nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2467|Trả lời: 0

Theo dấu chân Chúa

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 08:30:50 | Xem tất |Chế độ đọc

Theo dấu chân Chúa
Tác giả: Charles M. Sheldon

Chương 1
“Anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài”
Gần hết buổi sáng thứ sáu, thế mà Mục sư Henry Maxwell vẫn còn loay hoay chưa soạn xong bài giảng để chuẩn bị cho buổi thờ phượng vào Chúa nhật sắp đến. Ông đi đi lại lại trong phòng, miên man suy nghĩ, hình như có nhiều sự ngăn trở nào đó trong lòng ông. Sau một thoáng, ông bước lên lầu và gọi vợ:
- Mary ơi! Lát nữa nếu có ai cần gặp anh, em nói rằng anh đang bận không tiếp khách được nhé!
- Dạ!... À. Mà em còn phải đến nhà trẻ, anh ở nhà một mình đấy!
Từ phòng dưới, tiếng Mary vọng lên nho nhỏ.
Vài phút sau, Mục sư Henry nghe tiếng chân Mary đi dọc ra ngoài hành lang. Xung quanh ông, mọi thứ đều trở nên yên lặng. Ông quay vào phòng, đóng cửa lại, tiếp tục soạn bài.
Cảm thấy lòng thanh thản hơn đôi chút, ông bắt đầu viết. Dựa vào lời Chúa trong Kinh Thánh sách IPhi 1Pr 2:21, ông lấy chủ đề: “THEO DẤU CHÂN CHÚA” để xây dựng bài giảng của mình.
Phần đầu, ông nhấn mạnh vấn đề căn bản: Chúa Giê-xu Christ đã chịu chết để chuộc tội lỗi cho con người. Ông muốn giải thích cho mọi người nhận biết rằng chính Đấng Christ đã chịu khổ hình để gánh tội cho họ. Tiếp theo phần hai: ông đã trích những lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong Kinh Thánh và cuộc đời của chính Ngài để chứng minh rằng Chúa đã bày tỏ chính Ngài là gương sáng cho mọi người noi theo. Còn trong phần cuối cùng của bài giảng, ông nêu lên những điều kiện cần thiết để bước theo chân Chúa. Trong lúc ông đang nghĩ ngợi về những điều kiện cần thiết ấy “...là những điều gì đây?”, bất chợt, có tiếng chuông gọi cửa réo lên dồn dập, cắt ngang dòng suy tưởng của ông. Ông cau mày tỏ vẻ bực mình lắm. Tiếng chuông quấy rầy lại réo nữa, dồn dập hơn. Ông miễn cưỡng đứng dậy, đi về phía cửa sổ, nhìn xuống sân nhà.
Bên dưới, một người đàn ông lạ mặt đang đứng ngay bậc thềm. Anh ta ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu. Vị mục sư chép miệng: “Trông chẳng khác nào một kẻ lang thang!” và ông đi xuống lầu.
Cánh cửa trước mặt người khách lạ được mở ra. Mục sư Henry và vị khách không mời mà đến nhìn nhau không chớp mắt trong một thoáng yên lặng. Một vài phút sau, anh ta lên tiếng trước:
- Thưa ông, tôi đang thất nghiệp. Ở đây có việc gì làm, ông cho tôi làm với!
- Ái chà! Ở đây chẳng có việc gì làm đâu! Anh cảm phiền đến nơi khác...
Vừa nói, mục sư từ từ khép cánh cửa lại. Người lạ mặt lại khẩn nài:
- Xin ông hãy làm ơn, làm phúc giúp tôi! Chẳng hiểu sao tôi lại cứ hi vọng nhiều ở ông. Ông à! Ông có thể giới thiệu cho tôi một việc gì đó ở ga xe lửa hoặc làm bảo vệ ở một nhà hàng chẳng hạn...
Giọng anh ta đượm vẻ lo âu, bối rối. Đôi tay anh cứ mân mê chiếc mũ nồi đã sờn, cũ nát.
- Xin lỗi anh, tôi đang bận, không thể giúp được gì cho anh trong lúc này. Vả lại, khả năng của tôi hạn hẹp lắm. Thôi chào anh! Chúc anh tìm được một việc làm nào đó như anh mong muốn! - Mục sư tiếp tục từ chối và đóng hẳn cửa lại.
Tiếng chân của người đàn ông lạ mặt xa dần. Mục sư trở lại phòng làm việc của mình và nhìn qua cửa sổ. Kìa, anh ta đang chậm chạp đi băng qua đường lộ, hai tay vẫn giữ chặt chiếc mũ, dáng điệu trông thiểu não và chán chường chẳng khác nào một kẻ vô gia cư và bị bỏ rơi. Điều đó làm cho mục sư suy nghĩ và lưỡng lự. Dầu vậy, ông cũng cố hoàn tất bài giảng, và đặt nó lên trên cuốn Kinh Thánh bìa da quen thuộc của mình.
* * *
- Anh à! Hồi sáng ở nhà trẻ có xảy ra một việc rất kỳ lạ!
Bà mục sư nói với chồng khi họ đang dùng cơm tối.
- Anh biết không? Lúc bọn trẻ ra chơi, em và bà Brown đến thăm chúng, thì thấy ở đó có một người đàn ông lạ mặt rách rưới, với chiếc mũ dơ bẩn trên tay. Anh ta ngồi bệt xuống ngạch cửa, nhìn bọn trẻ chơi, không nói một lời nào. Một lúc lâu, anh ta mới chịu đứng dậy đi ra. Trông anh ta chẳng khác nào một kẻ vô gia cư vậy đó!
- Chắc thế! Cũng có thể anh ta đi đường quá mệt mỏi, muốn tìm chỗ nào đó để nghỉ ngơi một chút. Theo lời em tả, sao anh thấy người đó rất giống người đã bấm chuông nhà mình vào sáng nay quá! Em nói rằng trông anh ta như một kẻ lang thang không nhà, phải không?
- Vâng! Em thấy dáng vẻ anh ta rất bụi đời, như một kẻ lang thang thực thụ. Em đoán chừng anh ta khoảng ba mươi tuổi là cùng!
“Chắc là anh chàng ấy rồi!” - Mục sư Henry thầm nghĩ.
- À, này, anh soạn bài giảng xong chưa vậy? Như sực nhớ ra, bà mục sư vội hỏi chồng.
- Xong rồi! Tuần này bận quá chừng! - Mục sư chắt lưỡi.
- Anh định giảng về đề tài gì thế?
- “Theo dấu chân Chúa”. Anh sẽ trình bày về sự cứu chuộc của Chúa Giê-xu, gương sáng về cuộc đời Ngài và những điều cần thiết cho một người theo Chúa. Em thấy thế nào?
- Em tin chắc đó là một bài giảng hay. Mong sao sáng Chúa nhật này, trời đừng mưa! Dạo này trời hay mưa quá!
- Ừ, nếu trời mưa, chắc ít người đi nhà thờ lắm.
Mục sư Henry thở dài. Ông lo lắng cho bài giảng của ông sẽ không được nhiều người nghe. Ông sợ phí công sức mà ông đã bỏ ra để chuẩn bị. Cho nên, ông thầm mong tín hữu đến dự nhóm thật đông đủ.
Bẵng đi khá lâu, hôm nay, người dân thành phố Raymond mới được thấy một buổi sáng Chúa nhật bình yên, vắng mưa bão, lầy lội.
Không khí trong lành, bầu trời quang đãng. Các tín đồ Cơ Đốc lũ lượt đi nhà thờ. Ai nấy ăn mặc đẹp đẽ, tươm tất, lộ vẻ giàu sang quý phái của tầng lớp thượng lưu ở thành phố Raymond sầm uất này. Hội thánh Tin Lành Raymond khai lễ vào lúc mười một giờ sáng. Nhà thờ đông nghẹt người.
Sau lời cầu nguyện khai lễ, nhạc được trổi lên. Sáng nay ban hát lễ đã đem lại niềm vui lớn cho Hội thánh. Những bài thánh ca thật truyền cảm, tập trung vào chủ đề bài giảng của Mục sư Henry:
“Ôi Chúa Giê-xu, con đã vác thập tự giá
Từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài”
Trước giờ giảng luận, cô Rachel Winslow, một giọng nữ cao (soprano) tôn vinh Chúa bài thánh ca nổi tiếng, có nội dung rất phù hợp với giai điệu của nó:
“Nơi nào Chúa dắt con đi, con sẽ theo gót Ngài
Cùng đi với Ngài, với Ngài luôn mọi đường”
Sáng nay, trông cô ta rất rạng rỡ và xinh xắn. Giọng hát của cô vốn ấm, hôm nay lại càng truyền cảm hơn. Ngồi sau toà giảng, Mục sư Henry tỏ vẻ rất hài lòng. Từ trước đến giờ, giọng hát lôi cuốn của Rachel đã hỗ trợ rất nhiều cho những bài giảng của ông. Rachel thường hát những bài thánh ca được Mục sư Henry sắp xếp trước cho phù hợp với nội dung bài giảng, góp phần làm tăng thêm sự cảm động cho lời ông giảng.
Có rất nhiều người hâm mộ giọng hát của Rachel, họ cho rằng Rachel là người hát hay nhất trong nhà thờ này. Sau khi hát xong, Rachel trở về chỗ mình. Bỗng nhiên, Mục sư Henry nghe dường như có tiếng vỗ tay nho nhỏ và tiếng chân của ai đó bước nhẹ trên sàn ở phía sau nhà thờ. Thế nhưng, lúc bước lên toà giảng, ông lại tự nhủ: “Có lẽ mình bị cảm giác đánh lừa về những tiếng động ban nãy”. Vài phút sau, ông đã say sưa với bài giảng của mình, quên khuấy mọi thứ xung quanh.
Với lời lẽ và cách diễn đạt đặc biệt, Mục sư Henry thường đem lại nhiều sự cảm động cho Hội thánh qua bài giảng. Hội thánh Raymond cũng rất hãnh diện về tài giảng dạy của Mục sư Henry. Bản thân ông cũng rất thích chia xẻ ở nhà thờ Raymond này hơn là ở các nơi khác. Ông thường ao ước luôn được giảng ở nhà thờ này trong mỗi sáng Chúa nhật. Ông thấy vui và hào hứng khi Hội thánh có đông người dự nhóm. Trái lại, ông không bao giờ giảng trôi chảy và thoả lòng nếu buổi nhóm có quá ít người tham dự. Sáng nay, ông cảm thấy được khích lệ và phấn khởi trước sự đông đảo của Hội thánh. Ông giảng say sưa và nhiệt tình. Bài giảng có sức thuyết phục và lôi cuốn người nghe, nó đọng lại trong lòng mỗi người nhiều điều dạy dỗ và suy nghĩ. Ai nấy đều lộ vẻ hoan hỉ trên nét mặt vì họ đã hiểu được Lời Chúa. Họ rất tự hào về vị mục sư thông thái, lịch thiệp đã truyền sứ điệp của Chúa đến cho họ trong sáng nay.
Trên toà giảng, gương mặt Mục sư Henry dường như rạng rỡ hẳn lên. Ông cầu nguyện để kết thúc bài giảng, lời cầu nguyện của ông thật sống động và tràn ngập linh lực. Mọi người cảm thấy thanh thản và đồng lắng lòng hiệp ý với lời cầu nguyện của ông.
Tiếp sau phần giảng luận, ban hát lễ đang chuẩn bị bước lên tôn vinh Chúa bản thánh ca kêu gọi:
“Tất cả cho Giê-xu, tất cả cho Giê-xu
Chính Ngài là quyền năng cứu chuộc của con”.
Bỗng toàn thể Hội thánh nhốn nháo hẳn lên vì sự xuất hiện đột ngột của một người đàn ông lạ mặt. Từ sau tấm phông của nhà thờ có vẽ hình mão triều thiên, anh ta bước ra và đi thật nhanh giữa hai hàng ghế của ban hát lễ. Anh ta đàng hoàng bước tới trước toà giảng, quay mặt xuống phía hội chúng:
- Kính thưa quí vị! - Anh ta nói to, giọng điềm tĩnh.
- Tôi chỉ muốn được nói vài lời tại đây trước khi buổi nhóm kết thúc. Xin nói trước với quý vị rằng tôi không phải là một kẻ say rượu hay là tâm thần. Tôi là một người hoàn toàn bình thường. Tôi cũng không có ý định làm hại ai ở nơi đây đâu! Thưa quý vị! Có thể trong vài ngày nữa tôi sẽ chết. Nhưng tôi sẽ rất thoả lòng khi nói lên được điều này với quý vị.
Lúc ấy, Mục sư Henry vẫn chưa kịp ngồi xuống ghế của mình. Ông đưa mắt quan sát người lạ mặt từ đầu đến chân. Chợt, ông “à!” lên một tiếng: “Đúng là kẻ lang thang đã đến nhà mình vào sáng thứ sáu vừa rồi!”. Trông anh ta thật rách rưới và tiều tụy, tóc tai bù xù, râu ria lởm chởm, đôi tay gầy khẳng khiu và dơ bẩn vẫn giữ chặt chiếc mũ bạc màu và sờn nát. Có lẽ đó là thói quen của anh thường làm khi nói chuyện với người khác thì phải.
Thường thường, người ta bắt gặp những mẫu người như người đàn ông này nơi những công viên vắng vẻ, dọc đường phố hoặc bến xe, bến tàu v.v... chớ ít ai nghĩ rằng một người như anh ta lại có mặt tại nơi trang nghiêm này. Mục sư Henry cũng ngạc nhiên không kém. Ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi ông nghe người lạ mặt cất giọng nói vừa nhỏ nhẹ lại lưu loát. Điều đó chứng tỏ anh ta rất bình tĩnh, không bị kích động chút nào. Đột nhiên, Mục sư Henry sực nhớ lại hình ảnh một người mà ông đã có lần gặp trong giấc chiêm bao cách đây không lâu.
Có một điều lạ: chẳng ai trong nhà thờ lúc ấy tỏ ra phản đối hành vi của người lạ mặt, trái lại, họ còn tỏ ra chăm chú nghe anh ta nói. Anh ta càng nói, khuôn mặt của Mục sư Henry càng biến sắc, trở nên trắng bệch, lộ vẻ buồn thảm. Từ phía dàn nhạc, cô Rachel há hốc miệng, mở tròn mắt nhìn trân trân như muốn dán chặt vào người đàn ông lạ ấy. Gương mặt Rachel càng lúc càng biến sắc, Rachel cảm nhận một điều gì đó đang nóng cháy trong lòng mình. Hội thánh yên lặng nặng nề. Điều này càng làm cho tiếng nói của kẻ lang thang trở nên rõ ràng và lớn hơn.
- Tôi không phải là môt kẻ lang thang, dầu vậy tôi không thể hiểu nổi điều này: Phải chăng sự cứu chuộc của Chúa Giê-xu dành cho những kẻ vô gia cư thì ít hơn so với những hạng người khác trong xã hội? Có đúng vậy không?
Anh ta nêu lên câu hỏi làm mọi người suy nghĩ. Anh ta đang đặt ngược vấn đề với Hội thánh. Ngừng một chút, anh ta ho sù sụ, giọng đứt quãng:
- Tôi... tôi đã mất việc... làm cách đây mười tháng... Tôi vốn... là một thợ in chuyên nghiệp. Đứng trước những cỗ máy sắp chữ hiện đại, tôi hi vọng tràn trề - hi vọng về một cuộc sống khá hơn cho gia đình tôi. Không ngờ, từ lúc xuất hiện những máy móc ấy, xí nghiệp của tôi đã có sáu người tự tử vì họ bị thất nghiệp. Và tôi cũng thế mà thôi. Nhưng tôi chỉ có mỗi điều khác họ, là tôi thất nghiệp chứ chưa tự tử! Dĩ nhiên, tôi không thể đổ lỗi cho sự có mặt của máy móc. Nhưng tôi chỉ biết có mỗi nghề in thủ công là nghề tôi học được. Tôi không biết phải làm gì trong khi chờ đợi một việc làm khác. Tôi đã đi lang thang hết nơi này đến nơi khác nhưng ai cũng từ chối tôi, kể cả những tín đồ như các vị cũng từ chối nốt. Có rất nhiều người cùng chung số phận như tôi chứ không riêng gì mình tôi.
Thưa Hội thánh, Hội thánh đừng hiểu lầm tôi đến đây để phàn nàn hay đòi hỏi điều gì. Tôi không phàn nàn ai cả, tôi chỉ muốn trình bày một sự thật. Lúc nãy, ngồi ở phía sau tấm phông nhà thờ, tôi ngạc nhiên vô cùng khi nghe những lời lẽ kêu gọi hội chúng: vâng lời, trung tín, yêu thương và phải noi theo dấu chân Chúa. Tôi biết rằng điều mà mục sư muốn nhấn mạnh với quý vị là điều cuối cùng. Vậy, đối với một người Cơ Đốc thì theo dấu chân Chúa nghĩa là gì nhỉ? Mục sư muốn nói gì khi ông ấy giảng: “Hãy theo Ta”? Còn tôi, đã lang thang suốt ba ngày nay trong đói khát khắp thành phố sầm uất này để tìm một việc làm, nhưng tôi thất vọng. Trong suốt thời gian đó, ai cũng xua đuổi tôi, không cho tôi một lời an ủi hoặc thông cảm nào, ngoại trừ một lời thương hại chúc tôi sớm tìm được một việc gì ở đâu đó của Mục sư Henry. Tất nhiên, tôi hiểu rằng quí vị không thể vượt khả năng của mình để giúp đỡ người khác về vật chất, việc làm. Nhưng tôi cảm thấy thật khó hiểu về ý nghĩa của việc theo dấu chân Chúa Giê-xu. Khi quí vị hát: “Con sẽ cùng đi với Ngài, với Ngài luôn mọi đàng!”. Quí vị muốn nói gì qua lời bài hát đó? Phải chăng, quí vị muốn nói: quí vị đang chịu khổ, quên mình và đang cố gắng dự phần vào việc giải cứu tội nhân như Chúa Giê-xu đã từng làm? Làm sao quý vị chứng minh được điều đó? Tôi đã được nhìn thấy mặt trái của vấn đề này. Tôi biết chắc hiện nay ở thành phố Raymond có trên năm trăm người đồng cảnh ngộ với tôi: không việc làm, không nhà ở. Quí vị biết không? Vợ tôi đã chết cách đây bốn tháng. Tôi lấy làm vui mừng vì cô ấy đã được giải thoát khỏi địa ngục trần gian. Chết để không còn phải khổ nữa. Cô ấy ra đi, để lại cho tôi một đứa con gái nhỏ, khờ dại. Tôi đã đem nó gửi tạm ở nhà ông chủ nhà in, chờ đến khi nào tôi xin được việc làm thì đón nó về. Những lúc đi lang thang tìm việc, tôi thấy nhiều người Cơ Đốc sống xa hoa, không thèm quan tâm đến thân phận người khác. Vậy mà sáng nay, họ có mặt giữa những người đang hát trong nhà thờ này rằng: “Ôi Chúa Giê-xu, con vác thập tự giá, từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài!”. Và... tôi... tôi nhớ... lại cái chết của vợ tôi trong một chung cư ổ chuột rách nát ở New York hôm nào. Lúc hấp hối, cô ta cứ kêu cầu Đức Chúa Trời mãi một điều: hãy cất luôn đứa con gái nhỏ của mình theo với cô ấy. Cuộc sống khốn khổ này quả là khủng khiếp đối với gia đình tôi. Cảm thấy chết là hạnh phúc hơn là sống như thế này. Vậy chúng tôi sống theo Chúa Giê-xu để được cái gì ? Chỉ có ốm đau, đói khát, không nhà, không cửa. Tôi cũng biết một điều này nữa: nhiều Cơ Đốc nhân là những chủ nhân của nhiều chung cư với cuộc sống thừa mứa của cải. Một buổi tối nọ, tôi đứng ngoài bậc thềm của nhà thờ, nghe người ta hát:
“Tất cả cho Giê-xu, tất cả cho Giê-xu.
Chính Ngài là quyền năng cứu chuộc của tôi.
Cho Ngài tất cả niềm suy tưởng và việc làm của tôi.
Cùng tất cả những ngày và thì giờ của tôi”
Tôi cứ thắc mắc mãi về điều này. Đối với tôi, dường như đó là điều đau đớn, khủng khiếp nhất trên đời này. Bởi vì có những người tuy hát như thế, mặc những bộ quần áo sang trọng để đi nhà thờ, nhưng cuộc sống thực tế của họ thì không như lời họ hát. Thật là một sự giả hình không chịu nổi. Vậy, “theo Chúa Giê-xu” nghĩa là gì? Theo Ngài để làm cái gì? Được cái gì?...
Cùng một thời điểm, những người trong các nhà thờ lớn thì ăn mặc đẹp đẽ, chưng diện, nhà cửa của họ thì sang trọng, tiền bạc rủng rỉnh, họ có thể đi nghỉ mát bất cứ lúc nào hoặc làm bất cứ điều gì họ thích, họ cũng đã vơ vét, sống xa hoa trên xương máu, mồ hôi của những người làm thuê cho họ. Trong khi đó, bên ngoài thềm nhà thờ, hàng ngàn người đang chết đói trong các căn nhà thuê hoặc lang thang trên các đường phố, sống lây lất để tìm việc làm. Họ mơ đến một bữa ăn no cũng không có. Họ đã được sinh ra và lớn lên trong cảnh khốn cùng và chìm đắm trong nghèo đói và...”.
Đang nói, người đàn ông bỗng lảo đảo và ngã nhào về phía bàn tiệc thánh, hai bàn tay dơ bẩn của anh ta chới với, bíu lấy cạnh bàn, chiếc mũ cũ mèm rơi xuống nằm bên chân anh ta trên tấm thảm sạch sẽ và mới tinh. Hội chúng nhốn nháo hẳn lên, phá vỡ sự im lặng, trang nghiêm. Bác sĩ West cũng nhổm lên khỏi chỗ ngồi của mình.
Người đàn ông chợt nẩy người lên, đưa tay trái lên ôm lấy ngực, té sấp xuống, nằm dài trên lối đi ngay đầu các dãy ghế.
Mục sư Henry vội tuyên bố:
- Thưa Hội thánh, giờ nhóm được chấm dứt ở đây!
Xong, ông rời khỏi toà giảng, bước đến quỳ xuống bên cạnh thân thể người đàn ông xa lạ. Lập tức, hội chúng ùn ùn kéo ra hành lang. Người ta chen lấn nhau thật là mất trật tự. Một số người đến phụ với bác sĩ West dìu người đàn ông lạ mặt vào bên trong văn phòng của mục sư. Bác sĩ West bảo rằng anh ta vẫn còn sống, chỉ bị "sốc" vì có vấn đề ở tim anh ta.

Chương 2
Cánh cửa chính của nhà thờ đã đóng lại, nhưng Mục sư Henry và Ban Trị sự Hội thánh vẫn còn nán lại trong văn phòng. Ở đó, người đàn ông lạ mặt đang nằm dài và thở dốc từng hồi trên tràng kỷ. Mục sư Henry cứ nhất định đòi đem người đàn ông ấy về nhà riêng của ông. Thế nhưng, cô Rachel lại đề nghị:
- Hãy để chúng tôi được mang anh ấy về nhà chúng tôi. Nhà tôi vắng vẻ lại rộng rãi. Chắc chắn mẹ tôi sẽ bằng lòng mà sắp xếp một chỗ ở đàng hoàng cho anh ta.
Cô Rachel tỏ vẻ lo lắng, sợ mọi người không chấp nhận ý kiến của mình. Hầu hết, mọi người đang bị kích động trước sự cố lạ lùng chưa từng có như thế này ở Hội thánh của họ. Mục sư Henry lại tiếp tục khăng khăng đòi được chăm sóc người đàn ông nọ cho bằng được. Cuối cùng, người ta khiêng thân hình bất động của anh ta lên xe đưa về nhà của Mục sư Henry. Mục sư nhanh chóng dọn dẹp, sắp xếp căn phòng phụ của mình thành một chỗ ở khá tươm tất cho người khách lạ. Hơn ai hết, ông đang nhận thấy một sự thay đổi bắt đầu diễn ra trong cuộc đời ông, khiến ông suy nghĩ mãi ý niệm “Theo dấu chân Chúa” có nghĩa là gì!
Biến cố vừa rồi đã gây xúc động lớn trong Hội thánh Raymond. Suốt tuần lễ kế tiếp, người ta gặp nhau chỉ bàn tán về vấn đề nóng bỏng ấy. Họ cho rằng người đàn ông nọ đã đến nhà thờ trong một tinh thần bấn loạn, một tâm trạng mê sảng chứ không chỉ là một kẻ lang thang bình thường. Họ còn suy diễn rằng: Anh ta có một hoàn cảnh khốn cùng lắm nên mới sinh ra sự bấn loạn tinh thần như vậy. Ai cũng nhận thấy trong lời nói của kẻ lang thang chứa đựng nỗi đau đớn, buồn tủi cộng thêm một sự thiếu vắng nào đó làm tổn thương tâm hồn anh ta. Mặc dầu anh ta đã nói lên ý nghĩ của mình một cách dịu dàng và đầy hối tiếc nhưng vẫn không che giấu được điều đó. Anh ta lộ vẻ khó khăn thực sự trong việc tìm kiếm một lý tưởng sống đúng đắn giữa cuộc đời phức tạp này.
Đến ngày thứ ba, tình trạng sức khoẻ của người đàn ông nọ trở nên trầm trọng. Bác sĩ West cho biết không còn hi vọng gì nữa. Đến sáng thứ bảy, anh ta chỉ còn thở thoi thóp trông rất thương tâm.
Sáng Chúa nhật, trước khi đồng hồ điểm một giờ, bỗng nhiên anh ta tỉnh lại và muốn thấy mặt con gái của mình. Tìm kiếm một hồi trong túi áo của anh ta, Mục sư Henry đã tìm thấy mảnh giấy ghi địa chỉ của con gái anh ta. Lập tức, ông gọi điện thoại nhắn cô bé đến ngay.
Mục sư an ủi anh ta:
- Con bé đang đến! Nó sắp sửa đến nơi rồi đấy! Hãy cố gắng, đừng buồn!
- Tôi sẽ... không....không... tôi sẽ không.... sẽ không bao giờ được nhìn thấy con gái tôi trên cõi đời này nữa...
Người đàn ông bạc phận đang thều thào, lắp bắp. Đoạn, anh ta lấy hết sức nói một cách khó nhọc, mắt mở to nhìn chăm chăm Mục sư Henry:
- Ông thật tốt với tôi. Tôi cảm ơn ông nhiều lắm. Dù sao tôi cũng cảm biết được một điều mà Chúa Giê-xu đã làm....
Anh ta thiếp dần, đầu nghẹo sang một bên nhẹ nhàng, yên lặng. Bác sĩ West khẽ chép miệng:
- Anh ta đã đi thật rồi!
Gương mặt của vị mục sư lộ vẻ mệt mỏi, căng thẳng và buồn thảm.
* * *
Một sáng Chúa nhật mới lại đến với thành phố Raymond. Nhà thờ chật ních người. Chưa bao giờ người ta lại đi nhóm đông đủ như thế. Mục sư Henry bước lên toà giảng với một gương mặt hốc hác như vừa trải qua một cơn bệnh dai dẳng. Ông đã thiếu ngủ vì phải thức canh người đàn ông lạ bệnh hoạn nọ. Hôm nay vợ ông lại phải ở nhà với đứa con gái nhỏ của kẻ xấu số. Cô bé đã vội vã đáp tàu lửa đến nơi nhưng vẫn không kịp. Cha cô đã tắt hơi cách đó một tiếng đồng hồ. Anh ta vẫn còn nằm trong căn phòng trống, tựa như đang ngủ vậy, không còn phải phiền muộn về bất cứ điều gì khác.
Tại toà giảng, Mục sư Henry đang mường tượng lại khuôn mặt của người đàn ông bất hạnh đã quá cố trong lúc tay ông đang lần giở Kinh Thánh ra. Hôm nay, ông không chuẩn bị bài giảng, thế nhưng không ai nhận ra được điều này. Đối với ông, đây là một điều đặc biệt. Bởi vì, từ lúc bắt đầu chức vụ đến giờ, chưa có lần nào ông không soạn bài hoặc chỉ soạn sơ sài mà dám bước lên toà giảng. Bữa nay ông đã giảng với nhiều ngập ngừng, e ngại. Ý tưởng ông đang có sự giằng co, băn khoăn, ray rứt. Ông cảm thấy trong người ông dường như mất hết sinh khí. Ông đã kết thúc bài giảng sớm hơn mọi lần. Gấp Kinh Thánh lại, ông rời khỏi toà giảng, hướng xuống hội chúng:
- Kính thưa quí ông bà, anh chị em!
Không hiểu sao, giọng nói của ông hôm nay có vẻ gì đó khác lạ. Ông nói với hội chúng về sự kiện đáng nhớ của tuần trước:
- Người đàn ông lạ mặt ấy đã chết vào sáng nay. Tôi vẫn chưa tìm hiểu kịp lai lịch của anh ta. Tôi chỉ biết được anh ta có một bà chị gái hiện đang sống ở Chicago. Tôi đã viết thư báo cho bà ta biết nhưng tôi chưa nhận được thư hồi âm. Còn con gái của anh ta thì đang ở với gia đình chúng tôi!
Đoạn, ông ngừng lời giây lát, đưa mắt quan sát khắp hội chúng. Ông bắt gặp nhiều gương mặt nghiêm trang đang hướng về ông thật chăm chú. Ông mạnh dạn hẳn lên, quyết định trình bày với hội chúng về sứ điệp mà ông vừa được nhận lãnh từ Đức Thánh Linh:
- ... sự xuất hiện và những lời nói của người khách lạ trong nhà thờ này vào sáng Chúa nhật vừa rồi đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh mẽ. Rồi đến cái chết của anh ta trong nhà tôi cũng đã làm cho tôi sực tỉnh. Tôi cứ suy nghĩ mãi về câu hỏi đã làm cho anh ta băn khoăn: “Theo Chúa Giê-xu nghĩa là gì?”. Bản thân tôi, tôi thấy mình chưa đủ tư cách để xét đoán mối quan hệ giữa chúng ta với người đàn ông ấy, hoặc xét đoán những người khác có số phận giống anh ta, hoặc xét đoán Hội thánh. Dầu vậy, tôi vẫn xin khẳng định rằng: tất cả những điều mà người đàn ông ấy nói đều thật sống động khiến chúng ta phải suy nghĩ. Anh ta đang vạch trần một sự thật hiện tại của Cơ Đốc giáo trong vòng chúng ta. Đó là một sự thách thức, đòi hỏi câu trả lời từ phía chúng ta - những người đã xưng mình là tín đồ của Chúa Giê-xu. Mỗi ngày, tôi càng cảm biết điều này rõ rệt hơn, nhưng tôi chưa biết được thời gian nào thì thích hợp hơn bây giờ cho tôi thực hiện chương trình ấy. Chúng ta cần có trách nhiệm trả lời thoả đáng điều thắc mắc, băn khoăn của người khách lạ đã quá cố ấy.
Mục sư Henry dừng lời, đằng hắng, lại đưa mắt quan sát hội chúng. Ông có thể nhìn thấy Edward Norman - chủ bút của tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” ở thành phố Raymond giàu có này. Edward vốn là một thành viên trong Ban Chấp sự của Hội thánh suốt mười năm nay. Mục sư Henry cũng nhìn thấy Alexander Powers - một quản đốc của nhiều cơ xưởng xe lửa lớn ở Raymond được nhiều người kính nể, trọng vọng.
Sau lưng Alexander là ông hiệu trưởng trường trung học Lincoln nằm ở một vùng ngoại ô của Raymond. Ông ta tên là Donald Marsh. Hôm nay cũng có mặt ông Milton Wright - một trong những thương gia lớn nhất của Raymond. Ông ta có hàng trăm nhân viên làm việc ở nhiều cửa hàng lớn. Ngồi bên cạnh thương gia Milton là bác sĩ West - một bác sĩ tương đối trẻ tuổi nhưng chuyên môn rất giỏi, có uy tín lớn, thường đảm nhận và thành công những ca phẫu thuật đặc biệt khiến ai cũng phục. Ngồi bên trái Milton là nhà văn Jasper Chase rất nổi tiếng với tài viết tiểu thuyết. Cũng có mặt cô Virginia Page - nhà triệu phú nhờ được hưởng gia tài kết sù do ông bố keo kiệt để lại. Nổi bật hơn hết ở hàng ghế phía trên của ban hát lễ, gương mặt Rachel Winslow thật xinh đẹp trong bộ trang sức đắt tiền, rực rỡ...
Kế đó, Mục sư Henry lại tiếp tục nói chậm rãi như thể đang lựa lời một cách cẩn thận để nói lên điều hệ trọng:
- Tôi sắp trình bày với quý Hội thánh một đề nghị. Xin quý vị ông bà anh chị em hãy chú ý nghe tôi nói. Nó không có gì là quái dị hoặc là không thể thực hiện được. Nó có liên quan đến nhiều tín đồ ở Hội thánh này. Tôi muốn mỗi người tín đồ có mặt trong buổi nhóm hôm nay phải hứa nguyện một cách thành thật và sốt sắng điều này: không được làm việc gì theo ý riêng của mình. Khi đối diện với công việc gì, chúng ta phải đặt ngay câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” đối với công việc đó. Sau khi đã đặt câu hỏi trên, mỗi người sẽ hành động theo lượng đức tin mà Chúa ban cho mình, bất kể kết quả công việc sẽ ra sao. Dĩ nhiên tôi cũng sẽ là một trong những người hứa nguyện. Tôi hi vọng Hội thánh sẽ không phản đối tôi! Và sẽ không phản đối bất cứ việc gì được giao, được làm nếu quí vị nghĩ rằng Đấng Christ cũng sẽ làm như vậy. Quí vị có hiểu được ý tôi muốn nói chưa nhỉ? Tôi đề nghị thế này, sau khi kết thúc buổi thờ phượng hôm nay, những ai sẵn lòng tham gia vào kế hoạch của tôi vạch ra thì hãy nán lại một lát để chúng ta cùng thảo luận chi tiết cho hành động. Phương châm hành động là: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?”, chúng ta sẽ đặt Chúa vào vị trí của chúng ta trước công việc cần làm. Chúng ta cảm thấy Chúa sẽ làm công việc đó thì chúng ta mới làm. Mục đích của chúng ta là hành động giống như Chúa đã hành động. Chúng ta hãy bước theo dấu chân Chúa Giê-xu một cách thiết thực, gần gũi và chính xác như chúng ta đã tin tưởng điều Chúa dạy các môn đồ ngày xưa. Những ai tình nguyện làm việc này thì hãy tự hứa nguyện với mình thực hiện trọn một năm kể từ ngày hôm nay và hãy bắt đầu hành động ngay.
Lần thứ ba, Mục sư Henry đưa mắt dõi khắp Hội thánh. Trước vấn đề mới mẻ này, mọi người đang liếc nhìn nhau trong sự ngạc nhiên. Mục sư Henry điềm tĩnh chấm dứt buổi lễ thờ phượng bằng một lời cầu nguyện ngắn. Ngay sau lời chúc phước của ông, nhạc sĩ dương cầm đàn một khúc đoản ca “Tôn vinh Chân Thần” kết thúc buổi lễ. Chỉ chờ lời tuyên bố “lễ chung” của người hướng dẫn buổi nhóm, mọi người túa ra cửa. Họ tụm lại thành nhiều nhóm lớn, nhỏ, bàn tán xì xầm về đề nghị mới lạ của Mục sư Henry. Rõ ràng là người ta đang bị kích động. Về phần mục sư, ông mời những ai có dự tính ở lại thì hãy vào văn phòng Ban Trị sự Hội thánh.
Khi Mục sư Henry bước vào phòng, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên, vui mừng vì số người tham gia kế hoạch của ông đông hơn điều ông dự đoán. Mọi người đứng san sát nhau. Họ đang sẵn sàng bước vào cuộc trắc nghiệm thực tế về tinh thần tín đồ Cơ Đốc của họ như lời kêu gọi của mục sư. Ước chừng năm mươi người trong phòng. Trong số đó có ca sĩ Rachel, nhà triệu phú Virginia, ngài Edward, ông hiệu trưởng Donald, vị quản đốc hoả xa Alexander Powers, thương gia Milton Wright, bác sĩ West và nhà văn Jasper Chase trẻ tuổi....
Mục sư Henry bước đến trước mặt mọi người, nhìn ông ai cũng hiểu là ông đang xúc động. Đối với ông, đây là một biến động đáng nhớ trong cuộc đời hầu việc Chúa của ông. Mọi người im lặng chờ đợi. Ông yêu cầu mọi người hiệp ý với ông trong lời cầu nguyện xin Chúa dẫn dắt buổi thảo luận này.
Khi ông bật ra lời cầu nguyện đầu tiên, thình lình mọi người trong phòng đều cảm nhận được sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Lời cầu nguyện càng lúc càng ngọt ngào thì sự hiện diện ấy càng trở nên rõ ràng, mạnh mẽ. Khi lời cầu nguyện chấm dứt, có một sự yên lặng rất lạ kéo dài hồi lâu trong phòng. Mọi đầu đều cúi xuống, nức nở, những tấm lòng tan vỡ trước mặt Chúa. Gương mặt mục sư cũng đầm đìa nước mắt. Lời hứa nguyện theo bước chân Chúa Giê-xu của những người có mặt hôm nay đã được thực hiện. Họ cảm nhận được sự ấn chứng của Đức Thánh Linh trong vấn đề này. Hội thánh của họ từ đây sẽ bắt đầu có những chuyển biến quan trọng mới mà từ trước đến nay chưa từng xảy ra.
Sau một vài phút xúc động, Mục sư Henry cất tiếng êm dịu:
- Các bạn yêu dấu! Tất cả chúng ta đã hiểu những điều mà chúng ta vừa cam kết thực hiện. Trong những ngày sắp tới, chúng ta chỉ làm những việc làm nào mà chúng ta cảm thấy Chúa Giê-xu cũng sẽ làm công việc ấy. Chúng ta hãy đặt câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” đối với công việc ấy, bất kể kết quả xảy ra cho chúng ta thể nào chăng nữa.
Các bạn ơi! Có dịp tôi sẽ kể cho các bạn nghe về một sự thay đổi kỳ lạ diễn ra cho đời sống tôi trong tuần lễ vừa qua. Sự xuất hiện, lời nói cùng cái chết của người đàn ông vô danh vừa rồi đã làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi đã cầu nguyện Chúa và Ngài hướng dẫn tôi vạch ra chương trình này, nhưng tôi không dám thực hiện một mình, e tôi ngã chăng. Và tôi tin chắc rằng Đức Thánh Linh cũng đang dẫn dắt các bạn.
Đột nhiên, Rachel Winslow lên tiếng:
- Kính thưa Mục sư và toàn thể quý vị, tôi muốn hỏi một câu: liệu chúng ta đã hiểu cách đầy đủ về những gì mà chúng ta cam kết chưa?
Mọi người đều nhìn Rachel. Cô tiếp tục thắc mắc:
- Tôi hơi nghi ngại một chút về nền tảng sự hiểu biết của chúng ta. Làm sao tôi dám chắc rằng điều Chúa sẽ làm trong công việc tôi định làm là đúng? Chúng ta cần phải thấy được sự khác nhau giữa các thời đại. Thời đại của các môn đồ của Chúa Giê-xu khác biệt với thời đại chúng ta đang sống ngày nay. Chẳng hạn, có nhiều vấn đề phức tạp trong nền văn minh hiện nay, đâu có được đề cập đến trong lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu cho các môn đệ Ngài ngày xưa. Vậy làm thể nào tôi biết được tôi đang làm công việc đúng ý Chúa?
- Cả tôi lẫn cô đều không có cách nào khác để biết được điều ấy - Mục sư Henry trả lời - ngoại trừ một cách: chúng ta phải học hỏi về Chúa Giê-xu qua sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh. Kinh Thánh đã ghi nhận những lời Chúa Giê-xu phán dạy các môn đồ của Ngài về Đức Thánh Linh: “Lúc nào Thần Lẽ Thật đến thì Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật, vì Ngài không nói tự mình nhưng nói mọi điều đã nghe và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài đã làm sáng danh Ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về Ta mà rao bảo cho các ngươi vậy”. Rồi đây, chúng ta sẽ thấy được những điều Chúa Giê-xu làm khi chúng ta đi đến được nguồn gốc của sự hiểu biết ấy.
- Tôi e rằng sẽ có nhiều người cười nhạo chúng ta khi chúng ta bắt tay vào việc. Họ sẽ không tin rằng điều chúng ta làm là điều Chúa muốn làm. Vậy, mục sư nghĩ sao về vấn đề ấy? - Ông quản đốc hoả xa Alexander lên tiếng.
- Đồng ý là sẽ có nhiều kẻ cười chê chúng ta, nhưng đó là chuyện nhỏ! Quan trọng là sự thành thật tuyệt đối của chính mỗi chúng ta. Chúng ta hãy hành động như một Cơ Đốc nhân gương mẫu - Mục sư Henry lý giải cho Alexander hiểu cốt lõi của sự quan tâm.
Hiệu trưởng Donald băn khoăn thực sự:
- Còn tôi, tôi lo sợ một điều: công việc mà một tín đồ trong Hội thánh nghĩ rằng Chúa Giê-xu sẽ làm thì cũng có nhiều người khác không tin và không chấp nhận đó là đường lối của Chúa và ngăn cản công việc, thì chúng ta tính sao? Chúng ta phải chứng minh như thế nào để tỏ rõ sự đồng nhất của chúng ta với Đấng Christ? Liệu chúng ta có đạt được kết quả công việc như chúng ta mong muốn không?
Mục sư Henry suy nghĩ vài giây rồi chậm rãi trả lời:
- Không, tôi không đảm bảo được kết cuộc công việc sẽ tốt đẹp hoàn toàn cho chúng ta. Nhưng tôi tin chắc điều này: nếu chúng ta thành thật và quyết tâm theo dấu chân Chúa thì Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta từng bước và ban cho chúng ta sự bình an, sự khôn ngoan để xử lý công việc ổn thoả. Chúng ta cũng cần lưu ý một điều: không được cuồng tín và thận trọng thái quá. Khi chúng ta kêu cầu Đức Thánh Linh giúp đỡ chúng ta hành động, Ngài nhậm lời, hiện diện chỉ bảo cho chúng ta thì chúng ta phải mạnh mẽ, dạn dĩ tiến hành công việc trong đức tin, bất chấp hậu quả sẽ xảy ra như thế nào. Các bạn hiểu ý tôi nói chứ?
Tất cả mọi người trong phòng đều ngước lên, hướng về phía mục sư, thảy đều gật đầu, yên lặng. Họ đã hiểu, không ai thắc mắc gì nữa.
Đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người một lần nữa, Mục sư Henry xúc động quá đỗi, ông thầm cảm tạ Chúa và cố kiềm chế dòng lệ, mắt ông đỏ hoe. Ông lại đưa ra một đề nghị cuối cùng:
- Chúng ta sẽ tường trình cho nhau nghe trong buổi họp thường kỳ mỗi tuần một lần, trao đổi và học hỏi nhau về những kinh nghiệm theo Chúa khi chúng ta thực hiện kế hoạch mới này. Bây giờ, tôi xin phép được cầu nguyện để kết thúc buổi thảo luận hôm nay.
Cũng như lúc mới bắt đầu, khi Mục sư Henry cất tiếng cầu nguyện thì Đức Thánh Linh giáng xuống tràn ngập trong căn phòng và đầy dẫy trên mọi người.
Sau đó, mọi người tạm biệt nhau trong yên lặng, không ai nói với ai một lời nào. Ai cũng đang bận theo đuổi suy nghĩ của mình. Mục sư Henry đứng tựa cửa ra vào, bắt tay tiễn biệt từng người. Mọi người đã về hết cả, còn lại một mình, mục sư quay vào quỳ xuống nơi góc phòng, và tuôn đổ lòng mình với Chúa Giê-xu trong sự ngọt ngào. Khoảng nửa giờ sau ông mới ra về.
Vừa về đến nhà, ông chạy ngay vào nơi đang để thi hài của người đàn ông lạ mặt nọ. Nhìn vào gương mặt xám xịt của anh ta, nước mắt ông lại tuôn dầm dề.

Chương 3
“Ai nói mình ở trong Ngài cũng phải bước đi như Ngài đã bước đi”
Sáng thứ hai, Edward Norman - chủ bút tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” ở Raymond - đến văn phòng làm việc rất sớm. Ông dành thì giờ ở riêng một mình với Chúa. Sau đó, suy nghĩ miên man về phương hướng hành động theo lời hứa nguyện mới mẻ và chắc chắn của ông đối với Chúa. Nhưng bỗng nhiên, ông lại cảm thấy lo lắng và sợ hãi khi phải đối diện với phương hướng hành động mới mẻ này. Vả lại, công việc của một người làm báo thì luôn vội vã, quay cuồng và đầy cạnh tranh khiến cho ông cảm thấy khó thực hiện được lời hứa nguyện của mình. Trong phút dao động, Edward Norman vội vàng quỳ xuống cầu nguyện ngay tại bàn làm việc. Đây là một việc mà Edward đã không làm trong nhiều năm qua.
Trong lời cầu nguyện, ông xin Đức Thánh Linh ban sự khôn ngoan và đức tin cho ông, dẫn dắt ông thi hành công việc. Thế rồi, ông đứng lên với một quyết tâm rõ ràng và dứt khoát: “Bây giờ là hành động”.
Ông mở tung các cửa sổ, cửa chính, làn gió sớm mai tinh khiết, lành lạnh ùa vào căn phòng. Ông bắt đầu với công việc thường lệ của người chủ bút. Có tiếng động nhẹ, người điều hành ban biên tập báo vừa đến phòng làm việc bên cạnh. Edward đang bắt đầu viết một bài xã luận. Ông cố gắng hoàn tất bài viết này trước chín giờ sáng. Ông đang hí hoáy viết chừng mười lăm phút, chợt có tiếng của người điều hành ban biên tập gọi với ra:
- Ông Edward ơi! Có bài tường thuật về trận đấu quyền anh ngày hôm qua tại Resort. Bài khá dài. Nó sẽ chiếm khoảng ba cột rưỡi trang báo. Tôi định cho đăng trọn hết có được không? Ý ông thế nào?
Ở toà soạn này, Edward là người có nhiệm vụ theo dõi mọi chi tiết tờ báo. Từ việc nhỏ cho đến việc lớn, người điều hành ban biên tập phải tham khảo ý kiến và sự cho phép của ông.
- Được, à...không! Để tôi xem thử đã!
Edward Norman bước sang phòng bên cạnh, cầm bản thảo đánh máy bài tường thuật, đọc đi đọc lại một cách cẩn thận, chăm chú. Xong, ông ngồi xuống ghế và bóp trán suy nghĩ. Một lát, ông nói một cách chậm rãi và quả quyết:
- Chúng ta sẽ không đăng bài báo này trong ngày hôm nay!
Nghe vậy, người điều hành ban biên tập há hốc miệng, tròn xoe đôi mắt, nhìn Edward một cách ngạc nhiên:
- Thưa ông, ông nói sao ạ?
- Bỏ nó đi! Bỏ hẳn! Chúng ta không dùng nó nữa, thay vào bằng tin khác!
Người điều hành đứng chết lặng một vài giây. Anh ta không hiểu nổi ông chủ bút. “Có lẽ hôm nay ông chủ bút bị mất trí chăng?” Anh ta thầm nghĩ.
- Clark! Tôi quyết định chúng ta không in bài báo đó nữa và chấm dứt loại tin kiểu đó luôn!
Edward Norman nói như ra lệnh.
Ở toà soạn báo “Tin Tức Hằng Ngày” nổi tiếng này, Clark ít có bao giờ làm trái ý hoặc cãi lời ông chủ bút. Lời ông ta ban ra đều được mọi người chấp nhận và áp dụng như một luật lệ trong văn phòng. Ông chủ bút thì luôn luôn bảo vệ và giữ vững ý kiến của mình. Ông là một người có lập trường hơn ai hết ở đây.
Thế nhưng, lần này Clark không thể nào chịu nổi ý định quái gở của ông ta. Anh không kiềm chế được phản ứng:
- Ông định phát hành tờ báo mà lại không có một dòng tường thuật nào về trận đấu quyền anh hôm nay sao?
- Phải, đó là ý tôi muốn.
- Ôi! Tôi không hiểu nổi, ông chủ ạ! Ông muốn tờ báo đang ăn khách của chúng ta bị phá sản sao? Cả ông và tôi đều biết rõ một điều: tất cả các báo khác đều đang đổ xô đưa tin về trận đấu hấp dẫn ấy. Ai cũng nóng lòng chờ đợi và tìm đọc bản tin nóng bỏng đó. Vậy mà... vậy mà... báo của chúng ta lại không chịu đăng. Các độc giả mua báo dài hạn của chúng ta sẽ nói gì về vấn đề này? Họ sẽ bỏ chúng ta nhanh chóng... Ừ, mà tại sao chúng ta lại phải làm như thế chứ? Tôi mong ông suy nghĩ lại ý định của mình!
Clark nổi nóng nói liền một mạch rồi dừng lại vì anh không tìm thêm được lời lẽ nào để diễn tả tiếp ý nghĩ của mình.
Edward nhìn Clark khẽ cau mày và suy nghĩ mông lung. Clark là một tín đồ của một Hội thánh lân cận thành phố Raymond và thuộc giáo phái khác.
Ông chưa bao giờ nói chuyện với Clark về vấn đề tôn giáo dù hai người đã hợp tác với nhau trong công việc làm báo từ nhiều năm qua.
- Này Clark! Bình tĩnh đã nào! Hãy vào văn phòng của tôi một lát và nhớ đóng cửa phòng lại nhé! Chúng ta sẽ nói chuyện! - Edward gọi to.
Clark bước vào, đứng đối diện với ông chủ mình, yên lặng. Edward cũng không nói một lời nào. Sau vài phút yên lặng, Edward lên tiếng một cách đột ngột:
- Clark! Nếu Chúa Giê-xu là chủ bút của tờ “Tin Tức Hằng Ngày”, anh có thành thật nghĩ rằng Ngài sẽ dành hẳn ba cột rưỡi của trang báo để đăng tải về kết quả cá độ của trận đấu quyền anh ấy?
- Ồ, không! Tôi biết chắc là Ngài sẽ không bao giờ làm chuyện đó.
- Vâng, đó chính là lý do khiến tôi quyết định cắt bỏ tin này khỏi tờ “Tin Tức Hằng Ngày”. Và tôi tin chắc rằng Chúa Giê-xu cũng sẽ hành động như tôi!
Edward trả lời và vui vẻ hẳn lên, sự phấn khởi hiện diện trên gương mặt đã có nhiều nếp nhăn của ông.
Clark càng ngạc nhiên hơn, nhìn ông chủ bút chằm chằm, khó hiểu. Anh ta lại tự nhủ: “Có lẽ ông chủ đã hoá điên, điên thật rồi!”.
- Khi quyết định như vậy, ông có nghĩ đến ảnh hưởng của nó đối với tờ báo của chúng ta chưa? - Clark hỏi bằng một giọng yếu ớt chứa lẫn buồn bực.
- Thế còn anh thì sao? Anh nghĩ gì về điều đó?
Edward quay ngược lại dò hỏi người bạn trẻ nóng tính của mình, ném theo cái liếc mắt sắc bén.
- Thật là đơn giản! Chắc chắn tờ báo sẽ đi đời nhà ma! Chúng ta sẽ sập tiệm nhanh chóng! - Clark trả lời ngay không cần suy nghĩ.
- Tại sao chúng ta lại không điều hành nổi một tờ báo nhỉ?
Clark tiếp tục can gián:
- Ông chủ à! Nếu tờ báo của chúng ta không đăng bài tường trình về trận đấu quyền anh có cá độ thì chúng ta sẽ mất hàng trăm độc giả mua báo dài hạn. Chúng ta sẽ mất đi một mối béo bở. Ông biết không? Hàng bao nhiêu người trong thành phố này đang nóng lòng chờ đợi “Tin Tức Hằng Ngày” để biết kết cuộc của trận đấu đó. Họ chờ đợi báo chúng ta ra, sẽ tìm mua đọc ngay. Và sẽ thất vọng ghê gớm khi họ không thấy tin mà họ cần. Họ sẽ nói về chúng ta như thế nào? Tờ báo chúng ta sẽ mất uy tín thì chúng ta còn mong làm ăn sao được nữa? Ông nên suy nghĩ lại!
Edward yên lặng, tỏ vẻ lắng nghe ý kiến của Clark. Khoảng một phút sau, ông đứng dậy, đi đi lại lại, nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết:
- Clark này! Anh hãy nói cho tôi biết một cách thành thật: cái gì là tiêu chuẩn đúng đắn để quyết định tư cách đạo đức của một người? Phải chăng là hành động của người ấy? Chúng ta là những Cơ Đốc nhân, ắt hẳn cả tôi lẫn anh đều quan tâm đến Chúa Giê-xu, đến hành động của Ngài. Đúng không anh bạn trẻ? Nói một cách khác, chúng ta không thể không suy nghĩ câu hỏi này: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trước một nan đề, sự việc nào đó. Thiết tưởng, Chúa Giê-xu làm công việc đó thì chúng ta cũng sẽ làm y như vậy bất kể kết cuộc thể nào, nếu chúng ta thành thật tự nhận mình là những người bước theo Chúa Giê-xu. Chúng ta càng theo sát chân Ngài thì hành động biểu lộ tư cách đạo đức của chúng ta sẽ tương tự hành động của chính Chúa Giê-xu. Anh có đồng ý với tôi không?
- Vâng! Nhưng tôi muốn hỏi ông chủ điều này: để thành công trong công việc làm ăn của chúng ta, thì chúng ta phải thích nghi và chấp nhận môi trường, sở thích của bạn đọc chứ? Chúng ta không thể chỉ có lý tưởng, mà còn cần phải thực tế một chút ông chủ ạ! - Clark lại cố bám víu ý nghĩ của mình.
Edward hỏi vặn:
- Anh muốn nói rằng chúng ta không thể điều hành thành công tờ báo của chúng ta nếu chúng ta áp dụng nguyên tắc Cơ Đốc một cách đúng đắn phải không?
- Đúng vậy, thưa ông! Chúng ta không thể đem nguyên tắc Cơ Đốc giáo áp dụng, thí điểm vào công việc của chúng ta được. Chúng ta sẽ đi đến phá sản trong vòng ba mươi ngày cho mà xem!
Edward mím môi, yên lặng. Sau một thoáng đắn đo, ông đứng lên, nhún vai:
- Clark! Tôi nghĩ khi nào chúng ta hiểu được nhau một cách thành thật thì hãy trò chuyện với nhau về vấn đề này lần nữa. Tôi đã hứa nguyện với lòng mình, với Thiên Chúa rằng trong vòng một năm, tôi sẽ chỉ làm mọi việc có liên quan đến tờ báo của chúng ta sau khi tôi đặt câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” đối với công việc đó và trả lời được câu hỏi ấy. Tôi tin chắc nếu chúng ta thực hiện được như thế thì chúng ta sẽ thành công bội phần so với công việc chúng ta đã từng làm.
- Thôi, thôi! Tôi nhức đầu quá! Tôi muốn hỏi ông chủ lần cuối cùng là ông nhất định không đăng bài tường thuật nữa phải không? - Clark bực tức dằn từng tiếng.
Edward vẫn giọng nhỏ nhẹ nhưng cương quyết:
- Ừ, không đăng, nhất định không đăng. Anh hãy chọn những bài khác có giá trị đăng thế vào đó. Anh đã chọn được bài nào khác chưa?
- Vậy ông chủ có định đăng nhắn vài lời cáo lỗi trên góc trang báo nói về việc loại bỏ hoặc thiếu sót bài phóng sự ấy không? - Clark ngần ngừ, tỏ ý tiếc rẻ.
- Không nhắn gì cả. Cứ làm như vô tình vậy!
- Hừ!... Clark lại bực tức, thở dài, bỏ ra khỏi phòng. Anh ta đang bị chấn động tinh thần. Sự kinh ngạc, sự bối rối, sự bực tức và sự giận dữ dồn nén, lẫn lộn dâng trào khiến cho khuôn mặt Clark đỏ nhừ. Anh ta có cảm tưởng như sắp phải trút bỏ mọi sự nghiệp, tình cảm.. v.v... Clark cảm thấy căm ghét Edward. “Tại sao ông chủ của mình lại ngông cuồng đến thế?” Clark tự nhủ trong sự bực bội ghê gớm. Nhưng lòngï kính trọng của Clark đối với Edward đã giúp cho anh ta dịu bớt cơn giận. Đồng thời, anh ta cảm nhận một điều gì đó rất kỳ lạ đang dâng lên trong lòng mình mà anh không phân tích được.
Về phía các phóng viên khác, những thợ in và công nhân làm việc trong toà soạn và nơi xưởng in đều ngạc nhiên vô cùng khi biết tin ông chủ của họ chủ trương bãi bỏ tin phóng sự về trận đấu quyền anh vừa rồi. Sau giờ nghỉ trưa, Edward dạo qua một vòng nơi xưởng sắp chữ xem xét công việc, mọi người trong xưởng im lặng nhìn ông bằng ánh mắt tò mò và khó hiểu. Edward biết mọi người đang quan sát mình nhưng ông tỏ vẻ phớt lờ, không nói gì. Ông đang suy nghĩ đến quyết định vừa rồi của mình và sẵn sàng chờ đợi kết quả hoặc hậu quả của nó. Ông tỏ vẻ bỏ ngoài tai mình những lời bàn tán của mọi người trong toà soạn, nhưng thực tâm ông đang phải chịu tiếp nhận những lời ra tiếng vào đó một cách bất đắc dĩ.
Bốn giờ chiều ngày hôm đó, tờ “Tin Tức Hằng Ngày” được phát hành. Mọi người nơi khách sạn, công ty, các cửa hàng ở dọc các phố tranh nhau mua báo. Những đứa trẻ bán báo lại theo thói quen ôm hàng xấp báo dày cộm chạy lăng xăng đến những chỗ đông người gân cổ lên rao loạn xị:
- Báo mới đây! Báo mới đây! “Tin Tức Hằng Ngày” đây! Trận đấu quyền anh quyết liệt có cá độ ở Resort được tường thuật đầy đủ, ly kỳ, hấp dẫn. Xin mua vô, mua vô!
Một ông khách giàu có dừng chân bên đại lộ gọi thằng nhỏ bán báo lại, mua một tờ báo, vội vã lật ra trang sau tìm kiếm. Cậu bé bán báo vụt chạy đi nhưng bị ông khách ấy gọi giật lại, giận dữ:
- Ê! Thằng nhỏ! Mày dám gạt tao ư? Bài tường thuật trận đấu quyền anh đâu nào? Đồ ba xạo!
Ông ta kéo tai thằng nhỏ.
- Mày dám bán báo cũ cho tao phải không nhóc ranh? Mày định chơi trò lừa đảo tao à?
- Dạ không! Không! Không phải báo cũ đâu ông ơi! Báo mới đấy chứ ạ! Báo mới ra ngay chiều nay mà!
Cậu nhỏ bán báo sợ xanh mặt nhưng vẫn cố thanh minh.
- Báo mới tại sao không có đăng bài tường thuật trận đấu quyền anh? Hử?
Ông khách rít qua kẽ răng lộ sự bực tức cao độ, có lẽ ông ta đang nóng lòng muốn biết kết cuộc vụ cá cược của trận đấu. Ông ta ném trả tờ báo lại cho cậu bé và bỏ đi.
Một cậu bé khác chạy vụt ngang, tay ôm chồng báo còn thơm mùi giấy, hớt hải hỏi bạn nó - cậu bé khi nãy:
- Ê! Sam! Sao kỳ vầy nè? Mày đưa tao xem một tờ báo mới của mày thử?
Vừa nói, nó giật vội một tờ báo từ tay cậu bé Sam và đọc những hàng tít lớn trên trang báo. Nó vội la lên:
- Nè Sam! Tao tưởng họ in sót một vài tờ báo mà tao đang giữ mà thôi. Ai dè, báo của mày cũng thế. Tại sao một cái tin nóng hổi như vậy mà người ta không chịu đăng nhỉ?... Mày biết không? Hồi nãy tao rao bừa là báo có đăng tin trận đấu quyền anh, nhưng thực sự tờ báo lại không đăng tin ấy mày à, tao vừa bị ăn một tát tai xong!
- Còn tao thì vừa bị ông khách kia nhéo tai, tức ơi là tức!
Giữa lúc hai cậu bé bán báo còn đang loay hoay dò xem những tờ báo còn lại để đối chiếu xem thử có phải tin ấy bị in sót thực sự không, thì có một người đàn ông đứng tuổi vội vã đến trước mặt hai cậu bé, nói lớn:
- Này nhóc, bán cho ông một tờ báo, nhớ là báo mới nha!
Vừa nói, ông ta vừa tự cầm lấy một tờ “Tin Tức Hằng Ngày” từ cậu bé Sam. Ông ta lật nhanh trang sau, tìm kiếm, bỗng ông ta giận dữ quẳng tờ báo trả lại cho đứa trẻ bán báo, trừng mắt:
- Đưa cho tao một tờ khác! Tao đâu cần đọc báo cũ! Tao muốn biết kết quả của cuộc cá độ trận đấu quyền anh vừa rồi.
- Thưa ông! Báo mới đấy chứ ạ! Có điều là chẳng biết làm sao mà họ in sót tin ấy.
Thằng bé bán báo trả lời vội vàng và chạy vụt đi. Nó chạy thẳng đến toà soạn báo “Tin Tức Hằng Ngày”. Ở đó cũng đã có mặt nhiều đứa trẻ bán báo khác nữa. Cả thảy chúng nó đều đang náo động và giận dữ. Nhiều tiếng chửi thề từ phía bọn trẻ ném vào người thư ký đang ngồi trong văn phòng phát hành. Anh ta đã từng phải chịu nghe và chứng kiến những cảnh ồn ào, chửi bới hàng ngày nên chẳng lạ gì cảnh này. Sau lưng anh ta có tiếng bước chân, ông chủ bút toà soạn đang xuống cầu thang.
- Chuyện gì mà ồn ào dữ vậy anh George?
Ông chủ bút hỏi anh thư ký toà soạn.
- Bọn trẻ bán báo không bán được vì lý do báo thiếu bài phóng sự về trận đấu quyền anh vừa rồi. Chúng nó còn bị khách hàng cho ăn đòn nữa, chúng đem báo trả lại cho toà soạn và chửi bới tùm lum...
- Các cháu à! Xin chớ nổi giận! Hãy mau đếm xem mỗi cháu còn bao nhiêu tờ báo, tôi sẽ mua hết và trả tiền sòng phẳng cho các cháu!
Edward nhũn nhặn đề nghị lũ trẻ bán báo đang la ó nhặng xị.
Mấy cậu bé bán báo ngạc nhiên há hốc miệng, lặng thinh nhìn chăm chăm vào ông chủ bút toà soạn. Chúng nó không hiểu nổi tại sao ông ấy cho in ra rồi lại bỏ tiền mua tất cả báo đó. Chúng nó thì thầm với nhau: “Hoạ chăng ông chủ bút này bị bệnh tâm thần?”
- Này, anh George! Hãy mua tất cả các tờ báo và trả tiền đầy đủ cho các cháu. Hãy lấy tiền toà soạn trả đi nhé! Tôi sẽ hoàn lại số tiền ấy cho toà soạn sau. Hoặc lát nữa có cháu nào đến trả lại báo thì anh cũng hãy nhận và trả lại tiền cho cháu ấy!
- Thưa vâng!
George gật đầu, nhìn ông chủ bút, lại vừa đảo mắt quan sát tất cả bọn trẻ bán báo.
Edward đến gần một bé gái bán báo:
- Tôi làm điều này có công bằng chưa nhỉ?
- Dạ, rất công bằng, thưa ông! - Cô bé trả lời một cách sợ sệt.
- Thưa ông, tôi không biết ông sẽ hành động như thế này cho đến lúc nào mới thôi? Sao ông không nghĩ đến việc làm gây quỹ phúc lợi cho Hội sinh viên Đại học thì ích hơn không?
Anh thư ký toà soạn thắc mắc, mỉa mai hỏi ông chủ bút. Nhưng Edward chỉ yên lặng và cười nhẹ nhàng.
Mười lăm phút sau, Edward rời văn phòng. Trên đường về nhà, ông ta thấy trong đầu mình lởn vởn câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm việc đó như mình đã làm không?”. Ông nhớ lại tất cả mọi hình ảnh và lời hứa nguyện của mình đối với Chúa vào Chúa nhật tuần trước.
Edward là một người giàu có. Ông sẵn sàng bỏ ra một số tiền để mua lại tất cả những số báo mà bọn trẻ bán không được, giúp cho chúng bớt đi sự thiếu thốn trong cuộc sống. Edward đã làm được điều này một cách bình thản vì ông đã đặt câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” với vấn đề này. Ông tin tưởng rằng Chúa Giê-xu cũng sẽ làm như ông đã làm mà thôi. Chắc chắn sẽ không ai cho rằng ông bất công. Ông thầm nghĩ như thế. Ông rất thoả lòng khi thấy mình đang từng bước thực hiện lời hứa nguyện của mình với Chúa Giê-xu.

Chương 4
Suốt tuần lễ này, ông chủ bút toà soạn tờ “Tin Tức Hằng Ngày” liên tiếp nhận những bức thư của độc giả phản ánh xung quanh vấn đề thiếu sót bài tường thuật trận đấu quyền anh. Trong đó, có một số bức thư buộc Edward phải chú ý đến nó, trước tiên là bức thư ngắn của chủ bút một tờ báo khác.
“Thân gởi ông chủ bút tờ ‘Tin Tức Hằng Ngày’!
Cùng là đồng nghiệp, tôi thành thực khuyên ông không nên có những hành động kỳ dị như vậy. Tại sao ông lại từ chối đăng bài tường thuật trận tranh tài nổi tiếng ở Resort? Tôi hi vọng từ nay trở đi, tờ ‘Tin Tức Hằng Ngày’ của ông sẽ không tái diễn tình trạng này nữa mà nó sẽ là tờ báo luôn theo kịp thời gian, tiến bộ và kịp thời cung cấp đầy đủ mọi tin tức cho độc giả. Được chứ ông bạn thân mến của tôi?
Chào thân ái.”
Kế đó là bưc thư của một nhà kinh doanh nổi tiếng ở ngoại ô thành phố Raymond. Ông ta là độc giả mua báo dài hạn của báo “Tin Tức Hằng Ngày” trong nhiều năm qua:
“Thưa ông Edward Norman!
Ông định trút đổ một chấn động tinh thần nào đó của riêng ông lên đầu quần chúng nhân dân ở thành phố Raymond này và các độc giả của báo ông sao? Nếu không, tại sao ông lại có hành động kỳ quặc như thế? Tôi hi vọng rằng ông không có ý định thử ‘cải cách công tác’ qua phương tiện báo chí chứ? Ông sẽ thất bại ê chề nếu ông cứ tiếp tục thí nghiệm những điều như vậy trên báo chí. Ông hãy chấp nhận ý kiến của tôi, hãy quay trở lại những phương pháp mà ông đã áp dụng cho tờ báo của ông từ bấy lâu nay. Đừng gây sự ồn ào vô ích như vậy ông ạ! Người ta sẽ cười về hành động vừa rồi của ông đấy, ông chủ bút thân mến! Hãy để tờ báo của ông tiếp tục thành công như nó từng thành công trước đây vậy. Tờ báo của ông phải kịp cung cấp những tin tức sốt dẻo cho quần chúng mỗi ngày thì mới xứng đáng với cái tên của nó chứ? Như trận đấu quyền anh ở Resort vừa rồi chẳng hạn. Ông Edward ạ! Hãy cho người khác cái mà họ muốn và hãy nhường công việc ‘cải cách công tác’ của ông cho những người chuyên môn.
Thân ái”
Ông Edward cũng có nhận được cả thư của Mục sư Henry Maxwell nữa. Đây là lá thư duy nhất động viên và khích lệ hành động vừa rồi của ông:
“Ông Edward thân mến!
Tôi xin chúc mừng về bằng chứng mà ông đang thi hành về lời hứa nguyện của ông. Đó là một sự khởi đầu rực rỡ và không một ai cảm thấy giá trị của nó hơn là tôi. Tôi biết ông sẽ phải trả một giá rất đắt nhưng không phải là tất cả. Hãy cố gắng lên, dũng cảm lên ông Edward nhé! Tôi vẫn thường và sẽ luôn cầu nguyện cho ông.
Mục sư của ông,
Henry Maxwell.”
Dù vậy, ông chủ bút vẫn gặp sự đe dọa về sự lỗ lã trong công việc làm ăn của ông từ một bức thư của chủ một công ty trách nhiệm hữu hạn về các mặt hàng điện tử. Ông mở ra và đọc ngay tức khắc:
“Kính gởi ông chủ bút tờ ‘Tin Tức Hằng Ngày’!
Thưa ông! Khi hết thời hạn quảng cáo của công ty tôi, xin ông hãy vui lòng đừng tiếp tục nó nữa! Báo của ông tuần này không có người mua. Tôi e rằng phần quảng cáo cho công ty tôi sẽ không đến được với quý bạn đọc như tôi mong muốn. Tôi xin gởi kèm theo thư đây chi phiếu để trả đầy đủ cho thời gian quảng cáo vừa rồi. Và coi như hợp đồng của tôi với quý báo sẽ chấm dứt sau ngày đó.
Chào thân ái,
Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Electron.”
Ông Edward đặt bức thư xuống bàn một cách chậm chạp. Ông sắp mất một mối làm ăn lớn. Có lẽ điều này sẽ làm cho dư luận thêm ồn ào. Ông bóc tiếp bức thư của một ông chủ nhà máy thuốc lá lớn nhất thành phố Raymond. Tay trùm sản xuất thuốc lá này lại xin rút mục quảng cáo thuốc lá trên tờ “Tin Tức Hằng Ngày”.
Ông chủ bút xếp những bức thư lại một cách ngay ngắn. Ông ngồi trầm ngâm, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt lên bàn. Ông liếc nhìn cột quảng cáo trên tờ báo. Trong những mục quảng cáo thì phần quảng cáo thuốc lá này được trả chi phí cao nhất. Bây giờ ông ta không hợp đồng quảng cáo nữa, coi như một nguồn lợi cho tờ “Tin Tức Hằng Ngày” đi tong!
Chợt có một điều thôi thúc lạ lùng trong tâm trí khiến ông phải chú ý kỹ hơn đến toàn bộ trang quảng cáo trên tờ báo. Những hàng tít lớn quảng cáo cho rượu mạnh, xì gà đầu lọc v.v... đập vào mắt ông, ông cảm thấy chột dạ và có lỗi với Chúa Giê-xu. Một câu hỏi xoáy vào trong tâm trí ông: “Chúa Giê-xu có bằng lòng khi tôi đăng tải những mục quảng cáo đó không?” Và lập tức câu trả lời phát ra từ trong sâu thẳm của lương tâm ông: “Không bao giờ, không đời nào Chúa Giê-xu lại làm điều ấy!”
Edward cảm thấy một sự cáo trách trong lòng. Vốn là một tín đồ Cơ Đốc hầu việc cho Chúa Giê-xu, ông lại đi quảng cáo những loại mặt hàng ma men như vậy thì làm sao ông xứng đáng là công dân nhà Chúa nữa. Chúa sẽ buồn lòng khi con cái của Ngài lại đi tiếp tay cho kẻ khác tham dự vào hành vi tội lỗi. Tuy vậy, từ hồi nào đến giờ ít thấy những con cái Chúa phản đối việc ấy, vì đó là công việc làm ăn hợp pháp của giới doanh thương ở thành phố Raymond văn minh và có đông tín đồ Cơ Đốc. Chẳng hiểu sao ở thành phố này lại tỏ ra dễ dãi trong việc cấp giấy phép cho các nhà sản xuất và kinh doanh rượu bia như vậy. Do đó, tờ “Tin Tức Hằng Ngày” của ông cũng nằm trong guồng máy hoạt động tự do như thế, và mục quảng cáo trên tờ “Tin Tức Hằng Ngày” là nguồn lợi tức dồi dào nhất cho tờ báo. Các nhà kinh doanh có tầm cỡ sẽ cạnh tranh, đua nhau chịu bỏ ra một số tiền lớn để giữ chân mục quảng cáo cho mặt hàng của mình. Điều đó góp phần thúc đẩy việc tiêu thụ nhanh chóng, đem lại lợi nhuận cao cho họ. Bây giờ, họ lại viết thư xin rút lui phần quảng cáo của họ, liệu tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” rồi sẽ ra sao? Nó có còn sống nổi không đây? Đó là vấn đề buộc Edward phải vắt óc suy nghĩ. Nhưng phải chăng đây là câu hỏi cuối cùng cho ông chủ bút? Ông còn phải đối diện với một câu hỏi cần thiết hơn “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trước trang quảng cáo của tờ báo? Edward đang và phải trả lời một cách dứt khoát, hợp lý câu hỏi thứ ba trong tuần lễ này. Nếu Chúa Giê-xu là chủ bút tờ “Tin Tức Hằng Ngày” như ông, liệu Ngài có cho quảng cáo các loại rượu, thuốc lá trên báo không? “Nếu Ngài không làm điều đó thì chắc chắn mình cũng sẽ không làm. Mình phải theo gương Chúa chứ!” Edward lại tự nhủ.
Edward Norman đã tự vấn mình và cảm thấy bình an, một sự bình an thật. Ông đóng cửa phòng lại, quỳ xuống cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ và tiếp tục dẫn dắt ông , ban sự khôn ngoan cho ông để xử lý công việc một cách ổn thoả.
Sau đó, Edward gọi người điều hành ban biên tập vào văn phòng của mình.
- Clark! Tôi đã xem xét những mục trên trang quảng cáo và quyết định: chúng ta không cần thực hiện trang quảng cáo như thế nữa! Anh hãy thông báo cho nhân viên chịu trách nhiệm khâu quảng cáo ngưng công việc và không được nhận thêm hay tái gia hạn những hợp đồng quảng cáo mà tôi đã đánh dấu ở đây! - Ông chủ bút nói chậm rãi nhưng cương quyết.
- Có nghĩa là... chúng ta dẹp luôn trang quảng cáo?
Clark càng kinh ngạc hơn cả lúc trò chuyện với ông chủ bút hôm thứ hai vừa qua.
- Đúng thế! Anh bình tĩnh nghe tôi nói đây! Anh thử nghĩ giùm tôi. Nếu chủ bút tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” này là Chúa Giê-xu thì liệu Ngài có cho phép đăng quảng cáo rượu Whisky, thuốc lá, v.v.. không?
- Thưa ông, không, không bao giờ Chúa Giê-xu làm điều ấy đâu ạ! Nhưng điều đó thì liên quan gì đến chúng ta và công việc của chúng ta cơ chứ? Chúng ta không thể nào hành động như Ngài được trong vấn đề báo chí của chúng ta. Tại sao ông lại đem áp dụng những nguyên tắc như thế vào trong báo chí nhỉ? Thật là ngớ ngẩn. Tôi nghĩ là ông không nên làm thế. Không nên đâu ông ạ! - Clark nói gần như hét lên vì tức tối.
Edward hỏi nhỏ nhẹ:
- Tại sao lại không nên?
- Tại sao à? Ông thừa sức biết điều đó. Chúng ta sẽ đánh mất những nguồn lợi béo bở từ mục quảng cáo. Tờ báo chúng ta chắc chắn sẽ bị phá sản vì một đường lối làm ăn kỳ quặc đáng cười của ông. Ông chết đói thì mặc xác ông vì ông gây ra sự phá sản này, nhưng còn chúng tôi? Ông cũng định kéo chúng tôi cùng chết đói với ông luôn hay sao?
Càng nói Clark càng tức giận cao độ.
- Thật tình tôi không hiểu nổi ông, tôi không hiểu nổi ý định lạ đời của ông, chẳng khác nào một người bị tâm thần ông chủ ạ!
- Clark! Anh lại suy nghĩ như thế sao?
Edward buột miệng hỏi một câu mà ông không chờ đợi trả lời. Ông cảm thấy như đang hỏi chính mình. Ngừng một lát, Edward nói tiếp:
- Tôi nghĩ rằng Chúa Giê-xu sẽ làm như thế. Vả lại, tôi đã nói với anh rồi, tôi sẽ thực hiện lời hứa nguyện của tôi đối với Thiên Chúa, rằng tôi sẽ làm việc gì bất luận sau khi tôi suy xét “Chúa Giê-xu sẽ làm gì” với công việc đó. Nếu Chúa Giê-xu không làm công việc đó thì ắt hẳn tôi cũng sẽ không dám làm. Chẳng hạn như việc quảng cáo trên báo về các mặt hàng rượu, thuốc lá,....
- Thếù ông cho rằng khi đăng tải các mục quảng cáo đó là chúng ta phạm tội với Chúa à?
- Sẽ là như vậy nếu chúng ta đồng tình với việc quảng cáo các mặt hàng ma men ấy.
- Còn quảng cáo các mặt hàng khác thì sao?
- Chúng ta phải nghiên cứu, thận trọng xem nó có tổn hại đến người khác không và nhất là nó có làm vinh hiển cho nhà Chúa không, sau đó mới đăng.
- Nếu như nó không làm vinh hiển nhà Chúa như ông muốn?
- Thì dẹp luôn! - Edward trả lời không ngần ngại.
Nghe câu trả lời thẳng thắn của ông chủ, Clark bực bội nhưng đành im lặng, bỏ về phòng làm việc của mình. “Tại sao ông chủ lại cố gắng phấn đấu cho một lý tưởng ngu xuẩn vậy nhỉ? Thật là quái gở!” Clark lại lẩm bẩm một mình. Anh ta đang lo sợ tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” sẽ đóng cửa nếu như tiêu chuẩn và lý tưởng kỳ quặc kia của ông chủ bút được mọi người trong toà soạn chấp nhận. “Đó là một sự ngu ngốc, điên rồ chưa từng thấy!” Anh ta tiếp tục lằm bằm: “Hay là mình chuyển đến làm cho báo khác nhỉ?” Clark suy nghĩ, đắn đo.
Đối với Edward, ông vẫn tỏ ra bình thản với công việc. Người ta để ý thấy ông thường xuyên làm một việc mà trước đây chẳng bao giờ họ thấy cả: cầu nguyện. Ông đang kêu cầu khẩn thiết, xin Chúa dẫn dắt ông tiếp tục công việc Chúa muốn, giúp ông có kế hoạch, chương trình mới cho tờ báo. Sau những thì giờ cầu nguyện, ông thường tỏ ra trầm lặng. Ông đang đối diện với một nan đề nữa: có nên tiếp tục cho phát hành báo vào Chúa nhật hay không?
Ở Raymond, duy nhất chỉ có toà soạn của Edward là phát hành báo vào Chúa nhật nên rất ăn khách. Báo được tiêu thụ vào Chúa nhật gấp ba, gấp bốn lần các ngày khác. Cả người dân ngoại đạo lẫn tín đồ Cơ Đốc, cả công nhân lẫn giới trí thức ở Raymond đều rất ưa chuộng tờ “Tin Tức Hằng Ngày” phát hành mỗi Chúa nhật. Vì đó là ngày nghỉ của họ, họ cần giải trí chút đỉnh với báo chí, trong khi đó các tờ báo khác đều nghỉ việc vào Chúa nhật nên buộc họ phải mua tờ “Tin Tức Hằng Ngày”. Báo vào Chúa nhật bán đắt như tôm tươi, lợi nhuận thu được khá cao cho toà soạn. Thế nhưng, bây giờ ông Edward lại vụt ra một suy nghĩ: “Chúa nhật là ngày nghỉ của Chúa, là ngày Thánh. Liệu Chúa Giê-xu có đồng ý cho phát hành báo vào Chúa nhật không?”. “Tại sao mình đọc thuộc nằm lòng mười điều răn của Chúa:.......Hãy lấy ngày nghỉ đặng làm nên ngày Thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi đều chớ làm công việc chi hết...” nhưng mình lại không thực hiện? Chẳng lẽ lý thuyết của mình một đàng hành động của mình một nẻo sao? Edward lại tự chất vấn mình.
Còn nếu ông thực hiện đúng như lời Chúa mà ông đã ý thức được cho chính mình, thì có nghĩa là tờ “Tin Tức Hằng Ngày” ngưng hoạt động Chúa nhật, toà soạn của ông sẽ chịu lỗ lã hàng ngàn Mỹ kim. Hơn nữa, các độc giả mua báo dài hạn đã đặt tiền trước cho số báo đủ bảy ngày một tuần, bây giờ, ông lấy lý gì mà chỉ giao cho họ số báo của sáu ngày mà thôi? Họ sẽ phản đối và gây náo động lên cho mà xem. Edward thật sự cảm thấy rối trí về vấn đề này. Ông suy nghĩ mãi, đắn đo mãi và cuối cùng ông vẫn không dám thực hiện ý định. Tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” Chúa nhật vẫn được phát hành như thường lệ. Đây là lần đầu tiên ông cảm nhận được rằng ông đã từ chối một bước dẫn dắt của Chúa Giê-xu, ông cảm thấy áy náy vô cùng. Đối với tờ “Tin Tức Hằng Ngày” chính ông là người uốn nắn nó và chịu trách nhiệm hoàn toàn. Ngoài ra, không có ban chủ nhiệm tham khảo ý kiến gì cả. Nếu có vấn đề gì thì ông tự mời nhân viên và phóng viên họp rồi triển khai công việc. Những buổi họp không định kỳ, chỉ tuỳ vào kế hoạch của ông chủ bút mà thôi.
Nhưng chiều nay, ông chủ bút quyết định tổ chức phiên họp mời tất cả mọi người làm việc trong toà soạn đến dự. Ông dự định sẽ nói thẳng ra giữa cuộc họp về động cơ và mục đích hành động của ông. Cuộc họp được tổ chức tại phòng văn thư. Trên khuôn mặt mọi người đều lộ vẻ tò mò, họ đang hướng về phía ông chủ bút và chờ đợi.
- Thưa tất cả các bạn! - Edward vào đề ngay - Tôi mời các bạn đến đây để biết rõ hơn về những kế hoạch của tôi thực hiện trên tờ “Tin Tức Hằng Ngày”. Tôi đề nghị cần có một vài thay đổi cho tờ báo mà tôi nghĩ là nó rất cần thiết. Tôi biết rằng có nhiều người ngạc nhiên và thậm chí phản đối về những việc mà tôi đã làm. Hôm nay, tôi muốn bày tỏ cho các bạn biết động cơ nào đã thúc đẩy tôi làm như vậy. Tôi đã nói điều ấy với Clark rồi! Và bây giờ, tôi sẽ nói cho các bạn đây!
Mọi người nhìn nhau dò hỏi và sau đó đổ dồn ánh mắt về phía Edward.
- Như thế này các bạn ạ!
Ông chủ bút đan hai tay vào nhau, tựa trên hai đầu gối.
- Tôi đã quyết định cho tờ “Tin Tức Hằng Ngày” của chúng ta sẽ ngưng phát hành vào mỗi Chúa nhật. Bắt đầu thực hiện kể từ sau Chúa nhật tới! Trong số báo phát hành Chúa nhật tới, tôi sẽ dành phần trang nói rõ lý do vì sao toà soạn sẽ ngưng phát hành báo vào những Chúa nhật sau đó. Để đền bù lại cho những độc giả đã đặt mua báo dài hạn kể cả Chúa nhật, chúng ta sẽ phát hành số lượng báo gấp đôi của ngày thứ bảy giống như một số báo của các toà soạn khác phát hành buổi chiều thường nhật nhưng không phát hành vào Chúa nhật. Tôi xin cam đoan với các bạn rằng: Đúng theo quan điểm Cơ Đốc, thì việc phát hành báo vào Chúa nhật là một điều chẳng đúng và chẳng ích lợi tí nào, thậm chí còn tai hại nữa là đằng khác.
Thử hỏi Chúa Giê-xu có vui lòng cho chúng ta phát hành báo vào ngày nghỉ của Thượng Đế không? Chắc chắn là Ngài không vui lòng rồi! Nếu Ngài ở địa vị tôi, Ngài sẽ không để cho toà soạn phát hành báo vào Chúa nhật đâu! Ngài không làm bất cứ điều gì thì tôi ắt cũng sẽ không thể làm bất cứ điều đó.
Tôi biết điều này sẽ gây chấn động với các công ty, các nhà quảng cáo cùng những độc giả mua báo dài hạn. Chính bản thân tôi cũng sẽ bắt đầu đón nhận sự lỗ lã trong công việc. Còn các bạn, cứ yên tâm với công việc của mình, lương hướng các bạn vẫn không có gì thay đổi. Tôi sẽ trả đủ cho các bạn như mọi lần. Các bạn yên tâm chứ?
Ông chủ bút lắng giọng và nhìn khắp lượt những người trong phòng. Mọi người yên lặng, không ai nói với ai một lời. Ông Edward cảm thấy sống mũi cay cay. Ông xúc động khi thấy mọi người không tỏ ý gì phản đối ông trong lúc này. Dầu vậy, ông vẫn cảm thấy sợ một điều: mọi người hoang mang về công việc ông làm nhưng chưa tiện nói thẳng với ông. Cũng có thể như vậy lắm chứ.
Ngay lúc đó, Clark đi vào phòng trước sự ngạc nhiên của mọi người. Anh xin nói chuyện nghiêm túc với Edward. Giọng nói phẫn nộ của anh ta chứng tỏ anh đang bị kích động và hoang mang tột độ. Anh xin từ chức. Về phần Edward, ông rất thận trọng và lựa lời để trả lời với Clark. Ông cảm thấy đau đớn trong lòng khi nhìn thấy gương mặt đỏ gay giận dữ của Clark. Ông cố gắng lý giải một cách kiên nhẫn để Clark có thể hiểu ông. Ông tự nhủ trong lòng: “Bằng bất cứ giá nào, mình cũng phải làm công việc giống như Chúa làm”. Ông rất sợ Clark bỏ việc vì Clark là một cộng sự đắc lực của ông. Anh ta có rất nhiều công sức đối với tờ “Tin Tức Hằng Ngày” của ông. Tuy vậy, ông vẫn cố gắng hết sức để thuyết phục Clark nhất trí với quyết định của mình chứ ông không thể làm khác được. Thình lình, chợt có điều gì đó hiện diện trong ông khiến ông vững tâm. Ông cảm nhận đựơc sức mạnh kỳ lạ đang thâm nhập vào tâm trí ông, giúp ông thêm quyết tâm. Clark nhìn ông chằm chằm, gằn giọng:
- Thưa ông chủ, chắc chắn ông sẽ phá sản tờ báo chỉ trong vòng ba mươi ngày cho mà xem! Và nếu tờ báo bị phá sản thực sự chỉ bởi những ý nghĩ ngông cuồng của riêng ông thì điều đó quá vô lý và quá oan ức đối với chúng tôi! Tại sao không có ý nghĩ xây dựng mà lại bày vẽ ra ý định phá hoại là sao nhỉ? Tôi thực không hiểu nổi ông!
- Hãy bình tĩnh, Clark. Cậu nóng nảy quá! - Edward vẫn một mực ôn tồn thuyết phục.
- Tôi không nghĩ chúng ta sẽ như vậy. Tình hình sẽ ổn thôi mà, anh bạn trẻ!
Đột nhiên, ông chủ bút quay sang nhìn thẳng vào mắt Clark và hỏi với một nụ cười lạ lùng:
- Thế anh có định ở lại bên cạnh tờ “Tin Tức Hằng Ngày” cho đến khi nó bị phá sản không? Anh có can đảm ở lại không?
- Ông Edward, xin ông đừng đùa. Tôi không hiểu nổi ông nữa rồi. Tôi nghĩ là ông nên đi nghỉ mát vì thần kinh ông căng thẳng quá nên sinh bịnh chăng? Tôi không ngờ ông thay đổi nhanh như thế! Tôi quá thất vọng về ông! - Clark nhăn nhó một cách đau khổ.
- Tôi cũng chẳng hiểu nổi tôi nữa, Clark ạ! Nhưng có một điều chắc chắn: tôi sẽ thực hiện quyết định ngưng phát hành báo vào Chúa nhật như tôi đã nói. Còn anh, anh vẫn chưa chịu trả lời tôi: anh sẽ ở lại với tờ báo chứ?
Clark cúi đầu suy nghĩ một lát và gật đầu đồng ý. Edward tiến sát tới bắt tay anh ta và vội vã quay về bàn làm việc. Mọi người trong phòng họp lần lượt đứng dậy trở về nơi làm việc của mình, vừa đi họ vừa bàn tán xì xào.

Chương 5
Sáng Chúa nhật mới lại đến với Raymond. Nhà thờ đông nghẹt người. Trước giờ thờ phượng, mọi người đổ dồn sự chú ý vào ông chủ bút tờ “Tin Tức Hằng Ngày”. Ông ta đang ngồi yên lặng tại hàng ghế thứ ba phía toà giảng. Số báo phát hành vào Chúa nhật của tờ “Tin Tức Hằng Ngày” có thông báo chính thức lý do ngưng phát hành với những lời lẽ quan trọng khiến độc giả xúc động. Từ trước đến giờ người ta chưa từng gặp một trường hợp nào gây xáo trộn mọi người trong lĩnh vực doanh thương ở thành phố Raymond này như thế. Mọi người bàn tán xì xào về những biến cố đã xảy ra trong tuần vừa rồi. Chuông reng báo giờ thờ phượng bắt đầu. Mọi tiếng bàn tán nhỏ dần và im lặng hẳn. Buổi thờ phượng được tiến hành trong bầu không khí phấn khích. Mục sư Henry tỏ thái độ thật điềm đạm khi quan sát toàn thể Hội thánh. Lời cầu nguyện khai lễ của ông ngọt ngào, gây cảm động mọi người. Bài giảng của ông lại toát lên một linh lực mạnh mẽ, cuốn hút Hội thánh.
Suốt tuần vừa qua, ông đã cầu nguyện nhiều với Chúa, quay quanh những câu hỏi khiến ông nôn nóng: “Chúa Giê-xu sẽ giảng như thế nào? Chúa có thể nói gì cho Hội thánh?” Có một điều ông cảm nhận được một cách rõ ràng là sáng nay ông không giảng với sự cố gắng nỗ lực của chính ông như những lần giảng trước đây.
Ông nhớ lại thứ ba tuần rồi, ông đã đứng bên cạnh ngôi mộ của người đàn ông tứ cố vô thân xấu số nọ, nói những lời này: “Đất trở về đất, bụi tro trở về bụi tro. Cát bụi trở về với cát bụi!” Ngay lúc đó, ông có cảm nhận sức lực mới của Đức Thánh Linh đang đầy tràn trong ông, thúc giục ông mạnh mẽ rao truyền sứ điệp của Chúa cho Hội thánh theo sự cho phép của Đức Thánh Linh.
Thế rồi sáng nay, ông đã bứơc lên toà giảng với tinh thần sẵn sàng chờ đợi sự làm việc của Đức Thánh Linh. Bởi sự cảm động của Thần Đức Chúa Trời, Mục sư Henry đã mạnh dạn dùng lời Chúa quở trách về những tội lỗi và những khuôn mẫu đạo đức giả, những ham muốn giàu sang nhưng lại ích kỷ của những người mang danh là tín đồ Đấng Christ mà vẫn còn vướng phải.
Hội thánh Tin Lành Raymond từ trước đến giờ chưa bao giờ có một buổi thờ phượng mà trong giờ giảng luận lại có sự quở trách nặng nề như bữa nay. Mặc dầu nhận lấy sự quở trách đó nhưng mọi người lại cảm nhận được sức lực mới và tràn ngập tình yêu thương trong lòng. Có một số người thì thầm với nhau rằng: “Bài giảng hôm nay thực sự có Đức Thánh Linh cảm động”. Điều này họ đã nói đúng, Đức Thánh Linh đang hiện diện trên toàn Hội thánh.
Bài giảng của Henry được chấm dứt bởi giọng hát kêu gọi truyền cảm của Rachel. Mọi người cảm thấy tâm hồn được yên ủi và rung động về tình yêu sâu xa của Cứu Chúa Giê-xu Christ. Mọi người cũng nhận thấy sự thiêng liêng thoát ra từ những lời hát của Rachel.
Trước khi buổi lễ kết thúc, Henry đưa một thông báo nhỏ mời những ai đã ở lại trong Chúa nhật trước với những sự hứa nguyện, thì hôm nay cũng ở lại để hội ý đôi điều. Kể cả những ai muốn tỏ sự hứa nguyện của mình nữa thì cũng có thể ở lại để tham gia, tất cả sẽ vào phòng Ban Trị Sự. Buổi nhóm chấm dứt, Mục sư Henry bước thẳng vào phòng Ban Trị Sự. Ông lộ vẻ ngạc nhiên và quá đỗi vui mừng vì trong phòng chật ních người, xuất hiện rất nhiều khuôn mặt mới mà đa số là thanh niên.
Tương tự lần trước, Mục sư Henry yêu cầu mọi người yên lặng hiệp ý với ông trong lời cầu nguyện. Lúc lời cầu nguyện của mục sư vừa cất lên, thình lình có một điều kỳ lạ tràn ngập trong lòng mỗi người. Họ cảm nhận được sự vận hành của Đức Thánh Linh một cách thực sự và rõ ràng.
Sau những phút cầu nguyện của mục sư, mọi người quay sang hỏi thăm về công việc của nhau trong tuần qua. Ông Edward là người được nhiều người hỏi nhất. Ông cũng đã nhờ cậy Chúa giải thích cho mọi người hiểu công việc của ông. Mọi người cảm thấy trong tâm hồn mình chan chứa tình yêu thương anh em hơn bao giờ hết. Họ nhận lãnh được trách nhiệm đối với Chúa và đối với nhau.
- Ông Edward à! Từ bữa ông quyết định cho ngừng phát hành báo vào Chúa nhật, ông thấy kết quả thế nào? - Alexander Powers, người ngồi sát cạnh bên phải của ông Edward trong phòng hội, yên lặng nãy giờ bỗng lên tiếng hỏi.
- Tôi vẫn chưa dám quả quyết kết quả ra sao. Nhưng tôi dự đoán rằng sẽ có khả năng hủy bỏ vĩnh viễn việc mua báo dài hạn và chương trình quảng cáo. Không sớm thì muộn việc đó cũng sẽ xảy ra. Tôi đã nghĩ đến điều đó và sẵn sàng chấp nhận.
- Ông mong đợi điều đó thực sự sao? Ông suy nghĩ kỹ chưa vậy? Ông cho rằng Chúa Giê-xu muốn ông làm điều đó à?
- Vậy tôi xin hỏi ông câu này: giả sử Chúa Giê-xu làm chủ bút như tôi, Ngài sẽ phát hành tờ báo sáng Chúa nhật chớ?
- Tôi nghĩ, Ngài sẽ không bao giờ cho phát hành tờ báo sáng Chúa nhật đâu!
- Vậy thì, tôi xin hỏi ông câu nữa, chúng ta là ai? - Ông Edward hạ thấp giọng.
- Dĩ nhiên chúng ta là con cái của Chúa.
- Thế sao con cái của Ngài lại không bắt chước Ngài? Điều gì Ngài không làm thì con cái của Ngài cũng chớ nên làm. Ý tôi muốn nói nói rằng: chúng ta hãy tỏ sự vâng lời Chúa bằng hành động thiết thực các bạn ạ!
- Ông có nghi ngờ về hành động của ông đã làm không, thưa ông Edward? - Mục sư Henry mỉm cười dò hỏi.
- Thưa mục sư, không ạ!
- Ông chấp nhận sự thiệt thòi, lỗ lã trong công việc làm ăn?
- Vâng! - Edward trả lời Mục sư Henry với một thái độ bình thản lạ lùng.
Sau đó, mọi người yên lặng chừng độ mười phút, rồi Jasper Chase lên tiếng:
- Thưa các bạn, việc chúng ta đang làm liệu có phải là điều Chúa Giê-xu sẽ làm không? Vấn đề không đơn giản như các bạn tưởng đâu! Câu hỏi không dễ dàng trả lời ngay được, phải không các bạn?
- Đúng thế, tôi thấy đó là câu hỏi khó, đòi hỏi phải có sự hi sinh của mỗi người mới có thể trả lời được!
Virginia Page tỏ vẻ đồng tình với Chase. Thực ra, Virginia đang lo lắng về lời hứa nguyện của cô ta đối với Chúa trong Chúa nhật tuần rồi ở tại phòng này. Cô đang đấu tranh tư tưởng gay gắt để quyết định. Cô cảm thấy tiếc khi bỏ ra một triệu đô-la nhằm thực hiện lời hứa nguyện của mình.
Virginia thổ lộ nỗi băn khoăn của mình:
- Tôi đã cầu nguyện với Chúa Giê-xu nhiều lần nhưng tôi vẫn chưa thoả lòng khi bắt tay thực hiện công việc.
- Ý chị muốn nói sao chứ? Chị chưa thoả lòng về điều gì? - Cô Rachel ngồi bên cạnh Virginia vội hỏi.
- Chị cũng biết nếu chúng ta thực hiện lời hứa nguyện thì mặc nhiên chúng ta chấp nhận nguyên tắc “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trước mọi công việc chi phối chúng ta suốt cả cuộc đời. Nếu thực hiện và áp dụng nguyên tắc thiêng liêng đó vào đời sống, liệu tôi có thể ngày càng trở nên giống Chúa Giê-xu không?
- Điều ấy phải được chứng minh dần qua thời gian, cô Virginia thân mến ạ!
Mục sư Henry nãy giờ lắng nghe ý kiến mọi người, bây giờ mới chậm rãi trấn tĩnh cô Virginia, ông động viên cô:
- Cô hãy cầu nguyện xin Chúa ban Đức Thánh Linh dẫn dắt cô từng bước. Tôi cũng sẽ nhớ cầu thay cho cô nữa. Chắc chắn Chúa sẽ giúp đỡ cô. Đừng lo lắng quá Virginia à!
Ngồi phía sau Virginia, Malton Wright đang kể lại cho những người xung quanh nghe về một số kinh nghiệm trong công việc của ông. Ông nói rằng, ông đã dần dần tìm ra được một kế hoạch cho sự quan hệ công tác của ông với các công nhân. Mọi người đều phải cố gắng để thực hiện lời hứa nguyện của mình, đặt ra chỉ tiêu để phấn đấu và thi đua.
Các thanh niên còn lại trong phòng thì đang bàn tán xôn xao về những giải pháp hữu hiệu nhất để thực hiện công việc nhằm đáp ứng câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?”. Hầu hết, họ đều đồng ý rằng: việc sống theo tinh thần của Chúa và áp dụng vào nếp sống hằng ngày của Cơ Đốc nhân là điều quan trọng. Nó đòi hỏi đức tin và sự hiểu biết của mỗi cá nhân đối với Chúa. Đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải nhìn xa thấy rộng về động lực thúc đẩy chúng ta hành động.
Cuộc họp được kết thúc bằng lời cầu nguyện ngắn của Mục sư Henry. Mọi người chia tay nhau và hẹn gặp lại vào Chúa nhật sau. Họ cảm thấy thích thú về cuộc thảo luận trưa nay. Nhất là Edward Norman và Milton Wright, hai người mải mê trò chuyện, bàn tán vấn đề vừa được mọi người đề cập trong buổi họp đến nỗi họ đi quá khu phố họ ở, phải quay xe trở lại. Trong góc phòng hội, vẫn còn một số người nán lại, đó là Mục sư Henry Maxwell và Alexander Powers, ngoài ra còn có Jasper Chase và ông chủ tịch hội Endeavol Society. Họ vẫn còn đang nói chuyện với nhau một cách hăng say.
- Xin mời ông đến thăm xưởng của tôi vào ngày mai và xem kế hoạch của tôi thực hiện, đồng thời mời ông nói chuyện với các công nhân trong xưởng. Tôi nghĩ ông có thể gần gũi được với họ.
- Tôi không dám chắc điều đó, nhưng tôi sẽ cố gắng đến xưởng của ông!
Mục sư Henry trả lời đề nghị của ông Alexander.
Mục sư cảm thấy lo lắng, không biết mình có thực hiện nổi công việc truyền rao một sứ điệp quá mới mẻ cho một số lượng gần ba trăm công nhân như vậy. Liệu họ có chịu nghe ông nói chuyện ấy không? Trong buổi nói chuyện với công nhân của Alexander, Chúa Giê-xu sẽ làm gì? Ngài sẽ nói gì? Thôi, ông sẽ cầu nguyện phó thác cho Chúa. ông tự nhủ như vậy và không lo lắng nữa.
Ngày hôm sau, ông đến xưởng của Alexander. Lúc đó khoảng 12 giờ trưa. Ông gặp Alexander tại phòng làm việc của Ban Quản Đốc. Alexander niềm nở:
- Chào mục sư! Xin mời mục sư lên lầu. Tôi sẽ chỉ cho mục sư thấy điều mà tôi đang cố gắng làm!
Họ đi xuyên qua một xưởng máy, leo lên cầu thang và bước vào một căn phòng khá rộng và trống không. Phòng này đã có lần được công ty sử dụng làm kho chứa hàng.
- Mục sư biết không? Kể từ ngày hứa nguyện với Chúa đến nay, tôi suy nghĩ về nhiều điều lắm.
Ông quản đốc tâm tình.
- Và tôi suy nghĩ nhiều về điều này: tôi sẽ xin công ty cho tôi được sử dụng căn phòng rộng này. Tôi sẽ sửa sang nó lại cho tươm tất và sẽ đặt một bàn máy cà phê trong một góc phòng, đặt thêm một số ống dẫn hơi nước. Đồng thời, tôi sẽ bố trí bàn ghế cho công nhân có thể đến ăn buổi trưa và nghỉ trưa. Khoảng hai hoặc ba tuần, tôi sẽ mở một cuộc thảo luận, sẽ dành cho mỗi công nhân được nói chuyện mười lăm phút về một số đề tài có ích lợi thực tiễn đối với họ trong cuộc sống. Ý mục sư nghĩ thế nào ạ?
Mục sư Henry ngạc nhiên trước sáng kiến của Alexander. ông thăm dò:
- Liệu công nhân của ông sẽ đồng ý đến tham dự những buổi thảo luận, thuyết trình, hoặc nói chuyện như vậy không?
- Vâng, họ sẽ đến. Tôi đã tìm hiểu về công nhân của tôi. Họ không muốn cứ suốt ngày suốt tháng chúi mũi vào công việc. Họ là những người rất thông minh, cũng có rất nhiều người trong số họ vốn là những trí thức. Vì hoàn cảnh nên họ phải chấp nhận làm những công việc chân tay nặng nhọc. Có một điều tôi đang lo lắng, Hội thánh Chúa ít có ảnh hưởng với họ, thậm chí không có nữa là đằng khác. Tôi nghĩ, công nhân ở đây ngoài việc thoả mãn nhu cầu vật chất còn phải có sự thoả mãn về nhu cầu tinh thần nữa. Tôi đã đặt câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” nếu Ngài ở vị trí là một quản đốc như tôi đối với các công nhân ở đây. Tôi nhận được sự thúc giục từ nơi Ngài về việc lập kế hoạch sắp đặt lại căn phòng này. Tôi nhận thấy lương tâm tôi ủng hộ tôi. Trưa nay, công nhân sẽ tụ họp ở đây. Tôi muốn ông nói chuyện với họ.
Mục sư Henry cảm thấy lo sợ cho giây phút gặp gỡ và nói chuyện sắp diễn ra theo yêu cầu của Alexander. Ông chưa chuẩn bị gì cả, một dàn bài tóm tắt ngắn nhất cũng không có trong lúc này. Ông biết rõ một điều: ông sẽ không dễ dàng nói chuyện trôi chảy trước hàng mấy trăm công nhân ngoại đạo xa lạ ở công ty của Alexander như ông thường đứng trước các thính giả quen thuộc ở nhà thờ Raymond vào mỗi sáng Chúa nhật. Ông muốn chùn bước và cảm thấy hổ thẹn.
Tiếng còi báo nghỉ trưa vang lên inh ỏi. Cầu thang vang tiếng chân người. Các công nhân đang dồn lên căn phòng rộng và ngồi vào bàn ăn trưa. Có khoảng ba trăm người. Họ đã đọc tờ thông báo của ông quản đốc được dán khắp nơi nên họ kéo đến đông đảo vì tính hiếu kỳ.
Căn phòng rộng và thoáng, không có khói bụi và dễ chịu nhờ các ống dẫn hơi nước, công nhân tỏ vẻ thích thú chỗ này. Khoảng một giờ sau, ông Alexander bắt đầu buổi nói chuyện. Ông tuyên bố ngắn gọn lý do buổi nói chuyện và giới thiệu Mục sư Henry với họ.
Tập thể công nhân đông đảo mặt mày dính đầy bụi bặm này đã gây cho Mục sư Henry ấn tượng mạnh. Ông chưa bao giờ đứng trước một đám đông người ngoại đạo gồm toàn những người lao động như thế này. Hôm nay, ông trình bày với họ đề tài “Đời sống và sự thoả lòng”. Ông rất cảm tình với những công nhân đang có mặt hôm nay. Ông tránh dùng từ “công nhân” mà chỉ xưng “chúng ta”. Ông cố gắng không làm phật ý thính giả. Những công nhân lam lũ cảm thấy hình như người đang nói chuyện với họ là người từ tầng lớp công nhân của họ bước ra thì phải. Đó là điểm thành công trong cách nói chuyện của Henry. Các công nhân tìm được sự an ủi qua cách trò chuyện của ông, họ cảm thấy ông gần gũi họ mặc dù ông và họ thuộc hai tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Nhiều người gật gù tán thưởng bài nói chuyện của Mục sư Henry. Một số người lên bắt tay ông khi buổi nói chuyện kết thúc. Ông đã tạm biệt họ trong sự quyến luyến của mọi người.
Về đến nhà, ông vội thuật lại mọi chuyện cho vợ nghe, rằng ông cảm thấy vui sướng vì được bắt tay và trò chuyện với những người lao động chân tay cực nhọc trong xã hội. Henry kể hôm nay là một ngày quan trọng trong kinh nghiệm hầu việc Chúa của ông. Nó là điểm bắt đầu cho một mối liên hệ thông công của Hội thánh Chúa ở thành phố Raymond và giai cấp công nhân cùng người dân lao động ở vùng này.
Đối với Alexander Powers, ông rất vui mừng vì kế hoạch của ông bước đầu đã được thực hiện trôi chảy. Ông muốn đem lại nhiều quyền lợi cho công nhân của ông và ông không muốn làm việc này một mình. Ông dự định sẽ cho chuyển một số bàn ghế còn tốt ở một ngôi nhà bỏ hoang gần nhà ga xe lửa về căn phòng rộng mà ông đã mời công nhân đến nghỉ trưa và nghe buổi nói chuyện của Mục sư Henry. Ông sẽ cho người tu bổ, sắp xếp lại số bàn ghế đó để làm bàn ăn cho các công nhân. Có lẽ họ sẽ thích thú căn phòng bởi họ cũng cần được nghỉ ngơi chốc lát vào buổi trưa trước khi bắt tay vào công việc buổi chiều ở xưởng.
Sau lần ấy, ngày nào Alexander cũng mời mọc các công nhân về căn phòng rộng đó để ăn uống và nghỉ trưa. Alexander tự nhủ, nếu Chúa Giê-xu đang ở vị trí của mình, Ngài cũng sẽ thực hiện công việc này như vậy, và ông cảm thấy sự bình an tràn ngập tâm hồn ông.
Đến khoảng 4 giờ chiều ngày thứ sáu, bất ngờ Alexander nhận được một bức thư dày của công ty. Thư gởi cho quản đốc văn phòng vận tải hàng hoá. Ông nhanh chóng mở phòng bì, mắt ông hoa lên, đây không phải là một bức thư mà là những giấy tờ được đánh máy cẩn thận thông báo cho ông rõ công ty đã dính líu vào một vụ vi phạm có quy mô và có hệ thống về luật thương mại kinh doanh của liên bang Hoa-kỳ. Rằng công ty đã để cho các tín dụng hoả xa bành trướng quá qui định.
Alexander buông tay để rơi những giấy tờ đó xuống bàn. Chợt, một câu hỏi loé lên giúp ông trấn tĩnh lại: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?”. Bất giác, ông tự nhủ: “Thôi, đừng quan tâm đến chuyện này nữa! Đây đâu có phải là công việc của mình mà lo!” Alexander đang cố gắng lý luận với chính mình như vậy để trốn chạy một thách thức mới ập đến với ông như cơn bão. Ông cảm thấy mệt mỏi khi phải đương đầu với công việc phức tạp này. Ông lại tự nhủ một lần nữa: “Vấn đề này chẳng liên quan gì đến mình, cứ mặc kệ nó”. Thế nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn, ông vẫn nghĩ rằng mình không thể làm ngơ trước sự việc rắc rối này. Rõ ràng đây là một vụ áp-phe có quy mô. “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?”. Câu hỏi ban nãy lại lởn vởn trong đầu ông. Ông nghĩ đến gia đình: người vợ trẻ và cô con gái cưng của ông. Nếu ông công khai chống đối việc vi phạm luật pháp này với tư cách là một nhân chứng, thì chắc chắn ông sẽ bị lôi kéo vào vụ án, các động cơ thúc đẩy ông hành động có nguy cơ bị hiểu lầm và ông sẽ mất việc làm là điều không thể tránh khỏi. Và nếu ông thất nghiệp, thì vợ con ông sẽ ra sao? Họ đã quen sống trong nhung lụa xa hoa, liệu họ có cam chịu cảnh khổ được không? Nghĩ đến những điều này, ông Alexander cảm thấy sợ hãi và lo lắng. Tự nhiên lại đi rước vạ vào thân làm gì? Ông biết rõ hậu quả của việc hưởng ứng làm nhân chứng tố cáo những vụ bê bối ở nước Mỹ phức tạp này. Ông cũng có thể gửi trả lại những giấy tờ ban nãy cho phòng vận tải hàng hoá mà không phải bị liên luỵ gì. Alexander tự toan tính như vậy và đánh giá đó là cách giải quyết khôn ngoan nhất. Cứ mặc cho tội lỗi tiếp tục hành động. Cứ để cho luật pháp bị thách thức. Ông cứ lo công việc của ông mà thôi. Ông tự nhủ như thế. Ngày đã về chiều, nhưng Alexander vẫn còn bị ám ảnh bởi câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì đối với những sự kiện này?”. Alexander cảm thấy căng thẳng và không sao thoát khỏi sự dằn vặt!
Đèn trong văn phòng đã được thắp sáng. Phân xưởng ồn ào tiếng động cơ xen lẫn tiếng xè-xè ken-két, tiếng rít sát-sạt và tiếng búa chan chát của máy bào, máy cưa, máy dập sắt.
Đồng hồ đổ chuông báo hiệu hết giờ làm việc. Tiếng còi vang lên trong phân xưởng lớn, tiếng máy ngừng nổ và mọi người dừng tay. Alexander ghé mắt nhìn ra ngoài khung cửa sổ, mọi người lần lượt rời phân xưởng. Ông bảo cô thư ký văn phòng:
- Cô có thể về trước. Tối nay tôi có việc cần phải ở lại một lát nữa!
Các viên kỹ sư và người phụ tá cuối cùng trong văn phòng cũng đã ra về. Còn lại một mình, Alexander đứng dậy đi đi lại lại trong phòng. Đến 7 giờ tối, ông quỳ gối xuống, úp mặt trên hai lòng bàn tay, những giấy tờ ban chiều nằm dưới hai bàn tay thô ráp của ông. Ông đang lắng lòng thưa chuyện với Thiên Chúa về nan đề của mình.

Chương 6
“Nếu có ai đến theo Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ Ta. Còn ai không vác thập tự giá mình mà theo Ta, cũng không được làm môn đồ Ta”
“Nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ Ta”
Sau buổi họp tại nhà thờ Tin Lành Raymond vào Chúa nhật tuần rồi, Virginia Page mời Rachel Winslow đến nhà mình để dùng cơm trưa và tiếp tục thảo luận vào thứ hai hôm sau. Đúng giờ hẹn, Rachel bấm chuông cổng một ngôi biệt thự sang trọng, đích thân Virginia ra đón Rachel. Cả hai vừa đi chậm rãi vào bên trong vừa trò chuyện sôi nổi. Rachel đang cầm trên tay một phong thư đã bóc.
- Virginia à! Tôi không thể chấp nhận đề nghị này được đâu!
- Vậy thì bạn sẽ làm gì đối với đề nghị đó?
Virginia vừa hỏi vừa dò xem nét mặt Rachel.
- Tôi cũng chưa biết nữa! Nhưng trước mắt thì tôi từ chối thực hiện đề nghị này.
Đề nghị mà Rachel và Virginia đang đề cập đến ở đây chính là việc một nhân viên điều hành một Hí viện hài hước đề nghị ưu tiên dành cho Rachel một chỗ làm có lương cao ở một công ty du lịch lớn có tầm cỡ tại Mỹ. Đó chính là bức thư mà Rachel đang cầm trên tay. Trong thư, ông ta giải thích là hôm Chúa nhật tuần trước, vô tình ông được nghe Rachel hát thánh ca và ông cũng được nhìn thấy vẻ đẹp quyến rũ của cô. Ông viết cách trắng trợn: “Giọng ca vàng và sắc đẹp tuyệt vời của cô chắc chắn sẽ hái ra tiền. Tôi muốn giọng ca ấy phải được đem trình diễn ở Hí viện. Cô sẽ sớm được nổi tiếng và trở nên giàu có”. Chủ nhân lá thư còn đề nghị Rachel trả lời có nhận công việc hay không càng sớm càng tốt.
- Tôi sẽ hồi âm và trả lời là: “không nhận”.
Rachel nói một cách quả quyết. Cô tiếp tục bày tỏ ý nghĩ của mình với Virginia:
- Virginia à! Tôi tin chắc một điều Chúa Giê-xu của chúng ta sẽ không dùng bất cứ một tài năng nào Ngài có để làm công việc hái ra tiền. Đúng không? Giả sử Ngài có giọng ca tốt Ngài cũng chẳng bao giờ dùng vào việc mua vui và làm giàu. Virginia biết không? Nếu như tôi đồng ý làm việc với họ, tôi sẽ có cơ hội tiến thân nhanh chóng. Tôi sẽ được đi lưu diễn khắp nơi với một ban tứ ca nam nổi tiếng cùng với một nhạc sĩ vĩ cầm được đông đảo quần chúng lao động cùng với tầng lớp thượng lưu hâm mộ. Tôi sẽ được công ty cử đi với tư cách là một diễn viên kiêm ca sĩ đảm nhận giọng ca chính “soprano” (giọng nữ cao). Lương cao lắm Virginia à, đến 200 đô-la một tháng thì đâu phải ít. Tối qua tôi đã suy nghĩ cẩn thận. Tôi quỳ gối cầu nguyện với Chúa và được Chúa nhắc nhở, tôi quyết định không nhận lời. Chắc chắn Chúa Giê-xu cũng sẽ hành động như tôi nếu Ngài ở vị trí tôi. Còn Virginia, bạn nghĩ như thế nào về vấn đề này?
- Rachel muốn tôi đồng tình với Rachel à? Tôi tin và nhận thấy ông Henry đã có lý khi cho rằng mỗi người chúng ta hãy quyết định tuỳ theo sự phán đoán mà chính mỗi chúng ta cảm nhận được là chúng ta làm điều đó giống như Chúa làm. Rachel không biết đó chứ, chính bản thân tôi cũng đã trải qua một thời gian thử thách, khó khăn, đấu tranh tư tưởng rất gay go để thực hiện tốt những việc mà tôi đoán chắc là Chúa Giê-xu sẽ làm, dù việc đó đi ngược lại với lợi ích cá nhân của tôi không phải là ít.
- Thật vậy sao, Virginia? Tôi đâu có ngờ rằng tôi có được một người bạn gái đầy ý chí như Virginia!
Rachel ngạc nhiên một cách vui mừng và cảm phục. Cô đứng dậy, bước lại gần cửa sổ, nhìn ra đường phố. Virginia đến đứng cạnh Rachel, yên lặng. Đường phố nhộn nhịp với dòng người qua lại đang diễn ra trước mắt hai người con gái đang có tâm sự. Bất chợt, Virginia lên tiếng:
- Rachel! Chúng ta đang sống trong một xã hội mà tôi tưởng chừng mình quá ư thoả mãn về vật chất cả ăn mặc lẫn vui chơi tiêu khiển. Chúng ta còn chi tiêu những khoản lớn cho vấn đề nhà cửa, sắm sửa xa xỉ. Thỉnh thoảng, chúng ta cũng bố thí cho người nghèo, công việc mà chúng ta làm để xoa dịu lương tâm, chứ chẳng mang tính cách hy sinh cá nhân như một số người thường nghĩ. Chúng ta cũng đóng góp một phần nhỏ cho việc từ thiện. Cả tôi lẫn Rachel đều được giáo dục từ những nhà trường thu học phí cao nhất nước Mỹ. Tôi trưởng thành và bước vào xã hội với tư cách là người thừa kế một gia tài kếch sù bởi lẽ cha tôi là một tỉ phú. Địa vị của tôi có rất nhiều người thèm muốn. Tôi hoàn toàn sung sướng, thoải mái, thích ở nhà để được hầu hạ hoặc đi du lịch bốn bể năm châu tuỳ ý. Tôi có thể làm bất cứ điều gì mà tôi muốn. Tuy nhiên, tôi nghĩ đến Chúa Giê-xu một cách thành thật, tôi thử liên hệ tôi với Ngài, thử đặt Ngài vào vị trí mà tôi đang sống và hưởng thụ như bao người giàu có quanh tôi, tôi cảm thấy bị lương tâm cáo trách. Tôi thấy mình ích kỷ và tội lỗi, là sinh vật vô dụng cho Chúa trên thế gian này. Đã nhiều lần, tôi đứng bên cạnh cửa sổ này nhìn xuống thế giới bên ngoài, chứng kiến bao nhiêu người nghèo khổ, đói khát đi ngang qua, tôi cảm thấy sợ hãi vô cùng, lo cho chính mình vì thấy cuộc sống con người quá tạm bợ.
Virginia ngừng nói và quay người bước vào phòng. Cảm xúc dâng trào trong lòng Rachel khi cô nghe lời tâm sự thành thật của Virginia. Còn Virginia thì cố nén xúc động để không bật ra tiếng khóc.
Rachel nhìn bạn và suy nghĩ về bản thân mình. Một Cơ Đốc nhân có tài ca hát như cô sẽ sử dụng tài năng đó cách nào? Cô có nên bán tài năng dần dần từng tháng, lấy một khoản tiền khá lớn để sống cho sung sướng chăng? Cô có nên đi theo các chuyến lưu diễn với dàn nhạc của công ty, được ăn ngon mặc đẹp và được hưởng những sự tán tụng sôi nổi của công chúng; được nổi danh trên báo chí, truyền hình như bao ca sĩ nổi tiếng khác? Có phải đó là điều Chúa Giê-xu sẽ làm không? Ngài có hài lòng khi đứa con gái đáng yêu của Ngài làm những việc như bao kẻ ngoại đạo khác cũng làm không?
Rachel biết rõ những ưu điểm của mình, hát hay, xinh đẹp và có sức khoẻ tốt. Cô nhận biết mình có thừa khả năng để bước vào cuộc sống ca sĩ phiêu lưu đi đây đi đó, gặp gỡ công chúng qua những buổi trình diễn để kiếm được nhiều tiền và nổi tiếng. Từ lúc trò chuyện với Virginia, cô biết Virginia cũng có những sự ray rứt chẳng kém gì cô. Những lời tâm sự chân tình của Virginia đã tác động mạnh đến Rachel, khiến cô quyết tâm hơn trong việc từ bỏ cơ hội hái ra tiền đang đến với cô.
Đã đến giờ cơm trưa, Rachel và Virginia cùng với bà nội của Virginia xuống phòng ăn. Rollin, cậu em trai ngỗ nghịch của Virginia cũng có mặt. Rollin là một thanh niên hư hỏng, thường lui tới chơi bời đàn đúm với một số thanh niên thượng lưu hư hỏng khác ở các phòng trà, hộp đêm. Cậu ta rất mến Rachel. Mỗi khi biết trước Rachel đến chơi với Virginia thì thế nào cậu ta cũng sắp xếp để có mặt ở nhà.
Cha của Virginia là một chủ ngân hàng giàu sụ. Ông còn là một tay đầu cơ lúa gạo có tầm cỡâ. Ông đã qua đời trong năm vừa rồi, để lại cho Virginia một cơ ngơi đồ sộ. Mẹ của Virginia thì đã qua đờiâ trước ông mười năm nay. Bà nội của Virginia năm nay đã 90 tuổi nhưng trông còn khoẻ lắm. Bà được sinh trưởng và học hành đến nơi đến chốn tại miền Nam nước Mỹ. Sống giữa khối của cải thừa mứa do con trai để lại bà chẳng phải lo âu gì cả. Bà cũng chẳng kém con trai bà về lĩnh vực kinh doanh. Bà đầu tư tài sản, tiền bạc vào các công việc tương tự như con trai bà đã làm. Về phần Virginia, cô ta có một số tài sản riêng do chính cô làm ra, bây giờ cô còn hưởng luôn tài sản của cha cô để lại nữa. Cô đã được cha cô huấn luyện các cách thức trong công việc kinh doanh làm giàu và cô cũng đã tỏ ra là người có tài năng trong lĩnh vực này.
Tuy hoàn cảnh giữa Rachel và Virginia khác nhau hoàn toàn nhưng Rachel lại chơi khá thân với Virginia. Hai người biết nhau từ tấm bé, và thường nô đùa với nhau. Lớn lên, mỗi người theo đuổi một cuộc sống riêng nhưng vẫn không quên nhau. Có dịp hai người lại cùng nhau trò chuyện hàn huyên hoặc cùng ăn trưa với nhau. Trong bữa ăn trưa hôm nay, bà nội của Virginia ít trò chuyện với cháu nội gái của bà như mọi lần. Phá tan sự yên lặng, Rollin lên tiếng hỏi Rachel:
- Rachel! Nghe nói là cô sắp đi lưu diễn! Chúng tôi rất vui mừng và tự hào có một người bạn tài năng như cô! Chúc cô sớm được nổi tiếng!
Rachel nhíu mày tỏ vẻ khó chịu, mặt cô ửng đỏ:
- Anh nghe ai nói thế?
- Tôi nghe một số người ngoài phố nói với nhau lúc tôi đi ra cửa hiệu.
- Anh lầm rồi đấy, Rollin à! Tôi chẳng bao giờ đi lưu diễn đâu!
- Nếu cô bỏ lỡ cơ hội thì uổng lắm đấy. Mọi người đều bàn tán về giọng hát tuyệt vời của cô. Nếu cô biết tận dụng tài năng thiên phú của mình thì chắc chắn cô sẽ sớm thành triệu phú. Hay là cô không thích tiền? Mọi người đang ao ước được như cô đấy!
- Anh muốn nói mọi người là ai thế?
Rachel cố kiềm chế sự tức giận vì tự ái.
- Cô muốn biết hả? Chẳng có gì lạ, đó là tất cả những ai đã được nghe cô hát ở nhà thờ Tin Lành Raymond vào mỗi sáng Chúa nhật. Tôi rất lấy làm tiếc giùm cho cô nếu như cô đánh mất cơ hội ngàn vàng này. Dịp may hiếm có đấy Rachel à!
- Thôi, thôi, tôi xin anh đừng bàn đến chuyện ca hát đó nữa. Chúng ta nói chuyện khác đi thử xem tôi có bớt nhức đầu không nào? - Rachel nổi cáu thực sự.
Bà nội Virginia vội lên tiếng xoa dịu:
- Rachel ơi! Đừng vội nóng giận. Rollin không phê bình cô đâu! Nó cũng như một số người chung quanh cô kể cả tôi nữa đều nóng lòng muốn biết ý định và kế hoạch của cô đối với đề nghị của công ty hoà nhạc. Chúng ta là người nhà cả mà! Chấp trách và giận hờn làm chi! Tôi đã nghe Virginia nói về vấn đề của cô.
- Vâng, vâng! Cháu hiểu điều đó, thưa bà! Vâng, Virginia và cháu đã thảo luận về vấn đề này của cháu vào trước giờ ăn trưa nay.
Rachel trả lời một cách hấp tấp, lời lẽ nhún nhường của người có lỗi lỡ làm phật lòng người lớn tuổi.
- Cháu đã quyết định từ chối không đi lưu diễn cho họ bà ạ!
- Rachel à! Cô suy nghĩ kỹ chưa mà quyết định vội vàng thế? Tôi e rằng trong cuộc đời còn lại của cô, cô sẽ không bao giờ tìm được cơ hội tốt như vậy nữa đâu!
- Thưa bà! Cháu suy nghĩ kỹ rồi ạ! Cháu quyết định không làm việc cho họ khi cháu nghĩ đến Chúa Giê-xu.
- Cô có thể nói rõ hơn lý do cô từ chối đề nghị quý báu đó?
- Dạ, như thế này bà ạ! Cháu đã hứa nguyện trong vòng một năm cháu sẽ làm bất cứ điều gì đảm bảo tiêu chuẩn và ý muốn của Chúa Giê-xu. Trước một công việc nào dù đơn giản hay phức tạp, cháu cảm nhận và phán đoán một cách thành thực rằng Chúa Giê-xu sẽ làm thì cháu cũng sẽ làm và ngược lại Chúa không làm thì cháu cũng sẽ không làm. Ngài sẽ làm gì khi Ngài ở vị trí cháu. Ngài có giọng hát tốt và Ngài sẽ đi làm thú tiêu khiển cho người ta để hái được nhiều tiền ư? Chắc chắn Ngài sẽ không làm như vậy. Bà biết không? Cháu và Virginia hiểu biết về Chúa Giê-xu còn quá ít nên khả năng nhận biết về điều Chúa Giê-xu sẽ làm của chúng cháu rất giới hạn. Điều ấy gây rắc rối cho Virginia và cháu nhiều lắm, thưa bà.
- Tôi có biết về vấn đề hứa nguyện mà cô vừa nói. Mục sư Henry đã kêu gọi các tín hữu trong Hội thánh thực hiện vào những buổi thờ phượng Chúa vừa qua chứ gì! Tuy nhiên, tôi thấy không thể áp dụng nó vào thực tế được. Tôi tin chắc rằng, sau một thời gian thể nghiệm, những ai đã lỡ hứa nguyện như thế sẽ bỏ cuộc, họ sẽ hối hận vì đã ngu xuẩn ôm lấy một ảo tưởng kỳ quặc. Ai làm gì thì làm, mặc xác họ, còn riêng Virginia và Rollin chớ dại dột bám theo những ý nghĩ điên rồ đó nhen!
Virginia nói với giọng cương quyết và lộ vẻ bướng bỉnh:
- Con thấy thế này bà ạ! Đừng vội đánh giá người khác như thế, không tốt đâu! Bà đừng cho đó là những ý nghĩ điên cuồng. Họ có điên hay không là tuỳ thuộc vào sự hiểu biết đúng đắn về những điều mà họ cảm nhận rằng Chúa Giê-xu sẽ làm. Khi nào con cảm thấy chắc chắn về sự cảm nhận của con rằng Ngài sẽ làm về việc gì đó thì con cũng sẽ làm như Ngài mà thôi!
- Thôi, thôi, tôi xin “quý bà” dừng lại cho tôi nhờ! “Quý bà” đã đi quá xa điều mà tôi đang nghĩ. Tôi xin lỗi phải đi về phòng riêng để hút một điếu xì-gà đây!
Nói rồi Rollin nhanh chóng rời bàn ăn.
Đợi cho Rollin ra ngoài hẳn, bà nội Virginia cho gọi người hầu bàn bưng món ăn tráng miệng lên. Bà ta ra hiệu cho người hầu bàn ra ngoài luôn, rồi lên tiếng trong thái độ tức giận dữ dội:
- Xin thưa các cô gái trẻ! Trên đầu tôi đã hai thứ tóc, chứng tỏ tôi già hơn các cô rất nhiều, chẳng lẽ tôi phải ngồi yên nghe các cô lên giọng dạy đời tôi sao? Các cô trẻ người non dạ, đã sai lầm một cách nghiêm trọng trong vấn đề hứa nguyện. Chúa Giê-xu đã hy sinh cho chúng ta là đủ rồi. Tại sao chúng ta phải hy sinh nữa vô ích thế? Các cô đã sai rồi, sai bét rồi! Các cô có nghe tôi nói không? Không nên thi hành bất cứ một lời hứa nguyện ngu xuẩn nào cả.
Giọng chì chiết của bà ta lớn dần, thể hiện sự bực tức cao độ.
- Vậy, ý của bà là chúng ta không thể hành động như Chúa Giê-xu đã hành động chứ gì? Hay bà muốn nói rằng nếu chúng ta làm theo như Chúa Giê-xu làm thì chúng ta sẽ chống lại phong tục tập quán của dân tộc, gây thành kiến với xã hội?
Virginia cố gắng giữ bình tĩnh, nhỏ nhẹ hỏi bà nội mình.
- Tôi không cần thiết để trả lời cô! Cô không nghe lời khuyên của tôi thì cô muốn làm gì thì làm, mặc kệ cô!
Bà ta đột ngột ngưng ngang câu nói và sực nhớ điều gì, liền quay sang Rachel:
- Cô quyết định như vậy mà mẹ cô chẳng có ý kiến gì à! Tôi nghĩ nếu cô mù quáng thì còn mẹ cô chứ! Bà ấy chắc chắn phải sáng suốt hơn cô chứ?
- Thưa bà, mẹ cháu chưa biết quyết định của cháu!
Rachel trả lời trong sự e ngại và lo lắng.
- Trời đất quỷ thần ơi! Cưng của bà ơi! Vậy là tự ý cháu quyết định ư? Thế mà tôi cứ ngỡ mẹ cô đồng tình với cô! Như vậy mà không điên hả? Vậy cô định làm gì với giọng hát trời phú của cô thế?
Lời bà ta lộ vẻ chế giễu. Rachel tự ái lắm, mặt cô tái dần. Cô yên lặng không trả lời bà ta. Được thế, bà ta càng lên giọng mỉa mai và dạy dỗ:
- Cưng ơi! Tôi hi vọng cưng sẽ có những suy nghĩ khôn ngoan hơn khi phải đối diện với thực tế cuộc sống bên ngoài nhà thờ mà cô thường ca hát, ảo tưởng.
Bà ta tiếp tục nói trong khi đứng lên rời bàn ăn.
- Cô sẽ sống trong ân hận và tiếc nuối khi cô không chấp nhận lời đề nghị của công ty hoà nhạc hoặc bất cứ một sự việc nào tương tự như vậy, cơ hội ngàn năm một thuở, bé con ạ!
Rachel cố nuốt tự ái và bực tức vào lòng, chào tạm biệt bà cháu Virginia, trở về nhà khi mặt trời đã xế bóng, để lại đàng sau cuộc tranh luận gay gắt vẫn tiếp tục giữa Virginia và bà nội của cô ấy, khiến cho Virginia đi đến một quyết định táo bạo.

Chương 7
Bước ra ngoài phố, Rachel cảm thấy nhẹ nhỏm. Cô thả bộ dọc hè phố cùng phía với ngôi biệt thự xinh xắn của Virginia. Bất ngờ, Rollin xuất hiện bên cạnh cô.
- Xin lỗi, tôi vô tình đi cùng đường với cô, Rachel à! Cô đừng xua đuổi tôi nhé!
- Tôi không nhìn thấy anh!
Rachel trả lời ngắn gọn có phần lảng sang chuyện khác, cô cảm thấy bực mình khi phải đi chung và trò chuyện với Rollin trong lúc này.
- Điều đó không thành vấn đề! Tôi chỉ muốn biết một điều... Rachel ơi, có lần nào cô nghĩ đến tôi không? Chỉ cần một lần mà thôi! - Rollin hỏi một cách bất ngờ sau khi anh ta rít một hơi xì gà thật dài, mặt anh ta tái mét.
Rachel ngạc nhiên khi nghe Rollin hỏi như thế nhưng cô không lấy làm lạ chút nào. Đối với Rollin, cô biết quá nhiều về anh ta. Cô đã biết Rollin khi còn là một học sinh tiểu học. Họ đã từng xem nhau như người trong gia đình, họ thường gọi tên riêng của nhau một cách thân mật. Thế rồi lớn lên, mỗi người có những cá tính khác nhau, mỗi khi nói chuyện với nhau thường tỏ ra bất đồng. Có nhiều lần, Rachel đã thẳng thắn phê bình anh ta trước đám đông làm cho anh ta bực tức và giận Rachel lắm. Khoảng cách hai người xa dần, họ ít khi trò chuyện với nhau như ngày xưa. Dù vậy, Rollin vẫn thầm mến và dần dần anh ta yêu Rachel tự lúc nào! Rachel thì không bận tâm đến tình cảm của anh ta chút nào, cô còn tỏ ra khó chịu mỗi khi phải trò chuyện hoặc gặp gỡ anh ta.
- Tôi hỏi thật đấy! Có bao giờ cô nghĩ đến tôi không, Rachel?
Rollin hỏi một cách tha thiết.
- Ồ! Có, thường lắm! - Rachel mỉm một nụ cười bí ẩn, nửa như nhạo báng, nửa như buồn bực.
- Bây giờ cô có đang nghĩ đến tôi không?
- Vâng, có! Tôi đang nghĩ về anh!
- Vậy, cô nghĩ về tôi như thế nào?
- Anh có muốn nghe tôi nói thật không?
- Dĩ nhiên là muốn!
- Vậy anh nghe đây: anh hãy cút xéo khỏi đây ngay! Tôi không muốn trò chuyện với anh.
Rollin tỏ vẻ thất vọng thực sự. Đôi mắt anh ta buồn rười rượi; nhưng liền sau đó, đôi mắt ấy hằn lên những tia nhìn dữ tợn.
- Rachel! Điều gì đã khiến cho cô đối xử với tôi như thế? Tôi biết rõ cô rất thích tôi ngay từ lúc hai chúng ta còn bé.
- Ừ, tôi biết. Tôi và anh thân nhau từ thuở nhỏ. Nhưng bây giờ thì khác, chúng ta lớn rồi, không thể suy nghĩ như một đứa bé con nữa.
Cả Rollin lẫn Rachel đều ngừng trò chuyện nhưng vẫn yên lặng bước đi một cách chậm chạp dọc theo một lối đi nhỏ. Bên cạnh họ, đại lộ rộng thênh thang đầy nghẹt người và xe cộ. Đi ngược chiều với hai người, ông Jasper Chase đã trông thấy họ từ xa. Lúc ông ta đi ngang qua, ông mỉm cười chào Rachel nhưng cô không để ý vì cô mãi cúi gằm mặt xuống vừa bước đi vừa suy nghĩ.
- Rachel, cô biết rõ tấm lòng của tôi. Cô biết tôi yêu cô đã mấy năm nay rồi chứ? Tôi muốn đem lại hạnh phúc, hi vọng và sự sung sướng cho cô, Rachel ạ!
Rollin nói một mạch những suy nghĩ thầm kín mà anh ta đã ấp ủ bấy lâu nay.
- Sao? Anh nói anh yêu tôi à? Anh đoán tôi bao nhiêu tuổi? Anh nên nhớ là tôi chơi với chị gái của anh đấy!
Rachel lại mỉm một nụ cười chứa đựng sự chế nhạo lẫn bực mình.
- Vâng, tôi biết cô đang muốn nói gì với tôi. Và tôi cũng mong cô hiểu tôi định nói gì với cô. Cô không được quyền chế nhạo tôi ngay cả việc tôi ngỏ lời kết hôn với cô!
Rollin nói một cách kiên quyết.
- Tôi không chế nhạo anh như anh nghĩ. Nhưng tôi xin nói với anh một điều: Anh đừng tiếp tục thuyết phục tôi nữa, vô ích Rollin à!
Rachel nói sau một thoáng do dự.
- Cô đối xử với tôi thế nào tuỳ cô, riêng tôi, tôi vẫn luôn yêu mến cô và giữ ý định muốn kết hôn với cô!
- Không! Không thể được! Tôi đã nói là không thể được! - Rachel gắt lên.
- Đó là điều cô đang suy nghĩ một cách thành thật?
- Đúng vậy, còn đợi phải trả lời nữa à? Anh làm ơn đừng đi theo tôi nữa.
Rollin giả vờ không nghe, cứ tiếp tục đi bên cạnh Rachel. Cả hai đều yên lặng, một sự yên lặng nặng nề. Xa xa, ngôi nhà của Rachel đã dần dần lộ ra. Sắp đến ngã rẽ vào nhà Rachel, Rollin chợt lên tiếng một cách nghiêm trang:
- Cô Rachel! Tôi muốn cưới cô làm vợ. Tôi yêu cô thực lòng. Tôi có thể hi vọng đến một lúc nào đó cô sẽ trả lời là “đồng ý” chứ?
- Không! Nhất định là không bao giờ có chuyện đó. Không có hi vọng gì hết cả! Anh đừng có hi vọng hảo! Chẳng đời nào tôi trả lời “đồng ý” với anh đâu! - Rachel nói một cách dứt khoát và cương quyết.
- Cô có thể cho tôi biết tại sao cô từ chối tình yêu của tôi không?
- Lý do thật đơn giản: Tôi - không - yêu - anh! Vậy thôi!
- Cô không yêu tôi? Tại sao? Tại sao?
Thật là một câu hỏi bất ngờ cho Rachel.
- Bởi vì... vì...
- Cô hãy nói nhanh cho tôi rõ. Tôi nóng lòng quá. Chỉ cần cô nói cho tôi biết lý do tại sao. Cô không thể làm tổn thương tôi như ý muốn của cô được đâu!
- Vâng, tôi xin trả lời anh một cách thành thật. Anh không xứng đáng để tôi yêu bởi vì anh không phải là người thanh niên lý tưởng đồng tâm tình với tôi như tôi hằng mong đợi. Anh sống không có lý tưởng, sống vô mục đích. Anh có bao giờ quan tâm đến việc làm cái gì đó để góp phần làm cho thế giới tốt hơn chưa? Anh hoang phí thời giờ vào những vui thú thế gian này. Anh đi hết hộp đêm này đến vũ trường khác, buông thả trong xa hoa, phóng túng. Một đời sống như vậy thì có gì để gọi là hấp dẫn tôi cơ chứ!
- Theo như lời cô vừa nói, tôi thấy mình vẫn còn đàng hoàng chán! Chơi bời thế thì đâu có nhiều nhặng gì cho lắm so với những người khác nhan nhản quanh tôi. Tôi thấy tôi không quá tệ như cô nghĩ đâu. Tôi rất vui vì biết được lý do từ chối của cô. Xin cảm ơn cô thật nhiều, chào cô.
Đột ngột, anh ta đứng chắn lối đi của Rachel, nghiêm trang cúi đầu và ngả mũ chào Rachel. Xong, anh ta vội vàng quay trở lại. Rachel tiếp tục đi về nhà mình. Cô bước vội vào phòng riêng, ngả mình đánh phịch xuống nệm, cô thấy thân thể rã rời. Rachel cảm thấy mình bị dao động tư tưởng bởi những lời nói của Rollin lúc ngoài đường phố. Cô tự nhủ: “Mình có lỗi với Rollin thì phải. Mình đã nặng lời với anh ta quá hay chăng? Chứ còn bản thân mình, mình đã tốt đẹp gì hơn? Mục đích sống của mình là gì mà mình lên mặt với Rollin thế nhỉ?” Cô cứ nằm yên lặng suy nghĩ và chất vấn lấy chính mình.
Rachel đã có lần được du học ở nước ngoài về môn âm nhạc. Cô được học hỏi rất nhiều từ những giáo sư âm nhạc nổi tiếng ở Âu châu. Cô đã trở về Raymond cách đây một năm. Cô được Hội thánh Tin Lành Raymond mời dự phần tôn vinh Chúa trong Nhà thờ suốt một năm nay. Cô được Hội thánh trả lương rất cao, xứng đáng với công sức đầu tư học hành của cô. Nghiễm nhiên, Rachel trở thành ca sĩ thánh ca nổi tiếng ở nhà thờ Tin Lành Raymond. Không riêng cá nhân Rachel mà mẹ của cô cũng rất tự hào về cô. Mẹ cô đặt hi vọng nhiều ở cô con gái tài năng của mình. Có lần bà ta khẳng định: “Rachel sẽ thành công rực rỡ trong thế giới âm nhạc cho xem!”
Rachel cứ trăn trở mãi với những câu hỏi: “Mình sống để làm gì? Mục đích sống của mình là gì? Chúa Giê-xu sẽ làm gì với một giọng ca tốt như mình bây giờ?”
Cách đây hai tuần, Rachel đã từng suy nghĩ rằng: “Mình sẽ sử dụng giọng ca của mình để kiếm ra nhiều tiền, đồng thời hưởng được sự ngưỡng mộ và hoan nghênh của mọi người”. Bây giờ, đối chiếu suy nghĩ thực dụng ấy của mình với mục đích sống của Rollin, cô thấy mình chẳng hơn Rollin tí nào.
Rachel ngồi trầm ngâm rất lâu trong phòng riêng. Cuối cùng, cô quyết định nói thẳng ý định từ chối đề nghị của công ty hoà nhạc với mẹ mình. Đồng thời, cô sẽ nói cho mẹ cô biết kế hoạch mới đang dần dần được hình thành trong trí cô. “Đó là cách giải quyết tốt nhất cho mình”, Rachel thầm nghĩ như vậy.
- Thưa mẹ! Con đã quyết định không đi hát lưu diễn cho công ty hoà nhạc. Con có lý do hợp lý để từ chối đề nghị này.
Rachel đi ngay vào vấn đề. Tự dưng cô cảm thấy sợ hãi khi mẹ cô ngồi yên lặng, không nhìn cô và dường như tảng lờ không thèm nghe cô nói gì.
Mẹ của Rachel - bà Winslow là một người đàn bà có nhiều tham vọng về địa vị xã hội. Trong công việc bà rất tận tuỵ và cũng rất nghiêm khắc. Bà còn mang nặng tư tưởng đạo đức phong kiến cố hữu, gia trưởng. Bà mong muốn con cái phải vâng lời bà một cách tuyệt đối và thành công trên đường công danh. Bà đã hướng cho cậu em trai út của Rachel là Louis, kém Rachel hai tuổi, theo học và đã tốt nghiệp tại một trường võ bị vào mùa hè rồi. Đối với Rachel, bà không mong muốn gì hơn là cô được nổi danh trên sân khấu. Bà thường khuyên Rachel tìm mọi cơ hội để sớm trở thành ca sĩ nổi tiếng trên truyền hình. Cha của Rachel cũng như cha của Virginia, ông đã qua đời khi gia đình vợ con ông còn ở ngoại quốc.
- Mẹ ơi! Chắc mẹ biết sự hứa nguyện của con vào Chúa nhật cách đây hai tuần phải không mẹ?
Rachel lấy can đảm phá tan sự yên lặng nặng nề.
- Sự hứa nguyện của Mục sư Henry ấy à?
Bấy giờ, bà Winslow mới chịu lên tiếng.
- Không ạ! Sự hứa nguyện của chính con đấy chứ! Mẹ đã biết việc đó mà! Hay là.... hay là mẹ chưa biết?
- Mẹ biết. Mẹ còn biết là Mục sư Henry kêu gọi mọi người hưởng ứng sự hứa nguyện. Quyền tự do của mỗi người, ai muốn bắt chước và bước theo dấu chân Ngài thì tuỳ, không ép buộc phải không? Đối với chúng ta, môi trường mà chúng ta đang sống có thích hợp để chúng ta thực hiện sự hứa nguyện của chúng ta không, đó mới là vấn đề. Còn con, con gái cưng của mẹ, có điều gì liên quan trong việc hứa nguyện và quyết định từ chối đề nghị của công ty hoà nhạc?
- Có liên quan chứ mẹ! Sau khi con đặt câu hỏi Chúa Giê-xu sẽ làm gì ở trường hợp của con, con nhận thấy rằng chắc chắn Ngài sẽ không sử dụng giọng ca của con để đi làm việc đó.
- Tại sao? Chẳng lẽ làm nghề ca sĩ là sai trái à?
- Không, con không nói làm nghề ca sĩ là sai trái.
- Vậy con cho là việc ngồi một chỗ chỉ tay năm ngón để phán đoán, dò xét người khác là đúng là tốt hơn chứ gì! Có phải con cho rằng những người bằng lòng đi ra ngoài hát ca một cách đàng hoàng trên sâu khấu cho công chúng nghe là họ đã ngu xuẩn làm một việc mà Chúa Giê-xu không làm và không muốn họ làm, đúng vậy không nào cô nhãi của tôi?
- Thưa mẹ, con mong mẹ hiểu con! Con không phán đoán, dò xét ai cả. Con chỉ lo chính mình con đây mà. Con không kết án những ai làm ca sĩ kể cả ca sĩ chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư. Con chỉ giản dị quyết định cho đường lối của chính con mà thôi. Khi con nhìn vào điều con làm, con tin rằng Chúa Giê-xu sẽ tiếp tục làm những điều khác nữa qua đời sống con.
- Điều khác là điều gì? Chẳng lẽ con chỉ nghĩ cho cá nhân con mà con không nghĩ đến gia đình sao? Con không nghĩ đến mẹ ư? Con có biết con là niềm hi vọng cho cả gia đình không?
- Nghĩa là, mẹ... mẹ... muốn con chấp nhận lời đề nghị của công ty? Con đã quyết định dứt khoát là con chỉ sử dụng giọng hát Chúa ban cho con để ca tụng Ngài và làm thoả mãn cho chính linh hồn con mà thôi. Con nghĩ làm như thế tốt đẹp hơn là làm vui lòng thính giả chạy theo thời trang hay phục vụ cho lợi nhuận. Con sẽ làm điều gì mà con cảm thấy thoả mãn khi con nghĩ Chúa Giê-xu cũng sẽ làm điều đó. Con không thể tự ý đi ca hát cho công ty hoà nhạc như một ca sĩ chuyên nghiệp được.
Rachel nói rành rọt ý nghĩ của mình cách mạnh mẽ, nhiệt tình, và quả quyết đến nỗi làm cho bà Winslow kinh ngạc, há hốc miệng. Bà không ngờ thái độ của con gái bà như thế. Bà nổi giận phừng phừng:
- Rõ ràng là ngu ngốc hết chỗ nói. Rachel! mày là con người cuồng tín nhất trên trái đất này đấy! Mày có thể làm gì nếu mày không nghe lời tao và bỏ mất dịp may hiếm có như vậy? Hả? Rachel?
- Thế giới này được tạo dựng nên bởi chính bàn tay quyền năng của Thượng Đế. Con người chúng ta được Ngài tạo dựng để thờ phượng Ngài và ca tụng Ngài, phục vụ, hầu việc Ngài. Con được Ngài ban cho giọng hát tốt, có thể xem đó là một ân tứ thiêng liêng! Bây giờ, con không dùng giọng hát tốt đó để ca tụng Đấng tạo dựng ra nó mà lại treo giá bán ân tứ đó để kiếm cho được nhiều tiền ư? Con biết mẹ rất muốn con thành đạt trong xã hội này, nhất là trong lĩnh vực âm nhạc. Nhưng, thưa mẹ, con không thể làm vừa lòng mẹ mà lại làm trái ý muốn Chúa Giê-xu được, vì con không thể nào tưởng tượng được rằng Chúa Giê-xu sẽ tham gia công ty hoà nhạc để làm điều con sẽ làm và sống một cuộc đời mà con sẽ sống nếu con đồng ý gia nhập vào đó.
- Vậy con định làm gì? Con vẫn chưa trả lời câu hỏi của mẹ.
Bà Winslow vừa hỏi vừa gượng đứng lên nhưng rồi bà lại ngồi phịch xuống. Bà ta đang cố gắng lấy bình tĩnh trở lại sau cơn tức giận.
- Con sẽ tiếp tục hát để phục vụ Hội thánh, phục vụ Chúa mà thôi. Con sẽ chỉ tham gia hát khi nào nhà thờ có lễ. Con đã hứa nguyện với Chúa là con sẽ hát ở nhà thờ suốt mùa xuân này. Thời gian còn lại trong tuần con sẽ đi hát tại các cuộc họp của Hội chữ thập trắng tận dưới Rectangle.
- Cái gì? Rachel Winslow! Con có biết con đang nói gì không? Con có biết hạng người ở dưới đó là hạng người nào không?
Bà Winslow hét toáng lên vào mặt con gái một cách tức tối.
- Con biết, con biết rõ lắm. Đó chính là lý do con muốn đi đến đó. Ông bà Gray đang làm việc ở vùng Rectangle. Con được biết ông bà ấy cần các ca sĩ là con cái Chúa ở các Hội thánh đến giúp sức ông bà trong các buổi nhóm. Dưới đó họ nghèo thiếu lời ca tiếng hát lắm mẹ ạ. Họ cũng thèm nghe những bài thánh ca ca ngợi Chúa nữa. Con phải đến đó để giúp đỡ ông bà hầu việc Chúa mẹ ơi!.
Giọng nói của Rachel trở nên khẩn thiết. Cô bật khóc nức nở vì tình yêu thương tha nhân và tình yêu đối với Thiên Chúa đang dâng trào trong tâm hồn cô. Cô tiếp tục nói trong xúc động:
- Con muốn làm bất cứ điều gì cho Chúa Giê-xu mà đối với con đó là cái giá của sự hi sinh. Con biết mẹ sẽ không đồng ý với con. Nhưng, con khao khát được chịu khổ về một điều gì đó với Chúa Giê-xu. Cả con lẫn mẹ đã sống một cuộc sống ích kỷ với Chúa, mặc kệ với những tội lỗi và những đau khổ diễn ra hàng ngày tại thành phố Raymond này. Chúng ta sống để làm gì mẹ nhỉ? Chúng ta cứ mặc sức muốn làm gì thì làm hay là chúng ta dũng cảm dấn bước theo gót chân Chúa Giê-xu giữa thế gian này? Thái độ sống và cách sống nào tốt hơn để chúng ta chọn? Chúng ta tự xưng chúng ta là con Chúa nhưng thực chất chúng ta không chịu bắt chước Ngài và làm những điều Ngài không muốn tí nào.
- Thôi, thôi, nhãi ranh! Con đang giảng đạo cho mẹ đấy à?
Bà Winslow nhếch môi cười một cách chế nhạo. Rachel hiểu ý mẹ muốn nói. Cô chậm rãi:
- Không, thưa mẹ, con đang tự giảng cho chính mình con.
Ngừng một vài giây để chờ đợi phản ứng của mẹ, thấy mẹ yên lặng, Rachel đứng lên:
- Con xin phép mẹ, con mệt quá, chào mẹ!
Rachel đi về phòng riêng của mình. Vừa đi cô vừa ngẫm nghĩ về cuộc đối thoại vừa rồi của cô với mẹ. Cô có cảm tưởng rằng từ nay về sau cô sẽ không còn trông mong sự đồng tình và tình cảm ưu ái gì từ nơi mẹ nữa. Cô thấy mẹ cô chẳng chịu hiểu cô tí nào, lòng Rachel rối bời vàø buồn rười rượi. Về đến phòng, cô quỳ gối cầu nguyện dâng nan đề này lên cho Chúa. Kể từ khi nhà thờ Tin Lành Raymond xuất hiện người đàn ông vô gia cư rách rưới và chiếc mũ bạc màu sờn nát, đặc biệt là cái chết của anh ta, đã làm chấn động Hội thánh, nhiều tín đồ của Hội thánh đã được thúc giục quỳ gối cầu nguyện với Chúa nhiều hơn. Rachel cũng đã bắt đầu cầu nguyện siêng năng từ dạo đó.
Sau gần nửa giờ thưa chuyện với Chúa, Rachel đứng dậy, mặt cô đầm đìa nước mắt. Cô đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ. Một vài phút sau, cô ngồi vào bàn, viết một lá thư ngắn gởi cho Virginia Page. Xong, cô đi xuống phòng mẹ cô để nói cho mẹ cô biết rằng cô và Virginia sẽ đi đến vùng Rectangle ngay tối hôm nay để gặp ông bà Giáo sĩ Gray.
- Mẹ ạ! Chú của Virginia là bác sĩ West. Ông ấy sẽ cùng đi với chúng con nữa. Con sẽ gọi điện thoại báo cho ông ấy ngay bây giờ. Ông ấy cũng là người bạn thân tình của gia đình Gray.
Bà Winslow cay đắng nuốt sự tức giận và yên lặng. Thái độ của bà đã làm cho Rachel đau khổ vô cùng. Rõ ràng là bà ta chẳng chấp nhận tí nào về đường lối của Rachel.
.... Khoảng 7 giờ tối, bác sĩ West và Virginia cùng xuất hiện trước nhà Rachel. Cả ba người đồng khởi hành trên chuyến tàu đầu tiên đến vùng Rectangle.
Rectangle là một khu vực đông dân lao động được nhiều người biết đến thuộc thành phố Raymond đông đúc này. Nó nằm trên địa thế gần kế các xí nghiệp hoả xa có những dãy toa xe dài san sát. Rectangle là nơi tập trung các khu nhà ổ chuột và nhiều chung cư to lớn chứa đựng những phần tử khốn khổ nhất. Đây là một cánh đồng khô cằn, trơ trụi và dơ dáy. Nó được bao bọc bởi những dãy quán rượu, bia, những sòng bạc, những nhà trọ rẻ tiền và những quán cơm bình dân ẩm thấp và tồi tàn. Thỉnh thoảng trong mùa hè, có những gánh xiếc rong hoặc những đoàn ca nhạc nhỏ đến đây lưu diễn.
Bên cạnh Rectangle thấp hèn là phố phường Raymond sầm uất, sang trọng. Hội thánh ở Raymond chẳng bao giờ lưu tâm đến cuộc sống và con người ở vùng Rectangle. Đối với những tín đồ thuộc giai cấp thượng lưu của Hội thánh Tin Lành Raymond, thì Rectangle là nơi hội tụ những gì xấu xa, bẩn thỉu, kinh tởm và tội lỗi nhất trần gian này, nên họ chẳng mấy khi chịu tiếp xúc, thậm chí còn tìm cách tránh né người dân Rectangle nữa!
Thế rồi có một hôm, ông bà Gray - một gia đình truyền giáo đầy lòng sốt sắng đã được Chúa kêu gọi đến vùng Rectangle này để truyền rao đạo Ngài. Ông Gray đã cùng vợ của mình can đảm đến tiếp xúc và gần gũi với những con người dơ dáy hôi hám trong các khu nhà ổ chuột rách bươm kia. Ông ta dựng lên một chiếc lều vải khá lớn và bắt đầu thực hiện các buổi nhóm thờ phượng Chúa một cách đơn sơ. Các buổi nhóm luôn được kết thúc rất vui vẻ. Giáo sĩ Gray đã trở về Hội thánh Raymond kêu gọi sự giúp đỡ của các tín đồ. Rất nhiều người ủng hộ cho công việc Chúa về tiền bạc nhằm mở mang nhà Chúa ở Rectangle. Thế nhưng về lãnh vực âm nhạc, ông Gray thấy ở Rectangle đang thiếu trầm trọng. Trong các buổi nhóm vào Chúa nhật chẳng có lời ca tiếng hát nào cả để ca tụng Chúa và hỗ trợ cho lời giảng kêu gọi của diễn giả. Thậm chí, khi buổi thờ phượng chấm dứt, trong các phút lễ chung buổi nhóm vắng ngắt đến buồn tẻ vì vắng tiếng đàn dương cầm. Người đàn dương cầm tại đây thường hay bị bệnh, tham dự nhóm không đều lắm.
- Chúng tôi rất cần một số anh chị em trong Hội thánh có giọng hát tốt, có khả năng về âm nhạc để đến Rectangle cộng tác với chúng tôi.
Đó là lời đề nghị của Gray trong buổi thờ phượng Chúa hôm Chúa nhật vừa rồi ở nhà thờ Tin Lành Raymond. Rachel đã hưởng ứng lời đề nghị đó của ông.
Rachel, Virginia và bác sĩ West đã đến căn lều của ông bà Gray vừa kịp giờ.
- Tối nay nhóm hả anh Gray John?
Bà Gray hỏi chồng, rồi cả hai bước vào căn lều, bật đèn và đi sắp xếp bàn ghế lại cho ngay ngắn.
- Ừ, tối nay nhóm. Có một số anh em con cái Chúa từ thành phố Raymond đến cùng thờ phượng Chúa với chúng ta nữa.
Gray nhỏ nhẹ trả lời vợ. Gray là một người đàn ông nhỏ thó nhưng đầy nghị lực. Ông có một giọng nói vui vẻ, đầy tự tin và can đảm. Ông vốn là một võ sĩ có tiếng của một dòng dõi quý phái. Ông đến đây chấp nhận làm bạn với những người láng giềng ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần để nói về Chúa cho họ. Trong số những người mà ông đã làm chứng tin Chúa, có một người đàn ông có bộ mặt dữ tợn và nặng nề. Anh ta cũng đã đến sớm để cùng ông sắp xếp bàn ghế, chuẩn bị cho buổi thờ phượng Chúa tối nay.
Buổi nhóm bắt đầu vào lúc 8 giờ tối. Lúc đó, Alexander Power đang rời phân xưởng của mình, trên đường trở về nhà. Xe của ông đang chạy ngang căn lều của Gray, ông chợt giật thót mình vì nghe rõ ràng giọng hát quen thuộc của Rachel từ lều vọng ra.
Alexander ngạc nhiên, thắc mắc:
“Nghe kìa! Cô ta đang hát gì vậy? Làm sao Rachel lại có can đảm xuất hiện ở đây nhỉ?”
Gần phía trước căn lều, nhiều người đang cãi lộn trong quán rượu chợt dừng lại lắng nghe. Nhiều cửa sổ của quán trọ được kéo lên, có những gương mặt thò ra nghe ngóng. Một số người rảo bước về phía chiếc lều đang có tiếng hát của Rachel vọng ra lảnh lót, trong trẻo. Rõ ràng là Alexander chưa bao giờ được nghe Rachel Winslow hát hay như thế trong nhà thờ Raymond. Thật là một giọng hát kỳ diệu như giọng hát thiên thần. “Cô ta đang hát về điều gì?” Alexander lại tự hỏi và dường như có một sức hút vô hình khiến ông quyết định dừng xe trước căn lều để nghe lời bài hát rõ hơn.
“Giê-xu Christ dẫn dắt tôi xin theo.
Dầu đi đâu, tôi quyết đi theo thường.
Tôi không kể khoảng khoát hay cheo leo,
Mừng đi với Ngài, với Ngài chung một đường”
Vì mãi nghe hát, nên một người nào đó đã đâm sầm vào Alexander. Ông ngoái đầu nhìn vào căn lều một lần nữa rồi lên xe về nhà. Tiếng hát của Rachel vẫn còn văng vẳng bên tai khiến ông thấy bình an và trong lòng lâng lâng. Ông nhận đựơc sự cảm thúc mãnh liệt hơn khi ông đặt câu hỏi Chúa Giê-xu sẽ làm gì đối với nan đề của chính ông?

Chương 8
“Nếu người nào muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi,
vác thập tự giá mình mỗi ngày mà theo Ta”
Trong phòng làm việc, Mục sư Henry Maxwell đi đi lại lại suy nghĩ: “Tối nay mình sẽ chia xẻ gì với Hội thánh đây?” Ông đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, những ống khói cao của xưởng hoả xa ngang tầm mắt ông. Phía Rectangle xa xa, nóc căn lều của nhà truyền giáo Gray nhô lên lấp ló. Một vài phút sau, Henry ngồi vào bàn làm việc. Một thoáng quyết định, ông đặt bút viết hàng chữ in lớn trên tờ giấy để sẵn: “MỘT SỐ VIỆC MÀ CHÚA GIÊ-XU SẼ LÀM TRONG HỘI THÁNH NÀY:
1. Sống giản dị và thẳng thắn. Không xa hoa cũng không khổ tu, ép xác.
2. Mạnh dạn lên án những cách sống giả hình trong Hội thánh. Không thiên vị ai.
3. Tỏ tình thương và sự quan tâm thành thật đối với người nghèo khổ lẫn người giàu có. Không phân biệt giai cấp.
4. Sẵn sàng dấn thân và chịu khổ vì công việc Chúa một cách thực tế.
5. Cố gắng gần gũi, tiếp cận và làm chứng về Chúa Giê-xu cho người dân lao động ở Rectangle.
6. Không ủng hộ, không đồng tình với những quán rượu ở Raymond và Rectangle.
7. Từ bỏ ý định đi nghỉ hè năm nay ở Âu châu. Dùng số tiền đó giúp người nghèo, thất nghiệp.
Viết đến đây, Henry bỗng nhớ đến người đàn ông vô gia cư xấu số hôm nọ vô cùng. Ông bị ám ảnh mãi về những lời anh ta nói trước Hội thánh trong buổi nhóm hôm đó. Rõ ràng công việc Chúa tại Raymond có chiều rộng mà thiếu chiều sâu - ông tự đánh giá như vậy. Ông đang nỗ lực tìm hiểu và rút ra các phương pháp, để có kế hoạch bước theo chân Chúa Giê-xu cách hiệu quả hơn. Nếu cứ để tình trạng hầu việc Chúa một chiều hời hợt như thế này mãi thì ông thấy tâm linh đau đớn vô cùng. Sinh hoạt tôn giáo ở Raymond sẽ dần dần trở thành phương tiện sống đầy ích kỷ của tầng lớp quý tộc thượng lưu ở thành phố sầm uất này. Đồng thời Tin Lành mất dần quyền năng và mục tiêu của Chúa Giê-xu bị con người đánh mất một cách đáng tiếc.
Mục sư Henry cảm thấy vấn đề thể hiện tinh thần của Chúa Giê-xu một cách cụ thể trong mọi khía cạnh đời sống Cơ Đốc nhân là sự cần thiết.
Mãi suy nghĩ, ông không nghe tiếng chuông cửa rung liên hồi. Mặt lát sau, người giúp việc chạy vào báo cho ông biết có một người khách tên là Gray muốn gặp ông.
Mục sư Henry ra tận đầu cầu thang đón Gray bằng một cái bắt tay thân thiện:
- Chào ông Gray!
- Chào mục sư! - Gray chào lại, xong ông ta đi thẳng vào vấn đề:
- Thưa mục sư! Tôi cần sự giúp đỡ của ông.
- Thế nào? Tình hình ở Rectangle ra sao?
- Hôm qua chúng tôi tổ chức buổi nhóm truyền giảng. Cô Rachel có tham dự và thật là phước hạnh, giọng hát kỳ diệu của cô ta đã lôi cuốn hàng bao nhiêu người. Căn lều thì nhỏ mà người đến dự nhóm, nghe Rachel Winslow hát thì quá đông nên căn lều chật cứng!
- Tôi có nghe điều đó hồi sáng. Lần đầu tiên người dân ở Rectangle được nghe Rachel hát hay như thế, chắc họ được khích lệ nhiều lắm phải không?
- Đúng vậy, thưa mục sư. Điều ấy là một khải tượng kỳ diệu cho chúng tôi. Đó chính là một biến cố khích lệ sự hầu việc Chúa của chúng tôi ở Rectangle. Hôm nay tôi ghé thăm mục sư và xin mục sư có thể sắp xếp đến Rectangle ban phát Lời Chúa cho tân tín hữu cùng với thân hữu vào tối nay không? Mấy bữa nay tôi bị cảm lạnh, giọng nói khàn quá e rằng tôi không giảng được nên tôi vội đến đây. Tôi biết rõ ông rất bận rộn nhưng tôi không muốn bỏ buổi nhóm tối nay. Nếu ông giúp được thì thật tốt cho chúng tôi.
- Tôi xin lỗi, tối nay tôi phải chia xẻ Lời Chúa ở buổi nhóm cầu nguyện của Hội thánh.
Mục sư Henry ngưng lại vài giây suy nghĩ, chợt khuôn mặt ông rạng rỡ lên, tựa như ông đã tìm thấy được một giải pháp nào đó để khắc phục sự bận rộn:
- À, mà thôi, tôi sẽ cố gắng sắp xếp thật ổn thoả để có mặt ở căn lều của ông ở Rectangle vào tối nay kịp giờ nhóm. Ông cứ tin tưởng nơi tôi!
- Tôi xin cảm ơn mục sư trước! Thôi, xin chào ông, hẹn gặp lại vào tối nay! - Gray toan bước đi.
Mục sư Henry nắm lấy tay Gray:
- Ông Gray! Sao ông không nán lại đây thêm ít phút nữa. Hai chúng ta sẽ cùng hiệp ý cầu nguyện với Chúa.
- Vâng! - Gray trả lời đồng tình một cách đơn giản.
Thế rồi, hai người cùng nhau quỳ gối xuống ngay trong phòng làm việc của Henry, cầu nguyện cách tha thiết.
Mục sư Henry cầu nguyện đơn sơ như một đứa trẻ nhưng rất cảm động. Ông xin Chúa ban cho ông sự khôn ngoan và năng lực để ông có thể chia xẻ sứ điệp của Chúa cho dân chúng ở Rectangle vào tối nay.
Dứt lời cầu nguyện. Gray đứng lên bắt tay Henry:
- Xin Chúa ban phước cho mục sư. Tôi tin chắc Đức Thánh Linh sẽ ở cùng ông và ban quyền năng cho ông trong sự giảng dạy đêm nay.
Mục sư Henry yên lặng. Ông không dám tin ngay vào lời chúc đó của Gray, ông cũng không dám dựa vào năng lực của chính mình. Nhưng chợt nhớ đến sự hứa nguyện với Chúa Giê-xu, ông cảm thấy bình an đang tràn ngập trong lòng ông.
.....Trời nhá nhem tối, Mục sư Henry bước vào phòng nhóm cầu nguyện của Hội thánh và ngạc nhiên vô cùng khi thấy phòng nhóm chật ních những người là người. Trong phòng nhóm xuất hiện nhiều khuôn mặt mới, họ đã được Chúa kêu gọi vào công việc Chúa và bắt đầu bằng những buổi nhóm cầu nguyện như tối nay.
Chờ một vài phút cho mọi người ổn định, Mục sư Henry bước lên phía trước và ôn tồn đi ngay vào vấn đề:
- Thưa các bạn! Tôi được Chúa kêu gọi đi Rectangle ngay tối nay. Tôi xin vắng mặt ở đây sau một vài phút nữa. Bây giờ tôi muốn một số người có mặt hôm nay hãy đi cùng tôi đến Rectangle để phụ giúp ông Gray lo công việc Chúa ở đó tối nay. Còn lại, các bạn cứ tiếp tục tiến hành nhóm cầu nguyện bình thường để xin quyền năng Đức Thánh Linh đồng công với chúng ta lo công việc Chúa trong những ngày đến.
Hưởng ứng lời đề nghị của Mục sư Henry, có sáu người tình nguyện đi với ông đến Rectangle. Khi họ đến nơi, căn lều đã đông nghẹt người. Họ phải chen chân một cách khó khăn mới đến được hàng ghế đầu gần bục giảng. Rachel và Virginia Page cùng với Japer Chase cũng đã có mặt ở đó. Buổi nhóm được bắt đầu bằng một bài đơn ca của Rachel. Kế đến, cả hội chúng cùng hát một bài thánh ca. Căn lều có vẻ ngột ngạt vì quá đông người.
Rachel đứng lên kêu gọi mọi người hãy tham gia vào ca đoàn để tập hát tôn vinh Chúa. Bên ngoài căn lều, lố nhố nhiều gương mặt lấm lem, đa số là thanh thiếu niên và có cả mấy cụ già gầy guộc vây quanh nhìn vào trong lều, tò mò giương mắt quan sát buổi nhóm và nghe Rachel hát. Sau lời cầu nguyện khai lễ của một mục sư, ông Gray đứng lên trình bày lý do tối nay ông không thể giảng được, rồi ông trân trọng giới thiệu:
- Kính thưa quý ông, bà, anh, chị, em! Tối nay chúng ta sẽ được nghe một mục sư giảng dạy Lời Chúa.
- Mục sư nào vậy? - Từ bên ngoài lều, một giọng đàn ông khàn khàn vang lên.
- Đó là Mục sư Henry Maxwell của Hội thánh Tin Lành Raymond. Đồng thời, tối hôm nay cũng có một số anh em con cái Chúa ở Hội thánh Raymond cùng đi với Mục sư Henry đến dự nhóm với chúng ta.
Sáu người cùng đi với Henry đồng loạt đứng dậy quay người xuống chào Hội thánh.
- Có phải ông vừa nói đến vị mục sư ở Hội thánh Tin Lành Raymond hả? Ồ! Tôi biết ông Henry ấy.
Ông chủ quán rượu trước căn lều hỏi Gray. Hỏi xong, ông ta cười thành tiếng đầy sự chế nhạo.
- Hãy nghĩ đến thực tế cuộc sống, giữa dòng đời tăm tối. Hãy cố gắng vượt qua sóng gió tối tăm, ơi người ơi!
Một người say rượu nào đó đi ngang căn lều và hát nghêu ngao. Hát xong, hắn ta cười man dại. Mọi người trong căn lều đều quay lại nhìn về hướng gã say rượu. Có những tiếng la lớn:
- Bắt nó im đi!
- Hãy hát, hát lớn đi! Cô ca sĩ hồi nãy đâu rồi? Hãy hát cho chúng tôi nghe một bài ngợi khen Chúa đi!
- Xin Mục sư Henry bắt đầu đi!
Một sự ồn ào hỗn độn nối tiếp nhau ở phía dưới làm át tinh thần Henry. Ông đứng lên, chậm rãi tiến về phía bục giảng.
Ông đang dồn sự bình tĩnh cho lời mở đầu. Ông biết rõ rằng hiện tại không phải ông đang đối diện để giảng cho những người sang trọng và có tư cách ở trên Raymond với những lời văn vẻ trau chuốt. Ông đang đứng trước một tập thể đủ hạng người, ồn ào và phức tạp ở Rectangle bê bối này.
Henry bắt đầu nói nhưng chẳng mấy ai chú ý nghe. Họ mãi xì xầm về gã say rượu nên ồn ào vô cùng. Ông Gray bước xuống đi đến từng hàng ghế nhắc nhở mọi người giữ trật tự nhưng chẳng ăn thua gì. Đến lúc Henry cất cao giọng, đưa tay lên cao ra hiệu xin yên lặng, họ mới bắt đầu chú ý, hướng về phía ông. Nhưng bên ngoài lều tiếng ồn ào lại nổi lên gấp bội. Thấy tình hình trật tự càng lúc càng tệ, Mục sư Henry Maxwell buồn rầu, nói nhỏ với Rachel:
- Hay là cô Rachel lên hát tiếp một bài gì nữa đi! Tôi hi vọng họ sẽ lắng nghe cô!
Rachel vâng lời Henry, sửa lại y phục một chút, xong cô bước lên bục giảng thế vào chỗ của Henry vừa rời khỏi. Cô ra hiệu cho Virginia dạo đàn điệp khúc bản thánh ca 271 và cô hát ngay vào lời của điệp khúc ấy:
“Giê-xu dắt tôi, Giê-xu dắt tôi
Chính tay Giê-xu hằng dẫn dắt tôi.
Nguyện làm môn đồ tín trung suốt đời
Bởi tay Giê-xu dìu dắt không rời...”
Thật lạ thay, mọi sự ồn ào ở trong lẫn ngoài lều đều im bặt khi tiếng hát của Rachel vừa cất lên. Mọi người đều tập trung hướng về phía Rachel, yên lặng nghe cô hát. Những cặp mắt mở to, những cái miệng há hốc lộ vẻ kinh ngạc lẫn thán phục, như muốn nuốt từng lời từng chữ từ miệng Rachel thoát ra.
“... Dẫu có khi gặp nguy cảnh nghịch thời....
Nắm tay Giê-xu thật chẳng nao lòng....”
Mục sư Henry nhìn thấy sự thay đổi tình hình nhanh chóng của đám động ồn ào vừa ban nãy, ông cảm động vô cùng. Ông thầm cám ơn Chúa và cám ơn Rachel.
Bỗng nhiên, có một số người trong đám quần chúng lem luốc, lộn xộn đang chen chân bên ngoài cửa lều bật khóc và run rẩy. Mục sư Henry cảm nhận được rằng đang có sự hiện diện của Đức Thánh Linh trên buổi nhóm.
Về phần Jasper Chase, anh ta ngồi nhìn Rachel hát một cách say sưa như dán mắt vào khuôn mặt xinh đẹp và rạng rỡ của cô ấy.
Thật bất ngờ cho Rachel, giữa đám đông nhớp nháp bụi đất hôm nay lại có mặt của Rollin - em trai Virginia. Anh chàng vận trang phục thật đẹp đẽ và lịch sự. Mọi người quanh Rollin trố mắt nhìn vào anh ta và có người lẩm bẩm: “Một gã công tử bột!”
Rollin không chú tâm đến mọi người mà chỉ lo lấn chân, chen dần lên phía trước để được ngắm Rachel cho rõ hơn. Vẻ đẹp và giọng hát trong ngần của Rachel đã thu hút anh ta tưởng chừng như trọn vẹn.
Khi Rachel vừa ngừng hát, Mục sư Henry vội đứng lên giữa sự chú ý của mọi người. Ông bắt đầu cho bài chia xẻ bằng lời chào chậm rãi, nhã nhặn:
- Xin chào tất cả quý ông bà anh chị em!
Ông tiếp tục trình bày cho thính giả về sứ điệp cứu rỗi của Đức Chúa Trời, chỉ ra thực trạng của con người, và cách giải quyết ...
Trong những giờ phút quý báu mà Mục sư Henry được chia xẻ lời Chúa cho quần chúng, tâm trí ông mở ra, ông được thúc giục với câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” đối với đám đông nghèo khổ và rách rưới này. Ông nhớ lại rằng, trong Kinh Thánh có ghi rõ cuộc đời yêu thương tuyệt vời của Chúa Giê-xu dành cho người nghèo là thể nào. Tại sao giờ đây mình lại không thể bắt chước tâm tình của Chúa đối với đám người khổ cực ở Rectangle này? Tin Lành và tình thương của Chúa đâu chỉ để dành riêng cho người giàu có, trí thức mà thôi, người nghèo cũng phải được đón nhận ân điển của Chúa Giê-xu nữa chứ! Càng suy nghĩ, Mục sư Henry càng cảm thấy mình thiếu sót và xúc động chân thành khi đưa mắt nhìn khắp lượt những người dân lam lũ ở Rectangle này.
Buổi nhóm được chấm dứt vào lúc 9 giờ tối. Mọi người rời khỏi lều nhanh chóng. Kể từ ngày ông Gray đến dựng lên căn lều đến nay, cứ đến giờ nhóm thì các quán rượu quanh lều vắng khách vì mọi người bận đổ xô lại vây quanh lều xem nhóm và nghe hát. Còn khi buổi nhóm vừa kết thúc thì sau đó vài phút, các quán xá lại nổi nhạc xập xình, người vô kẻ ra nhậu nhẹt nhộn nhịp. Henry cùng với Virginia, Rachel và Jasper Chase đi ngang qua các quán rượu, các quán bia, đầy những gã đàn ông ngật ngưỡng, tóc tai bù xù, râu ria lởm chởm.
- Đây là một địa điểm kinh khủng!
Mục sư Henry chép miệng bình luận.
- Tôi chưa bao giờ tưởng tượng được rằng Raymond lại có một ung nhọt đau đớn thể này. Một thành phố có tín đồ Cơ Đốc đông đảo như Raymond mà lại quá dửng dưng đối với những con người bê bối thối tha ở Rectangle như thế kia sao?
- Thưa mục sư! Ông có hi vọng rằng, một người nào đó sẽ có khả năng dẹp bỏ và huỷ phá được tệ nạn rượu chè be bét kia không?
Jasper Chase vừa hỏi vừa đưa tay chỉ về phía một quán rượu nằm ở phía bên kia đường.
- Tại sao lại phải hi vọng vào một người khác nhỉ? Anh em con cái Chúa chúng ta có thể làm được điều ấy. Chúa Giê-xu sẽ làm gì? Chẳng lẽ Ngài chịu nín lặng sao? Ngài sẽ đồng tình cho tội lỗi và sự chết lan tràn sao? Tôi đang nghĩ: Tại sao chúng ta không hiệp sức hiệp lòng để xoá bỏ những tội lỗi làm ô uế đồng loại chúng ta được nhỉ? Có phải chúng ta giả điếc và làm ngơ một cách vô tội vạ trước bao nhiêu tội nhân đang ngập ngụa trong tội lỗi?
Dường như Henry đang nói với chính mình. Giọng ông trầm xuống và nhỏ lại trong sự hối tiếc. Thỉnh thoảng ông lại chép miệng một cách đau đớn trên suốt đoạn đường trở về Raymond tối hôm đó.
Suốt cả ngày hôm sau, Henry cứ ngồi lì trong phòng làm việc và suy nghĩ mãi về vấn đề ở Rectangle “Chúa Giê-xu sẽ làm gì đối với vấn đề này?” Đó là câu hỏi trực diện trong đầu ông luôn luôn. Đến chiều, có tiếng gõ cửa, vợ ông mang vào cho ông một tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” có đăng bài xã luận của Edward Norman với hàng tít lớn “MẶT ĐẠO ĐỨC CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ”. Bài xã luận nói rằng: “...liệu các biện pháp và các nguyên tắc mà các đảng chính trị đưa ra có phù hợp với sự dạy dỗ và tinh thần của Chúa Giê-xu, tác giả của tiêu chuẩn sống vĩ đại nhất mà con người đã được biết và học hỏi hay không? Khía cạnh đạo đức của mỗi vấn đề chính trị sẽ được coi là quan trọng nhất nếu khía cạnh đạo đức đó phù hợp với tiêu chuẩn sống mà Chúa Giê-xu đã sống và dạy dỗ con cái Đức Chúa Trời” Bài xã luận còn nêu rõ ý mới mẻ sau: “Nếu có ai đến xin việc làm ở toà soạn, người đó có phẩm cách đạo đức tốt, có nếp sống phù hợp với nếp sống của Chúa Giê-xu thì toà soạn sẽ nhận vào làm ngay, bất kể người đó đang trực thuộc đảng phái chính trị nào...”
Henry lướt mắt khắp tờ báo. Ông vừa sửng sốt vừa cảm động đến trào lệ. Trên khuôn báo, những cột quảng cáo rượu bia, thuốc lá không còn đăng nữa. Cả những vụ xì-căng-đan về đời tư của người này người kia cũng vắng mặt.
Bà Henry nói cho chồng biết rằng khi tờ “Tin Tức Hằng Ngày” chiều nay được phát hành, Raymond xôn xao dư luận. Nhiều lá thư phản hồi tới tấp đến toà soạn. Các độc giả mua báo dài hạn bị kích động dữ dội. Họ hoang mang và xì xầm về đường lối hành động của toà soạn. Nhiều người còn mạnh dạn tuyên bố rằng với kiểu này toà soạn tờ “Tin Tức Hằng Ngày” sẽ sập tiệm trong nay mai. Đồng thời, khi họ đọc được bài xã luận của Edward - chủ bút tờ báo, họ càng ngẩn người ra, cho rằng đây là sự kiện lạ hoặc giả là ông chủ bút đã bị khùng thực sự!
Đến tối, sau bữa cơm, Henry cầm lấy tờ báo đọc lại bài xã luận lần nữa. Ông thật kinh ngạc khi nhìn thấy phía dưới mỗi bài báo, tác giả đều ký tên cẩn thận và có ghi rõ cả họ tên của mình. “Như thế có nghĩa là ông Eward Edward đã trung tín giữ lời hứa nguyện của ông với Chúa rồi. Ông đã buộc các phóng viên của ông phải ký tên dưới các bài báo. Các phóng viên phải chịu trách nhiệm công khai với nội dung bài viết của mình. Với cách này, Edward Norman đã loại ra khỏi trang báo các bài viết ẩu, viết bừa kém chất lượng. Edward cừ thật! Ông ta đã áp dụng nguyên tắc đặt và trả lời câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” vào trong công việc của Toà soạn rồi đấy!...” Mục sư Henry thầm nghĩ như thế.
- Mary ơi! - Thình lình, Henry gọi vợ - Nghe anh đọc nè!
- Về điều gì thế?
Vợ ông nhìn vào bài báo mà ông đang đọc dở.
- “...Sáng nay, Alexander Powers quản đốc xí nghiệp L và T.R.R trong thành phố Raymond đã nộp đơn xin từ chức. Ông quản đốc cho biết lý do của việc từ chức là vì ông ta có những bằng cớ chắc chắn về sự vi phạm luật thương mại liên bang và cũng như luật của tiểu bang trực thuộc mà gần đây đã được đưa ra nhằm ngăn chặn và trừng phạt những công ty nào hoặc bất kỳ ai có số lượng hàng hoá được chuyên chở quá quy định hoặc gây quỹ tín dụng quá mức cho phép. Ông Alexander tự khẳng định mình là một trong những nhân chứng chống lại Hoả xa về vấn đề này. Ông đã chuyển các bằng chứng chống lại công ty Hoả xa đến Uỷ ban và đề nghị Uỷ ban phải hành động. Ông Alexander đã làm cho đồng nghiệp trong giới kinh doanh với ông kinh ngạc vô cùng. Người ta cho rằng hành động điên rồ của ông đã chôn vùi sự nghiệp đồ sộ của ông một cách đáng tiếc. Trong tình thế này, Alexander chẳng thu được lợi lộc gì. Ngược lại, ông ta đã tự đánh mất một địa vị xã hội có giá. Nếu Alexander im lặng hoặc làm ngơ trước những vụ việc như vậy thì ông ta sẽ giữ được địa vị của ông là điều chắc chắn. Với sự kiện này, người công dân lương thiện rất vui mừng và đồng tình ủng hộ Alexander. Trong đơn tố cáo kèm theo đơn xin từ chức, Alexander có chỉ ra những sự làm ăn bê bối cốt thu được nhiều lợi nhuận tối đa bất kể các hoạt động kiếm tiền đó gây ra hoặc để lại hậu quả gì cho quần chúng, nhất là những người lao động nghèo khổ. Alexander cam đoan một điều rằng nếu Uỷ ban liên bang cứ để xảy ra tình trạng này, không chóng thì chày các tiêu chuẩn đạo đức xã hội con người sẽ bị phá hoại nghiêm trọng, người ta không thể sống trong một xã hội bất lương tự do mà pháp luật lại làm ngơ với họ. Theo sự phán đoán của chúng tôi, có lẽ ông Alexander đã hành động vì một động cơ thôi thúc đặc biệt: ông ta làm vì Chúa Giê-xu của ông ta. Ông ấy đã làm một công việc mà chỉ có một Cơ Đốc nhân mới có thể làm. Đó là một công việc hữu ích cho tiểu bang và công luận nói chung. Cũng phải công nhận rằng đó là một hành động can đảm và hiếm có trong giới kinh doanh. Bước đi của Alexander đã khích lệ nhiều người tin tưởng vào quyền lực của luật pháp, góp phần khôi phục đạo đức con người. Ông Alexander đã làm một việc của một người công dân yêu nước yêu người nghèo có thể làm. Bây giờ, công chúng đang nóng lòng chờ đợi Uỷ ban hành động và mong muốn luật pháp sớm thi hành”.

Chương 9
Henry Maxwell đọc xong, vội bỏ tờ báo xuống và đứng lên:
- Tôi phải đi gặp Alexander mới được. Đây chính là kết quả của sự hứa nguyện chân thành của ông ta.
Nói xong, ông bỏ đi ra khỏi phòng làm việc. Vợ ông hỏi với theo:
- Henry! Thế anh có nghĩ rằng Chúa Giê-xu sẽ làm như thế không?
- Vâng! Anh nghĩ Chúa Giê-xu sẽ làm như thế. Dù sao đi nữa, Alexander cũng đã quyết định xong xuôi cả rồi. Mỗi chúng ta đã cùng hứa nguyện với Alexander thì phải hiểu điều đó cho ông ấy. Ông ấy không quyết định đạo đức của Chúa Giê-xu cho một người nào khác, chỉ cho chính ông ta mà thôi.
- Còn gia đình ông ấy ra sao? Làm thế nào mà bà Power và cô Celia dễ dàng chấp nhận điều ông ấy làm?
- Rõ ràng là không dễ dàng chút nào cho ông ấy hành động. Nhưng đó chính là thập tự giá mà Alexander phải vác trong lúc này. Tôi đoán rằng họ không hiểu được động lực khiến cho ông ta hành động như thế.
Henry bảo vợ cứ dùng cơm tối trước đừng chờ ông. Một mình, Henry lái xe đến thẳng nhà riêng của Alexander. Đích thân Alexander ra mở cửa đón Henry sau khi nghe tiếng chuông cửa vang lên dồn dập. Hai người lặng lẽ bắt tay nhau. Alexander lập tức hiểu ngay lý do Mục sư Henry đến nhà ông trong thì giờ này.
- Rồi ông sẽ làm gì trong những ngày đến?
Henry hỏi Alexander sau một vài phút hai người cùng bàn luận vấn đề của Alexander.
- Tôi cũng chưa có kế hoạch nào trước mắt. Có thể tôi trở lại nghề cũ của tôi cách đây mấy năm: làm điện báo viên. Tôi hy vọng nhà tôi sẽ không đến nỗi thiếu thốn gì ngoại trừ sự tai tiếng ngoài xã hội và dư luận gièm pha của thiên hạ.
Alexander nói một cách buồn bã. Tuy không hỏi về tình hình và thái độ của vợ con Alexander thế nào, nhưng Henry hiểu ông quản đốc này đã chịu đau khổ về điều ấy không phải là ít.
- Ông Henry à! Ông cần phải giúp tôi điều này. Tôi sẽ không còn đủ thẩm quyền đi đến trông nom và mở rộng căn phòng trống mà tôi đã hứa và mời công nhân hoả xa đến nghỉ ngơi tạm buổi trưa như ông đã có lần đến nói chuyện với họ đó! Vậy, ông hãy cố gắng lưu tâm và lui tới thường xuyên căn phòng ấy và tìm cơ hội nói chuyện với họ. Ông thấy thế nào?
- Được rồi! Ông yên tâm đi, tôi sẽ cố gắng hết sức. Chúng ta cần hiệp lực với nhau để làm việc.
- Tôi nghĩ, một công ty hoả xa dần dần có nhiều công nhân lương thiện, tin nhận Chúa, ngay thật thì công ty đó phải trả giá rất đắt cho lợi ích đem lại cho nó. Tôi muốn Tin Lành được lan xa và ảnh hưởng rộng lớn trong giới công nhân và người lao động nghèo khổ. Bây giờ, hai chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện xin Đức Thánh Linh dẫn dắt chúng ta.
Henry đồng ý, hai người lặng lẽ khép cửa lại và quỳ xuống cầu nguyện.
Sau đó, Henry đứng lên bắt tay và xiết chặt tay Alexander.
- Thôi, tôi xin chào ông! Xin Chúa ở cùng ông và gia đình trong những ngày tháng tới. Ngài biết rõ công việc của ông đã và đang làm đấy Alexander ạ!
Alexander gật đầu, đôi mắt ông ngấn nước. Mục sư Henry về đến nhà mà lòng ông cứ xôn xao mãi về những biến cố đã xảy ra trong tuần. Ông nhận thấy lẽ thật của Chúa đang dần dần lớn lên trong ông và con cái Chúa ở Raymond. Sự hứa nguyện làm theo như Chúa Giê-xu sẽ làm đang hình thành một cuộc cách mạng mạnh mẽ trong Hội thánh ông và lan ra khắp cả thành phố. Mỗi ngày mỗi có thêm kết quả quan trọng của sự vâng lời làm theo điều hứa nguyện đó. Henry đang nghĩ đến Edward Norman, Rachel, Virginia và cả Alexander và các hành động cụ thể mà họ đang tiến hành để thực hiện lời hứa nguyện của họ với Chúa Giê-xu, mở màn cho một sự thay đổi tư tưởng, suy nghĩ của những Cơ Đốc nhân không những chỉ diễn ra ở thành phố Raymond không thôi mà còn có khả năng lan rộng ra khắp Hiệp chủng quốc Hoa-kỳ. Đồng thời, Henry cũng băn khoăn sẽ có không ít người tháo lui khi họ phải đối diện với thực tế, khi nhận thấy thập tự giá mà họ đang vác trên vai quá ư nặng nề đối với họ.
Bỗng có điện thoại reo. Henry nhấc ống nghe:
- Alô! Ai đó?
Tiếng vọng lại từ đầu dây bên kia:
- Dạ, thưa mục sư, con, Fred đây ạ! Giờ này nói chuyện với Mục sư có phiền chi không ạ?
- Ồ! Không, không! Cứ tự nhiên và tiếp tục đi. Có chuyện gì vậy con trai?
Mục sư Henry nở một nụ cười trên môi. Ông vốn rất thích cậu thanh niên tên Fred này. Cậu ta là một thanh niên Cơ Đốc gương mẫu, hiền hậu, siêng năng và năng nổ của ca đoàn Thanh niên Hội thánh Tin Lành Raymond. Cậu ta cũng là một phóng viên giỏi của tờ báo “Sentinel buổi sáng”.
- Mục sư ơi! Con vừa bị đuổi việc!
- Sao! Bị đuổi việc à? - Henry tỏ vẻ ngạc nhiên, giọng nói hơi lớn.
- Thế này, sáng Chúa nhật tuần rồi, con chuẩn bị đi nhà thờ thì ông chủ bút của con gọi điện thoại bảo con phải đi công tác gấp cho toà soạn. Công việc cụ thể là đến Jonnetion điều tra và lấy tin tức về vụ trộm xe lửa ở đó, viết bài cho kịp phát hành số phụ trang của báo vào sáng thứ hai. Con từ chối không chịu đi Jonnetion vì con không muốn vắng mặt vào ngày thờ phượng Đức Chúa Trời. Sau khi con đặt câu hỏi Chúa Giê-xu sẽ làm gì? Và con nhận thấy một cách thành thực rằng Chúa cũng sẽ không đi Jonnetion trong sáng Chúa nhật đâu. Thế là con mạnh dạn từ chối với ông chủ của con thêm một lần nữa. Ông ấy bảo con là đồ điên, dám trái lệnh của chủ và ông ta tức giận viết quyết định cho con thôi việc.
- Con nhận quyết định ấy lúc nào?
- Dạ mới hôm qua thôi! Nhưng mà....
Fred ngập ngừng...
- Thưa mục sư! Đối với trường hợp của con, mục sư có nghĩ rằng Chúa Giê-xu sẽõ làm như con đã làm không? Đôi khi con suy nghĩ rằng một Cơ Đốc nhân hành động từ những động cơ mới nhìn qua thì dường như quá lạ lùng, quá điên rồ nhưng thực chất đâu phải thế phải không mục sư? Mục sư nghĩ thế nào về con?
- Tôi nghĩ là con đã giữ được lời hứa nguyện với Chúa, Fred ạ. Tôi rất vui mừng và cảm tạ ơn Chúa vô cùng. Chúa Giê-xu cũng không bao giờ làm những việc như việc ông chủ của con đã yêu cầu con làm. Fred ơi! Can đảm lên, Chúa sẽ không bỏ cho con khổ sở đâu!
- Cảm ơn mục sư! Xin ông cầu nguyện nhiều cho con nghen!
- Fred! Con có dự định cụ thể nào cho những ngày tới không?
- Con cũng chưa biết nữa, có lẽ con phải đi đến Chicago hay một thành phố lân cận nào đó để xin việc làm.
- Tại sao con không thử đến toà soạn báo “Tin Tức Hằng Ngày”?
- Ở đó có đủ người rồi. Họ không cần con đâu!
- Hãy đến toà soạn báo “Tin Tức Hằng Ngày” với tôi. Tôi sẽ gặp ông Edward, chủ bút tờ báo, để xin cho con một chỗ làm mới ở đó. Cố gắng sau nửa tiếng nữa phải có mặt ở đó nhá!
- Dạ, xin cảm ơn Mục sư. Con sẽ đến đó đúng giờ.
Fred cúp máy. Mục sư Henry ngồi thừ ra suy nghĩ một lát. Đoạn, ông vội vàng thu xếp, nhanh chóng đi đến toà soạn tờ “Tin Tức Hằng Ngày”ø. Fred cũng đã có mặt ở đó kịp lúc với ông. Edward vui vẻ mời hai người vào phòng khách. Sau một vài phút trao đổi với Henry, Edward ôn tồn bảo Fred:
- Tôi sẽ nhận cậu vào làm ở toà soạn này. Tôi không muốn phóng viên của tôi phải làm việc vào Chúa nhật. Cậu có sẵn thiện chí đó càng tốt. Vả lại, tôi đang cần một phóng viên có năng lực và có lòng yêu mến Chúa cách thành thật để triển khai một loại phóng sự đặc biệt và mới mẻ cho tờ báo. Tôi tin vào khả năng và nhiệt tình của cậu đối với Cứu Chúa Giê-xu của chúng ta. Cậu cũng đã hứa nguyện với Chúa phải không? Ờ, tốt quá! Tôi lại có một người bạn tâm tình làm việc bên tôi. Chúng ta cùng nâng đỡ nhau để vác thập tự giá bước theo Chúa Giê-xu mỗi ngày. Tôi tin chắc Chúa sẽ nhớ đến công việc của chúng ta.
- Dạ, cháu xin cảm ơn sự giúp đỡ của ông và mục sư rất nhiều. Cháu hứa sẽ cố gắng làm tốt những công tác được giao.
Morris Fred phải ở lại để Edward dặn dò và bàn giao công việc thêm. Mục sư Henry tạm biệt hai người và đi về trước. Trên đường về ông đi ngang qua các cửa hàng của Milton Wright. Ông dừng xe và dự định chỉ vào thăm Milton trong giây lát rồi sẽ đi về ngay. Không ngờ, lúc bước vào văn phòng của Milton, ông được Milton mời ngồi lại để trò chuyện về vấn đề của ông ta.
- Ông Henry ạ! Tôi đã bước vào cách mạng hóa toàn bộ phương pháp làm ăn của tôi kể từ hôm tôi hứa nguyện với Chúa. Trong hai mươi năm về trước, tôi đã làm rất nhiều việc mà bây giờ nghĩ lại tôi biết Chúa Giê-xu sẽ không bao giờ làm như thế, mặc dù những việc ấy giúp tôi phất lên nhanh chóng do hái được nhiều tiền. Bây giờ, tôi quyết định từ bỏ những cách thức làm ăn cũ, và chỉ làm những việc gì mà tôi cảm nhận rằng Chúa Giê-xu sẽ làm mà thôi, dù cho kết quả công việc là lỗ lã đi chăng nữa.
- Anh thử kể cho tôi nghe sự thay đổi đầu tiên của anh là gì?
- Đầu tiên là sự suy nghĩ về các nhân viên của tôi. Sau Chúa nhật có sự xuất hiện của người đàn ông rách rưới lạ mặt đó, ông còn nhớ chứ! Sáng thứ hai, tôi đến đây và tự hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì trong quan hệ của Ngài và các nhân viên này: những người thơ ký, những người kế toán, cả những người bán hàng và những người đánh xe, những người dọn vệ sinh, lau chùi quét tướt... Tôi quyết định gởi giấy mời tất cả nhân viên của tôi họp tại nhà kho vào tốiù thứ ba. Nhiều vấn đề rắc rối đã xuất hiện trong buổi họp đó, mà tôi không có đủ khả năng để nói chuyện với nhân viên của tôi như thế Chúa Giê-xu đang nói với họ. Nhưng tôi cảm nhận được Ngài sẽ nói với họ điều gì, thì tôi cũng nói với họ điều đó. Đó là một việc khó và khá mới mẻ đối với tôi vì tôi không quen với cách nói chuyện như thế. Dầu tôi nói không lưu loát cho lắm nhưng các nhân viên hiểu được điều tôi muốn nói với họ. Buổi họp đó đã gây ảnh hưởng trên phần đông nhân viên của tôi. Khi buổi họp kết thúc, tôi đã nhìn thấy trên chục người cảm động đến rơi nước mắt. Tôi vui mừng vì tôi đã chuyển tải ý tôi muốn nói đến với họ. Tôi quyết định thiết lập mối liên hệ cá nhân với các nhân viên có tâm tình làm việc. Bây giờ, tôi sẽ cho ông xem cái này nè!
Milton lật đật tìm kiếm và đưa cho Henry một tờ giấy khổ rộng.
- Đây, ông xem! Tôi đã phác hoạ chương trình mà theo tôi nghĩ, Chúa Giê-xu sẽ làm trong công việc kinh doanh của tôi.
Tờ giấy được Milton trải dài trên bàn trước mắt Henry, nổi bật hàng chữ in, mực đỏ đậm: “NHỮNG ĐIỀU MÀ CHÚA GIÊ-XU SẼ LÀM TRONG CƠ SỞ DOANH NGHIỆP CỦA MILTON RIGHT”. Henry đọc tiếp những hàng chữ mực đen bên dưới:
1. Chúa Giê-xu sẽ bắt tay vào doanh nghiệp với mục đích làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời, loại bỏ mục tiêu làm tiền.
2. Chúa Giê-xu sẽ dùng tiền vào những việc nhân đạo tốt lành, xem như quỹ tín dụng của Hội tình thương, Hội từ thiện.
3. Liên hệ của Chúa Giê-xu với nhân viên trong doanh nghiệp là sợi dây yêu thương, giúp đỡ và gây dựng.
4. Mục đích của Chúa Giê-xu là hướng nhân viên trong doanh nghiệp về sự cứu rỗi linh hồn hư mất.
5. Chúa Giê-xu sẽ không làm việc gì dối trá để lừa dối nhân viên và khách hàng.
6. Chúa Giê-xu sẽ sống theo nguyên tắc không được ích kỷ với nhân viên, với người khác. Luôn thể hiện sự quan tâm đối với mọi người.
Henry đọc một cách chậm rãi và suy nghĩ. Ông chợt nhớ lại những điều ông đã thảo ra hôm nọ, cũng viết về những hành động của Chúa Giê-xu mà ông cảm nhận rằng Ngài sẽ làm.
- Ông Milton, ông có dự định tiếp tục điều hành việc kinh doanh dựa trên những điều này?
Henry ngước lên hỏi Milton.
- Vâng, có lẽ vậy. Tôi sẽ thực hiện công việc dựa trên tinh thần trong những mục của bản thảo này. Tôi sẽ chia phần lời kiếm được cho các nhân viên của tôi để khích lệ họ và chứng tỏ tình yêu thương với họ. Tôi sẽ cố gắng giúp nhân viên của tôi hiểu rằng sự nghiệp không phải của riêng tôi mà họ cũng có cổ phần trong đó. Họ sẽ có ý thức trách nhiệm với công việc hơn. Như vậy, công việc sẽ được thực hiện có hiệu quả cao. Mục sư có nghĩ như thế không?
- Tôi cũng nghĩ thế. Bởi vì, cả ông lẫn nhân viên của ông cùng làm, cùng hưởng lợi nhuận thì người ta sẽ làm siêng năng, hết mình và có chất lượng hơn. Nhưng trong giới kinh doanh, tôi dám cam đoan chả mấy ai chịu làm như thế. Phần đông, họ muốn làm chủ người khác, muốn cai trị và bóc lột nhân viên của họ. Khoảng cách giữa chủ và nhân viên là khoảng cách của chủ và tớ, phải không Milton? Thậm chí, có nhiều ông chủ còn đuổi việc nhân viên mình chỉ vì một lỗi lầm nhỏ nhặt nào đó bất kể hoàn cảnh gia đình của người ấy ra sao. Tôi ước ao những Cơ Đốc nhân đang làm kinh doanh không đối xử với người làm công của mình như thế. Hãy lấy tinh thần yêu thương của Chúa Giê-xu mà đối xử với anh em mình, nhân viên mình, giống như chính Ngài đã yêu thương mình vậy.
- Thưa mục sư, tôi sẽ cố gắng thực hiện như điều ông ước ao. Tôi biết thực hiện cho được việc ấy không phải là dễ dàng cho tôi và gia đình tôi. Nhưng tôi tin ở Chúa Giê-xu. Và muốn thực hiện công việc có hiệu quả, tôi không thể tiến hành trên nguyên tắc chung chung mà thôi nhưng phải có kế hoạch cụ thể và chi tiết. Đồng thời, tôi còn phải cần có nhiều thời gian để tiến hành công việc chứ không phải một sớm một chiều là làm được ngay đâu!
- Chúc ông thành công! Tôi tin vào sự nỗ lực và kiên nhẫn của ông, nhưng trên hết mọi sự, ông nhớ cầu nguyện xin Chúa dẫn dắt. Tôi cũng sẽ cầu nguyện cho ông nữa. Tạm biệt ông!
- Cảm ơn mục sư, xin chào ông!
Mục sư Henry ra về với một ấn tượng sâu sắc về cuộc cách mạng đã và đang diễn ra trong công việc kinh doanh của Milton. Henry đang suy nghĩ về hành động của Milton. “Nếu Milton tiếp tục tiến hành kế hoạch của ông ta thì chắc chắn ông ta sẽ có ảnh hưởng tốt đối với nhân viên của mình, và có thể Milton sẽ trở thành một trong số những nhà truyền giáo cho Chúa có hiệu quả ở Raymond”. Henry chợt nhớ là mình chưa ăn tối. Ông vội vàng đi rửa tay và vào phòng ăn. Bà Henry lặng lẽ dọn bữa cho ông và về phòng, bởi bà không muốn quấy rầy suy nghĩ của ông. Henry ăn qua loa cho xong bữa. Sau đó, ông lên phòng làm việc, ngồi vào bàn và bật đèn lên. Ông bắt tay vào việc soạn bài giảng nói về vấn đề chống các quán rượu ở Raymond và Rectangle. Ông hiểu rằng đối với việc trừ bỏ những tệ nạn xã hội này không phải là chuyện đơn giản. Đêm đã khuya mà Henry vẫn loay hoay chưa soạn xong bài giảng. Ông đứng dậy đi đóng chặt cửa phòng và đến quỳ gối xuống bên cạnh chiếc ghế dài úp mặt vào hai bàn tay cầu nguyện với Chúa Giê-xu. Ông thổn thức “...Chúa ôi! Ngài sẽ làm gì đối với những nan đề mà con và anh em con cái của Ngài ở Hội thánh Raymond này đang phải đối diện? Ngài sẽ làm gì đối với bài giảng mà con chưa soạn xong? Con sẽ phải nói gì trước Hội thánh về vấn đề những quán rượu ở Raymond và ở Rectangle? Ôi! Xin Đức Thánh Linh thương xót giúp con...”
Đêm đó, Henry đã chiến đấu liên tục trong sự cầu nguyện suốt cho đến hừng đông.

Chương 10
“Nếu ai hầu việc Ta, thì phải theo Ta...”
Tối thứ bảy tại Rectangle đã có những thay đổi kỳ lạ. Khi căn lều của Gray bật đèn sáng lên, mọi người ở chung quanh đó vội rủ nhau kéo đến tụ tập trước lều. Thậm chí một số người lặng lẽ bước vào bên trong lều ngồi vào hàng ghế để dự nhóm. Các quán rượu trước lều tắt máy hát khi bên trong lều, tiếng hát thánh thót của Rachel vút lên. Những tiếng chửi thề thưa dần. Cả những gã say rượu cũng chẳng thấy xuất hiện quậy phá như những lần trước. Nhiều khách đi đường ngang qua căn lều trong giờ nhóm cũng dừng chân lại lắng nghe Rachel hát thánh ca. Phải thừa nhận rằng Rachel có một giọng hát thiên phú tuyệt vời. Giọng hát của cô có sức thu hút mạnh mẽ mọi người. Cô thường tôn vinh Chúa trước giờ Gray giảng luận. Vì có như thế mọi người sẽ dễ tập trung chú ý vào lời giảng của Gray và không ồn ào, lộn xộn.
Bữa nay, Gray đã khỏi bệnh, ông đã lấy lại được giọng nói bình thường và sẵn sàng giảng dạy Lời Chúa cho mọi người có mặt hôm nay, cảû trong và ngoài lều. Ông đã cố gắng hết sức để trình bày về Chúa Cứu Thế cho họ. Đám đông dần dần đã nhận ra rằng, chỉ vì tình yêu thương vô điều kiện mà Gray đã đến đây để nói về chân lý cứu rỗi của Chúa Giê-xu cho họ.
Người ta rủ nhau kéo đến vây quanh ngoài lều càng lúc càng đông. Các quán rượu phía bên phải căn lều vắng teo. Mọi người đang chịu một lực hút vô hình từ căn lều tác động mạnh mẽ đến họ. Gray cảm nhận được rằng Đức Thánh Linh đang hiện diện trong lời giảng của ông và trong lời hát của Rachel lúc ban nãy.
Bài giảng của Gray vừa kết thúc thì Rachel tôn vinh Chúa một bài đoản ca kêu gọi. Virginia đệm đàn cho Rachel hát, lời hát dịu dàng và thống thiết xiết bao.
Sau đó, Gray đứng lên mời gọi mọi người hãy tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của mình. Ông cảm động đến rơi nước mắt. Lời mời chưa dứt, có rất nhiều người, đàn ông lẫn đàn bà, người già lẫn con nít lũ lượt dắt díu nhau rời chỗ ngồi của mình và tiến lên phía trước. Có cả những người bên ngoài căn lều cũng chen chân bước vào lều và tiến lên nối tiếp với những người đã lên trước. Nhìn những con người tội lỗi, sa ngã, nghiện ngập đang chịu Đức Thánh Linh bắt phục, Gray không thốt nên lời. Ông thầm cảm ơn Chúa và bước đến hướng dẫn mọi người quỳ xuống cầu nguyện tiếp nhận Chúa. Bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, những tội nhân này tan vỡ tấm lòng, khóc lóc ăn năn về tội lỗi mình, xin Chúa tha tội và bằng lòng mời Chúa ngự vào đời sống, dẫn dắt họ bước theo Ngài.
Đến gần nửa đêm, những tân tín hữu mới rời khỏi căn lều. Gray cũng sẵn sàng nán lại để nói chuyện với họ, giải thích thêm cho họ hiểu về lẽ đạo. Lạ một điều, trong số những người mới bước lên tiếp nhận Chúa tối nay lại có cả Rollin Page, em trai Virginia.
Virginia đã rời khỏi Rectangle sau giờ nhóm và cô về tới nhà lúc 11 giờ đêm. Rachel và Jasper Chase cùng về một lượt với Virginia. Bác sĩ West cùng đi với họ một quãng đường, đến ngã ba thì ông ta rẽ về nhà mình. Đến nhà Virginia, Rachel ôm hôn tạm biệt bạn gái và thả bộ về nhà mình. Đường phố vắng lặng, thưa thớt xe cộ qua lại và đêm đã khuya, Jasper Chase vội vàng bước theo Rachel để đưa cô về, vì Jasper cảm thấy không an tâm khi để cho Rachel đi bộ một mình. Vả lại, anh cũng muốn có cơ hội để trò chuyện với cô. Hai người bước đi im lặng bên nhau khoảng vài ba phút. Jasper quyết định nói cho Rachel biết tình cảm của anh đối với cô là thể nào. Anh cảm thấy đau khổ nếu như anh không nói cho cô biết lòng anh đối với cô. Trước đây, đã có lần anh nói cho Rachel biết tình yêu tha thiết của anh dành cho cô nhưng anh chỉ đón nhận được sự thờ ơ của cô đối với anh mà thôi. Dạo ấy, anh buồn lắm, thế nhưng anh vẫn tiếp tục theo đuổi tình yêu đơn phương của mình trong một niềm hi vọng mong manh rằng một lúc nào đó Rachel sẽ thay đổi suy nghĩ chăng? Biết đâu được! Và anh trông đợi sự đáp ứng của Rachel từng ngày. Đêm nay, sắc đẹp và giọng hát tuyệt vời của Rachel đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong anh hơn bao giờ hết. Anh cảm thấy yêu Rachel vô cùng. Anh muốn chạy lên ôm choàng lấy cô lúc cô vừa hát xong nhưng lý trí đã kéo anh ngồi lại. Anh ngồi ngắm Rachel không chớp mắt. Anh lắng tai nghe như hứng từng lời hát của cô và uống nó vào lòng. Giọng hát của Rachel êm dịu quá. Không hiểu sao, trong giờ phút tình cảm yêu thương dâng trào đó, Jasper lại có một hi vọng mãnh liệt rằng Rachel sẽ đáp lại tình yêu của anh. Giữa căn lều chật ních người trong buổi nhóm tối nay ở Rectangle, anh cảm thấy mọi thứ quanh anh sẽ vô nghĩa nếu như vắng mặt Rachel. Jasper đã yêu Rachel lúc cô còn là một nữ sinh trung học nhí nhảnh ngây thơ và xinh đẹp. Anh đã đem hình ảnh của Rachel vào trong tiểu thuyết của anh. Trong cuốn sách ấy, anh đã khéo léo sắp xếp các tình tiết để một nhân vật nam anh hùng - một phát ngôn viên của tác giả đã xây dựng tình yêu thành công tốt đẹp với một cô bé nữ sinh hiếu động, học giỏi, hát hay. Anh đã tặng cho Rachel một cuốn khi sách được xuất bản. Cô đọc cuốn tiểu thuyết ấy và biết chắc Jasper đã viết về mình mặc dù anh ta đã đổi tên nhân vật. Cô cũng nhận biết được là Jasper yêu cô. Việc đó đã xảy ra cách đây gần một năm rồi. Jasper tặng sách cho Rachel xong, anh chờ đợi sự phản đối nếu như cô không yêu anh. Anh tự ra điều kiện như vậy! Nhưng, anh chẳng đón nhận được lời phản đối nào từ phía Rachel! Theo Jasper, có lẽ Rachel đã yên lặng bằng lòng anh rồi cũng nên.
Jasper đã nhầm. Rachel im lặng không có nghĩa là cô đã chấp nhận tình cảm của anh.
- Rachel! - Jasper khe khẽ gọi tên cô một cách âu yếm.
Rachel chậm bước chân lại, nhìn Jasper.
- Cô có biết đêm nay tôi yêu cô biết chừng nào không vậy?
Jasper tiếp lời.
- Thì có liên hệ gì đến tôi chứ? - Rachel hỏi lại một cách bực mình.
- Cô biết là tôi yêu cô như chính mạng sống của tôi. Tôi không thể giấu mãi tình cảm của tôi dành cho cô.
Jasper vừa nói vừa nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại của Rachel. Chợt, Jasper cảm thấy bàn tay Rachel run rẩy, nàng cứ để yên tay mình trong tay Jasper.
- Nhưng... tại sao anh lại nói điều này với em trong lúc này? - Rachel hỏi với một giọng buồn buồn.
- “Tại sao” nghĩa là sao?
Jasper lẩm bẩm. Rachel nhẹ nhàng rút tay nàng khỏi tay anh. Cô yên lặng bước đi bên anh, mắt dán xuống đường phía trước.
- Rachel! Anh hỏi thật, em có yêu anh không? Sao em cứ để cho anh sống trong đau khổ mãi thế này? - Jasper hét toáng lên với một sự đau đớn hiện lên khuôn mặt anh.
Rachel bình tĩnh đáp:
- Không! Hiện bây giờ thì không, em nói thật lòng đấy. Còn mai mốt thì em không biết được em có thể yêu anh không nữa, em không trả lời được điều ấy ngay bây giờ.
- Mai mốt ư? Sao lại phải đợi đến mai mốt nhỉ? Hay là cô đợi cho tôi nổi tiếng hơn, giàu có hơn?
Jasper hạ thấp giọng nhưng không che giấu được sự cay đắng.
- Xin anh đừng hiểu lầm em. Hãy để cho tâm hồn em thanh thản. Anh không nên nói với em lời yêu đương nào trong lúc này!
Hai người tiếp tục rảo bước trong sự yên lặng nặng nề. Đến trước cổng nhà Rachel, cô quay mặt đi và vội vã bước vào nhà không một lời cảm ơn và cũng không chào từ biệt Jasper.
Jasper trở về nhà mình trong sự hối hận và cay đắng. Anh tự trách mắng mình: “Tại sao lại quá vội vàng như vậy? Tại sao lại to tiếng, nóng nảy với Rachel như thế? Thật là điên khùng hết chỗ nói”. Rõ ràng là Jasper không hiểu Rachel. Anh không hiểu cả sự từ chối của cô. Anh không nhận ra được sự căng thẳng trong suy nghĩ của cô. Cô còn phải thực hiện sự hứa nguyện của mình đối với Chúa, và cô còn phải dấn thân nhiều hơn trong việc gây ảnh hưởng tốt cho Chúa ở Rectangle. Nhiều linh hồn chưa biết Chúa còn đang ám ảnh cô. Cô cảm thấy trách nhiệm của mình đối với tha nhân rất nhiều. Cô đang cưu mang các linh hồn chưa biết Chúa nên cô không dám nghĩ đến tình yêu và sự hưởng thụ nào cả. Jasper đòi yêu cô, nhưng lại không hiểu cô và không thông cảm cho cô thì làm sao cô dám chấp nhận ngay tình yêu của anh ta được. Jasper đã thức suốt đêm đó suy nghĩ đến Rachel và tiếp tục viết những trang tiểu thuyết dở dang của mình.
Về phần Rachel, đêm đó cô cứ trằn trọc, không sao chợp mắt được. “Mình có yêu Jasper không nhỉ? Có bao giờ mình thấy cần anh ấy chưa?...” Cô cảm thấy cô phải trả giá cho hạnh phúc riêng tư để có thểâ thực hiện lời hứa nguyện đối với Chúa. Mặt khác, cô cảm thấy tâm hồn mình khuây khoả và thanh thản khi giọng hát Chúa ban cho cô đã mời gọi nhiều người đến với Chúa. Một tình yêu lạ lùng và bao dung của cô đối với những con người tội lỗi xấu xa ở Rectangle kia đang được hình thành và lớn dần trong cô. Cô cảm thấy yêu thương họ và cô cũng nhận thức rằng họ phải được biết Chúa yêu thương, cứu rỗi linh hồn họ như Chúa đã yêu thương chính cô. Cô tìm thấy hạnh phúc tràn ngập khi giọng hát của cô được Đức Thánh Linh ban sức mạnh và cảm động những người khốn khổ kia đến với Chúa và trở thành anh em đồng hành về Thiên quốc với cô. Những biến cố siêu nhiên xảy đến với Rachel khiến cô kính sợ Thượng Đế và vui mừng về sự hầu việc Chúa của mình hơn bao giờ hết. Từ trước đến giờ, trong cuộc đời theo Chúa, cô chưa bao giờ được Chúa ban quyền năng dư dật như những lần này. Vậy mà Jasper Chase không chịu hiểu giùm điều này cho cô. Anh ta chỉ muốn tìm kiếm hạnh phúc cho cá nhân anh ta mà chẳng mảy may lo nghĩ đến việc cứu rỗi linh hồn những người khốn khổ rách rưới và đói khát kia. Rachel thầm trách Jasper như thế.
Racel đứng dậy, đi về phía kệ sách, lấy một cuốn sách, vô tình Rachel lại cầm đúng cuốn tuyểu thuyết của Jasper đã tặng cô dạo ấy.
Rachel đổi sắc mặt khi tay cô lần giở đến những trang sách mà Jasper đã viết về chính cô. Cô đã đọc những trang sách này nhiều lần rồi, sao bây giờ cô lại cảm thấy xa lạ và sợ hãi: “Anh ấy yêu mình thực sự ư? Anh ấy nói rằng anh ấy yêu mình, nhưng tại sao anh ấy không chịu hiểu mình?”.... “Trước bao linh hồn tội nhân, họ đang cần được cứu rỗi, họ đang cần mình, rõ ràng Chúa có đoái hoài đến tấm lòng khao khát hầu việc Chúa của mình, nên Ngài mới sử dụng giọng hát của mình đưa dẫn bao linh hồn hư mất đó về với Ngài. Sự tái sanh những linh hồn ấy còn quan trọng gấp ngàn lần hạnh phúc riêng tư của anh ấy...” Càng suy nghĩ, Rachel càng thấy hình bóng của Jasper mờ nhạt dần dần và cuối cùng nhoà đi trong cô. Đồng thời, cô thấy hình ảnh căn lều ở Rectangle được nới rộng ra, người ta kéo đến dự nhóm càng lúc càng đông, sau giờ cô hát kêu gọi thì hàng hàng, lớp lớp người kéo nhau bước lên tiếp nhận Chúa.... hiện rõ mồn một trong trí óc cô. Rachel tự nhủ: “Mình phải hầu việc Chúa. Trong thời điểm này mình không nên chăm chú đầu tư sức lực tình cảm của mình vào một mục đích nào khác, mà hãy dồn vào công việc dẫn dắt những linh hồn tội lỗi, bơ vơ kia về với Chúa. Mặc cho Jasper hiểu về mình ra sao thì hiểu. Mặc kệ anh ta... Ồ! Nhưng mà....” Chợt Rachel hét lớn:
- Ồ! Không! Không! Tôi không yêu anh ta! Tôi tin chắc là như thế! Ngay cả việc nhận lời kết hôn với anh ta cũng là một chuyện xa vời. Vậy thì anh ta không có quyền phàn nàn gì về tôi cả!
Rachel bực mình quẳng cuốn sách đánh thịch lên bàn. Cô nằm dài xuống giường và ngủ thiếp đi.
Bình minh ló dạng, một ngày mới lại đến với thành phố Raymond. Hôm nay là Chúa nhật, mọi người ở Raymond thức dậy sớm hơn mọi khi. Họ bàn tán xôn xao về những biến cố mang tính chất cách mạng hoá nhiều tập quán, thói quen thường lệ của người dân thượng lưu ở Raymond này. Giới báo chí phê bình, bình luận nhiều về vấn đề của Alexander Powers gởi đơn xin từ chức và tố cáo sự gian lận trong ngành hoả xa. Hành động của Alexander đã gây dư luận và xúc động trên toàn nước Mỹ. Những đồng nghiệp của Edward Norman và các độc giả báo chí cũng bàn tán xôn xao và ngạc nhiên đến sửng sốt về kế hoạch và đường lối kỳ lạ của ông. Họ cho rằng sự thay đổi kỳ quặc và bất ngờ của Edward là đầu mối của một đường lối chính trị bí mật nào đó mà họ chưa biết. Từ Rectangle tiếng đồn lan xa khắp các vùng lân cận rằng giọng hát thiên thần của Rachel là giọng hát chứa sự nhiệm mầu. Sự thay đổi tính tình và sự vắng mặt Virginia nơi các tụ điểm tập trung những người giàu có, những bữa tiệc sang trọng thường lệ, cũng đã cung cấp nhiều tin đồn, tài liệu cho những sự bàn tán và thắc mắc của những người ăn không ngồi rồi và đám bạn bè của Virginia.
Người ta còn bàn tán rùm beng về vấn đề thay đổi mối quan hệ của Milton Right với nhân viên của ông ta. Các tin tức trên được lan truyền trong thiên hạ một cách nhạy bén, mau hơn và ồn ào hơn cả những vấn đề biến chuyển chính trị gần đây. Nhiều thanh niên cùng đàn đúm với Rollin ở các hộp đêm trước đây cảm thấy ngạc nhiên vô cùng khi biết rõ Rollin đã tin Chúa và từ bỏ những thói hư tật xấu, không lân la đến các hộp đêm nữa.
Các tín đồ sáng nay đi nhà thờ sớm hơn các Chúa nhật trước. Họ đang trông chờ nghe sứ điệp của Chúa qua sự giảng dạy của Mục sư Henry. Họ nhận thấy có điều mới mẻ trong lời cầu nguyện khai lễ của Mục sư Henry. Ông không cầu nguyện với những lời lẽ văn vẻ, trau chuốt bóng bẩy như những lần trước. Thay vào đó, lời cầu nguyện của ông chân thành mộc mạc nhưng đầy quyền năng. Ông nêu lên những nhu cầu của tín đồ cần được Chúa đáp ứng và những thực trạng xã hội xin Chúa thay đổi, biến cải. Tiếp nối sau thì giờ cầu nguyện, ông trình bày sứ điệp của Chúa với Hội thánh. Ông nêu lên những băn khoăn của ông về những quán rượu ở Raymond và ở Rectangle. E rằng nó sẽ bị ma quỷ lợi dụng và bành trướng, cám dỗ thanh thiếu niên đến chỗ hư hỏng. Ông nhấn mạnh câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì đối với các quán rượu này? Ngài sẽ ngồi yên mà đồng tình ủng hộ chúng chăng? Không đời nào Chúa lại làm như thế”. Henry đã đưa vào bài giảng những lời quở trách và lên án sự tồn tại của những quán rượu ấy mà ông có cảm tưởng rằng Chúa Giê-xu cũng sẽ quở trách như thế. Cuối cùng, ông kêu nài mọi người hãy cầu nguyện nhiều cho cuộc sống mới của những người vừa tiếp nhận Chúa ở Rectangle. Ông hỏi đã có bao nhiêu lời cầu nguyện xin Chúa Giê-xu giúp đỡ giải toả các quán rượu, hộp đêm? Có bao nhiêu lời cầu nguyện xin Chúa biến đổi cho Raymond được tốt đẹp hơn, cầu nguyện cho Rectangle có nhiều người tin Chúa hơn? Ông kêu gọi mọi người hãy siêng năng và dành nhiều thì giờ cầu nguyện với Chúa cho các nan đề mà ông vừa nhắc tới. Ông cũng kêu gọi và động viên mọi người hãy bắt chước gương Chúa Giê-xu mà sống và hành động. Ông khẳng định rằng bước khởi đầu cho sự noi theo dấu chân Chúa Giê-xu là sự hứa nguyện với Chúa và bắt tay thực hiện sự hứa nguyện đó trong vòng một năm.
Buổi thờ phượng chấm dứt, Henry đi vào phòng hội với những người hưởng ứng lời kêu gọi cuối cùng trong bài giảng của ông. Trên nét mặt họ lộ rõ sự hân hoan và hăng hái. Có đến trên một trăm người có mặt trong phòng hội hôm nay. Những người đã hứa nguyện trong hai Chúa nhật trước đều có mặt đầy đủ, duy chỉ thiếu Jasper Chase. Không ai hiểu lý do vì sao Jasper vắng mặt ngoại trừ Rachel. Mọi người yên lặng chờ Mục sư Henry bước vào. Ông xúc động khi nhìn thấy hôm nay có nhiều người tham gia thực hiện sự hứa nguyện. Ông yêu cầu mọi người im lặng và hiệp ý cùng Milton Right cầu nguyện dâng buổi họp cho Chúa. Sau đó, có nhiều người cảm động bởi Đức Thánh Linh nên đã cầu nguyện lớn tiếng. Henry nhớ rằng đây là buổi họp thứ ba được Đức Thánh Linh hiện diện. Mọi người thăm hỏi nhau về tình hình công việc và kết quả cụ thể sự hứa nguyện của từng người. Sau đó, họ động viên nhau hãy can đảm và vững lòng bền chí nhờ cậy nơi Đức Chúa Trời Toàn Năng để thực hiện lời hứa nguyện có hiệu quả hơn. Họ chia thành từng nhóm ba người, cầu thay cho nhau và sau đó giải tán.

Chương 11
Donald Marsh, hiệu trưởng trường đại học Lincoln, đang cùng với Mục sư Henry đi bộ về nhà.
- Tôi đã đi đến một kết luận, mục sư à!
Donald nói với một giọng nói chậm rãi.
- Tôi đã tìm ra thập tự giá của tôi. Cây thập tự đó rất nặng, tuy vậy tôi vẫn nhận lấy nó. Bài giảng của mục sư hôm nay làm cho tôi thấy rõ điều mà bấy lâu nay tôi còn mù mờ. Đáng lý tôi phải làm điều đó từ lâu rồi, nhưng... tôi chẳng biết làm thế nào để có kết quả. “Chúa Giê-xu sẽ làm gì ở địa vị của tôi?” Tôi đã hỏi câu này nhiều lần kể từ khi tôi hứa nguyện. Tôi cứ tưởng rằng Chúa Giê-xu sẽ ở với tôi trong các công việc của riêng tôi một cách giản dị, ngày hai buổi làm bè bạn với “văn chương”, “đạo đức” và “triết học”. Đó là những môn học trong các trường đại học mà tôi phải đảm nhiệm. Trong khi đó, tôi đâu biết rằng Chúa Giê-xu còn làm những việc lớn hơn và những việc Chúa làm cũng có thể là những việc tôi không muốn làm. Nó động đến quyền lợi cá nhân của tôi nên cũng làm tôi khốn khổ không ít. Do đó, tôi hết sức kinh sợ khi Ngài thực hiện công việc Ngài trên đời sống tôi...
- Vâng, tôi biết, tôi biết thập tự giá của mỗi người thường làm cho họ kinh sợ nếu họ không hiểu cách sâu nhiệm về thập tự giá của chính Chúa Giê-xu, Đấng đã chết thay cho họ.
- Mục sư Henry à! Tôi thấy tôi và ông đều là những công dân của một cộng đồng đầy dẫy tội lỗi, nhưng chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm của một công dân đối với cộng đồng của mình, tôi thấy hổ thẹn hết sức khi nhìn ra những người xung quanh chưa nhận biết Cứu Chúa Giê-xu, linh hồn họ còn đang vùng vẫy trong tội lỗi, họ sống trong sự tham nhũng, vô nguyên tắc... Thế nhưng, tôi chưa góp được phần nào để giúp đỡ họ nhìn thấy thực trạng của mình. Ông thấy không, ngay trong thành phố Raymond của mình chứ đừng nói đâu xa, các công nhân viên chức, các ông chủ tai to mặt lớn đều cùng một giuộc, một bè tham nhũng, bóc lột sức lao động khốn khổ của người dân lao động. Chúa Giê-xu sẽ làm gì trước cuộc sống bất công và tội lỗi này? Tôi không dám trả lời thành thật cho câu hỏi ấy, e rằng tôi nói suông chăng!
- Vậy, kế hoạch của giáo sư là gì?
- Tôi sẽ cố gắng tham gia vào cuộc bầu cử sắp tới, đi đến các hội nghị tuyển chọn ứng cử viên, dùng uy tín của mình tuyên truyền ảnh hưởng đến những cơ quan, tổ chức có quyền hạn trong cuộc bầu cử hãy chọn lựa những người tốt, có phẩm chất đạo đức, sống lương thiện và liêm khiết vào Uỷ ban liên bang. Kêu gọi mọi người hãy thanh tẩy, gạt bỏ những tay lường gạt, hối lộ, thủ đoạn chính trị... ra khỏi uỷ ban. Trước đây, tôi nghĩ rằng tôi không thể làm nổi điều đó. Nhưng kể từ khi tôi hứa nguyện với Chúa, tôi cảm thấy tôi sẽ làm được. Tôi tin Chúa Giê-xu cũng sẽ làm như vậy. Tôi thấy ghê tởm khi phải tiếp xúc với những vấn đề chính trị, xã hội của thành phố này. Tôi vốn thích sống yên lặng, an phận, nhưng sự kêu gọi của Chúa đến với tôi quá rõ ràng rồi, tôi nhận được sự thúc giục phải thực hiện kế hoạch mà tôi vừa nói cho ông nghe đấy, Vì thế, tôi cảm thấy đã đến lúc mình phải hành động, không thể trốn tránh vào đâu được. Đã đến lúc tôi cũng phải vác thập tự giá mình bước theo dấu chân Chúa Giê-xu thôi.
- Tôi cũng có tâm trạng như ông, ông Donald à!
Mục sư Henry cười buồn:
- Tôi cứ cho rằng mình là mục sư thì không nên dính dáng gì đến bên ngoài nhà thờ nữa, cứ yên phận với chức vụ hiện tại của mình. Sự suy nghĩ ấy đã khiến tôi trốn tránh trách nhiệm của mình đối với cộng đồng, đối với Tổ quốc. Núp sau những tình cảm lịch sự và nhạy bén, tôi xuất đầu lộ diện như một kẻ hèn nhát lẫn tránh bổn phận của một công dân đúng nghĩa. Tôi không quen với những lề lối của đời sống chính trị của thành phố này. Tôi lại càng e ngại khi phải tiếp xúc với nó. Tôi chưa bao giờ tham gia vào các hoạt động đề cử ứng cử viên tốt trong các cuộc bầu cử trước. Lần này, tôi sẽ mạnh dạn tranh đấu cho quyền lợi của quần chúng để góp phần xây dựng thành phố có cuộc sống thanh sạch hơn. Tôi sẵn sàng chịu khổ để đến sống, làm việc, và hầu việc Chúa tại Rectangle trong quãng đời còn lại của tôi. Tôi sẽ sống trong các khu nhà ổ chuột với một cuộc sống giản dị, thanh bần. Tôi thấy làm điều ấy còn dễ hơn là lao mình vào một cuộc cải cách thành phố mình đang sống, một thành phố đã và đang bị rượu mạnh, gái mại dâm đè nặng bấy lâu nay. Tôi biết sẽ phải trả giá cho điều tôi quyết định, nhưng cũng như ông, tôi không thể trút bỏ được trách nhiệm của mình. Trả lời cho câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trong trường hợp này không làm tôi thoả mãn, ngoại trừ khi tôi nói Chúa Giê-xu muốn tôi hành động theo tiêu chuẩn đạo đức của một công dân Cơ Đốc.
- Chúng ta không cần phải hành động đơn độc trong công việc này, thưa mục sư! Cùng với những người đã hứa nguyện, chúng ta sẽ có đông bạn bè hợp lại thành sức mạnh để hành động có hiệu quả hơn. Chúng ta hãy tổ chức những cuộc họp mặt đông đảo các Cơ Đốc nhân với chủ đề chống tham nhũng và rượu mạnh. Đồng thời, chúng ta khuyến khích những Cơ Đốc nhân có đời sống tốt và có năng lực làm ứng cử viên vào cuộc bầu cử sắp tới, chúng ta hãy bước vào cuộc tuyển chọn ứng cử viên cho cuộc bầu cử ngay đi. Chúa Giê-xu sẽ sử dụng sự khôn ngoan trong vấn đề này. Chúng ta hãy làm những công cụ tốt, những phương tiện tốt cho Chúa Giê-xu thực hiện kế hoạch lớn lao của Ngài. Nếu chúng ta muốn vác thập tự theo Chúa, thì chúng ta hãy can đảm dấn bước vào công việc càng nhanh càng tốt.
Henry lắng nghe ý kiến của Donald, ông tỏ vẻ tán thành lắm. Cả hai đi bên nhau chậm rãi và tiếp tục bàn bạc, thảo luận thêm vấn đề một lúc lâu nữa. Đến ngã tư đường, họ bắt tay tạm biệt nhau. Đến ngày thứ ba, Donald đến phòng làm việc của Henry, hai người hội ý triển khai kế hoạch như đã bàn luận. Họ quyết định sẽ tổ chức buổi họp để chọn ứng cử viên vào ngày thứ sáu.
Thứ sáu đến, cuộc họp được tiến hành. Người dân Raymond sẽ không quên được buổi họp lạ kỳ ấy. Nó chẳng giống bất cứ một cuộc họp chính trị nào đã được tổ chức trước đây tại Raymond. Các viên chức đặc biệt được đề cử gồm có: thị trưởng hội đồng thành phố, cảnh sát trưởng, thư ký thành phố và thủ quỹ thành phố.
Nhật báo “Tin Tức Hằng Ngày” buổi chiều trong số phát hành ngày thứ bảy đã đăng một bài đầy đủ về buổi họp lựa chọn ứng cử viên đó. Trong bài xã luận có những đoạn gây sự chú ý của độc giả: “...Trong lịch sử Raymond, chưa có một hội nghị tuyển lựa ứng cử viên nào giống như buổi hội nghị này. Nó đã gây sự bất ngờ đến ngạc nhiên cho các chính trị gia - những người đã có thói quen thi hành các công tác của thành phố như là giải quyết công việc cá nhân họ, tuỳ thuộc vào ý chủ quan của họ. Họ xem những người lao động như một công cụ sản xuất biết nói mà thôi. Một sự bất ngờ nữa đến với các tay tai to mặt lớn có chân trong nội bộ uỷ ban cũ, là lần này có một số lớn công dân của Raymond là những thường dân bình thường chưa hề tham gia công tác gì của thành phố, hôm nay đã lọt vào hội nghị đề cử ứng cử viên và đã kiểm soát hội nghị đó một cách trôi chảy, chọn lựa ra được một số người có tư cách đạo đức tốt để đề cử vào cuộc bầu cử sắp tới.
... Hiệu trưởng Donald của trường Đại học Lincoln - một người trứơc đây chưa từng bước vào một hội nghị tuyển chọn ứng cử viên nào cả. Gương mặt ông ta cũng chưa một lần nào được giới chính trị gia biết đến... thế mà hôm nay đã xuất hiện nổi bật trong buổi hội nghị, ông đã đọc một bài diễn văn lưu loát và được nhiều người vỗ tay tán thưởng.
Nhiều người hỏi nhau “Ông ấy là ai thế?” gây nên sự bàn tán xôn xao trong buổi hội nghị. Nhiều người đã giữ chức vụ trước đây lãnh đạo thành phố, lãnh đạo tiểu bang hôm nay không được người ta đề cử lại. Rõ ràng người ta không tín nhiệm họ nữa. Thành viên của Hội thánh Raymond có mặt trong buổi hội nghị cũng khá đông. Tiêu biểu như: Mục sư Henry, Milton Right, Alexander Powers, các giáo sư Brown, Willard, Park, Donald của đại học Lincoln. Cũng có mặt bác sĩ West. Bên cạnh đó, còn có mặt một số con cái Chúa ở các Hội thánh khác. Chẳng hạn như George Main của Hội thánh Pilgrim, Dean Ward của Hội thánh Holy Trinity và một số thương gia ở các Hội thánh nhỏ lân cận. Các Cơ Đốc nhân trong buổi hội nghị tỏ ra đồng tình hiệp ý khi chọn lựa, đề xuất những người tốt vào danh sách ‘những người có khả năng được đề cử vào hội đồng Uỷ ban’ chuẩn bị cho cuộc bầu cử sắp tới”.
Nhật báo “Tin Tức Hằng Ngày” kêu gọi công dân hãy phát huy vai trò của mình, loại trừ những người buôn bán rượu mạnh và thuốc lá đã được đề cử vào danh sách. Tờ báo còn đăng cả một bài xã luận nói về tầm quan trọng và sự cần thiết của một nền hành chính thành phố trong sạch, ngay thẳng, có năng lực, đáp ứng nhu cầu cho công dân. Hãy tiến hành một cách cụ thể ngay từ mạng lưới địa phương công việc loại bỏ những phần tử buôn bán rượu mạnh, thuốc lá, bọn hối lộ, bòn rút công quỹ, bọn bóc lột bất lương, bất tài... ra khỏi danh sách ứng cử viên. Hãy xây dựng lại cuộc sống thành phố, từ bỏ sự lộn xộn cũ, thiết lập nên nền trật tự mới, nền hành chính mới, có uy tín cho người dân thành phố từ những lá phiếu chân chính trong cuộc bầu cử sắp đến.
Không một chút e dè, tờ “Tin Tức Hằng Ngày” công khai ủng hộ phong trào chọn lựa ứng cử viên xứng đáng, góp phần chuẩn bị cho cuộc bầu cử có kết quả tốt: “...Chúng tôi sẽ ra sức thực hiện những công việc mà chúng tôi có khả năng và quyền hạn thực hiện, nhằm góp thêm tiếng nói ủng hộ những người được đề cử có chọn lựa, sàng lọc trong buổi hội nghị vừa qua. Chúng tôi kêu gọi các Cơ Đốc nhân, các viên chức yêu chuộng lẽ phải, yêu mến sự công bằng và đạo đức tốt hãy cộng tác với chúng tôi, sát cánh với hiệu trưởng Donald cổ động, vận động công dân thành phố thực hiện đúng nghĩa quyền công dân của mình”.
Hiệu trưởng Donald đọc bài xã luận và thầm cảm ơn Chúa về ông chủ bút Edward Norman. “Chúa đã sử dụng Edward khởi đầu cho công việc Ngài sẽ làm tại Raymond này” Donald tự nhủ. Đồng thời, ông cũng hiểu rằng những tờ báo khác ở Raymond đang đứng về phía những người bảo thủ, những kẻ nhận hối lộ trong guồng máy làm việc cũ của thành phố. Ông không lường trước được kết quả hoặc hậu quả của cuộc tranh đấu nghiêm trọng sắp tới đây trong nội bộ thành phố sẽ như thế nào. Trước mắt, ông đã thấy rõ sự lỗ lã to lớn và công khai của tờ “Tin Tức Hằng Ngày” kể từ khi hoạt động của nó được quản lý bởi tiêu chuẩn “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” Đối với Edward - chủ bút tờ báo, ông đã nhìn thấy và chấp nhận thực hiện tiêu chuẩn đó cho dù lỗ lã trong công việc kinh doanh. Nhưng ông muốn tận dụng phương tiện và công việc Chúa cho ông để góp phần cải cách một nếp sống đạo đức mới cho công dân thành phố mà ông đang cư ngụ.
Đối với vùng Rectangle trong tuần lễ đầy biến động đó, cũng đã dâng cao cơn thuỷ triều về đời sống thánh sạch, thiêng liêng hơn, loại bỏ dần nếp sống xấu xa, xô bồ. Rachel và Virginia thường xuyên đến đó mỗi đêm cộng tác lo công việc Chúa với Giáo sĩ Gray. Virginia cầu nguyện xin Chúa giúp cô biết sử dụng tiền bạc của cô đẹp ý Ngài. Cô nhìn thấy mọi của cải vật chất đời này dù quý báu đến đâu cũng không thể sánh bằng một đời sống con người được tái sanh, một linh hồn con người được cứu rỗi. Cô cảm thấy hạnh phúc tràn trề khi biết được những đời sống thô lỗ, hung bạo, nghiện ngập bấy lâu nay, giờ đã được biến đổi cách kỳ diệu, trở nên những đời sống hiền lành, yêu mến Chúa. Viginia cứ ngợi khen Chúa mãi về quyền phép lạ lùng của Ngài. Chẳng hạn như chính đời sống của Rollin Page, em trai cô. Rollin đã thường xuyên đến dự tất cả các buổi nhóm ở Rectangle kể từ ngày anh bước lên tin Chúa trong đám người lam lũ tại căn lều của Gray. Đời sống anh đã được Chúa thay đổi rất nhiều. Anh đã bỏ uống rượu và thôi lui tới các phòng trà, hộp đêm. Cuộc sống của anh trở nên trầm lặng. Rachel cảm biết điều đó nhưng nàng vẫn không tỏ thái độ thân thiện gì với anh khác hơn trước đây. Rollin không còn tránh mặt Rachel nhưng anh thu mình lại, như chờ đợi một điều gì đó. Có lẽ anh muốn lập lại mối quan hệ với Rachel, anh nghĩ rằng Rachel biết sự thay đổi trong nếp sống của anh. Anh hi vọng sẽ có cơ hội để nói chuyện với Rachel về mọi điều Chúa đã làm trên đời sống anh. Còn Rachel thì mãi bận lo lắng tìm cách truyền rao Đạo Chúa cho mọi người chưa biết Ngài sớm trở về với Ngài, nên cô chưa có dịp nói chuyện riêng với Rollin.
Cả Rachel lẫn Virginia đều cưu mang những linh hồn hư mất. Họ đã tuôn đổ nước mắt hàng đêm để cầu nguyện xin Đức Thánh Linh đồng công với họ trong công tác dắt đưa những linh hồn hư mất về với Chúa. Trong tình hình chung, Rachel và Virginia đều mong muốn cuộc bầu cử sắp tới được thành công với những người có lương tâm tốt đã được nhiều người chọn lựa, đề nghị trong hội nghị vừa qua. “Nếu những người có đạo đức tốt mà lại là những Cơ Đốc nhân nữa có chân trong bộ máy chính quyền của tiểu bang, liên bang thì hi vọng các quán rượu mạnh, các tệ nạn xã hội tại nước Mỹ tự do này sẽ sớm được xoá sổ”. Rachel và Virginia đồng ý tưởng như vậy.
Chiều thứ bảy, khi Virginia vừa bước ra khỏi nhà, định đến tìm Rachel để bàn bạc về những kế hoạch mới của cô, bỗng có một chiếc xe ngựa trờ tới đổ xịch trước mặt cô. Ba người bạn trong giới thượng lưu của cô muốn mời Virginia đi tham dự buổi hoà nhạc ở ngoài trời tại một công viên xinh xắn gần đại lộ.
- Virginia, suốt thời gian qua bồ làm việc ở đâu mà ẩn mình kỹõ thế? - Một cô gái vui tính trong ba người bạn vỗ vai Virginia và hỏi cách tò mò.
- Bọn mình nghe đồn bồ đang làm công việc trình diễn thời trang cho một công ty nào đó hả? Lương bổng chắc hậu hỉ lắm hén?
Cô gái thứ hai trong số ba người lại hỏi và nhìn Virginia cách soi mói.
Virginia tức đỏ mặt khi nghe các bạn chất vấn, mỉa mai mình như vậy. Thế nhưng, sau một lúc do dự, cố trấn tĩnh lại và chậm rãi thuật tỉ mỉ những công việc cô đã làm trong thời gian qua cho các bạn nghe. Họ không ngờ rằng chính người bạn gái Virginia tiểu thư ngà ngọc của họ lại dám dấn thân xuống Rectangle. Dần dà, họ hiểu ra sự việc và mục đích cao cả của Virginia, họ tròn mắt cảm phục cô, lộ vẻ đồng tình và hưởng ứng công việc của cô.
Cô gái thứ ba trong số họ đưa ra cho Virginia một đề nghị bất ngờ:
- Mình đã nghe nhiều về Rectangle. Đó là nơi nhơ bẩn và tội lỗi ghê gớm lắm phải không? Mình đề nghị này nè, Virginia dẫn bọn mình xuống thăm những khu nhà ổ chuột ở Rectangle một chuyến đi! Chắc là vui lắm nhỉ? Hay là chúng ta đi ngay chiều nay đi Virginia?
- Vâng, mình sẽ dẫn các bạn đến đó.
Giọng Virginia chùng xuống:
- Nhưng nếu các bạn đến đó chỉ vì ham vui và tò mò thôi, thì chắc chắn tôi không đi đâu! Một khi đã đến đó rồi thì các bạn phải tuân thủ và.. thực hiện mệnh lệnh của hướng dẫn viên này đấy nhá!
Virginia vừa nói vừa bước đến ngồi vào bên cạnh các bạn cô và chuyến xe ngựa chuyển hướng về Rectangle.

Chương 12
“Chớ tưởng rằng Ta đến để đem sự bình an cho thế gian... Ta đến đề phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, dâu với bà gia, và người ta sẽ có kẻ thù nghịch, là người nhà mình.”
“Ví thử các ngươi làm theo điều Ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu Ta.”
- Bọn mình có cần mời một cảnh sát cùng đi xuống Rectangle không nhỉ?
Một bạn gái của Virginia nửa đùa nửa thật hỏi các bạn mình.
- An ninh trật tự ở đó không đảm bảo lắm đâu, mình được biết như thế mà!
Virginia trấn an bạn:
- Ồ, không sao! Đừng quá lo như thế!
- Nè, Virginia, mình nghe rằng, cậu Rollin đã trở lại Đạo phải không?
- Vâng, Rollin đã đến với Chúa Giê-xu tại Rectangle vào tháng trước.
Virginia trả lời một cách chậm rãi, ánh mắt đăm chiêu.
- Bọn mình nghe bạn bè bảo rằng Rollin còn đi đến các hộp đêm cũ để giảng đạo, thuyết phục người khác tin Chúa. Thật là ngộ! Điều ấy có đúng không Virginia?
Virginia mãi đuổi theo suy nghĩ nào đó nên lơ đễnh không nghe cô bạn hỏi. Xe quẹo vào một con đường gồ ghề, bắt đầu vào địa phận Rectangle. Các cô bạn của Virginia cũng bắt đầu cảm thấy căng thẳng bởi cảnh vật, màu sắc, âm thanh hỗn độn chung quanh. Họ im lặng đưa mắt quan sát những khu nhà ổ chuột san sát nối dài ở hai bên đường đi.
Chiếc xe ngựa kiểu cách, thanh lịch dành cho giới thượng lưu đi vào các ngõ ngách đen đúa, dơ bẩn, hôi thối pha lẫn mùi rượu bia rẻ tiền hăng hắc, nồng nặc tạo cảm giác buồn nôn, đã gây nên sự tò mò của đám người lao động dọc hai bên đường. Họ giương mắt tò mò nhìn chằm chằm khiến các cô khó chịu hết sức. Thay vì là khách du lịch chủ động, họ lại trở nên những người sang trọng lạc loài giữa đám người bẩn thỉu và tò mò vây quanh chiếc xe ngựa khiến họ tỏ vẻ bất mãn và sợ hãi.
- Có lẽ chúng ta phải quay về Raymond càng nhanh càng tốt! - Cô bạn ngồi sát Virginia cấu vào sườn Virginia.
- Sao thế? - Virginia tròn mắt.
- Kinh dị quá! Người ta đồn về Rectangle không sai!
Cỗ xe ngựa trờ tới trước một quán rượu nổi tiếng quậy phá. Đó là một ổ chứa gái mãi dâm và cờ bạc. Đường phố ngay trước quán thì hẹp mà người thì quá đông. Do đó, xe phải chạy thật chậm. Virginia lắng tai nghe một giọng hát ai oán của một thiếu nữ từ trong quán rượu vọng ra. Giọng hát đứt quãng, chứa đựng nỗi niềm tâm sự riêng tư nào đó. Virginia bất chợt nhìn thấy gương mặt của cô gái vừa hát. Đó chính là một trong những người đã bước lên tin Chúa ở căn lều của Gray trong đêm đầu tiên Virginia và Rachel xuống Rectangle. Virginia cảm thấy xúc động.
- Dừng lại, dừng lại!
Virginia la lên khiến cho người đánh xe giật mình ghìm vội cương ngựa lại. Virginia không chút chần chừ, bước xuống xe và lao vội về phía cô thiếu nữ vừa hát trong quán rượu.
Virginia đến nắm tay cô gái:
- Loreen!
Cô gái nhìn chăm Virginia với vẻ sợ hãi, xa lạ.
Các bạn của Virginia ngồi chết lặng trong xe ngựa vì kinh ngạc. Người chủ quán rượu nhìn hai cô gái trân trân. Trước quán rượu, trên lề đường bẩn thỉu, những người đi đường cũng dừng chân lại tò mò quan sát cảnh tượng trước cửa quán. Họ không thể ngờ rằng một cô gái sang trọng, lịch lãm kia lại là bạn của cô gái bẩn thỉu, rách rưới, tội lỗi trong quán rượu này. Bên ngoài, mặt trời đang chiếu những tia nắng ấm áp, êm dịu, lan toả khắp vùng Rectangle.
Cô gái Rectangle đã thôi khóc, cô đã nhận ra Virginia, và để yên tay mình trong tay của Virginia. Ánh mắt cô như van lơn và đáng thương. Virginia chợt nhớ lại hành động bộc phát ban nãy của mình. Suốt trên đoạn đường từ Raymond đến đây, Virginia không hề nghĩ đến việc sẽ gặp lại cô gái kia. Sự tình cờ đã khiến cô hành động như thế. Cô chỉ kịp nhìn thấy một con người đã được Chúa Giê-xu cứu chuộc linh hồn thoát khỏi tội lỗi rồi, bỗng hôm nay quay trở lại vũng bùn tội lỗi. Không thế được! Phải làm gì để giúp cô ấy thực sự rời xa cảnh nghiện ngập kia? Trong cô xuất hiện câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” và cô nghĩ: “chắc chắn Ngài sẽ không làm ngơ trước cô gái sắp hư hỏng kia. Bất chấp kết quả ra sao, cô vội vã lao đến cô gái ấy với ý nghĩ: “Chúa Giê-xu sẽ giúp đỡ cô trong những giây phút sắp tới”.
Bấy giờ, Virginia mới chợt đưa mắt quan sát chung quanh. Mọi người đang đổ dồn mắt nhìn cô. Cô nhớ đến các bạn gái của mình còn ngồi trong xe. Cô gọi:
- Các bạn ơi! Hãy tiếp tục đi! Đừng đợi tôi. Tôi sẽ đến thăm nhà người bạn gái này và sẽ về sau.
Virginia nói một cách cương quyết và lạnh lùng.
Các bạn gái của Virginia còn chần chừ, chưa biết tính sao trước quyết định đột ngột của Virginia.
- Đi đi! Các bạn cứ đi tham quan, tiếp tục đi! Đừng chờ tôi, trời nắng lên thì mệt lắm đấy! Nếu không gặp lại, các bạn cứ việc về thành phố trước - Virginia lại giục các bạn lần nữa.
Người đánh xe vung roi, giật dây cương cho xe ngựa chạy chậm chậm. Một trong ba cô bạn gái của Virginia nhoài người ra ngoài thành xe một chút, ngoái đầu nhìn lại phía Virginia, hét lên:
- Kìa, Virginia! Tại sao lại thay đổi thế này! Bạn không thể ở lại đây một mình được đâu. Bọn mình cùng ở lại để xem có thể giúp gì được cho bạn không nhá?
- Không! Không! - Virginia cũng la lên - Các bạn sẽ không giúp được gì cho mình đâu! Phiền lắm! Cứ đi trước đi mà!
Chiếc xe ngựa chạy nhanh dần, nhanh dần, khuất bóng ở khúc quanh có hàng cây điên điển ven đường. Còn lại Virginia với cô gái ban nãy cùng một số người tò mò vây quanh.
- Nè, nhà của em ở đâu hả, Loreen?
Virginia âu yếm hỏi cô gái. Nhưng cô ta lặng thinh như người câm.
- Các cô, các bác ơi! Có ai biết nhà của em này ở đâu không?
Virginia hỏi những người đứng gần đó một cách nhỏ nhẹ. Không một tiếng trả lời, nhưng ai cũng nhìn Virginia với ánh mắt cảm tình. Virginia chợt hiểu. Đối với những người như cô gái này, có lẽ chẳng nơi nào được gọi là nhà cho đúng nghĩa. Thình lình, cô gái vùng khỏi tay Virginia và hét toáng lên:
- Buông tôi ra! Buông! Buông tôi ra! Đừng đụng đến tôi!
Cô ta khóc nấc lên.
- Hãy để cho tôi xuống địa ngục. Đó chính là nhà của tôi. Ma quỷ đang chờ đợi tôi nơi ấy. Hãy nhìn nó! Chính nó! Quỷ đó!
Cô ta vừa khóc vừa la lên với giọng khàn khàn. Cô quay phắt người lại chỉ thẳng vào chủ quán rượu. Đám đông cười ồ lên, bàn tán. Virginia liền ôm choàng lấy cô ta:
- Loreen!
Virginia khẽ khàng:
- Em không thuộc về địa ngục, về ma quỷ đâu. Em thuộc về Chúa Giê-xu. Hãy đến với chị, chị sẽ giúp được điều gì đó cho em. Chúa Giê-xu sẽ cứu em thoát khỏi cảnh này.
Loreen ôm mặt khóc thảm thiết. Cô ôm lấy Virginia thổn thức:
- Chị ơi! Chị vẫn còn nhớ em ư?
- Loreen! Chị nhớ chứ!
Virginia lại quay sang đám đông:
- Có ai biết chỗ ông Gray đang ở không nhỉ?
- Ở đằng kia kìa, cách căn lều của ông ta độ nửa cây số.
Một giọng đàn ông ồm ồm cất lên trong đám đông, chỉ hướng đi cho Virginia.
Virginia ôn tồn hỏi Loreen:
- Loreen ơi! Bây giờ em hãy đi với chị đến nhà ông Gray nhé?
Loreen run run gật đầu, nép sát vào người Virginia.
Virginia nắm tay và dắt Loreen đi bộ về phía nhà trọ của Gray.
Men rượu vẫn chưa tan trong Loreen khiến cô đi bước thấp, bước cao. Một lát sau, cô mới bước từng bước thủng thẳng theo chân Virginia, mắt cô còn đẫm lệ. Thật không may cho Virginia, ông bà Gray lại vắng nhà. Người giúp việc báo cho Virginia biết khi cô bấm chuông cổng. Cơn say còn bám víu trong Loreen, cô buông khỏi tay Virginia, loạng choạng và ngã sóng soài xuống ngay lề đường trước cổng nhà Gray.
Virginia không nghĩ trước tình huống này nên cô thoáng bối rối. Sau một vài giây định thần, một ý nghĩ chợt đến trong đầu Virginia: “Sao mình không dẫn Loreen về nhà mình ở nhỉ?”... “Tại sao cô gái khốn nạn, nghiện ngập, vô gia cư này lại không được mình chăm sóc mà lại phải nhờ vả đến người khác?”. “Chúa Giê-xu sẽ làm gì đối với số phận cô gái này? Ắt hẳn Ngài sẽ không bỏ rơi cô ấy trong vũng bùn tội lỗi, ô nhơ mãi. Mình là con của Ngài, mình cũng phải hành động giống Ngài đối với tha nhân nói chung, và cô gái này nói riêng”. Một cách quả quyết, Virginia cúi xuống nắm tay cô gái:
- Loreen! Hãy đứng dậy, cùng đi về nhà với chị. Bây giờ chúng ta đến ngay góc đường trước mặt kia chờ xe bus hoặc taxi để về trên Raymond.
Thoáng chút ngạc nhiên, Loreen ngồi bật dậy như một cái máy, bám theo gót Virginia đi về phía góc đường một cách ngoan ngoãn. Virginia không ngờ Loreen đã thay đổi thái độ một cách nhanh chóng như vậy. Virginia đoán rằng thế nào Loreen cũng chống đối hoặc từ chối, la hét như lúc còn ở quán rượu cho mà xem. Nhưng phản ứng của Loreen lại diễn ra ngược lại dự đoán của Virginia. Bấy giờ, trong lòng Virginia lại trỗi dậy một nỗi lo mới: “Không biết bà nội có đồng ý cho Loreen về ở nhà mình không?” Virginia e ngại tính cách quý tộc của bà Page khó có thể chấp nhận một cô gái bẩn thỉu, nghiện ngập như Loreen.
Đi gần đến góc đường, Loreen đã tỉnh rượu dần. Cô đang rơi vào trong tâm trạng sững sờ và bàng hoàng. Cô nhìn trân trối vào khuôn mặt quý phái nhưng phúc hậu của Virginia. Cô lảo đảo bước như chực ngã dúi về phía trước. Virginia buộc phải nắm chặt cánh tay của Loreen, kịp ghì lại mỗi lúc cô chệnh choạng.
Một chiếc xe bus đông nghẹt người xả khói mù mịt, khét lẹt, tấp vào góc đường đón khách, kịp chuyến trưa để lên thành phố Raymond. Chật vật lắm Virginia mới tìm được hai chỗ ngồi tàm tạm nhưng rất hôi hám.
Virginia về đến nhà lúc đã quá trưa. Cô dắt Loreen bước lên từng bậc tam cấp để đi vào phòng riêng của cô. Giữa căn nhà khang trang, sạch sẽ, cô đang ngồi thở dốc bên cạnh cô gái bụi đời, vô gia cư. Tự nhiên, cô cảm thấy tràn ngập niềm thương cảm đối với Loreen.
Bà Page đang ở phòng đọc sách sát vách phòng Virginia. Bà nghe tiếng động bên phòng Virginia, biết Virginia đã về nhưng bà không biết sự có mặt của Loreen. Bà gọi lớn:
- Virginia! Cháu về đấy à? Sao trưa dữ vậy? Không đói bụng sao?
Xong, bà bước qua phòng Virginia.
- Dạ, thưa bà nội!
Virginia nói với một chút do dự:
- Cháu đến Rectangle và gặp người bạn gái này của cháu lâm vào hoàn cảnh không có nhà. Cháu đưa cô ấy về đây ở tạm với cháu một thời gian...
Bà Page liếc nhìn Virginia rồi lại quan sát Loreen từ đầu tới chân một cách kinh ngạc.
- Cháu nói rằng cô gái này là bạn của cháu? Chuyện khó tin quá! Cháu có lừa bà không đấy?
Bà Page hỏi với một giọng lạnh lùng, mỉa mai, chế nhạo khiến cho Virginia xốn xang trong lòng.
- Thưa bà! Vâng ạ! Cô này là bạn cháu. Tên của cô ấy là Loreen.
- Virginia! Cháu có biết cô gái này thuộc hạng người nào không mà cháu lại đi kết bạn với nó hử? Cháu có điên không, Virginia?
Bà Page hỏi dằn từng tiếng, kèm theo những tiếng xì khinh bỉ. Bà bước lại gần Virginia.
- Dạ, cháu biết rõ cô ta là ai. Cháu biết về cô ấy tường tận hơn bà tưởng. Cô ta là một loại cặn bã của xã hội. Bà không cần phải mỉa mai gì thêm, đủ rồi bà ạ. Lúc này cô ta chưa tỉnh táo cho lắm. Nhưng cô ta cũng là con cái Đức Chúa Trời, cháu không thể bỏ mặc anh em, chị em mình. Chính cháu đã nhìn thấy cô ta quỳ gối ăn năn tin nhận Ngài ở Rectangle. Và cháu cũng đã nhìn thấy lửa địa ngục đang vươn những ngón tay đầy móng vuốt gớm ghiếc để bắt giữ cô ta lại. Trong tình thương và ân điển của Đấng Christ, cháu cảm thấy mình cần phải hành động thế nào để giúp đỡ, vực cô ta ra khỏi sự bắt bớ, cám dỗ của quyền lực tối tăm. Thưa bà! Chúng ta xưng mình là con cái Đức Chúa Trời thì chúng ta phải biết yêu thương, đùm bọc anh em, đồng loại mình. Cô gái này cũng là vật thọ tạo của Chúa như chúng ta, nhưng lại rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, lạc loài, không nhà cửa, không chốn nương thân, đã có lần cô mở lòng tiếp nhận Chúa, bữa nay lại lâm vào tình trạng sa chân xuống hố sâu tội lỗi, có thể dẫn đến hư mất đời đời trong hoả ngục. Cháu nghĩ nhà mình dư dả, có thể san xẻ cho cô ấy, nên cháu đem cô ấy về đây, tất nhiên là cháu đã nghĩ đến việc chính cháu sẽ tự lo liệu cho cô ấy, xin bà chớ bận lòng”.
Bà Page nhìn Virginia với tia mắt nhoáng lửa, bà nghiến răng ken két, nghẹn lời. Bà tức tối đến tím cả mặt. Hành động của Virginia đã làm cho bà giận dữ, bà không thể chấp nhận việc đứa cháu quý tộc của bà lại đi bè bạn thân mật, bao bọc, che chở cho thứ rác rến ngoài đường như cô gái lạ mặt bẩn thỉu kia. Tất cả những điều này mâu thuẫn với đạo đức xã hội của gia đình quý tộc thượng lưu của dòng họ con trai bà. Bà chỉ muốn Virginia làm bạn, quan hệ với những người giàu sang, có địa vị, quyền thế trong xã hội mà thôi. Làm sao bà có thể tha thứ cho hành động ngông cuồng của cháu gái bà? Trong nhà cháu gái bà - một biệt thự sang trọng thế kia, lại chứa một đứa con gái bẩn thỉu, cũng có thể cô ta là hạng gái bán trôn nuôi miệng cũng nên... thì bà sẽ khó trò chuyện, giao thiệp với những ông, những bà quý phái bè bạn của gia đình bà, hoặc những tay làm ăn trong giới kinh doanh của bà. Họ sẽ khinh bà khi họ trông thấy đồ rác rến thối tha kia! - Bà Page lẩm nhẩm những ý nghĩ đang đầy ắp lòng bà!
Đối với bà Page, xã hội là quan trọng, thanh danh gia đình lại càng quan trọng hơn. Còn Hội thánh và bất cứ cơ quan nào khác thì chỉ là hàng thứ yếu mà thôi. Bà cũng rất sợ tai tiếng cho rằng nhà bà nghèo. Bà luôn luôn muốn thiên hạ gắn liền tên của bất cứ người nào trong gia đình Page của bà với từ “tỷ phú”. Bà đứng thẳng lên, nghiêm nghị bước thẳng về phía Virginia, gương mặt bà chuyển từ tím tái sang đỏ lừ, giận dữ cao độ. Virginia vòng hai tay ôm chặt Loreen và bình tĩnh nhìn thẳng vào bà nội, chờ đợi.
- Mày không thể làm và được phép làm điều này, Virginia à! Mày có thể đem nó đến gởi cho nhà “cứu tế phụ nữ không nơi nương tựa của thành phố”. Chúng ta có thể trả các phí tổn cho nó. Chúng ta không thể hi sinh thanh danh, tiếng tăm gia đình cho việc chứa chấp một con người như nó trong nhà.
Bà Page chỉ thẳng vào Loreen, nghiến răng. Virginia nghe bà Page thay đổi cách xưng hô, gọi cô bằng “mày” có nghĩa là bà nội đang điên tiết lên! Từ trước đến giờ, chưa bao giờ bà gọi cô bằng “mày” cả. Dù biết rằng bà đang tức giận, Virginia vẫn bĩnh tĩnh, không chút sợ hãi, cô nhã nhặn:
- Thưa nội! Cháu không muốn làm bất cứ điều gì khiến nội buồn. Nhưng bây giờ, trong tình cảnh này cháu xin nội cho phép cháu giữ Loreen nghỉ lại đây đêm nay, và nếu cô ấy được nội cho phép nghỉ ngơi ở đây lâu hơn nữa càng tốt.
- Vậy thì mày phải trả lời cho những hậu quả do chính mày gây ra đấy nhé!
Bà Page gằn từng tiếng, chưa nguôi tức giận cô cháu gái cưng của mình. Bà tiếp tục cằn nhằn:
- Tao không thể ở chung nhà với một kẻ khốn nạn, cặn bã của xã hội như cái đồ đĩ gái ấy - Bà Page đã mất tự chủ, nước mắt bà trào ra.
Virginia cố nén, cất giọng buồn rầu:
- Thưa nội, căn nhà này là của cháu. Nội ở đây với cháu thì cũng coi như là nhà của nội. Xin nội cho cháu một chút quyền đối với căn nhà này chứ. Dù bất cứ giá nào, nội có la mắng cháu thậm tệ đến đâu, cháu cũng phải hành động như vầy. Cháu tin tưởng chắc chắn rằng Chúa Giê-xu cũng hành động như thế trong địa vị của cháu. Cháu xin đứng ra gánh chịu và đón nhận mọi tai tiếng với thiên hạ. Xã hội không phải là Đức Chúa Trời của cháu. Bên cạnh linh hồn nghèo khổ này, cháu sẽ không coi sự lên án của xã hội là ghê gớm lắm đâu cả. Cháu không sợ dư luận.
- Vậy thì tôi sẽ rời khỏi nhà này cho cô muốn làm gì thì làm. Đồ bất hiếu! - Bà Page hét toáng lên, rồi bước nhanh ra khỏi phòng. Chợt, như sực nhớ điều gì, bà quay phắt người lại nhìn xoáy vào mặt Virginia, nghiến răng:
- Cô luôn nhớ rằng cô đã cố tình đẩy bà nội của cô ra khỏi căn nhà này chỉ vì một đứa con gái ranh, say sưa đáng ghét đó nhá!
Bà Page đang bị kích động và tự ái tột độ vì quyền lực của bà bị xúc phạm. Nói xong, bà đi thẳng lên lầu, bước chân nện thình thịch trên cầu thang.
Virginia nhẹ nhàng đỡ Loreen ngồi xuống. Cô gọi người giúp việc vào săn sóc Loreen ngay. Chứng kiến cảnh đấu trí căng thẳng của hai bà cháu Virginia, Loreen ý thức rằng mình chính là tai hoạ cho Virginia, nên nàng sợ hãi quá và buồn rầu, khốn khổ, tinh thần rơi vào tình trạng bất ổn.
Người giúp việc đang phụ với Virginia xoa dầu, chăm sóc cho Loreen. Virginia không đoán được bà nội có bỏ nhà ra đi không. Cô nghĩ, nếu bà nội bỏ cô chỉ vì lòng ích kỷ của bà, thì cô cũng đành chịu. Cô có thể tự xoay sở cuộc sống cho cô và lo cả cho Loreen nữa. Cô có đông anh chị em đang sống ở miền Nam nước Mỹ, cô có thể đến thăm họ mỗi năm từ hai đến ba lần. Cô không sợ cô đơn, cũng không sợ nghèo khổ. Lúc này, cô cảm thấy vật chất tiền tài không quý báu và giá trị bằng một linh hồn được cứu rỗi. Càng nghĩ Virginia càng cảm thấy bình an trong lòng, dù rằng cô vừa trải qua một cuộc nói chuyện đau lòng và bất đắc dĩ nhưng cô không ân hận chút nào về hành động vừa rồi. Để Lorren nằm nghỉ, cô sửa lại nếp quần áo và bước xuống phòng ăn uống tách trà.

Chương 13
Virginia đến phòng ăn một lúc lâu, vẫn không thấy bà nội xuống dùng trà như mọi lần. Cô sai người giúp việc lên phòng mời bà, nhưng người giúp việc trở xuống cho biết là bà không có trong phòng. Một lát sau, Rollin ở đâu bước vội vào phòng ăn, anh báo rằng bà nội vừa đáp chuyến xe lửa chiều đi về miền Nam. Anh đi ra ga tiễn mấy người bạn đi miền Nam, tình cờ anh trông thấy bà nội ở nhà ga, lúc bà sắp bước lên tàu. Bà đã cho Rollin biết lý do bà ra đi. Virginia ngồi chống cằm, bóp trán suy nghĩ, mắt buồn rười rượi. Rollin lựa lời an ủi chị mình, gương mặt anh ta cũng buồn không kém gì Virginia.
- Rollin! Em có trách chị không?
Từ lúc Rollin tin nhận Chúa đến giờ, hôm nay Virginia mới có dịp trò chuyện thân mật với cậu.
- Không, chị ơi! Em không nghĩ là chị có lỗi trong chuyện này. Vả lại, người già thường khó tính hơn lớp trẻ chúng ta. Tuy điều này đã làm cho chúng ta đau lòng nhưng nó có giá trị to lớn đấy chị ạ. Cô gái nghèo khổ ấy đang cần sự che chở của chị, thì chị cứ việc làm theo suy nghĩ đúng của chị. Đừng ngại dư luận. Chúng ta hưởng thụ cảnh xa hoa, nhà cao cửa rộng một cách hư không thì phỏng có ích gì. Trong khi đó, bên ngoài có biết bao người vô gia cư khốn khổ, chẳng hạn như cô gái lạc loài mà chị đã dắt về đó. Em tin chắc một điều, nếu trong hoàn cảnh chị, Chúa Giê-xu cũng sẽ làm như chị đã làm, thậm chí còn hơn thế nữa.
Rollin nói liền một mạch cách mạnh mẽ khiến Virginia ngạc nhiên và sung sướng. Cô vui mừng thấy đứa em trai hư hỏng trước đây của cô đã được Chúa Giê-xu cảm hoá tâm hồn, có được những ý nghĩ tốt đẹp, đáng yêu. Cô thấy quyền phép biến cải linh hồn tội nhân của Đức Thánh Linh kỳ diệu vô cùng. Chính Rollin là một bằng chứng gần gũi, khích lệ cô nhiều lắm. Rõ ràng “hễ ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới”. Lời Chúa yên ủi lòng Virginia, cô thầm cảm tạ ơn Ngài.
Tối hôm đó, Virginia mời bác sĩ West đến khám bịnh cho Loreen. Vì chán nản và một số lý do nào đó đã khiến Loreen nốc rượu một cách điên dại trong mấy ngày liền, cho đến khi Loreen gặp được Virginia . Giờ đây cơ thể cô bị nóng sốt hâm hấp. Nửa tỉnh nửa mê, cô suy nghĩ về lý do mà Virginia đã đem cô về trong ngôi biệt thự sang trọng này. Cô nằm và nhìn lên bức tranh trên tường. Đó là hình ảnh Chúa Giê-xu đang đi bộ trên mặt biển. “Khuôn mặt Chúa hiền từ quá”, cô thầm nghĩ như vậy...
Tại Hội thánh Tin Lành Raymond, buổi họp sau giờ nhóm bây giờ được nhiều người tham dự cách sốt sắng. Đông đủ những người đã nhóm tuần trước, nay có thêm một số người mới, nhưng vẫn vắng Jasper Chase. Mọi người tỏ ra gần gũi, thăm hỏi nhau thân mật hơn, khiến Mục sư Henry cảm thấy vui mừng, khấp khởi trong lòng. Mọi người bàn tán và thăm hỏi Edward Norman về tờ “Tin Tức Hằng Ngày” của ông ta.
Edward Norman tằng hắng giọng:
- Trong ba tuần qua, tôi đã lỗ một số tiền khá lớn khi phát hành báo. Tôi chưa tính được làø bao nhiêu, nhưng tôi đang mất dần số độc giả mua báo dài hạn mỗi ngày.
- Thế các độc giả mua báo có nói lý do vì sao họ không mua báo nữa không?
Mục sư Henry hỏi Edward. Ai nấy lắng nghe chăm chú câu trả lời của Edward:
- Người ta đưa ra nhiều lý do lắm. Có người thì bảo rằng họ thích mua và đọc một tờ báo toàn diện. Nghĩa là tờ báo đó phải thật phong phú, đăng tải những tin vụ án, những tin giật gân và cả những tin thời sự nóng bỏng hàng ngày, ví dụ như vụ tranh giải quyền anh cá độ chẳng hạn. Có người lại nói rằng họ thích mua báo phát hành Chúa nhật để giải trí trong ngày nghỉ cuối tuần. Thế nhưng toà soạn chúng tôi lại ngưng phát hành báo vào Chúa nhật. Hành động đó đã khiến chúng tôi lỗ nặng đấy các bạn à! Tôi đã giàn xếp ổn thoả với nhiều độc giả lâu năm, bằng cách đăng tải nhiều tin tức hơn trong số báo phụ trang ngày thứ bảy, hơn cả các số báo Chúa nhật trước đây. Sự lỗ lã lớn nhất của toà soạn chúng tôi là do tôi cắt bỏ nhiều mục quảng cáo bia, rượu của các hãng, công ty hợp đồng quảng cáo nổi tiếng. Khoảng chi trả cho các dòng quảng cáo của các công ty ấy không phải là nhỏ. Đồng thời, tôi cho đăng tin về vấn đề chính trị góp phần lên tiếng ủng hộ cho cuộc bầu cử sắp tới. Điều này cũng đã làm cho tờ báo của chúng tôi lỗ nặng. Lý do là vì, các độc giả mua báo của tôi đa số là những người quan tâm nhiệt tình về đảng phái. Họ bất mãn bài xã luận của tôi vì họ không hiểu được công việc của Chúa Giê-xu làm. Họ nhìn thấy cái lợi trước mắt nhưng chưa nhìn xa trông rộng, đa số họ đứng về phe bảo thủ, dung túng bia rượu, thuốc lá và gái mại dâm. Họ chỉ thích sống tự do, buông thả chứ không thích ghép mình vào một khuôn khổ, tiêu chuẩn đạo đức nào cả. Tôi nói thật với các bạn, nước Mỹ chúng ta càng văn minh chừng nào thì tội lỗi càng bành trướng chừng nấy. Những người ưa thích tội lỗi thì chắc chắn họ không ưa thích tờ báo của tôi nữa rồi.
Edward ngừng nói một lúc, đưa mắt nhìn khắp lượt mọi người trong căn phòng, ai nấy đều im lặng. Virginia nhìn Edward một cách chăm chú, cô mỉm cười, thích thú về vấn đề Edward vừa nói.
Edward lại tiếp tục, giọng ông trầm hẳn xuống:
- Thưa quý vị, tôi xin nói một cách thành thật rằng, kinh nghiệm trong ba tuần qua cho tôi một khẳng định chắc chắn, nếu ai đó tiếp tục áp dụng quy luật, tiêu chuẩn của Chúa Giê-xu vào công việc làm ăn thì phải chấp nhận sự lỗ lã nặng nề. Thế nhưng, các bạn đừng sợ hãi. Chúa Giê-xu không bỏ mặc chúng ta với sóng gió đời này đâu, Ngài biết việc chúng ta làm. Đối với tôi, dầu tôi có phải bán gia tài mình để bù vào sự lỗ lã to lớn của tờ báo, tôi cũng sẽ tiếp tục công việc như kế hoạch tôi đã vạch ra. Miễn làm sao, từ các thông tin của tờ báo sẽ góp phần cảm hoá nhiều người trở lại với Chúa Giê-xu, có đạo đức, lương tâm tốt, sống có ích lợi cho Chúa ở thế gian này. Tôi muốn chuyển hoá một tờ báo xã hội bình thường sang một tờ báo Cơ Đốc giáo có tầm ảnh hưởng rộng lớn. Tôi mong các bạn ủng hộ tờ báo. Tôi cần một số tiền lớn ban đầu để thực hiện tốt một tờ Thánh Kinh báo có quy mô và tin tức phong phú, phục vụï cho con cái Chúa gần xa. Tôi tin tưởng nơi Chúa Giê-xu, chắc chắn Ngài sẽ chấp nhận và đồng công cho việc phát hành một tờ nhật báo Cơ Đốc. Trên tờ báo, chúng ta sẽ chỉ đăng những tin tức nào mà chúng ta cảm nhận một cách thành thật là Chúa Giê-xu sẽ cho phép đăng. Tôi hi vọng chúng ta sẽ thành công.
Sau một hồi chăm chú theo dõi lời nói của Edward, Virginia hỏi nhỏ nhẹ:
- Bác Edward ạ! Bác thử tính xem bác cần bao nhiêu tiền để thực hiện tờ nhật báo Cơ Đốc đó?
Edward nhìn Virginia, khuôn mặt hằn nếp nhăn của ông ánh lên nét rạng rỡâ. Ông đoán được phần nào ý của Virginia. Ông biết cô từ lúc cô còn là một bé con mũm mĩm dễ thương. Ông thường lui tới, quan hệ làm ăn với cha cô trước đây.
- Khoảng nửa triệu Mỹ kim cô Virginia à!
Ông trả lời với giọng dè dặt.
- Vậy thì...
Virginia nói từng chữ chắc nịch tỏ ra cô đã suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng:
- Cháu sẵn sàng ủng hộ tờ báo của bác số tiền ấy, với điều kiện: bác phải tập trung thực hiện một tờ Thánh Kinh báo, hay nói đúng nghĩa là một Nhật báo Cơ Đốc.
- Ôi, thật cảm ơn Chúa!
Edward và Mục sư Henry không hẹn nhưng cùng thốt lên một lượt với niềm vui mừng lộ rõ trên mặt.
- Thưa các bạn! Không phải tôi muốn khoe của hay phô trương sự giàu có của mình. Xin các bạn chớ hiểu lầm tôi khi thấy tôi tình nguyện ủng hộ một số tiền lớn như thế cho việc báo chí của Edward. Tiền bạc mà Chúa ban cho tôi từ bấy lâu nay chính là của Ngài. Tôi sẽ sử dụng nó vào những công việc gì ích lợi cho nhà Chúa. Cảm ơn Chúa, Ngài đã cảm thúc tôi biết cách để quản lý và sử dụng tiền bạc. Tôi sẽ cố gắng dùng tiền tài, của cải vào mục đích quy vinh hiển về cho Ngài. Tôi đã nghĩ đến kế hoạch này nhiều lần rồi nhưng chưa biết bắt đầu thế nào. Các bạn ạ! Chính tờ “Tin Tức Hằng Ngày” là cơ quan ngôn luận tốt nhất đại diện, phát ra tiếng nói cho phía Cơ Đốc nhân chúng ta trong cuộc chiến đấu chống các thế lực dung túng và sản xuất rượu mạnh, chứa chấp xì ke ma tuý đồi bại, làm hư hoại bao con người ở nước Mỹ này. Mọi sự chỉ mới bắt đầu nên chúng ta sẽ gặp khó khăn nhiều đấy. Xin các bạn lưu tâm cầu nguyện thiết tha với Chúa, xin Ngài giúp đỡ chúng ta hành động có kết quả. Các bạn biết đấy, các tờ báo khác đã đứng về phía các chủ quán rượu, các tú bà lầu xanh, các nàng tiên nâu để cùng chống đối và công kích những ai yêu chuộng sự lương thiện. Chừng nào mà các quán rượu tại Raymond và Rectangle còn tồn tại, thì việc cứu vớt những linh hồn đang chìm đắm trong tội lỗi ở Rectangle của Cơ Đốc nhân chúng ta còn gặp nhiều bất lợi và trở ngại lớn. Ông Gray sẽ làm gì với những buổi nhóm Tin Lành tại căn lều của ông, mà số người mới tin Chúa dự nhóm lại toàn là người nghiện rượu, hàng ngày bị các quán rượu hai bên đường mời mọc, cám dỗ? Nếu chúng ta để cho tờ “Tin Tức Hằng Ngày” thất bại có nghĩa là chúng ta đầu hàng kẻ thù. Tôi đặt niềm tin vào ông Edward. Tôi chưa biết kế hoạch cụ thể của ông ấy là gì, nhưng tôi tin tưởng ông ấy sẽ làm cho tờ báo thành công nếu nó được thực hiện trên một quy mô rộng lớn. Nếu Chúa Giê-xu ở vào địa vị tôi, chắc chắn Ngài cũng sẽ góp phần tiền bạc cho tờ báo. Tôi nghĩ thế nên tôi mạnh dạn dâng số tiền là nửa triệu Mỹ kim cho việc phát triển tờ báo. Tôi cũng xin thưa trước, bác Edward cùng các bạn đừng ai mở miệng cảm ơn tôi, nhưng hãy cảm ơn Chúa và ngợi khen Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Trong những năm qua, tôi đã sử dụng tiền bạc cho việc tiêu khiển, thoả mãn ước muốn cá nhân ích kỷ của riêng tôi mà thôi, nhưng nay xin Chúa giúp tôi sử dụng phần gia tài còn lại có ích cho nhà Ngài.
Nghe tâm tình của Virginia, mọi người đều xúc động. Họ nhìn cô với sự vui mừng hiện trên ánh mắt. Không ai nói với ai tiếng nào nhưng trong mỗi người đều chung một suy nghĩ rằng Đức Thánh Linh đang dẫn dắt họ trên bước đường theo dấu chân Chúa Giê-xu.
- Anh Alexander! Còn tình hình công việc của anh thể nào?
Mục sư Henry quay sang hỏi Alexander Powers. Alexander trình bày cách ngắn gọn cho mọi người nghe về việc Uỷ ban hứa sẽ thi hành luật pháp khi các bằng cớ của ông được nhiều người xác nhận. Ông đã chuyển sang làm nghề điện báo như trước đây ông đã làm.
Mọi người trao đổi những kinh nghiệm theo Chúa, việc giữ và thực hiện lời hứa nguyện với Chúa trong thời gian qua. Họ cũng công nhận rằng, khi họ vâng giữ lời hứa ngyện thì cũng là lúc trong gia đình họ bắt đầu xảy ra những bất hoà và đối địch, những khác biệt trong quan điểm...

Chương 14
Qua những buổi thông công sau giờ nhóm, những người tình nguyện theo chân Chúa Giê-xu ở Hội thánh Raymond tỏ ra gần gũi, quan tâm và thông cảm nhau hơn. Mục sư Henry nhận thấy rõ nét về điều đó. Ông rất vui mừng vì công việc Chúa đã được khởi sự và kết quả lớn lao. Ông cũng khó có thể lường trước được những kết quả ấy sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thành phố Raymond vào cuối năm nay.
Trong số những người hứa nguyện, ông Edward Norman được mọi người chú ý nhiều nhất. Sau khi thay đổi nội dung, tờ nhật báo của ông đem đến sự ngạc nhiên cho nhiều gia đình. Họ nói với nhau rằng, giữa thời buổi kinh tế lũng đoạn ở nước Mỹ tự do như thế này mà tờ báo vẫn giữ được nét đạo đức lành mạnh như thế là một điều kỳ lạ vô cùng. Rõ ràng, tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” không chạy theo đồng tiền. Nó theo đuổi và nuôi dưỡng, tuyên truyền những nếp sống và tiêu chuẩn đạo đức mới: sống theo gương Chúa Giê-xu. Người dân thành phố Raymond đọc báo và nói với nhau như thế. Mọi người đang khẩn trương, xôn xao bước vào tuần lễ bầu cử.
Hiệu trưởng Donald quyết tâm thực hiện sự hứa nguyện của mình, gây ảnh hưởng và vận động sinh viên học sinh chọn lựa và đề cử những người xứng đáng vào Quốc hội theo tiêu chuẩn đạo đức chứ không theo tiêu chuẩn kinh tế của họ. Donald tự hứa cho dù phải khốn khổ, liên luỵ và ảnh hưởng đến địa vị xã hội của mình, ông vẫn quyết tâm thực hiện sự hứa nguyện ấy ngõ hầu đem lại kết quả cho Chúa.
Về phần Mục sư Henry, ông cũng đang cầu nguyện và thực hiện ý định của mình: vận động dẹp bỏ các quán rượu dọc các đại lộ ở Raymond và ở Rectangle trước sự phản đối kịch liệt của những tay trùm buôn rượu, nghiện rượu...
Giáo sĩ Gray vẫn tiếp tục kiên trì gây dựng nhóm, nhờ Chúa Giê-xu cảm hoá dần những kẻ nghiện ngập, xấu xa ở Rectangle. Ông tiến hành nhóm thường xuyên hơn vào mỗi tối thứ bảy. Đức Thánh Linh làm việc mạnh mẽ trên các buổi nhóm, đồng thời, quyền lực tối tăm cũng phản ứng ghê gớm. Các buổi nhóm càng diễn ra tốt đẹp bao nhiêu, lôi kéo nhiều người bước lên tiếp nhận Chúa để được Ngài biến cải đời sống... thì bên ngoài căn lều càng diễn ra các tệ nạn nghiện ngập, chém giết hung bạo... bấy nhiêu. Các tay chủ quán rượu được Sa-tan tiếp sức một cách gớm ghiếc đã lên tiếng công khai đe dọa bạo động nếu ông Gray còn tiếp tục đóng trại ở Rectangle. Có một lần, đang đêm, Gray và những người đến dự nhóm vừa cầu nguyện tất lễ, bước ra khỏi căn lều liền bị bọn chủ quán rượu thuê đám lưu manh tấn công bất ngờ bằng gạch và đất, đá, gây trọng thương một số người. Gray phải gọi điện thoại nhờ cảnh sát đến can thiệp.
Dù tình hình có sự trở ngại như thế nhưng Gray vẫn duy trì được các buổi nhóm kế tiếp. Đức Thánh Linh đang hà hơi và dẫn dắt, bảo vệ con cái của Thiên Chúa. Rachel hát ngày càng hay và mời gọi được nhiều người hơn. Bác sĩ West, Rollin và Virginia vẫn cộng tác đắc lực với Gray. Họ không tiếc thì giờ để đến với các buổi nhóm cùng những người nghèo khổ ở Rectangle.
Ở Raymond, sự kích động lan tràn khắp thành phố trong ngày bầu cử. Chưa bao giờ xảy ra sự tranh đấu giữa những Cơ Đốc nhân và những người quyền thế ngoại đạo trong việc bầu cử như lần này. Tại buổi bầu cử, các chính trị gia ngạc nhiên hết sức, khi thấy xuất hiện hiệu trưởng Donald, Mục sư Henry ... với vẻ mặt quan trọng, trong tâm trạng chờ đợi kết quả cuộc bầu cử. Phe chống đối việc lựa chọn người theo tiêu chuẩn đạo đức mới vào Quốc hội cũng đang hồi hộp chờ đợi kết quảû. Buổi bầu cử căng thẳng và ồn ào với những lời ra tiếng vào. Mặt trời đã lên cao nhưng quảng trường, nơi bầu cử, vẫn đông nghẹt người. Mọi người đang nóng lòng chờ tuyên bố kết quả.
...Trong khi đó, ở Rectangle ông Gray vẫn tổ chức nhóm thờ phượng Chúa như thường lệ. Không hẹn nhưng mọi người đi nhóm sớm hơn giờ quy định và bàn tán xôn xao về cuộc bầu cử ở Raymond. Mục sư Henry và Hiệu trưởng Donald cũng có mặt trong buổi nhóm. Phía những hàng ghế gần bục giảng, Loreen ngồi nép mình vào vai Virginia trông thật nhỏ bé, thoáng vẻ nhút nhát, sợ sệt. Kế tiếp hàng ghế Virginia, Bác sĩ West và Rachel cũng đã có mặt. Họ ngồi im lặng, mỗi người đang theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.
Buổi nhóm bắt đầu bằng lời cầu nguyện khai lễ ngắn, nhưng cảm động của ông Gray. Kế tiếp, Rachel tôn vinh Chúa bài “Tôi là con chiên lang thang” gây xúc động lòng các thân hữu. Cả Loreen cũng gục đầu thổn thức và quỳ xuống, ăn năn thưa chuyện với Chúa. Đức Thánh Linh đang hiện diện đầy dẫy trên buổi nhóm. Trong căn lều chật hẹp hôm ấy, có rất nhiều người bước lên tin nhận Chúa sau lời kêu gọi nhiệt thành của ông Gray.
Bên ngoài lều, tiếng la hét xen lẫn tiếng văng tục của những gã say rượu vọng vào lều mỗi lúc một to dần. Ma quỷ đang tàn phá linh hồn và thể xác vốn yếu đuối của những người thanh niên lao động cùng khổ ở Rectangle. Chúng đang lên tiếng tuyên chiến và khiêu khích Đức Thánh Linh, giành giựt các linh hồn tội nhân từ tay Ngài.
Ông Gray cảm nhận được rằng, bên ngoài lều đang có sự lộn xộn và có nguy cơ họ ném đá vào lều, ông khéo léo sắp xếp chương trình nhóm nhanh chóng kết thúc trước chín giờ đêm, sớm hơn mọi bữa một tiếng đồng hồ.
Do ảnh hưởng cuộc bầu cử hồi sáng, nhiều người dân Rectangle đã rời căn nhà lụp xụp của mình ra tụm năm, tụm bảy ngoài đường trước căn lều của ông Gray bàn tán nhốn nháo. Lâu lâu, lại có một tiếng la lớn, từ đám đông hỗn độn, tuyên bố sẽ giết chết kẻ nào dám ngăn cản các quán rượu. Những tiếng chửi thề cặp theo lời công bố kết quả bầu cử ở Raymond càng lúc càng nhiều, tỏ sự phản đối dữ dội. Tiếng ồn ào trổi lên càng lúc càng rõ và náo động tăng dần.
Nhiều tiếng la hét:
- Thằng nào? Thằng nào dám vận động người ta dẹp quán rượu? Nó ở đâu? Hả? Hả?
- Giết chết nó đi! Khử đi! Giết! Giết!
Đám đông quay tất cả hướng chửi bới, hò hét dã man về phía căn lều. Bên trong lều, buổi nhóm đã chấm dứt. Những người mới tin Chúa nán lại với ông Gray, nghe ông dặn dò thêm về lịch học giáo lý trong những ngày tới. Còn tất cả những người khác đều lo thu xếp Kinh Thánh, Thánh ca và nối nhau rời khỏi lều.
Rachel, Virginia, Loreen, Rollin, Bác sĩ West và Hiệu trưởng Donald cùng Mục sư Henry bước ra cùng một lúc, dự định đến góc đường chờ xe như thường lệ để về Raymond.
Đám đông đã chờ sẵn, chúng lao vào họ, chỉ trỏ:
- Nó kia kìa! Chính nó! Nó là tên cầm đầu cuộc vận động sinh viên, học sinh gây rối cuộc bầu cử đấy!
Một giọng nói ồm ồm lỗ mãng hét lên, chỉ tay về phía Hiệu trưởng Donald.
- Mày đã chủ trương cho phe theo đạo Chúa đánh bại những người buôn bán rượu là chúng tao bằng những lá phiếu ban sáng phải không? Mày muốn chúng tao sập tiệm phải không? Trước khi chúng tao sập tiệm thì mày phải sập trước! Thằng đểu!
Một gã đàn ông râu rậm, miệng phả hơi rượu nồng nặc, hét vào mặt Donald với sự tức tối. Có lẽ hắn là một chủ quán rượu nào đó ở Rectangle.
- Donald! Chúng ta đang gặp nguy! Làm sao đưa các cô đi nơi khác thật lẹ để tránh nguy hiểm.
Henry nắm chặt tay Donald và thốt lên, lo âu.
Ngay lúc đó, bọn côn đồ trong đám đông đã ồ ạt ném đá và gạch, cùng với các thứ cây, gậy, trái cây thối như mưa vào các anh em con cái Chúa đang cố dò bước ra góc đường chờ xe. Rollin, Bác sĩ West với Donald, Mục sư Henry đi thành một vòng ngoài để che chở và bảo vệ được phần nào cho Rachel, Loreen và Virginia. Qua những con người xấu xa và dữ dằn này, họ nhìn thấy quyền lực tối tăm đang thách thức Đức Thánh Linh một cách quyết liệt. Bọn chủ quán rượu đang nổi cơn giận dữ. Chúng nó đang tìm mọi cách để giữ lại cho bằng được môi trường có những ổ vi trùng tội lỗi, gieo rắc và cám dỗ, huỷ hoại người khác. Ma quỷ đã ra tay yểm trợ cho chúng.
- Hãy giết các tên quý tộc đểu cáng đó đi! Giết! Giết!
Lần này, một tiếng đàn bà the thé hét lên chứ không phải tiếng đàn ông như ban nãy.
Lợi dụng tình thế, bọn thanh niên côn đồ nhảy đến đấm đá túi bụi vào Rachel hòng giật tư trang của cô. Kịp thời, Rollin ập thẳng người xuống, dùng ngực che đòn cho Rachel, tấm vai rộng của anh đã hứng trọn những cú đấm dã man của bọn bất nhân. Áo trắng của anh lấm đầy bùn đất, trái cây thối do bọn chúng ném vào.
Về phía Virginia, cô đang lo lắng không biết phải xử trí với đám đông hoảng loạn này như thế nào, thì đột nhiên, Loreen bứt khỏi tay cô và nhanh như cắt, lao lên phía trước. Cô chỉ kịp hét lên thất thanh:
- Loreen!
Loreen đã té vật xuống bên lề đường gạch đá nham nhở. Một vỏ chai bia dày của một kẻ nào đó, từ quán rượu cũ mà Loreen đã gặp và theo Virginia về Raymond, ném trúng đầu cô.
Virginia chạy nhào đến, quỳ xuống ôm và lay Loreen, nức nở:
- Loreen ơi! Loreen!
Máu loang lổ khắp nền áo của Loreen, hơi thở cô yếu ớt. Virginia uất ức, hét lên đau đớn:
- Các người đã giết chết cô gái tội nghiệp này rồi! Ôi Chúa ôi! - Cô khóc rưng rức.
Mục sư Henry và Bác sĩ West biến sắc, hoảng hốt cúi xuống đỡ Loreen lên, trong lúc đám đông nhốn nháo bu quanh và ngừng ném đá.
- Sao? Phải nhanh chóng gọi cảnh sát và đưa cô ấy đi cấp cứu!
Hiệu trưởng Donald bế xốc Loreen trên tay.
- Cô ấy khó có thể thoát chết với vết thương ngay đầu như thế này!
Bác sĩ West run run tuyên bố
- Không kịp đưa cô ta đi cấp cứu đâu ông Donald ạ! - Bác sĩ nói thêm.
Ngay lúc đó, Loreen chợt mở mắt ra nhìn khắp lượt mọi người, mỉm cười, nước mắt ứa ra. Virginia lấy khăn tay nhè nhẹ lau máu trên mặt Loreen, cúi xuống hôn vào khuôn mặt tái nhợt của cô. Loreen lại mỉm cười lần nữa và cô trút linh hồn, mắt vẫn còn mở to, giọt nước mắt còn đọng nơi khoé mắt chưa kịp lăn xuống má. Virginia khóc uất lên, cô thương Loreen quá. Chúa mới thăm viếng, đổi đời chưa được bao lâu, nay nàng đã đột ngột ra đi. Mọi người yên lặng cúi đầu cầu nguyện. Mục sư Henry dâng lời cảm tạ Chúa vì Ngài đã kịp cứu linh hồn của Loreen trước khi nàng bị hại như vầy. Họ cảm tạ Chúa vì Loreen đã được an nghĩ trong nước đời đời của Ngài.
Năm phút sau, một lực lượng cảnh sát đặc biệt của khu vực đã được điều động đến, nhanh chóng dẹp yên đám đông, bắt và giải đi hung thủ vừa sát hại Loreen.
Virginia thuê xe chở xác Loreen về Raymond mai táng.
Ai nấy đều thêm lời cầu nguyện cho Rectangle, xin Chúa giải cứu những con người nghiện ngập, tội lỗi và độc ác, ở một vùng vốn nghèo khổ về vật chất lại còn khốn khó về tâm linh như Rectangle này.

Chương 15
“Kẻ nào theo Ta sẽ không đi trong nơi tối tăm”
Thi hài của Loreen đã được tẩm liệm tử tế trong chiếc quan tài đắt tiền và đặt nằm tại căn phòng rộng lớn vào cuối dãy biệt thự của gia đình Page.
Hôm nay là Chúa nhật. Chuông từ các thánh đường đổ liên hồi báo giờ nhóm sắp bắt đầu. Mọi người trên đường đến nhà thờ đều tò mò nhìn quan tài Loreen khi đi ngang nhà Virginia. Họ bàn tán đủ điều, đoán già đoán non về số phận của người đang nằm trong áo quan.
Tại nhà thờ Raymond, trên toà giảng, Mục sư Henry đưa mắt nhìn khắp lượt Hội thánh, ánh mắt buồn và đăm chiêu. Ông đang nghĩ đến cái chết của Loreen vào tối hôm qua. Ông rất đau lòng khi nhớ lại hình ảnh đám người bạo động nhằm bảo vệ và dung túng tội lỗi, rượu chè, say sưa, độc ác, sát nhân ở Rectangle. Gương mặt ông trầy sướt do đám đông xô đẩy, ném đá. Bài giảng của ông chứa đựng nội dung quở trách và lên án tội lỗi, bài trừ nạn rượu chè, chỉ ra rằng chính rượu đã dẫn đưa con người đến bờ vực tội lỗi.
Ông được biết đích xác rằng, kết quả của cuộc bầu cử vẫn nghiêng về phía các tay chủ quán rượu có tầm cỡ. Bọn chúng vẫn được cấp giấy phép sản xuất và tiêu thụ rượu trong một năm nữa. Ông điềm tĩnh lên tiếng hỏi Hội thánh:
- Nếu chúng ta đồng tình với kết quả của cuộc bầu cử, ủng hộ bọn chủ quán rượu hoạt động một năm nữa, liệu ai dám đảm bảo rằng sẽ không có hàng trăm cô Loreen khác bỏ mạng như cô Loreen vừa bị sát hại tối qua? Chính Loreen đã bị quán rượu cám dỗ đến với nó. Cũng chính từ quán rượu ấy, có người ném vỏ chai bia giết chết cô. Vậy, chúng ta đành bó tay làm ngơ trước một xã hội trụy lạc và tội ác như thế sao? Chúng ta đã thất bại và phải đành chấp nhận sự thất bại đau lòng này sao?
Mục sư lau nước mắt, cố nén xúc động. Cả Hội chúng lặng đi và thổn thức trước thực trạng mà họ đang đối diện. Hiệu trưởng Donald gục đầu vào thành ghế phía trước, vai ông rung lên. Chưa bao giờ người ta nhìn thấy ông bày tỏ cảm xúc trong các buổi thờ phượng Chúa như lần này. “Chúa Giê-xu sẽ làm gì trước kết quả thê thảm này của chúng ta?” Edward Norman lẩm bẩm, mắt ông ngấn nước. Có phải chăng lương tâm đạo đức của con cái Chúa được đánh thức quá muộn màng hay quá yếu ớt khi sự suy đồi của xã hội đã ăn sâu vào tiềm thức của con người. Edward tự hỏi chính mình. Ông là người làm công tác báo chí, hơn ai hết ông hiểu tình hình bên ngoài lẫn bên trong của xã hội mà ông đang có mặt. Ông đã cố gắng hết sức với việc đăng tải tin tức theo tiêu chuẩn đạo đức của Chúa Giê-xu mà ông cảm nhận được một cách thành thật. Dầu vậy, ông vẫn chưa góp được kết quả gì đáng kể vào việc áp dụng nguyên tắc sống theo gương Chúa Giê-xu vào đời sống thực tế này. Đầu óc ông nghĩ ngợi mông lung.
Phía trên băng ghế của ban hát lễ, Rachel buồn bã cúi đầu, yên lặng. Cô đang hình dung lại quang cảnh hỗn độn và gương mặt đầy máu của Loreen vào tối hôm qua ở Rectangle. Nỗi kinh hoàng bất ngờ đó vẫn ám ảnh đầu óc cô. Mặt cô xanh mét khi cô nhớ lại tiếng hét thất thanh gọi tên Loreen của Virginia. Khi Loreen té sấp xuống đường, máu me bê bết. Cô phải cố gắng lắm mới có thể bắt đầu bài thánh ca “Cung điện bằng ngà” (TC 82) để kết thúc buổi nhóm sau lời giảng và kêu gọi của Mục sư Henry.
Đang hát nửa chừng, giọng cô vỡ ra, nghẹn ngào; cô ngồi thụp xuống tại chỗ, khóc nức nở trong sự đau đớn và không thể hát tiếp được. Có điều gì đang ngăn trở trong buổi nhóm hôm nay mà mọi người không hình dung được.
Cả nhà thờ yên lặng nặng nề. Hai người bạn gái ngồi gần chỗ Rachel nhè nhẹ bước vội lên dìu Rachel vào bên trong. Cô cảm thấy mệt mỏi và tức ngực, mắt nhắm nghiền nhưng vẫn còn thổn thức.
Sau sự yên lặng đó, cả nhà thờ bỗng nhiên bật lên những lời cầu nguyện lớn xen lẫn tiếng khóc của một số phụ nữ, dần dần vang lên nhiều tiếng cầu ngyện lớn nữa và nhiều tiếng nức nở ở những hàng ghế quý ông. Chưa bao giờ Hội thánh Raymond lại trải qua một buổi thờ phượng lạ lùng và xúc động như hôm nay. Mọi người đều được cảm nhận chung một điều: Đức Thánh Linh đang cáo trách cách dữ dội vì lòng ích kỷ và bàng quan của họ.
Sau buổi nhóm, Mục sư Henry không lên tiếng kêu gọi thêm những người hứa nguyện làm theo điều “Chúa Giê-xu sẽ làm” như mọi lần nhóm trước. Thế nhưng, khi ông bước chân vào phòng hội, ông ngạc nhiên hết sức vì có thêm nhiều gương mặt mới hứa nguyện theo chân Chúa, quyết tâm hiệp sức chống lại các thế lực rượu mạnh ở Rectangle và Raymond. Ai nấy đều dâng lời nài xin Chúa ra tay giải cứu những con người tội lỗi, đang làm nô lệ cho rượu mạnh, ma vương. Họ hiệp ý và một người lên tiếng kêu nài Chúa chiến đấu giúp họ trừ diệt các thế lực mại dâm, dẹp bỏ các quán rượu gớm ghiếc ven các lộ ngoài nhà thờ kia và ở Rectangle.
Những người hứa nguyện làm theo gương Chúa Giê-xu và cả Hội thánh Raymond đều cảm động sâu xa về các biến cố đã xảy ra dồn dập như thế.
Ở Rectangle, mọi người cũng đang bị kích động dữ dội. Nhiều người có việc lên Raymond, ngang nhà Virginia, trông thấy chiếc quan tài sang trọng bao bọc thi thể Loreen, họ về thuật lại và thêu dệt thêm khiến cho cái chết của Loreen trở nên “nổi tiếng” kỳ lạ. Dân Rectangle thừa biết Loreen chỉ là một kẻ đáng bỏ đi, là rơm rác ngoài đường giữa những gái nghiện rượu lang bạt, vậy mà thi hài của cô ta bữa nay lại được đặt ở một nơi sang trọng của một gia đình quý tộc, nên họ ngạc nhiên vô cùng. Họ nóng lòng muốn biết chi tiết về tang lễ đặc biệt này. Những người ở Rectangle vốn là bạn cũ của Loreen, vây quanh ông Gray khi biết ông vừa từ Raymond về để hỏi thêm tin tức về Loreen. Trong số họ, có một vài người tin Chúa ngay sau cái chết của Loreen. Mọi người thiết tha yêu cầu ông Gray cố gắng sắp xếp đưa xác Loreen về Rectangle để họ cử hành tang lễ cho cô ấy.
Ông Gray vội tức tốc về Raymond gặp Virginia và Rollin, Mục sư Henry thảo luận ý kiến về vấn đề chôn cất Loreen.
Ông Gray nóng lòng:
- Thưa các bạn! Tôi nghĩ là chúng ta nên sắp xếp đưa quan tài Loreen về Rectangle làm đám tang thì tốt hơn là tiến hành ở đây. Sở dĩ, tôi đề nghị điều nay là vì những người bạn nghèo khổ của Loreen ở Rectangle mong muốn một ơn huệ nhỏ nhoi là được nhìn mặt Loreen lần cuối và chính tay họ thực hiện tang lễ, để gọi là an ủi cô ấy. Nên đưa cô ấy về an nghỉ ở quê nhà của cô ấy để gây ấn tượng cho những người đã tham dự hoặc tận mắt chứng kiến cái chết oan khốc đáng thương của cô ấy, may ra lương tâm chai lỳ của họ được đánh thức chăng! Ông Donald! Ông nghĩ thế nào về việc này?
- Tôi cũng nghĩ như vậy, ông Gray ạ! Nếu chúng ta cử hành tang lễ ở đây thì dân Rectangle sẽ không đến dự lễ được! Chúng ta có thể đưa thi hài Loreen xuống Rectangle và làm lễ tang tại căn lều của ông. Ông thấy được không?
- Được, dĩ nhiên là được!
Ông Gray trả lời ngay không do dự.
Mục sư Henry quay sang Virginia:
- Còn cô? Ý cô thế nào?
Virginia rơm rớm nước mắt:
- Dạ, tôi cũng nghĩ thế. Chúng ta nên tạo điều kiện cho những bè bạn của linh hồn khốn khổ ấy tỏ bày tình cảm của họ đối với cái chết quá đáng thương của Loreen. Tôi thương Loreen và biết ơn cô ấy vô cùng. Cô ấy đã chết thay cho chúng ta trong bữa hôm kinh khiếp đó. Giả sử, cô ấy không lãnh trọn cái vỏ chai quái ác kia, thì bọn chủ quán rượu côn đồ kia chưa chắc đã ngừng tay hành hung chúng ta. Biết đâu tôi lại chẳng chết bởi một cục gạch hay một cái vỏ chai whicky bén ngọt từ một góc tối nào đó ném đến. Chúa muốn chúng ta tiếp tục sống để đem lại ích lợi cho Ngài nên Ngài đã giải vây cho chúng ta.
Ông Gray nhìn Rollin dò hỏi:
- Còn cậu? Ý cậu có nên đưa Loreen về Rectangle không?
Rollin gật đầu:
- Dạ, cháu đồng ý với chị Virginia ạ!
Như dự định, ông Gray cùng với Henry, Rollin, Rachel và Hiệu trưởng Donald cùng ban tứ ca của ca đoàn Hội thánh Raymond, cùng nhau thuê xe đưa quan tài Loreen đến Rectangle ngay chiều hôm đó. Quan tài được đặt trước căn lều của ông Gray. Người ta đến dự tang lễ rất đông. Đặc biệt, cũng có mặt một phóng viên của một tờ báo ở thành phố lân cận Raymond. Anh đã tường thuật lại buổi tang lễ với những lời bình luận sinh động:
“Tang lễ được cử hành rất đặc biệt tại căn lều của nhà truyền giáo John Gray. Nạn nhân là một gái bụi đời. Trước đây cô ta thường nghiện ngập, say sưa. Kể từ khi tin nhận Chúa, cô mới thoát khỏi con người cũ gớm ghiếc vốn có của mình. Tối thứ bảy vừa qua, chính bọn chủ quán rượu đã từng chứa chấp, bán rượu cho cô lúc trước đã dã man ném vỏ chai bia vào đầu cô và giết chết cô.
Buổi lễ tang được tổ chức long trọng chẳng khác gì tang lễ của những nhà quý tộc sang trọng.
Có một điều thật lạ lùng, không những chỉ có dân lao động Rectangle dự tang lễ mà còn có sự hiện diện của nhiều nhà quý tộc giàu sang vào bậc nhất nhì và có quyền thế ở thành phố Raymond.
Buổi lễ diễn ra rất nghiêm trang và thanh thản.
Mở đầu buổi lễ, sau lời cầu nguyện ngắn của ông Gray, một ban hát lễ trong bồ đồng phục màu trắng cùng hát một bài thánh ca. Sau đó, xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp, trẻ trung tên là Rachel đơn ca một thánh ca nữa. Giọng hát của cô ấy thanh và trong trẻo đến lạ lùng, âm điệu bài hát du dương, dập dìu, lắng đọng, khiến vơi bớt đi những sự đau đớn của mọi người.
Sau sự ca hát, buổi lễ được tiếp tục bằng lời chia xẻ của Mục sư Henry - chủ tọa Hội thánh Raymond. Ông đề cập đến vấn đề rượu mạnh và tác hại của nó dẫn đến cái chết thê thảm của cô gái tên Loreen này. Ông nhấn mạnh rằng: cô gái quá cố đã được chuẩn bị đầy đủ trước khi cô ra đi vĩnh viễn. Nghĩa là: cô đã kịp nhìn biết Thiên Chúa, mở lòng tin nhận sự cứu rỗi của Ngài, từ bỏ tội lỗi gớm ghê của mình trước khi Ngài gọi linh hồn cô về với Ngài. Đồng thời, qua cái chết của cô, Đức Thánh Linh đang lên tiếng cảnh cáo những ai còn sống nhởn nhơ, bè bạn với rượu mạnh, dung túng tội lỗi. Trong buổi lễ, ai ai cũng ý thức được rằng, sự chết của Loreen chính là tiếng chuông cảnh tỉnh lòng họ. Cuối bài chia xẻ, mục sư lên tiếng kêu gọi những ai còn lang thang ở ngoài tình yêu Thiên Chúa thì hãy mau quay về với Ngài. Hãy tiếp nhận Chúa nhanh chóng trước khi một tai hoạ nào đó bất ngờ đổ ập đến với mỗi người, không ai có thể lường trước được ngày mai mình sẽ ra sao, sống chết thể nào.
Bài chia xẻ của mục sư vừa chấm dứt, các phụ nữ đứng quanh quan tài đứng dậy, vừa bước đi chậm chậm vừa hát bài “Tôi là con chiên lang thang” rất cảm động. Mỗi người đều đặt một nhánh hoa tươi lên trên quan tài. Những phụ nữ khác có mặt trong lều lúc ấy, tiếp tục đi chậm quanh quan tài, hát tiếp bài hát ấy trong nước mắt, cũng không quên đặt lên quan tài một bông hoa tươii. Bên ngoài lều, hàng trăm phụ nữ khác cũng muốn chen chân vào đưa tiễn người bạn gái quá cố này, nhưng họ đành đứng tại chỗ và nhón gót nhìn vào mà thôi vì trong lều đã quá chật. Trong số họ có vài người mới tin Chúa vào tuần trước. Đa số, họ là những phụ nữ lao động nghèo khổ, lăn lộn với bụi than ngoài hầm mỏ, đen đúa, tục tằn, thô lỗ và dữ dằn trong cuộc sống hàng ngàyï. Thế nhưng hôm nay, họ trở nên thinh lặng, nhũn nhặn và buồn bã đến kỳ lạ, nức nở một cách chân thành trước quan tài của một người bạn của họ. Sự cảm thông được thể hiện rõ nét trên khuôn mặt buồn rầu của họ. Họ cảm nhận rằng: biết đâu số phận mình lại chẳng như số phận của Loreen trong những tháng ngày khốn khổ còn lại của cuộc đời này?
Buổi lễ kéo dài gần hai tiếng đồng hồ và được kết thúc bởi thánh ca “Kìa chín mươi chín con” do Rachel hát. Rachel đã hát với tất cả tấm lòng, nên giọng hát của cô tuy trong trẻo nhưng hôm nay lại đượm nỗi buồn thương.
Cuối cùng, Giáo sĩ Gray đề nghị mọi người cúi đầu, nhắm mắt, yên lặng và hiệp ý với ông trong lời cầu nguyện tất lễ trước khi đưa quan tài đến nghĩa trang cách đó hàng chục cây số”.
Cái chết của Loreen đã gây chấn động Rectangle một cách thực sự. Trong buổi lễ tang, Đức Thánh Linh đã bắt phục hơn hai chục linh hồn, đa số là phụ nữ, trở lại địa vị làm con Cha Thánh trên trời.
Sau đám tang, nhiều người tỏ ra phản đối các quán rượu, buộc các quán xá nằm dọc theo quãng đường đã xảy ra án mạng phải đóng cửa. Dẫu vậy, bọn chủ quán cũng chỉ đóng cửa chiếu lệ trong hai, ba ngày rồi lại tiếp tục mở cửa sinh hoạt bình thường.

Chương 16
Khắp Rectangle lẫn Raymond, người đau buồn sâu sắc nhất trước cái chết của Loreen là Viginia. Loreen ra đi, Virginia cảm thấy dường như cô đã mất một phần thân thể. Suốt một tuần lễ liền, cô ngồi lỳ trong phòng, khóc lặng lẽ và cầu nguyện. Khuôn mặt cô buồn rười rượi, hốc hác, xanh xao.
Tối thứ bảy, khi hoàng hôn buông xuống, Rachel đến thăm Virginia. Khi mời Rachel vào phòng, Virginia nói ngay ý định của mình:
- Rachel à! Tôi đã có kế hoạch hành động cho tháng sắp tới.
Cô ngừng giây lát và đưa mắt nhìn về phía góc phòng còn đặt chiếc giường đã để xác Loreen ở đấy vào tối thứ bảy tuần trước. Cô nói tiếp:
- Tôi sẽ dùng số tài sản của tôi vào việc giúp đỡ một số phụ nữ quá nghèo khổ ở Raymond. Tôi cũng sẽ rủ Rollin góp thêm tiền bạc vào công việc này.
- Chị dự trù sẽ dành bao nhiêu tiền cho công việc này?
Rachel dò hỏi. Cô sợ phật ý Virginia khi cô đặt ra một câu hỏi có tính chất tò mò và thiếu tế nhị như thế.
- Ít nhất là khoảng bốn trăm năm mươi ngàn đô la. Đó mới chỉ là phần của tôi. Còn Rollin nữa, cậu ấy có thể ủng hộ nhiều hơn tôi là đằng khác. Từ ngày tin Chúa đến giờ, Rollin đã bỏ thói quen phung phí tiền bạc vào những cuộc mua vui phù phiếm. Bây giờ, cậu ấy thay đổi nhiều lắm, để dành được khá nhiều tiền. Có nhiều lúc hai chị em tôi ngồi nói chuyện và tự hỏi với nhau rằng “Chúa Giê-xu sẽ làm gì với số tài sản hiện tại của mình”. Tôi muốn trả lời câu hỏi đó một cách thành thật và khôn ngoan. Số tiền mà tôi đã ủng hộ vào tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” vừa rồi, tôi tin chắc rằng nó đã nằm trong đường lối và ý muốn của Chúa. Vì tôi thấy sự hiện diện của một tờ báo Cơ Đốc giáo tại Raymond này là cần thiết và có ích lợi cho công việc nhà Chúa. Đặc biệt, lúc này, tờ báo ấy lại càng cần thiết cho chúng ta hơn bao giờ hết. Chúng ta đang phải đương đầu với nhiều thế lực rượu mạnh, thuốc lá. Chính tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày” là cơ quan ngôn luận đại diện cho chúng ta lên tiếng công khai đả phá, chống lại các thế lực gây nên tội lỗi ấy. Do đó, tôi rất thoả lòng và vui vẻ dâng năm trăm ngàn đô la vào việc giúp ông Edward Norman duy trì tờ báo, thực hiện những gì mà “Chúa Giê-xu sẽ làm” tại Raymond này. À! Này Rachel ơi! Tôi muốn bạn cùng cộng tác với tôi để bắt tay vào một kế hoạch khác của tôi.
- Kế hoạch nào hả chị? - Rachel tròn xoe mắt, chăm chú muốn biết.
- Chẳng là tôi và Rollin dự định sẽ bỏ ra một số tiền mua đứt vùng đất liên địa với cánh đồng lớn ở Rectangle.
- Vùng đất nào nhỉ?
- Vùng đất hiện giờ đang có căn lều của ông Gray đó, Rachel hổng nhớ à?
- À, à! Em biết rồi. Nhưng mà chị sự định mua phần đất rộng lớn ở khu ổ chuột ấy làm gì cơ chứ?
- Tôi sẽ làm những gì mà tôi tin chắc rằng “Chúa Giê-xu sẽ làm” khi Ngài có trong tay vùng đất ấy. Tôi sẽ bỏ tiền thuê người ta xây cất nhiều dãy nhà nhằm giúp đỡ cho phụ nữ nghèo, goá bụa hoặc tứ cố vô thân, chưa có nghề nghiệp và bị lạc loài như Loreen... có chỗ nương náu an toàn. Tôi nghĩ, đối với những phụ nữ nghèo khổ quá mức ở Rectangle thì nhà ở là một vấn đề được họ quan tâm hàng đầu đấy! Tôi hi vọng, chúng ta sẽ đem đến cho họ niềm vui và hạnh phúc.
- Thật đúng thế chị Virginia ạ! Chắc chắn Chúa Giê-xu sẽ giúp đỡ và dẫn dắt mình đi đúng hướng, đúng ý Ngài muốn. Ngài biết chúng ta đang tình nguyện bước theo dấu chân Ngài mà! Em tin chắc rằng Đức Thánh Linh đang bắt đầu hành động ở Rectangle. Những quán rượu, nhà chứa ở đó rồi đây cũng sẽ bị Ngài dẹp bỏ. Ma quỷ sẽ không làm được gì khi Đức Thánh Linh hành động!
- Tôi cũng hi vọng như vậy. Ở Hội thánh mình, dạo này số người tham gia hứa nguyện theo chân Chúa tăng lên gấp bội. Ước gì ở Rectangle cũng có đông đảo anh em tín đồ tham gia hứa nguyện như thế thì chắc chắn các quán rượu, nhà chứa sẽ bị xoá sổ nhanh chóng. Thôi bây giờ, chúng ta hãy trở lại với vấn đề và kế hoạch của mình.
- Chị có sáng kiến gì mới?
- Tôi có ý định thế này, Rachel xem thử được không nha!
- Thì chị cứ việc nói ra xem nào!
- Chúa đã ban cho Rachel một giọng hát tốt, bây giờ, Rachel hãy sử dụng nó vào công việc nhà Chúa. Cụ thể, Rachel hãy tổ chức một ban nhạc trẻ, vận động các cô gái nghèo khổ ở Rectangle tham gia. Tôi sẽ chịu trách nhiệm chi trả lương bổng cho họ trong thời gian tập dượt. Tôi xin cam đoan, sẽ có rất nhiều phụ nữ tham gia. Chúng ta cần phát hiện những giọng ca hay trong số họ. Hãy kéo họ vào công việc ích lợi cho Chúa, đồng thời tạo công ăn việc làm cho họ, cứu giúp, tương trợ cho họ trong thời kỳ khốn khó này. Rachel ạ! Đây là một cơ hội tốt để bạn ra mắt Chúa đấy! Chúng ta hãy dùng âm nhạc truyền giảng Tin Lành ở Rectangle. Chắc chắn âm nhạc sẽ là phương tiện tốt, giúp chúng ta kéo họ đến với Chúa dễ dàng hơn các hình thức truyền giảng khác. Ý Rachel thấy thế nào?
- Thật cảm ơn Chúa vô cùng, Ngài vẫn còn đoái hoài và trọng dụng em. Đã từ lâu, em ấp ủ hoài bão sẽ tổ chức một ban nhạc chuyên hát thánh ca, tham gia phục vụ Chúa trong công tác truyền giảng và sẽ đi lưu diễn đây đó. Không ngờ, hôm nay chị lại quan tâm đề cập đến vấn đề ấy. Thế là hoài bão của em sắp được thực hiện! Thật cảm ơn Chúa vô cùng!
Rachel xúc động mạnh mẽ, nước mắt ràn rụa.
- Em sẽ cố gắng hết sức nhận trách nhiệm trong công việc phục vụ cho Chúa như chị vừa nói. Em tin chắc rằng, Chúa Giê-xu đã đặt để em vào công việc này để đem lại ích lợi cho Ngài. Chị Virginia! Chị dự định khi nào thì chúng ta có thể tiến hành công việc được?
- Cần phải dành thì giờ cầu nguyện với Chúa trước đã! Được Chúa cho phép, thấy thuận tiện ta sẽ tiến hành ngay!
- Chị ạ! Chúng ta cần phải có một số tiền lớn để trang trải cho các chi phí ban đầu. Bên cạnh đó, chúng ta cần phải nhiệt tình với công việc nữa thì mới đem lại kết quả. Chị Virginia! Bây giờ chị dâng hiến tiền bạc, còn em dâng hiến tài năng và sức lực, ta hãy hiệp lại với nhau để hầu việc Chúa nghen chị!
Rachel đột ngột ngừng lời khi thấy Rollin bước vào. Ngần ngừ một lát, cậu ta quay lưng trở ra và bước vội về phía phòng đọc sách. Virginia kịp ngẩn lên và gọi với theo:
- Rollin! Rollin!
- Dạ, có chuyện gì vậy chị? - Rollin ngoái đầu lại.
- Chị muốn nói chuyện với em!
Rollin gật đầu và quay trở lại, đến trước mặt Virginia, mỉm cười chào Rachel và ngồi xuống tràng kỷ.
Sau vài lời thăm hỏi, ba người bắt đầu thảo luận về kế hoạch chuẩn bị cho công việc tương lai theo dự tính của Virginia.
Khác với mọi lần gặp gỡ Rachel lúc trước, lần này, Rollin tỏ ra rất bình tĩnh, điềm đạm, xử sự rất nghiêm túc với cô. Khó đoán được anh đang nghĩ gì về Rachel. Có một điều thể hiện rõ rệt ở anh, kể từ ngày tin nhận Chúa, anh không đề cập chuyện tình cảm với Rachel nữa. Đôi khi, anh đối xử hơi lạnh lùng với cô mặc dù anh vẫn chưa quên tình yêu anh dành cho Rachel.
Thảo luận một lát, Rollin xin phép ra ngoài vì có công việc riêng.
Còn lại hai người trong căn phòng rộng lớn, bất chợt, Virginia hỏi:
- Dạo này Jasper Chase thế nào hả Rachel?
Tuy Virginia hỏi vô tư nhưng Rachel chợt đỏ mặt vì thẹn, tưởng rằng Virginia châm chọc mình. Cô im lặng, mắt nhìn xuống đất, suy nghĩ. Một hồi lâu, cô ngẩng lên:
- Em cũng không biết nữa! Bẵng đi khá lâu, em không gặp anh ấy!
- Có lẽ Jasper Chase đang viết cuốn tiểu thuyết khác. Rachel nè, có khi nào chàng ta lại tiếp tục mượn Rachel làm vai chính cho một thiên tình sử bi đát trong tác phẩm lần này của chàng ta! Khi anh ta viết cuốn truyện đầu tay, tôi đoán không nhầm, anh ta đã dựng lại thần tượng Rachel trong truyện. Dạo ấy, anh chàng mê Rachel hết biết!
- Chị Virginia!
Rachel nhướng đôi chân mày lên, mắt cô ngấn lệ.
- Em nói thật với chị chuyện này...
Rachel e ngại, ngừng lại chờ phản ứng của Virginia. Không biết vì tính hiếu kỳ hay vì quan tâm thực sự đến đời tư của Rachel, Virginia nôn nóng hỏi dồn:
- Chuyện gì? Chuyện gì hả Rachel?
- Chị biết không? Đã có lần vào ban đêm cách đây khá lâu, Jasper Chase gặp em và ... và... nói rằng .... yêu em!
Rachel lại đỏ mặt vì mắc cỡ.
- Chị Virginia! Trước đó, em cảm thấy yêu anh ta nhưng tình cảm ấy chỉ lờ mờ thôi. Thế rồi, lúc anh ta tỏ tình, chẳng hiểu sao em lại bực mình và khước từ khăng khăng: “Không! Không!”. Đó là đêm em hát lần đầu tiên ở Rectangle và bữa đó có rất nhiều người tin nhận Chúa.
- Tôi vui mừng khi biết thực sự Rachel không chấp nhận tình yêu của Jasper Chase!
Virginia mỉm cười nhẹ nhàng
- Tôi nói thật đấy!
Rachel sửng sốt:
- Sao thế? Sao chị lại vui về việc ấy? Chị không thích anh ta à?
- Ừ! Tôi chả thích anh chàng đó tí nào cả!
- Nhưng vì lý do gì chứ? - Đến lượt Rachel nôn nóng, giục Virginia.
- Tôi chả thích anh ta tí nào! Anh ta luôn tỏ ra hời hợt và có vẻ hách dịch làm sao ấy! Rachel có thấy anh ta quá lạnh lùng không? Tôi cũng chẳng tin tưởng vào anh ta lắm!
- Có lẽ em không thật sự yêu anh ấy như em tưởng, chỉ phục anh ấy thì đúng hơn. Anh ấy có tài mà! Nhưng biết đâu được, một ngày nào đó....
Chợt, Rachel im bặt. Cô đang khóc lặng lẽ, theo đuổi dòng suy nghĩ của mình. Virginia đứng dậy, nhè nhẹ đến bên Rachel và vòng hai tay ôm lấy bờ vai đang rung lên từng hồi theo tiếng nấc của Rachel. Không ai nói với ai lời nào. Một lúc sau, Rachel ngừng khóc và tạm biệt Virginia.
Đợi đến khi bóng Rachel khuất hẳn khỏi ga ra xe, Rollin trở lại phòng của Virgnia. Cô đi ngay vào vấn đề:
- Rollin à! Em ủng hộ việc mua cánh đồng ở Rectangle chứ?
- Dĩ nhiên, nếu công việc ấy có ích lợi cho nhà Chúa, em sẽ ủng hộ tối đa!
Virginia nhìn chăm vào gương mặt đứa em trai của mình. Cô thầm cảm tạ Chúa vì thấy Rollin tiến bộ trong sự nhận biết Chúa, đời sống được tái sanh. Rollin cũng đã bắt tay vào phục vụ Chúa cùng với những người hứa nguyện theo dấu chân Ngài ở Hội thánh Raymond.
- Rollin! Có bao giờ em quan tâm đến một người con gái có tài năng âm nhạc tuyệt vời và muốn hi sinh công việc riêng của mình để dâng hiến tài năng đó cho Chúa...
- Có phải chị muốn nói đến Rachel?
- Ừ, đúng rồi! Cô ấy sắp sửa thực hiện nhiệm vụ thành lập ban nhạc và một ca đoàn do cô ấy đặc trách. Chúa sẽ sử dụng giọng ca vàng của cô ấy trong việc rao giảng đạo Ngài ra ở Rectangle.
- Nói thật với chị nhá! Em rất phục Rachel! Em xem cô ấy là một tấm gương sáng về sự hi sinh phục vụ Chúa để em noi theo.
- Thế sao chị thấy em có vẻ lạnh lùng khi gặp gỡ và trò chuyện với cô ấy thế? Rollin à! Chị không bằng lòng tí nào về thái độ của em dành cho Rachel. Chị bực mình về sự hời hợt, lạnh lùng ấy, em biết không? Làm gì mà nghiêm nghị như ông cụ thế? Em có thể niềm nở và ân cần hơn khi gặp Rachel được không?
- Chị Virginia! Rõ ràng là chị ... mù! Chị chả thấy và chả biết gì về bí mật của em cả!
Nghe thế, Virginia há hốc miệng, mắt tròn xoe vì ngạc nhiên:
- Sao? Bí mật gì? Có trầm trọng lắm không?
Virginia đã lờ mờ hiểu phần nào về điều Rollin muốn nói.
- Em yêu Rachel?
- Em cứ tưởng chị đã biết điều này rồi chứ!
Đến lượt Rollin ngạc nhiên cặp mắt anh tròn xoe, mở to.
- Vì chị chơi thân với Rachel lắm mà! Em tự hứa với lòng, em sẽ không yêu một người con gái nào khác ngoài cô ấy. Chị còn nhớ bữa Rachel đến nhà mình và nói với chị về việc cô ấy từ chối lời mời của một công ty hoà nhạc nào đó... chị còn nhớ không?
- Nhớ, nhớ! Cũng mới đây chứ lâu lắc gì đâu mà không nhớ!
Rollin tiếp tục thổ lộ bí mật của mình:
- Hôm đó, khi Rachel ra về, em đứng đón và nói chuyện, tỏ tình cảm, ngỏ ý muốn cưới cô ấy làm vợ.
- Cô ấy có đồng ý không?
Virginia nôn nóng.
- Không! Cô ấy đã từ chối, không chấp nhận lời cầu hôn của em với lý do thật đơn giản nhưng vô cùng phức tạp đối với em.
- Lý do gì mới được chứ?
- Cô ấy bảo thẳng thừng với em rằng, em là một con người sống không có mục đích, vô nghĩa.
- Lúc đó em chưa tin Chúa phải không?
- Dạ!
- Cô ấy có đưa ra điều kiện gì không?
- Có, cô ấy bảo đại khái là cô ấy cần những người sống có mục đích. Điều đó khá đúng. Nhưng đó là chuyện của quá khứ, của những ngày em sống trong tội lỗi. Còn hôm nay, em đã được Chúa Giê-xu cứu rỗi rồi. Em đã bắt đầu sống có mục đích. Cho đến bây giờ, em vẫn yêu cô ấy như ngày nào, thậm chí yêu nhiều hơn nữa là đằng khác, dù cho cô ấy không dành tình cảm cho em. Em cũng không dám nghĩ rằng cô ấy đã từng yêu em!
Giọng anh trầm xuống, anh cười buồn, mắt nhìn vào một cõi vô định.
- Thật tình chị không biết về chuyện riêng đó của em!
Virginia nói nhanh với vẻ hối lỗi về sự thiếu sót vì đã ít quan tâm đến em trai mình.
Trong thâm tâm, cô đang nghĩ “Rollin đã thay đổi hoàn toàn, trở thành con người mới trong Chúa rồi, rất xứng đáng với Rachel. Rollin xứng đôi vừa lứa với Rachel lắm chứ! Cầu mong Chúa se duyên cho đôi bạn trẻ này!”
Lát sau, cô nói suy nghĩ này ra với Rollin, những mong an ủi anh nhưng anh vẫn buồn và lặng thinh. Sau đó, Rollin nói cho Virginia biết lý do anh hay tránh tiếp xúc với Rachel là vì anh sợ chính anh không kiểm soát được tình cảm của mình, e rằng anh lại tỏ tình lần nữa, và nếu cô từ chối như lần trước thì anh sẽ đau khổ biết chừng nào!

Chương 17
Ngày hôm sau, Virginia đến toà soạn báo “Tin Tức Hằng Ngày” gặp Edward Norman để bàn bạc về việc sử dụng tiền cho sự thiết lập tờ báo trên nền tảng mới. Mục sư Henry đã có mặt ở đó từ sớm. Sau vài lời thăm hỏi, Edward Norman đi ngay vào vấn đề:
- Thưa quý vị! Tôi đã thảo ra chương trình cụ thể về công việc mà tôi thiết tưởng rằng Chúa Giê-xu sẽ làm như vậy.
- Theo anh, nếu Ngài ở vào vị trí của anh, Ngài sẽ làm gì?
Mục sư Henry cười điềm đạm.
- Ngài sẽ làm những điều sau đây:
1. Ngài sẽ không bao giờ cho phép đăng tải những tin tức hoặc hình ảnh mang tính chất, nội dung thô bỉ, tiêu cực và bịa đặt.
2. Ngài sẽ lấy tiêu chuẩn sống của chính Ngài làm phương châm cho tờ báo. Ngài sẽ hướng dẫn tờ báo không theo lập trường tư tưởng chính trị của con người nhưng đi theo sự dạy dỗ và các chuẩn mực của Đức Chúa Trời.
3. Mục tiêu, cứu cánh của tờ báo chính là làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, gây ảnh hưởng cho đạo Ngài lan khắp nơi.
4. Không đăng tải các mục quảng cáo về thuốc lá, rượu mạnh,...
5. Quan hệ của chủ bút với phóng viên, nhân viên trong toà soạn là quan hệ yêu thương theo tinh thần Cơ Đốc.
6. Ngài sẽ dành nhiều trang trên tờ báo đăng tin về các sinh hoạt, công việc của Hội thánh. Đồng thời, Ngài cũng sẽ cho đăng các sự kiện về các cuộc cải cách, các vấn đề xã hội và các phong trào từ thiện.
7. Ngài sẽ cho phép chọn và đăng những bài có nội dung tấn công vào bọn chủ quán rượu, chiến đấu với bọn chúng tới cùng.
8. Ngài sẽ không phát hành số báo Chúa nhật vì đó là ngày Thánh.
9. Ngài sẽ cho phổ biến các tin tức về thế giới bên ngoài mà mọi người cần biết. Không đăng tải các tin tức nói về tội ác, các trận cá độ đẫm máu hoặc những vụ xì-căn-đan về đời tư của các gia đình.
10. Ngài sẽ tuyển dụng các Cơ Đốc nhân làm nhân viên và phóng viên cho toà soạn.
11. Hướng dẫn mục đích chung, cần thiết cho con cái Chúa: thiết lập nước Đức Chúa Trời trong thế gian, làm chứng và truyền rao Tin Lành.
Edward Norman đọc liền một mạch bản thảo chương trình xong mới ngẩng lên nhìn Henry và Virginia, nói thêm:
- Đây mới chỉ là một phác hoạ, ắt hẳn còn nhiều thiếu sót. Dầu vậy, tôi đã cố gắng hội ý với nhiều nhân viên trong toà soạn để viết đấy. Quý vị có thể góp ý thêm. À, tôi xin thông báo một tin vui: tôi được biết hiện giờ có khoảng trên hai ngàn tín đồ ở Raymond quan tâm và ủng hộ cho tờ “Tin Tức Hằng Ngày” được duy trì. Thưa Mục sư Henry, ông có thể cho biết ý kiến của ông về vấn đề này!
- Nếu có nhiều người ủng hộ cho tờ báo thì đó là một sự mở đường của Chúa trên công việc chúng ta đang làm và sẽ làm. Sức sống của một tờ báo Cơ Đốc sẽ đem lại nhiều ích lợi cho công việc nhà Chúa. Chúng ta hãy cố gắng hết sức để thực hiện tốt kế hoạch mà anh vừa đọc cho chúng tôi nghe.
- Vâng! Tôi sẽ cố gắng. Tôi muốn làm như Chúa Giê-xu sẽ làm. “Ngài sẽ làm gì?” Tôi luôn đặt câu hỏi đó và hành động theo suy nghĩ một cách thành thật rằng Ngài cũng sẽ hành động như vậy. Còn ý cô Virginia thế nào đối với vấn đề này?
Edward quay sang phía Virginia.
- Tôi nghĩ, chúng ta đang bắt đầu dấn bước vào con đường hẹp của Chúa, hiểu ý nghĩa của lời Chúa: “Hãy lớn lên trong ân điển và sự hiểu biết về Chúa chúng ta và Cứu Chúa Giê-xu Christ”. Chúng ta cần cầu nguyện luôn với Chúa kẻo chúng ta không đủ nghị lực thực hiện công việc đấy!
Virginia mỉm cười, trình bày ý nghĩ của mình.
- Chúng ta cũng cần phải biết về Chúa Giê-xu trước khi chúng ta dấn thân theo chân Ngài, bắt chước Ngài, phải vậy không các bạn?
Mục sư Henry mỉm cười, nói với vẻ thân mật, gần gũi.
Sau buổi nói chuyện, Virginia giao cho Edward Norman năm trăm ngàn đô-la như lời cô đã hứa.
Sau khi tiễn Virginia và Mục sư Henry ra về, Edward Norman khép cửa lại, lặng lẽ quỳ xuống cầu nguyện với Chúa. Ông đã trò chuyện cùng Ngài cách chân thành, chẳng khác nào một đứa con đang trò chuyện thân mật với cha mình. Ông nài xin Chúa Giê-xu ban quyền năng cho ông, giúp ông thực hiện tốt công việc Ngài. Những ngày kế tiếp, ông vẫn dành nhiều thì giờ đến với Chúa và ông tin chắc Ngài sẽ đáp lời ông.
Suốt hai tháng qua, Raymond đã trải qua biết bao biến cố, nhất là ở Hội thánh Tin Lành Raymond. Mùa này trời nóng bức rất khó chịu, thế nhưng sau mỗi buổi nhóm, những người tình nguyện theo chân Chúa Giê-xu vẫn không quên họp lại trong căn phòng chật hẹp, oi bức để bàn bạc công việc Chúa.
Giáo sĩ Gray đã chấm dứt công việc tại Rectangle, ông nhổ lều và về lại thành phố. Sinh hoạt ở Rectangle vẫn bình thường như cũ. Thậm chí, các quán rượu càng đua nhau mọc lên rầm rộ, lôi kéo bao người phạm tội. Nói chung, ma quỷ đang hoành hành dữ dội ở Rectangle.
Mục sư Henry rất lo lắng cho tình hình ở Rectangle. Ông bỏ ý định đi nghỉ ở nước ngoài. Ông dành số tiền đó vào dự định đưa cả gia đình đi tham quan một tuần ở Rectangle. Ông âm thầm chuẩn bị cho kế hoạch của mình. Ông đến Rectangle vào một ngày hè oi ả và nghỉ chân trong ngôi nhà tồi tàn của một tân tín hữu. Sáng hôm sau, ông đưa vợ con ra dạo biển và tắm nắng. Tình cờ, ông gặp một gia đình nghèo và cùng khốn đang sống lây lất nơi bờ biển trong một cái chòi lá rách bươm. Người cha trong gia đình ấy trạc năm mươi tuổi đang kiệt sức vì đói và bệnh. Người mẹ già trước tuổi, héo hon vì ba đứa con của họ đã bị thần chết cướp đi trong một lần dịch bệnh sốt rét lan tràn ở Rectangle. Henry cảm thấy bối rối vô cùng trước hoàn cảnh đáng thương tâm của gia đình này. Ông rất đau lòng khi được biết còn hằng hà sa số những gia đình khác cũng bi đát tương tự như thế. Mỗi lần cầu nguyện, ông đều nhắc đến số phận những người khốn khổ này với Chúa, nài xin Ngài cứu họ. Ông cảm thấy hối hận vì trước đây ông sống xa lạ với họ quá. “Họ cũng cần được che chở và yêu thương” - ông tự nhủ như vậy.
Sau một tuần tham quan và du lịch ở Rectangle, Mục sư Henry hiểu nhiều hơn về cuộc sống và con người Rectangle. Ông trở về thành phố với bao nỗi ray rứt, cưu mang cho linh hồn hư mất và đời sống quá cơ cực của hàng trăm gia đình nghèo ở Rectangle. Những đêm khuya vắng lặng, một mình trong phòng riêng, ông tuôn đổ nước mắt dầm dề với Chúa để cầu thay cho những người khốn khổ ở Rectangle. Ông cũng luôn dâng lời cảm tạ Chúa vì Ngài đã hiện diện trên Hội thánh, gìn giữ và ban ơn cho Hội thánh, ban quyền năng kỳ diệu cho con cái Ngài vượt qua được nhiều thử thách tưởng chừng như không chịu nổi trong hơn hai tháng qua. Mục sư Henry cũng đã duy trì được các buổi nhóm với công nhân hoả xa của Alexander Powers, giúp họ hiểu biết hơn về Chúa.
Qua những ngày nóng bức, thời tiết ở Raymond trở lại mát mẻ. Vào một buổi chiều tháng tám, nhà văn Jasper Chase đến bên cửa sổ, nhìn mông lung về hướng nhà Rachel. Tập bản thảo anh đang viết dở đang nằm trên bàn viết, lật lật từng trang khi gió lùa vào. Kể từ khi Rachel cự tuyệt tình yêu của anh, anh trở nên chán nản và bất mãn. Anh bắt đầu lao vào thực hiện quyết định riêng của anh. Anh viết tiểu thuyết về chuyện xã hội, về những đề tài nóng bỏng của thời đại, đáp ứng cho nhu cầu bạn đọc gần xa. Truyện anh viết không đề cập gì đến đời sống Cơ Đốc nhân, cũng chẳng mang tính chất giáo dục về đạo đức luân lý gì cả. Truyện anh viết rất được mọi người ưa chuộng, vì đáp ứng thị hiếu tầm thường của họ
Jasper đang tìm mọi cách để nổi tiếng. Anh hi vọng cuốn tiểu thuyết mới này sẽ đưa anh lên một địa vị cao, được mọi người trọng vọng, giới văn chương sẽ biết đến tên tuổi anh!
Thế nhưng chiều nay, ý nghĩ “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” nếu Ngài ở vào vị trí là một nhà văn như anh, chợt ám ảnh và buộc anh phải trả lời câu hỏi đó. Anh cảm thấy bối rối hơn cả lần anh bị Rachel từ chối tình yêu. Bản thân anh, anh đã hứa nguyện với Chúa vào đầu tháng trước, thế nhưng bây giờ anh lại hành động ngược lại. Anh suy nghĩ: chắc chắn Chúa Giê-xu sẽ không viết một cuốn tiểu thuyết đại loại như cuốn tiểu thuyết anh sắp hoàn thành kia, nếu Ngài ở vào cương vị của anh. Anh giàu có nên không cần tiền lắm nhưng anh muốn nổi tiếng. Anh đấu tranh tư tưởng rằng, nếu anh xây dựng cốt truyện mang tinh thần Cơ Đốc như Chúa Giê-xu sẽ làm thì chắc chắn truyện ấy ít được ưa chuộng và tất nhiên là anh không thể nổi tiếng được, nghĩ đến điều ấy, anh cảm thấy muốn rút lại lời hứa nguyện với Chúa. Nhưng vẫn có một điều ray rứt trong anh “Liệu huỷ bỏ lời hứa có sao không nhỉ? Kết quả của sự hứa nguyện có ý nghĩa gì nhiều không?”...
Chợt, Jasper giật mình vì anh vừa thấy xa nơi cuối đường, Rollin và Rachel đang vừa đi vừa trò chuyện. Anh nhìn theo mãi cho đến lúc họ khuất vào đám đông phía trước. Một sự cay đắng vô cớ len lỏi trong anh. Anh lẳng lặng quay lại bàn viết, viết nốt trang tiểu thuyết cuối cùng. Anh quyết định rút lại lời hứa nguyện và đã trả lời dứt khoát cho câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” bằng sự từ chối đi theo đường hẹp của Ngài. Chính sự thất vọng và mất mát trong tình cảm ích kỷ của anh đã xúi giục anh lao theo con đường riêng của mình. Trời về chiều, bóng tối ùa vào đầy phòng anh. Anh ngồi gục đầu trên bàn viết, không buồn bật đèn lên. Bỗng nhiên, lời Chúa đến với tâm trí anh, nhắc nhở cáo trách anh: “Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời” (LuLc 9:62).

Chương 18
“Điều ấy can hệ gì với ngươi? Còn ngươi, hãy theo Ta.”
Cũng chiều hôm ấy, Rollin thong thả bước xuống đường phố và không hề nghĩ đến việc gặp Rachel. Tình cờ, Rachel từ trong ngõ phố gần đó đi ra, anh vừa vui vừa hồi hộp, tim anh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực! Hai người đi yên lặng bên nhau một đỗi lâu, cuối cùng, Rachel lên tiếng trước:
- Tôi vừa ghé thăm chị Virginia! Chị ấy cho biết việc mua cánh đồng ở Rectangle sắp hoàn thành.
- Vâng! Công việc tiến triển tốt đẹp. Chị ấy có nói cho Rachel biết luôn về kế hoạch xây dựng nhà cửa ở đó không?
- Có, nhưng chị ấy chỉ nói qua loa vì công việc đó còn lâu dài mà!
- Rachel biết không? Suốt kỳ nghỉ hè vừa qua, chị Virginia đã dành thời gian tìm tòi, thu góp các tin tức nói về các công trình xây dựng khu dân cư ở Arnold Toynbee thuộc phía Đông Luân Đôn.
- Còn anh? Anh đã làm đựơc những gì trong suốt mùa hè qua? Tôi ít khi được gặp anh. Cứ ngỡ anh đã đi đâu xa?....
Không biết Rachel thăm hỏi Rollin thật tình hay đó chỉ là lời trách móc sự lạnh lùng, xa lánh của Rollin, mà sau khi hỏi xong, cô ửng hồng đôi má mịn màng. Giây phút này, trông Rachel tuyệt đẹp.
- Tôi bận rất nhiều việc, Rachel à!
Rollin đi chậm lại, nhìn thẳng vào mắt Rachel.
- Bận chuyện gì mà ghê thế? Anh có thể kể cho tôi nghe những chuyện anh đã làm được không?
Rachel tiếp tục tấn công:
- Anh tiết kiệm lời nói với tôi quá đấy! Thế tôi có thể hỏi anh thêm vài câu nữa không nhỉ?
Rachel cũng đi chậm lại và ương bướng nhìn sâu vào mắt Rollin không chớp.
- Dĩ nhiên là được, mời cô cứ tiếp tục!
Rollin đáp lại sau một nụ cười kín đáo, tế nhị.
- Nhưng mà... Rachel nè! Tôi không thể kể cho cô hết mọi chuyện được, cô thông cảm cho. Tôi đang tìm mọi cách để tiếp cận với người nghèo khổ ở Rectangle và cố gắng giúp họ có cuộc sống ích lợi hơn.
Rollin thình lình dừng lời và nhìn sang Rachel, thấy cô đang chăm chú nghe, anh bèn nói tiếp:
- Tôi là một trong những thành viên cùng nhóm với Rachel và Virginia, sắp thực hiện kế hoạch ở Rectangle. Tôi đã hứa nguyện với Chúa Giê-xu sẽ làm bất cứ việc gì có ích lợi cho Ngài khi tôi nghĩ nếu Ngài đứng trước chuyện ấy Ngài cũng sẽ làm như vậy. Tôi đang cố gắng trả lời câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trong công việc của tôi.
Nghe đến đấy, Rachel bĩu môi:
- Ứ! Anh nói một đường nhưng làm một nẻo! Thế, anh hay lui tới các hộp đêm để làm gì cơ chứ? Tôi chẳng hiểu gì cả. Anh trả lời câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” bằng cách đi vào các hộp đêm à? Như thế thì quá lạ lùng!
Rachel cười thành tiếng, tỏ vẻ chế nhạo và giận dỗi.
- Rachel đã hỏi tôi chính câu hỏi mà tôi đã có lần tự vấn mình.
- Lần nào? - Rachel lại châm chọc.
- Vào cái đêm bước lên tin Chúa trong căn lều của ông Gray ở Rectangle. Rachel còn nhớ đêm ấy chứ? Chính giọng hát của Rachel đã kéo tôi đến với Chúa đấy! Đứng trước xã hội đầy biến động này, tôi thấy e ngại cho tuổi trẻ chúng ta, lứa tuổi dễ phung phí thời giờ, tiền bạc một cách vô bổ và tội lỗi. Tôi là kẻ từng ở trong chốn tội lỗi đó bước ra nên tôi rất hiểu điều tôi phải làm đối với những thanh niên còn bị cám dỗ ở nơi ấy, một khi tôi đã được Chúa Giê-xu thương xót cứu vớt. Rachel tự ngẫm nghĩ lại xem, đứng trước thực tại này, Hội thánh Chúa chỉ mới đặt ra kế hoạch săn sóc, lo lắng và cưu mang linh hồn những người nghèo khổ, những công nhân cực nhọc lam lũ, những phụ nữ không nhà cửa ở Rectangle... nhưng có mấy ai lưu tâm đến những linh hồn tội lỗi ở những hộp đêm xung quanh thành phố này? Quyền lực tối tăm đâu có chừa bỏ hay buông tha cho một thành phần nào trong xã hội này? Thậm chí, nó còn hoành hành ghê gớm hơn ở những hang ổ tội lỗi chứa đựng những thanh niên nam nữ ăn mặc sang trọng thuộc các tầng lớp thượng lưu ăn chơi trác táng, bán rẻ phẩm chất đạo đức của mình. Bên cạnh đó, thử hỏi: sứ mệnh truyền rao Tin Lành của Chúa có hạn chế đối với hạng người nào không? Kế hoạch Cơ Đốc hoá có được áp dụng với mọi thành phần trong xã hội hay chỉ áp dụng cho người nghèo mà thôi? Rachel à! Tôi luôn tự hỏi như vậy. Tôi muốn đem chính đời sống đã được Chúa biến đổi của tôi đến làm chứng cho những thanh niên hư hỏng vốn là bạn bè tôi ở các hộp đêm đó. Tôi là người hiểu họ hơn ai hết, vì chính tôi đã bước ra từ chốn ấy như Rachel đã biết đấy! Thử hỏi trong vòng chúng ta, ai sẽ là người đem lời Chúa vào nơi ấy thuận lợi bằng tôi? Vậy, nếu tôi không làm thì còn đợi ai có khả năng và sự thuận lợi hơn tôi để làm nữa? Tôi đã thực sự trả lời cho câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” và tôi vẫn đang thi hành công việc mỗi ngày để tiếp tục trả lời câu hỏi ấy, đó cũng chính là thập tự giá mà tôi đang vác trên đường bước theo dấu chân Chúa mỗi ngày!
Giọng Rollin nhỏ vừa đủ nghe nhưng rất ấm. Thình lình anh đứng dừng lại và nhìn thẳng vào mắt Rachel, hỏi như gắt:
- Rachel! Rachel hiểu lầm tôi ư?
Vẻ mặt anh vừa buồn vừa đau khổ. Rachel lắc lắc đầu:
- Không! Không! Tôi đã hiểu anh rồi! Cảm ơn anh đã giúp tôi hiểu được phần nào về công việc của anh!
Hai người tiếp tục bước đi chầm chậm trong yên lặng. Rachel rất ngạc nhiên vì thấy Rollin thay đổi quá nhiều trong cách cư xử lẫn suy nghĩ, Rollin bây giờ đã trở nên một người mới trong Chúa và đang được Chúa dùng, như Chúa đang dùng chính cô. Cô khấp khởi vui mừng và cảm thấy tự hào, tin cậy khi đi bên cạnh anh.
Họ rời khỏi đại lộ và rẽ vào con đường nhỏ dẫn đến nhà Rachel. Kỷ niệm hiện lên trong trí cô. Chính quãng đường này, cách đây mấy tháng, Rachel đã từ chối tình cảm của anh. Thời gian đó, anh là một thanh niên hư hỏng, khó ưa. Còn bây giờ, anh đang đi bên cô với gương mặt tuấn tú, dáng nghiêm nghị, đàng hoàng cùng với những suy nghĩ tích cực. Chính Chúa Giê-xu đã biến cải đời anh. Cô mỉm cười nhìn Rollin, đoán thầm: “Có lẽ Rollin vẫn còn nhớ chuyện cũ!”. Cô cảm thấy không còn xa lạ với anh nữa và cũng bớt phần nào những định kiến về anh.
Sắp đến nhà Rachel rồi, hai người đi rất chậm như thể đếm từng bước. Quay sang Rollin, Rachel hỏi chậm rãi:
- Rollin! Anh có thể cho em biết anh đã bắt đầu như thế nào khi gặp gỡ và nói về Chúa cho những người bạn cũ của anh trong hộp đêm?
Rollin cảm thấy trong lòng dễ chịu khi nghe Rachel hỏi điều này, và còn thay đổi cả cách xưng hô. Khuôn mặt anh rạng rỡ hẳn lên:
- Ồ! Điều đó còn tuỳ thuộc từng người và tuỳ thuộc vào tính tình của họ. Ban đầu, đa số trong bọn họ nghĩ rằng anh là người khùng hoặc là người kỳ quặc! Anh vẫn kiên trì gặp gỡ và kể cho họ nghe về những biến đổi của chính đời sống anh kể từ khi anh tin nhận Chúa. Cách đây một vài đêm, anh đã mời được hơn chục người ở hộp đêm ngồi lại nghe anh chia xẻ Lời Chúa. Họ đã bằng lòng tiếp nhận Chúa và bắt đầu bỏ dần những thói xấu. Dầu vậy, anh vẫn chưa vui lắm vì anh cảm thấy công việc tiến triển quá chậm chạp và lẻ tẻ. Bù vào đó, có một chuyện rất thú vị Rachel à! Trong số những người tin Chúa ở hộp đêm, có một thanh niên ở Rectangle, sau khi tiếp nhận Chúa, anh ta đã từ bỏ sòng bạc, về Rectangle làm chứng và đem nhiều người trở lại với Chúa.
Rollin nói hăng say với cả lòng nhiệt thành. Anh cũng đã xưng hô thân mật, gần gũi với Rachel. Rachel cảm nhận được nghị lực từ giọng nói mạnh mẽ rất đàn ông của anh, khi anh say sưa nói về công việc đang làm cho nhà Chúa. Cuộc đời của Rollin đã thay đổi kể từ khi anh bằng lòng tự nguyện đến với Chúa ở Rectangle.
- Rollin! Anh còn nhớ không?
- Nhớ gì mới được chứ?
- Đã có lần, chính nơi đây, em trách móc và từ chối tình cảm của anh chỉ vì lúc đó anh là một thanh niên sống không mục đích, không lý tưởng!
Nhắc lại chuyện cũ, Rachel e thẹn, gò má đỏ bừng, trông gương mặt cô lúc này tuyệt đẹp và đầy sức quyến rũ. Cô tiếp tục nói một cách rõ ràng:
- Em rất quý trọng anh vì anh đã can đảm vâng giữ và thực hiện lời hứa nguyện của mình với Chúa. Anh đã và đang bắt đầu một cuộc sống có giá trị.
Rollin cảm thấy rung động trước những lời nói chân thành của Rachel, cùng với sự quan tâm cô dành cho anh. Anh đỏ bừng mặt:
- Anh cảm ơn Rachel nhiều lắm! Kể từ khi tin Chúa, anh thấy đời sống mình không còn tầm thường nữa. Bởi mình đang bắt đầu bước vào một đời sống mới, đời sống làm con yêu dấu của Cha hiển vinh trên trời.
Họ đã đến trước cổng nhà Rachel tự hồi nào, im lặng nhìn nhau. Rollin nhìn sâu vào mắt Rachel. Anh muốn nói lên lời lẽ yêu đương nhưng không tài nào mở lời được. Rachel đọc được chân tình anh dành cho cô trong cái nhìn âu yếm, chan chứa yêu thương ấy.
Hai người chia tay nhau trong lặng lẽ. Rachel đi vội vào nhà, lên phòng riêng của mình, khép cửa lại, ngồi xuống tràng kỷ và úp mặt vào hai lòng bàn tay, thầm thì với chính mình: “Mình đang bắt đầu được một người thanh niên quý tộc yêu. Rốt cuộc mình đã yêu Rollin Page. Ồ! Mình đang nói gì thế này? Rachel Winslow! Mi đã quên rồi sao?...” Cô đứng lên, đi đi lại lại trong phòng. Cô đang xúc động một cách sâu xa về tình yêu của Rollin mà cô bắt đầu đón nhận. Rachel cảm thấy vui vui trong lòng khi nghĩ đến Rollin.
Về phần Rollin, trên đường trở về nhà mình, anh đã ôm ấp một hi vọng về tình yêu dành cho Rachel. Anh cũng hi vọng rằng Rachel đã hiểu đúng về anh sau cuộc gặp gỡ hôm nay. Những ngày sau đó, càng nghĩ đến Rachel, anh càng hăng say lao vào công việc làm chứng cho Chúa ở các hộp đêm, dẫn đưa nhiều thanh thiếu niên ăn chơi trác táng ở đó đến với Chúa, đời sống được đổi mới, dần dần không còn lui tới các nơi tội lỗi đó nữa.
Mùa hè đã qua, Raymond đang chuẩn bị đón nhận cái rét buốt của mùa đông. Virginia đã sắp sửa hoàn thành phần lớn kế hoạch “chiếm đóng Rectangle”, cô thường nói đùa như thế! Còn công việc xây dựng nhà cửa trên cánh đồng, cô chưa tiến hành được, có lẽ phải đến mùa thu sang năm khi cô nhận được quyền sở hữu đất đai. Virginia đã thuê công nhân dọn dẹp cánh đồng. Mục sư Henry đến xem công nhân làm việc vào một buổi trưa. Sau đó, ông đi dọc con đường gần lối rẽ vào chỗ cũ của căn lều ông Gray. Ông rất đau lòng vì các quán rượu xập xình nhạc trống vẫn còn đông đúc, thậm chí còn mọc thêm lên nhiều quán rượu khác nhan nhản ở hai bên đường.
Khi về đến nhà, ông vẫn ray rứt mãi cảnh tượng ở Rectangle. Ông thầm nghĩ “chả lẽ sự đầu tư của Virginia, Rachel và Gray ở Rectangle sau mấy tháng vừa qua lại trở nên vô ích ư? Tất cả lại như cũ, dơ dáy, bẩn thỉu tàn bạo và tội lỗi. Liệu kế hoạch của Virginia sắp thực hiện có đem lại kết quả nào khả quan hơn không?”
Mùa đông trôi qua chậm chạm và năm cũng sắp hết. Mục sư Henry nghĩ đến kết quả sự hứa nguyện sẽ làm những gì mà “Chúa Giê-xu cũng sẽ làm” của những người tình nguyện theo chân Chúa ở Hội thánh Raymond. Sự hứa nguyện này đã lan truyền đến các Hội thánh khác trên toàn quốc. Chúa nhật tuần rồi, Mục sư Henry đã tổ chức lễ kỷ niệm sự hứa nguyện trọn một năm tại buổi thờ phượng Chúa ở nhà thờ Raymond. Trong buổi lễ kỷ niệm đó, có sự hiện diện của Mục sư Tiến sĩ Calvin Bruce của Hội thánh Nazareth Avenue Chicago, vốn là một người bạn cũ của Henry Maxwell ở Viện Thần học trước đây. Sau buổi lễ, Calvin đã viết một bức thư tường thuật các sự kiện ở Raymond cách đầy đủ và gởi thư ấy đến cho một mục sư ở New York.

Chương 19
(Thư của Mục sư Calvin Bruce - tiến sĩ thần học, thuộc Hội thánh Nazareth Avenue Chicago, gởi cho Mục sư Philip A.Caxton - tiến sĩ thần học, thuộc thành phố New York).
“Bạn Caxton yêu quý!
Đêm đã khuya nhưng tôi vẫn không ngủ được vì ảnh hưởng không khí sôi nổi suốt ngày hôm nay ở nhà thờ Raymond. Bây giờ, tôi viết thư này gởi đến anh, tường thuật tình hình và khung cảnh của Raymond trong những tháng qua đầy biến động cho anh cùng rõ. Tôi đoán thể nào anh cũng vui khi nhận được thư này!
Tôi đến Raymond vào sáng hôm nay để tìm hiểu tình hình Hội thánh ở đây, vì tôi đã nghe báo chí nói về Hội thánh này rất nhiều. Ô! Thật là sung sướng! Tôi được dự buổi lễ kỷ niệm sự hứa nguyện tròn một năm của tín đồ Raymond. Một cách ngẫu nhiên, tôi được cung cấp tài liệu về tình hình của Hội thánh thật đầy đủ và rõ ràng.
Anh còn nhớ Henry Maxwell không? Một người bạn cùng học ở trường thần đạo chung khoá với chúng ta ngày xưa ấy! Có lần tôi đến New York và nghe anh nhắc về anh ấy. Anh bảo rằng từ khi tốt nghiệp đến giờ anh chưa gặp lại anh ấy lần nào cả. Henry nổi tiếng là một người lịch sự, thông minh và vâng phục Chúa trọn vẹn đấy! Sau khi tốt nghiệp, Henry đã được mời đến lo công việc Chúa tại Hội thánh Tin Lành Raymond, một Hội thánh rất đông tín đồ và đa số là tín đồ giàu có, quý tộc. Khi biết Henry đến hầu việc Chúa ở Raymond, tôi đã nói với vợ tôi: “Thật cảm ơn Chúa! Ngài đã chọn lựa đúng người đầy nhiệt huyết để lãnh đạo Hội thánh Chúa ở Raymond. Chắc chắn Henry sẽ làm hài lòng tín đồ ở đấy!” Quả thật không sai, Henry đã được giữ chân ở đây suốt mười một năm qua. Đến bây giờ, anh ấy vẫn hăng say trong công việc Chúa không ngừng nghỉ, đem lại sự thoả lòng cho hội chúng. Hội thánh Raymond là một Hội thánh lớn và nổi tiếng giàu có, tập trung đa số là “đạo dòng”!
Đặc biệt, ở đây có ban hát lễ tuyệt vời. Trong đó, có ca sĩ Rachel có giọng ca rất truyền cảm gây sự chú ý của nhiều người.
Vào Chúa nhật cách đây một năm, Henry đến chia xẻ lời Chúa cho Hội thánh. Kết thúc buổi nhóm hôm đó ông đã đưa ra một đề nghị mới mẻ và bất ngờ, gây ngạc nhiên nhiều người. Đề nghị đó là: Tất cả mọi tín đồ trong Hội thánh Raymond đều có quyền tham gia tình nguyện theo dấu chân Chúa, hứa nguyện trong vòng một năm sẽ làm bất cứ việc gì mà trước khi làm, người đó phải hỏi và trả lời một cách thành thật rằng: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” Sau khi trả lời câu hỏi đó, họ sẽ hành động theo như sự suy đoán thật thà của họ là Chúa cũng sẽ làm như vậy, bất kể kết quả thế nào chăng nữa.
Đề nghị ấy đã được nhiều người tiếp nhận và thực hiện. Càng ngày số tín đồ tham gia hứa nguyện càng đông, tạo nên cả một phong trào mạnh mẽ, ảnh hưởng lan rộng nhiều nơi. Con cái Chúa ở Raymond đang chứng minh định nghĩa “Tín đồ Đấng Christ thực sự là thế nào?”.
Henry Maxwell đã kể cho tôi nghe rằng, có rất nhiều người hưởng ứng sự hứa nguyện này và có kết quả lớn lao. Trong số đó, có Edward Norman - chủ bút nhật báo “Tin Tức Hằng Ngày” đã gây nhiều sự bình luận sôi nổi trong giới báo chí suốt thời gian dài. Thương gia Milton Wright cũng tham gia hứa nguyện một cách nhiệt tình. Alexander Powers với sự kiện tố cáo bọn tham nhũng trong giới kinh doanh hoả xa, đã gây xôn xao cả liên bang một dạo vào giữa năm rồi. Đáng cảm động nhất là sự kiện: nữ triệu phú Virginia đã dâng một khoản tiền lớn vào việc thiết lập và duy trì tờ báo Cơ Đốc. Đồng thời, cô ấy còn dâng tiền mua cánh đồng rộng lớn nhằm cải cách khu nhà ổ chuột ở Rectangle. Tôi cũng không quên nhắc đến cô Rachel cho anh biết, đó là một nữ ca sĩ nổi tiếng của Hội thánh. Nhiều công ty hoà nhạc bên ngoài biết tiếng cô ấy, đến mời cô cộng sự với mức thù lao rất cao, thế nhưng cô đã từ chối hợp đồng, chỉ dâng tiếng hát vào công việc truyền giảng cho Chúa mà thôi. Bây giờ cô ấy sắp thành lập một ban nhạc, tạo công ăn việc làm nhằm giúp đỡ một số phụ nữ khốn khổ ở Rectangle.
Phong trào hứa nguyện này lan tràn khắp các Hội thánh lân cận khiến cho số người tham gia hứa nguyện càng ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Tất cả họ đều tuân thủ theo một nguyên tắc chung: trước khi làm một việc gì đều phải đặt ra câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” Và trả lời cho câu hỏi đó một cách thành thật. Mỗi người sẽ làm bất cứ công việc gì mà Chúa Giê-xu cũng sẽ làm như vậy, bất kể kết quả công việc ấy ra sao. Điều này mới nghe ra tưởng đâu dễ dàng, nhưng khi bắt tay vào thực hiện thì mới cảm nhận được đầy đủ sự khó khăn của nó. Người tín đồ sẽ cố gắng hết sức để làm điều gì họ suy đoán một cách thành thật rằng Chúa Giê-xu cũng sẽ làm nếu Ngài ở trong địa vị của họ. Sau thư này, tôi đoán thể nào anh cũng viết thư hỏi tôi câu hỏi: “Kết quả của sự hứa nguyện đó ra sao?” Phải không?
Kết quả của sự hứa nguyện trên Hội thánh Raymond thể hiện rõ nét ở hai phương diện. Nó đem lại tinh thần thông công gần gũi trong con cái Chúa toàn Hội thánh Raymond. Theo Henry, từ trước đến nay, sự việc này chưa xảy ra bao giờ. Qua nhiều thử thách, Hội thánh vẫn phát triển và càng phát triển vượt bậc. Uy tín Henry ảnh hưởng ngày càng rộng lớn vì lòng sốt sắng của ông trong công việc Chúa. Bài giảng của ông luôn luôn được chuẩn bị chu đáo và súc tích, lời lẽ lưu loát, lôi cuốn người nghe. Tín đồ rất hài lòng về cách giảng dạy Lời Chúa của ông.
Sự hứa nguyện còn đem lại kết quả trên từng cá nhân, cụ thể trong từng công việc. Với thư này, tôi không thể kể chi tiết cho anh nghe hết được. Tôi sẽ tóm lược một số hình ảnh tiêu biểu, đã thực hiện sự hứa nguyện ấy cách kiên định, dù rằng họ phải nhận lấy hậu quả ngược lại với quyền lợi cá nhân của họ.
Chẳng hạn như trường hợp ông Alexander, quản đốc cơ xưởng máy móc của một công ty thiết bị hoả xa. Khi thực hiện lời hứa nguyện của mình, ông đã bị mất chức. Gia đình ông mất đi mối quan hệ ban đầu với những người trong giai cấp quý tộc, họ trở nên nghèo thiếu và ít khi lui tới những khu giải trí như trước đây nữa. Tôi đã gặp Alexander tại nhà thờ vào sáng nay, ông ấy đã gây ấn tượng cho tôi nhiều lắm. Đó là một người điềm đạm, chín chắn và rất đỗi trung thực.
Hoặc trường hợp của ông Edward Norman - chủ bút tờ báo “Tin Tức Hằng Ngày”. Ông đã hiến toàn bộ sản nghiệp của ông trong sự vâng giữ điều mà ông tin chắc đó cũng chính là hành động mà Chúa Giê-xu sẽ làm. Ông đã lãnh đạo nhân viên trong việc cách mạng hoá toàn bộ đường lối hành động của tờ báo và ông chấp nhận sự thất bại và tổn thất quyền lợi cá nhân.
Đến trường hợp của thương gia Milton Wright. Ông ấy đã cải cách công việc kinh doanh nhanh chóng đến nỗi ngày nay ở Raymond, không một ông chủ nào được nhân viên mến mộ và kính trọng bằng ông ta. Các thư ký và nhân viên trong cửa hàng do ông quản lý rất yêu mến ông, xem ông như một người cha, người anh đáng tin cậy trong gia đình. Milton đã dùng tình yêu thương để thiết lập mối quan hệ với nhân viên, dù cho công việc kinh doanh của ông chẳng thu lợi được bao nhiêu. Thay vào đó, ông đã thể hiện phần nào hình ảnh nhân từ của Chúa Giê-xu qua chính đời sống ông, đối với toàn thể nhân viên trong cửa hàng do ông quản lý.
Tôi cũng không quên nhắc đến trường hợp đặc biệt của cô Rachel Winslow. Cô đã từ chối quyền lợi cá nhân và tình nguyện dâng hiến tài năng quý báu của mình cho một vùng Rectangle nghèo khổ và bẩn thỉu. Cộng tác và hỗ trợ mạnh mẽ cho cô là cô Virginia Page. Họ dự trù mở lớp âm nhạc, góp phần nâng cao đời sống vốn thấp hèn của người dân Rectangle, dẫn dắt họ đến với Chúa bằng phương tiện âm nhạc.
Một trường hợp đáng chú ý nữa là anh Rollin Page, em trai của cô Virginia. Anh ấy đã từng là một kẻ ăn chơi trác táng trong các hộp đêm gớm ghiếc. Thế nhưng bây giờ, anh đã tin nhận Chúa và quay lại làm chứng cho bạn bè cũ, anh đã trở thành người ích lợi cho Chúa, tham gia hứa nguyện với đông đảo các tín đồ ở Hội thánh Raymond.
Tôi còn muốn nói đến trường hợp ông Donald, hiệu trưởng trường Đại học Lincoln. Ông ấy cũng đã sốt sắng thực hiện sự hứa nguyện với Chúa qua sự kiện vận động phong trào lựa chọn người theo tiêu chuẩn đạo đức vào đợt bầu cử Uỷ ban Liên bang vừa rồi, dù ông đã bị bọn quý tộc trong giới kinh doanh rượu, thuốc lá phản đối dữ dội và còn đe dọa tới tính mạng của ông. Cảm ơn Chúa thật nhiều vì Đức Thánh Linh vẫn hiện diện trên Hội thánh, ban đức tin cho họ vững lòng bước theo dấu chân Chúa Giê-xu, tiếp tục thực hiện sự hứa nguyện với Ngài ngày càng đông.

Chương 20
“Anh Caxton thân mến! Tôi lại tiếp tục viết cho anh dù thư đã quá dài và tôi đoán có thể anh đã mệt mỏi khi đọc thư. Thế nhưng, tình cảm nóng cháy mà tôi đã đón nhận trong suốt buổi nhóm hôm nay không cho phép tôi dừng ở đây được! Tôi sẽ kể cho anh nghe không khí đặc biệt của buổi thờ phượng Chúa sáng nay ở Hội thánh Raymond.
Cách đây bốn năm, tôi đã có dịp được nghe Mục sư Henry Maxwell giảng tại Hội Liên Hiệp Tiểu bang. Ông ấy đã gây ấn tượng cho tôi từ lúc đó vì bài giảng của ông cảm động nhiều người. Thế rồi sáng nay, tôi lại được nghe giọng nói quen thuộc của ông nhưng bài giảng của ông thì khác hẳn và chứa đựng nội dung rất lạ lùng, y như thể ông đã tự nghĩ ra nội dung ngay tại chỗ chứ không chuẩn bị trước. Ông đã nêu lên đề tài của bài giảng là: “Điều này có can hệ gì đến ngươi? Hãy theo ta!”. Đó là một bài giảng kêu gọi gây ấn tượng đặc biệt đối với con cái Chúa ở Raymond. Ông lên tiếng kêu gọi mọi người hãy bước theo dấu chân Chúa Giê-xu. Ông nêu ra những gương tốt đã bước theo gót Ngài cho mọi người noi theo. Bài giảng đầy nhiệt tình của Henry đã cảm động nhiều người và cả tôi nữa!
Buổi nhóm kết thúc, tôi theo một số người đến phòng hội tham dự cầu nguyện với những người tình nguyện theo chân Chúa, hứa nguyện làm bất cứ công việc gì mà Chúa Giê-xu sẽ làm. Dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, họ cầu nguyện cảm tạ Chúa, thông công, xưng tội cùng nhau rất ngọt ngào. Tôi cảm nhận sự hiện diện của Đức Thánh Linh đầy dẫy trên buổi cầu nguyện. Tự dưng, trong giờ phút đó, tôi liên tưởng đến Hội thánh Chúa thời các sứ đồ ngày xưa trong việc noi theo gương Chúa một cách đơn sơ nhưng có kết quả lớn lao.
Henry Maxwell cho tôi biết, đây là những người có tâm tình theo Chúa thực sự. Họ muốn bước đi trong đường lối Chúa cách thiết thực dù cho họ phải trả giá, lìa bỏ sự giàu sang, của cải vật chất quý báu ở đời này. Có nhiều người đã kiên quyết thực hiện sự hứa nguyện với Chúa một cách can đảm, bất chấp mọi hậu quả. Cũng có một số người hứa nguyện nhưng không thực hiện được. Sự thật thì cũng có một số người can đảm đón nhận sự thiệt thòi, mất mát khá nặng nề về tiền bạc, tài sản, địa vị trong xã hội như Alexander Powers, Edward khi họ thực hiện việc dấn thân theo dấu chân Chúa. Cũng có những người vui lòng dâng hiến của cải, tiền bạc vào việc làm lợi cho nhà Chúa, như trường hợp của chị em nhà Page.
Thú thật với anh, tôi đã từng dự nhóm ở nhiều nhà thờ lớn, nhỏ khắp nước Mỹ này, nhưng tôi chưa bao giờ gặp và dự được một buổi nhóm cầu nguyện thông công giữa con cái Chúa với Đức Thánh Linh sống động như ở Hội thánh Raymond. Suốt trong thì giờ cầu nguyện của những người hứa nguyện, Thần Lẽ Thật hiện diện đầy dẫy trong phòng hội và hà hơi ban năng lực mạnh mẽ trên họ.
Caxton biết không? Giây phút đầu khi mới chứng kiến sự hiện diện của Đức Thánh Linh, tôi đâm ra ngờ vực sự cảm nhận của tôi! Tôi cứ tự hỏi rằng, giữa nước Mỹ hỗn độn của thế kỷ XIX này, Chúa Thánh Linh vẫn còn thương xót và đoái hoài đến ư?
Sau khi buổi họp của những người hứa nguyện kết thúc, tôi được dịp trò chuyện thêm với Mục sư Henry. Tôi tường thuật lại cuộc trò chuyện ấy cho anh nghe luôn nhé!
“Henry nói:
- Nếu như toàn bộ tín đồ ở Raymond đều hứa nguyện như chúng tôi thì cả xứ này ắt hẳn sẽ được thay đổi.
- Tôi nghĩ, để có sự thay đổi đó, ít nhất phải có một cuộc cách mạng sống theo gương Chúa của toàn bộ Cơ Đốc nhân ở Raymond.
- Nhờ cậy Chúa, chúng ta có thể mở rộng sự hứa nguyện ra các Hội thánh lân cận và tất cả các Hội thánh trên toàn nước Mỹ. Tôi hi vọng, Chúa sẽ giúp chúng ta nói riêng, Hội thánh Ngài nói chung trên toàn cầu chiến đấu và dẹp bỏ được các quán rượu và các nguyên nhân khác gây ra tội lỗi cám dỗ con người. Còn nếu chúng ta cứ để cho các quán rượu bành trướng mãi, thì sự hi sinh của con cái Chúa để làm theo sự hứa nguyện với Chúa Giê-xu sẽ trở thành sự phung phí kinh khủng.
- Đúng vậy! Chúa đã hành động trên Hội thánh Raymond thì Ngài sẽ không quên các Hội thánh khác trên toàn Hiệp chủng quốc Hoa-kỳ. Và chừng nào các quán rượu quanh thành phố Raymond này còn hoạt động, thì chừng nấy công việc nhà Chúa còn bị tắt nghẽn.
- Chúng ta cần phải khuấy động tinh thần theo gót chân Ngài trên toàn quốc. Đây không phải là giáo điều viễn vông mà là tiêu chuẩn đạo đức thiết thực, rất cần thiết cho con người vươn tới một đời sống tốt đẹp hơn với một quan niệm mới về sự theo Chúa”.
Đây là một ý tưởng vĩ đại phải không Caxton? Mấy mươi năm theo Chúa, tôi chưa bao giờ dám nghĩ đến điều ấy. Được Đức Thánh Linh cảm động, tôi muốn trở về ngay Hội thánh ở Chicago để vận động con cái Chúa thực hiện sự hứa nguyện với Chúa, y như ở Hội thánh Raymond. Thế nhưng, nghĩ đến kết quả công việc khi thực hiện sự hứa nguyện của con cái Chúa ở Raymond, tôi lại chùn bước. Ở Chicago, vận động được khoảng mươi thương gia hoặc các ngành nghề có giá trị khác ở trong xã hội chấp nhận sự thua lỗ, mất mát quyền lợi cá nhân để thực hiện sự hứa nguyện không phải là chuyện dễ. Họ sẽ không chịu nổi sự thử thách khi họ phải làm những công việc tưởng chừng như mù quáng và không biết kết quả sẽ ra sao. Nếu không được Đức Thánh Linh cảm động, hiếm ai có thể dấn thân bước theo chân Chúa Giê-xu một cách có kết quả. Đồng thời, nếu không bởi chính Chúa Giê-xu kêu gọi, khi thực hiện sự hứa nguyện, dễ thường chúng ta sẽ nghi ngờ rằng chúng ta đang tự đánh lừa chính chúng ta và đang làm những công việc vô ích.
Anh Caxton ạ! Tôi chưa thấy và chưa gặp được một Hội thánh nào quanh đây được phước như Hội thánh Raymond. Đây là điều mong mỏi của tất cả những người chăn bầy cho Chúa phải không?
Tôi đã hỏi chính tôi câu hỏi bắt đầu cho sự hứa nguyện là “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” và tôi đã run sợ, hãi hùng khi phải đối diện để trả lời một cách thành thật cho câu hỏi ấy. Nếu tôi chấp nhận bước theo chân Chúa, chắc chắn cuộc sống tôi sẽ thay đổi nhiều lắm đấy! Hơn mười năm qua, tôi đã vui hưởng một đời sống gọi là theo Chúa nhưng lại ít chịu khổ. Thành thật mà nói với anh điều này: tôi sống cho Chúa theo quan niệm của tôi, nhưng tôi ít quan tâm đến người khác. Chẳng hạn như những người nghèo khổ, những kẻ sa đọa trong tội lỗi hay bị người thân ruồng rẫy, xã hội bỏ rơi... Sự vâng giữ lời hứa nguyện sẽ đòi hỏi tôi điều gì? Tôi do dự khi phải trả lời thẳng thắn câu hỏi này. Hội thánh mà tôi đang chủ toạ ở Chicago rất giàu có, hầu hết các tín đồ ở đó là những người ăn nên làm ra, thuộc tầng lớp quý tộc cả. Thế nhưng, nói đến tinh thần chịu khổ cho Chúa, họ lại tỏ ra nghèo nàn biết chừng nào! Hoặc, cũng có thể là lỗi do tôi, tôi đã lãng quên dạy họ tinh thần tận hiến rồi chăng? Tôi đã sai sót trong việc dẫn dắt họ bước theo chân Chúa Giê-xu. Tôi chưa nỗ lực khuấy động đời sống theo Chúa của họ.
Caxton ạ! Có lẽ lần này tôi sẽ trở về Hội thánh của tôi với lời vận động các tín đồ: “Các bạn ơi! Chúng ta hãy bước theo chân Chúa Giê-xu gần hơn, bám theo gót Ngài cho dù chúng ta phải trả giá như thế nào chăng nữa. Chúng ta hãy hứa nguyện sẽ không làm bất cứ điều gì nếu trước hết, chúng ta không hỏi hoặc chưa trả lời cho câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” đối với công việc đó.
Nếu tôi đến trước mặt họ với sứ điệp này, ắt hẳn họ sẽ lạ lùng và ngạc nhiên lắm. Nhưng dù họ có ngạc nhiên đến đâu chăng nữa, tôi cũng sẽ gởi đến họ sự kêu gọi bước theo chân Chúa Giê-xu và noi gương Ngài!
Thôi Caxton nhé! Thư đã dài rồi, tôi xin dừng bút tại đây. Nguyện xin sự bình an của Thiên Chúa ở cùng trên bạn luôn luôn. Đọc xong thư này, Caxton nhớ hồi âm thư và nói rõ ý kiến của bạn về vấn đề theo chân Chúa cho tôi biết với nha!
Thân ái,
Calvin Bruce”
Mục sư Calvin buông viết, đứng lên và đến mở tung hai cánh cửa sổ ra, dõi mắt nhìn ra xa một cách đăm chiêu. Đầu óc ông đang quay cuồng và căng thẳng với nhiều câu hỏi mà ông không tài nào tìm ra câu trả lời cho thoả đáng. Ông cảm thấy hình như ông đang bị chính lương tâm mình lên án khi ông định trốn tránh trả lời thành thật cho câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trong chức vụ mục sư của ông, và ông cảm thấy ngột ngạt với không khí trong căn phòng nhỏ hẹp. Bên cửa sổ, Calvin yên lặng ngắm các vì sao đêm đang nhấp nháy xa xa, không gian mênh mông bên ngoài đã giúp cho Calvin thư giản tâm hồn đôi chút.
Giữa thinh không, tiếng chuông đồng hồ gắn trên đỉnh nhà thờ Tin Lành Raymond thong thả buông mười hai tiếng. Bỗng nhiên, hoà trong tiếng gió đêm khuya, giọng hợp ca nữ trong trẻo, văng vẳng từ hướng Rectangle vọng đến. Đó là tiếng hát của những người mới tin Chúa ở căn lều của Gray trong tháng trước. Họ là những công nhân đang làm ca đêm tại một cơ xưởng lớn, nằm giáp ranh giữa Raymond và Rectangle.
Chợt, có một giọng nam cất lên giữa đêm vắng vẻ. Giọng ca của người bảo vệ xưởng đóng đồ hộp, nằm ở dãy phố đối diện với căn nhà Calvin đang đứng ngắm sao đêm:
“Chúa Giê-xu phải vác thập tự giá một mình. Còn cả thế giới thế nào? Không, có một thập tự giá cho mỗi người. Và có một thập tự giá cho tôi!”
Calvin cảm thấy dường như lời hát này Chúa đang dành cho ông, nhắc nhở ông. Rời cửa sổ, ông quay vào phòng, thành kính quỳ gối xuống. “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” Đó là điều ông phải trả lời trong sự cầu nguyện của ông: chưa có giây phút nào ông được Đức Thánh Linh thăm viếng và bắt phục hoàn toàn trên ông, hướng dẫn ông cầu nguyện với Thiên Phụ Từ Ái một cách rõ ràng, ngọt ngào với những quyết định mới mà ông hứa nguyện sẽ làm cho Chúa như lúc này. Ông còn trò chuyện với Chúa thêm một lúc lâu nữa. Sau đó, ông về phòng ngủ. Ông trăn trở mãi mà vẫn không ngủ được. Gần đến sáng, ông thiếp đi giây lát trong giấc ngủ chập chờn. Ông dậy sớm, đến phòng làm việc mở cửa sổ ra. Những tia nắng sớm mỏng manh chiếu vào căn phòng nhỏ. Ông đứng yên lặng đón ngọn gió sớm và lẩm nhẩm lại câu hỏi: “Chúa Giê-xu sẽ làm gì? Nếu Ngài ở vị trí mục sư của con? Con có thể theo bước chân Ngài được không?”.
Nhìn ánh bình minh đang lan toả khắp cảnh vật, Calvin liên tưởng đến tinh thần theo Chúa. Liệu đến khi nào, thì con cái Chúa sẽ bừng tỉnh khắp lượt như ánh bình minh kia và dấn bước theo những dấu chân đã đi trước của Chúa Giê-xu? “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” Câu hỏi ấy cứ ám ảnh mãi và thúc giục Calvin trở về với Hội thánh Chúa ở Chicago trong một quyết tâm mạnh mẽ rằng sẽ làm bất cứ việc gì mà ông suy nghĩ cách thành thật Chúa Giê-xu cũng sẽ làm như vậy, bất chấp kết quả thể nào.

Chương 21
“Thưa Chúa tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù, đồng chết”
Buổi hoà nhạc vào chiều thứ bảy tại Thính phòng Chicago vừa chấm dứt, mọi người vội túa ra cổng tranh nhau đón xe ngựa. Trời trở rét. Gió lạnh căm căm. Ai cũng mong trở về nhà sớm nên chen nhau leo lên xe ngựa, cãi vả om sòm. Những cánh cửa xe đóng sầm lại, chuyển bánh nhanh dần mặc cho nhiều người la hét ở phía sau do không leo lên xe kịp. Những chủ xe ngựa luôn tay quất roi vun vút thúc giục ngựa phóng nhanh lên phía trước, nhập vào dòng thác xe cộ, tuôn dài về hướng đại lộ.
- Bây giờ đến xe mang biển số 624!
Người phục vụ Thính phòng hô to lên, anh lặp lại
- Xe mang biển số 624!, ai đi không?
Từ khúc đường quanh trước mặt, một chiếc xe ngựa mới sơn xanh làm nổi bật hàng chữ mạ vàng bên hông thùng xe “C.R.S” khắc lồng vào nhau. Chiếc xe được một cặp ngựa ô to lớn, khoẻ mạnh kéo nên chạy rất nhanh. Đến trước cổng thánh đường, người đánh xe ghìm cương lại chờ khách.
Hai cô gái trẻ bước ra khỏi đám đông, tiến về phía xe với vẻ rất khoan thai, ung dung. Cô chị bước vào trong xe trước và ngồi xuống, cô em thì còn đứng do dự trước mũi xe.
- Lên đi! Felicia! Em còn đợi cái gì nữa? Chị lạnh cóng và đói bụng muốn chết đây nè!
Tiếng gọi từ trong xe, hơi gắt gỏng.
Cô em vội vàng mở xách lấy ra một bó hoa tím Anh quốc tươi và thơm ngát trao cho một cậu bé ăn mày, rách rưới đang đứng khúm núm bên vệ đường sát bên chân chiếc xe ngựa. Cậu bé ngơ ngác cầm lấy bó hoa đắt tiền từ tay một người quý phái như cô gái này. Nó đưa bó hoa lên sát bộ mặt bẩn thỉu và xấu xí, hít lấy hít để hương thơm của hoa. Cô gái bước vội lên xe, cánh cửa xe đóng lại đánh sầm một tiếng gãy gọn. Chiếc xe ngựa phóng lên phía trước vun vút.
- Felicia à! Chị thấy em luôn luôn làm những điều kỳ quặc!
Cô chị phàn nàn cô em, trong khi chiếc xe ngựa đang lượn qua các dinh thự to lớn đã lên đèn sáng trưng.
- Em ấy hả? Chị bảo em đã làm những điều kỳ quặc ? Em làm gì đâu nào, Rose?
- Chị hỏi em nhá! Một đứa bé ăn mày đói khát thì nó cần quái gì bó hoa tím sang trọng kia chứ? Nó cần một bữa ăn tối thì đúng hơn. Chị rất ngạc nhiên và lấy làm lạ khi thấy em tặng bó hoa cho nó. Nó sẽ làm gì với bó hoa kia chứ?
- Vậy, đối với thằng bé rách rưới bẩn thỉu ấy, em sẽ làm gì cho nó thì chị sẽ không ngạc nhiên?
- Nếu như em mời thằng bé cùng về nhà mình và ăn bữa tối với gia đình mình thì chị sẽ không ngạc nhiên tí nào.
- Ối dào! Em thấy chính chị mới làm điều kỳ quặc chứ không phải em đâu à nghe! Nhà ta là một nhà sang trọng sạch sẽ, thì làm sao thích hợp cho một đứa trẻ ăn mày dơ dáy như thằng bé ấy. Liệu có kỳ quặc không, khi chúng ta lại mời một đứa trẻ như thế đến dùng chung bữa tối nóng sốt, sang trọng với chúng ta, Rose?
- Đối với chị, điều đó không có gì là kỳ quặc cả! Chúng ta cần đáp ứng đúng cái gì chú bé ấy cần mới là điều quý.
- Thôi chúng ta đừng quan tâm đến chuyện vặt vãnh ấy nữa. Chị Rose, chị có nhận thấy buổi hoà nhạc hôm nay dở không?
- Ờ! Buổi hoà nhạc thật chán. Nhạc sĩ vĩ cầm hôm nay dở tệ. Chị không hiểu sao em lại đủ kiên nhẫn ngồi xem cho đến hết chương trình? Chị chỉ muốn về ngay ở tiết mục thứ ba!
Rose ngáp dài, mắt lim dim mệt mỏi.
- Em thích âm nhạc, cho nên dù hay dở thế nào, em vẫn muốn xem cho hết chương trình. Vả lại, em không thích phê bình ai cả!
Felicia trả lời cách nhẹ nhàng nhưng lại tỏ ý châm chọc Rose.
- Đối với chị, chị thích xem kịch hơn
- Em không thích kịch tí nào!
- Tại sao?
- Em không muốn xem những cảnh đau lòng trên sân khấu. Dù đó chỉ là “kịch”!
- Kịch phản ánh cuộc sống, con người và xã hội. Xã hội loài người thì luôn tồn tại kẻ giàu, người nghèo. Cuộc sống của người nghèo khổ bi đát lắm. Chúng ta cảm ơn Chúa vì Ngài đã cho chúng ta giàu có.
- Chị còn nhớ bài giảng của tiến sĩ Calvin vào Chúa nhật tuần rồi không? “Vì các ngươi biết ân điển của Đức Chúa Giê-xu Christ Chúa chúng ta. Mặc dù, Ngài giàu có nhưng vì cớ chúng ta, Ngài trở nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài chúng ta được trở nên giàu có”.
- À, chị nhớ rồi. Em thuộc Kinh Thánh quá nhỉ! Chị cũng còn nhớ phần cuối bài giảng của Calvin nữa. Rằng những người Chúa cho giàu có thì không có lỗi gì cả. Miễn sao người đó có thái độ sống đúng, biết bố thí và đối xử tử tế với người nghèo, biết dâng hiến để phát triển công việc Chúa. Felicia! Theo chị biết, mặc dù ông Calvin giảng cho Hội thánh bài giảng như thế, nhưng bản thân ông ấy thì sống rất sung túc và thoải mái. Ông ấy chưa bao giờ dám hi sinh sự xa xỉ và vật chất cá nhân của mình để lo cho người nghèo. Bản thân ông ấy cũng chưa tốt đâu. À, Felicia, em vừa nhận được thư của chị Rachel Winslow từ Raymond phải không? Bao nhiêu lần chị viết thư mời chị ấy về đây hát cho các công ty hoà nhạc, thù lao rất cao. Thế mà chị ấy cứ từ chối mãi. Chị ước ao được thưởng thức giọng ca vàng của Rachel.
Felicia yên lặng nghe Rose nói, cô không buồn đáp lại, chỉ nhìn chăm ra ngoài cửa sổ xe. Chiếc xe chở hai cô gái quý tộc lăn bánh bon bon trên đại lộ, lướt qua nhiều dãy nhà cao tầng, nhiều biệt thự nguy nga, quẹo vào một lối đi rộng có mái che và dừng lại, hai chị em dắt tay nhau bước vào nhà. Đó là một ngôi biệt thự lâu đời được xây bằng đá xám, trang trí như một cung điện nhỏ. Bên trong phòng khách rộng và thoáng mát, treo nhiều bức tranh đắt tiền, nhiều bức tượng cổ quý giá và bày biện những chậu pha-lê mang tính hiện đại, sang trọng ở các góc phòng làm sáng cả căn phòng.
Chủ nhân của ngôi biệt thự này là ông Charles R. Sterling. Ông đang đứng trước lò sưởi và hút xì gà, đón hai cô con gái cưng của ông. Charles làm giàu nhờ công việc đầu cơ, tích trữ lúa gạo và hùn hạp vốn đầu cơ, kinh doanh các mặt hàng phục vụ cho ngành hoả xa. Lợi nhuận vô tay ông như nước. Ông nổi tiếng là một nhà triệu phú trong giới thượng lưu ở Chicago. Vợ ông là một người có họ hàng gần với bà Winslow ở Raymond. Ông chỉ có hai cô con gái, cô chị là Rose, năm nay vừa tròn hai mươi mốt tuổi, xinh đẹp, nhanh nhẹn, hoạt bát. Rose đang theo học tại một đại học nổi tiếng của Mỹ. Cô cũng đang tập tành bước vào xã hội thượng lưu và làm quen với công việc kinh doanh của cha. Trong cuộc sống hàng ngày, thỉnh thoảng, Rose làm buồn lòng cha vì tính khí lãnh đạm và đôi lúc lại bông đùa quá trớn của cô.
Còn Felicia - năm nay mới mười chín tuổi. Cô có một vẻ đẹp quí phái và quyến rũ, phảng phất nét đẹp nhiệt đới như cô chị họ của cô là Rachel Winslow. Khác với Rose, Felicia rất hồn nhiên, vui vẻ và thích lắng nghe hơn là chỉ trích.
- Felicia, con có thư!
Ông Sterling đưa cho cô một bức thư mỏng.
Felicia ngồi xuống và bóc thư ra ngay với vẻ nôn nóng.
- Thư ai thế con?
- Thưa ba, thư của Rachel ạ!
- Có tin tức sốt dẻo gì từ Raymond không con?
Sterling nheo nheo mắt, lấy điếu xì gà ra khỏi miệng.
Đọc lướt thư, Felicia nói tóm tắt.
- Rachel bảo rằng, hai Chúa nhật liên tiếp vừa qua, tiến sĩ Calvin có dự nhóm ở Raymond và tỏ ra rất chú ý đến sự hứa nguyện của Mục sư Henry ở Hội thánh Tin Lành Raymond.
- Còn Rachel, chị ấy đang làm gì ở đấy? Trong thư có nói gì không? - Rose hỏi với vẻ mệt mỏi lẫn thờ ơ.
Cô đang nằm dài trên trường kỷ, ôm chặt chiếc gối ôm mềm mại, thơm tho.
- Rose nghe em đọc nhá: “Felicia, chị đang hầu việc Chúa ở Rectangle. Chị hát truyền giảng cho các buổi nhóm, kêu gọi mọi tội nhân đến với Chúa. Chị vẫn phải cố gắng đến với các buổi nhóm trong một căn phòng cũ kỹ, rách nát. Công trình xây cất nhà cửa, cải tạo khu ổ chuột ở Rectangle vẫn chưa hoàn thành. Căn lều của Gray không còn ở Rectangle nữa. Ông ấy đã trở về Raymond hơn hai tháng nay”.
- Felicia! Em hãy viết thư mời chị Rachel đến Chicago với chúng ta đi! Chị thèm nghe chị ấy hát quá. Bảo với Rachel rằng hãy rời bỏ thành phố Raymond, tại thành phố ồn ào đó hiếm có ai biết thưởng thức giọng ca tuyệt vời của chị ấy, chị ấy tiếc gì mà cứ bám mãi ở đấy cơ chứ?
Rose cao giọng phản đối vấn đề Rachel không chịu đến Chicago. Trong khi ông Sterling đốt thêm một điếu xì gà mới, Rose lại tiếp tục phàn nàn:
- Thật hết biết cho chị Rachel. Chị ấy là một người kỳ quặc nhất trần đời. Phải nói như thế mới đúng! Nếu chị ấy đến Chicago này, chắc chắn sẽ làm cho cả Chicago điên lên khi thưởng thức giọng ca thiên phú tuyệt vời, có một không hai của chị ấy cho mà xem. Nếu chị đồng ý hợp đồng trình diễn ở công ty hoà nhạc quốc gia ở đây, ắt hẳn chị ấy sẽ hốt bạc và trở thành triệu phú, tỉ phú nhanh chóng! Ôi tiếc thật! Giá như mình có được giọng ca và sắc đẹp tuyệt trần như Rachel!
- Thư Rachel bảo rằng Rachel sẽ không đến đây, trừ khi chuyến đi này là mục đích sự hứa nguyện của chị ấy với Chúa.
- Nghĩa là thế nào? “Hứa nguyện” gì nhỉ?
Ông Sterling kêu lên ngạc nhiên.
- A! A, Ba biết rồi! Ba nhớ ra rồi. Hứa nguyện là một việc làm đặc biệt của những ai đồng ý bước theo chân Chúa. Ba biết được việc này thông qua Alexander Powers trong giới kinh doanh hoả xa trên Raymond. Ông ấy là bạn học của ba từ lúc còn thanh niên, từng học ngành điện báo chung một lớp với ba. Ba nghe nói, lúc thực hiện sự hứa nguyện với Chúa, ông ấy đã tự ý rút tên xin từ chức sau khi viết thư tố cáo bọn đồng nghiệp hối lộ trong ngành.
- Bây giờ số phận ông ấy thế nào hả ba?
Felicia tỏ vẻ lo lắng.
- Bây giờ ông ấy quay lại nghề điện báo cũ, đồng lương không được bao nhiêu, phải từ bỏ nếp sống xa hoa trước đây. Ông ấy can đảm thật! Chấp nhận cuộc sống nghèo khổ chỉ vì muốn giữ vẹn sự hứa nguyện với Chúa. Không rõ Mục sư tiến sĩ Calvin có biết gì về tình hình ở Raymond trong thời gian vừa qua không. Ba dự định sẽ gặp mục sư và nói chuyện về vấn đề ấy!
- Không, ba ạ! Con nghĩ ông ấy đã biết rõ mọi việc. Thậm chí còn biết rành hơn cả chúng ta nữa đó!
Felicia lại tỏ ra quan tâm đến điều ba cô vừa nói. Im lặng giây lát, Felicia sà đến ôm lấy cổ ba mình và thận trọng hỏi một câu khiến ông bất ngờ:
- Ba ơi! Điều gì sẽ xảy ra nếu Mục sư Calvin đề nghị chúng ta hứa nguyện với Chúa như Mục sư Henry đã đề nghị với tín đồ ở Hội thánh Raymond. Con đoán, thế nào Mục sư Calvin cũng đến giảng cho Hội thánh Nazaret Avenue chúng ta về việc hứa nguyện cho mà xem!
- Con đang nói gì vậy Felicia?
- Con đang nói gì vậy Felicia?
Ông Sterling ngạc nhiên trố mắt nhìn Felicia.
- Con muốn nói về vấn đề hứa nguyện mà Mục sư Calvin sẽ trình bày với Hội thánh vào Chúa nhật tới này.
- Như thế nghĩa là thế nào? - Ông nôn nóng hỏi con gái.
- Đại khái là thế này: những ai tình nguyện theo chân Chúa thì sẽ tự mình hứa nguyện với Chúa: trước khi làm bất cứ việc gì đều phải hỏi và trả lời thành thật cho câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” đối với việc đó.
- Vậy thì có gì là nguy hiểm đâu!
Rose nãy giờ yên lặng lắng nghe, bây giờ cũng nhổm dậy góp chuyện:
- Ý ba thế nào hả ba?
Sterling xua xua tay:
- Theo ba, đó là một phong trào tôn giáo do Mục sư Henry chủ xướng. Chúng ta không thích hợp với phong trào ấy, cho nên chúng ta sẽ không thực hiện được sự hứa nguyện như Felicia vừa nói đâu!
- Ba biết không? Rachel nói trong thư rằng Hội thánh Raymond đang cố gắng bành trướng sự hứa nguyện ấy sang các Hội thánh khác trên toàn nước Mỹ và có thể lan khắp các Hội thánh khác trên toàn cầu. Nếu sự hứa nguyện được thực hiện một cách thành công, chắc chắn đời sống con cái Chúa sẽ được thay đổi một cách lớn lao và toàn diện đấy ba ạ!
- Thôi, thôi. Chuyện ấy bàn sau. Bây giờ chúng ta hãy đi uống trà và ăn cái gì đã chứ? Bụng đói meo rồi đây này!
Rose nhổm dậy khỏi ghế tràng kỷ và hăng hái bước sang phòng ăn. Ông Sterling và Felicia bước theo sau, im lặng. Bữa ăn tối đã được bày sẵn, la liệt thức ăn với các thứ cao lương mỹ vị. Thế nhưng, mọi người ăn cảm thấy không ngon. Bà Sterling dùng bữa ngay trong phòng riêng của bà. Bà đang có chuyện buồn nên không muốn gặp ai trong lúc này. Ông Sterling ăn rất ít, đứng lên cáo lỗi vì có công việc và vội vàng ra phố.
Còn lại hai chị em, Rose và Felicia, họ chậm rãi ăn trong yên lặng. Khi ông Sterling đi khuất khỏi sân nhà, Felicia hỏi Rose:
- Lúc nãy, chị có thấy ba bối rối khi em nói chuyện với ba không Rose?
- Không biết nữa! Nói đúng ra là chị không để ý. À, nè Felicia, tối nay em có định đi xem kịch không đấy? Bà Delano sẽ đến đây vào lúc 7 giờ rưỡi, cùng đi với chúng ta. Chị nghĩ em nên đi kẻo bà ấy giận.
- Dạ, em sẽ đi! Đi xem kịch hoặc đi dạo phố đêm cũng được. Em muốn tâm trí khuây khoả một chút.
- Em bận tâm về việc gì cơ chứ? Ối dào, chuyện hứa nguyện ấy à? Ai hứa nguyện thì mặc họ, can hệ gì đến mình mà lo lắng, căng thẳng thế? Chị thấy em không những kỳ quặc trong việc làm mà còn kỳ quặc trong tư tưởng! Nè, Felicia! Thôi bây giờ em nghe chị nói đây: lát nữa em lên lầu, ghé phòng mẹ nói giùmï: chị sẽ ghé thăm mẹ sau giờ đi xem kịch về! Nhớ nghen!
- Dạ, em sẽ lên phòng mẹ trước khi bà Delano đến!
... Nghe tiếng gõ cửa, bà Sterling không buồn đứng dậy mở cửa, chỉ khẽ nói:
- Vào đi!
Felicia rón rén đến bên mẹ, ngồi xuống mép giường. Vuốt tóc con gái, bà Sterling khẽ thở dài. Bà đang giận ông Sterling về việc gì đó mà Felicia không tài nào biết được. Cô ngồi yên lặng bên mẹ hồi lâu, quên cả việc đi xem kịch. Cô thử đề nghị:
- Mẹ ơi! Con đọc thư chị Rachel cho mẹ nghe nhé!
- Thôi, khỏi cần! Mẹ không muốn nghe gì cả trong lúc này!
- Thế thì tối nay con ở đây với mẹ có được không ạ?
- Khỏi cần! Mẹ không cần!
Tiếng bà nói như gắt khiến Felicia tủi thân, nước mắt rơi lã chã trước sự từ chối thẳng thừng và đột ngột này.

Chương 22
Felicia buồn bã rời phòng mẹ. Suy nghĩ giây lát, cô quyết định đi xem kịch để thư giãn thần kinh. Cô đón xe ngựa, một mình đến nhà hát mặc dù đã hơi khuya. Cô ngồi xem kịch với vẻ mặt như đưa đám, dáng tư lự, không buồn mỉm cười, trò chuyện với những người ngồi bên cạnh. Lát sau, cô rời chỗ ngồi, lùi vào trong một góc tối, ngồi giữa những băng ghế trống và bụi bặm. Bà Delano trông thấy tất cả nhưng bà không gọi Felicia. Bà chỉ lẩm bẩm: “Thật đúng là một con bé kỳ quặc! Rose nói chả sai tí nào!” Bà Delano là gia sư của Felicia, bà đã hiểu đựơc phần nào tính tình của cô. Thế nhưng lần này, bà hoàn toàn không đoán ra nỗi niềm u uẩn nào đang dày vò Felicia. Thỉnh thoảng bà liếc mắt xem Felicia có còn ngồi trong góc tối đó hay không.
Vở kịch tối nay không có gì đặc sắc. Đó là một vở kịch Mê-lô của Anh quốc chứa đựng nhiều tình tiết hiện thực pha lẫn lãng mạn. Tình huống gay cấn ở màn thứ ba đã gây ấn tượng cho người xem.
Đó là quang cảnh vào lúc nửa đêm trên cầu Blackfriars vĩ đại ở Anh quốc, bên dưới là dòng sông Thames đen ngòm sâu thẳm đang chảy xiết. Bên cạnh dòng sông, đỉnh tháp chuông của Thánh đường Phao-lô vươn cao lên dưới ánh sáng lờ mờ, in hình xuống dòng sông. Trên cầu, có một cậu bé đang đi qua đi lại như đang tìm kiếm ai đó hoặc tìm kiếm vật gì. Có nhiều người khác đang băng qua cầu, vẻ vội vã nên không mấy ai để ý đến cậu bé. Ngay phía giữa cầu, nơi dòng sông sâu nhất và nước đang chảy mạnh, có một người đàn bà trông rất buồn thảm đứng tựa lưng vào lan can cầu. Vẻ mặt đau khổ và căng thẳng đã nói lên rõ ràng ý định của bà ta. Vừa khi bà len lén leo lên bức tường chắn ngang lan can cầu để gieo mình xuống sông, cậu bé đã trông thấy, thét lên một tiếng xé lòng và chạy nhanh về phía bà, dùng hết sức bình sinh ôm chặt lấy bà và kéo ngược lại...
Cảnh trí được chuyển qua bức tranh sinh hoạt thường nhật của người dân lao động ở phía Đông Luân-đôn. Những tấm phông gỗ vẽ cảnh khu nhà ổ chuột bằng sơn xanh bài trí ở hai góc cánh gà của sân khấu, tài tình và sống động. Thấp thoáng trong tranh những đám đông tụ tập, ai nấy đều gầy gò, ốm yếu, quần áo rách tơi tả, bên cạnh những bàn ghế gãy đổ trông rất hoang tàn và cùng khốn. Vở kịch chuyển nhanh sang một cảnh mới tương phản với cảnh cũ. Đó là cảnh những biệt thự nguy nga sang trọng của một nhà quý tộc giàu có. Cả rạp hát trút ra hơi thở nhẹ nhỏm. Đa số khán giả hôm nay đều là những nhà quý tộc, những thanh niên nam nữ thuộc tầng lớp thượng lưu. Họ chỉ quen những cảnh xa hoa lộng lẫy. Họ cảm thấy gớm ghiếc và thậm chí muốn ói mửa khi phải quan sát cảnh nghèo khốn, bần cùng, dơ dáy và bẩn thỉu của người dân lao động. Nhờ cách bài trí khéo léo và kỹ thuật đèn sân khấu hiện đại, trong khoảnh khắc trôi qua, cuộc sống đời thường của những người giàu, nghèo trong xã hội được phản ánh rất rõ nét và gây ấn tượng, xúc động những khán giả nào có sự đồng cảm với tầng lớp lao động nghèo khổ. Cuộc đối thoại trên sân khấu được tiếp tục. Các nghệ sĩ thể hiện vai của mình trong các nhân vật khác nhau rất nhuần nhuyễn. Ngồi trong bóng tối, Felicia rùng mình khi nhìn khung cảnh những khu nhà ổ chuột và những con người nghèo khổ, nhếch nhác, bẩn thỉu được dựng tại trên sân khấu. Cô liên tưởng đến cuộc sống giàu sang xa hoa của gia đình mình và cảm thấy sợ hãi. “Biết đâu mai chiều mình lại phải sống cuộc sống như những con người khổ sở kia và phải sống như thế mãi mãi? Ai biết trước được số phận? Ai biết được ngày mai mình sẽ ra sao? Ngoại trừ Thiên Chúa!” Felicia thầm nghĩ như thế và ngồi thừ ra.
- Felicia! Về em! Sao ngồi mãi đấy như người mất hồn thế?
Rose tiến đến nắm tay Felicia lay lay. Kịch đã hạ màn. Mọi người đang chen nhau ra cổng, cười, nói ồn ào.
Felicia đứng bật dậy như cái lò xo, hốt hoảng nhìn xung quanh và im lặng đi ra, theo chân những người đi trước đang huyên thuyên tán gẫu về các chi tiết buồn cười trong vở kịch. Tự dưng, Felicia cảm thấy mình thật cô đơn giữa đám đông này.
Khi về đến nhà, Rose hỏi Felicia:
- Felicia! Em đánh giá thế nào về vở kịch?
- Đó là một bức tranh khá đẹp và sống động, nó đã phản ánh đúng thực tế!
- Chị muốn hỏi em về sự diễn xuất của các diễn viên cơ? - Rose nói với vẻ bực dọc.
- Chỉ mỗi một cảnh ở trên cầu là diễn xuất hay. Đặc biệt vai người đàn bà diễn rất đạt. Chị biết không? Lúc đó em cứ ngỡ như thật nên.... em đã khóc vì xúc động!
Felicia trả lời một cách thành thật.
- Chị cũng công nhận cảnh ấy hay. Felicia à! Chị không hiểu sao nhà viết kịch lại đưa khung cảnh khu nhà ổ chuột dơ dáy, tồi tàn vào trong vở kịch một cách gớm ghiếc và khủng khiếp như thế? Chị nghĩ, họ không nên phô bày những cảnh đau khổ ấy ra trên sân khấu.
- Kịch mà chị! Nó phải phản ảnh đúng thực tế chứ! Trái lại em thích cảnh đó lắm Rose à! Những con người thật bên ngoài, ở những khu nhà ổ chuột còn sống khổ sở khủng khiếp gấp trăm lần cảnh ấy nữa đấy!
- Thực tế ngoài đời làm gì có cảnh khốn khổ ghê gớm như thế? Làm sao sống nổi?
- Có chứ sao không! Chị không biết đấy thôi! Chị Rachel đã viết thư cho em biết dân cư vùng Rectangle nằm gần Raymond đã phải sống khổ sở như vậy, thậm chí còn thê thảm hơn nữa là đằng khác.
- Ừ, cũng có thể ngoài đời có cảnh đó thật. Nhưng, chúng ta đi coi kịch, chúng ta tốn tiền không phải để xem những cảnh khủng khiếp đó!
Rose gắt gỏng với vẻ rất bực mình.
- Nhưng mà... nó phản ảnh sự thật ngoài đời...
Rose không chịu nổi sự biện hộ của Felicia nên cướp lời:
- Biết rồi, biết rồi! Nhưng chúng ta không cần phải nhìn vào sự thật làm chi cho mệt. Chúng ta chỉ muốn đến nhà hát để xem kịch, mua vui mà thôi!
Rose vừa nói vừa phẩy tay, đi thẳng vào phòng ăn, lấy trái cây và bánh ngọt ra, ngồi ăn một mình.
- Rose! Chị có định lên thăm mẹ không đấy?
Felicia hỏi với theo. Cô vẫn ngồi ngay ngắn trước lò sưởi trong phòng khách.
- Chắc là không! Felicia à! Chị không muốn làm phiền mẹ đêm nay. Lát nữa, nếu em lên lầu thì nói với mẹ hộ chị, là chị quá mệt mỏi nên không lên thăm mẹ được!
Felicia không nói gì, đứng dậy đi lên phòng mẹ. Bà Sterling vẫn còn thức, đèn thắp sáng trưng, cửa phòng khép hờ. Người hầu gái đứng khoanh tay bên giường bà.
- Clara! Cháu hãy ra ngoài một lát!
Bà Sterling hất hàm bảo người hầu gái. Felicia bước lại, quỳ xuống bên giường, cầm lấy bàn tay của bà.
- Felicia! Con biết cầu nguyện không? - Bà Sterling hỏi một cách vồn vã.
- Ơ! Thưa mẹ! Tại sao mẹ lại hỏi con một câu như vậy? Con vẫn thường cầu nguyện mà!
Felicia trố mắt ngạc nhiên khi nghe câu hỏi của mẹ.
- Felicia à! Mẹ có chuyện muốn nói với con. Mẹ đang lo lắng cho ba con. Suốt hai ngày nay mẹ bất an vô cùng. Mẹ cứ lo sợ rằng y như sắp sửa xảy ra điều gì không hay, rắc rối cho ba con. Mẹ muốn con cầu nguyện cho gia đình ta!
- Ngay bây giờ hả mẹ?
- Ừ, ngay bây giờ! Đừng chần chờ, Felicia! Con cầu nguyện hộ mẹ nhé!
Felicia nắm chặt bàn tay gầy gò đang run rẩy của mẹ. Felicia nhắm mắt lại, bắt đầu thưa chuyện với Chúa. Cô cầu nguyện lớn tiếng, còn mẹ cô thì nhắm nghiền mắt, khóc nho nhỏ trong sự đè nén xúc động.
Sau khi cầu nguyện xong, Felicia đứng dậy:
- Xin chào mẹ! Chúc mẹ ngủ ngon. Mẹ dặn Clara gọi con ngay nếu mẹ cần con hoặc có việc gì xảy ra trong đêm nay, mẹ nhá! Bây giờ, mẹ cảm thấy trong người thế nào. Có khoẻ được chút nào không?
- Có, khoẻ hơn hồi nãy nhiều lắm con ạ! Felicia! Con không hôn mẹ sao?
Felicia quay lại, nhẹ nhàng hôn lên trán mẹ, xong cô quay đi ngay. Khi vừa ra khỏi phòng, cô khóc không thành tiếng, nước mắt chảy dài hai bên má. Trở về phòng riêng, Felicia vùi mình trong chăn, thổn thức một hồi lâu nữa và thiếp đi lúc nào không biết.
Sáng Chúa nhật ở ngôi biệt thự của gia đình Sterling thường rất yên tĩnh. Chị em Rose và Felicia ngủ dậy muộn và đi nhà thờ vào lễ nhì. Ông Sterling lại đi nhà thờ vào lễ nhất từ sáng sớm. Ông là một tín đồ bình thường, không có chức vụ gì trong Hội thánh nhưng ông rất sốt sắng lo công việc Chúa ở nhà thờ.
Sáng Chúa nhật này, ông Sterling cảm thấy trong người không được khoẻ. Ông không xuống ăn sáng như mọi khi mà cứ ngồi lì trong phòng riêng. Bà Sterling cũng cáo mệt và ở nhà. Rose với Felicia đón xe ngựa đến nhà thờ Nazaret quen thuộc, cổ kính và uy nghi.
Chuông reo một hồi dài, báo hiệu giờ giảng bắt đầu. Mục sư Calvin bước lên toà giảng với khuôn mặt điềm đạm, nghiêm trang. Như mọi lần, ông cầu nguyện khai lễ và xin Chúa hà hơi cho bài giảng mà ông sắp sửa trình bày.
Lời cầu nguyện của ông mạnh mẽ nhưng rất ngọt ngào. Đặc biệt hôm nay, ông trình dâng lên Chúa một nan đề khá mới lạ đối với tín đồ tại Nazaret Avenue. Ông Calvin đang nài xin Chúa giúp Hội thánh thực hiện đúng nghĩa vai trò “tín đồ Đấng Christ”. Ông cầu nguyện chân thành và xúc động. Nhờ quyền năng Đức Thánh Linh cảm thúc, cả Hội chúng đều cúi đầu hiệp ý với Mục sư Calvin. Sau khi lời cầu nguyện của Calvin kết thúc, có rất nhiều người lớn tiếng cầu nguyện, tiếp tục xin Chúa dức dấy Hội thánh. Sau một hồi lâu, đợi cho tiếng cầu nguyện ngớt dần, Mục sư Calvin mở đầu bài giảng bằng bài làm chứng ngắn về chuyến thăm Raymond vừa rồi. Hội chúng lắng nghe cách chăm chú, không bỏ sót một lời.

Chương 23
- Thưa quý Hội thánh! Tôi vừa trở về từ Raymond. Hôm nay, tôi muốn làm chứng về công việc Chúa ở đó, đã làm xôn xao dư luận suốt tháng qua.
Calvin ngừng lại giây lát, đưa mắt quan sát khắp lượt Hội chúng, muốn tìm thấy sự chăm chú trên khuôn mặt họ. Bất giác, ông cảm thấy lo sợ. Không biết những tín đồ giàu có, xa hoa, ưa chuộng sự giàu sang này, liệu có chấp nhận lời kêu gọi mà ông sắp đưa ra đây không? Sau một thoáng nghĩ ngợi, ông quyết định kể lại tình hình theo Chúa ở Raymond và ban phát cho họ sứ điệp theo dấu chân Ngài như ông đã dự tính. Tuy nhiên, khắp Chicago, người ta đã biết ít nhiều về tình hình ở Raymond qua báo chí. Dạo này, Raymond đã nổi hẳn lên một phong trào những người tình nguyện theo dấu chân Chúa. Phong trào lan nhanh từ thành thị đến nông thôn và lan sang các tiểu bang, các nước lân cận. Những công việc mà những người tình nguyện theo dấu chân Chúa đã làm, dầu rằng kết quả trước mắt chưa đem lại quyền lợi gì cho cá nhân họ, thậm chí, họ còn phải trả giá rất đắt là đằng khác, nhưng họ vẫn hăng hái tiếp tục công việc cho nhà Chúa. Điều này đã nói lên sự sốt sắng, trung tín của con cái Chúa. Nó đã đánh dấu một đời sống thuộc linh sâu nhiệm trong quyền năng Thánh Linh. Qua công việc của họ, nhiều linh hồn tưởng chừng như đã chết, nay đã được Chúa cứu và được tái sinh. Đó chính là giá trị vĩnh cửu, không có gì sánh nổi.
Mục sư Tiến sĩ Calvin Bruce đã thuật lại vắn tắt những điều này cho Hội chúng. Ông chú ý theo dõi phản ứng của họ để chuẩn bị truyền rao sứ điệp “theo dấu chân Chúa” cho họ.
Bên dưới, ngồi hàng ghế đầu, Felicia tròn xoe mắt, lắng nghe cách chăm chú, vẻ mặt rất căng thẳng. Trái lại, ngồi bên cạnh, Rose tỏ ra hời hợt, không quan tâm lắm đến lời của Mục sư Calvin.
Calvin đằng hắng giọng:
- Các bạn thân mến! Trên bước đường theo Chúa, tôi thiết nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta cần bước theo dấu chân Chúa Giê-xu và làm theo gương Ngài một cách thiết thực. Chúng ta không nên cứ mãi ở trong nhà thờ cổ kính, bệ vệ, uy nghi, kín cổng cao tường, với bao sắc áo sang trọng đẹp đẽ như thế này, miệng nói: “Theo Chúa! Theo Chúa!” suông mà chẳng quan tâm gì đến những linh hồn khốn khổ hư mất ở bên ngoài nhà thờ. Tôi muốn kêu gọi Hội thánh Nazaret Avenue, chúng ta hãy cầu nguyện với Chúa và cùng nhau thực hiện sự hứa nguyện như Hội thánh Raymond đã làm. Không nói ra thì các bạn cũng biết điều này: theo Chúa một cách đúng nghĩa không phải là chuyện dễ, cũng chẳng đơn giản tí nào! Chúng ta phải đánh đổi tất cả, bỏ lại đàng sau mọi sự, kể cả tiền bạc, danh vọng, địa vị, thói quen, để bươn tới đàng trước đặng theo kịp dấu chân Ngài trên linh trình về nhà Cha. Khi chúng ta làm những người tình nguyện theo Chúa, hứa nguyện với Ngài tức chúng ta bước vào con đường hẹp, chấp nhận chịu khổ. Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta từng bước, lánh xa dần những gì không thuộc về Ngài, trả lại cho thế gian những gì thuộc về thế gian. Trong thời đại này, theo Chúa Giê-xu có nghĩa là gì? Có phải chúng ta cứ ở mãi trong nhà kính với một sự hoài tưởng viễn vông? Sự thử nghiệm của tinh thần theo Chúa sẽ được thể hiện qua công việc thực tế mà chúng ta làm cho Chúa. Nói cách đơn giản, những người nào trong Hội thánh chúng ta muốn tình nguyện theo Chúa thì hãy hứa nguyện làm bất cứ công việc gì mà người đó cảm nhận một cách thành thật Chúa Giê-xu cũng sẽ làm, bất chấp kết quả ra sao. Chúng ta thực hiện sự hứa nguyện nghiêm túc y như chúng ta đang thực hiện điều răn của Chúa đã ban cho chúng ta vậy!
Một lần nữa, Mục sư Calvin lại ngừng nói, đưa mắt quan sát khắp hội chúng. Mọi người đang bàn tán nho nhỏ về sự kêu gọi mới mẻ này. Nhiều gương mặt sáng lên trong sự chăm chú và hưởng ứng sứ điệp.
Mục sư Calvin mạnh dạn đưa ra lời mời:
- Thưa quý Hội thánh! Xin mời tất cả những ai tình nguyện thực hiện sự hứa nguyện làm theo như Chúa Giê-xu sẽ làm, ở lại phòng hội của nhà thờ sau giờ thờ phượng sáng nay!
Sau một thoáng, ông bắt đầu bước vào bài giảng với câu Kinh thánh làm nền tảng: “Thưa Chúa, tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù, đồng chết” (LuLc 22:33).
Được Đức Thánh Linh hà hơi, Mục sư Calvin đã giảng với một tinh thần nhiệt tình đặc biệt, gợi cho Hội chúng hình dung lại cách sống động khung cảnh Hội thánh đầu tiên vào thế kỷ thứ nhất xa xưa. Tinh thần theo Chúa một lòng của các môn đồ xưa qua lời giảng trầm ấm của Mục sư Calvin đã gây ấn tượng mạnh và cảm động sâu xa trên người nghe. Ai nấy đều liên hệ đến vai trò tín đồ Đấng Christ hiện tại của mình. Có nhiều mái đầu yên lặng cúi xuống, thầm nguyện.
Buổi nhóm được kết thúc bằng lời cầu nguyện của người hướng dẫn chương trình, cảm tạ Đức Thánh Linh vì Ngài có thăm viếng Hội thánh sáng nay.
Mọi người lần lượt rời nhà thờ trong khi tiếng dương cầm vẫn còn thánh thót bản nhạc tất lễ. Một số người tụm năm ba đứng bàn tán về bài giảng và lời kêu gọi vào đầu giờ nhóm của Mục sư Calvin. Rose đang chen chân trong số những người đi ra cửa. Cô đứng dừng lại vì vừa nhìn thấy Felicia đang đi về phía phòng hội.
Rose gọi giật:
- Felicia! Về chứ?
- Không! Em sẽ ở lại chị Rose ạ! - Giọng Felicia lộ vẻ cương quyết.
- Thật là điên rồ, Felicia! Suy nghĩ lại đi! Em có khả năng làm được gì mà bày đặt thế?
Rose cười mỉa mai.
- Nếu em vướng vào ba cái điều lẩm cẩm gì đấy của Mục sư Bruce, em sẽ làm cho bố nổi giận cho mà xem. Em sẽ mang lại những điều bất hạnh cho gia đình đấy! Đừng có ngu nhóc ạ! Những người ở Raymond mù quáng hứa nguyện và đã bị tán gia bại sản, em thấy không? Thôi, đừng bày chuyện vớ vẩn nữa. Đi về với chị, nhanh lên!
Rose nắm lấy tay Felicia kéo ngược ra cửa nhà thờ.
- Không! Không! Thả tay em ra! Chị về trước đi, em ở lại. Em muốn hứa nguyện, em sẽ hứa nguyện. Nhất định em sẽ làm điều này bất chấp kết quả thể nào. Rồi chị sẽ hiểu em, Rose ạ!
Giọng Felicia run run vì cố nén xúc động.
Rose lắc đầu bất lực, nhìn trân trân cô em gái của mình trong một giây. Hất mái tóc dài ra phía sau, Rose quay ngoắc đi, bước dằn từng bước giận dữ ra phía cổng. Cô không buồn chào hỏi những người quen đang đi bên cạnhâ. Bà Delano bước ra tới cổng nhà thờ thì chạm mặt Rose. Bà ngạc nhiên:
- Rose! Con không tham gia nhóm tình nguyện của Mục sư Calvin sao?
- Không ạ! Còn bà? Sao bà không tham gia mà lại hỏi con? Bà à, con cảm thấy làm những việc đó chỉ tổ chuốc vạ vào thân. Thật là một sự ngu xuẩn hết biết. Bà biết không? Ở Raymond, đám người cuồng tín đi làm những việc ngu ngốc đó, bị thiên hạ cười vào mũi. Người chị bà con của con là chị Rachel ở trên đó cũng vướng vào phong trào ngu ngốc ấy. Bà có nghe chuyện của chị ấy chưa?
- Có, tôi có nghe! Rachel đang phải lặn ngụp trong gian khổ chỉ vì sự mù quáng trong đức tin.
- Vậy, bà nghĩ gì về sự kêu gọi của Mục sư Calvin sáng nay?
- Theo tôi, đó chỉ là một sự xúi giục gây rối loạn ở đây mà thôi. Hội thánh sẽ bị chia rẽ cho mà xem. Tôi cũng chẳng thèm hứa nguyện làm chi. Cần phải cảnh giác và tránh xa những lời dụ dỗ đường mật đó.
Bà Delano vừa nói vừa đi song song với Rose ra bến xe ngựa.
Rose về đến nhà, gặp ngay bố cô đứng hút xì gà bên cạnh lò sưởi.
- Sao con về một mình? Còn Felicia đâu?
Ông hỏi khi Rose bước vào.
- Nó ở lại để dự buổi họp hứa nguyện sau giờ nhóm!
Rose trả lời một cách bực bội. Cô cởi khăn choàng đầu và đi lên lầu. Ông Sterling hỏi với theo:
- Nó mà lại hứa nguyện à? Con nói thật không? Hứa nguyện gì nhỉ? Tiếc thật, sáng nay mình lại không đi dự nhóm được.
- Sáng nay, Mục sư Calvin Bruce kêu gọi Hội thánh ta thực hiện sự hứa nguyện y như Hội thánh Raymond đã làm.
Ông Sterling nhả điếu xì gà ra khỏi miệng, cầm vân vê giữa hai ngón tay, suy nghĩ.
- Thế, có nhiều người hưởng ứng lời kêu gọi của ông ấy không, Rose?
- Con chả biết. Con không quan tâm đến những chuyện ngớ ngẩn ấy. Con không tham dự!
- Tại sao con không tham dự?
- Lý do đơn giản: con không muốn làm người ngu xuẩn!
Rose vừa nói vừa lắc đầu, đi thẳng một mạch lên lầu, mặc cho ông Sterling đang đứng yên như pho tượng nhìn theo cô.
Một lúc lâu, ông đi lại phía cửa sổ, nhìn xuống dòng xe cộ đông đúc trên đường phố, xem thử Felicia đã về tới chưa. Xong, ông lại chắp tay sau lưng, đi tới đi lui trong phòng khách ra điều suy nghĩ mông lung. Người hầu gái đến trước cửa mời ông dùng cơm trưa. Ông bảo:
- Chờ Felicia về rồi sẽ cùng ăn luôn thể!
Đứa hầu gái chạy biến đi xuống nhà bếp.
Rose đã thay quần áo và đi vào phòng đọc sách.
Ông Sterling vẫn cứ đi đi lại lại trong phòng. Lát sau, ông ngồi phịch xuống ghế, chống tay lên trán nghĩ ngợi.
Chợt có tiếng động khẽ, Felicia vừa về tới. Cô bước vào phòng khách và đến trước mặt bố với cặp mắt đỏ hoe. Rõ ràng cô đã xúc động mạnh trong giờ họp hứa nguyện ở nhà thờ.
Thấy Felicia về, Rose rời khỏi phòng đọc sách, đi về phía cô và hỏi vồn vã tò mò:
- Felicia! Có bao nhiêu người ở lại thế?
- Khoảng một trăm người!
Felicia trả lời cách nghiêm nghị. Sterling nhìn con gái ngạc nhiên đến yên lặng hàng phút. Felicia đi về phòng riêng mình.
Như bừng tỉnh, ông Sterling gọi giật giọng:
- Felicia! Bộ con thực sự muốn giữ sự hứa nguyện sao?
- Con nghĩ, ba không nên hỏi con câu ấy!
Felicia lại phải cúi xuống che giấu sự xúc động. Cô chần chừ một lát, xin lỗi bố sẽ ăn cơm trễ hơn và đi lên lầu thăm mẹ.
Trong phòng riêng với mẹ, Felicia kể cho mẹ nghe chi tiết về buổi họp mặt hứa nguyện sau buổi nhóm sáng nay. Cô mô tả cho mẹ cô biết sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong buổi họp như thể nào. Sức mạnh thuộc linh của Ngài đã làm kinh hãi nhiều người kể cả chính cô. Mọi người đều kinh nghiệm được sức lực mới, lạ lùng từ nơi Ngài truyền sang. Cô ở trong phòng mẹ suốt cả buổi chiều.
Đêm đã dần khuya. Felicia đến phòng ăn, ăn qua loa và trở lên phòng riêng của mình, đóng cửa kín lại, bật đèn sáng lên và quỳ gối xuống cầu nguyện. Một sự thúc đẩy vô hình trong cô, khiến cô mạnh mẽ, hăng hái và ngọt ngào đến với Chúa.
Trong tối Chúa nhật đó, Mục sư Calvin thảo luận với vợ về buổi họp hứa nguyện sáng nay. Có tiếng chuông cửa reo. Ông đi ra cửa, vui mừng reo lên:
- A, chào anh Edward! Xin mời anh vào!
Edward, Mục sư một Hội thánh lân cận, bước vào mỉm cười chào bà Bruce. Sau đó ít phút, bà Bruce tìm lý do rút lui về phòng riêng. Trong phòng chỉ còn lại hai người đàn ông. Họ cùng ngồi trước lò sưởi và tỏ vẻ thích thú khi được sưởi ấm giữa tiết trời lành lạnh này.
- Calvin! Thế là anh đã bắt đầu cuộc hành trình mới quan trọng và ý nghĩa. Tôi đã nghe được tin ấy hồi chiều nên vội vàng đến để thảo luận thêm với anh về vấn đề này!
- Thật cảm ơn anh! Tôi rất vui mừng vì anh đã đến đúng lúc!
Calvin đặt tay lên vai bạn mình.
- Anh có hiểu điều tôi định nói không?
- Vâng, tôi hiểu!
Edward nói rất chậm với vẻ suy nghĩ. Ông ngồi thẳng, hai tay đan chặt vào nhau. Gương mặt ông toát lên vẻ nhân hậu và sự chịu đựng. Ông nhướng mắt hướng về phía Calvin:
- Calvin! Tôi tin chắc ít nhiều chúng ta cũng đã hiểu nhau. Phải vậy không? Tuy rằng, sau khi trưởng thành, chúng ta mỗi người một ngã trên bước đường phục vụ Chúa, nhưng chúng ta vẫn luôn nhớ đến nhau phải không?
- Vâng! Thật cảm ơn Chúa về điều ấy.
- Calvin! Nếu anh cùng những người hứa nguyện ở Hội thánh anh giữ được sự hứa nguyện thì Hội thánh Nazaret này sẽ có sự thay đổi lớn lắm đấy! Còn đối với Hội thánh tôi hiện nay, sự hứa nguyện như thế là cả một vấn đề chứ chẳng phải chuyện đơn giản. Ít có ai chịu quẳng đi sự xa hoa của mình để nghiêng vai vác lấy thập giá và bước theo Chúa Giê-xu. Nói đến chuyện tử vì đạo lại càng hiếm hoi. Và như vậy, sự theo Chúa có ý nghĩa gì? Bước theo chân Ngài nghĩa là gì?
Cả hai người chăn bầy cho Chúa đang trò chuyện thân tình với nhau thì thình lình có tiếng chuông cửa reo dồn dập, dữ dội. Tiếng bà Calvin trong phòng khách loáng thoáng với người nào đó. Bỗng, bà hét lớn, mặt tái mét, xô cửa chạy về phía phòng ông Bruce, báo tin dữ:
- Calvin ơi! Khủng khiếp quá! Ông Sterling đã tự vẫn! Thật là một tai hoạ cho các con gái của ông ta!
Bà xúc động đến nỗi khóc không được, chỉ nghẹn ngào.
- Cái gì? Em nói sao?
Ông Calvin hỏi một cách thất thanh, ngỡ như mình đang nghe lầm.
- Ông Sterling đã tự sát bằng hai phát súng cách đây chỉ vài phút. Ông ấy đã hành động ngay trong phòng ngủ. Người hầu gái của bà Sterling vừa đến cho hay...
- Tôi sẽ đến đó ngay! Edward! Anh cùng đi với tôi chứ? Gia đình Sterling vốn là bạn cũ của anh phải không? Thật rắc rối và đáng tiếc...
- Vâng! Tôi sẽ đi với anh!
Mặt Edward tái xanh, ông mím môi.
- Calvin tôi sẽ cùng đi với anh trên quãng linh trình sắp tới, sẽ làm bất cứ việc gì mà ý Đức Chúa Trời muốn tôi làm.
Trong giây phút ngắn ngủi này, Calvin đọc được phần nào suy nghĩ và dự tính của Edward về những điều mà ông ta sẽ làm cho Chúa.

Chương 24
“Chiên Con đi đâu, những kẻ này theo đó”
Mục sư Calvin cùng Edward vội vàng chạy đến nhà Sterling trong sự chấn động tinh thần. Ngôi biệt thự sang trọng bỗng chốc hoá ra tang tóc, lộn xộn. Các phòng ở tầng trệt im lặng và trống trơn. Trên lầu, người ta chạy tới chạy lui ồn ào nhốn nháo. Một người tớ gái chạy vội vã xuống thang lầu, mặt mày xanh xám, hớt hải.
Trông thấy Mục sư Calvin và Edward vừa tới trước cửa nhà, đứa đầy tớ vội lao đến, lắp bắp:
- Dạ thưa, ông Sterling, dạ.. dạ.. ông chủ cháu... ông chủ cháu chết rồi!
Nó bật lên khóc hu hu trong sự hoảng hốt.
- Còn chị Felicia đang ở trong phòng bà chủ ạ!
Nói đoạn, nó chạy ngang qua phòng khách và lao vụt ra ngoài vườn.
Mục sư Calvin cùng Edward tiến về phía cầu thang, Felicia đang đứng thẫn thờ như người vô hồn. Thấy Mục sư Calvin mắt cô chợt sáng lên, cô chạy đến nắm chặt lấy hai tay ông. Edward đặt một bàn tay lên vai cô, tỏ niềm an ủi và cảm thông.
- Cầu xin Đức Chúa Trời Toàn năng và Bình an ở với con trong giờ phút đau đớn và đen tối này. À, còn mẹ của con đâu rồi?
Nói đến bà Sterling, ông Edward không khỏi bâng khuâng. Thuở thiếu thời ông đã quen và kết bạn với bà. Ông đã nuôi dưỡng một mối tình lãng mạn êm đềm với bà - một trong những người đẹp nổi tiếng thời bấy giờ ở xứ Camilla Rolfe. Thế nhưng, ông đã phải thất vọng vì chức vụ truyền đạo của ông không có gì hấp dẫn người đẹp bằng nhà triệu phú Sterling. Theo sự tính toán ở đời, tất nhiên, người đẹp đã chọn Sterling giàu có. Tuy vậy, ông vẫn cất giữ những kỷ niệm của mối tình đầu đáng nhớ vào trong ký ức.
Felicia buông tay Mục sư Calvin, đi về phía phòng bà Sterling. Vài phút sau, cô quay lại và ra hiệu cho Mục sư Calvin và Edward đi đến phòng mẹ cô. Thái độ của cô bình thản lạ lùng. Sự bình tĩnh ấy khiến cho hai vị mục sư ngạc nhiên vô cùng.
Đến trước cửa phòng bà Sterling, Felicia mời Mục sư Calvin và Edward vô phòng.
Trên giường, bà Sterling nằm im bất động. Rose nằm bên cạnh. Clara - đứa hầu gái mà Calvin và Edward đã gặp, đang đứng khóc thút thít trong xó cửa, đầu phủ khăn kín mít.
Lạ một điều, cả bà Sterling và Rose đều không khóc lóc, bi thảm gì cả. Họ chỉ im lặng không buồn nói chuyện, nhưng vẻ mặt họ rất bình thản, ráo hoảnh.
Trái lại, Edward lại cảm thấy choáng váng trước sự tang tóc của gia đình Sterling. Ông vịn vào thành ghế để khỏi bị lảo đảo. Ông đang nghĩ đến lý do đem đến cái chết của Sterling. Ông chợt rùng mình, không biết chức vụ của ông và Calvin sẽ ra sao trong những ngày tháng sắp đến, một khi các tín đồ quanh đây đã bị kích động...
Sáng hôm sau, cảnh sát khu vực đã đến nhà Sterling. Hiện trường được canh giữ để nhà chức trách tiến hành điều tra. Có năm phóng viên và một bác sĩ khám nghiệm tử thi cũng có mặt. Đông đảo những người hàng xóm, quen biết gia đình Sterling đang tụm năm tụm bảy bàn tán ồn ào ngay đầu cầu thang. Một lát sau, cảnh sát mời tất cả những người vô phận sự trong cuộc điều tra này đi ra ngoài. Còn một số người cần thiết được cảnh sát gọi vào phòng trong. Họ đang cung cấp cho cảnh sát những tin tức về cái chết của Sterling, giúp nhà chức trách điều tra làm rõ vấn đề.
... Khoảng chín giờ tối Chúa nhật, ông Sterling vào phòng ngủ một mình. Độ nửa giờ sau, một phát súng ngắn và đanh vang lên, phá tan bầu không khí yên tĩnh của ngôi biệt thự đồ sộ. Đứa tớ gái từ phòng khách vội chạy vào phòng có tiếng súng nổ, nó kinh hoàng đưa hai tay bưng lấy mặt khi nhìn thấy ông chủ của nó đã chết, thân nằm sãi trên sàn nhà, một dòng máu tươi chảy ra từ thái dương trái của ông Stering. Lúc đó, Feicia đang ở trong phòng riêng của mẹ cô. Còn Rose đang trong phòng đọc sách, nghe tiếng súng nổ ở phòng ông Stering, cô vội ào đến. Nhìn thấy bố đã chết, mắt trợn ngược, đang được đứa đầy tớ gái xốc lên trường kỷ, cô rú lên thảm thiết, chạy ngược xuống cầu thang và lao như điên như dại lên phòng mẹ cô.
- Mẹ ơi! Bố con chết rồi!
Rose nói lảm nhảm đôi câu gì nữa đấy, và ngã lăn ra ngất xỉu tại bên chân giường mẹ cô đang nằm.
Bà Sterling ngồi bật dậy khi nghe tin động trời này và liền sau đó, bà ngã vật ra ngất lịm. Nhưng có một điều lạ lùng, bà tỉnh lại rất nhanh, sai mời Mục sư Calvin đến. Liền sau đó, bà nằng nặc đòi được nhìn mặt ông Sterling lần cuối. Đứa hầu gái dìu bà sang phòng khách và vào phòng nơi đặt xác chồng bà nằm trên trường kỷ. Bà quá đau đớn nên không khóc được. Bà nhìn trân trối vào khuôn mặt tái nhợt của chồng và vội quay mặt đi, Clara dìu bà trở về phòng riêng và cẩn thận đỡ bà nằm xuống giường. Bà nhắm mắt lại, vẫn ở tư thế nằm, hai bàn tay đan lại với nhau để hờ trên ngực, môi run run bà cầu nguyện xin Chúa tha thứ tội cho chính bà và cho chồng bà. Bà đang trải qua một cơn xúc động đột ngột và quá mạnh mẽ. Bà không đủ sức chịu đựng sự dồn nén của cơn xúc động nên chưa đầy năm phút sau, bà đã tắt hơi. Feliecia chết lặng người. Cô ở bên giường mẹ, cũng không khóc được. Rose nằm bất tỉnh dưới sàn nhà, bên cạnh chân Felicia.
Mọi người có mặt hôm ấy lấy làm kinh hãi trước cảnh tượng chết chóc của nhà Sterling. Thần chết đã hoành hành trong gia đình triệu phú này một cách tàn nhẫn. Ngôi biệt thự xa hoa lộng lẫy nhanh chóng trở nên tang thương. Qua báo chí, ngày hôm sau, tin nhà triệu phú Sterling tự sát và phu nhân đột ngột qua đời đã lan nhanh khắp Chicago.
Người ta còn biết được rằng nhà triệu phú Sterling đã bị khủng hoảng tinh thần vì công việc kinh doanh đang trên đường xuống dốc trầm trọng. Sự suy sụp về tài chính đã nhanh chóng kéo Sterling xuống vực thẳm tuyệt vọng, và ông đã hành động nông nổi, huỷ hoại chính bản thân mình. Ông vốn là một con người xảo quyệt trong giới kinh doanh, trọn một đời tranh đấu để thu góp tiền bạc, vun vén cho gia tài kếch xù của mình. Bây giờ, tất cả đang đi đến sự phá sản ồ ạt. Đối với ông, đồng tiền là trên hết. Đồng tiền có giá trị hơn bất cứ vật quý giá nào, kể cả linh hồn. Ông đã ra sức làm giàu bằng nhiều thủ đoạn, mánh khoé. Những đồ đạc đắt tiền trong ngôi biệt thự nguy nga của ông, từ cái chén, cái đĩa, cái ghế, cái tủ v.v.. đều được mua từ những đồng tiền do ông bóc lột công sức lao động của người khác mà có. Bây giờ, ông bắt tay kinh doanh mặt hàng nào cũng đều bị bọn đầu cơ quỷ quyệt lừa đảo làm cho lỗ lã nặng nề. Những đồng tiền trước đây vô tay ông như nước, giờ thì từ từ vuột khỏi tay ông. Ông quay sang hi vọng vào hai cô con gái. Không ngờ, sáng Chúa nhật này, Felicia lại dấn thân vào công việc hứa nguyện - một công việc mà ông không thể lường trước được kết quả hay hậu quả. Trong thâm tâm, ông chỉ suy nghĩ rằng: con gái ông đang vô tình kết đảng với đường dây đầu cơ lừa dối kia thắt dần nút dây thòng lọng vào cổ ông. Hình ảnh một kẻ ăn mày cứ ám ảnh ông mãi, ông muốn phát cuồng lên và cảm thấy nhục nhã. Suy nghĩ cùng quẩn, ông quyết định chọn con đường tự kết liễu đời mình, trước khi ông có thể trở thành một kẻ ăn xin bị thiên hạ bêu riếu. Đó là kết quả không thể tránh khỏi của một đời sống chọn tiền làm nguyên tắc sống.
Bà Sterling đã chết vì bị sốc. Trong nhiều năm qua, mặc dù chồng bà đã giấu diếm bà nguy cơ kinh tế gia đình sẽ bị phá sản nhưng bà vẫn biết rõ tình hình ấy và kết cuộc của nó. Vì lo lắng quá nên bà đã sống khắc khoải trong nhiều năm, sống mà chẳng khác nào như xác không hồn.
Từ trước đến giờ, gia đình của bà luôn tỏ ra là một gia đình quyền thế hơn bất cứ gia đình nào khác. Cho đến giờ phút này, bà cũng muốn níu kéo lại phong thái của người quyền thế vốn có khi bà được dìu vào trong căn phòng, nơi xác chồng bà đang nằm sóng sượt trên trường kỷ. Bà gắng gượng để thể hiện tinh thần mạnh mẽ còn sót lại trong bà. Thế nhưng, thân thể bà lại không che giấu nổi sự yếu đuối, mệt mỏi và nó trở nên rã rượi.
Những tai ương dồn dập đổ xuống đầu chị em Rose khiến cho họ đau đớn khôn cùng. Gia đình phá sản, bố mẹ qua đời cùng một lúc khiến cho Rose đờ đẫn, thẫn thờ trong nhiều tuần lễ liền. Cô nằm bất động, vẻ mặt mất hết thần khí trông thật thảm thương.
Dường như cô chẳng còn biết đến sự phá sản của gia đình nữa. Ngay cả việc những người hàng xóm láng giềng, những người bà con thân thuộc cùng những bè bạn đến thăm, khuyên nhủ cô và Felicia nên rời bỏ ngôi nhà tang tóc này và đến một nơi nào đó thật yên tĩnh để tỉnh dưỡng tinh thần trong một thời gian, cô cũng chẳng hiểu. Nhiều người nghĩ rằng Rose đã bị mất trí.
Về phần Felicia, tuy cũng đau lòng chẳng kém chị mình nhưng cô vẫn luôn tỏ ra bình tĩnh cách kỳ lạ. Hơn ai hết, cô hiểu rõ điều gì đã xảy ra và lý do tại sao nó đã xảy ra đối với gia đình cô và với chính bản thân cô.
Ở Raymond, vừa khi nghe được tin khủng khiếp về gia đình Sterling, bà Winslow cùng Rachel liền đến ngay Chicago, kịp lo liệu đám tang cho vợ chồng Sterling và an ủi chị em Rose.
Sau khi bàn bạc, họ hàng trong tộc quyết định để chị em Rose về ở với gia đình bà Winslow một thời gian.
- Felicia! Em và Rose hãy đến Raymond ở với chị một thời gian xem sao.
Rachel tỏ ra quan tâm và góp phần hoạch định tương lai cho Felicia với Rose.
- Đến đó, em sẽ làm gì để sống bây giờ?
- Em biết làm công việc gì nào? - Rachel hỏi với vẻ dịu dàng.
- Em chỉ biết mỗi việc dạy âm nhạc!
- Em có biết nấu ăn không?
- Em chưa rành lắm! Nhưng em có thể đi học thêm một khoá nấu ăn!
- Ờ! Như thế thì tốt lắm! Em sẽ phụ làm bếp với mẹ chị!
Rachel cười nho nhỏ, gương mặt, ánh mắt của cô toả ra sự hiền dịu, yêu thương.
- Vậy nhé! Felicia và Rose đến ở với gia đình chị nhé!
- Dạ em sẽ cố gắng. Em chỉ ngại không có việc làm. Nhưng em sẽ cố gắng, em sẽ làm bất cứ việc gì lương thiện để kiếm sống cho em và cho chị Rose. Tội nghiệp chị ấy! Bây giờ, chị chẳng khác nào một cái xác không hồn, em lo sợ chị Rose sẽ không bao giờ thoát khỏi được cơn khủng hoảng tinh thần về điều phiền muộn của gia đình em.
- Thôi, đừng lấy chuyện đó làm sầu não nữa, Felicia ạ! Vì chuyện đã rồi, không ai muốn cả. Em hãy sắp xếp nhanh chóng hành lý để kịp về Raymond!
Rachel lựa lời an ủi Felicia, nhưng chính lòng cô đau nhói về thảm kịch của nhà Sterling, là họ hàng gần gũi với nhà cô. Cô quay mặt giấu hai hàng nước mắt.
Felicia lẳng lặng đi thu xếp tư trang, hành lý cần thiết, cùng mẹ con Rachel đưa Rose về Raymond. Chị em Rose tạm thời được xem là hai thành viên mới của gia đình Winslow. Sống trong môi trường mới, Felicia tìm thấy sự thông cảm và yêu thương thật tình của Rachel. Còn bà Winslow, sao cô cảm thấy khó gần quá!
Felicia theo Rachel đến Rectangle. Cô sớm hoà nhập với công việc phụ làm bếp nơi khu nhà đang xây mà Virginia trông coi. Felicia tỏ ra khá đảm đang với công việc bận rộn và vất vả này. Cô bắt đầu đi dần vào nguyên tắc đời sống hứa nguyện, quyết định làm mọi việc sau khi hỏi và trả lời thoả đáng cho câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?”. Càng ngày, Felicica càng tỏ ra khéo léo trong công việc bếp núc khiến bà Winslow cũng chú ý đến và kinh ngạc. Bà cứ tấm tắc khen cô cháu gái lanh lẹ và xinh đẹp của bà vốn là con cưng của nhà triệu phú, được sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, vậy mà bữa nay đang có mặt trong nhà bếp lửa khói um tùm, tay dính đầy bột, hiền thục và vui vẻ.
Felicia thường cố gắng áp dụng những điều đã học để chế biến nhiều món bánh lạ và ngon rất vừa ý mọi người. Lúc ban đầu, khi cô bắt tay vào việc bếp núc này, bà Winslow đã can ngăn và quở trách:
- Felicia! Không nên dấn thân vào nơi tầm thường đó. Nó không thích hợp cho con đâu! Dì sẽ không cho phép con làm cái công việc phục vụ bẩn tay ấy!
- Tại sao vậy dì? Dì không thích món bánh nướng xốp con đã làm hồi sáng đãi dì với chị Rachel ư?
- Ồ! Thích chứ sao không thích! Con làm bánh nướng xốp rất ngon! Nhưng mà, một đứa con gái, con nhà danh giá, sang trọng như con - Bà dừng lại tằng hắng - Dì thấy nếu đi nấu ăn một cách lam lũ như thế thì không thích hợp tí nào!
- Sao lại không thích hợp nhỉ? Vậy bây giờ con sẽ làm công việc gì khác để kiếm sống đây?
- Làm gì thì từ từ tính sau, nhưng còn đi nấu ăn thì không nên!
- Dì không biết đấy thôi, từ lâu con đã ước mơ sẽ trở thành một đầu bếp giỏi, mở tiệm ăn thật lớn ở Chicago, hoặc ở một nơi nào đó đông dân cư. Bây giờ đến đây, con lại chuyển sang ý định mở tiệm ở khu dân lao động Rectangle. Con sẽ mở lớp dạy thêm các món bánh cho các bà nội trợ ở Rectangle này. Cũng có thể giúp họ những cách nấu ăn thích hợp trong từng tình huống, hoàn cảnh. Con hi vọng với công việc này, con sẽ kiếm sống được và cũng sẽ đủ để nuôi chị Rose, thậm chí còn dư để giúp đỡ người khác nữa đấy! - Felicia nói với vẻ tự tin.
Sau lần đó, bà Winslow không góp ý hoặc ngăn cản cô nữa. Cô tiếp tục nuôi dưỡng hoài bão và hi vọng sẽ biến nó thành hiện thực. Cô vẫn đến phục vụ đều đặn ở nhà bếp của khu dân cư mới tại Rectangle. Vì sự trẻ trung, xinh đẹp và giỏi dang của cô, mọi người ở đó đặt cho cô tên “Thiên thần đầu bếp!” Felicia cầu nguyện, nhờ cậy Chúa mỗi ngày. Cô quyết tâm thực hiện sự hứa nguyện với Chúa tại Hội thánh Nazaret Avenue hồi tháng trước.

Chương 25
Thấm thoát ba tháng đã trôi qua kể từ ngày Mục sư Tiến sĩ Calvin bước lên toà giảng của Hội thánh Nazaret Avenue tại Chicago với sứ điệp về một tinh thần tín đồ mới. Sứ điệp này đã gắn liền với sự hứa nguyện gây xúc động lớn với nhiều biến cố trong Hội thánh. Mục sư Calvin cảm thấy Đức Thánh Linh đang làm việc trên Hội thánh khiến nhiều người hưởng ứng sự kêu gọi hứa nguyện một cách có kết quả mà ông không ngờ được.
Nhưng chính bản thân Mục sư Calvin, ông vẫn chưa thoả mãn về chính mình. Ông cảm thấy ông hô hào, kêu gọi người ta thực hiện sự hứa nguyện, còn chính ông thì chưa thực hiện gì cả.
Sáng nay, Mục sư Edward đến thăm ông. Hai người đang trò chuyện trong phòng đọc sách.
- Calvin à! Anh có biết sáng nay tôi muốn gặp anh để làm gì không? Edward đi ngay vào vấn đề, sau khi hai người đã trò chuyện sôi nổi về sự hứa nguyện của tín đồ Hội thánh Nazaret mà Mục sư Calvin đang chủ toạ.
- Tôi không biết! - Calvin lắc đầu nhưng mắt nhìn thẳng vào mắt Edward, bạn đồng sự của mình.
- Tôi muốn tìm sự đồng cảm ở anh trong vấn đề hứa nguyện. Thú thật với anh, tôi vẫn chưa giữ được sự hứa nguyện của tôi. Tôi cảm thấy khó thực hiện việc bước đi theo Chúa quá!
- Vâng! Chẳng phải đơn giản đâu! Phải can đảm và phải có đức tin tuyệt đối nơi chính Ngài! - Calvin động viên bạn nhưng ông lại cảm thấy hổ thẹn về chính mình vì bản thân ông vẫn chưa can đảm thực hiện sự hứa nguyện của ông. Ông đứng lên đi đi lại lại trong phòng, nghĩ ngợi. Còn Edward vẫn ngồi yên nơi ghế dựa. Ông cũng đang theo đuổi ý nghĩ gì đó với vẻ sâu sắc và lưỡng lự dữ lắm.
- Edward! - Calvin đứng trước mặt Edward - Tôi cảm thấy không hài lòng về chính tôi chút nào cả!
- Về việc gì chứ?
- Về sự vâng giữ lời hứa nguyện. Bây giờ, tôi sẽ tiến hành ý định mới mẻ của tôi để thực hiện sự hứa nguyện.
- Ý định gì?
- Tôi sẽ từ chức mục sư ở Hội thánh Nazaret.
Calvin nghĩ rằng, quyết định này của ông chắc sẽ gây cho Edward nhiều ngạc nhiên lắm. Không ngờ, Edward lại tỏ ra quá bình thản, bình thản đến lạ lùng.
Edward mỉm cười nhẹ nhàng:
- Thật vậy, người bạn đồng sự yêu dấu của tôi. Tôi đoán thế nào anh cũng sẽ làm như vậy nếu anh thực lòng muốn thực thi sự hứa nguyện với Chúa.
- Thế còn anh?
- Về phần tôi, tôi cũng sẽ làm một việc giống hệt anh vừa nói.
Calvin nhướng cặp chân mày lên cao, bước thẳng đến sát Edward, nắm chặt hai bàn tay của Edward, cả hai đều cố nén xúc động.
- Anh cảm thấy cần thiết cho bản thân anh khi thực hiện quyết định này sao? - Calvin muốn hiểu bạn nên dọ hỏi.
- Vâng! Cần thiết chứ! Tôi sẽ nói cho anh nghe lý do của tôi. Nhưng tôi tin chắc đó cũng chính là lý do của anh mà thôi! - Edward mỉm cười tự tin - Calvin! Chắc anh đã biết tôi thi hành chức vụ hầu việc Chúa bao nhiêu năm rồi chứ? Ngay cả công việc và kết quả công việc mà tôi đã làm cho Chúa. Trong số những bạn bè, tôi hi vọng anh là người hiểu tôi hơn cả. Đúng vậy không nào, Calvin? Thế nhưng, có những lúc, tôi hầu việc Chúa chưa được chu toàn cho lắm. Tôi sống quá thoải mái, xa xỉ, với một cuộc sống xa hoa trong một biệt thự sang trọng đẹp đẽ, ăn những món ăn sơn hào hải vị, lại có người hầu kẻ hạ nườm nượp, quần áo, đồ dùng đắt tiền, tiêu khiển cuối tuần với những thú vui vật chất, phung phí tiền bạc, lại có thể đi nghỉ mát hoặc du lịch ở nước ngoài nhiều lần trong năm! Trong khi đó, biết bao người nghèo khổ bên cạnh cuộc đời tôi phải vật lộn với công việc nặng nhọc để kiếm bát cơm hẩm cầm sức từng ngày. Tôi chưa bao giờ biết khổ là gì. Tôi chưa biết được tâm trạng của người cùng khổ, thiếu thốn và đói khát là như thế nào. Bây giờ, khi nhận sứ điệp của Chúa “Hãy trở nên tín đồ mới của Đấng Christ”, tôi đã tự xét mình “Mình đã chịu khổ gì vì cớ Đấng Christ?” và tôi cảm thấy xấu hổ khi cầu nguyện với Chúa. Tôi thật cảm phục sứ đồ Phao-lô - người đã làm một tín đồ mới của Đấng Christ cách đúng nghĩa. Phao-lô đã can đảm chịu khổ rất nhiều vì cớ danh Chúa. Tôi cũng cảm phục Mục sư Henry ở Raymond. Ông ấy đã thi hành tốt chức vụ của mình ở Hội thánh trong tinh thần chịu khổ khi bước theo dấu chân Chúa Giê-xu. Còn tôi, tôi đã chịu khổ những gì để gọi là vì cớ Đấng Christ? Những thử thách vặt vãnh, những sự bực mình cá nhân trong đời sống chăn bầy cho Chúa thì chẳng xứng đáng để được xem là tinh thần chịu khổ vì Chúa được! Thử đem so sánh với Phao-lô, với những vị thánh đồ đã tử vì đạo, hoặc với những tín đồ của Hội thánh Chúa đầu tiên v.v.. tôi thấy mình thật là xấu xa, tội lỗi, hình thức và chỉ là một kẻ đạo đức giả không hơn không kém. Đức Thánh Linh đã nhắc nhở và cáo trách tôi nhiều lắm. Tôi chưa bước theo dấu chân Chúa Giê-xu một cách thực sự. Lương tâm tôi đang lên án tôi mỗi ngày mỗi dữ dội hơn. Tôi kêu gọi mọi người theo Chúa nhưng bản thân tôi thì lại không thực sự bước theo chân Ngài. Tôi e rằng, rồi đây, hệ thống giáo hội cũng sẽ lên án đời sống cá nhân tôi, nếu như tôi cứ giữ mãi tình trạng này! Giữa thành phố xa hoa tráng lệ và nguy nga như Raymond, vẫn đầy dẫy những người khốn khổ và bần cùng, những linh hồn hư mất trong tội lỗi - Edward ngừng lại giây lát, bước đến cửa sổ nhìn xuống đường phố đang đông đúc người qua kẻ lại. Trong một thoáng, ông quay lại và nói tiếp dòng suy nghĩ của mình - Calvin! Ở Chicago chúng ta cũng thế - Một thành phồ hỗn độn, tội lỗi biết bao! Tôi thấy mình sống quá ích kỷ và tầm thường. Tôi chưa san sẻ sự sung túc của mình cho những người nghèo quanh tôi. Xã hội chúng ta đang sống đầy dẫy sự áp bức, bất công và tội lỗi. Nhiều kẻ giàu sang sống phè phỡn trên mồ hôi xương máu của người dân lao động cùng khổ mà vẫn không thấy khó chịu tí nào, ray rứt tí nào. Lắm sòng bài, quán rượu, nhà thổ ô uế, gớm ghiếc vẫn tiếp tục vươn bàn tay tội lỗi ra, cướp lấy những linh hồn tội nhân và cám dỗ, huỷ diệt họ. Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đối diện với những người thất nghiệp đang rên siết, than vãn, hoặc những kẻ lang thang không nhà cửa. Càng sợ hãi bao nhiêu, tôi lại càng tự kết án mình bấy nhiêu. Lời Chúa cứ nhắc nhở tôi trong thời gian gần đây: “còn như ngươi không làm điều đó, cho một trong những người nhỏ nhất của anh em Ta tức là ngươi không làm điều đó cho Ta”. Thế nhưng, tôi đang sống trong một Hội thánh đầy dẫy những tín đồ quý phái, lịch sự, giàu sang, tôi chưa từng kinh nghiệm được ý nghĩa của sự chịu khổ như thế nào. Nếu tôi được sống trong thời Martin Luther, tôi sẽ đưa tấm lưng trần của mình ra để cùng chịu khổ với ông ấy! - Edward hạ thấp giọng xuống, nhìn Calvin. Calvin biến sắc mặt. Ông không ngờ người bạn đồng sự thân thiết của ông đang có những suy nghĩ sâu sắc và trùng với suy nghĩ kín giấu của ông như vậy. Một lần nữa, hai người lại im lặng, cúi đầu cố nén sự xúc động. Sau đó, Calvin lên tiếng:
- Edward! Anh đã nói lên tất cả suy nghĩ của tôi rồi đấy! Tôi cũng đã sống một cuộc sống xa hoa và quý tộc. Tuy nhiên, tôi không thể không nói đến những thử thách và sự ngã lòng của tôi trong những ngày hầu việc Chúa ở nơi đây. Thế nhưng, những điều thử thách lẻ tẻ và nhỏ nhặt ấy chưa đáng để cho tôi hãnh diện rằng mình đã chịu khổ vì Chúa Giê-xu. Lời Chúa cũng đã nhắc nhở tôi luôn luôn: “Đấng Christ cũng đã chịu khổ vì anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em theo bước chân Ngài”.
Tôi cũng có lắm thì giờ nhàn rỗi để tiêu khiển và đi du lịch ở các nơi nổi tiếng mà không phải lo lắng về tiền bạc. Tôi sống sung túc và xa hoa như ông hoàng giữa bao cảnh khốn cùng của người dân lao động quanh tôi. Thế nhưng, ít khi tôi để tâm đoái hoài đến họ. Bây giờ, nghĩ lại, tôi mới giật mình. Hội thánh mà tôi đang phục vụ toàn là giới quý tộc, thượng lưu. Tuy vậy, trong vòng họ, vẫn có nhiều người cùng khốn mà tôi chưa một lần cầu nguyện hoặc giúp đỡ chút ít vật chất cho họ. Đối với giáo hội, tôi không phản đối hoặc thành kiến gì cả, nhưng tôi muốn thực hiện ý định của mình nên tôi sẽ xin từ chức. Tôi e rằng người khác sẽ hiểu lầm về hành động của tôi. Thực sự là tôi yêu mến giáo hội, không phải vì lý do gì từ phía giáo hội mà tôi phải từ chức. Tôi muốn thoả mãn chính suy nghĩ của tôi. Muốn hiểu nỗi khổ của người dân như thế nào thì ít ra tôi cũng phải hoà mình vào cuộc sống của họ. Muốn biết nỗi đau đớn của Chúa Giê-xu thế nào, tôi cũng cần phải vác thập tự giá bước theo chân Ngài đến đồi Gô-gô-tha.
Mục sư Calvin ngừng nói và ngồi xuống ghế, hai tay đan lại, nhíu mày suy nghĩ. Sự im lặng bao trùm căn phòng. Cả hai vị mục sư thâm niên trong chức vụ này đang cùng nghĩ đến một quyết định.
- Calvin! Cuối cùng thì anh quyết định thế nào - Edward hỏi cách chậm rãi, gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên.
- Tôi sẽ thực hiện kế hoạch của tôi - Calvin cũng trả lời cách từ tốn - Một cách vắn tắt cho anh hiểu nhé! Tôi sẽ đưa gia đình đến một nơi trú ngụ nào đó của thành phố, tôi sẽ cố gắng tiếp xúc, gần gũi với đủ hạng người trong xã hội, giúp đỡ họ, làm chứng, dắt đưa họ đến với Chúa. Tôi hy vọng, ở đó tôi sẽ sống cuộc đời Cơ Đốc nhân chân chính cho Chúa!
- Anh dự định sẽ đến khu phố nào?
- Chưa biết nữa! Tôi sẽ cầu nguyện và trả lời cho anh sau.
Hai người tiếp tục thảo luận kế hoạch cho đến tận khuya. Sau đó, cả hai đều đồng ý quyết định: thuê một ngôi nhà tương đối lớn vốn là một kho chứa bia ở trung tâm của một khu phố nhan nhãn quán nhậu, quán bia rượu, cà phê đèn mờ, nhạc xập xình thâu đêm suốt sáng. Đó là một nơi đầy dẫy tội lỗi, dơ dáy và dốt nát. Họ sẽ sửa lại ngôi nhà cho đàng hoàng hơn, đến sống ở đấy và làm chứng cho Chúa, dù cho cuộc sống có khổ sở đến mấy chăng nữa, họ cũng chấp nhận. Họ quyết định chịu khổ vì cớ Đấng Christ, họ muốn thực hiện sự hứa nguyện làm theo như Chúa Giê-xu sẽ làm, khi họ đã nghĩ cách thành thật rằng Ngài sẽ làm như thế.

Chương 26
Trong lúc Hội thánh Nazaret Avenue đang tiếp tục trải qua kinh nghiệm về sự hứa nguyện như ở Hội thánh Raymond, thì Mục sư Calvin đã đến với Hội thánh và tuyên bố xin từ chức. Mọi người còn đang ngạc nhiên vì hành động đột ngột này của vị mục sư đáng mến gắn bó với họ bấy lâu nay, thì ở Hội thánh lân cận, Mục sư Edward cũng xin từ chức. Sự cảm xúc và ngạc nhiên lan nhanh khắp thành phố.
Nhiều người không chịu nổi xúc động vì phải chia tay Mục sư Edward. Họ khóc lóc và can ngăn hành động của ông.
- Nhưng tại sao? Tại sao chứ? Tại sao các bạn lại ngăn cản hành động của tôi chứ?
Mục sư Edward gắt lên và phân trần:
- Nếu tôi và Mục sư Calvin từ chức để đi nghỉ mát đây đó, đi Bombay, đi Hương Cảng, hoặc đi đến bất cứ nơi nào khác ở Phi châu để hưởng thụ hạnh phúc cá nhân thì các bạn hãy phàn nàn chúng tôi. Đàng này, chúng tôi muốn hi sinh địa vị của mình, dấn thân vào chốn ô nhơ, tội lỗi để phục vụ Chúa, nhằm dắt dẫn những linh hồn lạc loài, tội lỗi về với Ngài. Bên cạnh đó, chúng tôi muốn ý thức về sự chịu khổ vì Đấng Christ. Chúng tôi muốn bày tỏ tình yêu thương nhân loại bằng hành động cụ thể và thiết thực!
Sau đó, hai vị mục sư từ giã Hội thánh, bắt đầu bước vào cuộc sống mới cam go, ở một nơi đầy cạm bẫy tội lỗi. Tín đồ Hội thánh Nazaret rất nhớ tiếc Calvin. Họ vẫn tiếp tục thực hiện sự hứa nguyện ngày càng mạnh mẽ và thầm kính trọng vị mục sư uyên bác, tử tế của họ. Đời sống của họ càng ngày càng trở nên thiêng liêng hơn, sống tốt hơn và tiếp tục hiến dâng đời sống cho Chúa trong nhiều công việc khác nhau.
... Trưa mùa đông ở khu định cư - nơi Edward và Calvin vừa đưa gia đình đến ở - thật buồn và vắng. Edward một mình đi bộ ra phố, hi vọng sẽ gặp được một người bạn quen nào đó. Trong khi đang rảo bước, ông để ý thấy có một cửa hàng ăn mới mở, hình thức cũng như cách bài trí khác hẳn những cửa hàng xung quanh. Bên trong cửa sổ của cửa hàng mới này, có một tủ kính đang trưng bày những món ăn lạ, trông có vẻ ngon và hấp dẫn. Ông đứng lại trước cửa sổ và nhìn khắp tủ kính. Chợt, Felicia Sterling từ bên trong đi ra.
- Felicia!
Edward gọi một cách mừng rỡ.
- Con đến đây hồi nào thế?
- Còn ông, làm thế nào ông lại biết con đang ở đây mà ghé đến thế, thưa Mục sư Edward?
Felicia cung kính hỏi và mỉm cười mừng rỡ không kém Edward.
- Tại sao à? Làm thế nào à? Tại vì các món ăn hấp dẫn mà con đang bày bán ở trong tủ đây nè!
Mục sư Edward cười vui vẻ.
- Ông mục sư quá khen đấy thôi - Felicia cười khiêm tốn.
- Này Felicia! Tôi muốn biết lý do con đến khu định cư bẩn thỉu này. Ắt có động lực gì chứ? Con đến đây bằng cách nào mà tôi không biết nhỉ?
- Thưa ông, từ ngày gia đình con có vấn đề như ông đã biết, con và chị con đến xin tá túc ở nhà chị Rachel Winslow ở Raymond. Sau đó, con xin đến đây mở cửa hàng bánh. Con là một chuyên viên làm bánh và chế biến món ăn. Con đang thực hiện một thí nghiệm về việc sử dụng thực phẩm tinh khiết cho dân lao động. Cửa hàng này do con và bà Bascon lo liệu. Con lo làm bánh, còn bà ấy lo bán hàng. Nói chung, con ở đây tương đối ổn định. Con làm công việc bếp núc này nhằm thực hiện ý nghĩa sự hứa nguyện của con với Chúa theo ý nghĩ cá nhân của con, con sẽ nói cho ông biết sau. À, con còn phải trông nhà cho chị Virginia Page nữa. Chị ấy mở một lớp vĩ cầm ở đây và con phải trong coi ngôi nhà ấy. Tình hình của con là như thế! Mục sư thấy thế nào ạ?
- Tốt thôi! Nhớ cầu nguyện nhờ cậy Chúa thêm nhé!
Mục sư Edward trả lời và động viên Felicia.
- Thưa ông, con dự định tự kiếm sống và nuôi chị Rose. Con sẽ đảm nhiệm bữa ăn cho chị em học viên học lớp vĩ cầm của chị Virginia. Khi công việc đã ổn định, con sẽ thực hiện ý định dâng hiến của con cho Chúa.
- Thật vậy hả?
Mục sư Edward hỏi với một chút ngờ vực.
- Con định thực hiện ý định gì đấy? Làm mấy mẩu bánh kia để ăn đỡ đói ấy hả?
Edward cười chế giễu.
- Ông đừng đùa! Con sẽ cho ông biết, thưa mục sư! Ông cũng đừng xem thường mấy thứ kia.
Felicia trỏ tay về phía tủ bánh.
- Đấy ông xem! Những chiếc bánh đó là sản phẩm của bột tinh khiết nhất và được chế biến kỹ lưỡng.
- Tôi không nghi ngờ về điều ấy! Vấn đề là ở ý nghĩa của công việc cô bé ạ! Để tôi xem thử nào!
Ông đến sát tủ bánh, nhìn như dán mắt vào những chiếc bánh pút-đinh xinh xắn
- Con còn biết làm những thứ bánh khác nữa chứ?
- Tất nhiên, thưa ông! Thôi, con mời mục sư vào dùng một ít bánh pút-đinh để biết được tài nghệ của Felicia này chứ!
Felicia cười thành tiếng.
- Con đoán không lầm thì hình như cả tháng nay mục sư chưa được ăn một bữa bánh pút-đinh nào thì phải? Nào, con mời ông vào bàn bên trong. Con mời thực tình đấy! Xin ông đừng ngại!
Felicia khăng khăng mời cho bằng được Mục sư Edward đi vào phòng khách nho nhỏ ở phía trước. Ở đó, cô Martha - người bán hàng - trong bộ đồng phục trắng đang tập đưa bước một điệu nhảy.
- Cứ tiếp tục đi, Martha! Martha nghe tiếng Felicia, vội dừng lại, nhìn chăm vào người khách lạ, Felicia liền giới thiệu:
- Martha! Đây là Mục sư Edward mà em đã nhiều lần kể cho chị nghe đó, chắc chắn chị còn nhớ chứ!
Martha gật đầu chào Edward, Felicia đon đả:
- Kìa! Sao mục sư có vẻ ngờ vực thế? Nào, xin mời ông ngồi xuống đây thử thưởng thức một vài món cho biết! Đây con sẽ mời ông nếm món thịt hầm đặc biệt kiểu Ai-cập. Tuyệt vời lắm ông ạ! Con đoán không nhầm: mục sư đang đói phải không? - Felicia cười liến thoắng.
Thế là họ cùng ăn với nhau một bữa trưa không hẹn trước nhưng rất vui vẻ. Mục sư Edward được ưu đãi đặc biệt trong bữa ăn.
- Thế nào, thưa ông? Con nghĩ ông sẽ khen bữa ăn hôm nay quá tuyệt vời, chẳng khác nào các bữa tiệc lớn ở nhà hàng, phải không ông?
Felicia cười ranh mãnh.
- Ừ, thì ngon bằng, nhưng cũng phải nhờ vào tài tán khéo của con đấy, cô bé ạ!
Edward nheo mắt, gật gù, hiền từ như một người cha khả kính.
- Ở nhà hàng thì chỉ được tiếng sang, chứ không ngon bằng ở đây đâu! À, nè Felicia! Tôi rất ngạc nhiên khi gặp lại con, lại càng ngạc nhiên hơn khi khám phá ra cách sinh nhai của con. Tôi hỏi thật nhé! Con có cần sự trợ giúp gì nữa không? Tôi sẽ cố gắng. À, Felicia nè!
Edward chuyển đề tài.
- Những món ăn của con đã gây được uy tín đối với mọi người ở vùng này chưa?
- Dĩ nhiên là có chứ! - Felicia trả lời nghiêm nghị - Đó là tin mừng cho con. Con thấy công việc của mình đang có đường hướng tiến triển tốt đẹp. Con sẽ tiếp tục thực hiện sự hứa nguyện của con trong những ngày tới.
- Thật cám ơn Chúa! Cầu xin Chúa ban phước dư dật trên công việc của con!
Mục sư Edward nói một cách chân thành.
Sau bữa ăn trưa, Felicia đã theo Mục sư Edward đến khu định cư, nơi ông Edward đang trú ngụ. Cô muốn thăm viếng và làm quen với một số người mới đến ở đó. Hai người vừa rảo bước vừa trò chuyện không ngớt.
Khi đến đầu dãy nhà, Mục sư Edward dẫn Felicia vào thăm một xưởng mộc nhỏ nhưng được trang bị đầy đủ. Các thợ mộc đang làm việc ở đấy. Một thanh niên trẻ vừa huýt sáo vừa đang bào gỗ. Anh đội một chiếc nón rộng vành làm bằng giấy trông rất ngộ nghĩnh.
Nghe tiếng động, anh ngước lên ngả nón chào Edward và Felicia.
- Xin giới thiệu với cô Felicia, đây là anh Stephen Clyde!
Edward chìa một tay về phía anh thanh niên.
- Anh Clyde là một trong số bốn người làm việc ở đây vào hai buổi chiều một tuần.
Bỗng có một người đến gọi ông Edward lên lầu có người cần gặp. Edward lật đật cáo lỗi và theo người ấy đi lên lầu. Trong xưởng chỉ còn Felicia và anh thợ mộc trẻ.
- Chào anh! - Felicia dè dặt.
- Xin lỗi hình như tôi đã gặp anh ở đâu rồi thì phải? - Cô nhìn thẳng Clyde.
- Vâng, chúng ta đã gặp nhau từ trước, tôi cũng nhớ như vậy!
- Thế thì... Tôi rất vui khi gặp lại anh!
Felicia cười hồn nhiên.
- Felicia, cô đã gặp phải sự bất hạnh trong thời gian qua.
Clyde vừa nói vừa run run, anh e sợ gợi lại chuyện đau thương cũ sẽ làm cho Felicia buồn.
- Thế nhưng, cô đã vượt lên trên hoàn cảnh và đã làm những việc có ích, tôi thành thật cảm phục và xin chúc mừng cô! Cô là một người có bản lĩnh và can đảm.
- Anh quá khen đấy thôi! - Felicia mắc cở, đỏ ửng đôi gò má - Tôi thấy anh cũng vậy. Anh cũng là một người can đảm. Làm thế nào mà anh lại đến làm việc ở đây thế?
- Chuyện dài lắm Felicia ạ!
Clyde nói với vẻ buồn rầu, anh vẫn không ngưng tay bào:
- Kể từ khi cha tôi sập tiệm, lỗ lã tiền bạc quá nhiều, gia đình tôi trở nên túng bấn, buộc tôi phải đi làm bất cứ công việc gì để sống qua ngày. Thế nhưng, đến nay Chúa đã cho tôi làm được công việc khá tốt. Tôi đang bằng lòng với cuộc sống hiện tại mà Chúa đã ban cho. Hai buổi chiều mỗi tuần tôi làm ở đây, còn lại thời gian tôi học về thương mại, hi vọng khi tôi ra trường sẽ được xã hội trọng dụng. Tôi còn tham gia làm thư ký vào ban đêm cho một khách sạn. Nè, Sterling cô biết không? Hôm sáng Chúa nhật mà cô hứa nguyện ở Hội thánh Nazaret Avenue đấy, tôi cũng có hứa nguyện cùng với một số bạn bè cùng trang lứa với chúng ta nữa đó!
- Ồ thế thì tốt quá!
Felicia reo lên mừng rỡ, gương mặt cô sáng hẳn lên, trông cô thật xinh xắn.
Đúng lúc đó, Mục sư Edward quay trở lại. Ông cùng Felicia rời khỏi xưởng mộc. Clyde trở lại với công việc của mình một cách chăm chỉ. Có một điều, anh huýt sáo to hơn, vui vẻ hơn trong khi bào gỗ.
- Felicia! - Mục sư Edward nhìn Felicia - Trước đây con có biết anh chàng thợ mộc này chưa?
- Stephen Clyde ấy hả?
Felicia đi chậm lại.
- Chúng con là bạn cũ của nhau và cùng sinh hoạt ở Hội thánh Nazaret Avenue đấy!
- Thế à!
Edward ngạc nhiên vì sự tình cờ này.
- Thế là chúng ta có thêm một người bạn tốt!
- Vâng! Anh ấy rất tốt! Chúng con là những người bạn tốt của nhau đấy ông ạ!
- Không những là bạn tốt mà còn là.... gì gì nữa chứ?
Edward cười trêu Felicia.
Mặt Felicia ửng hồng lên tức thì. Xong, cô nhìn thẳng mục sư, trả lời rành rọt:
- Thưa ông! Chẳng là gì khác đâu. Thật tình mà nói chúng con chỉ là bạn mà thôi.
- Biết đâu, trong tương lai, Chúa sẽ sắp đặt cho các con...
- Con không dám nói trước điều gì!
Hai người tiếp tục đến thăm một số căn hộ mới xây ở cuối dãy khu định cư. Sau đó Felicia chia tay Mục sư Edward. Cô còn phải bận rộn với công việc ở tiệm ăn.
Tuần lễ tiếp theo, vào một buổi tối Mục sư Edward đi công chuyện và trở về nhà trễ. Ông đang đi bộ chậm rãi, hay tay chắp sau lưng. Thình lình, hai bóng đen từ phía hàng rào cũ, nằm gần một xưởng máy bỏ hoang, nhảy xổ ra chận đường ông. Một tên cao to trong hai tên dí nòng súng lục đen ngòm, lạnh ngắt vào mặt ông. Tên còn lại dùng một cây cọc rào, lởm chởm đinh như vừa mới nhổ từ hàng rào kia dứ dứ đe dọa ông.
Tên có súng rít qua kẽ răng:
- Đứng yên! Giơ tay lên!
Ông Edward liếc mắt quan sát bốn phía, ông không nghĩ đến việc kháng cự. “Ở đây vắng vẻ quá?” - Ông tự nhủ thầm và bình tĩnh yên lặng làm theo yêu cầu của hai tên lạ mặt. Ông cảm thấy không run sợ chút nào. Bọn cướp bắt đầu lục soát các túi áo, túi quần của ông.
Ông đưa hai tay lên trời, để mặc cho bọn cướp lục soát, trong lúc đó, ông lầm rầm cầu nguyện xin Chúa tha tội và cứu hai kẻ này. Thái độ ông bình thản lạ lùng, và thật sự lời cầu nguyện của ông đã được Chúa trả lời một cách phi thường, kỳ diệu ngay chính đêm hôm đó.

Chương 27
“Sự công bình sẽ đi trước Ngài và sẽ đặt chúng ta
trong lối đi của các bước chân Ngài”
Mục sư Edward mỗi khi ra đường không có thói quen mang theo nhiều tiền. Tên cướp cầm cọc rào sau khi lục soát khắp người ông, thấy chỉ vẻn vẹn mấy đồng bạc cắc, hắn văng tục và buông ông ra. Tên cầm súng lục lại rít qua kẽ răng, ra lệnh cho đồng bọn:
- Hãy lột đồng hồ của nó! Chúng ta cũng có thể kiếm chác chút ít từ chiếc đồng hồ này!
Tên cầm cọc rào sắp sửa móc tay vào dây đồng hồ trên cổ tay ông Edward thì hắn giật thót mình vì có tiếng động khẽ và tiếng bước chân đang tiến gần về phía hắn.
Tên cầm súng vội dí súng vào thái dương trái của Edward, hắn nói nhanh:
- Nếu mày muốn sống thì ngay bây giờ phải câm họng, cùng tụi tao nấp vào phía sau hàng rào này!
Hắn đẩy mạnh Edward nhào về hướng chân hàng rào, kéo ông ngồi thụp xuống. Đợi cho tiếng bước chân đi qua xa dần, hắn lại lôi Edward đứng dậy và tiếp tục dở trò:
- Ê! Đồng hồ đeo tay đâu?
- Hắn có đeo đồng hồ, nhưng dây đồng hồ bị vướng quá, giật ra không được.
Tên cầm cọc nói với vẻ bực mình. Xong hắn lại chửi thề.
- Vậy thì bẻ mặt đồng hồ đi!
- Đừng! Xin các anh đừng bẻ gãy nó. Vì đó là quà lưu niệm của người bạn thân nhất của tôi. Nếu nó bị bẻ gãy chắc tôi sẽ đau khổ lắm!
Ông Edward năn nỉ một cách thảm thiết. Bất chợt, tên cướp dùng tay không cầm súng bấu chặt vào tai trái của Edward và thật lanh lẹ, hắn xoay mặt ông về phía ánh đèn đường lờ mờ ở đầu đường bên kia hắt sang. Hắn nhìn trân vào mắt ông trong một vài giây. Đoạn hắn nói to như ra lệnh cho tên cầm cọc:
- Ê! mày! Để chiếc đồng hồ lại cho nó! Chỉ lấy tiền mặt thôi!
- Chỉ vẻn vẹn có năm mươi xu! Mẹ kiếp! Đồ kiết xác!
Tên cướp cầm cọc hét vào mặt ông Edward. Hắn vẫn không chịu nghe lời tên cầm súng, tiếp tục loay hoay bứt dây đồng hồ của Edward. Bất giác, hắn ngước mắt nhìn lên, họng súng lục đen ngòm của tên đồng bọn đang chỉa thẳng vào mặt hắn. Hắn run lên, ngạc nhiên:
- Mày định giở trò gì thế?
- Mày buông ngay người này ra, nhanh lên! Trả hết tiền lại cho ông ta! Nào nhanh lên!
- Nhưng tại sao?
- Đây là ông mục sư.
Tên cướp cầm súng giải thích cho đồng bọn.
- Ông ta là mục sư thì có liên quan gì đến công việc của chúng ta chứ! Tổng thống Hoa-kỳ còn chưa thấy gì, huống chi một mục sư quèn như tên này!
- Tao nói mày có nghe không? Nếu mày, nếu mày...
Tên cầm súng dằn từng tiếng:
- Không buông ông ta ra ngay và đợi năm giây đồng hồ nữa, mày không trả tiền lại cho ổng, tao sẽ bắn nát sọ mày ra!
Tên cầm cọc ngần ngừ vài giây, hắn suỵt một tiếng tỏ vẻ bực tức và dúi số tiền vừa cướp vào túi áo của Edward. Tên cầm súng chúi nòng súng xuống đất và đổi giọng nhẹ nhàng như biết lỗi:
- Thưa ông! Ông có thể bỏ tay xuống!
Edward từ từ hạ tay xuống. Ông cố gắng nhìn kỹ gương mặt và dáng người của hai tên cướp. Tuy đã được tự do, ông vẫn đứng như trời trồng thay vì bước vội đi, khiến bọn cướp ngạc nhiên.
Tên cướp cầm súng hỏi:
- Sao ông không chịu đi? Còn lý do gì nữa mà ông phải nấn ná lại với bọn tôi?
- Còn chứ! Còn lý do nên tôi chưa muốn rời khỏi các anh!
Mục sư Edward điềm tĩnh nói.
- Ông muốn gia nhập băng của chúng tôi hả?
Tên cướp cầm cọc ngồi phịch xuống hòn đá ven lộ, dí cái cọc xuống đất, cười ngạo nghễ và hỏi Edward.
- Ê! Câm mõm mày đi! Mày và tao đang trên đường lao nhanh xuống địa ngục. Đó là điều chắc chắn. Chúng ta cần phải có những người bạn tốt hơn là ma quỷ!
Tên cầm súng vừa nói với đồng bọn cách bực bội, vừa cất súng vào túi áo bành-tô.
- Các anh cho phép tôi được giúp đỡ các anh!
Mục sư Edward nói cách dịu dàng. Tên cầm súng ban nãy nhìn trân trân vào mặt Edward. Sau một lúc im lặng, anh ta hỏi chậm rãi:
- Thưa mục sư! Ông thử nhớ lại xem, ông đã gặp chúng tôi lần nào vào trước đây chưa?
- Chưa! Vả lại ngoài đường vào buổi tối ánh sáng không rõ lắm nên tôi ít nhìn thấy rõ mặt người khác!
Edward trả lời cũng chậm rãi.
- Bây giờ thì ông đã biết tôi chứ?
Người đàn ông thình lình ngả nón ra, tiến sát lại đứng trước mặt Edward gần như chạm vào mặt ông. Tóc người đàn ông đen như mun ngoại trừ một đốm màu trắng trên đỉnh đầu bằng mu bàn tay. Edward ngó chăm chăm vào đầu tóc hai màu đặc biệt này một hồi. Ký ức của mười lăm năm về trước sống dậy trong ông. Ông đã mang máng nhớ ra người đàn ông đang đứng trước mặt ông là ai rồi.
- Ông không nhớ ư? Vào một ngày trong năm 81, có một người đàn ông rách rưới bước vào nhà ông và kể cho ông nghe chuyện vợ con anh ta đã bị chết cháy trong vụ hoả hoạn ở Nữu Ước?
Giọng anh ta trầm xuống, buồn buồn.
- Vâng, bây giờ thì tôi đã nhớ ra rồi!
Edward gật đầu. Người đàn ông cầm cây cọc dường như đã bắt đầu chú ý câu chuyện, hắn ngưng dí cái cọc xuống đất và đứng lặng yên lắng nghe.
- Ông còn nhớ không? Đêm đó ông đã đưa tôi về nhà và suốt ngày hôm sau ông đã bỏ công đi tìm việc làm cho tôi. Ông đã giúp tôi tìm được một chân đốc công ở một kho hàng.
Người đàn ông ngưng giây lát như nghĩ ngợi điều gì, chợt anh ta ngước nhìn vào mắt Edward.
- Thưa mục sư! Tôi còn hứa với ông sẽ bỏ uống rượu nữa...
- Thế anh có giữ được lời hứa ấy không? Bây giờ tôi đã thực sự nhớ ra anh là ai rồi! - Edward nói với vẻ mừng rỡ thực tình.
- Ha! Ha!
Người đàn ông có đốm tóc trắng trên đỉnh đầu cười lên man rợ. Anh ta đấm mạnh tay vào hàng rào cây trước mặt với vẻ thù hận điều gì ghê gớm. Anh ta gằn từng tiếng:
- Ông hỏi tôi có giữ lời hứa ấy không à? Hứ! Còn lâu! Tôi đã uống lại sau một tuần lễ tập cai để giữ lời hứa tồi tệ đó với ông. Lúc uống lại, tôi uống còn nhiều hơn trước nữa là đằng khác. Thế nhưng, tôi chẳng bao giờ quên được ông và lời cầu nguyện của ông cho tôi. Ông còn nhớ buổi sáng trời mưa, tôi đến nhà ông sau bữa điểm tâm, ông gọi tôi vào nhà và cầu nguyện cho tôi. Thú thật, lúc đó tôi bối rối lắm vì không biết có nên hay không nên làm theo yêu cầu của ông. Thế nhưng thưa ông, lúc đó tôi chợt nghĩ đến mẹ tôi. Bà ấy cũng thường cầu nguyện trong phòng riêng. Khi tôi còn bé, lúc tôi bệnh, mẹ tôi đến và quỳ gối bên giường cầu nguyện cho tôi. Ngay thì giờ đó, bố tôi bước vào phòng, độc ác đá mẹ tôi một cái thật mạnh, ông ấy chúa ghét ai cầu nguyện! Đến nay, thời gian trôi qua khá lâu, nhưng tôi vẫn nhớ tới lời cầu nguyện của ông vào sáng hôm đó. Ông đã cầu nguyện cho tôi giống như mẹ tôi vẫn thường làm. Dường như ông chẳng hề để ý gì đến vẻ rách rưới, tiều tuỵ của tôi trong lần đầu tiên tôi đến bấm chuông cửa nhà ông.
Ôi! Tôi đã sống một cuộc đời khốn nạn biết bao! Nhà tôi ở chính là quán rượu ông ạ! Nơi ấy là địa ngục trần gian của tôi. Tôi thấy mình bị trói buộc và lệ thuộc vào nó như một tên nô lệ. Ông đã từng bảo tôi hứa không uống rượu nữa chứ gì? Tôi đã đánh mất lời hứa ấy trong vòng chưa đầy hai tuần. Ông có xin cho tôi một việc làm nhưng tôi đã không làm ở đó được bao lâu, chỉ được hai ngày mà thôi! Vâng! Tôi bị chủ đuổi và bị cảnh sát bắt vì tội gây rối loạn trật tự trị an. Tôi sống rất khốn khổ với những ngày kế tiếp đó, nhưng có một điều lạ: tôi không thể nào quên được những lời cầu nguyện mà ông đã dành cho tôi. Thưa mục sư! Tôi là người đã chịu ơn ông. Cho nên, thì giờ này, tôi không muốn làm điều gì phiền toái đến ông. Ông có thể rời khỏi chúng tôi một cách dễ dàng!
Mục sư Edward đứng im như phỗng. Đâu đây, tiếng chuông đồng hồ nhà thờ thong thả buông một tiếng. Lặng đi một vài giây, Edward mới lên tiếng:
- Các anh đã làm việc này bao lâu rồi?
- Hơn sáu tháng nay.
Người đàn ông ban nãy cầm cọc rào trả lời.
- Kể từ khi chúng tôi thất nghiệp, quẫn và chán chường quá, quay sang làm công việc tồi bại và vô lương tâm như vầy. Đây là một công việc quá khốn nạn và buồn rầu cho chúng tôi. Nhiều đêm chúng tôi bắt hàng mấy người đưa tay lên như ông ban nãy nhưng chả lục soát được gì sất!
- Giả sử tôi tìm công việc tốt cho hai anh làm, liệu hai anh có chịu bỏ nghề này để làm công việc ấy không?
- Làm công việc gì mới được chứ? À, mà làm người lương thiện để làm chi? Cuộc đời này vô nghĩa lắm. Ha! Ha! Ha! Tôi đã thử cải tạo lấy chính mình hàng trăm lần nhưng đâu lại hoàn đấy, ngựa quen đường cũ ông ạ! Ma quỷ đã ngăn cản tôi làm việc tốt. Ông nói điều này ra quá trễ.
- Không! Các anh đừng nghĩ thế! Không trễ đâu!
Mục sư Edward nói một cách cương quyết. Ông đang cầu nguyện trong tâm tưởng: “Lạy Chúa Giê-xu, xin Ngài cứu lấy hai linh hồn hư hoại này, con xin dâng họ trong tay Ngài”.
- Không!
Edward lại buột miệng kêu lên một cách cương quyết một lần nữa.
- Đức Chúa Trời đang có chương trình cứu rỗi dành cho hai anh. Này Burns! Nếu bây giờ anh và bạn anh đồng ý về nhà tôi nghỉ ngơi, sáng mai tôi sẽ tìm cho hai anh công việc làm tử tế. Tôi tin tưởng vào sức lực và khả năng của các anh. Các anh còn quá trẻ, không nên sống một cuộc đời vô nghĩa. Tôi yêu thương các anh, xem các anh là những người anh em. Đức Chúa Trời vĩ đại đã yêu thương tôi và đặt để trong tôi tình yêu ấy. Tôi không thể chịu nổi khi nhìn thấy linh hồn của người anh em mình đi vào sự hư mất. Chúa đã chết thế cho tôi và cho các anh trên thập tự giá rồi. Ngài chết để cứu chúng ta, vậy cớ sao chúng ta không chịu nhận lãnh sự cứu rỗi của Ngài? Các anh ạ! Hãy đến với Chúa, Ngài sẽ giúp các anh làm lại cuộc đời, đồng thời Ngài cũng sẽ ban cho các anh sự sống đời đời nữa. Bây giờ, tôi xin được phép cầu nguyện cho các anh: Lạy Chúa! Xin quyền năng Thánh Linh Chúa tác động đến hai linh hồn này, cứu họ thoát khỏi lửa hoả ngục đời đời...
Burns được Chúa cảm động, ôm mặt thổn thức trong sự ăn năn. Anh ta chợt nhớ đến những lời cầu nguyện của mẹ mình, cũng hiền từ, ân cần và chan chứa tình yêu thương như vầy. Người đàn ông còn lại tỏ ra cứng lòng, thản nhiên ngồi đan hai bàn tay vào nhau, nhìn chăm Edward.
Sau khi cầu nguyện xong, Mục sư Edward quan sát hai người đàn ông, đoạn ông bảo:
- Này, những người anh em của tôi! Đức Chúa Trời sẽ vùa giúp chúng ta. Bây giờ các anh hãy theo tôi về khu định cư nghỉ ngơi. Sáng mai, tôi sẽ thực hiện lời hứa, xin việc làm cho các anh.
Lần này Edward đã nhìn thấy trên khuôn mặt của cả hai tên cướp lộ một vẻ ăn năn, kinh ngạc và pha lẫn sự sợ hãi. Cả hai đứng dậy lẳng lặng bước theo sau mục sư. Họ về đến khu định cư vào lúc hai giờ sáng. Edward mời hai người vào nghỉ tại một phòng nhỏ, thoáng mát.
- Cầu xin Thượng Đế ở cùng và ban phước trên các anh!
Ông nói rồi đi ra, khép cửa lại...
Thời gian còn lại của đêm đó, Edward chân thành quỳ gối cầu nguyện cho Burns và bạn của anh ta. Sáng ra, ông vội đi liên hệ công việc cho họ theo như lời hứa của ông đêm qua. Burns được giao làm phụ việc cho một người gác cổng khu định cư. Anh bạn của Burns được nhận vào làm công việc đánh xe bò cho một hãng sản xuất xe bò nằm gần khu định cư.
Edward rất đỗi vui mừng vì Đức Thánh Linh đang bắt đầu thăm viếng, tái sanh đời sống cho hai tên cướp tội lỗi này.

Chương 28
Burns đang cặm cụi quét tước các bậc tam cấp phía trước khu định cư. Bất chợt, anh ngước mắt nhìn qua bên kia đường. Một tấm bảng hiệu nổi rõ màu sơn “Rượu - bia” dựng trước hai quán rượu lớn đập vào mắt anh. Đảo mắt xuống phía góc đường sát kế đó, anh thấy ba quán bia nữa nối dài.
Từ quán rượu gần nhất cánh cửa thình lình mở ra và một người đàn ông ngất ngưỡng bước ra theo. Hai người đàn ông khác xăm xăm đi vào quán rượu ấy. Mùi bia, rượu phả ra nồng nặc, bay đến chỗ Burns lúc anh đang đứng ở bậc thềm. Anh nắm chặt cán chổi, mím môi quét lấy quét để. Mồ hôi túa ra nhễ nhại trên trán anh mặc dù thời tiết lúc này đang băng giá, lạnh ngắt. Cánh cửa quán rượu lại mở ra lần nữa và ba bốn người bước ra. Thoáng một đứa nhỏ chừng lên mười bước vào với cái xô nhựa trống trên tay. Lát sau nó đi ra với khoảng một lít bia trên tay. Nó băng qua đường và đi sát về phía Burns. Mùi bia nồng bay lên mũi anh. Anh bước xuống thêm một bực thềm nữa, cố gắng không để ý đến xô bia, tay cầm chặt cán chổi như muốn bật máu, từng ngón tay thâm tím bấu vào cán chổi. Anh quét như thể một cái máy đã được ấn nút, bất kể đang quét cái gì. Chợt, anh quay phắt lại, nhích người bước lên một bậc thềm và quét lia quét lịa trên chỗ anh vừa quét xong. Burns cảm thấy có một sức mạnh kỳ lạ thôi thúc anh bước ngược lên bậc thềm vừa được quét.
Anh kêu lên một mình:
- Lạy Chúa! Chúa ơi! Cầu Chúa khiến Mục sư Edward tới ngay với con!
Ban nãy, anh có nhìn thấy Edward đi ra với Tiến sĩ Calvin. Vắng Edward, tự dưng anh cảm thấy sợ hãi, sự sợ hãi pha lẫn sự đau đớn vì có một sự đấu tranh tư tưởng dữ dội đang diễn ra trong tâm trí Burns. Anh cảm thấy nước giãi ứa ra khi liếc mắt về phía quán rượu. Khuôn mặt anh nhăn nhó. Anh cố gắng không nhìn về phía quán rượu, lúi húi quét phía góc trong cổng khu định cư. Khoảng vài ba phút sau, anh nhìn xuống những bậc thềm ở dưới thấp. Một bậc thềm bị anh bỏ sót, chưa được quét. Anh dí cây chổi và bước xuống dần để quét cho xong. Tuy quét đã sạch rồi nhưng không hiểu sao, anh cứ quét đi quét lại mãi đến hơn chục lần. Mồ hôi ràn rụa trên mặt anh và nhỏ xuống chân anh.
Burns cảm thấy thèm rượu dễ sợ. Anh đang đứng ở vị trí gần cửa quán rượu nhất. Mùi rượu, bia bốc lên xung quanh anh. Burns thả cây chổi xuống, dần bước đến trước cửa quán rượu hồi nào không hay. Anh bỏ nón xuống, kéo vạt áo lau mặt. Môi anh thâm tím và hai hàm răng va vào nhau lập cập vì trời quá lạnh. Anh run rẩy cả người, đứng không vững. Anh như thấy trước mặt anh, cửa địa ngục sâu thẳm mở ra, mùi lưu huỳnh từ trong nơi tội lỗi gớm ghiếc ấy bốc lên phủ trùm anh khiến anh choáng váng. Bên trong cửa kính quán rượu, từng chai bia và rượu mạnh được xếp chồng lên nhau từng hàng như hình kim tự tháp hàng lô hàng lốc trông rất hấp dẫn. Burns liếm môi, bước tới sát cửa kính, nhìn một cách lén lút. Anh tưởng chừng như hương vị của rượu Whicky đậm đặc đang để sát mũi miệng mình. Anh liều mạng cầm nắm đấm cửa. Con ma men trong anh đang tiếp sức mạnh cho anh. Thình lình, một bóng người cao lớn tiến nhanh về phía sau lưng anh. Đó chính là Mục sư Edward. Ông vội vàng nắm cánh tay Burns kéo ngược anh ra phía đường cái. Nhưng thật phũ phàng, trong cơn nghiện điên cuồng, Burns hét lên man rợ lời nguyền rủa và thẳng tay giáng vào mặt Edward một cú đấm. Cú đấm quá mạnh nên đã cắt một vệt dài và sâu ngang trên má Edward. Nén đau đớn, Edward không thốt ra một lời. Ông chỉ nhìn Burns với cái nhìn buồn bã vô cùng. Ông cố gắng dùng hết sức bình sinh của mình kéo lê Burns lên các bậc thềm cổng và dìu anh ta vào trong phòng. Ông đặt Burns ngồi dựa lưng vào tường. Gương mặt Burns biến sắc vì anh vừa kịp nhận ra rằng mình đã dã man đánh người đã yêu thương và cưu mang mình. Anh hối hận lắm, người anh cứ mềm nhũn ra. Anh ý thức được hành động vừa rồi của mục sư. Ông đã kéo anh ra khỏi sự đổ nát linh hồn lần thứ hai. Anh quỳ xuống đưa tay ôm lấy mặt vừa khóc thút thít như đứa trẻ, vừa cầu nguyện ăn năn với Chúa. Mục sư đứng thở hổn hển vì mệt, ông nhìn Burns với một lòng yêu thương mà đáng lý ra ông phải tức giận.
- Burns! Hãy cầu nguyện với Thượng Đế đi! Cầu nguyện như thể anh chưa bao giờ cầu nguyện trước đây. Sự ăn năn của chính anh trong thì giờ này sẽ cứu anh thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thượng Đế!
- Lạy Chúa! Ôi! Mục sư ôi! Xin ông hãy cầu nguyện giúp tôi! Xin ông cùng cầu nguyện với tôi! Ôi! Chúa ôi! Xin cứu con!
Burns la lên trong tiếng khóc ồ ồ.
- Chúa ôi! Xin cứu kẻ khốn nạn này! Ôi! Xin Ngài cứu con thoát khỏi địa ngục của con!
Edward quỳ xuống bên Burns và cầu nguyện cho anh ta. Ông cầu nguyện như thể chỉ có một mình ông trong phòng.
Sau vài tiếng đồng hồ, hai người đứng dậy và đi về phòng riêng của mình. Burns bước đi khúm núm như một đứa bé phạm lỗi. Edward chầm chậm đi về phòng vệ sinh rửa mặt. Qua tấm gương trên tường ngay bồn nước, nhìn thấy vết cắt trên má đã khô vết máu, ông cảm nhận được kinh nghiệm vác thập tự giá bước theo chân Chúa Giê-xu là thể nào. Ông thấy vui sướng vì đã mang trên mình phần nào những lằn roi, dấu vết mà Ngài đã mang. Rửa mặt xong, ông đi ra cổng khu định cư. Ông cảm thấy đau buồn khi nhìn thấy các quán rượu xếp hàng dài ngoài phố với mùi bia rượu đầy sức cám dỗ, giăng bẫy cho những người như Burns.
Ông bước từng bước chậm và cầu nguyện:
- Chúa ơi! Cho đến bao lâu nữa thì cảnh này không còn? Xin Ngài gìn giữ Burns không phạm tội nữa!
Có tiếng bước chân nhè nhẹ quen thuộc phía sau. Edward quay lại, tiến sĩ Calvin bước đến sát người bạn già của mình.
- Edward! Anh đang suy nghĩ về những quán rượu này à? Chúng ta có thể làm gì được khi các cơ quan có thẩm quyền lại làm ngơ, thậm chí cấp giấy phép cho các nhà sản xuất rượu bia hoạt động. Chống lại các quán rượu trong thành phố này à? Khó đấy! Vì nó đã được thiết lập chắc chắn, chẳng khác nào sự thiết lập các Hội thánh hoặc sự thiết lập nền chính trị.
- Chúng ta không làm được nhưng Chúa chúng ta sẽ làm được việc này! Tôi tin chắc như thế! Nhưng này, Calvin! Tôi không hiểu ai là chủ của những mặt bằng và những nhà quán đã cho những tay buôn rượu kia thuê và bán rượu thế?
Edward vừa nói vừa chỉ tay về phía các quán rượu bên kia đường.
- Tôi cũng không rõ nữa! Nhưng hi vọng tôi sẽ hỏi được!
Calvin trả lời.
Hai ngày sau, Calvin đến phòng làm việc của một tín đồ thuộc Hội thánh Nazaret Avenue, Hội thánh cũ của ông. Người tín đồ này chính là chủ của những nhà quán cho thuê kia.
- Clayton! Anh nghĩ thế nào mà lại cho người ta thuê những căn nhà đó để bán rượu? Anh có thấy hậu quả tai hại đến mức nào không?
Sau một vài phút thăm hỏi, Calvin đi thẳng vào vấn đề.
Clayton ngồi im, máu nóng dồn lên mặt khiến khuôn mặt anh đỏ lựng. Thế nhưng một lát nó lại chuyển sang tái xanh. Anh đưa hai tay ôm đầu, gục xuống bàn. Chợt, anh ngẩng lên, nước mắt lăn trên má:
- Thưa mục sư! Ông có nhớ rằng tôi là một trong số những người đã tham gia hứa nguyện ở nhà thờ Nazaret?
- Vâng! Tôi nhớ.
- Thế ông có biết tôi đã gặp phải hoàn cảnh gì không khi tôi cố bám giữ sự hứa nguyện mà ông kêu gọi?
Không đợi Calvin trả lời, Clayton lại nói tiếp:
- Tôi đã thất bại nặng nề trong công việc kinh doanh. Không còn biết xoay sở thế nào nữa, tôi đem cho người ta thuê mặt bằng và các nhà quán để họ bán rượu. Từ mối đầu tư này tôi thu lợi rất nhiều. Ôi! Thưa ông, tài sản các quán rượu đó là sự cám dỗ của ma quỷ đối với tôi. Tôi cố rứt ra nhưng không rứt được, tôi buồn rầu và hối hận lắm về những việc tôi đã làm. Vì một mối lợi nhỏ ở thế gian, tôi đã chối bỏ Đấng Christ. Tôi biết chắc rằng Ngài sẽ không bằng lòng và không bao giờ chịu cho người ta thuê các bất động sản đó để thực hiện việc bán rượu như vậy. Mục sư ơi, ông hãy mắng tôi một lời nào đi!
Clayton nắm lấy cánh tay phải của Mục sư Calvin lắc mạnh. Calvin không nói gì thêm. Ông chỉ lẳng lặng đứng dậy và ra về.
Một điều kỳ lạ xảy ra. Chưa đầy một tháng sau, các quán rượu nằm dọc hai bên đường trước cổng khu định cư lần lượt đóng cửa. Hợp đồng của người chủ quán rượu đã mãn hạn. Clayton lấy lại các nhà quán, giao cho Calvin và Edward để sử dụng vào công việc ích lợi cho khu định cư. Felicia tiến hành mở một gian hàng thực phẩm ngay chỗ cũ của các quán rượu. Cô còn mở thêm một lớp dạy nấu ăn, săn sóc nhà cửa cho các cô gái trẻ chuẩn bị lập gia đình. Felicia ở lại trong khu định cư cùng nhà với bà Bruce.
Vào một buổi tối, tranh thủ chút ít thì giờ, Mục sư Edward gặp Felicia và thăm hỏi, bàn định công việc:
- Felicia! Con dự trù sẽ làm những gì trước trong kế hoạch của con?
- Thưa mục sư! Ý con thế này, quán rượu cũ khá rộng, đủ tiện nghi cho con mở lớp dạy nấu ăn và cách bài trí, săn sóc nhà cửa cho các bạn gái. Lớp học kéo dài một khoá sáu tháng. Xen kẽ trong giờ học chính khoá, con sẽ bố trí bồi dưỡng thêm cho học viên tinh thần phục vụ, tận hiến cho Chúa, tình yêu thương, làm việc lành mỗi ngày.
- Hãy khoan đã, Felicia à! Suy nghĩ cho kỹ trước khi bắt tay vào việc. Đây không phải là thời đại của phép mầu, thần thông biến hoá!
- Ý ông cho rằng việc này khó thực hiện chứ gì?
- Ừ! Phải xem xét cho kỹ con ạ!
- Đồng ý là việc này khó, dường như không thể làm được đối với sức lực của con nữa là đằng khác. Thế nhưng con sẽ cố gắng để làm cho được. Con biết tình hình, có khoảng trên hai chục bạn gái sẵn sàng hưởng ứng theo học lớp này. Nếu con thực hiện được việc tổ chức lớp, ắt sẽ có giá trị biết bao đối với họ. Sau này, họ sẽ có một nghề trong tay, đỡ phải lăn lộn vất vả với cuộc sống. Bên cạnh đó, con mở quán phục vụ phân phối thực phẩm tinh khiết, hi vọng sẽ góp một phần lớn đáp ứng nhu cầu cho nhiều gia đình nghèo.
- Felicia! - Bà Bruce cũng góp vào chuyện - Nếu như con hoàn thành được năm mươi phần trăm kế hoạch con dự định như thế thì đã là phước lớn cho dân nghèo ở đây rồi đấy! Tôi e ngại sức lực của con sẽ hạn chế công việc con làm. Cầu xin Chúa ban phước trên công việc của con!
- Cả tôi cũng suy nghĩ như vậy!
Ông Calvin nói lớn tiếng, nhìn sâu vào mắt Felicia. Ông nhìn thấy sự nhiệt thành và sự thông minh trong đôi mắt ấy. Ông rất sung sướng vì Felicia mỗi ngày mỗi tỏ ra trưởng thành trong tinh thần người tín đồ Đấng Christ đúng nghĩa và lòng yêu mến Chúa, tinh thần hứa nguyện của cô được thực nghiệm một cách ích lợi. Càng ngày cô càng tỏ ra có năng lực một cách kỳ lạ trong việc giảng dạy cho các cô gái. Lớp học của Felicia lấy tên là lớp “Gia chánh”, ngày càng thu nhận được nhiều học viên đến lớp.

Chương 29
Muà đông về, Chicago lạnh giá và thiếu thốn. Thực phẩm, chăn màn, quần áo đang là nhu cầu cấp bách cho dân lao động khắp thành phốù. Tiến sĩ Calvin, Mục sư Edward, cùng một số tín đồ trong khu định cư đi quyên góp tiền bạc, quần áo cũ từ các Hội thánh, các Hội từ thiện.., tổ chức đi thăm và cứu trợ cho các gia đình nghèo, khó khăn.
... Sáng nay, Mục sư Edward đọc một trang nhật báo về một tin thời sự gây sững sờ: “Bắn chết người để cướp một bao than trong xe tải”. Hàng tít lớn chạy ngang cột báo đập vào mắt, ông đọc tiếp xuống nội dung với vẻ mặt buồn rầu: “Gia đình anh ta đang đói rét, thiếu ăn trầm trọng. Bản thân anh bị thất nghiệp hơn sáu tháng nay. Người vợ bệnh hoạn ốm yếu và sáu đứa con dại đang là gánh nặng chất trên vai anh khiến anh cùng quẫn. Nhà anh nằm ở tại mặt tây của khu định cư. Những đứa con anh đang đói lã nằm co ro trong đống giẻ rách ngay góc nhà để tránh rét”. Edward ngừng lại một chút nghĩ ngợi. Đoạn, ông chậm rãi đọc tiếp chi tiết bài phóng sự về vụ giết người vì manh áo miếng cơm đáng tiếc này. Ông rất đau buồn vì cảnh những người cùng khốn, chung số phận với nhau, lại đi thanh toán lẫn nhau để giành lấy hơi ấm sự sống.
Những người có mặt trong nhà ăn của khu định cư tại buổi điểm tâm sáng này với ông Edward đều lặng đi khi họ chuyền tay nhau đọc mẫu tin giết người từ tay Edward.
Một thanh niên lên tiếng bình luận, thắc mắc:
- Ủa! Tại sao người đàn ông đó không biết làm đơn xin cứu trợ và gởi đến các tổ chức từ thiện xin giúp đỡ? Chẳng lẽ họ không giúp anh ta sao?
- Chúng ta cũng không thể biết rõ lý lịch của kẻ gây án này. Cũng có thể anh ta đã gởi đơn đến nhiều tổ chức để xin cứu trợ nhưng lại không được gì, đành phải tự xoay sở để tự cứu lấy mình và gia đình mình, thoát sự lạnh buốt cắt da cắt thịt của mùa đông khắc nghiệt này. Đây không phải là một trường hợp giết người hiếm hoi với mục đích mưu tìm hi vọng sống.
Tiến sĩ Calvin nói một cách buồn bã.
- Tôi thấy khủng khiếp hơn cả việc anh ta đã bắn chết người là việc anh ta thất nghiệp liền trong sáu tháng trời! Sáu tháng đó anh ta nuôi vợ con bằng nước lã ư?
Mục sư Edward bình luận thêm.
- Tại sao những người như anh ta lại không chịu về sinh sống ở vùng đồng quê sẽ dễ kiếm việc hơn không?
Một thanh niên khác lại thắc mắc.
- Nói vậy chứ đâu phải dễ! Còn vợ còn con anh ta nữa, nếu chỉ có một thân một mình anh ta thì dễ xoay sở hơn. Chuyển cả gia đình, nhà cửa về quê cũng cần phải có trong tay một số tiền không phải là ít để chi phí!
Bà Bruce góp chuyện thêm.
- Nhà anh ta cũng ở cùng trong khu định cư này với chúng ta à? Khiếp quá!
- Ừ, anh ta ở trong số những nhà thuê thuộc sở hữu của Penrose.
Calvin trả lời vợ.
- Bản thân Penrose là một tín hữu sốt sắng của Hội thánh Nazaret Avenue đấy!
Giữa lúc mọi người đang bàn tán xôn xao tại bàn ăn, chợt có chuông cửa reo. Ai nấy đều ngạc nhiên vô cùng vì Penrose xuất hiện đúng lúc.
- Cho phép tôi gặp Mục sư Edward và tiến sĩ Calvin!
Penrose vừa đến ngay cửa đã vội vã nói liền.
- Xin mời vào, Penrose!
Calvin liếc nhìn Edward, cả hai hiểu ý nhau, đồng đứng dậy và đi vào phòng khách.
Penrose là một người xuất thân từ một gia đình rất giàu có và quý phái ở Chicago, bản thân anh cũng rất giàu có. Anh có nhiều bất động sản có giá trị vào bậc nhất nhì ở thành phố sầm uất này. Anh vốn là một thành viên tích cực của Hội thánh Nazaret trong nhiều năm qua. Bây giờ, anh đang ngồi đối diện với hai vị mục sư lão thành mà anh hằng kính trọng. Môi anh run run, mặt anh tái xám, lộ vẻ xúc động như vừa trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần lớn lắm.
- Thưa hai mục sư! Chắc hai ngài đã đọc tờ báo nói về vụ bắn chết người tại khu định cư mà chúng ta đang ở đây? Kẻ gây tội là một trong những người thuê nhà của tôi. Ôi! Khủng khiếp quá hai mục sư ạ!
Penrose quay sang Calvin:
- Thưa ông tiến sĩ!
Anh nói lớn, sự khiếp sợ thể hiện trong giọng nói của anh.
- Tôi muốn kể cho mục sư nghe một kinh nghiệm lạ thường mà chỉ có sự siêu nhiên mới có thể giải thích được. Tôi là một trong số những người thực hiện sự hứa nguyện làm theo y như Chúa Giê-xu sẽ làm. Ông biết không? Ban đầu, tôi cứ tự cho rằng mình là một thằng điên và khốn nạn, ngớ ngẩn. Đang khi giàu có nứt đố đổ vách như thế này, có thiếu thốn gì đâu mà đi làm những chuyện linh tinh đó cho mệt xác. Tôi dâng hiến sự giàu có của tôi một cách rộng rãi cho Hội thánh và công việc từ thiện phục vụ dân nghèo. Thế nhưng tôi chưa hề nghĩ đến việc dâng chính thân thể mình để gánh bớt gánh nặng cho Chúa Giê-xu.
Tôi đã sống trong sự dày vò, mâu thuẫn giữa ý định dâng đời sống mình hay không dâng cho Chúa kể từ khi tôi đặt mình vào sự hứa nguyện. Tôi cảm thấy hình như mình đang sống trong một địa ngục trần gian thì phải. Đứa con gái nhỏ của tôi - Diana - chắc ông vẫn nhớ chứ! Cháu cũng hứa nguyện một lượt với tôi. Cháu thường hỏi tôi những câu hỏi khiến tôi xúc động. Đêm qua, cháu hỏi tôi về một điều mà sau đó, tôi không tài nào ngủ được. Cháu thắc mắc về số phận của người nghèo, nhà cửa tồi tàn của họ, buộc tôi phải trả lời cho cháu, cháu mới chịu. Cháu đã hỏi như vầy: “Ba ơi! Ba có cho những người nghèo thuê nhà không? Nhà họ đang thuê có đẹp và ấm như nhà ta ở đây không vậy ba?” Tôi lên giường nằm với sự ray rứt trong lương tâm. Tôi không thể ngủ được. Tôi cảm thấy dường như ngày phán xét của Chúa dành cho thế giới này và dành cho cả tôi đang đến trước cửa. Tôi sẽ bị đem ra thẩm tra trước vị quan toà uy nghi quyền lực. Ông ta bắt tôi phải làm một bản tường trình và kê khai tất cả những công việc tôi đã làm trong suốt thời gian dài của cuộc đời tôi. Phải trả lời cho những câu hỏi sau một cách thành thật. “Tôi đã giúp đỡ cho bao nhiêu người nghèo? Có bao nhiêu linh hồn tội lỗi đang bị giam trong nhà tù được tôi thăm viếng? Tôi đã làm được gì với chức vụ quản gia của tôi? Những căn nhà tôi cho dân nghèo thuê có đủ ấm trong mùa đông và không bị ngạt thở trong mùa hè không? Tôi có bao giờ quan tâm đến sự thiếu thốn cơ hàn của họ không? Hay chỉ vét tiền thuê nhà mỗi tháng từ sự nghèo khốn của họ miễn cho đầy túi tham của mình mà thôi? Tôi đã đem lại phước hạnh cho người khác như Chúa Giê-xu đã làm chưa? Tôi đã đem lại niềm vui cho người khác chưa? Giữa lúc nhiều người quanh tôi đói rét, khốn khổ, buồn rầu, ngã lòng, tôi đã làm được điều gì ích lợi cho họ? Tôi đã nhận được nhiều, song đã cho, ban phát cho người khác được bao nhiêu?”
Trí óc tôi bị quay cuồng bởi những câu hỏi đại loại như thế. Tôi còn thấy dường như Chúa Giê-xu đang đứng trước mặt tôi, kết án tôi. Suốt đêm, tôi không tài nào chợp mắt được. Sáng nay, mới chổi dậy khỏi giường, tôi lại đọc được bài tường thuật về vụ bắn chết người ở bãi than. Tự dưng tôi cảm thấy chính mình mới là kẻ giết chết cả nạn nhân lẫn tội phạm. Tôi sợ hãi quá chừng, biết mình là vật thọ tạo phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời.
Cả Calvin lẫn Edward đều cảm nhận rõ rằng: Đức Thánh Linh đang cảm động sâu xa trên linh hồn này. Anh đã ý thức được tinh thần chịu khổ thật vì Chúa Giê-xu là thể nào. Edward nhẹ nhàng đặt tay lên vai Penrose:
- Penrose! Người anh em của tôi! Đức Chúa Trời đã biết tấm lòng của anh. Chúng ta hãy cảm tạ Ngài, vì Ngài vẫn còn thương xót và khoan dung đối với chúng ta!
- Vâng! Vâng!
Penrose khóc thổn thức. Hai tay ôm lấy mặt, từ từ ngồi xuống ghế. Chợt, anh ngẩng lên.
- Hai ngài có vui lòng đi đến nhà của nạn nhân bị bắn sáng nay với tôi không?
Thay cho câu trả lời, cả hai vị mục sư nhanh chóng mặc vội áo khoác ngoài rồi cùng với Penrose đi xuống khu định cư.
* * *
Mùa đông đem đến sự khắc nghiệt cho Chicago càng lúc càng nhiều. Một buổi chiều, tình cờ Felicia xách giỏ thực phẩm đi ra, tới cổng khu định cư thì gặp được Stephen Clyde. Anh đang mở cửa xưởng mộc ở tầng trệt của khu định cư.
- Felicia!
Anh gọi to khi vừa nhìn thấy cô.
- Đưa tôi xách giỏ hộ cho!
Vừa nói anh vừa bước đến bên cạnh Felicia.
Felicia mỉm cười trao chiếc giỏ nặng cho anh. Hai người sóng bước bên nhau trò chuyện.
- Cô đi đâu đây?
- Tôi đi giao mẫu hàng thực phẩm cho một tiệm bánh mì trong khu phố của Penrose.
- Felicia này! Có một chuyện...
Tự dưng, Stephen cảm thấy run rẩy khi muốn bày tỏ tình cảm của mình với Felicia. Anh đã yêu Felicia kể từ lần đầu cô bước vào xưởng mộc của anh.
- Còn chuyện gì nữa?
Felicia nhíu mày nhưng miệng lại mỉm cười một cách ngây thơ, nhìn Stephen không chớp.
Stephen quay hẳn gương mặt sáng sủa, đẹp trai về phía Felicia, anh đánh bạo:
- Felicia! Anh muốn, anh muốn được làm người xách cái giỏ này cho em trọn đời!
Felicia đứng dừng lại nhìn thẳng vào mắt Stephen trong một phút. Đoạn, cô bước lên phía trước một quãng ngắn, rồi đứng lại và mặt cô ửng hồng, ánh mắt cô trở nên long lanh:
- Stephen! Anh nói thực chứ? Tại sao anh không để vào dịp khác thuận tiện hơn?
- Anh đã ấp ủ từ lâu và không thể đợi hơn được nữa. Đó là tình cảm thiêng liêng của anh.
Trong một phút xúc động, Stephen suýt đánh rơi chiếc giỏ:
- Á! Á! Stephen! Cẩn thận, kẻo anh làm rơi đồ ăn trong giỏ bây giờ!
Felicia la toáng lên.
- Làm gì rơi được, đừng sợ anh đánh rơi bất cứ cái gì của em, Felicia yêu dấu ạ!
Hôm ấy, giỏ bánh không tới được tay của người chủ tiệm bánh mì chỗ khu phố Penrose. Cuộc trò chuyện của đôi bạn trẻ tưởng như không có dấu chấm hết.
- Felicia nè! Em đã bắt đầu yêu anh từ lúc nào thế.
- Ngay từ lúc em cùng với Mục sư Edward bước vào thăm xưởng mộc của anh lần đầu tiên. Em đã yêu anh cùng với cái dăm bào gỗ thông mắc trên tai trái của anh hôm ấy đấy!
Felicia vừa nói nhỏ nhẹ vừa cười tinh nghịch.
- Felicia! Anh cảm ơn em! Bây giờ em nghe anh hỏi: em định làm gì với giỏ bánh này?
- Chắc em sẽ mang nó trở lại nhà và mời Mục sư Edward đến dùng bữa!
Cô lại cười hồn nhiên.
- A! Mục sư đến kìa! - Stephen reo lên.
- Chào các con!
Edward xuất hiện đúng lúc.
- Con chào mục sư! Mời ông vui lòng đến dùng bữa với chúng con vào trưa nay nha!
- Ừ! Tôi rất vui khi gặp hai con, tôi cũng sẽ đến dự bữa trưa với hai con. Xin Chúa ban phước cho hai con.
Nhìn đôi bạn trẻ, Mục sư Edward cảm động đến ứa nước mắt. Để cho đôi bạn trẻ tiếp tục trò chuyện được tự nhiên, ông bước đi chậm rãi ra phố, miệng thầm cầu nguyện tạ ơn Chúa.
Chiều nay, Mục sư Henry, Rachel Winslow, Virginia Page, Rollin, Alexander Powers, ông hiệu trưởng Donald từ Raymond đến Chicago thăm khu định cư. Đồng thời, tiến sĩ Calvin và Edward mời họ dự họp với một số người đại diện các thành phần ở khu định cư. Trong buổi họp, có đủ mặt đại diện số người thất nghiệp, khốn khổ, mất đức tin nơi Đức Chúa Trời, đại diện những người vô thần, tự do tư tưởng, vô chính phủ và chủ trương không tưởng sống ở khu định cư này. Phòng họp được dán áp phích ngay cửa ra vào “CHÚA GIÊ-XU SẼ LÀM GÌ?” sáng chói nhờ giấy bóng kiếng. Mục sư Henry Maxwell cảm động sâu xa khi bước vào phòng họp. Ông nhìn thấy sự chờ đợi câu trả lời cho dòng chữ dán ngay cửa, lộ rõ trên khuôn mặt những người đàn ông, đàn bà lam lũ đang có mặt trong phòng họp.

Chương 30
“Bây giờ, khi Đức Chúa Giê-xu nghe những điều này thì Ngài phán cùng người rằng: Ngươi vẫn còn thiếu một điều hãy bán tất cả của cải ngươi có và phân phát cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời, bấy giờ hãy đến mà theo Ta!”
Mục sư Henry đọc lời Chúa, mở đầu cho buổi nói chuyện của buổi họp. Ông làm chứng về các việc mà con cái Chúa ở Raymond đã làm được khi thực hiện sự hứa nguyện với Đấng Christ. Hầu hết những người có mặt trong buổi họp hôm nay đều đã được nghe ít nhiều về Chúa Giê-xu. Họ vẫn còn tin vào tình yêu của Ngài nhưng họ lại cay đắng về các hình thức của chủ nghĩa giáo điều Cơ Đốc trong hệ thống Giáo hội. Khi nghe Mục sư Henry nói về Chúa Giê-xu và công việc của Ngài, họ tỏ ra thích thú và đức tin của họ có dịp được khơi dậy. Henry nhắc lại một cách chậm rãi rõ ràng câu hỏi làm tiền đề:
- Thưa các bạn! “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” khi Ngài ở vị trí của mỗi chúng ta!
Mọi người đều tập trung nhìn về phía Henry với sự háo hức, chờ đợi câu giải đáp, mà đáng lý ra chính họ phải trả lời lấy.
Henry tiếp lời:
- Chúa Giê-xu đã hi sinh tính mạng Ngài cho chúng ta. Ngài không hề ích kỷ với ai. Thế nhưng, chúng ta lại sống quá ích kỷ đối với Ngài. Nếu chúng ta bước theo chân Ngài một cách dạn dĩ, bất chấp hậu quả ra sao, thì Ngài sẽ ban cho chúng ta một đời sống mới có ý nghĩa.
Khi Henry ngưng lời và ngồi xuống, có rất nhiều cánh tay đưa cao lên xin ý kiến.
Mục sư Edward đứng lên ổn định trật tự và hỏi lớn:
- Nếu có anh em nào thắc mắc, hoặc muốn nêu lên cảm nghĩ của mình thì cứ mạnh dạn đứng lên trình bày.
Lập tức, một người đàn ông ngồi gần chính giữa phòng đứng lên:
- Tôi xin phép được có ý kiến, tôi nghe Mục sư Henry nói đến số phận một kẻ lang thang chết ở nhà ông và bùng nổ phong trào thực hiện sự hứa nguyện với Chúa Giê-xu ở Raymond. Tôi có biết lai lịch kẻ lang thang quá cố đó. Anh ta tên là Jack Manning. Vâng! Tên là Jack Manning! Trong hai năm liền, tôi làm ca kế tiếp ca của anh ta trong một xưởng in tại Philadelphia. Jack là một người bạn tốt. Đã có lần, tôi gặp hoàn cảnh khốn khó tưởng như chết mất, anh ấy đã kịp cho tôi mượn năm đô-la, tôi cũng chưa có dịp trả lại số tiền ấy cho anh ta. Jack bị đuổi việc vì nhà in đã có máy in hiện đại, không cần thợ in thủ công như anh ta nữa. Tội nghiệp cho Jack, anh đã phải lê chân đến NewYork trong sự đói rách, bần cùng vì thất nghiệp. Từ đó tôi không gặp lại anh ấy nữa. Kế đó không lâu, đến lượt tôi bị sa thải như Jack vì nhà in đã đem về mấy máy in li-nô tự động. Tôi sống một cách khốn khổ, vật lộn từng ngày với cuộc sống vì bị thất nghiệp dài hạn. Máy móc tối tân đem lại lợi nhuận tối đa cho các nhà kinh doanh, nhưng đồng thời, nó cũng đã đổ ụp bao tai họa lên đời sống những người thợ thủ công như tôi và Jack. Tôi và Jack cùng chung số phận thất nghiệp. Bị máy móc chiếm chỗ phải đi lang thang đói rách và bị xua đuổi. Nhưng tôi không ngờ thần chết đã vội cướp Jack đi mà lại để tôi còn đây giữa thế gian có bao nhiêu người xấu xa và ích kỷ tàn nhẫn. Tôi nghe nói nhiều về Chúa Giê-xu, về Hội thánh Ngài, và tình yêu của Ngài đối với những người khốn khổ như tôi. Thế nhưng khi tôi tìm đến sự che chở của Hội thánh Tin Lành gần nơi tôi cư ngụ nhất, tôi đã bị thất vọng ghê gớm. Những người ở Hội thánh ấy rất giàu sang, quý tộc nhưng cũng không kém phần ích kỷ và tàn nhẫn như những người vô thần ngoài xã hội. Rốt cuộc, tôi chẳng tìm thấy được ở đâu có một tình yêu thương thật cả. Xin quí mục sư có mặt hôm nay đừng giận, tôi nói thật suy nghĩ của tôi ra đấy!
- Đúng như vậy! Thật đúng như vậy đấy! Anh ấy nói đúng thực trạng xã hội và Giáo hội Cơ Đốc hiện nay!
Có nhiều tiếng la lớn và một giọng phụ nữ vang lên the thé ủng hộ cho ý kiến của người vừa phát biểu. Kế tiếp tiếng ồn ào nổi lên khắp cả phòng, nhiều người có ý kiến, nhưng không dám đứng dậy.
Mục sư Edward vội đứng dậy xua tay bảo mọi người hãy giữ trật tự, im lặng. Tiếng ồn ngớt dần. Phía dưới cuối phòng, một người đàn ông khoảng ngoài bốn mươi đưa tay xin phát biểu ý kiến. Ông Edward ra hiệu cho anh ta đứng dậy nói.
- Thưa quý vị! Đây là lần đầu tiên tôi được nói chuyện trước quý vị và cũng có thể là lần cuối. Tôi không hi vọng sẽ có dịp gặp lại quý vị lần thứ hai. Số phận của tôi có lẽ sắp được định đoạt bởi bệnh tật. Tôi bị thất nghiệp hơn hai tháng nay và phải đi lang thang từ thành phố này sang thành phố nọ nhưng vẫn không xin được việc làm. Tôi còn một vợ và hai con. Vợ con tôi cũng rất khốn khổ vì thiếu ăn.
Thưa mục sư! Có phải ông mới nói với mọi người rằng chúng ta sẽ sống theo khẩu hiệu “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” và trả lời thoả đáng cho câu hỏi đó trước khi hành động. Vậy, nếu Ngài là tôi, Ngài đang bị thất nghiệp như tôi hiện giờ thì Ngài sẽ làm gì nào? Không những tôi cần cái ăn để tồn tại cho chính bản thân tôi mà thôi, tôi còn phải có trách nhiệm với vợ và con của tôi nữa. Tôi phải sống và vợ con tôi cũng phải sống. Nhưng bằng cách nào để sống bây giờ? Chúa Giê-xu sẽ làm gì nếu Ngài là tôi? Ông đề cập đến câu hỏi đó khiến tôi hi vọng nên tôi phải hỏi.
Người đàn ông nói xong, ngồi xuống vài giây rồi mà Mục sư Henry vẫn chưa trả lời cho anh ta. Ông ngồi nhìn chăm người đàn ông vừa phát biểu ý kiến vừa cầu nguyện thầm trong lòng “Lạy Chúa! Xin Ngài trả lời thay cho con câu hỏi này. Đây là câu hỏi làm đổi thay cả một thời đại - người đàn ông này đang đứng gần bên chân lý cứu rỗi của Ngài. Xin Ngài cứu lấy anh ta. Đừng để anh ta tuyệt vọng khi tìm đến Ngài. Anh muốn tìm một việc làm lương thiện để nuôi vợ nuôi con. Ngài sẽ làm gì đối với đời sống của anh ta? Giả sử anh ta là tín đồ của Ngài thì có lẽ anh ta sẽ tự tìm được câu trả lời cho chính mình”.
Mục sư Edward cùng với Calvin cũng đang ngồi nghiêm nghị suy nghĩ, cân nhắc tìm câu trả lời thoả đáng cho người đàn ông vừa hỏi. “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” là một câu hỏi gây bao sự đổi thay kinh khủng của nhiều cuộc đời hứa nguyện. Chợt, Henry đứng lên:
- Thưa các bạn! Trong phòng này có ai là tín đồ Đấng Christ? Có ai không? Nếu ai đã từng hứa nguyện theo gót chân Chúa thì ắt hẳn người đó sẽ có câu trả lời cho câu hỏi này hay hơn tôi!
Trong một lúc, sự im lặng bao trùm khắp căn phòng. Vài ba phút sau, một người đàn ông lớn tuổi ngồi ngay bàn gần cửa ra vào từ từ đứng dậy. Giọng anh run run:
- Tôi là một Cơ Đốc nhân. Khi tôi bị thất nghiệp, tôi vẫn cố gắng đặt ra câu hỏi “Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trong hoàn cảnh của tôi. Cuối cùng, tôi đã không hổ thẹn nhận trợ cấp tại các cơ sở từ thiện để khỏi phải phạm tội ăn cắp. Tôi nghĩ Chúa đã thương tôi và tôi đã kinh nghiệm được phần nào sự hứa nguyện với Ngài.
Nói xong, anh đưa mắt nhìn khắp phòng với vẻ rụt rè, cả phòng yên lặng trong vài phút. Chợt một giọng nói sang sảng của một người đàn ông to con, tóc đen, có bộ râu xồm xoàm ngồi sau ghế ông Edward cất lên gây sự chú ý của mọi người:
- Còn tôi, Chúa Giê-xu sẽ làm gì trong trường hợp của tôi?
Có nhiều tiếng xì xào bên dưới:
- Ai vậy?
- Đó là Carlsen, người lãnh đạo đảng xã hội. Hãy lắng nghe xem anh ta muốn nói gì!
Carlsen bắt đầu với một cái tằng hắng:
- Theo tôi nghĩ. Cái gọi là văn minh hiện nay của xã hội chúng ta đang đi vào sự mục nát tận cùng rồi. Tư bản chủ nghĩa thể hiện sự tham lam một cách tinh vi, vắt kiệt giọt máu cuối cùng của những người nghèo khổ, cùng túng của xã hội. Tôi cảm ơn Chúa vì Ngài còn giữ gìn tôi bình an đến giờ này. Nhìn những bi kịch xã hội, tôi cảm thấy kinh khiếp khi lập gia đình. Có một cái nhà để trú thân là ước mơ gần như được lên thiên đường. Hai bàn tay trắng sống ở xã hội này chẳng khác gì sống ở địa ngục. Tôi lại càng ngạc nhiên hơn bao giờ hết khi nhìn thấy có nhiều người trong giáo hội sống không trung thực. Miệng họ nói: “yêu Chúa, yêu Chúa”, đi nhà thờ siêng năng hơn ai hết, hát những lời Thánh ca nói về tinh thần dâng hiến: hiến cả thảy cho Ngài, vác thập tự giá theo Ngài, chịu khổ vì Ngài... đủ thứ. Thế nhưng họ sống chẳng khác nào những phù thuỷ độc ác, sống cuộc đời xa hoa phung phí, chẳng mảy may lưu tâm đến những người nghèo, thất nghiệp và khốn cùng, sống vất vưởng bên hè cửa của họ.
Giọng Carlsen càng lúc càng lớn, lộ vẻ tức giận và bướng bỉnh. Anh nói thao thao bất tuyệt như đang thuyết trình, khiến người đàn ông ngồi phía sau nắm áo anh ta kéo ngồi xuống anh ta mới chịu ngừng lời.
Tiếp theo Carlsen, một người đàn ông khác đứng dậy chỉ trích nhà thờ, các mục sư một cách quyết liệt, tuyên bố thẳng thừng rằng trở ngại lớn nhất trên con đường cải tạo xã hội chính là hệ thống Giáo hội và toà án.
Một công nhân thuộc nhà máy luyện kim, đứng dậy mạnh dạn phát biểu ý kiến một cách tự tin. Anh ca ngợi chủ nghĩa công đoàn. Anh tin chắc chắn rằng chủ nghĩa này sẽ mang lại thời đại hoàng kim cho người dân lao động. Sau cùng, một người nữa đứng lên thắc mắc tại sao xã hội lại có quá đông người thất nghiệp, đưa ra lời kết tội các phát minh của các nhà khoa học là công việc vô cùng độc ác của ma quỷ trong quỷ kế phá huỷ thế giới của Vua sự chết. Ý kiến của anh được nhiều người vỗ tay ủng hộ và hoan nghênh nhiệt liệt.
Để chấm dứt buổi “tự do ngôn luận”, Mục sư Edward đề nghị mọi người giữ yên lặng và mời Rachel Winslow lên hát một bài nhằm “đem lại sự thoải mái cho tất cả”.
Rachel Winslow đã trưởng thành thực sự kể từ ngày cô hứa nguyện làm theo như Chúa Giê-xu sẽ làm tại Raymond. Cô trung tín dâng tài năng ca hát của mình để phục vụ và tận hiến cho Chúa mỗi ngày.
Mọi người có mặt trong phòng họp hôm nay đều dõi mắt nhìn theo dáng người thon thả của cô khi cô bước lên máy vi-âm. Với phong cách tự nhiên, giọng hát ấm áp của cô trổi lên:
“Này con, lặng nghe Giê-xu phán tuyên.
Hãy theo Ta mau ớ con, hãy theo Ta!”
Mục sư Henry Maxwell yên lặng nhìn gương mặt dịu dàng của Rachel. Ông đang hồi tưởng lại đêm đầu tiên ông đến Rectage, Rachel cũng đã hát tại lều của Gray, khiến mọi người yên lặng và giọng ca đặc biệt của cô đã lôi cuốn mọi người cách mạnh mẽ. Ảnh hưởng ấy bây giờ cũng diễn ra tại đây một cách kỳ diệu!
Mọi người như muốn nhổm lên khỏi ghế để nghe Rachel hát rõ hơn. Giọng hát của cô truyền cảm vô cùng. Nhiều người tấm tắc khen: “Hay quá! Giọng hát này chẳng kém tí nào các ca sĩ chuyên nghiệp!” Thực sự, số đông người có mặt hôm nay chưa hề được nghe giai điệu du dương, yên ủi tâm hồn như thế bao giờ.
Ai nấy đều đang bị cuốn hút vào âm điệu trầm bổng của bản thánh ca, và được cảm động sâu xa. Carlsen cảm thấy được yên ủi nhiều lắm. Nước mắt anh ứa ra, chảy dài trên má. Người đàn ông thất nghiệp ban nãy muốn biết Chúa Giê-xu sẽ làm gì ở cương vị của anh cũng nghe Rachel hát một cách say sưa. Một bàn tay đen đúa nhớp nháp bụi than đặt lên thành ghế dựa trước mặt, miệng anh há hốc ra, vẻ mặt anh tươi tỉnh hẳn lên. Có lẽ anh đã quên đi bi kịch cuộc sống trong giây phút tưởng chừng như thiên thần đang hát xướng này. Còn người đàn ông ban nãy đã lớn tiếng đả kích nhà thờ, giáo hội, giờ đây đang ngồi ngước thẳng lên, nhìn Rachel chăm chú. Ánh mắt của anh buồn buồn, đọng bao điều suy nghĩ.
Henry thầm cảm tạ ơn Chúa về ân tứ Ngài đã ban trên Rachel, đem ích lợi cho nhà Chúa. Âm nhạc là phương tiện rao giảng nước Thiên đàng đi vào lòng người nghe dễ chịu và có tác dụng hơn nhiều hình thức khác. Mọi người cảm thấy luyến tiếc khi bài hát của Rachel đã kết thúc. Mục sư Henry hi vọng “tinh thần tín đồ mới” sẽ được hình thành và phát triển ở khu định cư này kể từ đây. Ông mong muốn con cái Chúa ở đây cũng sẽ sớm thực hiện sự hứa nguyện làm theo gương Chúa Giê-xu như ở Raymond, xoá nhoà ranh giới ngăn cách giữa người giàu có, quý phái và giai cấp bình dân, lao động nghèo khổ. Ông nhủ thầm rằng nếu như tất cả mọi tín đồ ở các Hội thánh đều đồng tình làm như Chúa Giê-xu sẽ làm thì cuộc sống phước hạnh biết bao, sẽ không còn ai phàn nàn, nguyền rủa nhà thờ, giáo hội, hoặc lao mình vào những thú vui từ những quán rượu, hộp đêm,... để tìm nguồn yên ủi và hạnh phúc nữa. Henry mong ước và thầm nguyện cho người dân xứ này sớm tìm thấy nguồn an bình thật từ nơi Cứu Chúa Giê-xu.

Chương 31
Mục sư Henry Maxwell dự trù sẽ đến thăm khu định cư ở Chicago và trở về lại Raymond kịp giảng vào sáng Chúa nhật cho Hội thánh. Thế nhưng, sáng thứ sáu, ông đã nhận được lời mời của một mục sư chủ toạ tại một trong số nhà thờ lớn ở Chicago, mời ông đến giảng vào cả hai buổi nhóm sáng và tối Chúa nhật.
Lúc đầu, Mục sư Henry do dự. Sau những giờ cầu nguyện tìm cầu ý Chúa, ông nhận được sự thúc giục và bình an, bèn đồng ý nhận lời mời sẽ ở lại giảng tại Chicago thay vì phải trở về Raymond. Henry cảm nhận một điều: bàn tay quyền năng của Đức Thánh Linh đang dẫn dắt ông. Ông muốn có cơ hội chấn chỉnh lại những lời công kích nhà thờ, giáo hội tại cuộc họp vừa rồi ở khu định cư. Ông cũng muốn chứng minh rằng họ đã sai lầm, ngộ nhận, vơ đũa cả nắm trong những lời tố cáo ấy.
Tối thứ bảy, ông biệt riêng thì giờ cầu nguyện với Chúa thâu đêm. Ông đang dò dẫm từng bước trên con đường chân lý bao la của Chúa.
Sáng Chúa nhật đến với Chicago trong sự thanh bình. Mặc dầu sau một đêm thao thức cầu nguyện, sáng nay Mục sư Henry bước lên toà giảng vẫn tỉnh táo và đầy sức lực. Mọi người đã được thông báo trước về diễn giả sáng nay từ đâu đến, nên họ rất háo hức được nghe Henry giảng dạy. Họ đã được nghe nhiều về Raymond, về phong trào bước theo chân Chúa Giê-xu của Hội thánh Chúa ở đấy, nhưng đến nay họ mới thật sự được nghe người của Hội thánh địa phương ấy nói chuyện “người thật việc thật”. Những ánh mắt tò mò, chờ đợi đổ dồn về phía toà giảng. Tất cả im lặng khi Henry cầu nguyện ngắn trước khi giảng.
Sau khi kể lại vắn tắt một số kết quả nổi bật trong Hội thánh Raymond trong thời gian hứa nguyện với Chúa vừa qua, Henry chuyển vào nội dung chính của bài giảng một cách tài tình, dựa trên nền tảng câu Kinh Thánh LuLc 18:22 : “...hãy bán tất cả của cải ngươi có và phân phát cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời, bây giờ hãy đến mà theo Ta”. Ông đã mô tả cách sinh động câu chuyện người trai trẻ giàu có đến gặp Chúa Giê-xu, hỏi Ngài rằng anh phải làm gì để được sự sống đời đời. Chúa Giê-xu đã thử nghiệm anh bằng một lời khuyên dạy mới nghe tưởng chừng đơn giản, dễ dàng nhưng bắt tay vào thực hiện lại là cả một vấn đề nan giải. Phải có một sự hi sinh thật sự mới có thể làm một người tín đồ mới đúng nghĩa của Đấng Christ. Người trai trẻ này đã buồn rầu khi nghe điều kiện để được hưởng sự sống đời đời, là một điều kiện quá khó đối với anh. Anh muốn theo Ngài, muốn đón nhận điều phước hạnh vĩnh cửu, nhưng lại không muốn chịu khổ, không muốn vác thập tự giá nặng nhọc như chính Chúa đã từng làm!
- Điều này có mâu thuẫn không?
Sau khi giảng giải, Henry ngừng lại vài giây, hướng gương mặt cương nghị phảng phất xúc cảm mạnh mẽ về phía hội chúng, hỏi một câu mà ông hi vọng tất cả đều trả lời được.
- Thưa quý vị! Có phải sự thật là Hội thánh Chúa ngày hôm nay, dẫu rằng được gọi là Hội thánh Đấng Christ, mang lấy chính danh xưng của Ngài, thế nhưng từ chối đi theo Ngài khi phải trả giá bằng sự chịu khổ, bằng sự mất mát vật chất, lợi lộc tạm thời? Một vị lãnh đạo công nhân đã tuyên bố tại cuộc họp đông đảo trong khu định cư tuần rồi rằng, thật là vô vọng khi nhìn vào Hội thánh để trông mong sự cải cách hoặc cứu chuộc nào cho nhân loại. Lời tuyên bố đó đã căn cứ vào điều gì? Hay chỉ là một cái nhìn cực đoan, phiến diện ở một mặt nào đó hoặc chỉ dừng lại ở một số người cá biệt của Hội thánh? Phải công nhận rằng Hội thánh Chúa ở Raymond cũng như ở đây có rất nhiều người giàu có, sống xa xỉ nhưng ít khi nào đoái hoài đến đồng loại khốn khổ của mình, đang cố vẫy vùng trong biển đời tội lỗi. Nhưng không vì thế mà chúng ta phủ nhận cả Hội thánh. Chúa vẫn hằng hiện diện trên Hội thánh. Ngài sẽ sử dụng tài năng, của cải của từng người theo từng công việc trong hiện tại và cả trong tương lai. Điều này kêu gọi và đánh thức lương tâm của mỗi người. Chúa đang chờ đợi tinh thần tận hiến của tất cả chúng ta. Sống giữa thành phố lớn xa hoa và tội lỗi này, các bạn trẻ hãy luôn cẩn thận và luôn ý thức về tinh thần Cơ Đốc của mình. Có thể nào các bạn đi theo con đường mình muốn một cách vô tư, không cần đếm xỉa đến những đứa bé, những phụ nữ đói khát, rách rưới, khốn khổ đang lê lết tấm thân còm cõi đến bên bờ vực thẳm của sự đói khát, bệnh tật. Hãy thể hiện tinh thần yêu Chúa cụ thể bằng tinh thần yêu nhân loại, yêu người lân cận của mình, chia cơm xẻ áo với họ trong cơn khốn khó. Đôi lúc con cái Chúa lại sống quá khắc nghiệt, ích kỷ, thờ ơ, vô lương tâm chẳng khác gì kẻ ngoại đạo. Các bạn cứ sống theo chủ nghĩa, quan niệm “sống chết mặc bay” thì không chóng thì chày thế giới này sẽ chìm trong biển khổ ô tội.
Giá như mọi Cơ Đốc nhân ở nước Mỹ này đều đồng tình theo chân Chúa, làm theo điều mà Chúa sẽ làm, thì sự đau khổ của con người trong xã hội này sẽ giảm xuống đến mức tối thiểu, cuộc sống và những mối quan hệ xã hội sẽ được thay đổi cách tích cực. Một điều trở ngại trong vòng chúng ta hiện nay là: chúng ta mãi lo nghĩ đến của cải mình hơn là nghĩ đến Cứu Chúa. Nếu hôm nay Ngài có mặt trong buổi nhóm, ắt Ngài cũng sẽ kêu gọi các bạn như Ngài đã kêu gọi và khuyên dạy người trai trẻ giàu có trong phân đoạn Kinh Thánh mà tôi đã đọc. Liệu các bạn có thực hiện lời kêu gọi của Chúa không? Hay chỉ tiu nghỉu, phân vân, buồn rầu vì phải hi sinh của cải như gã trai trẻ kia? Câu trả lời dành cho các bạn. Sự thử nghiệm tinh thần tín đồ Đấng Christ trong buổi đầu của Hội thánh Chúa ngày xưa, nay tôi cũng xin khơi dậy lại trong nhà Chúa hôm nay. Mỗi một con cái Chúa thành thật làm theo điều Chúa Giê-xu sẽ làm trong công việc mình, ắt kết quả, sự phước hạnh sẽ đến với Hội thánh và xã hội biết bao! Chúa Giê-xu sẽ làm gì trong vấn đề giàu có? Ngài sẽ sử dụng tiền bạc như thế nào? Ngài sẽ sử dụng xa xỉ, tiêu khiển, ăn chơi hay Ngài sẽ dành tiếp trợ, cứu giúp cho người nghèo và thất nghiệp? Chúa Giê-xu sẽ quản trị tiền bạc và cách thức làm ra tiền như thế nào? Có phải Ngài đánh tiền thuê nhà nặng vào những gia đình túng bấn, miễn cho đầy túi tham? Hoặc Ngài sẽ đem các nhà quán cho bọn buôn bán rượu tán tận lương tâm thuê đặng vét cho đầy túi mình, bất chấp kẻ thuê nhà sẽ sử dụng nhà vào những công việc, mục đích tội lỗi nào. Chúa Giê-xu sẽ làm gì với đội quân thất nghiệp đông đảo đang lang thang khắp phố phường ở nước Mỹ tự do này? Ngài mặc sức sống xa xỉ, chẳng thèm đếm xỉa gì đến những số phận hẩm hiu đó chăng?
“Chúa Giê-xu sẽ làm gì?” trước một công việc, há không phải là điều mà một người xưng mình là tín đồ của Ngài phải làm sao? Chúng ta làm môn đồ của Ngài mà lại không chịu theo Ngài thì theo ai bây giờ? Muốn đi theo Ngài, chúng ta phải biết chịu khổ và hi sinh như Ngài, hi sinh với Ngài để bám sát Ngài trên mọi bước đường. Chúng ta cần được Chúa phục hưng Hội thánh, thanh tẩy tinh thần “tín đồ hình thức”, ích kỷ, vốn thống trị trong Hội thánh chúng ta từ bấy lâu nay. Chúng ta cần được Chúa thay đổi đời sống, bỏ đi lề thói cũ, lý thuyết suông, miệng nói: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” nhưng chẳng dám nghiêng vai vác thập tự giá bước lên đồi Gô-gô-tha với Ngài. Chúng ta có can đảm hát xướng và hành động theo lời bài hát: “Chúa Giê-xu ôi, con đã vác thập tự giá của con, bỏ tất cả và đi theo Ngài” không?
Chúng ta đã biết Ngài từng đổ huyết trên thập tự giá vì chúng ta. Trong giờ cầu nguyện trước đó, mồ hôi Ngài tuôn rơi như giọt máu. Tiếng Ngài kêu thảm thiết: “Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” Và sự hi sinh đã đến với Ngài từ giây phút kinh động ấy. Thế thì, Ngài đã hi sinh cho ai? Chẳng phải cho tôi và các bạn sao? Hôm nay, chúng ta tự hào rằng chúng ta làm con Ngài, thế nhưng chúng ta lại không sống đúng bổn phận làm con của một Vua Thánh. Tôi thiết tha gởi đến qúi vị lời kêu gọi: hãy hứa nguyện làm theo những gì Chúa Giê-xu sẽ làm, theo dấu chân Ngài, sống đúng nghĩa, với tinh thần người tín đồ mới. Tôi nhắc lại, chúng ta hãy hứa nguyện trong vòng một năm sẽ làm những gì mà chúng ta cảm nhận một cách thành thật rằng Chúa sẽ làm như thế. Đó là một nguyên tắc sống tốt cho Cơ Đốc nhân chúng ta, làm vui lòng Thượng Đế. Hãy bước đi theo dấu chân Ngài!
Mục sư Henry chấm dứt bài giảng, đưa mắt nhìn khắp lượt hội chúng. Tất cả đều im lặng. Đức Thánh Linh đang động đến mỗi lòng con cái Chúa hôm nay, ai nấy sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của Chúa qua tôi tớ Ngài.
Henry chưa kịp rời toà giảng, thì một số đông cả đàn ông lẫn phụ nữ, thanh niên, tự động đến vây quanh ông đề nghị được cầu nguyện cho việc hứa nguyện làm theo những gì mà họ cảm biết một cách thành thật rằng Ngài sẽ làm và ngược lại sẽ không làm bất cứ việc gì, dù lợi lộc đến đâu chăng nữa, mà họ nhận thấy Chúa không làm, Chúa không vui lòng. Mục sư Henry cảm động vô cùng, đã mời tất cả những người tình nguyện vào phòng trong của Ban trị sự, cầu nguyện xin Đức Thánh Linh làm báp-tem cho họ. Từ đây, họ bắt đầu một đời sống mới kinh nghiệm quyền năng Chúa thực thi trên đời sống họ.
Mục sư Henry rời nhà thờ rất trễ, ông về phòng nghỉ tạm ở khu định cư, quỳ gối cầu nguyện với Thiên Chúa. Sau đó, ông ngả lưng một lát. Ông ngẫm nghĩ về những điều Chúa đã ban trong ngày hôm nay. Ông đã chuyển tải sứ điệp quý báu của Ngài đến cho đông đảo tín hữu. Đang khi ông còn thầm cảm tạ ơn Chúa vì Ngài đã dùng ông làm sứ giả cho Ngài, chợt Chúa ban cho ông một khải tượng lạ lùng.
Ông nhìn thấy cảnh tượng: chính ông đã trở về Hội thánh Raymond, sống trong một căn nhà giản dị, từ bỏ mình khỏi chốn giàu sang, đi đến giúp đỡ những người nghèo khó. Ông lại thấy trước mắt: thời gian sắp tới, ông gặp phải sự chống đối dữ dội trong chức vụ hầu việc Chúa của ông. Trong quá trình truyền rao và phác hoạ chân dung Chúa Giê-xu cho mọi người, ông sẽ gặp đau đớn vì những thế lực vô thần.
Bỗng dưng, ông nghe tiếng phán êm dịu bên tai: “Ân điển của Ta đủ cho ngươi rồi”. Ông lại nhìn thấy Rachel Winslow và Virginia vẫn tiếp tục công tác cho nhà Chúa ở Rectangle, công việc đang tiến triển tốt đẹp. Henry càng nhìn thấy rõ hơn đám cưới của Rollin và Rachel thật đẹp đôi. Cả hai bạn trẻ cầu nguyện xin tận hiến cuộc đời, thời gian, sức lực tài năng để phục vụ Chúa. Giọng hát thanh thoát của Rachel tiếp tục vang lên ở các khu nhà ổ chuột ở Rectangle, mời gọi những linh hồn lạc mất trở lại cùng Thiên Chúa.
Tiếp đó, Henry nhìn thấy ông Hiệu trưởng trường Đại học Lincoln đang dùng tài trí, học thức của mình giảng dạy, khích lệ bao thanh niên, sinh viên sống tốt. Những người có đạo đức được sử dụng vào các công việc nhà nước, lãnh đạo, góp phần tạo sự công bằng xã hội.
Henry cũng nhìn thấy Alexander Powers đang gặp nhiều thử thách trong bước đường theo Chúa. Alexander phải dàn xếp ổn thoả công việc gia đình để giữ vững lời hứa nguyện. Chúa đã tiếp cho ông sức mạnh, giúp ông đương đầu và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Ông chấp nhận chịu mất mát quyền lợi cá nhân, địa vị xã hội để bươn mình tới trước, bám theo dấu chân Chúa mà đi.
Đang ngẫm nghĩ về Alexander, Henry lại đựơc Chúa mặc khải tiếp cảnh tượng về thương gia Milton Wright. Ông ta đang gặp phải những nan đề trong công việc kinh doanh. Ông đã đánh đổi sự lỗ lã nặng nề về tiền bạc để làm theo sự hứa nguyện của mình. Edward Norman chủ bút tờ “Tin Tức Hằng Ngày” đang phát huy năng lực của mình, sử dụng số tiền Virginia dâng một cách ích lợi trong việc tổ chức và mở rộng tờ Thánh kinh báo. Ông thâu nhận phóng viên chủ yếu là tín đồ Tin Lành. Còn nhà văn Jasper Chase - người đã từng phá vỡ giao ước hứa nguyện của mình, đang lao vào một đời sống yếm thế, yếu đuối, bất mãn cá nhân, viết những trang tiểu thuyết chủ yếu nhằm phục vụ cho thị hiếu xã hội, bất chấp nội dung tích cực hay tiêu cực của nó. Rose Sterling, chị gái của Felicia, sau vài năm sống tạm với người dì, đã kết hôn với một thương gia giàu có, lớn tuổi hơn cô rất nhiều. Cô chẳng yêu thương gì ông ta, cô chỉ muốn hưởng gia tài kếch xù của ông và sống xa hoa suốt đời.
Henry thật toại nguyện khi nhìn thấy cảnh Felicia kết hôn với Clyde. Đôi bạn trẻ yêu thương nhau hết mực, sống hạnh phúc bên nhau, hăng hái phục vụ Chúa trong công việc của mình.
Tiến sĩ Calvin và Mục sư Edward đang tiếp tục công việc của mình ở khu định cư: rao giảng lời Chúa, làm chứng, giúp đỡ người nghèo. Henry dường như trông thấy câu khẩu hiệu lớn, lấp lánh giấy bóng kiếng trên cổng khu định cư trải rộng ra: “CHÚA GIÊ-XU SẼ LÀM GÌ?” Ông có cảm giác, ai bước vào khu định cư này là bắt đầu bước theo dấu chân Chúa vậy.
Henry còn nhìn thấy Burns và đồng bọn của anh ta quỳ xuống cầu nguyện ăn năn tội với Chúa, được Chúa tha thứ, cứu chuộc. Chúa lại dùng Burns đi ra, làm chứng dắt đưa nhiều người vốn phạm tội cướp của giết người ăn năn trở về với Chúa, đời sống được tái sanh.
Mục sư Henry được Chúa thúc giục một cách mạnh mẽ sau khi Ngài cho ông nhìn thấy các khải tượng. Ông quỳ gối xuống cầu nguyện: “Cúi lạy Chúa Giê-xu...”. Giây phút ấy, ông lại thấy rõ mồn một câu hỏi quen thuộc: “CHÚA GIÊ-XU SẼ LÀM GÌ?” được khắc lớn, nổi bật trên cổng của tất cả các nhà thờ nhỏ, lớn trên toàn thế giới.
Thế rồi, sau những phút thưa chuyện với Cứu Chúa, ông lại nhìn thấy một khải tượng mới rõ ràng và sống động: tất cả các Hội thánh Tin Lành trên toàn cầu hiệp chung lại một chốn. Tại đó, con cái Chúa làm một cuộc diễn hành hùng dũng với khẩu hiệu đi đầu: “CHÚA GIÊ-XU SẼ LÀM GÌ?” Nét mặt của tất cả thanh niên, nam nữ, phụ lão, ấu nhi trong buổi diễn hành đều lộ vẻ hân hoan, vui vẻ. Đây là những người đã từng chịu khổ, chịu đau đớn, thiệt thòi, mất mát và thậm chí chịu chết vì Đạo. Họ đã phải trả giá đắt khi họ tự nguyện hứa nguyện theo chân Chúa, làm theo những gì Chúa Giê-xu sẽ làm.
Sau đoàn diễn hành, một ca đoàn Thiên thần thổi kèn, trổi lên khúc thánh ca vang lừng cả các từng trời. Giữa không trung, ánh hào quang toả ra rực rỡ, chiếu sáng một vùng, Con Một Đức Chúa Trời đang ngự xuống trong sự vinh quang, vĩ đại và uy nghi. Ngài tươi cười, đưa tay vẫy con cái Ngài từ tất cả các Hội thánh, từ đoàn diễn hành và Ngài hướng mắt về phía Henry, vẫy gọi ông...
Mục sư Henry giật mình, mở bừng mắt, thốt lên một cách kinh hoàng:
- Ôi! Lạy Chúa! Ngài đã cho con nhìn thấy Thiên đàng! Ôi! Con không xứng đáng được gặp Ngài!
Ông cảm động đến trào nước mắt khi nghĩ về tình yêu của Chúa Giê-xu dành cho ông và cho con cái của Ngài khắp hoàn vũ.
Henry đến giường và đặt lưng xuống. Thế nhưng ông không tài nào ngủ được dù đêm đã khuya. Những khải tượng vừa rồi cứ ám ảnh ông, buộc ông suy nghĩ rất nhiều. Gần về sáng, ông mới chợp mắt được một lát. Trong cơn chiêm bao, ông lại thấy nhiều người trở thành Cơ Đốc nhân, được Chúa tái sinh đời sống. Hội thánh càng ngày càng đông lên, nhà thờ phải nới thêm phòng nhóm. Hội thánh Chúa đang cùng nhau vâng lời Chúa và bước đi từng bước chắc chắn theo dấu chân Ngài.
-HẾT-


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 23-1-2018 06:25 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách