† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2744|Trả lời: 0

Thân Vị Và Chức Vụ Đức Thánh Linh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 25-7-2011 15:32:46 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Thân Vị Và Chức Vụ Đức Thánh Linh
Tác giả: René Pache


DẪN NHẬP
Chủ đề Đức Thánh Linh vốn vô cùng quan trọng. Tất cả chúng ta đều cần sự hiện diện và quyền năng của Ngài, và nếu không có Ngài, chúng ta sẽ chẳng bao giờ sống được cuộc đời làm Cơ-đốc nhân và phục vụ Thượng Đế.
Do đó, chúng ta hãy cầu xin Chúa hướng dẫn mình trong phần nghiên cứu học hỏi này bởi cùng một Thánh Linh mà chúng ta sẽ đề cập, và cách tân sinh hoạt nội tâm và lời làm chứng của mình nhờ các chân lý mà Ngài sẽ tiết lộ cho chúng ta.
Xin chúng ta hãy tiếp cận chủ đề này không chút sợ hãi. Nhiều khúc sách đề cập chủ đề ấy trong Kinh điển chứng minh với chúng ta rằng lời truyền dạy liên hệ đến Đức Thánh Linh trong Kinh Thánh vốn vừa dứt khoát vừa hoàn hảo. Nếu chúng ta bám chặt vào những gì đã được viết ra đó, với tất cả những gì hiện còn có người viết ra, chúng ta sẽ được bảo vệ khỏi nhiều nguy cơ. Lời cầu nguyện thiết tha của tôi, ấy là qua những trang sách sau đây, chúng ta sẽ chỉ đơn giản để cho Kinh Thánh tự nói ra. Nếu làm được như vậy, chúng ta chắc chắn sẽ được soi sáng và gây dựng. Tôi không hề muốn áp đặt trên quý độc giả chính cách giải nghĩa Kinh điển của mình, bất luận là ở một điểm nào. Tôi có thể sai lầm, ngộ nhận nên mạnh dạn nhắn nhủ quý độc giả hãy tự bước vào trường học của vị Giáo sư duy nhất sẽ dẫn chúng ta vào chân lý toàn diện. Nên có một vấn đề nào không được làm sáng tỏ đúng mức, xin quý vị hãy trở lại một lần nữa với những khúc sách đã được đề cập và đưa ra tham khảo của Kinh Thánh, và dành thật nhiều thì giờ để cầu nguyện. Chắc chắn Thượng Đế sẽ làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài và ban cho bạn một niềm tin quyết của riêng mình, đồng thời với phần ánh sáng mà bạn cần.
Tôi xin lỗi vì một số chương, nhất là chương bàn về việc tiếp nhận Thánh Linh, đã không tránh được nhiều lần phải lặp đi lặp lại. Tôi đã bị bắt buộc phải đề cập một số các bản Kinh văn thiết yếu nhân nhiều cơ hội khác nhau và từ nhiều quan điểm khác nhau hầu rút ra nhiều bài học hàm chứa trong đó. Làm như thế, vì mục đích của tôi là muốn cho việc giảng giải được rõ ràng và đầy đủ hơn.
Khối đá tảng làm nền móng cho toàn thể giáo lý liên hệ đến Đức Thánh Linhlà câu hỏi sau đây: Nó có vai trò gì dành cho Chúa Cứu Thế Giê-xu? Vì vai trò của Đức Thánh Linh chính là để tôn vinh Chúa Cứu Thế (GiGa 16:14).Cho nên, xin chúng ta chớ sợ rằng việc học hỏi nghiên cứu này của mình sẽ không còn dành cho Chúa Cứu Thế cái địa vị vinh dự đáng phải dành cho Ngài nữa. Trái lại, nếu chúng ta để cho Thượng Đế hướng dẫn mình, việc học hỏi nghiên cứu này sẽ chỉ đề cao Đấng duy nhất đã chịu chết và sống lại vì chúng ta mà thôi.


NHÂN CÁCH CỦA ĐỨC THÁNH LINH
Đức Thánh Linh là ai? Nếu chúng ta chỉ đọc Cong Cv 1:8 “Khi Đức Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng...” mà thôi, chúng ta có thể tưởng rằng Thánh Linh chỉ là một quyền năng (năng lực, quyền phép), một sức mạnh đến từ Thượng Đế, một phước hạnh mà Ngài ban cho chúng ta. Tuy nhiên, thật là dễ dàng để chứng minh rằng Đức Thánh Linh vốn hơn hẳn thế. Ngài là một thân vị (a person, từ nào có thể dịch như trên hoặc: một người, một nhân vị, một ngôi vị...).
I. ĐỨC THÁNH LINH HÀNH ĐỘNG NHƯ MỘT CON NGƯỜI
Xin chúng ta chú ý vài hành động vốn được gán cho Ngài, mà không hề là việc bộc lộ một quyền năng, hay một sự việc, sự vật:
1. Ngài ở trong các tín hữu (GiGa 14:17)
2. Ngài dạy dỗ, Ngài nhắc nhớ (GiGa 14:26)
3. Ngài làm chứng (GiGa 15:26)
4. Ngài cáo trách tội lỗi (GiGa 16:8)
5. Ngài dạy chân lý toàn diện, Ngài nghe, Ngài nói, Ngài truyền lại và báo cho biết (GiGa 16:13).
6. Ngài linh cảm để Kinh điển được viết ra và phán dạy qua trung gian Kinh điển (Cong Cv 1:16; IIPhi 2Pr 1:21).
7. Ngài bảo Phi-líp (Cong Cv 8:29)
8. Ngài gọi người vào chức vụ (Cong Cv 13:2)
9. Ngài sai phái các tôi tớ ra đi (Cong Cv 13:4)
10. Ngài cấm một số hành động (Cong Cv 16:6, 7)
11. Ngài cầu thay, v.v.. (RoRm 8:26).
II. NGÀI CÓ CÁC THUỘC TÍNH THIẾT YẾU CỦA NHÂN CÁCH.
Đức Thánh Linh vốn có:
1. Một ý chí. Ngài ban các ân tứ của Ngài trên mọi người theo ý Ngài (ICo1Cr 12:11)
2. Tư tưởng. Thượng Đế biết rõ tâm trí của Đức Thánh Linh (RoRm 8:27).
3. Kiến thức (hiểu biết). Đức Thánh Linh biết rõ và dò xét những điều mầu nhiệm của Thượng Đế (ICo1Cr 2:10, 11).
4. Ngôn ngữ. “Khi truyền giảng, chúng tôi không dùng từ ngữ triết học, nhưng dùng từ ngữ của Thánh Linh, giải thích điều thuộc linh bằng ngôn ngữ thuộc linh” (ICo1Cr 2:13).
5. Yêu thương. Phao-lô khuyên người Rô-ma phải có tình yêu thương trong Thánh Linh để cùng ông chiến đấu bằng lời cầu nguyện (RoRm 15:30)
6. Tốt lành thiện hảo. “Chúa cũng ban cho chúng Thần linh lương thiện của Chúa để dạy dỗ cho chúng” (NeNe 9:20).
III. CÁC TÊN ĐẶT CHO NGÀI TIẾT LỘ CẢ NHÂN CÁCH LẪN THẦN TÁNH CỦA NGÀI.
1. Ngài đã được gọi là:
a. Thần ta (SaSt 6:3)
b. Thần của Thượng Đế (IISu 2Sb 15:1)
c. Thần của Chúa (Giê-hô-va) (EsIs 11:2)
d. Hơi thở của Đấng Toàn Năng (Giop G 32:8)
e. Thần của Giê-hô-va Đức Chúa Trời (EsIs 61:6)
f. Thánh Linh của Cha các con (Mat Mt 10:20)
g. Thánh Linh của (Cong Cv 16:7)
h. Thánh Linh của Chúa Cứu Thế (RoRm 8:9)
i. Thánh Linh của Con Ngài (GaGl 4:6)
Vì cả Ba Ngôi (Persons) Thượng Đế chỉ là Một (Thượng Đế), chẳng có gì để ngạc nhiên khi Đức Thánh Linh được gọi bằng tên của các ngôi khác, không có sự phân biệt.
2. Các tên khác của Ngài cũng chứng minh cho các phẩm cách của Ngài. Ngài là Thần (Linh).
9. Của sự thánh khiết - là Đức Thánh Linh (Thi Tv 51:11; RoRm 1:4)
b. Của sự khôn ngoan (EsIs 11:2)
c. Của sự mưu toan (EsIs 11:2)
d. Của sự hiểu biết (EsIs 11:2)
e. Của sự nài xin (XaDr 12:10)
f. Của sự thờ phượng (GiGa 4:23)
g. Của chân lý (GiGa 14:17)
h. Của sự an ủi (GiGa 14:6)
i. Của sự sống (RoRm 8:2)
j. Của việc nhận làm con (RoRm 8:15)
k. Của đức tin (IICo 2Cr 4:13)
l. Của tình yêu thương (IITi 2Tm 1:7)
m. Của sức mạnh (sự an dũng - 1:7)
n. Của sự phê phán đứng đắn (tự chủ - 1:7)
o. Của sự mặc khải (Eph Ep 1:17)
p. Của quyền năng (Eph Ep 3:20; RoRm 15:13 - quyền năng của Chúa Thánh Linh)
q. Của cõi vĩnh hằng - Thánh Linh đời đời (HeDt 9:14)
r. Của ân (điển, huệ) (HeDt 10:29)
s. Của vinh quang (IPhi 1Pr 4:14)
IV. THÁNH LINH CÓ THỂ ĐƯỢC ĐỐI XỬ NHƯ MỘT NGƯỜI.
Ngài có thể được (bị)
1. Nói dối (Cong Cv 5:3)
2. Thách thức (Cong Cv 5:9)
3. Chống đối (Cong Cv 7:51)
4. Làm buồn (Eph Ep 4:30)
5. Sỉ nhục (HeDt 10:29)
6. Xúc phạm (Mat Mt 12:31)
7. Kêu cầu (Exe Ed 37:9)
V. KHI NÓI VỀ ĐỨC THÁNH LINH, CHÚA GIÊ-XU DÙNG ĐẠI DANH TỪ THEO GIỐNG NAM, CHỚ KHÔNG PHẢI LÀ TRUNG TÍNH.
Trong các văn bản Hi văn cổ đại từ ngữ Spirit (thần, linh, tinh thần) trung tính phải được thay thế bằng đại danh từ cũng trung tính (neuter). Tuy nhiên, trái với văn phạm, đại danh từ ấy lại theo giống nam (masculine) (chẳng hạn trong GiGa 16:7, 8, 13, 14,v.v...) nhằm nhấn mạnh sự kiện Đức Thánh Linh là một người một thân vị, chớ không phải là một đồ vật.

PHẦN TÁNH CỦA ĐỨC THÁNH LINH
Kinh điển không hề tự hạn chế trong việc nhấn mạnh nhân cách của Đức Thánh Linh; đồng thời, lại khẳng định thần tánh Ngài theo một đường lối tích cực hơn hết.
I. ĐỨC THÁNH LINH MANG CÁC DANH XƯNG CỦA THƯỢNG ĐẾ
Khi Ngài được gọi là “Thánh Linh Thượng Đế”, điều đó có nghĩa là Ngài chính là Hiện Thân (Con Người) của Thượng Đế. ICo1Cr 2:11 chứng minh rõ ràng rằng, với tư cách một con người, và thần linh ấy vốn hiệp làm một với cùng một người, Thượng Đế và Thánh (Thần) Linh Ngài chỉ là một “Vì chẳng ai có thể biết những tư tưởng sâu kín trong lòng người trừ ra tâm linh của chính người đó. Cũng thế, ngoài Thánh Linh Thượng Đế, không ai biết được những ý tưởng mầu nhiệm của Thượng Đế”
II. ĐỨC THÁNH LINH CÓ CÁC THUỘC TÍNH CỦA THƯỢNG ĐẾ.
1. Vô sở bất tri “Thánh Linh dò xét mọi sự, kể cả điều sâu nhiệm của Thượng Đế” (ICo1Cr 2:10, 11).
2. Vô sở bất tại “Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa?” (Thi Tv 139:7). Thánh Linh ngự đồng thời trong lòng của tất cả các tín hữu (xem GiGa 14:17).
3. Vô sở bất năng “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta...” (XaDr 4:6). Sự thật là chính Đức Thánh Linh sáng tạo. “Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi” (Giop G 33:4). “Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên” (Thi Tv 104:30).
4. Chân ký. Chúa Giê-xu sở dĩ dám nói “Ta là Chân lý”, vì Ngài chính là Thượng Đế. Cũng vậy, trong IGi1Ga 5:6, Đức Thánh Linh được công bố là Chân lý.
5. Tính cách vĩ đại không dò lường được. “Ai lường được Thần của Thượng Đế, và làm mưu sĩ Ngài” (EsIs 40:13).
Nhiều phẩm cách khác của Thượng Đế cũng được gán cho Đức Thánh Linh do chính các tên của Ngài.
6. Ngài là Thánh Linh hằng sống (RoRm 8:2) như Thượng Đế vốn hằng sống vậy.
7. Ngài là tinh thần (Thánh Linh) yêu thương (IITi 2Tm 1:7), như Thượng Đế chính là Tình yêu vậy.
8. Ngài là tinh thần tự chủ (hay Thánh Linh của sự phán đoán thuần chánh, đứng đắn - IITi 1:7;) như chỉ một mình Thượng Đế mới chính là sự khôn ngoan (RoRm 16:27, v.v...)
III. ĐỨC THÁNH LINH LÀ NGÔI THƯ1 BA CỦA THƯỢNG ĐẾ BA NGÔI.
Trước hết, xin chúng ta lưu ý sự kiện Đức Thánh Linh vốn được kết hợp với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, và được đặt ngang hàng với hai Ngôi ấy (Mat Mt 28:19) các môn đệ Chúa phải chịu phép báp-tem nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh, cũng như phước hạnh đều được cả ba Ngôi ban cho (IICo 2Cr 13:14).
Mặt khác, Chúa Giê-xu gọi Đức Thánh Linh là Đấng An ủi “khác”, như vậy, ám chỉ Ngài là một Ngôi khác (GiGa 14:16). Với cùng một ý nghĩa như thế, Ngài tuyên bố với các môn đệ rằng đã đến lúc họ không còn thấy chính hiện diện của Ngài nữa, cho nên rất thích hợp để chính họ phải tiếp nhận Đức Thánh Linh cho mình (GiGa 16:7). Theo RoRm 8:9-10, nhận lãnh Đức Thánh Linh là có Chúa Cứu Thế ngự trong lòng mình.
Sự hợp nhất giữa Ba Ngôi Thượng Đế vốn quan trọng đến nỗi Phao-lô có thể tuyên bố điều đó như một chân lý bình đẳng:
“Thân thể anh em là đền thờ Thánh Linh, và Ngài đang sống trong anh em” (ICo1Cr 6:19)
“Anh em...là đền thờ của Thượng Đế” (ICo1Cr 3:16)
“Chúa Cứu Thế ở trong anh em” (CoCl 1:27)
Lẽ dĩ nhiên Thượng Đế vốn bất khả phân chia, và người ta không thể quan niệm hay tiếp nhận một trong Ba Ngôi Thượng Đế mà không có hai Ngôi kia. Nhiều người tỏ ra khó hiểu nổi sự hợp nhất mà đa dạng này, lại còn viện lý ấy ra để không chịu tin nữa. Tuy nhiên, chúng ta không nên quên rằng bản thân con người cũng được ba thành tố cấu thành, mà sự hợp nhất mật thiết của cả ba thành tố ấy, tức là (tâm) linh, hốn và xác mới họp thành nhân cách con người (ITe1Tx 5:23). Điều dường như có thể chấp nhận được đối với con người, lại càng có thể chấp nhận hơn đối với Thượng Đế Ba Ngôi. Ngài vốn cũng chỉ là Một, tuy vốn do ba thành tố họp thành.
Sự họp thành của Ba Ngôi Thượng Đế không hề ngăn trở việc từng Ngôi một thủ một vai trò riêng biệt. Đức Chúa Cha vốn quan trọng hơn tất cả (GiGa 10:29). Đức Chúa Cpn chỉ làm những gì Ngài thấy Đức Chúa Cha làm và hoàn thành ý chỉ của Đức Chúa Cha (GiGa 5:19, 30). Đức Thánh Linh được Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con sai phái (GiGa 14:26 và 16:7;) Ngài sở dĩ được ban xuống là để nhậm lời Đức Chúa Con và nhân danh Ngài; và vai trò của Ngài là nhằm tôn vinh Đức Chúa Con bằng cách đặt sự hiện diện của Ngài trong lòng các môn đệ Ngài (GiGa 14:16, 26 và 16:14).
Mặt khác, sự hợp nhất giữa Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh được đánh dấu bằng sự kiện thái độ người ta tiếp nhận một trong hai Ngôi ấy sẽ quyết định cho thái độ của họ đối với Ngôi kia; ai tin nhận Cứu Chúa thì cũng nhận lãnh Đức Thánh Linh; ai hoàn toàn đầu phục Chúa Giê-xu thì được Đức Thánh Linh tin dùng.
IV. ĐỨC THÁNH LINH CHÍNH LÀ THƯỢNG ĐẾ.
Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định thần tánh thiết yếu của Đức Thánh Linh. Hơn nữa, chân lý này còn được công bố rõ ràng trong các bản văn sau đây:
Chúa là Đức Thánh Linh (IICo 2Cr 3:17)
Thượng Đế là Thần Linh (GiGa 4:24)
Nói dối với Đức Thánh Linh, là nói dối với chính Thượng Đế (Cong Cv 5:3, 4)
Nhiều khúc sách khác trong Tân ước trực tiếp gán các lời phán và hành động cho Đức Thánh Linh, từng được gán cho Thượng Đế.
1. “Môi-se đáp (cùng dân sự) rằng:...Sao (các ngươi) ướm thử Đức Giê-hô-va...Người đặt tên nơi này là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì họ đã ướm thử Đức Giê-hô-va” (XuXh 17:2-7). “Như Thánh Linh đã dạy: Ngày nay, nếu các con nghe tiếng Chúa, đừng ngoan cố, cứng lòng như ngày nổi loạn... (khi) tổ phụ các con thử nghiệm ta” (HeDt 3:7-9).
2. “Tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Đi đi, nói với dân này rằng: Các ngươi hãy nghe, nhưng chẳng hiểu chi; hãy xem nhưng chẳng thấy chi” (EsIs 6:8-10). “Quả đúng như lời Thánh Linh đã dùng tiên tri Ê-sai phán dạy: Hãy đến nói với dân này: Các ngươi nghe mà không hiểu, nhìn mà không thấy” (Cong Cv 28:25-27).
3. Đức Giê-hô-va phán: Này, những ngày đến bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó...” (Gie Gr 31:31-34). “Chúa Thánh Linh cũng xác nhận với chúng ta điều ấy: Đây là giao ước ta sẽ lập với họ...” (HeDt 10:15-17).
Như thế, Đức Thánh Linh chính là Thượng Đế, không chối cãi vào đâu được. Để kết luận, xin chúng ta xét thêm hai điểm phụ thuộc
V. CÓ GÌ KHÁC NHAU GIỮA (THẦN) LINH CỦA THƯỢNG ĐẾ VỚI (THẦN) LINH CỦA CHÚA GIÊ-XU ĐÃ ĐƯỢC TÔN VINH HAY KHÔNG?
Có một số người nói: Khi một người tin Chúa thì nhận được Thánh Linh của Chúa Cứu Thế” (IGi1Ga 4:2; RoRm 8:9) khi người ấy được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, người ấy nhận lãnh Đức Thánh Linh. Có thể nào đúng như vậy không? Phải chăng có đến hai Thánh Linh?
Không, chỉ có một Thánh Linh của Thượng Đế mà thôi; Ngài vừa là Thánh Linh của Đức Chúa Cha mà cũng là Thánh Linh Đức Chúa Con, vì cả hai chỉ là một. Hơn nữa, vì cả Đức Chúa Cha lẫn Đức Chúa Con đều là Thượng Đế, Thánh Linh của vị này cụng như của vị kia đều cũng phải là Thượng Đế như nhau cả.
Chính vì lý do ấy mà Kinh Thánh cứ nhắc đi nhắc lại rằng chỉ có một Thánh Linh mà thôi.
“Chỉ có...một Thánh Linh” (Eph Ep 4:4 bản dịch cũ)
“Tất cả các dân tộc đều được Thánh Linh dìu dắt đến cùng Chúa Cha” (Eph Ep 2:18)
“Những ân tứ ấy đều do cùng Đức Thánh Linh phân phối...nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu báp-tem để gia nhập vào một thân thể” (ICo1Cr 12:11, 13).
Những khúc sách sau đây chứng thực rõ ràng cho chỉ một Thánh Linh ấy, nhưng đồng thừi lại gán cho Ngài nhiều tên khác nhau
“Vì Thánh Linh không cho giảng đạo...họ định vào xứ Bi-thi-ni, nhưng Thánh Linh của Chúa Giê-xu không cho phép” (Cong Cv 16:6, 7)
“Thánh Linh Thượng Đế đang ngự trong lòng anh em. Người không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế dĩ nhiên không thuộc về Chúa Cứu Thế” (RoRm 8:9).
“Những người được Thánh Linh của Thượng Đế hướng dẫn đều là con cái Thượng Đế... Thánh Linh ...đưa anh em được gọi Thượng Đế bằng Cha” (RoRm 8:14, 15).
“Còn ai liên hiệp với Chúa sẽ có một tâm linh với Ngài (tâm linh của Chúa Cứu Thế)...Thân thể anh em là đền thờ Thánh Linh” (ICo1Cr 6:17-19).
Như vậy, những gì đã được kể ra ở phần trên đây đều đúng: trong Kinh điển, Đức Thánh Linh, Thần Linh Thượng Đế và Thánh Linh của Chúa Cứu Thế đều chỉ là một và cùng một Thân vị (người). Về việc này, điều nổi bật đáng ghi nhận, là Kinh Thánh đề cập y nhau không có gì phân biệt, Phúc âm của Thượng Đế và Phúc âm của Chúa Cứu Thế.
“Chúa chọn tôi...ủy thác cho tôi nhiệm vụ truyền giảng Phúc âm của Thượng Đế” (RoRm 1:1)
“Thượng Đế mà tôi hết lòng phục vụ bằng cách truyền bá Phúc âm của Con Ngài” (1:9)
“Công bố Phúc âm của Thượng Đế” (RoRm 15:16)
“Tôi đã chu toàn nhiệm vụ truyền bá Phúc âm của Chúa Cứu Thế” (RoRm 15:19).
Nhiều chỗ khác nữa cũng đề cập ân phúc Thượng Đế (GaGl 2:21; 4:6) và ân phúc Chúa Cứu Thế (GaGl 1:6; 6:18). Thế nhưng, chẳng hề có ai lại nghĩ rằng đó là hai loại Phúc âm hay hai loại ân phúc.
II. NẾU CHỈ CÓ MỘT THÁNH LINH DUY NHẤT, THẾ TẠI SAO SÁCH KHẢI THỊ (1:4; 3:1; 4:5 VÀ 5:6) LẠI ĐỀ CẬP “BẢY THẦN LINH CỦA THƯỢNG ĐẾ”?
Khảo xét kỹ những khúc sách chứng minh cho sự hợp nhất của Thánh Linh này, nhóm từ này không thể có nghĩa rằng đã có đến bảy thần linh khác nhai. Muốn hiểu rõ điều này, chúng ta cần nhớ là sách khải thị thường sử dụng ngôn ngữ biểu tượng. Trong ngôn ngữ này, số bảy luôn luôn có nghĩa là sự đầy đủ và trọn vẹn (như đã thấy trong Cựu ước). Trong KhKh 5:6, Chiên Con bị giết có bảy sừng và bảy con mắt, là bảy thần linh của Thượng Đế; đây là một cách nói bóng, ám chỉ quyền năng và sự thông biết Ngài vốn có không chừng mực là do Đức Thánh Linh ban cho Ngài (GiGa 3:34). Sự kiện Đức Thánh Linh trong sự trọng vẹn hoàn toàn đầy đủ của Ngài vẫn còn là một chứng minh rõ ràng hơn nữa trong 1:4, 5 ân phúc và bình an được Thượng Đế ban cho các Hội thánh, từ bảy thần linh đứng trước ngai Ngài, và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu, y như các phước hạnh đã được ban cho nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh - chẳng hạn trong IICo 2Cr 13:14. Do đó, rõ ràng là chỉ có một Thánh Linh, và Thánh Linh ấy chính là Thượng Đế.
KẾT LUẬN
Chúng ta vừa thay Đức Thánh Linh là một Thân vị, và là Ngôi thứ ba của Ba Ngôi Thượng Đế.
Việc xác lập sự kiện này khiến chúng ta quan tâm sâu sắc đến phần học hỏi nghiên cứu chúng ta đang thực hiện liên hệ đến công tác của Ngài trong lòng người ta. Lẽ dĩ nhiên, nếu Đức Thánh Linh chỉ là một quyền năng suông từ trên ban xuống, thì nó đã được ban cho tôi, để tôi có thể sử dụng nó cách nào tùy ý. Nhưng nếu Đức Thánh Linh là một thân vị, và hơn thế nữa, nếu Ngài chính là Thượng Đế, thì chính tôi phải bị đặt dưới quyền sử dụng của Ngài, phải yêu thương và vâng lời Ngài trong mọi sự. Ngoài ra tiếp nhận Ngài vào lòng chúng ta không những chỉ là một phước hạnh, nhưng là chính Thượng Đế Toàn Năng đang hiện diện trong chúng ta, để chúng ta có được nguồn mạch của mọi ân phúc và mọi khả năng. Xin chúng ta chớ dốt nát đến nỗi không nhận biết bản tính chân chính của Đức Thánh Linh.

CÁC BIỂU TƯỢNG CỦA ĐỨC THÁNH LINH
Thánh điển dùng các biểu tượng sau đây để hình dung Thánh Linh hẩu giúp chúng ta dễ hiểu hơn thân vị hoặc công tác của Ngài.
I. HƠI THỞ HAY GIÓ (trong nguyên văn, từ ngữ “linh (Spirit)” cũng có nghĩa là hơi thở).
Theo SaSt 2:7 thì Thượng Đế hà sinh khí (thở) trên A-đam, cũng như sau này, Ngài sẽ ban hơi thở của Thánh Linh Ngài cho “con người mới” vậy. Chúng ta đọc thấy trong Giop G 32:8 “Nhưng có thần linh ở trong con người, và hơi thở của Đấng Toàn Năng cho chúng ta sự khôn sáng”, và trong 33:4 “Thần (Linh) của Đức Chúa Trời đã ság tạo tôi, hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống”.
Ê-xê-chi-ên nói tiên tri rằng “Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hầu cho chúng no sống” (37:9). Chính Chúa Giê-xu, khi đề cập công tác tái sanh của Đức Thánh Linh, đã phán “Gió thổi hướng nào cũng được. Nghe tiếng gió, nhưng ông không biết gió đến từ đâu và sẽ đi đâu. Người được Thánh Linh sinh thành cũng thế” (GiGa 3:8). Rồi khi Ngài sai phái các môn đệ, Ngài thở (hà hơi) trên họ và dạy “Các con hãy tiếp nhận Thánh Linh” (GiGa 20:22). Cuối cùng khi chính Đức Thánh Linh giáng xuống trong ngày lễ Ngũ tuần, có một luồn gió mạnh theo sau Ngài làm đầy cả ngôi nhà, nơi các môn đệ Chúa đang ngồi (Cong Cv 2:2).
Biểu tượng này có nghĩa gì? Những khúc sách trên đây cho phép chúng ta nghĩ rằng Ngài muốn nhấn mạnh hành động nhanh và mạnh, vô hình và bất ngờ của Đức Thánh Linh; nó chứng minh rằng hành động ấy vốn từ trời đến, rằng nó đến từ trên cao, rằng nó có tính cách áp đảo và vô hạn trên loài người. Cuối cùng, nếu Thánh Linh đã được gọi là hơi thở của Đấng Toàn Năng ấy là vì Ngài vốn trực tiếp toát ra và là phần biểu hiệu của chính sự hiện diện của Thượng Đế.
Vì chúng ta đang đề cập hành động nhanh và mạnh của Đức Thánh Linh, những khúc sách say đây rất lý thú, vì chúng sẽ minh họa điều đó cách đặc biệt “Thần cất ta lên giữa quãng đất và trời, trong sự hiện thấy của Đức Chúa Trời đem ta đến thành Giê-ru-sa-lem... Thần cất ta lên và đem đến cửa Đông... Thần của Đức Giê-hô-va bèn đổ trên ta, và phán rằng...” (Exe Ed 8:3; 11:1, 5). “Thánh Linh của Chúa đem Phi-líp đi ngay... đưa đến thành A-xốt” (Cong Cv 8:39-40). Trong những trường hợp khác nhau này, phải chăng dường như Đức Thánh Linh đã hành động như một trận gió đột ngột và rất mạnh, “bắt lấy” đối tượng và làm cho nó điều mà ý Ngài muốn?
II. CHIM BỒ CÂU.
Lúc Chúa Giê-xu được Giăng Báp-tít làm phép báp-tem cho, “Thánh Linh lấy hình chim bồ câu giáng trên Ngài” (LuLc 3:22).
Có người nghĩ rằng con chim bồ câu được Nô-ê thả ra trong lúc ông còn ở trong tàu (SaSt 8:8-12) cũng là một hình ảnh của Đức Thánh Linh. Trên mặt đất đầy tội lỗi và bị tàn phá đó, Thánh Linh đã không thể tìm đâu ra một nơi sạch sẽ để đậu lại, nên đã quay trở về để “đậu” trên Chúa Cứu Thế mà chiếc Tàu Cứu Rỗi là tiêu biểu. Rồi Thánh Linh cất Hội thánh khỏi đất này (kéo nó về trời) như trái đầu mùa của nhân loại, y như cách con chim bồ câu đã quay về, ngậm trong mỏ một nhánh ô-liu vậy. Và sau khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Thánh Linh sẽ có thể thành công trong việc bao phủ cả đất trong Thiên hy niên để đổ đầy sự thông biết của Thượng Đế, như nước phủ ngập biển. Con quạ vốn là một loài chim ô uế ăn xác chết là hình ảnh của xác thịt, lấy làm thích thú khi được sốgn giữa đủ thứ ô uế đó.
Tại sao Kinh điển lạu dùng hình ảnh này? Chắc là vì muốn nhắc nhở chúng ta rằng Đức Thánh Linh, như chim bồ câu, vốn có đw5c điểm là hiền lành, dịu dàng và tinh khiết. Chẳng những Ngài vốn có năng lực chẳng có gì địch lại nổi, mà còn là Thánh Linh của tình yêu thương, ân phúc, sự an ủi và ngây thơ vô tội nữa.
III. DẦU
Tân ước thường xuyên đề cập việc “xức dầu” của Đức Thánh Linh. Chúa Giê-xu tự nhận cho chính Ngài câu trong sách Ê-sai “Thánh Linh Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu cho tôi” (LuLc 4:18). Phê-rơ nói trong Cong Cv 10:38 “Thượng Đế đã (xức dầu) cho Chúa Giê-xu người Na-xa-rét (được) đầy dẫy Thánh Linh và quyền năng”. Thư Hy-bá lại thêm “Nên Thượng Đế... ban (xức dầu) cho Chúa sự vui mừng” (HeDt 1:9). Cuối cùng hai sứ đồ Phê-rơ và Giăng tuyên bố “Thựơng Đế bổ nhiệm (xức dầu) chúng tôi...” (IICo 2Cr 1:21). “Nhưng vì được Chúa Thánh Linh xức dầu, nên tất cả các con đều biết chân lý” (IGi1Ga 2:20).
Tất cả các khúc sách trên đều ám chỉ việc xức dầu cho các thầy tế lễ, nhà tiên tri và các vua trong Cựu ước. Do đó, Đức Thánh Linh ban phần chuẩn bị cần thiết cho chức vụ (Cong Cv 1:8).
Mặt khác, dường như số dầu mà các trinh nữ khôn ngoan đã thận trọng đổ vào đèn của họ (Mat Mt 25:4) cũng tiêu biểu cho Đức Thánh Linh, mà nếu không có Ngài thì chẳng một ai có thể thuộc về Chúa Cứu Thế cả (RoRm 8:9). Trong Cựu ước, chỉ có loại dầu thánh mới được liên tục châm vào các ngọn đèn thắp sáng trong đền thờ, nơi Thượng Đế được thờ phượng, và nơi mà thân vị và công tác của Chúa Cứu Thế đã được biểu tượng thật trọn vẹn (XuXh 27:20-21). Cũng theo cách đó. Đức Thánh Linh chiếu sáng và tôn vinh Chúa Cứu Thế trước mặt chúng ta; Ngài giúp chúng ta có thể thờ phượng bằng tâm linh và lòng chân thành (GiGa 16:4; IGi1Ga 2:27; Phi Pl 3:3).
Theo LeLv 14:17 và 8:30, dầu được bôi trên huyết để thánh hóa những người phung và các thầy tế lễ. Cũng vậy, chúng ta là tội nhơn, được gọi hãy phục vụ Thượng Đế hằng sống, và được thánh hóa bằng huyết của thập tự giá và bởi quyền năng của Thánh Linh (RoRm 8:2-3). Cuối cùng là một thí dụ minh họa đẹp đẽ về cái nguồn mạch, là câu kết luận, về chất “dầu” luôn luôn tạo nên mới và chiếu sáng trong XaDr 2:5 “Ấy chẳng phải là bửi quyền thế, cũng chẳng phải là bửi năng lực bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” trong câu 6.
IV. LƯỠI.
Trong ngày lễ Ngũ tuần, những cái lưỡi như lửa giáng trên từng môn đệ một của Chúa, và họ đều đươc đầy dẫy Đức Thánh Linh (Cong Cv 2:3-4). Giăng Báp-tít, khi nói về Chúa Giê-xu, đã bảo hai lần rằng “Đấng đến sau tôi sẽ làm báp-tem bằng Thánh Linh và lửa. Người sẽ sảy lúc thật sạch, đem trữ vào khi, và đốt rơm rác trong lò lửa chẳng hề tắt” (Mat Mt 3:11, 12; LuLc 3:16, 17).
Theo cách dùng mà Kinh điển luôn luôn gán cho nó (LeLv 10:2; MaMl 3:2, 3 v.v...), dường như lửa không phải ám chỉ quyền năng của Đức Thánh Linh, nhưng ám chỉ hành động tinh luyện, thanh lọc của Ngài để phán xét và thiêu hủy tất cả những gì là ô uế. Đức Thánh Linh cáo trách người ta về tội lội và sự phán xét, và Ngài thiêu hủy tất cả những gì không phù hợp với ý chỉ Thượng Đế trong lòng chúng ta.
Xin chú ý là trong hai khúc sách được trưng dẫn ở phần trên, chỗ Mã-thi và Lưu-ca trích lời của Giăng Báp-tít “Ngài sẽ làm báp-tem cho các ông bằng Thánh Linh và bằng lửa”, thì tiếp ngay sau đó là câu ám chỉ hết sức rõ ràng lửa của sự phán xét vĩnh cửu. Mặt khác, Mac Mc 1:8 và GiGa 1:3 cũng dùng những lời lẽ giống như thế cho phép báp-tem của Thánh Linh, mà không nói gì đến lửa cả; hai vị cũng chẳng nói gì đến lửa cả; hai vị cũng chẳng nói bóng gió gì tới việc phán xét. Xin kết hợp việc này với mấy lời của chính Chúa Giê-xu liên hệ với lửa Hỏa ngục “mọi người sẽ bị muối bằng lửa” (Mac Mc 9:49), và câu của Phao-lô “Công trình của mỗi người sẽ được bày tỏ trong ngày cuối cùng, Chúa sẽ dùng lửa thử luyện mọi vật...Công trình nào bị thiêu hủy, người xây cất sẽ mất hết, nhưng chính người ấy sẽ được cứu như vượt qua lửa mà thôi? (ICo1Cr 3:13-15). Tội nhơn biết ăn năn và thiêu hủy ngay trong lòng mình bởi Đức Thánh Linh, là Đấng sẽ tái sanh và thánh hóa người ấy; công tác của người ấy sẽ chịu phân xử trong ngày sau rốt, và mọi bất toàn sẽ bị lửa thiêu hủy. Trái lại, người không chịu tiếp nhận sự cứu rỗi và tẩy sạch sẽ bị ném vào lửa đời đời. Như vậy, nếu chúng ta cầu nguyện xin được “phép báp-tem bằng lửa”, thì điều đó có nghĩa là chúng ta cầu xin Thượng Đế thiêu hủy tội lỗi trong lòng chúng ta.
V. NƯỚC SỐNG
Chính Chúa Giê-xu đã dùng hình ảnh này khi Ngài phán “Người nào tin tôi, các mạch nứơc hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng đúng như Thánh Kinh đã chép “Ngài nói về Đức Thánh Linh” mà người nào tin Ngài sẽ tiếp nhận vào lòng” (GiGa 7:38-39). Cứu Chúa cũng tuyên bố với người phụ nữ Sa-ma-ri, chắc ám chỉ Đức Thánh Linh sẽ đến và sống trong lòng người tín hữu, rằng “Uống nước tôi cho sẽ chẳng bao giờ khát nữa; nước tôi cho sẽ thành một mạch nước trong tâm hồn, tuôn trào mãi mãi sức sống vĩnh cửu” (GiGa 4:14). Và một lần nữa, chúng ta đọc thấy trong EsIs 44:3 “Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi”.
Biểu tượng này rất dễ hiểu. Như nức sống, hiện diện của Đức Thánh Linh trong lòng chúng ta làm tươi mát và dập tắt cơn khát; nó khiến cho lòng ta, trước đây vốn bị cảnh hoang vu chết chóc ngự trị, giờ đây được đầy đủ, sung mãn, và được đổ đầy loại phước hạnh.
Về việc này, chúng ta có một câu ám chỉ Ba Ngôi Thượng Đế trong XuXh 17:6 “Đức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng...Nấy, ta sẽ đứng đằng trước ngươi, ở trên hòn đá tại Hô-rếp kia, ngươi hãy đập hòn đá, thì nước từ đó chảy ra, dân sự sẽ uống lấy”. Phao-lô nói rõ với chúng ta rằng hòn đá ấy đã bị đập vỡ là vì sự cứu rỗi dân sự chính là Chúa Cứu Thế (ICo1Cr 10:4). Còn về nước hằng sống, chúng ta vừa thấy là nó thường tiêu biểu cho Đức Thánh Linh. Điều này tạo ra một hình ảnh rõ ràng về cách thức theo đó Ba Ngôi Thượng Đế đang cộng tác trong công tác cứu rỗi chúng ta.
VI. CHIẾC ẤN.
Khi tin Chúa, chúng ta được Đức Thánh Linh ấn chứng cho ngày cứu chuộc (Eph Ep 1:13; 4:30;; IICo 2Cr 1:22). Với người Do-thái, chiếc ấn là biểu hiệu người Do-thái, chiếc ấn là biểu hiệu cho việc hoàn tất một việc chuyển nhưỡng trao đổi; và khi đã ngã giá, hành động ấy kết thúc, giá cả đã được thanh toán xong xuôi cả rồi, thì dấu ấn được đóng vào tờ giao kèo để khiến nó trở thành dứt khoát (Gie Gr 32:9-10). Như vậy, Đức Thánh Linh trở thành dấu ấn của Thượng Đế đóng trên chúng ta, là dấu hiệu cho biết đó là tài sản của Thượng Đế. Ngài ban cho chúng ta lời bảo đảm rằng chúng ta đã được cứu, được tuyển chọn cho ngày vinh quang, khi sự cứu chuộc chúng ta trở nên hoàn tất, trọn vẹn.
VII. CỦA TIN (ĐẶT CỌC)
“Anh em tin nhận Chúa Cứu Thế, nên được Thượng Đế ban Thánh Linh vào lòng chứng thực (ấn chứng) anh em là con cái Ngài. Thánh Linh hiện diện trong chúng ta bảo đảm rằng Thượng Đế sẽ ban cho chúng ta mọi điều Ngài hứa” (Eph Ep 1:13-14).
“Thượng Đế cho chúng tôi với anh em đứng vững trong Chúa Cứu Thế, bổ nhiệm chúng tôi truyền giảng Phúc âm. Ngài cũng đóng ấn trên chúng tôi, ban Thánh Linh vào lòng để bảo đảm mọi điều Ngài hứa ban cho chúng tôi” (IICo 2Cr 1:21-22).
Hình ảnh này giúp chúng ta hiểu rằng ân tứ thật sự của Thánh Linh là một lời bảo đảm nghiêm túc, và như của tin đầu tiên bảo đảm cho sự cứu rỗi trọn vẹn, đầy đủ của chúng ta. Nếu chúng ta đã nhận lãnh Đức Thánh Linh rồi, thì giờ ây, chúng ta có thể trông cậy vào điều chắc chắn kỳ diệu đó, và được đầy dẫy niềm vui khi nghĩ đến giờ phút chúng ta sẽ được “đổ đầy mọi sự đầy đủ trọn vẹn của Thượng Đế”.
Để chấm dứt chương sách về các biểu tượng của Đức Thánh Linh này, chúng ta có thể tạ ơn Thượng Đế vì đã giúp chúng ta bằng các hình ảnh này để chúng ta hiểu rõ hơn nhiều chân lý quý báu, và nguyền xin chúng ta hãy cố gắng biến chúng thành sự thật bởi đức tin.


ĐỨC THÁNH LINH TRONG CỰU ƯỚC
I. PHẦN ĐÓNG GÓP CỦA NGÀI TRONG CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO.
Đức Thánh Linh là Thượng Đế, và Ngài là Thần Linh sự sống; Ngài đã góp phần vào công trình sáng tạo vũ trụ này là lẽ tự nhiên, và trong câu 2 của Sáng thế ký chương 1, có chép “Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước”.
Trong phần ký thuật về công cuộc sáng tạo, có lần Ba Ngôi Thượng Đế được đề cập - và gián tiếp ám chỉ Đức Thánh Linh - được tìm thấy trong hai nhóm từ sau đây: 1. Trong SaSt 1:1, từ ngữ “Đức Chúa Trời” trong Hi-văn theo số nhiều, trong khi động từ lại theo số ít. Nguyên văn ngụ ý viết rằng “Ban đầu các Đức Chúa Trời dựng nên”. 2. Trong câu 26 “Chúng ta (số nhiều) hãy làm nên loài người như hình ta”. Đức Chúa Con cũng được bao gồm vào đây trong số nhiều này, và ngoài điều đó ra, chúng ta còn biết Ngài vốn có tham dự công trình sáng tạo (GiGa 1:3, 10; HeDt 1:10 v.v...).
Có nhiều khúc sách nhấn mạnh quyền năng sáng tạo của Đức Thánh Linh: SaSt 2:7 “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người...hà sanh khí (linh) vào lỗ mũi, thì ngừơi trở nên một loài sanh linh”. 6:3 “Thần ta sẽ chẳng ở trong loài người luôn; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi”. Do đó, sự sống là do Đức Thánh Linh dẫn truyền và duy trì. Nhiều bản văn khác xác nhận điều đó, như Thi Tv 104:29, 30 “Chúa lấy hơi thở chúng no lại chúng nó bèn tắt chết...Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên”. Giop G 33:4 “Thần của Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống”. Exe Ed 37:10 “Hơi thở vào trong chúng nó; chúng nó sống”. GiGa 6:63 “Thánh Linh truyền sức sống mới”. IICo 2Cr 3:6 “Văn tự (luật pháp) làm cho chết, nhưng Thánh Linh ban sự sống”. Chúng ta sẽ thấy ngay sau đây là Thánh Linh ban phát sự sống thuộc linh. Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Ngài cũng ban sự sống thuộc thể nữa.
II. CÔNG TÁC CỦA NGÀI TRONG LÒNG NHỮNG CON NGƯỜI THỜI CỰU ƯỚC.
Trước khi Chúa Giê-xu được tôn vinh và trước ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Linh vẫn chưa được đổ xuống trên mọi loài xác thit. “Lúc ấy Thánh Linh chưa giáng xuống vì Chúa Giê-xu chưa được quang vinh” (GiGa 7:39) do đó, trong Cựu ước, công tác của Ngài trong lòng người ta khả hẳn với công tác hiện nay. Nó có những đặc điểm sau:
1. Thánh Linh không được ban cho tất cả mọi người.
Thượng Đế chỉ mặc Thánh Linh Ngài cho những người được Ngài gọi vào một chức vụ đặc biệt như:
Bết-sa-la-ên, để xây dựng đền tạm (XuXh 31:3)
Ốt-ni-ên, Ghê-đê-ôn, Giép-thê, v.v... để làm quan xét (Cac Tl 3:10; 6:34; 11:29)
Đa-vít để làm vua (ISa1Sm 16:13)
Các nhà tiên tri, để viết Kinh Thánh (IPhi 1Pr 1:10-11)
Nhưng đã chẳng hề có câu nào chép rằng mỗi một người Y-sơ-ra-ên đều được nhận lãnh Đức Thánh Linh cho riêng mình. Trái lại, Cựu ước thông báo rằng ân huệ ấy sẽ chỉ ban cho dưới Giao ước Mới mà thôi (xem mục 3).
2. Thánh Linh chỉ được ban cho tạm thời, và có thể bị thu hồi.
Cựu ước nêu ra nhiều thí dụ: Sam-sôn được Thánh Linh cai trị kiểm soát kể từ Cac Tl 13:25, cho đến khi Thượng Đế thu hồi Ngài khỏi ông (Cac Tl 16:20). Sau-lơ cũng được Thần cảm động, nhưng sau đó, đã lìa bỏ ông (ISa1Sm 10:10; 16:4). Ê-xe-chi-ên thì ghi lại rằng Đức Giê-hô-va đã phán bảo ông “Ngài vừa phán cùng ta nhơ vậy, thì Thần vào trong ta, làm cho chơn ta đứng lên” (Exe Ed 2:2). Cùng một cảnh tượng ấy cũng tái diễn trong chương tiếp theo đó, và Thánh Linh lại nhập vào ông một lần nữa (3:24). Do đó, sau lần đầu tiên, Ngài đã không ở lại trong ông luôn, và chúng ta không rõ là đến lần thứ hai, Ngài có ở lại luôn hay không.
Chính vì thế mà sau khi sa ngã, Đa-vít đã cầu xin Thượng Đế chớ thu hồi Thần Linh Ngài khỏi ông (Thi Tv 51:11). Một lời cầu nguyện như thế không thấy có trong Tân ước, vì Đức Thánh Linh hiện sống miên viễn trong chúng ta (GiGa 14:16, 17). Bản tính tạm thời và thậm chí là bất ngờ nữa của việc được nhận lãnh Đức Thánh Linh trong Cựu ước còn được nhấn mạnh bằng câu thường được nhắc đi nhắc lại là “Thần của Đức Giê-hô-va giáng trên Đa-vít (hoặc một ai khác)”. Chẳng hạn câu này đã được nói về Sam-sôn ba lần, nhân cơ hội ông gặp sư tử, tại Ách-kê-lôn và tại Lê-chi (Cac Tl 14:6, 19; 15:14), dường như là trong giai đoạn nằm giữa đó, Thần Linh đã không chiếm hữu ông giống như thế. Sau đây là một thí dụ khác nữa về việc Thần Linh thình lình giáng xuống “Sau-lơ sai người đi bắt Đa-vít...thì Thần của Đức Chúa Trời cảm động họ, họ cụng khởi nói tiên tri” (ISa1Sm 19:20). “Khi ấy có A-ma-sai...được Thánh Linh cảm động mà nói rằng..." ISu1Sb 12:18). “Bấy giừ tại giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên...mà phán rằng” (IISu 2Sb 20:14).
3. Trước thập tự giá và lễ Ngũ tuần, Đức Thánh Linh đã không thể hành động trong lòng người ta như Ngài đang làm hiện nay.
Trước ngày Chúa Cứu Thế chịu chết và được khiến sống lại vì cớ tội nhơn. Thánh Linh không thể khiến họ cùng sống lại với Ngài. Ngài không thể khiến họ trở thành các chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế, vốn chưa hiện hữu; hệ quả là, Ngài cũng không thể nào làm phép báp-tem cho họ để cấu thành một Thân thể (ICo1Cr 12:13), hay sống vĩnh viễn trong lòng họ. Trước khi khiến họ trở thành đền thờ cho Ngài, Thánh Linh phải nhận thấy là lòng họ đã được thanh tẩy khỏi tội lỗi đã. Vì Chúa Cứu Thế vốn vô tội, Ngài là người duy nhất đã được Thánh Linh ngự vào lòng để làm nơi cư trú lần đầu tiên, và nếu Ngài hiện đang sống trong lòng chúng ta, thì ấy là nhờ huyết Chiên Con đã tẩy sạch mọi tội lỗi khỏi chúng ta rồi. Nhưng dưới Giao ước Cũ, sự cứu chuộc các tín hữu vẫn chưa hoàn tất. Đó là lý do khiến chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa đích thực của những nhóm từ sau đây, khi chúng được áp dụng cho những người trong Cựu ước.
Khi thảo luận về sự tái sanh, phép báp-tem sự ngự vào lòng và sự thánh hóa về sau này, chúng ta sẽ có nhiều chứng cứ hiển nhiên hơn nữa về công tác mới mẻ, trọn vẹn mà Đức Thánh Linh đã thực hiện từ sau ngày lễ Ngũ tuần.
“Giô-suê...người có Thần cảm động” (Dan Ds 27:18). “Thánh Linh Chúa Cứu Thế trong lòng họ (các nhà tiên tri)” (IPhi 1Pr 1:11) “Ta đã làm cho người (Bết-sa-lê-ên) đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời” (XuXh 31:3). “Ta đầy dẫy sức mạnh (quyền năng)...bởi Thần của Đức Giê-hô-va” (MiMk 3:8).
Thật ra, Thánh Linh chỉ có thể ngự trong các nhân vật này và thậm chí đầy dẫy họ từng hồi từng lúc mà thôi (như Ê-li-sa-bét và Xa-cha-ri trong LuLc 1:41, 6) và do đó, chỉ hành động phù hợp với Giao ước Cũ mà thôi.
Chẳng có gì để nghi ngờ, đây chính là lý do khiến cho các nhóm từ trên trở thành ngoại lệ trong Cựu ước. Văn bản rất thường tuyên bố rằng Thần Chúa chỉ ngự bên trong một người nào đó mà thôi. “Đức Giê-hô-va lấy Thần cảm người (Môi-se) và ban cho bảy mươi người trưởng lão” (Dan Ds 11:25). “Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Ốt-ni-ên, Giép-thê” (Cac Tl 3:10; 11:29).
Chúng ta vừa vạch rõ rằng trong Cựu ước, Thánh Linh chỉ hành động một cách bất toàn trong lòng những người được Ngài ngự vào. Thế thì, đâu là ý nghĩa của bản văn trong ISam 10:9;, “Sau-lơ vừa xây lưng...Đức Chúa Trời bèn đổi lòng người ra khác”? Chẳng có gì để nghi ngờ là Thượng Đế đã thay đổi lòng ông, nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là Ngài đã tái sanh nó. Kết cuộc thảm hại của Sau-lơ, ấy là vua ấy, đã bị Đức Giê-hô-va từ bỏ, dầu sao cũng chứng minh rằng vua ấy đã không nhận được sự sống đời đời, vốn chẳng bao giờ chấm dứt.
4. Thánh Linh hành động trên toàn dân Y-sơ-ra-ên, nhưng đã không kết hợp họ lại thành một thân thể duy nhất, như Ngài đã làm cho Hội thánh Ngài sau này.
AgKg 2:5 tiết lộ rằng Thánh Linh đã ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên đến một mức độ nào đó. “Lời giao ước mà ta đã lập với các ngươi khi các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô cùng Thần ta ở giữa các ngươi...”
Nê-hê-mi tuyên bố “Chúa cũng ban cho chúng Thần linh lương thiện của Chúa để dạy dỗ cho chúng ...Chúa cậy Thần Linh và các tiên tri của Chúa mà làm chứng nghịch cùng chúng” (NeNe 9:20, 30).
Ê-sai thì tự giải thích cho mình bằng những lời lẽ như sau “Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở thành cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ. Bấy giờ Ngài nhớ lại ngày xưa, về Môi-se và dân sự Ngài mà rằng...Nào Đấng Đã đặt Thần thánh mình giữa dân sự ở đâu?... Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân sự yên nghỉ, như bầy vật xuống nơi trũng” (EsIs 63:10, 11, 14).
Nhưng điều trên đây chẳng hề gây ngạc nhiên gì cho chúng ta cả. Chúng ta đã thấy ở phần đầu chương sách này rằng ngay đến sự sống thuộc thể cũng không thể được tạo dựng hoặc duy trì nếu không có Đức Thánh Linh. Hệ quả là chẳng có gì để chúng ta ngạc nhiên, khi ngay từ thời Cựu ước, Thánh Linh vốn đã có một ảnh hưởng nào đó trên tuyển dân của Ngài. Há chẳng phải Thượng Đế đã phán rằng tất cả những điều đó đã xảy ra, không phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ngài, hay sao? (XaDr 4:6).
Như vậy, rõ ràng là hành động của Thánh Linh trên toàn dân Y-sơ-ra-ên vốn chưa hoàn tất, cũng như công tác của Ngài trong lòng của các cá nhân vậy. Chúa Cứu Thế phải chịu chết” vì tất cả con cái Thượng Đế khắp thế giới sẽ được Ngài quy tụ làm một dân tộc” (GiGa 11:52), trước khi Đức Thánh Linh có thể thật sự được ban cho và có thể quy tụ được một Hội thánh sẽ là một tập thể trở thành Thân thể Chúa Cứu Thế và nơi ngự của Thượng Đế, bởi Thánh Linh Ngài. Tất cả các con cái Y-sơ-ra-ên cũng không làm đẹp lòng Thượng Đế, trong khi Hội Thánh là đền thờ của Đức Thánh Linh, mới là sự họp thành của các cá nhân thật sự được tái sanh.
5. Cuối cùng, quyển tể trị của Đức Thánh Linh đã được chứng minh rõ ràng cho chúng ta trong Cựu ước.
“Gió thổi hướng nào cũng được”. Thánh Linh hành động tùy ý Ngài, và Ngài lợi dụng, chẳng những chỉ các tôi tớ của Thượng Đế mà thôi, nhưng nhiều khi ngay khi cả các kẻ thù Ngài nữa”. Ba-la-am nhướng mắt lên thấy... Thần Đức Chúa Trời cảm động người” (Dan Ds 24:2).
“Sau-lơ sai người đi bắt Đa-vít... thì Thần của Đức Giê-hô-va cảm động họ, họ cũng khởi nói tiên tri... Thần của Đức Chúa Trời cảm động đến phiên người (Sau-lơ)” (Sau-lơ đã bị Thượng Đế từ bỏ, và đích thân đi tìm giết Đa-vít) (ISa1Sm 19:20-23).
Ngày nay cũng vậy, Thánh Linh của Thượng Đế có thể tự đề cao, tự làm rạng danh thông qua bất cứ ai Ngài muốn,. và nếu cần sẽ thúc giục người ta phục vụ cho chủ đích của Ngài.
III. VAI TRÒ CỦA ĐỨC THÁNH LINH TRONG GIAO ƯỚC MỚI NHƯ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ TRONG CỰU ƯỚC.
Tuy quả thật hành động của Đức Thánh Linh trong lòng người ta trước ngày lễ Ngũ tuần vốn chưa đầ đủ trọn vẹn, vai trò của Ngài cho tương lai đã được các nhà tiên tri thông báo thật rõ ràng.
1. Đức Thánh Linh sẽ được đổ xuống trên mọi loài xác thịt và trên nhà Y-sơ-ra-ên (Gio Ge 2:28-29) (EsIs 44:3; Exe Ed 39:29, v.v...)
Do đó, ân tứ của Đức Thánh Linh được gắn chặt với các lời hứa vừa minh nhiên vừa phổ quát, cũng như với các điều kiện chính xác của đức tin và sự vâng lời; nó không còn được dành riêng cho những con người riêng lẽ do độc quyền về chủng tộc nữa. “Vì Chúa hứa ban Thánh Linh cho anh em và dòng dõi, cho cả những người ở xứ lạ được Thượng Đế, Chúa chúng ta, lựa chọn” (Cong Cv 2:39).
2. Thánh Linh được ban cho như thế, sẽ tồn tại miên viễn.
Đức Giê-hô-va phán: Về phần ta, này là giao ước ta đã lập với họ. Thần ta ... cả đến những lời ta đã đặt trong miệng người sẽ chẳng lìa khỏi miệng ngươi, miệng dòng dõi ngươi và miệng của dòng dõi của dòng dõi ngươi, từ bây giờ cho đến đời đời” (EsIs 59:21).
3. Thánh Linh sẽ sống trong lòng người ta để tái sanh và thánh hóa nó.
“Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống” (Exe Ed 37:14). “Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi...Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta” (Exe Ed 36:26, 27).
Từ trước cho đến đó, Thượng Đế phải hạ cố để tự đặt sự hiện diện Ngài trong một đền thờ xây bằng đá; nhưng dưới giao ước mới, Ngài đặt nó ngay trong lòng các tín hữu đã trở nên đền thờ Ngài (ICo1Cr 3:16). (Cựu ước không hề cho biết về công tác của Đức Thánh Linh trong Thân thể Chúa Cứu Thế, vì huyền nhiệm về Hội thánh chỉ được mặc khải cho các sứ đồ của Chúa Cứu Thế mà thôi - Eph Ep 3:4-5).
Ngoài ra, trước kia Thượng Đế chỉ viết luật pháp Ngài trên các bảng bằng đá; chẳng bao lâu nữa, Ngài sẽ đặt luật lệ Ngài trong tâm linh và trong lòng người ta, bởi Đức Thánh Linh.
“Này là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên...Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng” (Gie Gr 31:33).
Phao-lô cũng viết “Ai cũng nhìn nhận anh em là bức thư của Chúa Cứu Thế... viết bằng Thánh Linh của Thượng Đế hằng sống, không viết trên bảng đá, nhưng trên lòng dạ con người” (IICo 2Cr 3:3). Rồi nhờ quyền năng Ngài, con người ta có thể đưa ý chỉ Thượng Đế ra thực hành và được thánh hóa, đươc giải phóng khỏi văn tự chữ nghĩa (của luật pháp) vốn là vật giết người, để được Thánh Linh ban sự sống thay đổi, biến hóa đi (xem IICo 2Cr 3:6).
Tất cả những lời hứa đó đều không thể ứng nghiệm trước khi công lao cứu chuộc của Chúa Cứu Thế được hoàn tất. Chỉ sau khi Chúa Cứu Thế đã chịu đóng đinh, được sống lại và tôn vinh, thì Thánh Linh mới có thể được dốc đổ a và hoàn tất trọn vẹn công tác của Ngài (GiGa 7:39; 16:7), v.v...)
4. Thánh Linh sẽ ngự trên Đấng Mê-si-a là Đấng Trung Bảo của Giao ước Mới.
Phao-lô gọi Giao ước mới là Giao ước của Thánh Linh (IICo 2Cr 3:6). Do đó Đấng Trung Bảo phải chiếm hữu Thánh Linh không chừng mực.
“Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va... Này, đầy tớ ta đây...Ta đã đặt Thần ta trên người, người sẽ tỏ ra sự công bình (phán xét) cho các dân ngoại...Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trị trên ta, vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng Tin Lành cho kẻ khiêm nhường” (EsIs 11:2; 42:1; 61:1).
KẾT LUẬN
Cựu ước đã đề cập Đức Thánh Linh rất rõ ràng, cũng như công tác của Ngài trong quá khứ, hiện tại và tương lai, nghĩa là từ lúc sáng tạo trời đất muôn vật, trong các Giao ước Cũ và Mới. Đức Thánh Linh ban sự sống, làm phép lạ, hành động trong lòng người, lợi dụng họ làm công cụ cho Ngài; tóm lại, đã chẳng có gì được thực hiện mà không có Ngài, và mọi sự sở dĩ đã xảy ra đều do sự giúp đợ của Ngài cả. Lời Thượng Đế đã tóm tắt tất cả mọi điều đó như sau “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (XaDr 4:6).

ĐỨC THÁNH LINH TRONG CÁC SÁCH PHÚC ÂM
Các sách Phúc âm tiêu biểu cho thời kỳ chuyển tiếp trong Kinh điển. Chúa Cứu Thế là Đấng Trung Bảo của Giao ước Mới đã giáng thế. Bằng lời nói và việc làm của mình, Ngài đặt nền móng cho chế độ (dispensatim) tương lai, chỉ bắt đầu sau khi Cứu Chúa chịu đóng đinh vào thập tự giá, sống lại và được tôn vinh. Hội thánh chỉ được thiết lập sau ngày lễ Ngũ tuần, do sự giáng lâm của Đức Thánh Linh. Hệ quả là, trong các sách Phúc âm, lời truyền dạy và các lời hứa nói chung của Chúa Giê-xu về Đức Thánh Linh đều chỉ về Giao ước Mới, trong khi các từng trải mà các nhà tiền khu và các môn đệ Chúa đã thu lượm được vẫn còn thuộc về Giao ước Cũ. Nếu chúng ta cẩn thận ghi nhận điểm khác nhau này, chúng ta sẽ khỏi bị lẫn lộn.
I. CÔNG TÁC CỦA ĐỨC THÁNH LINH TRONG LÒNG NGƯỜI TA, NHƯ ĐÃ ĐƯỢC GHI LẠI TRONG CÁC SÁCH PHÚC ÂM.
Sự việc cũng xảy ra y như trong Cựu ước. Lưu-ca viết lại cho chúng ta nhiều chi tiết nhất liên hệ đến chủ để này. Ông ghi lại lời của vị thiên sứ nói về Giăng Báp-tít “Đứa trẻ sẽ...được đầy dẫy Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ”; chúng ta cũng được biết chính Ê-li-sa-bét và Xa-cha-ri đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh và có thể nói tiên tri về Đấng Mê-si-a (LuLc 1:15, 41, 67). Cuối cùng, Lưu-ca cho chúng ta biết rằng “Si-mê-ôn...là người công chính, mộ đạo... Thánh Linh ngự trong lòng ông, và cho biết ông sẽ được thấy Chúa Cứu Thế trước khi qua đời. Hôm đó, Thánh Linh thúc giục vào đền thờ...” (2:25-27). Các lời lẽ mà chúng ta từng gặp trong chương sách của chúng ta đề cập công tác mà những người thuộc về thời Cựu ước đã có rồi. Nhưng chúng ta hãy còn cách một khoảng xa mới có thể đến được với công tác trọn vẹn mà Thánh Linh thực hiện kể từ ngày lễ Ngũ tuẩn trở đi. Chính Chúa Giê-hô-va tuyên bố “Trong Nước Trời, người nhỏ nhất còn lớn hơn Giăng” (Mat Mt 11:11).
Trong các sách Phúc âm, Chúa nói về ân tứ mà chẳng bao lâu nữa Thánh Linh sẽ ban cho từng người tín hữu một, theo thì tương lai. Xin cem LuLc 11:13. Từ trước cho đến đó, Thánh Linh chỉ được ban xuống trên những công cụ đặc biệt chọn lọc; kể từ ngày Chúa Cứu Thế giáng lâm, tất cả những ai cầu xin ân phúc và sự hiện diện của Thượng Đế, đều sẽ nhận được. Thượng Đế tự bày tỏ mình ra nơi Chúa Cứu Thế với tư cách một Đức Chúa Cha, vốn có tình yêu thương vô cùng cao cả hơn tình yêu thương của những người cha là người phàm; với tất cả những ai đến với Ngài như một đứa con, Ngài đều sẽ ban cho tất cả những điều gì là tốt lành nhất (Mat Mt 7:11) và ân tứ không có lời lẽ nào mô tả được của Ngài, là Thánh Linh Ngài.
II. CÁC MÔN ĐỆ CHÚA ĐÃ ĐƯỢC TỪNG TRẢI GÌ TRONG NGÀY NGÀI PHỤC SINH?
Theo GiGa 20:19-23, vào ngày Chúa Giê-xu sống lại, Ngài đã đến đứng giữa các môn đệ mình, hà hơi trên họ và bảo “Hãy nhận lấy Đức Thánh Linh” như chúng ta vừa nói ở phân đoạn ngay trên đây nếu chỉ đến ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Linh mới được đổ xuống đầy dẫy, thì lúc ấy, các môn đệ Chúa đã nhận được gì? Phải chăng Giao ước Mới đã bắt đầu cho họ ngay trong ngày Chúa Phục sinh? Nói khác đi, phải chăng họ đã nhận được ân tứ trọn vẹn là Thánh Linh trong ngày ấy, với ngoại lệ là không có phép báp-tem bằng Thánh Linh, mà họ chỉ được từng trải trong ngày lễ Ngũ tuần? Tôi không nghĩ như vậy.
Theo thiển ý, thì dường như họ chỉ nhận được Thánh Linh đến một chừng mực nào đó mà thôi trong buổi chiều tối ngày Chúa phục sinh, nhưng từng trải ấy không hề vi phạm các ranh giới của Giao ước Cũ, mặc dầu có những lời hứa và mạng lịnh kèm theo đó (chúng tôi đã chứng minh đầy đủ thế nào, trong khung cảnh ấy, Thánh Linh chỉ hành động một cách bất toàn, tuy thật ra cũng bằng quyền tể trị và theo nhiều cách khác nhau của Ngài). Bằng việc hà hơi trên các môn đệ Ngài, Chúa Giê-xu đã ban cho họ theo một chừng mực nào đó, một biểu hiệu về cái ân tứ thật sự mà họ có thể nhận được không đầy đủ trước ngày lễ Ngũ tuần, là lúc họ đã bước vào chế độ (Dispensation) Mới. Đây chỉ là sự ứng nghiệm một phần, có tính cách tiên tri, về lời hứa quan trọng về Thánh Linh Sau đây là một vài bằng chứng:
1. Trước hết, xin chúng ta lưu ý là trước ngày Chúa sống lại, các môn đệ Ngài vẫn chưa có sự sống của Thánh Linh.
Trong bài thuyết giảng tại Phòng Cao của Ngài, Chúa Giê-xu đã không ngừng nói chuyện với họ theo thì tương lai. “Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An Ủi khác... Thần Chân lý... sẽ ở trong các con...Khi Ngài đến, Ngài sẽ chứng tỏ cho nhân loại biết họ lầm lạc trong tội lỗi... Ngài sẽ dạy cho các con...” (GiGa 14:16-17; 16:8, 13,v.v...)
2. Thánh Linh không thể được đổ xuống trước khi Chúa Giê-xu được quang vinh.
Lẽ dĩ nhiên là ngay lúc Chúa phục sinh “Thánh Linh chưa giáng xuống, vì Chúa Giê-xu chưa được quang vinh” (GiGa 7:34). Chỉ sau khi được tôn cao bên tay phải Thượng Đế, Ngài mới nhận được Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Cha đã hứa để Ngài đổ xuống (Cong Cv 2:33). Mặt khác, để các tín hữu có thể có được từng trải trọn vẹn của một Cơ-đốc nhân, điều cần thiết là chẳng những họ phải được khiến cùng sống lại với Chúa Cứu Thế, mà họ còn phải cùng ngồi với Ngài tại các nơi trên trời nữa, và cũng được vinh hiển với Ngài (Eph Ep 2:6; RoRm 8:30). Điều này không thể nào có được trứơc ngày Cứu Chúa Giê-xu thăng thiên.
3. Trong ngày Chúa Giê-xu sống lại, Ngài vẫn chưa lìa khỏi các môn đệ Ngài.
Ngài đã tuyên bố “Ta đi là ích lợi cho các con. Nếu ta không đi, Đấng An ủi sẽ không đến với các con. Khi ta đi, ta sẽ sai Ngài đến” (GiGa 16:7). Vì trong ngày Phục sinh, Ngài vẫn chưa rời khỏi các môn đệ, lúc ấy, Ngài vẫn chưa có thể làm ứng nghiệm lời hứa của mình.
4. Bốn mươi ngày sau, vào hôm thăng thiên, Chúa Giê-xu lại khuyến giục các môn đệ Ngài hãy chờ đợi lời hứa của Đức Chúa Cha mà Ngài từng đề cập (Cong Cv 1:4).
Chúng ta đã thấy điều Đức Chúa Cha đã hứa liên hệ đến Thánh Linh trong Giao ước Mới rằng Ngài sẽ được ban cho tất cả mọi người miên viễn, Ngài sẽ sống trong lòng người ta để tái sanh và thánh hóa họ. Chính Chúa Giê-xu cũng từng thông báo cùng một việc giống như thế (GiGa 14:16-17). Như vậy, rõ ràng là các lời hứa ấy chỉ có thể ứng nghiệm vào lễ Ngũ tuần. Trong ngày thăng thiên, Chúa Giê-xu còn nói thêm"Khi Đức Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng” (Cong Cv 1:8). Do đó, các môn đệ Chúa vẫn chưa nhận được Thánh Linh, theo như cách Ngài muốn cho họ.
5. Theo 1:5, các môn đệ Chúa vẫn chưa chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh trước lễ Ngũ tuần.
Như chúng ta sẽ thấy về sau, phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh là hành động bởi đó Thượng Đế đặt người tín hữu vào trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, để khiến người ấy trở thành một chi thể của thân thể Ngài (ICo1Cr 12:13). Hệ quả là, trước khi có từng trải ấy, các môn đệ Chúa vẫn chưa nhận được “ở trong Chúa Cứu Thế” và vẫn chưa nhận được phần bản tính mới (vì một người phải “ở trong Chúa Cứu Thế” thì mới trở thành “một con người mới” IICo 2Cr 5:17). Do đó, họ vẫn chưa vượt qua nhưỡng cửa đích thực của Giao ước Mới trước ngày lễ Ngũ tuần.
6. Vì Thân thể Chúa Cứu Thế vẫn chưa thành hình, các môn đệ Ngài không thể nhận được sự sống từ Ngài - là cái Đầu (Eph Ep 4:16).
Họ vẫn chưa “ở trong Chúa Cứu Thế” mà cả Chúa Cứu Thế cũng vẫn chưa “ở trong họ” nữa.
7. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng các môn đệ Chúa thuộc về cả hai chế độ. Tuy họ đã nhận được Thánh Linh đến một mức độ nào đó trước khi nhận được phép báp-tem vào ngày lễ Ngũ tuần, từng trải của họ không thể là tiêu chuẩn cho chúng ta bất luận về phương diện nào. Điều vốn là phần giải thích của chúng ta cho GiGa 20:22 cũng không hề cho phép chúng ta nói rằng “Các môn đệ Chúa trước hết phải nhận lãnh Thánh Linh đã”, rồi năm mươi lăm ngày sau đó, họ mới được “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” do đó, cả chúng ta nữa, cũng phải tìm cầu để được nhận lạnh Thánh Linh về sau, sau khi đã nhận được Thánh Linh lúc chúng ta được tái sanh”. Lẽ dĩ nhiên là chẳng hề có ai trong chúng ta lại thuộc về Giao ước Cũ, nên chúng ta chỉ phải bám chặt lấy lời truyền dạy liên hệ với Chế độ Mới mà thôi (Chúng tôi sẽ trở lại với chủ đề này trong chương sách về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh).

CÔNG TÁC CỦA ĐỨC THÁNH LINH TRONG CHÚA CỨU THẾ GIÊ-XU.
Chúa Cứu Thế Giê-xu vốn được Đức Thánh Linh hỗ trợ suốt cuộc đời tại thế của Ngài.
I. CHÚA CỨU THẾ ĐƯỢC SANH RA BỞI THÁNH LINH
Thiên sứ Gáp-ri-ên đã thông báo với bà Ma-ri rằng Con Trai mà bà sắp sanh ra sẽ được thai dựng bởi Đức Thánh Linh (Mat Mt 1:20). Chính vì thế mà Ngài vừa là Người mà đồng thời cũng vừa là Thượng Đế nữa. Không có chân lý này, Phúc âm sẽ sụp đổ, vì cả nhơn tánh lẫn thần tánh của Ngài đều cần thiết như nhau cho sự cứu rỗi chúng ta.
II. NGÀI ĐÃ ĐƯỢC ĐỨC THÁNH LINH XỨC DẦU
Chính Chúa Cứu Thế đã tuyên bố “Con Thượng Đế không thể tự mình làm việc gì, nhưng chỉ làm những việc Con thấy Cha làm” (GiGa 5:19). Do đó, Ngài vốn được xức dầu bằng Thánh Linh, vì cớ chức vụ mà Ngài đã phải đảm nhận.
Chúa Giê-xu khẳng định điều này trong một câu trích dẫn Ê-sai “Thánh Linh Chúa ngự trên tôi, Ngài uỷ nhiệm tôi truyền giảng Phúc âm cho người nghèo” (LuLc 4:18). Điểm này còn được Cong Cv 10:38 xác nhận “Thượng Đế đã cho Chúa Giê-xu người Na-xa-rét đầy dẫy Thánh Linh và quyền năng. Chúa đi khắp nơi làm việc thiện...vì Thượng Đế ở với Ngài”.
Như chúng ta đã thấy trước đây, Cữu ước thông báo rõ ràng rằng Đấng Mê-si-a sẽ mặc lấy Đức Thánh Linh. Các thầy tế lễ và các nhà vua đều được xức dầu (LeLv 8:12, và ISa1Sm 16:12-13) và sự kiện này chỉ bóng về Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Vua các vua, và là Thầy Tế lễ tối cao của Giao ước Mới, sẽ được xức dầu bằng Đức Thánh Linh. Những lời tiên tri còn rõ ràng hơn nữa được tìm thấy trong sách Ê-sai “Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai...Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va” (EsIs 11:1, 2). “Này đầy tớ ta đây...là kẻ ta lựa chọn đã đặt Thần ta trên người” (EsIs 42:1 - xem lại EsIs 61:1 vừa được trích dẫn). Cuối cùng, đây là điều đã được nói lên trong Thi Tv 45:7 được trích dẫn trong HeDt 1:9 “Nên Thượng Đế ban (xức) cho Chúa sự (dầu) vui mừng trổi hơn bạn hữu). Và Thi 2:6; “Dầu vậy ta sẽ lập (xức dầu cho) Vua trên Si-ôn là núi thánh ta”.
III. NGÀI ĐÃ ĐƯỢC ĐỨC THÁNH LINH ẤN CHỨNG
Khi đề cập Con Người, Chúa Giê-xu tuyên bố “Vì ấy là Con, mà Cha đã ghi ấn tín của mình” (GiGa 6:27, bản dịch vụ). Ấn chứng trên Ngài là dấu hiệu về nguồn gốc từ trời của Ngài và là chứng cứ về địa vị Con Thượng Đế của Ngài.
IV. THÁNH LINH SỐNG TRONG NGÀI.
Khi nói về thân thể Ngài, Chúa Giê-xu phán “Cứ phá Đền thờ này đi, trong ba ngày tôi sẽ xây lại” (GiGa 2:19). Chắc chắn là Ngài ngụ ý bảo rằng Ngài chính là đền thờ của Đức Thánh Linh, cũng nhơ bởi đức tin, người tín hữu cũng trở thành đền thờ Ngài. Ngoài ra Kinh Thánh cũng chép rằng lúc Ngài chịu báp-tem, Thánh Linh cũng đã giáng xuống đậu trên Ngài (GiGa 1:33). Ở đây, chúng tôi không tìm cách giải quyết vấn đề Thánh Linh đã ở trong Chúa Cứu Thế đến mức độ nào trước khi Ngài chịu báo-tem tại sông Giô-đanh. Vì Ngài chẳng cần gì phải được tái sanh chắc chắn là Ngài vốn đã có sẵn Đức Thánh Linh rồi. Lúc Ngài bắt đầu chức vụ, Thánh Linh đã đến trên Ngài cách dứt khoát hơn, để Ngài có thể chu toàn nhiệm vụ. Dầu sao, Thánh Linh vốn sống trong Ngài và với Ngài. Đó chính là điều mà Chúa Cứu Thế Giê-xu ngụ ý muốn nói khi Ngài tuyên bố nhiều lần rằng Đức Chúa Cha ở trong Ngài (GiGa 10:38; 14:11). Linh của Thượng Đế ở trong Ngài, cũng như Ngài ở trong lòng chúng ta vậy (Eph Ep 2:22) “Anh em được Thánh Linh kết hợp với nhau thành Ngôi Nhà của Thượng Đế")
V. CHÚA CƯÚ THẾ ĐƯỢC ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH
Theo GiGa 3:34, Thượng Đế không hề ban Thánh Linh cho Ngài theo giới hạn, và chúng ta đọc thấy trong LuLc 4:1 là Chúa Giê-xu từ sông Giô-đanh trở về, được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Vì chẳng hề có tội lỗi nào phân cách Ngài với Cha Ngài, và toàn thể ý chỉ của Chúa Cứu Thế đều thuận phục Cha Ngài, nên hiển nhiên là Thánh Linh luôn luôn đầy dẫy Ngài thật trọn vẹn.
VI. NGÀI ĐƯỢC MẶC LẤY QUYỀN PHÉP THÁNH LINH
Chính Chúa Giê-xu đã phán rằng hậu quả của việc đầy dẫy Thánh Linh, là những sông nước hằng sống sẽ từ đó tuôn trào ra (GiGa 7:38) và quyền năng ấy được bộc lộ ra ngoài. Chính là theo cách đó mà Cứu Chúa, nhờ được mặc lấy quyền phép làm tròn chức vụ của Ngài. Ngài đã được xức dầu bằng Đức Thánh Linh và quyền năng (Cong Cv 10:38), và chính nhờ quyền năng ấy mà Ngài hoặc tất mọi việc Ngài làm trên đất này. Thí dụ, Ngài công nhiên tuyên bố rằng ấy là nhờ Thánh Linh mà Ngài đuổi quỉ (Mat Mt 12:28) và thêm rằng Đức Chúa Cha ngự trong Ngài đang làm việc (GiGa 14:10). Ngài cũng truyền lệnh cho các môn đệ mình qua tung gian Đức Thánh Linh (Cong Cv 1:2).
Nhưng khẳng định ấy điều hòan toàn có ý nghĩa nếu chúng ta nhớ rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng có đầy đủ quyền phép và cả vũ trụ này đều do quyền sáng tạo của Ngài mà có (GiGa 1:3, 10).
VII. NGÀI ĐƯỢC THÁNH LINH HƯỚNG DẪN.
“Chúa Giê-xu...được Thánh Linh đưa vào sa mạc... cho Sa-tan cám dỗ trong bốn mươi ngày” (LuLc 4:1, 2). Sự hướng dẫn này của Đức Thánh Linh hiển nhiên có tính cách thường xuyên suốt cuộc đời Ngài, và sự vâng lời của Đức Chúa Con đối với Đức Chúa Cha đó đã cho phép Ngài nói “Đấng sai tôi vẫn ở với tôi, không bao giờ để tôi cô đơn vì tôi luôn luôn làm vui lòng Ngài” (GiGa 8:29). Chẳng cần chi phải đi sâu vào văn bản, chúng ta vẫn có thể nói rằng Chúa Giê-xu không ngừng được Đức Thánh Linh dạy dỗ và dẫn dắt Ngài vào mọi chân lý”. Tôi không tự ý làm việc gì, nhưng chỉ nói những điều Cha tôi đã dạy” (GiGa 8:28). Chính nhằm vào cứu cách trước mắt ấy, mà Thượng Đế đã khiến cho Thần khôn ngoanvà thông sáng, thần ưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va ngự trên Ngài (EsIs 11:2).
VIII. TRÁI THÁNH LINH RẤT DỒI DÀO TRONG CHÚA CỨU THẾ
“Nếp sống do Thánh Linh dìu dắt sẽ kết quả yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lương, thành tín, hòa nhã, tự chủ” (GaGl 5:22). Tất cả các đức hạnh ấy chỉ một mình Chúa Cứu Thế Giê-xu có được đầy đủ, trọn vẹn mà thôi. Nhưng quyền năng của Thánh Linh vốn có phần trong sự kiện ấy, vì Kinh Thánh chép chẳng hạn “Lúc ấy, Chúa Giê-xu tràn ngập niềm vui của Thánh Linh. Ngài cầu nguyện: Thưa Cha, Con tạ ân Cha...” (LuLc 10:21). Chính vì lý do ấy mà chẳng những niềm vui của Ngài, nhưng cả sự bình an, tình yêu thương, sự nhẫn nại của Ngài vẫn là hoàn toàn trọn vẹn, ngay cả giữa sự thống khổ khủng khiếp nhất.
IX. CHÍNH NHỜ THÁNH LINH MÀ NGÀI TỰ DÂNG MÌNH LÀM SINH TẾ
Sự hỗ trợ của Đức Thánh Linh rất cần thiết cho Ngài trong việc Ngài tự nguyện hạ mình xuống “Chúa Cứu Thế đã nhờ Thánh Linh hiến dâng thân Ngài làm sinh tế hoàn toàn cho Thượng Đế” (HeDt 9:14)
X. CUỐI CÙNG THÁNH LINH ĐÃ KHIẾN CHÚA CỨU THẾ SỐNG LẠI
Cũng chính Đức Thánh Linh đã khiến Chúa Cứu Thế sống lại khỏi mồ mả. “(Thánh Linh của) Thượng Đế đã làm cho Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết, nên một khi Thánh Linh Ngài sống trong anh em, Thượng Đế cũng sẽ khiến thi thể của anh em sống lại, do quyền năng Thánh Linh” (RoRm 8:11). Ý nghĩa của câu này thật là rõ ràng: Thánh Linh của Thượng Đế đã sống trong Chúa Cứu Thế và khiến Ngài sống lại; nếu cùng một Thánh Linh ấy cũng sống trong bạn, thì Ngài cũng sẽ khiến bạn sống lại nữa. Cuối cùng xin xem RoRm 1:4 và ITi1Tm 3:16. Bởi sự sống lại của Ngài, Chúa Cứu Thế đã được công bố là Con Thượng Đế, bằng quyền năng của Đức Thành Linh thánh khiết đã xưng Ngài là công chính trước mắt mọi người.
KẾT LUẬN
Ngay trước khi Chúa Cứu Thế ra đời và mãi sau khi Ngài đã qua đời, nói khác đi là suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ tại thế, Chúa Giê-xu đã chọn việc phải cần đến sự hỗ trợ và quyền phép của Đức Thánh Linh. Từ sự kiện này, chúng ta có thể rút ra hai kết luận thiết yếu:
1. Trong Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là Thượng Đế giáng trần, Ngài cũng hoàn toàn là một con người chẳng “tự mình làm được việc gì” cả.
2. Con hằng sống của Thượng Đế, hoàn toàn bình đẳng với Ngài về tính cách vĩ đại, đã chọn không hề làm việc gì mà không nhờ vào sự hỗ trợ của Thánh Linh, dầu chỉ trong một ngày mà thôi. Vậy làm thế nào, chúng ta vốn là những con người tội lỗi, bất năng bất lực lại mong sống cuộc đời làm Cơ-đốc nhân mà thiếu sự hiện diện và sự đầy dẫy của cùng một Thánh Linh ấy? Nguyện Thượng Đế gìn giữ chúng ta để khỏi có sự tự phụ ấy! Lẽ dĩ nhiên, Chúa Cứu Thế đã được Đức Thánh Linh sanh ra; Ngài đã được xức dầu, được ấn chứng bằng chính Đức Thánh Linh đang sống trong Ngài và đầy dẫy Ngài; trái Thánh Linh có rất dồi dào trong Ngài; Ngài được mặc lấy quyền năng Thánh Linh và được Thánh Linh hướng dẫn. Cuối cùng, chính bởi Thánh Linh mà Ngài đã tự hiến thân làm một sinh tế, và đã được khiến sống lại. Tất cả các từng trải này, chúng ta đều có thể có được và phải tự hiến chúng thành của riêng, theo mức độ Thượng Đế đã chỉ cho chúng ta, bằng không, chúng ta sẽ không thể là những Cơ-đốc nhân chân chính được “Ai nói mình thuộc về Chúa, phải sống giống như Ngài” (IGi1Ga 2:6).
Chúng ta phải được tái sanh bởi Đức Thánh Linh, và được Ngài xức dầu, ấn chứng cho. Ngài muốn sống trong chúng ta, đẩy dẫy chúng ta, và mặc cho chúng ta quyền năng Ngài, kết quả trong chúng ta và hướng dẫn chúng từng bước một. Cũng nhờ Ngài, chúng ta phải tự dâng mình lên làm một sinh tế, sẽ là một sự phục vụ phải lẽ về phía chúng ta, và cuối cùng, cũng nhờ Ngài mà chúng ta sẽ được khiến từ chết sống lại. Chúng ta đã suy nghĩ về những điều ấy chưa, và chúng đã trở thành hiện thực cho đời sống chúng ta chưa? Đây là một vấn đề liên quan đến sự cứu rỗi vĩnh hằng của chúng ta.
(Cần lưu ý Kinh điển chẳng bao giờ dạy rằng Chúa Giê-xu đã chịu phép báp-tem bằng Thánh Lin, Đấng mà Ngài được mặc lấy và đổ đầy dẫy. Vì phép báp-tem bằng Thánh Linh nhằm đầy dẫy. Vì phép báp-tem bằng Thánh Linh nhằm mục đích khiến chúng ta trở thành các chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế như chúng ta sẽ thấy sau này trong ICo1Cr 12:13, thì rõ ràng là Cứu Chúa đã không hề cần đến, và không thể tự gắn mình vào với chính Thân thể mình).

ĐỨC THÁNH LINH VỚI VIỆC LINH CẢM KINH THÁNH
Kinh điển khẳng định rõ ràng rằng các quyển sách thánh không phải vốn do người ta soạn thảo theo các ý tưởng mà họ tự nghĩ ra. Các trước giả những sách ấy đều được Đức Thánh Linh linh cảm và hướng dẫn, vì chính Ngài mới là Đấng duy nhất có thể thấu triệt và tiết lộ những điều sâu nhiệm của Thượng Đế (ICo1Cr 2:9-11), cho nên các văn phẩm của họ mới cung ứng cho chúng ta đầy ủ sự bảo đảm mong muốn.
“Vì không có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh do các tiên tri tự nghĩ ra, nhưng chính Chúa Thánh Linh đã cảm ứng họ nói ra lời của Thượng Đế” (IIPhi 2Pr 1:20, 21). “Các nhà tiên tri ngày xưa khi viết về công cuộc cứu rỗi, đã tìm tòi suy xét rất kỹ. Thánh Linh Chúa Cứu Thế trong lòng họ đã bảo họ viết trước những việc tương lai, như sự khổ nạn, hy sinh và sống lại vinh quang của Chúa Cứu Thế” (IPhi 1Pr 1:10-11).
Chúng ta cũng thấy trong Cựu ước những câu khẳng định như vậy:
“Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta” (IISa 2Sm 23:2).
Và toàn thể các nhà tiên tri, từ Môi-se đến Ma-la-chi, đều tuyên bố “Đức Giê-hô-va phán”, “Đức Giê-hô-va phán vậy” hoặc “Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy...” Nếu không có Thánh Linh, các vị ấy chắc đã không có được một mặc khải nào cả.
Chúa Cứu Thế cũng bảo là Đa-vít “được Thánh Linh cảm hứng” (Mat Mt 22:43), còn Tân ước thì nói về Cựu ước như sau:
“Lời Thánh Linh phải được ứng nghiệm. Trong một bài thơ của Đa-vít Thánh Linh đã báo trước...” (Cong Cv 1:16) “Lạy Chúa...Thánh Linh Chúa đã phán qua môi miệng Đa-vít...là đầy tớ Ngài:...” (Cong Cv 4:24-25). “Quả đúng như lời Thánh Linh đã dùng tiên tri Êsai phán dạy...” (Cong Cv 28:25). “Thánh Linh dùng những điều này để dạy chúng ta: nếu Giao ước Cũ vẫn còn thì nhân dân chưa được vào nơi Chí thánh” (HeDt 9:8).
Chúa Giê-xu công nhiên nhấn mạnh rằng cả Tân lẫn Cựu ước đều do Thánh Linh linh cảm.
“Đấng An ủi... sẽ dạy dỗ các con mọi điều, nhắc các con nhớ mọi lời ta nói” (GiGa 14:28). “Ngài sẽ dạy các con biết chân lý toàn diện... truyền lại những điều Ngài đã nghe và báo cho các con biết những việc tương lai” (GiGa 16:13 - mà Chúa Giê-xu chưa tiết lộ cho các môn đệ Ngài, vì họ chưa được chuẩn bị đầy đủ, và chúng ta sẽ tìm thấy trong phần còn lại của Tân ước).
Ngoài ra, Phao-lô tuyên bố rằng chính ông cũng nhưc ác sứ đồ và các nhà tiên tri khác của Giao ước Mới, đều được mặc khải về mọi mưu định của Thượng Đế “Thượng Đế đã nhờ Thánh Linh tiết lộ cho chúng ta (mọi sự)” (ICo1Cr 2:10). Sự huyền nhiệm của Chúa Cứu Thế” ngày nay, Ngài nhờ Thánh Linh tiết lộ cho các sứ đồ và tiên tri Ngài” (Eph Ep 2:5) “Chúa Thánh Linh đã dạy rõ ràng trong thời kỳ cuối cùng một số người sẽ bỏ đức tin” (ITi1Tm 4:1).
Phúc âm “ngày nay...được hiển lộ và công bố cho tất cả các dân tộc theo lệnh Thượng Đế hằng sống, như Kinh Thánh đã báo trước” (RoRm 16:26). Do đó, toàn thể các văn phẩm ấy đều đã được Thượng Đế linh cảm.
Vì chúng đều được linh cảm, chúng ta hãy tiếp cận các văn phẩm trong Kinh điển với trọn vẹn lòng tôn kính, và cẩn thận không phạm tội vì không tin Đức Thánh Linh, vốn là chính Tác Giả bộ sách ấy.
Nhưng người ta có thể thắc mắc đặt vấn đề, phải chăng Thánh Linh đã linh cảm cho tất cả các khúc sách trong Kinh Thánh? Vâng, bởi vì “Cả Kinh Thánh đều được Thượng Đế cảm ứng, có ích cho việc dạy dỗ...” (IITi 2Tm 3:16). Chính vì thề mà việc cất đi hay thêm bất cứ điều gì vào đó, đều bị nghiêm cấm triệt để, nếu không, hình phát dành cho việc làm ấy là bị mất phần về cây sự sống (KhKh 22:18-19). (Điều này không bao gồm sự kiện sự mặc khải của Kinh Thánh có tính cách tiệm tiến, và trong Tân ước Thánh Linh phán minh nhiên và đầy đủ hơn trong Cựu ước rất nhiều chẳng hạn).
Thánh Linh chỉ linh cảm đại ý, hay Ngài đã hướng dẫn các trước giả cả trong việc chọn lựa các lời lẽ, từ ngữ cần sử dụng nữa? Chúng ta thật khó nói cho chính xác hơn là chính Kinh điển. Nhưng trong ICo1Cr 2:12-13, Phao-lô tuyên bố “Chúng tôi không dùng từ ngữ triết học, nhưng dùng từ ngữ của Thánh Linh giải thích điều thuộc linh bằng ngôn ngữ thuộc linh”. Vì mỗi ý niệm đều được diễn tả bằng lời lẽ, văn tự, thật là khó tưởng tượng nỗi một ý niệm, theo một cách thế nào đó, lại không khoác vào phần hình thức mà chân lý ấy cần phải được diễn tả. Lẽ tự nhiên, điều này phải được áp dụng cho nguyên văn. Phải chăng điều này ngụ ý bảo rằng sự mặc khải của Thượng Đế đã gạt qua một bên nhân cách của các trước giả các sách thánh? Chắc chắn là không, như chúng ta có thể nhận ra ngay qua bút pháp của các văn phẩm, cả đến tính khí của vua Đa-vít, Phao-lô, Giăng và nhiều trước giả khác. Trái lại, Thánh Linh đã khai triển nhân cách của các vị trong khi vẫn tôn trọng nó, và hướng dẫn đề các vị đều thấu triệt chân lý toàn diện.
Chính Đức Thánh Linh đã hướng dẫn các trươc giả sách thánh, cũng là Đấng hướng dẫn, chỉ dạy cho người lấy lòng chân thành tìm đọc Kinh điển. Ngài dạy cho người ấy mọi điều và dẫn người ấy đến chỗ thấu triệt chân lý toàn diện, nghĩa là Ngài giải nghĩa từng chữ, từng lời theo đúng với chân lý (GiGa 14:26; 16:13; 17:17). Chúng ta sẽ rở lại điểm đặc biệt này khi nghiên cứu về công tác dạy dỗ của Đức Thánh Linh. Nhưng ở đây, chúng tôi phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Vì Thánh Linh chính là Tác giả bộ sách ấy, chúng ta sẽ làm buồn lòng Ngài biết bao, nếu chúng ta lơ là, bỏ qua các kho tàng về sự khôn ngoan và năng lực mà Ngài muốn ban phát cho chúng ta thông qua Lời Thánh Ngài! Nếu muốn cho quyền năng Ngài hiển lộ một cách mới mẻ giữa chúng ta, thì điều quan trọng hàng đầu là bức thông điệp Ngài gởi đến cho chúng ta phải tìm lại được địa vị xứng đáng dành cho nó. Chừng đó, chúng ta mới có thể nhờ gươm của Thánh Linh, là Lời Thượng Đế, đánh đuổi kẻ thù của mình được (Eph Ep 6:7).


CHẾ ĐỘ CỦA ĐỨC THÁNH LINH
Sứ đồ Phao-lô, khi đối chiếu Giao ước Cũ lập nền trên luật pháp, với Giao ước Mới, lập nền trên ân phúc của Phúc âm, đã nói như thế này: “Ngài (Thượng Đế)...cho chúng tôi khả năng đảm nhiệm công vụ của Giao ước Mới, không phải giao ước bằng văn tự, nhưng bằng Thánh Linh. Văn tự làm cho chết, nhưng Thánh Linh ban sự sống. Nếu công vụ tuyên cáo sự chết bằng văn tự khắc trên bảng đá được thực hiện cách vinh quang...hẳn công vụ của Thánh Linh truyền sự sống phải vô cùng rực rỡ hơn” (IICo 2Cr 3:6-8). Do đó, trong thời hiện đại và kể từ sau ngày lễ Ngũ tuần, chúng ta đều được sống dưới chế độ (dispensation) của Đức Thánh Linh.
I. THÁNH LINH GIẢI PHÓNG NGƯỜI TÍN HỮU KHỎI LUẬT PHÁP CỦA TỘI LỖI VÀ BAN CHO NGƯỜI ẤY QUYỀN NĂNG ĐỂ SỐNG.
Luật pháp chỉ tiết lộ ý chỉ của Thượng Đế cho người ta, mà không cung ứng cho họ một sức mạnh, một năng lực nào để đem nó ra thực hành cả. Trái lại, nó kết án tử hình người ta, vì biết rõ mình đã thất bại, không giữ nỗi mọi chi tiết mà luật pháp đã nêu ra, cho nên mình phải gánh chịu sự nguyền rủa mà Phao-lô mới gọi luật pháp là “công vụ tuyên cáo sự chết”. Mặt khác, Thánh Linh tái sanh tội nhân đang chết trong tội lỗi và sự quá phạm của mình, và giải ph1ong họ khỏi luật pháp của tội lỗi bằng cách ban cho người ấy năng lực để sống (RoRm 8:2).
II. THÁNH LINH ĐẶT (KHẮC) LUẬT PHÁP THƯỢNG ĐẾ TRONG LÒNG NGƯỜI TÍN HỮU
Theo nhiều quan điểm, Giao ước Cũ có tính cách vật chất và xác thịt; về vấn đề này, chúng ta thấy có một câu đầ cập ở HeDt 7:16. Ving quang của Thượng Đế ngự trong một đền thờ bằng đá, và luật pháp Ngài được khắc trên các bản đá. Nhưng giờ đây, thông qua Thánh Linh, Ngài đang ngự trong lòng mọi tín hữu và đặt luật pháp Ngài trong họ “Anh em là bức thư của Chúa Cứu Thế; Ngài dùng chúng tôi viết ra, không viết bằng mực nhưng bằng Thánh Linh của Thượng Đế hằng sống, không viết trên bảng đá, nhưng trên lòng dạ con người” (ICo1Cr 3:16; IICo 2Cr 3:3).
III. THÁNH LINH LÀM PHÉP CẮT BÌ CHO TẤM LÒNG
Trong Giao ước Cũ, một người thuộc về Thượng Đế được đánh dấu bằng phép cắt bì trên xác thịt; trong Giao ước Mới, bằng pháp cắt bì trong lòng, nghĩa là bằng sự tái sanh mà Thánh Linh thực hiện”. Lễ cắt bì chỉ theo nghi thức không phải lễ cắt bì chân chính...lễ cắt bì thật là sự đổi mới tâm hồi do Thánh Linh, không phải chỉ theo lễ nghi luật pháp” (RoRm 2:28, 29). “Vì...thờ phượng Thượng Đế bởi Thánh Linh mới đúng ý nghĩa của thánh lễ cắt bì” (Phi Pl 3:3).
IV. CHỨC VỤ CỦA ĐỨC THÁNH LINH CÓ CƠ SỞ LÀ CÔNG TÁC CỦA CHÚA CỨU THẾ
Rõ ràng là toàn thể công tác của Đức Thánh Linh đều đặt trên cơ sở là công tác của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Thánh Linh tìm cách tôn vinh Ngài (GiGa 16:13-14). Để chúng ta có thể bước đi trong Thánh Linh”, và vì cớ tội lỗi, Thượng Đế đã sai chính Con Ngài thành nhục thể y như một con người tội lỗi vậy (RoRm 8:3, 4). Bởi sự chết của Ngài trên thập tự giá, Chúa Cứu Thế đã cất hết tội lỗi chúng ta đi, và đã đóng đinh con người cũ trong chúng ta với chính Ngài trên thập tự giá. Bởi sự sống lại của Ngài, Ngài đã khiến chúng ta cùng sống lại với Ngài, rồi sau khi được tôn vinh, Ngài chiếm được địa vị Chúa tể bên tay phải Thượng Đế, nơi Ngài đã phái Thánh Linh đến với chúng ta. Hơn nữa, chính Ngài với công tác cứu chuộc đã hoàn tất, đang hiện diện cách thuộc linh trong lòng chúng ta. Như vậy, nếu không có Chúa Cứu Thế, đã không thể có sự cứu rỗi. Nhưng nếu không có chức vụ của Đức Thánh Linh, thì sự cứu rỗi thiết thân và đã được hoàn thành hết sức trọn vẹn ấy cũng không thể được đem phân phát cho từng người một trong chúng ta cách cá nhân, riêng tư, vì nó không thể được đặt vào trong lòng chúng ta.
Từ quan điểm này, chúng ta có thể phân biệt ba chế độ trong kế hoạch của Thượng Đế.
Thứ nhất là Chế độ của Đức Chúa Cha được thấy trong Cựu ước. Ở đây, Đức Chúa Cha đã tự bày tỏ mình ra, hành động chẳng cần gì trung gian. Ngài là “Thượng Đế vì chúng ta”, sẵn sàng ban phước và tiếp cứu, nhưng dầu sao vẫn ngự trên các tầng trời cao do tính cách vĩ đại, thánh khiết đáng sợ của Ngài so với tội lỗi của con người. Vì thế mà Ế-sai đã phải kêu lên “Ôi! ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống” (EsIs 64:1).
Thứ hai, là Chế độ của Đức Chúa Con, tức là chế độ của các sách PHúc âm. Đức Chúa Cha đã nghe thấu tiếng kêu của nhân loại đang bị diệt vong; Ngài bày tỏ tình yêu thương Ngài bằng việc sau Con Ngài xuống thế gian này để trở thành “Thượng Đế ở cùng chúng ta - là Em-ma-nu-ên”. Trong giai đoạn Chúa Cứu Thế Giê-xu tự bày tỏ mình ra đó, Ngài đã phán dạy, hành động và tiến lên để tiếp nhận sự tôn thờ của loài người. Ngài hoàn tất công tác cứu rỗi nhân loại, rồi trở về với địa vị vinh hiển bên cạnh Đức Chúa Cha, chờ đợi cho đến lúc Ngài sẽ trở lại để cai trị một ngàn năm ngay trên thế gian này.
Thứ ba là Chế độ của Đức Thánh Linh bắt đầu từ ngày lễ Ngũ tuần, sẽ tồn tại cho đến khi Cứu Chúa tái lâm. Trong giai đoạn này, Thánh Linh nhào nặn Hội Thánh và trở thành “Thượng Đế trong chúng ta”. Ngài cáo trách thế gian về tội lỗi và ban phát cho lòng các tín hữu tất cả những gì Chúa Cứu Thế đã thu đoạt được nhờ chiến thắng của Ngài cho họ. Sự tha tội, sự sống, sự chiến thắng, quyền phép và chính sự hiện diện của Ngài.
Thế nhưng phải nhấn mạnh rằng trên bối cảnh đó, Thượng Đế Ba Ngôi vốn bất khả phân ly, tuy trong từng chế độ một, vai chính vốn được một trong Ba Ngôi đảm nhiệm. Chúng ta đã nghiên cứu hành động của Đức Thánh Linh trong chế độ của Đức Chúa Cha, và biết rằng Đức Chúa Con vẫn thường xuyên hiện diện trong Cựu ước, dầu đó là trong các lời tiên tri hay bằng sự can thiệp trực tiếp. Trong Chế độ của Đức Chúa Con, Đức Chúa Cha đã nâng đỡ Ngài, xác nhận công tác của Ngài, trong khi Đức Thánh Linh luôn luôn bầu bạn với Ngài. Cuối cùng, trong Chế độ của Đức Thánh Linh, cả Ba Ngôi Thượng Đế đều hành động nhất loạt trong thế gian, ngự trị cả bên trong Hội thánh lẫn trong lòng người tín hữu. Như vậy, đã không thể có việc một trong Ba Ngôi lấn át hai Ngôi kia hay chia cách sự hợp nhất trọn vẹn hoặc sự liên kết mật thiết giữa Ba Ngôi. Nguyện đời sống chúng ta sẽ chẳng bao giờ ngăn trở công tác toàn diện của cả Ba Ngôi Thượng Đế, và nguyện chúng ta nhận được sự cứu rỗi trọn vẹn mà chỉ có Ba Ngôi hợp nhất mới có thể ban cho chúng ta mà thôi!

SỰ CÁO TRÁCH DO THÁNH LINH THỰC HIỆN TỘI PHẠM ĐẾN ĐỨC THÁNH LINH.
I. CÔNG TÁC CÁO TRÁCH
Bây giờ chúng ta nghiên cứu đến công tác của Đức Thánh Linh trong con người kể từ ngày lễ Ngũ tuần trở về sau. Nhiệm vụ đầu tiên của Ngài là gì trong lòng một người chưa ăn năn quy đạo?
1. Đức Thánh Linh cáo trách về tội.
“Khi Ngài đến Ngài sẽ chứng tỏ (cáo trách) cho nhân loại biết họ lầm lạc trong tội lỗi... Họ lầm lạc trong tội lỗi vì không chịu tin ta? (GiGa 16:8, 9). Như vậy, rõ ràng là một người cần phải nhìn nhận rằng mình đang lâm vào tình trạng tội lỗi và chết mất trước khi có thể tin nhận Cứu Chúa để Ngài cứu mình ra khỏi đó. Chính con bệnh đã nhìn nhận mình đang lâm bệnh, mới tìm cầu thầy thuốc (Mac Mc 2:17).
Đức Thánh Linh cáo trách thế gian, nghĩa là tất cả mọi người về tội. Chẳng hề có một người nào không bị Ngài ban cho một ý thức về sự sai quấy, lầm lỗi của mình, dầu là qua trung gian là lời lẽ trong Kinh điển, hoặc chỉ đơn giản là do chính lương tâm mình (RoRm 2:14, 15)
Xin lưu ý là trong GiGa 16:8, 9, từ ngữ tôi thuộc số ít chớ không phải là số nhiều. Thánh Linh chứng tỏ cho con người ta thấy tình trạng sai lạc của mình không phải căn cứ vào việc mình đã phạm vào một vài lầm lỗi hoặc thậm chí là cả một vài tội ác nào đó - (tuy sự thật là trong Lời Ngài, Thượng Đế có hứa sẽ tha thứ mọi tội lỗi cho người nào chịu tin Chúa Giê-xu. “Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết” (EsIs 1:18). Con người bị định tội trước mặt Thượng Đế không phải vì nó là một tội nhân, nhưng vì đã ở trong tình trạng tội lỗi, kẻ ấy còn từ chối không chịu tin nhận Cứu Chúa và tiếp nhận sự tha thứ của Ngài. “Ai không tin đã bị kết tội rồi, vì không tin nhận Con Một của Thượng Đế” (GiGa 3:18). Khi phải trực diện với Chúa Cứu Thế Giê-xu thì không tin là tội trầm trọng nhất mà một người có thể vi phạm. Tội ấy không thể tha thứ được vì lý do nó là sự cố tình từ chối không chịu tiếp nhận sự tha thứ Thượng Đế chẳng bao giờ ép buộc ai tin Ngài trái với ý muốn của người ấy, bởi vì Ngài đã dựng nên con người là một hữu thể tự do.
2. Sau đó, Thánh Linh cáo trách về sự công chính.
Chúa Giê-xu phán “Vì ta về cùng Cha, và các ngươi chẳng thấy ta nữa” (GiGa 16:8-10). Đức Thánh Linh chẳng những chứng tỏ cho người ta thấy tình trạng sai lạc của họ, mà còn đồng thời bày tỏ cho họ thấy Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà sự công chính và thần tánh đã được chứng minh bằng sự sống lại và trở về bên cạnh, Đức Chúa Cha của Ngài. Như vậy, Thượng Đế thuyết phục được một tấm lòng chân thành ăn năn thống hối về cái chân lý rằng Chúa Giê-xu là một Cứu Chúa, vì bản thân Ngài vốn công chính, sẽ kể rằng những ai lấy đức tin tin cậy Ngài là người công chính (RoRm 5:19). Một lần nữa, theo GiGa 16:8), chính thế gian hay nói khác đi, là tất cả mọi người đều bị Thánh Linh cáo trách, thuyết phục về điều này. Tất cả những ai được tiếp xúc với Phúc âm, đều phải - vào lúc này hoặc lúc khác - thừa nhận rằng đây là một sự thật, một chân lý, và Chúa Cứu Thế Giê-xu quả thật là Cứu Chúa. Do đó mà họ phải chịu trách nhiệm trứơc mặt Thượng Đế, mặc dầu họ có ngoan cố từ chối không chịu tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài.
3. Cuối cùng, Ngài cáo trách (thuyết phục) về sự phán xét.
“Vì vua chúa thế gian này đã bị đoán xét” (GiGa 16:8, 11 bản dịch cũ). Khi một người trực diện với hai lần cáo trách mà Thánh Linh thực hiện trong lòng mình, người ấy sẽ bị sự đoán xét cáo trách, thuyết phục mình. Làm thế nào chúng ta biết được là những người không chịu tin Chúa sẽ bị đoán xét? Do sự kiện cha họ, là Ma quỉ, đã bị xem như đã bị đoán xét và định tội rồi. Bằng thập tự giá Ngài, Chúa Cứu Thế đã thật sự tiêu diệt nó rồi (HeDt 2:14). Đức Thánh Linh đưa ra lời kết luận bằng cách cáo trách thuyết phục những ai cứ chống lại Ngài rằng cùng một sự trừng phạt như vậy cũng sẽ dành cho họ, một khi họ bị ném vào lò lửa vĩnh cửu đã được chuẩn bị cho Ma quỉ và các sSứ giả của nó (Mat Mt 25:41). Sự cáo trách, thuyết phục liên hệ với sự phán xét sẽ là “môi miệng đều sẽ ngậm lại”, chẳng ai còn chối cãi gì đươc (RoRm 3:19), và ngay đến những kẻ vô tín trong Hoả ngục cũng phải run rẩy quỳ xuống trước Đấng mà họ đã chối bỏ.
Bài giảng của Phê-rơ trong ngày lễ Ngũ tuần đã minh họa cách thức Đức Thánh Linh tìmc ách cáo trách, thuyết phục người ta:
Về tội: bằng cách lưu ý người Do-thái về việc họ đã chối bỏ và đóng đinh Chúa Giê-xu vào thập tự giá (Cong Cv 2:23)
Về sự công chính: bằng cách chứng minh cho họ thấy rằng Chúa Giê-xu quả thật là Đấng Mê-si-a, Con Thượng Đế mà Thánh ngôn đã tiên báo, đã sống lại và được tôn vinh (Cong Cv 2:22, 24, 36)
Về sự phán ét: bằng cách nói với họ về sự tái lâm của Chúa, về ngày phán xét trọng đại đã hầu gần, được báo trước bằng nhiều dấu lạ, và bằng cách khuyến giục họ hãy tự cứu lấy mình khỏi thế hệ lầm lạc này trước khi đã quá muộn (Cong Cv 2:19, 20, 40).
II. TỘI PHẠM ĐẾN ĐỨC THÁNH LINH
Tội phạm đến Đức Thánh Linh là gì?
Trước hết, chúng ta hãy quay sang những khúc sách đã dùng đếnc âu ấy.
“Tôi quả quyết mọi tội lỗi của loài người đều có thể được tha, ngay cả lời xúc phạm Chúa Cứu Thế. Nhưng ai xúc phạm đến Thánh Linh sẽ chẳng bao giờ được tha. Đó là một tội đời đời”
Chúa bảo thế, vì trong khi Ngài nhờ quyền năng Thánh Linh để đuổi quỷ, họ vẫn nói rằng Ngài nhờ Quỷ vương” (Mac Mc 3:28-30). Sở dĩ Chúa Giê-xu đã bảo như vậy, vì họ nói rằng “Ông ấy bị quỷ Sa-tan ám”. Xin cũng xem Mat Mt 12:31-32 và LuLc 12:10.
Ta có thể thấy rõ là tội mà người Do-thái phạm nhân dịp này không phải chỉ được ghi ại, và bình luận trong Mac Mc 3:30 mà thôi. Mấy lời nói ra đó đã bày tỏ một thái độ từ nội tâm, vì do chất chứa trong lòng mà miệng mới nói ra. Thái độ này là gì? Ngay từ buổi đầu thi hành chức vụ của Ngài, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã truyền giảng về sự ăn năn và đức tin vào các tin mừng, đồng thời đã làm nhiều phép lạ bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, nhằm thuyết phục dân chúng về chân lý của bức thông điệp của Ngài. Nhưng người Do-thái đã chọn việc không chịu tin, vứt bỏ lời chứn của Thánh Linh và tìm nhiều lý lẽ để phủ nhận tội để tin nhận Chúa Cứu Thế với tư cách Cứu Chúa. Như vậy, điều Chúa Giê-xu đã nói với họ chính là về cái tội không thể nào tha thứ được đó.
Trong thí dụ đã được trích dẫn, tội phạm đến Đức Thánh Linh vốn có hình thức của một lời phạm thượng. Nhưng nhiều khúc sách cho thấy là tự thâm tâm, người ta đều có thể phạm vào cùng một tội không thể tha thứ đó, mà không nhất thiết phải bộc lộ ra ngoài bằng cách dùng những lời lẽ xúc phạm. Thí dụ hãy đọc hai bản văn sau đây:
a. GiGa 12:37-40. Bất chấp tất cả phép lạ đã được thực hiện trước mặt họ, người Do-thái vẫn không chịu tin Ngài. Do đó, Thượng Đế phải bọ mặc họ với lòng vô tín của họ và các hậu quả của nó.
b. HeDt 10:26-31. Nếu một người cố ý phạm tội sau khi đã nhận biết chân lý rồi, tức là người ấy đã giày đạp Con Thượng Đế và khinh dễ sinh tế chuộc tội trọn vẹn của Ngài, đồng thời xúc phạm nghiêm trọng Thánh Linh đầy ân phúc là Đấng muốn cứu rỗi mình. Như vậy, đối với người ấy sẽ chẳng còn có gì khác hơn là phải chờ đợi sự phán xét khủng khiếp.
Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng tội phạm đến Đức Thánh Linh chẳng những chỉ có tội xúc phạm Ngài mà thôi, nhưng còn gồm luôn việc cố ý và dứt khoát không chịu để cho công tác cứu chuộc mà Ngài muốn thi hành trong chúng ta trở thành sự thật trong chúng ta nữa (ở đây, từ ngữ dứt khoát được dùng theo nghĩa là đã để cho cơ hội qua đi do sự can thiệp của cái chết, hoặc vì Thượng Đế đã quá mỏi mòn, không còn kiên nhẫn nữa, nên đã tự rút lui khỏi con người ấy). Trong vấn đề này, xin chúng ta ghi khắc vào tâm trí lời bình luận đã được đưa ra liên hệ với GiGa 16:8, 9 Tội nhặng nhất mà Thánh Linh sẽ cáo trách mọi người thế gian, là tội không tin Chúa Giê-xu. Tội này sẽ chẳng bao giờ được tha vì nó bao gồm việc khước từ sự tha thớ và chối bỏ Cứu Chúa. Như vậy chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa rộng hơn cho tội phạm đến Đức Thánh Linh này, là việc cứ ngoan cố duy trì việc chối bỏ không chịu tin Chúa Giê-xu, là Đấng mà Thánh Linh giới thiệu cho linh hồn chúng ta.
Nếu tất cả mọi điều đó tuỳ thuộc vào thái độ của chúng ta đối với Chúa Cứu Thế, thế tạo sao Chúa Giê-xu lại bảo rằng mọi lời nói xúc phạm đến Con người đều có thể được tha thứ, trong khi lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh lại không thể đựơc tha? Lý do là như sau: dưới thời của luật pháp, phạm tội với Thượng Đế là một vấn đề nghiêm trọng. Tội phạm đến Chúa Cứu thế Giê-xu tong hình thể loài người còn nghiêm trọng hơn (GiGa 15:22) tuy nhiên khi Con Thượng Đế tự xuất hiện dưới hình thức một con người hữu hình là do thái độ khiêm tốn hạ mình của Ngài, cho nên chối bỏ Ngài vẫn còn có thể tha thứ được. Nhưng chống lại Thánh Linh là Đấng tôn vinh Ngài, làm lóe lên trong lòng chúng ta sự thuyết phục, cáo trách rõ ràng, không nhằm lẫn vào đâu được, là một hành động phạm tội cố ý tự nguyện tự ý đóng sập cửa lại ngay trước mặt Thượng Đế. Công tác của Đức Thánh Linh khi tìm cách đặt hiện diện của Cứu Chúa vào trong lòng chúng ta, là tiết mục cuối cùng của Thượng Đế đối với chúng ta. Nếu người nào vì cứ ngoan cố mà chối bỏ nó, thì Thượng Đế chẳng còn có thể làm gì khác hơn cho người ấy nữa; Ngài không thể cứu người ấy trái với ý muốn của người ấy.
III. CÁC HẬU QUẢ CỦA TỘI PHẠM ĐẾN ĐỨC THÁNH LINH
Lẽ tất nhiên là chúng rất khủng khiếp:
1. Thượng Đế bỏ mặc người ấy.
Người ta không thể đùa giỡn với Thượng Đế được. Nếu có ai chẳng thèm biết gì đến Ngài, thì Ngài sẽ bỏ mặc người ấy. Sau đây là hai thí dụ rõ rệt.
a. Ngay sau khi người Do-thái xúc phạm đến Ngài, Chúa Giê-xu đã từ chối không làm một phép lạ nào khác nữa, và bắt đầu nói bằng ẩn dụ mà thôi (Mat Mt 12:38-39; 13:10, 13). Ngài tuyên bố rằng các huyền nhiệm về Nước Trời sẽ không được dành cho những kẻ vô tín, và ngay đến những gì họ có cũng sẽ bị cất đi. Điều này đồng nghĩa với việc bảo rằng Thượng Đế sẽ thôi không tự bày tỏ mình ra cho những kẻ chống lại Ngài nữa, và do chính sự kiện ấy, họ sẽ bị mất đi chút ánh sáng thuộc linh mà có thể họ vố đã có rồi.
b. Chúng ta thấy một thí dụ khác trong sách Giê-rê-mi. Trước hết, Thượng Đế mô tả thái độ của dân chúng:
“Chúng nó chẳng chịu dạy dỗ (sửa phạt). Chúng nó tự làm cứng mặt mình hơn vầng đá... chẳng khứng trở lại” (Gie Gr 5:3; 8:5). Họ nói: “Chúng tôi không khứng đi đường ấy... Chúng tôi không khứng nghe” (6:16, 17). “Ta đã dậy sớm phán dặn các ngươi, mà các ngươi không nghe; lại gọi các người mà các ngươi không trả lời” (7:13). “Chúng nó chẳng khứng nhìn biết ta” (9:6). Rồi Chúa phán bảo họ điều Ngài sẽ làm: “Ta lại bỏ các ngươi khỏi trước mặt ta” (7:15, 29).
Sự từ bỏ này là hoàn toàn, đến nỗi Thượng Đế đã nhắc đi nhắc lại nhân bốn cơ hội với nhà tiên tri rằng từ nay trở đi, việc cầu nguyện cho dân chúng sẽ chẳng còn có ích lợi gì nữa, vì Ngài sẽ chẳng nghe nữa.
2. Lòng người bị khiến nên cứng cỏi.
Không phải Thượng Đế, nhưng chính là con người đã tự ý khiến cho lòng mình trở thành cứng cỏi trước tiên. Điều này được thấy rõ trong các sách Phúc âm. Chính vì lý do ấy mà Mat Mt 13:14-15 tuyên bố rằng “họ nghe nhưng không hiểu, nhìn mà không thấy...vì nếu...họ...hiểu, hẳn họ quay về với Ta và Ta chữa lành cho”. Với những ai đã nghe tiếng gọi của Chúa mà không đáp lại là họ đã tự làm cứng lòng mình. Về việc này, Đức Thánh Linh phán “Ngày nay, nếu các con nghe tiếng Chúa, đừng ngoan cố, cứng lòng” (HeDt 3:7-8).
Nhưng nếu một người cứ tiếp tục chống lại Thánh Linh, thì đến lượt Ngài, Thượng Đế sẽ làm cho lòng người ấy trở thành cứng cỏi (GiGa 12:40). Trường hợp điển hình nhất có lẽ là trường hợp của Pha-ra-ôn. Kinh Thánh kể lại rằng trước hết vua ấy đã cứng l2ong sáu lần, không chịu tuân theo các mạng lịnh Thượng Đế (XuXh 7:13, 22; 8:11, 15, 28; 9:7). Và chỉ sau đó, chúng ta mới thấy Thượng Đế khiến cho Pha-ra-6on cứng lòng (XuXh 9:12; 10:1, 20, 27; 14:8). Thượng Đế có phải làm điều gì lớn lao để khiến một tấm lòng trở thành cứng cỏi hay không? Chỉ cần Ngài rút Thánh Linh Ngài lại, không để cho Thánh Linh chiến đấu với người ấy nữa mà thôi. Và đâu là tương lai của một tấm lòng đã bị khiến nên cứng cỏi như vậy?
3. Nó sẽ không còn có thể ăn năn được nữa.
HeDt 6:6 đề cập những người không còn có thể được khiến để biết ăn năn nữa. Mat Mt 13:15 cũng vạch rõ sự cứng cỏi này sẽ ngăn trở không cho họ nhìn thấy, hiểu biết và ăn năn quay lại nữa. Đã có chứng cứ rõ ràng rằng nếu một người chối bỏ mọi sự trợ giúp của Thượng Đế, thì cuối cùng, người ấy sẽ không còn có thể từng trải được sự cáo trách về tội - vốn là một công tác của Thánh Linh - và con đường đến với Chúa Cứu Thế sẽ không còn được mở ra cho người ấy nữa. Vì nếu không nhờ Đức Chúa Cha lôi kéo, thì chẳng hề có ai có thể đến được với Ngài (GiGa 6:44).
Bất chấp những gì xảy ra bên ngoài có vẻ như trái ngược lại, hai thí dụ về Ê-sau và Giu-đa đã xác nhận điều vừa được viết trên đây. HeDt 12:17 bình luận về con người vô đạo Ê-sau như sau: “Về say, Ê-sau muốn hưởng phúc lành nhưng bị khước từ, dù khóc lóc van xin cũng không thể làm cha mình đổi ý”. Nhưng thật là dễ thấy rằng trong SaSt 27:38-41, sở dị nước mắt Ê-sau phải đổ ra, là do động cơ tự tư tự lợi thúc đẩy, chớ không phải vì ông biết ăn năn tội; tâm trạng ông vốn không thành thật trước mặt Thượng Đế, vì đồng thời lòng ông vốn đầy thù hận và ước muốn giết người. Còn về Giu-đa (Mat Mt 27:3-5) thì sự hối hận của ông ta không hề chứa đựng sự đau buồn đạo đức dẫn đến sự ăn năn để được cứu rỗi mà người ta chẳng hề hối tiếc, nhưng đúng hơn thì đó chỉ là một sự hối hận theo đời này, chỉ đem sự chết đến mà thôi (IICo 2Cr 7:10). Chỉ xưng tội, và run rẩy trước hậu quả của nó, dĩ nhiên Chúa phải là sự ăn năn chân chính. Chúng ta không hề đọc thấy chỗ nào chép rằng Giu-đa đã kêu sin Thượng Đế tha tội, và chính sự kiện ông ta tự tử (một tội ác mà Thượng Đế nghiêm cấm - XuXh 20:13) là chứng cứ bất hạnh cho thấy ông vốn không sẵn sàng chịu từ bỏ con đường không vâng lời. Tuy nhiên, với Phê-rơ, chúng ta lại có chứng tứ tương phản về một tấm lòng chân thành, thậm chí sau khi đã phạm tội nặng đã có thể ăn năn thật sự để được tha thứ.
4. Không thể tin được.
“Các ông tin tôi sao được, khi các ông vẫn thích đề cao người khác để rồi họ đáp lễ ca tụng các ông, chứ không lưu ý đến lời khen chê của Thượng Đế” (GiGa 5:44). “Họ không thể tin” (GiGa 12:39, 40). Nghĩa là, vì chính các lý do vừa được nêu ra liên hệ với sự ăn năn. Ai đã chọn không vâng lời Thượng Đế, thì không thể tin Ngài, nếu không được Ngài trợ giúp; tế nhưng tất cả những gì được đòi hỏi đối với người ấy, là phải tiếp nhận đức tin mà Thượng Đế ban cho tất cả những ai thành thật đến với Ngài.
5. Sự tha tội cũng không được ban cho.
“Ai xúc phạm đến Thánh Linh, sẽ chẳng bao giờ được tha, dù trong đời này hay đời sau (Mat Mt 12:32; Mac Mc 3:2; LuLc 12:10).
“Một khi đã biết rõ chân lý, nếu chúng ta còn cố ý phạm tội sẽ chẳng còn sinh tế nào cuộc tội được nữa, nhưng phải khủng khiếp đợi chờ Chúa xử đoán và lửa hừng sẽ thiêu đốt kẻ phản nghịch” (HeDt 10:26, 27). Chúng ta đã giải thích nhiều lần tại sao điều đó không thể xảy ra: người đã biết chân lý nhưng lại cố ý vứt bỏ công tác của Chúa Cứu Thế và của Đức Thánh Linh không thể được cứu nhờ một quyền năng hay một sinh tế nào khác. Thượng Đế không muốn ép buộc ai phải yêu thương Ngài mà không thể lập một sinh tế nào lớn hơn sinh tế là Con Ngài và Thánh Linh Ngài. Hơn nữa, sự hình phạt dành cho tội này là vô cùng, vì đó là “tội đời đời”. Lời bảo đảm về hình phạt đời đời là phù hợp với Mac Mc 3:28 “Mọi tội lỗi của loài người đều có thể được tha, ngay cả kời xúc phạm Chúa Cứu Thế” khiến chúng ta có thể kết luận vắn tắt rằng chỉ có những người phạm tội chống lại Đức Thánh Linh mới sẽ phải chịu hình phạt đời đời mà thôi (Mat Mt 25:41, 46; Mac Mc 9:48; KhKh 14:11, v.v...).
IV. AI CÓ THỂ PHẠM TỘI CHỐNG LẠI ĐỨC THÁNH LINH?
Theo định nghĩa, thì đó người cho đến tận cùng, vẫn từ chối không chịu ăn năn tội và tin nhận Cứu Chúa. Nhưng người vốn là con cái thật của Thượng Đê, đã được tái sanh rồi, thì có thể phạm vào một tội như vậy không? Chúng tôi tin là không, vì người ấy đã bị Đức Thánh Linh cáo trách, đã chịu Ngài thuyết phục, và đã để cho Ngài ngự trị tấm lòng của mình rồi. Nếu đúng như vậy, thì mấy câu sau đây có nghĩa gì?
“Người đã được Chúa khai trí, từng nếm biết ân tứ thiên thượng, nhận lãnh Thánh Linh, thực nghiệm đạo tốt lành của Chúa và quyền năng phi thường của thế giới tương lai, nếu lại vấp ngã lìa bỏ Chúa, tất nhiên không thể ăn năn lần nữa vì đã đóng đinh Con Thượng Đế lần thứ hai và công khai sỉ nhục Ngài” (HeDt 6:5-6). (Cần lưu ý ngay rằng câu được dịch là “nhận lạnh (dự phần) Thánh Linh” ở đây không nhất thiết hàm ý rằng những người ấy đã thật sự được tái sanh. Rất có thể kẻ dự phần ấy từng bị cáo trách, thuyết phục sâu xa về tội và về sự công chính, nhưng đều bị tâm hồn người ấy vứt bỏ đi). Xin lật sang HeDt 10:29, rồi RoRm 8:13 “Nếu sống cho xác thịt anh em sẽ chết” (với một tín hữu, cuộc đời sống theo xác thịt có nghĩa là chống lại Đức Thánh Linh đang tìm cách thánh hóa mình, một sự chống đối liên tục thuộc loại này thì chỉ có con đường duy nhất là dẫn đến cái chết mà thôi).
Chúng tôi tin rằng những khúc sách như thế sở dĩ được viết ra là để nhắc nhở chúng ta rằng một người luôn luôn được quyền chọn lựa, cả sau khi đã ăn năn quy đạo, và người ấy phải cảnh giác và knỗ lực để luôn luôn tiến bộ. Như Thượng Đế chẳng hề thôi thúc kẻ vô tín ăn năn quy đạo bao giờ), thì Ngài cũng không hề ép buộc những ai tự xưng là tín hữu phải đầu phục tiến trình thánh hóa. Nếu muốn, họ có thể cứ sống theo xác thịt, làm buồn Đức Thánh Linh mà họ chống lại hoặc ngay cả trút bỏ đi nữa. Nếu họ hành động như vậy và cứ khăng khăng duy trì thái độ ấy đồng thời vẫn tự rêu rao là mình đã được tái sanh rồi, thì rõ ràng là họ sẽ phạm tội chống lại Thánh Linh, và cứu cánh tối hậu của họ sẽ là sự chết đời đời”. Khi một người đã thoát khỏi nếp sống tội lỗi của trần gian nhớ biết Chúa Giê-xu và Đấng cứu rỗi mình, mà còn trở về tội lỗi, làm nô lệ nó một lần nữa, tì còn tệ hại hơn trước” (IIPhi 2Pr 2:20-22). Nếu một người có cách ăn ở như vậy thì chỉ chứng tỏ là mình không thành thật, và chứng minh rằng, thật ra, công tác tái sanh vẫn chưa hề hoàn tất trong lòng mình. Như trong trường hợp các trinh sát viên đã được Môi-se phái đi, họ đã đi xuôi ngược khắp vùng Đất Hứa, đã được nếm qua các hoa quả xứ ấy, nhưng đã không lấy đức tin để chiếm lấy nó cho mình (Dan Ds 13:27-29; 14:36-38).
Tuy nhiên, trái với trường hợp ấy, chúng tôi tin quyết rằng một con cái thật sự của Thượng Đế, cho dầu có vấp ngã, yếu đuối lui đi, nhưng rồi sẽ chứng minh lòng ngay thật của mình và sự thật về sự tái sanh của mình bằng cách trung tín quay trở về với Cứu Chúa, cố tìm cách để lại được thánh hóa cách mới mẻ Xin chúng ta hãy tóm tắt vấn đề này: tội phạm đến Thánh Linh không phải là một hoặc thậm chí là nhiều hành động xấu xa gian ác, nhưng là việc tự ý từ bỏ Cứu Chúa kết hợp với một quyết định trở lại với tình trạng phản loạn và vô tín trước kia. Đây là việc mà một Cơ-đốc nhân chân chính chẳng bao giờ làm; trong khi phấn đấu cho đến cùng, người ấy sẽ được cứu (Mat Mt 24:13) và nguồn suối sự sống vĩnh hằng từ người ấy tuôn trào ra sẽ chẳng bao giờ bị cạn tắt.
Tuy nhiên, quả thật có nhiều Cơ-đốc nhân bị lầm lạc đang bị ám ảnh bởi nỗi sợ mình đã phạm vào cái tôi không thể tha thứ được đó. Họ cảm thấy thật sự hối tiếc và đau buồn thường xuyên; họ rất muốn quay về với Cứu Chúa mà không dám vì cứ đinh ninh là mình đã bị chết mất vĩnh viễn rồi. Nhưng cúng tôi tin rằng việc h5o bị cáo trách sâu xa về tội đó và ước muốn quay về với Cứu Chúa của họ chính là chứng cứ cho thấy Thánh Linh đang tiếp tục vận hành và hiện diện trong lòng họ. Họ chỉ cần thật lòng tìm cầu sự tha thứ của Thượng Đế, lấy đức tin tiếp nhận nó, chắc chắn họ sẽ lập tức được giải cứu, vì Chúa Giê-xu đã hứa rằng Ngài không hề đuổi những ai đến với Ngài ra ngoài bao giờ (GiGa 3:17).
Hãy còn một câu hỏi cuối cùng nữa: chúng ta có thể nghĩ hay nói về một người nào đó, là đã phạm vào tội không thể tha thứ hay không? Không, tất nhiên là không, vì chỉ một mình Chúa mới biết những người thuộc về Ngài (IITi 2Tm 2:19) và xét đoán họ không phải là phần việc của chúng ta. Xin chúng ta cẩn thận đừng bao giờ làm như vậy, mà phải tìmc ách cảnh cáo những người đang phạm tội, cầu nguyện cho họ để họ thoát được cái nguy cơ khủng khiếp ấy.
Vậy chúng ta phải hiểu khúc sách sau đây như thế nào “Nếu anh em thấy có tín hữu nào phạm tội không đến nỗi chết, hãy cầu xin Chúa tha thứ người ấy. Chúa sẽ cho người ấy sống, nếu người đó không phạm tội đáng chết. Nhưng cũng có tội đưa tới cái chết, nếu họ phạm tội đó thì cầu nguyện cũng vô ích” (IGi1Ga 5:16)?
Dường như bản văn này chẳng liên quan gì với tội phạm chống lại Đức Thánh Linh mà một “anh em” chân chính chẳng bao giờ phạm vào. Tái lại, chúng tôi tin rằng nó đề cập một tội nặng đủ để đưa đến cái chết thuộc thể của Cơ-đốc nhân ấy, chớ không phải à sự tuyệt vong thuộc linh. Phao-lô cũng đề cập một trường hợp tương tự khi ông nói “Chúng ta giao người ấy cho Sa-tan để hủy diệt thân xác, nhưng linh hồn được cứu khi Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại”.
Và “lý do đó mà trong anh em có nhiều người đau yếu, bệnh tật và một số người qua đời...Nhưng khi chúng ta bị Chúa xét xử, Ngài sửa phạt chúng ta để khỏi bị kết tội chung với người thế gian” (ICo1Cr 11:30-32; 5:5). Hệ quả là chúng ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác và tự xét mình, kẻo e chúng ta tự chuốc lấy sự phán xét của Chúa; và nếu chúng ta thấy một người anh em đi sai lạc, thì chỉ bằng cách hoàn toàn nhờ cậy vào Thượng Đế, chúng ta mới biết được mình phải cầu thay như thế nào và hành động ra sao để đưa người ấy biết quay trở lại và ăn năn.
KẾT LUẬN
Đứng trước một lời truyền dạy nghiêm trọng như vậy, phải chăng chúng ta cảm thấy cần gấp rút xét lại lương tâm mình? Nếu chúng ta vẫn chưa tin mà vẫn còn nghe tiếng Chúa gọi hôm nay, nguyện chúng ta hãy run rẩy khi nghĩ rằng mình có thể đang tp5 khiến cho lòng mình trở thành cứng cỏi, và hãy hối hận đầu phục sự cáo trách mà Thánh Linh đang đưa đến trước khi đã quá muộn. Nếu chúng ta đã là con cái Thượng Đế rồi, hãy tiếp tục cảnh giác kẻo e chúng ta trở lui để rồi có thể sẽ sa vào mưu mô của thế gian này chăng. Nhưng nếu bất cheấp ước ao chân thành của chúng ta là muốn theo Chúa Cứu thế, kẻ thù vẫn không ngừng gieo vào lòng ta, nỗi lo sự mình đã phạm tội với Đức Thánh Linh, nguyện chúng ta cầm lấy chiếc thuẫn đức tin và nhớ lại những lời hứa đầy ân huệ dành cho những ai muốn tin, và đừng bao gìơ quên rằng nếu lòng chúng ta kết tội chúng ta, thì “Chúa lại càng thấy rõ hơn cả lương tâm chúng ta, vì Ngài biết hết mọi việc” (GiGa 3:20).

SỰ TÁI SANH VÀ PHÉP BÁP-TEM BẰNG ĐỨC THÁNH LINH
Trong chương này và những chương sách tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập công tác của Thánh Linh trong một tấm lòng đã đầu phục sự cáo trach về tội và tin nhận Cứu Chúa. Ngay lúc một người ăn năn quy đạo, thì Đức Thánh Linh, nhờ hành động của đức tin, đem đến cho lòng người ấy những tác động sau đây, vốn chỉ là nhiều phương diện khac nhay sủa cùng một sự can thiệp:
1. Thánh Linh tái sanh người tín hữu
2. Thánh Linh làm báp-tem cho người ấy
3. Người tín hữu nhận lãnh Thánh Linh
4. Thánh Linh tiếp nhận người ấy
5. Ngài đóng ấn trên người ấy
6. Ngài ban cho người ấy của tin về sự cứu rỗi đời đời
7. Thánh Linh ngự vào lòng người ấy
8. Ngài xức dầu cho người ấy để phục vụ.
Chúng ta sẽ liên tiếp nghiên cứu các hành động khác nhau này, và nhớ rằng chúng vốn xảy ra đồng thời với nhau và tạo thành từng trải của một con cái Thượng Đế khi người ấy đứng trước ngưỡng cửa của đời sống thuộc linh. Chúng là nhiều mặt khác nhau của viên ngọc đế vương là tặng phẩm của Thánh Linh, và mỗi một mặt đều giúp chúng ta thấu hiểu một góc cạnh riêng việt của công tác mà Chúa thực hiện trong lòng chúng ta ngay lúc chúng ta vừa mới tin Ngài.
I. SỰ TÁI SANH
1. Tái sanh là gì?
Theo quan điểm thuộc linh thì linh hồn của một người tội lỗi đã bị chết và trở thành xa lạ với Thượng Đế, vì tiền công của tội lỗi là sự chết. Nhờ phép lạ của sự tái sanh, linh hồn được khiến sống lại, được sanh ra một cách mới mẻ và được phú cho sống vĩnh hằng. Chúa Giê-xu mô tả từng trải này là sự tái sanh (GiGa 3:3, 7). Thiết tưởng chẳng cần gì phải nói rằng nếu không có nó, thì chẳng một người nào có thể được cứu rỗi.
2. Ai thực hiện việc tái sanh này?
“Nếu không nhờ nước và Thánh Linh sinh ra, không ai được vào Nước Chúa. Thể xác chỉ sinh ra thể xác, Thánh Linh mới sinh ra tâm linh” (GiGa 3:5, 6). Chính Đức Thánh Linh thực hiện công tác này. Xác thịt, là Bản Ngã chúng ta, vốn vô giá trị; những cố gắng, quyết tâm, việc thiện của chúng ta đều hoàn toàn khiếm khuyết. Chính Thánh Linh khơi dậy sức sống, vì chỉ có Đấng Toàn Năng mới có thể thực hiện phép lạ ban sự sống (GiGa 6:63). Phao-lô đề cập sự tái sanh bằng những lời lẽ tuy khác hơn nhưng cũng rõ ràng tương tự “Dù tâm linh chúng ta đã chết vì tội lỗi, Ngài cho chúng ta được sống lại với Chúa Cứu Thế... cất bổng chúng ta lên cao, cho chúng ta cùng ngồi với Chúa Cứu Thế trên ngai trời” (Eph Ep 2:5-6). Ông cũng gán cho Thánh Linh công tác lhơi dậy sức sống nơi người tín hữu “Vì Thánh Linh ban sự sống mới cho chúng ta, nên chúng ta hãy theo sự hướng dẫn của Thánh Linh” (GaGl 5:25).
“Ngài cứu rỗi không phải vì công đức chúng ta, nhưng bởi lòng nhân từ Ngài ban Thánh Linh tẩy sạch và đổi mới chúng ta. Thượng Đế đã đổ Thánh Linh dồi dào trên chúng ta qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng Cứu Tinh của chúng ta” (Tit Tt 3:5-6). Do đó, tâm hồn tội lỗi của chúng ta chẳng cần phải tiến hóa (evolution); cần sự sống lại thuộc linh Phải chăng chúng ta vẫn còn tìm cách “tự cải tiến” - một dự án thậ buồn cười đối với một kẻ đã chết rồi - hay chúng ta đã được tái sanh?
3. Sự tái sanh xảy ra khi nào?
Ngay lúc mà tấm lòng bị Thánh Linh cáo trách về tộ và về sự công chính, chịu tin nhận Cứu Chúa khi Ngài được giới thiệu cho mình. Về phía Thượng Đế, đây là một hành động tức khắc, tuy rất có thể là loài người phải để ra nhiều năm mới đạt tới điểm chịu đầu phục và tiếp nhận sự cứu rỗi “Tuy nhiên, tất cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng Đế - tiếp nhận Chúa là đặt niềm tin nơi Chúa - những người ấy được chính Thượng Đế sinh thành chứ không sinh ra theo huyết thống, hay theo tình ý loài người” (GiGa 1:12, 13).
Nhờ sự sinh thành mới mẻ này (tái sanh), chúng ta nhận được sự sống vĩnh hằng; ân huệ này được ban cho chúng ta ngay lúc chúng ta tin. “Ai tin Con đều được sự sống vĩnh cửu...Ai nghe lời tôi mà tin Đấng đã sai tôi thì được sự sống vĩnh cửu. người ấy không bị kết tội, nhưng đã thoát chết mà vào cõi sống” (GiGa 3:36; 5:24).
Do đó, vì sự tái sanh vừa cần thiết vừa xảy ra ngay tức khắc, vậy nếu chúng ta chưa tiếp nhận nó, thế tại sao chúng ta lại chịu bắt lấy nó ngay giờ này, bằng một hành động của đức tin? Việc cáo trách về tội sẽ trở thành vô dụng, nếu nó không được kết hợp với đức tin bắt ngay lấy sự sống của Thánh Linh.
II. PHÉP BÁP-TEM BẰNG ĐỨC THÁNH LINH
Khi nói về Chúa Cứu Thế Giê-xu, Giăng Báp-tít tuyên bố “Tôi chỉ làm báp-tem cho anh em bằng nước, nhưng người sẽ làm báp-tem bằng Thánh Linh của Thượng Đế” (Mac Mc 1:8). Câu phát biểu quan trọng này cũng được tìm thấy trong các sách Phúc âm khác (Mat Mt 3:11; LuLc 3:16; GiGa 1:33). Chính Chúa Giê-xu đã nhắc lại câu ấy khi Ngài dạy các môn đệ Ngài chớ ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem mà phải chờ đợi lời Đức Chúa Cha đã hứa “như ta đã nói trước. Vì Giăng chỉ làm lễ báp-tem bằng nước, nhưng ít ngày nữa các con sẽ được báp-tem bằng Thánh Linh” (Cong Cv 1:4, 5). Lời hứa này là minh nhiên: Chúa Cứu Thế làm phép báp-tem cho các con cài Ngài bằng Đức Thánh Linh và phép báp-tem này là thiết yếu cho toàn thể các môn đệ chân chính. Do đó, điều cốt yếu là chúng ta phải thấu triệt bản tính của phép báp-tem bằng Thánh Linh và cách thức chúng ta có thể tiếp nhận nó.
1. Bản tính của phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh.
Chúng ta sẽ cố gắng để tìm hiểu vấn đề này bằng cách triệt để tìm hiểu vấn ề này bằng cách triệt để bám sát cách Kinh Thánh dùng từ ngữ ấy trong mấy khúc sách bàn về nó. Sự nhầm lẫnbao giờ cũng có thể tránh được nếu chúng ta không gán cho các từ ngữ của Kinh Thánh những gì vượt quá ý nghĩa chặt chẽ mà Kinh điển đã dành cho chúng.
Câu định nghĩa của chúng ta sẽ được rút ra từ bản văn rõ ràng nhất của Tân ước đề cập chủ đề này (ICo1Cr 12:13). “Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu báp-tem để gia nhập vào một thân thể. Tất cả chúng ta - người Do-thái và người nước ngoài, người nô lệ và tự do - đều nhận lãnh một Thánh Linh”. Căn cứ vào đây, chúng ta có thể suy diễn rằng phép báp-tem của Đức Thánh Linh là hành động bởi đó Thượng Đế khiến chúng ta trở thành các chi thể của thân thể Chúa Cứu Thế.
Lúc thuyết giảng trước cho các môn đệ Ngài về chức vụ của Đức Thánh Linh, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã nói vứi họ “Này ta sống lại các con sẽ biết ta ở trong Cha, các con ở trong ta và ta ở trong các con” (GiGa 14:20). Chính nhờ phép báp-tem bằng Thánh Linh mà một người từ trước đến giờ vốn xa lạ với Thượng Đế được (tức khăc) đặt vào trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhờ đức tin để nhận được địa vị ấy trong Ngài. Từ đó trở đi, người ấy được cùng ngồi với Chúa Cứu Thế tại các nơi trên trời (Eph Ep 2:6). Địa vị tối cao này trở thành nguồn sống và nền móng của chiến thắng cho người tín hữu. Câu nói của Phao-lô “Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu phép báp-tem để gia nhập vào một thân thể” được ngỏ với những người Cô-rinh-tô mà vị sứ đồ tố cáo là xác thịt và là những con đỏ trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (ICo1Cr 12:13; 3:1-3). Vậy ở đây, là chứng cứ rõ ràng hơn rằng phép báp-tem của Thánh Linh vốn liên hệ, không phải với tình trạng thuộc linh của người tín hữu, mà với địa vị của người ấy. Như thế, chúng ta có thể bổ sung cho câu định nghĩa đầu tiên của chúng ta; phép báp-tem bằng Thánh Linh chính là hành động bởi đó Thượng Đế ban cho người tín hữu một địa vị torng Chúa Cứu Thế Giê-xu (các khúc sách trong GaGl 3:27 và RoRm 6:3-4 mà chúng ta đã nghiên cứu rồi, cũng dẫn chúng ta đến cùng một kết luận như vậy).
Tầm quan trọng chủ yếu của một hành động như vậy trở thành rõ ràng khi chúng ta ghi khắc vào tâm trí rằng trong Tân ước đã có trên một trăm khúc sách nhấn mạnh sự kiện một con cái Thượng Đế đang “ở trong Chúa Cứu Thế”. Tất cả những gì mà sau đó chúng ta nhận được đều xuất phát từ địa vị ấy trong Chúa Cứu Thế mà phép báp-tem của Thánh Linh đem đến cho chúng ta.
Chúng tôi từng vạch rõ rằng phép báp-tem bằng Thánh Linh vốn không đề cập liên quan với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Lúc Ngài chịu phép báp-tem dưới sông Giô-đanh, Ngài vốn đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh, đã được mặc lấy quyền phép Thánh Linh, được Đức Thánh Linh xức dầu cho rồi, căn cứ vào các lời lẽ của Lưu-ca trong LuLc 3:22; 4:1, 14, 18 nhưng đã không có chổ nào bảo rằng Ngài được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, tuy nhiên công tác của Thánh Linh đã được chép lại liên quan với Chúa Cứu Thế. Vì phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh được gắn liền tới đị vị của người tín hữu trong Chúa Cứu Thế, lẽ tất nhiên, làm thế nào Cứu Chúa lại tự trầm mình hay tự hợp nhất với chính Thân thể mình cho được?
Hơn nữa, chúng ta sẽ thấy rằng Thượng Đế vẫn chưa hài lòng nếu chỉ đặt chúng ta vào “trong Chúa Cứu Thế” mà thôi, mà đồng thời Ngài còn đặt Chúa Cứu Thế vào “trong chúng ta” thông qua Thánh Linh nữa. Hiện diện Ngài trong lòng chúng ta giúp đời sống hằng ngày của chúng ta thực hiện thành công tất cả những gì mà trên nguyên tắc, phép báp-tem của Thánh Linh đã đem đến cho chúng ta. Nói khác đi, phép báp-tem ấy đặt chúng ta vào trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, và bao phủ chúng ta bằng Ân Điển Ngài, trong khi hiện diện và sự đầy dẫy Thánh Linh đặt Chúa Cứu Thế vào trong chúng ta, khiến chúng ta trở thành các sở hữu chủ của toàn thể sự giàu có của Ngài.
Cần lưu ý là câu định nghĩa về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh rút ra từ ICo1Cr 12:13 hài hòa với hai thí dụ lịch sử duy nhất về một từng trải như thế mà Tân ước đã nêu ra cho chúng ta.
Theo Cong Cv 1:5 số một trăm hai mươi người được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ tuần, và trở thành các chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế được Thánh Linh sáng tạo ra trong ngày đó.
Những người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây cũng được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh đúng lúc họ nhờ đức tin để được trở thành các chi thể của cùng một Thân thể ấy (Cong Cv 11:15, 16)
2. Chỉ có một phép báp-tem thuộc linh mà thôi.
Có những thành ngữ, nhóm từ khác nhau sau đây đã được dùng trong Kinh điển
“được báp-tem bằng Thánh Linh” (Cong Cv 1:5)
“chịu báo-tem liên hiệp với Chúa Cứu Thế” (GaGl 3:27; RoRm 6:3)
“chịu báp-tem là chịu chết với Ngài” (RoRm 6:3)
Do đó, phải chăng chúng ta sẽ kết luận rằng, ngoài phép báp-tem bằng nước lại còn có ba phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh khác nữa, mà chúng ta phải liên tiếp nhận, cái này tiếp sau cái kia? Sự thật không phải như vậy, vì trước giả Thư tín viết cho người Ê-phê-sô khi đặt nền cho Hội thánh thuộc linh đã minh nhiên nhấn mạnh rằng “Chỉ có...một Thánh Linh” (Eph Ep 4:4-6). Hơn nữa, điều cũng hết sức rõ ràng là ba nhóm từ ấy đều đồng nghĩa, vì chính Thánh Linh đã nhận chìm chúng ta trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, cũng khiến chúng ta chết đi đối với Bản Ngã để chúng ta có thể sống lại với Ngài.
3. Chúng ta tiếp nhận phép báp-tem bằng Thánh Linh vào giai đoạn nào?
Vì phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh khiến chúng ta trở thành các chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế, điều chắc chắn là chúng ta nhận được nó lúc chúng ta quay về với Cứu Chúa và tin nhận Ngài. Từng trải của một trăm hai mươi môn đệ Chúa trong ngày lễ Ngũ tuần không thể đem ra để đối chiếu với từng trải của chúng ta về đủ mọi phương diện, bởi vì họ vốn thuộc về hai chế độ khác nhau. Tuy nhiên, họ đã nhận được phép báp-tem bằng Thánh Linh đúng lúc họ gia nhập Hội thánh và chế độ mới. Trường hợp số người ngoại đạo tại nhà Cọt-nây lại còn đáng chú ý hơn, vì việc này có thể so sánh với trường hợp của chúng ta, họ đã được phép báp-tem bằng thánh Linh ngay lúc họ ăn năn theo Cơ-đốc giáo, và họ được tái sanh (Cong Cv 10:44; 11:15-16). Do đó phép báp-tem bằng Thánh Linh và sự tái sanh đã được thực thi đồng thời. Thật vậy, ngay lúc tôi được ở trong Chúa Cứu Thế bởi đức tin, thì Chúa Cứu Thế cũng ở trong tôi để ban sự sống cho tôi bằng cách tái sanh tôi.
Cần lưu ý thêm là việc ăn năn quy đạo và tái sanh cũng xảy ra đồng thời với nhau, vì đó là hai mặt của cùng một từng trải. Ăn năn quy đạo là hành động của một người từ bỏ tội lỗi và quay về với Thượng Đế; tái sanh là phép lạ của Thượng Đế bởi đó người ấy nhận được sự sống vĩnh cửu; hai hành động này xảy ra đồng thời, vì người thật lòng tin cũng được tái sanh ngay tức khắc (GiGa 5:24).
Chính vì lý do ấy mà trong Kinh điển không hề có văn bản nào thúc giục các tín hữu tìm cầu phép báp-tem bằng Thánh Linh. Một khi họ đã hẳn nhiên ở trong Chúa Cứu Thế rồi, thì họ còn tìm cầu điều họ đã nhận lãnh được ngay từ lúc bắt đầu đời sống làm Cơ-đốc nhân mà làm chi? Về vấn đề này, cần lưu ý là trong tất cả các văn bản mà Phao-lô nói với các Cơ-đốc nhân về phép báp-tem bằng Thánh Linh, động từ được dùng đều thuộc về thì quá khứ, vì từng trải ấy vốn đã có rồi “Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều (đã) chịu báp-tem” (ICo1Cr 12:13) “Do lễ báp-tem ấy, anh em đã chết và được chôn với Chúa, rồi (đã) được sống lại với Ngài” (CoCl 2:12) “Vì tất cả những người đã chịu báp-tem, liên hiệp với Chúa Cứu Thế đều (đã) được Ngài bao bọc” (GaGl 3:27) (Cũng xem RoRm 6:3-4).
Quả thật là ngày nay, có nhiều người gán tên “phép báp-tem bằng Thánh Linh” cho một từng trải xảy ra sau sự tái sanh. Nhưng nếu những gì đã được viết ra liên hệ với các môn đệ nguyên thuỷ (xem Phần II, chương 2) hiện ra trong tâm trí bạn, và nếu có câu nào ám chỉ tất cả các khúc sách được ứng dụng cho các tín hữu sau ngày lễ Ngũ tuần trong đó cómấy chữ “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” xuất hiện thì cần phải thấy rằng đã chẳng có một trường hợp nào cung cấp đầy đủ cơ sở để biện minh cho một quan niệm như vậy, và trong nhiều trường hợp, đều là hậu quả của việc nhầm lẫn về từ ngữ mà thôi. Cái từng trải có thể có được và thích đáng để chiếm hữu sau sự tái sanh đó đã được Kinh Thánh gọi - không phải là phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, nhưng là sự được đầy dẫy (đổ đầy) Đức Thánh Linh (xin xem chương về sự đầy dẫy Đức Thánh Linh).
4. Nhận lãnh phép báp-tem bằng Thánh Linh như thế nào?
Vì báp-tem bằng Thánh Linh ban cho chúng ta một địa vị trong Chúa Cứu Thế và khiến chúng ta trở thành những chi thể của Thân thể Ngài, rõ ràng chúng ta chỉ đơn giản nhận đó bằng đức tin mà thôi “Anh em đã chết và được chôn với Chúa, rồi được sống lại với Ngài do đức tin nơi quyền năng Thượng Đế” (CoCl 2:12) (Chẳng có gì để thắc mắc nghi ngờ về bản văn này đề cập phép báp-tem bằng Thánh Linh, vì chỉ một mình phép báp-tem bằng nước mà thôi thì không thể đem đến kết quả là chúng ta được sống lại cách thuộc linh). Còn Giăng thì viết “Ai tin và xưng nhận Chúa Cứu Thế là Con Thượng Đế đều được Thượng Đế ngự trong lòng v à được ở trong Thượng Đế” (IGi1Ga 4:15). Dó đó, người ta nhận được địa vị ở trong Thượng Đế và Chúa Cứu Thế chính là nhờ sự kiện tin và xưng nhận danh Cứu Chúa.
Hệ quả là nếu bạn vẫn chưa trải qua kinh nghiệm thiết yếu là được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, thì bạn không cần gì phải chờ đợi, khẩn này hay chiến đấu để có được nó. Hãy đến với Thượng Đế để được cứu rỗi, tin Chúa Cứu Thế Giê-xu và lời hứa của Ngài là Ngài sẽ làm phép báp-tem cho người thuộc về Ngài bằng Thánh Linh Ngài, thì bạn sẽ nhận được nó.
5. Phải chăng phép báp-tem bằng Thánh Linh được ban cho tất cả mọi người?
Có nhiều người tưởng rằng phép báp-tem bằng Thánh Linh là một từng trải đặc biệt dành cho những người được đặc ân đặc quyền, và cho một vài tôi tớ ít oi và quan trọng nhất của Thượng Đế mà thôi. Sự thật không phải như vậy và Kinh Thánh dạy rằng ân huệ ấy được mở rộng cho toàn thể các tín hữu. Tính cách hiển nhiên của việc này được thấy rõ khi chúng ta nhận thức được rằng nếu không có được nó, chúng ta sẽ chẳng bao giờ được cứu hay trở thành các chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế. Xin chú ý chữ tất cả trong các khúc sách sau đây: “Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu báp-tem để gia nhập vào một thân thể. Tất cả chúng ta - người Do-thái và nước Ngài, người nô lệ và tự do - đều nhận lãnh một Thánh Linh” (ICo1Cr 12:13). “Tất cả chúng ta đều được làm con cái Thượng Đế khi tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu Vì tất cả những người đã chịu báp-tem, liên hiệp với Chúa Cứu Thế đều được Ngài bảo bọc” (GaGl 3:26-27). Chính Chúa Cứu Thế cũng đưa ra một lời bảo đảm không chối cãi vào đâu được rằng Ngài sẽ làm phép báp-tem cũng như Ngài sẽ khiến họ trở thành những chứng nhân cho Ngài vậy (Cong Cv 1:5, 8). Thật vậy, khi thông báo về Đấng sẽ giải cứu người thế gian khỏi tội lỗi và làm báp-tem cho họ bằng Thánh Linh, Giăng Báp-tít đã trình bày cả hai hành động ấy đều phổ quát như nhau (GiGa 1:29, 33).
Kết quả là từng trải này vừa cần thiết mà cũng vừa được mở rộng cả cho chính bạn nữa.
6. Các kết quả của phép báp-tem bằng Thánh Linh là gì?
a. Nó khiến chúng ta trở thành chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế (ICo1Cr 12:13) như đã giải thích rồi. Từ đó trở đi chúng ta được dự phần vào sự sống và Công tác của Ngài.
b. Nó giúp chúng ta được liên hiệp với Chúa Cứu Thế”. Vì tất cả những người đã chịu báp-tem, liên hiệp với Chúa Cứu Thế đều được Ngài bảo bọc” (GaGl 3:27). Người tín hữu được nhận chìm trong Chúa Cứu thế bởi phép báp-tem, thì được Ngài bảo bọc, được liên hiệp với Ngài, nói khác đi, là được nhận một bản tính mới (chẳng có gì để nghi ngờ là bản văn này hàm ý rằng “phép báp-tem bằng Thánh Linh” và phép báp-tem để được liên hiệp với Chúa Cứu Thế hoàn toàn giống nhau; không hề có gì ở đây ngụ ý ám chỉ phép báp-tem bằng nước, vì tự nó, phép báp-tem ấy không đủ hiệu năng để mặc lấy bản tính mới cho chúng ta).
Con cái Thượng Đế mang trong mình con người mới (CoCl 3:10, 11) một khi đã ở trong Chúa Cứu Thế, người ấy là một con người mới được tái tạo và mọi sự cũ đều đã qua đi như thế”. Do lễ báp-tem ấy, anh em đã chết và được chôn với Chúa, rồi được sống lại với Ngài do đức tin nơi quyền năng Thượng Đế là quyền năng phục sinh của Chúa Cứu Thế” (CoCl 2:12)
“Cũng do báp-tem ấy, chúng ta đã được chôn với Chúa Cứu Thế, để sống một cuộc đời mới cũng hư Ngài... (đã) sống lại từ cọi chết” (RoRm 6:4). Nếu nhờ Thánh Linh, tôi đã được ban cho một cỗ trong Chúa Cứu Thế, thì rõ ràng là tôi phải từ bỏ đời sống iêng của mình để tiếp nhận đời sống của Ngài. Thế thì, phép báp-tem bằng Thánh Linh đã giúp tôi đạt được biết bao nhiêu là kết quả rực rỡ vinh quang, mà nếu về phần mình, tôi lại vẫn mù tịt, chẳng biết gì về chúng cả, thì thật là điên dại biết bao nhiêu!
Xin chúng ta lưu ý một lần nữa là hai khúc sách CoCl 2:12 và RoRm 6:4 này đều không hàm chứa trọnv ẹn nhóm từ “phép báp-tem bằng Thánh Linh mà chỉ có mấy chữ “báp-tem với Ngài” và “báp-tem (để) được chôn với Ngài” thôi. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, kết quả đều bao gồm cả sự chết và sự sống lại thuộc linh với Chúa Cứu Thế. Như chúng ta đã ghi nhận liên hệ với GaGl 3:27, phép báp-tem bằng nước không thể nào đem đến những kết quả như thế. Do đó, hai câu này vốn trước hết đề cập phép báp-tem bằng Thánh Linh. Sau này, chúng ta sẽ thấy giữa hai phép báp-tem ấy có liên hệ như thế nào.
Xin ghi nhận một số kết quả của phép báp-tem bằng Thánh Linh, có thể kết hợp được với các kết quả do sự tái sanh mà có. Điều này sẽ vạch rõ mối liên hệ mật thiết giữa hai từng trải đồng thời tạo ra các kết quả ấy.
d. Cuối cùng phép báp-tem bằng Thánh Linh tạo ra sự hợp nhất giữa các con cái Thượng Đế.
“Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu báp-tem để gia nhập vào một thân thể. Tất cả chúng ta - người Do-thái và nước ngoài, người nô lệ và tự do - đều nhận lãnh một Đức Thánh Linh” (ICo1Cr 12:13). “Vì tất cả những người đã cịu phép báp-tem, liên hiệp với Chúa Cứu Thế, đều được Ngài bảo bọc. Sự chia rẽ kỳ thị giữa Do-thái và nước ngoài, giữa nô lệ và tự do, giữa nam và nữ đã chấm dứt vì chúng ta đều hợp nhất trong Chúa Cứu Thế Giê-xu” (GaGl 3:27-28).
Nhờ trở thành các chi thể của Thân thể, chúng ta chẳng những được hợp nhất với cái Đầu, mà còn được hợp nhất lẫn nhau nữa. Do đó mà Phao-lô nài khuyên chúng ta “phải cố gắng sống bình an hòa thuận để giữ sự hợp nhất trong Thánh Linh”, và lời kêu gọi này được ông căn cứ trên sự kiện chỉ có một thân thể, mo-t Thánh Linh, một phép báp-tem (Eph Ep 4:3, 6) mà thôi.
Chúng ta hãy tạ ơn Thượng Đế vì Ngài đã tạo ra sự hợp nhất giữa các con cái Ngài, nhưng chúng hãy tự hạ mình xuống khi nhớ chính chúng ta lại rất thường làm gián đoạn sự hài hòa đó và ngăn trở việc nó được thể hiện.
7. Phép báp-tem bằng Thánh Linh có tạo kết quả là mặc lấy quyền năng cho chúng ta, như trong Công 1:5-8 hay không?
Rõ ràng là hành động nhận lãnh Thánh Linh chịu phép bá-tem, đã đặt vào trong chúng ta nguồn quyền năng. Tuy nhiên, Kinh điển dạy chúng ta rất rõ ràng rằng, rủi thay rất có thể chúng ta đã chịu phép bằng Thánh Linh, có được sự hiện diện Ngài trong chúng ta, nhưng lại chẩng biểu hiện được quyền năng gì của Ngài cả, chỉ vì chúng ta làm buồn Ngài. Sau đây là hai thí dụ:
a. Toàn thể các tín hữu tại Cô-rinh-tô đều đã nhận lãnh phép báp-tem bằng Thánh Linh (ICo1Cr 12:13) họ đều đã là đền thờ của Thánh Linh đang ngự trong lòng họ (6:19) thế nhưng họ vẫn còn là những người xác thịt vẫn còn là con đỏ thuộc linh, chẳng có thể ăn gì cứng, đặc hơn sữa (3:1-3). Họ đả không được mặc lấy quyền năng.
b. Các tín hữu người Ga-la-ti cũng đều là con cái Thượng Đế; họ đều được phép báp-tem trong Chúa Cứu Thế và đã mặc lấy Chúa Cứu Thế (GaGl 3:26, 27). Nhưng bất chấp việc ấy, Phao-lô đã bảo rằng họ đang xây bỏ Phúc âm (1:6), đang quay trở lại” làm nô lệ những giáo lý rỗng tuếch vô dụng” (4:9), và ông sợ e mình đã lao khổ vô ích giữa họ. Do đó hép báp-tem bằng Đức Thánh Linh không phải bao giờ cũng có việc biểu lộ quyền năng đi kèm. Chúng ta vừa thấy là một người chỉ chịu phép báp-tem thì chưa đủ; người ấy còn cần phải đầy dẫy Thánh Linh nữa. Như vậy, lẽ dĩ nhiên là quyền năng có thể biểu hiện cả bên trong lẫn chung quanh nó. Trong ngày lễ Ngũ tuần, một trăm hai mươi môn đệ Chúa chẳng những đã được phép báp-tem bằng Thánh Linh (Cong Cv 1:5), mà còn được đầy dẫy Thánh Linh nữa (Cong Cv 2:4). Đây là lý do của sự thành công phi thường và ngay tức khắc của chức vụ họ.
8. Phải chăng có quyết lệnh dạy rằng sau phép báp-tem bằng Thánh Linh, phải có một vài biểu hiện ngoại tại kèm theo. Trong tất cả các thư tín cấu thành phần khẳng định mọi giáo lý Cơ-đốc giáo, chúng ta không thấy có văn bản nào đề cập việc này cả. Trong sách Công vụ các sứ đồ câu “phép báp-tem bằng Thánh Linh” được kèm theo hai lần khả năng nói các thứ tiếng ngoại quốc.
Cong Cv 1:5 và 2:4 nói về trường hợp một trăm hai mươi người trong ngày lễ Ngũ tuần.
10:46 và 11:15, 16 nói về trường hợp những người ngoại quốc trong nhà Cọt-nây. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp việc phải có một dấu hiệu ngoại tại nào đó là cần thiết; vì nếu không có, các môn đệ Chúa sẽ không thể biết được là Thánh Linh đã giáng trên họ, cũng như những người ngoại quốc cũng sẽ chẳng nhận được phước hạnh ấy. Với chúng ta là những người sống sau giai đoạn dẫn vào chế độ mới ấy, chẳng hề có khúc Kinh điển nào buộc chặt không tráh né vào đâu được cái ân tứ nói ngoại ngữ với phép báp-tem bằng Thánh Linh đó. Trái lại, khi khẳn gđịnh tất cả các phép báp-tem đều là bởi Thánh Linh, Phao-lô đã nhấn mạnh thật phân minh rằng không phải tất cả mọi người đều nói ngoại ngữ (ICo1Cr 12:13, 30) (Xem trong Phần IV, chương 2 tiểu mục NGHIÊN CỨU CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH ĐẶC THÙ, phần V ÂN TỨ NÓI NGOẠI NGỮ, MỤC 4. Ân tứ nói ngoại ngữ không được ban cho tất cả mọi người). Còn về chuyện lắc lư, la hét, run rẩy và uốn éo vặn vẹo thân mình có thể tiếp sau phép báp-tem bằng Thánh Linh, thì Kinh Thánh chẳng hề đề cập, mà con nghiêm cấm cảnh cáo rằng Thượng Đế vốn là Thượng Đế của sự bình an, trật tự và không ưa cảnh hỗn loạn, ngoài ra, Ngài còn là Đấng Thánh khiết nữa (ICo1Cr 14:33, 40). Nếu có những việc như thế xảy ra, nguồn gốc của chúng có thể không phải là từ trên cao.
a. Có liên hệ gì giữa phép báp-tem bằng nước và phép báp-tem bằng Thánh Linh không?
Vâng, dĩ nhiên là có! Cũng như phép báp-tem bằng Thánh Linh là hành động chìm ngập trong Chúa Cứu Thế chỉ về sự chết và sống lại thuộc linh với Ngài để trở thành một chi thể của Thân thể Ngài, thì phép báp-tem bằng nước là phần biểu tượng, là sự chứng minh bề ngoài của hành động của Thánh Linh trong lòng người tín hữu. Nhưng không ai được phép khẳng định là không thể nhận được phép báp-tem bằng Thánh Linh nếu trước nhất không chịu phép báp-tem bằng việc trầm mình trong nứơc. Nếu độc giả nào quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, xin đối chiếu các khúc Kinh Thánh sau đây (RoRm 6:3, 4; CoCl 2:12; GiGa 3:5; Cong Cv 8:36, 39; 10:47).
Xin chúng ta đừng lìa khỏi chủ đề này mà chưa đặt ra cho chính mình câu hỏi dứt khoát này “Tôi đã nhận được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh chưa?” Nếu câu trả lời là “chưa” nguyện chúng ta hãy lấy đức tin đến với Chúa Cứu Thế không chút trì hoãn để được cứu rỗi và nhận được phép báp-tem ấy.

VIỆC NHẬN LÃNH ĐỨC THÁNH LINH
Phao-lô tuyên bố rằng “Người không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế dĩ nhiên không thuộc về Chúa Cứu Thế” (RoRm 8:9). Do đó , đã có một lệnh bắt buộc là chúng ta cần phải biết chẳng những mình đã được tái sanh và được phép báp-tem bằng Thánh Linh chưa, mà còn phải biết là ngay lúc này đây, Ngài có hiện diện trong lòng chúng ta hay không nữa.
I. NHỮNG LỜI HỨA LIÊN QUAN VỚI VIỆC NHẬN LÃNH THÁNH LINH
Chúng vốn vừa có nhiều, vừa hết sức minh nhiên. Chúng tôi từng lưu ý rút ra rất nhiều lời hứa như thế trong Cựu ước (xem PHẦN II, chương 1, Mục III). Chúa Cứu Thế Giê-xu, khi trích dẫn các lời hứa ấy, còn mở rộng thêm nữa “Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An ủi khác để sống với các con mãi mãi. Đó là Thánh Linh, Thần Chân lý” (GiGa 14:16). “Ta đi là ích lợi cho các con, vì nếu ta không đi, Đấng An ủi sẽ không đến với các con. Khi ta đi, ta sẽ sai Ngài đến” (GiGa 16:7) “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng làm chứng cho ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, và khắp thế giới” (Cong Cv 1:8). Phê-rơ cũng đề cập đặc biệt vấn đề này “Rồi (anh em)... sẽ nhận được Thánh Linh. Vì Chúa hứa ban Thánh Linh cho anh em và dòng dõi, cho cả những người ở các xứ xa lạ được Thượng Đế, Chúa chúng ta, lựa chọn” (Cong Cv 2:38, 39). Trước những lời hứa như thế bên cạnh tất cả những lời hứa được tìm thấy khắp nơi trong Kinh điển, chẳng hề có người thật lòng tin Chúa nào lại có thể nghi ngờ việc Đức Thánh Linh vốn cũng được dành cho chính mình nữa.
II. CHÚNG TA NHẬN LÃNH THÁNH LINH NHƯ THẾ NÀO?
Câu hỏi này đã đặt ra cho người tín hữu rất nhiều vấn đề, đòi hỏi chúng ta trước nhất phải giải quyết những gì không cần thiết liên hệ đến việc nhận lãnh Thánh Linh, rồi sẽ đề cập những gì là cần thiết.
1. Những điều chẳng có liên hệ gì với việc nhận lãnh Đức Thánh Linh.
a. Phải chăng có một thời gian chờ đợi trước khi được nhận lãnh Thánh Linh? Trong GaGl 3:13-14, Phao-lô vạch rõ rằng “Chúa Cứu Thế đã cứu chúng ta khỏi bị luật pháp lên án ... (để) tất cả chúng ta là con cái Chúa đều nhờ đức tin mà tiếp nhận Thánh Linh như Ngài đã hứa”. Do đó, nếu Thánh Linh được tiếp nhận là nhờ đức tin, thì người tín hữu chẳng cần gì phải chờ Ngài nhiều tháng và thậm chí nhiều năm. Phao-lô đã lưu ý người Ê-phê-sô về điểm này rằng “sau khi anh em tin nhận Chúa Cứu Thế, nên được Thượng Đế ban Thánh Linh vào lòng chứng thực anh em là con cái Ngài” (Eph Ep 1:13).
Tuy nhiên, dường như sách Công cho thấy có một số người đã tin Chúa, nhưng chưa nhận lãnh Đức Thánh Linh ngay. Xin chúng ta xem những người đó là ai.
1. Các môn đệ Chúa trước ngày lễ Ngũ tuần.
Với nhóm các tín hữu này của Ngài, Chúa Cứu Thế Giê-xu dặn rằng họ chớ nên ra khỏi Giê-ru-sa-lem, mà phải chờ Đưc Chúa Cha làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài. Thời gian chờ đợi này kéo dài mười ngày dành riêng để cầu nguyện (Cong Cv 1:14).
Tại sao số một trăm hai mươi người này lại phải chờ đợi? Vì ngày Thượng Đế đã định để đổ Đức Thánh Linh xuống chưa đến! Với chúng ta là những người sống sau lễ Ngũ tuần, thì không giống như vậy.
2. Những người Sa-ma-ri.
Nhiều người Sa-ma-ri đã tin Chúa và được làm phép báp-tem cho, tuy nhiên, họ chưa được nhận lãnh Đức Thánh Linh và phải chờ đợi khá lạu, cho đến khi sau đó, có các sứ đồ can thiệp vào (Cong Cv 8:12, 15-17). Đâu là lời giải thích cho sự việc này? Dường như sự thể là như vầy: xin đừng bao giờ quên rằng sách Công vụ không phải là một bản tuyên ngôn về giáo lý, và có rất nhiều trường hợp đề cập số người mà hoàn cảnh sinh sống vốn khác với chúng ta, chẳng hạn các môn đệ Chúa trươc ngày lễ Ngũ tuần và những người Sa-ma-ri này.
Thế số người Sa-ma-ri này là ai? Đây là một chủng tộc ngoại đạo bị dân Do-thái khinh bỉ, và trong tôn giáo của họ chỉ có một chút bóng mờ nhạt của Do-thái giáo mà thôi. Chính Chúa Giê-xu, lúc sai các môn đệ Ngài ra đi, vẫn cấm họ vào các thành phố của người Sa-ma-ri (Mat Mt 10:5) hơn nữa, Gia-cơ và Giăng còn bộc lộ ước muốn cho lửa từ trời sa xuống để thiêu hủy các thành phố của họ đi (LuLc 9:54). Do đó, mà một chiếc hố rất sâu đã ngăn cách họ, cần phải được san bằng. Trong sách Công chương 8, cánh cửa Phúc âm vẫn chưa được mở cho người ngoại quốc, mà phải chờ cho đến chương 10, thì con đường mới được rộng mở cho họ. Phê-rơ, người đã được Chúa giao các chìa khóa của Nước trời, đã dùng chúng để mở cửa cho người Do-thái trong ngày lễ Ngũ tuần, và mở cửa cho những người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây. Như thế, số người Sa-ma-ri này đang ở vào vị trí nằm giữa. Trước đó, Thánh Linh chỉ mới được ban cho người Do-thái mà thôi, cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên, khi việc phải có sự can thiệp của các sứ đồ, nhất là Phê-rơ, trước khi người Sa-ma-ri có thể tiếp nhận Ngài.
3. Các môn đệ tại Ê-phê-sô.
Phao-lô gặp mười hai môn đệ và hỏi hỏ câu hỏi lừng danh này “Khi tin Chúa, anh em đã nhận được Thánh Linh chưa?” (Cong Cv 19:1-7). Do đó mà câu kết luận rất thừơng rút ra ấy là một người có thể tin Chúa nhưng vẫn chưa nhận lãnh nghiên cứu thật kỹ cuộc đàm thoại này. Các môn đệ này vốn chẳng biết gì về Thánh Linh cả mà chỉ nhận phép báp-tem của Giăng Báp-tít mà thôi. Phao-lô mới giải thích cho họ là họ chỉ từng trải sự ăn năn tội mà thôi (c.4). Lẻ tất nhiên là nhiều ngàn người Do-thái từng nhận phép báp-tem của Nhà Tiền khu Giăng Báp-tít vẫn chưa hề nhờ nó mà được tái sanh, vì ăn năn và xưng tội chỉ mới là những bước đầu tiên hướng về sự cứu rỗi mà thôi. Sau đó, phải có hành động tiếp theo là đặt đức tin vào Chúa Giê-xu. Từ trước cho đến lúc đó, mười hai môn đệ tại Ê-phê-sô này vẫn còn thiếu phần đức tin đó, nhưng ngay sau khi tin nhận Cứu Chúa và chịu phép báp-tem nhân danh Ngài, họ liền được nhận lãnh Đức Thánh Linh không chút trì hoãn. Ngoài ra, xin lưu ý là Phao-lô đã không hỏi họ là từ khi tin cho đến nay họ đã nhận được Đức Thánh Linh chưa, mà ông hỏi “Khi tin”. Điều này chứng minh rõ ràng cho quy luật là người ta được nhận lãnh Thánh Linh ngay lúc tin.
Hơn nữa cho dầu có giải thích thế nào đi nữa cho ba trường hợp vừa được trích dẫn trên đây, điều hiển nhiên là một số rất đông các Cơ-đốc nhân khác đã được đề cập trong sách Công đều được nhận lãnh Thánh Linh mà chẳng cần phải trì hoãn gì cả. (Về phần Phao-lô, chúng ta không biết ông đã thật sự ăn năn quy đạo trước hay sai ba ngày sống trong tối tăm tại Đa-mách (Cong Cv 9:9), hoặc ông đã có nhận lãnh Đức Thánh Linh trước khi được đầy dẫy Thánh Linh (c.17) hay không). Về vấn đề này, chúng ta sẽ chỉ dựa vào phần đề cập ba ngàn người trong sách 2:41 và số người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây (10:44) mà thôi. Số người sau này đã chỉ phải chờ đợi rất ít, cho đến lúc Phê-rơ vẫn chưa kết thúc bài giảng của ông.
Cuối cùng, có một sự kiện nói lên được rất nhiều điều, ấy là các thư tín (là bản hiến chương của sinh hoạt Cơ-đốc nhân) đã không đưa ra cơ sở nào để bảo rằng người tín hữu cần phải chờ đợi để nhận lãnh Đức Thánh Linh. Lẽ dĩ nhiên, phần nghiên cứu sau đây sẽ chứng minh rằng lời dạy dỗ của chúng vốn trái với điều đó.
2. Có cần phải cầu nguyện thật lâu dài, rồi mới nhận được Thánh Linh không?
Lẽ dĩ nhiên là Chúa Giê-xu từng tuyên bố “Các con vốn là người xấu xa còn biết cho con mình vật tốt huống chi Cha các con ở trên trời chẳng ban Thánh Linh cho người cầu xin Ngài sao?” (LuLc 11:13), Ngài cũng nói “Khi cầu nguyện, hãy tin đã được, tất các con xin gì được nấy” (Mac Mc 11:24).
Nếu số một trăm hai mươi người trong Phòng Cao đã phải dành mười ngày để cầu nguyện (Cong Cv 1:14), thì như chúng tôi đã lưu ý về trước, là vì khoảnh khắc mà Thượng Đế đã quyết định cho Đức Thánh Linh phải giáng xuống vẫn chưa đến. Cũng vậy, lời cầu nguyện của Phê-rơ và Giăng vì cớ người Sa-ma-ri (Cong Cv 8:15) cũng có thể được giải thích bằng sự kiện trước biến có xảy ra tạ nhà Cọt-nây, Thánh Linh vẫn chưa giáng trên những người ngoại quốc. Do đó, chúng ta có thể suy diễn rằng nếu những người chưa ăn năn quy đạo được khuyến giục hãy cầu xin ân tứ của Thánh Linh, thì không có khúc Kinh điển nào nêu ra điều kiện để họ phấn đấu cầu nguyện nhằm đạt được điều đó. Sự việc cũng y như nhận được sự tha tội. Thượng Đế dạy chúng ta hãy cầu xin điều đó rồi lấy đức tin mà tiếp nhận ngay tức khắc. Một người có thể chiến đấu vô ích suốt nhiều năm cầu nguyện để được tẩy sạch tội lỗi mình nhưng người ấy sẽ chỉ được bảo đảm là mình đã được cứu, khi người ấy vừa cầu xin vừa thôi chiến đấu mà lấy đức tin tiếp nhận điều Thượng Đế, trên nguyên tắc đã ban cho mình từ lâu trước đó rồi. Phao-lô vạch rõ rằng “Chúa Cứu Thế đã cứu chúng ta... (để) chúng ta ...nhờ đức tin mà tiếp nhận Thánh Linh” (GaGl 3:13-14).
Do đó, nếu chúng ta vẫn chưa được tái sanh, hãy cầu xin Thượng Đế ban cho chúng ta Thánh Linh mà Ngài đã đổ xuống thật rộng rãi chỉ một lần là dứt khoát, vĩnh viễn; sau đó thôi không cầu xin bởi đức tin để mình được tiếp nhận Ngài ngay tức khắc nữa, mà chỉ hãy tỏ lòng tri ân Ngài về cái ân tứ kỳ diệu đó mà thôi. Mặt khác, nếu chúng ta đã là con cái Chúa rồi, chúng ta hãy theo đuổi phần ân huệ mà mình đã có rồi, vì nếu không có Thánh Linh, thì chẳng ai có thể thuộc về Ngài được (RoRm 8:9).
3. Việc đặt tay có cần thiết để nhận lãnh Thánh Linh không?
Ở đây, một lần nữa, đã không có văn bản nào trong các thư tín buộc phải có việc đặt tay trước khi một người có thể nhận lãnh Thánh Linh. Còn trong cả sách Công vụ, chỉ có ba trường hợp liên hệ đòi hỏi chúng ta phải chú ý. (Cả ba trường hợp này đều gần như giống y nhau)
a. Người Sa-ma-ri nhận được Đức Thánh Linh nhờ phép đặt tay của ca1c sứ đồ (Cong Cv 8:17-18). Chúng tôi từng nhận định rằng việc can thiệp trực tiếp của GPhê-rơ và Giăng đó chỉ có thể được giải thích bằng sự kiện cho đến lúc đó của Phúc âm vẫn chưa được mở cho các dân tộc ngoại đạo.
b. Sau-lơ người Tạt-sơ được A-na-nia đặt tay lên và nói “Chúa.... sai tôi đến đây, để anh được sáng mắt lại và đầy Thánh Linh” (Cong Cv 9:7). Nhưng trong câu 12, chính Chúa đã phán với cùng ông A-na-nia ấy, “con sẽ đến đặt tay, để Sau-lơ sáng mắt lại”. Do đó, dường như việc đặt tay trong trường hợp này vốn chẳng có liên hệ gì với Đức Thánh Linh, nhưng với việc chữa bệnh.
c. Cuối cùng, các môn đệ tại Ê-phê-sô nhận lãnh Thánh Linh khi “Phao-lô đặt tay trên họ” (Cong Cv 19:6). Đây là số tín hữu duy nhất trong sách Công vụ - sau lễ Ngũ tuần và Cọt-nây - đã được nhận lãnh Thánh Linh theo cách đó. Rõ ràng là chúng ta không bị bắt buộc phải rút ra thí dụ này cái định luật rằng “nếu không có việc đặt tay thì người ta không thể được nhận lãnh Thánh Linh” - cả cho số mười hai môn đệ ấy, lẫn cho các Cơ-đốc nhân. Trái lại tất cả các trường hợp khác trong sách Công vụ cho thấy cái quy luật để được nhận lãnh Thánh Linh là chẳng phải qua một trung gian nào cả; hãy lấy thí dụ về một trăm hai mươi người tại Phòng Cao (Cong Cv 2:4), ba ngàn người trong ngày lễ ngũ tuần (2:38), những người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây (10:44), các môn đệ tại An-ti-ốt xứ Bi-si-đi (13:48, 52), đó là chưa kể đến tất cả những người chỉ cần tin thì kết quả là đều được nhận lạnh ân tứ của Thượng Đế. Hơn nữa, rõ ràng rằng, nếu việc đặt tay quả thật cần thiết, thì cả số người ngoại quốc với Cọt-nây, chắc đều đã không nhận lãnh được Thánh Linh.
Liên quan với vấn đề này, việc đặt tay được đề cập trong ITi1Tm 4:14 “Đừng lãng quên các ân tứ Chúa cho con qua lời tiên tri và sự đặt tay của các trưởng lão Hội Thánh”, và thêm nữa là trong IITi 2Tm 1:6 “Ta nhắc con khơi cao ngọn lửa Thánh Linh mà Thượng Đế đã thắp sáng tâm hồn con sau khi đặt tay cầu nguyện”. Ta có thể đặt vấn đề phải chăng trong hai khúc sách trên, Phao-lô đã ngụ ý ám chỉ ân tứ của Thánh Linh nói chung; vì dường như đặc biệt là trong bản văn trước, Phao-lô đang đề cập một ân tứ thuộc linh đặc biệt có giá trị cho chức vụ, chớ không phải việc Ti-mộ-thư được nhận lãnh Thánh Linh.
Sách Công vụ cũng cung cấp cho chúng ta nhiều thí dụ về việc đặt liên hệ với chức vụ: trên các chấp sự (Cong Cv 6:6), sau đó trên Ba-ra-ba và Sau-lơ (13:3). Nhưng đây lại là một vấn đề khác.
Để tóm tắt: việc đặt tay là đúng theo Kinh Thánh, và Thượng Đế có thể dùng phương tiện này để truyền đạt cho chúng ta một ân huệ hay ân tứ nào đó, nhưng nó chẳng bao giờ là cần thiết, hay ăn nhập gì với từng trải của từng Cơ-đốc nhân một.
4. Ân tứ nói ngoại ngữ có phải là chứng cứ cần thiết cho việc nhận lạnh Đức Thánh Linh không?
Nhiều người đã tự đặt cho mình câu hỏi này trước nhiều cơ hội được nhắc đi nhắc lại trong sách Công vụ khi ân tứ này được kèm theo sau việc nhận lãnh Thánh Linh. Xin chúng ta hãy khảo xét các trường hợp về ân tứ nói ngoại ngữ này như được trích dẫn trong sách Công vụ, rồi tự vấn chẳng hay chúng có thiết lập được một quy luật có giá trị cho chính mình không. Các trường hợp này gồm có ba cơ hội.
a. Một trăm hai mươi người tại Phòng Cao được đầy dẫy Thánh Linh và bắt đầu nói các ngoại ngữ (Cong Cv 2:1-4).
Xin lưu ý là Thượng Đế đã ban cho họ ba dấu hiệu bên ngoài: tiếng ồn ào như của một trận gió mạnh thổi đầy nhà, các lưỡi lửa đậu trên mỗi người, và cuối cùng, họ nói được các ngoại ngữ mà họ không biết nhưng lại hiểu được (cc 8,11). Tại sao tất cả các dấu hiệu ấy là cần thiết? Ấy là để chứng minh rằng lời hứa đã ứng nghiệm và Thánh Linh đã được ban xuống cho họ. Nếu không có các dấu hiệu ấy, các môn đệ Chúa chắc đã không dám tin rằng che độ mới đã bắt đầu. Chúng ta ngày nay, hiện sống trong một tình hình khác hẳn: nhờ Tân ước và từng trải của Hội thánh, chúng ta được biết Thánh Linh đã được ban tràn lan, phù hợp với lời hứa đã được ban ra. Chẳng hề có ai còn mơ mộng đòi hỏi những dấu hiệu như một trận gió mạnh và các lưỡi lửa như số một trăm hai mươi tín hữu hồi đó. Cũng vậy chỉ cần thí dụ duy nhất trong ngày lễ Ngũ tuần đó đã đủ không cho phép chúng ta đòi hỏi ân tứ nói các ngoại ngữ.
b. Những người ngoại quốc trong nhà Cọt-nây đều nhận lãnh Thánh Linh và bắt đầu nói các ngoại ngữ trong lúc Phê-rơ còn đang nói (Cong Cv 10:44-46). Ở đây, một lần nữa, một dấu hiệu bên ngoài là tuyệt đối cần thiết: nếu không có nó, Phê-rơ và số người Do-thái đã ăn năn quy đạo theo ông, sẽ không thể tin rằng ân tứ Thánh Linh cũng đã được ban cho các chủng tộc người ngoại đạo. Lúc ấy, trước sự kinh ngạc của số người Do-thái trung tín, Phê-rơ đã kêu lên “Ai có thể từ chối phép báp-tem bằng nước cho những người này? Vì họ đã nhận lãnh Thánh Linh cũng như chúng ta” (10:45, 47). Người ta có thể nghi ngờ rằng nếu dấu hiệu là ân tứ nói ngoại ngữ đã không được ban cho, chắc các môn đệ Chúa đã từ chối mà không chịu làm phép báp-tem cho số người ngoại quốc ấy để nhận họ vào Hội thánh. Về phần chúng ta chúng ta chẳng cần gì cái dấu hiệu bề ngoài này mới biết rằng các chủng tộc ngoại giáo đã được nhận vào Hội thánh, và rằng Thánh Linh cũng đã được ban cho chúng ta nữa. Do đó, khúc sách này không hề bắt buộc chúng ta cũng phải nhận được ân tứ nói các ngoại ngữ.
c. Cuối cùng, các môn đệ tại Ê-phê-sô nói các ngoại ngữ sau khi nhận lạnh Thánh Linh (Cong Cv 19:6). Họ vốn ở vào một tình hình y như chúng ta ngày nay, nghĩa là sau ngày lễ Ngũ tuần và trường hợp của Cọt-nây. Thí dụ về họ chỉ đơn giản nhằm chứng minh rằng do quyền tể trị của Thượng Đế, Ngài có thể ban ân tứ nói các ngoại ngữ cho bất cứ người nào Ngài muốn. Nhưng trước nhiều ngàn tín hữu (đã được đề cập trong sách Sứ đồ) chẳng bao giờ nói các ngoại ngữ, chỉ con số mười hai người này mà thôi thì không thể tạo ra được sự cần thiết là các Cơ-đốc nhân trên khắp thế giới đều phải nói các ngoại ngữ để làm bằng chứng cho việc họ đã được nhận lãnh Thánh Linh.
Điều chúng ta học hỏi được liên hệ với vấn đề này trong sách Sứ đồ đã được các thư tín hay đúng hơn là đã được thư tín duy nhất đề cập chủ đề này là ICổ-linh - xác nhận thật đầy đủ. Nhân hai cơ hội, Phao-lô đã tuyên bố rằng ân tứ nói ngoại ngữ không được ban cho tất cả mọi người; Thánh Linh chỉ ban cho mỗi người một ân tứ đặc biệt nào đó tuỳ ý Ngài; một ân tứ cho một người này, và một ân tứ khác cho người ồng loại của người ấy. Cũng không phải tất cả mọi người đều nói ngoại ngữ (ICo1Cr 12:8-11, 28-30). (Phần nghiên cứu chủ đề này sẽ được bổ túc trong chương bàn về các ân tứ của Thánh Linh).
5. Phép báp-tem bằng nước có nhất thiết phải đi trước việc nhận lãnh Thánh Linh không?
Với đám đông nghe Phê-rơ giảng trong ngày lễ Ngũ tuần, ông tuyên bố “Anh em phải hối cải, mỗi người phải nhân danh Chúa Giê-xu chịu báp-tem để được tha tội” (Cong Cv 2:38). Đều này làm nảy sinh vấn đề phải chăng Thượng Đế truyền cho Cơ-đốc nhân phải noi theo nẻo đường như sau:
Ăn năn hối cải.
Chịu phép báp-tem bằng nước
Chịu phép báp-tem bằng Thánh Linh.
Khảo sát thật kỹ toàn bộ sách Công khiến chúng ta có thể nói rằng các trường hợp trong đó việc nhận lãnh Thánh Linh đi sau phép báp-tem là một ngoại lệ. Đã có ba trường hợp như vậy:
a. Ba ngàn người trong ngày lễ Ngũ tuần đã được đề cập (2:38). Những người này thuộc về số người đã chối bỏ và đóng đinh Chúa Giê-xu (c.23). Do đó, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Phê-rơ đòi hỏi họ phải công khai nhìn nhận trước nhất bằng cách chịu phép báp-tem, rằng họ đã thay đổi thái độ đối với Chúa Giê-xu, và giờ đây, họ tin nhận chính Đấng mà họ từng xử tử như một trọng phạm. Làm như vậy, thì họ sẽ được nhận lãnh Thánh Linh.
Phê-rơ lại nói khác với những người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây. Số người này trước đó, chưa hề có thái độ chống lại Chúa Giê-xu. Cho nên Phê-rơ chỉ nhấn mạnh nhu cầu phải có đức tin “Tất cả các nhà tiên tri đều viết về Chúa Cứu Thế: mọi người tin Ngài đều được tha tội nhờ Danh Ngài” (10:43) khi nghe mấy lời này Cọt-nây và các bạn ông đã tin và tức khắc được nhận lãnh Thánh Linh (c.44). Nếu việc họ nhận lãnh Thánh Linh lệ thuộc việc phải làm phép báp-tem bằng nước trước đã, chắc họ đã không hề nhận lãnh được Thánh Linh. Lẽ dĩ nhiên, chính Phê-rơ nhấn mạnh rằng đáng lý ra ông cũng từ chối phép báp-tem bằng nước cho họ nữa (10:47), trong khi các tín đồ tại Giê-ru-sa-lem trách cứ ôn ngay tại việc ông đã vào nhà người ngoại quốc, và chỉ chịu yên lặng sau khi được ông giải thích nhiều điều (11:2-3,18).
b. Người Sa-ma-ri tin Chúa trước, chịu phép báp-tem, rồi mới nhận lãnh Thánh Linh (cc. 8:12, 17). Chúng tôi từng vạch rõ trường hợp này vốn có phẩm chất độc nhất vô nhị, vì nó liên hệ đến những người bán ngoại đạo đã được nhận vào Hội thánh trước khi Thánh Linh đổ xuống trên những người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây. Như thế, kinh nghiệm của họ được chứng minh là không thích hợp để hướng dẫn chúng ta.
c. Cuối cùng, mười hai môn đệ tại Ê-phê-sô đã chịu phép báp-tem trước, rồi sau đó mới được nhận lãnh Thánh Linh (19:5-6).
Đã có sự cố gắng đưa ra nhiều cách giải thích cho trường hợp này, nhưng ngoài cách đã được chấp nhận, cần phải nhấn mạnh một lần nữa rằng từng trải của mười hai người này vốn đứng riêng biệt trong sách Công vụ, và không thể căn cứ vào để xác lập một tiền lệ bắt buộc đối với toàn thể các tín hữu.
Hơn nữa, sự thật của việc này đã được đề cao thật rõ ràng bởi các trường hợp chịu báp-tem khác được đề cập trong sách Công vụ, cho thấy rằng đức tin (và hậu quả là việc nhận lãnh Thánh Linh) vẫn đi trước, chớ không phải là theo sau phép báp-tem. Phi-líp đã bảo với viên thái giám “Nếu ông hết lòng tin, thì có thể (chịu phép báp-tem)” (Cong Cv 8:37 - xem phần chú thích). Sau-lơ chẳng những chỉ nhận lạnh mà còn được đầy dẫy Thánh Linh trước khi chịu báp-tem (Cong Cv 9:17-18). Bà Ly-đi đã tin trước khi chịu báp-tem, cũng như viên giám ngục tại Phi-líp (Cong Cv 16:14-15, 31). Vì Kinh Thánh chép “Ai tin và xưng nhận Chúa Cứu Thế là Con Thượng Đế. đều được Thượng Đế ngự trong lòng, và được ở trong Thượng Đế” (IGi1Ga 4:15), hệ quả là tất cả số người vừa kể trên đều nhận lãnh Thánh Linh trước khi chịu báp-tem bằng nứơc - do đó, mặc dầu có ý nghĩa và giá trị, một phép báp-tem như thế cũng không phải là một trong số các điều kiện để chúng ta nhận lãnh Thánh Linh.
Một thời gian chờ đợi, việc cầu nguyện lâu đời, phép đặt tay, ân tứ nói ngoại ngữ và phép báp-tem liên hệ với nhiều trường hợp đặc thù, đều không phải là những quy định cần thiết liên hệ với việc nhận lãnh Thánh Linh. Như vậy, Thượng Đế tiết lộ cho thấy ước muốn Ngài cứu rỗi người công chính bởi đức tin, mà không bó buộc việc ban ân huệ thuộc linh vào một hành động, nghi lễ hay dấu hiệu bên ngoài bất cứ thuộc loại nào, xem đó là điều cần thiết cả. Xin chúng ta ghi khắc vào tâm trí, rằng “Tin Sứ giả của Thượng Đế là làm theo ý Thượng Đế” và nguyện chúng ta nhân chóng làm trọn điều kiện duy nhất mà chúnh Ngài đã áp đặt trên chúng ta đó.
6. Đức tin là điều kiện duy nhất để nhận lãnh Thánh Linh.
Có rất nhiều khúc sách chứng thực cho chân lý quan trọng này, và chúng tôi sẽ cố gắng xếp chúng vào các loại khác nhau:
a. Thánh Linh được ban cho người nào tin.
Chúa Giê-xu tuyên bố “Người nào tin tôi, các mạch nước hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng”, và Giăng viết thêm “Chúa ngụ ý nói về Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ tiếp nhận vào lòng” (GiGa 7:38-39). Khi viết cho người Ê-phê-sô Phao-lô bảo “Anh em tin nhận Chúa Cứu Thế, nên được Thượng Đế ban Thánh Linh vào lòng, chứng thực anh em là con cái Ngài” rồi ông cầu xin Thượng Đế” ban quyền năng Thánh Linh làm cho tâm hồn anh em vững mạnh, để Chúa Cứu Thế nhân đức tin ngự vào lòng anh em...” (Eph Ep 1:13; 3:16-17). Do đó, chính là bởi đức tin mà Chúa Cứu Thế đến với lòng chúng ta thông qua Thánh Linh.
Người Ga-la-ti đã tiếp nhận sự cứu rỗi bởi đức tin, lại gặp nguy cơ có thể sẽ trở vào luật pháp để tìm cầu sự cứu rỗi bởi việc làm. Phao-lô đã viết cho họ “Có phải anh em nhận lãnh Thánh Linh nhờ cố gắng theo luật pháp không? Thượng Đế ban Thánh Linh và thực hiện các phép lạ giữa anh em vì anh em vâng giữ luật pháp hay vì nghe và tin Chúa Cứu Thế?” (GaGl 3:2, 5). Rõ ràng là chỉ bởi đức tin mà người Ga-la-ti đã nhận được ân tứ của Thượng Đế. Cố gắng để nhận được hay nắm giữ nó bằng việc làm the luật pháp, bằng lễ nghi và các dấu hiệu bề ngoài, sẽ khiến họ trở thành “người hoàn hảo theo xác thịt” (c.3) mà thôi. Thật ra, “Chúa Cứu Thế đã cứu chúng ta khỏi bị luật pháp (và các công việc của luật pháp - c.10) lên án... để... tất cả chúng ta... đều nhờ đức tin mà tiếp nhận Thánh Linh như Ngài đã hứa” (GaGl 3:13, 14).
Cũng vậy, khi Phao-lô liệt kê các kết quả của việc đươc kể là công chính bởi đức tin, ông viết về “Thánh Linh đổ tình yêu tràn ngập lòng chúng ta” (RoRm 5:5). Về sau, Phê-rơ tuyên bố rằng số một trăm hai mươi môn đệ đã nhận lãnh Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ tuần là bởi đức tin, khi ông nói về số người ngoại quốc tại nhà Cọt-nây “Thượng Đế đã ban Thánh Linh cho họ như Ngài đã ban cho chúng ta là người tin Chúa Cứu Thế Giê-xu” (Cong Cv 11:17). Để xác nhận điều đó, về sau, ông lại nói thêm “Thượng Đế ...đã minh xác việc Ngài tiếp nhận người nước ngoài bằng cách ban Thánh Linh cho họ cũng như cho chúng ta. Chúa không phân biệt họ với chúng ta vì Ngài cũng tẩy sạch lòng họ một khi họ tin nhận Chúa” (Cong Cv 15:8, 9).
b. Thánh Linh được ban cho người biết vâng lời.
Các sứ đồ tuyên bố trước Hội đồng Quốc gia “Chúng tôi là nhân chứng biết rõ việc ấy. Thánh Linh mà Thượng Đế ban cho những người vâng lời Ngài cũng làm chứng với chúng tôi” (Cong Cv 5:32)
Điều Thượng Đế dạy trước hết cho chúng ta là gì? “Thượng Đế dạy chúng ta phải tin Danh Con Ngài là Chúa Cứu Thế, và yêu thương lẫn nhau” (IGi1Ga 3:23). “Tin Sứ giả của Thượng Đế là làm theo ý Thượng Đế” (GiGa 6:29). Phao-lô cũng nhận định rằng ông nhận chức sứ đồ là để “dìu dắt các dân tộc nước ngoài vào con đường tin cậy và vâng phục Danh Ngài” (RoRm 1:5). Như vậy, người vâng lời cũng là người tin, và lẽ tự nhiên, một khi đã nhận lãnh Thánh Linh, người ấy cũng sẽ thực thi các công tác của đức tin.
c. Thánh Linh là một ân tứ phải tiếp nhận.
Trong sách Công vụ, Thánh Linh đã được gọi sáu lần là “ân tứ của Thượng Đế”, ban cho những người vâng lời và tin (Cong Cv 2:38; 5:32; 8:20; 10:45; 11:17; 15:8).
Chúng ta phải làm gì để chiếm lấy cho mình một món quà (ân tứ, tặng phẩm) đã có sẵn, vì Thánh Linh đã được đổ xuống trên mọi loài xác thịt kể từ ngày lễ Ngũ tuần? (Cong Cv 2:17). Chỉ đơn giản là nhận lấy, cầu nguyện, chờ đợi, làm đúng theo một nghi lễ này hoặc một nghi lễ khác - tất cả những việc ấy đều không thể nào thay thế được hành động dứt khoát bởi đức tin mà Thượng Đế đòi hỏi chúng ta.
Điều này cũng y hệt như việc nhận lãnh cái “ân tứ” khác của Thượng Đế,là sự sống vĩnh hằng (RoRm 6:23). Ngoài đức tin ra, thì trên đời này chẳng có gì giúp ta nhận lãnh được no1, nhưng ngay khi chúng ta tin, là chúng ta được sự sống vĩnh hằng và nhận được Thánh Linh.
d. Thánh Linh được ban cho tất cả những ai tin nhận Cứu Chúa.
Phao-lô khẳng định rằng “Ai liên hiệp với Chúa sẽ có một tâm linh với Ngài” và thêm “không ai công nhận Giê-xu là Chúa nếu không do Thánh Linh hướng dẫn” (ICo1Cr 6:17; 12:3). Ngay lúc chúng ta thừa nhận Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế, thì Thượng Đế ngự vào lòng chúng ta, và chúng ta được ở trong Thượng Đế; và chúng ta biết Ngài ngự trong lòng chúng ta là nhờ Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta (IGi1Ga 4:15; 3:24). Thật là một đặc ân kỳ diệu!
Cuối cùng, chính Chúa Gie6-xu tuyên bố “Này Ta đứng bên ngoài gõ cửa, nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa ra, Ta sẽ vào thăm, ăn tối với người chỉ người với Ta” (KhKh 3:20). Nhưng làm thế nào để Ngài ngự vào trong lòng chúng ta? Rõ ràng là chỉ nhờ trung gian của Thánh Linh mà thôi.
e. Thánh Linh được ban cho tất cả những ai đã trở thành con cái Thượng Đế.
Chúng ta vừa thấy nếu không do Thánh Linh hướng dẫn sẽ chẳng ai có thể nói “Giê-xu là Chúa”. Phao-lô còn đi xa hơn nữa khi bảo rằng “Người không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế dĩ nhiên không thuộc về Chúa Cứu Thế” (RoRm 8:9). (Thánh Linh của Chúa Cứu Thế chính là Đức Thánh Linh, vì chỉ có một Thánh Linh, và Ba Ngôi Thượng Đế chỉ là Một, xem PHẦN I, Chương 2. Điểm V).
Do đó, nếu không có Đức Thánh Linh, thì một người không thể là một Cơ-đốc nhân chân chính, là người thuộc về Chúa. Nhưng điều ngược lại cũng là sự thật: tất cả những ai đã là con cái Thượng Đế do được tái sanh, đều có Đức Thánh Linh.
Hơn nữa, làm thế nào để chúng ta trở thành con cái Thượng Đế? Nhờ Thánh Linh. “Những người được Thánh Linh của Thượng Đế hướng dẫn đều là con cái Thượng Đế” (RoRm 8:14). Lời bảo đảm về sự cứu rỗi cũng đến từ Thánh Linh, là Đấng đã được ban cho chúng ta “Thánh Linh ngự trong anh em không bao giờ đem anh em trở về vòng nô lệ khủng khiếp của ngày xưa. (Sợ sự hình phạt, sự chết và sự phán xét), nhưng Ngài đưa anh em lên địa vị làm con trưởng thành, nhờ thế anh em được gọi Thượng Đế bằng Cha. Chính Thánh Linh xác nhận với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Thượng Đế (RoRm 8:15, 16).
Như vậy, nếu không có Ngài, chúng ta sẽ chẳng được cả lời bảo đảm lẫn sự sống vĩnh hằng. Và cuối cùng, đây là văn bản trích từ GaGl 4:4-7 “Thượng Đế sai Con Ngài xuống trần gian... (để chúng ta được) quyền làm con Thượng Đế. Vì chúng ta là con Thượng Đế nên Ngài đã sai Thánh Linh của Chúa Cứu Thế ngự vào lòng cúng ta, giúp chúng ta gọi Thượng Đế bằng Cha. Như thế, chúng ta không còn làm nô lệ nữa, nhưng làm con Thượng Đế”
Chẳng còn gì để thắc mắc nghi ngờ việc chúng ta đã trở thành các con trai Thượng Đế bởi đức tin “Ai tin Giê-xu là Chúa Cứu Thế, đều là con cái Thượng Đế” (IGi1Ga 5:1). Hệ quả là cũng chính nhờ đức tin vào lúc được tái sanh mà chúng ta nhận được Thánh Linh. Chắc chắn còn nhiều khúc sách khác nữa mà chúng ta có thể trích dẫn liên hệ với vấn đề này, nhưng dường như những gì vừa nói trên đây cũng đã đủ để dẫn đến việc kết luận dứt khoát rồi.
KẾT LUẬN
Xin chúng ta hãy tạ ơn Thượng Đế vì đã đặt chúng ta vào vị trí để có thể thâu đạt được mọi sự, cả ân tứ là Đức Thánh Linh và ân tứ là Con Ngài, trong khi Ngài chẳng đòi hỏi một điều kiện nào khác hơn là việc vận dụng đức tin. Sau đó, hãy tự vấn, căn cứ vào Knh điển chớ không phải là vào các cảm nghĩ riêng của chúng ta, là chẳng hay chúng ta có chắc chắn nhận lãnh được Thánh Linh chưa. Nếu chúng ta thiếu một sự bảo đảm như thế, thì trước khi tiếp tục đi xa hơn, phải chăng chúng ta cần phải tin và nhận ngay phần ân huệ mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta?

ĐỊA VỊ LÀM CON ĐƯỢC THỪA NHẬN VÀ SỰ CỨU RỖI CHẮC CHẮN
I. ĐƯỢC THÁNH LINH THỪA NHẬN
Vì phạm tội, mọi người do Thượng Đế tạo dựng đều trở thành con cái của Ma quỉ. Chúa Giê-xu tuyên bố nhiều lần với người Do-thái rằng tuy họ cố gắng sống đạo đức và khoe khoang họ là dòng dõi Áp-ra-ham và là con Thượng Đế, “Anh em là con của Quỷ vương nên chỉ thích làm những điều nó muốn” (GiGa 8:44). Và Giăng viết thêm “Ai phạm tội là thuộc về Quỷ vương” và “cả thế giới đều ở dưới quyền thống trị của Quỷ vương” (IGi1Ga 3:8; 5:19). Hệ quả là Thượng Đế không phải là Cha của tất cả mọi người như nhiều người vẫn lầm tưởng, và người chưa ăn năn quy đạo thì không thể nào nói rằng “Cha chúng tôi ở trên trời”. Với họ, Thượng Đế chỉ là Đấng Tạo Hóa và chẳng bao lâu sẽ trở thành vị Quan tòa để phán xét họ. Ngài chỉ là Cha của những người nhờ Thánh Linh đã trở thành là Cha của những người nhờ Thánh Linh đã trở thành con cái được thừa nhận của Ngài. Con được thừa nhận là gì? Là người được nhận vào một gia đình mới. Tôi vốn được sanh ra là một tội nhân trong gia đình Quỷ vương. Nhờ Chúa Cứu Thế, tôi lìa bỏ nó và gia nhập gia đình giàu có và vẻ vang của Thượng Đế. Tôi nhận được một sự sống mới, một tên mới, một người Cha mới, những anh em chị em mới và một gia tài kỳ diệu. Xin chúng ta hãy trích dẫn một lần nữa những khúc sách từng đề cập trước đây liên hệ với việc nhận lãnh Thánh Linh. “Thánh Linh ngự trong anh em không bao giờ đem anh em trở về vòng nô lệ khủng khiếp của ngày xưa, nhưng Ngài đưa anh em lên địa vị làm con trưởng thành nhờ thế anh em được gọi Thượng Đế bằng Cha” (RoRm 8:15). “Thượng Đế sai Con Ngài xuống trần gian... (để chúng ta được) quyền làm con Thượng Đế. Vì chúng ta là con Thượng Đế nên Ngài đã sai Thánh Linh của Chúa Cứu Thế ngự vào lòng chúng ta, giúp chúng ta gọi Thượng Đế bằng Cha” (GaGl 4:4, 6).
Khi mở rộng việc tha tội đến với chúng ta, là Thượng Đế đã vui lòng đối xử với chúng ta như những nô lệ đã được tha thứ, vì chúng ta đã xa cách Ngài với tư cách một vật thọ tạo đối với Đấng Tạo Hóa mình. Nhưng “Hãy xem Chúa yêu chúng ta biết bao: Ngài cho chúng ta được mang danh con cái Chúa”. Mà được như vậy là nhờ Thánh Linh (IGi1Ga 3:1) Chúng ta chẳng bao giờ cảm tạ Ngài thật đầy đủ về sự cứu rỗi kỳ diệu đó.
II. SỰ CỨU RỖI LÀ CHẮC CHẮN
Trong lúc còn sống dưới đất này, chúng ta có thể nào biết chắc chắn là mình đã được cứu rỗi hay không? Đối với một số người, thì tự xưng như vậy có thể là tỏ ra ngạo mạn một phần nào; nhiều người khác tin rằng tính cách chắc chắn ấy chỉ đến sau khi cúng ta đã vượt khỏi “lằn mức thế mạt luận”, nghĩa là khi Chúa tái lâm hoặc sau khi chúng ta đã qua đời. Cuối cùng, một số người rất mong được biết chắc chắn điều đó, nhưng chỉ hi vọng như một điều gì mơ hồ, xa vời mà thôi. Nhưng Kinh Thánh đã nói gì? Sách ấy dạy rằng việc tin chắc người tín hữu đã được cứu rỗi có nền móng là hai cột trụ bất khả chuyển lay:
1. Lời chứng thành văn của Thánh Linh - Lời Thượng Đế
Kinh điển có đầy những lời hứa như “Ai tin Con Thượng Đế đều được sự sống vĩnh cửu” (GiGa 3:36), và “Tôi viết điều đó để anh em biết rõ nhờ tin Con Thượng Đế mà anh em được sống vĩnh cửu” (IGi1Ga 5:13). Kinh Thánh là tác phẩm của Đức Thánh Linh, và chính Ngài đã nhờ các nhà tiên tri và các vị sứ đồ để dạy chúng ta về con đường, về phương pháp cứu rỗi. Sau khi viết hai lần rằng Thánh Linh chứng thực cho Chúa Cứu Thế Giê-xu, Giăng tiếp tục giải thích rằng bản tính của lời chứng đó vốn bắt nguồn từ Thượng Đế “Thượng Đế đã tuyên bố Ngài ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu và Chúa Cứu Thế là Nguồn Sống. Ai tiếp nhận Con Thượng Đế mới có sự sống” (IGi1Ga 5:6, 7, 11, 12).
Lời dạu trực tiếp này đến với chúng ta qua Lời Thượng Đế. Ai đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu, tìm sự nâng đỡ không phải từ các cảm giác cảm nghĩ của chính mình, nhưng chỉ tìm nó nơi những gì đã được viết ra, thì sẽ biết chắc là mình đã được sống vĩnh cửu.
2. Lời làm chứng của Đức Thánh Linh trong nội tâm.
Biết chắc mình đã được cứu được căn cứ trước nhất và duy nhất vào đức tin đặt vào Kinh Thánh sẽ được Đức Thánh Linh xác nhận với tấm lòng chúng ta. “Thánh Linh ngự trong anh em không bao giờ đem anh em trở về vòng nô lệ khủng khiếp của ngày xưa, nhưng Ngài đưa anh em lên địa vị làm con trưởng thành (được thừa nhận), nhờ thế anh em được gọi Thượng Đế bằng Cha. Chính Thánh Linh xác nhận với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Thượng Đế” (RoRm 8:15, 16). Như vậy, Thánh Linh đã được ban cho chúng ta để cất đi nỗi lo sợ thường xuyên đối với sự chết và sự hình phạt, và cho chúng ta biết chắc chắn về việc chúng ta đã được Thượng Đế thừa nhận làm con và được sự sống vĩnh cửu. Chối bỏ tính cách chắc chắn ấy là đồng thời xóa bỏ lời chứng của Kinh điển và của Thánh Linh.
Có nhiều từ ngữ trong Kinh Thánh còn góp phần xác nhận thêm cho tính cách chắn chắn này của Cơ-đốc nhân. Chúng vốn được gắn chặt với lời lẽ đề cập các biểu tượng của Thánh Linh (xem PHẦN I, Các biểu tượng của Đức Thánh Linh). Phao-lô nói với người Ê-phê-sô “Sau khi anh em...tin nhận Chúa Cứu Thế... (thì) được Thượng Đế ban Thánh Linh vào lòng chứng thực anh em là con cái Ngài; Thánh Linh cũng là một bằng chưng Thượng Đế sẽ hoàn thành sự cứu chuộc, cho chúng ta thừa hưởng cơ nghiệp, để con người tôn vinh Ngài... Đừng làm buồn Thánh Linh của Thượng Đế, vì cho đến ngày Cứu chuộc, Thánh Linh trong lòng anh em là bằng chứng anh em thuộc về Chúa” (Eph Ep 1:13-14; 4:30).
“Thựng Đế cho chúng tôi với anh em đứng vững trong Chúa Cứu Thế, bổ nhiệm chúng tôi truyền giảng Phúc âm. Ngài cũng đóng ấn trên chúng tôi, ban Thánh Linh vào lòng để bảo đảm mọi điều Ngài hứa ban cho chúng tôi” (IICo 2Cr 1:21-22). Bởi đó, Thượng Đế tuyên bố rằng chúng ta thuộc về Ngài vĩnh viễn và rằng Thánh Linh trong chúng ta là của tin (tiền đặt cọc) và là lời bảo đảm rằng chúng ta sẽ được cứu chuộc thật trọn vẹn và vẻ vang. Và cũng chính Đức Thánh Linh gìn giữ để chúng ta sống trung tín với sự cứu rỗi vĩnh hằng. Nếu không có hiện diện và sự nâng đỡ của Ngài, chúng ta sẽ bất năng bất lực không thể nào có đủ kiên trì nhẫn nhục để theo đuổi cho đến cùng. Do đó mà Pheo-lô đã viết cho Ti-mộ-thư “Hãy bảo vệ mọi điều đã ủy thác cho con nhờ Thánh Linh đang ngự trong lòng” (IITi 2Tm 1:14).
Thật đáng vui mừng biết bao khi chúng ta có thể xây dựng cuộc đời mình trên một điều chắc chắn như vậy, và được hưởng sự cứu rỗi của Thượng Đế!

THÁNH LINH NGỰ TRONG LÒNG NGƯỜI TÍN HỮU
I. TẦM QUAN TRỌNG VÀ TÍNH CÁCH CHẮC CHẮN CỦA SỰ KIỆN NÀY
Thánh Linh của Thượng Đế chẳng những tái sanh, ban phép báp-tem, thừa nhận và ấn chứng cho người tín hữu, mà sau khi đã làm những điều đó, Ngài vẫn chưa lìa bỏ người ấy để về trời, nhưng còn ngự trị trong lòng người tín hữu nữa.
Chúng tôi từng nhận xét rằng có một trong những đặc điểm của chế độ hiện nay, ấy là Thượng Đế đang đặt Thánh Linh Ngài vào lòng chúng ta. Chính vì lý do ấy mà Chúa Giê-xu đã bảo với các môn đệ Ngài trong những ngày Ngài phải tự hạ mình xuống để chịu nhục “Ta đi là ích lợi cho các con, vì nếu ta không đi, Đấng An ủi sẽ không đến với các con. Khi ta đi, ta sẽ sai Ngài đến...Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An ủi khác để sống với các con mãi mãi. Đó là Thánh Linh, Thần Chân lý... Các con biết Ngài vì Ngài vẫn sống với các con và ở trong các con” GiGa 16:7; 14:16, 17). Hiện diện thuộc linh của Cứu Chúa là Thượng Đế trong lòng tất cả các tín hữu, là phần bổ sung cần thiết cho công tác của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Suốt cuộc đời tại thế của Ngài, hiện diện Ngài chẳng những đã được ban cho tạm thời và ngoại tại cho một nhóm nhỏ những người tại một quốc gia nhất định, mà ngày nay, Chúa Cứu Thế vẫn nhờ Thánh Linh để ngự trị trong lòng của toàn thể những ai yêu mến Ngài trong phạm vi toàn cầu.
Lời phát biểu kỳ diệu này được nhắc lại trong nhiều khúc sách Phúc âm và các thư tín. Nhân một dịp khác, Chúa Giê-xu còn thông báo là Ngài sẽ sống trong lòng các môn đệ Ngài bằng những lời lẽ như sau “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi là người sống trong tôi, và tôi sống trong người ấy... Ngày ta sống lại, các con sẽ biết ta ở trong Cha, các con ở trong ta, và ta ở trong các con... Các con cứ sống trong ta, ta sẽ sống trong các con luôn... Con đã trình bày danh Cha cho họ... để họ nhận được tình yêu của Cha, là tình Cha yêu Con, và để Con sống trong lòng họ” (GiGa 6:56; 14:20; 15:4; 17:26). Phao-lô thì viết cho người Rô-ma rằng “Tuy nhiên, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh vì Thánh Linh Thượng Đế đang ngự trong lòng anh em. Người không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế dĩ nhiên không thuộc về Chúa Cứu Thế. Nếu Chúa Cứu Thế sống trong anh em, dù thân thể anh em phải chết vì tội lỗi, tâm linh anh em lại sống và được tha tội. Thượng Đế đã làm cho Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết, nên một khi Thánh Linh Ngài sống trong anh em, Thượng Đê cũng sẽ khiến thi thể của anh em sống lại, do quyền năng Thánh Linh” (RoRm 8:9, 11). Trong khúc sách này, vị sứ đồ dùng thì theo điều kiện cho các động từ “nếu Thánh Linh Thượng Đế đang ngự trong anh em...” ngụ ý rằng “nếu anh em là tín hữu chân chính, thì Thánh Linh mới ngự trong anh em”, vì ông thêm là nếu không có sự hiện diện bằng cách ngự vào lòng đó, thì chẳng ai có thể thuộc về Chúa Cứu Thế cả (c.9).
Chân lý này, dầu tối quan trọng nhưng vô cùng đơn giản, lại rất ít khi được tâm linh chúng ta tin nhận, vì nó gặp rất nhiều khó khăn trong việc lãnh hội để bắt lấy một từng trải như vậy chỉ bằng đức tin mà thôi. Ngày nay, có nhiều con cái Chúa không nhận biết là Thánh Linh Thượng Đế đang ngự trong lòng mình, và ngay đến Phao-lô cũng phải hỏi người Cổ-linh đến ba lần cùng một câu hỏi tối yếu đó “Anh em không biết mình là đền thờ của Thượng Đế và Thánh Linh Ngài sống trong anh em sao? Ai làm hư hỏng đền thánh của Thượng Đế sẽ bị Ngài phá hủy. Vì đến thờ của Chúa phải thánh khiết và anh em là đền thờ Ngài... Anh em không biết thân thể anh em là đền thờ Thánh Linh, và Ngài đang sống trong anh em sao? Thượng Đế đã ban Thánh Linh cho anh em nên anh em không còn thuộc về chính mình nữa. Anh em có nhận thấy Chúa Cứu Thế sống trong anh em, và quyền năng Ngài tác động ngày càng mạnh mẽ trong anh em không? Hay anh em tự nhận mình là con cái Chúa mà thật ra không phải?” (ICo1Cr 3:16, 17; 6:19; IICo 2Cr 15:3).
Nếu các tín hữu ngày nay vốn có toàn bộ Tân ước đề soi sáng cho mình lại không nhận biết chân lý quý bàu này, thì thật là họ rất đáng chê trách và đã tự truất phần mình về nguồn vui mừng và quyền năng không hề cạn kiệt ấy. Vì chúng ta có thể làm gì được nếu không thường xuyên được sự giúp đỡ và hiện diện của Đấng An ủi?
Phao-lô còn viết cho người Cổ-linh rằng “Anh em là Đền thờ của Thượng Đế hằng sống, như Ngài đã phán” (IICo 2Cr 6:16). Sau đó, ông viết cho Ti-mộ-thư “Hãy bảo vệ mọi điều đã ủy thác cho con nhờ Thánh Linh đang ngự trong lòng mình” (IITi 2Tm 1:14).
Trong thư tín thứ nhất của mình, Giăng cũng viết dứt khoát y như thế “Nhưng các con đã tiếp nhận Thánh Linh vào tâm hồn, nên chẳng cần ai dạy bảo nữa, vì Ngài đã dạy các con mọi sự. Thánh Linh là chân lý, Ngài không hề nói dối và như Ngài đã dạy, các con phải sống mãi trong Chúa Cứu Thế... không người nào được Thượng Đế tái sanh lại tiếp tục cuộc sống tội lỗi vì đã có sức sống của Thượgn Đế (ở trong người ấy, hột giống này là bản tính mới, là Thánh Linh ngự trong lòng người tín hữu)... Người nào vâng lời Thượng Đế là người sống trong lòng Thượng Đế và có Thượng Đế sống trong lòng. Ta biết Thượng Đế sống trong lòng ta vì Thánh Linh Ngài ngự trong ta... Trong các con có Đấng mạnh mẽ hơn thần linh ở trong thế gian... Một khi chúng ta yêu thương nhau, Thượng Đế sống trong chúng ta và tình yêu Ngài trong chúng ta càng tăng thêm mãi. Chúa đã ban Thánh Linh vào lòng chúng ta để chứng tỏ chúng ta đang ở trong Ngài, và Ngài ở trong chúng ta... Ai tin và xưng nhận Chúa Cứu Thế là Con Thượng Đế đều được Thượng Đế ngự trong lòng và được ở trong Thượng Đế” (IGi1Ga 2:27; 3:9, 24; 4:4, 12, 13, 15).
Cuối cùng, Gia-cơ thêm “Thánh Linh đang ngự trong lòng chúng ta ham mến chúng ta đến mức ghen tương” (Gia Gc 4:5). Trên đây là một sự kiện đã được minh họa khá phong phú: Thượng Đế ban Thánh Linh Ngài để Ngài có thể ngự vào lòng từng người tín hữu một.
II. PHẢI CHĂNG CHỈ CÓ MỘT MÌNH THÁNH LINH NGỰ TRONG CHÚNG TA?
Đây là một câu hỏi quan trọng. Có người có thể nghĩ rằng, thật ra, một khi đã tiếp nhận Thánh Linh là Ngôi thớ ba của Thượng Đế Ba Ngôi, thìtheo một ý nghĩa, họ không còn cần đến hai Ngôi kia nữa. Đức Thánh Linh sẽ thay thế và xếp qua một bên - nếu người ta dám nói như thế - cả Đức Chúa Cha lẫn Đức Chúa Con. Thật ra thì không phải như vậy, như Kinh điển vạch rõ:
1. Cũng với Thánh Linh, Đức Chúa Cha bày tỏ sự hiện diện của Ngài trong chúng ta.
Để chứng minh việc này, chúng ta chỉ cần nhớ lại tất cả các bản văn được rút ra từ Thư tín thứ nhất của Giăng ã trích dẫn ở phần trên. Trong số đó, chúng ta sẽ chỉ nhắc lại câu sau đây “Người nào vâng lời Thượng Đế là người sống trong lòng Thượng Đế và có Thượng Đế sống trong lòng. Ta biết Thượng Đế sống trong lòng ta vì Thánh Linh Ngài ngự trong ta” (IGi1Ga 3:24). Phao-lô nhận định rằng mỗi một tín hữu là “một đền thờ Thượng Đế” và hội chúng các tín hữu họp lại thành Hội thánh vốn được “kết hợp với nhau thành Ngôi Nhà của Thượng Đế” (ICo1Cr 3:16; Eph Ep 2:22).
2. Cùng với Thánh Linh, chúng ta cũng tiếp nhận hiện diện của Đức Chúa Con.
Phao-lô cầu nguyện để người Ê-phê-sô được “quyền năng Thánh Linh làm cho tâm hồn anh em vững mạnh, cầu xin Chúa Cứu Thế nhân đức tin ngự vào lòng anh em” (Eph Ep 3:16, 17).
Hơn nữa, cũng vị sứ đồ này, khi đề cập sự hiện diện của Thượng Đế trong lòng chúng ta, đã nói về Thượng Đế, Chúa Cứu Thế và Đức Thánh Linh như có thể thay đổi cho nhau. Ông tuyên bố “Hiện nay tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Chúa Cứu Thế sống trong tôi” (GaGl 2:20). Ông tóm tắt đời sống thuộc linh bằng những lời lẽ như sau “Chúa Cứu Thế ở trong anh em là nguồn hy vọng về vinh quang” (CoCl 1:27). Cuối cùng, chính Chúa Cứu Thế tuyên bố rằng “Những người yêu thương ta (thì) vâng giữ lời ta. Cha ta yêu thương họ; chúng ta sẽ đến và sống với họ” (GiGa 14:23).
Như vậy, cùng với Thánh Linh, cả Ba Ngôi Thượng Đế quang vinh đều đến và ngự trong lòng chúng ta. Thật là một vinh dự khó quan niệm nổi! Lời lẽ không đủ để diễn tả nỗi kinh ngạc và lòng tri ân của chúng ta trước ơn cứu rỗi vĩ đại của Thượng Đế!
Tuy nhiên, nếu chúng ta ngưng thần để suy gẫm, chúng ta sẽ chẳng có gì phải ngạc nhiên về sự kiện Thánh Linh đã không đến một mình để ngự trong lòng chúng ta. Cả Ba Ngôi Thượng Đế vốn chỉ là một và không hề hành động độc lập đối với nhau. Đã có lúc dường như Ba Ngôi Thượng Đế tách rời nhau ra, trong thời gian Đức Chúa Con sống tại thế, thế nhưng Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh vẫn sống trong Ngài và không ngừng theo sát Ngài. Kể từ ngày Ngài được vinh hiển, cả Ba Ngôi lại hoàn toàn sum họp để lại kết hợp chặt chẽ vĩnh viễn với nhau, và hiện nay cả Ba Ngôi ấy đang ngự trong lòng chúng ta, cùng nhau theo đuổi công tác kiện toàn sự cứu chuộc của mình.
III. THÁNH LINH NGỰ TRONG CHÚNG TA BAO LÂU?
Nhiều Cơ-đốc nhân sẵn sàng tin rằng Thánh Linh đã được ban cho họ và đến ngự trong lòng họ lúc họ ăn năn quy đạo; nhưng họ cũng tin rằng sau một vài lần sa ngã, Thánh Linh đã rút lui và lìa bỏ họ. Phải chăng đó là lời dạy dỗ của Kinh điển? Trái lại, Chúa Giê-xu từng phán với các môn đệ Ngài rằng “Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An ủi khác để sống với các con mãi mãi. Đó là Thánh Linh, Thần Chân lý” (GiGa 14:16). Như vậy, Thánh Linh không được ban cho chúng ta trong một thời gian có hạn định, nhưng là vĩnh viễn. Nếu Ngài từ bỏ chúng ta, dầu chỉ trong khoảnh khắc mà thôi, chúng ta sẽ bị mất ngay sự sống thuộc linh và sẽ trở vào sự chết, vì sự cống của chúng ta là Chúa Cứu Thế, nhưng Ngài thì chỉ ngự trong lòng chúng ta qua trung gian Thánh Linh mà thôi. Dưới Giao ước Cũ, Thánh Linh có thể bị rút lại, nhưng đó không phải là trường hợp cho hiện nay. Phải chăng một tín hữu chân thành có thể bị mất Thánh Linh? Chúng tôi không tin như vậy, mà trái lại, tin rằng Ngài sẽ chứng minh cho đức tin chân thành của người ấy và sự thật về người ấy đã được tái sanh bằng cách cứ kiên trì nhẫn nhục cho đến cuối cùng, đưa người ấy đến chỗ bị Thượng Đế sửa phạt để phục hòa và thánh hóa (Liên hệ với vấn đề này, xin tham khảo các nhận định về tội phạm đến Đức Thánh Linh với các Cơ-đốc nhân, PHẦN III, Chương 2, MỤC IV)
Tuy nhiên, chúng ta phải cảnh giác đối với việc cứ sống theo xác thịt, không chịu thánh hóa từ từ, viện lẽ là Thánh Linh sẽ cứ ở trong chúng ta mãi mãi. Thế sẽ có gì xảy ra khi một con cái Chúa phạm tội mà không chịu thú nhận và từ bỏ tội mình? Thánh Linh đã bị làm buồn, nen thôi không bày tỏ quyền năng của Ngài ra nữa. Vấn đề này sẽ được đề cập ở chương tiếp sau đây.
IV. THÁNH LINH NGỰ VÀO LÒNG AI VÀ KHI NÀO?
1. Thánh Linh ngự vào lòng các con cái Thượng Đế ngay từ lúc họ tin nhận Cứu Chúa.
Khi nói chuyện với các môn đệ Ngài, Chúa Giê-xu đã bảo rằng Đức Chúa Cha sẽ sai Thần Chân lý của Ngài đến với họ, là Đấng mà “người đời không thể tiếp nhận, vì họ chẳng thấy cũng chẳng biết Ngài. Nhưng các con biết Ngài vì Ngài vẫn sống với các con và sẽ ở trong các con” (GiGa 14:17). Rõ ràng là những người chối bỏ Chúa Cứu Thế Giê-xu, sẽ chẳng bao giờ nhận lãnh được Thánh Linh. Mặt khác, điều kiện duy nhất cần thiết để được Thánh Linh ngự vào là tấm lòng tin nhận Cứu Chúa bởi đức tin. “Ai tin và xưng nhận Chúa Cứu Thế là Con Thượng Đế đều được Thượng Đế ngự trong lòng, và được ở trong Thượng Đế” (IGi1Ga 4:15). “Này, Ta đứng bên ngoài gõ cửa, nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa ra, Ta sẽ vào thăm, ăn tối với người, chỉ người với Ta” (KhKh 3:20). “Ta chỉ bày tỏ cho những người yêu thương ta và vâng giữ lời ta. Cha ta yêu thương họ; chúng ta sẽ đến và sống với họ” (GiGa 14:23). Phao-lô cũng diễn tả cùng một tư tưởng ấy khi ông cầu nguyện cho người Ê-phê-sô, để Chúa Cứu Thế sẽ đến ngự vào lòng họ nhân đức tin (Eph Ep 3:17).
Rõ ràng là đức tin vào Cứu Chúa đó phải chân thành và kèm theo những việc làm khiến Thánh Linh có thể hiện diện trong lòng chúng ta. Đó là ý nghĩa của mấy khúc sách sau đây “Người nào vâng lời Thượng Đế là người sống trong lòng Thượng Đế và có Thượng Đế sống trong lòng... một khi chúng ta yêu thương nhau, Thượng Đế sống trong lòng chúng ta” (IGi1Ga 3:24; 4:12). Vì đức tin không có việc làm thì chết, và Thánh Linh Thượng Đế sẽ không ngự trong lòng một người cứ muốn ở lại trong sự chết. Tuy nhiên, sau khi chúng ta đã được thánh hóa, thì Thánh Linh không còn rời bỏ nơi ngự của Ngài trong chúng ta nữa (như nhiều người lầm tưởng). Trái lại, sở dĩ Ngài đến với chúng ta là để thánh hóa chúng ta vào đúng lúc mà chúng ta đến với Chúa Cứu Thế với nguyên vẹn tình trạng của mình, để bởi đức tin, tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa mình.
2. Do đó, phải chăng Thánh Linh ngự trong lòng tất cả các tín hữu đã được tái sanh?
Một số người lầm tưởng rằng hiện diện thường xuyên của Thánh Linh chỉ được bảo đảm cho phần lớn các con cái trưởng thành của Thượng Đế sau khi đã trải qua một số từng trải nào đó tiếp sau sự tái sanh. Nhưng trái lại, điều hết sức dứt khoát, ấy là Thánh Linh ngự trong lòng của tất cả các tín hữu đã được tái sanh, chẳng trừ một ai. Vì lẽ tất nhiên là nếu không có sự hiện diện của Ngài, sẽ chẳng có ai thuộc về Chúa Cứu Thế được cả”. Người không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế sĩ nhiên không thuộc về Chúa Cứu Thế “Cũng khúc sách ấy còn viết thêm “Những người được Thánh Linh của Thượng Đế hướng dẫn đều là con cái Thương Đế” (RoRm 8:9, 14). Phao-lô lại nói thêm “Vì chúng ta là con Thượng Đế nên Ngài đã sai Thánh Linh của Chúa Cứu Thế ngự vào lòng chúng ta, giúp chúng ta gọi Thượng Đế bằng Cha” (GaGl 4:6). Rồi về con người mới mà mỗi một tín hữu phải mặc lấy ông viết “Trong cuộc sống ấy, không còn kỳ thị chủng tộc hay chia rẽ vì hình thức lễ nghi tôn giáo, không còn phân biệt trình độ giáo dục hay giai cấp xã hội. Vì Chúa Cứu Thế mới là điều quan trọng; Ngài sẵn sảng tiếp nhận mọi người” (CoCl 3:11). Do đó, Thượng Đế sai Thánh Linh Ngài đến để ngự vào lòng toàn thể các con cái Ngài.
Hơn nữa, chính Chúa Giê-xu còn bao gồm toàn thể các tín hữu chẳng loại trừ một ai khi Ngài tuyên bố “Thần Chân lý... vẫn sống với các con và sẽ ở trong các con... Ta chỉ bày tỏ cho những người yêu thương ta và vâng giữ lời ta... Chúng ta sẽ đến và sống với họ” (GiGa 14:17, 23).
Cuối cùng, ẩn dụ về Mười Cô Trinh Nữ cũng dạy chúng ta rằng đặc điểm của người tín hữu chân chính, là người ấy có dầu trong đèn mình nghĩa là có Đức Thánh Linh trong lòng (Mat Mt 25:1, 12). Nếu không có sự hiện diện ấy, người ấy sẽ không được cứu.
V. MỘT TÍN HỮU CÓ THỂ BIẾT LÀ THÁNH LINH ĐANG NGỰ TRONG LÒNG MÌNH KHÔNG?
Lẽ tất nhiên là có, vì Chúa Giê-xu từng quả quyết rằng “Cha...ban cho các con...Thần Chân lý. Người đời không thể tiếp nhận Ngài, vì họ chẳng thấy cũng chẳng biết Ngài. Nhưng các con biết Ngài vì Ngài vẫn sống với các con và sẽ ở trong các con...Ngày ta sống lại, các con sẽ biết ta ở trong Cha, các con ở trong ta và ta ở trong các con” (GiGa 14:17, 20).
Tuy nhiên, nhiều con cái Chúa không ý thức được sự hiện diện của Thánh Linh vì nhiều lý do:
1. Một số Cơ-đốc nhân thường hoàn toàn không biết sự thật này và chẳng biết gì về nhiều văn bản rõ ràng trong Kinh Thánh tiết lộ điều đó cho chúng ta. Vì Chúa Giê-xu phán “Các con sẽ biết chân lý và chân lý sẽ giải phóng các con” (GiGa 8:32) Rõ ràng là vì họ lơ là chểnh mãng không chịu đọc và suy gẫm Lời Thượng Đế, cộng với việc chẳng biết gì đến các đặc quyền quý báu của mình, những Cơ-đốc nhân như thế không thể có tự do hay có thể tiến bộ về phương diện thuộc linh.
2. Nhiều người khác vốn biết Thánh Linh phải ngự trong lòng họ, nhưng lại tìm cách căn cứ vào các cảm giác, cảm nghĩ của mình để biết chắc về sự hiện diện của Ngài. Nếu họ cảm thấy vui vẻ, bình an và mạnh mẽ, họ nghĩ là Thánh Linh đang ngự trong lòng họ; nhưng mặt khác, nếu lòng họ trống rỗng và buồn bã, họ tin quyết rằng Thánh Linh chẳng hề ngự trong họ, hay Ngài đã bỏ họ mà đi rồi. Với sinh hoạt thuộc linh của chúng ta, chẳng hề có một căn cứ, một cơ sở nào lại bấp bênh, bất ổn định hơn là các cảm giác, cảm nghĩ. Trông cậy vào chúng là tương đương với bước đi theo mặt thấy chớ không phải là bởi đức tin. Thật ra thì đó là sự vô tín. Lời Chúa Giê-xu từng phán dặn chúng ta là “Ta đã chẳng từng bảo con, nếu con tin, con sẽ thấy vinh quang của Thượng Đế sao?” Chúng ta thì lại đi tìm điều trái lại, là muốn thấy và cảm thấy trước nhất.
Do đó, chúng ta phải học tập để biết tin rằng Thánh Linh đang ngự trong lòng ta, là con cái Thượng Đế, chỉ vì Kinh Thánh đã dạy chúng ta như vậy. Sau đó, một khi đã tin như vậy rồi (chớ không phải là trước đó) chúng ta sẽ thấy Thánh Linh ấy đem đến cho lòng chúng ta tình yêu thương, niềm vui, sự bình an mà từ trước cho đến lúc đó, chúng ta vẫn phí công tìm kếm (GaGl 5:22, 23).
3. Buồn thay, trong đa số các trường hợp. sở di nhiều tín hữu không ý thức được sự hiện diện của Thánh Linh, là vì các tội lỗi không chịu xưng ra đã làm gián đoạn sự tương giao của họ với Thượng Đế. Mặc dầu vậy. Thánh Linh vẫn ở trong họ, nhưng Ngài đã bị buồn lòng và quyền năng Ngài bị ngăn trở nên không thể hiển hiện rõ ràng được. Nếu đó là trường hợp của chúng ta, nguyện chu1ng ta hãy mau xưng ra các lỗi lầm của mình với Thượng Đế tìm cầu sự thanh tẩy bằng giòng huyết tinh lọc của Ngài. Chừng đó, chúng ta sẽ lập tức nhận được niềm vui do hệ quả của hiện diện Ngài.
KẾT LUẬN
Đến phần cuối của chương sách này, chúng ta hãy tự vấn chẳng hay Thánh Linh Thượng Đế có chắc chắn đang ngự trong lòng mình không. Nếu câu trả lời là Có, thế tại sao chúng ta lại cứ yếu đuối và chán nản ngã lòng? Hiện diện của Thượng Đế trong lòng chúng ta chính là nguồn suối nước hằng sống sẽ hoàn toàn đẩy lùi cơn khát của chúng ta, sẽ tuôn trào ra sự sống vĩnh hằng không bao giờ cạn kiệt (GiGa 4:14). Chúng ta chẳng cần gì phải đi tìm sức mạnh, và sự nâng đỡ ở đâu khác; Chúa Cứu Thế ngự trong lòng chúng ta, là nguồn hy vọng về vinh quang (CoCl 1:27). Nhưng chúng ta phải nhớ luôn rằng chính vì lý do ấy mà chúng ta phải dùng thân thể và tâm linh mình đã trở thành đền thờ của Thượng Đế, để tôn vinh Ngài. Nếu mặt khác, chúng ta vẫn chưa nhận biết vị Khách Quý ấy, tại sao chúng ta vẫn chưa chịu tiếp rước Ngài ngay ngày hôm nay? Chúa Cứu Thế đang đứng trước cửa lòng chúng ta, rất muốn vào để ngự trong lòng ta mãi mãi. Xin chúng ta hãy mở lòng ra cho Ngài, thì Thánh Linh Ngài sẽ chiếm hữu cả cuộc đời chúng ta, khiến các giòng sông nước hằng sống sẽ từ chúng ta tuôn trào ra.
ĐỪNG LÀM BUỒN THÁNH LINH
Chúng ta vừa thấy rằng tất cả các tín hữu chân chính đều nhận được Thánh Linh để Ngài ngự trong lòng mình. Chúng ta có thể giải thích thế nào cho tính cách bất thường và thiếu quyền năng vẫn chiếm ưu thế trong đời sống của một số đông người trong vòng họ? Lý do là vì họ đã không giữ đúng lệnh truyền trong Eph Ep 4:30 “Đừng làm buồn Thánh Linh của Thượng Đế, vì cho đến ngày Cứu Chuộc, Thánh Linh trong lòng anh em là bằng chứng anh em thuộc về Chúa”.
I. CÓ THỂ LÀM BUỒN THÁNH LINH.
Cách thức Thượng Đế tôn trọng quyền tự do của con người quả thật là phi thường. Như Ngài chẳng hề ép buộc một người vô tín nào ăn năn quy đạo, Ngài cũng không bao giờthúc ép một tín hữu phải thánh hóa. Khi ban xuống Thánh Linh của sự thánh khiết, Cứu Chúa rất có thể áp đặt ý chỉ Ngài trên chúng ta trong mọi sự, bắt buộc chúng ta ngay lúc ấy phải từ bỏ tội lỗi và mọi hình thức của nó. Lẽ dĩ nhiên, mục tiêu của Ngài là giải phóng chúng ta khỏi điều ác bằng cách đáp ứng thật sát với ý chỉ Ngài. Nhưng ý muốn của Ngài là chúng ta được tự do tự nguyện đồng ý với việc ấy. Ngài dành cho chúng ta rất nhiều trách nhiệm trong việc chống lại sự hiện diện tối cao ấy của Ngài và làm buồn Thánh Linh đang ngự trong lòng chúng ta. Chúng ta phải chịu trách nhiệm hết sức nặng nề nếu không đáp lại thái độ thiện chí đó!
Xin chúng ta ghi nhận một lần nữa rằng câu “làm buồn Thánh Linh” này rất đặc sắc. Chẳng những nó hàm ý về thân vị của Thánh Linh, mà còn ngụ ý dạy rằng Ngài vốn vô cùng nhạy cảm, và rất yêu mến chúng ta. Nếu không phải như thế, thì chúng ta chỉ có thể chống lại Ngài, nhưng không thể khiến cho Ngài phải buồn lòng vì cớ chúng ta.
II. CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM BUỒN THÁNH LINH NHƯ THẾ NÀO?
Xin để cho Kinh Thánh trả lời câu hỏi này
1. Câu bảo chúng ta đừng làm buồn Thánh Linh (Eph Ep 4:30) nằm trong cơ cấu các lời khuyến giục soi rọi thêm ánh sáng cho lệnh truyền này (Eph Ep 4:24; 5:18). Ở đây Phao-lô liệt kê nhiều tội khác nhau mà chúng ta phải tránh để khỏi gây thương tổn cho Thánh Linh. Lẽ tự nhiên, bảng liệt kê này không được đầy đủ; còn nhiều điều khác nữa có thể làm buồn Đức Thánh Linh mà không được nêu ra đây. Nhưng xin chúng ta tự giới hạn để chỉ chú ý đến những thí dụ thực tiễn mà nó cung cấp cho chúng ta. Trong số nhiều tội khác, các tội sau đây làm buồn Đức Thánh Linh.
Nói dối (Eph Ep 4:25)
Nóng giận (c.26)
Trộm cắp (c.28)
Ác khẩu - nói không thật, tục tỉu, điên dại, bậy bạ, chuyện tiếu lâm thô bỉ (c.29, 5:3, 4). Nghĩ xấu (cay đắng, giận dự, thù oán) đồn huyễn đùa cợt (c.31). Không có lòng nhân từ, tha thứ và yêu thương (c.32, 5:2). Gian dâm, ô uế, tham lam (5:3). Tất cả những điều xấu xa gian ác có thể phạm trong chỗ kín đáo, được bóng tối che phủ (cc.11,12). Say sưa, v.v... (c.18).
2. Các danh hiệu dành cho Thánh Linh cũng dạy chúng ta về việc chúng ta có thể làm buồn Ngài như thế nào.
Ngài là Linh (thần linh) của sự thánh khiết (RoRm 1:4). Tất cả những gì bất khiết, ô uế, mọi tiếp xúc với điều xấu điều ác đều làm buồn Ngài.
Ngài là Linh của sự khôn ngoan, thông biết và kiến thức (EsIs 11:2). Khi chúng ta cứ ở trong sự ngu dốt về các chân lý thuộc linh, thiếu nhiệt tâm đọc và nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng lại thích những lời dạy bảo tốit ăm u mê của loài người hơn những lời dạy dỗ của chính Ngài, là chúng ta làm buồn Ngài.
Ngài là Linh của sự sống và của quyền năng (RoRm 8:2; IITi 2Tm 1:7). Chết hay yếu đuối thuộc linh, ngưng phát triển và thiếu quyền năng trong công tác chứng đạo - tất cả những điều đó đều làm buồn Ngài.
Ngài là Thần Chân lý (GiGa 14:17). Tất cả những lời dối trá, ý hướng giả mạo, tà giáo, mọi điệu bộ và thái độ bề ngoài giả dối, giả hình, đều làm buồn Ngài.
Ngài là Thần Linh của đức tin (IICo 2Cr 4:13). Những nghi ngờ, ngã lòng, âu lo xao xuyến và thắc mắc thường xuyên của chúng ta, làm buồn Ngài.
Ngài là Thần Linh của tình yêu và ân phúc (IITi 2Tm 1:7; HeDt 10:29). Nếu chúng ta cứng lòng, không cịu tha thứ, cay đắng, than phiền trách móc, hay lòng chúng ta cứ sắt đá không lay chuyển khi đối diện với khổ nạn và nhiều người bị mất linh hồn, nếu chúng ta cứ hâm hẩm đối với Thượng Đế, thì Thánh Linh rất buồn.
Cuối cùng, Ngài là Thánh Linh vinh quang (IPhi 1Pr 4:14). Những gì là xác thịt, phàm tục và thuộc về thế gian này trong lòng chúng ta, đều làm buồn Ngài.
Nếu có thể được, hãy theo cùng phương pháp như trên đây để nghiên cứu các danh hiệu khác nữa của Đức Thánh Linh đã được nêu ra chi tiết ở PHẦN I, chương 1, Mục III.
Các văn bản trên đây cho thấy chúng ta rất dễ làm buồn Thánh Linh như thế nào. Chúng ta còn có thể trích dẫn nhiều câu khác nữa, nhưng bài học dành cho chúng ta vẫn giống nhau; mọi tội lỗi đã phạm mà chúng ta biết, bất chấp bản tính, dầu nặng hay nhẹ lớn hay nhỏ, công khai hay kín giấu, đều làm buồn Thánh Linh. Nguyện chúng ta là những người đọc mấy giòng chữ này sẽ dừng lại trong giây lát để tự xét lương tâm. Chính lúc này đây, trong lòng chúng ta đang có điều nào trong số những điều vừa kể trên, trói buộc đời sống thuộc linh của chúng ta và ngăn trở chúng ta tương giao trọn vẹn với Thượng Đế không? Nếu đứng trước tấm gương soi của Lời Thượng Đế, chúng ta biết mình đã làm buồn Thánh Linh, nguyện chúng ta biết quỳ xuống trước mặt Thượng Đế để hạ mình ăn năn, hầu được Ngài tha tội và thanh tẩy chúng ta.
III. CÁC HẬU QUẢ DO VIỆC LÀM BUỒN THÁNH LINH.
1. Khi bị làm buồn, Thánh Linh có lìa khỏi chúng ta không?
Đây là điều mà nhiều Cơ-đốc nhân tin. Nhưng như chúng tôi đã lưu ý, chỉ trong thời Cựu ước, Thánh Linh mới có thể bị rút lại (xem PHẦN II, Chương 1, Mục II). Từ ngày lễ Ngũ tuần cho đến nay, Ngài đã được ban cho để ngự trong lòng chúng ta mãi mãi (GiGa 14:16). Do đó, nếu chúng ta có phạm mội lỗi nào đó, Ngài sẽ không lìa khỏi chúng ta, mà cáo trách chúng ta về tội ấy.
2. Nếu chúng ta làm buồn Thánh Linh, chúng ta sẽ bị mất cả quyền năng, niềm vui, lẫn sự tương giao với Thượng Đế.
Thượng Đế tôn trọng quyền tự do của chúng ta; ngay khi chúng ta chọn việc phạm tội thay vì vâng theo ý chỉ Ngài, Ngài tạm hoãn hoạt động của Ngài trong lòng chúng ta và cắt đứt sự tương giao với chúng ta. Từ đó trở đi, quyền năng của Thánh Linh không còn được biểu hiện qua chúng ta nữa; chúng ta trở thành bất năng bất lực trước Quỷ Cám dỗ và sẽ bị thất bại này tiếp sau thất bại khác. Do nhận thức được một sự yếu đuối như vậy trong đời sống thuộc linh của mình, nhiều người nhờ kêu cầu Thượng Đế bằng cách cầu nguyện lâu dài, trong khi cố gắng chiến đấu không khoan nhượng để chiến thắng, vì họ tưởng rằng Cứu Chúa không muốn trợ giúp họ nữa, hay đã tạm thời rút lại sự trợ giúp của Ngài rồi. Nhưng sự thật là điều gây trở ngại nằm ngay trong bản thân họ. Bao lâu Thánh Linh còn bị làm buồn, Ngài sẽ chẳng tiến tới một bước nào cả để giải thoát cho người ấy.
Trong Cựu Ước, nhất là trong sách Giô-suê và Các quan xét, có nhiều lời chỉ dạy về vấn đề này. Thí dụ trong phần ký thuật về tội lỗi kín giấu của A-can, Chúa đã thôi không tự bày tỏ mình ra cho dân Y-sơ-ra-ên và không giúp họ thắng trận nữa. Ngài đã tuyên bố với Giô-suê “Nếu các ngươi không cất khỏi giữa mình vật đáng diệt ấy, thì ta không còn ở cùng các ngươi nữa... Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi có vật đáng diệt tại giữa ngươi! Ngươi không thể chống cự nổi trước mặt kẻ thù nghịch mình cho đến chừng nào các ngươi đã cất khỏi giữa mình vật đáng diệt ấy” (Gios Gs 7:12, 13). Đền tạm là nơi Thượng Đế đặt sự hiện diện Ngài vẫn còn giữa dân sự, nhưng hiện diện Ngài đã thôi không hành động để bênh vực, trợ giúp họ nữa.
Ngày nay cũng vậy, tuy Thánh Linh có bị buồn lòng, Ngài vẫn ngự trong đền thờ là thân thể chúng ta, nhưng không còn tự bày tỏ ra nữa. Những lời cầu nguyện của chúng ta dường như chẳng vượt khỏi trần nhà và tấm lòng chúng ta vẫn khô khan, không vui. Nếu chúng ta l2m buồn Thánh Linh thì không những chúng ta bị mất quyền năng, mất sự tương giao, mà mất luôn cả niềm vui nữa; mà trái của Thánh Linh là niềm vui (xem GaGl 5:22). Một khi tội lỗi đã len lõi vào trong chúng ta, thì Thánh Linh thôi chia xẻ niềm vui cho chúng ta. Phải chăng có một từng trải hết sức phổ biến, ấy là một khi chúng ta phạm lỗi, thì sự buồn rầu xâm chiếm chúng ta, và lòng chúng ta cảm thấy nặng nề? Đó chính là sự buồn rầu của Thánh Linh vậy. Đó là lý do khiến nhiều Cơ-đốc nhân vừa bị mất cả niềm vui lẫn sức thu hút. Nguyện chúng ta biết loại trừ các nguyên nhân của nỗi buồn rầu ấy, và như thế, sẽ nếm trải và gieo rắc khắp nơi niềm vui trọn vẹn mà Chúa Cứu Thế Giê-xu đã ban cho chúng ta thật dồi dào đó.
3. Việc gì xảy ra, nếu chúng ta cứ cố ý kéo dài nỗi buồn của Thánh Linh?
Như chúng ta đã thấy, Kinh Thánh v5ch rõ dứt khoát rằng Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta mãi mãi. Tuy nhiên Kinh Thánh cũng cảnh cáo chúng ta chớ nên áp dụng lối lý luận cứ ở mãi mãi trong tôi, tôi có thể dung ưỡng cho tội lỗi mà không sợ Ngài sẽ lìa bỏ tôi” hay như Phao-lô đã diễn tả “Vậy, chúng ta còn tiếp tục phạm tội để Thượng Đế gia tăng ân phúc không?” (RoRm 6:1). Xin chúng ta chớ tự lừa dối mình; chúng ta không thể nào “chơi bài lận” với Thượng Đế được đâu”. Thánh Linh đang ngự trong lòng chúng ta ham mến chúng ta đến mức ghen tương” (Gia Gc 4:5)
Trong EsIs 63:10, chúng ta gặp nhữn glời khủng khiếp này “Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở làm cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ”. Tình trạng cũng sẽ là y như vậy cho chúng ta, nếu chúng ta cố ý chọc giận Thánh Linh bằng cách phạm tội và không tìm cách nhờ Ngài để được thánh hóa. Nhiều khúc sách khác cũng vạch rõ “Nếu sống cho xác thịt, anh em sẽ chết” (RoRm 8:13). “Ngường phạm luật Mai-sen phải bị xử tử không thương xót, nếu có hai ba nhân chứng xác nhận. Vậy, hãy nghĩ xem, có hình phạt thảm khốc nào tương xứng với kẻ giày đạp Con Thượng Đế, coi thường huyết giao ước đã tẩy sạch tội mình và sỉ nhục Thánh Linh hằng ban ân cho con cái Ngài?” (HeDt 10:28, 29). Sỉ nhục Thánh Linh hằng ban ân phúc không phải chỉ là phạm tội mà kết quả là làm buồn Ngài hoặc một lần hoặc nhều lần, vì sống trên đời này, có tín hữu nào - tuy đã tăng trưởng đúng mức về phương diện tuộc linh rồi - mà lại không ý thức được rằng chỉ mới đây thôi, mình đã phạm tội oặc đến nay mình vẫn vô tình phạm tội mà hông hề hay biết? Trong khúc sách này, sỉ nhục Thánh Linh có nghĩa là giữ trước mặt Ngài một thái độ công khai phản loạn bằng cách hoàn toàn chối bỏ Con Thượng Đế và huyết của giao ước. Kinh điển cho chúng ta biết rằng người ta có thể đứng lên chống lại Thánh Linh như dân Y-sơ-ra-ên vẫn thường làm (Cong Cv 7:51), và khuyến cáo chúng ta. Đừng dập tắt Thánh Linh” (ITe1Tx 5:19).
Tất cả những câu trên đây cho chúng ta thấy rằng việc một người chống lại Thượng Đế là cả một tiến trình khủng khiếp. Một con cái Chúa há dám theo đuổi một con đường nguy hiểm như thế chăng? Như Kinh Thánh đã gợi ý, thật rất khó có thể có chuyện như vậy được. Nhờ kiên trì nhẫn nhục cho đến cuối cùng, người ấy sẽ chứng tỏ là sự sống vĩnh cửu đã bám rễ chắc chắn nơi mình. Mă5t khác, kẻ sa vào vực thẳm như thế sẽ chứng minh rằng lòng mình thiếu chân thành và thật ra, đã chẳng bao giờ thuộc về Chúa Cứu Thế. Lẽ tất nhiên là chính Chúa Giê-xu sẽ bảo với những kẻ từng nhân danh Ngài nói tiên tri và làm phép lạ, nhưng vẫn sẽ phải bị loại ra khỏi Nước Trời rằng “Ta không hề biết các ngươi! Lui ngay cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác” (Mat Mt 7:22-23). Nguyện những lời khuyến cáo ấy chỉ rõ cho chúng ta thấy các nguy cơ nằm trong việc làm buồn Thánh Linh, và dạy chúng ta đừng làm như vậy nữa.
IV. KHI THÁNH LINH BỊ BUỒN LÒNG, PHẢI LÀM GÌ?
Thường thường, vì tưởng Thánh Linh đã lìa bỏ mình hoặc cho rằng mình đã phạm vào một tội không thể tha thứ được, nhiều tín hữu đã tỏ ra tuyệt vọng, buông xuôi tất cả. Thế nhưng, nếu họ vẫn còn nặng lòng với lầm lỗi của mình, vẫn còn hối tiếc về nó, thì họ có thể được bảo đảm chắc chắn rằng họ có thể tìm được sự tha thứ, miễn là họ chịu theo đúng những lời chỉ giáo trong Kinh điển.
1. Trước hết, chúng ta phải xưng tội mình.
“Nhưng nếu chúng ta thú tội với Chúa, Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạch tất cả lỗi lầm chúng ta, đúng theo bản tính công chính của Ngài” (IGi1Ga 1:9). Chẳng có gì thay thế được việc thú tội. Chúng ta có thể khóc lóc, cầu nguyện, phục vụ Thượng Đế, hay dâng những số tiền lớn, nhưng chẳng có việc nào trong số đó có thể vãn hồi được sự bình an, vốn phải từ trên cao đến với chúng ta. Thượng Đế muốn chúng ta phải xin Ngài tha thứ cho mình về những thất bại sa ngã của mình, vì bao lâu chúng ta chưa chịu thú tội, sự kiêu ngạo của chúng ta vẫn còn y nguyên không sứt mẻ gì”. Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó, sẽ được thương xót” (ChCn 28:13). Trong việc xưng tội, không phải chỉ nói rằng “Lạy Chúa, xin tha cho con nếu con đã phạm tội” là đủ. Chúng ta phải trình bày ra trước mặt Thượng Đế tất cả các tội lỗi mà Đức Thánh Linh đã cho chúng ta biết, và gọi tên từng tội một.
Phải xưng tội như thế khi nào? Ngay khi chúng ta cảm thấy sự buồn rầu của Thánh Linh trong lòng mình và nhận biết lỗi lầm của mình. Thường thường tội lỗi không đi một mình. Nếu chúng ta trì hoãn, nếu chúng ta muốn chờ đợi, trước khi thu xếp cho xong mọi sự, chờ đến chiều tối hoặc Chúa nhật sau, hay buổi nhóm lại lần sau, là chúng ta đang lâm vào một nguy cơ trầm trọng. Nhiều tội khác sẽ len lỏi xâm nhập chúng ta, linh hồn chúng ta sẽ bị mất đi phần động lực thúc đẩy nó, và chúng ta sẽ có nguy cơ thối lui. Vì lý do ấy, cho dầu đang ở đâu, chúng ta đều phải thú tội mình ngay tức khắc, hoặc tại nhà riêng, hoặc ngoài đường phố, lúc đang làm việc hoặc đi du lịch, chúng ta phải kêu xin Thượng Đế tha tội cho chúng ta. Sẽ có gián đoạn trong việc tương giao với Ngài, nhưng nó sẽ không có thì giờ để trở thành tệ hại hơn, và chẳng bao lâu, chúng ta sẽ có thể bù đắp lại tốc độ tiến bộ của mình. Lẽ tự nhiên, việc thú tội hải được thực hiện trước nhất với Thượng Đế, là Đấng duy nhất có quyền tha tội cho chúng ta. Nhưng nếu chúng ta đã xúc phạm người láng giềng của mình thì chúng ta cũng phải xin người ấy tha thứ cho mình nữa “Vậy, khi các con đứng trước bàn thờ dâng lễ vật cho Thượng Đế, chợt nhớ còn có điều bất hòa nào với anh em, các con cứ để lễ vật trên bàn thờ, đi làm hòa với anh em, rồi sẽ trở lại dâng lễ vật cho Thượng Đế” (Mat Mt 5:23-24). Gia Gc 5:16 còn thêm “Hãy nhận lỗi với nhau” nghĩa là “nếu anh em phạm tội xúc phạm lẫn nhau, tì hãy nhận tội v1i nhau và tha thứ cho nhau”. Vì không chịu làm như vậy, nhiều người đã không tái lập được sự tương giao với Thượng Đế, cả khi có thể là họ đã xưng riêng với Ngài mọi khuyết điểm của mình.
2. Chúng ta phải tin vào sự tha thứ của Thượng Đế.
Chỉ thú tội với Thượng Đế hay với người khác mà thôi, vẫn chưa đủ. Chúng ta phải nắm lấy sự tha thứ bởi đức tin. Một đức tin như thế không phải chỉ là niềm hy vọng mơ hồ vào lòng nhẫn nại và thiện hảo của Thượng Đế mà thôi; nó phải có nền móng vững chắc là thân vị và công lao chuộc tội của Cứu Chúa. Giăng đã làm sáng tỏ điều ấy cho chúng ta. Sau khi bảo rằng “Nếu chúng ta thú tội với Chúa, Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạch tất cả lỗi lầm chúng ta đúng theo bản tính công chính của Ngài”, ông tiếp tục giải thích ngay cái tiến trình thanh tẩy ấy “Ngài đã lãnh hết hình phạt tội lỗi loài người trên chính thân Ngài; Ngài hy sinh tính mạng để chuộc tội cho chúng ta”, “huyết Chúa Giê-xu Con Ngài, tẩy sạch tất cả tội lỗi chúng ta” (IGi1Ga 1:7, 9; 2:2). Nếu một người đến với Thượng Đế, thú tội mình mà không đồng thời nhờ huyết của thật tự giá bảo vệ cho mình, thì người ấy sẽ không được thanh tẩy mà vẫn bị định tội.
Chúng ta có một thí dụ về vấn đề này nơi vô số người Y-sơ-ra-ên đã xưng tội khi nhận phép báp-tem của Giăng Báp-tít. Đáng lẽ sự thú tội ấy phải chuẩn bị cho họ tin nhận CHúa Cứu Thế Giê-xu, nhưng với một số đông trong đám họ, nó đã trở thành vô giá trị vì họ đã chẳng tin cả vào Đấng Mê-si-a khi Ngài được bày tỏ ra cho họ, lẫn vào công lao cứu chuộc của Ngài. Xin chúng ta nhận định cho rõ ràng về hai điểm này: nếu chúng ta đã phạm tội, chúng ta đã thú nhận sự thất bại của mình chưa? Và sau khi xưng tội, chúng ta có tin rằng mình đã được huyết Chúa Cứu Thế Giê-xu tẩy sạch trọn vẹn cho mình chưa? Xin lưu ý thêm là nếu chúng ta đã làm hai việc ấy rồi, thì Thượng Đế đã tẩy sạch lòng chúng ta theo đúng bản tính công chính của Ngài (IGi1Ga 1:9). Hệ quả là, ngay từ khoảnh khắc ấy, Đức Thánh Linh không còn buồn lòng nữa, nên có thể lại tự bày tỏ quyền năng và sự sống của Ngài trong lòng chúng ta.
3. Cuối cùng, chúng ta phải làm gì để khỏi lại làm buồn Thánh Linh nữa?
Một tín hữu chân thành sẽ không chỉ hài lòng với việc biết làm cách nào để lại được tha thứ và bình an sau khi phạm tội. Tự thâm tâm, người ấy khát khao ao ước mình có thể chiến thắng điều ác và không làm buồn Thánh Linh nữa. Làm thế nào để đạt được điều đó? Nếu từ trước đến giờ, người ấy vốn rất dễ sa vào tội lỗi, bị bất năng bất lực trước sự cám dỗ, ấy là vì người ấy bị thiếu sự từng trải cần thiết: người ấy không được đầy dẫy Thánh Linh. Giờ đây, chúng ta sẽ quay sang chú ý đến lời truyền dạy của Kinh Thánh về vấn đề này.

SỰ ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH
Trước hết, chúng ta hãy định nghĩa “sự đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Kinh Thánh không có câu này y như nó hiện có, nhưng trong một số các khúc sách, nó đề cập việc người tín hữu có thể và cần thiết “được đổ đầy Đức Thánh Linh”. Do đó, nếu thỉnh thoảng chúng ta đề cập “sự đầy dẫy Đức Thánh Linh” là chúng ta làm như vậy vì lý do thuận tiện, và tự nó ngụ ý ám chỉ “sự kiện được đổ đầy Thánh Linh”
I. SỰ ĐỔ ĐẦY THÁNH LINH LÀ CẦN THIẾT CHO TOÀN THỂ CÁC TÍN HỮU
Cho đến điểm này, chúng ta đã thấy rằng trước hết, linh hồn một người bị cáo trách về tội, tiếp theo là được tái sanh, chịu báp-tem, được ấn chứng và được Thánh Linh cư trú, ngự trị. Nhưng tất cả các tác động về phía Thánh Linh đó vẫn chưa đủ để đem đến sự thánh hóa vì linh hồn ấy còn cần phải được đổ đầy Thánh Linh nữa. Khẳng định này được chứng minh bằng hai trường hợp sau, như đã được trích dẫn ở phần trên. Toàn thể các tín hữu người Cổ-linh và đã nhận lãnh Thánh Linh đã trở thành đền thờ của Ngài. Nhưng họ vẫn còn là những Cơ-đốc nhân xác thịt, những con đỏ trong Chúa Cứu Thế, không thể tiếp thu được gì cứng, đặc hơn sữa (ICo1Cr 12:13; 6:19; 3:1-3). Các tín hữu người Ga-la-ti cũng đều chịu phép báp-tem trong Chúa Cứu Thế; họ đều mặc lấy Chúa Cứu Thế và có Thánh Linh ngự trong lòng. Mặc dầu vậy, họ vẫn xây khỏi Phúc âm chân chính, tìm cách tự kiện toàn trong xác thịt khiến Phao-lô e sợ ông đã lao khổ luống công cho họ (GaGl 3:27; 4:6; 1:6; 3:3; 4:11). Như vậy, Thánh Linh không thể thực hiện đầy đủ công tác của Ngài trong một tấm lòng không được đổ đầy, đầy dẫy Ngài.
II. CHÍNH CHÚA GIÊ-XU TỪNG BÁO TRƯỚC SỰ ĐẦY DẪY MÀ THÁNH LINH SẼ ĐEM ĐẾN CHO CÁC TÍN HỮU NÀY.
Ngài tự xưng là Người Chăn Từ Ái, và phán “Ta đến để đem lại sự sống sung mãn” (GiGa 10:10). Thế nhưng, có biết bao nhiêu con cái Chúa đã nhận được sự sống nhờ được tái sanh, nhưng vẫn đau ốm hay bạc nhược thuộc linh, vì chẳng bao giờ đươc từng trải sự sung mãn đó! Chúa Giê-xu từng bảo người phụ nữ Sa-ma-ri “(Ai) uống nước tôi cho sẽ chẳng bao giờ khát nữa; nước tôi cho sẽ thành một mạch nước trong tâm hồn tuôn tràn mãi mãi sức sống vĩnh cửu” (GiGa 4:14). Rồi Ngài nói thêm với người Do-thái “Tôi là Bánh hằng sống. Ai đến cùng tôi chẳng bao giờ đói, ai tin tôi chẳng bao giờ khát...Người nào tin tôi, các mạch nước hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng, đúng như Kinh Thánh đã chép” (GiGa 6:35; 7:37, 38).
Chúng ta có thể nào tự bảo với chính mình rằng chúng ta không còn khát nữa, và các nguồn sông nước hằng sống đang từ chúng ta tuôn trào ra, hay không? Thế nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã hứa điều đó một cách hết sức công nhiên, và chúng ta đagn rất cần lợi dụng ngay điều đó để hành động! Làm thế nào sự sống sung mãn mà Cứu Chúa đã hứa đó; được san sẻ cho chúng ta về việc ấy “Chúa ngụ ý nói về Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ tiếp nhận vào lòng”. Thật vậy, chính hiện diện của Thượng Đế trong lòng chúng ta sẽ trở thành nguồn suối nước sống vĩnh hằng, cung cấp đầy đủ cho chúng ta mọi nhu cầu, miễn là chúng ta được đầy dẫy Thánh Linh.
Nhưng có người sẽ hỏi, có thật là chúng ta có thể được đầy dẫy Thánh Linh không? Có ai đã thật sự từng trải điều đó trước chúng ta không?
III. TOÀN THỂ CÁC MÔN ĐỆ NGUYÊN THỦY ĐỀU ĐÃ ĐƯỢC ĐẦY DẪY THÁNH LINH.
Sách Công vụ dạy chúng ta rằng được đổ đầy Thánh Linh là một từn trải bình thường trong Hội thánh nguyên thủy.
1. Các sứ đồ và các trưởng lão của Hội thánh đều được đầy dẫy Thánh Linh.
Lúc Phê-rơ mạnh dạn ngỏ lời trước các thầy tế lễ và trưởng lão Y-sơ-ra-ên khi bị bắt lần đầu tiên, ông vốn được đầy dẫy Thánh Linh, và cả Ba-na-ba tại An-ti-ốt cũng vậy (Cong Cv 4:8; 11:24). Sự việc cũng xảy ra tương tự với Phao-lô lúc ông khiến cho tay phù thủy Ê-li-ma phải ngậm miệng (Cong Cv 13:9).
Lúc cần chỉ định các chấp sự để giải quyết các rắc rối về phương diện vật chất, họ bị đòi hỏi chẳng những phải là người đã ăn năn quy đạo, nhưng cũng phải được đầy dẫy Thánh Linh và sự khôn ngoan nữa (Cong Cv 6:3). (Nếu hiện nay, cùng những điều kiện y như thế cũng được đòi hỏi đối với các tôi tớ Chúa, hậu quả sẽ là một biến đổi lớn lao biết bao trong giới tôn giáo của chúng ta!)
Cuối cùng, Ê-tiên vẫn đứng vững trước sự hận thù và cả cái chết nữa, là vì ông đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh (Cong Cv 7:55).
2. Hội chúng các môn đệ Chúa cũng từng trải qua cùng một kinh nghiệm.
Có người có thể hỏi phải chăng sự đầy dẫy Thánh Linh được dành riêng cho các nhân vật quan trọng của Thượng Đế, được gọi vào một vài nihệm vụ đặc biệt nào đó mà thôi hay không. Nhưng căn cứ vào sách Công vụ, chúng ta học biết rằng đây là một từng trải thông thường của toàn thể các tín hữu; số một trăm hai mươi người đều được đổ đầy Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:4). Thế nhưng phần đông trong đó một trăm hai mươi môn đệ đều là những con người tầm thường dung dị, thậm chí còn là vô danh đối với chúng ta nữa. Sau lễ Ngũ tuần, Hội thánh đã tăng lên nhanh chóng, và con số ấy lên đến năm ngàn người. Đám quần chúng đông đảo ấy đã tập họp nhau lại để mừng đón Phê-rơ và Giăng trở về, sau khi hai vị bị bắt lần đầu tiên, và chúng ta được bảo cho biết là “khi (họ) cầu nguyện xong, phòng họp rúng chuyển, mọi người đều đầy tràn Thánh Linh và can đảm công bố đạo Chúa” (Cong Cv 4:4, 31).
Nếu hội chúng các tín hữu của thời kỳ đó đều được đầy dẫy Thánh Linh, làm thế nào cái chân lý ấy lại không được chúng ta ngày nay biết tới? Ngoài ra nếu trong Hội thánh nguyên thủy, toàn thể các tín hữu đều có từng trải đó, tại sao chính bạn lại không thể có được, kể cả nếu bạn chỉ là người hèn mọn và chẳng được ai biết nhất giữa vòng các tín hữu?
3. Ngay đến những người mới ăn năn quy đạo cũng được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
A-na-nia đã tuyên bố với Sau-lơ người Tạt-sơ ba ngày sau khi ông này gặp Chúa Cứu Thế phục sinh “Chúa Giê-xu ...sai tôi đến đây, để anh được sáng mắt lại và đầy Thánh Linh” (Cong Cv 9:17). Ở đây, một lần nữa, người ta có thể phản bác rằng Sau-lơ là một trường hợp đặc biệt. Nhưng 13:52 cho chúng ta biết về các môn đệ tại An-ti-ốt xứ Bi-si-đi được Phao-lô giảng đạo cho nhiều nhất là trong vòng vài tuần lễ. Lúc ông từ giã họ, thì ông để lại những con người tràn đầy niềm vui với Đức Thánh Linh.
Xin chúng ta đừng nghĩ rằng sự đầy dẫy Thánh Linh là một từng trải nhất thiết phải vừa hiếm hoi, vừa rất khó đạt được vì trong Hội thánh nguyên thủy, Thượng Đế đã ban nó cho tất cả mọi người, cho nên Ngài cũng ước ao rằng tất cả chúng ta hôm nay cũng có được điều đó.
IV. THƯỢNG ĐẾ TRUYỀN DẠY TOÀN THỂ CÁC TÍN HỮU THUỘC MỌI THỜI ĐẠI, PHẢI ĐƯỢC ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH.
Qua trung gian các bức thư của Phao-lô, Ngài truyền dạy chúng ta “Đừng say rượu...nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh” (Eph Ep 5:8). Rõ ràng là những lời chỉ giáo này bao trùm mọi thời kỳ và toàn thể các con cái Thượng Đế. Chẳng có gì để nghi ngờ là chúng ta phải tuân thủ lệnh truyền đầu tiên trong số các lệnh truyền ấy, bởi vì chúng ta biết rằng những kẻ say sưa sẽ chẳng được hưởng Nước Trời. Nhưng chúng ta có biết là lệnh truyền thứ hai, phải đầy dẫy Thánh Linh, cũng dành cho chúng ta, và chúng ta phải phấn đấu để giữ đúng hay không? Nếu không, chúng ta đừng nên đi tìm ở đâu xa, lời giải thích cho các thất bại và yếu đuối thuộc linh của mình.
Tuy nhiên, thậtdễ hiểu là Thượng Đế muốn đổ đầu Thánh Linh Ngài cho chúng ta. Ngài biết rằng chúng ta không thể phục vụ hai chủ. Hơn nữa, từ lúc Ngài ngự vào lòng chúng ta, Ngài muốn rằng Thánh Linh Ngài phải chiếm hữu trọnv ẹn chúng ta để thánh hóa và giải phóng chúng ta biến đổi chúng ta để trở nên giống như ảnh tượng Ngài Phải chăng tất cả những người cha đều muốn cho con mình, có đầy sức khỏe và sức mạnh? Thượng Đế chỉ có thể ban sự đầy dẫy đó cho chúng ta khi chúng ta tự nguyện để cho Thánh Linh thống trị mình. Sau đó, Kinh Thánh cho chúng ta biết một lần nữa, là Thượng Đế rất ham mến chúng ta, thậm chí đến độ ghen tuông, nên đã đặt Thánh Linh Ngài ngự trong lòng chúng ta (Gia Gc 4:5). Thế thì, tại sao Ngài lại không muốn cho chỉ một mình Thánh Linh ấy mới duy nhất là Đấng ngự trị trong lòng chúng ta?
Do đó, nếu chúng ta muốn Thượng Đế đẹp lòng và thật sự sống cuộc đời làm Cơ-đốc nhân, thì phải tuân thủ lệnh truyền minh nhiên đó của Ngài. Không tìm cầu sự đầy dẫy Thánh Linh tương đương với chống lại ý chỉ thánh khiết nhất của Ngài đối với các con cái Ngài.
V. ĐƯỢC ĐẦY DẪY THÁNH LINH CÓ Ý NGHĨA VÀ HÀM Ý GÌ?
Ngay từ đầu, xin chúng ta hãy khảo xét điều vốn rất thường được vạch rõ, ấy là sự đầy dẫy Thánh Linh không hàm ý rằng chúng ta phải có được nhiều Thánh Linh hơn dành cho mình, mà trái lại, là chính Ngài phải chiếm hữu được chúng ta càng nhiều hơn và hoàn toàn có thể nắm quyền sai sử chúng ta.
Thánh Linh trong chúng ta cũng giống như một lực lượng áp đảo vậy; Ngài lập tức chiếm lĩnh từng phân tử một của con người chúng ta mà chúng ta phó thác cho Ngài, cũng như không khí tràn ngập ngay bất kỳ khoảng trống nào mà nó có thể tràn vào được. Chính vì lý do ấy mà được đầy dẫy Thánh Linh chẳng có gì là phi thường cả. Ngay từ lúc chúng ta hoàn toàn thành thật tự phó thác mình cho Thượng Đế, như chúng ta vốn có với khả năng cao nhất của mình, tin vào lời hứa cao nhất của mình, tn vào lời hứa của Ngài, thì chúng ta được đổ đầy Thánh Linh theo đúng dung tích, khả năng chứa đúng của chúng ta. Như vậy, tất cả mọi người kể cả người mới ăn năn quy đạo hãy còn thiếu từng trải và chẳng hiểu biết được gì nhiều, cũng có thể kinh nghiệm được từng trải kỳ diệu ấy.
Liên hệ với việc này, chính Chúa Giê-xu đã dùng hình ảnh sau đây: Ngài ví sánh Thánh Linh với một giếng nước có nguồn mạch phát sinh từ trong lòng chúng ta, tuôn trào ra đến nỗi chính nó được đầy dẫy, và cuối cùng, còn chảy tràn ra chất nước sống thật phong phú (GiGa 4:14; 7:38-39). Nước của cái giếng không bao giờ vơi cạn này tự nó chảy tràn ra - chúng ta có thể nói là tự động tuôn trào - khoảng không gian nhỏ bé chung quanh nó, tẩy sạch mọi ô uế, nhưng chỉ đòi hỏi một điều kiện duy nhất mà thôi: tức là giòng chảy của nó không bị tảng đá của ý chí phản loạn của chúng ta ngăn trở. Thánh Linh trong chúng ta sẽ cuốn đi mọi trở ngại phá tan mọi phản kháng, nhưng Ngài sẽ chẳng bao giờ làm như thế nếu không được sự hậu thuẫn của ý chí riêng của chúng ta mà Ngài vốn tôn trọng. Nếu phần ý chí đó chống lại Ngài, Ngài sẽ bị buồn lòng và không tự bày tỏ mình ra nữa. Tuy nhiên, nếu nó tự buông xuôi để hoàn toàn đầu phục Ngài, thì chỉ cần trong phút chốc, Ngài sẽ có thể đầy dẫy chúng ta rồi.
Xin chúng ta đừng bao giờ quên rằng Thánh Linh ngự trong chúng ta chính l2 hiện diện của Chúa Cứu Thế. Nếu chúng ta được đổ đầy Thánh Linh, thì chính là Chúa Cứu Thế đang đầy dẫy chúng ta. Vì chúng ta biết rằng “Chúa Cứu Thế là hiện thân của tất cả bản chất thần linh của Thượng Đế” và “Trong Ngài, anh em đầy đủ mọi sự” (CoCl 2:9-10). Chúa Cứu Thế là nguồn sự sống, sự chiến thắng và sự thuần khiết của tình yêu thương và sự thánh hóa, tóm lại là của sự đầy dẫy, và nguồn mạch ấy vốn ở ngay trong chúng ta. Nếu nó đầy dẫy chúng ta, phù hợp với ý chỉ Thượng Đế, thì tất cả cac ân tứ ấy sẽ được ban cho chúng ta. Tuy với nhiều Cơ-đốc nhân, điều đó dường như khó đạt được, tôi có thể nó rằng bởi đức tin, ngay từ lúc tôi được tái sanh “tôi sống, không phải tôi sống nữa, nhưng Chúa Cứu Thế sống trong tôi” (GaGl 2:20). Và nếu tôi được đầy dẫy Chúa Cứu Thế, sự sống Ngài sẽ cứ ngày càng tự biểu hiện trong tôi và qua tôi nhiều thêm.
Ôi, sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và kiến thức của Thượng Đế! Lạy Chúa, xin bởi Thánh Linh của Chân lý Ngài mặc khải cho con biết làm thế nào để con có thể được một phước hạnh như thế!
VI. CHÚNG TA PHẢI LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯợC ĐẦY DẪY THÁNH LINH?
Dường như Kinh điển đưa ra bốn điều kiện thiết yếu:
1. Chúng ta phải xưng ra với Thượng Đế tất cả các tội lỗi mình biết, và phó mặc cho huyết của thập tự giá thanh tẩy chúng ta. Trong chương trước, chúng ta đã ghi nhận rằng một tội nhỏ nhặt nhất cũng làm buồn Thánh Linh, do đó, ngăn trở Ngài tự biểu hiện. Thánh Linh chỉ đầy dẫy chúng ta nếu Ngài không còn bị làm buồn nữa, và lòng chúng ta được tẩy sạch mọi tội lỗi bởi đức tin vào huyết Chúa Cứu Thế (IGi1Ga 1:9). Xin chúng ta hãy tự xét lương tâm để chẳng còn để lại bất cứ điều gì làm chúng ta phân cách với Thượng Đế. Nhất là chúng ta hãy xưng điều đó ra, vì chính do thất bại sa ngã mà chúng ta không được đầy dẫy Thánh Linh, cho nên chúng ta cần khiêm nhu hạ mình xuống bằng cách vâng lời Thượng Đế.
2. Chúng ta phải ao ước và tìm cầu sự đầy dẫy Thánh Linh.
Chúa Giê-xu phán “Nếu người nào khát, hãy đến với tôi mà uống. Người nào tin tôi, các mạch nước sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng...Chúa ngụ ý nói về Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ tiếp nhận vào lòng” (GiGa 7:37-39).
Nhiều Cơ-đốc nhân tự mãn tự túc không cảm thấy khao khát Đức Thánh Linh. Họ đã tự hài lòng với chính mình, với đức tin, nếp sống ngoan đạo, và các việc từ thiện tốt lành của mình. Họ trông cậy vào các từng trải của quá khứ và tưởng rằng chỉ cần tự xưng mình đã ăn năn quy đạo từ nhiều năm rồi đã là đủ lắm. Họ quên rằng sự tái sanh (nếu quả thật họ được từng trải nó) mới chỉ là bước đầu tiên trong cuộc đời làm Cơ-đốc nhân, và họ còn phải tăng trưởng hầu “đạt được bậc trưởng thành trong Chúa, có Chúa Cứu Thế đầy dẫy trong tâm hồn” (Eph Ep 4:13) mình, trong khi họ “đeo đuổi con đường thánh hóa, vì nếu không thánh hóa, không ai được thấy Thượng Đế” (HeDt 12:14). Ta cũng có thể nói về họ như điều Chúa đã viết cho Hội thánh Lao-đi-xê “Con nói: tôi giàu có, nhiều tài sản, không cần gì nữa, nhưng con không biết con khốn khổ, đáng thương, nghèo nàn, mù quáng và trần truồng” (KhKh 3:17). Sẽ chẳng có chút hi vọng nào cho người không có các nhu cầu thuộc linh.
Nhưng mặt khác, khát là một nhu cầu bắt buộc, cần thỏa mãn, Người bị cơn khát hành hạ không thể làm gì để hết khát cả. Một cuộc đời đầy dẫy Thánh Linh chỉ được ban cho người nào thật sự cảm thấy khao khát Ngài, những người sẵn sàng chịu trả giá, chịu từ bỏ tất cả nếu cần, để tiếp nhận Ngài. “Phúc cho người khao khátđiều công chính, vì sẽ được thỏa mãn” (Mat Mt 5:6). Chúng ta có khao khát sự vui tươi rạng rỡ và quyền năng không? Chúng ta có ao ước một đời sống Cơ-đốc nhân được giải thoát khỏi những biến chuyển và sa bại thường xuyên, bị nhiều yếu đuối nhược điểm ngăn trở, và buồn phiền liên tục không? Tóm lại, chúng ta có khao khát theo đuổi sự đầy dẫy Thánh Linh không? Hãy đến gần Cứu Ch1a vì những gì Ngài đã hứa, đều được dành cho chúng ta.
3. Chúng ta phải đầu phục Thượng Đế không hạn chế, mở rộng cả đời sống chúng ta cho ảnh hưởng của Ngài.
Chúng ta đã thấy là Thượng Đế vốn muốn đổ đầy Thánh Linh Ngài cho chúng ta. Nhưng chỉ có vật gì trống rỗng thì mới có thể được đổ đầy mà thôi. Chẳng có gì để nghe ngờ là nếu chúng ta đã ăn năn quy đạo, thì Đưc Thánh Linh đã xâm chiếm một số khoảng trống trong lòng chúng ta rồi, nhưng tất cả mọi thành phần của đời sống chúng ta đã được mở rộng để tiếp nhận Ngài chưa? Hay có lẽ chúng ta chỉ đem đến cho Thượng Đế những tội lỗi nào gây bất tiện cho mình, mà chúng ta chẳng quan tâm gì lắm, trong khi vẫn giữ lại nhiều thần tượng và trên hết, là các ý riêng của chúng ta? Điều tự nó sẽ trở thành hiển nhiên, ấy là việc chúng ta khước từ không chịu đặt toàn thể đời sống mình đầu phục Thượng Đế - dầu chỉ ở một lãnh vực duy nhất nào đó mà thôi - chính là trở ngại khiến Chúa không thể đổ đầy cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta dành cả một trăm phần trăm cho Ngài và để cho chúng ta lựa chọn - tất cả hoặc chẳng là gì cả hoặc là chúng ta chấp nhận, hoặc là chúng ta từ chối. Chúa Giê-xu phán với chúng ta “Nếu không bỏ hết mọi điều mình có, anh em không thể làm môn đệ ta... Ai tham sống sợ chết sẽ mất mạng. Ai hy sinh tính mạng vì ta, sẽ được sống. Nếu một người chiếm được cả thế giới nhưng bản thân phải lưu vong, thì có ích gì?” (LuLc 14:33; 9:24, 25). Chúng ta có thể chọnđ ể cứ hâm hẩm, không chịu nhận biết thánh hóa là tình trạng đầy đủ nhất của đời sống, nhưng Chúa sẽ bảo chúng ta “Nhưng vì con hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả con ra khỏi miệng Ta” (KhKh 3:16).
Có lẽ có người sẽ nói “Tôi sẵn sàng phó dâng mọi sự vào tay Thượng Đế và dốc đổ lòng mình để Ngài có thể đổ đầy nó, nhưng có nhiều điều đang trói buộc tôi mà tôi không thể nhổ tận gốc trong đời sống mình. Nhưng lẽ dĩ nhiên, Thượng Đế không hề trông mong chúng ta tự thanh tẩy mình hay trước hết, phải tự mình cố gắng trục xuất tất cả, là điều sẽ gây trở ngại cho công việc của Ngài trong chúng ta. Chúng ta sẽ không thể nào làm nổi việc ấy. Tất cả những gì Ngài đòi hỏi chúng ta là đồng ý để cho Ngài vào trong từng thành phần một để có thể biến đổi và thanh tẩy tất cả. Tất cả những gì Ngài muốn là chúng ta phải đặt ý chí mình đầu phục Ngài trong những gì nó trái ngược với ý chỉ Ngài, vì Ngài đã tạo dựng nên chúng ta với tư cách những hữu thể tự do. Nhưng một khi chúng ta đã giao cho Ngài toàn quyền hành động, thì Ngài không còn bị ngăn trở trong việc đổ đầy chúng ta và tự tôn vinh trong chúng ta nữa. Theo lời hứa, Ngài sẽ tạo ra trong chúng ta cả ý chí lẫn khả năng hành động (Phi Pl 2:13), và sẽ khiến mọi sự đều có thể thực hiện được. Hãy nghe lời khuyên của Phao-lô, ngườ đã đưa ra cho chúng ta bí quyết của sự thánh hóa “Hãy dâng trọn thể xác cho Thượng Đế như người từ cõi chết sống lại...Tôi nài khuyên anh em dâng thân thể mình cho Thượng Đế như một sinh tế sống và thánh đẹp lòng Ngài. Đó là cách thờ phượng đích thực của người theo Chúa” (RoRm 6:13; 12:1).
Mong rằng chúng ta có thể tự nguyện dâng mình cho Thượng Đế và nói “Lạy Chúa, con hoàn toàn tự hiến thân cho Ngài; con sẵn sàng trả giá dầu nó có đắt đến đâu, để được đầy dẫy Thánh Linh Ngài”
4. Cuối cùng, chúng ta phải tin rằng Thượng Đế đã đổ đầy Thánh Linh Ngài cho chúng ta, một khi chúng ta đã thực hiện ba điều kiện đầu tiên ấy.
Chỉ thú tội, thiết tha muốn được đổ đầy và tự đặt mình lên bàn thờ, thì chưa đủ. Nhiều tín hữu thường phấn đấu để làm như thế, duy trì thái độ như vậy được lâu bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, nhưng đã chẳng có gì xảy ra trong lòng họ cả! Rồi do kiệt sức, họ lại sa trở vào tình trạng trước kia của mình. Họ đã không bước được bước sau cùng, tức là lấy đức tin bắt lấy cái phương hạnh mà trên nguyên tắc Thượng Đế đã ban cho họ rồi. Chính Chúa Giê-xu khẳng định chân lý này trong khúc sách vừa được trích dẫn ở phần trên “Người nào khát, hãy đến với tôi mà uống. Người nào tin tôi, các mạch nước hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng, đúng như Thánh Kinh đã chép. Chúa ngụ ý nói về Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ tiếp nhận vào lòng” (GiGa 7:37-39). Chẳng có gì để nghi ngờ là khúc sách này không phải chỉ đề cập Thánh Linh, mà cả sự đầy dẫy Ngài nữa, vì còn có hình ảnh nào chúng ta có thể tưởng tượng ra về sự đầy dẫy tuôn trào, lại đẹp đẽ hơn hình ảnh của những giòng sông nước hằng sống tuôn chảy? Nếu chúng ta muốn cho lòng mình được đầy dẫy như vậy, thì bước quan trọng và đầu tiên chúng ta phải thực hiện, là tin.
Liên hệ với vấn đề này, xin chúng ta xét kỹ hơn về ba giai đoạn mà đức tin chúng ta phải kinh qua.
a. Chúa Cứu Thế Giê-xu đòi hỏi chúng ta trước nhất phải tin Ngài, và do đó, trông cậy nơi Ngài trong mọi sự.
Bao lâu chúng ta còn đặt lòng tin cậy vào loài người hay chính mình trong việc phấn đấu hướng về sự tốt lành, thiện hảo, tin cậy vào giá trị cá nhân hay chính các từng trải riêng của chúng ta, chúng ta sẽ chẳng bao giờ được hoàn toàn tư do trong nội tâm. Chúng ta chỉ có thể tìm được sự sống và sự đầy dẫy trong Chúa Cứu Thế mà thôi. Muốn được đổ đầy, chúng ta phải loại bỏ tất cả mọi điều khác, và chỉ nhìn vào một mình Ngài mà thôi.
b. Một khi cái nhìn chăm chú của chúng ta đã tập trung vào Ngài, Chúa Cứu Thế Giê-xu đòi hỏi chúng ta phải tin rằng Ngài đang ở trong chúng ta qua trung gian Đức Thánh Linh.
Chúng ta có thể khoe khoang là mình đang có một Cứu Chúa thánh khiệt và toàn năng nhất trên thiên đàng, nhưng điều đó sẽ chẳng giúp ích gì cho chúng ta cả, trừ phi khi chúng ta cũng tin rằng Ngài đang ngự trị ngay trong lòng chúng ta nữa, bởi đức tin của chúng ta. Kinh Thánh luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng với hiện diện thuộc linh của Cứu Chúa, là chúng ta có tất cả; nếu không có hiện diện của Ngài, thì dĩ nhiên là chúng ta bị khổ sở, bần cùng. Do đó mà hiện diện của Thánh Linh trong lòng chúng ta là một cha6n lý có tầm quan trọng sinh tử.
c. Chúng ta phải tin rằng Chúa Cứu Thế đổ đầy Thánh Linh Ngài cho chúng ta.
Chỉ vì nhiều Cơ-đốc nhân không hoàn tất giai đoạn này cho đức tin mình, nên chẳng bao giờ họ nhận được sự đầy dẫy. Giai đoạn này gồm có việc mở rộng lòng mình ra cho Chúa Cứu Thế Giê-xu, đồng thời tin rằng Ngài đã đổ đầy Thánh Linh Ngài cho chúng ta rồi. Vô số các tín hữu cứ cầu nguyện đi cầu nguyện lại chẳng biết bao nhiêu lần với Thượng Đế “Lạy Chúa, xin đổ đầy Thánh Linh Ngài cho con” nhưng họ đã chẳng bao giờ nhận được sự đầy dẫy ấy. Tại sao vậy? Chỉ vì lý do họ chẳng bao giờ lấy đức tin để nắm lấy điều họ cầu xin. Chỉ xin nước thì chẳng bao giờ thỏa mãn được cơn khát, mà cứ ngồi nhìn nước khi nó đã được đặt trước mặt mình thì cũng chẳng được gì, hay nói khác đi, là phải nhận lấy nó để biến nó thành của riêng mình. Chúng ta không thể được đổ đầy dẫy Thánh Linh bằng cách thiết tha khao khát hoặc chỉ bằng việc cầu xin suông, cũng không phải bằng việc suy gẫm về sự đầy dẫy có thể tìm được trong Chúa Cứu Thế; muốn đạt tới điểm này, chúng ta phải bắt lấy nó bằng một hành động của đức tin. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng mình phải nài xin Thượng Đế đổ đầy Thánh Linh Ngài cho mình; nhưng trái lại, chính Ngài mới khuyên dạy chúng ta hãy tin và loại bỏ mọi trở ngại ngăn chận việc Ngài chiếm hữu trọn vẹn chúng ta.
Khi đề cập sự đầy dẫy Thánh Linh, không phải là chuyện ngẫu nhiên khi Kinh điển dùng đến hai lần hình ảnh về việc uống nước “Người nào khát, hãy đến với tôi mà uống” (GiGa 7:37) và “Đừng say rượu, vì say sưa là phóng đãng, nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh” (Eph Ep 5:18). Người ta uống nihều rượu để mong thỏa mãn cơn khát; chúng ta thì được đổ đầy dẫy Thánh Linhv à cứ giữ mãi tình trạng ấy bằng cách tin cậy sâu nhiệm. Tóm lại, sự vô tín của nhiều người vốn do hai điểm sau đây:
1. Họ tưởng rằng Thượng Đế không thể đổ đầy Thánh Linh cho mình. Bởi đó, họ giới hạn quyền năng Ngài và nói lên sự dốt nát của họ về lệnh truyền Ngài dạy chúng ta là phải hiến sự hiện diện ấy thành một từng trải của ngày hôm nay.
2. Sau khi đã cầu nguyện và đầu phục Thượng Đế, họ không dàm tin là mình đã được đầy dẫy Thánh Linh, bởi vì họ không cảm thấy nó. Thay vì phải bắt đầu nhắm mắt tin vào lời hứa thành văn của Lời Thượng Đế, họ muốn trướt hết được cảm thấy và nhìn thấy nó, thế nhưng chẳng có gì xảy ra cho họ cả. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu luôn luôn bảo chúng ta “Ta đã chẳng từng bảo con: nếu con tin, con sẽ thấy vinh quang của Thượng Đế sao” (GiGa 11:40).
Do đó, xin chúng ta hãy bắt đầu tin, thì theo đúng lời hứa trong Kinh điển, các giòng sông nước hằng sống chắc chắn sẽ từ trong lòng chúng ta tuôn trào ra, tuy (để bảo đảm cho chúng ta luôn luôn biết khiêm nhu hạ mình) chúng ta không luôn luôn được cho phép nhìn thấy chúng. Trong một bài thơ ngắn về “sự đầy dẫy Thánh Linh” tiến sĩ Inwood truyên bố rằng theo ý ông, thì giây phút quan trọng nhất cho một người tín hữu muốn được đầy dẫy Thánh Linh, là khoảnh khắc phân cách giây phút người ấy tin vào sự đầy dẫy đó, với khoảnh khắc mà người ấy nhìn thấy các kết quả của nó trong chính mình và chung quanh mình. Nhưng như chúng ta sẽ thấy sau này, nếu Thánh Linh đầy dẫy chúng ta và chúng ta cứ kiên trì trong đức tin, thì quyền năng ấy sẽ được bày tỏ ra không tránh né vào đâu được, tuy điều cũng khá dễ hiểu, là dưới hình thức do chính Ngài tự chọn lấy.
Cuối cùng, xin chúng ta lưu ý là chúng ta nhận lãnh sự đầy dẫy Thánh Linh cũng hết sức dễ dàng, tương tự như cách của nhiều hình thức tiếp nhận các ân tứ thuộc linh khác. Người công chính sẽ sống bởi đức tin, và chính là bởi đức tin mà chúng ta đã được tha tội, tái sanh, chịu phép báp-tem, được nhận làm caon, được ấn chứng và được đầy dẫy Thánh Linh. Chúng ta được tha tội bao giờ? Khi chúng ta đã khiêm nhu hạ mình thật lâu, và không ngừng kêu cầu Thượng Đế, hay dành ra nhiều năm để lao khổ tìm cách tạo ra nó chăng? Không phải, mà trái lại là chính vào lúc chúng ta bắt lấy lời phán của Thượng Đế, với tấm lòng đau thương thống hối, nhưng tin quyết chắc chắn là mình đã được tha tội rồi.
Ngay sau khi chúng ta hoàn toàn đầu phục Ngài, hãy lấy lòng khiêm hạ tin qyết rằng giờ đây chúng ta đã được đầy dẫy Thánh Linh rồi.
VII. THÁNH LINH CÓ THỂ ĐẦY DẪY TỨC KHẮC LÒNG CHÚNG TA.
Bất chấp những gì chúng ta vừa thấy, nhiều người vẫn tưởng rằng, tuy Thượng Đế truyền lệnh cho chúng ta phải đầy dẫy Thánh Linh, nhưng người ta không thể nào có được điều ấy ngay tức khắc bằng một hành động của đức tin, nhưng phải dành cả đời sống mới đạt được nó.
Điều này sẽ đúng sự thật, nếu sự kiện được đầy dẫy Thánh Linh ngụ ý là tình trạng đạt được mức thành toàn. Nhưng sự việc không phải là như thế; mà trái lại, ước muốn của Đức Thánh Linh là đầy dẫy chúng ta trong tình trạng hiện có, để Ngài có thể hướng dẫn chúng ta xuyên xuốt nhiều giai đoạn tiếp theo nhau hầu đạt được tình trạng thành toàn. Hơn nữa, về sau chúng ta thấy rằng Thánh Linh ngữ trong lòng chúng ta phải đầy dẫy chúng ta không ngừng nghỉ cho đến khi chúng ta đạt được trọn vẹn sự đầy đủ của Thượng Đế. Mục tiêu này là điều phải theo đuổi suốt cả cuộc đời, sẽ chỉ được hoàn tất trong vinh quang; tuy nhiên, điều vẫn đúng, ấy là Thánh Linh có thể và rất muốn đầy dẫy chúng ta ngay tức khắc chính hôm nay, theo mức độ chúng ta có thể dung chứa Ngài. Nếu chúng ta nghiên cứu sách Công vụ với vấn đề này trong trí, chúng ta sẽ nhận thấy rằng việc tiếp nhận đầy dẫy Thánh Linh vốn xảy ra ngay tức khắc trong tất cả các trường hợp được chép lại trong sách ấy: trong ngày lễ Ngũ tuần, một trăm hai mươi người đã được đầy dẫy Thánh Linh ngay lúc Ngài giáng xuống trên họ (Cong Cv 2:4) năm ngàn người trong chương 4 đều được đầy dẫy Thánh Linh ngay khi họ vừa cầu nguyện xong (4:31) cuối cùng, A-na-nia đã được sai đến với Sau-lơ để ông sau này có thể được đầy dẫy Thánh Linh (Cong Cv 9:17). Nguyện chúng ta có đủ can đảm và nhờ sức lực của Thượng Đế để thỏa mãn các điều kiện Ngài áp đặt trên chúng ta, để được đầy dẫy Thánh Linh không chút trì hoãn.
VIII. NHIỀU TÍN HỮU VỐN ĐÃ ĐƯỢC ĐẦY DẪY THÁNH LINH MÀ KHÔNG HỀ HAY BIẾT.
Khi phán với Hội thánh Ê-phê-sô, Chúa bảo “Ta khiển trách con vì con đã đánh mất tình yêu ban đầu” (KhKh 2:4). Phải chăng mọi người chúng ta đều từng biết rõ tình yêu ban đầu ấy ngay khi bắt đầu cuộc đời làm Cơ-đốc nhân? Lẽ tự nhiên là ở đây không hề đề cập sự đam mê có tính cách xác thịt và tạm thời, một tình cảm lóe lên chú trọng khoảnh khắc, và không có tương lai. Tình yêu ban đầu ở đây có nghĩa là sự tận tụy, hiến thân sâu xa và chân thành, buộc chặt linh hồn mới được sanh ra của chúng ta với Cứu Chúa. Trong lòng chúng ta có được niềm vui tràn ngập, sự bình an trọn vẹn, sự tương giao mật thiết với Thượng Đế và sức lực không gì vượt được trước sự cám dỗ. Lúc ấy, làm chứng đạo thật là dễ dàng. Cầu nguyện là hơi thở tự nhiên của tâm hồn, và đọc Kinh Thánh vốn là một sự kích thích luôn luôn mới mẻ đối với chúng ta. Sự đầy dẫy sức sống đó vốn từ đâu mà có? Ấy là do sự kiện vô cùng đơn giản là lòng chúng ta được đầy dẫy Thánh Linh thật trọn vẹn sau khi đã hoàn toàn đầu phục Ngài mà không giữ lại chút gì.
Thế rồi khổ thay, sau đó đã có gì xảy ra cho rất nhiều người? Lòng nhiệt thành của ho5 nguội dần, ngọn lửa đã tàn tắt hết sức nhanh chóng. Những sự hi sinh mới được đòi hỏi đối với họ ngày càng trở thành quá nặng nề và một lần nữa, họ lại chìm đắm trong những điều thật hấp da0n của thế gian. Họ bị sa ngã tiếp theo là chán nản ngã lòng, và “những điều mà họ ưa chuộng” len lỏi vào trong lòng họ, tóm lại, tình yêu ban đầu của họ đã bị mất đi và sự đầy dẫy Thánh Linh (mà họ đã có, có lẽ là họ chẳng hề hay biết) đã không còn nữa. Trong số các bạn đang đọc mấy giòng này có ai đã gặp phải từng trải bất hạnh như vậy không? Bạn có cảm thấy là bạn hiện không còn như trước nữa, và có một bức màn to=i lỗi đang ngăn cách mình với Thượng Đế không? Phải chăng buồn rầu và không hài lòng đang xâm chiếm lòng bạn, trong khi bạn hoàn toàn bất năng bất lực và chán nản thất vọng trong sinh hoạt làm Cơ-đốc nhân?
Nếu đó đúng là trường hợp của bạn, bạn há không cầu xin Thượng Đế tha thứ cho sự thối lui đó và cầu xin Ngài đổ đầy Thánh Linh Ngài cho bạn một lần nữa hay sao? Ngài tưng hứa là sẽ chẳng bao giờ bỏ một người nào biết ăn năn đến với Ngài ra ngoài. Nếu bạn chịu để cho Ngài tẩy sạch tội lỗi bạn, nếu bạn lại bằng lòng đầu phục Ngài, tin rằng mình lại được đổ đầy Thánh Linh Ngài vào lòng một lần nữa, thì chẳng những Ngài sẽ phục hồi tình yêu ban đầu bạn đã đánh mất, mà Ngài còn ban nó cho bạn thoe một mức độ càng cao hơn nữa. Vì Ngài sẵn sàng dùng quyền năng vận hành trong lòng bạn để làm càng nhiều hơn là những gì chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng (Eph Ep 3:20). Cuối cùng, xin chúng ta nhớ lại lời của chính Chúa phán với người đã đánh mất tình yêu ban đầu “Hãy nhớ lại con đã sa sút từ đâu, phải ăn năn và làm những việc con đã làm ban đầu. Nếu không, Ta sẽ sớm đến, cất bỏ giá đèn khỏi chỗ nó” (KhKh 2:5). Xin chúng ta hãy cảnh giác, chớ tỏ ra ngoan cố đối với một khuyết nhược điểm trong sinh hoạt thuộc linh của mình, trong khi sự phục hồi địa vị đã được chính nhà vua đề nghị với chúng ta. Một thái độ ngoan cố như thế chỉ dẫn đến sự chết mà thôi.
Điều có vẻ như mâu thuẫn, ấy là trong lúc chúng ta nhận lãnh sự đầy dẫy Thánh Linh bửi đức tin, chúng ta có thể được từng trải đó mà không hay biết. Nhưng đối tượng chủ yếu của đức tin hiện nay cũng như mãi mãi, là chính Chúa Cứu Thế. Hễ ai tin Ngài, hoàn toàn đầu phục Ngài, thì có thể được đổ đầy Thánh Linh Ngài mặc dầu người ấy không hay biết sự vận hành của Thánh Linh. Nhưng nếu người ấy thiếu sự hiểu biết đó, người ấy cũng không biết là mình có thể nương cậy vào quyền năng nào và điều đó chắc chắn sẽ gây trở ngại cho sinh hoạt thuộc linh của người ấy. Về những trở ngại trong lời truyền dạy về Đức Thánh Linh này, con số những người lâm vào tình trạng ấy vối nhiều hơn điều chúng ta có thể tưởng tượng. Hơn nữa, một sự việc giống như thế cũng có thể nói liên hệ với sự tái sanh; nó được nhận lãnh bởi đức tin, thế nhưng có những người thiếu hiểu biết, thiếu soi sáng, lại không nhận biết được là mình đã được tái sanh.
Để kết luận, chúng ta có thể nói rằng những Cơ-đốc nhân như thế không nên xem sự đầy dẫy Thánh Linh như một điều gì mới mẻ, phi thường hay không thể nào có được, mà đúng hơn thì đó là một từng trải đã bị đánh mất mà họ có thể tìm lại được và phát triển ngay bây giờ, bằng cách noi theo nẻo đường mà Thượng Đế đa đánh dấu sẵn cho họ.
IX. SỰ ĐẦY DẪY THÁNH LINH CÓ THỂ BỊ ĐÁNH MẤT NHƯNG CŨNG CÓ THỂ TÌM LẠI ĐƯỢC.
Điều quan trọng là phải nhấn mạnh lại một lần nữa điều đã gây căng thẳng trong phân đoạn trước; một con cái Chúa không nhất thiết chỉ được đầy dẫy Thánh Linh một lần là dứt khoát, hay mãi mãi. Người ấy luôn luôn có thể làm buồn Thánh Linh là Đấng ngự trong lòng người ấy, nhưng cũng tôn trọng quyền tự do của người ấy. Một tội dầu nhỏ nhặt nhất, cố phạm nhưng lại không được thú nhận và từ bỏ tức khắc, sẽ hạ thấp trình độ thuộc linh của người ta. Đức Thánh Linh lập tức ngưng chiếm hữu trọn vẹn, và quyền năng hằng sống của Ngài từ đó trở về sau cũng không còn tự biểu hiện nữa. Rõ ràng là một tín hữu thật sự thuộc linh và đầy dẫy Thánh Linh sẽ dễ bị kẻ thù tấn công nặng nề hơn là một Cơ-đốc nhân xác thịt. Thật ra, người ấy là đại diện của một lực lượng mà kẻ thù sợ hãi hơn tất cả những điều gì khác, và nó sẽ tìm cách trừ diệt, như các sĩ quan ngoài mặt trận vốn bị nhắm bắn trước tiên. Há không phải Chúa Cứu Thế Giê-xu đã bị cám dỗ nhiều hơn bất cứ ai trong chúng ta sao? Không phải chị là chuyện ngẫu nhiên khi thư Ê-phê sô (Eph Ep 3:16-19; 5:18), sau khi đề cập sự đầy dẫy Thánh Linh, lại tiếp tục khuyến giục các tín hữu hãy chuẩn bị để đánh trận với các tà linh tại các nơi trên trời (6:10-17). Sự đầy dẫy Thánh Linh chẳng bao giờ có thể là chiếc gối êm để ru ngủ chúng ta. Trái lại, nó là phần trang bị cần thiết cho trận đánh quan trọng ấy và cho cuộc chiến thắng lớn lao. Thiết tưởng đến đây, chúng tôi có thể nói thêm (trước khi đề cập sâu hơn vấn đề này trong chương về “Sự thánh hóa bởi Thánh Linh") rằng trận đánh này cần phải đánh thắng bởi đức tin và chỉ bằng quyền năng của Thánh Linh, là Đấng đang ngự trong lòng chúng ta mà thôi.
Nhưng một Cơ-đốc nhân phải làm gì nếu người ấy bị ngã quỵ tại một điểm nào đó bất kỳ mà hậu quả là người ấy không còn được đầy dẫy Thánh Linh nữa? Nhường bước cho chán ản thất vọng tin rằng tất cả các từng trải trước đây của mình đã bị mất hết, vô phương cứu vãn chẳng? Lẽ tất nhiên là không, vì chán nản thất bọng không hề từ Thượng Đế đến. Người ấy hãy nhớ lại các lời hứa của ân phúc Thượng Đế, để lại thỏa mãn các điều kiện theo đó sự đầy dẫy Thánh Linh luôn luôn được ban cho hay phục hồi cho chúng ta (xem lại Mục V).
a. Người ấy phải thú nhận lỗi lầm củ amình, xin được tha tội và thanh tẩy bằng huyết của thập tự giá (IGi1Ga 1:9).
b. Người ấy phải đầu phục Thượng Đế không giữ lại chút gì tại nơi mà Ma quỉ đã chen vào (Eph Ep 4:27).
c. Người ấy phải tin một lần nữa và sau đó là chẳng bao giờ thôi tin rằng Thánh Linh ngự mãi mãi trong lòng mình, sẽ đầy dẫy lòng mình cũng đầy dẫy và càng nhiều hơn là từ trước đến nay nữa. Sách Công vụ quả quyết rằng người ta có thể được đầy dẫy Thánh Linh nhiều lần. Toàn thể số một trăm hai mươi môn đệ Chúa đều đã được đầy dẫy Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:4). Phần đông trng đám họ (không phải là tất cả) thuộc số đông đảo các tín hữu đã nhóm nhau lại để mừng đón hai sứ đồ Phê-rơ và Giăng nhân lần đầu tiên hai vị được tha ra khỏi nhà tù, và từng người một trong đám họ, đều được đầy dẫy Thánh Linh (4:31). Như vậy, đối với một số người, đó là lần thứ hai. Do đó, xin chúng ta chớ sợ hãi gì nếu thấy rằng mình lại cần được đổ đầy Thánh Linh một lần nữa, vì nguồn đầy dẫy không hề cạn kiệt đó luôn luôn nằm trong tầm tay chúng ta.
X. LÀM THẾ NÀO ĐỂ DUY TRÌ SỰ ĐẦY DẪY THÁNH LINH?
Chúng ta vừa ghi nhận là có thể đánh mất rồi được lại sự đầy dẫy Thánh Linh. Nhưng phòng bệnh vẫn hơn là chữa bệnh. Làm thế nào để chúng ta duy trì được mức độ đầy dẫy Thánh Linh đó trong chúng ta? Dường như Kinh điển có cung cấp cho chúng ta một câu trả lời bằng hai chữ (RoRm 8:4) chúng ta duy trì sự đầy dẫy Thánh Linh bằng cách bước đi
không theo xác thịt
nhưng theo Thánh Linh.
Trước hết, chúng ta phải cương quyết quay lưng lại đối với mọi hình thức của điều xấu điều ác, từ chối đứng về phía kẻ thù và cảnh giác đối với việc làm buồn Thánh Linh. Lẻ dĩ nhiên là chúng ta sẽ không tài nào tự mình làm nổi việc đó, nhưng hiện diện của Chúa Cứu Thế trong chúng ta sẽ ban cho chúng ta quyền năng cần thiết. Thứ hai, ấy là nhờ sống theo Thánh Linh, tự nguyện đầu phục ảnh hưởng của Ngài, sự chỉ dẫn và ý chỉ Ngài, tóm lại là bằng cách vâng lời Ngài trong mọi sự, chúng ta sẽ duy trì được sự thăng bằng nội tâm (Chúng tôi sẽ trở lại với vấn đề quan trọng này khi bàn về “Sự thánh hóa bởi Thánh Linh” trong chương tiếp theo đây).
XI. THÁNH LINH PHẢI ĐẦY DẪY CHÚNG TA MỖI NGÀY.
Trong lãnh vực thuộc linh, không tiến có nghĩa là lùi. Do đó, chúng ta không thể hài lòng với việc chỉ giữ lại được điều chúng ta đã nhận lãnh.
1. Thượng Đế luôn luôn muốn chiếm hữu chúng ta càng nhiều hơn.
Ngài muốn chúng ta phải trở nên như chính hình ảnh Con Ngài (RoRm 8:29) chúng ta phải cố gắng hết sức để đạt mức trưởng thành trọn vẹn, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn trong Chúa Cứu Thế và cuối cùng, ược đầy dẫy sự đầy đủ trọn vẹn của Thượng Đế (Eph Ep 4:13; 3:19). Thế nhưng Kinh điển tuyên bố ngắn gọn rằng mục tiêu tuyệt đối này chỉ có thể đạt được trong vinh quang mà thôi. Khi “Chúa trở lại, chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy chính Ngài” (IGi1Ga 3:2). Chỉ khi đứng trước hiện diện Ngài, chúng ta mới được đầy dẫy sự trọn vẹn của chính Thượng Đế. Do đó, khi còn ở dưới đất này, tôi chẳng bao giờ dám tuyên bố rằng mình đã nhận được tất cả những gì có thể tiếp nhận được, rằng tôi đã đạt được sự trọn lành rồi và chẳng cần phải tiến bộ thêm chút nào nữa. Trái lại, với đôi mắt nhìn chăm vào phần mẫu mực đặt trước mặt, tôi phải tìmc ách để được càng đầy dẫy hơn sự sống của Ngài, để càng giống với Ngài hơn. Tư tưởng này sẽ luôn luôn giữ cho tôi bị treo lơ lửng, nhưng biết khiêm hạ.
2. Sự đầy dẫy Thánh Linh hướng dẫn tôi tăng trưởng trong sinh hoạt thuộc linh.
Việc mới được sanh ra, bởi đó chúng ta nhận được sự sống, phải được tiếp tục bằng sự tăng trưởng thường xuyên. Một Cơ-đốc nhân xác thịt được nhận ra bằng sự thiếu tăng trưởng và thường xuyên sống trong tình trạng ấu trĩ trong Chúa Cứu Thế, không thể ăn gì cứng, đặc hơn là sữa (ICo1Cr 3:1, 2). Trái lại, đặc điểm chủ yếu của một Cơ-đốc nhân đầy dẫy Thánh Linh là ở chỗ người ấy có đầy đủ sức khỏe thuộc linh và phát triển phù hợp với cứu cánh của cuộc đời người ấy dưới đất này.
Có thể có người sẽ phản đối rằng ý niệm về sự tăng trưởng này mâu thuẫn với ý niệm về sự đầy dẫy Thánh Linh. Nhưng sự việc không hề là như thế. Một em bé sơ sinh có thể có đầy đủ sức khỏe và sinh lực thuộc thể; tuy nhiên, nó phải nhờ vào phần sinh lực đó để phát triển cho đến khi đạt được bậc thành nhơn. Các huyết quản của nó có thể đều đầy máu và hai buồng phổi nó đầy không khí, nhưng các số lượng máu và không khí đó sẽ không đủ cho các nhu cầu người lớn của nó. Đối với tâm trí thuộc linh của một Cơ-đốc nhân cũng vậy, Thượng Đế sẽ đổ đầy cho người ấy theo khả năng và từng giai đoạn phát triển. Rồi nhờ hành động không gì ngăn trở nổi của Thánh Linh, người ấy sẽ tăng trưởng và hằng ngày có thể nhận được một mức độ đầy dẫy Ngài càng lớn hơn mà người ấy có cần trước những nhiệm vụ mới và những trận đánh mới. Điều vốn vừa đủ cho người ấy lúc đầu sẽ được chứng minh là không còn đủ cho ngày hôm nay nữa, nhưng tạ ơn Thượng Đế, người ấy sẽ chẳng bao giờ làm cạn kiệt được phần dự trữ về quyền năng và sự sống mà Thánh Linh luôn luôn sẵn sàng ban cho người ấy. F.Godet đã diễn tả việc ấy như sau: “Con người là một khí dụng dành để tiếp nhận Thượng Đế; một khí dụng phải tăng trưởng tùy theo dung lượng bởi đó nó được đổ đầy, và phải luôn luôn được đổ đầy theo mức độ tăng trưởng của nó”.
Thí dụ của Phê-rơ thật là rõ ràng. Chúng ta thấy ông được đầy dẫy Thánh Linh hai lần (Cong Cv 2:4; 4:8). Do hậu quả của từng trải ấy và chẳng có gì để nghi ngờ rằng đó là một hậu quả trực tiếp, Thượng Đế đã tiết lộ cho ông biết rằng trong vấnđề về Cọt-nây, ông vẫn còn đầy dẫy thành kiến của một người theo Do-thái giáo cần phải từ bỏ đi (Cong Cv 10:10-16). Ông vâng lời, và nhờ đó đã tiến được một bước dài. Sau đó, do sự sai lầm của con người, Phao-lô đã trách cứ ông khá nặng lời (GaGl 2:14-16). Việc này xác nhận cho điều chúng tôi đã nói rằng tuy một người đã đầy dẫy Thánh Linh, nhưng vẫn còn có thể phạm tội; tuy nhiên, người ấy phải và có thể tăng trưởng thuộc linh nhờ chính từng trải phạm lỗi đó.
3. Gia tăng sự đầy dẫy Thánh Linh trong lòng chúng ta sẽ đưa đến việc chúng ta cứ ngày càng chiến thắng được tội lỗi nhiều hơn.
Kinh điển cho chúng ta biết rằng chỉ khi đã được quang vinh, chúng ta mới trở nên hoàn toàn giống Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chính tội lỗi vẫn thường xuyên ngăn trở chúng ta trở nên giống như Ngài; hệ quả là suốt cuộc đời sống trên đất này, chúng ta phải chiến thắng liên tiếp đối với kẻ thù khủng khiếp đó. Nếu không phải như vậy, thì điều đó hàm ý rõ ràng rằng chúng ta đã không hề có tiến bộ. Nếu hôm nay chúng ta được đầy dẫy Thánh Linh, chúng ta sẽ chiến thắng tất cả các tội mà mình biết. Nhưng nếu ngày mai chúng ta tiếp tục tăng trưởng và tiến bước trên nẻo đường thánh hóa, Thánh Linh sẽ tiết lộ cho chúng ta được biết càng nhiều hơn về bản thân chúng ta, về các nhiệm vụ cần hoàn thành và nhiều tội lỗi khác nữa mà từ trước đến giờ chúng ta vẫn chưa hay biết.
Lẽ tất nhiên là càng tiến bộ trong sinh hoạt thuộc linh, vùng chân trời của chúng ta sẽ càng được mở rộng, ánh sáng sẽ tăng thêm, lương tâm chúng ta sẽ càng nhạy bén thên, và chúng ta càng biết rõ hơn tính cách dễ sai lạc của bản tính chúng ta. Nếu chúng ta cứ thường xuyên đầu phục Thánh Linh Ngài sẽ cứ ngày càng cho chúng ta chiến thắng trong mọi sự, và chúng ta sẽ có thể tiếp tục con đường của mình trong ánh sáng, không ngừng mà cứ ngày càng đượng đổ đầy thêm sự hiện diện của Ngài.
Xin có thêm một lời nữa cho những ai sau khi đã thật sự chiến thắng rồi, lại gặp chán nản ngã lòng vì một nhược điểm hay thất bại mới mẽ nào đó. Xin chúng ta đừng bao giờ quên rằng chúng ta sẽ phải suốt đời ở trong nhà trường của Thượng Đế. Chẳng có gì để ngạc nhiên khi một cậu bé học trò không lãnh hội ngay được tất cả những gì mình đã được dạy bảo trong thời hạn một năm khi mới bắt đầu đến trường. Cho dầu chúng ta có nhiều thiện chí đến đâu đi chăng nữa, chúng ta vẫn cứ sai lầm và phạm lỗi. Nhưng xin chúng ta chớ để cho chúng đánh bại mình, vì nếu chúng ta là những học trò luôn luôn biết ngoan ngoãn thuận phục, luôn luôn hăng hái học tập, thì vị Giáp viên thiên thượng sẽ không ngừng sửa sai cho chúng ta, dạy bảo và hướng dẫn chúng ta từ giai đoạn này sang giai đoạn khác để đạt được mục tiêu mà Ngài đã giao cho chúng ta. Như vậy, chúng ta cần giữ mình đối với hai cơ nguy: chán nản ngã lòng có thể áp đảo chúng ta khi chúng ta thấy con đường đang trải ra trước mắt có thể xâm chiếm chúng ta d hậu quả của từng trải thánh hóa và đầy dẫy hiện tại. Lẽ dĩ nhiên là có rất nhiều người do chẳng lo nghĩ rất ít đến sự tiến bộ của họ, vẫn nói rằng: “Trong khi còn sống trên đời này, chúng ta vẫn luôn luôn còn là tội nhơn, và chẳng có gì thay đổi được điều đó”. Họ đã quên rằng nếu không thánh hoa thì chẳng ai sẽ thấy Chúa (HeDt 12:14).
Nhiều người khác nói: “Tôi hiện đã được thánh hóa hoàn toàn rồi; từ năm mười hay hai mươi năm nay, tôi đã không còn phạm tội nữa”. Họ chỉ chứng tỏ là họ đã ngưng tăng trưởng do tin rằng họ đã đạt được tột đỉnh rồi, trong khi thật ra họ đã quên mất những lời khuyến cáo chẳng hạn như: “Các con phải toàn hảo như Cha các con trên trời” hay “Đã biết điều tốt phải làm mà không làm, là phạm tội” (Mat Mt 5:48; Gia Gc 4:17).
Phần chúng ta, mong rằng chúng ta hãy nhớ nhắm vào mục tiêu “được đầy dẫy Thượng Đế” (Eph Ep 3:10), và nguyện chúng ta sẽ đồng thanh với Phao-lô rằng “không phải tôi đã đến mức toàn thiện hay đã đạt được giải vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chiếm đươc lòng tôi” (Phi Pl 3:12). Như thế, chúng ta sẽ được biến hóa để trở thành hình ảnh vinh quang của Chúa chúng ta (IICo 2Cr 3:18).
XII. ĐÂU LÀ NHỮNG KẾT QUẢ NẨY SINH TỪ SỰ ĐẦY DẪY THÁNH LINH?
Một khi Thánh Linh cai trị trong lòng chúng ta, chiếm hữu chúng ta trọn vẹn, thì Ngài có thể tự do bày tỏ quyền năng Ngài và chia xẻ sự sống Ngài cho chúng ta. Điều này hàm ngụ trong câu Chúa Cứu Thế Giê-xu đã phán khi đề cập Thánh Linh “Người nào tin tôi, các mạch nước hằng sống sẽ tuôn trào không dứt trong lòng” (GiGa 7:38). Muốn hiểu rõ các kết quả của sự đầy dẫy Thánh Linh thật trọn vẹn, cần xem xét mọi lãnh vực của sinh hoạt thuộc linh, vì chẳng hề có lãnh vực nào lại có thể vượt ra ngoài tầm ảnh hưởng của Ngài.
Như một thanh sắt đen và lạnh khi cho vào lò lửa sẽ sáng rực và đỏ hồng lên do bọ nhiệt năng thấm nhập, thì đời sống chúng ta khi được Thánh Linh thấm nhập cũng vậy. Tuy nhiên, chúng tôi xin ghi ra một ố phước hạnh mà Ngài ban cho chúng ta bằng phương tiện làm đầy dẫy chúng ta.
1. Đời sống sung mãn.
Đó là đời sống sung mãn mà Chúa Giê-xu đã đề cập, vì Ngài chính là Thánh Linh sự sống và qua Ngài, chúng ta được truyền cho sức sống ấy (RoRm 8:2; GiGa 6:63). Khi Ngài hoàn toàn chiếm hữu chúng ta, Ngài sẽ truyền sang cho chúng ta một sức mạnh tràn đầy và hài hòa, một sự sống mà sức phát triển của nó, còn chói ngời và truyền sang cho nhiều người khác nữa, để thay thế cho cuộc đời hẹp hòi, yếu đuối, lạc hậu đáng thương, và bệnh hoạn.
2. Sự thánh hóa.
Ngài là Đức Thánh Linh tôn vinh Chúa Cứu Thế trong lòng chúng ta, thánh hóa chúng ta. Khi Ngài trở thành bá chủ lòng ta, Ngài giải phóng chúng ta khỏi luật pháp của tội lỗi và sự chết, vì nơi nào có Thánh Linh của Chúa thì ở đó cũng ó tự do (RoRm 8:2; IICo 2Cr 3:17). Ngài đập tan mọi xiềng xích, đem tự do đến cho người nô lệ, và nuôi dưỡng trong lòng ta các trái của Thánh Linh là yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lương, thành tín, hòa nhã, tự chủ (GaGl 5:22). Ngài thanh tẩy chúng ta và thực hiện năng lực thu hút để khiến nhiều người khác phải quan tâm chú ý, nhưng trên hết, Ngài thiết lập giữa Thượng Đế và chúng ta một sự hợp nhất toàn hảo, vì Ngài luôn luôn và không ngừng loại ra tất cả những gì có thể phân rẽ chúng ta với Thượng Đế.
3. Quyền năng.
Chúa Giê-xu phán: “Khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng” (Cong Cv 1:8). Quyền năng ấy, một khi không còn đối lập với chúng ta nữa mà lại được ban cho chúng ta, sẽ đầy dẫy chúng ta và tuôn tràn ra; nó sẽ được biểu hiện nơi sự thành công khi chúng ta phục vụ, nơi sự trung tín làm chứng đạo, cũng như nơi sự thánh hóa bề ngoài của chúng ta. Chính nhờ quyền năng do kết quả của sự đầy dẫy này mà Phê-rơ đã đưa được ba ngàn người đến với Đạo trong ngày lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:41), và cũng nhờ chính quyền năng ấy mà các môn đệ Chúa đã thực hiện được nhiều việc lạ lùng, đã được ghi lại trong sách Công vụ. Quyền năng này không phải chỉ được ban cho để đạt được thành công mà thôi, nhưng cũng còn để đương đầu với thử thách, thậm chí với việc phải chịu tử vì đạo nữa. Sở dĩ Ê-tiên đã chịu chết trong chiến thắng, vừa cầu nguyện cho những kẻ hành quyết mình, ấy là nhờ ông được đầy dẫy Thánh Linh (Cong Cv 7:55-56). Phải chăng chúng ta đang rất cần có được quyền năng ấy, cả cho sinh hoạt nội tâm và phục vụ của mình lẫn cho sự chiến thắng của chúng ta khi phải đối đầu với những thử thách cám dỗ đến với chúng ta hằng ngày?
4.Cảm tạ và ca tụng.
Điều đáng ngạc nhiên, ấy là tiếp sau lời khuyến giục người Ê-phê-sô phải đầy dẫy Thánh Linh, Phao-lô lại tiếp tục đề cập kèm theo đó “(Anh em) hãy dùng những lời hay ý đẹp trong thi thiên, thánh ca, mà xướng họa với nhau, nức lòng trổi nhạc ca ngợi Chúa. Gặp bất cứ việc gì, cũng nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu cảm tạ Thượng Đế, Cha chúng ta” (Eph Ep 5:18-21). Tâm linh chúng ta không tự nhiên phát ra lời ca ngợi tán tụng Thượng Đế, cảm tạ Ngài về mọi sự, kể cả những thử thách và mọi hoàn cảnh, thậm chí những hoàn cảnh khó khăn nhất. Thế nhưng, chúng ta lại có nhiều phương tiện đầy quyền năng chiến thắng trong các bài thánh ca, việc thờ phượng tạ ơn, trong đó chúng ta xác nhận chiến thắng của Thượng Đế! Những việc làm đó chúng ta có thể duy trì mọi lúc mọi nơi chỉ nhờ sự đầy dẫy Thánh Linh mà thôi.
5. Hạnh phúc trọn vẹn.
Lời hứa của Chúa chúng ta luôn luôn được nhắc đi nhắc lại, ấy là đời sống sung mãn nhờ Thánh Linh đó sẽ tràn ngập lòng chúng ta để tạo ra sự mãn nguyện “Uống nước tôi cho sẽ chẳng bao giờ khát nữa, nước tôi cho sẽ thành một mạch nước trong tâm hồn, tuôn tràn mãi mãi sức sống vĩnh cửu... Ai đến cùng tôi chẳng bao giờ đói, ai tin tôi chẳng bao giờ khát... Ta đến để đem lại sự sống sung mãn” (GiGa 4:14; 6:35; 10:10).
Mục tiêu chính của sự đầy dẫy Thánh Linh, là để Thượng Đế được tôn vinh trong đời sống chúng ta; thế tại sao đồng thời chúng ta lại không được từng trải cái hạnh phúc lớn lao ấy, vì Thượng Đế đã ban cho chúng ta sự giàu có không thể cạn kiệt của Ngài, để lòng chúng ta không ngừng dâng lên lời cảm tạ Ngài?
KẾT LUẬN
Phải chăng chương sách này đã giúp chúng ta hiểu rõ việc đầy dẫy Thánh Linh là điều có thể có được và là một mệnh lệnh bắt buộc đối với các Cơ-đốc nhân? Phước hạnh này là chiếc mão miện của ân phúc mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Mếu không có nó, chúng ta sẽ không thể có đời sống thuộc linh và chẳng bao giờ thực hiện được chương trình đầy đủ mà Thượng Đế giao cho chúng ta. Vậy, xin chúng ta đừng bất tuân lệnh truyền công nhiên của Chúa, và chớ xếp qua một bên phần ân tứ tối cao Ngài đã ban cho chúng ta đó.
Điều quan trọng nhất là việc chúng ta đơn phương từ chối nó, sẽ tạo ra cho chúng ta một nguy cơ lớn lao. Trong thời đại này của chúng ta, hơn bao giờ hết, hiện không có chỗ nào dành cho kẻ hâm hẩm cả. Những ai không có ước muốn cháy bỏng, nhiệt thành để Thượng Đế chiếm hữu mình thật trọn vẹn, sẽ không thể đứng nổi trong những ngày gian ác đã được báo trước. Vì ngay vào thời của các sứ đồ, Phê-rơ đã bảo với A-na-nia “Sao anh để Sa-tan xâm chiếm tâm hồn, xui anh dối Chúa Thánh Linh?” (Cong Cv 5:3).
Với những ai ngoan cố khước từ, không chĩu để cho Thánh Linh Thượng Đế ching phục và đầy dẫy mình, thì sẽ có ngày phải sợ hãi nhận thức được rằng kẻ thù đang hoàn toàn chiếm hữu họ. Các nhà tiên tri, khi đề cập những ngày sau rốt, đã tuyên bố rằng trong lúc nhân lọi bội đạo, thì kẻ thù chúng ta cũng sẽ tìm cách tăng thêm các công cụ đã được phó mặc và hiến thân cho nó. Chúng ta là những người đang đọc mấy giòng này có ai lại không muốn trở thành chiến sĩ của đạo quân chiến thắng sẽ đứng lên để đẩy nhanh sự tái lâm của Chủ mình, và sẽ vui mừng chào đón sự hiện ra của Ngài?

ĐƯỢC THÁNH HÓA NHỜ THÁNH LINH
Chỉ một mình húa Cứu Thế Giê-xu mới khiến chúng ta được thánh hóa để trở thành các “thánh đồ” trong Ngài (ICo1Cr 1:30 Eph Ep 1:1). Nhưng Cứu Chúa thánh hóa chúng ta thông qua Thánh Linh, tức là nhờ sự hiện diện thuộc linh của Ngài trong chúng ta. Tân ước sử dụng nhiều lần mấy câu sau đây “do Thánh Linh thánh hóa” (RoRm 15:16; ICo1Cr 6:11), hoặc “được Thánh Linh thánh hóa” (IITe 2Tx 2:13; IPhi 1Pr 1:2). Chúng tôi từng vạch rõ ràng sự thánh hóa xảy ra theo mức độ Đức Thánh Linh đượx đổ vào lòng chúng ta. Giờ đây, chúng ta sẽ xét xem việc ấy đã được thực hiện như tế nào.
I. THÁNH LINH ĐẶT MỘT BẢN TÍNH MỚI TRONG LÒNG NGƯỜI TÍN HỮU
Phê-rơ bảo rằng chúng ta được có cùng bản tính với Ngài (IIPhi 2Pr 1:4). Phao-lô có lần nói về “Chúa Cứu Thế ở trong anh em”, lần khác về “Thánh Linh... sống trong anh em”, và một lần khác nữa về “người mới”, để nói lên thành phần mới mẻ đó trong đời sống chúng ta (CoCl 1:27; ICo1Cr 6:19; Eph Ep 4:24) (Con người mới không phải chỉ là con người được tái sanh như chúng ta vẫn có khuynh hướng tin như thế). Chúng ta nhận được bản tính mới ấy ngay lúc được tái sanh, và như chúng ta từng ghi nhận liên hệ với việc nhận lãnh Thánh Linh, chính lúc đó, Ngài đã đến để chiếm lấy nơi ngự vĩnh viễn của Ngài trong lòng chúng ta. Xin chúng ta hãy lấy một thí dụ để minh họa: một cây mọc hoang chỉ sanh toàn trái xấu, được người ta tháp vào đó một chồi cây có bản tính cao hơn, chỉ sanh ra toàn trái tốt mà chẳng cần phải cố công gắng sức gì. Cũng vậy, Thánh Linh ban cho chúng ta phần bản tính thứ hai và mới mẻ cho chúng ta. Rõ ràng là Thánh Linh không thể nào phạm tội; như vậy, nếu chúng ta để cho Ngài được tự do hành động, Ngài sẽ chỉ sanh trong chúng ta toàn trái tốt mà thôi. Giăng đã diễn tả chính điều này khi ông nói “Không người nào được Thượng Đế tái sinh lại tiếp tục cuộc sống tội lỗi, vì đã có sức sống của Thượng Đế” (IGi1Ga 3:9). Chính hột giống này của Thượng Đế đã được sanh ra trong lòng người ấy, vốn không thể phạm tội và trở thành công cụ của chiến thắng.
II. BẢN TÍNH CŨ VẪN TIẾP TỤC TỒN TẠI TRONG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC TÁI SANH
Như cội cây tháp vẫn giữ lại bản tính cũ của nó, lúc nào cũng sẵn sàng giành lấy thế thượng phong, thì cũng vậy, người tín hữu vẫn giữ lại bản tính cũ của mình, là “xác thịt”, là “con người cũ” theo cách nói của Kinh điển, cho đến cuối cùng. Chẳng hạn chúng ta có thể thấy việc ấy được xác nhận trong La 8, là chương sách bán về chiến thắng, nhưng vẫn không ngừng nhấn mạnh cuộc tranh chấp giữa xác thịt và Thánh Linh trong lòng người tín hữu. Từ câu một đến mười ba từ nữ “xác thịt' đã được đề cập không dưới mười ba lần. Phao-lô cũng khuyến giục người Ga-la-ti “đi theo sự hướng dẫn của Thánh Linh, để thoát khỏi dục vọng của bản tính cũ. Bản tính cũ thích làm những điều nghịch với Thánh Linh, trong khi Thánh Linh muốn anh em làm những việc trái với bản tính cũ” (GaGl 5:16-17). Xin chúng ta hãy nghiên cứu kỹ hơn lời truyền dạy của Kinh điển về cái “xác thịt” vẫn tiếp tục tồn tại trong chúng ta này.
1. Đúng ra thì xác thịt là gì?
Xác thịt không phải chỉ là tội lỗi trong chúng ta điều mà chúng ta xem là xấu xa trong nhân cách của mình, cũng không phải chỉ gồm có thân thể hay thân xác chúng ta mà thôi. Nó vốn hơn hẳn thế; xác thịt là toàn thể con người chúng ta là BẢN NGÃ chúng ta, là tất cả những gì là bản tính của chúng ta khi chúng ta chưa ở trong Chúa Vứu Thế Giê-xu. Chính Phao-lô đã đưa ra cho chúng ta câu định nghĩa này “Tôi biết chẳng có điều gì tốt trong tôi cả - tôi muốn nói về bản tính cũ của tôi (RoRm 7:18). Như vậy, con người mới là Chúa Cứu Thế ngự trong lòng chúng ta thông qua Thánh Linh, còn con ngưỡi cũ là bản thân chúng ta nhưng không có Ngài.
2. Về bản tính, xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.
Phao-lô vạch rõ “Chúng ta chỉ là người trần tục yếu đuối (đã bị bán để) làm nô lệ cho tội lỗi... Tôi biết chẳng có điều gì tốt trong tôi cả... thể xác tôi phục tùng luật tội lỗi” (RoRm 7:14, 18, 25). Ai là người không có từng trải về bản tính của mình vốn không tài nào chống nổi với tội lỗi?
3. Xác thịt bất trị vẫn không thay đổi nơi người tín hữu.
Như bản tính cũ trong một cội cây tháp vẫn còn là hoang dại, không thể tự mình sanh ra gì khác hơn là trái xấu, thì cũng vậy, xác thịt trong chúng ta “không chịu vâng phục và không thể vâng phục luật Thượng Đế” (RoRm 8:7). “Bản tính cũ thích làm những điều nghịch với Thánh Linh, trong khi Thánh Linh muốn anh em làm những việc trái với bản tính cũ... nên anh em không thể làm điều mình muốn... Để mặc cho bản tính tội lỗi lộng hành, con người bị lôi cuốn vào gian dâm, ô uế...” (GaGl 5:17, 19, 20). Vì sự chống đối không chịu đầu phục Thánh Linh đó của xác thịt, và việc nó không thể được cải thiện hoặc thánh hóa, Thượng Đế chỉ có một phương pháp duy nhất để giải thoát chúng ta khỏi nó, tức là phải đóng đinh nó vào thập tự giá. Sau này, chúng ta sẽ thấy việc ấy được thực hin như thế nào.
4. Một tín hữu có thể sống theo xác thịt.
Những lời khuyến cáo cứ được Phao-lô nhắc đi nhắc lại, nhấn mạnh rõ ràng cho việc người tín hữu có thể làm như thế “Người sống theo xác thịt hướng lòng về những đòi hỏi của xác thịt... Thưa anh em, chún ta chẳng có bổn phận (nợ nần) gì đối với xác thịt để sống cho xác thịt (nhưng chúng ta lại có thể làm như vậy)... Nếu sống cho xác thịt, anh em sẽ chết... Đừng chìu theo các ham muốn của xác thịt” (RoRm 8:5, 12, 13; 13:14). Chúng ta cũng biết cũng một vị sứ đồ ấy lại viết cho người Cổ-linh khi trách cứ họ là những Cơ-đốc nhân xác thịt và là những con đỏ torng Chúa Cứu Thế (ICo1Cr 3:1-3). Và cuối cùng, khi tự vấn chính lương tâm mình, chúng ta bị bắt buộc phải thú nhận rằng chính chúng ta vốn thường là những Cơ-đốc nhân xác thịt. Có lẽ chúng ta vẫn còn là như thế? Nếu quả đúng như vậy, nguyện chúng ta nên cảnh giác đối với các hậu quả nghiêm trọng mà một cách ăn ở như thế sẽ đưa đến.
5. “Nếu sống cho xác thịt, anh em sẽ chết...”
Chúng ta đã ghi nhận rằng nhưng ai biết rõ mà còn c ý tiếp tục làm buồn Thánh Linh mãi, bằng cách không chịu thánh hóa, là tự chứng tỏ mình không thật sự được tái sanh, và cuối cùng, phải bị diệt vong. Lời Chúa dạy hết sức rõ ràng Hãy đeo đuổi... con đường thánh hóa, vì nếu không thánh hóa, không ai đươc thấy Thượng Đế” (HeDt 12:14). Do đó, chúng ta hãy tỉnh thức và kêu cầu với Thượng Đế, nài xin Ngài giải phóng chúng ta khỏi thân thể của sự chết này. Đây là điều Ngài chắc chắn sẽ làm nếu chúng ta thành tâm, vì Ngài muốn ban cho chúng ta sự chiến thắng.
III. THÁNH LINH TRONG CHÚNG TA CÓ QUYỀN CAI TRỊ TRÊN XÁC THỊT.
1. “Thánh Linh ở đâu, nơi ấy được tự do thật” (IICo 2Cr 3:17).
Thánh Linhh vốn toàn năng, và nếu chúng ta để cho Ngài tự do hành động, Ngài sẽ thật sự cho chúng ta được tự do. Tiếp sau phần mô tả về việc một Cơ-đốc nhân làm nô lệ cho xác thịt tìm cách tự thánh hóa bằng chính các nỗ lực của mình, Phao-lô reo lên “Luật của Thánh Linh hằng sống trong Chúa Cứu Thế Giê-xu đã giải phóng tôi khỏi luật của tội lỗi của sự chết” (RoRm 7:14-25; 8:2). Phải chăng Ngài đã làm việc ấy cho chúng ta rồi?
2. Nền móng của chiến thắng này đã được đặt tại thập tự giá.
Chỉ một mình Thánh Linh mới làm thành trong chúng ta điều mà Chúa Cứu Thế đã chiếm được cho chúng ta tại Gô-gô-tha. Tại thập tự giá, chẳng những Chúa Giê-xu đã gánh hết tội lỗi chúng ta, mà còn đem “con người cũ” của chúng ta ra để cũng chịu đóng đinh với Ngài nữa. Như vậy, Ngài đã thắng hơn xác thịt chúng ta, vốn là gốc rễ của mọi tội lỗi chúng ta, mà nếu chỉ cậy sức riêng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ chiến thắng hoặc tiêu diệt nổi nó. Đây là lý do để Phao-lô tuyên bố rằng “con người cũ” của chúng ta đã cùng bị đóng đinh vào thập tự giá với Ngài để thân thể tội lỗi bị trừ diệt đi hầu cho chúng ta không còn bị tội lỗi trói buộc nữa; “Vì ai đã chết đều được giải thoát khỏi tội lỗi” (RoRm 6:6, 7). Tuy nhiên, việc đóng đinh này, đã được thực hiện trên nguyên tắc, sẽ chỉ được thực hiện đầy đủ trong chúng ta qua sự đồng ý của chúng ta và sự vận hành thường xuyên của Thánh Linh.
3. Nhờ Thánh Linh, chúng ta có thể giữ cho tội lỗi chịu khuất phục.
Xin chúng ta hãy quay trở lại với thí dụ về cội cây tháp một lần nữa. Qua việc tháp ghép, bản tính cũ bị truất phế và bị khiến phải đầu phục bản tính mới. Nó nhận thấy chịu đầu phục như vậy là điều không thể chịu đựng nổi, vì nó vốn có nhiều sinh lực hơn, nên nảy sinh ra nhiều chồi, tất cả đều hoang dại như chính nó vậy. Sẽ có gì xảy ra nếu người làm vườn không thường xuyên canh chừng và không cẩn thận bẻ bỏ tất cả các chồi đó? Chúng sẽ hút hết nhựa, và những cành cây phía trên sẽ thôi kết quả, cho đến khi cuối cùng đều bị chết đi.
Trong chúng ta, có một sự song đối thật chính xác. Nếu chúng ta không đề phòng, con người cũ luôn luôn còn sống động trong chúng ta, nó sẽ tìm cách chiếm thế thượng phong. Nếu bị bỏ mặc một mình, chúng ta sẽ bị đánh bại, nhưng chính ở tại điểm này, chúng ta phải để cho công việc của Chúa Cứu Thế được hoàn tất trong chúng ta; nếu chúng ta đầu phục Thánh Linh, Ngài sẽ ngăn chận mọi cuộc tấn công có ác ý, và sẽ giữ chặt con người cũ cứ bị đóng đinh vào thập tự giá. Chính vì thế mà Phao-lô bảo rằng hiện nay “chúng ta chẳng có bổn phận (mắc nợ) gì đối với xác thịt để sống cho xác thịt... nhưng nếu nhờ Thánh Linh giết chết hành vi xấu của thể xác anh em sẽ sống” (RoRm 8:12-13). Hơn nữa, ở một chỗ khác, ông còn viết thêm “Tôi khuyên anh em đi theo sự hướng dẫn của Thánh Linh để thoát khỏi dục vọng của bản tính cũ... Người thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đóng đinh bản tính tội lỗi với các ham muốn, tình dục vào cây thập tự. Vì Thánh Linh là sự sống mới cho chúng ta, nên chúng ta hãy theo sự hướng dẫn của Thánh Linh” (GaGl 5:16, 24, 25).
Cuối cùng, ông tự nói về chính mình thật thẳng thắn rằng “Luật của Thánh Linh hằng sống trong Chúa Cứu Thế Giê-xu đã giải phóng tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết” (RoRm 8:2). Nói như thế là ông ngụ ý rằng một khi Thánh Linh đã được cho tự do, thì Ngài sẽ hành động mạnh mẽ và kiên trì y như tội lỗi từng làm trước kia, lúc xác thịt hãy còn nắm toàn quyền. Thế nhưng, một thí dụ khác sẽ giúp minh họa cho chân lý này. Nếu tôi nắm chắc cây viết của mình, thì bản tính và trọng lợng của nó sẽ không thay đổi. Luật pháp vẫn còn hiệu quả trên nó, nhưng nếu tôi buông tay ra, thì nó sẽ rơi xuống đất và bị gãy, bị vỡ, không tránh né vào đâu được. Có gì xảy ra bao lâu tôi nắm chặt lấy nó? Luật sự sống trong bàn tay tôi quân bình hóa luật hấp lực, hơn nữa còn cho phép tôi sử dụng cây viết mà nếu cứ bỏ mặc một mình, thì nó hoàn toàn vô dụng. Nhưng nếu tôi buông nó ra, thì bản tính riêng của vật dụng ấy chiếm ưu thế, và nó bị rơi xuống.
Cũng vậy, khi tôi phó mình cho Chúa Cứu Thế Giê-xu và đầu phục Ngài, thì “con người cũ” của tôi vẫn không thay đổi; tội lỗi vẫn nắm giữ nó trong tay và sẽ lôi kéo nó khiến nó vô phương kháng cự nếu nó bị bỏ mặc một mình. Nhưng quyền năng của Thánh Linh chiếm hữu tôi, bảo đảm tiếp tục việc đóng đinh con người cũ ấy vào thập tự giá và giải thoát tôi khỏi ách nô lệ của điều ác. Tuy nhiên, tác động của quyền năng ấy tỷ lệ thuận với mức độ mà ý chí tôi chịu thuận phục nó. Nếu tôi tự ý rút lui, “con người cũ” của tôi sẽ phục hồi sức lực, và tôi sẽ phải gánh chịu từng trải chẳng vui vẻ gì của sự sa bại.
4. Sự giải phóng nhờ vào Thánh Linh có tính cách tiệm tiến chớ không phải chỉ nhhổ một lần là bật luôn cả gốc rễ.
Một số người tưởng rằng một khi đã được từng trải sự thánh hóa, là từ đó trở đi, họ sẽ chẳng bao giờ còn phạm tội nữa, họ bảo là con người cũ của họ không còn tồn tại nữa, và mọi gốc rễ của tội lỗi đều đã bị nhổ bật lên khỏi lòng họ vĩnh viễn rồi. Việc này có thể được gọi là “thánh hóa trọn vẹn” hay “nhổ bật cả gốc rễ lên”. Thật là dễ thấy Kinh điển không hề hậu thuẫn cho một niềm tin như vậy. Lẽ dĩ nhiên là RoRm 6:6 có vạch rõ rằng “con người cũ” của chúng ta đã bị đóng đinh vào thập tự giá cùng với Chúa Cứu Thế, rằng thân thể của tội lỗi đã bị thanh toán rồi. Nhưng trong Hi văn, mấy chữ “bị tiêu diệt” cũng có thể được dịch ra la “làm mất hiệu lực”. Hơn nữa hai chương bảy và tám của sách La-mã (cũng như khổ thay là kinh nghiệm cũng thế) cho thấy rằng “con người cũ” lại thường tỏ ra là đang hoạt động tích cực nhất trong lòng người tín hữu, và rằng sự thánh hóa chỉ được thực hiện tỷ lệ thuận với mức độ đầu phục và đức tin của chúng ta mà thôi. Đời sống thuộc linh của chúng ta phải tăng trưởng không ngừng cho đến khi đạt mức tầm thước vóc giạc trọn vẹn trong Chúa Cứu Thế, và Thánh Linh phải không ngừng được đổ đầy cho chúng ta, cho đến khi chúng ta được đầy dẫy sự trọn vẹn của Thượng Đế.
Do đóm rõ ràng là cho đến tận giây phút cuối cùng, chúng ta sẽ phải chinh phục và chiến thắng tội lỗi như chúng tôi từng vạch rõ ở điểm 3, Mục XI của chương sách này. Hệ quả là mãi cho đến tận giây phút cuối cùng (của đời sống mình) chúng ta vẫn phải biết chắc rằng “con người cũ” của chúng ta, hằng ngày, đều đang bị Thánh Linh chế phục. Vậy ai là người tưởng mình đang đứng vững, hãy cảnh giác e có thể sẽ bị sa bại. Nếu chúng ta không đề cao cảnh giác thường xuyên tại điểm này, là chúng ta đang lâm vào nguy cơ nghiêm trọng là tự mở rộng đường cho quyền lực của xác thịt quay trở lại. Thiết tưởng chẳng có gì cần thiết phải nhấn mạnh một lần nữa điều mà chúng ta đã có quá nhiều thí dụ trước mắt rồi.
IV. ĐÂU LÀ PHẦN CỦA CON NGƯỜI TRONG VIỆC NHỜ THÁNH LINH ĐỂ ĐƯỢC THÁNH HÓA?
Vấn đề này đã được chỉ ra nhiều lần rồi, tức là chúng ta phải tự nguyện phó mình vào tay Thượng Đế, đầu phục Ngài, và phải vận dụng đức tin. Thật vậy, sự việc luôn luôn vẫn phải là như thế, vì tất cả các hình thức của ân tứ, tặng phẩm, quà tặng) thuộc linh đều được nhận lãnh giống nhau.
1. Đặt ý chí vào tay Thượng Đế đầu phục Ngài.
Thượng Đế có thể giải phóng tôi khỏi tội lỗi, và chính là nhằm vào cứu cánh đó mà Ngài đã đặt Thánh Linh Ngài vào lòng tôi. Ngài đã đặt Thánh Linh Ngài vào lòng tôi. Ngay lúc tôi không còn chống lại Ngài nữa mà đặt ý chỉ mình đầu phục Ngài, thì Thánh Linh đầy dẫy và thánh hóa tôi, cứ ngày càng nhiều thêm lên (RoRm 6:13). Tuy tôi cẫn được tự do, nhưng nếu ý chí tôi thôi không chịu đầu phục Thánh Linh nữa, thì Ngài sẽ lập tức ngưng hành động. Cần vạch rõ thêm rằng việc Thánh Linh ngưng hành như thế không phải chỉ xảy ra khi có một hành động phản loạn công khai của ý chí chúng ta mà thôi. Nó cũng có thể do nguyên nhân là một ước muốn tự chiến đấu bằng chính năng lực riêng của mình - một việc rất thường xảy ra - tìm cách tự xoay sở, thu xếp lấy việc riêng của mình mà chẳng cần ai trợ giúp mình cả - vốn là đặc điểm rõ rệt của một Cơ-đốc nhân xác thịt. Thượng Đế chỉ can thiệp để tha tội, tái sanh, và thánh hóa chúng ta, khi nào chúng ta tự phó mình vào tay Ngài, để chỉ một mình Ngài có thể chỉ huy, truyền lệnh mà thôi, vì Ngài vốn biết rõ chẳng hề có người nào đạt được sự cứu rỗi và thánh hóa nhờ chính các nỗ lực của mình.
Có lẽ một số người, khi đọc mấy giòng này, sẽ tưởn rằng họ có đủ năng lực của ý chí để cứ thường xuyên đạt mình đầu phục Thượng Đế. Số người như thế cần xét lại niềm tin quyết đó của mình, vì Thượng Đế chẳng đòi hỏi gì khác hơn là một ý chí chân thành thật sự, bất chấp các nhược điểm. Với số người còn lại, thì “(chính) Thượng Đế luôn luôn tác động trong anh em, khiến anh em vừa muốn vừa làm thoe ý chỉ Ngài” (Phi Pl 2:13). Chỉ cần chúng ta phó mặc phần việc đó cho Ngài là đủ. Trong lãnh vực này, cũng như nhiều lãnh vực khác, chúng ta có thể trông cậy vào sự trợ giúp của Thánh Linh. Ý chí chúng ta có thể yếu đuối hay phản loạn, nhưng một khi đã được Thánh Linh nâng đỡ, nó sẽ được tăng cường thật cụ thể nhờ vào phần nòng cốt như bằng kim khí của nó, để có đủ sức chống lại mọi áp lực.
2. Đức tin
Người công chính sẽ sống bằng đức tin. Như chúng ta nhờ đức tin mà được tha tội, thì cũng bởi đức tin, chúng ta bắt đầu tiến bước trên nẻo đường thánh hóa (RoRm 6:11). Từ quá lâu rồi, chúng ta đã tưởng mình có thể được thánh hóa nhờ các nỗ lực, phấn đấu, lời cầu nguyện và những giọt lệ của riêng mình, tóm lại là nhờ cố công gắng sức, nhưng tất cả đều kết thúc bằng thất bại. Vậy chúng ta hãy từ bỏ phần nền móng đầy gạt gẫm ấy đi để tự xây dựng trên tảng đá đức tin, chúng ta hãy từ bỏ cái nhìn vào chính mình để nhìn chăm vào Đấng đã làm nên sự khôn ngoan, công chính thánh hóa và cứu chuộc chúng ta (ICo1Cr 1:30).
Các sách Phúc âm cung cấp cho chúng ta một thí dụ minh hoạ tuỵệt vời về đức tin chiến thắng Chúa Giê-xu đã đi trên mặt nước để đến với các môn đệ Ngà. Phê-rơ reo lên “Nếu đúng là Chúa, xin cho phép con đi trên mặt nước đến gần Chúa”. Và Ngài đáp “Được con lại đây!” Phê-rơ đã làm gì? Ông có thử bắt đầu xem mình có trở thành nhẹ hơn nước chăng? Không, ông biết là mình không hề thay đổi, nhưng tin vào quyền năng của Chúa Giê-xu bước ra khỏi thuyền. Khi ông nhìn chăm vào Ngài thì ông bước đi được trên mặt nước, nhưng khi ông nhìn vào sóng gió chung quanh thì đâm sợ, nên bắt đầu kêu lớn “Chúa ơi, xin cứu con!” Chúa lập tức đưa tay nắm chặt lấy tay Phê-rơ và bảo “Đức tin con thật kém cỏi! Sao con nghi ngờ ta?” (Mat Mt 14:24-31).
Chúa Giê-xu cũng gọi chúng ta bước ra khỏi chiếc thuyền của mình để cùng bước đi trên mặt nước tội lỗi với Ngài. Cả khi chúng ta đáp lại tiếng gọi của Ngài, bản tính riêng của chúng ta vẫn chẳng có gì thay đổi. Làm thế nào để chúng ta có thể bước đi mà khỏi chìm? Bằng cách cứ nhìn chăm vào Cứu Chúa, thì bởi đức tin, chúng ta sẽ thắng được xác thịt và nhữngcám dỗ chung quanh. Nếu mặt khác, chúng ta lại nhìn vào chính những khuyết nhược điểm của mình, vào sức mạnh của kẻ thù, của nghịch cảnh, vào các nguy cơ to lớn đang vây quanh mình, chúng ta có thể lâm nguy. Nhưng há chúng ta không phải như Phê-rơ, là luôn luôn có Cứu Chúa ngay sát bên cạnh, sẵn sàng đưa tay Ngài ra cho chúng ta sao? Nếu chúng ta thành thật, Ngài vốn biết rõ cách giúp đỡ chúng ta trong việc rèn luyện đức tin đó, để trở thành những nhà chinh phục bách chiến bách thắng.
Xin nói thêm một ít về tiến trình thánh hóa mà chúng ta phải theo đuổi bằng đức tin suốt cuộc đời sống trên thế gian này. Điều còn lại chỉ là nhấn mạnh sự kiện tiến trình ấy thường bắt nguồn từ một hành động dứt khoát của đức tin và đầu phục, vốn là một điều được đánh dấu rõ rệt trong cuộc đời người tín hữu, để rồi chúng ta sẽ chẳng bao giờ còn quay lui nữa Lúc ăn năn quy đạo, trước hết chúng ta vận dụng đức tin để tiếp nhận sự tha thứ mọi tội lỗi trong quá khứ của mình; kể từ ngày ấy, chúng ta chỉ cần kiên trì trong cùng một thái độ giống như thế, để tiếp nhận sự tha tội hằng ngày. Với sự thánh hóa cũng vậy. Nếu hôm nay chúng ta đầu phục Cúa không chút e dè để được đầy dẫy Thánh Linh, và bước quyết định để nhận lãnh sự giải thoát khỏi tội lỗi bởi đức tin chớ không phải là bởi việc làm, thì chúng ta sẽ thực hiện một cuộc trao đổi mà về giá trị, chúng ta sẽ chẳng bao giờ còn thắc mắc đặt vấn đề nữa. Chúng ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vẫn còn rất yếu đuối mong manh, nhưng chúng ta sẽ giữ lại được phần nền móng để sẽ xây dựng trên đó.
V. ĐÂU LÀ CÁC KẾT QUẢ CỦA SỰ THÁNH HÓA?
Có lẽ cúng cũng giống như các kết quả của sự đầy dẫy Thánh Linh đã được trích dẫn ở Mục XII chương 8 Phần III. Tuy nhiên, có một số điểm thiết yếu cần ghi nhận ở đây.
1. Sự thánh hóa tiến hóa kết trái Thánh Linh trong chúng ta.
Khi xác thịt chiếm ưu thế trên chúng ta, thì các công việc của xác thịt bộc lộ rõ ràng nơi chúng ta; nhưng khi Thánh Linh chiến thắng, Ngài tạo ra - không cần phải cố công gắng sức gì cả - tất cả các đức hạnh đã được liệt kê trong GaGl 5:22, “yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lương, thành tín, hòa nhã, tự chủ”. Ngài như chất nhựa dâng lên, và theo bản tính, khiến nhiều trái tăng trưởng và gắn chặt vào gốc nho. Thật vui mừng biết bao khi chúng ta không còn sống trong tình trạng vô sinh dầu đã có nhiều phấn đấu vô ích, để làm chưng cho công tác sáng tạo kỳ diệu của Thánh Linh!
Trái của Thánh Linh chính là đặc tính của Chúa Cứu Thế được đặt vào lòng chúng ta. Thượng Đế đã định trước để chúng ta sẽ trở nên giống như hình ảnh Con Ngài, và Ngài biến hóa chúng ta để trở nên giống như hình ảnh vinh quang của Ngài do Chúa Thánh Linh (RoRm 8:29; IICo 2Cr 3:18). Như vậy, Thánh Linh làm ứng nghiệm lời phán của Cứu Chúa...” Thần Chân lý sẽ tôn vinh ta, vì Ngài sẽ cho các con biết sự thật về vinh quang ta” (GiGa 16:14). Chúng ta phải tạ ơn Thượng Đế biết bao, vì đó chính là ước muốn của Ngài đối với chúng ta, và hãy tự hạ mình xuống khi biết là từ trước đến nay chúng ta đã không sẵn sàng để Ngài có thể tự do hành động trong chúng ta.
2. Nhờ được thánh hóa, chúng ta tán thưởng công lý của luật pháp.
Do việc nhấn mạnh trên tính cách vô ích của việc cố gắng chiếm đoạt việc được kể là công chính và thánh hóa bằng cố gắng cá nhân, chúng ta có thể bị cám dỗ để quên đi rằng việc làm phải theo sau việc tiếp nhận hai hình thức đó của ân phúc Thượng Đế, chẳng có gì phải thắc mắc cả Đức tin không có việc làm thì chết, và người ta xem trái biết cây. Nếu đối với chúng ta, sự thánh hóa chỉ là một giáo lý, một lý thuyết trí thức, thì nó có thể chẳng có chút giá trị gì cả. Sự thánh hóa của Kinh Thánh rõ ràng là rất thực tế; nó nảy sinh nhiều việc làm, nếu không, nó chẳng là gì cả. Do đó, chúng ta cần cảnh giác đối với các hình thức mặt ngoài của sự thánh khiết, đối với việc tầm chương trích cú liên hệ đến Kinh Thánh, và mọi thái độ ngoan đạo không tương ứng với các hành vi của chúng ta.
Điều chắc chắn hơn hết, ấy là chúng ta được giải phóng khỏi luật pháp, là điều duy nhất có thể định tội chúng ta. Nhưng một khi chúng ta đã nhờ Thánh Linh để tin nhận Chúa Cứu Thế đã chịu đóng đinh vào thập tự giá và đã sống lại vì chúng ta rồi, thì chúng ta phải đem các điều răn của Thượng Đế ra thực hành, không phải bằng sức riêng của chúng ta, nhưng là nhờ vào sức lực Ngài, không phải như một nỗ lực để được thánh hoá, vì Ngài đã nhờ Thánh Linh Ngài thánh hóa chúng ta rồi. Phao-lô đã diễn tả chân lý này trong khúc sách sau đây “Vì luật của Thánh Linh hằng sống trong Chúa Cứu Thế Giê-xu đã giải phóng tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết. Thượng Đế đã hoàn thành mọi điều luật pháp không thực hiện nổi, chỉ vì xác thịt mà luật pháp trở nên bất lực. Thượng Đế sai chính Con Ngài mang lấy hình hài thể xác giống như thể xác tội lỗi của loài người để tiêu diệt tội lỗi nơi xác thịt. Nhờ thế, chúng ta trở nên người công chính, vô tội đúng như luật páp đòi hỏi, vì chúng ta không sống theo xác thịt, nhưng theo Thánh Linh” (RoRm 8:2-4). Nguyện Thượng Đế giúp chúng ta hằng ngày biết phô bày sự thánh hóa của chúng ta ra bằng việc làm.
3. Sự thánh hóa bởi Thánh Linh tinh lọc lương tâm chúng ta.
Càng bước đi với Thánh Linh, chúng ta càng trở nên mẫn cảm hơn đối với những gì có thể làm buồn Thánh Linh. Lương tâm chúng ta trước kia đã ngủ yên, nay trở thành sống động hơn và có thể phân biệt được tiếng phán của Thượng Đế. Tội lỗi mà trước đây được tuỳ tiện cho phép thì bây giờ bị nó ghê tởm, và mỗi ngày cứ tiếp theo nhau như vậy, chúng ta sẽ càng phân biệt được rõ ràng hơn giữa những hành động đẹp lòng Thượng Đế v\1i những hành vi không đẹp lòng Ngài. Đó là điều Phao-lô diễn tả khi ông viết “Tôi xin chân thành bộc bạch, trong Chúa Cứu Thế tôi không dám nói ngoa, có Thánh Linh chứng giám và lương tâm tôi xác nhận...” (RoRm 9:1).
Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, cũng chính vì sứ đồ ấy còn nhận biết rõ hơn bất cứ lúc nào trước đó về tình trạng bị diệt vong tự nhiên của mình; và tuy ở nhiều chỗ khác ông từng tự giới thiệu như một thí dụ về một người đã được thánh hóa (Phi Pl 3:17) ông cũng đã viết cho Ti-mộ- thư “Chúa Cứu Thế Giê-xu đã xuống trần gian để cứu vớt người tội lỗi. Trong những người được cứu, ta nặng tội nhất” (ITi1Tm 1:15). Nhiều Cơ-đốc nhân, cứ càng tiến xa hơn trong sinh hoạt thuộc linh, thì lại càng bị dày vò sâu sắc hơn khi càng biết rõ hơn sự gian ác trong chính lòng mình. Họ kêu lên “Tuy đã ăn năn quy đạo từ nhiều năm rồi, tôi đã chăng bao giờ tự nhìn thấy mình dưới một làn ánh sáng xấu xa gian ác đến thế!” Tuy nhiên thiết tưởng họ không cần phải tỏ ra nản lòng như thế, miễn là bởi đức tin, họ biết nắm chặt lấy phần thắng đối với từng tội lỗi đã bị phát giác ra như vậy. Vì công tác của Thánh Linh chính là công tác đem đến cho lươnmg tâm chúng ta sự cáo trách sâu xa về tội lỗi, trong khi vẫn không ngừng, phát huy việc phát triển hình ảnh của Chúa Cứu Thế Giê-cu trong lòng chúng ta.
4. Sự thánh hóa thiết lập một mối tương giao càng mật thiết hơn giữa Thượng Đế và chúng ta.
Tội lỗi phân cách chúng ta với Thượng Đế; trái lại sự thánh hóa kéo chúng ta lại gần hơn với Ngài “Phúc cho tâm hồn trong sạch, vì sẽ thấy Thượng Đế” (Mat Mt 5:8). Sự thánh hóa tôn vinh Chúa và tiếp nhận chúng ta vào sự tương giao mật thiết với Ngài. Chúa Giê-xu từng nói về Cha Ngài rằng “Đấng sai tôi vẫn ở với tôi, không bao giờ để tôi cô đơn, vì tôi luôn luôn làm vui lòng Ngài”, và chính vì lý do ấy mà Thượn Đế luôn luôn nhậm lời cầu nguyện của Ngài (GiGa 8:29; 11:42). Chắc chắn Thượng Đế cũng đề cao chúng ta như vậy, tùy theo mức độ đời sống chúng ta tôn vinh Ngài.
5. Cuối cùng, sự thánh hóa chuẩn bị chúng ta cho sự tái lâm của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Khi tái lâm, Cứu Chúa chỉ cất đi theo Ngài những tín hữu chân chính mà thôi, những ai có dầu sẵn trng đèn mình (biểu tượng của Thánh Linh). Các tín hữu chân chính sẽ tự chứng minh điều đó bằng cách sống lại khỏi giấc ngủ tạm thời để tự dọn mình thật sẵn sàng (Mat Mt 25:1-12). Cũng vậy, khi đề cập sự tái lạm của Chúa, Phao-lô vạch rõ “Hơn nữa, đã đến lúc anh em phải thức tỉnh, vì ngày hoàn thành sự cứu rỗi gần đến, gần hơn lúc chúng ta mới tin Chúa. Đêm sắp qua, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy từ bỏ việc xấu xa trong đêm tối để làm việc công chính dưới ánh sáng” (RoRm 13:11-12). Và cuối cùng, đây là mấy lời của Chúa trong chương cuối cùng của Kinh Thánh “Kẻ gian ác cứ làm điều gian ác... người thánh thiện hãy luôn luôn sống thánh thiện. Này ta sẽ sớm đến, đem theo phần thưởng để trao cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (KhKh 22:11-12). Nếu chúng ta không muốn bị xấu hỏ trước tòa án của Chúa Cứu Thế, hãy kíp dọn mình bằng sự thánh hóa bởi Thánh Linh. Hãy cầu nguyện xin Thượng Đế thức tỉnh chúng ta và các tín hữu ở khắp nơi về nhu cầu phải được thánh hóa và tẩy sạch “bằng nước và Đạo” (Eph Ep 5:26).
KẾT LUẬN
Sau khi đã ghi khắc vào tâm trí những điểm được đề cập, hãy tự xét lương tâm và đặt cho mình một số câu hỏi riêng: Chúng ta đang bị xác thịt hay Thánh Linh cai trị? Chúng ta có sẵn sàng cùng chịu chết với Chúa Cứu Thế đe con người cũ thật sự bị đóng đinh vào thập tự giá hầu có thể bước đi trong một cuộc đời mới mẽ hay không? Chúng ta có đủ sức lực trong quyền năng Thánh Linh đã giải phóng chúng ta khỏi luật của tội lỗi và sự chết không? Các trái của Thánh Linh và công tác thánh hóa của Thánh Linh có được nhìn thấy nơi chúng ta không? Chúng ta có đang tỉnh thức và sẵn sàng tiếp rươc Chúa Cứu Thế và sẵn sàng tiếp rước Chúa Cứu Thế Giê-xu tái lâm không?
Sau cùng, xin chúng ta đừng bao giờ quên hai khúc sách rút ra từ Kinh điển này “Hãy ...đeo đuổi con đường thánh hóa vì nếu không thánh hóa không ai được thấy Thượng Đế” (HeDt 12:14) và “Cầu xin chính Chúa Hòa Bình thánh hóa anh em hoàn toàn. Cầu xin tâm linh tâm hồn và thân thể anh em được bảo vệ trọn vẹn trong ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại, Đấng cứu rỗi anh em sẽ thực hiện điều ấy, vì Ngài thành tín” (ITe1Tx 5:23, 24).

SỰ AN ỦI, DẠY DỖ VÀ HƯỚNG DẪN CỦA THÁNH LINH
Bây giờ, trong chương này, chúng ta quay sang nghiên cứu ba phương diện vừa mới mẻ vừa đặc biệt hấp dẫn này của công tác của Đức Thánh Linh.
I. AN ỦI
Trong mấy chương 14-16 của sách Giăng, Chúa Giê-xu gọi Thánh Linh là “Đấng An ủi”. Lẽ dĩ nhiên, nếu không phải Đức Thánh Linh, thì ai có thể tự do vận hành trong chúng ta để nâng đỡ chúng ta khi gặp đau buồn, tiếp nhận chúng ta lúc gặp chán nản ngã lòng, chữa lành các vết thương, lau khô các giòng lệ của chúng ta, ban cho chúng ta sự yên tịnh, nhen lại trong lòng chúng ta một niềm hy vọng sống, và đem đến cho chúng ta sự bình an vượt quá mọi hiểu biết của chúng ta? Ngay trong Cựu ước, chúng ta đã được đọc thấy về Thánh Linh rằng “Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân sự yên nghỉ, như bầy vật xuống nơi trũng. Cũng vậy, Ngài đã dắt dân mình đi đường, để cho rạng danh vinh hiển mình” (EsIs 63:14).
Phao-lô viết cho người Rô-ma “Cầu xin Thượng Đế Hy vọng cho anh em tràn ngập vui mừng và bình an khi anh em tin cậy Ngài, nhờ đó anh em chứa chan hy vọng do quyền năng của Chúa Thánh Linh” (RoRm 15:13). Về sau, khi bị tù và trực diện với nhiều thử thách, chính vị sứ đồ ấy cũng reo lên “Tôi... biết rõ: nhờ anh em cầu nguyện và nhờ Thánh Linh của Chúa Cứu Thế Giê-xu phù hộ việc này sẽ trở thành ích lợi cho tôi” (Phi Pl 1:19).
Cuối cùng, Phê-rơ đã hứa với những người đang vì đạo chịu bắt bớ bách hại điều tốt đẹp này “Khi bị chửi rủa nhục mạ vì danh Chúa Cứu Thế, anh em được phúc lành bởi Thánh Linh vinh quang của Thượng Đế đang ngự trên anh em” (IPhi 1Pr 4:14). Đó há không phải là điều Ê-tiên đã từng trải khi chịu tử vì đạo, ông đã được “đầy dẫy Thánh Linh, ngước mắt nhìn lên trời, thấy vinh quang Thượng Đế” (Cong Cv 7:55), hay sao? Tất cả những điều đó cũng có thể thuộc về chúng ta nữa, nếu chúng ta bằng lòng tin để được đầy dẫy Thánh Linh. Thật sai lầm biết bao khi trên thế gian đầy đau buồn này, lại có nhiều người chẳng được biết gì cả về nguồn an ủi không chi sánh kịp đó, hay gây bế tắc cho giòng nước mát mẻ đó đối với cuộc đời đang gặp lao đao của họ!
II. LỜI DẠY DỖ CỦA THÁNH LINH
1. Người ta cần gì nơi sự dạy dỗ ấy?
Con người bị bỏ mặc một mình, sẽ không thể nào thấy được Nước Trời; nó vẫn nằm trong sự chết thuộc linh và vua chúa của thế gian (đời) này đã làm mù tâm trí họ (GiGa 3:3; IICo 2Cr 4:4). Điều ác đã xâm nhập và khiến cho cả đời sống người ấy bị hư hỏng sai lệch, chẳng những chỉ cho thân thể và tấm lòng lương tâm và ý chí người ấy mà thôi, nhưng còn cho cả các tư tưởng và lý trí của người ấy nữa. Thượng Đế đã tự bày tỏ mình ra cho tất cả mọi người, nhưng họ đều xây bỏ Ngài vì đã phạm tội “Họ... suy tư trong vòng luẩn quẩn, tâm hồn bị sa lầy trong bóng tối. Họ tự nhận là khôn ngoan nhưng hóa ra mê muội” (RoRm 1:21-22). Vì là mê muội dưới mắt Thượng Đế, cho nên đến lượt họ, họ lại cho rằng các chân lý vĩnh hằng là điều mê muội. “Người không có Thánh Linh không nhận lãnh những ân tứ của Thượng Đế, chỉ coi như chuyện khờ dại, vì phải nhờ Thánh Linh mới hiểu giá trị những ân tứ đó” (ICo1Cr 2:14). Sự thật về điều này có thể được nhìn thấy rõ ràng trong thời hiện tại: bất chấp các “khoa học” của mình, nhân loại đang quờ quạng trong bóng tối vì không có khả năng để giải quyết dứt khoát bất kỳ một vấn đề thiết yếu nào của mình cả.
2. Thánh Linh được hứa sẽ dạy dỗ chúng ta bằng cách nào?
Nếu chúng ta thành thật, Thượng Đế sẽ không bỏ mặc chúng ta trong bóng tối. Ngài đã ban cho chúng ta sự mặc khải thành văn, là Lời chân lý của Ngài, làm ngọn đèn cho đôi chân chúng ta, và là ánh sáng cho đường đi chúng ta! Rồi theo lời hứa của Chúa Giê-xu, Ngài còn dạy dỗ chúng ta bởi Thánh Linh Ngài nữa “Đấng An ủi là Thánh Linh mà Cha nhân danh ta sai đến, sẽ dạy dỗ các con mọi điều, nhắc các con nhớ mọi lời ta đã nói... Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ dạy cho các con biết chân lý toàn diện” (GiGa 14:26; 16:13).
Công tác này của Đức Thánh Linh rất quan trọng và hoàn toàn phù hợp với bản tính giàu có, phong phú của Ngài. Lẽ dĩ nhiên, Ngài há đã không được gọi là Thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va, và là Thần chân lý hay sao? (EsIs 11:2; GiGa 14:17). Sau khi linh cảm Kinh điển, Ngài giúp chúng ta thấu hiểu bộ sách ấy và giải nghĩa cho chúng ta những điều có liên hệ đến Thượng Đế. “Theo Thánh Kinh, huyền nhiệm đó là những điều chưa mắt nào thấy, chưa tai nào nghe và trí loài người chưa hề nghĩ tới, nhưng Thượng Đế đã dành sẵn cho những người yêu mến Ngài. Thượng Đế đã nhờ Thánh Linh tiết lộ cho chúng ta...” (ICo1Cr 2:9-10). Chẳng những Ngài sửa sai các quan niệm của tâm linh chúng ta vốn đã bị tội lỗi vặn cong bóp méo rồi, mà còn mặc khải cho chúng ta các chân lý thiên thượng vượt quá trí hiểu của chúng ta. Giăng đã viết cho các con cái Chúa “Nhưng vì được Chúa Thánh Linh xức dầu, nên tất cả các con đều biết chân lý... Nhưng các con đã tiếp nhận Thánh Linh vào tâm hồn, nên chẳng cần ai dạy bảo nữa, vì Ngài đã dạy các con mọi sự. Thánh Linh là chân lý. Ngài không hề nói dối. Và như Ngài đã dạy, các con phải sống trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, đừng bao giờ xa Ngài” (IGi1Ga 2:20, 27). Sự xức dầu này vốn do Thánh Linh thực hiện, và chúng ta đều nhận ược khi bắt đầu cuộc đời làm Cơ-đốc nhân của mình (xem chương 11 tiếp sau đây, Mục II, điểm 3).
3. Có mối liên hệ nào giữa lời dạy dỗ của Thánh Linh với lời truyền dạy của Kinh Thánh?
Thật là điều hết sức dễ hiểu khi chúng ta nhận thấy mình rất cần sự dạy dỗ của Thánh Linh để bổ sung cho lời thành văn trong Kinh Thánh. Khi chúng ta đọc thật kỹ bằng mắt nội dung của Thánh Kinh, chúng ta vẫn chẳng khám phá ra được điều gì cả nếu không nhờ vào thứ ánh sáng đến với chúng ta từ bên ngoài các trang chữ in. Cũng vậy, khi chúng ta đem nhiều thiện chí nhất trên đời để tiếp cận với văn bản của sách Thánh, chúng ta sẽ thấy mình dốt nát đến nỗi, nếu không được sự soi sáng của Thánh Linh, chúng ta sẽ chẳng hiểu được gì cả. Đây chính là lý do khiến nhiều tín hữu hay những người chỉ theo đạo ở phần hình thức mà thôi, đã đọc Kinh Thánh mà chẳng phát giác, khám phá ra được điều gì trong đó cả. Lẽ dĩ nhiên, việc họ bị tối tăm chẳng hiểu chi cả đó càng tăng thêm, vì Kinh điển là một bộ sách hằng sống, sinh động, vẫn cứ đóng kín đối với tất cả những ai chưa có tấm lòng được khiến thành ra ngay thẳng, trong khi Thánh Linh bảo đảm là Ngài sẽ chỉ dạy cho các tín hữu khiêm hạ và thành thật, những người biết tâm linh mình nghèo khổ”, thừa nhận sự ngu dốt của mình.
Hơn nữa, vì Thánh Linh giúp người đọc hiểu được lời Kinh Thánh, cho nên chính là qua các trang sách thánh ấy - chớ không phải ở đâu khác - mà Ngài phán dạy tâm hồn người ta. Về một chân lý, thì chúng ta có thể chắc chắn tìm được nó ở đâu, nếu không phải là từ quyển sách mà chính Ngài đã linh cảm? Chúa Giê-xu phán “Ngài sẽ dạy cho các con biết chân lý toàn diện”. Nhưng đúng ra thì chính Lời Ngài vốn là chân lý, và qua đó, Ngài muốn truyền lại cho chúng ta kho báu củasự khôn ngoan thiên thượng của Ngài (GiGa 16:13; 17:17). Tâm linh của chúng ta vốn hay sai lầm, và sẽ tiếp thu dễ dàng những gì mà kẻ thù cứ nhắc đi nhắc lại bên tai chúng ta. Cứ ghi chú tất cả các ý niệm đến với chúng ta như thế - cả khi chúng ta thật lòng muốn tìm kiếm Thượng Đế - cũng sẽ chẳng đưa chúng ta đến chỗ hiểu được sự dạy dỗ của Thánh Linh; nhưng nếu chúng ta để cho chính Chúa phán dạy chúng ta qua Lời Ngài, chúng ta sẽ phân biệt được ngày càng rõ ràng hơn sự hướng dẫn tổng quát của ý chỉ Ngài, nhờ đó, Thánh Linh sẽ có thể hướng dẫn chúng ta dọc nẻo đường chúng ta noi theo về từng chi tiết của sinh hoạt hằng ngày của chúng ta.
Xin lưu ý là Kinh điển rất thường vạch rõ rằng Thánh Linh sẽ dạy cho chúng ta biết chân lý toàn diện và mọi điều. Ý chỉ Thượng Đế không phải là cứ để cho chúng ta dốt nát, vì nếu chúng ta không biết chân lý, chúng ta sẽ không thể được giải phong khỏi tội lỗi. Do đó, chúng ta hãy tin quyết rằng nếu chúng ta thiếu hiểu biết về bất luận một chân lý thuần chánh nào của bất kỳ một khúc Kinh điển nào, chúng ta cần phải lãnh hội, thì Thánh Linh sẽ chỉ dạy cho chúng ta phù hợp với các nhu cầu ấy, miễn là chúng ta biết khiêm nhu hạ mình tiếp nhận lời chỉ giáo của Ngài.
4. Lời Thánh Linh dạy dỗ riêng cho từng cá nhân, là một đặc điểm của Giao ước Mới.
Dưới Giao ước Cũ, chỉ có các thầy tế lễ mới được giao trách nhiệm dạy luật pháp và các mạng lịnh của Thượng Đế cho dân sự (LeLv 10:11; PhuDnl 33:10). Nhưng dưới Giao ước Mới thì không còn như thế nữa “Thượng Đế hứa tiếp: Đây là Giao ước Ta lập với dân Ta: Sau những ngày đó, Ta sẽ ghi luật Ta trong trí và khắc vào tâm khảm họ... Chẳng cần có ai bản bạn hữu hoặc kêu gọi anh em... vì mọi người từ trẻ đến già đều sẽ nhận biết Ta” (HeDt 8:10-11). Khi đề cập Giao ước Mới, Chúa Giê-xu cũng trích dẫn Ê-sai “Họ sẽ được Thượng Đế dạy dỗ” (GiGa 6:45). Chúa Chúa sẽ thực hiện việc ấy thông qua Thánh Linh Ngài.
Như vậy, các sách Phúc âm dạy chúng ta rằng hiện nay, không hề có “tín đồ thường” nào lại không thể tự mình lãnh hội các chân lý thuộc linh, hay chỉ có “hàng giáo phẩm” mới được giao phó cho lời dạy dỗ của Thượng Đế mà thôi. Hai sứ đồ Phê-rơ và Giăng vạch rõ toàn teh các tín hữu đều được Chúa Cứu Thế la-p làm “thầy tế lễ của Thượng Đế là Cha” và “thầy tế lễ của Vua thiên đàng” (KhKh 1:6; IPhi 1Pr 2:9). Họ “đều biết chân lý toàn diện (mọi sự) (IGi1Ga 2:20) và đều được từng trải điều lợi ích của việc được Thánh Linh dạy dỗ cách riêng tây. Tuy nhiên, điều này không ngăn trở việc Thượng Đế gọi riêng ra một số người mà Ngài ban cho các ân tứ đặc biệt, nhưng họ chỉ thuộc hàng thứ yếu chớ không được cộng tác trong lãnh vực riêng của mình, và điều là những chi thể bình đẳng với nhau trong cùng một Thân thể.
5. Thánh Linh thay thế các giáo viên, giáo sư là loài người, đến mức độ nào?
Thật ra, ngụ ý của khúc sách này “Các con... chẳng cần ai dạy dỗ nữa, vì Ngài đã dạy các con mọi sự” là gì? Nó không hàm ý dạy rằng chúng ta phải được miễn trừ đối với chức vụ của những người đã được Thượng Đế tuyển lp đề dạy dỗ Hội thánh Ngài, hay chúng ta phải bỏ qua, lời nhấn mạnh của Phao-lô về việc “anh em... phải giáo huấn khuyên bảo nhau” và lời khuyên của ông “Anh em hãy tiếp tục an ủi, xạy dựng nhau như anh em thường làm” (CoCl 3:16; ITe1Tx 5:11). Vì chúng ta vốn không được cứu để cứ sống cô lập, và một chi thể tách rời khỏi thân thể sẽ tiêu vong. Ý Giăng muốn nói là thế này: rốt cuộc thì Đấng dạy dỗ chúng ta, cũng là Đấng duy nhất đem ánh sáng đến cho tâm hồn chúng ta, dầu trực tiếp bằng Lời phán của Ngài hay nhờ chứa vụ một người nào đó, đều chẳng phải ai khác hơn là Đức Thánh Linh. Ngài là Bậc thầy đích thực mà chúng ta phải nương cậy vào lời giáo huấn, và chẳng hề có ai trong chúng ta, thậm chí là kẻ ngu dốt nhất, lại cần phải hạ mình thọ giáo những ông thầy là loài người, cho dầu họ có vĩ đại đến đâu.
Những ai làm như vậy đang lâm vào nguy cơ có thể gặp bất hạnh, vì cứ nhảy từ lý thuyết này saqng lý thuyết khác theo thời trang, luôn luôn đống ý với vị diễn giả cuối cùng, cứ phân tâm như trẻ con và bị đủ thứ gió giáo thuyết dập dồi đưa đi đây đi đó, họ sẽ không thể biết được sự bình an chắc chắn đem sự an nghỉ đến cho tâm hồn, trong khi những tín hữu khiêm hạ và đầu phục nhờ chiụ cho Thánh Linh và Kinh điển dạy dỗ mình, có thể trực tiếp rút ra từ nguồn mạch ấy một chân lý bất biến. Như thế, Kinh điển công bố cho từng cá nhân một quyền độc lập vô cùng quang vinh, cao cả!
6. Thánh Linh ban cho lời dạy dỗ đặc biệt nào giữa cơn hoạn nạn?
“Khi bị đưa ra tòa, đừng lo phải nói những gì, vì đúng lúc, Thánh Linh sẽ cho các con những lời đối đáp thích hợp. Lúc ấy, không phải các con nói nữa, nhưng chính Thánh Linh của Cha các con trên trời sẽ nói qua môi miệng các con. Đúng lýc đó, Thánh Linh sẽ dạy các con những lời phải nói... Các con đừng lo phải tự biện hộ thế nào, vì ta sẽ cho các lời lẽ khôn ngoan, lập luận đanh thép, kẻ thù không tranh luận, bài bác nổi” (Mat Mt 10:19-20; LuLc 12:12; 21:14-15). Lời hứa này đã ứng nghiệm đúng nguyên văn cho các sứ đồ và nhất là cho Ê-tiên trong sách Công vụ. Thật đáng an tâm biết bao khi biết rằng nó cũng sẽ ứng nghiệm cho cả chúng ta nữa, nếu chúng ta gặp bắt bớ bách hại!
Nhiều khi mấy khúc sách trên đã bị lạm dụng và hiểu là ngụ ý dạy rằng thật là vô ích hoặc thậm chí là thách đố Thánh nữa, nếu chúng ta soạn kỹ và suy gẫn về một bài giảng trước giờ nhóm lại, viện lý là nếu có người cần nói, thì vào chính giờ đó Thánh Linh sẽ dạy mình điều gì phải nói. Nhưng như chúng ta đã ghi nhận, Chúa đã dành lời hứa này chủ yếu cho những thời kỳ gặp bắt bớ bách hại. Lẽ tất nhiên là quả thật Thánh Linh vẫn có thể ban cho diễn giả sự linh cảm mới mẻ trong lúc mọi người đang nhóm lại hoặc thúc giục một ai đó nói lên điều mình không hề suy nghĩ trước là sẽ nói ra. Trong văn mạch này, chúng ta phải cẩn thn để đừng giới hạn quyền tự do của Đức Thánh Linh, hay cho rằng người ta chẳng cần gì đến bất luận một hình thức chuẩn bị nào cả và đó là một lời biện minh chính đáng, rồi biến nó thành một định luật. Làm như thế sẽ dẫn đến việc đặt sự ở dưng lười biếng lên hàng đầu.
Hơn nữa, thật là dễ thấy rằng điều được gán cho Thánh Linh thường chỉ gồm chẳng gì khác hơn là việc cứ lặp đi lặp lại cùng những chân lý sơ đẳng giống nhai, chỉ “chọc tức” thêm thiên hạ mà thôi. Trái lại, Kinh điển không ngừng khuyến giục chúng ta, nhất là những ai tự nhận mình là tôi tớ Chúa, phải chuẩn bị và thường xuyên suy gẫm, thì mới có thể dạy dỗ. Phao-lô từng nói với Ti-mô-thê và sau đó với Tích “con hãy chuyên đọc và giảng Thánh Kinh, dạy dỗ tín hữu... Con phải hết lòng chăm lo trau dồi các ân tứ ấy, để mọi người thấy rõ sự tiến bộ của con. Phải bảo trọng chính mình và cẩn thận giảng dạy; con cứ chuyên tâm thực hành nguyên tắc ấy. Chúa sẽ ban ân phúc cho con và dùng con cứu vớt nhiều người” (ITi1Tm 4:13-16). “Điều con nghe ta giảng dạy trước mặt nhiều nhân chứng, hãy truyền lại cho những người trung tín để họ dạy dỗ người khác” (IITi 2Tm 2:2). “Chính con hãy làm gương sáng về các việc lành. Trong mọi việc, con hãy chứng tỏ tinh thần ngay thật và nghiêm chỉnh. Con phải ăn nói thuận tình hợp lý để kẻ thù nghịch phải hổ thẹn, không chỉ trích được” (Tit Tt 2:7-8).
Phao-lô cũng viết cho người Rô-ma “Ai dạy dỗ, hãy chuyên tâm dạy dỗ” (12:7). Và ngay cả trong Cựu ước, chúng ta cũng đọc thấy “Quyển sách luật pháp này chứ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm... Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ... nhưng lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm” (Gios Gs 1:8; Thi Tv 1:1-2). Nếu lời khuyên ấy được những người bị đòi hỏi phải giảng dạy ngày nay noi theo, những lời họ nói ra sẽ quả đúng là lời truyền dạy của Thánh Linh, và bầy chiên của Chúa, thay vì bị suy dinh dưỡng, sẽ thật sự được nuôi nấng bằng Bánh hằng sống vậy.
KẾT LUẬN
Chúng ta có ý thức được các đặc ân đặc quyền mà Thượng Đế ban cho chúng ta thông qua Thánh Linh không? Xin chúng ta đừng bao giờ bỏ qua những lời chỉ giáo của Bậc Thầy thiên thượng ấy, mà quyết tâm tìm một chỗ trong trường học của Ngài bằng việc thường xuyên học hỏi nghiên cứu Lời Ngài! Thật là tự nhiên và thoải mái khi chúng ta tự ràng buộc mình với một người hay một quyển sách mà chúng ta thu lượm được một vài lợi ích nào đó, và hậu quả là chúng ta tiếp nhận tất cả các ý kiến của họ. Điều chắc chắn là chúng ta biết ơn về tất cả các phước hạnh mình đã nhận được nhờ những người như thế, nhưng cũng xin chúng ta hãy tra cứu Kinh điển hằng ngày để kiểm chứng những lời họ nói với chúng ta. (Cong Cv 17:11), và xin chúng ta chớ nên khăng khăng bám giữ sự ngu dốt của mình, là điều xúc phạm đến Thánh Linh của Chân lý, và là một trở ngại cho sự thánh hóa của chúng ta. Nếu chúng ta cứ bám chặt một thái độ như thế, chúng ta sẽ khỏi bị sai lầm và giữ được quyền tự do quang vinh có một không hai dành cho các con cái Thượng Đế, và nẻo đường của chúng ta sẽ được soi sáng cho đến cuối cùng.
III. SỰ HƯỚNG DẪN CỦA THÁNH LINH
Chẳng những Đức Thánh Linh đem sự hiểu biết các chân lý vĩnh hằng đến cho từng người, mà còn hướng dẫn từng bước một cho những ai đặt lòng tin cậy nơi Thượng Đế.
1. Khi nào thì Thánh Linh hướng dẫn?
Thánh Linh hướng dẫn chúng ta trong hằng ngàn hoàn cảnh khác nhau của đời sống, tóm lại là Ngài luôn luôn hướng dẫn chúng ta nếu chúng ta sẵn sàng theo Ngài. Người Chăn Từ Ái đi trước bầy chiên của mình, chẳng bao giờ từ bỏ họ, và Thánh Linh Ngài dạy cho họ chân lý toàn diện, nghĩa là không phải chỉ dạy cho họ biết mà thôi, nhưng còn hoàn thành ý chỉ Thượng Đế nữa. Chúng ta có rất nhiều thí dụ về việc này trong sách Công vụ. Lúc Phi-líp đến gần xe ngựa của quan thái giám người Ê-thi-ô-pi, Thánh Linh đã phán với ông “Con hãy tiến lên, đuổi cho kịp xe đó!” (8:29). Phê-rơ rất hoang mang khi thấy một khải tượng ông không biết phải giải thích thế nào, thì Thánh Linh phán với ông “Này có ba người (do Cọt-nây sai đi) đang tìm con. Con cứ đứng dậy, xuống đi với họ. Đừng nghi ngờ, vì Ta đã sai họ đến” (Cong Cv 10:19-20).
Sau đó, Phao-lô và Ba-na-ba được Thánh Linh nêu tên và sai đi (Cong Cv 13:2, 4). Rồi Phao-lô và các bạn đồng hành của ông được cùng một Thánh Linh ấy ngăn chận không cho vào nhiều tỉnh, cho đến khi họ vào xứ Ma-xê-đoan (16:6-7). Cuối cùng, lúc du hành chuyến cuối cùng, Phao-lô vạch rõ “Giờ đây, Thánh Linh thúc đẩy tôi về thủ đô Giê-ru-sa-lem, không biết việc gì sẽ xảy đến. Thánh Linh đã báo trước, chỉ có lao tù và hoạn nạn đón chờ tôi từ thành này qua thành khác” (Cong Cv 20:22-23).
2. Thánh Linh hướng dẫn ai?
Những trường hợp được Thánh Linh hướng dẫn vừa được kể ra trên đây đều liên quan với các tôi tớ Chúa. Điều này chẳng có chi đáng ngạc nhiên, vì trong Hội thánh nguyên thủy, mọi người đều là giáo sĩ và đều “làm chứng đạo”. Nhưng lẽ tất nhiên là lời hứa này vốn dành cho toàn thể các tín hữu đã nhận lãnh Thánh Linh. “Những người được Thánh Linh của Thượng Đế hướng dẫn đều là con cái Thượng Đế” (RoRm 8:14). Câu này hàm ý rằng tất cả các con cái Thượng Đế đều được Thánh Linh Ngài hướng dẫn khi đề cập số người muốn bước đi theo Thánh Linh, Phao-lô viết thêm “Nhưng một khi anh em để Thánh Linh hướng dẫn, luật pháp không còn quyền trói buộc anh em” (GaGl 5:18). Thiết tưởng nói thêm đã không có chỗ nào hứa rằng Thánh Linh hướng dẫn cho những người chưa ăn năn quy đạo, cũng là thừa. Làm thế nào Thánh Linh lại hướng dẫn những người chống lại Ngài, không cho Ngài ngự vào lòng họ, cho được?
Phải chăng điều này trấn an được cho chúng ta là những người tin Chúa rất nhiều? Chúng ta được lời bảo đảm chắc chắn rằng bất cứ khi nào cần đến, thì ý chỉ Thượng Đế sẽ được tiết lộ cho chúng ta. Chúng ta sẽ từng trải việc lời hứa ấy sẽ được thực hiện “Khi các ngươi xê qua bên hữu hoặc bên tả, tai các ngươi sẽ gnhe có tiếng đằng sau mình rằng: Này là đường đi, hãy noi theo” (EsIs 30:21).
3. Thánh Linh hướng dẫn như thế nào?
Thông thường thì Thánh Linh hướng dẫn chúng ta bằng Lời Thượng Đế, như chúng ta đã thấy rồi. Có điều chắc chắn là Kinh Thánh không luôn luôn đề cập chi tiết của những sự kiện cấu thành sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, nhưng các nguyên tắc căn bản tổng quát của nó đã được Thánh Linh soi sáng, sẽ đủ để hướng dẫn chúng ta trong từng hoàn cảnh quan trọng một. Về việc này, có hai điều cần thiết: thứ nhất, chúng ta phải thấm nhuần kiến thức của Kinh điển bằng cách thường xuyên đọc và nghiên cứu học hỏi, vì ánh sáng mà Thượng Đế đã trân trọng ban cho chúng ta trong Lời Ngài, Ngài sẽ chẳng tiết lộ bằng bất cứ một phương tiện nào khác; thứ hai, chúng ta phải cầu nguyện và suy gẫm để tìm biết ý chỉ Ngài liên hệ với từng trường hợp cá biệt một đang xâm chiếm tâm trí chúng ta.
Khi nào Kinh điển không cung cấp đủ sự hướng dẫn rõ ràng, thì Thánh Linh sẽ hướng dẫn chúng ta bằng các hoàn cảnh xảy ra Phao-lô bảo rằng “mọi sự đều hiệp lại làm ích cho người yêu mến Chúa” (RoRm 8:28). Nhiều khi các hoàn cảnh kết hợp lại với nhau cho thấy diễn biến của một số sự việc nào đó. Niềm tin quyết trong lòng chúng ta sẽ trở thành bén nhạy khiến chúng ta không hề phân vân.
Nhằm hướng dẫn chúng ta, Thánh Linh sẽ thay đổi “phương pháp” hoặc chỉ đơn giản lợi dụng lương tri lương thức đã được thánh hóa của chúng ta mà thôi. Có người tưởng tượng ra rằng được từng trải sự hướng dẫn của Thánh Linh là tuyệt đối cần thiết để nghe tiếng phán từ trời, hoặc trở thành đối tượng của một sự can thiệp siêu nhiên. Chẳng có văn bản nào trong Kinh điển tạo sơ sở cho một niềm tin như vậy, và sẽ rất nguy hiểm, nếu người ta tìm các h bắt chước với bất cứ giá nào, những trường hợp đã được chép lại trong sách Công vụ các sứ đồ. Ngoài ra, ngay trong chính sách ấy, chúng ta còn đọc thấy tại giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem, Hội thánh nguyên thủy đã đưa ra một biểu quyết, hoàn toàn theo cung cách tự nhiên, về nhiều vấn đề đã được nêu ra trước giáo hội nghị (chẳng hay người ngoại quốc được cứu là bởi đức tin hay nhờ tuân thủ luật pháp). Các môn đệ Chúa đã khảo xét thật hợp lý cả hai mặt của vấnđ ề này, ghi nhận các hoàn cảnh đã xảy ra, trích dẫn nhiều câu Kinh điển có lợi cho sự việc ấy, rồi đưa ra một quyết nghị. Đã chẳng có phép lạ nào xảy ra, nhưng điều đó không ngăn trở được việc họ tuyên bố “Chúa Thánh Linh và chúng tôi đều...” (Cong Cv 15:28).
Thánh Linh cũng có thể hướng dẫn chúng ta một cách tiêu cực, bằng cách đóng cửa trước mặt chúng ta. Thật là điều kỳ lạ khi đối với nhiều người, Thánh Linh luôn luôn hướng dẫn họ làm điều họ mong muốn. Tuy nhiên, Thượng Đế cũng rất thường chống lại các ước muốn của chúng ta, vì Ngài vốn có sẵn trong tâm trí một điều gì đó tốt hơn cho chúng ta. Để hướng dẫn Phao-lô trong việc truyền giảng Phúc âm cho Âu châu, Thánh Linh đã hai lần bắt buộc phải ngăn trở, không cho ông tiếp tục hành trình của ông (Cong Cv 16:6, 7). Cũng vậy, chúng ta cần phân biệt ý chỉ của Thượng Đế khi đứng trước một cánh cửa bị đóng chặt, và không nên bất tuân lệnh Ngài khi muốn mở một cánh cửa bất chấp cả Thượng Đế.
Cuối cùng, xin chúng ta ghi khắc vào tâm trí rằng Thánh Linh có thể hướng dẫn chúng ta vì lợi ích của chúng ta trên nẻo đường có cám dỗ và khổ nạn. “Chúa Giê-xu đầy dẫy Thánh Linh, từ bỏ sông Giô-đanh trở về, liền được Thánh Linh đưa vào sa mạc xứ Giu-đê cho Sa-tan cám dỗ trong bốn mươi ngày” (LuLc 4:1-2). Con đường hẹp không phải bao giờ cũng dễ đi, nhưng chỉ có nó mới dẫn chúng ta đến chiến thắng. Do đó, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng để noi theo dấu chân của Chúa bất cứ nơi nào Ngài dẫn chúng ta đến; vì nếu chúng ta cùng chết với Ngài, thì cũng sẽ được đồng trị với Ngài.
4. Thượng Đế hướng dẫn chúng ta như vậy theo những điều kiện gì?
Dường như sau đây là những điều kiện thiết yếu:
a. Chúng ta phải tin là Thượng Đế đang hướng dẫn mình
“Ngài luôn luôn tưởng thưởng xứng đáng cho người tìm cầu Ngài” và “người không có đức tin không thể nào hài lòng Thượng Đế” (HeDt 11:6). Nếu tôi không lấy đức tin đầu phục Ngài, thì làm sao Ngài có thể hướng dẫn tôi được? Nhưng nếu tôi biết chờ đợi Ngài, dám “thử” Ngài thì chắc chắn Ngài sẽ thực hiện lời hứa của mình.
b. Chẳng có gì phân rẽ được chúng ta khỏi Ngài.
Chúng ta từng đề cập trường hợp của A-can. Bấy giờ, Thương Đế đang dẫn dân Ngài đi chinh phục xứ Ca-na-an, nhưng ngay khi tội lỗi, dầu là một tội thầm kín, đã len lỏi vào trong dân Y-sơ-ra-ên đã bị bại trận thê thảm (Gios Gs 7:1-26). Với chúng ta cũng vậy, Thượng Đế chỉ hướng dẫn chúng ta khi chúng ta đang ở trong mối tương giao trọn vẹn với Ngài.
c. Chúng ta phải khước từ mọi ý riêng.
Chẳng ai có thể làm tôi hai chủ (Mat Mt 6:24). Nếu chúng ta không đặt mình đầu phục ý chỉ Ngài, Thánh Linh sẽ không hướng dẫn chúng ta. Chúng ta rất thường hành động như những người chỉ xin ý kiến của những người chung quanh theo thói quen mà thôi; chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta biết ý chỉ Ngài, nhưng đến giây phút quyết định, chúng ta lại đi theo cách phán đoán riêng. Chỉ sau khi chúng ta dâng mình lên cho Thượng Đế như một sinh tế sống, thánh khiết và đẹp lòng Ngài, chúng ta mới có thể phân biệt được đâu là ý chỉ Ngài (RoRm 12:1, 2).
d. Chúng ta cũng phải học tập chờ đợi.
Thượng Đế đã hứa hướng dẫn chúng ta trong mọi sự, nhưng Ngài vẫn gữ lại cái quyền chọn lựa khoảnh khắc nào Ngài sẽ can thiệp. Có biết bao nhiêu nhân vật trong Cựu ước sở dĩ phải gặp nhiều từng trải đau đớn, chỉ vì sốt ruột không chịu chờ đợi sự bày tỏ mình ra của Thượng Đế. Thí dụ như Sau-lơ có lần bị kẻ thù hãm áp, đã ra trận mà không chịu hỏi ý kiến Thượng Đế trước. Sa-ma-ên đã không đến, và dân chúng đi tản mác cả; thế là Sau-lơ đã phạm thánh bằng việc tự mình dâng của lễ thiêu. Sau khi ông làm xong thì Sa-mu-ên đến tuyên bố ông sẽ bị trừng phạt vì cớ sự không vâng lời của mình (ISa1Sm 13:5-14). Chúng ta cũng bị đòi hỏi phải vào trường học dạy đức tính nhẫn nại, sẽ trở thành một nguyên tắc cho mình. Bao lâu chúng ta còn chưa phân biệt được sự hướng dẫn của Thượng Đế, chúng ta phải ở yên tại chỗ (như dân Y-sơ-ra-ên trong sa mạc) và cứ chờ đợi với thái độ tin cậy vâng lời.
Tuy nhiên, có thể có lúc chúng ta không còn có thể chờ đợi được nữa. Thánh Linh lợi dụng hoàn cảnh, tình hình để tiết lộ cho chúng ta biết phải quyết định tức khắc, nhưng ngoài điều đó ra, chúng ta chẳng được một sự soi sáng nào khác nữa cả. Thế chúng ta phải hành động như thế nào với một số hiểu biết nhất định nào đó rằng mình đagn hành động đúng? Một trường hợp như thế chắc đã nhiều lần xảy đến cho chúng ta rồi và đây là điều chúng ta phải làm: Sau khi đọc kỹ những đoạn Kinh điển thuần chánh, cầu nguyện và cân nhắc các hoàn cảnh, chúng ta cần phải thưa với Thượng Đế “Lạy Chúa, con muốn làm theo ý chỉ Ngài, xin Ngài hướng dẫn con. Con thấy đây là giải páp hay nhất, và con đang thực hiện nó. Nhưng nếu quyết định đó của con, không đẹp lòng Ngài, xin Ngài ngăn trở con trong việc thực hiện nó! Thế là chúng ta đã trao gánh nặng của mi2nh cho Ngài; nếu chúng ta quyết định đúng, Ngài sẽ để cho chúng ta cứ theo đó mà hành động; nếu không, và tốt hơn nhiều, chính Ngài sẽ đóng cánh cưa ấy lại, thì tình hình sẽ hoàn toàn trở thành sáng sủa. Và thật vui mừng xiết bao khi nhìn trở lại, chúng ta có thể nói rằng “Chúa đã thật sự thành tín giữ lời hứa của Ngài; vì trong mọi vấn đề, cả quan trọng lẫn chẳng quan trọng bao nhiêu, Ngài đều đã hướng dẫn chúng tôi!”.
KẾT LUẬN
Toàn thể quý độc giả đọc mấy giòng này có tin quyết là Thánh Linh rất sẵn lòng hướng dẫn đời sống chúng ta, cả trong những chi tiết nhỏ nhặt nhất, để ban cho chúng ta niềm vui đích thực và để nhận ra ý chỉ Ngài bao giờ cũng là tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn, hay không? Mong rằng ngay trong ngày hôm nay bạn sẽ được từng trải ấy. Bạn sẽ chỉ còn có một hối tiếc duy nhất, là đã không noi theo nẻo đường đó sớm hơn.
Trong Cựu ước, chúng ta thấy có một thí dị minh họa phương pháp Thánh Linh soi sáng và hướng dẫn các con cái Ngài. Trong sa mạc, dân Y-sơ-ra-ên được một trụ mây theo sát. Sau khi vượt được HỒng Hải, nó nằm giữa các trại quân của dân Y-sơ-ra-ên, bảo vệ đám người trước và soi sáng cho họ khi đêm đến, nhưng lại đẩy đám người sau vào bóng tối. Sau đó, nó hướng dẫn dân Chúa qua suốt thời gian đi lưu lạc lang thang cho đến khi họ vào được Đất Hư1a, chẳng những quyết định hành trình của họ, mà cả đến giờ khắc chính xác của từng lúc phải ra đi và đến nơi tạm dừng lại (XuXh 14:19-20; Dan Ds 9:15-23). Vì lý do này mà Phao-lô ám chỉ việc ấy khi ông tuyên bố rằng dân Y-sơ-ra-ên “đã được làm phép báo-tem...trong mây” (ICo1Cr 10:2). Ngày nay, Thánh Linh cũng hành động giống như thế; Ngài ở lại mãi mãi với chúng ta; Ngài chiếu sáng vùng bóng tối đang vây quanh chúng ta, trong khi giấu đi ánh sáng của Ngài đối với các kẻ thù của Thượng Đế; Ngài che chở và hướng dẫn chúng ta suốt cuộc đời trên thế gian này, và nếu chúng ta có kiên nhẫn, Ngài sẽ tiết lộ ý chỉ Ngài cho chúng ta từng bước một, cho đến khi chúng ta vào cõi quang vinh.

ĐỨC THÁNH LINH VÀ HỘI THÁNH
Từ trước cho đến đây, chúng ta đã để tâm nghiên cứu công tác của Thánh Linh trong lòng từng cá nhân. Nhưng chúng ta sẽ không thể tiến xa hơn nếu không đến với công tác toàn siện của Ngài.
I. ĐỨC THÁNH LINH CẤU THÀNH HỘI THÁNH
Thánh Linh chẳng những tái sanh những người tin Chúa, mà còn hợp nhất họ để tạo thành Thân thể Chúa Cứu Thế “Chúa Cứu Thế là đầu Hội thánh... Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu báo-tem để gia nhập vào một thân thể... Anh em là thân thể Chúa Cứu Thế, mỗi người là một bộ phận” (Eph Ep 5:23; ICo1Cr 12:13-27). Hội thánh đã được sáng lập vào ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Cứu Thế đã chịu chết “không riêng dân tộc Di-thái nhưng vì tất cả con cái Thượng Đế khắp thế giới sẽ được Ngài quy tụ làm một dân tộc” (GiGa 11:52). Nhờ thập tự giá, Ngài phục hòa loài người với Thượng Đế, và kết chặt họ lại với nhau” cho họ gia nhập vào Thân thể Chúa để tạo nên nhân loại mới” (Eph Ep 2:15, 16).
Rồi Thánh Linh đã đến nhân danh Chúa Giê-xu làm báp-tem cho một trăm hai mươi người tại phòng cao để cùng với Ngài họ sẽ tăng trưởng để trở thành một Thân thể hằng sống. Từ đó trở đi, đã không còn các tín hữu cô lập, độc lập đối v1i nhau nữa, mà chỉ có các chi thể của một Thân thể mà cái đầu là Chúa Cứu Thế. Bắt đầu từ ngày lễ Ngũ tuần, tất cả những người ăn năn quy đạo đều hợp nhất với Thân thể ấy nhờ cùng một từng trải là phép báp-tem của Thánh Linh (ICo1Cr 12:13). Chính Chúa chớ không phải một người nào đã thêm số người được cứu vào cho Hội thánh (Cong Cv 2:47). Mặt khác, những người không được tái sanh, và không nhận được Thánh Linh không thể có được địa vị là thành viên là chi thể của Hội thánh, và không thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu “Nếu không nhờ nước và Thánh Linh sinh ra, không ai được vào nước Chúa” (GiGa 3:5). “Người không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế dĩ nhiên không thuộc về Chúa Cứu Thế” (RoRm 8:9).
Do đó, Hội thánh vốn không phải do một tổ chức, một chính phủ, một nỗ lực nào của loài người hay một giáo lý cá biệt nào sáng lập. Hội thánh là Chúa Cứu Thế, và toàn thể các tín hữu của Giao ước Mới đều được kết hợp vào với nhau bằng một sợi dây hằng sống và không gì khiến tan rã được, nhờ Thánh Linh.
Chúng ta có thuộc về nó không? Đây là một câu hỏi quan trọng, vì nếu chúng ta không phải là một phần của Hội thánh Ngài, thì chúng ta không thể được cứu. “Ngoài Chúa Giê-xu, không ai có quyền năng cứu rỗi loài người, vì dưới bầu trời này, chúng ta không thể kêu cầu danh nào khác để được cứu rỗi” (Cong Cv 4:12). Thế nhưng tin nhận Cứu Chúa để trở thành một chi thể (thành viên) của Hội thánh Ngài bởi đức tin, lại là một việc hết sức dễ dàng.
II. ĐỨC THÁNH LINH BẢO ĐẢM CHO SỰ HỢP NHẤT CỦA HỘI THÁNH
Theo định nghĩa thì chỉ có một Hội thánh, vì chỉ có một cái Đầu và một Thân thể gồm nhiều chi thể (thành viên. “Chúng ta cùng thuộc về một thân thể, cùng nhận lãnh một Thánh Linh” (Eph Ep 4:4). Sự hợp nhất tự nó, không phải là một cái gì được tạo thành; nó tự nhiên mà có. “Vì tất cả những người đã chịu báp-tem, liên hiệp với Chúa Cứu Thế đều được Ngài bảo bọc. Sự chia rẽ kỳ thị giữa Do-thái và nước ngoài, giữa nô lệ và tự do, giữa nam và nữ, đã chấm dứt, vì chúng ta đều hợp nhất trong Chúa Cứu Thế Giê-xu” (GaGl 3:27-28). Nếu không phải là như vậy, thì thân thể không thể sống được, vì các chi thể sẽ ra sao, nếu chúng bị tách rời khỏi cái Đầu, hay bị hcặt lìa nhau ra? Chúng sẽ chết. Cho nên vị sứ đồ mới khuyến giục các tín hữu “phải cố gắng sống bình an hòa thuận để giữ sự hợp nhất trong Thánh Linh” (Eph Ep 4:3). Nhiệm vụ của họ là phải tự xếp mình vào trong Chúa Cứu Thế bởi đức tin để bảo đàm rằng họ thuộc về Thân thể Ngài, và chẳng có tội lỗi nào phân rẽ họ hoặc là với Thượng Đế, hoặc là với các đồng bạn của mình. Như thế, sự hợp nhất tức khắc do Thánh Linh thiết lập, sẽ được biểu hiện.
Mỗi người chúng ta há chưa cảm thấy thực tại của sự hợp nhất này ngay tức khắc, khi tình cờ chúng ta gặp một con cái thật của Thượng Đế thuộc một quốc gia hay một giáo phái khác, hay sao? Chỉ sau một chặp cùng cầu nguyện hay trò chuyện với nhay về đạo của mình, chúng ta đều cảm thấy mình đứng chung trên một lập trường, và dường như chúng ta đã biết nhau từ rất lâu rồi vậy. Giữa chúng ta, vốn là nhhững người xa lạ trước đây, đã có được một mối thông công càng sâu xa hơn mối liên hệ ràng buộc mình với người láng giềng không có chung cùng một niềm hi vọng với chúng ta.
Hơn nữa, xin lưu ý điều vẫn thường nói đến luôn, là trong Thân thể Chúa, chúng ta không hề cảm thấy tính cách đồng dạng, nhưng là hợp nhất mà đa dạng. Thánh Linh đã tạo ra thân thể cũng khiến cho mỗi chi thể đều khác nhau, bổ túc cho nhau, để cùng hỗ trợ lẫn nhau (ICo1Cr 12:12-26). Điều này sẽ trở thành sự thật, nhưng càng nghiệm đúng đối với các Cơ-đốc nhân trung tín thường được phú cho nhiều biệt tài được chứng minh là hữu dụng cho Thân thể nói chung.
Theo định nghĩa, sự hợp nhất của Thánh Linh cũng là một sự hợp nhất thuộc linh nữa. Nó được Ngài đưa vào lòng và lương tâm của những người thuộc về Chúa Cứu Thế, chớ không phải là việc làm của một tổ chức hay một chính quyền nào cả. Làm thành viên của một nhóm đặc biệt nào đó không nhất thiết tạo ra được sự hợp nhất nảy sinh từ sự kiện chúng ta trở thành chi thể nói chung của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Cứu Chúa chúng ta và của Thượng Đế.
Trong thư Ê-phê-sô (Eph Ep 4:4-6) chúng ta học biếtđược thế nào là nền móng không chuyển lay của ăự hợp nhất trong Thánh Linh. Nền móng này gồm bảy thành tố, là:
1. Một Thượng Đế là Cha mọi người (c.6)
Chúng ta được hợp nhất khi đã được ở trong Ngài, và Ngài trở thành Cha chúng ta.
2. Một Chúa (c.5)
Ngài chính là Chúa Cứu Thế Giê-xu như Kinh điển đã mặc khải cho chúng ta. Ngài là “Chân thần” đã “hy sinh tính mạng để chuộc tội cho chúng ta và cho cả nhân loại” (IGi1Ga 5:20; 2:2). Thật là không thể nào có được sự thông công thuộc linh với những người không tin Chúa hay sự nhập thể của Ngài (IIGi 2Ga 1:7-10).
3. Một Thánh Linh (c.4)
Tất cả những người đã nhận lãnh Thánh Linh đều hợp nhất trong Ngài. Chúng ta đã được kéo vào trong một Thượng Đế Ba Ngôi toàn diện.
4. Một đức tin (c.5)
Chỉ có một đức tin đặt nền trên Kinh Thánh, do Thánh Linh linh cảm, và tập trung vào Đức Chúa Con vốn vì Đức Chúa Cha mà đến. Đức tin này được đánh dấu, không phải là bằng sự bất nhất, và thật là hoàn toàn sai lầm nếu chủ trương rằng mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo đều đúng như nhau. Do đó, nguyện chúng ta biết tự mình xây dựng trên chính đức tin thánh khiết nhất của mình (Giu Gd 1:20).
5. Một báo-tem (c.5)
Đây không phải là phép báp-tem bằng nước vốn được nhiều người nghĩ về nó khác nhau, nhưng là phép báp-tem bằng Thánh Linh, bởi đó chúng ta được nhận chìm trong Chúa Cứu Thế và nhờ đó, chúng ta không còn là người Do-thái hay ngoại quốc, người nô lệ hay tự do nữa (ICo1Cr 12:13)
6. Một thân thể (c.4)
Đây là Hội thánh, Thân thể của Chúa Cứu Thế mà chúng ta được gia nhập nhờ phép báp-tem bằng Thánh Linh. Chỉ ở trong lòng Ngài mới có sự hợp nhất giữa các con cái đã được tái sanh của Thượng Đế.
7. Một niềm hi vọng (c.4)
Tức là sự tái lâm của Chúa Giê-xu và là kết cuộc của sự cứu rỗi chúng ta. Còn có chân lý nào cao siêu để hợp nhất chúng ta trong cách bộc lộ tình yêu thương và đức tin, hơn là viễn ảnh về sự sớm trở lại của vị Tân lang thiên thượng này của chúng ta?
Thật là dễ thấy các thành tố này thiết yếu đến mức độ nào. Nếu có một thành tố nào trong số đó bị thiếu đi, thì không thể nào có sự hợp nhất được; nhưng nếu các tín hữu đồng ý cùng tiếp nhận chúng, thì chỉ còn có tội lỗi của riêng họ mới có thể ngăn trở không cho họ được hợp nhất trên một nền móng như thế.
Vì sự hợp nhất đã được lập vững như vậy trong Chúa Cứu Thế nhờ công tác của Thánh Linh và ý chỉ Thượng Đế, chúng ta sẽ có lỗi lớn nếu chỉ biết gìn giữ nó một cách thờ ơ, nghèo nàn. Nếu quả thật các con cái Chúa muốn cùng sống chung nhau trong cõi vĩnh hằng, đây chính là lúc để họ phải giải hòa với nhau trong tình yêu thương ngay trên đời này. Riêng phần chúng to6i, chúng tôi tin quyết rằng sự hòa giải đó, không phải chỉ có tính cách mặt ngoài nhưng có tính cách thuộc linh sâu sắc, để thiên hạ có thể nhận thấy giữa các tín hữu chân chính, là một thời triệu đang chuẩn bị Hội thánh trung tín với Ngài cho sự tái lâm của Ngài bằng một sự thức tỉnh về phương diện đức tin, việc quay trở lại với chân lý của Kinh Thánh, một sự thánh hóa thật hơn và một sự chứng minh lớn lao hơn về sự hợp nhất trong Thánh Linh. NHưng chúng ta hãy còn lạc hậu biết bao so với việc đáng lẽ đã phải xảy ra rồi!
Có lẽ bắt bớ bách hại và khó khăn gian khổ vẫn còn cần thiết để kết chặt những tấm lòng cứng cỏi của chúng ta lại với nhau. Xin chúng ta hãy tự xét mình xem có phải chúng ta đang giữ chặt một điều gì đó chống lại một hoặc nhiều anh em mình trong đức tin (đạo), hay bằng thái độ, bằng tư tưởng, bằng cảm thức, bằng lời nói hoặc hành động của mình, chúng ta đang phạm tội chống lại Thân thể của Chúa Cứu Thế, hay không. Nguyện chúng ta biết hạ mình xuống trước mặt Thượng Đế ve8 bất cứ điều bất nhất nào chúng ta có thể phạm liên hệ với vấn đề này, để Ngài sẽ có thể ban phước cho chúng ta và sử dụng chúng ta cho công việc Ngài.
III. THÁNH LINH KHIẾN HỘI THÁNH TRỞ THÀNH ĐỀN THỜ NGÀI.
Chúng ta đã thấy rằng từng cá nhân tín hữu một là một đền thờ của Đức Thánh Linh (ICo1Cr 6:19). Nhưng số những người được cứu nói chung tạo thành vô số những viên đá sống được xây lên để cấu thành một ngôi nhà thuộc linh (IPhi 1Pr 2:5) “Nền móng của anh em là Chúa Cứu Thế Giê-xu, còn các sứ đồ và tiên tri là rường cột. Tất cả anh em tín hữu chúng ta đều được kết hợp chặt chẽ vơ1i Chúa Cứu Thế và xây nên Đền Thánh của Thượng Đế. Trong Chúa Cứu Thế, anh em được Thánh Linh kết hợp với nhau thành Ngôi Nhà của Thượng Đế (Eph Ep 2:20-22) “Làm sao hòa đồng Đền thờ của Thượng Đế với thần tượng? Vì anh em là Đền thờ của Thượng Đế hằng sống, như Ngài đã phán: Ta sống trong họ và đi lại giữa họ” (IICo 2Cr 6:16).
Mấy cây này giúp chúng ta hiểu rõ các đặc quyền và sự thánh khiết của Hội thánh; nhưng cũng giúp chúng ta ước lượng các nhiệm vụ của Hội thánh đối với Đấng đã vui lòng dành sự hiện diện của mình cho nó. Nuyện chúng ta đừng bao giờ quên rằng chúng ta là đền thờ của Thượng Đế hằng sống, và không một ghen tụ, bần tiện, thù óan hay tư tưởng về thế gian nào lại được peh1p có mặt trong nơi ngự thánh khiết của Ngài.
IV. THÁNH LINH BAN NHIỀU ÂN TỨ TRÊN HỘI THÁNH
Trong thân thể, mỗi chi thể đều được sắp xếp để có thể thi hành chức năng của mình thật thuận lợi. Trong Thân thể Chúa Cứu Thế, với mục tiêu ấy trước mắt, Thánh Linh ban một ân tứ cá biệt cho từng chi thể chọn lọc của Ngài (ICo1Cr 12:11). (Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn các ân tứ ấy ở PHẦN IV, chương 2). Do đó chính Thánh Linh ban khả năng cho Hội thánh để hoạt động, phục vụ Thượng Đế hằng sống. Trong Eph Ep 4:11, 12 chúng ta được biết các ân tứ ban cho Hội thánh lắm khi chính là những người đã được Thánh Linh phú cho đầy đủ phẩm cách để thi hành chức vụ. “Ngài (Chúa Cứu Thế) cho người này làm sứ đồ, người kia làm tiên tri, người khác làm truyền đạo, mục sư hay giáo sư. Ngài phân phối công tác như thế để chúng ta phục vụ đắc lưc cho Ngài cùng nhay xây dựng Hội thánh, là Thân thể Ngài”.
Về căn bản, tất cả những gì góp phần vào việc xây dựng Hội tha1nh đều được ban xuống từ trên cao, tuy con người cũng có phần trong việc nhận lãnh ân huệ, và phục vụ Thượng Đế. ở đây, có lối ví von thật sát với một thân thể của một hài nhi sơ sinh mà các chi thể và cơ quan vẫn chưa tự mình thành hình được, và phải do Đấng ạo hóa sáng tạo ra. Nhưng tất cả những gì Thượng Đế làm, Ngài đều thực hiện thật trọn vẹn. Nếu các giới người theo đạo thường bị nghèo nàn về ân tứ và thiếu thốn nhân tài, thì đó không phải là lỗi ở Ngài, mà do có người đã làm ngăn trở không cho các ân tứ ấy nơi người khác được nở rộ, hay khước từ không chịu đáp lại tiếng gọi thi hành thiên chức mà Ngài đạ ngỏ riêng với người ấy. Nguyện chúng ta để cho Thánh Linh được tự do vận hành trong chúng ta và giữa vòng chúng ta, vì có như thế, Ngài sẽ ban tức khắc cho Hội thánh tất cả các ân tứ cần thiết.
V. THÁNH LINH CAI TRỊ HỘI THÁNH
Sách Công chứng minh điều này rõ ràng nhất:
1. Thánh Linh kêu gọi các tôi tớ Chúa.
Đức Thánh Linh phán “Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho Ta, để làm công việc ta ấn định” (Cong Cv 13:2). Phao-lô thì bảo các trưởng lão Ê-phê-sô “Anh em phải giữ mình và chăn giữ bầy chiên mà Thánh Linh đã giao cho anh em chăm sóc là Hội thánh mà Thượng Đế đã mua bằng chính máu Ngài” (Cong Cv 20:28). Nếu tất cả những người đang tìm cách phục vụ (Hội thánh) hiện nay đều thật sự được Đức Thánh Linh kêu gọi và sai phái, thì người ta sẽ thấy có sự tương phản lớn lao biết bao! Hễ Thượng Đế gọi người nào, thì Ngài cũng ban cho người ấy có đầy đủ phẩm cách, và Ngài không hề nhằm lẫn trong việc lựa chọn người cũng như trong việc phân phối công tác.
2. Ngài hướng dẫn và nâng đỡ họ trong chức vụ
Thánh Linh chẳng những chuẩn bị các tín hữu để phục vụ Thượng Đế bằng cách ban cho mọi người các ân tứ thuộc linh của Ngài, mà còn theo sát họ từng bước một khi họ thi hành nhiệm vụ đã được giao phó, như chúng ta đã thấy trong phần nghiên cứu về cách thức Thượng Đế hướng dẫn từng cá nhân. “Được Thánh Linh ủy nhiệm, Ba-na-ba và Sau-lơ liền xuống Sê-lơ-xi...Nhưng phù thủy Ê-li-ma chống đối hai ông, tìm cách khuyên tổng trấn đừng tin Chúa. Bấy giờ Sau-lơ - biệt danh là Phao-lô - được đầy dẫy Thánh Linh, quắc mắt nhìn tên phù thủy” v.v... (Sau vụ can thiệp này, Ê-li-ma bị mù mắt, còn quan tổng trấn thì tin Chúa - Cong Cv 13:4, 8-9). “Vì Thánh Linh không cho giảng đạo ở Tiểu Á... Khi đến ngang My-si, họ định vào xứ Bi-thi-ni, nhưng Thánh Linh của Chúa không cho phép” (Cong Cv 16:6-7).
Chính theo cách đó, các Cơ-đốc nhân nguyên thủy đã chinh phục được La-mã Đế quốc và các nỗ lực của họ đã kết quả rực rỡ. Khi nói về họ, Phê-rơ đã có thể nhấn mạnh là họ “đã truyền giảng Phúc âm.... bởi Thánh Linh từ trời sai xuống”.
Và ai dám nói rằng Thánh Linh không sẵn sàng hướng dẫn và trợ giúp chúng ta ngày nay theo cùng một cách thức y như thế, tùy ý tốt Ngài? Nguyện chúng ta đừng thiếu hoặc là đức tin hoặc là sự vâng lời.
3. Thánh Linh cảm thức các quyết nghị của Hội thánh.
Chúa Cứu Thế Giê-xu đã hứa với các môn đệ Ngài rằng Ngài sẽ dạy cho họ chân lý toàn diện (GiGa 16:13). Lời hứa này đã ứng nghiệm thật diệu kỳ nhân giáo hội nghị lần đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem. Giữa các Cơ-đốc nhân, đã có cuộc tranh luận về một điểm của giáo lý mà họ không giải quyết trọn vẹn được căn cứ vào bộ Kinh điển hiện hữu thời bấy giờ (nghĩa là vấn đề chẳng hay người ngoại quốc được cứu là nhờ giữ luật pháp hay bởi đức tin); họ đã họp lại xem xét vấn đề và đưa ra quyết nghĩ với lời lẽ như sau “Chúa Thánh Linh và chúng tôi (đã ưng rằng)...” (Cong Cv 15:28).
Lẽ dĩ nhiên là ngày nay, chúng ta không bị đòi hỏi phải thu xếp những vấn đề như thế, vì chúng ta đã có sự mặc khải đầy đủ rồi. Nhưng trong mọi quyết định cá nhân hoặc tập thể cần làm, nhất là trong vấn đề phục vu5 Chúa, ý muốn của Đức Thánh Linh là cũng được hướng dẫn và lãnh đạo chúng ta y như vậy. Phải chăng đó chính là khuyết điểm của thời đại chúng ta, khi đối với một vấn đề nhỏ nhặt nhất cần giải quyết, chúng ta la5i để cho việc tranh luận kéo dài vô tận, không quên cử ra một ủy ban hoặc tiểu ban, trong khi lại rất thường quên một điều duy nhất cần phải tìm cầu là lời khuyên dạy, chỉ bảo của Thánh Linh?
4. Thánh Linh phán dạy Hội thánh.
Trong Kinh điển, chúng ta tìm thấy bảy lần câu này “Ai có tai, hãy lắng nghe lời Thánh Linh kêu gọi các Hội thánh” ở phần kết thúc của mỗi khúc sách chép lời Chúa Giê-xu ngỏ cùng các Hội thánh tại Tiểu Á (KhKh 2:7). Và ngay hiện nay, Thánh Linh vẫn thay mặt Chúa để phán dạy Hội thánh Ngài, đem đến những thông điệp khích lệ, trách cứ, kêu gọi ăn năn hoặc làm việc cật lực hơn. Ngài làm việc ấy bằng cách nhấn mạnh thình lình hoặc gán ép một khúc Kinh điển nào đó, hoặc áp đặt trên một người nào đó trách nhiệm phải làm người phát ngôn cho Ngài; Ngài vẫn còn phán dạy qua giọng nói chừng mực của các biến cố hoặc tạo ra sự im lặng, cho chúng ta được nghe những tiếng êm dịu nhỏ nhẹ trong lúc cầu nguyện. Vâng, Thượng Đế luôn luôn có một điều gì đó để nói với chúng ta. Nguyện chúng ta có được đôi tai biết lắng nghe những gì Thánh Linh phán với các Hội thánh.
VI. THÁNH LINH CUNG CẤP MỌI SỰ ĐỂ HỘI THÁNH TĂNG TRƯỞNG
“Hội thánh... được hưởng một tời kỳ bình an, và ngày càng vững mạnh. Hội thánh càng tiến bộ trong niềm kính sợ Chúa và sự khích lệ của Thánh Linh nên số tín hữu ngày càng gia tăng” (Cong Cv 9:31). Điều này thật dễ hiểu; Thánh Linh ban quyền năng và sự không ngoan của Ngài cho những người làm chứng cho Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ngài cáo trách người ta về tội lỗi, tái sanh họ, khiến họ trở thành các chi thể của Thân thể Ngài, tăng trưởng trong đức tin và sự thánh hóa. Lẽ dĩ nhiên Hội thánh thêm người là nhờ sự trợ giúp của Thánh Linh, chớ không phải chỉ do nỗ lực của con người mà thôi. Điều này cũng nghiệm đúng cho ngày nay; một số cán bộ đông đảo hơn, các nguồn tài nguyên vật chất nhiều hơn sự tái tổ chức về hành chánh quản trị, những cuộc hội họp càng thường xuyên hơn và những bài giảng thôi thúc mạnh mẽ hơn sẽ không tự chúng đẩy mạnh thêm cho công việc Chúa tiến bộ được, nhưng sự tiến bộ vốn nảy sinh từ công tác sâu nhiệm của Đức Thánh Linh trong lòng toàn thể các chi thể của Thân thể Ngài, cùng kết hợp nhau lại đề đầu phục Thượng Đế dùng điều này để thật sự thức tỉnh chúng ta.
VII. NHỜ CHỨC VỤ CỦA THÁNH LINH CHÚA CỨU THẾ MÃI MÃI LÀM ĐẦU HỘI THÁNH
Khi theo đúng lời dạy của Kinh điển để nhấn mạnh rằng Thánh Linh sáng lập và gây dựng Hội thánh, tạo ra sự hợp nhất trong Hội thánh, khiến Hội thánh trở nên đền thờ Ngài bằng cách ban xuống trên Hội thánh các ân tứ của Ngài, cai trị và làm cho Hội thánh tăng trưởng, có lẽ chúng ta bị cám dỗ để thắc mắc tự hỏi chẳng hay Chúa Cứu Thế Giê-xu còn được để lại cho vai trò gì. Xin chúng ta đừng bao giờ quên như chúng tôi từng đề cập rất nhiều lần rằng Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đều chỉ là Một Thượng Đế, và rằng nơi nào có hiện diện của một trong Ba Ngôi Thượng Đế, thì cả hai ngôi kia cũng cùng có mặt. Hơn nữa, vai trò của Thánh Linh không phải là để tự nói về mình, nhưng là nhằm đề cao tôn vinh Chúa Cứu Thế (GiGa 16:13-14). Thay vì che lấp Chúa trong Thân thể Ngài, Thánh Linh vì Ngài mà công tác, vì Ngài mà dẫn dắt người ta đến với Ngài, biến hóa họ trở nên giống như ảnh tượng Ngài, trong khi vẫn dẫn truyền sự sống từ cái Đầu đến cho các chi thể. Chúa Cứu Thế luôn luôn vẫn là cái Đầu của Hội thánh; chỉ một mình Ngài mới là Cứu Chúa của HỘi thánh vì Ngài đã yêu mến Hội thánh và hy sinh mạng sống vì Hội thánh (Eph Ep 1:22, 23; 5:25). Cuối cùng, Hội thánh sẽ phải được kết hợp vĩnh viễn với Chúa Cứu Thế, vì Ngài sẽ đến để cất Hội thánh lên với Ngài, cùng ngồi bên cạnh ngai Ngài.
Trong Sáng thế ký, chúng ta đã có thể biện biệt được một hình ảnh thật đẹp về vai trò của Đức Thánh Linh. Ê-li-ê-xe đã được chủ mình là Áp-ra-ham sai đến một xứ xa để tìm vợ cho Y-sác, người thừas kế lời hứa của Thượng Đế. Ông gặp một thiếu nữ mà tấm lòng đã được Thượng Đế dọn sẵn; ông trò chuyện với cô không phải là về mình, nhưng là về chàng rể đang chờ đợi cô, và tặng cho cô nhiều món quà lộng lẫy, tiêu biểu cho sự thuộc về cô. Rồi ông đưa cô thiếu nữ Rê-bê-ca ra khỏi quê hương cô, để đến một xứ thật xa, nơi hôn lễ sẽ được cử hành (SaSt 24:1-27). Cũng vậy, Thượng Đế đã sai Thánh Linh Ngài đến thế gian hôm nay là để tìm kiếm và chuẩn bị HỘi thánh là Tân Nương của Con Ngài. Thánh Linh chinh phục lòng Hội thánh bằng cáhc nói với Hội thánh không phải về chính Ngài, nhưng là về Tân Lang tren trời của Hội thánh. Ngài trang điểm cho Hội thánh bằng nhiều ân tứ, biểu tượng của sự vinh hiển tương lai và niềm vui của thiên đàng. Rồi khi Hội thánh đã sẵn sàng, Ngài sẽ đưa Hội thánh đi xa để đến gặp Chúa, và hôn lễ Chiên Con sẽ được cử hành.


SỰ XỨC DẦU CỦA ĐỨC THÁNH LINH
Nếu không có Đức Thánh Linh là Đấng đã khiến chúng ta sống lại và thánh hóa chúng ta, chúng ta sẽ không thể nào có được sự sống vĩnh hằng. Hơn nữa, điều cũng hết sức rõ ràng, là nếu không có Ngài, chúng ta cũng không thể nào phục vụ Thượng Đế được vì chỉ qua trung gian của Đức Thánh Linh, chúng ta mới được ban cho phần quyền năng cần thiết. Chúa Giê-xu từng ám chỉ Đức Thánh Linh khi Ngài phán “Ta hứa quả quyết với các con, ai tin ta sẽ làm những việc ta làm, lại làm việc lớn hơn nữa, vì ta sắp về với Cha... Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An ủi khác” (GiGa 14:12, 16). Phê-rơ đã là người đầu tiên từng trải được sự ứng nghiệm của mấy lời này trong ngày lễ Ngũ tuần. Sau khi đã được đầy dẫy Thánh Linh nhân một cơ hội duy nhất chỉ bằng một bài giảng duy nhất, ông đã đưa được ba ngàn người đến với Đạo, một kết quả mà chính Chúa Cứu Thế đã không thực hiện được qua suốt chức vụ tại thế của Ngài (Cong Cv 2:41). Do đó, xin chúng ta hãy tra xét xem Thánh Linh đã có vai trò gì liên hệ với việc phục vụ Chúa của chúng ta.
Kinh điển nhấn mạnh rõ ràng chúng ta đã được Thánh Linh xức dầu “Vả, Đấng làm cho bền vững chúng tôi với anh em trong Đấng Christ và đã xức dầu cho chúng tôi, ấy là Đức Chúa Trời. Ngài cũng lấy ấn mình mà đóng cho chúng tôi và ban của tin Đức Thánh Linh trong lòng chúng tôi” (IICo 2Cr 1:21-22, bản dịch cũ). “Nhưng vì được Chúa Thánh Linh xức dầu, nên tất cả các con đều biết Chân lý...Các con đã tiếp nhận Thánh Linh vào tâm hồn mình (được Thánh Linh xức dầu), nên chẳng cần ai dạy bảo nữa, vì Ngài đã dạy các con mọi sự” (IGi1Ga 2:20-27).
I. SỰ XỨC DẦU NÀY CÓ Ý NGHĨA GÌ?
Chúng ta có được đầu mối cần thiết trong Cựu ước trong thí dụ minh họa về việc xức dầu là biểu tượng của Thánh Linh. Dưới Giao ước Cũ, các nhân vật sau đây đều được xức dầu:
1. Các thầy tế lễ.
Thượng Đế đã phán với Môi-se về A-rôn và các con trai ông rằng “(Ngươi) hãy xức dầu cho (A-rôn anh ngươi cùng các con trai người), lập và biệt riêng ra thánh, để họ làm chức tế lễ trước mặt ta... Ngươi hãy xức dầu và biệt người (A-rôn) ra thánh... Ngươi hãy xức dầu cho (họ) như người đã xức cho cha họ, thì họ sẽ làm chức tế lễ trước mặt ta. Sự xức dầu sẽ phong cho họ chức tế lễ mãi mãi trải qua các đời” (XuXh 28:41; 40:13-15).
2. Các vua.
Sau-lơ, Đa-vít, Sa-lô-môn, v.v.. đều được phong vương bằng cách xức dầu (ISa1Sm 10:1; IVua 1V 1:39).
3. Các nhà tiên tri.
Chẳng hạn như Ê-li-sê đã được Ê-li xức dầu cho để trở thành nhà tiên tri thế cho mình (IVua 1V 19:16)
Mỗi một thí dụ trên đây cũng đều được áp dụng cho các tín hữu của Giao ước Mới. Thật rõ ràng là chỉ một mình Chúa Cứu Thế mới là Thầy Tế Lễ Tối Cao và là Vua các vua, và vì các chức vị đó, Ngài đã được Thánh Linh xức dầu cho không hạn chế (xem PHẦN II, đầu chương 3); chúng ta cũng làm vua và thầy tế lễ cùng với Ngài (ITe1Tx 2:9; KhKh 1:6) và cũng chia xẻ việc được xức dầu với Ngài, như các con trai A-rôn cũng được dự phần với cha họ vậy. Thật vậy, há không phải chúng ta cũng đã được kêu gọi để đồng trị với Chúa Cứu Thế và từ nay trở đi, sẽ đại diện cho Thượng Đế trước mặt loài người và đại diện cho loài người trước mặt Thượng Đế bằng sự cầu thay hay sao? Chúng ta cũng là các nhơn chứng của Thượng Đế mang trong người lời hằng sống như các nhà tiên tri dưới Giao ước Cũ vậy. Cũng như họ, chúng ta rất cần được mặc lấy quyền năng từ trên cao.
II. SỰ XỨC DẦU NÀY SAN SẺ CHO CHÚNG TA ĐIỀU GÌ?
Mấy khúc sách trích dẫn trên đây cho thấy hết sức rõ ràng rằng qua việc được xức dầu chúng ta đã được biệt riêng ra để dành cho việc phục vụ Thượng Đế. Do đó, được Thánh Linh xức dầu là phần chuẩn bị cần thiết trước nhiệm vụ đã được giao phó. Nhờ phần chuẩn bị này, chúng ta nhận được quyền năng cần thiết để thực hiện nó, như Chúa Cứu Thế Giê-xu từng được xức dầu bằng Thánh Linh và quyền năng lúc Ngài bắt đầu thi hành chức vụ vậy (Cong Cv 10:38). Nhờ đó, chúng ta cũng được sự khôn ngoan và biết rõ điều chúng ta có cần “Nhưng các con đã tiếp nhận Thánh Linh vào tâm hồn (được Thánh Linh xức dầu), nên chẳng cần ai dạy bảo nữa. Ngài không hề nói dối. Và như Ngài đã dạy, các con phải sống mãi trong Chúa Cứu Thế, đừng bao giờ xa Ngài” (IGi1Ga 2:27).
Từ khúc sách này có hai điểm nổi bật:
a. Sự thông hiểu thuộc linh được ban cho tất cả, chớ không phải chỉ dành riêng một số ít người được đặc ân đặc quyền mà thôi.
b. phần chuẩn bị thiết yếu cho chức vụ, là được Thánh Linh xức dầu và dạy dỗ. Ngài là Đấng dạy cho chúng ta chân lý toàn diện. Chẳng hề có bậc thầy nào là con người, có trường học nào, lại có thể thay thế Ngài bao giờ và lẽ dĩ nhiên là chúng ta đừng bao giờ nên lo lắng quá mức trong việc tự dọn mình, tự chuẩn bị - cả về phương diện trí thức lẫn thuộc linh - khi trực diện với các trách nhiệm mà Thượng Đế muốn giao phó cho chúng ta.
Nhưng khá ghi khắc vào tâm trí rằng tự chúng, việc nghiên cứu học hỏi, kiến thức và thông biết sẽ vô cùng tai hại cả cho chúng ta lẫn những người chung quanh ta, nếu chúng không bắt nguồn từ Đức Thánh Linh. Hơn nữa, sự xức dầu của Thượng Đế không hề loại trừ cả công việc cần cù, lẫn công việc tìm tòi tra cứu như người ta vẫn thường lầm tưởng. Chúng tôi từng vạch rõ rằng Kinh Thánh thường xuyên dạy chúng ta “Hãy suy gẫm ngày và đêm... hãy siêng năng chăm chỉ (học hỏi nghiên cứu)... Hãy tìm sẽ được “Chúng ta chẳng bao giờ được khuyến khích ỷ lại vào việc được xức dầu để lười biếng ở dưng. Nguyện chúng ta biết lợi dụng mọi phương tiện có được để học hỏi và tự hoàn thiện trong chức vụ đặc biệt của mình. Nhưng cần nhớ rằng cho dầu chúng ta có bị xếp vào hạng người ngu dốt nhất giữa vòng loài người, thì chỉ trong một mình Chúa Cứu Thế mà thôi mới ẩn chứa mọi kho tàng của sự khôn ngoan và tri thức (CoCl 2:3), và chúng được Thánh Linh tiết lộ (mặc khải) cho chúng ta.
Sau cùng, sự xức dầu đem đến cho chúng ta niềm vui rạng rỡ, không hề bị ô nhiễm mà nếu thiếu đi, chức vụ của chúng ta sẽ bị mất sức hấp dẫn của nó. Thi Tv 45:7 đề cập Chúa Cứu Thế “Cho nên Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của Chúa, đã xức dầu cho Chúa bằng dầu vui vẻ”. Tác giả Thi thiên cũng reo lên “Ngài xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn” (Thi Tv 23:5) và “Chúa làm cho sừng tôi ngước cao lên như sừng con bò tốt; tôi được xức dầu bằng dầu mới” (Thi Tv 92:10). Thật vậy, dầu làm cho gương mặt chói sáng, rạng rỡ. Nếu con người chúng ta luôn luôn khả ái, vui tươi và hấp dẫn, thật là dễ dàng biết bao để chúng ta có thể phục vụ Chúa có kết quả!
III. CHÚNG TA ĐƯỢC THÁNH LINH XỨC DẦU CHO KHI NÀO VÀ NHƯ THẾ NÀO?
Phải chăng Thượng Đế ban điều đó cho chúng ta sau nhiều năm sống cuộc đời làm Cơ-đốc nhân, trong đó chúng ta đã chứng tỏ tài năng và đã phục vụ Ngài thật xứng đáng? Lẽ dĩ nhiên là không phải. Ân huệ này cũng như nhiều ân huệ khác nữa, vốn hàm chứa trong ân tứ của Thánh Linh mà chúng ta nhận được lúc chúng ta được tái sanh và tin nhận Cứu Chúa. Thượng Đế đã ban ân tứ cho từng người một trong chúng ta để chúng ta có đủ khả năng phục vụ Ngài ngay trước khi chúng ta bắt tay vào nhiệm vụ ấy nữa. Trong thời Cựu ước, chúng ta nhận thấy các thầy lễ, các vua và nhà tiên tri đều được xức dầu trước khi bắt đầu chức vụ, để họ có thể đảm nhiệm nó. Xin chúng ta đừng dại dột cố công ra sức thi hành chức vụ trước khi nhận được ân tứ của Thánh Linh. Nếu chúng ta hãy còn thiếu nó, thế chúng ta phải làm gì để nhận được. Chỉ đơn giản là hãy lấy đức tin tiếp nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu; Ngài sẽ cứu chúng ta, ban Đức Thánh Linh cho chúng ta và tức khắc, xức dầu cho chúng ta để phục vụ Ngài. Nếu không có Ngài, chúng ta chẳng làm gì được cả, và hơn nữa, vì chính Chúa Giê-xu cũng cần phải được xức dầu, cả vì hiện nay, Thượng Đế đã ban nó cho mọi người (IGi1Ga 2:20), sẽ chẳng hề có ai trong chúng ta lại có quyền bảo rằng mình không có khả năng để phục vụ Ngài; lẽ dĩ nhiên, nói như thế là xúc phạm đến vị Chủ nhân thiên thượng của chúng ta bằng cách chế nhạo phần quyền năng và tài năng mà Ngài ban phát cho chúng ta.
Chúng tôi tin rằng cần phải phân biệt giữa việc được xức dầu bằng Thánh Linh mà Thượng Đế ban cho toàn thể các con cái Ngài ngay lúc đầu tiên họ tin Ngài, với quyền năng mà Ngài ban đặc biệt cho một vài tôi tớ Ngài. Sự việc xảy ra là có một số vĩ nhân của Thượng Đế đã phải trải qua một thời gian chuẩn bị lâu dài qua nhiều khổ nạn, phấn đấu và cầu nguyện cho nhiệm vụ đặc biệt mà Thượng Đế muốn giao cho họ. Chẳng hạn như gương mặt Môi-se chỉ bắt đầu sáng rực lên trước mắt toàn dân Y-sơ-ra-ên sau khi ông đã ở riêng ra hai lần bốn mươi ngày trên núi để tương giao mật thiết với Thượng Đế mà chẳng ăn uống gì (XuXh 34:28-29; PhuDnl 9:9, 18). Chính nhờ việc chúng ta giết đi Bản ngã để cứ ngày càng tương giao mật thiết hơn với Chúa, mà Thánh Linh ban quyền năng Ngài cho chúng ta. Rõ ràng là việc này xảy ra là bởi đức tin, tuy không phải là nó, không luôn luôn kèm theo một cuộc chiến đấu với Bản Ngã. Riêng phần chúng ta, xin đừng nên tìm cách bắt chước các từng trải của một người nào khác, cho dầu người ấy có là ai đi chăng nữa, vì mỗi người đều nhận được một tiếng gọi đặc biệt từ Chúa là Đấng đang cầm quyền tể trị.
Nếu chúng ta dâng trọn mình vào tay Ngài và sẵn sàng, chịu trả cái giá phải trả, Ngài sẽ thật sự chỉ cho chúng ta con đường mà Ngài muốn cho chúng ta phải từng trải tính cách vô cùng vĩ đại của quyền năng Ngài bởi Thánh Linh, và sẽ xức dầu cách mới mẻ cho chúng ta cho mỗi một nhiệm vụ mà Ngài giao cho chúng ta.
CÁC ÂN TỨ CỦA THÁNH LINH TỔNG LUẬN
I. THẾ NÀO LÀ MỘT ÂN TỨ CỦA THÁNH LINH, HAY MỘT ÂN TỨ THUỘC LINH
Ấy là một phẩm cách nào đó mà Thánh Linh ban cho mỗi cá nhân tín hữu để người ấy đủ khả năng phục vụ Ngài trong toàn thể cơ cấu công tác của thân thể Chúa Cứu Thế.
Phao-lô giải thích việc này cho chúng ta bằng cách dùng thí dụ minh họa về thân thể, với đầy đủ mọi chi thể (ICo1Cr 12:1-31). Thân thể chỉ có một, nhưng nó lại có nhiều chi thể mà tất cả đều cần thiết và hữu dụng, vì mỗi chi thể đều có một khả năng phục vụ nhằm bổ túc cho các chức năng của số chi thể còn lại. Trường hợp của các tín hữu cũng vậy: họ họp lại thành Thân thể của Chúa Cứu Thế gồm nhiều chi thể, mỗi chi thể đều có nhiệm vụ nhất định. Mỗi người đều nhận từ Thánh Linh ân tứ cá biệt liên hệ với chức năng của mình (ICo1Cr 12:27, 11)
II. ĐÂU LÀ CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH KHÁC NHAU?
Trước hết, cần vạch rõ rằng Thánh Linh chỉ có một, và toàn thể các tín hữu đều nhận cùng một Thánh Linh giống nhau, chẳng có gì phân biệt cả. Nhưng Thánh Linh kêu gọi chúng ta vào nhiều lãnh vực phục vụ khác nhau, và ban xuống nhiều ân tứ đa dạng sau đây (ICo1Cr 12:4, 8-10, 28).
1. Ân tứ khôn ngoan (c.8)
2. Ân tứ tri thức (c.8)
3. Ân tứ đức tin (c.9)
4. Ân tứ chữa bệnh (c.9)
5. Ân tứ làm phép lạ (c.10)
6. Ân tứ nói tiên tri (c.10)
7. Ân tứ phân biệt các thần giả mạo (c.10)
8. Ân tứ nói ngoại ngữ (c.10)
9. Ân tứ thông dịch ngoại ngữ (c.10)
10. Ân tứ làm sứ đồ (c.28)
11. Ân tứ làm giáo sư (c.28)
12. Ân tứ phục vụ (c.28)
13. Ân tứ quản trị (c.28)
Và ở những chỗ khác, chúng ta còn tìm thấy:
14. Ân tứ làm truyền đạo (Eph Ep 4:11)
15. Ân tứ làm mục sư (Eph Ep 4:11)
16. Ân tứ dâng hiến rộng rãi (RoRm 12:8)
Rất có thể còn tìm thấu ở nhiều chỗ khác những ân tứ khác nữa, vì chúng tôi không dám nói rằng bảng liệt kê trên đây là hoàn toàn đầy đủ. Cho dầu nhiệm vụ mà Thượng Đế gọi chúng ta vào có là gì đi chăng nữa, Ngài cũng sẽ lập tức ban cho chúng ta phẩm cách cần thiết, qua Thánh Linh Ngài.
III. AI CHỌN CÁC ÂN TỨ MÀ CHÚNG TA CẦN NHẬN LÃNH?
Vì Kinh Thánh chép “Hãy khao khát ân tứ tốt hơn” (ICo1Cr 12:31), nên tôi có thể tự chọn lấy một ân tứ nào mà mình thích nhất và thưa với Thượng Đế rằng “Lạy Chúa, con muốn được ân tứ cá biệt này bằng mọi giá. Con sẽ chiến đấu, phấn đấu và hi vọng cho đến khi nào con nhận được nó” hay không? Đã có nhiều người làm như thế và đã thất vọng (nếu không nói là họ bị mất luôn đức tin nữa) chỉ vì họ đã không được ban cho điều mình ao ước. Nếu việc lựa chọn hoàn toàn được phó mặc cho chúng ta, phải chăng mọi người chúng ta đều sẽ chọn làm người quản trị, chẳng hạn? Phải chăng chức vụ truyền đạo vốn hấp dẫn nói chung, đến nỗi nếu các tín hữu không được kêu gọi để đứng lên giảng dạy giữa Hội thánh họ có thể tưởng rằng sẽ chẳng còn có gì xứng đáng dành cho họ làm nữa? Nếu mỗi chi thể của thân thể đều là miệng, thì hậu quả sẽ là có tiếng ồn ào dễ sợ biết bao! Không đâu, chỉ một mình Thượng Đế, qua Thánh Linh Ngài, do quyền tể trị của Ngài, mới quyết định về phẩm cách mà mỗi người chúng ta cần có cho một chức vụ mà cũng chỉ một mình Ngài mới có thể thấy trước. “Những ân tứ ấy đều do cùng một Thánh Linh phân phối cho mọi người theo ý Ngài” (ICo1Cr 12:11). HeDt 2:4 cũng đề cập các ân tứ của Đức Thánh Linh đều được phân phối “tùy theo ý muốn Ngài”. Nếu chúng ta tự đặt mình hoàn toàn dưới quyền sai khiến của Thượng Đế, chắc chắn Ngài sẽ tiết lộ cho chúng ta biết nihệm vụ nào Ngài muốn giao phó cho chúng ta, và sẽ ban cho chúng ta ân tứ cần thiết để hoàn thành nó.
IV. MỖI CON CÁI CHÚA ĐỀU ĐƯỢC BAN CHO MỘT ÂN TỨ
Trong thân thể, chẳng hề có một chi thể hay cơ quan nào là vô dụng cả. Trong Thân thể Chúa Cứu Thế, mỗi tín hữu đều nhận được một ân tứ để chu toàn chức năng đã được phó thác cho mình. “Có nhiều công việc khác nhau, nhưng chỉ có một Thượng Đế thực hiện mọi việc trong mọi người. Ân tứ cả Thánh Linh được biểu lộ nơi mỗi người một khác... Những ân tứ ấy đều do cùng một Thánh Linh phân phối cho mọi người theo ý Ngài...Anh em là thân thể của Chúa Cứu Thế, mỗi người là một bộ phận" (ICo1Cr 12:6, 7, 11, 27).
Được biết rằng do ân phúc Thượng Đế, chúng ta có thể được cho phép phục vụ Ngài trong một công tác cá biệt nào đó, quả thật là một đặc quyền! Và chính Chúa, lẽ tất nhiên là cả Hội thánh nữa, lại cần đến chúng taỴ Với các tín hữu, từ người ít học nhất, đến người vừa mới ăn năn quy đạo, Đức Thánh Linh đều ban cho một ân tứ. Bạn có biết ân tứ của mình là gì không? Nếu bạn không biết, thì lý do là vì bạn chưa hề tự đặt mình dưới quyền sử dụng của Thượng Đế, và chưa cho phép Ngài chỉ cho bạn nơi nào Ngài muốn dùng bạn và dùng bạn như thế nào. Bạn có sẵn sàng sửa sai lỗi lầm ấy ngay hôm nay, và cầu xin Ngài dùng bạn cho chính nghĩa của Ngài không? Ngài sẽ chỉ cho bạn việc bạn phải làm, và ân tứ được dành cho bạn cũng sẽ tự bộc lộ và tự phát triển do sự vâng lời của bạn.
Xin chú ý một lần nữa là nếu bạn không có được một ân tứ nào trong số các ân tứ đã được liệt kê trên Mục II thì chẳng có gì đáng quan ngại cả, miễn sao bạn có được một ân tứ do chính Thượng Đế ban cho mình, kể cả một ân tứ kín giấu nữa. Nhưng phải chắc chắn rằng bạn không phải là một con ký sinh trùng hay một chi thể đã bị liệt trong Thân thể Chúa Cứu Thế.
V. KHÔNG PHẢI TẤT CẢ CÁC TÍN HỮU ĐỀU CÙNG NHẬN ĐƯỢC NHỮNG ÂN TỨ GIỐNG NHAU
Trước hết, một cá nhân không nhận được tất cả các ân tứ đồng thời, cũng như trong một thân thể, mắt, tai, bàn tay đều không chu toàn cùng một chức năng”. Đức Thánh Linh cho người này lời nói khôn ngoan, cũng Thánh Linh ấy cho người kia lời nói tri thức... cho người này đức tin...” (ICo1Cr 12:8-10). “Thân thể chúng ta có nhiều chi thể, mỗi chi thể giữ một chức phận khác nhau. Cũng thế, trong Chúa Cứu Thế, tất cả chúng ta hợp làm một thân thể, và các chi thể đều tùy thuộc lẫn nhau. Thượng Đế ban ân tứ cho chúng ta mỗi người một khác” (RoRm 12:4-6).
Do đó, chúng ta không thể ước ao nhận được một ân tứ nào đó chỉ vì những người chung quanh chúng ta có ân tứ ấy. Nếu mỗi người chúng ta không nhận được tất cả ân tứ, thì điều cũng hết sức rõ ràng là không phải mọi người chúng ta đều cùng nhận được những ân tứ giống nhau. “Không phải tất cả là sứ đồ, hoặc tiên tri hay giáo sư” (ICo1Cr 12:29-30). Cho nên, nguyện chúng ta trước hết phải học tập biết khiêm hạ và hài lòng với ân tứ mà Chúa đã ban cho chúng ta; và thứ đến là đừng ham muốn các ân tứ mà người khác có, nhưng trái lại, phải tìm cách tự mình phân biệt được đâu là ý chỉ Thượng Đế và chờ đợi Ngài trong mọi sự.
VI. CÓ NHỮNG ÂN TỨ NÀO LÀ QUAN TRỌNG HƠN CÁC ÂN TỨ KHÁC KHÔNG?
Có, vì khi liệt kê chúng, Phao-lô nói “Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhất là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo...” (12:28, bản dịch cũ). Như vậy dường như đã có việc quy định cấp bậc về tầm quan trọng giữa các ân tứ khác nhau. Điều này còn rõ ràng hơn nữa khi so sánh ân tứ nói các ngoại ngữ với ân tứ trước”. Tôi muốn mỗi anh em giảng lời Chúa, vì giảng lời Chúa quan trọng hơn với ngoại ngữ. Nói ngoại ngữ chỉ gây dụng Hội thánh khi có người thông dịch... Nhưng giữa Hội thánh, thà tôi nói năm ba lời cho người khác hiểu để hướng dẫn họ, còn hơn nói hằng vạn lời bằng ngôn ngữ không ai hiểu” (ICo1Cr 14:5, 19).
VII. CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH CÓ ĐƯỢC BAN CHO GIỐNG NHAU CHO MỌI THỜI ĐẠI KHÔNG?
Nhiều tín hữu thường hoang mang về sự kiện các ân tứ làm phép lạ vốn có rất nhiều vào thời các sứ đồ, lại rất ít gặp trong thời đại của chúng ta, và nhiều người tin rằng nếu đức tin của chúng ta có lớn hơn, thì chúng ta cũng phải thấy cùng một quyền năng siêu nhiên ấy lại hành động mạnh mẽ hơn. Điều hết sức hiển nhiên là quyền năng Thượng Đế đã không hề thay đổi, và nếu chúng ta cứ tưng giao mật thiết hơn với Ngài, thì quyền năng ấy sẽ tự biểu hiện mạnh mẽ hơn, có lợi cho chúng ta. Nhưng nếu khảo xét Kinh Thánh thật kỹ, chúng ta sẽ đi đến hai kếtluận sau đây:
a. Nếu chúng ta nhìn vào bảng liệt kê các ân tứ thuộc linh, chúng ta ghi nhận rằng phần lớn trong số đó (khôn ngoan, tri thức, đức tin, truyền đạo, giáo sư, mục sư, quản trị, phục vụ, dâng hiến rộng rãi v.v..) vốn được ban cho các tín đồ tùy theo đức tin của họ vào mọi thời kỳ, và chúng ta cũng có tính cách siêu nhiên y như các ân tứ được gọi là “phép lạ”, vì tất cả đều đến từ Đức Thánh Linh. Nếu các ân tứ được gọi là “phép lạ” (chữa bệnh, phép lạ, nói tiên tri, nói các ngoại ngữ) đã thấy vắng bóng một thời gian, thì nguyên nhân có thể không phải luôn luôn là vì lòng vô tín của loài người, mà là do ý chỉ Thượng Đế. Nếu không phải như thế, thì tại sao Thánh Linh vẫn không ngừng ban xuống một số các ân tứ (đã được Phao-lô liệt kê ở phần đầu danh sách của ông), trong khi lại không ban xuống các ân tứ khác?
b. Trong Cựu cũng như Tân ước, Thượng Đế gia tăng con số các phép lạ vào những giai đoạn nào đó, và những lý do rất dễ nhận ra. Khi Ngài gọi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập để khiến họ thành dân Ngài, và một lần nữa là lúc Ngài ban luật pháp Ngài tại núi Si-na-i và dẫn họ vào xứ Palestine, Ngài đã nhừ các tôi tớ Ngài làm nhiều dấu lạ phi thừng nhằm cung cấp chứng cứ cả cho việc Ngài can thiệp vào lẫn cho nguồn gốc siêu nhiên của Giao ước Cũ. Rồi các phép lạ bị ngưng lại suốt nhiều thế kỷ, để chỉ thường xảy ra một lần nữa suốt thời gian thi hành chức vụ của Ê-li và Ê-li-sê, một giai đoạn được đánh dấu không phải bằng sự phục hưng thuộc linh, mà bằng sự bất trung. Các vĩ nhân của Thượng Đế như Áp-ra-ham, Đa-vít, Giăng Báp-tít, theo điều chúng ta được biết, đều không làm phép lạ, thế nhưng việc vắng bóng các phép lạ vốn không phải là do vô tín, vì như Giăng Báp-tít chẳng hạn, đã được tuyên bố là nhân vật vĩ đạu nhất trong số họ (Mat Mt 11:11; GiGa 10:41).
Một lần nữa, trong các sách Phúc âm và Công vụ, nhiều phép lạ đã theo sau việc thiết lập Giao ước Mới, chứng thực cho bức thông điệp do Chúa Cứu Thế và các sứ đồ truyền giảng vốn có nguồn gốc từ Thượng Đế. Chúng rất cần thiết để thuyết phục những người Do-thái ngoan đạo từng gắn bó với luật pháp Môi-se, và số người mà bấy giờ không thể có được một chứng cứ mà bấy giờ không thể có được một chứng cứ nào cho chân lý của Phúc âm. Đây chính là ý nghĩa đầu tiên của câu Chúa Giê-xu từng phán rằng “Người tin ta sẽ thực hiện những phép lạ này: nhân danh ta đuổi quỷ, nói những ngôn ngữ mới, bắt rắn trong tay hay uống phải thuốc độc cũng không bị hại, đặt tay trên các người bệnh, thì họ được lành” (Mac Mc 16:17-18). Tất cả các phép lạ ấy (trừ việc uống thuốc độc) đều thấy có trong sách Công vụ, nhưng chẳng thấy chép ở chỗ nào trong các thư tín cả - đã cấu thành một câu định nghĩa đầy đủ cho các quy luật của sinh hoạt thuộc linh, sở dĩ được ban cho là để hiểu rằng trong chế độ hiện tại, chúng ta là phần trợ lực cần thiết cho việc truyền giảng và cho đạo (đức tin). Những khúc sách như RoRm 15:19; IICo 2Cr 12:12 và HeDt 2:3-4 dường như ám chỉ các dấu lạ trong lịch sử, đã được các sứ đồ thực hiện nhằm hậu thuẫn cho việc truyền giảng Phúc âm hồi nguyên thủy.
Nếu hiện nay, các phép lạ ấy đang tái hiện rộng rãi tại các khu vực truyền giáo, thì ấy là vì tình hình tại những nơi ấy vốn rất gần giống với tình hình nổi bật trong thế giới La-mã từ mười chín thế kỷ trước đây. Trong các quốc gia của chúng ta, nơi Phúc âm đã được truyền giảng một thời gian khá lâu rồi, kiến thức về Tân ước cùng với Sử ký của Hội thánh tận trung cũng như hiện diện của cả một đám quần chúng đông đảo các tín hữu chân chính, không cần phải cung cấp một con người chân thành nào để làm chứng cứ không ai chối cãi gì được nữa. Như thế, theo quan điểm này thì hiện nay các phép lạ không còn cần thiết như vào thời kỳ của Hội thánh nguyên thuỷ nữa. Lẽ tất nhiên, Thượng Đế vốn toànnăng, và chính Ngài phải quyết định việc có nên đưa ra cùng những dấu lạ hoặc các ân tứ như trong quá khứ hay không.
Tuy nhiên, điều cũng cần lưu ý ghi nhận là khi đề cập những ngày sau rốt, Kinh điển thường nhắc đi nhắc lại các phép lạ không phải do Thượng Đế hay những người thuộc về Ngài thực hiện, nhưng là do những kẻ thù hoặc những kẻ mạo danh Ngài làm. “Vì nhiều người sẽ mạo nhận là Chúa Cứu Thế hay tiên tri, làm phép lạ để lừa dối nhiều người, có thể đánh lừa cả con dân Chúa” (Mat Mt 24:24). “Người Tội ác đến, dùng quyền năng Sa-tan lừa dối mọi người bằng quyền năng Sa-tan lừa dối mọi người bằng đủ thứ phép lạ, dấu lạ và việc lạ. Nó dùng mọi thủ đoạn gian ác lừa gạt những người sắp bị diệt vong, vì họ không chịu tiếp nhận và yêu chuộng chân lý để được cứu rỗi” (IITe 2Tx 2:9-10). Tiên tri giả “làm những phép lạ vĩ đại... để lừa gạt mọi người trên mặt đất” (KhKh 13:13-14).
Vậy chúng ta phải đề cao cảnh giác. Trong khi bằng lòng giới hạn việc Thượng Đế bộc lộ quyền năng do sự nhẹ dạ hay thiếu vâng lời của mình, chúng ta cần ghi khắc vào tâm trí rằng có nhiều phép lạ và ân tứ thuộc linh đã bị kẻ thù của linh hồn chúng ta giả mạo, và rằng, trong giai đoạn đến trước ngày tái lâm của Chúa Cứu Thế, những giả mạo ấy sẽ cứ ngày càng tăng nhiều thêm. Đã có các ngành như Thông-linh-học, Khoa học, (tự xưng là Cơ-đốc giáo), Phật giáo và nhiều phong trào khác nữa, một số vốn chẳng có gì giống với Phúc âm cả, đang làm phép lạ, chữa bệnh, nói tiên tri và nói các ngoại ngữ (tiếng lạ). Chỉ có việc đầu phục trọn vẹn Thánh Linh của Thượng Đế và Lời thuần chánh của Ngài, chúng ta mới có thể được cứu khỏi sự sai lầm.
VIII. CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH CÓ LUÔN LUÔN BẢO ĐẢM ĐƯỢC CHO TÍNH CÁCH THUỘC LINH CHÂN CHÍNH, QUAN TRỌNG HAY KHÔNG?
Thật chẳng may là không! Điều có vẻ lạ lùng, là một người có thể được một số ân tứ thuộc linh, nhưng chỉ tiến bộ rất ít trên nẻo đường nên thánh. Phao-lô đã viết cho người Cổ-linh rằng họ không hề bị thiếu các ân tứ, và ngụ ý bảo rằng ân tứ nói các ngoại ngữ rất phổ biến giữa vòng họ; thế nhưng ông thêm rằng họ vẫn còn xác thịt, chỉ là những con đỏ trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, và không ăn nổi các thức ăn đặc (ICo1Cr 1:7, 14; 3:1-3). Chúng ta có thể thấy một phần của sự việc ấy rất giống với thời đại của chúng ta, vốn đang khát khao các cảm giác và hưởng thụ ngay cả trong lãnh vực tôn giáo. Người ta không phải là đang tìm cầu các ân tứ có tính cách thuộc linh nhất, mà trái lại, đang theo đuổi những gì hấp dẫn các cảm quan, đem đến lợi lộc thuộc thể và làm nảy sinh những khoảnh khắc xuất thần, đem đến nhiều cảm giác lạ. Việc tìm tòi thoe đuổi có tính cách trần gian này không còn nhìn thấy đâu là tính cách cần thiết của sự thánh hóa nữa, mà “nếu không thánh hóa không ai được thấy Thượng Đế” (HeDt 12:14). Thế nhưng Kinh điển nhấn mạnh phân minh rằng bất kỳ một ân tứ nào, nếu không có tình yêu thương chân chính và nếp sống thánh khiết đi kèm, đều chỉ dẫn chúng ta đến chỗ bị kết tội mà thôi “Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người phân trần: Thưa Chúa, chúng tôi đã giới thiệu Chúa cho nhiều người, đã dùng Danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ. Nhưng ta sẽ đáp: Ta không hề biết các ngươi! Lui ngay cho khuất mắt ta, vì các ngươi chỉ làm việc gian ác” (Mat Mt 7:22-23).
Nếu chúng ta đang tìm cầu hoặc đã có một ân tứ của Thánh Linh, chúng ta khá ghi khắc vào tâm trí chân lý trọng đại này: chính cuộc đời và sự tương giao với Thượng Đế của chúng ta mới quan trọng chiếm hàng đầu, vì trước mặt Ngài, chúng ta là người như thế nào vốn quan trọng hơn là chúng ta đang làm gì.
NGHIÊN CỨU CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH ĐẶC THÙ
Xin chúng ta để thì giờ nghiên cứu một số ân tứ cần được lý giải đặc biệt.
I. ÂN TỨ ĐỨC TIN
ICo1Cr 12:9. Đức tin này là gì, vì nó là một ân tứ không được ban cho từng chi thể một của Thân thể Chúa Cứu Thế? Rõ ràng đây không phải là đức tin để được cứu rỗi, vì đức tin này vốn được ban cho mọi người, và mỗi chi thể trong Thân thể Chúa đã nhận được nó rồi. Đây là một ân tứ đặc biệt của đức tin, cung cấp quyền năng để thi hành một chức vụ, chẳng hạn như chức vụ của George Muller hay Hudson Taylor vậy.
II. ÂN TỨ CHỮA BỆNH
12:9. Như đã lưu ý trên đây, quyền năng của Thượng Đế vốn vô giới hạn, nên tuy Ngài không thường xuyên làm phép lạ, Ngài vẫn thường can thiệp cách siêu nhiên tùy theo ý chỉ tể trị của Ngài. Các Cơ-đốc nhân đã sai lầm khi đặt niềm tin được chữa bệnh vào khoa học của loài người nhiều hơn là vào quyền năng của Thượng Đế. Nếu Chúa muốn, Ngài có thể chữa bệnh hoặc trực tiếp, hoặc bằng cách nhậm lời cầu nguyện (Gia Gc 5:14-15), hoặc bằng công cụ là người được Ngài ban cho ân tứ chữa bệnh. Liên hệ với ân tứ này, xin chúng ta lưu ý là:
1. Nó không được ban cho tất cả mọi người và vẫn là một ân tứ ngoại lệ (ICo1Cr 12:9).
2. Nó có thể bị rút lại. Tại Ê-phê-sô, Thượng Đế đã nhờ tay Phao-lô làm nhiều phép lạ đặc biệt, đến nỗi khi những chiếc khăn tay và vạt áo của ông được dùng để che trên người bệnh thì căn bệnh lìa khỏi họ, mà các quỉ cũng ra đi (Cong Cv 19:11-12). Những sau đó, Phao-lô đã không chữa bệnh được cho Trô-phim mà ông đành để lại , và thay vì gởi chiếc khăn tay của mình cho Ti-mô-thê bị đau dạ dày, ông chỉ gởi đến một lời khuyên tốt mà htôi (IITi 2Tm 4:20; ITi1Tm 5:23).
3. Ân tứ chữa bệnh không linh nghiệm cho tất cả mọi trường hợp.
Chúng ta chẳng tìm đâu ra một lời hứa của Thượng Đế, là sẽ chữa mọi khuyết tật hiện nay cho chúng ta, vì như thế hàm ý rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ chết đi. Lẻ dĩ nhiên, quả thật là Chúa Giê-xuđã “mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta” trên thập tự giá để bảo đảm sự cứu rỗi toàn vẹn cho cả thể xác lẫn linh hồn chúng ta. Tuy nhiên, dầu hiện nay linh hồn của chúng ta đã được tái sanh và được sự sống vĩnh hằng, “chúng ta...cũng phải âm thầm than thở đang khi thiết tha mong đợi ngày được hưởng trọn quyền làm Con Thượng Đế, lúc ấy thân thể chúng ta cũng sẽ được cứu, không còn hư hoại nữa” (RoRm 8:23). Việc giải phóng hoàn toàn khỏi các khuyết tật của thân thể chỉ có được đối với chúng ta khi được sống lại. Do đó, thật là sai lầm khi bảo rằng một Cơ-đốc nhân đã hoà thuận với Thượng Đế rồi, thì không thể mang bệnh, vì Chúa có rất nhiều lý do để không nhậm lời cầu nguyện của chúng ta, cả khi chúng ta tìm cầu sự chữa lành vừa bằng một tấm lòng chân thành lẫn trong sạch. Chẳng hạn như Phao-lô vẫn không được chữa khỏi cây gai nhọn đâm vào xác thịt ông, vì một sự thử thách như thế là có lợi cho sinh hoạt thuộc linh của ông (IICo 2Cr 12:7-9). Chính Chúa Giê-xu cũng nhấn mạnh trong trường hợp người mù từ thuở sơ sinh, rằng không phải mọi khuyết tật đều do hậu quả của tội lỗi cá nhân (GiGa 9:2-3), mà đó là một sự kiện chắc chắn về những thử thách như thế vốn được Thượng Đế cho phép (dầu có phải như một sự trừng phạt hay không) và có thể trở thành nguồn mạch của nhiều phước hạnh (HeDt 12:5-11). Nguyện chúng ta biết đặt đúng chỗ các ân tứ được Thượng Đế ban cho, và nguyện chúng ta khỏi phạm tội vô tín hay không đầu phục những lời chỉ giáo của Kinh điển.
4. Ân tứ chữa bệnh thường bị giả mạo.
Nếu có lãnh vực nào trong số các lãnh vực vừa kể trên bị kẻ thù tìm cách giả tạo các phép lạ, thì chắc chắn nhất đó là lãnh vực chữa bệnh. Những phong trào thường dấy lên để chống lại Phúc âm mạnh mẽ nhất đều có những tay chữa bệnh làm các phép lạ không chối cãi vào đâu được. Trong nhiều giới, vẫn dùng Kinh Thánh, hiện nay người ta chứng kiến một phương pháp tiếp cận bằng việc chữa bệnh một các máy móc, khiến chúng ta nhớ lại câu “Đừng vội vã đặt tay trên ai” (ITi1Tm 5:22).
Hơn nữa, phương pháp được sử dụng lại rất giống với phương pháp của các nhà thôi miên một cách lạ lùng; tại sao thay vì đặt tay suông lên đầu, người chữa bệnh lại xoa xoa phía sau ót, là nơi có nhiều trung khu thần kinh? Cuối cùng, thật là dễ dàng xác lập rằng đa số bệnh nhân được đặt tay đã phải quay lại đến mười hoặc có khi đến cả trăm lần để chịu đẵt tay trước khi thấy được thuyên giảm, nếu có. Nếu đó quả thật là ân tứ chữa bệnh của Kinh Thánh như các sứ đồ từng thực hành, thì những người ấy phải được chữa lành ngay vào lần đặt tay đầu tiên; vì trong tất cả mọi trường hợp làm phép lạ và chữa bệnh trong các sách Phúc âm và sách Công vụ các sứ đồ, thì các kết quả đều xảy ra tức thì (ngay đến trường hợp người mù ơ Bết-sai-đa, cũng được Chúa Giê-xu chữa lành ngay tức khắc trong hai giai đoạn - Mac Mc 8:22-26).
III. ÂN TỨ NÓI TIÊN TRI
ICo1Cr 12:10. Ân tứ này không chỉ nói lên năng khiếu báo trước tương lai, mà theo câu định nghĩa được tìm thấy trong ICo1Cr 14:3, 4, nó còn gồm cả việc gây dựng, khuyến giục và an ủi nữa. Lẽ dĩ nhiên là ngoài các lời tiên tri đã có trong Kinh Thánh và lời phán của Chúa Giê-xu trong Tân ước chúng ta còn có vài thí dụ về việc báo trước tương lai. Trường hợp rõ rệt nhất trong số đó, là trường hợp A-ga-bút báo trước một nạn đói lớn xảy ra dưới thời trị vì của hoàng đế Cơ-lốt, và tiên báo cho Phao-lô về việc sẽ xảy ra cho ông tại Giê-ru-sa-lem (Cong Cv 11:27-28; 21:10-11). Dường như vào thời Hội thánh nguyên thủy, việc thực thi ân tứ nói tiên tri thường là việc truyền rao một bức thông điệp được linh cảm hay một mặc khải nào đó nhằm mục đích giáo huấn và gây dựng Hội thánh nhân những buổi nhóm lại nói chung (ICo1Cr 14:3-4, 24, 29-33).
Vì tâm trí loài người vốn sẵn sàng chấp nhận các tư tưởng của mình là những linh cảm do Thượng Đế, đã có quy luật là mỗi một lời tiên tri đều phải được các nhà tiên tri khác phê phán và kiểm sát (cc.29,32). Thật là dễ hiểu tại sao ân tứ này đã được các Cơ-đốc nhân đầu tiên coi trọng, và tại sao Phao-lô đã khuyến giục họ nên tìm cầu nhiều hơn các ân tứ khác (c.1). Thời bấy giờ, họ chưa có Tân ước và không luôn có một sứ đồ ở giữa họ để có thể đưa ra cho họ lời dạy dỗ đáng tin. Nhiệm vụ của các nhà tiên tri là nuôi dưỡng đức tin của các tín hữu bằng sự mặc khải được bảo ảm của các chân lý Phúc âm. Nhưng từ ngày Kinh Thánh được hoàn tất, trong đó lời mặc khải của Thượng Đế đã được ban cho chúng ta một lần là dứt khoát rồi, thì ân tứ nói tiên tri không còn cần thiết như hồi mới bắt đầu kỷ nguyên Cơ-đốc giáo. Về chân lý, nó thường chỉ là một với ân tứ khuyến giục hoặc giảng dạy đầy quyền năng căn cứ trên Lời Thượng Đế.
Ngày nay, có một số người rêu rao rằng họ có ân tứ nói tiên tri như vào thời Hội thánh nguyên thủy. Họ đắm mình vào một hình thức ngất trí rồi bắt đầu nói dường nhp họ chính là Thượng Đế vậy “Ta là Thượng Đế, tuyên bố...thông báo...làm việc này...v.v...”. Rõ ràng là hiện nay Thượng Đế vẫn có quyền nhờ một người để phán truyền qua môi miệng người ấy như Ngài vẫn làm xưa kia. Tuy nhiên, khi các nhà tiên tri như thế bị sai lầm, nơi mâu thuẫn nhau, và truyền rao những bức thông điệp nhất định là thua kém lời mặc khải trong Kinh Thánh hoặc cả một lời giảng bình thường nữa (mà rủi thay, đây là điều vốn rất thường được nghe thấy), thì chúng ta bị bắt buộc pải kết luậtn rằng chính chúng ta đã tự nhấn mạnh đó là sự giả mạo, và chúng ta phải tự giữ mình để biết thận trọng một cách dè dặt, trong khi chờ đợi Thượng Đế ban cho chúng ta nhiều chứng cứ đáng tin hơn về sự can thiệp của Ngài.
IV. VIỆC PHÂN BIỆT CÁC THẦN
ICo1Cr 12:10. “Anh em thân yêu, đừng vội tin những người tự cho mình được thần linh cảm ứng; trước hết, phải thử xem có thật không. Vì hie-n nay nhiều nơi đã có các tiên tri giả xuất hiện... Hiện nay tinh thần phản Chúa đã biểu lộ trên thế giới” (IGi1Ga 4:1, 3). Có rất ít các thời kỳ trước đây, ân tứ cá biệt này đã được đòi hỏi nhiều cho bằng thời kỳ của chúng ta hiện nay. Tinh thần của Kẻ Phản Chúa Cứu Thế (Antinchrist) đang hành động khắp nơi và đang biểu hiện ngày càng thêm trong việc dùng lời sai lầm để quyến dụ và trong việc bài bác, nổi loạn, cả công khai lẫn kín giấu, chống lại Thượng Đế, Con Ngài và Lời Ngài. Ma quỉ và các thần dân của nó sẽ làm nhiều phép lạ đến mức quyến dụ cả đến người được chọn của Thượng Đế nữa, nếu có thể được. Tại một số nước đã có nhiều phong trào chính trị, quốc gia hoặc xã hội tạo ra một hình thức tâm bệnh hay mộg động lực tập thể nhằm chống lại các Cơ-đốc nhân, là những người tuy đã được so sáng, nhưng vẫn chưa biết phải chống lại như thế nào.
Trong lãnh vực tôn giáo, tình hình còn tệ hại hơn và người ta có thể nói rất đúng là sự hỗn loạn đang lớn hơn bao giờ hết, do có quá nhiều các giáo phái, giáo thuyết và các tiên tri giả. Chúng ta phải đề cao cảnh giác đối với những gì mình đọc, vì có rất nhiều sách báo sai lạc và bậy bạ đang được lưu hành; phải đề cao cảnh giác đối với những gì chúng ta nghe ngoài đời, trên đài phát thanh, trong gia đình và cả trong các giới đạo giáo nữa; phải dò xét từng tư tưởng của chúng ta, vì tiếng nói của kẻ cáo dỗ vẫn không ngừng phát ra để lừa dối tấm lòng và lương tâm chúng ta. Yếu tố quan trọng nhất, ấy là ở khắp nơi, kẻ thù đều trước nhất xuất hiện dưới một hình thức hết sức hấp dẫn, ngụy trang làm một thiên sứ sáng chói (IICo 2Cr 11:4). Vì Thượng Đế đã đặt chúng ta vào một hoàn cảnh như thế, chúng ta hạy cầu xin Ngài ban cho chúng ta ân tứ phân biệt các thần đó thật rộng rãi. Chúng ta hay tha thiết ước ao ân tứ ấy, vì nếu không có nguy cư có thể bị dẫn đi sai lạc. Thượng Đế chắc chắn sẽ nhận lời cầu nguyện của chúng ta và sẽ chỉ dạy cho chúng ta chân lý toàn diện của Ngài.
V. ÂN TỨ NÓI CÁC NGOẠI NGỮ
1. Có hai loại ân tứ nói các ngoại ngữ.
a. Khả năng nói một hoặc nhiều ngoại ngữ mà khỏi cần học. Thí dụ duy nhất chúng ta có thể được về trường hợp này là vào ngày lễ Ngũ tuần, lúc một trăm hai mươi một môn đồ Chúa nhận được ân tứ nói mười lăm ngoại ngữ và thổ ngữ khác nhau mà từ trước cho ân lúc đó, họ không hề biết nói (Cong Cv 2:4, 8-11).
b. Ân tứ trò chuyện với Thượng Đế trong một trạng thái xuất thần, ngất trí, bằng một ngôn ngữ, mà những người khác hoặc ngay đến chính trí khôn của chúng ta cũng không hiểu, tạo cho người nghe cái cảm tưởng là những âm thanh lộn xộn không thành lời (ICo1Cr 14:2, 14).
Phao-lô chỉ nói với người Cổ-linh về ân tứ thứ hai này, và chúng tôi xin đưa ra các nhận định sau đây:
2. Khả năng nói các ngoại ngữ có ích cho việc tự gây dựng.
“Người nói ngoại ngữ không nói với con người nhưng với Thượng Đế: không ai hiểu được vì người ấy nói về các huyền nhiệm do Thánh Linh cảm động... Người nói ngoại ngữ gây dựng cho mình” (ICo1Cr 14:2, 4).
Vì lý do đó mà tự nó, ân tứ này có ít giá trị cho Hội thánh “Nếu tôi đến thăm anh em và nói thứ tiếng anh em không hiểu, thì ích lợi gì cho anh em? Anh em chỉ được gây dựng khi tôi nói cho anh em hiểu Chân lý Chúa khải thị... Anh em cũng thế, nếu miệng lưỡi phát âm không rõ ràng có ai biết anh em muốn nói gì? Đó chỉ là lời nói vô nghĩa... Khi tôi không hiểu ngôn ngữ nào, người nói ngôn ngữ đó chê tôi man rợ, và tôi cũng chê họ man rợ... Nếu anh em tạ ân Chúa bằng tâm linh, người khác không thể hiểu, làm sao họ đống lòng hiệp ý với anh em? Lời cảm tạ của anh em vẫn tốt, nhưng người khác không được gây dựng... Nhưng giữa Hội thánh, thà tôi nói năm ba lời cho người khác hiểu để hướng dẫn họ, còn hơn nói hằng vạn lời bằng ngôn ngữ không ai hiểu” (ICo1Cr 14:6, 9, 11, 16, 17, 19).
Thế nhưng nói các ngoại ngữ với những người chưa ăn năn quy đạo lại càng vô ích hơn nữa “Nếu Hội thánh nhóm họp, tất cả đều nói ngoại ngữ, và nếu có người không hiểu hoặc người vô tín bước vào, họ sẽ tưởng anh em điên loạn” (c.23).
Chẳng có gì để nghi ngờ là chính vì lý do ấy mà trong hai bảng liệt kê của mình, Phao-lô đã ghi ân tứ nói các ngoại ngữ sau tất cả các ân tứ khác (ICo1Cr 12:8-10, 28). Điều càng đáng ngạc nhiên hơn nữa là trong câu 28, nơi mà dường như vị sứ đồ xác định tầm quan trọng của từng ân tứ một, ông đã viết “thứ nhất là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, v.v..”
3. Muốn có giá trị cho Hội thánh, ngoại ngữ phải được thông dịch.
Mục tiêu mà các ân tứ thuộc linh nhằm vào không phải là vì lợi ích cá nhân, mà để gây dựng Hội thánh “Người nào nói ngoại ngữ cũng cầu xin Chúa cho mình có khả năng thông dịch... Về việc nói ngoại ngữ, mỗi lần họp chỉ cho hai hoặc ba người nói; phải nói lần lượt và có người thông dịch. Nếu không ai thông dịch, người được ân nói ngoại ngữ phải ngồi yên lặng trong Hội thánh, nói thầm với mình và với Thượng Đế” (ICo1Cr 14:13, 27, 28).
4. Ân tứ nói các ngoại ngữ không được ban cho tất cả mọi người.
“Thánh Linh cho người này lời nói khôn ngoan, cũng Thánh Linh ấy cho người kia lời nói tri thức... người (khác nữa) nói ngoại ngữ... Thượng Đế phân định trong Hội thánh, (thứ nhất là các) sứ đồ.. (sau đó là các ân tứ) chữa bệnh, phục vụ, quản trị, nói các ngoại ngữ. Không phải tất cả là sứ đồ...Cũng không phải tất cả đều có quyền chữa bệnh hoặc nói hay thông dịch ngoại ngữ” (ICo1Cr 12:8-10, 28-30).
Khúc sách này hoàn toàn rõ ràng; không phải tất cả mọi người đều cùng có những ân tứ giống nhau, nhưng mỗi người nhận được ân tứ nào mà Thượng Đế đã chọn cho mình. Do đó, bảo rằng người nào là chưa được nhận lãnh Đức Thánh Linh bởi vì người ấy không nói được các ngoại ngữ, là hoàn toàn sai lầm.
Sách Công vụ cũng xác nhận thật đầy đủ lời lẽ của Phao-lô. Qua 28 chương sách, chúng ta chỉ gặp ba trường hợp về khả năng nói ngoại ngữ. Với một trăm hai mươi môn đệ Chúa trong ngày lễ Ngũ tuần, và những người ngoại quốc ở với Cọtnây (Cong Cv 2:4; 10:44-46), dấu hiệu bên ngoài này có tính cách bắt buộc, vì là cần thiết để chứng minh rằng họ đã được nhận lãnh Thánh Linh (tham khải những điều đã được nói liên hệ đến điểm này ở PHẦN III, Chương 14). Trong số tất cả các tín hữu khác được đề cập trong sách Công có hoàn cảnh tương tự như chúng ta, chúng ta chỉ thấy có mười hai môn đệ tại Ê-phê-sô (19:6-7) là đã nói các ngoại ngữ mà thôi. Chẳng có câu nào trong Kinh Thánh có thể tham khảo, cho phép chúng ta tin rằng ân tứ này là bắt buộc đối với tất cả mọi người. Lẽ dĩ nhiên là quả thật mấy lời của Chúa Giê-xu trong Mac Mc 16:17-18 cũng có thể được trích dẫn “Người tin ta sẽ thực hiện những phép lạ này: nhân danh ta đuổi quỷ, nói những ngôn ngữ mới, bắt rắn trong tay hay uống phải thuốc độc cũng không bị hại, đặt tay trên người bệnh thì họ được lành". Nhưng nếu quả đúng như khúc sách này, thì tất cả mọi người đều phải nói ngoại ngữ, tất cả mọi người đều phải đuổi quỷ, bắt rắn và được miễn nhiễm đối với các thuốc độc!
5. Ân tứ nói ngoại ngữ không phải là một dấu hiệu của phép b1p-tem bằng Thánh Linh.
Trong cùng chương sách ấy, Phao-lô tuyên bố rằng không phải tất cả mọi người đều sẽ nói ngoại ngữ, nhưng tất cả mọi người đều đã chịu báp-tem nhờ Thánh Linh (đối chiếu ICo1Cr 12:10, 30 với c.13). Vấn đề đã được giải quyết hết sức rõ ràng ở đây: nói ngoại ngữ không hề là một dấu hiệu của phép báp-tem bằng Thánh Linh. Nếu không phải như thế, thì tất cả mọi người chắc đều nhận được ân tứ ấy, vì toàn thể các tín hữu, chẳng loại trừ một ai, đều đã nhận được phép báp-tem bằng Thánh Linh.
6. Việc nói các ngoại ngữ không bị cấm đoán, nhưng mọi sự phải được thi hành cách thích hợp và trong vòng trật tự.
Cả chương 14 của thư tín thứ Nhất gởi các tín hữu Cổ-linh đã được dành cho việc giải thích và đánh giá đúng mức ân tứ nói các ngoại ngữ. Thật vậy, dường nhưc ác tín hữu tại Cổ-linh đã lạm dụng việc thực thi các ân tứ này. Phao-lô đã đưa ra cho họ nhưng quy luật chính xác và ấn định không phải chỉ là một vài hạn chế mà thôi, vì ông thêm: “Đừng ngăn cản việc nói ngoại ngữ. Mọi việc phải thực hiện cách thích hợp và trong vòng trật tự. Vì Thượng Đế là Chúa bình an, Ngài không ưa cảnh hỗn loạn” (ICo1Cr 14:39-40, 33). Phải thừa nhận rằng đây là một lời khuyến khích hết sức tiêu cực; thế nhưng điều này là cần thiết, vì để phản ứng lại, người Cổ-linh có thể lao vào phíc cực đoan trái ngược và do quá nhiệt thành, sẽ có thể cấm đoán việc thực thi ân tứ ấy, bất cứ dưới hình thức nào. Nhưng ai là người hạn chế được quyền tự do của Thánh Linh, nếu các quy luật do Kinh điển áp đặt được tôn trọng?
Các nguyên tắc vừa được khảo sát, nghiên cứi trên đây đã trở thành quan trọng hơn bao giờ hết trong thời đại của chúng ta hiện nay, khi chúng ta rất thường gặp vấn đề nói ngoại ngữ (tiếng lạ). Hơn nữa, chúng ta cần lưu ý rằng những gì chúng ta được đọc thấy trong Kinh Thánh vốn chẳng có chút gì giống với một số các biểu hiện đang chiếm ưu thế ngày nay. Khi mà việc tìm cầu các ân tứ được thực hiện một cách máy móc, và với mục tiêu ấy đặt trước mắt mình, người ta đã đặt tay trên người đã ăn năn quy đạo suốt nhiều giờ, nhiều tuần, nhiều tháng hoặc thậm chí lâu hơn nữa và bảo họ “Hãy tự nhiên, hãy để cho lưỡi bạn nói “A-ba, A-ba, A-ba, A-ba...! được bao lâu là tùy khả năng của bạn”, vì họ bảo rằng Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta, thì Ngài kêu lên “A-ba”, nghĩa là “Cha”; khi mà tiếp sau việc nói ngoại ngữ là một tình trạng tâm trí bị kích thích, là những tiếng kêu la, vặn vẹo thân hình, và với một vài người là một tình trạng mất thăng bằng về thần kinh; khi mà, điều thỉnh thoảng cũng xảy ra, là nó còn được bổ sung bằng “tiếng cười (to) thánh khiết” hay “tiếng hát thuộc linh” (một kiểu hát có ca có kệ không thành lời dường như rong cơn xuất thần của một người hoặc toàn thể hội chúng); tóm lại, khi chúng ta chứng kiến một hiện tượng này hay một hiện tượng nọ trong số các hiện tượng vừa kể trên (lại quá thường xảy ra nữa), chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng hoang mang bối rối, vì chúng ta không thể nhận thấy trong những việc làm đó đâu là ân tứ của Thánh Linh cho nên lại bị bắt buộc phải nghĩ đến những chuyện giả mạo để tiện mà kẻ thù rất quỷ quyệt vẫn tạo ra, nhất là trong lãnh vực cảm xúc của chúng ta.
Nguyện Thượng Đế ban cho chúng ta sự khiêm hạ và trung tín để để cứ mở rộng lòng ra đối với tất cả những gì đến từ Ngài, và chỉ đối với những điều đó mà thôi. Sau đó, nếu do quyền tể trị, Ngài đẹp lòng ban cho chúng ta một ân tứ nào khác của Thánh Linh, chúng ta sẽ được bảo tồn trong Ngài và chắc chắn là mình đang tôn vinh Ngài vậy.
VI. ÂN TỨ DẠY DỖ
Các ân tứ cần thiết để trở thành nhà truyềnđ ạo (theo nghĩa trong Kinh Thánh là người rao truyền tin lành và đưa linh hồn người ta đến với Chúa), hay mục sư (người chăn dắt, nuôi dưỡng Chiên và quan tâm chăm sóc linh hồn người ta), vốn phổ biến khá rộng rãi giữa vòng chúng ta. Chính vì lý do ấy mà chúng không được nhấn mạnh nhiều lắm trong công trình nghiên cứu này, tuy lẽ tất nhiên là chúng ta rất cần cầu xin Thượng Đế luôn luôn dấy lên càng nhiều hơn những người được Ngài kêugọi và chuẩn bị, chớ không phải chỉ do con người kêu gọi và chuẩn bị cho họ mà thôi. Nhưng điều đáng buồn là các giới đạo giáo của chúng ta lại đang thiếu “giáo sư” (ICo1Cr 12:28; Eph Ep 4:11), nghĩa là thiếu những người dạy Kinh Thánh và tạo ra lòng yêu mến đối với giáo lý thuần chánh. Điều này thật dễ nhận ra khi quan sát thấy lòng yêu mến Lời Thượng Đế và kiến thức về các chân lý sơ đẳng đang thiếu thốn như thế nào giữa vòng những người mệnh danh là Cơ-đốc nhân. Hiện đang có nhu cầu cấp bách phải canh tân cách dạy Kinh Thánh và đem đến cho nó sự sâu nhiệm càng hơn. Đây là một trong số nhiều điều kiện đầu tiên để có được một cơn phấn hưng. Thượng Đế Đấng biết rõ các nhu cầu của thời đại chúng ta hơn cả chúng ta nữa, chắc chắn là đang chuẩn bị biệt riêng ra một số giáo sư giữa vòng những người muốn đứng lên để phục vụ Ngài. Nhưng đâu là những người tình nguyện phục vụ sẽ tiến lên để hậu thuẫn cho các cán bộ hiện nay, thường bị đè bẹp dưới nhiệm vụ vô cùng bao la, và những tiếng gọi mà tính cách cấp bách cứ ngày càng gia tăng?
VII. ÂN TỨ PHỤC VỤ
Có một số nhiệm vụ trong Hội thánh có vẻ như quá khiêm tốn, thấp kém để đòi hỏi người ta phải được một ân tứ đặc biệt của Thánh Linh. Thế nhưng có lẽ đó mới chính là những nhiệm vụ đòi hỏi phải có nhiều phẩm cách vượt hẳn các phẩm cách thông thường, hơn bất kỳ một nhiệm vụ nào khác. Khi Phao-lô đề cập ân tứ phục vụ (ICo1Cr 12:28) hay ân tứ an ủi người đu khổ (bày tỏ lòng thương xót - RoRm 12:8), phải chăng ông có ý ám chỉ một chức vụ như của Ta-bi-tha, chẳng hạn? Căn cứ vào sách Công vụ, chúng ta biết bà đã làm nhiều việc tốt lành và bố thí, may nhiều áo dài, áo choàng cho tất cả các quả phụ khác (Cong Cv 9:36, 39). Nếu có một số ân tứ, như làm dứ đồ, dạy dỗ và quản trị đều dành cho đàn ông nói chung, thì ân tứ phục vụ dường như được dành riêng cho phụ nữ. Tấm lòng của người mẽ mà Thượng Đế đã ban cho họ vốn có ích lợi vô cùng để họ được đầy dẫy Đức Thánh Linh; đối với người đau ốm, nghèo khổ, lâm hoạn nạn, già cả và cô độc, thì có rất nhiều việc tốt có thể làm cho họ. Sau nhiều trận chiến tranh và bao nỗi kinh hoàng, thế giới này đang cần đến nh4ng con người, những tổ chức cứu trợ, cứu tế hơn bao giờ hết. Ai là những người sẵn sàng tự đặt mình dưới quyền sử dụng của Thượng Đế để thực hiện những công tác ấy giữa vòng những người không phải chỉ cần đến một công tác xã hội suông mà thôi, nhưng là một chức vụ đích thực của Thánh Linh?
VIII. ÂN TỨ QUẢN TRỊ
Chúa đã thiết lập một chức vụ tế lễ phổ quát trong Hội thánh. Toàn thể các tín hữu đều là vua và là thầy tế lễ (IPhi 1Pr 2:9; KhKh 1:6), và tất cả đều đã được xức dầu từ trên cao (IGi1Ga 2:20, 27). Ở nhiều chỗ khác, chúng tôi từng lưu ý rằng chính Đức Thánh Linh đang lãnh đạo Hội thánh và hướng dẫn để Hội thánh bước đi trong Chân lý toàn diện.
Mặc dầu vậy, Phao-lô vẫn vạch rõ thật phân minh là một số người sẽ nhận được ân tứ quản trị (ICo1Cr 12:28). Ông có nói đến trác nhiệm của một giám mục trong sự kêu gọi chăm sóc Hội thánh của Thượng Đế (ITi1Tm 3:1, 5 - trong Hi văn, giám mục - bishop - có nghĩa là người quản lý). Phao-lô cũng viết cho người Rô-ma “Ai lãnh đạo hãy tậnt âm lãnh đạo” (RoRm 12:8), và Bức thư gởi người Hy-bá thêm “Hãy vâng lời những người dìu dắt anh em và theo đúng những lời hướng dẫn của họ, vì họ coi sóc linh hồn anh em và chịu trách nhiệm trước mặt Chúa” (13:17). Chúng tôi cũng từng nhận xét trước đây rằng nếu để cho họ tự do chọn lựa, nhiều Cơ-đốc nhân cũng muốn chọn ân tứ quản trị (có lẽ vì tất cả mọi người đều muốn lãnh đạo, chỉ huy cho nên nhiều khi tình trạng vọ chính phủ vẫn ngự trị giữa chúng ta). Nhưng sự thật là giữa các giới đạo giáo chúng ta sự thiếu vắng việc quản trị đích thực do Thượng Đế áp đặt đã tự nó khiến cho việc ấy trở thành tàn bạo nhất. Những người đã bị đẩy lên phía trước không phải luôn luôn là những người thuộc linh nhất, và họ bị sa vào nguy cơ tự để cho mình bị sự khôn ngoan của loài người và phần năng lực thuộc thể hướng dẫn, chớ không phải là một ân tứ của Thánh Linh. Khắp nơi, ý niệm về thầy tế lễ bị thiên hạ ghê tởm đến nỗi đang có một khuynh hướng muốn hủy bỏ mọi chức vụ được thừa nhận, và trên hết là việc thực thi quyền lãnh đạo trên anh em mình. Họ bảo “Chỉ một mình Thánh Linh mới cia trị chúng ta”. Tuy ý hướng này có phần nào chính đáng, phải chăng chúng ta đang gây trở ngại cho Thánh Linh bằng việc cấm Ngài ban cho một ai đó hần ân tứ siêu nhiên về quản trị, hay quyền lãnh đạo kết hợp với thái độ khiêm hạ và đặt cơ sở trên sự lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa?
Chúng ta cần nhận thức rằng mình đang có một nhu cầu phi thường về những chính khách là những Cơ-đốc nhân chân chính cho các Hội thánh của chúng ta, cho các công tác và các hội truyền giáo của mình. Nguyện chúng ta biết cầu nguyện xin Chúa dứt dấy họ và mặc cho những người đang lãnh đạo ân tứ của Thánh Linh mà Ngài đã hứa.
IX. ÂN TỨ DÂNG HIẾN RỘNG RÃI
Có điều lạ lùng là trong số các ân tứ thuộc linh được ban cho các tín hữu, Phao-lô còn liệt kê ân tứ dâng hiến rộng rãi nữa “Thượng Đế ban ân tứ cho chúng ta mỗi người một khác... ai cứu tế hãy dâng hiến rộng rãi” (RoRm 12:6-8). Lẽ tất nhiên là tất cả mọi người đều được kêu gọi đóng góp cho công việc Chúa nhơ dân Y-sơ-ra-ên đời xưa phải dâng phần mười cho Ngài vậy. Tuy nhiên ở đây, vị sứ đồ đề cập số người đã nhận được từ Thượng Đế đặc ân có phương tiện và kiến thức để hiến dâng rộng rãi cho các nhu cầu của chính nghĩa của Ngài. Ngài xem họ như những quản gia đặc biệt, những đầy tớ cẩn thận và trung tín được cắt đặt để cung cấp lương thực đúng giờ cho dân Ngài. Phước cho những đầy tớ nào khi chủ trở về, được thấy là đang làm như vậy. Chúa Giê-xu truyên bố rằng Ngài sẽ đặt họ “cai quản tất cả tài sản mình” (Mat Mt 24:45-47). Bản thân chúng ta chắc từng biết nhiều doanh nhân hiến thân trọn vẹn cho Thượng Đế, xem mọi lợi lộc mình có, sau khi đã chi dụng cho các nhu cầu cá nhân, đều đơực dùng cho công việc Ngài. Thường thường không phải họ chỉ dâng một phần mười mà nhiều hơn con số đó rất nhiều, và thật lạ lùng khi thấy Thượng Đế đã ban phước cho họ như thế nào, cả về phương diện thuộc linh lẫn thuộc thể. Với những người như thế thì lẽ tất nhiên là những lời hứa trong IICo 2Cr 9:6-11 đã được ứng nghiệm, vì phần thưởng cho người dâng hiến là khả năng để dâng hiến càng nhiều hơn. Tóm lại là bất cứ ai trong chúng ta, dầu là nghèo nhất, đều có thể nhận được một ân tứ như vậy, vì nếu chúng ta trung tín trong việc nhỏ, Thượng Đế sẽ giao phó cho chúng ta những việc càng lớn lao quan trọng hơn.
Có quý độc giả nào đang độc quyển sách này cảm thấy mình được kêu gọi vào công tác làm nhà quản lý trung tín cho chính nghĩa của Thượng Đế không? Chúa sẽ không thất hứa trong việc nhờ Thánh Linh ban cho quý vị các phương tiện và các đức tính cần thiết như lòng trung tín, sự hi sinh tự chối mình, và sự khiêm nhu hạ mình. Và vì ban cho vốn có phước hơn là nhận lạnh, thật khó tưởng tượng được phần hạnh phúc lớn lao cứ được tăng thêm mãi cho một nhà quản trị tài chánh như thế của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
VIỆC THỰC THI CÁC ÂN TỨ.
Các ân tứ của Thánh Linh không được ban cho nhằm thỏa mãn tham vọng cá nhân, nhưng để phục vụ Thượng Đế và nhiều người khác. “Ân tứ của Thánh Linh được biểu lộ nơi mỗi người một khác vì lợi ích chung... Anh em đã ao ước nhận lãnh ân tứ Thánh Linh hãy cầu xin ân tứ tốt nhất để gây dựng Hội thánh” (ICo1Cr 12:7; 14:12). “Ngài cho người này làm sứ đồ, người kia làm tiên tri, người khác làm truyền đạo, mục sư hay giáo sư. Ngài phân phối công tác như thế để chúng ta phục vụ đắc lực cho Ngài, cùng nhau xây dựng Hội thánh, là Thân thể Ngài” (Eph Ep 4:11, 12).
Chẳng ai được quyền giữ lại cho các cứu cánh vị kỷ, điều mà Thượng Đế đã ban cho mình. Lẽ dĩ nhiên đây chính là phương pháp hữu hiệu nhất để đánh mất nó, vì cây đèn đặt dưới cái thùng thì nhất định sẽ bị tắt, không tránh né vào đâu được. Trái lại, Kinh điển khuyến giục chúng ta phải lập tức đem nó ra sử dụng “Thượng Đế đã ban chi mỗi người chúng ta một khả năng riêng, hãy dùng để giúp đỡ nhau, như người quản nhiậm biết sử dụng ân phúc muôn màu muôn vẻ của Thượng Đế” (IPhi 1Pr 4:10). “Thượng Đế ban ân tứ cho chúng ta mỗi người một khác. Người có ân tứ nói tiên tri, hãy nói theo đức tin mình, ai phục dịch hãy hăng hái phục dịch; ai dạy dỗ, hãy chuyên tâm dạy dỗ; ai khích lệ hãy tận tình khích lệ; ai cứu tế hãy dâng hiến rộng rãi; ai lãnh đạo hãy tận tâm lãnh đạo; ai an ủi người đau khổ, hãy hết lòng an ủi” (RoRm 12:6-8). Như thế, việc nhận được một ân tứ của Thánh Linh dẫn chúng ta đến chỗ vui vẻ phục vụ và hoàn toàn quên đi bản ngã. Người nào vẫn thường xuyên tập trung chú ý vào người khác, có thể khiêm hạ đến mức không ý thức được phẩm cách đặc biệt mà mình nhận được, nhưng những người chung quanh người ấy sẽ biết rõ. Nhưng kẻ chỉ chú trọng vào bản thân trước nhất, luôn luôn tự đưa mình ra để chăm chút, tô điểm, sẽ không ngừng tìm cầu các ân tứ thuộc linh nhằm các cứu cánh cá nhân, nên sẽ chẳng bao giờ nhận được.
Vì các ân tứ này vốn được ban cho vì lợi ích chung, nên rõ ràng là chúng phải được đưa ra thực thi ngay giữa lòng Hội thánh. Vì lý do ấy, Phao-lô đã liệt kê và mô tả chúng, quy định các luật lệ để đem chúng ra thực hành trong hội chúng các tín hữu (xem ICo1Cr 14:26-40). Do đó, xin đừng có ai khoe khoang rằng mình vẫn “có thể thờ phượng Thượng Đế thật long trọng ngay trong nhà riêng” vì nếu một chi thể nhỏ nhất nào đó tự rút lui khỏi Thân thể, nó sẽ bị tê liệt và chức năng sinh động chủ yếu, sẽ không được chu toàn. Mỗi một tín hữu, tuy theo chiều hướng và sự hiểu biết Thượng Đế ban cho mình, cần phải tự buộc chặt mình vào với gia đình thuộc linh, phải thủ vai trò trong phạm vi dành cho mình và đem các ân tứ của mình để sinh lợi ra; nếu không, người ấy sẽ trở thành vô sinh. Tài năng đã được giao phó cho người ấy phải kết quả và chu toàn chủ đíc đích thực đã được dành cho nó.
KẾT LUẬN
Xin chúng ta tóm tắt bằng vài lời về thái độ chúng ta phải có đối với các ân tứ thuộc linh. Phao-lô đã vạch rõ cho chúng ta thấy bảnt ính của chúng trong hai lời khuyên sau đây:
1. “Anh em... hãy ao ước các các ân tứ Thánh Linh... hãy khao khát (các) ân tứ tốt hơn” (ICo1Cr 14:1; 12:31).
Chúng ta phải nhận thức rằng tự mình chúng ta thì chẳng làm được gì cả, rằng nếu không có được một ân tứ đặc thù nào đó của Thánh Linh, mọi đặc điểm, đức hạnh thuộc về loài người của chúng ta đều vô giá trị. Chúng ta hãy thiết tha cầu nguyện xin Chúa tiết lộ cho chúng ta biết Ngài đang dành cho chúng ta công tác, nhiệm vụ gì, và ban cho chúng ta ân tứ thuộc linh ấy để chúng ta có thể chu toàn nó. Nếu chúng ta dâng mình cho Ngài, chúng ta có thể tin không chút trì hoãn rằng mình đã nhận được ân tứ, và nó sẽ được tiết lộ theo mức độ chúng ta có cần và theo sự vâng lời của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta đã biết rằng mọi hình thức của ân phúc Thượng Đế đều được tiếp nhận bởi đức tin, và chúng ta sẽ chứng kiến việc lời cầu nguyện của chúng ta đã được nhậm, nếu chúng ta tin rằng mình đã nhận được nó (Mac Mc 11:24).
Nhưng có người có thể cãi rằng “Phải chăng phép đặt tay là cần thiết đẩ nhận lãnh các ân tứ thuộc linh?” Không, chẳng có gì nhiều hơn việc nhận lãnh Thánh Linh cả xem phần trên). Chẳng hạn trong sách Công vụ, chúng ta thấy ba trường hợp nói các ngoại ngữ đã được đề cập (nhân ngày lễ Ngũ tuần, tại nhà Cọt-nây mà tại Ê-phê-sô - Công 2;10;19), hai lần đầu xảy ra không có việc đặt tay chi cả. Lẽ dĩ nhiên là Phao-lô có nói với Ti-mộ-thư “Đừng lãng quên các ân tứ Chúa cho con qua lời tiên tri và sự đặt tay của các tưởng lão Hội thánh” (ITi1Tm 4:14). NHưng khúc sách này không thiết lập được một tiên lệ cho tất cả mọi người; nó chỉ chứng minh rằng việc đặt tay là một trong nhiều phương tiện mà Thượng Đế có thể sử dụng nhằm đạt cứu cánh ấy. Các chương sách chính yếu bàn về chủ đề này là ICo1Cr 12:1-31; 14:1-39 không có lần vào đề cập việc đặt tay này cũng như trong tất cả các trường hợp khác, là rốt cuộc, mọi hình thức của ân phúc Thượng Đế đều được tiếp nha-n bởi đức tin.
2. “(Hãy) khơi cao ngọn lửa Thánh Linh mà Thượng Đế đã thắo sáng tâm hồn con” (IITi 2Tm 1:6).
Rất có thể rằng Thượng Đế đã ban cho chúng ta một ân tứ rồi; do đó, điều chúng ta cần bận tâm không còn là cầu xin nó nữa mà phải khơi cho nó cất cao lên thành một ngọn lửa. Nhiều Cơ-đốc nhân phàn nàn rằng họ đang sống vô ít và không biết mình phải làm gì cho Chúa. Họ thường theo gương đầy tớ (bất trung) trong ẩn dụ, nghĩa là đem giấu lạng bạc (talâng) của mình xuống đất. Khi Thượng Đế ban Thánh Linh Ngài cho họ, thì cũng đã ban cho họ một ân tứ; nhưng do vô tín và không chịu vâng lời; ho đã để cho ân tứ bị bỏ phí đi, và thậm chí là bị ten rét, hao mòn hư hại đi vì khong được đem ra sử dụng. Vì lý do ấy mà Thượng Đế nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không hề nhận được tinh thần (hay Thánh Linh) nhút nhát, nhưng là tinh thần (Thánh Linh) anh dùng, yêu thương và tự chủ. Ngài phán với chúng ta, như Phao-lô đã viết cho Ti-mộ-thư “Đừng lãng quên các ân tứ Chúa cho con” (ITi1Tm 4:14). Nếu các cán bộ có đầy đủ phủ cẩm rất ít có trong cộc việc Chúa, thì chắc chắn là chúng ta không thể đổ lỗi cho Thpựng Đế, mà phải dành cho những người đang chống lại Thánh Linh Ngài.Như Phao-lô từng viết cho người Cổ-linh “Anh em không biết là Thánh Linh đang sống trong anh em sao?”. Cho nên cũng có thể nói với họ rằng “Anh em há không biết là từ lâu, Thánh Linh đã muốn phát triển trong anh em một ân tứ để góp phần phục vụ các thánh đồ, nhưng anh em đã chống lại Ngài hay sao?”. Do đó, nguyện chúng ta biết khơi dậy lòng hăng say nhiệt thành, lặp lại việc dâng mình trọn vẹn cho Ngài một cách mới mẻ; hãy vâng lời Ngài thì chúng ta sẽ phải kinh ngạc thế nào, nhờ ân tứ thiên thượng Ngài đã đặt sẵn sàng trong lòng chúng ta.

ĐỨC THÁNH LINH VÀ CÔNG TÁC CHỨNG ĐẠO
Các ân tứ thuộc linh là những phẩm cách được ban cho người tín hữiu để giúp đỡ người ấy trong chức vụ, và làm chứng đạo là một phần cốt yếu của công tác mà các phẩm cách ấy có thể giúp người ấy chu toàn.
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA THÁNH LINH LÀ LÀM CHỨNG
“Ta sẽ sai (Thánh Linh) đến. Ngài sẽ làm chứng cho ta... Ngài không nói theo ý mình, nhưng truyền lại những điều Ngài đã nghe và báo cho biết những việc tương lai. (Ngài) sẽ tôn vinh ta, vì Ngài sẽ cho các con biết sự thật về vinh quang ta” (GiGa 15:26; 16:13-14). Thánh Linh là Thần Chân lý, cũng chứng nhận Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế” (IGi1Ga 5:6).
Vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã thăng thiên bằng thân thể phục sinh và vinh hiển của Ngài, cho nên công tác của Thánh Linh là làm chứng cho Ngài khắp nơi. Ngài không nói theo ý mình, nghĩa là Ngài không tiếm vị của Cứu Chúa. Trái lại, Ngài đến là để phơi bày, tôn vinh và nêu cao trong chúng ta, Đấng đã tự nguyện hi sinh vì chúng ta. Chỉ một mình Đức Thánh Linh vốn là Một với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mới biết rõ những điều thuộc về Thượng Đế, và chỉ qua trung gian một mình Ngài, chúng ta mới biết được những điều đó (ICo1Cr 2:10-11). Cần lưu ý là Ngài làm chứng là làm chứng cho Đức Chúa Con. Lẽ dĩ nhiên, làm chứng cho Đức Chúa Chathì chỉ là để kết tội chúng ta mà thôi, vì Thượng Đế là Đấng thánh khiết và công chính, phải trừng phạt những tội nhơn như chúng ta. Nhưng chính bằng việc tiết lộ, trình bày tình yêu thương của Ngài qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà chúng ta mới được cứu. Đây là lý do khiến Chúa Giê-xu tuyên bố rằng Thánh Linh sẽ tôn vinh Ngài, một lờituyên bố không hề mang dấu vết của sự bất kính đối với Đưc Chúa Cha, vì Thượng Đế Ba Ngôi chỉ là Một, và điều gì thuộc về Ngôi này thì cũng thuộc về Ngôi kia nữa (GiGa 16:14-15).
II. CÁC TÍN HỮU CŨNG PHẢI LÀM CHỨNG CHO CHÚA CỨU THẾ GIÊ-XU NỮA.
“Các con cũng sẽ làm chứng cho ta, vì các con đã ở với ta từ ban đầu” (GiGa 15:27) “Nếu miệng anh em xưng nhận Giê-xu là Chúa, và lòng anh em tin Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại, thì anh em được cứu rỗi. Vì do lòng tin anh em được kể là người công chính, và do miệng xưng nhận Ngài, anh em được cứu rỗi” (RoRm 10:9-10). Thượng Đế để cho các tín hữu ở lại trên đất này là nhằm mục đích tạo cơ hội cho họ đưa nhiều người khác đến với sự cứu rỗi mà chính họ đã tìm thấy, và lúc giã biệt các môn đệ Ngài, Chúa Giê-xu đã nhiều lần truyền dạy họ phải làm chứng cho Ngài khắp nơi khắp chốn (Mat Mt 28:19; Mac Mc 16:15,v.v...). Trong khúc sách được trích dẫn trên đây, Phao-lô đã biến công tác chứng đạo đồng thời với đức tin, thành một trong những điều kiện để được cứu rỗi. Đức tin không có việc làm thì chết, và một niềm tin chẳng bao giờ được xưng ra rất có thể là không hề có thật; vì do chất chứa đầy dẫy trong lòng mà môi miệng mới nói ra. Chính vì lý do đó mà Chúa Giê-xa đã phán “Ai công khai xưng mình là ôn đệ ta, ta cũng sẽ công nhận họ trước mặt Cha ta trên trời. Còn ai công khai chối bỏ ta ta cũng sẽ chối bỏ họ trước mặt Cha ta trên trời” (Mat Mt 10:32-33).
Chúng ta có vâng theo một lệnh truyền minh nhiên như thế không, hay chúng ta đang tự thu người lại để chỉ có một mình biết, một mình mình hay vì cảm thấy mình quá nhỏ bé yếu đuối, hoặc vì e sợ? Nếu là trường hợp sau, chúng ta sẽ không còn có lý do nào để tự bào chữa, vì Chúa là Đấng đã ban lệnh truyền này cho chúng ta cũng ban sức lực cho chúng ta chu toàn nó.
III. CHÍNH NHỜ QUYỀN NĂNG THÁNH LINH MÀ CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM CHỨNG ĐẠO
Chúa Giê-xu vốn biết rõ sự yếu nhược và bất năng bất tài của các môn đệ Ngài đối với công tác truyền giảng thông điệp của Ngài. Cho nên Ngài đã bảo họ “Các con đã chứng kiến các việc đó. Ta sẽ sai Thánh Linh đến với các con như Cha ta đã hứa. Vậy các con cứ chờ đợi trong thành phố này, cho đến khi đầy dẫy quyền năng thiên thượng” (LuLc 24:48-49). Rồi Ngài thêm “Khi Thánh Linh giáng trên các con các con sẽ nhận được quyền năng làm chứng cho ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đa, xứ Sa-ma-ri và khắp thế giới” (Cong Cv 1:8).
Nếu cứ để cho các môn đệ Chúa tự mình ra đi và tự làm chứng lấy, thì việc làm đó sẽ hoàn toàn vô ích, còn sau khi họ đã nhận lãnh Thánh Linh được ban xuống chính nhằm chủ đích ấy, thì vấn đề không còn là sự yếu nhược của họ nữa, mà là nhờ vào quyền năng Ngài. Cho nên chúng ta đã đọc thấy là một khi đã được trang bị bằng lòng dũng cảm khi chi đánh bại nổi, họ đã đem về cho danh Chúa Cứu Thế Giê-xu chiến thắng này tiếp sau chiến thắng khác. Và họ đã có thể công bố bất cứ đi đến đâu “Chúng tôi là nhân chứng biết rõ việc ấy. Thánh Linh mà Thượng Đế ban cho những người vâng lời Ngài cũng làm chứng với chúng tôi” (Cong Cv 5:32). Lúc Ê-tiên tranh luận với những kẻ chống lại ông, “họ không thể đấu trí với ông hoặc chống lại Thánh Linh là Đấng hướng dẫn ông” (Cong Cv 6:10).
Sở dĩ Phao-lô trở thành vị sứ đồ vĩ đại cho người ngoại quốc, vì lời nói và truền giảng của ông “chẳng do tài biện luận khôn khéo nhưng thể hiện Thánh Linh, và quyền năng” và vì Phúc âm của ông “không phải là lời nói suông, nhưng là quyền năng Thánh Linh và niềm tin quyết” (ICo1Cr 2:4; ITe1Tx 1:5).
Nếu ngày nay, chúng ta chỉ có thể khẳng định những điểm giống y như thế mà thôi, việc làm chứng đạo của chúng ta sẽ có kết quả tốt đẹp biết bao! Nguyện Thượng Đế cho chúng ta trở thành những nhân chứng và những nhà truyền đạo, không phải chỉ được vũ trang bằng các loại khí giới sự khôn ngoan theo xác thịt và lý luận của hai người khi ra đi, nhưng biết trông cậy vào quyền năng của Thánh Linh với thanh gươm không chi địch nổi, là Lời Thượng Đế (Eph Ep 6:17). Vậy, nguyện chúng ta thôi giấu mình trong chính sự khiếm khuyết của mình, mà để cho Thánh Linh hành động và lên tiếng qua chúng ta. Ngài sẽ ban cho chúng ta tình yêu thương đối với linh hồn người ta, sự khôn ngoan thiên thượng, và quyền năng, bách chiến bách thắng. Như thế, chúng ta sẽ không phải đứng xấu hổ trong ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu tuyên dương công trạng của chúng ta trước mặt Cha Ngài.

ĐỨC THÁNH LINH VỚI VẤN ĐỀ CẦU NGUYỆN
“Đức Thánh Linh bổ khuyết các nhược điểm của chúng ta. Chúng ta không biết phải cầu nguyện thế nào, nhưng chính Thánh Linh cầu thay cho chúng ta với những lời than thở không diễn tảđược bằng tiếng nói loài người. Thượng Đế là Đấng thấu hiểu lòng người cũng biết rõ tâm trí Thánh Linh, vì Thánh Linh cầu thay cho chúng ta đúng theo ý chỉ Thượng Đế” (RoRm 8:26-27). Chỉ với bản tính riêng của mình, chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào cho nên rất cần sự giúp đỡ siêu nhiên này vì nhiều lý do.
I. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚNG TA VỐN VỊ KỶ
Chúng ta luôn luôn quay trở về với chính mình, và chỉ một mình Thánh Linh mới dạy cho chúng ta biết cầu nguyện cho Nước Trời và cho tha nhân. Trong bài Cầu Nguyện Chung cần lưu ý là ba điều đầu tiên tong số sáu điểm cầu xin được tập trung chung quanh Thượng Đế: danh Ngài, nước Ngài, và ý Ngài (Mat Mt 6:9-10). Khúc sách trong thư La-mã chương 8 trích dẫn trên đây đề cập hai lần việc Thánh Linh cầu thay. Khi chúng ta thành tâm tự dốc đổ mình ra trong sự cầu nguyện, chắc chắn Thánh Linh sẽ cảm thúc chúng ta. Qua lời cầu nguyện thật thiết tha, Ngài biến chúng ta từ những tên ăn mày vĩnh viễn theo địa vị vốn có của mình, thành những bạn đồng công với Thượng Đế!
II. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚNG TA VỐN THIẾU SÁNG SUỐT
Kinh điển hứa “khi cầu xin điều gì hợp ý Chua thì Ngài nghe chúng ta” (IGi1Ga 5:14). Nhưng nhiều khi điều khó khăn quan trọng đối với chúng ta, là biết chính xác đâu là ý Chúa, để biết phải cầu nguyện như thế nào. Hơn nữa, những lời cầu nguyện của chúng ta rất thường bị chết đi, ngay từ lúc mới manh nha, vì chúng trái với kế hoạch của Chúa. Lẽ dĩ nhiên chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào, thế nhưng Thượng Đế vốn biết rõ các nhược khuyết điểm của chúng ta và đến tiếp cứu chúng ta qua Thánh Linh Ngài, là Đấng dạy cho chúng ta chân lý toàn diện, và chính Ngài cảm thúc để chúng ta biết cầu xin hợp với “ý chỉ Thượng Đế”, để chúng sẽ được nhậm. Như thế, sinh hoạt cầu nguyện của chúng ta được thay đổi và khiến chúng ta thêm lòng tin quyết!
III. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚNG TA VỐN LẠNH NHẠT
Chúng ta thường chỉ cầu nguyện chiếu lệ; chúng ta chỉ làm bổn phận bằng đầu môi chót lưỡi mà thôi. Sở dĩ chúng ta cầu nguyện, thiếu nhiệt tâm, là vì lòng và tâm trí chúng ta vẫn dửng dưng trước tính cách nghiêm trọng của tội lỗi, việc linh hồn người ta đang chết mất, và những mối bận tâm của Thượng Đế. Do đó, Phao-lô đã nói với người Rô-ma “Tôi nài khuyên anh em... hãy cùng tôi hết sức khẩn nguyện Thượng Đế xin Ngài cho tôi...” (RoRm 15:30). Từ ngữ hết sức khẩn nguyện (chiến đấu trong những lời cầu nguyện - bản dịch cũ) ở ây được dùng theo nghĩa là có ý, cố gắng hết sức mình. Nó hàm ý là chiến đấu sinh tử, một mất một còn trong việc cầu nguyện. Chúng ta làm thế nào để cầu nguyện được như vậy nếu tình yêu thương của Thánh Linh không đầy dẫy lòng chúng ta? Ở một chỗ khác, cùng một Thánh Linh ấy cũng được gọi là “Thần của sự nài xin” (XaDr 12:10), và chúng ta biết là Ngài đang cầu thay cho chúng ta bằng tiếng nói loài người (RoRm 8:26). Các vĩ nhân của Cựu ước do sức thúc giục của Thánh Linh, từng chiến đấu trong việc cầu nguyện, và trong số đó, chúng ta được thấy nhiều tấm gương quan trọng nơi Ê-xơ-ra (Exo Er 9:3; 10:6) và Đa-ni-ên (DaDn 9:3-23; 10:2-3).
IV. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚNG TA THƯỜNG GIÁN ĐOẠN
Rất có thể chúng ta cũng từng cầu nguyện thiết tha, nhiệt thành nhưng cảm thấy rất khó kiên trì, nhẫn nhục trong việc cầu nguyện. Ở đây, một lần nữa, chỉ một mình Đức Thánh Linh mới có thể đến để trợ giúp chúng ta. Nếu chúng ta hoàn toàn đầu phục Ngài, Ngài sẽ khơi dậy và thường xuyên duy trì ngọn lửa để nó cứ cháy mãi trong lòng chúng ta. Ngài mở ra cho chúng ta nguồn suối hằng sống để nó cứ tuôn chảy không ngừng, lan tràn ra cho đến sự sống vĩnh hằng. Phao-lô diễn tả việc này như sau “Phải luôn luôn cầu nguyện trong mọi trường hợp, nài xin mọi điều thoe sự hướng dẫn của Thánh Linh. Phải cảnh giác và kiên nhẫn cầu thay cho tất cả các tín hữu, cũng cầu nguyện cho tôi...” (Eph Ep 6:18-19). Nguyện chúng ta biết kiên trì nhẫn nhục cầu nguyện trong Thánh Linh, và Thượng Đế vốn không phải là một vị thẩm phán bất công, sẽ nhậm lời chúng ta.
V. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚNG TA VỐN THIẾU QUYỀN NĂNG VÀ ĐỨC TIN
Nếu những lời cầu nguyện của chúng ta rõ ràng là vị kỷ, lạnh nhạt và thất thường hay thiếu sáng suốt, thì chúng không thể có quyền năng được. Nhưng thường thường, những điều cầu xin của chúng ta cũng rỗng tuếch nữa, bởi vì chúng không có sức hậu thuẫn của đức tin. Thế nhưng nếu không có đức tin, thì không thể nào hài lòng Thượng Đế (HeDt 11:6), và nếu chúng ta còn nghi ngờ, thp2 đừng tưởng mình có thể nhận được gì từ tay Thượng Đế (Gia Gc 1:6-7). Do đó, còn có ai khác cung cấp được điều chúng ta cần đó, nếu không phải là Thánh Linh của đức tin và quyến năng ? (IICo 2Cr 4:13; Eph Ep 3:20).
KẾT LUẬN
Dưới ánh sáng của một sự hiểu biết như thế, xin chúng ta đừng hài lòng để chỉ lặp đi lặp lại lời yêu cầu của các môn đệ Chúa “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện” Chúng ta đã tiếp nhận Đấng vốn là nguồn gốc của mọi lời cầu nguyện chân chính. Ngài cầu thay, biện hộ cho chúng ta, trong khi Chúa Cứu Thế đứng trung gian giữa chúng ta với Thượng Đế (RoRm 8:34). Thế thì, những điều chúng ta khẩn xin vốn được sức hậu thuẫn mạnh mẽ biết bao nhiêu! Nguyện Chúa tạo cảm hứng cho sinh hoạt cầu nguyện của chúng ta và Ngài sẽ biến đổi nó Một khi Thánh Linh với người tín hữu có cùng chung một ao ước, thì kết quả của sự tương giao ấy sẽ là an bình và mạnh mẽ biết bao! Nếu việc ấy được biến thành sự thật, thì đó chính là điều đã được diễn tả trong khúc sách sau đây của Kinh điển “Thánh Linh và Vợ mới cùng nói: Hãy đến” (KhKh 22:17, bản dịch cũ). Khi lời cầu nguyện của một người hài hòa với ý chỉ Thượng Đế, thì lời đáp và chiến thắng đang gần kề trong tầm tay.
“Thưa anh em thân yêu, về phần anh em, hãy xây dựng cuộc sống thật vững mạnh trên nền đức tin thánh thiện, hãy học tập cầu nguyện trong quyền năng Thánh Linh. Hãy luôn luôn ở trong vòng tay yêu thương của Thượng Đế trong khi chờ đợi Chúa Cứu Thế Giê-xu nhân từ hoàn thành sự sống vĩnh cửu trong anh em” (Giu Gd 1:20, 21).

ĐỨC THÁNH LINH VÀ SỰ THỜ PHƯỢNG
Hình thức phụng vụ cao cả nhất là thờ phượng. Cái nhìn thoáng qua mà sách Khải thị cung cấp cho chúng ta về số người được cứu trên thiên đàng cho thấy họ đang ở tư thế thờ phượng, ca ngợi tán tụng cả Chiên Con lẫn Đấng đang ngự trên ngôi (KhKh 4:9-11; 5:8-14, v.v..)
Chúa Giê-xu phán “Vì Thượng Đế là Thần linh, nên Ngài muốn con người thờ phượng Ngài cho đúng cách, với lòng chân thành” (GiGa 4:24). Chẳng có gì để nghi ngờ là Ngài ngụ ý dạy rằng việc thờ phượng của chúng ta không thể chỉ có tính cách vật chất, cũng không phải chỉ gắn chặt vào một địa điểm, vào những nghi lễ kiểu cách hoặc những y trang đặc biệt, như người Sa-ma-ri đã tin tưởng. Thế nhưng, lời lẽ của Ngài còn có một ý nghĩa sâu nhiệm hơn nữa. Loài người vốn thuộc về trần gian và chỉ biết sống theo xác thịt, vậy thì làm thế nào để có được một khải tượng về Thượng Đế, là Đấng Thánh khiết và vô hạn; làm thế nào để họ biết thật đầy đủ, thật đúng về Ngài, để có thể đến gần Ngài, suy gẫm về Ngài, ca ngợi tán tụng, tôn kính và thờ phượng Ngài. Lẽ dĩ nhiên là Kinh điển có ban cho con người một mặc khải trọn vẹn, nhưng ai là người chuyển được những trang sách đầy chữ ấy vào cho tấm lòng và tâm hồn người ta? Chính Thánh Linh sẽ thực hiện việc ấy, sẽ bắc nhịp cầu lấp bằng chiếc hố sâu ngăn cách và đưa người ta đến với chính hiện diện của Cứu Chúa là Thượng Đế; rồi sẽ đánh thức tình yêu thương, sự kính sợ, lòng tri ân, sự vâng lời, sự ca ngợi tán tụng, tóm lại là khơi dậy sự thờ phượng đích thực dành cho một Thượng Đế trọn vẹn và thiện hảo như thế.
Cho nên Phao-lô mới có thể nhấn mạnh rằng “thờ phượng Thượng Đế bởi Thánh Linh mới đúng ý nghĩa của thánh lễ cắt bì” (Phi Pl 3:3). Đời xưa, dưới Giao ước Cũ, loài người bị luật pháp và nỗi lo sợ bị hình phạt bắt buộc phải phục vụ Thượng Đế. Phao-lô viết “Nhưng ngày nay, chúng ta được giải thoát khỏi sự trói buộc của luật pháp, vì đối với luật pháp, chúng ta đã chết, để được tự do phục vụ Thượng Đế theo cách mới của tâm linh, chứ không theo lối cũ của luật pháp” (RoRm 7:6). Lẽ tất nhiên, ấy là nhờ một sức mạnh và một sự hiện diện từ bên trong đang vận hành trong chúng ta, nâng cao tâm hồn chúng ta lên đến với Thượng Đế để được tràn đầy niềm vui. Quả thật chúng ta đã được đặc ân vậy!
Chúng ta cũng có thể làm một cuộc so sánh khác với Giao ước Cũ. Trong việc thờ phượng theo luật pháp của người Lê-vi, thì dầu là biểu tượng của Đức Thánh Linh. Các thầy tế lễ được chuẩn bị cho việc phụng vụ Chúa bằng cách được xức dầu và rảy dầu trên người theo lời chỉ dạy của Môi-se “Ngươi cũng hãy xức dầu cho A-rôn cùng các con trai người biệt họ riêng ra thánh, để làm chức tế lễ trước mặt ta” (XuXh 30:30). Sau đó, họ vào nơi thánh, thi hành chức vụ dưới ánh sáng của ngọn đèn được thấp bằng dầu thánh, cứ được để cho cháy luôn trên các chơn đèn (XuXh 27:20). Ngay hiện nay, thông qua Thánh Linh, chúng ta cũng có thể thờ phượng Thượng Đế theo một cung cách đẹp lòng Ngài. Thánh Linh Ngài thánh hóa và tẩy sạch chúng ta khỏi sự ô uế đã phân cách chúng ta với Chúa; sau đó, Ngài dạy cho chúng ta các chân lý về tính cách trọn vẹn của Thượng Đế, hướng dẫn chúng ta từng bước một trong sự thờ phượng thuộc linh mà chúng ta phải dâng lên, kiểm soát các cảm nghĩ của chúng ta, linh cảm các tư tưởng của chúng ta và tạo ra trong chúng ta cả lòng ao ước lẫn khả năng hành động đúng với ý chỉ Ngài.
Sự thờ phượng được Thánh Linh cảm thúc này được dâng lên cả cho Đức Chúa Cha lẫn Đức Chúa Con. Chính nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu và công lao Ngài mà “tất cả các dân tộc đều được Thánh Linh dìu dắt đến cùng Chúa Cha” (Eph Ep 2:18). Hơn nữa “không ai công nhận Giê-xu là Chúa nếu không do Thánh Linh hướng dẫn” (ICo1Cr 12:3). “Muốn biết điều họ giảng dạy có thật do Thánh Linh cảm ứng không chỉ cần xem nó có phù hợp với giáo lý Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Thượng Đế, đã trở thành người mang thân thể phàm nhân hay không” (IGi1Ga 4:2). Điều này là tự nhiên, vì vai trò của Thánh Linh là tôn vinh Chúa Giê-xu, mà Đức Chúa Cha với Đức Chúa Con chỉ là Một.
Còn về sự thờ phượng của chúng ta thì sao? Nó được dâng lên cho một Thượng Đế theo quan niệm riêng của chúng ta, hay cho Thượng Đế của Kinh Thánh, gồm Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh? Và cả khi chúng ta đã biết Ngài rồi, thì sự thờ phượng của chúng ta có còn theo xác thịt, vị kỷ, hay đã được Thánh :inh luyện lọc rồi? Nếu chúng ta là những người thờ phượng thật lòng, thì bằng mặt trần không có màn che, chúng ta có thểnhìn vào vinh quang của Chúa như trong một tấm gương, và được biến hóa thành cùng một ảnh tượng như chính Ngài, cứ ngày càng vinh quang hơn, nhờ Chúa Thánh Linh (IICo 2Cr 3:18).


ĐỨC THÁNH LINH VỚI DÂN Y-SƠ-RA-ÊN
I. VIỆC DÂN DO-THÁI ĂN NĂN QUY ĐẠO
Khi nghiên cứu Cựu ước, chúng ta đã thấy (PHẦN I, Chương 1, Mục III), các điều kiện Thượng Đế hứa với dân Ngài, theo đó Ngài sẽ lập một giao ước mới và sẽ đưa Thánh Linh đến ngự trị mãi mãi trong lòng toàn thể các tín hữu. Thế nhưng, dân Y-sơ-ra-ên đã chối bỏ cả giao ước ấy, lẫn Người Hòa giải (Đấng Trung Bảo) đã được đề nghị với họ, do đó, phải chăng họ phải bị vĩnh viễn mất đi ân tứ về Thánh Linh? Lẽ dĩ nhiên là không. Trong nhiều khúc sách, Kinh điển tuyên bố rằng vào những ngày sau rốt, dân Y-sơ-ra-ên lại sẽ quy tụ trở về xứ Palestine rằng Thánh Linh sẽ được đổ xuống trên họ, và dân ấy sẽ lại nhìn nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng Mê-si-a.
Ê-sai từng công bố rằng xứ Palestine sẽ bị hoang vu và khô cằn “cho đến chừng Thần từ nơi cao được rải xuống khắp trên chúng ta, đồng vắng biến thành ruộng tốt... trong những thú vật ấy chẳng một con nào thiếu.. Thần Ngài đã nhóm chúng nó lại (tức là các con cái Y-sơ-ra-ên sẽ được quy tụ về xứ Palestine)... vì ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi, và phước lành ta trên những kẻ ra từ ngươi... Đức Giê-hô-va phán: Về phần ta, này là giao ước ta đã lập với họ. Thần ta ở trên ngươi, cả đến những lời ta đã đặt nơi miệng người, miệng dòng dõi ngươi và miệng của dòng dõi của dòng dõi ngươi, và từ bây giờ cho đến đời đời. Đức Giê-hô-va phán vậy” (EsIs 32:15; 34:16; 44:3; 59:21).
Ê-xê-chi-ên, sau khi thông báo lời hứa phổ quát về ân tứ của Thánh Linh đã ứng nghiệm cho chúng ta rồi (Exe Ed 36:26-27), còn kể thêm về khải tượng ông nhìn thấy liên hệ với dân Y-sơ-ra-ên như là các hài cốt khô. Đức Giê-hô-va đã phán với ông “Hỡi con người, những hài cốt này, ấy là cả nhà Y-sơ-ra-ên. Này, chúng nó nói rằng: Xương chúng ta đã khô, lòng trông cậy chúng ta đã mất, chúng ta đã tuyệt diệt cả! Vậy hãy nói tiên tri và bảo chúng nó rằng... Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi; rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, Đức Giê-hô-va sau khi hứa lời ấy thì đã làm thành. Đức Giê-hô-va phán vậy” (37:11-14). Những khúc sách trích dẫn trên đây cho thấy rõ ràng rằng việc đổ Thánh Linh trên dân Do-thái sẽ xảy ra khi Thượng Đế đưa họ trở về xứ Palestine, và khiến xứ ấy lại nở hoa như xưa kia. Xa-cha-ri cũng báo trước rằng dân Y-sơ-ra-ên một khi đã được tập họp lại từ các đầu cùng đất xa xôi (XaDr 8:1-8; 10:6-10;) sẽ bị tất cả các dân các nước tấn công tại Giê-ru-sa-lem (12:3, 9) “Ta sẽ đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng” (XaDr 12:10).
Rồi Thánh Linh sẽ làm cho dân Do-thái những gì Ngài đã làm cho thế gian: Ngài sẽ cáo trách tội lỗi họ, cáo trách việc họ không tin Chúa Cứu Thế Giê-xu. Họ sẽ tự hạ mình và ăn năn, và kết quả của cơn thức tỉnh quan trọng này sẽ là việc họ ăn năn quy thuận Cứu Chúa. Chính Phao-lô đã ám chỉ các biến cố sắp xxảy ra này khi ông viết “Một thành phần dân Y-sơ-ra-ên cứng lòng không tin cho đến chừng các dân tộc khác gia nhập vào đủ số (nghĩa là số người ngoại quốc đã gia nhập Hội thánh). Vậy cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như Thánh Kinh chép:
“Vị Cứu tinh sẽ đến từ Si-ôn.
Loại bỏ điều vô đạo khỏi nhà Gia-cốp.
Và đây là giao ước ta lập với họ,
Ta sẽ tha thứ tội lỗi họ”
(RoRm 11:25-27)
Việc dân Do-thái ăn năn quy đạo do ảnh hưởng của Thánh Linh sẽ là dấu hiệu của các phước hạnh vị đại nhất sắp được đem đến cho nhân loại thoe lời hứa rằng các phước hạnh mà họ sẽ nhận được đó là “người chết sống lại” (RoRm 11:15). Vì chừng đó, Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhà Chinh phục sẽ phán xét thế gian và thiết lập trên cả đất quyền cai trị công bằng và bình an Ngài, sẽ hiện ra trong vinh quang (XaDr 14:5). Khi suy nghĩ đến những phước hạnh như thế, lòng chúng ta sẽ ước ao sự tái lâm của Ngài sẽ xảy ra nhanh chóng biết bao! Chúng ta thấy là các hài cốt khô đã được tập họp lại rồi, và với niềm hi vọng sinh động tràn đầy, chúng ta đang reo lên “Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hầu cho chúng nó sống” (Exe Ed 37:9). Phước thay cho Đấng rao truyền “Hãy bảo các thành của Giu-đe rằng: Đức Chúa Trời của các ngươi đây! Này Chúa Giê-hô-va sẽ lấy quyền năng mà đến; Ngài dùng cánh tay mình mà cai trị, Này sự ban thưởng ở nơi Ngài, sự báo trả Ngài ở trước mặt Ngài. Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẫm vào lòng; từ từ dắt các chiên cái đương cho bú” (EsIs 40:9-11).
Lạy Chúa Giê-xu, xin đến nhanh chóng để đổ Thần Ngài trên dân Y-sơ-ra-ên Ngài!
II. THÁNH LINH CÓ CÒN Ở LẠI TRÊN ĐẤT TRONG THỜI GIAN ĐẠI NẠN KHÔNG?
Một số những nhà giải nghĩa các lời tiên tri - nhưng không phải là tất cả - từng thắc mắc tự hỏi căn cứ trên những gì họ tử giả định, chẳng hay Đức Thánh Linh sẽ có bị cất lên cùng với Hội thánh trước cơn đại nạn và do đó là trước khi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn quy đạo hay không? Nhằm hậu thuẫn cho quan điểm này, văn bản sau đây đã được viện dẫn “Trước ngày Chúa đến phải có... Người Tội Ác (hiện thân của Địa ngục) xuất hiện... Quyền lực bí m5t của tội ác đã hoạt động rồi, nhưng đến khi nào Đấng ngăn cản ra đi, Người Tội ác mới xuất hiện. Chúa Giê-xu sẽ trở lại, dùng hơi thở từ miệng Ngài thiêu hủy nó, và vinh quang Ngài sẽ tiêu diệt nó” (IITe 2Tx 2:3-8). Đấng Ngăn cản mà hiện diện Ngài ngăn trở việc xuất hiện của Antichrist (Người Tội ác) là ai? Có người bảo rằng Đấng ấy vốn chẳng phải ai khác hơn là Đức Thánh Linh, mà đền thờ dưới đất này chính là Hội thánh trung tín (Eph Ep 2:21-22), do đó sẽ được cất lên trời đồng thời với Hội thánh. Vì Antichrist phải được trị vì công khai trong ba năm rưỡi (KhKh 13:5, một giai đoạn được biết là thời kỳ có Cơn Đại Nạn), việc Thánh Linh ra đi phải xảy ra trước thời kỳ đại nạn này.
Trong văn mạch này, chúng tôi không hề có muốn giải quyết đầy đủ vấn đề ấy, mà đúng hơn là chỉ muốn ghi nhận vài điểm mà nó làm nảy sinh. Nếu quả thật Hội thánh, là đền thờ của Thánh Linh và là muối của đất được cất lên trời vào một thời điểm nào đó và việc nó ra đi được đánh dấu bằng một con suy thoái thuộc linh gia tăng trầm trọng thì điều sẽ không kém phần đúng với sự thật, là Thánh Linh sẽ tiếp tục hành động giữa loài người, tuy có lẽ là theo những cách khác nhau.
1. Thánh Linh sẽ được đổ xuống trên dân Y-sơ-ra-ên (như chúng ta vừa thấy) suốt cơn Đại Nạn, nghĩa là sau khi Antichrist vi phạm hòa ước với dân Do-thái sẽ tìm cách tuyệt diệt họ trong ba năm rưỡi trị vì mà chẳng bị ai tranh hành chi cả (DaDn 9:27; XaDr 12:9-10).
2. Suốt thời gian được đánh dấu bằng sự ra đi của Hội thánh và Chúa Cứu Thế tái lâm để phán xét, loài người từ các dân các nước sẽ ăn năn quy phục Phúc âm. Lẽ tất nhiên là khi bắt đầu Thiên Hy niên, những người đã bị xử tử trong Cơn Đại Nạn vì không chịu thờ lạy Antichrist sẽ được khiến sống lại (KhKh 20:4). Họ vẫn chưa tin Chúa lúc Hội thánh được cất lên, nếu không, chắc họ cũng đã được cất đi rồi, vì họ chỉ xưng nhận đức tin sau lúc đó mà thôi. Họ làm thế nào hành động như vậy được, nếu không có Đức Thánh Linh? Chỉ một mình Ngài mới có thể đem đến sự cáo trách tội lỗi và sự tái sanh; những người không có Thánh Linh thì không thể thuo-c về Chúa Cứu Thế (RoRm 8:9), trong khi hễ ai tin thì lập tức đều trở nên đền thờ Ngài. Chẳng có khúc sách nào trong Kinh điển taọ cơ sở cho chúng ta tin rằng những người ăn ăn quy đạo trong Cơn Đại Nạn sẽ không được Thánh Linh cai trị chăm sóc cho, vì Ngài chính là Đấng duy nhất ban sự cứu rỗi cho chúng ta.
3. Có một câu đáng chú ý trong Ê-sai vạch rõ “Ngài sẽ đến như sông tràn dẫy bởi hơi Đức Giê-hô-va thổi giục. Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn, đến cùng những kẻ thuộc về Gia-cốp, là kẻ bỏ tội lỗi, Đức Giê-hô-va phán vậy” (EsIs 59:19-20). Dường như rõ ràng là mấy câu này chỉ về những ngày sau rốt. Hơn nữa, khi nào kẻ thù sẽ gần tới lúc tập trung lực lượng lại để trở thành một con sông tràn dẫy dễ gây lũ lụt nhất, nếu không phải lúc cơn thủy triều lên của Antichrist sẽ đe dọa tràn ngập, áp đảo tất cả? Văn bản này bảo đảm cho niềm tin rằng mãi cho đến điểm tận cùng, Thánh Linh sẽ vẫn góp phần vào chiến thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế trên các lực lượng của điều ác.
Để kết luận, chúng ta có thể nói rằng việc Hội thánh được cất lên cho dầu có đưa đến các hậu quả nào, cũng sẽ không hoàn toàn kết thức công tác của Thánh Linh dưới đất này. Hơn nữa, khi nêu ra các nhận xét trên đây, chúng tôi không hề có ý muốn đưa ra một giáo điều độc đoán về vấn đề này. Nếu có độc giả nào quan tâm đến vấn đề này, vị ấy được khuyên là hãy tự mình nghiên cứu lấy tất cả các khúc sách có liên hệ với vấn đề.
ĐỨC THÁNH LINH VÀ SỰ SỐNG LẠI
Có rất ít các văn bản đề cập việc Thánh Linh tạo ra sự sống lại, thế nhưng bức thông điệp chứa đựng trong đó vốn rõ ràng, trong suốt như pha lê.
“Thượng Đế đã làm cho Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết, nên một khi Thánh Linh Ngài sống trong anh em, Thượng Đế cũng sẽ khiến thi thể của anh em sống lại do quyền năng Thánh Linh” (RoRm 8:11). “Tuy nhiên, nhờ Chúa Thánh Linh, chúng ta đầy tin tưởng trông đợi những kết quả tốt đẹp mà người công chính có quyền hy vọng... Người gieo giống tốt của Thánh Linh sẽ gặt hái sự sống vĩnh cửu” (GaGl 5:5; 6:8). Thượng Đế đã nhờ Thánh Linh khiến Chúa Cứu Thế từ mồ mả sống lại, thì Ngài cũng nhờ cùng một Thánh Linh ấy khiến các thi thể hay chết của chúng ta sống lại nữa. Chúa Giê-xu đã ngụ ý dạy như thế khi Ngài phán “Thánh Linh truyền sức sống mới xác thịt chẳng làm chi được” (GiGa 6:63). Ngài đã nói câu này sau khi trò chuyện với người Do-thái về hai phương diện theo đó Ngài ban sự sống cho loài người “Cha tôi muốn tất cả những người hướng về tôi và tin cậy tôi đều được sự sống vĩnh cửu và được sống lại trong ngày cuối cùng” (GiGa 6:40). Ý nghĩa của câu này là:
1. Ngài sẽ ban sự sống ngay tức khắc cho tâm hồn của mỗi tín hữu.
2. Ngài sẽ khiến thân thể người ấy sống lại vào ngày cuối cùng.
Vì chính là bởi Đức Thánh Linh mà linh hồn người ta được tái sanh (GiGa 3:5), cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cùng một Thánh Linh ấy cũng sẽ khiến thân thể người ta sống lại; ngoài ra, phép lạ thứ nhất còn phi thường hơn phép lạ thứ hai nữa.
Hơn nữa, xin chúng ta lưu ý rằng cùng với sự sống lại, cũng như trong công trình sáng tạo và tất cả những cuộc can thiệp của Thượng Đế, chúng ta đều nhận thấy có sự kết hợphành động của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, vì nó được gán choc ả Ba Ngôi đồng thời (xin đọc lại RoRm 8:11 và GiGa 6:40). Sự việc không thể nào khác hơn được, vì cả Ba Ngôi Thượng Đế chỉ là Một. Trong một khúc sách được đề cập trước đây, chúng ta còn tìm thấy một thí dụ munh họa tuyệt vời về sự sống lại bởi Thánh Linh (Exe Ed 37:1-14). Tuy nó được áp dụng trước nhất cho dân Y-sơ-ra-ên, nó cũng được dùng để minh họa sự sống lại của tất cả những ai sẽ phải tin. Thượng Đế đưa tâm thần nhà tiên tri vào một thung lũng chứa đầy vô số hài cốt khô, và bảo “Hỡi con người, những hài cốt này có thể sống chăng? Ta thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, chính Chúa biết điều đó. Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy, và bảo chúng nó rằng: Hỡi hài cốt khô, khà nghe lời Đức Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán cùng những hài cốt ấy rằng: Này ta sẽ phú hơi thở vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống...Vậy ta nói tiên tri như Ngài đã phán dặn ta; ta đứng nói tiên tri thì có tiếng và này... hơi thở vào trong chúng nó, chúng nó sống, và đứng dậy trên chơn mình, hiệp lại thành một đội quân rất lớn”.
Ngày Thánh Linh sẽ thở trên bốn hướng gió khắp đất đã gần lắm rồi. Những người đã qua đời trong Chúa Cứu Thế sẽ sống lại trước hết. Sau đó, chúng ta là những người còn sống trên mặt đất lúc Chúa đến sẽ được biến hóa, và tất cả sẽ cùng được cất lên để gặp Ngài, và cùng sống mãi mãi với Ngài trong vinh quang (ITe1Tx 4:16, 17). Chúng ta đã chắc chắn là mình thuộc số người sẽ được Thánh Linh khiến sống lại để được sống và không bị phán xét, hay chưa?

ĐỨC THÁNH LINH TRONG CÕI VĨNH HẰNG
Rõ ràng là vì hoạt động của Thánh Linh có tính cách miên viễn, cho nên sẽ không chấm dứt khi cái thế gian này đạt tới điểm bị hủy diệt. Nó là một thành phần chính thức của Ba Ngôi Thượng Đế, cho nên cả Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh từng không ngừng đồng loạt hành động trong quá khứ cũng sẽ tiếp tục y như thế trong cõi vĩnh hằng. Tuy không đưa ra chi tiết Kinh điển có cho chúng ta hiểu bản tính của công tác Thánh Linh dành cho người được chuộc trong đời sau.
Ân huệ thuộc linh quan trọng nhất chúng ta có thể nắm được hiện nay chỉ tiêu biểu một phần nhở cho việc được nếm trước điều đang chờ đợi chúng ta trong vinh quang. Phao-lô vạch rõ rằng chúng ta chỉ mới được các trái đầu mùa, hay của tin của Thánh Linh mà thôi “Chúng ta (là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh - theo bản dịch cũ) những người nhận lãnh Thánh Linh - một bằng chứng về vinh quang tương lai - cũng phải âm thầm than thở đang khi thiết tha mong đợi ngày được hưởng trọn quyền làm con Thượng Đế; lúc ấy thân thể chúng ta được cứu... (Thượng Đế) cũng đóng ấn trên chúng tôi, ban vào lòng để bảo đảm mọi điều Ngài hứa ban cho chúng tôi... Chúng ta than thở trong nhà tạm này, ước mong được mặc lấy nhà mới trên trời... Thượng Đế sẽ thực hiện mọi điều ấy cho chúng ta; Ngài bảo đảm bằng cách ban Thánh Linh trong lòng chúng ta” (RoRm 8:23; IICo 2Cr 1:22; 5:2-5 - đối chiếu với bản dịch cũ). Căn cứ vào mấy khúc sách này, chúng ta được biết rằng khi bước vào cõi vĩnh hằng, chúng ta sẽ nhận được Thánh Linh theo một mức độ vô cùng lớn hơn mức độ có thể có được ngya trong thời đại hiện nay, thậm chí khi chúng ta được đầy dẫy Ngài chỉ theo mức độ chứa đựng yếu đuối, nhỏ bé của chúng ta mà thôi.
Thật ra Kinh điển dạy rằng “chúng a sẽ giống như Ngài (Chúa), vì chúng ta sẽ thấy chính Ngài” (IGi1Ga 3:2). Mọi tội lỗi và vô tín đều sẽ biến mất cả, và sẽ chẳng còn gì ngăn trở Thánh Linh, Đấng sẽ tác tạo chúng ta theo hình tượng của Chúa Cứu Thế Giê-xu (RoRm 8:29; IICo 2Cr 3:18), bằng cách chiếm hữu trọn vẹn đời sống chúng ta. Chừng đó lời hứa được tìm thấy trong thư Ê-phê-sô, sẽ được ứng nghiệm: chúng ta sẽ đạt đến bậc trưởng thành trong Chúa”, sẽ được đầy dẫy Thánh Linh, để “được đầy dẫy Thượng Đế” (Eph Ep 4:13; 3:16-19). Chúng ta từng ghi nhận rằng ngay dưới đất này, Đức Thánh Linh cùng với Đưc Chúa Cha và Đức Chúa Con, vốn có một chỗ ngự trong lòng chúng con. Cho nên, trên thiên đàng cũng vậy, nhưng ở một mức độ trọn vẹn vô cùng cao trọng hơn. Theo một cung cách hầu như tuyệt đối, Chúa Cứu Thế sẽ trở thành Đấng “đầy dẫy khắp vạn vật”, Ngài sẽ “là mọi sự và trong mọi sự” (Eph Ep 1:23; CoCl 3:11, bản dịch cũ), còn khi mọi sự đều đã được đặt dưới quyền cai trị của Ngài, thì chính Đức Chúa Cha sẽ trở thành “Thượng Đế cầm quyền tuyệt đối” (ICo1Cr 15:28).
Ngôn ngữ loài người không đủ khả năng để diễn tả vinh quang Ngài, sự thánh khiết, niềm vui và quyền năng lúc ấy sẽ là cơ nghiệp của người đã được cứu chuộc. Cõi vĩnh hằng sẽ là quá ngắn ngủi cho việc thờ phượng, ca ngợi tán tụng và phục vụ Căn Nguyên, Tác giả của sự cứu rỗi chúng ta, là Thượng Đế Ba Ngôi thánh khiết, là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Và ngay bây giờ, nhằm phản ảnh những điều đó, chúng ta đang vui hưởng niềm vui quang vinh, không lời lẽ nào mô tả được đó.
Tuy nhiên, xin chúng ta đừng bao giờ sống trong ảo tưởng. Việc Thượng Đế có ngày sẽ đầy dẫy mọi vật không hề ngụ ý rằng rồi đây tất cả mọi người và toàn thể cõi thọ tạo, kể cả Quỷ vương nữa đều sẽ được cứu như một số người vẫn rêu rao! Tách rời một Kinh Thánh khỏi toàn văn của nó là điều vô cùng nguy hiểm. Trước khi vạch rõ Chúa Cứu Thế trở thành “Đấng đầy dẫy khắp vạn vật”. Phao-lô thông báo rằng cơn thạnh nộ của Thượng Đế sẽ giáng xuống trên đám con cái ngỗ nghịch không chịu vâng lời vẫn miệt mài trong tội lỗi; chỉ có những người đã “lột bỏ những chiếc áo dơ bẩn... được đổi mới (nghĩa là nhờ Thánh Linh để có Chúa hiện diện trong lòng mình)... thì Chúa Cứu Thế mới là điều quan trọng; Ngài sẵn lòng tiếp nhận mọi người” (không phân biệt chủng tộc hay giai cấp xã hội - CoCl 3:5-11). Do đó, chữ mọi người chỉ áp dung cho các tín hữu mà thôi. Khúc sách theo đó chúng ta được biết đến cuối cùng Thượng Đế sẽ là “mọi sự và trong mọi sự” cũng có cùng một ý nghĩa như vậy (ICo1Cr 15:28). Trong cùng chương sách ấy, Phao-lô nghiêm khắc vạch rõ rằng nếu không có đức tin nơi Chúa Cứu Thế và vào sự sống lại của thân thể Ngài, thì chúng ta vẫn còn bị hư vong trong tội lỗi và là kẻ bất hạnh hơn hết trong nhân loại (cc.18-19), và rằgn “thịt và huyết không thể hưởng được Nước Thượng Đế” cũng như “thân thể hư nát không thể hưởng được sự sống bất dfiệt” (c.50). Xin chúng ta ghi khắc vào tâm trí rằng các Thư tín vốn được viết cho các tín hữu, chớ không phải cho những người ngoài. Điều này cũng được nhấn mạnh rõ ràng trong mấy câu 22 và 23 của cùng chương sách ấy “Do A-đam mọi người đều chết, do Chúa Cứu Thế mọi người đều sẽ sống lại”. Nếu chúng ta dừng lại ở đây, chúng ta có thể thắc mắc tự hỏi phải chăng tất cả mọi người, kể cả những người chết trong sự vô tín, đều sẽ được sống lại trong Chúa Cứu Thế! Tuy nhiên, câu 23 vạch rõ “Sự sống lại diễn ra theo thứ tự: Cứu Chúa Giê-xu sống lại trước hết; đến ngày Chúa tái lâm những người thuộc về Ngài sẽ sống lại”. Do đó câu “mọi người đều sẽ sống lại “chỉ áp dụng cho những người thuộc về Chúa Cứu Thế mà thôi.
Điều này phù hợp về mọi phương diện với lời truyền dạy của Chúa Cứu Thế và các sứ đồ Ngài liên hệ đến tội không thể tha thứ chống lại Thánh Linh (Mac Mc 3:24), bị hình phạt đời đời (Mat Mt 25:41, 46), và câu dạy rằng sau sự chết là sự phán xét (HeDt 9:27). Lẽ dĩ nhiên là quá đúng rằng nhờ Thánh Linh, Thượng Đế sẽ là mọi sự trong mọi sự sau khi tất cả các kẻ thù Ngài đều quỳ dưới chân Ngài, nghĩa là Ngài chỉ ở trong tất cả những ai khi còn sống dưới đất này, đã nhận được của tin là Thánh Linh. Họ đã nhận được một biểu hiệu của hòa ước được lập nên bằng đức tin giữa Thượng Đế với chính họ, do đó, sự cứu rỗi trọn vẹn và vĩnh hằng đã được dành cho họ trên thiên đàng. Chúng ta có chắc chắn thuộc vào số người này chăng? Nguyện chúng ta biết chắc chắn rằng lòng mình không bị chai cứng và chúng ta đang sẵn sàng bước vào thế giới của Thánh Linh, là nơi chúng ta sẽ được nhìn thấy Thượng Đế mặt đối mặt đời đời.
KẾT LUẬN
Lời hứa của Chúa Cứu Thế phải chăng đã được ứng nghiệm trọn vẹn rồi? Thật ra, Thánh Linh đã không tự nói về Ngài với chúng ta, nhưng trước mắt chúng ta, Ngài đã tôn vinh Cứu Chúa. Ngài cáo trách chúng ta về tội đã chối bỏ Chúa Cứu Thế Giê-xu và ban cho chúng ta đức tin vào Ngài; Ngài đã đem sự sống Ngài đến cho chúng ta, và qua phép báp-tem, Ngài đã khiến chúng ta là những ngừi đã tin, trở thành các chi thể của Thân thể Ngài; Ngài đã đưa chúng ta đến chỗ được Thượng Đế thừa nhận làm con và chắc chắn đã được cứu rỗi nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ngài sống trong lòng chúng ta cùng với Đấng ốn là sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hóa và là sự cứu chuộc chúng ta, Ngài cũng muốn đổ xuống trên chúng ta sự đầy dẫy của Ngài và biến hóa chúng ta thành ra chính hình tượng Ngài; chẳng bao lâu nữa, Ngài sẽ khiến dân Y-sơ-ra-ên ăn năn quy phục Đấng Mê-si-a; chừng đó, trong vinh quang, Ngài sẽ kiện toàn lần cuối cùng để chúng ta trở nên giống y như Chúa, và Thượng Đế cũng chính là Thánh Linh sẽ “đầy dẫy khắp vặn vật”.
Giờ đây, chúng ta đã đi đến phần kết luậtn của công trình nghiên cứu này, chúng ta có được thúc giục hãy thờ phượng và ca ngợi tán tụng Đấng vốn là Căn Nguyên, là Tác Giả của sự cứu rỗi trọn vẹn của mình không? Tuy nhiên, chúng ta khá ghi khắc vào tâm trí rằng nếu chúng ta gây trở ngạo cho công tác của Thánh Linh trong lòng mình, sự thờ phượng của chúng ta sẽ chỉ là phí công vô ích. Chúng ta sẽ vừa điên rồ, vừa phạm tội nếu với cái nhìn sáng suốt, thông tuệ đã nhận được, chúng ta lại không chịu tìm cầu sự trợ giúp của Thánh Linh trong mọi sự, hay cố ý chống lại Ngài. Nguyện Thượng Đế ban ân phúc Ngài cho chúng ta để chúng ta biết phó mình không hạn chế và với tấm lòng tràn đầy niềm vui vào tay Ngài, để Thánh Linh Ngài có thể hoàn tất công tác của Ngài trong chúng ta những gì đẹp lòng Ngài.
“Xin vinh quang quy về Thượng Đế; với quyền năng Ngài đang tác động trong lòng chúng ta, Ngài có thể thực hiện mọi điều vượt quá mức chúng ta cầu xin và mong ước. Nguyện Thượng Đế được ca ngợi muôn đời vô cùng, vì Ngài đã lập chương trình cứu rỗi Hội thánh, do Chúa Cứu Thế Giê-xu thực hiện. Thành tâm sở nguyện!” (Eph Ep 3:20-21).


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 11:16 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách