† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2612|Trả lời: 0

THÁNH KINH NHẬP MÔN

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 08:24:01 | Xem tất |Chế độ đọc

THÁNH KINH NHẬP MÔN

Mục Lục
Lời giới thiệu
Chương 1: Mặc Khải Của Đức Chúa Trời
Chương 2: Tại Sao Cơ Đốc Nhân Tin Kinh Thánh Cựu Ước
Chương 3: Tại Sao Cơ Đốc Nhân Tin Kinh Thánh Tân Ước
Chương 4: Ai Viết Cựu Ước?
Chương 5: Ai Viết Tân Ước?
Chương 6: Sự Bảo Tồn Tân Ước
Chương 7: Sự Bảo Tồn Cựu Ước
Chương 8: Nan Đề Của Kinh Thánh
Chương 9: Thượng Phê Bình Và Kinh Thánh
Chương 10: Khảo Cổ Học Và Cựu Ước

Lời Giới Thiệu
Tài liệu học nầy do Tiến sĩ R. Laird Harris biên soạn cho hội Evangelical Teacher Training Association. Viện Thần Học Việt nam được phép sử dụng làm tài liệu cho môn học Thánh Kinh Nhập Môn (Introduction to the Bible) nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi Lời Chúa của các tín hữu.
Tài liệu gồm có 10 chương, nhằm mục đích cho biết vắn tắt về sự hình thành Kinh Thánh, sự bảo tồn Kinh Thánh, giá trị của Kinh Thánh, lý do tại sao chúng ta tin Kinh Thánh, v.v...
Để giúp cho các con cái Chúa dễ dàng trong việc nghiên cứu, phần sau tập sách có phần Hướng Dẫn Học Tập - gồm những câu hỏi suy luận. Bạn có thể trả lời những câu hỏi này dựa trên Kinh Thánh, tài liệu nghiên cứu này và những sách tham khảo khác, đồng thời đưa ra nhận nhận định riêng của bạn.
Chúng tôi ước mong tập tài liệu này sẽ khích lệ và hướng dẫn bạn trong việc học hỏi Lời Chúa.
Viện Thần Học Việt Nam


MẶC KHẢI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Sáng Thế Ký ghi lại cách thức Đức Chúa Trời tạo dựng loài người theo hình ảnh Ngài. Một trong những mục đích của Ngài là để cho A-đam liên hệ và tương giao với Ngài. Kinh Thánh ghi rõ là Đức Chúa Trời đã chăm sóc, chuyện trò, truyền dạy A-đam. Thượng Đế chí cao mà lại bày tỏ cho loài người cách như thế này thì thật là một mặc khải quá kỳ diệu về bản chất, ý chỉ của Ngài.
Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội thì Đức Chúa Trời có thể đuổi hai người đi. Họ đã chủ tâm bất tuân lệnh Ngài, và đáng phải chết. Nhưng Đức Chúa Trời nhân từ vô biên đã đưa ra chương trình cứu vớt của Ngài. Ngài tìm A-đam trong vườn Ê-đen và nói cho ông biết tội của ông. Đây là lần đầu tiên Chúa đã mặc khải cho con người sau khi sa ngã.
Mặc Khải Tổng Quát và Mặc Khải Đặc Biệt (Special and General Revelation)
Đức Chúa Trời nói với A-đam, Ê-va, con rắn, Ca-in, Nô-ê, và nhiều người khác. Sự nói chuyện trực tiếp này gọi là măc khải đặc biệt (special revelation) .
Chúng ta cũng có thể học biết nhiều về Đức Chúa Trời qua vũ trụ Ngài đã dựng nên. Sự sáng tạo vô cùng lớn lao này cho chúng ta biết về Đức Chúa Trời toàn năng. Sự tế vi (intricacy) của thế giới cho ta biết sự khôn ngoan vô cùng của Đức Chúa Trời. Lương tâm chúng ta làm chứng cho chúng ta biết sự thánh khiết và nhân lành của Ngài. Những bằng chứng về Đức Chúa Trời trong vũ trụ tạo vật thường gọi là mặc khải tổng quát (general revelation).
Sự măc khải tổng quát này thường bị người ta phủ nhận. Người ta bảo rằng những cái tế vi trong thiên nhiên này là do may rủi; và “luật đạo đức” gọi là lương tâm thì do xã hội, giáo dục, v.v... mà có. Nhưng trong RoRm 1:19-23; và 2:15 Phao-lô khẵng định rõ ràng là chúng ta có thể nhìn biết được Đức Chúa Trời qua thiên nhiên, và qua lương tâm. Trên thực tế, đại đa số loài người đều luôn luôn tin vào một thần nào đó. Hơn nữa, dù người ta có phủ nhận lương tâm thì chúng ta cũng thấy bất cứ nền văn hóa nào cũng có những luật đạo đức. Điều này chứng tỏ rằng có sự măc khải tự nhiên (natural revelation). Theo Phao-lô thì bởi lòng ác của con người mà sự măc khải tự nhiên không đưa ra được người ta đến thờ phượng Thượng Đế chân chật (1:18).
Sự Linh Cảm (Inspiration)
Lúc ban sơ Thượng Đế đối thoại với loài người thì đó là sự măc khải đặc biệt bằng miệng (oral speccial revelation). Như chúng ta biết văn tự chưa có cho đến sau cơn Đại Hồng Thủy (cơn lụt thời Nô-ê). Trước đó người ta có thể dùng vài phương cách đánh số đồ vật, nhưng mãi đến gần năm 3000 B.C thì văn tự (chữ viết) mới khởi xuất ở vùng Mê-sô-pô-ta-mi và Ai Cập. Tuy vậy, sự mặc khải bằng miệng (oral revelation ) của Đức Chúa Trời cũng đặc biệt, chân thật và được linh cảm như măc khải bằng văn tự về sau này. Khi Đức Chúa Trời nói với Ca-in thì đó là tiếng nói khách quan rỏ ràng là bên ngoài chứ không phải tiếng nói của lương tâm .
Không ai biết tên hết tất cả những người mà Đức Chúa Trời đã nói chuyện với họ lúc ban sơ. Cựu Ước có ghi rằng Hê-nóc “ đồng đi với Đức Chúa Trời”; những chữ này có lẻ có nghĩa là thói quen sống với Chúa hơn là bước đi bách bộ chung với Ngài. Dù sao thì nó cũng chỉ sự hòa hợp và tương giao trò chuyện giữa ông và Đức Chúa Trời. Đúng như trong Tân Ước gọi ông là tiên tri của Chúa(Giu-đe 14). Nô-ê nhận được sự mặc khải cặn kẻ của Chúa, Chúa chỉ dẫn cho ông đến cả thước tấc của chiếc tàu, và các loài vật tụ tập lại để cho vào tàu. Không có những mặc khải đặc biệt thì Nô-ê chắc cũng đã chết chung với mọi loài lúc đó. Những chỉ dẫn về chiếc tàu mà Nô-ê nhận được không phải đến từ óc tưởng tượng cao độ của ông.
Một bài thơ khác về cuộc đời Nô-ê là ông đã truyền đạt Lời Chúa cho thế hệ của ông. Ký sự trong Sáng Thế Ký và II Phi-e-rơ cho biết Nô-ê đã cảnh cáo thế hệ của ông vệ sự hình phạt sắp xảy đến. Đây là chức năng của tiên tri: tiếp nhận lời của Thượng Đế và truyền đạt lại cho dân chúng.
Trong thời gian dài giữa Nô-ê và Áp-ra-ham, Kinh Thánh không ghi lại tin tức gì về sự măc khải của Đức Chúa Trời. Sau đó thì ghi lại rất nhiều. Đức Chúa Trời nói chuyện với Áp-ra-ham nhiều lần. Ngài ban cho ông những chỉ thị rõ ràng và những lời hứa mà ông không thể nào đoán được cách những lời hứa đó thành tựu. Áp-ra-ham sống như một vương tử giữa những người khác. (SaSt 23:5-6) và như một người thờ phượng Thượng Đế chân thật (14:22). Ông phục vụ thế hệ của ông qua lời nói và qua đời sống của ông; và ông phục vụ chúng ta ngày nay qua những gì Môi-se đã ghi lại.
Môi-se là vị tiên tri viết sách đầu tiên. Đức Chúa Trời phán vời Môi-se mặt đối mặt (Dan Ds 12:8). Ngoài ra Đức Chúa Trời còn truyền lệnh cho Môi-se viết ra những điều răn của Ngài (XuXh 24:4-8). Phần lớn Ngũ Kinh (Pentateuch, năm sách đầu của Cựu Ước) từ sau câu chuyện Chúa kêu gọi Môi-se ghi trong 2:1-25, đều bị chế ngự bởi câu: “Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se”. Ở cuối sách Phục Truyền có nói rằng Môi-se viết xuống luật của Chúa, truyền dạy dân chúng tuân giữ mệnh lệnh của Ngài, và cứ 7 năm vào dịp lễ Lều Tạm thì đọc cho công chúng nghe (PhuDnl 31:9-13).
Chương 4 sẽ nói nhiều hơn về các tiên tri và công việc của họ. Còn ở đây thì chúng ta sẽ nghiên cứu một số những thành quả quan điểm của Cựu Ước về các tiên tri như những bộ phận của mặc khải, những người phát ngôn của Thượng Đế cho dân chúng(XuXh 7:1-2). Phải nhớ rằng tiên tri của Do Thái không phải chỉ là người rất thiêng liêng. Tiên tri là người được Đức Chúa Trời kêu gọi để tiếp nhận sự mặc khải của Ngài (Dan Ds 12:2-8). Lời nói của tiên tri là lời nói của Thượng Đế, giống như vị tiên ăn nuốt cuộn sách từ trời rồi nói lại cho dân chúng biết (Exe Ed 2:7-33). Lời các tiên tri nói ra là lời của Đức Chúa Trời.
Những lời các tiên tri viết ra cũng là lời của Đức Chúa Trời. Không phải tất cả những lời nói của tiên tri đều được viết xuống hết . U-ri cũng nhân Danh Chúa nói tiên tri như- Giê-rê-mi, ông đã bị vua Giê-hô-gia-kim giết và những lời tiên tri của ông không được viết lại (Gie Gr 26:20-21). Nhưng khi Chúa phán truyền qua các tiên tri thời xưa của Do Thái thì những lời họ nói ra chính là lời của Đức Chúa Trời, dù lời đó có được ghi chép hay không. Giô-suê đã ghi chép lại trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời (Gios Gs 24:26). Nhiều phần trong kinh Cựu Ước được nói trước rồi sau mới được viết lại.
Có người phân biệt giữa lời tiên tri được nói ra và được viết ra mới là những điều được linh cảm. Nhưng Kinh Thánh Cựu Ước không hề có sự phân biệt đó.
Những ví dụ trên cho chúng ta hiểu nghĩa của chữ “linh cảm” và chúng ta có thể định nghĩa linh cảm là “ hành động của Đức Thánh Linh trên những cá nhân được chọn để cảm động họ nói hay viết theo lối riêng của họ về Lời của Đức Chúa Trời một cách chính xác không sai lầm về sự kiện, giáo lý, hay về sự phê phán.” Chương 2 và 3 sẽ cho chúng ta thêm bằng chứng về quan niệm này.
Linh Cảm Từng Lời (Verbal Inspiration)
Quan điểm này cho rằng từng lời trong Kinh Thánh đúng là lời của Đức Chúa Trời, được linh cảm bởi Thánh Linh. Đôi khi có người gọi giễu quan điểm này là “Thuyết Chúa đọc cho chép”. Nhưng hầu hết những người bảo thủ (conservatives) ngày nay không tin rằng Đức Chúa Trời đọc lời Ngài cho các văn sĩ chép như kiểu cho thư ký hay người máy ngày nay vậy. Đức Chúa Trời sử dụng các tiên tri, điều khiển họ nhưng không can thiệp vào bút pháp (style) và nhân cách (personality) của họ. Quan điểm của Cộng Đồng Công Giáo ở Trent năm 1545 nói rằng Kinh Thánh là “Spiritu Sancto Dictante” thì có vẻ như gần giống với thuyết “Chúa đọc cho chép”. Nhưng thật ra chữ “Dictante” trong La Tinh ở đây không có nghĩa là “đọc” mà là “nói” hay “phán truyền”.
Vô Ngộ Và Không Sai Lạc (Infallible and Inerrant)
Suốt lịch sử thì người ta vẫn gọi Kinh Thánh là được linh cảm, nghĩa là Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và hoàn toàn đúng. Theo truyền thống thì người ta gọi Kinh Thánh là “vô ngộ” (infallible) ; nghĩa là không thể nào sai lầm. Về sau giới tín hữu bảo thủ (conservative believers) thêm rằng Kinh Thánh là “qui luật vô ngộ của đức tin và đời sống”. Họ khẳng định rằng Kinh Thánh là vô ngộ và là qui luật của đức tin và của lối sống của con người nhưng từ khi có phong trào tự do (liberalism) nổi lên thì lời khẳng định trên thường được giải nghĩa là Kinh Thánh vô ngộ chỉ trong lãnh vực đức tin và đạo đức thôi. Vì thế chữ “vô ngộ” bị giới hạn lại và họ cho rằng Kinh Thánh có những sai lạc về mặt khoa học và lịch sử. Đây là quan điểm của những người phái tự do ngày nay. Để chống lại quan điểm hạ thấp Kinh Thánh này, giới bảo thủ thấy cần phải sử dụng tĩnh từ “ không sai lạc (inerrant) nghĩa là Kinh Thánh không có gì sai lạc về mọi lãnh vực.
Bảo Kinh Thánh là vô ngộ thì cũng đủ rồi. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại nếu chúng ta muốn nói là tất cả những gì Kinh Thánh chép đều hoàn toàn đúng thì cần phải thêm rằng Kinh Thánh hoàn toàn không sai trật. Kinh Thánh được linh cảm từng lời, vô ngộ, và không sai lạc trong bản văn nguyên thủy. Hiệp Hội Thần Học Tin Lành đưa ra một định nghĩa văn tắt nhưng đầy đủ như sau: “Chỉ một mình Kinh Thánh, và toàn thể Kinh Thánh, là lời thành văn của Đức Chúa Trời, và do đó nguyên bản Kinh Thánh (bản viết đầu tiên) không sai lạc.”
Nhiều người nghĩ rằng quan điểm này quá hẹp hòi. Họ cho rằng trong thế kỷ 20 này người ta không còn có thể tin như vậy nữa. Họ bảo rằng những sự kiện thực tế cụ thể thì ngược lại với quan điểm trên, khoa học của Kinh Thánh đã lỗi thời, tin vào một trái đất bằng phẳng với thiên đàng ở phía trên không còn đúng nữa. Họ bảo phải phủ nhận niềm tin vào sự tạo dựng A-đam theo nghĩa đen, vào câu chuyện Giô-na và những chuyện thần thoại khác trong Kinh Thánh. Họ bảo Kinh Thánh thật sự mâu thuẫn; trong Kinh Thánh có yếu tố con người nên không thể nào là không có sai lầm nếu cứ nhất quyết Kinh Thánh là vô ngộ, không sai lầm thì con người tân tiến ngày nay không thể chấp nhận được.
Ở đây chúng ta trả lời vắn tắt, chương 8 sẽ khai triển đầy đủ hơn. Trước nhất chúng ta không nên vội rồi bỏ giáo lý đã có từ xưa, đặt nền tảng trên lời dạy của Chúa Giê-xu và trên các Sứ Đồ, để làm vừa giả thuyết về “con người tân tiến”. Các tiên tri ngày xưa được Chúa truyền phải rao giảng lời của Ngài dù dân chúng có nghe hay không (xem EsIs 6:9; Gie Gr 20:9; Exe Ed 2:5-7).
Thứ hai, không chắc Kinh Thánh mô tả trái đất phẳng và Thiên Đàng ở trên. Người ta bảo nếu “lấy nghĩa đen” thì Thánh Kinh bảo trái đất phẳng. Nhưng trên thực tế chẳng có ai, ngay cả những người bảo thủ nhất, cũng không ai hiểu Kinh Thánh hoàn toàn theo nghĩa đen. Kinh Thánh đầy dẫy hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ, ngụ ngôn, thi ca mà phải được giải thích như giải thích những áng văn chương khác. Làm sao hiểu theo nghĩa đen những câu như “chọc cười đến chết”, “tấm lòng vàng” , “cả thế kỷ rồi mới thấy lại anh”...? Vì giải thích các đoạn văn thi ca theo nghĩa đen một cách cục mịch nên người ta đã chống đối, cho rằng Kinh Thánh trái nghịch với kiến thức thông thường của con người. Nhiều thơ văn cũng đã mô tả mặt trăng, cây cối, núi đồi..... tương tự như thế. Nhiều người quên rằng thiên văn học tiêu chuẫn của thế giới thời Tân Ước là thế giới tròn. Eratosthenes vào năm 250 B.C . đã đo chu vi thế giới khá chính xác. Điều khôi hài là các nhà thần học chống đối ý tưởng cho Thiên Đàng “ở phía trên” nói nước Đức Chúa Trời “xâm nhập” vào thế gian. Mô tả thiên đàng là ở ngoài xâm nhập vào cái hộp trái đất thì cũng chẳng khác gì mô tả thiên đàng “ở trên” cả. C.S.Lewis trong cuốn sách “ Phép Lạ” (Miracles) (1) đã nêu rõ làmọi ngôn ngữ nói về những gì mà giác quan không nhận biết được thì đó là ngôn ngữ biểu tượng (metaphorical language). Không có cách nào khác để mô tả những thế giới vô hình, vì thế ngôn ngữ Kinh Thánh không nhằm nói thiên đàng là chỉ ở trên trời (dù tiếng Do Thái, tiếng Anh, cũng như tiếngViệt đều nói trời là ở “trên trời”). Cũng tương tự như vậy, chữ “tận cùng trái đất” không có nghĩa là đi quá mức đó thì rớt ra ngoài trái đất. Trong tiếng Do Thái chữ “trái đất” thường dùng để chỉ “đất đai”. “tận cùng trái đất” thường có nghĩa là nơi xa xôi; “bốn góc trái đất” có nghĩa là rộng rãi bao la mọi hướng (Exe Ed 7:2).
Thứ ba, nếu người ta không thể tin vào sự sáng tạo theo nghĩa đen thì người ta buộc phải làm cách nào giải thích thỏa đáng sự sống tế vi, kỳ diệu của con người thông minh, có ý thức, có đạo đức, có mục đích là do may rủi mà có.
Cuối cùng, những người bảo Kinh Thánh mâu thuẫn, và chống đối sự vô ngộ của Kinh Thánh quên rằng trải qua bao nhiêu năm người ta đã nghiên cứu về những vấn đề này rồi, kể từ thời Justin (bị tử vì đạo năm 148 A.D.). Justin đã viết : “ Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng không phần nào của Kinh Thánh mâu thuẫn với phần khác cả” (Đối thoại với Trypho , chương 65).
Rõ ràng là Kinh Thánh có những phần khó hiểu. Điều này là đương nhiên, vì bất cứ tài liệu nào viết thời xưa, từ một nền văn hóa khác thì không thể nào không có những điều khó hiểu với chúng ta. Ngày nay, khi du lịch với một xứ khác chúng ta vẫn gặp điều ngỡ ngàng, khó hiểu, thì đương nhiên làm sao chúng ta khỏi gặp nhiều khó hiểu hơn trong Kinh Thánh. Những khám phá mới về ngôn ngữ và tập tục thời xưa đã giúp giải quyết được nhiều nan đề trong Kinh Thánh, nên một số nan đề còn lại chưa giải quyết được chúng ta có thể nói là do chúng ta chưa biết đầy đủ chi tiết về lịch sử và đời sống của người xưa. Những nan đề Kinh Thánh liên tục được giải tỏa đã làm hài lòng nhiều học giả ngày nay.
Những tín hữu bảo thủ (conservative believers) không nhìn nhận rằng trong Kinh Thánh có những mâu thuẫn thật sự. Giống như các giáo phụ (church fathers) thời Hội Thánh đầu tiên, họ tin rằng những mâu thuẫn đó là do thiếu hiểu biết hoặc do lỗi sao chép mà thôi.
Giải Nghĩa Kinh Thánh
Cuộc cải chánh là một phong trào vĩ đại “trở về với Kinh Thánh “ . Phong trào nhấn mạnh đến việc trao Kinh Thánh vào tay tín hữu. Trước đó Wycliffle đã có lập trường này, nhưng Luther, Tyndale, và những người khác đã thực hiện việc dịch Kinh Thánh ra nhiều thứ tiếng cho tín hữu đọc. Quan điểm của họ là Kinh Thánh là một chính sách đơn giãn mà người bình dân đều có thể đọc và hiểu được. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ai cũng có thể hiểu được toàn thể Kinh Thánh. Nhưng có nghĩa là bất cứ người nào đọc Kinh Thánh cũng đều có thể học biết về Đức Chúa Trời, về con đường cứu rỗi của Ngài, và có thể lấy đức tin tiếp nhận sự cứu rỗi. Nhưng khôn ngoan của Đức Chúa Trời không thể dò được (unsearchable) và đường lối của Ngài không thể hiểu thấu (RoRm 11:33). Ngay cả những chỗ liên hệ với những biến cố lịch sử và những tập tục cổ xưa thì cũng khó hiểu cho những ai không biết gì về bối cảnh Đông Phương thời cổ.
Vì thế việc giải nghĩa chi tiết Kinh Thánh đòi hỏi ta phải học biết về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử...thời xưa. Nhưng ngày nay có quan niệm giải kinh (hermeneutics) cho rằng Kinh Thánh không còn thích hợp với chúng ta nữa. Những người bênh vực cho lập trường này bảo rằng người Do Thái thời xưa sống khác xa chúng ta. Họ không quan tâm đến con số chính xác, đến những tương quan thời gian, đến sự chính xác của lịch sử. Những người phê bình này bảo rằng theo tiêu chuẩn riêng của Kinh Thánh thì Kinh Thánh không sai, nhưng theo tiêu chuẫn khoa học hiện đại thì Kinh Thánh sai.
Để trả lời cho quan điểm này chúng ta nên nêu ra một số điểm sau đây. Thứ nhất, người thời xưa không phải bất cẩn như một số người nghĩ. Hãy xem các kim tự tháp, xây cất trước thời Ap-ra-ham 500 năm, hướng theo sao bắc đẩu (North star) trong vòng 5 độ! Bảy trăm năm trước Chúa, các kỹ sư của vua Ê-xê-chia đã đào một đường hầm ngoằn ngèo xuyên dưới lớp đá dài 600 mét; họ đào từ hai đầu đến gặp nhau chính giữa mà chỉ chệch nhau đến ba bốn tấc. Thứ hai, không ai có thể chính xác luôn luôn được, ngay với máy móc và kỹ thuật của thời đại văn minh ngày nay, thì cũng không một quốc gia hay một thành phố nào nói lên cho biết chính xác được con số dân ở trong nước hay thành phố mình. Nói gần đúng, xấp xỉ (approximate) không có nghĩa là nói sai. Những điều về lịch sử mà người ta bảo là Kinh Thánh sai thì có nhiều điều về sau khảo cổ học đã khám phá đã cho thấy Kinh Thánh đúng.
Người ta đã sử dụng quá nhiều lập luận cho rằng Kinh Thánh là sản phẩm của thời xưa, không còn thích hợp với ngày nay nữa. Nhưng đã có hàng triệu người tìm được an ủi, ý nghĩa cho cuộc sống, sự cứu rỗi qua Kinh Thánh. Dù văn hóa thời xưa khác nhiều với thời nay, nhưng những điều giống nhau vẫn nhiều hơn. Người thời xưa vẫn sống, ăn uống, yêu thương, đau ốm, tranh đấu, suy nghĩ, phạm tội, chết và cũng như người ngày nay. Thật là sai lầm khi cho rằng trí óc người thời xưa khác trí óc người thời nay. Ông E. D. Hirsch (2) gọi sự sai lầm này là sự ngụy biện do thiếu hiểu biết quá khứ. Ông bảo rằng có ít khác biệt giữa người thời nay với người thời xưa hơn là giữa người thời nay với người thời nay. Kinh Thánh vẫn hiểu được và vẫn có giá trị thích hợp cho ngày nay.
Ngày nay cũng có những người khác xưng mình là Tin Lành nhưng vẫn cho Kinh Thánh có sai lầm. Tuy nhiên họ bảo rằng những sai lầm này chỉ là những khinh xuất thôi, không ảnh hưởng gì đến sứ điệp thuộc linh của Kinh Thánh họ bảo quan điểm Kinh Thánh vô ngộ quá hẹp hòi, có phủ nhận yếu tố con người trong Kinh Thánh nhưng quan điểm này dựa trên một quan niệm sai. Trong lịch sử, quan niệm về linh cảm từng lời, và sự vô ngộ của Kinh Thánh hàm ý rằng Đức Chúa Trời qua Thánh Linh đã hành động tiềm ẩn cách mạnh mẽ trên người viết. Linh cảm không phải là Đức Chúa Trời viết tất cả, còn con người không có gì cả, vì như thế tức là Chúa đọc cho người chép; cũng không phải là con người viết tất cả còn Đức Chúa Trời chẳng có phần gì vì như thế là một loại nhân bản chủ nghĩa (hunmanism). Cũng không phải là con người 50% và Đức Chúa Trời 50%, vì như thế thì không thể nào tránh được những sai lầm trầm trọng. Hình ảnh đúng thật là Đức Chúa Trời sử dụng toàn thể hoạt động con người, Ngài tác động cách mạnh mẽ và kiểm soát người viết 100%. Vậy, có thể có được sự linh cảm từng lời (verbal inspriration) là vì Đức Thánh Linh hoàn toàn có đủ khả năng để làm một việc như thế. Kết quả là các tác giả Kinh Thánh viết không phải như một người quả thường viết sách, nhưng họ viết như một người được “cảm ứng bởi Đức Thánh Linh” (IIPhi 2Pr 1:21). Cũng như tất cả những chân lý thiêng liêng khác, quan điểm này liên quan đến sự mầu nhiệm, một sự mầu nhiệm kỳ diệu đã ban cho chúng ta một Kinh Thánh vô ngộ.
Tầm Quan Trọng của Kinh Thánh Được Linh Cảm
Từ ban đầu các lãnh tụ Hội Thánh đã có quan điểm về sự linh cảm từng lời Kinh Thánh và sự vô ngộ của Kinh Thánh. Một trong những điểm nhấn mạnh chính của thời cải chánh là “Chỉ một mình Kinh Thánh mà thôi” (sola scriptura ). Điểm nhấn mạnh này rất quan trọng cho việc canh tân thuộc linh.
Do ảnh hưởng của khuynh hướng tự do mà giáo lý này bị đánh mất ở Đức vào thế kỷ thứ 19, và ở nhiều nơi tại Mỹ vào đầu thế kỷ 20. Một cuộc phục hưng niềm tin trọn vẹn vào Kinh Thánh đã kéo theo sự khôi phục sức mạnh Tin Lành là sự truyền bá Phúc Âm vào cuối thế kỷ 20. Do đó chúng ta có thể thấy được rõ ràng mối tương quan của giáo lý này của sự sống của Hội Thánh.
Không có lời chân thật từ trời thì người ta bị lạc mất trong cả biển ý người và trong sự đạo đức. Người ta đã đưa 10 điều răn ra khỏi trường học nhiều tổ chức giáo hội và phủ nhận quyền của mười điều răn. Hậu quả thật là tai hại. Nhưng vị môn đệ thân yêu của Chúa đã cảnh cáo từ lâu: “Tôi ngỏ cho kẻ này nghe lời tiên tri trong sách này: nếu ai thêm vào sách tiên tri này điều gì thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách này. Và kẻ nào bớt điều gì trong lời sách tiên tri này thì Đức Chúa Trời sẽ cắt lấy phần họ cây sự sống và Thần Thánh mà đã chép ra trong sách này.”
Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời cho chúng ta. Mỗi người chúng ta phải tự đọc, nghiên cứu, suy gẫm và nhất là phải thực hành lời Kinh Thánh. Rồi chúng ta cùng hợp tác với những người có cùng niềm tin quí báu nhưng chúng ta mà tôn kính Kinh Thánh và truyền dạy Kinh Thánh đến khắp mọi nơi trên đất.
Ngữ Vựng
Mặc khải tổng quát (general revelation); Giải Kinh Học (hermeneutics); vô ngộ (infallible); không sai lạc (inerrant); linh cảm (inspiration).
Sách Tham Khảo
Lewis, S. C. Miracles (New York : Macmillan, 1947), p. 74
Hirsch, E. D. The Aims of Interpretation ( Chicago: University of Chicago, 1976), p. 41
Geisler, N.L., ed. Inerrancy (Grand Rapids: Zondervan Publishing, 1980), chương 12,13.


TẠI SAO CƠ ĐỐC NHÂN TIN KINH THÁNH CỰU ƯỚC?
“Vả , người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời ...vì phải xem sét cách thiêng liêng ” (I Cô . 2:14;).
Có nhiều câu trả lời cho câu hỏi “Tại sao Cơ Đốc Nhân tin Kinh Thánh?” Có những câu trả lời quan trọng hơn những câu trả lời khác. Một số câu trả lời dựa trên “lý luận” (reasoning), một số khác dựa trên “đức tin”. Cả hai đều là căn bản và sẽ được xét tới từng cái một. Chương này sẽ bàn đến những câu trả lời liên quan đến Cựu Ước. Chương kế tiếp sẽ khai triển những lý do cho niềm tin trong Tân Ước.
Chúa Cứu Thế Giê-xu Tin Cựu Ước
Câu trả lời dễ nhất và rõ ràng nhất rằng tại sao Cơ Đốc Nhân tin Cựu Ước, đó là vì Chúa Cứu Thế Giê-xu tin Cựu Ước. Chúng ta tin cậy sự dạy dỗ của Ngài. Đức Chúa Giê-xu Christ là thẩm quyền tối hậu trong mọi vấn đề. Bởi những phép lạ, dấu kỳ, Ngài chứng tỏ cách trọn vẹn rằng chính Ngài đến từ Đức Chúa Trời. Ngài chứng tỏ rằng chính Ngài là con Đức Chúa Trời với tất cả quyền năng bởi sự sống lại từ cõi chết. Thánh Phao-lô đã tóm được lại điều đó trong RoRm 1:4 “theo thần linh của thánh đức , thì bởi sự sống lại của Ngài từ cõi chết , được tỏ ra là con Đức Chúa Trời với quyền phép ”. Nghi ngờ sự dạy dỗ của Đức Chúa Giê-xu Christ là nghi ngờ tất cả những gì quý báu và căn bản cho đức tin chúng ta. Đức Chúa Giê-xu tin Cựu Ước và dạy chân lý Cựu Ước. Như vậy là đủ cho Cơ Đốc Nhân rồi.
Có phải rõ ràng Đức Chúa Giê-xu tin và dạy Cựu Ước là lời Đức Chúa Trời không? Vâng nhiều câu rõ rệt cho thấy Ngài dạy như vậy. Có những đoạn khác trong bốn sách Phúc Am cho thấy thái độ cách tổng quát của Ngài về Cựu Ước.
Quan trọng hơn cả là việc Chúa Giê-xu Christ dạy hai môn đồ trên đường đến Em-ma-út sau khi Ngài phục sinh. Xin đọc LuLc 24:13-31. Trong đoạn này, rõ ràng các môn đồ không hoàn toàn chấp nhận lời làm chứng của mấy người đàn bà về việc Chúa đã phục sinh. Khi Ngài nói chuyện với hai môn đồ, Ngài gọi họ là” những kẻ dại dột, cò lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói” (c. 25). Rồi Ngài lướt qua Cựu Ước cho họ thấy thế nào Cựu Ước đã nói trước những điều này. Trong Hy Văn thì nói rằng “Ngài , bắt đầu cắt nghĩa cho họ từ Môi-se và từ tất cả các tiên tri trong Kinh Thánh những điều chỉ về Ngài ” (c.27). Để ý, thể nào Đấng Tôn cắt nghĩa từ một quyển sách được biết là “Kinh Thánh “ và sách này cũng được gọi là“Môi-se và tất cả các tiên tri”. Tên sau là tên các cuộn Biển Chết và Tân Ước thường dùng để chỉ về Cựu Ước. Danh xưng đó hay xưng “luật pháp và các tiên tri” đã được dùng, với chút ít thay đổi, trong Tân Ước. Đức Chúa Giê-xu đã tuyên bố rằng họ phải tin quyển sách đó.
Sự dạy dỗ tương tự cũng đã được trình bày mạnh mẽ trong LuLc 16:29-31. Trong câu chuyện về người giàu là La-xa-rơ, đã nhấn mạnh về đức tin nơi Lời Đức Chúa Trời. Người nhà giàu đã bị định tội vào nơi hình phạt đời đời là nơi không thể trốn thoát và giải cứu được. La-xa-rơ, “người nghèo” ở trong nơi phước hạnh vĩnh cữu. Người nhà giàu khẩn cầu với Áp-ra-ham xin gởi La-xa-rơ từ cỏi chết trở về để cảnh cáo năm anh em của ông ta đương còn sống. Đấng Christ trích câu trả lời của Áp-ra-ham với sự chấp thuận tỏ tường của Ngài, “Họ đã có Môi-se và các Đấng Tiên Tri,” nghĩa là họ đã có Kinh Cựu Ước. Người ta bị hình phạt cứ nài nỉ cho một chứng nhân với phép lạ đặc biệt. Áp-ra-ham trả lời “họ không tin được Môi-se và các Đấng Tiên tri thì dầu có ai từ cõi chết sống lại, họ cũng chẳng tin” (c.31). Để ý sức mạnh và sự áp dụng của câu này. Lời chứng của Cựu Ước còn có giá trị hơn lời chứng của một người từ cõi chết sống lại. Những người lãnh đạo Do-thái qua truyền thống đã làm cho lời Đức Chúa Trời trở thành vô hiệu lực. Cũng hãy để ý thế nào chân lý này được minh chứng qua sự kiện sau đó. Những người Do thái không tin sự sống lại của La-xa-rơ ở Bê-tha-ni, hay ngay cả sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ cũng vậy. Lời làm chứng của luật pháp và các tiên tri là tối hậu, như Đức Chúa Giê-xu đã nói.
Những đoạn khác cũng làm chứng như vậy. Trong GiGa 10:33-39, Đức Chúa Giê-xu trích từ Thi Tv 82:6, gọi đó là “luật pháp” và nói rằng “Lời Kinh Thánh không thể bỏ được”, thì lời tuyên bố của Ngài là đúng. Ơ đây chúng ta không bàn về việc Chúa xác nhận thần tánh của Ngài. Chúng ta chỉ nhấn mạnh sự kiện là Chúa đã đặt nền tảng về sự xác nhận trên lời Kinh Thánh. Kinh Thánh không thể bỏ được. Ngài đã luận từ chữ “các thần”. Nội một chữ đó cũng đủ để Ngài có thể đặt một nền tảng vững chắc cho sự xác nhận của Ngài.
“Vì nếu các ngươi tin Môi-se , cũng sẽ tin Ta , bởi ấy là về Ta mà người đã chép . Những nếu các ngươi chẳng tin những lời người chép , các ngươi há lại tin lời Ta sao ?” (GiGa 5:46, 47). Ơ đây Chúa Giê-xu Christ nói về Môi-se như là tác giả của năm sách Cựu Ước - Ngũ Kinh - và tuyên bố rằng chúng ta phải tin những sách này. Kỳ thật Đức Chúa Giê-xu đã gắn chặt đức tin nơi các sách của Môi-se với đức tin nơi lời của chính Ngài. Nghi ngờ Cựu Ước là nghi ngờ Đức Chúa Giê-xu. Nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê-xu chúng ta sẽ tin Cựu Ước. Những đoạn này dạy về tầm quan trọng của việc tin Cựu Ước và sự nguy hiểm của việc phủ nhận nó.
Các bằng chứng khác được ký thuật trong Mat Mt 15:17-19 và LuLc 16:16-17. Hãy đọc những đoạn này trong mấy đoạn đó Đấng Christ đã đề cập rõ ràng đến Cựu Ước, “luật pháp và các tiên tri”. Danh hiệu này được dùng để chỉ 39 sách trong Cựu Ước. Cuốn sách này, “luật pháp”, được gọi là văn phẩm toàn vẹn. Một sự xác nhận đặc biệt đã dành cho Cựu Ước: “Trời đất qua đi còn dễ hơn một chấm một nét trong luật pháp qua đi được ”. Thánh Ma-thi-ơ còn nói rõ hơn rằng nó trọn vẹn đến “từng chấm từng nét.” (một chấm là chữ Yodh trong tiếng Do Thái, chữ nhỏ nhất trong mẫu tự Do Thái thời Giê-xu. Một nét có lẽ là cái nét rất nhỏ để phân biệt những chữ giống nhau - giống như dấu gạch ngang của chữ “t” và dấu chấm trên đầu chữ “i” của chúng ta). Thật lí thú khi so sánh những đoạn này với những gì Đức Chúa Giê-xu nói về những lời của Ngài “trời đất sẽ qua đi nhưng lời Ta nói sẽ chẳng bao giờ qua đi ” (Mat Mt 24:35, và LuLc 21:33). Để ý rằng Đức Chúa Giê-xu không nói về sự bảo tồn lời Ngài, mà đương nhiên một số có thể đã mất; Ngài chỉ nói đến chân lý đời đời và quyền năng của lời Ngài.
Dựa vào Mat Mt 5:17, một số người phản đối cách lập luận này, vì họ cho rằng Đức Chúa Giê-xu lại nói ngược với Kinh Thánh trong những câu sau đó. Ơ đây cũng đủ cho thấy rằng Chúa Giê-xu đã không đi ngược Cựu Ước, nhưng Ngài chỉ phủ nhận cách giải nghĩa Kinh Thánh theo kiểu truyền thống và thư lại. Chẳng hạn, trong câu 43 “các ngươi có nghe lời phán rằng (không phải “có lời chép rằng hãy yêu người lân cận và ghét kẻ thù nghịch mình”. Chỉ có phần đầu của câu trích này (LeLv 19:18), là từ trong Cựu Ước. Phần sau không phải. Đức Chúa Giê-xu đối ngược lại phần sau - là phần do người Pha-ra-si thêm vào. Trong những câu tương tự cho thấy rằng Đức Chúa Giê-xu không dạy ngược lại với Cựu Ước. Ngài chỉ muốn phơi bày ra những chỗ thêm thắt vào do các thầy thông giáo, những chỗ diễn dịch sai và những chỗ Kinh Thánh bị bóp méo. Ngài tôn trọng Cựu Ước như là lời chắc chắn của Đức Chúa Trời.
Thái độ của Đức Chúa Giê-xu đối với Cựu Ước cũng được tỏ rõ trong những chỗ tổng quát khác. Ngài trích Cựu Ước để quở trách Sa-tan (Mat Mt 4:4, 7, 10). Ngài bắt đầu chức vụ tại Ca-bê-na-um bằng việc đọc sách tiên tri Ê-sai trong nhà hội (LuLc 4:16-19). Đối với đám đông tụ họp Ngài phán rằng: “Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó ” (LuLc 4:21). Ngài phán cùng những người Sa-đu-sê rằng họ sai lầm “Không biết Kinh Thánh” (Mat Mt 22:29). Ngài dùng Kinh Thánh để biện minh cho hành động của Ngài trong ngày Sa-bát (22:29), trong việc dẹp sạch đền thờ (21:13), trong việc chấp nhận những lời ca tụng của dân chúng lúc Ngài vào thủ đô cách khải hoàn (21:16). Ngài tuyên bố rằng Ngài phải chịu đau đớn theo lời dụ ngôn của Kinh Thánh (LuLc 18:31-34). Ngài xác định rằng hành đông phản bội của Giu-đa đã được tiên báo (Mac Mc 14:21; GiGa 13:18; 15:25). Đức Chúa Giê-xu dằn lòng không gọi thiên sứ đến phục vụ để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm (Mat Mt 26:54). Thái độ của Ngài là thái độ vâng phục Kinh Thánh. Có thể tóm lại trong một câu đáng nhớ là “để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm ” (Mac Mc 14:49).
Nếu Đức Chúa Giê-xu chấp nhận Kinh Thánh thì chúng ta là ai mà thắc mắc hay phủ nhận Kinh Thánh? Các Cơ Đốc Nhân phải tin và vâng theo Lời của Đức Chúa Trời.
Còn nhiều điều nữa có thể nói đến. Đức Chúa Giê-xu chấp nhận các hành động của Cựu Ước, cũng như sự dạy dỗ, lịch sử và giáo lý của nó. Ngài tin tất cả Cựu Ước. Ngài đề cập đến Giô-na trong bụng cá (Mat Mt 12:40), sự dựng nên A-đam và Ê-va bởi Đức Chúa Trời (Mac Mc 10:6), tàu Nô-ê (Mat Mt 24:38) vợ Lót (LuLc 17:32). Trong tất cả các sách Phúc Am và trong nhiều phân đoạn Thánh Kinh khác nhau, Đức Chúa Giê-xu được trình bày như là Đấng tin tưởng hoàn toàn vào Cựu Ước. Ngày nay, ngay cả những học giả vô tín nhất cũng nhìn nhận rằng Đức Chúa Giê-xu tin Cựu Ước. Có điều là những học giả này không tin Đức Chúa Giê-xu. Nhưng đối với Cơ Đốc Nhân, lời của Đức Chúa Giê-xu là đủ rồi.
Các Sứ Đồ Tin Cựu Ước
Thái độ của các Sứ Đồ là những người đã học từ Chúa Giê-xu cũng có thể xác nhận thêm. Một thí dụ nỗi bậc là bức thư thứ nhì của Phao-lô cho Ti-mô-thê. Đây là thư cuối cùng của Phao-lô đầy những lời khuyên nghiêm trọng. Phao-lô muốn để lại cho Ti-môt-thê huấn lệnh nghiêm túc “hãy giảng đạo” (IITi 2Tm 4:2). Để nhấn mạnh điều này, Phao-lô đã nhắc nhở Ti-mô-thê rằng: “ Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn , có ích cho sự dạy dỗ , bẻ trách , sửa trị , dạy người trong sự công bình ” (3:16).
Một số người thắc mắc về ý nghĩa của câu Kinh Thánh này, nhưng không cần phải như vậy. Chữ “soi dẫn” không có nghĩa là “thở vào”, nhưng nghĩa đen là “Đức Chúa Trời thở,” có nghĩa là phán bởi Đức Chúa Trời. Chẳng có gì phải nghi ngờ về ý nghĩa của câu Kinh Thánh này nữa. Có người dịch rằng “Hễ câu Kinh Thánh nào được Đức Chúa Trời hà hơi thì cũng đều có ích lợi” (bản Revised Version), như thế là chỉ có một số câu Kinh Thánh được hà hơi mà thôi. Nhưng Kinh Thánh đã đề cập đến vấn đề này cách hoàn toàn rõ ràng trong câu 15. Đó là Kinh Thánh Cựu Ước mà Ti-mô-thê đã học nơi chân người mẹ Do Thái của mình.
Bức thư tín cuối cùng của Phi-e-rơ cũng nói rõ ràng như vậy. Phi-e-rơ đã thấy trước cái chết sắp tới của mình (IIPhi 2Pr 1:14) và muốn để lại một di sản giá trị. Để giữ các bạn mình kiên lập trên đức tin mà ông đã dạy, Phi-e-rơ tiến dẫn những lời tiên tri của Thánh Kinh là lời “không bởi ý riêng một người nào mà ra , nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời ” (1:21).
Các vị Sứ Đồ cũng trích Thánh Kinh Cựu Ước như Đức Chúa Giê-xu. Đức Chúa Giê-xu nói rằng Đa-vít viết Thi Tv 110:1-7 là bởi Đức Thánh Linh cảm thúc (Mac Mc 12:36), Phi-e-rơ cho rằng Đa-vít là một vị tiên tri nên đã nói trước về Chúa Giê-xu trong Thi Tv 16:1-11 (Cong Cv 2:30-31). Phao-lô trích Ê-sai đoạn 6 và nói rằng Đức Thánh Linh phán điều này qua tiên tri (28:25) Tác giả của sách Hê-bơ-rơ cũng nói “Đức Chúa Trời đã dùng các Đấng tiên tri phán dạy ...” (HeDt 1:1).
Bằng chứng đã trọn vẹn và thỏa đáng. Chúa Giê-xu và các vị Sứ Đồ mà Ngài đã dạy chấp nhận Cựu Ước như là lời thật và đáng tin cậy của Đức Chúa Trời .
Nên lưu ý là ở đây các học giả Kinh Thánh không chứng minh Kinh Thánh từ Kinh Thánh. Đây không phải là lý luận lòng vòng. Trước hết họ chấp nhận Kinh Thánh Tân Ước là văn kiện lịch sử vững chắc về cuộc đời và sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu. Tân Ước là một văn kiện, chỉ giản dị như thế. Rồi các học giả khảo sát sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu xem thử thế nào Chúa Giê-xu đã chứng tỏ Ngài là chân lý và nguồn của sự sống vĩnh phước. Nhưng không chỉ thế, Đức Chúa Giê-xu dạy rằng 39 sách Cựu Ước, lúc đó gọi là “luật pháp và các tiên tri”, là lời Đức Chúa Trời mặc khải chân thật và không có lỗi lầm nào dù là chi tiết nhỏ nhặt. Lẽ đạo mà chính Đức Chúa Giê-xu đã dạy này thường được gọi là sự linh cảm trên từng lời từng chữ và dựa vào thẩm quyền của Ngài mà chúng ta chấp nhận.
Ngày trước các Cơ Đốc Nhân cũng nghĩ như vậy khi họ đề cập đến Kinh Thánh là vô ngộ hay nói về sự linh cảm toàn phần của Kinh Thánh. Quan điểm này về Kinh Thánh đã được các Cơ Đốc Nhân tin kính chấp nhận ở mọi thời đại. Nó được đặt nền tảng trên những lý lẽ tốt nhất, đó là lời xác chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ.
Các Sự Kiện Xác Thực Kinh Thánh Cựu Ước
Có rất nhiều lý do khác xác nhận nguồn gốc thiên thượng của Kinh Thánh Cựu Ước. Bất cứ sinh viên nào học Kinh Thánh cách nghiêm túc đều phải cẩn thận lưu ý và phải có thể đánh giá được những sự xác nhận này.
Sự Bày Tỏ Các Phép Lạ
Các phép lạ được thực hiện bởi các vị tiên tri của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh chứng tỏ rằng các vị này nói bởi Đức Chúa Trời.
Sự Xác Thật Của Lời Tiên Tri
Lời của Đức Chúa Trời chứa đựng hàng trăm lời tiên tri. Nhiều lời tiên tri trong số này đã được ứng nghiệm - chẳng hạn như sự tản lạc của người Do Thái và sự truyền bá Phúc Âm khắp nơi trên thế giới. Những lời tiên tri khác chẳng hạn như sự trở lại lần thứ hai của Chúa Giê-xu Christ sẽ được ứng nghiệm vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Chúng ta sẽ tiếp tục bàn về vấn đề tiên tri trong chương tám. Nhưng bây giờ hãy để ý rằng các lời tiên tri là những bằng chứng về tính cách siêu nhiên của Kinh Thánh. Những lời tiên tri này nhằm để minh chứng rằng Đức Chúa Trời thật đã phán bảo. Một lời tiên tri được ứng nghiệm là một trong những thử nghiệm về chức vụ của vị tiên tri như đã đề cập trong PhuDnl 18:20-22. Mi-chê đã nói tiên tri về cái chết của A -háp ở Ra-mốt trong Ga-la-át và quả quyết về sự ứng nghiệm của lời tiên tri mình (IVua 1V 22:28). Có những lời tiên tri đã được tiên đoán từ lâu như lời tiên tri đoán về Đại Đế Si-ru cho tái thiết đền thờ Giê-ru-sa-lem trong EsIs 44:26-28 là một thí dụ. Những lời tiên tri thường rất rõ ràng chính xác một cách kỳ lạ. Những sách khác không dựa vào Kinh Thánh thì không có những lời tiên đoán như thế - Kinh Koran, những Kinh thư của Đông Phương, sách của Hội Christan Science, “Khoa Học và Sức Khỏe với chìa khóa dẫn vào Kinh Thánh ”, hay các sách triết lý Hy Lạp - không một sách nào trong những sách này dám làm như Kinh Thánh, chứa đựng hàng trăm lời tiên tri rải rác khắp cả phần chính. Những đầu óc hoài nghi luôn luôn muốn tìm cách giải thích hiện tượng này. Không còn một giải đáp thỏa đáng nào ngoài niềm tin rằng lời tiên tri trong Kinh Thánh chính là sự điệp tư Đức Chúa Trời ban, không những chỉ gây ấn tượng và cảm xúc, mà còn cung cấp các dữ kiện xác định và sự măc khải từ thiên thượng.
Sự Thật Về Chân Lý Thiêng Liêng
Kinh Thánh đề cập đến những sự thật thiêng thượng và thiêng liêng (Heavenly and Spiritual Realities), chẳng hạn như sự qui đạo, sự đắc thắng trong Chúa Giê-xu Christ, sự hữu hiệu của lời cầu nguyện và tình thông công giưã tín đồ. Những điều này và biết bao nhiêu những hiện thực thiêng liêng khác nữa đã làm chứng rằng Kinh Thánh chính là lời của Đức Chúa Trời.
Lời Chứng Của Lịch Sử
Một lập luận nữa là: qua bao nhiêu thế kỷ người ta đã liên tục nói về một Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, ngay cả trong thời kỳ những nền văn hóa cổ còn chìm đắm trong chủ thuyết đa thần và sa đọa. Nếu chúng ta có thể dựa vào kết quả mà phán đoán thì Kinh Thánh đích thực là đến từ Đức Chúa Trời.
Đức Tin Xác Chứng Kinh Thánh
Đầu chương này đã đề cập đến việc một số người tin Kinh Thánh là nhờ lý trí lý luận. Thật ra điều này cũng chưa đủ. Sự thật là dù có những lý luận hay nhất cũng không thể bắt phục được người không muốn tin. Chỉ có đức tin do Đức Chúa Trời ban mới là bằng chứng đáng tin rằng Kinh Thánh chính là Lời của Đức Chúa Trời.
Đây không có nghĩa là những lập luận hay lý luận ở trên là tệ và không đủ. Nhưng chỉ có ý là những người chưa được cứu thì mù tối về Phúc Am. “Những việc thuộc linh ... cần phải nhận định một cách thuộc linh ” (ICo1Cr 2:13-14). Những người loạn thị thì không thể phân biệt được sự khác biệt giữa màu xanh và màu đỏ. Người mù cũng không thể thấy được mặt trời.
Chỉ khi nào Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động trong lòng người chưa được tái sanh thì bấy giờ người ấy mới có thể tin tưởng cách trọn vẹn vào Kinh Thánh. Người chưa được cứu có thể tin Kinh Thánh là sách lịch sử có giá trị và chứa đựng những lời khuyên rất có lý. Người ấy có lẽ cũng cảm kích về giá trị của đạo đức của Kinh Thánh. Nhưng chỉ có hành động nhiệm mầu của Đức Thánh Linh mới khiến cho người ấy thấy được giá trị đích thực của Kinh Thánh - sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Chân lý này thường được gọi sự làm chứng nội tại của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận khi tìm hiểu giáo lý này. Người tín đồ không có nghe một tiếng nói rằng: “cuốn sách nhỏ màu đen này là sách có thần cảm”. Đức Thánh Linh không ban một lời chứng, một ánh sáng hay mặc khải nào ngoài Kinh Thánh. Nhưng Ngài làm chứng bằng Lời Kinh Thánh trong lòng chúng ta. Như Abraham Kuyber đã nói, Đức Thánh Linh làm chứng cho trọng tâm, những sự kiện căn bản của sự cứu rỗi chúng ta. Kinh Thánh ban cho chúng ta con đường cứu rỗi. Đức Thánh Linh ban cho ta mắt để thấy, để chấp nhận và để cảm tạ sự cứu rỗi này.
Đức Thánh Linh ban cho một đức tin chân thật phát xuất từ tấm lòng qua việc nghe giảng dạy về Phúc Am . Người ta nghe các sự kiện về câu chuyện Phúc Am: Cuộc đời của Đức Chúa Giê-xu, sự chết và sự sống lại của Ngài. Đức Thánh Linh cáo trách tội lỗi người ta và bắt phục họ chấp nhận rằng Chúa Giê-xu Christ là Chúa Cứu Thế duy nhất. “Ai tin đến Con Đức Chúa Trời thì có chứng ấy trong mình... chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống, ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống” (IGi1Ga 5:10-12).
Ngữ Vựng
Linh cảm toàn phần (plenary inspiration); linh cảm từng lời từng chữ (verbal inspiration).
Sách Tham Khảo
Geisler, Norman L., and Nix, William E. From God to Us : How We Got our Bible . Chicago: Moody Press, 1974.
Harris, R Laird. “Canon of the Old Testament.” In vol.1 of the Zondervan Pictorial Encyclopedia of the Bible .
Harris, R Laird. Inspiration and Canonicity of the Bible . Revised edition. Grand Rapids: Zondervan, 1969
Ridderbos, Herman. Scripture and It’s Authority . Grand Rapids: Wm B. Eerdmans Pub. Co., 1977

TẠI SAO CƠ ĐỐC NHÂN TIN KINH THÁNH TÂN ƯỚC?
“Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn ”(IITi 2Tm 3:16)
Những người tin Cựu Ước thường không gặp khó khăn mấy trong vấn đề tin Tân Ước. Đây là lẽ tự nhiên. Tân Ước nói về chuyện tích Phúc Am của Chúa Giê-xu Christ và lịch sử của việc thành lập và bành trướng Hội Thánh đầu tiên một cách chi tiết. Vì Tân Ước được viết sau Cựu Ước nên có rất nhiều bằng chứng từ những người đồng thời với các tác giả Tân Ước hoặc đồng thời với những đệ tử thân cận của tác giả ấy.
Bất cứ người nào được Đức Thánh Linh mở mắt để thấy chân lý trong Cựu Ước cũng sẵn sàng chấp nhận Tân Ước. Tuy nhiên, sự bày tỏ đức tin chúng ta cách minh bạch về những vấn đề này và nghiên cứu kỹ càng về những bằng chứng của Tân Ước là việc rất quan trọng. Hơn nữa, có kiến thức về Tân Ước và nguồn gốc của nó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc tìm hiểu nguồn gốc Cựu Ước.
Trong trường hợp của Cựu Ước, người ta có phải dùng những lời trích dẫn của Chúa Giê-xu Christ để minh chứng rằng toàn bộ Cựu Ước là trọn vẹn và hoàn toàn. Nhưng đối với Tân Ước thì không thể làm thế được, bởi toàn bộ Tân Ước được viết sau khi Chúa Giê-xu đã về trời. Như vậy chúng ta phải thiết lập những nguyên tắc cho đức tin chúng ta về Tân Ước dựa vào những điều Đức Chúa Giê-xu đã phán dạy trước đó, và từ những gì các vị Sứ Đồ đã ghi lại về sự dạy dỗ của Ngài.
Các Sứ Đồ Chứng Nhận
Lời tuyên bố của các vị Sứ Đồ về việc này rất tỏ tường. Một số người có đầu óc hoài nghi đã phỏng định rằng các vị Sứ Đồ chẳng hề hay biết gì về những điều họ viết sẽ được chấp nhận, sưu tập, và bảo vệ như là lời Đức Chúa Trời. Trong trí của những người hoài nghi thì Thánh Phao-lô viết thư như thể chúng ta viết thư ngày nay và chỉ sau này các thư đó mới được kính trọng rồi được sưu tập lại. Quan điểm này phủ nhận những ân tứ đặc biệt Đức Thánh Linh ban cho các Sứ Đồ, nó phủ nhận rằng các văn kiện này được linh cảm bởi Đức Chúa Trời. Sự hoài nghi như thế đối nghịch với sự xác nhận thường xuyên của các Sứ Đồ rằng họ viết với chủ ý là độc giả sẽ tin và vâng theo. Sau cùng, sự hoài nghi này mâu thuẫn với sự kiện lịch sử hiển nhiên rằng các sách này chấp nhận và sưu tập không phải hàng trăm năm sau, mà ngay trong thời các Sứ Đồ còn sống.
Thật cần thiết phải khảo sát tường tận những lời tuyên bố của các vị Sứ Đồ. Những lời tuyên bố này thường được nhắc đến một cách nỗi bật khi có liên quan đến việc một số Hội Thánh không chịu vâng lời, nổi lên chống lại các vị giáo sư. Việc này rất phổ thông thời đó, đặc biệt là tại Hội Thánh Cô-rinh-tô. Thánh Phao-lô đã xác nhận gì về thẩm quyền của mình, đặc biệt đối với người Cô-rinh-tô ?
Phao-lô
Ngắn gọn, nhưng hùng hồn, Thánh Phao-lô đã tuyên bố rằng Ông nói và viết lời Đức Chúa Trời. Thơ I Cô-rinh-tô được viết cho một Hội Thánh chia rẽ, tội lỗi và phản loạn. Một số tín hữu đã tự cho mình có các ơn tứ thuộc linh nhưng không biểu một thái độ thuộc linh. Từ đoạn 12 đến 14, Thánh Phao-lô cho họ lời chỉ dẫn cách sử dụng những ơn tứ thộc linh. Phao-lô chấm dứt với một lời nhắc nhở khá sắc bén: “Có phải là đạo Đức Chúa Trời ra từ nơi anh em, hoặc chỉ đến cùng anh em mà thôi chăng? Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là được Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng đều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa” (ICo1Cr 14:36-37). Ơ đây Thánh Phao-lô đã xác nhận rõ ràng rằng Đức Chúa Trời đã ban quyền năng trên các thư tín của ông.
Trong ITe1Tx 2:13, bức thư tín đầu tiên mà Thánh Phao-lô đã viết ông cũng nói như vậy. Ông khen ngợi các tín hữu tại Tê-sa-lô-ni-ca vì cớ họ trung tín, và tuyên bố rằng họ đã nhận lời giáo huấn của ông như là lời của Đức Chúa Trời, chứ không phải của loài người. Chẳng bao lâu sau, ông viết thơ II Tê-sa-lô-ni-ca, vì họ hiểu lầm về sự tái lâm. Trong thơ này, ông nói rất mạnh mẽ: “Ví bằng có ai không tuân theo lời chúng tôi nói trong thư này, thì hãy ghi lấy, chớ giao thông với họ, hầu cho họ nhơn đó biết xấu hổ”. (IITe 2Tx 3:14). Phao-lô đã gởi đến các Hội Thánh Lời Đức Chúa Trời , và kỳ vọng họ tin và vâng lời như thế. Có một chỗ khác trong I Cô-rinh-tô đoạn 2 Phao-lô cũng có những lời mạnh mẽ tương tự. Trong phần binh vực về chức vụ mình, Phao-lô đã tuyên bố rằng ông nói bởi “sự bày tỏ của Đức Thánh Linh “ (c.4), giảng “sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời “ (c.7), như đã được tỏ ra cho ông “bởi Đức Thánh Linh “(c.10). Ông biết những điều thuộc về Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho mình (c.12), và ông dạy những điều đó không phải bằng lời của loài người, nhưng bằng lời Đức Thánh Linh đã dạy ông.
Rất dễ để bỏ sót điểm này: có những chỗ thánh Phao-lô dùng đại danh từ “chúng tôi”. Chữ này có lẽ ám chỉ Phao-lô và các vị Sứ Đồ khác như nói trong ICo1Cr 4:9. Cũng có thể đây là cách nói lịch sự mà Thánh Phao-lô đã dùng chữ “tôi” và “chúng tôi” lẫn lộn rất tự nhiên.
Phi-e-rơ
Phi-e-rơ cũng tin rằng ông ta viết dưới sự linh cảm của Đức Chúa Trời. Trong thơ II Phi-e-rơ, là bức thư cuối cùng, ông nhấn mạnh tính chất đáng tin cậy của Cựu Ước. Ông cũng xác nhận ơn linh cảm ban cho Sứ Đồ ngang hàng với ơn linh cảm đã ban cho các tác giả của Cựu Ước: “...hầu cho ghi lấy lời nói trước của các Thánh Tiên tri , cùng mạng lịnh của Chúa và Chúa Cứu Thế của chúng ta , đã cậy các Sứ Đồ của anh em mà truyền lại ” (IIPhi 2Pr 3:2). Những lời tuyên xưng này xác quyết Kinh Thánh cần phải được tiếp nhận và tin cậy.
Phi-e-rơ Chấp Thuận Phao-lô
Trực tiếp hơn nữa là lời đề cập của Phi-e-rơ về Phao-lô, “Lại phải nhìn biết rằng sự nhịn nhục lâu dài của Chúa chúng ta cốt vì cứu chuộc anh em , cũng như Phao-lô , anh rất yêu dấu của chúng ta , đã đem sự khôn ngoan được ban cho mình và viết thơ cho anh em vậy . Ay là điều người đã viết trong mọi bức thư , nói về những sự đó , ở trong có mấy khúc khó hiểu , mà những kẽ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa , cũng như họ giải sai về các phần Kinh Thánh khác , chuốc lấy sự hư mất riêng về mình ” (3:15-16). Ở đây Phi-e-rơ xác định rằng Phao-lô viết Kinh Thánh , và cũng như Cựu Ước lời Phao-lô viết có thể bị bóp méo, chỉ làm nguy hại độc giả. Ông ta đề cập rõ ràng đến các “thơ tín” của Phao-lô.
Phân đoạn đáng chú ý này mà trong đó Phi-e-rơ đề cập đến các thơ tín của Phao-lô này, có thể là phân đoạn đầu tiên áp dụng danh từ “Kinh Thánh” cho các tác phẩm trong Tân Ước. Một chỗ khác có lẽ cũng đã nói một cách tương tự là trong ITi1Tm 5:18, “Vì Kinh Thánh chép rằng : ngươi chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa ; và người làm công thì đáng được tiền công mình ”. Câu Kinh Thánh này gồm có hai phần. Phần thứ nhất trích từ PhuDnl 25:4, phần thứ nhì thì giống y như trong LuLc 10:7 (trong nguyên văn Hy Lạp). Dường như là điều rất tự nhiên để tin rằng ở đây Phao-lô trích dẫn cả Cựu Ước và sách Phúc Am thứ ba và gọi cả hai là “Kinh Thánh”.
Đoạn thứ ba cũng trong chiều hướng này là Giu Gd 1:17,18. Ơ đây Giu-đe nhắc phải nhớ những lời mà “các Sứ Đồ Đức Chúa Giê-xu đã nói.” Giu-đe đã trích dẫn gần như y hệt IIPhi 2Pr 3:3. Câu trích dẫn này ủng hộ thẩm quyền Sứ Đồ của tác giả và ngày trước tác sớm của thơ II Phi-e-rơ, và cũng bày tỏ sự kính trọng dành cho các vị Sứ Đồ trong những ngày đầu tiên.
Giăng
Nhân chứng sau cùng là Sứ Đồ Giăng. Khi ký thuật truyện tích Phúc Am, Giăng đã xác nhận rõ ràng ông là môn đồ được Chúa yêu, là người đã dựa vào ngực Chúa trong bữa tiệc cuối cùng. Giăng đã xác quyết những gì ông viết và làm chứng là xác thật (GiGa 21:20-24).
Cũng trong thư thứ nhất của ông, Giăng đã trình bày cách chi tiết rằng ông là người đã thấy tận mắt và là người viết sứ điệp nghe từ Đức Chúa Trời (IGi1Ga 1:1-5). Ông cảnh cáo rằng các tiên tri giả đầy dẫy khắp nơi và khuyên giục các tín hữu hãy sử dụng khả năng phân biệt (4:1). Ông không ngần ngại viết “Chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời ; ai nhìn biết Đức Chúa Trời thì nghe chúng ta , còn ai chẳng hề thuộc về Đức Chúa Trời , thì chẳng nghe chúng ta ” (4:6). Sách bình giải của học giả Meyer về phân đoạn này cho rằng Kinh Thánh đó dạy rằng Giăng và các vị Sứ Đồ khác đều nói bởi Đức Chúa Trời .
Lời Chứng Trong Sách Khải Huyền
Có lẽ lời xác nhận mạnh mẽ nhất về Kinh Thánh Tân Ước là lời chứng của Giăng trong sách Khải Huyền. Sách Khải Huyền gọi là “sự mặc khải của Đức Chúa Trời qua Giăng”, cũng có lời chào thăm(KhKh 1:4, 5) như các tác phẩm của Phao-lô. Sách này bảo đảm chắc chắn phước hạnh cho những ai đọc, nghe, và vâng theo (1:3). Sách cũng công bố lời rủa sả ghê sợ cho bất cứ ai dám “thêm vào” hay “bớt đi những điều đã chép trong sách tiên tri này” (22:18, 19). Lý do đã được thiên sứ công bố “những lời này là trung tín và chân thật , Chúa là Đức Chúa Trời của các vị tiên tri thánh đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra ...Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách này ” (22:6, 7). Sau đó (c.10), sách này được ban lệnh đừng niêm phong lại. Để ý sự tương phản chỗ này với DaDn 12:9, ở đó khải tượng phải “đóng lại và niêm phong cho tới kỳ cuối cùng ”. Sách Khải Huyền được liệt kê ngang hàng với Cựu Ước. Đây là quan điểm của vị Sứ Đồ. Đây cũng phải là thái độ của chúng ta đối với toàn bộ Tân Ước vậy.
Chức Vụ Sứ Đồ
Tại sao các Sứ Đồ nói như thế về tác phẩm của họ? Câu trả lời có thể tìm nơi sự đích thân bổ nhiệm 12 sứ đồ của Chúa, và việc chính Chúa hứa họ sẽ nhận lãnh Đức Thánh Linh để thực hiện công tác đặc biệt làm người dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời.
Hãy xem vẻ cao quí của chức vụ Sứ Đồ. Chính Đức Chúa Giê-xu đã chọn 12 vị sau một đêm cầu nguyện (LuLc 6:12, 13). Sau đó Ngài còn hứa rằng họ sẽ “ngồi trên 12 ngôi đoán sét 12 chi phái của Y-sơ-ra-ên” (Mat Mt 19:28). Tên của họ sẽ được khắc vào 12 tảng đá móng của thành Giê-ru-sa-lem Mới (KhKh 21:14). Hội Thánh được “xây trên nền các xứ đồ và các tiên tri , chính Đức Chúa Giê-xu là đá góc nhà ” (Eph Ep 2:20). Các vị Sứ Đồ là các vị đầu tiên trong Hội Thánh (ICo1Cr 12:28). Các Sứ Đồ là những nhân chứng của việc Chúa phục sinh (Cong Cv 1:22). Chúa Giê-xu hứa là Đức Thánh Linh sẽ bày tỏ cho họ Lời Đức Chúa Trời.
Trong sự ký thuật của Giăng về bữa tiệc cuối cùng và các biến cố kế tiếp, nhiều lời hứa quí báu đã được truyền ban (GiGa 13:1-16:33). Trong vài trường hợp, các vị Sứ Đồ được phân biệt hẳn khỏi những con cái Chúa sau này. Trong 17:12-20, Chúa Giê-xu đã cầu nguyện, “Ay , chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu , nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa ” (17:20). 14:26 và 16:13 cũng nói rõ ràng như vậy. Trước đó (14:26), Đức Thánh Linh đã được hứa ban cho các Sứ Đồ. Dù Ngài sẽ đến với mọi tín đồ, câu này đặc biệt hứa rằng Ngài sẽ đến với các Sứ Đồ để họ có thể nhớ lại những lời mà Đức Chúa Giê-xu đã nói cùng họ.
Có thể các Sứ Đồ đã ghi chú một ít về sứ điệp của Đức Chúa Giê-xu. Một phương pháp viết tắt cũng đã được dùng thời đó rồi và có thể lắm các sứ dồ đã dùng phương pháp đó. Mặc dù không biết có đúng như thế hay không, Đức Thánh Linh cũng đã được hứa đặc biệt để giúp họ nhớ lại câu chuyện Phúc Am. Ngài sẽ hướng dẫn họ vào mọi lẽ thật (16:13). Một số tín đồ đã không ngần ngại cho rằng đây là lời hứa cho Hội Thánh chung. Nhưng văn mạch (context) rõ ràng đã giới hạn lời hứa này vào việc linh cảm và mặc khải của Đức Thánh Linh cho các Sứ Đồ mà thôi. Ngài đã được hứa để “tỏ bày cho các người những việc sẽ đến ”. Đây không phải là sự soi sáng phổ thông của Đức Thánh Linh cho tất cả tín đồ, mà là lời hứa đặc biệt cho 12 vị Sứ Đồ mà thôi.
Bằng chứng về tính cách chân thật của Tân Ước thật là nhiều! Chúng ta không hết kinh ngạc về cách Tân Ước đã được viết. Đức Chúa Trời là Đấng đã phán bởi các vị tiên tri đã sai Con Ngài ban sự cứu rỗi cho chúng ta. sau khi Đức Chúa Giê-xu thăng thiên, Hội Thánh thời Tân Ước đã được thành lập cách lạ lùng trong ngày lễ Ngũ Tuần. Những vị sáng lập viên và những nhà lãnh đạo lại là những người mà chính Chúa Giê-xu đã chọn. Họ là những vị Sứ Đồ. Họ tuyên xưng là đã nói và viết Lời Đức Chúa Trời như các vị tiên tri Cựu Ước. Họ gọi các tác phẩm của nhau là “Kinh Thánh”. Họ đòi hỏi rằng những tác phẩm này được đọc và làm theo. Họ phát ngôn trong thần danh của Chua Giê-xu và dạy dỗ với thẩm quyền của Ngài.
Theo lịch sử, tất cả các cơ cấu của Hội Thánh đã tin nhận rằng những lời của các vị Sứ Đồ và các vị phụ tá của họ (Mác và Lu-ca) đều phải được tiếp nhận như là lời của Đức Chúa Trời đã phán bảo. Vì thế chúng ta thấy không có gì sai sau khi tuyên bố rằng Tân Ước, cũng như Cựu Ước đã được viết bởi những Thánh Nhân của Đức Chúa Trời khi họ được linh cảm bởi Đức Thánh Linh.
Các Giáo Phụ Hội Thánh Đầu Tiên Làm Chứng
Các giáo phụ của Hội Thánh đầu tiên là những vị đã viết liền sau thời kỳ Sứ Đồ đã tỏ ra tôn kính chức vụ Sứ Đồ.
Clement, Giám Mục Ở Rô-ma
Clement, một vị giám mục của Hội Thánh tại Rô-ma, viết một thư cho các tin hữu tại Cô-rinh-tô năm 95 S.C. trong đó ông đề cập đến “các vị Sứ Đồ danh tiếng” là Phi-e-rơ và Phao-lô. Ông nói rằng các Sứ Đồ đã giảng Phúc Âm của Chúa Giê-xu được xác định trong Lời Đức Chúa Trời sự bảo đảm của Đức Thánh Linh. Ông biện luận rằng các vị đó đã hòan toàn biết trước về các công việc của Hội Thánh. Cuối cùng, ông nói “Vị Sứ Đồ phước hạnh Phao-lô” đã viết cho tín hữu Cô-rinh-tô “dưới sự linh cảm của Đức Thánh Linh về vấn đề chia phe phái của họ liên quan đến các vị Sứ Đồ (Phi-e-rơ và Phao-lô) và “một người mà họ đã chấp nhận” (A-bô-lô). Rõ ràng Clement tôn kính các vị Sứ Đồ và tin những tác phẩm của họ.
Ignatius Ở An-ti- ốt
Ignatius cũng sống đồng thời vơi Clement. Ông là giám mục của Hội Thánh tại An-ti-ốt và đã tuận đạo năm 107 hay 117 S.C. Trên đường đến Rô-ma để thọ hình, ông đã viết bảy bức thư ngắn gởi cho các Hội Thánh và một vài cá nhân. Nhiều lần ông đối chiếu mình với các vị Sứ Đồ và ca tụng các vị Sứ Đồ rất cao. Chẳng hạn, trong bức thư cho người Ê-phê-sô, ông đề cập đến Phao-lô là người Thánh, người tuận đạo, người đáng được hạnh phúc nhất,” là người đã viết cho họ một thư tín. Đối với người Rô-ma ông viết, “Tôi không phải như người Phi-e-rơ và Phao-lô dám ban lệnh cho anh em. Họ là những vị Sứ Đồ, còn tôi chỉ là người bị định tội.”
Polycarp
Polycarp cũng là một người tuận đạo nổi danh, là người đã dâng cuộc đời mình cho Chúa cho đến tuổi già. Ông đã qua đời vào khoảng 155 S.C., làm môn đệ Chúa 86 năm (theo thư ông nói). Lúc còn niên thiếu, ông đã biết Sứ Đồ Giăng. Ignatius đã viết một thư cho Polycarp. Polycarp cũng viết một thư cho người Phi-líp, vào khoảng 118 S.C. có trích dẫn khoảng một nửa trong Tân Ước. Ông đề cập đến các vị Sứ Đồ song song với các vị tiên tri Cựu Ước. Ông tuyên bố rằng ông không thể “đạt đến sự khôn ngoan của người có phước và vinh hiễn như Phao-lô được”, là người đã viết cho họ một bức thư. Ông có đề cập đến sự tuận đạo của Ignatius, nhưng khi nói đến Sứ Đồ thì ông chỉ dành riêng cho Phao-lô và những người như Phao-lô mà thôi.
Các Vị Giáo Phụ Khác Của Hội Thánh
Những tác giả khác như Papias, Irenaeus, và Tertullian, đã cho nhiều lời dẫn chứng tương tự để cho chúng ta có nhiều lời chứng từ thế hệ kế tiếp các Sứ Đồ.
BIÊN NIÊN SỬ CỦA MÔT VÀI GIÁO PHỤ VÀ CÁC TÁC PHẨM CỦA HỌ
95 S.C. Clement ở Rô-ma
117 Ignatius
117 Thư của Polycarp
130 Thư tín của Barnabas
145 Papias
145 Justin Martyr, Barnabas, Hermas
160 Thư tín của Hermas
160 Sách Giáo Huấn (The Didache)
170 Irenaeus, Muratorian Fragment
200 Tertullian, Clement ở Alexandria
Ngữ Vựng
Sứ Đồ (Apostles); Các giáo phụ Hội Thánh đầu tiên (Church Fathers); Ignatius; Clement; Polycarp.
Sách Tham Khảo
Geisler, Norman L., and Nix, William E. From God to Us : How We Got Our Bible . Chicago: Moody Press, 1974.
Guthrie, Donald. “Canon of the New Testament.” In Vol. 1 of the Zondervan Pictoral Encyclopedia of the Bible . 5 vols. Edited by Merrill C. Tenney. Grand Rapids: Zondervan Pub. House 1975.
Harris, R. Laird. Inspiration and Canonicity of the Bible . Revised editon. Grand Rapids: Zondervan Pub. House,1969.


AI VIẾT CỰU ƯỚC?
“Đức Chúa Trời đã phán ...bởi các tiên tri ” (HeDt 1:1).
Đức Chúa Trời có thể truyền đạt ý định và công việc của Ngài cho con người bằng nhiều cách. Ngài chọn việc viết Kinh Thánh để bày tỏ sự khôn ngoan và chân lý của Ngài. Trước thời Môi-se, Đức Chúa Trời nói chuyện trực tiếp với A-dam, Ca-in, Hê-nóc, Nô-ê, Áp-ra-ham, và những người khác nữa. Rồi những người này truyền đạt Lời Đức Chúa Trời đến những người khác bằng chính môi miệng họ. Hiển nhiên là lúc đó chưa có chữ viết. Trải qua nhiều thời đại chữ viết chưa được phát minh, tuy nhiên, cuối cùng Đức Chúa Trời cũng đã cho một số người viết xuống sứ điệp mà Ngài đã truyền cho họ.
Sự nghiên cứu về lẽ đạo hà hơi cho thấy Đức Chúa Trời viết sách Thánh Ngài bằng Đức Thánh Linh của Ngài. Kinh Thánh một thư viện thần thượng với nhiều tác giả là con người. Mục đích của chúng ta là nghiên cứu về các tác giả này, nhưng chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ rằng Kinh Thánh là một pho sách, một cuốn sách, viết bởi một tác giả là Đức Thánh Linh. Có một đại đề là sự cứu chuộc, và một sợi dây lịch sử vĩ đại là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời có liên quan đến con người sa ngã.
Môi-se
Tác giả đầu của Kinh Thánh là Môi-se, là người mà Đức Chúa Trời đã nói với “miệng đối miệng , một cách rõ ràng , không lời đố ” (Dan Ds 12:8). Môi-se viết năm cuốn sách đầu tiên gọi là Ngũ Kinh hay Luật Pháp của Môi-se. Người Do Thái gọi là Torah (Luật Pháp). Ông cũng viết Thi-Thiên 90 .
Đừng bao giờ đánh giá thấp hoặc xem thường công việc của Đức Thánh Linh khi đề cập đến thiên tài của Môi-se, vì Chúa đã ban cho ông thiên tài và sự huấn luyện. Khi Đức Chúa Trời có việc cần phải làm, Ngài chọn đúng người để làm việc đó. Môi-se là người đó. Ông đã đứng nơi ngưỡng cửa của một thời đại mới. Trước đó, Đức Chúa Trời đã giao tiếp với những cá nhân và những gia đình. Bây giờ theo lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham, Ngài muốn nhào nặn Y-sơ-ra-ên thành một quốc gia. Qua ơn thần hựu của Ngài, Môi-se một kẻ sinh ra là nô lệ, “đã học tất cả sự khôn ngoan của người Ai Cập” (Cong Cv 7:22). Ông đã học về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nơi đầu gối của mẹ mình, vì bà đã chăm sóc cho con trai mình khi con gái Pha-ra-ôn thuê bà làm vú.
Nơi cung điện Pha-ra-ôn, Môi-se đã học đọc, học viết, và học văn hóa Ai Cập. Ông đã học tiếng của người Ai Cập và người Akkadian (Babilonian), ngoài tiếng mẹ đẻ của mình là tiếng Hê-bơ-rơ. Có lẽ ông đã học về cổ ngữ Babilonian, hành chánh dân sự, và khoa học quân sự. Tất cả sự huấn luyện và khả năng bẩm sinh đã được dùng trong những năm sau này khi Đức Chúa Trời khiến ông làm lãnh tụ của một quốc gia, quan xét của Y-sơ-ra-ên, chỉ huy của quân đội, kiến trúc sư của đền tạm, thi sĩ của quần chúng, tiên tri thánh và người ban hành luật pháp. Môi-se thật là một cái bình được lựa chọn! Thật là một người của Đức Chúa Trời!
Môi-se có lẽ đã được sanh vào khoảng 1520 T.C., trong một thời kỳ vàng son nhất của lịch sử Ai Cập. Tác phẩm của Môi-se được viết và ưa chuộng khắp toàn cầu. Ông đứng đầu hàng của những tiên tri Cựu Ước, là những người bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên trên 1000 năm.
Các Tiên Tri
Đức Chúa Trời cho những cuộc thử nghiệm để thẩm định các tiên tri (Phục 13-8). Tiên tri giả là những người không đồng ý với sự măc khải đã được ban cho, và những lời tiên đoán của họ không thành sự thật. Nhờ những tiêu chuẩn này, dân Y-sơ-ra-ên sẽ biết ai là những tiên tri thật của Đức Chúa Trời và ai là không phải. Tất cả những tiên tri thật đầu tiêu biểu cho vị Đại Tiên Tri sẽ đến, là Đức Chúa Giê-xu Christ.
Chúng ta không biết tên tất cả các vị tiên tri, nhưng chúng ta cũng biết một số khá đông. Sa-mu-ên viết ít nhất là một sách về vương quốc thời kỳ Sau-lơ được sức dầu làm vua (ISa1Sm 10:25). Ông viết về lịch sử của triều đại Đa-vít (ISu1Sb 29:29) và phán bảo nhiều lời tiên tri. Đa-vít một ca sĩ truyền cảm và vị vua lớn, cũng là một tiên tri (Cong Cv 2:30). Ông đã viết nữa sách Thi Thiên. Từ Đa-vít đến Ma-la-chi có hàng chục tiên tri. Trong nhóm này có Ê-li, Ê-li-sê, khoảng 850 T.C.; Ê-sai; Ô-sê; Giô-ên, khoảng 725 T.C.; Giê-rê-mi, Na-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni, khoảng 600 T.C.; Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên và các vị khác trong thời phu tù và hậu phu tù cho đến khoảng 400 T.C., Cũng có những tiên tri ít biết tới cũng đã ghi chép lịch sử trong thời kỳ này. Các vị này được đề cập đến trong các bảng liệt kê ở các sách Sử Ký. Trong thời Đa-vít, ISu1Sb 29:29 đề cập đến Sa-mu-ên, Na-than, và Gát. Thời Sa-lô-môn, IISu 2Sb 9:29, có A-hi-gi-a và Giê-đô. Trong 12:15, Sê-ma-gi-a cũng được nhắc đến trong việc chép về điều đạo của Rô-bô-am. Những vị khác như Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, là người viết về Giê-hô-sa-phát (20:34). Ê-sai viết về Ô-xia và Ê-xê-chia (26:22 và 32:32). Nhiều tiên tri khác cũng đã được nói tới.
Hầu hết các Cựu Ước được viết bằng những vị tiên tri mà chúng ta đã biết tên. Các vị khác được bao gồm trong “lời tiên tri chắc chắn” (IIPhi 2Pr 1:19) và trong các sách của “những vị tiên tri được đọc mỗi ngày Sa-bát” (Cong Cv 13:27). Sự khảo sát về Cựu Ước sẽ bày tỏ thêm chi tiết về các tác phẩm của họ.
Giữa Ngũ Kinh và thời Đa-vít, lịch sử của Y-sơ-ra-ên nằm trong sách Giô-suê, Các Quan Xét, Ru-tơ và có lẽ Gióp. Không biết rõ ai đã viết sách Giô-suê, nhưng có lẽ Giô-suê đã viết sách đó, hay ít nữa một phần của nó. Ông đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh (PhuDnl 34:9), dân chúng kính sợ ông như họ sợ Môi-se (Gios Gs 4:14), và ông viết lời của giao ước trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời (24:26). Ông dùng công thức của các tiên tri “Đức Giê-hô-va phán dạy” (24:2). Một sách viết vào khoảng giữa hai giao ước gọi Giô-suê là “người kế vị Môi-se để ban lời tiên tri” (Ecclesiasticus 46:1).
Các sách Quan Xét và Ru-tơ trình bày thời kỳ từ Giô-suê đến Sam-sôn. Các Quan Xét mô tả tình trạng tội lỗi trong thời đó (Cac Tl 17:1-21:25). Ru-tơ là bức tranh đẹp của người tin kính đã giữ vững đức tin trong thời kỳ đen tối. Ru-tơ là bà nội tổ của vua Đa-vít. Các Quan Xét và Ru-tơ có lẽ đã được viết vào cuối thời kỳ này.
Sách Gióp chứa đựng một nan đề đặc biệt. Một số học giả bảo thủ cho rằng nó đã khá xưa, có lẽ trước Môi-se nữa. Họ dựa vào lập luận Gióp không hề nhắc đến việc thờ phượng trong đền tạm. Thật vậy, Gióp dâng của lễ tại nhà các con trai mình, như Ap-ra ham đã dâng tế lễ cho Chúa cách riêng tư vậy. Những học giả khác thì cho sách Gióp đến rất trễ. Họ dựa vào bút pháp và thần học trong sách để biện minh. Đây cũng là cách biện luận thường dùng để bảo rằng các sách khác cũng được viết rất trễ trong khi Kinh Thánh thì bảo là sớm. Chúng ta không chấp nhận cách biện luận bảo sách Gióp được viết rất trễ này.
Đa-vít khoảng 1000 T.C. là tác giả chính của Thi Thiên. Hê-man, A- sáp và các tác giả khác được coi như là các tiên tri của Đức Chúa Trời (ISu1Sb 25:5; IISu 2Sb 29:30). Mười tám(18) Thi Thiên không có đề tài, nhưng khi dịch bản Septuagint đã gán tên của A-ghê, Xa-cha-ri và một số người khác làm tác giả cho một số Thi Thiên.
Sa-lô-môn viết Truyền Đạo, Nhã Ca và hầu hết các Châm Ngôn. Ngày nay, có thể xác định được Sa-lô-môn trị vì 960-920 T.C. Những khám phá của khảo cổ học cho thấy thời kỳ trị vì của Sa-lô-môn là thời kỳ thành công nhất về phương diện vật chất của Y-sơ-ra-ên. Dưới sự lãnh đạo của ông, sự thờ phượng Đức Chúa Trời trong đền thờ được thiết lập và phát triển. Ông rất xứng đáng là tác giả của sách mà người Do Thái gọi là “Văn Chương Khôn Ngoan”. Trọng tâm của sách Châm Ngôn là “ Kính sợ Chúa là khởi đầu sự thông sáng” (ChCn 1:7; 9:10). Đây không phải chỉ là một sách chép các câu nói thế thường. Nhưng nó đối chiếu giữa thiện và ác, và chỉ cho sự cần thiết là phải tin cậy vào Chúa (12:19). Trong Châm Ngôn, “người khôn” là người tin kính Chúa ; còn “ kẻ dại” là tội nhân. Những chương cuối được gọi là “tiên tri” viết bởi những người mà chúng ta không biết (30:1; 31:1), có lẽ đã thêm vào sau này.
Sách Truyền Đạo là sách triết lý, đặt ra những nan đề “Mục đích của đời người là gì?” Có những câu trả lời khác nhau được trình bày và khảo sát. Câu trả lời tối hậu của “người truyền đạo, con vua Đa-vít, vua của Giê-ru-sa-lem” là “kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài” (TrGv 12:13).
Sách Nhã Ca của Sa-lô-môn là tập thơ tình chân thật, tiêu biểu cho tình yêu Đức Chúa Trời cho dân Ngài. Kết luận của sách này có thể diễn đạt như sau “Ái tình mạnh như chết. Lòng ghen hung dữ như âm phủ...Nước nhiều không tưới tắt được ái tình” (Nha Dc 8:6, 7).
Các tác phẩm của Sa-lô-môn, sáng tác lúc còn thanh xuân, được liệt kê vào Kinh Thánh và được xem là ban cho bởi Đức Chúa Trời qua “các tiên tri Ngài” (RoRm 1:2). Chúng được trích dẫn trong các Cuộn Biển Chết vào thế kỹ thứ hai T.C. với câu nói chỉ dành riêng cho Kinh Thánh “ có lời chép rằng...”.
Có ba đợt tiên tri hoàn tất Cựu Ước. Khoảng 700-800 T.C., Đức Chúa Trời dấy lên những tiên tri vĩ đại để cảnh cáo và yên ủi dân Y-sơ-ra-ên trong thời gian bị người A-sy-ri đe dọa. Những vị này gồm Ê-sai, “nhà tiên tri Phúc Âm”, và một số Tiểu Tiên Tri. Giô-ên , A-mốt và Giô-na có lẽ là những tiên tri sớm nhất trong nhóm người này. Tiếp theo có Ê-sai, Ô-sê và Mi-chê. Không ai biết niên hiệu của Ap-đia, nhưng nhiều người kể ông vào thời này, vì truyền thống xếp sách ông giữa A-mốt và Giô-na. Trong các vị này, Ô-sê và A-mốt nói tiên tri cho vương quốc phía Bắc, là vương quốc đã bị bắt đi làm phu tù sau vài lần xâm lăng của quân A-sy-ri, khoảng 721 T.C.
Trong thế kỷ sau, bắt đầu bằng năm 625 T.C., Giê-rê-mi nói tiên tri cho vương quốc đang chết dần, Giu-đa. Thời kỳ này cũng có ba Tiên Tri cùng phục vụ Chúa - Na-hum, Ha-ba-cúc và Sô-phô-ni. Tất cả đều tiên đoán sự sụp đổ của Ni-ni-ve, thủ đô dân A-sy-ri. Những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm năm 612 T.C. Chẳng bao lâu sau , Nê-bu-cát-nết-sa đã đưa Ba-by-lôn đến tuyệt đỉnh quyền lực. Khi bành trướng đế quốc mình về phía Tây, ông đã bẻ gãy quyền lực của Đế Quốc Ai Cập, và cuối cùng đã tiêu hủy vương quốc Giu-đa sau nhiều loạt tấn công 604, 597 và 586 T.C. một nhóm người bị bắt đi lưu đày ở Ba-bi-lôn đánh dấu sự chấm dứt nền độc lập của dân Do Thái cho đến khi được vãn hồi độc lập vào năm 1947 T.C.
Trong thời gian lưu đày, Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên làm tiên tri cho đám dân tản lạc ở Ba-bi-lôn. Những vị này đã làm việc tận lực để giữ vững đức tin chân chính trong những ngày đen tối đó. Lời tiên của họ nói về Vị Cứu Tinh là hy vọng của dân Y-sơ-ra-ên đem sự chú ý đến những lời mặc khải về Đấng Cứu Tinh đã nói trược bởi Đa-vít, Ê-sai, Mi-chê và những tiên tri khác.
Sau thời gian lưu đày, có ba giai đoạn người Do Thái trở về xứ Palestine. Năm 538 T.C. Si-ru cho phép người Do Thái hồi hương dưới sự hướng dẫn của Giê-ru-ba-bên. Trong thời này, A-ghê và Xa-cha-ri làm tiên tri cho dân chúng tại Giê-ru-sa-lem và khuyến khích họ xây lại đền thờ lần thứ hai, năm 516 T.C. Cũng cùng thời gian này, sách Ê-xơ-tê được viết ở Mê-sô-bô-ta-mi để bày tỏ sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong việc chăm sóc những người còn sót lại, cũng như nhấn mạnh đến những hiểm nguy mà dân Do Thái đã phải đương đầu trong khi sống dưới những triều đại của các vị vua vô tín xứ Ba Tư. Sự tàn sát người Do Thái do Ha-man chủ xướng có lẽ đã làm cho nhiều người Do Thái sẵn sàng cho giai đoạn sau này của cuộc hồi hương.
Những cuộc hồi hương sau này được thực hiện vào 456 và 444 T.C. Ê-xơ-ra rồi Nê-hê-mi đã trở về xây lại thành và bức tường của nó. Các chương đầu của sách Ê-xơ-ra nói về việc hồi hương lúc trước của Giê-ru-ba-bên, năm 538 T.C. Phần còn lại của sách Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi theo dõi lịch sử cho đến năm 400 T.C. Ma-la-chi, người cuối cùng của các tiểu tiên tri đã hoàn tất Cựu Ước khoảng 400 T.C. Sau đó, tiếng nói tiên tri đã yên lặng. Theo truyền thống và lịch sử Do Thái, đã không có một tiên tri nào, mãi cho đến thời Giăng Báp-tít tuyên bố sự mở màn một thời đại mới.
Như thế Cựu Ước đã được viết từ 1400T.C. đến 400 T.C. do hơn 20 tác giả biết rõ tên và một số tác giả không biết rõ danh tánh. Bản Kinh Thánh Cựu Ước chia ra làm 5 phần. Việc chia phần này đến việc sửa đổi chút đỉnh của bản Kinh Thánh La Tinh ra từ bản Bảy Mươi (Septuagint).
05 Sách Luật Pháp
12 Sách Lịch Sử
05 Sách Thi Ca
05 Sách Đại Tiên Tri
12 Sách Tiểu Tiên Tri
Tổng cộng 39 sách
Cựu Ước trong tiếng Hê-bê-rơ chia làm ba phần: Luật Pháp, Tiên Tri và Thi Văn. Có 5 sách Luật Pháp, 4 sách Tiền Tiên Tri, 4 sách Hậu Tiên Tri (12 sách Tiểu Tiên Tri kể là một sách) và 11 sách Thi Văn. Tất cả 24 sách này dù sắp sếp thế nào cũng gồm đủ 39 sách mà chúng có hiện nay, chẳng có thêm sách nào nữa.
Vào thế kỷ thứ nhất, ba phần này được chia lại để chỉ thấy có 22 sách. Có hai sách nhỏ nhập chung vô các sách khác. Các Cuộn Biển Chết đề cập đến toàn bộ goi là “Công việc của Môi-se và các Tiên Tri”. Đây là sách mà Đức Chúa Giê-xu đã nói đến, sau khi Ngài phục sinh, lúc Ngài thách thức các môn đồ hãy tin “tất cả những gì các vị tiên tri đã nói”. (LuLc 24:25).
NIÊN HIỆU CỦA SÁCH CỰU ƯỚC
1400T.C Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê vi Ký, Dân Số Ký, Phục Truyền Luật Lệ Ký.
1400 T.C. Gióp (?).
1350 T.C. Giô-suê
1050 T.C. Các Quan Sét, Ru-tơ.
1000 T.C. Thi Thiên (đa số).
1000 - 575 T.C. I,II Sa-mu-ên, I,II Các Vua.
950 T.C. Châm Ngôn, Truyền Đạo, Nhã Ca.
750 - 700 T.C. Ê-sai, Ô-sê, Giô-ên, A-mốt, Ap-đi-a, Giô-na, Mi-chê.
625 - 575 T.C. Giê-rê-mi, Na-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni.
600 - 539 T.C. Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên.
539 - 515 T.C.A-ghê, Xa-cha-ri.
475 T.C. Ê-xơ-tê.
456 - 400 T.C. I,II Sử Ký(?).
456 - 400 T.C. Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi, Ma-la-chi.
Thứ Kinh
Có bảy sách và vài phần thêm vào được liệt vào bộ Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo La Mã. Tất cả sách và các phần nhỏ này được gọi là “Thứ Kinh”. Nghiên cứu về nguồn gốc các sách này, chúng ta sẽ thấy tại sao người Tin Lành không liệt kê chúng vào bộ Kinh Thánh.
Tên Của Các Thứ Kinh
Hiển nhiên là các Thứ kinh được viết vào thời kỳ giữa Cựu Ước và Tân Ước. Chỉ một sách có niên hiệu. Hai sách Judith và Tobít, nói về việc xâm lăng của người A-sy-ri và người Ba-by-lôn. Hai sách nữa, I và II Mac-ca-bê ghi chép cuộc chiến tranh dành độc lập của người Do Thái khoảng 165 T.C. Hai sách nữa là sách dạy đời: Ecclesiaticus và Khôn Ngoan của Sa-lô-môn. Một sách là phần thêm vào của Giê-rê-mi. Ngoài ra, có hai phần ngắn thêm vào sách Ê-xơ-tê và Đa-ni-ên.
Có những sách khác nữa viết vào trong thời gian này, không được người Công Giáo lẫn người Tin Lành chấp nhận. Những sách này ghi lịch sử và tư tưởng trong giai đoạn giữa Cựu Ước và Tân Ước. Các sách này là: Ê-nóc, Jubillees, Giao Ước của 12 tổ phụ. Những phần rời rạc của các sách này cũng được tìm thấy ở các Cuộn Biển Chết, chúng không được chấp nhận hay trích dẫn như Kinh Thánh. Các sách này cũng có giá trị phần nào, nhưng chưa bao giờ được liệt kê và hàng kinh điển (Canon).
Josephus, Sử Gia Do Thái
Làm thế nào để chúng ta biết chắc rằng những sách này được kể vào phần kinh điển của Cựu Ước? Chắc chắn là chúng không có trong Kinh Thánh được công nhận và được dùng bởi Đức Chúa Giê-xu Christ và các vị Sứ Đồ. Sử gia Do Thái Josephus, viết khoảng 90 S.C. Ông sống trong thời kỳ sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem vào 70 S.C. Bản tự thuật của ông cho biết thế nào Đại đế Titus đã cho ông các cuốn sách thánh lấy từ đền thờ Giê-ru-sa-lem khi đền thờ bị tàn phá. Ông đã có tư cách để biết rõ về bản Kinh Thánh được kinh điển trong thời Đức Chúa Giê-xu. Trong một phần trích dẫn ông nói:
“Chúng ta không có nhiều sách bất đồng và đối chọi nhau, nhưng chỉ có 22 sách chứa đựng các dữ kiện của quá khứ, và được tin một cách công tâm là thần thư. Trong số đó 5 sách là của Môi-se, gồm luật pháp và các truyền thống về nguồn gốc của nhân loại từ khởi khởi thủy cho đến khi Môi-se qua đời. Khoảng thời gian này gần 3000 năm. Nhưng từ cái chết của Môi-se cho đến triều đại của Ạt-ta-xét-xe vua Ba Tư, người cai trị sau Xét-xe, các vị tiên tri sau Môi-se đã viết xuống những gì đã xảy ra trong thời họ sống trong 13 sách. Bốn sách còn lại chức đựng các thánh ca chúc tụng Đức Chúa Trời và các châm ngôn hướng dẫn cuộc sống con người. Việc viết sử kể từ Ạt-ta-xét-xe là có thật, nhưng không được tôn kính và có thẩm quyền như các sách trước mà tổ tiên chúng ta đã viết, bởi vì chưa hề có sự nghiệp rõ rệt của các tiên tri kể từ lúc đó, và việc chúng ta xem các sách này có những giá trị cho quốc gia chúng ta thể nào được biểu lộ qua cách chúng ta đối với những sách đó; vì trải qua nhiều thời đại, chưa hề có ai bạo gan dám thêm hoặc bớt, hay thay đổi điều gì trong đó, nhưng đã trở thành tự nhiên đối với người Do Thái ngay từ lúc chào đời là phải tôn kính những sách này như thể chứa đựng giáo lý thần thánh, giữ kỹ và nếu cần cũng sẵn sàng chết để bảo vệ chúng”.
Câu trích dẫn này dạy mấy điểm như sau. Thứ nhất, người Do Thái tin vào sự linh cảm từng lời từng chữ. Thứ nhì, họ tiếp nhận các sách được xem là kinh điển vì viết bởi các đấng tiên tri. Thứ ba, các Thứ kinh và các sách khác không được viết bởi các đấng tiên tri. Thứ Tư, bộ kinh điển gồm 39 sách, không có sách nào khác nữa. Thứ năm, rất quan trọng, Josephus cung cấp bảng liệt kê đầu tiên và cũng là duy nhất về các sách Cựu Ước cho đến năm 170 S.C. Chúng được chia làm ba phần không giống như ba phần những người Do Thái sau này chưa tìm thấy trong Bản Kinh Thánh Hê-bơ-rơ hiện đại. Josephus đặt Ngũ Kinh trước rồi đến tất cả các sách tiên tri và lịch sử, rồi đến vài sách Thi Ca, có lẽ Thi Thiên, Châm Ngôn, Nhã Ca và Truyền Đạo. Thứ sáu, ông đề cao quyền tác giả của những vị tiên tri.
Tân Ước trích hầu hết từ 39 sách Cựu Ước, nhưng không trích câu nào từ các Thứ kinh. Đức Chúa Giê-xu đề cập đến Cựu Ước là “Luật pháp, Tiên tri và Thi Thiên” (LuLc 24:44). Tân Ước nói đến Cựu Ước bằng hai cách: “Luật Pháp và Các Tiên Tri” hay “Môi-se và tất cả các Tiên Tri” (Mat Mt 5:17; LuLc 16:29; 24:27). Tân Ước chẳng bao giờ nói đến Thứ kinh.
Các Cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls)
Các Cuộn Biển Chết cung cấp sự xác chứng thêm. Chúng chứng tỏ Kinh Thánh là tác phẩm của Môi-se và các tiên tri. Chúng trích dẫn từ nhiều sách của Cựu Ước như là Kinh Thánh, nhưng không trích điều gì từ các Thứ kinh
Bản Bảy Mươi (Septuagint)
Bản Bảy Mươi xưa đã hoàn tất, không có gì phải nói, nhưng có một rắc rối là các Bản Bảy Mươi ngày nay chứa đựng Thứ kinh. Vì Tân Ước thường được trích từ Bản Bảy Mươi (Cựu Ước) nên nhiều học giả cho rằng Tân Ước đã thừa nhận Thứ kinh. Tuy nhiên phải biết rằng các Bản Bảy Mươi mà chúng ta có ngày nay căn cứ vào các bản sao có niên hiệu trễ, khoảng 325 S.C. Không có bằng cớ gì để chứng tỏ rằng các Bản Bảy Mươi với niên hiệu sớm hơn có Thứ kinh. Thật ra, bằng chứng ngược lại thì có.
Các Giáo Phụ Hội Thánh Đầu Tiên
Hầu hết các giáo phụ Hội Thánh đầu tiên có đụng chạm ít nhiều đến vấn đề này đều loại bỏ Thứ kinh. Melito, giám mục tại Sardis, năm 170 S.C. liệt kê các sách Cựu Ước giống như bản mục lục của chúng ta, ông không có liệt kê Thứ kinh. Nhà trí thức Origen của Ai Cập, năm 250 S.C. cũng loại trừ Thứ kinh. Jerome, người dịch Thứ kinh ra La Tinh, đã nói tỏ tường các sách đó không phải thuộc vào hàng kinh điển. Chỉ có hai hội nghị và những người đã hội nghị này không có quyền hành gì mấy là chấp nhận Thứ kinh. Mãi sau này hội nghị ở Trent năm 1545 S.C. của Hội Thánh Công Giáo La Mã khi họ chống đối những người Tin Lành, thì cố cho là Thứ kinh được linh cảm mà thôi. Đây cũng là điểm khá lỏng lẻo trong thần học Giáo Hội Công Giáo.
Chúng ta tin 39 sách của Cựu Ước là lời được linh cảm bởi Đức Chúa Trời. Thứ kinh không được hà hơi. 39 sách được Đức Chúa Giê-xu và các Sứ Đồ chấp thuận. Các Thứ kinh thì không. Hầu hết sách trong 39 quyển này đều do các tiên tri chép như có nói trong sách Sử Ký (ISu1Sb 29:29; IISu 2Sb 9:29; 12:15; 20:34; 26:22; 32:32), và nếu Sa-lô-môn đã tiếp nhận các khải tượng như là một tiên tri của Đức Chúa Trời, thì ít nhất có 30 sách Cựu Ước được viết bởi các tiên tri. Còn 9 sách kia có lẽ cũng được viết bởi các tiên tri. Tân Ước, tác giả các Cuốn Biển Chết, và Josephus gọi là tác phẩm của các tiên trị. Thứ kinh và các sách chia không được chứa đựng là lời xưng là được khải thị bơi Đức Chúa Trời. Chúng ta người Tin Lành đọc Thứ kinh để có thêm tin tức và hứng thú, nhưng chúng ta dành đức tin và sự tín nhiệm cho những sách được Chúa Giê-xu Christ chấp thuận. “Họ có Môi-se và các tiên tri, hãy để chúng nghe họ” (LuLc 16:29).
Ngữ Vựng
Thứ kinh (Apocrypha); Ngũ Kinh (Pentateuch); Luật Pháp (Torah).
Sách Tham Khảo
Archer Gleason L., Jr. A Survey of Old Testament Introduction .” Revised edition. Chicago: Moody press, 1974.
Harris, R. Laid. Inspiration and Canonicity of the Bible . Revised edition. Grand Rapids: Zondervan Pub, Horse, 1969 - chs - 6,7.
Unger, Merrill F. Introductory Guide to the Old Testament . Grand Rapids: Zondervan Pub. Horse, 1951.
Young, Edward J. An Introduction to the Old Testament . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1958.


AI VIẾT TÂN ƯỚC ?
“Nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta nói bởi Đức Chúa Trời ” (IIPhi 2Pr 1:21)
Phi-e-rơ đề cập đến toàn bộ Kinh Thánh khi ông khuyên tín hữu “ghi lấy lời nói trước của các thánh tiên tri , cùng mạng lịnh của Chúa và cứu Chúa chúng ta , đã cậy các Sứ Đồ của anh em mà truyền lại ” (3:2).
Bất cứ sự nghiên cứu nào về ký thuật Tân Ước đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chức vụ Sứ Đồ. Chúng ta cần khảo sát tỉ mỉ các sách khác nhau, luôn cả niên hiệu và tác giả của chúng. Việc khảo sát này sẽ không đầy đủ nếu không khảo sát về các văn phẩm Cơ Đốc viết trong thời kỳ kế tiếp các Sứ Đồ. Những văn phẩm này cung cấp những bằng chứng ngoại tại về quyền tác giả của các sách Tân Ước, sự chấp nhận và công nhận vào bộ Kinh Thánh.
Các Giáo Phụ Của Hội Thánh (Church Fathers)
Các chương trước chúng ta thảo luận về các giáo phụ của Hội Thánh đầu tiên, là những người thường được gọi là “các giáo phụ kế tiếp các Sứ Đồ”. Những vị này gồm có ông Clement ở Rô-ma, ông Ignatius ở An-ti-ốt và ông Polycarp. Sự bàn luận trong chương này liên quan đến quyền tác giả của Tân Ước. Các vị kể trên rất quan trọng trong quyền tác giả của Tân Ước. Chúng ta sẽ thấy sau đây thể nào các tác phẩm của họ đã ủng hộ tính cách nguyên thủy tự nhiên của tác phẩm do Phao-lô viết, hoặc do các Sứ Đồ khác viết trong Tân Ước .
Clement ở Rô-ma
Clement ở Rô-ma là Giám Mục tại Rô-ma. Ông có viết một bức thư gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô khoảng 95 S.C., có lẽ trước khi Sứ Đồ Giăng qua đời.
Ignatius ở An-ti-ốt
Ignatius, giám mục tại An-ti-ốt, đã tuận đạo tại Rô-ma khoảng 117 S.C. chúng ta còn giữ được bảy bức thư do chính tay ông viết, có đề cập nhiều đến các sách Tân Ước khác.
Polycarp
Polycarp, người đã viết bức thư cho Hội Thánh Phi-líp khoảng 117 S.C. cho thấy ông đã dùng khá nhiều các sách Tân Ước.
Papias
Một gạch nối quan trọng nữa là Papias, sống khoảng 140 S.C. Ông cho biết thế nào ông đã chuyên tâm tìm tòi các truyền thống nói về các Sứ Đồ từ những người tự cho là đã nghe các vị Sứ Đồ giảng dạy. Ông có đề cập đến 7 trong số 12 vị Sứ Đồ. Ông nổi tiếng nhờ viết một bộ sách năm cuốn về các sách Phúc Âm. Tuy nhiên bộ sách này đã bị mất nhưng một số lời trích dẫn đã cho thấy thể nào các sách Phúc Âm đã được viết ra. Những lời trích dẫn này được tìm thấy trong sách Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius, viết vào khoảng 300 S.C.
Justin
Justin sống sau Papias một ít, khoảng 145 S.C. Trước khi tử vì đạo, ông đã viết một số sách, hiện chỉ có bảy quyển.
Các Tác Phẩm Tổng Quát Của Các Giáo Phụ
Một số tác phẩm khác viết trong thời này cũng đã được biết đến, nhưng quyền tác giả thì không chắc chắn. Những sách này gồm: Thư tín của Banaba , Sự Dạy Dỗ của Mười Hai Sứ Đồ (gọi là Didache ) và Người Chăn Chiên của Hermas . Nhiều sách khác đã bị mất. Một sách gọi là Phúc Âm của Chân Lý , viết vào khoảng 140 S.C., đã mất từ lâu, mới tìm ra được gần đây. Nội dung của sách cũng chẳng có giá trị mấy, nhưng đây là một bằng chứng rất tốt về việc sử dụng rất sớm các sách trong Tân Ước .
Những văn phẩm trên trải dài đến năm 145 S.C. tức 50 năm sau khi vị Sứ Đồ cuối cùng qua đời. Những gì còn lại cho đến ngày nay thật là hay và giá trị nó tỏa ra luồng sinh khí của đời sống tín đồ chân thật và cung kính theo Chúa .
Sau năm 170 S.C., các văn phẩm còn lại thì phong phú hơn. Tác phẩm của Ireneaus 170 S.C. có khoảng 250 trang trong bản dịch Anh ngữ. Văn phẩm của ông ta được xem là quan trọng, vì ông là học trò của Polycarp, cho nên có liên hệ mật thiết với Sứ Đồ Giăng .
Cũng trong thời kỳ này, một bản liệt kê rất qúy giá của các sách Tân Ước đã được thực hiện gọi là Mãnh Vụn Muratorian (Muratorian Fragment), mà một phần đã bị mất.
Khoảng 200 S.C. có những tác phẩm viết rất sâu sắc do Tertullian, một người sống ở Bắc Phi, đối ngang Tây Ban Nha, thực hiện. Cũng có Clement ở Alexandria, Ai Cập, viết sách trong thời kỳ này.
Những nhân chứng này đã nói rất nhiều về việc hình thành Tân Ước. Chúng ta cần kết hợp các bằng chứng cổ xưa, ngoài đời cũng như trong Hội Thánh, cùng với những bằng chứng nội tại trong Tân Ước để xác minh tác quyền và sự thành hình của Tân Ước. Sau đây chúng ta tìm trong Tân Ước các bằng chứng nội tại để phối hợp với các bằng chứng của các vị giáo phụ đã được bàn đến ở trên.
Các Tác Phẩm Của Phao-lô
Các tác phẩm của Phao-lô thật là quan trọng, bởi vì các thư tín của ông cho chúng ta biêt chúng được viết khi nào. Mười ba thư tín từ Rô-ma đến Phi-lê-môn, thường bắt đầu với mấy câu giới thiệu về Phao-lô. Hầu hết các thư tín này, ngày nay đều được nhìn nhận là do Phao-lô viết, ngay cả đối với những người có khuynh hướng chỉ trích cũng đồng ý như vậy.
Trong thư Ga-la-ti, Phao-lô nói một ít về cuộc đời mình. Ông đã gặp Phi-e-rơ tại Giê-ru-sa-lem ba năm sau khi ông đầu phục Chúa (GaGl 1:18). Hơn một năm sau đó, ông trở lại Giê-ru-sa-lem với Ba-na-ba và Tít (2:1).
Những tin tức và các dữ kiện khác trong Cô-rinh-tô và Công Vụ Các Sứ Đồ cho thấy Phao-lô đã trở lại đạo trong mấy năm đầu của tuổi ba mươi và đã gặp Phi-e-rơ tại Giê-ru-sa-lem khỏang 37 hay 38 S.C. Sự làm chứng của Phao-lô về cuộc đời của Chúa Giê-xu Christ như thế đã đưa chúng ta về đến thời kỳ cộng đồng và vị Sứ Đồ đầu tiên ở Giê-ru-sa-lem. Điều này quan trọng vô cùng, vì nó làm cho lời chứng của Phao-lô về việc Chúa sống lại (ICo1Cr 15:1-20) trở nên có giá trị. Đọc lời ký thuật này đọc giả cảm thấy như mình đứng bên ngôi mộ trống tại Giê-ru-sa-lem trong vòng khoảng 5 năm sau khi Chúa phục sinh.
Sách Công Vụ Các Sứ Đồ cho biết về ba hành trình truyền giáo của Phao-lô; việc ông ở tù tại Palestine hai năm, rồi ở Rô-ma hai năm nữa. Nhiều dấu hiệu cho thấy rõ ràng là Phao-lô không viết thư tín nào trong chuyến hành trình lần thứ nhất của mình tại Tiểu Á. Trong chuyến hành trình lần thứ nhì, đã đưa ông đến Hy Lạp. Ông ở lại Cô-rinh-tô hai năm và đã viết hai bức thư I và II Tê-sa-lô-ni-ca. Các thư này nên nghiên cứu dưới ánh sáng của Công Vụ Các Sứ Đồ đoạn 18. Đây là những thư tín ngắn, gởi đi ngay sau khi Phao-lô nghe tin vui về Hội Thánh mới mở tại Tê-sa-lô-ni-ca. Các thư đó nhấn mạnh về sự cứu rỗi qua Chúa Giê-xu Christ (ITe1Tx 1:9-10) và bày tỏ về thẩm quyền của Sứ Đồ(22:13; IITe 2Tx 3:14-17).
Kế đến các thư tín gọi là thư tín chính yếu đã được viết. Ga-la-ti có lẽ đã được viết lúc bắt đầu hành trình truyền giáo thứ ba. Trong chuyến thứ ba này Phao-lô ở Ê-phê-sô khoảng 3 năm và đã viết các thơ Rô-ma, I và II Cô-rinh-tô (xem Sứ Đồ 19). Thơ Rô-ma và Ga-la-ti nên được nghiên cứu chung với nhau vì chúng có bố cục, chủ đề, và lối hành văn tương tự như nhau.
Lúc cuối chuyến hành trình truyền giáo lần III, Phao-lô bị bắt cầm tù ở Giê-ru-sa-lem. Trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ có một điểm thường gây thắc mắc. Có một vài chỗ, như Cong Cv 16:10, tác giả xưng là “chúng tôi” ra đi trong các chuyến hành trình truyền giáo. Có những chỗ khác như 20:13, 14, “chúng tôi” lại chỉ về một nhóm giáo sĩ đang tiếp tục hành trình, trong khi Phao-lô lại một mình đi hướng khác. Kết luận là Công Vụ Các Sứ Đồ được chép bởi một người thường đi chung với Phao-lô. Những phần có chữ “chúng tôi” này cho thấy rằng tác giả đi với Phao-lô trong chuyến đi về Giê-ru-sa-lem. Rõ ràng tác giả được tự do tại Palestine trong hai năm Phao-lô ở trong tù. Sau đó, ông ta tháp tùng Phao-lô trong chuyến hải hành bị đắm tàu trên đường đến Rô-ma. Ông được tự do thong thả trong thời gian hai năm mà Phao-lô ngồi tù ở đó. Mãnh vụn Muratorian , Irenaeus và các chứng nhân sớm khác đều cho rằng vị tác giả này là Lu-ca.
Trong khi Phao-lô ngồi tù tại Rô-ma, ông đã viết bốn bức thư rất quan trọng thường được gọi là Các Thư Tín Trong Tù , đó là Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và Phi-lê-môn. Cô-lô-se và Phi-lê-môn có nhiều điểm tương đồng nên nghiên cứu chung với nhau.
Phi Pl 1:12-25 cho thấy Phao-lô trông mong được đem ra xét xử và sẽ được trả tự do. Hiển nhiên là việc này đã xảy ra, vì lúc ra đi ông có để quên áo choàng và sách vở tại Trô-ách (IITi 2Tm 4:13). Trong thời gian này viết các Thư Tín Mục Vụ : Tít, I và II Ti-mô-thê. Ti-mô-thê và Tít khá giống nhau và giúp giải thích lẫn nhau. Mỗi thư đều cho chi tiết về việc tổ chức các Hội Thánh và phẩm cách các vị lãnh đạo Hội Thánh.
II Ti-mô-thê là thư cuối của Phao-lô. Ông bị bắt lại và bị hành quyết (4:7, 8). Clement ở Rô-ma năm 95 S.C. đã nói rằng Phao-lô đã giảng đến “tận cùng của phương Tây”, thỏa mãn ước mơ được thăm Tây Ban Nha (RoRm 15:24), sau lần bị cầm tù thứ nhất tại Rô-ma.
Các thư tín của Phao-lô được dùng bởi tác giả trước năm 120 S.C., ba mươi năm sau khi ông chết. Một số tác giả đề cập thẳng đến tên của Phao-lô. như Clement viết cho người Cô-rinh-tô năm 95 S.C. có nói rõ là Phao-lô đã viết thư cho họ. Ignatius năm 117 S.C. viết cho người Ê-phê-sô cũng đề cập đến các thư tín của Phao-lô gởi cho họ, cũng như các thư tín khác của Phao-lô nữa. Polycarp viết cho người Phi-líp năm 118 S.C. có nhắc đến thư Phao-lô viết cho họ và trích dẫn từ sáu thư tín của Phao-lô.
BẢNG LIỆT KÊ CÁC TÁC PHẨM CỦA PHAO-LÔ
Hành trình Tác phẩm
Hành trình truyền giáo lần I (cõi Tiểu Á) Không viết thư nào
Hành trình truyền giáo lần II I Tê-sa-lô-ni-ca
(Qua Tiểu Á, Hy Lạp và hai năm tại Cô-rinh-tô) II Tê-sa-lô-ni-ca
Hành trình truyền giáo lần III Rô-ma, I, II Cô-rinh-tô
(Giống như lần hai, và 3 năm tại Ê-phê-sô) Ga-la-ti (hay sớm hơn)
Ở tù tại Palestine 2 năm Không thư nào
Ở tù lần I tại Rô-ma, 2 năm Các thư tín trong tù: Ê-phê-sô,
Phi-líp, Cô-lô-se, Phi-lê-môn
Thời kỳ tự do. Đi Trô-ách và có lẽ Tây Ban Nha (?) I Ti-mô-thê, Tít,
Hê-bê-rơ (?)
Ở tù lần II tại Rô-ma và tuận đạo II Ti-mô-thê
Sách Tin Lành Lu-ca
Lu-ca rất thân cận với Phao-lô. Cong Cv 1:1 cho thấy sách Công Vụ Các Sứ Đồ là tác phẩm thứ nhì của tác giả gởi cho Thê-ô-phi-lơ. LuLc 1:1-13, cho thấy đó là tác phẩm thứ nhất của tác giả. Tân Ước không nói rõ ràng Lu-ca là tác giả của sách Lu-ca và Công Vụ Sứ Đồ nhưng cho thấy rất rõ là một bạn đồng hành của Phao-lô đã viết các sách này.
Sách Phúc Âm Lu-ca và Công Vụ Các Sứ Đồ được dùng bởi Ignatius và Polycarp. Justin Martyr trích từ ba sách đầu của Phúc Âm và có cũng có trích dẫn từ sách Giăng và gọi chúng là “Những Hồi Ký Của Các Sứ Đồ” ông mô tả một buổi thờ phượng ngày Chúa Nhật mà trong đó “Những Hồi Ký Của Các Sứ Đồ” hay các tác phẩm của Các Tiên Tri được đọc trước khi giảng. Ông ta có nói đến các sách Phúc Âm như là “những kỷ niệm mà tôi cho là đã được các Sứ Đồ và những người theo họ kể lại”. Trong lời trích dẫn này ông cho rằng sách Lu-ca và Mác không được viết trực tiếp từ các Sứ Đồ, mặc dù những chỗ khác ông gọi chúng là công việc của các Sứ Đồ.
Đến năm 170 S.C. Mãnh vụn Muratorian và Irenaeus đã giải thích rằng Lu-ca viết sách Phúc Âm, nhưng viết với sự cộng tác của Phao-lô. Tertullian, khoảng 200 S.C., cho rằng Lu-ca viết dưới sự hướng dẫn của Phao-lô, thậm chí ông còn cho rằng sách đó có thể được xếp vào hàng các tác phẩm của Phao-lô. Các dữ kiện dường như cũng phù hợp với ý này. Trong ITi1Tm 5:18, Phao-lô trích Phục Truyền và LuLc 10:7 về việc phụ cấp cho người hầu việc Chúa. Trong ICo1Cr 9:7-18, ông cũng đề cập đến vấn đề đó trích dẫn khá kỹ trong Cựu Ước nhưng chẳng nói gì đến sách Lu-ca. Bản liệt kê các tác phẩm của Phao-lô dưới đây sẽ chỉ rõ rằng trong thời gian giữa I Cô-rinh-tô và I Ti-mô-thê thì Phao-lô bị cầm tù tại Palestine, trong khi đó Lu-ca được tự do. Các lí do này, và những bằng chứng dẫn tới dự đoán là Lu-ca đã thu thập tài liệu và viết sách Phúc Âm thứ ba lúc đó. Sách Công Vụ Các Sứ Đồ cũng đã được viết chẳng bao lâu sau đó, có lẽ trong lúc Phao-lô bị cầm tù tại Rô-ma. Cả hai sách có thể đều được viết bởi Lu-ca, như một đệ tử của Phao-lô.
Thơ Hê-bê-rơ
Phải chăng Phao-lô viết thư Hê-bê-rơ? Khi nào? Như thế nào? Các học giả không đồng ý với nhau về vấn đề này. Có người tin rằng thư này được viết bởi một cộng sự viên của Phao-lô, dưới sự hướng dẫn của ông, giống như Lu-ca viết Phúc Âm của Lu-ca và Công Vụ Các Sứ Đồ vậy.
Thơ Hê-bơ-rơ được biết đến và được dùng sớm nhất, từ thời Clement ở Rô-ma, năm 95 S.C. Đầu tiên, thư này được chấp nhận cách rộng rãi, rồi bị ở Phương Tây đặt nghi vấn, nhưng cuối cùng đươc toàn thể Hội Thánh chấp nhận. Ít có ai thắc mắc về vấn đề kinh điển của thư này. Nan đề chính là vấn đề mù mờ về tác giả. Nơi nào người ta nghĩ đó là do Phao-lô viết, thì nơi đó thư này được chấp nhận không chút nghi nan. Ở Ai Cập, truyền thống về Phao-lô là tác giả có từ thời Clement ở Alexandra (200 S.C.), và trước ông ta nữa, thời Pantaenus. Tương tự Polycarp, Pantaenus rất cao tuổi và có liên hệ với Hội Thánh tại Alexandra từ thời còn trẻ. Các dữ kiện dường như khá phù hợp với nhau khi thư này được chấp nhận như là một trong những thơ tín của Phao-lô, nhưng có lẽ do Lu-ca, Ba-na-ba hay do một người nào đó viết hay dịch. Rõ ràng là Phao-lô cũng có dùng thư ký như RoRm 16:22 cho thấy. Dù sao, thư Hê-bơ-rơ có lẽ đã được viết trong khoảng cuối cuộc đời của Phao-lô.
Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ
Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ là sách mà chúng ta có bằng chứng được đề cập đến sớm nhất. Sách được dùng bởi các vị Clement, Ignatius, Polycarp và một số khác nữa. Ba-na-ba trích nó với câu mở đầu, “Có lời chép rằng...” Thời xưa sách này chưa từng bị tra vấn. Papias nghĩ rằng sách Ma-thi-ơ đã được viết bằng tiếng Aramaic đã thất lạc rồi. Có thể thánh Ma-thi-ơ đã cho xuất bản nó trong cả tiếng Aramaic và Hy Lạp. Điều này thường thấy xảy ra vì hai ngôn ngữ đang được sử dụng tại Palestine lúc đó. Nhưng một điều hiển nhiên là sách Phúc Âm Ma-thi-ơ được viết với chủ ý là viết cho người Giu-đa, là thành phần đông đảo của Hội Thánh đầu tiên.
Sách Phúc Âm Mác
Mác viết sách Phúc Âm thứ nhì, theo Papias, là người phụ tá của Phi-e-rơ, hay là thông dịch viên của Phi-e-rơ tại Rô-ma. Justin Martyr đã dùng sách Mác. Irenaenus và Clement ở Alexandria đều đồng ý Mác là chính tác giả. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc không biết Mác viết lúc Phi-e-rơ còn sống hay không. Papias và Clement đều tin là Mác viết dưới sự hướng dẫn của Phi-e-rơ. Đây là quan điểm đơn giản nhất, bởi vì Justin có kể Mác trong Những Hồi Ký của Các Sứ Đồ . Việc sử dụng sách Mác bởi các giáo phụ đầu tiên hơi khó truy tầm bởi vì hơn 9/10 sách Mác đều tìm thấy trong Ma-thi-ơ hay Lu-ca. Tuy nhiên, lời chứng của Papias rất tích cực và rất sớm. Rõ ràng là sách Mác được viết được viết cho người ngoại bang, có lẽ cho người Rô-ma là những người Phi-e-rơ đang phục vụ.
Các Tác Phẩm Của Giăng
Các Tác Phẩm Của Giăng bao gồm gần hết các sách còn lại trong Tân Ước. Giăng, đã dọn về Ê-phê-sô và sống rất lâu. Polycarp biết ông ta ở đó. Đảo Bát-mô, nơi Giăng bị lưu đày cũng gần Ê-phê-sô. Irenaeus, môn đệ của Polycarp, cho rằng Giăng sống đến thời Trajan (98 - 117 S.C.). Các tín hữu thường quí mến các tác phẩm của Giăng bởi vì nó biểu lộ một sự hiểu biết gần gũi dịu dàng của Chúa Cứu Thế. Các tác phẩm này đều tự cho thấy là đã được viết bởi Giăng, vị Sứ Đồ được Chúa yêu.
Sự tương đồng trong cách hành văn cũng làm vững mạnh lời xác chứng của từng sách. Cả Clement ở Rô-ma và Ignatius đều đề cập đến sách Phúc Âm Giăng. Polycarp có lẽ đã biết Phúc Âm Giăng, I Giăng và Khải Huyền. Justin làm chứng về Phúc Âm Giăng và Khải Huyền. Mãnh vụn Muratorian có trích dẫn rõ tên sách Phúc Âm Giăng, Khải Huyền và hai thư tín nữa, có lẽ II Giăng và III Giăng. Nó cũng trích dẫn IGi1Ga 1:1. Các lời chứng như vậy cũng khá đủ.
Mới đây còn thêm một bằng chứng nữa. Một mãnh nhỏ giấy chỉ thảo (papyrus) được khám phá tại Ai Cập năm 1917. Các chuyên gia về kiểu chữ viết tay đã cho niên hiệu của mảnh “giấy chỉ thảo Ryland” này vào khoảng 125 S.C., tức chỉ 30 năm sau Giăng qua đời. Mãnh giấy nhỏ này chứa đựng 5 câu trong Giăng 18. Có lẽ Justin hay Polycarp đã thấy sách Phúc Âm này khi họ còn sống.
Năm 1057 một tập giấy chỉ thảo về sách Phúc Âm đã được xuất bản. Tập “Giấy chỉ thảo Bodmer II” này được định niên hiệu khoảng 200S.C. và nó chứa gần hết sách Phúc Âm Giăng. Đây là một tập sách, chứ không phải là một cuộn giấy, chỉ có vài trang bị mất mà thôi. Đây là bản văn Tân Ước sớm nhất chứa đựng một phần lớn Tân Ước được biết hiện nay.
Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giu-đe
Các thư tín nhỏ hơn của Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giu-đe chỉ có một ít nhân chứng về tính cách cổ xưa của chúng mà thôi, nhưng các lời chứng rất đáng tin cậy. Clement có ám chỉ đến sách Gia-cơ. Polycarp cũng ám chỉ đến I và II Phi-e-rơ. Papias thì nói đến I Phi-e-rơ. Mảnh vụn Muratorian đề cập đến Giu-đe. II Phi-e-rơ có nội chứng rất mạnh làm hậu thuẫn; nó xác định rằng đây là thư thứ nhì của Phi-e-rơ, sứ đồ (IIPhi 2Pr 1:1; 3:1-2). Thật thích thú khi thấy Giu-đe(c.18) trích từ thư của Phi-e-rơ và gọi đó là công việc của một Sứ Đồ (3:3). Một bản giấy chỉ thảo Bodmer (VII-IX) vừa mới đây có chứa I và II Phi-e-rơ và Giu-đe, được định là có trước 300 S.C.
Có khá nhiều sự thảo luận sôi nổi về việc xác định Gia-cơ và Giu-đe là hai anh em ruột với nhau (Giu Gd 1:1). Trong vòng mười hai Sứ Đồ có anh em Gia-cơ và Giu-đe (LuLc 6:16), và cũng có anh em Gia-cơ và Giu-đe là em cùng mẹ với Chúa (Mat Mt 13:55). Một vài học giả lại cho rằng hai anh em này là hai anh em bà con với Chúa và cũng là Gia-cơ và Giu-đe của mười hai Sứ Đồ. Khó có thể biết được là cặp nào đã viết thư tín này.
Thời điểm viết các thơ tín nhỏ này cũng chẳng biết được. Những thư tín này là tất cả những sách khác của Tân Ước đều được viết bởi các Sứ Đồ hay những người cộng sự của họ “dưới sự linh cảm của Đức Thánh Linh”, giống như Clement ở Rô-ma đã nói về thư của Phao-lô gởi cho người Cô-rinh-tô. Chúng ta nên nghiên cứu thêm về thời kì, tác giả, và các hoàn cảnh liên hệ đến các thư này để thấy đây là Lời Đức Chúa Trời được linh cảm, do các Sứ Đồ viết và chân xác.
Chẳng có sách nào khác được khảo sát rộng rãi như vậy. Cũng chẳng có bằng chứng tích cực về các sách nào khác được viết bởi các Sứ Đồ. Các giáo phụ đều đồng ý rằng có một số Thứ kinh cũng đã được lưu hành (IITe 2Tx 2:2 và 3:1-17). Nhưng chẳng bao lâu chúng đều bị nhận ra là ngụy tạo. Mặc dù Chúa Giê-xu Christ không viết các sách của Tân Ước, nhưng Ngài có bổ nhiệm 12 vị Sứ Đồ, rồi thêm vào Phao-lô, để làm nền tảng của Hội Thánh. Những người này được bổ nhiệm một cách thiêng thượng, được ban quyền năng thiên thượng của Đức Thánh Linh để viết về Giao Ước Mới của Đức Chúa Giê-xu Christ, Chúa Cứu Thế của chúng ta. vCơ Đốc Nhân tin Kinh Thánh và vui mừng trong lời của Đức Chúa Trời.
Ngữ Vựng
Mảnh vụn Muratorian, Didache
Sách Tham Khảo
Harris, R. Laird. Inspiration and Canonicity of the Bible ”. Revised edition. Grand Rapids: Zondervan Pub. House, 1969. Chapters 9-12.
Roberts, Alexander, and Donaldson, Jame, eds. The Ante-Nicene Fathers . 10 vol. Reprint. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub. Co.., 1953. Vol 1 and 2.
Scroggie, W. Graham. A Guide to the Gospels . Old Tappan, NJ: Fleming H. Revell Co., 1948.
Tennery, Merrill C. New Testament Survey . Revised edtion. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub. Co. 1961.
Thiessen, Henry C. Introduction to the New Testament . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub. Co.,1971.

SỰ BẢO TỒN TÂN ƯỚC
“Lời Ta nói sẽ không qua đâu ” (LuLc 21:33)
Nhiều Cơ Đốc Nhân không suy nghĩ cách nghiêm túc về vấn đề bảo tồn các tác phẩm Tân Ước. Họ có thể kiếm được vài bản sao Kinh Thánh cách dễ dàng và nghĩ rằng như vậy đủ rồi. Giống như những phước hạnh khác, việc này không phải chỉ đơn giản vậy thôi. Nhiều người đã bỏ mình để Kinh Thánh được bảo vệ, phiên dịch, và xuất bản. Ngay thời chúng ta vẫn có những nơi trên thế giới Kinh Thánh rất hiếm hoi. Lịch sử về việc bảo tồn Tân Ước có thể chia làm hai thời kỳ, trước và sau khi phát minh ra máy in. Vào thế kỷ 15, có ba biến cố lịch sử đã giúp ích cho thế giới tân tiến ngày nay mà khó ai đoán trước nổi. Columbus, năm 1492 đã khám phá ra tân thế giới và Hoa Kỳ đã trở thành cái nôi của nền tự do. Johann Guttenberg năm 1456 phát minh ra máy in. Và năm 1493 Martin Luther người khởi xướng Tin Lành Cải Chính đã ra đời. Các biến cố này đã ảnh hưởng đến tầm hoạt động và hiệu năng của Cơ Đốc Giáo một cách thâm sâu trong thời đại tân tiến hiện nay.
Ấn Loát Kinh Thánh
Cuốn sách đầu tiên ra từ máy in của Guttenberg là bản Kinh Thánh La Tinh. Những bản Kinh Thánh in lần đầu đó được giữ đến ngày nay. Chẳng bao lâu sau Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp và Cựu Ước bằng Hê-bơ-rơ cũng được in ra. Sự bảo tồn Kinh Thánh sau đó tương đối dễ dãi hơn, vì Kinh Thánh đã được xuất bản hàng ngàn cuốn. Sau khi được dịch ra Anh ngữ bởi Tyndale, Kinh Thánh được in ở Hoà Lan rồi đem lén về Anh Quốc. Thoạt đầu các Giám Mục Anh muốn đốt hết Kinh Thánh nhưng họ đã thất bại. Chỉ vài năm sau, bản Kinh Thánh Tyndale và các bản kế tiếp đã được phổ biến khắp nới ở nước Anh.
Sự phát minh ra máy in là một yếu tố quan trọng vì việc sản xuất Kinh Thánh mà không có lỗi lầm chính tả gì đã trở nên tương đối dễ dàng. Trước đó, người ta đã chép tay lại từng trang cho nên rất dễ có sai sót. Khi phải liệng tờ chép tay đó đi vì lỡ lầm lỗi để chép lại từ đầu, thì người ấy có lẽ tránh được những lỗi mới phạm, nhưng có thể sẽ phạm những lỗi khác!
Ngày nay, trong việc in sách, chỉ cần sửa những chỗ nào lầm lỗi, còn để ý các chỗ kia, không đụng tới. Nếu đọc dò lại thật kỹ, Kinh Thánh có thể được xuất bản mà không có lầm lỗi nào. Khi chuẩn bị bản kẽm để in Kinh Thánh, bản nháp được đọc đi đọc lại rất nhiều lần. Việc đọc đó lại thường được thực hiện bởi hai người, một người đọc bản văn chính xác, một người dò kỹ trên bản nháp. Như thế nhiều người có thể đọc qua toàn bộ Kinh Thánh trước khi bắt đầu in hàng loạt. Mấy cuốn Kinh Thánh bán giá rẻ có thể có nhiều lầm lỗi vì không được dò kỹ. Hầu hết các sách thường không được dò kỹ, nên có thể có một ít lầm lỗi.
Đôi khi, không phải là vấn đề lầm lỗi khi in, mà là loại bút pháp được sử dụng. Trong thế kỷ sau năm 1611, bản King James đã được dịch, một thợ in phải là một nhà văn phạm để biết cách đánh vần hầu thay đổi các chữ trong những loạt ấn loát kế tiếp của bản King James đầu tiên.
Vì lý do này, một bản Kinh Thánh tiếng Anh cũ thì khác với bản về sau này. Sự khác biệt này không phải vì lỗi chính tả, cũng chẳng phải tại in sai, nhưng là phản ảnh sự điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của ngôn ngữ thôi.
Những thay đổi trong bút pháp này dẫn đến một điểm quan trọng. Hội Thánh của Chúa không bao giờ muốn thấy Kinh Thánh được bảo vệ trong bảo tàng viện nhưng muốn Kinh Thánh được các con cái Ngài sử dụng. Cho nên, Kinh Thánh đã được sao chép rồi tái sao chép, in rồi tái bản. Ngôn ngữ của Kinh Thánh luôn luôn được cập nhật hóa. Kinh Thánh được dịch đi dịch lại nhiều lần để thích hợp với ngôn ngữ của quần chúng. Từ Lễ Ngũ Tuần, các Cơ Đốc Nhân đã muốn nghe trong tiếng mẹ đẻ của mình các công việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời (Công Vụ 2).
Trước khi phát minh máy in, chỉ có vài bản sao Kinh Thánh. Thật là khó mà có một bản sao toàn hảo, mặc dù có cẩn thận và sửa lại bằng tay, các bản sao tốt thì phổ thông hơn. Trước năm 1456, không có Kinh Thánh tiếng Đức, tiếng Pháp hay tiếng Tây Ban Nha, vì thời đó bên Âu Châu nếu có ai biết đọc thì chỉ đọc bằng tiếng La Tinh thôi.
Bên Anh, tiếng La Tinh không được phổ thông như bên lục địa Âu Châu. Có vài phần của Kinh Thánh được dịch ra tiếng cổ Anglo-Saxon do Bede và vài người khác thực hiên. Bản dịch mới của Wycliffe được hoàn tất năm 1375. Nhưng nói chung vùng Tây Âu sử dụng tiếng La Tinh trong thời trung cổ. Đông Âu gồm Hy Lạp và Tiểu Á vẫn còn dùng tiếng Hy Lạp ở nhiều nơi người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm lấy. Trong thời đó, các tu viện của Giáo Hội chưa bị chia hai, tức không hoàn toàn theo Công Giáo hay Tin Lành cách tuyệt đối - đã chép tay lại Kinh Thánh trong tiếng La Tinh và Hy Lạp, nhiều bản sao được thực hiện thời đó vẫn còn giữ đến ngày nay.
Tiếng La Tinh cũng được thay đổi khá nhiều trong thời Trung Cổ như tiếng Hy Lạp thay đổi trước đó vậy. Đó là lí do tại sao chúng ta thấy có rất nhiều khác biệt trong bản chép tay tùy theo thời gian và thời điểm chép.
Các Bản Văn Sớm
Muốn hiểu rõ Tân Ước đã được bảo tồn thế nào, học viên cần phải biết lịch sử cổ của đế quốc La Mã. Trong thời các Sứ Đồ, đế quốc La Mã bao gồm toàn Vùng Địa Trung Hải - Tây Ban Nha, Pháp, Ý , Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Palestine, Ai Cập và Bắc Phi Châu quanh vùng Algiers. Nó chạy dài đến Anh Quốc và một phần của nước Đức. La Tinh là ngôn ngữ dùng bởi chính quyền, nhưng hầu hết dân chúng đều dùng tiếng Hy Lạp.
Cơ Đốc Giáo rất mạnh ở vùng Ai Cập, Palestine, Tiểu Á, Rome và Bắc Phi. Nhưng Cơ Đốc Giáo lại là tôn giáo bị cấm, và ít nhất có mười cuộc bách hại khác nhau. Sách của họ bị đốt không biết bao nhiêu lần. Nhưng có nhiều tín đồ thà bị giết chứ không chịu tiết lộ chỗ giấu Kinh Thánh của họ để Kinh Thánh không bị đốt.
Cuối cùng, hoàng đế Constantine đã trở lại đầu phục Chúa năm 313 S.C. Sau đó ông ra một sắc lịnh rất nổi danh, sắc lịnh Milan, cho phép tự do tôn giáo. Trong những thập niên kế tiếp đế quốc La Mã yếu dần dưới sự tấn công của dân Goths ở Âu Châu và các dân tộc khác, từ Á Châu di chuyển đến Âu Châu. Năm 410 S.C. đế quốc La Mã sụp đổ. Đó là vào thời Jerome, người đã dịch Kinh Thánh ra tiếng La Tinh , gọi là bản dịch Vulgate. Augustine bấy giờ là lãnh tụ Hội Thánh mà đến nay danh tiếng vẫn vang lừng. Chẳng bao lâu sau Rome sụp đổ toàn đế quốc bị phân chia ra. Phía Đông chọn Constantinople thủ đô, trong khi phía Tây vẫn cứ tiếp tục chọn Rome làm thủ đô. Đế quốc phía đông dùng Hy Văn trong suốt thời Trung Cổ; đế quốc phía tây vẫn tiếp tục dùng tiếng La Tinh.
Các học giả muốn có Kinh Thánh Tân Ước gần với nguyên bản do các Sứ Đồ viết càng nhiều càng tốt thì phải sưu tầm nhiều bản sao trong tiếng Hy Lạp hơn là tiếng La Tinh. Có một số bản Kinh Thánh Hy Lap còn trước cả thời Jerome nữa.
Bởi ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, những nhà nghiên cứu về Tân Ước thích có nhiều bản sao cổ. Các nguyên bản có lẽ được viết trên giấp chỉ thảo hay trên các cuộn gia. Tuy nhiên, khoảng 125 S.C. trở đi, người ta lại có thói quen viết từng tờ rời, đóng lại thành tập sách, gọi là “Codex”, thay vì cuộn. Nhờ các sách này, nhiều tác phẩm đã được đóng chung lại với nhau thành một bộ. Rồi các sách đó được sao đi, sao lại nhiều lần trong Hy Văn. Chẳng bao lâu, khoảng 200 S.C., Hội Thánh vùng An-ti-ốt và vùng Mesopotamia trở qua hướng đông đã thích có Kinh Thánh bằng tiếng Syriac, là ngôn ngữ rất thông dụng trong vùng đó lúc bấy giờ. Tiếng Syriac cũng tương tự như tiếng Hê-bơ-rơ. Lúc này các Hội Thánh ở Bắc Phi cũng muốn có các sách Phúc Âm bằng tiếng La Tinh, nên các bản dịch Cổ La Tinh đã được thực hiện. Sau này bản dịch đó đã bị bản Vulgate của Jerome lấn át. Tuy nhiên, tiếng Hy Lạp vẫn là ngôn ngữ chính của Kinh Thánh cho đến năm 400 S.C.
Các bản sao của Tân Ước trước tiên đã được viết trong tiếng Hy Lạp với chữ khá nhỏ. Các bản sao Hy Lạp thời Trung Cổ cũng viết theo kiểu này. Các bản sao này gọi là “cursives” (kiểu chữ tháu). Trong thế kỷ thứ 4, các bản sao Kinh Thánh khá đẹp đã được thực hiện trên giấy da và được in bằng kiểu chữ viết hoa. Các bản sao này được gọi là “uncials,” có nghĩa là kiểu chữ viết hoa.
Một số bản kiểu chữ viết hoa vẫn còn được bảo tồn đến ngày nay. Trải qua nhiều thế hệ, các bản sao đã được cất giữ trong thư viện của các tu viện cổ và chỉ còn vài bản là thoát được sự tàn phá của thời gian và các cuộc bắt bớ khủng khiếp. Khi những người Hồi Giáo xâm lăng Ai Cập vào thế kỷ thứ 7 S.C., họ đã đốt một thư viện lớn ở Alexandria, chứa khoảng 100.000 bộ sách, kể cả các kho tàng cổ. Cũng trong thời kỳ này, họ đốt tại thư viện Eusebian ở Ceaserea (thuộc Palestine) có chứa đựng các kho tàng của Cơ Đốc Giáo thời ban sơ. Nhưng nhờ ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, một số khá lớn và các bản sao đã thoát được. Người ta bảo rằng khoảng 3000 bản sao Tân Ước trong Hy Văn hay một phần của Kinh Thánh Tân Ước đã được bảo toàn. Trong số này, có cả chục bản trên 1,500 tuổi.
Các Thủ Bản Cổ (The Old Manuscripts)
Các thủ bản cổ nhất của chúng ta là gì? Chúng như thế nào? Trong vòng hai thế kỷ qua, một số bản quan trọng đã được khám phá. Các thủ bản này đã cung cấp thêm dữ kiện về các bản văn Kinh Thánh cổ.
Bản văn Alexandrian (The Alexandrian Text)
Năm 1859 Constantine Tischendorf khám phá ra một thủ bản vô giá trong các văn kiện cổ tại tu viện St. Catherine, trên sườn núi Si-nai. Thủ bản này gọi là Codex Aleph, hay Codex Sinaiticus có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 4 S.C. Codex có nghĩa là cuốn sách, chứ không phải là cuộn giấy da, và Aleph là mẫu tự đầu tiên trong hệ thống mẫu tự Hy Bá Lai.
Năm 1868 , thư viện Vatican cũng cho xuất bản một thủ bản cổ nữa, cũng khoảng thế kỷ thứ 4 S.C. gọi là Codex B (Đôi khi cũng gọi là Vaticanus vì được tìm thấy ở thư viện Vatican). Hai thủ bản cổ này, Codex Aleph và Codex B, giống hệt nhau về lối hành văn, chắc hẳn là chúng được chép lại từ một bản chính hay từ các bản chính giống nhau. Chúng thuộc về một nhóm thủ bản được gọi là Bản Văn Trung Dung (Neutral Text) mà sau này người ta gọi thủ bản Alexandrian.
Bản Văn Tây Phương (Western Text)
Có một bộ thủ bản cổ quan trọng là Codex Beza chỉ các sách Phúc Âm và Codex Claramontanus, chứa đựng các thư tín của Phao-lô. Các thủ bản này có niên đại khoảng thế kỷ 6 S.C. Các bản này do Jerome dịch ra tiếng La Tinh thực hiện vào khoảng 400 S.C., Các bằng chứng cho thấy các bản văn này có lối hành văn giống nhau. Các bản văn này tạo thành một nhóm gọi là Bản Văn Tây Phương.
Bản Văn Thông Dụng (Koine)
Hầu hết các bản sao thực hiện thời Trung Cổ lập thành một nhóm thứ ba có lối hành văn khác hơn hai nhóm kia. Nhóm này gọi là Koine, có nghĩa là thông dụng. Đôi khi cũng được gọi là Textus Receptus. Các dịch giả của bản King James sử dụng. nhóm bản văn này, trong khi các dịch giả bản Revised Version và Revised Standard Version dùng nhóm Trung Dung (Neutral Text). Để so sánh hai nhóm bản văn này, chỉ cần so sánh giữa bản King James và bản Revised Version là thấy ngay. Hầu hết các bản dịch Tân Ước gần đây đều theo bản Alexandrian (hay Trung Dung).
Các Thủ Bản Khác
Gần đây có những bản sao sớm hơn nữa đã tìm thấy trong các đống tàn vụn của giấy chỉ thảo tại Ai Cập. Tài liệu giấy chỉ thảo Chester Beatty gồm hầu hết Tân Ước và có vào khoảng thế kỷ thứ 3 S.C.
Tài liệu giấy chỉ thảo Rylands, khoảng 125 S.C. là một bằng chứng rất giá trị về các bản văn Tân Ước. Các tài liệu này hầu như giống hệt với bản văn Alexandrian.
Tài liệu giấy chỉ thảo Bodmer của Giăng như được đề cập trong chương 5, xác nhận ảnh hưởng của bản văn Trung Dung. Hầu hết những bản dịch mới sau này sử dụng những tài liệu từ các thủ bản mới được tìm thấy.
Phê Bình Bản Văn (Textual Criticism)
Việc nghiên cứu các thủ bản cổ gọi là phê bình bản văn , hay hạ phê bình (lower criticism), để phân biệt với thượng phê bình (higher criticism). Phê bình bản văn là khoa học cổ xưa và rất giá trị. Khoa học này đã được các học giả Cơ Đốc theo đuổi, ít nửa là từ Origen 250 S.C. và phải có kiến thức rất uyên bác về ngôn ngữ. Khoa phê bình bản văn Tân Ước đã có một nền tảng tốt hơn từ khi ra đời các công trình khảo học của Tischendorf, Westcott, Hort và những người khác.
Khoa phê bình bản văn, trước hết, có thể giúp chúng ta tìm lại trong hầu hết các đoạn văn, những chữ đã được các Sứ Đồ chép ra. Các bản sao chúng ta có ngày nay được sao chép qua nhiều thế hệ so với bản văn nguyên thủy. Nhờ so sánh bằng chứng của các nhóm thủ bản xưa, các học giả có thể quyết định chữ nào là chữ nguyên thủy. Thứ nhì, có nhiều chỗ không biết là bản văn nguyên thủy đã viết như thế nào. Không biết là “Si môn” hay là “Phi-e-rơ;” “Đức Chúa Giê-xu” hay “Đức Chúa Giê-xu Christ.” Thật khó có thể quyết định lối dùng chữ nào là đúng, nhưng nhờ có nhiều nhóm thủ bản khác nhau và nhờ chúng đều tương đồng với nhau, nên dù có chọn lối dùng chữ nào cũng không có sự khác nhau nào quan trọng hết. Căn cứ vào các bằng chứng thích hợp đang có thì các bản văn của nhóm Trung Dung (Alexandrian) được coi là gần với bản nguyên thủy nhất. Nhóm Thông Dụng (Koine) được xem là nhiều khiếm khuyết nhất, còn nhóm Tây Phương thì cũng không xa mấy so với bản nguyên thủy. Đức tin nơi Kinh Thánh Tân Ước được củng cố khi biết rằng dù là bản văn trong nhóm khiếm khuyết nhất cũng vẫn còn tốt. Những chỗ khác biệt chỉ là những chi tiết vụn vặt. Những khác biệt chính giữa những bản dịch (tiếng Anh) không phải từ các thủ bản khác nhau, nhưng từ sự giải thích và lối hành văn của các dịch giả trong khi họ cố gắng dịch cho chính xác với các thủ bản. Năm 1881, Westcott và Hort đã nói một câu đáng cho chúng ta ghi nhớ:
“Nếu tất cả những cái tương đối vụn vặt... được để qua một bên thì những chữ mà theo ý kiến chúng tôi là đáng nghi ngờ cũng khó có thể lên đến hơn một phần ngàn của toàn bộ Tân Ước”.
Các khám phá mới ở đây đã xác nhận và củng cố thêm lời kết luận của Westcott và Hort.
Kinh Thánh Tân Ước đã được bảo vệ bởi các tu sĩ và học giả, bởi những người tuận đạo và giáo sĩ, qua việc sao chép tay cách công phu cũng như ấn loát kỹ lưỡng. Qua những đoạn văn quan yếu và bao nhiêu bản dịch, lời của Đức Chúa Trời được các sứ đồ ghi chép đã được bảo tồn cẩn thận và chuyên cần phổ biến khắp nơi trên thế giới. Mỗi Cơ Đốc Nhân đều có thể đọc và học Kinh Thánh với lòng tự tin, biết chắc rằng đó là Lời của Đức Chúa Trời.
“Trời đất sẽ qua đi, nhưng Lời Ta sẽ không bao giờ qua đâu” (Mat Mt 24:35).
Ngữ Vựng
Thủ bản (manuscripts); kiểu viết tháu (cursives); bản văn (text); phê bình bản văn (textual criticism); kiểu chữ hoa (uncials).
Sách Tham Khảo
Bruce, F. F. The New Testament Documents : Are They Reliable ? 5th revised edition. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1960.
Harris, R Laird. Inspiration and Canonicity of the Bible . Revised edition. Grand Rapids: Zondervan Pub. House , 1969. Chapter 4.
Robertson, A. T. Introduction to the Textual Criticism of the New Testament . London: Hodder & Stoughton, 1925.


SỰ BẢO TỒN CỰU ƯỚC
“....Chẳng có một lời nào không ứng nghiệm ” (IVua 1V 8:56).
Cựu Ước có trước Tân Ước khá lâu. Sách Ma-la-chi, sách cuối cùng của Cựu Ước có lẽ được viết khoảng 400 T.C. Mãi đến gần đây, người ta cũng chưa biết nhiều về tài liệu để nghiên cứu bản văn của Cựu Ước. Tuy nhiên, nhờ sự khám phá các Cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls) năm 1947 đã đem đến một số tài liệu mới rất phong phú cho việc nghiên cứu bản văn Cựu Ước.
Sự Bảo Tồn Thời Xưa
Môi-se và các tiên tri khác đã viết Cựu Ước khoảng gần 1,000 năm - (1,400 T.C. -- 400 T.C.). Trong khoảng thời gian đó các bản sao của Thánh Kinh Cựu Ước một phần được các thầy tế lễ ở đền thờ cất giữ, một phần khác do nhà vua trông coi, và một phần khác nữa được chăm sóc bởi các tiên tri mà Đức Chúa Trời đã bởi Đức Thánh Linh khải thị ý muốn Ngài. Lời tiên tri đôi khi rất hiếm hoi ở Y-sơ-ra-ên như trong thời Hê-li, “Lời của Đức Giê-hô-va lấy làm hiếm hoi, và những sự hiện thấy thấy chẳng năng có” (ISa1Sm 3:1). Các quốc gia chìm đắm trong sự thờ phượng hình tượng, chẳng hạn như trong thời vua A-háp. Trong các thời đó, Đức Chúa Trời dấy lên các vị tiên tri trung thành được linh cảm bởi Đức Thánh Linh. Các vị tiên tri này yêu mến và tàng trữ lời Đức Chúa Trời rồi cẩn thận phổ biến.
Các nguồn tài liệu ngoài Kinh Thánh thì thiếu chứng cớ nói về các giai đoạn nói trên ở xứ Palestine. Sự hình thành (composition) và bảo tồn Kinh Thánh chỉ dựa trên các bằng chứng nội tại. Các tác phẩm và sách vở thế tục chắc chắn là đã có lúc đó, nhưng đã mất hết. Có rất nhiều truyện tích, câu chuyện lịch sử, các bài thi ca đã được bảo tồn trên những bản đất sét nung không bị hư mục ở vùng Mesopotamia. Ở Ai Cập các bản văn được ghi trên giấy chỉ thảo, mặc dù mỏng manh nhưng đã được bảo tồn nhờ khí hậu khô ráo ở đó. Các nhà buôn từ Palestine đã đổi gỗ và dầu Ô-liu để lấy giấy chỉ thảo. Giấy chỉ thảo rất tiện dụng cho họ, nhưng hầu hết các giấy chỉ thảo này đã bị hư nát hết trên các đồi núi ở Palestine vì khí hậu ẩm ướt ở đây. Chỉ ở vùng nóng khô trong khu vực Biển Chết và cuộn giấy chỉ thảo cổ đã được bảo tồn. Vì thế các tác phẩm văn chương thế tục ở Palestine đã bị tiêu mất, chỉ các cuộn Kinh Thánh bằng giấy da còn tồn tại nhưng rất cũ mòn.
Vì các cuộn giấy da bị cũ mòn hoặc rã nát nên phải được sao chép lại. Điều gì sẽ xảy đến cho các bản sao này của Kinh Thánh sau khi các vị tiên tri cuối cùng hoàn tất công việc khoảng 400 T.C.? Khởi đầu từ mốc thời gian này chúng ta hãy đi ngược dòng lịch sử vào thời cổ khoảng 2,400 năm trước.
Thời Trung Cổ
Trong thời Trung Cổ, bản Cựu Ước tiếng Hy-bá-lai được người Do Thái bảo tồn. Trong thời kỳ này, ở Châu Âu người ta không mấy quan tâm dến việc học hỏi. Hội Thánh Công Giáo dùng bản dịch Vulgate của Jerome vì dường như không có một học giả nào của họ biết tiếng Hy-bá-lai. Hội Thánh Chính Thống Hy Lạp ở phía đông Địa Trung Hải dùng bản Bảy Mươi bằng tiếng Hy Lạp và dường như không một nhà thần học nào của họ để ý gì đến bản tiếng Hy-bá-lai nguyên thủy. Người Do Thái mặc dù bị bắt bớ dữ tợn đã di tản khắp nơi, bảo tồn Kinh Thánh cũng như phong tục và truyền thống của họ.
Truyền thống Do Thái dạy rằng các đạo sĩ Do Thái giáo (Ra-bi) thời Trung Cổ sao chép Kinh Thánh một cách rất cẩn thận vì họ tin rằng các mẫu tự đều có một ý nghĩa huyền bí. Thậm chí có những ra-bi đánh giá mỗi chữ bằng một con số, chẳng hạn a= 1; b= 2. Khi giải thích, họ dùng những chữ bằng con số tương đương. Họ đếm cả số câu trong sách và làm dấu câu chính giữa. Các học giả ngày nay có thể mỉm cười vì cách làm việc ngộ nghĩnh thế này, nhưng nhờ đó các bản sao đã được chép lại một cách hết sức cẩn thận và kỹ lưỡng.
Hơn nữa, khi đem cuốn Kinh Thánh tiếng Hy-bá-lai so sánh với bản dịch của Jerome (khoảng 400 S.C.) người ta sẽ thấy một cách rõ ràng rằng Jerome đã dùng một bản văn Hy-bá-lai không khác bản văn chúng ta dùng ngày nay mấy. Thật ra cũng có một số bản dịch ra Hy Lạp khoảng 200 S.C. bởi một số học giả Do Thái (xin đừng lầm lẫn với Bản Bảy Mươi cũng được dịch trước đó). Những bản dịch này chứng tỏ bản Kinh Thánh Hy-bá-lai thời đó rất gần với bản Hy-bá-lai ngày nay. Các bản dịch ra Hy lạp nhỏ này đã bị thất lạc phần lớn, nhưng dầu vậy, chúng đã giúp ích cho công việc truy tầm lịch sử của bản văn Hy-ba-lai.
Tuy nhiên, khoảng năm 200 S.C. trở về trước không có bản sao trong tiếng Hy-bá-lai nào cho đến gần đây. Cũng không có bản dịch nào cho đến khi Bản Bảy Mươi được thực hiện năm 200 T.C. Cũng có các bản dịch Syriac, Samaritan và Aramaic nhưng niên hiệu không lấy gì làm chắc chắn và tương đối không mấy quan trọng. Cho nên có thể nói rằng chúng ta không có bằng cớ rõ ràng về việc bảo tồn cẩn thận bản văn Hy-bá-lai, ít ra là trước 200 S.C.
Các Cuộn Biển Chết (Deal Sea Scrolls)
Năm 1947, một cậu bé chăn chiên Á-rập ném một cục đá vào một hang gần Biển Chết và nghe âm thanh của một bình gốm bị bể. Ngày nay cả thế giới đều biết về chuyện một người Bedouin lấy bảy thủ bản ra từ hang đó và để lại hàng trăm mảnh vụn. Kể từ đó, các hang khác đã cho thêm một số thủ bản nữa của Cựu Ước và các tài liệu lịch sử Do Thái. Hàng ngàn mảnh vụn đã được cẩn thận ráp lại và đem ra nghiên cứu. Các Cuộn Biển Chết được các kí lục của cộng đồng tu sĩ Qumran chôn giấu lâu đời về trước đã cung cấp những bằng chứng mới và giá trị về việc bảo tồn bản văn Hy-bá-lai trong thời cổ.
Các Cuộn Sách Ngoài Kinh Thánh (Non-biblical scrolls)
Kho tàng trên bao gồm hai loại văn phẩm, loại thứ nhất là các cuộn sách không phải Kinh Thánh. Các văn phẩm này cho thấy thể nào các giáo đồ tại Qumran xem các sách của Cựu Ước là sản phẩm của Đức Chúa Trời do Đức Thánh Linh hành động qua các tiên tri. Họ lập lại rằng đó là “Luật pháp của Môi-se và các vị tiên tri” hay “những gì Đức Chúa Trời phán bảo qua Môi-se và các vị tiên tri”. Thái độ của họ đối với Cựu Ước và các từ ngữ họ dùng cũng giống như thái độ và từ ngữ của Chúa và các Sứ Đồ Ngài dùng đối với Cựu Ước vậy.
Các Cuộn Sách Kinh Thánh (Biblical Scrolls)
Loại văn phẩm thứ hai của các tài liệu Biển Chết là các cuộn sách Thánh Kinh. Các bản sao cổ chép tay này đã được đối chiếu trực tiếp với bản Kinh Thánh Hy-bá-lai của chúng ta. Chúng cho thấy việc sao chép Kinh Thánh của các ký lục thật chính xác.
Tất cả các sách Cựu Ước, ngoại trừ một sách, đều được tìm thấy trong các hang động. Sách Ê-xơ-tê vẫn chưa được tìm ra. Các sách như Thi Thiên, Phục Truyền Luật Lệ Ký và Ê-sai được thấy khá nhiều. Các sách khác như Sử Ký thì chỉ thấy từng mảnh vụn. Cuộn giấy da lớn nhất là sách Ê-sai, đã được bảo toàn trọn vẹn còn rất hoàn hảo và được định niên hiệu vào khoảng 125 T.C. Một số mảnh vụn thì có niên hiệu xưa hơn. Vài phần của sách Gióp, Giê-rê-mi, Sa-mu-ên, và Thi Thiên có thể là khoảng 200 T.C. hay sớm hơn. Có một phần của Thi Thiên được xen vào khoảng 150 T.C. Đây là điều thích thú vì một số nhà phê bình cực đoan đã nằng nặc cho rằng sách này đã được sáng tác rất trễ về sau này. Các bản sao của sách Đa-ni-ên vào thế kỷ thứ 2 T.C. cũng rất có ý nghĩa vì chúng rất gần vào năm 165 T.C., năm mà các nhà phê bình cho rằng đó là năm sách được viết ra.
Tóm Lược
Các Cuộn Biển Chết thật giống hệt bản Kinh Thánh Hy-bá-lai của chúng ta. Điều này chứng tỏ rằng những người sao chép Kinh Thánh Hy-bá-lai trải qua bao nhiêu năm kể từ thế kỷ thứ 2 T.C. đã làm việc hết sức cẩn thận. Như vậy đã xác định rằng bản văn Hy-bá-lai của Kinh Thánh mà chúng ta có hiện nay cũng đã được dùng bởi người Do Thái 200 năm trước khi Chúa chào đời. Chúng ta có thể tin cách quả quyết rằng không có sự thay đổi nào trong lịch sử của người Do Thái trong khoảng từ thời Ê-xơ-ra đến năm 200 T.C. đã khiến cho họ thay đỗi cách sao chép Kinh Thánh cho nên chúng ta có thể kết luận rằng Cựu Ước, trong các phần chính hoặc trong các tiểu tiết đều giống y như Kinh Thánh mà Ê-xơ-ra đã đọc cho dân Do Thái ngay tại Giê-ru-sa-lem sau khi từ chốn lưu đày Ba-by-lôn trở về.
Chứng minh như thế cũng có thể tạm đủ cho tất cả các mục đích bình thường. Tuy nhiên, các học giả ngày nay đã truy tầm lịch sử của Cựu Ước đến một niện hiệu sớm hơn nữa. Bản Bảy Mươi bằng tiếng Hy Lạp (khoảng 200 T.C.) đã được bảo tồn bởi những ký lục Cơ Đốc giáo, rồi một bản dịch ra tiếng Anh cũng được thực hiện. Nhờ vậy mà học viên dù không biết Hy Văn hay tiếng Hy-bá-lai cũng có thể so sánh bản King James với Bản Bảy Mươi. Đây cũng là điều hữu ích, nhưng lại đưa đến những nghi vấn mới. Tân Ước có một số chỗ trích dẫn từ Bản Bảy Mươi, nhưng những chỗ này của Bản Bảy Mươi lại không phù hợp với Bản Hy-bá-lai. Phải chăng Bản Bảy Mươi đôi khi tốt hơn bản Hy-bá-lai? Phải chăng bản dịch qua Hy Văn này đã được thực hiện cách cẩn thận?
Ngày nay, có nhiều bằng cớ đáng tin để giải quyết các nghi vấn này. Vài thủ bản ở Biển chết có niên hiệu khoảng 200 T.C. Các bản này có bản văn giống y như bản văn của bản Bảy Mươi. Những bản văn ấy có lẽ được dịch giả của Bản Bảy Mươi đã sử dụng. Chỗ nào mà Bản Bảy Mươi khác biệt với Bản Hy-bá-lai thì có lẽ đã có hai hay nhiều bản văn Hy-bá-lai khác nhau đã được lưu hành song song trước khoảng 200 T.C. Những bằng chứng mới đã giải quyết được nhiều nan đề trong việc trích dẫn của Tân Ước. Nó đã chứng tỏ rằng trong các trường hợp này cả Bản Bảy Mươi và Tân Ước đều đúng, không có gì đáng nghi ngờ cả. Điều lạ lùng là trải bao thế kỷ tiếp theo, cả hai văn bản đều được bảo tồn - một trong tiếng Hy-bá-lai và một trong Bản Bảy Mươi.
Đối với một học giả, sự hiểu biết về các nhóm bản văn khác nhau của Cựu Ước có giá trị gì? Thứ nhất, nhờ vào việc so sánh kỹ lưỡng, vị học giả có thể quyết đoán được cái nào là nguyên bản Thứ hai, vị học giả cũng có thể thấy những người sao chép các văn bản cổ đã cẩn thận đến mức nào. Thứ ba, nhờ so sánh hai văn bản khác nhau, học giả ấy có thể kết luận rằng không có văn nào là xa quá đối với văn bản chính đã phát sinh ra hai văn bản đó. Thứ tư , vị học giả ấy có thể kết luận rằng những nhóm văn bản có niên hiệu khoảng 200 T.C. là thật sự được truyền xuống từ các văn bản chính đã được chuẩn bị bởi Ê-xơ-ra, một người “thạo luật pháp của Môi-se” (Exo Er 7:6).
So sánh cẩn thận tất cả tài liệu hiện có có thể giúp học giả khẳng định rằng bản văn Cựu Ước hiện nay là bản sao đáng tin cậy của các bản văn nguyên thủy, ít nữa là trong hình thức của các bản văn có sau thời kỳ lưu đày.
So Sánh Văn Bản
Hai luận chứng bổ túc dưới đây sẽ làm vững mạnh thêm niềm tin rằng Cựu Ước đã được sao chép hết sức chính xác từ những ngày đầu tiên. Thứ nhất, các đoạn Kinh Thánh trích dẫn nhau gần như giống hệt nhau. Thứ hai, các danh xưng xuất hiện trong Cựu Ước và trong các văn kiện cổ đều gần giống hệt nhau. Sau dây là vài thí dụ.
Sự Đồng Nhất Của Các Đoạn Văn Song Song Nhau
Có nhiều đoạn văn trong Kinh Thánh Cựu Ước giống nhau mà độc giả ít khi để ý. Thi Tv 108:1-13 giống y như IISa 2Sm 22:1-31; Thi Tv 14:1-7 cũng giống 53:1-6; 108:1-13 gồm một phần của 57:1-11; 60:1-12; EsIs 37:1-38 giống với IIVua 2V 19:1-36. Phần lớn của II Sa-mu-ên và Các Vua được trích trong sách Sử Ký, dầu rằng các phần này xen lẫn nhau hơn là dặt song song nhau. Có nhiều trường hợp điển hình khác nữa có thể đem ra dẫn chứng như trên.
Sự Đồng Nhất Trong Danh Xưng
Các tên của nhân vật trong Kinh Thánh thường là những điều khảo cứu rất thích thú. Kinh Thánh có nhiều tên rất phức tạp chẳng hạn như Si-săc, Két-sô-lao-me, Pha-ra-ôn, Xa-cha-ri, Tiếc-lác, Phi-lê-se, Giê-hô-gia-kim. Học giả Robert Dick Wilson cho rằng trong số 148 mẫu tự của 40 tên được ghi chép trong các bản sao Cựu Ước thì hiếm thấy có tên nào là không được ghi chép lại chính xác. Các bản đất sét nung khám phá thời Wilson đã xác định điều này.
Một thí dụ độc đáo trong Gie Gr 39:3. Trải qua nhiều thế kỷ không ai biết những người này là ai. Mới đây, một bản liệt kê các quan tướng của Nê-bu-cát-nết-sa đã được khám phá và đem đối chiếu với câu này. Các tên có vẻ lộn xộn với danh hiệu, nhưng mỗi mẫu tự đều đã được sao chép rất chính xác. Câu đó phải được đọc như thế này “Ay là Nẹc-gan Sa-rết-sê ở Sam-ga, Nê-bô Sa-đê-kim làm đầu hoạn quan, Nẹc-gan Sa-rết-sê làm đầu các bác sĩ.” Sự chính xác như thế trong việc sao chép chứng tỏ rằng bản văn Cựu Ước đã được sao truyền một cách rất trung thành. Chúng ta có thể xác quyết rằng các văn phẩm của các vị tiên tri đã được bảo tồn không mảy may lầm lỗi đến độ làm lệch lạc đi sứ điệp của lời Đức Chúa Trời. Bản văn Kinh Thánh rất đáng tin cậy, có thể được sử dùng với tất cả lòng tin tưởng như Chúa Giê-xu và các sứ đồ đã bày tỏ.
Ngữ Vựng
Các Cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls), ngoại chứng (external evidence), nội chứng (internal evidence), lưu truyền (transmission), so sánh bản văn (textual comparision)
Sách Tham Khảo
Bruce, F. F. Second Thoughts on the Dead Sea Scrolls . 2nd ed. Grand Rapids : Wm B. Eerdmans Pub. Co., 1961.
Free, Joseph P. Archaeology and Bible History . Wheaton, IL: Scripture Press, 1969.
Pfeiffer, Charles F. Dead Sea Scrolls and the Bible . Grand Rapids: Baker Book House, 1969.

NAN ĐỀ CỦA KINH THÁNH : PHÉP LẠ, LỜI TIÊN TRI NHỮNG CHỖ BỊ CHO LÀ MÂU THUẪN, KINH THÁNH VÀ KHOA HỌC
“Đức Chúa Trời có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng ” (Eph Ep 3:20).
Kinh Thánh là quyển sách quan trọng nhất. Nó khá lớn đối với một độc giả bình thường. Với khổ chữ bình thường và không có phần chú thích, Kinh Thánh dày khoảng 1,300 trang. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi những người có đầu óc hoài nghi và vô tín sẽ tìm thấy một số nan đề trong đó.
Kinh Thánh là một quyển sách lạ lùng - khác xa những sách khác. Nó luận về những vấn đề thuộc linh mà người ta không thể hiểu nhờ khả năng của con người thiên nhiên được. Việc thuộc linh phải được nhận biết theo cách thuộc linh (ICo1Cr 2:14-16). Cho nên những người chỉ trích đã tìm ra những nan đề trong khi thật ra chẳng phải là nan đề gì cả. Ni-cô-đem đã thưa với Chúa, “Làm thế nào mà điều này có thể xảy ra được?” (GiGa 3:9). Nếu con người không chịu chấp nhận sứ điệp thuộc linh của Kinh Thánh thì cũng không thể hiểu Kinh Thánh được.
Kinh Thánh là cuốn sách cổ. Nó được viết bằng tiếng Hy-bá-lai, A-ra-mic và Hy Lạp bởi các tiên tri, các vị vua, người thâu thuế, học giả... Bối cảnh của nó thay đổi từ thời đại Đồ Đồng cho đến thời đại Đồ Sắt, rồi đến thời kỳ đế quốc La Mã. Các biến cố trong đó xảy ra tại Ca-na-an, Ai-Cập, Hy Lạp và Tiểu Á. Cho nên chẳng lấy làm lạ là nó khiến nhiều người đặt câu hỏi.
Những nan đề này thật ra là do việc thiếu kiến thức về địa dư, phong tục và ngôn ngữ của Kinh Thánh. Hầu hết các nan đề đều tan biến sau khi được học hỏi sâu nhiệm với sự chuyên cần và với tinh thần cầu nguyện. Một học viên tin Chúa chân thành phải sử dụng đức tin và sự nhận biết thuộc linh khi học Kinh Thánh.
Thật ra Kinh Thánh có rất ít nan đề nếu so với cỡ và bối cảnh bất thường của nó. Sự hòa hợp lạ lùng của bộ Kinh Thánh là sự kiện đã được kiên lập. Nó được viết trong một thời gian khoảng 16 thế kỷ bởi khoảng 35 tác giả. Nó chỉ nói về một chuyện và liên tục trình bày một sứ điệp nhất quán. Chính sự hòa hợp cũng là một trong những bằng chứng cho thấy Kinh Thánh được linh cảm (hà hơi).
Tuy nhiên, cũng có vài loại nan đề chính. Một số nan đề liên hệ đến các phép lạ, các lời tiên tri và những chỗ bị cho là mâu thuẫn trong Kinh Thánh. Khi nghiên cứu về các nan đề này, học viên cũng sẽ tìm ra câu trả lời cho những nan đề liên hệ khác.
Các Phép Lạ
Có nhiều phép lạ ghi chép trong Kinh Thánh. Một số phép lạ ảnh hưởng nhiều vùng rộng lớn và nhiều người - chẳng hạn sự vượt qua Biển Đỏ (XuXh 14:1-31), có những phép lạ nhỏ, ít ái lưu ý hơn - chẳng hạn Ê-li-sê làm cho lưỡi rìu nổi lên mặt nước (IIVua 2V 6:1-7). Một số khác liên hệ đến việc chữa lành bệnh tật - như Đức Chúa Giê-xu chữa lành người mù (Giăng 9). Một số khác trong lãnh vực thiên nhiên - chẳng hạn Đức Chúa Giê-xu cho 5,000 người ăn với mấy cái bánh và vài con cá (Mac Mc 6:34-44).
Những phép lạ này quan trọng như thế nào? Chúng dạy điều gì? Có thể nào tín đồ ở thế kỷ 20 tin được không? Thế nào? Tại sao? Để trả lời các nghi vấn này chúng ta phải biết phép lạ Kinh Thánh là gì?
Tất cả các phép lạ Kinh Thánh đều có một điểm giống nhau - chúng đều liên hệ đến thế giới thiên nhiên. Chẳng hạn như sắt nổi, nước biến thành máu, phung cùi được lành, điếc được nghe , què được đi, bão tố dừng lại...
Phép lạ Kinh Thánh là những biến cố phi thường khác với kinh nghiệm thường tình. Đối với người thường thì không thể tin được và không thể thực hiện nổi. Người ta không đi bộ trên mặt nước. Sắt không nổi. Lửa không xuống từ trời thiêu đốt lễ vật, nước, đá và các thứ xung quanh. Phép lạ là kết quả của sự can thiệp trực tiếp của quyền năng siêu nhiên. Phép lạ là một biến cố đặc biệt trong thế giới thiên nhiên, hoàn toàn ngoài khả năng thực hiện của con người.
Ngày nay, sự phủ nhận các phép lạ rất phổ thông. David Hume đã nói rằng cần phải có chứng cớ vô hạn để chứng tỏ phép lạ hiện hữu. Các khoa học gia cả quyết rằng các định luật cố định đang điều khiển vũ trụ và không có một ngoại lệ nào hết. Họ chủ trương rằng con người thời xa xưa, chưa được khai sáng, khờ khạo tin rằng Đức Chúa Trời đang trực tiếp điều khiển vũ trụ và có thể dể dàng thay đỗi điều gì Ngài muốn.
Một số khoa học gia nói rằng, “Chúng tôi biết Đức Chúa Trời - nếu có Đức Chúa Trời - vận hành qua các định luật thiên nhiên và không chấp nhận một ngoại lệ nào ca.”
Tuy nhiên, Kinh Thánh bày tỏ rõ ràng rằng những người thời xa xưa không có khờ khạo chút nào cả. Thật vậy, tuy họ không đủ các dữ kiện khoa học, nhưng họ biết cách quả quyết rằng con người không thể đi bộ trên mặt nước (Mat Mt 14:25; Mac Mc 6:49; GiGa 6:19). Khi họ thấy Chúa Cứu Thế làm vậy, họ hoảng sợ và nghĩ rằng Ngài là con ma! Khi Phao-lô chữa lành người què (Sứ 14), dân chúng đã tưởng rằng các thần đã lấy hình người hiện xuống. Họ biết quá rõ khả năng của con người không thể làm thế được. Người mù được Chúa Giê-xu chữa cho sáng mắt đã nói rằng: “từ khi có thế gian đến bây giờ chưa ai nói có khả năng mở mắt một người mù thừ thuở sanh ra” (9:32). Anh ta biết rằng Đức Chúa Giê-xu đã làm một việc mà người tầm thường không thể làm được. Khoa học thời đó tuy còn ấu trĩ, nhưng con người đã biết tin vào sự điều hòa tự nhiên của vũ trụ và vào luật nguyên nhân và hậu quả. Họ tin phép lạ chẳng phải là họ khờ khạo, nhưng vì chứng cớ quá hiển nhiên không thể tránh né được. Họ tin rằng Đức Chúa Trời của phép lạ đã bước vào thế giới tội lỗi này với quyền năng của Ngài được tỏ bày ra.
Một số nhà phê bình đã để nhiều thì giờ để giải thích rằng các phép lạ không có thật. Họ nghĩ rằng Đức Chúa Giê-xu đã dùng tâm lý chữa bệnh, các môn đồ đã không thấy Chúa Giê-xu đã dùng tâm lý chữa bệnh, các môn đồ đã không thấy Chúa trên mặt nước, nhưng ở mé biển. Việc nuôi 5,000 người ăn được giải thích là mỗi người đều có mang phần ăn theo, rồi sự dâng hiến không chút vị kỹ của một em bé đã khiến đám đông xấu hổ, rồi chia sớt phần ăn cho nhau! Những giả thuyết thiếu tính khoa học và rồ dại như vậy thấy nhan nhản trong các sách tân tiến ngày nay nhằm giải thích bằng chứng hiển nhiên của từng trường hợp.
Phép lạ lớn nhất sự phục sinh của Chúa Cứu Thế, thì không thể nào giải thích được bởi những lập luận thiên nhiên (Mat Mt 28:1-20; Mac Mc 16:1-20; LuLc 24:1-53; GiGa 20:31). Bằng chứng hùng hồn nhất về sự phục sinh với thân thể xương thịt của Chúa là sự biến đổi của các môn đồ. Những người đã bỏ trốn (Mac Mc 14:50) trở thành những chứng nhân dạn dĩ sẵn sàng chết cho niềm tin của mình.
Những người nào giải thích nhằm hóa giải phép lạ, kể cả phép lạ về sự phục sinh của Chúa Cứu Thế, thì chẳng còn gì ngoài một vỏ tôn giáo thiếu vắng quyền năng, thiếu vắng niềm vui và sự cứu rỗi; một triết lý vô bổ, thiếu sự khải thị phước hạnh của Đức Chúa Trời. Đó chỉ còn là bóng tối giữa đêm khuya, không có chút ánh sáng của sự sống. Người tín đồ thật không có nan đề với phép lạ. Phép lạ nằm ở trọng tâm của đức tin họ. Sự thực về các phép lạ đã chép trong Kinh Thánh là y như vậy, bằng chứng vững chãi về giá trị của niềm hy vọng và sự tin quyết của Cơ Đốc Nhân.
Phao-lô có câu trả lời cho những người có tánh hồ nghi. Khi ông xuất hiện trước Phê-tu và Ạc-ríp-ba, vị thống đôc này không chịu tin giáo lý Phao-lô trình bày. Ông ta nói rằng Phao-lô đã khùng rồi (Cong Cv 26:24). Phao-lô đã trả lời cho Ạc-ríp-ba với lời biện hộ rất nghiêm nghị: “Ủa nào! Các ông há lại ngờ chẳng có thể tin được rằng Đức Chúa Trời khiến kẻ chết được sống lại sao?” (26:8). Ai tin nỗi Đức Chúa Trời thì không có khó khăn gì trong việc công nhận các phép lạ. Các phép lạ rõ ràng, đầy thương xót trong Tân Ước chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời nhân từ đã thật sự phán dạy. Các phép lạ là nhân chứng và bằng cớ quan trọng của đức tin chúng ta.
Các Lời Tiên Tri
Luận chứng rút ra từ các tiên tri trong Kinh Thánh cũng hùng hồn không kém. Lời tiên tri trong Kinh Thánh bao gồm các sự tiên đoán rõ rệt, tích cực và dài hạn đến độ không ai có thể ngờ được, dù khôn ngoan đến mức nào. Dĩ nhiên, một số quan sát viên tinh tế có thể tiên đoán một số biến cố. Nhà khí tượng học có thể tiên đoán thời tiết với một giới hạn nào đó. Những nhà thăm dò chính trị có thể phỏng đoán kết quả của cuộc bầu cử hàng tuần trước khi bỏ phiếu. Nhưng các lời tiên tri chân chính phải đến từ cõi siêu nhiên.
Sự Ứng Nghiệm Cựu Ước
Một số lời tiên tri Cựu Ước sẽ được dùng làm trường hợp điển hình cho giá trị và tầm quan trọng của lời tiên tri. Chẳng hạn, Rê-be-ca sẽ sanh đôi (SaSt 25:23), Ap-ra-ham đã được bảo trước rằng con cháu ông sẽ bị làm nô lệ ở ngoại quốc (15:13); Giê-rô-bô-am đã được bảo trước rằng một hậu tự của Đa-vít, tên Giô-si-a, đã làm ô uế bàn thờ của ông ta (IVua 1V 13:2), Ê-sai nói tiên tri 200 năm trước khi Sy-ru phóng thích người Do Thái (EsIs 44:26). Đa-ni-ên nói tiên tri trước về sự xuất hiện của Alexander Đại Đế và sự phân chia Đế Quốc của ông ta ra cho bốn người kế nghiệp mà không phải là con cháu của ông ta (DaDn 11:2-4). Đa-ni-ên nói trước về các cuộc chiến tranh của các vị vua sau này của Sy-ri, ở phía Bắc giao tranh với dòng họ Ptolemies là các vị Vua Ai Cập ở miền Nam, cho đến khi Antiochus Ephiphanes nổi dậy khoảng 165 T.C. (11:21-32). Tất cả những lời tiên tri này đều đã ứng nghiệm y như vậy.
Những lời tiên tri của Kinh Thánh không tiên đoán cách mù mờ như các nhà tiên đoán Hy Lạp. Một nhà tiên tri Hy Lạp đã tiên đoán rằng nếu một vị vua nào đó đánh giặc thì vua đó sẽ phá hủy được một đế quốc. Vua đó đã làm như thế. Vương quốc mà vua đó đã phá hủy chính là vương quốc của mình! Ngược lại các tiên tri Do Thái đã tiên đoán tương lai với sự xác định rõ rệt, thường thường tiên đoán luôn cả ngày và tên của những người liên hệ. Các tiên tri đã nói được như thế vì Đức Chúa Trời đã cho họ có khả năng siêu nhiên biết rõ những chi tiết của các biến cố tương lai. Đây chính là những bằng chứng sống về sự chân thật của toàn bộ Kinh Thánh. Mỗi tín hữu Tin Lành phải tin chân lý này.
Những người hoài nghi đã có thái độ nào đối với những lời tiên tri như thế? Họ rất khôn khéo. Khi một đoạn sách trong sách Ê-sai tiên đoán về triều đại của Đai Đế Sy-ru họ cho rằng chương đó đã viết sau khi Sy-ru lên ngôi. Nếu sách Các Vua tiên đoán đích danh Giô-si-a thì họ giải thích rằng tên của Giô-si-a đã bị nhắc vào trong câu đó bởi một người sao chép lại Kinh Thánh, sau khi Giô-si-a lên ngôi. Nếu Đa-ni-ên tiên đoán về thời kỳ cai trị của Antiochus Ephiphanes thì họ cho rằng đó là bằng chứng hiển nhiên sách Đa-ni-ên được viết sau 165 T.C. Các học giả tân phái có thái độ như vậy đối với các lời tiên tri, cho nên họ cứ chủ trương rằng Cựu Ước được viết sau này do những tác giả không phải là những người mang tên trong sách.
Chúng ta trả lời thế nào đối những sự phê bình như thế? Thứ nhất, phải chỉ ra sự thiên kiến trong vấn đề siêu nhiên. Kế đến, có thể nói rằng cả nội chứng lẫn ngoại chứng đều đồng ý là các niên hiệu sớm là đúng. Trong các Cuộn Biển Chết, có những bản sao của sách Đa-ni-ên được thực hiện khoảng 110 T.C., như vậy cũng đủ cho thấy rằng sách Đa-ni-ên không thể nào do một Đa-ni-ên khác viết khoảng 165 T.C. được. Không thể nào một sách như vậy lại được sao đi sao lại nhiều lần và phổ biến rộng rãi, trong khi nguồn gốc giả tạo của nó vẫn được che giấu, và giới có thẩm quyền trong việc kinh điển hóa đã chấp nhận như thế trong suốt 55 năm. Tài liệu của các Cuộn Biển Chết đã xác định niên hiệu sớm hơn cho sách Đa-ni-ên, và như thế khiến sách Đa-ni-ên là sách tiên tri nói trước việc tương lai cách đầy thẩm quyền.
Thứ nhì, nhiều lời tiên tri trong Kinh Thánh đề cập đến sự hiện đến lần thứ nhất của Chúa Cứu Thế Giê-xu và những biến cố trong thời này khá lâu trước khi các niên hiệu được xác định. Một số trường hợp có thể được trích dẫn. Lời tiên tri về việc Chúa sinh ra bởi một “trinh nữ” chẳng hạn (EsIs 17:14). Những nhà phê bình cho rằng, chữ đó có nghĩa là “người thiếu phụ” có ý nói đến đứa con của Ê-sai sẽ được sanh ra chẳng bao lâu sau đó, hay đứa con sắp sanh của A-cha. Trong đoạn văn này đứa trẻ Em-ma-nu-ên cũng được gọi là “Đấng Lạ Lùng” đã được hứa là từ dòng dõi của Đa-vít. (9:6, 7). Ê-sai đã có một con trai tên Sê-a-gia-súp rồi, cho nên đoạn văn này không thể nào đề cập đến đứa trẻ này. Nó cũng không thể nào áp dụng vào con trai của A-cha. Vì lúc này, Ê-xê-chi-a con trai của A-cha đã được hơn 9 tuổi. Khi được 25 tuổi thì Ê-xê-chi-a kế vị cha mình là A-cha và A-cha cai trị được 16 năm, hơn nữa chữ “trinh nữ” được dùng 6 lần trong Cựu Ước và chữ này không bao giờ dùng cho một “thiếu phụ” đã lập gia đình. Ít nữa là 3 lần đã có nghĩa rất rõ ràng là “trinh nữ”. Hơn thế nữa, bản Bảy Mươi dùng từ ngữ có ý nghĩa đặc biệt của “trinh nữ” để dịch chữ này. Trước khi Chúa Cứu Thế giáng sinh, người Do Thái đã chấp nhận lời tiên tri này rất rõ ràng. Chỉ những người phê bình có thiên kiến mới không chịu chấp nhận lời tiên tri vĩ đại này.
Hãy xem lời tiên tri về bảy mươi tuần lễ (DaDn 9:24). Lời tiên tri đó nói hết sức rõ ràng rằng từ lúc ban lệnh xây lại thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi Chúa Cứu Thế xuất hiện là 7 tuần và 62 tuần, và sau tuần thứ 62, Chúa Cứu Thế sẽ bị dứt bỏ và thành bị phá hủy. Các học giả phê bình chỉ trích đã cố gắng nhưng đã thất bại trong viện dịch đoạn này cách khác đi. Bản dịch Kinh James rất là chính xác, ngoại trừ câu “sau 62 tuần Chúa Cứu Thế sẽ bị dứt bỏ nhưng không phải vì cớ chính mình Ngài”, có thể dịch đúng hơn là “Sau tuần thứ 62 (62 tuần và tuần 62 giống nhau trong tiếng Hy-bá-lai), Chúa Cứu Thế sẽ bị dứt bỏ và chẳng còn lại gì”.
Có hai cách giải thích cần lưu ý. Thứ nhất, chữ “tuần” đề cập đến một đơn vị gồm 7 năm như người Do Thái thường giữ. Những người Do Thái đếm theo đơn vị 7 và 50 - tuần và năm hân hỉ. Nợ nần được tha miễn sau 7 năm và mỗi người được trở về cơ nghiệp của tổ tiên mình trong năm thứ 50, là năm hân hỉ. Tập tục như thế này đã được giữ kể từ thời Lê-vi Ký. 7 tuần và 62 tuần, như thế là 69 tuần hay 483 năm. Thêm một tuần nữa đề cập trong câu 27, cộng chung là 70 tuần.
Thứ nhì, có nhiều lệnh khác nhau về việc tái lập và xây dựng lại thành Giê-ru-sa-lem. Lệnh đầu tiên do Sy-ru ban hành khoảng 539 T.C. Lệnh này sau bị thâu hồi và chỉ có đền thờ được xây lại. Các lệnh kế tiếp được ban hành trong thời Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi, khoảng 465 T.C. và 444 T.C. Exo Er 9:9 ám chỉ rằng các lệnh này bao gồm việc xây lại thành Giê-ru-sa-lem cho nên Ê-xơ-ra đã xây lại thành phố và bạn của ông ta Nê-hê-mi hoàn tất việc xây vách thành. Vì thế, có người đếm từ thời Nê-hê-mi thì dùng năm ngắn hơn năm thường dùng (bởi vì theo KhKh 1:2 so với 12:6, có những năm 360 ngày).
Thật là tự nhiên nếu dùng các năm như người Do Thái thường dùng và kể từ thời Ê-xơ-ra. Như thế 456 T.C. trừ 483 năm bằng 26 S.C. (không có năm thứ 0, cho nên không phải là năm 27 S.C. ). Đây chính là năm khi Giăng Báp-tít tuyên bố Chúa Cứu Thế là Đấng Mết-si-a của dân Y-sơ-ra-ên. Sau đó chẳng bao lâu, Chúa Cứu Thế bị dứt bỏ. Bốn mươi năm sau, thành phố bị tàn phế sau cuộc bao vây của quân đội La Mã. Lời tiên tri nếu cắt nghĩa một cách chặt chẽ sẽ liên hệ đến những biến cố xảy ra rất lâu sau thời Đa-ni-ên dù dùng bất cứ giả thuyết nào về niên hiệu của Đa-ni-ên. Như thế, luận cứ dựa trên lời tiên tri ở đây rất vững.
Có nhiều ý kiến khác nhau về sự ứng nghiệm tuần lễ thứ 70. Những người theo tiền thiên hy niên (Premillenialists) tin rằng nó sẽ còn được ứng nghiệm để phù hợp với những điều Chúa Giê-xu bày tỏ trong Mat Mt 24:15.
Sự Ứng Nghiệm Tân Ước
Nhiều lời tiên tri trong Tân Ước ngày nay đang được ứng nghiệm. Đức Chúa Giê-xu đã tiên đoán một cách mạnh dạn rằng “Tin Lành này trước hết phải được rao giảng ra cho khắp muôn dân... ” (Mac Mc 13:10). Dầu từ một sự khởi đầu nhỏ bé, Hội Thánh Chúa Cứu Thế đã bành trướng và bao trùm khắp khu vực rộng lớn của thế giới. Đức Chúa Giê-xu cũng đã tuyên đoán “dòng dõi(quốc gia) này sẽ không qua cho đến khi mọi sự được trọn” (Mat Mt 24:34 ). Người Do Thái vẫn tồn tại mặc dù họ đã bị tan lạc, bắt bớ, đặt ngoài vòng bảo vệ của pháp luật và bị tàn sát. Sự hồi hương về miền Palestine mới đây lại còn làm ứng nghiệm sự dự ngôn từ thời xa xưa một cách sống động hơn nữa (XaDr 12:1-14).
Những lời tiên đoán này không là những nan đề, hay trở nên vấn đề gây sự lúng túng cho đức tin người theo Chúa. Sự ứng nghiệm lời tiên tri rất nhiều như thế này là một bằng chứng siêu nhiên rằng Đức Chúa Trời đã phán dạy.
Những Vấn Đề Cho Là Mâu Thuẫn
Các học giả tân phái cho rằng có một số mâu thuẫn trong Kinh Thánh. Những điều này không nghiêm trọng như thể các nhà phê bình đã xác định. Trong chương này không thể nào giải thích tất cả những vần đề bị cho là mâu thuẫn. John Haley đã khảo sát tất cả các tác phẩm của nền phê bình tân phái và duyệt qua tất cả những sự khó khăn mà họ đã đề cập. Các câu trả lời rất cẩn thận của ông đã được chấp nhận vì ông ta trung thành với các sự kiện lịch sử . Chúng rất đáng để chúng ta suy xét. Một số ý kiến thêm cũng được các học giả Tin Lành thuần túy đóng góp.
Một số mâu thuẫn thường bị chỉ trích là sự tự tử của Giu-đa. Mat Mt 27:5 nói rằng “Hắn đi ra và thắt co.” Cong Cv 1:18 lại nói, “ Hắn nhào xuống, nứt bụng và ruột đổ ra hết.” Trong nguyên ngữ chữ “ thắt cổ” trong Mat Mt 27:5 không nhất thiết phải dịch là treo cổ, nhưng là tự tử, bất cứ bằng cách nào. Trong những trường hợp như thế, bản dịch đúng hơn đã giải quyết được nan đề.
Mac Mc 14:30, 72 ghi lại Phi-e-rơ chối Chúa ba lần trước khi gà gáy hai lần. Các sách Phúc Âm khác chỉ nói đến việc gà gáy. Một số bản rất cũ của sách Mác không có chữ “hai lần”, như thế thì phù hợp với Ma-thi-ơ và Lu-ca. Trong IISu 2Sb 36:9 , Giê-hô-gia-kim được 8 tuổi khi bắt đi làm phu tù, nhưng trong IIVua 2V 24:8 thì nói ông đã được 18 tuổi. Một số bản văn Hy-bá-lai và bản Bảy Mươi dịch là 18 trong cả hai chỗ. Đây chính là cách đọc đúng trong cả hai sách. Khoa phê bình bản văn giải quyết vấn đề này.
Một thí dụ khác là việc người mù được Đức Chúa Giê-xu chữa lành khi Ngài rời thành Giê-ri-cô (Mac Mc 10:46-52). Các chỗ khác chép về việc này dường như không đồng ý như thế. Mat Mt 20:30 nói rằng: “ Nầy, có hai người mù ngồi bên đường”. LuLc 18:35 lại nói “có một người đui ngồi xin ở bên đường” được Chúa chữa lành khi Đức Chúa Giê-xu đến gần thành Giê-ri-cô, có nghĩa là người ấy được chữa lành ở ngoại ô thành Giê-ri-cô. Thời đó có hai thành Giê-ri-cô - cổ thành và thành mà Hê-rốt đã xây cung điện mùa đông cho mình. Đoàn sứ đồ có thể đã rời thành phố này và bước vào ngoại ô của thành phố khác. Chẳng có gì làm mâu thuẫn trong các sự ký thuật này. Chỉ có điều là người này kể nhiều hơn những người kia mà thôi.
Có những người khác cho rằng các sự mâu thuẫn không phải ở trong các ký thuật chính, nhưng là trong các tài liệu phụ. Các chữ đề tên bảng treo ở thập tự giá tiêu biểu cho trường hợp này, vì thấy có sự khác biệt trong bốn sách Phúc Âm. Bảng ghi chữ bằng tiếng Hy Lạp, La Tinh và Hy-bá-lai. Những bản ghi khác bằng ba thứ tiếng thời đó thì không thì giống hệt nhau trong các ngôn ngữ. Sự khác biệt cho thấy rằng một sách đã ghi một phần của danh hiệu, còn những sách khác lại ghi những phần khác.
Hầu hết, những vấn đề bị cho là mâu thuẫn thật ra chẳng có gì là quan trọng. Tham khảo Kinh Thánh kỹ càng có thể giúp tìm ra câu trả lời. Vấn đề thường nằm ở chỗ khả năng hiểu biết về Kinh Thánh của chúng ta quá bị giới hạn, và sự giải thích sai lạc của chúng ta trong mỗi trường hợp.
Những đầu óc hoài nghi thường nhấn mạnh thái quá về các nan đề Kinh Thánh. Mặc dù dưới sự tấn công của họ, Kinh Thánh vẫn đứng vững, và vô số tín hữu bình thường cũng như các học giả trung thành đã tìm thấy trong Kinh Thánh Anh Sáng Của Sự Sống và Chân Lý của Đức Chúa Trời. Chúng ta nhớ lời xưng nhận đức tin của Phi-e-rơ, “Lạy Chúa, chúng tôi sẽ đi đâu? Ngài có lời của sự sống đời đời” (GiGa 6:68). Nhiều người đã quay lưng lại bởi vì những lời khó lãnh hội của Đức Chúa Giê-xu, nhưng “chúng ta tin và biết chắc chắn Ngài là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời hằng sống” (6:69).
Kinh Thánh Và Khoa Học
Vấn đề đã trở nên rộng lớn đến nỗi những tiến bộ khoa học hiện tại đã làm cho vấn đề tin Kinh Thánh trở nên khó khăn. Điều này không đúng cho những người tin Kinh Thánh là những ai học Lời Chúa cách kỹ lưỡng. Lời Kinh Thánh được linh cảm và đúng sự thật không phải chỉ trên lãnh vực tâm linh nhưng đúng luôn cả các lãnh vực khoa học hay lịch sử mỗi khi nó đề cập đến. Kinh Thánh không là sách giáo khoa về khoa học. Kinh Thánh ít khi nói đến các vấn đề vật lý, hóa học, toán học, hay điện lực. Sự xung đột chính giữa khoa học và Kinh Thánh là trong các đoạn đầu của sách Sáng Thế Ky. Nó thường liên quan đến vấn đề tiến hóa. Nó thường loanh quanh ba vấn đề chính: Sự già nua của tuổi trái đất, sự xác định các loại, và nguồn gốc của con người.
Sự Già Nua Của Trái Đất
Khoa địa chất học cho rằng trái đất có khoảng 4 - 5 thế kỷ tuổi. Các phương pháp đo lường mới, căn cứ và các dữ kiện khoa học mới đây, dường như đưa đến kết luận này. Làm thế nào kết luận này có thể phù hợp với Kinh Thánh được? Đã trải qua nhiều năm các học giả Kinh Thánh đã nhìn nhận rằng sáu ngày sáng tạo là những chuỗi thời gian dài, không phải là ngày 24 giờ. Ba “ngày” đầu có trước khi mặt trời để đánh dấu thời gian.
Những ngày này không nhất thiết phải dài bằng nhau. Ngày đầu tiên có rất dài. Sự sáng tạo cây cỏ, giai đoạn cuối trong việc sáng tạo mặt trời, mặt trăng, và sự bắt đầu của các súc vật có lẽ đã diễn ra khá gần nhau theo sau đó là một giai đoạn tăng trưởng và sự sáng tạo lâu dài nữa. Sự giải thích này cung ứng một sự hòa hợp giữa những “ngày” và các giai đoạn dàicủa khoa địa chất học.
Mặt khác, các học giả có lập trường ngày 24 giờ thì bảo rằng Thượng Đế có thể tạo nên vũ trụ trong thời gian ngắn nhưng với hình thể cổ xưa.
Sự Xác Định Chủng Loại
Vấn đề này tùy thuộc vào ý nghĩa của chữ “chủng loại.” Không có một định nghĩa nào diễn tả trọn ý của chữ này. Trong khoa học sinh vật học, chủng loại được quy định là “cây cối hay thú vật có cùng đặc điểm”. Định nghĩa thư thế thì chủng loại không phải là cố định. Chẳng hạn, mầm của bắp cải, cải bông, và cải bẹ trong rất khác nhau, nhưng giống của chúng có thể giao hợp với nhau dễ dàng. Nếu bạn định nghĩa “chủng loại” là các cơ phận (organism) có thể lai giống với nhau, nhưng không thể lai giống với “chủng loại” khác, thì chủng loại là cố định ngoại trừ trường hợp hiếm hoi vượt qua lằn ranh “chủng loại”. Khoa địa chất học cho thấy có nhiều hình thể, có cả triệu tuổi, giống y hết những hình thế đang sống hiện nay.
Tuổi Của Con Người
Không có một số chính xác nào về thời gian con người xuất hiện trên mặt đất. Các giả thuyết cũ về thuyết tiến hóa cho rằng con người cổ xưa xuất hiện từ thời Băng Tuyết, gọi là Pleistocene, khoảng 500,000 năm trước. Sau đó là giống người Neanderthal khoảng 60,000 năm trước, rồi kế đến giống người Cro-Magnon khoảng 25,000 năm trước. Các giả thuyết này đã thay đỗi những khám phá mới đây. Giống người Carmel đã được khám phá cho thấy họ cũng có những đặc điểm giống như người thời nay, mặc dù họ được kể là có mặt trên mặt đất khoảng 100,000 năm trước. Con số này vừa mới được đổi lại là 35,000 năm. Giống người Swanscombe và Kanijera cũng được khám phá thấy có đẩy đủ các đặc điểm của con người hiện đại, nhưng lại sống vào khoảng 300,000 năm trước. Niên hiệu này dựa vào các hiện tượng của băng tuyết nên cũng đáng nghi ngờ lắm. Các khoa học gia ngày nay đồng ý rằng giống người Neanderthal không phải cổ xưa như trước đây nhiều người lầm đã tưởng. Cả hệ thống định niên hiệu đang đang được cứu xét lại.
Các khám phá mới trong ngành này phát triển khá nhanh nhờ những khám phá mới đây của ông Louis Leakey tại vùng Olduvai Gorge, Phi Châu và các khám phá của con trai ông ta là Richard Leakey, cách đó không xa về phía bắc. Dầu tuổi tác của các sinh vật này dường như hơi thái quá (từ 2 đến 3 triệu tuổi), Richard Leakey cho rằng chứng cớ ông tìm ra có dáng điệu thẳng đứng, có bộ răng người, có khả năng chế tạo đồ dùng, và có lẽ đúng là một người. Bằng chứng chỉ cho thấy có sự thay đổi trong giống người chứ không chứng minh được gì về sự tiến hóa.
Riêng Kinh Thánh, mặc dù xác quyết sự kiện sáng tạo con người nhưng không xác định con người được sáng tạo trong thời điểm nào. Càng kinh nghiệm Lời Chúa và với đức tin chân thành về nguồn gốc thiên thượng của Kinh Thánh, học viên sẽ tin chắc rằng, khi tất cả các sự kiện được nắm vững, khoa học chân chính sẽ hòa hợp với sự giải nghĩa Kinh Thánh cẩn thận, đúng đắn và chặt chẽ.
Ngữ Vựng
Phép lạ (miracle), thiên kiến (bias), những điều cho là mâu thuẫn (alleged contradictions, thuyết tiến hóa (evolutionary theory).
SáchTham Khảo
England, Donald. A Christian View of Origins . Grand Rapids: Baker Book House, 1972.
Gish, Duane T. Evolution -- The Fossils Say No ! San Diego: Creation-Life Publishers, 1973.


THƯỢNG PHÊ BÌNH VÀ KINH THÁNH
(Higher Criticism and the Bible)

“Hãy bền chí như thể thắt lưng , hãy tiết độ , lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Giê-xu Christ hiện ra ” (IPhi 1Pr 1:13).
Mỗi học viên Kinh Thánh nên học biết về những mũi dùi tấn công vào Kinh Thánh. Có như thế mới có thể chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối phó những kẻ không hiểu rõ Kinh Thánh, uốn nắn lời Chúa theo ý riêng, lôi kéo người khác, tự chuốc lấy sự hư mất trong mình (IIPhi 2Pr 3:16). Điều này cũng giống như một sinh viên y khoa học về các thứ tật bịnh để biết cách giúp người khác sống khỏe mạnh.
Lúc nào cũng có người không tin Kinh Thánh. Trong thời chúng ta cũng có một số người đặc biệt không tin và thể hiện sự vô tín của họ bằng phương pháp thượng phê bình (higher criticism). Chúng ta không cần phải khảo sát chi tiết về quan điểm của họ nhưng cần phải biết là có loại phê bình như thế.
Định Nghĩa
Thượng phê bình bao gồm việc nghiên cứu về niên hiệu và tác giả của các sách trong Kinh Thánh. Nhiều người thuộc nhóm thượng phê bình cho rằng một số hay tất cả trong Kinh Thánh không phải được viết bởi những người mang tên sách; các sách đó không phải được viết lúc mà chúng tự cho là đã viết ra; và các sách của Kinh Thánh thường không phài là một sách duy nhất nhưng gồm nhiều văn kiện, tài liệu góp nhặt lại .
Ngày nay, một số học giả phái chính thống dùng từ ngữ thượng phê bình với một ý nghĩa khác. Họ nhìn nhận có một vị trí đúng đắn cho thượng phê bình. Điều này hoàn toàn khác với loại thượng phê bình có ác ý và vô tín của những người theo phái tự do. Các nhà thượng phê bình thuộc phái chính thống nghiên cứu về tác giả về bối cảnh của các sách trong Kinh Thánh. Họ sử dụng các kỹ thuật của sự phê bình, nhưng áp dụng cách cẩn trọng. Thượng phê bình chính thống này là một danh từ khác của ngành Kinh Thánh Nhập Môn.
Từ ngữ thượng phê bình thường dùng để chỉ về loại phê bình vô tín nói trên. Loại này thật đã và đang phá hoại đức tin và làm chết đi biết bao nỗ lực của Cơ Đốc giáo. Nếu Kinh Thánh chỉ là một mớ chuyện giả tạo (như một số nhà phê bình tự do dạy) thì tại sao mà phải đọc ở nhà, phải giảng dạy ở hải ngoại? Tại sao phải dạy con cháu của chúng ta giữ mười điều răn, nếu các điều răn này chỉ làm chứng dối cho kinh nghiệm của Môi-se gặp Đức Chúa Trời ở tại núi Si-nai?
Để hiểu rõ lý thuyết sai lạc này cần phải ôn lại một số bối cảnh lịch sử. Năm 1753 một y sĩ Pháp là Jean Actruc để ý thấy rằng danh thánh của Chúa trong sách Sáng Thế Ký, khi thì gọi là Đức Chúa Trời (Elohim), khi gọi là Đức Giê-hô-va hay YHWH (trong bản King James gọi là CHÚA). Astruc cho rằng sự khác biệt như thế chứng tỏ Môi-se dùng hai nguồn tài liệu khác nhau để soạn ra Sáng Thế Ký, một gọi là “nguồn E” và nguồn kia gọi là “nguồn J”. Astruc không phủ nhận rằng Môi-se là tác giả nhưng ông ta chỉ kết luận rằng hai nguồn tài liệu đó đan dệt với nhau tạo thành sách Sáng Thế Ký.
Phê Bình Cựu Ước
Các tác giả về sau này trong thời duy lý của Pháp và Đức khai triển lý thuyết của Astruc và cho rằng Ngũ Kinh thật ra là công trình của những người sau Môi-se khá lâu. “E” được cho là nguồn tài liệu sớm, còn “J” là nguồn tài liệu trễ.
Năm 1853, Hupfeld ở Đức thay đổi nữa. Ông ta cho rằng nguồn tài liệu “E” thật ra gồm hai phần, một phần thì rất trễ. Các nhà phê bình sau này của Đức , đặc biệt là Wellhausen (1878), bước xa hơn, họ cho rằng họ có thể tìm ra bốn loại tài liệu trong Ngũ Kinh. Tên và niên hiệu của chúng là :
Tài liệu J, năm 850 T.C. (bây giờ thì được cho là sớm hơn - được gọi tàiyđậu J vì dùng danh hiệu Jehovah cho Chúa).
Tài liệu E, năm 750 T.C. (dùng danh hiệu “Elohim” cho Đức Chúa Trời).
Tài liệu D, năm 625 T.C. (Deuteronamist, chiếm hầu hết Sách Phục Truyền Luật Lệ Ký).
Tài liệu P, 450 T.C. (Priest, phần lớn nhấn mạnh về chức vụ thầy tế lễ).
Ông ta cho rằng không có sách Ngũ Kinh nào được viết ra bởi Môi-se, toàn hệ thống tế lễ và sinh tế được sưu tập bởi những người sống1,000 năm sau thời Môi-se.
Chủ Quyền Tác Giả Của Môi-se Đối Với Ngũ Kinh
Thượng phê bình không dừng lại với việc phủ nhận quyền tác gỉa của Môi-se. Họ phủ nhận chân lý và giá trị của Ngũ Kinh. Họ cho rằng không hề có đền tạm trong đồng vắng. Họ chỉ tin rằng các chuyện tích trong Ngũ Kinh chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những thầy tế lễ thời hậu phu tù (Post - Exilic Priests).
Một số phê bình gia sớm hơn còn dám nói rằng Môi-se không biết viết nếu có một nhân vật tên Môi-se. Họ gọi các chuyện lịch sử về các tổ phụ chỉ là một “mớ chuyện hoang đường sau này”. Chuyện ra khỏi Ai Cập hoàn toàn bị nghi ngờ (XuXh 12:1-50 và kế tiếp). Sự ban bố luật pháp ở Si-na-i bị coi là giả tạo (20:1-26 và tiếp theo). Các phép lạ về 10 tai vạ (7:9 và kế tiếp), sự vượt qua Biển Đỏ (14:21 và kế tiếp), sự ban bánh Ma-na (16:14 và kế tiếp), và các phép lạ khác nữa đều bị giải thích như đã không xảy ra. Sâu xa hơn nữa là các nhà thượng phê bình đã phủ nhận rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ Ngài cho con người ban đầu rằng Ngài là Đấng chân thật, thánh khiết và Đức Chúa Trời duy nhất. Các học giả thượng phê bình nằng nặc cho rằng các vị tổ phụ thời Ap-ra-ham là những người theo bái vật giáo sơ khai (tin thờ đá, đất, cây cối); đến thời Môi-se thì họ đã là những người theo đa thần giáo (thờ nhiều thần); Đa-vít được gọi là người theo quốc thần giáo (tin rằng mỗi quốc gia có một vị thần riêng); rồi độc thần giáo (tin thờ chỉ có một Đức Chúa Trời) là khám phá của các tiên tri vào thế kỷ thứ 8. Sự tái cấu tạo tôn giáo và lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên này chắc chắn là hậu quả của nền phê bình thuần lý của các học giả người Đức vào đầu thế kỷ 20. Phủ nhận nó thì bị gán cho nhãn hiệu là thoái hóa và dốt nát trước các dữ kiện. Tạ ơn Đức Chúa Trời, hàng ngàn Cơ Đốc nhân tin Kinh Thánh đã không chịu đầu hàng trước sự tấn công khéo léo của những nhà thượng phê bình tự do đó.
Đa-vít, Ê-sai và Đa-ni-ên
Thượng phê bình còn đi xa hơn Ngũ Kinh khi cho rằng toàn bộ Kinh Thánh cần phải xét lại. Nếu Đa-vít không phải theo độc thần giáo thì ông ta không thể là người viết các Thi Thiên, vì các Thi Thiên đều nói về một Đức Chúa Trời thánh khiết hằng sống và chân thật. Với những lý do này là những lý do khác nữa, các nhà phê bình cho rằng hầu hết các sách Cựu Ước đều được viết sau này. Sách Ê-sai có lẽ được viết bởi một, hai, ba hay nhiều người. Họ cho rằng Ê-sai không thể nào tiên đoán trước đích danh Sy-ru 175 năm trước. Đấy chỉ là sản phẩm của Ê-sai thứ hai (Deutero-Isaiah), là người sống trong thời Sy-ru trị vì. Họ cũng cho rằng Đa-ni-ên đã không tiên đoán sự xuất hiện các đế quốc liên tục kế tiếp nhau Ba-by-lôn, Mê-sô Ba Tư , Hy Lạp xuống tận đến Antiochus Ephipanes và 165 T.C. Sách này đã được viết sau này khi Antiochus Ephipanes đánh nhau với giòng họ Maccabess, đúng ra đây là sách lịch sử thay vì sách tiên tri như người ta đã tin. Như thế các nhà phê bình đã không chỉ hủy phá các chi tiết cấu thành các văn kiện Kinh Thánh nhưng còn đánh vào những chân lý căn bản và giá trị của hầu hết các sách trong Cựu Ước.
Chúa Giê-xu Christ Chấp Nhận Cựu Ước
Thượng phê bình gây ảnh hưởng trên quan niệm của chúng ta về cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Như đã thấy trongchưong Thật, rõ ràng Chúa Giê-xu và các sứ đồ Ngài đã tin Kinh Thánh Cựu Ước cách hoàn toàn. Đức Chúa Giê-xu dạy rằng: “Trời đất qua đi còn dễ hơn một nét chữ trong luật pháp phải bỏ đi (LuLc 16:17). Ngài cho rằng Cựu Ước thật đáng tin cậy hơn một người từ kẻ chết sống lại mà nói (16:29-31). Ngài tin giá trị lịch sử câu chuyện về A-đam, Giô-na và con cá lớn, bánh Ma-na từ trời và tất cả những biến cố Cựu Ước khác. Chúa Giê-xu không phải là một nhà thượng phê bình nên các nhà phê bình hiện đại cho rằng Ngài chỉ là sản phẩm của thời Ngài, cũng bị lệ thuộc vào sự dạy dỗ đơn sơ thiếu óc phê bình và lầm lẫn của thời Ngài sống vậy. Các nhà phê bình tự do cho rằng Ngài dần dần ý thức vai trò Cứu Thế của mình và Ngài lầm lẫn trong việc nói về sự trở lại lần thứ hai, cũng như không phải chết thay cho ai (IPhi 1Pr 2:24, 25) mà chỉ chết như một người tuận đạo mà thôi. Thượng phê bình đã tước đoạt khỏi Cựu Ước giá trị của nó và khỏi Tân Ước Chúa Cứu Thế của nó.
Điều đáng buồn là thượng phê bình đã lan truyền cách sâu rộng. Nó chính là nền tảng cho cái gọi là tân phái (modernism). Trong những ngày đầu của thế kỷ 20 các nhà thần học trẻ đầy hứa hẹn qua Âu Châu để học thêm và thường trở về làm ô nhiễm với sự dạy dỗ tân tiến của nền giáo dục Đức. Nhiều trường thần học lâu đời và lớn đã chấp nhận khuynh hướng tự do này như là nền tảng trong việc giáo dục thần học và những sinh viên tốt nghiệp của họ đã dạy tư tưởng này không biết bao nhiêu năm rồi. Hầu hết những người lãnh đạo hội thánh địa phương khó có thể thấy ảnh hưởng của việc này. Thượng phê bình đã gây nhiều ảnh hưởng trên thế hệ chúng ta mặc dầu đã bị một số lớn trường Kinh Thánh và chủng viện thần học chính thống và Tin Lành thuần túy chống đối.
Cựu Phê Bình (The Old Criticism)
Những điểm nổi bật của phong trào thượng phê bình cũ là các vấn đề liên quan đến các tài liệu J, E, D, P, sự phủ nhận tính chất thống nhất của sách Ê-sai, chủ trương rằng hầu hết các Thi Thiên viết sau thời kỳ lưu đày, sách Đa-ni-ên viết trong thời Maccabean (165 T.C.), quan niệm về sự tiến hóa tôn giáo của dân Y-sơ-ra-ên (thay vì được khải thị), sự khám phá ra độc thần giáo vào thế kỷ thứ 8 T.C. do các tiên tri, cũng như nhiều điều phủ nhận tương tự. Dựa trên lý luận và sự kiện, một người đã tin một phần của thượng phê bình thì cũng tin các phần khác nữa. Nếu một người đã tin rằng sách Ê-sai do hai hay ba người viết thì cũng khó tin rằng sách Đa-ni-ên được viết vào 550 T.C. Một người mà đã tin rằng Môi-se không có viết chữ nào hết thì cũng khó tin rằng Đa-vít đã viết các Thi Thiên mang tên mình. Thượng phê bình là một hệ thống và mỗi điểm căn bản đều đối chọi với Cơ Đốc Giáo chính thống.
Cũng may là ngày nay thượng phê bình đang bị tấn công. Trong ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, có rất nhiều khám phá của khảo cổ học kể từ năm 1920. Những khám phá này đã giúp các học giả, kể cả những học giả không phải chính thống, tin rằng các câu chuyện lịch sử của Sáng Thế Ký là thật, Môi-se là người đã theo độc thần giáo, nhiều Thi Thiên đã được chép rất sớm, tận thời Đa-vít. Một học giả trứ danh, W. F. Albright, cho rằng giả thuyết của Wellhausen đã bị “hoàn toàn tan vỡ”. Các quan điểm cũ đang được đang dần dần điều chỉnh. Các khám khám phá của khảo cổ học đã ủng hộ lập trường của quan điểm chính thống. Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà khảo cổ học không phải đột ngột quay về với chính thống (old orthodox). Thay vào đó, những cách phê bình khác lại được sáng tạo ra nhưng cũng không được các học giả hoan nghênh mấy. Chúng cũng sai lầm như những quan niệm cũ mà thôi.
Tân Phê Bình (The New Criticism)
Kế theo cựu thượng phê bình là tân thượng phê bình, liên hệ đến các học giả người Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, và đôi khi được gọi là trường phái Thụy Điển (Sweden School). Tân thượng phê bình thì không thống nhất như cựu thượng phê bình nên không thể theo dõi chi tiết được. Nhóm này cho rằng các tài liệu trong các sách Ngũ Kinh là những truyền thống của người Do Thái chỉ lưu truyền bằng miệng, không có cái gì được viết xuống mãi cho tới thời kỳ lưu đày. Họ vẫn giữ thuyết J, E, P, D nhưng cố liên kết những tài liệu này với truyền thống truyền khẩu (Oral Tranditions). Có quan điểm thì chia nguồn tài liệu ra thêm thành J1, J2, Ps, Pb, v.v... Quan điểm chung của họ ngày nay là tài liệu J, E và P chỉ có trong Sáng Thế Ký, Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký và Dân Số Ký (gọi là tứ kinh), còn trường phái, hay tác giả D viết Phục Truyền, Giô-suê, Quan Xét, Sa-mu-ên và Các Vua thì vào thời kỳ gần lúc bị lưu đày. Theo các học giả của quan điểm này thì công trình của tác giả D không phải là một đơn vị duy nhất. Tác giả D dùng nhiều tài liệu cũ nhét vào về sau này.
Lập luận của những quan điểm này rất là chủ quan, do đó rất khác biệt nhau. Họ bắt đầu bằng cách dùng lập luận cũ của Wellhausen về những đoạn Kinh Thánh song song với nhau, những câu nói mâu thuẫn nhau, những quan niệm và những cách dùng chữ đặc biệt mà chia sách ra từng phần. Ví như cách đây gần một thế kỷ Driver nêu ra tài liệu P trong Sáng Thế Ký mà ngày nay Martin Noth cũng chủ trương tương tự, nhưng chỉ có khác là Noth cho là không có tài liệu P trong SaSt 14:1-24 và 24:1-67. Còn phái cựu phê bình cho rằng Sáng Thế Ký viết rất trễ về sau gần thời Mác-ca-bê (khoảng 165 T.C.). Ngày nay khảo cổ học cho thấy 12:1-20 ăn khớp với thời các tổ phụ chứ không phải về sau này. Người ta vẫn cố giữ thuyết J. E. P. D. dù không có một khám phá khảo cổ học nào để làm bằng chứng. Trái lại khảo cổ học lại xác minh cho tính cách lịch sử của những bản văn Kinh Thánh từ chi tiết nhỏ đến vấn đề lớn.
Ngữ Vựng
Người theo bái vật giáo (animist), Tin Lành thuần túy (Evangelical); thượng phê bình (higher cristicism); người theo quốc thần giáo (henotheist); phái tự do (liberalism); người theo độc thần giáo (monotheist); chính thống (orthodox); người theo đa thần giáo (polytheist).
cSách Tham Khảo
Allis, Oswald T. The Five Books of Moses . Grand Rapids: Baker Book House, 1949.
__________. The Unity of Isaiah . Grand Rapids: Baker Book House, n. d.
Archer, Gleason L., Jr. A Survey of Old Testament Introduction . Rev. ed. Chicago: Moody Press, 1976.
Unger, Merrill F. Introductory Guide to the Old Testament . Grand Rapids: Zondervan Pub. House, 1951. Chapter 8 and 9.
Vos, Howard F., ed. Can I Trust the Bible . Chicago: Moody Press, 1968.
Young, Edward J. An Introduction to the Old Testament . Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub . Co., 1960. Chapter 7.


KHẢO CỔ HỌC VÀ CỰU ƯỚC
“ ...Đá sẽ kêu lên ” (LuLc 19:40)
Có nhiều pho sách đã viết về sự tương quan giữa khảo cổ học và Cựu Ước. Trong giới hạn của chương này, chúng ta chỉ có thể định nghĩa về khảo cổ học, chỉ rõ giới hạn của khoa học, và chứng minh khoa học đã hỗ trợ cho Cựu Ước như thế nào.
Định Nghĩa
Khảo cổ học (archeology) là “khoa nghiên cứu về các việc đời xưa.” Trong thực tế, ngành học này giới hạn vào việc nghiên cứu lịch sử thời xưa bằng cách đào bới những thành phố, những mồ mã, hoặc các di tích cũ. Khảo cổ học Kinh Thánh chủ yếu nghiên cứu khảo cổ tại vùng Palestine, Ai Cập và Mê-sô-pô-tami.
Nhà khảo cổ tiến hành công việc bằng cách cẩn thận đào bới tàn tích cũ, chụp hình ghi nhận một cách thật chính xác những gì tìm thấy và giải thích kết quả cũng như phiên dịch và nghiên cứu những văn kiện cổ.
Lịch Sử
Trong thời Trung Cổ, các họa phẩm và tác phẩm trong đền thờ của người Ai Cập được coi là có mãnh lực huyền bí và được dùng trong khoa luyện kim. Khoảng năm 1700, các nhà khảo cổ khám phá ra được Tảng Đá Rosetta, viết bằng ba thứ tiếng, có cả Hy Lạp. Dây là chìa khóa để hiểu được ngôn ngữ Ai Cập.
Trong thế kỷ thứ 19, bảng bia khắc Behistun của Đa-ri-út Đại Đế được chuyển nghĩa. Bia này cũng được viết bằng ba ngôn ngữ và là chìa khóa để hiểu ngôn ngữ Assyrian - Babylonian thời xưa. Ngày nay các học giả gọi đó là ngôn ngữ của người Accadian, dựa theo tên của thành phố Accad có đề cập đến trong SaSt 10:10. Để viết ngôn ngữ Accadian, người dùng một mũi đục khắc nhiều dấu (marks) gần nhau trên những miếng đất sét cỡ cục xà phòng. Các miếng đất sét này được đem phơi khô, nhờ vậy chúng được bảo tồn khá tốt. Cách viết như thế này gọi là tiết hình tự (cuneiform).
Ở Palestine và Ai Cập hầu hết các bản văn được viết trên giấy chỉ thảo, một thứ nguyên liệu giống như giấy làm bằng cây cỏ chỉ thảo. Giấy chỉ thảo này rất dễ nát vụn dễ dàng do khí hậu ẩm ướt trong mùa đông mưa gió ở Palestine, cho nên chỉ có một số rất ít là còn giữ lại trong vùng này, ngoại trừ một khám phá mới đây về các cuộn giấy da và các mảnh vụn trong các hang động nơi vùng khô nóng trong Biển Chết. Các cuộn giấy da này có từ thế kỷ thứ 2 T.C. Ngoài các cuộn này, văn tự ở Palestine chỉ được viết trên những tấm bia, con dấu và ít chữ viết trên đồ gốm mà thôi.
Các nhà khảo cổ đầu tiên làm việc chưa được khéo léo và có phương pháp khoa học. Họ cho đào xuyên qua các tàng tích cổ hy vọng có thể tìm thấy các văn kiện, các tượng thờ, hoặc kho tàng. Cuối cùng họ khám phá ra rằng các thành phố cổ ở Palestine và vùng Mesopotamia được xây dựng chồng lên nhau, lớp này chồng lên lớp khác. Các thành phố đầu tiên bị bỏ phế vì chiến tranh, đói kém hoặc dịch lệ. Các nhà cửa bằng đất sét các nhà tường thành bằng đất sụp đổ. Sau đó, những người khác đến san bằng những gì còn đổ nát, rồi xây dựng một thành phố khác lên trên. Có chỗ người ta thấy có tới 23 lớp chồng chất lên nhau như vậy. Khi việc này được mọi người biết, thì các nhà khảo cổ học về sau này đã cẩn thận gỡ những tàn tích này từng lớp một. Nhờ thế họ có thể họ khám phá được những mối liên hệ giữa nhóm dân cư này với nhóm dân cư khác.
Khoa khảo cổ học phát triển chậm chạp đến Đệ Nhất Thế Chiến. Vào thời này, các nhà khảo cổ mới nhận thấy rằng các lớp đất của từng thời kỳ được đánh dấu bằng những đặc điểm tìm thấy trên các loại đồ gốm. Khi cẩn thận khám xét và nghiên cứu các loại đồ gồm này, đặc biệt các bình lọ người ta có thể so sánh được các tàng tích của thành phố này với thành phố nọ. Khi so sánh kỹ hơn, cộng thêm với những bia mộ tìm được người ta có thể định niên hiệu cho các lớp tàng tích này khá chính xác. Cho nên, ngành khảo cổ học trở thành một khoa học vào năm 1920. Các công trình khảo cổ xưa hơn thời điểm đó có thể chứa đựng nhiều tin tức rất giá trị, tuy nhiên chúng phải được nghiên cứu lại bằng những phương pháp và thủ tục chính xác hơn của ngành khảo cổ.
Sự tiến bộ của khoa học trong nửa thế kỷ vừa qua thật lạ lùng. Một trăm năm, ít có ai biết về lịch sử của Ai Cập, Mesopotamia hay Palestine trước năm 800 T.C. Ngày nay người ta có nhiều tin tức về thời đại khoảng 3,000 T.C. hay xưa hơn nữa. Các khoa học gia bây giờ biết cả đến tên của các vị vua ở Ba-by-lôn, Assyria và Ai Cập. Các vua này đã được đề cập trong Kinh Thánh. Tên và hình của họ cũng được khám phá. Các cuộc chiến tranh, luật pháp, ngôn ngữ và văn hóa cổ đã sống dậy nhờ sự kiên nhẫn khám phá.
Các việc này có ích lợi gì với Kinh Thánh? Tự nhiên là có ích rất nhiều. Các khám phá khảo cổ học đã xác nhận và soi sáng Kinh Thánh và trong nhiều trường hợp, đã trả lời cách hữu hiệu đối với sự chỉ trích của những nhà phê bình Kinh Thánh.
KHẢO CỔ HỌC XÁC CHỨNG
Có nhiều chỗ trong Cựu Ước không thể xác chứng được. Không một nhà khảo cổ nào có thể xác chứng rằng “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì ?” Khảo cổ học chỉ quan tâm đến lịch sử trong Kinh Thánh. Nó có thể xác nhận các sự kiện trong các sách về lịch sử và tiên tri, nhưng không thể mang lại sự phân biệt thuộc linh.
Các khám phá của khảo cổ học đã xác chứng được cuộc chiến tranh giữa Shishak với Rô-bô-am (IVua 1V 14:25-26) đế nghiệp của vua Ôm-ri và quyền lực của vua A-háp (16:25) cuộc nổi dậy của Mesha ở Mô-áp (IIVua 2V 3:5) sự sụp đổ của thành Sa-ma-ri (18:10) việc đào kinh của Ê-xê-chi-a (20:20) cuộc xâm lăng của Pha-ra-ôn-Nê-cô (23:29) sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem và sự bắt đi lưu đày của vua Giê-hô-gia-kim (24:10-15).
Điều ngạc nhiên nhất khi thấy những chi tiết đã bị mọi người quên lãng từ lâu, ngoại trừ các tác giả Kinh Thánh, bây giờ được xác chứng. Những kết luận như thế biện minh rằng các sách trong Kinh Thánh được viết bởi những nhân chứng, hay bởi những người đã biết rõ sự kiện cách rành mạch và đã sống trong những thời đó. Vài ví dụ điển hình sau đây để có thể làm chứng:
Dấu Niêm Của Ba-rúc
Ba-rúc thư ký của Giê-rê-mi là một nhân vật thứ yếu, chẳng ai biết ông, ngoại trừ một người đồng thời với ông. Ngoài sách Giê-rê-mi thì không thấy tên ông được đề cập đến ở nơi nào khác. Sách Giê-rê-mi có 23 lần nhắc đến tên ông trong các đoạn 32, 35, 43 và 45. Nhưng tại Giê-ru-sa-lem, người ta tìm thấy một con dấu có ghi “thuộc về Ba-rúc con của Nê-ri-a, ký lục.” Trong cùng chỗ đó, người ta cũng tìm thấy một con dấu ghi “thuộc về Jerahmeel con của nhà vua” (Xem Gie Gr 36:26, 32). Kết luận đương nhiên là sách Giê-rê-mi được viết bởi một người đồng thời với ông.
Cung Điện Của Sa-gôn
Một thí dụ cổ điển là tên Sa-gôn có nói trong Ê-sai 2:1;. Chỉ có Kinh Thánh đề cập đến tên này, ngoài ra không ai biết đến nhân vật này. Thật vậy, trong các kỳ xuất bản trước của bộ Bách Khoa Từ Điển Anh Quốc, câu Kinh Thánh này được xem là một lầm lẫn. Mãi đến năm 1850, các nhà khảo cổ đã khám phá ra được cung điện huy hoàng của Sa-gôn dưới các đống tàn lụi ở Khorsabad và toàn bộ lịch sử về Sa-gôn đã được sáng tỏ và chấp nhận.
Những Thợ Rèn
Đây cũng là một thí dụ làm bằng chứng nữa được tìm thấy trong ISa1Sm 13:19-21 nói về việc người Phi-li-tin không cho phép người Y-sơ-ra-ên có thợ rèn, bởi sợ người Y-sơ-ra-ên rèn gươm giáo. Đoạn Kinh Thánh từ lâu vốn là đoạn khó dịch - vì thật là kỳ lạ nếu cả nước Do Thái không có thợ rèn bởi vì việc chế kim khí đã hiện hữu ở vùng Cận Đông hằng mấy thế kỷ trước rồi. Nhờ các tin tức khám phá về sau này chúng ta thấy đó là tình trạng của dân Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ. Người Phi-li-tin bắt đầu Thời Kỳ Kim Khí tại sứ Palestine và lúc đầu họ giữ độc quyền trong sản xuất kim loại. Không có thợ rèn trong nước Y-sơ-ra-ên vì người Phi-li-tin xem việc chế biến kim loại là việc bí mật quân sự. Những chữ “đặng mướn luyện lưỡi cày và cuốc” bây giờ đã sáng tỏ nhờ việc khám phá ra được trái cân có khắc chữ dịch là “cuốc”. Hiển nhiên chữ này không có nghĩa là cuốc mà đề cập đến việc mài lưởi cày! Hiểu biết được những tin tức một cách chi tiết chứng tỏ rằng các tác giả của I Sa-mu-ên đã nắm vững các sự kiện mình viết. Những người sao lại về sau này đã không hiểu rõ hình ảnh lúc đó nên đã giải thích sai câu Kinh Thánh. Bây giờ thì chúng ta hiểu rõ tác giả nguyên thủy đã nói gì. Như thế chúng ta có thể dịch tiếng Hy-bá-lai chính xác hơn.
KHẢO CỔ HỌC LÀM SÁNG TỎ
Có những trường hợp điển hình khác của khảo cổ học có thể dùng để dẫn chứng và soi sáng cho Cựu Ước. Những trường hợp này xác chứng lời Kinh Thánh và cho thấy bối cảnh rất thích hợp với kinh văn. Tuy vậy, sự soi sáng cũng rất quan trọng vì không thể biết được giá trị của Kinh Thánh một cách hoàn toàn nếu không hiểu. Có kiến thức vững vàng về vấn đề này sẽ giúp cho học viên tránh khỏi những lỗi lầm đáng tiếc trong việc giải nghĩa. Sau đây là một vài thí dụ để nghiên cứu.
Dân Hô-rít
Có một giống dân gọi là dân Hô-rít hay Hô-rim. Dân tộc này được đề cập đến trong Sáng Thế Ký, Dân Số Ký, Phục Truyền Luật Lệ Ký và hiển nhiên là có quan hệ với dân Ê-đôm. Dân Hô-rít dường như có liên hệ với dân Giê-bu-sít ở Giê-ru-sa-lem. Chữ “Hor” trong tiếng Hebrew có nghĩa là “hang”. Vì thế, một trong những quyển tự vị tiêu chuẩn cổ (lexicon - một quyển sách định nghĩa các từ ngữ theo thứ tự abc) như bản của Brown, Driver và Briggs ghi rằng tên Hô-rít “có lẽ chỉ về những người sống trong hang động”. Điều này ám chỉ rằng trong thời các tổ phụ tại Palestine có một giống dân chuyên sống trong các hang động. Ngày nay khảo cổ học đã khám phá ra giống dân Hô-rít. Họ không phải là những người sống trong hang động. Họ cũng là người văn minh như bao nhiêu dân tộc đồng thời với họ vì vậy Ap-ra-ham được coi như người có một ngàn năm văn hóa với trình độ cao. Người Hô-rít ngày nay được gọi là dân Hurrians. Công cuộc đào bới ở vùng Mesopotamia thuộc thành phố Nuzi (1929) đã làm sáng tỏ hệ thống pháp luật và các tập tục gia đình của dân tộc này. Ngôn ngữ Hurrians ngày nay được đem dạy trong một số trường đại học.
Sa-lô-môn
Sa-lô-môn nổi tiếng nhờ sự khôn ngoan của mình. Tuy nhiên, lịch sử thời xa xưa đều im lặng cho nên một số học giả đã thắc mắc không biết sự giàu có và khôn ngoan của ông có phải là do các nhà ký thuật Kinh Thánh thêm thắt vào không. Tuy nhiên, một số khám phá mới đây đã minh chứng và xác quyết về sự ký thuật của Kinh Thánh, mặc dù khảo cổ học không tìm ra được bảng đá hoặc bia mộ nào của Sa-lô-môn. Thứ nhất, là thành phố Mê-ghi-đô được đào bới từ năm 1925 đến 1939. Lớp đất bụi thời Sa-lô-môn bao gồm các chuồng ngựa nổi danh của ông ta. Cách kiến trúc cho thấy khả năng và sở thích của Sa-lô-môn trong ngành kiến trúc. Chúng cũng xác nhận việc Sa-lô-môn cho lập các thành chứa xe để dùng vào việc quốc phòng (IVua 1V 10:26). Thật thích thú khi thấy có dấu hiệu ngôi sao sáu góc đánh dấu trên một dinh thự tại Mê-ghi-đô. Đây là cái khiên của Đa-vít - ngày nay đã xuất hiện trên cờ của Do Thái. Các cuộc đào bới sau này ở Hazor thuộc Ga-li-lê (1955-59) được xem là giống y như cửa khẩu của Sa-lô-môn ở Mê-ghi-đô.
Các cuộc nghiên cứu phía Nam Biển Chết của Nelson Glueck là một bằng chứng nữa về thời đại Sa-lô-môn. Glueck tìm ra một số mỏ đồng với những lò nấu đồng trong một thung lũng Nam của Biển Chết. Các đồ gốm ở đó cho thấy là các mỏ đồng này đã hoạt động từ thời Sa-lô-môn. Đồng sau đó được chở đến Ê-xi-ôn Ghê-be (ngày nay là Eilat) ở cánh phía Đông của Biển Đỏ. Glueck đào bới (1938) và khám phá được một thành phố có cách sắp đặt và tổ chức như một hãng sản xuất. Kinh Thánh cho biết rằng các tàu của Sa-lô-môn rời Ê-xi-ôn Ghê-be đến những hải cảng xa và chở về các báu vật (IVua 1V 9:26-28). Khảo cổ học đã xác quyết sự thật có ghi trong Kinh Thánh. Các tàu của Sa-lô-môn xuất cảng đồng thời mang lợi tức về. Ông ta chính là vua đồng thời cổ!
Trả Lời Những Chỉ Trích
Thượng phê bình được phổ biến bởi những học giả phái tự do luôn luôn tạo ra sự hồ nghi. Dầu có điều tra cẩn thận quyền tác giả và niên hiệu của các sách thánh, nó cũng đã đưa đến những hậu quả đáng buồn cho việc Cơ Đốc giáo dục.
Thượng phê bình nổi lên trong một thời mà người ta không để ý đến các bối cảnh của Kinh Thánh. Người ta cứ phỏng định và dạy rằng xứ Palestine và vùng Mesopotamia là lạc hậu, như Hy Lạp khoảng 1,500 T.C. Họ dạy rằng Môi-se không biết viết. Các câu chuyện về các tổ phụ được xem là không đáng tin và là thần thoại hoang đường của dân Hy-bá-lai khoảng 900-700 T.C. Đấy chỉ là những chuyện đặt ra để giải thích mà thôi, giống như người da đỏ Hoa Kỳ có những chuyện về lý do tại sao con gấu mất đuôi. Các nhà phê bình tự do cũng cho rằng các chuyện trong Sáng Thế Ký không nhằm gì khác hơn là cố gắng giải thích thế nào gia đình bắt đầu..., tại sao phụ nữ ghét rắn, và đại loại như thế.
Lầm lỗi như thế thật khó trả lời trong thời mà lịch sử thời cổ của vùng Cận Đông gần như không được biết đến. Ngày nay không thể nghi ngờ, vì người ta đã chứng minh được rằng trong thời của Môi-se, một người tri thức có thể biết ba, bốn ngôn ngữ. Các tổ phụ đã sống trong một thế giới đầy quyền lực và văn hóa tiến bộ.
Đặc biệt là các tiến bộ mà khảo cổ học đã tìm ra về thời các tổ phụ và về ngôn ngữ Hy-bá-lai. Năm 1929, một thành phố cổ tên Nuzi ở phía bắc Mesopotamia đã được khám phá. Người ta thấy có nhiều bảng đất sét nung, có niên hiệu khoảng 1,500 T.C. Các bảng này cho biết về đời sống cũng như những tập tục luật lệ của dân tộc Hurrian và vòng cung phì nhiêu ở phía Bắc. Các nhà khảo cổ trứ danh như E .A. Speiser, W. F. Albright, và một số khác đã cho thấy thể nào những tập tục này đã ủng hộ và giải thích cả đến chi tiết, nhiều tập tục kỳ lạ của các tổ phụ. Chẳng hạn, hôn ước của người tại Nuzi nói nếu người vợ son sẻ, thì người vợ sẽ đưa người đầy tớ gái của mình đến ăn nằm với chồng hầu sinh ra kẻ kế tự. Đứa con như thế sẽ có quyền trưởng nam. Nhưng nếu người vợ chính sau này có con, thì quyền đó lại về con của người vợ chính. Những tập tục này và các tục lệ khác nữa đã rất đúng với các trường hợp gia đình của các vị tổ phụ, nhưng lại không đúng với tập tục của người Do Thái khoảng 900-700 T.C. Các học giả, vì thế đã tin tính chất lịch sử của Sáng Thế Ký.
Ngày nay, thật khó cho những người có đầu óc hoài nghi dung hòa được sự ủng hộ của khảo cổ học cho Sáng Thế Ký với cái nhìn phê phán riêng của họ cho rằng một phần của Sáng Thế Ký được viết khoảng 850 T.C., phần khác 750 T.C. và một phần nữa khoảng 450 T.C. Luận cứ rất vững vàng đến nỗi một số học giả đã nói trắng ra rằng thượng phê bình của Wellhausen đã chết tiêu rồi. Các khám phá của khảo cổ học đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi này cũng như làm thay đổi thái độ đối với các sách khác của Cựu Ước.
Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà khảo cổ đều đồng ý về việc linh cảm từng lời từng chữ. Có nhiều điều trong Cựu Ước không thể chứng minh bằng khảo cổ học được. Con cái Chúa phải chấp nhận bằng đức tin thôi, cứ tin cậy những gì mà Chúa Giê-xu đã chấp nhận. Trong khi đó, các khám phá của khảo cổ học chưa đòi hỏi các học giả phái chính thống phải thay đổi quan điểm về tính chính xác của lời Đức Chúa Trời. Chúng ta có lý do để nói rằng khảo cổ học sẽ càng ngày càng xác chứng và làm sáng tỏ.
Ngữ Vựng
Khảo cổ học (archeology), tiết hình tự (cuneiform), tự điển cổ ngữ (lexicon), bảng đất sét nung (tablets).
Sách Tham Khảo
Albright, William F. Recent Discoveries in Bible Lands . Supplement of Young’s Analytical Concordance to the Bible. Rev. ed. Grand Rapids: Wm B.Eerdmans Pub. Co., 1955.
Free, Joseph P. Archaeology and Bible History . Wheaton, IL: Scripture Press, 1969.
Finegan, Jack. Light from the Ancient Past : The Archaeological Background of Jusdaism and Christianity . 2nd ed. 2 vols. Princeton, NJ : Princeton University Press, 1970.
Thomson, J. A. The Bible and Archaeology . Rev. ed. Grand Rapids: Wm.B. Eerdmans Pub. Co., 1972.
Unger, Merrill F. Archaeology and the Old Testament . Grand Rapids: Zondervan Pub. House, 1954.

PHẦN HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
(Study Guide)
Cùng các học viên,
Tập tài liệu này được dùng làm tài liệu giáo khoa cho các học viên học từ xa (hàm thụ) muốn học môn Thánh Kinh Nhập Môn của Viện Thần Học Việt Nam.
Trước khi bắt đầu môn học, bạn cần lưu ý những chỉ dẫn sau đây:
1. Bạn cần chia thời khóa biểu để học đều đặn mỗi tuần một chương , và như thế bạn có thể hoàn tất môn học từ hai đến ba tháng. Dĩ nhiên bạn có thể rút ngắn thời gian nếu bạn dành nhiều thì hơn cho môn học. Bạn cũng có thể học đồng thời với các môn học khác của Viện.
2. Trong mỗi chương, bạn cần đọc kỹ phần bài học và tra xem các phần Kinh Thánh liên hệ.
3. Mỗi chương đều có phần Hướng Dẫn Học Tập nằm ở cuối sách. Xin bạn trả lời tất cả những câu hỏi trong phần này theo từng chương. Bạn nên trả lời vắn tắt nhưng đầy đủ, mỗi câu từ nửa trang đến một trang đánh máy.
4. Khi trả lời các câu hỏi này, bạn cần dựa theo tập tài liệu này cũng như những tài liệu tham khảo khác mà bạn có (xin nhớ ghi rõ tác giả và nguồn tài liệu mà bạn trích dẫn). Trong mỗi câu trả lời, bạn cũng cần trình bày nhận định và ý kiến riêng của bạn.
5. Điểm bài làm của bạn sẽ dựa trên mức độ hiểu bài, nhận định của bạn, cũng như cách trả lời rõ ràng, mạnh lạc.
6. Bạn có thể gởi bài làm về văn phòng nhà trường sau mỗi ba bài học . Tiện nhất là bạn gởi bài qua email. Các giáo sư sẽ chấm điểm, góp ý và trả lại bài cho bạn.
7. Sau khi bạn đã hoàn tất tất cả các bài làm, nhà trường sẽ gởi đến bạn hoặc vị giám thị đề thi cuối khóa . Bạn sẽ làm bài thi trong thời gian 3 tiếng đồng hồ với sự giám sát của vị giám thị (trong một số môn và một số trường hợp, bài thi cuối khóa có thể làm tại nhà và hoàn tất trong thời hạn ấn định).
8. Điểm môn học (final grade) sẽ là điểm bài làm (60%) và điểm thi cuối khóa (40%). Khi hoàn tất môn học bạn sẽ được cấp 3 tín chỉ (units).
9. Thời hạn tối đa để bạn hoàn tất môn học là 6 tháng , kể từ lúc bạn nhận được bài học.
10. Khi cần sự giúp đỡ hoặc có những thắc mắc liên quan đến bài học, xin bạn liên lạc với văn phòng nhà trường hoặc trực tiếp với các giáo sư để được hướng dẫn.
Cầu xin Chúa soi sáng và thêm ơn cho bạn trong khi học Lời Ngài.
Viện Thần Học Việt Nam
Union College of California
Chương 1
Mặc khải là gì? Có những hình thức mặc khải nào? RoRm 1:18-32 cho biết gì về mặc khải tự nhiên?
Kinh Thánh có những đặc điểm nào so với tất cả các sách khác?
XuXh 7:1 cho biết gì về tiên tri của Đức Chúa Trời? Tiên tri của Đức Chúa Trời khác với các tiên tri của thần Ba-anh như thế nào (IVua 1V 22:6)?
So sánh Giop G 26:7 tới 9:6. Hai câu này có vẻ như mâu thuẫn, bạn giải thích thế nào?
Chương 2
1. Dùng Thánh Kinh phù dẫn (Concordance), tìm tất cả những chỗ trong Tân Ước có đề cập đến từ ngữ “Môi-se và các tiên tri” hay “luật pháp và các tiên tri.” Những cụm từ này chỉ về những phần nào trong Kinh Thánh?
2. Có phải Đức Chúa Giê-xu đã dạy về Cựu Ước sau khi Ngài sống lại giống y như lúc trước khi Ngài chịu chết không? Xin trưng dẫn bằng chứng.
3. Những lý do riêng của bạn trong việc tin Cựu Ước là lời Đức Chúa Trời là gì?
4. Đức Chúa Giê-xu muốn nói gì trong câu nói của Ngài ở Mat Mt 5:17 ?
5. Bạn trả lời thế nào khi một người hoài nghi hỏi “Tại sao bạn tin Kinh Thánh”?
Chương 3
1. So sánh các bản danh sách các sứ đồ trong 10:2; LuLc 6:14-16 và Cong Cv 1:13, 26.
2. Trong ICo1Cr 2:13 và ITe1Tx 2:13, thánh Phao-lô đã tuyên bố các tác phẩm của mình là chân thật như thế nào? Ông đã nói gì về sự linh cảm trên những lời giảng dạy của ông trước công chúng?
3. Tìm các phân đoạn trong Tân Ước cho thấy thẩm quyền của các sách trong Tân Ước.
4. Làm thế nào Phao-lô chứng tỏ được mình là sứ đồ, trong khi một sứ đồ ít nhất phải thấy Đức Chúa Giê-xu sau khi Ngài sống lại (Cô-rinh-tô15:8;,9)? Có thể nào ngày nay một người gọi mình là sứ đồ được không? Những lý do nào hậu thuẫn cho câu trả lời của bạn?
5. Bằng chứng nào cho thấy Tân Ước cũng được linh cảm như Cựu Ước?
Chương 4
1. Một tiên tri có thể cùng lúc giữ những vai trò khác không? (Cong Cv 2:30; Exe Ed 1:3).
2. Trước thời Môi-se có những tiên tri viết sách mà tác phẩm của họ không được lưu giữ không? (SaSt 20:7).
3. Tiên tri nào đã được tiên đoán là sẽ xuất hiện khi thời kỳ Cựu Ước chấm dứt? (MaMl 4:5; Mat Mt 17:12, 13; LuLc 1:17).
4. Sử gia Josephus đã nói gì về Cựu Ước?
5. Thứ kinh là gì? Tại sao Thứ kinh không được liệt vào danh sách những sách được kinh điển hóa?
Chương 5
Các giáo phụ đã xác nhận quyền tác giả của Tân Ước như thế nào?
Khảo sát bằng chứng trong IIPhi 2Pr 1:15, 16; Giu Gd 1:17,18 và giải thích thái độ của các Sứ Đồ đối với các tác phẩm của nhau?
Các vị sứ đồ đã nói gì về sự linh cảm của tác phẩm của mình? (ICo1Cr 14:37; KhKh 22:18,19).
Dùng một bản đồ Kinh Thánh vẽ các hành trình truyền giáo của Phao-lô. Liệt kê thứ tự các thơ tín đã được Phao-lô viết.
Tại sao chúng ta chỉ nhận 27 sách như là Kinh điển Tân Ước?
Chương 6
Thủ bản Tân Ước xưa nhất có niên đại nào? Cách sứ đồ Giăng lúc còn sống bao lâu?
Ba bản sao Tân Ước quan trọng nào được thực hiện trước năm 400 S.C. mà phần lớn còn được bảo tồn?
So sánh câu chuyện Chúa Phục Sinh (GiGa 20:1-31) giữa bản dịch tiếng Việt 1926 và các bản dịch tiếng Việt khác sau này.
Dựa trên nền tảng nào chúng ta có thể tin tưởng vào sự chân xác của Tân Ước, cho dầu có những khiếm khuyết trong việc sao chép, dịch, hay in ấn?
Chương 7
1. Làm thế nào chúng ta biết rằng Cựu Ước đã được sao chép mà không có sự thay đỗi đáng kể nào từ 400T.C.? hay 200 T.C.?
Bản Bảy Mươi (Septuagint) là gì? Đã được thực hiện như thế nào?
Hai loại văn phẩm nào đã được tìm thấy trong các hang động tại Qumran? Có bao nhiêu sách trong Cựu Ước được tìm thấy trong các Cuộn Biển Chết?
Niên hiệu các sách Cựu Ước trong Cuộn Biển Chết và các mảnh vụn ở đó được ước định khoảng năm nào? Làm thế nào các Cuộn Biển Chết có thể chứng tỏ rằng Cựu Ước đã được cẩn thận sao chép hằng mấy thế kỷ trước khi Chúa Giê-xu Giáng Sinh?
Công tác của khoa “phê bình bản văn” là gì? Quan trọng như thế nào?
Đọc kỹ IISa 2Sm 22:1-51 và Thi Tv 18:1-50 và ghi nhận những điểm khác biệt. Tại sao có những khác biệt này?
Chương 8
Hãy tìm 8 phép lạ không phải chữa bệnh trong bốn sách Phúc Âm ?
Sa-tan và các quỷ sứ của nó có thể làm phép lạ không? (Xem XuXh 7:22; KhKh 13:14).
Đọc bài giảng của Phi-e-rơ trong Sứ Đồ 2 và bài giảng của Phao-lô trong Cong Cv 13:1-52. Liệt kê các lời tiên tri về Chúa Cứu Thế được ứng nghiệm?
Trong ánh sáng khoa học tân tiến, hãy nêu ra những lý do tại sao chúng ta vẫn tiếp tục tin Kinh Thánh ?
Ngoài những trường hợp một số người cho là mâu thuẫn trong Kinh Thánh được đề cập trong chương này, bạn biết có trường hợp nào khác không? Làm sao trả lời cho các trường hợp đó?
Chương 9
“Thượng phê bình” là gì? Phát xuất như thế nào?
Xin đề cập vài ý kiến của thượng phê bình liên quan đến các sách của Cựu Ước?
Thượng phê bình giải thích thế nào các lời tiên tri cũng như các phép lạ trong Kinh Thánh? Bạn trả lời thế cho những lời giải thích như teh?
Thượng phê bình ảnh hưởng thế nào đến đức tin Cơ Đốc giáo? Tại sao? Bằng cớ nào có thể nầu ra để phá đổ thượng phê bình?
Chương 10
Xin tóm tắt một ít về lịch sử của khảo cổ học?
Khảo cổ học có thể xác chứng và làm sáng tỏ Kinh Thánh như thế nào? Xin cho ví dụ cụ thể.
Thượng phê bình hay khoa khảo cổ học, cái nào có trước? Chúng ta học được điều gì ở thứ tự này?
Sơ lược các khám phá của khảo cổ học liên quan đến Sa-lô-môn.
Xin nêu một ví dụ cho thấy khảo cổ học đã phản bác lại lối giải thích của thượng phê bình?


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 27-4-2018 04:43 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách