóm của Phaolô.
Trong ví dụ này chúng ta nhận thấy một số điều kỳ diệu về sự sắp sẵn của Đức Chúa Trời trong việc đem con người trở về cùng với Ngài. Mặc dầu Lyđi là một người tìm kiếm hết lòng nhưng bà cần sự hiểu biết về sự cứu rỗi và Đức Chúa Trời đã đáp ứng nhu cầu này. Khi bà cầu nguyện, Đức Chúa Trời đã đem bà đối diện với Phúc âm. Vì vậy sự cầu nguyện là một phương cách quan trọng đem đến sự thay đổi tâm linh. Kinh nghiệm của bà chỉ cho chúng ta rằng mặc dầu một người thành thật và rõ ràng là rất mộ đạo, tuy nhiên người đó phải có một sự thay đổi tâm linh dứt khoát nếu người đó thật sự muốn trở nên được cải đạo để trở nên là Cơ đốc nhân. Hãy chú ý ngôi lời và Đức Thánh Linh hiệp nhất như thế nào trong việc đem đến sự quy đạo và cuối cùng. hãy quan sát rằng cả Đức Thánh Linh và trách nhiệm của con người đều được đề cập trong sự quy đạo.
7 Hãy khoanh tròn ký tự của những câu đúng.
a Sự quy đạo theo cùng một tiến trình với mỗi người: người ấy phải đi đến Hội Thánh, chăm nghe sứ điệp được giảng, và rồi gia nhập Hội Thánh.
b Kinh nghiệm của Lyđi cho chúng ta chứng cớ rằng Đức Chúa Trời yêu thế gian này và vì vậy Ngài không muốn cho người nào bị chết mất cả.
c (Cho dù) một người là thành thật và dường như sống một đời sống tốt lành, người ấy vẫn phải cần được cải đạo.
d Sự quy đạo đòi hỏi nhiều về sự nhận biết tội lỗi của người ấy và lòng ao ước được thay đổi; sự nhận biết và sự đồng lòng phải được theo sau bởi kinh nghiệm về sự quy đạo cách cá nhân.
Người đề lao Philíp là một ví dụ khác về sự quy đạo Cơ đốc (Cong Cv 16:16-34). Trong trường hợp thứ 2 này chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời sử dụng nhiều phương cách khác nhau để bắt sự chú ý của một tội nhân: đôi lúc bởi những thảm họa thiên nhiên, ví dụ như một cuộc động đất, một cơn bão hay là một biến động cá nhân hoặc là nan đề nghiêm trọng trong gia đình. Những từng trải này tác động đến tội nhân rất nhiều để giúp họ nhận thấy nhu cầu thuộc linh của họ và giúp họ tìm kiếm một giải pháp. Hãy chú ý rằng Phúc âm là giải pháp của Đức Chúa Trời cho nhu cầu của tội nhân (câu 32). Nó là công cụ của sự quy đạo. Cũng hãy quan sát rằng sự nhận thức về tội lỗi kết thúc trong sự quy đạo chỉ khi nhận về tội của tội nhân và tội lỗi được gắn liền với niềm tin trong Chúa Giêxu (câu 31) và một lần nữa chúng ta thấy rằng sự quy đạo Cơ đốc thật sanh ra những việc lành.
8 Hãy đọc 16:16-34. Trong ví dụ này tất cả các yếu tố quy đạo được trình bày. Theo sau mỗi yếu tố hãy liệt kê câu (hoặc những câu) và bằng chứng rằng yếu tố này là sự thực hiện thực tiễn.
a Tri thức .................................................

b Xúc cảm ...................................................
.........................................................
c Ý chí ................................................
...............................................
Ví dụ thứ 3 của sự quy đạo về trường hợp của Phaolô cũng đưa ra những nguyên tắc khác của sự quy đạo Cơ đốc. Công vụ 9: 1-3 bày tỏ sự kiện về sự quy đạo của Phaolô, một số các sự kiện thì hoàn toàn khác với những ví dụ kia của chúng ta. Một sự kiện quan trọng nổi bật lên từ sự kiện kỳ lạ liên quan đến sự quy đạo của Phaolô đôi lúc những hoàn cảnh khác thường đi cùng với một kinh nghiệm quy đạo, nhưng thường thì chúng không đi cùng (xảy ra cùng lúc). Thật là sai lầm khi giả định rằng sự quy đạo đòi hỏi phải có một cuộc động đất, một ánh sáng chói lòa từ Thiên Thượng hoặc là một vài dấu hiệu chứng thực khác; vì cớ phép lạ xoay quanh sự quy đạo là phép lạ lớn nhất trong thế gian này.
Trong kinh nghiệm của Phaolô chúng ta thấy rằng mặc dầu một người có thể được huấn luyện đặc biệt, có những khả năng tự nhiên kỳ lạ và rất chân thật trong tôn giáo của người đó, người đó có thể hoàn toàn không có đời sống tâm linh thật sự và đang cần sự quy đạo. Trường hợp của Phaolô cho thấy rằng một người có thể có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời nhưng lòng sốt sắng đó là không phải theo trí khôn (RoRm 10:2), người đó thì chân thật nhưng sai trật. Bởi một người như vậy thì không hiểu biết gì về phúc âm và phó dâng cho tôn giáo và tập tục, anh ta phản ứng chống lại phúc âm một cách điên cuồng. Tuy nhiên, khi người này hiểu được chân lý Chúa Giêxu là Chúa, sự hiểu biết được soi sáng của anh ta đã đặt một nền tảng vững chắc cho sự quy đạo của anh ta. Và cuối cùng, sự quy đạo của Phaolô cho thấy rằng Đức Chúa Trời cũng không muốn con người ở các tầng lớp xã hội, tri thức hay kinh tế bị hư mất. Trong phép lạ của Phaolô chúng ta thấy rằng ân điển của Đức Chúa Trời có thể biến đổi Phaolô từ một người bắt bớ trở thành một người giảng Tin lành.
9 Hãy viết những câu trả lời cho những câu hỏi sau dựa trên những so sánh và đối chiếu mà bạn ghi chú trong những ví dụ về sự quy đạo theo Kinh Thánh ở phần này.
a Những yếu tố nào bao gồm trong mỗi kinh nghiệm quy đạo?
..............................................................
b Dựa trên nền tảng nào Đức Chúa Trời tiếp xúc với chúng ta?
..........................................................
c Những sự kinh nghiệm khác nhau như thế nào?

d Trong trường hợp nào thì những kinh nghiệm lại tương tự nhau?
.....................................................................
Như vậy những câu Kinh Thánh cho thấy các khía cạnh con người và Thiên Thượng về sự quy đạo. Đức Chúa Trời luôn luôn tôn trọng ý chí của con người. Khi Ngài tạo dựng con người, Ngài đã ban cho con người cá tính, Đức Chúa Trời tạo nên một tạo vật hoặc là có thể đáp ứng sự cứu rỗi Ngài ban cho và trở về cùng Ngài hoàn toàn, hoặc là từ chối và lìa bỏ Ngài. Đức Chúa Trời bắt đầu tiến trình đem đến với sự quy đạo thông qua ngôi lời và Đức Thánh Linh. Tuy nhiên chúng ta phải đáp ứng vào sự kêu gọi của Thánh Linh thông qua Ngôi Lời và phải kinh nghiệm được sự quy đạo. Hãy nhớ rằng. Sự đáp ứng của chúng ta vào sự kêu gọi của Đức Chúa Trời thông qua Phúc âm thì không liên quan đến sự xứng đáng của chúng ta. Đức Chúa Trời tôn trọng ý chí của chúng ta và vì vậy Ngài kêu gọi chúng ta trở về cùng Ngài.
Khi chúng ta trở về cùng Đức Chúa Trời, tức là chúng ta để Ngài "bước vào nhà" và kiểm soát cuộc đời chúng ta (KhKh 3:20). Có lẽ chúng ta có thể minh họa điều này rõ hơn bằng ví dụ. Khi Chúa bước vào đời sống của chúng ta, Ngài biến đổi chúng ta qua một cuộc sống mới. Trước khi Ngài bước vào, chúng ta cũng giống như viên phi công không được huấn luyện đang ngồi trước bộ điều chỉnh và chúng ta đang trong tình trạng chắc chắn dẫn tới sự va chạm. Nhưng khi chúng ta trở về cùng Ngài, chúng ta cho phép Ngài kiểm soát. Trong cách này chúng ta thấy rằng con người quay về cùng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời biến đổi con người trong con đường chân lý và công bình. Hãy cầu nguyện giống như trước giả Thi Thiên "Hỡi Đức Chúa Trời ôi! xin hãy đem chúng tôi trở lại...." (Thi Tv 84:4) và điều quan trọng đó là Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta trở về cùng với Ngài. Hãy chú ý rằng khi Chúa đứng ngay cửa và gõ, chúng ta phải mở cửa, Đức Chúa Trời chẳng bao giờ dùng áp lực để bước vào cuộc đời của chúng ta.
Khí cụ mà Đức Chúa Trời dùng để đem lại sự quy đạo là rao giảng Phúc âm. Đức Thánh Linh sử dụng Ngôi Lời bày tỏ cho chúng ta thấy tội lỗi và làm hình thành đức tin trong chúng ta (RoRm 10:7). Vì vậy chúng ta hãy ăn năn, tin nhận Chúa Giêxu và được cải đạo. Trong tiến trình này Đức Chúa Trời được vinh hiển và chúng ta được cứu chuộc. Chúng ta không còn giới hạn sự trị vì của Đức Chúa Trời hay giới hạn ý chí tự do của chúng ta.
Sứ đồ Phaolô công bố rằng sứ điệp của ông ta là sứ điệp Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá (ICo1Cr 2:2). Chúng ta biết rằng ông giảng về ý nghĩa sự chết và sự sống lại của Đấng Christ (15:3, 4). Và sứ điệp của ông cũng bao gồm nhiều dẫn chứng về công việc của Đức Thánh Linh (xem RoRm 8:1-39; ICo1Cr 12:1-31; 14:1-40). Tuy nhiên sứ điệp được nhấn mạnh của Phaolô đó là sự chết chuộc tội của Chúa Jêsus Christ. Và ông công bố rằng sứ điệp này phản chiếu năng quyền của Đức Chúa Trời chứ không phải của con người (ICo1Cr 2:1-5; ITe1Tx 1:5; 2:13)
11 Hãy chọn những câu mô tả chính xác các phương cách của sự quy đạo dưới đây.
a) Sự quy đạo chỉ là sản phẩm ân điển của Đức Chúa Trời. Nó có được khi Đức Thánh Linh kéo một người về cùng Ngài; vì vậy người đó không cần phải tin hay đáp ứng sứ điệp Phúc âm bởi vì người đó được kéo trở về cùng Đức Chúa Trời, một cách bất khả kháng.
b) Sự quy đạo là kết quả của sự đánh ngã của con người về tình trạng riêng của mình. Người đó nhận thức được rằng mình cần được thay đổi và sự thay đổi xuất phát chỉ bởi ý chí riêng của người đó mà thôi.
c) Đức Chúa Trời và con người đều bao gồm trong tiến trình sự quy đạo. Đức Chúa Trời đem đến cho con người sự nhận thức về tình trạng hư mất của con người và nhận thức tội lỗi của mình, tuy nhiên con người phải đáp ứng bằng sự ăn năn, tin nhận, và trở về cùng Đức Chúa Trời.
Mục đích của sự quy đạo
Mục tiêu 7. Chọn những câu đúng đề cập đến mục đích của Đức Chúa Trời trong sự quy đạo .
Mục đích của sự quy đạo có thể được quan sát ở 2 khía cạnh: từ bỏ con đường gian ác của chúng ta, tội lỗi và sự chết đời đời (Exe Ed 33:11; Mat Mt 7:13); và đem chúng ta vào con đường hẹp dẫn đến sự sống đời đời (Mat Mt 7:14). Mục đích cao nhất của Đức Chúa Trời là đem chúng ta ra khỏi tội lỗi và trở về cùng Ngài. Trong sự quy đạo, chúng ta bắt đầu trên con đường dẫn đến sự sống đời đời. Vì vậy chúng ta bắt đầu một hướng mới trong cuộc đời.
Sự quy đaọ giúp chúng ta sống theo những nguyên tắc mới của cuộc đời dựa trên Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nói rằng mục tiêu của chúng ta tại điểm này là làm cho đời sống bên ngoài của chúng ta phù hợp với sự chuyển hóa đã xảy ra bên trong. Vị trí của chúng ta trong Đấng Christ với tư cách là dân sự của Đức Chúa Trời đã trở nên một chứng cớ sống cho những người khác vì cớ trạng thái của chúng ta (cách cư xử trong đời sống hàng ngày của chúng ta) phù hợp với điều này. Hãy chú ý cách mà Phaolô mô tả tiến trình tăng trưởng để trở nên giống như Ngài thì khởi đầu từ sự quy đạo: "Và chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển". (IICo 2Cr 3:18). Vâng, trong sự quy đạo, chúng ta đã được thay đổi hoàn toàn. Trước kia chúng ta bị trói buộc bởi thế gian, nhưng vì cớ chúng ta đã trở về cùng Ngài và được bao bọc bởi Thiên Thượng, chúng ta đối diện với sự tăng trưởng để chúng ta phản chiếu ảnh tượng của Ngài cho những người khác. Vì vậy chúng ta trở nên là những "lá thơ sống" mang sứ điệp của Đức Chúa Trời cho tất cả mọi người (IICo 2Cr 3:2).
12 Hãy viết số trước những câu đúng dưới đây trình bày mục đích của Đức Chúa Trời trong sự quy đạo và hãy viết số 2 trước câu trình bày không đúng mục đích này.
1) Mục đích của Đức Chúa Trời.
2) Không phải mục đích của Đức Chúa Trời.
. . . a Sư quy đạo là tiến trình mà Đức Chúa Trời sử dụng để biến đổi một con người tội lỗi trở nên hoàn thiện một cách nhanh chóng.
. . . b Sự quy đạo biến đổi con người ra khỏi tội lỗi và trở về cùng Ngài.
. . . c Mục đích cao nhất của Đức Chúa Trời là đem con người trở về cùng chính Ngài và sự quy đạo là bước đầu tiên trong tiến trình này.
. . . d Tiến trình trở nên giống Chúa Giêxu khởi đầu từ sự quy đạo là một công việc liên tục xảy ra suốt đời sống cơ đốc nhân của chúng ta.
Kết quả của sự quy đạo
Mục tiêu 8. Liệt kê ít nhất năm kết quả của sự quy đạo .
Tiếp nhận Con Đức Chúa Trời làm Chúa và là Đấng Cứu thế, chúng ta học được một vài điều trong phạm vi của sự chuyển hóa này: "Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta và sự sống ấy ở trong Con Ngài" (IGi1Ga 5:11-12). Một trong những kết quả tức thời sự quy đạo là sự cứu rỗi ra khỏi sự chết tâm linh (Gia Gc 5:20). Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy sau này chúng ta không chỉ đơn thuần là những tội nhân được cứu mà thôi. Ngay tại thời điểm quy đạo chúng ta được xem là thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời..." (IGi1Ga 3:2) cùng một thể ấy, tội lỗi của chúng ta được xóa đi (Cong Cv 3:19). Trước giả Thi Thiên nói rằng: "Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu thì Ngài đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu" (Thi Tv 103:12). Êsai nhấn mạnh chân lý này: "Ấy chính ta, là Đấng vì mình ta mà xóa sự phạm tội ngươi, ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa" (EsIs 43:25).
Với tư cách là thành viên của đại gia đình Đức Chúa Trời, chúng ta có những mối quan hệ mới. Tại thập tự giá, chúng ta kết hiệp cùng với vô số người khác, và cùng với những người được cải đạo, chúng ta hình thành một mối thông công vĩ đại. Thật sự đây là mối thông công mà chúng ta được kêu gọi vào (ICo1Cr 1:9). Giăng nói rằng mối thông công chúng ta có là " mối thông công với Đức Chúa Cha và với Con Ngài là Đức Chúa Giêxu Christ" (IGi1Ga 1:3). Mối giao thông mà Ađam đánh mất khi ông sa ngã, thì ngày nay đã được phục hồi thông qua sự chết của Đấng Christ. Hơn thế nữa, khi chúng ta mỗi ngày bước đi trong mối giao thông với Ngài, chúng ta còn có những phước hạnh sau : "Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau, và huyết của Đức Chúa Giêxu, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (IGi1Ga 1:7). Thật là một sự chuyển hóa kỳ diệu! Chúng ta trao đổi vị trí của chúng ta từ trong thế giới tội lỗi để nhận một vị trí đời đời trong sự vinh hiển, chúng ta rời bỏ sự nghèo nàn của trần gian để tiếp nhận sự giàu có của ân điển Thiên Thượng, chúng ta từ bỏ con đường rộng dẫn đến sự hủy diệt để bước đi trên con đường hẹp là nơi mà cánh tay Cha Thiên Thượng đang chờ đón chúng ta. Bên cạnh tất cả những điều này, thì Thiên đàng chờ đón chúng ta.
13 Hãy liệt kê ít nhất 5 kết quả của sự quy đạo.
.............................................................
............................................................
Bài tập trắc nghiệm
CHỌN CÂU ĐÚNG: Hãy khoanh tròn ký tự của câu trả lời đúng nhất.
1 Sự ăn năn và đức tin được gắn liền vào sự quy đạo
a) trong một phương diện rất gần, chúng là những bước chuẩn bị tội nhân đến sự quy đạo.
b) trong một ý nghĩa hẹp , bởi vì chúng là những hoạt động hoàn toàn khác nhau của con người trong công việc của Đức Thánh Linh.
c) Trong đó sự ăn năn giải quyết với tri thức, đức tin với xúc cảm và sự quy đạo với ý chí.
2 Chúng ta đã tìm thấy rằng sự ăn năn, đức tin và sự quy đạo là:
a) công việc duy nhất của Đức Chúa Trời. Con người thì thụ động trong những hành động này.
b) những hành động tác động vào con người tại mỗi bản chất của họ: tri thức, xúc cảm và ý chí.
c) những từ nói chung ngụ ý giống đều giống nhau.
3 Sự quy đạo có được kết quả của.
a) sự đáp ứng của con người đối với ngôi Lời và sự vận hành của Đức Thánh Linh.
b) sự tự nhận biết của con người mà bày tỏ cho họ rằng họ không cần phải đạt tới một tiêu chuẩn đạo đức được mong đợi.
c) sự tìm kiếm một Đấng Cứu thế là Đấng mà họ không biết.
4 Sự quy đạo đề cập đến sự trở về cùng Đức Chúa Trời cho sự tha thứ tội lỗi. Sự trở về này là:
a) trách nhiệm của con người bởi vì đây là mạng lệnh của Đức Chúa Trời.
b) hoạt động mà Đức Chúa Trời sắp đặt sẵn cho con người, vì vậy sự trở về là một hành động Thiên Thượng mà Đức Chúa Trời vận hành trong con người.
c) về cơ bản nó là trách nhiệm của con người bởi vì Đức Chúa Trời đòi nó. Hơn thế nữa, con người đã cầu xin rằng Đức Chúa Trời đem họ trở về cùng Ngài và Đức Chúa Trời đã thực hiện như vậy.
5 Khí cụ cơ bản mà Đức Chúa Trời sử dụng để đem đến sự quy đạo là:
a) Công tác của Đức Thánh Linh tiếp xúc với mỗi người trên một nền tảng khác nhau.
b) Rao giảng Phúc âm.
c) Công tác của thân thể Đấng Christ, Hội Thánh.
6 SẮP XẾP. Đặt số 1 trước những câu là kết quả của sự quy đạo và đặt số 2 trước những câu không phải là kết quả của sự quy đạo.






Trả lời câu hỏi nghiên cứu

7 a Sai c Đúng
b Đúng d Đúng.

1 c)Hành động mà một người kinh nghiệm sự thay đổi hoàn toàn.....

8 a Câu 32. Câu này hàm ý rằng người đề lao và gia đình ông đã nghe và hiểu sứ điệp.
b Câu 25-30. Phép lạ đã tạo nên một ấn tượng năng quyền đối với người đề lao; Do vậy ông hỏi Phaolô rằng: "Thưa ông, tôi phải làm gì để được cứu?" (rõ ràng rằng ông đã tin và điều này đã dẫn ông ta từ sự xưng nhận đi đến một sự thay đổi có tính quyết định) .
c Câu 33: Chúng ta thấy ở đây một hành động tự nguyện của ý chí trong việc làm của người đề lao và trong sự thuận phục đối với việc chịu báp tem.

2 Đề cập đến đường lối của một người, một quyết định trở về cùng Đức Chúa Trời và vâng phục Ngài.
9 a Con người hoàn toàn; tri thức, xúc cảm và ý chí.
b Những kinh nghiệm này cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời tiếp xúc với chúng ta dựa trên Lời của Ngài.
c Những kinh nghiệm khác nhau thì hơi khác nhau, từ người này đến người khác là do dựa trên sự kiện này.
d Trong mỗi trường hợp con người phải nhận biết tội lỗi mình và từ bỏ nó, tin nhận Ngài và xưng nhận Ngài là Chúa. Khi con người thực hiện điều này, con người được cải đạo.
3 b) giống như sự quy đạo, bởi vì trong những hành động này con người được biến đổi....
10 Đức Chúa Trời kêu gọi người trở về cùng Ngài: ChCn 1:23, EsIs 32:6; 59:20; Exe Ed 18:32; OsHs 12:6; Gio Ge 2:12-13, Cong Cv 26:20. Đức Chúa Trời đem con người trở lại cùng Ngài: Thi Tv 85:4; Gie Gr 31:18; CaAc 5:21.
4 a sai c sai
b đúng d đúng.
11 c) Cả Đức Chúa Trời và con người đều bao gồm trong tiến trình của sự quy đạo.
5 a 2) Xúc cảm
b 1) Tri thức
c 3) Ý chí.
12 a 2) không phải mục đích của Đức Chúa Trời
b 1) mục đích của Đức Chúa Trời.
c 1) mục đích của Đức Chúa Trời.
d 1) mục đích của Đức Chúa Trời.
6 a 2) sự thay đổi không mang tính thuộc linh.
b 1) sự thay đổi thuộc linh (tâm linh)
c 1) sự thay đổi tâm linh.
d 2) sự thay đổi không mang tính thuộc linh.
13 Câu trả lời của bạn phải theo thứ tự sau: Chúng ta nhận được sự sống đời đời, trở nên thành viên trong đại gia đình Đức Chúa Trời, tội lỗi chúng ta được xóa sạch, chúng ta được cứu ra khỏi sự chết tâm linh, có mối giao thông với Đức Chúa Trời và với những Cơ đốc nhân khác, được rửa tội, và có sự vui mừng của nước Thiên đàng.
BÀI 5: Ý MUỐN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG SỰ CỨU RỖI
Trong đơn vị một, chúng ta đã nghiên cứu những yếu tố cơ bản của sự cứu rỗi và những gì Đức Chúa Trời mong muốn nơi con người. Chúng ta thấy rằng kinh nghiệm sự cứu rỗi cũng giống như một phản ứng dây chuyền được thiết lập trong mỗi xúc cảm khi con người ăn năn, tin nhận và được cải đạo. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi và chuẩn bị của Ngài đối với đời sống tâm linh, một ví trí mới, và một địa vị mới cho mỗi một người nào đáp ứng Phúc âm.
Khi chúng ta xem xét ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi, chúng ta sẽ một lần nữa nhận thấy rằng ý định và mục đích từ trước vô cùng của Ngài trong việc định trước chúng ta để được đối diện với ảnh tượng của Con Ngài là "điều đã hoạch định trước". Đối với người chân thật thì việc tra xét lòng luôn luôn bao gồm một yếu tố ngạc nhiên khi người ấy tìm cách để điều chỉnh. Ý muốn trị vì của Đức Chúa Trời và mục đích với ý chí tự do của con người. Ý muốn của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong tình yêu lớn lao của Ngài cho chúng ta, cũng như trong sự thương xót mà Ngài bày tỏ cho chúng ta bằng cách làm cho chúng ta được sống với Đấng Christ, đang khi chúng ta đang chết trong tội lỗi của mình (Eph Ep 2:4-5).
Ân điển là bản chất của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta dẫu rằng chúng ta chống nghịch Ngài. Trong ân điển trọn vẹn Ngài đã lựa chọn để tạo dựng chúng ta với một khả năng có thể từ chối tình yêu mà Ngài dành cho chúng ta. Và rồi Ngài bày tỏ ân điển lạ lùng của Ngài khi Ngài ban cho chúng ta, một dòng giống phản loạn, chính Con ruột của Ngài. Đấng Christ đến để đồng cảm chính mình Ngài với những tội nhân như thế nào, gánh vác trách nhiệm vì cớ tội lỗi họ, và chết trên thập tự giá như là một của lễ chuộc tội cho sự giải thoát họ ra sao? Câu trả lời là vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian! không thể nào hiểu được? và khi chúng ta tiếp cận bài học này. Chúng ta không làm gì khác hơn ngoài việc thờ phượng Ngài vì cớ chúng ta không thể nào hiểu hết được tình yêu. Sự thương xót và ân điển này.

Dàn ý bài học
Sự lựa chọn
Những quan điểm về sự lựa chọn
Sự lựa chọn trong Kinh Thánh
Sự bổ nhiệm trước (sự định trước)
Các mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này, bạn có thể:
Giải thích ý nghĩa sự lựa chọn trong công việc cứu rỗi.
Thảo luận dữ kiện Kinh Thánh liên quan đến vấn đề. Ai là người được chọn, họ được lựa chọn cho ai và họ được lựa chọn để làm gì?.
Đánh giá sự kiện rằng hiểu biết các nguyên tắc của sự lựa chọn và sự định trước làm cho con người tin chắc vào sự cứu rỗi khi họ ở trong Đấng Christ.
Các hoạt động học tập
Nghiên cứu bài học theo trình tự đã cho trong bài học 1 chắc chắn rằng bạn đã đọc hết tất cả các câu Kinh Thánh đã cho và trả lời tất cả các câu hỏi nghiên cứu.
Hãy đọc Eph Ep 1:3-14 nhiều lần. Đây là phân đoạn Kinh Thánh nền tảng đề cập đến ý muốn của Đức Chúa Trời, hãy đọc IITi 2Tm 1:9 và RoRm 8:29-30.
Kiểm tra phần từ vựng và bất cứ từ nào mà bạn chưa hiểu, được cho phía sau của phần hướng dẫn nghiên cứu này.
Làm bài tập trắc nghiệm ở phần cuối của bài học và kiểm tra những câu trả lời của bạn cách cẩn thận. Xem lại những mục bài nào trả lời chưa đúng.
Từ chìa khóa

Triển khai bài học

SỰ LỰA CHỌN

Mục tiêu 1. Nhận ra định nghĩa của sự lựa chọn như đã được trình bày trong Eph Ep 1:3-14.
Một trong những phần chính trong bài học này đề cập đến sự lựa chọn. Phần khác nghiên cứu về sự dạy dỗ được gắn liền với sự định trước. Cùng một lúc, hai từ này bày tỏ cho chúng ta biết rất nhiều về mục đích hay là ý muốn của Đức Chúa Trời cho đời sống của con người (Nam lẫn Nữ).
Rõ ràng rằng bất cứ điều gì đã nằm trong quá khứ xa vời đều có một chút (bí ẩn) nào đó về nó. Điều này đặc biệt cũng đúng khi môn học này đề cập đến quyết định của Đức Chúa Trời từ trước vô cùng. Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy rằng chủ đề về ý muốn của Đức Chúa Trời cho những con người đáp ứng vào Ngài thì không bị bao phủ bởi một màn bí ẩn nào cả. Nhưng nó đề cập đến cho chúng ta sự an ủi, sự an ninh, mối thông công và sự thừa kế đời đời. Khi chúng ta xem xét hành động của cha Thiên Thượng chúng ta được mô tả bởi từ "lựa chọn và định trước”, thì chúng ta sẽ nhận thấy được sự cung cấp dư dật mà Ngài dành cho những ai tiếp nhận sự cứu rỗi Ngài ban.
1 Hãy đọc 1:13-14 nếu bạn chưa đọc qua. Dựa trên câu Kinh Thánh này và phân đoạn ở trên, chúng ta có thể nói rằng ý muốn của Đức Chúa Trời như đã được bày tỏ trong từ "lựa chọn và định nghĩa trước" thì đề cập tới.
a) mục đích từ trước vô cùng mà Ngài dành cho nhân loại nói chung.
b) mục đích Thiên Thượng cho những ai đáp ứng vào tình yêu thương của Ngài.
SỰ LỰA CHỌN CỦA CON NGƯỜI- SỰ LỰA CHỌN CỦA ĐCT Trong định nghĩa tổng quát này chúng ta nhận thấy sự ban cho dư dật của Đức Chúa Trời đó là ban sự cứu rỗi cho tất cả mọi người trong Chúa Giêxu Christ. Hãy chú ý rằng cũng có một phần điều kiện cho con người đó là tiếp nhận sự cứu rỗi và duy trì nó bằng đức tin trong công việc được hoàn tất của Chúa Giêxu Christ vì vậy từ xưa trong cõi đời đời Đức Chúa Trời đã chọn để cứu con người. Bởi vì cớ họ không xứng đáng với ân điển của Ngài, Ngài đã chọn họ trong Chúa Giêxu Christ đặng làm nên thánh không chỗ trách được và được tiếp nhận làm con nuôi của Ngài, để có thể ngợi khen sự vinh hiển Ngài và nhận phần kế nghiệp đời đời (Eph Ep 1:3-14). Bạn sẽ nhớ lại trong bài học 1 rằng Đức Chúa Trời đã ban sự cứu rỗi cho tất cả mọi người. Tuy nhiên tiêu điểm của chúng ta ngay bây giờ đó là những phước thiêng liêng của sự ban cho này cho những người tiếp nhận sự ban cho dư dật của Ngài.
2 Như đã được khẳng định trong 1:3-14 sự dạy dỗ về sự lựa chọn theo Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng:
a) Tất cả mọi người sẽ đáp ứng vào mục đích của Đức Chúa Trời và được cứu rỗi.
b) Đức Chúa Trời đã thực hiện từ buổi sáng thế, chọn lựa những người trong Đấng Christ là những người Ngài biết trước sẽ đáp ứng cách vui mừng vào sự cứu rỗi Ngài ban cho.
c) Mục đích của Đức Chúa Trời đó là chỉ một bài người được cứu và kinh nghiệm được sự cung cấp dư dật của Ngài trong khi những người khác bị hư mất.
Những ví dụ về sự lựa chọn trong Kinh Thánh
Mục tiêu 2. Phân biệt giữa sự dạy dỗ về sự lựa chọn theo Kinh Thánh và không theo Kinh Thánh .
Để hiểu được ý nghĩa của sự lựa chọn đầy đủ hơn, chúng ta sẽ xem qua những từ Hybálai và từ Hylạp được dùng trong Kinh Thánh và chúng ta sẽ xem qua những ví dụ về sự lựa chọn trong cựu ước và tân ước được minh họa cho ý tưởng này.
Trong Cựu ước, từ Hybálai "bàhar" được dùng thường xuyên nhất. Nó có nghĩa là "chọn" hay là "lựa chọn". Nó xuất hiện 164 lần và trong hơn 100 những ví dụ này cho biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng chọn lựa. Vì vậy những ví dụ này rất quan trọng trong việc minh chứng hoạt động của Đức Chúa Trời trong sự lựa chọn
3 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và trình bày Đức Chúa Trời chọn ai và chọn cái gì?.
a ISa1Sm 10:24
b IISu 2Sb 6:6
c 7:16
d Thi Tv 106:23
Trong câu hỏi trên chúng ta thấy những sự chọn lựa Thiên Thượng đề cập đến chọn lựa cá nhân, chọn lựa mục tiêu và chọn lựa địa điểm. Từ "bãhar" thường xuyên chỉ về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời đối với Ysơraên là dân sự của Ngài. Chẳng có phẩm chất đặc biệt nào trong Ysơraên có thể giải thích được lý do tại sao dân Ysơraên lại được chọn là dân đặc biệt của Đức Chúa Trời trong khi tất cả những dân khác lại không được chọn (PhuDnl 7:7).
SỰ LỰA CHỌN ĐEM ĐẾN TRÁCH NHIỆM
Tuy nhiên, sự tầm thường của Ysơraên đã đưa ra minh chứng đầu tiên của Ngài sẽ được đồn khắp cả thiên hạ (XuXh 9:16). Nói về sự chọn lựa Ysơraên, chúng ta nhận thấy : "Ta đã lựa người chưa từng bỏ người" (EsIs 41:9).
Sự lựa chọn Ysơraên được trở nên là dân của Đức Chúa Trời là một đặc ân thánh và cao quý. Tuy nhiên sự chọn lựa này cũng đặt để trách nhiệm lớn lao trên dân tộc chưa được chọn nhưng kết quả. Họ lại bị trừng phạt nặng nề hơn những quốc gia láng giềng vì cớ lòng tự hào ngang ngạnh hoặc vì cớ bất tuân luật pháp của Đức Chúa Trời.
4 Hãy xem Gie Gr 5:12; 7:4, 10 và MiMk 3:11. Dân Ysơraên đã phạm lấy những sự khoe khoang nào?.
...................................................................
Gie Gr 7:9-10 ngụ ý rằng vì dân Ysơraên tin quyết rằng sự (tuyển chọn) họ là chắc chắn cho nên nó làm giảm bớt những trách nhiệm cho họ. Nhưng như chúng ta thấy, đây không phải là ý định của Đức Chúa Trời cho Ysơraên. Vì cớ cùng với đặc ân, còn kèm theo trách nhiệm đáp ứng vào tình yêu của Đức Chúa Trời bằng đức tin và sự vâng phục . Và bởi vì Ysơraên là một dân tộc được tuyển chọn, vì vậy mỗi cá nhân đều phải chịu trách nhiệm về sự đáp ứng của chính họ đối với ý muốn được bày tỏ của Đức Chúa Trời.
5 Hãy đọc Exe Ed 18:1-32 và 33:7-20 và chọn câu kết hay nhất cho câu sau đây. Ý định của Đức Chúa Trời cho những người Ngài chọn lựa theo những câu Kinh Thánh ở trên là họ.
a) Đơn giản là chỉ thừa nhận sự kiểm soát của Ngài trên đời sống của họ.
b) Thừa nhận sự kiểm soát của Ngài trên đời sống của họ bằng sự vâng phục và luôn luôn theo sau (đường lối) của Ngài.
c) Chẳng làm gì cả bởi vì sự tuyển chọn cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã chọn vì vậy Ngài sẽ tôn trọng sự chọn lựa của Ngài cho dù hành động của những kẻ được chọn là thế nào đi nữa.
Tiên tri Êxêxchiên nhận biết được rằng bởi vì Đức Chúa Trời tuyển chọn dân tộc Ysơraên cho nên mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm sống trong sự vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời (Exe Ed 18:4). Không sống theo Luật lệ của Đức Chúa Trời thì chỉ có thể dẫn đến sự chết (Exe Ed 18:13).
6 Hãy xem AmAm 3:1-2, LuLc 12:48 và RoRm 2:17-29. Chúng ta thấy nguyên tắc nào trong những câu Kinh Thánh này đề cập đến sự phán xử của Đức Chúa Trời đối với con người?

...................................................................
Những câu Kinh Thánh đề cập đến sự tuyển chọn dân Ysơraên dạy dỗ chúng ta về ý muốn và công việc của Cha Thiên Thượng thánh khiết và giàu lòng thương xót. Chúng cũng bày tỏ bổn tánh thánh khiết và cách nhìn của Ngài đối với tội lỗi. Và chúng cũng cảnh tỉnh chúng ta đừng nên giống như Ysơraên bị phân cách với Đức Chúa Trời như được chép trong 11:17-23.
Trong Tân ước thì từ Hylạp dùng cho "sự lựa chọn" xuất hiện khoảng 50 lần. Những từ này là:
1. Eklegoma - "chọn"
2. Ekloge - "hành động chọn hoặc lựa"
3. Eklektos - "người được lựa chọn hay tuyển chọn"
Khoảng một nửa số các từ này dạy chúng ta về việc thi hành ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự tuyển chọn đặc biệt nguyên tắc của sự chọn lựa tự do là nổi bật nhất. Trong Tân ước, hình thức động từ này ngầm chỉ mối quan tâm cá nhân trực tiếp của Đấng thực hiện việc tuyển chọn. Trong trường hợp này chính là Đức Chúa Trời. Trong sự lựa chọn Đức Chúa Trời chẳng bao giờ định truớc tương lai của con người hay là tách rời quyết định có trách nhiệm của con người ra khỏi sự tuyển chọn.
7 Trong bài tập dưới đây, viết chữ Đ trước những ví dụ dạy dỗ theo Kinh Thánh về sự tuyển chọn và chữ S trước những câu không phải là sự dạy dỗ theo Kinh Thánh về sự tuyển chọn.
. . . a Hành động chọn lựa của Đức Chúa Trời dựa trên sự xứng đáng của người được chọn.
. . . b Đặc ân được chọn lựa thì vượt trên sự hiểu biết của con người và nó đòi hỏi đời sống có trách nhiệm về nhiệm vụ của kẻ được chọn.
. . . c Những ví dụ trong Kinh Thánh Tân và Cựu ước cho chúng ta thấy rằng bởi vì Đức Chúa Trời đã chọn những người được cứu cho nên họ không cần phải đáp ứng vào ân điển của Đức Chúa Trời....Tất cả mọi thứ phụ thuộc vào chính Ngài.
. . . d Bởi vì Đức Chúa Trời chọn lựa những người được cứu vì vậy trách nhiệm của Ngài là chuẩn bị sẵn cho họ bước vào Nước Thiên đàng và giữ họ được trong sạch thông qua ý muốn năng quyền của Ngài.
. . . e Trong thời Cựu ước Ysơraên là một dân tộc được chọn tuy nhiên mỗi cá nhân đều phải chịu trách nhiệm cho đáp ứng của họ đối với ân điển của Đức Chúa Trời. Trong thời kỳ Tân ước Phúc âm được ban ra cho tất cả mọi người, và mỗi cá nhân đều phải chịu trách nhiệm về những điều mình làm đối với sự cứu rỗi được ban cho của Đức Chúa Trời.
QUAN ĐIỂM VỀ SỰ CHỌN LỰA
Mục tiêu 3. Phân biệt giữa những câu gốc gắn liền với 2 quan điểm khác nhau về sự chọn lựa .
Quan điểm thuyết tiền định

1 Nguyên nhân thúc đẩy sự tuyển chọn là do ý muốn trị vì của Đức Chúa Trời. Eph Ep 1:5
3. Nó đã được định từ trước sáng thế Eph Ep 1:4
Một số người nhận định sự chọn lựa hơi khác với những điều chúng ta tin thì gắn liền với toàn bộ sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Họ nhận thấy rằng Đức Chúa Trời đã hoạch định từ trước vô cùng số phận của mỗi cá nhân sẽ ra sao. Họ tin rằng Đức Chúa Trời xác định một số sẽ được cứu và nhận được sự sống đời đời và một số bị hư mất đời đời. Theo họ thì Đấng Christ chỉ chết cho những kẻ được chọn. Chúng ta gọi quan điểm này là quan điểm thuyết tiền định.
Theo những người có quan điểm này thì như vậy sự cứu rỗi hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời, và con người tuyệt nhiên chẳng phải hành động gì cả trong sự cứu rỗi. Nếu con người có được sự ăn năn, tin nhận và đến với Đấng Christ là vì linh của Đức Chúa Trời kéo con người về với Ngài. Điều này đúng bởi vì con người quá băng hoại và ý chí của con người bị trói buộc bởi tội lỗi do vậy nếu tách rời khỏi sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời con người không thể ăn năn, tin nhận và chọn lựa đúng.
Chúng ta hãy xem một số đặc tính chính của quan điểm này. Từ quan điểm này đã hình thành tín lý hay sự dạy dỗ về sự đảm bảo đời đời, với niềm tin rằng một khi con người đã ở trong ân điển thì con người luôn luôn ở trong ân điển một lần được cứu là luôn được cứu. Bởi vì nếu Đức Chúa Trời đã xác định từ trước vô cùng một người được cứu, và người đó có thể trước tiên là được cứu và sau đó chỉ giữ ân điển của Đức Chúa Trời là ân điển bất khả kháng vậy thì người đó chẳng bao giờ bị hư mất.
8 Hãy khoanh tròn của tất cả những câu được xem là đúng theo quan điểm của những người có quan điểm thuyết tiền định về sự chọn lựa.
a Đức Chúa Trời chọn lựa vô điều kiện. Con người chẳng cần phải làm gì để chống lại hay kết hợp với mục đích chọn lựa của Đức Chúa Trời
b Sự chọn lựa dựa trên tình yêu của Đức Chúa Trời và việc lành của con người.
c Sự chọn lựa có tính cách tức là tất cả mọi người được chọn vào sự cứu rỗi.
d Những người được Đức Chúa Trời chọn bị bắt phục làm theo bởi tác động năng quyền của Ngài trên tâm linh họ.
e Đức Chúa Trời định trước từ trước sáng thế vận mạng của mỗi con người.Ngài tạo trên một số được cứu và một số bị hư mất đời đời.
Quan điểm ý chí tự do
Trái lại với quan điểm thuyết tiền định, còn có một quan điểm khác về sự chọn lựa. Đây là quan điểm của chúng ta nhận thức về trách nhiệm của con người trong sự cứu rỗi và có thể được gọi là quan điểm ý chí tự do. Chúng ta tin Kinh Thánh dạy rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là tất cả mọi người được cứu. Điều này dựa trên minh chứng Đấng Christ chết cho tất cả mọi người (ITi1Tm 2:6; 4:10; HeDt 2:9; IGi1Ga 2:2; IICo 2Cr 5:14) và ban ân điển của Ngài cho mọi người. Mặc dù chúng ta đồng ý rằng sự cứu rỗi là công việc lành của con người hay là sự xứng đáng, tuy nhiên con người phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Trách nhiệm mà con người có trong sự chọn lựa, đặt lòng tin vào những gì Đấng Christ ban cho, chắc chắn trong sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho. Điều này cũng đồng nhất với Lời Chúa Giêxu (GiGa 3:15-18) một điều hiển nhiên rằng bất cứ ai tin Ngài đều có thể có sự sống đời đời. Đức tin là hành động của sự tin nhận Đấng Chirst và cũng là một điều kiện cho sự cứu rỗi nó không phải là hành động của sự bù trừ. Nói một cách đơn giản là tiếp nhận điều kiện đã được định ra bởi Chúa. Chúng ta có thể tiếp nhận ân điển của Đấng Christ hoặc là từ chối nó. Khả năng lựa chọn tùy thuộc chúng ta.
Bởi vì sự cứu rỗi tùy thuộc vào sự đáp ứng của chúng ta đối với sự ban cho của Đức Chúa Trời, chúng ta phải xác định bằng hành động ý chí tự do của chúng ta là chúng ta sẽ tiếp nhận hay từ chối sự ban cho của Ngài.

2. Sự lựa chọn là hành động của ân điển bởi vì tất cả những người được chọn đều không xứng đáng. Eph Ep 2:8-10 3. Đức Chúa Trời chọn lựa dựa trên những phước trong Con Ngài. 1:3-4
Quan điểm ý chí tự do về sự chọn lựa là quan điểm mà Đức Chúa Trời chọn "Tất cả những ai" muốn được cứu. Nhiều cơ đốc nhân trên thế giới có quan điểm này đều tin rằng sự cứu rỗi ban cho thì luôn đủ rộng để tiếp nhận những ai muốn được cứu chúng ta tin rằng bởi sự toàn tri, Đức Chúa Trời đã biết trước tất cả những cá nhân tiếp nhận phúc âm và duy trì sự cứu rỗi của họ. Những cá nhân này Ngài đã định trước (được chọn trước khi sáng thế) để ban cho sự sống đời đời. Điểm quan trọng của ý chí tự do là Đức Chúa Trời đã biết trước vận mệnh của những con người này nhưng Ngài không ấn định số phận của họ.
9 Hãy khoanh tròn ký tự của những câu đúng của quan điểm ý chí tự do về sự chọn lựa.
a Sự chọn lựa dựa trên sự nhận biết trước của Đức Chúa Trời về sự đáp ứng của con người đối với Phúc âm.
b Sự chọn lựa thì phụ thuộc và dựa trên sự đáp ứng của mỗi cá nhân đối với sự cứu rỗi ban cho.
c Đức tin trong Chúa Giêxu Christ là nền tảng cơ bản mà con người thông qua đó được cứu.
d Đức tin thì không xứng đáng, nó là sự đáp ứng vâng phục của những người tin cậy Lời Đức Chúa Trời.
Nói tóm lại, giữa hai quan điểm thì quan điểm ý chí tự do đúng theo Kinh Thánh hơn. Trong việc nghiên cứu tín lý về sự cứu rỗi, chúng ta tin rằng nó gần sự dạy dỗ của toàn bộ Kinh Thánh hơn quan điểm thuyết tiền định. Chúng ta bị tác động bởi yếu tố cho rằng sự chọn lựa chẳng bao giờ xuất hiện trong Lời Kinh Thánh như là một sự xâm phạm ý chí của con người. Và trong Kinh Thánh chẳng bao giờ con người được xem như là không có trách nhiệm. Trách nhiệm chỉ có thể tồn tại khi có sự chọn lựa tự do.
10 Hãy đọc câu Kinh Thánh sau và trả lời những câu dưới đây, những câu trả lời của bạn dựa trên câu Kinh Thánh này "vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Eph Ep 2:8-9). Hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu đúng.
a Sự cứu rỗi trong câu Kinh Thánh trên hoàn toàn là sự ban cho của Đức Chúa Trời.
b Sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho được tiếp nhận thông qua sử dụng đức tin.
c Sự cứu rỗi là một món quà được ban cho cách rộng rãi nhưng sự ban cho này sẽ có hiệu quả khi có niềm tin và tiếp nhận sự ban cho này.
d Món quà của Đức Chúa Trời thì bất khả kháng có nghĩa là nó không thể bị từ chối. Con người không bị yêu cầu phải đáp ứng vào Đức Chúa Trời; nhưng Ngài bắt buộc họ nghe sự công bố của Ngài rằng, họ được chọn lựa và phải tiếp nhận sự ban cho của Ngài.
11 Đối với những câu dưới đây ghi số 1 để nhận ra những câu phản ánh quan điểm thuyết tiền định và số 2 cho những câu phản ánh quan điểm ý chí tự do.
1) Quan điểm thuyết tiền định.
2) Quan điểm ý chí tự do.
. . . a Sự chọn lựa là vô điều kiện và bất khả kháng.
. . . b Sự chọn lựa đòi hỏi đáp ứng tin cậy của con người trong sự cứu rỗi mà Đấng Christ ban cho.
. . . c Sự chọn lựa có giá trị cho tất cả nhân loại nhưng chỉ có hiệu quả cho những kẻ tin.
. . . d Trong sự chọn lựa Đức Chúa Trời định trước việc tạo dựng con người. Từ trước sáng thế. Một số thì được cứu còn một số thì bị hư mất, vì vậy không liên quan gì đến bất cứ điều gì họ tin hay thực hiện.
. . . e Đức Chúa Trời ban cho tất cả mọi người đủ khả năng để đi đến một sự lựa chọn trong vấn đề tiếp nhận Đấng Christ và sự cứu rỗi của Ngài.
SỰ CHỌN LỰA TRONG KINH THÁNH
Mục tiêu 4. Dựa trên nền tảng Kinh Thánh hãy nhận ra 5 khía cạnh của sự chọn lựa .
Đôi khi chúng ta thường có khuynh hướng sử dụng một hoặc hai dẫn chứng để bảo vệ ý tưởng của chúng ta hoặc là có định kiến về một vấn đề được chọn. Tuy nhiên để có sự công bằng trong việc hiểu rõ một vấn đề, chúng ta phải thu thập tất cả chứng cớ có thể sử dụng được, đánh giá tất cả các sự kiện có liên quan, và sau đó mới đi đến một kết luận. Ví dụ như, một người có thể kết luận rằng dựa trên GiGa 14:13-14 anh ta chắc chắn sẽ nhận được "bất cứ điều gì anh ta cầu xin trong danh Đấng Christ.Tuy nhiên khi chúng ta xem xét kỹ hơn, chúng ta thấy rằng phía sau lời hứa này trong 15:16 còn những điều kiện trong 15:1-5. Sự bày tỏ thêm từ phân đoạn thứ 2 này thì rất quan trọng trong việc dạy dỗ cho chúng ta nền tảng Kinh Thánh đối với sự hiểu biết của chúng ta về bản chất của sự cầu nguyện có hiệu quả. Với những nhận định này. Chúng ta hãy nghiên cứu thêm những bằng chứng trong Kinh Thánh đề cập đến sự chọn lựa.
12 Hãy đọc những phân đoạn sau trong PhuDnl 7:6-8; 10:12-15 và 14:1-2. Bây giờ hãy (hoàn thành) mỗi câu dưới đây dựa trên những câu Kinh Thánh tham khảo này.
a Những câu Kinh Thánh này dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời là ..
..................................................
b Đức Chúa Trời lựa Ysơraên vì cớ ....
..............................................................
c Tình yêu của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong việc Ngài chọn lựa họ từ
.................................
d Kết quả của đặc ân chọn lựa này là dân Ysơraên được kêu gọi
Trong những câu Kinh Thánh tham khảo ở trên. Chúng ta nhận thấy được uy quyền của Đức Chúa Trời khi Ngài chọn dân Ysơraên. Chúng ta cũng chú ý rằng, cùng với đặc ân được chọn lựa, thì dân Ysơraên cũng nhận một số trách nhiệm rất trọng đại: phải vâng phục, sống ngay thẳng, và đáp ứng vào ân điển của Đức Chúa Trời trong việc yêu thích sự thờ phượng và sự ngợi khen. Hình phạt của sự bất vâng phục chính là sự hủy diệt (PhuDnl 7:10-11). Niềm vui về sự ban cho của sự chọn lựa tùy thuộc vào sự đáp ứng vâng phục của mỗi cá nhân. (7:12-26, cũng xem chương 8).
13 Hãy đọc mỗi câu Kinh Thánh dưới đây và liệt kê ai là người được chọn lựa.
a Cong Cv 9:15
b RoRm 11:5
c 11:26
d ITe1Tx 1:4
14 Một lần nữa hãy đọc kỹ Eph Ep 1:3-4 và trả lời những câu hỏi sau.
a Ai là người thực hiện công việc chọn lựa?
b Sự chọn lựa được gắn liền với ai?
c Sự chọn lựa xảy ra khi nào?
d Sự chọn lựa được nhận thức khi nào?
e Mục đích của sự chọn lựa là gì?
Chúng ta nên chú ý rằng sự thánh khiết không phải là "nền tảng" của sự chọn lựa chúng ta, nó là mục tiêu Phaolô nói rằng Đức Chúa Trời "không cứu vì việc công bình chúng ta làm nhưng cứu theo lòng thương xót Ngài". (Tit Tt 3:5) khi chúng ta nói về sự chọn lựa của dân tộc Đức Chúa Trời, sự nhấn mạnh về sự chọn lựa đối với sự cứu rỗi thì không được nhấn mạnh như sự chọn lựa đối với sự thánh khiết.
15 Chúng ta học được điều gì từ những câu Kinh Thánh sau về sự chọn lựa và nhiệm vụ của chúng ta trong sự chọn lựa?
a IPhi 1Pr 1:1-2
b IIPhi 2Pr 1:10
16 Nhận diện mỗi khía cạnh của sự chọn lựa (bên trái) bằng cách sắp xếp nó với phần định nghĩa giải thích hay làm trọn vẹn ý nghĩa của nó (bên phải).
SỰ ĐỊNH TRƯỚC

Ý nghĩa của sự định trước

Mục tiêu 5. Nhận ra những câu định nghĩa chính xác sự tiền định khi nó gắn liền với ý muốn và mục đích của Đức Chúa Trời trong sự chọn lựa .


Bây giờ chúng ta bước sang từ quan trọng thứ 2 trong bài nghiên cứu của chúng ta về mục đích của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi con người. Sự tiền định.Từ "sự định trước và sự tiền định" cùng có ý nghĩa như nhau. Trong bản Kinh Thánh Kingjames, từ sự tiền định và sự định mệnh được dùng 4 lần xem RoRm 8:29, 30 và Eph Ep 1:5, 11 bản American standard đều dịch chữ "sự định trước" trong 4 lần được dùng Bản Today's English dùng những từ ngầm chỉ "những gì Đức Chúa Trời đã quyết định trước" từ trước vô cùng. Chúng ta dùng chữ "định trước" bởi vì một số người nghĩ rằng chữ tiền định về một hành động độc đoán, quyết định của Đức Chúa Trời. Quan điểm như vậy sẽ là tiền đề cho thuyết tiền định.
Trong Cơ đốc giáo chúng ta không có quan điểm tiền định về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời. Chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời trị vì nhưng chúng ta cũng tin rằng Ngài đã tạo dựng con người có khả năng từ chối ý muốn của Ngài. Kinh Thánh minh chứng rằng con người có thể từ chối sự kêu gọi của Đức Chúa Trời vào sự cứu rỗi và cuối cùng bị hư mất (ChCn 29:1; HeDt 3:7-19). Kinh Thánh cũng tỏ ra rằng những ai đáp ứng vào sự ban cho của Đức Chúa Trời thì sẽ được cứu (KhKh 22:17; GiGa 3:36).
Sự định trước bắt nguồn từ tiếng Hylạp "Prooriza", có nghĩa là "định trước". Khi được áp dụng vào sự cứu rỗi điều này có ý nghĩa rằng trong sự chọn lựa Đức Chúa Trời đã có mục đích để cứu rỗi ai tiếp nhận Ngài và sự cứu rỗi Ngài ban, và trong sự định trước Ngài đã quyết định thực hiện mục đích này. Cho nên với sự định trước, chúng ta muốn nói rằng Đức Chúa Trời thực hiện mục đích của Ngài để cứu những người tiếp nhận sự cứu rỗi này. Nói một cách khác Ngài đã chuẩn bị sẵn cho tất cả những người mà Ngài biết là tiếp nhận Ngài.
17 Hãy chọn những câu đúng định nghĩa từ "sự định trước" và mối quan hệ của nó với sự chọn lựa.
a Sự định trước có nghĩa rằng Đức Chúa Trời thực hiện đúng thời điểm những quyết định và mục đích mà Ngài đã định trước từ trước vô cùng.
b Trong mối tương quan với sự cứu rỗi, sự định trước liên quan đến việc Đức Chúa Trời có mục đích cho những ai tiếp nhận sự chuộc tội của Ngài dành cho chúng ta.
c Sự định trước có nghĩa rằng mỗi điều hay mỗi hành động, quyết định, thái độ, đáp ứng, động cơ và mỗi tình huống liên quan đến con người đã được định trước bởi Đức Chúa Trời từ trước vô cùng. Con người sống sót qua chương trình được sắp đặt trước này mà không có khả năng tác động nó.

Nền tảng cho sự định trước
Mục tiêu 6. Chọn một câu minh chứng nền tảng mà Đức Chúa Trời định trước .
Mục tiêu của chúng ta trong bài học này là để thấy được sự dạy dỗ liên quan đến sự chọn lựa và sự định trước một cách cân đối theo như Kinh Thánh trình bày. Chúng ta sẽ thấy rằng quan điểm theo Kinh Thánh về sự chọn lựa thì được cân đối và đồng nhất với sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người.
18 Hãy đọc RoRm 8:29 và IPhi 1Pr 1:2. Những câu Kinh Thánh này chứng minh rằng sự lựa chọn thì được dựa trên ...........................
Ý nghĩa đơn giản của từ "biết trước" là "biết trước đó". Trong RoRm 8:28-30. Phaolô bày tỏ cách rõ ràng rằng thứ tự Thiên Thượng là sự nhận biết trước và rồi định trước và Phierơ trình bày rằng sự biết trước xác định sự chọn lựa. Vì vậy Đức Chúa Trời biết trước, rồi thì Ngài chọn lựa và cuối cùng Ngài thực hiện mục đích của Ngài (định trước).
Một câu hỏi được đặt ra: Đức Chúa Trời biết trước điều gì về những người được đề cập đến trong RoRm 8:29? Không có sự biểu thị nào cả trong phân đoạn này. Tuy nhiên theo cách nhìn tổng thể về sự dạy dỗ của Kinh Thánh liên quan đến sự kết hợp thật sự của con người trong sự cứu rỗi (thông qua đức tin),
BẤT KỲ AI CŨNG CÓ THỂ BƯỚC VÀO
chúng ta thừa nhận sự biết trước có nghĩa là sự nhận biết trước của Đức Chúa Trời về đức tin của con người. Do vậy Đức Chúa Trời đã định trước "những ai" nhận được sự cứu rỗi. Chương trình này thì rộng mở cho tất cả những ai muốn được cứu. Chân lý này đã được giải thích bằng sự minh họa sau: bên ngoài cửa của sự cứu rỗi một người (thấy) những từ "Ai muốn có thể vào". Tuy nhiên khi người đó bước vào cửa và được cứu, người đó thấy những từ "Lựa chọn theo sự biết trước của Đức Chúa Trời".
Bởi vì sự biết trước của Ngài, Đức Chúa Trời biết từ trước ai sẽ đáp ứng sự cứu rỗi Ngài ban cho và ai tiếp tục hầu việc Đấng Christ. Ngài đã định trước cho họ một sự kế thừa đời đời. Ngài đã biết trước sự chọn lựa của họ và số phận đời đời của họ nhưng Ngài không quyết định cho họ.
19 Hãy chọn phần hoàn thành ý nghĩa đúng cho câu nầy: Đức Chúa Trời định trước dựa trên
a) sự xứng đáng của con người, các việc lành và sống thánh khiết.
b) quyết định độc đoán của Ngài là cứu một số và từ bỏ những kẻ còn lại.
c) những gì mà Ngài biết từ trước
Sự định trước trong Kinh Thánh
Mục tiêu 7. Dựa trên theo Kinh Thánh , hãy nhận diện (dẫn chứng ) nào là được định trước và dẫn chứng nào là không được định trước .
Trong Tân ước từ dùng để dịch từ "định trước" được sử dụng 6 lần. Trong mỗi trường hợp nó có nghĩa là "xác định" hoặc là "quyết định trước". Trong những câu Kinh Thánh sau, chúng ta cùng xem Đức Chúa Trời đã định trước ai hoặc cái gì. Khi chúng ta xem xét, chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn chân lý về sự định trước.
20 Hãy viết Đức Chúa Trời đã định trước cái gì hoặc ai trong những câu sau đây:
a Cong Cv 4:27-28 ..................................................
b RoRm 8:29-30 ....................................................
c ICo1Cr 2:7 ...............................................
d Eph Ep 1:5 .......................................
e 1:11-12 ...................................................
Xem lại những câu Kinh Thánh trên và quan sát cái gì không được định trước. Các chi tiết của đời sống chúng ta thì không được xếp đặt trước.
Mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong mỗi cá nhân chúng ta thì được định trước. Và mục đích cơ bản của sự định trước là chúng ta, những người tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nên có một mối quan hệ sống động và thánh khiết với Ngài như là con cái của Ngài, trở nên giống với ảnh tượng Đấng Christ.
Trong kế hoạch sự cứu rỗi chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời và con người kết hợp một cách chặt chẽ. Đức Chúa Trời đưa ra ân điển, con người tin. Đức Chúa Trời truyền dân sự của Ngài phải làm việc lành. Con người tin và đức tin của họ đã sanh ra những việc lành. Họ không được cứu bởi những việc lành nhưng việc lành là minh chứng của mối tương giao sống động của họ với Đấng Christ. Đức Chúa Trời quy định những việc lành nhưng con người phải thực hiện chúng. Trong việc thực hiện sự cứu rỗi trong đời sống chúng ta, Đức Chúa Trời cho phép chúng ta được đồng công với Ngài. Công việc của Ngài thì quá kỳ diệu: Ngài đã biết trước, Ngài đã chọn, Ngài định trước, Ngài kêu gọi, Ngài vinh hiển, Ngài tái tạo và nhiều việc khác nữa. Tuy nhiên Ngài cho phép chúng ta đồng công với Ngài.
Để kết lại phần thảo luận của chúng ta về sự chọn lựa và sự định trước, chúng ta hãy nhớ đến lời khuyên của Phaolô đối với Hội Thánh ở Êphêsô:
"Vả ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, đã được dựng nên trong Đức Chúa Giêxu Christ để làm lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo" Eph Ep 2:8-10.
21 Chúng ta biết rằng mọi điều Đức Chúa Trời đều biết, nhưng không phải tất cả mọi việc quyết định bởi Ngài. Hãy nhận dạng các yếu tố mà Kinh Thánh bày tỏ là đã được định trước bởi Đức Chúa Trời bằng cách viết số 1 trước những câu đó và số 2 trước những câu không phải định trước bởi Đức Chúa Trời.
1) Định trước bởi Đức Chúa Trời
2) Không định trước bởi Đức Chúa Trời
. . . a Âm mưu chống lại Đấng Christ bởi kẻ thù của Ngài.
. . . b Những quyết định của cuộc đời bạn. Ví dụ, công việc nào bạn sẽ làm, người nào bạn sẽ kết hôn, bạn sống ở đâu
. . . c Cơ đốc nhân trở nên giống ảnh tượng của Ngài.
. . .d Một sự khôn ngoan được phán theo Thiên Thượng được hoàn thành thông qua Chúa Giêxu.
. . e Một số được cứu và một số bị hư mất (dựa trên hành động của Đức Chúa Trời, không phải dựa trên đáp ứng của con người).
. . . f Những ai tin nhận phúc âm và tiếp nhận Đấng Christ thì được trở nên làm con của Ngài.
. . . g Các cơ đốc nhân sống để ngợi khen sự vinh hiển Ngài.
. . . h Bạn sẽ thờ phượng ở đâu, bạn sẽ đáp ứng vào những điều thuộc linh như thế nào, bạn sẽ rộng rãi hay ích kỷ trong việc quan tâm đến công việc của Đức Chúa Trời.

Bài tập trắc nghiệm
Sau khi bạn đã ôn lại bài này rồi thì hãy làm bài tập trắc nghiệm. Sau đó kiểm tra trả lời của bạn với những câu trả lời đã cho phía sau phần hướng dẫn nghiên cứu này. Ôn lại những phần nào bạn trả lời chưa đúng.
CHỌN CÂU ĐÚNG SAI. Hãy chọn một câu trả lời hay nhất cho mỗi câu hỏi:
1 Trong thuật ngữ sự cứu rỗi thì sự chọn lựa rất quan trọng bởi vì nó.
a) quyết định người nào đó có thể được cứu hay không.
b) mô tả tiến trình mà người tin Chúa ngày càng trở nên giống Chúa mình hơn.
c) minh chứng sự cai trị năng quyền của Đức Chúa Trời chế ngự ý chí của con người.
2 Những kẻ tin, được chọn bởi Đức Chúa Trời khi tạo dựng nên thế giới, được chọn theo.
a) sự xứng đáng riêng của họ dựa trên các việc lành của họ.
b) một phương cách độc đoán vì cớ Đức Chúa Trời là Đấng định sự cứu rỗi cho một số người từ chối những người khác.
c) Chúa Giêxu Christ.
3 Dựa trên các dữ kiện toàn bộ theo Kinh Thánh, chúng ta có thể nói rằng những người được chọn là.
a) những người đáp ứng sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho.
b) sự chọn lựa một số người mà Đức Chúa Trời chọn để cứu rỗi.
c) những người chứng minh lòng mong ước được cứu thông qua những việc lành của họ.
4 Sự định trước (còn gọi là sự quyết định trước) dựa trên
a) sự xứng đáng của con người.
b) sự biết trước của Đức Chúa Trời.
c) luật pháp Thiên Thượng không dời đổi.
5 Một trong những câu Kinh Thánh tham khảo sau đây, câu nào không gắn liền chặt chẽ với ý chí của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi?
a) 1:3-14
b) IPhi 1Pr 1:1-2
c) GiGa 14:1-3
6 Bởi vì Kinh Thánh bày tỏ rõ ràng rằng sự định trước dựa trên sự biết trước của Đức Chúa Trời, như vậy chúng ta có thể kết luận rằng những gì Đức Chúa Trời thấy trước trong những người đáp ứng vào sự cứu rỗi ban cho của Ngài là.
a) đức tin
b) sự xứng đáng của mỗi cá nhân.
c) không điều gì mà không phụ thuộc Ngài, bởi Ngài quyết định người nào được và không được cứu.
7 Đức Chúa Trời thấy trước tất cả mọi điều trong sự tạo dựng của Ngài. Và khi đề cập đến sự cứu rỗi Ngài ban cho tất cả mọi người, Ngài định trước rằng.
a) những ai tiếp nhận sẽ được cứu và những ai từ chối sẽ bị hư mất.
b) những ai tiếp nhận sẽ trở nên giống như ảnh tượng của Đấng Christ để ngợi khen sự vinh hiển của Ngài.
c) cả 2 phần trên a và b.
8 Sự định trước đề cập sự đáp ứng của con người đối với sự cứu rỗi Ngài ban . Dựa trên sự hiểu biết của Ngài về những gì họ sẽ thực hiện với sự ban cho này, Ngài định trước tương lai của họ. Tuy nhiên Đức Chúa Trời.
a) không đặt định họ trong sự cứu rỗi hay là hủy diệt.Quyết định này tùy thuộc vào sự thi hành ý chí tự do của họ.
b) phải (minh chứng) sự trị vì của Ngài bằng cách lựa chọn ai là người được cứu hoặc ai là người hư mất.
9 Nếu chúng ta biết rằng "bất cứ ai muốn" đều có thể được cứu, vậy trách nhiệm của chúng ta đối với thế gian là
a) cố gắng xác định ai là người chọn và rồi làm chứng cho họ.
b) công bố sứ điệp Phúc âm cho tất cả mọi tạo vật bằng mọi phương cách
c) nhận thức rằng Đức Chúa Trời thấy tất cả những người được chọn sẽ nghe Phúc âm và đáp ứng phúc âm. Chúng ta không cần phải quan tâm gì cả.
10 Sự nhận thức rằng khi chúng ta ở trong Đấng Christ là nguồn cứu rỗi của chúng ta, chúng ta chẳng thể nào bị hư mất, sẽ cho chúng ta.
a) lòng tự hào trong quyết định của chúng ta theo Đấng Christ.
b) sự thỏa mãn, bởi vì bây giờ chúng ta nhận ra rằng đó là trách nhiệm của Ngài giữ cho chúng ta không bị sa ngã.
c) một sự nhận thức, đánh giá sâu sắc về ân điển của Đức Chúa Trời và một cảm giác an ninh và tự tin khi chúng ta đáp ứng vào công việc của Đức Thánh Linh giúp chúng ta trở nên giống Đấng Christ hơn .
Trả lời câu hỏi nghiên cứu
11 a 1) Quan điểm thuyết định mệnh.
b 2) Quan điểm ý chí tự do.
c 2) Quan điểm ý chí tự do.
d 1) Quan điểm thuyết định mệnh.
e 2) Quan điểm ý chí tự do.

1 b) một mục đích Thiên Thượng cho những người đáp ứng vào hành động yêu thương của Ngài cách vui mừng.
12 a Đức Chúa Trời của sự thương xót yêu thương và thành tín. Ngài cũng là Đức Chúa Trời vinh hiển và oai nghi.
b Tình yêu lớn lao của Ngài.
c Giữa các dân tộc.
d Đời sống vâng phục và thánh khiết.
2 b) Đức Chúa Trời đã thực hiện từ trước vô cùng, chọn những người trong Đấng Christ là những người mà Ngài đã biết trước sẽ đáp ứng vào mục đích của Ngài cách vui mừng.
13 a Phaolô c Tất cả Ysơraên
b một số d Cộng đồng Cơ đốc.
3 a Saulơ c đền thờ
b Giêrusalem và Đavit d Môise.
14 a Đức Chúa Trời
b Đấng Christ
c Trước khi thế gian được hình thành.
d Trong đời sống của chúng ta hiện nay- Xem câu 3 “Ngài đã ban phước cho chúng ta....”.
e Rằng họ phải thánh khiết và không lỗi.
4 Họ nói như vậy bởi vì họ là những người được chọn của Đức Chúa Trời, họ sẽ không bị trừng phạt cho dù sự bất phục của họ đối với Ngài.
15 a Sự chọn lựa dựa trên sự hiểu biết trước.
b Chúng ta được kêu gọi để đáp ứng một cách tích cực vào ân điển của Đức Chúa Trời. Và khi chúng ta đã kinh nghiệm ân điển cứu rỗi của Ngài, chúng ta phải duy trì mối tương giao của chúng ta với Ngài.
5 a) Thừa nhận sự cai trị của Ngài trên đời sống họ.......
16 a 2) Đức Chúa Trời.
b 4) Trong đời sống hiện tại của chúng ta ngay bây giờ.
c 5) Đấng Christ
d 1) Trước khi sáng thế.
e 3) Đời sống thánh khiết và không chỗ trách được.
6 Sự nhận biết của một người về Đức Chúa Trời càng lớn thì tội lỗi của người đó càng lớn nếu coi thường sự nhận biết, và sự trừng phạt cũng càng lớn. Cũng vậy sự chọn lựa cũng không miễn người nào khỏi sự phán xét nếu người đó phạm tội. Duy trì vị trí của một người trước mặt Đức Chúa Trời còn hơn là bị loại ra bên ngoài. Nó đòi hỏi sự đáp ứng bên trong và đáp ứng tâm linh.
17 a đúng
b đúng
c sai
7 a Không theo Kinh Thánh d Không theo Kinh Thánh
b Theo Kinh Thánh e Theo Kinh Thánh.
c Không theo Kinh Thánh
18 Sự nhận biết trước

8 a đúng d đúng.
b sai e đúng
c sai
19 c) Là những gì Ngài biết trước đó (sự nhận biết trước của Ngài).
9 a đúng c đúng
b đúng d đúng
20 a Âm mưu (của Hêrốt, Philát, dân ngoại bang và Do Thái) đã được định trước để thực hiện công việc cứu chuộc của Ngài.
b Cơ đốc nhân được định trước để trở nên giống ảnh tượng của Đấng Christ.
c Sự khôn ngoan được phán truyền được định trước đã được hoàn tất thông qua Chúa Giêxu Christ.
d Những kẻ tin vào Cơ đốc giáo được định trước để trở nên con của
Đức Chúa Trời.
e Các Cơ đốc nhân được định trước để sống ngợi khen sự vinh hiển Ngài.
10 a đúng c đúng
b đúng d sai.
21 a 1) được xác định bởi Đức Chúa Trời.
b 2) Không được xác định bởi Đức Chúa Trời.
c 1) được
d 1) được
e 2) không được
f 1) được
g 1) được
h 2) không được.
BÀI 6 : ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN MỘT TẠO VẬT MỚI: SỰ TÁI SANH
Rani chowdhury cảm nhận được sự khao khát và nhu cầu như vậy trong tâm tư của mình. Cô nghĩ rằng, chắc chắn là mình chưa có một tôn giáo đúng. Vì vậy cô chuyển từ đạo Hồi sang một hệ thống tôn giáo khác. Cũng không phải tôn giáo này, vì vậy cô tiếp tục tìm kiếm một tôn giáo giống như một người đờn bà tìm kiếm những hàng hóa trong chợ. Chẳng có gì đem đến cho cô sự bình an. Và rồi cô nghe đến tôn giáo Cơ đốc. Cô ta nói “mình phải ăn năn tội của mình, mình sẽ phải làm báptêm như mình nghe nói và điều đó sẽ xóa sạch tội lỗi của mình. Mặc dầu cô được báptêm và cố gắng hết sức để sống một đời sống tốt lành nhưng cô vẫn biết rằng vẫn còn thiếu điều gì đó. Cô nhận ra rằng cô đã chuyển từ một hệ thống tôn giáo này đến một hệ thống tôn giáo khác. Cô ta cũng giống như một người trong một bộ đồ dơ đi từ phòng này sang phòng khác cô vẫn trong bộ đồ dơ. Chuyển đổi các phòng không làm cho cô trở nên sạch. Vấn đề là cô chưa bao giờ kinh nghiệm được sự sanh lại. Cô đã tiếp nhận Cơ đốc giáo chứ không phải là “Christ” của Cơ đốc giáo.
Vì cớ cô hết lòng tìm kiếm chân lý, Đức Thánh Linh đã mở sự hiểu biết của cô. Cô nhận thấy chính mình bây giờ không đơn giản như là một người cần một tôn giáo, nhưng là một kẻ tội nhân cần một Đấng cứu rỗi. Cô đã đáp ứng lại sự kêu gọi của Thánh Linh, đặt niềm tin mình vào Chúa Giêxu, phó thác hoàn toàn đời sống mình cho Ngài, và xưng nhận Ngài là Đấng cứu rỗi và là Chúa của mình. Trong giây phút đó cô đã nhận biết Đấng Christ cách cá nhân trên đời sống cô. Cô đã được tái sanh, không chỉ được cải đạo nhưng cũng được tái sanh. Cô nhận được một bản chất mới, và đời sống của cô thật sự được thay đổi.
Trong bài học này chúng ta sẽ nghiên cứu khía cạnh này của sự cứu rỗi, sự tái sanh: hành động Thiên Thượng chuyển giao một đời sống tâm linh vào tội nhân ăn năn khi người này được tham gia trong mối hiệp nhất cá nhân với Đấng Christ.
Dàn ý bài học
Định nghĩa sự tái sanh
Nhu cầu cho sự tái sanh
Kinh nghiệm của sự tái sanh.
Các mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này bạn có thể.
Giải thích sự tái sanh như đã được trình bày trong Kinh Thánh.
Trích dẫn những câu Kinh Thánh bày tỏ rằng nhu cầu cho sự tái sanh mang tính chung cho tất cả mọi người.
Thảo luận kinh nghiệm của sự tái sanh.
Các hoạt động học tập
Hãy đọc nhiều lần Giăng 3 cách cẩn thận, đặc biệt chú ý phần triển khai của sự dạy dỗ Chúa Giêxu về sự tái sanh câu 1-21
Xem tất cả ý nghĩa của những từ chìa khoá mà bạn chưa hiểu.
Triển khai bài học

ĐỊNH NGHĨA SỰ TÁI SANH

Trong đơn vị 1 chúng ta nghiên cứu đáp ứng của con người vào sự kêu gọi của Phúc âm trong sự ăn năn, đức tin và sự quy đạo. Những yếu tố này là những đáp ứng tích cực từ mỗi tội nhân. Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu hoạt động của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi, và chúng ta sẽ thấy rằng con người tại giai đoạn này hầu như là thụ động. Bởi chính Đức Chúa Trời là Đấng có thể đốt cháy ngọn lửa đời sống thuộc linh trong lòng của những kẻ chết về phần thuộc linh vì cớ sự bất phục của họ (Eph Ep 2:5).
Số phận cao quý nhất của con người là sống đời đời với Đức Chúa Trời; tuy nhiên bản chất con người trong điều kiện hiện tại của nó không sở hữu những khả năng sống trong một vương Quốc thiên đàng. Vì lý do này cuộc sống theo thiên đàng phải được giáng xuống từ trên Thiên Thượng để biến hóa bản chất của con người cho mỗi thân hữu trong vương Quốc đó.
Các đặc tính của sự tái sanh
Mục tiêu 1 . Nhận diện những câu mang đặc tính của sự tái sanh theo Kinh Thánh .
Sự tái sanh là hành động của Đức Chúa Trời chuyển giao đời sống tâm linh cho tội nhân ăn năn khi tội nhân tiếp nhận Chúa Giêxu Christ (Tit Tt 3:5). Nó là hành động siêu nhiên xảy ra ngay giây phút tội nhân tiếp nhận Đấng Christ. Tội nhân ăn năn không chỉ nhận được đời sống Thiên Thượng mà còn nhận được một bản tánh mới (IIPhi 2Pr 1:4). Vì vậy anh ta trở nên một tạo vật mới (IICo 2Cr 5:17).
Hãy chú ý rằng chính Đức Thánh Linh là Đấng làm sống lại những kẻ chết về phần tâm linh (GiGa 6:63, RoRm 8:1-10; Eph Ep 2:1). John Wesley nói rằng sự tái sanh là “sự thay đổi kỳ diệu mà Đức Chúa Trời vận hành trong tâm linh khi Ngài đem nó vào trong đời sống; khi Ngài đánh thức nó từ sự chết của tội lỗi sang đời sống công bình”. Trong hành động này, Đức Chúa Trời đã làm sống lại những con người chết về phần tâm linh thông qua Đức Thánh Linh và đặt đời sống tâm linh trong họ. Những người này kinh nghiệm được sự đổi mới, sự phục hồi và sự tái tạo tâm linh. Họ đang được tái sanh bởi Đức Thánh Linh.
1 Hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu Đúng.
a Kinh nghiệm về sự tái sanh hoàn toàn là tự nhiên và xảy ra từ từ.
b Sự tái sanh là công việc của Đức Thánh Linh trong tâm linh người tiếp nhận Đấng Christ.
c Sự sanh lại thuộc linh là một hoạt động Thiên Thượng và nó xảy ra khi một người tiếp nhận Đấng Christ.
d Sự tái sanh đem lại một bản chất mới trong người tiếp nhận Đấng Christ, anh ta trở nên một tạo vật mới.
Các thuật ngữ về sự tái sanh theo Kinh Thánh
Mục tiêu 2. Cho một định nghĩa về sự tái sanh dựa trên tư liệu theo Kinh Thánh .
Trong bài học 1 chúng ta thảo luận sự sa ngã của Ađam và tội lỗi mà Ađam đã di truyền cho loài người. Chúng ta biết rằng tất cả mọi người đều có dấu vết của sự sa ngã và theo đó là một bản chất bại hoại. Bởi vì sự sa ngã mà con người đã đánh mất đi mối thông công với Đức Chúa Trời. Tuy nhiên qua công việc của Đấng Christ tại Gô gô tha, kết quả của sự sa ngã đã được thay đổi. Khi con người ăn năn, tin vào Chúa Jêsus, tiếp nhận Ngài làm Đấng cứu rỗi họ thì họ được cải đạo, đời sống thuộc linh hay sự giao thông của họ với Đức Chúa Trời phục hồi. Vì vậy sự tái sanh là sự phục hồi đời sống tâm linh. Đó là sự thay đổi siêu nhiên ngay lập tức bởi Đức Thánh Linh trong đời sống của người ăn năn và tin nhận Ngài.
Thuật ngữ thường được dùng nhất để định nghĩa sự tái sanh là “được sanh lại” hoặc “được sanh từ trên cao”. Và từ tái sanh chỉ xuất hiện trong Mat Mt 19:28 và Tit Tt 3:5 (theo bản KingJames, kinh nghiệm mà nó đề cập đến được sanh lại hoặc được sanh bởi Đức Chúa Trời thì hoàn toàn thông dụng trong Kinh Thánh. Tách rời khỏi sự sanh đẻ thì không thể có sự sống. Đời sống tự nhiên bắt đầu khi con người bước vào thế giới thông qua sự sanh đẻ, và con người phải bước vào thế giới tâm linh trong cùng một cách như vậy.
Chúa Jêsus phán cùng Nicôđem “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt, hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi, các ngươi phải sanh lại” (GiGa 3:6-7, TEV). Cha mẹ chúng ta sanh chúng ta theo tự nhiên, nhưng Đức Chúa Trời sanh chúng ta về tâm linh. Và sự sanh tâm linh khiến Đức Chúa Trời trở thành cha của chúng ta (GiGa 1:13, IGi1Ga 3:9). Phaolô đề cập đến kinh nghiệm sự tái sanh giống như một người được tái tạo “Vậy nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (IICo 2Cr 5:17).
BẢN CHẤT TRẦN GIAN BẢN CHẤT THIÊN THƯỢNG
Trong bài tập ở trên, cột những lý do để được tái sanh đưa ra một số nguyên tắc quan trọng liên quan đến sự tái sanh. Chúng ta hãy liệt kê chúng ra.
Trước khi sáng thế Đức Chúa Trời đã mong muốn sự tái sanh của chúng ta (Eph Ep 1:4).
Sự tái sanh giúp chúng ta có thể sống trong niềm hy vọng, yêu thương và thánh khiết.
Đời sống mới của chúng ta sẽ đem chúng ta vào cõi đời đời, vào Vương Quốc của Đức Chúa Trời.

3 Những từ khác cũng được sử dụng trong Kinh Thánh để mô tả sự tái sanh. Xem những câu tham khảo dưới đây và viết phần mô tả của sự tái sanh được cho trong mỗi câu. Câu thứ nhất đã làm mẫu cho bạn.
a GiGa 5:24 Song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.
b IICo 2Cr 5:17
c GaGl 6:15
d Eph Ep 2:10
e 4:24
f Tit Tt 3:5

4 Dựa trên những câu Kinh Thánh này, sự tái sanh có thể được định nghĩa như là kinh nghiệm được ............................................ về phần tâm linh, được trở nên một ....................................................... trong Đấng Christ bởi năng quyền của...........................................

Bản chất của sự tái sanh

Mục tiêu 3. Nhận diện những từ mô tả bản chất của sự tái sanh .

Một kinh nghiệm thụ động .
Như chúng ta đã đề cập từ trước, trong sự tái sanh thì con người tương đối thụ động. Trách nhiệm của con người trong sự tái sanh có thể được so sánh với mối quan hệ của bác sĩ với bệnh nhân. Vị bác sĩ không thể tiến hành một cuộc giải phẫu nếu ông không có sự đồng ý của bệnh nhân. Tuy nhiên khi đã được chấp thuận thì bác sĩ nắm lấy sự kiểm soát hoàn toàn. Tuy nhiên, không có bệnh nhân nào là thụ động hoàn toàn bởi vì bác sĩ không bắt đầu hành động cho đến khi bệnh nhân nhất trí. Trong sự cứu rỗi chúng ta cũng đối diện tình huống tương tự. Đức Chúa Trời sẽ không hành động cho đến khi chúng ta chấp thuận. Thật là một sự vui mừng nếu chúng ta có thể đặt tâm linh đầy dẫy sự bệnh hoạn, thương tổn và đau buồn của chúng ta trong vị “Bác sĩ đại tài”.

Một kinh nghiệm đột biến
Sự kinh nghiệm mà trong đó đời sống mới được gieo trong tâm linh của con người thì xảy ra cách đột biến. Sự sanh nở luôn luôn là một biến động về sự tái sanh tâm linh cũng không ngoài quy luật như vậy. Mỗi một chúng ta có thể chỉ một ngày đặc biệt nào đó như là ngày sinh nhật của mình. Chúng ta bước vào thế gian một cách đột ngột tại một giây phút (thời điểm) nào đó. Và trong cùng một cách như vậy sự sanh lại là một kinh nghiệm đột biến. Nó có thể cần một khoảng thời gian để chúng ta có thể đến được giây phút biến động (lên cơn đẻ), nhưng khi nó xảy ra, nó xảy ra một cách đột ngột. Hãy xem nó theo cách này: ai đó tặng bạn một món quà; thì có một giây phút bạn chưa nhận được món quà nhưng giây phút kế tiếp thì bạn đã nhận được nó. Món quà được ban cho và được nhận một cách đột ngột. Đời sống tâm linh cũng giống như vậy. Có một giây phút nào đó bạn chưa có được, và giây phút kế tiếp bạn nhận được nó. Sự sanh mới là một kinh nghiệm rõ ràng và dứt khoát, sự sống mới từ trên cao được nhận một cách đột ngột.
TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA PHẦN CỦA ĐCT

SỰ ĂN NĂN SỰ TÁI SANH

Một kinh nghiệm kỳ lạ
Đời sống thuộc linh mới cũng xuất hiện một cách kỳ lạ Chúa Jêsus không giải thích sự sanh mới là như thế nào nhưng Ngài giải thích tại sao: “Xác thịt sanh xác thịt, nhưng hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần” (GiGa 3:6). Sự sanh vật lý và thuộc linh thuộc vào hai lãnh vực khác nhau, và cái này không thể sanh ra cái kia: bản chất con người có thể sanh ra bản chất con người nhưng chỉ Đức Thánh Linh có thể sanh bản chất tâm linh.
Cơ đốc giáo không phải đơn thuần là một hệ thống đạo đức hay là một bộ luật đạo lý, nó là sự ban cho đời sống mới, đời sống của Đức Chúa Trời được gieo trong lòng của con người bởi sự giải phẫu của Đức Thánh Linh. Trong cách trị vì của Ngài, Đức Thánh Linh biến đổi bản chất bên trong của con người một cách đột ngột và bí mật và đem đời sống và ánh sáng đến những nơi có sự tối tăm chết chóc và (khô khan). Trong sự giải phẫu bí mật này của Thánh Linh, một tạo vật mới được hình thành và chỉ khi con người được sanh bởi Thánh Linh họ mới nhận được một bản chất mới. Bản chất mới này làm cho con người thích ứng với Nước Thiên đàng và đó là lý do tại sao Chúa Jêsus đã đưa ra nguyên tắc bất biến, “Các ngươi phải được sanh lại!” (GiGa 3:7). Bởi vì nếu con người muốn bước vào Nước Thiên đàng, con người phải có một bản chất mới thích ứng với Nước Thiên đàng.
Một kinh nghiệm tăng trưởng
Cuối cùng, mặc dầu đời sống tâm linh mới đến một cách đột ngột tuy nhiên nó phát triển không ngừng. Khi chúng ta sẽ đi vào chi tiết sau này, tất cả những ai tiếp nhận Đấng Christ thì được biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Với sự biệt riêng này với Ngài sẽ đưa đến trách nhiệm sống mỗi ngày cho Ngài. Mỗi kẻ tin được kêu gọi để duy trì sự tận hiến của mình cho Đức Chúa Trời và phát triển trở nên giống hình bóng Con Ngài (RoRm 8:29).
5 Nhận diện những từ mô tả bản chất sự tái sanh bằng cách đặt số của mỗi từ (bên phải) vào trước những phần mô tả đúng (bên trái).
Những ý tưởng sai trật về sự tái sanh

Mục tiêu 4. Giải thích điều gì sai về những tư tưởng sai lầm đề cập đến sự tái sanh .

Có một số ý tưởng sai trật rất phổ biến về sự tái sanh. Và bởi vì tôi không thể đi sâu vào những ý tưởng này, tôi muốn các bạn hãy cảnh tỉnh trước chúng. Khi bạn đọc và nghiên cứu trong những ngày sắp tới, bạn sẽ có thể nghiên cứu những vấn đề này kỹ hơn.

Tư tưởng sai trật phổ biến nhất đó là con người kinh nghiệm sự tái sanh khi họ được báp têm . Những người có quan điểm này tin rằng tất cả những ảnh hưởng của sự sa ngã được cất đi bởi báptêm bằng nước và tội lỗi của một người sau khi báptêm được giải quyết thông qua buổi lễ chúc phước của Hội Thánh ví dụ như tiệc thánh. Những người này tin rằng báptêm là phương cách của sự cứu rỗi. Chúng ta hãy xem những câu Kinh Thánh để thấy rõ ràng mục đích và vị trí của sự báptêm trong đời sống của người tiếp nhận Đấng Christ.
Chúng ta sẽ nhớ lại rằng Giăng Báptít đến rao giảng và làm phép báptêm. Sứ điệp của ông là “Phải ăn năn, vì Nước Thiên đàng đã đến gần” (Mat Mt 3:2) và khi những người nghe ông xưng nhận tội lỗi họ thì chịu người làm phép báptêm (3:6, Mac Mc 1:4-5; LuLc 3:3, 7, 8). Chúa Jêsus cũng bắt đầu chức vụ rao giảng và làm phép báptêm cho những kẻ tin “Thật ra không phải chính Chúa Giêxu làm phép báptêm cho họ nhưng là môn đệ Ngài” (Xem GiGa 4:1-2). Và trước khi Chúa trở về trời, Ngài phán cùng các môn đồ Ngài “hãy đi môn đồ hóa muôn dân” Sau đó làm phép báptêm cho họ (Mat Mt 28:19). Các sứ đồ vâng theo mạng lệnh của Chúa và làm phép báptêm cho những kẻ tin và xem như là một phần quan trọng trong chức vụ của họ. Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phierơ giảng rằng “Hãy hối cải và chịu phép báptêm” (Cong Cv 2:38). Rõ ràng rằng phép báptêm được thành lập bởi Chúa, và cũng được rao giảng bởi Hội Thánh đầu tiên. Và cũng rõ ràng rằng, những người mới tin được báptêm sau khi ăn năn tội lỗi của họ và đặt niềm tin trong Chúa Giêxu Christ.
Trong GiGa 3:5 Chúa Giêxu dùng nước như là một biểu tượng của thanh tẩy một người tiếp nhận thông qua công việc cứu chuộc của Ngài. Trong Cựu ước nước tượng trưng cho quá trình thanh tẩy thường xảy ra trong các nghi thức lễ tại đền thờ. Người Do Thái chính thống sẽ thông giải nước trong một bối cảnh tôn giáo như là một thanh tẩy. Vì vậy khi Chúa Giêxu phán cùng Nicôđem. Ngài muốn nói rằng Nicôđem có thể vào Nước Thiên đàng chỉ khi ông được thanh tẩy khỏi tội lỗi và được Đức Thánh Linh ban cho đời sống mới. Trong Tit Tt 3:5, Khi Phaolô nói rằng Đức Chúa Trời “cứu chúng ta bởi sự rửa về sự lai sanh, và sự đổi mới của Đức Thánh Linh”, ông muốn nói đến sự thanh tẩy tội lỗi xảy ra trong chúng ta. Bởi vì tại giây phút của sự tái sanh “những sự cũ đã qua đi” thì chúng ta được (sạch) bởi hành động siêu nhiên và “mọi sự đều trở nên mới” (IICo 2Cr 5:17). Tại điểm này người mới tin Chúa được truyền phải tiếp tục kinh nghiệm tái sanh của mình bởi báptêm bằng nước.

BÁPTÊM:
SỰ TƯỢNG TRƯNG BÊN NGOÀI
VỀ SỰ BIẾN ĐỔI BÊN TRONG

Phép báptêm là một sự minh chứng bên ngoài cho thế gian về sự thay đổi bản chất bên trong. Nó tượng trưng cho sự chết và sự chôn bản chất tội lỗi và sanh ra bản chất mới (RoRm 6:3-5).Hơn thế nữa Phierơ nói rằng phép báptêm là biểu tượng của sự vâng phục (IPhi 1Pr 3:21). Trong câu Kinh Thánh này ông cũng công bố rằng phép báptêm không có giá trị làm sạch sự ô uế của thân thể; và chúng ta phải thêm vào rằng phép báptêm không có giá trị làm sạch và cất đi tội lỗi và những ảnh hưởng của sự sa ngã (Xem HeDt 9:22, 26-28). Vì vậy, mặc dầu phép báptêm là nhiệm vụ theo Kinh Thánh của mỗi kẻ tin, nhưng nó chỉ chứng thực trước thực tế về sự tái sanh. Và nó là một biểu lộ trước mọi người về đức tin của mình trong Christ.
6 Hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu đúng.
a Sự tái sanh là hành động mà một người nhận được đời sống tâm linh mới, tuy nhiên phép báptêm là hành động biểu tượng mà một người minh chứng sự biểu lộ bên ngoài về công việc bên trong của sự cứu rỗi.
b Thứ tự mà chúng ta xem thấy trong chức vụ của Giăng Báptít và Chúa Giêxu là ăn năn (từ bỏ tội lỗi của bạn) và rồi được làm phép báptêm.
c Kinh nghiệm của người đề lao tại Philíp (Cong Cv 16:30-34) và những người tại nhà cọt nây (10:44-48; 11:17).Cho chúng ta thấy rằng sau khi có đức tin năng động trong Chúa và đời sống của họ được thay đổi, thì con người có đủ tiêu chuẩn để nhận phép báptêm.
Một ý tưởng sai trật phổ biến khác cho rằng sự tái sanh làm một người trở nên hoàn thiện. Tôi nhớ lại một câu nói mà có thể được xem như là câu trả lời cho ý tưởng sai trật như vậy: “Cơ đốc nhân chưa hoàn thiện, họ chỉ mới được tha thứ”. Chúng ta hãy so sánh sự sanh lại và sự sanh tự nhiên. Mặc dầu một đứa bé sẵn có trong nó khả năng cho sự trưởng thành nhưng nó cũng vẫn là một đứa bé. Trong thế giới thuộc linh một người mới tin Chúa là một con đỏ thuộc linh. Người đó cũng có khả năng cho sự trưởng thành, nhưng người đó cũng vẫn chỉ là một con đỏ thuộc linh. Sự tái sanh không sanh ra một người được phát triển phần tâm linh một cách trọn vẹn. Tuy nhiên, nó chỉ là (khởi đầu) một mối tương giao thuộc linh giữa Đấng Christ và người tin Chúa."Ai ở trong Ngài thì không phạm tội” (IGi1Ga 3:6). Thật vậy người tin Chúa bắt đầu cuộc hành trình và tiến bước tới sự trưởng thành cơ đốc.
Một số người lại cho rằng sự tái sanh có được là bởi sống một đời sống tốt lành, một cuộc sống được phác họa bởi làm những việc lành. Họ lý luận rằng bởi vì họ là tốt, Đức Chúa Trời sẽ công bằng và ban cho sự cứu rỗi. Tuy nhiên Kinh Thánh phán rằng tất cả đều phạm tội và cần một Đấng Cứu rỗi (1:10). Ai có Đức Chúa Trời thì có sự sống đời đời và ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống tâm linh (5:11-12). Nếu Đức Chúa Trời không ban cho sự hy sinh quý báu của Con Ngài để cứu con người thì chắc chắn con người sẽ bị hư mất (GiGa 3:16-18). Chỉ khi chúng ta tin Ngài và giao phó chính chúng ta cho Ngài thì chúng ta có thể được thay đổi và được sẵn sàng cho Nước Thiên đàng. Những công việc lành là bông trái của một đời sống được thay đổi, tuy nhiên chúng không phải là rễ, là nguồn của sự thay đổi đó.
Một số người khác lại tin một cách sai lầm rằng sự học thức sẽ giải quyết những nan đề của thế giới và tái tạo con người. Trong khoảng thời gian gần đây con người có một niềm tin vô hạn định vào chính bản thân họ và những thành quả của họ. Tuy nhiên, cho dù sự gia tăng khổng lồ về trí thức nhưng nan đề của con người vẫn tồn tại. Chiến tranh trong thế kỷ này vẫn tiếp diễn và gia tăng trong phạm vi lớn và sự chết của hàng triệu người vô tội minh chứng sự bất năng của học thức trong việc thay đổi bản chất của con người. Học thức có thể khai sáng tâm trí và mở rộng cách nhìn của một người về đời sống bằng cách sửa đổi những tư tưởng sai lầm và những vấn đề thực tế, tuy nhiên nó không thể được áp dụng như là một giải pháp cho bản chất bại hoại của con người. Sự hiểu biết mà không hiến dâng cho Đức Chúa Trời thì chỉ sanh sự kiêu căng (ICo1Cr 8:1). Nó không có khả năng để đem đến sự thay đổi nhanh chóng trong bản chất người tìm kiếm sự sanh lại. Chỉ có Đức Thánh Linh mới có thể làm được điều này. Nếu sự học thức đem đến sự tái sanh thì chỉ có một số ít người trên thế giới này có thể kinh nghiệm được sự sanh lại, tuy nhiên học thức không phải là phương cách của sự tái sanh. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sự tái sanh thích ứng cho tất cả mọi người.
THÀNH VIÊN HỘI THÁNH HỌC VẤN NGHI LỄ

ĐẤNG CHRIST LÀ ĐƯỜNG ĐI

Cũng có một số người hiểu lầm rằng với địa vị là hội viên của Hội Thánh thì đồng nghĩa với sự tái sanh. Điều này dường như có lý. Tuy nhiên địa vị hội viên của Hội Thánh chỉ chứng nhận chúng ta thuộc một giáo hội mà thôi. Nó không giải quyết với những nan đề cơ bản của sự chết tâm linh và bản chất bại hoại. Thật là điều tốt nếu được kết nạp trong một Hội Thánh, nhưng cũng thật cần thiết để được tái sanh để trở thành một thành viên trong thân thể Đấng Christ.
Và cuối cùng, một người khác nghĩ rằng bằng cách tham dự trong các buổi lễ thanh tẩy, trong các nghi thức lễ, các phong tục và các buổi cầu nguyện họ sẽ được tái sanh và được tiếp nhận Nước Đức Chúa Trời. Tuy nhiên những người làm theo những điều này có thể chẳng biết gì cả về sự giải phóng khỏi tội lỗi và một đời sống được thay đổi. Một người có thể thực hiện tất cả nhiệm vụ mà tôn giáo của anh ta đòi hỏi tuy nhiên vẫn có thể chết về phần tâm linh.
7 Tại sao mỗi một trong những ý tưởng sau về sự tái sanh là sai trật?
a Sự tái sanh xảy ra khi con người được làm phép báptêm.

..............................................................
b Sự tái sanh làm cho một người trở nên hoàn thiện.



c Sự tái sanh là kết quả của một đời sống tốt lành.

............................................................
d Con người được tái sanh khi họ trở nên học thức hơn và hiểu biết hơn.



e Địa vị hội viên của Hội Thánh đồng nghĩa với sự tái sanh.


..........................................................
f Sự tái sanh có được bởi sự quan sát các nghi thức lễ tôn giáo, các buổi lễ, và các buổi cầu nguyện.


......................................................................
NHU CẦU CHO SỰ TÁI SANH
Mục tiêu 5. Hãy chọn một câu giải thích tại sao sự tái sanh là cần thiết .
Sự tái sanh là cần thiết vì hai lý do cơ bản: bởi vì bản chất của con người và bản chất của Đức Chúa Trời. Chúa Giêxu chỉ ra rằng nhu cầu sâu xa và chung qui nhất của con người là một sự thay đổi hoàn toàn về bản chất và đặc tính của con người. Con người đã bị tác động, bị hủy hoại bởi kết quả của sự sa ngã, và sự huỷ hoại này được phản ảnh rõ trong cách cư xử và trong các mối quan hệ khác nhau của họ. Họ phạm tội bởi vì cớ họ là những tội nhân, và hành động của họ phản ảnh bản chất của họ: “Vì tất cả mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (RoRm 3:23), “chẳng có ai là công bình, dầu một người cũng không (RoRm 3:10), “Cho nên bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy mọi người đều đã phạm tội...”.
Bạn có bao giờ ngạc nhiên tại sao con người lại hành động như thế chưa? Tại sao họ phạm tội? Họ phạm tội bởi vì cớ chính bản chất của họ! Nếu các bạn ở trong Ađam, các bạn sẽ hành động giống như Ađam. Nếu các bạn ở trong Đấng Christ, bạn sẽ làm những gì Ngài làm. Tôi là một người Duncan bởi vì tôi được sanh ra trong một gia đình người Duncan. Tôi trông giống cha của tôi. Tôi bước đi cũng giống cha tôi. Tôi không chú ý hành động như thế bởi vì tôi muốn bắt chước cha tôi, nhưng bởi vì tôi là con trai của cha tôi và tôi mang đặc điểm của dòng họ Duncan. Tôi được sinh ra trong dòng họ đó. Cùng một cách như vậy, chúng ta cũng mang đặc điểm của dòng họ nhân loại sa ngã của chúng ta.
Bản chất con người của chúng ta là tội lỗi và nếu chúng ta chưa nhận được bản chất mới, chúng ta sẽ tiếp tục phạm tội. Bản chất cũ của chúng ta sẽ biểu lộ chính bản thân nó, nó không thể biểu lộ theo cách khác. Trong tình trạng chết về phần tâm linh thì hành động của chúng ta được phác họa bởi sự giận dữ sự đam mê, cảm giác thù hận, khinh bỉ, và lời nói khiêu dâm, đó là những công việc của bản chất cũ chúng ta (CoCl 3:8-9). Trong tình trạng này chúng ta không thể có mối thông công với Đức Chúa Trời vì cớ chẳng có điều gì trong chúng ta làm cho chúng ta được xứng đáng. Chúng ta là nô lệ của tội lỗi (RoRm 7:14), và khả năng làm điều tốt không ở trong chúng ta mặc dầu ước muốn làm điều tốt có thể tồn tại trong chúng ta (câu 18). Những con người chết về phần tâm linh thì đi theo đường lối gian ác của thế gian, và họ vâng phục kẻ thù của Đức Chúa Trời là Satan, kẻ cai trị những người bất vâng phục Đức Chúa Trời. Họ sống theo dục vọng tự nhiên, làm những gì theo ham muốn của tâm trí họ. Họ tự nhiên trở nên làm con của sự thạnh nộ từ Đức Chúa Trời (Eph Ep 2:1-3).
8 Hãy khoanh tròn ký tự của những câu đúng.
a Con người cần được tái sanh bởi vì họ đã chết về phần tâm linh và trong tình trạng này họ không xứng đáng có mối thông công với Đức Chúa Trời.
b Con người phạm tội bởi vì môi trường xấu xa của họ và những tác động xấu của gia đình họ chứ không phải bởi tội lỗi cá nhân họ.
c Tội lỗi là hậu quả của bản chất tội lỗi bại hoại mà chúng ta thừa hưởng từ Ađam.
Tội lỗi đã hoàn toàn phá huỷ tâm linh, linh hồn và thể xác của con người. Không chỉ chết về phần tâm linh, tri thức của con người cũng bị tác động bởi sự sa ngã. Cho dù những thành quả đạt được của xã hội hiện đại nhưng con người đã chết về những điều thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 2:14) và những người thông minh nhất là những người chưa được tái sanh “thì bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời (Eph Ep 4:18). Nhưng cho dù trong tình trạng sa ngã, con người lại là tạo vật bởi sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Họ vẫn mang hình ảnh của Đức Chúa Trời và mặc dầu họ thiếu sự hiểu biết về Đức Chúa Trời thì sự khôn ngoan của họ trong các lĩnh vực khác thật đáng khâm phục. Trong sự sa ngã họ không đánh mất đi khả năng biết và hiểu biết. Tuy nhiên nếu thiếu chiều kích tâm linh thì sự hiểu biết của họ chưa trọn vẹn. Họ có những thông tin nhưng họ không biết làm thế nào để thông giải những thông tin đó. Vì vậy, họ triển khai triết lý riêng của họ về đời sống nhưng thông thường không đề cập đến Đức Chúa Trời. Hoặc giả, tư tưởng của họ về Đức Chúa Trời thì sai lệch trầm trọng và không biểu hiện được bản chất của Đức Chúa Trời cách chính xác hay là cách mà Ngài phải được tôn thờ.

9 Hãy đọc RoRm 1:18-32 và trả lời những câu hỏi sau.
a Làm thế nào con người biết về Đức Chúa Trời?
..........................................................
b Con người có thể biết gì về Đức Chúa Trời từ thế giới tự nhiên?

......................................................
c Điều gì dẫn con người đến sự sa ngã?

..........................................................
d Câu nào được lặp lại 3 lần?

........................................................
Phần thảo luận của chúng ta về nhu cầu cho sự tái sanh dường như chỉ đề cập đến những con người rất gian ác mới cần đến sự tái sanh. Nhưng Kinh Thánh khẳng định rằng tất cả mọi người đều đã phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời và cần được làm sống lại về phần thuộc linh.
10 Hãy xem những câu Kinh Thánh sau và nhận ra trong mỗi trường hợp ai đang tìm kiếm sự cứu rỗi và đang có nhu cầu sự tái sanh.
a LuLc 18:25
............................................................
b GiGa 3:1-21
............................................................
c Cong Cv 10:1-48
............................................................
d 8:26-40.
..........................................................
e 16:13-15
.........................................................
Trong mỗi trường hợp ở trên, chúng ta thấy rằng những cá nhân đó đều là người tốt, người công bình nhưng họ cần nhận đời sống thuộc linh. Đôi lúc con người cũng giống như người lãnh đạo Do Thái trong Luca 18 cảm thấy rằng họ không cần một Đấng cứu rỗi. Có một câu nói về những người này như sau “những người xem thường bệnh tật thường do dự khi đi đến bác sĩ điều trị”. Hầu hết các tôn giáo không thuộc Cơ đốc giáo tin rằng con người đang cố gắng tìm cách lên một ngọn núi bằng nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả những con đường đó đều dẫn đến cùng một chỗ. Trong sự dạy dỗ của họ. Chúng ta đa số nghe tiếng rít của Satan “ngươi sẽ trở nên giống Đức Chúa Trời” (SaSt 3:5). Họ dường như cảm thấy rằng họ được cứu bởi những nỗ lực của chính họ và cuối cùng họ sẽ trở nên là các thần thông qua cố gắng riêng của họ.
Tuy nhiên trong Cơ đốc giáo chúng ta thấy hình ảnh thật. Tất cả con người đều ở trong sa mạc của tội lỗi, đang tìm kiếm và khao khát về lẽ thật thực tại. Câu trả lời cho những nan đề thuộc linh của họ đòi hỏi họ phải tiến đến một nơi có nước và cây cối (ốc đảo), tiến đến nơi nguồn của sự sống. Một số chỉ thấy những ảo ảnh hoặc ảo tưởng do thị giác và từ chối đến với Đấng Christ là một cách trong những cách khác. Nhưng Ngài là phương cách duy nhất. Bởi vì trong Chúa Giêxu, Đức Chúa Trời đã đến cùng con người và đụng đến sự bại hoại trong sâu thẳm của họ. Ngài đã đánh thức họ vào đời sống tâm linh, ban cho họ một đời sống mới.
Sự sanh lại có nghĩa là một bản chất mới và khả năng sống một đời sống hài lòng Đức Chúa Trời. Và chỉ có sự sanh lại mới có thể sanh ra bản chất thánh khiết trong con người và làm cho họ có khả năng tương thông với Đức Chúa Trời. Sự thánh khiết là điều kiện tuyệt đối cho con người để được chấp nhận tương thông với Ngài (HeDt 12:14). Vì vậy sự tái sanh thay đổi bản chất của con người và sau đó đời sống Thiên Thượng mới trong họ được tiếp nhận trước một Đức Chúa Trời thánh khiết.


ĐẤNG CHRIST LÀ NƠI AN NGHỈ CỦA CHÚNG TA
11 Hãy khoanh tròn mẫu tự của câu làm thành ý nghĩa hay nhất cho câu sau. Sự tái sanh là cần thiết bởi vì.
a) Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi một sự thay đổi hoàn toàn về bản chất của con người.
b) Nhu cầu của Đức Chúa Trời cho mối thông công với Đức Chúa Trời.
c) Nhu cầu của con người để thực hiện tri thức của họ khi họ tìm kiếm sự hiểu biết có thể cứu rỗi họ.
KINH NGHIỆM SỰ TÁI SANH
Chúng ta đã ghi nhận rằng bởi vì sự tái sanh là một kinh nghiệm huyền diệu, tuy nhiên nó là hiện thực (GiGa 3:8). “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết gió đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy”. Chúng ta có thể thấy kết quả của sự tái sanh cho dù chúng ta không thể giải thích đầy đủ tất cả sự vận hành. Tuy nhiên chúng ta có thể kinh nghiệm nó? Sự ngạc nhiên của chúng ta đối với sự kỳ diệu của kinh nghiệm tái sanh khiến chúng ta thờ phượng dẫu rằng chúng ta không thể nào hiểu trọn vẹn.
Phương cách của sự tái sanh
Mục tiêu 6. Nhận ra những câu đúng liên quan đến các phương cách của sự tái sanh .
Có 2 khía cạnh đối với công việc của sự tái sanh, con người (nhân loại) và Thiên Thượng. Như chúng ta đã thấy, chính Đức Chúa Trời tái sanh chúng ta. Chúng ta được sanh bởi Thánh Linh chính Ngài gieo (chuyển giao) đời sống mới; Tuy nhiên, con người chưa được tái sanh phải có trách nhiệm trong vấn đề này: đáp ứng lời mời của Đức Chúa Trời.
12 Hãy đọc những câu Kinh Thánh tham khảo cho dưới đây và trình bày sự tái sanh được sản sinh như thế nào trong mỗi trường hợp.
a GiGa 3:6 Đức Thánh Linh sanh ra sự tái sanh thuộc linh .
b ICo1Cr 15:45 ......................................
c Tit Tt 3:5 ..........................................
d Gia Gc 1:17-18 ....................................
c IPhi 1Pr 1:23 .......................................
Trong những câu Kinh Thánh này chúng ta thấy rằng cả ba Ngôi của Đức Chúa Trời ba Ngôi đều bao gồm trong sự tái sanh. Thêm vào đó, chúng ta phải chú ý đến tầm quan trọng của Ngôi Lời trong sự tái sanh. Chúng ta hãy xem xét các phương cách mà Đức Chúa Trời sử dụng để đem lại sự tái sanh.
Giăng giải thích tầm quan trọng của niềm tin vào Lời Đức Chúa Trời cho sự tái sanh: “Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời” (IGi1Ga 5:13). Trong niềm tin Lời Ngài, con người tin lời chứng về Chúa Jêsus và vì vậy không chỉ tin Lời Ngài nhưng cũng tin Chúa Jêsus là Đấng được Ngôi Lời khải thị (mặc khải) (IGi1Ga 5:9-10). “Và đâu là lời chứng : Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa con thì có sự sống, ai không có con Đức Chúa Trời thì không có sự sống” (IGi1Ga 5:11-12).
Tin vào Lời chứng của Đức Chúa Trời trong Lời của Ngài tức là không chỉ đơn thuần là sự đồng ý tư tưởng về những gì đã được viết. Như chúng ta đã học trong bài học trước, loại đức tin mà thật sự đem lại sự tái sanh phải bao gồm tổng thể bản chất: tri thức, xúc cảm và ý chí. Phaolô nói rằng:
“Vậy nếu miệng người xưng Đức Chúa Giêxu ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu. Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi”. (RoRm 10:9-10).
Sự rao giảng Lời của Đức Chúa Trời là phương cách mà Đức Chúa Trời sử dụng để đem lại sự tái sanh cho con người (Gia Gc 1:18; ICo1Cr 4:15). Vì vậy Lời của Ngài là một tác nhân trong công việc tái sanh “Anh em đã được sanh.... là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” (IPhi 1Pr 1:23). Như vậy sự rao giảng Lời Ngài là phương cách Đức Chúa Trời dùng để đem con người đến sự cứu rỗi.
Một người được sanh lại bằng cách tiếp nhận Chúa Giêxu Christ. Điều này bao gồm một hành động của ý chí. Đấng Christ không dùng sức mạnh (quyền lực) để bước vào cửa nhưng “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với ta” (KhKh 3:20). Tiếp nhận Chúa Jêsus Christ bao gồm một hành động của đức tin “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (GiGa 1:12) và đương nhiên hành động của ý chí và sự đồng lòng được dựa trên sự hiểu biết (nhận biết) về sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban, bao gồm con người hoàn toàn trong kinh nghiệm sự tái sanh.
Chúng ta thấy rằng sự tái sanh xuất hiện ngay lập tức từ Đức Chúa Trời. Sự sanh lại là bởi Đức Chúa Trời, bởi những người được tái sanh “là chẳng phải kẻ sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục hoặc bởi ý người nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy” (GiGa 1:13). Sự sanh lại này cũng được biết như là sự sanh bởi Thánh Linh (GiGa 3:6). Và nó cũng được xem như là “Bởi sự rửa về sự lai sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh” (Tit Tt 3:5) và thông qua Thánh Linh. Đấng Christ bước vào cửa lòng (KhKh 3:20). Như vậy Đức Chúa Trời ba Ngôi đều hiệp nhất trong sự sanh ra sự tái sanh.
13 Hãy khoanh tròn ký tự của những cái đúng.
a Sự tái sanh là kết quả của một đời sống tốt lành và làm những việc lành.
b Sự rao giảng Lời Đức Chúa Trời đem lại sự tái sanh.
c Học thức đã biến đổi thế giới từ tối tăm bước vào nền văn minh hiện đại thì cũng đem đến sự tái sanh.
d Địa vị hội viên trong một Hội Thánh là một trong những phương cách quan trọng của sự tái sanh.
e Sự quan sát các buổi lễ tôn giáo, các nghi thức lễ và các buổi cầu nguyện làm cho con người có khả năng tái sanh.
f Sự tái sanh đến trực tiếp từ Đức Chúa Trời, còn được gọi là sự sanh bởi Thánh Linh và sự tái sanh xảy ra khi con người mở cửa lòng mình trước Đấng Christ.
Những chứng cứ của sự tái sanh
Mục tiêu 7. Nhận ra những minh chứng của sự tái sanh .
Khi một người được sanh lại, người đó sẽ nhận thức được một đời sống mới bên trong. Người đó có một ước mong mới cho đời sống và có mục đích thật sự trong đời sống. Người đó có một loạt các giá trị mới và toàn bộ quan điểm về đời sống của người đó cũng thay đổi (IICo 2Cr 5:17). Linh của Đức Chúa Trời kết hiệp cùng linh của chúng ta để công bố rằng chúng ta là con cái của Ngài (RoRm 8:16; GaGl 4:6). Người được sự sanh lại trở nên nhận thức được sự nhắc nhở và dẫn dắt của Đức Thánh Linh bên trong và đó là minh chứng thêm cho kinh nghiệm của người đó (RoRm 8:14).
Người được tái sanh có một tình yêu sâu rộng của Đức Chúa Trời. Trọng tâm của mối quan tâm của anh ta bây giờ là Đức Chúa Trời chứ không phải là chính bản thân anh ta nữa. Tình yêu của Đức Chúa Trời đã rải khắp trong lòng anh ta bởi Đức Thánh Linh (RoRm 5:5) và anh ta đáp ứng lại bằng tình yêu (IGi1Ga 4:19). Một người thật sự được sanh lại không chỉ yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho người ấy đời sống mới nhưng cũng yêu anh em của mình nữa (GiGa 4:21). Tình yêu lẫn nhau là một trong những minh chứng rõ ràng rằng bản chất cũ đã chết và bản chất mới đang ngự trị: “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống vì chúng ta yêu anh em mình (IGi1Ga 3:14).
ĐỨC CHÚA YÊU MẾN NGƯỜI KHÁC
TRỜI

14 Hãy khoanh tròn ký tự của phần làm hoàn thành câu hay nhất cho câu sau: những minh chứng bên trong của sự sanh lại là:
a) Một sự nhận thức về sự tự túc riêng của con người, lòng ao ước về sự hiểu biết riêng cao sâu hơn và một triết lý mới về đời sống.
b) Sự nhận thức rằng con người bị trói buộc vào một loạt các luật lệ, điều lệ mới, và nhận thức rằng sự bất vâng phục những luật lệ này sẽ dẫn đến hình phạt nào đó và sự chết đời đời.
c) Một sự nhận thức về đời sống mới, một sự nhận thức thuộc về đại gia đình của Đức Chúa Trời và sự dẫn dắt của Ngài.
Người được tái sanh được giải phóng ra khỏi việc làm tội lỗi. Nhưng nếu người ấy phạm tội, thì người ấy cũng đã có một Đấng cầu thay nơi Cha Thiên thượng thay cho người ấy là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình (IGi1Ga 1:7). Và người đó nhận được sự tha thứ và sự phục hồi. Tuy nhiên chúng ta phải từ bỏ tội lỗi đã từng trở thành thói quen: “Ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người và người không thể phạm tội được” (3:9).
Bằng cách khẳng định lời hứa của Đức Chúa Trời, con người tái sanh được dự phần bổn tánh của Đức Chúa Trời (IIPhi 2Pr 1:4), và họ tăng trưởng trở nên giống như Đấng Cứu rỗi (RoRm 8:29).Khi họ tăng trưởng trong tâm linh, họ sẽ thắng hơn thế gian cùng với tất cả những tình dục và dâm dục của nó. (GaGl 5:24; IGi1Ga 5:4). Bây giờ họ làm điều công bình bởi vì cớ họ là công bình. Những thói quen cũ của họ được thế bằng những thói quen công bình mới (IGi1Ga 2:19). Những minh chứng này là chứng cớ cho chính họ và những người khác rằng họ đã được thật sự sanh lại.
15 Hãy nhận ra các minh chứng của sự tái sanh bằng cách viết số 1 trước mỗi câu mô tả minh chứng về sự tái sanh và viết số 2 trước những câu không phải.
1) Minh chứng về sự tái sanh.
2) Không phải là minh chứng về sự tái sanh.
. . . a Nhận thức về đời sống mới, những ước mong mới và những giá trị mới.
. . . b Nhận thức về sự hiện diện của Thánh Linh trong đời sống của chúng ta làm cho kinh nghiệm của chúng ta trở nên thực tiễn .
. . . c Sự hướng dẫn, sự nhắc nhở và sự xác nhận của Đức Thánh Linh.
. . . d Nhận thức về tội lỗi, sai trật và sự bất toàn của mình khi đối diện với tội lỗi và sống đắc thắng tội lỗi.
. . . e Tình yêu Đức Chúa Trời và yêu những người đồng công.
. . . f Nhận thức rằng nếu con người phạm tội thì Đức Chúa Trời ban cho sự tha thứ và sự phục hồi.
. . . g Tăng trưởng trong sự hiểu biết về những điều thuộc linh và trong ảnh tượng của Đấng Christ khi một người đắc thắng thế gian cùng với tất cả dục vọng tội lỗi của nó.
. . . h Trở nên là một mục tiêu của những người khác và minh chứng của họ về Cơ đốc giáo.
Thực hiện sự tái sanh
Mục tiêu 8. Mô tả sự hoàn chỉnh của sự tái sanh .
Sự tái sanh bắt đầu đời sống tâm linh trong chúng ta. Kinh nghiệm về sự sanh lại như chúng ta đã thấy sẽ khởi sự một tiềm năng cho sự tăng trưởng, mục tiêu của nó là trở nên giống Đấng Chrsit (IGi1Ga 3:2). Chúng ta đã được chọn, được biệt riêng để trở nên giống Chúa Jêsus (RoRm 8:29). Sự phát triển đời sống tâm linh sẽ tiếp diễn trên đời sống mỗi chúng ta cho đến khi chúng ta được vinh hiển. Khi chúng ta trông cậy vào sự hiện diện vinh hiển của Ngài thì chúng ta duy trì đời sống của chúng ta trong sự thanh sạch (IGi1Ga 3:3). Vì vậy trở nên giống Đấng Christ bao gồm sự thay đổi khi chúng ta noi theo gương của Ngài (IPhi 1Pr 2:21). Ngay tại bây giờ nếu chúng ta dâng mỗi chúng ta cho Ngài và vì cớ danh Ngài, chúng ta “được hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa là Thánh Linh” (IICo 2Cr 3:18).
16 Điều gì xảy ra khi chúng ta kinh nghiệm sự tái sanh?
...................................................................

Bài tập trắc nghiệm
TRẢ LỜI VẮN TẮT. Hoàn thành những câu sau với từ đúng hoặc nhóm từ đúng.
1 Thuật ngữ phổ biến nhất dùng để định nghĩa sự tái sanh
.......................................................
2 Kinh Thánh dạy chúng ta rằng sự sanh lại là phương cách mà con người được ..........................................................
3 Trong sự tái sanh, tội nhân trở thành một tạo vật mới trong

4 Theo như GiGa 3:16, ai là người có thể được tái sanh?
....................................................................
5 Hai minh chứng về sự tái sanh là

CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Chỉ có một câu đúng duy nhất cho mỗi câu hỏi. Hãy khoanh tròn ký tự câu trả lời đúng.
6 Một trong những ý tưởng sai trật phổ biến về sự tái sanh là
a) Giống như sự quy đạo.
b) Một người được tái sanh bằng phép báptêm.
c) Một sự tái sanh tức là một sự thay đổi tâm trí hoàn toàn.
7 Sự tái sanh là một điều cần thiết vì cớ.
a) Những cảm giác tội lỗi của con người.
b) Sự đòi hỏi (yêu cầu) của xã hội.
c) Bản chất thánh khiết của Đức Chúa Trời.
8 Sự tái sanh là cần thiết bởi vì.
a) Bản chất bại hoại của con người.
b) Sự yêu cầu của luật pháp.
c) Các phong tục của nhân loại.
9 Kinh nghiệm sự tái sinh là kinh nghiệm mà.
a) Tội nhân di chuyển tới một bên ngọn núi trong sự khẩn thiết và bởi những nổ lực riêng của mình, tội nhân đạt tới đỉnh núi cùng với những người thành khẩn khác là những người đã tìm ra sự cứu rỗi của riêng họ.
b) Mỗi tội nhân là người bị lạc trong sa mạc của tội lỗi tìm đến Đấng Christ là nguồn nước sống và dâng đời sống mình cho Ngài, tin tưởng trọn vẹn rằng Ngài ban cho đời sống tâm linh và bản chất mới.
c) Con người tội nhân cố gắng được thay đổi bằng học thức, và người đó tin tưởng chắc chắn rằng bất cứ lỗi lầm nào người đó cũng có thể giải quyết bởi sự hiểu biết rộng về những ý định tốt của mình.
10 Câu nào trong những câu sau đây là câu phân tích chính xác kinh nghiệm của sự tái sanh?
a) Công việc tái sanh là một cuộc giải phẫu phức tạp mà Đức Chúa Trời và con người cùng đồng công trong sự sanh ra bản tánh mới trong đời sống của những cá nhân thật sự trông cậy nơi Đức Chúa Trời.
b) Sự tái sanh là sự thiết lập những mục tiêu mới, lý tưởng mới và những nỗ lực bởi con người là những người tìm cách thay đổi lối sống của mình.
c) Công việc sự tái sanh xảy ra một cách bí mật và đột ngột, thay đổi phần tâm linh của người ăn năn, xoay bỏ người đó khỏi tội lỗi, tin nhận Đấng Christ và dâng đời sống người đó hoàn toàn cho Đức Chúa Trời.
Trả lời những câu hỏi nghiên cứu
9 a Trong câu 20 chúng ta học được rằng một trong những cách mà Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài là trong sự sáng tạo.
b Họ có thể nhận thấy rõ ràng rằng vô cùng của Ngài và bản tánh Thiên Thượng của Ngài.
c Họ biết Đức Chúa Trời nhưng họ không muốn phụ thuộc vào Ngài hay là cảm tạ Ngài.
d Đức Chúa Trời đã ban cho họ sự đắc thắng những dục vọng ghê tởm, những ước muốn bẩn thỉu và tâm trí băng hoại của họ.
1 a sai c đúng
b đúng d đúng.
10 a Một người trai trẻ đã trung tín giữ tất cả các luật lệ tôn giáo Do Thái.
b Nicôđem là một người lãnh đạo các thầy thông giáo Do Thái. Thật sự ông ta là một giảng sư rất lớn.
c Cọt nây là một đội trưởng trong quân đội Lamã ông là một con người trọng đạo (Tin kính).
d Hoạn quan Êthiôpi là một viên chức quan trọng trong triều của nữ hoàng.
e Lyđi là một người phụ nữ thờ phượng Đức Chúa Trời.
11 a) Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi một sự thay đổi hoàn toàn
3 a Vượt qua khỏi sự chết vào sự sống.
b Một người được dựng nên mới.
c Một tạo vật mới.
d Được tạo dựng trong Chúa Giêxu Christ.
e Người mới.
f Đức Thánh Linh cứu chúng ta và ban cho chúng ta đời sống mới bằng cách thanh tẩy chúng ta.

12 a Đức Thánh Linh sanh ra sự sanh tâm linh.
b Ađam sau (Đấng Christ) là thần ban sự sống
c Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sanh lại thông qua Lời chân lý.
d Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sanh lại thông qua Lời của lẽ thật.
e Thông qua Lời hằng sống và Lời muôn đời của Đức Chúa Trời chúng ta được sanh lại.
4 Sanh lại, tạo vật mới, Đức Thánh Linh.
13 a sai d sai
b đúng e sai
c sai f đúng.
5 a 4) Phát triển (tăng trưởng) c 3) bí mật
b 1) Thụ động d 2) đột ngột.
14 c) Một sự nhận thức đời sống mới, một sự nhận thức .......
6 a đúng
b đúng
c đúng
15 a 1) Minh chứng e 1) minh chứng
b 1) minh chứng f 1) minh chứng
c 1) minh chứng g 1) minh chứng
d 2) không phải minh chứng h 2) Không phải minh chứng
7 a Phép báptêm chỉ là một tượng trưng hoặc minh chứng sự thay đổi đã thật sự xảy ra.
b Sự trưởng thành tâm linh là một tiến trình xảy ra từ khi một người được sanh lại và tiếp tục ngày càng trở nên giống Chúa Jêsus.
c Mỗi chúng ta đều phạm tội và chúng ta cần một Đấng Cứu rỗi. Nếu chúng ta tiếp nhận Ngài làm Chúa đời sống chúng ta, chúng ta sẽ có đời sống mới, nếu không chúng ta bị hư mất.
d Sự học thức không thể giải quyết bản chất băng hoại và tội lỗi, hoặc giải quyết nguyên nhân của các nan đề.
e Tư cách hội viên Hội Thánh cũng không giải quyết nan đề tội lỗi và sự chết tâm linh của chúng ta.
f Chẳng có cách nào trong những cách này giải quyết sự chết tâm linh của một người và bản chất băng hoại của người đó.
16 Chúng ta tăng trưởng trong tiến trình được thay đổi (biến hóa) như ảnh tượng Chúa khi chúng ta trông cậy vào Ngài chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy (IGi1Ga 3:2).
8 a đúng
b sai
c đúng.
BÀI 7: ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN CON NGƯỜI KHÔNG PHẠM TỘI : SỰ XƯNG CÔNG BÌNH

Pedro là một cậu bé nghịch ngợm gây nhiều rắc rối cho cô giáo trong lớp của cậu ta. Cậu viết ngoằn ngèo trên một số trang giấy sạch trong quyển tập của cậu, và điều này gây khó khăn cho cô giáo khi sửa bài cho cậu bé. Và rồi đến ngày họp phụ huynh học sinh cô giáo trình bày tất cả các bài làm của các em học sinh cho cha mẹ các em xem. Trong buổi tối họp phụ huynh học sinh, Pedro đi với cha mẹ cậu đến trường. Khi cha mẹ đến lớp học của cậu. Cậu không đủ can đảm để bước vào. Cha mẹ cậu đi vào trước, và cậu lo lắng nghe khi cô giáo nói chuyện với cha mẹ cậu. Cuối cùng, vì cậu không ngăn nổi sự tò mò, cậu bước vào phòng và nhìn vào quyển tập của mình.
Cậu có cảm giác kinh khủng về việc làm sai trái của mình và cảm giác mắc cỡ, vì cớ trong quyển tập của cậu, cậu đã ngoáy lung tung. Nhưng khi cậu nhìn vào quyển tập của mình, cậu nhận thấy rằng nó chỉ còn là những trang giấy sạch. Tất cả những trang vẽ ngoằn ngèo đã được xé đi. Khi cha mẹ cậu đi ra, cậu liền hỏi cô giáo của mình là một cơ đốc nhân kính sợ Đức Chúa Trời điều gì đã xảy ra. Cô trả lời “Bởi vì cô thương em và cô muốn giúp em, cô đã cắt đi những tờ đó. Cô muốn nghĩ về em như là một em học trò chưa bao giờ phạm lỗi hay làm điều sai trái”.
Cậu bé thật sự bị cảm động bởi tinh thần thương yêu của cô giáo. Hành động thương yêu của cô đã hoàn toàn làm thay đổi đời sống cậu bé. Câu chuyện này cũng cho chúng ta một bức tranh cao đẹp về tình yêu của Đức Chúa Trời trong sự tha thứ con người và đối đãi họ như họ chưa từng phạm tội. Đây là khía cạnh của sự cứu rỗi. Sự xưng công bình là khía cạnh mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong bài học này.
Dàn ý bài học
Bản chất và ý nghĩa của sự xưng công bình.
Nguồn của sự xưng công bình.
Kinh nghiệm về sự xưng công bình.
Các mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này, bạn có thể.
Giải thích làm thế nào trong sự công bình, sự công bình của Đức Chúa Trời được duy trì ngay cả khi tội nhân được phán là vô tội.
Thảo luận nguồn của sự công bình trong các khía cạnh tích cực và tiêu cực.
Biện hộ cho câu này: con người được xưng là công bình chỉ bởi đức tin.
Đánh giá ân điển của Đức Chúa Trời làm cho tội nhân được xưng là công bình và ban sự công bình của Đấng Christ cho tội nhân.
Các hoạt động học tập
Hãy đọc Rôma đoạn 3, 4 và 5 ; và GaGl 3:1-29. Những chương này sẽ cho bạn những thông tin có ích cho bài học này.


Triển khai bài học

BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ XƯNG CÔNG BÌNH

Chúng ta tiếp tục phần nghiên cứu của chúng ta về hoạt động của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi với bài học sự xưng công bình. Sự minh họa về ân điển và sự thương xót này của Đức Chúa Trời phải dựa trên vị trí của chúng ta trước Ngài. Trong chuỗi kinh nghiệm sự cứu rỗi. Sự tái sanh và sự xưng công bình phải được nghiên cứu cùng nhau. Bởi vì chúng xảy ra cùng một thời điểm. Khi Đức Chúa Trời thông qua Đức Thánh Linh tái tạo một người, Ngài cũng xưng người đó là công bình, công bố rằng người đó là công bình và được giải phóng ra khỏi hình phạt bởi cớ tội lỗi người đó. Hơn thế nữa, Ngài đối đãi với người đó như thể người đó chưa từng phạm tội bao giờ. Đây là hình ảnh tuyệt vời về tình yêu và ân điển đã khiến mỗi chúng ta đáp ứng Đức Chúa Trời với tình yêu mạnh mẽ.
Bản chất sự xưng công bình
Mục tiêu 1. Hãy chọn một câu mô tả đúng về bản chất sự xưng công bình .
Câu hỏi của Gióp; “Nhưng làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?” (Giop G 9:2) và câu hỏi của người đề lao thành Philíp, “Các Chúa ơi, tôi phải làm chi cho được cứu rỗi” (Cong Cv 16:30) đã đưa ra một trong những câu hỏi lớn nhất của đời sống: Làm thế nào một người tội nhân sống ngay thẳng với Đức Chúa Trời và được đảm bảo bởi sự chấp thuận của Ngài? chúng ta tìm ra câu giải đáp cho câu hỏi này trong Tân ước, đặc biệt trong thơ tín gởi cho Hội Thánh ở Lamã, nó trình bày kế hoạch sự cứu rỗi một cách rất toàn diện. Chủ đề của thư tín Rôma được tìm thấy trong chương một câu 16 và 17. Nó có thể được tóm tắt như sau: Phúc âm là quyền năng của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi của con người bởi vì nó giải thích làm thế nào tội nhân có thể được thay đổi vị trí và tình trạng của họ để họ sẽ được ngay thẳng trước Đức Chúa Trời.
Lời Kinh Thánh cũng dạy dỗ rằng sự công bình của Đức Chúa Trời thực hiện 2 điều: nó phán xét và nó cứu rỗi (IGi1Ga 1:9; RoRm 3:24-26) Sự công bình của Ngài đòi hỏi sự phán xét tội lỗi. Tuy nhiên Ngài ban cho tội nhân một cách để được khẳng định rằng “không phạm tội” và không còn phải bị lệ thuộc dưới sự phán xét. Sự ban cho này được hình thành bởi công việc hòa giải mà chúng ta đã nghiên cứu trong bài học 1.
1 Bạn có còn nhớ từ hòa giải có nghĩa là gì không? Nếu bạn không nhớ, lật lại bài 1 và ôn sơ lại. Sau đó điền vào chỗ trống với những từ thích hợp để hoàn chỉnh định nghĩa sau.
Sự hoà giải đáp ứng nhu cầu nói lên từ.........................................của ĐứcChúaTrời.Hòagiảicónghĩalà..........................................................
sự hoà giải đề cập đến công việc của .................., của lễ chuộc tội của tội nhân mà thông qua đó tội lỗi của tội nhân được................, cơn giận Thiên Thượng là............................................ và sự hình phạt dành cho tộilỗikhôngcònđặttrên...............................................................................
2 Hãy đọc 3:21-26 và trình bày ý chính của phân đoạn này là gì?

...................................................................
3 Trong IGi1Ga 1:9 “còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”. Câu Kinh Thánh này có liên quan như thế nào về sự thảo luận của chúng ta về sự công bình của Đức Chúa Trời và nan đề tội lỗi của con người?
...................................................................
Những câu Kinh Thánh trong Rôma và IGiăng này dạy dỗ rằng Đức Chúa Trời Ngài không loại bỏ tiêu chuẩn đạo đức của Ngài về sự công bình khi Ngài phán xét nhân loại. Sự công bình của Ngài vẫn y nguyên. Khoảng một thời gian dài dường như là Đức Chúa Trời bỏ qua các tội phạm (RoRm 3:25). Nhưng công việc của Đấng Christ tại gôgôtha cho thấy rằng Ngài không bỏ qua tội lỗi. Trong sự nhẫn nhục Ngài đã kềm lại sự phán xét công bình của Ngài bởi vì Ngài biết từ trước vô cùng tình yêu của Ngài được ban cho như thế nào. Và đến thời điểm. Đấng Christ đã đến để chứng minh rằng thông qua thập tự giá sự công bình của Đức Chúa Trời vẫn y nguyên ngay cả khi tội nhân được công bố “không phạm tội”. Vì cớ trong Đấng Christ, tội nhân ăn năn nhận được sự công bình của Đức Chúa Trời và vì vậy tội nhân được xưng là công bình (RoRm 3:26).
4 Hãy chọn câu mô tả chính xác về bản chất sự xưng công bình dưới đây.
a) Sự xưng công bình đề cập đến sự phán xét và hành động mà Đức Chúa Trời công bố rằng những kẻ trong Đấng Christ là công bình.
b) Theo bản chất, sự xưng công bình là hành động mà Đức Chúa Trời làm cho một người nào đó trở nên công bình.
c) Sự xưng công bình đề cập đến sự đoán xét các tội nhân khi họ đứng trước Ngai Đức Chúa Trời.
Ý nghĩa của sự xưng công bình
Mục tiêu 2 . Nhận ra được ý nghĩa của sự xưng công bình trong kinh nghiệm của sự cứu rỗi .
Ý nghĩa ban đầu của từ “xưng công bình” đề cập đến một sự công bố về sự công bình. Nó là một công việc khách quan xảy ra bên ngoài chúng ta. Nó không giải quyết đến tình trạng thuộc linh của chúng ta (cho dù nó là một trong những sự trưởng thành hay không trưởng thành). Tuy nhiên nó giải quyết vị trí của chúng ta trước Đức Chúa Trời. Như vậy sự xưng công bình có ý nghĩa là vì cớ Đấng Christ là công bình, Đức Chúa Trời phán chúng ta được công bình khi bởi đức tin chúng ta kinh nghiệm sự cứu rỗi thông qua công việc cứu chuộc của Đấng Christ trên thập tự giá. Nhờ Đấng Christ, chúng ta có thể đứng trước Đức Chúa Trời như là người công bình.
Trong Cựu ước một người được xưng là công bình khi người đó “làm theo” luật pháp của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên trong Tân ước, sự công bình của Chúa Jêsus Christ được chuyển qua cho chúng ta.
5 Có một sự khác nhau quan trọng giữa sự xưng công bình trong Cựu ước và Tân ước. Trước tiên hãy đọc XuXh 23:7, PhuDnl 25:1 và ChCn 17:15. Bây giờ hãy đọc RoRm 4:1-8 và 5:1-11 và trình bày sự khác nhau. Hãy viết câu trả lời trong tập của bạn.
Hãy nhớ rằng vì cớ tội lỗi, con người đã đánh mất đi mối tương giao thật của mình với Đức Chúa Trời. Kết quả là con người phải mang lấy tội lỗi, sự kết án và phân cách (SaSt 3:1-24). Sự phán xét phục hồi cho con người mối thông công thật của mình với Đức Chúa Trời. Trong RoRm 8:1-39 chúng ta thấy sự phục hồi bao gồm điều gì?.
1. Nó ban cho sự loại bỏ tội lỗi bằng cách công nhận nhân loại với sự công bình của Đấng Christ “Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. (RoRm 8:33).
2. Nó ban cho sự loại bỏ sự đoán phạt vì cớ sự tha thứ tội lỗi “Ai sẽ lên án họ ư? (8:34).
3. Nó ban cho sự loại bỏ sự phân cách :“Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? (8:35).
Vậy chúng ta thấy rằng trong sự phán xét thì thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội nhân được đảo ngược lại vì cớ sự tương giao của tội nhân đối với Đấng Christ. Tuy nhiên sự phán xét không chỉ bao gồm sự tha thứ tội lỗi, loại bỏ sự đoán phạt và phục hồi với Đức Chúa Trời: Nó cũng đặt người phạm tội trong vị trí của người công bình. Sự so sánh sau đây minh họa nội dung quan trọng này. Một người cầm quyền tha tội cho một tội nhân nào đó. Ông ta cũng phục hồi các quyền của tội nhân giống như là một công dân đã từng đánh mất trong sự phạm tội của mình. Tuy nhiên, ông không thể trả lại cho người tội phạm vị trí trước kia của người tội phạm trong xã hội tức là người chưa bao giờ làm trái luật pháp. Hậu quả là người tội phạm lại trở thành một người được chú ý. Nhu cầu lớn nhất của người này là được phục hồi đặc ân và mối thông công với xã hội như thể anh ta chưa bao giờ phạm tội. Và chỉ bằng cách như vậy thì người tội phạm mới có thể được chấp nhận trong xã hội.
Ngược lại, khi Đức Chúa Trời phán xét một tội nhân, Ngài xóa sạch quá khứ đầy tội lỗi của người đó. Hơn thế nữa, Ngài đối xử với người đó như thể người đó chưa bao giờ phạm tội và thêm vào đó Ngài công bố rằng người đó là công bình trong cách nhìn của Ngài. Tuy nhiên chúng ta phải chú ý rằng sự phán xét không chỉ là một sự công bố, nó cũng là một vị trí mà người được phán xét nhận được dựa trên sự hy sinh của Đấng Christ. Sự công bình của Đức Chúa Trời thì thật sự được áp dụng cho người được cứu chuộc và người đó được kể là công bình. Thật là một ý tưởng tuyệt vời! Theo cách này Đức Chúa Trời công bình có thể phán xét những kẻ có tội. Vì cớ Đấng Christ đã trở nên sự công bình cho tội nhân (ICo1Cr 1:30) cho nên tội nhân được cứu chuộc được đặt trong vị trí của một người công bình. Và điều này là thực chứng bởi vì Chúa Jêsus đã gánh tất cả những tội lỗi của tội nhân trên mình tại thập tự giá, và những tội này đã được chuyển qua Ngài (IICo 2Cr 5:21). Một số người nói rằng: “Sự phán xét trước hết là sự loại trừ- loại bỏ tội lỗi và thứ nhì nó là sự bổ sung -đặt để sự công bình”.

ĐƯỢC THA THỨ
TỘI LỖI

6 Hoàn chỉnh các câu sau bằng cách sắp xếp mỗi cụm từ (bên trái) với những từ liên quan đến nó (bên phải)
Hãy đọc thư tín của Phaolô gởi cho Philêmôn trong Tân ước. Khi bạn đọc xong thơ tín này, xem thử bạn có thể xác định được một minh họa về sự phán xét hay không.
Bạn có chú ý (để ý) rằng trong câu 18 Phaolô nói rằng nếu Ônêsim mắc nợ Philêmôn đều chi thì Philêmôn nên tính vào tài khoản của Phaolô. Sau đó Ônêsim được giải phóng không còn bị lệ thuộc vào Philêmôn. Quyền của Phaolô và mối quan hệ thân mật với bạn của mình là Philêmôn chắc chắn đem lại sự tin cậy cho Ônêsim.
7 Hãy khoanh tròn ký tự của những câu đúng. a Sự phán xét là một công việc chủ quan xảy ra trong chúng ta và giải quyết mức độ trưởng thành tâm linh của chúng ta. b Sự phán xét là một công việc chủ quan xảy ra bên ngoài chúng ta và muốn nói đến một sự công bố về sự công bình .
c Trong sự phán xét tội lỗi của con người được cất đi thông qua việc xác nhận họ với sự công bình của Đấng Christ.
d Khi Đức Chúa Trời tha thứ tội nhân, Ngài xóa sạch quá khứ của họ và đối đãi với họ như thể họ chưa bao giờ phạm tội.
Mối tương quan của nó đối với luật pháp
Mục tiêu 3. Nhận ra những sự khác nhau trong các mục đích của sự phán xét và luật pháp .
Phaolô nói rằng chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được xưng là công bình trước mặt Ngài (RoRm 3:20). Điều này không ngầm ý chỉ trích (xem thường) luật pháp bởi vì luật pháp là thánh, là công bình và tốt lành (RoRm 7:12). Điều này có nghĩa rằng luật pháp không phải ban cho vì mục đích làm cho con người công bình nhưng ban cho một tiêu chuẩn của sự công bình. Luật pháp được ban cho Môise bởi Đức Chúa Trời để dân Ysơraên có một sự hiểu biết rõ ràng về điều đúng và sai (xuất 20). Cựu ước chép lại lịch sử của dân Do Thái và sự bất phục được lập lại đối với luật pháp.
Chúng ta hãy xem qua 3 lý do tại sao luật pháp không thể đoán xét một người. Trước hết luật pháp không thể đoán xét chúng ta bởi vì nó không có quyền năng biến đổi bản chất yếu đuối và tội lỗi của con người. Luật pháp có thể nhận ra tội lỗi và chuẩn đoán tình trạng tội lỗi của chúng ta. Luật pháp cũng giống như một cây thước mà sẽ đo được chiều dài của một số vật liệu, song nó không gia tăng được độ dài của nó: “Vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi”. (RoRm 3:20). Cũng giống như một cái gương, luật pháp có thể vạch trần sự bại hoại và gian ác của chúng ta, nhưng nó không thể thanh tẩy chúng ta khỏi sự ô uế của chúng ta. Chúng ta có thể nhìn chằm chằm vào gương cả ngày, nhưng chẳng có mức độ nhìn nào sẽ thanh tẩy một bộ mặt dơ bẩn. Luật pháp bày tỏ cho chúng ta tiêu chuẩn sự công bình của Đức Chúa Trời là gì. Nó cũng bày tỏ cho chúng ta sự bất toàn và khuyết điểm của chúng ta và làm thế nào chúng ta đã bị thất bại làm theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên nó không thể biến đổi chúng ta. Cũng giống như thầy tế lễ và người Lêvi bỏ mặc người bị kẻ cướp tấn công thì luật pháp cũng không giúp được gì và cũng không có hy vọng gì (LuLc 10:30-37). Nó không có năng quyền để phục hồi chúng ta khỏi số phận xấu xa của chúng ta, chỉ có Đấng Christ, người Samari nhơn lành có thể làm được điều nầy.
Thứ hai, luật pháp không thể đoán xét bởi vì nó không thể được thay đổi. Nó lượng được sự hình phạt đối với người bất tuân luật pháp nhưng nó chẳng biết gì về sự thương xót. Để được đoán xét bởi luật pháp, một người phải giữ luật pháp mà không phạm một điều răn nào (GaGl 3:10; Gia Gc 2:10). Và bản chất bại hoại con người của chúng ta không thể làm được điều như vậy.
Thứ ba, luật pháp không thể thay đổi quá khứ hoặc thanh tẩy sự bại hoại bên trong của con cháu Ađam. Một người phải xác định giữ luật pháp trọn vẹn.

LUẬT PHÁT
KHÔNG THỂ BIẾN ĐỔI BẢN CHẤT CHÚNG TA
KHÔNG THỂ ĐƯỢC BIẾN HÓA
KHÔNG THỂ THAY ĐỔI QÚA KHỨ CHÚNG TA

Đời sống của người đó kể từ nay được chấp nhận trước Đức Chúa Trời và quá khứ không còn được kể tới nữa. Trọn đời sống phải ngay thẳng trước Đức Chúa Trời. Chỉ có huyết báu Chúa Jêsus mới có thể rửa sạch tội lỗi quá khứ của người đó và dựng nên một bản chất mới trong người đó. Vì những lý do này, Phaolô nói rằng luật pháp chẳng bao giờ đoán xét ai (GaGl 2:21). Chúng ta cần được hiểu rõ rằng luật pháp được ban cho không phải để giải phóng tội lỗi nhưng chỉ rõ tội lỗi.
8 Hãy chọn câu hoàn chỉnh đúng. Luật pháp không thể đoán xét ai bởi vì nó.
a) Không thể giải quyết bản chất tội lỗi của một người và bản chất đó chính là nguyên nhân của nan đề.
b) Không thể bày tỏ cho một người sự yếu đuối và nhu cầu của người đó.
c) Đơn thuần chỉ giải quyết quá khứ của một người và không bộc lộ chính nó đối với những vấn đề cư xử đạo đức.
Vì vậy luật pháp là cần thiết để ban cho một tiêu chuẩn của sự công bình. Nó được ban cho để bày tỏ tội lỗi của con người, bản chất tội lỗi của họ và sự vô vọng của họ để họ có thể được dẫn dắt tới ân điển. Mặc dầu luật pháp không đem một nguời đến sự cứu rỗi, nhưng nó có thể đem người đó đến Đấng cứu rỗi: “Ấy vậy luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ hầu cho bởi đức tin mà được xưng công bình (GaGl 3:24).
Mối quan hệ giữa việc vâng giữ luật pháp và sự công bình có thể được so sánh với một cuộc hành trình trong một máy bay. Một máy bay là một phương tiện dẫn đến đích. Một người không có ý định làm nhà mình trên máy bay nhưng mục tiêu của người đó là đến được đích. Và khi người đó đã đến nơi, người đó sẽ rời khỏi máy bay. Luật pháp được ban cho để đưa dân Ysơraên đến một nơi dự định và nơi đó là niềm tin và sự tin cậy ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nhưng khi Đấng Cứu chuộc đến thì dân Ysơraên vì quá mù lòa về thuộc linh đến nỗi họ đã hành động giống như một người từ chối rời khỏi máy bay khi người đó đã đến nơi dự định của mình. Nhiều người Do Thái đã từ chối rời bỏ vị trí của họ trên giao ước cũ “máy bay”(luật pháp) mặc dầu Tân ước công bố rằng: “Vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp (RoRm 10:4).
Trong GaGl 3:24-25 Phaolô giải thích mối quan hệ giữa việc vâng giữ luật pháp và sự công bình. Ông minh họa mối quan hệ này bằng cách sử dụng hình ảnh của vị thầy giáo là người dạy dỗ, huấn luyện và đào tạo học sinh của mình cho đến khi đứa trẻ đạt đến tuổi thừa kế hợp pháp vì vậy luật pháp là phương cách Đức Chúa Trời sử dụng để bày tỏ dân sự của Ngài tình trạng vô vọng của họ, tiêu chuẩn công bình của Đức Chúa Trời và sự bất năng hoàn thành sự yêu cầu của luật pháp. Nhưng ngày nay, tại thập tự giá, Đức Chúa Trời đã bày tỏ rằng con người có thể được xem là công bình trước Ngài bởi vì đức tin của con người trong Đấng Christ, vì cớ Ngài đã đáp ứng tiêu chuẩn của sự công bình. Ngài đã trả giá chuộc cho tội lỗi và sự công bình của Ngài đã được bày tỏ cho chúng ta. Đấng Christ đã làm trọn luật pháp và chúng ta được xưng là công bình dựa trên ân điển của Ngài và sự công bình Ngài (RoRm 3:24).

9 Hãy sắp xếp mỗi phần mô tả (bên trái) với nội dung mà nó xác định (bên phải).
Sự tương phản của nó đối với sự tái sanh

Mục tiêu 4 . Đối chiếu các đặc tính của sự công bình và sự tái sanh .

Bạn sẽ nhận thấy rằng một vài đặc tính của sự công bình và sự tái sanh xảy ra trong chúng ta. Những đặc tính khác xảy ra bên ngoài chúng ta. Ví dụ như, sự công bình xảy ra bên ngoài chúng ta trước Ngai của Đức Chúa Trời, là nơi Ngài công bố chúng ta là công bình. Sự công bình là quyết định của Đức Chúa Trời liên quan đến vị trí của chúng ta. Đó là điều mà Đấng Christ làm thay cho chúng ta. Sự công bình thay đổi mối quan hệ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời.
Như chúng ta đã biết sự công bình và sự tái sanh xảy ra cùng một lúc. Chúng đơn giản là những khía cạnh khác nhau của cùng một công việc. Tuy nhiên sự tái sanh là công việc của Đức Chúa Trời thực hiện trong chúng ta. Nó giải quyết tình trạng của chúng ta và thay đổi bản chất chúng ta. Sự tái sanh và sự công bình cả hai điều là những công việc xảy ra ngay tức thời.
10 Câu nào trong những câu sau đây là các đặc tính của sự công bình, sự tái sanh hoặc là cả hai? Hãy viết số phân biệt trước mỗi đặc tính trong cột bên trái.
11 Khi chúng ta nói rằng sự công bình là một công việc chủ quan, chúng ta ngụ ý rằng ............................
12 Sự công bình và sự tái sanh xảy ra theo thứ tự như thế nào? .....................................................................
NGUỒN CỦA SỰ CÔNG BÌNH
Mục tiêu 5. Chọn những câu mô tả nguồn của sự công bình theo Kinh Thánh .
Tận sâu trong bản chất con người có ý tưởng rằng một người phải làm điều gì đó để trở nên xứng đáng với sự cứu rỗi. Vào thời kỳ Hội Thánh đầu tiên một số thầy Do Thái Cơ đốc dạy rằng (cho rằng) tội nhân được cứu bởi đức tin cộng với sự quan sát luật pháp. Và kể từ đó ý tưởng sai trật này đã hình thành trong một số vùng của Hội Thánh Cơ đốc. Nó đòi hỏi hình thức tự trách mình, đi hành hương để dâng, thực hiện những nghi lễ tôn giáo, và trả tiền để nhận sự tha thứ cho tội lỗi. Trong những tôn giáo ngoại đạo cũng vậy, con người tìm cách làm vui lòng thần của họ bằng những công việc của chính tay họ. Lý do mà họ cố gắng hết sức để trở nên xứng đáng là vì ” Đức Chúa Trời không nhân từ, và con người không công bình. Vì vậy con người phải trở nên công bình để Đức Chúa Trời sẽ trở nên độ lượng”.
Martin Luther cũng bị rắc rối với ý tưởng sai lầm này; vì vậy ông ta cố gắng bằng cách tự hy sinh để thực hiện sự cứu rỗi của riêng ông sự kêu khóc của ông, Ô ! Luther, khi nào ngươi mới trở nên ngoan đạo đủ để ngươi sẽ tìm thấy sự nhân từ của Đức Chúa Trời, tượng trưng cho sự kêu khóc của hàng triệu tấm lòng. Cuối cùng ông đã nhận ra được chân lý là nền tảng của Phúc âm. Đức Chúa Trời là nhân từ vì vậy Ngài muốn biến đổi con người trở nên công bình. Vì vậy sự công bình không phải đến bởi những việc làm của luật pháp hay bởi bất kỳ công việc nào của con người: “Ngài cứu chúng ta, không phải cứu vì việc công bình chúng ta làm, nhưng cứu theo lòng thương xót Ngài (Tít 3:5;).
Lời Kinh Thánh không chỉ nói rằng chúng ta không được xưng là công bình bởi việc làm nhưng Lời Kinh Thánh cũng chỉ lên án, rủa sả hành động được xem là trở nên công bình theo cách này. Đây là sự dạy dỗ rõ ràng của sứ đồ Phaolô trong thơ của ông gởi cho Hội Thánh Galati.
13 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau trong Galati và sau mỗi câu hãy viết sự rủa sả là hậu quả cố gắng được xưng công bình bởi những việc làm của luật pháp. Câu thứ nhất đã làm mẫu cho bạn.
a GaGl 1:8-9: Nếu ai truyền một Tin lành khác thì đáng bị rủa sả.
b 2:21
c 3:1-3
d 3:10
e 5:4
Rõ ràng rằng Phaolô dạy phải phản đối sự công bình bởi việc làm, tuy nhiên một số người sẽ hỏi, không phải Giacơ đã dạy rằng sự công bình đến bởi việc làm và không chỉ bởi đức tin mà thôi hay sao? Để giải đáp câu hỏi này, xin hãy đọc kỹ Gia Gc 2:18-26.
Chú ý rằng Giacơ không phản đối đức tin cứu rỗi. Nhưng ông muốn phản đối một đức tin chết và hoàn toàn chỉ là đức tin tri thức. Giacơ dạy rằng đức tin chết thì không thể được xưng là công bình, vì vậy ông muốn nhấn mạnh đến đức tin năng động, đó là đức tin tuôn đổ ra từ trong những việc làm. Phaolô nhấn mạnh rằng những việc lành không làm cho chúng ta được xưng là công bình (Tit Tt 3:5). Ông khẳng định rằng chính đức tin cứu rỗi đã làm cho chúng ta được xưng là công bình chứ chẳng phải bởi việc làm(RoRm 3:21-22). Một số người nói rằng “chúng ta không được cứu bởi đức tin và những việc làm, nhưng chúng ta được cứu bởi đức tin”
Có lẽ chúng ta có thể hiểu rõ ràng hơn sự khác nhau của phương pháp giữa Giacơ và Phaolô nếu chúng ta xem xét mỗi người đang chống lại điều gì. Rõ ràng Phaolô đang chống lại ý niệm rằng một người được xưng là công bình bởi đức tin cùng với việc vâng giữ luật pháp. Còn đối với Giacơ ông đang chống lại những người khẳng định rằng bởi vì những kẻ tin được xưng là công bình chỉ bởi ân điển, vì vậy họ không cần phải vâng giữ những điều lệ của luật pháp hoặc trả giá phạt cho việc không vâng giữ luật pháp. Những người giữ quan điểm này khẳng định rằng Cơ đốc nhân thì được tự do đối với tất cả luật pháp về luân lý và có thể bỏ mặc nó hoàn toàn, đây là một quan điểm khuyến khích sự buông thả về mặt luân lý và khuyến khích một đời sống buông thả.
Vì vậy Giacơ và Phaolô không có mâu thuẫn với nhau; nhưng họ giống như là hai người lính đang chống lại một kẻ thù tấn công hai hướng. Phaolô chống lại những kẻ nhờ vào luật pháp để hưởng sự cứu rỗi, trong khi đó Giacơ đang chống lại những kẻ cho rằng sự cứu rỗi cho phép họ bỏ mặc luật pháp.
14 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và trả lời cho mỗi câu hỏi.
a SaSt 15:1-6 và 16:15-16. Ápraham được bao nhiêu tuổi khi Đức Chúa Trời hứa ban cho ông một đứa con trai và ông được Đức Chúa Trời chấp nhận vì cớ niềm tin của ông trong Ngài?
.....................................................................
b 17:1. Ápraham được bao nhiêu tuổi khi lời hứa được lập lại?
....................................................................
c 17:17, 21:1. Ápraham được bao nhiêu tuổi khi Isác được sanh ra?
...
d 22:1-8. Isác được bao nhiêu tuổi khi Đức Chúa Trời phán với Ápraham đem dâng Isác làm của lễ thiêu?

e Khoảng bao nhiêu năm kể từ lúc Ápraham được kể là công bình (15:6) cho đến việc dâng Isác làm của lễ thiêu?
........................
f Hãy đọc Gia Gc 2:21-24 một lần nữa. Bài tập này giúp chúng ta nhận thấy Giacơ và Phaolô không mâu thuẫn với nhau như thế nào ?
.................................................................
.................................................................
Phaolô chấp nhận loại đức tin mà tin cậy vào Đức Chúa Trời, trong khi đó Giacơ chỉ trích đức tin chết là đức tin hoàn toàn chỉ là sự chấp thuận theo tri thức. Phaolô phản đối những việc làm mà không có đức tin, còn Giacơ chấp thuận những hành động bày tỏ rằng Đức tin là đức tin sống. Sự công bình mà Phaolô rao giảng nói đến sự bắt đầu của đời sống Cơ đốc nhân. Mặt khác, Giacơ đề cập đến sự công bình khi nói đến đời sống vâng phục và thánh khiết là minh chứng rõ ràng người đó đã được cứu.
Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng nguồn của sự công bình là sự tuôn đổ ân điển của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cũng dạy rằng nền tảng sự công bình của chúng ta là công việc cứu chuộc của Đấng Christ, bởi vì chúng ta “nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình cách nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Giêxu Christ”.(RoRm 3:24). Ân điển của Đức Chúa Trời và thập tự giá của Đấng Christ là nguồn và nền tảng cho sự công bình của chúng ta.
Từ “cách nhưng không” trong RoRm 3:24 đã bày tỏ ý nghĩa là “Không có nguyên nhân hoặc lý do”. Điều này bày tỏ rằng ân điển của Đức Chúa Trời ban cho không phải là kết quả của bất cứ điều gì mà chúng ta làm để xứng đáng nhận nó nhưng nó là một món quà, một ân điển xưng cho những kẻ không xứng đáng mà không thể nào mua được. Những việc lành hoặc sự phục vụ Cơ đốc theo mạng lệnh cũng không trả nổi ân điển của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chúng chỉ là một sự bày tỏ thông thường và thực tế của sự tận hiến và tình yêu của chúng ta đối với Đức Chúa Trời.
Bạn nên cẩn thận để khỏi bị hiểu lầm rằng điều đó tồn tại liên quan đến ân điển. Có lẽ phần minh họa sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn ý nghĩa của ân điển, một người đàn ông nọ với một vị thẩm phán là bạn thân của nhau. Một ngày kia, người đàn ông bị buộc tội và bị đem đến để xử trước tòa là nơi mà bạn của ông ta đang chủ tọa cuộc phán xử. Sau khi lắng nghe chứng cớ, vị quan tòa đưa ra lời tuyên án một cách lạnh lùng “đã phạm tội. Tiền phạt là 400 dollars”. Người đàn ông bị bất ngờ bởi vì bạn của ông đã không bẻ cong luật pháp để làm trắng án cho ông ta và thay vì như thế ông ta lại tuyên án mình một cách nặng nề. Tuy nhiên, khi vị quan tòa đi ra khỏi phòng xử, ông ta đã chi trả cho viên thư ký số tiền riêng của ông như là một sự trả giá trọn vẹn cho hình phạt. Để giữ sự thanh liêm của luật pháp, vì quan tòa phải tuyên án bản án. Tuy nhiên, trong sự thương xót ông đã trả giá cho hình phạt mà bạn mình phải trả.
Ân điển không có nghĩa rằng vì Đức Chúa Trời quá yêu thương đến nỗi Ngài bỏ qua tội lỗi và từ bỏ sự phán xét công bình. Vì Ngài là Đấng tể trị thánh khiết và công bình, cho nên Đức Chúa Trời không thể xem nhẹ tội lỗi, bởi vì điều này sẽ làm giảm tính ưu việt sự thánh khiết và công bình của Ngài. Tuy nhiên ân điển của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự kiện chính Ngài thông qua sự cứu chuộc của Đấng Chirst đã trả giá chuộc trọn vẹn cho tội lỗi, vì vậy Ngài có thể tha thứ tội nhân theo sự công bình của Ngài. Sự tha thứ của Ngài dựa trên sự đoán xét chuẩn xác: “Ngài là thành tín và công bình” (IGi1Ga 1:9). Ân điển của Đức Chúa Trời được minh chứng trong sự ban cho sự cứu chuộc mà thông qua đó Ngài xưng những kẻ ngoại đạo là công bình khi họ ăn năn và cùng một lúc nắm giữ sự thánh khiết của Ngài, luật pháp không dời đổi.
15 Hãy khoanh tròn mẫu tự những câu mô tả đúng nguồn của sự xưng công bình theo Kinh Thánh.
a Bởi vì những việc làm là minh chứng của đức tin sống, vì vậy chúng là nền tảng của sự xưng công bình.
b Sự xưng công bình có nguồn của nó là ân điển của Đức Chúa Trời.
c Sự cứu chuộc của Đấng Christ ban giá trả cho hình phạt của việc không vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, và vì vậy Đức Chúa Trời có thể tha thứ những tội nhân theo sự công bình của Ngài.
d Khi một người tin nhận Ngài, phần thưởng của người đó trong sự tin nhận sẽ hình thành nền tảng của sự công bình.
KINH NGHIỆM SỰ XƯNG CÔNG BÌNH
Những minh họa của sự công bình
Mục tiêu 6 . Thảo luận 2 minh họa theo Kinh Thánh về sự xưng công bình được đưa ra bởi Phaolô trong Rôma 4.
Trong Rôma 4, sứ đồ Phaolô thảo luận kinh nghiệm của hai người là gương mẫu nổi bật của sự xưng công bình. Hãy đọc lướt qua chương này và rồi chú ý đặc biệt đến câu 6-8.
Đavít nói cùng một điều khi ông nói đến sự phước hạnh của người được Đức Chúa Trời kể là công bình chẳng bởi việc làm: “Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, tội mình được che đậy! Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho” (RoRm 4:6-8).
Hãy chú ý rằng trong phần minh họa này chúng ta không thấy đức tin “không có việc làm”, nhưng đức tin” chẳng phải bởi việc làm. Trong phân
NHỮNG VIỆC LÀNH LÀ TRÁI

ĐỨC TIN LÀ RỄ
đoạn này (câu 1-9) những việc làm chẳng phải tỏ ra trước nhưng chính là đức tin. “Còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình (RoRm 4:5).
Tuy nhiên loại đức tin kèm theo những việc làm được xem như là minh chứng sự sống động của nó. Như chúng ta đã biết, Giacơ viết ra bông trái của đức tin là những việc lành. Bông trái thể hiện rõ loại rễ sản sinh ra nó. Trong mối tương quan này chúng ta phải nhớ rằng đức tin là rễ tạo nên những việc lành; những việc lành tức là trái không sản sinh ra rễ tức là đức tin.
Trong cách đối xử siêu việt của sự xưng công bình này, Phaolô xem Ápraham là gương mẫu thứ hai để minh họa sự xưng công bình bởi đức tin chẳng phải bởi nghi lễ. Phaolô chỉ ra rằng Ápraham được xưng là công bình bởi đức tin (SaSt 15:6) trước khi chịu phép cắt bì (17:10-14). Thêm vào đó, ông bày tỏ rằng Ápraham không được xưng công bình bởi việc vâng giữ luật pháp: “Vả, ấy chẳng bởi luật pháp mà có lời hứa cho Ápraham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm cơ nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin” (RoRm 4:13).
Từ những minh họa này chúng ta thấy rằng gương mẫu của Đức Chúa Trời cho sự xưng công bình là: Chúng ta đến với Ngài và tiếp nhận những gì Ngài ban cho.
16 Hai phần minh họa trong KinhThánh mà Phaolô sử dụng trong 4:1-25 cho thấy đức tin là cội rễ và những việc làm là bông trái của sự xưng công bình là như thế nào? Trả lời câu hỏi này trong tập ghi chép của bạn.
Phạm vi của sự xưng công bình
Mục tiêu 7. Chọn một câu giải thích đúng phạm vi của sự xưng công bình .
Trong bài học 1, chúng ta đánh giá những câu Kinh Thánh đề cập đến phạm vi của sự cứu chuộc và kết luận rằng sự cứu chuộc là vô hạn. Nhưng khi chúng ta đề cập đến phạm vi của sự xưng công bình, chúng ta nhận thấy rằng có một sự khác nhau. Sự xưng công bình được giới hạn cho những ai tiếp nhận Đấng Christ. Mỗi người phải “thích ứng vào công việc của Đấng Christ (KhKh 3:20). Tuy nhiên chúng ta có thể nói rằng sự ban cho của sự xưng công bình thì vô hạn nhưng sự “thích ứng của nó thì giới hạn cho những ai nhận được sự ban cho đó.

CHÚNG TA PHẢI TIẾP NHẬN ÂN TỨ

SỰ CỨU RỖI
ÂN TỨ

Có một người trẻ tuổi bị kết án là phạm tội nghiêm trọng và bị buộc tội chết. Người mẹ của anh ta van xin vị Thống đốc của tiểu bang can thiệp và ban cho con bà một ân xá. Sau khi xem xét vụ án kỹ lưỡng, vị Thống đốc trả lời bằng cách ban cho một ân xá. Người cai ngục nhận ân xá và nhanh chóng đi vào trại giam để thông báo cho người trẻ tuổi. Tuy nhiên, người tội nhân nổi loạn từ chối tiếp bất cứ một người nào, ngay cả người cai ngục mặc dầu người cai ngục cố gắng nhiều lần. Và vì vậy người trẻ tuổi bị liệt kê trên danh sách để hành quyết. Trên đường đi tới phòng hành quyết anh ta được cho biết rằng người cai ngục đã tìm cách gặp anh ta để đưa sự ân xá của vị Thống đốc chỉ khi đó anh ta nhận thức được sự khủng khiếp về tình trạng của mình nhưng đã quá trễ rồi; anh ta chắc chắn sẽ chết mặc dầu anh ta có thể được tự do nếu anh ta tiếp nhận ân xá. Cũng vậy trong sự xưng công bình, tất cả những ai đón nhận hoặc tiếp nhận sự ban cho bởi niềm tin về những gì Đấng Christ đã làm cho họ thì có thể được xưng là công bình.
17 Chọn một câu giải thích đúng về phạm vi của sự xưng công bình trong những câu dưới đây.
a) Phạm vi của sự xưng công bình áp dụng vào mức độ của sự xưng công bình bởi vì một số người thì được xem là công bình hơn những người khác.
b) Sự xưng công bình cũng giống như sự cứu chuộc có phạm vi rộng lớn không đòi hỏi điều kiện nào ngoại trừ sự tiếp nhận hoặc sự đón nhận.
c) Đức Chúa Trời đã ban sự xưng công bình cho tất cả mọi người, nhưng chỉ những người đón nhận bởi tiếp nhận Đấng Christ thì được xưng là công bình.
Các phương cách của sự xưng công bình
Mục tiêu 8 . Giải thích câu nói : đức tin là phương cách của sự xưng công bình .
Như chúng ta đã biết, chẳng phải bởi luật pháp hay việc lành mà một người được xưng là công bình, vì vậy những gì con người cần đó là sự xưng công bình của Đức Chúa Trời. Sự công bình của Đức Chúa Trời là ân điển được ban cho cách nhưng không. (RoRm 3:24). Tuy nhiên ân điển này phải được tiếp nhận. Như vậy đối với những câu hỏi- ân điển của sự công bình được tiếp nhận như thế nào? và phương cách của sự xưng công bình là gì chúng ta phải giải đáp theo Kinh Thánh.
1. "Người ta được xưng là công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp”. (RoRm 3:28).
2. "Sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ cho mọi người nào tin”.
3. "Vì vậy, chúng ta được xưng công bình bởi đức tin” (RoRm 5:1).
4. “Nôê.... trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy” (HeDt 11:7).
5. ”....Tôi có thể nhận biết Đức Chúa Giêxu Christ...hầu cho được Đấng Christ....bây giờ tôi có....sự công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin” (Phi Pl 3:8-9)
Vậy thì đức tin là sự vươn ra để nhận những gì Đức Chúa Trời ban cho. Nó không phải là “nền tảng” cho sự xưng công bình nhưng nó là “điều kiện”. Một số người ghi nhận rằng chẳng có sự đúng nào trong loại đức tin này hơn là sự xứng đáng có trong hình ảnh của một người ăn mày đưa tay ra để nhận món quà. Đức tin chẳng bao giờ được xem như là cái giá của sự xưng công bình nhưng đức tin là phương cách đón nhận nó.
Bởi vì phương cách của sự công bình là đức tin thì nhiều lỗi lầm có thể được thanh tẩy. Trước hết, lòng kiêu hãnh về sự công bình riêng và nổ lực riêng được cất bỏ bởi vì con người sa ngã thì không thể có sự tốt lành hay là sự công bình. Tit Tt 3:5 chép rằng: “Ngài cứu chúng ta không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm nhưng cứu theo lòng thương xót của Ngài”. Thứ hai, sự lo sợ rằng chúng ta quá yếu đuối và quá tội lỗi đến nỗi không nhận thấy được kinh nghiệm sự cứu rỗi của chúng ta thông suốt tới sự trọn lành thì cũng được cất đi. Đức tin là quan trọng và kỳ diệu vì cớ nó kết hiệp một người với Đấng Christ. Trong sự hiệp nhất với Đấng Christ, một người có động cơ và khả năng sống một đời sống công bình: “Vì anh em thảy đều chịu phép báptêm trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy” (GaGl 3:27). “Vả những kẻ thuộc về Đức Chúa Giêxu Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá rồi”. (GaGl 5:24) Phaolô bày tỏ lòng biết ơn của ông đối với đức tin sống động của những kẻ tin ở Philíp. “Tôi tin chắc rằng, Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ”. (Phi Pl 1:6).
18 Hãy khoanh tròn mẫu tự của những câu đúng.
a Chúng ta tiếp nhận sự xưng công bình bởi ân điển thông qua đức tin. Đức tin được ban cho bởi công việc hy sinh của Đấng Christ.
b Đức tin là nền tảng cho sự xưng công bình chứ không phải điều kiện.
c Sự kiện mà chúng ta được xưng là công bình cách nhưng không thì cất đi tất cả nguyên nhân gây ra sự kiêu hãnh của con người và niềm tin trong sự công bình của con người.
d Đức tin liên kết một người với Đức Chúa Trời trong một cách mà người đó được mặc lấy đời sống của Đấng Christ.
Đức tin tức là phương cách của sự xưng công bình được đánh thức trong một người bởi sự tác động của Đức Thánh Linh, thường là khi Lời Đức Chúa Trời được rao giảng. Lời Kinh Thánh phán với chúng ta rằng “Đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe là khi Lời của Đấng Christ được rao giảng. Đức tin tin cậy chắc chắn vào lời hứa Đức Chúa Trời và thích ứng cho sự cứu rỗi vì dẫn một người nương cậy Chúa Jêsus như là Đấng Cứu rỗi của mình và là của lễ dâng được chấp nhận vì cớ tội lỗi của người đó. Sự tin cậy trong Chúa Jêsus này đã ban sự bình an cho lương tâm của người đó cũng như sự trông cậy vào sự sống đời đời. Bởi vì đức tin là sự sống và là điều thiêng liêng vì vậy nó tràn đầy trong con người một lòng biết ơn đối với Đấng Christ và nó tuôn tràn với những việc lành.
19 Khi chúng ta nói rằng đức tin là những phương cách của sự xưng công bình, thì chúng ta muốn nói rằng:
...................
20 Làm thế nào chúng ta có đức tin
...............
Những kết quả của sự xưng công bình
Mục tiêu 9. Hãy liệt kê những kết quả của sự xưng công bình như đã được trình bày theo Kinh Thánh .
Có rất nhiều kết quả trong sự nên thánh, một trong những kết quả đó là, với những nan đề tội lỗi được giải quyết, một người có thể bước vào những phước hạnh và là kẻ dự phần những lợi ích ngay tức khắc: “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình!” ( Thi Tv 32:1). Chúng ta sẽ thấy rằng còn nhiều phước hạnh kỳ diệu khác nữa.
21 Hãy đọc mỗi câu Kinh Thánh sau đây và liệt kê những kết quả mà gắn liền với sự nên thánh. Dùng tập ghi chép của bạn đối với những câu trả lời của bạn.
a Cong Cv 13:39 ...............
b RoRm 5:1...................
c 5:9..................
d 5:10-11.....................
e 8:30......................
f 8:33-34...............
g Tit Tt 3:7...................
Sự cứu rỗi chính là món quà lớn nhất của Đức Chúa Trời làm cho chúng ta trở nên tạo vật mới trong Đấng Christ như Phaolô đã khẳng định trong IICo 2Cr 5:18-21 rằng:
“Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi. Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: Hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời”.

Bài tập trắc nghiệm
Câu hỏi chọn lựa. Chọn một câu trả lời hay nhất cho mỗi câu hỏi.
1 Trong sự công bình, sự công bình của Đức Chúa Trời vẫn duy trì dẫu rằng tội nhân được phán rằng “không tội lỗi” bởi vì.
a) Đức Chúa Trời bỏ qua tội lỗi của con người bởi tình yêu cao diệu của Ngài.
b) Bởi tình yêu thương Đức Chúa Trời đã ban cho một phương cách mà thông qua thập tự giá, tội lỗi của con người được chuyển sang Đấng Christ và sự công bình của Đấng Christ cũng được chuyển sang họ.
c) Đức Chúa Trời ban cho một phương cách chuyển đổi hầu cho con người được xưng là công bình bằng cách cho phép họ trả giá cho hình phạt tội lỗi của họ bằng những việc lành hầu chuộc tội lỗi.
2 Trong sự phán xét một tội nhân thì:
a) Thật sự không công bình dẫu rằng Đức Chúa Trời phán rằng người ấy công bình.
b) Được phán là công bình nếu tội nhân làm những việc lành.
c) Được phán là công bình bởi sự công bình của Đấng Christ đã được ban cho anh ta.
3 Sự phán xét không chỉ đem đến sự tha thứ tội lỗi mà còn
a) Phục hồi một người vào mối thông công và đặt để người ấy trong một vị trí của sự công bình với Đức Chúa Trời.
b) Sự bình an với Đức Chúa Trời và tự do khỏi sự định tội.
c) Đem đến lợi ích của cả a và b.
4 Sự dạydỗ rõ ràng của lời Kinh Thánh rằng một người được xưng công bình bởi
a) Chỉ đức tin mà thôi không bởi việc làm hay vâng giữ luật pháp.
b) Vâng giữ luật pháp trọn vẹn và có đức tin trong Đấng Christ .
c) Niềm tin thật, những ý định tốt và nhiều việc lành.
5 Sự xưng công bình dựa trên
a) Tình yêu của Đức Chúa Trời mà thôi
b) Ân điển của Đức Chúa Trời và thập tự giá của Đấng Christ.
c) Lòng ao ước của con người được ngay thẳng với Đức Chúa Trời.
6 Trong bài học vừa rồi, chúng ta thấy rằng dẫu rằng đức tin là nguồn của sự xưng công bình nó
a) Không có hiệu quả gì hơn những việc lành.
b) Chẳng có sự gì xứng đáng của chúng ta hơn là hành động của người ăn mày vươn tới để nhận một món quà.
c) Bị giới hạn bởi sự xứng đáng của con người là người tin nhận Đấng Christ.
7 Khi tội nhân chịu sự đoán phạt trước Đức Chúa Trời thánh khiết, họ cần
a) Sự đoán xét trọn vẹn
b) Họ cần nhiều việc lành để bổ sung cho sự khai trình của họ.
c) Sự thương xót
8 Theo như bài học của bạn nhiều người không phải là Cơ đốc nhân tin rằng nguồn của sự xưng công bình là:
a) Sự công bình của con người đến từ những việc lành.
b) Sự thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời không kể việc làm
c) Ý muốn độc đoán của Đức Chúa Trời tức là chỉ xưng công bình những người được chọn.
9 Nên xem ý nghĩa của sự xưng công bình là:
a) “Chỉ vì chúng ta chưa bao giờ phạm tội” .
b) “Vì cớ Ngài bỏ qua tội lỗi”.
c) “Như thể là tôi chưa từng phạm tội”.
10 Phạm vi của sự xưng công bình.
a) Thì vô hạn, giống như phạm vi của sự cứu chuộc.
b) Thì giới hạn cho những người cảm tạ nó và tiếp nhận sự ban cho của Đức Chúa Trời.
c) Thì giới hạn cho những người nghe Phúc âm

Trả lời câu hỏi nghiên cứu
11 Nó xảy ra bên ngoài chúng ta khi chúng ta được phán là công bình trước ngôi Đức Chúa Trời.
1 Cơn giận, làm dịu ((thỏa mãn), Đấng Christ, bao phủ, được làm dịu (xoa dịu), tội nhân.
12 Chúng xảy ra cùng một thời điểm.
2 Sự hy sinh của Đấng Christ cho thấy rằng Đức Chúa Trời là công bình và cùng một lúc phán rằng ai đặt đức tin trong Đấng Christ là công bình.
13 b Nếu một người được cứu bởi những việc làm vậy Đấng Christ chết là vô ích.
c thật là ngu dại nếu cố gắng tìm cách để được xưng là công bình bởi những việc làm của luật pháp.
d Những ai cố gắng tìm cách để được xưng là công bình bởi việc vâng giữ luật pháp thì sống dưới sự rủa sả.
e Người nào muốn cậy luật pháp để được xưng công bình thì đã lìa khỏi Đấng Christ.
3 Đức Chúa Trời là ngay thẳng và công bình khi Ngài tha thứ tội lỗi của chúng ta.
14 a Chúng ta không thể nói cách chính xác nhưng chắc chắn là ông không hơn 86 tuổi.
b Ông 99 tuổi
c Ông 100 tuổi
d Chúng ta không thể chắc chắn lắm, nhưng Ysác chắc vào khoảng 15 tuổi. Bởi vì cậu đủ lớn để vác gỗ lên trên núi (câu 6). Vậy thì Ápraham khoảng 115 tuổi
e Chúng ta không biết chính xác, nhưng có thể là khoảng 30 năm.
f Gia cơ biết rất rõ về lịch sử cuộc sống của Ápraham. Ông biết rằng Ápraham được xưng là công bình từ lúc ban đầu ( SaSt 15:6). Và ông khẳng định những việc sống bày tỏ rằng đức tin thật. Ápraham được xưng công bình bởi vì ông tin Đức Chúa Trời, và niềm tin của ông trong Đức Chúa Trời được xem thấy qua những hành động của ông.
4 a) Sự xưng công bình đề cập đến sự phán xét và hành động ...
15 a Sai c Đúng
b Đúng d Sai
5 Trong Cựu ước chỉ người vô tội mới được xem là “không tội lỗi”, trong khi đó thật là ngạc nhiên khi Tân ước cho rằng những tội nhân vô phương cứu chữa và gian ác thì được phán là công bình.
16 Câu trả lời của bạn. Tôi chú ý rằng trong những minh họa của mình, Phaolô cho thấy rằng Đavít nói đến sự xưng công bình chẳng bởi những việc làm. Ông đề cập đến phước hạnh mà người tội lỗi có được trong sự tiếp nhận lời tuyên phán “không tội lỗi” dựa trên nền tảng đức tin mà thôi. Ápraham tượng trưng cho vẻ đẹp của sự xưng công bình bởi đức tin chẳng bởi nghi thức, vì cớ ông được ấn chứng với sự công bình trước Đức Chúa Trời bởi đức tin của ông. Điều này xảy ra trước khi ông thực hiện nghi thức cắt bì. Những minh họa này cho thấy rằng đức tin là rễ và những công việc bông trái của sự xưng công bình.
6 a 6) Một giá phải trả cho sự vi phạm của nó
b 7) Đòi hỏi sự chết thay cho người phạm tội.
c 3) trả giá chuộc và làm thỏa mãn sự đòi hỏi của luật pháp .
d 4) Nhận sự tha thứ tội lỗi.
e 5) Ân điển cách nhưng không của Đức Chúa Trời mà trong đó Ngài tha thứ tội lỗi và công bố người tội nhân ăn năn là công bình dựa trên sự công bình của Đức Chúa Trời.
f 2) Chỉ riêng đức tin mà thôi
g 1) Chúng ta được phục hồi đặc ân và mối thông công với Đức Chúa Trời.
17 c) Đức Chúa Trời đã ban sự xưng công bình cho tất cả.

7 a Sai c Đúng
b Đúng d Đúng
18 a Đúng c Đúng
b Sai d Đúng

8 a) Không thể giải quyết bản chất tội lỗi của một người .....
19 Chúng ta phải có đức tin năng động hầu được xưng công bình.
9 a 2) Sự xưng công bình
b 1) Luật pháp
c 2) Sự xưng công bình
d 1) Luật pháp
e 2) Sự xưng công bình
f 1) Luật pháp
g 1) Luật pháp
20 Chúng ta có đức tin thông qua đọc và nghe lời Đức Chúa Trời.
10 a 1) Sự xưng công bình
b 2) Sự xưng công bình
c 3) Cả hai
d 1) Sự xưng công bình
e 2) Sự tái sanh.
21 a Một người được giải phóng ra khỏi tội lỗi mà luật pháp không thể giải thoát cho người đó.
b Chúng ta có sự bình an với Đức Chúa Trời.
c Chúng ta được cứu ra khỏi cơn giận của Đức Chúa Trời .
d Trước kia chúng ta là kẻ thù của Đức Chúa Trời thì nay đã được giảng hòa với Đức Chúa Trời.
e Vì cớ chúng ta được xưng công bình, chúng ta có sự đảm bảo cho sự vinh hiển.
f Chúng ta được giải phóng ra khỏi sự buộc tội và đoán phạt.
g Chúng ta trở nên con kế tự của Ngài, có sự trông cậy của sự sống đời đời.

BÀI 8:
ĐỨC CHÚA TRỜI ĐEM CON NGƯỜI VÀO TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGÀI: SỰ NHÌN NHẬN
Louis bị bỏ rơi bởi cha mẹ say xỉn của em. Em sống một đời sống khổ sở, sợ hãi và nhọc nhằn. Dần dần em trở nên lì lợm trong thái độ của em đối với người khác và cay đắng trong cách nhìn đời của em. Cơ quan xã hội của chính phủ đã đưa em vào một số các gia đình nhận nuôi dưỡng, nhưng do bởi tình trạng lì lợm của em, chẳng ai nuôi em được lâu. Nhiều gia đình khi biết về câu chuyện thương tâm của em đã tiếp nhận em nhưng cũng không nuôi em được bao lâu. Cuối cùng, ông bà Bumett quyết định tiếp nhận em làm con nuôi , và tất cả những giấy tờ hợp pháp được tiến hành để hoàn tất thủ tục tiếp nhận con nuôi. Tuy nhiên, tại thời điểm này dẫu rằng gia đình muốn tiếp nhận em làm con nuôi song lại không thể tiếp nhận em bởi vì ông Bumett đã qua đời một cách đột ngột.
Cuối cùng một gia đình khác đã nhận Louis và tiếp nhận em làm con nuôi. Em đáp lại tình yêu thương và sự quan tâm của gia đình dành cho em và lớn lên trở thành một người khéo đối xử, sau đó bước vào chức vụ. Ngày nay đời sống của cậu ta là một nguồn phước và là một nguồn an ủi cho những người khác. Tuy nhiên tất cả mọi sự chỉ bắt đầu khi cậu được tiếp nhận làm con trong một gia đình có lòng thương xót, yêu thương, vui vẻ đã ban cho cậu một nơi tiếp nhận trong xã hội.
Đức Chúa Trời đã thực hiện cũng giống như vậy cho chúng ta. Hơn thế nữa đó là tha thứ tội lỗi của chúng ta và ban cho chúng ta sự sống thông qua sự tái sanh. Ngài đã đặt chúng ta trong gia đình của Ngài như là những con trai và con gái cùng với tất cả những quyền và đặc ân kèm theo của địa vị làm con. Điều kỳ diệu cuả hành động tiếp nhận này đó là dẫu biết tình trạng ghê tởm, tội lỗi lầm lạc, nổi loạn của chúng ta nhưng Ngài vẫn ban cho chúng ta nguồn vui Thiên Thượng. Chẳng có ai trong chúng ta có thể ngờ rằng Ngài có thể cứu chuộc chúng ta, đặc biệt điều kỳ diệu đó là Ngài vẫn mãi tiếp nhận chúng ta. Ngài là Cha Thiên Thượng và chúng ta là con của Ngài ! Vì vậy, Ngài không xứng đáng để chúng ta ngợi khen và tận hiến cho mãi mãi hay sao?
Dàn ý bài học
Bản chất của sự tiếp nhận làm con
Thời điểm của sự tiếp nhận làm con
Kinh nghiệm của sự tiếp nhận làm con
Các mục tiêu bài học
Khi hoàn tất bài học này, bạn có thể:
Thảo luận sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự tiếp nhận vào trong gia đình của Đức Chúa Trời.
Mô tả mối quan hệ giữa sự tái sanh, sự xưng công bình và sự tiếp nhận làm con.
Giải thích những cách và những lợi ích của sự tiếp nhận làm con
Cảm nhận được tình yêu lớn lao và sự tốt lành của Đức Chúa Trời trong việc Ngài tiếp nhận chúng ta được làm con trong gia đình của Ngài.
Các họat động học tập
Hãy đọc Rôma 8, Galati và Êphêsô 1. Nếu có thể, bạn hãy đọc những chương này lần thứ nhất để nắm ý tổng quát và rồi đọc lại để hiểu từng chi tiết. Đặc biệt hãy chú ý những câu Kinh Thánh đề cập đến sự tiếp nhận làm con.
Nghiên cứu phần triển khai bài học theo như trình tự thường lệ của bạn. Khi bạn đã hoàn tất bài học, thì hãy làm bài tập trắc nghiệm và kiểm tra những câu trả lời của bạn.







Triển khai bài học

BẢn ChẤt CỦa SỰ TiẾp NhẬn Làm Con

Cũng giống như sự tái sanh và sự xưng công bình thì tiếp nhận làm con là một công việc của Đức Chúa Trời trong con người quay trở về với Đấng Christ. Nó đề cập đến “vị trí” của một người trong gia đình của Đức Chúa Trời và đề cập đến những “đặc ân” như là một trong những đứa con của Đức Chúa Trời. Như chúng ta thấy, mục đích của Đức Chúa Trời dành cho người trở về cùng Ngài thì còn nhiều hơn chứ không chỉ là sự giải thoát con người ra khỏi sự nô lệ. Mục đích của Ngài là để mọi người trở nên là những con trai, con gái của Ngài. Phaolô nói rằng: “Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, từ trước sáng thế . Bởi sự yêu thương của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Giêxu Christ” (Eph Ep 1:4-5).
Ý Nghĩa Của Sự Tiếp Nhận Làm Con
Từ Hylạp được dịch ra là “sự tiếp nhận làm con” thì không xuất hiện trong bản dịch Cựu ước tiếng Hylạp, nhưng nó cũng đề cập đến những ví dụ về sự tiếp nhận làm con. Những ví dụ này trong Cựu ước cho thấy rằng một số các phong tục tập quán thì rất phổ biến trong thời đại các tộc trưởng. Theo như những phong tục này, một người chồng và người vợ không con thì có thể tiếp nhận một đứa con nuôi để phụng sự họ trong cuộc sống và chôn cất họ khi họ qua đời. Vì cớ sự phụng sự này thì đứa con nuôi sẽ thừa hưởng gia tài trừ khi cha mẹ nuôi sau đó sanh một đứa con thật. Nếu điều này xảy ra, thì đứa con thật sẽ trở nên là người kế nghiệp và đứa con nuôi sẽ mất đi (rời bỏ) những quyền lợi của mình. Phong tục này có thể giúp chúng ta trong việc giải thích mối quan hệ của Ápraham và Êliêse (SaSt 15:2-4). Hơn thế nữa, nếu một người vợ không có khả năng sanh đẻ(son sẻ) thì người phải tìm một người nữ nô lệ để sanh con cho chồng của mình (xem 16:2). Nếu người nữ nô lệ mang thai, thì luật pháp nghiêm cấm người vợ đuổi người nữ nô lệ đi. Điều này có thể giúp giải thích sự buồn lòng của Ápraham đối với cách cư xử của sara (21:11-12).

2 Hãy đọc những câu Kinh Thánh Cựu ước dưới đây và cho biết trong mỗi trường hợp ai là người được tiếp nhận làm con.
a XuXh 2:10 .................................................................................
b IVua 1V 11:20 ......................................................................................
c EtEt 2:7, 15 .............................................................................................

Trong thời Cựu ước, quan niệm về quyền làm con thì quan trọng hơn quan niệm về sự tiếp nhận làm con. Cùng một thể ấy, được làm con bởi sự tái sanh Thiên Thượng là quan trọng hàng đầu, tuy nhiên quan niệm về sự tiếp nhận làm con thì cũng không loại trừ.

3 Hãy đọc SaSt 4:22-23; PhuDnl 14:1-2; 32:18-20; Gie Gr 31:9, OsHs 1:10; 11:1, MaMl 1:6; 3:17 và trả lời những câu hỏi sau.
a Trong những câu Kinh Thánh này, ai là những người con của Đức Chúa Trời?
........................................................................................................................
b Những câu Kinh Thánh nào nói đến quyền làm con bởi sự sanh?
..........................................................................................................................
c Những câu Kinh Thánh nào ngụ ý sự tiếp nhận như là những người con?
.........................................................................................................................
Chúng ta thấy rằng ý tưởng về sự tiếp nhận làm con thì không xa lạ gì đối với dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ Cựu ước. Tuy nhiên, những thông lệ về sự tiếp nhận làm con trong Cựu ước dưòng như không có trực tiếp liên quan đến sự dạy dỗ của Tân ước. Thay vì đó chính phong tục về sự tiếp nhận làm con của người Lamã gốc Hylạp dường như đã hình thành bối cảnh cho việc sử dụng thuật ngữ này của sứ đồ Phaolô, bởi vì nó đối chiếu sự tự do của một đứa con trong gia đình với sự trói buộc của một người nô lệ.
Sự tiếp nhận làm con là một thông lệ rất phổ biến trong cộng đồng của người Lamã gốc Hylạp. Nếu một người chồng và người vợ không có con, thì người chồng có thể nhận một đứa con nuôi là đứa con sẽ trở nên kẻ thừa kế của mình. Đứa con được tiếp nhận cũng có thể còn cha mẹ, nhưng điều này không ảnh hưởng gì đối với sự tiếp nhận làm con nuôi. Bởi vì thường có nhiều gia đình sẵn sàng cho những đứa con của họ hầu để cho con họ có những cơ hội tốt hơn trong cuộc sống. Tuy nhiên, một khi đứa trẻ đã được tiếp nhận làm con nuôi thì cha mẹ thật không còn quyền kiểm soát gì đối với đứa trẻ, trong khi đó cha mẹ nuôi hoàn toàn có quyền đối với đứa con nuôi của mình. Người cha nuôi điều chỉnh các mối quan hệ của con mình, kiểm soát bất cứ cái gì đứa con có hay kiếm được, và ông có quyền rèn luyện con của mình. Tuy nhiên người cha cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp lý đối với bất kỳ điều gì con của ông làm và ông được đòi hỏi phải cung cấp những nhu cầu của con ông.
Trở nên là một thành viên của một gia đình, có nghĩa là đứa trẻ được tiếp nhận phải trải qua sự huấn luyện mà đứa trẻ cần để trở nên thành công trong cuộc sống tương lai của nó. Đứa trẻ học tôn trọng người lớn và học đảm nhận trách nhiệm. Và thông qua yêu thích sự dạy dỗ bẻ trách, đứa trẻ học được những bài học có giá trị trong sự dạy dỗ để chuẩn bị nó cho những thử nghiệm và đòi hỏi của cuộc sống. Khi nó trưởng thành, nó cũng thụ đắc được những ân huệ của xã hội dành cho nó trong tuổi trưởng thành. Nói tóm lại, mối quan hệ của gia đình mới đem đến những thuận lợi lớn cho đứa con trai hay con gái được tiếp nhận làm con.
Sự dạy dỗ của Phaolô về sự tái sanh, sự xưng công bình, và sự tiếp nhận làm con phản chiếu ý tưởng của sự tiếp nhận làm con nuôi này. Ông mô tả quá trình mà thông qua đó Đức Chúa Trời đem con người ra khỏi trạng thái cũ của mình, đưa con người vào trong gia đình của Ngài bởi sự sanh mới , tha thứ con người về những hành động của đời sống cũ con người, và đặt để con người trong gia đình của Ngài như là một đứa con thật. Vì vậy đứa con tiếp nhận đã trở nên một chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời, cùng với những đặc ân và những trách nhiệm của nó. Và dĩ nhiên, tất cả thời gian, tài sản và sức lực của đứa con nên lệ thuộc vào sự kiểm soát của Đức Chúa Trời. Như vậy sự tiếp nhận làm con là hành động ân điển của Đức Chúa Trời mà qua đó Ngài xem những người tiếp nhận Chúa Giêxu Christ như là những con trai, con gái trong gia đình của Ngài, và Ngài ban cho họ tất cả những quyền và nghĩa vụ của người làm con.
4 Hãy khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu đúng
a Sứ đồ Phaolô phản ánh thói quen của phong tục trong Cựu ước về sự tiếp nhận làm con trong sự dạy dỗ của ông về sự tiếp nhận làm con.
b Trong cộng đồng người Lamã gốc Hylạp, thông lệ về sự tiếp nhận làm con thì khá phổ biến.
c Trong chế độ của người Lamã gốc Hylạp thì cha mẹ nuôi có quyền kiểm soát tuyệt đối đối với đứa con nuôi, và cũng phải cung cấp những nhu cầu của đứa con.
d Chúng ta trở nên chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời khi chúng ta chấp thuận tín lý về sự làm con.
e Chúng ta được xem như là con thật trong gia đình của Đức Chúa Trời bởi hành động của sự tiếp nhận khi chúng ta kinh nghiệm sự tái sanh.
Sự tiếp nhận làm con là một sự dạy dỗ quan trọng của Tân ước, dẫu rằng nó được đề cập chỉ trong một vài câu Kinh Thánh. Bởi vì quá liên quan chặt chẻ với sự tái sanh đến nỗi một số người có thể cảm thấy rằng phần thảo luận về nó thì ít quan trọng. Tuy nhiên, sự tiếp nhận làm con là một sự dạy dỗ quan trọng của Phaolô, và nó là một trong những sự dạy dỗ đẹp và cảm động trong Tân ước.
5 Hãy đọc mỗi câu Kinh Thánh dưới đây, câu nào nói đến sự tiếp nhận làm con. Hãy chú ý rằng, trong bối cảnh lúc bấy giờ của nó sự tiếp nhận làm con được đối chiếu với điều gì trong mỗi phân đoạn Kinh Thánh. Câu thứ nhất được làm mẫu cho.
a Rôma 8: 15 -16: đối chiếu với việc trở nên là một kẻ nô lệ ở trong sự sợ hãi.
b RoRm 8:20-23 ..............................................................................................
c RoRm 8:4:12 ...............................................................................................
d GaGl 4:3-7
e Eph Ep 1:5-7
Hãy chú ý trong RoRm 9:4 Phaolô nói đến mối quan hệ của dân Ysơraên đối với Đức Chúa Trời như là một đứa con được tiếp nhận như thế nào. Từ thứ tự mà ông đặt để sự tiếp nhận làm con trong câu Kinh Thánh này chúng ta thấy rằng tất cả những phước hạnh đều tuôn ra từ mối tương quan đặc biệt của dân Ysơraên đối với Chúa. Sự ngầm chỉ đặc biệt ở đây là đối với dân tộc Ysơraên. Tuy nhiên theo quan điểm về sự dạy dỗ của Tân ước thì Hội Thánh là dân Ysơraên thật, nó cũng thích hợp cho chúng ta thấy những nguyên tắc thực hiện tương tự trong mỗi câu Kinh Thánh. Như vậy, trong một phương diện thì mối tương giao đặc biệt của chúng ta với Đức Chúa Trời là nền tảng cho chúng ta nhận lãnh tất cả những phước hạnh mà Ngài ban cho. Ngài sẽ chẳng từ chối đều gì tốt lành cho con cái Ngài? (Xem Thi Tv 84:11). Phaolô nói rằng : “Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta hay sao? (RoRm 8:32) và trong khi chúng ta không biết điều gì tốt nhất cho chúng ta, thì Đức Chúa Trời làm tất cả mọi điều trở nên tốt cho những kẻ yêu mến Ngài - những kẻ Ngài đã tiếp nhận làm con (RoRm 8:28). Song, chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng những phước hạnh mà chúng ta nhận lãnh không phải ban cho chúng ta vì cớ chúng ta xứng đáng hay chúng ta có thể kiếm được chúng.
6 Hãy đọc LuLc 17:7 -10. Trong tập ghi chép của bạn, hãy viết thái độ của chúng ta đề cập đến công việc của chúng ta cho Chúa như thế nào?
Với tư cách là những người con được tiếp nhận, chúng ta nhận thấy rằng tất cả những nỗ lực của chúng ta đều chẳng xứng đáng đối với tình yêu cao vời mà Ngài đã bày tỏ trong việc đem chúng ta vào trong gia đình của Ngài và xem chúng ta như là con của Ngài. Hơn thế nữa,những đặc ân của mối quan hệ vẫn diễn tiếp khi Cha Thiên Thượng của chúng ta đáp ứng những nhu cầu của chúng ta.
Ông bà Potter nhận một em bé trai trẻ tuổi từ quốc gia khác làm con nuôi. Ông bà đặt tên cho em là Đan, và dĩ nhiên Đan cũng mang họ của gia đình trong quá trình được tiếp nhận, Đan hoàn toàn hòa nhập vào cuộc sống gia đình và em được đối xử cùng với tất cả những quyền và đặc ân thuộc con cái của gia đình Potter. Gia đình Potter chịu trách nhiệm pháp lý đối với Đan. Họ cũng tạo điều kiện cho em thụ đắc một chương trình giáo dục tốt ở trung học và tạo điều kiện cho em theo học đại học. Với địa vị là người con được tiếp nhận, Đan được lo lắng chu đáo trong việc ăn mặc và vào những dịp đặc biệt ví dụ như ngày sinh nhật và Giáng sinh, em cũng được nhớ tới cũng giống như tất cả những thành viên khác trong gia đình. Nói tóm lại, em được hưởng tất cả những đặc ân của gia đình nhờ vào mối quan hệ được tiếp nhận làm con. Tuy nhiên đây là một minh họa rất nghèo nàn về tình yêu mà Cha Thiên Thượng đã minh chứng trong việc cứu rỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở nên kẻ thừa kế những lời hứa của Ngài, và mỗi ngày ban cho chúng ta những phúc lợi.
7 Hãy khoanh tròn ký tự của phần giải thích đúng về từ “ sự tiếp nhận làm con” như nó được dùng trong bối cảnh Tân ước
a sự tiếp nhận là hành động hợp pháp mà qua đó một người trở nên là con của Đức Chúa Trời.
b Những ai trở nên con của Đức Chúa Trời thông qua sự tái sanh thì được đặt trong vị trí của con thật bởi sự tiếp nhận làm con.
c Sự tiếp nhận làm con nói đến hành động của một người nào đó quyết định tiếp nhận một hướng đi mới của cuộc đời bằng cách đi theo con đường của Đức Chúa Trời.
ThỜI ĐiỂm CỦa SỰ TiẾp NhẬn Làm Con.
Mục tiêu 2: Giải thích ý nghĩa của 3 giai đoạn của sự tiếp nhận làm con .
Sự tiếp nhận làm con xảy ra trong 3 giai đoạn. Thứ nhất, chúng ta thấy rằng đó là “giai đoạn trong quá khứ”. Trong Eph Ep 1:4-6 Phaolô nói rằng: “Trước khi sáng thế......Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài trong Chúa Giêxu Christ, theo ý tốt của Ngài, để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong con yêu dấu của Ngài.
8 Hãy đọc lại 1:4-6 và trả lời những câu hỏi sau.
a Ai là người chọn chúng ta? ...............................................................
b Ai là những người được chọn làm con?
c Ai là người làm cho sự chọn lựa đó được thực hiện?
d Nguồn của sự chọn lựa làm con là gì?
e Mục đích của sự chọn lựa làm con là gì?
Hãy chú ý rằng Đức Chúa Trời là động lực quan trọng đầu tiên trong sự tiếp nhận làm con. Nó phát sinh từ tình yêu theo ý muốn của Ngài, trở về cùng Ngài trong một gia đình được tiếp nhận, và kết thúc trong sự khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài. Hãy chú ý ở cuối câu 4 và 5 rằng sự định trước của Đức Chúa Trời từ trước vô cùng để tiếp nhận chúng ta làm con của Ngài thì dựa trên tình yêu của Ngài. Chính tình yêu của Ngài đã thúc đẩy quyết định từ trước vô cùng đi đến trước tiếp nhận chúng ta làm con. Và vì cớ sự tiếp nhận làm con đến bởi ân điển ban cho cách nhưng không của Ngài mà tất cả sự xứng đáng của con người đều bị loại bỏ.
Chúng ta thấy trong câu Kinh Thánh này rằng trong khi sự tiếp nhận làm con đem đến những đặc ân kỳ diệu thì nó cũng bao gồm những trách nhiệm: “ Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời.” (Eph Ep 1:4). Nếu chúng ta xưng rằng Đức Chúa Trời là Cha Thiên Thượng của chúng ta vậy thì chúng ta phải sống như thế nào hầu cho Ngài không bị thổ thẹn khi gọi chúng ta là con. Kinh nghiệm về sự tiếp nhận làm con còn mang nhiều ý nghĩa hơn chỉ là sự đảm bảo vào Nước Thiên đàng. Nó đòi hỏi chúng ta cho phép Đức Chúa Trời minh chứng rằng chúng ta là những con trai, con gái vâng phục khi chúng ta phản chiếu sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 4:6). Bạn sẽ có ấn tượng như thế nào khi một người luôn luôn mặc đồ trắng, sạch sẽ mà lại chẳng bao giờ tắm? sự mâu thuẫn của con người chắc chắn không đem lại ý nghĩa gì cả phải không? Cũng vậy càng trở nên mâu thuẫn hơn nữa nếu một người xưng công nhận sự công bình của Đấng Christ nhưng lại sống theo một phong cách không xứng đáng với quyền làm con Cơ đốc của mình.
9 Ý nghĩa của giai đoạn quá khứ của sự tiếp nhận làm con là:
a) thời gian của một sự dạy dỗ làm tăng giá trị của sự dạy dỗ đó.
b) nó cho thấy rằng chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời (bao gồm cả sự tiếp nhận làm con) là bất diệt.
c) chúng ta có thể thấy chương trình bắt đầu trong thời Cựu ước như thế nào.
Vậy thì cũng có “giai đoạn hiện tại”: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời” (IGi1Ga 3:2) cũng hãy chú ý rằng trong GaGl 4:6 Phaolô dùng thì hiện tại: “anh em là con”. Sự kiện về quyền làm con ngay hiện tại của chúng ta chắc chắn thực hiện nhiều điều cho chúng ta. Trước hết, nó giải phóng chúng ta ra khỏi những sự nghi ngờ về tương lai. Chúng ta không phải đợi đến khi chúng ta đứng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời rồi mới biết có phải chúng ta là con cái Ngài hay không. Dựa trên uy quyền lời của Ngài và bởi chính Đức Thánh Linh ngay bây giờ chúng ta biết rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.(RoRm 8:16).
Điều thứ 2, nó nhắc nhở chúng ta điều cần thiết của cuộc sống trong trần gian này đó là phải làm sao cho phù hợp vơí địa vị của chúng ta là con Đức Chúa Trời.Giăng nói rằng ai có sự trông cậy đó trong lòng,thì tự mình làm nên thanh sạch, Cũng như Ngài là thanh sạch (IGi1Ga 3:3),
trong khi đó Phaolô thúc giục chúng ta “nói” “không” đối với những ham muốn không theo ý muốn Đức Chúa Trời và những dục vọng của trần gian, và phải sống ở đời nầy theo tiết độ, công bình, nhơn đức” (Tit Tt 2:12). Vì vậy đời sống theo ý muốn Đức Chúa Trời là thích hợp cho con cái Đức Chúa Trời.
Hãy nghiên cứu cẩn thận RoRm 8:14-17; GaGl 4:4-7. Những câu Kinh Thánh này nói đến sự tiếp nhận làm con trong kinh nghiệm hiện tại. Chúng ta thấy rằng sự tiếp nhận làm con đã giải phóng chúng ta ra khỏi sự nô lệ, giúp chúng ta xem Đức Chúa Trời như cha và làm chúng ta trở nên kẻ kế nghiệp của Đức Chúa Trời. Thật sự trước kia chúng ta bị nô lệ bởi tội lỗi, Satan và bản ngã. Chúng ta bị ám ảnh bởi sự sợ hãi, đặc biệt là sợ hãi về sự chết (HeDt 2:14-15) vì cớ chúng ta biết rằng sự phán xét đang chờ đón chúng ta. Song Đấng Christ đã đến để cứu chuộc chúng ta ra khỏi sự trói buộc của tội lỗi, phó mạng sống Ngài để trả giá chuộc và giải phóng chúng ta hầu cho chúng ta được trở nên con của Đức Chúa Trời. Vì vậy, chúng ta không còn phải sống trong sự sợ hãi nữa. Chẳng có sự chết cũng chẳng còn thấy Đức Chúa Trời như là một hung thần đáng sợ.
10 Hãy đọc 12:28. Chúng ta “sợ” Đức Chúa Trời theo nghĩa nào?

Song, chúng ta không phải “khiếp sợ” Đức Chúa Trời. Sợ theo nghĩa này thì không làm Ngài đẹp lòng, bởi vì sự sợ hãi này phát sinh từ tội lỗi và phải chịu hình phạt. Tuy nhiên, khi đời sống của chúng ta ở trong sự yêu thương của Đấng Christ, thì tình yêu của Ngài được nên trọn vẹn trong chúng ta. (IGi1Ga 4:16-19). Chúng ta có thể “vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng” (HeDt 4:16).
Sự tiếp nhận làm con cho phép chúng ta gọi trực tiếp Đức Chúa Trời là “Aba, là Cha” (RoRm 8:15; GaGl 4:6) Sự biểu lộ này mang âm vang của sự quen thuộc, trìu mến phát sinh từ tình yêu, sự ngưỡng mộ, và sự cảm tạ của chúng ta đối với Cha Thiên Thượng. Vì vậy, khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta kinh nghiệm được sự êm dịu của Ngài đảm bảo rằng chúng ta là con của Ngài và vì vậy Ngài yêu chúng ta. Đức Thánh Linh dẫn dắt chúng ta trong sự thờ phượng đúng đắn với Cha Thiên Thượng. Đức Thánh Linh giúp chúng ta có thể đến với Cha Thiên Thượng một cách mạnh dạn và yêu thương theo như ý muốn của Ngài (RoRm 8:15-17, 26-27)
Một lợi ích hiện tại khác nữa của sự tiếp nhận làm con đó là chúng ta trở nên những kẻ kế nghiệp của Đức Chúa Trời và dẫu rằng chúng ta chưa nhận lãnh gia tài trọn vẹn của chúng ta song chúng ta vẫn là những kẻ kế nghiệp. Phaolô nói rằng chính Đức Chúa Trời đã biệt riêng chúng ta và đã lấy ấn Ngài mà đóng cho chúng ta, và ban của tin Đức Thánh Linh trong chúng ta. (IICo 2Cr 1:21; 5:5) Đức Thánh Linh trong đời sống của chúng ta là dấu ấn chứng rằng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời, Phaolô công bố rằng kinh nghiệm về Đức Thánh Linh là một kinh nghiệm đầu tiên về những phước hạnh của Thiên đàng, và nó là của tin, vật làm tin mà một ngày kia những kẻ được cứu chuộc sẽ thừa hưởng trọn vẹn những phước hạnh của Đức Chúa Trời.
11 Hãy khoanh tròn mẫu tự của những câu đúng:
a Một trong những phước hạnh của giai đoạn hiện tại của sự tiếp nhận làm con đó là sự nhận biết rằng chúng ta là con của Đức Chúa Trời.
b Sự hiểu biết về sự tiếp nhận làm con của chúng ta khiến chúng ta an nghỉ bởi vì chúng ta không cần quan tâm về cách cư xử hiện tại của chúng ta.
c “Sợ” Đức Chúa Trời có nghĩa là tôn kính và kính trọng Ngài.
d Sự tôn kính của chúng ta là dấu ấn chứng rằng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời.
e Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Đức Thánh Linh để đảm bảo rằng di sản trọn vẹn của chúng ta chờ đón chúng ta.
Sự tiếp nhận làm con cũng có “một giai đoạn tương lai”. Nó không phải hoàn tất ở hiện tại. Chúng ta đang sống trong thời kỳ đầu của sự vinh hiển và sự vinh hiển đó sẽ ban cho chúng ta khi Đấng Christ trở lại, và sau đó chúng ta sẽ nhận thức trọn vẹn những lợi ích về quyền làm con.
12 Hãy đọc RoRm 8:23 sự tiếp nhận làm con đề cập đến điều gì trong câu Kinh Thánh này.
.............................................................................................................................
Trong RoRm 8:18-23, Phaolô vẽ ra một bức tranh rất đẹp. Ông nói bằng khải tượng của một tiên tri.Ông thấy mọi tạo vật đang chờ đợi sự vinh hiển hầu đến. Ngay hiện tại, ông chỉ ra rằng muôn vật đang trong sự hư nát. Nó đang mong đợi quyền lực tội lỗi bị phá vỡ, sự hư nát và sự chết bị xua tan đi, và sự giải phóng ra khỏi những ảnh hưởng của sự nguyền rủa (rủa sả). Cũng giống như tự nhiên, Cơ đốc nhân chúng ta đang mong mỏi sự giải thoát ra khỏi trần thế hiện tại cùng với tất cả những giới hạn vật chất của nó, sự đau khổ, và sự chết. Dẫu rằng hiện nay thân thể vật lý của chúng ta bị hư nát (IICo 2Cr 4:16). Tuy nhiên, thông qua kinh nghiệm về Đức Thánh Linh chúng ta đã nhận lãnh được của tin về sự vinh hiển tương lai. Song chúng ta khao khát sự nhận thức trọn vẹn về sự tiếp nhận vào trong gia đình của Đức Chúa Trời có ý nghĩa gì.
SÁNG TẠO
CHỜ ĐỢI SỰ
GIẢI THOÁT
Giai đoạn cuối cùng của sự tiếp nhận sẽ là sự tiếp nhận thân thể của chúng ta. Phaolô không xem xét một người trong địa vị vinh hiển là một tâm linh tách ra khỏi cơ thể (IICo 2Cr 5:1-5). Một người trong trần gian hiện tại này là một thể xác và một tâm linh; và trong sự vinh hiển thì cả thể xác và tâm linh con người sẽ được cứu. Tuy nhiên, thân thể được vinh hiển sẽ không còn bị lệ thuộc vào sự hư nát và sự thúc đẩy của tội lỗi nữa. Nó sẽ là một thân thể thiêng liêng vinh hiển thích hợp với đời sống của một con người thiêng liêng: “Chúa Jêsus Christ ....sẽ biến hóa thân thể hèn mọn của chúng ta giống như thân thể vinh hiển Ngài” (Phi Pl 3:20-21). Cũng hãy xem trong ICo1Cr 15:35-54. Khi sự tiếp nhận của chúng ta được hoàn tất, thì thân thể của chúng ta sẽ trải qua một sự biến hóa kỳ diệu. Bởi vì cớ nhờ vào giai đoạn tương lai của sự tiếp nhận này mà chúng ta cùng với Phaolô sẽ vui mừng hưởng sự sống trong Đấng Christ đó là sự sống của sự giải phóng, của sự phục hồi, của tân tạo vật được tạo nên bởi sự vinh hiển và quyền năng của Đức Chúa Trời khi đề cập đến sự biến hóa trong tương lai mà chúng ta sẽ trải qua, Phaolô nói rằng: “Đấng đã gây dựng chúng ta cho được sự ấy, ấy là Đức Chúa Trời, đã ban cho của tin của Đức Thánh Linh cho chúng ta” (IICo 2Cr 5:5).
Trong sự tiếp nhận làm con, ân điển của Đức Chúa Trời tuôn đổ giống như tuôn ra từ cõi đời đời đúng thời điểm và rồi chảy ngược lại vào cõi đời đời. Và sự ân điển của Ngài giống như một sự kiện mạnh mẽ đã bao bọc chúng ta và đem chúng ta đến mục tiêu của những phước hạnh tương lai và sự vinh hiển cùng sự trọn vẹn.
13 Hãy giải thích ý nghĩa quan trọng của 3 giai đoạn của sự tiếp nhận làm con. Viết câu trả lời này trong tập ghi chép của bạn
KINH NGHIỆM VỀ SỰ TIẾP NHẬN LÀM CON
Các phương cách của sự tiếp nhận
Mục tiêu 3: Chọn một câu chỉ ra các phương cách của sự tiếp nhận .
Cũng có thể bạn sẽ hỏi rằng sự tiếp nhận làm con xảy ra như thế nào? và đối với câu hỏi này tôi sẽ trả lời, sự tiếp nhận làm con được đem đến bởi Đức Chúa Trời thông qua hành động của Đức Thánh Linh khi con người đáp ứng vào lẽ thật của Phúc âm.
Nhiệm vụ của một người trong sự tiếp nhận làm con là hãy “tin” Chúa Giêxu Christ và “tiếp nhận” Ngài. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy trước đây, niềm tin này bao gồm con người trọn vẹn, tri thức, xúc cảm và ý chí. Nó bao gồm sự nhận biết về lẽ thật của Phúc âm (GiGa 8:32) và chấp thuận Phúc âm (RoRm 10:10). Và để tiếp nhận Chúa Giêxu cũng như phó thác trọn vẹn đời sống của một người cho Ngài thì đòi hỏi một “hành động rõ ràng của ý chí”. Đức tin mà chúng ta minh chứng trong sự tin nhận và tiếp nhận không sanh ra sự tiếp nhận làm con; tuy nhiên nó hình thành nên giai đoạn cho sự tiếp nhận làm con (GaGl 3:26) Giăng nhấn mạnh thêm rằng: “Hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (GiGa 1:12)
Dĩ nhiên vai trò của Đức Chúa Trời trong sự tiếp nhận làm con là quan trọng. Sự đáp ứng của một người đối với sự cứu rỗi Ngài ban đã tạo cơ hội cho Ngài bắt đầu công việc biến hóa của Ngài. Trong giây phút, Ngài tha thứ tội lỗi, chuyển giao cho bản chất mới, ban cho một vị trí mới trước Ngài và tiếp nhận một địa vị mới trong gia đình của Ngài. Khi Đức Thánh Linh làm cho chúng ta có quyền thật sự làm con, thì chúng ta có thể thưa cùng với Đức Chúa Trời, “Aba, là Cha”(RoRm 8:15) trong một cảm xúc kinh ngạc và kỳ diệu. Địa vị được tiếp nhận làm con và quyền làm con mới của chúng ta không phải là kết quả của điều gì xứng đáng trong chúng ta. Song, đó chính là tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời đã đem chúng ta vào gia đình của Ngài là nơi không có sự khác biệt hoặc sự tương phản, “tại đây không còn chia ra người Giu đa hoặc người Gờ réc, không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ, không còn đờn ông hoặc đờn bà, vì trong Đức Chúa Jêsus Christ anh em hết thảy đều làm một”(GaGl 3:28). và thông qua Linh của Đấng Christ trong lòng, tất cả mọi người đều cùng nhau gọi”Aba, là Cha(GaGl 4:6).
14 Hãy chọn một câu dưới đây chỉ ra đúng các phương cách của sự tiếp nhận làm con.
a) Trước hết, các phương cách của sự tiếp nhận làm con đó là kết quả của những nỗ lực và ao ước của một người nào đó.
b) Ân điển thu hút của Đức Chúa Trời là các phương cách của sự tiếp nhận làm con mà thông qua đó tất cả những người mà Đức Chúa Trời chọn lựa đều được trở nên con của Ngài mà không liên quan đến bất kỳ quyết định nào trong bổn phận của họ.
Tội nhân tiếp nhận sự tha thứ Con tiếp nhận địa vị
Sự tái sanh và sự tiếp nhận làm con đề cập đến bản thể của chúng ta trong gia đình của Đức Chúa Trời. Sự tái sanh là kinh nghiệm đưa chúng ta vào trong gia đình của Đức Chúa Trời; sự tiếp nhận làm con tiếp theo sau và ban cho chúng ta địa vị làm con thật. Vị trí độc nhất mà chúng ta có được ngay tại thời điểm tái sanh là: được sanh bởi Đức Chúa Trời và vì vậy được trở nên là con hợp pháp của Ngài, chúng ta được tấn tới trong mối tương giao và trách nhiệm đối với địa vị của người con thật. Tuy nhiên tất cả những kinh nghiệm của thời niên thiếu và thành viên thông thường trong cuộc sống của nhân loại thì đều bị loại trừ trong quyền làm con thuộc linh, và kết quả là chúng ta ngay tức khắc được giải thoát ra khỏi những kẻ hành hạ hay là những kẻ cai trị chúng ta và chúng ta có bổn phận sống đời sống thuộc linh nhiều khía cạnh của người con thật trong gia đình của Đức Chúa Trời trong Vương Quốc thiêng liêng, không có thời kỳ niên thiếu vô trách nhiệm. Những câu Kinh Thánh vạch tỏ rằng không có sự phân biệt trong cách cư xử giữa những tín hữu trong đời sống Cơ đốc nhân và những tín hữu trưởng thành. Những gì mà Đức Chúa Trời phán cùng những tín hữu trưởng thành và vững vàng, thì Ngài cũng phán với tất cả những tín hữu khác,ngay những người mới được sanh lại. Sợ rằng chúng ta sẽ hiểu sai về những trách nhiệm này vì cớ sự ám chỉ của Phaolô đối với những người Côrinhtô như “là con đỏ trong Đấng Christ” (ICo1Cr 3:10), chúng ta phải nhận thấy rằng những Cơ đốc nhân Côrinhtô là những con đỏ vì cớ những ham muốn xác thịt chứ không phải vì thời gian họ trở nên là những Cơ đốc nhân được bao lâu. Vì vậy với tư cách là con thật, chúng ta ngay lập tức là những kẻ thừa kế của Đức Chúa Trời và thừa hưởng phần thừa kế cùng với Chúa Giêxu Christ và địa vị đặc ân này giúp chúng ta thừa hưởng được những phước hạnh và những lợi ích ngay tức thời như chúng ta sẽ thấy.
15 Hãy nhận ra những sự giống nhau và khác nhau giữa những đặc tính của sự tiếp nhận làm con, sự xưng công bình, và sự tái sanh bằng cách khoanh tròn những câu trả lời đúng.
a Sự xưng công bình và sự tiếp nhận làm con được xem như là những hành động pháp lý bởi vì chúng bao gồm sự thi hành về sự công bình của Thiên Thượng.
b Sự xưng công bình đem đến địa vị “công bình” cho người tin vào Đấng Christ, còn sự tiếp nhận làm con đem đến cho người đó địa vị của người con thật.
c mối tương giao bao gồm trong sự xưng công bình đo, mối tương giao của một người cha đối với một người con, trong khi đó trong sự tiếp nhận làm con mối quan hệ đó là quan hệ của một vị quan án công bình đối với một tội nhân “lầm lỗi”
d cả sự tiếp nhận làm con và sự tái sanh liên quan đến bản thể của tín hữu trong gia đình của Đức Chúa Trời.
e sự tiếp nhận làm con đưa chúng ta vào trong gia đình của Đức Chúa Trời và sự tái sanh đem đến cho chúng ta địa vị làm con thật.
f trong khi sự tái sanh là một hành động tức thời, thì sự tiếp nhận làm con đòi hỏi một thời gian thử thách, bởi vì qua thử thách thì mới biết đứa con được tiếp nhận có xứng đáng đối với những phúc lợi của quyền làm con hay không.
Những Phước Hạnh Của Sự Tiếp Nhận Làm Con
Mục tiêu 5: Nhận ra những câu mô tả những phước hạnh của sự tiếp nhận làm con .
Sự tiếp nhận làm con đem đến những phúc lợi mà chúng ta thường gọi là “những phước hạnh”. Một trong những phước hạnh lớn nhất đó là sự làm chứng của Thánh Linh Đức Chúa Trời với linh của chúng ta bày tỏ rằng quyền làm con của chúng ta là thật và đảm bảo cho chúng ta về tình yêu và sự quan tâm của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta (RoRm 8:15). Tuy nhiên cũng còn nhiều lợi ích nữa.
16 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và hãy liệt kê những ảnh hưởng của sự tiếp nhận làm con.
a Mat Mt 7:9-11
b Thi Tv 23:1
c 144:1-2
d GiGa 14:26
e HeDt 12:7
f 4:14-16
g RoRm 8:17
Hãy chú ý rằng tất cả những kết quả trên về sự tiếp nhận làm con đều là những kinh nghiệm hiện tại cũng chú ý rằng sự nhấn mạnh về những gì Đức Chúa Trời thực hiện. Một số những sự ban cho khác mà phát sinh từ sự tiếp nhận làm con là:
1. Cha của chúng ta ban đầy đủ mọi sự cần dùng của chúng ta y theo sự giàu có của Ngài (Phi Pl 4:19).
2. Ngài giải cứu chúng ta ra khỏi sự trói buộc của luật pháp (GaGl 4:4-5)
3. Ngài giải cứu chúng ta ra khỏi sự sợ hãi (RoRm 8:15; IITi 2Tm 1:7)
4. Ngài đem chúng ta vào mối thông công với chính Ngài (IGi1Ga 1:3).
Những phước hạnh này và vô số những phước hạnh khác đều đáp ứng trực tiếp vào những nhu cầu cơ bản của tín hữu.
Trong sự tiếp nhận làm con Đức Chúa Trời dự định đem sự vinh hiển cho danh Ngài. Trong sự tiếp nhận làm con, Ngài bày tỏ ân điển và tình yêu thương của Ngài. Thật sự tất cả những điều Đức Chúa Trời thực hiện trong sự cứu rỗi chúng ta sẽ đem đến sự vinh hiển cho danh Ngài. Và có lẽ sự vinh hiển của Ngài không ở đâu rõ hơn trong những phước hạnh tuôn đổ ra từ sự tiếp nhận làm con.
17 Hãy khoanh tròn ký tự của những câu mà không mô tả những phước hạnh của sự tiếp nhận làm con.
a) Chúng ta nhận lãnh tất cả những sự thương cảm chăm sóc và thương xót của Cha cũng như những điều thiết yếu của đời sống tự nhiên và thuộc linh.
b) Chúng ta nhận lãnh sự bảo vệ, hướng dẫn, và sự sửa trị phát sanh từ tình yêu của Ngài dành cho chúng ta và chúng ta nhận lãnh sự đảm bảo về quyền làm con nữa.
c) Chúng ta có lòng tin và sự gan dạ khi chúng ta bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và chúng ta trở nên là những kẻ thừa kế của Đức Chúa Trời và thứa hưởng phần thừa kế với Ngài.
d) Chúng ta được đảm bảo rằng một khi chúng ta được tiếp nhận làm con thì chúng ta chắc chắn có sự sống đời đời cho dẫu lối sống của chúng ta tốt hay xấu sau khi được tiếp nhận làm con.
Những Minh Chứng Của Sự Tiếp Nhận Làm Con
Mục tiêu 6: Cho những ví dụ về minh chứng biểu hiện bên trong và bên ngoài của sự tiếp nhận được làm con của chúng ta .
Về cơ bản, sự tiếp nhận con là một công việc khách quan, bởi vì nó xảy ra bên ngoài chúng ta. Trước hết, chúng ta dựa trên Lời Đức Chúa Trời để thẩm tra về sự kiện về quyền làm con của chúng ta. Như vậy, nó là minh chứng quan trọng bên ngoài của địa vị làm con của chúng ta. Hơn nữa, sự tiếp nhận làm con càng trở nên rõ ràng hơn cho chúng ta bởi những điều mà chúng ta kinh nghiệm bên trong và minh chứng bên ngoài của chúng ta.
18 Hãy xem mỗi câu Kinh Thánh sau và liệt kê những minh chứng của sự tiếp nhận làm con mà nó đề cập đến .
a RoRm 8:4; GaGl 5:18
b 4:5-6
c Eph Ep 3:12
d IGi1Ga 2:9-11; 5:1
e 5:1-3
Dẫu rằng không ai trong chúng ta là hoàn hảo trong việc chứng minh những chứng cứ này, nhưng chúng ta sẽ tiếp tục tăng trưởng trở nên giống như Ngài khi chúng ta bước đi trong Thánh Linh và được dẫn dắt bởi Ngài (RoRm 8:15-16). Sự biến đổi dần dần này trong chúng ta sẽ là một minh chứng rõ ràng rằng chúng ta là con của Ngài.
Sự nhận biết các bạn là một thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời sẽ khiến cho bạn biết ơn và vui mừng mãi mãi. Sự nhận biết này cũng khiến bạn đi đến một sự hứa nguyện chắc chắn : bởi ân điển của Đức Chúa Trời, tôi sẽ chẳng bao giờ làm bất cứ điều gì đem đến sự hổ thẹn cho gia đình của Đức Chúa Trời. Nguyện các bạn sẽ mang lấy danh Ngài trong sự xứng đáng và vinh dự, đừng bao giờ quên rằng bạn là chức thầy tế lễ của nhà vua với mục đích là bày tỏ sự ngợi khen, Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài (IPhi 1Pr 2:9).
19 Cho một ví dụ về một vài điều mà xác nhận bên trong chúng ta rằng sự tiếp nhận được làm con của chúng ta là bởi Đức Chúa Trời.
20 Cho một ví dụ của một chứng cớ (minh chứng) bên ngoài rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời. Viết câu trả lời này trong tập của bạn.
Tín lý về sự tiếp nhận làm con gợi nhớ đến trường hợp của John và Joan Murphy cặp vợ chồng không con. Khi gia đình Murphy được yêu cầu có muốn nhận một đứa bé sanh bởi một người nữ trẻ không có đủ khả năng chăm sóc làm con nuôi hay không thì họ đã cưới nhau hơn 10 năm rồi. Họ được đảm bảo rằng đứa bé được sanh ra từ một gia đình rất đặc biệt. Gia đình Murphy tiếp nhận lời yêu cầu và rất vui mừng, và tin chắc rằng đây là câu trả lời cho sự cầu nguyện của họ. Họ vui mừng chia xẻ tin mừng với những người bạn của họ. Khi cháu gái Beth được sanh ra, cháu bé dường như là hoàn hảo. Tuy nhiên, trong một vài giờ đồng hồ thì vị bác sĩ đỡ đẻ cho cháu bé gọi điện thoại cho gia đình Murphy và thành thật nói với họ rằng cháu Beth bị nứt vòm miệng - dị dạng trong miệng. Ông hỏi: “Ông bà vẫn muốn tiếp nhận cháu bé chứ?” không do dự John trả lời rằng “vâng! chúng tôi đã nói với tất cả mọi người rằng cháu Beth là câu trả lời cho sự cầu nguyện của chúng tôi một món quà của Đức Chúa Trời. Và dẫu rằng có sự dị dạng, chúng tôi vẫn yêu thương cháu”. Tuy nhiên trước khi gia đình Murphy đến để nhận cháu bé, thì sự chống đối nảy sinh về quyền hợp pháp cho sự tiếp nhận làm con, bởi vì gia đình Murphy sống trong một tiểu bang khác với tiểu bang mà cháu Beth được sinh ra. Vị Mục sư của gia đình Murphy người giúp đỡ dàn xếp cho sự tiếp nhận làm con đã đến viên trưởng lý là cơ quan quyền lực pháp lý cao nhất của tiểu bang để xin cố vấn.
Từ nơi vị trưởng lý ông biết rằng nếu gia đình Murphy ngay lập tức đem cháu bé về nhà của họ thì sẽ không còn sự ngăn cản pháp lý đối với sự tiếp nhận làm con. Vì vậy gia đình Murphy đã chạy vào nhà thương và nhận cháu Beth làm con của họ. Trong vòng vài tháng cháu Beth trải qua cuộc giải phẫu để chỉnh lại vòm bị nứt. Cuộc giải phẫu thành công và cháu Beth hoàn toàn bình thường.
Trong câu chuyện này, chúng ta thấy một hình ảnh minh họa về tình yêu của Đức Chúa Trời là Đấng đã tiếp nhận chúng ta khi chúng ta bị hư mất, vô hy vọng, không xứng đáng và bị buộc tội chết. Chúng ta bị bại hoại bởi bản chất xác thịt, không có những điều trọn vẹn mà Đức Chúa Trời mong muốn. Song Ngài yêu thương chúng ta và kéo chúng ta về với chính Ngài. Và dẫu rằng, khi Ngài đem chúng ta đến với Ngài thì kẻ thù không đội trời chung của linh hồn chúng ta là ma qủi vẫn kiếm cách để ngăn cản mối quan hệ của chúng ta với Ngài và trói buộc chúng ta trong sự nô lệ. Song Đức Chúa Trời thông qua Đấng Christ đã cất đi những rào cản đối với sự tiếp nhận được làm con của chúng ta bởi sự chết của Ngài trên thập tự giá. Và bây giờ chúng ta được đem vào trong gia đình của Ngài: được thanh tẩy, được chữa lành, được mặc lấy sự công bình của Ngài và được trở nên là những người thừa hưởng những phước hạnh của Ngài. Vì cớ mối quan hệ này đã giải thoát chúng ta và đem chúng ta vào trong gia đình của Ngài vì vậy chúng ta có thể vui mừng trong cõi đời đời mãi mãi.
Bài tập trắc nghiệm
1 Sự dạy dỗ theo Kinh Thánh về sự tiếp nhận làm con cho thấy rằng đó là một hành động ân điển của Đức Chúa Trời mà qua đó chúng ta được.
a) đảm bảo địa vị được tiếp nhận của chúng ta như là con của Đức Chúa Trời trong tương lai khi chúng ta đối diện cùng Chúa Giêxu.
b) xem như là những đứa con trong gia đình của Đức Chúa Trời, được nhận lãnh tất cả những quyền và đặc ân của người làm con.
c) được công bố là con của Đức Chúa Trời, mặc dầu chúng ta phải trông đợi những phúc lợi của quyền làm con đến khi chúng ta đạt tới “sự trưởng thành”
2 Khi chúng ta trở nên là con của Đức Chúa Trời bởi sự tiếp nhận Chúa Jêsus Christ thì Đức Chúa Trời đối đãi chúng ta như là:
a) những kẻ tôi tớ vẫn còn bị lệ thuộc dưới sự trói buộc của tình trạng nô lệ
b) những con trẻ vẫn còn lệ thuộc dưới “những kẻ hành hạ và những kẻ cai quản”
c) những người đã tiếp nhận quyền làm con - như là những kẻ thừa kế có thể nhận lấy những quyền thừa kế của mình
3 Vai trò của con người trong sự tiếp nhận làm con là:
a) cố gắng để trở nên xứng đáng đối với quyền làm con trong gia đình của Đức Chúa Trời.
b) tin Chúa Jêsus và tiếp nhận Ngài.
c) ao ước sự tiếp nhận làm con với tất cả những phúc lợi mà địa vị này dành cho.
4 Từ khía cạnh Thiên Thượng của sự tiếp nhận làm con, vai trò của Đức Chúa Trời được nhận thấy trong công việc mà Ngài.
a) tiếp nhận chúng ta như là những đứa con thứ, là những đứa con phải bước đến sự trưởng thành thuộc linh trước khi sự tiếp nhận làm con được hoàn tất.
b) xưng rằng chúng ta được tiếp nhận làm con và kêu gọi chúng ta hành động như thể quyền làm con của chúng ta là thật.
c) nhận chúng ta, tiếp nhận chúng ta như chính con của Ngài, và ban cho chúng ta Đức Thánh Linh là Đấng ấn chứng quyền làm con của chúng ta.
5 Khi chúng ta nói đến thời điểm của sự tiếp nhận làm con, chúng ta hiểu rằng sự tiếp nhận làm con
a) là một phần của chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời từ trước vô cùng.
b) chỉ đặc biệt đề cập đến hành động của sự tiếp nhận làm con khiến cho một người trở thành con của Đức Chúa Trời ngay lúc tái sanh.
c) Trước hết nói đến tương lai khi thân thể vật lý của chúng ta được biến hóa.
6 Câu nào trong những câu này không phải là một phúc lợi của sự tiếp nhận làm con?
a) sự giải phóng ra khỏi sự trói buộc của chủ nghĩa luật pháp
b) ban cho sự sửa trị
c) thừa hưởng những sự ban cho của Đức Chúa Trời.
d) địa vị như là những kẻ tôi tớ có chứng hợp pháp.
7 Theo sự dạy dỗ của sứ đồ Phaolô, sự tiếp nhận làm con vào trong gia đình của Đức Chúa Trời bị tác động nhiều nhất bởi.
a) Điều lệ và thông lệ trong thời Cựu ước.
b) phong tục về sự tiếp nhận làm con của người Lamã gốc Hylạp
c) Những phong tục của Trung Đông và Phương Tây
8 Sự tiếp nhận làm con được bày tỏ từ trước vô cùng
a) được hoàn thành trọn vẹn đúng thời điểm.
b) được bắt đầu đúng thời điểm và sẽ được làm trọn trong tương lai của cõi vĩnh hằng.
c) chỉ sẽ được bày tỏ và làm trọn trong tương lai của cõi vĩnh hằng.
9 Giai đoạn cuối cùng của sự tiếp nhận đề cập sự tiếp nhận của
a) tâm linh chúng ta, qua đó sự cứu rỗi của chúng ta được xác định
b) linh hồn của chúng ta qua đó chúng ta trở nên trọn vẹn những bản thể tâm linh.
c) thân thể của chúng ta, khiến cho chúng ta hoàn toàn thích hợp cho đời sống của những người thiêng liêng trong sự hiện diện của Ngài.
10 Hãy sắp xếp,phần mô tả (bên trái) với tín lý đúng (bên phải).


Trả lời những câu hỏi nghiên cứu 11 a Đúng d Sai b Sai e Đúng c Đúng 1 a 2) sự xưng công bình d 3) sự tiếp nhận làm con b 1) sự tái sanh e 2) sự xưng công bình
c 3) sự tiếp nhận làm con f 1) sự tái sanh.
12 Nó nói đến sự cứu chuộc cuối cùng của thân thể chúng ta.
2 a Môise được nhận làm con bởi con gái vua Pharaôn.
b Ghênubat được nhận làm con bởi hoàng hậu Tácbêne
c Êxơtê được tiếp nhận bởi anh em cô cậu của cô là Mạcđôchê
13 Sự tiếp nhận làm con phát sinh từ quyết định của Đức Chúa Trời trong cõi đời đời, trở nên là một thực tại trong kinh nghiệm hiện tại của tín hữu, và được nhận thức trọn vẹn trong tương lai.
3 a Dân sự của Ysơraên
b XuXh 4:22-23; PhuDnl 32:18-20; Gie Gr 31:9; MaMl 1:6.
c PhuDnl 14:1-2; OsHs 1:10; 11:1; MaMl 3:17
14 c) các phương cách của sự tiếp nhận làm con là tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời..
4 a Sai
b Đúng
c Đúng
e Đúng
d Sai (Chúng ta trở nên là thành viên của gia đình Đức Chúa Trời qua kinh nghiệm tái sanh).
15 a Đúng
b Đúng
d Đúng
f Sai.
c Sai (thực ra, đảo ngược những câu này là đúng)
e Sai (thực ra, đảo ngược những câu này là đúng)
5 b với sự than thở của muôn vật, và sự trông đợi của chính chúng ta về sự ứng nghiệm trong tương lai.
c Những người được tiếp nhận làm con được đối chiếu với những người không phải là dân tộc được tiếp nhận.
d với sự trói buộc dưới luật pháp
e với đời sống tội lỗi của chúng ta
16 a Chúng ta nhận lãnh những ân tứ tốt lành từ Cha Thiên Thượng
b chúng ta nhận lãnh những nhu yếu của cuộc sống
c chúng ta nhận lãnh sự bảo vệ
d chúng ta nhận lãnh sự dạy dỗ
e Chúng ta nhận lãnh sự sửa phạt phát sinh từ tình yêu của Ngài quan tâm cho chúng ta.
f Chúng ta có lòng tin và sự gan dạ khi chúng ta bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
g Chúng ta trở nên là những kẻ thừa kế với Đấng Christ (cũng hãy xem IPhi 1Pr 1:3-5)

6 Khi chúng ta làm điều gì mà chúng ta được phán phải làm thì chúng ta không còn lý do cho sự kiêu ngạo hay sự tự mãn, tại lúc này chúng ta chỉ là “những đầy tớ bình thường”; Chúng ta “chỉ” làm nhiệm vụ của chúng ta.
17 d) chúng ta được đảm bảo rằng một khi chúng ta được tiếp nhận....

7 b) những ai trở nên con của Đức Chúa Trời thông qua sự sanh mới thì được đặt trong địa vị của người con thật bởi sự tiếp nhận làm con
18 a chúng ta được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh.
b Chúng ta có cảm nhận thuộc về Cha Thiên Thượng
c Chúng ta có lòng tin khi chúng ta tiến gần đến Cha Thiên Thượng của chúng ta.
d Chúng ta tình yêu thương cho tất cả dân sự của Đức Chúa Trời.
e Chúng ta vâng phục Đức Chúa Trời.
8 a Đức Chúa Trời
b chúng ta
c Chúa Giêxu Christ
d sự đẹp lòng theo ý muốn của Đức Chúa Trời
e đó là chúng ta phải ngợi khen Ngài vì cớ ân điển vinh hiển của Ngài.
19 Câu trả lời của bạn. Có lẽ bạn đề cập đến sự bình an, sự đảm bảo và sự vui mừng mà chúng ta kinh nghiệm khi chúng ta tiếp nhận Đấng Christ và sống cho Ngài.

9 b) nó cho chúng ta thấy rằng chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời......................
20 Câu trả lời của bạn. Bông trái của Thánh Linh trong đời sống của chúng ta (GaGl 5:22-23) là minh chứng bên ngoài của sự tiếp nhận chúng ta vào trong gia đình của Đức Chúa Trời.
10 Chúng ta lấy lòng kính sợ Ngài. Ngài là Đấng trị vì toàn thể vũ trụ, và Ngài là Đấng sáng tạo của chúng ta.


Phần lớn con người thích nghe những câu chuyện xoay quanh một cuộc tranh tài giữa một người anh hùng (nhân vật thiện trong câu chuyện ) và kẻ gian ác (nhân vật ác). Nhân vật thiện thì luôn luôn làm điều đúng và kẻ ác thì làm những điều quấy. Khi người anh hùng chiến thắng, thì chúng ta sung sướng. Nhưng nếu nhân vật ác dường như thắng thế thì chúng ta bắt đầu cổ vũ hầu cho người anh hùng giành thế chủ động. Loại câu chuyện này thường kết thúc với sự thắng lợi của người anh hùng trong cuộc tranh tài chống lại kẻ ác.
Chúng ta được sanh ra trong một bản chất tội lỗi và gian ác. Bản chất tội lỗi này là "kẻ ác" hay "nhân vật ác" trong đời sống của chúng ta. Nó là nguyên nhân khiến cho chúng ta làm điều sai trái khi chúng ta tiếp nhận Chúa làm Chúa Cứu thế, chúng ta nhận lãnh một bản chất thuộc linh mới. Chúng ta có thể gọi bản chất này là "người anh hùng" hay là "nhân vật thiện" trong đời sống của chúng ta. Khi chúng ta cho phép bản chất cũ, tội lỗi của chúng ta kiểm soát chúng ta thì bản chất mới trở nên yếu và bản chất cũ trở nên mạnh mẽ. Nhưng nếu chúng ta để Đức Thánh Linh kiểm soát chúng ta Ngài sẽ làm vững mạnh bản chất mới của chúng ta và chúng ta có thể đắc thắng những sự cám dỗ của bản chất cũ. Cũng giống như kẻ ác trong câu chuyện, thì bản chất cũ hoàn toàn chẳng bao giờ đắc thắng trong cuộc đời này, nhưng nó trở nên yếu hơn và yếu hơn cho đến khi nó không còn kiểm soát chúng ta nữa. Và khi bản chất mới của chúng ta trở nên mạnh hơn, thì chúng ta trở nên giống Đấng cứu thế, Chúa Jêsus Christ của chúng ta hơn.
Tiến trình mà thông qua đó chúng ta càng trở nên giống Đấng Christ hơn thì được gọi là sự “nên thánh". Nó có thể hình thành thông qua sự tái sanh hay là kinh nghiệm sự quy đạo. Nó phát triển khi chúng ta hạ mình trước Đức Thánh Linh và bản chất mới của chúng ta kiểm soát đời sống của chúng ta. Trong bài học này chúng ta sẽ xem qua tiến trình xảy ra như thế nào, và chúng ta có thể làm gì để cho phép bản chất mới này trở nên là "người hùng giúp chúng ta chiến thắng trong trận chiến chống lại tội lỗi và trở nên giống Đấng Christ.
Dàn ý bài học
Bản chất của sự nên thánh.
Những người tiếp nhận sự nên thánh.
Kinh nghiệm sự nên thánh.
Các mục tiêu bài học
Khi bạn hoàn tất bài học này, bạn có thể:
Trình bày được mục đích của sự nên thánh.
Phân biệt sự khác nhau giữa vị trí và tiến trình của sự nên thánh.
Thảo luận tiến trình nên thánh trong đời sống của một tín hữu.
Đánh giá công việc của Đức Thánh Linh trong đời sống của tín hữu như là mục đích cho sự phát triển của sự trưởng thành thuộc linh và giống với Đấng Christ.
Các mục tiêu học tập
Hãy đọc Rôma 6, 7 và 8 và CoCl 3:1-10 để chuẩn bị cho phần triển khai bài học.
Kiểm tra từ vựng ở cuối phần hướng dẫn học tập đối với những từ bạn không hiểu.
Từ chìa khóa


Triển khai bài học

BẢN CHẤT CỦA SỰ NÊN THÁNH

Mục tiêu 1 . Nhận ra một ví dụ của sự nên thánh

Đối với chúng ta là những tín hữu thì liên quan đến ba cái "chết". Trước hết, chúng ta là nạn nhân của sự đoán phạt vì cớ sự chết của chúng ta trong tội lỗi (Eph Ep 2:1; CoCl 2:13). Tội lỗi đã hủy hoại chúng ta và dẫn chúng ta tới tình trạng chết về phần thuộc linh hay bị phân cách với Đức Chúa Trời. Thứ hai, chúng ta chết vì cớ tội lỗi trong sự phán xét. Bởi vì Đấng Christ vì chúng ta mà phải chịu khổ trên thập tự giá là bản án cho tội lỗi của chúng ta, vì vậy chúng ta được coi như chịu đựng nó ở trong Ngài. Những gì Ngài đã làm cho chúng ta thì được xem như là được thực hiện bởi chúng ta (IICo 2Cr 5:14; Galati 2:20;). Kết quả là chúng ta được giải phóng ra khỏi tội lỗi một cách hợp pháp nếu chúng ta tin và tiếp nhận những gì Ngài đã làm cho chúng ta. Và cuối cùng, chúng ta phải kinh nghiệm sự chết đối với tội lỗi RoRm 6:11). Những gì là lẽ thật cho chúng ta thì phải được trở nên thật trong chúng ta. Sự chết đối với giá chuộc của tội lỗi phải được theo sau bởi sự chết đối với quyền năng của tội lỗi. Sự "chết" này được xảy ra bởi năng quyền của Đức Thánh Linh là Đấng ngự trong chúng ta (RoRm 8:13).
Sự nên thánh bao gồm sự từ bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới (Eph Ep 4:22, 24). Con người cũ là bản chất băng hoại mà mỗi người trong chúng ta sở hữu khi được sanh ra trong trần gian này. Bản chất mới là bản chất được sanh ra trong một người được tái sanh. Khi Phaolô nói đến việc từ bỏ con người cũ này, ông không muốn rằng con người cũ bị hủy hoại nhưng ông muốn nói rằng nó được thay thế bởi con người mới. Vì khi ông nói đến việc "mặc lấy con người mới", ông muốn nói rằng con người đựơc tái sanh nên bắt đầu vận dụng những ân diển của con người mới. "........lòng thương xót, sự nhân từ, sự khiêm nhường, mềm mại, sự nhịn nhục." Hơn thế nữa ông đặt để nơi những người được tái sanh trách nhiệm. "Nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác, thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ cho nhau, như Chúa đã tha thứ cho anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy" (CoCl 3:12-13).
Con người cũ của chúng ta đó là tính cách điều khiển chúng ta với khả năng để hầu việc Satan, bản ngã và tội lỗi. Nhưng con người mới mà Đức Thánh Linh đã hình thành trong chúng ta thì ban cho chúng ta năng lực để hầu việc Chúa và mọi người và làm theo điều đúng.
Sự nên thánh bao gồm sự chết các việc của thân thể đó là hành động tội lỗi cũ của chúng ta (CoCl 3:5; RoRm 8:13), hầu cho chúng ta không tiếp tục phạm tội. Nó cũng bao gồm những nguyên tắc của đời sống thánh khiết được chuyển giao khi được tái sanh. Ngoài sự kinh nghiệm thuộc linh này còn có tuôn chảy một đời sống được mô tả bởi đức tin trong Chúa Giêxu Christ; một hướng đi mới được mô tả bởi những tiêu chuẩn, những mục đích và những động cơ mới; và một đời sống tiết độ, ngay thẳng vào theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Chúng ta có thể so sánh tiến trình của sự tăng trưởng thuộc linh với nhựa sống trong một cái cây. Khi nhựa sống trào lên, nó làm rụng đi những lá cây chết cố bám một cách bướng bỉnh trên cây cho dẫu thời tiết lạnh lẽo và những cơn bão dữ dội. Cũng vậy , Đức Thánh Linh cất đi những gì chưa trọn vẹn, những ham muốn trần gian, và thói quen của con ngưòi cũ hầu cho chúng ta có thể sống đời sống tận hiến và phó dâng cho Đấng Christ.
1 Hãy khoanh tròn mẫu tự trước những câu ví dụ đúng về bản chất của sự nên thánh.
a) Giăng đã hoàn toàn chết đối với Satan, bản ngã, và tội lỗi vì vậy ông không còn bị quấy rầy sự cám dỗ và những yêu cầu của con người cũ.
b) Alfred đã đặt để Đấng Christ là Chúa của cuộc đời anh ta, vì vậy, kể từ đây con người mới của anh ở trong sự kiểm soát, anh từng trải một sự yếu đuối liên tục của con người cũ.
c) Anthony, trong một kinh nghiệm tuyệt vời đó là sự tái sanh, đã trở thành Thánh khiết, tinh sạch và hoàn hảo. Kết quả là anh tiếp tục sống trong một vị trí thuộc linh được đề cao.
Ý nghĩa của sự nên thánh
Mục tiêu 2: Nhận ra những câu đúng đề cập đến ý nghĩa của sự nên thánh
Sự dạy dỗ của Tân ước về sự nên thánh dựa trên nền tảng công việc của Đấng Christ cho chúng ta và trong chúng ta. Điều này có nghĩa rằng vì cớ Ngài đã chọn lựa, kêu gọi, tái sanh, xưng chúng ta công bình và tiếp nhận chúng ta làm con vì vậy chúng ta phải đáp ứng bằng đời sống ngay thẳng. Vậy, chúngta thấy rằng sự nên thánh thì liên quan chặt chẽ với tất cả những tín lý của sự cứu rỗi. Nó là kết quả hợp lý tất cả những tín lý.
Hãy chú ý trong Eph Ep 2:8-10 nhiều tín lý khác nhau mà chúng ta đã xem xét.
"Vả ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; vì chúng ta là việc Ngài làm ra đã được dựng nên trong Đức Chúa Giêxu Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo”.
2 Hãy đọc lại 2:8-10 và trình bày kết quả của tất cả những sự ban cho trước này là gì?

Nghĩa đen của sự nên thánh là "làm cho thánh khiết hoặc biệt riêng ra". Nhưng ý nghĩa cơ bản của từ được dịch là sự nên thánh hay sự thánh khiết là "biệt riêng ra hay để riêng ra" đặc biệt là biệt riêng ra khỏi những gì của thế tục (trần gian). Những từ Kinh Thánh được dùng để nói đến tính cách và điều này bày tỏ mối quan hệ rất mật thiết giữa việc biệt riêng ra và sự thánh khiết cá nhân.
Khi nói đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, một số người nhận thấy một sự phân cách 2 mặt. Họ nhận thấy Đức Chúa Trời như phân cách khỏi và được tôn cao trên những tạo vật và sự sáng tạo của Ngài (XuXh 15:11; EsIs 40:25-26; 57:15). Dẫu rằng công việc bởi tay Ngài làm ra hiện hữu trong tất cả sự sáng tạo, nhưng Ngài không giống bất cứ điều gì. Và chẳng điều gì có thể sánh với Ngài. Đó là lý do tại sao họ nói đến sự thánh khiết được vinh hiển của Ngài, được đề cập đến sự tôn cao của Ngài trên tất cả sự sáng tạo của Ngài. Sau đó họ nhận thấy Đức Chúa Trời như "Phân cách khỏi tội lỗi". Ngài không dung chịu tội lỗi trong mọi đàng. Vì vậy Ngài đòi hỏi chúng ta vâng theo những luật pháp đạo đức của Ngài. Nếu chúng ta thật sự muốn trở nên giống Ngài, vậy thì chúng ta phải tinh khiết trong ý tưởng, lời nói và hành động,(Thi Tv 24:3-4). Sự phân cách với tội lỗi này nói đến sự thánh khiết đạo đức của Ngài tượng trưng rằng cả 3 ngôi đều phân cách với tội lỗi.
3 Hãy đọc EsIs 6:1-5 và trình bày có phải nó đề cập đến sự thánh khiết được vinh hiển của Đức Chúa Trời hay sự thánh khiết đạo đức của Ngài, hay là cả hai.
4 Theo như những câu Kinh Thánh sau đây, điều gì xảy ra khi một người được kéo gần đến với Đức Chúa Trời và nhận ra sự thánh khiết sáng ngời của Ngài.
a 6:1-5

b Gia Gc 4:8-9
Nếu bạn bước vào một căn phòng tràn đầy ánh sáng thì mỗi phần của áo quần bạn chắc chắn có thể thấy được rõ ràng. Nếu bạn mặc bộ đồ trắng và có một vết đỏ trên bộ đồ đó, thì nhiều người trong phòng chắc chắn sẽ thấy vết đỏ đó. Tuy nhiên nếu bạn rời khỏi căn phòng đó và bước đi trong bóng tối, thì ai có thể nhận ra sự khác nhau? cũng một thể ấy chúng ta càng được kéo gần với Đức Chúa Trời bao nhiêu thì chúng ta càng có thể nhận thấy tội lỗi rõ bấy nhiêu và lòng ao ước của chúng ta được trở nên thánh hoặc được biệt riêng ra cho sự phục vụ Ngài càng lớn bấy nhiêu. Chính nội dung của sự nên thánh khiết đạo đức này đã cung cấp nền tảng cho sự hiểu biết của chúng ta đối với sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự nên thánh. sự nên thánh là công việc ân điển của Đức Chúa Trời trong chúng ta mà thông qua đó chúng ta được đổi mới hoàn toàn bản chất của chúng ta vào trong hình ảnh của Đức Chúa Trời. Khi công việc của ân điển này tiến triển, chúng ta có thể đắc thắng bản chất tội lỗi của chúng ta và càng sống ngay thẳng công bình hơn.
Sau đó chúng ta nhận thấy rằng dẫu rằng Đức Chúa Trời phân cách với tội lỗi, nhưng Ngài vẫn không từ bỏ con người tội lỗi. Ngài đã sai con Ngài, là Đấng phải thành người để cứu chuộc con người. Vì vậy Phierơ nói rằng chúng ta hãy tôn Đấng Christ, là Chúa làm thánh trong lòng mình (IPhi 1Pr 3:5). Ý nghĩa căn bản của từ sự nên thánh đã giải thích tại sao nó có thể được nói với các Cơ đốc nhân cũng giống như nó được nói với những người Côrinhtô là những người trước kia phạm tội vì cớ sự sa ngã- rằng họ là những người thánh khiết. Phaolô nhận ra rằng dẫu rằng người Côrinhtô được biệt riêng bởi sự quy đạo nhưng họ cần trưởng thành trong đức tin.
Cùng một cách như vậy chúng ta có thể hiểu được tại sao những "vật vô tri" đôi khi lại được gọi là "thánh khiết". Chúng thánh khiết bởi vì chúng được biệt riêng ra dùng để sử dụng cho việc dâng hương. Chúng ta biết rằng một vật hay một người được gọi là thánh bởi vì nó được biệt riêng ra.
5 Trong mỗi câu Kinh Thánh dưới đây hãy ghi chú cái gì là thánh khiết.
a XuXh 3:5; Gios Gs 5:15
b LeLv 11:44
c 27:14-16
d Dan Ds 8:17
e EsIs 48:2
Sự nên thánh còn có ý nghĩa hơn sự phân cách khỏi tội lỗi hay khỏi những điều hư mất. Nó đề cập đến sự biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Một người được phân cách ra khỏi sự trói buộc của tội lỗi nhưng không được biệt riêng cho Đức Chúa Trời thì cũng giống như một con tàu bị đứt giây neo nhưng lại không có hệ thống lái.
Trong sự nên thánh chúng ta hiến dâng trọn vẹn chúng ta để hoàn thành những mục đích thánh khiết mà bởi đó chúng ta đã được biệt riêng ra. Khi chúng ta thực hiện điều này, chúng ta tiến gần đến sự thánh khiết một cách liên tục. Bao gồm trong tiến trình của sự nên thánh còn có sự phân cách, sự biệt riêng và sự thanh tẩy. Đức Chúa Trời là tác giả của tiến trình nên thánh. Chính bởi sự thánh khiết của Ngài mà chúng ta hiểu được nhu cầu cho sự nên thánh. Đức Chúa Trời mong muốn thánh hóa trọn vẹn toàn bộ chủ thể của chúng ta. Tâm thần, linh hồn và thân thể. Mục đích của Ngài cho điều này hầu cho chúng ta có thể được trọn vẹn, không chỗ trách được khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến (Xem ITe1Tx 5:23).
Như chúng ta đã thấy, trong sự nên thánh chúng ta từ bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới bởi quyền năng Đức Thánh Linh. Điều này có nghĩa rằng chúng ta quăng xa đời sống tội lỗi và ham muốn của con người cũ. Chúng ta "làm cho chết" những phần nào của chúng ta nổi loạn chống nghịch cùng Đức Chúa Trời và sự thánh khiết. Và thêm vào đó, chúng ta bày tỏ đời sống mà chúng ta tiếp nhận trong Chúa Giêxu Christ. Đời sống mới này là con người mới hay bản chất mới. Những gì mà Phaolô gọi là "từ bỏ" hay "mặc lấy" là những kinh nghiệm liên tục trong đời sống của chúng ta. Chúng không phải là những kinh nghiệm biến động xảy ra "một lần là đủ cả" trong đời sống Cơ đốc nhân.
6 Hãy khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu đúng dưới đây.
a Sự nên thánh có nghĩa là sự phân cách khỏi tội lỗi và chẳng còn gì nữa.
b Trong sự nên thánh một người biệt riêng đời sống mình để hoàn thành những mục đích thánh khiết mà bởi đó chúng ta đã được biệt riêng ra.
c Mục đích của Đức Chúa Trời trong sự nên thánh là chuẩn bị chúng ta cho sự trở lại của Chúa Jêsus Christ.
d Sự nên Thánh bao gồm cả việc "từ bỏ" con người cũ và "mặc lấy" đời sống mới mà chúng ta nhận lãnh trong Chúa Jêsus Christ.
Khi các bạn xem xét sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự nên thánh, hãy chú ý nó chạm đến mỗi lãnh vực của đời sống bạn và mỗi mối quan hệ bao gồm cả con người và Thiên Thượng như thế nào?.
1. Hãy xem một người hành động với Đức Chúa Trời như thế nào. Người đó hành động với sự kính sợ (ChCn 1:7) và với tình yêu đối với Đức Chúa Trời (Mat Mt 22: 37). Người đó thuận phục ý muốn của Đức Chúa Trời cách vui mừng và làm ra sự đẹp ý Ngài trong chúng ta (HeDt 13:20-21). Hơn thế nữa, người đó trông đợi sự thông công và giao thông với Đức Chúa Trời (IGi1Ga 1:3), và trong mọi sự người ấy vì cớ sự vinh hiển Ngài mà làm (ICo1Cr 10:31).
2. Khi đề cập Đấng Christ, sự nên thánh đến bởi sự tự bỏ mình khi chúng ta chấp nhận làm môn đồ của Đấng Christ (Mat Mt 16:24) và xem Ngài là gương mẫu của chúng ta (IPhi 1Pr 2:21). Cũng giống như Phaolô, chúng ta phải cố gắng được thay đổi giống như Ngài mỗi ngày hoàn thiện hơn (Phi Pl 3:8-10). Tuy nhiên nếu chúng ta sa ngã chúng ta có thể đến với Ngài để được làm sạch (IGi1Ga 1:9).
3. Khi nói đến Đức Thánh Linh, sự nên thánh xoay quanh đời sống khi Thánh Linh hướng dẫn và bước đi dưới sự kiểm soát của Ngài (RoRm 8:4-5), hãy cẩn thận chớ làm buồn Ngài (Eph Ep 4:30) hoặc cũng chớ dập tắt Ngài (ITe1Tx 5:19).
4. Khi đề cập đến tội lỗi, sự nên thánh làm cho chúng ta ghét tội lỗi cũng như buồn rầu về nó (RoRm 7:24) Và vì cớ ân điển Ngài vận hành trong chúng ta "nó dạy chúng ta nói "không" với những tình dục thế gian và những tình dục không theo ý muốn Đức Chúa Trời; phải sống ở đời này theo tiết độ, công bình, nhân đức, và nó cũng tạo nên trong chúng ta một lòng khao khát được giải phóng ra khỏi tội lỗi hoàn toàn.
5. Cuối cùng, trong mối quan hệ với người khác, sự nên thánh giúp chúng ta bày tỏ bông trái Thánh Linh (GaGl 5:22-23) vậy thì khi một người bước đi trong Thánh Linh thì người đó sanh ra bông trái của mối quan hệ này.
7 Câu nào đúng? Chúng ta có thể nói rằng sự nên thánh đúng nhất là.
a) Bao gồm mỗi khía cạnh của đời sống của con người cũng như chạm đến và tác động tất cả những mối quan hệ khi một người sống trong sự kiểm soát của Thánh Linh.
b) Được phân biệt bởi sự nỗ lực của một người nào đó để tự mình trở nên thánh khiết tinh sạch và có thể được Đức Chúa Trời chấp nhận dựa trên những hành động riêng của chính người đó.
c) Liên quan đến sự chết của con người cũ ngay tức khắc và sự đặt để con người mới là trung tâm để kiểm soát đời sống của một người nào đó và làm cho người đó sạch tội.
Một số những thuật ngữ được dùng để mô tả sự nên thánh. Giữa những phần mô tả thông thường, bạn sẽ nghe những quá trình được đề cập đến như đời sống sâu nhiệm, đời sống đắc thắng, đời sống tầm thước vóc giạc, đời sống thánh khiết và một tấm lòng thanh sạch. Tại đây chúng ta phải chỉ ra được một đặc trưng quan trọng của từ "nên thánh" nó không có cùng một ý nghĩa giảng dạy rằng sự nên thánh thì cũng giống như báptêm trong Thánh Linh. (Hoặc là đầy dẫy hay nhận lãnh Đức Thánh Linh). Nhưng rồi chúng ta sẽ thấy những thuật ngữ này bao quanh sự báptêm của Thánh Linh không đề cập đến sự nên thánh.
8 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và chỉ ra những dấu hiệu cặp theo khi những tín hữu được nhận lãnh hoặc được báptêm Thánh Linh.
a LuLc 24:47-49
b Cong Cv 1:8
c 2:4; 4:31
d 19:1-6.
Không có câu nào trong những câu Kinh Thánh này ngầm chỉ kinh nghiệm của sự nhận lãnh, được đầy dẫy hay được báptêm trong Thánh Linh khi đề cập đến sự nên thánh. Báptêm Thánh Linh ban quyền năng để làm chứng, ban cho sự gan dạ và năng lực để rao giảng cách hiệu quả. Nó được cặp theo bởi nói các thứ tiếng khác là một dấu hiệu mà minh chứng kinh nghiệm được xảy ra. Kinh nghiệm được đầy dẫy Đức Thánh Linh sẽ tác động sự biệt riêng của một người cho Đấng Christ và sự mong muốn trở nên giống Đấng Christ. Tuy nhiên, nó không cùng kinh nghiệm (Sự từng trải) như công việc tiếp diễn của sự nên thánh xảy ra liên tục trong những tín hữu từ khi họ được tái sanh đến khi họ đứng trong sự hiện diện của Chúa.
9 Dưới đây là những câu liên quan đến ý nghĩa của sự nên thánh. Hãy khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu đúng.
a Vì cớ sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, Ngài không thể dung chịu tội lỗi.
b Được nên thánh có nghĩa là được biệt riêng ra cho sự phục vụ (hầu việc ) Đức Chúa Trời.
c Sự nên thánh có nghĩa rằng chúng ta không thể phạm tội.
d Sự nên thánh bao gồm cả sự phân cách với tội lỗi và sự biệt riêng cho sự hầu việc Đức Chúa Trời.
e Sự nên thánh là một tiến trình thuộc linh không bao gồm hành động của ý chí.
f Sự nên thánh tác động mỗi khía cạnh của đời sống chúng ta: thái độ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con, Đức Thánh Linh, tội lỗi và đối với (tha nhân)
g Sự nên thánh có nghĩa là chúng ta càng trở nên giống Chúa Jêsus.
h Sự nên thánh bao gồm việc cho phép bản chất mới của chúng ta kiểm soát bản chất cũ.
i Khi tiến trình của sự nên thánh xảy ra, bản chất cũ của chúng ta chết hoàn toàn.
Hai khía cạnh của sự nên thánh
Mục tiêu 3. Phân biệt sự khác nhau giữa những ví dụ về sự nên thánh trong vị trí và trong sự tăng trưởng
Trong phần này chúng ta xem xét nội dung quan trọng nhất trong bài học của chúng ta về sự nên thánh. Đối với chúng ta, điều quan trọng là hiểu rằng sự nên thánh bao gồm cả vị trí lẫn sự từng trãi; bởi vì đó là một vị trí mà tín hữu có được trong mối tương giao với Đức Chúa Trời , và nó cũng là một kinh nghiệm liên tục trong đời sống của tín hữu. Sự nên thánh bao gồm sự tức thời (thình lình) và sự tăng trưởng. Sự nên thánh trong vị trí hay tức thời không liên quan đến phần thuộc linh của một người, và trong nó không có mức độ nào cả. Ví dụ như một người không được nên thánh trong vị trí hơn người khác. Sự nên thánh trong vị trí có nghĩa là một sự thay đổi vị trí mà qua đó một tội nhân băng hoại được biến đổi thành một người thờ phượng thánh khiết. Nó là một công việc hoàn tất, vì cớ Chúa Jêsus Christ đã làm sự nên thánh cho chúng ta (ICo1Cr 1:30). Mặt khác, sự nên thánh trong sự tăng trưởng thì liên quan trực tiếp đến sự phát triển thuộc linh của một người. Hơn thế nữa trong sự nên thánh tăng trưởng có nhiều cấp độ: một người có thể thánh khiết hơn người khác.
10 Đối với mỗi câu Kinh Thánh, hãy cho biết câu nào có 2 khía cạnh của sự nên thánh được thảo luận. Vị trí và tăng trưởng. Cũng vậy, hãy trình bày phương cách của sự nên thánh trong mỗi câu. Sử dụng tập ghi chép của bạn đối với bài tập này.
11 Dựa trên những câu Kinh Thánh tham khảo ở trên khi nào sự nên thánh trong vị trí xảy ra?



Những câu Kinh Thánh này làm sáng tỏ rằng sự nên thánh là một vị trí mà Đức Chúa Trời đã ban trong Đấng Christ cho những ai được tái sanh, nó không được trình bày như là một từng trải mà chúng ta được khích lệ hãy tìm kiếm sau sự quy đạo của chúng ta, vì cớ nó là một phần kinh nghiệm của sự quy đạo.
Hai phần Kinh Thánh trình bày hoàn tất vị trí theo Kinh Thánh về sự nên thánh trong vị trí và trong tăng trưởng. Trong phần thứ nhất (ICo1Cr 6:9-20) Phaolô nói đến tình trạng của những tín hữu ở Côrinhtô là thể nào trước khi họ đến với Đấng Christ. Ông nhắc nhở họ rằng ngay khi họ quy đạo thì họ được rửa sạch, được nên thánh và được xưng công bình rồi (câu 11) bởi vì cớ ấy họ "cần thiết" phải có đời sống thánh sạch cũng như có khả năng sống đời sống thánh khiết . Hãy để ý rằng ông đề cập đến sự rửa sạch, sự nên thánh và sự xưng công bình ở thì quá khứ; bởi vì cớ những điều này là kết quả từng trải (kinh nghiệm) Của sự cứu rỗi. Tuy nhiên, trong CoCl 3:1-10. Phaolô liên kết " vị trí " của những tín hữu với công việc hoàn tất của Đấng Christ và ông khẳng định rằng kinh nghiệm này "phải " dẫn đến đời sống theo ý muốn Đức Chúa Trời tương phản với đời sống cũ của họ. Đời sống mới của họ tức là bước theo sự dẫn dắt của Thánh Linh chính là một dấu chứng bởi sự "tiến triển" trở nên giống Đấng Christ khi họ hiểu biết trọn vẹn hơn về Đức Thánh linh.
12 Nhận ra thời điểm khi mỗi kinh nghiệm được đề cập xảy ra bên cột trái bằng cách viết số 1 trước những câu xảy ra "tại thời điểm của sự cứu rỗi và số 2 trước những câu xảy ra "trong một cách tăng trưởng".
Có nhiều sự ngụ ý về sự nên thánh tăng trưởng. Trước hết, nó là sự nên thánh phát triển vì cớ Cơ đốc nhân được khích lệ (nhắc nhở) phải ngày càng trở nên giống với Đấng Christ. Thứ hai, nó là một kinh nghiệm tăng dần sự ngụ ý ở đây nó là một kinh nghiệm lâu dài. Vì vậy, nó không dẫn đến sự hoàn hảo hoàn toàn trong đời sống này.

13 Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau và cho biết khiá cạnh đặc biệt của sự trọn vẹn Cơ đốc được mô tả.
a HeDt 10:44
b ICo1Cr 2:6; 14:20
c GaGl 3:3
d CoCl 4:12; Mat Mt 5:48
e CoCl 1:22; Phi Pl 3:12
Những câu Kinh Thánh tham khảo này dạy rằng sự trọn vẹn thì bao gồm cả trong vị trí và trong tăng trưởng. Chúng ta có thể được trọn vẹn và hoàn hảo trước Đấng Christ là vì cớ sự ban cho ân điển của Ngài. Và chúng ta được kể là trọn vẹn vì cớ chúng ta có Đấng cứu rỗi trọn vẹn và sự công bình trọn vẹn. Tuy nhiên trong kinh nghiệm riêng của chúng ta, chúng ta hãy tiếp tục tấn tới sự trọn lành (Phi Pl 3:15, HeDt 6:1).
Trong Tân ước chúng ta có mạng lệnh của Chúa Jêsus là hãy trở nên trọn vẹn (Mat Mt 5:48). Nếu điều này đề cập đến sự trọn vẹn không tội lỗi, vậy thì không ai đạt đến vị trí đó. Tuy nhiên rõ ràng rằng từ nội dung Kinh Thánh, Chúa Jêsus muốn nói đến những môn đồ của Ngài hãy trở nên giống Cha Thiên Thượng và bày tỏ tình yêu thương đối với bạn hữu và cũng như đối với kẻ thù. Hãy chú ý cách mà Phaolô nói đến ý tưởng về sự trọn vẹn trong Phi Pl 3:12, 15. Khi thì ông nói rằng sự trọn vẹn thì bất khả thi và rồi sau đó ông lại công bố nó. Điều này rất dễ hiểu khi chúng ta nhận ra rằng vị trí mà ông cho là trọn vẹn là giây phút ông tiếp nhận Đấng Chirst, nhưng trong kinh nghiệm tiến triển và kinh nghiệm mỗi ngày của mình, ông vẫn tấn tới hầu đạt đến sự trọn vẹn. CoCl 1:28, 4:12; và HeDt 12:13 tượng trưng sự trọn vẹn như thể là một mục tiêu trong tương lai mà cần phải đạt đến lúc cuối cùng nhưng không phải đạt đến trong cuộc sống này.
14 Chúa Jêsus thách thức hãy trở nên "trọn vẹn" tức nói đến
a) Sự cần thiết cho chúng ta trở nên trọn vẹn một cách nhanh chóng và hoàn toàn ngay bây giờ.
b) Nhu cầu cho những Cơ đốc nhân minh chứng sự yêu thương đối vơí bạn hữu và đối với kẻ thù như Đức Chúa Trời đã làm.
c) Nhu cầu tìm kiếm một kinh nghiệm sau sự quy đạo mà nó sẽ làm cho chúng ta hoàn toàn trọn vẹn.
Những ai tin rằng con người có khả năng đạt đến sự trọn vẹn không tội lỗi thì đã quá nhấn mạnh vào khả năng của một người để sống một cách trọn vẹn. Họ cũng ít nhấn mạnh về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và sự kinh khiếp của tội lỗi. Họ có khuynh hướng xem tội lỗi như thể nó là điều gì đó bên ngoài chúng ta. Tuy nhiên Kinh Thánh dạy rằng tội lỗi trước hết là một kết quả của tâm linh con người theo sự nhận thức của tôi thì chúng ta tội lỗi nhiều bởi những ý tưởng gớm ghiếc và những thái độ nỗi loạn hơn là chúng ta hành động phạm tội. Sự trọn vẹn được xem là hoàn hảo bởi vì chúng ta trong Ngài, nhưng nó không hoàn hảo vì cớ chúng ta vẫn là con người. Dầu sao đi nữa thì tôi cho rằng có hai loại trọn vẹn: tuyệt đối và tương đối. Điều gì tuyệt đối trọn vẹn thì không thể cải thiện thêm, vì vậy Đức Chúa Trời có thể sánh với loại trọn vẹn này. Tuy nhiên điều gì trọn vẹn tương đối thì chỉ hoàn thành mục đích mà bởi đó nó được thiết kế. Loại trọn vẹn này thì khả thi đối với con người.
15 Hãy khoanh tròn ký tự của mỗi câu đúng.
a Người nào tin rằng một người có thể tuyệt đối trọn vẹn thì quá tin tưởng vào khả năng của con người sống một cách trọn vẹn và xem thường giá trị về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và tính nghiêm trọng của tội lỗi.
b Người nào tin vào khả năng của một người có thể trở nên hoàn toàn trọn vẹn thì cũng tin rằng tội lỗi chỉ là vấn đề nội tâm và vì vậy nó ít nghiêm trọng và ít rõ ràng.
c Khi đề cập đến sự trọn vẹn thì chỉ có Đức Chúa Trời là tuyệt đối trọn vẹn; tuy nhiên, con người có thể trở nên tương đối nếu họ hoàn thành mục đích mà bởi đó họ được tạo dựng nên.
Những nhóm Cơ đốc cho rằng Cơ đốc nhân có thể trở nên trọn vẹn tuyệt đối trong đời sống nầy thì tin rằng sự nên thánh là một kinh nghiệm mang tính quyết định. Họ cho rằng, tại thời điểm sau sự quy đạo, những Cơ đốc nhân nhận lãnh sự trọn vẹn ngay tức thì bởi đức tin đồng thời với sự ấn chứng bởi sự làm chứng của Đức Thánh Linh. Họ khẳng định rằng trong kinh nghiệm này bản chất cũ bị hủy hoại một cách nhanh chóng. Quan điểm này được gọi là thuyết toàn mỹ . Nền tảng chính của nó là Rôma đoạn 6. Tuy nhiên, khi xem xét cẩn thận RoRm 6:1-11 cho thấy rằng đây là một kinh nghiệm trong vị trí mà tín hữu được đồng nhất với Đấng Christ. Nếu không phải là như vậy thì tại sao sứ đồ Phaolô khẳng định rằng một người coi mình như chết về tội lỗi mình và như sống cho Đức Chúa Trời?. Một người nếu hoàn toàn chết rồi thì không cần phải "coi mình" như đã chết. Nếu đã chết thì không còn bất cứ sự "xem xét" hay suy nghĩ.
Trong Rôma đoạn, Phaolô bày tỏ tình trạng riêng của ông như là một người không được cứu (Câu 7- 13) và như là một người được cứu (câu 14-24).Ông nhận thấy sự đắc thắng trong một đời sống thất bại, chứ không phải trong sự hủy hoại của bản chất cũ. Nhưng thông qua Chúa Jesus Christ (7:25). Tuy nhiên, trong chương 8 ông cho thấy rằng Chúa Jêsus đã làm cho sự đắc thắng này trở nên thật trong đời sống của tín hữu thông qua sự ngự trị của Thánh Linh. (Xem đoạn 8:1-17) trước hết Đức Thánh Linh đã giải phóng tín hữu ra khỏi luật pháp của sự tội lỗi và sự chết đó là sự kiểm soát của bản chất tội lỗi cũ và sau đó tín hữu có thể "sống theo Đức Thánh Linh" và đặt để trong tâm trí "những gì thuộc về Thánh Linh" (câu 5). Tuy nhiên sự đắc thắng luật pháp của tội lỗi và sự chết không có nghĩa là sự huỷ phá hoàn toàn của hành động tội lỗi cũ bởi quyền năng của Thánh Linh ngự trong tín hữu. Đây là điều mà mỗi tín hữu phải nhắc lại, tức là mỗi khi những dục vọng của bản chất tội lỗi nổi lên để cám dỗ tín hữu. "làm cho chết" nói đến sự yếu đuối của quyền lực tội lỗi. Nó cũng có nghĩa là làm cho chết những hành động tội lỗi của chúng ta hầu cho chúng ta không tiếp tục trong thói quen tội lỗi. Đối với sự đắc thắng trong lĩnh vực này thì ân điển của Đức Chúa Trời và sự tiếp sức của Đức Thánh Linh là rất cần thiết. (Hãy so sánh 8:13 với CoCl 3:5, 8-10).
16 Viết số 1 trước những ví dụ của sự nên thánh trong vị trí và số 2 trước những ví dụ của sự nên thánh tăng trưởng.
.... a Sara trước kia là một tội nhân ô uế thì nay là một người thờ phượng thánh khiết.
.... b Philíp đã tăng trưởng trong sự hiểu biết của mình về đời sống tâm linh và hiện nay dạy dỗ những người khác.
.... c Phaolô mô tả đời sống của ông trong Thánh Linh như là một sự tiến tới hay cố gắng đạt tới sự trọn vẹn trong sự hầu việc Đức Chúa Trời của ông và trong sự phát triển của sự yêu thương và ân điển Cơ đốc.
.... d Phaolô nói rằng người Côrinhtô đã từng say sưa, tà dâm, trộm cắp, và nói dối nhưng họ đã được thanh tẩy ra khỏi tội lỗi, được biệt riêng được xưng công bình hầu cho ông có thể nói rằng họ là những "người thánh" (ICo1Cr 6:9-11)
.... e Sau kinh nghiệm tái sanh, Giăng đứng vững trong công việc hoàn tất của Đấng Christ. Ông đang sẵn sàng bắt đầu sống cho Đấng Christ.
.... f Giacơ là một Cơ đốc nhân tận tâm, ông cố gắng rộng mở với sự dẫn dắt (hướng dẫn) của Đức Thánh Linh hầu cho ông có thể hoàn thành mục đích mà ông được taọ dựng. Rõ ràng ông đã tăng trưởng trong những điều của Thánh Linh.
Những người tiếp nhận sự nên thánh
Mục tiêu 4. Nhận ra được ai là người có thể tiếp nhận sự nên thánh .
Người được nên thánh là người được lựa chọn của Đức Chúa Trời. Là người mà Ngài đã chọn từ trước Sáng thế, và Ngài xưng thánh đúng thời điểm. Những người được chọn và được cứu chuộc thì cũng được nên thánh. Những ai là một dòng giống được lựa chọn thì trở thành dân tộc thánh của Đức Chúa Trời.
Sự nên thánh bao gồm con người trọn vẹn: tâm thần, xúc cảm và ý chí (ITe1Tx 5:23) "anh em được dạy dỗ ......để được nên mới trong tâm trí mình" (Eph Ep 4:22-23). Vì vậy tâm trí được đổi mới thì càng được giống Đấng Christ hơn, công bình và thánh khiết, những xúc cảm thì cũng trở nên thánh khiết: "Hãy lấy lòng yêu thương, mềm mại mà yêu nhau như anh em" (RoRm 12:10). Và cuối cùng, ý chí thì thuận phục ý muốn của Đức Chúa Trời và điều này ban cho tín hữu quyền năng để đạt được mục đích của Đức Chúa Trời. "Vì chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài. (Phi Pl 2:13). Hơn thế nữa, Phaolô thúc giục những tín hữu tại Rôma: "Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình cho Đức Chúa Trời.... và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình" (RoRm 6:13). Sự nên thánh thì ban cho tất cả những người gây dựng Hội Thánh. Với tư cách là cô dâu của Đấng Christ, thì Hội Thánh là mục tiêu của công việc này: "Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch" (Eph Ep 5:25-26). Điều này thì cần thiết hầu cho Ngài có thể bày tỏ sự cao trọng của Ngài cho Hội Thánh "đầy vinh hiển... không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được". (Câu 27)
17 Những người tiếp nhận sự nên thánh có thể được nhận biết như là.
a) Tất cả nhân loại, bởi vì sự nên thánh thì ban cho mỗi người.
b) Những người đặc biệt xứng đáng được biệt riêng ra cho sự sử dụng của Đức Chúa Trời.
c) Tất cả những người tiếp nhận Đấng Christ, những người gây dựng Hội Thánh Ngài.
KINH NGHIỆM CỦA SỰ NÊN THÁNH
Mục tiêu 5. Chọn 1 câu trình bày đúng mục đích của sự nên thánh
Kinh Thánh dạy dỗ rõ ràng rằng sự báptêm trong Thánh Linh là một kinh nghiệm thường theo sau sự tái sanh (Cong Cv 2:38). Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy một sự khác nhau đối với điều này trong Cong Cv 10:44-46 mà trong đó cả gia đình Cọt nây đều kinh nghiệm cả hai cùng một dịp. Mục đích của báptêm trong Thánh Linh là ban quyền năng cho sự phục vụ (1:8). Đối ngược với điều này thì mục đích cho sự nên thánh đó là tạo nên trong một người đời sống công bình phản ảnh mối tương giao của người đó đối với Đức Chúa Trời và khiến cho người đó tăng trưởng về phần thuộc linh.
Tuy nhiên, một số người cho sự nên thánh như là một kinh nghiệm "biến động" phân biệt mà xảy ra trong bản chất thuộc linh của một người. Họ tin rằng, đôi lúc, sau sự tái sanh một người được trở nên trọn vẹn ngay tức khắc khỏi tất cả các tội lỗi. Họ khẳng định rằng kinh nghiệm này bao gồm một "quyết định" được nên thánh, làm cho linh hồn bước vào trạng thái của sự thánh khiết trọn vẹn và bao gồm sự giải phóng ra khỏi tội và sự băng hoại và sự hiến dâng trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. Họ khẳng định rằng sự trọn vẹn nhanh chóng này là kết quả của sự báptêm trong Thánh Linh (là điều họ cho rằng tương tự như sự nên thánh). Chúng ta hãy cùng nhau thẩm tra sự khẳng định của họ "những người trọn vẹn" này đề cập đến IGiăng 3: 8-9 để làm trụ cho ý tưởng của họ. Hãy đọc câu Kinh Thánh tham khảo này. Rõ ràng rằng Giăng đang nói về một người vẫn tiếp tục làm điều tội lỗi. Chẳng có Cơ đốc nhân thật nào có thể làm như vậy. Tuy nhiên Giăng không nói rằng một Cơ đốc nhân thì chẳng bao giờ phạm tội. Khi so sánh Lời Kinh Thánh này với IGi1Ga 1:8-2:2 chúng ta sẽ nhận biết Giăng muốn nói điều gì. Mục đích của Giăng là thách thức những Cơ đốc nhân bước đi trong ánh sáng và tấn tới sự vâng phục và mối tương giao có ý nghĩa đối với Đức Chúa Trời. Như để ngăn ngừa sự hiểu lầm. Giăng nói cùng với những Cơ đốc nhân của ông là người lắng nghe. "Nếu chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối" (IGi1Ga 1:10). Và trong 2:1-2, ông nhấn mạnh rằng: "Chúa Jêsus Christ, Đấng công bình.... là của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa. (Hãy chú ý rằng Giăng bao gồm chính ông với những tín hữu khác).
Vậy thì chúng ta thấy rằng sự nên thánh chẳng phải là một kinh nghiệm biến động phân biệt cũng chẳng phải là một kinh nghiệm mà thông qua đó tín hữu được trở nên vô tội hoàn toàn. Và nó không phải là sự ban cho quyền phép cho sự phục vụ. Mục đích của sự nên thánh là đem kẻ tin đến gần đến trạng thái mà qua đó bản chất của người đó sẽ được trở nên giống với ảnh tượng của Đấng Christ khi tín hữu bước đi với Chúa, thì người đó tiếp tục tăng trưởng và phát triển, và Đức Thánh Linh tiếp tục ban cho người đó sự sáng (IGi1Ga 1:7) Khi tín hữu bước đi trong sự sáng thì huyết của Chúa Jêsus thanh tẩy người đó khỏi mọi tội lỗi. Khi sự vinh hiển của Chúa được phản chiếu từ người đó đang trong tiến trình được biến hóa theo ảnh tượng Ngài từ vinh hiển qua vinh hiển (IICo 2Cr 3:18). Vì vậy chúng ta có thể nói rằng sự nên thánh là một "kinh nghiệm" chắc chắn giống như là sự báptêm trong Thánh Linh tuy nhiên nó là một tiến trình mà qua đó bản chất mới của chúng ta phát triển trong chúng ta một ảnh tượng giống Đấng Christ.
18 Mục đích của sự nên thánh là để.
a) ban quyền năng cho các tín hữu để phục vụ và huỷ phá bản chất tội lỗi của họ trong một kinh nghiệm biến động.
b) đem đến sự biến đổi trong tín hữu mà bởi đó tín hữu trở nên dần dần giống Đấng Christ hơn.
c) làm cho các Cơ đốc nhân đạt tới sự trọn vẹn tuyệt đối trong cuộc đời này.
Những phương cách của sự nên thánh
Mục tiêu 6: Mô tả các phương cách của sự nên thánh
Hai chủ thể bao gồm trong sự nên thánh của một người: Đức Chúa Trời và con người. Về mặt Thiên thượng, thì Đức Chúa Trời là cha khiến chúng ta nên thánh (ITe1Tx 5:23, IPhi 1Pr 5:10). Đức Chúa Con cũng khiến chúng ta nên thánh (HeDt 2:10-11; 10:10; 13:12) và chúng ta được nên thánh bởi Đức Thánh Linh Ngài (IPhi 1Pr 1:2; RoRm 8:13) và Ngài tạo ra trong chúng ta bông trái của Thánh Linh (GaGl 5:22- 23). Về mặt con người, con người không thể tự mình nên thánh. Phaolô khẳng định dẫu rằng trong tín hữu thì Đức Chúa Trời cũng vẫn dẫn dắt (Phi Pl 2:13). Tuy nhiên, có những phương cách cụ thể mà một người có thể vận dụng trong công việc của sự nên thánh. Trước tiên, một người phải đặt đức tin mình trong Đấng Christ (Cong Cv 26:18) Khi một người tin nhận Đấng Christ, người ấy được nên thánh trong vị trí. Điều này xảy ra tại giây phút của sự tái sanh, vì cớ Đấng Christ làm cho chúng ta nên thánh (ICo1Cr 1:30).
Bước kế tiếp là theo đuổi sự thánh khiết. Chúng ta được chắc chắn rằng không có một đời sống thánh khiết, thì chúng ta chẳng được thấy Đức Chúa Trời (HeDt 12:14) theo đuổi sự thánh khiết sẽ dẫn chúng ta đến Lời của Đức Chúa Trời, vì cớ nó sẽ bày tỏ trạng thái của chúng ta và chỉ ra phương thức cứu chữa cho sự thất bại (GiGa 17:17). Lời được rao giảng cũng có vai trò của nó trong việc chỉ ra nhu cầu của sự thánh khiết (Eph Ep 4:11-13). Và thách thức những tín hữu theo đuổi nó (IPhi 1Pr 1:15-16). Sự đầu phục đời sống của chúng ta cho Đức Chúa Trời là điều kiện tiên quyết đối với sự nên thánh thực tiễn (RoRm 6:13, 19-22; 12:1). Đầu phục hoàn toàn đối với Đức Chúa Trời có nghĩa rằng một người phải tự từ bỏ mình hầu cho "người đó sẽ trở nên bình quí trọng, làm của Thánh, có ích cho chủ mình và sẵn sàng cho mọi việc lành" (IITi 2Tm 2:21).
Những phương cách khác mà Đức Chúa Trời sử dụng để thanh tẩy chúng ta là sự hoạn nạn (HeDt 12:10; Thi Tv 119:67, 71). Đôi lúc, Đức Chúa Trời cho phép những kinh nghiệm đau thương xảy đến cho chúng ta. Tuy nhiên khi những thời kỳ của sự khó khăn này qua đi, thì chúng ta thấy rằng chúng đã hoàn toàn tạo nên bông trái của sự tốt lành thực sự trong chúng ta khi chúng ta chấp nhận chúng trong tinh thần đúng đắn. Trước giả nói rằng Đức Chúa Trời làm điều đó "vì ích cho chúng ta hầu cho chúng ta có thể dự phần trong sự thánh khiết Ngài" (HeDt 12:10).
19 Hãy trả lời những câu hỏi này theo từ riêng của bạn, đừng xem lại phần trước.
a Ai bao gồm trong sự nên thánh của một người?

b Hai điều cần thiết cho một người để kinh nghiệm sự nên thánh là gì?


c Lời Đức Chúa Trời giúp đỡ chúng ta trong quá trình của sự nên thánh như thế nào?


d Điều gì bao gồm trong sự đầu phục hoàn toàn đối với Đức Chúa Trời?

e Bằng cách nào mà những thời kỳ khó khăn giúp chúng ta trong tiến trình nên thánh của chúng ta?
Sự nên thánh đem đến sự đắc thắng gia tăng đối với tội lỗi. Sau đó điều này tạo ra quyền năng lớn hơn trong đời sống của chúng ta và bông trái nhiều hơn. Tuy nhiên, chúng ta phải kết hiệp trong việc duy trì sự phát triển thuộc linh. Chúng ta phải nương cậy trong Đấng Christ với sự vâng phục và sự tận hiến. Sự nên thánh không phải là một nội dung nhưng nó bao gồm một Đấng sống là Đấng Christ và mối tương giao liên tục của chúng ta với Ngài. Khi chúng ta ở trong mối thông công với Ngài, thì chúng ta tiếp tục tăng trưởng trong sự nên thánh.
Một điệp khúc ngắn của bài hát mà đôi lúc chúng ta hát biểu lộ những gì xảy ra khi chúng ta cho phép Thánh Linh của Đức Chúa Trời kiểm soát đời sống của chúng ta và biến đổi chúng ta trở nên giống ảnh tượng của Đấng Christ. Chúng ta hãy xem điệp khúc này như là lời cầu nguyện của chúng ta để kết thúc cho bài học này.

Bài trắc nghiệm
Câu hỏi Đúng - Sai: Hãy khoanh tròn trước số của những câu đúng .
1 Mục đích của sự nên thánh là tạo nên trong các Cơ đốc nhân đời sống công bình phản chiếu mối tương giao của họ với Đức Chúa Trời và khiến họ tăng trưởng phần thuộc linh.
2 Bản chất của sự nên thánh thì không chỉ tượng trưng cho sự phân cách khỏi thế gian mà còn là sự biệt riêng cho Đức Chúa Trời.
3 Sự nên thánh đề cập đến một kinh nghiệm mang tính quyết định hoặc kinh nghiệm biến động trong một tín hữu mà trong đó con người cũ bị hủy hoại và con người mới hoàn toàn kiểm soát đời sống của người đó.
4 Sự nên thánh là công việc ân điển của Đức Chúa Trời trong chúng ta mà qua đó chúng ta được đổi mới toàn bộ bản thể của chúng ta vào trong hình ảnh của Đấng Christ.
5 Khi Đức Thánh Linh thực hiện công việc của Ngài trong đời sống chúng ta có khả năng đắc thắng bản chất tội lỗi của chúng ta hơn là khả năng sống công bình.
6 Những gì mà Phaolô đề cập đến như "từ bỏ con người cũ và "mặc lấy con người mới" là những kinh nghiệm biến động mà xảy ra "một lần là đủ cả" trong đời sống của một Cơ đốc nhân.
7 Sự nên thánh sanh ra trong chúng ta tình yêu đối với Đức Chúa Trời, được trở nên giống với Ngài, hướng đi trong Thánh Linh, căm ghét tội lỗi, và sanh ra bông trái của Thánh Linh trong mối quan hệ của chúng ta đối với những người khác.
8 Sự nên thánh trong vị trí đề cập đến sự thay đổi vị trí mà xảy ra tại thời điểm tái sanh khi một người tội nhân băng hoại trở nên một người thờ phượng thánh khiết.
9 Sự nên thánh tăng trưởng thì gắn liền với vị trí của một người trước Đức Chúa Trời ngay tại giây phút của sự xưng công bình.
10 Chúng ta có thể được trọn vẹn trong Đấng Chrirst về vị trí vì cớ kinh nghiệm tái sanh của chúng ta và sự cố gắng đạt tới sự trọn vẹn trong kinh nghiệm liên tục riêng của chúng ta vơí Đức Chúa Trời.
11 Tín lý của những người khẳng định rằng con người có khả năng trở nên trọn vẹn vô tội trong cuộc đời này thì được biết tới như là " Thuyết toàn mỹ ".
12 Một số nhóm Cơ đốc dạy rằng sự nên thánh là một kinh nghiệm mang tính quyết định mà trong đó những Cơ đốc nhân đạt tới sự trọn vẹn ngay tức thời.
13 Một số nhóm Cơ đốc nhân dạy rằng sự nên thánh thì cũng giống với báptêm trong Thánh Linh.
14 Sứ đồ Phaolô tìm thấy sự đắc thắng đối với một đời sống của thất bại thông qua sự huỷ hoại của bản chất cũ của ông.
15 Tiến trình mà thông qua đó tín hữu được nên thánh bao gồm sự đầu phục của đời sống tín hữu đối với sự kiểm soát của Đức Thánh Linh và tích cực đeo đuổi sự thánh khiết.

1 b) Alfred đã đặt Đấng Christ làm Chúa làm Chủ của cuộc đời mình......
11 Nó xảy ra khi chúng ta tiếp nhận Đấng Christ vì cớ sự đồng nhất của chúng ta với Ngài trong sự chết và sự phục sinh của Ngài.
2 Kết quả là những việc lành. Những việc này chỉ là "tốt lành" theo cách nhìn của Đức Chúa Trời trong đời sống của người có động cơ và cách cư xử trong sạch. Một người có thể được thay đổi dần dần vào ảnh tượng của Đấng Christ.
12 a 2)Trong một cách tăng dần. b 1) Tại thời điểm của sự cứu rỗi. c 1) Tại thời điểm của sự cứu rỗi. d 2) trong một cách tăng dần.
3 Cả 2 khiá cạnh về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đều được phản chiếu trong ví dụ này.
13 a Trọn vẹn trong Đấng Christ về vị trí.
b trưởng thành thuộc linh tương phản với con đỏ thuộc linh.
c Sự trọn vẹn tăng trưởng.
d Sự trưởng thành và sự vâng phục hoàn toàn trong ý muốn của Đức Chúa Trời.
e Sự trọn vẹn cuối cùng trong Nước Thiên đàng.
4 a Êsai đáp lại sự thánh khiết oai nghi của Đức Chúa Trời với cảm nhận sự không xứng đáng của ông. Hơn thế nữa, ông cảm thấy tội lỗi riêng của ông càng rõ ràng hơn trong sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời.
b Khi một người được kéo gần đến Đức Chúa Trời và đến gần Ngài, người đó có một cảm nhận rất sâu sắc về tội lỗi và rất hối tiếc về tội lỗi.
14 b) Nhu cầu cho các Cơ đốc nhân minh chứng tình yêu thương cho cả bạn hữu lẫn kẻ thù như chính Đức Chúa Trời đã thực hiện.
5 a Vùng đất tại nơi đó thì thánh khiết
b Thân thể con người
c Một ngôi nhà hay một mảnh đất dâng cho Chúa.
d Những con trai đầu lòng và những động vật
e Thành phố Thánh (Giêrusalem)
15 a Đúng
b đúng
c Sai
6 a sai c đúng
b đúng d đúng
16 a 1) Vị trí e 1) vị trí
b 2) Tăng trưởng d 1) Vị trí
c 2) Tăng trưởng f 2) tăng trưởng
7 a) bao gồm mỗi khía cạnh của đời sống một người cũng như chạm đến và tác động đến tất cả các mối quan hệ, khi một người sống dưới sự kiểm soát của Thánh Linh.
17 c) Tất cả những ai tiếp nhận Đấng Christ, những người gây dựng Hội Thánh của Ngài.
8 a quyền năng để rao giảng
b quyền năng để làm chứng.
c Nói tiếng lạ và sự bạo dạn, để rao giảng.
d Nói các thứ tiếng.
18 b) đem đến sự biến đổi trong tín hữu mà qua đó tín hữu trở nên dần dần giống Đấng Christ hơn.
9 a đúng f đúng
b đúng g đúng
c sai h đúng
d đúng i sai
e sai
19 a Đức Chúa Trời thông qua Đức Thánh Linh Ngài và mỗi cá nhân tín hữu.
b Người đó phải tin nhận Đấng Christ để tiếp nhận một bản chất mới, và anh ta phải nổ lực sống một đời sống thánh khiết , cho phép bản chất mới của mình kiểm soát bản chất gian ác của mình.
c Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy tình trạng của chúng ta và chỉ cho chúng ta làm thế nào để có thể vượt qua sự thất bại. Lời Kinh Thánh cũng chỉ cho chúng ta nhu cầu trở nên thánh khiết.
d Sự phân cách ra khỏi tội lỗi và biệt riêng cho Đức Chúa Trời, hãy sẵn sàng thực hiện những điều gì ngay thẳng và tốt lành.
e Chúng thanh tẩy chúng ta khi chúng ta tiếp nhận chúng trong tâm linh ngay thẳng.
Bài 10 : Hoàn TẤt SỰ CỨu ChuỘc Con NgưỜi: SỰ Vinh HiỂn

Từ khi Sáng thế, con người đã cố gắng để tạo ra những điều kiện lý tưởng của cuộc sống cho chính mình. Ađam và Êva đã bắt đầu công việc này khi họ tìm cách để nối khoảng cách giữa Đức Chúa Trời và chính họ bằng cách ăn trái cấm (Sáng thế ký 3). Sau đó con người lại xây dựng Tháp Babên với nỗ lực là để đảm bảo sự an toàn chống lại những thảm họa của thiên nhiên (Sáng 11).
Gần đây hơn lịch sử đã ghi chép lại sự tìm kiếm của con người về “Suối nước của sự tươi trẻ”, người ta nói rằng nước của suối này sẽ làm cho con người không trở nên già và chết đi. Nhiều chính phủ đã tiến hành nhiều cuộc thí nghiệm để tạo nên những điều kiện hoàn hảo ngang bằng trong luật pháp. Nhiều cố gắng đã được thực hiện để đưa đến sức khoẻ trọn vẹn và giải thoát ra khỏi sự bệnh tật và đau khổ. Tuy nhiên chẳng có nỗ lực nào trong những điều này được xem là thành công vì cớ Lời Đức Chúa Trời chép rằng: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét (HeDt 9:27).
Tuy nhiên, những gì mà con người luôn luôn ao ước nhưng không thể nào đạt tới cho chính họ, thì Đức Chúa Trời đã hoàn toàn ban cho cách nhưng không. Trong bài học này chúng ta sẽ thấy rằng những gì Đức Chúa Trời ban cho những ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài thì Ngài sẽ đem đến sự hoàn tất tại sự vinh hiển của họ. Chính tại sự vinh hiển mà chúng ta sẽ nhận thấy một kết cuộc đối với tội lỗi, đau khổ, chết chóc, nghèo khổ, chiến tranh, bất công và nhiều điều nữa. Thay thế cho chúng những điều này đó là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sẽ bao phủ thế gian và tràn đầy tấm lòng và tâm trí của những người được cứu chuộc. Nhận biết được điều này sẽ khiến chúng ta hầu việc Đức Chúa Trời trong sự trông đợi khi chúng ta trông đợi sự vinh hiển hầu đến của chúng ta.
Dàn ý bài học
Ôn lại sự cứu rỗi.
Định nghĩa của sự vinh hiển
Nền tảng của sự vinh hiển
Đảm bảo của sự vinh hiển
Bản chất của sự vinh hiển.
Các mục tiêu bài học
Khi hoàn tất bài học này bạn có thể:
Liên kết các tín lý của sự cứu rỗi với tín lý của sự vinh hiển.
Giải thích sự đảm bảo của sự vinh hiển tương lai dựa trên nền tảng nào.
Thảo luận bản chất của sự vinh hiển.
Mong đợi sự hoàn tất kinh nghiệm cứu rỗi của bạn.
Các hoạt động học tập
Hãy đọc RoRm 8:18-25.Cũng hãy đọc IICo 2Cr 5:1-5 và ICo1Cr 15:1-57 và những Kinh Thánh tham khảo khác đã cho.
Xem qua những từ đã cho mà bạn chưa biết. Chắc chắn rằng bạn đã xem phần định nghĩa của chúng trong phần từ ngữ ở phía cuối quyển sách này.
Khi bạn hoàn tất phần triển khai bài học, hãy làm bài trắc nghiệm như thường lệ.

Triển khai bài học

Ôn lẠi sỰ cỨu rỖi

Mục tiêu 1 . Sắp xếp những thuật ngữ và những định nghĩa của những nội dung bao gồm trong kinh nghiệm sự cứu rỗi .

Trong bài học trước, chúng ta đã so sánh sự cứu rỗi với một chuỗi phản ứng dây chuyền. Đó là khi một tội nhân cúi đầu ăn năn về những tội lỗi của mình và thừa nhận đức tin mình trong Đấng Christ để tha thứ tội cho mình, thì tất cả những sự kiện khác bao gồm trong kinh nghiệm sự cứu rỗi sẽ xảy ra. Như chúng ta đã định ra vì mục đích của sự nghiên cứu có hệ thống mà chúng ta phải nghiên cứu những tín lý của sự cứu rỗi theo một thứ tự. Trước khi chúng ta xem xét sự kiện cuối cùng bao gồm trong sự cứu rỗi, chúng ta hãy ôn lại sơ lược phần bài học của chúng ta.
1. Chúng ta đã học rằng trong ý định vĩnh hằng của Đức Chúa Trời, ngay cả trước Sáng thế thì Đức Chúa Trời mong muốn rằng con người thông qua sự kết hợp của họ với Đấng Christ sẽ trở nên dân sự của Ngài và vì vậy họ trở nên thánh khiết và không chỗ trách được trước Ngài. Đây là tín lý của sự chọn lựa, hoặc sự tiên liệu trước. Chúng ta thấy rằng đây là mục đích của Đức Chúa Trời cho chúng ta bởi ân điển và tình yêu của Ngài.
2. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng nên con người, Ngài đã tạo dựng họ với một ý chí mà họ được tự do đáp ứng vào tình yêu và ân điển của Ngài, hay là từ chối tình yêu và ân điển của Ngài. Khi Ađam không vâng phục Đức Chúa Trời bởi việc vận dụng ý chí tự do của mình cho nên Ađam đã đánh mất đi vị trí thông công của mình với Đức Chúa Trời.
3. Chúng ta thấy kết quả của tội lỗi: phân cách với Đức Chúa Trời, sự chết tâm linh, và sự đoán phạt. Quả thật, bởi vì cớ tội lỗi của Ađam mà sự cứu rỗi trở nên rất cần thiết, vì cớ tội lỗi mà đã ảnh hưởng đến chính ông và vợ ông và cũng làm băng hoại tất cả con cháu sau này.
4. Chúng ta đã học rằng Đức Chúa Trời đã ban cho một phương cách hầu cho sự công bình của Ngài được duy trì đó là thông qua sự cứu chuộc, là một giá trả cho tội nhân được trả bởi một của lễ chuộc tội xứng đáng và có thể được chấp nhận. Vì cớ Đấng Christ đã trở nên của lễ chuộc tội cho tội lỗi của con người: cả bản chất tội lỗi của họ di truyền từ Ađam và cả tội lỗi mà họ gây ra.
5.Vì sự cứu rỗi ân điển của Đức Chúa Trời đáp ứng trọn vẹn những nhu cầu thuộc linh của con người.
a. Nó bao phủ tội lỗi của con người
b. Nó cất đi cơn giận của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của họ.
c. Nó phục hồi họ với Đức Chúa Trời.
d. Nó thỏa mãn sự công bình của Đức Chúa Trời.
e. Nó trả giá chuộc tội cho tội lỗi.
f. Nó cất đi sự định tội đối với tội nhân ăn năn .
Những phần chính từ bài 1- 5 này được đưa ra cho chúng ta bối cảnh của sự cứu rỗi và bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi.
1 Hãy khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu đúng trong bài tập sau đây nhớ kỹ những gì chúng ta đã học từ bài 1 đến bài 5.
a Từ trước vô cùng Đức Chúa Trời đã chọn lựa con người trở nên dân của Ngài không tì vết và trở nên thánh khiết thông qua Đấng Christ.
b Từ trước vô cùng Đức Chúa Trời đã xác định người nào được cứu và người nào bị hư mất.
c Sự cứu rỗi dựa trên ân điển của Đức Chúa Trời chẳng kể đến bất kỳ sự xứng đáng nào trong con người.
d Vì cớ tất cả con người thừa hưởng bản chất tội lỗi từ Ađam cho nên không có cá nhân nào phạm tội (kỷ tội)
e Công việc cứu chuộc đem đến sự bao phủ tội lỗi, sự làm dịu cơn giận của Đức Chúa Trời, sự hoà giải giữa Đức Chúa Trời và tội nhân, sự cứu chuộc cho tội nhân, và phục hòa mối thông công (tương giao) giữa Đức Chúa Trời và con người.
Như chúng ta đã biết, “Sự ăn năn” khởi đầu chuỗi dây chuyền của sự quy đạo. Khi một người nhận ra tội lỗi của mình và từ bỏ nó, xưng nhận tội lỗi với Đức Chúa Trời, thì người đó đã minh chứng sự ăn năn thật của mình. Mắc xích kế tiếp trong dây chuyền là “Đức tin trong Đấng Christ” Chúng ta biết rằng, Đức tin là hành động và thái độ tự nguyện của một người nào đó mà người đó đặt trọn vẹn niềm tin của mình trong một chủ thể đáng tin cậy, và cho phép chủ thể đó kiểm soát những hành động của mình sự ăn năn xoay quanh việc “từ bỏ tội lỗi” và đức tin xoay quanh việc “trở về cùng Đức Chúa Trời”. Khi một người thực hiện những điều nầy (từ bỏ tội lỗi trở về cùng Đức Chúa Trời), thì người đó kinh nghiệm được sự quy đạo. Chúng ta đã học những tín lý này trong đơn vị một dưới tiêu đề “Đức Chúa Trời yêu cầu điều gì”.
Trong đơn vị 2, chúng ta nghiên cứu tiêu đề “Đức Chúa Trời ban cho điều gì” bao gồm sự tái sanh, sự xưng công bình và sự tiếp nhận sự tái sanh là hành động của Đức Chúa Trời ban đời sống thuộc linh cho tội nhân ăn năn khi tội nhân tiếp nhận Chúa Jêsus Christ. Sự biến đổi siêu nhiên và nhanh chóng này xảy ra bởi Đức Thánh Linh trong đời sống của người tin nhận Chúa được gọi là “Sự tái sanh” và dẫu rằng khi sự biến đổi này đang xảy ra, Đức Chúa Trời xưng kẻ tin là công bình bởi hành động của ân điển ban cho cách nhưng không, tha thứ tất cả những tội lỗi của kẻ tin và tiếp nhận anh ta như là người công bình theo cách nhìn của Ngài. Người được xưng là công bình nhận lãnh một vị trí mới: không tội lỗi.
Như chúng ta thấy, Đức Chúa Trời thực hiện điều này bằng cách ban cho tội nhân ăn năn sự công bình của Ngài (chỉ nhận lãnh bởi đức tin mà thôi). Tuy nhiên đây không phải là tất cả, nhưng thêm vào đó Cha Thiên Thượng của chúng ta thông qua “Sự tiếp nhận” đã đặt để chúng ta trong gia đình của Ngài như là những đứa con cùng với tất cả những quyền và đặc ân cho người làm con được hưởng. Do đó chúng ta thấy rằng...
Trong Sự tái sanh một người tiếp nhận một “bản chất mới”.
Trong Sự xưng công bình con người nhận lãnh một “chỗ đứng mới”.
Trong Sự tiếp nhận , con người tiếp nhận một “địa vị mới” .
Trong bài học vừa rồi, chúng ta đã thảo luận tín lý về sự nên thánh. Chúng ta thấy rằng bởi vì sự vận hành của Đấng Christ trong chúng ta, chúng ta được kêu gọi để đáp ứng vào đời sống thánh khiết. Sự nên thánh đề cập đến nhu cầu được “Biệt riêng ra” cho Đức Chúa Trời và phân cách với tội lỗi trong sự tận hiến trọn vẹn. Chúng ta đã học rằng khi chúng ta được sanh lại. Chúng ta tiếp nhận một địa vị của sự nên thánh mà Đức Chúa Trời ban cho trong Đấng Christ. Do đó, đời sống mới của chúng ta xoay quanh việc bước đi theo Thánh Linh, và kinh nghiệm này (hoặc sự bước đi) được đánh dấu bởi sự tăng trưởng trong ảnh tượng của Đấng Christ khi chúng ta tiến tới sự hiểu biết trọn vẹn hơn về Đức Chúa Trời.
Và cuối cùng, trong bài học này chúng ta sẽ xem xét số phận cuối cùng của chúng ta sẽ ra sao khi chúng ta được nhóm hiệp lại trong sự hiện diện của Đấng Cứu rỗi của chúng ta. Đây là khía cạnh kết thúc của sự cứu rỗi mà tất cả tạo vật hằng trông đợi đó là sự vinh hiển của chúng ta (RoRm 8:18-25).
2 Hãy nhận ra những nội dung cơ bản bao gồm trong sự cứu rỗi bằng cách sắp xếp mỗi tín lý (bên trái) với phần mô tả hay phần điền câu thích hợp với tín lý (bên phải)
Định Nghĩa VỀ SỰ Nên Thánh

Mục Tiêu 2. Chọn định nghĩa đúng về sự nên thánh từ nhiều câu Kinh Thánh .

Khi chúng ta xem xét từng mắc xích dây chuyền của sự cứu rỗi, chúng ta nhận thức rằng những gì Đức Chúa Trời đã khởi đầu thì chắc chắn sẽ được thực hiện đến sự trọn vẹn. Sự cư ngụ của Đức Thánh Linh chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu đời sống đời đời mà sẽ được hoàn tất trọng cuộc sống sẽ đến. Phaolô nói ông tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi Pl 1:6). Vì vậy sự vinh hiển, mắc xích cuối cùng sẽ được bao gồm trong “Ngày của Chúa Jêsus Christ” được xem như là hành động cuối cùng trong công việc cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Ngày đó vẫn còn ở phía trước và khi ngày đó đến thì toàn bộ bản thể của chúng ta sẽ được giải phóng và tất cả muôn vật cũng sẽ được giải phóng (RoRm 8:21-23).
Vậy “Ngày của Chúa Jêsus Christ là gì?” Đó là ngày mà khi Đấng Christ trở lại vì cớ dân sự của Ngài, Hội Thánh của Ngài, là những người được cứu chuộc và trông cậy nơi Ngài. Chúng ta sẽ đọc những từ này trong ITe1Tx 4:16; 5:2.
“Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của Thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết, kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau. Hỡi anh em, về thời và kỳ, thì không cần viết cho anh em, vì chính anh em biết rõ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy”.
Chúng ta hãy đọc thêm về ngày này của Chúa trong ICo1Cr 15:51-52, 58
“Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa. Trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư mất, vì “chúng ta đều đã biến hóa”....Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.”
NGÀY CỦA
CHÚA GẦN RỒI
Chúng ta cũng đọc trong Phi Pl 3:20-21
“Nhưng chúng ta là công dân trên trời, ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài, y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật.”
chắc chắn rằng sự sáng tạo là một sự kiện lịch sử, cũng vậy sự vinh hiển sẽ là một sự kiện lịch sử quan trọng. Nó sẽ “xảy ra” và chúng ta sẽ được biến hóa, được vinh hiển trong sự hiện diện của Ngài (ICo1Cr 15:54). Như vậy, “sự vinh hiển” có thể được định nghĩa như là công việc mà Đức Chúa Trời sẽ thực hiện mà qua đó Ngài sẽ hoàn tất sự cứu rỗi của chúng ta, làm cho chúng ta trọn vẹn đời đời, và Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt của chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển của Ngài (Phi Pl 3:21). Chúng ta không chỉ trông mong cho sự kiện mà Phaolô đã nói với những Cơ đốc nhân ở Lamã gần 2000 năm trước, nhưng chúng ta cũng giống như những Cơ đốc nhân Hêbơrơ đã “Nếm....quyền phép của đời sau” (HeDt 6:5). Giống như một sức hút mạnh mẽ của lực nam châm, sự lôi cuốn của thời đại này đã biến đổi tâm trí và lòng chúng ta “trở về nhà”.
3 Ngày của Chúa xảy ra khi nào?
4 Điều gì xảy ra cho chúng ta là những người Cơ đốc nhân trong ngày
của Chúa?

5 Từ những câu sau đây, hãy chọn một câu cho định nghĩa đúng về sự vinh hiển. Sự vinh hiển là.
a) một thuật ngữ mô tả bản chất kinh nghiệm sự cứu rỗi của con người.
b) hành động mà qua đó Ngài hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài trong chúng ta thông qua Đấng Christ, làm cho chúng ta sẵn sàng cho nước đời đời trong sự hiện diện của Ngài.
Nền Tảng Của Sự Vinh Hiển
Mục tiêu 3 . Chọn một câu trình bày đúng nền tảng của sự vinh hiển .
Chúng ta đã thấy rằng mỗi khía cạnh của sự cứu rỗi dựa trên công việc cứu chuộc của Đấng Christ. Sự vinh hiển tương lai của chúng ta thì được đảm bảo bởi sự chết, sự phục sinh và sự cầu thay của Ngài.
Sự chết của Ngài là giải pháp hiệu quả cuối cùng cho những nan đề gây ra bởi tội lỗi của con người. Sự chết của Ngài đã ban cho những điều sau:
1. Sự công bình của Đức Chúa Trời được thành lập (RoRm 3:25)
2. Sự hoà giải giữa Đức Chúa Trời và con người (IICo 2Cr 5:18-21).
3. Sự thanh tẩy tội lỗi được hoàn tất (HeDt 1:3)
4. Sự cứu chuộc có hiệu quả (Eph Ep 1:7).
“Sự Phục sinh” của Đấng Christ nói đến sự hài lòng của Đức Chúa Trời về công việc của Ngài. Trong chương quan trọng về sự phục sinh (ICo1Cr 15:1-58), sứ đồ Phaolô giảng rằng vì cớ Đấng Christ đã sống lại từ sự chết, và những kẻ tin cũng như vậy.
Công việc của Đấng Christ vì cớ chúng ta không kết thúc với sự chết và sự Phục sinh của Ngài. Ngài bày tỏ sự quan tâm của Ngài cho chúng ta bằng sự cầu thay trước Cha Thiên Thượng ở trên Trời (RoRm 8:34, HeDt 7:25) chính Chúa Jêsus Ngài đã đảm bảo rằng Ngài sẽ cầu nguyện thay cho chúng ta (Hãy đọc LuLc 22:32; GiGa 14:16 và 17:9) Sự cầu thay của Đấng Chirst thì hiệu quả trong việc bảo vệ con người được mua chuộc bởi chính huyết của Ngài khỏi bị sa ngã và chuẩn bị họ được ở trong sự hiện diện của Ngài mãi mãi.
6 Hãy trả lời những câu hỏi sau dựa trên đoạn văn trên.
a Chúng ta có sự đảm bảo nào đối với việc chúng ta sẽ từ chết sống lại hầu ở với Đấng Christ muôn đời?

b Hãy trình bày vắn tắt theo từ riêng của bạn làm thế nào mà sự chết của Đấng Christ có thể làm cho chúng ta được vinh hiển?


c Chúa Jêsus muốn nói gì khi Ngài nói Ngài sẽ cầu thay cho chúng ta (những kẻ tin)?
7 Hãy khoanh tròn mẫu tự của câu trình bày đúng nền tảng của sự vinh
hiển.
a) Sự vinh hiển dựa trên sự trung tín của tín hữu và đến từ sự nên thánh trọn vẹn của tín hữu.
b) Nền tảng của sự vinh hiển là sự chết, sự Phục sinh và sự cầu thay của Đấng Christ.
c) Sự vinh hiển đến từ những việc lành của những tín hữu và nó dựa trên ý tưởng xứng đáng.
SỰ TÁI SANH
SỰ VINH HIỂN

SỰ ĐẢm BẢo SỰ Vinh HiỂn.
Mục tiêu 4. Sắp xếp những thuật ngữ Kinh Thánh cho thấy sự đảm bảo của sự vinh hiển với ý nghĩa của chúng .
Dẫu rằng sự kiện sự vinh hiển của chúng ta dựa trên công việc mục tiêu của Đấng Christ trong lịch sử, tuy nhiên sự đảm bảo về sự vinh hiển trong tương lai thì dựa trên một số thuật ngữ phát sinh ngoài công việc của Đấng Christ khi nó áp dụng vào chúng ta là những tín hữu.
8 Hãy đọc hàng loạt những câu Kinh Thánh sau và liệt kê trong tập ghi chép của bạn thuật ngữ trong mỗi câu cho thấy sự đảm bảo của sự nên thánh.
a Tit Tt 1:2; IGi1Ga 2:25.
b ICo1Cr 15:20, 23
c IICo 2Cr 1:22; 5:5; Eph Ep 1:14
d IICo 2Cr 1:22; Eph Ep 1:13; 4:30.
e 2:14, 18; 5:5; CoCl 3:24; HeDt 9:15; IPhi 1Pr 1:3-4.
9 Hãy chú ý những thuật ngữ trong những câu Kinh Thánh trên cho chúng ta thấy sự đảm bảo về sự vinh hiển trong tương lai như thế nào. Bài tập này sẽ giúp bạn thấy trọn vẹn hơn về tầm quan trọng (ý nghĩa) của những thuật ngữ. Hãy sắp xếp mỗi thuật ngữ (bên cột phải) với phần định nghĩa mô tả hay nhất của nó (bên cột trái).
Những thuật ngữ này ngầm chỉ rằng sự cứu rỗi của chúng ta sẽ được hoàn tất trọn vẹn trong tương lai. Như vậy thì kinh nghiệm cứu rỗi của chúng ta ngay hiện tại chỉ là khởi đầu của những điều sẽ được làm trọn hết cho đến ngày Đức Chúa Jêsus Chirst (Phi Pl 1:6).

BẢn ChẤt CỦa SỰ Vinh HiỂn

Mục tiêu 5: Nhận ra những câu đúng đề cập đến bản chất của sự vinh hiển .

Sự hoàn hảo về linh hồn

Sự trọn vẹn trước hết đề cập đến sự hoàn hảo về đạo đức về điều này Giăng nói rằng “ Chúng ta sẽ giống như Ngài” (IGi1Ga 3:2). Điều này không có nghĩa rằng chúng ta sẽ trở nên Đức Chúa Trời như Ngài là Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta sẽ trở nên giống trong sự hoàn hảo về đạo đức. Khi chúng ta ở trong sự hiện diện vinh hiển của Ngài chúng ta sẽ không thể nào phạm tội sự vinh hiển cất đi mãi mãi khả năng sa ngã của chúng ta vào tội lỗi. Trong sự vinh hiển, chúng ta sẽ trở nên giống Ngài (vô tội) mãi mãi.
Những câu Kinh Thánh sau giải thích một số điều về sự trọn vẹn của sự hoàn hảo mà chúng ta sẽ có. Tôi đã bao gồm trong những ngoặc đơn là những từ được dùng theo ngôn ngữ nguyên thủy của Tân ước (Hy lạp để ngầm chỉ mức độ sự hoàn hảo của chúng ta. Hãy đọc kỹ những câu Kinh Thánh này.
1. Eph Ep 1:4; 5:27; CoCl 1:22 (anomos) : cho rằng chúng ta sẽ trở nên không tì hoặc không chỗ trách được về mặt đạo đức.
2. CoCl 1:22 (hagios) : cho rằng sự vinh hiển bao gồm việc con người chúng ta nên thánh trong Đấng Christ đến một mức độ mà chúng ta hoàn hảo thỏa mãn sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
3. Phi Pl 1:10 (aproskopos): ngu ý rằng trong chúng ta không còn bất kỳ nguyên nhân của sự vấp ngã nào, hầu cho chúng ta có thể đạt đến đích của chúng ta mà không chỗ trách được về mặt đạo đức.
4. 1:10 (eiliknines, được sử dụng với từ aproskopos) nói về ý tưởng của những điều tinh khiết, không vết và vì vậy không chỗ trách được.
5. ICo1Cr 1:8 (anegkletos) đề cập đến những điều được giải phóng khỏi bất kỳ sự buộc tội nào. Vì cớ ấy, trong ngày của Đấng Christ tất cả chúng ta đều đứng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà không bị chê trách.
6. ITe1Tx 3:13; 5:23 (amemptos) cho rằng chúng ta sẽ đứng trong sự hiện diện của cha Thiên Thượng, trọn vẹn trong mỗi bản thể của chúng ta về tinh thần, linh hồn và thân thể.
7. Eph Ep 5:25 (spilos và Rhutis) dạy dỗ rằng Hội Thánh phải là “ không tì không nhăn hay không có bất cứ sự chưa trọn lành nào”.
Khi liên kết lại những mô tả này thì sẽ cho chúng ta một số ý tưởng của sự hoàn hảo mà chúng ta sẽ có. Nó là sự hoàn hảo về đạo đức mà con ngưòi luôn mong đợi kể từ khi sự sa ngã cuả con người trong vườn Êđen (Sáng thế ký 3). Hơn thế nữa xã hội mà chúng ta tham dự sẽ là một xã hội hoàn hảo, vì cớ nó được cư trú bởi những con người hoàn hảo. Bởi sự phục hồi trọn vẹn, địa vị đời đời của chúng ta sẽ trở nên tuyệt diệu hơn hẳn những giấc mơ vĩ đại nhất của chúng ta. Vì cớ không còn bệnh tật, tội lỗi, sự nghèo nàn và sự bất đồng về chính trị, lòng và tư tưởng được soi sáng của kẻ được cứu chuộc sẽ tự do vui thích những điều kỳ diệu của sự sáng và tự do tôn cao Đấng đã tạo ra những điều đó.
10 Hãy khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu đúng trong bài sau đây.
a Khi Giăng nói rằng “ chúng ta sẽ trở nên giống Ngài muốn nói rằng con người dần dần trở thành Đức Chúa Trời.
b Sự vinh hiển là một kinh nghiệm hoặc là một sự xảy ra trong ngày của Đấng Christ, sau sự vinh hiển thì không thể sa ngã vào tội lỗi lần nữa.
c Những từ Hy lạp mà đề cập đến sự hoàn hảo về đạo đức thì ngụ ý đến sự không thể trách được, không chỗ trách được, giải phóng khỏi sự buộc tội, trọn vẹn không vết và trở nên thánh khiết trong Đấng Christ để làm thỏa mãn sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
d Địa vị tương lai của chúng ta sẽ bao gồm một xã hội hoàn hảo .
Dự phần trong sự sống vĩnh hằng
Sự vinh hiển sẽ chuẩn bị sự dự phần trọn vẹn của chúng ta trong sự sống vĩnh hằng. Hiện nay thì chúng ta có sự sống đời đời (GiGa 5:24), tuy nhiên sự trọn vẹn của cuộc sống này thì vẫn còn đang được nhận thức. Có lẽ ví dụ sau đây sẽ minh họa điều này rõ hơn một chút. Ngay khi tái sanh thì hạt giống của sự sống đời đời bắt đầu tăng trưởng, nhưng nó không sanh trái cho đến khi nó đạt đến sự trưởng thành trong ngày của Đức Chúa Jêsus Chirst.
Sự sống đời đời bao gồm 2 khía cạnh: 1) phẩm chất cao của cuộc sống và 2) sự sống vĩnh cửu. Khi chúng ta được phục hồi mối tương giao đúng đắn của chúng ta với Đức Chúa Trời thông qua Chúa Jêsus Christ, thì chúng ta bước vào một sự sống mới. Sự sống này thì đồng nhất với sự sống của chính Đức Chúa Trời. Nó là một đời sống cao hơn đời sống mà chúng ta sống trước đây. Nó thật sự là một sự sống dư dật. Sự vinh hiển .
11 Khi chúng ta nói rằng sự vinh hiển chuẩn bị sự dự phần trọn vẹn trong cuộc sống đời đời, chúng ta muốn nói rằng.
a) hiện nay thì các tín hữu chưa nhận được sự sống đời đời dẫu một chút cũng không có.
b) các Cơ đốc nhân hiện nay thì có sự sống đời đời, tuy nhiên sự trọn vẹn của sự sống này vẫn còn đang được nhận thức .
c) sự sống đời đời là điều gì đó mà một người được kinh nghiệm khi người đó trở nên trưởng thành về thuộc linh.
Sự nhận thức trọn vẹn về sự tự do . Sự Cứu rỗi đem đến điều gì đó mà nó trái ngược với những gì thường trông đợi: Khi những Cơ đốc nhân thuận phục Đấng Christ họ trở nên được tự do. Chúa Jêsus phán rằng: “Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (GiGa 8:32) Ngài nói tiếp, “nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do” (GiGa 8:36). Như đã bày tỏ trong Lời Đức Chúa Trời thì, lẽ thật trở nên xác thịt ( Chúa Jêsus Christ) và làm cho con người thật sự được giải phóng.
Sự tự do chính là điều mà con người mong muốn; và những gì họ muốn thì Đức Chúa Trời hứa. Tuy nhiên những ai không dâng ý muốn riêng của họ trong sự thuận phục Đức Chúa Trời thì vẫn còn ở trong sự trói buộc. Họ sẽ bị nô lệ vào tội lỗi, sự vô vọng và sự chết mãi mãi.
Sự vinh hiển bao gồm sự nhận thức trọn vẹn về sự tự do. Cùng với những điều khác, chúng ta sẽ được giải phóng khỏi tội lỗi. Hiện nay sự giải phóng ra khỏi tội lỗi thì chỉ là một phần ( 8:32-36; RoRm 6:1-8:39; GaGl 5:1, 13 tuy nhiên nó sẽ được hoàn tất trong ngày của Đấng Christ. Hiện nay chúng ta chiến cự lại những dục vọng xác thịt, nhưng rồi sự tranh chiến này sẽ qua đi, và chúng ta sẽ có tự do để làm tốt lành.
Sự vinh hiển cũng mang đến cho chúng ta sự giải phóng khỏi luật pháp. Trong Đấng Christ chúng ta được giải phóng luật pháp cũng như sự xưng công bình và sự nên thánh được đề cập đến. Hiện nay thì luật pháp đạo đức của Đức Chúa Trời hướng dẫn hành động của chúng ta, nhưng trong địa vị đời đời thì sẽ không cần đến luật pháp như vậy nữa (Mat Mt 5:17-18)
Và cuối cùng, sự vinh hiển đem đến sự giải phóng khỏi sự chết. Dẫu rằng hiện nay các Cơ đốc nhân chưa được giải phóngkhỏi kinh nghiệm của sự chết, nhưng họ đã được che chở trong năng quyền hầu cho không bị thương tổn. (ICo1Cr 15:51-56). Bởi sự chết và sự Phục sinh của Đấng Christ, chúng ta không còn phải sợ sự chết nữa (HeDt 2:14-18). Và ngay tại sự vinh hiển, chúng ta sẽ chiến thắng vì cớ sự chết sẽ không còn nữa !
Chúng ta sẽ vui mừng trong sự nhận thức trọn vẹn về sự tự do của chúng ta. (Xem RoRm 8:18-25; IICo 2Cr 4:16-18). Chúng ta “bây giờ” là “con cái của Đức Chúa Trời (IGi1Ga 3:2) và chúng ta đang cố gắng trở nên giống Chúa chúng ta; đương nhiên sau đó chúng ta sẽ trở nên giống với hình bóng của con Ngài hoàn toàn (RoRm 8:29-30). Khi chúng ta được vinh hiển, thì bản chất con người của chúng ta được biến hóa trở nên giống với bản chất con người trọn vẹn của Chúa Jêsus Christ chúng ta.
12 Sự vinh hiển. Hãy hoàn thành những câu đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của sự vinh hiển của chúng ta.
a Sự vinh hiển sẽ kết thúc giấc mơ dài của con người bằng cách hoàn tất

b Sự giải phóng của các Cơ đốc nhân đến bởi kết quả của

c Các Cơ đốc nhân sẽ được giải phóng ra khỏi

d Bản chất của các Cơ đốc nhân sẽ được biến hóa trở nên giống với bản chất con người trọn vẹn

Sự hoàn hảo về thân thể
Vì cớ sự vinh hiển bao gồm toàn bộ bản thể của con người, nó cũng bao gồm sự hoàn hảo về thể xác. Kinh Thánh ban giá trị thật cho con người, và chẳng có điểm nào mà thân thể bị xem thường hay bị gọi là tội lỗi. Thật ra, trong SaSt 1:26-30 chép rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Bạn sẽ nhớ lại rằng, Ađam bao gồm trong sự sáng tạo khi Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài làm và phán rằng mọi việc thật rất tốt lành (1:31).
Trong Tân ước khi thuật ngữ “xác thịt” được dùng, thì nó thường đề cập đến bản chất tội lỗi, bản ngã xác thịt, “con người cũ”. Kinh Thánh nói đến thân thể như là chi thể vật lý của bản thể con người. Con người có đôi mắt, tai, tay, chân và các chi thể vật lý khác, và chúng không phạm tội. Chức năng của chúng chỉ bị đảo lộn khi có sự sai quấy đạo đức. Vì vậy chính thân thể sẽ dự phần trong sự vinh hiển, bời vì nó là một trong những chi thể sống động của chúng ta. Hãy nhớ rằng chúng ta là một sự hiệp nhất của thể xác linh hồn, tâm linh.
13 Hãy đọc IICo 2Cr 5:1-5 và trả lời những câu hỏi sau:
a Phaolô nói rằng trong sự hiện hữu đời đời của chúng ta, chúng ta sẽ mặc lấy

b Hiện tại chúng ta than thở, không phải để lột bỏ thân thể trần tục của chúng ta, song
hầu cho sự gì haychết có thể được biến hóa vào trong sự sống đời đời.
c Đức Chúa Trời là Đấng đã chuẩn bị cho chúng ta sự biến đổi này và Ngài ban cho chúng ta.......................................... đó là sự đảm bảo, là bằng chứng của tất cả những điều Ngài đã dành cho chúng ta.
Trong những câu Kinh Thánh này Phaolô khẳng định rằng thân thể là một phần quan trọng của toàn bộ bản thể con người. Dẫu rằng nhiều kẻ tà giáo cổ xưa cho rằng thân thể là ngục tù của linh hồn, nhưng Phaolô xem thân thể như là một đền thờ được tạo dựng nên để trở thành nơi ngự của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 6:19).
Một người đã lầm lẫn bởi từ dịch là “hèn mạt” trong Phi Pl 3:21 (King James) “Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt của chúng ta”. Tuy nhiên những bản dịch mới hơn dịch chính xác là “Đấng sẽ biến hóa những thân thể hèn mạt của chúng ta” (NIV). Bởi vì cớ ảnh hưởng của tội lỗi mà ngày nay chính thân thể là sự tủi hổ của đời sống chúng ta. Kết quả là nó bị lệ thuộc vào sự rủa sả của tội lỗi, cùng với sự đau đớn, bệnh hoạn, hoạn nạn và sự chết của nó. Nhưng trong sự vinh hiển, thân thể sẽ được biến hóa và trở nên giống như thân thể vinh hiển của Đấng Christ (Phi Pl 3:21; GiGa 3:2).
14 Hãy đọc ICo1Cr 15:51-57 cẩn thận và trả lời những câu hỏi sau.
a Các Cơ đốc nhân sống sẽ đạt đến địa vị vinh hiển của họ khi nào?

b Những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ đạt đến địa vị vinh hiển của họ khi nào?

Sự sống lại của kẻ chết và sự biến hóa của kẻ sống là những sự kiện kỳ diệu vượt quá sự suy tưởng của chúng ta. Tâm trí hạn hẹp của chúng ta không thể nào hiểu hết được sự kiện vinh hiển và sự kiện chấn động toàn cầu là thể nào khi ngày của Đấng Chirst được bày tỏ cũng giống như Giăng, chúng ta không biết chính xác bản chất thân thể được vinh hiển của chúng ta sẽ ra sao (IGi1Ga 3:2). Đối với câu hỏi này Phaolô trả lời rằng Đức Chúa Trời sẽ mặc cho chúng ta một thân thể theo như sự lựa chọn của Ngài. Ông nói rằng : “Sự sống lại của kẻ chết cũng như vậy. Thân thể đã gieo ra là hay hư nát, mà sống lại là không hay hư nát, đã gieo ra là nhục, mà sống lại là vinh; đã gieo ra là yếu, mà sống lại là mạnh; Đã gieo ra là thể huyết khí; mà sống lại là thể thiêng liêng. Nếu đã có thể huyết khí, thì cũng có thể thiêng liêng. Như chúng ta đã mang ảnh tượng của người thuộc về đất, thì chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của người thuộc về trời.
Phaolô so sánh sự sống lại của thân thể với sự tăng trưởng của một cái cây lớn lên từ một hạt giống gieo trong đất. Mầm của hạt khi nhú lên thì hoàn toàn không giống với hạt giống cũng như màu sáng lấp lánh của mầm sáng hơn hạt thì thân thể sống lại cũng vinh hiển hơn thân thể bị chôn. Thân thể được sống lại không phải là một hình ảnh sao lại chính xác của thân thể cũ đã bị chôn. Điều quan trọng là sự Phục sinh của Đấng Christ là một đảm bảo rằng ai chết trong Ngài sẽ được đem vào sự sống đời đời (ICo1Cr 15:20).
15 Hãy khoanh tròn mẫu tự trước những câu đúng liên quan đến bản chất của sự nên thánh.
a Sự Nên thánh trước hết đề cập đến sự hoàn hảo về mặt vật lý.
b Khi chúng ta đứng cách vinh hiển trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không thể nào phạm tội nữa.
c Mỗi chi thể của con người chúng ta: thân thể - linh hồn - tâm linh sẽ trở nên trọn vẹn khi chúng ta được vinh hiển trong ngày của Chúa Giêxu Christ.
d Sự vinh hiển là quá trình mà thông qua đó chúng ta dần dần trở nên giống Đấng Christ hơn cho đến khi chúng ta giống Ngài y hệt.
e Khi Kinh Thánh nói rằng chúng ta sẽ trở nên giống Ngài, điều đó có nghĩa rằng chúng ta sẽ không tội lỗi như Ngài.
f Sự vinh hiển không chỉ bao gồm sự dự phần trong sự sống đời đời nhưng cũng bao gồm sự nhận thức trọn vẹn về sự giải phóng.
g Sự vinh hiển sẽ đem đến sự giải phóng ra khỏi tội lỗi, luật pháp và sự chết.
h Trong địa vị được vinh hiển, chúng ta không còn có một thân thể vật lý nữa.
i Phần của sự biến hóa mà chúng ta sẽ kinh nghiệm tại sự vinh hiển sẽ là một sự biến hóa trong thân thể vật lý của chúng ta.
j Sự sống đời đời sẽ chẳng bao giờ kết thúc và cao hơn hẳn cuộc sống hiện tại của chúng ta.
Vì vậy sự vinh hiển, chúng ta sẽ trải qua sự biến hóa lớn nhất mà con người kinh nghiệm được kể từ khi sáng tạo và kể từ sự kiện tại Gô gôtha, bởi vì Đức Chúa Trời đem chúng ta vào sự hiện diện của Ngài mãi mãi. Tất cả muôn vật đều sẽ dự phần trong sự giải phóng vinh hiển này khi muôn vật được giải cứu khỏi sự hư mất (RoRm 8:19-23). Sẽ có một đất mới. Sự chết và sự hấp hối sẽ không còn nữa, và cũng không còn sự thống hối, sự than khóc và sự đau đớn nữa. Nước mắt sẽ bị gạt bỏ mãi mãi. Đức Chúa Trời của sự sáng tạo và cứu chuộc là Đấng làm chúng ta được vinh hiển và là nơi cư ngụ của chúng ta mãi mãi, và cùng với Phaolô chúng ta có thể vui mừng trong sự tin chắc rằng tương lai đã dành sẵn cho chúng ta, và tin chắc rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã khởi làm việc lành trong chúng ta sẽ làm trọn hết cho chúng ta (Phi Pl 1:6)

Bài tự kiểm tra
1 Sự vinh hiển thì gắn liền với những tín lý về sự cứu rỗi.
a) trong đó nó tượng trưng sự hoàn tất cuối cùng của công việc cứu rỗi trong đời sống của những Cơ đốc nhân.
b) như là một trong những bước tăng trưởng trong sự tăng trưởng thuộc linh của con người trước khi họ đứng trong sự hiện diện của Đấng Christ
c) tuy nhiên bởi vì nó liên quan đến địa vị tương lai của con người vì vậy nó ít được đề cập hoặc là không được đề cập trong Kinh Thánh.
2 Sự đảm bảo về sự nên thánh của tín hữu dựa trên một số các yếu tố xuất hiện ngoài công việc của Đấng Christ nó được áp dụng vào đời sống của tín hữu. Những yếu tố này ngầm chỉ rằng:
a) sự đảm bảo sự vinh hiển của tín hữu trước hết dựa trên sự hy vọng.
b) các tín hữu bây giờ thật sự là con của Đức Chúa Trời và họ có thể mong đợi sự biến hóa ít ỏi nào đó trong kinh nghiệm của họ tại sự vinh hiển.
c) sự cứu rỗi của chúng ta sẽ được hoàn tất trọn vẹn trong tương lai.
3 Trong phần thảo luận bản chất của sự vinh hiển, chúng ta có thể chú ý rằng trước hết nó bao gồm.
a) sự thay đổi vật lý.
b) sự thay đổi thuộc linh
c) sự hoàn hảo về đạo đức
4 Câu nào trong những câu này không phải là của sự vinh hiển?
a) một sự biến hóa hoàn toàn của thân thể.
b) một mức độ vô tội đạt được trong cuộc sống này.
c) một phẩm chất cao hơn của sự sống đời đời và sự tự do vô hạn định.
5 Chúa không chỉ phán về địa vị phước hạnh trong tương lai mà chúng ta sẽ dự phần bằng lời mà thôi và sau đó để chúng ta tin cậy Lời của Ngài. Nhưng hơn thế nữa, Ngài đã.
a) thường xuyên sai những sứ giả đáng tin cậy đến để nói cho chúng ta về địa vị đời đời hầu cho sự trông cậy của chúng ta vẫn sống động.
b) ban cho chúng ta một kinh nghiệm đến bởi Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta là Đấng đảm bảo những gì sẽ xảy đến.
c) đặt để ân tứ tiên tri trong Hội Thánh, để báo cho các Cơ đốc nhân biết dự định của Ngài liên quan đến tương lai.
6 Những thuật ngữ “lời hứa, trái đầu mùa,, của tin, vật làm tin, dấu ấn và di sản” có mục đích là
a) ban cho chúng ta sự đảm bảo rằng sự cứu rỗi của chúng ta sẽ được hoàn tất trọn vẹn trong tương lai.
b) chứng rằng sự cứu rỗi hiện tại của chúng ta là sự cứu rỗi cuối cùng, trọn vẹn và không cần ứng nghiệm gì nữa cả.
c) làm cho chúng ta quen thuộc với những thuật ngữ Thánh Kinh mô tả về sự cứu chuộc.
7 Phần nghiên cứu của chúng ta về 7 từ Hy lạp đề cập đến sự hoàn hảo trong tương lai của chúng ta đã dẫn chúng ta đến kết luận rằng.
a) con người được vinh hiển sẽ sánh bằng với Đức Chúa Trời.
b) con người được cứu chuộc sẽ có sự hoàn hảo về mặt đạo đức mà làm cho họ thích ứng với sự sống đời đòi.
c) sự vinh hiển liên quan đến mỗi cá nhân Cơ đốc nhân nhưng sẽ tác động đến xã hội.
8 Cũng giống như những tín lý khác của sự cứu rỗi thì nền tảng của sự vinh hiển là.
a) mức độ cộng tác mà con người dành cho công việc của Đức Chúa Trời
b) sự trưởng thành của những tín hữu: ( “The more nature have quality, the less naturs do not”)
c) sự chết, sự Phục sinh và sự cầu thay của Đấng Christ.
9 Sự vinh hiển có thể được định nghĩa như là hành động của Đức Chúa Trời mà thông qua đó Ngài.
a) cứu một người là người đặt sự trông cậy trong Ngài.
b) hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài trong con người, làm cho họ sẵn sàng cho cõi đời đời.
c) cất một nhóm những con người cứu chuộc được chọn lựa lên trời ngay tại thời kỳ đầu của sự phán xét các quốc gia ác.
10 Chúng ta thấy rằng tại sự hiển vinh của chúng ta thì
a) tâm linh của chúng ta được bày tỏ trước hết, bởi vì sự hoàn hảo về đạo đức chủ yếu là giải quyết khía cạnh này của con người chúng ta
b) chúng ta sẽ được giải phóng ra khỏi thân thể của chúng ta khi chúng ta bước vào cõi đời đời.
c) mỗi chi thể của chúng ta: thân thể, linh hồn và tâm linh, sẽ được biến hóa.
Bảo đảm rằng bạn đã hoàn tất bản tường trình học viên của bạn về đơn vị 3 và nộp câu trả lời cho người hướng dẫn học chương trình ICI của bạn.

Trả lời những câu hỏi nghiên cứu
8 a Nó được gọi là một “lời hứa”
b Trong phần lớn những bản dịch hiện đại thì Đấng Christ đưọc gọi là “trái đầu mùa” của sự cứu rỗi chúng ta mặc dầu bản TEV dùng chữ “sự đảm bảo”
c Đức Thánh Linh được gọi là của tin (KJV), vật làm tin (NIV) hay là sự đảm bảo về sự cứu rỗi cuối cùng trọn vẹn của chúng ta.
d Đức Thánh Linh ấn chứng cho chúng ta.
e Sự cứu rỗi được gọi là một “di sản”
1 a Đúng
b Sai
c Đúng
d Sai
e Đúng
9 a 4) dấu ấn
b 3) của tin hoặc vật làm tin
c 1) lời hứa
d 5) di sản
e 2) trái đầu mùa.
2 a 10) mục tiêu cuối cùng
b 6) quyết định từ bỏ hoàn toàn.
c 5) một vị trí mới
d 7) từ bỏ tội lỗi
e 8) hoạt động của Đức Chúa Trời từ trước vô cùng
f 3) bao phủ tội lỗi
g 2) trở về cùng Đức Chúa Trời
h 9) một bản chất mới
I 4) quá trình trở nên giống Đấng Christ.
j 1) một chỗ đứng mới.
10 a Sai
b Đúng
c Đúng
d Đúng
3 Như chúng ta đã thấy có ai biết cả những lời Kinh Thánh chép rằng Đấng Christ sẽ đến như kẻ trộm lúc ban đêm.
11 b) Cơ đốc nhân hiện nay có sự sống đời đời.....
4 dẫu cho chúng ta đang sống hay đã chết thì chúng ta cũng sẽ được cất lên để gặp Ngài trong không trung và chúng ta sẽ được biến hóa. Chúng ta sẽ nhận lãnh thân thể được vinh hiển của chúng ta giống như Ngài.
12 a sự giải phóng
b sự thuận phục của họ hoặc là sự lệ thuộc của họ đối với Đấng Christ.
c tội lỗi, luật pháp, sự chết.
d Đấng Christ
5 c) hành động của Đức Chúa Trời mà qua đó Ngài hoàn tất.....................
13 a thân thể vĩnh cửu.
b thân thể thiên thượng
c Đức Thánh Linh
6 a chính sự Phục sinh của Đấng Christ ban cho chúng ta sự đảm bảo về sự sống lại của chúng ta.
b sự chết của Đấng Christ đã cất đi những rào cản giữa chúng ta và Đức Chúa Trời (tội lỗi, sự phân cách , và sự ô uế)
c ông muốn nói rằng Ngài vì cớ chúng ta mà cầu nguyện cùng Cha, hầu cho chúng ta có thể nhận lãnh sức mạnh để sống một đời sống thánh khiết và đắc thắng
14 a những Cơ đốc nhân còn sống sẽ được biến hóa khi Đấng Christ trở lại.
b những Cơ đốc nhân đã qua đời sẽ được biến hóa khi họ được sống lại

7 b) nền tảng của sự vinh hiển là sự chết .......
15 a Sai (đây là một phần của nó nhưng khía cạnh quan trọng nhất là sự hoàn hảo về đạo đức)
b Đúng
c Đúng
d Sai
e Đúng
f Đúng
g Đúng
h Sai
I Đúng
j Đúng
Giải Đáp Bài Tập Trắc Nghiệm
Bài 1
1 a Đúng
b Đúng
c Sai
d Đúng
e Sai
2 a Đúng
b Sai
c Đúng
d Đúng
e Đúng
f Sai
g Sai
3 a Đúng
b Sai
c Đúng
d Đúng
e Sai
f Đúng
Bài 2
1 a) là bước đầu tiên trong việc trở về cùng Đức Chúa Trời.
2 b) nhận ra tội lỗi. cảm thấy hối tiếc.
3 c) những ai không chịu ăn năn ngay bây giờ chắc chắn sẽ


than khóc trong một ngày nào đó............
4 a) mỗi khía cạnh của con người chúng ta thì gắn liền với....
5 c) có một sự triển khai trọn vẹn của sự dạy dỗ................
6 b) những Cơ đốc nhân sa ngã ......................
7 b) sự tốt lành của Đức Chúa Trời, và những cách mà Ngài sử dụng......................
8 a) tất cả mọi người đều phạm tội
9 b) Nước Thiên Đàng vui mừng khi những tội nhân trở về cùng Đức Chúa Trời.
10 b) nó đem sứ điệp đến cho thế gian: sứ điệp làm cho sự giảng hòa được thay đổi.
11 a 2) xúc cảm
b 1) tri thức
c 3) hành động ý chí
d 3) hành động ý chí
e 1) tri thức
f 2) xúc cảm
Bài 3
1 Đúng
2 Sai
3 Đúng
4 Sai
5 Đúng
6 Đúng
7 Đúng
8 Sai
9 Sai
10 Đúng
11 Sai
12 Đúng
13 Sai
14 Đúng
15 Sai
Bài 4
1 a) trong một phương diện rất gần, chúng là những bước.........
2 b) những hành động tác động vào con người ......
3 a) sự đáp ứng của con người đối với Ngôi Lời......
4 c) là trách nhiệm của con người bởi vì Đức Chúa Trời đòi hỏi nó......
5 b) rao giảng Phúc âm
6 a 1) kết quả của sự quy đạo
b 1) kết quả của sự quy đạo
c 2) không phải kết quả của sự quy đạo
d 1) kết quả của sự quy đạo
e 1) kết quả của sự quy đạo
f 1) kết quả của sự quy đạo
g 2) không phải kết quả của sự quy đạo
h 1 kết quả của sự quy đạo
Bài 5
1 b) mô tả tiến trình mà tín hữu ngày càng trở nên giống Chúa hơn.
2 c) Chúa Jesus Christ
3 a) những người đáp ứng sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho.
4 b) sự biết trước của Đức Chúa Trời.
5 c) Giăng 14: 1-3
6 a) đức tin
7 c) cả 2 phần ở trên a và b
8 a) không định đoạt sự cứu rỗi hay sự hủy diệt của con người .
9 b) công bố sứ điệp Phúc âm cho tất cả mọi tạo vật bằng mọi phương cách.
10 c) một sự nhận thức đánh giá sâu sắc về ân điển của Đức Chúa Trời
Bài 6
1 sự sanh từ Thiên thượng hay sanh lại
2 sự sanh lại về thuộc linh
3 Đấng Christ
4 mỗi người trong thế gian
5 Bạn có thể bao gồm 2 điều bất kỳ trong những điều sau đây. Sự nhận thức về đời sống mới bên trong, một lòng ao ước mới cho sự sống, mục đích mới, những chân giá trị mới, cách nhìn mới về cuộc đời, sự làm chứng của Thánh Linh trong đời sống của chúng ta khi Ngài dẫn dắt và hướng dẫn, tình yêu đối với Đức Chúa Trời, đời sống đặt Đức Chúa Trời làm trọng tâm tình yêu thương đối với những người khác
6 b) một người được tái sanh bằng
phép báptem 7 c) Bản chất Thánh khiết của Đức
Chúa Trời
8 a) bản chất bại hoại của con người
9 b) mỗi tôị nhân là người bị lạc trong sa mạc của tội lỗi...........
10 c) công việc sự tái sanh xảy ra một cách bí mật....
Bài 7
1 b) bởi tình yêu thương Đức Chúa Trời ban cho một cách duy nhất là thông qua thập tự giá.................
2 c) được xưng công bình bởi vì sự công bình của Đấng Christ.............................
3 c) đem đến lợi ích của cả câu a và b
4 a) chỉ đức tin mà thôi không bởi việc làm
5 b) ân điển của Đức Chúa Trời và thập tự giá của Đấng Christ.
6 b) chẳng có sự xứng đáng nào của chúng ta hơn là hành động của kẻ ăn mày....................
7 c) sự thương xót (nếu họ nhận được sự phán xét công bình như trong câu a, thì chắc chắn mỗi cá nhân họ phải trả giá cho những tội lỗi của họ.
8 a) sự công bình của con người là kết quả từ những việc lành
9 c) “như thể tôi chưa bao giờ phạm tội”
10 b) chỉ giới hạn cho những ai nhận lấy nó.
Bài 8
1 b) được xem như là những đứa con trong gia đình của Đức Chúa Trời....................
2 c) những người đã tiếp nhận sự chấp nhận được làm con..................................
3 b) tin Chúa Giêxu và tiếp nhận Ngài................
4 c) nhìn nhận chúng ta, nhận chúng ta như là con của Ngài, và ban cho chúng ta Đức Thánh Linh.
5 a) được trở nên là chi thể trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
6 d) thân phận như là những kẻ hầu hạ có cam kết bằng văn bản hợp pháp.
7 b) phong tục tiếp nhận làm con nuôi của người Lamã gốc Hy lạp
8 b) thì được khởi đầu đúng thời điểm và sẽ hoàn tất trong tương lai của cõi đời đời.
9 c) những thân thể, làm cho chúng ta hoàn toàn
10 a 3) sự tiếp nhận làm con
b 1) sự tái sanh
c 2) sự xưng công bình
Bài 9
1 Đúng
2 Đúng
3 Sai
4 Đúng
5 Đúng
6 Sai
7 Đúng
8 Đúng
9 Sai
10 Đúng
11 Đúng
12 Đúng
13 Đúng
14 Sai
15 Đúng
Bài 10
1 a) trong đó có tượng trưng sự hoàn tất cuối cùng
2 c) sự cứu rỗi của chúng ta sẽ được hoàn tất trọn vẹn trong tương lai.
3 c) sự hoàn hảo về đạo đức
4 b) một mức độ vô tội nào đó đạt được trong cuộc sống này.
5 b) ban cho chúng ta một kinh nghiệm đến bởi.....................
6 a) ban cho chúng ta sự đảm bảo rằng sự cứu rỗi của chúng ta ...............
7 b) con người được cứu chuộc sẽ sở hữu sự hoàn hảo về mặt đạo đức................
8 c) sự chết, sự phục sinh,và sự cầu thay củaĐấng Christ
9 b) hoàn tất công việc cứu chuộc của Ngài trong con người,làm cho họ sẵn sàng cho cõi đời đời.
10 c) mỗi chi thể của chúng ta thân thể, linh hồn, và tâm linh.....................
đáng được khen thưởng luân lý thúc đẩy sự thúc đẩy sự quy đạo tiêu cực tiêu chuẩn mục tiêu sự ngăn trở người phạm tội thụ động xứng đáng nhận phần thưởng hoặc được tôn trọng; xứng đáng; đáng ca ngợi liên quan đến những qui tắc đúng hay sai trong cách cư xử được kích thích bởi một động cơ hoặc là tiền thưởng; thúc đẩy người nào đó đi đến hành động hành động hay quá trình chuẩn bị làm kích thích và thúc đẩy đến hành động sự từ chối tin theo đức tin tôn giáo hay những qui tắc đạo đức của bất cứ người nào; sự từ bỏ sự trung thành trước đây; sự rời bỏ nói đến cách sử dụng Kinh Thánh để xác minh thực chất kinh nghiệm cải đạo của ai; bao gồm cách sử dụng các sự kiện Kinh Thánh hơn là cảm giác cá nhân hay những khuynh hướng để phán đoán những kinh nghiệm thuộc linh điều gì đó chắn ngang hay làm ngưng lại trong bước đường tăng trưởng những người làm sai hay vi phạm luật lệ; những người vi phạm luật pháp đạo đức hay luật pháp thiên thượng không kháng cự; không hành động ngược trở lại; thuận phục ý muốn của người khác.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:53 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách