† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2826|Trả lời: 0

THẦN HỌC

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 25-7-2011 15:25:14 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

THẦN HỌC

NHẬP ĐỀ
I. ĐỊNH NGHĨA:
Thần Đạo Là từ dịch từ chữ THEOLOGY trong tiếng Hy lạp. Đây là một từ kết hợp bởi hai chữ Theos (Đức Chúa Trời) và Logos (ngôn từ, đạo, sự bày tỏ). Trong Kinh thánh chữ đạo (logos) được dùng để chỉ về lời Hằng Sống là Chúa Jêsus Christ (GiGa 1:1) và Kinh thánh. Như vậy Thần Đạo hay Thần Học trong lãnh vực Cơ đốc giáo là một môn học về Đức Chúa Trời qua những gì Ngài đã bày tỏ để bày tỏ về chính Ngài bằng lời, bằng công việc và chính bản thể của Ngài qua Chúa Jêsus Christ.
II. TÔN CHỈ CỦA THẦN HỌC:
Tôn chỉ thần học Cơ đốc bao gồm 4 vấn đề rất quan hệ :
A. Đức Chúa Trời có thực hữu không ?
B. Đức Chúa Trời có phán dạy không ?
C. Đức Chúa Trời đã phán dạy những gì ?
D. Trải mọi thời đại, con người đã hiểu ý nghĩa các lời phán dạy ấy thế nào và đạt được đến đích ra sao ? Tôn chỉ (đường hướng cụ đích) của Thần Học là giải quyết các vấn đề căn bản này cho rõ ràng hợp lý để qua đó người ta nhận biết Đức Chúa Trời, tin Ngài và hưởng được phước hạnh Ngài dự định cho họ.
III. SỰ CẦN YẾU CỦA THẦN HỌC :
Thần Học là một khoa học rất cần yếu vì những lý do sau :
(A) Cầu yếu cho Lý Trí.
Trải mọi thời đại con người luôn luôn tìm kiếm cội nguồn của vũ trụ và của chính mình, cũng như đối diện với những câu hỏi liên quan đến cõi vô hình và nhiều vấn đề quan trọng khác liên quan đến con người. Để có thể giúp thỏa mãn lý trí con người hầu tạo điều kiện thuận lợi cho họ tìm đến và tiếp nhận Chúa cần phải có một hệ thống gió lý trình bày về Đức Chúa Trời và công việc của Ngài. Đây chính là chỗ của Thần Học.
(B) Cần yếu cho Tín Đồ.
Tín đồ cần phải hiểu biết lẽ thật của Đạo Đức Chúa Trời để đời sống thuộc linh tăng trưởng và đứng vững vàng trong Đạo Chúa. Không một người nào có thể nói rằng mình là một tín đồ thật nếu không biết ít nữa là các lẽ đạo sơ đẳng của Tin lành. Những lẽ đạo này chính là Thần Học.
IIPhi 2Pr 3:18 “Hãy lớn lên (tấn tới ) trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ ”.
CoCl 1:9, 10.
(C) Cầu yếu cho người Hầu Việc Chúa.
Người Hầu Việc Chúa có trách nhiệm trình bày, giải thích lẽ thật của Đức Chúa Trời cách rõ ràng không sai lầm để có thể thuyết phục người nghe. Nếu không nắm vững Thần đạo, hiểu rõ các lẽ thật thì không bao lâu các lẽ đạo được giải thích sẽ trở nên lộn xộn mâu thuẫn lẫn nhau đem lại các thiệt hại rất lớn cho chính mình và Hội thánh. Người hầu việc Chúa phải siêng năng năng nghiên cứu học hỏi Thần Đạo thì chức vụ mới mong có kết quả được. IITi 2Tm 2:15 “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được ……”
Muốn được đẹp lòng Chúa thì cần phải tìm biết Ngài, học hỏi về mạn lịnh, ý chỉ và ý muốn của Ngài.
(D) Cần yếu cho Hội Thánh
Kinh thánh gọi Hội thánh là “Trụ và nền của lẽ thật” (ITi1Tm 3:15). Hội thánh là nơi chân lý được bảo vệ và phát triển, nếu nơi này không nắm vững các lẽ thật của chánh đạo thì Hội thánh sẽ bị lệch lạc và sa vào lưới của ma qủi. Ngoài ra các con cái của Chúa trong Hội thánh được truyền dạy đem Lời Chúa đến cho người khác nếu không biết đâu là chánh đạo thì làm sao đưa họ vào được.
IV. NHỮNG ĐIỀU ĐÒI HỎI NƠI HỌC VIÊN THẦN ĐẠO :
(A) Phải thừa nhận sự hà hơi và thẩm quyền của Kinh thánh
Học viên thần học phải thừa nhận cách không chút nghi ngờ rằng Kinh thánh là lời của Đức Chúa Trời, đã được chính Thánh Linh của Ngài hướng dẫn cho con người viết ra, là qui luật duy nhất của đức tin và thực hành. Học viên Thần đạo không chú tâm vào việc tìm cách minh chứng về thẩm quyền và sự hà hơi của Kinh thánh, nhưng chú tâm về sự sắp xếp và trình bày của chân lý đã được Kinh thánh đề cập đến.
(B) Phải nhận biết sự giới hạn của mình.
Học viên thần học phải luôn luôn nhớ rằng mình là con người hữu hạn bị giới hạn trong vô số lãnh vực đang học hỏi và nghiên cứu về Đức Chúa Trời vô hạn, thì sự việc chúng ta không thể giải thích được nhiều điều cho thích hợp với lý trí là điều không thể tránh được .
Lời Đức Chúa Trời khẳng định về vấn đề này như sau : “Ý tưởng Ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối Ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối Ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng Ta cao hơn ý tưởng các ngươi bấy nhiêu ” (EsIs 55:8, 9). Sự giới hạn của mình sẽ giúp chúng ta nhờ cậy Chúa nhiều hơn trong việc học hỏi.
(C) Phải tin rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời là nguồn của sự soi dẫn và dạy dỗ chúng ta
Lời Đức Chúa Trời dù được chép bằng ngôn ngữ của loài người và các từ dùng rất đơn giản nhưng sứ điệp của nó có nhiều chỗ vượt quá sự hiểu biết của con người. Nhưng Đức Chúa Trời đã giúp con cái thật của Ngài khắc phục điều này bằng cách ban Thánh Linh Ngài ngự vào lòng, dạy dỗ và giúp họ hiểu được về những chân lý của Đức Chúa Trời (GiGa 16:12-13; ICo1Cr 2:9, 10). Chính Chúa Giê xu đã thực hiện đều này cho hai môm đồ về làng Emmaút (LuLc 24:27-32, 45). Ngài mở trí ……
(D) Cần phải kiên nhẫn và Học hỏi không mệt mỏi .
(IITi 2Tm 2:15; ITi1Tm 4:13a)
Thần học được ví như biển cả mênh mông, còn chúng ta chỉ là một con thuyền nhỏ bé giữa giòng. Vì vậy việc học hỏi đòi hỏi sự sự kiên trì không mệt mỏi. Ba năm học tại trường chỉ là một phần nhỏ của Thần đạo. Sự nghiên cứu cần phải thực hiện suốt cả cuộc sống. Cuộc sống chúng ta không bao giờ có thể ngưng nghỉ trong việc khám phá vẻ đẹp, đường lối, ý muốn, mạng lịnh của Đức Chúa Trời.
(E) Đức tin.
Thần đạo có liên quan nhiều đến các lãnh vực siêu nhiên, vượt qua sự hiểu biết của chúng ta. Vì vậy đức tin là một yếu tố rất quan trọng giúp chúng ta có thể hiểu và hưởng được vô số lợi ích trong việc học hỏi lời Đức Chúa Trời (HeDt 11:3) “Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi Lời của Đức Chúa Trời …”.
(F) Học không gián đoạn
Chúng ta không thể học phần này bỏ phần khác mà có thể hiểu Thần đạo cách đúng đắn và đầy đủ được. Thánh Kinh Tân Uớc sẽ không đầy đủ nếu thiếu Cựu ước và ngược lại Cựu ước sẽ không được trọn vẹn nếu thiếu Tân ước. Vì vậy khi học Thần đạo chúng ta phải tìm đủ mọi cách để có thể nghiên cứu đầy đủ và không bị đứt quãng hoặc bỏ đầu bỏ đuôi.


PHÂN LOẠI THẦN HỌC
Thần học có thể chia làm 4 loại :
I. THÁNH KINH THẦN HỌC
Mục đích của Thánh Kinh Thần Học là nghiên cứu chân lý về Đức Chúa Trời và công việc của Ngài theo thứ tự được trình bày trong Kinh thánh và trong bối cảnh lịch sử của Kinh thánh. Loại Thần học này dựa hoàn toàn vào Kinh thánh và nghiên cứ diễn tiến Thần đạo từ Sáng thế ký đến Khải huyền.
II. LỊCH SỬ THẦN HỌC
Lịch sử Thần học là môn học ký thuật lịch sử phát triển của các lẽ đạo trải các thời đại từ thời đại các sứ đồ đến hiện tại, đồng thời cũng nêu lên sự khác biệt giữa các nhóm Cơ đốc trong việc hiểu và dạy dỗ các lẽ đạo ấy, và sự tự tách của các nhóm tà giáo khỏi chân lý của Kinh thánh.
III. THỰC DỤNG THẦN HỌC
Thực dụng Thần Học quan tâm đến việc ứng dụng lẽ thật cho con người. Loại Thần đạo này bao gồm cả 2 môn Truyền đạo học và Giám mục học vì hai môn này chủ yếu dạy về cách sống đạo, giải nghiã và giảng dạy lẽ đạo của Đức Chúa Trời.
IV. HỆ THỐNG THẦN HỌC
Hệ thống thần học là loại Thần học Lưu tập các tài liệu của Thánh Kinh Thần Học, Thiên Nhiên Thần Học và Lịch sử Thần Học rồi sắp xếp theo từng mục một cách có hệ thống lý hợp để qua đó chúng ta có thể lần lượt học hỏi về Đức Chúa Trời, vị cách và công vụ của Ngài, sự tương quan của Ngài với loài người và vũ trụ. Hệ thống Thần học bao gồm 10 mục loại :
1. Kinh thánh
2. Đức Chúa Trời
3. Loài người
4. Tội lỗi
5. Đấng Christ
6. Sự cứu rỗi
7. Thánh Linh
8. Thiên sứ
9. Hội thánh
10. Lai thế

NHỮNG THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI KINH THÁNH
Trên thế giới có nhiều thái độ, nhiều khuynh hướng đối với Kinh thánh, nhưng đại loại có 4 khuynh hướng chính :
I. DUY LÝ LUẬN : (Rationalism)
Thái độ duy lý đối với Kinh thánh có thể chia ra làm hai dạng :
A) Cực đoan : (Extreme)
Dạng duy lý cực đoan chối bỏ bất cứ hình thức khải thị siêu nhiên hay nói cách khác họ không tin sự khải thị của Đức Chúa Trời cho loài người.
B) Ôn hòa : (Moderate)
Dạng này không dứt khoát chối bỏ sự khải thị nhưng chỉ nhận một số phần trong Kinh thánh là lời Đức Chúa Trời, những phần họ thấy thích hiệp với lý trí của họ. Dạng duy lý ôn hòa nầy tìm thấy trong các nhóm Tân phái (modernists).
II. THẦN BÍ THUYẾT : (Mysticiam)
Thái độ của thần bí thuyết đối với Kinh thánh cũng chia làm hai dạng :
A) Thần bí thuyết sai lầm :
Những người thuộc nhóm này cho rằng sự khải thị Thiên Thượng không chỉ giới hạn trong lời của Đức Chúa Trời được ghi chép lại trong Kinh thánh, nhưng Đức Chúa Trời cũng ban những chân lý khác cho những linh hồn đã được Thánh Linh dấy động cách thích hiệp để nhận các chân lý ấy. Họ khẳng định rằng bởi sự từ bỏ bản ngã và kính thờ Đức Chúa Trời thì mỗi cá nhân có thể đạt đến nhận biết cách trực tiếp về thân vị và sự hiện diện của Đức Chúa Trời đồng thời cũng nhận biết tất cả các chân lý ở trong Ngài. Liên quan đến dạng này chúng ta thấy có các nhóm Thần Thông học (spiritims), Cơ Đốc Phục Lâm, Cơ Đốc Khoa Học (Christian Science), Mormon, Chứng nhân Giê hô va. Những nhà sáng lập các nhóm này thường cho rằng họ đã nhận được khải thị đặc biệt từ Đức Chúa Trời và họ đã xây dựng hệ thống giáo lý, tổ chức của họ trên sự khải thị đó. Hầu như tất cả các phong trào mang danh “Thiên liêng Thánh khiết” (Holiness movement) đều có thái độ này. Họ không phủ nhận Kinh thánh, nhưng công việc của họ gần như được chi phối bởi một động lực, một cảm xúc ở bên trong họ mà họ luôn luôn gọi là sự hướng dẫn của Thánh Linh. Nhóm Quaker hay nhóm Anh em cũng thuộc dạng này. Khi trình bày về giáo lý “Ánh sáng nội tâm” họ nói rằng có sự hiện diện của Thánh Linh ở bên trong thì mỗi cá nhân tín đồ được tiếp xúc với chính Đấng đã hà hơi và ban Thánh Linh cho con người và Thánh Linh là Đấng không những chỉ có thể ban thêm cho chúng ta những lẽ thật khác ngoài những gì được ban cho trong Kinh thánh, nhưng Ngài cũng đã được chính Đấng Christ chỉ định làm điều này như đã được ghi trong GiGa 16:12, 13 “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa, nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần Lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật ”.
(1) Bởi khả năng được ban cho những người mà Chúa Giê xu đã nói những lời này với, vì vậy họ đã được sử dụng để viết Kinh thánh.
(2) Bởi sự dạy dỗ của Thánh Linh đối với các sứ đồ cũng như Cơ đốc nhân trải mọi thời đại, những người bằng lòng thuận phục ý chỉ của Ngài, những chân lý đã được ghi chép trong Kinh thánh (Thí dụ : việc Chúa Thánh Linh giáng trên họ khiến họ mất đi tất cả mọi sự sợ sệt, dùng họ làm những người chinh phục bao nhiêu linh hồn về cho Chúa, đồng thời cũng có thể giúp họ có thể chịu khổ và chết cho Danh Chúa là điều mà họ chưa có thể nào hiểu nổi. Nhưng khi Thánh Linh đến và hướng dẫn họ thì tất tất cả mỗi diễn tiến xảy ra cách êm ả).
B) Thần Bí Thuyết Thật :
Thần bí thuyết thật khẳng định rằng tất cả mọi Cơ đốc nhân đều được Thánh Linh ngự vào được ở trong tư thế trực tiếp soi sáng bởi Ngài. Chỉ có một sự khải thị đặc biệt được ban ra và sự soi sáng của Thánh Linh chỉ giới hạn trong việc giãi bày chân lý cho trí và lòng của Cơ đốc nhân.
III. CÔNG GIÁO LA MÃ :
Một trong những chỗ vướng mắc lớn nhất của Công giáo La mã là đã đặt giáo hội làm thẩm quyền trực tiếp và tối hậu (immediate and Fianl authority) cho tất cả mọi vấn đề khải thị Thiên thượng chớ không phải Kinh thánh. Giáo hội cho rằng thẩm quyền của Giáo hội có liên quan trực tiếp đến các vấn đề đức tin và các hành vi đạo đức. Giáo hội lý luận rằng có vô số điều Chúa Giê xu và các sứ đồ đã nói và dạy không được ghi chép vào Kinh thánh (GiGa 20:30, 31; 21:25) nhưng đã được Giáo hội giữ gìn và xem là có thẩm quyền như các lời đã được ghi chép trong Kinh thánh. Giáo hội cũng cho rằng lời của Giáo hoàng là lời của Đức Chúa Trời và những lời này cũng phải được vâng theo như là chính lời Đức Chúa Trời. Trong một số lãnh vực, Giáo hội La mã đã xem những quyết định và luật lệ của Hội thánh là vô ngộ (infallible) và có thẩm quyền (authoritative) vượt trên Kinh thánh là lời của Đức Chúa Trời.
IV. TIN LÀNH CHÍNH THỐNG :
Niềm tin của Tin lành chính thống đối với Kinh thánh được nêu lên như sau :
(1) Kinh thánh là Lời Vô ngộ (không hề sai trật) của Đức Chúa Trời.
(2) Kinh thánh là qui lụât duy nhất của đức tin và thực hành.
(3) Lý trí và sự hiểu biết của con người phải hoàn toàn phụ thuộc vào Kinh thánh.
(4) Hoàn toàn không có cái gọi là “Ánh sáng nội tâm” hay những khải thị ngoài những gì đã có trong Kinh thánh.
(5) Không có một chân lý nào được ban cho Hội thánh hay bất cứ người nào có thể được gọi là có thẩm quyền vượt trên những gì đã được ban cho các trước giả Kinh thánh.


NHẬP ĐỀ
I. ĐỊNH NGHĨA :
Kinh thánh là Lời của Đức Chúa Trời là sự bày tỏ đặc biệt của Đức Chúa Trời cho loài người. Đây không phải là quyển sách mà bất cứ con người nào ở trần gian có thể viết nếu muốn, cũng không phải là một quyển sách mà một tài năng xuất chúng nào trong thế giới loài người có thể sáng tạo.
II. SỰ CẤU TẠO CỦA KINH THÁNH:
Kinh thánh là một thư viện gồm 66 sách do nhiều thành phần trước giả viết trong khoảng thời gian 1600 năm (Môise 1526 TC - Giăng qua đời100 SC) đẽ được hướng dẫn và sắp xếp bởi Thánh Linh thành một quyển sách duy nhất với đề tài chính là Chúa Giê xu và sự cứu rỗi trong Ngài. Kinh thánh được chia làm hai phần chính:Cựu ước và Tân ước (Ước là giáo ước, Testament-giao ước giữa Đức Chúa Trời và loài người). Cựu ước gồm 39 sách chia ra như sau :
w Các sách lịch sử : Sáng thế ký - Êxơtê.
w Các sách văn thơ : Gióp - Nhã ca.
w Các sách Tiên tri : Êsai - Malachi.
Tân ước gồm 27 sách chia ra như sau :
w Các sách lịch sử : Mathiơ - Công vụ.
w Các Thơ Tín : Rôma - Guiđe.
w Sách Tiên tri : Khải thị .
Với đề tài chính là Chúa Giê xu Christ.
w Cựu ước được xem là : Sự chuẩn bị (preparation)
w Bốn sách Tin lành : Sự bày tỏ (mainfestation).
w Công vụ : Sự truyền bá (propagation).
w Thơ Tín : Sự giải thích (explanstion).
w Khải huyền : Sự hoàn tất (consummation).
III. LÃNH VỰC CỦA THÁNH KINH HỌC:
Thánh Kinh học bao gồm những chương sau đây :
A. Luận về sự khải thị.
B. Luận về kinh điển Tân Cựu ước.
C. Luận về Thần quyền của Kinh thánh.
D. Luận về Sự hà hơi vào Kinh thánh.
E. Luận về Quyền tuyệt đối của Kinh thánh.
LUẬN VỀ SỰ KHẢI THỊ
I. ĐỊNH NGHĨA:
Danh từ Khải thị thường dùng theo hai nghĩa : đen và bóng.Văn học thường dùng theo nghĩa đen còn Thần học dùng theo nghĩa bóng.
A/ Nghĩa đen.
Theo nghĩa đen : KHẢI : mở ra. THỊ : đưa cho xem. Như vậy khải thị là mở ra hoặc bày tỏ điều gì kín giấu để mắt có thể thấy được.
B/ Nghĩa bóng.
Trong lãnh vực Thần học từ khải thị (revelation) có hai nghĩa :
1) Nghĩa khái quát : chỉ về sự bày tỏ của Đức Chúa Trời trong cõi thiên nhiên hay trong Kinh thánh để qua đó con người có thể hiểu biết về Đức Chúa Trời.
2) Nghĩa đặc biệt : chỉ thuần túy về các lẽ thật trong Kinh thánh. (Trong chương này chúng ta chỉ chú tâm nghiên cứu phần nghĩa đặc biệt).
II. CÁC PHƯƠNG CÁCH KHẢI THỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Chúng ta có thể nhìn thấy cách tổng quát về các phương cách khải thị của Đức Chúa Trời qua các câu Kinh thánh sau :
- RoRm 1:19-20 “Vì điều chi có thể hiểu biết được về Đức Chúa Trời thì đã được trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã bày tỏ điều đó cho họ rồi. Bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. ”
- HeDt 1:1-2 “Đời xưa Đức Chúa Trời đã dùng các Đấng Tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi con Ngài …”.
Từ những câu Kinh thánh này, chúng ta đi và học hỏi chi tiết hơn một số dạng khải thị mà Đức Chúa Trời đã dùng để bày tỏ Ngài cho con người.
A. Đức Chúa Trời khải thị qua thiên nhiên. Thiên nhiên là bằng chứng cụ thể về sự bày tỏ của Đức Chúa Trời qua công việc của Ngài (RoRm 1:19-26; Thi Tv 19:1-6). Nhìn công trình chúng ta có thể nhận ra ngay một số điểm rất quan trọng.
1/ Sự hiện hữu của tác giả công trình.
2/ Sự khôn ngoan, khéo léo và năng lực của tác giả công trình. Công trình càng vĩ đại, tinh vi, đẹp đẽ thì tác giả công trình càng khôn ngoan, khéo léo, vĩ đại hơn thế nữa.
Đây chính là một trong những nguyên nhân chính yếu khiến cơn giận của Đức Chúa Trời đổ trên loài người (RoRm 1:18).
B. Đức Chúa Trời khải thị qua sự quan phòng, chăm sóc và điều khiển (Providence:Thần hựu).
Sự thần hựu của Đức Chúa Trời được bày tỏ cách chi tiết qua cả chương trình của Ngài trải các thời đại. Sự chăm sóc, bảo vệ, quan phòng này đã bao gồm các con chim sẻ bé bỏng cho đến tóc trên đầu chúng ta. Người không tin Chúa thì cho rằng tất cả những điều này chỉ là những điều may rủi và thay đổi xảy ra liên tục trong vũ trụ loài người (chance and change are busy ever). Nhưng đối với con cái của Chúa thì diễn tả sự thần hựu của Chúa bằng 8:28 “Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho những người được gọi theo ý muốn Ngài đã định”. Dù tội lỗi và đau khổ vẫn còn hiện diện trong trần thế nhưng sự thần hựu của Đức Chúa Trời không bao giờ thiếu đối với các tạo vật Ngài dựng nên (PhuDnl 30:1-10; DaDn 2:31-5; 7:1-28; 9:24-27; OsHs 3:4-5; Mat Mt 23:37-25:46; Cong Cv 15:13-18; RoRm 11:13-29; IITe 2Tx 2:1-12 KhKh 2:1-22:21)
C. Đức Chúa Trời khải thị qua sự bảo tồn. Sự bảo tồn ở đây cũng có phần giống như sự thần hựu, nhưng phạm vị của sự bảo tồn liên quan trực tiếp đến sự bảo vệ và gìn giữ khỏi những sự thiệt hại. Ngài là Đấng dựng nên muôn vật cũng là Đấng bảo tồn sự hiện hữu của muôn vật.
CoCl 1:16 “Vì muôn vật đã Chúa dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời dưới đất vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền đều bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả ” (Xem thêm HeDt 1:10; 11:3; CoCl 1:17). Ngài có trước muôn vật và muôn vật đứng vững trong Ngài.
HeDt 1:3 “Con… lấy lời quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật ”
- Ngài là Đấng ban sự sống (GiGa 5:21; Cong Cv 17:25; ICo1Cr 15:45)
- Ngài là Đấng ban sự sống đời đời (GiGa 10:10, 28).
- Ngài là Đấng bảo tồn sự sống (Cong Cv 17:28 “vì trong Ngài chúng ta được sự sống động, và có …”. (Xem thêm Mat Mt 6:31, 33; Phi Pl 4:19).
D. Đức Chúa Trời khải thị qua các phép lạ. Trải qua các thời đại, phép lạ vẫn là một hình thức Đức Chúa Trời dùng để bày tỏ Ngài trong vũ trụ (Mat Mt 11:2-6). Dầu vậy trong lãnh vực này khi nghiên cứu phải hết sức thận trọng vì chính Satan và quyền lực của nó cũng được bày tỏ qua những việc siêu nhiên (IICo 2Cr 11:14; KhKh 13:11-18).
E. Đức Chúa Trời khải thị bằng sự giao thông trực tiếp. Sự khải thị này được ghi nhận qua những giấc chiêm bao (Đa-ni-ên) các khải tượng và lời phán trực tiếp (Ápraham, Môise, các Đấng tiên tri).
F. Đức Chúa Trời khải thị qua sự thành nhục thể của Chúa Giê xu. Đây là một hình thức rõ ràng nhất, cụ thể nhất trong sự khải thị của Đức Chúa Trời cho con người. Có vô số câu Kinh thánh đề cập đến sự khải thị đặc biệt này, nhưng chúng ta chỉ nêu lên một phần nhỏ
GiGa 1:14 “Đạo trở nên xác thịt ở giữa chúng ta ”.
1:18 “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết ”.
14:9 “Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha ”.
HeDt 1:1, 2 “… đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi con Ngài ”
CoCl 1:19 “ Vì chưng Đức Chúa Trời đã vui lòng khiến mọi sự đầy dẫy của mình chứa trong Ngài ”.
Sự khải thị của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê xu là sự khải thị rõ ràng nhất (CoCl 2:9 “Vì sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình ”).
Qua Chúa Giê xu chúng ta thấy được :
1/ Quyền năng Đức Chúa Trời: Nicôđem nói :“Vì những phép lạ thầy làm đó nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng thì không ai làm được ” (GiGa 3:3c).
2/ Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời: GiGa 7:46 “Chẳng hề có người nào nói như người này ”.
3/ Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời :“chúng ta ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như sự vinh hiển của con một đến từ nơi Cha ” (GiGa 1:14).
4/ Sự sống của Đức Chúa Trời: IGi1Ga 1:1-3 “Vì sự sống đã bày tỏ ra… sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng ta rồi ” (c.2) .
5/ Tình yêu thương của Đức Chúa Trời :“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một của Ngài …” (GiGa 3:16).
IGi1Ga 3:16 “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống ”.
RoRm 5:8 “Nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết ”.
G. Đức Chúa Trời khải thị qua Kinh thánh. Tất cả sự khải thị ở trên đều có những liên quan đến nhau và có nhiều điểm tương tự, nhiều lúc khó có thể phân biệt. Vì vậy Đức Chúa Trời đã dùng một sự khải thị được ghi lại bằng ngôn ngữ của loài người để nêu lên cách rõ ràng tất cả những dạng khải thị vừa nêu để cho con người trải mọi thời đại có thể hiểu được, biết được Ngài hầu tìm đến Ngài để được sự cứu rỗi trong Ngài.
- Sự khải thị của Đức Chúa Trời qua Kinh thánh dầu ở nhiều dạng khác nhau: Lẽ đạo, sự thờ phượng, lịch sử, lời tiên tri và thực dụng nhưng tập trung chỉ nhằm vào một mục đích chính yếu là bày tỏ sự cứu chuộc trong Đức Chúa Jêsus Christ
IITi 2Tm 3:15 “Từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu rỗi bởi đức tin trong Chúa Chúa Giê xu Christ ”.
- Sự khải thị của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh là sự khải thị đã hoàn tất, không còn thêm hay bớt gì được.
- Giu Gd 1:3 “Đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi ”
KhKh 22:18-19
- Sự khải thị của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh là hoàn toàn chính xác, không hề sai trật (IITi 2Tm 3:16 “Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn ”).

LUẬN VỀ KINH ĐIỂN
I. ĐỊNH NGHĨA
A) Nghĩa đen.
Kinh là sách, Điển là luật lệ, mực thước. Kinh điển là luật lệ hay mực thước của sách vở. Muốn phê bình văn chương, thi phú, các nhà phê bình phải tuân theo một điển pháp, mực thước thì sự phê bình mới đáng tin cậy được. Qui luật phải noi theo này được gọi là kinh điển.
B) Nghiã đặc biệt .
Trong Thần học, danh từ này có 3 nghĩa đặc biệt :
1. Điển pháp dùng để xem xét và xác định các sách về lẽ đạo lưu truyền lại từ đời các sứ đồ để biết quyển nào có thể thuộc trong bộ Kinh thánh.
2. Một số sách đã được thử nghiệm và xác định bằng điển pháp xứng đáng với tên gọi là phẩm chất của nó. Trải nhiều thời đại từ thời các sứ đồ, Giáo hội đã dùng nôi chứng và ngoại chứng của các sách trong Kinh thánh làm mẫu mực xét nghiệm để đi đến chỗ quyển nào được phép có mặt trong bộ Kinh thánh (Một vài ngoại chứng:sách được lưu hành trong Hội thánh đã đem đến sự thỏa mãn nhu cầu tâm linh cho Hội chúng, được yêu chuộng ở tất cả nơi nào sách được đưa đến) .
3. Toàn bộ Kinh thánh Tân Cựu ước - Việc gọi toàn bộ Kinh thánh là Kinh điển ngụ ý rằng toàn bộ sách này đã được Đức Chúa Trời hà hơi, có thẩm quyền để làm mực thước trọn vẹn trong sự tin kính và nếp sống của giáo hội và từng tín hữu.
II. ĐIỂN PHÁP CỦA KINH THÁNH
Những yếu tố được Giáo hội dùng để thử nghiệm và xác nhận các sách trong Kinh thánh gồm có các điểm sau đây :
A/ Thần Trước thuật.
(1) Sách này có phải bắt nguồn từ Đức Chúa Trời không ?
(2) Thánh Linh có hà hơi vào trước giả để biên chép lại ý chỉ của Đức Chúa Trời một cách không hề sai trật không ? Hay sách cũng chỉ bởi con người viết ra theo ý mình như mọi loại sách khác.
B/ Nhân trước thuật.
Sách này có thật được chép hay được sự chuẩn nhận bởi một tiên tri hoặc một sứ đồ, hoặc một người nào đó đã được Đức Chúa Trời chọn làm điều này không ?
C/ Sự chân chánh .
Sách này có chân chánh không ?
(1) Có bằng cớ minh chứng trước giả của nó chính là người có tên ghi trên đề sách không ?
(2) Có thể khẳng định rằng sách này được viết chính vào thời của trước giả không ?
(3) Nếu không xác định được trước gỉ thì có bằng chứng gì xác định được nội dung của sách này chính là nội dung nguyên thủy, không bị sửa đổi, thêm bớt gì không ?
D/ Sự đích thực.
Các sự tích, biến động và những sự kiện được biên chép trong đó có hoàn toàn xác thực không ?
E/ Sự chứng nghiệm.
Giáo hội do thái, Hội thánh đầu tiên, các Giáo hội nghi và các cổ bản Kinh thánh có đồng tình xác nhận sách này có được thuộc trong Kinh thánh không ?
Tất cả 5 phương cách thử nghiệm này đều rất quan trọng nhưng thực ra chỉ cần xác định được 2 điểm đầu thì cũng có thể quyết định được sách này đáng thuộc trong bộ Kinh thánh rồi.
III. XÁC NHẬN KINH ĐIỂN THÁNH KINH.
A/ Kinh điển Cựu ước.
Điển pháp quan hệ hơn hết để thí nghiệm các sách trong Cựu ước được nêu lên như sau : Hễ quyển nào được liệt vào Kinh điển Cựu ước buộc phải do một Đấng tiên tri trước thuật hoặc chứng thực cho mới được. Có đủ bằng chứng xác định rằng các trước giả của Cựu ước phần lớn là các tiên tri được Đức Chúa Trời sai bảo thêm vào đó còn có những bằng chứng vững chắc sau đây :
1. Đấng Christ Chứng thực.
Đấng Christ là vị tiên tri vĩ đại nhất (PhuDnl 18:15) đã mạnh mẽ xác chứng cho Cựu ước.
LuLc 24:27, 44 “Đoạn Ngài bắt đầu từ Môise rồi kế đến mọi Đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh thánh (Cựu ước) … Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi, thể nào mọi điều chép về Ta trong luật pháp Môise, các tiên tri và Thi thiên cần phải được ứng nghiệm ”.
GiGa 5:39 “Các ngươi dò xem Kinh thánh vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời. Ấy là Kinh thánh làm chứng về Ta vậy ”.
2. Tân ước làm chứng.
Tân ước trực tiếp trích dẫn Cựu ước 324 lần và ý trong đó khoảng 600 lần. Tân ước nêu đích danh các sách trong Cựu ước trừ 6 sách : Các quan xét, Truyền đạo, Nhã ca, Exơra, Nêhêmi, Êxơtê.
3. Dân Do thái chứng thực.
Phần Cựu ước chúng ta hiện có vốn là Kinh thánh của dân Do thái, không có một sửa đổi thêm bớt nào hết. Cả dân Do thái, các sử gia, triết gia của họ đều thừa nhận Cựu ước là Thánh kinh của họ.
4. Giáo hội đầu tiên chứng thực.
Hội thánh đầu tiên cũng công nhận Cựu ước là lời đã được khải thị bởi Đức Chúa Trời.
B/ Các sách thứ kinh. (Apocrypha)
Trong bản 70 và bản Vulgate tiếng La tinh của Giáo hôị Lamã có thêm một số sách khác vào Kinh Cựu ước trong lúc chính nguyên bản của Hêbơrơ không có. Đây là lý do một số người gọi đó là Ngụy kinh. Những sách thứ kinh này được viết vào thời gian từ Malachi đến Đấng Christ. Các tác giả của sách này đều là những nhà đạo đức đã tường thuật lại từng sự từng trải khốn khổ của dân Do thái. Các sách này chỉ thuật lại một giai đoạn của dân Do thái. Giáo hội Cải chánh không bao giờ thừa nhận những sách này như Kinh thánh. Giáo hội Công giáo Lamã thì xem chúng có thẩm quyền như Kinh thánh.
C/ Kinh điển Tân ước.
Một sách muốn được liệt vào Tân ước phải được trước thuật bởi một sứ đồ, hoặc một một sứ đồ chứng thực hoặc Hội thánh ở trong thời các sứ đồ công nhận là có Thần quyền làm mẫu mực cho tín ngưỡng của Giáo hội. Phần nhiều sách của Tân ước đã được Giáo hội công nhận ngay từ thế kỷ thứ nhất (ITe1Tx 5:27; CoCl 4:16; IIPhi 2Pr 3:15, 16; IITe 2Tx 2:2). Toàn bộ Kinh thánh Tân ước đã được sưu tập xong vào thế kỷ thứ tư và được giáo hội nghị Êphêsô năm 363 SC biểu quyết thừa nhận là Kinh điển .

THẦN QUYỀN CỦA KINH THÁNH
I. ĐỊNH NGHĨA.
Thần quyền là quyền năng của Đức Chúa Trời được thực hiện trong một lãnh vực nào. Trong lãnh vực Thánh kinh học, thần quyền của Kinh thánh nghĩa là Lời có quyền năng của Đức Chúa Trời để truyền dạy cho loài người về con đường cứu rỗi, nếp sống đạo, về Hội thánh cũng như thế giới tương lai. Chính vì Kinh thánh là lời có thẩm quyền của Đức Chúa Trời nên đã trở thành Kinh điển của đời sống tín hữu và Giáo hội.
II. LÝ DO TIN KINH THÁNH CÓ THẦN QUYỀN :
A) Cựu ước
1. Lời chứng của Chúa Giê xu.
Chúng ta nhờ lời chứng của Chúa Giê xu để biết được Cựu ước là Kinh điển có thần quyền.
LuLc 24:27, 44 “Đoạn Ngài bắt đầu từ Môise… cần phải được ứng nghiệm ”.
Xem thêm LuLc 10:26, 16:29; GiGa 5:39.
2. Các sứ đồ.
Các sứ đồ, nhất là Phaolô thường trưng dẫn Cựu ước để hổ trợ cho sự dạy dỗ chứ không trưng dẫn hay dựa nơi một quyền nào khác.
ITi1Tm 3:15-17 “Từ khi còn thơ ấu …”.
Thánh Phaolô cũng khen tín hữu ở Bêrê về việc họ dùng Kinh thánh để kiểm chứng sự chân thật của các bài giảng dạy (Cong Cv 17:11).
B) Tân ước.
Thần quyền của Tân ước cũng được xác định bằng lời chứng của Chúa Giê xu.
1. Chúa cho các môn đồ biết Ngài sẽ trở về trời trước khi sự khải thị được hoàn thành.
GiGa 16:12 “Ta còn nhiều chuyện nói với các ngươi nữa nhưng bây giờ những đều đó cao quá sức các ngươi ”
2. Ngài hứa khi Ngài về trời rồi, Thánh Linh trong lòng họ sẽ làm hoàn toàn sự khải thị của Ngài.
16:13 “Lúc nào Thần Lẽ Thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi đều mình đã nghe và bày tỏ cho các ngươi những sự sẽ đến ”
Sau khi Chúa Giê xu thăng thiên Ngài ban Thánh Linh xuống như lời Ngài đã hứa. Với sự soi sáng và mặc khải của Thánh Linh các môn đồ đã ghi lại những điều họ thấy, nghe nơi Ngài để làm chứng lại công vụ, sự chết và sự sống lại của Ngài.
15:27 “Các ngươi cũng sẽ làm chứng về Ta, vì các ngươi đã ở cùng Ta từ lúc ban đầu vậy ”
LuLc 10:16 “Ai nghe các ngươi ấy là nghe Ta, ai bỏ các ngươi ấy là bỏ Ta, còn ai bỏ Ta ấy là bỏ Đấng đã sai Ta ”.
GiGa 13:20 “Quả thật, quả thật Ta nói cùng các ngươi ai tiếp người mà Ta đã sai tức là tiếp Ta, hễ ai tiếp Ta tức là tiếp Đấng đã sai Ta ”.
Qua những chứng cớ nêu trên, chúng ta quả quyết rằng toàn bộ Kinh thánh có thần quyền thích hiệp làm khuôn vàng thước ngọc duy nhất cho Cơ đốc nhân.

SỰ HÀ HƠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀO KINH THÁNH
I. ĐỊNH NGHĨA .
Sự hà hơi là sự Linh cảm của Thánh Linh trong các trước giả Kinh thánh để họ nhận lãnh, ký thuật sự khải thị của Đức Chúa Trời và những gì Ngài muốn truyền đạt cho loài người cách không sai lầm để những lời này có thẩm quyền làm mẫu mực cho niềm tin và nếp sống của Cơ đốc nhân.
Sự hà hơi vào liên quan đến hai yếu tố Trời và Người. Đọc Kinh thánh, chúng ta thấy những câu:“Đức Giê hô va phán”,”Chúa phán”, “Chúa Thánh Linh phán”. Đó là là yếu tố Trời của Kinh thánh. Ngoài ra chúng ta thấy Thánh Linh sử dụng tâm trí và kinh nghiệm của cả trước giả để ghi lại những gì Ngài phán. Môise với vốn học thức Ai cập ghi lại với một dạng văn khác. Đavít, một người có tâm hồn thơ, nhạc ghi lại với một dạng khác. Phaolô, một người xuất thân từ các trường triết học , tôn giáo ghi lại dưới thể văn khác. Trong khi Amốt, người chăn chiên vùng Thêcôa có lối trình bày những gì ông nhận được một cách khác. Đây chính là yếu tố người của Kinh thánh . Như vậy tất cả các lẽ thật của sự khải thị, sự linh nghiệm và thần quyền của Lẽ thật ấy đều phát sinh từ Đức Chúa Trời, còn việc trình bày lẽ thật ấy ra bằng ngôn ngữ loài người là do các trước giả lào người, được Thánh Linh khải thị soi sáng và điều động để không bị sai trật ở bất cứ chỗ nào.
II. SO SÁNH CÁC DANH TỪ KhẢI THỊ, SOI SÁNG VỚI DANH TỪ HÀ HƠI :
Trong Thần đạo, hai danh từ KHẢI THỊ và SOI SÁNG, nhiều lúc vẫn bị hiểu lẫn lộn với danh từ HÀ HƠI vào.
A) KHẢI THỊ.
Khải thị là việc Đức Chúa Trời mở cho con người thấy được những chân lý mà con người tự nhiên không thể hiểu được.
B) SOI SÁNG.
Đức Chúa Trời soi dẫn cho con người có thể hiểu được lẽ thật đã được Ngài khải thị. Như vậy sự soi sáng không phải là bày tỏ chân lý mới nhưng chỉ nhằm mục đích giúp hiểu những chân lý đã có.
LuLc 24:32-45 “ … khi nãy đi đường Ngài nói cùng và cắt nghĩa Kinh thánh cho chúng ta lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao ? … Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh thánh ”.
Khi so sánh 3 danh từ HÀ HƠI VÀO, KHẢI THỊ, SOI SÁNG chúng ta có thể hiểu như sau : Mọi lời chép trong Kinh thánh đều được Đức Chúa Trời hà hơi vào. Dầu vậy không phải tất cả mọi chi tiết trong Kinh thánh đều là sự khải thị. Vì có nhiều điều trong Kinh thánh loài người đã được biết rồi. Những điều trong Kinh Thánh đã được khải thị và hà hơi vào nhưng không phải tất cả mọi trường hợp trước giả được soi sáng để hiểu được ý nghĩa sâu nhiệm được chứa đựng trong đó.
Thí du :
1. Trong Luca và Công vụ các sứ đồ có sự hà hơi vào nhưng không có sư khải thị. Vì những gì có trong 2 sách này là điều Luca đã được tai nghe và mắt thấy. Thánh Linh chỉ linh cảm và điều khiển tâm trí ông để viết ra cách chân thật và chính xác.
1:1-4 “Hỡi Thêôphilơ quí nhơn, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta. Vậy sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn ”
2. Trong Khải huyền chúng ta có sự hà hơi mà cũng có sự khải thị nữa, vì hầu hết những gì được ghi lại trong sách này đều là những lẽ thật mới, lý trí tự nhiên không tự tìm ra được .
KhKh 1:10, 11 “nhằm ngày của Chúa tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang như tiếng loa, rằng: Đều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách gởi cho 7 Hội thánh ”.
3. Các thơ tín của Phaolô đã được hà hơi, khải thị và soi sáng vì trước giả hiểu được ý nghĩa điều Thánh Linh cảm cho ông viết ra.
ICo1Cr 2:12 “Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời ”.
III. BẰNG CHỨNG VỀ SỰ HÀ HƠI :
Đức Chúa Trời đã khải thị chân lý cho loài người, nhưng Ngài không để mặc họ muốn ghi lại, thuật lại thế nào tùy ý. Ngài đã dùng Thánh Linh Ngài linh cảm cho những người nhận lãnh sự khải thị để họ có thể ghi lại mọi sự cách chính xác, không sai lầm.
A) NỘI CHỨNG
1. Nội chứng trực tiếp.
a. Đấng Christ làm chứng cho Cựu ước. Chính Chúa Jêsus Christ là con Đức Chúa Trời đã minh chứng cách rõ ràng Cựu ước là lời Đức Chúa Trời đã được hà hơi và có thẩm quyền. Ngài rất thường dùng câu “có lời chép rằng” để nêu lên thẩm quyền của Kinh thánh (Mat Mt 4:4, 7, 10; Mac Mc 14:27; LuLc 4:4, 8, 12) Ngài cũng khẳng định rằng bao lâu trời đất còn tồn tại thì bấy lâu một chấm một nét trong lời Kinh thánh cũng không qua đi được (Mat Mt 5:18).
b. Tân ước.
(1) Chúa Giê xu làm chứng . Trong thời Cựu ước Đức Chúa Trời đã kêu gọi và sai phái các vị tiên tri, dùng họ trong việc ghi nhận và truyền đạt lời của Ngài thể nào thì trong thời Tân ước Chúa Jêsus Christ , con Đức Chúa Trời Đấng bình đẳng với Cha ở trong mọi lãnh vực cũng làm điều này với các sứ đồ của Ngài. So sánh 28:19, 20; Cong Cv 1:8 với lời phán hứa của Chúa Đức Chúa Trời với Môise, Giêrêmi, Êxêchiên thì chúng ta thấy rằng Chúa Giê xu xem lời của các sứ đồ có quyền như lời các Đấng tiên tri ngày xưa.
Mat Mt 28:19, 20 ”Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi, và nầy Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế ” .
XuXh 4:12 “Đức Chúa Trời phán rằng Ta sẽ ở cùng miệng ngươi ”.
Gie Gr 1:7-8 “Đức Giê hô va phán…. vì Ta ở cùng ngươi ”.
Exe Ed 3:4 “Hỡi con người, hãy đến cùng nhà Ysơraên, đem những lời Ta thuật lại cho chúng nó ”.
EsIs 44:3 “ vì Ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ thần ta trên dòng dõi ngươi và phước lành Ta trên những kẻ ra từ ngươi ”.
Gio Ge 2:28 “sau đó Ta sẽ đổ thần ta trên cả loài xác thịt, con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri ”.
GiGa 14:26 “Nhưng Đấng Yên ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhơn danh Ta sai xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi ”.
15:26-27 “Khi nào Đấng Yên ủi sẽ đến là Đấng Ta sẽ bởi Cha sai xuống, tức là Thần lẽ thật ra từ Cha, ấy chính Ngài sẽ làm chứng về ta còn các ngươi cũng sẽ làm chứng về ta, vì các ngươi đã ở cùng Ta từ lúc ban đầu ”.
16:13 “Lúc nào Thần lẽ thật đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật, vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi đều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến ”.
So sánh các câu Kinh thánh chúng ta thấy rằng các lời của các sứ đồ cũng có sự hà hơi như lời của các tiên tri.
(2) Các sứ đồ làm chứng. Tất cả các sứ đồ là những người đã nhận lãnh được Thánh Linh, đã được Ngài hướng dẫn cách đầy đủ trong sự giảng dạy cũng như trong việc ký thuật lại những gì họ được dạy dỗ. Vì vậy những gì họ ký thuật đầu có giá trị và thẩm quyền như Cựu ước.
IICo 2Cr 10:13 :“Nhưng Đức Chúa Trời đã nhờ Thánh Linh bày tỏ những sự đó cho chúng ta … chúng ta cũng giảng dạy những sự ấy chẳng những bằng lời của sự khôn ngoan loài người dạy, bèn bằng lời của Thánh Linh dạy …”.
ICo1Cr 11:23 “Vả tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em …”.
14:36-38 “ Nếu ai tưởng mình là tiên tri, là được Đức Thánh Linh soi sáng, người ấy hãy biết rằng điều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa ”.
ITe1Tx 4:2, 8 “Anh em biết rõ chúng tôi đã bởi Đức Chúa Giê xu mà truyền cho anh em những điều răn nào … cho nên ai khinh bỏ điều chúng tôi nói thì không phải bỏ người ta đâu, bèn là khinh bỏ Đức Chúa Trời là Đấng đã ban Thánh Linh của Ngài trong anh em ”.
IIPhi 2Pr 1:21l; IITi 2Tm 3:16.
KhKh 22:6 “Bấy giờ Thiên sứ nói với tôi rằng: những lời này là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của Thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra ”.
Qua một số câu Kinh thánh trên, chúng ta thấy các sứ đồ nhận thức và phân biệt cách rõ ràng về sự hà hơi với ý tưởng riêng.
2. Nội chứng gián tiếp.
a. Đặc tính siêu nhiên của Kinh thánh làm chứng.
Tất cả những người nghiên cứu Kinh thánh đều thừa nhận rằng Kinh thánh am hiểu tâm linh loài người, xét đoán, phơi bày tội lỗi ngay cả những tội phạm sâu thẳm trong cõi tâm linh, hạ sự kiêu ngạo, bày tỏ bản tánh của Đức Chúa Trời, chỉ dẫn con người đến sự tha tội để nhận được Thiên đàng, an ủi khi hoạn nạn, giúp đỡ khi yếu đuối, giải cứu phút hấp hối. Kinh thánh đầy dẫy những ý nghĩa sâu xa, càng đọc càng sâu, càng học càng thấy mới, càng suy gẫm và làm theo thì linh hồn và đời sống càng được đổi mới. Tánh chất đặc biệt này của Kinh thánh cho thấy rằng những lời trong Kinh thánh phải đến từ Đức Chúa Trời.

b. Sự hiệp nhất của Kinh thánh làm chứng.
Kinh thánh gồm có nhiều sách, do nhiều trước giả thuộc nhiều thành phần xã hội, tri thức viết tại nhiều địa điểm khác nhau, dưới các thể chế xã hội khác nhau trong một thời gian vào khoảng 16 thế kỷ, nhưng 66 sách ấy đều chỉ có một đề mục, một tinh thần, một mục đích, một tôn chỉ như nhau. Người viết sách cuối cũng không hề có khác biệt gì với người đầu. Khi sắp xếp lại ta cả chúng ta có được một hệ thống thần học trọn vẹn. Sự hiệp nhất kỳ diệu của Kinh thánh cho thấy Kinh thánh chỉ có một tác giả duy nhất là Đức Chúa Trời.
B) NGOẠI CHỨNG
Trên phương diện ngoại chứng chúng ta có những chứng cớ sau đây góp phần làm chứng cho sự hà hơi của Đức Chúa Trời vào Kinh thánh :
1. Các phép la.
Các trước giả của Kinh thánh đều có tường thuật lại các phép lạ được thực hiện bởi các đấng tiên tri, Đấng Christ hay các sứ đồ. Phép lạ là một công việc hay biến động xảy ra quá trí hiểu và năng lực của con người hay nói cách khác, phép lạ là công việc của chính Đức Chúa Trời thực hiện trong thế giới loài người qua trung gian con người. Phép lạ cũng được xem là một hình thức Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho con người qua công việc, nên một việc ghi lại sự bày tò này hẳn cũng phải được sự cho phép và dẫn dắt của chính Thánh Linh Ngài.
w Cựu ước :
a) Mười phép lạ thực hiện tại Ai cập (XuXh 7:14-11:10).
b) Tuyệt diệt nhóm phản loạn Côrê (Dan Ds 16:1-50) .
c) Vượt qua sông Giô đanh (Gios Gs 3:14-17)
d) Thành Giêricô bị sụp đổ. (Gios Gs 6:6-20).
e) Êli và phép lạ tại núi Cạtmên (IVua 1V 18:17-40).
f) Naaman được chữa lành bệnh phung (IIVua 2V 5:10-27).
g) Sự phá hủy đạo quân Asiry (IIVua 2V 19:35).
h) Bóng lui 10 độ trên bàn trắc ảnh (IIVua 2V 20:8-10).
i) Ba bạn Hêbơrơ trong lò lửa hực (DaDn 3:20-27).
w Tân ước.
(a) Các phép lạ của Chúa Giê xu liên quan đến các lãnh vực trong cõi thiên nhiên ảnh hưởng trên phần thuộc linh và thuộc thể của con người.
Phung được sạch (Mat Mt 8:3)
Bại được đi (Mac Mc 2:1-11).
Mù được sáng (Mat Mt 20:29-34)
Điếc được nghe (Mac Mc 7:31-37).
Chết sống lại (GiGa 11:1-46).
Đuổi quỉ (Mac Mc 5:1-20).
Làm yên bão tố (Mac Mc 4:35-41).
Hóa bánh ra nhiều (Mac Mc 6:30-44)

(b) Các phép lạ được thực hiện bởi các sứ đồ.
Què được đi (Cong Cv 9:31-35; 14:8-18).
Chết sống lại (Cong Cv 9:36-43; 20:7-12).
2. Các lời tiên tri làm chứng.
Các lời tiên tri trong Kinh thánh được ứng nghinệm là một bằng chứng mạnh mẽ rằng thật Đức Chúa Trời có hà hơi vào Kinh thánh Tân Cựu ước. Chúng ta nêu lên một số lời tiên tri quan hệ liên quan đến lãnh vực này.
(a) Cựu ước :
Các tiên tri đã được linh cảm hóa nói về tương lai của dân Ysơraên, dân ngoại cũng như các lãnh vực có liên quan đến Đấng Christ. Khi dân Ysơraên đang còn hưng thạnh thì lời tiên tri để nói về sự bị lưu đày của họ cũng như sự quay về từ chốn lưu đày. Các lời tiên tri cũng nói về sự sụp đổ của những đế quốc đang hùng mạnh như Asyri, Babylôn trong lúc các đế quốc này đang ở trong giai đoạn cực thịnh và lúc lời tiên tri được công bố thì không có một dấu hiệu nào giúp các đấng tiên tri thấy được điều này cả.
Babylôn : EsIs 13:19-22; 14:22-23; Gie Gr 50:13, 39, 40
Ninive : NaNk 3:7; SoXp 2:13, 14.
Ai cập : Lời tiên tri cũng nói về Ai cập không bị tiêu diệt như hai đế quốc Babylôn và Asyri nhưng sẽ trở thành một nước bình thường không còn là một cường quốc nữa (Exe Ed 29:15).
Ysơraên tan lạc : trong Phục truyền 28 Môise đã cho thấy tương lai của dân Ysơraên sẽ bị tan lạc khắp cả mọi nơi trong thế giới, dầu rằng lúc bấy giờ chưa có một quốc gia của chính họ. Lời tiên tri này đã được ứng nghiệm cách chi tiết (Xem thêm PhuDnl 4:27; NeNe 1:8; Gie Gr 9:16; AmAm 7:9).
Đền thờ bị phá hủy : Gie Gr 29:9.
Đền thờ được lập lại : EsIs 44:28
Đền thờ lại bị phá hủy : DaDn 9:26.
Bàn thờ tại Bê tên bị vua Giôsia triệt hạ : IVua 1V 13:2
Thành Giêrusalem bị Babylôn triệt hạ : IIVua 2V 2:17.
Dân Do thái bị làm phu tù trong 70 năm : Gie Gr 29:10.
Dân Do thái được vua Siru cho về tổ quốc : EsIs 44:28.
Các lời tiên tri dự ngôn về Đấng Christ được ứng nghiệm : những lời dự ngôn về Đấng Christ đã được công bố trước tiên cho Ađam, sau đó cho Ápraham, Ysác, Giacốp hàng bao ngàn năm trước khi Ngài chính thức vào đời.
a. Ađam :“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ đạp đầu mầy còn mầy sẽ cắn gót chân người ” (SaSt 3:15).
b.Ápraham :“Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước ” (SaSt 22:18).
c. Ysác :“Ta sẽ thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, sẽ cho họ các xứ này ; hết thảy dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước ” (SaSt 26:4).
d. Giacốp :“Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến đông, tây, nam, bắc và các chi họ thế gian đều sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước ” (SaSt 28:14).
Lời tiên tri về sự chịu khổ và sự chết của Ngài : EsIs 53:1-12; Thi Tv 22:1, 14, 17, 18, 22.
3. Cơ đốc giáo bành trướng nhanh chóng.
Nghiên cứu lịch sử Hội thánh, chúng ta thấy chỉ trong một vài thế kỷ đạo Đấng Christ đã bành trướng, đã lan tràn và chiếm ưu thế trong thế giới văn minh. Có bao giờ chúng ta ngồi lại để suy nghĩ rằng : Tại sao hàng triệu, hàng tỉ người vẫn tôn thờ phục vụ một người xuất thân từ vùng đất không mấy ai quan tâm đến trong xứ Do thái, một người bị chính dân mình ghét bỏ, loại trừ bằng cách đóng đinh trên thập tự giá như một tên tội phạm. Tại sao mọi nơi trên thế giới, trong một thời đại văn minh như thế này vẫn có nhiều người sẵn sàng hy sinh. Chịu khổ ngay cả vui lòng chấp nhận sự chết để nói cho mọi người biết về cuộc đời, về sự chết và sống lại của Người? Tại sao chỉ với 12 sứ đồ, bị xem là những người rất tầm thường lại có thể làm cho cả đế quốc La mã kiêu căng, ngạo mạn phải cúi đầu qui phục Người mà cách đó vài trăm năm chính họ đã quyết định đóng đinh vào thập tự giá. Tại sao trong suốt quãng thời gian gần 300 năm cả quyền lực của các nhà tôn giáo lẫn thế quyền Do thái cùng với sự cuồng giận của cả đế quốc Lamã đã quyết định bóp chết Cơ đốc giáo ngay từ lúc còn sơ sinh nhưng vẫn không có khả năng bóp chết được ? Điều này há chẳng phải ấy chính là con Đức Chúa Trời đã mang lấy hình người ? Há không phải lời nói và công việc của môn đệ Ngài do chính Thánh Linh của Đức Chúa Trời hướng dẫn và điều động ?.
4. Sự thực hữu của Hội thánh làm chứng.
Cho đến ngày nay Cơ Đốc Giáo Hội của người người mang tên Đấng Christ đã hiện diện ở khắp nơi. Dù khác màu da, ngôn ngữ, phong tục tập quán nhưng tất cả đều thờ chung một Chúa là Jêsus Christ, tôn xưng Ngài là con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của thế gian. Hội thánh này nảy sinh từ đâu ? Từ sự nghe và làm theo những điều đã được ghi chép trong Kinh thánh. Thiếu Kinh thánh thì Hội thánh không thể phát triển cũng như khó có thể tồn tại được. Như vậy sự hiện hữu của Hội thánh Cơ Đốc ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cho thấy Kinh thánh là Lời đã được chính Đức Chúa Trời hà hơi, được Thánh Linh hướng dẫn cách trọn vẹn.
5. Từng trải của tín đồ làm chứng.
Tất cả những người tiếp nhận Chúa cách chân thành đều làm chứng cách mạnh mẽ rằng họ đã được giải cứu khỏi tội lỗi cách lạ lùng qua sự hướng dẫn của Kinh thánh. Nhiều người đã được cứu chỉ bởi một câu Kinh thánh tình cờ tìm được. Nhiều đời sống gian ác bất trị nhưng đã được cứu và biến đổi bởi lời Kinh thánh. Một người đi bán Kinh thánh của Thánh kinh hội một lần kia đi qua một khu rừng rậm đã bị một băng cướp chận lại và cướp sạch những gì ông mang theo. Một thời gian khá lâu sau đó ông đến nhóm tại một Hội thánh cách xa nơi ông ở trong một chuyến công tác. Sau giờ nhóm vị Mục sư sở tại đến bắt tay ông và hỏi :“Ông có nhớ tôi không ? Nhân viên Thánh kinh hội nói ông hoàn toàn không biết. Vị Mục sư sở tại cho biết ông là người cầm đầu băng cướp, cướp đồ đồ đạc của ông năm nào. Khi đem của cướp về thấy không có gì dùng được, bọn cướp tức tối đem đốt hết, dầu vậy ông đã giữ lại cho mình mộtt cuốn Kinh thánh và chăm chỉ đọc. Lời Chúa đã đánh mạnh vào lòng ông và ông đã quyết định rời băng cướp ra đầu thú với nhà chức trách chịu án pháp luật, sau đó trở về xin đi học trường Kinh thánh và đã trở nên một Mục sư.
6. Sự bảo tồn của Kinh thánh làm chứng.
Kinh thánh còn tồn tại đến ngày nay từ nó đã là một phép lạ. Trải qua nhiều thời đại, Kinh thánh vẫn là mục tiêu cho rất nhiều cuộc bắt bớ dữ dội nhằm loại trừ quyển sách này ra khỏi thế giới loài người. Sự bắt bớ được thực hiện dưới nhiều dạng, nhưng không một sức mạnh nào tiêu diệt được, ngay cả cả lúc Kinh thánh còn là một quyển sách được viết bằng tay trên các cuộn giấy da, hoặc trên loại giấy chỉ thảo thô sơ. Điều này cho thấy chính Đức Chúa Trời bảo vệ lời Ngài.
IV. PHƯƠNG THỨC HÀ HƠI:
Chúng ta thật không thể hiểu hết được các phương thức Đức Chúa Trời hà hơi vào Kinh thánh, nhưng căn cứ vào Kinh thánh chúng ta có thể nêu lên 3 phương thức.
MẶC THỊ. Trước giả Kinh thánh đã chép lại những gì mà trí óc tự nhiên của họ không thể hiểu được, có thể không hiểu được ý nữa (SaSt 1:1-31; Thi Tv 22:1-31; EsIs 7:14, 53; IPhi 1Pr 1:10-12).
B) HIỂN THỊ. Trước giả đột nhiên biết được một sự mà bình sanh họ không thể biết hoặc hiểu ý nghĩa được.
DaDn 12:8 “Ta, Đaniên nghe những điều đó nhưng ta không hiểu. Và ta nói rằng:Lạy Chúa tôi, cuối cùng các sự này sẽ ra thế nào ?”.
C) LINH CẢM. Thánh Linh thúc giục lòng trước giả để viết lên những điều thích hiệp với ý Đức Chúa Trời, đúng theo lời Ngài (GiGa 16:12-15).
Hai câu Kinh thánh sau đây nói lên cách rõ ràng về phương cách Đức Chúa Trời hà hơi vào Kinh thánh :
IITi 2Tm 3:16 “Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình ”.
Từ “Theopneustos” :“ được Đức Chúa Trời hà hơi vào” có nghĩa là Đức Chúa Trời dùng hơi sống của chính Ngài hà hơi vào các lời lẽ của Kinh thánh, chính Ngài chịu trách nhiệm về các lời đó.
IIPhi 2Pr 1:21 “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. ”
Từ “Pheromenoi” (cảm động) có nghĩa là “thúc giục” , “lay động” cho thấy những điều được viết ra trong Kinh thánh đều do sự thúc đẩy của Thánh Linh.
V. PHẠM VI CỦA SỰ HÀ HƠI VÀO :
Chúng ta đã khẳng định rằng cả Kinh thánh đều bởi do Đức Chúa Trời hà hơi vào, nhưng vấn đề được nêu lên là sự hà hơi này chỉ liên hệ đến ý nghĩa hay liên hệ đến cả những chữ được viết ra trong Kinh thánh ? Chúng ta phải nói rằng Kinh thánh có lời của Đức Chúa Trời như cách các nhóm tân phái đã nói, hay nói Kinh thánh là lời Đức Chúa Trời?
Chúng ta phải nói Kinh thánh là lời Đức Chúa Trời vì Ngài không những chỉ hà hơi trên ý nghĩa mà còn hà hơi vào cả văn tự nữa những chữ trước giả dùng để viết ra. Điều dễ hiểu là Đức Chúa Trời không thể bày tỏ cho con người những ý tưởng của Ngài nếu không dùng ngôn ngữ và chữ viết của loài người. Như vậy, nếu ý tưởng của Kinh thánh được hà hơi thì lời văn cũng được hà hơi. Thần học gọi sự hà hơi này là Sự Hà Hơi vào từng chữ.
A) Những câu kinh thánh làm chứng cho cựu ước.
1. Trường hợp Balaam. Chính Balaam, vị tiên tri ngoại giáo này đi đến với vua Môáp định dùng pháp thuật của mình để rủa sả dân Ysơraên cũng đã bị Đức Chúa Trời ràng buộc phải nói những lời thuận ý chỉ và đường lối Ngài. Balaam đã phải thốt lên với Balác người thúc giục ông rủa sả dân Ysơraên như vầy :“Nầy tôi đã đến cùng vua, bây giờ tôi há có thể nói ra lời gì chăng? Tôi sẽ nói ra điều chi Đức Giê hô va đặt trong miệng tôi vậy … Người đáp rằng: Tôi há không nên cẩn thận nói đều Đức Giê hô va đặt vào miệng tôi sao ?” (Dan Ds 22:38; 23:12). Qua những câu Kinh thánh này chúng ta thấy một người cương quyết làm theo ý riêng mình như Balaam cũng có thể nói lên ý tưởng của Đức Chúa Trời theo ý riêng mình, nhưng các lời nói hoàn toàn được hướng dẫn, chấp thuận bởi Đức Chúa Trời.
2. Trường hợp Môise. Trong XuXh 4:10-12 cho thấy khi Môise muốn tránh trút công tác Đức Chúa Trời giao cho để quay về giải phóng dân sự mình đang bị nô lệ bằng cách biện bạch rằng ông không có tài ăn nói, miệng lưỡi ngập ngừng thì chính Chúa nói rõ cho ông ý này : Ta sai ngươi đi không phải để ngươi muốn nói gì thì nói, nếu vậy thì ngươi có thể nói tôi không biết nói gì được, nhưng ta sai ngươi đi với mục đích nói lên những gì ta truyền dạy cho ngươi phải nói. Đức Chúa Trời phán :“có phải Ta là Đức Giê hô va chăng? Vậy bây giờ, hãy đi, Ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói ”.
Trong kinh nghiệm dẫn dắt dân Ysơraên trong đồng vắng, Môise đã hiểu được điều này rất nhiều. Chính Môise đã thường xuyên chia sẻ với dân sự về điều này.
Dan Ds 17:1, 2 “Đức Giê hô va phán cùng Môise rằng: Hãy nói cùng dân Ysơraên và biểu rằng … ”.
PhuDnl 4:2 “Các ngươi chớ thêm chi và đừng bớt chi về điều ta truyền cho, để giữ theo các điều răn của Giê hô va Đức Chúa Trời các ngươi mà ta đã truyền ”.
PhuDnl 6:1 “Vả, nầy là điều răn, luật lệ và mạng lịnh mà Giê hô va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán dặn ta dạy lại cho, để các ngươi làm theo nó trong xứ mà các ngươi sẽ đi vào nhận lấy ”.
PhuDnl 29:1-29
3. Trường hợp Giôsue. Trường hợp Giôsuê đã được Đức Chúa Trời hứa sẽ ở cùng như Ngài đã ở cùng Môise. Điều này cũng có nghĩa là những gì Giôsuê truyền đạt lại cho dân Ysơraên đều được Đức Chúa Trời hướng dẫn, chỉ bảo. Thêm vào đó Ngài cũng xác định với Giôsuê về những gì Môise đã ghi lại được gọi là sách luật pháp, là lời của chính Ngài đã truyền cho Môise. Vì vậy Giôsuê, người lãnh đạo dân sự có bổn phận phải suy gẫm, nghiên cứu , học hỏi ngày và đêm và phải làn theo những lời đó cách nghiêm túc như là mạng lịnh trực tiếp của Đức Chúa Trời vậy. Qua ý này chúng ta thấy lời được ghi lại đã được hà hơi cả về ý tưởng lẫn lời văn (Gios Gs 1:1, 5,8).
4. Trường hợp của Đavít. IISa 2Sm 23:2 “Thần của Đức Giê hô va đã cậy miệng ta mà phán và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta ”.
5. Trường hợp Salômôn. ChCn 30:5,6 “Các lời của Đức Chúa Trời đều đã thét luyện; Ngài là cái thuẫn đỡ cho người nương cậy nơi Ngài. Chớ thêm chi vào các lời Ngài. E Ngài quở trách ngươi và ngươi bị cầm nói dối chăng ?”.
6. Trường hợp Giêrêmi. Gie Gr 1:7-9 “Nhưng Đức Giê hô va lại phán: Chớ nói: Tôi là con trẻ; vì ngươi sẽ đi khắp nơi nào ta sai ngươi đi, và sẽ nói mọi đều ta đã truyền cho nói. Đừng sợ vì có chúng nó, vì ta ở với ngươi đặng giải cứu ngươi, Đức Giê hô va phán vậy. Đoạn Giê hô va giang tay rờ miệng tôi. Đức Giê hô va lại phán cùng tôi rằng : Nầy ta đã đặt những lời ta trong miệng ngươi ”.
Tại đây một lần nữa lời của tiên tri Giêrêmi đã xác nhận rằng những gì Đức Chúa Trời muốn ông truyền đạt không phải là ý nghĩa không mà thôi nhưng còn cả lời văn nữa.
Gie Gr 30:1, 2 “Có lời Đức Giê hô va phán cùng Giêrêm rằng: Giê hô va, Đức Chúa Trời của Ysơraên, phán như vầy: hãy chép mọi lời ta đã phán cùng ngươi vào trong sách ” (Xem thêm 36:1, 2, 4, 11, 27).
7. Trường hợp Êxêchiên. Exe Ed 2:7 “Vậy ngươi khá đem lời ta nói cùng chúng nó, dầu nghe, dầu chẳng khứng nghe vì chúng nó rất là bạn nghịch ”.
B) Những câu kinh thánh làm chứng cho tân ước.
1. Trường hợp Phaolô.
w ICo1Cr 2:13 “Chúng tôi nói về ơn đó không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng ”.
w 14:37 “Nếu ai tưởng mình là tiên tri hay là được Đức Thánh Linh soi sáng thì người ấyhãy biết rằng đều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa ”.
2. Trường hợp Phierơ.
w IIPhi 2Pr 1:20, 21 “Trước hết phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta nói bởi Đức Chúa Trời ”.
w 3:1, 2 “Hỡi kẻ rất yêu dấu, này là thơ thứ hai tôi viết cho anh em. Trong thơ này và thơ kia, tôi tìm cách làm cho nhớ lại để giục lòng lành trong anh em, hầu cho ghi lấy lời nói của các thánh tiên tri cùng mạng lịnh của Chúa và Cứu Chúa chúng ta đã cậy các sứ đồ của anh em mà truyền lại ”.
3. Trường hợp Chúa Giê xu.
w Mat Mt 10:20 “Ay chẳng phải tự các ngươi nói đâu, song là Thánh Linh của Cha các ngươi từ trong các ngươi nói ra ”.
(Xem thêm Mac Mc 13:11; LuLc 12:12; 24:14-15; KhKh 2:7).
VI. CÁC LÝ THUYẾT CỦA SỰ HÀ HƠI VÀO :
Trong lãnh vực Hà Hơi Vào càc nhà thần đạo đã nêu lên 4 ý kiến khác nhau.
A/ Trực giác thuyết.
1. Trình bày thuyết . Việc Đức Chúa Trời hà hơi vào Kinh thánh không phải là một việc siêu nhiên, nhưng đó chỉ là do sự hiểu biết lẽ thật bởi lý trí tự nhiên. Khả năng này có trong mỗi người, chỉ khác nhau về mức độ nhiều hay ít, hơn hay kém cũng như trong các lãnh vực khác nhau. Thí dụ : người hiểu về khoa học thì viết về khoa học, người hiểu về xã hội thì viết về xã hội, còn các trước giả Kinh thánh là những người giỏi về tôn giáo, luân lý đạo đức hơn người nên có đủ khả năng để chép sách vở tôn giáo gọi là Kinh thánh.
2. Các điểm sai lầm của thuyết.
(a) Loài người thật có một trình độ hiểu nhiều điều về cõi thiên nhiên, nhưng điều này không có nghĩa là con người có thể hiểu hết các lẽ thật thuộc linh đâu vì tội lỗi đã làm hư hại quan năng hiểu biết trong lãnh vực thuộc linh khiến con người không thể hiểu đúng được. Nếu không có Đức Chúa Trời khải thị, giúp đỡ, chỉ dẫn cho họ các lẽ thật đó cách siêu nhiên thì làm sao họ có thể hiểu được ? (ICo1Cr 2:10, 14).
(b) Nếu bản tánh tự nhiên của con người là nguồn phát sinh ra các chân lý thì điều này chắc chắn phải đưa đến một sự xáo trộn, rối loạn trong thế giới tôn giáo. Vì các luân lý sẽ đối kháng nhau, thuyết này đi ngược lại thuyết khác làm sao con người có thể tìm biết đâu là chân lý cứu rỗi để tìm đến và được cứu. Mahomed và kinh Koran thì khuyên phải ra công gắng sức mới được cứu. Kinh Vedas của một tôn giáo ở Ấn độ cho phép ăn trộm, phạm tội tà dâm. Còn các trước giả Kinh thánh thì quyết rằng Giê hô va là Đức Chúa Trời và con người chỉ được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Giê xu Christ (5 anh mù xem voi) Ai đúng ? Chỉ có những con người đã được chính Đức Chúa Trời mở mắt mới có thể hiểu được, chỉ có những người được Đức Chúa Trời mở tai mới có thể nghe rõ được và chỉ có những con người được Đức Chúa Trời mở trí mới có thể viết theo điều Ngài chỉ dạy được.
( c) Thuyết này lầm lẫn chân lý Đạo với ý riêng của con người. Điều này dẫn đến chỗ thế giới này đầy dẫy những CÁI GỌI LÀ LẼ THẬT đến nỗi người ta không thể biết đâu là Lẽ thật nữa. Trong một lớp học, học sinh được ra một đề toán khó mà giáo viên chưa bao giờ giảng ở tại lớp cả. Mỗi học sinh làm mỗi cách ai nấy đều cho mình là đúng. Nhưng cuối cùng khi chấm bài thì chỉ có một em đúng thôi. Lý do là em ấy được bố là chuyên gia toán học chỉ dẫn từng ly từng tí ở nhà trước, bây giờ em chỉ ghi lại những gì em đã được hướng dẫn.
(d) Thuyết này nếu suy ra cho cùng thì nó không phải dạy lẽ thật mà nó còn chối lẽ thật nữa, vì nó cho rằng tâm trí của con người đã bước lên vị trí của Đức Chúa Trời.
(e) Thuyết này không giải thích được gì về sự hà hơi vào của Đức Chúa Trời, mà còn gián tiếp chối bỏ Đức Chúa Trời.
B/ Trực giác thuyết :
1. Trình bày thuyết.
Theo thuyết này thì sự Hà Hơi Vào Kinh thánh có nghĩa là Đức Chúa Trời soi sáng lòng dạ, trí năng con người - các trước giả Kinh thánh giúp họ có sự khôn ngoan, thông sáng để hiểu rõ các lẽ đạo thuộc linh hơn. Sự soi sáng này cũng giống như sự soi sáng cho mọi người khác, có khác chăng chỉ khác về mức độ soi sáng thôi. Những người chủ trương thuyết này cũng nhấn mạnh rằng Kinh thánh có lời của Đức Chúa Trời chớ không phải cả Kinh thánh là lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chỉ hà hơi vào quan niệm, ý tưởng của lời ấy thôi chớ không hà hơi vào lời văn họ viết. Họ cũng nhấn mạnh rằng sự soi sáng của Đức Chúa Trời chỉ giúp thêm khả năng cho trước giả Kinh thánh để họ trình bày những chân lý họ đã biết rồi chớ không phải ban cho họ hiểu biết lẽ thật mới mà bản năng tự nhiên của họ không thể hiểu nổi.
2. Các điểm sai lầm của thuyết.
(a) Theo đều chúng ta đã học hỏi thì sự soi sáng của Chúa không phải là khải thị một lẽ thật mới, chỉ soi sáng cho con người hiểu rõ về một chân lý đã được bày tỏ rồi. Đối với các trước giả Kinh thánh thì vấn đề then chốt là phải được Đức Chúa Trời hà hơi vào để có thể nhận được những lẽ thật mới và ghi lại cách không sai trật.
(b) Nếu lý thuyết này đúng thì tín đồ nào cũng có thể viết Kinh thánh mới, hoặc thêm những sách mới vào bộ Kinh thánh đã có sẵn.
(c ) Theo thuyết này thì chưa thể có được một điển pháp nào để đoán định đâu là lẽ thật, đâu là giả. Nếu vậy, cần phải có một sự khải thị mới nữa để có thể đoán định những gì đã được viết ra để có thể biết được đâu là đúng, đâu là sai.
(d) Trường hợp nếu loài người chưa nhận được sự khải thị thứ hai để phân biệt sự chân giả trong Kinh thánh thì con người phải quyết định bằng lý trí điều nào trong Kinh thánh cần phải noi theo, điều nào nên bỏ. Điều đó chỉ làm cho Kinh thánh trở nên một sản phẩm của lý trí.
C/ Khẩu thụ thuyết (Mechanical or dictation Theory) .
1. Trình bày thuyết.
Thuyết này cho rằng các trước giả Kinh thánh chỉ là những viên thư ký, một bộ máy thụ động được Ngài dùng để chép lại từng chữ, từng tiếng của Ngài. Họ cho rằng khi họ được mặc cảm bởi Đức Thánh Linh để nhận được sự khải thị của Đức Chúa Trời thì các trước giả không còn có một sự tự do hoặc khả năng nào của riêng mình, chỉ biết ghi lại lời của Đức Chúa Trời như một cái máy mà thôi. Theo thuyết này, các trước giả của Kinh thánh chỉ là những cái máy vô tri, chép lại Lời Đức Chúa Trời cách máy móc như viết chính tả.
2. Những điểm sai lầm.
Qua Kinh thánh, chúng ta có thể thấy những lúc Đức Chúa Trời dùng tiếng loài người truyền cho các trước giả Kinh thánh chép lại lời của Ngài (Dan Ds 7:89 “Khi Môise vào hội mạc để hầu chuyện cùng Đức Giê hô va thì người nghe Tiếng nói cùng mình … người hầu chuyện cùng Đức Giê hô va ”. 10:10, 11 “Bấy giờ có một bàn tay rờ đến ta, khiến ta dậy … đoạn người đó nói cùng ta …”).
Chúng ta đồng ý có những chỗ các trước giả dường như chỉ chép lại lời Đức Chúa Trời đúng từng chữ, từng tiếng như Ngài phán. Dầu vậy, đây không phải là phương cách duy nhất được dùng. Đức Chúa Trời còn dùng nhiều phương cách thích hiệp với sự tự do của trước giả.
Thí dụ trường hợp Giêrêm (Gie Gr 36:1-4). Tại đây chúng ta thấy rất rõ về phương cách Giêrêm chép lại lời Đức Chúa Trời không phải do phương cách chính tả mất tự do cá nhân.
(b) Thuyết này không quan tâm đến lãnh vực nhân tánh được thể hiện cách rõ ràng trong Kinh thánh. Cũng không thể giải thích được tại sao lối văn và cách viết văn của trước giả này khác với lối văn của trước giả khác . Nếu họ cho rằng viết lại theo như cách viết chính tả thì chắc chắn lời văn và cách viết văn phải cùng một khuôn mẫu.
Chỉ cần nghiên cứu nội dung của Kinh thánh, chúng ta cũng thấy được cách rõ ràng họ được sự tự do thuật trong sự hướng dẫn trọn vẹn của Thánh Linh chớ không phải bằng hành động như cái máy. Cách ghi lại diễn tiến trong cuộc đời Chúa Giê xu do 4 trước giả ghi lại cho thấy rõ điều này.
- Mathiơ : “Người này là Jêsus, Vua dân Giuđa ” (Mat Mt 27:37).
- Mác : “Vua dân Giuđa ” (Mac Mc 15:26)
- Luca : “Người này là Vua dân Giuđa ” (LuLc 23:38)
- Giăng : “Jêsus, người Naxarét là Vua dân Giuđa ” (GiGa 19:19).
Dĩ nhiên tấm bảng đặt trên đầu thập tự giá của Chúa Giê xu là một, nhưng bốn trước giả đã trình bày theo 4 cách khác nhau, nhưng nội dung hoàn toàn không có gì sai trật.
D/ Thần động lực thuyết.
Thuyết này dạy rằng sự việc Đức Chúa Trời hà hơi vào Kinh thánh không phát xuất từ trí năng thiên nhiên của con người mà ra (như trực giác thuyết), mà là công việc siêu nhiên bởi quyền phép của Thánh Linh trực tiếp cảm động tâm trí các trước giả Kinh thánh, thúc giục họ biến thuật theo ý chỉ của Ngài, nhưng không hề phá hủy sự tự do của họ.
Thần động lực thuyết cũng dạy rằng chính Đức Chúa Trời hà hơi vào Kinh thánh là quyền năng của Thánh Linh Ngài hành động cách đặc biệt trong con người khiến họ có thể nhận lãnh và ghi lại các lẽ thật cách không sai lầm.
Thuyết này cũng quả quyết rằng Đức Chúa Trời không những hà hơi vào trước giả nhưng còn hà hơi vào những lời lẽ họ ghi chép lại để những lời ấy có giá trị là Lời Đức Chúa Trời.
Thuyết này cũng chủ trương rằng mặc dầu Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt và kiểm soát con người cách trọn vẹn, nhưng không bao giờ lấy mất sự tự do của họ để trở nên như một cái máy.
QUYỀN TUYỆT ĐỐI CỦA KINH THÁNH
Trong vòng những người xưng mình là Cơ đốc nhân có 3 ý kiến khác nhau về quyền tuyệt đối của Cơ đốc Giáo.
1. Giáo hội cầm quyền.
2. Lý trí cầm quyền.
3. Kinh thánh là nguồn của quyền ấy.
I. GIÁO HỘI CẦM QUYỀN .
Giáo hội Công giáo Lamã quả quyết rằng Giáo hội có quyền tuyệt đố trên lòng tín ngưỡng và các hành vi của tín đồ. Bất cứ một ai muốn được cứu rỗi đều phải tuyệt đối vâng phục các luật lệ của Giáo hội cùng các phẩm trật trong Giáo hội.
II. LÝ TRÍ CẦM QUYỀN :
Những người để xướng thuyết này cho rằng những điều gì ở trong Kinh thánh hay trong cõi thiên nhiên được lý trí hiểu cách tường tận mới có đủ thẩm quyền để chúng ta tin nhận hoặc tuân theo. Những gì lý trí không hiểu rõ được thì không có giá trị, chẳng đáng tin cậy hay bỏ đi cũng được. Như vậy thuyết này đã đưa lý trí lên vị trí xét đoán Kinh thánh và qua đó xét đoán cả Đức Chúa Trời là Tác giả của sách đó.
Dầu họ lý luận thế nào thì qua lời Kinh thánh chúng ta cũng có thể thấy rằng không có một con người nào ở bất cứ thời đại nào có thể xét đoán Kinh thánh mà chính là Kinh thánh xét đoán con người.
Kinh thánh cho biết con người dù về mặt trần gian có là ai đi nữa thì vẫn không thể hiểu được những sự thuộc về Đức Chúa Trời.
ICo1Cr 2:14 “Vả người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời bởi chưng người đó coi sự ấy như là dồ dại và không thể hiểu được vì phải xem xét cách thiêng liêng ”.
Mặt khác Kinh thánh có tác dụng dò xét và phán đoán con người cách tinh tế.
HeDt 4:12, 13 “Vì Lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến nỗi chia hồn, linh, cột, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mặt Đấng mà chúng ta phải thưa lại ”.
III. KINH THÁNH CẦM QUYỀN TUYỆT ĐỐI :
Giáo hội Cải chánh quả quyết rằng Kinh thánh có thẩm quyền tuyệt đối trong Giáo hội. Kinh thánh là sách có thẩm quyền về lẽ đạo, đạo đức, Giáo hội phải tuân theo. Nếu trong Giáo hội có đều gì tranh luận về lẽ đạo hay đạo đức thì phải dựa vào Kinh thánh để đoán định mới thích hiệp.


NHẬP ĐỀ
Trải qua suốt lịch sử loài người, bao nhiêu con người đủ mọi thành phần, tầng lớp trên mặt đất đã từng cố gắng tìm hiểu giải thích một số vấn đề vô cùng quan trọng : Đức Chúa Trời có thực hữu không ? Những người thuộc :
(1) nhóm vô thần và duy vật thì quả quyết rằng Đức Chúa Trời không thực hữu. Tất cả mọi sự trong vũ trụ đều tự nhiên mà có việc tin rằng có một Đấng chủ tể trời đất là dị đoan, không thích hiệp với thế giới văn minh.
(2) nhóm hoài nghi thì lý luận rằng chúng ta không biết cũng chẳng có thể biết được có Đức Chúa Trời không ?
Đứng trước vấn đề trọng đại này, Cơ đốc nhân chúng ta thật hết sức mong mỏi được biết :
1/ Đức Chúa Trời có thực sự thực hữu không ?
2/ Bản tính, công việc của Ngài thế nào ?
3/ Ngài có liên quan gì đến thế giới loài người không ?
Đây là một vấn đề có liên quan đến sự cứu rỗi của chúng ta cả trong hiện tại và tương lai. Đây là căn bản niềm tin của mỗi chúng ta nên cần tìm hiểu cách chu đáo.
I. NGUỒN GỐC LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI
Nghiên cứu qua về các dân tộc trên thế giới loài người dù văn minh hay dã man chúng ta đều thấy họ thờ một đấng cao cả nào đó. thế thì tấm lòng ấy đến từ đâu ? Một sô lý thuyết được nêu lên để giải đáp câu hỏi.
A) Tổ tiên di truyền.
Một số người cho rằng từ thuở xa xưa Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho tổ tiên loài người biết về Ngài và ban cho họ lòng kính thờ Ngài, từ đó lòng kính thờ này được truyền cho hậu tự. Sự truyền tụng này lần lần bị mai một và lệch lạc với thời gian.
Chúng ta thấy thuyết này không có chỗ dựa vì theo các truyện cổ của các dân tộc thì chúng ta thấy nguồn gốc của muôn vật mang nhiều tánh chất thần thoại và vị chủ tể của muôn vật có nhiều tánh chất không làm cho chúng ta tôn thờ được.
B) Bởi sự suy nghĩ lý luận.
Con người bé nhỏ đứng trước sự vĩ đại của thiên nhiên, sự xoay vần của các tinh tú, thời tiết, thiên tai khiến con người phải suy nghĩ về nguồn gốc của những sự việc này. Từ chỗ suy nghĩ dẫn đến sự suy luận rằng phải có một Đấng tạo dựng và điều động cõi thiên nhiên này, Đấng đáng cho chúng ta kính thờ.
Lòng kính thờ Đức Chúa Trời là một sự rất tự nhiên chớ không phải phát sinh từ lý luận. Trong cảnh cùng cục, con người kêu trời mà không cần chút lý luận nào hết. Lòng tin tưởng nơi Đức Chúa Trời ở những người bình thường mạnh hơn ở nhà lý luận hay. tư tưởng .
C) Bởi sự khải thị.
Một số người khác cho rằng lòng kính thờ Đức Chúa Trời phát sinh từ sự khải thị trong Kinh thánh. Vì nếu không có sự khải thị ngoài loài người thì loài người không thể tự nhiên phát sinh tư tưởng tôn giáo.
Thuyết này cũng không thể đứng vững vì những trước giả đã có lòng kính sợ Đức Chúa Trời trước khi họ nhận được sư khải thị, hay nói cách khác lòng kính thờ Đức Chúa Trời là căn bản đưa dẫn sự khải thị của Đức Chúa Trời.
D) Bởi nguyên tri.
Sự kính sợ Đức Chúa Trời là bản tánh thiên phú của loài người. Lòng kính thờ này phát sinh cách hết sức tự nhiên trong mỗi con người giống như trực giác. Bản tánh tự nhiên của con người khiến họ kêu trời trong những hoàn cảnh khó khăn, dù họ thuộc tôn giáo nào, ý thức hệ nào cũng vậy. Thần học gọi sự hiểu biết cách tự nhiên này là nguyên tri.
1. Định nghĩa :
Nguyên tri là những gì con người tự nhiên biết được không do ai dạy cả. Nguyên tri không phải là một tri thức chúng ta có - hoặc nhận được từ lúc lọt lòng mẹ, cũng không phải bởi kinh nghiệm và từng trãi mà ra nhưng đã sẵn tiềm tàng nơi tâm linh từ lúc được dựng nên, dầu sự ra khỏi lòng mẹ và sự từng trãi cũng góp phần rất quan trọng trong việc thể hiện nguyên tri.
Thí du : những cây lúc mọc lên ở ngoài đồng không phải từ đất mà ra, mà là từ hạt giống; dầu vậy đất đã tạo điều kiện để những hạt giống đó mọc ra bên ngoài để chúng ta có thể thấy được.
2. Tiêu chuẩn chứng nghiệm nguyên tri.
Câu hỏi được đặt ra : Làm sao chúng ta biết được các lẽ thật gọi là nguyên tri là nguyên tri thật. Có 3 tiêu chuẩn đế chứng nghiệm :
(a) Nguyên tri là phổ thông. Dù chấp nhận hay không, dù hiểu được hay không, mọi người đều có nguyên tri. Chính lời nói, việc làm chúng ta cách tình cờ cho thấy rằng chúng ta có nguyên tri (Vật gì để cao thì đưa tay lên với, vật gì để thấp thì cúi xuống - đấy là điều chẳng ai dạy cả).
(b) Nguyên tri cần yếu. Nguyên tri là một yếu tố vô cùng cần thiết cho con người, nếu không có nó thì lý trí không thể nào suy luận ra được điều gì cả. Suy luận dù dưới bất cứ hình thức nào cũng phải dựa vào nguyên tri. Trên thế giới có đủ mọi loại nhà, từ những cái đơn sơ nhất cho đến cái vĩ đại nhất của tất cả mọi công trình xây dựng. Dầu vậy điều chúng ta biết rất rõ là bất cứ cái nền nào cũng phải dựa trên mặt đất để từ đó vươn lên tất cả. Chúng ta tạm ví mặt đất như là nguyên tri, suy luận, từng trải là cái nền để từ đó ngôi nhà tri thức của chúng ta được xây lên. Ngôi nhà tri thức hiểu biết của chúng ta đẹp đẽ, to lớn hay nhỏ bé, đơn sơ đó là tùy thuộc vào sự học hỏi từng trải, suy luận.
(c ) Nguyên tri độc lập và có trước mọi sự hiểu biết khác. Như đã nói ở trên, chúng ta có thể kết luận rằng nguyên tri là một yếu tố độc lập và có trước tất cả mọi sự hiểu biết khác, giống như mặt đất không lệ thuộc vào bất cứ ngôi nhà nào muốn hiện hữu thì phải lệ thuộc vào đất.
Như vậy dù trên trần gian này có nhiều người phủ nhận sự hiện hữu của nguyên tri nhưng không phải vì thế mànguyên tri không hiện hữu. Trong lịch sử loài người đã từng có những người bảo rằng chẳng có cái gì gọi là dưỡng khí cả. Nhưng trên thực tế sở dĩ họ có đủ khả năng để lý luận về vấn đề dưỡng khí này cũng là nhờ sự hiện hữu của dưỡng khí.
Như vậy lòng kính thờ Đức Chúa Trời của con người là một yếu tố tiềm tàng trong con người từ khi con người bắt đầu hiện hữu. Chúng ta có thể tạm xem nó như là một phần nào ảnh tượng của Đức Chúa Trời còn lại trong con người sau khi đã bị tội lỗi làm hư hỏng. Có nhà thần đạo ví ảnh tượng của Đức Chúa Trời trong con người như một tấm gương lớn. Khi con người chưa phạm tội thì qua con người hình ảnh Đức Chúa Trời được thể hiện cách rõ ràng, Nhưng sau khi phạm tội, tấm gương ấy bị tội lỗi làm cho vỡ nát, dầu vậy những mảnh vỡ đó đôi lúc cũng thể hiện được phần nào dù rất nhỏ hình ảnh của Chúa. Như vậy, lòng kính thờ Đức Chúa Trời không phải là sản phẩm của từng tải, tri thức hay bất cứ một suy luận nào mà có, nhưng là do nguyên tri.
II. CÁC BẰNG CHỨNG VỀ SỰ THỰC HỮU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
A/ Các Bằng chứng trong Kinh thánh.
Các trước giả Kinh thánh từ Sáng thế ký đến Khải huyền đều hoàn toàn không có một ý dụng nào tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng tất cả đều viết trong tinh thần, thái độ và tấm lòng tin một cách hoàn toàn vào sự hiện hữu của Ngài rồi. Giống như một người con nói lên những vấn đề liên quan đến cha mình một cách hết sức tự nhiên, không bao giờ cần hay có một ý tưởng phải chứng minh cha mình thực hữu cả và cũng có một niềm tin rằng tất cả mọi người khác cũng hiểu như mình. Ngay câu đầu của Kinh thánh đã bắt đầu ngay bằng công việc của Đức Chúa Trời :“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất ” (SaSt 1:1). Thánh Phaolô cũng viết với tinh thần và sự suy nghĩ rằng mọi người đều biết rõ sự thực hữu của Đức Chúa Trời (RoRm 1:19-20) “Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ đều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sớ như mắt xem thấy khi người ta xem xét công việc của Ngài ”.
Chính lẽ thật về sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã được Ngài đặt vào trong tâm linh của mỗi người, cho nên khi đứng trước sự phán xét của Ngài họ không thể chữa mình được (RoRm 1:20).
Với trước giả Thi Tv 14:1; 53:1 cũng hoàn toàn cho rằng sự thực hữu của Đức Chúa Trời là một việc rất hiển nhiên, chỉ có những ai thiếu sự khôn sáng mới thầm nghĩ rằng : không có Đức Chúa Trời.
“Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng chẳng có Đức Chúa Trời ”. Chữ “nói trong lòng” cho rằng sự thực hữu của Đức Chúa Trời quá rõ ràng nên họ không thể hoặc không dám thốt lên bằng lời rằng “không có Đức Chúa Trời”.
Tóm một lời Kinh thánh không có chỗ nào tìm cách chứng minh về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng cả Kinh thánh đều nói lên đầy đủ về sự hiện hữu của Ngài.
B) Các lý luận biện hộ cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời:
1. Tổng quát luận .
Bằng chứng này đưa ra lập luận về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời dựa trên niềm tin phổ thông về Đức Chúa Trời và bản năng tôn giáo phổ thông (universal religious insrinct). Chính các nhà khoa học đã nghiên cứu cách kỹ càng và thừa nhận rằng : tất cả mọi dân tộc, mọi bộ lạc trên thế giới đều tin vào những hiện hữu siêu nhiên. Thật vậy, nếu không có Đức Chúa Trời thì làm thế nào ý tưởng về Đức Chúa Trời lại phát sinh trong tâm trí loài người ? Có thể nào ý tưởng về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời phát sinh và tiến hóa dần từ căn bản không có Đức Chúa Trời ? Nếu không có gì hiện hữu ngoài ra vật chất và nếu những yếu tố vật chất đã hướng hầu hết mọi người tin vào một Đức Chúa Trời, như vậy thì các yếu tố vật chất phải rất là sai lầm và không đáng tin cậy được (vì Đức Chúa Trời là Đấng vượt ra ngoài vật chất).
2. Vũ trụ luận.(Cosmologic argument)
Đây là lập luận về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời dựa trên luật nhân quả. Theo nguyên lý này mỗi hậu quả hoặc biến cố đều có một nguyên nhân tương xứng. Thế giới chúng ta đang có đây chúng ta không thể nào phủ nhận sự hiện hữu của nó. Vũ trụ của chúng ta là một tập hợp của nhiều phần, mỗi phần bằng một hình thức hoặc một luật nào đó phải dựa vào nhau để tồn tại và hoạt động. Nếu tất cả các phần hữu hạn đều phải tùy thuộc vào nhau để tạo thành một tổng thể, cho dù tổng thể này có bao la vĩ đại vượt quá sự hiểu biết của con người đến mức độ nào đi nữa thì nó vẫn là một cái gì đó giới hạn và cần phải tùy thuộc vào một cái gì đó bên ngoài chính nó để tồn tại. Hơn thế nữa, vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ có một trật tự vô cùng khít khao, có thể gọi là tuyệt đối chớ không phải lộn xộn mất trật tự. Vì là một tổng thể giới hạn nên phải có một bắt đầu, nhưng vũ trụ không thể tự dựng nên chính nó vì vậy nó phải có một Đấng tạo dựng nên nó, nó phải dựa vào Đấng đó để tồn tại và hoạt động cách vô cùng trật tự Đấng đó chính là Đức Chúa Trời. Chỉ có một nguyên nhân tương xứng với vũ trụ bao la và trật tự này là một Đấng khôn ngoan vô hạn - đó là Đức Chúa Trời.
3. Mục đích luận.
Đây là lập luận về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời dựa trên những bằng chứng về sự cấu tạo, mục đích và sự thích nghi trong thế giới.
Dù sự hiểu biết của chúng ta có bị giới hạn đến đâu, đến mức độ nào đi chăng nữa thì vẫn có thể thấy được môt phần những gì được cấu tạo trong vũ trụ này đều có mục đích dành cho nó cả. Chúng ta thử nhìn vào ngay những cấu tạo trong con người chúng ta thì có thể thấy được điều này. Đôi mắt của chúng ta đã được cấu tạo đặc biệt với mục đích để tiếp thu ánh sánh, các mầu sắc và để hướng dẫn mọi chuyển động của chúng ta cách tốt đẹp. Tai cũng được cấu tạo cách đặc biệt để đón nhận các âm thanh, óc là bộ phận chỉ đạo, tim là một chiếc máy bơm, bơm máu của sự sống đi khắp cơ thể, phổi - bộ phận tiêu hóa, chân tay và tất cả các bộ phận khác, tất cả đều có chức năng riêng biệt và cùng hợp lực vì lợi ích chung của con người. Có ai có thể tin rằng tất cả những bộ phận này đều xuất hiện cách tình cờ ? Không tất cả đều có mục đích rõ ràng, và Kinh thánh cho biết rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên con người như vậy (SaSt 2:7).
Các định luật vật lý, các nguyên tố hóa học không phải ngẫu nhiên mà có, nhưng đã được Đấng Tạo Hóa đặt vào vũ trụ với những mục đích rõ ràng của nó - với nó bao nhiêu phát minh ích lợi đã được cống hiến cho con người. Các loài vật và bản năng của chúng cách kết cấu của mỏ và thức ăn của chim - trứng chim và nơi làm tổ của chúng.
Không khí để thở - mưa, nắng, gió là những yếu tố quan trọng đã làm cho sự sống được bảo tồn và tăng trưởng. Nước để uống và làm sạch .
Tất cả mọi vật đều được dựng nên với một mục đích rất rõ ràng cho dù có nhiều điều con người chưa khám phá ra được mục đích của nó (đối với trẻ con thì chiếc chìa khóa xe hơi hay xe máy là một thứ đồ chơi không giá trị, nhưng đối với những ai khám phá ra mục đích của chiếc chìa khóa đó đều thấy rằng nó rất quan trọng).
Nếu tất cả mọi vật trong vũ trụ đều có mục đích và thích nghi với mục đích đó thì chắc chắn phải có một trí óc khôn ngoan tuyệt đối và cấu tạo sắp xếp mọi vật đúng với mục đích của nó, và giúp cho nó thích ứng với môi trường để hoàn thành mục đích đã được giao phó cho nó - Đấng có trí óc khôn ngoan tuyệt đối này là Đức Chúa Trời.
4. Đạo đức luận.
Đây là lập luận về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời dựa trên bản chất đạo đức của con người và trật tự đạo đức của trần gian.
Con người là một hiện hữu đạo đức là điều không ai chối cãi, vì người phân biệt giữa phải và trái. Khi người làm điều phải thì lương tâm vui vẻ chấp nhận, khi làm điều trái thì lương tâm lên án (…)
Con người cũng được đặt trong môi trường thích hiệp với bản chất đạo đức của mình giúp người có cơ hội để chọn giữa phải và trái, để có thể phát huy và rèn luyện bản chất đạo đức của mình. Như vậy chúng ta thấy đạo đức tiềm ẩn trong con người không phải là kết quả của một diễn tiến hóa từ một căn nguyên không có đạo đức được. Vì vậy, căn nguyên của đạo đức trong thế gian, đặc biệt trong chính con người phải phát sinh từ một nguồn đạo đức, và nguồn đó chính là Đức Chúa Trời.
(Lương tâm là một cái gì rất thiêng liêng mà con người không thể dùng bất cứ một máy móc điện tử nào để chứng minh sự hiện hữu của nó được, tuy nhiên nó vẫn có đó, vẫn luôn luôn thi hành chức năng của nó trong con người, nơi nó đã được đặt để. Ngay cả đối với những người chúng ta gọi là lương tâm chai lì, thì không phải lương tâm thôi hoạt động mà là đã bị đàn áp và khắc phục bởi những quyết định của lý trí).
C) Phẩm vị của Đấng Christ làm chứng.
Lý luận này dựa vào chính Chúa Giê xu để minh chứng cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.
1. Đấng Christ và Kinh thánh.
Đấng Christ được xem là trọng tâm của Kinh thánh và cả Kinh thánh đều nhằm vào việc giải thích về phẩm vị và công việc của Ngài, khẳng định rằng Ngài là một Đấng siêu nhiên đến từ Đức Chúa Trời. Sự giáng sinh, công vụ, sự chết và sự sống lại của Ngài là một thực sự không thể chối cải được trong lịch sử loài người và hơn thế nữa. Kinh thánh là một ánh sáng không thể sai trật được. Nếu lịch sử đã thừa nhận sự hiện hữu của Chúa Giê xu Christ ở trong trần gian (tất cả con người đều mang trong người một bằng chứng rõ ràng về ngày sanh của Ngài). Nếu Kinh thánh là một sách không hề sai trật thì sự hiện hữu của Chúa Giê xu Christ chứng tỏ rõ ràng sư hiện hữu của Đức Chúa Trời là chắc chắn.
2. Phẩm vị và công vụ của Đấng Christ.
Xét về vị cách và công vụ của Đấng Christ cho thấy Ngài là một Đấng diệu kỳ trong hành đạo đức, cuộc sống thánh khiết, tấm lòng yêu thương nhân từ vượt hẳn trên mọi con người đã từng sống trên mặt đất. Công việc diệu kỳ của Ngài trong mọi lãnh vực bày tỏ quyền năng của Ngài là cao cả và những việc quyền năng này được thực hiện đều do lòng yêu thương đối với con người với mục tiêu giúp họ vượt qua khỏi mọi khó khăn nào đang mắc phải. Chính Đấng Christ đã xưng Ngài là con Đức Chúa Trời, Đấng mang hình ảnh của Cha cách trọn vẹn, đã xuống trần gian để bày tỏ Đức Chúa Trời cho con người (GiGa 3:18). Nếu sự tự xưng này không thật thì Ngài phải là một con người nói dối thậm tệ, một người lừa gạt con người. Nhưng xét về hành vi đạo đức, cuộc sống vô cùng thánh thiện, tình yêu cao cả của Ngài đối với con người, không một ai có thể nói Ngài là một người nói dối hay lừa gạt được cả. Ngay cả lúc con người tìm mọi cách để tố cáo Ngài, tìm cách hại Ngài thì vị quan tòa cầm cán cân công lý cũng phải tuyên bố rằng:“Ta không tìm thấy người có tội gì cả ” (LuLc 23:14; Mat Mt 27:24).
Như vậy, lời tự xưng của Ngài là con Đức Chúa Trời, đến từ Đức Chúa Trời là chân thật. Do đó Đức Chúa Trời là thực hữu.
D) Các lời dự ngôn được ứng nghiệm làm chứng .
Chúng ta biết rằng Kinh thánh được gọi là Lời của Đức Chúa Trời. Các lời tiên tri trong Kinh thánh được gọi là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời cho con người về những biến cố xảy ra trong tương lai rất xa, và càc lời tiên tri đó đã được ứng nghiệm một cách rất chính xác (xem phần các lời tiên tri làm chứng - phần Ngoại chứng của bài sự Hà Hơi Vào).
E) Sự từng trải của tín đồ .
Đời sống được biến đổi của tín đồ chứng tỏ sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Bao nhiêu con người đầy tội lỗi, sống cuộc sống gian ác, coi thường pháp luật và hình phạt, nhưng khi tin nhận Đức Chúa Trời thì cuộc sống được đổi mới, chuyển từ chỗ ham thích làm ác sang làm những việc tốt đẹp. Từ chỗ làm hại người đến chỗ tìm mọi cách giúp đỡ và đem sự cứu rỗi đến cho người. Những con người thật sự tin nhận Đức Chúa Trời thì luôn luôn cảm thấy được gần gũi Ngài, được Ngài giúp đỡ trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Nếu Đức Chúa Trời không thực hữu thì căn nguyên nào đã biến đổi con người một cách thật sự từ bên trong ?
III. NHỮNG THUYẾT CHỐI SỰ HIỆN HỮU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI :
Các thuyết chúng ta vừa nêu lên giúp cho chúng ta biết rằng trong vũ trụ của chúng ta có Đấng khôn ngoan tuyệt vời đang cai quản. Nhưng vấn đề chưa dừng lại ở chỗ này? Câu hỏi vẫn được đặt ra là Đấng khôn ngoan tuyệt vời ấy như thế nào ? Ngài là một vị thần hay nhiều, Ngài ở ngoài muôn vật hay cao hơn muôn vật, hay hoà lẫn trong muôn vật? Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta nêu tên một số các nhà triết thuyết của các nhà triết học, các giáo thuyết của các nhà tôn giáo xem họ suy luận thế nào về Đấng khôn ngoan này .
A) Duy vật luận.
1. Trình bày thuyết.
Thuyết này cho rằng vũ trụ chúng ta đang có đây không do một sự khôn ngoan tuyệt vời nào mà có, tất cả đều phát sinh từ vật chất. Trước khi chưa có một vật nào trong trần gian, trong vũ trụ thì đã có vật chất. Vật chất ấy là những nguyên tử vô cùng nhỏ bé, nhờ tiềm lực sẵn có bên trong đã tự nhiên sanh ra muôn vật như đang có ngày nay. Như vậy những nguyên tử vật chất này là cội nguồn của tất cả các loài có tri giác, có sự khôn ngoan cũng như tất cả mọi loài vô tri giác. Nói tóm lại thuyết này cho rằng vũ trụ phát sinh từ vật chất và phát sinh một cách ngẫu nhiên.
2. Phê bình thuyết
a/ Thuyết này chối bỏ sự thực hữu của Đức Chúa Trời, còn như nguyên tri có trong con người giúp chứng thực về sự thực hữu của Ngài cũng được cho là sản phẩm của những nguyên tử vật chất bé nhỏ.
b/ Không giải thích được căn nguyên của muôn vật. Nếu vũ trụ phát sinh từ vật chất thì thử hỏi trật tự của nó phát sinh từ đâu ? Các luật chi phối vũ trụ phát sinh từ đâu. Nếu đồng ý rằng vũ trụ phát sinh từ vật chất thì thử hỏi động lực nào đã sắp xếp thứ tự cho chúng theo mô hình chúng ta đã biết được một phần ngày nay ? Động lực nào đã tạo cho nó chuyển động ban đầu, động lực nào giữ cho chuyển động không hề sai trật trong vũ trụ vô cùng phức tạp như vậy ? Làm thế nào các phần của vũ trụ lại mang trong nó một chức năng đặc biệt và có liên hệ mật thiết đến các phần khác ? Làm sao vật chất hoàn toàn vô thức lại có thể tạo ra một tâm trí với khả năng suy nghĩ, cảm xúc và biết chọn lựa ? Làm sao tư tưởng lại có thể phát sinh từ yếu tố không tư tưởng ? Tai sao hầu như đại đa số con người thay vì tin rằng mình phát sinh từ các yếu tố vật chất lại tin nơi Đức Chúa Trời? (Ngày nay có thể người ta đã đưa ra lý luận về các máy tính điện tử để lập luận rằng vật chất cũng có một trí khôn ngoan tuyệt vời. Tất cả mọi người đều biết rõ rằng tất cả các máy tính dù vĩ đại đến đâu cũng là sản phẩm của loài người, con người đã đặt trí năng và sự khôn ngoan của mình vào đó). Chúng ta đồng ý rằng các nguyên tử vật chất là nền tảng của vật chất, vật chất là nguyên liệu tạo nên vũ trụ hữu hình, dầu vậy phải có một Đấng khôn ngoan tuyệt vời đã dựng nên những nguyên liệu đó để tạo nên vũ trụ, sắp đặt mọi chuyển động của nó, đưa nó vào một trật tự chung của vũ trụ và đặt để trong nó một chức năng thích ứng với mục đích của nó. Mặt trời cho hơi ấm, bảo tồn sự sống, làm cho hơi nước bốc lên tạo ra mưa. Nếu sự tuần hoàn này không có thì làm sao con người ở qủa đất này có thể tồn tại được. Quả đất là nơi có sự sống của loài vật cũng như loài người thì nơi đó cũng có nhu cầu để giúp cho con người và các sinh vật có thể tồn tại được.
B) Vạn vật hữu thần luận .
Vạn Vật Hữu Thần là một thuyết dạy rằng Đức Chúa Trời là tất cả và Tất cả là Đức Chúa Trời. Thuyết này đã hòa hợp Đức Chúa Trời với thiên nhiên, vật chất với tâm linh, Đấng Tạo Hóa với những gì Ngài đã tạo dựng. Thuyết dạy rằng muôn vật phát sinh từ một vật chất nguyên thủy đó là Đức Chúa Trời. Sự phát sinh và biến hóa của nguyên chất này có hai phần là linh chất và thể chất. Các vật sống thuộc về linh chất, những vật chết hay là những vật không có sự sống thuộc về thể chất. Nhưng dù linh chất hay thể chất tất cả đều phát sinh từ Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Trời. Tất cả mọi thứ đều phát sinh từ Đức Chúa Trời và chết đi hay tiêu mòn đều trở về với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời hiện hữu trong muôn vật và muôn vật hiện hữu trong Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không có vị cách, Ngài chỉ vận hành trong sự xoay vần của vũ trụ và suy tưởng trong trí óc loài người. Thuyết vạn vật hữu thần được tóm tắt như sau :
a. Muôn vật đều ra từ một gốc và cũng lại về một gốc.
b.Tất cả mọi sự chỉ là hiện trạng tạm thời. Hình thể của muôn vật kể cả sự đau đớn, buồn phiền của con người giống như đám mây, tụ rồi lại tan.
c . Đức Chúa Trời ở khắp muôn vật, chì chính muôn vật là Đức Chúa Trời, chẳng có vật gì mà không có Ngài nhờ vào sự hiện hữu của Ngài trong muôn vật mà có được.
* Phê bình thuyết
1. Chối vị cách của Đức Chúa Trời : Vì Đức Chúa Trời hòa lẫn trong muôn vật và muôn vật hòa lẫn trong Ngài nên Ngài chẳng có cái gì độc lập, độc tôn, hiểu biết riêng của Ngài bên ngoài vũ trụ cả.
2. Chối bỏ Đức Chúa Trời : dù trong một lãnh vực nào đó, Vạn Vật Hữu Thần luận cũng có thừa nhận một Đức Chúa Trời, nhưng trên thực tế nó là mẹ đẻ của vô thần và thờ hình tượng. Quan niệm cho rằng vạn vật là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời là muôn vật đưa đến chỗ là không có Đức Chúa Trời vì tất cả đều là Đức Chúa Trời, không kể đó là vật vô tri, hay có tri giác nên dẫn đến việc con người thờ tất cả.
3. Thuyết này dẫn đến chỗ phỉ báng Đức Chúa Trời thay vì kính thờ Ngài. Nếu tất cả mọi sự là Đức Chúa Trời thì điều này cũng có nghĩa là tất cả mọi hành động của con người đều là những hành đọng của Đức Chúa Trời. Như vậy tất cả những việc làm gian ác, những tội phạm ghê gớm, tất cả những điều xấu xa nào phát xuất từ con người cũng được xem là từ Đức Chúa Trời.
C) Nhị nguyên luận.
1. Trình bày thuyết. Nhị nguyên luận là giáo lý phát sinh từ Ba tư. Giáo lý này cho rằng vũ trụ có hai nguyên lý Thiện và Ác gọi là Nhất Thiện và Nhất Ác; hoặc hai nguyên lý Âm Dương : Nhất Âm, Nhất Dương. Hai nguyên lý này đều có ý chí, quyền hành, cùng xuất hiện từ lúc vô cực. Hai nguyên lý này luôn luôn đối kháng, chống nghịch nhau và cuộc chiến giữa hai vị thần này không bao giờ chấm dứt. Thần Thiện không đủ khả năng để thắng được Thần Ác. Thần Ác cũng vậy không thể thắng được Thần Thiện. Giáo lý này dạy rằng những sự xấu xa gian ác, khổ nạn ở trên trần gian này là do Thần Ác mà ra, là điều cứ còn mãi đến đời đời con người không thể nào trừ loại được. Loài người cần phải tìm phước nơi Thiện Thần, nhưng cũng phải đút lót cho Ác Thần để tránh khỏi tai nạn.
2. Phê bình thuyết. Thuyết này có một điểm đúng là thừa nhận rằng trong vũ trụ này có hai nguyên lý Thiện và Ác tranh chiến với nhau mãi mãi. Nhưng giáo lý này lầm lẫn ý niệm Thiện với Đức Chúa Trời và xem điều ác như có một vị cách. Sự Thiện ở đây không phải là Đức Chúa Trời mà chỉ là một bản tánh của Ngài thôi. Gọi một ai đó là hiền lành không có nghĩa là nói về chính bản ngã của con người đó nhưng chỉ nói đến một phần tâm tánh của người ấy thôi. Sự ác ở đây cũng không phải là Thần có vị cách đâu, nhưng sự ác là một phần tâm tánh không thay đổi của Satan, là kẻ đang phản loạn cùng Đức Chúa Trời. Sự ác chẳng phải có từ trước vô cùng lại cũng không phải còn đến vĩnh viễn đâu. Sự ác bắt đầu có nơi Satan lúc nó dấy nghịch cùng Đức Chúa Trời. Về sau Đức Chúa Trời sẽ trừ diệt sự ác khỏi vũ trụ này khi Ngài bắt Satan bỏ vào lửa hực đời đời (EsIs 14:12-17; KhKh 20:10).
D) Đa thần giáo.
Xét về vấn đề thờ phượng của con người, chúng ta thấy rằng con người bắt đầu bằng việc thờ độc thần, nhưng dần dần về sau sự thờ độc thần mất đi bằng cách thêm vào đó vô số thần khác. Nói cách khác, sự thờ độc thần vẫn còn đó nhưng bị pha trộn bởi vô số các thần khác nên không còn mang một tính cá biệt nào, nhưng chung chung như nhau. Dầu lòng tôn thờ vẫn còn đó, nhưng khi con người đối diện với thiên nhiên và môi trường sống, con người tạo nên cho mình những vị thần mới mà họ nghĩ rằng đang cầm quyền trực tiếp trên sinh hoạt của họ. Người sống về nghề rừng thì thờ thần núi, thần rừng. Người sống nghề nông thờ thần đất, sống nghề chài lưới thờ thần sông, thần biển. Làm ăn buôn bán, thờ thần tài. Đi và một lãnh vực nhỏ bé hơn : ở rừng thờ ông Ba Mươi - biển thờ cá ông, Sông thờ cá sống … Ngoài ra còn một số thờ người chết (miếu cậu, miếu bà, miếu ông) thờ ma quỉ. Những vật thờ này có linh không ? Tôi tin chắc rằng có ma quỉ đứng sau các sự thờ lạy này để lừa dối, phỉnh gạt con người càng ngày càng xa cách Đức Chúa Trời. Dầu trên thực tế tự các vị thần này chẳng có một giá trị gì.
Đa thần giáo bày tỏ tình trạng của loài người quên Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa mình, từ chỗ quên này đã dẫn đến sự loại bỏ Ngài ra khỏi cuộc sống và đi thờ những loài hạ đẳng, những loài đã được tạo dựng nên với mục đích phục vụ sự lợi ích của con người.
RoRm 1:21-23 “Vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời và không tạ ơn Ngài nữa, song cứ lầm lạc trong ý tưởng hư không và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ tự xưng mình là khôn ngoan mà trở nên điên dại. Họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát hoặc của điểu, thú, côn trùng ”.
IV. LUẬN VỀ THÂN VỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Qua những thuyết binh vực cho sự hiện hữu hay chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, chúng ta đều thấy được rằng Đức Chúa Trời thật có hiện hữu. Vấn đề cần tìm hiểu tiếp theo là Đức Chúa Trời có thân vị (vị cách) không ?
A) Định nghĩa vị cách (Personality)
Một người được gọi là có thân vị (vị cách) khi trong người đó có những yếu tố tự tri, tự giác, tự chủ. Nhờ những yếu tố này con người có thể biết mình thực hữu, có khả năng quyết định lựa chọn. Chính thân vị (vị cách) đã làm cho con người khác với loài vật. Trong một lãnh vực nào đó, một loài vật dường như cũng có một sự khôn ngoan khéo léo, nhưng sự khôn ngoan khéo léo đó chẳng qua chỉ là bản năng sẵn có chớ không phải do sự suy xét, và quyết định (tổ chim, tổ ong ngàn đời vẫn không thay đổi).
Nói cách tổng quát vị cách có 3 nguyên tố : trí năng, cảm giác, và ý chí. Trí năng giúp tư tưởng, cảm giác giúp cảm xúc và ý chí giúp quyết định. Ngoài 3 yếu tố này ra, còn có 2 bản năng rất quan hệ đó là lương tâm và quyền tự nhiệm. Ai có những yếu tố này được gọi là có thân vị.
B) Thân vị (vị cách) của Đức Chúa Trời.
Để giải đáp vấn đề Đức Chúa Trời có vị cách không, chúng ta cần phải tìm cách chứng minh rằng Đức Chúa Trời có sử dụng tri năng, cảm xúc và ý chí để thực hiện các công việc không .
Chúng ta nêu lên 3 bằng chứng cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng cả 3 yếu tố này :
1. Muôn vật làm chứng.
Sự hiện hữu của vũ trụ và trật tự chuyển vận vô cùng chính xác của nó chứng tỏ rằng có một Đấng Tạo Hóa trí năng khôn ngoan tuyệt đối mới có thể làm nên. Sự khôn ngoan này phải đi đôi với ý chí quyết định thi hành công việc lạ lùng này mới hợp lý. Như vậy cuộc tạo dựng vũ trụ chứng minh rằng Đức Chúa Trời có vị cách.
2. Loài người làm chứng.
Loài người là sinh vật có vị cách vì người có trí năng cảm giác và ý chí cùng với lương tâm và quyền tự nhiệm. Loài người là một bằng chứng hùng hồn về Đấng tạo dựng nên họ phải là một Đấng có trí năng, cảm giác và ý chí phải trội hơn họ gấp bội phần hơn mới có thể dựng nên họ được. Vì căn nguyên bao giờ cũng trội hơn hiệu quả.
3. Kinh thánh làm chứng.
Kinh thánh cho chúng ta biết rõ ràng rằng Đức Chúa Trời có trí năng, cảm giác và ý chí.
(a) Trí năng : Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan để tư tưởng, suy xét.
ChCn 15:3 “Con mắt Đức Giê hô va ở khắp mọi nơi, xem xét kẻ gian ác và người lương thiện ”.
RoRm 11:33 “Ôi sâu nhiệm thay là sự giàu có và khôn ngoan thông biết của Đức Chúa Trời. Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được ”.
Gie Gr 29:11; Cong Cv 15:18.
(b) Cảm giác : Một số câu trong Kinh thánh cho thấy Đức Chúa Trời có cảm giác để yêu mến, thương xót và buồn giận.
Thi Tv 103:8 “Đức Giê hô va có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận và đầy sự nhơn từ ”.
GiGa 3:16 “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian …”
RoRm 1:18 “Vả cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính ”.
(c ) Ý chí :
Thi Tv 115:3 “Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên các từng trời, phàm điều gì vừa ý Ngài thì Ngài đã làm ”.
DaDn 4:35 “Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời và ở giữa dân cư trên đất ”.
EsIs 46:10-11 .
Qua những điều được nêu lên chúng ta có thể thấy rằng Đức Chúa Trời chẳng phải là một sự hư ảo, một ảnh hưởng hoặc một quyền lực vô tri, vô giác đâu, mà là một Đấng có vị cách, có khả năng hiểu biết tất cả mọi sự, cảm xúc mọi sự, thi hành mọi sự.
V. LUẬN VỀ CÁC THUỘC TÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI :
Dầu sự hiểu biết của con người rất hữu hạn không thể hiểu cách rõ ràng về Đức Chúa Trời nhưng chúng ta cũng có thể hiểu rằng nếu Đức Chúa Trời có thân vị thì tất nhiên cũng có bản chất riêng. Các bản chất cao trọng thuộc riêng về Đức Chúa Trời chúng ta gọi là thuộc tánh của Ngài. Kinh thánh đã chỉ tỏ cho chúng ta thấy được một số các thuộc tánh của Đức Chúa Trời như sau :
Đức Chúa Trời là Đấng thuộc linh.
Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu hằng hữu.
Đức Chúa Trời vô hạn, vô lượng.
Đức Chúa Trời vô sở bất năng (toàn năng).
Đức Chúa Trời vô sở bất tại (toàn tại).
Đức Chúa Trời vô sở bất tri (toàn tri).
Đức Chúa Trời vô thời biến cải (không thay đổi)
Đức Chúa Trời thuần nhất vô phân.
A) Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thuộc linh.
1. Định nghĩa:
Đức Chúa Trời được gọi là Đấng thuộc linh, vì Ngài là :
(a) Thần linh : Đức Chúa Giê xu đã gọi Đức Chúa Trời là : Thần linh vì Ngài hoàn toàn không có thể xác vật chất như chúng ta mà là một Đấng thuộc linh vô hình, vô tượng, không thấy, không rờ được.
GiGa 4:24 “Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy ”.
LuLc 24:39 “Thần thì không có thịt xương …”
- không bị vật chất giới hạn -
Đức Chúa Trời là Thần Linh vì Ngài không bị vật chất hạn chế. Ngài hiện hữu ở ngoài vật chất, vượt trên muôn vật, có trước muôn vật, tạo dựng và điều động muôn vật. Nếu sự thực hữu của Đức Chúa Trời có liên hệ đến vật chất thì Ngài không thể thực hữu trước lúc chưa có vật chất. Nhưng Kinh thánh cho biết rằng Đức Chúa Trời đã thực hữu trước khi chưa có vật chất nào cả. Như vậy sự thực hữu của Ngài là sự thực hữu liên hệ đến cõi thuộc linh, không liên hệ gì đến vật chất và không bị vật chất hạn chế.
SaSt 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất ”.
GiGa 1:1 “Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng Đức Chúa Trời và Đạo là Đức Chúa Trời ”.
Eph Ep 3:9.
(b) Đức Chúa Trời là Đấng sống : Đức Chúa Trời không phải là một lý trí chỉ biết xử sự như một máy tân tiến, nhưng là một thần linh có sự sống, tự tri và tự chủ. Sự sống này không đến từ một nguồn nào bên ngoài mà tự có trong chính Ngài từ trước vô cùng và mãi đến đời đời. Đây là sự sống không cần nhờ đồ ăn, đồ uống hay bất cứ điều gì bên ngoài mà là cội rễ của mọi loài sinh vật trong cõi thiên nhiên cũng như siêu nhiên.
Gie Gr 10:10 “Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là vua đời đời ”
ITe1Tx 1:9 “Anh em … thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chơn thật ”.
Xem thêm GiGa 5:20, 25; 7:16.
2. Kinh thánh mô tả Đức Chúa Trời có hình thể như loài người.
Khi gọi Đức Chúa Trời là Thần linh thì câu hỏi được đặt ra là : Nếu Ngài là Thần thì tại sao Kinh thánh có nhiều chỗ ghi lại rằng Ngài có mắt để xem (Thi Tv 34:15), lỗ tai để nghe (Thi Tv 34:15 “Mắt Đức Giê hô va đoái xem người công bình, lỗ tai Ngài nghe tiếng kêu cầu ”), Đấng đã nói (“Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng ” Dan Ds 12:8), cánh tay để thực hiện công việc (EsIs 52:10 “Đức Giê hô va đã tỏ trần cánh tay thánh của Ngài trước mắt mọi nước ”), có chơn (“trời là ngai ta, đất là bệ chơn ta ” EsIs 66:1).
Những điều được nêu trên không phải được dùng để nói lên rằng Đức Chúa Trời có hình thể vật chất như chúng ta, nhưng chỉ nhằm mục đích cụ thể hóa những gì thuộc về cõi thuộc linh để trí óc chúng ta có thể hiểu được.
Ngoài những điều này ra, Kinh thánh cũng mô tả Đức Chúa Trời nhiều lúc cũng hiện ra như một người bằng hình dạng con người mà họ có thể thấy được (SaSt 18:1-16; 32:1, 2; XuXh 13:21; 14:19). Trường hợp Đức Chúa Trời mượn hình ảnh tướng mạo của con người để đến với họ, con người chỉ biết được những gì họ thấy bên ngoài, chớ Đức Chúa Trời thật sự như thế nào không ai có thể biết được. Như lời Kinh thánh đã nói :“Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con một ở trong lòng Cha là Đấng giãi bày Cha cho chúng ta biết ” (GiGa 1:18).
3. Đức Chúa Trời và hình tượng
Vì Đức Chúa Trời là Đấng Thần Linh không ai có thể biết Ngài như thế nào nên bất cứ một ý nghĩ muốn làm nên một bức tượng của Đức Chúa Trời để thờ lạy là một việc không thể chấp nhận được.
- Không chấp nhận được vì nào có ai trên trần gian này biết được Ngài như thế nào mà tạc.
- Không chấp nhận được vì tạc tượng phải dùng các phương tiện vật chất và trí khôn ngoan của con người để làm nên - đem Đấng Thần Linh xuống thành vật chất, đem Đấng Tạo Hóa xuống thành sản phẩm của trí con người.
Đây chính là nguyên nhân Đức Chúa Trời đã nghiêm cấm điều này trong 10 điều răn của Ngài (XuXh 20:2-4). Nhưng chúng ta cảm ơn Chúa vì dầu Đức Chúa Trời tuyệt đối không cho phép tạo bất cứ hình tượng nào liên hệ đến Ngài, Ngài vẫn muốn thấy con cái Ngài bằng lòng để Thánh Linh ghi tạc hình ảnh của Chúa Giê xu vào chính đời sống mình, để qua cách sống, lời nói việc làm, sự suy nghĩ của chúng ta để hình ảnh đó mỗi ngày mỗi rõ nét. Công việc góp phần tạc hình ảnh Đấng Christ trong lòng những người thuộc về Ngài là một phần trách nhiệm của chúng ta (GaGl 4:19).
B) Đức Chúa Trời Tự Hữu, Hằng Hữu.
1.. Tự Hữu.
Đức Chúa Trời là Đấng tự nhiên mà có. Sự tự hữu này có từ trong chính Ngài và độc lập với tất cả mọi sự. Tất cả mọi hiện hữu trong vũ trụ đều phải dựa vào những hiện hữu khác mà có. Nhưng Đức Chúa Trời không dựa vào bất cứ một nguyên nhân nào ngoài Ngài để thực hữu cả. Ngài là Đấng không có khởi đầu và không có kết thúc (XuXh 3:14 “Ta là Đấng Tự Hữu ”).
2. Hằng Hữu.
Đức Chúa Trời là Đấng luôn luôn thực hữu, sự thực hữu này là sự thực hữu đời đời không liên hệ đến thời gian. Đối với Đức Chúa Trời thì không có gì gọi là quá khứ, cũng không có gì gọi là tương lai, nhưng tất cả đều là hiện tại, một hiện tại vĩnh cửu. Nói theo phạm vi giới hạn và bằng ngôn từ hạn hẹp của con người thì Ngài hiện hữu trước điểm khởi đầu của quá khứ và mãi mãi hiện hữu vượt qua điểm tận cùng của tương lai.
Thi Tv 90:2 “Trước khi núi non chưa sanh ra, đất và thế gian chưa dựng nên từ trước vô cùng cho đến đời đời Chúa là Đức Chúa Trời ”.
EsIs 41:4 “Giê hô va là đầu tiên, mà cũng sẽ ở với cuối cùng ”.
IIPhi 2Pr 3:8 “ …… trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày ”.
C) Đức Chúa Trời vô hạn, vô lượng.
Với thời gian, Đức Chúa Trời là Đấng hằng hữu, còn đối với không gian Ngài là Đấng vô hạn, vô lượng. Ngài ở ngoài không gian giới hạn không gian, sử dụng không gian theo ý muốn Ngài. Nhưng không gian không bao giờ có thể cản trở được sư hiện hữu của Ngài .
IVua 1V 8:27 “Kìa, trời, dầu đến đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa Ngài được …”
RoRm 8:38-39 “Vì tôi chắc rằng bât1 kỳ sự chết sự sống … chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Chúa Giê xu Christ, Chúa chúng ta ”.
D) Đức Chúa Trời toàn năng (Vô sở bất năng).
Đức Chúa Trời toàn năng vì Ngài có thể làm được tất cả mọi sự, không có điều gì hoặc lớn hay nhỏ ở trên trời hay ở dưới đất được xem là khó đối với Ngài. Hễ điều gì đẹp ý Ngài thì Ngài làm không cần ai giúp đỡ và cũng không có bất cứ ai có thễ ngăn trở công việc của Ngài.
1. Chứng cớ : chúng ta chứng thực sự toàn năng của Đức Chúa Trời được gồm tóm trong hai loại :
a, Tạo vật làm chứng.
Nhìn vào vũ trụ ; từ những thiên hà; cùng các vì tinh tú vô cùng to lớn đang xoay vần một cách vô cùng chính xác trong một trật tự rất hoàn chỉnh, cho đến những loài nhỏ nhất trong lòng đại dương, trên mặt đất; tất cả mọi loài sinh vật, các nguyên lý, các định luật đều bày tỏ sự toàn năng của Đức Chúa Trời. Chúng ta tìm một thí dụ về quyền năng của Đức Chúa Trời trong cái ai trong chúng ta cũng sử dụng thường ngày: nước. Nước rất bị xem thường, nhưng thế giới nếu không có nước thì không một loài sinh vật nào sống được. Ngoài ra nếu nước trong thế giới này cũng tuân theo một qui luật vật lý bình thường, thì sự sống trên thế giới này cũng không thể tồn tại được. Như vậy, nước được xem là một chất hết sức bất bình thường trong những thể chất rất bình thường. Khi ở độ lạnh thấp, nước đông lại thành nước đá. Nước cũng được tạo thành ở dạng tuyết, một dạng nước đá rất xốp và nhẹ. Chính tuyết có tác dụng như một tấm màn khô che phủ mặt đất trong mùa đông giá lạnh và một nguồn dự trữ nước lớn trong các thung lũng. Nước cũng ở dưới dạng mưa để tưới mát mặt đất khô cằn, tiếp nước cho sông, hồ, biển … nước tạo thành những đám mây che mát cho chúng ta. Hơi nước dùng để chạy những chiếc máy lớn mạnh. Khác với các thể chất khác, nước ở trạng thái nặng nhất khi ở nhiệt độ 4°C, nhưng ở dưới hoặc trên mức này thì nhẹ hơn. Vì vậy nước đá nổi trên nước thường. Nước đá nặng hơn và chìm xuống đáy sẽ tạo cho các mặt sông hồ vào mùa đông bị đông từ dưới lên trên thì không còn một loài nào ở dưới nước có thể sống được. Mặc dầu nước biển nặng hơn không khí 800 lần, nhưng khi bốc hơi thì lại nhẹ hơn không khí nên có có thể bay lên tụ thành các đám mây. Loài cá lưỡi trâu, mắt trái di chuyển lần lần qua bên phải …
b, Kinh thánh làm chứng.
Kinh thánh đã nêu lên vô số bằng chứng về sự toàn năng của Đức Chúa Trời.
(1) Ngài là Đức Chúa Trời toàn năng :
SaSt 17:1 “Ta là Đức Chúa Trời toàn năng, ngươi hãy đi trước mặt ta, làm một người trọn vẹn ”.
(2) Ngài tạo dựng vũ trụ :
1:1-3 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất …”
EsIs 44:24 “Ta là Đức Giê hô va đã làm nên mọi vật, một mình ta gương các từng trời và trái đất ”.
(3) Ngài bảo quản vũ trụ :
HeDt 1:3 “Con lấy lời quyền năng nâng đỡ muôn vật ”
(4) Ngài có quyền năng làm mọi sự theo ý muốn Ngài
Thi Tv 115:3 “Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên các từng trời, phàm điều gì vừa ý Ngài thì Ngài làm ”.
- Dựng nên vật mới :
Mat Mt 3:9 “Đức Chúa Trời có thể khiến đá này sanh ra con cái cho Ápraham được ”
KhKh 21:5 “Đấng ngự trên ngôi phán rằng : Này ta làm mới lại hết thảy muôn vật ”
- Không điều gì bất năng cho Ngài :
SaSt 18:14 “Há có điều chi Đức Giê hô va làm không được chăng ?”
Mat Mt 19:26 “Điều đó loài người không thể làm được, song Đức Chúa Trời làm mọi việc đều được ”.
(5) Đức Chúa Trời có quyền năng biến đổi lòng người.
RoRm 1:16 “Thật vậy tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin ”.
2. Sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời:
Quyền năng của Đức Chúa Trời được bày tỏ bằng nhiều phương cách khác nhau, nhưng chúng ta có thể bao gồm các phương cách này trong hai loại :
a/ Nguyên lực :
Đức Chúa Trời thực hiện các quyền năng cách trực tiếp không qua một trung gian nào. Thí dụ : việc tạo thành trời đất, cảm hóa, biến đổi lòng người, thực hiện các phép lạ.
SaSt 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất ”.
Thi Tv 33:9 “Vì Ngài phán thì việc liền có, Ngài biểu thì vật bèn đứng vững bền ”.
b/ Tá lực :
Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng của Ngài trong các định lý, định luật, cống lệ của muôn vật và từ đó muôn vật cứ tồn tại và phát sinh theo các luật và công lệ đó.
Thí dụ : Ngài đặt công lệ sinh sản các loài động vật, thực vật, rồi từ đó các loài này cứ tiếp tục sinh sản. Ngài ấn định các mùa, thời tiết cho trái đất để rồi năm này qua năm khác, cứ tiếp tục diễn tiến.
SaSt 1:28 “Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng hãy sanh sản thêm nhiều làm cho đầy dẫy đất ”.
8:22 “Hễ đất còn thì mùa gieo giống cùng mùa gặt hái, lạnh và nóng, mùa hạ cùng mùa đông, ngày và đêm chẳng bao giờ tuyệt được ”.
Dầu Đức Chúa Trời thiết lập các công lệ cho vũ trụ để mọi vật tồn tại và phát sinh theo công lệ đã đặt để cho nó, nhưng điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời bỏ mặc vũ trụ theo các công lệ đó, mà Ngài luôn chú tâm vào tất cả.
HeDt 1:3 “Con … lấy lời quyền năng mình mà nâng đỡ muôn vật ”.
3. Đức Chúa Trời hạn chế quyền năng :
Dầu Đức Chúa Trời là Đấng quyền năng nhưng Ngài không vận dụng quyền năng đó để làm trái những định luật công lệ mà chính Ngài đã thiết lập. Ngài có thể làm cho mùa hè đến trước mùa xuân, cây gốc rễ chỏng lên trời, con người đi chúc đầu xuống đất, nhưng Ngài không làm điều đó vì không phải là mục đích của Ngài. Ngài có thể đem mặt trời lại gần quả đất để mọi người thấy nó to như cái nia thật lớn, vì nếu Ngài làm như vậy có lẽ không ai có dịp thấy được mặt trời một lần. Như vậy còn các phép lạ thì sao ? Có trái với công lệ thiên nhiên đâu, nhưng nó thuộc trong lãnh vực thiên nhiên, hay nó cũng có thể nằm trong một định luật thiên nhiên nào đó mà Đức Chúa Trời đã đặt để sẵn trong vũ trụ nhưng trí óc loài người chưa tìm hiểu đến được. Một chiếc máy ảnh, một máy cassette, một hàm răng giả đối với những bộ lạc chưa bao giờ tiếp xúc với thế giới văn minh có thể được xem là những phép lạ mang tính chất siêu nhiên rồi. Thêm vào đó Đức Chúa Trời không làm những gì trái với bản chất của Ngài. Ngài không thể phạm tội, Ngài không thể nói dối, không thể giả hình, vì chúng đi ngược lại với bản tánh của Ngài. Cuối cùng điều mà chúng ta cần phải nhớ luôn rằng : Đức Chúa Trời là Đấng Toàn năng, chính Ngài là Đấng toàn quyền quyết định những gì Ngài muốn làm, chớ không bao giờ làm theo sự thách thức của con người.
E) Đức Chúa Trời toàn tại (Vô sở bất tại).
Đức Chúa Trời hiện diện ở tất cả mọi nơi, mọi chỗ trong vũ trụ, không nơi nào không có sự hiện diện của Ngài cả.
1. Kinh thánh làm chứng.
Trong Kinh thánh khi thì cho thấy dường như Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê xu và Thánh Linh ở tại một chỗ đặc biệt nào đó. Qua bài cầu nguyện Chúa dạy trong Mat Mt 6:9 nói về Đức Chúa Trời là “Cha ở trên trời ”, HeDt 1:3 cho biết :Chúa Giê xu sau khi về trời thì “ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao ”. Thánh Linh được nói là :“Từ Cha mà đến ” (GiGa 14:26).
Nhưng mặt khác Kinh thánh cũng cho biết rằng “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha ” (GiGa 17:21), “Đức Chúa Trời là Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người và trong mọi người ” (Eph Ep 4:6). Đức Chúa Con hiện diện ở bất cứ nơi nào có đôi ba người nhơn danh Ngài nhóm lại (Mat Mt 18:20) ở cùng và ở trong tất cả Cơ đốc nhân (Mat Mt 28:20; CoCl 1:27). Về phần Thánh Linh cũng như Đức Chúa Cha và Con hiện diện trong tất cả người tin (RoRm 8:9). Điều này cho thấy cùng một lúc Đức Chúa Trời hiện diện cách trọn vẹn mọi chỗ khác nhau. Kinh thánh nói về sự toàn tại của Ngài bằng những hình ảnh “ … vì trời và đến đỗi của các từng trời còn chẳng chứa Ngài được thay ” (IISu 2Sb 2:6; Gie Gr 23:23, 24; Thi Tv 139:1-6).
2. Những ý kiến sai lầm.
(a) Toàn tại nhờ quyền năng: Đây là lý thuyết cho rằng sự toàn tại của Đức Chúa Trời được bày tỏ nhờ quyền năng của Ngài thực hiện ở khắp mọi nơi. Chúng ta đồng ý rằng quyền năng của Ngài được thi thố ở khắp mọi nơi trong vũ trụ; nhưng không phải chỉ có quyền năng không mà thôi, chính Ngài cũng hiện diện cách trọn vẹn ở khắp mọi nơi cùng một lúc.
Thí du :máu hiện diện tất cả mọi nơi trong thân thể chúng ta cũng cùng một loại máu hoàn toàn có tính chất giống nhau.
(b) Toàn tại nhờ phân tán thể yếu: Đây là thuyết cho rằng sự toàn tại có được là do sự phân tán thể ở quyền của Ngài mỡi chỗ một phần. Thuyết này hoàn toàn sai lầm vì thế yếu của Đức Chúa Trời không phải là vật chất có thể phân chia ra từng phần để đặt nơi này nơi khác. Hơn thế nữa, nếu thế yếu của Đức Chúa Trời bị phân chia rời rạt như thế thì Ngài không còn là Đức Chúa Trời trọn vẹn với tất cả mọi yếu tố quan trọng có trong Ngài nữa.
(c ) Toàn tại vì Ngài là một thần linh: Đây là thuyết cho rằng sự toàn tại có được vì Đức Chúa Trời là một Thần linh Ngài không phải là một hiện hữu bằng thể chất nên không bị giới hạn, và vì không bị giới hạn nên Ngài có thể hiện diện ở khắp nơi. Thuyết này hoàn toàn sai lầm, vì nếu lập luận như vậy thì linh hồn người chết, các thiên sứ và ma quỉ cũng đều toàn tại cả vì họ cũng không có thể xác như con người. Tất cả những linh thể này dù có quyền năng (thiên sứ, ma quỉ) cao siêu hơn loài người có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác, nhưng không thể cùng một lúc ở hai nơi khác nhau được. Thiên sứ trưởng Gápriên không thể cùng một lúc báo tin cho Xachari tại đền thờ Giêrusalem và cho cả Mari ở Naxarét. Nhiều lúc chúng ta cũng nghĩ Satan có mặt ở khắp nơi. Sự hiện diện của Satan ở mọi chỗ cùng một lúc là do thiên sứ sa ngã (ma quỉ) thực hiện đường lối và kế hoạch của thủ lĩnh họ là Satan. Như vậy Đức Chúa Trời không phải là Đấng toàn tại vì Ngài là Thần linh mà vì Ngài là Đấng tạo dựng, điều động muôn vật và toàn vũ trụ. Nếu Đức Chúa Trời không dùng bất cứ một công cụ nào để tạo dựng vũ trụ, nếu tất cả mọi sự đều được tạo dựng cùng một lúc thì Ngài cũng hiện diện ở bất cứ nơi nào sự tạo dựng được thực hiện .
F) Đức Chúa Trời toàn tri
Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri vì Ngài thông biết tất cả mọi sự thuộc cõi hữu hình hay vô hình, thuộc quá khứ, hiện tại hay tương lai, không có một điều gì có thể giấu được Ngài. Sự hiểu biết này không do học hỏi, suy luận hay kinh nghiệm mà có, cũng không hải là sự hiểu biết từ điều này đến điều khác, mà là sự hiểu biết toàn diện và trọn vẹn phát sinh từ chính Ngài.
1. Tại sao gọi Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri ?
(a) Vì Ngài là căn nguyên mọi sư.
Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng vũ trụ, thiết lập trật tự, mục đích cùng sự sinh hoạt của từng vật to lớn hay nhỏ bé, nên làm thế nào Ngài không biết mọi việc được.
(b) Vì Ngài trọn vẹn tuyệt đối.
Ngài là Đấng toàn tri vì Ngài trọn vẹn tuyệt đối. Nếu có một điều nào đó còn bí ẩn đối với Ngài, thì Ngài chưa thể được gọi là trọn vẹn tuyệt đối được.
(c ) Kinh thánh bày tỏ Ngài là Đấng toàn tri.
Kinh thánh đã khải thị cho chúng ta về sự toàn tri của Đức Chúa Trời .
RoRm 11:33 “Ôi, sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời ; sự phán xét của Ngài ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được ”.
HeDt 4:13 “Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mặt Đấng mà chúng ta phải thưa lại ”.
(d) Vì Ngài là Đấng phán xét.
Đức Chúa Trời không phải là vị quan án bình thường mà là quan án của vũ trụ. Tất cả mọi người trải mọi thời đại đều đứng trước Tòa Án của Ngài. Sự phán xét của Ngài không dựa trên những gì lộ ra bên ngoài mà thôi nhưng còn dựa trên tất cả những gì phát sinh từ trong lòng, trong trí. Vì vậy, nếu như Ngài không phải là Đấng vô sở bất tri thì làm sao có thể phán xét được.
(e) Vì Ngài là Đấng toàn tại
Chúng ta đã học biết Đức Chúa Trời là Đấng toàn tại nên Ngài cũng là Đấng toàn tri. Nếu Ngài ở khắp mọi nơi thì có gì Ngài lại không biết.
2. Một số lãnh vực liên hệ đến sự hiểu biết của Đức Chúa Trời được ghi lại trong Kinh thánh.
(a) Ngài biết chính mình :
XuXh 3:14 “Ta là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu ”.
KhKh 22:13 “Ta là Anpha và Ômêga ”
(b) Ngài biết mọi vật :
Thi Tv 147:4 “Ngài đếm số các vì sao, gọi từng tên hết thảy các vì ấy ”.
50:11 “Ta biết hết các chim của núi. Mọi vật hay động trong đồng ruộng thuộc về Ta ”.
Mat Mt 10:30 “Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi ”.
(c ) Ngài biết hành động và ý tưởng của con người :
Thi Tv 33:13-15 “Đức Giê hô va từ trên trời ngó xuống, nhìn thấy hết thảy con cái loài người …… xem xét hết thảy người ở thế gian. Ngài nắn lòng của mọi người, xem xét mọi việc của chúng nó ”.
Thi Tv 139:2 “Chúa hiểu biết ý tưởng tôi ”.
Cong Cv 15:8 “Đức Chúa Trời là Đấng biết lòng người ”.
(d) Ngài biết sự cần dùng của con người :
Mat Mt 6:8 “Cha các ngươi biết những điều các ngươi cần dùng ”.
(e) Ngài biết quá khứ và tương lai :
MaMl 3:16 “Một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài …”.
EsIs 46:10 “Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên ”.
44:28 “ … phán về Siru rằng: nó là người chăn chiên của ta, nó sẽ làm nên mọi sự ta đẹp lòng ”.
Cong Cv 15:18 “Từ trước vô xùng Ngài đã thông biết những việc đó ”.
3. Sự toàn tri quan hệ với loài người.
(a) Quan hệ với kẻ ác :
Trong cuộc sống có biết bao nhiêu công việc gian ác của con người được làm cách vô cùng kín giấu, rất tinh vi, có thể lẫn tránh được luật pháp của con người. Nhưng không một điều gì có thể ở ngoài tầm mắt và sự hiểu biết của Đức Chúa Trời cả.
Thi Tv 139:12 “Chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa ban đêm soi sáng như ban ngày và sự tối tắm cũng như ánh sáng cho Chúa ”.
ChCn 15:11 “Âm phủ và chốn trần luân còn ở trước mặt Giê hô va thay, phương chi lòng của con cái loài người ”.
HeDt 4:13 “Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại ”.
(b) Quan hệ với người thiện:
Có bao nhiêu người tốt nhưng công việc của họ vẫn bị phủ nhận hoặc bị lãng quên. Có bao nhiêu người làm lành nhưng công việc của họ vẫn bị hiểu lầm, bị vu oan. Có bao nhiêu công việc đúng nhưng vẫn bị gán ghép là sai, không một ai cảm thông; Những người ở tình trạng này không biết tỏ bày, than thở cùng ai. Sự toàn tri của Đức Chúa Trời giúp những người này tìm được sự an ủi thỏa lòng, vì Ngài là Đấng biết rõ họ, giúp đỡ họ.
Thi Tv 103:13 “Đức Giê hô va thương xót kẻ kính sợ Ngài, khác nào Cha thương xót con cái mình vậy ”.
XuXh 3:7 “Đức Giê hô va phán rằng: ta đã thấy rõ sự cực khổ của dân ta tại Ai cập và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó. Phải ta biết được nỗi đau đớn của nó ”.
G) Đức Chúa Trời không thay đổi (Vô thời biến cải).
Sự thay đổi chỉ có thể dẫn đến một trong hai kết quả : hoặc tốt hơn hoặc xấu hơn. Nhưng điều này không thể xảy ra với Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng trọn vẹn tuyệt đối nên Ngài phải là Đấng không hề thay đổi : không thay đổi trong quyền năng, bản tánh, đường lối, ý định Ngài.
Thi Tv 102:27 “Chúa không hề biến cải ”.
MaMl 3:6 “Vì ta là Giê hô va, ta không hề thay đổi ”.
Gia Gc 1:17 “Mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài không có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào ”.
* Một vài thắc mắc liên hệ đến sự không hề thay đổi của Đức Chúa Trời :
1. Câu chuyện của Saulơ :
Đức Giê hô va ăn năn đã lập Saulơ (ISa1Sm 15:35) so sánh câu 29. Câu hỏi được nêu lên : phải chăng Đức Chúa Trời đã có sai lầm về việc lập Saulơ làm vua ?
Chữ ăn năn ở đây có nghĩa là Đức Chúa Trời buồn về việc dân Ysơraên cố tình xin một vị vua trong lúc thời điểm để có thể có một vua chưa đến. Ngài buồn vì dân Ysơraên theo ý riêng, bất chấp những khuyên lơn của Ngài.
Việc lập Saulơ không phải là ý định của Ngài vì chính Ngài nói rằng : Việc này là một hình thức loại bỏ sự hướng dẫn của Ngài trên toàn thể dân sự (8:6-8). Ngài đã tìm cách cản ngăn ý định của dân Ngài bằng cách bảo họ biết thực trạng của họ thế nào khi một vị vua theo ý họ sẽ cai trị (8:9-18). Dầu được cảnh cáo, họ vẫn đi theo ý mình, họ biết điều họ làm là điều Chúa không đẹp lòng nhưng họ vẫn làm (8:19-20).
Như vậy, sự quyết định ở đây là sự quyết định theo ý riêng của dân sự, còn phần Đức Chúa Trời trong tình yêu thương không muốn bỏ dân sự Ngài, Ngài đã cho họ một người xem là tốt nhất trong vòng họ lúc bấy giờ là Saulơ. Ngài đã chọn Saulơ và cũng đã làm mọi cách để ông trở nên người tốt, nhưng Saulơ đã đi ngược lại. Như vậy, sự ăn năn ở đây không có nghĩa là sự nhầm lẫn của Đức Chúa Trời mà là Đức Chúa Trời buồn vì dân sự từ chối không đi theo lời cảnh cáo của Chúa để bây giờ ra nông nổi này.
2. Câu chuyện Ninive (Gion Gn 3:10)
Sự ăn năn trong trường hợp này không có nghĩa là sự đổi ý về một mục tiêu nào đó của Ngài mà là sự tha thứ, hoãn sự hình phạt đối với một số người biết ăn năn.
Mục tiêu của Chúa là đoán phạt tội lỗi. Đây là mục tiêu không bao giờ có thể thay đổi được. Việc Chúa sai Giôna đến tại Ninive không ngoài mục đích tạo cho họ một cơ hội để có thể tránh khỏi sự đoán phạt, nếu Ngài không có dụng tâm tha thứ thì việc sai Giôna đi hoàn toàn không cần thiết. Một người cha khi nêu lên một giới hạn nào đó để phạt con đều có dụng ý cho con thấy lỗi, có thời gian hối hận, ăn năn. Nếu con thật sự sợ hình phạt thì việc ăn năn xin lỗi cha cách chân thành là điều chắc chắn sẽ xảy ra.
3. Việc chuyển từ sự cứu rỗi bởi luật pháp qua sự cứu rỗi bởi ân điển :
Việc chuyển từ thời đại luật pháp qua ân điển có phải là sự thay đổi không ?
Đây không phải là sụ thay đổi mà là những giai đoạn liên tiếp nhau trong chương trình cứu rỗi. Giai đoạn I là giai đoạn Đức Chúa Trời muốn dùng con người để thấy rõ sự bất lực của con người trong việc dùng sức riêng để tìm kiếm sự cứu rỗi. Gần như tất cả mọi con người trong trần gian này đều nghĩ rằng mình có thể tìm con đường cứu rỗi bằng chính sức riêng nên Đức Chúa Trời cho họ có dịp tiện để thực hiện và thấy được sự bất lực của mình. Nếu không, con người vẫn nghĩ rằng mình có thể. Với người Do thái việc giữ luật pháp cho thấy sự bất lực của họ, bằng chứng là họ bị kết cuộc lưu đày này đến cuộc lưu đày khác, bị tan tác khắp mọi nơi trên trái đất. Việc bị tan tác khắp nơi là hình phạt nặng nề nhất đối với những người không tuân giữ được luật pháp của Đức Chúa Trời (PhuDnl 28:63, 64). Khi sự bất lực đã được thể hiện cách hoàn toàn thì giai đoạn cứu rỗi bởi ân điển được tiếp nối là việc đương nhiên.
H. Đức Chúa Trời thuần nhất vô phân .
Đức Chúa Trời là Đấng trọn vẹn tuyệt đối, hoàn toàn không thể phân chia ra được trong bất cứ lãnh vực nào. Chúng ta tạm tách riêng các thuộc tánh và các mỹ đức của Ngài (thánh khiết, công nghĩa, nhân ái, chân thành) để có thể học hỏi cách dễ dàng hơn, nhưng trên thực tế tất cả những tánh chất này đều hòa lẫn cách trọn vẹn trong chính Đức Chúa Trời.
6:4 “Hỡi Ysơraên hãy nghe, Giê hô va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê hô va có một không hai ”.
GiGa 17:3 “Đức Chúa Trời có một và thật ”.
ITi1Tm 6:15 “ Đấng chủ tể hạnh phước và có một ”.
a. Chỗ thắc mắc : nếu Đức Chúa Trời là Đấng thuần nhất vô phân thì đều này có mâu thuẫn với lẽ đạo Ba ngôi không ? Lẽ đạo Ba ngôi không dạy về Đức Chúa Trời bị phân chia nhưng dạy về sự hiệp nhất trọn vẹn của Ba ngôi. Cả Ba ngôi đều có cùng một bản tánh, cùng một thể yếu hoàn toàn trọn vẹn. Như vậy bất cứ ngôi nào cũng đều là Đức Chúa Trời trọn vẹn cả.
b. Các tà thuyết phản đối sự thuần nhất vô phân của Đức Chúa Trời : Đa thần giáo - Tam thần luận, Nhị nguyên luận.
Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vô hạn, vô lượng thì vũ trụ này không thể có 2 hoặc nhiều vị như vậy được. Nếu có thì sự tương tranh sẽ xảy ra, trật tự của vũ trụ sẽ bị đảo lộn. Nhưng cho đến bây giờ, mọi trật tự, công lệ của vũ trụ vẫn an bài cách vô cùng tốt đẹp. Điều này chứng tỏ rằng chỉ có một Đức Chúa Trời cao cả vượt trên tất cả mọi hiện hữu.
VI. LUẬN VỀ CÁC ĐỨC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Thần học thường chia các đức của Đức Chúa Trời thành 4 loại : Thánh khiết, Công nghĩa, Nhân ái, Chân thành.
A) Đức Thánh khiết (Holiness).
1. Định nghĩa : Đức Thánh khiết của Đức Chúa Trời là :
(a) Sự thuần khiết trong sạch tuyệt đối. Đây là một sự thánh khiết đề kháng hoàn toàn bất cứ sự thánh khiết, không tinh sạch nào. Hay nói cách khác, không có sự bất khiết nào đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời vì “Đức Chúa Trời là đám lửa hay thiêu đốt” (HeDt 12:25). Sự thuần khiết của Ngài khiến các Sêraphin là là những hiện hữu cực thánh ở thiên đàng cũng phải kêu lên rằng:“Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Giê hô va Đức Chúa Trời vạn quân, khắp đất đầy sự vinh hiển của Ngài ” (EsIs 6:3) . Sự thánh khiết của Chúa dẫn đến chỗ bất cứ ai muốn đến với Ngài thì phải đến trong sự trong sạch “Hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn mọi việc nên thánh của chúng ta ” (IICo 2Cr 7:1).
Tiên tri Êsai, một vị tiên tri lớn khi gặp Chúa cũng phải thốt lên rằng :“Khốn nạn cho tôi, xong đời tôi rồi, vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy” (EsIs 6:5).
(b) Sự tổng hợp các đức tánh của Đức Chúa Trời. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời có thể được xem là sự tổng hợp của tất cả các đức tánh của Đức Chúa Trời. Tất cả các bản tánh tuyệt đối của Đức Chúa Trời hòa hiệp lại với nhau để tạo thành một bản tánh oai nghi, vinh hiển của Ngài. Thí dụ : khi dùng kính để phân tách ánh sáng, chúng ta thấy có 7 màu sắc :đỏ, hồng, vàng, xanh, tím, tía, xanh lục (bích). Khi 7 sắc này hòa hợp lại với nhau chúng ta có một ánh sáng trắng thường thấy (vẻ các màu này trên một bản tròn, cho bảng tròn này quay nhanh sẽ thấy bảng chỉ có một màu trắng ).
2. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ như thế nào ?
(a) Diễn tiến quan niệm thánh khiết :
Trong thời Cựu ước, dân Ysơraên được truyền dạy phải sống cách biệt những gì dơ dáy, ô uế, có thể làm cho xác thịt bị ô nhiễm để họ có thể đến gần Đức Chúa Trời. Họ được truyền dạy là phải giặt giũ áo xống, tắm rữa, không nên ăn những thứ gì, không nên đụng đến những thứ gì. Phải hành động như thế nào, thái độ và hành động của dân chúng, người Lê vi, Thầy Tế lễ đối với Đền Tạm, nơi thánh, nơi chí thánh, các đồ dùng thánh như thế nào. Ý niệm về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong thời kỳ đầu dường như chỉ được thể hiện cách đơn sơ, chỉ liên lạc đến phần xác thịt của con người. Nhưng đến thời các tiên tri, sự thánh khiết này đã được đi xa hơn và liên hệ đến tấm lòng. Chính tiên tri Êsai, một con người rất mẫu mực trên phương diện con người đã không thể đứng nổi Đức Chúa Trời sự hiện diện của Ngài, cho đến khi một Sêraphin đến dùng than lửa nơi bàn thờ đụng đến môi miệng ông (môi miệng là một công cụ bày tỏ tấm lòng, môi miệng cũng là một dụng cụ tốt đẹp để ngụy trang tấm lòng. Phơi bày được sự thật của môi miệng thì sẽ thấy được tấm lòng. Ngược lại khi môi miệng được đụng đến cách cụ thể để nói lên những điều đẹp ý Đức Chúa Trời thì điều này có nghĩa là tấm lòng đã được đụng đến cách thuộc linh rồi). EsIs 6:1-7. Quan niệm về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ cách hoàn hảo nhất trong Đức Chúa Giê xu Christ là “Sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài ” (HeDt 1:3).
(b) Những phương cách Đức Chúa Trời bày tỏ sự thánh khiết :
Kinh thánh đã nêu lên cho chúng ta một số những phương cách Đức Chúa Trời bày tỏ sự thánh khiết của Ngài.
/1/ Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự ghét tội lỗi.
PhuDnl 25:16 “Vì Giê hô va Đức Chúa Trời ngươi lấy làm gớm ghiếc người nào làm các đều này (được ghi ở những câu trên) và phạm sự bất nghĩa ”.
ChCn 15:9 “Đường lối kẻ ác lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê hô va ”.
HaKb 1:13 “Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể thấy được sự trái ngược ”.
/2/ Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự ưa thích sự công bình, thánh sạch.
LeLv 19:2 “Hãy nên thánh, vì ta Giê hô va Đức Chúa Trời các ngươi vốn là thánh ”.
ChCn 15:9 “Ngài thương mến người nào theo sự công bình ”.
/3/ Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua việc Ngài không bao giờ làm đều gì sai quấy.
Giop G 34:10 “Vì vậy, hỡi người thông sáng hãy nghe tôi, Đức Chúa Trời chẳng hề hành ác, Đấng Toàn năng không bao giờ làm hung nghiệt ”.
/4/ Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự đoán phạt tội nhân. XuXh 34:6; Thi Tv 5:4.
Đây là chỗ loài người phải cần đến sự cứu chuộc của Chúa Giê xu để có thể thay thế cho chính mình, sau đó mới có thể đến gần Đức Chúa Trời.
Eph Ep 2:13 “Nhưng trong Đức Chúa Giê xu Christ, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Christ mà được gần rồi ”.
GiGa 14:6 “Đức Chúa Giê xu đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống, chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha ”.
HeDt 10:9 .
Tất cả mọi phương cách đến với Đức Chúa Trời đều phải đi qua sự đổ huyết của Đức Chúa Giê xu. Lý do đầu nhất và căn bản nhất của vấn đề : “Không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (HeDt 9:22). Vì Đức Chúa Trời là thánh nên mọi tội lỗi cần phải được phủ che, được tẩy sạch trước khi có thể được sự tương giao giữa Đức Chúa Trời và con người.
/5/ Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua sự chết chuộc tội của Chúa Giê xu Christ.
Đức Chúa Trời bởi sự thánh khiết tuyệt đối của Ngài không thể dung thứ được tội lỗi, vì vậy sự đoán phạt tội nhân là điều không thể tránh được. Không có một tội nhân nào cho dù đó là tội được con người đánh giá là nhỏ nhất đi nữa, cũng không thể nào tồn tại được trước ngọn lửa hừng của sự thánh khiết tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Trong sự yêu thương đối với con người, Đức Chúa Trời yêu thương tội nhân nhưng tội nhân chỉ có thể thực sự hưởng được sự yêu thương này cho linh hồn mình khi lửa của sự thánh khiết Ngài tiêu hủy tội lỗi trong con người. Nhưng làm thế nào tiêu hủy tội lỗi mà không tiêu diệt con người phạm tội ? Đức Chúa Giê xu bằng lòng gánh thay tội lỗi cho con người và chính Ngài đoán phạt lấy tội lỗi mà con người đáng ra phải chịu.
GiGa 3:16 “ Vì Đức Chúa Trời ……… sự sống đời đời ”
Phi Pl 2:23 “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi được sống cho sự công bình ”.
3. Những kết luận cụ thể rút ra từ giáo lý Đức Chúa Trời thánh khiết.
(a) Chúng ta phải đến với Đức Chúa Trời trong sự kính sợ. Nếu Đức Chúa Trời là đám lửa hừng hay thiêu đốt (HeDt 12:29) nếu những Sêraphin cực thánh, những hiện hữu luôn luôn ở gần Đức Chúa Trời còn phải che mặt (EsIs 6:1-3) thì con người bất toàn sống giữa một thế giới đầy bất toàn là ai mà lại không đến với Chúa trong sự tôn kính và run rẩy.
(b) Sự thành khiết của Đức Chúa Trời bày tỏ sự ô uế, dơ bẩn của tội lỗi chúng ta.
Nếu có một người nào đó nghĩ rằng mình là con người đạo đức. thánh thiện, tốt đẹp, thì người ấy hẳn chưa bao giờ gặp Đức Chúa Trời. Không có gì có thể đánh đổ sự công bình riêng của con người cách dễ dàng và hữu hiệu như sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Có ai có thể thuyết phục nổi tiên tri Êsai về “đôi môi dơ dáy” và chỉ cho ông thấy rằng sự công bình mà ông đang tự hào là “chiếc áo dơ nhớp” (64:6) ngoài ra sự hiện diện của Chúa ? Gióp sằn sàng chịu mất toàn bộ của cải, con cái và một cơn bịnh vô cùng đau đớn, nhưng ông quyết liệt chống lại những lời nói của các bạn nhận định về một lỗi lầm nào đó trong ông. Hào quang sự công bình riêng của nếp sống đạo đức trong sạch đã bao quanh Gióp khiến ông không thể thấy gì khác hơn là những gì to đẹp trong ông. Đức Chúa Trời đẹp ý để cho ông vận dụng tất cả mọi nguồn hào quang mà ông có được, sau đó dẫn ông đến đối diện với Ngài . Lúc đó, không ai bảo gì, lý luận gì với Gióp, chính ông đã tự thốt lên rằng :“Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài. Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi và ăn năn trong tro bụi ” (Giop G 42:5, 6). Để có thể đối diện và giúp đỡ những người cậy sự công bình riêng, hãy tìm mọi cách đưa họ đến trong sự hiện diện của Chúa.
( c) Không có sự tha thứ nếu không có sự chuộc tội. Tội lỗi cần phải được che khuất trước cái nhìn thánh khiết của Chúa và chỉ có huyết của Chúa Giê xu mới thực hiện được điều này “Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch không đổ huyết thì không có sự tha thứ ” (HeDt 9:22).
(d) Sự diệu kỳ của tình yêu Đức Chúa Trời thật là một điều vô cùng kỳ diệu khi Thiên Chúa toàn thánh lại có thể yêu những con người tội lỗi gớm ghê như chúng ta. Đây là một sự diệu kỳ trong cả cõi đời đời. Trong Kinh thánh có nhiều điều rất kỳ diệu, huyền nhiệm, nhưng không có điều nào huyền nhiệm hơn điều này “Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết ” (RoRm 5:8).
B) Đức công nghĩa .
1. Định nghĩa :
Đức công nghĩa là một bản tánh của Đức Chúa Trời được thể hiện khi tiếp xúc với các loài thọ tạo khác. Bởi đức công nghĩa mọi quyết định, hành động của Đức Chúa Trời đối với muôn vật thuộc cõi hữu hình hay vô hình đều thích hợp cách trọn vẹn. Bởi đức công nghĩa Đức Chúa Trời khen thưởng những ai có nếp sống thích hiệp với bản tánh thánh khiết của Ngài và nghiêm trị ai đi ngược lại. Trong lãnh vực thần đạo, nếp sống thích hiệp với sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được gọi là công nghĩa, còn điều gì không thích hiệp được gọi là bất nghĩa.
Exo Er 9:15 “Hỡi Giê hô va Đức Chúa Trời của Ysơraên ôi! Chúa vốn là công bình ”.
Thi Tv 116:5 “Đức Giê hô va hay làm ơn và là công bình ”.
145:17 “Đức Giê hô va là công bình trong mọi đường Ngài, hay làm ơn trong mọi công việc Ngài ”.
Gie Gr 12:1 “Hỡi Giê hô va, tôi biện luận cùng Ngài, Ngài thật công bình ”.
2. Sự công nghĩa của Đức Chúa Trời được bày tỏ thế nào ?
a. Trong cuộc tạo thành loài người :
Trong SaSt 1:26 cho thấy Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài và tượng Ngài. Chữ HÌNH và TƯỢNG đây hẳn không phải chỉ nói đến hình dạng bên ngoài mà thôi, nhưng cũng nói đến bản chất bên trong nữa. Dù con người đã bị tội lỗi làm cho hư hoại, nhưng những bản tánh tốt đẹp của vẫn còn thể hiện cách lờ mờ và bất toàn trong con người. Công lý của gia đình, học đường, xã hội, quốc tế đều dựa trên luật công bình mà xét đoán. Con người dù gian ác đến đâu cũng có lúc trong người ấy sáng lên ước muốn có được sự công bình, nhất là đối với sự việc có liên quan đến chính mình. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời, Đấng tạo dựng nên con người là công nghĩa.
b. Yêu mến sự công bình, ghét sự gian ác :
Trong lãnh vực này, sự công nghĩa của Đức Chúa Trời thể hiện qua sự thưởng phạt.
(1) Thưởng người công bình.
Đức Chúa Trời không bao giờ quên những người làm theo ý muốn của Ngài. Người công bình trong trường hợp này là người công bình dưới sự phán đoán của Đức Chúa Trời chớ không phải là người tốt theo sự nhận định của loài người.
IVua 1V 8:23 “Xin Chúa ở trên trời hãy nghe, đối đãi và xét đoán tôi tớ Chúa mà lên án kẻ dữ, khiến đường lối nó đổ lại trên đầu nó, và xưng công bình cho người công bình, và thưởng người tùy theo sự công bình của người ”.
IITi 2Tm 4:8 “Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta Chúa là quan án công bình sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện của Ngài ”.
HeDt 6:10 “Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương của anh em đã tỏ ra vì danh Ngài trong khi hầu việc các thánh đồ và hiện nay đương còn hầu việc nữa ”.
(2) Phạt kẻ ác .
Đức Chúa Trời cũng không bao giờ quên những kẻ làm ác không phạt họ, dầu vậy sự đoán phạt vào thời điểm nào và như thế nào là tùy thuộc quyền quyết định của Ngài.
Sự đoán phạt của Chúa dành cho người Ai cập về sự tàn ác của họ đối với dân Ysơraên.
DaDn 9:12, 14 “Ngài đã làm cho chắc các lời phán nghịch cùng chúng tôi, cùng các quan án đã đoán xét chúng tôi mà khiến tai vạ lớn đến trên chúng tôi; vì khắp dưới trời chẳng hề có tai vạ nào giống như đã làm ra trên Giêrusalem … Bởi cớ đó Đức Giê hô va ngắm xem và giáng tai vạ ấy trên chúng tôi, vì Giê hô va Đức Chúa Trời chúng tôi là công bình trong mọi việc Ngài làm, chỉn chúng tôi không vâng theo tiếng Ngài ”.
IITe 2Tx 1:6 “Vả, theo sự công bình Đức Chúa Trời thì ắt là Ngài lấy đều khổ báo những kẻ làm khổ anh em …”
Khi học về sự thưởng phạt của Đức Chúa Trời như là một phương cách để bày tỏ sự công bình của Ngài thì một vấn đề rất thường được nêu lên : Tại sao Đức Chúa Trời công bình lại để cho người thiện gặp nhiều hoạn nạn trong lúc biết bao nhiêu kẻ làm ác vẫn được hanh thông ? Vấn đề xảy ra ở đây không phải là Đức Chúa Trời có công bình hay không ? mà là cái nhìn và phán đoán của chúng ta trước cái gọi là thiện và ác như thế nào. Sự thiện và ác chúng ta đề cập đến ở đây liên hệ chủ yếu đến những gì có thể thấy bên ngoài. Nhưng trước mặt Đức Chúa Trời, vấn đề chủ yếu không phải chỉ là bên ngoài mà là bên trong. Sự chậm trễ đoán phạt những kẻ làm ác làm cho chúng ta đôi lúc tỏ ra bực bội, có thể lắm cũng là một phước hạnh đối với chúng ta nếu Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta thấy rõ thực chất của mình.
c. Trong sự bảo vệ và giải phóng dân Ngài khỏi mọi thù nghịch :
Trong lịch sử tuyển dân của Đức Chúa Trời chúng ta thấy vì sự không vâng phục, Ngài đã cho phép họ rơi vào tay quân thù nghịch để hành hại, hủy diệt; nhưng Ngài không để cho dân Ngài mãi mãi ở trong tình trạng này, Ngài giải cứu họ và đoán phạt những người đã làm hại họ.
Thi Tv 103:6 “Đức Giê hô va thi hành sự công bình và sự ngay thẳng thưởng cho mọi người bị hà hiếp ” .
129:1-4.
IITe 2Tx 1:5-7 “ Vả, theo sự công bình thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em và cho anh em là kẻ chịu khổ được nghỉ ngơi với chúng tôi trong khi Đức Chúa Giê xu Christ từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài giữa ngọn lửa hừng ”.
d. Trong sự giữ lời hứa :
NeNe 9:7-8. Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự công bình của Ngài bằng cách giữ lời hứa của Ngài đối với Ápraham. Nếu Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài với Ápraham thì Ngài cũng sẽ không bao giờ thất tín đối với những gì Ngài đã hứa với chúng ta.
C. Đức nhơn ái :
Nhơn ái là tên gọi 2 đức tánh vô cùng đẹp đẽ của Đức Chúa Trời đối với con người : Nhơn từ (thương xót) và Yêu thương. Thiếu hai đức tánh này, không một con người nào có thể tồn tại được. Nếu hai đức tánh này không được bày tỏ trong thế giới loài người thì chỗ duy nhất con người có thể đến được là lửa địa ngục của sự hình hạt đời đời.
1. Sự nhơn từ .
Lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời là một đức tánh qua đó Ngài thương xót kẻ có tội, ban cho họ những nhu cầu trong cuộc sống và tuyệt đỉnh của sự ban cho này là sự chết thay của Ngài trên thập tự giá.
* Chú y :Trong tiếng Hêbơrơ, chữ nhơn từ và thương xót chỉ là một, vì vậy hai chữ này được dùng trong Kinh thánh hoàn toàn có ý nghĩa giống nhau .
Eph Ep 2:4 “Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta ”.
RoRm 5:8 “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu tương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết ”.
(a) Đối tượng của sự nhơn từ của Đức Chúa Trời :
Nói cách tổng quát, sự nhơn từ, thương xót của Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người như lời Ngài đã phán :“Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác ” (Mat Mt 5:45). Nhưng nói cách cụ thể hơn, Kinh thánh đã cho chúng ta thấy những đối tượng sau đây được Đức Chúa Trời đoái đến và bày tỏ sự nhơn từ của Ngài.
/1/ Sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người kính sợ và yêu mến Ngài:
Đây là những người được xem là tôi tớ Ngài, bước đi trước mặt Ngài cách hết lòng.
PhuDnl 7:9 “Vậy nên phải nhận biết rằng Giê hô va Đức Chúa Trời ngươi … tức Đức Chúa Trời thành tín giữ sự giao ước và nhơn từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài ”.
XuXh 20:6“và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta ”.
Thi Tv 103:11, 17 “Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu thì sự nhơn từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu …. Song sự nhơn từ Đức Giê hô va hằng có đời đời cho những người kính sợ Ngài ”.
/2/ Sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người xưng nhân và lìa bỏ tội lỗi:
ChCn 28:13 “người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót ”.
/3/ Sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người tin cậy Ngài :
Thi Tv 32:10 “Kẻ ác có nhiều nỗi đau đớn, nhưng người nào tin cậy nơi Đức Giê hô va, sự nhơn từ vây phủ người ấy”.
/4/ Sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người kêu cầu danh Ngài :
86:5 “Chúa ôi, Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, ban sự nhơn từ dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa ”.
RoRm 10:13 “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu ”.
/5/ Sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người bị khốn khó :
EsIs 49:13 “Hỡi trời, hãy hát! Hỡi đất, hãy vui mừng! Hỡi các núi hãy lên tiếng hát xướng! Vì Đức Giê hô va đã yên ủi dân Ngài, cũng thương xót kẻ khốn khó ”.
/6/ Sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người Ngài muốn thương xót :
RoRm 9:15, 18 “Vì Ngài phán cùng Môise rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ Ta làm ơn, Ta sẽ thương xót kẻ Ta thương xót … Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót và muốn làm cứng lòng ai thì làm ”.
(b) Sự nhơn từ của Đức Chúa Trời được bày tỏ ra thế nào ?
/1/ Với tội nhân :
- Sự nhơn từ được bày tỏ qua việc tha thứ tội lỗi khi biết xưng ra và từ bỏ :
EsIs 55:7 “Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng, hãy trở lại cùng Đức Giê hô va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta vì Ngài tha thứ dồi dào ”.
Thi Tv 51:1 “Đức Chúa Trời ôi, xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhơn từ của Chúa, xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa ”.
MiMk 7:18; Gie Gr 3:12; Exe Ed 34:7.
Sự nhơn từ của Đức Chúa Trời đối với tội nhân không hề có một hàm ý bao che tội lỗi nhưng chỉ với mục đích kêu gọi sự ăn năn, xưng ra các tội lỗi và lìa bỏ nó để có thể nhận được sự thương xót. Lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời có thể xem là nơi trú ẩn vững chắc, kín đáo cho những người thật lòng ăn năn, nhưng với những ai cứng lòng thì không có tác dụng gì cho họ cả.
“Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lià bỏ nó sẽ được thương xót ” (ChCn 28:13).So sánh với thành ẩn náu của: Gios Gs 20:1-6; PhuDnl 19:1-3.
- Sự nhơn từ được bày tỏ qua việc nhịn nhục lâu dài với tội nhân, ngay cả họ tỏ ra cứng lòng, cứ miệt mài trong tội.
Khi học hỏi về lịch sử dân Ysơraên, chúng ta thấy điều này tất rõ. Trải bao năm tháng, Ngài vẫn bày tỏ sự nhịn nhục đối với họ, tìm mọi cách kêu gọi họ quay lại cùng Ngài.
NeNe 9:16-19, 26-27, 30-31
IIPhi 2Pr 3:9 “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho người đều ăn năn ”.
/2/ Với tín đồ :
- Sự nhơn từ được bày tỏ qua sự giải cứu khỏi bệnh tật, buồn rầu vì áp bức :
Phi Pl 2:27 “Vả người, (Épbaphôđích) mắc bịnh gần chết, nhưng Đức Chúa Trời đã thương xót người, và chẳng những người mà thôi, cả đến tôi nữa, đặng tôi khỏi buồn rầu càng thêm buồn rầu ”.
XuXh 15:13 “Ngài lấy lòng thương xót dìu dắt dân nầy mà Ngài đã chuộc lại, Ngài dùng năng lực đưa nó về nơi ở thánh của Ngài ”.
Thi Tv 6:1-4.
- Sự nhơn từ được bày tỏ qua sự bảo vệ an toàn cho những người tin cậy Ngài :
21:7 “Vì vua tin cậy nơi Đức Giê hô va, nhờ sự nhơn từ của Đấng Chí cao, người sẽ không rúng động ”.
- Sự nhơn từ được bày tỏ qua việc chính Ngài trở nên nơi nương náu của chúng ta :
59:16 “Nhưng tôi sẽ ca hát về sức lực Chúa. Phải, buổi sáng tôi sẽ hát lớn tiếng về sự nhơn từ Chúa. Vì Chúa là nơi ẩn náu cao của tôi, một nơi nương náu mình trong ngày gian truân ”.
2. Tình yêu thương.
Yêu thương là gì ?
Yêu thương là ước muốn tìm kiếm những điều tốt đẹp nhất cho đối tượng mình yêu mến và hoàn toàn thỏa vui khi những điều đó được thực hiện.
IGi1Ga 3:16, 17 “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống, chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy. Nếu ai có của cải đời này, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được ”.
Mat Mt 5:44, 45 “Song nói cùng các ngươi rằng : Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi hầu cho các ngươi được làm con của cha các ngươi ở trên trời, bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác ”.
(a) Đức Chúa Trời yêu thương.
Tại sao Đức Chúa Trời có thể yêu thương con người trong đó có chúng ta như điều Kinh thánh đã bày tỏ ? Lý do rất đơn giản : vì Ngài chính là tình yêu. Tình yêu chính là bản chất của Ngài. Ngài là nguồn của mọi tình yêu. Chúng ta không thể hiểu nổi về tình yêu này, chỉ nhờ Thánh Linh Chúa hướng dẫn chúng ta để có thể hiểu được phần nào về chân lý này qua sự bày tỏ trong Kinh thánh.
GiGa 3:16 “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi …”
IGi1Ga 4:8, 16 “Ai chẳng yêu thì không biết Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương … chúng ta đã biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là yêu thương, ai cứ ở trong sự yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong người ấy ” .
(b) Đối tượng của tình yêu Đức Chúa Trời :
/1/ Yêu thương Con một của Ngài :
Kinh thánh cho biết rằng Chúa Giê xu Christ là đối tượng nguyên thủy và vĩnh cửu của tình yêu Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu thương con Ngài cách trọn vẹn. Vì Đức Chúa Trời là Đấng đời đời và chính là nguồn của tình yêu, từ đó giúp chúng ta có thể suy ra Ngài cũng phải có một đối tượng vĩnh cửu của Ngài. Như vậy, qua tình yêu của Chúa đối với con độc sanh của Ngài, chứng tỏ rằng Con cũng hiện hữu đời đời như Cha.
GiGa 17:24 “Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con vì Cha đã yêu con trước khi sáng thế ”.
Mat Mt 3:17 “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng ”.
/2/ Yêu những người ở trong Chúa Giê xu Christ :
Người ở trong Jêsus Christ là những người bởi đức tin, tiếp nhận sự cứu rỗi đã ban cho bởi Chúa Giê xu Christ qua sự hy sinh chịu chết tại thập tự giá. Người ở trong Chúa Giê xu Christ là người được bao phủ bởi chính Ngài, những người được Thánh Linh Đức Chúa Trời ấn chứng, xác nhận là con Đức Chúa Trời, những người có cuộc sống được điều động bởi Thánh Linh để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
GiGa 14:21, 23 “người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại … Nếu ai yếu mến ta thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ thương yêu người ”.
16:27 “Vì chính Cha yêu thương các ngươi, nhơn các ngươi đã yêu mến ta và tin rằng ta từ nơi Cha mà đến ”.
17:23 “ …… Cha đãyêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương con ”.
/3/ Yêu cả thế gian :
Vì Ngài là nguồn của tình yêu nên tình yêu đó không chỉ là giới hạn trong vòng những người ở trong Chúa Giê xu Christ mà thôi, nhưng cũng bao trùm cả thế gian. Điều này có nghĩa là không một cá nhân nào trong thế gian này ở ngoài tình yêu của Ngài cả. Điều làm cho Nicôđem ngạc nhiên không phải là vấn đề : “Tái sinh” mới được vào Thiên đàng mà thôi, nhưng còn là vấn đề Đức Chúa Trời yêu thương tất cả mọi người không phải chỉ là một chủng tộc đặc biệt nào mà là tất cả. Không phân biệt da màu, chủng tộc, ngôn ngữ, có luật pháp hay không. Tất cả mọi người đều là đối tượng của tình yêu và sự cứu rỗi .
ITi1Tm 2:4 “ Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật ”.
IIPhi 2Pr 3:9 “Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn ”.
/4/ Yêu tội nhân :
Đức Chúa Trời không phải bày tỏ tình yêu của Ngài đối với những người ở trong Đấng Christ cùng một cách với người chưa tin. Nhưng Ngài có một sự lưu tâm đặc biệt đối với những người đang ở trong tình trạng hư mất (so sánh với GiGa 14:21, 23; 17:23; RoRm 8:31-39 với LuLc 15:10).
15:7 “Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng vậy sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn, hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn ”.
15:10 “Ta nói cùng các ngươi trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn ”.
(c) Sự bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời.
Tình yêu của Đức Chúa Trời Chúa bày tỏ bằng rất nhiều phương cách, dầu vậy để học hỏi chúng ta có thể tạm giới hạn trong hai lãnh vực :
/1/ Đối với thế gian :
Từ “Thế gian” được dùng trong phần này liên hệ đến người còn đang ở trong tội lỗi, chưa tiếp nhận sự cứu rỗi.
- Bởi sự hy sinh vô hạn lượng để cứu chuộc loài người :
Tuyệt đỉnh tình yêu của Đức Chúa Trời đối với thế gian là bằng lòng hy sinh con độc sanh của Ngài, đối tượng vĩ đại nhất của tình yêu Ngài để tạo một cơ hội, một phương cách giúp con người có thể tìm lại được sự sống vĩnh cửu đã bị đánh mất bởi tội lỗi. Nếu gọi hy sinh thì đây là tuyệt đỉnh của sự hy sinh. Nếu gọi là mất mát thì đây là tuyệt đỉnh của sự mất mát. Không có sự hy sinh nào lớn hơn, sự mất mát nào lớn hơn mà Đức Chúa Trời có thể dành cho con người.
IGi1Ga 4:9-10 “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều này, Đức Chúa Trời sai con một Ngài đến thế gian đặng chúng ta nhờ con được sống. Nầy sự yêu thương ở tại đây, ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời nhưng Ngài đã yêu chúng ta và sai con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta ”.
RoRm 5:6-8 “Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối thì Đấng Christ đã theo kỳ hạn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chết vì người nghĩa, dễ thường cũng có kẻ chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta khi chúng ta còn là người có tội thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết ”.
- Bởi sự tha tội :
Tha thứ tội lỗi là một phương cách qua đó con người thấy rõ nhất, cụ thể nhất về tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Sự tha thứ là một khởi điểm, là cánh cửa mở ra để con người bước và vui hưởng tình yêu trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Chưa tìm được sự tha thứ thì con người chưa thể thấy gì khác hơn là lo lắng và hình phạt .
Tiên tri Êsai đã ký thuật lại của vua Êxêchia nói về kinh nghiệm được tha tội như sau :
EsIs 38:17 “Nầy, sự cay đắng của tôi đã trở nên sự bình an, Chúa đã yêu thương linh hồn tôi, đem nó ra khỏi hầm hư nát. Vì Chúa đã ném mọi tội lỗi tôi ra sau lưng Ngài ”.
55:7.
Eph Ep 2:4, 5 “Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót vì lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ ”.
Lưu ý : 2:1-3 : Sự bất lực của loài người.
- Ban quyền làm con Đức Chúa Trời :
Sự tha thứ tội dẫn đến chỗ con người nhận được đặc quyền làm con Đức Chúa Trời. Đây là một khía cạnh khác trong diễn tiến tình yêu của Đức Chúa Trời thực hiện cho con người. Sự nhận làm con hoặc ban quyền làm con tự nó đã nói lên tình yêu rồi. Nếu không thương yêu thì có ai lại muốn nhận một người nào đó làm con.
GiGa 1:12 “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời là ban cho những kẻ tin danh Ngài ”.
IGi1Ga 3:1 “Hãy xem Đức Chúa Trời đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào mà cho chúng ta được xưng là con cái Ngài và chúng ta thật là con cái Đức Chúa Trời ”.
/2/ Đối với con cái Ngài :
Đối với người được nhận làm con của Ngài thì đương nhiên nhận được nhiều dạng tình yêu do địa vị làm con mang lại.
- Luôn quan tâm đến nhu cầu và niềm vui của con cái Ngài, bảo vệ khỏi những điều không tốt đẹp.
Không có một người nào cha lại không quan tâm đến nhu cầu và niềm vui của con cái. Cha về phần xác luôn luôn sẵn sàng hy sinh nhu cầu, niềm vui của mình cho con cái, người cha sằng sàng trả giá để bảo vệ con. Cha Thiên Thượng còn yêu thương con cái của Ngài gấp bội phần hơn nữa.
EsIs 48:21 “Khi Ngài dẫn họ đi ngang qua sa mạc thì họ không khát vì Ngài đã khiến nước từ vầng đá chảy ra cho họ, đập bể vầng đá thì nước văng ra ”.
PhuDnl 32:9-12; 33:3, 12 .
LuLc 11:13 “Vậy, nếu ngươi là xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi trên trời lại chẳng ban Thánh Linh cho người xin Ngài ”.
- Đau niềm đau của con cái.
Không có một tình yêu chân thật nào lại không cảm thấy đau trước cái đau của người mình yêu thương, cha mẹ thuộc thể thường cảm ấy đau nhói trong tim khi con cái mình đau đớn thể xác hay đau ốm. Cha mẹ còn cảm thấy đau đớn hơn con cái.
EsIs 63:9 “Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ và Thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi. Chính Ngài đã lấy lòng yêu thương, thương xót mà chuộc họ, Ngài đã ẵm bồng và mang họ trong các ngày thuở xưa ”.
- Không bao giờ quên người Ngài yêu.
Đôi lúc dường như Ngài có quên, Ngài đứng xa, nhưng thực ra Ngài vẫn ở gần, rất gần và không bao giờ quên.
49:15-16 “Đàn bà há quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đờn bà quên con mình ta cũng chẳng quên ngươi. Nầy ta đã chạm ngươi trong lòng bàn tay ta, các tường thành ngươi thường ở trước mặt ta luôn ”.
- Sửa phạt những người Ngài yêu .
Sửa phạt cũng là một phương cách bày tỏ tình yêu thương, sửa phạt giúp con người đi đúng hướng. Sửa phạt giúp con người thấy được bản chất thật của mình để có thể ăn năn quay lại để hưởng được những phước hạnh càng tốt đẹp hơn.
HeDt 12:6-11.
D) Đức chân thành .
Đức chân thành là tên gọi bao gồm hai bản tánh của Đức Chúa Trời : Chân thật và Thành tín. Sự chân thật và thành tín gần giống như nhau. Nhưng sự chân thật nghiên về phía bản tánh của Ngài, còn sự thành tín là sự bày tỏ bản tánh ấy. Đức Chúa Trời dùng đức chân thành để đối xử với nhân lọai. Nhân loại không phân biệt tín đồ hay người ngoại đều được dự phần trong sự chân thật và thành tín.
Kể từ lúc con người phạm tội thì sự chân thật không còn ở trong con người nữa. Vì trong sự phạm tội con người đã chối bỏ Đấng chân thật, quay sang thuận phục ma quỉ làm kẻ được mệnh danh là cha của kẻ nói dối (GiGa 8:44). Bởi sự chi phối của ma quỉ nên con người sống với nhau bằng sự giả dối. Ngay cả những gì người ta gọi là xã giao, lịch sự cũng gói gém trong nó một cái gì không thật. Con người chấp nhận sự dối trá vì lợi ích của chính mình và con người tiếp tục sống trá với nhau cũng chỉ vì lợi ích của chính mình. Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự dối trá của con người thì sự chân thành của Đức Chúa Trời được ngời sáng .
Thi Tv 138:2 “Tôi sẽ … cảm tạ danh Chúa vì sự nhơn từ và sự chân thật của Chúa ”.
GiGa 3:33 “Ai đã nhận lấy lời chứng của Ngài hì làm chứng chắc rằng Đức Chúa Trời là chân thật ”.
1. Tại sao gọi Đức Chúa Trời là chân thành ?
a/ Tánh chất của Đức Chúa Trời là chân thật.
Trong GiGa 17:3 chính Chúa Giê xu là “Đấng ở trong lòng Cha” đã khẳng định rằng Ngài là “Chân Thần Duy Nhất”. Chân thần được nêu lên ở đây bày tỏ sự chân thật trọn vẹn trong bản tánh của Ngài. Bởi bản chất của Ngài là chân thật nên tất cả mọi lời nói, hành động của Ngài đều chân thật cả. KhKh 3:14 gọi Ngài là “Đấng Amen, Đấng thành tín chân thật”. Thơ IICo 2Cr 1:20 xác nhận rằng :“Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói Amen, làm sáng danh Đức Chúa Trời ”. Chính vì bản tánh của Đức Chúa Trời là chân thật nên lời Ngài kêu gọi những ai thờ phượng Ngài phải lấy “tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy ”.(GiGa 4:24).
b/ Các định luật trong vũ trụ bày tỏ sự chân thật của Đức Chúa Trời.
Chúng ta thử nhìn vào các định luật, các trật tự của vũ trụ thì thấy rõ bản chất không hề thay đổi của Đức Chúa Trời. Năm này qua năm khác, sự chuyển vận của vũ trụ vẫn không thay đổi, các mùa kế tiếp nhau đến rồi đi, nhưng là sự của Đức Chúa Trời, và cũng là lời hứa của Ngài đối với nhân loại. Chúng ta nghe lời Chúa hứa với NôÊ trong SaSt 8:22 “Hễ đất còn, thì mùa gieo giống cùng mùa gặt hái, lạnh và nóng, mùa hè cùng mùa đông, ngày và đêm chẳng bao giờ tuyệt được ”.
c/ Lời phán của Đức Chúa Trời là chân thật.
Lời phán của Chúa bày tỏ sự chân thật của Ngài vì Kinh thánh đã chứng nghiệm cách rõ ràng những lời phán của Đức Chúa Trời không hề sai trật. Có những lời nói của Ngài hàng ngàn năm trước hay hơn thế nữa nhưng vẫn được ứng nghiệm các rất chính xác.
Giôsuê đã thẳng thắn công bố trước toàn dân Ysơraên và nói với họ những gì họ đã công nhận cách cá nhân về sự chân thật của lời Đức Chúa Trời như vầy : “…… trong các lời lành mà Giê hô va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán về các ngươi, chẳng có một lời nào sai hết, thảy đều ứng nghiệm cho các ngươi, thật chẳng một lời nào sai hết ” (Gios Gs 23:14). Tác giả Thi Tv 119:89 đã nói : “Hỡi Giê hô va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời ”.
Kinh nghiệm bản thân của chúng ta là con cái Đức Chúa Trời đã chứng tỏ điều này qua những lời cầu xin của chúng ta được nhậm. Căn bản của sự cầu xin chúng ta là gì? Lời hứa của Đức Chúa Trời chỉ trưng dẫn một ví dụ rất đơn giản : trên thế giới này có hàng tỉ người đã hưởng được phước hạnh của Đức Chúa Trời cách hết sức cụ thể qua lời hứa trong IGi1Ga 1:9 “Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
* Chú ý : Nếu lời Đức Chúa Trời là chân thật trong sự giáng phước cho những người vâng phục và làm đẹp lòng Ngài thì việc xuống họa cũng là một lời rất chân thật, dành cho những ai chối bỏ không bước đi theo Ngài.
2. Phạm vi sự chân thành của Đức Chúa Trời.
Sự chân thành của Chúa không có một giới hạn nào và sự thành tín Ngài được nhìn thấy, được cảm thông trong tất cả mọi lãnh vực trong vũ trụ..
Thí dụ : Chúa cho dân Ysơraên biết rằng Ngài sẽ nuôi họ hằng ngày giữa lúc họ sống trong sa mạc sỏi đá, không gieo trồng gì được. Như vậy, sự thành tín của Ngài trong lãnh vực này là gì ? Ma na được ban cho dân sự mỗi buổi sáng. Kinh thánh cũng nói tiếp “Ngài là Đấng ban sự sống, hơi sống cho mọi người ” (Cong Cv 17:25) Sự thành tín Ngài trong trường hợp này là : trên phương diện hơi sống con người vẫn thở hít không khí, trên phương diện sự sống, con người mỗi ngày nhìn chung quanh vẫn thấy cây cối xung quanh tươi xanh, chim bay trên trời, cá dưới sông, biển, ao, hồ, thú vật trên mặt đất, lúa, ngô, khoai, sắn đầy đồng nương, ngày đêm, thời tiết v.v…
Kinh thánh đã cho chúng ta một vài ý về phạm vi này :
(1) Sự chân thành của Đức Chúa Trời là vĩ đại :
CaAc 3:23 “Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm ”.
(2) Sự chân thành của Đức Chúa Trời đến tận các từng trời:
Khi nói đến các từng trời là dụng ý nói đến toàn thể vũ trụ. Đã nói đến vũ trụ là phải nói đến sự bao la vô tận của nó, sự bao là mà ngày này con người chỉ cố gắng thể hiện bằng sự suy đoán, ước tính và nêu lên bằng con số thôi, nhưng với những con số vĩ đại mà con người nêu lên ngày nay cũng chỉ là một phần nào của toàn diện vũ trụ.
Thi Tv 36:5 “Hỡi Đức Giê hô va, sự nhơn từ Ngài ở trên các từng trời, sự thành tín Ngài đến tận các mây ”.
89:2 “Vì tôi đã nói: sự thương xót sẽ được lập đến đời đời. Trên các từng trời Ngài sẽ lập cho vững bền sự thành tín Ngài ”.
3. Sự thành tín của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua các công việc của Ngài :
Công việc của Ngài là những tạo vật, những hiện hữu trong vũ trụ không phân biệt tầm vóc hoặc vị trí hoạt động tồn tại của chúng. Nhìn vào từng loài chúng ta đều thấy được sự thành tín của Chúa đối với chúng ta. Thí dụ : với sức nóng vĩ đại của sa mạc, tưởng chừng như không có một loài sinh vật, thảo mộc nào có thể thích ứng được. Dầu vậy, một số loài hoa vẫn nở ở sa mạc : những loại xương rồng không có lá, thân phồng lên chứa đầy nước trong những ngày mưa để có thể sống được trong những ngày khô hạn. Những chiếc lá thân phồng lên là kho dự trữ nước đồng thời cũng là nhà máy làm thức ăn nuôi cây. Có những loài cây chỉ nhô lên mặt đất vài centimètre, nhưng rễ của nó dài hàng mấy trăm mét để có thể tìm kiếm nơi có nước hầu có thể tồn tại và nở hoa trong sa mạc. Một số loài ruồi, muỗi ở những vùng băng giá, đến mùa đông thân được phủ bằng một lớp lông để chống rét. Những chú thỏ mùa hè có lông màu nâu, đến mùa tuyết rơi lại có lông trắng (các loài vật đổi màu tuy theo môi trường để tránh nguy hiểm). Khi tìm tòi, nghiên cứu, nhìn xem công việc của Ngài trong vũ trụ trước giả Thi Tv 33:4 đã thốt lên rằng : “Vì lời Đức Giê hô va là ngay thẳng. Các công việc của Ngài đều làm cách thành tín. ”
VII. LUẬN VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI.
Chúng ta đã học Đức Chúa Trời là Đấng độc nhất vô nhị, là Đấng thuần nhất vô phân, nhưng bước vào phần này, chúng ta bởi đức tin nơi sự soi sáng của Đức Chúa Trời để đề cập đến lẽ đạo Ba ngôi của Đức Chúa Trời. Với lẽ đạo một Đức Chúa Trời duy nhất bất khả phân, lại có ba ngôi vị đặc biệt không lẫn lộn nhau cùng chung một thể yếu, một bản chất, một quyền năng và cả 3 ngôi vị này chỉ là một Đức Chúa Trời duy nhất là điều trí óc con người không thể hiểu nổi. Dầu vậy, lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một Đức Chúa Trời chính là chìa khóa vạn năng để mở các sự mầu nhiệm của các lẽ đạo khác. Với trí và khả năng hữu hạn của con người, cầu xin Chúa gia tăng đức tin và sự khôn ngoan thiên thượng cho chúng ta để tìm được phước hạnh của “mật ong nơi hòn đá” (Thi Tv 81:16).
A/ Kinh thánh làm chứng cho lẽ đạo Ba Ngôi.
Qua thiên nhiên chúng ta có thể tìm ra nhiều bằng chứng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, nhưng không thể tìm ra một bằng chứng nào liên hệ đến lẽ đạo Ba Ngôi. Tất cả những gì chúng ta học biết về lẽ đạo Ba Ngôi đều được bày tỏ qua Kinh thánh. Dầu vậy, Kinh thánh không có chỗ nào nói cách trực tiếp rằng Đức Chúa Trời có ba ngôi, nhưng chỉ nói ngụ ý đến lẽ đạo quan trọng này. Lẽ đạo Ba Ngôi đã trở thành lẽ đạo quan trọng bậc nhất, là nền tảng để các lẽ đạo khác được xây lên .
1. Cựu ước làm chứng.
Sự mầu nhiệm của lẽ đạo Ba ngôi được khải thị bày tỏ lần lần trong suốt diễn tiến của Kinh thánh. Cựu ước đã cho thấy một sống bằng chứng về lẽ đạo này.
a. Danh từ đa số :
Cựu ước không nói rõ về lẽ đạo Ba Ngôi, nhưng qua cách dùng danh từ đa số để chỉ về Đức Chúa Trời và động từ đơn số để chỉ về công việc, hành động của Ngài cho thấy Đức Chúa Trời cò nhiều hơn một đơn vị, nhưng vẫn là một Đức Chúa Trời.
SaSt 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất ”.
Trong nguyên văn Hêbơrơ, chữ Đức Chúa Trời được dùng ở đây là Elohim, một dành từ số nhiều, trong khi đó động từ “dựng nên” trong tiếng Hêbơrơ là bara, động từ dùng ở ngôi thứ ba số ít. Elohim (số nhiều) cho thấy rằng trong trạng thái thực hữu, Đức Chúa Trời không phải là đơn số mà là đa số, nhiều ngôi, còn động từ bara ở ngôi thứ 3 số ít, cho thấy sự hiệp nhất của ba ngôi là một .
TrGv 12:1 “Trong buổi còn thơ ấu hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa ngươi ” (Creator)
Chữ Đấng Tạo Hóa ở đây được hiểu là đơn số, nhưng từ được dùng là từ ở dạng đa số.
EsIs 54:5 “Vì chồng ngươi tức là Đấng đã tạo thành ngươi …”(makers is …).
Chữ Đấng tạo thành trong nguyên văn là từ số nhiều, trong khi động từ “LÀ” được dùng là động từ đơn số.
b. Đại danh từ đa số :
Trong Cựu ước, chúng ta thấy Đức Chúa Trời thường dùng đại danh từ CHÚNG TA để nói về Ngài.
SaSt 1:26 “Đức Chúa Trời phán rằng: chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta ”.
3:22 “Giê hô va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã trở thành một bực như chúng ta ”.
11:6, 7 “Đức Giê hô va phán rằng: thôi chúng ta hãy xuống làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó ”.
EsIs 6:8 “Đoạn tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi, ai sẽ đi cho chúng ta ?”.
c . Những câu Kinh thánh phân biệt 3 ngôi vị :
IISa 2Sm 23:2, 3 - Thần của Đức Giê hô va
- Đức Chúa Trời của Ysơraên
- Hòn đá lớn của Ysơraên (ICo1Cr 10:4; IPhi 1Pr 2:4; Mat Mt 21:42)
EsIs 48:16 “Ta”: Đấng đang tuyên phán trong cương vị Đức Chúa Trời.
w Chúa Giê hô va.
w Thần của Ngài.
d. Thiên sứ của Đức Giê hô va.
Khi đọc một số sách trong Cựu ước chúng ta thấy có xuất hiện một vị gọi là Thiên sứ. Qua lời tuyên xưng của các nhân vật Kinh thánh, chúng ta thấy qua lời tuyên xưng của vị này thì vị Thiên sứ này chính là ĐứcGiê hô va, chính vị này đã bằng lòng để cho người ta thờ lạy mình. Chúng ta thấy trong Tân ước cũng có một vị thiên sứ quyền uy được gọi là thiên sứ của Chúa, nhưng hành động của hai vị này hoàn toàn khác nhau. Vị thiên sứ trong Cựu ước đòi và chấp nhận sự thờ phượng, còn vị trong Tân ước không cho phép ai thờ lạy mình, nhưng truyền bảo người ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời mà thôi. (XuXh 3:2-5; KhKh 22:8-9). Như vậy vị Thiên sứ được nói đến trong Cựu ước không phải là một loài thọ tạo, nhưng đó chính là Đức Chúa Trời, có thể Ngài là Ngôi Hai. Đức Chúa Trời đã từng hồi từng lúc mượn đã mượn dạng loài người để hiện ra. Chúng ta nhớ rằng : việc Chúa Giê xu trở nên người là một chương trình đã được hoạch định từ buổi sáng thế. Vì vậy, việc Ngôi Hai Thiên Chúa xuất hiện trong hình người là điều chúng ta có thể hiểu được (Cac Tl 6:11, 12, 14, 17, 18; 13:9-10; LuLc 1:19, 26).
SaSt 16:7, 9, 13 “Thiên sứ của Đức Giê hô va dạy rằng … nàng gọi Giê hô va mà đã phán cùng mình danh là Đức Chúa Trời hay đoái xem ”.
SaSt 22:11, 16, 17; 31:11, 13; XuXh 3:2, 4, 5 .
e. Sự khôn ngoan :
Trong sách Châm ngôn 8 đề cập đến sự khôn nngoan và nói đến sự khôn ngoan này như có vị cách, thực hữu với Đức Chúa Trời từ trước vô cùng, có tánh chất và thể yếu của Đức Chúa Trời.
ChCn 8:1 “Sự khôn ngoan há chẳng kêu lên sao ?” (So sánh với Mat Mt 11:19; LuLc 7:35; 11:49).
ChCn 8:22, 30-31 “Trong buổi Đức Giê hô va khởi cuộc tạo hóa. Về thời thái cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta … Ta ở bên Ngài làm thợ cái. Hằng ngày ta là sự khoái lạc của Ngài, và thường thường vui vẻ trước mặt Ngài … và sự vui thích ta ở nơi con cái loài người ”.
Qua những câu Kinh thánh được nêu lên, sự khôn ngoan ở đây không phải là vấn đề nhân cách hóa sự khôn ngoan mà là sự ám chỉ về Đấng Christ ngôi hai Đức Chúa Trời (so sánh GiGa 1:1-3).
f. Lời dự tả về Đấng Mêsia :
Cựu ước cho biết Đấng Mêsia, Đấng Đức Chúa Trời sẽ sai xuống cho dân Ysơraên để giải cứu họ cũng có mọi tính chất của Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Trời, nhưng về ngôi vị thì vẫn là hai ngôi vị khác nhau chớ không phải là một.
EsIs 9:5 “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta … Ngài sẽ được xưng là Đấng lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời quyền năng, là Cha đời đời, là Chúa bình an ”.
MiMk 5:1 “gốc tích Ngài … từ trước vô cùng ”.
Thi Tv 45:6, 7 “Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia … cho nên Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của Ngài, đã xức dầu cho Ngài ”.
2. Tân ước làm chứng.
So với Cựu ước, Tân ước đã ghi lại sự khải thị rất rõ ràng về lẽ đạo Ba ngôi, cho thấy rằng có ba Đấng đặc biệt được gọi là Đức Chúa Trời.
a. Đức Chúa Cha được nhận là Đức Chúa Trời :
Ba ngôi Đức Chúa Trời thường được Tân ước đề cập đến bằng các danh hiệu :Cha, Con và Thánh Linh. Đức Chúa Cha thường được Tân ước gọi là Đức Chúa Trời.
GiGa 6:27 “Vì ấy là Con, mà Cha tức là chính Đức Chúa Trời đã ghi ấn tín của Ngài ”.
IPhi 1Pr 1:2 “theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha ”.
b. Chúa Giê xu được nhận là Đức Chúa Trời :
Tân ước cũng nêu lên nhiều câu chứng tỏ rằng Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời.
GiGa 1:1 “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời ”.
HeDt 1:8 “ Nhưng nói về Con thì lại phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời ngôi Chúa còn mãi đời nọ sang đời kia ”.
IGi1Ga 5:20 “… chúng ta ở trong Đấng chân thật là trong Đức Chúa Giê xu Christ, Con của Ngài. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời ”.
Xem thêm RoRm 9:5; Tit Tt 2:13.
Chúa Giê xu được xưng là :
- Đức Chúa Trời (GiGa 1:1).
- Đức Chúa Trời chân thật (IGi1Ga 5:20).
- Đức Chúa Trời đáng ngợi khen (RoRm 9:5).
- Đức Chúa Trời vinh hiển (Tit Tt 2:13).
c . Thánh Linh được gọi là Đức Chúa Trời :
Kinh thánh Tân ước cũng gọi Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Khi đưa ra lời lên án Anania và Saphira về tội nói dối, Phierơ đã nói :“Sao Satan … đến nỗi ngươi nói dối cùng Thánh Linh? Chẳng phải ngươi nói dối loài người bèn là nói dối Đức Chúa Trời ” (Cong Cv 5:3, 4).
So sánh ICo1Cr 3:16 Đền thờ của Đức Chúa Trời.
6:19 Đền thờ của Thánh Linh.
Qua cách dùng từ của hai câu này, chúng ta thấy Thánh Linh cũng chính là Đức Chúa Trời.
Kinh thánh còn gọi Thánh Linh là Chúa. Trong IICo 2Cr 3:17, Phaolô nói : “Chúa tức là Thánh Linh, Thánh Linh của Chúa ở đâu thì sự tự do cũng ở đó ”.
d . Ba Ngôi Đức Chúa Trời được thể hiện qua lễ Báp têm :
Trong Lễ Báp têm của Chúa Giê xu, chúng ta thấy Ba Ngôi Đức Chúa Trời được thể hiện rất rõ ràng. Đức Chúa Con vừa chịu Báp têm và ra khỏi nước, Đức Thánh Linh đến với Ngài trong hình chim bò câu và Đức Chúa Trời từ trời phán :“ Nầy là Con yêu dấu của Ta ” (Mat Mt 3:16-17).
Trước khi lìa môn đồ về trời Chúa Giê xu đã truyền lại cho môn đồ một mạng lịnh rất quan trọng, trong đó có phần liên hệ đến Lễ Báp têm như sau :“Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép Báp têm cho họ ”. Nếu chú ý đến cách dùng từ trong câu này theo nguyên văn, chúng ta có thể thấy được phần nào về lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một.
- Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh : đa số.
- Chữ DANH lại là : đơn số.
e . Những thuộc tánh của Đức Chúa Trời và Ba Ngôi Đức Chúa Trời :
Khi nghiên cứu Kinh thánh, chúng ta có thể dễ dàng thấy được các thuộc tánh của Đức Chúa Trời, những bản tánh hoàn toàn thuộc riêng về Đức Chúa Trời đã được thể hiện trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.
/1/ Về bản chất đời đời :
a - Cha : “Từ trước vô cùng cho đến đời đời, Chúa là Đức Chúa Trời ” (Thi Tv 90:1)
b - Con : Kinh thánh chép Ngài là “Anpha và Ômêga … là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng ” (KhKh 1:8, 17).
GiGa 1:2 “Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời ”.
MiMk 5:2 “gốc tích Ngài bởi từ xưa, từ trước vô cùng. ”
c - Thánh Linh : về Thánh Linh, Kinh thánh chép “Đấng Christ … nhờ Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì vít cho Đức Chúa Trời ” (HeDt 9:14).
/2/ Về quyền năng vô hạn :
Kinh thánh cho thấy rõ mỗi ngôi trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều thực hiện những việc quyền năng vô hạn.
a - Cha : “… nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho ” (IPhi 1Pr 1:5).
b - Con : giữa những lúc phải đương đầu với những thử thách lớn Phaolô đã nói “Vậy tôi sẽ rất vui lòng kheo mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh (quyền năng ) của Đấng Christ ở trong tôi ”(IICo 2Cr 12:9).
c - Thánh Linh : trong thơ gởi cho Hội thánh Rôma Thánh Phaolô nói cho biết rằng những công việc Đấng Christ giao cho ông và ông đã hoàn thành được gọi là do “quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời ” (RoRm 15:17-19).
/3/ Về sự vô sở bất tri :
a - Cha : “dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng ” (Gie Gr 17:10).
b - Con : “Mọi Hội thánh sẽ tỏ rõ Ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người ” (KhKh 2:23).
c - Thánh Linh :“Nếu không phải là Thần Linh trong lòng người thì ai biết sự trong lòng người ” (ICo1Cr 2:11).
/4/ Về sự vô sở bất tại :
Cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều được Kinh thánh nói đến là vô sở bất tại :
a - Cha : “Đức Giê hô va phán: há chẳng phải ta đầy dẫy các từ trời và đất sao? ” (Gie Gr 23:24).
b - Con : Chúa Giê xu phán “nơi nào có đôi ba người nhơn danh ta nhóm lại, thì ta ở giữa họ ” (Mat Mt 18:20).
c - Thánh Linh :về sự vô sở bất tại của Thánh Linh, trước giả Thi thiên đã được khải thị và nói lên rằng : “Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? ” (Thi Tv 139:7).
/5/ Về đức thánh khiết :
Thánh khiết tuyệt đối là đức tánh của mỗi ngôi trong ba ngôi Đức Chúa Trời.
a- Cha : những người đã nhờ sức toàn năng của Đức Chúa Trời đắc thắng con thú đã lớn tiếng ca hát ngợi khen Chúa : “Lạy Chúa ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh ” (KhKh 15:4)
b - Con :Đấng Christ đã được gọi là “Đấng thánh”, “ Các người đã chối bỏ Đấng Thánh ” (Cong Cv 3:14).
c - Thánh Linh :Ngôi ba trong Ba ngôi Đức Chúa Trời luôn luôn được ngôi là Thánh Linh. Đây chính là lý do các Sêraphin lên tiếng ca ngợi Chúa đã nói : “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Đức Giê hô va vạn quân ” (EsIs 6:3).
/6/ Về chân lý (Lẽ thật ) :
Một trong Ba ngôi Đức Chúa Trời đều được gọi là Chân lý (lẽ thật).
a - Cha : Đấng Christ đã gọi Cha là Chân lý : “Đấng sai ta đến là thật ”. (GiGa 7:28)
b - Con : trong thơ gởi cho Hội thánh Philađenphi, Đấng Christ được mô tả là Đấng Chân thật : “Nầy là lời phán của Đấng Thánh Chân thật ” (KhKh 3:7). Chính Chúa Giê xu cũng công bố với các môn đồ rằng :“Ta là Chân lý …” (GiGa 14:6).
c - Thánh Linh :“Ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng, vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật ”. (IGi1Ga 5:7).
/ 7/ Về sự nhơn tư :
Cả ba ngôi Đức Chúa Trời đều có lòng yêu thương, nhơn từ đối với tạo vật của Ngài, đặc biệt là con người.
a - Cha : “Hay là ngươi … không nhận biết lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời đem ngươi đến sự ăn năn sao ?” (RoRm 2:4).
b - Con : “Đấng Christ yêu Hội thánh ” (Eph Ep 5:25) .
c - Thánh Linh : “Chúa cũng ban cho chúng Thần Linh lương thiện (nhơn từ ) của Chúa để dạy dỗ chúng …” (NeNe 9:20).
/8/ Về sự giao thông :
Mỗi ngôi trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều có sự giao thông với con người.
a - Cha và Con có sự giao thông với các thánh đồ : “chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha và với Con Ngài là Đức Chúa Giê xu Christ ” (IGi1Ga 1:3).
b - Thánh Linh : “sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em ” (IICo 2Cr 13:13).
Qua những điều trưng dẫn trên đây, chúng ta thấy mỗi ngôi vị trong Ba ngôi Đức Chúa Trời đều có những tánh chất như tánh chất Đức Chúa Trời. Như vậy, chúng ta đều có thể kết luận rằng : Đức Chúa Trời thật có 3 Ngôi vị, nhưng cả ba ngôi đó chỉ là một Đức Chúa Trời.
f. Ba Ngôi và những công việc của Đức Chúa Trời :
Nhìn vào các công việc của Đức Chúa Trời được khải thị bày tỏ trong Kinh thánh, mỗi một ngôi vị dường như có một việc riêng biệt không lẫn lộn nhau. Nhưng chính trong việc mỗi ngôi vị thực hiện một công việc giao phó trong một chương trình chung cách hoàn toàn trọn vẹn cho thấy sự hoàn toàn hiệp nhất giữa Ba Ngôi và công trình nhìn chung chỉ thấy như là của một vị duy nhất mà thôi.
/1/ Sự tạo dựng vũ trụ :
Nếu tra cứu Kinh thánh chúng ta có thể thấy từng phần công việc tạo dựng được giao cho từng ngôi vị.
Về Đức Chúa Trời, ngôi vị thứ nhất thì Kinh thánh cho biết rằng :“Thuở xưa Chúa lập nền trái đất ” , “Các từng trời là công việc của tay Ngài ” (Thi Tv 102:24, 25).
Về Đấng Christ chúng ta được biết “Muôn vật đã được dựng nên trong Ngài (Bởi Ngài ), bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được … đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên ca ” (CoCl 1:16).
Về Thánh Linh, Kinh thánh ghi lại chức năng của Ngài như sau : “Thần của Đức Giê hô va vận hành trên mặt nước ” (SaSt 1:2), “Thần của Chúa trang điểm các từng trời ” (Giop G 26:13a).
Tất cả những công việc này của Ba ngôi Đức Chúa Trời được tóm tắt cách ngắn gọn trong SaSt 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất ”. Đây là sự mầu nhiệm của lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một : Ba là một, một là ba.
/2/ Sự tạo dựng con người :
Việc dựng nên con người là một hành động kiến tạo của Đức Chúa Trời. Tất cả muôn vật đều được tạo dựng bằng lời phán, nhưng về phần con người thì việc dùng vật liệu là bụi đất và lấy tay nắn nên thành hình theo ảnh và tượng Ngài. Trong sự tạo dựng này, Kinh thánh đã dùng danh hiệu Giê hô va Đức Chúa Trời (Jehova Elohim).
“Jehova Elohim bèn lấy bụi đất nắn nên hình người hà sinh khí vào lỗ mũi thì người trở nên một loài sanh linh” (2:7).
Công việc góp phần tạo dựng nên con người của Đấng Christ có thể thấy được qua CoCl 1:16 “Muôn vật đã được dựng nên bởi Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được …”.
Cũng cùng một cách ấy, công việc góp phần tạo dựng nên con người của Thánh Linh có thể thấy được qua Giop G 33:4 “Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống ”.
Đây chắc chắn là lý do khiến trước giả Truyền đạo đã khuyên :“Trong buổi thanh xuân, hãy tưởng nhớ Đấng Tạo hóa ngươi ” (TrGv 12:1). Chữ ĐẤNG TẠO HÓA nguyên văn số nhiều .
Lời tiên tri trong EsIs 54:5 đã khích lệ dân Ysơraên đừng lo lắng vì “chồng ngươi, tức là Đấng Tạo thành (Nguyên văn :số nhiều) ngươi, danh Ngài là Đức Giê hô va ”.
/3/ Sự thành nhục thể của Chúa Giê xu :
Qua diễn tiến về sự thành nhục thể của Chúa Giê xu ghi lại trong LuLc 1:26-38 đã cho thấy rõ công việc của Ba Ngôi Đức Chúa Trời :
- Thánh Linh thai dựng - đưa Chúa vào lòng của trinh nữ Mari cách nhiệm mầu.
- Quyền năng của Đức Chúa Trời che phủ .
- Ngôi Hai Thiên Chúa bước vào trần gian.
/4/ Cuộc sống chức vụ của Chúa Giê xu :
Con luôn luôn làm theo ý muốn Cha (GiGa 5:19, 30) và Thánh Linh được ban cho Ngài cách không chừng mực (GiGa 3:34).
/5/ Trong sự sống lại của Chúa Giê xu :
Công việc của Ba ngôi Đức Chúa Trời trong sự sống lại của Chúa Giê xu cho thấy rất rõ lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một .
Về sự sống lại của Chúa Giê xu :
Trên phương diện Đức Chúa Trời thì Kinh thánh cho biết rằng Ngài là Đấng đã khiến Chúa Giê xu từ kẻ chết sống lại : “Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại ” (Cong Cv 2:24). Nhưng trên phương diện của Chúa Giê xu thì chính Ngài nói trước về sự sống lại của Ngài như sau : “Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho, ta có quyền phó sự sống và có quyền lấy lại ” (GiGa 10:18). “Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại ” (GiGa 2:19).
/6/ Sự sống lại của con người :
Trong sự sống lại của con người, Kinh thánh cũng cho chúng ta thấy sự làm việc của Ba ngôi một cách đầy dẫy quyền năng như nhau. Việc làm chúng ta thấy như của một mà là của ba, ngược lại việc làm của ba nhưng chỉ là một.
5:21 “Vả, Cha khiến những kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ thể nào, thì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy ”.
Đối với Ngôi ba Kinh thánh cho biết rằng : “Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đấng Christ sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Giê xu Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống ” (RoRm 8:11).
/7/ Sự hiện diện của Ba Ngôi Đức Chúa Trời trong tín đồ :
a - Cha : “Chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người ” (Eph Ep 4:6).
b - Con : “Đấng Christ ở trong anh em là sự trông cậy về vinh hiển ” (CoCl 1:27).
c - Thánh Linh : “Anh em hà chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh ngự trong anh em ” (ICo1Cr 6:19).
/8/ Về sự bảo vệ Cơ đốc nhân :
Ba ngôi Đức Chúa Trời đã có những hành động đặc biệt để bảo vệ sự an toàn cho Cơ đốc nhân về phần xác lẫn phần thuộc linh.
a - Cha : Kinh thánh trong GiGa 10:29 cho thấy sự an toàn của chúng ta là những con chiên trong bầy của Ngài do chúng ta được ở trong lòng bàn tay toàn năng nhưng đầy yêu thương của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê xu đã khẳng định điều nầy khi Ngài nói : “Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha ”.
b - Con : Chúa Giê xu cũng hứa một lời hứa đảm bảo nầy với bầy chiên của Ngài : “Ta ban cho nó sự sống đời đời, nó chẳng chết mất bao giờ và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta ” (GiGa 10:28).
c - Thánh Linh : cuối cùng Chúa Giê xu nhận được một sự đảm bảo vô cùng quan trọng và qúi hóa từ Thánh Linh : Ngài đóng ấn chúng ta.
“Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc ” (Eph Ep 4:30).
Chữ ẤN CHỨNG được dùng ở đây có một số ý nghĩa rất qua trọng : (Eph Ep 1:30)
- Đóng dấu : làm cho một bức thư, một tài liệu, một văn kiện trở nên hợp thức và có giá trị.
- Niêm : một hình thức bảo vệ tuyệt đối an tòan của những gì được đặt để bên trong: những bức thơ, các kiện hàng hay những vật gì chúng ta không muốn ai xâm phạm đến.
Có bao giờ chúng ta suy nghĩ và hết lòng cảm tạ Chúa về một sự bảo vệ vô cùng chắc chắn của Ba ngôi Đức Chúa Trời ? Chúng ta có thể hình dung được rằng chúng ta đang được cầm chặt trong tay Chúa Giê xu, bên ngoài bàn tay của Chúa Giê xu được bao phủ cách rất chắc chắn bởi bàn tay của Đức Chúa Trời (Đức Chúa Cha) và ngoài cùng được niêm phong bằng chính Thánh Linh. Chính niềm tin chắc chắn vào sự bảo vệ này, Thánh Phaolô đã mạnh mẽ tuyên bố rằng : “Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay là gươm giáo chăng? Như có chép rằng: vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày. Họ coi chúng tôi như chiên bị đem đến hàng làm thịt. Trái lại trong mọi sự đó, chúng tôi nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao hay là bề sâu hoặc một vật nào chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta ”. (RoRm 8:35-39).
g. Ba ngôi và sự thờ phượng :
/1/ Được tôn thờ bởi các thiên sư :
EsIs 6:3 “Các Sêraphin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Đức Giê hô va vạn quân ”.
KhKh 4:8 “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời Đấng Toàn năng, trước đã có, nay hiện có, sau còn đến ”.
/2/ Được tôn thờ bởi các thánh đồ :
Kinh thánh cho thấy tất cả mọi sự cầu nguyện và thờ phượng được truyền dạy phải dâng lên cho Đức Chúa Cha, trong danh Đức Chúa Giê xu và trong sự dẫn dắt và quyền năng của Chúa Thánh Linh.
GiGa 16:23, 24.
Eph Ep 6:18 “Hãy nhờ Thánh Linh thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin ”.
/3/ Trong sự chúc phước :
Trong lời chúc phước, chúng ta cầu xin Ba ngôi Đức Chúa Trời ban phước cho chúng ta, ở cùng chúng ta.
IICo 2Cr 13:13 “Nguyền xin ơn của Đức Chúa Giê xu Christ, sự yêu thương của Đức Chúa Cha và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy ”.
* Lưu ý : về cách sắp xếp thứ tự : việc đưa Chúa Giê xu vào chỗ thường dành cho Đức Chúa Trời cho thấy sự tuyệt đối bình đẳng.
B/ Tổng luận:
Khi mới nghe qua về lẽ đạo Ba Ngôi, chúng ta có cảm tưởng như trong đó có thứ bậc cao thấp : Cha là ngôi thứ nhất, Con là Ngôi thứ hai, Thánh Linh là ngôi ba. Nếu điều này trên thực tế (theo lý trí con người) đã xảy ra thì những vấn đề khác nhau sau đây sẽ phải xảy ra : thời gian, quyền năng và chức vị phải có cao thấp. Nhưng trên phương diện Đức Chúa Trời qua sự bày tỏ của Kinh thánh chúng ta thấy không phải là như vậy. Cả ba ngôi Đức Chúa Trời đều thực hữu từ trước vô cùng. Cha con theo quan niệm của trần gian thì hoàn toàn có sự khác biệt về thời gian, còn về ngôi vị thì đó là hai ngôi vị có hai bản chất, thể yếu khác nhau. Nhưng về phía Đức Chúa Trời thì chữ Ngôi Vị ở đây không thể hiểu hoàn toàn theo nghĩa con người được vì cả hai ngôi thứ nhất và thứ hai đều có cùng một thể yếu, cùng bản tánh. Vì vậy, từ CHA và CON chỉ là một cách dùng từ trần gian, để phân biệt được sự khác biệt trong ngôi vị thôi chớ không phải hoàn toàn mang tánh chất cha con như của con người.
Chúng ta nhắc lại : hoàn toàn không có một sự khác biệt nào về thời gian giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Cả ba cùng hiện hữu đời đời.
Thí dụ : Nếu có mặt trời gọi là măt trời vĩnh cửu thì tự nhiên cũng phải có ánh sáng vĩnh cửu để bày tỏ sự hiện diện đời đời của mặt trời mới hợp lý. Nếu không có ánh sáng thì cũng không có mặt trời. Nếu ngôi Cha vốn là nguồn ánh sáng đã thực hữu từ đời đời thì ngôi Con, vốn là sự chói sáng của Cha cũng phải thực hữu giữ đời đời vô cùng (HeDt 1:3)Về vấn đề quyền năng thì sao ? Có phải Cha lớn hơn Con, quyền năng hơn Con hay không ?
Như điều đã nêu lên ở trên, chúng ta không nên quá câu nệ với từ Cha, Con trong lãnh vực con người để rồi đem đại dương giới hạn trong một chai nhỏ, đem cả bầu khí quyển bao la vào trong ống nghiệm, và đem cái vô hạn của Thiên Chúa vào trong giới hạn của mình. Thế thì chúng ta giải thích thế nào về những lời tuyên bố của Chúa Giê xu trong tin lành Giăng ? Há không phải Ngài thẳng thắn thừa nhận rằng Cha lớn hơn Ngài sao ?
Chúa Giê xu thật có phán như vậy, nhưng sự lớn nhỏ không thuộc về thể yếu của thần tánh, nhưng chỉ liên hệ đến nhiệm vụ công tác giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời.
Thí dụ : Một giảng sinh được phân công hướng dẫn chương trình thờ phượng trong một cuộc nhóm lớn có đủ mặt quý vị lãnh đạo ở trong Hội thánh, các thành phần tuổi tác, trí thức và địa vị xã hội. Dù là một giảng sinh, nhưng tất cả mọi người đều phải vâng theo sự điều khiển của anh ấy. Nói hát thì hát, xin ai cầu nguyện thì nấy cầu nguyện, nói đứng dậy thì đứng dậy. Nếu có một ai muốn thêm một tiết mục vào chương trình thì dù có đến trình với Hội trưởng thì vị này cũng chỉ có thể nói rằng :“xin liên hệ với anh hướng dẫn chương trình, anh ấy sẽ quyết định”. Vấn đề được đặt ra ở đây là không phải ai lớn hơn ai, nhưng đây chỉ là một nhiệm vụ được giao phó. Chúa Giê xu đã vui lòng nhận mạng lịnh trở nên người, mang lấy hình tôi tớ giữa vòng loài người thì việc công bố rằng Đức Chúa Trời lớn hơn mình rất hợp lý. Tại sao ngày hôm nay biết bao nhiêu người không một ai thắc mắc gì về việc Chúa Giê xu chịu lụy Mari và Giô sép vì cho rằng Chúa bằng lòng mang lấy địa vị đó, nhưng cũng trong một tư thế đó, chúng ta lại rất dễ dàng thắc mắc câu Chúa Giê xu nói : “Cha tôn trọng hơn ta”.
Về phương diện Thánh Linh cũng vậy, Ngài cũng hiện hữu từ trước vô cùng với Cha và Con, vì Kinh thánh thường gọi Ngài là Linh của Đức Chúa Trời, Linh của Đấng Christ. Về quyền năng và chức vị thì chúng ta đã đề cập đến ở các phần trên.
Để kết luận, chúng ta dựa trên Lời Hằng sống của Đức Chúa Trời là Kinh thánh để kết luận rằng: Về thể yếu, chức vị, thần tánh, thần đức, thần quyền, cả Ba ngôi Cha, Con, và Thánh Linh hoàn toàn bình đẳng. Chẳng có chỗ nào gọi là trước sau, cao thấp hoặc khác nhau cả. Nhưng về ngôi riêng, về trách nhiệm và công việc thì có thứ tự trước sau :
- Cha là Ngôi thứ nhất - Cha dự định
- Con là Ngôi hai - Con thực hành
- Thánh Linh là Ngôi ba - Thánh Linh hoàn tất.
Dầu chúng ta phân tách ra như vậy để dễ hiểu, nhưng trên thực tế đừng bao giờ xa rời với ý tưởng và niềm tin : Cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều phối hợp trọn vẹn với nhau trong sự dự định thi hành và hoàn tất.
Thí dụ : Trong bản thân tôi có ba chức vụ, trách nhiệm rõ ràng : Cha - Thầy - Mục sư. Nếu các con tôi đang theo học ở trường Kinh thánh thì chúng nó có thể nói về tôi rằng: Bố tôi là thầy, là Mục sư của tôi; hoặc thầy tôi là bố tôi, là Mục sư của tôi; hay Mục sư của tôi là bố tôi, là thầy tôi. Như vậy, Mục sư - Thầy - Bố dù có khác công việc, khác phạm vi hoạt động, chức năng có khác nhưng cả ba đều có một bản chất, một khả năng, một sức lực, một tâm tình, một tuổi tác như nhau.
Thí dụ này chỉ giúp làm sàng tỏ một phương diện nhưng nó không thể nói lên được ba ngôi vị khác nhau cùng hiện diện, cùng hoạt động trong cùng thời gian.


TỔNG LUẬN VỀ ĐẤNG CHRIST LÀM CỨU CHÚA
Trong chương này chúng ta đề cập đến khái lược về chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho con người. Tại sao con người cần có sự cứu rỗi ? Tại sao Đức Chúa Trời lại ban sự cứu rỗi cho con người, và ban cho cách nào ?
I. TẠI SAO CON NGƯỜI CẦN CÓ SỰ CỨU RỖI ?
Như chúng ta đã biết, loài người vì sự kiêu ngạo đã tự dẫn mình vào con đường tội lỗi, tự mở cho mình cánh cửa bước vào sự chết và sự hình phạt đời đời. Lực của tội lỗi là một sức mạnh vô hình, cứ đẩy dần con người mỗi ngày đến gần sự hình phạt hơn. Dù con người tìm mọi phương cách để cưỡng lại, tìm mọi cách để bấu víu để khỏi bị đùa đi. Nhưng tất cả những chỗ con người tưởng có thể bấu víu được đã nhanh chóng bị sụp đổ. Kinh nghiệm của mỗi cá nhân đều xác chứng cho tình trạng này. Con người không có khả năng làm được những gì mình muốn, sự khôn ngoan của con người không đủ để giúp con người tìm được con đường cứu rỗi cho linh hồn mình. Đây chính là lý do trên dòng đời này vô số người đã buông trôi, phó mặc cho số mệnh với lý luận : không có cái gì ở đời sau cả - chết là chấm dứt tất cả. Tất cả mọi đều này được giúp khẳng định sự hoàn toàn bất lực của con người, cho thấy rằng nhu cầu cấp thiết nhất của con người là SỰ CỨU RỖI .
II. CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI :
Trước sự bất lực của loài người, Đức Chúa Trời đã ban cho họ sự cứu rỗi vô cùng vĩ đại và sự cứu rỗi này đã được thực hiện cách cụ thể qua Đấng Christ.
A) Đấng Christ là sự ban cho của Đức Chúa Trời.
Tội lỗi đã đào một vực sâu vô tận giữa Đức Chúa Trời và con người, và theo ngày tháng hố ấy càng rộng ra, không ai có thể vượt qua được. Sự giao thông giữa Đức Chúa Trời và con người đó đã bị cắt đứt. Làm thế nào để nối lại bây giờ ? Tạ ơn Đức Chúa Trời, điều loài người không thể làm được thì Đức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã ban Con một yêu dấu của Ngài xuống trần gian để dùng sự chết của Ngài tạo nên nhịp cầu, nối liền con người với Đức Chúa Trời, đem con người trở về cùng Đức Chúa Trời.
EsIs 9:5 “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta, quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời quyền năng, là Cha đời đời, là Chúa bình an ”.
LuLc 2:11 “ Ấy là hôn nay tại thành Đavít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa ”.
Xem thêm Mat Mt 1:21.
B) Động lực ban Đấng Christ làm Cứu Chúa.
Trước sự bất lực của loài người, Đức Chúa Trời đã ban Con một của Ngài là Chúa Giê xu Christ xuống trần gian trở nên Cứu Chúa của con người. Trước hành động vô cùng cao cả này, chúng ta có thể nêu lên một câu hỏi rất thiết thực : Động lực nào khiến Đức Chúa Trời ban Chúa Giê xu Christ làn Cứu Chúa ? Chúng ta nêu lên một số động lực như sau :
1. Lòng yêu thương của Đức Chúa Trời :
Lòng yêu thương của Đức Chúa Trời là động lực chính yếu trong việc soạn thảo chương trình cứu rỗi. Bởi tình yêu thương Ngài đã tạo dựng nên con người để làm đối tượng tình yêu của Ngài. Và bây giờ với tình trạng của con người đang đi dần đến chỗ hình phạt thì cũng chính tình yêu thương đó đã khiến Ngài không thể làm ngơ, bỏ mặc con người được.
GiGa 3:16 “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian …”
IGi1Ga 4:8 “Đức Chúa Trời là tình yêu thương ”.
2. Đức Thánh khiết của Đức Chúa Trời.
Như chúng ta đã biết, thánh khiết là đức tánh đầu nhất của thể yếu Đức Chúa Trời, Đức tánh này đã được tỏ cho loài người qua đức công nghĩa trọn vẹn. Trên một phương diện, thể yếu của Đức Chúa Trời là sự yêu thương trọn vẹn, trên một phương diện khác Ngài là Đấng công nghĩa trọn vẹn. Lòng yêu thương thì thật muốn tha thứ nhưng đức công nghiã thì hoàn toàn không thể được kẻ có tội phải đền tội cách xứng đáng. Nếu chưa đền tội thì không thể nói đến sự tha thứ. Nhưng nếu con người phải đền tội theo đúng sự công nghĩa của Đức Chúa Trời thì điều này sẽ giải quyết hoàn toàn thỏa mãn hai đức tánh này, phương pháp cứu rỗi bởi Chúa Giê xu Christ đã được ban cho. Sự sống và sự chết của Chúa Giê xu đã bày tỏ cách rõ ràng hai đức tánh yêu thương và công nghiã của Đức Chúa Trời.
RoRm 5:8 “Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết ”.
Khi đề cập đến sự chết chuộc tội của Chúa Giê xu, Thánh Phaolô đã nói : “Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Giê xu ” (RoRm 3:26).
3. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Việc trù hoạch chương trình cứu rỗi thỏa đáng cả hai đức tánh yêu thương và công nghĩa bày tỏ sự khôn ngoan tuyệt đối của Đức Chúa Trời.
ICo1Cr 1:21, 23, 24 “… Đấng Christ là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ”.
4. Quyền năng của Đức Chúa Trời.
Chúng ta biết bởi sự khôn ngoan tuyệt đối, Đức Chúa Trời đã trù hoạch chương trình cứu rỗi cách vô cùng đẹp đẽ, tiếp đến Ngài đã dùng quyền năng siêu việt của Ngài để điều động, thực hiện chương trình cho đến chỗ thành công. Quyền năng diệu kỳ của Đức Chúa Trời đã :
- thai dựng Đấng Christ trong lòng trinh nữ Mari (LuLc 1:35).
- khiến Chúa Giê xu từ kẻ chết sống lại (RoRm 1:4).
- cũng chính quyền năng đó đã áp dụng sự linh nghiệm của phương pháp cứu rỗi cho những người tin (Mat Mt 28:18, 19).
- cuối cùng Ngài sẽ lấy quyền năng ấy mà tái lâm, đem những người tin Ngài vào Thiên đàng, hoàn thành việc cứu rỗi (LuLc 21:27).
C) Thời gian hoạch định chương trình cứu rỗi.
Chương trình cứu rỗi không phải chỉ được hoạch định sau khi loài người phạm tội, nhưng bởi sự biết trước của Đức Chúa Trời chương trình ấy đã được dự định. Từ trước vô cùng sự cứu rỗi trong Đấng Christ, ngôi hai Thiên Chúa đã được trù hoạch. Qua Kinh thánh chúng ta nêu lên một số lãnh vực trong chương trình cứu rỗi đã được dự định trước.
1. Đấng Christ phải làm việc cứu chuộc.
KhKh 13:8 “Chiên con đã bị giết từ buổi sáng thế ”.
Cong Cv 2:23 “Người đó (Đấng Christ ) đã bị nộp theo ý định trước và sự hiểu biết trước của Đức Chúa Trời ”.
2. Ban ơn cứu rỗi cho chúng ta.
IITi 2Tm 1:9 “ Ấy chính Chúa đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu gọi Thánh, chẳng phải theo việc làm chúng ta bèn là theo ý riêng Ngài chỉ định, theo Ân điển đã ban cho chúng ta trong Đức Chúa Giê xu Christ, từ trước muôn đời vô cùng ”.
3. Được địa vị làm con bởi Đức Chúa Giê xu Christ.
Eph Ep 1:5 “Bởi sự yêu thương Ngài đã định trước cho chúng ta trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Giê xu Christ theo ý tốt của Ngài ”.
4. Chọn chúng ta trong Đấng Christ.
1:4 “trước khi sáng thế Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ ”.
5. Bởi Đấng Christ được làm cơ nghiệp của Đức Chúa Trời.
1:11 “Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp như đã định trước cho chúng ta được điều đó theo mạng lịnh của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán ”.
D) Sự dọn đường cho sự cứu rỗi .
Nếu Đức Chúa Trời từ trước vô cùng đã dự định một chương trình cứu chuộc loài người một cách rất hoàn hảo như vậy, sao Ngài không thực hiện chương trình này ngay sau khi loài người phạm tội ? Sao loài người phải chờ đợi hàng mấy ngàn năm mới có được sự cứu rỗi này ?
Đây là chương trình của Đức Chúa Trời và cũng trong sự khôn ngoan của Ngài, Ngài thấy rằng cần phải có một sự dọn đường trong thế giới loài người trước, sau đó Cứu Chúa mới hiện đến. Sự dọn đường này bắt đầu từ lúc loài người sa ngã, xuyên qua thời đại Cựu ước cho đến lúc Chúa Giê xu giáng sanh. Kinh thánh chép rằng “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài đến ” (GaGl 4:4).
1. Sự dọn đường trong thế giới dân ngoại .
Trong lãnh vực này chúng ta có thể thấy được sự dọn đường cho sự đến của Cứu Chúa trong hai lãnh vực chính :
(a) [gr9 Tình trạng đạo đức suy thoái :
Ngay từ lúc phạm tội, đánh mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời thì tình trạng đạo đức bắt đầu suy thoái nhanh chóng. Sự suy thoái bắt đầu từ những lãnh vực cao đẹp nhất và đi dần dần xuống. Đây là một tình yêu, một sự kết hiệp cao đẹp nhất trong thế giới loài người. Đây là một sự kết hiệp mà Đức Chúa Trời đã phán “hai người trở nên một thịt” (SaSt 2:24). Ngay sau khi phạm tội thì sự ích kỷ đã xen vào làm hỏng mất tốt đẹp. Thay vì bảo vệ nhau, họ đã nhanh chóng đổ lỗi cho nhau - đổ lỗi là tìm cách trút sự khổ nạn, sự đoán phạt trên người khác. Tình yêu anh em cũng bị gãy đổ, anh em sẵn sàng thanh toán nhau vì một chút tự ái (4:1-26). Tiếp theo đó là mọi thứ tội lỗi tràn vào làm chìm ngập thế giới loài người. Xa cách Đức Chúa Trời nhưng lòng tôn thờ thần linh vẫn còn đó, con người dấn bước vào lãnh vực tôn giáo, tìm một chỗ dựa cho tâm linh., một mục tiêu để hướng lên tìm sự bình an, thanh thoát cho tâm hồn. Cụ thể là muốn tạo một con đường quay về với những gì tốt đẹp đã đánh mất. Nhưng trong lãnh vực này, con người cũng đi xuống chớ không hề đi lên.
Con người là loài thượng đẳng nhưng không ngần ngại thờ các loài thọ tạo hạ đẳng, ngay cả những loài vô tri vô giác. Nội dung của sự thờ phượng thật đáng ghê tởm. Dâm dục được đưa vào sự thờ phượng, những hình thức giết người để tế thần cũng được đưa vào như một nghi thức thờ phượng, và vô số hình thức khác. Thánh Phaolô đã liệt kê một loạt các hình thức suy thoái về đạo đức, tôn giáo của loài người trong RoRm 1:18-32. Ước mơ sâu xa của con người trước sự suy thoái này là muốn có được một phương cách giải thoát để vươn lên.
(b) Sự phát triển của một số triết lý :
Nhìn trong một lãnh vực khác chúng ta cũng thấy được trong thế giới dân ngoại cũng có sự chuẩn bị tốt cho sự đến của Cứu Chúa. Đề cập đến lãnh vực này, Giáo phụ Justin Martyr’ đã nói về triết học Platon là triết học có chỗ giống đạo Đấng Christ. Giáo phụ Clément ở Alexandria xem Platon như là Môise của Hy lạp. Giáo phụ Tertullian gọi triết gia Socrate là giáo sư “dạy dỗ” “giống như chúng ta”. Nhà thần đạo trứ danh Augustine cũng có nói về Platon như vầy : “Platon khiến tôi biết chân thần, còn Chúa Giê xu Christ chỉ con đường đến cùng Ngài”. Còn ở phương đông cũng có Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo cũng góp phần thúc đẩy con người tìm đến chân thiện mỹ. Tuy các triết lý và tôn giáo này không đem được con người đến sự cứu rỗi, ngoài ra việc càng tỏ cho con người thấy được sự bất lực của mình trên đường đi tìm chân lý ; nhưng từ đó tạo cho họ sự thôi thúc đến với Chúa Giê xu để tìm được sự cứu rỗi đang ao ước.
2. Sự dọn đường trong Tuyển dân .
Qua khỏi sự kêu gọi Ápraham ra khỏi quê hương, Đức Chúa Trời đã chính thức bắt đầu tuyển chọn một dân tộc phát sinh từ chính dòng dõi ông : dân Ysơraên. Trong suốt quá trình lịch sử của dân này, Ngài đã dạy dỗ họ ba lẽ thật quan trọng :
w Đức Chúa Trời duy nhất oai nghiêm, quyền năng, thánh khiết.
w Loài người tội lỗi, lòng đạo đức bị suy thoái nặng nề, không thể tự mình làm lành được.
w Sự cứu rỗi chắc chắn sẽ đến.
Để có thể thực hiện việc bày tỏ ba chân lý này, Đức Chúa Trời đã dùng ba phương tiện sau :
(1) Luật pháp :
Phương tiện thứ nhất Đức Chúa Trời dùng để dạy dỗ Tuyển dân của Ngài là luật pháp. Tại sao luật pháp lại được dùng làm phương tiện đầu tiên ? Vì luật pháp chỉ cho con người thấy được tội lỗi, thấy được sự bất lực trong việc làm theo sự công nghĩa và đồng thời thấy được hậu quả không đúng theo sự đòi hỏi của luật pháp. Nói tóm một lời, luật pháp bày tỏ sự bất lực của con người để chuẩn bị lòng con người tiếp rước Cứu Chúa.
(2) Lời tiên tri :
Phương tiện thứ hai Đức Chúa Trời sử dụng để dạy dỗ tuyển dân và dọn đường cho sự cứu rỗi là lời tiên tri và hình bóng tiên tri.

/a/ Lời tiên tri:
Các lời tiên tri trong Kinh thánh là những lời dạy dỗ, an ủi, khuyên răn, quở trách; đồng thời là những lời hứa về một tương lai tốt đẹp dành cho những ai vâng theo sự khuyên dạy của Ngài. Nhưng trọng tâm cả các lời tiên tri đều hướng về sự ra đời của Đấng Cứu Thế. Các lời tiên tri tạo nên trong lòng cũa tuyển dân một sư khát khao, mơ ước về sự xuất hiện của Đấng Christ, Đấng giải phóng họ .
/b/ Bằng hình bóng :
Ngoài lời tiên tri ra, chúng ta còn có những hình bóng tiên tri về Đấng Christ. Về phương diện này, Đức Chúa Trời đã dùng một số các nhân vật trong Kinh thánh để làm hình bóng dự ngôn về Cứu Chúa : Giôsép, Đavít, Giôna. Ngoài ra Đức Chúa Trời cũng dùng một vài hình ảnh cụ thể khác như con rắn bằng đồng treo lên cây trong đồng vắng.
3. Sự hình phạt :
Sự bất tuân mạng lịnh của tuyển dân liên tục xảy ra và điều này dẫn đến chỗ họ phải bị hình phạt. Một trong những hình phạt nặng nề nhất là bị lưu đày, tan tác ra trong mọi dân, mọi nước. Sự lưu đày này đã giúp cho họ lìa bỏ được sự thờ lạy hình tượng, quay về với sự tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nhà hội đã được lập ở chốn lưu đày để làm chỗ thờ phượng, chỗ dạy dỗ giáo lý, đã trở thành một phương tiện tốt giúp cho Hội thánh đầu tiên có những cơ sở phát triển.
Việc dân Ysơraên bị tản lạc đã giúp cho những dân tộc nơi họ đến ở biết về tôn giáo độc thần.

CÁC LÝ THUYẾT DẠY VỀ ĐẤNG CHRIST
Dầu chúng ta đã học qua lẽ đạo Ba ngôi của Đức Chúa Trời, đã nêu ra bằng chứng về sự hiện hữu của Ba ngôi trong một Đức Chúa Trời duy nhất, nhưng đó chỉ là một sự hiểu biết tổng quát. Chúng ta đã tìm hiểu, học hỏi một số điều liên hệ đến Đức Chúa Cha qua sự bày tỏ của Kinh thánh. Các lãnh vực thần đạo liên hệ đến Đức Chúa Cha qua sự bày tỏ của Kinh thánh. Các lãnh vực thần đạo liên hệ đến Đức Chúa Trời là vấn đề rất khó, nhưng không tạo ra mấy tranh luận. Khi đề cập, học hỏi, nghiên cứu về Ngôi Hai Thiên Chúa dưới danh hiệu Giê xu Christ, thì vấn đề tranh luận đã thường xuyên xảy ra. Đấng Christ có hiện hữu trước khi Thánh Linh thai dựng trong lòng trinh nữ Mari không ? Chúa Jêsus Christ có nhân tánh và thần tánh trọn vẹn không ? Chúa Jêsus Christ có thật sự bình đẳng với Đức Chúa Trời không ? v.v… Nhiều lý thuyết, nhiều sự giải thích đã và đang được nêu lên - không ít trong số này đã dẫn Cơ đốc nhân vào sự lầm lạc, hiểu sai về Chúa Jêsus Christ, đánh mất đi nhiều sự phước hạnh của sự cứu rỗi trong Ngài.
Chúng ta nêu lên cách khái quát về một số thuyết liên hệ đến phẩm vị của Đấng Christ đã được hình thành qua các thời đại trong lịch sử Hội thánh.
A) Thuyết nhóm Êbôn (Ebonites).
Nhóm Êbôn xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ I và đầu thế kỷ thứ II. Có người cho rằng nguồn gốc của nhóm phát sinh từ nhóm tín hữu ở Giêrusalem trốn qua Pella vào năm 66 SC, ngay trước lúc quân đội Lamã tràn vào tiêu diệt thành này.
Nhóm Êbôn chủ trương rằng Đấng Christ không có Thần tánh , chỉ có nhân tánh. Dầu vậy, Ngài khác hết thảy tất cả mọi người và tương tự như Đức Chúa Trời bởi vì lúc chịu báp têm Ngài nhận được Thánh Linh cách không chừng mực.
Thuyết này bị ảnh hưởng nhiều của đạo Do thái. Đạo Do thái tín rằng chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất, ngoài Ngài không có Chúa nào khác. Nếu thừa nhận thần tánh của Chúa Giê xu cũng như Đức Chúa Trời thì điều này có nghĩa là ngoài Đức Chúa Trời còn một Chúa khác.
Nhóm Êbôn chia làm hai nhánh :
1. Nhánh người Naxarét :
Nhóm này công nhận Đấng Christ giáng sinh cách siêu nhiên nhưng không thừa nhận Ngài thực hữu trước lúc ra đời - điều này có nghĩa là không nhận Ngài là Con độc sanh của Đức Chúa Trời có từ trước vô cùng.
2. Nhánh Cepinthus.
Theo sử Hội thánh, chúng ta biết Cerinthus là một nhà tà giáo xuất hiện vào thời sứ đồ Giăng. Ông này đã dạy rằng : Đấng Christ không giáng sinh cách siêu nhiên cũng không bởi nữ đồng trinh. Christ và Jêsus hoàn toàn cách biệt chớ không liên hiệp với nhau để trở thành một ngôi. Khi chịu Báp têm, người Giê xu nhận được Christ đến trên Ngài, khiến Ngài vượt hẳn trên những người bình thường. Nhóm này rất chú trọng đến luật pháp mà bỏ qua các thơ tín chú trọng đến Đấng Christ của Phaolô.
B) Thuyết Docetae.
Chữ DOCETAE trong tiếng Hy lạp nghiã đen là “hình như”, “giống như”, “giả mạo”. Thuyết này được mang tên này vì những người ở cuối thế kỷ thứ I cho rằng Đấng Christ chỉ có thần tánh chớ không có nhân tánh. Thân thể Ngài không phải là xác thịt thật, chỉ là ảo tưởng mà thôi. Thuyết này chịu ảnh hưởng của lý thuyết trí tuệ, một thuyết cho rằng vật chất là ác. Nếu vật chất là ác thì làm thế nào Đấng Christ có thể liên hiệp được. Vì thế thân thể của Đấng Christ chỉ có thể là ảo tưởng mà thôi và nếu như vậy thì sự sanh ra, chết và sống lại của Ngài không có thật.
C) Thuyết Arius.
Thuyết do trưởng lão Arius ở Alexandria chủ trương vào đầu thế kỷ thứ IV. Arius cho rằng Đấng Christ không có thần tánh, không đồng một thể yếu với Đức Chúa Trời nhưng là một vị thọ tạo cao hơn hết các vị thọ tạo khác được gọi là Đạo (Logos). Đạo đã giáng sinh hiệp với nhân tánh Giê xu để trở thành một người gọi là Jêsus Christ. Sự sai lầm này phát xuất từ sự hiểu sai Kinh thánh, giải nghĩa sai về sự hạ mình của Chúa, lẫn lộn ý sự đầu phục với ý vĩnh viễn bất bình đẳng với Cha, cương quyết giải thích rằng sự đầu phục đồng nghĩa với sự không đồng thực hữu, không bình đẳng với Cha.
Thuyết bị lên án tại Công đồng Nicea 325 SC.
D) Thuyết Apolinaris.
Thuyết do Giám mục Apolinaris tại Laođixê chủ xướng. Ông này là người thật sự yêu mến Chúa, là bạn thân của Athanasius, ông đã ủng hộ quyết định của Công đồng Nicea lên án thuyết Arius (325). Nhưng về sau, với tinh thần muốn bày tỏ sự tôn trọng thần tánh của Đấng Christ, ông đã rơi vào cùng một lầm lẫn với với Arius tìm cách giải thích cách hơi lệch lạc về nhân tánh của Chúa. Ông thừa nhận trong con người có ba yếu tố : tâm thần, linh hồn và tâm linh. Nhưng trong Đấng Christ thì chỉ có hai : tâm thần và linh hồn; còn đạo (Logos) thì thay thế cho tâm linh. Như vậy Christ không có nhân tánh trọn vẹn. Apolinaris cho rằng tâm linh con người đã bị bại hoại và trở nên công cụ phục vụ cho xác thịt. Vì vậy, phần này cần phải được thay thế bằng Đạo (logos). Nếu Đấng Christ là vô tri thì làm thế nào có tâm linh của loài người được.
Thuyết Apolinaris bị lên án là tà giáo tại Công đồng Constantinople I năm 361 và tại Công đồng Constantinople II năm 553.
E) Thuyết Nestorius.
Thuyết do Giáo trưởng tại Constantinople chủ xướng. Thuyết phát sinh bởi việc Nestorius cực lực phản đối thuyết Apolinaris. Để chống lại lý luận cho rằng Đấng Christ không có nhân tánh trọn vẹn của Apolinaris, Nestorius cho rằng Đấng Christ có cả hai thần tánh và nhân tánh trọn vẹn, nhưng hai tánh ấy không liên hiệp với nhau cách hữu cơ để làm nên một người đặc biệt như linh hồn, thân thể của chúng ta; trái lại sự hiệp nhất này chỉ có tánh cách luân lý như sự hiệp nhất của chồng vợ mà thôi . Nestonius cho rằng Đức Chúa Trời chỉ cư trú trong người Jêsus. Jêsus chỉ là đền thờ của Đức Chúa Trời ngự thôi, cũng như ngày nay Cơ đốc nhân là đền thờ của Ngài vậy, chớ Đức Chúa Trời và Jêsus không hề hiệp nhất thành một ngôi. Như vậy theo chủ trương này thì Christ chẳng những có hai tánh mà có hai ngôi đặc biệt nữa.
F) Thuyết duy nhất tánh.
Thuyết do Eutyches, một viện trưởng ở Constantinople chủ xướng vào thế kỷ thứ V. Ông đưa ra một lý thuyết rất khác biệt về các tánh của Chúa. Ông cho rằng Christ không có hai tánh đặc biệt nhưng chỉ có một tánh do thần và nhân tánh hòa hợp với nhau tạo nên. Vì vậy tánh này không phải là thần tánh cũng không phải là nhân tánh, mà là một tánh đặc biệt giữa hai tánh đó.
Thuyết này bị lên án vào năm 451 SC tại Công đồng Chalcedon.
G) Thuyết chánh thống.
Đấng Christ có hai bản tánh : Thần tánh và Nhân tánh trọn vẹn, hiệp nhất với nhau cách hữu cơ, không thể phân ly, không hề đồng hóa để trở nên một tánh khác được.
Tóm lại, bất cứ một ai, ở địa vị nào đi nữa, có sự khôn ngoan trần gian đến đâu, nếu muốn dùng ý riêng để giải thích các lẽ đạo về Ba Ngôi Đức Chúa Trời nhằm mục đích làm thỏa mãn lý trí của con người thì sớm hay muộn sẽ sa vào sự thảm bại cho chính mình và cho nhiều người khác nữa.

SỰ TIỀN TẠI CỦA ĐẤNG CHRIST
Trong chương này chúng ta sẽ học đến một điều có liên quan đến Đấng Christ trước khi Ngài giáng sinh làm người. Chúng ta tìm hiểu về địa vị của Ngài trước khi chưa giáng sanh sự liên hệ của Ngài đối với Đức Chúa Cha và với tạo vật như thế nào .
A. BẰNG CHỨNG VỀ SỰ TIỀN TẠI.
Kinh thánh đã cho chúng ta biết cách rõ ràng về sự thực hữu của Đấng Christ trước lúc giáng sinh.
1. Lời của trước giả Kinh thánh.
GiGa 1:1, 2 “Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng Đức Chúa Trời và Đạo là Đức Chúa Trời. Đạo ấy ban đầu ở cùng Đức Chúa Trời ”.
CoCl 1:17 “Ngài có trước muôn vật và muôn vật đều tồn tại trong Ngài ”.
2. Lời của chính Chúa Giê xu.
GiGa 8:58 “Đức Chúa Giê xu đáp rằng:Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Ápraham đã có ta ”.
17:5, 24 “Cha ôi! bây giờ xin lấy vinh hiển con vốn có với Cha trước khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển con nơi chính mình Cha … Cha đã yêu con trước khi sáng thế ”.
Qua những câu Kinh thánh nêu trên và nhiều câu khác, chúng ta thấy rõ sự tiền tại của Đấng Christ, vì Ngài là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng Tạo dựng vũ trụ, là Cha đời đời (EsIs 9:5) gốc tích Ngài có từ trước vô cùng” (MiMk 5:1).
B. ĐỊA VỊ TIỀN TẠI CỦA ĐẤNG CHRIST.
Theo sự khải thị của Thánh Linh cho các trước giả Kinh thánh để truyền đạt lại cho con người thì Đấng Christ được gọi là Con độc sanh của Đức Chúa Trời (GiGa 3:16), có sự vinh hiển cao trọng (GiGa 17:5, 24) với Đức Chúa Trời (Phi Pl 2:6). “Có hình Đức Chúa Trời” (2:6) “Ở trong lòng Cha” (GiGa 1:18).
Địa vị của Đấng Christ trước khi giáng thế có thể gọi là “địa vị vinh hiển nguyên bản”. Trước khi bước vào trần gian, Ngài từ bỏ địa vị vinh hiển nguyên bản - để địa vị này sanh một bên chớ không phải từ bỏ thần tánh, thần quyền của Ngài.
Thí dụ : Một vị vua rất cao trọng ngự trên ngai vàng được mọi người kính sợ, bái phục. Đi đâu thì ngựa xe sang trọng, tiền hô hậu ủng. Nhưng vì yêu thương muốn biết tình trạng thật của thần dân nên vua đã âm thầm cải trang làm một người tầm thường len lỏi đi bộ trong đám thần dân - Đó là sự từ bỏ sự vinh hiển nhưng vua vẫn là vua với đầy đủ bản chất của mình.
C. CÔNG VIỆC TRONG ĐỊA VỊ TIỀN TẠI :
Theo sự khải thị được ghi lại trong Kinh thánh, chúng ta có thể thấy được hai chức vụ của Đấng Christ, có liên quan đến vũ trụ và muôn vật. Dĩ nhiên phải có chức vụ đối với cõi trời nữa, nhưng điều này không được khải thị cho chúng ta, nên chúng ta không thể tìm hiểu đến.
1. Dựng nên muôn vật.
Kinh thánh SaSt 1:1 cho biết Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Chữ Đức Chúa Trời ở đây gồm Ba NGÔI ĐỨC CHÚA TRỜI, và trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, Đấng Christ đã là chức năng chính yếu trong việc tạo dựng. Kinh thánh đã nêu lên rất rõ về việc này.
GiGa 1:3 “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài ”.
RoRm 11:36 “Vì muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài và hướng về Ngài ”.
ICo1Cr 8:6 “Vê phần chúng ta …… chỉ có một Chúa mà thôi là Đức Chúa Giê xu Christ, muôn vật nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng vậy ”.
CoCl 1:16 “Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả ”.
HeDt 1:10 “Hỡi Chúa, ban đầu trước hết Chúa đã dựng nền đất và các từng trời cũng là công việc của tay Chúa ”.
Xem thêm 11:3.
Trong quá khứ, Đấng Christ là Đấng Tạo dựng vũ trụ, là đầu của muôn vật. Trong hiện tại Ngài là đầu của tạo vật mới là Hội thánh. Với vũ trụ cũ, Đấng Christ được xem là Đấng “sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên ” (CoCl 1:15). Còn với tạo vật mới, Ngài là “trái đầu mùa của những kẻ ngủ ” (KhKh 3:20). Con ngưới chúng ta đã nhờ Đấng Christ để có được sự hiện hữu trong thế giới vật chất và rồi cũng nhờ Ngài mà có được sự hiện hữu ở Thiên đàng.
2. Bảo tồn muôn vật.
Sự gìn giữ, bảo tồn luôn luôn đi đôi với sự tạo dựng. Đức Chúa Trời không dựng nên muôn vật rồi bỏ mặc nó muốn ra thế nào thì ra, nhưng Ngài lo lắng, chăm sóc, gìn giữ tất cả. Không một vật nào bị qua đi hoặc bị hủy hoại nếu không có sự cho phép của Ngài.
1:17 “Ngài có trước muôn vật và muôn vật đừng vững trong Ngài ”.
HeDt 1:3 “Con … lấy lời quyền năng nâng đỡ muôn vật ”.
Mat Mt 6:26 “Hãy xem loài chim trời,chẳng có gieo gặt cũng chẳng có thâu trử vào khi tàng mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó ”.
Nếu con người chúng ta chịu để tâm suy nghĩ tìm hiểu phương cách tồn tại của chính mình hay bất cứ một loài nào thì chúng ta sẽ thấy được sự bảo tồn của Thiên Chúa đối với tạo vật của Ngài.

ĐẤNG CHRIST THÀNH NHỤC THỂ
Đấng Christ thành nhục thể tức là Ngôi hai Đức Chúa Trời trở nên người, hay có thể nói cách rõ ràng hơn, Giê hô va của Cựu ước bước vào trần gian mang lấy thân xác con người trở nên Jêsus Đấng Mêsia của Đức Chúa Trời Cựu ước dự ngôn về sự thành nhục thể của ngôi hai Đức Chúa Trời, còn Tân ước thì ghi lại sự ứng nghiệm.
I. KINH THÁNH DỰ NGÔN VÀ SỰ BÀY TỎ ỨNG NGHIỆM VỀ SỰ THÀNH NHỤC THỂ CỦA ĐẤNG CHRIST:
A) Dự ngôn .
Lời dự ngôn về sự thành nhục thể của Đấng Christ được Kinh thánh Cựu ước ghi lại rất chi tiết.
SaSt 3:15 “Ta sã làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người (He) sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người ”.
EsIs 9:5 “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta, quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài … Chúa bình an ”.
7:14 “ … nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai và đặt tên là Emmanuên ”.
B) Ứng nghiệm.
Tân ước đã chứng nghiệm sự đầu thai được dự ngôn trong Cựu ước, đã được ứng nghiệm trong sự Giáng sinh của Đức Chúa Jêsus Christ.
Mat Mt 1:18-25 “ ……người sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội ”.
LuLc 1:26-35 “ ….. nầy nơi sẽ chịu thai và sanh một con trai đặt tên là Jêsus, con ấy ẽ là lớn , được gọi la con của Đấng chí cao ”.
LuLc 2:1-20
GaGl 4:4 “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn Đức Chúa Trời bèn sai con Ngài bởi người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp ”.
Xem thêm GiGa 1:14; RoRm 8:3.
II. HAI BẢN TÁNH CỦA ĐẤNG CHRIST.
Qua sự bày tỏ của Kinh thánh chúng ta được biết Đấng Christ có hai tánh : thần tánh và nhân tánh trọn vẹn. Khi Ngài giáng sinh vào đời mang lấy hình hài của loài người thì thần tánh của Ngài được kết hiệp với nhân tánh thành một Đấng Thần nhân gọi là Jêsus Christ. Chúng ta lần lượt suy ngâm, học hỏi về hai lẽ đạo quan trọng này .
A) Thần tánh của Đấng Christ (Deity).
Thần tánh là bản tánh hoàn toàn thuộc về trời, bản tánh chỉ có trong Đức Chúa Trời. Để học hỏi về Thần tánh của Chúa, lần lượt nêu lên những điểm có liên hệ đến Thần tánh của Ngài.
1. Thần Danh Xưng.
(a) Con Đức Chúa Trời :
Danh nầy được dùng để nói về Đấng Christ được đề cập đến 40 lần trong Kinh thánh Tân ước. GiGa 5:18 tỏ rõ rằng đối với người Do thái đương thời danh xưng “Con Đức Chúa Trời”, được gắn liền với Đức Chúa Trời : “Bởi đó dân Giuđa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa bát mà thôi mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân Phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời ” .
LuLc 22:70 “Ai nấy đều hỏi rằng: vậy ngươi là Con Đức Chúa Trời sao? Ngài đáp: Chính các ngươi nói ta là Con Đức Chúa Trời ”.
(b) Con một (Con độc sanh ).
Danh xưng này được đề cập đến 5 lần. Danh xưng Con Một cho thấy được sự gần gũi, thân yêu giữa Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Danh xưng này cũng cho thấy rằng ngoài Đấng Christ ra, tất cả những người khác đều không phải là con có đồng một thể yếu, một bản tánh với Ngài. Tất cả những Cơ đốc nhân được chuộc trong huyết Chúa Giê xu Christ đều được Đức Chúa Trời nhận làm con, nhưng ở trong vị thế con nuôi.“Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi, nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi và nhờ đó chúng ta kêu rằng Aba: Cha ” (RoRm 8:15; GaGl 4:5).
GiGa 1:18 “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết ”.
3:16, 18; 1:14; IGi1Ga 4:9.
( c) Đấng Trước hết và Sau cùng :
KhKh 1:17 “Vừa thấy người tôi ngã xuống chơn người như chết, nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng ”.
Đem so sánh tên gọi này với EsIs 41:4
“Ai đã làm và thành tựu việc này? Ai đã gọi các dòng dõi từ ban đầu? Ấy là chính ta, Đức Giê hô va là đầu tiên, mà cũng sẽ ở với cuối cùng ”.
Và EsIs 44:6 “Đức Giê hô va là vua và Đấng Cứu chuộc của Ysơraên là Đức Giê hô va vạn quân phán như vầy: Ta là đầu tiên và cuối cùng, ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác ”.
Chúng ta sẽ thấy ngay rằng Đấng Christ của Tân ước chính là Đức Giê hô va của Cựu ước.
(d) Anpha và Ômêga (bắt đầu và sau rốt ).
Danh xưng này cho thấy Đấng Christ bao trùm tất cả. Trước Ngài không có ai và sau Ngài không còn ai cả. Danh xưng này là một nguồn an ủi lớn cho chúng ta vì chúng ta không bao giờ ở ngoài sự quan phòng của Chúa.
KhKh 22:13 “Ta là Anpha và Ômêga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt ”.
(e) Đấng Thánh :
Cong Cv 3:14 “Các ngươi đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng công bình mà xin tha một kẻ giết người ”.
So sánh danh xưng được nêu lên trong câu Kinh thánh này với OsHs 11:9 “Vì tà Đức Chúa Trời không phải là người, ta là Đấng Thánh ở giữa ngươi, chẳng lấy cơn giận đến cùng ngươi ”.
Một lần nữa chúng ta thấy Đấng Christ chính là Đức Chúa Trời.
(g) Chúa :
Kinh thánh dùng danh xưng này hàng mấy trăm lần để gọi Đấng Christ. Chữ Chúa được dùng cho Đấng Christ với tinh thần khác hẳn chữ này khi đem dùng cho người. Chữ Chúa dùng cho loài người mang tánh chất tôn trọng như một người chủ, người thầy, hay một bậc trưởng thượng.
Xem Cong Cv 16:30; GiGa 12:21.
(h) Chúa vinh hiển :
ICo1Cr 2:8 “Trong những người cai quản đời này, chẳng ai từng biết sự đó; Bởi chưng nếu đã biết thì họ chẳng đóng đinh Chúa vinh hiển trên cây thập tự đâu ”.
So sánh danh xưng “Chúa vinh hiển” ở đây với Thi Tv 24:8-10 thì sẽ thấy Đấng Christ chính là Đức Giê hô va vạn quân của Cựu ước.
( i) Cha đời đời :
Tính chất đời đời là một phần của bản chất Đấng Christ.
EsIs 9:6; HeDt 1:8
(k) Đức Chúa Trời :
Trong Tân ước có nhiều chỗ gọi Đấng Christ gọi là Đức Chúa Trời.
GiGa 1:1 “Đạo (Ngôi lời ) là Đức Chúa Trời ”.
20:28 “Thôma đáp rằng: lạy Chúa tôi là Đức Chúa Trời tôi ”.
RoRm 9:5 “Bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời ”.
HeDt 1:18.
( l) Đức Chúa Trời ở với chúng ta :
Mat Mt 1:23 “Nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai và sanh một trai và người ta sẽ đặt tên con trai đó là Emmanuên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta ”.
Qua những Thần danh xưng vừa nêu, chúng ta có thể thấy được thần tánh trong Đấng Christ đã được thể hiện .
2. Những thuộc tánh của Ngài .
(a) Toàn năng :
Cũng như Đức Chúa Trời, Đấng Christ là Đấng toàn năng, ngay trong địa vị từ bỏ sự vinh hiển, Ngài vốn là Đấng toàn năng. Không việc chi Ngài không làm được nếu Ngài muốn .
- Đấng Christ có quyền trên bệnh tật :
LuLc 4:39 “Ngài bèn nghiêng mình trên người, truyền cho cơn rét, rét liền ra khỏi. Tức thì người chờ dậy hầu việc ”.
- Đấng Christ có quyền trên sự chết :
Trên người vừa chết (con gái Giairu) 8:54-55.
Người chết trên đường ra nghĩa địa (người thanh niên Nain) 7:11-17 .
Người chết nằm trong mộ bốn ngày (Laxarơ) GiGa 11:1-44.
- Đấng Christ có quyền trên gió và biển :
Mat Mt 8:26, 27 “ … Ngài bèn đứng dậy quở gió và biển thì liền yên lặng như tờ ”.
- Đấng Christ có quyền trên ma quỉ :
8:16; LuLc 4:35, 36, 41.
- Đấng Christ vượt trên các bậc cầm quyền, mọi thế lực:
Eph Ep 1:20-23.
- Đấng Christ dùng lời quyền năng nâng đỡ muôn vật
HeDt 1:3 “Con … lấy lời quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật ”.
(b) Toàn trí:
Bốn sách Tin lành ghi lại cho chúng ta nhiều sự kiện bày tỏ sự toàn tri của Đấng Christ lúc đang thi hành chức vụ trên trần gian.
- Ngài biết cuộc sống con người, cả những bí mật của đời họ
GiGa 4:16-19 Chúa biết rõ cuộc đời của người đàn bà Samari.
- Ngài biết những tư tưởng sâu kín của con người.
Mac Mc 2:8 “Đức Chúa Giê xu trong trí đã hiểu họ tự nghĩ như vậy, tức thì phán rằng sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy ”.
LuLc 5:22 “Nhưng Đức Chúa Giê xu biết ý tưởng họ, cất tiếng phán rằng: các ngươi nghị luận gì trong lòng ”.
Xem thêm GiGa 2:24, 25; Mat Mt 9:4; Cong Cv 1:24.
So sánh với IISu 2Sb 6:30 “Vì Chúa không biết lòng của họ. Thật chỉ một mình Chúa biết được lòng con cái loài người ”.
Gie Gr 17:9, 10 “Lòng người ta dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa, ai có thể biết được? Ta, Đức Giê hô va dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả việc họ làm ”.
Chúng ta biết được chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng có thể biết được lòng con người. Nhưng tại đây chúng ta thấy Đấng Christ cũng biết lòng người, như vậy Đấng Christ là Đức Chúa Trời.
- Ngài biết sự lựa chọn tương lai của con người.
Đức Chúa Giê xu biết từ trước về sự phản của Giuđa, ngay cả những lúc ông ta tỏ ra là môn đệ đắc lực của Chúa trong chức thủ quỹ của đoàn truyền giáo của Ngài.
GiGa 6:64 “Song trong vòng các ngươi có kẻ không tin. Vì Chúa Giê xu biết từ ban đầu, ai là kẻ không tin, ai là kẻ sẽ phản Ngài ”.
- Ngài biết điều con người đang làm từ một khoảng cách xa.
1:48 “Nathanaên thưa rằng: Bởi đâu thầy biết tôi? Đức Chúa Giê xu đáp rằng: trước khi Philíp gọi ngươi, ta đã thấy ngươi lúc ở dưới cây vả ”.
- Ngài biết tất cả.
+ Biết giờ đã định cho mình :
13:1 “Trước ngày Lễ Vượt qua, Đức Chúa Giê xu biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Cha đến rồi ”.
+ Biết những con cá trong biển sâu :
LuLc 5:4-6 :Truyền cho Simôn thả lưới ở ngoài sâu, được nhiều cá.
+ Biết những chi tiết sẽ diễn ra :
22:10-12 (sai các môn đồ đi dọn Lễ Vượt qua).
+ Ngài biết tất cả:
GiGa 16:30 lời tuyên xưng của các môn đồ “ Bây giờ chúng tôi biết thầy thông biết mọi đều ”.
21:17 Lời tuyên xưng của Phierơ “Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự ”.
( c) Toàn tại :
- Hiện diện ở bất cứ nơi nào có đôi ba người hiệp chung cầu nguyện.
Mat Mt 18:20 “Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại thì ta ở giữa họ ”.
- Hiện diện ở bất cứ nơi nào có người đi rao truyền lời Ngài.
28:20 “ … dạy họ giữ hết cả mọi đều mà ta đã truyền cho các ngươi, và nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tân thế ”.
- Hiện diện trong các Cơ đốc nhân.
GiGa 14:20 “Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng ta ở trong Cha ta, các ngươi ở trong ta và ta ở trong các ngươi ”.
(d) Đời đời :
Một lãnh vực nữa có liên quan đến thần tánh của Đấng Christ đó là bản chất đời đời của Ngài.
GiGa 1:1 “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời ”.
MiMk 5:1 “… song từ nơi ngươi sẽ sanh ra cho ta một Đấng cai trị trong dân Ysơraên, gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng ”.
EsIs 9:6 “… Ngài sẽ được xưng là … Cha đời đời ”.
GiGa 17:5 “Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh hiển con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển con nơi chính mình Cha ”.
HeDt 13:8 “Đức Chúa Giê xu hôm qua, ngày nay cho đến đời đời không hề thay đổi ”.
(e) Không hề thay đổi :
HeDt 1:12 “…… rồi trời đất cũng sẽ biến đổi, nhưng Chúa vẫn y nguyên, các năm Chúa không hề cùng ”.
(g) Mang hình thể của Đức Chúa Trời trước khi giáng sinh :
Phi Pl 2:6 “Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, nhưng chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ ”.
Một số điểm nêu lên trong lãnh vực thuộc tánh của Đức Chúa Trời cho thấy rõ thần tánh của Đấng Christ.
3. Thần chức năng.
Theo sự bày tỏ của Kinh thánh chúng ta thấy một số lãnh vực liên hệ đến Thần chức năng của Đức Chúa Giê xu Christ như sau :
(a) Việc tạo dựng vũ trụ Đấng Christ nắm giữ phần chủ yếu :
GiGa 1:3 “Muôn vật bởi Ngài làm nên …”.
CoCl 1:16 “Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài ”.
HeDt 1:10 “Hỡi Chúa, ban đầu Ngài lập nền trái dất, các từng trời cũng là công việc của tay Ngài ”.
(b) Việc bảo tồn muôn vật :
HeDt 1:3 “Con… lấy lời quyền năng nâng đỡ muôn vật ”.
CoCl 1:17 “Ngài có trước muôn vật và muôn vật đều tồn tại trong Ngài ”.
( c) Việc tha tội :
Mac Mc 2:5-11 câu chuyện người bại bởi đức tin được Chúa tha tội. Các nhà lãnh đạo tôn giáo Do thái cho rằng Ngài nói phạm thượng. Nhưng Chúa Giê xu nói với họ và chứng tỏ quyền năng tha tội của Ngài bằng cách chữa lành cho người bệnh “để các ngươi biết con người ở thế gian có quyền tha tội, Ngài phán cùng kẻ bại rằng : ta biểu ngươi hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà”.
LuLc 7:48 “Ngài bèn phán cùng người đàn bà rằng: tội lỗi ngươi đã được tha rồi ”.
(d) Việc khiến kẻ chết sống lại :
GiGa 6:39, 44 “Vả, ý muốn của Đấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt …. Ví bằng Cha, là Đấng sai ta không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt ”.
GiGa 5:28-29.
(e) Việc đoán xét :
5:22 “Cha cũng chẳng đoán xét ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con ”.
IITi 2Tm 4:1 “ …… Đức Chúa Giê xu Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết ”.
Mat Mt 25:31, 32; Cong Cv 17:31
(g) Ban sự sống đời đời :
GiGa 10:28 “Ta ban cho nó sự sống đời đời, nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta ”.
17:2 “…… Con được ban sự sống đời đời cho những kẻ mà Cha đã giao phó cho con ”.
4. Những câu Kinh thánh nói về Đức Giê hô va, Đức Chúa Trời của Cựu ước được Tân ước dùng để chỉ về Đức Chúa Giê xu.
(a) Thi Tv 102:24-27
“Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! các năm Chúa còn đến muôn đời. Xin chớ cất lấy tôi khỏi chừng số các ngày tôi. Thuở xưa Chúa lập nền trái đất, các từng trời là công việc của tay Chúa. Trời đất sẽ bị hư hoại, song Chúa hằng còn, trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống. Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo và nó bị biến thay, song Chúa không hề biến cải, các năm Chúa không hề cùng ”.
So sánh HeDt 1:10-12 những câu Kinh thánh dùng để nói về Đấng Christ.
“Lại có phán : Hỡi Chúa, ban đầu trước hết Chúa đã dựng nền trái đất và các từng trời cũng là công việc của tay Chúa. Trời đất sẽ hư đi, nhưng Chúa hằng có, trời đất sẽ cũ đi như cái áo Ngài sẽ cuốn nó lại nhu cái áo choàng. Rồi trời đất sẽ biến đổi, nhưng Chúa vẫn y nguyên, các năm của Chúa không hề cùng ”.
Đấng Christ là Đức Chúa Trời.
(b) EsIs 40:3, 4
“Có tiếng kêu rằng: hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giê hô va, ban bằng đường cái trong đất hoang cho Đức Chúa Trời chúng ta! mọi nơi sủng thấp sẽ được cao lên, mọi núi, mọi gò sẽ bị hạ xuống. Các nơi gập ghềnh đã làm cho bằng, các nơi dốc hãm sẽ làm thành đồng nội ”.
So sánh Mat Mt 3:3; LuLc 1:76.
Mat Mt 3:3 “Ấy là về Giăng Báp tít mà Đấng tiên tri Êsai đã bảo trước rằng: có tiếng kêu trong đồng vắng, hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài ”.
LuLc 1:76 Xachari, cha của Giăng Báp tít được đầy dẫy Thánh Linh đã nói tiên tri về Giăng, người con mới sinh ra rằng : “Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao, con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài ”.
Đức Chúa Giê xu mà Giăng đi trước làm sứ giả dọn đường là Đức Chúa Trời.
( c) Gie Gr 11:20
11:20 “Hỡi Đức Giê hô va vạn quân! Ngài đoán xét cách công bình, dò xét lòng và trí, tôi sẽ thấy sự Ngài báo thù họ, vì tôi đã tỏ công việc tôi cùng Ngài ”.
17:10 “Ta, Đức Giê hô va dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo trả cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả công việc họ làm ”.
So sánh với KhKh 2:23.
Đây là lời phán của Đức Chúa Giê xu Christ cho tín hữu trong Hội thánh Thiatirơ, liên hệ đến đến người nữ Giêsabên. “Ta đã đánh chết con cái nó, và mọi Hội thánh sẽ biết rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người, và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại ”.
Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng dò xét trong lòng và xét xử công minh các việc làm của con người là Đức Giê hô va .
(d) EsIs 60:19
“Ngươi sẽ chẳng nhờ mặt trời soi sáng ban ngày nữa và cũng chẳng nhờ mặt trăng chiếu sáng ban đêm, nhưng Đức Giê hô va sẽ làm sự sáng đời đời cho ngươi. Đức Chúa Trời ngươi sẽ làm vinh quang cho ngươi ”.
So sánh LuLc 2:25-32 và KhKh 21:23.
Trong LuLc 2:25-32 Cụ Simêôn đã ẳm bồng con trẻ Giê xu, và nói lên bài ca tụng của mình, trong đó cụ nói đến Chúa Giê xu như là “ …. ánh sáng trước mặt muôn dân soi khắp thiên hạ và làm vinh hiển cho dân Ysơraên là dân Ngài ”.
Còn KhKh 21:23 thì nói đến Chiên Con là ngọn đèn của thành.
Trên phương diện ánh sáng chói rạng của sự vinh hiển : Đức Chúa Giê xu Christ là Đức Chúa Trời.
(e) EsIs 8:13, 14
“Hãy tôn Đức Giê hô va vạn quân là thánh, các ngươi chỉ nên sợ Ngài và kinh hãi Ngài. Ngài sẽ là nơi thánh, nhưng cũng là hòn đá vấp ngã, vầng đá vướng mắc cho cả hai nhà Ysơraên ”
So sánh IPhi 1Pr 2:7, 8.
Nếu trong Cựu ước gọi Đức Giê hô va là hòn đá vấp ngã thì trong Tân ước , tên này được dùng để nói về Đức Chúa Giê xu Christ “hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, bèn trở nên đá góc nhà, là đá gây cho vấp váp, …. họ bị vấp đá đó vì không vâng phục đạo ……”.
(g) Dan Ds 21:6, 7
“Đức Giê hô va sai con rắn lửa đến trong dân sự, cắn dân đó đến nổi người Ysơraên chết rất nhiều …”
So sánh ICo1Cr 10:9.
Trong thơ Côrinhtô, Phaolô khuyên tín hữu ở Hội thánh này nên sống một cuộc sống tốt đẹp, thánh khiết, cuộc sống của những người đã được đồng chết và đồng sống với Đấng Christ. Nếu sống cuộc sống buông lung, tức là một hình thức thử thách sự nhịn nhục của Chúa. Nếu không nhanh chóng, ăn năn, sẽ bị hình phạt nặng nề :
“Cũng chớ thử Chúa như mấy người trong họ đã thử thách mà bị rắn cắn hủy diệt ”.
Xem thường mạng lịnh của Chúa Giê xu được xem là xem thường Đức Chúa Trời.
(h) Thi Tv 23:1
“Đức Giê hô va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì ”.
So sánh EsIs 40:10, 11
“Nầy Chúa Giê hô va sẽ lấy quyền năng mà đến, Ngài dùng cánh tay Ngài mình cai trị …… Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng, từ từ dắt các chiên cái đương cho bú ”.
So sánh GiGa 10:11 - Chính Chúa Giê xu tự ví mình như một người chăn chiên tốt, dịu hiền :
“Ta là người chăn tốt, người chăn tốt vì chiên mình phó sự sống mình ”.
Trong Cựu ước Đức Giê hô va được gọi là người chăn chiên rất thông cảm và thương yêu chiên, trong Tân ước cũng bày tỏ Chúa Giê xu Christ là một người chăn như vậy.
( i) Exe Ed 34:11, 12, 18
“Chúa Giê hô va phán như vầy: nầy chính ta, tức là ta sẽ tìm kiến chiên ta, ta sẽ tìm nó ra. Ví như kẻ chăn chiên tìm bầy mình ra trong ngày mà nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì ta cũng tìm kiếm chiên ta ra như vậy: ta sẽ cứu chúng nó ra khỏi mọi nơi mà chúng nó bị tan lạc trong mây mù, tối tăm ”.
So sánh LuLc 19:10 đã tỏ cho thấy
Qua nhiều chỗ trong Tân ước, Chúa Giê xu đã tỏ cho thấy Ngài rất lưu tâm vào việc “Tìm và cứu kẻ bị mất ” (Xem 15:3, 7). Đức Giê hô va của Cựu ước và Chúa Jêsus Christ của Tân ước tìm và cứu kẻ bị mất.
5. Tên của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đi đôi với nhau:
Sự việc Kinh thánh có nhiều chỗ sắp xếp tên của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ chung với nhau nói lên một cách mạnh mẽ về Thần tánh của Chúa Jêsus Christ.
Mat Mt 28:19 “Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ ”.
GiGa 14:23 “Đức Chúa Giê xu đáp rằng: Nếu ai yêu mến ta thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ yêu thương người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người ”.
Chữ chúng ta ở đây tức là Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê xu.
RoRm 1:7 “…… nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ ”.
IICo 2Cr 13:13; Tit Tt 3:4, 5; 2:13; ITe1Tx 3:11; Gia Gc 1:1; KhKh 7:10; GiGa 14:1; 17:3; CoCl 2:2; IPhi 1Pr 1:2.
6. Thần tôn thờ được dành cho Chúa Giê xu Christ:
Kinh thánh ngăn cấm loài người thờ lạy bất cứ hình tượng nào hoặc bất cứ một loài thọ nào cho dù người đó được xem như là ông thánh hoặc ngay cả thiên sứ cũng vậy. Không một loài thọ tạo nào kính sợ Đức Chúa Trời lại dám hoặc bằng lòng để cho người khác thờ lạy mình. Trong lúc bị ma quỉ cám dỗ Chúa đã nói cùng nó rằng :“Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi ”.(Mat Mt 4:10).
Trước tiếng tăm lừng lẫy của Phierơ trong lãnh vực giảng dạy và thi hành phép lạ, Cọt-nây đã được Chúa truyền dạy nên mời Phierơ đến nhà, Cọtnây đã phục dưới chân Phierơ mà lạy, nhưng Phierơ đỡ người đứng dậy và nói rằng :“Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi ” (Cong Cv 10:25, 26).
Trước sự vinh hiển của Thiên sứ, sứ đồ Giăng cúi xuống thờ lạy nhưng Thiên sư vội vàng ngăn cản và nói :“Chớ làm vậy! Ta là bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi …” (KhKh 22:8, 9). Nhưng về phần Chúa Jêsus Christ Ngài không từ chối sự thờ lạy của con người đối với Ngài.
Mat Mt 28:9 “Đức Chúa Giê xu gặp hai người đàn bà đó, thì phán rằng: Mừng các ngươi! Hai người cùng đến gần, ôm chân Ngài và thờ lạy Ngài ”
LuLc 24:52 “Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giêrusalem mừng rỡ lắm ”.
Mat Mt 14:33 “Các người trong thuyền bèn đến quỳlạy Ngài mà nói rằng: Thầy thật là con Đức Chúa Trời ”.
Ngoài việc này ra chúng ta còn thấy Tân ước ghi lại những lời cầu nguyện được trình dâng lên cho Chúa Jêsus Christ.
GiGa 14:14 “Nếu các ngươi nhơn danh ta xin đều chi, ta sẽ làm cho ”.
Cong Cv 7:59 “Êtiên cầu nguyện rằng:Lạy Đức Chúa Giê xu, xin tiếp lấy linh hồn tôi ”.
ICo1Cr 1:2 “Gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại Cô rinh tô… lại cho mọi người bất luận ở nơi nào cầu khẩn danh Đức Chúa Giê xu Christ chúng ta ”.
Qua những điều chúng ta học được về Thần tánh của Chúa Giê xu, chúng ta thấy rõ rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Bất cứ ai, và với bất cứ lý do nào phủ nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa Thiên thượng và Chúa tức là phủ nhận Đức Chúa Trời. Con người có thể tự hào về sự tốt đẹp của mình bằng cách nói rằng tôi không làm những điều không tốt đẹp - như vậy tôi phạm tội gì ? Người ấy phạm một tội rất lớn, rất đáng bị xét đoán là tội phủ nhận Đức Chúa Trời. Tội phủ nhận Đức Chúa Trời có thể ở dưới một số dạng:
- Không chịu tìm hiểu về Ngài nhưng vẫn khăng khăng phủ nhận.
- Được nghe nói về Ngài nhưng vẫn khăng khăng phủ nhận.
- Đã biết về Ngài qua cõi thiê nhiên, qua Kinh thánh nhưng vẫn tìm lý do để từ chối.
Sự từ chối không chịu tin nhận Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời với lý do là con người nghi ngờ về thần tánh của Ngài bị suy giảm, đồng thời cũng không làm cho tội của người ấy giảm nhẹ đi chút nào.
Chúa Jêsus Christ - trước bất cứ sự nghi ngờ, chối bỏ hay tấn công nào - vẫn là một hiện hữu Thiên thượng, là Đức Chúa Trời.
B) Nhân tánh của Đấng Christ.
Ngoài bản tánh trời trọn vẹn ở trong Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta còn thấy trong Ngài có bản tánh người trọn vẹn hoàn toàn giống như bản tánh của con người, chỉ khác một điều là không bị ô uế bởi tội lỗi như con người thuộc dòng Ađam. Chúng ta nêu lên một số điểm trong Kinh thánh liên quan đến Nhân tánh của Ngài.
1. Ngài có thân thể của con người.
Kinh thánh cho biêt Ngài đã trở nên xác thịt ở giữa loài người chúng ta, thân thể Ngài cũng bằng xương, bằng thịt, máu huyết như bất cứ người nào trong chúng ta.
GiGa 1:14 “Ngôi Lời trở nên xác thịt chúng ta ở giữa chúng ta ”.
LuLc 24:39 “Hãy xem tay chơn ta, thật chính ta. Hãy rờ đến ta và hãy xem. Thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có ”.
HeDt 2:14 “Vậy thì vì con cái có phần về thịt và huyết nên chính Đức Chúa Giê xu cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết là ma quỉ. ”
Khi đề cập đến một con người trọn vẹn, triết học và ngay cả Thánh kinh đều cho rằng đó là con người gồm đủ ba phần : thân thể, linh hồn và tâm linh.
ITe1Tx 5:23 “… nguyền xin tâm thần, linh hồn và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Giê xu Christ chúng ta đến ”.
Kinh thánh cho thấy rõ Chúa Giê xu có đầy đủ ba yếu tố này. Sứ đồ Giăng đã nêu lên cho các tín đồ một phương pháp để nhận ra đâu là thần thật, đâu là thần giả đang trà trộn vào Giáo Hội “Bởi điều này, hãy nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: phàm thần nào xưng Đức Chúa Jêsus Christ lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời ” (IGi1Ga 4:2).
2. Ngài mang tên là con người .
Trong Kinh thánh có khoảng 80 lần danh hiệu con người đã được dùng cho Chúa Giê xu và danh hiệu này được Chúa Giê xu sử dụng nhiều nhất để bày tỏ về yếu tố con người của Ngài, một phương diện mà con người có thể hiểu rõ Ngài nhất.
LuLc 19:10 “Bởi con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất ”.
Cong Cv 7:55 Ê tiên là một trong những người đã dùng danh hiệu con người để chỉ về Chúa Giê xu, lúc ông bị người ta ném đá :“Ê tiên nói rằng: kìa ta thấy các từng trời mở ra và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời ”.
3. Ngài có gia phổ loài người.
Hai phân đoạn Kinh thánh trong Mat Mt 1:1-17 và LuLc 3:23-38 là hai lối viết gia phổ của Chúa Giê xu. Trong Mathiơ là gia phổ của một người thuộc dòng dõi vua, hậu tự của vua Đavít (RoRm 1:3). Trong Luca là gia phổ của một người như mọi người, như các gia phổ khác.
4. Ngài được sanh ra bởi người nữ .
LuLc 2:7 “người sanh con trai đầu lòng, lấy khă bọc con mình đặt nằm trong máng cỏ ”.
GaGl 4:4 “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp ”.
5. Ngài phát triển theo công lệ thiên nhiên.
Kinh thánh cho biết Ngài phát triển điều hòa cả về trí khôn, thân thể lẫn đạo đức.
LuLc 2:52 “Đức Chúa Giê xu khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta ” .
6. Ngài cũng có những biểu lộ của bản tánh con người.
Chúa Giê xu đã lớn lên theo công lệ thiên nhiên mà mọi con người bình thường phải trãi qua. Ngài cũng có những cảm xúc, những buồn bực, đói khát, mệt mỏi, bối rối, khóc, giận trước những hoàn cảnh thích ứng như con người.
Đói : “Ngài kiêng ăn, 40 ngày, 40 đêm rồi sau thì đói ” (Mat Mt 4:2).
Khát : “Đức Chúa Giê xu… phán rằng: Ta khát ” (GiGa 19:28).
Mệt mỏi : “Nhơn đi đàng mỏi mệt, Đức Chúa Giê xu ngồi gần bên giếng ” (GiGa 4:6).
Bối rối : “Hiện nay tâm thần ta bối rối ” (GiGa 12:27).
Đau đớn : “Trong cơn rất đau thương Ngài cầu nguyện càng thiết ” (LuLc 22:44).
Đau lòng : “Đức Chúa Giê xu thấy người khóc… bèn đau lòng ” (GiGa 11:33).
“Đức Chúa Giê xu khóc ” (GiGa 11:35; LuLc 19:42; HeDt 5:7).
Thương xót : “Khi Ngài thấy những đám đông thì động lòng thương xót ” (Mat Mt 9:36).
Giận, buồn :“Ngài lấy mắt liếc họ, vừa giận, vừa buồn …” (Mac Mc 3:5).
Ngủ :“ thình lình bão lớn nổi lên… nhưng Ngài đương ngủ ” (Mat Mt 8:24).
Chết : “… Ngài gục đầu, mà trút linh hồn tắt hơi ” (GiGa 19:30).
7. Ngài cũng có một đời sống tôn giáo, đạo đức như con người.
/a/ Ngài chịu Báp têm :
Việc làm báp têm của Chúa Giê xu ở đây là báp têm của sự ăn năn do Giăng thực hiện. Nhưng sự việc nhận báp têm này không có nghĩa là Ngài có bất cứ một tội lỗi nào cần phải ăn năn, mà chỉ là một hình thức đứng chung với người có tội để cảm thông, giúp đỡ và giải cứu họ ra khỏi tội lỗi và sự hư mất. Nói cách khác phép báp têm của Chúa Giê xu biểu lộ quyết định của Chúa vui lòng đứng về phía con người để tạo một nhịp cầu nối lại sự ngăn cách quá sâu thẳm, quá rộng giữa Đức Chúa Trời và con người. Đây chính là lý do tại sao chính Chúa Giê xu vừa hoàn tất lễ báp têm thì cửa trời mở ra và có tiếng êm dịu từ trời phán :“Nầy là con yêu dấu của ta đẹp lòng ta mọi đàng ” (Mac Mc 1:10, 11). Chữ mở được dùng trong Tin lành Mác là skizo, có nghĩa là xé ra. Xé là một hành động mở nhanh những gì đang gói kín, giấu kín. Khi Đức Chúa Giê xu bằng lòng đứng về phía con người thì sự ngăn cách giữa trời và người nhanh chóng được phá vỡ và Đức Chúa Trời không xuất hiện với sấm sét, chớp nhoáng và lửa hừng như trong thời Cựu ước khiến mọi người phải chạy xa, nhưng như một người cha dịu hiền với tiếng nhỏ nhẹ dịu dàng khiến người nghe càng đến gần (XuXh 19:16-25; 20:18-21; Mac Mc 1:9-11).
1:9 “Vả, trong ngày đó Đức Chúa Giê xu đến từ Naxarét là thành xứ Galilê và chịu Giăng làm phép báp têm dưới sông Giô đanh ”.
/b/ Ngài chịu phép cắt bì :
Cắt bì là dấu hiệu xác nhận người mang dấu hiệu này là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Đây là một nghi thức tôn giáo rất quan trọng không thể thiếu được giữa vòg dân Ysơraên. Chúa Giê xu đã chịu NGHI THỨC NÀY ĐÚNG THEO sự đòi hỏi của luật pháp.
LuLc 2:21 “Đến ngày thứ 8 là ngày phải làm phép cắt bì cho con trẻ thì họ đặt tên là Jêsus ”.
/c/ Ngài thờ phượng trong nhà hội vào ngày Sa bát.
Theo luật tôn giáo của Do thái, ngày sa bát là ngày nghỉ hoàn toàn mọi công việc để thờ phượng Đức Chúa Trời và một phần trong việc thờ phượng này là vào nhà hội để thờ phượng và nghe giảng giải lời Chúa. Chúng ta thấy Chúa Giê xu vẫn giữ điều này, nhưng với tinh thần khác hẳn với tinh thần của các nhà lãnh đạo tôn giáo Do thái.
Mac Mc 1:21 “Kế đó, đi đến thành Cabênaum nhằm ngày sa bát tức thì Đức Chúa Giê xu vào nhà hội khởi dạy dỗ tại đó ”.
3:1 “Lần khác Đức Chúa Giê xu vào nhà hội, ở đó có một người nam teo bàn tay ”.
6:2 “Đến ngày sa bát, Ngài bắt đầu dạy dỗ trong nhà hội ”.
/d/ Ngài cũng phải đối diện với những sự cám dỗ.
Sự cám dỗ là một vấn đề lớn mà con người phải đối diện trong suốt cuộc sống và sự cám dỗ chỉ ngừng theo đuổi con người lúc con người nhắm mắt lìa đời. Sự thành bại, vinh nhục của con người tùy thuộc vào thái độ và sức để kháng của con người đối với sự cám dỗ. Sự cám dỗ đã âm thầm đánh gục và bôi nhọ biết bao nhiêu bậc vĩ nhân, đã đẩy bao nhiêu người hiền lành vào con đường hung ác, bao nhiêu người có tiếng tốt vào con đường tội lỗi. Tội lỗi vô cùng đa dạng, biến hóa khôn lường nhưng tựu trung cũng chỉ gồm ba loại chính : tạo sự “mê tham của mắt, mê tham của xác thịt và sự kiêu ngạo của đời” (IGi1Ga 2:16).
Nhưng loại cám dỗ này không đứng riêng lẽ với nhau, nhưng kết hiệp thành một liên hoàn vô cùng nguy hiểm. Có thể nói rằng loài người từ cổ chí kim chưa hề có một con người nào không bị sự cám dỗ ngã ít nhất là một lần. Kinh thánh đã ghi lại cách rất rõ ràng thế nào về Chúa Giê xu đã bị cám dỗ nơi đồng vắng với ba loại cám dỗ thường được thực hiện :
- mê tham của xác thịt : nhu cầu cấp bách của thân thể - đói.
- kiêu ngạo của đời : bày tỏ sự khoe khoang tài năng và nói những gì mình co hơn người - trên nóc đền thờ nhảy xuống.
- mê tham của mắt : xem sự vinh quang của các nước thế gian.
Ngoài những lần cám dỗ phải đối diện trong đồng vắng, Đức Chúa Giê xu còn phải đối diện với nhiều sự cám dỗ khác trong chức vụ : dân chúng muốn tôn Ngài làm vua (GiGa 6:15), các anh em Chúa thúc đẩy Chúa tỏ mình cho thiên hạ để mọi người được biết (GiGa 7:4), các môn đồ tìm cách ngăn cản Ngài đi con đường thập tự (Mat Mt 16:22). Trong tất cả mọi sự cám dỗ, Chúa Giê xu đều đối diện với tinh thần tỉnh táo, cương quyết và đắc thắng (Mat Mt 4:1-11).
/e/ Ngài luôn luôn hướng về một cuộc sống đạo đức tốt đẹp để vui lòng thiên Chúa và con người.
Chữ càng ở đây cho thấy cuộc sống đạo đức của Chúa Giê xu ở giữa vòng con người mỗi lúc một được đánh giá cao hơn khi con người tiếp xúc với Ngài nhiều hơn.
LuLc 2:52 “Đức Chúa Giê xu khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta ”.
/f/ Ngài có một đời sống cầu nguyện gương mẫu.
Cầu nguyện là một hình thức tương giao với Đức Chúa Trời nói lên những gì trong lòng với Ngài. Đối với con người, sự cầu nguyện còn bày tỏ sự yếu đuối bất lực của mình, để khẩn xin sự giúp đỡ. Trong lãnh vực nhân tánh, Chúa Giê xu vẫn luôn luôn nài xin sự hổ trợ của Đức Chúa Trời và Thánh Linh trong công tác. Đây chính là nguyên do Chúa Giê xu thường nói : các công việc quyền năng Ngài làm là phát sinh từ Thánh Linh.
Bởi vậy khi các thầy thông giáo cho rằng việc trừ tà ma của Ngài là do chúa quỉ giúp thì Ngài liền mạnh mẽ cho họ biết rằng nói như vậy là phạm đến Thánh Linh (Mac Mc 3:29-30).
Mac Mc 1:33 “Sáng hôm sau, trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra đi vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện tại đó ”
LuLc 9:28 “Đức Chúa Giê xu đem Phierơ, Giăng và Giacơ đi với mình lên núi để cầu nguyện ”
9:18 “Một ngày kia Chúa Giê xu đang cầu nguyện riêng …”.
CÁC ĐẶC TÁNH CỦA CHÚA GIÊ XU CHRIST
Sau khi đã học qua về hai bản tánh trời và người của Chúa Jêsus Christ, chúng ta cần phải tìm hiểu về các đặc tánh đã được biểu lộ qua Đấng Thần Nhân này. Chính qua những đặc tính này mà chúng ta tìm được những gì chúng ta cần phải noi theo, tôn thờ và ngợi khen. Nếu sự chết của Ngài là căn bản cho sự cứu rỗi linh hồn chúng ta, thì các đặc tính được thể hiện qua đời sống Ngài là khuôn vàng thước ngọc cho mọi chi tiết trong cuộc sống trần gian của chúng ta. Chúa Giê xu nói với các môn đồ của Ngài rằng :“Ta đã làm gương cho các ngươi ” (GiGa 13:15). Sứ đồ Phierơ cũng đã nhấn mạnh về lãnh vực này: “Vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương hầu cho anh em noi dấu chơn Ngài ” (IPhi 1Pr 2:21).Chúa Giê xu cũng thường khuyên mọi người rằng “Hãy theo ta”. Theo có nghĩa là đi theo, làm theo, học theo, nói theo, sống theo …
I. SỰ THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA GIÊ XU CHRIST
Sự thánh khiết là một trong những đức tánh vô cùng quan trọng của Đức Chúa Trời. Đức tánh này được bày tỏ cách vô cùng rõ ràng dưới nhiều hình thức trong Cựu ước. Đức tánh này cũng được thể hiện trong Đức Chúa Jêsus Christ. Các sứ đồ và môn đồ gọi Ngài là “Đầy tớ thánh” (Cong Cv 4:27, 30). Ma quỉ cũng đã thấy rõ điều này và đã gọi Ngài là “Đấng thánh của Đức Chúa Trời” (LuLc 4:34; Mac Mc 1:24). Thánh khiết nghĩa là tuyệt đối tinh khiết, tách biệt hoàn toàn theo mọi điều ô uế. Kinh thánh nói rằng bất cứ ai có sự trông đợi, hy vọng về sự tái lâm của Chúa thì tự làm nên thanh sạch cũng như chính Chúa Jêsus Christ. (IGi1Ga 3:3). Khi đề cập đến sự thánh khiết của Chúa Jêsus Christ, Kinh thánh Tân ước đã dùng những cách nói sau đây để trình bày :
IICo 2Cr 5:21 “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời ”.
HeDt 4:15 “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội ”.
HeDt 7:26 “ Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời ”.
9:14 “Huống chi huyết của Đấng Christ là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi những công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống là dường nào ”.
IPhi 1Pr 1:19 “Bèn là bởi huyết báu Đấng Christ dường như huyết của chiên con không lỗi, không vít ”.
IGi1Ga 3:5 “Vả, các con biết Đức Chúa Giê xu Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi và biết trong Ngài không có tội lỗi ”.
A) Sự thánh khiết được thể hiện.
Chúng ta đã học biết về Chúa Giê xu là Đấng Thánh khiết, trong Ngài không có bóng dáng của tội lỗi, việc tiếp theo cần phải học hỏi là vấn đề sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ như thế nào để chúng ta có thể nhận biết được ?
1/ Sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ qua sự yêu mến công bình và ghét gian ác.
HeDt 1:9 “Chúa ưa đều công bình, ghét đều gian ác cho nên hỡi Chúa, Đức Chúa Trời của Chúa lấy dầu vui mừng xức cho, khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng loại mình ”.
IPhi 1Pr 2:22 “Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không có chút chi dối trá ”.
Yêu mến sự công bình không chưa đầy đủ, cần phải ghét đều ác nữa. Hay nói các khác, ghét sự gian ác không chưa đủ, cần phải yêu mến sự công bình nữa. Có nhiều người tỏ ra rất ưa chuộng lẽ phải, yêu mến sự công bình, cũng tỏ ra một số hành động chứng tỏ điều đó. Người ấy công kích, phản đối những điều được cho là bất công của người khác, nhưng lại dễ dàng dung thứ cho những việc làm, lời nới, ý tưởng không tốt của mình. Yêu công bình và ghết tội lỗi phải đi đôi với nhau và phải có sức mạnh như nhau. Chúng ta hết sức bực bội, than thở về đường xá dơ bẩn, lên tiếng chê bai dân tộc thiếu nếp sống văn minh và ao ước thấy sự sạch sẽ, nhưng khi ăn xong một quả chuối, một viên kẹo, chúng ta không ngần ngại vất vỏ, giấy xuống đường và vứt với lương tâm hoàn toàn thoải mái. Sự thánh khiết của Chúa Giê xu không chỉ bày tỏ qua việc không làm điều tội, tránh nói điều dối, nhưng còn bày tỏ qua việc làm vừa lòng Đức Chúa Trời.
- không làm điều gì Ngài buồn bực : tiêu cực.
- làm điều Ngài đẹp lòng : tích cực.
GiGa 8:29 “Đấng sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài ”
Sự biểu lộ trọn vẹn của sự thánh khiết không phải chỉ bao gồm trong việc không làm mà thôi, nhưng bao gồm việc thực hiện tất cả những gì đúng.
2/ Sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ qua việc đắc thắng tất cả mọi sự cám dỗ.
Sự cám dỗ luôn luôn được thực hiện với mục đích đưa con người vào chỗ sai lầm, làm mất đi tánh chất tốt đẹp. Ma quỉ qua nhiều tác nhân đã tìm cách hủy hoại sự thánh khiết của Chúa Giê xu bằng nhiều cách nhưng tất cả mọi sự cám dỗ này đều bị thất bại. Chúa Giê xu bước ra khỏi mọi hình thức cám dỗ cách đắc thắng.
HeDt 4:15 “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối của chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách (cám dỗ ) trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội ”.
3/ Sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ qua việc Ngài đòi hỏi sự trọn vẹn tuyệt đối nơi các môn đồ Ngài và từ chối bất cứ một sự thỏa hiệp nào đối với tội lỗi.
Chúng ta rất quen thuộc với những câu nói : “Cha nào, con nấy; thầy nào, trò nấy”. Những câu này chẳng những nói lên việc người con, người trò chịu ảnh hưởng sâu xa bởi người cha, người thầy; nhưng cũng nói lên ước muốn của Cha, của thầy đối với con, với trò. Chúa Giê xu là Đấng thánh khiết tuyệt đối nên điều mong mỏi và đòi hỏi của Ngài nơi chúng ta là những người con, đồng thời cũng là những môn đệ của Ngài phải trở nên tuyết đối trọn vẹn cũng như Ngài. Dĩ nhiên không một ai trong trần gian này tiến đến chỗ trọn vẹn tuyệt đối được. Nhưng nếu con người thực sự muốn vâng phục Đức Chúa Trời, yêu mến, kính sợ Ngài thì sẽ nhờ sức Chúa tránh mọi sự không đẹp lòng Ngài, đồng thời làm tất cả những gì đẹp lòng Ngài - người ấy ở trong tiến trình tiến đến sự trọn vẹn tuyệt đối. Ý chỉ về sự trước tuyệt đối của Chúa Giê xu đối với các môn đồ được bày tỏ qua suốt bài giảng trên núi, đặc biệt trong đoạn Mat Mt 5:48 “Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn như cha các ngươi ờ trên trời là trọn vẹn ”.
4/ Sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ qua việc Ngài nghiêm khắc quở trách những kẻ làm điều sai trật.
Mặc dầu Chúa Giê xu là Đấng nhu mì, hiền lành nhưng bản tánh thánh khiết của Ngài không chấp nhận được những người có tội không biết nhận tội và ăn năn. Chúa đã quở trách nặng nề sự giả hình của người Pharisi và các thầy thông giáo. Ngài quở trách sự nông nổi của phierơ đã để cho Satan lợi dụng. Ngài chỉ tỏ thẳng ra điều người đàn bà Samari muốn che giấu khi bà nói rằng “tôi không có chồng”. Sự vinh hiển chói sáng của sự thánh khiết không hề dung chịu được những tối tăm của tội lỗi.
23:13 “Khốn thay cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pharisi là kẻ giả hình!Vì các ngươi đóng cửa nước Thiên đàng trước mặt người ta, các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở ”.
16:23 “Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phierơ rằng: ớ Satan hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta! vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta ”.
GiGa 4:17, 18 “Người đàn bà thưa rằng: tôi không có chồng. Đức Chúa Giê xu lại phán: ngươi nói rằng tôi không có chồng là phải lắm, vì ngươi có 5 đời chồng, còn người mà ngươi hiện có chẳng phải là chồng ngươi; đều đó ngươi đã nói thật vậy ”.
5/ Sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ qua việc Ngài vui lòng tình nguyện trở nên của lễ chuộc tội con người khỏi tội lỗi để biến họ trở nên những người công bình trong Ngài trước mặt Đức Chúa Trời.
Đây là mão triều của sự bày tỏ về sự thánh khiết của Chúa Giê xu. Ngài ghét tội lỗi và các tác hại do tội lỗi gây nên đang chi phối con người, làm ô uế vũ trụ tốt đẹp của Ngài, nên Ngài đã bằng lòng từ bỏ tất cả sự vinh hiển của cõi trời trở nên người chịu chết cái chết dành cho tội nhân, bị loài người chối bỏ, bị Đức Chúa Trời ngoảnh mặt đi chỉ vì muốn con người đừng phạm tội nữa. Ngài sẵn sàng hy sinh tất cả với chỉ một mục đích xóa bỏ tội lỗi.
IPhi 1Pr 2:23a “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết vì tội lỗi được sống cho sự công bình ”.
3:18 “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời ”.
6/ Sự thánh khiết của Chúa Giê xu được bày tỏ qua sự đoán phạt kinh khiếp dành cho những ai không chịu phân rẽ khỏi tội lỗi.
Chúa Jêsus Christ vui lòng từ bỏ tất cả và bằng lòng chết để giúp con người Ngài yêu có thể phân rẽ khỏi sự trói buộc của tội lỗi Ngài ghét. Ngài tạo mọi điều kiện để con người có thể thực hiện được điều này. Nếu con người dứt khoát từ chối thì Ngài sẽ để họ đi theo sự lựa chọn của mình và rồi sẽ chịu chung số phận với điều họ chọn. Chúng ta thường nói nhiều về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và tình yêu của Chúa Giê xu, nhưng chúng ta cũng cần biết cách rõ ràng rằng: Chúa Jêsus Christ cũng thánh khiết như Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời cũng yêu thương như Chúa Giê xu (GiGa 3:16; Eph Ep 2:4, 5).
Trước hết chúng ta phải nhớ kỹ rằng, Cứu Chúa Jêsus Christ là Đấng thánh khiết. Chỉ khi nào chúng ta có được một quan niệm đầy đủ và đúng đắn về sự thánh khiết của Ngài thì mới có được quan niệm đầy đủ và đúng đắn về tình yêu của Ngài.
Mat Mt 25:41 “Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó ”.
IITe 2Tx 1:6-8 “Vả, theo sự công bình Đức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy đều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em… Báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời và không vâng phục Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta ”.
B) Những lời chứng về sự thánh khiết của Chúa Giê xu Christ.
a. Phierơ Cong Cv 3:14 Đấng Thánh
b. Giăng IGi1Ga 3:5 Trong Ngài không có tội lỗi.
c . Phaolô IICo 2Cr 5:21 Đấng vốn chẳng biết tội lỗi
d. Các tín hữu Cong Cv 4:27 Đầy tớ thánh
e. Anania 22:14 Đấng công bình
g. Người ăn cướp LuLc 23:41 Không hề làm một điều ác gì
h. Vợ Phi lát Mat Mt 27:19 Người công bình
i. Phi lát GiGa 18:38, 19:4 Không thấy có tội
j. Guiđa Íchcariốt Mat Mt 27:3, 4 Nộp huyết vô tội.
k. Tà ma Mac Mc 1:23, 24 Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.
l. Thầy đội Lamã LuLc 23:47 Người công bình
m. Chúa Giê xu GiGa 8:45 Có ai bắt ta thú tội được ?
n. Thánh Linh 16:8, 10
o. Đức Chúa Trời HeDt 1:8; Mat Mt 17:5.
II. TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA ĐỨC CHÚA GIÊ XU CHRIST ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA CHA.
Khi nghiên cứu về Lời Chúa qua các sách Tin lành, chắc không ai không thấy được tình yêu của Đức Chúa Giê xu đối với Đức Chúa Cha. Chính Chúa Giê xu đã khẳng định điều này khi Ngài nói : “Ta yêu mến Cha ” (GiGa 14:31). Nếu muốn biết được tình yêu của Đức Chúa Trời cách đúng đắn nhất, hãy nhìn vào Đức Chúa Giê xu Christ.
Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Đức Chúa Cha được bày tỏ như thế nào?
Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Đức Chúa Cha được bày tỏ qua mọi khía cạnh. Chúng ta theo dõi, nghiên cứu học hỏi kỷ để có thể “noi dấu chơn Ngài” trong lãnh vực yêu mến Đức Chúa Trời.
1/ Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Đức Chúa Trời được bày tỏ qua việc làm theo mạng lịnh của Đức Chúa Cha.
Không có tình yêu thì không ai chấp hành và làm tròn mạng lịnh cách hết lòng, vui vẻ và thỏa lòng thực sự. Ngoài tình yêu ra, tất cả các hành động chấp hành mệnh lệnh chỉ là việc thuận phục quyền lực của cấp trên mình. Việc chấp hành mạng lịnh trong trường hợp này là “phải” chớ không phải là “muốn” hay “yêu thích”. Trường hợp của Chúa Giê xu, việc làm theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời là việc “ưa muốn”, “yêu thích”.
14:31 “Nhưng thế gian phải biết rằng ta yêu mến cha và làm theo đều Cha đã phán dặn ”.
15:10 “Nếu các ngươi giữ các điều răn của ta thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ điều răn của Cha va cứ ở trong sự yêu thương Ngài ”.
Việc thuận phục Cha là sự vui lòng tình nguyện, hoàn toàn không có sự bó buộc nào (GiGa 10:15, 17, 18; LuLc 9:61).
2/ Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Đức Chúa Trời được bày tỏ qua việc làm theo Lời Đức Chúa Trời và bảo vệ Lời Ngài.
Vâng theo một cách vui lòng đã là một phương cách bày tỏ tình yêu rồi, nhưng sự giữ gìn, bảo vệ Lời Đức Chúa Trời còn cho thấy tánh chất mạnh mẽ của tình yêu. Chúa Giê xu đã gìn giữ bảo vệ Lời Đức Chúa Trời như một của quí. Ngài bảo vệ Lời Ngài giống như con người bảo vệ vàng bạc, châu báu của mình. Chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời và gìn giữ Lời Ngài như thế nào ? Tác giả Thi thiên cống hiến cho chúng ta một phương cách :“Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi ” (Thi Tv 119:11).
Đem cất giấu lời Chúa vào lòng theo cách Chúa đã chỉ cho Giôsuê “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm ”. (Gios Gs 1:8).
Giữ Lời Chúa tức là bảo vệ Lời Chúa bằng mọi giá trước bất cứ sự tấn công nào. Nhiều người thất bại vì đã nhanh chóng mà chấp nhận những lý luận trần gian. Giữ Lời Chúa là không giải thích cách bóp méo Lời Chúa để hiệp với ý mình. Chúa Giê xu đã nói : “Con chẳng tự mình làm việc gì được, chỉ làm đều chi mà con thấy Cha làm; vì mọi đều Cha làm con cũng làm y như vậy ”. (GiGa 5:19). Và: “Đấng đã sai ta đến là thhật và đều chi ta nghe bởi Ngài ta truyền lại cho thế gian”(GiGa 8:26).
GiGa 8:55 “Dầu vậy, các ngươi chưa biết Ngài đâu, còn ta thì biết. Và nếu ta nói rằng ta không biết Ngài, ta cũng sẽ nói dối như các ngươi vậy. Song ta biết Ngài, và ta giữ Lời Ngài ”.
3/ Sự yêu mến của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Đức Chúa Cha được bày tỏ qua sự thuận phục không lay chuyển ý chỉ của Đức Chúa Trời trong bất cứ trường hợp nào.
Học hỏi kỹ giai đoạn cuối cùng, những ngày sau cùng trong chức vụ của Chúa Giê xu, đặc biệt là thời gian chiến đấu ở trong vườn Ghếtsêmanê cho thấy sự thuận phục ý chỉ của Cha là tuyệt đối. Mọi sự khổ nạn của trần gian đã, đang và sẽ đổ xuống trên Ngài từ mọi hướng trong lúc gánh nặng ghê tởm của tội lỗi đang đè nặng, thập tự giá đang chờ đợi trước mặt. Ngài có đủ quyền năng để tránh khỏi, nhưng Ngài sẵn sàng chấp nhận hết vì đó là ý muốn của Cha. Thêm vào sự thuận phục ý chỉ, Ngài còn bước một bước cao hơn là vui lòng thụân phục.
Mat Mt 26:39, 42 “Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén này lìa khỏi con. Song không theo ý muốn con mà theo ý muốn Cha… Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu chén này không lìa khỏi con được mà con phải uống, thì xin ý Cha được nên ”.
Xem thêm LuLc 2:49; GiGa 4:34.
4/ Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Đức Chúa Cha được bày tỏ qua việc Ngài làm những điều đẹp lòng Cha .
Làm điều đẹp lòng Cha là một dạng khác của sự yêu thương. Làm theo ý Cha, vâng phục mạng lịnh Cha là những hành động mang tính chất thụ động, chỉ tuân hành những gì được chỉ bảo. Nhưng làm điều đẹp lòng có liên hệ đến vấn đề tìm kiếm, tìm hiểu cho đến khi biết, khi biết rồi thì thực hiện. Dạng này đòi hỏi nhiều thì giờ, nhiều quyết tâm hơn. Khi còn đi học, có một bạn học cùng trường, ở cùng trong một dãy học xá rất yêu mến tôi. Tôi không bao giờ nói cho anh ta là tôi thiếu cái gì, cần cái gì vì không muốn bạn bận tâm về tôi. Tuy nhiên sau một thời gian chơi với nhau, những gì tôi thích đều đã được đáp ứng và đáp ứng cách rất tế nhị. Có vô số vấn đề trong gia đình hoàn toàn không mang tính chất mệnh lệnh hay luật lệ nào hết, nhưng những người con yêu mến cha mẹ thật lòng đều thực hiện những điều này cách tốt đẹp. Đức Chúa Jêsus Christ luôn luôn tìm kiếm những gì đẹp lòng Cha vừa ý Cha và thực hiện cách không mệt mỏi.
5/ Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ được bày tỏ qua việc tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Cha.
Tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời đối với chính bản thân, đối với mọi công việc, để công việc đó vừa đẹp lòng Ngài, vừa được Ngài hổ trợ. Sự tìm kiếm ý chỉ Đức Chúa Trời là một bằng chứng cho thấy người tìm kiếm muốn dành quyền quyết định mọi sự trong cuộc sống cho Đức Chúa Trời, không muốn dành một chỗ nào cho ý riêng, cho bản ngã. Cuộc đời của Cơ đốc nhân là một cuộc chiến đấu liên tục giữa ý Chúa và ý mình. Chỉ có khi nào ý Chúa thắng hơn ý mình thì Chúa mới vui lòng và cuộc sống chúng ta mới sanh bông kết trái và trái mới được đậu. Chúa Jêsus Christ đã khẳng định trước mặt mọi người chống đối Ngài, những người tìm mọi cách, mọi cơ hội để bới lông tìm vết, rằng :“Ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta …” (GiGa 5:30).
6/ Tình yêu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với Cha được bày tỏ qua việc hoàn tất công việc Cha giao cho.
Vâng phục mạng lịnh, ý chỉ của Đức Chúa Trời, thực hiện mạng lịnh ấy cách vui lòng, nhưng vấn đề hoàn tất, không bỏ cuộc hay chán nản giữa chừng lại là một vấn đề rất đáng lưu tâm. Trong các cuộc tranh tài đường dài, mức khởi hành luôn luôn có một số đông người tham dự nhưng ở mức đến thì không còn lại bao nhiêu. Trong kinh nghiệm dạy sinh ngữ tôi thấy ở những buổi đầu có rất đông người ghi tên học rất hăng hái, nhưng về lâu, về dài, số người còn tiếp tục theo đuổi chẳng còn lại bao nhiêu. Những thử thách lần lượt đào thài con người. Chúa Giê xu đã vâng phục ý Cha, bước vào chương trình cứu rỗi loài người. Sự thử thách đủ mọi thứ từ mọi chiều hướng đã tân công Chúa Giê xu ngay từ lúc mới sanh ra cho đến lúc chết, nhưng Ngài vẫn kiên trì bám chặt lấy không để công việc Cha giao phó bị bỏ dở. Ngay trong đêm cuối cùng Ngài đã mạnh dạn thưa cùng Cha rằng : “Con đã làm công xong việc Cha giao cho làm ” (GiGa 17:4).Và rồi trong giây phút cuối cùng tại thập tự giá, Chúa Giê xu thưa với Cha và mọi người chứng kiến vây quanh rằng : “Mọi việc đã được trọn ”. Công tác đã xong, không có bất cứ việc gì được giao thác còn bị bỏ dở (GiGa 19:30).
7/ Tình yêu của Chúa Jêsus đối với Đức Chúa Cha được bày tỏ qua việc Ngài chỉ tìm cách làm vinh hiển Cha.
Tất cả mọi công việc của Chúa Giê xu thực hiện ở trần gian đều nhằm một mục đích tôn vinh Danh Cha, Ngài đã thực hiện vô số việc quyền năng đáng được mọi người ca tụng, tôn vinh, nhưng Ngài đã từ chối tất cả và dành sự vinh hiển đó cho Cha. Trước sự ca ngợi của con người, Chúa Giê xu đã nói rằng : “Quả thật ta nói cùng các ngươi, Con người chẳng tự mình làm việc gì được, chỉ làm điều chi mà con thấy Cha làm, vì mọi điều Cha làm con cũng làm y như vậy ” (GiGa 5:19). Lúc mọi công việc trần gian đã đi đến mức kết thúc thì trước mặt Đức Chúa Trời toàn tri, Chúa Giê xu đã thưa với Cha rằng :“Con đã tôn vinh Cha trên đất và làm xong công việc Cha giao cho làm ”(GiGa 17:4).
Đây là chỗ thành công của Chúa Giê xu, nhưng lại là chỗ thất bại của nhiều người phục vụ Chúa. Nhiều người phục vụ Chúa có một bước đầu khiêm nhường, nhưng khi bắt đầu có tiếng tăm một ít thì cái tôi liền xen vào chia xẻ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, đôi khi lại dành trọn tất cả. Lúc đầu sự vinh hiển của Chúa có lộ ra, nhưng sau đó đã bị hào quang người tự tạo cho mình che lấp tất cả. Hào quang đó là tinh thần kiêu ngạo tỏ tường hay kín giấu, được con người nhận biết hay không nhận biết
III. TÌNH YÊU CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST ĐỐI VỚI CON NGƯỜI.
1) Đối tượng tình yêu của Chúa Jêsus Christ.
Yêu con người - đó là mục đích Đức Chúa Trời dựng nên con người, bởi vậy trải mọi thời đại, con người vẫn luôn luôn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa.
Yêu con người - nên dù con người ở trong tình trạng chống nghịch Ngài, Ngài vẫn lo toan chăm sóc, dù sự tương giao thân mật giữa Ngài và con người đã mất hoặc bị cắt đứt. Vì những sự trái phạm của con người nên cha buộc phải đuổi con người ra khỏi gia đình không còn trò chuyện nữa. Nhưng lòng Cha vẫn nhớ con, vẫn tìm đủ cách âm thầm để biết tin con, âm thầm giúp đỡ, âm thầm yêu thương. Trong tình trạng này, người con vẫn là đối tượng tình yêu của cha, dầu người con có thể hoàn toàn không biết gì về điều này cả (câu chuyện Lưu Bình - Dương Lễ có thể dùng làm ví dụ).
Yêu con người - nên Ngài đã bằng lòng lìa bỏ tất cả, và chết thay cho con người.
Tình yêu của Chúa Giê xu nói chung đối với con người là như vậy. Tuy nhiên trong tình yêu chung này, Chúa Jêsus Christ cũng có những đối tượng riêng để Ngài yêu. Một con người nhân đức, từ thiện, có tình thương và sự giúp đỡ đối với mọi người, nhưng trong đường lối riêng biệt, người ấy thi thố tình yêu đối với vợ theo cách ngoài vợ ra người ấy không còn yêu một người đàn bà nào khác. Đây cũng có thể làm ví dụ soi sáng cho việc Chúa Jêsus Christ thi thố tình yêu của Ngài đối với những đối tượng riêng biệt. Vì vậy chúng ta phải rất cẩn thận khi đọc những câu, những khúc Kinh thánh nói rõ về tình yêu của Đấng Christ để biết được tình yêu của Ngài đang được đề cập đến với tánh cách chung hay riêng.
a. Chúa Jêsus Christ yêu Hội thánh.
Hội thánh là tập thể của những người vui lòng chấp nhận tiếng kêu gọi của Chúa ra khỏi thế gian để trở nên những người thuộc riêng về Ngài. Hội thánh là những người vui lòng từ bỏ ham muốn, mời gọi của trần gian và chọn đúng về phía Chúa. Hội thánh là tập thể duy nhất hưởng được linh nghiệm của sự cứu rỗi và các đặc quyền lớn lao của sự cứu rỗi đã mang lại. Điều này không có nghĩa là sự cứu rỗi chỉ dành riêng cho Hội thánh, nhưng chỉ vì Hội thánh là tập thể duy nhất tiếp nhận đặc ân cứu rỗi do Chúa Jêsus Christ ban cho tất cả những ai muốn nhận. Đây chính là nguyên do tại sao Đấng Christ lại có tình yêu đặc biệt dành cho Hội thánh và cũng chỉ là một kết quả rất tự nhiên. Chúa Jêsus Christ yêu toàn thể mọi người trong thế gian và chết cho tất cả, nhưng chỉ có người nào với đức tin chấp nhận sự chết đó mới có thể nói Đấng Christ chết vì mình, và cũng chỉ với những người đó Đấng Christ nói rằng : Ngài phó chính mình vì họ.
Eph Ep 5:25 : “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình như Đấng Christ yêu Hội thánh, và phó chính mình vì Hội thánh ”.
GiGa 13:1 “ … Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian thì cứ yêu cho đến cuối cùng ”.
Hội thánh là thân thể, là vợ mới, là những gì thuộc riêng về mình (ICo1Cr 12:27; Eph Ep 5:23; IICo 2Cr 11:2; KhKh 19:7).
b. Chúa Jêsus Christ yêu từng cá nhân tín hữu.
Đi vào chi tiết hơn trong việc Chúa Giê xu yêu Hội thánh, những người thuộc về Ngài, chúng ta thấy Đức Chúa Jêsus Christ yêu từng cá nhân tín đồ, chăm sóc, nâng đỡ, an ủi mỗi ngày tùy theo từng hoàn cảnh, tùy theo từng nhu cầu thuộc linh lẫn thuộc thể, không phân biệt lớn khó đến đâu, hay nhỏ bé đến mức độ nào. Ngài sẵn sàng giúp những núi khó khăn, ngăn trở nếu cần (Mac Mc 11:23). Ngài cũng không quên những sợi tóc nhỏ bé trên đầu chúng ta (Mat Mt 10:30). Tất cả những điều này dẫn đến chỗ mỗi Cơ đốc nhân đều xem Ngài như Chúa riêng của mình.
GaGl 2:20 “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi, nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi. ”
c. Chúa Jêsus Christ yêu người nào có và giữ các điều răn của Ngài.
GiGa 14:21 “Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta, người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người và tỏ cho người biết ta ”.
Có và giữ các điều răn Chúa nghĩa là học hỏi và làm theo mạng lịnh của Chúa. Nếu không tìm kiếm, không học hỏi thì không thế nào có cho chính mình được. Nếu có mà không biết gìn giữ bảo vệ và sử dụng cho chính mình thì sự có đó cũng không mang đến lợi ích gì. Sự có đó vẫn được xem như không có vậy.
15:10 “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài ”.
d. Chúa Giê xu yêu tội nhân, những người đang lầm lạc.
Chúa Giê xu yêu tội nhân với một tình yêu thật sự như Ngài yêu các thánh đồ, nhưng Ngài không yêu tội nhân cùng một phương cách như Ngài yêu thánh nhân. Đối với tội nhân tình yêu của Ngài là sự thương xót, với thánh đồ là sự vui thích thỏa mãn.
Mat Mt 9:13 “Hãy đi, và học biết câu này nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu người công bình, song kêu kẻ có tội ”.
LuLc 19:10 “Bởi con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất ”.
RoRm 5:6, 8 “Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết ”.
e. Chúa Giê xu yêu kẻ thù nghịch.
Trong lãnh vực yêu thương, Chúa đã dạy chúng ta :
Mat Mt 5:44 “Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi ”.
Chính Ngài đã thực hiện điều này khi dạy sự thù nghịch đối với Ngài ở mức độ cao nhất, bằng cách cầu xin với Cha tha thứ cho những người này : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì ”. (LuLc 23:34).
f. Chúa Giê xu yêu con tre .
Chúa Giê xu có một tình yêu và sự chú ý đặc biệt dành cho con trẻ. Trong lúc thì giờ vô cùng bận rộn, Ngài vẫn dành riêng thì giờ để bồng ẳm và trò chuyện với con trẻ. Biết được sự bận rộn của thầy, các môn đồ đã trách những người đã đem con trẻ đến, nhưng Chúa Giê xu tỏ ra không vui về hành động của các môn đồ, Ngài phán :“Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở chúng nó, vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ đó ”. (Mac Mc 10:13, 16). Chúa cũng đã dùng con trẻ để dạy dỗ các môn đồ về sự hạ mình. (Mac Mc 9:33-36).
2) Những phương cách Chúa Giê xu bày tỏ tình yêu đối với con người.
a. Ngài trở nên nghèo để chúng ta trở nên giàu.
Ngài đã từ bỏ sự giàu có vĩ đại mà mang lấy cho mình một sự nghèo nàn tột độ. Không ai có thể thấu hiểu được sự vinh hiển giàu có tột độ của Ngài và cũng không ai hiểu hết được sự nghèo khó của Ngài. Phi Pl 2:6-8 cho chúng ta thấy được một phần nào về hai cảnh trạng này:“Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người. Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự ”. Nhìn về phía con người, chúng ta thấy được sự giàu có con người nhận được qua sự nghèo nàn của Ngài thật là vĩ đại. RoRm 8:16-17 hé mở cho chúng ta thấy được sự giàu có của chúng ta “Chính Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng, chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Lại nếu chúng ta là con cái thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự với Đức Chúa Trời là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ …”. Qua sự nghèo khó của Ngài ở trần gian, chúng ta có thể nhận được những gì thuộc về Đức Chúa Trời nơi Thiên đàng cùng với Ngài.
IICo 2Cr 8:9 “Vì anh em biết ơn Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu ”.
b. Ban và phó chính mình Ngài vì chúng ta.
Tuyệt điểm của sự hy sinh của Chúa Jêsus Christ là sự chết trên thập tự giá. Cả cuộc đời của Chúa Giê xu từ lúc ở trong máng cỏ, cho đến thập tự giá là một chuỗi hy sinh, nhưng sự chết là mão triều của tất cả. Chính vì mục tiêu tối hậu là sự chết thay cho loài người nên Ngài mới trở nên người. Nếu sự sống của Ngài không được ban ra và nếu Ngài không bằng lòng phó sự sống của Ngài cho chúng ta thì sự chết đời này và sự chết đời sau trong sự hình phạt đời đời chắc chắn sẽ thuộc về chúng ta. Trước khi con người có thể thực sự hưởng được những phước hạnh khác của tình yêu Đức Chúa Trời thì chúng ta cần phải hưởng được tình yêu bày tỏ qua sự chết của Ngài.
Eph Ep 5:2 “Hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ như một thức hương có mùi thơm ”.
GaGl 2:20 “Tôi đã… Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi ”.
IGi1Ga 3:16 “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống ”.
GiGa 15:13 “Chẳng có tình yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu phó sự sống mình ”.
c . Tha thứ tội nhân khi họ biết ăn năn
LuLc 7:48 “Ngài phán cùng người đàn bà rằng: tội lỗi ngươi đã được tha rồi ”.
GiGa 8:11 “… Ta cũng không định tội ngươi, hãy đi đừng phạm tội nữa ”.
Hai người đàn bà trong hai câu chuyện này đều bị con người lên án và sống xa lánh, nhưng khi đối diện với Chúa Giê xu thì được Ngài tha thứ qua sự ăn năn thầm lặng của họ. Hai người này há không thấy được tình yêu của Chúa đối với mình sao ?.

d. Dùng huyết Ngài rửa sạch chúng ta khỏi tội lỗi.
Tội lỗi được ví như một thứ keo, nhựa hoặc một chất loại gì đó khi dính được vào con người rồi thì việc tẩy rửa nó được xem như là bất năng. Tri thức, khoa học, tôn giáo, triết thuyết, tu nhân tích đức, ép xác khổ luyện đều không giúp ích làm cho suy suyển hay nhạt đi chút nào. Được biết rằng chỉ có máu mới có thể tẩy sạch “Không đổ huyết thì không có sự tha thứ ” (HeDt 9:22). Nhưng huyết ở đây phải là huyết vô tội mới được - điều này một lần nữa lại đặt con người trước sự bất lực. Trước sự bất lực của con người, Đức Chúa Trời sẵn sàng ban huyết vô tội của Ngài cho và cũng chính Ngài chùi rửa cho để được trở nên tinh sạch.
KhKh 1:6 “Đấng yêu thương chúng ta. đã lấy huyết Ngài rửa sach tội lỗi chúng ta ”.
e. Tìm kiếm chiên lạc cho đến lúc tìm được, vui mừng, vác lên vai, đem về nhà bình yên.
Những động từ tìm kiếm - vui mừng - vác lên vai xin mọi người cùng chia vui cho thấy rõ được tình yêu của Chúa Giê xu thế nào đối với chiên lạc bầy.
LuLc 15:4-7.
f. Đi trước bầy chiên và chăm sóc, bảo vệ từng con chiên.
Đức Giê hô va, Đấng chăn chiên của Cựu ước chính là Chúa Jêsus Christ, người chăn chiên hiền lành của Tân ước. Tình yêu của người chăn đối với bày mình được mô tả qua những điểm sau đây.
- Người chăn đi trước chiên theo sau. (GiGa 10:4)
- Biết tên từng con chiên. (GiGa 10:3).
- Dẫn chiên đến đồng cỏ xanh và mé nước an tịnh (Thi Tv 23:2).
- Xức dầu cho đầu (Thi Tv 23:5).
- Ẳm chiên vào lòng (EsIs 41:10).
- Từ từ dẫn các con chiên cái đang cho bú (EsIs 41:11).
- Phó mạng sống vì chiên .
g. Mang sự đau ốm, gánh sự buồn bực của chúng ta
Sự buồn bực tạo đau khổ về tinh thần, đau ốm tạo đau đớn phần thể xác. Sự đau buồn thường là kết qủa của sự lo lắng hoặc sự đau buồn cũng thường là nguyên nhân đưa đến sự lo lắng. Hai điều này góp tạo sự hao mòn trầm trọng cho phần tin thần. Đây là căn bịnh tinh thần vô cùng hãi hùng cho con người. Chỉ cần một đêm buồn lo cũng đủ làm cho tóc con người từ chỗ đen chuyển sang bạc trắng. Buồn bực lo lắng là căn bịnh vô hình không thuốc chữa, không sao gỡ bỏ. Nhiều người ở trong tình trạng khỏe mạnh, có đầy đủ danh vọng, tiền tài đã tự vẫn vì không giải quyết được vấn đề buồn nản, lo lắng sâu kín. Với những buồn ra lo lắng đã khiến những giọt lệ của chúng ta vẫn âm thầm nhỏ xuống, Chúa đến gần và phán rằng : “Ta sẽ gánh điều này cho con”. Gánh không phải là cất bỏ, vì cất bỏ thì không còn ai mang nữa. Gánh không phải là chia xẻ, vì chia xẻ có nghĩa là mang giúp một phần. Gánh sự buồn rầu của chúng ta vó nghĩa là đem tất cả gánh nặng của vấn đề này để chính Ngài gánh giùm cho. Sự buôn rầu của chúng ta hoàn toàn mất đi, nhưng bây giờ sự đau buồn đó ở lại trên Ngài, thêm nặng cho đôi vai Ngài. Tôi thấy một bà mẹ gánh một đôi quang đi trên đường phố, hai đứa con nhỏ lẽo đẽo theo sau. Một lúc hai chú bé kêu mệt và mỏi chân. Mẹ dừng lại đặt đôi quang xuống và bảo mỗi đứa vào một bên thúng, và mẹ gánh đi. Sự mỏi mệt của hai đứa bé mất đi nhưng lại được đặt trọn vẹn trên vai mẹ nó. Đó là gánh, và đó là hành động bày tỏ tình yêu.
Đau ốm liên hệ đến bất cứ lãnh vực nào liên quan trực tiếp với thân xác con người. Đau ốm ở bất cứ phần nào trong thân thể cũng gây sự đau đớn, khổ sở cho chúng ta. Trong lúc đau, chúng ta luôn nghĩ : nếu bằng cách nào đó có thể cắt bỏ phần cơ thể đang đau đó để qua khỏi cơn đau, chúng ta sẽ sẵn sàng làm ngay. Chúa sẽ mang thay cho chúng ta. Nếu không có tình yêu cao cả thì ai có thể làm việc này. Nhiều vị bác sĩ đã tận hiến cuộc đời mình để lo cho các bịnh hiểm nghèo hay lây, nhưng họ vẫn tìm mọi cách giữ gìn để khỏi bị khuây những căn bịnh đó. Họ vẫn tránh mang căn bịnh ấy, Nhưng Chúa Giê xu sẵn sàng nhận căn bịnh đó để cho chúng ta được lành. Đó là tình yêu cao cả.
EsIs 53:4 “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta ”.
h. Không để con cái Ngài cô đơn. .
Cô đơn cũng là mọt tình trạng rất đáng sợ trong thế giới loài người. Bất cứ một hình ảnh cô đơn nào cũng nói lên một tình trạng buồn. Chúa Giê xu cảm thông hoàn cảnh này của con cái Ngài và đã đích thân cứu họ ra khỏi hoàn cảnh họ rất lo sợ.
GiGa 14:18 “Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi ”.
i. Ngài khóc trước sự chết của người Ngài yêu.
Sự khóc của Chúa Giê xu trong trường hợp này có thể mang một số ý nghĩa :
(1) Ngài khóc vì sự bất tuân của con người đối với mạng lịnh Ngài nên sự chết chóc, đau thương, lo lắng đã thay thế cho sự bình an, vui thỏa.
(2) Ngài khóc để bày tỏ sự yêu thương của Ngài muốn chia xẻ sự đau thương, sầu thảm và nước mắt của những người Ngài yêu.
(3) Ngài khóc khi nghĩ rằng Laxarơ, người yêu mến Ngài sẽ được chính Ngài kêu sống lại từ trong cõi chết trong một vài phút nữa và cũng sẽ làm cho sống lại trong cõi tương lai. Nhưng còn những người không chịu tiếp nhận Ngài, từ chối sự yêu thương của Ngài và sẽ nằm trong mồ mả, rồi số phận của họ phải chịu đau đớn đời đời như thế nào. Trong tất cả những trường hợp này, nước mắt của Ngài đổ ra đều phát sinh từ tình yêu của Ngài đối với con người.
j. Ban sự yên ủi, bình an, vui vẻ cho con cái Ngài.
Mục đích của cả Giăng 14 nhằm an ủi các môn đồ đang lo lắng trước sự ra đi của Chúa Giê xu. Ngài đưa ra những lý do đã khiến Ngài phải tạm xa họ về phần thuộc thể, đưa ra những đảm bảo vể việc Ngài sẽ luôn luôn theo sát cuộc sống họ, quan phòng trợ lực trong các công việc của họ, hứa ban bình an, vui thỏa trọn vẹn cho họ.
GiGa 14:1 “Lòng các ngươi chớ hề bối rối, hãy tin Đức Chúa Trời cũng hãy tin ta nữa ”.
14:27 “Ta để sự bình an lại cho các ngươi, ta ban sự bình an ta cho các ngươi, ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi ”.
16:24 “Đến bây giờ các ngươi chưa từng nhơn danh ta mà cầu xin đều chi hết, hãy cầu xin đi các ngưoi sẽ được, hầu cho sự vui mừng của các ngươi được trọn vẹn ”.
k. Bày tỏ qua sự cầu nguyện.
Đây là một khía cạnh rất quan trọng trong việc bày tỏ tình yêu của Chúa Giê xu. Sự cầu nguyện của Chúa Giê xu không phải là lời cầu nguyện hời hợt, nhưng là một lời cầu nguyện chí tình, lời cầu nguyện vô cùng ao ước được trả lời. Đây là lời cầu nguyện của cha mẹ đang đang ôm đứa con hấp hối trong vòng tay, kêu xin sự thương xót của Đức Chúa Trời. Đây là lời cầu nguyện trải cả tấm lòng ra trước mặt Chúa. Trước tình trạng đang đi sâu vào vực thẳm của sự chối Chúa của Phierơ, Chúa Giê xu nói với ông : “Hỡi Simôn, Simôn, nầy qủi Satan đòi sàng sẫy ngươi như lúa mì, song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình ” (LuLc 11:32). Bài cầu nguyện của Chúa trong Tin lành Giăng đoạn 17 là bài cầu thay vô cùng đẹp đẽ của Chúa Giê xu dành cho các môn đồ, những người thuộc về Ngài, được dâng lên cho Đức Chúa Cha. Ngài thưa cùng Cha rằng : “Con vì họ mà cầu nguyện, chẳng phải vì thế gian mà cầu nguyện, nhưng vì những kẻ Cha đã giao cho con, bởi chưng họ thuộc về Cha… Con chẳng cầu xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha giữ họ khỏi điều ác !”. (GiGa 17:9, 15). Ngày nay khi trở về trời ngồi bên hữu Đức Chúa Cha, Chúa Giê xu vẫn không quên cầu thay cho chúng ta. Sứ đồ Giăng ghi lại :“Nếu có ai phạm tội thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha là Đức Chúa Jêsus Christ tức là Đấng công bình ” (IGi1Ga 2:1). Về phần những kẻ chống nghịch Ngài Chúa Giê xu vẫn không quên cầu nguyện cho họ, Ngài cầu thay cho họ trong tư cách một người biện hộ cho công việc làm của họ :“Lạy Cha xin tha tội cho họ vì họ không biết mình làm điều gì ” (LuLc 23:34).
l. Bày tỏ qua lòng kiên nhẫn đối với những người nghi ngơ.
Sự nghi ngờ của các môn đồ đối với sự sống lại của Chúa Giê xu là sự nghi ngờ không lý do, một sự nghi ngờ cứng cổ, khó có thể tha thứ được. Bao nhiêu lần trong thời gian theo Chúa, họ đã được nghe Chúa nói trước về sự khổ nạn, sự chết và sống lại của Ngài, nhưng họ vẫn tỏ ra nghi ngờ khi gặp Chúa phục sinh, dầu chỉ vài giờ trước đó họ đã được nghe những người viếng mộ Chúa cho biết rằng đã gặp Chúa sống lại rồi. Trong số những người bày tỏ sự nghi ngờ mạnh mẽ nhất có Thôma. Với sự nghi ngờ không biết người đang đứng trước mặt họ có phải là Chúa Giê xu không, Ngài đã tìm cách phá vỡ sự nghi ngờ bằng cách nói với họ rằng : “Sao các ngươi bối rối và sao trong lòng các ngươi nghi ngờ làm vậy? Hãy xem tay chơn ta; thật chính ta, thần thì không có thịt và xương, mà các ngươi thấy ta có. Đương khi phán như vậy Ngài đưa tay và chơn cho họ xem ” (LuLc 24:38-40). Với Thôma, Ngài đã gọi đích danh ông và bảo rằng Ngài sẵn sàng làm thỏa mãn sự đòi hỏi của ông để qua đó ông có thế xác nhận có thật phải là Ngài hay không :“Ngài phán cùng Thôma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây và xem bàn tay ta, cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin ” (GiGa 20:27).
m. Bày tỏ qua cách giải quyết dịu dàng và nhẫn nại đối với một môn đồ bị lầm lạc và sa vào tội nặng.
Không ai nghiên cứu cuộc đời của sứ đồ Phierơ lại không thấy được cách cư xử dịu dàng, kiên nhẫn đối với một môn đồ rất nhiệt thành nhưng quá tự tin đã sa vào một tội vô cùng khủng khiếp: chối Chúa cách công khai và dứt khoát. Chối Chúa cách kín giấu vì sợ thiệt hại đến bản thân có thể dễ dàng ăn năn, nhưng chối Chúa cách công khai trước mặt nhiều người và chối cách dứt khoát thì sự ăn năn là một việc khó. Chúng ta hãy theo dõi cách Chúa Giê xu cư xử với Phierơ để có thể “noi dấu chơn Ngài” trong sự chăn bầy.
Biết trước Phierơ sẽ chối Ngài, Chúa Giê xu lên tiếng cảnh cáo ông để ông có thể lưu tâm và để khẳng định điều này Chúa nói Ngài đã cầu nguyện cho ông (LuLc 22:31-34). Trong vườn Ghết sê ma nê Chúa Giê xu phán trực tiếp với Phieơ và cảnh cáo ông một lần nữa “Simôn ngủ ư, ngươi không thức được một giờ sao? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ tâm thần thì muốn lắm mà xác thịt thì yếu đuối ” (Mac Mc 14:37-38). Tại tòa của thầy cả thượng phẩm sau khi đã ba lần chối Chúa rồi, Phierơ đã nhận thấy mắt Chúa đang tìm ông, mặc dầu lúc đó Ngài đang phải đối diện với những lời chất vấn cùng những lời nhạo báng của những người đang hiện diện tại đó. Ánh mắt đó nhắc ông nhớ lại tất cả, và chính là khởi điểm đưa ông đến sự ăn năn và được phục hồi (LuLc 22:61). Khi Chúa sống lại, Ngài đã dùng Thiên sứ dặn các bà đi viếng mộ Chúa về báo cho môn đồ, đặc biệt cho Phierơ, hãy đi đến xứ Galilê để gặp Ngài; và rồi tại hồ Galilê Chúa nói chuyện trực tiếp với Phierơ, tạo cơ hội tốt cho ông quay lại trong tình yêu thương của Chúa và phục vụ Ngài (GiGa 21:1-19).
n. Bày tỏ qua sự hạ mình làm những việc thấp kém để phục vụ những kẻ thuộc về Ngài.
Tình yêu chân thật giúp con người có thể làm những điều được xem là rất thấp kém để phục vụ người mình yêu. Một bà mẹ sẵn sàng làm những công việc rất thấp thỏi không ai khác muốn cho đứa con nhỏ bà yêu thương. Đối với Chúa Giê xu, Ngài bằng lòng hạ mình xuống rửa chơn cho các môn đồ của Ngài, một việc không một ai trong vòng các môn đồ muốn làm. Chúng ta cần phải lưu ý đến một vấn đề rất căn bản của cả câu chuyện này được ghi trong GiGa 13:3 “Đức Chúa Giê xu biết rằng Cha đã giao phó mọi việc trong tay mình và mình đã từ Đức Chúa Trời đến và trở về cùng Đức Chúa Trời ”. Chúa Giê xu biết rõ Ngài là ai - là Đấng quyền năng, vinh hiển tối thượng, là Đấng từ trời xuống và sắp quay về trong cương vị Đức Chúa Trời, nhưng Ngài bằng lòng cuối xuống rửa chơn cho con người thấp hèn. Địa vị cao trọng vinh hiển càng vĩ đại, sự hạ mình càng thấp cho thấy tình yêu càng cao, càng sâu đậm. Nếu địa vị vinh hiển tuyệt đối bằng lòng hạ xuống chỗ thấp để phục vụ con người thì tình yêu chính là tình yêu tuyệt đối. Chúa Giê xu hứa dùng tình yêu này để yêu chúng ta là những người thuộc về Ngài cho đến cuối cùng.
GiGa 13:1 “Trước ngày Lễ Vượt qua, Đức Chúa Giê xu biết giờ mình phải lìa khỏi thế gian đặng trở về cùng Đức Chúa Trời đã đến rồi, Ngài đã yêu những kẻ thuộc về Ngài trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng ”.
o. Bày tỏ cho các môn đồ những gì Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho Ngài.
Khi chúng ta khám phá ra một chân lý, một điều hay mới lạ ai là người chúng ta muốn chia xẻ? Há không phải là những người thân yêu của chúng ta sao? Khi chúng ta nói hết những điều kín giấu cho ai há đó không phải là người người rất thân yêu của chúng ta sao? Chúa Giê xu đã nói với các môn đồ Ngài rằng “Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm, nhưng ta gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta đã nghe nơi Cha ” (GiGa 15:15).
p. Quên sự đau đớn của mình để nghĩ đến người khác - giao công tác của mình cho người mình yêu .
Tình yêu khiến con người quên sự thiệt thòi, đau đớn của chính mình đang chịu để nghĩ đến ích lợi của người mình yêu mến. Thập tự giá là một cực hình đau đớn nhất mà con người đã phát sinh ra. Trong lúc Chúa Giê xu chịu cực hình này, Ngài vẫn nghĩ đến sự cô đơn đau đớn của mẹ phần xác nên Ngài đã ủy thác bà cho sứ đồ Giăng để ông này đem bà về nhà cấp dưỡng, chăm sóc và an ủi thay cho Chúa. Đó là tình yêu cao cả. Việc Chúa Giê xu giao trách nhiệm của chính mình Ngài cho Giăng cũng tỏ bày sự tin cậy và yêu mến.
19:26, 27 “Tại một bên thập tự giá của Chúa Giê xu có mẹ Ngài đứng đó, với chị mẹ Ngài là Mari, vợ Cơlêôba và Mari Mađơn nữa. Đức Chúa Giê xu thấy mẹ mình và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người thì nói rằng: Hỡi đàn bà kia, đó là con ngươi! Đọan Ngài lại phán cùng người môn đồ rằng: Đó là mẹ ngươi! Bắt đầu từ bây giờ, người môn đồ ấy rước người về nhà mình ”.
q. Bày tỏ qua việc đi chuẩn bị một chỗ ở cho chúng ta.
14:2 “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở, bằng chẳng vậy ta đã nói cùng các ngươi rồi, Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ ”.
r. Bày tỏ qua sự đích thân đến rước con cái Ngài vào nhà đời đời.
Trong lúc còn đang là nhà lữ hành trên đất (HeDt 11:14) “Thế gian không xứng đáng cho họ ở phải lưu lạc trong đồng vắng, trong núi, trong hang, trong những hầm dưới đất ” (HeDt 11:38) - thì có gì bày tỏ cho con người thấy tình yêu của Cha đối với con đẹp đẽ, an ủi cho con hơn là hứa đi sắm sẵn cho con một chỗ ở, không phải một chỗ ở thế nào cũng được miễn cho có, nhưng là một chỗ vô cùng tốt đẹp ở trên trời, trong nhà của Đức Chúa Trời vinh hiển.
Điều làm cho chúng ta thấy rõ tình yêu của Ngài hơn trong lãnh vực này là Ngài hứa sẽ đích thân trở lại để rước chúng ta. Sai một sứ giả cao trọng đến cũng được chứ? Không, tình yêu cao đẹp của Ngài đối với con Ngài khiến Ngài muốn đích thân đến đem con người vào chỗ Ngài đã sắm sẵn cho họ. Ngài hứa với các môn đồ rằng:“Khi ta đi và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó ” (GiGa 14:3). So sánh ITe1Tx 4:16, 17
“Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng kèn của thiên sứ lớn cùng tiếng kêu của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống, bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. Kế đến, chúng ta là kẻ sống mà còn ở lại cùng nhau đều được cất lên với những người ấy ở giữa đám mây tại nơi không trung, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn ”.
Những chữ “đi với ta”, “ta ở đâu các ngươi cũng ở đó”, “ở cùng Chúa luôn luôn” cho thấy tình yêu của Chúa đối với chúng ta khắng khít như thế nào. Ngài muốn chúng ta ở sát bên Ngài, luôn luôn bồng ẵm chúng ta trong lòng Ngài, không bao giờ muốn rời chúng ta. Ngày này trên trần gian có vô số người trông đợi Chúa, nhưng chắc chắn không một ai trông đợi Chúa bằng chính Chúa trông đợi chúng ta.
s. Bày tỏ qua việc luôn luôn ban cho Cơ đốc nhân sự đắc thắng dư dật trong cuộc chiến tâm linh.
RoRm 8:37 “Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần ”.
IV. LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST .
Nếu nói về lãnh vực tình yêu mà bỏ qua sự thương xót của Ngài đối với con người thì đó là một điều thiếu sót. Sự thương xót cũng là một khía cạnh của tình yêu thương về dạng trắc ẩn, một lòng thương xót được thể hiện trong một thời gian ngắn đối với những đối tượng khác nhau. Nhìn một người tàn tật đi ăn xin, hoàn cảnh của người ấy làm động lòng trắc ẩn của tôi tạo nên trong tôi một sự thương xót và hành động ggiúp đỡ người ấy. Trong cuộc đời chức vụ của Chúa Giê xu ở trên đất này, Ngài cũng đã bày tỏ một sự thương xót đối với một số đối tượng khác nhau.
1/ Đối tượng của sự thương xót :
a. Thương xót đoàn dân đông.
Bốn sách Tin lành có ít nhất 5 lần ghi lại sự thương xót của Chúa đối với đoàn dân đông. Tại sao Ngài lại thương xót một đoàn dân? Vì đoàn dân là một tập hợp của biết bao nhiêu đau buồn, bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu bịnh tật, bao nhiêu cô đơn, bao nhiêu tội lỗi. Có chỗ Kinh thánh đã nói về đoàn dân như là một bầy chiên không có người chăn (Mat Mt 9:36) bơ vơ, lạc lõng, con này nhìn con khác không biết đâu là đường, không biết tìm đâu được đồng cỏ, được dòng nước, không biết đêm sẽ về đâu, phải làm gì trước sự gào thét, đe dọa của muôn thú. Nhìn nhau cất tiếng kêu than, nhưng không có câu giải đáp. Chúng ta sẽ nghĩ sao khi nhìn những dòng thác người chảy xuôi ngược trên các đường phố với đôi mắt, với cái nhìn của Chúa Giê xu? Tình thương yêu của Ngài trong chúng ta có làm cho chúng ta động lòng thương xót đối với họ không, hay vẫn thờ ơ ?
Mat Mt 14:14 “Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bịnh được lành ”.
Mac Mc 8:2 “Ta thương xót đoàn dân này vì đã ba ngày nay không rời bỏ ta và chẳng có gì ăn ”.
Mat Mt 9:36 “Khi Ngài thấy những đám đông thì động lòng thương xót vì họ cùng khốn và tan lạc như chiên không có kẻ chăn ”
b. Thương xót những người bệnh tật.
Chúa Giê xu đoái thương đến những người bịnh tật , bị con người đặt ra ngoài lề xã hội, hoặc xa lánh. Bởi sự thương xót này Ngài đã đưa tay ra rờ đến đôi mắt của người ăn mày mù ngồi bên lề đường :
20:34 “Đức Chúa Giê xu động lòng thương xót, bèn rờ đến mắt họ, tức thì hai người thấy được và đi theo Ngài ”.
Phung là một thứ bịnh tất mà con người mắc phải bịnh này buộc phải sống xa thế giới của người sống và bất cứ ai gặp họ đều tránh xa. Nhưng Chúa Giê xu vẫn đoái thương đến họ và chữa lành cho.
Mac Mc 1:41 “Đức Chúa Giê xu động lòng thương xót đưa tay rờ người mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi ”.
c. Thương xót người đau khổ vì mất người thân yêu.
LuLc 7:12, 13 “Khi Ngài đến gần cửa thành, họ vừa khiêng ra một người chết là con trai của một mẹ góa kia, có nhiều người ở thành đó đi với bà góa ấy… Chúa thấy mà động lòng thương xót người mà phán rằng: Đừng khóc ”.
Chúng ta đã học tình yêu thương của Chúa đối với những người Ngài yêu mến. Ngài khóc để chia sẽ nỗi niềm đau của họ khi đứng bên cạnh mồ người thân yêu của họ. Nhưng tại đây, tại một nơi xa lạ với những người không quen biết trên phương diện con người. Chúa Giê xu vẫn động lòng thương xót đối với những giọt nước mắt phát xuất từ tấm lòng đau khổ, và bất lực của người mẹ góa trước cái chết của đức con trai yêu dấu độc nhất của bà. Chúng ta có thể đổ những giọt nước mắt của chúng ta trước những đám tang chúng ta gặp trên đường hay có dịp đến dự nhất là của những người chết ngoài Chúa. Chúng ta có thấy trước mặt họ là hồ lửa của sự hình phạt đời đời mà họ sẽ vĩnh viễn rên siết trong đó không? Ngoài ra chúng ta có thấy được phần nào trách nhiệm của mình đối với số phận đời đời của họ không? Sự thờ ơ chứng tỏ chúng ta thiếu sự thương xót và nếu thiếu sự thương xót thì chúng ta không thể đem sự cứu rỗi đến cho họ được.
d. Thương xót những người bị ma quỉ chế ngự.
Không có gì đau khổ cho bằng bị đặt dưới sự chế ngự của ma quỉ. Khi bước vào đời sống của con người, ma quỉ sẽ làm cho đời sống đó gặp vô số cảnh đọa đày. Người bị quỉ ám ở Giêrasê được ghi trong Mac Mc 5:1-20 cho thấy người ấy ở nơi mồ mả, ngày đêm kêu la, lấy đá đánh bầm mình. Trường hợp của đứa bé được ghi lại trong 9:14-29 còn đau khổ hơn nữa : đứa bé bị câm điếc thường bị quăng trong lửa, dưới nước và bị vật vã kiệt sức. Trước hoàn cảnh này, Chúa Giê xu đã động lòng thương xót và chữa cho được lành .
2/ Phương cách bày tỏ sự thương xót :
Sự thương xót của Chúa Giê xu không phải bằng cảm xúc, lời nói nhưng bằng hành động cụ thể. Với người mù Chúa làm cho sáng người phung, Chúa rờ đến và làm cho sạch, người bị quỉ ám Chúa đuổi quỉ ra để người ấy quay lại đời sống bình thường, với người bịnh tật Chúa chữa lành tật bịnh. Với người đói Chúa cho họ ăn, với người lạc lối Chúa dạy họ chân lý, chỉ cho họ con đường phải theo. Với người đau khổ vì mất người thân yêu, Chúa khiến người thân yêu họ sống lại, với tội nhân Chúa tiếp nhận họ, tha thứ tội lỗi và cho đi bình an (LuLc 7:48-50).
Chúa Giê xu không bao giờ chỉ bày tỏ cảm xúc bằng lời nói, nhưng luôn luôn có viêc làm cặp theo và : “Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời không hề thay đổi ” (HeDt 13:8). Và lời Ngài dạy chúng ta rằng :“Ai nói mình ở trong Ngài thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm ”.
Chúng ta chưa có sức thuyết phục người ta đến với Chúa vì lời nói và nếp sống đạo của chúng ta chưa tương xứng, cán cân thuộc linh nghiêng hẳn về bên lời nói hơn là việc làm.
V. SỰ CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST.
Cầu nguyện là một khía cạnh rất quan trọng trong đời sống chức vụ của Chúa Giê xu. Cả trong dạnh danh từ lẫn động từ, hoặc dùng rõ từ, hoặc ám chỉ, sự cầu nguyện được nhắc đến khoảng 25 lần liên hệ đến Chúa Giê xu. Cả bốn trước giả các sách Tin lành đều có nêu lên đời sống cầu nguyện của Ngài. Ngay trong lãnh vực cầu nguyện Chúa Giê xu cũng để lại cho chúng ta một gương sáng “hầu cho chúng ta noi theo dấu chơn Ngài”.
HeDt 5:7 “Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng lời cầu nguyện, nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết và vì lòng nhơn đức Ngài nên được nhậm lời ”.
1/ Đấng Christ cầu nguyện khi nào?
a. Chúa Jêsus Christ thường cầu nguyện vào buổi tối, đôi khi suốt đêm và vào lúc sáng sớm.
Tại sao lại vào những thì giờ này ? Vào ban đêm khi thì giờ yên tĩnh và không ai quấy rầy sự tương giao của Ngài với Đức Chúa Trời. Vào buổi sáng sớm cũng nhằm vào sự yên tĩnh, một phần cũng là sự chuẩn bị để bước vào công việc của ngày mới. Ngài không tiếp xúc với ai trước khi tiếp xúc với Cha trên trời. Chúng ta thường có hai thì giờ cầu nguyện trong ngày : một vào buổi sáng sớm, một vào buổi tối. Chúng ta đang theo gương Chúa Giê xu trên phương diện hình thức, còn thực chất thế nào thì không ai biết được trừ ra Chúa và chính người cầu nguyện.
LuLc 6:12 “Trong lúc đó Chúa Giê xu lên núi để cầu nguyện và thức thâu đêm để cầu nguyện Đức Chúa Trời ”.
Mac Mc 1:35 “Sáng hôm sau, trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy bước ra đi vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện tại đó ”.
b. Chúa Giê xu thường cầu nguyện trước những bước quan trọng của cuộc sống.
Chúng ta biết rằng Kinh thánh không thể ghi lại chi tiết các lần cầu nguyện của Chúa Giê xu, nhưng ít ra các trước giả Kinh thánh cũng ghi lại những nét đặc trưng về sự cầu nguyện của Ngài.
(1) Cầu nguyện trong lễ Báp tem trước khi Thánh Linh đổ đầy dẫy trên Ngài.
LuLc 3:21, 22 “Vả hết thảy dân chúng đều chịu phép báp tem, Đức Chúa Giê xu cũng chịu Báp tem, Ngài đương cầu nguyện thì trời mở ra, Đức Thánh Linh lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài, lại có tiếng từ trời phán rằng: Ngươi là con yêu dấu của ta đẹp lòng ta mọi đàng ”.
(2) Ngài cầu nguyện trước khi thực hiện các chuyến truyền giáo.
Nếu Chúa Giê xu, con Đức Chúa Trời còn phải dậy thật sớm để cầu nguyện trước khi Ngài thực hiện các chuyến truyền giáo, thì chúng ta là ai mà lại dám đi trong sức mình?
Mac Mc 1:35, 38 “Sáng hôm sau, trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra đi vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện tại đó… Ngài phán: chúng ta hãy đi nơi khác trong những làng xung quanh đây, để ta cũng giảng đạo ở đó nữa; vì ấy là cốt tại việc đó mà ta đã đến ”.
(3) Ngài cầu nguyện trước khi lựa chọn các sứ đồ.
LuLc 6:12, 13 “Trong lúc đó, Đức Chúa Giê xu đi lên núi để cầu nguyện, và thức thâu đêm cầu nnguyện Đức Chúa Trời. Đến sáng ngày, Ngài đòi môn đồ đến, chọn 12 người gọi là sứ đồ ”.
(4) Ngài cầu nguyện trước khi công bố cho môn đồ biết về sự chết của Ngài.
Việc công bố sự chết của Ngài cho các môn đồ sẽ tạo nên một sự bàng hoàng lớn trong vòng các môn đồ, nên Chúa Giê xu đã cầu nguyện Đức Chúa Trời chuẩn bị cho họ vấn đề mà họ không bao giờ muốn nghĩ tới này.
LuLc 9:18, 21, 22 “Một ngày kia, Đức Chúa Giê xu đang cầu nguyện riêng, các môn đồ nhóm lại chung quanh Ngài. Ngài hỏi rằng: trong dân chúng họ nói ta là ai? Đức Chúa Giê xu nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều đều khốn khổ phải bị các trưởng lão, các thấy tế lễ cả và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại ”.
c. Cầu nguyện sau một thành công lớn hay một có thể dẫn đến chỗ nhận vinh hiển của sự thành công cho mình.
Thành công lớn là một cơ hội tốt dẫn đến chỗ thất bại vì kiêu ngạo. Kiêu ngạo vì muốn nhận sự vinh hiển do thành công mang lại thay vì hạ mình xuống và chân thành thưa rằng : “Chúng tôi là đầy tớ vô ích, điều chúng tôi phải làm là điều chắc phải làm ” (LuLc 17:10) và “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi ” (Phi Pl 4:13). Như vậy, sau một thành công và con người muốn tôn vinh mình thì phải hết sức cầu nguyện xin Chúa giúp cho có sự hạ mình. Chúng ta học gương mẫu từ Chúa Giê xu để tự giữ mình trong ân điển của Chúa.
Sau khi hóa bánh cho 5.000 người ăn, Chúa Giê xu truyền cho họ về, còn Ngài thì đi ngay lên núi để cầu nguyện :“Kế đó Ngài liền hối môn đồ xuống thuyền qua trước bờ bên kia, trong khi Ngài truyền cho dân chúng tan đi. xong rồi Ngài lên núi để cầu nguyện riêng, đến chiều tối Ngài ởđó một mình ” (Mat Mt 14:22). Tại sao ? Để được bồi bổ năng lực mà tiếp tục công việc trong những ngày sắp đến. Để bảo vệ chính mình chống lại sự cám dỗ kiêu ngạo. Dĩ nhiên thì Chúa Giê xu không bao giờ kiêu ngạo nhưng không phải vì đó mà Ngài tránh khỏi sự cám dỗ như chúng ta. Satan há không cố tình cố gắng cám dỗ Ngài trong lãnh vực này sao? Thêm vào sự cầu nguyện, Ngài còn để lại cho chúng ta một gương chống lại sự cám dỗ : lánh xa nó. GiGa 6:15 cho thấy khi đoàn dân có ý ép Ngài làm vua, Ngài biết được ý định này nên liền lánh xa khỏi họ và lên núi cầu nguyện :“Bấy giờ biết chúng có ý ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi ”.
Nếu không nhanh chóng chống lại sự cám dỗ kiêu ngạo bằng cách lánh xa và tha thiết cầu nguyện thì bất cứ ai cũng có thể vướng vào tình trạng này.
d. Cầu nguyện lúc công việc rất bận rộn.
Có thể nhiều người quá bận rộn với cái gọi là “công việc Chúa” nên không có thì giờ để cầu nguyện, dầu không nói như vậy nhưng hành động của nhiều người cho thấy rằng họ xem công việc quan trọng hơn sự cầu nguyện. Nhưng Chúa Giê xu hoàn toàn khác hẳn trong công việc này: càng bận bao nhiêu thì Ngài càng xem công việc cầu nguyện cần phải có bấy nhiêu. Có lúc công việc nhiều quá Ngài không có thì giờ để ăn (Mac Mc 3:20), đôi lúc Ngài không có thì giờ nghỉ ngơi cần thiết (Mac Mc 6:31, 33, 34), nhưng Ngài luôn luôn để thì giờ cầu nguyện. Nhiều tôi tớ Chúa đã không chịu học bí quyết này; đã để cho công việc lấn áp thì giờ cầu nguyện và sự cầu nguyện chỉ còn là một nghi thức hoặc một phần rất nhỏ trong công việc chớ không còn là năng lực trong công việc nữa.
LuLc 5:15, 16 “Danh tiếng Ngài càng ngày càng vang ra, vả một đoàn dân đông nhóm họp để nghe Ngài và để được chữa lành bệnh. Song Ngài lánh đi nơi đồng vắng mà cầu nguyện ”.
e. Cầu nguyện lúc mệt nhọc.
Chúng ta rất thường sa vào sự cám dỗ đi ngủ không cầu nguyện sau những giờ làm việc quá mệt mỏi. Chúa Giê xu đã kể lại cho chúng ta một gương cầu nguyện khi quá mệt mỏi. Trong Mac Mc 6:30-32 cho thấy Chúa và môn đồ đã rất mệt mỏi và đói. Ngài muốn các môn đồ cùng Ngài đến một nơi vắng vẻ để ăn và nghỉ một lúc. Nhưng khi vừa đến chỗ định đi thì nơi đó công việc tràn ngập đang chờ sẵn. Ngài giảng dạy cho đoàn dân suốt cả ngày cho đến gần chiều tối. Sự mệt mỏi của thân xác chắc chắn càng gia tăng gấp bội. Nhưng khi công việc vừa xong, Ngài liền lên núi để cầu nguyện, qua gương này chúng ta thấy thật xấu hổ cho chính mình.
f. Cầu nguyện trong giờ bị thử thách và cám dỗ.
Tại vườn Ghếtsêmanê Chúa Giê xu đã qua một vai giờ cuối cuộc đời chức vụ của Ngài trước khi đối diện với thập tự giá. Dù Kinh thánh không ghi lại nhưng qua lời của Chúa Giê xu khuyên các môn đồ :“Hãy thức canh và cầu nguyện kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ ” (Mat Mt 26:41), chúng ta có thể thấy được nơi đây là lò lửa thử thách và cám dỗ. Nếu quỉ vương Satan đã tìm cách tấn công Ngài ngay buổi đầu chức vụ cách mạnh mẽ với tất cả sách lược của nó thì bây giờ tại Ghếtsêmanê , chúng ta há không nghe Chúa cất tiếng thưa cùng Cha rằng :“Cha ơi, nếu có thể được, xin cho chén này lìa khỏi con ” (Mat Mt 26:39). Chén mà Chúa Giê xu đang phải uống đang chiến đấu với, không phải chỉ là tội lỗi của thế gian đang đè nặng trên Ngài mà còn là sự tấn công mãnh liệt của Satan. Chúa khuyên các môn đồ đặc biệt là Phierơ cùng Ngài cầu nguyện để có thể cùng Ngài đắc thắng sự cám dỗ. Nhưng vì họ không theo lời Ngài nên đã thất bại, tìm mọi cách trốn tránh để khỏi đứng chung với Ngài trên con đường thập tự giá. Chỉ có một mình Chúa Giê xu chiến đấu dũng mãnh trong sự cầu nguyện (LuLc 22:43, 44) và bước đi trong chiến thắng. Con đường thập tự giá vẫn được hoàn tất trọn vẹn. Sự bình thản uy nghi của Ngài trước sự tấn công dồn dập từ mọi phía : sự mệt mỏi lẫn đau đớn của thân thể, sự cô đơn và thất vọng trước sự từ chối của các môn đồ thân yêu qua sự trốn chạy, còn người ở lại thì thẳng thừng chối bỏ, tự đặt mình chung trong số những kẻ nói rằng Ngài đáng chết, sự buồn thảm, chán nản trước sự vô ơn bạc tình của những người từng được nuôi bởi Ngài, được Ngài thi thố các việc quyền năng trên đời sống, khi đứng trước tòa của thầy cả thượng phẩm, nơi tòa án Philát và lúc bị treo trên thập tự giá là kết quả của sự cầu nguyện dốc đổ tại vườn Ghếtsêmanê.
Mat Mt 26:36 “Rồi Đức Chúa Giê xu cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghếtsêmanê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia ”.
LuLc 22:39-41 “Đoạn Đức Chúa Giê xu ra đi, lên núi Ôlive theo như thói quen, các môn đồ cùng đi theo Ngài. Khi đã đến nơi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Hãy cầu nguyện hầu cho các ngươi khỏi sa vào sự cám dỗ. Ngài bèn đi khỏi môn đồ, cách chừng liệng một cục đá, qùi xuống mà cầu nguyện ”.
g. Cầu nguyện trong những phút cuối của cuộc sống.
Sự cầu nguyện tại vườn Ghếtsêmanê đã đem lại cho Ngài sự bình an đầy đủ để có thể sẵn sàng tha thứ cho con người khi tội phạm của họ đối với Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh. Sự tha thứ của chính Ngài đã biến Ngài thành một người biện hộ cho con người trước vị quan án công bình tối cao của trời đất. “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì ” (LuLc 23:34).
Sự cầu nguyện dốc đổ trước mặt Đức Chúa Trời không những giúp chúng ta có thể tha thứ mà còn giúp chúng ta trở thành những người cầu thay cho anh em mình, những người nghịch cùng mình trước mặt Đức Chúa Trời.
2. Đấng Christ cầu nguyện vì ai ?
a. Đấng Christ cầu nguyện vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời phải chiếm địa vị ưu tiên trong sự cầu nguyện của chúng ta. Trong sự cầu nguyện, chúng ta ngợi khen, tôn vinh, cảm tạ Đức Chúa Trời về tất cả những gì Ngài ban cho chúng ta. Qua sự ngợi khen, cảm tạ của chúng ta danh Chúa được vinh hiển. Nếu sự cầu nguyện của chúng ta không chú tâm vào sự làm vinh hiển Đức Chúa Trời hoặc nếu sự vinh hiển Đức Chúa Trời đứng ngoài, thì sự cầu nguyện không có giá trị nữa. Lý do rất đơn giản, vì nếu tất cả mọi lời cầu nguyện của chúng ta đều hướng về Đức Chúa Trời và chờ đợi Ngài là nguồn đáp ứng tất cả những gì chúng ta cầu xin, mà trước hết chúng ta không tôn vinh Ngài, làm vinh hiển danh Ngài thì làm sao lời cầu xin của chúng ta có bất cứ một hy vọng nào được nhậm
Đây chính là lý do Chúa Giê xu đã dạy chúng ta trong bài cầu nguyện “Chúa dạy” phải đặt sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là hàng đầu trong sự cầu nguyện :“Danh Cha được tôn thánh (Mat Mt 6:9). Chính những hành động cầu nguyện của Chúa Giê xu trong mọi hoàn cảnh đã là một hình thức tôn vinh Cha rồi !
GiGa 12:28 “Cha ơi, xin làm sáng danh Cha! Bấy giờ có tiếng từ trên trời phán xuống rằng: Ta đã làm sáng danh rồi ta còn làm cho sáng danh nữa ”.
Câu này mang ý nghĩa : Ta đã được sáng qua sự hiện diện và đời sống của con tại trần gian.
17:1 “Đức Chúa Giê xu phán như vậy, đoạn ngước mắt lên trời mà rằng : Thưa Cha, giờ đã đến, xin làm vinh hiển con, hầu cho con cũng làm vinh hiển Cha”.
Cha càng làm Chúa Giê xu vinh hiển chừng nào thì sự yêu thương, nhu mì, hạ mình và thái độ của Ngài đối với Cha càng làm vinh hiển chừng nấy.
b. Cầu nguyện vì chính mình.
HeDt 5:7 “Khi Đấng Christ còn trong xác thịt thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện, nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhơn đức Ngài, nên được nhậm lời ”.
Đây là lời cầu nguyện xin Cha gìn giữ mình tránh khỏi sự chết trước khi hoàn thành công việc Cha giao cho trên đất. Sở dĩ có lời cầu nguyện này là vì cuộc sống của Chúa Giê xu trên đất này luôn bị sự chết đe dọa. Vừa sanh ra đã bị Hêrốt tìm giết, trong chức vụ nhiều lần bị dân Do thái tìm cách ném đá (GiGa 8:59; 10:31), bị những người đồng hương tìm cách đem lên ngọ núi cao để xô ngã xuống (LuLc 4:28-30) bao nhiêu lần bị người Do thái tìm bắt để giết (GiGa 7:25, 32, 44; 10:39; 11:53, 57). Lời cầu nguyện của Ngài thật đã được Cha nhậm, Ngài đã được giữ gìn cho đến lúc hoàn tất công việc.
c. Cầu nguyện cho những người thuộc về Ngài.
GiGa 14:16, “Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần Lẽ thật mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài;nhưng các ngươi biết Ngài vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi ”.
17:9 “Con vì họ mà cầu nguyện, chẳng phải vì thế gian mà cầu nguyện, nhưng vì kẻ Cha giao cho con, bởi chưng họ thuộc về Cha ”
17:20 “Ấy chẳng những vì họ mà con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì những kẻ nghe họ mà tin đến con nữa#”.
Xem thêm HeDt 7:25 RoRm 8:34 IGi1Ga 2:1.
Sự cầu nguyện của Chúa Giê xu cho những kẻ thuộc về Ngài đã khiến Ngài trở thành một trạng sư biện hộ cho chúng ta, cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ khi phạm tội, ban phước khi đi trong đường Ngài và trong tất cả mọi lãnh vực khác của cuộc sống. Chúng ta còn tồn tại cách bình yên cho đến ngày này đều là do sự cầu thay, biện hộ của Ngài.
d. Cầu nguyện cho cá nhân môn đồ Ngài.
LuLc 22:31, 32 “Hỡi Simôn, này quỉ Satan đòi sàng sảy ngươi như lúa mì, song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy đến khi ngươi hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình ”.
Chúa Giê xu không phải chỉ cầu nguyện cho tâp thể Cơ đốc nhân mà thôi, nhưng còn nhớ đến tình trạng của từng người mà cầu nguyện. Chính bởi lời cầu nguyện của Chúa Giê xu mà sứ đồ Phierơ dầu ngã rất nặng vẫn đứng dậy được để tiếp tục chức vụ sứ đồ.
e. Cầu nguyện cho kẻ thù nghịch.
LuLc 24:34 “Song Đức Chúa Giê xu cầu thay rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì ”.
Cầu nguyện cho kẻ thù nghịch nhận được sự tha thứ là một vấn đề cầu nguyện khó nhất. Có lẽ có đôi lần chúng ta cũng có cầu nguyện cho kẻ thù nghịch mình, nhưng cầu nguyện xin Chúa phạt họ, xin Chúa báo trả họ xứng đáng với việc họ làm cho mình. Chúng ta rất vui mừng khi thấy kẻ thù nghịch của chúng ta gặp hoạn nạn và cảm thấy thất vọng khi họ được may mắn, hanh thông. Với những kẻ thù nghịch đã góp phần quyết định đưa Ngài lên thập tự giá và những kẻ trực tiếp đóng đinh Ngài vào đó, Chúa Giê xu vẫn cầu nguyện : “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ”.
3/ Đấng Christ cầu nguyện thế nào?
Đây là vấn đề then chốt nhất trong sự cầu nguyện: cầu nguyện thế nào? Lời cầu nguyện có được nhậm hay không tùy thuộc vào chính vấn đề này :Tinh thần, lòng chúng ta ở trước mặt Đức Chúa Trời như thế nào. Chính sự biểu lộ của tinh thần, thái độ và tấm lòng sẽ đánh giá, sẽ nói lên chúng ta có thật tâm, có thật sự muốn lời cầu nguyện của chúng ta được thành như điều nài xin không. Một lần nữa chúng ta theo gót chân của Chúa Giê xu trong lãnh vực này để học tập Ngài.
a. Cầu nguyện với tinh thần hoàn toàn thuân phục ý muốn Cha.
Mat Mt 26:42 : “Ngài lại đi lần thứ hai và cầu nguyện rằng: Cha ơi, nếu chén này không thể lìa khỏi con, mà con phải uống thì xin ý Cha được nên ”.
Thuận phục ý muốn Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện là tin chắc chắn rằng đường lối của Chúa cao hơn đường lối của chúng ta, sự hiểu biết của Ngài cao hơn chúng ta. Ngài biết điều chúng ta chưa biết, thấy điều chúng ta chưa thấy, hiểu điều chúng ta chưa hiểu. Và tình yêu của Ngài luôn luôn muốn tìm và dành để những điều tốt nhất cho chúng ta. Vì vậy việc Ngài có làm thành điều chúng ta cầu xin trong ý thánh Ngài vẫn là điều tốt nhất cho chúng ta và chúng ta phải vui vẻ thỏa lòng với bất cứ cách trả lời nào của Ngài. Đây là tinh thần cầu nguyện của Chúa Giê xu. Theo phần xác, Ngài muốn được cất chén đắng đi, nhưng nếu việc uống chén là đẹp ý Cha, thì Ngài sẵn sàng tiếp nhận : xin ý Cha được nên.
b. Cầu nguyện trong tư thế rất kỉnh kiền.
Tư thế, phong cách kỉnh kiền cũng biễu lộ được tấm lòng tôn kính trước Đấng mình đến cầu xin. Trong lúc cầu nguyện chúc phước cho bữa ăn, chúng ta thường thấy Chúa Giê xu ở trong tư thế đứng ngửa mặt lên trời. Nhưng trong những lúc tương giao với Cha cách riêng tư thì Ngài thường ở trong tư thế quì hoặc sấp mặt xuống đất. Đây là hai tư thế bày tỏ sự kỉnh kiền nhất mà con người có thể thực hiện được. Nếu con Đức Chúa Trời, Đấng vô tội phải qùi trên đầu gối và sấp mặt xuống đất trong khi đến với Đức Chúa Trời thì chúng ta phải làm sao ?
LuLc 22:41 “Ngài bèn đi khỏi môn đồ, cách chừng liệng một cục đá, quì xuống mà cầu nguyện ”.
Mat Mt 26:39 “Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện …”.
c. Ngài cầu nguyện thống thiết.
LuLc 22:22 “Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất ”.
Chữ “càng thiết” ở đây có nghĩa là trải cả lòng, cả linh hồn ra, phơi bày tất cả ao ước của mình ra cách nhiệt thành. Đây là những lời cầu nguyện phát xuất từ linh hồn, từ cõi lòng và lời cầu nguyện luôn luôn được đáp lại. Đây là những lời cầu nguyện có thể làm cho các từng trời mở ra. John Knox là một vị Mục sư nghèo nàn ở xứ Tô cách lan, nhưng đời sống và tinh thần cầu nguyện của ông đã khiến Nữ hoàng Tô cách lan, một người rất chống đối ông phải thốt lên rằng : “Ta sợ lời cầu nguyện của John Knox hơn cả đạo binh nước Anh”.
d. Cầu nguyện với tiếng kêu lớn và nước mắt.
HeDt 5:7 “Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện, nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhơn đức Ngài nên được nhậm lời ”.
Sự thống thiết trong lòng rất dễ dàng dẫn đến những tiếng kêu lớn và nước mắt. Chúng ta không phải chỉ cầu nguyện thầm, cầu nguyện nhẹ nhàng mà thôi, nhưng khi sự thúc giục của Thánh Linh ở trong lòng thôi thúc chúng ta thì không ai nín được. Sự cầu nguyện lớn tiếng với mục đích tạo không khí thuộc linh cho buổi nhóm, không phải là tinh thần của Chúa ở đây. Nhưng với sự hướng dẫn của Thánh Linh, với sự thống thiết của cõi lòng thì không một ai nín lặng được. Có nhiều lúc chúng ta khóc thầm, nhưng khi sự đau thương trong lòng trào dâng thì con người khóc với tiếng la lớn.
e. Ngài cầu nguyện suốt đêm.
Thời gian cầu nguyện cũng nói lên được tấm lòng yêu mến tha thiết của người cầu nguyện. Cầu nguyện dài không phải với mục đích khoe khoang hoặc lập đi lập lại như người Pharisi nhưng cầu nguyện dài của Chúa Giê xu cho thấy sự quyến luyến của Ngài đối với Cha yêu dấu, không muốn rời. Khi hai người yêu nhau gặp nhau thì thời gian không còn là yếu tố quan trọng. Ngoài ra sự cầu nguyện dài cho thấy vấn đề Ngài lưu tâm và trình dâng lên Đức Chúa Cha thật rất nhiều, không thể thưa với Cha hết trong một thời gian ngắn được. Nhưng chúng ta cần để ý đều này: Chỉ khi nào ở riêng một mình, Chúa Giê xu mới cầu nguyện dài, còn lúc ở chung với các môn đồ hay giữa đoàn dân thì Ngài cầu nguyện ngắn, trừ bài cầu nguyện được ghi trong GiGa 17:1-26.
f . Ngài cầu nguyện với sự tạ ơn và niềm tin.
GiGa 11:41, 42 “Vậy họ lăn hòn đá đi, Đức Chúa Giê xu liền nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi. Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói như vậy vì cớ đoàn dân này đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng chính Cha là Đấng đã sai tôi đến ”.
Cầu nguyện với sự tạ ơn và niềm tin vững chắc vẫn là điều thiếu sót nhiều trong sự cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta có cầu xin nhưng khi được sự trả lời lại quên đi sự tạ ơn. Nhiều lúc chúng ta cầu nguyện nhưng không tin điều mình xin sẽ được nhậm. Trường hợp của Xachari (LuLc 1:18-20) và Hội thánh đầu tiên cầu nguyện cho Phierơ (Cong Cv 12:5, 11-17).
V. SỰ NHU MÌ CỦA CHÚA GIÊ XU
Nhu mì cũng là một khía cạnh quan trọng trong các đặc tánh của Chúa Giê xu được Kinh thánh ghi lại. Sự nhu mì của Chúa không phải là sự im lặng cúi đầu thuận hục trước những sự bất công, bạo ngược nhưng bày tỏ qua sự nhẹ nhàng, dịu dàng trong việc đối xứ với con người, nhất là trong việc sửa lại những lầm lỗi của họ.
Mat Mt 11:29 “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, hãy gánh lấy ách của ta và học theo ta thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ ”.
IICo 2Cr 10:1 “Tôi là Phaolô, bởi sự nhu mì, nhơn từ của Đấng Christ mà nài xin anh em, nhưng lúc vắng mặt đối với anh em tỏ ra biết bao là dạn dĩ ”.
Mat Mt 21:5 “Hãy nói với con gái thành Siôn rằng: này vua ngươi đến cùng ngươi nhu mì, cỡi lừa ”.
Sự nhu mì của Chúa Giê xu đã được bày tỏ qua những phương cách sau đây :
1/ Ngài không bẻ cậy sậy đã bị giập và tắt ngọn đèn gần tàn.
Mat Mt 12:20 “Người sẽ chẳng bẻ cậy sậy đã gãy, chẳng tắt ngọn đèn gần tàn, cho đến chừng nào Người khiến sự công bình được thắng ”.
Cây sậy đã gãy, đã giập, ngọn đèn gần tàn là tượng trưng cho những gì không còn một giá trị gì đáng được mơn trớn, nâng niu nhẹ nhàng nữa. Một cái chai thủy tinh được chúng ta cầm rất cẩn thận, nhưng khi chai này bị vỡ rồi, người ta sẽ quăng mạnh nó vào sọt rác. Đức Chúa Giê xu luôn luôn bày tỏ sự âu yếm, dịu dàng đối với con người ở bất cứ tình trạng nào.
2/ Nhẹ nhàng, dịu dàng với người có tội.
LuLc 7:38, 48, 50 “Người đứng đằng sau, nơi chơn Đức Chúa Giê xu, khóc, sa nước trên chơn Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi, lại hôn chơn Ngài mà xức dầu thơm cho… Ngài bèn phán cùng người đàn bà rằng: tội lỗi ngươi đã được tha rồi. Nhưng Ngài lại phán cùng người đàn bà rằng: đức tin ngươi đã cúu ngươi hãy đi cho bình an ”.
Đây là một người đàn bà tội lỗi có tiếng ở trong thành nơi Đức Chúa Giê xu ghé qua. Bà là đối tượng cho những sự sĩ vả, khinh bỉ, loại bỏ của những kẻ khác. Nhưng với tấm lòng ăn năn Chúa đã bằng lòng để cho bà bày tỏ hành động ăn năn. Những người chung quanh nhìn Ngài bằng những cặp mắt rất khó chịu. Cuối cùng Ngài đã lên tiếng nhỏ nhẹ nói lên sự tha thứ của Ngài đối với bà. Chính sự nhu mì, nhẹ nhàng đã tạo đầy đủ cơ hội để bà có thể đi đến chỗ ăn năn trọn vẹn.
Trường hợp của Phierơ còn nặng nề hơn của người đàn bà này. Người đàn bà có thể có những hành động tội lỗi vì không hoặc thiếu hiểu biết. Nhưng trường hợp của Phierơ đã được ở bên Chúa suốt 3 năm, đã được chính Chúa nhắc nhở trước đó chỉ vài giờ đồng hồ; dầu vậy ông vẫn cứ phạm tội nghịch cùng chính Chúa: chối Ngài. Dầu vậy khi đối diện với Phierơ, Chúa Giê xu đã cư xử cách rất dịu dàng, như bàn tay của một người mẹ hiền chăm sóc cho con. Sau đó Ngài mới dịu dàng hỏi Phierơ “Hỡi Simôn, con Giôna, ngươi yêu ta chăng ?” (GiGa 21:15-17).
Trường hợp của người đàn bà mất huyết lén lúc rờ trôn áo Ngài. Sự việc Chúa Giê xu hỏi : Ai đã rờ đến ta và phản ứng của các môn đồ đối với câu hỏi này thật đã làm cho bà sợ hãi không ít. Có thể bà nghĩ rằng cơn giận của Chúa Giê xu đã sôi sục khi phát hiện ra bà, trái lại khi đến trước mắt Chúa Ngài đã êm dịu nói cùng bà rằng :“Hỡi con gái ta, đức tin con đã cứu con, hãy đi cho bình an và được lành bịnh ” (Mac Mc 3:33, 34).
3/ Sự nhu mì dành cho kẻ nghi ngơ.
GiGa 20:29 “Đức Chúa Giê xu phán: vì ngươi đã thấy ta nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy ”.
4/ Sự nhu mì dành cho kẻ phản bội.
13:21, 27 “Khi Đức Chúa Giê xu phán như vậy rồi thì tâm thần Ngài bối rối, bèn tỏ ra rằng: quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi một người trong các ngươi sẽ phản ta… liền khi Giuđa đã lấy miếng bánh thì quỉ Satan liền vào lòng người. Đức Chúa Giê xu phán cùng người rằng: sự ngươi làm hãy làm mau đi ”.
Nếu nghiên cứu câu chuyện này cách kỹ càng chúng ta sẽ thấy được sự nhu mì của Chúa Giê xu đối với Giuđa Íchcariốt như thế nào. Dầu Giuđa đã che giấu đến mức độ nào thì Chúa Giê xu vẫn biết rõ diễn tiến phản bội của ông ta. Ngài biết sự phản bội của Giuđa đã lên đến cực điểm vào đêm Ngài dự Lễ Vượt qua với các môn đồ, nhưng Ngài vẫn cúi xuống rửa chơn cho ông ta, ăn bữa tối chung với ông ta và không hề nêu đích danh để tránh sự sỉ nhục cho ông ta. Lời nói duy nhất của Chúa Giê xu với Giuđa chỉ bao gồm trong một câu rất ngắn gọn :“sự ngươi làm hãy làm mau đi ”. (GiGa 13:27). Nhưng Ngài phán điều này với giọng nói, gương mặt và thái độ rất dịu dàng khiến các môn đồ là người trong cuộc cũng không thể biết được hành động của Giuđa. Tất cả những gì họ nghĩ về câu nói của Chúa Giê xu được Kinh thánh thuật lại như sau : “Nhưng các người đồng bàn đó chẳng ai hiểu vì sao Ngài phán cùng người như vậy. Có kẻ tưởng rằng tại Giuđa có túi bạc nên Đức Chúa Giê xu biểu người: Hãy đi mua đồ chúng ta cần dùng về kỳ lễ, hay là hãy bố thí cho kẻ nghèo ” (GiGa 13:28, 29).
VI. SỰ HẠ MÌNH CỦA CHÚA GIÊ XU CHRIST.
Cuộc đời Chúa Giê xu từ lúc giáng sinh cho đến khi chết trên thập tự giá là quãng đường hạ mình. Trở nên con người chính là sự hạ mình tột độ, nhưng từ chỗ này Ngài còn bằng lòng nhận lấy chỗ thấp nhất giữa vòng loài người. Kinh thánh chép: “Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ. Chính Ngài đã tự bỏ mình đi lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người. Ngài tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự ” (Phi Pl 2:6-8). Chúng ta nêu lên một vài điểm liên hệ đến lãnh vực hạ mình của Chúa Giê xu trong thế giới loài người :
1/ Ngài không tìm kiếm sự vinh hiển cho chính mình:
Tìm kiếm sự vinh hiển cho chính mình là điều gần như bất cứ ai trong xã hội loài người từ cổ chí kim đều hướng về. Ai lại không muốn tiếng khen, không muốn tôn trọng, một chỗ đứng hơn người khác. Nếu không tìm được sự vinh hiển cho mình được bằng thực chất thì cũng tìm bằng ngôn từ, bằng sự ba hoa. Nhưng về phần Chúa Giê xu, Ngài nói cách rõ ràng “Ta chẳng tìm sự vinh hiển ta ” (GiGa 8:50). Ngài không bao giờ tìm sự tôn trọng cho mình, không lập mình làm một văn phòng quảng cáo. Các anh em của Chúa có lần khuyến khích Ngài nên phô bày chính mình ở những nơi đô hội hầu mọi người đều biết đến, nhưng Ngài đã từ chối (GiGa 7:2-4).
2/ Ngài tiếp xúc với những người bị khinh bỉ và bị xem là hạ cấp trong xã hội.
Mac Mc 9:10 “Vả, đương khi Chúa Giê xu ngồi tại bàn ăn nhà Phierơ có nhiều kẻ thâu thuế cùng người xấu nết đến ngồi ăn với Ngài và các môn đồ ”.
LuLc 15:1, 2 “Hết thảy các người thâu thuế và người có tội đến gần Đức Chúa Giê xu đặng nghe Ngài giảng. Các người Pharisi và thầy thông giáo lầm bầm mà nói rằng: người này tiếp những kẻ có tội và ăn chung với họ ”.
Tiếp xúc với chuyện trò là một việc, còn ngồi chung bàn ăn uống là một chuyện khác. Chúng ta có thể đứng chung với một người lang thang hè phố, rách rưới, bẩn thủi được, nhưng khi ngồi vào bàn ăn chúng ta được sắp xếp ngồi bên cạnh một người như vậy thì có lẽ chúng ta mất đi sự vui vẻ ngay. Lý do rất đơn giản là:chúng ta thấy mình địa vị hơn họ, áo quần tươm tất hơn họ, thơm tho hơn họ. Chúa Giê xu với tất cả sự vinh hiển của Đức Chúa Trời bằng lòng tiếp xúc và dùng bữa chung với những con người bị chính đồng loại mình xem rẻ và khinh bỉ, không bao giờ thèm tiếp xúc. Đây há không phải là sự hạ mình tột độ sao ?
Hạ mình để tiếp xúc với những người bị loại bỏ là khó rồi nhưng hạ mình với sự cực lực lên án của những người khác là một điều khó hơn, nhưng Đức Chúa Giê xu vẫn vui vẻ thực hiện. Sự hạ mình của Chúa Giê xu trong lãnh vực này được thể hiện thêm trong lời dạy về sự phán xét sau cùng được ghi trong Mat Mt 25:31-46. Tại đây Chúa ví mình như người khách lạ, người trần truồng, người đau yếu, người bị tù đày và khi những người đứng trước cuộc đoán xét thưa rằng họ chưa từng bao giờ làm điều này cho Chúa thì Ngài liền giải thích cho họ biết rằng :
“Quả thật ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy ” (Mat Mt 25:40, 45).
3/ Để phục vụ, chớ không phải để được phục vụ.
Biết bao nhiêu người trên thế giới từ ngàn xưa đến nay đều tự xưng mình là người phục vụ, là đầy tớ phục vụ người khác, nhưng nếu đem so sánh với những gì người ấy được phục vụ thì thấy cán cân nghiêng qua nhiều về lãnh vực được phục vụ. Riêng về phần Chúa Giê xu thì Ngài hoàn toàn cống hiến tất cả những gì để có thể phục vụ con người và trong lúc phục vụ đó, Ngài đã có lần thốt lên với một số người xin theo Ngài rằng:“Con cáo có hang, chim trời có ổ, song con người không có chỗ gối đầu ”(Mat Mt 8:20). Về vấn đề hạ mình phục vụ, Ngài đã khẳng định với mọi người :“Ấy vậy con người đến không phải để người ta hầu việc mình song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm gia chuộc cho nhiều người ” (Mat Mt 20:28; Mac Mc 10:45).
4/ Ngài rửa chơn cho môn đồ. (Giăng 13:4, 5)
Một trong những hành động hạ mình thấp nhất chúng ta thấy được trong chức vụ của Chúa Giê xu là sự hạ mình, nhận lãnh cương vị tôi tớ để rửa chơn cho các môn đồ. Theo phong tục Đông phương ngày xưa, học trò rất kính trọng và làm tất cả những điều thầy muốn. Nhưng tại dây Ngài sẵn sàng làm một việc mà ngay cả trò cũng ngần ngại không muốn làm cho thầy. Đó là sự hạ mình.
5/ Ngài yên lặng trước những lời tố cáo, vu khống và cư xử bất công với Ngài:
IPhi 1Pr 2:23 “Ngài bị rủa nhưng chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình ”.
Xem thêm Mat Mt 26:60-63; LuLc 23:8-10.
6/ Sự hạ mình được tỏ ra qua sự chết trên thập tự giá.
Cũng là chết, nhưng cái chết ít đau đớn hơn, ít nhục nhã hơn. Thập tự giá là cái chết sỉ nhục nhất, đau đớn nhất trong các hình cụ con người đã khám phá ra để hành hạ lẫn nhau. Người La mã thường xuyên dùng hình cụ này để xử hình tội nhân. Nhưng vì tánh chất mang rợ và sỉ nhục của hình phạt này nên họ không bao giờ xử treo công dân Lamã trên thập tự giá. Nhục hình này chính dành cho người ngoại quyền công dân Lamã. Chúa Giê xu đã vui lòng chịu nhận nhục hình này, một nhục hình mà người đương thời gọi là “đáng rủa sả” (GaGl 3:13). Đây chính là sự hạ mình tuyệt vời.
Chúng ta đã học hỏi sơ lược qua các đức tánh của Chúa Giê xu. Nó là gương mẫu để chúng ta noi theo (GiGa 13:15). Đó là dấu chơn mà chúng ta bước theo, đó là tâm tình mà Chúa kêu gọi chúng ta phải có. Tâm tình của Đấng Christ sẽ giải quyết tất cả mọi khó khăn, bất đồng trong Hội thánh, trong gia đình, và ngay cả ngoài xã hội cũng vậy. Con người trong sạch, đầy tình yêu thương, có đời sống gần gũi với Cha trên trời trong sự cầu nguyện, luôn luôn có đời sống nhu mì, thử hỏi sẽ tạo bất đồng với ai, muốn tranh chấp hơn thua với ai, muốn tranh giành địa vị cao thấp với ai. Con người đã có tất cả bằng lòng bỏ tất cả thì còn mong muốn điều gì nơi con người. Chúng ta học qua các đức tánh của Chúa Giê xu không phải chỉ để cảm phục nhưng để nhờ sức toàn năng của Chúa, nhờ sự trợ lực của Ngài nói với chính mình rằng : “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có ” (Phi Pl 2:5).

CHỨC VỤ CỦA ĐẤNG CHRIST
Kinh thánh bày tỏ chức vụ của Chúa Giê xu theo 3 mặt :Tiên tri, tế lễ và vua. Ba chức này biểu trưng cho công việc Chúa Jêsus Christ trong quá khứ, hiện tại và tương lại. Trong quá khứ không hề có một người nào kiêm luôn cả 3 chức đó. Môise là một vị tiên tri lớn, là người lãnh đạo Ysơraên, là người đã được Đức Chúa Trời dùng để thiết lập hệ thống tế lễ, nhưng ông không phải là thầy tế lễ. Chức vũ này thuộc về Arôn và gia đình ông. Samuên là tiên tri, vì một lý do nào đó ông được phép dâng tế lễ, nhưng ông không phải là thầy tế lễ. Vua Ôxia, một vị vua đầy quyền lực của vương quốc Giuđa, nhưng khi muốn xen vào chức vị tế lễ thì liền bị hình phạt nặng nề. (IISu 2Sb 26:16-21).
Với Đức Chúa Jêsus Christ thì cả 3 chức vụ này đều được thực hiện trong Ngài. I Cô 1:30; cho thấy ý này :“Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Giê xu Christ là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình nên thánh và sự cứu chuộc cho chúng ta ”. Sự khôn ngoan ở đây ám chỉ về chức vụ tiên tri, sự công bình ám chỉ về chức tế lễ và sự nên thánh, sự cứu chuộc ám chỉ về chức vị vua của Ngài. Một nhà thần đạo nói “Đấng Christ cần phải hành chức tiên tri mới cứu chúng ta khỏi sự ngu muội của tội lỗi và cần phải hành chức tế lễ mới cứu ta khỏi hình phạt của tội lỗi, và cần phải có chức vua mới cứu ta khỏi quyền thế của tội lỗi”.
I. CHỨC VỤ TIÊN TRI
A) Bằng chứng về chức vụ tiên tri của Đấng Christ:
Chức vụ tiên tri của Đấng Christ được bày tỏ qua các bằng chứng sau :
1. Cựu ước dự ngôn.
Trong PhuDnl 18:17, 19 có ghi lại lời phán của Đức Chúa Trời với Môise liên hệ đến vị tiên tri lớn sẽ được Đức Chúa Trời dấy lên: “Đức Giê hô va phán cùng ta rằng … ta sẽ lập lên cho chúng một Đấng tiên tri như ngươi, thuộc trong anh em chúng, ta sẽ lấy các lời ta để trong miệng người, thì người sẽ nói cho chúng ta mọi điều ta phán dặn ngươi ”.
Nếu chúng ta so sánh sự trích dẫn trong Cong Cv 3:20-22 chúng ta hẳn thấy rất rõ ràng vị tiên tri được dự ngôn trong Cựu ước chính là Chúa Giê xu Christ trong Tân ước (Cong Cv 7:37).
2. Đấng Christ tự xưng là tiên tri.
Đấng Christ cũng thường nêu lên những câu nói rằng Ngài chính là tiên tri. Khi mọi người ở quê hương bắt bớ, chối bỏ Ngài đã nói: “Đấng tiên tri chỉ bị xứ mình và người nhà mình khinh dễ mà thôi ” (Mat Mt 13:57; Mac Mc 6:4; LuLc 4:24).
3. Người đương thời nhận Ngài là tiên tri.
Vô số người đồng thời, khi được tiếp xúc với Ngài đều thừa nhận Ngài là Đấng tiên tri.
GiGa 7:40 “Trong đoàn dân có nhiều người nghe những lời đó thì nói : người này thật là Đấng tiên tri ”.
Các môn đồ của Chúa Giê xu nói với Ngài rằng :
Mat Mt 16:14 “Người ta, người thì nói Ngài là Giăng Báptít, kẻ thì nói Êli, kẻ khác thì nói là Giêrêm hay là một Đấng tiên tri nào khác ”.
Dân chúng tại thành Giêrusalem nói với nhau rằng:
21:10, 11 “ Ấy là Đấng tiên tri Jêsus ở thành Naxarét, xứ Galilê ”.
Người đàn bà Samari cũng gọi Ngài là tiên tri (GiGa 4:19).
B) Chân tánh chức tiên tri của Đấng Christ.
1. Định nghĩa từ tiên tri.
Theo nghĩa đen thì tiên tri là biết trước, nói trước điều phải xảy ra trong tương lai. Nhưng theo ý nghĩa của Kinh thánh, từ tiên tri không chỉ có nghĩa là biết trước mà còn nói về sự bày tỏ và giải thích ý chỉ của Đức Chúa Trời, cùng đem ý chỉ ấy truyền cho dân sự. Qua tiên tri Trời và người có được mối liên hệ với nhau. Cũng có trường hợp tiên tri được Thánh Linh của Đức Chúa Trời khải thị thuật lại những việc đã được thực hiện trong quá khứ. Trường hợp của Môise ký thuật về công cuộc sáng tạo (SaSt 1:1-2:25). Trong thời đại Cựu ước, các tiên tri trong giai đoạn đầu thường được gọi là “Tiên kiến” (ISa1Sm 9:9; IIVua 2V 17:13) là người thấy được các điều thuộc linh mà các giác quan thiên nhiên không thể thấy được. Ápraham cũng được gọi là tiên tri, dầu không nói đến những việc tương lai (SaSt 20:7; Thi Tv 105:9, 15) Giăng Báp tít cũng được gọi là một vị tiên tri lớn, dầu ông chỉ có nhiệm vụ làm chứng về Đấng Christ và kêu gọi sự ăn năn.
Chức vụ tiên tri của Ápraham, Giăng Báptít liên hệ rất mật thiết đến việc bày tỏ những điều mình biết về Đức Chúa Trời cho những người chưa được biết và dạy họ giữ theo mạng lịnh Ngài có được cuộc sống phước hạnh. Từ ngày Lễ Ngũ tuần trở về sau, những người truyền đạo và những người giảng lời Đức Chúa Trời đều được xưng là tiên tri (ICo1Cr 12:28; 14:1; Eph Ep 2:20; 3:5).
2/ Chức phận tiên tri.
Một vị tiên tri thường thực hiện 3 phần việc như sau :
- Dạy dỗ.
- Dự ngôn.
- Làm phép lạ.
Đấng Christ cũng đã thực hiện đầy đủ 3 phần việc này. Đức Chúa Giê xu đã dùng nhiều thì giờ để dạy dỗ dân chúng về Nước Đức Chúa Trời (Mat Mt 13:1-58), nếp sống đạo của công dân Nước Trời (5:1-7:29), dạy dỗ những điều liên hệ đến Đức Chúa Cha (GiGa 51-47;; 8:26; 14:9; 17:8). Ngoài sự dạy dỗ ra Chúa Giê xu còn thi hành phép lạ trong hầu hết các lãnh vực bởi quyền năng của Thánh Linh, Chúa Giê xu cũng đã dự ngôn những việc về tương lai. Ngài nói trước về sự chết và sống lại của Ngài (Mat Mt 16:21), nói trước về sự sụp đổ của thành Giêrusalem và đền thờ bị hoàn toàn phá hủy (Mat Mt 24:1, 2; LuLc 19:41-44). Hai sự việc này đã được ứng nghiệm cách hết sức chi tiết. Ngài nói trước về sự tái lâm của Ngài và điềm báo xảy ra trước ngày Ngài trở lại (Mat Mt 24:3-51; Mac Mc 13:1-37; LuLc 21:5-36).
II. CHỨC VỤ TẾ LỄ.
Đây là một chức vụ rất quan trọng có liê quan trực tiếp đến sự cứu rỗi của chúng ta. Từ trong thời Cựu ước, chức vụ tế lễ của Chúa Giê xu đã được dự ngôn. Thi Tv 110:4 dự ngôn về Ngài như sau :
“Đức Giê hô va đã thề, không hề đổi ý rằng :Ngươi là thầy tế lễ đời đời theo ban Mênchixêđéc”.
Tại sao không theo ban thứ của Arôn mà lại theo ban Mênchixêđéc? Vì chức vụ của Arôn, dù có cao trọng nhưng cũng chỉ là tạm thời. Arôn không sống mãi để giữ chức vụ này được mãi mãi. Vì vậy nên chức vụ của Arôn và công việc của ông làm chỉ là hình bóng về Đấng Christ và công việc của Ngài sẽ thực hiện trong tương lai mà thôi. Việc Chúa Giê xu thuộc ban tế lễ Mênchixêđéc chỉ nhằm mục đích nói lên tính chất vĩnh cửu của chức vụ tế lễ của Chúa Giê xu Christ.
HeDt 7:23, 24 “Vả lại, số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ. Nhưng Ngài vì hằng có đời đời, nên giữ chức tế lễ không hề thay đổi ”.
A) Thời gian thực hiện chức tế lễ.
Đấng Christ bắt đầu thực hiện chức tế lễ tại thập tự giá nơi Ngài dâng chính mình Ngài làm của lễ chuộc tội cho loài người.
9:28 “Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đăng cất tội lỗi của nhiều người ”.
Chính Ngài đã đem huyết Ngài vào tận nơi chí thánh ở trên trời trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời để chuộc tội cho bất cứ ai trong xã hội loài người bằng lòng tin nhận Ngài.
9:24 “Đấng Christ … vào chính trong trời để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời ”.
Bất cứ ai tin nhận Ngài thì Ngài trở nên Đấng cầu thay cho họ ở bên hữu Đức Chúa Trời. Đây cũng là một phần rất quan trọng trong chức vụ tế lễ. Chức vụ tế lễ của Chúa Giê xu hay nói cách rõ hơn là công tác liên hệ đến chức tế lễ của Chúa Giê xu Christ sẽ thôi thi hành khi Ngài trở lại làm vua trên muôn vua, Chúa trên muôn Chúa.
9:28 “Đấng Christ đã dâng mình một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người. Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài ”.
B) Phần việc của chức tế lễ :
1. Thay mặt loài người .
Thầy tế lễ là người được Đức Chúa Trời thiết lập để đại diện cho loài người đối diện cùng Đức Chúa Trời. Thầy tế lễ thượng phẩm ngày xưa được xem như một người thay thế cho toàn dân Ysơraên. Xem như cả dân Ysơraên đều được chứa đựng trong vị này.
XuXh 28:29 : Thầy tế lễ phải mang tên các chi phái Ysơraên trên lòng mình.
Nếu thầy tế lễ chịu xức dầu phạm tội, thì tội này cả dân phải gánh chịu (LeLv 4:3). Trong ngày đại lễ chuộc tội, thầy tế lễ thượng phẩm phải giết một con dê đực, lấy huyết nó đem vào nơi chí thánh để làm lễ chuộc tội cho dân chúng. Sau đó thầy tế lễ lại nhận cả hai tay mình trên đầu của một con dê khác, xưng hết tội lỗi của dân sự rồi sai người đuổi nó ra (16:11-12).
2. Được phép đến gần Đức Chúa Trời.
Trong lúc thực hiện các phần việc Thánh của mình thầy tế lễ được phép đến gần Đức Chúa Trời với những điều kiện Đức Chúa Trời đã đề ra. Dân chúng không thể tự mình đến gần Đức Chúa Trời nên phải nhờ thầy tế lễ thay mặt mình. Vì không một người thường nào đến trước mặt Đức Chúa Trời mà có thể tồn tại được.
Dan Ds 16:40 “Ấy là một kỷ niệm cho dân Ysơraên để người nào ngoại dòng Arôn chớ đến gần đặng xông hương trước mặt Đức Giê hô va, kẻo e đồng số phận với Côrê và bè đảng người theo lời Đức Giê hô va đã cậy Môise truyền dạy ”.
3. Dâng tế lễ và cầu nguyện.
Một trong những phần việc của thầy tế lễ là dâng tế lễ và cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời. Dầu đây là phần việc chính yếu của thầy tế lễ nhưng trước khi thầy tế lễ có thể thực hiện được phần việc này thì chính mình phải dâng tế lễ để chuộc tội chính mình. Kinh thánh chép “Phàm thầy tế lễ thượng phẩm từ trong loài người chọn ra, thì vì loài người lập nên hầu việc Đức Chúa Trời, để dâng lễ vật hy sinh vì tội lỗi. Người đã bị vây trong sự yếu đuối, nên có thể thương xót những kẻ ngu dốt, sai lầm. Ấy bởi sự yếu đuối đó mà người buộc phải vì tội lỗi mình dâng của tế lễ cũng như vì tội lỗi của dân chúng” (HeDt 5:1-3).
Đấng Christ đã làm ứng nghiệm chức tế lễ của Arôn cách đầy đủ. Cả Kinh thánh Tân Cựu ước đều bày tỏ Ngài là thầy tế lễ thật.
Thi Tv 110:4 “Đức Giê hô va đã thề, không hề đổi ý, rằng: ngươi là thầy tế lễ đời đời, tùy theo ban Mênchixêđéc ”.
HeDt 5:6 “Lại nơi khác có phán cùng Ngài rằng: ngươi làm thầy tế lễ đời đời, theo ban Mênchixêđéc ”.
XaDr 6:13
Ngài được chọn ta từ trong loài người để có thể đại diện cho loài người.
So sánh HeDt 5:1, 2 với HeDt 2:14-18 và 4:15.
Các câu Kinh thánh này cho thấy Chúa Giê xu Christ hội đủ các điều kiện và phải đối diện với các hoàn cảnh thầy tế lễ phải đối diện, chỉ khác một điều là không phạm tội.
- Đấng Christ được Đức Chúa Trời thiết lập làm thầy tế lễ :
5:5 “Đấng Christ không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm nhưng tại Đấng đã phán cùng Ngài rằng: ngươi là con ta, ta đã sanh ngươi ngày nay ”.
- Ngài rất thánh :
7:26 “Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời ”.
- Ngài có quyền đến gần Đức Chúa Trời :
1:3 “Con là sự chói sáng của chẳng Đức Chúa Trời, và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép nâng đỡ muôn vật. Sau khi con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm trong nơi rất cao ”.
Xem thêm 9:11-14.
- Ngài đã làm trọn các chức vụ của thầy tế lễ:
9:26 “ … Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi ”.
10:12 “Con như Đấng này đã vì tội lỗi chỉ dâng một của lễ rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời ”.
IGi1Ga 2:1 “ …… nếu có ai phạm tội thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình ”.
Eph Ep 5:2 “Hãy bước đi trongsự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm ”.
4. Chúc phước.
Một phần việc trong chức vụ của thầy tế lễ là chúc phước. Mỗi năm một lần vào ngày lễ chuộc tội, thầy tế lễ thượng phẩm vào nơi chí thánh để làm lễ chuộc tội cho dân sự. Lời chúc phước được ghi trong Dan Ds 6:22-26. Đấng Christ cũng vậy, sau khi Ngài làm trọn chức vụ tế lễ, Ngài sẽ lấy đại quyền, đại vinh đến thế gian lần thứ nhì. Đây là một thời kỳ vô cùng phước hạnh cho Hội thánh của Đức Chúa Trời.


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 02:49 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách