† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2853|Trả lời: 0

PHÁP VĨNH CỬU

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 08:27:07 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

PHÁP VĨNH CỬU

LỜI GIỚI THIỆU
Từ phố xá đô thị cao ngất tới làng mạc xa xôi, Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới đang được Đức Chúa Trời dùng để đưa con người từ nghi ngờ tới quyết định làm môn đồ Ngài. Đây là chức vụ bất tận, làm thay đổi cuộc sống, và hiện đang diễn ra ngay chính giây phút này, vòng quanh địa cầu.
Chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới là một chức vụ phát thanh Cơ Đốc mang tính quốc tế đã từng rao giảng Tin Mừng về tình yêu không phai tàn cùng sự tha thứ đời đời của Đức Chúa Trời suốt gần năm thập niên qua. Tổ chức chúng tôi được thành lập năm 1952 do Tiến sĩ Paul E. Freed, người đã tham dự một hội nghị đặc biệt về truyền giáo cách đó bốn năm tại Thụy Sĩ và nghĩ rằng mình sẽ làm giáo sĩ tại Tây Ban Nha. Mục tiêu của ông thì đúng, nhưng Đức Chúa Trời đã thay đổi phương pháp của ông. Thay vì nói trực tiếp và đối diện với từng người, Tiến sĩ Freed được Đức Chúa Trời hướng dẫn xem xét dùng ra-đi-ô làm phương tiện để nói cho mọi người về Chúa Giê-xu.
Các chương trình đầu tiên của chúng tôi được phát sóng đến Tây Ban Nha vào Tháng Hai 1954, bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh từ một máy truyền tin nhỏ ở Tangier, Morocco. Từ khởi điểm khiêm tốn đó, Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã mở rộng lịch phát thanh hàng tuần lên hơn 1.600 giờ chương trình Cơ Đốc từ 13 điểm phát sóng siêu công suất chính và bằng vệ tinh. Các buổi phát thanh cũng được truyền qua hơn 1.600 đài địa phương. Thính giả trên hơn 160 quốc gia có thể nghe Lời Đức Chúa Trời giảng dạy qua hơn 165 ngôn ngữ khác nhau. Ảnh hưởng thật khó tin nổi. Ngày nay, trên 1 triệu rưỡi cánh thư, “fax,” điện thư, cùng nhắn tin qua điện thoại vẫn nhận được hằng năm, cho thấy cách Đức Chúa Trời đã dùng các buổi phát thanh để thay đổi những cuộc đời mãi mãi!
Mục tiêu chính của chúng tôi là tuân phục điều thường được gọi là “Đại Mạng Lịnh.”
Chúng tôi đã chọn ra-đi-ô làm dụng cụ thực hiện sứ mạng này.


NỘI DUNG
7 Tháp Vĩnh Cửu
Tác giả: Paul E. Freed

Lời Mở Đầu
NHÂN SỰ MIỄN CƯỠNG
HẢI NGOẠI VÔ TỘI
CÀNH CÂY BỊ UỐN CONG
CON NGƯỜI ĐƯỢC THÀNH HÌNH
THƯ CHO MỘT THIẾU NỮ
KHAO KHÁT CHÍNH NGHĨA
VỀ LẠI RỪNG THÔNG
TIẾNG NÓI TANGIER
THĂNG TIẾN
ĐỐI ĐẦU MỚI
PHÉP LẠ Ở MONACO
SẴN SÀNG GHI DANH TỚI MONTE CARLO
NƯỚC ĐỨC DẪN ĐƯỜNG
NÓI VỀ TÂY BAN NHA
BÙNG CHÁY MỐI QUAN TÂM NƯỚC PHÁP
NHỮNG NGƯỜI ĐIỀU ĐỘNG CHO CHÂU ÂU
PHỦ KÍN TRUNG ĐÔNG
KỶ NGUYÊN MỚI CHO PHÁT THANH XUYÊN THẾ GIỚI
LỜI CỦA BETTY JANE
SIÊU CÔNG SUẤT TẠI CARIBBEA
ÂM THANH CỦA SỰ SỐNG
QUÀ TẶNG VÔ GIÁ

LỜI MỞ ĐẦU
Đây là câu chuyện về bước đầu của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới, không diễn ra tại một trong những đài phát thanh của chương trình, mà là trong lòng một con người, Paul E. Freed. Chúa biết cách Ngài có thể dùng Paul Freed cho bước mạo hiểm truyền giáo lớn lao này và triển khai trong ông tinh thần truyền giáo say mê ngay từ thời niên thiếu lớn lên tại vùng Trung Đông. Cha mẹ ông, vốn là giáo sĩ suốt 27 năm tại nơi ngày nay gọi là Syria, đã mang lại cho cuộc đời Paul một khải tượng truyền giáo sâu sắc, nếu không thì ông chẳng bao giờ có được khải tượng đó.
Ngay từ khởi điểm, Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới bắt đầu trong lòng một người, thì ngày nay đã trở thành nhịp tim trong lòng nhiều người nam và nữ khắp thế giới. Một số nhân viên tận tụy được nêu tên trong các chương sách này. Tuy nhiên, những người khác tham gia trong chức vụ Phát Thanh Xuyên Thế Giới từ khi sách này được viết ra, cũng giữ vai trò thiết yếu trong việc phổ biến công tác đã bắt đầu từ 1952. Họ là những con người không ai nghe thấy nhưng cuộc đời họ đã gắn bó với chức vụ của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới .
Sách này đưa độc giả từ những chặng đầu trong lịch sử Phát Thanh Xuyên Thế Giới, khởi điểm với “The Voice of Tangier” (Tiếng Nói Tangier), sau đó là đài phát thanh Monte Carlo, và kết thúc với đài phát sóng của chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Bonaire. Từ Bonaire, chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã xây dựng những thiết bị phát thanh hoặc dùng các trạm sẵn có khắp thế giới. Với gần 1.000 giờ của chương trình hàng tuần được phát sóng từ nhiều điểm phát thanh, Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã trở thành từ ngữ quen thuộc đối với nhiều độc giả hải ngoại.
Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới cũng hiện diện trên khắp năm châu và một tiểu lục địa. Những cộng tác viên trong nước - những tổ chức tự trị chịu trách nhiệm phiên dịch, điều chỉnh, và phát sóng hầu hết những chương trình của Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới theo ngôn ngữ của dân tộc, cũng như đảm trách việc liên lạc thư từ và thăm viếng chăm sóc - rải rác trên 30 quốc gia. Ngày nay hàng trăm ngàn lá thư được tiếp nhận mỗi năm từ các thính giả theo dõi các buổi phát thanh của Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới ; riêng tại Ấn Độ, mỗi tháng có từ 25.000 tới 40.000 lá thư.
Từ đây, Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới sẽ đi về đâu? Chúa sẽ mở những cánh cửa cơ hội mới nào trong tương lai? Chúng ta không biết được, nhưng có một điều chắc chắn đó là Ngài vẫn là Đức Chúa Trời Toàn năng đã từng gieo hạt giống của chức vụ này trong lòng một người nhiều năm trước đây. Tháp Vĩnh Cửu ghi lại những sự việc do kết quả của hạt giống đó nẩy nở và cuối cùng trổ hoa thành chức vụ truyền thanh toàn cầu cho vinh quang của Đức Chúa Trời. Nguyện danh Ngài được ngợi khen.
A. L. Robertson, D. D.
Phó Chủ Tịch Ban Điều hành Phát Thanh Xuyên Thế Giới

NHÂN SỰ MIỄN CƯỠNG
Không bao giờ tôi có thể quên được cái ngày oi bức năm 1948 đó, khi tôi bước xuống tàu lửa tại Barcelona. Tôi KHÔNG quan tâm tới Tây Ban Nha. Tôi thà tới hầu như bất cứ nơi nào khác trên thế giới hơn là Tây Ban Nha. Tôi không biết Tây Ban Nha. Tôi không đặc biệt lưu ý tới người dân Tây Ban Nha. Tây Ban Nha là nước ít thu hút nhất đối với tôi - sau một thời thơ ấu thật hấp dẫn trong các xứ Ả Rập. Và tôi không biết mình sẽ làm gì tại Barcelona.
Bên ngoài sân ga Moorish, tôi được đưa tới một loại phương tiện kỳ dị gọi là taxi. Nó chẳng giống bất cứ loại xe cộ nào tôi đã đi, chạy bằng lò đốt than ở phía sau. Mùi khói bốc hôi đến nỗi tôi không biết mình phải thò đầu ra ngoài hay là ráng chịu đựng bên trong. Thật không phải là một khởi đầu tốt.
Cảnh lá cờ vàng đỏ của Tây Ban Nha phấp phới trên sân ga, khiến tôi thắc mắc không hiểu tại sao Đức Chúa Trời lại dẫn tôi theo hướng này. Nhớ lại hồi ở Winona Lake, Indiana, dường như cũng hợp lý để tôi lưu ý lời của Torrey Johnson khi ông bảo tôi: “Paul Freed à, tôi tin là Đức Chúa Trời muốn anh đi Âu châu.”
Chẳng có gì đáng kỳ vọng ngoại trừ kỳ Hội nghị Quốc tế của Youth For Christ tại Bearenberg, Thụy Sĩ. Trước đây tôi đã từng xuất ngoại, du lịch khoảng giữa Hoa Kỳ với môi trường truyền giáo của cha mẹ tôi tại Palestine và Syria. Giờ đây tôi đã ba mươi tuổi, đã kết hôn, và cho là ổn định rồi; nhưng hình như lại là thời điểm của Đức Chúa Trời cho tôi phải vượt Đại Tây Dương một lần nữa, dù rằng không dễ gì để vợ tôi ở lại Hoa Kỳ.
Hội nghị quốc tế tại Thụy Sĩ thu hút các ông từ khắp Âu châu cũng như Mỹ châu. Nhưng hai chàng thanh niên sốt sắng là đại biểu từ Tây Ban Nha đã trở thành những mắc xích quan trọng trong sợi dây xích vận mạng đời tôi. Họ nài nỉ ai đó trở lại Tây Ban Nha để giúp họ mang gánh nặng khổng lồ đem Phúc Âm đến cho 30.000.000 đồng bào họ.
Cuối cùng tôi nói là tôi sẽ đi - tiếng “vâng” rất yếu ớt, miễn cưỡng - nhưng tôi đi đúng đường. Tôi không nhận biết rằng Đức Chúa Trời đang lót đường cho toàn bộ công tác tương lai của tôi suốt những ngày ít ỏi của tôi tại Tây Ban Nha.
Tuy nhiên khi tôi bắt đầu mở mắt, thì hầu như bị thu hút ngay tức khắc bởi vẻ đẹp lởm chởm của bán đảo nhiều núi này. Tôi lại càng bị thu hút bởi người dân Tây Ban Nha - trong những thành phố đông đúc, trong khi nhảy trên những đường rải đá cuội dẫn tới các thôn xóm có bờ rào đá, khi tôi ghé mắt vào các nhà tối tăm trong hang đá. Bất kỳ đi tới đâu, tôi cũng bắt đầu cảm thấy bị khuấy động cách kỳ lạ bởi người dân Tây Ban Nha.
Cảnh sát Tây Ban Nha nổi tiếng là kỷ luật sắt, kiểm soát những con đường quê theo từng đôi. Nông dân nam và nữ của Andalusia làm việc cạnh nhau trong những rừng ô-liu. Trong các rừng cam chăm sóc cẩn thận, trong những ruộng lúa ngập nước tới đầu gối, trong bóng của cánh cửa trước nhà - may vá, thêu thùa, làm ren hoặc lưới đánh cá - khắp nước mọi người đều làm việc nhiều giờ và chăm chỉ để kiếm sống.
Trong những hang động đục từ đá mềm dọc theo con đường trên cao bên trên Alhambra là nơi ở của đám lưu lãng, đã từng sống lâu đời tại Tây Ban Nha đến nỗi chẳng ai còn nhớ chính xác họ bắt đầu xuất hiện từ khi nào. Nhưng diện mạo da màu đẹp đẽ, váy viền ren, cùng những vũ điệu vui tươi của họ đã trở thành một phần trong truyền thống Tây Ban Nha.
Bất cứ nơi nào chúng tôi đi tới trong vùng quê Tây Ban Nha, chúng tôi cũng được dân chúng lịch sự mời ăn bất kỳ món gì họ đang ăn. Tôi được dạy cho câu trả lời thích hợp đó là: “Cám ơn. Chúc phát tài.”
Trong một vùng ngoại ô chúng tôi gặp những thanh niên mặt mày nghiêm nghị được đào tạo cho nghề đấu bò nguy hiểm. Suốt cuộc đấu, các cô gái đội khăn vuông làm đẹp cho đấu trường. Các bàn nhỏ trong những quán giải khát bên đường vẫy gọi chúng tôi ngồi xuống trong khi những kẻ bán dạo vây quanh - bán tôm, khoai chiên, cua luộc, vé số, và những thứ khác. Giới thượng lưu mặc áo lông thú và đeo ngọc quí thì ngồi ăn trong những nhà quán sang trọng sáng rực ánh đèn chùm bằng thủy tinh.
Là kẻ mới xuất hiện giữa vòng người Tây Ban Nha, tôi thấy mình thích hợp với vẻ lịch sự, tính tò mò thân thiện, phong cách, cùng sự tôn trọng của họ đối với những giá trị nơi con người. Có lẽ chính tác động của tất cả những phẩm tính này ngấm qua tôi, tạo nên sự đáp ứng sâu xa nơi tôi đối với người Tây Ban Nha. Dọc theo đường phố đông nghẹt những bà già mặc đồ đen bán gà với trái vả cùng hạt dẻ và tiêu, tôi nghe tiếng lách cách của xe do la kéo. Tôi ngửi thấy mùi hoa cam và mùi tôm chiên nóng. Tôi cảm thấy mối quan tâm không giải thích được đang gia tăng trong lòng tôi.
Xuyên qua những cổng bông sắt phức tạp tôi có thể nhìn thấy những vua gia súc, những trùm ô-liu, những vua cam và bần đang nhấp nháp rượu, ngả người trong những ghế bành nệm êm, vô cùng cách biệt với đám đông ngoài phố. Bên ngoài trên những đừơng đá cuội, “phân nửa kia” chen lấn tôi - nông gia, chủ cửa tiệm, dân quê, công nhân bến tàu, hành khất, dân lưu lãng, trẻ con, kẻ bán dạo - những con người mảnh dẻ và nhanh nhẹn, hiểu biết và hoài nghi, thế nhưng lại thu hút tôi với đôi mắt đen và nụ cười bất chợt của họ.
Tây Ban Nha có một ngàn gương mặt. Một số thì nghiêm nghị và hằn nếp nhăn vì lo âu, những mặt khác thì sáng sủa và vui tươi. Đó là một xứ của dân quê chăm chỉ làm việc, tự trọng, của dân lưu lãng sặc sỡ, của binh lính dẻo dai, của nghệ sĩ và tu sĩ và thương gia và quí tộc. Đó là một xứ đa dạng về địa lý - những đỉnh núi tuyết phủ, những ngọn đồi trơ trọi, những đồng ruộng xanh rờn phì nhiêu, những thảo nguyên cằn cỗi, và những đồng bằng duyên hải cận nhiệt đới.
Lịch sử cũng để lại nhiều dấu ấn khắp nước. Những mái vòm cong duyên dáng của một ống dẫn nước của La Mã vẫn tồn tại suốt hai mươi thế kỷ. Được đúc kết không cần hồ vữa hoặc xi măng, những tảng đá hoa cương hoàn toàn ăn khớp nhau, và cho mãi tới gần đây, nước vẫn còn chảy qua ống dẫn. Những đổ nát cùng cấu trúc xưa được lưu giữ cẩn thận trên khắp bán đảo, đã ghi dấu những bàn chân đi qua của người La Mã, Visigoths, và Moors.
Alhambra, cung điện pháo đài trải rộng được hoàn tất suốt thế kỷ mười bốn bởi người Moors, vẫn là đồn lũy của người Hồi giáo Phi châu cho tới khi Ferdinand và Isabella tái chinh phục Granada trong cùng năm Columbus vượt biển về hướng tây với lời chúc của họ.
Tại Madrid nhịp sống hằng ngày gia tăng nhờ nhiều thiết bị hiện đại. Ngoài những đại lộ rộng lớn chạy dọc hai bên là những nhà chọc trời, Madrid mang những dấu hiệu khác khiến nó trở thành hiện đại - đèn nê-ông, trạm xe điện ngầm, nạn kẹt xe, những quán rượu. Trên bờ Địa Trung Hải, Barcelona quá nhộn nhịp với doanh nghiệp và thương mại hiện đại đến nỗi khó hiểu được đã có lần Julius Caesar ở đó suốt ba năm!
Ra khỏi thành phố vào các làng, tôi bị quấy rầy bởi đám trẻ con giật mạnh áo khoác tôi ngoài đường. “Tengo hambre ! Tôi đói!” Một số rách rưới, một số đi chân không, một số chẳng mặc áo quần gì cả - tôi chưa hề chứng kiến cảnh nào giống như vậy. Tôi nhìn lướt qua từng gương mặt, đọc được từng khao khát rõ rệt trong những ánh mắt lấp lánh của chúng. Tôi thấy khó chịu khi thấy những thân thể gầy guộc, nhưng tôi mải mê nhìn chúng vì nhận biết những con người bé bỏng đó cần sự an ủi, che chở, cùng tình yêu của Chúa. Xuyên qua mạn che nghèo khổ tả tơi của chúng , thậm chí tôi - một khách lạ miễn cưỡng giữa vòng chúng - cũng có thể thấy được sức mạnh của một di sản kiêu hùng. Người Tây Ban Nha theo cá nhân chủ nghĩa, tôi phải học biết điều đó. Triết gia Miguel de Unamuno viết về đồng bào mình: “Thật khó mà cai trị một nước có hai mươi hai triệu vua.”
Ngay sau khi từ Thụy Sĩ tới, tôi tham dự buổi thờ phượng đầu tiên tại nhà thờ. Tôi được mời vào một phòng cao nhỏ bé và được yêu cầu chia sẻ cho Cơ Đốc nhân địa phương qua thông dịch viên. Khi bắt đầu nói, tôi xem xét gương mặt họ - nhiều nếp nhăn vì nhu cầu lẫn khó khăn, thế nhưng thật ấm áp hi vọng là điều dường như không thấy có ngoài đường phố.
Tôi cảm thấy cổ họng mình bị nghẹn lại trong khi nói chuyện với những con người can đảm đó: “Tôi không thể nói gì. Xin lỗi quí vị, tôi không muốn nói gì. Xin quí vị nói cho tôi nghe. Quí vị biết Đức Chúa Trời không giống như cách tôi biết Ngài. Tôi xin phép ngồi dưới chân quí vị được không? Tôi muốn nghe quí vị nói.”
Mọi người im lặng nhìn nhau. Cuối cùng, một ông tóc bạc đứng lên nói: “Nếu có điều nào thực hữu trong đời sống chúng tôi - thì đó là Chúa Giê-xu Christ có ý nghĩa đối với chúng tôi hơn bất cứ điều gì khác trên đời.”
Chắc chắn là ông có ý nói điều mình vừa nói. Tôi thấy mình đang kêu la với Đức Chúa Trời xin Ngài cũng có ý nghĩa nhiều như vậy đối với tôi.
Họ phải cùng xem chung với nhau số thánh ca và Kinh Thánh ít ỏi mình đang có, nhưng tôi chưa hề gặp những môn đồ Cơ Đốc ở bất cứ nơi nào giống như tôi đã gặp ở Tây Ban Nha. Và tôi tự hỏi biết đâu có thể là Ngài sẽ phải khiến sự nặng nề và khó khăn đến với tôi trước khi tôi có thể yêu Ngài như họ đã yêu Ngài.
Rất thành thật mà nói, dường như điều mạnh mẽ thúc giục tôi giúp Cơ Đốc nhân Tây Ban Nha chính là sự vững vàng trong người tín hữu mà tôi gặp bất kỳ nơi nào tôi viếng thăm - từ những làng Pyrenees miền bắc, cho tới Andalusia ngập nắng trên bờ Địa Trung Hải. Có vẻ như Đức Chúa Trời đang bảo tôi giúp họ nhân lên các phước hạnh thuộc linh của mình để đem sứ điệp Phúc Âm tích cực đến với kẻ khác trong đồng bào mình. Dần dần tôi nhận ra rằng chính trong những con người mà trước đây cá nhân tôi chưa hề quan tâm tới, đang trĩu nặng với nhu cầu cũng lớn lao như của người Ả Rập mà tôi đã cùng lớn lên và khao khát được phục vụ.
Tôi đi từ thành thị tới thôn xóm - phần lớn là để gặp các nhóm Cơ Đốc nhân và tổ chức truyền giảng. Bất kỳ nơi nào tôi đến cũng có sự quan tâm sâu sắc, và toàn bộ thời gian tôi ở đó, chưa hề có lần nào tôi nói chuyện với một chỗ ngồi trống. Thật ra, ghế thường được bỏ đi để có thêm chỗ cho tấm lòng đói khát. Cho dù nơi nào tôi đến, nhu cầu cũng thật là cấp bách.
Đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ không hề là sự cam kết hững hờ. Ngài là chìa khóa cho sự can đảm sôi nổi của họ. Có người nói với tôi rằng người Tây Ban Nha được tạo thành do hai phần - lòng sùng đạo vàsự vui tươi. Trong Cơ Đốc nhân Tây Ban Nha, đây là sự kết hợp đầy thuyết phục đã giúp họ vượt qua những hoàn cảnh không thể tin được. Tôi chưa hề thấy có gì giống như thế. Họ hết lòng yêu Ngài, và sau khi tôi giảng suốt hai ba tiếng đồng hồ, họ hỏi: “Hết rồi sao? Ông không thể nói thêm cho chúng tôi về Chúa Giê-xu Christ sao?”
Một bà cụ tôi gặp trong làng nọ là một Cơ Đốc nhân thật tốt. Tôi nói với bà về vẻ đẹp sớm mai cùng cảnh ngoạn mục của đồng quê Tây Ban Nha. Nhận xét của bà là lời cáo trách đối với tôi: “Pablo ơi, ông lại lạc đề nữa rồi. Tại sao ông lại lạc đề chứ? Sao ông không nói với tôi về Chúa Giê-xu? Tôi thích nói về Chúa Giê-xu hơn bất cứ điều gì khác.”
Đức tin vững vàng như của bà cụ cũng hay lây - mối thông công giữa Cơ Đốc nhân Tây Ban Nha không phải là một truyền thống tĩnh lặng. Chúa Giê-xu Christ đã đầy dẫy đời sống họ đến nỗi tràn ra ngoài, và tình yêu Đức Chúa Trời tuôn đổ để sưởi ấm và thuyết phục người khác. Khi đến với nhau, họ thường đem thêm người mới - người láng giềng, người bạn, người bà con, một người nào đó đang đói khát điều vĩnh cửu. Tôi không thể nhớ ra là có bao giờ nói chuyện ở Tây Ban Nha mà không có người mới đến với Chúa.
Câu hỏi: “Làm sao để có thêm người được nghe về sự nhơn từ của Đức Chúa Trời?” liên tục quấy rối suy nghĩ của tôi từ lúc thức dậy theo tiếng gà gáy trên vùng cao nguyên Andorran, trong lúc tôi đi ngang rừng mờ tối của Alhambra lịch sử và nghe điệu hót hiếm hoi của chim họa mi. Trong những nơi ở trần thấp của hang động đục từ những thảo nguyên khô cằn, trong những thôn xóm của người chăn với tường rào bằng đá, băng qua mạng lưới những vườn nho mênh mông, xuyên ngang vùng biển xanh rì cây ô-liu, tôi bước theo nhịp điệu thầm lặng của một đất nước khao khát Đức Chúa Trời.
Rất lâu sau ngày trở lại với cuộc sống tương đối tiện nghi ở Greenboro, N. C., tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi nhịp tim của một xứ sở mà hàng triệu người chưa hề được nghe tin mừng thực sự về Chúa Giê-xu Christ. Người chủ cối xay mặc áo khoác đen, dân sống lang thang, những người dắt la, người đấu bò, những thiếu nữ đội khăn vuông, trẻ em chập chững trong rách rưới, những cậu bé đánh giày, những nông dân choàng khăn - tất cả cứ lảng vảng ra vào, tới lui dưới mắt nội tâm của tôi. Trong khi chia sẻ với thiếu niên Cơ Đốc, khuyên nài những người trung niên ngoan cố, cầu nguyện cho trẻ em ngang bướng cùng cha mẹ điếc của chúng tại Hoa Kỳ - một đất nước dẫy đầy hàng ngàn nhà thờ, tôi phải thú nhận trong chỗ riêng tư trước mặt Đức Chúa Trời rằng: tôi là tù binh của Tây Ban Nha và của niềm khao khát Chúa Hằng Sống trong lòng họ.
Hình ảnh thật linh động, thế nhưng phức tạp. Trong một xứ nhiều núi thứ hai của Âu châu, miền đất Tây Ban Nha len lỏi chen chúc với những cộng đồng khó tiếp xúc. Ba mươi triệu người xâu xé lòng tôi. Trong trí tôi chỉ có một lời giải đáp cho vấn đề: Phát thanh. Không giống bất cứ thứ gì, phát thanh có thể bao trùm cả nước từ đỉnh núi xuống thung lũng, từ nội địa Madrid tới duyên hải Cadiz. Tôi chưa có một xu hỗ trợ nào, tôi không biết phải đi những bước nào. Nhưng tôi biết chắc một điều - hẳn nhiên Chúa đã liên kết lòng tôi với lòng của Tây Ban Nha.

HẢI NGOẠI VÔ TỘI
Không còn nghi ngờ gì nữa! Chia xẻ Phúc Âm cho hàng triệu người Tây Ban Nha không phải là chuyện nhỏ. Có những lúc tôi cảm thấy vô nghĩa như đã có lần cách đây nhiều năm trước, khi tôi ở giữa lòng Đại Tây Dương. Chuyến đi đó đưa tôi từ Southampton ở Anh sang New York City. Lúc ấy tôi mười bảy tuổi và chán nản. Mỗi tấc tàu Queen Mary là của tôi. Chẳng còn phần đất nào nữa để chinh phục sau ba ngày ròng rã trên tàu. Và những đường rầy bên trên đã rào ngăn tôi như những chấn song nhà tù.
Bỗng nhiên một người đi ngang qua. Tôi chú ý tới một khung thật lớn rồi quay lưng bắt đầu bước theo người đàn ông đi quanh boong tàu. Bỗng ông quay lại nhìn tôi và hỏi: “Cậu muốn gì?”
Tôi thật hoảng kinh và đỏ mặt nhìn xuống nói lắp bắp: “Dạ, tôi chỉ xem ông thôi!”
Ngay phút sau ông cư xử với tôi như một người thật cao cả. Ông khéo léo tạo sự thoải mái cho tôi khi bảo : “Được rồi, cứ đi bên tôi. Cậu không cần phải ở mãi tít đằng đó.”
Chúng tôi nói chuyện về con tàu, thời tiết, đại dương, con người, thể thao. Và chúng tôi kết thúc trong phòng giải trí chơi bóng bàn. Ông ta là người chơi bóng bàn giỏi nhất mà tôi từng gặp - cũng là điều hợp lý khi tôi khám phá ra ông là nhà Vô địch Bóng bàn Quốc gia của Ái nhĩ lan.
Ông đề nghị: “Nếu cậu muốn xuống phòng tôi, tôi sẽ cho cậu xem cái này.”
Chán nản tan biến ngay khi tôi bước bên cạnh ông trong cảm giác tự hào là mình đã làm quen được với người hành khách nổi tiếng nhất trên tàu!
Khi đã vào phòng, ông mở va li, và kéo ra một quả cầu lớn bằng sắt có đính sợi dây xích. Tôi nhận ra đó là loại mà bạn cho xoay quanh đỉnh đầu rồi thả cho bay.
“Tôi là nhà vô địch ném tạ xích Olympic của thế giới,” ông vừa nói vừa trao cho tôi.
Tôi thở mạnh.
Ông thật tử tế với tôi. Nhưng ông trông giống như một người thật vĩ đại, và tôi nhìn ông vô cùng kinh ngạc. Tôi thật hãnh diện có được một người bạn mới như vậy. Nhưng ý nghĩ vênh vang đó tiêu tan khi tôi cảm nhận được Tiếng Nói bên trong tôi, bảo:
“Ta muốn con nói với người này. Ta muốn con nói với người về Chúa Giê-xu Christ.”
Tôi khiếp sợ. Tưởng tượng một bé con chẳng ra gì lại đi nói một điều gì đó cho nhà vô địch lớn của thế giới. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là hoảng sợ. “Không, không được đâu. Con không làm được đâu.”
Nhưng Tiếng Nói bên trong vẫn tiếp tục và thầm lặng. Dù sợ phải nói nhưng tôi vẫn cho tay vào túi tìm cuốn Tân Ước tôi mang theo. Tôi biết mình phải cố gắng tối đa cho dù có tệ đi nữa. Ít ra tôi cũng có thể đọc câu Kinh Thánh GiGa 3:16 cho ông ta nghe.
Giọng nói tôi nghe như vọng lại từ rất xa - như thể phát ra từ bên dưới của một trong những thuyền cứu hộ.
“Xin lỗi, thưa ông, tôi xin phép đọc cho ông một câu trong sách nhỏ này. Tôi biết ông bận lắm, nhưng . . . “
Ông ta theo dõi trong khi tôi đọc những lời quen thuộc: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”
Chẳng có cách nào biết được ông phản ứng ra sao. Khi tôi đọc xong, ông đặt bàn tay thật lớn trên vai tôi và nói: “Cám ơn, con trai. Con không biết được câu đó có ý nghĩa ra sao đối với ta. Ta sẽ nhớ những điều con nói. Và này, cưng à, đừng bao giờ sợ làm cho người khác chính điều mà con vừa làm cho ta nhé.”
Nhiều lần trong thời tuổi trẻ, tôi cảm nhận được Đức Chúa Trời bảo tôi làm chứng cho Ngài. Nhưng thời niên thiếu, tôi thường lý luận, tôi nghĩ là mình không thể làm được. Phải có một cách nào khác - qua nhà truyền đạo, qua cha mẹ tôi, qua lớp Trường Chúa nhựt. Nhưng …”thưa Chúa, không qua cá nhân con, con không làm được chuyện đó.”
Nhưng Ngài không bao giờ để cho tôi rớt khỏi lưỡi câu. Đức Chúa Trời liên tục kéo tôi về lại điểm làm chứng cá nhân cho Giê-xu Christ. Sự kiện trên tàu thời niên thiếu đã khích lệ tôi. Chúa đã kiên trì dẫn tôi tới chỗ chấp nhận tầm quan trọng phải nói cho người khác về tình yêu của Ngài.
Và tôi biết chắc rằng gánh nặng của Ngài trong lòng tôi về Tây Ban Nha cuối cùng sẽ được khích lệ như vậy. Ngọn núi lù lù phía trước sẽ thực sự dời đi nếu tôi biết tin cậy và không sợ hãi.


CÀNH CÂY BỊ UỐN CONG
Bàn tay dẫn dắt của Đức Chúa Trời đã dệt nên khuôn mẫu “tin cậy vâng lời” suốt cuộc đời tôi ngay từ những ký ức đầu tiên. Ba mẹ tôi đã cho anh em tôi mái ấm gia đình tuyệt vời nhất có thể có được.
Trước khi tôi chào đời, một hôm ba mẹ tôi bị thu hút bởi tấm bảng quảng cáo những buổi nhóm đặc biệt, treo trước tòa thị sảnh cũ trên con đường từ nhà thờ họ đi nhóm về. Trước đó mục sư đã cảnh báo hội chúng: “Hãy tránh xa mấy người cuồng tín đó!”
Nhưng Mildred và Ralph Freed vốn hiếu kỳ, và việc họ trở lại tin nhận Đấng Christ tiếp theo sau đó tại bàn thờ tạm nơi tòa thị sảnh đã thay đổi dòng đời của tất cả chúng tôi.
Ba tôi là một viên chức làm cho Công ty Máy Tính Burroughs tại Detroit, Michigan. Hãng này thuê 10.000 người chỉ cho văn phòng quốc nội, còn ba tôi vì giữ chức quản lý ngoại vụ nên thường xuyên tiếp xúc với những nhà quản trị hàng đầu.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời có một kế hoạch khác cho tất cả chúng tôi. Và con đường dẫn tới Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới khởi đầu vào một buổi sáng rất bình thường trong văn phòng của Ba tôi. Và đây là câu chuyện ông kể:
“Một người đàn ông làm chung với tôi tại Burroughs - có lẽ lớn hơn tôi độ hai mươi tuổi - mỗi sáng đem thư tới. Anh cho tôi biết anh là thuộc viên của một hội thánh; nhưng thực sự thì anh cay đắng chống lại những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Anh có vẻ nghĩ nhiều về tôi - luôn gọi tôi là ‘Ralphie.’ Nhưng thường khi tôi làm chứng cho anh thì anh bảo: ‘Ralphie à, anh thông minh thế sao lại đi tin mấy thứ đó.’
Hình ở trang 22: Tiến sĩ Ralph và Mildred Freed, năm 1954
“Tôi không tranh cãi với anh; tôi chỉ tái nhấn mạnh điều Đức Chúa Trời đã làm cho tôi. Thế rồi một sáng nọ trong văn phòng của tôi, sau khi chúng tôi làm xong việc, anh nán lại một phút trước khi ra về:
“Tôi đang nghĩ tới một chuyện, Ralphie à. Cậu có hứa là sẽ trả lời thẳng thắn cho tôi không? Cậu nói với tôi về sự cứu rỗi - huyết của Đấng Christ. Cậu cố gắng bảo rằng không có cách nào khác để đến với Đức Chúa Trời trừ ra Chúa Giê-xu Christ, nhưng tôi nghĩ là có nhiều cách đến với Đức Chúa Trời, Ralphie ạ. Thế còn mấy người ở Phi châu và Đông phương và Nam Mỹ, cùng mọi nơi khác chưa hề nghe về Chúa Giê-xu Christ thì sao?’
“Tôi trả lời ngay: “Bạn ơi, với cả lòng mình tôi tin rằng không có sự cứu rỗi ngoài Đấng Christ. Kinh Thánh nói: “Chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha . . .”’
“ ‘Ralphie à, cậu có thật lòng muốn nói như vậy không? Nếu cậu thực sự tin rằng không có Chúa Giê-xu Christ thì mọi người đều hư mất, và sẽ vào hỏa ngục, theo cách cậu nói, thế cậu há lại thỏa mãn ngồi ở đây trong văn phòng đẹp đẽ này, trên chiếc ghế quay êm ái này, yên tâm lãnh lương! Nếu mọi điều cậu nói là đúng thì tôi xin thưa, cậu là tên giả hình lớn nhất mà tôi từng gặp trong cả đời tôi.’
“Thật là cú đấm kinh khủng vào lòng tự kiêu của tôi. Nhưng tôi biết anh ta thành thật, và anh tôn trọng cá nhân tôi. Tôi cám ơn anh rồi anh ra về. Khi về nhà tối hôm ấy, tôi không ngủ được, vì tôi nghĩ đến mọi hàm ý trong cuộc đối đầu với anh. Tôi thật hạnh phúc ở Burroughs, có người vợ tuyệt vời với một con trai. Và cuộc sống hiện tại của tôi có vẻ thành công khi đang trải rộng trước mắt tôi với tương lai đầy hứa hẹn.
“Nhưng khi tôi trở lại văn phòng sáng hôm sau, nơi đó không còn có vẻ giống như trước nữa. Chiếc ghế quay dường như không còn êm ái như ngày hôm trước.
“Một năm rưỡi trôi qua trước khi chúng tôi dọn nhà, nhưng khi dọn, chúng tôi không còn nghi ngờ gì về việc Đức Chúa Trời kêu gọi chúng tôi phục vụ những người không biết về tình yêu của Chúa Giê-xu Christ trong cuộc đời họ.”
* * * * *
Khi Ba tôi nộp đơn từ chức, hãng Burroughs đề nghị cử ông làm giám đốc chào hàng khắp Âu châu. Họ nghĩ ông có máu thích du lịch khiến ông đứng núi này trông núi nọ. Họ tưởng ông muốn làm việc ở hải ngoại. Một điều mà họ không thể tin được đó là ông muốn rời Borroughs. Họ nói, ông có thể lập ra bất cứ tổ chức nào ông thích, làm bất kỳ điều gì ông cảm thấy cần làm. Họ tặng ông một thẻ trắng - ông có thể ghi vào đó chi phí riêng. Nhưng Ba tôi cám ơn họ và giải thích: “Không phải máu thích du lịch đẩy tôi tới những nước mới mẻ xa lạ. Đó là chính Đức Chúa Trời.”
Một trong những người đứng đầu hãng lắc đầu nói: “Ralph Freed ơi, nếu bất kỳ lúc nào anh muốn trở lại Burroughs, chúng tôi sẽ rất vui tiếp đón anh. Chỉ cần gửi cho chúng tôi một điện tín, là chúng tôi sẽ sắp xếp chỗ cho anh ngay - bất cứ lúc nào; tôi có ý nói bất cứ lúc nào không chịu đựng được nữa, chúng tôi luôn hoan nghinh anh quay về lại Borroughs.”
Vào lúc ba mẹ tôi rời quê nhà ở Birmingham, Michigan, dọn tới Nyack, New York để theo học ở Missionary Training Institute (Viện Đào tạo Giáo sĩ) thì em gái Ruth của tôi mới được ba tháng. Dùng tiền để dành, năm đầu theo học trôi qua êm xuôi, nhưng qua năm thứ hai thì chẳng còn vốn liếng để sinh sống. Tôi nhớ ba tôi cọ sàn , vẽ bản đồ, đào mương - làm bất cứ việc gì để nuôi sống gia đình.
Tới một lúc toàn bộ sự việc hầu như không chịu được nữa, và Ba tôi nhớ lại đề nghị của Burroughs. Cố gắng tối đa của ông vẫn không đủ. Tiền hết, chẳng còn gì để ăn. Sáng Chúa nhựt, tủ trống trơn và tiếng réo gọi của bao tử, chúng tôi chờ đợi thư từ với hi vọng Đức Chúa Trời cảm động người bạn nào đó gửi món quà nhỏ cho mình. Chẳng có thư. Ba tôi chỉ còn đồng tiền năm xu.
Mẹ chuẩn bị xong, tất cả chúng tôi đi bộ xuống phố, Ruth nằm trong xe đẩy. Khi tới tiệm thực phẩm, Ba tôi rút trong túi ra đồng năm xu cuối cùng rồi đặt lên quầy hàng. Ông chọn cây kẹo lớn nhất mà đồng năm xu có thể mua được rồi đưa cho tôi. Tôi ngạc nhiên được ăn kẹo vào giữa ngày khi mà lẽ ra là phải ăn thịt với khoai, nhưng tôi cũng ăn.
Sau đó khi chúng tôi đi ngang qua văn phòng Western Union, Ba dừng lại, quay sang nói với Mẹ: “Mildred à, em với anh thì sao cũng vui cả. Nhưng mà khi con cái chúng ta đói mà chẳng có gì cho chúng ăn - thì thật quá sức chịu đựng! Anh không thể tiếp tục được nữa. Anh không còn muốn cố gắng làm chuyện ngoài khả năng của mình nữa. Anh sẽ gửi điện tín cho Burroughs.”
Mẹ tôi trì hoãn để kéo dài thời gian: “Ralph à, mình suy nghĩ thêm một chút đi.”
“Không được,” Ba nhấn mạnh khi bắt đầu bước vào cửa. “Chúng ta không thể tiếp tục như thế này được. Anh sẽ gửi điện tín ngay bây giờ.”
Tôi không bao giờ quên được vẻ yêu thương và tin tưởng tuy dịu dàng nhưng cương quyết sáng rực trên gương mặt mẹ khi bà nhìn ba tôi: “Ralph à, chúng ta hãy thử Đức Chúa Trời một lần nữa xem sao. Chỉ một lần nữa thôi.”
Khi chúng tôi trở về lại căn hộ, ba mẹ đưa chìa khóa cho tôi và tôi chạy trước mở cửa. Tôi khó tin được điều mình chứng kiến. Căn phòng đầy cả thực phẩm. Khắp phòng ngổn ngang những túi khoai, bánh, rau, thịt, bột, đường, ngũ cốc, gà, bánh mì - đủ mọi thức ăn mà bất cứ ai cũng có thể nghĩ ra khi bao tử trống.
Nhưng đó không phải ảo ảnh! Mẹ và Ba tôi, từ sau lưng tôi, nhìn nhau kinh ngạc và quì xuống cảm tạ Đức Chúa Trời. Cho tới ngày nay chúng tôi cũng không biết cậu bé giao hàng là ai. Nhưng chúng tôi biết - chính Đức Chúa Trời đã gửi tới.
Hơn bất cứ điều gì khác, Ba Mẹ tôi muốn sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Ngài là trung tâm của mọi lựa chọn, mọi kế hoạch. Đó là lý do khiến gia đình chúng tôi thật tuyệt diệu, cho dù ở đâu - Detroit, Nyack, Jerusalem, Dera’a. Chúng tôi sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng mối liên hệ giữa Ba Mẹ luôn bền chặt. Họ yêu nhau đến cùng. Thái độ Cơ Đốc chân thật của Ba Mẹ đối với nhau và đối với con cái dạy cho chúng tôi rất nhiều về cách sống tích cực. Chẳng có việc gì quá lớn để không thảo luận với chúng tôi - dĩ nhiên là ở trình độ chúng tôi. Nhưng em tôi là Ruth, và tôi cảm thấy mình quan trọng, luôn luôn là một phần thực sự trong cuộc đời ba mẹ chúng tôi. Họ luôn luôn khiến chúng tôi cảm thấy mình được bao gồm trong những quyết định, những dự án của họ.
Tôi có thể chêm vào ở đây rằng hố sâu giữa bọn trẻ với người lớn, giữa con cái với cha mẹ, là vấn đề nghiêm trọng trong xứ chúng tôi. Quá thường xuyên, qua cách cư xử của mình, chúng ta ngụ ý: “Thôi thì chúng còn nhỏ; đừng nên quấy rầy chúng. Chuyện này quá rắc rối, quá khó đối với chúng - đừng kéo chúng nó vào làm gì.” Khi nhìn lại, tôi tin rằng yếu tố này - tức yếu tố được bao gồm như một thành viên hợp pháp trong một tình huống cơ bản nào đó - đã đưa tôi vào những sứ mạng như việc làm của đời tôi, thay vì khiến tôi chống lại. Thật ra, tôi cảm nhận được rất nhiều rằng mọi việc có liên quan đến cuộc đời cùng chức vụ tôi, gắn liền chặt chẽ với những gì trong tuổi thiếu niên của mình, như là con của một giáo sĩ, với cha mẹ tôi.
Tình yêu cùng lòng tận hiến cho gia đình đã khiến chúng tôi rất gần gũi với nhau - không chỉ giữa Ba Mẹ, mà còn giữa Ruth và tôi. Cô ấy là, và vẫn là cô em gái tuyệt vời. Ruth thật rất có ý nghĩa đối với tôi, nhất là lúc còn bé và ở tuổi thiếu niên khi chúng tôi sống xa quê hương, giữa vòng người Ả Rập. Về sau trong đại học và trường Kinh Thánh, khi chúng tôi đối diện những thích nghi , cô ấy và tôi có được nhiều giờ vui vẻ thảo luận niềm vui cũng như giúp nhau trong những vấn đề bình thường của những năm hình thành nhân cách chúng tôi
Việc ba tôi được bổ nhiệm làm chủ tịch tổng quát vùng Trung Đông cho tổ chức Christian and Missionary Alliance (Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp) đưa chúng tôi đến làm việc giữa vòng dân Palestine, Transjordan và Syria. Chúng tôi là giáo sĩ duy nhất cho 300 ngôi làng khi sống tại tỉnh nhỏ Dera’a ở Hauran thuộc nam Syria. Theo chúng tôi được biết thì nhà truyền giáo chúng tôi là “ngã tư thế giới.” Người Ả Rập tự động ghé vào nhà chúng tôi bất cứ lúc nào trong ngày, và chúng tôi làm mọi thứ theo khả năng mình để giúp họ cảm thấy được chào đón.
Kinh nghiệm đầu tiên của tôi trong cố gắng đưa người khác đến với Đấng Christ diễn ra lúc tôi được tám tuổi, ngay trong sân sau nhà ở Dera’a, một tỉnh nhỏ gần biên giới Arabia. Một bé trai Ả Rập, lớn hơn tôi hai hoặc ba tuổi, ghé vào nhà chúng tôi nói: “Bà ơi, tôi muốn làm việc.”
Cậu con trai này là điều mới lạ với chúng tôi, vì làm việc không phải là điều mà người Ả Rập thích nhất. Mẹ tôi nói chúng tôi không có việc gì cho cậu làm cả, nhưng cậu ta cứ nài nỉ: “Xin Bà giúp cho, tôi chỉ cần làm một chút việc vài hôm thôi.”
Dường như cậu ta có tài thuyết phục nên cuối cùng Mẹ đã đổi ý và nói cậu có thể ở lại. Tên của cậu là Thani, nghĩa là thứ hai, con trai thứ hai trong gia đình. Người Ả Rập chỉ tính con trai khi nói về con cái trong gia đình; thí dụ, chúng tôi có ba con (con trai) và hai gái.
Thani và tôi là bạn khá thân. Đôi khi cậu ta có làm việc, những lúc khác thì cậu ta suy nghĩ rất khác lạ. Một hôm Mẹ tôi đi vào làng mua thịt. Bà dẫn tôi theo và để Thani ở nhà một mình. Khi về, gần tới nhà, chúng tôi nghe tiếng kêu la khủng khiếp. Thani ở trong nhà, khóc lóc thảm thiết.
Cậu ta kêu gào: “Khiếp quá - cái đầu tôi, cái đầu tôi.”
Đầu cậu quấn kín mít khiến chúng tôi phải mất một hồi lâu mới biết đầu đuôi câu chuyện. Thiếu niên Ả Rập có phong tục để tóc rậm và dài để bảo vệ đầu khỏi nắng chói chang. Nhưng Thani thì quyết định muốn giống tôi, nên đã lấy kéo của Mẹ tự cắt tóc lấy. Cậu ta cắt, gọt và xởn - chỗ này một mảng , chỗ kia một mảng. Trông cậu ta thật ngộ nghĩnh! Và cậu luôn miệng kêu gào: “Ôi, tôi xấu xí quá!”
Giữa tiếng thổn thức, cuối cùng chúng tôi cũng nghe được: “Bà ơi, con nghĩ là trong lúc bà đi vắng thì con cố gắng làm cho phòng bà xinh xắn. Con nghĩ mình có thể vẽ vài hình đẹp lên tường.”
Thì ra Thani đã lấy sơn màu xanh nhạt vẽ đủ thứ hình khắp nơi.
“Trông khiếp quá! Con đã phá hỏng nhà bà rồi. Và con đã làm hỏng cả cái đầu mình nữa. Con thấy mình xấu quá! Con là một đứa tồi tệ. Lòng con có điều gì đó bất ổn.”
Tôi biết Mẹ là Cơ Đốc nhân thật, nhưng dấu hiệu yêu thương hôm ấy thật nổi bật nơi Mẹ khi bà an ủi Thani: “Đừng khóc về chuyện đó nữa, Thani. Chúng tôi sẽ giúp em sửa lại. Đừng lo.”
Sau một hồi dỗ dành cậu ta hết khóc, tôi cùng Thani đi ra sân - chỉ toàn đá cùng bụi đất với vài con gà đang bới đất.
Thani rên rỉ: “Lòng tôi nặng nề quá, tôi xấu quá!”
Tôi choàng tay ôm cậu ta, nói: “Anh không xấu hơn tôi đâu. Nhiều lúc tôi cũng xấu như anh vậy đó. Chỉ có một Đấng duy nhất có thể giúp chúng ta. Đó là Chúa Giê-xu. Ngài có thể bước vào lòng anh và ban cho anh lòng mới như Ngài đã ban cho tôi vậy.”
Và ngay tại đó, trong sân nuôi gà nhỏ bé của mình, tôi được đặc ân dẫn Thani đến với Chúa Giê-xu. Vài hôm sau Thani nói với Mẹ tôi: “Bà không biết là con sung sướng biết bao từ lúc Chúa Giê-xu ngự vào lòng con. Nhưng con đang nghĩ tới ba mẹ con trong làng. Họ không biết Chúa Giê-xu và các anh chị em con cũng không biết Ngài. Tất cả bạn hữu con trong đó, họ chưa hề được nghe về Ngài. Con mừng cho chính mình, nhưng còn đồng bào con thì sao? Con phải nói cho họ biết về Chúa Giê-xu Christ. Con phải trở về làng.”
Đêm hôm đó Thani dọn hết đồ đạc gói trong một tấm khăn lớn. Sáng hôm sau - với gói đồ và bữa ăn trưa - cậu ta nhập với đoàn người đi lạc đa, theo con đường ngang qua nhà chúng tôi, mang lúa mì và ngũ cốc vào làng, cách ba mươi dặm trong vùng Hauran.
Ba tôi đã bắt đầu chức vụ nơi đó tại Jebeib, ngôi làng Thani đang sống, khi vào đó lần kế tiếp, người có dẫn tôi theo. Nhiều tuần trôi qua kể từ ngày Thani cùng đoàn người lê bước trên đường và từ khi chúng tôi dọn tới Jebeib trong chiếc xe Ford Model A cũ kỹ. Chúng tôi đậu xe nơi bìa làng rồi đi bộ vào tỉnh qua những con đường hẹp, đất lún. Sau lời chào hỏi thường lệ, hai hoặc ba người lãnh đạo trong làng bắt đầu nói với chúng tôi về Thani: “Cậu thiếu niên này từ nhà ông trở về khác hẳn. Bây giờ cậu ta thật tốt và sống ngay thẳng, lúc nào cũng nói về Chúa Giê-xu Christ.”
Thani là cổng chính cho Phúc Âm vào với dân làng Jebeib, và lời chứng của cậu là yếu tố thúc đẩy lập nền tảng cho hội thánh Cơ Đốc trong làng mình. Cậu kinh nghiệm được tình yêu của Đức Chúa Trời trong gia đình chúng tôi, rồi từ tập thể yêu thương đó, ra đi chia sẻ điều mình đã nhận được với những người mình yêu thương tại quê nhà. Đức Chúa Trời đã chiếm ngự lòng cùng đời sống của cậu bé, và mọi người đều có thể thấy rõ sự thay đổi. Nhấn mạnh cơ bản của tôi ngày nay vào việc truyền giáo có liên quan trực tiếp với Thani. Cậu ta là người đầu tiên khơi dậy mối quan tâm cá nhân của tôi trước nhu cầu của người khác. Cậu ta là người đầu tiên cho tôi thấy sự thay đổi do quyền năng Đức Chúa Trời trong một con người.
Một chuyến đi với ba tôi vào làng là tin vui nhất đối với tôi trong những ngày chúng tôi sống cách biệt sâu trong vùng nội địa Syria. Tinh thần tiên phong dường như đẩy tôi xa rời những tiện nghi hợp lý của gia đình, thúc đẩy tôi nhận biết rằng công tác truyền giáo là đáp ứng nhu cầu của những con người tại nơi họ đang sống.
Đám con trai trong làng lúc nào cũng tụ tập quanh xe, và nhiệm vụ của tôi là canh chừng xe trong khi Ba tôi bận nói chuyện với dân làng. Bọn trẻ không xấu, nhưng chúng đầy bản năng con trai. Và vì dốt nát với hiếu kỳ cho nên chúng có thể gây nhiều thiệt hại - như là lấy đá sắc bén viết lên lớp sơn sáng bóng của xe. Suốt một thời gian chúng tôi cảm thấy bực bội về những bài toán cùng bài tập viết cào sướt khắp cả xe, nhưng Ba tôi học biết rằng nước sơn của xe có thể hi sinh được, chừng nào mà chúng tôi vẫn có thể chạy xe để đem Phúc Âm đến cho dân làng.
Chiếc xe trở thành phương tiện học tập cũng như vận chuyển đầu tiên đối với tôi. Con trai Ả Rập thán phục người Mỹ và nôn nóng muốn biết thêm về chúng tôi cùng những máy móc có công suất lớn của chúng tôi. Chính nhờ những mẩu đối thoại thông tin qua chiếc xe mà tôi học được từ vựng địa phương và cuối cùng có thể nói giỏi tiếng Ả Rập đủ để nói về Chúa Giê-xu Christ cho đám trẻ. Vào lúc chúng tôi chuẩn bị rời làng thì thường có tới hai mươi trẻ con Ả Rập đánh đu theo xe! Bậc thềm lên xuống xe, hãm xung, mui xe, chắn bùn, tất cả đều chật nghẹt. Nếu không xua được chúng bước xuống, thì chúng tôi phải cho chúng dạo một vòng - mỗi lúc càng tăng tốc đô cho tới khi chúng phải xin dừng lại để leo xuống vì đã đi quá xa nhà chúng.
Những lần phiêu lưu như vậy đã tạo cho tôi ngay từ thời ấu thơ một định hướng cho những lần tiếp xúc với người khác về sau, và tôi lớn lên, cùng chia sẻ công việc với ba mẹ tôi, và càng nhận biết rõ ràng hơn ý nghĩa của chức vụ đem Phúc Âm cho những người đang cần ở những vùng tiên phong.
Cho một chuyến đi nhiều ngày thường chúng tôi phải trang bị cắm trại trong xe để có thể tự nấu ăn. Bảng liệt kê của chúng tôi gồm khoảng bảy mươi lăm món kể cả diêm quẹt, nồi hầm, dầu hôi, nước, cùng nhiều nhu yếu phẩm khác. Chuyến đi như thế này cho tôi có cơ hội thực tập những phong tục Ả Rập như là bắn ná làm bằng lông lạc đà hoặc uống từ bình bằng đất.
Mỗi nhà Ả Rập đều có một bình nước ngay tại cửa nhà để giải khát cho người qua lại. Do cách uống của họ đòi hỏi phải khéo léo để thành vòi cách xa miệng nên bình nước ít ra cũng giữ được vệ sinh tương đối cho mọi người khát. Tuy nhiên, bạn có thể tưởng tượng những lần thực tập ướt át, vui nhộn của chúng tôi trước khi thành thạo trong nghệ thuật uống từ xa như thế.
Con trai Ả Rập dạy tôi cách dùng loại ná mà Đa-vít dùng để giết Gô-li-át. Chúng tôi khám phá Đa-vít không phải là bé bỏng gì để chơi món đó đâu. Ná của người Palestine xưa chính là vũ khí thực sự, dùng đá gần bằng cỡ quả trứng gà để đánh nhau. Đá có thể được bắn đi thật chính xác cách xa hơn 100 thước. Ná được làm bằng lông lạc đà, bện chặt dài khoảng một thước.“Bọc” cũng được bện , lớn cỡ bàn tay người. Chúng tôi bỏ viên đá vào khoảng giữa dây tóc bện, rồi quay tròn trên đầu mình, và phóng đi với tiếng kêu vút khủng khiếp giống như tiếng quất roi. Dĩ nhiên, chạy lấy đà ba bốn bước trước khi bắn sẽ tạo thêm lực đẩy thật lớn. Tôi nghĩ dùng ná là cách chơi thể thao tốt, nhất là khi tôi đạt tới chỗ có thể bắn trúng cột điện thoại khá đều đặn ở cách xa 50-70 thước.
Đôi khi chúng tôi được mời ở lại đêm khi đi thiếu chuẩn bị. Người Ả Rập hiếu khách, và tiện nghi trong nhà thật đơn giản. Tôi thấy vui khi sống với dân bản xứ, ăn thực phẩm của họ, ngủ dưới sàn, dù rằng sàn thường có bọ chét. Thường thú vật cũng ở chung trong nhà với người.
Khi có người lạ tới, dân làng thường muốn nghe người đó nói. Chủ nhà chúng tôi thường mời láng giềng vào uống cà phê. Đây là thức uống đắng, đậm đặc, màu đen, được giã trong cối gỗ với cái chày dài. Ông lý trưởng với bộ râu dài đen đong đưa trong tách, sẽ uống hớp đầu tiên, sau đó chuyền cho chúng tôi. Chúng tôi biết trước thế nào mình cũng phải uống để tỏ ta chấp nhận lòng hiếu khách của ông ta.
Tất cả mọi người đều tò mò về người khách mới tới, và vây quanh nhóm lửa nhỏ vào cuối ngày như là cách tiêu khiểu tốt sau công việc đồng áng. Họ đặt câu hỏi và ba tôi trả lời. Tôi nhớ nhiều nhất khi ba tôi ngồi bên ánh lửa đội khăn trùm đầu của người Ả Rập, nói cho dân làng về Chúa Giê-xu Christ - và thực sự đụng đến lòng họ
Sau này khi gánh nặng về Tây Ban Nha càng gia tăng trong lòng tôi, tôi hồi tưởng một số sự kiện đó trong xứ Ả Rập đã từng khơi dậy mối quan tâm trong tôi đối với kẻ hư mất. Ngay cả thời đó tôi cũng cảm thấy bị hạn chế, chỉ làm chứng được cho từng một hoặc hai người. Chúng tôi chỉ đến được với vài người khi ngồi quanh nhóm lửa trong làng. Và câu hỏi bắt đầu thành hình trong trí tôi: “Thế còn những người khác chưa hề có cơ hội thì sao?”
Thỉnh thoảng có phản đối giữa vòng thính giả Ả Rập, nhưng thường xuyên hơn, họ tỏ ra thực sự cởi mở. Những người hiểu và dâng lòng mình cho Chúa đã thay đổi toàn bộ cách sống của họ. Nhìn thấy họ đổi từ chết qua sống nhờ quyền năng của Phúc Âm đã để lại ấn tượng không hề phai mờ trong tôi. Có quá nhiều thay đổi - nói dối, gian lận, ăn cắp, đa thê.
Ba tôi không bao giờ tranh cãi với họ về những hành động tội lỗi của họ. Ông cho họ thấy niềm vui cùng phước hạnh của việc quay về với Chúa. Tuy nhiên, lúc đầu ông thấy đề tài “dâng hiến” là vấn đề tế nhị. Khi Chúa thành lập những nhóm nhỏ tín hữu đó đây, người cảm thấy tới lúc phải nói cho họ biết về phần thưởng của việc dâng hiến. Ông cảm thấy áy náy biết rằng tổng số thu nhập hàng tháng của hầu hết Cơ Đốc nhân tính theo tiền và mặt hàng chỉ hơn mười đô la cho mỗi gia đình. Họ sống nhờ ăn bánh mì không, với một chút sữa chua và một ít dầu ô-liu để chấm bánh mì. Còn thịt ư? Chỉ cần một miếng thịt cừu đã là cả một bữa tiệc Giáng sinh rồi! Ba tôi thường hỏi chúng tôi: “Đó, những con người như vậy làm sao mình bảo họ dâng hiến cho Chúa được?”
Khao khát của ông là muốn họ dâng hiến do lòng yêu mến Chúa Giê-xu Christ - dâng rời rộng để biểu lộ tấm lòng tận hiến của mình.
Có một lần trong khi ông đang còn học tiếng, một thanh niên Ả Rập rất yêu mến Chúa thông dịch cho ông. Trong bài giảng, Ba tôi đề cập việc dâng hiến thì một người Ả Rập quay sang nói với ông bằng tiếng Anh: “Nhưng thưa ông Bạn Freed ạ, ông không được bảo mấy người này làm chuyện đó.”
Ba tôi giục anh tiếp tục: “Anh cứ nói tiếp.”
“Nhưng mấy người này cực nhọc lắm mới sống được đạm bạc như vậy. Làm sao ông, một người Mỹ - với nhiều tiền của, có thể lại bảo những người này dâng tiền được?”
Đương nhiên là anh này không dịch tiếp thêm nữa. Cho nên Ba tôi chỉ nói: “Chúng ta sẽ thảo luận sau.”
Suốt nhiều tuần và tháng nói chuyện và cầu nguyện với thanh niên Cơ Đốc người Ả Rập này tiếp theo sau sự việc trên, anh này mới tin rằng cách bày tỏ tình yêu thương cụ thể như thế này chính là tín lý cơ bản của Tân Ước. Cuối cùng anh công nhận sự kiện bảo rằng dâng hiến cách vui vẻ, dâng hiến trong tinh thần hi sinh, là một chức vụ, một đặc ân của người tín hữu. Anh cũng tin rằng việc dâng bao nhiêu trong số mình có thể dành dụm được, không quan trọng, mà chỉ là Đức Chúa Trời muốn thử chúng ta cùng tình yêu chúng ta dành cho Ngài qua sự đo lường vật chất - bất chấp tình trạng tài chánh của chúng ta.
Hình ở trang 33: Tiến sĩ Ralph Freed, tổng giám đốc Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới , 1952-1973
Trong gia đình, chúng tôi tin chắc là Chúa bù đắp lại mọi khoản phần mười cùng dâng hiến của chúng tôi - ngay cả khi khó dâng nhất - không chỉ trên phương diện vật chất mà theo nhiều cách khác nhau. Ba tôi quan tâm tới người Ả Rập vì ông thành thật tin là mình bất công với đám nông dân nghèo, vì họ là những tín hữu tốt, nếu ông không dạy họ nguyên tắc dâng hiến. Và ông đúng. Chúng tôi không ngừng thấy chứng cớ của sự kiện là khi Chúa Giê-xu Christ bước vào lòng người nào, thì một trong những dấu hiệu đó là mở rộng ví tiền của mình.
Khi họ lớn lên trong tình yêu cùng ân sủng của Cứu Chúa, chúng tôi vui mừng dự những bữa tiệc yêu thương thật với những nông gia Cơ Đốc suốt mùa gặt. Trên sân đạp lúa, họ chất hai đống - chín lường cho riêng mình và một lường nén thật chặt và tràn trề cho Chúa. Đây là lời chứng chân thật về điều Chúa đang làm cho họ khi họ mang “đống của Chúa” qua nhà nhóm nhỏ bé và đổ ra trên sàn. Kết quả của việc dâng hiến vui vẻ này là họ đã có thể gửi những người truyền giảng Phúc Âm sang các tỉnh lân cận để giảng Phúc Âm. Những tín hữu này nổi tiếng khắp thế giới Ả Rập là những gương nổi bật về sự dâng hiến hi sinh của những con người nghèo nhất. Họ là nguồn cảm hứng cho các giáo sĩ ở những nơi khác đến thăm, hoặc nghe đồn, về cơn phục hưng sâu sắc giữa vòng nông dân Ả Rập của chúng tôi.
Hiệu quả trong chức vụ của Ba Mẹ tôi hầu như chắc chắn là do đời sống cầu nguyện của Mẹ tôi. Lúc nào bà cũng đi trước chúng tôi một bước trong sự tận hiến và trung tín. Bà đã dành bao nhiêu thì giờ cầu nguyện cho Ba tôi cùng các con, thì chúng tôi không bao giờ biết được. Câu Kinh Thánh được bà ưa thích: “Các bước của người thiện do Đức Giê-hô-va định liệu,” được lồng vào đời sống cầu nguyện của bà. Nhưng câu đó đã được nhân cách hóa qua lời ghi chú tiếp theo của bà: “Lạy Chúa, xin biến Ralph thành người thiện đó, hoặc Paul, hoặc Ruth.” Lúc nào bà cũng tin là Cha Thiên thượng đang chăm sóc chúng tôi. Cách bà trò chuyện với Ngài thật đơn giản và chân thành. Bà không quan tâm bất kỳ ai nghĩ gì, bà chỉ nói - giống như chúng ta nói chuyện với bà - một cuộc đối thoại thoải mái. Bà luôn luôn chủ trương xem mọi chuyện là bình thường.
Bà thường nói: “Chúng ta có một Đức Chúa Trời lắng nghe và đáp lời cầu xin; và chúng ta đến với Ngài qua Chúa Giê-xu Christ. Chỉ đơn giản thế thôi. Nếu Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện, và thật Ngài có nghe, và Đức Chúa Trời là Đấng Toàn năng, thì chúng ta cứ việc đến với Ngài và xin Ngài thôi.”
Một trong những ký ức vui nhất về thời thơ ấu của tôi có liên quan tới niềm tin của Ba Mẹ tôi vào sự kiêng ăn cầu nguyện. Mỗi chiều và tối thứ sáu là Ba Mẹ tôi dành riêng cho mục đích này. Nhưng tôi nghĩ điều tạo ấn tượng trên tôi nhiều nhất khi còn bé chính là Ruth và tôi không bao giờ cảm thấy mình phải kiêng ăn với Ba Mẹ. Thật sự, vào những tối kiêng ăn cầu nguyện Mẹ tôi thường ra sức chuẩn bị cho chúng tôi bữa ăn ngon nhất. Bà thường để cho chúng tôi tự quyết định muốn ăn gì tùy ý vào tối Thứ Sáu. Ắt hẳn phải là một cám dỗ lớn đối với bà khi chuẩn bị bánh mì nóng hoặc cơm gạo quế, và khi nhà bếp tràn ngập mùi thơm ngon vào những buổi tối bà chẳng ăn gì cả. Chứng cớ này của tình yêu, cộng thêm việc họ để chúng tôi tự chọn thay vì ép chúng tôi làm giống như họ, đã thúc đẩy chúng tôi lớn lên trong ân sủng, khao khát học tập bước theo Đấng mà Ba Mẹ chúng tôi theo sát cánh. Tới ngày hôm nay, trong sự kiêng ăn cầu nguyện của mình, tôi vẫn liên tưởng tới một thời hạnh phúc khó quên đã qua.
Cơm gạo quế vào những đêm kiêng ăn cầu nguyện, những câu chuyện quanh bếp lửa Ả Rập, những ná lông lạc đà, cùng những bình đất sét dùng uống nước, tất cả đều chồng chất trong tâm trí non trẻ của tôi khiến tôi tự mình nhờ cậy Cứu Chúa, và thúc giục lòng cùng trí tôi chia sẻ Ngài cho người khác. Khát vọng truyền giáo của tôi phải trải qua sự thanh lọc và trưởng thành, nhưng không bao giờ bị chệch khỏi dòng chính đã định sẵn từ thới ấu thơ của tôi. Gia tài lớn nhất của tôi chính là cuộc đời của Ba Mẹ tôi vốn chứng minh Chúa Giê-xu Christ cho tôi qua những chứng cớ yêu thương thường ngày của họ. Toàn bộ cuộc sống chung những ngày đầu tiên đã đặt nền móng cho lòng trung thành của riêng tôi đối với Đấng Christ.
Câu chuyện chúng tôi sẽ kể qua cuốn sách về phép lạ của Đức Chúa Trời trong việc thành lập chức vụ phát thanh của chúng tôi chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của những ảnh hưởng đã từng khuôn đúc nên cuộc sống trẻ thơ của tôi.

CON NGƯỜI ĐƯỢC THÀNH HÌNH
Tuy nhiên, những mối dây ràng buộc tôi với Ba Mẹ chặt chẽ như thế cũng tạo ra mạng lưới nhớ nhà kinh niên vốn vây kín tôi suốt những ngày đi học xa nhà. Một trong những trở ngại lớn nhất cho một gia đình sống xa quê hương chính là sự xa cách, vốn thường trở thành một hậu quả phụ không thuận lợi cho việc giáo dục tốt con cái.
Chuyển từ trạm truyền giáo này sang trạm khác, từ môi trường phục vụ ở hải ngoại rồi về nghỉ phép tại quê nhà, đã ném chúng tôi vào những bối cảnh giáo dục khác nhau. Chúng tôi học trường của Anh và Đức tại Giê-ru-sa-lem, rồi một trường của cộng đồng Mỹ tại Beirut. Có một số lớp thì Mẹ tôi là giáo viên, và có những lớp thì bà mời thầy dạy kèm đảm trách việc học của chúng tôi.
Khi tôi tới Wheaton, Illinois, để ghi danh vào Học Viện các ngành học trung học thì họ chấp nhận cho tôi học năm hai mặc dù tôi chưa hề học năm một tại bất cứ nơi nào. Nhưng để hiểu lý lẽ của họ đằng sau quyết định đó tại Wheaton, thì con đường lại dẫn tôi trở về Bết-lê-hem.
Càng xa hơn nữa là trở về Giê-ru-sa-lem, nơi tôi đã từng theo học trước đây - ở tuổi mười một quan trọng - để sống trong nhà truyền giáo với hai nữ giáo sĩ độc thân. Còn có gì tệ hơn - đúng lúc tôi ý thức được niềm kiêu hãnh phái mạnh của mình - là bị cấm cung một mình chung với hai người phụ nữ xa lạ?
Số phụ cấp ba mẹ tôi gửi đều đặn từ Dera’a đã tiêu biến nhanh chóng khi mỗi ngày tôi đều đi tới trạm bưu điện và phòng điện thoại. Những lá thư - viết cho ba mẹ tôi - cho thấy hi vọng bất diệt của tôi là mong có thể được về nhà sống chung lại với ba mẹ. Những bức điện tín là những yêu cầu với ẩn ý xin Ba tôi cứu vớt tôi khỏi tình thế mà tôi cảm thấy không thể chịu đựng được nữa.
Chắc chắn là mấy bà trong nhà truyền giáo cũng không sung sướng hơn tôi về sự sắp xếp mà Ông Freed đã nhờ họ chăm sóc con trai ông ta. Tôi không cho là họ đã có kinh nghiệm làm bảo mẫu cho những đứa con trai nhớ nhà, nhưng họ rất cương quyết về những việc buộc tôi phải làm. Tôi không biết là họ có cảm thấy thành công khi thường xuyên khó khăn với tôi hay không; nhưng tôi biết chắc họ đã thành công trong việc khiến tôi khốn khổ liên tục.
Người lớn tuổi hơn trong hai nữ giáo sĩ, là người chính thức lo cho phúc lợi của tôi, một hôm cho rằng tôi không tắm đủ. Cô ta cũng quyết định nguy hiểm rằng - vì tôi không đủ tin cậy để tự giữ sạch sẽ cho mình - nên cô ta phải tắm cho tôi.
Tôi hét to: “Cô không được tắm cho tôi đâu!”
Cô D-- nhấn mạnh: “Có chứ, tôi sẽ tắm cho em.”
Lúc đó Cô L-- trẻ hơn, nhưng cũng cương quyết không kém - bước vào phòng để củng cố lực lượng đối phương gia tăng.
Cô cảnh cáo: “Paul Freed ạ, tôi muốn em biết là tôi sẽ đứng sau lưng Cô D-- và tôi cũng sẽ canh để em phải tắm cho xong!”
Khi cô ta cầm chổi đến gần tôi, tôi bỏ chạy. Qua mặt cô ta nhanh như chớp, tôi nhảy một bước hết mấy bậc thềm, tung cửa trước và tiếp tục chạy ra đường có tường cao. Khi tôi nhìn lại sau, qua bờ vai mình, Cô L-- đang bước nhẹ sau tôi, vung chổi trên đầu. Những người Ả Rập ở phố “Street of the Prophets “ né sang một bên khi cuộc rượt đuổi tiếp diễn, nhìn chúng tôi cách ngạc nhiên và thích thú trong khi tôi chạy vòng về nhà truyền giáo và trèo vào tường.
Cô ta ngay sau lưng tôi, quât chổi thật mạnh. Tôi nhảy từ tường sang một bên, chạy ngang qua sân, trèo lên tường phía bên kia. Và Cô L-- lúc nào cũng sát nút tôi.
Cuối cùng, cô ta hổn hển la to: “Được rồi, chúng ta bàn lại đi.”
Tôi không nhớ câu chuyện ra sao. Nhưng tôi biết là mình tự tắm lấy.
Ba Mẹ tôi cố gắng hiểu nỗi khó khăn của tôi trong thời gian đó , và cuối cùng để tôi trở về Dera’a với họ một thời gian. Nhưng việc học không ngừng theo đuổi tôi và chẳng bao lâu tôi lại thấy mình sống tại Bết-lê-hem trong nhà truyền giáo chung với Bà Bernice Gibon cùng hai đứa con. Hoàn cảnh ở đây khá hơn, vì ngoài đứa con gái và con trai của bà, còn có con cái của giáo sĩ sống ở đó, và bà là mẹ nuôi của tất cả. Dầu vậy tôi cũng vẫn nhớ nhà.
Khi tôi được mười ba tuổi, họ dời nhà truyền giáo ra ngoại ô Giê-ru-sa-lem. Vì lý do nào đó, cuối cùng tôi lại là đứa con trai duy nhất trong nhóm mà theo trí óc non nớt của tôi, thì tình trạng đó không thể nào chịu được. Quyết định của tôi có ít hi vọng, nhưng táo bạo.
Một đêm nọ, tôi viết thư cho vị giáo sĩ đảm trách. Sau đó, trước khi rạng đông, tôi rón rén ra khỏi nhà rồi gia nhập đoàn người về Giê-ru-sa-lem. Sau khi đánh điện tín cho ba tôi để yêu cầu ông đón tôi tại Ti-bê-ri-át, Ga-li-lê, tôi gặp xe chuyên chở công cộng đi về hướng bắc. Suốt đường đi tôi thắc mắc không biết ông phản ứng ra sao , nhưng lòng tôi rộn ràng vui mừng khi nhìn thấy gương mặt yêu dấu của ông giữa đám đông khi chúng tôi tiến vào trung tâm Ti-bê-ri-át. Ông cố gắng thuyết phục tôi rằng tôi đã cư xử sai lầm, nhưng tôi vẫn còn có thể nhớ là mình cảm thấy đã làm đúng khi tôi tìm cách giải thích: “Ba ơi, con có để lại cho họ lá thư rồi mà. Bây giờ thì họ biết là con đang trên đường về nhà. Con không có gì chống đối họ. Con chỉ nhớ nhà kinh khủng, thật kinh khủng. Ba cho con về nhà, được không Ba?”
Ông lo cho việc học của tôi nhưng cuối cùng ông nói sẽ cho tôi ở nhà nếu tôi hứa sẽ học chăm.
Tôi chưa bao giờ học chăm trong đời mình, trong bất cứ hoàn cảnh học tập chính thức nào, như tôi đã học trong năm kế tiếp tại nhà. Tôi tự học nguyên cả năm thứ nhất trung học một mình, viết những sách thật dài. Tôi viết một sách về những xứ chúng tôi đã du lịch ở Âu châu - lịch sử, địa lý, chính quyền, xã hội học, phong tục - mọi thứ tôi có thể gặp gỡ, đều đi vào câu chuyện tôi kể. Sau đó tôi lục hàng đống hồ sơ và tạp chí du lịch để tìm hình ảnh minh họa cho sách của tôi.
Khi chúng tôi về Wheaton, Illinois, và đến Học Viện Wheaton thì tôi có mang theo sách đã viết. Nhân viên phòng ghi danh mới nghiên cứu nghiêm túc các sách đó và thấy xứng đáng để được miễn một số tín chỉ nên đã cho tôi vào học năm hai.
Sau năm về nghỉ phép đó, ba mẹ tôi cùng với Ruth và tôi trở lại Trung Đông. Lần này tôi được gửi đi Beirut, Lebanon, nơi tôi tốt nghiệp Trường Cộng đồng Hoa Kỳ, được sáng lập bởi ban giảng huấn của Đại học Hoa Kỳ tại Beirut. Chỉ có 100 học sinh trong toàn trường, và ba người chúng tôi làm thành lớp tốt nghiệp.
Một học viên của lớp khác, Philip Freidinger, và tôi trở thành bạn gắn bó thân thiết. Anh là con trai của giáo sĩ Hội Trưởng lão tại Lebanon. Sau khi gắn bó đời mình với nhau thật thân thiết trong những năm trung học cấp II và cấp III- bơi thuyền, chạy xe đạp, cắm trại, trò chuyện, cầu nguyện chung với nhau - chúng tôi quyết định cùng nhau vào học Wheaton College. Từ lâu đây vẫn là kế hoạch của tôi, nhưng đối với Phil thì đó là sự thay đổi khá quan trọng vì anh đã được nhận vào đại học Oberlin College tại Ohio.
Mùa hè 1936 Phil và tôi rời cha mẹ tại Beirut để đi Wheaton. Một tháng trong vùng Alps Thụy Sĩ cùng một chuyến chạy xe đạp xuyên qua nước Anh giúp chúng tôi có được lợi thế ban đầu cho việc học đang chờ đợi chúng tôi tại Wheaton College.
Chúng tôi dọn về một căn nhà tư nhân gần khuôn viên đại học và ngay tức khắc, chủ nhà đã nghe tiếng tăm lười biếng của tôi. Tôi không làm những loại công việc thường lệ của đại học mà hầu hết sinh viên đều làm, nhưng dường như không thích hợp với tôi. Trong khi Philip làm việc trong phòng ăn, thì tôi bán thiệp hoa cùng những đồ thủ công Palestine cho cư dân Wheaton cùng những vùng ngoại ô gần đó. Tôi rất thích Philip, nhưng lại gặp một hoàn cảnh chán nản nhất. Tôi không bao giờ có thể làm bất cứ điều gì đúng. Cứ mỗi khi làm một điều gì, là tôi cũng bị hạ một câu: “Sao cậu không làm giống như kiểu Philip đã làm?”
Ngôi nhà kế, nơi tôi sống sau này, lại tỏ ra thái độ khác xa. Bà Stevens, một góa phụ, biết cách lắng nghe đám con trai chúng tôi va trò chuyện với chúng tôi cách xây dựng, qua hành động cũng như lời nói. Bà cùng với con trai, Earle, là những con người được tình yêu của Đức Chúa Trời đụng đến và đã sáng tạo tận hiến để mở rộng tình yêu của Ngài cho người khác qua thái độ cùng nếp sống hàng ngày của họ. Mỗi người chúng ta đều quan trọng và được Ngài quí trọng. Điều này giúp chúng ta tự do mở rộng, phục vụ và học hỏi.
Đó chính là tất cả sự khác biệt trên đời này giữa hai thái độ. Và tôi cảm nhận được rằng nếu tôi chỉ lo đáp ứng những nhu cầu thường tình của con người cho chính bản thân mình, thì tôi sẽ chẳng hoàn tất được gì cả, trừ khi tôi sẵn sàng quan tâm đến người khác trong tinh thần hi sinh.
Bốn năm ở Wheaton thật trọn vẹn. Mối quan tâm đến người khác trong tôi đã đưa đẩy tôi thành nhà nghiên cứu nhân chủng học, nhưng không có điều gì trong thời gian đại học làm cản trở sự nghiệp làm giáo sĩ phát thanh, là công việc trong tương lai của tôi.
Bức tranh tài chánh là một kinh ngạc liên tục. Ba mẹ tôi liên lạc trợ cấp cho tôi mười đô la mỗi tháng, dĩ nhiên chẳng giải quyết được gì nhiều. Không bao giờ tôi có thể biết chắc được những chi phí đại học của mình sẽ được thanh toán như thế nào. Việc chúng tôi theo Chúa qua nhiều năm tháng đã đưa chúng tôi vào một đời sống tin cậy đơn giản - giống như hoa huệ đồng nội, thay vì cảm thấy an toàn với tài khoản ngân hàng.
Một hè nọ tôi ở Gary, Indiana, làm việc trong một nhà máy nghiền thép - làm ca đêm, vì lương cao hơn. Tiền kiếm được tôi đã thận trọng dự tính để dành cho học phí mùa thu năm sau. Tuy nhiên, sự nhiễm trùng nghiêm trọng chẳng những buộc tôi phải nghỉ việc nhiều tuần mà còn tốn kém nằm viện khiến bao nhiêu tiền kiếm được sạch láng. Cuối hè, tôi đi xe nhờ về lại Wheaton chẳng còn một xu cho năm học sắp tới.
Mọi việc đều êm xuôi cho tới lúc tôi đứng bên bàn tài chánh trong dòng người ghi danh. Tôi yêu cầu những điều khoản dễ dãi nhất có thể được, và họ nói tôi không thể nào ghi danh nếu không đóng một trăm Mỹ kim. Ba mẹ tôi hiện cách xa tôi một phần ba địa cầu. Tôi đã làm việc chăm chỉ tối đa suốt mùa hè qua. Tôi cảm thấy chắc chắn là mình phải tiếp tục học xong đại học. Tôi cần một trăm Mỹ kim mà lại chẳng có tới một xu. Tôi không biết quay sang đâu cả.
Có người hớn hở bảo tôi nghỉ học và đi làm trong một khóa. Tôi bước ra khỏi dòng người ghi danh vào giữa trưa, thế mà lại giống như đang bước đi trong màn đen nửa khuya. Tôi chưa bao giờ chán nản tới mức như vậy trong đời mình.
Tôi kêu lên: “Lạy Chúa! Chắc chắn Ngài biết rõ nhất. Ngài muốn con làm gì bây giờ?”
Trong khi tôi đi qua các sảnh đường và xuyên ngang khu đại học, mọi người chào: “Chào Paul.” Nhưng tôi đang chết đuối trong biển thất vọng bận rộn của mình, nên chẳng nhận ra ai cả. Chẳng còn gì có ý nghĩa nữa.
Sau một giờ đồng hồ lang thang vô định, tôi quyết định điều duy nhất mình có thể làm là quay về làm việc lại tại nhà máy cán thép. Tôi nghĩ mình phải tìm miếng ăn trước khi bắt đầu lại, nhưng tôi cảm thấy khốn khổ đến nỗi không biết mình có nuốt nổi hay không.
Bỗng nhiên giữa những gương mặt cùng âm thanh mờ nhạt vì ướt sũng , tôi nghe gọi tên mình: “Ê, Paul, cậu không nghe loa gọi tên cậu à? Có người muốn liên lạc với cậu đó.”
Khi tôi tới phòng ghi danh, Tiến sĩ Enoch Dyrness nói với tôi: “Paul à, tôi biết là anh muốn ghi danh học. Tôi có một món chắc là anh đang chờ đợi. Một món quà nặc danh được gửi vào tài khoản của anh. Đó là ngân phiếu một trăm đô la.”
Miệng tôi há hốc và tôi cảm thấy nước mắt xốn xang dưới mi. Tôi thấy lại hình ảnh căn hộ tại Nyack với thực phẩm chất đống trên sàn, trên ghế, trên bàn. Tiến sĩ Dyrness có lẽ không thấy được mọi điều đang diễn ra trong trí tôi khi ông mỉm cười và nói: “Đó há không phải là cách hành động của Đức Chúa Trời sao?”
Nhiều năm sau tôi mới biết ai đã gửi quà đó. Một giáo sĩ tại Trung hoa có nghe nói về tôi, qua một số sinh viên tại Wheaton. Một hôm tên tôi cứ xuất hiện mãi trong trí ông. Dường như Đức Chúa Trời phán với ông: “Con phải giúp cho Paul Freed.” Không thể gạt bỏ ý nghĩ đó, ông đã vâng phục và từ món tiền rất ít mình đang có, ông đã trích ra một trăm đô la để gửi cho tôi. Đức Chúa Trời đưa món tiền đó vượt 10.000 dặm đúng lúc để chận đứng sự tuyệt vọng của tôi. Nếu tiền tới trễ một hôm, chắc hẳn tôi đã lên đường trở về nhà máy cán thép rồi.
Ngoài việc làm mùa hè khác - một năm tại Công ty Pontiac Motor tại Michigan, và một năm khác làm quản lý kinh doanh cho chuyến Du lịch Xứ Thánh - tôi bắt đầu làm dây nịt như một ngành kinh doanh nhỏ mới mẻ cho riêng mình. Càng ngày tôi càng thấy khó làm việc cho người khác mà có thể giữ được thu nhập quân bình với chi tiêu. Còn một điều nữa cần phải làm. Và tôi bắt đầu thiết kế dây nịt từ những vật liệu khác lạ.
Tại Chicago tôi tìm ra những công ty cắt ra những mảnh đồng phục nhỏ từ vỏ quả hạch, gỗ, dây gai, nhựa, kim loại, da. Được cung ứng dây da và dây thừng màu chắc chắn, tôi một mình bắt đầu làm nịt ngay tại bàn nhà bếp. Sau khi nhận quá nhiều đơn đặt hàng, tôi chẳng biết phải làm sao, tôi tìm người giúp mình. Những sinh viên muốn sau này có được việc làm từng phần đã cộng tác với tôi với tiền công hiện hành trong đại học cho tới khi chúng tôi chiếm trọn tầng hai của một ngôi nhà tại Wheaton. Trước hết chúng tôi tiếp thị sản phẩm mới của mình qua nhiều cửa hàng khác nhau. Nhưng ngay sau đó chúng tôi nhận ra mình không thể bán ra thị trường với cách đó được.
Tôi tới New York City và tiếp cận với Công ty J. C. Penny. Khách hàng đặc biệt nói chuyện với tôi là một trong những người lịch sự nhất tôi từng gặp. Ông ta say mê câu chuyện của tôi đến nỗi giao cho công ty tìm cách bán vài mẫu nịt của tôi. Họ bán chạy đến nỗi cuối cùng chúng tôi có nhiều đơn đặt hàng quá sức giải quyết của mình. Từ đó chúng tôi bán hàng vạn dây nịt rộng rãi khắp 1600 cửa hàng của J. C. Penny.
Công việc tiếp tục tại Wheaton suốt hơn hai năm, và lợi tức từ dây nịt mới của Công ty DuPage Craft không chỉ giúp tôi học xong đại học cùng Học viện Đào tạo Giáo sĩ, mà còn giúp nhiều sinh viên khác đáp ứng nhu cầu của họ nữa.
Mùa thu năm 1942, tôi ghi danh vào Nyack - cùng ngôi trường ba tôi theo học hai mươi năm về trước. Việc học của tôi về sau tại Nyack tương đối dễ dàng hơn và tôi hoàn tất khóa học ba năm tại Missionary College trong hai năm.
Lúc nào tôi cũng quan tâm vấn đề truyền giáo, nhưng chắc chắn trong trí tôi thì những hoạt động về sau chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiệt tình truyền giáo tại Nyack. Nhìn xuống dòng Hudson River, trường - vốn là Trường Kinh Thánh lâu đời nhất tại Bắc Mỹ - được các cựu sinh viên trìu mến gọi là “núi cầu nguyện và phước hạnh.”
Suốt thời gian trong đại học, tôi học về truyền giáo trực tiếp từ các giáo sĩ, ngay tại công trường phục vụ của họ, và học nhiều về Lời Đức Chúa Trời qua việc nghiên cứu Kinh Thánh có hệ thống. Tuy lúc đó tôi không hoàn toàn hiểu hết giá trị của chương trình nhưng bây giờ tôi biết là Chúa đang phán với tôi về “những miền xa xăm” qua môi miệng cùng đời sống của những giáo sư tin kính như Tiến sĩ Harold Boon, Mục sư Gilbert Johnson, và Tiến sĩ Thomas Moseley; và qua những chính khách truyền giáo như Samuel Zwemer, chuyên gia có uy tín về thế giới Hồi giáo, và Clarence Jones, người tiên phong về chương trình phát thanh truyền giáo từ HCJB tại Quito, Ecuador.
Song song với việc học, tôi cũng mở một số hội thánh, quản lý kinh doanh dây nịt vẫn còn trụ sở chính tại Wheaton, Illinois, và học thêm vài môn tại Columbia University.
Lễ Giáng sinh trước kỳ tốt nghiệp có tổ chức một loạt giới thiệu gây ảnh hưởng trên quãng đời còn lại của tôi. Một số trong chúng tôi muốn làm một việc khác lạ nhưng không biết đi đâu. Trong buổi trò chuyện thân mật, chúng tôi quyết định sẽ mua rồi sửa chữa và bán nửa chục xe Ford Model A, và lái về phía nam. Chúng tôi gom hết mọi phiếu mua xăng, pha chế ra một công thức nhiên liệu đặc biệt, dùng nước rửa - và tôi quên mọi thứ khác - rồi lái xe tới Durham, North Carolina. Tất cả xe đều bán hết trong khu bán đấu giá và chúng tôi được một kỳ nghỉ hè vui vẻ.
Vì lý do nào đó, tôi có đủ tiền trước mấy người khác, cho nên tôi trở lại Nyack; nhưng Eugene Evans, bạn cùng phòng, vẫn còn ở lại vài hôm. Khi về lại, anh nói ngay: “Thật uổng quá, Paul ạ. Chúng tôi đi dự một tiệc Giáng sinh ở nhà thờ, và gặp nhiều người rất vui, lẽ ra anh phải có ở đó. Tôi gặp bạn gái của Clarence. Cô ta cũng được lắm đấy! Đáng lý ra là anh phải ở lại. Cô ta được lắm, cô ta đúng là mẫu người mà anh vẫn thường đề cập!”
Hình ở trang 44: Tiến sĩ Paul và Betty Jane Freed
Tôi không quan tâm. “Tôi không hiểu tại sao anh lại đi nói với tôi về bạn gái của người khác!”
Tôi cũng đã tình cờ hẹn hò với một vài cô, nhưng chưa có gì là nghiêm túc. Nhưng Gene Evans không chịu bỏ qua đề tài về cô gái mà anh gặp ở Durham. Tôi phản đối: “Gene ơi, tôi mong anh đừng nói nữa. Sao anh lại cứ quấy rầy tôi về một cô gái đã từng cặp với bạn mình chứ?”
Anh lặp lại: “Ừ thì tại tôi thấy cô ấy rất là được.”
Tôi nổi nóng: “Anh làm ơn im đi cho, được không?”
Nhưng Gene không nản. Anh hít hơi thật dài rồi tiếp: “Tôi muốn nói hết với anh, Freedly ạ, tôi đã từng chịu đựng anh suốt hai năm ở trường đây, và tôi biết ý thích của anh, tôi biết loại các cô mà anh thích, và tôi muốn anh nghe tôi bây giờ nếu chẳng bao giờ muốn nghe nữa. Đúng là cô ta rồi! Tôi tuyệt đối biết chắc đó là người thiếu nữ dành riêng cho anh. Nếu gặp cô ta, tôi bảo đảm là anh sẽ đồng ý ngay!”
Tôi dịu bớt chút đỉnh và đáp trả: “Thôi được rồi, Gene ạ, cứ cho cô ta là như vậy. Nhưng mà tôi nghĩ là anh thật điên khùng khi nói với tôi một chuyện quan trọng như thế dựa vào chứng cớ hời hợt như vậy. Tôi không nghĩ là anh hợp lý chút nào. Nhưng cho dù cô ấy đúng như vậy, thì cô ấy cũng đang cặp bồ với Clarence, mà anh ấy cũng là bạn của tôi. Và tôi không hề có ý muốn hạ anh ta vì một cô gái mà tôi chưa hề để mắt tới!”
Anh vẫn cứng rắn: “Tôi không cần biết cô ấy đang cặp bồ với ai bây giờ. Dù sao thì họ cũng chỉ hẹn hò thôi. Và tôi đã gặp cô ấy, tôi biết đúng là cô ấy rồi!”
Sau vài hôm anh ấy êm bớt và quên bẵng câu chuyện. Nhiều tháng trôi qua và tới ngày tốt nghiệp. Đúng vào buổi sáng cuối cùng ở trường, tôi đang ở bưu điện kiểm tra thư từ. Môt chị quen với tôi đứng đọc thư bên cửa ra vào. Khi chào từ biệt, chị bảo vừa mới nhận được thư của bạn gái em trai chị từ Durham, N. C. Một điều gì đó chợt lóe trong trí tôi. Chị này là chị của Clarence; em trai chị chính là anh chàng lâu nay vẫn hẹn hò với cô nàng mà người cùng phòng với tôi đề cập hôm Giáng sinh. Tôi nghiêng đủ gần để liếc nhìn phong bì nơi tay chị. Đúng rồi! Đúng với tên mà người cùng phòng tôi khăng khăng nhắc tới mùa đông vừa qua, Betty Jane Seawell.
Chẳng suy nghĩ, tôi nghe mình hỏi: “Chị xé cho tôi xin nắp phong bì đó được không, chị Eva?”
Tự nhiên chị ấy xé nắp phong bì đưa cho tôi. Tôi nhét vào ví rồi quên luôn.

THƯ CHO MỘT THIẾU NỮ
Mùa hè tôi dọn tới Greenville, S. C. để lập một hội thánh. Vừa mới xong được một năm ở đó, một hôm tôi xếp lại ví da. Tôi khám phá một nắp phong bì tam giác đã bạc màu, và tính ném vào giỏ rác thì nhớ lại mẩu đối thoại cách đây mười tám tháng. Được thúc giục, tôi quyết định làm một việc mà tôi chưa hề làm trước đây - viết thư cho tên được ghi trên tấm giấy bạc màu này.
Tôi không nhớ là mình vừa mới viết thư cho một thiếu nữ. Lúc nào tôi cũng nghĩ là mình phải vui vẻ với những người mình đang sống chung, thay vì tách mình ra , chui vào một góc để liên lạc với những người mình không thể gặp được. Triết lý hiện tại của tôi dường như là: vui với những người đang hiện diện với mình, và khi không còn ở chung với họ nữa thì hãy vui với những người mình mới gặp. Bạn có thể thấy đó, tôi không bao giờ thích viết thư cho lắm.
Thật ra, hẳn tôi đã không giữ mảnh giấy này nếu Gene Evans không làm ầm ĩ như thế về cô này! Bây giờ tôi không biết nói gì với cô ấy trong thư. Thấy mình thật quá khùng! Tôi chưa hề gặp cô ta, thậm chí cũng chưa thấy nữa. Thế mà bây giờ lại cố gắng viết một lá thư nghe cho hợp lý để gửi cho một thiếu nữ mà người bạn cùng phòng với tôi đã gặp vào một tối cách đây một năm rưỡi. Tôi không biết hoàn cảnh hiện tại của cô ấy ra sao. Có vẻ đây là một việc làm điên rồ. Nhưng dù sao thì tôi cũng viết xong.
Trong ba tuần nữa, tôi phải tham dự một hội đồng mục sư cách tỉnh nhà cô ấy không xa lắm. Cho nên trong thư tôi hỏi xem mình có thể ghé qua gặp cô ta được hay không vì cô là bạn tình cờ của người cùng phòng với tôi ở Nyack.
Tôi không nhận được trả lời, và phân vân không biết có nên đi tàu hỏa thẳng tới hội đồng, hoặc lái xe để có thể ghé ngang nhà cô ấy ở Carthage hay không. Buổi sáng cuối cùng tôi đã soạn đồ đạc xong xuôi. Tôi bỏ xe trong khu đậu xe rồi đi bộ tới nhà bưu điện kiểm tra thư từ. Chẳng có thư nào cả. Tôi xách va li theo và đi về hướng nhà ga. Bỗng nhiên tôi bị một người đàn ông chận lại, nói: “Ông Freed ơi, tôi phải nói chuyện với ông. Tôi gặp nan đề kinh khủng lắm.” Tôi chỉ nhớ mặt anh này. Tôi mỉm cười và nói: “Được rồi, tôi sẽ cầu nguyện cho anh.”
Anh giải thích: “Không, còn quan trọng hơn thế nữa kia. Ông phải giúp tôi ngay bây giờ. Tôi đang gặp rắc rối.”
“Tôi rất tiếc, xe lửa chạy lúc 10giờ30, và tôi sẽ bị trễ tàu, nếu dừng lại nói chuyện với anh bây giờ. Mình hãy hẹn nhau tuần tới, sau khi tôi trở về đi nhé?”
Anh ta có vẻ nghiêm nghị. “Tôi không biết phải nói với ông thế nào. Tôi biết chắc chuyến tàu của ông rất quan trọng. Nhưng tôi không thể tưởng tượng được chuyến tàu của ông - cho dù có đưa ông tới đâu - lại có thể cấp bách hơn điều tôi đang cần ông giúp. Ông không hiểu được sao? Cuộc sống đã kết thúc với tôi rồi. Tôi tiêu rồi. Đời tôi thật vô vọng. Không có lối thoát. Tôi cần được giúp đỡ.”
Tới lúc này thì tôi cũng quẫn trí như anh ta: “Nhưng tôi đang bận đón tàu . . .”
“Tôi cần giúp đỡ.”
“Có thể người khác sẽ giúp anh.”
Anh ta chận lại và lặp lại: “Không, tôi chỉ - . Ông - ông chính là người phải giúp tôi!”
“Anh có ý nói là cho dù tôi có bị trễ tàu ư?”
“Đúng! Ông không hiểu được sao? Tôi cần được giúp . Và tôi muốn ông cùng đi với tôi ngay bây giờ để giúp tôi.”
Tôi xách va li lên, khoác tay anh, rồi quay về chỗ tôi đã đậu xe.
Thôi được, nếu vấn đề thực sự quan trọng như vậy thì tôi nghĩ là mình không thể chọn lựa. Tôi sẽ làm điều mình có thể làm để giúp anh.”
Tôi chở anh ngang qua tỉnh, tới nhà thờ của tôi. Thực sự đây là một cửa hàng được cải tạo lại, nhưng bên trong thật đẹp. Chúng tôi tự đóng lấy ghế ngồi. Ánh sáng phản chiếu êm dịu, sàn đều trải thảm. Chúng tôi bước vào và ngồi xuống. Anh bắt đầu trút đổ tâm sự và cho biết cuối cùng anh đã bị rượu sai khiến ra sao.
“Tôi tiêu rồi. Chẳng còn lý do nào để tiếp tục sống nữa. Tôi có người vợ rất tốt. Nhưng bà ấy nói không thể chịu đựng tôi được nữa. Bà ấy đã chấm dứt với tôi rồi, bà ấy đã chịu đựng tôi tới mức tối đa, và tôi không trách bà ấy. Tôi về nhà say mèm, đánh đập con cái. Chúng khiếp sợ tôi, thường chịu đói. Tôi chẳng ích lợi gì cho ai cả. Vợ tôi nói với tôi: ‘Ông ra khỏi nhà đi, và đi luôn đi. Tôi hết tình nghĩa với ông rồi.’ Thật ra là tôi cũng hết tình với chính bản thân mình. Tôi đang nghĩ cách phải chấm dứt như thế nào đây.”
Tôi nói với anh là thực sự có một Đức Chúa Trời yêu thương anh bất chấp tình trạng bê bối khủng khiếp đó của anh, rằng Chúa Giê-xu Christ có thể thay đổi cả cuộc đời anh. Thánh Linh hiện diện với tôi sáng hôm ấy, và trong chẤn Động của lời thú tội tuyệt vọng nơi người đàn ông này, vẫn là sự bảo đảm về tình yêu cùng sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Nguyện vinh quang thuộc về Đức Chúa Trời, tôi muốn nói rằng người này đã được cứu cách kỳ diệu. Chúng tôi cùng cầu nguyện xin Đức Chúa Trời thay đổi cách sống đồi trụy của anh.
Tôi đưa anh về với gia đình sau khi đã nói chuyện và cầu nguyện, và vợ anh lắng nghe câu chuyện anh kể lại. Chị nói: “Đây là điều kỳ diệu nhất mà tôi từng được nghe,” rồi chị cũng dâng lòng mình cho Chúa Giê-xu. Lệ lăn dài trên má của cả hai, khi họ cầm tay nhau và chị nói: “Tất nhiên là nếu ông ấy nghiêm túc thì tôi muốn ông ấy quay về. Tôi muốn gia đình mình đoàn tụ hơn bất cứ điều gì khác!”
Nhiều ngày sau đó, khi từ North Carolina quay lại, tôi thấy anh thực sự kinh nghiệm sự cứu rỗi . Anh nghiêm túc với Đức Chúa Trời, anh đã bỏ uống rượu. Gia đình Cơ Đốc đầm ấm của họ tiếp tục minh chứng rằng việc lỡ chuyến tàu buổi sáng Tháng Tám 1945 hôm ấy thật đáng giá - dù rằng tôi thật đã ương ngạnh trong chuyện đó. Đúng là thời điểm của Đức Chúa Trời, và tôi suýt chận đứng đồng hồ của Ngài!
Sau khi rời nhà họ, tôi lái xe trở lại bưu điện. Lần này có thư trong thùng thư của tôi, và một trong những thư này là của Betty Jane Seawell, cô ghi tên trên nắp phong bì! Đó là một thư ngắn điềm đạm nói: “Ba tôi sẽ vui đón tiếp anh . . .”
Vì thế tôi lái xe đến Carthage. Từ lúc tôi dừng tại ngôi nhà và thấy Betty Jane ra đón mình, tôi biết Gene Evans đã nói đúng. Có thể nói là nếu không nhận được thư cô ấy sáng hôm đó, chắc hẳn tôi sẽ không tìm cách liên lạc lại.
Đó là ngày Đồng minh chiến thắng Nhật bản và toàn thế giới đều vui mừng về sự kết thúc Thế Chiến II. Chúng tôi nghe tin báo cả nước sẽ có hai ngày nghỉ. Ông Seawell chắc chắn khúc quanh của biến cố này sẽ thay đổi kế hoạch của hội đồng, cho nên khăng khăng bảo tôi dùng điện thoại của ông để kiểm tra trước khi ra đi. Ông nói đúng. Toàn bộ hội đồng hoãn lại, nên tôi quyết định trở về nam.
Ba của Betty Jane chận tôi lại: “Ồ, không đâu! Cậu đã lái xe quá xa tới đây. Tốt hơn cậu nên ở chơi mấy ngày lễ với chúng tôi trước khi quay về.”
Tôi cảm nhận ngay đây là những Cơ Đốc nhân có lời chứng mạnh mẽ cho Chúa Giê-xu Christ. Ông Seawell là một luật gia Cơ Đốc nổi bật có ân tứ hiểu Kinh Thánh sâu sắc cũng như dí dỏm khác thường trong văn nói và viết mà ông vẫn thường dùng trong công việc Chúa. Bà Seawell đã về với Chúa hôm 5 Tháng Mười 1965, là một giáo viên dạy Kinh Thánh tài ba, không hề bỏ qua việc làm chứng và đứng về phía Chúa Giê-xu Christ. Mọi người thường nói: “Khi Jane Seawell trò chuyện với bạn thì chắc chắn là bà sẽ nói về Chúa của bà và Cứu Chúa Giê-xu Christ.” Ngày nay tại Carthage, North Carolina, Nhà Nguyện Phúc Âm là đài kỷ niệm lời chứng trung thành và không mệt mỏi của Chub và Jane Seawell - cũng là Bố và Mẹ của tôi.
Lúc ở lại Carthage tôi không cho là gia đình Seawell biết gì về tầm quan trọng của thời gian đó đối với Betty Jane và tôi sau này. Nhưng khi chúng tôi kết hôn, chỉ bảy tuần sau đó, thì mọi người đều thấy rõ ràng rằng không phải chỉ từng ngày mà là từng giờ đều ở dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời để thực hiện kế hoạch của Ngài đối với Betty Jane và tôi.
Chúng tôi không thể nói rõ cách Đức Chúa Trời đã giữ chúng tôi cho nhau. Ngài đã đưa chúng tôi vào kinh nghiệm biết rõ thật sống động - khiến cho tình yêu giữa chúng tôi rất nghiêm túc, sâu sắc, chân thành và vị tha. Thật Ngài đã kiên nhẫn gìn giữ cô ấy cho tới khi tôi sẵn sàng chịu lắng nghe.
Betty Jane nói với ánh long lanh trong đôi mắt nâu của nàng với mọi người: “Tôi cho rằng Đức Chúa Trời đã dành sẵn người này cho tôi. Tôi muốn mọi người trẻ khác cũng hoàn toàn tin chắc như vậy. Tôi thực sự tin là họ phải biết chắc là Đức Chúa Trời đã lực chọn chính xác người bạn đời cho họ, và họ sẽ chỉ gây rối cho đời mình nếu đi trước ý Chúa và kết hôn trước thời điểm của Ngài. Và nếu không có ai trong kế hoạch của Ngài, thì tốt hơn là không nên kết hôn.”
Betty Jane lúc nào cũng quan tâm chia sẻ câu chuyện của chúng tôi cách chính xác với đám trẻ, vì cả hai chúng tôi đều cảm thấy một khoảng thời gian tương đối dài hơn thường cần thiết cho việc đặt một nền tảng vững chắc cho hôn nhân. Trường hợp của chúng tôi không phải là khuôn mẫu để bắt chước cách hời hợt. Trong trường hợp chúng tôi, thực sự chẳng có lý do để chờ đợi. Cả hai chúng tôi đều đã học xong. Tôi đã để dành được đủ tiền. Cả hai chúng tôi đều biết chắc Đức Chúa Trời đã đưa chúng tôi lại gần nhau và hôn nhân của chúng tôi là kế hoạch của Ngài.


TÌM KIẾM CHÍNH NGHĨA
Ngay từ đầu phong trào Youth For Christ ( YFC, Tuổi Trẻ Cho Đấng Christ) tôi đã bỏ chức vụ mục sư để làm giám đốc YFC tại Greensboro, N. C. Torrey Johnson, người sáng lập cuộc tập họp cho khái niệm mới mẻ này giữa vòng học sinh trung học, ăn khớp với hình dung của tôi về người lãnh đạo biết nhìn thấy rõ nhu cầu của người khác, rồi khôn ngoan tìm kiếm một kế hoạch hành động thích hợp để đáp ứng nhu cầu đó.
Chính Torrey Johnson là người dạy tôi, không chỉ hình dung ra một khái niệm mới, mà còn tiến tới trong đức tin để hoàn thành điều được cảm động trong giây phút rõ ràng. Chính Torrey là người nhìn thẳng vào mắt tôi tại hội đồng Winona Lake, Indiana, và nói: “Paul à, tôi tin rằng Đức Chúa Trời muốn anh đi Âu châu.” Anh ấy thúc giục tôi quyết định tham dự hội đồng Youth For Christ tại Beatenberg, Switzerland. Về sau tôi biết là anh ta đã chuẩn bị vợ tôi trước bằng cách nói với cô ấy: “Tôi không nghĩ là chị chỉ để cho Paul đi Âu châu, tôi nghĩ là chị còn phải thúc giục anh ấy đi nữa.”
Thật khó rời Betty Jane vì chúng tôi hầu như thường xuyên ở bên nhau suốt ba năm đầu mới cưới. Tuy nhiên, sự xa cách, tỏ ra có ích cho cả hai chúng tôi trong cuộc sống. Trong thời gian nàng ở chung với ba mẹ tôi trong túp nhà nhỏ ở Nyack, nàng viết thư cho tôi nói về mẹ tôi như sau:
“Em nghe anh nói Mẹ có thói quen cầu nguyện hai giờ hai mươi phút mỗi ngày. Em không thể hiểu được có người lại dâng phần mười thì giờ của mình để cầu nguyện như vậy! . . . Em chưa thấy ai sống toàn vẹn hơn Mẹ. Bà khéo léo trong việc lau bụi, soạn bữa ăn, nấu ăn. Lúc nào bà cũng gọn gàng và sạch sẽ. Luôn luôn tỏ ra thoải mái, không hề nổi nóng hay bực tức. Bà luôn tỏ ra yêu thương. Đối với em, bà là gương mẫu mà em thích được giống khi nghĩ tới việc theo Chúa. Em vẫn ao ước nhìn thấy theo Chúa thực sự phải như thế nào, làm sao có người nào đó thực sự đưa Cơ Đốc giáo vào hành động. Anh yêu dấu, anh đã cho em có cơ hội! Mẹ chính là hình ảnh thu nhỏ của một Cơ Đốc nhân. Giống hệt như là được ‘bôi trơn’ vậy đó. Cuộc sống của mẹ trôi không chút va chạm. Em nghĩ đó là ‘dầu của Thánh Linh.’
“Khao khát của bà là được giống Đấng Christ. Vấn đề không phải là số lượng thì giờ bà dùng vào việc đó - tuy bà cũng có ghi lại kỹ càng trong sổ nhỏ về thì giờ cầu nguyện của mình. Nhưng tôi chưa hề có cảm giác là bà cố tạo ra như vậy. Bà là người rất có kỷ luật, nhưng không phải với nghĩa khắt khe. Bà chỉ học biết rằng khi mình hành động theo qui luật, cách sống của Đức Chúa Trời - giống như máy điều chỉnh tốt - thì chạy trơn tru. Em nhớ anh kinh khủng, anh yêu dấu, nhưng em cám ơn anh cho em có thời gian này để học tập. Thật tốt được ở đây với Ba Mẹ Freed.”
Có lẽ Torrey không ngụ ý rằng khi giục tôi đi Âu châu là trên một phương diện, anh giúp Đức Chúa Trời đẩy tôi ra khỏi tổ chức mới phổ biến này của giới trẻ Hoa Kỳ. Tôi cũng chẳng có ý muốn rời anh. Thế nhưng, khi từ Thụy Sĩ và Tây Ban Nha về, tôi có được sự hiểu biết rộng lớn hơn về một thế giới không có hi vọng.
Trong những lần tập họp của Youth For Christ, tôi cố gắng chia sẻ gánh nặng đau buốt mà mình cảm nhận được, cùng khải tượng vẫn còn tươi mới về Tây Ban Nha. Tôi nói nhiều về Tây Ban Nha, về những đám đông đói khát. Nhưng ban lãnh đạo địa phương có những mục tiêu riêng để đạt tới, và chúng tôi biết chắc ngay rằng Chúa đang đẩy chúng tôi ra khỏi hoàn cảnh địa phương qua khải tượng mở rộng mà Ngài đã ban cho tôi tại Âu châu. Cảm giác còn lu mờ nhưng dai dẳng. Đó là một kinh nghiệm bối rối. Phát thanh vẫn chiếm chỗ tối hậu trong lời giải đáp cho hàng triệu người Tây Ban Nha.
Khả năng truyền thanh sang Tây Ban Nha có vẻ đủ thực tế. Nhu cầu có vẻ cấp thiết, nhưng chúng tôi làm gì được nếu không có nhân sự, không có tiền? Những nỗ lực của chúng tôi tại Hoa Kỳ nhằm khơi dậy sự đáp ứng, dường như bế tắc bất cứ nơi nào tôi cố gắng chia sẻ khải tượng. Áp lực gia tăng trong tôi khi tôi ước lượng khả năng phát thanh cho 30.000.000 triệu người trước vẻ thờ ơ của những Cơ Đốc nhân Hoa Kỳ.
“Lạy Cha, chúng con phải làm sao đây? Con không thể bỏ cuộc! Nhưng con không biết phải làm gì!”
Nhận biết mình không còn có thể thỏa mãn khi làm việc trong giới hạn một thành phố, tôi rút khỏi chức vụ trong Youth For Christ, và thông báo mình sẵn sàng làm người truyền giảng Phúc Âm. Đó là một bước nhỏ trong chiều hướng đến mục tiêu tối hậu, nhưng từ góc độ cá nhân, thì sự thay đổi có tầm mức quan trọng.
Vào lúc này Chúa cho chúng tôi đứa thứ nhất trong năm con, đó là Paul David, sinh ngày 26 Tháng Mười 1949. Nó mang lại niềm vui cùng hạnh phúc lớn cho gia đình chúng tôi. Nhưng chúng tôi không còn sống nhờ vào đồng lương đều đặn được nữa. Chúng tôi được thúc giục sống bằng đức tin thay vì bằng mắt thấy. Kể từ nay thực phẩm cùng tiền thuê nhà đến trực tiếp từ Chúa thay vì từ văn phòng YFC. Đây là thời gian thử thách.
Tiếp theo những cố gắng đầu tiên của tôi nhằm yêu cầu sự trợ giúp từ các mục sư Tây Ban Nha, tôi đi đến một kết luận mới. Tôi bắt đầu tin rằng điều tối quan trọng đối với chúng tôi là di chuyển theo hướng Đức Chúa Trời đã chỉ định, nhưng riêng cá nhân mình cũng phải chăm chỉ làm việc , dành riêng số tiền mình có thể kiếm được cho chức vụ còn đâu đó trong tương lai mơ hồ.
Chúng tôi bắt đầu bằng cách thiết kế và đóng những xe thùng tại Scranton, Pennsylvania. Sau đó tại vùng Greensboro chúng tôi bắt đầu xây nhà cho nhóm thu nhập từ tám tới mười ngàn đô la, những nhà khác thì tôi thiết kế theo ý người mua để bán khoảng ba mươi ngàn đô la. Mỗi chút lợi tức có thể rút ra được là chúng tôi đưa vào một quỹ dành cho “công việc.” Dần dần cán cân thăng bằng bắt đầu nghiêng. Khi “công việc” trở nên rõ ràng hơn, chúng tôi cắt bới những hợp đồng xây cất, cho tới cuối cùng chúng tôi cảm thấy tới thời điểm thích hợp để chấm dứt việc xây cất.
Vào 1951 những điều tra thêm về lục địa có vẻ khôn ngoan. Lần này Betty cùng đi với tôi sang Tây Ban Nha. Ba tôi cảm thấy việc nàng đi cùng tôi là dùng tiền đúng chỗ. Mọi người khác trong gia đình đều thấy nhu cầu nhân sự , nhưng đối với Betty Jane thì truyền giáo vẫn luôn luôn là thứ yếu. Toàn bộ số tiền đều do quà tặng từ bạn hữu Cơ Đốc.
Nàng thường nói: “Điều đó thực sự có lợi anh à, em chưa hề thấy bất cứ điều gì giống như vậy trong đời mình, và nó khiến em sẵn sàng chấp nhận những hi sinh cần thiết.”
Russ Reid cũng tháp tùng chúng tôi. Chúng tôi rất thích sự thông công cùng chức vụ của anh ấy cả về âm nhạc lẫn lời giảng.
Lần này khi đề cập tiềm năng phát thanh, một thông dịch viên Tây Ban Nha nói: “Các ông phải đi qua Tangier, đó là nơi tốt nhất để phát thanh.”
Tôi không muốn đi Tangier chút nào. Tôi thấy mình ngần ngại trước lời đề nghị này giống như tôi đã ngần ngại khi Đức Chúa Trời sai tôi đến Tây Ban Nha lần đầu tiên. Dường như đó là sự phí phạm. Cả cuộc đời của tôi đã được đầu tư tại Trung Đông giữa người Ả Rập. Tại sao Đức Chúa Trời lại chọn cho tôi những con người hoàn toàn xa lạ trong một xứ hoàn toàn xa lạ như thế?
Nhưng tất cả việc Ngài phải làm đó là đưa tôi tới Tây Ban Nha - để đặt tôi dưới những hang động tăm tối cùng những đường phố đông đúc. Trước khi nhận ra được chuyện gì đang xảy ra thì mắt tôi đã ướt đẫm lệ. Tôi hiểu trong một thời gian rất ngắn rằng nhu cầu của người Tây Ban Nha không có Đấng Christ cũng thực hữu như của người Ả Rập, mà cuộc sống không có Đấng Christ của họ đã từng luôn luôn là gánh nặng trong lòng tôi.
Bây giờ chính lời đề nghị đi Tangier hiện ra như mối đe dọa cho chức vụ đã từng lôi kéo tôi mạnh mẽ đến với dân tộc Tây Ban Nha. Tôi đã giảng trong nhà thờ cùng nhà riêng của họ, họ là dân tộc tôi. Tôi được sưởi ấm bởi tình yêu của họ, tôi ưa thích đáp ứng cùng sự tán thưởng nồng nhiệt của họ. Tại sao Đức Chúa Trời không thể mở ra những phương tiện phát thanh ngay tại đây, trên đất liền? Tại sao Ngài muốn dời chúng tôi sang Phi châu? Tôi cảm thấy phần nào giống như quân cờ bị di chuyển trên tấm ván bởi một đầu óc bậc thầy khổng lồ. Và tôi không thể hiểu việc di chuyển đặc biệt này ra khỏi Tây Ban Nha hơn tôi hiểu việc dọn tới Tây Ban Nha.
Một Cơ Đốc nhân Tây Ban Nha cao niên vàkhôn ngoan, Samuel Vila, đã cho tôi biết hai người cầu nguyện cho chức vụ phát thanh cho Tây Ban Nha. Họ là Peter Harayda và Ruben Lores. Và ông cho tôi biết là họ sống ở Tangier thuộc Bắc Phi!
Thế là một sáng nọ chúng tôi đi xe búyt từ Seville tới Algeciras, một tỉnh nhỏ Tây Ban Nha nơi có phà băng ngang eo biển tới Tangier. Khi tới duyên hải Bắc Phi chúng tôi định vị Harayda cùng Lores rồi bắt đầu cùng chia sẻ giấc mơ chung về một đài phát thanh truyền giáo cho người Tây Ban Nha - hàng trăm ngàn người mà chúng tôi không thể nào nói chuyện bằng cách nào khác.
Hoàng hôn đêm đó, từ dãy núi nhìn xuống Eo biển Gibraltar, chúng tôi có thể nhìn thấy Tây Ban Nha. Chúng tôi đang cắm trại bên ngoài Tangier, trên vùng đất xinh đẹp của một trường truyền giáo ngày trước. Chúng tôi lấy làm buồn nghĩ đến lòng tận hiến cùng những giấc mơ - của người nào đó mà chúng tôi không biết - đã xây dựng nơi này, giờ đây bỏ trống, nhện giăng, và tan nát. Chúng tôi thấy dường như chúng tôi có thể cứu vãn, mang lại sức sống mới cho nó và nhằm biến nó thành đài phát thanh trong khải tượng chúng tôi.
Tangier là một thành phố quốc tế, cách biệt với Tây Ban Nha chỉ hai mươi sáu dặm đường thủy. Khi đứng trên đất Morocco nhìn xuống Tây Ban Nha, chúng tôi nhận biết ở đây mình được tự do xây cất, trong khi có thể là không hề có cơ hội như vậy trong Tây Ban Nha. Trong một rừng thông ngát hương, sáu người chúng tôi qùi xuống cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng tôi ước vọng của lòng mình - để mình được xử dụng làm cầu nối những eo biển với tín hiệu rõ ràng về tin mừng của Chúa Giê-xu Christ cho dân Tây Ban Nha.
Ngày hôm sau chúng tôi viếng thăm vị giáo sĩ tám mươi tuổi, một người Anh cao niên tin kính, là chủ của miếng đất chúng tôi đã cầu xin. Ông Elson đã bỏ hết những năm tháng đời mình tận tụy với những người dân này. Bây giờ với một ít quãng đời còn lại, cùng một túp lều nhỏ làm trụ sở, ông nắm bắt được khải tượng của chúng tôi và thấu hiểu khát vọng mãnh liệt trong lòng chúng tôi muốn mang Phúc Âm đến cho mọi người.
Trong khi ngồi nói chuyện với ông, chúng tôi nhớ lại lời Torrey Johnson khuyên chúng tôi trước đây: “Cứ hỏi xin mọi thứ đi, rồi sẽ thấy điều mà hầu như ai cũng làm được, đó là nói không.”
Tôi quyết định đây là cơ hội để làm theo lời khuyên đó. Tôi mời ông Elton cùng cầu nguyện với tôi về khả năng dâng miếng đất truyền giáo trước đây cho công việc phát thanh Phúc Âm.
Khi chúng tôi đứng lên, cụ già lịch sự nói: “Anh bạn trẻ ơi, nếu anh có thể dâng đời mình đi truyền giáo thì điều nhỏ nhất tôi có thể làm là dâng miếng đất của tôi.”
Tuy nhiên, ông giải thích chính ông không thể tự quyết định một mình được bởi lẽ ông đã hứa cho vài người bà con. Sau khi hỏi ý kiến, họ quyết định với giá mười lăm ngàn đô la, chỉ là một tỉ lệ nhỏ so với giá trị của tài sản truyền giáo đó.
Ngay sau cuộc gặp gỡ này, chúng tôi trở về theo đường Bồ đào Nha. Tâm trí chúng tôi chìm ngập trong lời cầu nguyện liên tục xin Chúa dùng miệng lưỡi cùng hình ảnh và lòng trung thành của chúng tôi đối với nhu cầu phải đánh thức Cơ Đốc nhân tại Hoa Kỳ cộng tác với chúng tôi. Bây giờ chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa rằng phát thanh Phúc Âm là chính nghĩa của chúng tôi, và Tangier chính là địa điểm.
Trở về Hoa Kỳ, trong khi tìm cách truyền đạt cho hội thánh gánh nặng cầu nguyện cho tiếng nói phát thanh Cơ Đốc đến với Âu châu, chúng tôi cũng quyết định rằng phim ảnh sẽ giúp ích cho việc kể chuyện. Lúc đang ở Tây Ban Nha, tôi có quay được vài cảnh phim rất hay. Những cảnh này tạo nền tảng cho cuốn phim đầy màu sắc, âm thanh mang kịch tính, Banderilla , tường thuật rất cảm động cho Cơ Đốc nhân tại Bắc Mỹ nỗi khó khăn của tín hữu tại Tây Ban Nha. Ben Armstrong, Mục sư của Hội thánh Cộng đồng tại Ringwood, N. J., cùng vợ là Ruth (em gái tôi) quan tâm sâu sắc cụ thể tới gánh nặng cùng khải tượng về Tây Ban Nha và giúp rất nhiều trong việc trình chiếu Banderilla trong nhiều hội thánh khắp nước Mỹ và Canada.
Không có sự hỗ trợ cụ thể nào, Betty Jane và tôi cùng với hai con nhỏ - Paul David ba tuổi và Donna Jean mới tám tháng - khởi đầu một chuyến 11.000 dặm đi làm đại diện. Suốt hai tháng rưỡi tôi nói và chiếu phim mỗi tối trong một hội thánh hoặc một hội trường. Thời khóa biểu thật khắc nghiệt nhưng cho thấy được buổi đầu của lời cầu nguyện và hỗ trợ hữu ích của chúng tôi dành cho Tây Ban Nha. Chúng tôi trở về nhà vào Đêm Giáng sinh.
Banderilla chứng tỏ vô cùng hiệu quả trong việc khơi dậy mối quan tâm giúp đỡ các mục sư Tây Ban Nha chỉ vừa đủ sống - thậm chí không hề nghĩ đến phương cách mở rộng tiếp xúc với dân chúng. Chúng tôi có gửi một số quà nhưng tôi vẫn biết đây chưa phải là giải đáp toàn vẹn của Đức Chúa Trời cho gánh nặng của tôi về hàng triệu người của Tây Ban Nha.
Khi con gái duy nhất của chúng tôi, Donna Jean, chào đời, chúng tôi không biết làm cách nào để đưa nó ra khỏi bịnh viện. Lời truyền tới tai chúng tôi là: “Anh chị không thể đưa bé về nếu chưa trả tiền phòng.” Chúng tôi nghĩ có lẽ một bạn thân hoặc người bà con nào đó sẽ là giải đáp. Nhưng đây chính là bài học quan trọng: chúng tôi bắt đầu học biết rằng sự việc ít khi đến từ nơi chúng ta mong đợi - nhưng đúng lúc và từ nơi Đức Chúa Trời muốn. Lần này cũng không phải là ngoại lệ. Đức Chúa Trời đã cung ứng.
Cùng ngày mà Donna chào đời - 11 Tháng Hai 1952 - Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới chính thức bắt đầu, được thành lập dưới danh nghĩa “Truyền giảng Phúc Âm Quốc tế.” Ngay từ lúc khởi đầu với nỗ lực của chúng tôi nhằm giải quyết vấn nạn Tây Ban Nha, thì chỉ trích đã vây lấy chúng tôi. Phần lớn là do chúng tôi đã không thể xác định rõ mục tiêu của mình. Chúng tôi nghĩ là cần phải làm một việc mà chưa ai làm, nhưng chúng tôi không biết rõ phải đi theo hướng nào. Ý nghĩ phát thanh không bao giờ rời khỏi chúng tôi, và tận nơi sâu thẳm trong tâm trí mình, chúng tôi tiếp tục thắc mắc không biết Đức Chúa Trời sẽ mở lối ra sao.
Đối với cả hai chúng tôi, đây là phiêu lưu, đòi hỏi nhiều tháng học tập và tăng trưởng. Nhiều lúc chúng tôi bị cám dỗ bỏ cuộc. Thật là một cuộc tranh chiến. Suốt một thời gian, mỗi ngày hầu như quá sức chịu đựng của chúng tôi. Có những lúc dường như tôi hành động theo lực đẩy tự nhiên - liên tục tự đẩy mình ra đi kể chuyện, chiếu phim, nài xin Chúa đặt gánh nặng vào lòng những người khác.
Cần phải có can đảm và tin tưởng mới bước được vào những vùng xa lạ. Nhưng thường xuyên, ngay tại điểm chúng ta cảm thấy mạnh mẽ và chắc chắn, thì chúng ta lại bị hăm dọa bởi hàng loại chỉ trích tới tấp.
“Anh cổ động tiền bạc cho một đài phát thanh thậm chí không có thật.”
“Anh chưa có ban giám đốc quan trọng đủ.”
“Anh chưa rõ phương hướng mình đang đi.”
“Anh phải gia nhập một nhóm giáo sĩ đang hoạt động .”
“Đã có khối đài phát thanh đang hoạt động. Sao lại mở thêm làm gì?”
Cả đời, tôi chỉ muốn đáp trả. Hẳn là một cuộc tranh chiến từng hồi từng lúc. Nhưng dần dần tôi học biết rằng đáp trả hao tốn sức lực và thời gian. Nó có thể giết chết trái tim của giấc mơ. Chúng tôi bắt đầu khám phá ra rằng Chúa có thể khiến lòng chúng ta tràn đầy tình yêu đối với những Cơ Đốc nhân khác ngay cả khi họ trực tiếp dựng lên hết chướng ngại này tới chướng ngại khác trên bước tiến của chúng ta. Khi chỉ trích đe dọa bước tiến của chúng tôi, thì Betty Jane và tôi giúp nhau cầu xin Chúa hướng dẫn và xử dụng người chỉ trích trong công tác đặc biệt Đức Chúa Trời dành cho họ. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta cần phải cầu thay cho nhau với tấm lòng yêu thương là dường nào - không phải là chỉ trích!
Và chúng tôi tin chắc khải tượng của chúng tôi đâm rễ trong Đấng Christ. Chúng tôi sẽ không thối lui. Cứ tại từng thời điểm chán nản thì chúng tôi lại an tâm rằng đây chính là công tác đặc biệt của chúng tôi. Và chúng tôi không cô độc trong công tác đó.


TRỞ LẠI RỪNG THÔNG
Tôi thường nhận thấy: “Điều quan trọng không phải là chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu cho chính nghĩa của Đấng Christ mà là chúng ta còn giữ lại bao nhiêu.” Dường như trong khi chúng tôi đang xúc tiến công việc bước vào năm 1953 thì Đức Chúa Trời bảo tôi phải thử lại những lời mà tôi đã nói thật dễ dàng.
Ngày đó trở thành rõ ràng khi tôi phải trở lại Tangier để làm công việc chuẩn bị cơ bản cho đài phát thanh. Chúng tôi chẳng có sẵn chi phí cho chuyến đi. Vì vậy chúng tôi bán nhà và xe, và tôi dùng tiền để tìm hiểu thêm về tiềm năng phát thanh tại Morocco. Betty Jane cùng các con - Paul David gần bốn tuổi, Donna Jean gần hai tuổi, cùng bé mới sinh James Philip - dọn vào một căn hộ nhỏ.
Hành trình của tôi từ Mỹ lần này trực tiếp đưa tôi tới Tangier. Tôi biết phải mất thời gian để có được giấy phép cần thiết của chính phủ hầu có thể khởi công xây dựng đài phát thanh. Tôi đã sẵn sàng chịu thử thách tánh kiên nhẫn của mình, bởi lẽ bánh xe nhà nước ở bất cứ xứ nào cũng quay thật chậm.
Lúc đến thành phố cảng, tôi bắt đầu thủ tục thường lệ mà tôi tin là cuối cùng sẽ tạo ra những giấy tờ cần thiết để có phép xây các trạm truyền tin và các cột ăng-tên. Những cuộc thương lượng đều êm xuôi và tôi rất phấn khởi. Rồi một chuyện kỳ lạ xảy ra.
Một buổi sáng trong khi tôi đang đi qua các đường phố ồn ào của Tangier thì một người Mỹ chận tôi lại.
“Chào ông Freed. Tên tôi là Southworth. Tôi biết ông đang cố gắng xây một đài phát thanh.”
Tôi nhận ra ông ta là người đã có được giấy phép phát thanh và có đài riêng trong vùng quốc tế của Tangier. Tôi tự hỏi không biết ông ta đang nghĩ gì.
Ông ta nói tiếp: “Tôi xin có một đề nghị đơn giản. Tôi đề nghị ông đặt đài của ông theo giấy phép của tôi.”
Phản ứng đầu tiên của tôi là phủ định: “Không , tôi không nghĩ tới chuyện đó.”
“Ông có thể tiết kiệm được thời gian một năm hoặc hơn thế.”
“Cám ơn ông rất nhiều về lời đề nghị, ông Southworth ạ, nhưng thực sự là chúng tôi đang gặp thuận lợi lắm.”
“Có thể ông cũng tiết kiệm được tiền bạc nữa.”
Có lẽ là do tự kiêu mà tôi phản đối người ngoại cuộc muốn xen vào giấc mơ của tôi. Tôi nuôi khát vọng lớn là tự mình xây dựng giấc mơ của mình - thành một đài phát thanh hiệu quả mạnh mẽ. Tôi không thích ai đó cất lấy bàn tay của tôi. Đó là việc của tôi, và tôi cảm thấy mình chìm ngập trong ý thức chiếm hữu tất cả mọi sắp xếp khi đứng dưới bóng mát của một ngôi đền Hồi giáo, đưa mắt nhìn người Mỹ thân thiện này.
Đêm đó tôi không ngủ được. Chỉ có một mình trong phòng, tôi đọc Kinh Thánh và cầu nguyện một hồi lâu.
“Lạy Chúa, Ngài muốn phán gì với con?”
Tôi rảo quanh phòng, cầm một tạp chí, vài mảnh giấy, một tấm ảnh Betty Jane với các con, tôi muốn biết tại sao người Mỹ này đã được sai tới gặp tôi. Tôi phải nghĩ ra tại sao mình không sốt sắng nhận sự giúp đỡ của người này, để đài phát thanh có thể hoạt động ngay tức khắc.
Cuối cùng, sự ham muốn cùng tham vọng muốn chứng tỏ khả năng mình hiện rõ thật sắc nét, và tôi biết mình đang tìm cách tự điều khiển dự án Tangier một mình. Tôi sẽ thấy thỏa mãn khi nghĩ tới thắng trận này do sức riêng, hơn là chấp nhận lời đề nghị của một người được Đức Chúa Trời chọn để cùng chia sẻ trong việc xây dựng đài phát thanh của Ngài.
Vào sáng hôm sau, tôi sẵn sàng chấp nhận đề nghị của Southworth như là câu trả lời chính xác của Đức Chúa Trời cho chúng tôi. Tôi điện thoại cho ông, nói: “Vâng” và chúng tôi bắt đầu phác họa chi tiết của việc sắp xếp. Thật là một giải pháp kỳ diệu. Ông ta sẽ xây thiết bị truyền tin và dây ăng ten cho chúng tôi, sau đó giao trọn gói cho chúng tôi. Ông đã có giấy phép, có đất, cùng đội kỹ sư. Như vậy sẽ giảm nhẹ kinh phí cho chúng tôi rất nhiều - chỉ trả trong một thời gian.
Ngày hôm ấy mở ra cho tôi đủ mọi khả năng. Tôi thấy được mình sẽ dại dột biết bao nếu cố gắng làm mọi việc một mình. Tôi nghĩ, khi đi vào mọi chi tiết kỹ thuật tỉ mỉ như thế này, thì chẳng ai biết hết được lời giải đáp cho mọi thứ. Điếu tối quan trọng tôi có thể thấy được lúc đó là phải tìm ra những chuyên viên kỹ thuật có tài năng để làm những công việc kỹ thuật phức tạp. Những người tôi có thể tin cậy được. Những người không chỉ biết về ngành nghề của mình, mà còn biết áp dụng hiểu biết của mình trong bối cảnh tiên phong nữa.
Tôi chưa hề là con người say mê phát thanh. Tôi biết nhiều về các chuyện khác hơn là về phát thanh. Và có vẻ hơi la, đó là với quá nhiều tay phát thanh nghiệp dư trên thế giới như thế, mà Chúa lại vẫn chỉ định tôi phiêu lưu phát thanh cho Âu châu nữa.
Trí và lòng tôi bị thu hút bởi tiềm năng của những làn sóng trên không trung. Dường như sự truyền thanh có thể vượt qua mọi biên giới, mọi bức tường, đâm xuyên những ‘bức màn,’ hơn bất cứ thứ nào khác. Tôi nghĩ đến những đoàn dân đông của thế giới như chỉ “một thế giới,” với cùng những nhu cầu cơ bản trong lòng. Tôi biết mỗi cá nhân đều có quyền được tiếp xúc. Tôi tin chắc theo quan điểm của Đức Chúa Trời, mọi người đều được Ngài yêu dấu, rằng đối với Ngài không hề có rào cản, không có phân biệt. Vấn đề lộ ra thật rõ ràng. Mục tiêu của chúng ta là những tín hữu bao gồm Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ ấy là phải đến với mọi người khắp nơi, không có ngoại lệ. Đến với họ qua làn sóng phát thanh cũng không phải chỉ là lý thuyết, vì chúng ta biết rằng lục địa Âu châu là nơi tập trung lớn nhất của những hệ thống phát thanh cho dân chúng khắp nơi trên thế giới bên ngoài nước Mỹ.
Đây chính là lực lượng có thể vượt núi, xuống thung lũng, băng ngang thôn xóm cùng rừng ô liu và vườn nho. Đây chính là lực lượng có thể len lỏi vào trí và lòng của những chủ tiệm, những tay đấu bò, những phu bến tàu, những người buôn bán dạo, những công nhân, những nhà nông. Đây chính là tín hiệu có thể thâm nhập những lâu đài sang trọng của cấp quý tộc, cùng những nhà vách đất của nông dân và mang lại sự sống cho mọi người chịu tiếp nhận.
Lòng tôi bừng cháy khát vọng nói cho mọi người đó biết rằng Chúa Giê-xu Christ yêu thương họ, rằng Ngài đã chết cho họ, rằng Ngài đã sống lại và hiện đang sống ngày nay. Tất cả việc họ phải làm là chỉ có tin mà thôi, NHƯNG, trước hết họ phải nghe.
Trong khi tìm cách gieo ý tưởng này tại nước Mỹ, thì mọi người thường cảnh cáo tôi: “Bản thân anh phải biết rõ máy phát thanh từ A đến Z trước rồi mới bước vào công việc đó được.”
Sáng hôm đó, trong khi ông Southworth nói chuyện với tôi, tôi biết những con người “an ủi” đó đã lầm lẫn. Thiết bị truyền tin cùng phòng thu thanh và dây ăng ten đều tuyệt đối thiết yếu, nhưng Đức Chúa Trời đã có những con người sẵn sàng đảm nhận những lãnh vực đó nếu chúng ta chịu lắng nghe Ngài. Những thiết bị này phải được xây dựng theo cách tốt nhất có thể được. Chỉ những ai được đặc biệt đào tạo mới làm được công việc này. Nhưng tôi cũng biết việc chuẩn bị trước những điều sẽ nói với thính giả cũng rất quan trọng sau khi mọi việc xây cất được hoàn tất và chúng tôi bật công tắc truyền sứ điệp Sự Sống Vĩnh cửu xuyên qua eo biển vào Âu châu.
Có nhiều vấn đề phải đối diện. Ngay từ khởi đầu, Chúa đã in sâu trong trí tôi tầm quan trọng của việc tìm ra một người có kinh nghiệm thực sự trong việc chỉ huy ban điều hành. Khi suy nghĩ đến mọi khả năng, bỗng nhiên trong trí tôi lóe lên ý nghĩ rằng người tốt nhất mà tôi có thể nhờ quản lý công việc tại Tangier chính là Ba tôi. Lúc ấy ông đang dạy tại viện Western Canadian Bible Institute ở Regina, Saskatchewan.
Khi trở về Mỹ, tôi gọi điện thoại cho ông thảo luận nhu cầu phải tìm người thích hợp nhất để điều hành đài phát thanh trước khi chúng tôi có thể xúc tiến công việc tại Tangier. Tôi chắc chắn ông là người thích hợp cho công việc đến nỗi tôi bối rối khi ông đáp lại lời mời của tôi: “Tiếc quá, Paul à, mới chỉ ba hôm trước, ba đã nhận lời làm viện trưởng cho trường rồi.”
Tôi chẳng biết nói sao. Tôi không thể mang lại cho ông bất cứ điều gì mảy may tương đương với sự bảo đảm tài chánh hoặc uy tín như chức vụ ở trường này. Cho tới nay, dù khởi đầu của Tangier thật tốt nhưng cũng vẫn là nhỏ. Thực sự , tất cả điều tôi có thể đem lại cho ông, ấy là sự thách thức về khả năng của một chức vụ rất rộng lớn, cùng hi vọng nó sẽ trở thành quan trọng đối với tất cả mọi người.
Ba tôi cũng bối rối như tôi. Ông nói với tôi: “Ba không biết phải làm gì, Paul ạ. Nhưng chúng ta sẽ cầu nguyện về việc này.”
Khi máng điện thoại lên, tôi có thể tưởng tượng Mẹ tôi đang ngồi trên ghế xích đu với cuốn Kinh Thánh trên đùi. Bà rất ít nói - luôn luôn sẵn sàng thích ứng với điều tốt cho chồng. “Mình sẽ biết điều tốt nhất phải làm, Ralph ạ.” Tôi hầu như có thể nghe bà nói như thế khi Ba tôi lặp lại cuộc đối thoại giữa chúng tôi.
Tôi cũng nghĩ tới bà quì gối cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là việc Mẹ tôi phải làm; đó là việc bà muốn làm. Tôi biết bà sẽ cầm lấy bút chì rồi ghi thêm vấn đề cầu nguyện cho công việc ở Tangier vào danh sách cầu nguyện của bà. Suốt nhiều năm, bà có một cuốn sổ nhỏ - ghi đầy đủ những vấn đề cầu nguyện, những đối tượng cụ thể từng ngày. Tôi không biết phải chờ bao lâu bà mới có thể hớn hở chạy đến nói với Ba tôi: “Xem này, anh Ralph ơi, bây giờ mình có thể gạch bỏ vấn đề này rồi. Em đã cầu xin suốt hai năm nay, hoặc sáu tháng, hoặc mười lăm ngày. Và bây giờ chúng ta biết Đức Chúa Trời muốn gì rồi. Chúng ta có thể gạch bỏ được rồi.”
Qua kinh nghiệm quá khứ tôi biết rằng nếu họ tin một điều gì đó là đúng hoặc sai, thì cả thế giới cũng không thể thay đổi được lập trường của họ.
Bà thường bảo chúng tôi: “Dưới bầu trời tươi sáng này, các con chớ có bao giờ làm trái ý muốn Chúa nhé.”
Chỉ vài hôm sau là chuông điện thoại reo. Lúc tôi nhận ra giọng Ba tôi, cả thế giới ngừng quay trong giây lát khi tôi nghe: “Paul à, Ba không rứt điều đó ra khỏi lòng và trí Ba được. Ba biết không có ngân quỹ. Nhưng Mẹ và Ba đã cầu nguyện cho việc đó, và Ba Mẹ đang chuẩn bị đi. Tất cả điều Ba Mẹ yêu cầu con là cùng đứng với Ba Mẹ cầu xin Đức Chúa Trời cung ứng nhu cầu.”
Khi ngồi xuống ghế nghĩ về tương lai, tôi nghĩ đến những hàm ý đối với song thân tôi. Tôi không hiểu tại sao mình có gan đề nghị họ làm lại từ đầu. Vì đúng nghĩa là như vậy.
Lúc ấy Ba tôi đã sáu mươi mốt, một giáo sĩ kỳ cựu đã hoàn tất chức vụ tại Trung Đông xa xôi. Đức Chúa Trời đã kêu gọi, xức dầu và xử dụng ông. Bây giờ ông đã trở về Mỹ, với vinh dự được cử làm viện trưởng một trường Kinh Thánh. Dường như thật chính xác, đó là đỉnh cao xứng đáng với cuộc đời vất vả của ông nơi cánh đồng truyền giáo. Nhưng ông quăng hết tất cả, làm lại từ đầu để giúp tôi trong cuộc phiêu lưu mới toanh này.
Tôi đang yêu cầu song thân tôi trở về cùng chỗ nhiều năm trước đây, khi - cùng sánh vai trên những vỉa hè của Nyack, New York - họ hoàn toàn phó thác mình cho đức tin. Họ sẽ giống như những ứng viên trẻ vừa mới khởi đầu chức vụ.
Sau khi quyết định, Ba tôi giải thích: “Paul à, Ba Mẹ sẽ qua Tangier bắt đầu công vệc cho con. Chúng ta không còn được hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp tài trợ nữa, con biết đó, và cách thông thường là chúng ta phải đi từng hội thánh tự túc lấy. Ba không cảm thấy Chúa muốn Ba Mẹ làm công việc này vào thời điểm này trong đời mình.
“Bây giờ thì con biết chắc là mình đã có giám đốc cho đài phát thanh Tangier rồi, con có thể ra đi nói cho các bạn biết là công việc đã bắt đầu. Sau đó nếu mọi người quan tâm cầu nguyện, và khi quà tặng bắt đầu tới, thì con có thể gửi một ít cho Ba Mẹ. Ba Mẹ không đòi hỏi số lượng cố định. Ba Mẹ chỉ dùng số tối thiểu cho nhu cầu, phần còn lại sẽ dùng cho việc phát thanh.”
Vào cuối năm học, họ sắp xếp hành lý để rời Regina, Canada, tới Greensboro, N. C., cộng tác với chúng tôi lập một tổ chức hiệu quả. Tôi nghe Ba tôi cười thầm: “Đây là thứ tiêu khiển ưa thích của tôi.”
Khoảng sáu tháng sau, vào Tháng Giêng 1954, họ mỉm cười trên boong tàu vận tải ngày trước, tàu Vulcania, khi tàu rời bến cảng New York. Thời đó tàu chỉ có tiện nghi phòng ngủ tập thể, vì tàu chưa được làm lại sau thời chiến tranh. Tôi nín thở khi vẫy tay từ biệt họ đến với cuộc sống mới tại Bắc Phi.
Chẳng có những lời từ biệt trịnh trọng, chẳng có đại diện tiễn đưa, chẳng có phóng viên xô đẩy để tường thuật. Nhưng họ tin chắc rằng chỗ duy nhất trên đời này cho họ lúc đó là Tangier, Morocco.
Lần kế tiếp tôi đến Tangier thì đó là một mảnh đất vững chắc của riêng chúng tôi. Tôi có thể dạo quanh vùng đất, ngắm nhìn và lập kế hoạch. Tôi có thể đứng trong rừng thông và nói: “Cho tới nay, thật là tốt. Thưa Chúa, con cám ơn Ngài.”
Trên một phương diện, tôi cảm thấy nôn nao được về nhà sau một chuyến đi thật lâu dài. Đến một nơi tôi có thể nhìn tận mắt, một nơi tôi có thể sờ, một nơi tôi có thể đo đếm . . . chúng tôi có được mười bốn mẫu. Và dường như tôi cần thấy những ngọn đồi, cùng ngửi mùi gió muối tươi mát, và cảm nhận lá thông nhọn chích vào tay trước khi có thể nhận ra rằng giấc mơ dài lâu nay đã qua rồi. Hành động đã bắt đầu.
Hình ở trang 66: Tòa nhà phát sóng của “Đài Tiếng Nói Tangier”
Miếng đất xinh đẹp nhìn ra Eo Biển Gibraltar nơi chúng tôi họp mặt một chiều hoàng hôn cách đây vài tháng sẽ là lý tưởng cho phòng phát thanh và làm nơi ở, nhưng chúng tôi không có tiền để mua. Một hôm trong lúc đang cỡi ngựa ngang vùng quê cùng với một người bạn là Clarence Staats, chúng tôi tình cờ đề cập miếng đất ở Tangier. Quay sang Betty Jane, ông Staats khiến nàng ngạc nhiên với hai câu hỏi thẳng thắn.
Ông bắt đầu: “Paul có biết anh ấy đang nói gì không?”
Sau khi nàng chứng minh cho ông ta là tôi vẫn sáng suốt, thì ông hỏi:”Vậy sao anh chị không làm gì đi?”
Betty Jane thốt lên tiếng kêu sửng sốt, gần như đau đớn: “Nhưng mà ông Staats ơi, tới mười lăm ngàn đô la cơ!”
Sau khi thảo luận thêm việc mua đất, ông Staats khiến chúng tôi kinh ngạc khi bảo rằng: “Tôi không thấy có lý do nào để không thu xếp cho anh chị.”
Nguyên cả khoản tiền được ông Staats dâng hiến ngay sau đó được gửi ngay tới cho Ba tôi tại Tangier, và ông thương lượng xong xuôi với ông Elton và có quyền sở hữu đất cho trụ sở phát thanh của chúng tôi. Chúng tôi tin rằng Tangier là vị trí lý tưởng cho đài phát thanh. Những thống kê cho thấy điểm thuận lợi về kỹ thuật để từ đó truyền thanh đi khắp Âu châu. The Voice of America (Đài Tiếng nói Hoa Kỳ) có hệ thống phát thanh rất mạnh cách nơi chúng tôi sẽ lắp đặt thiết bị truyền tin chỉ vài dặm, và chương trình của họ được nghe khắp gần xa.
Trong lúc đó, việc xây dựng tại Tangier đã khởi đầu. Chúng tôi phải chọn giữa hệ thống ăng ten đơn giản nhất với cái kề cận đơn giản nhất. Nếu có thêm tiền, chúng tôi có thể làm được nhiều hơn. Các kỹ sư cùng với ông Southworth bắt đầu với số ít thiết bị truyền tin thặng dư thời chiến - 2500 watts. Họ kèm thêm một cặp ăng ten rất đơn giản. Ngân qũy của chúng tôi cho năm đầu là 10.000 đô la - dưới một phần trăm của con số sau mười năm phát thanh.
Theo người Âu châu, mối quan tâm đối với chương trình phát thanh Cơ Đốc tại Âu châu hầu như là không có khi chúng tôi bắt đầu vào năm 1954. Một trong những lý do của sự thờ ơ giữa vòng các nhà truyền giảng Phúc Âm đó là ngoài Monaco và Luxembourg, không một quốc gia châu Âu nào có lối thoát cho những sáng kiến phát thanh tư nhân cả. Các công ty truyền thanh hoặc là công, hoặc là điều hành bởi một hệ thống giám sát, lập ra những ủy ban gồm toàn những người được chỉ định trong guồng máy quan liêu tương ứng với thế lực của các đảng phái trong chính quyền. Các công ty này, vì là những định chế công, nên không bị buộc phải mang tính đa nguyên trong từng khía cạnh của chương trình, kể cả phát thanh tôn giáo. Bởi thế, không những chỉ Cơ Đốc nhân tin Kinh Thánh, mà cả những người với bối cảnh thần học rất khác nhau cũng đến với phương tiện truyền thông qua phát thanh: Thính giả sẽ phải đối diện, không chỉ với một sứ điệp Phúc Âm rõ ràng mà còn với những tài liệu của phái tự do, không theo Thánh Kinh nữa. Khái niệm cho rằng một mục sư phái Phúc Âm hoặc một nhà phát thanh Cơ Đốc có thể có một chương trình đều đặn trên một đài của phái Phúc Âm tọa lạc tại Âu châu, có vẻ như không thể nào có được.
Lúc đầu, khi ước vọng đánh thức và triển khai mối quan tâm còn tươi mới và chưa lu mờ trong tôi, thì tôi thấy tình trạng thật bi đát như thể đập đầu vào tường đá. Cấp lãnh đạo Cơ Đốc xuất sắc nói: “Phát thanh không có trong đường dây của chúng tôi. Chúng tôi biết người ta làm việc đó tại Mỹ, nhưng đó không phải là cách của chúng tôi.” Dĩ nhiên, họ không có những khả năng biến nó theo cách như chúng tôi có ở Mỹ. Chinh phục được sự tin tưởng cùng mối quan tâm và hỗ trợ của Cơ Đốc nhân Âu châu là một tiến trình chậm chạp, khó chịu.
Trong lúc đó, hoạt động của chúng tôi, hoặc việc thuê mướn, sắp xếp với Đài Phát thanh Quốc tế của ông Southworth ở Tangier chất thêm cho chúng tôi một số nghĩa vụ cố định mỗi tháng. Chúng tôi không xúc tiến được trôi chảy như mình muốn. Nguồn tài chánh vào rất chậm. Thậm chí ba tôi không có tiền để mua một xe hơi cũ để dùng tạm. Ba Mẹ tôi phải chờ xe buýt để đi chợ, phải thận trọng đi đứng giữa đám đông. Ba tôi phải canh chừng từng xu nhỏ khi sống ở đó. Họ tới đó tay không. Ở quê nhà thì tôi đi nhờ xe khắp nước Mỹ thực sự chẳng tốn đồng nào cả. Đó thực sự là những ngày khó khăn.
Dần dần hoàn cảnh thắt chặt thêm. Tiền không vào nữa. Tiền thuê nhà chồng chất. Ba tôi cứng rắn phản đối chuyện nợ nần. Thoanh toán chi phí là một phần liêm khiết trong lời chứng Cơ Đốc của ông. Tất cả chúng tôi đều muốn làm lời chứng đúng mức trong nếp sống cùng những giao tế làm ăn, cũng như trong sứ điệp mà chúng tôi dự tính phát thanh. Những phiếu thanh toán tiếp tục tới, và không có cách nào trả nổi.
Áp lực trở nên nghiêm trọng đến nỗi Ba tôi tự nắm quyền giải quyết. Một điện tín đến với tôi chỉ ba tháng sau khi Ba Mẹ tôi đến Tangier: “Paul à, nếu Ba Mẹ không nhận được khích lệ thực sự, được giúp đỡ thực sự trong tuần này, Ba đã sắp xếp bỏ cuộc việc phát thanh và trở về.”
Lòng tôi tan nát.

ĐÀI TIẾNG NÓI TANGIER
Vài câu chuyện dường như còn lạ hơn cả tiểu thuyết chỉ vì Đức Chúa Trời đã chen vào và đặt khuôn mẫu của Ngài trên cuộc đời chúng tôi. Tôi thường thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ đưa Cơ Đốc nhân tới chỗ hầu như phải tan vỡ, hoặc tới một khủng hoảng tận cùng, rồi sau đó Ngài mới ra tay. Nhiều lần trong lịch sử công tác phát thanh của chúng tôi, tình huống dường như đang diễn tiến tới chỗ bế tắc, thì bỗng nhiên có câu trả lời ngay trước mắt tôi. Tôi tin rằng trình tự này không phải là ngẫu nhiên; tôi tin đó chính là cách hành động của Đức Chúa Trời trong quyền tể trị của Ngài. Tôi tin điều quan trọng trong mọi nhu cầu hằng ngày của chúng ta là cứ làm điều ở trong khả năng Ngài ban cho mình. Sau đó, khi mình đã hết cách, thì Đức Chúa Trời sẽ bước vào.
Hôm ấy là ngày Thứ Bảy - ngày cuối tuần mà Ba tôi đề cập trong điện tín. Lòng tôi thật nặng nề, tâm trí tê liệt. Tôi đã cầu nguyện hầu như liên tục xin Đức Chúa Trời làm một điều gì đó để cho phép “Đài Tiếng Nói Tangier” trở thành hiện thực. Chiều tối có tiếng chuông điện thoại. Đó là Tiến sĩ Charles Stevens, mục sư của Salem Baptist Church ở Winston-Salem, N. C. Ông ở cách chúng tôi khoảng hai mươi tám dặm và đang trên đường về hướng chúng tôi.
“Paul à, tôi sắp đi ngang qua thành phố anh, và không biết anh có thì giờ gặp tôi vài phút hay không. Tôi đi xe lửa Pullman lên miền bắc để mở một hội nghị về Kinh Thánh vào ngày Thứ Bảy.”
Tôi đón ông ở sân ga và nghe ông nói về những buổi họp ông phải tổ chức, về diễn tiến của trường họ, Piedmont Bible College, về tầm quan trọng của Chúa trong đời sống ông. Tôi là bạn tồi đối với ông lúc đó vì chẳng đóng góp được gì nhiều trong câu chuyện. Bóng tối - khi chúng tôi ra khỏi sân ga - là bức màn che thích hợp cho tâm trạng phiền muộn của tôi.
Bỗng nhiên tôi để ý điều Tiến sĩ Stevens đang nói với tôi: “Paul à, tôi tính chờ lúc về mới nói với anh điều này. Nhưng chẳng hiểu sao tôi lại cảm thấy tốt hơn là nên nói ngay bây giờ, trước khi tôi đi.”
Tiến sĩ Stevens có biết công việc phát thanh của chúng tôi đang bắt đầu tại Bắc Phi. Ông quen với Ba Mẹ tôi. Nhưng chắc chắn là ông không thể biết gì về khủng hoảng tài chánh chúng tôi đang đối diện.
“Tôi có cầu nguyện nhiều cho song thân của anh. Hình ảnh họ hiện ra trong lòng và trí tôi nhiều lần suốt tuần qua. Tôi quyết định đề cập họ với hội thánh tôi ngay khi đi họp về trong tuần này. Tôi hi vọng là Salem Baptist sẽ thực sự đảm nhận tài trợ toàn phần cho song thân anh.”
Lúc ông nói, tôi đang nhìn xuống mảng nước đá nằm trên những thanh nối ngang đường rầy xe lửa. Tôi ít dám ngẩng đầu lên trong khi ông nói tiếp.
“Tôi nghĩ là mình nên chờ sau khi xác minh vấn đề với ban trị sự hội thánh, nhưng tôi đã đề cập với họ rồi, và họ tỏ ra muốn giúp. Chúng tôi chưa chính thức hành động. Dường như Đức Chúa Trời đặt điều này trong lòng tôi, và ban trị sự hài lòng với ý kiến này. Tôi vừa chợt nghĩ là mình nên đề cập vấn đề với anh ngay tối nay thay vì chờ sau một tuần mới chính thức thông báo.”
Tôi cho tay vào trong áo khoác và lấy ra tấm điện tín đã từng gấp lại và mở ra nhiều lần của Ba tôi, đưa cho Tiến sĩ Stevens. Tôi chỉ có thể nói: “Ông sẽ không bao giờ biết được điều này có ý nghĩa biết bao đối với tôi!”
Ông nghiêng qua khoác vai tôi và đọc bức điện tín trong khi tàu lửa ầm ầm tiến vào nhà ga. Ông lắc đầu, nói với vẻ hoàn toàn kinh ngạc: “Chúa làm những việc diệu kỳ cho chúng ta!”
Nếu con người này của Đức Chúa Trời chờ một tuần mới cho tôi biết quyết định, thì hẳn đã quá trễ. Ba tôi chắc hẳn đã lên đường về nhà rồi.
Đây chính là người bạn do Đức Chúa Trời đưa tới để cùng đứng với chúng tôi khi hoàn cảnh bế tắc. Người này tiếp nối người khác - những người bạn thật - được Đức Chúa Trời dấy lên trên bước đường để chia sẻ với chúng tôi không chỉ lúc sự việc tươi sáng mà còn khi sự việc tối đen như mực nữa.
* * * * *
Một trong những trung tâm truyền giảng Phúc Âm trên lục địa Âu châu là Beatenberg, Thụy Sĩ. Chính từ nơi đó, lần đầu tiên tôi đến Tây Ban Nha, sáu năm về trước tiếp theo sau hội đồng Youth For Christ. Đó là nơi chúng tôi gặp Hermann Schulte lần đầu tiên. Sau đó, Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi đến với những người sẽ là chủ chốt trong các ban tiếng Pháp và Nam tư, Rumani cùng nhiều ban khác, ngay tại cùng một địa điểm. Beatenberg là một làng nhỏ khuất lấp sâu trong vùng Alps Thụy Sĩ, khoảng hai ngàn bộ cao hơn Interlaken, nơi nghỉ mát quốc tế. Quanh năm, Bibelheim, một trường Kinh Thánh Âu châu với hiệu trưởng là Tiến sĩ Wasserzug, đào tạo sinh viên cho những chức vụ giữa vòng dân nói tiếng Đức trên khắp thế giới. Suốt mùa hè, đó là một trung tâm hội nghị Cơ Đốc - nơi lớn nhất trên lục địa, mở ra suốt mười tuần, với số đông các nhà truyền giảng Phúc Âm Âu châu tham dự. Điều hợp lý là chẳng sớm thì muộn, những Cơ Đốc nhân sốt sắng quan tâm rao truyền tin mừng của Chúa Giê-xu Christ qua làn sóng phát thanh, sẽ đến từ nhiều nước khác nhau khắp Âu châu qua ngôi làng nhỏ này.
Chúng tôi đặc biệt cảm động thấy nước Đức sẽ là nơi quan trọng để khởi đầu việc phát thanh càng sớm càng tốt. Chúng tôi đã thường xuyên cầu nguyện xin Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi đến với những con người thích hợp, không chỉ là những người có thể cùng đứng với chúng tôi về mặt tài chánh, mà còn là những người sẽ không chịu thỏa hiệp trong việc ủng hộ sứ điệp của Phúc Âm nữa.
Từ lâu trước lúc đa số người khác quan tâm, đã có một người tại Đức quan tâm sâu sắc tới việc truyền thanh Phúc Âm, tới mức anh ta cùng với vài người bạn đã mua số thì giờ bên lề chương trình Phát thanh của Luxembourg. Thực sự đó là thời gian rất tồi tệ. Nhưng cũng đủ làm thí dụ để thuyết phục Hermann Schulte trong việc dùng làn sóng phát thanh đem Lời Đức Chúa Trời đến với hàng triệu người.
Ngay khi nghe hội nghị về “Đài Tiếng Nói Tangier”, ông này liên lạc với Ba tôi tại Beatenberg. Thật lạ lùng là Chúa đã cảm động ông về nhu cầu giúp đỡ. Hermann Schulte hưởng ứng gánh nặng cùng khải tượng của chúng tôi vào lúc chúng tôi cảm thấy mọi việc cần được hoàn tất chồng chất tới mức bản thân chúng tôi là con người không thể nào làm được. Theo cách lạ lùng, ông đã qui tụ được nhiều cấp lãnh đạo cùng thương gia Cơ Đốc nổi bật tại Đức chung quanh chủ đề trọng tâm là làm chứng qua phát thanh.
Ngay từ lần đầu gặp gỡ Hermann Schulte, chúng tôi có ấn tượng ngay đây là một người rất quen thân với Chúa. Có vẻ như ngay từ đầu, người này đã biết cách giúp chúng tôi cất dở gánh nặng. Qua những đối thoại đầu tiên, chúng tôi biết ngay ông sẽ không nói: “Thôi bây giờ các ông cứ đến giúp chúng tôi. Chúng tôi chắc chắn rất vui được các ông thực hiện một loạt chương trình phát thanh cho đồng bào chúng tôi.”
Đây chính là con người - theo ý Đức Chúa Trời - sẽ nói: “Tôi sẽ thực sự mang lấy gánh nặng và cùng nhấc gánh nặng với các ông.”
Tôi nhớ niềm an ủi lớn lao khi đột nhiên nhận ra rằng ngay tại một trong những vùng mục tiêu quan trọng nhất của chúng tôi tại Âu châu có những Cơ Đốc nhân quan tâm giúp đồng bào mình. Sự hiện diện của mối quan tâm bản xứ như vậy cho chúng tôi lợi thế thành công trong dự án - hơn rất nhiều so với nhiệt tình bên ngoài của chúng tôi đổ vào một thính giả chưa sẵn sàng có thể đạt được.
Ngay tại điểm này tôi bắt đầu nhận biết Đức Chúa Trời không chỉ đang mở cửa. Ngài cho chúng tôi những người sẽ cùng đứng vào chỗ trống với chúng tôi, những con người biết cách giúp chúng tôi cất dở gánh nặng. Khích lệ lớn nhất chính là khi chúng tôi hiểu rằng Đức Chúa Trời có những người của Ngài rải rác khắp Âu châu - những người Ngài sẽ đụng đến khi Ngài muốn dùng họ - những người hoàn toàn tận hiến cho Ngài. Qua suốt công việc, tôi có thể nhìn lại và thấy những con người làm việc ở đây, ở đó, và ở đàng kia. Chẳng phải là số đông trong bất cứ nơi nào. Nhưng vì tận hiến cho việc làm chứng Phúc Âm giữa vòng đồng bào mình, những con người chủ chốt này qui tụ quanh mình những người khác chịu học hỏi tìm hiểu công việc phát thanh.
Ruben Lores, một trong những người cùng chia sẻ trong buổi nhóm cầu nguyện đầu tiên nhìn ra eo biển, đã đảm nhận chương trình nói tiếng Tây Ban Nha ngay. Ngoài nhiệm vụ thường lệ là mục sư của hội chúng Tây Ban Nha địa phương tại Tangier, ông cũng là thành viên bán thời gian trong ban phát thanh ngay khi chúng tôi chuẩn bị lịch phát thanh vào Tháng Hai 1954. Khi kế hoạch của ông thay đổi, buộc ông trở về bản xứ Cuba, chúng tôi nhận ra là mình phải đối diện với việc tìm người thế chỗ trong chính trọng tâm của công tác.
Ba tôi dự tính vào vùng lục địa lần đầu tiên kể từ khi hoạt động của chúng tôi bắt đầu, và ông để lại đài, tên của vài giáo sĩ tại Tây Ban Nha cũng như chỗ khác, là những người có thể giúp chúng tôi những lời đề nghị.
Đến Beatenberg, ông thấy chương trình của Chúa được bày tỏ cách bất ngờ hơn hết. Ba tôi kể lại cách Đức Chúa Trời điều khiển thậy kỳ lạ:
“Tôi đang nói chuyện với một thương gia tiếng tăm và mời ông cùng với tôi cầu nguyện xin một người nói tiếng Tây Ban Nha giúp cho ‘Đài Tiếng Nói Tangier.’
“Ngày hôm sau, ông nói là ông nghĩ có người có thể giúp cho công tác của Tây Ban Nha. Ông có quen một cặp vợ chồng trẻ, gia đình Valbuenas, tốt nghiệp Trường Kinh Thánh Lausanne, Thụy Sĩ, gần nhà ông. Ông biết họ từ nhà ở Barcelonia theo học ở đó. Dù sao tôi cũng đang tới đó để kiếm người, bởi lẽ nhóm theo phái Phúc Âm đông nhất tại Tây Ban Nha đều tập trung tại Barcelonia. Chắc chắn đây là sự lãnh đạo đáng tìm kiếm.
“Khi tôi hỏi về Sr. Valbuena ở Barcelona thì được biết ông đang ở Canada trong ba tháng, dạy Kinh Thánh tại Quebec. Phản ứng đầu tiên của tôi là : ‘Vậy thì thôi!’ Sau khi tìm quanh một hồi, tôi không thấy có ai khác có vẻ đủ điều kiện như vậy.
“Tàu lửa phải rời thành phố lúc 1 giờ chiều. Sáng hôm ra đi, tôi có ấn tượng mạnh mẽ rằng mình phải tìm gặp vợ ông ấy. Chỉ một lần viếng thăm ngắn ngủi, tôi đã có ấn tượng thật thuận lợi về Maria Valbuena, và nói cho bà ấy biết lý do tôi đến Barcelona. Khi tôi từ giã, bà ấy hứa: ‘Tôi sẽ viết thư cho Miguel tại Canada, nói cho ông ấy về nhu cầu của ông.’
“Khoảng mười ngày sau, chúng tôi nhận được thư từ Miguel Valbuena ở Canada: ‘Tôi đã cầu nguyện nhiều cho chức vụ tương lai của mình. Tôi nay đang ở Quebec chỉ để thăm thôi. Chúa đã tác động tôi suy nghĩ rằng tôi không nên làm việc cá nhân tại Tây Ban Nha, nhưng Ngài cần tôi trong một chức vụ rộng lớn hơn. Tôi không biết chức vụ đó sẽ là nơi nào. Khi thư tới, tôi cảm thấy ngay rằng “Đài Tiếng Nói Tangier” là câu trả lời cho tôi.’”
Đầu năm 1955, Miguel và Maria Valbuena cộng tác với chúng tôi tại Tangier. Chẳng những ông ấy đã triển khai một chức vụ mở rộng lớn lao giữa vòng những người nói tiếng Tây Ban Nha ngoài chương trình riêng của ông ta, nhưng ông cũng làm nhiều việc để triển khai những khóa học Kinh Thánh khắp Tây Ban Nha. Maria đưa ra một thời khóa biểu đa dạng về những sinh hoạt có liên quan giữa vòng trẻ em ở Tangier, như là phần cuối cho những chương trình phát thanh cực kỳ hiệu quả dành cho trẻ em.
Tiếp theo những khởi điểm trong tiếng Tây Ban Nha và Đức, chúng tôi có thể xúc tiến những chương trình phát thanh cho Nam tư và Rumani nhờ những tiếp xúc cũng tại Beatenberg. Ba tôi đã được mời nhiều lần dành cả mùa hè chia sẻ tại hội nghị. Một lần nọ ông làm quen với Tiến sĩ Josef Horak, một viên chức chính phủ nổi tiếng trong bộ kinh tế Nam tư. Ông cũng là chủ tịch của Hiệp hội Báp tít Nam tư; nhưng quan trọng hơn, ông là người thật sự của Đức Chúa Trời. Ngay sau đó tôi đi Zagreb, Nam tư, nơi người trẻ cũng như già đều vô cùng sốt sắng về việc truyền thanh cho người khác. Chuyến viếng thăm này là khởi điểm của mối liên kết thực sự của tấm lòng với người dân Nam tư.
Trong một xứ chủ yếu là Chánh thống Hi lạp, và một phần là Hồi giáo, dường như đây là một viễn tượng thành công để nghĩ đến việc gia tăng chức vụ của một tá rưỡi nhà thờ phái Phúc Âm qua sự quan tâm của người này. Tiến sĩ Horak bắt đầu ghi âm cho chúng tôi bằng tiếng Croatia-Serb, và cô con gái lớn của ông hát cho chương trình phát thanh. Các kỹ sư của chúng tôi có thể đi vào Nam tư và đi vòng quanh với Tiến sĩ Horak, ghi âm những ca đoàn cùng sứ điệp của nhiều mục sư. Cuối cùng chúng tôi cung cấp cho ông máy ghi âm bán chuyên nghiệp, và ông đã ghi âm nhiều sứ điệp ngay tại nhà mình. Sau đó những băng ghi âm này được gửi tới chúng tôi để truyền lại cho dân tộc ông tại Nam tư qua hệ thống làn sóng ngắn của “Đái Tiếng Nói Tangier.”
Hình ở trang 76: Hội nghị của ban phụ trách Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại hiện trường phát sóng ở Tangier, 1959
Một tiếp xúc khác tại Beatenberg mở cửa cho những chương trình phát thanh được phát sóng vào Rumania. Ông Hodoroaba, một nhà truyền đạo Báp tít tại Rumania, trốn khỏi nước vài năm trước, sang Pháp và tổ chức dân tị nạn Rumania thành một hội chúng Báp tít tại ngoại ô Paris. Một người nhiệt tình tự nhiên, ông lấy làm phấn khởi về đài của chúng tôi ngay khi nghe tin: “Tôi muốn nói trên đài của anh!”
Với sự trợ giúp của bạn hữu tại Đức là những người ủng hộ chức vụ phát thanh của mình, ông trở thành một phần thường xuyên trong chức vụ của “Đài Tiếng Nói Tangier” - cả qua sứ điệp lẫn âm nhạc của ca đoàn hội thánh ông.
Trong trường hợp cả hai chương trình Nam tư và Rumania, chúng tôi thấy đã đến được với nhiều thính giả trước kia từng sống sau Bức Tường Ngăn Cách. Các chương trình tiếng Rumania được phát sóng không chỉ cho nước họ, mà còn cho Tây Âu, nơi có nhiều dân tị nạn. Qua nhiều thư từ gửi tới chúng tôi, cùng những bạn hữu tới đem theo báo cáo, chúng tôi nhận được những câu chuyện tán thưởng ý nghĩa của chương trình phát thanh đối với họ. Những nhóm lớn - không phải chỉ ba hoặc bốn hoặc một chục - tụ tập trong nhà để nghe chương trình phát thanh.
Khởi đầu nhỏ với vài lối thoát về ngôn ngữ như thế, công việc tiếp tục phát triển cho tới khi có những chương trình phát thanh theo hai mươi bốn nhóm ngôn ngữ khác nhau. Năm 1956 máy phát sóng cũ được thay thế bằng máy10.000 watt và ngay sau đó, máy phát sóng 10.000 watt thứ hai tăng gấp đôi công suất mới. Hệ thống ăng ten đơn giản cũ mỗi lúc càng phức tạp hơn, khi chúng tôi phát sóng những chương trình đặc biệt cho hầu hết mọi nước tại Âu châu, Bắc Phi, Trung Đông, và sau Bức Tường Ngăn Cách.
Cùng với mối quan tâm gia tăng trong việc phát thanh Phúc Âm bởi những nhân sự Cơ Đốc trong nhiều nước khác nhau của Châu Âu, là nhu cầu cấp bách cần một ban giáo sĩ điều hành thích hợp để thực hiện công tác kỹ thuật, quản trị và văn phòng của “Đài Tiếng Nói Tangier.”
Vào những ngày đầu thời đó tôi thấy khó tìm ra đám trẻ đăng ký phục vụ làm giáo sĩ. Đa số họ chưa hề nghe “Đài Tiếng Nói Tangier,” còn các hội thánh thì chậm chạp trong việc cam kết hỗ trợ một tổ chức giáo sĩ mới. Nhưng chính trong việc này Chúa cũng đã có cách diệu kỳ riêng của Ngài để đột phá sự bế tắc này.
Tại Tangier, Ba Mẹ tôi hằng ngày cầu nguyện xin giúp thêm giáo sĩ. Tôi viết cho Ba tôi, nói rằng trước mắt chẳng có ứng viên nào cả. Một hôm Ba tôi nhận được thư của Anna Lee Erickson, một trong những sinh viên rất nhiều hứa hẹn tại Viện Canadian Bible Institute ở Regina lúc Ba tôi còn dạy ở đó và Mẹ tôi là Chủ nhiệm khoa của Nữ sinh viên.
Hình ở trang 78: Cô Anna Lee Erickson, giáo sĩ Bắc Mỹ đầu tiên được bổ nhiệm tại Tangier
Thư của Anna Lee đại khái như sau: “Qua chức vụ của ông tại Regina, mỗi lúc tôi càng mang gánh nặng về truyền giáo. Tâm trí tôi cứ trăn trở mãi là nên đăng ký vào đoàn thể truyền giáo rộng lớn nào. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ là mình nên phục vụ Chúa trên đồng truyền giáo với gia đình ông Freed hơn bất cứ nơi nào khác. Ông có thể dùng tôi không?” Vì đã biết rõ Anna Lee trong ba năm, nên song thân tôi trả lời ngay cùng ngày: “Chấp nhận.” Tôi tin đây là tiến trình xin việc nhanh nhất trong lịch sử của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới.
Theo cách diệu kỳ của Đức Chúa Trời, điều này đã thay đổi xu thế, và chẳng mấy chốc, đơn xin việc bắt đầu dồn dập. Lúc đầu chính cá nhân tôi giúp gây quỹ hỗ trợ. Cuối năm năm đầu hoạt động ban điều hành hiện trường truyền giáo của chúng tôi tại Tangier từ hai lên tới hai mươi sáu nhân viên.
Tangier là mặt trận tốt để chúng tôi hoạt động, và nhu cầu về phòng phát thanh cùng giấy phép để nâng cao thêm công suất thiết bị phát thanh giúp chúng tôi lập kế hoạch trước. Điều có vẻ lạ là ngân qũy dự trù cho Tangier không tới. Chúng tôi không hiểu tại sao, nhưng hầu như ngay từ đầu chúng tôi đã tìm kiếm trước những địa điểm trên lục địa.

ĐƯỢC THĂNG TIẾN
Mùa xuân năm 1957, khi từ Mỹ sang Moroco, tôi chẳng có lý do gì để cảm thấy có vấn đề. Mọi việc đều ổn thỏa tại đài Tangier. Nhiều người đang nghe chương trình của chúng tôi phát thanh bằng hai mươi bốn thứ tiếng. Nhưng hầu như trong tiềm thức, Chúa khiến tôi thấy là mình phải xem xét những khả năng để mở địa điểm phát thanh trong lục địa.
Đêm hôm trước khi phải trở về Mỹ, tôi cùng Ba Mẹ chạy xe ở phố Tangier. Chúng tôi đã dừng xe trước Bệnh viện Truyền giáo Bắc Phi để nói chuyện và cầu nguyện - như chúng tôi đã từng làm nhiều lần trước đây - xin Chúa dẫn bước chúng tôi. Chẳng suy nghĩ gì nhiều, tôi nói: “Có lẽ con sẽ về lại Greensboro theo đường Monte Carlo.”
Vừa khi nói lớn như vậy, tôi chờ đợi nghe: “Con ơi, vậy là sai chương trình rồi. Không nên làm vậy.”
Thế nhưng ngược lại, tôi nghe Mẹ nói: “Paul à, Mẹ nghĩ có lẽ con nên tới Monte Carlo. Mẹ tin là Đức Chúa Trời thực sự có trong sự việc này.”
Tôi ngạc nhiên là Ba tôi cũng cảm thấy Đức Chúa Trời đang dẫn dắt theo hướng đó. Niềm xác tin trọn vẹn của họ về sự hướng dẫn của Chúa luôn luôn là nguồn khích lệ lớn cho tôi. Họ không bao giờ do dự khi quyết định. Lúc đã biết chắc Đức Chúa Trời dẫn dắt mình, thì không còn lựa chọn, không còn bàn cãi nữa. Qua nhiều kinh nghiệm tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời không có hai phương hướng cho đời sống chúng ta. Vấn đề chỉ là tìm biết đường lối Ngài, rồi hành động theo đó.
Cả ba chúng tôi lại cầu nguyện. Và sáng hôm sau - vô cùng nôn nóng - tôi chuyển từ chuyến bay New York City sang chuyến bay về hướng Monte Carlo. Nhiều lần trong những ngày trước mặt, tôi phải nhìn nhận lần gặp nửa khuya đêm đó là chứng cớ hướng dẫn chắc chắn của Đức Chúa Trời.
Tại đài, ông E. Bosio , người điều hành đài Phát thanh Monte Carlo, đón tiếp tôi. Ông biết rõ công việc chúng tôi tại Tangier, và khen chúng tôi về công việc phát thanh tốt. Ông đưa tôi lên đỉnh núi nơi đặt những máy phát sóng. Và khi chúng tôi nhìn khắp thành phố, tôi dò ý ông về tính khả thi của việc chúng tôi dời về Monaco, và làm việc qua giấy phép của họ, dựng một máy phát sóng cho chương trình phát thanh Cơ Đốc toàn thời gian. Chúng tôi đề cập loại ăng ten định hướng cần thiết để đến với vùng đó trên thế giới. Sau đó, khi cuối cùng bàn về khả năng tìm một số nhân viên cho đài, thì tôi thấy họ đáp ứng rất tích cực. Họ cũng quan tâm vào thời điểm đó, tôi không nên công khai sự đáp ứng của họ, mà chỉ tiếp tục liên lạc và cùng nhau thận trọng hoạch định thêm chi tiết.
Vào hè thì công việc ở Tangier tiến triển êm xuôi đủ để Ba Mẹ tôi thực hiện chuyến về nghỉ tại Hoa Kỳ rất xứng đáng với họ. Trên đường về Mỹ, họ quyết định ghé qua công quốc bé nhỏ Monaco. Tôi tự hỏi không biết Mẹ tôi có nghi ngại gì không, khi bà thực sự nhìn thấy Monte Carlo trong toàn cảnh quyến rũ như thế. Tôi chắc chắn phản ứng của bà sẽ là: “Cảnh có phần hơi quá tuyệt vời!”
Ba Mẹ tôi đăng ký vào Khách sạn Majestic hướng ra bến cảng. Ba tôi kể lại, Mẹ tôi ngắm cảnh rồi nói: “Ralph à, em cảm thấy mạnh mẽ rằng Chúa đang ở trong toàn bộ sự việc này.”
Vào tháng Chín 1957, tôi tới nhà em gái tôi là Ruth, ở Ringwood, New Jersey. Betty Jane và tôi đang trong tiến trình chuyển cả gia đình cùng trụ sở của chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới từ Greensboro, North Carolina, tới vùng New York - để tiện hơn cho các giáo sĩ tới lui. Vào lúc Ba Mẹ tôi về tới thì chúng tôi đang sống gần Ruth với chồng là Armstrong, hiện đang chủ tọa Hội thánh Cộng đồng tại Ringwood. Thật là tuyệt vời khi tất cả chúng tôi được gặp nhau - Ba Mẹ, con cái và các cháu. Một trong những buổi ăn mừng của chúng tôi là kỷ niệm bốn mươi năm đám cưới của Ba Mẹ, ngày mươì bốn tháng Mười Một. Ba tôi vui có dịp mua quà nhỏ làm vui lòng người yêu của ông. Tất cả chúng tôi đều có thể thấy niềm vui trong cuộc sống chung của họ. Rõ ràng là họ thắm thiết yêu nhau, và mỗi người quan tâm hiểu nhau và làm vui lòng nhau.
Lúc đầu Ba tôi đi giảng, có vắng nhà đôi chút, nên tôi có cơ hội ở nhà với Mẹ - chỉ có hai mẹ con. Tôi còn nhớ vẻ biết ơn thầm lặng của bà, niềm vui sâu xa nhìn thấy đứa con thứ tư của chúng tôi là Stevie được tám tháng vào lúc đó. Một hôm trong vườn nhà chúng tôi, mẹ tôi ngồi trên ghế nơi sân cỏ ngước nhìn tôi, nói với ý nghĩa sâu xa: “Paul à, Chúa làm mọi việc thật tốt đẹp.”
Vào khoảng giữa tháng Mười Một, tôi hẹn giảng tại the Church of the Open Door ở West Coast. Vài bạn đem xe tới đưa tôi ra phi trường. Tôi chào từ biệt gia đình, thì có chuyện lạ xảy ra. Tôi chỉ đi có bốn hoặc năm ngày thôi, nhưng bỗng nhiên cảm thấy thôi thúc mãnh liệt muốn nói chuyện với mẹ tôi. Tôi xin lỗi mọi người, bước vào phòng mẹ tôi, và làm một việc mà tôi chưa hề làm theo cách đó trước đây. Mẹ con tôi vẫn thường rất gần gũi nhau, nhưng lần đầu tiên trong đời tôi - chẳng có lý do nào rõ ràng - tôi để ra khoảng mười phút nói với mẹ rằng tôi yêu mẹ ra sao, ảnh hưởng của mẹ có ý nghĩa biết bao trên cuộc đời tôi. Bà bắt đầu khóc. Nhưng tôi muốn mẹ biết cuộc đời của bà là nguồn cảm hứng lớn lao cho tôi, bà thật dịu dàng với tôi, và tôi cứ tiếp tục nói. Tôi nói với mẹ là tôi rất vui ba mẹ đã trở về Mỹ, và tôi mong chờ được có mẹ bên cạnh suốt năm. Tôi nhớ đã lau nước mắt cho mẹ, và hôn từ biệt mẹ. Rồi tôi vội vã ra xe và đi phi trường, và chẳng bao lâu đã tới bên kia bờ lục địa, ở Los Angeles.
Vì Ba Mẹ tôi về nghỉ ngơi cũng như để nói cho các hội thánh điều Chúa đang làm qua “Đài Tiếng Nói Tangier,” cho nên họ quyết định tốt nhất là nên thuê một nơi ở riêng suốt cả năm.
Trong khi tôi đi vắng, nhân viên nhà đất cho họ xem một căn nhà nhìn ra hồ. Giá cả phải chăng và ngôi nhà có vẻ xinh xắn. Mẹ tôi giống như một bé gái có được búp bê mới.
“Ralph à, biết đâu Chúa lại cho mình có được nơi nhỏ bé xinh xắn này thì sao nhỉ?”
Ánh mắt bà long lanh khi song thân tôi đi bộ khoảng mười lăm phút về nhà Ruth. Bà có vẻ mệt mỏi, nhưng cứ luôn miệng nói cám ơn Chúa vì có được căn nhà riêng xinh xắn. Chúa thật nhân từ biết bao!
Ba tôi để ý thấy mẹ tôi bước chậm hơn bình thường, nhưng bà chỉ mỉm cười nói: “Tôi chỉ mệt thôi.” Trong bữa ăn trưa, họ nói chuyện về căn nhà, và thích thú đề cập chuyện trang hoàng nhà. Mẹ tôi vô cùng biết ơn Chúa về sự nhơn từ của Ngài khi kể lại cho Ruth và Ben việc gặp nhân viên nhà đất hồi sáng, và mô tả việc tìm ra căn nhà nhỏ trên bờ hồ - giống như ngôi nhà trong mộng.
Chiều hôm ấy bà than đau, cộng thêm cảm giác đau bao tử. Bà giải thích, lại khó tiêu nữa rồi, và ra ngoài dạo quanh nhà. Trong mấy năm qua, bà đã bị như thế nhiều lần, nhưng lần này khi bước vào nhà, cơn đau trở nên nặng hơn, và lan qua vai cùng cánh tay trái.
Hồi còn ở biên giới Ả Rập, gia đình chúng tôi đã nhiều lần trông đợi Chúa khi không có bịnh viện cũng chẳng có tiệm thuốc. Chúng tôi không có thói quen mời bác sĩ ngoại trừ bị ốm nặng. Buổi chiều đặc biệt này tại New Jersey, Mẹ tôi tin chắc mọi chuyện sẽ bình thường. Nhưng khi Bác sĩ Duff Brown nghe về cơn đau nơi ngực cùng cánh tay bà thì khuyên nên mời bác sĩ chuyên khoa tim và nên đưa bà đi bịnh viện ngay.
Ben cùng đi trong xe cứu thương với bà tới bịnh viện ở Montclair. Sau này anh nói với tôi là lúc ấy bà vẫn nghĩ là vấn đề tiêu hóa. Cơn đau có thuyên giảm và bà không thấy khó chịu lắm. Họ cười đùa với nhau khi xe bật đèn đỏ bí hiểm luồn lách trong bóng đêm. Thực sự cả nhà đều cho là bác sĩ quá mức thận trọng khi đề cập khả năng bị bịnh tim của bà; sức khỏe bà đang thật là tốt.
Khi xe cứu thương vào tới cổng cấp cứu tại Bịnh viện Mountainside thì đã tám giờ tối. Ben lo ổn định chỗ cho bà qua đêm xong mới về nhà. Ba tôi thức chờ báo cáo trực tiếp đầu tiên. Nhưng sau khi nghe bà khá dễ chịu, thì ông quyết định đi nghỉ để chuẩn bị vào thăm bà lúc sáng sớm.
Khi tôi trở về khách sạn tại California sau buổi nhóm, trên bàn có giấy nhắn gọi cho tổng đài ở New Jersey. Khi nối xong đường dây liên lạc, vợ tôi báo là có tin khó nói: “Mẹ bị suy tim, Paul à. Nhưng bác sĩ nói bà khỏe lắm rồi.”
Thật là cú sốc nặng nề cho tôi. Lúc lần lữa từ biệt tôi không mảy may nghĩ tới vấn đề gì. Tôi nghĩ tới nhiều lần khác Đức Chúa Trời thực sự đã gặp mẹ tôi. Một lần nọ tại Trung Đông, Ngài đã làm phép lạ đỡ bà dậy khỏi tình trạng giống như là phút lâm chung. Tôi tin chắc là Đức Chúa Trời sẽ cho bà ở với chúng tôi chừng nào mà Ngài còn cần tới bà tại nơi này. Trước đây đã có nhiều lần tôi nghĩ tới việc bà qua đời. Tôi biết bà sẽ ra đi khi Chúa muốn bà đi, nhưng tôi thấy lòng nặng nề lúc gác máy điện thoại. Tôi bước ra đường vào quãng trường. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời bày tỏ ý muốn Ngài trên đời sống bà như Ngài đã làm suốt nhiều năm nay. Khoảng 2 giờ sáng tôi trở về phòng và ngủ thiếp đi. Mới bốn giờ sáng, tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại chói tai.
Giọng Betty Jane nghe thật gần khi nàng nói: “Anh yêu, anh có bình tĩnh không đó? Mẹ vừa từ giã chúng ta về với Chúa rồi, Paul à.”
Dù rằng câu nói của Betty Jane là cú giáng khủng khiếp khiến tôi sững sờ, nhưng tôi vẫn nghe giọng Mẹ vang bên tai: “Chúa đang điều khiển cuộc đời chúng ta, Paul à. Và Ngài làm việc đó theo cách riêng của Ngài.”
Cái chết đột ngột của bà cũng khiến bác sĩ phải kinh ngạc. Bác sĩ chuyên khoa tim được mời vào ngay. Mẹ tôi đã ngủ ngon và ăn sáng. Các biểu đồ theo dõi bà trong thời gian ngắn ở bịnh viện cho thấy bà vẫn khỏe. Mọi thứ có thể làm đã được hoàn tất. Nhưng sau bữa điểm tâm, khi bình thường Mẹ vẫn đi tới đi lui, thì y tá nghĩ là có sự yên lặng bất bình thường. Cô ta mở cửa phòng để kiểm tra thì thấy Mẹ đã lặng lẽ qua đời. Đây là cơn suy tim thứ hai.
Ba tôi thường nói: “Mẹ con là tấm gương và nguồn cảm hứng lớn cho ba, đặc biệt trong những lúc thử thách, ba biết phản ứng của mẹ là không nhìn lui, mà là nhìn tới để học điều Chúa muốn dạy chúng ta qua kinh nghiệm của mình. “Được ở với Đấng Christ là điều tốt hơn rất nhiều’ giống như một loại dầu thơm xoa dịu lòng đau đớn của ba. Câu này là niềm an ủi lớn, và ba thường xin Đức Chúa Trời cho ba ân sủng để biết rằng điều đó là tốt hơn cho mẹ rất nhiều.”
Mẹ tôi lúc nào cũng nghĩ tới người khác. Bà là loại người hoàn toàn quên mình. Cả cuộc đời bà có thể được thu gọn trong từ “cầu nguyện.” Lúc nào bà cũng lo cho Ba tôi, và gia đình, và công việc phát thanh, không bao giờ lo cho mình. Về sau chúng tôi được biết là chỉ vài phút trước khi qua đời bà đã nói về ơn lành của Chúa trên chức vụ phát thanh tại Tangier.
Vào tám giờ cùng buổi sáng đó (giờ California) tôi đang trên máy bay từ Los Angeles trực chỉ hướng đông về với gia đình. Suốt chuyến bay, sự thực hữu của những điều tôi từng giảng biết bao nhiêu lần tại nhiều nước lại đến với tôi. Lần đầu tiên trong đời, cá nhân tôi kinh nghiệm được sự thực hữu của sự kiện vinh quang ấy là sẽ có ngày tôi gặp lại Mẹ, mặt đối mặt. Tôi tin chắc điều này môt trăm phần trăm khi bay ngang bầu trời và xem xét lại toàn bộ ý nghĩa món quà cứu rỗi của Đức Chúa Trời cùng sự sống đời đời qua Chúa Giê-xu Christ. Gặp Ngài và gặp Mẹ tôi một ngày kia đã trở thành một thực tế và chắc chắn tuyệt đối trong trí lẫn trong lòng tôi.
Dù bị chết lặng với tin sửng sốt đó, nhưng đồng thời tôi cũng có thể hiểu vài điều cách rõ ràng không thể lầm lẫn được. Tôi không thể chỉ nghĩ đến sự mất mát thể xác. Tôi không thể loại trừ Đức Chúa Trời ra khỏi sự thật là mẹ tôi đã chấm dứt cử động nói năng theo chiều của chúng ta. Mẹ tôi đã liên tục sống với Chúa. Và mọi người quen biết đời sống ngọt ngào của bà đều nhận biết đó là kết quả của mối liên kết giữa bà với Ngài. Việc bà xa cách tầm với của chúng ta không phải là kế hoạch của con người - đó là kế hoạch của Đức Chúa Trời để đưa bà vào trong hiện diện với Ngài.
Chúa đã giúp tất cả chúng tôi khi trải qua mọi khó khăn mà mọi người phải đối diện lúc chết. Tại New Jersey chúng tôi chưa quen biết nhiều, nhưng chúng tôi mong ước tìm được người đủ thân với chúng tôi và thực sự yêu Chúa để làm lễ tang. Tiến sĩ Charles Stevens, người mà Đức Chúa Trời sai tới đáp ứng nhu cầu của chúng tôi trong cơn khủng hoảng tài chánh những ngày đầu tại Tangier, xuất hiện trước tiên trong trí tôi. Tôi gọi điện cho ông tại Winston-Salem, N. C., ông vừa trở về sau một loạt hội họp đặc biệt tại Florida. Ông rất mệt, nhưng ông muốn chia sẻ với chúng tôi trong cơn đau buồn theo bất cứ cách nào có vẻ là tốt nhất. Tôi hỏi ông có thể đến làm lễ tang được không, thì ông nói: “Tôi xem đó là đặc ân.”
Ông biết rõ cả Ba Mẹ tôi. Thật sự, chính hội thánh ông đã hỗ trợ cho Tangier. Ông đã đi sáu trăm dặm hôm ấy để giúp chúng tôi, và tôi không bao giờ có thể nói hết được ý nghĩa sự hiện diện của ông. Đích thân ông chỉ nói với tôi có vài lời, và trong chính buổi lễ, mối liên kết gần gũi vốn ràng buộc Cơ Đốc nhân với nhau, thật hiển nhiên cách nồng nàn và chắc chắn.
Mẹ tôi không hề trở về trong suy nghĩ hoặc giấc mơ của tôi theo cách dị thường hoăc kỳ lạ. Trí và lòng tôi liên tục tin tưởng tuyệt đối rằng mẹ tôi không còn ở đây nữa, vì bà đang ở với Chúa. Tôi không biết những người khác sẽ làm gì, nhưng tôi thì có trở lại nghĩa trang hai hoặc ba lần kể từ ngày tang lễ của bà. Không phải là tôi cố tình tránh né. Tôi có thể đi bất cứ lúc nào. Nhưng Mẹ tôi đâu có ở đó, bà đang ở với Chúa.
Mặt khác, mẹ tôi hiện nay vẫn là một thực hữu sống động như khi bà còn sống ở đây. Bước đi giữa bà với Chúa, vinh quang của cuộc sống hằng ngày với Ngài, đều là những thực tại có thực đối với tôi ngày nay. Cuộc sống của bà vẫn tiếp tục với tôi; cùng một lúc bà đang ở với Chúa, nơi mà chúng tôi sẽ cùng sống với bà sau này. Với sức mạnh khó tin, kinh nghiệm này về sự chết giúp tôi biết thực tại đích thật của sự sống, sự sống đời đời của chúng ta qua Chúa Giê-xu Christ
Tôi không có cảm giác: “Bây giờ tôi không sống được nữa - cuộc sống đã mất hết tất cả.” Cuộc sống chẳng mất gì đối với tôi. Chính ngày Chúa nhựt sau đó tôi đã có thể giảng tại hội thánh có hẹn trước, và cảm thấy đó chính là nơi bà muốn tôi tới. Mẹ tôi muốn chúng tôi cứ tiếp tục nói cho mọi người biết về cùng một Đức Chúa Trời mà bà đã biết và yêu mến.
Tôi nhớ có lần Mẹ đến với tôi sau khi nghe tôi đề cập bà như một minh họa trong bài giảng. “Con Paul à, bây giờ con phải để ý một chút. Đừng có đề cập mẹ trong bài giảng. Chỉ đề cập Chúa Giê-xu Christ thôi.”
Tôi yêu mẹ sâu sắc, và tình yêu chúng tôi kinh nghiệm được đã biến thành sức mạnh cho cuộc sống hằng ngày kể từ khi bà qua đời.
Có lẽ sự chết dạy chúng ta một bài học trong sự quân bình của nếp sống Cơ Đốc - quân bình giữa việc biết rằng mình là những tạo vật được tái sanh trong thế giới thuộc linh, với việc biết rằng chúng ta là những con người đang sống trong sự hiện hữu trần thế mỗi ngày. Việc chúng ta nhấn mạnh vào sự sống đời đời cùng hi vọng của chúng ta trong Đấng Christ phải bao gồm mối quan tâm thành thật muốn sống trọn vẹn tại nơi mình đang sống. Cả cuộc sống thường ngày ở trần gian lẫn thực tại vinh quang của quyền công dân thiên quốc của chúng ta đều là những sự kiện cơ bản trong Kinh Thánh. Cuộc sống của Mẹ giữa vòng chúng tôi minh chứng quá rõ rằng cả hai điều đó là những nhấn mạnh chủ yếu trong nếp sống Cơ Đốc quân bình.
Nhờ biết được địa vị của mình với Đức Chúa Trời là chắc chắn và bảo đảm một trăm phần trăm trong Chúa Giê-xu Christ, nên bà mới có được sức sống dư dật trong thời biểu hằng ngày, bất cứ bà sống nơi đâu. Cuộc đời của bà là cuộc đời vươn lên Chúa, và vươn ra những người cần có Ngài.
Betty Jane sau này tâm sự với tôi rằng nàng tự hỏi có thể cái chết của Mẹ là nguyên nhân làm chậm lại hoặc ngưng trệ toàn bộ công việc hay không.
Nàng cười, nói tiếp: “Tuy nhiên, trong lòng em vẫn biết là không phải như vậy đâu, Paul à.”

NHỮNG ĐỐI ĐẦU MỚI
Một trong những điều Mẹ tôi muốn tôi có đó là bằng tiến sĩ. Chẳng phải là tôi không muốn lấy, đúng hơn là vì có một điều khác lúc nào cũng chiếm chỗ ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch của tôi. Giờ thì Mẹ đã ra đi, ký ức về ao ước của bà đối với tôi tạo nên lực thúc giục mà tôi đang cần để đẩy nhiệm vụ này lên đầu bảng danh sách. Tuần lễ sau khi bà qua đời, tôi bắt đầu lăn bánh và thực sự tham dự một trong những kỳ thi lớn nhất trong chương trình Tiến sĩ của tôi.
Trường School of Education tại New York University giúp làm sáng tỏ luận án ba-ngành của tôi: bang giao quốc tế, truyền thông đại chúng, và giáo dục tôn giáo. Tựa đề thật là dài và bao gồm: “Công trình Nghiên cứu về Phạm vi của những Mục tiêu được đề ra trong các Chương Trình Phát thanh Tôn giáo do Hoa Kỳ sản xuất, được Soạn sẵn để Phát sóng tại Âu châu, sẽ được Thực hiện Tùy Theo Cấp Lãnh đạo Tôn giáo của Pháp, Đức và Tây Ban Nha.”
Nhiều nhà truyền giảng Phúc Âm nói với tôi rằng Cơ Đốc nhân không thể theo học đại học thế tục mà không thỏa hiệp trong lời chứng của mình được. Họ nói, không thể nào thực sự đứng về phe Đấng Christ trong hàng ngũ những cây cổ thụ đã được công khai thừa nhận về học thuật. Kinh nghiệm cá nhân của tôi tại New York University buộc tôi phải vội vàng binh vực những người bảo trợ tôi. Điều kiện đã rõ ràng, và điều cần thiết cho nhà trí thức Cơ Đốc, cũng như nhà tìm hiểu thuộc phái bất khả tri, ấy là phải đáp ứng điều kiện trước khi được công nhận là nhà nghiên cứu chân thật. Tuy nhiên, nếu một người thực sự nghiên cứu hợp lý để lấy bằng cấp, nếu người ấy chịu khẳng định chính xác tiền đề của mình, nếu người ấy ngay thật về những qui định ranh giới của công trình cùng việc nghiên cứu mình đã thực hiện, nếu người ấy chịu thận trọng xác định đầy đủ những điều kiện của mình, nếu người ấy có kiến thức để bảo vệ luận án của mình, thì người sẽ có được sự tôn trọng về học thuật từ những người trong ngành, bất chấp niềm tin của mình. Cho nên điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta chính là chúng ta phải theo đúng thủ tục khoa học thông thường, dùng những văn kiện chứng minh có cơ sở, và có những mẫu mực tư duy hợp lý.
Trong đại học này tôi thấy mình rất có thể khởi đầu với tiền đề cho rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Đại đa số mọi người ở đây không tin là như vậy; nhưng tôi hoàn toàn có quyền với tư cách học giả, khẳng định điều này như là một trong những tiền đề của mình. Bước học thuật đầu tiên trong một luận án chính là giải thích một số tiền đề và phạm vi ranh giới, phải xác định một số điều kiện. Và sau khi thực hiện xong những điều đó, thì trường đại học chờ đợi những thủ tục và kết luận hợp lý từ những tiền đề cơ bản. Tôi thấy những người biết suy tư thì không chỉ trích hoặc xem thường công việc của chúng ta. Họ không có cơ sở để cho là chúng ta bất hợp lý một khi chúng ta đã khẳng định rõ ràng tiền đề bảo rằng có một Đức Chúa Trời, và Kinh Thánh là Lời Ngài phán với con người.
Hai năm rưỡi học tập và khảo cứu để lấy bằng Tiến sĩ đã giúp chúng tôi chuẩn bị mở rộng công việc trong lục địa Âu châu. Những chỉ dẫn chính từ luận văn của tôi cung ứng thông tin hữu dụng trong chương trình phát thanh truyền giáo của chúng tôi. Một điều kiện quan trọng nổi bật hơn cả trong khi tôi lập bảng kê và đánh giá những kết quả việc khảo cứu của mình. Những mẩu ý kiến ngẫu nhiên thâu băng, trực tiếp, qua câu hỏi điều tra, với những nhóm đại diện dân bản địa, qua việc nghe chương trình phát thanh cho chín trung tâm chính tại Âu châu - tất cả đều cho thấy rõ một yếu tố quan trọng để thành công trong việc truyền thông. Chương Trình phát thanh phải gắn liền với kinh nghiệm sống hằng ngày, với cuộc sống đời thường, với nan đề mỗi ngày. Chìa khóa của nếp sống Cơ Đốc không nhất thiết phải là sự xuất hiện ngoạn mục của Đức Chúa Trời trong bụi gai cháy, mà là sự hiện diện trường cửu của Ngài trong những thất vọng, những tranh chiến, những niềm vui của gia đình, của sở làm, của cửa tiệm, của xưởng đúc, của đấu trường thể thao. Giáo lý đúng trong những chương trình của chúng tôi là nền tảng thiết yếu, nhưng chúng tôi cũng muốn bảo đảm cung ứng chỉ dẫn cách sống cuộc đời Cơ Đốc nhân nữa.
Suốt thời gian làm luận văn tại Đại học New York, tôi có liên lạc thư từ với ông Bosio và ghé qua đài ở Monte Carlo vài lần để duy trì vấn đề mở rộng chương trình. Đôi lúc tôi tự hỏi không biết toàn bộ công việc có là lãng phí thì giờ hay không. Chúng tôi đang làm tốt tại Tangier vào lúc đó. Thật ra, ngay giữa thảo luận với Monte Carlo, chúng tôi gần đi tới việc lập kinh phí thực sự để mở rộng những phương tiện tại Tangier. Bây giờ khi nhìn lại thì rõ ràng là nơi mà chúng ta trước đây thường muốn sấn tới với những kế hoạch mở rộng của mình thì bây giờ chúng tôi lại cảm thấy muốn chậm bớt lại. Chúng tôi bàn tính mua thêm đất và gắn hệ thống ăng ten lớn hơn. Nhưng Đức Chúa Trời kéo chúng tôi chậm lại.
Bỗng nhiên Morocco được độc lập và bức tranh chính trị bắt đầu thay đổi nhanh chóng. Một thông báo từ chính phủ khiến cho sự trì hoãn của chúng tôi tại Tangier hoàn toàn rõ ràng: mọi việc phát thanh trong nước đều phải quốc hữu hóa vào cuối 1959. Lúc này là tháng Tư. Cảnh có vẻ đen tối như nửa khuya khi ban điều hành tại Tangier nghe tin vào lúc đầu. Ba tôi đọc thông báo của chính phủ cho nhóm cầu nguyện chiều Thứ Tư. Thật là một cú giáng choáng váng nhưng chẳng một người nào nói: “Thôi thì có lẽ chúng ta phải về nhà thôi.”
Tất cả chúng tôi biết rằng xuyên suốt các Eo Biển có dẫy đầy những máy phát thanh - ước lượng khoảng 80.000.000 cái vào thời đó. Và chúng tôi biết rằng không có đài phát thanh Phúc Âm nào hoạt động toàn thời gian trên vùng lục địa. Cho nên chúng tôi chờ đợi Đức Chúa Trời hành động. Có sự cầu nguyện ráo riết và những ngày căng thẳng đó đầy ắp những tình cảm xúc động và chờ mong.
“Lạy Chúa, Ngài dành cho chúng con điều gì đây? Nếu Ngài đóng cửa này, xin chỉ cho chúng con công việc kế tiếp.” Cả nhóm đều đồng thanh cảm nhận được rằng Đức Chúa Trời sẽ mở một cơ hội phát thanh khác.
Khi thông báo của chính phủ Morocco tới trụ sở trung ương chúng tôi tại Chatham, New Jersey, chúng tôi cảm thấy như thể mọi chuyện đều sụp đổ. Nhưng Chúa lại nhanh chóng quay chúng tôi sang một hướng khác. Trong vòng hai mươi bốn tiếng, tôi đáp chuyến bay từ New York tới Monte Carlo. Chúng tôi không có được bảo đảm cụ thể nào về bất kỳ điều gì đang triển khai ở đó, và tôi cũng sẽ không đẩy mạnh một hợp đồng nào trước đó dù là có khả năng. Tất cả chúng tôi trong công tác đều cảm nhận chắc chắn trong lòng rằng chúng tôi vừa khởi đầu thật tốt trong việc phát thanh Phúc Âm, và chúng tôi tin chắc một cách kỳ lạ rằng Chúa sẽ thực hiện môt điều gì đó vì cớ chúng tôi. Tìm cho ra một nơi tại Âu châu để có thể dựng một máy phát sóng cho việc phát thanh Cơ Đốc toàn thời gian, có vẻ là việc làm khó nhất trong lãnh vực phát thanh. Nhiều cấp lãnh đạo Cơ Đốc khác cũng thấy rõ ràng là như vậy. Tất cả những châu lục khác đều đã có những máy phát sóng như vậy, nhưng còn Âu châu - với sự tập trung đông đảo nhất những máy phát thanh bên ngoài nước Mỹ- thì chẳng có cái nào. Chúng tôi đã tìm khắp nhiều nơi trong châu lục để đặt một đài mới, nhưng theo như tôi được biết thì Monte Carlo thực sự là khả năng duy nhất.
Suốt những lần thương luợng đầu tiên của chúng tôi tại đó, nhu cầu đài phát thanh chưa cấp bách. Vào lúc nhu cầu trở thành cấp bách, thì Monte Carlo đã quyết định. Ngay tại điểm khủng hoảng của chúng tôi, họ sẵn sàng đề cập cụ thể những điều khoản của hợp đồng. Vâng, Đức Chúa Trời đã đình chỉ việc mở rộng”Đài Tiếng Nói Tangier” trong một thời gian vì Ngài có một việc lớn hơn trong kế hoạch tổng quát của Ngài. Ngài không muốn chúng tôi phung phí sức lực hoặc tiền bạc của Ngài, mở rộng một dự án phải chấm dứt trong nay mai. Đức Chúa Trời có cách định thời điểm thật diệu kỳ trong mọi sự!
Tôi đã có thể thực hiện được ngay những thương lượng tại Monaco và tin tưởng xúc tiến cách mạnh mẽ. Đó là Tháng Tư 1959 khi chúng tôi bắt đầu đặt ra những kế hoạch vững chắc để Đài Phát thanh Monte Carlo được quyền hoạt động. Ba tôi với tôi cầu nguyện thật nhiều cho việc sắp xếp với ban phát thanh, và cuối cùng - với cân nhắc kỹ lưỡng - chúng tôi quyết định ứng trước cho họ 50.000 Mỹ kim. Chúng tôi không biết mình sẽ kiếm đâu ra khoản đó, nhưng cảm thấy nếu hứa ít hơn thì sẽ khiến họ thấy bị tổn thương.
Tuy nhiên, khi tôi nói chuyện với ông Bosio, thì ông hỏi: “Ông có muốn Ban Giám Đốc chấp thuận hợp đồng này không? Ông có thể đặt trước bao nhiêu tùy ý, ông biết đó. Nhưng nếu ông thực sự muốn thông qua việc này thì có lẽ ông nên chuẩn bị ứng trước một khoản bao trọn chi phí tổng cọng cho việc lắp đặt. Vậy là khoảng nửa triệu Mỹ kim. Tôi nghĩ đó là cách duy nhất để họ chấp thuận hợp đồng.”
Dường như ông Bosio cố gắng giúp chúng tôi hiểu được tầm quan trọng phải đề nghị một khoản tiền hấp dẫn đối với Ban Giám Đốc - một đề nghị mà họ không ngại ngùng chấp nhận. Ông nhắc khéo rằng đó sẽ là cơ hội ngàn năm một thuở, không nắm lấy là mất trắng.
Chúng tôi biết Ban Giám Đốc đã tính chi tiết những khoản phí lắp đặt của hệ thống ăng ten lớn với máy phát sóng 100.000 watt chúng tôi sẽ cần tới. Chúng tôi không có
Hình ở trang 92: Hệ thống ăng ten sóng ngắn cuả Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới trên đỉnh Mount Agel bên trên Monte Carlo
con số chính xác nhưng ông Bosio đã ước tính tổng số sẽ là khoảng nửa triệu đô la. Chúng tôi cũng biết là Ban Giám Đốc sẽ không quan tâm đầu tư ngân quỹ riêng của họ. Tất cả đều sẽ phải do nhóm nhỏ chúng tôi đài thọ. Ông Bosio đề nghị chúng tôi phân tổng số tiền thành sáu lần trả góp, lần trả thứ nhất là ngay lúc họ chấp thuận dự án. Năm lần kia sẽ trả trong vòng một năm giữa lúc lắp đặt máy phát và ăng ten.
Còn một tháng nữa thì tới kỳ họp Ban Giám Đốc theo dự kiến, và chúng tôi cảm thấy mình đang lên cung trăng. Ngay cả con số một phần sáu để đặt cọc 83.000 đô la nghe cũng đủ là hoang tưởng rồi!
Trong khi tất cả chúng tôi lúc đầu đều phấn khích với khả năng dời hoạt động phát thanh về Monte Carlo, thì phản ứng thứ hai của chúng tôi lại khác hẳn. Một đợt sóng kinh hoàng đập vào tôi, và tôi thực tình không biết mình có mất trí hay không. Trong khi chúng tôi đang phác thảo hợp đồng, thì tôi với Ba tôi dành hàng giờ chuyện trò và cầu nguyện. Chúng tôi phải “đập khi sắt còn nóng,” và chúng tôi chẳng còn ai để nhờ vả, ngoại trừ Đức Chúa Trời. Thảo luận vấn đề cách công khai hoặc thậm chí với những cá nhân khác sẽ gây hại lớn cho những khả năng hoàn tất hợp đồng. Việc vạch ra từng chi tiết và quyết định, đã đem Bố con tôi lại gần nhau và gần Chúa hơn. Nhưng nửa triệu Mỹ kim thì nghe hầu như vô vọng!
Ông Stanley Clark, một giám đốc của Ngân hàng Barclay cho toàn vùng Trung Đông, từng là bạn thân với Ba Mẹ tôi suốt nhiều năm. Tuy không thể giúp tài chánh cho dự án Monte Carlo, nhưng ông là khích lệ lớn cho chúng tôi khi chúng tôi đưa vào hợp đồng - chỉ bằng đức tin - việc trả góp gấp mười lần số chúng tôi từng mong đợi. Ông Clark ủng hộ chúng tôi một trăm phần trăm, giúp cố vấn, đưa chúng tôi tiếp xúc những người thích hợp, ngay cả gặp gỡ một số viên chức thay cho chúng tôi. Một bậc thủ lãnh người Anh, với lời chứng Cơ Đốc thực sự giữa vòng nhóm Plymouth Brethren. Ông Clark đã có lần được bổ nhiệm làm Thống đốc của United Nations International Conclave tại Israel. Ông thường tiếp đón và chiêu đãi những nhân vật như Hoàng đế Haile Selassie cùng Phu nhân tại nhà riêng, nhưng ông có vẻ cũng thoải mái với chúng tôi. Ông không ngừng cho chúng tôi thấy sự hiệu quả của một đời sống thực sự hiến dâng cho Chúa. Nếp sống của ông là bản dịch từng ngày của đức tin cá nhân sang hành động có ý nghĩa.
Cùng lúc đó chính quyền tại Monte Carlo yêu cầu hợp đồng đã đề nghị phải được giữ kín trong khi chờ đợi, họ cũng yêu cầu đặt cọc 83.000 Mỹ kim mà đối với chúng tôi, nghe như thể là 83.000.000 vậy!
Hợp đồng là một thử nghiệm nghiêm trọng những ý định cùng khả năng hoàn tất những nghĩa vụ tương lai của chúng tôi. Thiết bị mà họ phải lắp đặt hoàn toàn thuộc về Đài Phát thanh Monte Carlo, nhưng họ lại không tài trợ. Vì vậy, hợp đồng xác định rằng chúng tôi phải trả nửa triệu - tổng chi phí của việc lắp đặt ứng trước - cho chúng tôi thuê phương tiện phát thanh toàn thời gian trong mười năm với số lần gia hạn vô định. Vốn đầu tư ban đầu của chúng tôi sẽ dần dần lấy lại được qua những phí tổn thuê mướn và hoạt động.
Chúng tôi phải đối diện một chuyện thật khắc nghiệt! Một luật sư Thụy Sĩ, trong lúc kỹ lưỡng xem xét hợp đồng, có vẻ giận dữ cho tới khi chúng tôi giải thích rằng Đài Phát thanh Monte Carlo không đến yêu cầu chúng tôi cộng tác với họ tại Monaco, mà là ngược lại. Đây là đài phát thanh duy nhất trong khắp Âu châu chịu cứu xét - với bất cứ giá nào - cho chúng tôi đặc quyền phát thanh Phúc Âm toàn thời gian. Đó là sự thật vào Tháng Tám 1959 khi chúng tôi đang soạn thảo hợp đồng. Cho tới ngày nay cũng vẫn là như vậy. Vì cớ chúng tôi tha thiết cần cơ hội được phép hoạt động, cho nên việc chấp nhận bảng giá đính kèm thật cao cũng chẳng có gì là không hợp lẽ.
Trước đó có lần Ba Mẹ tôi đi Anh, viếng thăm Keswick với vài bạn người Anh. Trong thời gian này Mẹ tôi bị viêm phế quản; sau đó lại viêm phổi, phải vào bịnh viện London. Đó là thời gian thử thách đối với Ba tôi, ông thắc mắc không hiểu tại sao kế hoạch của mình bị thay đổi và ngày về lại Tangier bị trễ khoảng sáu tuần. Một chiều nọ, chán nản và sốt ruột, ông tự nhủ: “Sao mình không thử nghe ‘Đài Tiếng Nói Tangier’ xem sao?” Ông nhìn lên chiếc ra-đi-ô cũ kỹ và định sau khi ăn tối sẽ mở chương trình phát thanh bằng Anh ngữ. Khi nghe điệu nhạc cùng giọng nói quen thuộc, ông thích thú đến nỗi chạy ra sảnh đường Nhà Nghỉ Truyền giáo, kêu gọi: “Qua đây nghe này!”
Khoảng hai mươi người chạy qua. Trong số đó có một Cơ Đốc nhân trẻ người Na Uy qua Anh học và trau dồi cách dùng tiếng Anh.
Anh rất chú ý chương trình phát thanh và hỏi: “Các ông nghĩ là có thể sắp xếp chương trình này sang tiếng Na Uy được không? Ở Na Uy chúng tôi chỉ có phát thanh của nhà nước thôi. Đây là ý kiến hấp dẫn - chương trình phát thanh như thế này có thể được nghe trong xứ chúng tôi.”
Ba tôi nói: “Tôi không hiểu tại sao lại không được!”
“Vậy sao mình không làm?”
“Vì mình cần có người biết chuẩn bị chương trình và chuyển ngữ. Và chúng ta cũng cần có người giúp chi phí phát sóng nữa.”
“Tôi nghĩ là tôi biết đúng người quan tâm chuyện này.”
“Được thôi, cho tôi tên và địa chỉ đi, tôi sẽ viết thư cho người ấy.”
Bước nọ dẫn tới bước kia, giúp chúng tôi tiếp cận được những người hàng đầu trong phong trào hoạt động tích cực của những người ngoài hàng giáo phẩm ở Na Uy: ông Vaagen, ông Eikli, và ông Haanes cùng với con trai là Leif. Mối quan tâm nhiệt thành của họ trong việc phát thanh Phúc Âm đã cho chúng tôi giải đáp về lý do sáu tuần chậm trễ tại London. Tiện nghi rất tồi tệ - bị gió lùa và lạnh lẽo, nhưng Mẹ tôi không hề nao núng, cứ khăng khăng cho rằng Chúa có mục đích trong việc này. Câu chuyện tiếp theo cho thấy mục đích này đã trở nên rõ ràng ra sao.
Giữa việc soạn thảo hợp đồng với lần họp của Ban Giám Đốc là chưa tới một tháng. Tôi lên lịch đi chuyến đầu tiên sang Nga và đồng thời để đích thân xem có thể làm được gì qua việc phát thanh Phúc Âm cho xứ này. Trên đường đi tôi ghé qua Oslo và gặp những người Na Uy đã từng náo nức vì đài “Tiếng Nói Tangier” dạo hè năm trước.
Tôi được mời đến nhà Ông Bà Vaagen. Tối đó một vài người bạn kể cả gia đình Haanes, họp lại cầu nguyện. Ông Haanes, chủ một công ty đóng tàu thật lớn cùng một số doanh nghiệp thành công khác, là một Cơ Đốc nhân phục vụ Chúa xuất sắc. Tôi cũng được biết rằng, trước khi đám cưới, bà Haanes đã từng là giáo sĩ cho Phi châu, một lý lịch tạo thêm kinh nghiệm cho mối quan tâm sâu sắc của họ trong việc truyền giảng Phúc Âm. Con trai của họ là Leif cũng là thành phần trong nhóm cầu nguyện.
Mối thông công cầu nguyện của chúng tôi thật giản dị và ngọt ngào. Họ cầu xin Đức Chúa Trời ở với tôi tại Liên Xô. Điều đặc biệt quan trọng đối với tôi là đây không phải chỉ là chuyến đi ngắm cảnh. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được quyền năng Đức Chúa Trời trọn vẹn hơn hoặc biết chắc là Ngài sẽ hoàn thành mục đích riêng của Ngài cách toàn vẹn hơn tôi cảm nhận tối hôm đó. Tôi cảm thấy dứt khoát được Đức Chúa Trời hướng dẫn tỏ cho họ biết ngay lúc đó về khả năng của Monte Carlo, và yêu cầu họ đừng nói gì với ai về điều đó.
Đây là những con người đầy thế lực, tài năng, yêu mến Chúa và đặt Ngài lên hàng đầu trong cách sống của mình. Giữa vòng Giáo hội Lutheran tại Na Uy, Đức Chúa Trời đã âm thầm làm việc, chạm đến ông này, bà kia. Sự thức tỉnh thuộc linh trong đời sống của nhiều người thường đã tạo thành một cộng đồng tín hữu có mối ưu tư khác thường tại Na Uy. Khoảng 2.000 nhà cầu nguyện đã được lập ra vào thời điểm đó để cầu nguyện và học Kinh Thánh. Việc Đức Chúa Trời mở trí và lòng này đưa họ tiến xa hơn để thấy những cơ hội phục vụ có thể xúc tiến rao giảng Phúc Âm cho người khác. Trong khi họ đang bảo trợ một số dự án truyền giáo ở nước ngoài, thì lại cảm nhận gánh nặng phát thanh mà tôi chia sẻ với họ. Ở dưới phố Oslo hiện nay họ có một tòa nhà trụ sở điều khiển mọi nhà cầu nguyện cùng dự án truyền giáo. Tôi chưa bao giờ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa gần gũi hơn tôi cảm nhận được tối đó tại Oslo khi cùng cầu nguyện với các thành viên trong the Norwegian Laymen’s Movement (Phong trào của Người Thường Na Uy).
Nhóm cầu nguyện nhỏ của Na Uy, người bạn Đức Hermann Schulte, cùng khoảng năm người khác ngoài gia đình chúng tôi là những người duy nhất biết về thách thức mới lớn lao của chúng tôi. Chính quyền Monte Carlo đã yêu cầu chúng tôi đừng công khai hóa những cuộc thương lượng và chúng tôi cũng thấy thiếu khôn ngoan nếu làm như vậy cho nên chúng tôi không công khai phổ biến nhu cầu của mình. Thật ra chúng tôi còn phải làm ngược lại - chúng tôi có đặc quyền kỳ diệu là chỉ cần an nghỉ trên lời cầu nguyện trong suốt tháng chiến lược đó.
Vào khoảng cùng thời gian đó, Tháng Chín 1959, chúng tôi quyết định mở một văn phòng cho chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới trên lục địa. Chúng tôi mời một cặp vợ chồng phụ trách tương đối mới, Burt và Sonja Reed, cùng đi với ba tôi để mở một văn phòng tại Beatenberg. Các mục tiêu đã rõ: một, chúng tôi cần chấm dứt căn cứ hoạt động tại Tangier như là trụ sở; hai, chúng tôi muốn đặt cơ sở cho hoạt động phát thanh tại Monte Carlo.
Công việc Ba tôi đã làm tại Tangier thật thiết yếu để mang lại hiệu quả cho những buổi phát thanh của chúng tôi. Tuy nhiên, việc soạn các chương trình, việc theo dõi
Hình ở trang 97: Tòa nhà phát sóng trên đỉnh Mount Agel bên trên Monte Carlo
chăm sóc, điều phối ban phụ trách mỗi lúc càng gia tăng, khiến còn ít thời gian cho một mặt cực kỳ quan trọng của dự án tổng quát - tức liên lạc với cấp lãnh đạo phái Phúc Âm trong toàn vùng mục tiêu của Âu châu. Đây là giấc mơ cho tới nay vẫn chưa thực hiện được là bao.
Hai tuần sau khi tới Beatenberg cùng với gia đình Reed, Ba tôi đi Monaco để gặp Ban Phát thanh Monte Carlo. Điều không thể có đã xảy ra! Món tiền 83.000 Mỹ kim đang nằm chờ ở đó! Sau buổi cầu nguyện tại Oslo, gia đình Haanes quyết định rằng Đức Chúa Trời muốn họ tự thực hiện bước đầu này. Họ vét sạch tài khoản ngân hàng và thấy được phép lạ ngân phiếu cho Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới. Người con trai là Leif Haanes từ Na Uy tới nơi với món quà và có mặt để ký vào hợp đồng.
Stanley Clark cũng đến với đài để thương lượng. Một con người đặc biệt với khải tượng và khát vọng, ông lấy làm ngạc nhiên nhìn thấy bước đức tin của chúng tôi trong việc dời hoạt động tới Monte Carlo. Nhưng ông Clark đã quen bạo dạn bước ra với đức tin để thực hiện những kế hoạch hành động riêng, cho nên ông sẵn sàng hoàn toàn ủng hộ chúng tôi trong buổi họp Ban Giám Đốc.
Vào lúc này tôi đã từ chuyến thăm dò Nga trở về Chatham, và đang trông tin của Ba tôi qua điện thoại.
Vào buổi sáng gặp gỡ Ban Phát thanh Monte Carlo, Ba tôi, Ông Clark, và Leif Haanes họp nhau cầu nguyện. Sau đó, họ lên núi xem qua các thiết bị. Đài đã được xây trong chế độ Đức Quốc Xã để làm đài tuyên truyền. Đó là một cấu trúc vĩ đại, đẹp đẽ, đồ sộ, bằng đá - vừa mới hoàn tất nhưng chưa lắp đặt thiết bị nào vào cuối cuộc chiến khi người Đức trở về nước. Thực sự là tôi cảm thấy ớn lạnh xương sống khi nghĩ đến Phúc Âm sẽ được giảng ra hằng ngày từ chính cấu trúc mà Adolph Hitler đã thiết kế nhằm phổ biến tuyên truyền cho Đức Quốc Xã.
Trong khi ba người trong nhóm đang ở độ cao 2500 bộ trên thành phố xem xét các thiết bị phát sóng thì ông Bosio gọi điện cho Ba tôi ở đó.
“Tin mừng cho anh! Tôi sẽ không chính thức kể cho anh đâu, vì ông Solamito, giám đốc của chúng tôi, đáng phải kể cho anh nghe. Nhưng tôi chắc là anh có thể đoán được. Ông ấy muốn gặp anh ngay bây giờ.”
Sáng hôm sau, cuộc thương lượng thực sự diễn ra và Leif Haanes - cùng với ba tôi bên cạnh - trao ngân phiếu 83.000 Mỹ kim để đặt cọc vào tài khoản Đài Phát thanh Monte Carlo.
Lúc điện thoại reo, tôi đang trong phòng làm việc ở nhà. Tôi cảm thấy tim muốn vỡ tung vì xúc động trong lòng. Tôi nín thở như thể sắp nghe tiếng Đức Chúa Trời. Tiếp theo là giọng Ba tôi: “Paul à, Đức Chúa Trời đã làm việc đó!”

PHÉP LẠ TẠI MONACO
Khoảng thời gian này chúng ta khám phá ra rằng không bao giờ nên đặt câu hỏi: Tốn bao nhiêu? Đúng hơn phải là: Đó có phải là ý muốn Đức Chúa Trời không?
Tại Tangier chúng tôi cảm thấy mình đang ở trong nơi Đức Chúa Trời đã chọn, và Ngài cung ứng mọi nhu cầu cho chúng tôi từ lúc chúng tôi bắt đầu với một máy phát 2500 watt đã qua sử dụng cho tới giai đoạn cuối khi chúng tôi hoạt động với hai máy phát 10.000 watt. Dù có nhu cầu nào, chúng tôi cũng được cung ứng đầy đủ. Bây giờ trong vấn đề ứng trước ở Monte Carlo, chúng tôi cũng kinh nghiệm cùng sự chăm lo cẩn thận của Ngài cho mọi nhu cầu chúng tôi.
Hầu hết những định nghĩa về ý muốn Đức Chúa Trời đều có một cốt lõi chân lý bên trong. Vài người bảo rằng sự dẫn dắt của Ngài có thể được xác định qua hoàn cảnh, một sồ qua lời khuyên của những người tin kính, một số qua chỉ dẫn của Thánh Kinh, còn những trường hợp khác thì qua những cơ hội rõ ràng đối với chúng ta.
Tất cả những ý trên đều đúng và tốt, nhưng chúng phải trở thành khuôn mẫu nếp sống Cơ Đốc hằng ngày của chúng ta. Tôi tin rằng mọi điều này đều là kim chỉ nam giúp chúng ta chọn một cung cách hành động. Nhưng chỉ khi nào chúng ta muốn chọn lời khuyên của Ngài - ngay trong quyết định nhỏ nhất mỗi ngày - thì chúng ta mới tin tưởng tiến tới khi Ngài muốn chúng ta tiến, lúc phải đối diện một quyết định quan trọng. Nếu ngày nay chúng ta cởi mở đối với sự dẫn dắt của Ngài - cho dù mình đang làm gì chăng nữa, thì ngày mai sẽ mở ra hợp với ý muốn Ngài đối với chúng ta. Nếu hôm nay chúng ta ở trong ý muốn Ngài, thì ngày mai chúng ta cũng vẫn sẽ ở đó.
Vậy thì há chẳng hơi táo bạo một chút khi nói rằng: “Tôi tình cờ làm chuyện này” hoặc “Tôi tình cờ gặp người nọ người kia” ư? Tôi tin rằng những cuộc đời được Đức Chúa Trời quyết định, thì sự việc không chỉ xảy ra cách tình cờ ngẫu nhiên. Nếu chúng ta cẩn thận gặp Chúa trong nơi sâu kín của lòng mình, cầu xin Ngài dò xét chúng ta cùng hướng dẫn chúng ta thì đối với tôi, dường như sự việc xảy ra - những cơ hội trước mắt chúng ta - phải được nghiêm túc xem như là một phần trong ý muốn Đức Chúa Trời. Nếu bạn ở trong một vị trí đặc biệt, hoặc tình cờ gặp một người nào đó, thậm chí nếu bạn đi tới một cửa tiệm hoặc thực hiện một chuyến đi, thì tất cả mọi điều đó đều được thực hiện với lòng bạn mở ra cho Chúa, há bạn lại không bị buộc phải cho rằng chính Ngài đang dẫn bạn vào con đường của ý muốn Ngài hay sao?
Dĩ nhiên, chừng nào mà chúng ta còn bị hạn chế bởi sự hiện hữu trên cõi đời này, thì đây không chỉ đơn giản là vì Satan cũng đang hành động; tôi biết như vậy. Nhưng tôi nói những điều này để nêu rõ sự kiện rằng một số trường hợp xảy ra trong lúc chúng tôi tìm kiếm khắp lục địa một nơi để phát thanh, không chỉ ngẫu nhiên xảy ra . Giống như khao khát đột ngột của tôi muốn viếng thăm Monte Carlo ngay đêm tôi cùng với Ba Mẹ cầu nguyện tại Tangier. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời hướng dẫn tôi cách đó. Khi những cơ hội như vậy đến trước mắt chúng tôi, thì chúng tôi nghiêm túc xem xét: “Có thể đây là sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời.” Khi những cánh cửa có vẻ như mở hoặc đóng, thì cách đơn giản là trở về với Lời của Ngài cùng cầu nguyện để biết chắc.
Quá thường xuyên ngày nay chúng ta nhắm mắt trước những cơ hội Ngài đang cho chúng ta, đặc biệt là nếu cơ hội đó có vẻ như xa lạ và khó khăn hoặc khác thường. Điều tối quan trọng cho những Cơ Đốc nhân muốn làm việc với Đức Chúa Trời là phải tiến tới khi Ngài ra chỉ thị.
Thách thức lớn lao trong truyền giáo trước mặt chúng ta là nhu cầu nối kết những cánh tay với nhau - tay và lòng - để làm công tác. Chúng ta phải sống theo cách lớn lao hơn, với khải tượng rộng rãi hơn, nhận biết rằng tiềm năng sẽ vô hạn khi chúng ta phó thác toàn bộ chính mình cho Chúa Giê-xu Christ . Tôi hết lòng tin rằng chúng ta hiện đang tụt lại phía sau. Chúng ta nói về “thời đại phản lực,” về những phép lạ của khoa học hiện đại, về những bước tiến vượt bực trong mọi lãnh vực học hỏi, nhưng phương cách lớn hơn hết để Cơ Đốc nhân tiến tới vẫn là sự hoàn toàn phó thác mình cho Chúa Giê-xu Christ , tuyệt đối từ bỏ mình để cho Ngài sử dụng năng lực chúng ta.
Ngày nay tôi đang tìm một kỷ nguyên hoàn toàn mới trong truyền giáo Cơ Đốc. Vì tương đối còn trẻ nên tôi sẽ không dám cho ai là đúng hoặc sai. Tôi nhìn thấy những con người tin kính, kinh nghiệm trong các đường lối của Đức Chúa Trời và loài người, những bậc lãnh đạo Cơ Đốc vĩ đại, và tôi không thể mạo muội nói cho ai biết những gì họ nên làm hoặc không nên làm. Nhưng tôi vẫn tin rằng đây là cao điểm trong truyền giáo, và trong tất cả các loại công tác Cơ Đốc, để chúng ta chấm dứt sống trong Những Thời Đen Tối. Chúng ta hiện vẫn đang sống trong thế kỷ quá khứ với nhiều phương pháp của chúng ta.
Sứ điệp không bao giờ thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Cảnh khó nhọc lê bước đi vào làng mạc, mặt đối mặt gặp gỡ dân chúng, thành lập hội thánh địa phương, không bao giờ được chấm dứt. Nhưng chúng ta vẫn cần nắm bắt khải tượng là mình hiện đang bị tụt hậu - từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng năm. Phát thanh Cơ Đốc không phải là giải đáp duy nhất. Đó mới chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể vươn rộng - phát thanh, sách báo, thính thị, hàng không truyền giáo, phiên dịch, giáo dục theo chương trình, tất cả đều là những cách mới nhờ đó chúng ta có thể tiến ra theo tỉ lệ hình học. Chúng ta cần một khải tượng đổi mới liên tục về phương cách đến với người khác. So với những tiến bộ của thế giới thì tập thể Cơ Đốc đang lê bước với tốc độ của loài ốc. Tôi phải nói rất rõ điều này rằng chinh phục người khác cho Đấng Christ sẽ đòi hỏi cả hai phương pháp, tiếp xúc cá nhân và phương tiện truyền thông đại chúng.
Tiến sĩ. V. Raymond Edman, nguyên viện trưởng thân yêu của Wheaton College, thường nói với chúng tôi trong những buổi nói chuyện ở nhà nguyện: “Đừng bao giờ nghi ngờ trong bóng tối về điều Đức Chúa Trời đã nói với bạn giữa ban ngày.” Đôi khi tiếng nói có thể lặng im, gần như lịm tắt, và chúng ta bắt đầu thắc mắc.
Một khi Đức Chúa Trời đã làm sáng tỏ một điều gì đó cho chúng ta, thì điều quan trọng là chúng ta phải vững vàng tiến tới, không để cho những cái ngẫu nhiên và lệch lạc trên đường đi ngăn cản chúng ta hoặc khiến chúng ta nhảy chệch khỏi đường chính theo cách này hay cách khác. Cả cuộc đời chúng ta đều ở trong quyền năng gìn giữ của Ngài. Vâng, những kinh nghiệm núi cao cũng như thung lũng sâu đều là chuyện thường tình đối với đa số Cơ Đốc nhân. Nhưng có lẽ Đức Chúa Trời nhìn điều đó thiên nhiều hơn theo chiều hướng: “Ta đã xếp đặt các ngôi sao; đã giữ trái đất trong lòng tay ta; tại sao con người nhỏ bé lại không để ta hướng dẫn họ?” Thực sự là một lầm lẫn, một chệch hướng rõ ràng khi ngày này thì cho rằng đời sống đức tin hành động cách kỳ diệu, ngày khác thì cho rằng đó là một thất bại khủng khiếp.
Đúng thế, có những hoàn cảnh khác nhau trong dòng tiến triển của chúng ta, và có lẽ luôn luôn sẽ là như vậy, nhưng Đức Chúa Trời thì không thay đổi. Đó là lý do mà tôi chắc chắn điều quan trọng nhất trong đời sống Cơ Đốc là nhờ cậy Ngài - cho dù vấn đề hoặc quyết định hoặc khủng hoảng có lớn hoặc nhỏ đến đâu cũng vậy. Đó là chìa khóa của nếp sống kiên định, của một chức vụ kiên định.
Hình ở trang 103: Ánh đèn lung linh trong trời đêm Monte Carlo
Chính là do phép lạ của Đức Chúa Trời mà Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã đến được với Âu châu. Cho mãi tương đối gần đây, Âu châu có rất ít hoạt động phát thanh Phúc Âm. Hệ thống phát thanh công cộng trong nhiều nước không cho phép các nhóm tư nhân hoặc cá nhân mua giờ phát thanh, dù họ có chia một khoảng thời gian phát thanh miễn phí cho các Giáo hội chính thức. Luật pháp của nhiều nước cũng không cho phép dựng các đài tư nhân. Người phục vụ cho Phúc Âm ở bất cứ nước nào tại Âu châu cũng lắc đầu nói: “Chúng tôi nghe nói ở Mỹ các mục sư có những chương trình phát thanh, nhưng ở đây thì chúng tôi không có được như vậy.”
Đây chính là bức tranh được Đức Chúa Trời lồng vào Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới. Mọi người khó có thể tin được. Khi chúng tôi nói chuyện với các viên chức tại Monte Carlo, họ hỏi chúng tôi: “Các ông sẽ phát thanh cái gì?”
“Những thông điệp từ Kinh Thánh . . . âm nhạc hay . . .” tôi đáp.
“Vậy thì cũng được,” tôi kinh ngạc nghe họ nói.
“Chúng tôi có thể dùng thứ tiếng nào?”
“Các ông muốn nói tiếng nào cũng được.”
Việc Ba tôi dọn tới Beatenberg, Thụy Sĩ, trở thành cơ hội tuyệt diệu để ông gặp gỡ cấp lãnh đạo Cơ Đốc từ khắp Âu châu, những thuộc viên hội thánh bản địa mà ông có thể chia sẻ những khả năng lớn lao trong việc khuếch đại lời chứng Phúc Âm trong xứ họ qua phương tiện phát thanh. Như đã đề cập trước đây, toàn bộ các chi nhánh tiếng Đức, Pháp, Nam tư, và Ru-ma-ni của chúng tôi đều bắt nguồn từ việc tiếp xúc hiệu quả do Ba tôi thực hiện được suốt thời gian tương đối ngắn mà chúng tôi có trong văn phòng của trung tâm tổ chức hội nghị Thánh Kinh thật lớn đó.
Tôi tin rằng Đức Chúa Trời hành động qua cá nhân - những người nam và nữ hiến dâng cho Ngài. Tôi tin chắc rằng Ngài đặt gánh nặng giúp đỡ vào lòng của những cá nhân, ở một thời điểm đặc biệt, vì một lý do đặc biệt. Suốt thời gian ở Beatenberg, Đức Chúa Trời cảm động người này người kia, dấy họ lên để tập họp những người khác chung quanh họ. Đây là cách ý nghĩ về Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới sống dậy giữa vòng cấp lãnh đạo phái Phúc Âm tại Âu châu và và đã bắt đầu chuyển động. Căn nguyên của mỗi lần mở rộng của chúng tôi đều bắt đầu với một cá nhân do Đức Chúa Trời đưa đến với chúng tôi.
Luôn luôn là Đức Chúa Trời mở cửa, dấy lên con người, thu vào tiền bạc. Đôi lúc, không phải là khi chúng tôi làm một điều gì, mà lại là khi chúng tôi không làm một số việc nào đó thì bước kế tiếp mới được mở ra. Chúng tôi đã cố gắng chuẩn bị tiến tới và làm công tác trước mặt, nhưng chúng tôi cũng học tập mong mỏi rằng, khi chúng tôi chờ đợi thì sẽ thấy Ngài hành động. Tôi đã thấy nhiều lần giống như Môi-se, giơ tay lên được là nhờ có A-rôn và Hu-rơ. Những người của Đức Chúa Trời đụng đến nhiều nước khác nhau đã thực sự nâng đỡ chúng tôi. Và họ vẫn tiếp tục cùng đứng với chúng tôi “bất chấp mọi khó khăn.”
Ngoài những cuộc đời được thay đổi do kết quả đều đặn từ những chương trình phát thanh, thì phước hạnh lớn nhất đối với tôi qua toàn bộ công việc, chính là chứng cớ về những người đứng lên để đáp ứng nhu cầu thuộc linh của đồng bào họ. Đáp ứng của họ không dựa vào điều mà chính cá nhân họ sẽ thu lại được, vì mỗi lần như vậy đều hàm ý là họ phải hi sinh. Họ là những người mà Chúa Giê-xu Christ không chỉ là thật, mà còn là Chúa của họ. Cho nên nhiều lần tôi ra đi để chọn người cho công việc, là tôi sai lầm; nhưng Đức Chúa Trời lúc nào cũng có người thích hợp cho chúng ta đúng vào thời điểm của Ngài.
Cách phát triển của công việc tại Monte Carlo thật lạ lùng - phép lạ này theo sau phép lạ khác. Trước hết, miền Cote d’Azur xinh đẹp - sân chơi của vua chúa, vùng nghỉ mát nổi tiếng về cờ bạc - dường như khó có thể là trung tâm cho chức vụ Phúc Âm. Toàn cảnh đều có vẻ xa vời, không làm gì được. Chúng tôi không thấy có nguồn thu nhập nào khi bắt đầu nói chuyện với ban điều hành đài Phát thanh Monte Carlo. Chúng tôi nhìn quanh mình dẫy đầy những vương miện hoa giấy, cẩm chướng, cây lá, cùng những khóm hoa, nhìn sòng bạc nổi tiếng, và lấy làm lạ là tại sao mình lại có mặt ở đây. Lý do duy nhất chúng tôi xúc tiến chỉ là vì chúng tôi tin rằng đây chính là điều Đức Chúa Trời muốn được thực hiện ở đây. Vì thế chúng tôi chờ đợi Ngài sẽ làm việc đó.
Chúng tôi thấy chứng cớ đầu tiên về điều này ngay trong phép lạ ngân phiếu 83.000 Mỹ kim, do các bạn Na Uy dâng cho việc đăt cọc. Nhưng vẫn còn năm lần chi trả nữa xấp xỉ 83.000 Mỹ kim mỗi lần, trả trong vòng chưa tới một năm. Chỉ nghĩ tới những món chi trả khổng lồ đó là đủ để choáng váng rồi!
Lần trả 83.000 Mỹ kim thứ nhì dường như lại càng khó thực hiên hơn lần đầu. Chúng tôi mường tượng mình phải có tiền mặt trong văn phòng ở New Jersey vào khoảng trưa một ngày nào đó để chuyển sang ngân hàng Monte Carlo vào trưa hôm sau, khi tới kỳ hạn. Đây là thời hạn chót nhân viên ngân hàng định cho tôi để thi hành thương lượng đúng lúc. Chúng tôi đã cầu nguyện nhiều cho việc này; nhiều bạn hữu quan tâm đã gửi quà tặng. Nhưng khi kiểm lại tổng số tiền vào buổi sáng ngày cuối cùng, chúng tôi thấy còn thiếu 13.000 Mỹ kim so với số qui định. Toàn ban phụ trách gặp nhau tại văn phòng trước của trụ sở tại Chatham, New Jersey. Tất cả chúng tôi đứng loanh quanh, nhắc lại kết quả diệu kỳ của 70.000 Mỹ kim đã được rót vào. Ngay cả trước khi mở thư từ buổi sáng, chúng tôi cầu xin Đức Chúa Trời làm một việc gì đó - chúng tôi trình bày nhu cầu rất cụ thể trước mặt Ngài. Đó là buổi nhóm cầu nguyện tin cậy với đức tin chân thật. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta cần nhớ rằng Đức Chúa Trời không phải là cái gì xa vời, hoặc chỉ do tưởng tượng. Chúng ta có thể đem những tình huống có thật đến cho Ngài. Ngài rất đỗi gần gũi- là Đấng thực sự quan tâm.
Chúng tôi cầu nguyện rồi sau đó thư ký mở thư. Thình lình cô ta la lên.
“Xem cái gì đây này!”
Trong một phong bì đơn giản với chỉ một con tem thường, cô ta thấy có ngân phiếu 5.000 Mỹ kim. Sau đó tất cả chúng tôi đều tin sẽ còn có chuyện khác nữa xảy ra.
Buổi sáng trôi qua. Thư từ đã mở vàsắp xếp cả rồi, nhưng không có thêm món quà nào. Đã 11 giờ 30, và tôi nói với những người làm việc chung quanh: “Vậy thôi. Bây giờ tôi phải đi ngân hàng, nếu không thì lỡ việc.”
Không đóng được lần này là bị phạt nặng - giống như phải trả thêm một món mười phần trăm số tiền phải đóng. Càng quan trọng hơn nữa, tôi nghĩ tới điều khoản được ghi trong hợp đồng, đó là bất cứ khi nào tiền trả không đúng theo qui định, thì Monte Carlo sẽ có quyền hủy bỏ toàn bộ hợp đồng.
Khi tôi lên xe bắt đầu đi ngân hàng thì còn thiếu 8.000 Mỹ kim. Trên đường đi tôi thấy một trong những nhân viên của chúng tôi đang đi trên đường. Khi anh vẫy tay, tôi tấp vào lề đường
Anh nói: “Đây có một thư tôi mới lấy ở Bưu điện, chẳng còn gì khác.”
Tôi nhét vào túi quần rồi tiếp tục lái xe tới ngân hàng. Sau khi đậu xe, tôi rạch mở phong bì. Tôi khó tin điều mình thấy - thêm một ngân phiếu 5.000 Mỹ kim khác.
Ông giám đốc cùng với hai viên chức ngân hàng đã biết vụ thương lượng Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đón tôi khi tôi bước vào. “Mọi việc sao rồi?”
“Khá tốt,” tôi nói, đỏ mặt kinh ngạc và nghĩ đến số tiền trong hai tấm ngân phiếu, chẳng hiểu sẽ có chuyện gì sau đây.
Ông giám đốc mỉm cười hơi chế giễu: “Tốt lắm, nhưng rất uổng là anh sẽ không giải quyết được vụ thương lượng này, vì anh vẫn còn thiếu 13.000 Mỹ kim.”
“Ồ không, thưa ông, chúng tôi không thiếu.” Tôi vội giải thích. “Chúng tôi chỉ thiếu 3.000 Mỹ kim. Tôi có hai ngân phiếu vừa nhận được sáng nay - mỗi tấm 5.000.”
Mấy người đó há hốc miệng. “Lạ lùng thật!” Họ thấy khó tin. Họ hầu như cũng phấn khởi như tôi. Chúng tôi có gần đủ tiền đóng rồi. Mọi người đều cố gắng nghĩ ra cách nào đó để bù thêm con số còn đang thiếu, tương đối nhỏ nhoi đó.
“Chúng ta không biết tính sao đây! Chỉ còn thiếu bấy nhiêu thôi, mà vẫn không tạo được ngạc nhiên cho mình.”
Chẳng biết nói gì, tôi nhún vai và nói: “Tôi tin chắc chắn sẽ có chuyện xảy ra.”
Vào lúc này chúng tôi đang ở trong văn phòng giám đốc, và điện thoại reo. Ông giám đốc suýt đánh rơi điện thoại. Sau đó ông gác lại ống nghe lên máy rồi nhìn tôi với vẻ không tin: “Làm sao trên đời có chuyện này được?”
“Sao, ai vậy?” Tôi cố lắp bắp.
“Western Union, tiến sĩ Reed ạ. Một điện tín vừa mới tới, nạp thêm vào tài khoản của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại đây cho Công ty Tín dụng Chatham - với số tiền 3.000 Mỹ kim.”
Ông hạ giọng vào cuối câu nói, cho nên tôi hầu như tưởng tượng ra con số hơn là nghe chính ông nói. Rồi ông nói tiếp, khi ngồi ngay lại trên ghế, và nhìn thẳng vào tất cả chúng tôi.
“Tôi chắc chắn mong là mình biết được ai đã gửi tiền!”
Tôi tự nhủ thầm: “Vâng, tôi biết ai gửi. Chính Đức Chúa Trời gửi!”
Ông nghiêng qua bàn về phía tôi: “Anh nói ai?”
Vẫn lắc đầu, tôi lặp lại: :”Chính Đức Chúa Trời gửi.”
Ông ta vẫn chưa hiểu. “Tôi chưa nghe rõ. Người đó tên gì?”
Lần này tôi quay sang ông, và cố tình chậm rãi nhắc lại: “Đức Chúa Trời Toàn năng đã gửi.”
Bây giờ tới lượt ông giám đốc ngân hàng lắc đầu, và nói hầu như không nghe được: “Anh biết đấy, tôi tin là anh nói đúng.”
Vào lúc này phép lạ lớn lao đã bắt đầu lún sâu trong tâm trí tôi. Tôi đứng dậy la to:”Thưa quí vị, tôi biết là tôi nói đúng.”
Đúng là kỳ lạ. Khi chúng tôi bàn về 83.000 Mỹ kim thì có thể là 83.000.000 hoặc 40.000 hoặc 117.000. Chúng tôi chẳng có đồng nào cả. Nhưng số tiền là 83.000. Và bây giờ chúng tôi có chính xác số tiền này để đóng nộp. Chính xác từng đồng!
Lúc này thì chúng tôi được tự do nói cho mọi người biết nhu cầu theo đủ mọi cách. Mặc dù chính sách tài chánh riêng của Ba tôi đòi hỏi sự tin cậy Chúa mà không nói cho ai cả, nhưng cả hai chúng tôi đều tin rằng trong công việc Chúa, thì người khác muốn biết sự việc diễn tiến ra sao, họ muốn biết những tiến triển, họ muốn chia sẻ trong mọi nhu cầu.
Truyền giáo thời hiện đại có vẻ như phóng tới trước để thách thức các hội thánh dâng hiến nhiều hơn họ có trước đây. Thanh niên đặc biệt cảm thấy rộn ràng vì phương tiện truyền thông đương thời. Chúng tôi tin Đức Chúa Trời đang đòi hỏi chúng ta tiến vào các phương tiện hiện đại khi chúng được hoàn thiện - không phải để thế chỗ cho mọi đường dây truyền giáo cổ truyền, mà là để hỗ trợ thêm. Chúng ta cần phải sẵn sàng ra đi để bước vào khải tượng thực sự khi Đức Chúa Trời mở cửa. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta không được sợ điều mới mẻ, sự xa lạ trong việc di chuyển sang những vùng chưa quen thuộc. Một hội thánh, đã từng dâng 55.000 Mỹ kim cho truyền giáo hằng năm, cảm động trước sự trình bày về điều có thể thực hiện được qua việc phát thanh đến nỗi trong một lần cuối tuần, lại hứa dâng thêm 8.000,00 nữa. Chúng tôi không năn nỉ hoặc xin xỏ, nhưng chúng tôi tin rằng người khác phải được có cơ hội cùng đứng với chúng tôi. Và khi dự án Monte Carlo tiến hành, thì sự giúp đỡ tiếp tục đến với chúng tôi từ mọi phía.
Một số phát thanh viên nổi tiếng người Mỹ và Tây Âu đã quan tâm và đóng góp nhiều số tiền khác nhau trong chi phí phát thanh với chúng tôi. “Trở về với Thánh Kinh,” “Giờ Quyết định,” “Giờ Phục hưng Lỗi Thời,” “Ánh Sáng và Giờ của Sự Sống,” Thời đại Đền thờ,” cùng nhiều chương trình chính qui khác đã gia tăng trả những khoản tiền lớn giúp chúng tôi đáp ứng những nghĩa vụ nặng nề suốt một năm chuẩn bị trước khi chúng tôi thực sự phát sóng. Nhiều chương trình đã tự túc tiến hành bằng đức tin trong những ngày đầu phát thanh.
Nguồn tài chánh vào bằng nhiều cách - hầu như phần lớn từ Âu cũng như từ Mỹ châu. Cá nhân gửi quà, và hội thánh gửi quà. Và rồi có những khoản cho vay, đa số về sau biến thành quà tặng. Chúng tôi cảm nhận được một cơn sóng lớn phước hạnh. Tính chân thật của kế hoạch, niềm tin vào nhu cầu Phúc Âm lớn lao của Âu châu đã thu hút mọi người nam nữ khắp nơi. Chúng tôi chỉ nói với họ về những gì có trong lòng mình, và họ đã nắm bắt được khải tượng rồi bước ra cùng đứng với chúng tôi.
Các anh em người Đức đặc biệt sẵn sàng đảm nhận phần quan trọng trong việc tài chánh cuả chương trình phát thanh sẽ đâm xuyên Bức Tường Ngăn Cách. Ba tôi đã gặp Hermann Schulte tại Thụy Sĩ một tháng trước khi hợp đồng dự kiến với Monte Carlo được chấp thuận. Họ bàn về hợp đồng đó rồi cùng cầu nguyện - hai vợ chồng ông và Ba tôi. Ông yêu cầu chúng tôi đánh điện cho ông biết ngay khi ký xong hợp đồng, và ông sẽ đi làm việc để kiếm tài trợ ngay cho chúng tôi. Ông tin rằng mình có thể thu phục sự quan tâm của những Cơ Đốc nhân theo phái Phúc Âm - những doanh nhân cùng cấp lãnh đạo hội thánh tại Đức. Nghe thật tuyệt và chúng tôi rất tin tưởng ông, dựa vào sự hỗ trợ thành công của ông cho công việc ở Tangier. Nhưng tôi không thể không thắc mắc về khả năng thực hiện của ông, về mức độ mà ông có thể làm. Không có tiền lệ đối với người Âu châu trong việc đóng góp hỗ trợ máy phát sóng Phúc Âm toàn thời gian, bởi lẽ trước đây chẳng có ai làm như vậy cả. Hermann Schulte cùng những người ông liên lạc đều hứa hỗ trợ thật nhiều cách thường xuyên. Khi họ nhận ra bước khổng lồ mình đã đạt được, thì có sự lo lắng. Thật ra, cứ mỗi hai tháng, khi tới ngày phải đóng tiền, thì họ lo lắng và cầu nguyện. Nhưng Hermann Schulte là người của Đức Chúa Trời tại Đức, và mọi người bắt đầu nói: “Công việc này là làm cho chúng ta! Nó sẽ giúp tiếp xúc thêm được nhiều đồng bào chúng ta. Chúng ta cần ủng hộ công vệc này và giúp đỡ họ.” Trước khi mọi thiết bị phát thanh được hoàn chỉnh, người Đức không ngờ đã gom được trên một phần tư triệu Mỹ kim cho những buổi phát thanh Phúc Âm mới mẻ này.
Tinh thần truyền giáo dường như xoay chuyển theo hình vòng tròn. Tại Đức, Cơ Đốc nhân rất nôn nóng xúc tiến làm một việc gì đó để tiếp xúc được càng nhiều đồng bào càng tốt. Tội ác của chế độ Đức Quốc Xã cùng toàn bộ cuộc tàn sát người Do Thái đặc biệt khiến cho việc sống với Đức Chúa Trời là điều cấp bách đối với họ. Một khi đã gặp Cứu Chúa, họ nôn nóng muốn làm tất cả trong khả năng mình để bày tỏ Chúa Giê-xu Christ cho người khác.
Tôi kinh ngạc khi nhìn lại những tháng ngày lạ thường đó. Mỗi lần trong sáu kỳ trả góp đều xuất hiện qua một phép lạ thực sự. Thí dụ, một kỳ trả góp nọ, cần khoản tiền nhiều hơn các lần khác. Khi nguồn tài chánh được rót vào cho kỳ trả thứ ba là 93.000 Mỹ kim, chúng tôi gửi đến Barclay’s Bank để đưa dần vào tài khoản của chúng tôi, thay vì chờ gom đủ nguyên một cọc.
Mọi việc có thể làm đều đã xong. Nhiều cá nhân đã dâng hiến. Những món tiền khổng lồ đến từ Âu châu - phần lớn từ Tây Đức bằng đồng mác Đức. Nhưng khi tính toán lại, vào chiều hôm trước kỳ hạn phải đóng, chúng tôi còn thiếu 1500 Mỹ kim. Thật quá gần số đang cần! Thế nhưng chúng tôi không thấy mình có thể làm gì thêm được nữa.
Sáng hôm sau tại Barclay’s Bank, người phụ trách tài khoản chúng tôi nói: “Chẳng có nguồn tài chánh nào khác rót vào. Nhưng xin ông cảm phiền vài phút, tôi muốn tính lại xem.”
Người ấy quay lại với nụ cười bí hiểm: “Ông có đủ rồi!”
Tôi hỏi: “Anh nói sao, chúng tôi có đủ rồi hả?”
“Chắc ông không bao giờ tin đâu, nhưng giá trị của đồng mác Đức tăng vọt kể từ lúc chúng tôi tính tổng số tiền hôm qua - cộng thêm được cho ông chính xác 1500 Mỹ kim sai biệt!” Anh ta chỉ vào con số trên tờ giấy đang cầm. “Vậy là nâng tài khoản của ông lên tới 93.000 Mỹ kim!”
Đối với tôi đây là một phép lạ khác. Trong lúc tôi nghiêng mình tới trước để nắm bắt sự việc, tôi tự hỏi tại sao chúng ta lại thấy khó tin mỗi khi một chuyện như vậy xảy ra? Tôi nghĩ lại thời thơ ấu của mình cùng túp lều hai gian nhỏ bé tại Nyack tràn ngập thực phẩm. Tôi không thể hiểu nổi phép lạ của Đức Chúa Trời. Thậm chí với những chứng cớ sững sờ như vậy đan kết qua kinh nghiệm cá nhân, tôi phải công nhận
Hình ở trang 111: Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới có văn phòng và phòng phát thanh ở bốn tầng trong tòa nhà Monte Carlo này
rằng đức tin của tôi yếu ớt. Nan đề cùng thử thách xảy đến thế là tôi quên ngay rằng chúng ta có một Đức Chúa Trời lắng nghe và sắp xếp điều tốt nhất cho chúng ta. Nhưng biết Đức Chúa Trời tức là nhớ lại sự nhân từ đã qua của Ngài và biết Ngài có thể làm dư dật trổi hơn mọi điều chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng. Cuối cùng, chính Đức Chúa Trời đang điều khiển công việc này kể từ ngày Ngài hướng tôi tiến vào Tây Ban Nha cách miễn cưỡng từ năm 1948. Và Ngài vẫn là chuyên gia làm phép lạ kể từ khi tạo lập thế gian.

CHUẨN BỊ KÉO TỚI MONTE CARLO
Suốt năm xây dựng và chuẩn bị tại Monte Carlo, Betty Jane và tôi quyết định rằng tốt nhất là chúng tôi nên dọn sang Âu châu. Một số bạn bè cảm thấy có bổn phận phải nói cho chúng tôi biết dọn nhà như vậy là tốn kém khủng khiếp; nhưng tôi thì lại biết sự thật ngược lại. Tôi không thể đài thọ đi lại suốt thời gian dài như vậy nếu không đem gia đình cùng đi. Ở chung với gia đình sẽ giúp tôi tập trung thoải mái hơn vào công việc đang làm. Vợ tôi có thể ở bên cạnh tôi trong tình yêu, thông cảm và cầu nguyện. Bọn trẻ được theo dõi từng bước của tòa nhà. Và cả gia đình được cùng đi với tôi tới nhiều “nước mục tiêu” - sáu người trong chiếc Volkswagen nhỏ bé.
Một trong những điều ý nghĩa nhất thời thơ ấu của tôi ấy là ba mẹ tôi sẵn sàng cho em gái cùng tôi dự phần trong mọi lãnh vực của cuộc sống họ. Khuôn mẫu đó đang được lặp lại ở mức tối đa trong gia đình tôi. Tôi muốn các con mình nhớ không chỉ giờ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện của gia đình, mà còn là chơi bóng, câu cá, bơi lội, du lịch, làm việc, thả bộ - làm mọi thứ với nhau. Chúng tôi rất cởi mở với gia đình.
Dù là như thể tôi đi khá nhiều và chịu trách nhiệm nhiều buổi nhóm, nhưng tôi cố tình sắp xếp thời khóa biểu để tránh vắng nhà lâu dài. Đôi khi cũng khó cho người khác hiểu con cái quan trọng đối với tôi như thế nào. Chẳng hạn, khi một hội thánh mời tôi đến dự một loạt kỳ họp liên tục, tôi thường trả lời: “Tôi có thể tới vùng của bạn vài buổi tối, nhưng sau đó cần phải về nhà.” Dĩ nhiên họ biết nếu tôi đến ở suốt kỳ họp thì ít tốn kém hơn. Nhưng tôi phải trả lời cách lý luận đó như sau: “Các bạn không thể mua giá trị cuộc đời của những đứa con tôi!”
Nếu có ai gọi điện thình lình hoặc từ Los Angeles tới trong lúc tôi đang ăn tối ở nhà, thì tôi phải hành động theo cách cho thấy rằng tôi xem buổi hẹn với gia đình cũng quan trọng ngang bằng với bất cứ cuộc hẹn nào khác trong công việc.
Tôi tin rằng bậc làm cha Cơ Đốc có bổn phận và đặc quyền hiếm có là phải dành thì giờ cùng sức lực để tìm biết và hiểu con cái mình. Từ con trai thiếu niên 18 tuổi cao hơn một thước tám của tôi là Paul David, với khả năng thể thao và lãnh đạo thực sự, cho tới con trai út 5 tuổi cao hơn một thước là Daniel Herbert, chúng tôi đều cùng nhau chia sẻ sở thích, chuyện trò, học hỏi với nhau. Với con gái duy nhất là Donna Jean 16 tuổi, James Philip 14 tuổi và Stephen Ernest 11 tuổi cũng vậy.
Betty Jane và tôi cám ơn Chúa vì mỗi đứa con đều đã riêng tư tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa ngoại trừ Danny, mới 5 tuổi. Tôi mong mỏi và tin rằng chúng sẽ sống cho Ngài; nhưng nói thật, tôi không biết Ngài có chương trình gì cho mỗi đứa trong nghề nghiệp của chúng. Tôi sẽ không quá sửng sốt nếu chúng chọn công việc làm khác với việc phát thanh. Nhưng dĩ nhiên, tôi sẽ hài lòng nếu chúng quyết định chỗ đứng của mình là trong việc phát thanh truyền giáo. Tôi phải công nhận mình cũng là con người như bao nhiêu người khác! Tôi cho rằng mình có ý muốn đưa các con qua Âu châu năm đó là để cho chúng có cơ hội nhìn thấy công việc như thế nào. Nhưng chúng tôi sẽ cảm thấy hài lòng nhìn thấy con mình đảm trách hầu như bất cứ công việc nào mà đời sống chúng làm vinh hiển Chúa. Tôi mạnh mẽ tin rằng truyền giảng Phúc Âm là một công tác hoàn toàn phải được thực hiện toàn thời gian bởi toàn bộ tập thể tín hữu bất chấp người tín hữu làm nghề gì. Một trong những lý do khiến chúng ta trong hội thánh sống tồi tệ trong thế gian ấy là vì chúng ta đã hạn chế chức vụ này cho một số ít người mang danh là người phục vụ Cơ Đốc.
Chương trình phát thanh từ Tangier tiếp diễn cho tới ngày 31 Tháng Mười Hai, 1959, tuy là chúng tôi vẫn duy trì ban phụ trách nòng cốt tại Monte Carlo hầu như từ ngày ký hợp đồng vào Tháng Chín trước đó. Kế hoạch chính của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới mới hình dung ra tám vùng mục tiêu cho các chương trình phát thanh: 1) Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; 2) Quần đảo Anh; 3) Scandivania; 4) Liên Xô; 5) Các nước Xã hội chủ nghĩa; 6) Trung Âu; 7) Nam Âu; 8) Trung Đông và Bắc Phi.
Chúng tôi có ý định xây hệ thống hạng sang để những buổi phát sóng từ Monte Carlo có thể tự động vang tới các nước mục tiêu. Chúng tôi có được vị trí chiến lược thật cao trên những dốc đứng của dãy Alps phía Nam, nhìn xuống Địa Trung Hải. Từ đó, càng tập trung phát sóng đúng định hướng, chúng tôi sẽ càng có thể thâm nhập từng vùng của những ngôn ngữ trên hữu hiệu hơn.
Hệ thống ăng ten của chúng tôi tại Tangier rất đơn giản nên chúng tôi không thể điều khiển chương trình của mình được hữu hiệu như ý muốn. Bây giờ, tại Monte Carlo, chúng tôi thực hiện còn nhiều hơn là nhân gấp bốn lần công suất phát sóng, và dựng được những màn ăng ten phức tạp, với những tháp khung thép lớn cao tới 175 bộ. Mỗi ăng ten của Monte Carlo sẽ bao gồm bốn tháp, với “màn” hoặc mạng lưới dây kim loại, treo lơ lửng giữa hai cặp tháp. Một vật phản quang làm bằng dây kim loại hoạt động như tấm gương soi, khiến phần lớn điện năng cùng qui về một hướng, ngăn ngừa thất thoát ra sau. Các ăng ten của chúng tôi được sắp xếp theo kiểu vòng tròn với lý do đơn giản là các vùng mục tiêu của chúng tôi trải rộng từ đài, theo hình hơi vòng cung.
Trong lúc xây dựng ăng ten, những chiến đấu mà thỉnh thoảng công nhân đương đầu chính là sự thử nghiệm khắc nghiệt. Từ lâu trước lúc khởi công xây dựng, chúng tôi đã biết rằng một việc làm cho Đức Chúa Trời có tầm lan rộng như cỡ này sẽ không thoát khỏi sự chú ý của Satan. Mọi thứ đều phải vận chuyển từng phần lên đỉnh Núi Agel. Hai mươi mốt tháp phải xây, cân nặng trên chín mươi tấn kim loại, và khi hoàn tất, chúng sẽ chiếm khá lớn vùng thích hợp kế cận tòa nhà phát sóng. Một hôm, khi các công nhân chuyển phần nọ tới phần kia trong gió tuyết, một người trong họ thực sự bị dính thịt vào kim loại giá lạnh. Suốt mùa đông, ngay cả trong vùng Riviera ngập nắng, thì vùng núi cũng lạnh gay gắt. Một lần khác, một trong những xe tải chạy lọt ra ngoài lề đường, xe bị hư hại và tài xế bị thương tích.
Hệ thống đã hoàn chỉnh của chúng tôi cung ứng một màn ăng ten vào sâu vùng Trung Đông; một vào Quần đảo Anh; một vào Scandinavia, một vào Nga; một ăng ten có hai mặt, một mặt hướng tới Tây Ban Nha, còn mặt kia về các nước Đông Âu. Tất cả đều được trang bị vật phản quang để thêm điện năng cho hướng muốn tới. Ngoài ra, chúng tôi còn gắn nhiều bó ăng ten hai cực, với vật phản quang và điều khiển, giúp chúng tôi đẩy mạnh công tác vào các nước gần hơn. Một trong những ăng ten này hướng vào nước Ý, một vào Đức, và một vào Pháp.
Khi thực sự bắt đầu phát sóng, chúng tôi lại gặp những nan đề khác. Đúng hướng bắc là hướng phát sóng khó nhất của chúng tôi vì phải dọn sạch đỉnh núi. Do việc này khiến cho góc bắn tia phát sóng đi sai, cho nên tín hiệu rõ nhất vào Scandivania đòi hỏi việc xây dựng một ăng ten bên kia núi, cách khoảng một phần ba dặm, hoàn toàn một mình. Trong nhiều thứ lắp đặt này, đây là vấn đề thử nghiệm cho tới khi chúng tôi tìm ra sự phối hợp tốt nhất để tạo ra tín hiệu tuyệt hảo vào vùng chỉ định.
Ngay từ đầu chúng tôi nhận ra rằng công tác lập chương trình sẽ rắc rối. Vì cho dù đã nâng công suất từ 22.5 kí lô watt tại Tangier lên tới 100 kí lô watt tại Monte Carlo, ở đây chúng tôi chỉ bắt đầu với một máy phát sóng. Điều này có nghĩa lúc đầu xấp xỉ 500 chương trình mỗi tháng được gửi đi qua ba máy phát tại Tangier sẽ phải sắp xếp lại bây giờ để có thể được phát trên một máy. Việc này đòi hỏi loại bỏ một số chương trình để có thể tập trung vào việc phát thanh những chương trình hiệu quả nhất. Tuy nhiên, sau này có thêm được một máy phát 100.000 watt thứ hai.
Ngày 16 Tháng Mười, 1960 chúng tôi thực sự phát thanh. Chúng tôi khó có thể tin rằng chỉ mới mười ba tháng kể từ ngày chúng tôi ký hợp đồng với Monte Carlo! Burt Reed và Bill Mial mang băng ghi âm tới phòng thu thanh trong đêm phát thanh đầu tiên đó.
Burt nói về đêm đầu tiên: “Tôi sẽ không bao giờ quên kinh nghiệm đó chừng nào mình còn sống. Chúng tôi ở đó với vài viên chức từ Monte Carlo, và chúng tôi chỉ đứng loanh quanh la hét như hài nhi.” Đã chín tháng trôi qua kể từ buổi phát thanh cuối ở Tangier. Mọi người đều làm việc trối chết - và rồi cuối cùng bây giờ đã thành công! Những nhân viên khác của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới hiện đang ở nhà Bill nơi chúng tôi tập họp sau các chương trình phát thanh để cảm tạ và ngợi khen.
Hình ở trang 117: Giáo sĩ Dan Harvey tại bảng điều khiển phát thanh
Kết quả bắt đầu lộ rõ ngay tức khắc. Trong năm đầu, 18.000 thư bay về đài khích lệ lòng chúng tôi; 800 thư yêu cầu giúp đỡ thuộc linh. Kết quả dường như tương xứng với số lượng mọi người trong các nước đã dâng hiến và làm việc để giúp việc phát thanh Phúc Âm có thể thực hiện được trong ngôn ngữ của mình. Chính sách của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã được đặt ra nhiều năm trước.
Người ta thường hỏi chúng tôi: “Các ông có người tại Monte Carlo để nói đủ hai mươi bốn thứ tiếng sao?” Không, chúng tôi không hề có chính sách như vậy. Điều này sẽ có nghĩa là một ban phụ trách rất hạn chế, có lẽ chỉ một người thôi, phải làm hết mọi chương trình cho nhóm ngôn ngữ của mình. Chúng tôi muốn giới thiệu nhiều tên tuổi cùng giọng nói và thể thức chương trình khác nhau cho bất cứ nước nào đã chỉ định, và cách hay nhất để làm điều này là làm ngay một chương trình tại nước đó khi có thể được. Theo cách này, ban phụ trách bản xứ của địa phương có thể chịu trách
Hình ở trang 118: Ban phụ trách Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Monte Carlo
nhiệm cung ứng xướng ngôn viên cùng nhạc sĩ khác nhau, những nhà truyền giảng Phúc Âm từ khắp các vùng, từng được thính giả địa phương biết tiếng và kính nể.
Thí dụ, O. Hallesby, người Na Uy có những sách bồi linh nổi tiếng về nếp sống Cơ Đốc được dịch sang nhiều thứ tiếng, là một diễn giả thường xuyên của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Monte Carlo. Là một người tài năng rất được kính trọng, Tiến sĩ Hallesby dạy tại Free University ở Na Uy cho tới lúc qua đời. Ông đã không bao giờ có thể bỏ vị trí của mình tại trường Đại học để tới Monte Carlo. Nhưng cũng hoàn toàn khả thi đối với một kỹ sư Na Uy bước vào phòng làm việc của Cơ Đốc nhân này mỗi tuần một lần để ghi âm các sứ điệp của ông dùng phát thanh sau này từ Monte Carlo. Chương Trình này được bổ sung bởi phần ghi âm của các ca đoàn từ hội thánh và Trường Kinh Thánh địa phương. Sắp xếp như thế cho chúng tôi cả chất lượng lẫn ảnh hưởng mà chúng tôi không bao giờ có thể đạt được bằng cách cố gắng tự làm hết chương trình một mình tại một địa phương. Qua cách giới thiệu những diễn giả với sứ điệp Phúc Âm rõ ràng, tức những người nổi tiếng và được yêu mến, tự động chúng tôi đã mở đường cho một tập thể thính giả đông hơn , dễ tiếp thu hơn. Và suốt nhiều năm tháng, sự hỗ trợ địa phương cứ đều đặn gia tăng cho tới 1965, phân nửa sự ủng hộ chúng tôi là do người Âu châu thường xuyên đáp ứng.


NƯỚC ĐỨC DẪN ĐẦU
Nước Đức, sau khi đảm trách ủng hộ tài chánh lớn lao cho các chương trình phát thanh riêng của mình, bắt đầu cảm thấy quan tâm đến người dân của những nước khác. Cơ Đốc nhân Đức sớm tài trợ những chương trình phát thanh truyền giáo cho Tây Ban Nha, Trung Đông, cùng các vệ tinh của Bức Tường Ngăn Cách.
Hermann Schulte, người từng mang gánh nặng truyền giáo qua phát thanh ngay từ buổi đầu, vẫn tỏ ra là người chủ chốt liên tục. Vốn là doanh nhân tài ba, ông không chỉ điều hành doanh nghiệp riêng mà còn mở một tiệm sách Cơ Đốc và nhà in. Điều này cho ông có đặc quyền trở thành nhà sản xuất đầu tiên - bây giờ là lớn nhất - những sản phẩm thu băng Phúc Âm tại Đức. Ông bị cuốn hút trong toàn bộ dây chuyền của sự kiện mới mẻ này đến nỗi hầu như bỏ lửng việc làm ăn riêng để lo cho những phương tiện chia sẻ đức tin mới này trong Đấng Christ được thành công. Là con người rất có tài, rất sâu sắc về thuộc linh, và là thành viên của nhóm Plymouth Brethren, ông cũng là lời chứng ngay tại gia đình mình. Tại đây, ông sốt sắng hướng dẫn gia đình đọc lời Đức Chúa Trời và cầu nguyện, không chỉ trước mỗi bữa ăn, mà còn thường xuyên sau đó nữa.
Dâng hiến một phần thời gian đáng kể mà không hề hưởng thù lao, ông Schulte đã tổ chức một chi nhánh Phát Thanh Xuyên Thế Giới của Đức tại Wetzlar, nước Đức. Bằng cách kể lại câu chuyện phát thanh cho từng cá nhân Cơ Đốc , cho các hội thánh, cho bất cứ ai chịu lắng nghe, dần dần ông đã thu phục được sự quan tâm, lời cầu nguyện, quà tặng, cùng sự phục vụ của một nhóm Cơ Đốc nhân Đức không ngừng gia tăng.
Một trong những thanh niên Đức đã giúp ông Schulte là Helmut Gaertner, người suốt nhiều năm đứng đầu lực lượng văn phòng tại Wetzlar. Vốn là thành viên trong ban phụ trách ở Tangier, Helmut đã học tiếng Tây Ban Nha thật thành thạo và muốn làm việc trong ban tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên, khi ông Schulte bắt đầu ban tiếng Đức, thì ông hỏi chúng tôi có nghĩ đến việc gửi Helmut Gaertner sang giúp ông hay không.
Thật khó diễn đạt bằng lời, nguyên cả một chuỗi sự kiện đã dẫn Helmut trở về quê hương, bởi lẽ nó bao gồm sự hướng dẫn qua điều có vẻ như bi kịch mà chúng tôi không bao giờ có thể hiểu hết được với khả năng lý luận hữu hạn của mình. Helmut có cô vợ trẻ xinh đẹp đột ngột qua đời khi sinh con đầu lòng. Chúng tôi cảm thấy đây hoàn toàn là bi kịch đối với anh, và chúng tôi cùng chia sẻ với anh trong sự mất mát đó. Chị là một thiếu nữ tận hiến tuyệt vời và chẳng ai trong chúng tôi có thể hiểu nổi việc chị được cất đi quá nhanh như vậy.
Vào lúc chị qua đời tại Tangier, dường như việc gửi Helmut về lại Đức ít ra vài tháng, là điều nên làm. Anh không bao giờ tránh né nhiệm vụ - anh không chỉ sẵn sàng ở lại với đài “Tiếng Nói Tangier,” mà còn tỏ ra muốn ở lại tiếp tục công việc. Nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy anh nên về quê hương ở với song thân một thời gian - để có đủ thời gian điều chỉnh sự mất mát lớn vừa rồi. Đúng ngay giữa thời gian phục hồi đó tại Đức mà Hermann hỏi ý chúng tôi để dùng Helmut.
Và bỗng nhiên Helmut Gaertner, như là cánh tay mặt của Schulte, trở thành chìa khóa thực sự cho toàn bộ sự phát triển ban tiếng Đức. Sau đó Đức Chúa Trời cho anh một thiếu nữ xinh đẹp khác làm vợ kế và trung thành giúp anh trong công việc tại Đức. Ban tiếng Tây Ban Nha tiếp tục phát triển kỳ lạ tại Tangier dưới sự lãnh đạo của Miguel và Maria Valbuena người Tây Ban Nha.
Helmut Gaertner dự phần quan trọng trong việc phổ biến và lắng nghe Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới khắp nơi sinh trưởng của anh. Người kế nhiệm anh, Wilfried Mann, một giám đốc doanh nghiệp, chịu trách nhiệm giải quyết 40.000 Mỹ kim mỗi tháng (năm 1967) đến từ thính giả cảm động muốn chia sẻ hỗ trợ tài chánh để phát thanh Lời Đức Chúa Trời cho đồng bào mình. Vốn bản thân làm việc chăm, ông hướng dẫn một ban phụ trách gồm bốn mươi bốn nhân viên làm việc toàn thời gian.
Không có nơi nào tôi được thấy cách Đức Chúa Trời chuẩn bị những kẻ Ngài lựa chọn cho chức vụ của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới nhiều hơn trong đời sống của vị giám đốc chương trình ban tiếng Đức. Vào cuối Thế Chiến II, một thanh niên tên Horst Marquardt, đang sống ở Vùng Đông Đức, trở thành người hăng say nghiên cứu triết học. Vì nhìn thấy những khác biệt giữa tư duy triết học với thực tế, nên Marquardt bắt đầu đọc Tân Ước. Qua việc nghiên cứu Kinh Thánh, anh tin nhận Đấng Christ. Ngay sau đó anh tìm đường sang Tây Đức. Về sau anh được thụ phong tại một Nhà thờ Phúc Âm Giám lý và trở thành mục sư tại Berlin. Sau nữa, anh sang Vienna, nước Áo, làm giáo sĩ.
Trong chuyến viếng thăm Vienna năm 1957, Ba tôi gặp Marquardt, tỏ ra rất quan tâm chức vụ phát thanh của chúng tôi. Năm 1960, anh gia nhập Evangeliums Rundfunk, ban tiếng Đức, nơi những tài năng xuất chúng của anh được Đức Chúa Trời đại dụng và ban phước lành.
Các thành viên tài ba của khoa soạn thảo đưa ra nhiều chương trình trong chi nhánh Wetzlar - những sứ điệp Phúc Âm, những bài giảng, những chương trình kịch Cơ Đốc, chuyện tích, chương trình thanh niên và nhi đồng, những loạt hỏi đáp - tất cả nhằm giúp tạo và duy trì một tập thể đông đảo thính giả giữa vòng dân tộc Đức, cả Đông lẫn Tây. Khởi đầu bằng cách cam kết tài trợ chi phí phát sóng ba chương trình, nhóm tại Wetzlar đã tiếp tục gây quĩ tài trợ cho mười lăm chương trình phát thanh truyền giáo mỗi tháng. Phần lớn những chương trình này được phát sang các nước phía sau Bức Tường Ngăn Cách, trong nhiều thứ tiếng khác nhau.
Ông Schulte báo cáo: “Chính từ Vùng Đông Đức mà chúng tôi nhận được khích lệ nhiều nhất cho chức vụ bằng tiếng Đức. Dân chúng ở đó tỏ ra vô cùng biết ơn qua từng sứ điệp phát thanh và kể lại nhiều đời sống được thay đổi. Có một lần chúng tôi muốn xác định mức hiệu quả của giờ phát thanh trưa thực sự ra sao, và xem thử có nên tiếp tục hay không. Chỉ trong hai tuần, có trên 2000 thư và thiệp gửi tới, nói: ‘Xin đừng ngưng phát thanh - hãy tiếp tục. Chúng tôi cần các chương trình đó.’”
Hình ở trang 123: Cấp lãnh đạo khởi đầu ERF (Evangeliums-Rundfunk) và chia sẻ trách nhiệm trong những năm đầu. Từ trái qua phải: Hermann Schulte, Horst Marquardt, và Wilfred Mann


NÓI VỀ TÂY BAN NHA
Ngay cả sau khi thiết bị phát thanh được dời về Monte Carlo, Tangier vẫn tiếp tục được dùng làm phòng sản xuất phát thanh chính. Toàn ban tiếng Tây Ban Nha ở lại Bắc Phi, chỉ cách đất liền mười sáu dặm - hai giờ đi thuyền. Miếng đất xinh đẹp thuộc quyền sở hữu của chúng tôi, có được thiết bị ghi âm tốt. Có vẻ hợp lý khi vẫn để cơ cấu đó tại chỗ cũ. Các chương trình Tây Ban Nha được soạn trên băng ghi âm và gửi máy bay qua Monte Carlo.
Thiết bị thu phát thanh trong nhiều nước giúp ban phụ trách phát thanh địa phương tiếp cận được nhu cầu cùng nguyện vọng của đối tượng phát thanh. Chúng tôi tin chắc cách tuyệt đối là phải đích thân gặp gỡ dân chúng tại nhà riêng họ để liên kết việc soạn chương trình với những nhu cầu chân thành của thính giả.
Thật phấn khởi thấy Đức Chúa Trời hành động qua ban tiếng Tây Ban Nha - nhóm đông thứ nhì trong số hai mươi bốn nhóm ngôn ngữ. Tây Ban Nha cho thấy một trong những cơ hội lớn nhất của việc phát thanh Phúc Âm, bởi lẽ nhiều tín hữu có ít cơ hội thông công Cơ Đốc, hầu như hoàn toàn nhờ vào chiếc máy ra-đi-ô để có được khích lệ và nuôi dưỡng thuộc linh.
Dưới sự chỉ đạo tài ba của Miguel và Maria Valbuena, công việc của ban tiếng Tây Ban Nha tại phòng thu phát thanh Tangier tiếp tục phát triển. Miguel và Maria, cả hai đều biết nhiều Kinh Thánh, là những người duyên dáng, có tài khôi hài thật linh động và giàu lòng nhân ái.
Maria được cử vào Phân Ban Thiếu Nhi Tây Ban Nha, thật xuất sắc với công tác soạn và thực hiện chương trình. Nổi tiếng đối với nhiều ngàn người hâm mộ thường gọi là Tita Maria (Dì Maria), chị đã sản xuất được chương trình kịch có sức thu hút người lớn cũng như trẻ em nghe ra-đi-ô. Thật ra, cho dù người lớn có thể là không muốn nhìn nhận, nhưng chương trình của chị được xếp loại phát thanh phổ biến nhất! Những chương trình này cùng với những chương trình tiếng Tây Ban Nha khác đều được nghe từ Monte Carlo, suốt giờ nghỉ trưa, và từ Bonaire trong những giờ khuya vắng.
Miguel không chỉ là một giáo viên dạy Kinh Thánh cực kỳ tài ba, mà anh còn viết
Hình ở trang 125: Tiến sĩ Freed trong chuyến viếng thăm Tây Ban Nha lần đầu
nhiều sách tiếng Tây Ban Nha dùng cho việc nghiên cứu Kinh Thánh cá nhân.
Hoàn toàn tin vào giá trị của sự tiếp xúc trực tiếp cá nhân, anh đã triển khai một hệ thống theo dõi chăm sóc cho những thính giả viết thư về đài. Một bản đồ khổng lồ trong văn phòng anh được gắn bằng những đinh ghim nhiều màu để chỉ ra vị trí của thính giả khắp 4.000 làng mạc và tỉnh thành trên lục địa Tây Ban Nha. Miguel và ban phụ trách cũng hài lòng với sự quan tâm của nhiều ngàn tín hữu cùng người tìm hiểu đã viết thư ghi danh học Khóa Kinh Thánh Hàm Thụ Tây Ban Nha. Phần này trong chương trình theo dõi chăm sóc cung ứng cho Cơ Đốc nhân trong nước dụng cụ để chia sẻ niềm tin - các thành viên thường tập họp láng giềng cùng bạn hữu về nhà mình để nghiên cứu các bài học chung với họ.
Gia đình Valbuenas thường từ Tangier trở về Tây Ban Nha để thăm các nhóm tín
Hình ở trang 126: Giám đốc Ban tiếng Tây Ban Nha là Miguel cùng với vợ là Maria đang xem bản đồ Tây Ban Nha
hữu họp lại học hỏi và cầu nguyện - một số đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa qua các buổi phát thanh - hoặc các cá nhân có nhu cầu đạc biệt. Một số mục sư thuộc phái Phúc Âm ở địa phương cũng hỗ trợ ban phụ trách Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới qua việc tiếp xúc chăm sóc những người quan tâm đến chương trình trong cộng đồng.
Juan Federico, một thành viên trong ban phụ trách về Tây Ban Nha, thường xuyên đi xe gắn máy khắp Tây Ban Nha để thăm viếng đồng bào, đưa dắt họ đến với Đấng Christ, thờ phượng và cùng cầu nguyện với họ, lắng nghe những niềm vui cùng nỗi đau lòng của họ, và lúc nào cũng tiếp cận với những nhu cầu cấp bách cùng thuộc linh của con người mà anh thấy là có thể giải quyết được qua các chương trình phát thanh.
Có vài yếu tố được xem là trên hết trong mọi hoạch định cùng đánh giá của chúng tôi, cho dù là thuộc nhóm ngôn ngữ nào. Chúng tôi có thực sự tiếp cận được với những người đang ngồi nghe trước máy ra-đi-ô của họ không? Những sứ điệp được soạn trong phòng thu phát thanh cách biệt lặng lẽ có thực sự liên quan tới cảnh sống căng thẳng của thế giới hằng ngày tuy cô độc nhưng bận rộn không? Liệu chúng tôi có mang lại hỗ trợ thực tế cho những quyết định, khích lệ hằng ngày trước những bổn phận nhàm chán bắt buộc của từng cá nhân không? Chúng tôi có sắp xếp những buổi phát thanh vào giờ mà mọi người có thể nghe được không? Chúng tôi có phát sóng vào giờ thuận tiện nhất cho những người trông chờ vào sự thông công của chúng tôi không? Có những kết quả nào rõ rệt không? Chúng tôi tin cậy vào những câu trả lời “có.”
Để dâng vinh quang cho Đức Chúa Trời, chúng tôi có thể nói rằng từ lúc bắt đầu các buổi phát thanh bằng tiếng Tây Ban Nha, đã có hơn 50.000 thư do thính giả Tây Ban Nha gửi đến. Ngoài ra, những thư cám ơn cũng vẫn tiếp tục đến từ dân chúng thuộc hai mươi ba quốc gia có ngôn ngữ chính là Tây Ban Nha.

BÙNG CHÁY MỐI QUAN TÂM NƯỚC PHÁP
Khởi điểm của ban Pháp ngữ bắt đầu từ khi Ba tôi ở Beatenberg, Thụy Sĩ, sau thời gian Mẹ tôi qua đời. Ông không trở lại với công việc ở Tangier sau những ngày khủng hoảng đó, vì chúng tôi có một thanh niên giỏi giang phụ trách ở đó. Đúng ra, sau một năm ở với em gái tôi cùng gia đình ở New Jersey, ông quyết định cư ngụ tại Beatenberg, nơi mà lúc nào ông cũng được chào đón như diễn giả cho các kỳ hội đồng, và cũng có thể vạch ra kế hoạch cho văn phòng của chúng tôi tại đó. Sắp xếp như vậy giúp ông thấy mình hữu dụng và không cảm thấy mình là gánh nặng cho bất cứ gia đình giáo sĩ nào cả.
Tháng Ba 1960 Ba tôi tái hôn. Trong thời gian sống tại trụ sở Truyền Giáo Bắc Phi tại Tangier, ông gặp Norah Chambers, một giáo sĩ điều dưỡng lúc ấy đang là nhà truyền giáo trong bệnh viện cho các nữ bịnh nhân người Moor. Bà trở thành người bạn đời tuyệt diệu của Ba tôi và là một nhân sự tận tình với ban phụ trách chương trình phát thanh của chúng tôi.
Trong khi họ đang sống ở Beatenberg, có hai anh em, tốt nghiệp Beatenberg Bible Institute, trở về trường dự hội đồng. Cả hai đều là những nhà truyền giảng Phúc Âm trong vùng nhỏ bé đó của xứ đã từng bị tung qua tung lại giữa Pháp với Đức rồi lại Pháp - tức vùng Alsace-Lorraine - nhưng dân chúng ở đó lại chủ yếu nghiêng về Đức hơn là Pháp. Anh em Buhrer tổ chức các trại chiến dịch và đích thân viếng thăm khắp vùng Alsace-Lorraine, trở nên rất thân thiện với dân chúng, là những người nói thổ ngữ tương tự như tiếng Đức-Thụy Sĩ.
Anh em Buhrer trở lại Beatenberg rất thường xuyên do sự sắp xếp rời rộng đối với những sinh viên tốt nghiệp Bible Institute (Viện Kinh Thánh). Không hề bị ràng buộc, bất cứ cựu sinh viên nào cũng có thể tới trung tâm hội nghị và ở lại tùy thích, mà khỏi phải trả một đồng. Chuyến viếng thăm như vậy khơi dậy trong họ mối quan tâm đối với việc phát thanh.
Họ nói với Ba tôi: “Đây sẽ là cơ hội tuyệt diệu cho nước Pháp. Việc truyền giáo thật khan hiếm ở đó.”
Ba tôi nói với họ: “Chúng tôi có phương tiện và chúng tôi sẽ rất vui. Tôi tin chúng tôi có thể gửi được tín hiệu rõ ràng vào đất Pháp với ăng ten thích hợp. Nhưng phải có người trả chi phí cho chương trình. Chúng tôi không có nguồn tài chánh vô hạn để cứ gia thêm và gia thêm mãi. Tiền phải được cung ứng.
Robert Buhrer hỏi: “Ông có thể giao trách nhiệm cho tôi để xem tôi có thể làm gì được không?”
Trọn một năm trôi qua, chúng tôi chẳng nghe tin tức gì từ anh ta khác hơn là sự quan tâm bùng cháy lúc đầu đó. Trở lại Beatenberg, anh ta bảo với chúng tôi rằng anh đã ghi nhận sự quan tâm của một số doanh nhân Pháp tại Strasbourg. Một lần nữa, cũng lại là chuyện về công việc xoay quanh một người - Buhrer nắm bắt được khải tượng về điều có thể làm giữa vòng người dân Pháp. Chúng tôi đã nói chuyện với nhiều người khác cũng quan tâm, những người rất tốt khắp nước Pháp quan tâm tới việc đem sứ điệp của Đức Chúa Trời đến cho người khác. Nhưng không một ai trong họ thực sự mang lấy gánh nặng về phương tiện đặc biệt này cho tới khi Đức Chúa Trời cảm động Robert Buhrer.
Lúc đầu anh có vẻ là người ít triển vọng nhất, chỉ biết rất ít tiếng Pháp. Nhưng anh được Đức Chúa Trời chọn. Khi được bàn tay Đức Chúa Trời chạm đến, anh hoàn toàn tận hiến, và nhờ sự lao khổ bất tận của anh mà toàn phân ban Pháp ngữ đã trở nên hiện thực. “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là
Hình ở trang 130:(Trên): Bà Norah Freed, phụ trách phát thanh chương trình “Phụ Nữ Nói Với Phụ Nữ”
(Dưới): Tiến sĩ Ralph và Norah Freed
bởi thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (XaDr 4:6). Khi Ngài kêu gọi một người, và người đó nói vâng, thì không có hạn chế trong điều có thể thực hiện được qua quyền năng của Thánh Linh Ngài.
Một lần nữa đây cũng là do phép lạ của Đức Chúa Trời đã đưa con người có thể làm được nhiều việc đến cho chúng tôi. Thông thường chúng tôi nghĩ tới việc lập các ủy ban và phân ban. Chúng tôi sẽ chia nước Pháp thành nhiều hoặc ít vùng bằng nhau, do một người phụ trách một phần. Nhưng cách của Đức Chúa Trời là chọn một người.
Chưa tới một phần trăm dân số Pháp có thể xem là thuộc phái Phúc Âm thậm chí theo kiểu xa xa. Với quá ít người dấn thân trong công việc Chúa, cho nên gánh nặng lúc nào cũng đè lên vai từng người trong số ít đó. Cùng một nhóm người lãnh đạo phải phục vụ trong hầu hết các ủy ban và ban ngành. Một người giải thích: “Chúng tôi không có đủ năng lực và sức lực để làm mọi thứ cần phải làm. Nhưng chúng tôi sẵn sàng làm điều mình có thể làm.”
Tầm cỡ của cộng đồng theo phái Phúc Âm cũng ngụ ý nguồn tài chánh eo hẹp cho một chương trình nặng như các buổi phát thanh. Nhưng một người - nhút nhát, không có vẻ gì là nhiệt tình - đứng lên nói: “Tôi tin là Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm vệc này.”
Những người khác vặn lại: “Tuyệt lắm, nhưng chúng ta lấy đâu ra nguồn tài chánh để xúc tiến chớ?”
“Tôi không biết. Nhưng tôi biết mình có một Đức Chúa Trời vĩ đại, và tôi tin Ngài sẽ giúp chúng ta xúc tiến.”
Buhrer đã bỏ các chiến dịch truyền giảng riêng của anh để dành trọn thì giờ cho công việc phát thanh. Tại Strasbourg, anh bắt đầu tiếp xúc với dân chúng. Và một khi Robert Buhrer đã bắt đầu kích động người khác thì lời nói của anh bắt đầu lan ra như lửa bừng bừng.
Một xí nghiệp nọ chế tạo một loại gỗ ép, và Buhrer nẩy sinh ý nghĩ rằng nếu Cơ Đốc nhân đi lượm dăm bào, họ có thể đem bán cho xí nghiệp này, và dùng tiền cho việc chi phí phát thanh.
Buhrer đến với một bác sĩ, hỏi: “Đức Chúa Trời có thực sự giúp ông trong nghề y không? Nếu Ngài cho thêm ông một bệnh nhân nữa, ông có thể dâng khoản thu nhập từ bịnh nhân mới đó cho Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới không?
Hình ở trang 132: Robert Buhrer, trưởng ban đầu tiên của ban Pháp ngữ trong Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới
Thêm một bác sĩ nữa bắt đầu đánh dấu bịnh nhân thứ năm bước vào cửa là “bịnh nhân của Chúa.” Bất cứ khoản tiền nào bịnh nhân đó trả, ông đều dâng cho việc phát thanh.
Một thợ đóng tủ mỗi tháng đóng một cái tủ đặc biệt, bán đi, rồi lấy tiền dâng cho việc phát thanh.
Với nông gia, Buhrer nói: “Chắc anh không phiền lòng nếu dâng một con trong bầy heo này cho Chúa phải không?” Khi đã bằng lòng, nông gia ấy nuôi con heo đặc biệt đó, đem bán, và tiền thu được dâng vào các buổi phát thanh nói tiếng Pháp của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới.
Hoặc ông nói: “Nếu Chúa ban phước cho ông có những lứa heo đẻ nhiều con hơn, liệu ông có sẵn sàng dâng mấy heo con đẻ thêm đó cho Ngài không?” Khi nông gia nói: “Tôi sẽ vui làm điều đó,” là anh để riêng thu nhập từ việc bán mấy heo con đó cho quỹ phát thanh.
Một nhân viên phục vụ tại trạm xăng dâng hiến tất cả lợi nhuận suốt một ngày bán mỗi tháng.
Những người khác thu gom giấy bìa cứng đem bán lấy tiền gửi dâng vào chương trình phát thanh.
Buhrer đi từ làng qua làng, từ thành phố tới thành phố, gieo rắc mối quan tâm cùng nhiệt tình. Không có giới hạn trong điều Đức Chúa Trời có thể làm với lòng sốt sắng của ông.
Những người không có nhiều tiền lại mang tới những quà tặng không đoán trước được, bác bỏ lời nói bảo rằng “chẳng ai thực sự quan tâm đến nước Pháp.” Khi Chúa dẫn dắt một tấm lòng thì không hề có đất nước nào là cằn cỗi cả. Mọi túi tiền đều nới lỏng khắp các tỉnh thành. Một người cao tuổi cảm động vì những sứ điệp phát thanh, đã viết: “Tôi muốn dâng món quà nhỏ.” Đó là một bịch tiền bằng kim loại, 150 đồng tiền vàng loại hai mươi đồng - 3.000 Mỹ kim!
Nhờ tất cả những việc làm khác thường này mà người dân Pháp có thể nghe được các chương trình phát thanh hằng ngày hoàn toàn do chính đồng bào mình biên soạn và bảo trợ. Bốn hoặc năm người tại Strasbourg đã lập thành bộ phận nòng cốt. Một người đặc biệt dâng nhà để xe thật lớn của mình làm chỗ thu phát sóng, và họ tập họp lại xây trang thiết bị, hiện nay có thể đáng giá khoảng giữa mười và mười lăm ngàn Mỹ kim.
Tổng chi phí xây dựng các chương trình trong tiếng Pháp được hỗ trợ bởi những cá nhân người Pháp không những chỉ bản thân họ muốn nghe Lời Đức Chúa Trời, mà còn muốn người khác nghe nữa. Một thanh niên phụ tá xuất sắc người Pháp hiện nay mang một máy thu băng chuyên nghiệp loại xách tay đi khắp nước Pháp, ghi âm những sứ điệp từ các diễn giả truyền giảng Phúc Âm để dùng trong các buổi phát thanh. Tại phòng thu phát sóng ở Strasbourg, các chương trình được biên tập bởi một chuyên viên kỹ thuật phát thanh làm việc tòan thời gian, sau đó băng được gửi đi Monte Carlo để phát về lại Pháp.
Chính ông Buhrer cũng không nói tiếng Pháp lưu loát lắm, nên ông không nói trong các chương trình phát thanh. Ông đưa những người khác vào giảng sứ điệp trong khi vẫn tiếp tục đẩy mạnh phía sau sân khấu. Hàng triệu truyền đơn phổ biến chương trình phát thanh Phúc Âm được in và phát ra. Tiền để mời diễn giả đặc biệt tới phòng thu thanh thường được quyên góp. Càng ngày càng có thêm chương trình được biên soạn và phát đi. Ông là con người thực sự mang gánh nặng về dân tộc Pháp. Đáp ứng vẫn liên tục. Trong số nhiều người khác, có một phụ nữ, sau khi nghe chương trình phát thanh, tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa. Sau đó bà đi ra nói về Ngài cho hàng xóm. Kết quả là họ có được những nhóm cầu nguyện hằng ngày. Hiện nay trong vùng bà có nhiều nhóm khác nhau gặp gỡ mỗi ngày trong tuần để cầu nguyện cho các chương trình phát thanh bằng tiếng Pháp. Và thế là hiệu quả của công việc cứ nhân lên mãi.

NHỮNG HIỆU THÍNH VIÊN CHO ÂU CHÂU
Sau khi mọi việc chạy đều tại đài phát thanh mới, chúng tôi thấy cần phải gom công việc ở Âu châu vào một mối. Chúng tôi giải tán văn phòng Thụy Sĩ và dời trụ sở (văn phòng) về Monte Carlo. Sau khi vài văn phòng nhánh được lập ra, thì những mục tiêu của trụ sở trung ương hoàn toàn mang bộ mặt mới. Trong số những chức năng quan trọng khác, khía cạnh này trở thành tiêu điểm mọi thử nghiệm tín hiệu của chúng tôi.
Để xác định mức độ mình đạt tới các vùng mục tiêu, chúng tôi gửi đi một tín hiệu phát thanh thường xuyên - âm nhạc kèm theo thông báo lặp lại nhiều lần cho một địa điểm: “Đây là buổi phát thanh thử, đến với bạn từ Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới.” Sau đó chúng tôi sẽ xác định thính giả thử nghiệm trong nhiều nước khác nhau, hoặc chúng tôi sẽ thực hiện những chuyến đi thăm dò các địa điểm khác nhau. Chúng tôi cần biết không chỉ nơi nào nhận được tín hiệu rõ nhất, mà còn giờ nào nhận tín hiệu thích hợp nhất. Chúng tôi quan tâm đến việc tìm biết tín hiệu đó mạnh ra sao, có loại nhiễu nào chúng tôi thường gặp, hoặc có nhiễu thường xuyên ở tần số nào hay không. Nếu có, chúng tôi cần tìm một tần số khác để có băng tần rõ ràng hơn.
Chẳng có nơi nào là không bị nhiễu. Có được một tần số để phát tín hiệu thường xuyên tốt vào vùng mục tiêu là một chuyện. Nhưng vấn đề không bao giờ có thể giải quyết ngay tức thời và mãi mãi - chúng tôi phải liên tục kiểm tra xem mọi người có nghe rõ chúng tôi hay không. Một thay đổi đột ngột có thể xảy ra do một đài khác bất ngờ xuất hiện ngay trên tần số của chúng tôi. Đôi khi đài mới này không mạnh bằng đài chúng tôi, nên họ sẽ phải tìm một địa điểm khác trên bản chỉ kênh.
Nan đề này khiến chúng tôi phải triển khai một mạng lưới hiệu thính viên khắp Âu châu, đánh giá tín hiệu, báo cáo hằng ngày để giúp chúng tôi biết ngay tức khắc khi bất cứ tần số hoặc vấn đề nào có trục trặc. Có thể chúng tôi thấy cần phải hành động nhanh chóng để ngay đêm kế tiếp chúng tôi tái xuất hiện trên một tần số khác. Chúng tôi vẫn cố gắng thông báo cho thính giả những thay đổi như vậy trước khi chúng tôi thực hiện, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng thực tế.
Đây thực sự là vấn đề nghiêm trọng nhất chúng tôi phải đối phó - tìm cho ra một chỗ trên băng tần số thích hợp với nhiễu tối thiểu. Toàn bộ dự án của chúng tôi lệ thuộc vào sự thành công chúng tôi đạt được trong việc thính giả có thể nghe rõ chúng tôi. Chúng tôi có thể lập chương trình hấp dẫn và liên tục, nhưng sẽ chẳng đi xa hơn trần của phòng phát thanh nếu điều kiện nghe không được đúng mức. Tần số và sự truyền bá tạo thành chiến trường lớn nhất của chúng tôi. Tại Monte Carlo chúng tôi đấu tranh liên tục suốt hai năm mới có được cách xử lý khéo léo. Thật là một thử thách không tưởng - liên tục phát ra tín hiệu thật rõ vào nhiều vùng mục tiêu của chúng tôi tại Âu châu, Bắc Phi, Trung Đông, và sau bức “Màn Sắt.” Hầu hết chúng tôi đều mang vết sẹo của những ngày khắc nghiệt đó suốt thời gian lâu dài.
Khi Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới được biết đến thật rộng rãi, thanh niên từ mọi miền nước Mỹ và Canada bắt đầu xin chúng tôi cho làm công tác truyền giáo. Ngay từ buổi đầu chúng tôi biết rằng trong một công tác như của chúng tôi, thì cần phải có những nhân sự được đặc biệt đào tạo với chất lượng cao. Thế nhưng chúng tôi đã cẩn thận theo nguyên tắc là mỗi ứng viên phải chứng tỏ có những tiêu chuẩn thuộc linh cao nhất và thực sự được Đức Chúa Trời kêu gọi phục vụ suốt đời trên cánh đồng truyền giáo.
Một lần nữa tại đây tôi có thể chứng nghiệm sự thành tín của Đức Chúa Trời chúng ta. Vào lúc đóng cửa đài Tangier chúng tôi có hai mươi sáu nhân sự làm việc toàn thời gian tại hiện trường. Đa số được chuyển về Monte Carlo. Ngày nay có ba mươi lăm nhân sự truyền giáo phục vụ cho đài Monte Carlo, ghi sổ sách các phòng phát thanh, cùng các văn phòng dưới sự lãnh đạo của Ba tôi. Eugene Priddy là thư ký hiện trường phụ trách hành chánh còn Norman Olsen, giám đốc của đài, chịu trách nhiệm hoạt động kỹ thuật. Họ có những phụ tá là Roy Hertzog, kỹ sư trưởng, Dave Carlson, giám đốc quảng cáo và giao tế, với Lee Vandervort, thủ qũy khu vực. Tất cả họ đều làm chứng cho sự dẫn dắt kỳ diệu của Chúa, cho sự cung ứng đầy đủ của Ngài, và cho niềm vui phục vụ Ngài trong công việc đồng đội gần gũi mà chức vụ phát thanh truyền giáo đòi hỏi. Đầu năm 1967 toàn bộ gia đình các giáo sĩ Mỹ và Canada trong Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới cùng nhiều nhân sự quốc gia thuộc các chi nhánh khác nhau ở Âu châu cùng Trung Đông mà chúng tôi trực tiếp hoặc gián tiếp chịu trách nhiệm về sự hỗ trợ của họ - bao gồm trên 200 người lớn và gần 150 trẻ em. Chúng tôi có một Đức Chúa Trời thật cao cả!
Công việc phát triển theo nhiều hướng. Một số doanh nhân xuất sắc tại Na Uy, những người đã từng chịu trách nhiệm đóng tiền đầu tiên cho Monte Carlo, vẫn tiếp tục xúc tiến. Họ đã lập được một phòng ghi âm tốt tại Oslo, thực hiện được nhiều chương trình đa dạng thật hay. Một người hiện đang dành toàn thời gian đi khắp nước ghi lại những sứ điệp cùng âm nhạc từ những con dân Đức Chúa Trời có tài năng. Những người khác thì miệt mài làm việc nhiều giờ mỗi ngày sắp xếp những sứ điệp đó trong phòng thu phát thanh của mình. Các chương trình được gửi đi Monte Carlo để phát sóng, rồi phát lại cho Na Uy.
Các thư từ chứng minh những chương trình này được người Đan mạch và Phần lan mở lên nghe, và một chương trình tiếng Thụy điển cũng mang lại kết quả. Tại Scandinavia, nhiều thư từ do “những người của biển” viết bởi họ được khích lệ và phước hạnh khi nghe các buổi phát thanh lúc đang ở trên tàu.
Tại Anh, sự chú ý đến những chương trình phát thanh gia tăng đều đặn. Chi phí phát thanh ở đó có vẻ rất cao, nhưng chúng tôi đang phát một số chương trình do Mỹ sản xuất cho Anh và họ có vẻ quan tâm. Bắt đầu nắm lấy khải tượng, hiện nay họ tự làm cho mình những chương trình thật hiệu quả. Bắc Ái nhĩ lan cũng phát triển thật vui. Một cặp vợ chồng thương gia đã từng nghe Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới nhiều năm qua hiện đang thực hiện Giờ Phúc Âm của người Ái nhĩ lan (Irish Gospel Hour) và đảm nhận tài trợ cho chương trình qua một tập thể Cơ Đốc nhân Ái nhĩ lan quan tâm. Tiềm năng ở Anh bao gồm khoảng năm mươi lăm triệu người.
Suýt tự sát, một thanh niên Anh - bị áp đảo bởi những nan đề riêng - do dự đủ lâu để mở chương trình phát thanh ưa thích. Ngay sát cạnh đài đó, giọng hát nổi bật qua băng tần chen chúc đó. Công suất 100.000 watt của Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới tạo một loại nhạc khác lạ đối với anh ta - những bài hát được mẹ anh hát cho nghe nhiều năm về trước. Anh chỉnh lại cho rõ hơn, và sứ điệp của Phúc Âm bắt đầu chạm vào nỗi đau trĩu nặng trong lòng anh. Thay vì hủy hoại đời mình, anh đã dâng nó cho
Hình ở trang 138: Trang thiết bị tới hiện trường phát sóng Monte Carlo, Núi Agel
Chúa Giê-xu Christ. Có đủ sức mạnh đẩy được lời của sự sống xuyên qua tiếng láp nháp của hàng chục đài, đã tạo nên sự thay đổi lớn trên thế giới.
Trong khung cảnh riêng tư của gia đình mình, dân chúng lắng nghe chương trình phát thanh truyền giáo - những người khắp thế giới không có cách nào khác để được bước vào mối thông công với Đức Chúa Trời để học biết tình yêu cùng sự tha thứ. Càng có nhiều người hơn con số chúng ta tưởng, đang lắng nghe và đáp ứng tiếng nói của Đức Chúa Trời khi họ ngồi - không bị ép uổng, không bị ai thấy trước ra-đi-ô của mình.
Từ Bồ Đào Nha, một bà viết: “Các chương trình phát thanh của quí vị hoàn toàn thay đổi đời sống tôi.” Bà giải thích rằng mình được nuôi dạy trong niềm tin rằng phải tự kiếm đường lên thiên đàng, và bà đang chuyên tâm làm điều đó. Thất vọng trong những nỗ lực làm người tốt, bà vẫn tiếp tục đi tìm lời bảo đảm cho sự cứu rỗi mình. Rồi một hôm, lúc đang rà đài, bà nghe một chương trình phát thanh Phúc Âm tiếng Bồ Đào Nha từ Monte Carlo. Nỗi lo sợ cùng thất vọng trong lòng bà được thay thế bằng lòng biết ơn đối với Cứu Chúa, khi bà khám phá ra rằng Ngài đã trả xong giá cứu rỗi thế cho mình rồi. Trong thư gửi chúng tôi, bà kể lại cách mình đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu Christ ra sao. Sau đó, qua chương trình theo dõi chăm sóc của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới chúng tôi giúp bà liên lạc với một hội thánh Phúc Âm, và bà chịu báp têm một tháng sau đó.
Bà lại viết thư: “Bây giờ tôi biết chắc mọi tội mình được tha hết rồi, và tôi được hoà thuận với Đức Chúa Trời. Tôi kể cho mọi người biết về Đấng Christ. Tôi rất biết ơn các chương trình Phúc Âm của quí vị từ Monte Carlo.”
Một bé chăn cừu, đang một mình canh chiên trên sườn đồi tại Corsica, nghe Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới qua máy ra-đi-ô xách tay bé nhỏ của mình. Cậu dâng lòng mình cho Đấng Christ và sau đó dọn về đảo Sardina gần đó như một giáo sĩ “ngoại quốc” - nói cho người khác về Đấng Chăn đã yêu thương và cứu vớt vượt xa hơn mọi hi vọng của con người. Chúa Giê-xu phán: “Các ngươi hãy đi khắp thế gian giảng Phúc Âm cho mọi người.” Để chúng ta có thể “đi” và “giảng” chính là mục đích nòng cốt của mọi chương trình phát ra từ Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới “đi vào toàn thế gian.”

PHỦ KÍN TRUNG ĐÔNG
Dĩ nhiên, Trung Đông là mối quan tâm và ưu tư lớn của chúng tôi, vì gia đình chúng tôi đã sống ở đó suốt nhiều năm. Chúng tôi đặc biệt nôn nóng muốn bắt đầu phát thanh bằng tiếng Ả Rập vì có thể dễ dàng hình dung ra những người sẽ nghe. Đây là những người mà cả Ba tôi lẫn tôi đều biết qua kinh nghiệm trực tiếp, lâu dài. Suốt nhiều năm nhiệm kỳ giáo sĩ của chúng tôi tại Palestine và Syria, chúng tôi đã sốt ruột ao ước đưa nhiều người Ả Rập đến với Đấng Christ hơn khả năng mình có thể làm được. Chức vụ của Ba tôi đối với dân trong nhiều làng rất có kết quả. Tuy nhiên, không ai trong chúng tôi tránh né được sự kiện cơ bản là con số những người chưa được tiếp xúc lúc nào cũng vượt xa con số những người chúng tôi đang tiếp xúc. Bạn có thể tưởng tượng chúng tôi phấn khích biết bao với triển vọng phát thanh len lỏi vào những nơi mà chính bản thân chúng tôi chưa hề có cơ hội hoặc thì giờ bước tới. Khải tượng của chúng tôi về dân tộc Ả Rập thật sống động, vì họ là dân tộc của chúng tôi theo cách đặc biệt, và điều đó tạo thành gánh nặng khiến chúng tôi tìm cách quyên góp hỗ trợ để phát thanh và soạn ra những chương trình phát thanh đặc biệt này. Khi một người có loại ưu tư cá nhân này đối với tha nhân thì sẽ luôn luôn muốn làm vượt trổi rất xa, hơn khả năng mình có thể làm được. Đây chính là trường hợp của Trung Đông thân thuộc và yêu dấu khi chúng tôi bắt đầu kế hoạch.
Tuy công việc chính của Ba tôi liên quan với người Ả Rập, nhưng những chương trình tiếng Hi bá lai cũng rất quan trọng. Khi người Y-sơ-ra-ên lập quốc, điều này tạo nên sự tách rời hoàn toàn phân ban Hi Bá Lai với Ả Rập. Chuyện kể bằng Hi Bá Lai đi trước buổi phát thanh bằng tiếng Ả Rập.
Suốt những thế kỷ bị tan lạc, dân Do Thái vẫn thường nói tiếng Yiddish, một thổ ngữ của Đức dùng chữ viết Hi Bá Lai. Một trong những ước vọng mạnh mẽ của họ khi người Do Thái trở về Y-sơ-ra-ên lập quốc đó là phục hồi ngôn ngữ Hi Bá Lai Cựu Ước để dùng hằng ngày. Quyết tâm này, bắt đầu khoảng 1920, lên tới đỉnh cao vào năm 1948 khi tiếng Hi Bá Lai được chỉ định làm ngôn ngữ chính thức trong truyền thông và giáo dục.
Hình ở trang 139: Tiến sĩ Jacob Blum, phát thanh viên Hi Bá Lai đầu tiên trong phân ban Hi Bá Lai của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới
Dân tộc Do Thái đặc biệt kính trọng những người Do Thái có gốc từ nhiều thế hệ ở Palestine. Đó là loại người Đức Chúa Trời đã chọn cho chúng tôi tại Trung Đông. Ông là người Hê-bơ-rơ , sinh gần Ti-bê-ri-át, nói tiếng Hi Bá Lai lưu loát từ thời thơ ấu. Con người này, Jacob Blum, khao khát học vấn, đi Hà Lan vào đầu thập niên ’30 ‘ để học. Trong thời gian này, ông trở lại đạo, là một trong số ít người Do Thái đầu phục Đấng Christ trước khi được giao cho Anh. Ông có hai bằng tiến sĩ, một về hóa học và một về lãnh vực thần học. Ước vọng lớn của ông mong trở về mang Phúc Âm cho đồng bào mình ở Palestine cuối cùng đã thành tựu dưới sự bảo trợ của một số Cơ Đốc nhân Hà Lan gửi ông về lại quê hương làm giáo sĩ.
Một thời gian sau, khi tổ chức American Messianic Fellowship tại Hoa Kỳ quan tâm các buổi phát thanh cho Y-sơ-ra-ên, họ bắt đầu bảo trợ Tiến sĩ Blum trong chương trình tiếng Hi Bá Lai mỗi ngày và vẫn trung tín tiếp tục cho tới ngày ông qua đời vào Tháng Chín 1966. Tiến sĩ Blum đến Monte Carlo mỗi năm một lần để ghi âm các sứ điệp của mình. Sau đó, ban phụ trách biên soạn, thêm phần âm nhạc và hoàn tất các chương trình để phát thanh sang Trung Đông.
Hình ở trang 139: Dick Olson trong phòng thu phát thanh của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Beirut
Một trong những thính giả từ Israel nói lúc đầu anh ta ghét Tiến sĩ Blum ra sao bởi lẽ “ông là kẻ phản bội tôn giáo cùng tổ quốc chúng ta để qua trại kẻ thù muốn tiêu diệt chúng ta . . . Tôi là đối thủ mãnh liệt nhất và là người đấu tranh dữ dội nhất chống lại tổ chức truyền giáo Cơ Đốc . . . cho tới khi tôi nghe chương trình phát thanh của ông. Xin vui lòng cho tôi biết khi nào chúng ta có thể gặp nhau và tại đâu, trong những quán cà phê cũng được.”
Một người mà Tiến sĩ Blum đã trò chuyện nhiều lần đột ngột lâm bịnh. Khi Tiến sĩ Blum tới bịnh viện, người này đã hôn mê. Ông cầu xin Đức Chúa Trời cho phép ông nói chuyện một lần nữa với người này trước khi người đi vào cõi đời đời. Ngay sau đó, người này mở mắt nói: “Phải ông đó không, Tiến sĩ Blum? Tôi tin là ông sẽ có ở đây - rằng ông sẽ không bỏ tôi chết cô độc. Lời làm chứng của ông không luống công. Tôi sẵn sàng chết vì tôi biết bây giờ tôi sẽ đi về với Đấng Mê-si của tôi, Đấng Cứu chuộc tôi.”
Mối quan tâm sâu sắc của chúng tôi đối với thế giới nói tiếng Ả Rập được thể hiện khi chúng tôi khẩn thiết cầu xin đúng người và đúng thời điểm khởi đầu. Sự tiếp xúc mở đường cho những buổi phát thanh tiếng Ả Rập là một thí dụ khác trong kế hoạch kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Trong thập niên ’20’ Ba tôi đã từng chú ý đến một thanh niên từ Úc dự thi tiếng Ả Rập trong phòng Ba tôi coi thi. Nhiều năm sau, khi chính anh chàng Keith Stevenson nghe về Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới, anh đã liên lạc với chúng tôi. Đồng thời anh cũng thành lập một hội truyền giáo văn chương tại Beirut, Lebanon, dưới sự bảo trợ của những Cơ Đốc nhân tại Úc. Như một việc làm phụ, anh cũng đã bắt đầu ghi âm để mang đến cho những người không thể ra khỏi nhà. Tài làm chương trình cùng tiêu chuẩn sản xuất cao của anh dẫn chúng tôi tới việc thương lượng với anh, lúc đầu khi anh tới Thụy Sĩ, rồi sau đó khi tôi đi Beirut thăm anh. Kết quả những thảo luận của chúng tôi là sự kết hợp hội Gospel Recording Society của anh làm chi nhánh Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới của chúng tôi tại Trung Đông. Tập họp chung quanh mình một số diễn giả Ả Rập Cơ Đốc tài ba, ông Stevenson sản xuất được những chương trình phẩm chất thượng hạng và sứ điệp tích cực. Ông còn tự nguyện lắp đặt thiết bị thu phát thanh hoàn chỉnh tại Beirut để sản xuất các chương trình trong tiếng Ả Rập, Armenia, và Thổ nhĩ kỳ.
Một thính giả Cộng Hoà Ả Rập Thống Nhất - trong số những mục tiêu thách thức nhất của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới - gửi lá thư đầy khích lệ sau đây:
“Mỗi ngày tôi rất thích mở nghe buổi phát thanh của các ông và cảm thấy bình an khi ngồi gần lắng nghe sứ điệp của các ông, chúng hướng tôi theo con đường ngay thẳng. Tôi nhờ các ông chỉ cho tôi con đường dẫn tới đích tốt đẹp bằng cách cho tôi những thông tin về Chúa Giê-xu. Cũng xin vui lòng cho tôi những câu hỏi để khích lệ tôi đọc Kinh Thánh cùng một số bài thánh ca được hát trong chương trình của quí ông.”
Toàn bộ sinh hoạt giữa vòng người Ả Rập tiếp tục mở rộng. Dick và Jeanne Olson, một trong những cặp vợ chồng xuất sắc nhất của chúng tôi đã cùng với các con đi Beirut lo công việc tại đó. Dick đã cùng làm việc dưới sự hướng dẫn của Ba tôi nhiều năm tại Monte Carlo. Anh cũng là một nhân sự rất hiệu quả tại Bonaire. Dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, công việc tiếp tục phát triển. Dick có phụ tá là Jad Dally, một công dân Jordan rất tận tình và có tài năng.
Câu chuyện về Jacob Jambazian, người quản lý phân ban Armenia tại Beirut, cũng khởi sự từ những ngày đầu chúng tôi sống tại Giê-ru-sa-lem. Nhiều năm trước đây, khi người tị nạn Armenia từ Thổ nhĩ kỳ tới, một gia đình Cơ Đốc mở một cô nhi viện tại Gie-ru-sa-lem. Là một bé trai trong cô nhi viện đó, Jacob Jambazian nghe Ba tôi dạy cho thiếu nhi. Nhiều năm sau, khi tốt nghiệp trường Kinh Thánh tại Beatenberg, anh và Ba tôi lại gặp nhau.
Lịch sử của người Armenia thật kỳ lạ. Họ đã là một quốc gia suốt 2725 năm rồi mà vẫn cứ sống theo từng nhóm thiểu số trong nhiều xứ không phải là quê hương của mình. Hàng trăm ngàn người xúm xít nhau theo phe cánh trong các nước Ảrập - có những trường học riêng dùng ngôn ngữ kiêu hãnh riêng của mình. Chức vụ của Lời Đức Chúa Trời trong tiếng nước họ rất hiệu quả giữa vòng họ; họ phấn khởi được nghe Phúc Âm trong tiếng mẹ đẻ của mình.
Hình ở trang 145: Phát thanh viên Armenia, Jacob Jambazian cùng với vợ là Knar
Đỉnh đông nam của nước Nga có dẫy đầy người Armenia. Nước Nga thu hút quốc tịch của họ, hứa tổ chức quốc gia cho họ. Trên nửa triệu người Armenia đã bị thuyết phục gia nhập nước Liên bang Sô viết Armenia trong vùng Caucase. Jambazian chuẩn bị vài chương trình mỗi tuần qua băng thu để phát thanh cho đồng bào mình, với những kết quả đầy khích lệ.
Chương trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới là một tổ chức nhằm mục tiêu phục vụ, cung ứng cho các dân bản xứ có được tiếng nói để tường thuật về Chúa Giê-xu Christ cho đồng bào họ. Đây là quá trình khởi đầu tại Iran. Năm 1962 Dick Corley của International Missions, Inc., nói chuyện với một trong những nhân sự của chúng tôi tại một hội đồng ở Chicago. Ông nghĩ người Ba tư sẽ hưởng được lợi ích từ một chương trình Phúc Âm trong ngôn ngữ của họ, và ông tự hỏi mình có thể làm gì để bắt đầu một chương trình như vậy. Chúng tôi khích lệ ông mua một máy ghi âm để mang về soạn thử một chương trình tại Ba tư.
Điều kế tiếp chúng tôi được biết, là có nhận được một cuộn băng gửi bưu điện từ Iran, kèm theo lời chỉ dẫn. Corley muốn phát sóng băng ghi đó vào tám giờ sáng tại Iran. Điều này hàm ý chúng tôi phải thuyết phục toán làm việc tại Monte Carlo - cách hai múi giờ hướng tây - phải thức dậy sớm hơn thường lệ một tiếng đồng hồ để có thể mở băng ghi âm tiếng Ba tư lúc 6 giờ sáng. Đó là vào Tháng Mười Hai 1962. Kể từ đó, Giám đốc của Hội Truyền giáo Quốc tế (International Missions) Elrey Larow, đếm được từ 7.000 tới 8.000 người Ba tư ghi danh học khóa Kinh Thánh hàm thụ được quảng bá qua ra-đi-ô. Ông cho rằng chương trình phát thanh đã có công thu hút 95 phần trăm học viên Kinh Thánh mới mẻ này.
Chúa tiếp tục làm phép lạ mới tại Monte Carlo. Ngày 1 Tháng Tư 1966, Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới được phép dùng máy phát sóng AM làn sóng trung bình (phát thanh chuẩn) khổng lồ 400.000 watt của đài Phát thanh Monte Carlo sau 10 giờ tối. Bước đột phá khó tin này mở ra con số rất lớn những gia đình giữa lòng Châu Âu trước đây chưa hề có ai tiếp xúc, trong giờ tối cao điểm này. Tác động cùng ảnh hưởng của cách tiếp xúc mới này cho thấy còn có hàng ngàn tấm lòng đang chờ đợi được đụng đến theo cách đó. Quả là chúng ta có một Đức Chúa Trời thật vĩ đại.

KỶ NGUYÊN MỚI CHO CHƯƠNG TRÌNH
PHÁT THANH XUYÊN THẾ GIỚI
Tháng Sáu 1961, chúng tôi từ Pháp trở về Mỹ. Việc xây dựng trang thiết bị phát thanh lớn lao phức tạp tại Monte Carlo rất khó khăn, nhưng tôi thấy thách thức đó thú vị hơn cả. Một trong những nan đề của tôi là - tôi thực sự thích công việc cực nhọc. Việc càng khó, càng thúc ép và thu hút, tôi lại càng thấy thích thú. Chúng tôi biết Chúa đã giúp chúng tôi. Thật là một công tác lớn lao và vô cùng căng thẳng. Chúng tôi cảm thấy đã hoàn tất thành công một điều tốt. Betty Jane và các con cùng tôi về Mỹ bằng tàu để có cơ hội thư giãn.
Trước mấy ngày trong văn phòng tại Chatham, chúng tôi về thăm song thân Betty Jane và dự vài buổi nhóm đặc biệt ở North Carolina. Mấy vali chưa kịp mở ra thì Ben đã gọi đề nghị một ít giờ giải trí. Tôi tóm lấy cơ hội gia nhập Ben cùng một số bạn đánh một chầu quần vợt ngày Thứ Bảy. Tôi yêu thích môn này - thậm chí đã từng thắng một số trận thi đấu quần vợt cấp thành phố trong những năm trước đây. Bốn người chúng tôi thỉnh thoảng vẫn chơi suốt nhiều năm và cũng khá kình địch nhau. Merle Daugherty, một họa sĩ thương mại từ North Plainfield, là một người khoảng sáu mươi lăm tuổi. Ý nghĩ đầu tiên của ông ta khi Ben gọi điện ấy là ông bị tim và có lẽ không nên chơi. Nhưng khi ông nghe chúng tôi đang kiếm người đánh cặp, thì ông lại để cho sự nôn nóng thắng thế, và ông bảo đảm với vợ, đánh cặp sẽ bớt căng. Harold Mathisen, người môi giới đầu tư, là láng giềng của chúng tôi, cũng như là thành viên của Long Hill Chapel, hội thánh mà chúng tôi dự nhóm.
Harold chơi quần vợt thi đấu, còn Merle là ngựa chiến kỳ cựu trên sân chơi. Anh có hai vợt - một cái anh nói là cong và anh chỉ dùng khi anh có “máu trong mắt.”
Ben và tôi đấu với Harold và Merle, và chúng tôi đã chơi được hai trận, mỗi người chúng tôi thắng một trận. Trận thứ ba hoàn toàn khác - chẳng còn là cú vô-lê thoải mái bình thường như lúc mới bắt đầu nữa. Cuộc chơi trở thành cực kỳ ganh đua - Harold đánh mạnh banh sít sao vào góc xa, thì Merle đã xớt với cây vợt chiến thắng của mình. Mỗi cú đánh đều mang tính quyết định. Sau hai mươi hai ván, trận đấu vẫn hoà. Hễ họ thắng một ván, là chúng tôi thắng một ván. Tôi không nghĩ là chúng tôi chấm dứt được trận đấu. Bóng tối bao trùm và thế là chúng tôi phải ngưng vì không còn nhìn thấy được mình đang làm gì.
Tôi thấy hơi mệt trong lúc chơi nhưng lại gán cho sự kiện là vì mình nghỉ chơi đã lâu. Chủ yếu sức khỏe tôi vẫn tốt. Mới sáng hôm ấy, Paul và Jim nói: “Bố ơi, trông bố khỏe thật đấy!”
Đúng thế. Tôi gồng cơ bắp cho chúng xem và chúng cười toe toét. Tôi cảm thấy mình thật bảnh.
Nhưng khi chúng tôi ngưng chơi, tôi biết mình quá mệt. Tôi cảm thấy choáng váng và khác lạ. Tôi mở cửa ngồi vào xe của Harold trong khi chúng tôi ngưng chuyện trò dưới ánh đèn đường. Tôi chẳng nói gì nhiều. Ngay cả sau khi Harold và tôi lái xe ra khỏi sân và qua khỏi bệnh viện, tôi vẫn để anh nói mà khó có thể trả lời - hoặc thậm chí chẳng nghĩ tới điều gì khác hơn nỗi khốn khổ của riêng mình. Ý nghĩ chợt loé trong trí tôi ấy là có lẽ tôi phải bảo anh ta dừng tại bịnh viện thả tôi xuống đó. Có thể là tôi cần kiểm tra sức khỏe.
Khi về tới nhà, tôi chạy vào. Tôi nói với vợ: “Anh thấy khổ sở quá!” tôi nghĩ là mình bị khó tiêu, tôi đã từng bị vài lần như thế lúc ở trên tàu, và nhiều lần trước đó, khi tôi bước nhanh.
Betty Jane vòng tay qua ôm lấy tôi và dìu tôi lên cầu thang, vào giường nằm. Tôi không muốn làm nàng sợ không đáng, nhưng bỗng cơn đau kinh khủng giáng xuống tôi. Tôi cảm thấy bị đè nặng khiếp đảm như thể một mảng dây thép đang quấn chặt quanh ngực mình.
Giữa tiếng rên rỉ và những cơn đau nhói, tôi cố gắng nói với nàng: “Đây không phải là chuyện bình thường, em ơi. Em phải gọi Bob ngay lập tức!” Vợ tôi không thể tin là tôi thực sự cần bác sĩ, và tôi khó có thể chịu nổi cơn đau mà nói cho nàng biết. Bác sĩ Robert Francis, người bạn thân thiết và là Cơ Đốc nhân rất tốt, vừa mới đi nghỉ phép về được năm phút thì Betty Jane gọi điện.
Chỉ mấy phút chờ đợi thôi, cũng có vẻ như cả thiên thu. Tôi tin chắc là mình sắp chết. Tôi nói với vợ tôi là tôi yêu nàng, và tôi muốn gặp các con. Chúng đang ngủ nhưng lại thức giấc vì náo nức. Nàng kêu bốn đứa tập họp lại - Paul, Donna, Jim, và Stevie - trong phòng ngủ, tôi nói với chúng là rất yêu chúng và ước ao lớn nhất của tôi là mong mỏi chúng sống cho Chúa. Tôi chào giã biệt tất cả. Tôi đinh ninh kết cuộc là như vậy.
Đội cấp cứu cùng xe cứu thương tới trước cả bác sĩ. Tôi không thở nổi. Mồ hôi vã ra như tắm. Tôi thấy đau khắp hai cánh tay. Họ chụp ngay ôxy lên mặt tôi, và tôi nhận biết bác sĩ Bob Francis cũng đang cúi mình trên tôi với mũi kim tiêm dưới da. Ông chắc chắn đây là trường hợp suy tim. Trong khi họ khiêng tôi xuống cầu thang, bỏ lên cáng đưa vào xe cứu thương, tôi có thể nhìn thấy các con đứng một mình lo sợ nơi khung cửa. Tôi biết chắc mình sẽ không bao giờ gặp lại chúng. Một lát sau tôi được biết cảnh sát trong đội cấp cứu đã quay lại với mấy đứa nhỏ. Về sau, một bà hàng xóm qua nhà tôi đưa chúng về nhà bà. Betty Jane theo tôi vào bịnh viện, nhưng tôi không thể trò chuyện với nàng.
Suốt ba ngày tôi ở trong phòng ôxy. Ông bố khỏe mạnh to con vốn tự hào về những cơ bắp của mình hồi sáng, người xây cất đài phát thanh giàu nghị lực vẫn thường làm việc mười lăm tiếng mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần, giờ đây đã gục ngã. Bỗng chốc, tôi còn không thể tự ăn một mình được, thậm chí không giở cánh tay lên nổi. Tôi nằm rạp giường, và suốt một tháng trường không được rời khỏi giường bịnh viện đó.
Sau một tuần, xét nghiệm xác nhận là tôi bị suy tim cấp tính - chứng huyết khối ở động mạch vành - nhưng ít nguy hại vĩnh viễn. Nói thật, tôi thấy khó chấp nhận sự thật. Tôi thực sự không tin là điều đó có thể xảy đến với tôi. Tôi chỉ mới bốn mươi hai tuổi và bình thường rất khỏe. Nhưng tôi cứ tự nhủ: “Bác sĩ Francis hẳn nhiên là đúng. Nếu ông đúng thì tôi phải làm theo lời ông thôi.”
Tôi theo đúng sít sao từng chi tiết những lời dặn dò của ông. Ông thật kiên nhẫn và thông cảm. Nếp sống cùng lời chứng của ông thật có ý nghĩa biết bao đối với tôi trong thời gian khó khăn đó. Tôi không bao giờ cố tình mảy may sai lệch khỏi những hướng dẫn của ông. Trước hết, từ 90 kí, tôi sụt cân còn 72 kí. Sau đó nhờ chế độ ăn uống đặc biệt, tôi lên được 77kí - mức cân nặng tôi phải duy trì. Ngay cả cho tới bây giờ tôi cũng không sai lệch chế độ ăn kiêng, và vẫn cố gắng thực sự nghỉ ngơi nửa tiếng mỗi buổi chiều.
Suốt thời gian tĩnh lặng này Chúa đã dò xét tôi. Tôi chưa bao giờ có được nhiều giờ ở bên Ngài như vậy - đọc Lời Ngài, lắng nghe Ngài, trò chuyện với Ngài, và đọc những tác phẩm của những người hiểu biết Ngài sâu nhiệm. Trước đây, tôi vẫn nghĩ mình điều khiển sự việc. Tôi thường tưởng tượng nếu không có tôi để nhúng tay vào mọi chuyện trong công việc phát thanh, vào một ngày nào đó, hẳn sẽ có chuyện kinh khủng xảy ra. Bây giờ thì tôi nhận ra rằng nếu có chuyện gì xảy ra, thì thậm chí tôi cũng chẳng biết nữa, chứ đừng nói là để bàn thảo và tìm ra giải pháp! Bỗng nhiên tôi nhận biết rằng chẳng ai - bất cứ ai - là không thể thiếu đối với công việc Đức Chúa Trời. Và tôi ý thức được rằng công việc Đức Chúa Trời sẽ vẫn cứ tiếp tục mà không cần có ai trong chúng ta cả. Điều duy nhất không thể thiếu được đối với Cơ Đốc nhân ấy là phải đặt ý muốn Đức Chúa Trời làm trọng tâm cho đời sống mình.
Sau khi xuất viện tôi không đứng lên nổi. Tuần lễ đầu tiên tôi chỉ có thể đi một hoặc hai bước là phải ngồi xuống nghỉ ngay. Suốt trọn một tháng tôi bị giam trong nhà, tháng kế tiếp tôi được đặc ân ra khỏi nhà. Sau đó bác sĩ thực sự thức tỉnh tôi khi bảo rằng tôi không được lái xe trong ba tháng! Tôi thật không tin được chuyện đó! Nhưng bác sĩ nhìn chằm chằm tôi, nói: “Không có cách nào khác, Paul ạ. Thế thôi!”
Tôi lắp bắp: “Nhưng mà ai lái xe chứ?”
Ông thản nhiên đáp: “Vợ anh lái.”
Tôi than phiền: “Nhưng cô ấy làm tôi lo lắm!”
Vừa cười tôi, ông nói: “Vậy thì anh cứ việc lo thôi.”
Tôi sẽ không bao giờ quên được lần đầu tiên khi vợ chồng tôi đi ăn tiệm sau kinh nghiệm nằm bịnh viện. Kể từ đó tôi mới nhận ra rằng nơi mà chúng tôi chọn, là tiệm ăn rất yên tĩnh. Thế nhưng khi tôi bước vào, thì âm thanh rì rào nghe như tiếng gầm của Thác Niagara đập xuống tôi. Tôi không chịu nổi, và sau mười hoặc mười lăm phút, tôi hết cố gắng được nữa, nói với Betty Jane là chúng tôi sẽ phải về nhà.
Tôi thoáng nghĩ là mình sẽ không bao giờ có thể đối diện người khác được nữa. Tôi đã bị cách ly quá lâu. Hồi ở bịnh viện chẳng có khách nào được phép viếng thăm - chỉ có hai hoặc ba ngoại lệ. Về nhà thì chỉ có gia đình riêng của tôi. Một trong những điều khó nhất tôi phải đối diện là chia sẻ trước công chúng trở lại.
Khi đã dần dần lấy lại sức, tôi nhận lời chia sẻ tại một hội thánh nhỏ không xa nhà tôi. Tôi thực sự sợ muốn chết! Bình thường tôi rất thích nói chuyện với đám đông. Tôi đã từng chia sẻ vô số lần bằng tiếng Anh và qua thông dịch viên tại nhiều xứ. Được đứng trước mọi người và làm chứng về Chúa là điều mà lúc nào tôi cũng thích làm. Nhưng lần này tôi lại sợ là mình không làm được. Tôi sợ mình sẽ té xuống, sợ rằng tôi sẽ quên điều mình đang nói, sợ rằng có điều gì đó - tôi không biết là điều gì - sẽ xảy ra.
Chúa tỏ cho tôi biết rằng tôi phải nghĩ đến Ngài - đừng nghĩ đến chính mình. Khi đứng lên, tôi có thể trình bày một sứ điệp đơn giản ngay từ chính lòng mình. Thật vui mừng và khích lệ không tả xiết khi biết rằng tôi có thể làm công việc đó như xưa. Từ đêm đầu tiên đó, tiếp tục là chuyện dễ dàng cho tới khi cuối cùng mọi sự có vẻ như bình thường trở lại.
Đối với những mục đích thực tế thì tôi đã chết hôm tôi bị suy tim, bởi lẽ tôi chắc chắn là mình sẽ không còn sống nữa. Bác sĩ đã nói chắc về tình trạng nghiêm trọng của tôi, và đối với tôi, như thể đó là kết cuộc đời mình. Những ngày sau đó trở thành thời gian tái đánh giá, xem lại những việc đáng phải làm mà chưa làm. Lúc đầu tâm trí tôi chưa được giải phóng khỏi ý nghĩ liên tục: đáng ra tôi phải làm điều này, đáng lẽ ra tôi phải làm việc đó chăm chỉ hơn, sao tôi lại không làm cho xong việc kia? Nhưng khi tôi cầu nguyện và đọc Lời Đức Chúa Trời, thì một ý nghĩ thường xuyên xuất hiện nổi bật hơn cả là: “Mỗi ngày có được phó thác một trăm phần trăm cho Chúa Giê-xu Christ không? Cuộc đời tôi có đặt đúng trọng tâm ý muốn Ngài đối với tôi không?” Tôi thường nghĩ: “Đáng lẽ ra tôi phải xây một đài phát thanh lớn hơn. Có lẽ ban phụ trách phải đông hơn. Có lẽ tôi phải tổ chức công việc theo cách khác.” Với những ý nghĩ đầu tiên thoáng qua này, vấn đề thực sự cô đọng lại là - sự cam kết mới của tôi với Chúa mỗi ngày.
Sau này bác sĩ đặt vấn đề với tôi là có thể tôi phải thay đổi toàn bộ cách sống của mình. Điều này khiến tôi ý thức được rằng có lẽ mình sẽ không còn làm gì được nhiều - có lẽ Đức Chúa Trời thậm chí còn cần tôi trong một chức vụ hoàn toàn khác, và điều khiển công việc phát thanh mà không cần đến tôi. Một lần nữa tôi thấy sự cam kết toàn vẹn cho Ngài mới là thiết yếu, và trong khi đang hồi phục tôi có được hiểu biết mới về sự phó thác đời mình cho Ngài. Điều này dẫn tới một quyết định thực sự quan trọng - sự nhận biết rằng mọi việc phải phát xuất từ Đức Chúa Trời, không phải từ chính mình. Kết quả là, tôi có thể nói rằng Đức Chúa Trời đã làm điều đã được thực hiện trong công việc này, và chúng ta càng nhờ cậy Ngài thì Ngài có thể hoàn tất được càng nhiều hơn.
Tuy nhiên, tôi nghĩ thực sự lầm lẫn nếu ai đó nhìn quanh rồi nói: “Từ hồi đó tới giờ tôi đã làm chính xác điều tôi hứa nguyện với Chúa.” Qua kinh nghiệm riêng tôi biết rằng chúng ta là con người, chúng ta yếu ớt. Và tôi sẽ vô cùng miễn cưỡng nói rằng tôi đã hoàn toàn phó thác mình cho Ngài trước điểm bước ngoặc đó trong bịnh viện. Dù sao, mỗi ngày tôi vẫn ý thức được một điều cần cho từng ngày của tôi: tôi phải dâng ngày đó cho Ngài; tôi phải tập trung vào ý muốn của Ngài dành cho tôi.
Kinh nghiệm phải từ bỏ quyền kiểm soát bản thân cùng công việc của mình đã thay đổi lối suy nghĩ của tôi rất nhiều. Nó dạy tôi phải tìm kiếm Lời Ngài, không dựa vào sức lực thể xác riêng, mà vào Lời Đức Chúa Trời làm thức ăn. Tôi có hiểu biết mới về ý nghĩa thế nào là nhờ cậy, không phải vào bản thân, mà vào Chúa. Nhiều người trong chúng ta là Cơ Đốc nhân đang làm những công việc thú vị quan trọng đối với mình, tin rằng thành công chỉ là vấn đề tiến tới trước. Phục vụ bằng môi miếng, tôi luôn luôn nói: “Chúng ta phải tin cậy Chúa trong việc này, và Đức Chúa Trời giúp chúng ta việc kia.” Nhưng tôi không thực sự cư xử như thể hoàn toàn nhờ cậy Ngài là chính yếu.
Trong kinh nghiệm bịnh viện này tôi cũng học được một điều về thái độ của mình đối với người khác.Tôi vẫn thường cho rằng vấn đề là phải làm việc mười, mười hai, thậm chí mười lăm tiếng mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần. Mối lo quan trọng nhất của đời tôi là làm việc, liên tục chuyển động, đẩy mình làm xong hết việc này tới việc khác. Bất cứ ai làm kém hơn tôi đều bị tôi cho là chểnh mảng. Tôi thiếu thông cảm, thiếu độ lượng. Cuộc sống không được giao cho chúng ta để chơi, tôi lý luận như vậy, chúng ta cần phải làm việc. Ở tuổi bốn mươi hai, bị cơn suy tim đột ngột quật ngã, tôi dần dần thay đổi quan điểm. Tôi bắt đầu độ lượng đối với năng lực cùng tài năng của người khác, về những quyết định của người khác.
Đồng thời tôi cũng học biết được sự thiếu sót của thái độ tôi đối với người khác - và đối với chính tôi - tôi không làm được gì nhiều để ngăn chận bánh xe tư tưởng cứ liên tục quay trong tâm trí tôi. Ngay cả vào ngày thứ ba sau cơn suy tim - trong lúc vẫn còn trong trại thở ôxy, trí tôi mở tốc lực phóng tới trườc để triển khai những kế hoạch nới rộng Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới qua việc mở thêm đài chiến lược ở vùng Caribbea. Lúc đó tôi được bảo cho biết là mình sẽ phải nằm bẹp ít nhất một tháng, cho nên tôi nhờ Ben cùng nhiều người khác làm tay, làm chân thế cho tôi. Thật ra chúng tôi có nghe tin vui về một máy phát sóng được rao bán tại Cincinnati, Ohio. Được điều khiển bởi WLW cho Văn Phòng Thông Tin Chiến Tranh của chính phủ Hoa Kỳ, máy này đã đóng vai trò mạnh mẽ trong tâm lý chiến suốt Thế Chiến II. Đây là một trong những dụng cụ chính được dùng để phát câu chuyện Hoa Kỳ sang đất địch nhằm phản công lại lời tuyên truyền dữ dằn của Đức Quốc Xã. Hitler biết quá rõ tầm quan trọng của máy truyền tin này - cùng sự thiệt hại do máy gây ra cho chính nghĩa của mình - đến nỗi đặt tên cho nó là “Tên Nói Láo Cincinnati.”
Chúng tôi mua máy đó chỉ bằng giá một phần nhỏ giá trị ban đầu của máy. Tuy nhiên, trước khi đem xử dụng, thì chúng tôi lại bán máy để mở đường cho một trang thiết bị tốt hơn, mới hơn. Như vậy, dù đài này không bao giờ được xử dụng, dường như bàn tay của Chúa vẫn làm việc vì cớ chúng tôi qua việc có được nó. Chính sự chuyển động này đã lăn bánh xe để thành lập một đài siêu công suất bên ngoài lục địa Âu châu.
Tâm trí chúng tôi - của Betty Jane và của tôi - không hề nghi ngờ về việc mọi hoàn cảnh của cơn suy tim đều do Đức Chúa Trời sắp xếp. Tôi không thể diễn tả nên lời ý nghĩa của vợ tôi đối với tôi trong những ngày đó. Nàng cùng nếm trải với tôi mọi chuyện, khích lệ tôi trong từng chi tiết nhỏ nhặt, nâng đỡ tôi về thuộc linh vào lúc mà tôi tha thiết cần sự thông cảm. Không phải là chuyện dễ đối với một con người tích cực hoạt động bị hoàn toàn cắt đứt khỏi công việc do chính người đó sáng lập và nuôi dưỡng, hoàn toàn hạ xuống thành con số không. Nhưng đó chính là điều đã xảy ra cho tôi. Tôi vẫn thường có khuynh hướng chạy trước, thúc đẩy sự việc tới kết cuộc sau cùng để mình có được niềm thỏa mãn nhìn thấy nó diễn ra. Nhưng bây giờ thì tôi học tập chính chân lý ngược lại qua cơn suy tim: “Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời.”
Betty Jane túc trực bên tôi một trăm phần trăm lúc đau yếu cũng như khi mạnh khỏe. Tôi không nghĩ là công việc này có bao giờ trở thành hiện thực, cũng như tôi không thể vượt qua được những điều đã qua, nếu không nhờ lòng tận tụy Cơ Đốc sâu sắc của người vợ và cũng là người mẹ của năm đứa con ngoan ngoãn của chúng tôi. Vợ tôi cho rằng Đức Chúa Trời đã sắp xếp mọi chi tiết của buổi tối quan trọng đó để cứu lấy mạng sống tôi. Nàng hoàn toàn tin chắc, và không mảy may tin bất cứ ai có thể nói ngược lại điều đó. Nàng thực sự tin trận đấu quần vợt đó đã cứu vớt đời tôi. Bác sĩ cho chúng tôi biết rằng tôi đã sống với tốc độ khủng khiếp. Nàng cảm thấy nếu tôi không bị cơn suy tim qua việc dùng năng lực trong trận đấu quần vợt thì tình trạng sẵn có trong tim tôi dần dần sẽ tồi tệ hơn, tạo nên một cơn suy tim nặng hơn và có lẽ là gây tử vong sau đó.
Bạn bè và bà con theo dõi sự việc nói với tôi rằng dù là cơn suy tim chủ yếu không thay đổi trọng tâm chức vụ tôi, nhưng có vẻ đã đặt toàn bộ công việc trong một viễn tượng mới - viễn tượng của cõi đời đời. Lần đầu tiên, khía cạnh dài hạn của công việc phát thanh xuất hiện rõ nét. Theo quan điểm phương hướng thì chẳng có gì thay đổi về vật chất - chúng tôi vẫn tiếp tục theo đưổi cùng hướng đó - nhưng công việc thì mang tính cấp bách mới mẻ, lệ thuộc Đức Chúa Trời cách mới mẻ. Dường như chúng tôi được đưa vào một kỷ nguyên mới.

LỜI CỦA BETTY JANE
Vì vợ tôi cảm thấy Đức Chúa Trời cũng đã dạy nàng những bài học quan trọng qua thời gian tôi đau ốm, nên Betty Jane xin được mượn vài trang ở đây để gửi một thông điệp quan trọng cho những người làm vợ và làm người yêu.
“Chúa có dành cho tôi một bài học qua cơn suy tim của Paul. Hồi năm 1948 tôi thấy khó để cho Paul đi một mình sang Thụy Sĩ. Chúng tôi chưa hề xa nhau, và tôi không thích ý nghĩ đó chút nào. Đó là lúc tôi tranh chiến lần đầu với việc thực sự dâng hiến chồng mình cho Đức Chúa Trời.
“Tôi đã làm chuyện này nhiều lần trước những chuyện khác. Vấn đề không khó ở chỗ là mình thiếu cái này hoặc cái khác, mà là ở chỗ khi bạn yêu một người nào đó thật nhiều, rồi được kêu gọi phải từ bỏ người đó - thì thật là một thử nghiệm chua cay. Để cho người đó vuột khỏi tầm tay mình, chính là kinh nghiệm xé lòng nhất đối với người phụ nữ. Tôi thấy việc dâng chồng mình cho Chúa là việc khó nhất mà tôi đã làm - thực sự rút tay lại khỏi cuộc đời anh ấy, sẵn sàng xa cách anh ấy, chấp nhận cho anh xa rời tôi. Tôi cho rằng thực sự nỗi khó khăn là ở chỗ phải nhìn nhận rằng tôi không chiếm vị trí ưu tiên trong cuộc đời anh ấy. Dĩ nhiên, tôi sẽ luôn luôn nói rằng tôi muốn Chúa là ưu tiên đối với anh, nhưng nói và làm cách nhau hàng đại dương.
“Chuyến đi của anh ấy sang Beatenberg ngay sau đám cưới chúng tôi chỉ là một thử nghiệm bé nhỏ so với mọi chuyện xảy ra sau đó. Nhưng trong cuộc đời non trẻ cũng như trong con tim mềm yếu của tôi lúc đó thì việc chấp thuận sự xa cách nhau là một chuyện lớn lao kinh khủng. Qua nỗi đau cách biệt nhau, Chúa dạy tôi bài học mà mọi người chúng ta đều phải học - đừng bám quá chặt vào những điều thân thương nhất mà Ngài đã cho chúng ta. Kể từ đó, chuyện của tôi xoay hướng theo bài học đó - cứ để cho Paul đi. Tôi đã học biết rằng những gì mình dâng cho Đức Chúa Trời không bao giờ là nhiều hơn Ngài cho chúng ta. Cho dù mình có dâng gì đi nữa, thì Ngài cũng cho lại nhiều hơn - luôn luôn như vậy.
“Đêm Paul bị cơn suy tim, tôi như thể bị Đức Chúa Trời gọi ra để khiển trách. Tôi có thực sự ngụ ý điều tôi đã nói nhiều năm trước đây hay không? Dù sao, Đức Chúa Trời có quyền đem anh ấy đi - bởi lẽ tôi đã dâng anh ấy cho Ngài rồi. Tôi tin chắc Ngài sẽ không lầm lẫn trong trường hợp Paul. Ôn lại lịch sử cuộc sống chung, tôi đã đối diện với việc mất anh ấy. Tôi hầu như chẳng ngủ được trong đêm đầu tiên chồng tôi ở trong bịnh viện. Tôi không thấy được tại sao Đức Chúa Trời lại muốn rước anh về khi anh quan trọng đến thế đối với nhiều người chúng tôi trong gia đình và trong công việc. Nhưng rồi tôi cũng biết rằng không có ai là thiết yếu cả. Cuối cùng, suy nghĩ của tôi tập trung vào giao ước chính bản thân tôi đã thực hiện với Chúa trước đây - ý Ngài được nên, dù với bất cứ giá nào.
“Cho dù đối diện với khả năng rất chắc chắn là Paul sẽ phải chia tay với tôi trong đêm đó, tôi vẫn cảm nhận được bàn tay vỗ về của Chúa trong tất cả mọi sự. Tôi biết Ngài chắc chắn sẽ thực hiện ý muốn của Ngài.
“Mấy tuần kế tiếp đưa tôi vào một loại thử nghiệm khác. Paul đã thoát hiểm đêm đó, và có vẻ như Đức Chúa Trời chưa có ý định đem anh đi vào thời điểm này. Anh đang nằm bẹp, và bác sĩ nói anh sẽ phải nằm như vậy ít nhất là một tháng. Nhưng không, Paul không thể nằm ở đó, chỉ hài lòng với việc lành bịnh! Ngày thứ ba là anh đã bắt đầu nói tới việc mở một đài phát thanh khác - một đài tại Caribbea! Anh nhờ người khác đi thăm dò và nghiên cứu. Nhưng thực sự là Paul đang thúc đẩy việc mở rộng hầu như trước cả lúc anh ngưng dùng thuốc an thần!
“Điều này khiến tôi - theo xác thịt - tức giận! Tôi nghĩ: ‘Bộ chưa đủ hay sao chứ? Nằm đó, trên giường suýt chết như vậy mà còn nói tới chuyện mở thêm một đài mới. Bộ anh ấy không quan tâm tới chúng tôi hay sao? Chúng tôi cũng cần anh ấy chứ.’
“Tôi cực lực phản đối chuyện Paul nghĩ tới công việc - nằm đó trong bịnh viện, tuần lễ sau cơn suy tim. Nằm bẹp thế mà vẫn còn bận rộn. Anh ấy không được lo lắng. Anh ấy phải hoàn toàn nghỉ ngơi. Thế nhưng anh lại bắt đầu lăn bánh, lo tìm ‘một đài riêng cho mình’ - theo cách anh ấy gọi. Tại Monte Carlo chúng tôi đã cho thuê các máy phát sóng và ăng ten. Tôi không thể hiểu được tại sao mọi chuyện này phải diễn ra ngay lúc này. Sao không chờ năm năm sau? Tôi thực sự cảm thấy chuyện này bao hàm tính mạng của anh ấy.
“Không phải tôi chống đối việc dựng thêm một đài mới, vì chính tôi cũng muốn anh có được một đài riêng thật mạnh ở Caribbea. Nhưng tôi phản đối thời điểm. Tôi thực sự xem việc khởi đầu một dự án khổng lồ khác như là cái chết của Paul. Về sau, một lần nữa, tôi lại thấy đây cũng là vì tôi không chịu dâng hiến Paul - cùng với những ý kiến cao xa của anh, và bể chứa khát vọng của anh - hoàn toàn cho Đức Chúa Trời.
“Đây là một tranh chiến cam go đối với tôi, và suốt ba hoặc bốn tháng, tôi tìm đủ mọi cách làm nản lòng Paul trong khảo cứu mới của anh. Bởi lẽ dường như tôi chẳng làm được gì nhiều với anh, nên tôi quyết định tốt hơn là đem nói với Chúa. Cuối cùng tôi đi tới chỗ có thể nói: “Thôi được rồi Chúa ơi, nếu đây thực sự là điều Ngài muốn, có thể là bao hàm cả tính mạng của anh ấy, nhưng vẫn là con đường sẽ phải chấp nhận thôi.’
“Bất chấp mọi thiệt thòi cá nhân thấy trước, cuối cùng tôi phải đối diện với sự thật rằng trước hết, Paul là người của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời là Đấng chỉ thị từng bước của anh. Lúc đó tôi bắt đầu một lần nữa cùng sát cánh với chồng tôi. Từ đó, tôi thấy dễ phó thác cho Chúa mọi diễn tiến khi chúng tôi bước vào các giai đoạn chuẩn bị cho đài tại Caribbea.
“Thúc đẩy chính tiến tới việc hoàn tất đài mới xuất phát từ niềm tin của Paul cho rằng có thể anh không còn sống được bao lâu nữa. Suy nghĩ đó khiến anh sống trong tình trạng khẩn cấp - mọi việc phải được thực hiện ngay tức khắc. Chúng tôi thường nói về việc Chúa tái lâm, và chúng tôi phải làm việc cấp bách ra sao. Nhưng chúng ta sẽ không cảm nhận thực sự điều đó cho tới khi mình thấy rằng cuộc sống sẽ chấm dứt bất cứ giây phút nào. Thật sự là chúng ta không thể biết được gì sau nhịp tim kế tiếp của mình; đặc biệt là tính bất trắc của sự sống là điều chung cho mọi người. Nhưng cơn suy tim biến hiểu biết này thành sự nhìn nhận thực tế - đó là chúng ta chỉ cách bờ vĩnh cửu có một nhịp tim. Paul và tôi liên tục sống trong sự chờ đợi một cơn suy tim khác. Nhiều đêm chẳng ai trong chúng tôi ngủ được vì anh ấy thấy đau đớn, và chúng tôi tự hỏi phải chăng đã tới lúc. Nhưng qua mọi sự, chúng tôi luôn có sự bình an sâu xa tin rằng cuộc đời chúng tôi ở trong tay Chúa.
“Cuộc chạm trán với tử thần cũng khiến nhiều điều nhỏ nhặt không thiết yếu trong đời sống chúng tôi, cũng đổi khác đối với tôi. Chẳng hạn , bây giờ chúng tôi thưởng thức nhạc, đi đây đó và cùng làm việc chung với nhau. Có thể bạn bảo, bây giờ chúng tôi làm thì cũng chưa quá trễ, thay vì chỉ bàn tới chuyện cùng làm. Có một điều, tôi không còn tiếp tục rửa chén khi có thể cùng ngồi lắng nghe và trò chuyện với nhau nữa!
“Thật ra là hình như anh ấy càng làm nhiều hơn và còn bận rộn nhiều hơn trước đây. Nhưng bây giờ anh ấy bận rộn theo cách hay hơn - anh tự điều chỉnh để cắt giảm căng thẳng , và tôi cảm thấy mình có bổn phận phải giúp anh điều này . Anh không còn có thể lo nhiều tới chuyện gấp rút cho kịp giờ một buổi hẹn nào đó - chính phút giây mà anh tiết kiệm có thể tạo căng thẳng dẫn tới một cơn suy tim khác. Anh cũng dành nhiều thì giờ hơn cho các con - giúp chúng làm bài tập, hoặc chơi bóng chày và bóng đá, ở bên cạnh chúng và làm những việc thực sự có ý nghĩa đối với chúng, những việc sẽ để lại ký ức bền lâu trong chúng. Trước đây, anh thường nói: ‘Đừng quấy rầy Bố, bố đang bận điện thoại.’ Bây giờ thì anh lắng nghe nhiều chi tiết nhỏ nhặt rất quan trọng trong cuộc đời chúng; anh dành thì giờ khuyên nhủ chúng. Trên một phương diện, khi dâng hiến anh cho Đức Chúa Trời, chúng tôi đã gặp lại anh.
“Sức làm việc của Paul thật khủng khiếp. Đôi lúc điều này tạo thành gánh nặng, chán nản, thậm chí đau lòng cho những người gần gũi anh và muốn theo kịp anh. Tôi không hiểu bằng cách nào mà anh tiếp tục được. Tôi đã giạt qua một bên từ lâu rồi.Tất cả những gì tôi thực sự có thể làm là giữ cho bếp lửa gia đình vẫn cháy. Anh luôn nói với tôi, đó chính là điều anh cần - biết chắc là tôi vẫn thầm lặng và tin tưởng sát cánh bên anh. Điều đó giúp anh tiếp tục công việc với tin tưởng và bình an trong lòng cũng như trong tâm trí.
“Anh ấy thường bảo tôi: ‘Em à, nếu trong gia đình không có bất hoà, nếu em không bực dọc và cáu giận và hiểu lầm, thì giúp ích cho anh rất nhiều.’ Đó có phải là điều quá lớn để làm cho người thân yêu nhất trên đời đối với tôi không?
“Mọi hiểu biết mới mẻ này giúp tôi nhìn đời cách mới mẻ hơn. Mỗi khi cần có sự lựa chọn, thì dường như lúc nào tôi cũng tự hỏi: “Liệu tôi có mong là mình đã làm điều này khi biết mình sẽ không bao giờ có cơ hội làm lại không? Hay là tôi sẽ lấy làm vui là mình đã không làm?” Khi biết được câu trả lời thì tôi cứ tiến tới hành động theo đó. Tôi phân tích mọi việc mình làm để khỏi lãng phí thời gian cùng sức lực vào điều không cần thiết. Tôi muốn mọi thứ đều có giá trị đối với Chúa. Hầu như là bây giờ tôi nhìn đời từ góc độ kết thúc thay vì từ khởi điểm - một loại hồi tưởng. Điều này giúp tôi hiểu được điều Đức Chúa Trời muốn tôi làm.”
Hình ở trang 160: Gia đình Tiến sĩ Paul Freed, Chatham, New Jersey, giữa thập niên 1960.


SIÊU CÔNG SUẤT TẠI CARIBBEA
Thì giờ trôi qua càng nhanh tôi càng biết chắc Đức Chúa Trời có đồng hồ riêng của Ngài!
Khi chúng ta kéo lê đằng sau thời biểu của Ngài, hoặc tìm cách tự đẩy mình tới trước, thì chắc chắn lệnh báo động sẽ cảnh cáo chúng ta. Đó chính là điều xảy ra cho tôi vào ngày Tháng Tám đó, khi Đức Chúa Trời chận tôi lại - cách đột ngột! Tôi tin đó chính là Đức Chúa Trời rung chuông - và vì nhiều lý do: trong số nhiều điều khác, để dạy tôi những lẽ thật sâu xa, và để cung ứng một phương tiện mạnh mẽ để đâm xuyên mọi ngõ ngách xa xôi mà chân lý của Ngài chưa hề được nghe tới.
Tôi cần phải suy nghĩ và có thì giờ cầu nguyện cho chính đời sống mình cũng như cho việc mở rộng thêm việc phát thanh . Vì thế, Ngài đã chận tôi lại.
Trong bịnh viện, tôi không biết mình còn sống được bao nhiêu ngày. Dù sao, tôi cảm thấy vẫn còn nhiều việc phải làm. Việc tôi làm cho Chúa vẫn chưa đủ.
Từ lâu chúng tôi vẫn muốn tìm thêm một địa điểm bổ sung để phát thanh vào Âu châu, và các chuyên gia bảo với chúng tôi là nên đặt tại vùng Caribbea. Bây giờ thì phải bắt đầu tìm kiếm gấp rút. Giai đoạn này của công việc không tiến triển nhanh chóng. Nó bắt đầu với sự cầu nguyện và nhiều giờ tranh chiến, vào thời điểm mà mọi sự đều không chỉ là cố gắng mà là liều lĩnh.
Người vợ thân thiết của tôi vì quá yêu tôi nên không muốn tôi suy nghĩ việc gì cả - đặc biệt là một dự án mới mẻ gây choáng váng! Nhưng tôi lặng lẽ tự biết trong lòng rằng bước tiến này không phải là vấn đề tranh chiến - cho dù tôi có đủ năng lực để xúc tiến đi nữa. Tôi biết những kế hoạch mới phải là những kế hoạch trọn khóa - do chính Đức Chúa Trời đưa ra và nuôi dưỡng, và được khai sinh bằng sự cầu nguyện lâu dài và suy nghĩ khôn ngoan. Tôi cầu nguyện, và Betty Jane cầu nguyện. Và không phải lúc nào chúng tôi cũng cầu nguyện với ý nhấn mạnh giống nhau, bởi lẽ nàng muốn giữ cho tôi được an toàn , còn tôi thì muốn hiến dâng tất cả.
Trong thời gian hồi phục, tôi ý thức được hai lối suy nghĩ thôi thúc trong tôi. Một số ý nghĩ tốt đẹp và trong sáng nhất xuất hiện khi tôi ở một mình. Từ hôm bị cơn suy tim, tôi để ý thấy khi tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa thì tâm trí tôi rất sáng suốt về một số việc mà tôi cần xem xét. Nhưng còn về những vấn đề khác thì dường như tôi cần phải đưa tư tưởng mình vào những lời nói lớn tiếng. Những lúc như vậy thì tôi rất biết ơn vợ tôi. Nàng là người rất giỏi nghe - rất quan tâm giúp tôi sắp xếp tư tưởng thành chương trình có hiệu quả. Qua những tháng tìm kiếm và lập kế hoạch cho một địa điểm bổ sung, tôi không đủ lời để nói hết ý nghĩa của việc được trao đổi với nàng và được nàng chia sẻ nhiều gánh nặng cùng ước vọng và nhu cầu chân thành của tôi.
Việc đọc thêm sách báo cũng giúp chuẩn bị tôi. Khi tôi thấy điều Đức Chúa Trời đã làm cho những người khác cũng là môn đồ Ngài, thì tôi có được khải tượng riêng về đời sống mình. Tôi thấy mình thiếu sót. Tôi nhận ra con số gia tăng khủng khiếp những người cần nghe Phúc Âm. Tôi nhớ các chuyên viên kỹ thuật đã thông báo cho chúng tôi địa điểm tốt nhất. Những nhận thức này pha trộn trong lòng và trí tôi. Và thực sự chính trong thời gian ba tháng khi tôi bị cấm làm việc thì đồng hồ của Đức Chúa Trời cho thấy là đã gần tới lúc phải hành động.
Tôi thấy mình ở trong tình trạng thật tế nhị. Trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cảm thấy có nhiều việc phải làm. Trước gia đình, tôi cảm thấy mình cần phải cẩn thận theo đúng từng lời căn dặn của bác sĩ. Điều này khiến Betty Jane phải tận hiến và cân nhắc rất nhiều, còn tôi thì phải kiên nhẫn và cầu nguyện nhiều hơn để có thể vạch ra chi tiết cho từng ngày.
Thời gian hạn chế ba tháng vừa mãn ngay sau Giáng sinh 1961. Tháng Hai 1962 tôi lên đường đi Puerto Rico để xem qua những khả năng dựng một đài siêu công suất tại đó. Ben Armstrong cùng đi với tôi. Anh cùng với vợ là Ruth cùng làm việc toàn thời gian với chúng tôi năm 1959. Anh trung tín phục vụ trong vai giám đốc phát thanh, thiết lập được những mối liên hệ cộng tác hiệu quả giữa Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới với nhiều phát thanh viên phái Phúc Âm của Mỹ và Canada. Ben và Ruth cũng phục vụ một năm tại đài phát thanh chúng tôi ở Monte Carlo. Họ rời Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới năm 1966, vì Ben được hội Phát thanh Viên Tôn giáo Quốc gia (National Religious Broadcasters) mời làm thư ký trong ban quản trị.
Lý do để lập thêm một đài khác với công suất mạnh hơn chỉ là vì chúng tôi muốn có thể nói chuyện được với nhiều người hơn, để chúng tôi có thể bao gồm mọi vùng mục tiêu hiệu quả hơn trong những giờ cao điểm với Phúc Âm.
Hình ở trang 164: Lối vào hiện trường phát sóng tại Bonaire
Hình ở trang 165: Bill Mial, giám đốc vùng đầu tiên tại Bonaire
Chuyên gia trong lãnh vực phát thanh quốc tế, các cố vấn tại Geneva, Thụy Sĩ, tại Đại học Edinburgh, tại Darmstadt, Đức, cùng nhân viên của ban phụ trách Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ - tất cả đều nói là chúng tôi cần phải có thêm một địa điểm phát sóng ngoài Monte Carlo, nếu muốn vươn tới các vùng mục tiêu cách hiệu quả hơn..Mọi người đều đồng ý rằng địa điểm bổ sung tốt nhất vẫn là một nơi nào đó trong vùng Caribbea. Từ đó bạn có thể phát thanh ra cho bốn trong năm lục địa trên thế giới với hiệu quả đáng kể. Vài cố vấn tại Geneva gợi ý tôi tiếp xúc với các giới chức Đức về khả năng đặt địa điểm tại một trong các vùng bảo hộ của họ.
Tại Puerto Rico tôi được biết rằng, dù rằng họ cấp phép cho chúng tôi xây đài, nhưng mỗi lần họ chỉ cung ứng hai tần số thôi. Trong việc phát thanh quốc tế, thì điều này cũng phần nào giống như chạy đua băng đồng mà tay chân bị cột lại vậy.
Trong lúc đó, cuộc khảo sát vẫn tiếp tục. Chúng tôi được biết rằng khi công suất phát đi từ Monte Carlo bắt đầu suy giảm trong những giờ buổi tối, thì một đài ở Caribbea - nhờ vị trí của nó - sẽ bắt đầu mạnh hơn trong vài vùng. Đài này sẽ bổ sung cho đài kia, phóng mạnh vào bất cứ vùng mục tiêu nào của chúng tôi, giúp chúng tôi đạt tới những vùng chỉ định ở mức tối ưu. Chúng tôi thấy mình ở vào một trong những địa điểm tốt nhất trên thế giới để gia tăng tiềm năng của mình. Mọi việc nghiên cứu đều được thực hiện cho chúng tôi bởi những kỹ sư tài năng và nhằm quyết định những điểm cụ thể cho các máy phát sóng cùng ăng ten mới của chúng tôi. Cho dù có đặt đài tại nơi nào ở Caribbea thì chúng tôi cũng có thể dùng thông tin này.
Ngay sau chuyến đi Puerto Rico, trong khi viếng thăm ban phụ trách tại Monte Carlo, tôi dừng lại để điện thoại cho một người bạn đang làm việc cho Công ty Radio Phillips tại Hoà lan. Tôi yêu cầu ông sắp xếp cho tôi gặp một đại diện từ Netherlands Antilles hoặc Surinam. Nhờ uy tín của lời đề nghị ông, tôi xúc tiến bay qua The Hague. Tới nơi, tôi gọi điện cho văn phòng đại diện Netherlands Antilles.
Người đại diện nói với tôi: “Tôi nghĩ ông có thể làm một việc hữu ích nhiều hơn là gặp tôi, thưa Tiến sĩ Freed. Ngay lúc này Ông I. C. Debroit, Bộ trưởng Văn hóa Giáo dục của Netherlands Antilles đang ở Hà Lan. Ông nói chuyện với ông ấy thì thích hợp hơn.”
Khi tôi điện thoại cho Ông Debroit, ông nói sẽ rất vui gặp tôi trong vòng ba hoặc bốn ngày nữa, nhưng ngay lúc này thì ông phải đi Armsterdam. Tôi giải thích là tôi phải trở về Mỹ ngay nên đề nghị ông xem tôi có thể đi Armsterdam ngay chiều hôm đó để nói chuyện vài phút được không. Ông đồng ý.
Tôi đi năm mươi dặm đến gặp ông Debroit, và vài phút của chúng tôi tăng thành ba tiếng. Ông trở nên nhiệt tình về những khả năng có thể thực hiện cho Quần đảo Antilles qua một đài phát thanh siêu công suất. Ông nhìn thấy được giá trị của loại lắp đặt này đối với toàn vùng, khiến cho khắp thế giới đều biết đến quần đảo này. Ông sẵn sàng tin vào tiềm năng đó đối với cả hai chúng tôi.
Mười ngày sau khi tôi trở về Mỹ, một điện tín chính thức từ chính phủ Antilles giao cho văn phòng tôi. Đó là thư mời sang đảo để hội nghị sơ khởi về đài.
Khi chiếc phản lực KLM bay vào Curacao, trụ sở chính quyền trung ương của Netherlands Antilles, tôi nhận biết không thể tự lo việc này được. Cứ lần nào bắt đầu hành động theo ý riêng, là tôi phải dừng lại vì vấn đề sức khỏe. Tôi biết Chúa đang điều khiển, và bất kỳ tiến triển nào cũng phải là bước tiến của Ngài.
Statius Muller, giám đốc Cơ quan Thông tin, đón tôi tại phi trường và lái xe đưa tôi về Willemstad, thủ đô của đảo. Ngày hôm sau chúng tôi được mời gặp các viên chức chính phủ trong một buổi tiệc tại Pháo đài Nassau xưa, nhìn xuống tỉnh thành và bến cảng theo kiểu Hà lan kỳ lạ.
Các bộ trưởng cực kỳ thân thiện và muốn giúp tôi tiếp tục thảo luận về kỹ thuật với Ông R. H. van Haaren, chỉ huy Bộ Bưu điện, Điện báo và Điện thoại. Ông van Haaren, với sự ủng hộ của chính phủ, cho thấy là họ hoàn toàn cộng tác với chúng tôi - cho phép xử dụng bất cứ số lượng tần số sóng ngắn nào mà không gây trở ngại cho hoạt động của địa phương, và cho phép dùng bất cứ công suất nào trong việc phát thanh trên cả làn sóng ngắn lẫn sóng thường. Cái thứ hai đáp ứng được yêu cầu 500.000 watts khó thực hiện của tôi, vốn là đài AM mạnh nhất tromg Tây Bán cầu, và là một tần số thích hợp cho công suất lớn như vậy. Những đài mạnh nhất tại Mỹ hoạt động chỉ với một phần mười công suất đó - 50.000 watts, vì vậy tôi biết là mình xin khá bạo.
Thủ tướng E. Jonckheer, Quyền Phó Toàn quyền Markos, và Bộ Trưởng Tài chánh Kroon đặc biệt sốt sắng làm mọi việc có thể được để khiến cho địa điểm tại Curacao hấp dẫn đối với chúng tôi. Tôi dự tính chỉ ở Antilles ba hoặc bốn ngày để điều tra sơ khởi. Nhưng mối quan tâm quá sâu sắc, ước muốn quá rõ rệt, cùng những dàn xếp quá rộng rãi khiến tôi lưu lại suốt hai tuần theo yêu cầu của họ.
Hình ở trang 168: Văn phòng cùng tòa nhà phát sóng của Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Bonaire
Trong thời gian đó, trong một hội nghị tư nhân gồm nhiều bộ trưởng, và với những kỳ họp liên bộ, mọt giấy phép được soạn thảo cho phép chúng tôi 1) chọn bất cứ tần số nào hiệu quả trên băng tần AM, 2) được dùng công suất AM lên tới nửa triệu watt, 3) dựng bao nhiêu máy phát sóng ngắn với bất cứ công suất nào cũng được, 4) dùng bất cứ bao nhiêu tần số hợp lý, 5) nhận miễn phí từ chính quyền địa phương một miếng đất cách Willemstad mười dặm để làm điểm xây đài, 6) dùng kinh 2 cho đài truyền hình bất cứ lúc nào trong tương lai.
Trước mặt tập thể những viên chức sốt sắng của chính phủ Curacao trong phòng họp chính của tòa nhà Chính quyền Trung ương, Thủ tướng Jonckheer trao cho chúng tôi giấy phép chính thức để xây đài phát thanh siêu công suất.
Chúng tôi đã hội ý với nhiều chính phủ trong vùng Caribbea - hoặc chúng tôi tiếp xúc với họ hoặc họ tiếp cận chúng tôi - và tôi chờ đợi sẽ mất ít nhất là hai năm mới có được giấy phép từ họ. Thật là phép lạ chỉ trong hai tuần sau khi tôi đến Antilles, chúng tôi đã được phép dựng một đài phát thanh siêu công suất ở Curacao trong Quần đảo Netherlands Antilles Islands.
Chưa bao giờ trước đây trong lịch sử phát thanh lại có một loại nhóm tư nhân nào mà được cấp giấy phép như vậy. Giấy phép đó sẽ giúp chúng tôi nhân lên gấp hàng ngàn lần trong nội địa các quốc gia, hàng ngàn lần con số những người không hề được nghe qua phương tiện nào khác.
Tôi nhớ lại rằng, khi trở về Mỹ, một người trong ban phụ trách hỏi tôi: “Làm sao ông biết là ý Đức Chúa Trời muốn đi một bước khổng lồ như vậy ở Caribbea? Dường như có lằn ranh quá mỏng manh giữa đức tin với giả định dại dột.”
Để trả lời, tôi nói: “Trước hết, chúng ta không thể nhìn vào chi phí. Chúng ta phải xác định ý muốn Đức Chúa Trời, rồi tin tưởng tiến tới bất chấp giá phải trả, vì biết rằng khi chúng ta đã làm theo ý Ngài, thì Ngài sẽ cung ứng phương tiện.”
Dù sao, đây há chẳng phải là điểm then chốt trong nếp sống Cơ Đốc biết tin cậy hay sao? Trước hết, tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời; sau đó, bước vào ý muốn đó không chút sợ hãi.
Hầu như ngay sau khi tôi về Mỹ, chúng tôi bắt đầu sắp xếp xây các máy phát sóng, toàn bộ hệ thống ăng ten, và nhà máy phát điện. Trang thiết bị phải là hiện đại nhất trên mọi phương diện, cải tiến hơn nữa các hệ thống sử dụng bởi đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. Các ăng ten phải được thiết kế để có thể phát đi mọi hướng với công suất và hiệu năng tối đa. Các máy phát sóng phải có hệ thống làm mát hơi nước hiện đại nhất cùng với những đặc trưng hiện đại khác. Chúng tôi phải cố gắng tối đa về kỹ thuật để đến với từng người một có thể được.
Vài công ty tại Hoa Kỳ, Hà Lan, Thụy Sĩ, và Đức có khả năng đảm nhận công việc của chúng tôi, nhưng chúng tôi giao hợp đồng cả về máy phát sóng lẫn hệ thống ăng ten cho Continental Electronics tại Dallas, Texas. Họ đã từng có kinh nghiệm xây trang thiết bị phát thanh lớn nhất trên thế giới cho Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, và cho các đài thật mạnh khác như là mấy đài ở Okinawa và Munich, Đức. Thầu xây nhà máy phát điện chạy bằng dầu được giao cho Alco-Westinghouse tại Schenectady, N. Y.
Giám đốc Loomis của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ nói: “Phát thanh viên khắp thế giới đang gia tăng công suất lẫn giờ làm việc trên không. Những làn sóng phát thanh chen chúc muôn vàn tiếng nói tranh giành sự chú ý của thính giả”.
Loomis kết luận: “Sự trông cậy duy nhất mở ra cho Đài VOA (Tiếng Nói Hoa Kỳ) là gia tăng công suất thay vì cạnh tranh trên cùng tần số, và biết linh động hơn trong việc dùng các tần số. Đây là cuộc chiến rừng. Phần thắng thuộc về kẻ mạnh, khôn, và nhanh.”
Để cạnh tranh trong “rừng âm thanh” này - để đụng tới những linh hồn không hề chết của những người nam và nữ với sứ điệp Phúc Âm - chúng tôi biết mình phải ngang bằng - hoặc thậm chí vượt trội - siêu công suất của các đài thế tục. Chúng tôi biết rằng những người nam và nữ thuộc nhiều vùng khắp thế giới sẽ không biết đến Chúa Giê-xu Christ nếu không gia tăng phước hạnh qua việc phát thanh siêu công suất hiện đại.
Sau khi hợp đồng về trang thiết bị cần thiết đã ký xong, chúng tôi bắt đầu tự hỏi - mình đã quên điều gì, có bỏ sót điều gì, có phạm lầm lỗi nào chăng? Chúng tôi đã bỏ ra nhiều tháng lo soạn thảo loại hợp đồng thích hợp với Continental Electronics và Alco-Westinghouse, và chúng tôi thấy rằng công tác lớn nhất là sự trao đổi liên tục cần thiết giữa ban phụ trách Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới với các chuyên viên kỹ thuật của Continental. Cần có những thay đổi và điều chỉnh. Các quyết định không bao giờ có thể được thực hiện chỉ dựa vào cơ sở kỹ thuật, vì chúng thường có được chỉ là nhờ vào sự thường xuyên ôn lại những mục tiêu truyền giáo của chúng tôi. Chúng tôi luôn biết ơn ban phụ trách tại Monte Carlo, những người khác trong lãnh vực phát thanh Cơ Đốc, những học giả cùng chuyên viên kỹ thuật trong các vị trí chiến lược, luôn sẵn sàng cố vấn và cùng làm việc với chúng tôi.
Kết quả lạ lùng cuối cùng của ba tháng hoạch định đó là có thật ít - không phải nhiều - điều sai trật! Các công ty chính mà chúng ta cùng làm việc, cực kỳ lịch sự trong giao tế với chúng tôi. Chúng tôi thấy họ là những công nhân chân thật, sẵn sàng cùng thay đổi với chúng tôi khi cần thiết.
Hình ở trang 171: Xây máy phát sóng ở Bonaire
Toàn bộ công tác điều phối và xúc tiến dự án ở phần này vô cùng phức tạp và phiền hà. Tôi cảm thấy cần phải có sự giúp đỡ kịp thời. Nhân vật xuất hiện ngay lúc đó cần được đề cập là Bill Mial, cùng với vợ là Joan, đã giúp Ba tôi thật xuất sắc trong việc thi hành chức vụ phát thanh tại Monte Carlo. Thật khó cho tôi mô tả hết được sự đóng góp của Bill trong năm kế tiếp, khi anh cùng gia đình dọn về Chatham, New Jersey, để giúp trong văn phòng quê nhà và cùng làm việc bên cạnh tôi trong bước xúc tiến lớn này.
Trong khi đó, tại Curacao, Doug và Betty Griffin đã dọn về một trong những căn nhà nhỏ trên miếng đất do chính phủ cho chúng tôi. Vừa từ Monte Carlo tới cũng như đã dày dạn kinh nghiệm trong ban phụ trách Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Tangier, ông bà Griffin làm việc xa nhà, biết lập kế hoạch xây cất, kiểm tra vật liệu, và đánh giá những nan đề.
Khi đã quen thuộc với đảo san hô cận nhiệt đới cách xa bờ biển Venezuela này rồi, thì họ cùng với nhiều người khác trong chúng tôi bắt đầu thấy trước những trở ngại nghiêm trọng. Các kỹ sư, của chúng tôi và của chính phủ, nhìn vào những tình tiết phức tạp của đài siêu công suất, bắt đầu lo ngại rằng chúng tôi xây quá gần phi trường phản lực cơ tại Curacao. Càng xem xét, chúng tôi càng sợ sự gần gũi này. Sợ không chỉ vì những vấn đề chúng tôi sẽ đối diện , mà còn vì những vấn đề có thể xảy ra do chính chúng tôi gây cho máy bay trong tương lai nữa.
Vào lúc này tôi nghe bạn tôi là Markos, đã từng là Quyền Phó Thống đốc Curacao, vừa được Nữ hoàng cử làm phó Thống đốc đảo Bonaire kế bên. Tôi bắt đầu suy nghĩ có lẽ mình nên xem qua tình hình ở đó ra sao. Vì vậy tôi mời Doug cùng tôi thám hiểm sơ qua Bonaire.
Anh trở về hoàn toàn phấn khởi. Ở Bonaire có ít người hơn ở Curacao. Không có phi trường cho phản lực cơ. Và những ruộng muối thật lớn cho chúng tôi những điều kiện dường như ưu thế về kỹ thuật. Khi tôi tiếp cận ông Markos cùng các viên chức hàng đầu của đảo, họ tỏ ra quan tâm và đồng ý ngay khả năng xây một đài phát thanh truyền giáo rộng lớn tại đó.
Dù không dễ cho họ làm điều đó, nhưng các viên chức của Curacao thật rộng lượng không đòi hỏi giấy phép - chẳng tốn đồng nào cả. Chúng tôi chẳng phải đầu tư thứ gì. Theo thời khóa biểu thì còn hai tuần nữa là bắt đầu xây cất. Toàn bộ kế hoạch cho tới thời điểm này hoàn toàn có thể chuyển sang Bonaire.
Curacao là cánh cửa mở cho chúng tôi vào Caribbea. Nếu chúng tôi đi Bonaire trước, để xem xét tiềm năng xử dụng, thì nó sẽ có vẻ như một đảo bất khả thi đối với chúng tôi. Chỉ có 112 dặm vuông đá san hô, nhô lên thành một dãy núi thấp ở đầu phía bắc. Gió thổi liên tục xuyên qua nhiệt độ nhiệt đới. Tọa lạc ngay phía đông Curacao, và lớn vào hàng thứ nhì trong nhóm đảo Leeward Antilles. Nhưng chúng tôi khám phá về mặt kỹ thuật thì không thể có bất cứ địa điểm nào khác trên thế giới tốt hơn nơi đó- Bonaire chủ yếu là những ruộng muối, nước muối vây quanh bốn bề, cung ứng sự dẫn điện tuyệt vời, muối ướt là chất dẫn điện tốt nhất sau kim loại! Nhiều chuyên gia nói, đặt đài ở đó cũng giống như tăng công suất lên gấp đôi vậy.
Bài viết trong một nhật báo của Netherlands Antilles nói: “Chính phủ Trung ương (của toàn quần đảo Antilles) không chống đối việc cấp phép dựng lên đài này tại Bonaire. Ông R. A. van Haaren, giám đốc của Lands-Radio, viếng thăm Bonaire để xem xét những kế hoạch và dự án. Ông thấy mọi sự đều đâu vào đấy. Chính quyền Bonaire sẽ cùng làm việc sát cánh với Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới ở mức tối đa. Máy phát sóng này đặt tại Antilles là điều tốt.
“Nhiều công nhân Bonaire tìm được việc làm nhờ dự án này. Tiến sĩ Freed rất biết ơn sự đón tiếp nồng hậu và trợ giúp nhiệt tình ở đó. Cùng với ban phụ trách, Tiến sĩ Freed hoàn toàn tin vào sự kêu gọi rõ ràng của Đức Chúa Trời, phải mang Phúc Âm cho toàn cầu. Mặt khác, lời kêu gọi này của Đức Chúa Trời đã được đáp ứng theo kiểu kinh doanh nổi tiếng của Hoa Kỳ.”
Đức Chúa Trời đã cho chúng tôi một nhóm người cùng phục vụ trong Ban Giám Đốc. Những con người tận hiến này là rường cột của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới suốt cả dự án, cũng như trong nhiều mặt khác của chức vụ chúng tôi. William Haynes, A. L. Robertson, và R. B. Turney đã trung thành phục vụ trong ban ngay từ lúc khởi đầu Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới. Weaver Futrell, Milton G. Frazier, Paul Grube, Milton Klausmann, George W. Lynch, và James O. Buswell III từng phục vụ nhiều năm trong ban. Trong những năm gần đây, sự có mặt của Leroy Webber, Milton Klausmann và John Hallett đã giúp tăng cường năng lực cùng sức sống cho ủy ban.
Hình ở trang 174: Ban Giám Đốc của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới:
Trái qua phải, hàng đầu: A. L. Robertson, William P. Haynes, Paul E. Freed, Ralph Freed, Milton G. Frazier;
Hàng thứ nhì: Weaver Futrell, Milton Klausmann, R. B. Turney, John C. Hallett;
Hàng thứ ba: Thomas Sanders, Leroy C. Webber, George W. Lynch, Hermann Schulte, James O. Buswell III.
Những người này xuất thân từ nhiều nẻo đường đời khác nhau. Vài người là mục sư, những người khác phục vụ Chúa trong thế giới doanh nghiệp, trong khi những người khác có tài năng đặc biệt thì tạo thành một nhóm lãnh đạo đầy năng lực cho Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới. Họ không chỉ giúp đề ra chính sách, mà còn tỏ ra vô cùng mong muốn nâng đỡ Ba tôi và tôi cùng toàn ban phụ trách trên nhiều phương diện. Họ đã cùng đứng với chúng tôi trong niềm vui cùng nỗi buồn, trong chiến thắng lẫn thất bại, khi được khen ngợi cũng như lúc bị chỉ trích, và trong đắc thắng sau cùng của kế hoạch cùng mục đích của Đức Chúa Trời. Giá trị của họ không thể đo lường theo cách loài người mà chỉ có cõi đời đời mới cho thấy ảnh hưởng toàn vẹn trong sự lãnh đạo tận tình của họ.
Đức Chúa Trời cũng ban cho chúng tôi một ban nhân sự tận tụy và tài ba làm việc tại trụ sở chính của chúng tôi ở Chatham, New Jersey. Trong lãnh vực hành chánh, Bob Dickinson mang lại sự trợ giúp vô giá. Anh không chỉ có năng lực và tài ba, mà còn là người tận hiến thuộc linh sâu sắc. Ted Bleich, uỷ viên tài chánh của chúng tôi, là con người phục vụ hiệu quả và không mệt mỏi trong công tác quan trọng nhất. Anh thật độc đáo trong cách tỏa ra tình cảm thuộc linh sâu sắc khi tiếp xúc với nhân sự của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới cùng công chúng trong công tác chuyên môn bình thường này.
Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi từng bước một cho tới khi Ngài đưa chúng tôi đến chỗ Ngài muốn chúng tôi đến, vào chính xác thời điểm trên đồng hồ của Ngài. Suốt đường đi, Ngài ban cho chúng tôi sự bình an lớn. Bước diễn tiến chậm chạp và vững chắc, và sự yên tịnh sâu xa khiến chúng tôi không còn chỗ để nghi ngờ là mình có theo đúng thời biểu của Chúa hay không. Thậm chí khi muốn tiến bước nhanh hơn, chúng tôi cũng không tự hỏi là mình có đi đúng hướng hay không. Đây là chương trình của Đức Chúa Trời, và chúng tôi cảm thấy vui được dự phần trong đó.
Các viên chức chính quyền Bonaire tạo sự dễ dãi tối đa cho chúng tôi vạch ra những chi tiết trong việc xây cất đài trên đảo của họ. Họ cho chúng tôi gần một dặm vuông đất bên ngoài Kralen dijk, thủ đô, cộng thêm một miếng đất nữa trong trung tâm thành phố. Họ cho chúng tôi biết là họ sẽ lát đá các con đường và lắp đặt mười đường dây điện thoại giữa thủ đô, nơi có xây các phòng phát thanh, với hiện trường phát sóng bên ngoài thành phố. Họ dự tính dọn sạch miễn phí vùng đất cho chúng tôi, tô điểm phong cảnh và tạo những khu giữ xe ở cả hai địa điểm, và giao mọi thứ đá san hô chúng tôi có cần . Mọi trang thiết bị phát thanh họ đều hứa sẽ cho nhập miễn thuế. Dịch vụ phát thanh tốt hơn liền được xem xét. Và chính phủ bảo đảm cho vay để xây bất cứ tòa nhà nào chúng tôi muốn dựng lên.
Các nhân viên trong Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới của chúng tôi là Dan Harvey và Dick Olson, về sau có thêm Jack Stoner và Bob Schultz cùng những người khác, bắt đầu xây cất dưới sự giám sát của Doug Griffin. Đã có kinh nghiệm với các đài tại Tangier và Monte Carlo, nên Doug Griffin tin chắc Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn việc lắp đặt này cũng diệu kỳ như Ngài đã làm ở những nơi khác. Máy phát sóng cùng các tỏa nhà chứa dầu được xây trước tiên theo thời biểu. Việc xây cất bắt đầu Tháng Chín 1963. Khi kiến trúc sư nghe chúng tôi sắp tự xây lấy, ông thiết kế lại toàn bộ. Về sau, khi ông tới nơi để xem sản phẩm làm xong, ông cười và lắc đầu: “Các ông không bao giờ có thể nhờ nhà thầu mà làm được việc đâu!Và hơn nữa, các ông vẫn còn sớm tới hai hoặc ba tháng theo thời biểu cơ mà.”
Vào khoảng đó, một toán từ Continental Electronics bắt đầu đặt nền cùng những đường dây cung cấp thiết bị cho ăng ten. Tháp AM, được dựng ở độ cao hơn hai trăm thước, gây nhiều rắc rối. Ở độ cao xấp xỉ một trăm thước, những cơn gió mạnh về hướng xích đạo thường thổi dữ dội ngang qua Bonaire với tốc độ năm mươi tới sáu mươi dặm. Điều này tạo ra tình trạng khó chịu nổi đối với công nhân khiến cho một toán phải bỏ cuộc rời khỏi công tác. Continental, tìm một nhóm công nhân chịu khó hơn, xuất hiện với nhóm xuất sắc trong công việc - một đội ngũ vừa mới hoàn tất một vụ lắp đặt phức tạp trong vùng Phương Đông. Với trang thiết bị tốt hơn và nhiều kinh nghiệm hơn, họ đã có thể hoàn tất công tác.
Khi tới lúc chúng tôi phải bắt đầu xây cất tòa nhà phát thanh cùng khu nhà ở, Đức Chúa Trời lại dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên khác. Gerhard Puppel, một Cơ Đốc nhân Đông Đức đã di cư sang Mỹ, có mở một doanh nghiệp xây cất thành công những ngôi nhà đẹp tại Michigan. Trong giai đoạn phát triển công việc, ông nghe được câu chuyện về Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới và đã bán hết mọi thứ, cùng gia nhập với chúng tôi tại Bonaire. Ông cùng với vợ đã đóng góp rời rộng giúp chúng tôi khởi đầu tại Caribbea, và câu chuyện tận hiến của họ đã khuấy động một hội thánh Báp Tít độc lập trong cộng đồng quê hương họ khiến các thuộc viên đảm nhận toàn bộ việc tài trợ ông bà Puppel.
Hình ở trang 177 (Trên): Cung hiến Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới tại Bonaire năm 1964 với sự hiện diện của Vương Phi Beatrix của xứ Netherlands
(Dưới): Vương Phi Beatrix và Tiến sĩ Freed xem qua các tiện nghi của Bonaire
Khi gần tới lúc chúng tôi bắt đầu phát sóng, tôi bị quấy rối vì một vấn đề không thể bỏ qua được. Trước đây trong thời khóa biểu, chúng tôi có chọn tần số cho máy phát sóng AM 500.000 watt. Chúng tôi thực sự chọn bất cứ tần số nào sẽ không gây nhiễu nghiêm trọng cho vô số đài ở Bắc và Nam Mỹ. Sau khi nghiên cứu kỹ, chúng tôi hạn chế lựa chọn vào hai địa điểm khác nhau trên bản chỉ kênh. Cuối cùng chúng tôi chọn một và bám chặt điểm đó, bởi lẽ máy phát sóng cũng như tháp phải được xây chính xác theo một tần số đặc biệt nào đó.
Chúng tôi cảm thấy 800 trên bản chỉ kênh là tần số tốt nhất cần xem xét cẩn thận vì hai lý do. Trước hết, có ít nhất gấp ba lần số người quay sang địa điểm ngay giữa bản chỉ kênh hơn là số người quay sang những đài ở hai đầu. Thứ hai, ở Mỹ không có đài nào tại điểm 800 sau khi mặt trời lặn. Thật ra, đó là tần số duy nhất không được dùng tại Mỹ vào ban đêm. Nhiều điều khác nữa cũng khiến cho 800 kí lô chu kỳ có vẻ thuận lợi cho chúng tôi.
Nhưng có một vấn đề quan trọng. Tại Maracaibo, thành phố lớn thứ nhì của Venezuela, chỉ cách Bonaire 150 dặm, có một đài phát thanh địa phương thật mạnh, phát thanh với công suất 25.000 watt ngay tại điểm 800 trên bản chỉ kênh AM. Tất cả chúng tôi đều biết rõ điều này. Chúng tôi cũng nhận biết có mối liên hệ thân thiện giữa Venezuela với Netherlands Antilles, cũng như giữa Venezuela với Hoa Kỳ. Bình thường và hợp lý thì đây là nước cuối cùng mà chúng tôi muốn xen vào. Nhưng ngoài nan đề về Maracaibo, thì trong trí tôi không hề nghi ngờ gì về việc 800 phải là sự lựa chọn đúng. Nhiều chuyên gia tha thiết khuyên chúng tôi đừng chọn tần số này.
Khi không thể nào trì hoãn được nữa, tôi nghe mình nói với các viên chức rằng 800 sẽ là tần số tốt nhất cho chúng tôi. Tôi nghĩ hẳn mình đã mất trí khi hoàn toàn hủy bỏ Maracaibo như vậy, và có lẽ là cả mối liên hệ giữa chúng tôi với Venezuela.
Sau khi lắp đặt các máy phát sóng - chỉ còn hai tuần nữa là chúng tôi sẽ oang oang khắp vùng lục địa Nam Mỹ - một chuyện mà chúng tôi vẫn còn thấy khó tin. Bỗng nhiên chúng tôi thấy mình chẳng còn nhận được tín hiệu nào từ Maracaibo nữa. Chúng tôi nghĩ hẳn là có trục trặc nào đó họ mới tạm thời im lặng như vậy. Nhưng sau vài ngày không có phát thanh, chúng tôi điều tra mới biết đài Maracaibo bị phá sản và vĩnh viễn ngưng phát thanh!
Vì Maracaibo để điểm 800 bỏ ngỏ cho chúng tôi, nên chúng tôi có thể dời tới một điểm có sẵn thính giả, với những kết quả phi thường hầu như là trực tiếp từ thính giả Venezuela và Colombia. Nếu chúng tôi bắt đầu sớm hơn, trong khi Maracaibo vẫn còn phát thanh, thì hẳn chúng tôi đã áp đảo các chương trình của họ nghiêm trọng đến nỗi họ có thể đã gây áp lực mạnh buộc chúng tôi phải bỏ tần số của mình. Tại đây một lần nữa, chúng tôi đã đi một bước mà theo con người có vẻ như dại dột, thế nhưng tôi biết là đúng. Đó chính là địa điểm của Đức Chúa Trời và thời điểm của Đức Chúa Trời đối với chúng tôi.
Ngày 1 Tháng Mười 1964, chúng tôi tổ chức chính thức khai trương khu liên hợp phát thanh mạnh mẽ của chúng tôi cho các viên chức hàng đầu trên đảo. Đài được cung hiến vào ngày 25 Tháng Hai, 1965, để trùng hợp với chuyến viếng thăm của Vương Phi Beatrix từ Hà Lan. Vào lúc này, các phát thanh viên Cơ Đốc, thành viên trong ban điều hành Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới, cùng các bạn hữu đều bay tới Bonaire để thông công trong hai ngày với ban phụ trách phát thanh, lúc ấy đã lên tới hai mươi lăm người. Chúng tôi có thể biểu tượng hóa sự vươn rộng của đài mới này qua việc giới thiệu với Vương Phi một bé gái Bonaire mười tuổi - tặng một bó hoa cho Vương Phi - đại diện cho hàng triệu người trên khắp thế giới sẽ nghe những buổi phát thanh từ Netherlands Antilles.
Bill Mail, người từng làm việc gần gũi với tôi tại Chatham khi chúng tôi hoạch định những chi tiết của trung tâm phát thanh Caribbea, bây giờ đang cùng gia đình cư trú tại Bonaire. Trong vị trí quan trọng là giám đốc đài, Bill đã thực hiện xuất sắc và hiệu quả vai trò điều phối một ban phụ trách tận tụy và đầy tài năng.
Vào Tháng Tám 1964, việc soạn chương trình thường xuyên trở nên sôi nổi nhất với sự đáp ứng từ Canada tới Tierra del Fuego trên mũi cực nam của Nam Mỹ. Những người trong chúng tôi đi trong nước Mỹ chẳng bao giờ đè nén được niềm háo hức mở các buổi phát thanh bằng Anh ngữ từ “The Island of Flamingo” (Đảo Flamingo) khi rà ra-đi-ô của mình tới 800 ở Miami, Chatham hoặc Los Angeles. Còn các buổi phát thanh tiếng Tây Ban Nha thì thực sự phủ kín hết các nước Châu Mỹ La tinh cho tới miền nam với Phúc Âm.
Máy truyền tin sóng ngắn cỡ lớn 260.000 watt bắt đầu phát đi bốn phương những chương trình bằng nhiều thứ tiếng vào mùa xuân 1965. Với những trợ cụ mới cho việc phát thanh bằng sóng ngắn - tức mạng lưới ăng ten hiệu ứng cao, máy phát sóng siêu công suất, và dữ liệu đều được đưa vào máy tính - Bonaire đang dự phần thực hiện Mathiơ 28: “Hãy đi dạy dỗ muôn dân.”
Từ ngày chúng tôi quyết định cùng đi với Bonaire, con đường đó không hề có điểm dừng!

ÂM THANH CỦA SỰ SỐNG
Từ Argentina tới Canada, từ Cuba tới Ấn Độ, thư từ đổ về Bonaire, đem khích lệ cho giám đốc đài là Bill Mial cùng ban phụ trách toàn thời gian của ông, hiện lên tới năm mươi lăm người lớn. Suốt ba tuần sau khi mở khu liên hợp phát thanh của Antilles, 1200 cánh thư bay về chứng tỏ các chương trình đang được nghe trong năm mươi tám nước khác nhau - tại Âu châu, Phi châu, Trung và Nam Mỹ, cùng Hoa Kỳ. Bắt đầu từ 4giờ sáng mỗi ngày, những động cơ chạy dầu khổng lồ - mỗi động cơ lớn bằng đầu máy xe lửa - rộn rã chuyển động. Chương Trình đầu tiên phát đi bằng tiếng Bồ Đào Nha, phát tới Ba Tây, sau đó các chưong trình khác phát đi Trung và Nam Mỹ bằng Anh ngữ, Tây Ban Nha và Hà Lan; rồi tiếp tục trong ngày cho tới nửa khuya, các chương trình trong hai mươi thứ tiếng khác nhau lướt bay trên không trung với tốc độ ánh sáng để rồi được bắt lấy qua những máy xách tay, những ra-đi-ô gắn đồng hồ định giờ, những ống nghe, cùng những ra-đi-ô để bàn trên khắp thế giới.
Từ Oslo, Na Uy, một sinh viên triết học hai mươi mốt tuổi, viết: “Tôi muốn nhân cơ hội này cám ơn các ông về những chương trình phát thanh từ đài mới mở tại Bonaire . . . nhờ việc phát thanh truyền giáo này mà mắt tôi mới nhìn thấy được Đức Chúa Trời chân thật của chúng ta.”
Một thính giả từ Anh mô tả tín hiệu là “vĩ đại . . . chưa bao giờ được nghe điều gì giống như vậy từ vùng châu Mỹ La tinh.”
Từ Jamaica, có người nói: “Tôi đã nghe các buổi phát thanh Phúc Âm của các ông chín tháng rồi . . . và bây giờ tôi quyết định phục vụ Chúa và hoàn toàn tin cậy Ngài.”
Rồi ở Curacao gần đó, một thính giả viết rằng bà cùng với một nhóm bạn và láng giềng tập họp mỗi chiều Thứ Hai trong nhà bà. Bà giải thích: “Các chương trình của các ông đã làm việc lớn trong lòng nhiều người từng sống trong tối tăm, nay đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của họ.”
Vào kỳ nghỉ ở Florida, một cặp vợ chồng viết: “Chúng tôi đăng ký sớm vào một khách sạn xa lộ chỉ cốt yếu để thư giãn. Chúng tôi cầu xin Đức Chúa Trời một phước hạnh đặc biệt . . . và trong khi rà đài trên máy ra-đi-ô xách tay nhỏ bé của mình, chúng tôi bắt được chương trình của các ông rất rõ . . . cám ơn các ông về ‘sức sống’ thuộc linh do chương trình đem lại cho chúng tôi.”
Được dịch từ tiếng Bồ Đào Nha, một thư từ Ba Tây viết: “Mỗi tối chúng tôi nghe từ nửa khuya cho tới ba giờ sáng. Đối với những người làm việc suốt ngày, thì ban đêm là lúc nghỉ ngơi . . . nhưng tôi hi sinh ba giờ của giấc ngủ ngon để được đền bù lớn lao là nghe những thánh ca thật hay . . . hôm nay, nhiều bạn cùng tham gia với chúng tôi trong niềm vui này.”
Một thanh niên Cuba viết: “Thanh niên Cuba rất quan tâm tới tôn giáo. Tôi có thể nói với các ông như thế vì chính bản thân tôi là một sinh viên hai mươi lăm tuổi.”
Từ Ba Lan: “Tôi nghe những buổi phát thanh của các ông hằng ngày . . . nghe tốt lắm. Trong Tháng Bảy, vợ chồng tôi đi Nga thăm con gái . . . Dân chúng ở đó cũng nghe những buổi phát thanh của các ông. Chúng tôi thăm nhà của một một anh em trong Đấng Christ có máy ra-đi-ô . . . tất cả láng giềng đều tới nhà anh để cùng nghe các buổi phát thanh.”
Một thư khác từ Ba Lan viết: “Cám ơn những buổi phát thanh của các ông, tôi đã dứt khoát đặt niềm tin nơi Chúa . . . Tôi muốn đọc sách báo Cơ Đốc để nói cho người khác về Đấng Christ. Xin các ông gửi cho tôi một ít.”
Từ Bahamas: “Tôi viết để báo cho các ông biết nhiều người tại Nassau hiện đang nghe chương trình của các ông . . . đi tới đâu, các ông cũng sẽ nghe người ta nói về Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới . . .
Từ Barbados: “Tôi mười tuổi và tôi thích học hỏi thêm về Chúa Giê-xu. Lời giảng của các ông cảm động lòng tôi đêm nay. Cám ơn các ông đã mở lòng tôi cho Đức Chúa Trời.”
Từ Nam Tư: “Những buổi phát thanh của các ông mang lại nhiều an ủi tâm linh. Trước đây tôi chưa bao giờ biết cầu nguyện như bây giờ. Qua các buổi phát thanh, các ông đã chạm đến tâm linh tôi thật sâu xa. Tôi đã trở thành một con người khác hẳn và thấy được sự thay đổi trong đời sống mình. Xin hãy nhận lòng biết ơn chân thành của tôi.”
Các thư khác cho thấy những buổi phát thanh được nghe rõ ràng tại những nơi như Czecholovakia, Latvia, Ấn Độ, Phần lan, Tích lan, Nam Phi, Ghana, và trên các tàu vượt biển. Ngay cả tại Úc châu, số thính giả cũng gia tăng. Các giáo sĩ tìm cách tiếp cận với quần chúng, viết thư bày tỏ niềm vui của họ. Một vị nói: “Qua công tác lớn lao này, hàng ngàn linh hồn được đụng đến. Chúng tôi viếng thăm các gia đình ở đây tại Venezuela, hoàn toàn được nghe Phúc Âm qua các sứ điệp đầy quyền năng của các ông, và khi chúng tôi đưa lời mời, thì nhiều người đã đầu phục Đấng Christ.”
Một giáo sĩ từ Colombia bày tỏ sự biết ơn và kể lại thật sinh động cho chúng tôi câu chuyện có thật sau đây: “Sau nhiều năm Phúc Âm bị bóp nghẹt ở đây, thật là phước hạnh hằng ngày được nghe phát thanh rõ ràng như thế. Một mục sư người Colombia của chúng tôi nói với tôi rằng trong tỉnh của ông ở Guajira, ông có thể đi ngoài đường vào lúc sáng sớm và nghe chương trình của các ông hầu như từ mọi nhà. Một vùng xa, nơi chúng tôi thường viếng thăm trước đây, nay được thăm trở lại vào cuối tuần qua và chúng tôi thật vui thấy một trong những chướng ngại cho công việc ở đó hầu như đã bị cất bỏ, vì chính nhân vật dính líu trong đó, hằng ngày lắng nghe thật nhiều các sứ điệp tuyệt vời trong các buổi phát thanh của các ông.”
Chức vụ của các mục sư bản địa được bổ sung và cơ hội của họ được mở rộng. Một người Colombia tại Medillin viết: “Qua công tác phát thanh, các ông thực sự đã hoàn thành được điều bất khả thi đối với chúng tôi trước đây . . . đó là việc thâm nhập hàng ngàn gia đình trong thành phố này với Lời Đức Chúa Trời . . . Tôi để ý thấy những người trước đây từ chối nghe chúng tôi, bây giờ lại thích thú đáp lời chúng tôi, bảo rằng: ‘Các ông biết không, tôi thích cách giảng này của họ cùng với những bản thánh ca họ trình bày trên đài Bonaire.’”
Từ Paraguay, một thính giả viết bằng tiếng Nga: “Có thể các ông không biết được việc Chúa đang làm qua các ông đâu. Tôi thật được phước nhờ chương trình của các ông đến nỗi phải viết thư này . . . nhiều tín hữu đang nghe và những người khác đang quay về với Chúa . . . Mới đây tôi đã làm báp têm cho bảy người tin Chúa.”
Dân số thế giới đang gia tăng nhanh chóng. Con số sẽ tăng gấp đôi vào cuối thế kỷ này. Khi Đấng Christ nhìn thấy các đoàn dân đông, Ngài động lòng thương xót. Có thể nào chúng ta lại quan tâm kém hơn như thế đối với số phận đời đời của họ ngày nay sao?

QUÀ TẶNG VÔ GIÁ
Năm chuyến đi của tôi qua các nước sau Bức Tường Ngăn Cách cho tôi thấy tận mắt vài khó khăn đặc biệt chúng tôi phải đối diện trong việc phát thanh. Bức Tường Ngăn Cách không dễ đâm thủng. Nó chạy dài hàng nhiều dặm ngang qua trung tâm toàn bộ lục địa Âu châu. Nhưng Lời Đức Chúa Trời cũng có thể được phát sóng vào phần này của thế giới - nhờ những làn sóng phát thanh di chuyển với tốc độ của ánh sáng!
Tôi sẽ không bao giờ quên lúc được phép viếng thăm một nông trại tập thể gần Irkutsk, Siberia, phía bắc Ngoại Mông. Giám đốc của nông trại đưa tôi đi một vòng, quanh nhiều tòa nhà, và để ý thấy vẻ ngạc nhiên của tôi khi chúng tôi tới một nhà thờ nhỏ được sửa chữa tuyệt đẹp. Cảm nhận được sự khó hiểu của tôi khi thấy nhà thờ trong một nông trại vô thần, giám đốc mời chúng tôi quan sát tòa nhà. Tiền sảnh trông giống như lối vào của bất cứ nhà thờ nào, nhưng khi chúng tôi bước qua những cửa của điện thờ, tôi lấy làm sửng sốt. Chính nơi mà Đức Chúa Trời đã có lần được thờ phượng thì nay lại là chỗ ấp trứng gà của nông trại!
Nỗi thất vọng trên vẻ mặt tôi khiến ông giám đốc cười toét tới mép tai. Ông cười nói: “Chẳng ai đi nhà thờ trong nông trại chúng tôi cả. Tôi thà say khướt vì rượu còn hơn đi nhà thờ.”
Sau đó, bước ngang qua một trong những căn nhà nhỏ khiêm tốn công nhân đang sống, nỗi thất vọng của tôi biến thành hi vọng khi tôi thấy một ra-đi-ô đặt ngay giữa phòng khách. Đối với tôi, ra-đi-ô đó tiêu biểu cho hi vọng tâm linh của Liên Xô. Con số ước đoán dè dặt là có khoảng hai mươi hai triệu máy ra-đi-ô tại Liên Xô - ít nhất 92 phần trăm có băng tần sóng ngắn. Điều này cho chúng tôi có khả năng lớn đâm thủng Bức Tường Ngăn Cách đến với hàng chục ngàn thính giả ra-đi-ô, mang theo sứ điệp chân lý cùng sự sống qua Chúa Giê-xu Christ.
Với khoảng 225 triệu người tại Liên Xô mà không hề có một Trường Chúa nhựt! Tưởng tượng “Trường Chúa nhựt Phát thanh” hẳn phải có ý nghĩa biết bao đối với những người nghe được. Phụ huynh Cơ Đốc vô cùng biết ơn các chương trình phát thanh cho thiếu nhi và thanh niên, cung ứng sự đào tạo và giáo dục Cơ Đốc.
Chúng tôi đã ở Liên Xô vài lần để điều tra nhu cầu, tìm hiểu thói quen nghe của người dân ở đó, và để thử tín hiệu phát thanh do chúng tôi phóng vào Nga cùng các nước vệ tinh. Ấn tượng tức thời của chúng tôi gồm hai mặt: 1) do việc dùng phổ biến các máy làn sóng ngắn, nên không có trở ngại cho thính giả, và 2) dân chúng cực kỳ nôn nóng muốn nghe các chương trình từ phương Tây. Ngay từ đầu, chúng tôi không hề nghi ngờ rằng soạn chương trình phát thanh hằng ngày cho Nga là việc đúng cần làm, cho dù có tốn kém tiền bạc và công sức đi nữa. Ngay từ những ngày đầu ở Tangier chúng tôi đã có thể đi vào các nước vệ tinh với mười một ngôn ngữ khác nhau, và vào khoảng 1960 chúng tôi đã thực hiện được khá nhiều các chương trình của thời khóa biểu tại Monte Carlo.
Hiện nay tám nhân viên làm việc tòan thời gian tại Monte Carlo đang soạn ra những chương trình tiếng Nga với phạm vi mở rộng. Nick Leonovich, trưởng ban tiếng Nga, cùng vợ là Roz, với sự phụ tá của Earl và Pirkko Poysti - Earl thuộc gốc Siberia, Paul và Betty Semenchuk đến từ Ukraine, với Ông và Bà Paul Naidenko. Vài người trong họ đã theo học các trường Cơ Đốc tại cả Âu châu lẫn Hoa Kỳ. Tất cả đều là những nhân viên có tài và chuyên môn cao.
Peter Deyneka, Jr., thuộc Hội Slavic Gospel Association, có bình luận: “Tôi thật khó tin được một đài lại có thể đi sâu vào việc soạn chương trình thích hợp với nhu cầu thực tế của người dân Nga như Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã làm.” Người Nga báo cáo rằng ban phụ trách Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đang tiếp cận đồng bào họ thật tuyệt vời tại Liên Xô. Riêng tại Moscow, chúng tôi được biết là dân chúng lắng nghe tính theo hàng vạn.
Có sẵn quá ít Kinh Thánh đến nỗi mọi người đói khát kinh khủng việc dạy Kinh Thánh. Một mục sư từ Nga, đến Czechoslovakia, nài nỉ chúng tôi kiếm cho ông một cuốn Kinh Thánh. “Chúng tôi có tất cả là ba người đi giảng trong các làng. Nhưng lại chỉ có một cuốn Kinh Thánh. Vì vậy, chúng tôi đã chia Kinh Thánh thành ba phần, rồi đổi cho nhau nên mỗi người chỉ có được một phần để giảng.”
Hình ở trang 187: Nick Leonovich (giữa), giám đốc ban tiếng Nga tại Monte Carlo, với hai nhân viên người Nga
Hàng ngàn thư vẫn tiếp tục đến từ sau Bức Tường Ngăn Cách. Nhiều linh hồn được cứu, Cơ Đốc nhân được vững mạnh nhờ việc rao giảng Lời Đức Chúa Trời, và tín hữu được khích lệ làm chứng tích cực về đức tin của mình trong Đấng Christ.
Mới đây, một thiếu niên sống tại Moscow viết: “Tôi mười sáu tuổi và học về khoa học. Trước đây tôi thờ lạy cây tri thức, nhưng các ông - qua tiếng nói của các ông - đã bắt đầu gieo hạt giống đức tin trong tâm hồn tôi.”
Một thiếu niên sống tại Đông Đức bình luận về các chương trình của thanh niên mới khởi sự phát sóng vào nước này như sau: “Tôi tin rằng giảng Phúc Âm qua ra-đi-ô sẽ tiếp cận được nhiều thiếu niên từng bị quên lãng trong quá khứ. Tôi vui vì các ông đã bắt nhịp cầu qua khoảng cách cuối cùng này. Nhiều bạn tôi đang nghe chương trình của các ông.”
Các chương trình tiếng Nga của chúng tôi cũng đến được với nhiều vùng xa xôi hẻo lánh. Một nông gia Siberia viết: “Mỗi ngày chúng tôi rời đồng ruộng thật sớm để khỏi bị lỡ chương trình Phúc Âm của các ông. Tất cả chúng tôi đều ăn mặc đẹp đẽ quây quần bên máy ra-đi-ô để thờ phượng Đức Chúa Trời.”
Đối với Cơ Đốc nhân Nga, các chương trình này giống như một ốc đảo trong sa mạc - được nghe Phúc Âm bằng tiếng nước mình, trong chỗ riêng tư của gia đình mình, tuyệt đối là một món quà vô giá.
Rào cản hiện diện khắp nơi trên thế giới. Các giáo sĩ cựu chiến binh đồng ý rằng một trong những cánh đồng truyền giáo khó nhất trên đất chính là Israel và các nước Ả Rập. Chưa hề có một giáo sĩ Cơ Đốc nào từng đặt chân lên Medina, Ả Rập Saudi, Thành Thánh của Hồi giáo; nhưng Phúc Âm vẫn được rao giảng tại đó với quyền năng và trong sáng qua ra-đi-ô.
Một người bản xứ Medina viết: “Tôi cảm động sâu xa vì chương trình về sự cứu chuộc cùng sự hi sinh của Đấng Christ. Xin các ông vui lòng gủi cho tôi một bản sao chương trình được không? Sao các ông không tăng thêm giờ cho chương trình, hoặc phát thanh thêm nhiều chương trình mỗi tuần?”
Một thính giả tại Giê-ru-sa-lem, rất quen thân với những đường phố cùng lối mòn Chúa Giê-xu đã đi qua, viết cho chúng tôi, nói rằng anh bắt đầu hiểu tin mừng về tình yêu của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Christ. “Sau một thời gian nghe chương trình phát thanh của các ông, tôi có thay đổi trong tâm trí và tình cảm. Xin vui lòng gửi cho tôi trọn bộ Thánh Kinh có Tân Ước vì tôi muốn biết thêm về Chúa Giê-xu.”
Mỗi ngày đều nhận được báo cáo về sự tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ. Một thính giả tại Colombia viết: “Có hai mươi lăm người quay về với Đấng Christ nhờ phương tiện máy thu tôi đang có. Tôi mời họ bước vào nghe ra-đi-ô của tôi. Bây giờ họ cảm tạ Chúa vì đã được nghe và tiếp nhận Lời của Sự Sống.”
Một thư khác của vợ người này nói rằng bà đã quay về với Chúa khi đang nghe Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới từ Bonaire.
Giáo sĩ ở nhiều nơi khác nhau thuộc Châu Mỹ La tinh nói với chúng tôi rằng Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đóng một vai trò quan trọng trong chức vụ của họ. Các máy thu, đặt ở những trạm truyền giáo xa, bảo đảm việc rao giảng Lời Đức Chúa Trời ngay cả khi vắng mặt giáo sĩ.
Các báo cáo cho thấy tín hiệu của chúng tôi cực kỳ mạnh trên khắp vùng đảo Caribbea kể cả Cuba. Một thính giả tại Matanzas, Cuba, viết: “Tôi có giới thiệu chương trình của các ông cho nhiều bạn tôi, và tôi có thể thành thật nói với các ông rằng chương trình đó giống như tia sáng chiếu xuyên lớp mây dày đặc đang bao trùm đất nước tôi. Tôi luôn luôn nghe Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới khi đi làm về và các ông không thể tưởng tượng được chương trình đó đã tăng cường sức mạnh tâm linh cho tôi ra sao. Tại Cuba đây, các chương trình đó nghe rất rõ.”
Ba tôi và tôi thường đề cập nhiều phép lạ chúng tôi được chứng kiến suốt mười hai năm qua. Thế gian vẫn thường nhạo báng mục đích diệu kỳ của Đức Chúa Trời. Chúng tôi thường nghe những lời nói đầy nghi ngờ: “Không thể làm được” - nhưng Đức Chúa Trời đã làm điều không thể làm được. Bắt đầu với một ước mơ - một khải tượng trong lòng người - trước tiên Đức Chúa Trời cung ứng một đài nhỏ tại Tangier, sau đó là những máy phát sóng khổng lồ của Monte Carlo trên chính lục địa Âu châu, và bây giờ là trang thiết bị siêu công suất tại Bonaire. Đức Chúa Trời đã thực sự làm điều không thể làm được!
Đức Chúa Trời cũng đã làm điều không thể làm được trong việc triệt hạ những rào cản do con người tạo ra. Hằng ngày, ánh sáng của Đấng Christ tràn vào những góc tối của trần gian với sứ điệp cứu rỗi ban sự sống qua Chúa Giê-xu Christ.
Phải cần thêm một cuốn sách nữa mới kể hết được điều Đức Chúa Trời hiện đang làm qua các buổi phát thanh Phúc Âm vào Liên Xô cũng như các nước Đông Âu khác. Hàng ngàn và hàng ngàn cánh thư cùng sự tiếp xúc cá nhân làm chứng cho cơn đói khát trào dâng cao độ, cho những tâm hồn có nhu cầu quay về với Cứu Chúa chúng ta. Chúng tôi biết điều này có thật, ở mức độ lớn lao, do những hi sinh rất lớn của mọi người khắp thế giới.
Khi tôi ở Ba Lan, hai thanh niên Cơ Đốc dắt tôi đi qua các con đường bụi bặm của một ngôi làng gần Warsaw để gặp một góa phụ Cơ Đốc. Bà này sống một mình trong một túp lều sơ sài, một gian nhà thiếu hẳn niềm vui trần thế, nhưng vẻ mặt rạng rỡ của bà bảo với tôi rằng bà là con của Vua.
Khi các bạn tôi giới thiệu tôi là giám đốc Đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới, bà nói: “Ồ, tôi biết Đức Chúa Trời sai ông tới đây. Tôi cầu nguyện cho ông từ lâu rồi. Tôi muốn kể cho ông điều Đức Chúa Trời đã làm cho tôi.”
Bà dắt tôi ra cửa rồi chỉ xuống đường: “Ông có thấy căn nhà nhỏ đằng kia không? Một tối nọ, vài người bạn mời tôi tới nhà họ, ngồi xuống trước máy ra-đi-ô. Lần đầu tiên trong đời, tôi được nghe về Chúa Giê-xu Christ. Con trai và con gái tôi cũng nghe nữa. Tôi không thể nói hết được niềm vui chúng tôi có được khi cùng quỳ gối sau buổi phát thanh và tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa của riêng mình tối hôm ấy.”
Khi nhìn quanh phòng nhận thấy rõ cảnh nghèo nàn và biết cuộc sống bà khó khăn ra sao, tôi nói: “Tôi thấy tội nghiệp bà quá.”
Câu trả lời của bà thật đơn sơ, nhưng sâu xa: “Tội nghiệp cho tôi hả? Đừng tội nghiệp. Tôi là người phụ nữ hạnh phúc nhất trên đời. Tôi có tất cả - tôi có Chúa Giê-xu Christ.”
Khi chúng tôi sắp từ giã, bà chạm vào tay tôi và nói: “Tuy nhiên, có một điều khiến lòng tôi nặng nề. Ba mươi triệu người trong nước tôi cần Chúa Giê-xu Christ! Sao lại chỉ có một buổi phát thanh Phúc Âm ngắn ngủi mỗi tuần cho ba mươi triệu người? Tại sao chỉ có một buổi?”
Tôi nghĩ câu trả lời thật hiển nhiên. Tôi nói: “Vì chúng tôi không có tiền để đưa thêm chương trình.”
“À, ra vấn đề là vậy sao? Đó là vấn đề sao?”
Mặt bà ngời sáng trong khi bước tới góc phòng. Tôi theo dõi trong khi bà kéo một thùng gỗ nhỏ từ trong tường. Bà cầm lên một phong bì lấy từ dưới đáy thùng và đem đến cho tôi.
“Thưa ông, đây là tất cả điều tôi có. Hãy dùng nó để phát thanh thêm chương trình ngõ hầu nhiều đồng bào của tôi ở Ba Lan đây cũng được nghe về Chúa Giê-xu Christ như tôi vậy. Xin ông nhận cho.”
Tôi nhìn vào phong bì và thấy vài tờ tiền giấy với đồng kim loại. Có thể là tổng cọng được một đồng rưỡi Mỹ kim. Tôi lắc đầu nói: “Không, tôi không thể nhận được.”
Tôi biết đây là tất cả những gì bà có, có lẽ là điều giữ cho bà khỏi chết đói.
Bà nhìn thẳng vào tôi, và với phong cách của một nữ hoàng, bà nói: “Thưa ông, tôi không dâng cho ông. Tôi dâng cho Chúa Giê-xu Christ.”
Lời kết của Tiến sĩ Billy Graham.
“Chức vụ của Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới cực kỳ quan trọng trong việc đưa thế gian về với Đấng Christ. Tôi xúc động biết bao khi thấy Chương Trình Phát Thanh Xuyên Thế Giới đã có thể bao trùm nhiều phần trên thế giới với Phúc Âm mà không ai khác có thể làm được. Và khi chúng tôi tới đó, thì nhiều người sẵn sàng đáp ứng, nhờ đã được nghe Phúc Âm trên đài Phát Thanh Xuyên Thế Giới.”




† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-10-2018 08:30 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách