† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 4727|Trả lời: 0

SỰ KIÊNG ĂN THEO Ý CHÚA

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 24-7-2011 20:16:44 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

SỰ KIÊNG ĂN THEO Ý CHÚA

LỜI NÓI ĐẦU
Tôi đã đi khắp các hiệu sách Tin Lành ở một thành phố lớn nọ để hỏi mua sách về chủ đề kiêng ăn. Và họ đã không thể giới thiệu cho tôi một tựa sách nào. Vài ngày sau tôi đến một hiệu sách chuyên về sức khoẻ và dinh dưỡng cũng ở chính thành phố đó. Tôi đã tìm được một quyển sách viết về sự ăn kiêng vì những lý do sức khoẻ. Lúc này tôi đã nhận ra rằng đối với chủ đề này có nhiều cách do các chuyên gia dinh dưỡng viết thiên về mặt vật lý hơn những cách do các tácgiả Cơ Đốc viết thiên về mặt thuộc linh. Sau đó tạ ơn Chúa đã cho tôi có cơ hội đọc được sách của Gordon Core: Reviral Now Through Prayet and Fasting - Phục hưng nhờ cầu nguyện và kiêng ăn, và một sách ngắn của David Smith. Some Light on Fasting. Mộtsố hiểu biết về sự kiêng ăn, trong đó có lời chỉ dạy bổ ích và lời khuyên khôn ngoan. Ngoài 2 hoặc 3 ấn phẩm của Hoa Kỳ, dường như không có sách nào không được xuất bản.
Từng chứng kiến giá trị và ơn phước to lớn của sự kiêng ăn qua nhiều năm, tôi lấy làm lo lắng vì quá nhiều tín đồ sốt sắng lại chẳng bao giờ có suy nghĩ nghiêm túc vềvấn đềnày. Sự lo ngại này khiến tôi không thoải mái khi chia sẻ với những ai khao khát điều tốt đẹp nhất của Đức Chúa Trời, điều mà Kinh Thánh đã nói về sự rèn tập thuộc linh này… Mục đích của tôi là cho ra đời một quyển sách không chỉ đề cập đến những phân đoạn Kinh Thánh chủ yếu dạy về vấn đề này, gồm có một bản chí thích Kinh Thánh, mà còn đề cập càng đầy đủ càng tốt những vấn đề về thực hành có liên quan.
Trong một phần sách này đề cập đến khía cạnh vật lý và thực hành, nói nhiều hơn về sự kiêng ăn, lâu dài, vì hiểu biết đúng về một vật lý cũng rất quan trọng. Điều này sẽ không làm cho độc giả nghĩ rằng mọi người đều được kêu gọi để kiêng ăn lâu dài, hoặc cho rằng kiêng ăn ít ngày hơn thì có giá trị ít hơn. Đây không phải là vấn đề. Tuy nhiên nó rất có ích cho những người chỉ tập kiêng ăn trong thời gian ngắn hiểu được cách hoạt động của cơ thể trong kỳ kiêng ăn dài hơn.
Dĩ nhiên bàn luận về mặt vật lý từmối bận tâm của giới bác sĩ hơn là của giới nghiên cứu Thánh Kinh. Ở đây tôi phải ghi nhớ lòng biết ơn dành cho những tác phẩm của Tiến sĩ OH.Buchinger ở Tây Đức và Tiến sĩ Herbert Shelton ở San Antonio, Texas cả hai đều là chuyên gia trong lãnh vực kiêng ăn liệu pháp, cũng dành cho những người bạn tôi trong giới y khoa, họ dã sẵn lòng đọc bản thảo và xem xét cẩn thận những gì tôi viết về lãnh vực của họ trong đề tài này. Tôi cũng vô cùng biết ơn họ và nhiều người khác đã cho tôi nhiều lời gợi ý bổ ích. Tôi cũng cám ơn cố giáo sư Jame Orr vì bài viết của ông về chủ nghĩa khổ hạnh trong quyển Từ điển Tin Lành, và tác giả của bài viết về sự kiêng ăn trong Hasting Ericyclopaedia of Religion and Ethies - Bách khoa từ điển về Tôn giáo và qui tắc đão đức.
Sự lãng quên chân lý do bởi sự phát minh lại nói thường dẫn đén sự nhấn mạnh nó quá mức. Tôi từng nhận thức sự cám dỗ này trong mối liên quan với đề tài này và vì vậy đã cố gắng dành cho chủ đề này một trọng lượng mà Kinh Th1nh dành cho nó. Chân lý giống như một bức chân dung, và để phóng đại một điểm nổi bật người ta phải biến bức chân dung đã thành ra một bức biếm hoạ về chân lý này. Kết quả cho thấy người biết sy nghĩ sẽ xây bỏ phương cách được chỉ định cách thiêng liêng này của ân điển như một điều gì đó kỳ quặc và cuồng tín.
Kiêng ăn rất quan trọng - có lẽ quan trọng hơn nhiều người trong chúng ta từng nghĩ, vì tôi tin quyển sách này sẽ bày tỏ cho bạn. Mặc dù như thế, nó không phải là học thuyết chính của Thánh Kinh, một nền tảng vững chắc của đức tin, hoặc một liều thuốc bách bệnh cho mọi sự yếu đuối thuộc linh. Tuy nhiên khi đã rèn tập với một tấm lòng trong sạch và một động lực đúng đắn, kiêng ăn có thể cho chúng ta một chìa khoá để mở những cánh cửa mà những chìa khác không thể mở được, một vũ khí thuộc linh được ban cho bởi Đức Chúa Trời, “sức mạnh để phá đổ những đồn luỹ”. Nguyền xin Chúa sử dụng sách này nhằm làm cho nhiều con dân của Ngài nhận thấy rõ tất cả khả năng thuộc linh tiềm tàng trong sự kiêng ăn mà Đức Chúa Trời đã lựa chọn.


TẠI SAO PHẢI KIÊNG ĂN?
Kiêng ăn không được thịnh hành khoảng gần 150 năm qua, ít nhất trong các Hội Thánh Tây phương. Chính quan niệm của một số người thật sự đã làm cho sự kiêng ăn ngày nay trở nên khá xa lạ đối với Cơ Đốc nhân của thế kỷ 20. Họ gán nó với Cơ Đốc giáo thời trung cổ, hoặc có lẽ với tập tục của Giáo hội Anh thế kỷ 17. Họ có lẽ hồi tưởng rằng những lãnh đạo chính trị, như Mahatma Ghandi đã dùng sự kiêng ăn như một vũ khí của sự chống cự thụ động. Đối với các tín đồ ít cực đoan và cuồng tín, sự kiêng ăn bị giới hạn như một sự rèn tập thuộc linh.
Có những người lo ngại đến một thực hành. Đối với họ kiêng ăn và chết đói là những từ đồng nghĩa, và họ sợ nó sẽ đem lại kết quả cóhại cho sức khoẻ. Bởi “chẳng có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng săn sóc nó” (Eph Ep 5:29), họ chống đối sự kiêng ăn hầu như bằng bản năng. Họ nói rằng “Hãy cẩn thận, bạn có thể làm sức khoẻ mình suy yếu nghiêm trọng. Sống một cuộc đời bận rộn như vậy bạn không thể nào thực hiện nghiêm túc việc kiêng ăn!”
Tại sao có những thái độ như vậy đối với sự rèn tập mà rất rõ ràng luôn dựa trên Kinh Thánh? Và đây là câu trả lời kiêng ăn là một trong những đặc điểm chủ đạo của chủ nghĩa khổ hạnh, chủ nghĩa này bắt đầu xuất hiện sau thời các sứ đồ và trở nên cực đoan trong hình thức cũng như lan rộng sự ảnh hưởng trong thời trung cổ. Dư luận chung bắt đầu chuyển sang một hướng khác khi con người nổi lên chống lại bất kỳ điều gì có khuynh hướng khổ hạnh. Hội Thánh ngày nay vẫn còn chịu ảnh hưởng của phản ứng đó. Chúng ta chưa khôi phục sự cân bằng thuộc linh của Cơ Đốc giáo thời Tân Ước.
Tác giả đã nghe được một người giảng giải Kinh Thánh, đưa ra một bài diễn thuyết gợi lên suy nghĩ về lời đáp của Chúa chúng ta cho vấn đề kiêng ăn. Đây là dịp Ngài nói rằng các khách mời tiệc cưới sẽ không ăn kiêng cho đến khi chú rể đã bị đem đi khỏi họ. Tất cả điều mà Ngài phán đều bổ ích, nhưng không lần nào Ngài nói đến đề tài kiêng ăn, hoặc cho biết nó có vị trí quan trọng nào trong đời sống Cơ Đốc ngày nay hay không.
Khi tâm trí chúng ta chịu tác động của thành kiến hoặc bị tê liệt bởi những quan điểm truyền thống, chúng ta có thể đối diện trong Kinh Thánh nhiều lần nhưng không bao giờ chúng ta xúc động. Sự ức chế về mặt thuộc linh của chúng ta liên quan đến chân lý đó cho phép chúng ta nhìn thấy nhưng không thấu hiểu. Chân lý này nằm bất động bên trong, được hiểu bằng trí tuệ nhưng không được ứng dụng theo thuộc linh. Điều này rất đúng trong mối liên hệ với sự kiêng ăn.
Tuy nhiên, khi một chân lý như vậy lần đầu tiên được nung đốt bởi Đức Thánh Linh, có sự tranh chiến ngay tức khắc diễn ra trong tâm trí của hầu hết con người. Chân lý của Kinh Thánh đột nhiên trở nên “sống động và đầy quyền năng” và có một tác động rất mạnh lên những thái độ và thành kiến theo truyền thống của chúng ta.
Kết quả của sự tranh chiến này cho thấy chúng ta có mở lòng mình ra hay không để tiếp nhận và vâng theo sự hiểu biết mới mẻ về Đức Chúa Trời, và cứ tăng trưởng trong sự không biết chân lý. Quyển sách này được viết với mục đích đặt chúng ta đối diện với vấn đề chúng ta có được sửa soạn hay không để đưa thái độ hiện tại của chúng ta về đề tài kiêng ăn (hoặc sự khiếm khuyết của chúng ta về nó) đến phép thử để kết luận về giá trị của Lời Đức Chúa Trời, và sau đó “chớ vượt qua lời đã chép” (ICo1Cr 1:6).
Hầu hết những lần nhắc đến sự kiêng ăn trong Kinh Thánh đều được đề cập ở một điểm nào đó trong sách này. Có thể độc giả ngạc nhiên, cũng như tác giả đã ngạc nhiên, khi thấy rằng Kinh Thánh có quá nhiều lời dạy cho chúng ta bằng thí dụ và châm ngôn về giá trị của sự rèn tập này. Cũng có những lời răn bảo, vì kiêng ăn có những nguy hại của nó, và chúng ta từng cố gắng vạch rõ chúng.
Trong số các vị thánh vĩ đại trong Kinh Thánh, những người đã kiêng ăn gồm có Môi-se, người lập luật pháp, vua Đa-vít, tiên tri Ê-li và Đa-ni-ên. Trong Tân Ước chúng ta có được tấm gương của Chúa Giê-xu chúng ta cũng như của các sứ đồ Ngài. Sự kiêng ăn rõ ràng có vị trí trong đời sống của các Hội Thánh ban đầu. Và sự rèn luyện theo Kinh Thánh này cũng không bị hạn chế trong con người, vì chúng ta thấy những cái tên An-ne trong Cựu Ước và An-ne trong Tân Ước trong địa vị của những người trung gian, những người đã kiêng ăn và cầu nguyện.
Một số các vị thánh vĩ đại trong lịch sử Hội Thánh đã tập luyện kiêng ăn và đã xác nhận giá trị của nó, trong số họ là những người Cải chánh như Luther, Calvin và Knox. Tập tục này không bị hạn chế trong bất kỳ trường phái thần học nào. Ở đây chúng ta tìm thấy Jonathan Edwards, một tín hữu tân phái Canh-vinh, nắm tay với John Wesley, người theo thuyết At-mi-ni-us, và David Vrunerd có mối thông công với Charles Finney.
Những cái tên này tiêu biểu cho những học giả và nhà truyền giáo vĩ đại, các mục sư và giáo sĩ, những sứ giả phục hưng và những nhà truyền bá Phúc Am. Chúng ta có thể tìm thấy trong danh sách người kiêng ăn những tên của Mục sư HIs, người Trung Quốc và Mục sư Blumhardt, người Tây Đức, họ được Đức Chúa Trời sử dụng trong vị trí xã hội riêng của mình một thế kỷ qua để giải cứu những người bị Sa-tan trói buộc. Thời gian không cho phép chúng ta đề cập nhiều người được, Đức Chúa Trời nuôi nấng và sử dụng trong chính chức vụ này ngày hôm nay qua sự cầu nguyện và kiêng ăn.
Những việc làm của những người vĩ đại này hiếm khi có thể bị che dấu. Thường thường mộ phần của họ chưa xanh thì những người viết tiểu sử họ đã phát hiện ra những quyển nhật ký và những sổ ghi chép của họ. Nhưng chỉ khi sổ thiên đàng mở ra trong ngày hầu đến. Chúng ta mới thấy hết có bao nhiêu vị thánh vô danh, họ không viết nhật ký và cũng không có người viết lại tiểu sử họ, nhưng họ đã cầu nguyện và kiêng ăn cùng Đức Chúa Trời, Đấng nhìn thấy trong nơi kín nhiệm. Chắc chắn họ cũng sẽ toả sáng trong số những vị thánh nổi tiếng, “thậm chí như những ngôi sao chẳng bao giờ tắt”.
Trong Tân Ước kiêng ăn là một ống dẫn của quyền năng. Khi tính chất thuộc linh giảm xuống và tính chất thế gian tăng lên thì quyền năng và các ân tứ của Thánh Linh rút khỏi thế gian. Sự mất đi sức mạnh bên trong đó con người chỉ có thể bám víu vào điều mà họ đã từ bỏ, một điều thứ yếu bên ngoài của nó. Càng ngày người ta càng nhấn mạnh đến vẻ bên ngoài của việc kiêng ăn, mặc dù bị mất đi tính thuộc linh bên trong, điều duy nhất có thể đem lại giá trị cho nó. Chủ nghĩa khổ hạnh trở thành dấu hiệu của sự tin kính và bản tính thuộc linh. Lời tiên tri của Phao-lô cho rằng “bề ngoài giữ điều nhân đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhân đức đó” (ITi1Tm 3:5) đã được ứng nghiệm.
Nhưng ngợi khen Đức Chúa Trời, một ngày mới đang bắt đầu, một sự khao khát mới về Thánh Linh, bắt đầu đánh thức Hội Thánh đang mê ngủ. Đây chính là ngày của sự làm mới thuộc linh. Có nhiều sự tìm kiếm và đòi hỏi, nhiều gánh nặng và lòng khao khát trên tay mỗi người. Tiếng kêu than của Hội Thánh thấu đến thiên đàng. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang giục lòng mạnh mẽ. Tất cả điều này là gì ngoài những cơn đau đẻ con đầu lòng của thời đại mới mà chẳng bao lâu nữa phải được sinh ra.
Đức Chúa Trời quyết tâm có một Hội Thánh vinh hiển không vết không tì, một cô dâu xứng với Con Trai yêu dấu của Ngài. Đây là sự tin chắc của tác giả và trong cơn đau đớn khi sinh con, chúng ta lại khám phá ra một trong những điều bí mật của Hội Thánh đầu tiên, quyền phép được ban ra qua sự kiêng ăn thật sự, được rèn tập theo Kinh Thánh vì chính Đức Chúa Trời.


SỰ KIÊNG ĂN BÌNH THƯỜNG
“Ngài đã kiêng ăn bốn mươi ngày, bốn mươi đêm rồi, sau thì đói ” Mat Mt 4:2.
Khi con người không thích nghĩa đen và đơn giản của một điều gì đó trong Kinh Thánh họ luôn bị cám dỗ thuộc linh hoá nó và vì vậy làm mất đi hiệu lực của nó. Một khi chân lý trở nên mơ hồ nó không còn có bất kỳ áp dụng thực tiễn nào. Họ đã làm cùn đi lưỡi của nó, nó không còn có thể cắt được nữa. Nói chung đây là điều mà một Hội Thánh tuyên xưng đức tin, và những người theo phái Phúc Am nói riêng, có xu hướng hài lòng với lời dạy trong Kinh Thánh về sự kiêng ăn.
Chúng ta được dạy rằng “Kiêng ăn không hề đơn giản, cũng không nhất thiết là sự kiêng nhịn đồ ăn, nhưng kiêng nhịn tất cả những gì làm ngăn trở mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời”. Hoặc họ nói rằng “Kiêng ăn có nghĩa là bỏ qua được chính mình, tập tự hạn chế mình”. Chúng ta chỉ phải mở rộng nghĩa vừa đủ và cái lưỡi sắc bén đã mất đi.
Thật vậy ngoài đồ ăn có nhiều điều có thể ngăn trở mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời. Cũng thật đúng đắn, chúng ta cần rèn tập tự hạn chế chính mình nói chung. Sự thật vẫn cho rằng “kiêng ăn” có nghĩa là “không ăn” (1). Chúng ta sẽ thấy có 3 hình thức chính mà sự kiêng ăn được hiểu trong thời Thánh Kinh, nhưng từng hình thức liên quan đến sự kiêng nhịn một đam mê ăn uống theo nghĩa đen. Nếu đôi khi từ này được mở rộng đến những hình thức khác của sự tự hạn chế mình thì điều này không làm thay đổi một sự thật về ý nghĩa cơ bản của nó.
Để thuận tiện chúng ta hãy gọi hình thức đầu tiên và thông thường nhất là sự kiêng ăn bình thường. Điều mà hình thức này có liên quan rất đơn giản từ sự đề cập đầu tiên đến sự kiêng ăn trong Tân Ước, Chúa Giê-xu đã kiêng ăn…. rồi sau thì Ngài đói. Nó có nghĩa là kiêng nhịn đồ ăn, đặc hoặc lỏng, nhưng không nhịn nước uống. Dường như chúng ta thấy rõ từ những chi tiết được đưa ra trong sự kiêng ăn của Chúa thuộc dạng này.
Chúng ta được dạy rằng “Ngài không ăn chi hết” (LuLc 4:2), nhưng không phải Ngài đã không uống gì. Sau đó thì “Ngài đói” nhưng không khát. Mặc dù khốn khổ vì khát lớn hơn vì đói, Sa-tan cám đỗ Ngài ăn, nhưng không cám dỗ Ngài uống. Tất cả điều này cho thấy rằng kiêng ăn là sự kiêng nhịn đồ ăn nhưng không kiêng nhịn nước uống. Thật vậy, có thể con người không thể sống được qua 10 ngày nếu không có nước trừ phi được gìn giữ một cách siêu nhiên.
Không có điều gì gợi ý rằng sự kiêng ăn bao gồm việc nhịn ngủ. Đức Chúa Trời có thể kêu gọi chúng ta thực hiện điều này trong một khoảng thời gan rất ngắn, chẳng hạn không ngủ một đêm. Phao-lô nói về sự “tỉnh thức” như khác với “sự kiêng ăn” (IICo 2Cr 6:5; 11:27; bản AV). Nếu nhịn ngủ cần thiết cho sự kiêng ăn, thì không có sự kiêng ăn kéo dài nào có thể thực hiện được, ngoài sự can thiệp siêu nhiên. Cơ thể con người thèm ngủ hơn cả nước, và chắc phải chết không sớm thì muộn, và sự kiêng ăn này sẽ vô tình bị ngắt ngang.
Có một kết luận mạnh mẽ trong ICo1Cr 7:3-5 cho rằng sự kiêng ăn thật đối với những người đã kết hôn bao gồm sự kiêng nhịn những quan hệ vợ chồng, nhưng điều này phải có sự chấp thuận của cảhai người. Ở đây chúng ta không thể giáo điều vì dường như chắc chắn rằng sự kể đến từ “kiêng ăn” (c.5) trong bản văn của bản dịch AV (King James) là một lời chú giải, và không có phần nào của bản gốc (2). Tuy nhiên quan niệm về sự kiêng ăn ở đó.
Kiêng ăn bình thường bao gồm kiêng nhịn tất cả những dạng thức ăn, nhưng không kiêng nhịn nước, và phải được phân biệt với 2 hình thức khác. Kiêng ăn hoàn toàn và kiêng ăn những phần, mà chúng ta sẽ xem xét ngay giờ đây.
(1) Tiếng Hy Lạp nesteus, xuất xứ từ chữ “ne”, một tiếp đầu ngữ phủ định, và từ esthine, có nghĩa “ẩn”.
(2) Xem phụ lục I


KIÊNG ĂN HOÀN TOÀN
…“người ở đó trong ba ngày chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống ” - Cong Cv 9:9.
Chúng ta có một vài tấm gương trong Kinh Thánh về hình thức kiêng ăn mà chúng ta gọi là kiêng ăn hoàn toàn, tức kiêng nhịn nước uống cũng như đồ ăn. Thường thường kiêng ăn hoàn toàn không bao giờ vượt quá 1 ngày, có thể kiêng ăn hoàn toàn trong thời gian dài hơn có thể gây tổn hại về mặt vật lý cho con người. Cơ thể có thể chịu đựng khoảng thời gian dài không có thức ăn và có thể có lợi về mặt vật lý, nhưng chỉ chịu đựng được một thời gian rất ngắn nếu không có nước.
Chúng ta đọc được trong E-xơ-ra rằng “người vào đó không ăn bánh và cũng không uống nước, bởi người lấy làm buồn thảm vì cớ tội lỗi của dân đã bị bắt làm phu tù trở về” (Exo Er 10:6). E-xơ-ra mất tinh thần vì nỗi đau khổ và sự kinh ngạc trước thoả hiệp đáng xấu hổ của dân sự mà trong đó các thầy tế lễ, người Lê-vi và các quan trưởng là những người hướng dẫn. E-xơ-ra nói “ta bèn xé áo trong và áo tơi mình, nhổ tóc đầu và lông râu, rồi ngồi buồn bã” (Exo Er 9:3). Sự quan tâm quá mức khiến E-xơ-ra kiêng ăn, người đã không ăn và cũng không uống.
Hoàng hậu Ê-xơ-tê nói với Mạc-đô-chê “hãy vì tôi kiêng cử ăn trong ba ngày và đêm, chớ ăn hay uống gì hết; tôi và các nàng hầu tôi cũng sẽ kiêng ăn nữa” (EtEt 4:16). Một cơn khủng hoảng hết sức nghiêm trọng đe doạ toàn bộ dân tộc Do Thái với sự huỷ diệt. Ngay cả Ê-xơ-tê cũng không thể mong được miễn bởi nàng là hoàng hậu. Ê-xơ-tê đã kêu gọi sự kiêng ăn hoàn toàn này vì những hoàn cảnh nguy hiểm đòi hỏi có những cách xử lý liều lĩnh.
Sau-lơ người Tạt-sơ đã đến Đa-mách trong tình trạng bàng hoàng và mù 2 mắt bởi người đã gặp Đấng Christ sống lại. Và “người ở đó trong ba ngày… chẳng ăn và cũng chẳng uống” (Cong Cv 9:9). Sự cách mạng thuộc linh đang xảy ra trong lòng người Pha-ri-si trẻ tuổi này không chỉ làm thay đổi toàn bộ chiều hướng cuộc đời của người mà còn định hình lịch sử của Hội Thánh Cơ Đốc. Có thể sự biến động đột ngột này quá lớn đến nỗi Phao-lô chẳng nghĩ đến việc ăn uống chút nào.
Có những tấm gương trong Kinh Thánh về sự kiêng ăn hoàn toàn; những tấm gương mà chắc hẳn siêu nhiên trong đặc tính bởi vì khoảng thời gian kiêng ăn rất dài của họ. Trong hai lần khác nhau, mỗi lần kéo dài 40 ngày và 40 đêm. Môi-se ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và đã không ăn cũng không uống (PhuDnl 9:9, 18; XuXh 34:28). Lần đầu là khi Môi-se nhận Mười Điều Răn từ Đức Chúa Trời. Lần thứ hai ngay sau đó, sau khi nhận thấy dân sự đang thờ lạy con bò vàng và vì vậy đã vi phạm luật pháp trước khi họ nhận nó theo đúng nghi thức. Hai lần kiêng ăn này được thực hiện hầu như không có thời gian, tạm dùng và cũng tạo nên một kỳ kiêng ăn dài nhất trong Kinh Thánh, 80 ngày đêm không ăn uống.
Rồi hành trình của Ê-li đến Hô-rếp dường như được thực hiện trong suốt kỳ kiêng ăn hoàn toàn. Nếu quả dúng như vậy chắc chắn nó rất siêu nhiên. Dưới cây giếng giêng, Ê-li nằm ngủ sau khi thoát khỏi Giê-sa-bên và rồi được thiên sứ đánh thức, thiên sứ cho người một cái bánh như mới nướng và một bình nước. Hai lần Ê-li được bảo ăn và uống, và sau đó người “nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm cho đến Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời” (IVua 1V 19:8).
Một hành trình với khoảng thời gian như vậy đi qua vùng sa mạc nóng như thiêu đốt, nếu nó được hoàn tất, như Kinh Thánh nói, mà không có sự nuôi dưỡng nào thêm, thì tạo thành một kỳ kiêng ăn hoàn toàn rất siêu nhiên như những lần kiêng ăn của Môi-se. Nếu đúng như vậy nó và một sự tương ứng đáng chú ý khác giữa hai người đại diện hàng đầu cho giao ước cũ, Môi-se người ban luật pháp và Ê-li người khôi phục nó (MaMl 4:4-6; Mac Mc 9:12) vì cả hai đều có một kết cuộc siêu nhiên cho hành trình trên đất của họ cũng như sự tái xuất hiện siêu nhiên với Chúa Cứu Thế trên núi thánh.
Để riêng ra những sự kiêng ăn quan trọng và siêu nhiên này, chúng ta kết luận rằng kiêng ăn hoàn toàn là một cách xử lý ngoại lệ cho một tình huống ngoại lệ. Nó là một điều gì đó luôn dành cho những tình trạng khẩn cấp về thuộc linh. Con người biết về những trường hợp rất cấp thiết mà không cho phép cầu nguyện và kiêng ăn bình thường, nhưng những trường hợp này đáp lời khi người trung bảo được Đức Chúa Trời hướng dẫn phải kiêng ăn hoàn toàn. Điều này đặc biệt đúng trong những trường hợp bị quỉ ám. Con người cần chắc chắn sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời để thực hiện sự kiêng ăn hoàn toàn đối với bất kỳ sự kiêng ăn nào quá 3 ngày.

KIÊNG ĂN MỘT PHẦN
“Ta chẳng ăn bánh ngon, thịt và rượu chẳng vào miệng ta ” (DaDn 10:3)
Ở đây sự nhấn mạnh nằm ở sự hạn chế thức ăn thường ngày hơn là sự kiêng nhịn hoàn toàn. Ở đầu sách của Đa-ni-ên chúng ta được giới thiệu người trai trẻ này cùng với ba người bạn của người. Họ đã được chọn trong số những phu tù và Do Thái vì có nguồn gốc quí tộc và có những sự hiểu biết rộng để được giáo dục đặc biệt, vối dự định họ có thể đứng chầu trước mặt vua Ba-by-lôn.
Những người này kiên quyết không làm ô uế chính mình bởi đồ ăn ngon của vua và rượu vua uống, vì chúng đã được dâng cho các thần của Ba-by-lôn trước. Thay vào đó họ xin được ăn rau và uống nước. Người đầy tớ coi sóc họ đồng ý thử kết quả của chế độ ăn đơn giản này trong 10 ngày. Mười ngày trôi qua “mặt họ lại có vẻ xinh tươi đầy đặn hơn mọi kẻ trai trẻ khác đã ăn đồ ngon vua ăn” (DaDn 1:15).
Khó có thể nói ở đây có sự can thiệp siêu nhiên hay không, nhưng nólà một sự thật được thừa nhận chung của ngành nghiên cứu về chế độ ăn uống và dinh dưỡng -thức ăn đơn giản và lành mạnh có lợi hơn rất nhiều lần thức ăn ngon và được chế biến cầu kỳ. Những người có cuộc sống xoay vòng với yến tiệc và bia rượu thường mắc những chứng bệnh do sự ăn uống quá độ gây ra, kể cả chứng nghẽn động mạch. Tất cả các hình thức kiêng ăn, mặt khác, đều cólợi về vật lý và nhiều người không thuộc cộng đồng Cơ Đốc đã kiêng ăn vì những lý do sức khoẻ.
Tuy nhiên giá trị của sự kiêng ăn một phần không bị giới hạn chút nào trong cơ thể vật lý. Dần về sau của sách Đa-ni-ên chúng ta biết được cách mà tiên tri này đã nhận sự mạc khải từ Đức Chúa Trời liên quan đến tương lai của dân Y-sơ-ra-ên của người. Đa-ni-ên mô tả các người đã tìm kiếm Đức Chúa Trời để hiểu được khải tượng này "Trong những ngày đó ta Đa-ni-ên, đương buồn rầu trải ba tuần lễ trọn. Ta chẳng an bánh ngon, thịt và rượu chẳng vào miệng ta và ta không xức dầu chi hết cho đến chừng ba tuần đã mãn" (DaDn 10:2, 3).
Chúng ta không biết tại sao Đa-ni-ên không tham dự, kỳ kiêng ăn bình thường như chúng ta thấy người thực hiện trong một đoạn trước. Có thể những điều kiện hiện tại hoặc những hoàn cảnh khác ngăn trở điều này; hoặc có lẽ chỉ đơn giản là Đức Chúa Trời đã hướng dẫn người theo cách khác. Chắc chắn có một giá trị thuộc linh rõ ràng trong một khoảng thời gian đặc biệt cho sự tìm kiếm Đức Chúa Trời với một chế độ ăn hạn chế như vậy. Đối với Đa-ni-ên nó dẫn đến sự đắc thắng thuộc linh rất lớn trên mọi quyền lực của sự tối tăm cũng như sự khám phá một khải tượng bởi sứ giả là một thiên sứ.
Một điều gì đó gần gũi với sự kiêng ăn một phần được thấy trong giai đoạn sửa soạn về mặt thuộc linh của Ê-li. Tuy khe Kê-rít, một con quạ đã đem bánh và thịt cho Ê-li vào buổi sáng và buổi chiều và người uống nước từ khe núi. Sau đó ở nhà người đàn bà goá tại Sa-rép-ta để cứ sống bằng một cái bánh nhồi được làm từ bột và dầu (IVua 1V 17:1-24).
Ngoài quá trình rèn luyện của người của Đức Chúa Trời trong sự tự hạn chế mình, rất cần thiết cho những ai được giao phó năng lực thuộc linh, chế độ ăn uống của tôi tớ Đức Chúa Trời nên đơn giản nhất, điều này thật đúng đắn, trong khi ở vùng nông thôn đang đối diện với cảnh chết đói. Để trợ giúp có hiệu quả những người nghèo khó, chúng ta phải được đồng hoá với nhu cầu của họ và ở vào địa vị của họ.
Một tín hữu người Nga gây ấn tượng sâu sắc cho một đôi vợ chồng Cơ Đốc khi bà đến sống trong nông trại của họ ở nước Anh một vài năm trước. Được cải đạo cách diệu kỳ, bà đã được Đức Chúa Trời kêu gọi hầu việc Ngài trong một trại của dân bị trục xuất bởi chiến tranh ở Ao. Bà lịch sự khước từ loại kem của xứ Xentic, loại kem này có trong hầu hết các loại thức ăn, và chỉ cho phép mình ăn những thứ ăn giản dị nhất, và giải thích rằng bà không thể làm gì khác khi các anh chị em bà và những người xung quanh bà đang phải chịu đựng một hoàn cảnh khó khăn như vậy. Đức Chúa Trời chẳng bao giờ quên dành sự ưu đãi cho sự tự hạn chế mình như vậy.
Kiêng ăn một phần cho phép nhiều sự biến thể mà từng được chứng minh với ơn phước và ích lợi. Có một cách sống đặc biệt chỉ nhờ một loại thức ăn trong suốt thời gian kiêng ăn. Suốt những ngày đầu tiên của mình ở George, John Wesley đã chọn “bánh mì” tức sống chỉ bằng bánh mì khô. Lần này có liên hệ với điều mà ông đã tin là một trường hợp quỉ ám (1).
Những người khác đã từng kiêng ăn một phần bằng cách bỏ một bữa ăn nào đó trong mỗi ngày, như vậy hạn chế khắc khe số lượng thức ăn tiêu thụ. Chúng ta biết được qua tiểu sử của Rees Howells rằng ông đã chọn cách này trong thời gian Đức Chúa Trời sửa soạn ông cho một chức vụ mới: “Ông đã bỏ bữa ăn tối trong nhiều ngày… nhưng dành một giờ mỗi ngày trò chuyện với Đức Chúa Trời” Cần phải đề phòng để bảor ằng lượng thức ăn của một bữa ăn bị bỏ đó không được bù đáp bằng cách tăng lượng thức ăn trong những bữa ăn khác!
Kiêng ăn một phần có giá trị lớn, đặc biệt ở nơi mà những hoàn cảnh không cho phép hoặc không thuận lợi để thực hiện việc kiêng ăn bình thường. Chắc chắn nó cũng đòi hỏi một kỹ luật tự giác không kém.Nó có thể được dùng như một bàn đạp cho sự kiêng ăn bình thường đối với những người chưa từng kiêng ăn trước đây Một trong những ưu điểm của nó đó là sau một thời gian dài được duy trì sự ăn uống biình thường có thể được bắt đầu lại ngay, điều này không áp dụng được cho hai hình thức kiêng ăn còn lại.
Sau đây chúng ta nên lưu ý rằng dưới ba hình thức kiêng ăn chính mà chúng ta vừa xem qua, sự kiêng ăn chính mà chúng ta vừa xem qua, sự kiêng ăn theo Kinh Thánh có thể được thực hiện chung một cộng đồng cũng như riêng từng cá nhân, thường xuyên cũng như vào dịp đặc biệt nào đó vô tình cũng như cố ý. Chúng ta cũng nên chú ý những nhu cầu và những hoàn cảnh khác nhau dẫn con người đến việc kiêng ăn và sự áp dụng của chúng cho chúng ta ngày nay. Nhưng trước hết chúng ta hãy xét đến hai câu nói quan trọng của Chúa chúng ta vềsự kiêng ăn, vì hai câu nói này chắc chắn xác định thái độ của chúng ta đối với toàn bộ chủ đề này.
1. N.Churnock (NXB), Wesley’s Journals Tập 1
2. Norman Grubb, Rees Howells, Interussr. Tác phẩm về Thập tự chinh của Cơ Đốc - Christian Literature Crusade.


“KHI” KHÔNG PHẢI “NẾU”
“Khi các ngươi bố thí…. Khi các ngươi cầu nguyện…. Khi các ngươi kiêng ăn ” (Mat Mt 6:2, 5, 16)
Trong sứ mạng vĩ đại mà Chúa Cứu Thế truyền cho các sứ đồ Ngài. “Hãy đi dạy dỗ muôn dân… dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Mat Mt 28:19, 20). Khoảng một thế kỷ hoặc hơn thế có một xu hướng nhấn mạnh và đề cao lời dạy của các thư tín trong cách thức như gợi ý rằng nó thay cho lời dạy của Chúa Cứu Thế như chúng ta bắt gặp trong các sách Phúc Am.
Một số người thậm chí còn khẳng định rằng lời dạy của Bài Giảng Trên Núi không có ứng dụng trực tiếp nào đối với tín đồ ngày nay, rằng về cơ bản nó thuộc về Đấng Mê-si-a và dân Do Thái, được ứng nghiệm trong một thời đại nghìn năm nào đó trong tương lai. Đây là một sai lầm nghiêm trọng và trong sự mâu thuẫn trực tiếp với sứ mạng của Chúa Cứu Thế vừa được kể đến. Nếu những từ này có bất kỳ nghĩa nào thì chắc chắn rằng điều Chúa Giê-xu đã dạy các môn đồ Ngài cũng dạy cho mỗi thế hệ hậu sinh của các môn đồ, và lời đó phải được vâng giữ, thậm chí cho đến ngày tận cùng của thời đại (cũng xem ITi1Tm 6:3, 4).
Chúa chúng ta đã dạy cho các môn đồ Ngài điều gì liên quan đến sự kiêng ăn? Điều đó chắc chắn chỉ dẫn cho tư cách đạo đức của chúng ta ngày nay. Được trích dẫn ở trên là lời đầu tiên trong hai lời quan trọng của Ngài về đề tài này.
Khi nói về sự bố thí, cầu nguyện và kiêng ăn, Chúa Giê-xu đã nhắc nhở các thính giả của Ngài về sự vô ích của việc thể hiện sự ngoan đạo của họ trước mặt người khác để được họ nhìn thấy (Mat Mt 6:1-18). Ngài không nói “Nếu các ngươi cầu nguyện” như thế cầu nguyện là điều không bắt buộc, nhưng “khi các ngươi cầu nguyện”, coi như họ nhận biết cầu nguyện là sự tối cần thiết.
Chúa Giê-xu cũng không nói: “Nếu các ngươi kiêng ăn”. Như thế kiêng ăn là điều gì đó mà các môn đồ có thể hoặc không thể được hướng dẫn thực hiện, hay như thể nó chỉ áp dụng cho một số người được chọn, các sứ đồ hoặc các tiên tri, các nhà truyền giáo hoặc các vị lãnh đạo Ngài đã phán cách rõ ràng, dứt khoát và không có sự hạn chế đối với phàn lớn các môn dồ Ngài, “khi các ngươi kiêng ăn…” Ngài để chúng ta tin chắc rằng Ngài coi như là các môn đồ Ngài phải rèn tập để vâng theo sự hướng dẫn của Thánh Linh trong kiêng ăn, cũng như trong cầu nguyện và bố thí, khi cơ hội cần đến nó.
Nên chú ý rằng Chúa chúng ta đã đề cập sự kiêng ăn như một bài tập thuộc linh phân biệt với sự cầu nguyện. Mặc dù kiêng ăn và cầu nguyện thường được đi liền nhau trong Kinh Thánh và trong kinh nghiệm, đây không hẳn là vấn đề này. Chúng ta không nên nghĩ kiêng ăn như một ngôi nhà liền vách, luôn luôn đi chung với cầu nguyện. Ngược lại nó đứng trên những vị trí của nó và đôi khi có thể dùng cho một mục đích thuộc linh.
Có thể có cầu nguyện mà không có kiêng ăn thể nào, thì cũng đôi lúc có kiêng ăn mà không có cầu nguyện thể ấy - điều này thật sự có thể được chấp nhận đối với Đức Chúa Trời - ít nhất trong ý nghĩa về sự cầu thay. Chúng ta đọc trong Ê-xơ-tê không có đề cập nào về sự cầu nguyện đi đôi với kiêng ăn. Trong sự kiêng ăn của các tiên tri và thầy truyền giáo ở An-ti-ốt, họ đã dâng mình thờ phượng hơn là cầu nguyện (Cong Cv 13:2).
Bởi vì con người không thể dâng mình để cầu nguyện cho toàn bộ thời gian kiêng ăn, tức không có nghĩa là trong thời gian đó nếu không đi kèm với sự cầu nguyện đặc biệt thì không có giá trị thuộc linh. Kiêng ăn, như chúng ta sẽ lưu ý sau đây, có nhiều mục đích bên cạnh một mục đích rất quan trọng đó là để dễ dàng cầu thay.

THÌ GIỜ NGAY LÚC NÀY
“Đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn ” (Mat Mt 9:15)
Câu nói quan trọng thứ hai này của Chúa Giê-xu về sự kiêng ăn như một câu trả lời cho câu hỏi của các môn đồ Giăng Báp-tít. Họ hỏi rằng “Cớ sao chúng tôi và những người Pha-ri-si kiêng ăn, còn môn đồ thầy không kiêng ăn?” Câu trả lời của Chúa vô cùng thích đáng cho vấn đề của Cơ Đốc nhân ngày nay họ có nên kiêng ăn hay không Ngài đã nói “Trong khi chàng rể còn ở với bạn hữu đến mừng cưới, thì những bạn hữu đó có thể nào buồn rầu được ư? Nhưng đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn”
Mặc dù có những lúc Chúa Giê-xu và các môn đồ Ngài bị đói hoặc vì yêu cầu công việc, họ đã không có đủ thì giờ để ăn, không có bằng chứng nào cho rằng Ngài hoặc họ đã dự phần trong một kỳ kiêng ăn tự nguyện có thời hạn chính xác, khác hơn 40 ngày kiêng ăn của Chúa trong đồng vắng trước đó để khởi sự chức vụ công khai của Ngài. Ở đây Ngài đưa ra một lý do. Chàng rể vẫn còn ở với các bạn hữu dự tiệc cưới.
Đây là thời gian thích hợp cho yến tiệc hơn là kiêng ăn, cho vui mừng hơn là buồn rầu. Một ngày mới đã bắt đầu. Vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến gần. Luật lệ cũ với những nghi thức, nghi lễ của nó và sự ràng buộc của luật pháp đã qua đi vĩnh viễn. Ngay cả khi chàng rể đã bị đem đi khỏi họ cũng không có sự trở lại của chủ nghĩa hợp pháp và chủ nghĩa khổ hạnh của luật lệ cũ mặc dầu các môn đồ Ngài sẽ lại kiêng ăn, nhưng sự kiêng ăn đó vì những lý do khác và trong một tinh thần khác với tinh thần đặc trưng cho sự kiêng ăn của người Pha-ri-si, hoặc thậm chí của Giăng Báp-tít. Như Chúa Giê-xu đã tiếp tục giải thích, bầu da cũ của Do Thái giáo không thích hợp đựng rượu mới của Thánh Linh.
“Nhưng đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn. Đây có lẽ là câu nói quan trọng nhất trong Tân Ước về vấn đề kiêng ăn. Chúa Giê-xu đang đề cập đến khoảng thời gian nào? Có phải Ngài muốn nói đến khoảng thời gian rất ngắn từ khi Ngài bị bắt cho đến lúc Ngài xuất hiện trong sự sống lại không? Một số người đã suy nghĩ như vậy dựa vào những lời của Ngài sau đây “Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta, rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta… Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ khóc lóc, than vãn còn người đời sẽ mừng rỡ; các ngươi sẽ ở trong sự lo buồn, nhưng sự lo buồn các ngươi sẽ đổi làm vui vẻ” (GiGa 16:16, 20). Quan điểm này từng được diễn ta như sau:
Ngài đã bị đem đi khỏi họ, và họ kiêng ăn và buồn rầu suốt những ngày tăm tối đó, nhưng Ngài đã trở lại, và đứng trên đỉnh Ô-li-ve, Ngài đã phán “Này ta sẽ luôn ở cùng các ngươi”. Từ đó không còn chỗ cho sự than khóc nữa; không còn chỗ cho nét mặt buồn rầu bi thảm, nhưng có chỗ cho sự cười đùa, vui mừng và hớn hở (1).
Theo quan điểm này, những ngày vắng chàng rể được giới hạn trong ba hoặc cao lắm là bốn ngày. Với sự sống lại và tái xuất hiện của Chúa Cứu Thế, khoảng thời gian kiêng ăn đã trôi qua.
Có thể rất dễ chịu khi nghĩ đến quan điểm này, dường như nó không thể được giữ với nhiều lý do. Thứ nhất, thời đại này không phải thời đại của sự vui mừng luôn luôn. Chắc chắn có sự vui mừng nhưng nó lẫn lộn với sự buồn rầu. Chắc chắn có chỗ cho sự than khóc trong khi tội lỗi, nó buồn và sự xung đột vẫn còn quanh chúng ta. “Chúng ta phải qua nhiều sự khổ não để vào Nước của Đức Chúa Trời”.
Ngoài tất cả những điều này. Làm thế nào có thể có sự vui mừng không bị xoá nhoà trong khi Chúa và Chủ yêu dấu của chúng ta vẫn còn đang chờ đợi để có được Nước Ngài, để nhận thấy sự khó nhọc của linh hồn Ngài và để được thoả lòng? Chắc chắn Lời của Ngài: “Phước cho những kẻ than khóc” có ứng dụng cho thời đại này.
Sau đó một lần nữa Lời của Chúa chỉ nhấn mạnh hai khoảng thời gian. Có một thời gian vui mừng, “trong khi chàng rể còn ở với bạn hữu đến mừng cưới”, điều này đã được ứng nghiệm rồi. Có một thời gian buồn rầu theo sau: “đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ”. Nhưng cách giải thích ở trên nhấn mạnh đến cụm từ thứ ba, khi chàng rể trở lại cùng họ, điều này không thấy trong câu nói ở đây của Chúa Cứu Thế.
Trong sự suy luận từ những trường hợp tương tự của Chúa chúng ta các khách mời tiệc cưới vui vẻ vì chàng rể ở cùng họ. Sự vui mừng này trôi qua, chàng rể ra đi, và các vị khách buồn vì họ không biết cho đến bao giờ họ lại được gặp chàng rể. “Đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ” cho thấy một sự vắng mặt trong khoảng thời gian không xác định rõ, nhưng chắc chắn lâu hơn khoảng thời gian ngăn ngủi của những ngày lễ cưới.
Thời gian vui mừng và yến tiệc tiêu biểu cho những năm thi hành chức vụ trên đất của Ngài. Có chắc rằng thời buồn rầu và kiêng ăn đã được ứng nghiệm trong một vài ngày vắng Chúa Giê-xu trước khi Ngài xuất hiện trong sự sống lại không? Và trong bất kỳ trường hợp nào, thì bằng chứng cho thấy họ đã kiêng ăn suốt ba ngày đó nằm ở đâu? Khi Ngài hiện ra với họ trong phòng cao và đã hỏi họ có gì ăn không và họ đã đem cho Ngài một miếng cá nướng (LuLc 24:41, 42).
Như vậy chúng ta phải nghĩ rằng những ngày vắng Chúa Giêxu cho đến khoảng thời gian của thời đại này là lúc Ngài thăng thiên đến bên Đức Chúa Cha cho đến khi Ngài sẽ trở lại từ thiên đàng. Đây rõ ràng là cách các sứ đồ Ngài đã hiểu Ngài, vì cho đến sau sự thăng thiên của Ngài chúng ta mới đọc thấy họ kiêng ăn (Cong Cv 13:2, 3).
Trước khi chàng rể rời khỏi họ Ngài đã hứa rằng Ngài sẽ trở lại đón họ về với Ngài. Hội Thánh vẫn chờ đợi tiếng kêu lúc nửa đêm, “kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người” (Mat Mt 25:6). Chính thời đại này của Hội Thánh là thời đại vắng chàng rể. Đây chính là thời đại của Hội Thánh mà Chúa chúng ta đề cập khi Ngài nói “thì họ mới kiêng ăn”. Thời gian chính là lúc này!
Những lời này của Chúa Giê-xu là lời tiên tri. Các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã làm trọn chúng, và vì vậy có nhiều vị thánh trong những thế hệ nối tiếp sau đó. Những người làm trọn lời đó ngày nay ở đâu? Than ôi, họ thật là ít và thất thường, là ngoại lệ thay vì luật lệ, nên gây ra sự thiệt hại lớn cho Hội Thánh.
Tuy nhiên một thế hệ mới đang lớn lên. Trong lòng nhiều người có sự quan tâm dành cho sự khôi phục quyền năng chức thánh đồ. Nhưng làm sao chúng ta có thể phục hồi quyền năng chức thánh đồ trong khi sao lãng việc rèn tập chức vụ đó? Làm sao chúng ta có thể mong chờ quyền năng tuôn chảy nếu chúng ta không chuẩn bị những ống dẫn? Kiêng ăn là một phương tiện được Đức Chúa Trời chọn lựa để môn đồ ân tứ và quyền năng của Ngài điều mà chúng ta không còn có thể sao lãng được nữa.
Kiêng ăn trong thời đại này không chỉ là một việc làm để than khóc vì sự vắng mặt của Chúa Cứu Thế, nhưng là việc làm để chuẩn bị cho sự trở lại của Ngài. Ước ao lời tiên tri này “thì họ mới kiêng ăn” sẽ được ứng nghiệm trong thế hệ này. Chính Hội Thánh đang kiêng ăn và cầu nguyện sẽ nghe tiếng gọi rộn ràng “Kìa, chàng rể đến!” Nước mắt sẽ được lau khô, và kiêng ăn được đổi ra yến tiệc trong tiệc cưới Chiên Con.
Thánh Linh và Vợ mới cùng nói: “Hãy đến”
“Phải ta đến mau chóng”
“A-men, Lạy Chúa Giê-xu, xin hãy đến!” (KhKh 22:17, 20)
1. G.Campbell Morgan, The Gospel According to Mathew - Phúc Am theo Ma-thi-ơ, Fleming H.Revel Co.

NHỮNG LẦN KIÊNG ĂN ĐỊNH KỲ VÀ CHUNG CẢ CỘNG ĐỒNG
“Đến ngày kiêng ăn… khá đọc cho dân sự nghe lời Đức Giê-hô-va.. ” (Gie Gr 36:6)
“Hãy định sự kiêng ăn, gọi một cộng đồng trọng thể ” (Gios Gs 2:15).
Chúng ta đã ghi nhận rằng kiêng ăn bình thường dược thực hiện vào dịp đặc biệt khi nhu cầu phát sinh, và nó là một vấn đề cá nhân giữa một người và Đức Chúa Trời. Những kỳ kiêng ăn định kỳ và chung cho cả cộng đồng là những ngoại lệ dễ thấy, và Kinh Thánh đưa ra nhiều ví dụ về nó. Có một mối liên hệ giữa hai loại này trong đó hầu hết những lần kiêng ăn định kỳ trong Kinh Thánh cũng là những lần kiêng ăn chung cho c ả cộng đồng, nhưng không phải tất cả những kỳ kiêng ăn chung cả cộng đồng đều nhất thiết là những kỳ kiêng ăn có định kỳ đều đặn.
Ngày lễ chuộc tội, Đức Chúa Trời đã nói rằng trong ngày này mỗi người dân Y-sơ-ra-ên phải ép tâm hồn mình (LeLv 23:27 đối chiếu Thi Tv 35:13 và EsIs 58:5 bản AV), là kỳ kiêng ăn định kỳ hàng năm được mô tả trong luật pháp Môi-se. Từ Cong Cv 27:9 chúng ta biết rằng loại kiêng ăn này vẫn được người Do Thái tuân thủ trong thời Tân Ước. Ngoài “ngày kiêng ăn” trong thời Giê-rê-mi được trích ở trên, chúng ta thấy trong XaDr 8:19 có 4 kỳ kiêng ăn định kỳ hàng năm để kỷ niệm 4 sự kiện chính có liên quan đến sự bị huỷ diệt của Giê-ru-sa-lem (1).
Vào thời Chúa Giê-xu người Pha-ri-si đã phát triển tục lệ kiêng ăn định kỳ này và biến đổi nó thành một sự ràng buộc theo luật pháp giống mọi điều thuộc linh khác mà họ đã động đến. Như vậy Chúa Cứu Thế cho chúng ta biết một hình ảnh của người Pha-ri-si tiêu biểu; họ là người khoe khoang trong lời cầu nguyện, “tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần” (LuLc 18:11, 12). Trong thế kỷ thứ 2 và 3 sau Chúa, thứ tư và thứ sáu hàng tuần được công nhận là những ngày kiêng ăn, và John Wesley đã làm sống lại tục lệ này trong vòng những người theo giáo phái Giám lý đầu tiên.
Luôn luôn có một mối nguy hiểm đó là bất kỳ một bài tập thuộc linh nào khi đã được thực hiện thường xuyên như một thói quen thì thường trở thành một hình thức trống rỗng, một nghi thức hoàn toàn thiếu đi nội dung thuộc linh. Nhưng chúng ta không thể chối bỏ sự rèn tập kiêng ăn có định kỳ vì mọi nguy hiểm này. Chúng ta không từ bỏ những khoảng thời gian đều đặn dành cho việc cầu nguyện hoặc thói quen dâng hiến thường xuyên cho Đức Chúa Trời bởi vì người Pha-ri-si cũng lạm dụng những điều này. Kiêng ăn có định kỳ không cần trở nên quan liêu nghi thức.
Cần nhấn mạnh rằng dù thường xuyên hay thỉnh thoảng kiêng ăn vẫn là một vấn đề giữa một cá nhân và Đức Chúa Trời. Những bài học về lịch sử dạy chúng ta biết hạn chế mọi xu hướng, để định kỳ sự kiêng ăn đều đặn bởi chính cá nhân mình hầu cho trở nên một tục lệ của Hội Thánh đã từng trở thành một luật lệ của Hội Thánh mà với nó người thành tín phải cúi đầu, và một ách khác cũng được đặt trên cổ của các môn đồ; ách này không có vị giám mục của Hội Thánh hay những người kế tục nào của họ có thể mang nổi. Điều này sẽ được nói nhiều hơn ở chương về chủ nghĩa khổ hạnh.
Nếu chúng ta chú ý mối nguy hiểm này và quan tâm để sao cho thói quen kiêng ăn không trở nên một hình thức không có tinh thần và sức sống, và để chúng ta không cố gắng áp dặt sự rèn tập riêng xuất phát từ tấm lòng chúng ta trên người khác, thì sẽcó một giá trị thật sự trong sự kiêng ăn đều đặn. Nó không chỉ cho chúng ta có cơ hội thường xuyên để tra xét và tái định hướng đời sống thuộc linh của mình, mà còn là một phương pháp hữu ích để sử dụng tốt thời gian quí giá của mình. Kiêng ăn đều đặn một ngày mỗi tuần có nghĩa là thời gian để chuẩn bị 3 bữa ăn, có thể nói khoảng không giờ, được dành ra từ chương trình bận rộn của chúng ta và được đầu tư nhiều hơn trong Vương quốc Đức Chúa Trời, đặc biệt, trong việc cầu nguyện - một chức vụ cao cả. Ở đây là một liều thuốc bổ dương hàng tuần cho cả linh hồn và thể xác điều này có thể cũng là một công cụ đem ân phước cho nhiều người.
Trong số những người tự cho phép mình mê đắm trong cao lương mỹ vị phải đề cập đến tộc trưởng của Open Brothren, Robert Chapman của Varnstaple (1803-1902). Thói quen của ông là dành ngày thứ bảy hàng tuần để kiêng ăn. Ông không tiếp khách vào ngày này, nhưng tự nhốt mình trong xưởng làm việc, ở một mình với Đức Chúa Trời và với cái máy tiện của ông - một thời gian của sự giải trí, thông công cũng như sửa soạn linh hồn cho Ngày Đức Giê-hô-va hầu đến. Có một ghi nhận rằng vào một ngày thứ bảy nọ có một người vì việc khẩn cấp đã đến xưởng làm việc gặp ông, người ấy nói “Mặt ông ấy toả sáng như mặt của thiên thần”. (2)
Ai có thể nói sự rèn tập này đã đóng góp bao nhiêu cho tầm vóc thuộc linh mà Robert Chapman đã đạt được và sự riêng tư hiếm thấy của sự bước đi với Đức Chúa Trời của ông? Nhiều người ao ước đạt được sự thánh hoá của tâm hồn và đời sống như ông nhưng lại không sẵn lòng đi theo con đường mà ông đã đi. “Tại sao chúng ta không thánh khiết hơn” John Wesley, một người kiêng ăn đều đặn khác đã hỏi những nhà truyền giáo “Chủ yếu bởi chúng ta là những người nhiệt tình, chờ đợi kết quả mà không có phương pháp”.
Những lần kiêng ăn có định kỳ đều đặn trong Cựu Ước đều chung cho cả nước và cộng đồng. Nhưng cũng có những kỳ kiêng ăn chung nhưng không phải kiêng ăn định kỳ, nhưng chỉ hạn chế trong những dịp khẩn cấp và tối cần thiết. Vua Giô-gia-phát kêu gọi cả nước kiêng ăn khi Giu-đa bị xâm chiếm (IISu 2Sb 20:1-4), và E-xơ-ra cũng vậy đã kêu gọi những phu tù Y-sơ-ra-ên kiêng ăn trước khi họ bắt đầu hành trình gian khó trở về Giê-ru-sa-lem cùng với những vật dụng quí giá cho đền thờ (Exo Er 8:21-23). An tượng nhất là kỳ kiêng ăn của dân thành Ni-ni-ve sau khi nghe lời rao giảng của Giô-na, chúng ta sẽ xem xét điều này ở một chương sau.
Nhưng trường hợp này và nhiều trường hợp khác cho thấy những kỳ kiêng ăn chung của cộng đồng đôi lúc được kêu gọi vì sự khốn khó về mặt thuộc linh hoặc vì thời kỳ đất nước bị khủng hoảng, cũng một cách này trong chiến tranh thế giới thứ II, Hoàng đế đã kêu gọi vương quốc Anh kiêng ăn cầu nguyện một ngày, Hai thế kỷ trước cũng chính nước này được kêu gọi “kiêng ăn và cầu nguyện một cách nghiêm túc trong một ngày” bởi vì sự xâm lược của người Pháp đang đe doạ họ. Thứ sáu ngày 6 tháng 2 năm 1756 Wesley viết trong nhật ký của ông rằng:
“Ngày kiêng ăn là một ngày vinh hiển, như London từng chứng kiến từ sự khôi phục nền quân chủ Anh năm 1660. Mọi Hội Thánh trong thành phố này đều chật ních người, và sự trang nghiêm hiện trên từng nét mặt, chắc chắn Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu nguyện của họ, vì thế mà sẽ có thời gian dài chúng ta yên lặng.
Một chú thích cho chúng ta biết:
Sự hạ mình đã được đổi thành niềm vui mừng cho toàn dân vì sự xâm lược của quân Pháp đã bị ngăn cản.
Chúng ta đọc Kinh Thánh và thấy rằng bất cứ tình trạng khẩn cấp nào được đáp ứng bằng lời kêu gọi toàn dân kiêng ăn thì luôn luôn được Đức Chúa Trời đáp lời bàng sự giải cứu. Vì những cơn khốn khó nghiêm trọng của đất nước và thế giới chắc chắn còn nằm ở phía trước, chúng ta nên nhớ việc làm ngày xưa dựa theo Kinh Thánh này để thánh hoá một kỳ kiêng ăn chung cho cả cộng đồng. Cho dù chỉ có những người tin kính Chúa thật sự trong đất nước sẵn sàng hưởng ứng họ cũng sẽ nhận thấy lời hứa của Đức Chúa Trời vẫn có giá trị: “Ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (IISu 2Sb 7:14).
Nếu có một Hội Thánh địa phương đang có nguy cơ bất hoà và chia rẽ, nếu đời sống thuộc linh đang sa sút và mang nhiều tính chất thế gian, nếu người trở về tin nhận Chúa thì ít, còn tín hữu sa ngã thì nhiều, thì đây có phải là lúc các lãnh đạo Hội Thánh nên kêu gọi Hội Thánh mình kiêng ăn và cầu nguyện không?
Trước khi kết thúc phần này chúng ta nên hiểu rằng trong Kinh Thánh sự kiêng ăn cũng ngụ ý sự kiêng nhịn đồ ăn một cách không cố ý. Hai loại kiêng ăn không cố ý đó là khi không muốn ăn vì lo lắng, buồn rầu hoặc suy sụp tinh thần (DaDn 6:18), và khi con người rơi vào hoàn cảnh không có lương thực cần dùng (Mat Mt 15:32).
Phao-lô biết rõ rất nhiều về loại sau. Một số nhà giải kinh hiểu sự đề cập đến “kiêng ăn” trong IICo 2Cr 6:5 và 11:25 ngụ ý nói về loại nghịch cảnh vô tình này, như bản RSV đưa ra ở đây nhưng chứng thực. Hiển nhiên Phao-lô không gặp khó khăn khi giải quyết những tr3i nghiệm của sự túng thiếu như vậy với những lời hứa. “Đức Chúa Trời của tôi sẽ cung ứng mọi nhu cầu của anh em”. Phao-lô biết rằng kinh nghiệm nhận ra chính mình một cách tạm thời mà không có đồ ăn, và không có cách để được có nó, là một thử thách cần thiết của đức tin được Đức Chúa Trời cho phép và ơn phước cuối cùng của Ngài. Trong chính ngữ cảnh của lời hứa tuyệt vời này Phao-lô nói: “vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào cũng thoả lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, hầu dư hay thiếu cũng được” (Phi Pl 4:11, 12).
Nếu Đức Chúa Trời thậm chí kêu gọi chúng ta bước đi trong cảnh nghèo túng một khoảng thời gian ngắn, và chúng ta nhận ra chính mình trong một sự kiêng ăn mà không do chúng ta chọn lựa, chúng ta đừng lo sợ. Dầu vậy Ngài sẽ thay đổi hoàn cảnh khó khăn của chúng ta và ban ơn lại cho chúng ta hơn cả ban đầu.
1. Tháng thứ 10, bắt đầu sự bao vây. IIVua 2V 25:1. Tháng thứ 4 sự sụp đổ thành Giê-ru-sa-lem, Gie Gr 39:2. Tháng thứ 5, sự phá huỷ thành và đền thờ, IIVua 2V 25:8, 9. Tháng thứ 7, Ghê-đê-ôn bị giết, IIVua 2V 25:25
2. Frank Holmes, Brother Padeed - Anh em thật. Nhà xuất bản Victory

KIÊNG ĂN VÌ ĐỨC CHÚA TRỜI
“Có phải các ngươi vì ta, thật là vì ta mà giữ lễ kiêng ăn đó chăng? ” (XaDr 7:5)
“Đương khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn… ” (Cong Cv 13:2)
“Kiêng ăn thời nay! Để được gì?” Là câu hỏi ngờ vực của nhiều Cơ Đốc nhân. Nếu họ muốn hỏi “Bản thân con người nhận được gì bởi sự kiêng ăn?” thì có nhiều câu trả lời cho họ, và sẽ được đưa ra trong sách này, nhưng có một vấn đề quan trọng hơn cần giải đáp trước.
Có quá nhiều suy nghĩ của chúng ta bị chi phối bởi nguyên tắc tự cho mình là trung tâm, “Tôi kiếm được gì?” thậm chí trong những khao khát và những tham vọng về thuộc linh của chúng ta cái tôi có thể vẫn được đề cao. Thập tự giá phải làm việc trong chúng ta nếu cuộc sống được đặt trung tâm trong Đức Chúa Trời. Chỉ như vậy sự thúc đẩy về thuộc linh của chúng ta mới có thể được thay đổi đáng kể và có thể hướng đến Cứu Chúa thay vì hướng vào cái tôi. “Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình” (IICo 2Cr 5:15, RV).
Ngay cả trong những phạm vi mà sự kiêng ăn được công nhận như một bài tập thuộc linh bình thường, thường có nhiều nhấn mạnh đến sự kiên ăn vì lợi ích cá nhân, vì sự ban cho quyền phép, vì những ân tứ thuộc linh, vì sự chữa lành về cơ thể vật lý, vì những sự đáp lời đặc biệt cho lời cầu nguyện, mà một khía cạnh khác lại bị quên lãng. Không có gợi ý nào cho rằng tìm kiếm những điều này là không đúng, nhưng động cơ cơ bản của chúng ta trước nhất phải đúng. Rất có ý nghĩa khi trong lời nói đầu tiên về đề tài kiêng ăn trong Tân Ước Chúa Giê-xu đã đề cập đến vấn đề động cơ thúc đẩy (Mat Mt 6:16-18). Trong đề tài này không có khía cạnh nào quan trọng hơn nó.
Đức Chúa Trời không chỉ quan tâm chúng ta làm gì nhưng còn quan tâm tại sao chúng ta lại làm điều đó, một việc làm đúng có thể bị mất hết giá trị của nó trước mặt Đức Chúa Trời nếu nó được thực hiện với một động cơ sau. Sự nguy hiểm của điều này rất nghiêm trọng trong lãnh vực những bài tập tôn giáo hời hợt bên ngoài. “Tại sao chúng tôi kiêng ăn mà Chúa chẳng đoái xem?” Những tín đồ bối rối trong thời Ê-sai đã hỏi. Một câu trả lời của thiên đàng liền ngay đó “Này, trong ngày các ngươi kiêng ăn cũng cứ tìm sự đẹp ý mình” (EsIs 58:3). Những kỳ kiêng ăn mà họ tham dự, với tất cả sự ngoan đạo phô trương của họ, được thúc đẩy bởi tính tư lợi và tự tư lợi. Không ngạc nhiên tại sao Đức Chúa Trời đã hỏi một cách phẫn nộ “Đó há phải là sự kiêng ăn mà ta chọn lựa…?” (c.5)
Sự tự cho mình là trung tâm dưới lớp áo ngoan đạo được nhìn thấy trong tất cả hành động đạo đức giả đáng xấu hổ của nó trong sự kiêng ăn của người Pha-ri-si, và để phản đối điều này Chúa Giê-xu đã nhấn mạnh trong Bài Giảng Trên Núi, và nói với những người theo Ngài rằng khi họ kiêng ăn thì chớ như bọn giả hình. Người Pha-ri-si phô trương sự ngoan đạo của họ hoặc sự tán thưởng của con người bằng cách cố làm sao để người ta biết họ đang kiêng ăn. Họ không thờ phượng Đức Chúa Trời nhưng vì sự hãnh diện của lòng họ. Sau đó khi Chúa Giê-xu mô tả lời cầu nguyện của người Pha-ri-si trong đền thờ; những lời đó như sau “Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác … Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần”, Ngài cẩn thận cho chúng ta biết rằng người đó “đã cầu nguyện với chính mình” (LuLc 18:11, 12).
Kiêng ăn phải được thực hiện vì Đức Chúa Trời, ngay cả trước mắt Đức Chúa Cha, Đấng nhìn thấy trong nơi kín nhiệm. Trong khi tránh tính tự phụ trơ tráo của người Pha-ri-si và lòng mong muốn được con người khen ngợi, chúng ta vẫn còn hành động bởi những động cơ ích kỷ vì chiều theo những ước muốn và tham vọng riêng tư, và không có động cơ cơ bản đó là làm vinh hiển Đức Chúa Trời.
Trong EsIs 58:1-14, tác phẩm kinh điển của Kinh Thánh về đề tài kiêng ăn, Đức Chúa Trời nhắc nhở dân sự Ngài rằng sự kiêng ăn được chấp nhận là sự kiêng ăn mà Ngài chọn lựa. Kiêng ăn, giống như cầu nguyện, phải được Đức Chúa Trời khởi xướng và được Ngài quyết định nếu nó muốn có kết quả. Sự cầu nguyện phổ biến khỏi nguồn từ Đức Chúa Trời, Ngài đặt trên chúng ta một gánh nặng bởi Thánh Linh, và chúng ta đáp lại gánh nặng đó. Lời cầu nguyện nào bắt nguồn từ Đức Chúa Trời luôn trở về Đức Chúa Trời. Và sự kiêng ăn cũng vậy. Khi Đức Chúa Trời chọn sự kiêng ăn của chúng ta Ngài sẽ không phải hỏi chúng ta như Ngài đã hỏi dân sự Ngài trước đây, “Có phải các ngươi vì ta, thật là vì ta mà giữ lễ kiêng ăn đó chăng?” (XaDr 7:5 R.V.)
Dĩ nhiên tất cả điều này không bỏ đi trách nhiệm khỏi chúng ta. Về phần chúng ta phải nhận biết sự đúng đắn và cần thiết của việc kiêng ăn, phải sẵn lòng đối với kỹ thuật tự giác và rèn tập bằng cả tấm lòng mình trước Đức Chúa Trời; nhưng suy cho cùng quyền chủ động là của Ngài. Khi mà chúng ta kiêng ăn, chúng ta kiêng ăn bao lâu, bản chất của sự kiêng ăn, và những mục đích thuộc linh trước mặt chúng ta đều là sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, một môn đồ vâng phục luôn vui vẻ đáp ứng những điều này.
Nguyên tắc này cũng áp dụng cho sự kiêng ăn có định kỳ đều đặn, ý muốn nói sự kiêng ăn một ngày mỗi tuần. Chúng ta phải chắc chắn rằng Đức Chúa Trời đang hướng dẫn chúng ta thực hiện. Thậm chí có những lúc rất không thuận lợi để thực hiện, hoặc có khi chúng ta được hướng dẫn không thực hiện; hoặc có thể có lúc chúng ta được chỉ dẫn không tiếp tục kiêng ăn nữa. Chúng ta không nên ở trong sự ràng buộc của luật lệ, ngay cả những luật lệ thuộc linh. “Nhưng ví bằng anh em nhờ Thánh Linh chỉ dẫn, thì chẳng hề ở dưới luật pháp” (GaGl 5:18)
Khi Giô-ên kêu gọi “thánh hoá sự kiêng ăn”, tức ông muốn nói “Hãy biệt riêng sự kiêng ăn cho Đức Chúa Trời”. Điều này hoàn toàn cơ bản nếu việc kiêng ăn của chúng ta được chấp nhận đối với Đức Chúa Trời. Sẽ có những lúc chúng ta sẽ quên đi vấn đề lợi ích cá nhân của mình, có lúc chúng ta sẽ bị thu hút vào sự ngạc nhiên, tình yêu thương và sự ngợi khen khi chúng ta kiêng ăn vì Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ tự biết mình như bà tiên tri An-ne. “hầu việc Đức Chúa Trời, kiêng ăn và cầu nguyện” (LuLc 2:37), hoặc như các lãnh đạo của Hội Thánh ở An-ti-ốt” thờ phượng Chúa và kiêng ăn” (LuLc 13:2). Đây chắc chắn là khái niệm cao quý nhất, đó là thờ phượng và hầu việc Đức Chúa Trời, dâng mình cho Chúa, và sau là phương cách để đạt được kết quả thuộc linh nào đó.
Tốt nhất chúng ta nên trích từ bài giảng nổi tiếng của John Wesley về sự kiêng ăn (1) trong phần kết này.
Trước nhất, hãy thực hiện việc kiêng ăn vì Đức Chúa Trời, chỉ hướng lòng chúng ta về Ngài. Hãy để mục tiêu của chúng ta là điều này và chỉ điều này duy nhất, để làm vinh hiển Cha chúng ta ở trên trời, để bày tỏ sự buồn rầu và xấu hổ của chúng ta vì nhiều lần chúng ta vi phạm luật pháp thánh khiết của Ngài, để trông chờ sự mở rộng ân điển thanh tẩy, mà cuốn hút thiện chí của chúng ta đối với những điều ở trên, để thêm sự trang nghiêm và đạt được tất cả lời hứa cao cả và quí báu mà Ngài đã hứa cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế Giê-xu… Chúng ta hãy cẩn thận kẻo chúng ta yêu thích điều chúng ta sẽ được nhận từ nơi Đức Chúa Trời bởi sự kiêng ăn của mình. Chúng ta cũng không thường được cảnh báo về điều này; vì mong muốn “tạo nên sự ngay thẳng cho mình”, để có được sự giải cứu những tội khiên và không của ân điển, được cắm rể quá sâu trong lòng của mỗi chúng ta. Kiêng ăn chỉ là một cách mà Đức Chúa Trời đã định, về điều này chúng ta chờ đợi lòng thương xót của Ngài mà chúng ta không đáng được và về điều này, không có bất kỳ công lao nào của chúng ta Ngài đã hứa ban phước cho chúng ta cách nhưng không.
Như vậy sự kiêng ăn được chọn lựa của Đức Chúa Trời là sự kiêng ăn được chỉ định; là sự kiêng ăn được biệt riêng cho Ngài, để hầu việc Ngài, để tôn cao và làm vinh hiển Ngài; là sự kiêng ăn được dự kiến để làm thành ý chỉ tối cao của Ngài. Rồi chúng ta sẽ nhận thấy rằng kiêng ăn vì Đức Chúa Trời luôn đổ ơn phước trở lại trên chúng ta và Đức Chúa Trời, Đấng nhìn thấy nơi kín nhiệm sẽ rất vui lòng ban thưởng cho chúng ta được giữ gìn khỏi sự thừa nhận những ơn phước này có ý nghĩa đối với chúng ta hơn Đấng ban ơn, “vì muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài và hướng về Ngài. Vinh hiển cho Ngài đời đời vô cùng. A-men” (RoRm 11:36)
1. John Wesley, Sermon 27. Bài giảng 27 (Bài thứ 7 về Bài Giảng Trên Núi Mat Mt 6:16-18).


CHO SỰ THÁNH HOÁ BẢN THÂN
“Tôi khóc và nhịn ăn để ép linh hồn tôi ” (Thi Tv 69:10)
“Phước cho những kẻ than khóc ” (Mat Mt 5:4)
Đến giờ này chúng ta đã biết kiêng ăn là gì. Chúng ta đã xác định nó là một sự rèn tập theo Kinh Thánh, và nó dành cho thời đại hôm nay. Chúng ta đã phân biệt những loại kiêng ăn khác nhau và nhận biết động cơ của chúng ta đúng đắn rất cần thiết ra sao: đó là chúng ta kiêng ăn vì Đức Chúa Trời. Bây giờ chúng ta tiếp tục xem trong Kinh Thánh những mục đích của sự kiêng ăn, ở đây là câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi “Ích lợi của sự kiêng ăn là gì?” Nó là một phương tiện trợ giúp có giá trị cho sự thánh hoá bản thân.
Nếu sự hạ mình là thành phần cơ bản của sự thánh khiết thật, một mãnh đất để ân điển mọc sum suê trên đó, chúng ta cần phải giống Đa-vít hết lần này đến lần khác ép linh hồn mình bằng sự kiêng ăn hay không? Đằng sau nhiều tội lỗi bao vây chúng ta và những thất bại của con người, đằng sau nhiều căn bệnh làm nhiễm độc các mối thông công trong Hội Thánh chúng ta và làm tắc những ống dẫn của sự hầu việc Cơ Đốc - sự mâu thuẫn của nhân cách và khí chất, sự xung đột và chia rẽ là lòng tự cao quỉ quyệt của con người.
Ở đây sự kiêng ăn có thể giúp thế nào cho chúng ta? Về mặt tiêu cực sự tự mãn và cái bao tử no nê là những người bạn cùng giường. Tội lỗi của Sô-đôm là gì? Không chỉ là hình thức bề ngoài của sự trái đạo đức mà ngày xưa được biết như sự kê gian, ngày nay được gọi là sự đồng tính luyến ái. Kinh Thánh chép rằng: “Này là sự gian ác của em gái mày là Sô-đôm và các con gái nó: ở kiêu ngạo, ăn bánh no nê, và ở nể cách sung sướng” (Exe Ed 16:49). Khi chúng ta nhìn xem các nước phương Tây ngày nay nói mà tội lỗi của Sô-đôm không thể kiểm soát được, chúng ta có thể nhận thức rõ ràng những nguyên nhân cùng một nguồn gốc, lịch sử không thể tự lập lại chính nó. Khi có những điều kiện tương tự, thì chắc chắn kéo theo tình trạng khó chịu tương tự.
Đức Chúa Trời đã tiên báo này sự kiêu ngạo và sự ăn uống no say sẽ là một trong những mối nguy hiểm của Y-sơ-ra-ên khi họ bước vào miền đất hứa. “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã dẫn ngươi đi trong bốn mươi năm này, để hạ ngươi xuống và thử ngươi…. Ngài có hạ ngươi xuống làm cho ngươi bị đói…” (PhuDnl 8:2, 3). Hôm nay những ngày kỷ luật sắt đó đã qua, và xứ màu mở mà họ sắp chiếm được sẽ sinh ra những cám dỗ mới, nên Môi-se tiếp tục cảnh báo họ, “Ngươi khá cẩn thận, không quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, không giữ gìn những điều răn, mạng lệnh… Khi đã ăn no nê… lòng ngươi tự cao” (c.11-14), Ô-sê cho chúng ta biết rằng đây chính xác là điều đã xảy ra (OsHs 13:6), dù được báo trước.
Kiêng ăn là một chuẩn mực thánh đối với lòng tự hào của con người. Nó là một kỷ luật của thân xác với xu hướng ép linh hồn. E-xơ-ra chép “Tại đó, gần bên sông A-ha-ra, ta truyền kiêng cử ăn để chúng ta hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta” (Exo Er 8:21, đối chiếu EsIs 58:3). Nếu đối với người Y-sơ-ra-ên tin kính, kiêng ăn có nghĩa là hạ mình, thì nó cũng có nghĩa là than khóc. Thật vậy trong thời Cựu Ước kiêng ăn được thực hiện như một dấu hiệu của sự đau buồn về một người nào đó qua đời, nó như một phần nghi thức của lễ tang (ISa1Sm 31:13, v.v…). Nó được kết hợp với việc xé áo, mặc bao gai và đội tro (Exo Er 9:5 v.v.). trong Mat Mt 9:15 chúng ta thấy cách Chúa Giê-xu sử dụng từ “buồn rầu” và “kiêng ăn” chúng như những từ có thể thay thế cho nhau.
Có một chuỗi liên tiếp rất tự nhiên khi chúng ta đổi sự tự hạ mình thành sự than khóc vì ăn năn và hối lỗi. Y-sơ-ra-ên đã kiêng ăn trong sự ăn năn vào thời Sa-mu-ên, và phu tù Y-sơ-ra-ên trở về trong thời Nê-hê-mi cũng vậy (ISa1Sm 7:6; NeNe 9:1, 2). Buồn rầu về tội lỗi và sự thất bại của bản thân là một giai đoạn cần thiết trong tiến trình thánh hoá, và kiêng ăn làm cho điều này được thực hiện dễ dàng hơn.
Tuy nhiên Đức Chúa Trời muốn đem chúng ta ra khỏi chỗ buồn rầu than khóc chỉ vì tội lỗi của bản thân chúng ta để đến nơi chúng ta được thúc giục bởi Thánh Linh để buồn rầu vì tội lỗi của Hội Thánh, đất nước và cả của thế gian này. Đối với Đức Chúa Trời nó liên quan đến mối quan tâm sâu sắc nhất để tìm kiếm những người có thể chia sẻ với Ngài những cảm giác của Ngài vì một hoàn cảnh thuộc linh tồn tại trong mỗi người.
Ê-xê-chi-ên nhận được khải tượng về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên Giê-ru-sa-lem bởi những hành vi đáng gớm ghiếc của họ. Trước khi những người đến từ trời được phép tiêu diệt của dân của thành này, con người được đem đến trước mặt họ để “ghi dấu trên trán những người nào than thở khóc lóc về mọi sự gớm ghiếc đã phạm giữa thành này”. Sau đó những người đến từ trời được lệnh đi khắp xứ giết không thương tiếc tất cả những người không có ghi dấu, và bắt đầu từ nơi thánh của Đức Chúa Trời (Exe Ed 9:4-6).
Thiên đàng ghi dấu những ai có cùng cảm xúc như Đức Chúa Trời đối với tội lỗi đã làm Ngài đau lòng và xây mặt khỏi chúng ta. Chính những điều gớm ghiếc này vẫn còn trong nơi thánh và trong thành. Nếu ngày nay Đức Chúa Trời ghi dấu trên trán những ai than thở và khóc lóc vì tội lỗi và sau đó Ngài sai người từ trên trời xuống tiêu diệt tất cả những ai không có dấu, thì liệu chúng ta có thoát được không?
Với sự than khóc như vậy thì làm được điều gì? Thật nó có thể như một liều thuốc trong phạm vi cộng đồng cũng như trong một cá nhân. Thật vậy trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên tội lỗi của dân sự đã đến mức “không còn đường quay lại” và sự đoán phạt chắc chắn xảy đến, nhưng đây không phải luôn là vấn đề. Luôn có một hy vọng rằng những lực lượng thuộc linh sẽ được giải phóng, điều này sẽ dẫn đến sự ăn năn và phục hồi.
Ngày nay mắt của Đức Chúa Trời vẫn không rời thế gian vì E-xơ-ra, người sẽ xưng tội lỗi của nhóm người bất tín còn sót lại đang khóc lóc và sấp mình trước mặt Đức Chúa Trời, hoặc Nê-hê-mi, người sẽ khóc lóc và than thở, kiêng ăn và cầu nguyện vì những bức tường thành bị sụp đổ, những cổng thành bị lửa huỷ diệt. Nếu sự phục hồi và sự làm mới đến từ sự hiện diện của Đức Chúa Trời - và có hy vọng nào mà không có chúng thì chính là những người giống như những người Đức Chúa Trời sẽ dùng để thay đổi xu hướng.
Trong sự kiêng ăn về sự thánh hoá của cá nhân chúng ta cũng phải kể đến khía cạnh tích cực của sự hiến dâng cho Đức Chúa Trời. Có lẽ ví dụ tốt nhất cho điều này là sự kiêng ăn 40 ngày của Chúa chúng ta trước khi Ngài thi hành chức vụ. Sự chịu báp-tem của Ngài cho sự chết trong sự liệu trước về thập tự giá. Mặc dù sau đó Ngài nhận được Thánh Linh trong sự đầy dẫy vô hạn, quyền lực đó không có hiệu lực cho đến khi Ngài trở lại. Sau khi chịu thử thách trong đồng vắng. Bởi sự chấp nhận 6 tuần kiêng ăn. Ngài đang tái khẳng định quyết tâm làm trọn ý muốn Đức Chúa Trời cho đến cuối cùng. Đây là sự chuẩn bị và dâng hiến cuối cùng cho sứ mạng trên trời của Ngài. Khi Ngài trở lại Ga-li-lê trong quyền năng của Thánh Linh, những công việc của Đức Chúa Trời được phát lộ trong Ngài.
Điều gì đó giống như vậy được nhìn thấy trong sự biệt riêng Ba-na-ba và Phao-lô cho chức vụ thánh đồ của họ. “Đã kiêng ăn và cầu nguyện xong, môn đồ bèn đặt tay trên hai người, rồi để cho đi” (Cong Cv 13:3), không phải một bữa liên hoan thân mật nhưng là một kỳ kiêng ăn để đánh dấu buổi chia tay đoàn truyền giáo đầu tiên. Sau đó chúng ta thấy những người này đã chọn các trưởng lão trong mỗi Hội Thánh với sự cầu nguyện và kiêng ăn (Cong Cv 14:28). Bằng cách này các lãnh đạo Hội Thánh địa phương được dâng cho thánh chức của họ. Ngày nay các Hội Thánh nào và các lãnh đạo nào được biệt riêng trong thời gian cầu nguyện và kiêng ăn? Có lẽ dây là lý do tại sao chức vụ trong Hội Thánh thường ít được gánh vác, nếu được nắm thì rất lỏng lẻo và sẵn sàng bị bỏ qua khi những khó khăn những bất đồng nổi lên. Chẳng ngạc nhiên, chúng ta thiếu chức lãnh đạo thuộc linh mạnh mẽ và bầy chiên có xu hướng bị bỏ mặc. Nếu bạn bị sa sút do sự thất bại của bản thân mình, nếu có một sự kêu gọi trong tâm hồn bạn cho một sự thanh tẩy sâu sắc hơn, cho một sự dâng hiến được làm mới, nếu có một thử thách về trách nhiệm mới nào đó mà bạn cảm thấy không được trang bị tốt cho nó, thì đây chính là lúc bạn nên cầu hỏi Đức Chúa Trời rằng Ngài có để bạn biệt riêng chính mình trong sự kiêng ăn vì Ngài hay không?


ĐỂ ĐƯỢC NGHE THẤU NƠI CAO
“Ay vậy, chúng ta kiêng ăn và cầu xin Ngài điều ấy, Ngài bèn nhậm lời chúng ta ” (Exo Er 8:23)
Ê-sai đã sống trong thời kỳ mà chủ nghĩa hình thức và sự giả hình đã làm cho việc thực hiện kiêng ăn theo tôn giáo trở nên đáng gớm ghiếc đối với Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta cần nhớ rằng các của lễ, những lời cầu nguyện, và sự thờ phượng của họ cũng làm Ngài khinh ghét (EsIs 1:10-15). Trong một đoạn đáng chú ý nói về sự kiêng ăn, đoạn thứ 58 của Ê-sai, Đức Chúa Trời không chỉ cho thấy rõ sự tự tư tự lợi và tự mãn nằm đàng sau vẻ bề ngoài ngoan đạo này, mà còn tiếp tục bày tỏ bản chất của sự kiêng ăn mà Ngài đã lựa chọn, và ơn phước mà nó đem đến cho người khác cũng như cho chính người kiêng ăn.
Ở đây sự kiêng ăn có liên hệ với sự tìm kiếm Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, những kết quả này không được nhận thấy bởi động cơ đúng. Đức Chúa Trời đã nói “các ngươi kiêng ăn trong ngày như vậy thì tiếng các ngươi chẳng được nghe thấu nơi cao” (EsIs 58:4). Nhưng có một điều rõ ràng đó là kiêng ăn phải được thực hiện với mục đích mô tả sự kiêng ăn mà Ngài đã lựa chọn. Đức Chúa Trời tiếp tục nói “Bây giờ ngươi cầu, Đức Giê-hô-va sẽ ứng” (EsIs 58:9).
Kiêng ăn được thực hiện với mục đích làm cho lời cầu nguyện được cất cao như ởtrên đôi cánh chim ứng. Nó được dự định để đưa người kêu cầu vào khán phong của Nhà Vua và dành cho người đó một cây quyền trượng bằng vàng. Có thể nó được mong đợi đầy đủ những quyền lực của sự tối tăm đang chiếm giữ và nới lỏng sự cầm giữ của chúng trên mục tiêu cầu nguyện. Nó được tính toán để bàn tính hiệu quả cho những lời cầu thay của con người và ban quyền năng cho những lời nguyện cầu của họ. Thiên đàng sẵn sàng lắng nghe khi ai đó cầu nguyện với sự kiêng ăn.
Chúng ta đã cầu nguyện hết lòng cùng Đức Chúa Trời thường xuyên như thế nào cho một nhu cầu đặc biệt nào đó, với lòng tin chắc rằng nó nằm trong ý muốn của Đức Chúa Trời nhưng đã không có sự đáp lời nào từ trên trời? Tại sao vậy? Rất có thể và thường là Đức Chúa Trời đang phán với chúng ta “Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng” (Gie Gr 29:13, 14). Khi một người sẵn sàng từ bỏ những sự thèm muốn chính đáng của thể xác để dâng mình vào công việc cầu nguyện, anh ta đang chứng minh rằng anh ta thật sự đang tìm kiếm Đức Chúa Trời một cách hết lòng, và sẽ không để Ngài bỏ đi khi chưa đáp lời anh ta.
Tư tưởng về sự kiêng ăn này giống như một cách diễn đạt sự thành toàn được thấy rõ trong lời Giô-ên kêu gọi dân sự:
“Đức Giê-hô-va phán: bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu” (Gios Gs 2:12).
Andrew Murray nói rằng:
Kiêng ăn giúp diễn ta, làm sâu sắc và củng cố sự cương quyết của chúng ta đó là chúng ta sẵn lòng hy sinh mọi thứ hy sinh chính bản thân mình đã đạt được điều mà chúng ta tìm kiếm cho Vương quốc của Đức Chúa Trời (1).
Liên quan gần gũi với điều này là ý tưởng cho rằng sự kiêng ăn như sự ban quyền phép cho một nhu cầu, sự dùng sức ép trong sự ủng hộ yêu cầu của con người. Có một phong tục cổ xưa của Ai-len đó là “sự kiêng ăn gây bất lợi cho hoặc đè nặng trên con người”, cau ày có nghĩa “người không ăn uống trước cửa nhà một cơn nợ, hoặc bất kỳ người nào không muốn hoàn thành một yêu cầu đúng luật” (2). Ngoài phạm vi thuộc linh đều này được thấy trong những lần kiêng ăn của các nhà chính trị, tù nhân hoặc những người khác hầu tạo sức ép đối với các nhà chức trách và nhằm đạt được những kết quả như họ mong muốn.
Chắc chắn đây là một khía cạnh quan trọng của sự cầu nguyện kiêng ăn. Dĩ nhiên chúng ta không nên nghĩ kiêng ăn như một cách tuyệt thực nhằm ép buộc bàn tay Đức Chúa Trời và khiến mọi sự theo cách riêng của chúng ta! Tuy nhiên cầu nguyện phức tạp hơn rất nhiều so với lời đòi hỏi một người cha yêu con đáp ứng nhu cầu của đứa con ông ta. Cầu nguyện là một cuộc chiến! Cầu nguyện là sự vật lộn! Có những lực lượng đối nghịch, có những nhóm quan điểm thuộc linh khác đối nghịch khi chúng ta biện hộ cho trường hợp của mình ở toà án trên thiên đàng, khi chúng ta đến thưa cùng vị quan xét của cả thế gian “Xin xét lẽ công bình cho tôi về kẻ nghịch cùng tôi” (LuLc 18:3), thì kẻ thù nghịch cũng có mặt ở đó (Giop G 1:6, 2:1; XaDr 3:1). Vị quan xét này sẵn lòng thôi chưa đủ, có một thế lực chống nghịch cần được vượt qua trước hết.
Đây là một phạm vi thuộc về huyền bí sâu nhiệm. Kinh Thánh đưa ra những sự kiện nhưng không giải thích chúng. Rất cần có sự thúc bách trong phạm vi thuộc linh. Thường thường sức ép phải được duy trì trước khi sự đột phá đến trong trận chiến trên thiên đàng. Có những tình huống cầu cứu kẻ hãm ép”, những kẻ giành lấy Nước thiên đàng bằng sức mạnh vũ lực (Mat Mt 11:12). Và tất cả điều này không có một ý tưởng suy nghĩ nào và sự sẵn lòng của Đấng Tối Cao để làm thành những mong ước của những ai kính sợ Ngài. Kiêng ăn được dự tính để đem tính khẩn cấp và thúc bách vào trong lời cầu nguyện của chúng ta và để ban sức lực cho lời biện hộ của chúng ta ở toà án trên trời.
Người cầu nguyện với sự kiêng ăn tức đang cho thiên đàng biết rằng anh ta đang thật lòng sốt sắng, rằng anh ta sẽ không bỏ cuộc cũng không để Đức Chúa Trời bỏ đi mà không ban phước; rằng anh ta không có ý định nhận được câu trả lời “không”. Không chỉ vậy, mà anh ta còn đang biểu lộ sự sốt sắng của anh ta trong cách mà Chúa định. Anh ta đang sử dụng phương tiện mà Đức Chúa Trời đã chọn để làm cho tiếng nói của anh ta được nghe thấu nơi cao.
Đôi lúc kiêng ăn là cao điểm của sự nài xin hết lòng và kéo dài. Khi từng trời vẫn “trở như đồng” mặc dù con người đã cầu nguyện kiên trì và hết lòng, đôi khi trong sự tuyệt vọng họ bị kéo vào sự kiêng ăn như một giải pháp duy nhất. Người Bên-gia-min phạm một tội kinh khủng và Đức Chúa Trời đã sai các chi phái khác dấy lên nghịch cùng Bên-gia-min. họ đã vâng theo và không lần thất bại nặng nề mặc dù đã cầu nguyện và khóc lóc trước mặt Đức Giê-hô-va. Lần thứ 3 họ đã kiêng ăn cùng với than khóc trước mặt Đức Giê-hô-va và Đức Chúa Trời đã ban cho họ một chút thắng lợi (Các 20). Cầu nguyện kết hợp với kiêng ăn sẽ nhận được quyền năng lớn lạ của Đức Chúa Trời để có thể làm thay đổi tình thế!
Rất nhiều lần dân Y-sơ-ra-ên đã cầu nguyện trong những lúc đất nước gặp khó khăn, và điều được xem là một thảm hoạ chắc chắn đã được ngăn chận. Và ngày nay có lúc nào khi sự chết hoặc mối nguy hiểm đe doạ chúng ta nhưng chúng ta lại ít sử dụng phương tiện ân điển này không? Khi E-xơ-ra vận chuyển một số lượng lớn những vật dụng bằng vàng và bạc đến đền thờ ở Giê-ru-sa-lem qua một lộ trình đầy rẫy những kẻ cướp, ông ghi lại rằng “… ta truyền kiêng cử ăn, để chúng ta hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta và cầu xin Ngài chỉ cho biết đường chánh đáng chúng ta, con cái chúng ta và tài sản mình phải đi” (Exo Er 8:21, 23, 31). Đức Chúa Trời nhận lời cách thật tuyệt diệu. Có bao giờ chúng ta đối diện với những hoàn cảnh mang tính quyết định cần cầu xin sự hướng dẫn hoặc sự gìn giữ của Chúa, mà đòi hỏi chúng ta phải làm như E-xơ-ra đã làm hay không?
Đa-ni-ên tìm kiếm Đức Chúa Trời bằng việc kiêng ăn để được Ngài làm thành lời hứa về sự khôi phục Giê-ru-sa-lem (Gie Gr 29:10-13) và đã nhận được qua thiên sứ Gáp-ri-ên một mạc khải tuyệt vời về hoạch định của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên (DaDn 9:1-27). Nếu chúng ta từng tìm kiếm Đức Chúa Trời nhưng không có kết quả gì cho sự làm thành một lời hứa nào đó, có thể làm Ngài đang chờ chúng ta hạ mình và tìm kiếm Ngài như Đa-ni-ên đã làm.
Sau-lơ người Tạt-xơ, sau khi cải đạo trên đường đến Đa-mách và vẫn còn bị mù do sự chói loà của ánh sáng đó, đã kiêng ăn ba ngày không ăn và không uống. Lòng của người đang được sửa soạn để nhận ơn phước nhiều hơn nữa từ Đức Chúa Trời ban cho. Sau đó một môn đồ tên là A-na-nia được sai đặt tay trên Sau-lơ để mắt người được sáng và người được đổ đầy Đức Thánh Linh (Cong Cv 9:10-18). Chúng ta có từng chờ đợi một cách vô vọng sự chữa lành nào đó, mặc dù tin chắc vào lời hứa của Ngài hay không? Hoặc có phải chúng ta vẫn đang tìm kiếm sự đổ đầy Thánh Linh và thắc mắc tại sao lời cầu nguyện của chúng ta không được nhậm? Chúng ta nghĩ rằng mình đang chờ đợi thiên đàng, nhưng thiên đàng đang chờ đợi chúng ta. Khi thiên đàng có thể chỉ ra người cầunguyện bằng sự kiêng ăn và công bố “Này, anh ta đang cầu nguyện thì câu trả lời chắc chắn sẽ ở ngay trước cửa”.
Trong sự ban cho chúng ta đặc ân kiêng ăn và cầu nguyện, Đức Chúa Trời đã thêm một vũ khí mạnh mẽ vào kho vũ khí thuộc linh của chúng ta. Trong sự ngốc nghếch và thiếu hiểu biết của mình Hội Thánh phần lớn đã xem nó như lỗi thời. Họ đã quăng nó vào trong gốc tối đến độ gỉ sét đi, và ở đó nó bị quên lãng nhiều thế kỷ qua. Ngay lúc này đây khi sự khốn khó của Hội Thánh và thế gian đang đến gần thì rất cần sự phục hồi của nó.
1. Andrew Murray, With Christ in the School of Prayer, Cleming H.Revell Co.
2. The Shorter Oxford Dictionary. Tạp chí của trường Đại học Oxford.

ĐỂ THAY ĐỔI Ý ĐỊNH ĐỨC CHÚA TRỜI
“Dân thành Ni-ni-ve tin Đức Chúa Trời, họ rao ra sự kiêng ăn… Bấy giờ Đức Chúa Trời thấy việc họ làm điều đã xây bỏ đường lối xấu của mình: Đức Chúa Trời bèn ăn năn sự hoạ mà Ngài đã phán sẽ làm cho họ ” (Gion Gn 3:5, 10)
Khi quyền năng để thắng thế Đức Chúa Trời không bao giờ được chứng minh cách rõ ràng trong thời Kinh Thánh hơn lúc lời tuyên bố về sự đoán phạt thánh được thay đổi hoặc hoãn lại nhờ sự cầu nguyện và kiêng ăn “Còn 40 ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống một tiên tri và Hê-bơ-rơ đã rao ra như vậy. Vua Ni-ni-ve bèn truyền lệnh cho cả dân chúng và súc vật trong thành phải kiêng ăn hoàn toàn trong khi đó dân sự kêu cầu Đức Chúa Trời và xây bỏ con đường xấu mình. “Ai biết rằng hoặc Đức Chúa Trời sẽ không xây lại và ăn năn, xây khỏi cơn nóng giận mình, hầu chúng ta khỏi chết” vua tiếp tục kêu gọi họ cũng được thoả ước mong vì “Đức Chúa Trời bèn ăn năn sự hoạ mà Ngài đã phán sẽ làm cho họ, và Ngài không làm sự đó”.
Sự ăn năn của dân thành Ni-ni-ve, được thể hiện qua sư cầu nguyện và kiêng ăn, đã làm Đức Chúa Trời cảm động đến nỗi Ngài thay đổi lệnh đoán phạt mà Ngài đã truyền ra đối với họ. Hành động này về phần Đức Chúa Trời đặt ra cho chúng ta một vấn đề hóc búa về thần học. Đức Chúa Trời được mạc khải như Đấng thông biết mọi sự, Đấng biết được kết thúc từ lúc khởi đầu, sự biết trước của Ngài rất hoàn hảo và chắc chắn. Bản tánh và những lời khuyên của Ngài không hề thay đổi. “Ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi (MaMl 3:6). Toàn bộ Kinh Thánh khẳng định rằng đây là những tư cách của Đấng Toàn Năng, và với sự nhận thức bình thường của mình chúng ta biết rằng nếu không có những tư cách này thì Đức Chúa Trời sẽ không phải là Đức Chúa Trời.
Vậy tại sao nhiều câu Kinh Thánh Cựu Ước khẳng định rằng “Đức Chúa Trời ăn năn” hoặc thay đổi ý định Ngài? Đức Chúa Trời chắc chắn đã biết trước khi Ngài sai Giô-na đi, rằng Ni-ni-ve sẽ ăn năn và sự huỷ diệt nó sẽ được ngăn chận. Đây là mục đích của Đức Chúa Trời khi sai Giô-na đi đến Ni-ni-ve, Ngài dành cho dân sự này lòng nhân từ thương xót của Ngài, sứ điệp của Giô-na về sự đoán phạt hầu đến vì vậy có bao gồm điều kiện, mặc dù điều này không được tiết lộ rõ ràng cho Giô-na cũng không chính thức thông báo cho dân Ni-ni-ve.
Đức Chúa Trời cò những luật pháp uyển chuyển trong khi xử lý con người. Tội lỗi sẽ kéo theo sự đoán phạt, nhưng ăn năn kéo theo lòng nhơn từ. Đức Chúa Trời đã nói về chính Ngài ở điểm này trong những từ ngữ giản dị nhất “Trong lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng nhổ đi, huỷ đi diệt đi. Nếu nước mà ta nói đó xây bỏ điều ác mình, thì ta sẽ đổi ý ta đã toan giáng hoạ cho nó” (Gie Gr 18:7-8)
Như vậy sự ăn năn của Đức Chúa Trời không có nghĩa là bất kỳ sự bất thường nào về phần Ngài, nhưng nó hoàn toàn nằm trong những ý định của Ngài được công bố trước. Bởi vì con người ăn năn tội lỗi mình. Đức Chúa Trời ăn năn về sự đoán phạt vì vậy nói chúng ta không phải Đức Chúa Trời đã thay đổi nhưng chính con người thay đổi. Sự thay đổi tấm lòng của con người có thể khiến cho Đức Chúa Trời thay đổi thái độ của Ngài đối với họ, nhưng thực hiện một cách tương thích với bản tính và những nguyên tắc thánh của Ngài.
Thế thì tại sao Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời đã ăn năn hoặc thay đổi ý định Ngài? Đây là một ví dụ về một đặc điểm thường thấy trong phương ngữ trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ bởi đó thân vị hoặc hành động của Đức Chúa Trời được nhìn thấy từ quan điểm con người. Chúng ta có thể nghĩ về điều này như sự sử dụng ngôn từ của Đức Thánh Linh, nó là sự điều chỉnh cho thích hợp với sự hiểu biết giới hạn của chúng ta. Ở chừng mực những ý định được củng cố của Ngài có liên quan chúng ta có thể nói rằng Đức Chúa Trời đã ăn năn, vì những ý định này có điều kiện, như ở chừng mực bản tánh và những nguyên tắc của Ngài có liên quan, “Đức Chúa Trời chẳng phải là người… chẳng phải là con loài người để hối cải” (Dan Ds 23:18).
Sau khi Na-bốt bị giết và A-háp chiếm lấy vườn nho của người, Đức Chúa Trời đã sai Ê-li đến loan báo sự đoán phạt thành trên A-háp. “A-háp nghe lời của Ê-li nói, bèn xé quần áo mình, lấy bao mặc cho mình và nhịn đói”. Sau đó Đức Chúa Trời đã phán “Bởi vì người hạ mình xuống trước mặt ta, ta không giáng hoạ trong đời nó, nhưng trong đời con trai nó ta sẽ giáng hoạ trên nhà nó” (IVua 1V 21:27-29). Sự đoán phạt đã bị ngăn chặn bởi vì ngay cả một người như A-háp cũng được dọn lòng mình khiêm cung bằng sự kiêng ăn. Lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời vô cùng to lớn. Quyền năng của sự kiêng ăn để đòi hỏi lòng nhân từ đó cũng rất lớn!
Đa-vít đã hiểu rõ sự kiện liên quan đến cầu nguyện và kiêng ăn. Bởi vì tội lỗi kinh tởm của người trong chuyện liên quan đến U-ri, Đức Chúa Trời đã phán rằng đứa con trai của người, do Bát-sê-ba (vợ U-ri) sanh ra sẽ phải chết. Khi con trẻ ấy bệnh nặng Đa-vít biết rằng nếu có điều gì có thể thay đổi lệnh trừng phạt này thì điều đó chính là sự cầu nguyện và kiêng ăn. “Đa-vít vì con cầu khẩn Đức Chúa Trời và kiêng ăn, đoạn người trở vào nhà, trọn đêm nằm dưới đất”. Sau khi đứa trẻ qua đời Đa-vít giải thích rằng “Khi đứa trẻ còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc, vì ta nghĩ rằng: Nào ai biết có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta và cho đứa trẻ được sống chăng? (IISa 2Sm 12:16, 22).
Trong vòng các nước phương Tây chúng ta đang chứng kiến sự gia tăng lối sống trái đạo lý và trái luật pháp, tương tự với lối sống đã làm cho nền văn minh bị xoá sạch đi trong cơn lũ. Những tội lỗi đã làm cho Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị trừng phạt trong lửa và diêm sinh, là sự kiêng ăn có thể được chấp nhận về một xã hội. Những ai phải rao giảng sự ngay thẳng và những người gìn giữ luật pháp của Đức Chúa Trời biện hộ cho “một giá trị đạo đức mới”, chắc chắn thấy rõ ai thất bại. Những ngụ ý về sự đoán phạt hầu đến rõ ràng đủ để những ai có tai có thể nghe được.
Thậm chí nếu thiên đàng đã ban hành một sắc lệnh và các bánh xe đang sẵn sàng hoạt động, thì vẫn có một vũ khí mạnh mẽ mà chúng ta có thể có nguồn cung cấp cho nó.
“Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn khóc lóc và buồn rầu. Hãy xé lòng các ngươi, và đừng xé áo các ngươi”
Và tiên tri Giô-ên nói thêm như để giải thích.
“Ai biết được Ngài sẽ chẳng thay lòng đổi ý, chẳng để lại phước lành sau mình…” (Gio Ge 2:12-14)
Từ những câu Kinh Thánh mang tính tiên tri mà chúng ta thấy rõ ràng sự đoán phạt sau cùng chắc chắn giáng trên các dân khước từ Đấng Christ. Ngay cả Ni-ni-ve cuối cùng đã bị sụp đổ. Nhưng nếu Đức Chúa Trời có thể tìm thấy những người sẽ ở trong sự thiếu sót, thậm chí vào thời điểm cuối cùng này, và hạ mình trong sự cầu nguyện và kiêng ăn, thì có lẽ vẫn có sự im lặng kéo dài của chúng ta. Đức Chúa Trời còn có thể đổi ý ăn năn và để lại phước lành đằng sau Ngài, ban cho chúng ta lòng nhân từ thương xót thay vì cơn thạnh nộ, và sự phục hưng thay vì đoán phạt. Sự thay đổi ngày tai hoạ như vậy có thể mang ý nghĩa sự cứu rỗi các dân, nhưng không có thời gian để lầm lạc.
1. Một quan điểm phỏng nhân hình cho rằng Đức Chúa Trời có những cảm xúc như con người

ĐỂ GIẢI PHÓNG NGƯỜI BỊ GIAM CẦM
“Sự kiêng ăn mà ta chọn lựa, há chẳng phải là bỏ những xiềng hung ác, mở những trói của ách, thả cho kẻ bị ức hiếp được tự do, bẻ gãy mọi ách, hay sao? ” (EsIs 58:6)
Đức Chúa Trời đã phán qua 58:3 rằng “Trong ngày các ngươi kiêng ăn… làm khổ cho kẻ làm thuê”. Nhiều năm sau đó Chúa Cứu Thế đã nói về các thầy thông giáo và người Pha-ri-si rằng “Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào” (Mat Mt 23:3), và mặc dầu vậy một sự thật mà chúng ta biết đó là họ luôn chú trọng đến hình thức nhỏ nhặt trước mắt mọi người vì những ngày kiêng ăn hàng tuần của họ.
Trong câu Kinh Thánh tuyệt vời này, nó là chủ đề của chương 12 ở đây, Đức Chúa Trời đã mạc khải qua Ê-sai rằng bản chất của sự kiêng ăn mà Ngài đã chọn lựa hoàn toàn khác. Nó không phải làm cho con người bị ràng buộc nhưng giải phóng họ khỏi sự ràng buộc, nó không phải là công cụ của áp bức nhưng của sự giải phóng. Nhóm từ này không có một áp dụng theo nghĩa đen cho chúng ta, những người sống trong những đất nước mà con người ít nhận thấy những hình thức hỗn tạp hơn của sự bất công xã hội, thì chắc chắn nó có một ứng dụng trong lãnh vực thuộc linh. Congười bị trói buộc, không phải bằng dây thép hoặc cùm sắt nhưng bằng gong cùm vô hình của tội lỗi. Họ chống lại sự áp bức không phải của xã hội nhưng của thuộc linh, thậm chí của Sa-tan.
Trong những ngày này khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ vận hành và quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ được phát ra, những lực lượng gian ác thống trị trong lòng con người nhiều năm qua buộc phải cởi bỏ lớp nguỵ trang của chúng và bộc lộ rõ ràng chúng là gì. Con mắt sáng suốt có thể nhận ra rằng nhiều người mà chúng ta gặp trong dòng đời đang bị khống chế, chịu đau khổ bởi ma quỉ, bị ràng buộc bởi những lực lượng mà họ không biết và họ không thể giải thoát mình khỏi chúng. Trong nhiều trường hợp họ căm ghét chính mình vì những việc làm của họ, khóc lóc tuyệt vọng vì không thể tự biến khỏi những sợi dày ràng buộc đó và cầu nguyện hết sức vì họ biết làm thế nào để được giải cứu.
Con số thanh niên trẻ tuổi đang tuyệt vọng trong sự chế ngự của chất nicôtin, rượu, thuốc phiện, ham muốn tình dục và cơn sốt bài bạc ngày càng tăng. Những số khác bị lừa gạt và mắc bẫy bởi những hệ thống tôn giáo và những hội đoàn do quỉ Sa-tan thúc đẩy, và bởi nhiều hình thức khác nhau của phép ma thuật tối tăm, thuật phù thuỷ và hồn ma. Tồi tệ hơn, có nhiều Cơ Đốc nhân bị trói buộc bởi sự sợ hãi, sự oán giận, ganh ghét và không thánh sạch; họ là những người biết rất rõ rằng chính bản thân họ là một sự mâu thuẫn hoàn toàn đối với Phúc Âm để vượt khỏi điều đó? Họ dốc sức cầu nguyện, tin, tuyên xưng đức tin nhưng họ vẫn bị trói buộc.
Một số người nào đó có thể hỏi rằng “Bạn có cho rằng Phúc Am mà chúng ta rao giảng không đáp ứng đủ nhu cầu của điều này không?” Phúc Am quả thật luôn đủ, nhưng chưa hẳn bị Phúc Am mà chúng ta rao giảng”, vì chúng ta rất thường rao giảng một Phúc Am không đầy đủ. Được tha thứ nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế, mặc dù không phải là toàn bộ Phúc Am. Thường thường khi một người ở trong sự vây chặt của Sa-tan thì không có khả năng đáp ứng cho sứ điệp này. Hoặc nếu anh ta có đáp ứng thì có thể anh ta được tha thứ tội lỗi mình nhưng những gông cùm của anh ta không được nới lỏng. Anh ta được cứu vớt mà không được giải cứu.
Si-môn người Sa-ma-ri muốn dùng tiền để mua quyền năng để khi ông đặt tay lên ai thì người đó nhận được Đức Thánh Linh (Cong Cv 8:9-24) chỉ bởi vì trường hợp của Si-môn đưa ra những khó khăn, chúng ta không nên cố gắng thoát khỏi chúng chỉ bằng cách khẳng định rằng ông ta đã không bao giờ được thật sự tái sanh. Những sự kiện hoàn toàn trái với điều này, và nó làm lu mờ đi bài học rằng tình tiết này được đặt ra để dạy dỗ Đức Thánh Linh cho chúng ta biết rằng ông ta “cũng tin”, “đã chịu phép báp-tem và “ở luôn với Phi-líp” (Cong Cv 8:13). Ở đây là những phẩm chất tương tự với sự cải đạo - tin, chịu báp-tem, và tiếp tục bước đi trong đức tin, đây là nét đặc trưng của những người cải đạo đầu tiên trong ngày lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:41, 42).
Khi Phi-e-rơ nói với Si-môn “Ngươi chẳng có phần hoặc số trong việc này”, ý của Phi-e-rơ không phải nói đến sự cứu rỗi, hoặc sự nhận lãnh ân tứ của Đức Thánh Linh, nhưng nói đến quyền năng đặt tay trên các tín đồ để họ nhận được Đức Thánh Linh. Trong việc này” tức việc nhận ân tứ mà Si-môn muốn động cơ của sự mong muốn đó, và phương cách mà ông thực hiện để cầu xin nó, cho thấy lòng ông không ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Phi-e-rơ kêu gọi Si-môn ăn năn tội lỗi một cách chung chung, nhưng “hãy ăn năn điều ác mình”.
Si-môn đã bị trong “xiềng tội ác” như thế nào? Trước khi cải đạo ông có tính ham thích sự cao cả, và nhờ phép thuật mờ tối mà ông liên hiệp chính mình với sự quyền lực của sự tối tăm để làm thành những mục đích của ông, không có người nào một khi đã nhúng tay vào trong phép phù thuỷ, sự ngoại cảm, thuật coi chỉ tay, bói toán và những điều tương tự như vậy lại có thể hy vọng tự mình dễ dàng thoát khỏi quyền kiểm soát của Sa-tan. Như vậy đối với Si-môn đã có sự trì hoãn này từ đời sống trước đây của ông mà ông cần được thoát khỏi đó. Có bao nhiêu Cơ Đốc nhân tự xưng “ngày nay giống Si-môn”.
Được tha thứ chỉ là một mặt trong sứ điệp của Chúa Cứu Thế. Ở đây, trong lời phán của chính Ngài, là những phạm vi có liên quan của Ngài: “Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền lời Tin Lành cho kẻ nghèo, Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, kẻ mù được sáng, kẻ bị hà hiếp được tự do…” (LuLc 4:18-19). Những lời đó được phán ra vào lúc khởi đầu chức vụ của Ngài. Sau đó nó đã trôi qua, Phi-e-rơ mô tả cho đội trưởng đội binh người La Mã thế nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp” (Cong Cv 10:38) Khi Chúa chúng ta mặt đối mặt với người đàn ông bị quỉ ám đang mong chờ sự giải cứu Ngài đã không nói “Tội lỗi ngươi đã được tha”. Ngài đuổi các quỉ bằng một lời nói khi Ngài gặp người đàn bà trong nhà hội, bà bị Sa-tan chế ngự 18 năm và không thể đứng thẳng lưng được. Ngài đã không nói “Đức tin ngươi đã cứu ngươi, hãy bước đi bình an” Ngài đã đặt tay trên bà và nói rằng “Hỡi đàn bà kia, ngươi đã được cứu khỏi bệnh” (LuLc 13:12). Ngày nay có lẽ chúng ta đưa người đàn ông đến cho bác sĩ tâm thần và đưa người đàn bà đến nhà vật lý trị liệu! Khi cội rễ của khó khăn mà họ gặp phải là từ Sa-tan thì làm thế nào họ có thể được cứu chữa bằng phương pháp chữa trị những triệu chứng tâm thần hoặc vật lý?
Cứu Chúa ban lệnh cho các môn đồ Ngài không những rao giảng Tin Lành mà còn chữa lành kẻ bệnh tật và đuổi quỉ (LuLc 9:1, 2). Bảy mươi môn đồ thưa cùng Chúa rằng “Lạy Chúa, vì danh Chúa, các quỉ cũng phục chúng tôi” (LuLc 10:17). Trong thời đại được giáo dục cao và được trang bị kỹ lưỡng chúng ta từng vứt bỏ những khái niệm lỗi thời như vậy. Trong xã hội ở thế gian này người ta cười để quên đi việc xét xử ma quỉ. Trong vòng các Cơ Đốc nhân tự xưng, sự chế ngự của ma quỉ bị xem như độc xxxxxx trong thời Kinh Thánh hoặc những hội sơ khai hoặc cao lắm là rất hiếm có trong xã hội hiện đại. Ma quỉ liên hoan xoa tay nó bởi sự đui mù của chúng ta.
Ngày nay nhu cầu đối với ân tứ nhận biết những ác linh này, và đối với đức tin và quyền năng để đuổi chúng rất lớn. Chắc chắn ngày nay nhiều người đang tiều tuỵ trong những viện tâm thần, họ không cần được chữa trị khỏi sự nghiệp ngập hoặc được khỏi cú sốc tinh thần, nhưng họ cần sự giải cứu trong Danh toàn năng. Nhiều người trong các Hội Thánh chúng ta đang chịu áp bức và dày vò bởi ma quỉ, họ cần được sự giúp đỡ của những người biết cách giải phóng cho hững người bị kiềm hãm đó. Nhiều người ngoại đạo mà chúng ta gặp trên đường và trong cuộc đời này phải chịu sự điều khiển của ma quỉ, họ đang mong chờ những người sẽ đến với họ cùng với một sứ điệp cứu chuộc.
Ngày nay nhiều người đã bị rơi vào thói trộm cướp, điều gì xảy ra với họ? Chúng ta có bỏ họ trong sự khốn cùng để rồi nhúng tay vào trong huyết của họ không? Chúng ta có gạt họ sang một bên không? Chắc chắn chúng ta cần tìm kiếm và có được sự xức dầu thánh cho chức vụ này. Tôi tớ không lớn hơn chủ mình, nên anh ta không thể đủ khả năng nếu không có sự trang bị của Chủ. Chúng ta cần được trang bị bằng những ân tứ của Đức Thánh Linh để nhận thức và giải cứu họ. Nhưng đây không phải là tất cả. Kiêng ăn là một vũ khí hỗ trợ mạnh mẽ, được Đức Chúa Trời trang bị, để đánh đỗ sự vây chặt của kẻ thù.
Đức Giê-hô-va phán “Sự kiêng ăn mà ta chọn lựa… bẻ những xiềng hung ác, mở những trói của ách, thả cho kẻ bị ức hiếp được tự do, bẽ gãy mọi ách, hay sao?” Dĩ nhiên ý nghĩa ban đầu nhằm nói đến sự nô lệ theo nghĩa đen. Nhưng đối với chúng ta có một ứng dụng thuộc linh, và chúng ta phải nhận ra vai trò quan trọng của sự kiêng ăn trong chức vụ giải cứu này. Đây là tình trạng tranh chiến trong lãnh vực của “các quyền lực và quyền năng”. Sa-tan là một kẻ thù cứng đầu, và sẽ không từ bỏ sự nắm giữ của nó trên những tâm thần và linh hồn tâm trí và thẻ xác của con người trừ khi nó bị buộc phải từ bỏ. Kiêng ăn dường như đem đến sự bắt buộc đó.
Trong sự giải phóng con người đang sống trong quyền lực của Sa-tan, một quá trình làm mềm lòng báng sự cầu nguyện thường rất cần thiết. Kiêng ăn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời sẽ làm mạnh mẽ người trung gian để duy trì sức ép chờ đợi khi kẻ thù buộc phải nới lỏng sự xiết chặt của nó trên kẻ bị giam hãm. Sau đó sự kiêng ăn cũng ban cho quyền lực khi giờ của Đức Chúa Trời đến, để nói lời ra lệnh đem đến sự giải thoát. Đây là một trong những điều bí mật ai cũng biết đằng sau chức vụ giải cứu khỏi quyền lực của Sa-tan, như Chúa ta sẽ minh hoạ giờ đây.

HỌ KIÊNG ĂN ĐỂ GIẢI CỨU
“Người công bình bị bắt làm phu tù há ai giải cứu được sao? Song Đức Giê-hôva phán như vầy: Thật những kẻ bị người mạnh bạo bắt lấy sẽ được cứu thoát, mồi của người đáng sợ sẽ bị giựt lại. Vì ta sẽ chống cự kẻ đối địch ngươi, và chính ta sẽ giải cứu con cái ngươi ”. EsIs 49:24, 25.
Mục sư HIS chắc chắn là một trong những vị thánh vĩ đại nhất ở đất nước Trung quốc. Tiến sĩ D.M.Moyd-Jones, trong Lời Nói Đầu của một tập sách về cuộc đời Mục sư HSi đã viết: (1)
Ông thật sự là con của Đức Chúa Trời trong nghĩa thật của từ này. Đức tin giản dị như con trẻ của ông nhưng mạnh mẽ và không thể lay chuyển, thật đáng kinh ngạc, ông đã chấp nhận Tân Ước như nó vốn có và cố gắng hết sức thực hiện theo nó mà không hề có bất kỳ sự do dự và hạn chế nào.
Được cứu khi ông cải đạo từ lối sống bị chế ngự kinh khủng bởi thuốc phiện, người đàn ông này được Đức Chúa Trời sử dụng trong một thánh chức; một chức vụ đem sự giải cứu đến cho hàng trăm người ở quê hương của ông, để giúp họ cũng thoát khỏi ma tuý và quỉ ám. Nhiều người đã được chữa lành nhờ sự đặt tay. Nhiều tấm lòng đã được mở ra tiế nhận Phúc Am, và nhiều Hội Thánh mọc lên khắp vùng này. Từ lúc ông cải đạo ông lấy tên Sheng-mo, có nghĩa “người chinh phục ma quỉ”, như thể bởi một trực giác lạ lùng nào đó ông biết được công việc mà Đức Chúa Trời đã gọi ông đứng lên thực hiện.
Trong vòng một vài tháng sau khi được của một thử thách lớn đầu tiên đến với ông. Vợ ông, người rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi đứng tin mới tìm kiếm được của ông, đã bị quỉ ám. Bà phải chịu nỗi đau đớn về tinh thần và rơi vào tình trạng chán nản cực độ, và hàng ngày khi đến giờ thờ phượng thì bà đột nhiên nổi cơn cuồng nộ không thể kiểm soát được. Các dân làng ởđó nghĩ rằng sự khống chế của các ác linh trên bà là hình phạt cho HSi vì ông mắc lỗi với các thần linh đó, “Hỡi kẻ chinh phục các quỉ, hãy cho chúng tôi thấy đức tin ông có thể làm được gì ngay đi!” Họ đã la ó như vậy.
HIS đã biết quyền năng của sự cầu nguyện đi đôi với kiêng ăn khi tranh chiến với Sa-tan.
Ông đã kêu gọi kiêng ăn 3 ngày 3 đêm trong cả gia đình, và biệt riêng mình để cầu nguyện. Yếu đuối thể xác nhưng mạnh mẽ trong đức tin, ông đã nắm chặt lời hứa của Đức Chúa Trời và tin chắc vào sự giải cứu hoàn toàn. Sau đó không chút do dự ông đến bên người vợ khốn khổ của mình và đặt tay trên bà, trong danh Chúa Giê-xu ông đã ra lệnh cho các ác linh đó ra khỏi bà và không làm bà đau đớn nữa.
Bà HIS được giải cứu ngay lập tức và vĩnh viễn, và chính lúc đó bà đã xưng mình là Cơ Đốc nhân. Bà trở thành một cộng sự hết mình và có năng lực của ông trong công việc Đức Chúa Trời.
Như vậy đã bắt đầu một chức vụ mà được mô tả một cách chính xác là “chức thánh đồ”. Nó được đánh dấu bằng sự tranh chiến kinh khiếp với các quyền lực của sự tối tăm. Quyền lực của Sa-tan vây lấy ông rất lớn, nhưng quyền năng của Đức Chúa Trời ở cùng ông để cứu vớt, giải cứu và chữa lành thì lớn hơn. Dù sự khốn khổ có phát sinh thế nào đi nữa những nhu cầu được hướng dẫn trong quyết định quan trọng nào đó, được sự khôn ngan để xử lý những trường hợp khó khăn, để giải cứu những người nghiện ma tuý hoặc những người bị quỉ ám, để chịu đựng “sự bắt bớ hoặc áp bức - His chỉ có một cách chữa trị. Ông biệt riêng mình để cầu nguyện và kiêng ăn. Đức Chúa Trời đã giúp cho ông và qua ông có nhiều sự đắc thắng và sự giải cứu vĩ đại!
Trong khi HIS vẫn còn là một học giả nhà nho và bị trói buộc trong tuyệt vọng bởi thói quen dùng thốc phiện, Đức Thánh Linh đã kêu gọi một người giải cứu ở Đức, một “thánh đồ” khác cũng được sử dụng để giải cứu nhiều người thoát khỏi sự chế ngự các ác linh. Andrew Murray viết về vị sứ đồ này như sau:
Trong lúc Blumhordt đang kinh qua sự tranh chiến khốc liệt với các ác linh trong những người bị quỉ ám, và cố gắng đuổi chúng ra bởi sự cầu nguyện, ông thường tự hỏi điều gì đã ngăn trở sự đáp lời. Một ngày nọ ông đã nói nan đề của mình cho một người bạn và được hướng dẫn phải quan tâm đến Lời Chúa về sự kiêng ăn. Blumhordt đã kiê quyết biệt riêng mình để kiêng ăn, đôi lúc một kỳ kiêng ăn của ông hơn 30 giờ.
Kết quả của sự rèn tập được Đức Chúa Trời chọn lựa này được chính ông tiết lộ:
Vì sự kiêng ăn ở trước mặt Đức Chúa Trời nên sự chứng minh thực tiễn bằng điều mà chúng ta cầu xin đối với chúng ta là vấn đề của sự quan tâm thật và rất khẩn cấp, và vì trong một mức độ cao kiêng ăn làm mạnh thêm cường độ và quyền năng của sự cầu nguyện, và trở thành một sự diễn giáo thực tế không ngừng của sự cầu nguyện mà không bằng lời nói. Tôi có thể tin rằng nó luôn luôn đem lại kết quả tốt. Tôi đã thử, mà không nói cho bất kỳ ai, và quả thật sự chiến đấu sau đó được nhẹ nhàng một cách phi thường nhờ nó. Tôi có thể nói với giọng dịu dàng và có tính kiên quyết hơn rất nhiều. Tôi không cần phải ở bên cạnh người bệnh lâu; và tôi cảm thấy rằng mình có thể có ảnh hưởng mà không cần hiện diện (2).
Như vậy chức vụ của vị mục sư người Đức này phát triển trong quyền năng và kết quả khi ông kiêng ăn để giải cứu.
Ngày nay có người nào được Đức Chúa Trời sử dụng trong những chức vụ như vậy không? Quả thật có, và số lượng càng ngày càng tăng, một phụ nữ cầu nguyện ở Bắc nước Anh và có quan hệ thân thiết với tác giả đã kể lại như sau:
Tôi nhận được một lá thư của một phụ nữ không quen, bà nói với tôi về đứa con gái đangbệnh nặng của mình. Tôi đã mời bà đến nhà tôi, và bà kể lại tình trạg đứa con này, nay cô được 37 tuổi đã tuyên xưng đức tin khi còn nhỏ và chịu báp-tem năm 14 tuổi. Cô học ngành điều dưỡng và đã sa ngã. Cô đã có con, và bi kịch này dường như đem cô trở về với Chúa trong một thời gian. Sau đó thì cô lại tiếp tục xây bỏ Ngài và nói rằng “Đức Chúa Trời chẳng làm gì cho tôi cả, tôi sẽ tìm kiếm điều mà ma quỉ làm”.
Cô phải vào bệnh viện tâm thần, và khi ba mẹ cô đến thăm, cô đã ném những trái nho vào người họ. Cô gọi ba mình là “Hitler” và mẹ mình là “hoàng hậu Mary”. Rồi cô nằm vật xuống gốimiệng kêu gào “Ma ma, quỉ, quỉ”.
Lòng tôi cảm thấy thương cho bà mẹ đang khốn khổ này, và tôi hứa kiêng ăn và cầu nguyện cho con gái bà Trong ngày kiêng ăn thứ ba tôi cảm nhận có một sự thúc giục khiến tôi đuổi quỉ ra khỏi cô gái này trong Danh Đức Chúa Giê-xu Christ. Tôi lại nhận được thư của bà mẹ ấy, bà cho biết những lời cầu nguyện của tôi đã được Chúa đáp lời. Con gái bà được người ta tìm thấy trong tình trạng bất tỉnh ở buồng tắm. Khi cô tỉnh lại thì đã khỏi bệnh, mặc dầu cô rất yếu, và sẽ sớm được cho về nhà.
Có rất nhiều trường hợp khốn khó xung quanh chúng ta. Chúng ta có ngại đối diện với chúng vì chúng ta biết sự bất lực và nổi sợ hãi của chúng ta đối với quyền lực của ma quỉ không? Hầu hết chúng ta đều có đủ sự trung thành để công nhận rằng chúng ta phải đối diện với những trường hợp mà chúng ta không biết làm thế nào. Chúng ta sẽ chọn tìm đến bác sĩ tâm thần hơn là tìm cách giải quyết vấn đề mà với nó chúng ta biết chính mình được trang bị tồi. Ít nhất sự chạy trốn thực tại của chúng ta tránh được sự xấu hổ và nhục nhã vì thất bại, vì phải cầu hỏi Chúa, “Tại sao chúng ta không đuổi nó ra?” Nhưng chúng ta có thật sự hài lòng với hoàn cảnh này không? Hoặc thích đáng hơn, Ngài có đẹp lòng không?
Chúa chắc chắn muốn chúng ta biết được lòng thương xót của Ngài dành cho những linh hồn khốn khổ này. Ngài đã ban cho chúng ta quyền để giải cứu họ. “Lấy danh ta mà trừ quỉ” (Mac Mc 16:17). Chúng ta có quan tâm đến sự kiêng ăn và cầu nguyện để họ được giải cứu không?
Quả thật sự giải cứu ít khi có thể xảy ra trừ khi những người bị quỉ ám hoặc bi trói buộc hoàn toàn ước ao được giải cứu, và dọn lòng bằng sự ăn năn và xưng ra mọi tội lỗi đã mở đường cho Sa-tan bước đi khỏi anh ta mọi quyền hành trong chúng. Đặc biệt điều này đúng trong trường hợp những tín đồ bị quỉ ám. Nhưng thường có sự ao ước này về phía những người bị đau khổ, nhưng không có người nào mà họ có thể nhờ giúp đỡ, không có ai dùng quyền năng Đức Chúa Trời ban cho, trả giá nếu cần phải cầu nguyện và kiêng ăn, và ra lệnh giải cứu.
Đức Chúa Trời cho chúng ta khải tượng và đức tin trong giờ phút cần thiết này.
1. Mrs. Howard Taylor, Mục sư His, nhà nho và Cơ Đốc nhân - Confucion Scholar and Christian. C.I.M.
2. Andrew Murray, với Chúa Cứu Thế trong phái cầu nguyện - with Christ in the School of Prayer. Fleming H.Rwell Co.


CHO SỰ MẠC KHẢI
“Ta, Đa-ni-ên…. Để mặt hướng về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khấn nguyện, nài xin với sự kiêng ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm… Gáp-ri-ên… nói cùng ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta ra để ban sự khôn ngoan và thông sáng cho ngươi ” (DaDn 9:2, 3, 21, 22)
Mặc dầu người ta thường cho rằng những khải tượng, sự mạc khải và những điềm báo trong mơ đã qua đi cùng với thời đại Kinh Thánh, Kinh Thánh không bao giờ khẳng định điều này sẽ trở nên đúng như thế, và lịch sử Hội Thánh cho chúng ta rất nhiều bằng chứng ngược lại. Cách thức như vậy có lẽ không phải là những cách thức bình thường mà bởi đó Đức Chúa Trời truyền đạt chân lý Ngài hoặc mạc khải ý muốn của Ngài, nhưng chúng cũng không phải là bình thường trong thời Kinh Thánh. Một sự thật mãi còn đó là Đức Chúa Trời, ngày nay cũng như ngày xưa, phán cùng con người trong những cách thức lạ thường.
Trong thời phục hưng Hội Thánh từng chứng kiến trong sự đầy dẫy Thánh Linh sự ứng nghiệm lời tiên tri của Giô-ên, nhưng chỉ một phần
“Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ và các người già cả sẽ có chiêm bao” (Cong Cv 2:17 trích Gio Ge 2:28)
Một luồng gió mới của Thánh Linh đang được cảm nhận khắp thế gian. Đức Chúa Trời một lần nữa đang chứng minh sự sẵn sàng của Ngài để phát lộ sự hiện diện của Ngài và cho biết ý định của Ngài trong chính những cách thức mà Giô-ên đã tiên báo. Có lẽ Ngài luôn luôn sẵn sàng nhưng chúng ta lại không được chuẩn bị.
Ở đây có mối nguy hiểm của sự lừa gạt và sự ảo tưởng và thậm chí của sự cuồng tín không? Có, nhưng mối nguy hiểm đó luôn luôn hiện diện, và ngày nay nó không lớn hơn trong thời Kinh Thánh khi Đức Chúa Trời phán rõ ràng trong những cách thức như vậy. Khi Đức Chúa Trời đã được sửa soạn để mạo hiểm thì tại sao Ngài không nên lặp lại điều đó? Ma quỉ bận rộn trong thời Giê-rê-mi: chúng giả mạo công việc thật của Thánh Linh, vì Giê-rê-mi nói về những người đã nói “theo những sự hiện thấy giả dối, sự bói khoa, sự hư không và sự lừa gạt bởi lòng riêng mình” (Gie Gr 14:14, đối chiếu Exe Ed 13:6, 7)
Việc có tiền giả lưu hành chỉ chứng minh có sự tồn tại của tiền thật. Sa-tan không lãng phí thời gian giả mạo điều không còn tồn tại nữa. Đối với mỗi tiên tri như Sê-đê-kia Đức Chúa Trời có Mi-chê (IVua 1V 22:1-54). Đối với Ha-na-ni Ngài có Giê-rê-mi (Gie Gr 28:1-17). Xây lưng với sự thật vì sợ kẻ giả mạo (một thái độ rất phổ biến trong vòng tín đồ theo Phúc Am ngày nay) là tự lập mình khôn ngoan hơn Đấng Toàn Năng và bằng cách đó để mình rơi vào tay của ma quỉ. Sợ hãi là một trong những vũ khí lợi hại nhất chống lại công việc thật của Thánh Linh.
Từng nói về tất cả điều này chúng ta vẫn làm tốt để tiếp tục tiến bước với sự thận trọng. Chúng ta không thể xao lãng những lời cảnh báo của Kinh Thánh. Chúng ta hãy tin những điều này bởi vì Lời Chúa dạy về chúng, nhưng chúng ta hãy luôn thử nghiệm chúng bằng Lời Chúa. Nhiều lần John Wesley nhận thấy điều siêu nhiên trong chức vụ của mình và biết được nó thuộc về Đức Chúa Trời. Lời cảnh báo của ông vì vậy hoàn toàn đúng lúc và có thể chấp nhận hơn:
Đừng qui cho Đức Chúa Trời điều gì không thuộc về Đức Chúa Trời. Đừng dễ dàng nghĩ là những giấc mơ, những tiếng nói, những cảm giác, những khải tượng, những sự mạc khải đều đến từ Đức Chúa Trời khi không có bằng chứng đầy đủ. Chúng có thể hoàn toàn tự nhiên: chúng có thể đến từ ma quỉ. Vì vậy hãy nhớ sự thận trọng mà một sứ đồ cần “Hỡi anh em yêu dấu, đừng tin mọi thần linh nhưng hãy thử các thần cho biết chúng có phải thuộc Đức Chúa Trời hay không”. Hãy thử mọi điều bằng Lời Chúa và hãy để mọi sự cúi mình trước Lời Ngài.
Chắc chắn có một mối liên hệ rất gần gũi giữa việc thực hiện sự kiêng ăn và việc nhận sự mạc khải thuộc linh. Nhiều tôn giáo khác như Phật giáo, Hindu giáo, Nho giáo và Hồi giáo đều thực hiện sự kiêng ăn vì họ biết quyền lực của nó có thể giúp tâm trí họ thoát khỏi thế giới của giác quan, và làm sắc bén sự nhạy cảm của họ đối với thế giới của tâm linh. Sự kiêng khem đồ ăn còn là một chủ thuyết quan trọng của thuyết duy linh, như trong thời Phao-lô (ITi1Tm 4:1-3).
Trong đoạn đầu của sách Đa-ni-ên chúng ta biết đến bốn người Hê-bơ-rơ trẻ tuổi, họ đã không chịu làm ô uế chính mình bằng đồ ăn ngon vua ăn và rượu vua uống, vì chúng đã được dâng cho các thần ngoại bang trước, thay vào đó họ đã “ăn rau và uống nước”, kết quả “Đức Chúa Trời ban cho bốn người trai trẻ đó được thông biết tỏ sáng trong mọi thứ học thức và sự khôn ngoan. Đa-ni-ên cũng biết mọi sự hiện thấy và chiêm bao (DaDn 1:12, 17). Họ đã chứng tỏ mình “giỏi hơn gấp mười những đồng bóng và thuật sĩ trong cả nước”. Vì vậy Đa-ni-ên, từ nhỏ đã rèn luyện một đời sống có nguyên tắc trong đó kiêng ăn giữ một vai trò rất quan trọng (DaDn 9:2, 3; 10:1-3), đã trở thành một trong những người tiên kiến vĩ đại nhất trong Cựu Ước về những khải tượng và những chiêm bao.
Tân Ước minh hoạ, quan điểm tương tự. Đó là khi Phi-e-rơ “đói và thèm ăn” (Cong Cv 10:10). Đức Chúa Trời đã cho ông thấy một khải tượng dẫn tới sự mở cửa đức tin cho dân ngoại bang. Nói với chúng ta rằng mình “thường phải nhịn ăn” (IICo 2Cr 11:27, bản A.V.). Phao-lô tiếp tục nói ở một đoạn sau về “những khải tượng và sự mạc khải của Đức Chúa Trời”. Sứ điệp mà thiên sứ phán với Phao-lô trong cơn bão ở vùng biển Địa Trung hải, đến sau một thời gian dài ông nhịn ăn (Cong Cv 27:21-24). Chắc chắn tù nhân của Diocletian ở trong nơi hoang vắng của Pataros đã không sống trên sự màu mỡ của đất khi ông được “ở trong Thánh Linh vào ngày của Đức Giê-hô-va”, và được ban cho mạc khải cuối cùng về Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chúng ta không thấy chỗ nào trong Kinh Thánh gợi ý rằng chúng ta phải tìm kiếm các khải tượng, những chiêm bao hoặc những mạc khải siêu nhiên, nhưng điều quan trọng mà chúng ta đáng chú ý đó là những ai biệt riêng chính mình để tìm kiếm Đức Chúa Trời bằng sự kiêng ăn thì có thể tìm thấy Đức Chúa Trời và Ngài sẽ ban thưởng cho họ bằng những sự phát lộ về sự hiện diện của Ngài. Nhưng những điều này không tạo thành một khía cạnh duy nhất, hay thậm chí quan trọng nhất của sự mạc khải.
Thường chúng ta cần sự mạc khải về ý muốn của Đức Chúa Trời cho đời sống mình, chúng ta đối diện với những hoàn cảnh mà cần có sự khôn ngoan và sự thông biết do Chúa ban cho. Mục sư HSI phải đối mặt với sự khó khăn kinh khủng trong những ngày đầu ông làm việc cho trại cai nghiện, khi sử dụng thuốc ngoại không thành công. Những loại thuốc này rất nguy hiểm do việc điều trị bệnh nhân. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng này, một suy nghĩ đã đến với ông rằng có lẽ Đức Chúa Trời sử dụng sự hiểu biết của ông về những loại thuốc nội để pha chế một loại thuốc thay cho thuốc ngoại. Ông đã tìm kiếm Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện và kiêng ăn, và Ngài đã cho ông biết những thành phần thuốc thích hợp. Bà Howard Taylor sau đó kể lại sự kiện tiếp theo.
Rất đơn giản ông đã biết cách bào chế những viên thuốc đó. Những viên thuốc được sản xuất bằng tay ở nhà kho của mình và vẫn giữ sự kiêng ăn, ông đã nhận được đơn thuốc, bào chế thuốc và nhanh chóng trở lại trại. Nó tỏ ra hoàn toàn thành công và đã thay đổi toàn bộ hướng đi của việc cai nghiện cho bệnh nhân (1).
Tại sao chúng ta không áp dụng đơn thuốc cầu nguyện và kiêng ăn lâu đời này để giải quyết những tính cách tuyệt vọng của chúng ta?
Cuối cùng có một vấn đề về sự mạc khải trên những lời được viết ra. Chúng ta có xu hướng rõ ràng buộc bởi những quan điểm truyền thống. Có một nhu cầu bức thiết đối với sự sáng tươi mới để thoát khỏi lời thánh khiết của Đức Chúa Trời về những đề tài gây tranh cải như vậy, ví dụ như Hội Thánh, bản chất và chức năng của nó, công việc của Đức Thánh Linh trong đời sống tín đồ, những câu Kinh Thánh mang tính tiên tri và chương trình của Đức Chúa Trời trong tương lai.
Chúng ta có thể đọc và học, bàn luận và tranh cải, bảo vệ quan điểm này hay quan điểm kia, nhưng nhu cầu của những ngày thử thách này là dành cho “thần của sự khôn ngoan và sự mạc khải” mà được ban cho những người tìm kiếm Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện và kiêng ăn. Đa-ni-ên đã làm điều này và một sứ giả trên trời đến bên người mà nói rằng “bây giờ ta ra để ban sự khôn ngoan và thông sáng cho ngươi… vậy, hãy hiểu biết sự hiện thấy” (DaDn 9:22,23). Sự sáng rất cần thiết và sự sáng chắc chắn sẽ được ban cho, tất cả sự sáng mà chúng ta cần cho những ngày tăm tối này, nếu chúng ta đánh giá nó cao đủ để tìm kiếm nó như Đa-ni-ên đã làm.
Lời hứa ngày xưa cho những sự giữ sự kiêng ăn được Đức Chúa Trời chọn lựa vẫn còn đúng:
“Nếu ngươi mở lòng cho kẻ đói, và làm no kẻ khốn khổ, thì sự sáng ngươi sẽ sáng ra trong tối tăm, và sự tối tăm ngươi sẽ như ban trưa. Đức Giê-hô-va sẽ cứ đưa dắt ngươi, làm cho ngươi no lòng giữa nơi khô hạn lớn; làm cho cứng mạnh các xương ngươi, ngươi sẽ như vườn năng tưới, như suối chẳng hề khô vậy” (EsIs 58:9-10)
1. Mrs Howard Taylor, Mục sư HSI, nhà nho và Cơ Đốc nhân - Pastor HSi, Confucian Scholer and Christian C.I.M.


MỨC SỐNG XA XỈ Ở AI CẬP
“Thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi con người kề nồi thịt và ăn bánh chăm chỉ ” (XuXh 16:3)
Người ta nói rằng con đường nhanh nhất đi đến tấm lòng của người đàn ông là qua dạ dày. Rõ rằng Sa-tan đã nghĩ rằng điều đó cũng đúng, đối với một người phụ nữ, vì chính Ê-va bị nó cám dỗ ăn trái cấm. “Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon… bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa” (SaSt 3:6). Như vậy trong số những điều khác, chính cám dỗ về sự ăn uống vây lấy nhân loại và làm cho nó sụp đổ. Tiếng réo gọi của dạ dày con người lấn át tiếng Đức Chúa Trời trong vườn Ê-đen.
Sa-tan biết rằng nó có thể hành động trên dạ dày con người, và trong hàng ngàn năm qua, nó đã theo được con đường này và gặt hái thành công. Thậm chí Nô-ê, một người bước đi cùng Đức Chúa Trời, đã rơi vào cái bẫy ràng “Nô-ê khởi cày đất và trồng nho. Người uống rượu say , rồi loã thể ở giữa trại mình” (SaSt 9:20-21).
Trong lúc tuổi già chúng ta thấy Y-sác một tổ phụ, dù đã được Đức Chúa Trời mạc khải nhưng lại thiên vị Ê-sau hơn Gia-cốp, và sẽ không có lý do nào tốt hơn là việc con trai lớn này dâng cho cha nó món ăn ngon mà ông thích (SaSt 25:28). Ê-sau lần lượt bán quyền trưởng năm để đổi lấy một bữa ăn, và vì điều này sau đó Ê-sau cũng bị tước đi phước lành của con trưởng nam (HeDt 12:16, 17). Đối với sự mê tham ăn uống của Ê-sau, thì cha ông, người không có kỹ luật trong sự ham mê ăn uống của mình, phải chịu trách nhiệm đến mức độ nào? Đây là một vấn đề thách thức đối với các bậc cha mẹ Cơ Đốc.
Câu chuyện buồn về dân sự của Đức Chúa Trời lưu lạc trong đồng vắng cho thấy một kỷ lục thất bại liên tục đi liền với họ trong suốt hành trình, chỉ vì vấn đề đồ ăn họ đã giết người, khóc lóc, ham muốn, thèm khát.
“Thà rằng chúng tôi chiu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán chê” (XuXh 16:3)
“Dân Y-sơ-ra-en lại khóc nữa mà rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi ăn, nhưng không tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi” (Dan Ds 11:4, 5).
“Làm sao người khiến chúng tôi lên khỏi xứ Ê-díp-tô đặng chết trong đồng vắng” Vì đây không có bánh cũng không có nước, và linh hồn chúng tôi đã ghê gớm thứ đồ ăn đạm bạc này (Dan Ds 2:5).
Thái độ của Đức Chúa Trời về tất cả điều này được một tác giả Thi Thiên đưa ra một cách sống động.
“Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó ước ao, chúng nó chưa xay khỏi điều mình ước ao… bèn có cơn giận của Đức Chúa Trời nổi lên cùng chúng nó, giết những kẻ béo hơn hết, đánh hạ những người trai trẻ của Y-sơ-ra-ên (Thi Tv 28:29-31).
“Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó cầu xin; nhưng sai bệnh tổn hại linh hồn chúng nó” (Thi Tv 106:15)
Sự thèm khát đồ ăn này thậm chí cấm rể nó trong đền thờ của Đức Chúa Trời, và gây ra sự rủa sả cho nhà Lê-vi, Đức Chúa Trời đã hỏi một thầy tế lễ lớn tuổi với sự giận dữ rằng: “Vì sao các ngươi giày đạp dưới chân những hi sinh và của lễ chay mà ta đã truyền lịnh dâng lên trong đền ta? Ngươi kính trọng các con trai ngươi hơn ta, và các ngươi ăn mập những của lễ tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, dân sự ta!” (ISa1Sm 2:29).
Mặc dầu Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một thân thể và gieo trồng trong nó một bản năng cơ bản nào đó, bao gồm những ham thích của cơ thể, chúng ta phải giữ cho đời sống vật lý phụ thuộc vào đời sống thuộc linh. Thể xác phải là đầy tớ của chúng ta, đừng để nó làm chủ chúng ta. Sự mê tham đồ ăn của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng vẫn còn ở giữa chúng ta. Nếu, như Phao-lô nói, Đức Chúa Trời không đẹp lòng với dân sự đang thèm khát của Ngài và đã ném họ vào đồng vắng (ICo1Cr 10:5) thì tại sao chúng ta nghĩ rằng Ngài lại đẹp lòng với dân sự đang thèm khát của Ngài ngày nay”
Đối với mỗi tín đồ có một ranh giới rất mong manh giữa sự thoả lòng những ước muốn bình thường của thể xác và sự thoả lòng mà thuộc linh đòi hỏi trong lòng, sự nô lệ cho những ham muốn xác thịt sẽ không đi khỏi bởi chúng ta cố gắng nguỵ trang nó. Khi chúng ta không thể nói “không” đối với một bữa ăn phụ mà chúng ta thích, dù chúng ta không cần đến nó; khi chúng ta luôn có “những bữa ăn nhẹ” giữa những bữa ăn chính; khi chúng ta ham thích những bữa ăn đặc biệt , chúng kích thích dạ dày và cám dỗ những thèm muốn khó chiều của chúng ta”, nói tóm lại khi thức ăn là một sự cám dỗ luôn ở trước mắt chúng ta mà chúng ta thường phải chịu thua chúng - thì rõ ràng chúng ta đang ở trong cảnh nô lệ cho nó.
“Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn” - và Đức Chúa Trời sẽ huỷ hoại cái nọ và cái kia (ICo1Cr 6:12, 15).
“Vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi cho sự đó” (IIPhi 2Pr 2:19)
Phao-lô đã nói một số điều không dễ dàng cho những tín đồ không có tính kỷ luật ở Cô-rinh-tô, nơi mà những điều xấu xa như say sưa và sự phàm ăn được thấy trong những yến tiệc họ yêu thích, để rồi họ không thể hiểu được Tiệc Thánh của Chúa (ICo1Cr 11:20-22). Phao-lô nhắc họ nhớ lại lịch sử của Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng:
“Mọi điều đó xảy ra để làm gương cho chúng ta, hầu chúng ta chớ buông mình theo tình dục xấu, như chính tổ phụ chúng ta đã buông mình. Cũng đừng thờ hình tượng nữa, như mấy người trong họ, theo lời chép rằng dân sự ngồi mà ăn uống, rồi đứng dậy mà chơi dỡn” (ICo1Cr 10:6, 7)
Ngồi lại mà ăn uống - và Đức Thánh Linh gọi đó là sự thờ hình tượng! Chúng ta không nghĩ rằng Đức Chúa Trời Đấng ban cho chúng ta một điều một cách dư dật, không thể chúc phước cho sự vui hưởng yến tiệc của chúng ta cũng như sự kiêng ăn của chúng ta. Một sự thật đólà Đức Thánh Linh ở đây đang cảnh báo chúng ta rằng sự ngồi lại ăn uống của chúng ta có thể là sự thờ lạy hình tượng, thì nó cũng có thể được thực hiện vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Có quá nhiều sự vô kỷ luật trong vòng những Cơ Đốc nhân tự xưng đến nỗi cho phép chúng ta nghĩ rằng mình không cần mạng lệnh của sứ đồ này.
Có một tư tưởng sáng suốt cho rằng tất cả tội lỗi là sự đau khổ, bệnh tật, sự chết trong thế giới ngày nay xuất phát từ sự nếm trái cấm, trong trường hợp đầu tiên. Nhưng đáng ngợi khen Đức Chúa Trời, vì trong thời điểm trọn lành Ngài sẽ đưa thế gian một Người khác, “một A-đam sau”. Người này cũng gặp sự cám dỗ tương tự, không phải ở khung cảnh tuyệt vời của vườn địa đàng nhưng ở nơi đồng vắng; không phải được nuôi dưỡng bởi nguồn lương thực dồi dào của Ê-đen, nhưng với một thể xác yếu đuối vì phải kiêng ăn 40 ngày và phải chịu đựng cái đói.
“Quỉ cám dỗ đến gần Ngài mà nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá này trở nên bánh đi. Đức Chúa Giê-xu đáp: có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời”… Ma quỉ bèn bỏ đi (Mat Mt 4:3-4).
Nơi nào A-đam trước thất bại thì A-đam sau đắc thắng. Qua sự chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã phục hồi cho con người vườn địa đàng mà họ đã đánh mất vì tội lỗi. Sau cùng Giăng nhìn thấy cây sự sống, mà con người bởi sự không vâng lời đã bị đem ra khỏi nó, đang mọc trên bờ sông pha lê ở trong thành của Đức Chúa Trời, Giăng nói cho chúng ta về ơn phước đời đời cho những ai giặt áo mình và có quyền đến nói cây sự sống và bởi các cửa mà bước vào thành (KhKh 22:1-21). Con người đã bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen, cuối cùng được phục hồi và bước vào thiên đàng của Đức Chúa Trời, nhờ sự vâng phục của một Con Người, Đức Chúa Giê-xu Christ.
Trong khi đó chúng ta phải sống trong một thân thể dễ bị cám dỗ “An và uống” mà Chúa Cứu Thế cảnh cáo chúng ta, sẽ đánh dấu những ngày trước khi Ngài trở lại, như chúng đánh dấu những ngày của Nô-ê. Ngài bảo chúng ta phải tỉnh thức kẻo lòng chúng ta bị kinh ngạc khi sự ăn uống quá độ, sự say sưa và những bận tâm của cuộc đời này, và ngày Chúa trở lại thấy chúng ta không sửa soạn (Mat Mt 24:37, 38; LuLc 12:45, 46; 21:34) bất ngờ ập tới các môn đồ Ngài phải nói “không” với cái tôi, vác thập tự giá mà bước theo Ngài. Kiêng ăn giữ vai trò gì trong việc kỷ luật thể xác chúng ta? Đó là một câu hỏi mà chúng ta phải quan tâm ngay giờ đây.

ĐỂ NGHIÊM KHẮC VỚI THỂ XÁC
“Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng ” (ICo1Cr 9:27)
Có những người dường như không hề biết mình bị nô lệ bởi đồ ăn và cũng không biết có sự rò rỉ quyền năng thuộc linh. Họ hiểu lầm sự thèm khát mà chúng ta làm nô lệ cho nó với sự thèm ăn tự nhiên và có lợi cho sức khoẻ. Những người khác nhận thức nhưng không lên tiếng rằng họ là những nô lệ cho dạ dày. Chân lý mà tính kỷ luật Cơ Đốc bao gồm sự tự kỷ luật trong lãnh vực này, rõ ràng đã không tác động mạnh đến lương tâm của họ. Sự thèm muốn và sức chứa của họ dành cho thức ăn là một trò đùa “Tôi có thể hạn chế bất kỳ điều gì ngoài sự cám dỗ” họ nói.
Nhiều người từng kiêng ăn đã thừa nhận rằng đó là một sự kêu gọi của Đức Chúa Trời để kiêng nhịn. Như Martin Luther, người kiêng ăn lâu năm, diễn tả nó một cách là lạ “người béo có thói quen cằn nhằn một cách khó chịu”.
Trong tiểu sử của ông về Rees Howells mà chúng ta đã nhắc đến, Norman Grubb viết lại cách Đức Chúa Trời lần đầu tiên đối diện với tôi trớ của Ngài theo đường lối này:
Đây chính là lúc ông có một gánh nặng đối với một tập quán nào đó, điều này đang bị phá vỡ bởi những cuộc đột kích của kẻ thù. Đức Chúa Trời kêu gọi ông dành một ngày cầu nguyện và kiêng ăn, một việc làm có gì đó mới lạ đối với ông. Ai sống trong một ngôi nhà sung túc với bốn bữa ăn ngon một ngày như ông thì quả rất sốc khi biết rằng kiêng ăn có nghĩa là nhịn bữa tối, và ông đang rất lo lắng về điều này. Và phải chăng nó chỉ diễn ra một ngày? Giả sử Đức Chúa Trời muốn ông thực hiện mỗi ngày thì sao?
Trưa hôm đó ông quì gối trong phòng riêng, nhưng không có lời cầu nguyện nào thốt ra một giờ sau đó. “Tôi không biết có sự thèm muốn như vậy ở trong tôi” sau này ông đã nói “Sự lo lắng của tôi là bằng chứng của sự ràng buộc mà nó có trên tôi. Nếu điều này không có chút quyền lực gì trên tôi thì tại sao tôi đã tranh luận về nó?”
Lúc một giờ mẹ ông gọi và ông nói với bà rằng ông không ăn trưa. Nhưng bà lại gọi lần nữa, như mọi bà mẹ thường làm, và bảo rằng: “An một chút không mất nhiều thời gian đâu”. Mùi thơm dễ chịu của thức ăn từ nhà bếp bay lên làm ông không chịu nổi và đã bước xuống. Nhưng sau bữa ăn, khi trở về phòng mình, ông không thể bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời như trước đó. Ông phải đối diện với sự bất tuân phục đối với Đức Thánh Linh.
“Tôi cảm thấy mình giống người nam trong vườn Ê-đen. Tôi đi lên núi và đi bộ hàng dặm đường, rủa sả cái con người tồi tệ trong tôi”… sau đó ông không ăn bữa tối trong nhiều ngày, nhưng đã dành một giờ (mỗi ngày) ở với Đức Chúa Trời. Như ông đã nói sau này, “Giây phút tôi đắc thắng nó, nó không phải là điều gì đó quá lớn để không thể thực hiện được…. Trong khi bạn vẫn còn muốn một điều người đó thì bạn không thể thực hiện được… Trong khi bạn vẫn còn muốn một điều gì đó thì bạn không thể để tâm trí mình rời khỏi nó. Khi bạn vượt lên trên nó, Ngài có thể đem nó trở lại cho bạn, nhưng bạn đã thoát khỏi nó” (1)
Ở nơi nào có sự thất bại khi đối diện với sự thèm muốn đồ ăn, cuộc sống được mở ra để tấn công theo đường lối khác. Sự liên quan giữa việc phản ứng mãnh liệt và sự khích động của sự ham muốn tình dục là kiến thức thông thường. Tội lỗi của Sô-đôm như chúng ta đã thấy, có liên quan với “sự ăn uống quá độ. Đức Chúa Trời phán với Y-sơ-ra-ên “Ta đã khiến chúng nó ăn no, mà chúng nó thì phạm tội tà dâm” (Gie Gr 9:7). Trước đó Ngài đã cảnh báo họ qua Môi-se rằng sự sở hữu xứ đượm sữa và mật sau khi lưu lạc trong đồng vắng sẽ đem đến cho họ những cám dỗ mới - sự cám dỗ khiến họ chống nghịch Đức Chúa Trời, từ bỏ Ngài để thờ những thần tượng.
“Giê-ru-sa-lem đã mập mạp và cất đá - người trở nên mập, lớn và béo tròn - người đã lìa bỏ Đức Chúa Trời, là Đấng dựng nên người, và khinh dễ Hòn Đá của sự chửng cứu người. Chúng nó trêu ghẹo Ngài phân bì, bởi sự cúng thờ những thần khác, chọc giận Ngài vì các sự gớm ghiếc” (PhuDnl 32:15, 16)
Phao-lô khẳng định tầm quan trọng của việc kỷ luật những ham muốn của thể xác và đừng “chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (RoRm 13:14). Nhắc đến mối quan hệ hôn nhân, ông khuyến khích những giai đoạn kiêng nhịn và sau đó trở lại hiệp cùng nhau” (ICo1Cr 7:5). Trong câu gốc đầu chương này, mượn hình ảnh từ một phòng tập thể dục hoặc một trường huấn luyện, chúng là một đặc diểm quan trọng của mỗi thành phố Hy Lạp, sứ đồ Phao-lô bày tỏ điều gì đó về tính kỷ luật của riêng mình.
“Hết thảy những người đua tranh, tự mình chịu lấy mọi sự kiêng kỵ…. Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng?” (ICo1Cr 9:25, 27)
Đối với tâm trí của sứ đồ này không chỉ có mối nguy hiểm của sự cám dỗ, nếu thân thể không được đối đãi nghiêm khắc, nhưng còn mối nguy hiểm vì mất đi sức mạnh trong cuộc thi lớn nhất trong tôi, giống như một lực sĩ nếu không luyện tập nghiêm túc sẽ có một ngày trên đường đua anh ta bị truy cản mất giải thưởng. Vì vậy anh ta phải xem nó như sự nghiệp của mình để nhận biết những bước thực hành nào là quan trọng để bắt phục những sự ham muốn và những khao khát của cơ thể: đời sống thuộc linh có thể được giữ trong quyền thống trị này, làm thế nào anh ta có thể dành được vòng hoa của người chiến thắng trong khi liên tục bị những ham muốn không bao giờ được thoả mãn của mình thắng hơn?
Trong những ngày sống trên đất, Đức Chúa Trời và Cứu Chúa chúng ta biết đói, khát, mệt nhọc là gì nhưng Ngài bộc lộ sự từ kiềm chế bản thân một cách hoàn toàn, đây là bông trái của Thánh Linh. Đến giếng Gia-cốp vào một ngày nóng bức. Ngài đã giảng dạy về nước sống cho người đàn bà tội lỗi, trong khi các môn đồ Ngài đi tìm kiếm thức ăn. Trở lại với những đồ ăn họ tìm được, các môn đồ giục Ngài ăn, vì chắc chắn Ngài cũng đang đói như họ. Ngài vội đáp “Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các ngươi không biết” Có người nào đó đã đem chi cho Ngài ăn khi họ vắng mặt sao? Chúa Giê-xu đã giải thích “Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài” (GiGa 4:8, 31-34).
Đời sống thuộc linh làm chủ hoàn toàn trên thể xác. Nhưng Ngài đã kiêng ăn 40 ngày, đêm phải không? Ngài đã đẩy lùi sự công kích của ma quỉ cám dỗ khi nó xui giục Ngài hoá đá ra bánh không? Con người sống không phải chỉ nhờ bánh, nhưng đôi khi họ phải sống nhờ Lời Đức Chúa Trời mà thôi. Đời sống “không chỉ làm chính mình thoả lòng” của Ngài là một trong những đời sống có tính tự kỷ luật luôn luôn phải không? Ngài vẫn đang kêu gọi chúng ta theo Ngài trên bước đường nói không với chính mình và vác thập tự giá không”. Nhưng lời kêu gọi đó được đáp ứng thế nào?
Có người nào đó đáp rằng “Đây hoàn toàn là một vấn đề đơn giản, trái của Thánh Linh là sự tiết độ. Hãy để Chúa Giê-xu sống đời sống của Ngài trong chúng ta và chắc chắn sẽ đạt được kết quả này”. Dĩ nhiên đây là sự thật nhưng nó không phải là toàn bộ chân lý, như nhiều người phải biết qua sự sửa phạt mỗi lần sai phạm. Thường có những bước đi thực tế mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta thực hiện trước khi trái này có thể được sản sinh.
Thật chúng ta phải “mặc lấy Đức Chúa Giê-xu Christ” bởi đức tin, và cũng “chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (RoRm 13:14). “Chúng ta biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài” (RoRm 6:6) đây là điều hết sức cần thiết qua 2000 năm rồi, nhưng những chiếc đinh của thập tự giá không buông tha chúng ta khỏi nhu cầu kỷ luật những ham muốn của mình. Các thư tín trong Tân Ước cẩn thận nhấn mạnh đến cả hai khía cạnh này. “Hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ” (ITi1Tm 2:22) - “dạy chúng ta chừa bỏ… tình dục thế gian” (Tit Tt 2:12) - “phải kiêng những điều xác thịt ưa thích” (IPhi 1Pr 2:11)
Quan niệm về tính tự áp đặt là cơ sở cho khái niệm về sự kiêng ăn trong Kinh Thánh. Chúng ta đã lưu ý thấy sự kiêng ăn duy nhất được mô tả bởi luật pháp là Ngày Lễ Chuộc tội. “Hãy ép tâm hồn mình” (LeLv 23:27). Là cách Đức Chúa Trời mô tả nó. Như vậy trong sự kiêng ăn sớm thất bại được mô tả trong EsIs 58:1-14, dân Y-sơ-ra-ên đã hỏi trong cáu gắt: “Sao chúng tôi kiêng ăn mà Chúa chẳng đoái xem” sao chúng tôi chịu dằn lòng (nghĩa đen: ép linh hồn mà Chúa chẳng biết đến). Đa-vít cũng viết “Tôi kiêng ăn ép linh hồn tôi” (Thi Tv 35:13).
Già trị của sự kiêng ăn khi có chủ đích bắt phục toàn thể và làm chủ trên sự ham thích luôn luôn được công nhận. Hội Thánh England Honily (1562) cho rằng kết quả đầu tiên của sự kiêng ăn là “bắt phạt xác thịt, nó không quá phóng đãng, nhưng được thuần hoá và được ở trong sự chinh phục của Thánh Linh”.
Nguyên tắc này được minh hoạ rõ trong cuộc đời của một nhà truyền giáo theo phái của Wesley, William Bramwell:
Ông ta nhận thấy có khả năng chính mình có thể trở thành một người bị đắm tàu, sau khi rao giảng cho người khác. Bởi sự kiêng ăn bởi sự tỉnh thức thường xuyên; bởi thói quen tiết độ trong mọi sự, ông đã giữ thân thể mình trong sự bắt phục và bằng cách đó đã làm tăng quyền năng và tính chất thuộc linh của ông. (2)
Viết thư cho người bạn ở Liverpool và năm 1809 ông nói:
Lý do tại sao một người theo phái Giám lý nói chung không sống trong sự cứu rỗi này đó là họ ngủ quá nhiều, ăn uống rượu thịt quá nhiều, lại ít kiêng ăn và từ chối mình, giao tiếp với thế gian quá nhiều rao giảng và nghe quá nhiều lại ít tự kiểm điểm và cầu nguyện.
Con người có thể dễ dàng tưởng tượng anh ta đang hướng về một Họi Thánh Phúc Am của cuối thế kỷ 20. Những người giống Bramwell là một sự quở trách thường xuyên đối với thời đại dễ dàng, giàu có của chúng ta. Chúng ta rất cần phải tỉnh thức, cầu nguyện và kiêng ăn, nếu chúng ta muốn kiểm soát được thân thể mình, bảo vệ sức mạnh thuộc linh mình và giành được mão triều thiên của người chiến thắng!
1. Norman Grubb, Rees Howells, Người Trung Bảo, Cuộc Thập tự chinh trong văn chương Cơ Đốc
2. James Sigston, William Bramwell


CHỦ NGHĨA KHỔ HẠNH THÌ SAO?
“Làm sao lại để cho những thổ lộ này ép buộc mình, như anh em còn sống trong thế gian: chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ” cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý loài người, dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình nhưng không ích gì để chống cự lòng dục và xác thịt ” (CoCl 2:20-23)
Có lẽ chúng ta đang tự hỏi có phải chăng tất cả sự nhấn mạnh nhằm vào sự kiêng ăn, sự kỷ luật thân thể v.v… có thể dẫn đến sự khổ hạnh, làm hại cho sức khoẻ, hoặc thậm chí là sự cuồng tín hay không? Chính sự lo sợ này nằm sau thái độ truyền thống đối với sự kiêng ăn trong hầu hết những người theo Phúc Am. Đây là một phản ứng cực đoan. Hầu hết chúng ta là những người cực đoan hoặc những người chống đối. Khi ra sức tránh những sự thái quá của người cực đoan, người chống đối rơi vào một lỗi lầm khác và lại trở thành người cực đoan. Rất khó để tìm thấy sự cân bằng thuộc linh vừa ý của Kinh Thánh.
Chủ nghĩa khổ hạnh là gì? Nó xuất xứ từ một từ Hy Lạp có nghĩa là “rèn tập hoặc huấn luyện để đạt được một mục tiêu hoặc một lý tưởng nào đó” và được áp dụng cho những binh sĩ, những lực sĩ, và trong việc rèn luyện đạo đức và lòng ngoan đạo (1). Điều này hiệp lẽ với Tân Ước và trong ý nghĩa này Chúa chúng ta, các sứ đồ và mọi Cơ Đốc nhân có tính kỷ luật đều có thể được gọi là người tu khổ hạnh”.
Tuy nhiên chủ nghĩa khổ hạnh sớm phát triển những đặc điểm mất sai lầm và tai hại, và đây là lý do tại sao từ này mang theo nó một vết nhơ của chủ nghĩa cực đoan trong tâm trí đa số con người. Điều này cũng được thấy rõ trong định nghĩa của tự điển về từ “người tu khổ hạnh” đó là người “tự kỷ luật mình của người khắc nghiệt” (2)
Chúng ta có thể phân biệt 3 giai đoạn, chúng đánh dấu sự phát triển của tinh thần khổ hạnh trong Hội Thánh Cơ Đốc. Thứ nhất, lẫn tránh có chu kỳ và được kiểm soát khỏi sự nuông chiều theo những ham muốn đúng dắn của cơ thể. Khi nào động cơ đúng đắn và phương pháp phù hợp với Kinh Thánh thì kết quả chỉ có thể là tốt và sự kiêng ăn vì Đức Chúa Trời là một ví dụ rõ ràng về điều này.
Sau đó là từ bỏ tất cả những thú vui vật chất và những giao tiếp bình thường trong xã hội, giống như những người ở ẩn hay những thầy tu (3). Giai đoạn cuối cùng là tự bắt mình chịu những hình thức khác nhau của sự đau đớn về thể xác như mặc áo vải tóc hoặc đội vòng đai đinh.
Tinh thần khổ hạnh, bao gồm sự kiêng ăn dĩ nhiên không dành riêng cho Cơ Đốc giáo thời Trung cổ. Nó được thấy trong hầu hết những tôn giáo chính từ Eskimos của Alaska đến (thổ dân) Aborigines và Maorce của Uc (4). Nó đặc biệt thường thấy trong các tôn giáo phương Tây chẳng hạn. Thầy tu khổ hạnh của đạo Hindu. Trong sự phát triển của tinh thần khổ hạnh, hoặc trong Cơ Đốc giáo hoặc ở thế gian vô thần chúng ta có thể nhận thức rõ mục đích chính của Sa-tan là tìm cách ngăn trở bản năng tôn giáo của con người.
Bên cạnh những tập tục sai lầm của chủ nghĩa khổ hạnh là học thuyết sai lạc. Có một quan điểm sai về Đức Chúa Trời, nó cho rằng Ngài là Đấng tìm thấy sự vui thích trong đau đớn, khổ sở và nghịch cảnh. Ngày nay có ai cho rằng con đường chông gai tất yếu là ý muốn của Đức Chúa Trời không? “Lạy Chúa, tôi biết Chúa là người nghiêm nhặt” (Mat Mt 25:24) là khái niệm sai lầm của nhiều người khi nghĩ về Cha Thiên Thượng của họ. Chúa Giê-xu nhắc người Pha-ri-si rằng Đức Chúa Trời có lòng nhân từ.
Sau đó, lại có một quan điểm sai của con người về chính họ, rằng họ có thể bồi thường cho những tội lỗi của mình bằng sự tự nghiêm khắc với bản thân mình hoặc có thể đòi hỏi Đức Chúa Trời ban thưởng. Điều này sinh ra những học thuyết xưng tội, và bồi thường cho tội lỗi bằng cách “trả nợ”. Ở đây ngầm chứa sự tự hào quỉ quyệt, nó ca ngợi tính sẵn sàng ôm lấy đau khổ thay vì ca ngợi thập tự giá. Một “của lễ, một vật hy sinh, sự bồi thường đầy trọn và đủ cả cho tội lỗi của toàn thế gian, không cần thêm bất kỳ sự chịu đau khỗ nào của con người.
Cuối cùng có một thái độ sai lầm đối với thể xác con người, cho rằng nó vẫn xấu xa không thể thay đổi. Như vậy người ta cho rằng rất cần thiết để bảo đảm sự trong trắng của linh hồn, để giải phóng nó khỏi tất cả sự lệ thuộc vào thể xác bằng cách bắt phục nó trong một kỷ luật nghiêm khắc (5). Thể xác có ham thích sự hiểu liên cảm tính dục không? Điều này chắc chắn được kiềm nén liên tục bởi lời nguyền sống độc thân. Nó có mê ngủ không? Điều này chắc chắn được kiếm chế nghiêm nhặt, và như vậy tiếng chuông đều đặn trong những chiếc đồng hồ kéo các tu sĩ ra khỏi phòng của họ để thức cầu nguyện. Thể xác có muốn hưởng sự an nhàn trong cuộc sống không? Hãy để nó nếm trải tất cả sự khổ cực, đau khổ vì tội lỗi đầy dẫy của nó.
Trong hệ thống tu viện xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ III chúng ta thấy sự thực thi những quan điểm sau này. Có một thầy tu người ở ẩn thích sống một mình, và có những người thích sống trong một hội, những nơi này những nguyên tắc khổ hạnh buộc phải tuân giữ rất nghiêm khắc. Trong một số hội, im lặng tuyệt đối là một luật lệ và các thầy tu ngủ trong áo da dê với tư thế ngồi, và hạn chế mọi sự tắm rửa.
Kiêng ăn là một trong những điều dầu tiên chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa khổ hạnh khe khắt vào những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Cơ Đốc. Chủ nghĩa hình thức là sự khởi đầu nhỏ nhưng có thể dẫn tới điều lớn hơn, trong khi lòng nhiệt tình lầm đường lạc lối và quá độ đang không muốn mọi người hiểu nó. Cả Chúa Cứu Thế và các sứ đồ Ngài đến không đặt bất kỳ luật lệ nào đối với sự kiêng ăn. Nó là một vấn đề riêng tư giữa môn đồ và Chủ mình, vì những nhu cầu và hoàn cảnh…. Với sự suy yếu của Cơ Đốc giáo, người ta càng đặt nặng vẽ bên ngoài hơn bề trong. Hình thức mộ đạo thay cho quyền năng, và con người cố gắng khôn ngoan hơn Đấng Khôn Ngoan trên hết bằng cách thêm những luật lệ vào sự kiêng ăn mà họ không tìm được trong Kinh Thánh.
Kiêng ăn mỗi năm một lần vào ngày lễ Chuộc tội, là tất cả những điều luật pháp qui định. Nhưng vào thời Xa-cha-ri có ít nhất một lần trong năm (XaDr 8:19), và khi Chúa chúng ta đến thế gian thì người Pha-ri-si kiêng ăn 2 lần một tuần. Lịch sử của Hội Thánh cho thấy một xu hướng tương tự. Thứ nhất vấn đề cá nhân đã trở thành vấn đề của tập quán ví dụ tập tục kiêng ăn vào thứ 4 và thứ 6 hàng tuần, và lần lượt nó trở nên vấn đề bổn phận. Những sách hướng dẫn, được đưa vào quyền được cho là của các sứ đồ đã đặt điều này và nhiều vấn đề khác dưới luật lệ. “Sự phát triển những luật lệ khắc khe trong sự kiêng ăn đặc biệt đáng kể trong thế kỷ thứ 4, và thời đại của các giáo hội và tổ chức, làm cho khả thi vào thời sự bách hại chấm dứt” (6)
Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại dễ chịu và sung túc. Bất cứ ở đâu Đức Chúa Trời sẵn lòng vận hành bởi Thánh Linh Ngài thì ở đó có mối đe doạ của phản ứng gay gắt đối với tinh thần dễ chịu này, nó nhanh chống đi đến chủ nghĩa khổ hạnh không hiệp Kinh Thánh. Xu hướng này nằm im trong lòng mỗi con người và chỉ nhờ những điều kiện đúng đắn - một sự nhiệt tình không theosự hiểu biết và lòng tự hào về sự tận hiến - để bùng lên thành ngọn lửa.
Không có điều gì xấu xa trong thể xác con người, vì Đức Chúa Trời đã tạo dựng nó, ngay cả nó có những khát khao và ham thích. Không có điều gì xấu nếu thêm có một bữa ăn bình thường khi đang đói, hoặc mong có một người chồng, những đứa con, một gia đình cho riêng mình khi đủ giàu có. Đây không phải là cách của Thánh Linh để kiềm chế những bản năng tự nhiên này, nhưng để kiểm soát chúng và giữ chúng trong những giới hạn do Đức Chúa Trời qui định. Chúng ta không cần dập tắt ngọn lửa trong lò; chỉ cần ngăn chận than rơi ra ngoài và làm nơi đó chìm trong lửa. Đời sống vật chất không phải luôn bị trừ khử nhưng tự khép vào kỷ luật và chịu bắt phục dưới đời sống thuộc linh.
Khi chủ nghĩa khổ hạnh trở nên một bộ phận mà người ta phải thực hiện trong những luật lệ do con người đặt ra, nó không còn khả năng đối diện với những sự thèm khát của thể xác một cách hiệu quả. Mặt khác, sự tiết độ là bông trái của Thánh Linh, bắt nguồn từ một đời sống có Chúa trong lòng, được nuôi dưỡng bởi thói quen có một đời sống kỷ luật.
“Sao lại để cho những thể lệ hay ép uộc mình như anh em còn sống trong thế gian; chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ? Cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý làm người, dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình nhưng không ích gì để chống cự lòng dục của xác thịt”.
Wesley công bố “Một số người đã đề cao sự kiêng ăn mang tính tôn giáo vượt xa hơn tất cả Thánh Linh và lý trí; và những người khác hoàn toàn xem thường nó”. Trong khi chú ý tránh điều này chúng ta hãy tỉnh thức đối với điều kiện. Một sai lầm phổ biến hơn trong thời đại của chúng ta là sự nuông chiều quá dễ dàng, điều này cho chúng ta cơ hội nuông chiều thể xác khi chúng ta phải nghiêm khắc với nó; thoả thuê và hưởng thụ khi chúng ta phải kiêng ăn và cầu nguyện.
Chú ý: Sự ảnh hưởng của chủ nghĩa khổ hạnh ban đầu trên bản văn Tân Ước được nghĩ là do sự tính đến những ý ám chỉ đến sự kiêng ăn trong 4 phân đoạn trong bản AV (King James) và ngày nay người ta nghĩ là những đoạn được thêm vào. Xem phụ lục 2.

SỰ KIÊNG ĂN THÂN THỂ
“Thân thể… là vì Chúa… thân thể là đền thờ của Đức Thánh Linh… Vậy hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời ” (ICo1Cr 6:13-20)
Trong chương này và một vài chương sau chúng ta sẽ đề cập chủ yếu đến kỳ kiêng ăn dài hơn và ảnh hưởng của nó trên thân thể mặc dù có nhiều điều chúng ta cần phải hiểu ngay cả khi chúng ta chẳng bao giờ kiêng ăn quá một ngày.
Bất cứ người nào được kêu gọi thực hiện một kỳ kiêng ăn kéo dài không phải ngạc nhiên nếu những bà con thân thiết tỏ thái độ chán nản khi biết được việc kiêng ăn của mình. Điều này luôn kéo theo nhiều tranh cải có vẻ hợp lỷ hầu khuyên can người chuẩn bị kiêng ăn tránh khỏi những hậu quả đáng ngại và khủng khiếp của quyết định ngu ngốc của anh ta! Đôi khi điều này có thể trở thành một cản trở khó vượt qua hơn cả những sự can gián chắc chắn xảy đến từ trong lòng mình.
Đằng sau nhiều sự phản đối việc kiêng ăn kéo dài là những khái niệm sai lầm thường thấy, chúng cho rằng chúng ta phải ăn để sống, và kiêng ăn đồng nghĩa với chết đói rằng nó rất nguy hiểm nếu không muốn nói rõ ràng có hại. Những nỗi lo sợ này là do sự thiếu hiểu biết một số điều đã được chứng minh về hoạt động của cơ thể con người suốt thời gian kiêng ăn.
Đồ ăn, dĩ nhiên cần thiết cho việc duy trì sự sống, nhưng không khí, nước uống và giấc ngủ càng cần thiết nhiều hơn. Cơ thể không thể sống sau một vài phút nếu không có không khí, hoặc sau một vài ngày nếu không có nước uống và giấc ngủ; nhưng trong những trường hợp bình thường nó có thể tồn tại khá tốt một vài tuần mà không có đồ ăn.
Giống như lạc đà được dựng nên có một chỗ giữ nước trong thân thể nó, để nó có thể đi qua những sa mạc nóng như thiêu đốt, cũng như vậy Đức Chúa Trời đã trang bị trong cơ thể con người “ngăn dự trữ thức ăn” cho nó.
Một cơ thể khoẻ mạnh và được nuôi dưỡng tốt có thể tồn tại một vài tuần không ăn mà không hề bị tổn hại hoặc suy yếu. Trong suốt thời gian kiêng ăn kéo dài đó có thể sống nhờ lượng mỡ thừa, và cùng lúc đó nó hoạt động giống một lò thiêu ở bên trong cơ thể, tiêu huỷ những mô thừa và hư nát của cơ thể, chỉ khi quá trình này hoàn tất thì nó bắt đầu dùng đến những té bào còn sống và lành mạnh của nó, và đó là lúc ta thấy đói.
Thế thì làm thế nào ta biết được khi nào đến giai đoạn này? Chúng ta luôn luôn phân biệt được một thời kỳ mà qua đó có thể trải qua suốt một kỳ kiêng ăn dài (mặc dù chúng không phải luôn luôn được xác định rõ ràng nhưng có xu hướng chồng chéo lên nhau và khoảng thời gian của mỗi thời kỳ khác nhau nhiều ở mỗi cá nhân). Thời kỳ đầu tiên được đánh dấu bởi sự thèm ăn, kéo dài khoảng 2 ngày hoặc lâu hơn. Khi nó trôi qua, mặc dù vẫn còn cảm giác thích thú khi nghĩ đến đồ ăn, nhưng không còn sự thèm ăn hoặc sự cám dỗ mạnh mẽ nữa.
Thời kỳ thứ hai được đánh dấu bởi cảm giác suy yếu và kiệt sức, kéo dài 2,3 ngày hoặc lâu hơn nhiều. Vào thời điềm này mọi cử động của cơ thể dường như đòi hỏi sự nỗ lực của ý chí. Trong nhiều khía cạnh, thời kỳ này là giai đoạn khó khăn nhất của một thời kỳ kiêng ăn, và một số người thấy cần phải nghĩ ngơi nhiều. Sự biến mất dần dần cảm giác suy kiệt này là dấu hiệu cho thấy cơ thể đó loại những chất thải và chất độc ra khỏi nó.
Thời kỳ thứ ba là thời kỳ dễ dàng nhất, đó là lúc cơ thể dần khoẻ lại, quan tâm rất ít hoặc chẳng còn quan tâm gì đến đồ ăn, và chỉ còn những sự co thắt từng xơn và sự giảm dần của tình trạng yếu ớt. Trong giai đoạn này người kiêng ăn thường cảm thấy mình có thể tiếp tục kiêng ăn của mình mà không cần một nỗ lực nào.
Kết thúc thời kỳ cuối cùng được đánh dấu bằng sự bắt đầu những cảm giác đau nhói vì đói, cho thấy quá trình loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể đã hoàn tất và bây giờ cơ thể bắt đầu dùng đến những tế bào còn sống lành mạnh. Sự xuất hiện của cái đói như tiếng chuông báo rằng cơ thể bắt đầu khổ sở vì đói. Trong những trường hợp nào đó giai đoạn này xảy ra sau 21 ngày, nhưng thường đến sau 40 ngày hoặc thậm chí lâu hơn. Từ lúc bắt đầu kiêng ăn cho đến khi cơn đói trở lại đôi khi được gọi là sự kiêng ăn hoàn tất.
Chúng ta biết rằng Chúa chúng ta “đã kiêng ăn 40 ngày 40 đêm rồi, sau thì đói (Mat Mt 4:2). Nên chú ý Kinh Thánh không cho rằng Ngài đói suốt 40 ngày kiêng ăn nhưng đói vào lúc kết thúc thời gian kiêng ăn đó. Điều này hoàn toàn hợp với điều chúng ta biết về quá trình kiêng ăn, và như vậy nó là một trong nhiều bằng chứng hiển nhiên cho tính có thật của bản văn được Đức Thánh Linh hà hơi này. Chúa chúng ta đã hoàn tất một kỳ kiêng ăn trọn vẹn, tất cả lượng chất dự trữ của cơ thể đã được dùng hết và cơn đói bắt đầu đến. Chính lúc đó Ngài phải một mình đối mặt với Sa-tan, và với cám dỗ hoá đá thành bánh.
Đối với chúng ta phân biệt giữa ham muốn hoặc thèm khát đồ ăn và đói muốn được ăn là rất quan trọng. Không biết một người bình thường được dưỡng dục trong một nền văn minh phương Tây với đầy đủ thức ăn bổ dưỡng như chúng ta có biết nhiều về một cơn đói thật sự hay không. Cảm giác trống rỗng hoặc yếu ớt, vì sự dày vò trong xxxxxxx thuỷ, và những triệu chứng khác được kinh nghiệm lúc bắt đầu một kỳ kiêng ăn ít khi nào là sự đói thật. Chúng là sự thèm muốn được ăn do thói quen ăn uống điều độ của mình 3 lần một ngày không hề thay đổi suốt 260 ngày trong năm.
Khi dạ dày đột ngột bị từ chối điều mà lâu nay nó có quyền được nhận, thì nó có xu hướng kêu gào như một đứa trẻ khóc quấy đòi một thanh sô-cô-la sau bữa ăn tối mà không được. Mặt khác, đói là sự đau khổ của cơ thể không do thói quen nhưng do nhu cầu. Thế thì chúng ta có thể nói rằng chỉ có sự thèm khát liên quan đến “mong muốn” thức thời của dạ dày; còn đói thật thì liên quan đến nhu cầu thật của cơ thể.
Có điều lạ là bất kỳ ai tin vào sự mạc khải của Kinh Thánh từng nghĩ rằng sự kiêng ăn hiệp với Kinh Thánh, được chính Chúa Cứu Thế dạy dỗ và làm gương, có thể gây tổn hại cho cơ thể, dù nó được thực hiện theo Kinh Thánh. Sự thật này, một điều rất trái ngược là như thế. Kiêng ăn làm cho quá trình trị liệu vật lý có thể xảy ra. Nó hoàn toàn bỏ mặc cơ thể tự diều khiển hệ thống thanh lọc và chữa trị tự nhiên của riêng nó.
Không thèm ăn, thường báo hiệu có thể sắp bệnh, không phải là dấu hiệu nguy hiểm nhưng lại là một cột mốc chỉ đường đến sự phục hồi. Thực tế nó nói rằng “Hãy ngưng ăn và để cơ thể bạn có cơ hội phục hồi”.
Khả năng chữa bệnh của kiêng ăn đã được công nhận và áp dụng từ thời cổ đại. Plutarch: một nhà viết tiểu sử (vào khoảng năm 46-120 SC) đã nói “Thay vì dùng thuốc, hãy kiêng ăn một ngày”. Về những năm gần đây có nghiên cứu đáng chú ý về liệu pháp tự nhiên này do những người có trình độ ở cả lục địa Châu Au và ở Hoa Kỳ cũng như ở Anh quốc, và họ đã đạt được kết quả đáng ghi nhận trong những dưỡng đường; ở những nơi này “kiêng ăn để chữa bệnh”, như đôi khi nó được gọi, được thực hiện.
Mặc dù những lãnh vực thuộc linh của đề tài này quan trọng hơn rất nhiều, chắc chắn nhu cầu của cơ thể - sức khoẻ và lành mạnh - là những vấn đề mà chúng ta cũng nên quan tâm. Điều kiện vật lý của chúng ta thường có ảnh hưởng đến đời sống thuộc linh của mình hơn những gì chúng ta nhận thấy.
Bởi thân thể của tín đồ là đền thờ của Đức Thánh Linh, như một sứ đồ đã nhắc nhở chúng ta, và bởi thân thể chúng ta được mua bằng giá cao, chúng ta phải làm vinh hiển Đức Chúa Trời trong nó. Đức Chúa Trời có được vinh hiển không, khi thân thể ta yếu đuối bệnh hoạn vì lãng quên những luật pháp thánh, đó là phải chăm nom đến tình trạng khoẻ mạnh của nó? Đức Chúa Trời có đươc vinh hiển không khi chúng ta trở nên “người bị thương” trong chiến tranh vì cơ thể làm việc quá sức, ăn quá độ, hoặc thiếu ăn, và không cho nó nghĩ ngơi trong ngày “sa-bát”?
Trong độ tuổi chịu áp lực, khi sự suy sụp tinh thần hoặc thể xác trong vòng các Cơ Đốc nhân tự xưng trở nên quá quen thuộc, thì giá trị vật lý của sự kiêng ăn mà Đức Chúa Trời lựa chọn trở thành một vấn đề quan trọng. Ở đây là nguồn cung cấp lương thực từ Thiên Chúa cho sức khoẻ và sự chữa lành, mà chúng ta phải quan tâm nhiều hơn.

CHO SỨC KHOẺ VÀ SỰ CHỮA LÀNH
“Hỡi kẻ rất yếu đuối, tôi cầu nguyện cho anh… được khoẻ mạnh phần xác ” (IIIGi 3Ga 1:2)
“Ngươi sẽ được chữa lành ngay lập tức ” (EsIs 58:8)
Đức Chúa Trời không mong được lợi gì trong sự bệnh tật và yếu đuối. Chúng ta có thể nói rằng đây là mong muốn chung của Ngài, như nó là mong muốn của sứ đồ Giăng đối với Gai-út, bạn mình, rằng dân sự của Ngài được khoẻ mạnh. Những ngoại lệ đối với điều này không phủ định luật lệ chung. Nếu điều này không như thế thì Ngài chẳng bao giờ trang bị cho cơ thể con người một khả năng chữa bệnh tuyệt vời riêng của nó hay cho Hội Thánh một chức vụ chữa bệnh.
Được kể trong nhiều kết quả trọn lành của sự kiêng ăn được Đức Chúa Trời chọn lựa là lời hứa: “Người sẽ được chữa lành ngay lập tức”. Đây là sự chữa lành tự nhiên nhờ sự kiêng ăn hay là sự chữa lành siêu nhiên? Chúng ta tin lời hứa này bao gồm cả hai khả năng.
Kiêng ăn, như chúng ta đã nhấn mạnh có một cách để tách chúng ta ra khỏi thế giới vật chất để suy nghĩ chúng ta được định hướng đúng đắn, tập trung vào Đức Chúa Trời và thế giới vô hình mà Ngài là trung tâm. Điều này chắc chắn đưa đến sự bày tỏ đức tin, đó là “sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy” (HeDt 11:1).
Kinh Thánh đã ghi lại một số điều vĩ đại, Đức Chúa Trời đã hạ xuống nhiều năm cho những người bình thường, họ đã dám tin Ngài. Họ đã thắng các nước, được những lời hứa, bịt mồm sư tử, tắt ngọn lửa hừng, thậm chí chứng kiến người chết sống lại (HeDt 11:33-35). Vì vậy không ngạc nhiên Đức Chúa Trời thường làm trọn lời hứa chữa lành của Ngài một cách siêu nhiên, qua sự tăng trưởng nhanh của đức tin mà sự kiêng ăn đem lại.
Nhưng cũng có sự chữa lành và sự phục hồi sức khoẻ tự nhiên của cơ thể nhờ sự kiêng ăn mà chúng ta đã đề cập đến ở một chương trước. Đây là lợi ích tự nhiên mà tất cả những ai kiêng ăn trong bất kỳ khoảng thời gian hợp lý nào đều cũng được hưởng.
Khi Đa-vít và các binh lính của người đang tìm kiếm dân A-ma-léc, người đã cướp bóc và thiêu đốt Xiếc-lát, họ gặp được một người Ê-díp-tô đang ở trong đồng ruộng. Ngưới này là một trong các tôi tớ của A-ma-léc anh ta bị bệnh 3 ngày rồi và chủ của anh đã bỏ anh chờ chết ở đây. Khoảng 3 ngày 3 đêm qua anh ta không ăn cũng không uống. Sau khi được cứu sống anh ta có thể kể lại chuyện của mình và đã dẫn Đa-vít đến đội quân mà Đa-vít đang tìm kiếm (ISa1Sm 30:11-15). Có vẻ như sự kiêng ăn 3 ngày đó đã cứu anh ta.
Chắc chắn không ai nghi ngờ rằng trong những xứ mà đồ ăn dồi dào lại có nhiều người bệnh vì ăn uống quá độ hơn vì thiếu ăn. Tập tài liệu bằng giấy cói của Edwin Smith, được xác định 3.700 năm tuổi trích dẫn câu chuyện về một bác sĩ người Ai Cập rằng: “con người ăn quá mức. Vì vậy ông chỉ sống bằng ¼ ăn gì ông tiêu thụ. Nhưng các bác sĩ khác sống bằng ¾ còn lại”
Từ một mục trong quyển Cơ Đốc giáo Ngày Nay (Christianity Today) chúng ta có một câu trích dẫn từ Jan Morrison: “Có rất nhiều bệnh tật có nguồn gốc từ sự no đủ, và có thể chữa lành nhờ kiêng ăn” (1). Chắc chắn có những căn bệnh có thể chữa trị được, hoặc có thể phòng ngừa được, và nếu kiêng ăn và từ bỏ những thói quen ăn uống có thể sẽ có một tình trạng sức khoẻ tốt hơn. Không biết điều này con người sẽ tiếp tục đào mồ cho mình bằng dao và nĩa!
Chúng ta đã nói về sự thanh tẩy thuộc linh sâu rộng, nó sẽ đánh dấu một kỳ kiêng ăn của sự thánh hoá. Hành động nằm trong lãnh vực thuộc linh này đang đồng thời được minh hoạ sống động - thường với tình trạng không dễ chịu - trong lãnh vực vật lý. Sự tẩy uế linh hồn được phản ánh trong sự tẩy uế thể xác. Sự tích trữ lượng mỡ thừa, chất thải, và những tế bào hư đang được bài tiết và loại bỏ.
Bởi không có sự nạp vào lượng thức ăn, cơ thể không còn phải tham gia vào công việc hấp thụ nữa; vì vậy nó tập trung vào công việc loại bỏ chất thịt. Mặc dù điều này có thể được đánh dấu trong những giai đoạn đầu của một kỳ kiêng ăn kéo dài, lúc đó có sự giảm cân nhanh hơn, nhưng quá trình vẫn tiếp tục diễn ra trong toàn bộ thời gian kiêng ăn.
Bác sĩ Buchinger người Đức, một nhà chuyên môn về sự kiêng ăn để chữa bệnh, dùng sự minh hoạ của một nông dân Alaskan, ông bị cô lập bởi một đống tuyết trong tình trạng nguồn nhiên liệu đang cạn dần, đầu tiên ông nhìn quanh tìm khúc gỗ thừa, vât dụng đồ gỗ đã gẫy, những tạp chí và sách cũ. Sau đó ông phải xem cái nào có thể được sử dụng để đốt lửa tốt nhất. Chỉ khi tất cả những vật thừa được đốt hết thì những đồ đạc bằng gỗ có ích trong nhà mới bị đem vào lò. Ông đã áp dụng sư suy luận của mình bằng cách này.
Vật dụng càng xấu thì khi đốt nó trong lửa lương tâm càng ít bị cắn rứt. Nhưng dần dần sau khi lượng mỡ thừa, những tế bào thoái hoá, những chất dơ bẩn đã được dùng hết thì cơ thể không còn được đối đãi rộng rãi nữa… Cơ chế tinh xảo bên trong thực hiện công việc rất chi tiết, giống một bác sĩ phẫu thuật mà không có dao. Trong thời kỳ này sự tích trữ nguy hiểm và bướng bỉnh hầu hết bị tấn công, chỉ khi những góc khuất được dọn sạch thì cơ thể tiến đến những tế bào còn giá trị để duy trì quá trình trao đổi chất trong khi kiêng ăn (2).
Dĩ nhiên thời điểm này, sự kiêng ăn sẽ kết thúc.
Chỉ người nào kinh nghiệm được quá trình này một cách cá nhân mới có thể thông cảm với Đa-vít khi người nói: “Kiêng ăn ép linh hồn tôi” (Thi Tv 35:13). Nhưng nó là sự an ủi khi nhận thấy rằng những sự khó chịu mà chúng ta phải chịu đựng trong những giai đoạn đầu của một kỳ kiêng ăn dài đang thực hiện sự thanh tẩy rất có ích cho cơ thể chúng ta, không kể đến những ích lợi về mặt thuộc linh. Điều này sẽ giúp chúng ta vượt qua thời kỳ khó khăn để đến khoảng thời gian bình yên ở trước mặt.
Lỗ chân lông, miệng, phổi, thận, gan và dĩ nhiên ruột đều được kể đến trong thanh lọc này, một chuyên gia y khoa cho chúng ta biết như vậy. Vị giác khó chịu trong miệng, lưỡi bị tưa và hơi thở rặng mùi đều nằm trong quá trình này.
Có một triệu chứng “đau đầu do kiêng ăn” chủ yếu do bởi phản ứng của cơ thể đối với sự ngưng sử dụng đột ngột trà và cà phê. Nhưng ai không dùng những chất kích thích này thì không gặp trường hợp trên. Nhưng đau đầu đôi khi do những nguyên nhân khác. Cũng có xu hướng mất ngủ, khó chịu ở bụng, buồn nôn, chóng mặt và dĩ nhiên suy yếu.
Chúng ta không thể đồng ý với những người làm cho chúng ta tin rằng kiêng ăn là điều dễ dàng và dễ chịu mà bản chất tự nhiên của chúng ta co thể chịu được. Chúng ta cũng không thể xem mọi điều trong Kinh Thánh mà cho rằng Đức Chúa Trời từng định nó là như vậy. Kiêng ăn là một liều thuốc cho cả thể xác và thuộc linh, và nhận định của chúng ta về điều này thường là “không dễ dàng, nhưng tốt cho bạn”
Những ich lợi về mặt vật lý thế nào? Quá trình thanh lọc, sau kỳ kiêng ăn dài, luôn đem lại ở kết quả như: sáng mắt, hơi thở trong lành, da dẻ sạch đẹp và một cơ thể khoẻ mạnh. Một công nhân Cơ Đốc sau 5 ngày kiêng ăn đã tuyênbố “Tôi thấy mình như thể có một dạdày mới”. Bệnh không tiêu của anh ta lâu nay đã biến mất. Những khả năng tri giác của cơ thể, đặc biệt là vị giác và khứu giác, có chiều hướng nhạy và chính xác hơn, trong khi sức mạnh tinh thần của con người trở nên rõ ràng và năng động đáng kể. Những lợi ích của cơ thể mà cơ thể chúng ta có được sau khi kiêng ăn dù là gì đi nữa chúng ta cũng phải công nhận rằng sự khó chịu vốn có của chúng ta do thói quen ăn uống và sinh hoạt có hại sẽ biến mất và chắc chắn có sự đổi mới trong những lãnh vực này.
Dù chúng ta có khoẻ mạnh hay không, chúng ta cũng cần biết ý muốn của Đức Chúa Trời trước khi thực hiện bất kỳ loại kiêng ăn nào đặc biệt là kỳ kiêng ăn lâu ngày. Hơn nữa chúng ta cần để cho mục đích và động cơ của mình rõ ràng và đảm bảo rằng dù chúng ta có hy vọng được khoẻ mạnh và được chữa lành thế nào thì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và những vấn đề thuộc linh phải luôn được quan tâm hàng đầu.
1. Trích trong một bài báo, A Plea for Fasting, của J.H.Blackmore
2. Cho.H.F.Buchinger, About Fasting A Royal Road to Healing (- kiêng ăn - con đường dẫn đén sự chữa lành). NXB Thorsons.


LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẮT ĐẦU
Ban cho chúng ý chí để làm thành như chúng nghĩ
Cho chúng ta sức mạnh để gắng công như chúng ta biết
Cho chúng ta sự quyết tâm với khung và đầu bằng sắt để chống lại cơn sốc.
John Drinkwater
Đối với độc giả không vừa lòng với lợi ích không thực tế trong chủ đề này, hoặc có sự hiểu biết theo lý thuyết, nhưng tin rằng Đức Chúa Trời ngay bây giờ muốn anh ta bắt đầu thực hiện nó, chúng ta nên cho anh ta một lời khuyên đơn giản nào đó. Có những nguy hiểm, cả trong việc kiêng ăn và trong việc kết thúc sự kiêng ăn, cần phải tránh. Bây giờ chúng ta sẽ không đề cập đến tất cả những vấn đề thực tiễn phát sinh đặc biệt trong kỳ kiêng ăn dài ngày. Chúng ta đã cố gắng giải quyết trước và trả lời những vấn đề này trong Mục lục II. Tạm thời chúng ta cần hướng dẫn và khích lệ người mới bắt đầu.
Nếu bạn chưa từng kiêng ăn trước đây đừng bắt đầu bằng một kỳ kiêng ăn 40 ngày như một người nào đó mà tác giả có lần gặp! Trừ khi bạn rất chắc chắn rằng Đức Chúa Trời kêu gọi bạn thực hiện điều đó. Có thể sẽ quen dần dần với sự kiêng ăn, và Đức Chúa Trời thường không đòi hỏi chúng ta phải chạy trước khi chúng ta mới bắt đầu bước đi hoặc thậm chí còn bò. Hãy bắt đầu với sự kiêng ăn một phần (xem chương 4, hoặc 1 ngày từ sáng đến bữa tối ăn lại. Lần kế tiếp kéo dài thêm đến trọn vẹn 1 ngày, chấm dứt bằng một bữa ăn nhẹ hoặc chỉ với trái cây.
Khi bạn có thể đương đầu với một ngày kiêng ăn mà không cảm thấy suy kiệt hoặc quá đói (chúng ta không nói là không cảm thấy đói!), bạn sẽ sẵn sàng cho lời kêu gọi của Đức Chúa Trời cho một kỳ kiêng ăn lâu hơn - 3,5 hoặc 7 ngày. Đôi lúc có những mục đích về mặt thuộc linh, không nói đến mặt vật lý, được hoàn thành bởi một kỳ kiêng ăn dài ngày mà một kỳ kiêng ăn ngắn hơn không đem lại kết quả. Nhưng kỳ kiêng ăn mà bạn dự kiến càng dài thì bạn càng phải chắc chắn rằng nó là điều Đức Chúa Trời kêu gọi bạn thực hiện.
Hãy thận trọng đối với sự bắt chước một cách mù quáng người khác và điều họ đã làm. Hãy cẩn thận để không bị kích động bởi lòng nhiệt tình về thể xác, “xin giữ tôi tớ Chúa khỏi những tội lỗi gian ác” phải là lời cầu nguyện thường xuyên của bạn. Hãy nhớ rằng chủ nghĩa khổ hạnh có thể “thuộc về xác thịt” nhiều như sự đam mê quá mức, điều sai là tội lỗi của thân xác, điều đầu là tội lỗi của tinh thần. Khi người Pha-ri-si kiêng ăn thiên đàng đã nhìn họ theo cách khác.
Nếu sự kiêng ăn phải được thực hiện khoảng một ngày, thì sẽ có sự cám dỗ khi nó như nuông chiều chính chúng ta trong khi chúng ta có cơ hội. Chúng ta tự nói với chính mình “con bò đã được nuôi dưỡng tốt và vỗ béo đầy đủ trước khi 7 năm đói kém đến”. Tốt hơn nên hướng ý chí vào trận chiến của sự tự kỷ luật, điều này sẽ làm dịu đi sự tranh chiến sau này.
Một số người ủng hộ việc chỉ ăn trái cây trưa vào ngày trước kỳ kiêng ăn, nếu kỳ kiêng ăn đó kéo dài nhiều ngày. Bác sĩ Buchinger người ủng hộ điều này, cho rằng “một ngày ăn trái cây” này sẽ bảo đảm rằng thức ăn cuối cùng đi vào ruột toàn là trái cây, và trái cây sẽ ít thối rửa hơn những chất thức ăn cặn khác (1).
Rất khôn ngoan khi ngưng uống trà hoặc cà phê một vài ngày trước một kỳ kiêng ăn dài, như vậy sẽ khắc phục được chứng đau đầu do thiếu chất caphêin trong kỳ kiêng ăn (Người khôn ngoan vẫn không dùng lại những thức uống gây thói quen này sau đó, hoặc dù sau cũng sẽ dùng nó ít lại và với sự tiết chế tối đa). Mặt khác, sự sửa soạn chính yếu bạn cần là sự sửa soạn tấm lòng và tâm trí.
Điều quan trọng nhất mà bạn đạt được đó là sự rèn tập thuộc linh này sẽ xác nhận những nguyên tắc được đến trong những chương đầu của sách này, và những đặc điểm đặc trưng của sự kiêng ăn do Đức Chúa Trời chọn lựa. Nó có thể giúp bạn đặt chính mình trong những câu hỏi sau đây:
1. Tôi có tin chắc rằng lòng ao ước được kiêng ăn này do Đức Chúa Trời ban cho không? Ngài muốn tôi thực hiện một kỳ kiêng ăn bình thường hay chỉ một phần? “Bấy giờ Đức Thánh Linh đưa Đức Chúa Giê-xu đến nơi đồng vắng”.
2. Động cơ của tôi có đúng đắn không? Có bất kỳ mong muốn kín giấu nào tác động không? “Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm sẽ thưởng cho ngươi”.
3. Những đối tượng thuộc linh nào của tôi trong kỳ kiêng ăn này?
- Sự thánh hoá chính mình?
- Sự cầu thay? Những gánh nặng đặc biệt nào?
- Sự can thiệp, sự hướng dẫn, ơn phước từ Chúa?
- Sự dư đầy Thánh Linh cho chính mình và cho người khác
- Để cởi bỏ sự giam cầm?
- Để tiếp tục ở trong cơn giận thánh; dẫn đến sự phục hưng?
4. Những đối tượng của tôi có chiều hướng tập trung vào cái tôi phải không? Mong muốn được ơn phước cho bản thân mình của tôi được cân bằng với sự quan tâm thực sự cho người khác không?
5. Tôi có quyết định quan trọng hơn hết là phục vụ Đức Chúa Trời trong sự kiêng ăn này không?
Bạn nên tin rằng thời gian kiêng ăn đối với sẽ là một thời gian tranh chiến với những quyền lực của sự tối tăm, như nó vốn như vậy đối với Chúa của bạn. Sa-tan sẽ thường xuyên nỗ lực lợi dụng điều kiện vật lý của bạn để mở cuộc tấn công. Sự ngã lòng là một trong những vũ khí của nó. Hãy canh chừng nó bằng cách duy trì một tinh thần ca ngợi.
Hãy đọc qua đoạn 6 sách Ê-phê-sô và hãy lợi dụng toàn bộ khí giới của Đức Chúa Trời, thì bạn sẽ được an ninh trước các mưu chước của Sa-tan. Đặc biệt hãy dùng thuẫn của đức tin để dập tắt mọi tên lửa của nó. Hãy dùng gươm của Đức Thánh Linh mà đương đầu với Sa-tan và nói với nó rằng “có lời chép…” Hãy công bố sự đắc thắng của Vua vĩ đại mình trên mọi thế lực và quyền uy.
Đừng phạm sai lầm khi đánh giá tính hiệu quả của những lời cầu thay mình bằng những gì mình cảm giác, thường trong khoảng thời gian cầu nguyện và kiêng ăn bạn sẽ nhận thấy khó khăn thay vì dễ dàng, và dường như kinh nghiệm ít hơn và sự tự do. Điều này thường là khi sự kiêng ăn đang diễn ra. Đây là một sự vật lộn. Đây là một trận chiến trên trời. Chúa của bạn không hứa cho bạn một thắng lợi dễ dàng nhưng cho một một chuộc chiến và Ngài trang bị cho bạn những vũ khí để chiến thắng. Thường bạn sẽ không nhận biết cho đến khi mọi sự hoàn tất tốt đẹp, như lời hứa vẫn không thay đổi “và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm sẽ thưởng cho ngươi”.
Từ sức mạnh đến sức mạnh
Để vật lộn, đấu tranh và cầu nguyện
Hãy giày đạp những quyền lực tối tăm dưới chân
Và giành lấy một ngày thắng lợi
Charles Wesley
1. Oho H.F.Buchinger, About Fasting - A Royal Road to Healing. N&B Thorsons


LÀM THẾ NÀO ĐỂ KẾT THÚC MỘT KỲ KIÊNG ĂN
“Người ta cho người này bánh ăn nước uống, cũng ban cho người ăn một cái bánh trái vả khô và hai bánh nho khô. Người ăn, bèn hồi sức lại, vì trong ba ngày ba đêm người không ăn, không uống chi hết ” (ISa1Sm 30:11, 12)
Để kết thúc kỳ kiêng ăn chỉ kéo dài một hoặc 2 ngày thì không có vấn đề gì. Nhưng điều quan trọng nhất là phải hiểu những điều nên làm và không nên làm khi kết thúc kỳ kiêng ăn dài ngày hơn, và như vậy để tránh được cơn đau và sự khó chịu rất đáng ngại. Với tinh thần đó chương này sẽ đề cập đến mặt thực hành sự kết thúc một kỳ kiêng ăn dài ngày.
Kinh Thánh không cho biết nhiều về cách con người đã kết thúc sự kiêng ăn của họ thế nào, có lẽ bởi những vấn đề này là kiến thức phổ thông trong thời Kinh Thánh, vì kiêng ăn là tập quán thông thường trong vòng dân chúng thuộc các tôn giáo khác cũng như những người theo niềm tin Cơ Đốc và Do Thái giáo. Nhưng chúng ta được gieo vào đầu với ấn tượng rằng mặt thực hành kiêng ăn không phải là một chuyện phức tạp. Vì vậy chúng ta nên cố gắng giữ cho nó càng đơn giản và tự nhiên càng tốt để cho sự nhấn mạnh có khi được đặt trên tính chất thuộc linh.
Nghệ thuật kết thúc một kỳ kiêng ăn nằm trong phương pháp đưa cơ thể trở về với sức mạnh vốn có của nó và đưa những cơ quan tiêu hoá trở về hoạt động với tính hiệu quả bình thường của nó một cách càng suôn sẽ và nhanh chóng càng tốt. Với nhận thức về cái đói và sự thiếu sức lực của cơ thể, đầu tiên phải đương đầu với những lượng thức ăn bình thường. Rất cần phải kiềm chế và kiểm soát sự thèm ăn của con người cho đến khi cơ thể sẵn sàng tiếp nhận một bữa ăn no. Đây là một thử thách lớn cho tính tự kỷ luât, nó giống như trong những giai đoạn đầu của một kỳ kiêng ăn, và sau đó sự thàm ăn sẽ giảm bớt từng ngày: hiện tại nó đang tăng lên.
Bởi sự khó khăn của khoảng thời gian này và cũng bởi vì gần như nó luôn cần thiết cho mỗi cá nhân, một khi kỳ kiêng ăn của anh ta hoàn tất, để anh ta trở lại với công việc bình thường của mình càng sớm càng tốt, giai đoạn “kết thúc” (như đôi khi nó được gọi) không nên kéo dài quá mức xxxxx ăn kiêng vì những lý do sức khoẻ đòi hỏi phải theo sự kiêng ăn này, thường thì không có lý do nào của người lại không thể đối phó với bất kỳ loại thức ăn nào trong vòng 7-14 ngày sau một kỳ kiêng ăn kéo dài nhất và trong vòng một tuần cho những kỳ kiêng ăn lên đến 21 ngày, mặc dù lượng thức ăn đưa vào cơ thể ít hơn rất nhiều so với trước khi kiêng ăn.
Chúng ta không nhận được dấu hiệu nào từ Kinh Thánh về khoảng thời gian được kéo dài của một kỳ kiêng ăn theo sự ăn kiêng của Kinh Thánh và trước khi cuộc sống bình thường lại được tiếp tục; và chắc chắn không có bằng chứng nào cho rằng khoảng thời gian điều chỉnh tương đương với khoảng thời gian của chính kỳ kiêng ăn đó. Khẳng định điều này, như một số người làm, chắc chắn có nghĩa là chính sự kiêng ăn đó không nhất thiết phải được rút ngắn lại để rồi khoảng thời gian trở lại một bữa ăn bình thường được tính luôn vào khoảng thời gian kiêng ăn, vì thời gian toàn bộ đó có thể bị bỏ qua, luôn luôn bị giới hạn.
Bác sĩ Herbert Shelton, người đã nhiều năm qua điều hành một cơ sở từ thiện chuyên dùng phương pháp kiêng ăn để chữa bệnh ở Mỹ, chắc chắn là một trong những người có uy tín chuyên môn nhất về đề tài này. Hơn 45 năm qua ông đã kiểm tra 30 ngàn trường hợp kiêng ăn từ một vài ngày đến 90 ngày và đối với nhiều người ở các độ tuổi khác nhau. Ông kết luận rằng một người có sức khoẻ bình thường trong vòng một tuần sau khi kiêng ăn 21 ngày sẽ có thể ăn no lại bình thường (1).
Dù cho khoảng thời gian điều chỉnh có ngắn hay dài, tất cả chúng ta đều nhất trí rằng sự cảnh giác thường xuyên và cao độ là điều rất cần thiết. Điều này do bởi hai điều quan trọng xảy ra đối với bộ máy tiêu hoá suốt kỳ kiêng ăn kéo dài. Thứ nhất, dạ dày co thắt dần, để cho cuối kỳ kiêng ăn nó không có gì giống nơi chứa thức ăn như trước, và lượng thức ăn nhỏ nhất cũng làm nó cảm thấy no dột ngột Thứ hai, các cơ quan trong cơ thể thường tham gia vào quá trình hấp thụ thức ăn đã lực dụng những ngày nghỉ này của chúng bằng cách chìm vào một loại giấc ngủ, và giấc ngủ này càng ngày càng sâu khi kỳ kiêng ăn kéo dài.
Bởi hai điều này mà sự quan tâm tối đa phải được tập luyện dần như bạn ăn bao nhiêu, ăn cái gì và ăn như thế nào. Dạ dày phải có thời gian để trở lại kích thước bình thường, mặc dù nó có thể nhỏ hơn trước khi kiêng ăn. Các cơ quan tiêu hoá cũng phải được vỗ về cách dịu dàng và từ tốn để quen với sự tỉnh táo và hoạt động có hiệu quả. Rõ ràng, thời gian nghỉ ngơi này càng dài, chúng ta phải cho quá trình đánh thức càng lâu tương ứng.
Khi nào thì kỳ kiêng ăn nên kết thúc? Đôi lúc Đức Chúa Trời cho những hướng dẫn cụ thể về điều này khi Ngài kêu gọi chúng ta kiêng ăn. Thường nó được quyết định bởi hoàn cảnh và lời hứa của mỗi chúng ta. Mặt khác chúng ta có thể mong chờ sự hướng dẫn suốt trong khoảng thời gian kiêng ăn như trong trường hợp được ghi lại trong chương sau.
Một khi bạn biết ý muốn của Đức Chúa Trời là gì trong vấn đề này, hãy cẩn thận đối với sự cám dỗ của ma quỉ, thường qua những khó khăn và những sự nản lòng, hầu chúng ta không phải bỏ ngang việc kiêng ăn quá sớm. Có một trường hợp bi kịch trong Kinh Thánh của một tiên tri, ông được Đức Chúa Trời tin cậy và giao phó một sứ mạng quan trọng và Ngài cũng bảo ông kiêng ăn cho đến lúc ông trở về, nhưng vị tiên tri này bị kẻ thù dụ dỗ đã bỏ kiêng ăn trước hạn định và ông nhận hậu quả thật thảm hại (IVua 1V 13:1-34).
Nếu cần thiết ta có thể kết thúc một kỳ kiêng ăn bằng hầu hết các loại thức ăn, nhưng rõ ràng có một số loại thích hợp hơn những loại khác. Hai yếu tố quyết định là thức ăn nào cơ thể tiêu hoá tốt nhất và thức ăn nào sẽ thích hợp nhất và củng cố được cơ thể nhanh nhất, ở giai đoạn được đưa ra.
Hầu hết đều nhất trí rằng một kỳ kiêng ăn bình thường (tức chỉ uống nước) trong một khoảng thời gian nào đó tốt nhất nên được kết thúc với trái cây hoặc nước hoa quả, nếu có thể nên xay hoặc ép trái cây tươi thì tốt hơn nước đóng hợp. Nhiều người khẳng định rằng những loại trái cây họ cam quít là tốt nhất. Đây quả là tuyệt vời đối với những vùng mà cam, bưởi được hái xuống lúc chín cây. Nhưng có những vùng chúng phải được nhập khẩu thì những trái cây này được hái xuống lúc chưa chín, và vì vậy nước của nó thường có quá nhiều a-xít gây hại cho dạ dày. Táo, cà chua và nho có thể là loại thay thế, hoặc nước cam tinh khiết được đóng hộp từ trái chín cây.
Đầu tiên hãy bắt đầu với một lượng nhỏ, có thể là nửa cốc, được pha loãng nếu cân và uống liên tục mỗi lần cách hai hoặc ba giờ, trong ngày thứ nhât. Tăng lượng đó lên từ từ, và sau đó bạn có thể ăn trái cây đó. Trong thời gian này, bạn có thể uống sửa, đặc biệt ở dạng sửa chua, loại này kết hợp với trái cây sẽ đem lại lợi ich cao cho cơ thể bạn.
Salad tươi sống (không có dầu dấm) nước súp rau quả tự nấu ở nhà (không có mỡ), và rau quả nấu chín có thể được dùng trong chế độ ăn này, luôn bắt đầu với lượng nhỏ cho loại thức ăn mới và tăng số lượng lên từ từ.
Một miếng bánh mì khô hoặc bánh mì nướng quệt bơ có thể là loại thức ăn tiếp sau đó, nhưng bánh ngọt, bánh nướng và bánh bích qui nên tránh. Hãy tăng thật đều đặn lương thức ăn có tinh bột vào thời gian này. Protein có trong trứng, quả hạnh, pho-mát được tận dụng trước, rồi sau cùng là cá và thịt. Bạn có thể tăng chế độ ăn trong số lượng và sự đa dạng như thế nào thì tuỳ thuộc vào bạn đã kiêng ăn bao lâu và cơ thể bạn thành công trong việc thích nghi như thế nào.
Điều quan trọng nhất là phải ăn từ từ, và nhai kỷ cho đến khi thức ăn thành nước trước khi nuốt. Khi cảm thấy vừa no thì nên ngưng ngay, ngay cả lúc đó bạn chưa ăn hết phần ăn của mình. Sự khó chịu sau bữa ăn được xem là dấu hiệu của sự quá no và nếu cần nên bỏ bữa ăn kế tiếp. Đây là lúc rất cần tính tự kỷ luật.
Trong giai đoạn này nghĩ ngơi càng nhiều càng tốt, có như vậy cơ thể chúng ta mới có thể tập trung vào công việc tiêu hoá và hấp thụ thức ăn. Hãy chống lại cám dỗ khiến chúng ta hoạt động quá sớm. Trong phụ lục II đề cập đến một số vấn đề thực tiễn khác liên quan đến việc kết thúc một kỳ kiêng ăn.
Cuối cùng, hãy ghi nhớ những qui tắc vàng ngọc sau đây:
Theo dõi lượng thức ăn
An chậm, nhai kỹ
Ngưng ngay khi thấy dấu hiệu đáng ngại đầu tiên
Nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt
Đừng cố làm việc nhiều quá sớm
Đều chúng ta nên làm lúc này là suy nghĩ và cầu nguyện cho chế độ ăn và những thói quen ăn uống sau này của chúng ta. Chúng ta sẽ không muốn quay lại cách sống vô kỷ luật trước kia như ăn quá độ, ăn vặt giữa các bữa chính, hoặc ăn những thức ăn không đúng - những điều này tập cho chúng ta có thói quen thèm ăn hơn là đem lợi ích cho cơ thể. Dĩ nhiên chúng ta có thể không có quyền nói về điều này. Vấn đề là “Tôi phải làm gì khi tôi có sự lựa chọn?” Trong bất cứ trường hợp nào cũng có nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm ngoài vấn đề chúng ta phải ăn gì. Một số lời gợi ý đơn giản được đưa ra trong Phụ lục II.
Con người không thể có khả năng để làm dịu bớt căng thẳng về mặt tinh thần, chỉ về mặt vật lý, trong suốt giai đoạn kết thúc kiêng ăn này. Chắc chắn phải cảnh giác thường xuyên vì “kẻ trộm” vẫn còn đang rình mò. Hãy cẩn thận, đừng nói về việc bạn kiêng ăn, hoặc bạn kiêng ăn bao lâu hoặc những kinh nghiệm bạn đạt được qua kỳ kiêng ăn đó thế nào, vì Chúa Cứu Thế đã phán dặn rằng: “sự kiêng ăn của ngươi phải ở trong sự kín nhiệm”.
Đây sẽ là thời gian được an ủi, khi bạn chính thức được quyền trong sự cầu nguyện về những vấn đề mà Đức Chúa Trời đã mạc khải cho bạn. Bạn có thể kinh nghiệm sự giải thoát trong sự cầu thay lớn hơn bạn đều biết suốt kỳ kiêng ăn đó. Bạn nên bứt đầu ngay bây giờ, nếu trước đây chưa từng để nhận thấy được kết quả của thời gian bạn biệt riêng cho Đức Chúa Trời, với những ơn phước không chỉ đổ trên đầu chính bạn mà còn trên những ai bạn đang cầu thay cho.
Đây sẽ là mùa xuân trong linh hồn bạn cũng như thể xác bạn. Nó như thể nguồ yêu dấu của bạn đang nói: “Vì kìa, mùa đông đã qua, mưa đã dứt hết rồi, bông hoa nở ra trên đất. Mùa hát xướng đã đến nơi”. Đức tin mới, hy vọng mới, tình yêu mới dành cho Đức Chúa Trời và con người, những quyết tâm mói để sống chỉ vì sự vinh hiển của Ngài - tất cả điều này giờ sẽ được thêm trên bàn thờ của linh hồn bạn, được nuôi dưỡng bởi lửa của sự cầu thay.
Như vậy, giống Chúa và Chủ của bạn, trở về sau khi kiêng ăn trong đồng vắng “trong quyền năng của Thánh Linh”, bạn mong chờ những công việc của Đức Chúa Trời và những ân điển của Chúa Cứu Thế sẽ được phát lộ trong bạn như đã phát lộ trong Ngài.
“Quả thât, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta,c ũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa vì ta đi về cùng cha. Các ngươi nhơn danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con” (GiGa 14:12, 13)
1. Herbert M.Shelton, Fasting can save Your life (kiêng ăn có thể cứu cuộc đời bạn). N&B Natural Hygiene, liên hợp.

NHẬT KÝ CỦA MỘT KỲ KIÊNG ĂN
Tác giả biết ơn một người bạn về nhật ký của kỳ kiêng ăn 21 ngày này. Người ta hiểu rằng những ghi chú này không là gì ngoài những đoạn trích từ nhật ký của ông, vì có nhiều điều chỉ liên quan giữa ông và Chúa. Điều được ghi lại nhằm qui vinh hiển cho Đức Chúa Trời, và nhằm hướng dẫn và khích lệ mỗi chúng ta. Người ta nhất trí cho rằng những ghi chép này được xuất bản với một cái tên không ai biết.
Nhiều trong số những nguyên tắc mà chúng ta đang quan tâm đều được khắc hoạ ở đây: sự rõ ràng của sự hướng dẫn được ban cho, sự dự trữ những thứ cần thiết suốt thời gian này; tinh thần ca ngợi khi gặp khó khăn về mặt vật lý; sự đối diện cá nhân sâu sắc với Đức Chúa Trời; sự nhấn mạnh đến sự cầu nguyện thay; những đáp lời đặc biệt cho sự cầu nguyện và những trắc nghiệm về mặt vật lý thay đổi từng ngày.
Những ai trông chờ vào cảm giác có thể bị nản lòng. Bất kể điều gì người viết này có thể kinh nghiệm được về sự siêu nhiên, anh ta đã không cảm thấy được hướng dẫn viết lại, ngoại trừ một hoặc hai ngoại lệ. Đức Chúa Trời có thể phát lộ sự hiện diện của Ngài trong những lúc này, nhưng chúng ta không phải cố tìm những điều này như thể chúng là một thành phần thiết yếu. Giá trị của một kỳ kiêng ăn không được đánh giá trên có bao nhiên sự lạ lùng hoặc ấn tượng gây xúc động mạnh; nhưng trên có bao nhiên ích lợi bền vững cho Nước Đức Chúa Trời. Theo nguyên tắc này sự kiêng ăn dược ghi lại dưới đây chắc chắn được đánh giá cao trên thiên đàng
CHUẨN BỊ
Ngày 1/4
Đức Chúa Trời đang phán với tôi về một khoảng thời gian dài trông đợi Ngài, bằng sự kiêng ăn. Vì vậy tôi đang bỏ thói quen uống trà và cà phê để chuẩn bị. Tôi cần Chúa mạc khải rõ ràng hơn ý muốn của Ngài cho những ngày sau, cần một sự hiểu biết nhiều hơn về chính Ngài, và sự cung ứng những nhu cầu cho công việc của Đức Chúa Trời, công việc này đòi hỏi sự cầu thay đặc biệt. Hôm nay có người đưa cho tôi một quyển sách về cầu nguyện và kiêng ăn. Tôi đã tạ ơn Chúa về sự khẳng định này. Tôi cần biêt ý muốn của Ngài để bắt đầu.
Ngày 2/4
Đọc sách về cầu nguyện và kiêng ăn và thấy nó có rất nhiều thông tin bổ ích.
Ngày 4/4
Hôm nay trong khi cầu nguyện tôi đã hỏi Chúa khi nào Ngài muốn tôi bắt đầu kỳ kiêng ăn này, và ngày 24 tháng này được ghi khắc vào lòng tôi Ngài sẽ xác nhận.
Ngày 5/4
Trong lúc cầu nguyện tôi đã xin Đức Chúa Trời xác nhận ngày 24 này. Sau khi cầu nguyện xong, tôi đi lấy thư. Có một bức thư của R. gởi cho tôi; R viết rằng Chúa đã cho anh ta thấy rõ ngày 24 tháng này, dù anh ta không hiểu tại sao, nên anh thấy cần viết cho tôi để xem nó có ý nghĩa đặc biệt nào đó không. Ha-lê-lu-gia điều đó xác định được ngày bắt đầu kiêng ăn.
Ngày 8/4
Trong khi cùng cầu nguyện với vợ tôi, cô ta đề cập đến một câu gốc mà một người bạn đã cho cô: “Ở tại Ê-phê-sô cho tới ngày lễ Ngũ Tuần” Nhìn vào nhật ký mình và thấy rằng còn 4 ngày từ ngày 24/4 là đến lễ Ngũ Tuần. Hôm nay Chúa phán với tôi qua khúc Kinh Thánh Exe Ed 8:24-27 “thi Thần vào trong ta, làm cho chân ta đứng lên. Đoạn Ngài phán cùng ta, và bảo rằng: Hãy đi, giam mình trong nhà ngươi. Hỡi con người này, người ta sẽ lấy dây trói ngươi, và ngươi không thể đi ra giữa chúng nó. Ta sẽ khiến lưỡi ngươi sẽ dính với cửa họng ngươi, ngươi sẽ câm, không quở trách chúng nó được; vì chúng nó là nhà bạn nghịch. Nhưng khi ta phán cùng ngươi, ta sẽ mở miệng ngươi và ngươi khá bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ai nghe, hãy nghe, ai không nghe thì đừng nghe! Vì ch1ng nó là nhà bạn nghịch” (phân đoạn Kinh Thánh được trích từ bản AV (hay King James).
Đức Thánh Linh làm chứng điều này cho tôi. Thời gian chờ đợi phải là ở đây tại nhà. Những câu Kinh Thánh còn lại cũng thích hợp với những tình huống hiện tại.
Ngày 23/4
Hôm nay Chúa phán với tôi qua DaDn 10:12 “Vì kể từ ngày đầu mà ngươi đã chuyên lòng hiểu, hạ mình ngươi xuống trước mặt Đức Chúa Trời ngươi, thì những lời ngươi đã được nghe, và vì cớ những lời ngươi mà ta đã đến” (Ở đây có một danh sách những việc mà Đức Chúa Trời đã làm từ ngày 1/4 trong sự đáo lại lời cầu nguyện).
Ngày đầu tiên (24/4)
Đọc các sách Sử ký về việc Sa-lô-môn quyết định xây dựng, bắt đầu xây dựng và hoàn tất công việc. Hôm nay là ngày bắt đầu. Trải qua nhiều công việc, nghiên cứu và chờ đợi Đức Chúa Trời. A đến với bao tải khoai tây, một hỗp lớn những tạp phẩm và 259 tiền mặt. Lòng nhơn từ thương xót tuyệt vời của Đức Chúa Trời đoái đến nhu cầu cho gia đình này. Nhiều người đến thăm trong giây lát, và nhiều cuộc điện thoại gọi đến. Đã uống khoảng 6 ly nước ấm. Cảm thấy khoẻ. Đi ngủ lúc 10:00 p.m.
Ngày thứ 2
Hôm nay là ngày cầu thay cho nhiều việc (có liệt kê trong nhật ký) và cho nước - Qua lời Chúa có được nhiều tư tưởng. Có 5 người đến trong khoảng thời gian khác nhau để xin cố vấn, đôi lúc thấy đói. Đã uống 8 ly nước. Làm việc 12 giờ và dành thời gian nói chuyện với những người đến thăm. Thức giấc nửa đêm, hơi khó chịu nhưng nhìn chung ngủ ngon.
Ngày thứ 3
Dành nhiều thời gian trôngđợi Chúa, cầu thay và đọc Kinh Thánh. Một số người gọi đến. Làm nhiều việc
Cảm thấy yếu đi với những cơn đói thỉnh thoảng ập tới. Cơ thể có cảm giác lạnh, càng lúc càng tăng. Đã uống nhiều nước cả nước nóng và nước lạnh.
Ngày thứ 4
Hôm nay có nhiều việc xảy ra trong khi tiếp xúc với người khác, đây là sự ứng nghiệm điều Chúa đã định trước rồi. Thật tuyệt vời Đức Chúa Trời đang sai người đến trong những ngày này và để nhìn thấy Ngài đang thực hiện hoạch định của Ngài. Được nhiều ơn phước khi đọc qua Bài Giảng Trên Núi. Liệt kê những chỉ dẫn mà Chúa Giê-xu ban cho chúng ta để làm theo. Tự do trong sự cầu nguyện.
Càng cảm thấy khó chịu về mặt thể xác và cảm giác rất lạnh. Không còn những cơn đói thật sự. Đã nấu bữa điểm tâm cho gia đình nhưng không bị cám dỗ.
Ngày thứ 5
Đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, đọc sách của Tiến sĩ Tozer, Wing-spread, tiểu sử của A.B.Simpson, người đã không có chút tiếng tăm như Đức Chúa Trời dùng ông để lập nên một trong những tổ chức truyền giáo lớn nhất. Hội Liên Hiệp Truyền giáo Cơ Đốc (The Christian and Missionary Alliance).
Một ngày khó chịu nhất, đau lưng, cảm giác suy yếu toàn thân và buồn nôn. Chắc chắn tất cả đều nằm trong quá trình loại bỏ những độc tố v.v.. trong cơ thể, cùng thấy khó khăn hơn để tập trung tinh thần nhưng Đức Chúa Trời là sức mạnh tôi.
Ngày thứ 6
Một ngày nữa dành để làm việc, trông đợi Đức Chúa Trời và cầu thay, “X” gọi điện đến hỏi ý tôi về một điều gì đó mà anh ta đã làm, bởi vì sự lo ngại của con người. Đức Chúa Trời chúc phước anh ta - Ngài luôn chúc phước kẻ khiêm ngường. Đầy tớ của Đức Chúa Trời không phải đấu tranh - Đức Chúa Trời làm thành những mục tiêu tuyệt vời của Ngài, chúng ta có một chìa khoá, đó là sự cầu nguyện
Ngày thứ 7
Mặc dầu có tự do trong sự cầu nguyện tôi biết có một nỗi sâu nhiệm hơn trong sự cầu thay cần phải đạt đến. Trong sự nhậm lời cầu nguyện tôi tin Chúa đang gởi đến một số công việc. A - đến buổi chiều nay và chúng tôi có 2 giờ thông công với nhau trong nước mắt trước mặt Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện và cầu thay.
Một sự cải thiện chung về mặt vật lý, một vài lần cảm thấy yếu ớt và nặng nề. Vì lúc bắt đầu khiêng ăn đến giờ không bị đau đầu. Xuống cân thấy rõ.
Ngày thứ 8
Dành nhiều thời gian trong ngày cho những vấn đề liên quan đến công việc và cầu nguyện. Đọc một quyển sách ngắn, What Really Happered at Asusa street, câu chuyện về những sự vận hành của Đức Thánh Linh vào đầu thế kỷ này ở Mỹ. Năm người bạn đến buỗi tối nay và chúng tôi có thời gian tuyệt vời ở với nhau trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đã cầu thay cho một số điều cần thiết nhất, và cho đất nước. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời rất rõ ràng. Những ân tứ của Thánh Linh đang vận hành.
Hôm nay có sự thay đổi nhất định về mặt vật lý, và cảm thấy khoẻ trở lại. Vẫn uống nhiều nước mỗi ngày. Không thể nói rằng không muốn ăn, nhưng không có sự thèm ăn.
Ngày thứ 9
Hoàn toàn tự do trong sự thờ phượng, và nhiều sự tan vỡ khi Đức Thánh Linh cho thấy những nỗi đau khoẻ của Chúa. “Những vết thương hằn trên đôi tay Ngài là gì?” Ngài đã chịu vết vì tội lỗi của tôi. Tội lỗi thật kinh khủng. Tôi căm ghét nó nhiều hơn.
Hôm nay tinh thần tỉnh táo hơn và thấy khoẻ hơn nhiều, với những lúc thấy yếu ớt.
Ngày thứ 10
Hôm nay là ngày xét lòng mình và chỉ ra sự dối lừa của lòng mình. Ngợi khen Đức Chúa Trời vì huyết của Chúa Cứu Thế. Nhiều việc được làm. Một số người đến thăm.
“X” đến và anh ta được giải phóng. Đức Chúa Trời đang nhậm lời cầu nguyện. A cũng đến để được cầu nguyện - Đức Chúa Trời đang gởi người đến. Sức khoẻ tăng lên. Chừng khoảng 5 hoặc 6 ly nước một ngày, hầu hết là nước ấm.
Ngày thứ 11
Thêm một ngày dành cho việc cầu thay cho đất nước và cho công việc ở những vùng khác. A hôm nay lại đến và chúng tôi có thời gian quí báu để cầu nguyện. B và tôi cùng nhau tìm kiếm Đức Chúa Trời vào buổi tối, với sự tự do.
Cảm thấy khoẻ hơn rất nhiều. Cơ thể ốm nhưng lòng tràn ngập ơn lành của Ngài. Mỗi tối ngủ khoảng 8 tiếng.
Ngày thứ 12
Trong những ngày này có nhiều chuyện xảy ra trong sự ứng nghiệm lời Đức Chúa Trời phán trong E-xê-chi-ên và cũng trong lời kêu gọi của Đức Chúa Trời cho tôi một vài năm trước: chúng sẽ nghịch cùng ngươi, nhưng chúng sẽ không thắng được ngươi, vì ta ở cùng ngươi để giải cứu ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy”. Tạ ơn Chúa khi chúng ta có thể cầu nguyện cho những ai nói nghịch cùng chúng ta. “Chúng tôi nương nơi Ngài, Ngài là cái khiên của tôi, là Đấng gìn giữ tôi” A lại đến và chúng tôi dành thời gian cùng cầu nguyện với nhau. Đọc Đa-ni-ên và Chúa phán với tôi liên quan đến kỳ kiêng ăn 21 ngày của Đa-ni-ên. Biết rằng tôi phải dành 40 ngày biệt riêng ăn kéo dài bao lâu. Sẵn sàng chờ đợi tât cả điều Ngài mặc khải.
Hôm nay là ngày tốt nhất về mặt vật lý - thấy khoẻ mạnh, vẫn uống 6 ly nước hoặc hơn nữa một ngày.
Ngày thứ 13
Tập trung chờ đợi Đức Chúa Trời Sau khi Đa-ni-ên kiêng ăn hai tuần, sự mặc khải đến trên ông và những gì sẽ xảy ra cho dân sự trong những ngày sau rốt. Tìm kiếm ý Ngài cho sự đẩy mạnh công việc ở nước ------
Đức Chúa Trời thành tín đáp ứng mọi nhu cầu. Sức khoẻ càng tăng, không còn khó chịu Ngợi khen Chúa.
Ngày thứ 14
Lá thư hôm nay nhận được từ nước ---------. Cầu nguyện cho nước này và đây là câu trả lời cho tương lai. Được chúc phước khi đọc sách Waiting on God của Andrew Murray.
Cơ thể lại có một ngày tốt đẹp. Không cảm thấy yếu. Cân và thấy giảm 12 pounds trong vòng 14 ngày.
Ngày thứ 15
Một ngày tốt lành cho công việc. Hai người bạn đến thăm và chúng tôi có thời gian bổ ích trong sự ầu nguyện và thảo luận. Thật tuyệt vời khi thấy sự nhậm lời trong vấn đề mà tôi đang cầu thay. Hầu như mỗi ngày Đức Chúa Trời ban ân tứ cho công việc rao giảng.
Dường như cân bằng được nhịp sống, không còn yếu thỉnh thoảng nó khó chịu nhưng không thường xuyên.
Ngày thứ 16
Hôm nay làm và học nhiều. Lời Chúa vô cùng quí báu, và Đức Thánh Linh quả là một giáo sư đầy ơn. Đọc về những chức vụ của Giăng Báp-tít và Ê-li. Ngày nay chúng ta rất cần những tiếng phán từ trong đồng vắng và nói rõ về Chiên Con của Đức Chúa Trời.
Một ngày bình thường
Ngày thứ 17
Ngày cầu nguyện cho những nhu cầu của công việc. Có một nhu cầu đặc biệt về tài chánh. Chúa đã sai một người đến vào tối này với một số tiền đáp ứng đủ nhu cầu đó, ngợi khen Đức Chúa Trời. Quả không vô ích khi trông đợi Chúa và tin cậy nơi Ngài. Trong khi cầu nguyện tôi đã quan tâm thật sự cho đất nước này giống như Đa-ni-ên than khóc cho một đất nước. Hơi khó chịu trong ngày hôm nay và cảm thấy đôi khi hơi bơ phờ, ngợi khen Chúa thật nhiều vì ân điển không hề dứt của Ngài. Đây không phải là sự thử thách lòng chịu đựng, nhưng là một kinh nghiệm tuyệt vời về Đấng đầy đủ mọi sự, Đức Chúa Trời của chúng ta.
Ngày thứ 18
Ngợi khen Đức Chúa Trời đã ban ch một ngày kinh nghiệm được sức mạnh của Ngài. Chúa gởi đi 200 cho công việc. Rất tự do trong sự cầu nguyện và cầu thay.
Một ngày tốt lành của cơ thể.
Ngày thứ 19
Tiếp tục ấn tượng bởi kỳ kiêng ăn 21 ngày của Đa-vít. Chúa sẽ chỉ rõ. Được nhiều ơn phước khi đọc Lời Chúa trong các sách Sử ký và Phúc Âm Lu-ca. “X” hôm nay lại đến chúng tôi cùng nhau tìm kiếm Đức Chúa Trời. Trong những ngày này sự thông công như vậy có giá trị. Anh ta đem đến cho tôi tác phẩm của Watchman Nee The Normal Christian Church Life. Chúng ta rất cần khải tượng mới về Chúa Cứu Thế và Hội Thánh Ngài.
Một ngày tốt lành cảm thấy có thể tiếp tục kiêng ăn. Thêm nhiều ngày nữa nếu được kêu gọi không ề muốn ăn. Vẫn uống khoảng 6 ly nước ấm một ngày. Ai đã nói rằng nước là vô vị?
Ngày thứ 20
Có ấn tượng nhiều khi đọc về người đàn ông giàu có trong Lu-ca 12, nhận được bài học qua thí dụ này: “Hễ ai thâu trữ của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy - Đức Chúa Trời giúp chúng ta giàu có nơi Ngài. Nhiều lời cầu xin được nhậm. D đến và hỏi những vấn đề trong Đa 10. Anh ta không biết gì về những suy nghĩ của tôi khi đọc đoạn này đoạn đề cập đến kỳ kiêng ăn 21 ngày, nhưng tin rằng sự đề cập đến sự kiêng ănlà từ Đức Chúa Trời.
Ngày nay trải qua bình thường, ngoại trừ một số lần hơi chóng mặt. Cảm thấy khoẻ mạnh.
Ngày thứ 21
Những lời tử tế của Đức Chúa Trời qua ISu1Sb 22:11-19. Tin rằng Ngài sẽ cho tôi chấm dứt kỳ kiêng ăn này trong ngày mai. Ngài biết chương trình mà Ngài đã sắp đặt cho tôi trong tháng tới. I hôm nay đến từ W. Cùng nhau có thời gian thông công và cầu nguyện.
KẾT THÚC KỲ KIÊNG ĂN
Ngày đầu tiên
Thức dậy lúc 2 giờ sáng để đọc KT và cầu nguyện. Tìm kiếm sự các định của Chúa về sự kết thúc kỳ kiêng ăn này. Ngài ban sự bình an Ngài như sự xác định. Trở lại giường, và trong buổi sáng Chúa đã cho Lời khẳng định về ý muốn Ngài. Một ngày bận rộn, được nhậm lời cầu nguyện nhiều hơn. Cầu thay với lời kêu khóc ch đất nước này.
Kết thúc kỳ kiêng ăn bằng một ít nước táo và nước cam, pha loãng với nước, và cũng uống thêm một ít nước cà chua. Không ăn đồ đặc.
Ngày thứ 2
Tin rằng 3 tuần qua là sự chuẩn bị cho ngày hôm nay. Khi tôi trông đợi Đức Chúa Trời, Ngài ch tôi một gánh nặng hơn về đất nước này, cũng ban cho một khải tượng về một núi lửa lớn đang phun trào, từ trong lòng núi lửa tuôn ra những ình phạt của Đức Chúa Trời, kêu xin Chúa tỏ lòng nhơn từ khoan dung trên nước này, nài xin Ngài thu lại những hình phạt cho đến khi cơn phục hưng đến. Biết rằng Chúa đã nghe lời cầu xin, không thể diễn tả bằng lời ngày này thế nào. Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng nghe lời cầu nguyện - một Đức Chúa Trời nhơn từ khoan dung.
Hôm nay uống nước trái cây. Cảm thấy rất khoẻ, tinh thần tỉnh tháo.
Trở lại chế độ ăn no và bình thường một cách từ từ. Phải nhiều tuần sau tôi mới lên cân bình thường như về mặt vậ tlý không có tình trạng xấu đi, nhưng sức khoẻ được cải thiện.
NHÌN LẠI KỲ KIÊNG ĂN
Mục đích của sự kiêng ăn này không phải để nhận được nhiều, nhưng để ban cho, trong sự trông đỡi Đức Chúa Trời, trong sự cầu nguyện và cầu thay. Mục đích chính là cầu thay cho đất nước --------, và cho sự truyền bá Phúc Âm cho nước khác. Đủ để biết những mục đích của Ngài được làm trọn, phần thưởng đủ để nhận biết sự hiện diện của Ngài và mối tương giao với Ngài.
Giờ đây có thể nhận thấy rằng từ những ngày cầu nguyệ và kiêng ăn đó, đã có một chức vụ luôn luôn phát triển cho sự giải cứu nhiều người, và đôi lúc một quyền năng mới trong sự rao giảng Lời Chúa. Nhiều cánh cửa được mở ra cho chức vụ đến các nước khác, và có sự mở rộng trong sự cầu nguyện và cầu thay. Nhưng con người không thể tiếp tục nhìn lại nhưng phải sống cho ngày hôm nay kiêng ăn và cầu nguyện là một phần trong cuộc đời của Chúa chúng ta khi Ngài sống trên đất, và “ông đã nói rằng ông vâng phục Chúa, chính ông cũng phải bước đi như Ngài đã bước đi”.

TRONG NHỮNG NGÀY SAU RỐT
“Ta sẽ đổ thần ta trên các loài xác thịt ” (Gios Gs 2:28)
“Ta sẽ lập Hội Thánh ta ” (Mat Mt 16:18)
“Ta sẽ trở lại ” (GiGa 14:3)
Để hợp tác với Đức Chúa Trời trong việc thực hiện hoạch định của Ngài, ta cần phải hiểu về hoạch định đó Có ba lãnh vực của chân lý, có lẽ nhiều hơn bất kỳ điều gì khác, mà từng là những trung tâm rắc rối của cuộc tranh luận trong vòng những Cơ Đốc nhân mãnh mẽ - một học thuyết về Thánh Linh, học thuyết về Hội Thánh, và học thuyết về kỳ trông đợi thứ hai của Chúa Cứu Thế (với những sự kiện liên quan). Điều này không làm ngạc nhiên nếu như chúng ta tin, những học thuyết này giữ những chìa khoá quan trọng đối với chương trình trên đất của Đức Chúa Trời. Sa-tan không thể biết những chìa khoá này rơi vào tay của Hội Thánh mà không cần tranh chiến, vì chúng báo hiệu sự tiêu diệt vương quốc của sự tối tăm. Nhưng những mưu kế gây chia rẽ của Sa-tan không thể ngăn cản mục đích của Đức Chúa Trời.
Vô cùng quan trọng vì trong những năm này có sự hồi sinh lòng quan tâm đến chức vụ của Đức Thánh Linh trên khắp thế giới, và nhất là sự đổ đầy Thánh Linh trong quyền năng phục phục hưng. Nhưng điều này buộc nhiều người biết suy nghĩ phải đánh giá lại học thuyết của họ về Hội Thánh. Nếu chúng ta có rượu mới của Thánh Linh thế còn bầu da mới thì sao?
Hơn nữa, tình hình truyền giáo chuyển biến nhanh chóng, do sự thống nhất Cơ Đốc giáo toàn thế giới chi phối, đang đem nhiều người trở về với Tân Ước để xem lại hoạch định nguyên thuỷ của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh Ngài.
Về lời tiên tri chưa ứng nghiệm và sự trở lại của Chúa Cứu Thế thì thế nào? Sự quan tâm rộng khắp đến lãnh vực chân lý này vẫn chưa đến. Giờ đây chúng ta hãy xem ba chìa khoá quan trọng đối với hoạch định của Đức Chúa Trời có liên quan mật thiết thế nào với đề tài kiêng ăn này.
SỰ ĐỔ ĐẦY THÁNH LINH
Trong những ngày này nhiều tín hữu có được kinh nghiệm về quyền năng và những ân tứ của Đức Thánh Linh. Nhiều người khác những người vững tin rằng sự thăm viếng rộng khắp của Thánh Linh trong quyền năng phục hưng là câu đáp lời duy nhất cho nhu cầu thuộc linh của thời gian này, đang nài xin lời hứa của Gia-cơ được Phi-e-rơ trích lại trong ngày lễ Ngũ Tuần:
“Sau đó, ta sẽ đổ Thần ta trên cả loài xác thịt…”
Chúng ta sẽ nói gì về điều này? Những sự kiện trong lễ Ngũ Tuần có ứng nghiệm đầy đủ lời tiên tri của Giô-ên không? Rõ ràng không, hoặc hoặc không có những đổ đầy nào khác hơn. Như vậy, sự ứng nghiệm cuối cùng trong một ngày sẽ đến nào đó có phải là khi Hội Thánh không còn ở trên đất nữa? Phi-e-rơ nói nó sẽ xưng ra trong ngày sau rốt. Giờ đây chúng ta có phải đang ở trong thời mà Kinh Thánh gọi là “ngày sau rốt” không?
Một số người nói rằng sự ứng nghiệm sau cùng chỉ xảy ra cho dân Do Thái. Nhưng có lời hứa rằng “trên cả loài xác thịt” và Phi-e-rơ khẳng định điều này một cách chắc chắn khi nói rằng “Lời hứa ban cho các ngươi về dòng dõi ngươi thì cũng ban cho dân ngoại”. Có phải Phi-e-rơ đã chứng kiến sự đổ đầy Thánh Linh trên dân ngoại và tuyên bố “Đức Thánh Linh giáng trên họ, cũng như ban đầu Ngài giáng trên chúng ta” không? Như vậy nếu sự tuôn đổ ban đầu bao gồm dân ngoại, thì tại sao sự tuôn dổ sau lại không?
Hầu hết đều đồng ý rằng sự thăm viếng của Thánh Linh trên Hội Thánh được cầu xin trong tuyệt vọng, chúng ta có tin rằng lời hứa đối với Giô-ên không liên quan đến hoàn cảnh này không? Những lời cầu xin rõ ràng tự phát cho sự đổ đầy Thánh Linh từ khắp nơi trên thế giới có phải hoàn toàn sai lầm và nằm ngoài ý muốn Đức Chúa Trời không? Thế thì, sự đáp lời cho sự cằn cõi và bất lực của Hội Thánh là gì nếu không có sự thăm viếng từ nơi cao?
Tuy nhiên nếu chúng ta tin rằng lời hứa tuyệt vời này dành cho chúng ta - nằm trong sự đáp lời của Đức Chúa Trời cho nhu cầu hiện tại - thì diều quan trọng là chúng ta phải làm trọn những điều kiện cũng như nài xin lời hứa này 3 lần Giô-ên đã lên tiếng kêu gọi, khi thấy sự gần đến của Ngày Đức Giê-hô-va, để (dân sự trở về cùng Đức Chúa Trời bằng sự kiêng ăn (Gios Gs 1:10; 2:12, 18). Sau đó, dường như ông nhận thấy sự đáp lời của Đức Chúa Trời trong một khải tượng: Đức Giê-hô-va về đất mình động lòng ghen, Ngài đã động lòng thường xót dân mình (c.18), và ban cho sự gải cứu và sự thịnh vượng, tiếp theo là sự đổ đầy Thánh Linh trên mọi loài xác thịt. Chúng ta có quyền mong chờ sự ứng nghiệm lời hứa này không khi chúng ta không vâng phục những điều kiện đó? Chúng ta có bao giờ cầu nguyện “bằng cả tấm lòng, và cả sự kiêng ăn của mình chưa?” Có bao giờ bạn cầu nguyện trong nước mắt không? Các tiên tri, những người hầu việc Đức Chúa Trời có bao giờ khóc ở giữa hành lang và bànthờ không? Để được sự tuôn đổ như đã hứa cần có sự kiêng ăn cũng như cầu nguyện.
Khoảng 500 TC, một tiên tri bị lưu đày tên Đa-ni-ên đã hiểu được qua sự nghiên cứu lời tiên tri của Giê-rê-mi rằng thời gian mà Đức Chúa Trời đem dân Y-sơ-ra-ên trở về Giê-ru-sa-lem sắp đến gầ (DaDn 9:8; Gie Gr 20:10). Vì vậy Đa-ni-ên đã tìm kiếm Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện kết hợp với kiêng ăn, mặc bao gai và đội tro, để Ngài làm trọn lời hứa đó. Xưng tội và van nài khi cầu nguyện để Đức Chúa Trời khiến mặt Ngài chiếu trên thành đã bị hoang vu của Ngài.
Sự cầu nguyện kiêng ăn của Đa-ni-ên làm cho cái bánh xe chuyển động điều này đưa đến một trong những sắc lệnh đáng ghi nhận nhất mà một vị vua ngoại bang từng ban hành. Si-ru đưa ra một tuyên bố với ý rằng Đức Chúa Trời đã giao cho ông nhiệm vụ rằng một đền thờ cho Ngài ở Giê-ru-sa-lem, và vì vậy những người Do Thái sẵn sàng cho công việc này đã trở về Giê-ru-sa-lem sửa lại đền thờ của Đức Chúa Trời (Exo Er 1:1-4). Và đoàn người bị lưu đày đầu tiên trở về cùng Xô-rô-ba-bên để xây lại đền thờ đã xuất phát từ đó. Một lần nữa, cầu nguyện và kiêng ăn dưới cánh tay nhơn lành của Đức Chúa Trời đã làm thay đổi chiều hướng của lịch sử. Trong hành trình (trở về) dưới sự dẫn dắt của E-xơ-ra, một lần nữa kiêng ăn giữ vai trò quan trọng để đoàn dân trở về đến nơi bình an cùng với nhiều vật dụng quí giá cho đền thờ của Đức Chúa Trời (Exo Er 8:21-23)..
Dưới giao ước của Đức Chúa Trời có một đền thờ cho dân sự Ngài; dưới giao ước mới Đức Chúa Trời có dân sự Ngài cho đền thờ. Ngày nay khi chúng ta để ý đến Hội Thánh, cư dân thuộc linh của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nhận thấy sự làm mới thuộc linh vô cùng cần thiết. Nếu những Cơ Đốc nhâ có thể hỏi rằng “Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà này? Và bây giờ các ngươi xem nó ra sao? “Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải là hư không sao?” (AgKg 2:3). Sự phục hồi quyền năng và sự vinh quang khi trước dưới sự dẫn dắt của Xô-rô-ba-bên và E-xơ-ra. Đức Chúa Trời có khích lệ dân sự Ngài bằng lời hứa “Vnh quang sau rốt lớn hơn vinh quan trước” không?
Sự tuôn dổ Thánh Linh thôi chưa đủ. Rượu mới phải có một bầu da mới, như khi Thánh Linh được đổ đầy trong ngày lễ Ngũ Tuần. Sự làm mới nhà của Đức Chúa Trời không thể hiểu được. Những người trong Cựu Ước vì nó mà đã kiêng ăn và đổ nước mắt để cầu thay, chúng ta có nghĩ rằng có thể có được nó với giá rẻ hơn - chỉ bằng những cuộc hội hợp những buổi trò chuyện và những cuộc hội đồng không?
SỰ TRỞ LẠI CỦA CHÚA CỨU THẾ
Không phải sự đổ đầy Thánh Linh cũng không phải sự cải cách Hội Thánh là mục tiêu của chúng ta. Nó không ít hơn phần thưởng của sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu”. Hy vọng cao nhât của Hội Thánh là nằm trong lời hứa về sự trở lại của Chúa từ các tầng trời. Người nói với các môn đồ mình rằng “Ta sẽ trở lại”. Rõ ràng sự trở lại này không phải về mặt thuộc linh nhưng có thể nhìn thấy được và theo nghĩa đen của từ, vì các thiên sứ đã báo cho các sứ đồ “Giê-xu này đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy” (Cong Cv 1:11)
Đây là sự trọn thành vinh hiển và huy hoàng của thời đại, tất cả những điều gì đi trước nó đều là sự chuẩn bị cần thiết. Chúng ta có mong chờ Chúa trở lại không? Khi Ngài nhóm hiệp chúng ta lại trong ngày đó để đếm số ta lâng của chúng ta, chúng ta sẽ phải xưng nhận rằng ta lâng kiêng ăn chưa từng được sử dụng, rằng chúng ta đã giấy ta lâng quí báu này dưới đất hay sao?
Như vậy kiêng ăn mở ra con đường cho sự đổ đầy Thánh Linh và sự phục hồi nhà của Đức Chúa Trời. Kiêng ăn trong thời đại vắng Chàng Rể là nằm trong sự mong chờ sự trở lại của Ngài. Rồi sẽ sớm có tiếng gọi trong đêm “Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người” Lúc đó sẽ quá trễ để kiêng ăn và cầu nguyện. Thời kỳ là ngay hôm nay.


PHỤ LỤC
I. NHỮNG ĐỀ CẬP VỀ SỰ KIÊNG ĂN TRONG BẢN AV (KING JAMES)
Có 4 câu trong Tân Ước mà bản AV (King James) có đề cập đến sự kiêng ăn, nhưng không được nhiều học giả gần đây chấp nhận nên tự bỏ qua trong những bản dịch sau.
Nhưng bản dịch sau đây, được đưa ra theo trật tự thời gian, được tham khảo.
- The New Translation của J.N.Darly, 187
- The Revised Version(RV) 1885
- The American Standard Version (A.S.V), 901
- The New Testament in Modern Speech của R.F.Weymouth 1902
- The New Translation của Jame Moffatt, 1913
- The Revised Testament in Modern English của J.B.Phillips, 1858
- The Amplifiel New Testament, 1958
- The New Testament of the New English Bible (NEB) 1961
Những từ không biết chắc trong những chữ in nghiêng
1. Mat Mt 17:21 “Những thứ quỉ này nếu không cầu nguyện và không kiêng ăn thì chẳng trừ nó được ”.
Chỉ có những bản dịch của Darby và Weymouth có câu này. Bản The Amplified New Testament in nghiêng nó vì “không được ủng hộ bởi các học giả gần đây”. Tất cả những bản khác bỏ câu này hoàn toàn. Kinh Thánh Diễn ý I.V.F nói rằng “câu 21 bị bỏ qua bởi những bản văn đáng tin cậy hơn. Có lẽ nó được thêm vào từ Mac Mc 9:29”
2. Mac Mc 9:29 “Ngài đáp rằng: Nếu không cầu nguyện và kiêng ăn thì chẳng ai đuổi thứ quỉ ấy ra được
Những từ “và kiêng ăn” bị bỏ đi bởi hầu hết các bản dịch được tham khảo, ngoại trừ Darby và Moffatt . bản The Amplified lại dùng chữ in nghiêng. Nhưng Kinh Thánh Diễn Ý I.V.F trong khi công nhận rằng những từ này không được tìm thấy trong Cpdices Sinaiticius và Vaticary nhưng không cho rằng bằng chứng này chống lại chúng có tính thuyết phục.
Người ta tin rằng có những ý do một bộ và thuộc nguyên bản khi phủ nhận những từ này, và điều này áp dụng cho một câu tương tự trong Ma-thi-ơ vừa đề cập ở trên. Sự kiêng ăn mà chúng ta muốn chứng tỏ, không phải đồng nghĩa với sự ép xác trong Tân Ước, nhưng có nghĩa là sự kiêng nhịn ăn. Hoặc phân đoạn này, để lời của Chúa chỉ có ý nói đến sự tự kỷ luật nói chung trong trường hợp đó chúng ta không thể dùng câu này để thiết lập bất cứ điều gì về sự kiêng ăn theo nghĩa đen - hoặc nếu chúng ta hiểu từ này theo nghĩa đen, thì câu khẳng định của Ngài mâut huẫn với điều chúng ta được học ở những chỗ khác rằng Chúa Giê-xu đã không kiêng ăn ngay khi chức vụ Ngài bắt đầu, các môn đồ cũng không khi Chúa Giê-xu ở với họ.
Cũng vậy, sự đưa ra tư tưởng về sự kiêng ăn ở đây che khuất điều mà chúng ta tin là bài học mà Chúa Giê-xu khắc ghi trên các môn đồ qua sự thất bại của họ trong việc giải phóng người bị quỉ ám. Không phải thời gianc ầu nguyện và kiêng ăn rất cần thiết trước khi thứ ác linh này có thể bị đuổi ra, chắc chắn Chúa chúng ta không giữ điều này - nhưng môn đồ phải sống một đời sống giống Ngài, một đời sống cầu nguyện, thì họ cũng có thể xử lý thành công trường hợp này. Dĩ nhiên điều này không phải phủ nhận rằng kiêngăn là một sự trợ giúp vô ích cho sự cầu nguyện trong những trường hợp giải cứu, nhưng điều này có vẻ không là điểm trọng yếu mà húa Giê-xu đang nhấn mạnh.
3. Cong Cv 10:30 “Cọt-nây trả lời rằng: Đã bốn ngày nay tôi kiêng ăn đền giờ này, và nhằm giờ thứ 9 tôi được ở nhà cầu nguyện”..
“Tôi luôn dành giờ thứ 9 để cầu nguyện” (R.V,R.S.V) là cách câu này được nói trong hầu hết các bản dịch, chỉ Darby ủng hộ sự kể đến việc “kiêng ăn” Prof.F.F.Bruce về phân đoạn này, là kéo sự chú ý đến “sự thêm vào sự kiêng ăn để tỏ lòng ngoan đạo” của nhà xuất bản, người này “không chịu bỏ lại bất cứ diều gì cho độc giả tưởng tượng” (Công vụ, nguyên bản tiếng Hy Lạp với lời giới thiệu và phần diễn ý trang 222, Tyndale Press.)
4. ICo1Cr 7:5 “Đừng từ chối nhau, trừ ra khi hai bên ưng thuận tạm thời để chuyên việc kiêng ăn và cầu nguyện, rồi trở lại hiệp cùng nhau”
J.B.Phillips, thật lạ lùng, là người dịch duy nhất ủng hộ việc kể đến “kiêng ăn” ở đây. Dean Afford dựa theo câu này trong tiếng Hy lạp, lưu ý những phân đoạn như thế này đã bị sửa đổi thế nào bởi chủ nghĩa khổ hạnh.
II. GIẢI ĐÁP NHỮNG CÂU HỎI THỰC TIỄN
1. KHI NÀO THÌ KIÊNG ĂN LÀ KHÔNG KHÔN NGOAN?
Có những bệnh tật hoặc những hoàn cảnh nào đó mà thực hiện việc kiêng ăn là không khôn ngoan không?
Trong những trường hợp thiếu ăn nghiêm trọng hoặc sự suy kiệt về thần kinh, thì không nên kiêng ăn ngoại trừ đối với khoảng thời gian rất ngắn. Người bị bệnh tiểu đường không nên kiêng ăn, nhất là khi visulin cạn kiệt. Những thai phụ cũng không nên kiêng ăn. Nếu có bất cứ nghi ngờ nào về bịnh trạng sức khoẻ để kiêng ăn, hãy hỏi ý kiến bác sĩ.
2. KIÊNG ĂN TRONG KHI LÀM VIỆC.
Kiêng ăn trong khi phải tiếp tục làm việc có khả thi không?
Điều này tuỳ thuộc vào bản chất của công việc, khoảng thời gian kiêng ăn và thay đổi một số phạm vi đối với mỗi cá nhân sẽ có khó khăn nào khi thực hiện kỳ kiêng ăn một ngày, dù bạn làm bất kỳ nghề nào đi nữa. Người ta từng biết đến những bà nội trợ và những người mẹ đã từng được lợi từ một kỳ kiêng ăn 3 ngày hoặc lâu hơn trong khi vừa làm tốt việc nhà, chuẩn bị các bữa ăn, v.v… và dành ra thời gian nào để họ có thể cầu nguyện. Người ta cũng biết đến những công nhân lao động chân tay đã từng thực hiện những kỳ kiêng ăn dài mà không có ảnh hưởng xấu nào cho sức khoẻ. Lý tưởng là được càng tự do càng tốt để tìm kiếm Đức Chúa Trời trong thời gian này và để dành thời gian nghỉ ngơi cần thiết.
3. KIÊNG ĂN NẾU NHẸ CÂN.
Có nên kiêng ăn nếu nhẹ cân không?
Theo bác sĩ H.Shelton, thường gặp những người nhẹ cân phục hồi trọng lượng khoẻ mạnh bình thường của họ sau một kỳ kiêng ăn dài, bồi dưỡng quá mức và xuống cân thường đi đôi với nhau. Người ta có thể ăn quá nhiều và tiếp thụ quá ít nếu khả năng tiêu hoá yếu. Kiêng ăn thường sẽ khắc phục tình trạng này, để sau đó người ta có thể ăn ít, hấp thụ nhiều và trọng lượng có thể trở lại bình thường.
4. MỨC ĐỘ XUỐNG CÂN TRUNG BÌNH.
Suốt kỳ kiêng ăn, mỗi ngày trung bình giảm cân bao nhiêu?
Sự giảm cân thay đổi rất nhiều ở mỗi người. Trong giai doạn đầu của một kỳ kiêng ăn dài, đồ thị giảm cân hàng ngày của một người xuống đột ngột, và sau đó nó bắt đầu chùng lại, 2 pounds 1 ngày, giảm xuống 1 pound 1 ngày là mức dộ trung bình nhưng người quá nặng cân có thể giảm nhiều hơn. Nếu có nghĩ ngơi đầy đủ, kiêng ăn là cách giảm cân an toàn nhất, hiệu quả nhất và chắc chắn tự nhiên nhất.
5. KIÊNG ĂN VÀ ĐƯỜNG RUỘT
Con Người nên dùng thuốc nhuận tràng hoặc bơm thụt ruột trong khi kiêng ăn?
Ruột, một ống dẫn xoắn dài khoảng 25 feet, trung bình mất khoảng 24 giờ để thải hết những thứ bên trong nó. Vì vậy thường thấy sau một vài ngày đầu không có thức ăn mới đưa vào, nó ngưng hoạt động chức năng này. Một số người đề nghị dùng Glauber’s Salts (1 ½ auxơ trong 1 ¼ pay nước ấm) vào ngày đầu tiên của kỳ kiêng ăn, và sau đó bơm thụt ruột định kỳ. Thuốc nhuận tràng không được gợi ý dùng khi kỳ kiêng ăn đang tiến hành. Tuy nhiên bác sĩ Shelter thích để công việc của ruột diễn ra tự nhiên không cần bất cứ thuốc nhận tràng hay sự bơm thụt ruột nào. Ông đưa ra quan điểm rằng nếu ruột cần hoạt độngthì nó sẽ hoạtđộngl nếu không thì chúng có thể có lợi hơn khi được nghĩ ngơi lâu dài. Điều này dường như là diễn tiến đơn giả và tự nhiên, và điều này hẳn đã được thực hiện trong thời Kinh Thánh. Trong một kỳ kiêng ăn dài thức ăn còn lại trong ruột có thể đến 3 tuần, nhưng trong khi không có thức ăn được đưa vào, điều này sẽ không tạo ra bất kỳ vấn đề gì liên quan đến chứng táo bón.
Khi kết thúc kỳ kiêng ăn dài, cần phải dành một vài ngày để ruột bắt đầu hoạt động lại. Một lần nữa nó tập tính kiên nhẫn và cho chúng thời gian. Một khi chúng bắt đầu chúng sẽ hoạt động đều độ và có hiệu quả hơn trước. Một số người thấy rất có lợi khi ăn mận khô hoặc trái vả vào buổi sáng đầu tiên của ngày kết thúc kỳ kiêng ăn, và uống mật đường hàng ngày.
6. KIÊNG ĂN VÀO MÙA ĐÔNG
Có khôn ngoan không khi kiêng ăn vào mùa Đông?
Khi một người kiêng ăn, nhiệt lượng của quá trình trao đổi chất bắt đầu được nạp nhiên liệu với mức thấp và kết quả là không phát sinh ra nhiệt bình thường của nó. Cơ thể vì vậy có xu hướng cảm thấy lạnh. Nếu người ta cẩn thận giữ ấm thì không có lý do gì mà không kiêng ăn được vào mùa Đông.
7. CHÓNG MẶT.
Có cách nào ngăn chận cơn chóng mặt suốt kỳ kiêng ăn không?
Đây thường là một triệu chứng tạm thời. Đôi khi do bởi sự thay đổi tư thế đột ngột. Nhất là từ khi thế nằm chuyển sang ngồi. Để khắc phục tình trạng này nên cử động từ từ.
8. MẤT NGỦ
Ta có thể làm gì đối với chứng mất ngủ?
Đôi khi điều này do bởi tâm trí hoạt động quá sức. Nên tránh tập trung tinh thần cao độ trước khi kiêng ăn và hạn chế ngủ suốt ngày.
9. HƠI THỞ NẶNG MÙI
Có thể làm gì với hơi thở nặng mùi? Nên có sẵn các tinh thể bạc hà, nếu được nên để nó tan trên lưỡi sẽ giả được điều này.
10. UỐNG NƯỚC.
Suốt kỳ kiêng ăn một người phải uống bao nhiêu nước?
Một số người khuyên rằng uống nước càng nhiều càng tốt, với giả thiết rằng điều này sẽ trợ giúp cho quá trình loại bỏ chất thải bằng cách dội nước cho sạch hệ thống lọc chất thải đó. Dường như có một số người nghi ngờ không biết có đúng như vậy không. Tốt hơn nên để cơ thể quyết định phải uống bao nhiêu nước. Uống từng ngụm nước giúp ngăn chận sự thèm ăn và những cơn co thắt vì suy yếu. Nước có thể uống khi nóng, lạnh (nhưng không quá lạnh), hoặc ấm đều được, một lát chanh trong một bình nước sẽ làm mất đi vị có tính chất kim loại trong nước.
11. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HÀNH
Những điều thực hành nào mà con người nên ghi nhớ trong suốt kỳ kiêng ăn?
- Tắm gội mỗi ngày với nước ấm nhưng không quá nóng.
- Thở sâu, tập trung hít càng đầy bụng càng tốt.ớc càng hiều càng tốt, với giả thiết rằng điều này sẽ trợ gúp cho quá trình
- Tập thể dục đều đặn (không quá nặng) trừ khi thấy suy yếu nhiều.
12. NHỮNG ẤN TƯỢNG SAI
Người kiêng ăn có thể bị lệ thuộc vào những ấn tượng và những tiếng nói mà không phải đến từ Đức Chúa Trời không?
Điều này đúng, kiêng ăn làm cho con người nhạy cảm với thế giới của thần linh, hoặc thiên thần hoặc sa-tan, chỉ khi Sa-tan có con đường trong cuộc đời con người rồi thì người đó sẽ tự lệ thuộc vào những ấn tượng của Sa-tan khi anh ta kiêng ăn. Việc những người công kích này trở nên rõ ràng trong cách này thường là bước đầu tiên đối với sự giải cứu cho người có liên quan. Ở nơi nào có những con đường như vậy, chúng ta không có gì phải sợ, nếu chúng ta vẫn giữ lòng khiêm cung trước Đức Chúa Trời và được bao bọc trong áo giáp từ trời. Đức Chúa Trời không đặt ra sự kiêng ăn để khiến chúng ta dễ bị Sa-tan tấn công.
III. ĂN VÌ SỨC KHOẺ
Ngành nghiên cứu về chế độ ăn uống và dinh dưỡng là một chủ đề rộng ngoài phạm vi của sách này. Tuy vậy sự rèn tập kiêng ăn có xu hướng tập luyện cho tâm trí chúng ta về vấn đề kỹ thuật trong ăn uống - chúng ta phải ăn gì và ăn như thế nào. “Có người ăn để sống, và cũng có người sống để ăn”. Một số người ăn vì quan tâm đến sức khoẻ, và những người khác thì chỉ vì sự ham thích của họ. An uống không đúng là nguyê nhân của nhiều căn bệnh. Để đặt điều này trên bình diện tư tưởng cao hơn, chúng ta hãy giao phó nó cho Đức Chúa Trời. Đấng đã ban cho chúng ta thân thể này để giữ chúng càng phù hợp để phục vụ Ngài càng tốt.
Về vấn đề chúng ta ăn gì, chúng ta có thể ở trong địa vị mà mệnh lệnh của các sứ đồ áp dụng. “Bất cứ gì bày ra trước các ngươi, hãy ăn, đừng hỏi gì”, Khi chúng ta có thể chọn lựa, trong khi bảo vệ khoẻ xu hướng có sở thích riêng và lập dị về thức ăn, chúng ta nên tập trung vào những loại thức ăn có ích cho sức khoẻ hơn là những loại chỉ đáp ứng cho sự thèm khát của mình. Điều này chắc chắn kể đến mạng lệnh hoặc ăn hoặc uống… hãy vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Có một xu hướng ngày càng phát triển đối với con người trong phòng thí nghiệm khoa học của họ nghĩ rằng họ có hể bắt chước và thậm chí cải tiến công trình của tự nhiên. Điều này đặc biệt đúng trong lãnh vực thức ăn. Ngày nay nhiều loại đồ ăn thức uống của chúng ta được đóng hộp, được chế biến, tinh lọc, bảo quản, sấy không … tiệt trùng hoặc được xử lý hoá học - và cho là vì sự an toàn và tốtlàh cho chúng ta.
Bác sĩ Herbert Shelton, qua kinh nghiệm rộng trong sự liên quan này đã nói:
Sự thử thách axit của một loại thức ăn, dường như đối với tôi là sự thích hợp của nó để đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của cơ thể con người vừa qua một kỳ kiêng ăn dài. Trong tất cả kinh nghiệm của tôi với sự nuôi dưỡng. Tôi thấy không có gì xuất hiện một cách nhân tạo bởi những nhà máy thực phẩm để làm cân bằng với sản phẩm của vườn cây và đồng ruộng…. Tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ăn thức ăn tươi, những trái cây chín, rau quả sống mỗi ngày (Từ sách hỏi về sự kiêng ăn của Herbert Shelton trang 74).
Cuối cùng, có một vài qui tắc để có thể ăn làm sao cho có lợi cho sức khoẻ.
1. Ăn để xoa dịu cơn đói, và sau đó dừng lại. Đừng tiếp tục để thoả mãn sự thèm khát của bạn.
2. Ăn chậm và nai kỹ. Tốt hơn nên để thừa bữa ăn hơn là nuốt vội vàng nó.
3. Hãy để tinh thần thư giản. Tập trung cao độ, căng thẳng bồn chồn, lo âu bối rối làm suy yếu sự tiêu hoá.
4. Cố gắng phát triển thói quen uống nước giữa các bữa ăn, nhưng không nên uống trong bữa ăn.
5. Tránh “ăn nhẹ” giữa các bữa ăn.
6. Tránh ăn nhiều sau bữa tối. Hãy nhớ cơ quan tiêu hoá cũng cần phải nghĩ ngơi.
7. Phải biết thức ăn nào có tính tự nhiên và có lợi cho sức khoẻ và bảo đảm chúng vẫn giữ sự cân đối cho chế độ ăn của bạn (người bán sách hoặc trung tâm dinh dưỡng và sức khoẻ ở địa phương bạn sẽ giới thiệu cho bạn nhiều ấn phẩm bổ ích về đề tài cải cách thức ăn này).
8. Tránh uống trà và cà phê (có nhiều thức uống thay thế) hoặc nếu không thì nên hạn chế tối đa những chất này. Chúng không có giá trị dinh dưỡng, và những chất kích thích này có xu hướng gây ra thói nghiện. “Mọi thứ đều hợp pháp đối với tôi, nhưng tôi không nô lệ cho bất cứ điều gì”.
DANH MỤC KINH THÁNH
Những đề cập về sự kiêng ăn trong Kinh Thánh, kiêng ăn hoàn toàn hoặc một phần, được liệt kê theo thứ tự, và câu Kinh Thánh nào được đề cập trong sách này .
- SaSt 24:33 Đầy tớ của Ap-ra-ham tìm vợ cho Y-sác
- XuXh 34:28 Kỳ kiêng ăn 40 ngày đầu tiên của Môi-se trên núi Si-nai
- LeLv 16:29, 31 Vào ngày lễ Chuộc tội
- 23:14 Kiêng ăn cho đến ngày dâng của lễ
- 23:27, 32 Vào ngày lễ Chuộc tội
- Dan Ds 6:3, 4 Luật về người Na-xi-rê
- 29:7 Vào ngày lễ Chuộc tội
- PhuDnl 9:9, 18 Hai kỳ kiêng ăn 40 ngày của Môi-se trên núi Si-nai
- Cac Tl 20:26 Bởi dân Y-sơ-ra-ên sau khi thất bại dưới tay người Bên-gia-min
- IISu 2Sb 1:7, 8 Sự cầu nguyện của An-ne xin một đứa con
- ISa1Sm 7:6 Tại Mích-ba dưới sự dẫn dắt của Sa-mu-ên
- 14:24-30 Lời rủa sả của Sau-lơ nói ra trong trận chiến
- 20:30 Giô-na-than đau buồn vì Sau-lơ ghét Đa-vít
- IISa 2Sm 30:11, 12 Người đầy tớ Ê-díp-tô mà Đa-vít tìm thấy trong đồng ruộng
- ISa1Sm 31:13 Bởi những người chôn Sau-lơ và các con trai người
- IISa 2Sm 1:54 Bởi Đa-vít và những người theo ông khi nghe tin Sau-lơ băng hà
- 3:35 Bởi Đa-vít khi Ap-ne qua đời
- 11:11 Sự tự kỷ luật của U-ri trong thời tranh chiến
- 12:16-23 Bởi Đa-vít vì con của Bát-sê-ba
- IVua 1V 13:8-24 Bởi một tiên tri, người đã kêu khóc bên bàn thờ ở Bê-tên
- 17:6, 14-16 Chế độ ăn kiêng của Ê-li tại Kê-rít và Sa-rép-ta
- 19:8 Bởi Ê-li trong hành trình đến Hô-rếp
- 21:4, 5 Bởi A-háp sau khi bị Na-bốt rừ chối nhường vườn nho
- 21:9, 12 Khi Na-bốt được đặt lên địa vị cao theo sự xui giục của Giê-sa-bên
- 21:27 Bởi A-háp trong sự tự hạ mình
- ISu1Sb 10:12 Bởi những người chôn Sau-lơ và các con trai người
- IISu 2Sb 20:3 Được ban bố bởi Giô-sa-phát trước cuộc chiến
- Exo Er 8:21, 23 Được ban bố bởi E-xơ-ra tại sông A-ha-ra
- 9:5 E-xơ-ra than khóc cho sự vô tội của dân bị lưu đày
- 10:6 E-xơ-ra than khóc cho sự vô tín của dân bị lưu đày
- NeNe 1:4 Bởi Nê-hê-mi cho sự phục hồi của Giê-ru-sa-lem
- 9:1 Bởi dân Y-sơ-ra-ên khi họ xưng tội lỗi mình
- EtEt 4:3 Bởi dân Do Thái theo lệnh của Ha-man
- 4:16 Được Ê-xơ-tê kêu gọi trước khi diện kiến vua
- 9:31 Trong sự liên quan với lễ Phu-rim
- Giop G 33:19, 20 Như một kết quả của sự đau đớn và bệnh tật
- Thi Tv 35:13 Đa-vít thay cho những người bệnh khác
- 42:3 Khi nước mắt của một tác giả Thi làm đồ ăn
- 69:10 Lời tự khiển trách của Đa-vít
- 102:4 Một tác giả Thi Thiên quên cả đồ ăn trong sự tranh chiến của mình
- 107:17, 18 Như kết quả của bệnh tật
- 109:24 Nguyên nhân của sự yếu đuối về thể xác của Đa-vít
- EsIs 58:1-14 Loại kiêng ăn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời
- Gie Gr 14:12 Sự kiêng ăn không được Đức Chúa Trời chấp nhận
- 34:6, 9 Ba-rúc đọc quyển sách của Giê-rê-mi trong ngày kiêng ăn
- DaDn 1:12-16 Đa-ni-ên và các bạn không ăn đồ ăn của vua
- 6:18 Đa-ri-út khi Đa-ni-ên trong hang sư tử
- 9:6 Sự cầu nguyện cho Giê-ru-sa-lem của Đa-ni-ên
- 10:2, 3 Kỳ kiêng ăn một phần trong 3 phần của Đa-ni-ên
- Gio Ge 1:14 Trong sự xét tới Ngày Đức Giê-hô-va
- 8:12 Khi quay trở lại cùng Đức Chúa Trời với tất cả tấm lòng
- Gion Gn 3:5-9 Được ban bố bởi dân sự và vua của Ni-ni-ve
- XaDr 7:3-5 Với sự than khóc trong tháng thứ 5, thứ 7
- 8:19 Tiếp tục trong tháng thứ 4,7 và 10
- Mat Mt 4:2 Bởi Chúa chúng ta trong 40 ngày
- 6:16-18 Không kiêng ăn như người giả hình
- 9:15 Bởi các môn đồ của Giăng và người Pha-ri-si
- 9:15 Bởi khách mời tiệc cưới khi chàng rễ đi khỏi họ
- 11:18 Bản tánh tiết độ (hay ăn uống) của Giăng Báp-tít
- 15:32 Tình trạng của 4 ngàn người trước khi Chúa Giê-xu cho họ ăn
- 17:21 (*) Loại quỉ này chỉ có thể bị đuổi ra bởi sự kiêng ăn
- Mac Mc 2:18 Bởi các môn đồ của Giăng và người Pha-ri-si
- 2:19, 20 Bởi khách mời tiệc cưới khi chàng rễ đi khỏi họ
- 8:3 Tình trạng của 40 ngàn người trước khi Chúa cho họ ăn
- 9:29 (*) Loại quỉ này chỉ có thể bị đuổi ra bởi sự kiêng ăn
- LuLc 2:37 Bởi An-ne người thờ phượng trong đền thờ
- 4:2 Bởi Chúa Giê-xu trong 40 ngày
- 5:33 Bởi môn đồ của Giăng và người Pha-ri-si
- 5:34, 35 Bởi khách mời tiệc cưới khi chàng rể rời khỏi họ
- 7:33 Bởi tánh tiết độ (trong ăn uống) của Giăng Báp-tít
- 18:12 Bởi người Pha-ri-si khoe mình, hai lần một tuần
- Cong Cv 9:9 Sau-lơ người Tạt-sơ sau khi đối diện với Chúa Cứu Thế
- 10:30 (*) Bởi Cọt-nây khi thiên cứ hiện ra cho ông
- 13:2, 3 Bởi các tiên tri và các thầy giáo ở An-ti-ốt
- 14:23 Lúc bầu chức trưởng lão trong Hội Thánh
- 23:12-21 Bởi dân Do Thái dưới lời thề giết Phao-lô
- 27:9 Chỉ đến ngày lễ Chuộc tội hằng năm
- 27:21,33 Bởi những người đi với Phao-lô trước vụ đắm tàu
- RoRm 14:21 Kiêng nhịn vì lợi ích của anh em yếu đuối hơn (đã sa ngã)
- ICo1Cr 7:5 (*) Trong mối quan hệ hôn nhân
- 8:13 Kiêng nhịn vì lợi ích của anh em yếu đuối hơn
- IICo 2Cr 6:5 Một phần trong chức vụ các thánh đồ
- 11:4 Trong danh sách những nỗi đau khổ của Phao-lô
- ITi1Tm 4:3 Các giáo sư giả biết kiêng ăn.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-7-2018 12:55 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách