† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2574|Trả lời: 0

Thi Văn Và Tiên Tri

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 08:34:30 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Thi Văn Và Tiên Tri
Tác giả: Dick Woodward

CÁC SÁCH THI VĂN
Trong bài học nầy, chúng ta bắt đầu nghiên cứu về năm sách thi văn của Cựu ước, đó là các sách: Gióp, Thi thiên, Châm ngôn, Truyền đạo và Nhã ca (các bài ca của Salômôn). Các sách thi văn cũng được xếp loại là “Các Sách Khôn Ngoan”, để phân biệt với các sách luật pháp, lịch sử và tiên tri trong Cựu ươc.
Các sách thi văn được kể trong phần Kinh thánh được linh cảm, vì thi văn là ngôn ngữ của tấm lòng. Đức Chúa Trời biết tầm quan trọng của những điều Kinh thánh đề cập có liên quan đến tấm lòng của dân sự Ngài. Trong phần Kinh thánh nầy, Đức Chúa Trời nói với những người có tâm trạng đang chịu khổ (sách Gióp), thờ phượng (Thi thiên), đối đầu từng ngày với sự căng thẳng trong hôn nhân, gia đình, cha mẹ, bên ngoài xã hội (Châm ngôn), nghi ngờ (Truyền đạo), và ngay cả khi đang biểu lộ niềm vui riêng tư về mặt thuộc thể giữa vợ chồng (Nhã ca).
Đức Chúa Trời bày tỏ sức sống của Ngài liên quan đến tấm lòng chúng ta khi Ngài cảm thúc viết năm sách nầy, thư viện thánh thi, ngôn ngữ của tấm lòng. Khi đọc năm sách thi văn nầy, chúng ta cảm nhận ngón tay của Đức Chúa Trời đang chạm đến tấm lòng- con người bề trong của chúng ta - lúc đó, chắc chắn chúng ta sẽ có đức tin chân thật và được thay đổi vì chính mình đã kinh nghiệm Đức Chúa Trời. Đó là lý do vì sao Đức Chúa Trời ban cho chúng ta năm sách thi văn nầy.
SÁCH GIÓP
Sách đầu tiên của thi văn cho thấy cuộc sống đầy khó khăn, và chúng ta có thể bị phủ vây trong sự đau buồn và bối rối. Dân sự của Đức Chúa Trời luôn gặp sự đau khổ. Nhiều tín hữu đã từng chịu đau đớn và chết vì cớ đức tin của họ vào cuối Thế chiến thứ hai, nhiều hơn bất cứ giai đoạn nào trong toàn bộ lịch sử Hội thánh. Những gì trong quyển sách cổ nhất của Kinh thánh cho chúng ta biết sự bắt bớ, khổ nạn là điều không thể tránh khỏi, nhưng có cảm thấy khốn khổ hay không là tùy thuộc chúng ta. Sách Gióp là sứ điệp của Đức Chúa Trời gởi đến cho những tấm lòng dân sự của Ngài khi họ đang bị tổn thương.
Nhiều học giả đồng ý rằng sách Gióp được viết trong thời kỳ các tộc trưởng. Khi đọc sách Gióp, chúng ta biết ông sống một trăm bốn mươi năm sau khi chịu khổ rồi mới qua đời “Sau việc ấy, Gióp còn sống một trăm bốn mươi năm; người thấy các con trai, cháu, chít mình đến đời thứ tư.Rồi Gióp qua đời tuổi cao tác lớn” (Giop G 42:16-17). Sự trường thọ của ông tương đương với tuổi của những người chúng ta đọc thấy trong sách Sáng thế ký.
Hình Thức Văn Chương Trong Sách Gióp.
Sự thắc mắc về hình thức văn chương trong sách Gióp được giải đáp khi chúng ta nhìn thấy vị trí sách nầy được đăt trong thư viện thánh thi của Kinh thánh. Đây là một trong những sách thi văn lớn nhất được viết ra. Sách Gióp có thể và thật sự được trình bày như một vở kịch. Hãy suy nghĩ về sứ điệp uyên thâm nầy của Đức Chúa Trời đến với tấm lòng đau thương qua vở kịch có ba hồi. Khi hồi một mở màn, cảnh đầu tiên chúng ta thấy là bối cảnh của một câu chuyện xa xưa trong Kinh thánh.
HỒI MỘT: SỰ SẮP ĐẶT
Trong cảnh thứ nhất của hồi một, giữa Đức Chúa Trời và Satan đang có một cuộc đối thoại về một người đàn ông tên là Gióp. Cảnh đầu tiên nầy dạy chúng ta một lẽ thật sâu sắc về cuộc chiến giữa thiện và ác. Điều ác là hiện thân của Satan, là kẻ không thừa nhận việc Gióp được xưng là một người trọn vẹn vì sự công bình của ông. Đức Chúa Trời đáp lại sự phản đối nầy với điều mà thần học gọi là “sự cho phép xảy ra của Đức Chúa Trời”. Đức Chúa Trời cho phép ma quỷ hành động trong giới hạn. Ngài cho phép ma quỷ lấy đi mọi thứ của Gióp, kể cả mười người con của ông. Satan buộc tội Gióp công bình vì Đức Chúa Trời đã chúc phước cho ông được giàu sang tột bực. Hắn cũng lý giải rằng nếu Đức Chúa Trời cho phép hắn cướp đi tất cả các phước hạnh, thì Gióp sẽ rủa sả Đức Chúa Trời.
Khi được phép của Đức Chúa Trời, cùng với kế hoạch nham hiểm của Satan, Gióp đã mất bảy con trai và ba con gái, bảy ngàn chiên, ba ngàn lạc đà, một ngàn con bò, năm trăm con lừa và nhiều tôi tớ.
Dù phải chịu đựng sự mất mát lớn lao, Gióp không hề rủa sả hoặc oán trách Đức Chúa Trời. Gióp tuyên bố: “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về; Đức Giêhôva đã ban cho, Đức Giêhôva lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giêhôva! Trong mọi sự ấy, Gióp không phạm tội, và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời” (1:21-22). Khổng tử đã nói: “Chúng ta đến thế gian nầy với đôi bàn tay nắm chặt, muốn có mọi thứ, và khi chúng ta lìa thế gian nầy với đôi bàn tay mở ra, chẳng có gì cả”. Gióp muốn nói với chúng ta rằng ông được sinh ra với đôi bàn tay mở ra. Mọi tài sản được Đức Chúa Trời đặt vào tay ông- Ngài không bao giờ nắm tay ông lại. Tài sản nầy là của Đức Chúa Trời khi Ngài đặt chúng vào và vẫn là của Đức Chúa Trời khi Ngài cất đi bất cứ lúc nào, theo thời điểm của Ngài.
Gióp vượt qua sự thử thách đầu tiên một cách tuyệt vời! Trong một chừng mực nào đó, chúng ta có thể cho rằng Gióp sai lầm khi ông nói Đức Chúa Trời đã cất các con và tài sản của ông đi. Chúng ta nhận xét như vậy vì đã được biết mặt trái của vấn đề: Chính Satan là kẻ cướp đi mọi tài sản của Gióp.
Hãy xem Gióp bị cướp mất tài sản như thế nào. Ông mất mười người con bởi một một cơn gió nóng, hoặc bão từ sa mạc thổi tung nhà của người con cả, đè xuống trên họ. Ông mất bầy chiên và những người chăn do “lửa từ trời”, có thể là do sét đánh. Các công ty bảo hiểm gọi các sự kiện nầy là “thiên tai”. Chúng ta biết đây không phải là thiên tai mà do hành động của Satan, với sự cho phép của Đức Chúa Trời, nhưng Gióp không biết điều đó.
Đức Chúa Trời và Satan lại có một cuộc đối thoại khác về Gióp. Lần thứ hai, Đức Chúa Trời lại xưng ông là một người công bình gương mẫu. Một lần nữa, Satan lại xuyên tạc động cơ khiến Gióp trở thành công bình. Satan lý giải rằng Gióp sẽ rủa sả Đức Chúa Trời nếu Ngài cho phép nó làm đau đớn trên thân thể Gióp. Đức Chúa Trời cho phép, song giới hạn là không được cướp đi sinh mạng của Gióp. Bạn có thể nói rằng Đức Chúa Trời cho phép Satan làm đau đớn thể xác của Gióp để xác định mức chịu đựng của ông- sự chịu đựng trong một mức độ cao nhất có thể chịu được mà vẫn không làm mất tính mạng của nạn nhân. Gióp chịu đau đớn trong một chứng bịnh kinh khủng. Các học giả cho rằng bệnh đó giống như bệnh chân voi, một chứng bệnh ung thư làm cho da thịt của bạn trở nên giống như da voi khiến bạn đau đớn do sự sần sùi, lở loét chạy dọc thân thể. Gióp chịu đau đớn hơn mức một người bình thường có thể chịu đựng mà vẫn không chết.
Gióp không mất tự chủ khi gặp thử thách lần thứ hai nầy. Vợ Gióp bảo ông hãy rủa sả Đức Chúa Trời và chết đi. Ông trả lời: “Ngươi nói như một người đàn bà ngu muội. Ủa sao! Sự phước mà tay Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao? ”(2:10). Về cơ bản, Gióp đã hỏi: “Người công bình trông đợi Đức Chúa Trời ban cho điều gì?”
Phần chủ yếu nhất trong sách Gióp được trình bày qua câu hỏi của Gióp đã hỏi vợ mình. Ngay trước khi hạ màn kết thúc hồi một, Gióp được ba người bạn thông thái đến thăm (2:11). Họ cùng đến để an ủi Gióp. Giống như Gióp, họ là những người trưởng thành và được kể vào hàng những người khôn ngoan và kính sợ Đức Chúa Trời. Ngày nay, họ được gọi họ là những nhà triết học và thần học. Họ rất cảm thương về sự biểu hiện đau đớn trên thân thể Gióp, họ ngồi yên lặng với ông suốt trong bảy ngày (sau nầy, Gióp cho họ biết rằng tuần lễ im lặng nầy là phương pháp chữa bệnh đau buồn tốt nhất). Tấm màn hồi một hạ xuống với cảnh Gióp ngồi giữa vòng im lặng của ba người bạn.
HỒI HAI: CHIA SẺ
Khi hồi hai mở màn, chúng ta được giới thiệu về ba người bạn của Gióp là Êlipha, Binhđát và Sôpha. Khi họ ngồi với Gióp trong sự yên lặng đầy đau buồn suốt bảy ngày đầu trong chuyến thăm viếng, họ là những người an ủi mẫu mực, đem lại sự an ủi cho Gióp một cách đơn giản qua sự hiện diện của mình. Khi người ta đau buồn, thì sự hiện diện của bạn bè còn cần thiết hơn cả lời nói.
Tuy nhiên, những người bạn của Gióp không còn là sự an ủi nữa khi họ bắt đầu đề cập đến sự đau buồn của ông. Gióp mở màn hồi nầy với một bài giải luận, mà tôi gọi là “chia sẻ”, trong đó ông rủa sả ngày ông sinh ra và cái đêm mà ông được thai dựng. Ông không rủa sả Đức Chúa Trời như Satan mong muốn. Mô hình cho phân đoạn dài nhất trong sách nầy là sau khi Gióp trình bày bài giải luận mở đầu, thì một trong những người bạn đó sẽ trình bày phần giải luận của mình, bác bỏ lời giải luận của Gióp. Họ luân phiên giải luận gần ba lần.
Êlipha tuyên bố rằng ông nhận được lời phán truyền trực tiếp từ Đức Chúa Trời, một kinh nghiệm thuộc linh khá chủ quan, rằng con người có mặt trên đất nầy là nhờ sự thương xót của Đức Chúa Trời công bình. Qua sự mặc khải trực tiếp của Đức Chúa Trời, ông có thể nói với Gióp cách mạnh mẽ rằng sự đau đớn của Gióp là do tội lỗi ở trong ông (4:12-21). Binhđát kết luận rằng Gióp chịu đau đớn và các con ông bị chết là vì tội lỗi của các con ông (8:1-7), ông cũng cho rằng Gióp là một tội nhân. Sôpha là một người theo thuyết bất khả tri, và kiên định với thuyết bất khả tri của mình. Ông lý luận rằng người ta có thể không biết tại sao mình phải chịu khổ, nhưng cũng nói rằng chiêm nghiệm nó là điều khôn ngoan và tin kính. Ông đồng quan điểm với các bạn rằng nguồn gốc sự đau khổ của Gióp là do tội lỗi. Cả ba “người an ủi” nầy đều thúc giục Gióp hãy ăn năn.
Tóm tắt các bài giải luận nầy, Gióp và các bạn của ông đã thảo luận về câu Gióp đã hỏi vợ mình: “Một người công bình trông đợi Đức Chúa Trời ban cho điều gì?” Tất cả đều đồng ý rằng Đức Chúa Trời ban những điều tốt lành cho người công bình và ban điều ngược lại cho người gian ác. Tình thế khó xử của họ là Gióp, hiện thân là người công bình, song Đức Chúa Trời lại giáng tai họa trên ông. Sự bất đồng gay gắt xảy ra khi họ cố gắng giải thích tình thế khó xử nầy.
Qua lời bàn luận, các bạn đồng ý rằng Gióp không phải là người công bình. Bề ngoài tỏ ra là một người công bình nhưng thật ra Gióp có tội lỗi giấu kín bên trong. Một người trong bọn họ đã gọi Gióp là người ảo tưởng và bảo rằng việc Đức Chúa Trời hình phạt Gióp thực tế hơn việc ông được khen thưởng. Người khác thì tin rằng đó là do tội của các con ông nên Đức Chúa Trời đã cất mạng sống chúng đi và trừng phạt Gióp bằng sự đau đớn khủng khiếp. Tất cả hối thúc Gióp hãy xưng tội và ăn năn. Bạn có thể thấy rõ là những lời giải luận của họ không an ủi Gióp chút nào.
Trong lời giải luận của mình, Gióp khẳng định ông là một người công bình. Ông dựa theo giáo luật để tin chắc mình là một người công bình đến nỗi ông nghi vấn về sự công bình của Đức Chúa Trời khi Ngài giáng nỗi đau khổ trên ông. Cuộc đối thoại nầy chấm dứt khi những người an ủi Gióp cho rằng họ không thể nào thuyết phục được ông nhìn nhận mình là một tội nhân.
Mặc dù các bạn của Gióp là những người thuộc linh và có học vấn, nhưng thật ra sau đó, Đức Chúa Trời đã phán với họ: “Cơn thạnh nộ Ta nổi lên cùng ngươi và hai bạn hữu ngươi; bởi vì các ngươi không có nói về Ta cách xứng đáng, y như Gióp, kẻ tôi tớ Ta, đã nói” (42:7-9). Sau đó Gióp đã nói chuyện với Đức Chúa Trời trong cơn gió lốc, chúng ta nghe tiếng Gióp, là người đã từng khăng khăng cho rằng mình là một người công bình trong cuộc đối thoại với các bạn, ông nói rằng ông là một người gớm ghê (42:6). Khi chúng ta đọc các lời luận của bạn Gióp, chúng ta nên nhớ rằng đến cuối sách, Đức Chúa Trời phán bảo với họ là mọi điều họ nói về Gióp và về Ngài đều sai. Khi bạn đọc đến lời luận của Gióp, liên quan đến lời tuyên bố về sự công bình riêng, hãy nhận biết rằng, đến cuối sách, khi Gióp nhìn thấy Đức Chúa Trời và cảm biết mình vô cùng gớm ghiếc, thì hạ mình xuống và ăn năn trong tro bụi. Bạn hãy tự vấn: “Tại sao Gióp thấy mình gớm ghiếc, và ông ăn năn về điều gì?”
Khi các bạn của Gióp biết là họ không thể thuyết phục được Gióp đồng ý tội lỗi là nguyên nhân của sự đau khổ và lúc Gióp đã cạn lời, thì màn hạ xuống, kết thúc hồi hai.
HỒI BA: GIẢI PHÁP
Khi hồi ba mở màn, Gióp và các bạn của ông vẫn còn ngồi vòng quanh và lại có thêm một người nữa. Tên của người nầy là Êlihu, người trẻ tuổi hơn rất nhiều so với Gióp và các bạn của ông. Người thanh niên nầy giải thích rằng anh đã cố nín nhịn không nói vì anh còn trẻ so với họ là những người cao tuổi hơn. Tuy nhiên, có hai lý do khiến anh quyết định phải nói. Trước hết, anh nhận thức rằng sự khôn ngoan đến từ Đức Thánh Linh bất chấp tuổi tác. Lý do thứ hai khiến anh lên tiếng là vì anh nhận ra rằng họ không bao giờ giải quyết được tình trạng khó xử do họ đã đặt câu hỏi sai.
Đáp án cho tình trạng khó xử về sự đau khổ của Gióp được tìm thấy trong lời giải luận của Êlihu và phần đáp lời của Gióp. Điểm trọng tâm trong lời luận của Êlihu, anh nói Gióp hãy ngước mắt lên và nhận biết quan điểm của Đức Chúa Trời trên sự đau khổ của ông. Theo như những điều chàng thanh niên nầy được soi dẫn, câu hỏi mà Gióp hỏi vợ mình là một câu hỏi sai, vì nó đặt Gióp làm căn nguyên của sự đau khổ. Êlihu đã thay thế câu hỏi sai đó bằng một câu hỏi đúng: “Ông đã nói rằng: Tôi vốn công bình hơn Đức Chúa Trời; Lại nói: Tôi sẽ đặng lời gì? Nhược bằng chẳng phạm tội, Tôi há sẽ được ích hơn chăng? Chớ thì ông tưởng lời ấy có lý sao? Tôi sẽ đáp lại ông,và các bạn hữu của ông nữa. Hãy ngước mắt lên xem các từng trời; Hãy coi áng mây, nó cao hơn ông. Nếu ông đã phạm tội,có hại chi cho Đức Chúa Trời chăng? Nếu các sự vi phạm ông thêm nhiều, có can gì với Ngài? Nếu ông công bình, ông sẽ ban gì cho Ngài? Ngài sẽ lãnh điều gì bởi tay của ông? ”(35:2-7).
Nếu xem bạn chính là căn nguyên của sự đau khổ và đặt câu hỏi: “Đức Chúa Trời sẽ đem điều gì đến cho tôi?” là đã hỏi một câu hỏi sai và gây ra sự lầm lẫn trong mối thông công với Đức Chúa Trời. Điều tối hậu của con người là làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là chúng ta hãy đặt Đức Chúa Trời trước sự đau khổ của chúng ta, và trong đời sống, chúng ta luôn tự vấn: “Tôi đang đặt điều gì vào trong tay Chúa?”
Hãy nhớ lời buộc tội của Satan rằng Gióp là người mà ngày nay chúng ta gọi là tín đồ thực dụng. Giống như một số người theo Chúa Jêsus vì bánh và cá, Gióp đã nhận được điều ông muốn khi ông sống cuộc sống công bình. Từ lúc đầu, tôi đã hỏi rằng: “Tại sao Gióp cảm biết mình xấu xa và hạ mình xuống khi gặp Đức Chúa Trời?” và “Ông ăn năn về điều gì?” Tôi tin rằng Gióp đã nhận thức được qua lời giải luận của Êlihu: Ông đặt sự công bình của chính mình làm trung tâm trong mối thông công với Đức Chúa Trời. Ông không nhận thức được điều đó cho đến khi Đức Chúa Trời dùng sự đau khổ để tỏ cho ông biết. Lúc ấy, ông thấy rằng mình đã vụ lợi Đức Chúa Trời, vì vậy, ông gớm ghê chính mình và ăn năn trong tro bụi.
Mặc dù Gióp bất đồng gay gắt với lời giải luận của những người an ủi, nhưng ông lại chấp nhận ý kiến của chàng thanh niên nầy. Ông làm theo lời khuyên của chàng. Ông nhìn lên và thấy Đức Chúa Trời trong cơn gió lốc.
Gióp và Đức Chúa Trời trò chuyện với nhau một lúc và sau đó, ông công bố: “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi” (42:5-6).
Sau khi Gióp ăn năn, Đức Chúa Trời đã quở trách những người bạn của Gióp. Lúc ấy, Gióp cầu nguyện cho các bạn của ông. Khi Gióp cầu nguyện cho các bạn rồi, Đức Chúa Trời ban tài sản lại cho Gióp gấp đôi. Lúc tấm màn hồi ba hạ xuống, thì Đức Chúa Trời đã ban cho Gióp giàu có bội phần và cũng được ban cho bảy con trai và ba con gái.
Áp Dụng Cá Nhân
Sách đầu tiên trong năm sách thi văn nầy là Lời được cảm thúc dành cho những tấm lòng đau thương. Trong một chiều hướng nào đó, câu chuyện về sự đau khổ nầy có thể được xem là một minh họa sống động về một trong những phước hạnh mà Chúa Jêsus đã dạy trong bài giảng trên núi: “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!” (Mat Mt 5:4). Thông thường, lời dạy dỗ ở Tân ước được áp dụng và minh họa từ trong Cựu ước. Trong Tân ước, Chúa Jêsus ban cho chúng ta một sự dạy dỗ sâu xa chỉ với một câu, nhưng cả sách Gióp áp dụng lẽ thật nầy cho một hoàn cảnh đặc biệt và đưa ra ba bước để chúng ta có thể tìm được sự an ủi và phước hạnh mà Chúa Jêsus hứa cho người đang than khóc. Các bước đó là:
- Bước một : Hãy để sự than khóc đưa bạn đến chỗ mà có lẽ là lần đầu tiên trong đời sống, bạn đặt một câu hỏi đúng. Hãy xem Gióp đã làm gương như thế nào về việc nầy cho chúng ta. Khi đọc sách nầy, hãy xem cách Gióp được dẫn dắt vào sự đau đớn đến nỗi phải hỏi những câu hỏi như: “Đức Chúa Trời có thấy những điều xảy ra cho tôi không? Nếu sự hy vọng duy nhất của tôi là sự chết thì đâu là sự trông cậy của tôi? Con người là chi mà Ngài thử luyện và nhớ đến nhiều như vậy? Tại sao Đức Chúa Trời đem tôi ra khỏi lòng mẹ? Tôi có năng lực để tự giúp mình không? Nhưng loài người chết, thì nằm tại đó; loài người tắt hơi, thì đã đi đâu? Nếu loài người chết, có được sống lại chăng? ”(Giop G 14:10, 14). Đây là những câu hỏi mẫu mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta tự vấn trong khi chịu đau khổ và than khóc.
- Bước hai : Hãy để cho sự than khóc đưa bạn đến chỗ lắng nghe được câu trả lời của Đức Chúa Trời cho những câu hỏi đúng nầy. Gióp đã hỏi Đức Chúa Trời “Nếu loài người chết, có sống lại được chăng?” Đức Chúa Trời trả lời câu hỏi đó khi Ngài ban gấp đôi tài sản cho Gióp. Hãy chú ý điểm Đức Chúa Trời ban gấp đôi gia súc nhưng bản thân gia đình Gióp thì không tăng gấp đôi, ông chỉ được ban cho bảy con trai và ba con gái, trong khi Ngài ban cho gấp đôi những thứ tài sản khác.
Điều đó được giải thích rằng khi loài vật chết, thì chúng chết luôn, nhưng khi các con trai và các con gái chết, chúng vẫn ở trong tình trạng bất diệt. Để ban cho gấp đôi các con của Gióp, Đức Chúa Trời chỉ cần ban thêm bảy con trai và ba con gái. Trong lãnh vực đời đời, Gióp có mười bốn con trai và sáu con gái. Đó là cách trả lời của Đức Chúa Trời cho câu hỏi của Gióp: “Nếu loài người chết, có sống lại được chăng?”
Trong Kinh thánh, bạn sẽ tìm được rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi nầy, giống như cách Đức Chúa Trời trả lời cho Gióp, Thi thiên 23 và trong Tân ước, Chúa Jêsus phán bảo cho chúng ta về sự sống lại của Ngài và sự sống, hầu cho hễ ai tin nơi Ngài sẽ không bao giờ chết (GiGa 11:25-26). Khi đọc Kinh thánh bạn sẽ tìm được rất nhiều câu trả lời tuyệt diệu của Đức Chúa Trời cho những câu hỏi đúng. Tìm kiếm chúng trong tinh thần cầu nguyện và lắng nghe một cách cẩn thận để Đức Chúa Trời hướng dẫn bạn đến những câu trả lời tuyệt diệu trong lời Ngài.
- Bước ba : Hãy để cho sự than khóc đưa bạn đến chỗ tin cậy vào câu trả lời của Đức Chúa Trời cho câu hỏi đúng. Khi bạn đặt câu hỏi đúng, hãy lắng nghe câu trả lời của Đức Chúa Trời, và tin cậy vào Ngài, bạn sẽ khám phá phước hạnh và sự an ủi mà Chúa Jêsus đã hứa cho người than khóc. Kinh thánh gọi phước hạnh và sự an ủi đó là “Sự cứu rỗi”.
BA MƯƠI NGUYÊN DO THEO KINH THÁNH
VÌ SAO CON DÂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHỊU ĐAU KHỔ
Trải qua hằng ngàn năm, con dân của Đức Chúa Trời vẫn băn khoăn “Vì sao người công bình phải chịu đau khổ?” Sách Gióp là một quyển sách trả lời thấu đáo và toàn diện nhất cho câu hỏi đó, dù vậy sách Gióp không phải là câu trả lời duy nhất mà bạn tìm được trong Kinh thánh. Từ Sáng thế ký cho đến Khải huyền, bạn sẽ thấy rằng sự chịu đau khổ của con dân Đức Chúa Trời đã được đề cập đến trong lời của Ngài. Trong chương nầy, tôi sẽ đề cập một cách thật ngắn gọn về ba mươi điều mà Kinh thánh giải thích về sự chịu đau khổ.
1. Sự đau khổ dạy chúng ta rằng chính Đức Chúa Trời là nguồn của mọi sự an ủi
Một ý tưởng đã đem đến cho Phaolô sự an ủi khi ông chịu đựng sự bắt bớ gay gắt ở tại Asi: “Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha hay thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi” (IICo 2Cr 1:3). Sự đau khổ của Phaolô giúp ông khám phá Đức Chúa Trời luôn ở đó và an ủi ông. Ông thách thức chúng ta hãy khám phá giống như thế khi chúng ta chịu khổ.
2. Sự đau khổ huấn luyện, trang bị, và sửa soạn chúng ta để an ủi người khác.
Phaolô tiếp tục ý tưởng mà ông đã bắt đầu trong đoạn văn tham khảo bằng lời viết: “Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhân sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi, thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp!” (1:4). Nhà truyền giáo giống như một người ăn mày nói với người ăn mày khác về nơi có thức ăn. Một người có ơn an ủi là người đã từng bị tổn thương nói với người bị tổn thương khác về sự an ủi mình tìm được ở đâu. Khi chúng ta khám phá sự an ủi có thể tìm được nơi Đức Chúa Trời, thì chúng ta trở nên một người có ơn trong chức vụ an ủi. Chỉ có người nào trải qua sự đau khổ mới có thể khám phá ra sự an ủi đến từ Đức Chúa Trời, thì mới có thể nói cho người có lòng bị tổn thương khác Nguồn an ủi đến từ đâu.
3. Sự đau khổ dẫn chúng ta tìm đến sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Theo Giacơ, khi sự đau khổ đưa chúng ta đến chỗ không còn biết phải làm gì, chúng ta có thể cầu xin sự khôn ngoan mà chúng ta không có: “Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho” (Gia Gc 1:5). Giacơ quả quyết với chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ đổ đầy trên chúng ta sự khôn ngoan mà chúng ta cần.
4. Sự đau khổ dẫn chúng ta đến sự trưởng thành thuộc linh.
Giacơ dạy chúng ta rằng sự đau khổ khiến cho chúng ta: “vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào” (Gia Gc 1:3-4). Sự thử thách đức tin đưa chúng ta đến sự tin cậy trong đức tin, sự tin cậy trong đức tin dẫn chúng ta đến sự đắc thắng trong đức tin hoặc “Mão triều thiên sự sống” (12).
5. Sự đau khổ đưa chúng ta đến gần ân điển của Đức Chúa Trời.
Khi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan cho chúng ta, vì chúng ta không biết phải làm gì với sự ban cho đó, nên chúng ta cần ân điển của Đức Chúa Trời hầu có thể sử dụng sự khôn ngoan của Ngài. Phaolô viết: “Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành” (IICo 2Cr 9:8). Tất cả mọi ân điển đều thuộc về bạn, mọi sự đầy đủ, mọi vật, sự dư dật, mọi việc lành. Không có gì ngạc nhiên khi Phaolô bảo chúng ta rằng hãy vui mừng trong sự đau khổ, điều đó sẽ giúp chúng ta khám phá kho tàng của sự khôn ngoan và ân điển nầy.
6. Sự đau khổ sinh ra đặc tính thuộc linh.
Sự đau khổ sinh ra phẩm chất thuộc về cá tính trong chúng ta, song nó sẽ không hoạt động khi không gặp khó khăn: “Nào những thế thôi, nhưng chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục, sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy” (RoRm 5:3-5). Những từ ngữ như sự nhịn nhục và sự tôi luyện diễn tả điều mà chúng ta có thể gọi là: “khả năng tồn tại”. Đây là đặc tính tiêu biểu mà nó tồn tại, và cứ tồn tại dù là khó khăn đến đâu. Đó là cách mà quả cam vẫn là quả cam. Nó tồn tại ở đó, gắn liền với cây cho đến khi nó là một quả. Sự đau khổ có thể làm phát triển lãnh vực quan trọng nầy của đặc tính thuộc linh.
7. Khi chúng ta chịu đau đớn trong tuổi thơ, thì sẽ được mạnh mẽ lúc trưởng thành.
CaAc 3:27 dạy chúng ta: “Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ”. Khi trẻ thơ chịu hoạn nạn thử thách, chúng sẽ phát triển sức mạnh và sự kiên quyết cần có để chịu đựng thử thách lâu dài khi trưởng thành.
8. Sự đau khổ huấn luyện người rao giảng Tin Lành.
Phaolô viết rằng sự chịu khổ là một phương cách để chúng ta chứng tỏ mình là người hầu việc Đức Chúa Trời: “Nhưng chúng tôi làm cho mình đáng trượng trong mọi sự, như kẻ hầu việc Đức Chúa Trời, bởi lòng nhịn nhục lắm trong những sự hoạn nạn thiếu thốn, khốn khổ” (IICo 2Cr 6:4). Để rồi qua đó Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta đáp ứng: “bởi sự thanh sạch, thông biết, khoan nhẫn, nhân từ” và chúng ta tìm được nguồn gốc của sự đáp ứng đó “Bởi Đức Thánh Linh, bởi lòng yêu thương thật tình, bởi lời chân thật, bởi quyền phép Đức Chúa Trời” (6-7a). Sự chịu khổ là động lực Đức Chúa Trời dùng để thiết lập “trường đào tạo” huấn luyện những người rao giảng Tin lành.
9. Sự đau khổ sinh ra “những cột mốc phép lạ” trong hành trình đức tin.
Khi Đavít cầu xin sự giải cứu trong cơn khủng hoảng (Thi Tv 3:1-6), ông cầu nguyện với đức tin và sự quả quyết đã được tôi luyện, vì ông nhận biết sự thành tín của Đức Chúa Trời trong cơn khủng hoảng trước đây. Mỗi khi chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời ở với mình trong cơn khủng hoảng, chúng ta tiếp lấy được “cột mốc phép lạ”, nhờ đó tăng thêm sức mạnh và năng lực của đức tin trong hiện tại và tương lai.
10. Sự đau khổ dọn đường cho sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Êsai rao giảng rằng cuộc đời của Đấng Mêsi là một xa lộ mà qua đó Đức Chúa Trời đem sự cứu rỗi vào thế gian: “Mọi nơi sủng thấp sẽ được cao lên; mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống: các nơi gập ghềnh sẽ làm cho bằng, các nơi dốc hãm sẽ làm thành đồng nội” (EsIs 40:4). Đời sống của Chúa Jêsus là một con đường mà qua đó, Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi đi vào thế gian. Chúng ta cũng giống Chúa Jêsus, cũng là một con đường để Đức Chúa Trời đem sự cứu rỗi vào trong thế gian nầy. Đức Chúa Trời có thể đem sự cứu rỗi đến cho người khác qua cuộc đời của chúng ta khi ngọn núi kiêu ngạo bị hạ xuống, các nơi trũng được lấp đầy, những tội lỗi quanh quẹo được làm cho ngay thẳng, những khuyết điểm lởm chởm nhờ sự đau khổ làm cho bằng phẳng.
11. Sự đau khổ thể hiện quyền năng của Đức Chúa Trời.
Khi Phaolô cầu xin Đức Chúa Trời cất cái dằm xóc khỏi xác thịt ông, Ngài phán: “Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối (IICo 2Cr 12:9). Sự yếu đuối của chúng ta có thể là cách mà qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ sức mạnh và quyền năng của Ngài. Điều nầy có thể giải thích về công việc nhọc nhằn cứ lặp đi lặp lại, cộng thêm nhiều nỗi đau khổ. Sự bất năng của chúng ta làm nổi bật lên sự toàn năng của Đức Chúa Trời.
12. Sự yếu đuối của chúng ta làm lộ rõ sự mạnh mẽ của Đức Chúa Trời.
Sự đau khổ thường làm cho chúng ta trở nên yếu đuối, Phaolô đã trở nên yếu đuối cùng cực bởi cái dằm xóc vào da thịt ông (12:7-10). Nhưng khi chúng ta yếu đuối, thì Đức Chúa Trời là mạnh mẽ, khi chúng ta bất năng thì Đức Chúa Trời là toàn năng. Đức Chúa Trời có thể dùng sự đau khổ của chúng ta để dạy dỗ chúng ta, ngay chính lúc sức lực chúng ta cạn kiệt thì quyền năng của Ngài bắt đầu.
13. Sự đau khổ là cơ hội để học tính khiêm nhường.
Phaolô viết rằng cái dằm xóc được dùng “Để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo” (12:7). Chúng ta có thể bị cám dỗ bởi nghe những lời tán dương khi làm việc gì đó cho Chúa, và chiếm mất sự vinh hiển đáng được dâng cho Ngài, vì vậy, đôi khi Đức Chúa Trời dùng sự đau khổ để giữ chúng ta trong sự khiêm nhường.
14. Kinh nghiệm đau khổ thường đưa chúng ta đến kinh nghiệm vui mừng.
Trong Thi Tv 126:5 “Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, sẽ gặt hái cách vui mừng”. Nước mắt chúng ta đổ ra trong lúc chịu khổ thường là những “Hạt giống” mà một ngày nào đó sẽ sanh ra bông trái vui mừng. Trải qua mùa đau khổ, sẽ đến mùa gặt bông trái vui mừng. Đôi khi chúng ta phải chờ đợi cho đến khi bước vào cõi đời đời lúc đó mới vang tiếng reo mừng.
15. Sự đau khổ đôi khi là sự “Tỉa sửa”, dầu có vẻ giống như là một sự thất bại.
Chúa Jêsus dạy chúng ta rằng Ngài là gốc nho, chúng ta là nhánh. Để sanh ra bông trái, chúng ta phải tiếp tục ở trong sự thông công với Đấng Christ là gốc nho của chúng ta, đó là cách để cành liên hệ với gốc nho. Muốn sanh bông trái chúng ta phải chịu đau khổ trong quá trình tỉa sửa, nhưng khi đã được tỉa sửa sẽ sanh nhiều bông trái vui mừng trong Đấng Christ (GiGa 15:2, 11).
16. Sự chịu khổ bày tỏ Đấng Christ cho thế gian.
Phaolô viết rằng khi chúng ta chịu khổ, chúng ta là cái chậu bằng đất (bình đất sét nhỏ) mà phải chịu khổ hầu cho chúng ta bày tỏ sự cao trọng của Đấng Christ, là ánh sáng vĩ đại chiếu soi rọi thế gian nầy khi cái bình đất sét bị vỡ ra (IICo 2Cr 4:7-10). Khi chúng ta chịu khổ, chúng ta “Bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất” hầu cho quyền phép vinh hiển của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng ta.
17. Sự đau khổ thúc đẩy con người bề trong tăng trưởng :
Con người bề ngoài chỉ là tạm thời, nhưng con người bề trong là đời đời. Trong khi con người bề ngoài suy tàn dần, con người bề trong của chúng ta có thể được đổi mới mỗi ngày và được sửa soạn cho cuộc sống trong tương lai vĩnh hằng (IICo 2Cr 4:16). Sự đau khổ chỉ là tạm thời, nhưng kết quả của sự đau khổ có thể còn lại mãi mãi. Đây là một khái niệm tuyệt vời để chia sẻ với người đang chịu khổ, đưa họ từ một tình trạng cùng cực bước vào sự vui thỏa đời đời.
18. Sự đau khổ có thể dạy chúng ta về những giá trị đời đời.
Chúng ta được dạy dỗ là vào ngày chung kết, trái đất sẽ bị rúng động, chỉ có những vật có giá trị đời đời tồn tại mà thôi (HeDt 12:25-29). Vì đời sống và các giá trị thường đi đôi với những điều thuộc về đời tạm nầy, đôi khi Đức Chúa Trời dùng sự đau khổ để dời tầm mắt chúng ta khỏi những điều tạm thời và nâng tầm mắt chúng ta hướng vào cõi đời đời.
19. Sự đau khổ có thể tinh luyện chúng ta.
Đức Chúa Trời của chúng ta là một “ngọn lửa hay thiêu đốt” (12:29). Đôi khi Ngài dùng sự đau khổ để thiêu hủy bất cứ điều gì đi ngược với bản tính thánh khiết của Ngài trong đời sống chúng ta. Quá trình tinh luyện nầy, qua hình thức chịu khổ, giúp chúng ta chuẩn bị cho việc sống trong cõi đời đời.
20. Sự đau khổ đôi khi là hậu quả của tội lỗi.
Chúng ta gặt những gì đã gieo ra. Nếu chúng ta gieo ra sự đồi bại, thì sẽ gặt lấy sự đồi bại. Một tâm trí hư hỏng dẫn đến một cuộc đời trụy lạc. Đôi khi việc chúng ta chịu khổ là đang gặt một “mùa bội thu hậu quả”, vì chúng ta đã gieo trồng những hạt giống xấu xa trong mảnh vườn đời sống mình (GaGl 6:7-8).
21. Sự đau khổ xác định chúng ta chính là con cái của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời thành tín sửa phạt những người thật sự là con cái của Ngài (HeDt 12:4-11). Ngài chịu trách nhiệm về họ. Ngài không sửa trị những người không gọi Ngài là Cha, là Chúa. Vì Đức Chúa Trời là Cha và chúng ta là con cái của Ngài, nên chúng ta chịu sự sửa phạt khi phạm tội.
22. Sự đau khổ đôi khi là phương tiện để Đấng Christ thông công cùng chúng ta.
Đấng Christ phục sinh, hằng sống, đang gõ cửa những tấm lòng hâm hẩm trong sự vâng phục Ngài. Tiếng gõ cửa nầy tượng trưng cho sự quở trách và sửa phạt bởi vì chúng ta xưng Ngài là Đấng cứu chuộc nhưng không xưng Ngài là Chúa (KhKh 3:19-20). Ngài sẽ bước vào nơi có ý nghĩa trong đời sống chúng ta và thông công với chúng ta tại đó. Tiếng gõ cửa của Đấng Christ đến trong hình thức chịu khổ.
23. “Chuồng lợn” thúc giục những người hoang đàng quay trở lại.
Người con trai hoang đàng chỉ “bước ra khỏi cảnh ngộ của mình” khi anh ta chịu khổ trong chuồng lợn (LuLc 15:17). Vì vậy, sự đau đớn trong “chuồng lợn” thế gian nầy có thể đưa chúng ta ra khỏi nghịch cảnh, đem chúng ta đến sự ăn năn, và làm cho chúng ta có sự quyết tâm quay trở lại trong mối thông công và các giá trị của Cha.
24. Sự sửa phạt bằng cách chịu khổ cho chúng ta dự phần trong sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
Cha trên trời sửa phạt chúng ta trong tình yêu thương: “Vả, cha về phần xác theo ý mình mà sửa phạt chúng ta tạm thời, nhưng Đức Chúa Trời vì ích cho chúng ta mà sửa phạt, để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài” (HeDt 12:10). Đức Chúa Trời là thánh, và Ngài muốn chúng ta phải thánh. Đôi khi Ngài dùng sự đau khổ để giúp chúng ta hiểu tầm quan trọng của thánh khiết trong bản chất của Ngài và của cả chúng ta.
25. Chúng ta chịu khổ vì thế gian ghét Đấng Christ và những người theo Ngài.
Sứ đồ Phaolô viết: “...Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ” (IITi 2Tm 3:12).
26. Sự chịu khổ tôi luyện đức tin chúng ta.
Phierơ viết: “Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra” (IPhi 1Pr 1:6-7). Giống như lửa làm sạch vàng, đức tin chúng ta có giá trị hơn vàng, phải được tinh luyện bởi “lửa” của sự chịu khổ.
27. Khi chịu khổ, chúng ta đang theo gương Đấng Cứu Chuộc chúng ta.
Phierơ viết rằng chúng ta được gọi là những người “theo dấu chân Ngài” (2:21). Ngài đã chịu đau đớn cực độ trên thập tự giá để cứu chuộc chúng ta. Ngài phán với chúng ta một cách mạnh mẽ rằng chúng ta phải vác thập tự giá mình mà theo Ngài (LuLc 9:23-25, 14:25-35). Chúng ta đang theo dấu chân Ngài khi chúng ta cam chịu đau đớn vì cớ danh Ngài.
28. Sự chịu khổ của chúng ta đôi khi mở ra cánh cửa cho vương quốc của Đức Chúa Trời.
Khi Phaolô và Banaba thường bị bắt bớ trong các hành trình truyền giáo, họ đã khích lệ các tín hữu khác bởi lời nói nầy: “Giục các môn đồ vững lòng, khuyên phải bền đỗ trong đức tin,và bảo trước rằng phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời” (Cong Cv 14:22). Dầu cho chúng ta không chịu khổ để vào nước Đức Chúa Trời, thì vẫn có nhiều người được đem đến đức tin qua cánh cửa khổ nạn.
29. Tất cả chúng ta đều bước vào cõi đời đời qua sự chết và sự sống lại.
Chúa Jêsus phán với người đàn bà tại nơi mộ phần rằng hai nan đề không thể giải quyết được là ốm đau và sự chết. Chúng là cánh cổng đưa chúng ta vào cuộc sống vĩnh hằng (GiGa 11:20-32). Chúng ta hãy chuyển đổi hai nan đề đó thành chiếc vé về nhà trên trời vì tin chắc rằng Chúa Jêsus là giải pháp duy nhất cho những nan đề đó. Sở dĩ Đức Chúa Trời không loại trừ ốm đau và sự chết, vì đó là cách duy nhất đưa chúng ta ra khỏi thế gian nầy. Đây là một cách giải nghĩa lý do tại sao chúng ta phải chịu khổ.
30. Triết lý của Kinh thánh về sự chết.
Để thể hiện quyền lãnh đạo của mình, người chăn thường dùng gậy gõ nhẹ trên đầu chiên để bắt nó nằm xuống. Theo lời của Đavít, Đức Chúa Trời là Đấng chăn giữ chúng ta bằng cách cho chúng ta nằm xuống (Thi Tv 23:3). Qua mối liên hệ nầy, Đức Chúa Trời đưa chúng ta đến giếng nước, đồng cỏ xanh, và làm cho chén chúng ta đầy tràn. Khi chúng ta đứng dậy, đồng cỏ trở nên vàng úa, giếng nước khô cạn, và chén trống rỗng.
Sự chết là một người chăn tốt, khiến chúng ta nằm xuống để Ngài có thể dẫn chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi chẳng bao giờ vàng úa, giếng nước chẳng bao giờ cạn, và chén chẳng bao giờ trống rỗng. Để nhận được những giá trị đời đời, chúng ta phải kinh nghiệm hai nan đề không thể giải quyết là ốm đau và sự chết. Đây là lời giải thích cơ bản của Kinh thánh về việc tại sao con dân của Chúa phải chịu khổ.
Lời Đức Chúa Trời không nói nhiều về sự chịu khổ, dầu vẫn còn nhiều sự đau đớn trên con dân Đức Chúa Trời mà chúng ta không thể hiểu hết. Câu hỏi chúng ta thường gặp phải nhất trong cuộc sống là “Tại sao?”, song ở thiên đàng từ ngữ chúng ta thường dùng nhất là “Ôh!”. Sau khi chúng ta nói “Ôh” qua hằng ngàn năm, chúng ta sẽ bắt đầu nói “Halêlugia!”
SÁCH THI THIÊN
Sách Thi thiên bày tỏ tấm lòng của con dân Đức Chúa Trời khi họ thờ phượng. Thi thiên gồm có 150 bài ca được mặc khải để dân Ysơraên thời Cựu ước tôn vinh Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho họ sách Thi thiên để giúp họ bày tỏ tình yêu, sự ngợi khen, và lời cầu nguyện đến Đức Chúa Trời khi thờ phượng. Ngày nay, những bài ca nầy sẽ dẫn dắt bạn vào trong sự hiện diện siêu nhiên của Đức Chúa Trời và giúp bạn bày tỏ tình yêu, sự ngợi khen và lời cầu nguyện khi bạn thờ phượng Ngài.
Nhìn Sơ Lược Về Sách Thi Thiên
Trước khi Kinh thánh được dịch ra tiếng Hy lạp, sách Thi thiên được chia thành năm sách riêng biệt: Thi thiên chương1-41, 42-72, 73-90, 91-107, 108-150. Bảy mươi ba Thi thiên được cho là của Đavít, mười hai Thi thiên của Asáp, mười một Thi thiên của con cháu Kôrê. Các học giả tin rằng Êxêchia viết mười Thi thiên; Môise, Êxơra và Salômôn mỗi người viết một Thi thiên. Nhiều bài Thi thiên ẩn danh hầu như là do những người Lêvi viết ra - những người giữ chức vụ âm nhạc do Đavít chỉ định - hoặc do chính Đavít là trước giả của những bài Thi thiên ẩn danh nầy.
Cấu Trúc Âm Nhạc
Các tiêu đề của Thi thiên thường chứa đựng cấu trúc âm nhạc, như là ống quyển, ngụ ý bài ca được dùng với nhạc khí thổi hơi, hoặc đàn cầm, dùng cho dàn dây. Chữ “Sê la” rải rác trong suốt sách Thi thiên có nghĩa là “nghĩ và suy gẫm một cách kỉnh kiềng”. Đôi khi cũng có ý nghĩa gần giống như là dấu lặng trong âm nhạc hiện đại của chúng ta, hoặc cũng có nghĩa là một chỗ để cho các nhạc công nghỉ, chuyển qua giai điệu khác.
Với Ai Và Về Ai?
Các trước giả Thi thiên thời xưa hoặc các tác giả những bài thánh ca ngày nay thường nói với Đức Chúa Trời và về Đức Chúa Trời, đó là sự ca ngợi Ngài; đôi khi họ nói với Đức Chúa Trời về con người, lúc họ dâng lời cầu nguyện; hoặc đôi khi họ trình bày với Đức Chúa Trời về mọi điều. Họ nói với con người về Đức Chúa Trời, với ý nghĩa rao giảng. Khi bạn đọc từng lời của các bài Thi thiên, hãy tự vấn: “Trước giả bài Thi thiên đang nói với ai và về ai?” Hãy hỏi và trả lời câu hỏi đó thì bạn sẽ được soi sáng để thấu suốt sứ điệp và áp dụng Thi thiên mà bạn vừa đọc.
Chủ Đề Của Sách Thi Thiên
Bạn sẽ tìm thấy bốn chủ đề được nhấn mạnh trong sách Thi thiên, nhưng hầu như chủ đề chung là những người được phước. Chủ đề nầy xuyên suốt trong Thi thiên. Thi thiên về người được phước thường giải thích rằng phước hạnh ban cho người được phước không phải là một sự ngẫu nhiên, hoặc một sự trùng hợp, nhưng là kết quả của đức tin và mức độ ưu tiên về thuộc linh của trước giả Thi thiên. Bạn sẽ tìm thấy chủ đề nầy được diễn đạt trong các Thi thiên chương 1, 23, 32, 128 và trong nhiều Thi thiên khác.
Chủ đề cảm xúc cũng được trình bày trong Thi thiên. Các Thi thiên nầy bày tỏ cảm xúc riêng tư và cho chúng ta biết cách đáp ứng thích hợp với những cảm xúc nầy. Bất kỳ xu hướng cảm xúc nào bạn trải qua khi đọc Thi thiên, thì bạn cũng có thể đáp ứng xu hướng cảm xúc đó. Dù bạn đang ngã lòng, lo lắng, nặng nề với gánh nặng tội lỗi hoặc tấm lòng bị tổn thương, hay lòng bạn đang tràn ngập sự biết ơn vì các phước hạnh và muốn bày tỏ qua sự thờ phượng,… khi đọc Thi thiên, bạn sẽ tìm thấy Thi thiên phù hợp, giúp bạn biết cần phải làm gì trong tâm trạng nầy.
Hãy quan sát những điều mà các trước giả Thi thiên đã làm với các cảm xúc đó và hãy làm như vậy theo cảm xúc của bạn. Một số các Thi thiên cảm xúc là: Thi thiên chương 3, 4, 32, 34, 51, và 55.
Sự thờ phượng là chủ đề cuối cùng trong sách Thi thiên. Trong các Thi thiên thờ phượng, các trước giả không chỉ nói với Đức Chúa Trời về Ngài, nhưng cũng khích lệ chúng ta thờ phượng và cũng dạy chúng ta thờ phượng như thế nào. Một số các bài Thi thiên thờ phượng là: Thi thiên chương 8, 63, 100, 103, 107.
Các trước giả Thi thiên cũng có chức năng viết tiên tri về một sự kiện xảy ra, tạo nên điều mà chúng ta gọi là các Thi thiên về Đấng Mêsi. Các Thi thiên nầy nói tiên tri về sự ra đời của Đấng Mêsi. Đavít nói tiên tri về sự Giáng sanh của Chúa Jêsus Christ và sự phục sinh của Ngài trong Thi thiên 16. Phierơ đã rao giảng Thi thiên nầy trong ngày Lễ Ngũ tuần. Những thí dụ khác về Thi thiên tiên tri là: Thi thiên chương 2, 8, 22, 46, và 110.
Bối Cảnh Lịch Sử Của Thi Thiên
Bối cảnh lịch sử của nhiều Thi thiên được tìm thấy trong các sách I & II Samuên và Sử ký. Đavít viết một nửa sách Thi thiên. Tiểu sử của ông được tìm thấy trong các sách lịch sử nầy. Nội dung hoặc lời chú các Thi thiên của Đavít thường cho biết mốc lịch sử của chúng. Với thông tin đó, bạn có thể tra cứu các sách lịch sử để hiểu bối cảnh của sự kiện. Nghiên cứu về những bối cảnh lịch sử nầy sẽ giúp bạn được sáng tỏ và áp dụng chúng vào đời sống.
Ở giữa những lời cầu nguyện tốt đẹp nầy, có một vài trước giả Thi thiên cầu nguyện cho kẻ thù của mình. Trong lời cầu nguyện, họ thường cầu xin Đức Chúa Trời giúp họ dùng gươm bẻ gãy răng kẻ thù địch, hoặc dùng khí giới đánh nát kẻ thù của họ ra từng mảnh. Điều nầy trái ngược với sự dạy dỗ của Chúa Jêsus: “Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi” (Mat Mt 5:44).
Một lý do quan trọng khác, đó là cần phải có quan điểm lịch sử khi bạn đọc Thi thiên. Các bản thi ca cổ nầy được viết trong thời kỳ luật pháp, dạy rằng ghét kẻ thù nghịch là thích hợp, nhất là nếu kẻ thù xúc phạm đến Đức Chúa Trời (PhuDnl 23:3-6). Vì thế không có sự mâu thuẫn khi Đavít cầu nguyện: “Tôi há chẳng ghét những kẻ ghét Chúa ư? Tôi ghét chúng nó thật là ghét, với gươm tôi, tôi sẽ đánh xé chúng nó thành từng miếng giống như bụi trên đất”.# Bối cảnh lịch sử xác định những lời cầu nguyện như vậy là hợp lẽ.
Thi Tv 23:1-6
“TÂM SỰ CỦA CHIÊN”
Bài Thi thiên chăn chiên của Đavít là bài Thi thiên tuyệt vời và là chương tuyệt vời trong Kinh thánh đối với hàng triệu người Do thái, Công giáo và Tin lành. Trong Thi thiên nầy, Đavít nói về Đức Chúa Trời của mình. Dạng văn chương của Thi thiên nầy là “Tâm sự của chiên”, bởi vì đây là lời của con chiên nói với một con chiên khác về Đấng chăn chiên vĩ đại của mình:
Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi;
Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.
Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi
Dẫn tôi đến mé nước bình tịnh.
Ngài bổ lại linh hồn tôi,
Dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài.
Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết,
Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi :
Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi.
Chúa dọn bàn cho tôi, trước mặt kẻ thù nghịch tôi;
Chúa xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn.
Quả thật, trọn đời tôi,
Phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi;
Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giêhôva cho đến lâu dài.
Thêm vào Thi thiên giảng giải, 23:1-6 là Thi thiên của người được phước. Trong tất cả các Thi thiên nói về người được phước, thì các phước hạnh ban cho người được phước thường có điều kiện. Trong Thi thiên nầy, phước hạnh của Đavít là đồng cỏ xanh tươi, giếng nước, chén đầy tràn. Điều kiện của các phước hạnh nầy cơ bản được tìm thấy ở ngay những câu đầu của Thi thiên: “Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi”. Tất cả những phước hạnh mà Đavít mô tả trong Thi thiên tuyệt vời nầy là từ kinh nghiẹm với Đức Chúa Trời cho nên ông có thể nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng chăn giữ ông. “Đồng cỏ xanh tươi” ám chỉ về hình ảnh phước hạnh vật chất. Khi Đavít nói “Chén tôi đầy tràn”, ông muốn diễn tả sự vui mừng. Ông là một người hạnh phúc. Chìa khóa của niềm vui, hạnh phúc là gì? Đức Chúa Trời là Đấng chăn giữ Đavít. Cho đến chừng nào Đức Chúa Trời còn là Đấng chăn giữ ông, thì ông có được mọi điều - đồng cỏ xanh tươi, giếng nước, chén đầy tràn, bàn đầy dẫy thực phẩm. v.v. Nhưng, tất cả mọi phước hạnh nầy đều có điều kiện, chúng tùy thuộc vào mối thông công giữa Đavít và Đấng chăn giữ. Thi thiên nầy thực sự nói về mối thông công quan trọng nhất trên thế gian - sự thông công của chúng ta với Đức Chúa Trời.
Vị Trí Thông Công
Khi chúng ta nhận biết tầm quan trọng của mối thông công, thì chúng ta hãy tự vấn là sự thông công được thiết lập như thế nào. Câu giải đáp cho chúng ta được tìm thấy ở câu thứ hai của Thi thiên nầy: “Ngài khiến tôi an nghỉ”. Người chăn chiên tỏ uy quyền lãnh đạo trên bầy chiên bằng cách gõ nhẹ cây gậy trên đầu con chiên. Qua cách đó ông muốn nói với chiên rằng “nằm xuống!” Đức Chúa Trời, Đấng chăn giữ chúng ta, thường gõ nhẹ trên đầu chúng ta với những nan đề mà chúng ta không thể tránh hoặc giải quyết được.
Thể Hiện Sự Thông Công
Điều nầy chỉ xảy ra khi Đức Chúa Trời trở thành Người chăn để dẫn dắt chúng ta. Bầy chiên chỉ uống nước trong như gương. Nước trong có tại những chỗ đã được sắm sẵn cho chúng ta. Đấng chăn giữ vĩ đại của chúng ta không thể dẫn đến những chỗ nầy cho đến khi chúng ta chịu nằm xuống và tuyên xưng hai điều: Đức Chúa Trời là Người chăn và chúng ta là chiên của Ngài. Những câu tiếp theo diễn tả tiến trình của sự thông công. Điều nầy có nghĩa là chúng ta đứng dậy và lại nô đùa với người chăn, mối thông công giữa Đấng chăn chiên và chúng ta được phục hồi.
Bối Cảnh Thông Công
Khi Đavít đặt sự thông công vào bối cảnh, ông đã cho chúng ta thấy một sự diễn tả tuyệt đẹp trong Kinh thánh về sự thông công giữa Đức Chúa Trời và loài người. Ông thuật cho chúng ta biết rằng ông chẳng ngại đi bất cứ nơi đâu mà Người chăn dẫn dắt. Ông biết rằng Ngài luôn ở cùng, đi phía trước, rồi trở lại phía sau với tình yêu và sự thương xót, cung cấp và đổ phước hạnh trên ông, làm cho chén ông đầy tràn. Ông cũng biết rõ rằng, mối thông công nầy sẽ cứ tiếp diễn mỗi ngày trên đời sống ông - và mãi mãi.
Áp dụng sứ điệp của Thi thiên 23 vào đời sống của bạn, bạn nên nhớ rằng khi bạn tôn Chúa làm Đấng chăn giữ, bạn được đưa đến đồng cỏ xanh tươi, bên suối nước, và chén của bạn tràn đầy phước hạnh. Khi bạn quyết định tôn Ngài là Đấng chăn giữ đời mình, cỏ có vàng úa và chén có trống trơn không? Bạn có phải lang thang tìm nguồn nước không?
Nhận biết rằng mình cần được phục hồi, bạn hãy để Ngài tạo mối thông công giữa Ngài và bạn, duy trì vị trí thông công trong danh Ngài, rồi sống một đời sống biết rằng Đấng chăn giữ ở cùng, đi trước và sau bạn với sự tốt lành và nhân từ, dọn bàn đầy đủ, chúc phước cho cuộc đời bạn với sự xức dầu, và làm đầy chén hạnh phúc trong tâm hồn bạn. Sống trong sự tin chắc rằng Ngài làm mọi sự qua từng ngày của đời bạn cho đến mãi mãi, và hướng về cõi đời đời với sự lạc quan không suy tàn.
Thi Tv 1:1-8
“NGƯỜI ĐƯỢC PHƯỚC”
Thi thiên thứ nhất là Thi thiên diễn tả về một người được phước. Tất cả các Thi thiên nói về người được phước đều theo một khuôn mẫu chung của Thi thiên thứ nhất, và bày tỏ cho chúng ta biết rằng người được phước và các phước hạnh ban cho trên đời sống người ấy không phải do tình cờ hoặc ngẫu nhiên, nhưng là kết quả do sự tin chắc và chọn lựa có cân nhắc, chúng ta hãy đọc Thi thiên thứ nhất:
Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ,
Chẳng đứng trong đường tội nhân,
Không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng;
Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giêhôva,
Và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm.
Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước,
Sanh bông trái theo thì tiết,
Lá nó cũng chẳng tàn héo;
Mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng.
Kẻ ác chẳng như vậy đâu;
Nhưng chúng nó khác nào rơm rác gió thổi bay đi.
Bởi cớ ấy kẻ ác chẳng đứng nổi trong ngày đoán xét,
Tội nhân cũng không được vào hội người công bình.
Vì Đức Giêhôva biết đường người công bình,
Song đường kẻ ác rồi bị diệt vong.
Ai Là Người Được Phước?
Thi thiên thứ nhất nói về hai loại người - người được phước và người không kính sợ Đức Chúa Trời. Thi thiên nầy viết theo hình thức thơ văn Hêbơrơ, chỉ về tình trạng xác thực bằng cách nêu ra một tình huống phủ định. Đavít mô tả về người được phước bằng cách đưa ra một hình ảnh không phải là ông. Thí dụ như, người được phước là người chẳng “Theo mưu kế của kẻ dữ” (1a), là người đi theo đường lối của Đức Chúa Trời, tìm kiếm đường lối trong lời Chúa “Suy gẫm luật pháp áy ngày và đêm” (2b). Cũng vậy, người được phước không “ngồi chỗ của kẻ nhạo báng” (1c). Hình thức phủ định nầy muốn nói rằng người được phước ngồi vào chỗ các tín hữu - ấy là một người tin kính. Người ấy tin lời Đức Chúa Trời, và “Lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giêhôva” (2a). Người biết rằng bí quyết để lời Đức Chúa Trời có quyền năng mạnh mẽ trong đời sống mình là vâng theo lời của Đức Chúa Trời, bước đi trong đường lối đã tìm được trong lời Ngài.
Thi thiên nầy được trước tác bởi Đavít, vua thứ hai và là vị vua tốt nhất của Ysơraên. Theo luật của Môise, bổn phận của vua là chuyên tâm chép lấy một bản luật pháp và làm cho luật pháp trở thành người bạn trung thành của mình: “Vừa khi tức vị, vua phải chiếu theo luật pháp nầy mà những thầy tế lễ về dòng Lêvi giữ, chép một bản cho mình. Bổn ấy phải ở bên vua trọn đời, vua phải đọc ở trong, để tập biết kính sợ Giêhôva Đức Chúa Trời mình, cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy, và hết thảy điều răn nầy” (PhuDnl 17:1-19:21). Căn cứ vào Thi thiên đầu tiên mà chúng ta đọc được trong quyển Thánh thi nầy, chúng ta có thể thừa nhận rằng nguyên tắc đó khiến cho Đavít yêu mến Lời Đức Chúa Trời, và bởi sự yêu mến Lời Chúa, ông trở nên một người được phước.
Những phước hạnh của người được phước là gì? Sau khi xác định sự tin chắc và chọn lựa là những điều kiện dẫn đến các phước hạnh của người được phước, Đavít liệt kê một số phước hạnh của người đó.
Ổn định
Người được phước thì “Như cây trồng gần dòng nước” (3a), là nơi có đất ẩm và rễ vươn dài ra, đâm sâu xuống đất. Rễ của cây tỏa rộng ra mọi hướng. Nếu có một xe tải nặng nhiều tấn đụng vào cây sồi đó, chiếc xe tải ắt sẽ bị hư hỏng, còn cây chẳng lay chuyển một phân nào. Đó là hình bóng về sự ổn định - sự ổn định của cây trồng gần dòng nước và được bổ dưỡng - đó là hình bóng về sự ổn định của một người được phước. Chúa Jêsus cũng dạy điều tương tự như vậy khi Ngài mô tả về người nghe và làm theo lời Đức Chúa Trời (Mat Mt 7:24-25).
Sanh bông trái
Người được phước thì sanh bông trái - cái cây chỉ về người có khu vườn đời sống được “Sanh bông trái theo thì tiết” (3b). Điều nầy có nghĩa là trong cuộc đời người ấy, mọi thì tiết đều sanh bông trái thích hợp. Vì người tin và yêu mến Lời của Đức Chúa Trời, nên ngoại trừ những chỗ bí nhiệm ra, thì sự hiểu biết về Chúa của người ấy được mở rộng và người bước vào trong mối thông công với Đức Chúa Trời hằng sống. Sự thông công là bí quyết để sanh bông trái trong người ấy. Chúa Jêsus dạy rằng nếu chúng ta muốn kết quả thì phải cứ ở trong Ngài như nhánh nho nối liền với gốc nho.
Trường thọ
Người được phước sẽ không trở nên cằn cỗi, khô héo trong những năm cao tuổi của đời mình. Chúng ta đọc thấy: “Lá nó cũng chẳng tàn héo”. Người được phước nhắc cho chúng ta nhớ đến lời của một thi nhân: “Tuổi già càng tiến gần đến tôi. Điều tốt nhất thì chưa đạt được. Điều cuối cùng chính là điều đầu tiên đã làm”. Mỗi một ngày người ấy sống như để chuẩn bị cho những ngày tiếp nối. Phẩm chất của cuộc sống người ấy tốt và càng tốt hơn nữa tùy theo những năm mà người ấy thêm vào trong đời mình.
Thịnh vượng
Chúng ta cũng đọc được: “Mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng” (3d). Ở đây, Đavít không nói đến sự thạnh vượng thuộc thể nhưng là thạnh vượng thuộc linh, vì các sách thi văn hướng đến con người bề trong thay vì hướng đến con người bề ngoài. Chúng ta có thể tóm lược rằng, sự thạnh vượng của người được phước là sự thạnh vượng của người bề trong và có ảnh hưởng đến phẩm chất thuộc cõi đời đời của người ấy. Những gì chúng ta để lại khi lìa bỏ thế gian nầy, thật ra không đáng cho chúng ta vì nó mà sống khi còn ở trên đời.
An Ninh
Phước hạnh cuối cùng của người được phước được đề cập theo thể phủ định: “Bởi cớ ấy kẻ ác chẳng đứng nổi trong ngày đoán xét, Tội nhân cũng không được vào hội người công bình” (5). Người được phước có sự an ninh trong đời nầy và đời sau bởi vì người bước đi trong đường lối của Đức Chúa Trời đã tìm được trong lời Ngài. Người ấy sẽ đứng vững trong ngày đoán xét cuối cùng, được ở trong hội người công bình cho đến đời đời. Giống như những phước hạnh được nêu lên trong Thi thiên người chăn bầy, phước hạnh của người được phước trong Thi thiên thứ nhất là “Trọn những ngày trong đời sống của người ấy và mãi mãi!”
Hai Người Ngồi Trong Nhà Thờ, Bạn Là Người Nào?
Đavít mô tả về người không kính sợ Đức Chúa Trời (kẻ ác) qua lời viết đơn giản: “Kẻ ác chẳng như vậy đâu” (4a). Kẻ ác chẳng tin như người được phước tin. Kẻ ác không vui thích trong lời Đức Chúa Trời, cũng không suy gẫm lời ấy ngày và đêm. Cuối cùng, họ không có sự ổn định, không sanh bông trái, không được trường thọ, không có đời sống thạnh vượng, thiếu sự an ninh, và không kinh nghiệm sự sống đời đời như người được phước.
Tại sao một người được ban phước? Vì do người ấy lựa chọn. Người ấy chọn tin cậy và suy gẫm Lời Đức Chúa Trời, và người ấy chọn tách mình khỏi những con người tội lỗi cùng lối sống vô ích của họ. Phước hạnh của người ấy là bữa tiệc của những thành quả lớn lao.
Để thách thức mọi người được phước, Thi thiên nầy đưa ra câu hỏi: “Hai người ngồi trong nhà thờ, bạn là người nào?” Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, bạn có phải là người được phước không? Bạn có cùng ngồi với những người tin cậy Đức Chúa Trời không? Bạn có Lời của Ngài không? Bạn có suy gẫm lời ấy ngày và đêm không? Bạn có bước theo đường lối mà Lời ấy khuyên giục không? Theo Thi thiên thứ nhất, đó là chìa khóa phước hạnh của người được phước.
Thi Tv 128:1-6
CÓ PHẢI MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐƯỢC PHƯỚC?
Phước cho người nào kính sợ Đức Giêhôva,
Đi trong đường lối Ngài!
Vì ngươi sẽ hưởng công việc của tay mình,
Được phước, may mắn.
Vợ ngươi ở trong nhà ngươi, sẽ như cây nho thạnh mậu;
Con cái ngươi ở chung quanh bàn ngươi
Khác nào những chồi ôlive.
Kìa, người nào kính sợ Đức Giêhôva
Sẽ được phước là như vậy.
Nguyện Đức Giêhôva từ Siôn ban phước cho ngươi;
Nguyện trọn đời mình ngươi được thấy sự phước lành của Giêrusalem.
Nguyện ngươi được thấy con cháu mình!
Nguyện sự bình an giáng trên Ysơraên!
Có phải mọi người đều được phước?
Có nhiều người thích đặt dấu chấm ngay sau chữ thứ ba của Thi thiên nầy vì họ tin rằng ai cũng được phước. Tuy nhiên, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng phước hạnh ban cho người được phước là có điều kiện: “Phước cho người nào (ai ) kính sợ Đức Giêhôva, đi trong đường lối Ngài!” (1). Khi chúng ta nghiên cứu sẽ thấy rằng người ấy được ban phước vì do người ấy chọn lựa, tin cậy tuyệt đối và có suy nghĩ kỹ càng.
Thi thiên nầy dạy rằng người nào kính sợ Đức Chúa Trời thì sẽ được phước, nhưng lại nẩy sinh một câu hỏi khác: Có phải trong sách Gióp dạy rằng Đức Chúa Trời thường không ban phước cho người công bình? Khi các bạn của Gióp nói với ông rằng Đức Chúa Trời sửa phạt những người phạm tội và ban phước cho người công bình, Đức Chúa Trời đã phán rằng họ nói sai. Tuy nhiên, chúng ta có thể học từ các Thi thiên về người được phước, nói chung là họ gặt lấy những gì đã gieo và khi người kính sợ Đức Chúa Trời chịu khổ giống như Gióp, thì đó là trường hợp ngoại lệ chứ không phải là quy luật.
Kế Hoạch Của Đức Chúa Trời
Thi thiên 128 dạy rằng người được phước và các phước hạnh của người ấy nằm trong kế hoạch của Đức Chúa Trời để tác động đến thế gian nầy. Khi chúng ta nghiên cứu sách Gióp, sự đáp ứng thích hợp đối với sự ban phước không phải là: “Lạy Chúa, Ngài sẽ ban cho con điều gì?” nhưng là: “Lạy Chúa, làm thế nào để con trở nên một người được phước và có ích lợi cho Ngài?”
Kế hoạch của Đức Chúa Trời theo một khuôn mẫu. Ngài tìm một người biết tin cậy, vâng lời Ngài để ban phước cho người ấy (1-2). Rồi phước hạnh của Đức Chúa Trời tuôn tràn từ người ấy đến vợ, rồi người vợ trở nên giống như một cây nho sanh bông trái trong nhà người (3a). Phước hạnh lại tuôn tràn đến con cái của người, “Con cái ngươi ở chung quanh bàn ngươi, Khác nào những chồi ôlive” (3b). Cây ôlive là biểu tượng của sự kết nhiều quả.
Phước hạnh của Đức Chúa Trời tuôn tràn từ đơn vị gia đình đến trên Siôn là cộng đồng thuộc linh trong Tân ước. Từ cộng đồng thuộc linh (Siôn), phước hạnh của Đức Chúa Trời trên từng gia đình tác động đến thành phố (Giêrusalem), đến quốc gia (Ysơraên), và cuối cùng là tác động đến cả thế giới. Về cơ bản, Thi thiên nầy dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời dùng đơn vị gia đình để nói với thế gian về chính mình Ngài. Khi Ngài muốn tác động đến thành phố, quốc gia, và thế gian, thì Ngài bắt đầu từ một người được phước và một gia đình được phước.
Thi Tv 127:1-5
NHỮNG ƯU TIÊN THUỘC VỀ THẦN HỰU
Nếu Đức Giêhôva không cất nhà,
Thì những thợ xây cất làm uổng công.
Nhược bằng Đức Giêhôva không coi giữ thành,
Thì người canh thức canh luống công.
Uổng công thay cho các ngươi thức dậy sớm, đi ngủ trễ,
Và ăn bánh lao khổ;
Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy.
Kìa, con cái là cơ nghiệp bởi Đức Giêhôva mà ra;
Bông trái của tử cung là phần thưởng.
Con trai sanh trong buổi đang thì,
Khác nào mũi tên nơi tay dõng sĩ.
Phước cho người nào vắt nó đầy gùi mình!
Người sẽ không hổ thẹn,
Khi nói năng với kẻ thù nghịch mình tại cửa thành.
Thi thiên ngắn nầy đi đôi với Thi Tv 128:1-6, cùng trước giả là Salômôn. Vì ông là một kiến trúc sư vĩ đại, nên chúng ta có thể cho rằng ông mô tả việc xây dựng theo phép ẩn dụ trong Thi thiên của mình. Ông xây dựng một đền thờ mang tên ông, xây dựng toàn bộ thành phố, công viên, các chuồng ngựa và một hạm đội. Tuy nhiên, Salômôn nói với chúng ta rằng mọi công trình xây dựng đó cũng chẳng có giá trị gì: “Nếu Đức Giêhôva không cất nhà, thì những thợ xây cất làm uổng công” (1). Ông nói với chúng ta rằng sự lo lắng, làm việc cực nhọc, và xây dựng đều là vô ích vì đã thực hiện trong sự sai lầm.
Thi thiên nầy cũng tương tự như lời thú nhận muộn màng nhưng rất sáng suốt của Salômôn trong sách Truyền đạo. Trong sách đó, ông giảng giải rằng hầu hết những việc ông làm trong đời mình đều uổng công. Khi ông thay lối ẩn dụ về việc xây nhà vào lối ẩn dụ tốt đẹp về con cái, ông muốn nói với các bậc cha mẹ rằng điều quan trọng nhất họ có thể làm là xây dựng cuộc đời các con họ. Salômôn có thể nói với chúng ta rằng ông mong muốn dành thời gian để xây dựng của các con của ông thay vì xây dựng các công trình khác.
Salômôn nói: “Con trai sanh trong buổi đang thì, khác nào mũi tên nơi tay dõng sĩ” (4). “Mũi tên” trong ẩn dụ nầy là các con của bạn và bạn là cây cung. Sự thúc đẩy và hướng dẫn con cái của bạn hòa nhập vào thế gian nầy được định đọat bởi cây cung. Cây cung chính là gia đình.
Sứ điệp chính yếu trong Thi thiên nầy nằm ở phần mở đầu: “Nếu Đức Giêhôva không cất nhà, thì những thợ xây cất làm uổng công”. Có nhiều điều chỉ có Đức Chúa Trời mới làm được. Chỉ Đức Chúa Trời mới có thể tạo nên cuộc đời mới trong các con của bạn. Chỉ Đức Chúa Trời mới có thể ban cho chúng ân tứ đức tin. Nói một cách khác, Đức Chúa Trời không thể xây dựng cuộc đời các con bạn cho đến khi nào bạn giao chúng cho Ngài. Chân lý nầy được gói gọn trong một ẩn dụ tuyệt vời. Salômôn muốn nói với chúng ta: “Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy”. Bao lâu chúng ta còn thức, Đức Chúa Trời không thể ban sức lực mới trong thân thể chúng ta. Nhưng, khi chúng ta thụ động và đi ngủ, Đức Chúa Trời trở nên chủ động và ban sức lực mới trong chúng ta. Hãy để ẩn dụ đó thành sự thách thức về trách nhiệm cho các bậc làm cha mẹ
Điều Nầy Có Ý Nghĩa Gì?
Có thể có sự buồn rầu, lao khổ và xây dựng luống công vì chúng ta đặt sai thứ tự ưu tiên. Thi thiên nầy đang thách thức chúng ta đầu tư chính mình cho con cái, bởi vì xuyên qua đơn vị gia đình, Đức Chúa Trời tác động đến thế gian. Chúng ta phải xem xét chính mình về thứ tự ưu tiên bởi vì ma quỷ biết Đức Chúa Trời dùng đơn vị gia đình để tác động thế gian. Căn bệnh truyền nhiễm đổ vỡ hôn nhân và gia đình đang lan nhanh trong thế giới hôm nay, là bằng chứng bi kịch thực tế mà Satan đang quyết tâm phá hoại công việc của Đức Chúa Trời bằng cách cắt đứt sợi dây cung của chúng ta.
Có phải mọi người đều được phước không? Không, theo những gì chúng ta học biết qua các Thi thiên về người được phước. Chỉ có những người nam và người nữ nào tin cậy và vâng lời mới được phước, và phước hạnh của họ tác động đến thế giới nầy qua các con cháu của họ. Bạn có phải là người nam, người nữ đó không? Hãy suy xét điều kiện để được phước và các phước hạnh ban cho người ấy và rồi trả lời câu hỏi nầy: “Hai người ngồi trong nhà thờ, bạn là người nào?”
Thi Tv 4:1-8
GIẢI PHÁP CHO SỰ CĂNG THẲNG
Khi đã nghiên cứu nhiều Thi thiên về người được phước, bây giờ chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu một số Thi thiên, mà tôi gọi là Thi thiên cảm xúc. Những Thi thiên nầy thường là những bài cầu nguyện, là lời của trước giả Thi thiên nói với Đức Chúa Trời về loài người - thường là về chính mình người ấy, thí dụ như Thi thiên thứ tư.
Hỡi Đức Chúa Trời của sự công bình tôi,
Khi tôi kêu cầu, xin hãy đáp lời tôi.
Khi tôi bị gian truân Ngài để tôi trong nơi rộng rãi;
Xin hãy thương xót tôi, và nghe lời cầu nguyện tôi.
Hỡi các con loài người,
Sự vinh hiển ta sẽ bị sỉ nhục cho đến chừng nào?
Các ngươi sẽ ưa mến điều hư không,
Và tìm sự dối trá cho đến bao giờ? (Sêla )
Phải biết rằng Đức Giêhôva đã để riêng cho mình người nhân đức.
Khi ta kêu cầu Đức Giêhôva, ắt Ngài sẽ nghe lời ta.
Các ngươi khá e sợ, chớ phạm tội;
Trên giường mình hãy suy gẫm trong lòng, và làm thinh. (Sêla )
Hãy dâng sự công bình làm của lễ,
Và để lòng tin cậy nơi Đức Giêhôva.
Nhiều người nói: Ai sẽ cho chúng ta thấy phước?
Hỡi Đức Giêhôva,
Xin soi trên chúng tôi sự sáng mặt Ngài.
Chúa khiến lòng tôi vui mừng nhiều hơn chúng nó,
Dầu khi chúng nó có lúa mì và rượu nho dư dật.
Hỡi Đức Giêhôva, tôi sẽ nằm và ngủ bình an;
Vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn
Chúng Ta Đối Đầu Với Sự Căng Thẳng Như Thế Nào ?
Xu hướng cảm xúc của trước giả Thi thiên thứ tư là sự trầm cảm. Bạn hiểu là trước giả đang nói về nguyên nhân căng thẳng. Sự căng thẳng lan rộng trong thế giới chúng ta đang sống ngày nay đã được đặt nhãn hiệu: “Thời đại lo âu”. Thi thiên nầy chỉ cho chúng ta biết cách làm thế nào để đối phó với sự căng thẳng, đau buồn mà chúng ta gặp mỗi ngày.
Cầu Nguyện
Trong Thi thiên thứ tư, Đavít đối phó với các áp lực cảm xúc qua sự cầu nguyện. Ông cầu nguyện: “Hỡi Đức Chúa Trời của sự công bình tôi, khi tôi kêu cầu, xin hãy đáp lời tôi” (1). Cầu nguyện là đối thoại với Đức Chúa Trời. Sự đối thoại có hai chiều - nói và lắng nghe. Đức Chúa Trời muốn bạn nói với Ngài, nhưng Ngài cũng muốn nói với bạn. Hầu như trong các Thi thiên cầu nguyện, trước nhất chúng ta thấy trước giả Thi thiên nói với Đức Chúa Trời, và rồi nghe sự đáp lời của Ngài. Trước giả Thi thiên dâng lời cầu xin lên Đức Chúa Trời và nhận sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời lắng nghe và đáp lại lời cầu nguyện của ông.
Đavít bắt đầu bài cầu nguyện nầy bằng cách thưa với Đức Chúa Trời về căn nguyên nỗi đau buồn của ông (2). Đức Chúa Trời đáp lời cho ông bằng cách ban cho ông một khải tượng: “Phải biết rằng Đức Giêhôva đã để riêng cho mình người nhân đức. Khi ta kêu cầu Đức Giêhôva ắt Ngài sẽ nghe lời ta. Các ngươi khá e sợ, chớ phạm tội” (3-4a). Khi Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện rồi, chúng ta nên đừng bao giờ tái phạm nữa. Hãy suy nghĩ sự đáp lời cầu nguyện đó có ý nghĩa gì. Điều đó có nghĩa là, Đức Chúa Trời của hoàn vũ quan tâm đến chúng ta và đáp lời khi chúng ta đối thoại với Ngài. Một khi chúng ta đã có kinh nghiệm về sự đáp lời cầu nguyện, về phía chúng ta, cuộc sống sẽ không bao giờ còn giống như trước nữa.
Tra Xét Tấm Lòng Của Bạn
Khi Đức Chúa Trời phán với Đavít, Ngài bảo ông làm một số việc: “Trên giường mình hãy suy gẫm trong lòng,và làm thinh” (4b). Khi Đức Chúa Trời bảo Đavít làm thinh, Ngài muốn nói rằng hãy lắng nghe. Có một ý khi Ngài bảo Đavít “Trên giường mình hãy suy gẫm trong lòng”, Ngài muốn Đavít hãy tra xét, tự vấn lòng mình, hoặc đối diện với chính mình.
Làm Điều Công Bình
Khi Đavít đã tra xét lòng mình, Đức Chúa Trời bày tỏ cho ông biết điều phải làm đối với sự căng thẳng. Đức Chúa Trời cho Đavít biết rằng ông cần phải: “dâng sự công bình làm của lễ, và để lòng tin cậy nơi Đức Giêhôva” (5). Tại sao phải làm như thế? Bởi vì có nhiều người đang nhìn xem và thắc mắc: “Ai sẽ cho chúng ta thấy phước? ”(6a). Mọi người đang nhìn xem Đavít. Họ sẽ học biết về Đức Chúa Trời qua tấm gương Đavít.
Chúng ta có thể tóm tắt rằng Đavít đang đối diện với một quyết định liên quan đến sự chọn lựa. Ông có thể dùng một thủ đoạn nào đó và qua khỏi được, hoặc ông làm theo điều công bình. Nếu ông làm điều công bình, ông tin rằng mình có thể vượt qua được cơn khủng hoảng. Khi làm một người liêm chính, ông không thể sống với tội lỗi và dùng thủ đoạn. Khi ông đối thoại với Đức Chúa Trời, ông đã quyết tâm dâng của lễ để làm theo điều công bình. Ông biết rằng mọi người đều muốn tìm kiếm phước hạnh, nghĩa là, họ sẽ làm điều công bình cho dù điều đó đòi hỏi phải có một sự hy sinh cao cả.
Khi Đavít quyết tâm dâng của lễ vì sự công bình, ông kinh nghiệm một sự biến đổi về cảm xúc. Ông nói: “Chúa khiến lòng tôi vui mừng nhiều hơn chúng nó, dầu khi chúng nó có lúa mì và rượu nho dư dật. Hỡi Đức Giêhôva, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn” (7-8).
Nếu bạn gặp hoàn cảnh đau buồn như Đavít, hãy suy gẫm trong lòng và thưa chuyện cùng Đức Chúa Trời. Nếu sự lo lắng của bạn có nguồn gốc từ sự tranh chiến thuộc linh về điều mưu mô và điều công chính, hãy giải quyết điều vướng mắc trong lòng, dâng của lễ theo sự công bình và đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Hãy chứng tỏ rằng giải pháp của Đavít đối với sự căng thẳng có thể làm thay đổi cảm xúc của bạn từ áp lực về mặt tinh thần, về nỗi lo lắng, sợ hãi, thành ra cảm xúc an nghỉ đến từ sự tin cậy, bình an, và một giấc ngủ ngon.
Thi Tv 139:1-24
VỊ CỐ VẤN TOÀN NĂNG
“Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi;
Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi;
Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng,
Xin dắt tôi vào con đường đời đời”.
(139:23, 24).
Một thí dụ khác trong Thi thiên cầu nguyện, một trước giả được mặc khải viết lên bài ca để nói với Đức Chúa Trời về con người, đó là Thi thiên 139, bài cầu nguyện tuyệt diệu của Đavít. Trong Thi thiên nầy, Đức Chúa Trời là vị cố vấn vĩ đại của Đavít. Khi Đức Chúa Trời phán bảo với Saulơ qua Samuên rằng Ngài đã tìm một người thay thế vị vua đầu tiên của Ysơraên, Ngài muốn nói rằng Đavít là một người theo lòng Ngài, là người sẽ làm theo mọi ý muốn của Ngài. Bởi vì Đavít muốn đi theo ý Đức Chúa Trời trọn đời mình. Ông dâng lên Ngài bài cầu nguyện tuyệt vời nầy. Cốt lõi của bài cầu nguyện nằm ở hai câu cuối. Nếu chúng ta chia phần còn lại của Thi thiên nầy thành từng phân đoạn, thì mỗi phân đoạn bày tỏ cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào nào mà Đavít cầu nguyện như vậy - và tại sao Đavít dâng trình bài cầu nguyện đó lên cho Ngài. Vì khi Đavít dâng lên bài cầu nguyện nầy, thì cũng có nhiều người đang cầu nguyện với các thần tượng khác.
Trong phân đoạn đầu (1-5), Đavít cho chúng ta biết rằng ông cầu nguyện với Đấng biết rõ về ông. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời là vô hạn. Đavít đã cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi” (1). Bạn có thể biết về một người nổi tiếng, ngay cả người lãnh đạo đất nước của bạn. Tuy nhiên, nếu người đó nói công khai rằng người ấy biết bạn thì thật là ấn tượng phải không? Đavít có vinh dự thật sự khi Đức Chúa Trời của hoàn vũ biết đến ông!
Khi bạn tìm kiếm lời khuyên của loài người, sự hiểu biết của con người về hoàn cảnh của bạn sẽ bị giới hạn ở mức mà bạn thổ lộ về chính mình. Bất kể họ là người thế nào, khả năng giúp đỡ của họ cũng bị giới hạn tùy theo mức bạn đã kể với họ về hoàn cảnh và sự khủng hoảng của bạn. Nhưng Đức Chúa Trời biết rõ về bạn. Ngài biết tư tưởng của bạn trước khi bạn suy nghĩ về việc gì đó, và Ngài “Quen biết các đường lối (của bạn )”(3b).
Trong phân đoạn thứ hai (6-12), diễn tả Đavít dâng lời cầu nguyện của ông lên Đấng Chân thật và Hằng sống, là Đấng ông không thể trốn tránh. Đavít cầu nguyện: “Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? ” Bạn đi nhanh đến mức nào để có thể trốn khỏi sự hiện diện của Chúa? Bạn có thể đi xa đến đâu? Bạn lên cao và xuống thấp đến đâu để trốn tránh, hoặc qua mặt Đức Chúa Trời? Đavít dâng lời cầu nguyện của ông lên Đức Chúa Trời Vô Sở Bất Tại, là Đấng mà ông không thể trốn tránh.
Phân đoạn thứ ba (13-16) diễn tả Đavít cầu nguyện với Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên ông. Đavít cầu nguyện: “Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi. Số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy” (13,16b). Trước khi chúng ta được sanh ra, Đức Chúa Trời đã ghi chương trình cho từng ngày của cuộc đời chúng ta vào một quyển sổ. Hãy tưởng tượng về việc bạn lên chương trình cả năm cho công việc hằng ngày, hằng tuần và hằng tháng của bạn. Điều nầy cũng có nghĩa là không có việc gì xảy ra tình cờ cho con người. Chúng ta hiện hữu là do Chúa sắp đặt (quan phòng). Hãy suy nghĩ về điều nầy khi bạn tính đến chuyện phá thai.
Phân đoạn thứ tư (17-18), diễn tả lời cầu nguyện của Đavít dâng lên Đức Chúa Trời, là Đấng luôn nghĩ về ông. Đavít cho biết là trong suy nghĩ của Đức Chúa Trời, chúng ta rất quý giá và điều đó không thể đếm được và vô bờ bến (17). Một trong những cách biểu lộ tình cảm có tác dụng mạnh nhất là nói với người yêu rằng bạn thường nghĩ đến họ. Đức Chúa Trời nghĩ về chúng ta nhiều hơn là chúng ta nghĩ về chính mình.
Cuối cùng, Đavít dâng lời cầu nguyện lên Đức Chúa Trời là Đấng bảo vệ (19-22). Trong phần nầy ông cầu xin Đức Chúa Trời hãy tiêu diệt kẻ thù của ông. Ông cầu xin sự bảo vệ với niềm tin lớn lao rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp ông tiêu diệt kẻ thù.
Dâng trình những điều nầy lên Đức Chúa Trời là Đấng ông cầu nguyện, Đavít nói lên điều cốt yếu khi ông cầu xin Chúa hãy “tìm” và “biết” ông, dò xét ông có lối ác nào không (23-24). Ông đưa ra lời thỉnh cầu với Đức Chúa Trời là Đấng ông không thể trốn tránh, là Đấng biết ông, tạo dựng nên ông, nghĩ về ông và là Đấng bảo vệ ông.
Đây chính là Đức Chúa Trời, là Đấng đáng cho chúng ta dâng lên mọi lời cầu nguyện. Khi bạn có động cơ không chính đáng trong lòng, nhưng muốn bước theo ý muốn của Đức Chúa Trời suốt đời, thì hãy đến trước ngôi của Đấng cố vấn vĩ đại mà Đavít đã dâng lên lời cầu nguyện. Hãy cầu xin Ngài mở lòng bạn và bày tỏ cho bạn thấy những động cơ không nên có. Hãy cầu xin Ngài mở tâm trí của bạn và chỉ ra cho bạn những tư tưởng xấu, vì bạn muốn bước đi mãi mãi trong ý muốn hoàn hảo của Đức Chúa Trời trong cuộc đời mình.
Thi Tv 100:1-5
THI THIÊN THỜ PHƯỢNG
Hỡi cả trái đất,
Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giêhôva!
Khá hầu việc Đức Giêhôva cách vui mừng,
Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài.
Phải biết rằng Giêhôva là Đức Chúa Trời.
Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi,
Chúng tôi thuộc về Ngài;
Chúng tôi là dân sự Ngài,
Là bầy chiên của đồng cỏ Ngài.
Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài,
Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài,
Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.
Vì Đức Giêhôva là thiện;
Sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi,
Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.
Thi thiên 100 được xác định là Thi thiên thờ phượng. Thi thiên nầy cho chúng ta biết thờ phượng là gì. Thờ phượng là đến trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Có sự hiện diện thiêng liêng của Đức Chúa Trời, và đến trước sự hiện diện thiêng liêng của Ngài là cốt lõi của sự thờ phượng. Trong Thi thiên của Đavít, không những ông định nghĩa về sự thờ phượng, nhưng qua một thí dụ, ông cũng bày tỏ cho chúng ta biết cách thờ phượng nữa.
Trong thời Cựu ước, có một nghi thức kèm theo khi một người được gọi đến trước mặt vua. Trước hết người ấy vào một chỗ đã được chuẩn bị kỹ lưỡng trong cung. Nếu vị vua đó là một vị đại đế, thì người khách sẽ được đưa đến chỗ có nhiều hành lang dài, mỗi hành lang có lính đứng dọc hai bên, trước khi bước qua hai cánh cổng đồ sộ và cuối cùng có một người dẫn đường đưa người khách vào diện kiến vua.
Là vua, nên Đavít quen thuộc với nghi thức nầy. Ông chọn nghi thức đó như là một thí dụ để minh họa cho định nghĩa của ông về sự thờ phượng và “cách thức” thờ phượng. Theo Đavít, thờ phượng là bước vào trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời được bắt đầu với “cửa cảm tạ” (4a). Chúng ta nên bắt đầu sự thờ phượng bằng sự cảm tạ về tất cả các phước hạnh của chúng ta. Sự cảm tạ dẫn đến sự thờ phượng. Một tấm lòng biết ơn là cánh cửa đưa chúng ta đến trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Đavít bổ sung vào thí dụ của ông khi ông viết các cửa cảm tạ đưa vào hành lang ngợi khen (4b). Khi bắt đầu thờ phượng với sự cảm tạ, chúng ta sẽ thấy rằng chính chúng ta đang ngợi khen Đức Chúa Trời. Chúng ta đang di chuyển từ chỗ cảm tạ Đức Chúa Trời về những phước hạnh đến chỗ nói với Đức Chúa Trời về chính Ngài và ngợi khen Ngài vì Ngài là Đấng nào. Khi chúng ta đi qua “cửa cảm tạ”, sự chú mục của chúng ta hướng về bàn tay của Đức Chúa Trời, nơi mà chúng ta đã nhận được rất nhiều điều. Nhưng khi chúng ta bước vào hành lang ngợi khen, sự chú mục của chúng ta hướng về mặt của Ngài.
Trải qua nhiều thế kỷ, các vĩ nhân xưa đã nói rằng cánh cửa dẫn chúng ta vào trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời chính là cánh cửa ngợi khen. Trong thí dụ được mặc khải của Đavít, cánh cửa dẫn vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời là sự ca hát. Đavít viết: “Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài” (2b). Chính Đavít là người kết hợp âm nhạc và sự thờ phượng vào với nhau. Ông có bốn ngàn người Lêvi không làm gì cả ngoài việc ngợi khen Đức Chúa Trời với các loại nhạc khí mà ông đã sáng chế ra cho mục đích đó (ISu1Sb 23:5).
Nhiều khi trong cuộc sống chúng ta cần biểu lộ những điều không thể nói ra bằng lời. Đó là vì sao hai người yêu nhau trao cho nhau những dấu hiệu buồn cười mà về sau khiến họ cảm thấy ngượng nghịu. Họ đang cố biểu lộ cho nhau tình yêu không thể nói ra. Nhu cầu đó hết sức cần thiết khi chúng ta bước vào sự hiện diện thánh của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta phép mầu của âm nhạc để biểu lộ sự thờ phượng, im lặng trong sự hiện diện thánh của Ngài. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta điều tuyệt diệu là âm nhạc để bày tỏ sự thờ phượng không thể biểu lộ được trước sự hiện diện siêu nhiên của Ngài. Theo Đavít, âm nhạc mở cánh cửa bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta bước vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể kinh nghiệm những điều mà trước đây chúng ta chỉ biết bằng lý trí. Trước hết, chúng ta biết chắc rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Khi thờ phượng, chúng ta nhận biết Chúa là Đức Chúa Trời và chúng ta là bầy chiên của đồng cỏ Ngài (3). Đây là điều mà Phaolô muốn nói khi ông viết: “Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!” (ICo1Cr 12:3).
Dựa trên kinh nghiệm chúng ta biết “Đức Chúa Trời là tốt lành”. Chúng ta thường không chịu đầu phục Đức Chúa Trời cách hoàn toàn bởi lẽ thay vì tuyên xưng “Đức Chúa Trời là tốt lành”, chúng ta diễn đạt bằng hành động rằng “Đức Chúa Trời thật đáng kinh sợ”. Thi thiên nầy muốn nói rằng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chúng ta không chỉ biết “Ngài là Đức Chúa Trời”, mà còn biết “Ngài là tốt lành” (5a). Ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta là tốt đẹp, bởi vì Ngài, chính Ngài, là tốt lành.
Trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chúng ta biết rằng Ngài muốn muôn dân trên đất đến trước sự hiện diện của Ngài và hiểu những gì mà bây giờ chúng ta đang hiểu. Câu đầu tiên của Thi thiên nầy bắt đầu bằng từ ngữ “hỡi khắp các miền” hoặc “hỡi cả trái đất”; câu cuối cùng kết thúc với chữ: “mọi dân tộc” (5c). Những người đến thờ phượng Đức Chúa Trời biết rằng Ngài mong muốn mọi người nhận biết Ngài. Trong Kinh thánh và lịch sử Hội thánh có rất nhiều câu chuyện về những người có kinh nghiệm sâu xa khi đến với Đức Chúa Trời và điều đó khiến họ kết quả cho Ngài.
Những kinh nghiệm về sự thờ phượng được nêu rõ trong câu thứ hai của Thi thiên nầy khi chúng ta được khích lệ “Khá hầu việc Đức Giêhôva cách vui mừng”. Khi chúng ta thật sự thờ phượng Đức Chúa Trời, chúng ta hầu việc Ngài với sự vui mừng chứ không phải vì bổn phận. Trong Thi thiên thờ phượng nầy, chúng ta học biết thờ phượng là gì, cách thức thờ phượng, điều gì xảy ra khi chúng ta thờ phượng và kết quả của một sự kinh nghiệm thật khi thờ phượng.
Thi Tv 34:1-22
PHƯƠNG THUỐC CHO NGƯỜI THẤT BẠI
34:1-22 là một Thi thiên diễn tả cảm xúc hoặc cầu nguyện, thậm chí Thi thiên nầy cũng được xem là Thi thiên thờ phượng và dạy dỗ. Câu mở đầu 34:1-22 vẽ lên cho chúng ta bức tranh lịch sử, nói về thời kỳ đen tối trong cuộc đời của Đavít khi ông trốn khỏi Saulơ và trở thành một kẻ lưu vong. Thời kỳ đen tối đó được diễn tả trong ISa1Sm 21:1-22:23. Khi Đavít trốn khỏi Saulơ và trở thành kẻ thù công khai số một, để tự bảo vệ và sống sót, Đavít thậm chí đã dự tính hợp tác quân sự với một vua Philitin. Khi việc đó thất bại, Đavít trở thành một người lưu vong và sống trong hang động, hoang mạc. Tại đó, Đavít ở chung với những người sầu khổ, nợ nần và cùng khốn (ISa1Sm 22:2). Theo phong tục cổ xưa, bị mắc nợ có nghĩa là bạn có nguy cơ bị chủ nợ bỏ tù, như trong ẩn dụ của Chúa Jêsus ở Mathiơ chương 18. Thật thích thú khi nhận ra rằng đây là lần gặp gỡ đầu tiên của Đavít với những người mà sau nầy được nêu rõ là “những dõng sĩ của Đavít”.
Thi thiên 34 tóm lược những gì Đavít đã giảng giải cho những người lưu vong và thất bại, là những người trở thành dõng sĩ, vì họ hiểu và tin vào điều cơ bản mà Đavít giảng giải cho họ. Phương thuốc của Đavít cho sự thất bại có thể được tóm tắt như thế nầy: “Có ba lọai người trong nhà thờ, bạn thuộc hạng người nào?”
Người Đầy Hy Vọng
Những người có niềm hy vọng tin rằng vẫn còn có điều tốt lành trong cuộc đời nầy và tìm kiếm điều đó. Đức Chúa Trời đặt để sự hy vọng trong mỗi tấm lòng con người. Đức Chúa Trời đặt để sự hy vọng trong lòng chúng ta bởi vì sự hy vọng sẽ đưa chúng ta đến đức tin. Đó là lý do vì sao mà Kinh thánh dạy chúng ta rằng đức tin là bằng cớ vững vàng của những điều đang trông mong, hy vọng. Đó là đức tin dẫn chúng ta đến với Đức Chúa Trời.
Mỗi năm ở Mỹ có khoảng 25.000 đến 30.000 người tự tử. Các nhà chuyên khoa tâm thần và tâm lý buộc phải đưa ra lời giải thích về nguyên do dẫn đến tình trạng nầy. Một trong các câu trả lời của họ là sở dĩ người ta muốn tự tử vì mất hy vọng. Khi người ta không còn tin rằng những điều tốt lành sẽ đến với mình nữa, họ muốn tự tử.
Thật là một bi kịch khi mà mỗi năm ở Mỹ có từ 25.000 đến 30.000 người tự tử! Không ngạc nhiên chút nào khi nhận ra rằng có 250 triệu người ở nước Mỹ không có hy vọng, phải không? Chúng ta có sự hy vọng vì chúng ta được sanh ra với sự hy vọng trong lòng ta. Ý định của Đức Chúa Trời khi ban sự hy vọng trong lòng chúng ta là để đưa chúng ta đến đức tin. Đó là chương trình của Đức Chúa Trời để đưa chúng ta đến sự thông công, tương giao với Ngài.
Theo sứ đồ Phaolô, ba phẩm chất cuối cùng còn lại trong cuộc đời chúng ta là hy vọng, đức tin và yêu thương (ICo1Cr 13:13). Tình yêu thương là phẩm chất lớn nhất trong ba điều nầy vì yêu thương dẫn chúng ta đến với Đức Chúa Trời. Khi chúng ta kinh nghiệm tình yêu thương mà Phaolô diễn tả, thì chúng ta ở trong Ngài. Cụm từ quen thuộc: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” có nghĩa là ở đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời.
Người Thất Vọng (Thi Tv 34:16-21)
Cũng có người không có niềm hy vọng. Người nào cố ý chống nghịch Đức Chúa Trời thì không có hy vọng. Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp bạn, thì ai có thể đối nghịch với bạn được? Nhưng nếu Đức Chúa Trời nghịch lại với bạn thì ai có thể vùa giúp bạn được? Sứ đồ Phaolô đã đồng ý với các thầy thông giáo ngày xưa, như Gamaliên, khi ông viết: “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? ” Ngược lại cũng là chân lý: “Nếu Đức Chúa Trời nghịch lại chúng ta, thì ai có thể vùa giúp chúng ta được? ”(RoRm 8:31, Cong Cv 5:34-40). Một người chống nghịch Đức Chúa Trời thì đang làm cho đời mình vô vọng. Đavít giảng giải: “Mặt Đức Giêhôva làm nghịch cùng kẻ làm ác, đặng diệt kỷ niệm chúng nó khỏi đất. Sự dữ sẽ giết kẻ ác; những kẻ ghét người công bình sẽ bị định tội”
Người Được Phước (Thi Tv 34:15, 17-20, 22)
Kinh nghiệm và sự quan sát là trung tâm của niềm hạnh phúc và kết quả tích cực của người kính sợ Đức Chúa Trời, cùng những hậu quả tiêu cực và nỗi bất hạnh của người không tin kính. Sự quan sát đó là tiêu chuẩn tổng quát trong cuộc sống nầy. Sách Gióp và nhiều thánh văn khác từng cảnh báo bạn: “Đừng bao giờ nói luôn luôn” và “Đừng bao giờ nói không bao giờ!” (Tham khảo: “Ba mươi nguyên do của Kinh thánh tại sao con dân Đức Chúa Trời chịu khổ” là phần bổ sung cho phần chú giải về sách Gióp trong quyển sách nhỏ nầy). Ở cõi đời đời, sự quan sát của Đavít sẽ luôn phù hợp (73:1-28).
Diễn Tiến (34:3-8)
Đavít thuật lại kinh nghiệm trong việc lẩn trốn và thất bại của cá nhân ông, đi dần lên từ chỗ vô vọng đến hy vọng và rồi trở thành người hạnh phúc. Hãy quan sát những lời công bố cá nhân của Đavít: “Tôi tìm cầu Đức Chúa Trời…Ngài đáp lời tôi… Ngài giải cứu tôi khỏi các điều sợ hãi… Kẻ khốn cùng nầy có kêu cầu!... Đức Chúa Trời nghe người, và giải cứu người khỏi các sự gian truân”. Đây là lời chứng cá nhân của Đavít về kinh nghiệm biến đổi của ông.
Phương Thuốc Của Đavít Cho Sự Thất Bại
“Khá nếm thử xem Đức Giêhôva tốt lành dường bao!” (8), rồi sẽ khám phá ra rằng người tin cậy Đức Chúa Trời sẽ được phước! Qua kinh nghiệm tin Chúa cách cá nhân, nhận biết Đức Chúa Trời là tốt lành, bạn hy vọng kinh nghiệm được phước hạnh đó trong cuộc đời nầy.
Giao Ước Giữa Đavít Và Các Dõng Sĩ Của Ông
“Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giêhôva, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh của Ngài!” (3) Giao ước nầy là lời mô tả tốt đẹp trong cộng đồng thuộc linh. Đây là lối giảng dạy khiến sản sinh ra những dũng sĩ của Đavít. Đừng quên rằng các dõng sĩ của Đavít từng là những người trốn tránh và thất bại, nợ nần, đau buồn và bất mãn khi Đavít gặp họ.
Nơi các dõng sĩ của Đavít, bạn lại thấy được chân lý nầy minh họa trong cuộc đời của những người như Môise, các vị quan xét, và chính bản thân Đavít. Lẽ thật ở đây là Đức Chúa Trời muốn thực hiện những điều phi thường qua những người rất tầm thường. Một Thi thiên như Thi thiên 34, và những việc làm phi thường của những dõng sĩ Đavít tô điểm thêm cho điều mà tôi gọi là bốn bí quyết thuộc linh. Những bí quyết nầy là:
- Tôi không là gì cả,
song Đức Chúa Trời mới là gì và Ngài ở cùng tôi.
- Tôi không thể,
nhưng Đức Chúa Trời có thể và Ngài ở cùng tôi.
- Tôi không muốn,
nhưng Đức Chúa Trời muốn, và Ngài ở cùng tôi.
- Tôi không làm được,
nhưng Đức Chúa Trời làm được, và Ngài ở cùng tôi.
Thi Tv 46:1-11
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NƠI NƯƠNG NÁU
Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi,
Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân.
Vì vậy, chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải,
Núi lay động và bị quăng vào lòng biển;
Dầu nước biển ầm ầm sôi bọt,
Và các núi rúng động vì cớ sự chuyển dậy của nó.
(Sêla )
Có một ngọn sông,
Dòng nước nó làm vui thành Đức Chúa Trời,
Là nơi thánh về chỗ ở của Đấng Chí Cao.
Đức Chúa Trời ở giữa thành ấy;
Thành ấy sẽ không bị rúng động.
Vừa rạng đông Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ nó.
Các dân náo loạn. các nước rúng động;
Đức Chúa Trời phát tiếng. đất bèn tan chảy.
Đức Giêhôva vạn quân ở cùng chúng tôi;
Đức Chúa Trời Giacốp là nơi nương náu của chúng tôi. (Sêla )
Hãy đến nhìn xem các công việc của Đức Giêhôva,
Sự phá tan Ngài đã làm trên đất là dường nào!
Ngài dẹp yên giặc cho đến đầu cùng trái đất,
Bẻ gãy các cung, chặt các giáo ra từng miếng,
Và đốt xe nơi lửa.
Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời;
Ta sẽ được tôn cao trong các nước,
Cũng sẽ được tôn cao trên đất.
Đức Giêhôva vạn quân ở cùng chúng tôi;
Đức Chúa Trời Giacốp là nơi nương náu của chúng tôi. (Sêla )
Trước giả Thi thiên xưa viết cho con cháu Kôrê, khái niệm về một ngọn núi bị đổ sập vào trong lòng biển là một ẩn dụ gây sửng sốt không thể tưởng tượng được. Trọng tâm sứ điệp của những người Lêvi là khi thế giới quanh ta hoặc thế giới riêng tư bị sụp đổ, chúng ta cần yên lặng trong một thời gian dài để biết Đức Chúa Trời là Đấng nào - và ý muốn của Ngài là gì (10). Cả thế giới chứng kiến tòa tháp đôi “Trung tâm thương mại thế giới” ở Mỹ nổ tung. Đó là một thí dụ điển hình về một ẩn dụ không thể hình dung ra được, là hình ảnh một ngọn núi bị quăng vào lòng biển.
Chúng ta cần hướng về thực tế trong thế gian nầy: có những giá trị tạm thời và những giá trị vĩnh cửu. Ẩn dụ của trước giả Thi thiên nêu lên khái niệm về giá trị tạm thời và vĩnh cửu cùng đi đôi với nhau, như là một dòng sông chảy qua thế giới tự hủy hoại, vật chất và tạm thời nầy, và dòng sông đó không thể bị dời đổi (hủy diệt). Đức Chúa Trời ở giữa sông ấy. Dòng sông chảy qua thế giới nầy, đem đến sự vui mừng lớn khi nó chảy vào trong thành đời đời của Đức Chúa Trời. Dòng sông ám chỉ về con dân của Đức Chúa Trời, là những người có sự sống đời đời bởi vì họ đã liên kết với Đức Chúa Trời Hằng Sống. Trong thời sứ đồ Giăng, con dân của Đức Chúa Trời được diễn tả như thế nầy: “Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời” (IGi1Ga 2:17).
Dòng sông không hề dời đổi ám chỉ về những giá trị vĩnh hằng chảy qua thế giới vật chất và tạm thời nầy. Trước giả Thi thiên đang muốn nói với chúng ta rằng, khi thế giới vật chất và hào nhoáng nầy sụp đổ, chúng ta vẫn cứ hướng về Đức Chúa Trời Chân thật, và mọi vật có liên hệ với Đức Chúa Trời đều vĩnh hằng!
Tân ước dạy chúng ta không thể đến với Đức Chúa Trời và làm đẹp lòng Ngài trừ phi chúng ta nhìn biết Đức Chúa Trời hiện hữu (HeDt 11:6). Theo Thi thiên quan trọng nầy, khi thế giới nầy sụp đổ, sau khi chúng ta đã khẳng định sự thực hữu lớn lao rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, chúng ta cũng cần im lặng để biết ý muốn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn được tôn cao giữa các nước và trên cả trái đất. Thi thiên 46 nói, trong lúc gặp tai ương, chúng ta cần yên lặng và nhận biết Đức Chúa Trời có chương trình cho thế giới và mỗi cuộc đời chúng ta.
Thi thiên nầy còn có nhiều từ ngữ đem sự an ủi và gợi lên viễn cảnh thuộc linh cho chúng ta khi thế giới vật chất và tư kỷ nầy đi đến chỗ tự hủy diệt. Nếu các bạn dò xem phần chú thích trong bản American Standard Bible, bạn sẽ khám phá ra rằng các trước giả Thi thiên nầy muốn nói với chúng ta Đức Chúa Trời là Đấng “cung ứng dư dật, có thể giúp đỡ chúng ta trong thế giới nhỏ bé nầy”. Khi họ bảo chúng ta hãy cứ yên lặng và nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng nào, và ý muốn của Đức Chúa Trời là gì, họ đã viết: “Hãy yên nghỉ, hãy thôi tranh đấu, hãy đi tới, và biết (bằng kinh nghiệm và tương giao) rằng Ta là Đấng nào, và biết mọi điều trong lời Ta nói Ta là ai. Cũng hãy biết rằng, Ta ở với ngươi trong lúc tai ương, và Ta có một ý định để đáp ứng với hoàn cảnh rắc rối của ngươi”.
Khi con dân của Đức Chúa Trời chịu khổ qua việc mất mát tài sản trên đất bởi thiên tai như là động đất, lụt lội, cháy, hoặc do con người gây ra như chiến tranh, thậm chí không còn gì tốt lành qua những thảm kịch nầy, thì đôi lúc Đức Chúa Trời cũng dùng những tai ương nầy để dạy dỗ con dân của Ngài về sự khác nhau giữa của cải trên thiên đàng và của cải thế gian. Chúa Jêsus dạy chúng ta hãy cất giữ của cải trên thiên đàng bởi vì của cải thế gian không giá trị và kẻ trộm có thể cướp lấy (Mat Mt 6:19-21).
Cũng hãy xem Thi thiên nầy như là Thi thiên tiên tri bởi vì chúng dùng từ ngữ mà các tiên tri và sứ đồ gọi là “ngày của Chúa”. Khi các tiên tri tiên đoán một sự kiện, đôi khi họ tỏ ra như việc đó đã xảy ra rồi. Điều nầy được gọi là “lời tiên tri theo thể hoàn thành”. Trước giả Thi thiên nầy nói đến ngày của Chúa như thể đã xảy ra rồi, và họ đang nói về thời gian thực hiện sự tàn phá, phương cách các nhà cầm quyền hoặc người lãnh đạo quốc gia đang bay đến các vùng thiên tai để xử lý các vụ thiệt hại. Trong văn cảnh đó, các câu mở đầu và kết thúc được lặp lại, chúng ta được thách thức hãy ở yên lặng và biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng nào, và ý muốn của Ngài là gì (Thi Tv 46:1,10-11). Cả Kinh thánh nói với chúng ta về ngày của Chúa “sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả. Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào”.
Lúc tòa tháp đôi trung tâm thương mại thế giới ở Mỹ đổ xuống cùng sự mất mát hằng ngàn nhân mạng, dấu chỉ mang biểu tượng về giá trị vật chất ở thế gian nầy của hằng triệu người đã bị phá hủy. Đức Chúa Trời không dính líu gì đến sự khủng bố, và cũng không sung sướng gì về những thảm kịch mà chúng ta đang chịu dưới bàn tay của những con người gian ác. Tuy nhiên, đôi lúc Đức Chúa Trời dùng tai họa để thức tỉnh con dân Ngài hướng về những giá trị thuộc linh và đời đời. Đó là điều cốt lõi trong sứ điệp của Thi thiên nầy mà con cháu Kôrê đã trước tác.
SÁCH CHÂM NGÔN
Khi bước vào lãnh vực kinh doanh, bạn đạt được hai điều: Tiền bạc và kinh nghiệm. Khi một người tin kính kinh doanh, họ sẽ tích lũy được kinh nghiệm, còn người thuộc về thế gian thường thu lấy tiền bạc. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sách Châm ngôn hầu cho chúng ta không tiêu phí cả cuộc đời để học hỏi mọi sự chỉ bởi kinh nghiệm.
Sách châm ngôn là sách thực tế nhất trong Kinh thánh. Salômôn đã viết 3.000 câu châm ngôn (IVua 1V 4:29-34). Ông cũng chia sẻ với chúng ta gần 1.000 câu châm ngôn được mặc khải trong Kinh thánh. Ông được xem là người khôn ngoan nhất từng sống trên đất. Trong Châm ngôn, ông và một số người thông thái cùng thời, đã dạy chúng ta cách sống hữu ích trong mọi lãnh vực.
Salômôn còn viết hơn 1.000 bài thơ ca. Trong Châm ngôn, chúng ta tìm thấy gần 1.000 câu của Salômôn, và còn có một bài thơ của ông được đưa vào Kinh thánh, đó là sách Nhã ca. Salômôn không viết cả sách Châm ngôn. Ông góp nhặt các lời khôn ngoan của những người thông thái khác, và những người nầy cũng sưu tập một số câu châm ngôn của Salômôn mà chúng ta đọc được trong Kinh thánh.
Chín chương đầu đề cập một cách rõ ràng về mục đích của sách, dạy về sự khôn ngoan. Từ chương ChCn 10:1-22:16 là các câu châm ngôn của Salômôn. Các câu châm ngôn của những người thông thái khác được tìm thấy từ chương 22:17-24:34, và một số câu châm ngôn của Salômôn mà Êxêchia góp nhặt được sắp xếp trong các chương 25-29. Chương 30 ghi lại các câu châm ngôn của Agurơ. Chương 31 gồm các câu châm ngôn của vua Lêmuên, là những lời ông nhận được từ mẹ mình. Từ chương 1 đến 10 được viết cho thanh niên, từ 11 đến 20 cho tất cả mọi người, từ 21 đến 31 cho những người cai trị.
Qua Salômôn, người được công nhận là khôn ngoan nhất (IVua 1V 4:31), trong một vài phương diện, ông cũng là người từng thất bại lớn nhất. Trong khi tôi quan sát sự nghiên cứu của chúng ta về các sách lịch sử, vương quốc bị chia đôi và phu tù là do hậu quả tội lỗi của Salômôn hơn là do Đavít, cha của ông. Làm sao một người thất bại như vậy lại dạy dỗ cho con dân của Đức Chúa Trời về cách sống?
Có nhiều lời giải đáp cho câu hỏi nầy. Tính chất khôn ngoan của các câu châm ngôn không tùy thuộc vào việc trước giả có áp dụng nó vào cuộc sống của chính mình hay không. Sách nầy trình bày những lời khôn ngoan được Đức Chúa Trời mặc khải, cũng vậy, các câu châm ngôn, Thi Tv 127:1-5, và sách Truyền đạo được Salômôn viết ra để dạy dỗ thanh niên hầu cho họ có thể tránh những sai lầm như ông. Ông học được nhiều điều từ lỗi lầm của mình, và ông muốn truyền đạt cho người khác, đặc biệt là giới trẻ về sự khôn ngoan mà ông đã học cách chua chát.
Khi Salômôn trình bày mục đích của những câu châm ngôn nầy, ông viết:
“Ta đã dạy dỗ con đường khôn ngoan,
Dẫn con đi trong các lối ngay thẳng.
Vì vậy chúng nó sẽ ăn bông trái của đường lối mình,
Và được no nê mưu chước của mình riêng.
Kính sợ Đức Giêhôva, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan;
Sự nhìn biết Đấng Thánh, đó là sự thông sáng”.
(ChCn 4:11, 1:31, 9:10)
Nói một cách khác, nhiệm vụ chủ yếu của Salômôn là tóm lược kinh nghiệm của cuộc đời ông. Ông đã từng thất bại và muốn chúng ta rút ra những bài học khôn ngoan qua sự thất bại và hậu quả của nó. Một trong những cách học hỏi hiệu quả nhất là học đối phó với hậu quả từ sự chọn lựa dại dột và tội lỗi của chúng ta. Khi chúng ta nếm trải hết những khủng khiếp của con đường mà chúng ta lựa chọn, chúng ta phải trả một giá đắt để đạt lấy sự khôn ngoan vô giá và chúng ta chứng minh bằng kinh nghiệm rằng “một đời sống ăn hiền ở lành là một đời sống khôn ngoan nhất”.
Vì yêu thương chúng ta, Đức Chúa Trời luôn dạy chúng ta điều đúng. Ngài muốn chúng ta làm điều ngay thẳng vì biết rằng kết quả sẽ là tốt lành. Khi Đức Chúa Trời tuyên bố điều gì là sai, ấy vì Ngài biết hậu quả kinh khiếp của nó.
Cảnh Báo Về Dâm Phụ
ChCn 5:15-19 là lời nhắn nhủ cho thanh niên và cảnh báo họ về sự cám dỗ của dâm phụ. Các câu nầy dạy cách đề phòng tốt nhất để chống lại sự phạm tội đồi bại là có một hôn nhân tốt đẹp. Người thanh niên nên say mê tình yêu của vợ luôn luôn. Salômôn viết: “Nguyện nguồn mạch con được phước; Con hãy lấy làm vui thích nơi vợ con cưới buổi đang thì”, hầu cho khi họ đi vào thế gian, họ sẽ không bị làm hại bởi dâm phụ. Họ sẽ không bị làm hại bởi nhu cầu tình dục khi gặp gỡ. Sự cảnh báo của Salômôn cho người đàn ông khi bị dính vào tội nầy là “Bị dây tội lỗi mình vấn buộc lấy. Nó sẽ chết vì thiếu lời khuyên dạy, và bị lầm lạc vì ngu dại quá” (22-23).
Tự Chủ
Dạy về tầm quan trọng của sự tự chủ, Salômôn nói rằng: “Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan. Tuy nó không có hoặc quan tướng, hoặc quan cai đốc, hay là quan trấn” (6:6-7). Khi chúng ta là thanh niên, cha mẹ và thầy giáo ở gần bên cạnh, bày tỏ kỳ vọng và chịu trách nhiệm về chúng ta. Tuy nhiên, khi đã trưởng thành, chúng ta được yêu cầu phải tự quản lý và tự chủ. Theo Salômôn, chúng ta hãy học sự tự chủ từ loài kiến, là loài không có sự giám sát, song trong mùa hè và mùa gặt đã thâu trữ nhu cầu sẵn dùng cho cả năm.
Ban Cho Và Nhận Lãnh
Có một bài học trong sách Châm ngôn tương tự với sự dạy dỗ của Chúa Jêsus trong Tân ước (11:24-25), đó là: “Có người rải của mình ra, lại càng thêm nhiều lên; cũng có người chắt lót quá bực, nhưng chỉ được sự thiếu thốn. Lòng rộng rãi sẽ được no nê; còn ai nhuần gội, chính người sẽ được nhuần gội”. Câu châm ngôn nầy dạy chúng ta rằng linh hồn chúng ta được nuôi dưỡng khi chúng ta rộng rãi, và nó khô héo khi chúng ta ích kỷ. Nếu chúng ta cất giữ mọi thứ chúng ta có, thì chúng ta mất tất cả, nhưng ban cho cách rộng rãi, chúng ta lại trở nên giàu có. Chúa Jêsus bày tỏ nguyên tắc tương tự khi Ngài dạy dỗ rằng chúng ta sẽ mất sự sống nếu chúng ta giữ nó (Mat Mt 16:24-27, Cong Cv 20:35). Theo sự dạy dỗ của Chúa Jêsus, nếu bạn thật sự muốn tìm sự sống của bạn, thì phải chịu mất nó, tuôn đổ nó ra, hoặc dâng hiến sự sống mình cho Đức Chúa Trời và người khác.
Các bạn có thể ước ao góp nhặt sự khôn ngoan trong sách Châm ngôn bởi vì đó là sách nói về sự khôn ngoan. Hãy nhớ mục đích của Salômôn khi biên soạn các câu châm ngôn nầy. Mục đích để cho người khôn ngoan có thể trở nên người lãnh đạo khôn ngoan; người đơn sơ có thể trở nên khôn ngoan và giúp người ta nhận thức được làm thế nào để sống ngay thẳng.
Vì có 30 hay 31 ngày trong một tháng, người thanh niên nên dùng sách nầy như một quyển lịch và đọc mỗi chương châm ngôn tương ứng với mỗi ngày trong tháng. Tôi đề nghị bạn hãy lập một bảng biểu có 12 cột dọc. Trên đầu bảng, hãy viết tiêu đề như là sự tự chủ, phụ nữ, kỷ luật đối với trẻ em .v.v. và .v.v. Khi bạn đọc suốt sách nầy, hãy đặt câu châm ngôn tham khảo liên quan đến tiêu đề đó. Khi bạn đã hoàn tất, bạn sẽ có một chỉ mục các đề tài chính do từ sách Châm ngôn nầy dạy dỗ.
Các từ: Lòng, linh và hồn được đề cập bảy lần trong sách nầy, cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời chú tâm đến lòng, linh và hồn của chúng ta khi Ngài muốn dạy chúng ta cách để sống ngay thẳng. Có một câu châm ngôn, được nhiều người quan tâm khi đọc sách nầy: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giêhôva, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; Phàm trong các việc làm của con,khá nhận biết Ngài, Thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con”.
SÁCH TRUYỀN ĐẠO
Sách Truyền đạo nói với mỗi lòng con dân Đức Chúa Trời khi họ tìm câu trả lời cho những nan đề rắc rối, tiến thoái lưỡng nan trong cuộc sống. Chữ “Truyền đạo” có nghĩa là “người dạy dỗ”, và sách dùng hai chữ này làm tựa đề. Thực sự đây là bài giảng của Salômôn dạy cho thanh niên về sự cuối cùng của cuộc sống. Tiếng nói trong bài giảng của ông là một giáo sư đầy kinh nghiệm, rất thuyết phục. Nhưng kinh nghiệm không phải là thầy giáo duy nhất, và chúng ta không học tập mọi điều chỉ bằng kinh nghiệm. Người giảng chủ trương cho thế hệ thanh niên học từ kinh nghiệm của chính ông. Bài giảng nầy được mặc khải về một người được xem là nổi tiếng khôn ngoan đã từng sống, với tất cả sự khôn ngoan của mình, ông đã siêng năng tìm kiếm như thế nào để hiểu ý nghĩa và mục đích của cuộc sống. “Lời kết của sự khôn ngoan”, Đức Chúa Trời dùng bài giảng nầy để bày tỏ với dân Ngài khi họ tìm kiếm, nghiên cứu, học hỏi, thắc mắc và ngay cả khi nghi ngờ.
Khảo Sát Tóm Tắt Về Sách Truyền Đạo
Sách Truyền đạo là sách thi văn thứ hai của Salômôn. Đây là bài giảng Salômôn dành cho thanh niên Ysơraên khi ông đã về già. Như chúng ta đã học trong Thi Tv 127:1-5, Salômôn xét lại cuộc đời của ông từ quan điểm và sự thuần thục của tuổi già, với sự khôn ngoan tích lũy được qua nhiều năm, ông thú nhận rằng ông đã làm việc rất khó nhọc, luôn bận tâm xây dựng nhiều công trình vô ích. Bài giảng nầy là bài mở rộng của 127:1-5. Ông đưa ra bài giảng nầy với niềm hy vọng là thanh niên sẽ nhận được những bài học từ kinh nghiệm đau buồn của ông.
Ba Cuộc Truy Tìm Ý Nghĩa
Trong sách Truyền đạo, Salômôn nói với thanh niên Ysơraên rằng ông cố gắng tìm kiếm ý nghĩa và mục đích của cuộc đời trong ba lãnh vực và tại điểm cuối mỗi cuộc tìm kiếm, ông chỉ thấy hư không mà thôi. Điều nầy khiến cho người ta ưa thích lời dạy của ông. Trong một Thi thiên ngắn, ông thú nhận sự thất bại của mình:
N
Thì những thợ xây cất làm uổng công.
Nhược bằng Đức Giêhôva không coi giữ thành,
Thì người canh thức canh luống công.
Uổng công thay cho các ngươi thức dậy sớm,
ếu Đức Giêhôva không cất nhà, Đi ngủ trễ, và ăn bánh lao khổ;
Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy.
Kìa, con cái là cơ nghiệp bởi Đức Giêhôva mà ra;
Bông trái của tử cung là phần thưởng.
Con trai sanh trong buổi đang thì,
Khác nào mũi tên nơi tay dõng sĩ.
Phước cho người nào vắt nó đầy gùi mình!
Người sẽ không hổ thẹn,
Khi nói năng với kẻ thù nghịch mình tại cửa thành.
(127:1-5)
Chúng ta thấy một số từ được dùng thường xuyên trong bài giảng của Salômôn về mục đích và ý nghĩa của cuộc sống:
Giàu có
Salômôn thuyết giảng rằng ông từng tìm mục đích và ý nghĩa của cuộc sống qua việc tích lũy của cải, và ông trở thành người giàu có nhất. Tuy nhiên, khi ngắm nhìn sự giàu có của mình qua mạng lưới của cái chết, ông nói: “Ta cũng ghét mọi công lao ta đã làm ở dưới mặt trời, vì phải để lại cho người sau mình” (TrGv 2:18).
Salômôn gặp một người đần độn nơi phố chợ và chợt nghĩ rằng người thừa hưởng sự giàu có của ông cũng có thể sẽ giống như người đó. Sự thật không thể phủ nhận là điều nầy rất có khả năng xảy ra khiến Salômôn lấy chữ “Hư không” làm chủ đề trong suốt hành trình truy tìm ý nghĩa của sự giàu có.
Khôn Ngoan
Khi Salômôn nhận ra rằng giàu có không phải là mục đích và ý nghĩa của cuộc sống, ông đã theo đuổi sự khôn ngoan. Ông trở nên người khôn ngoan nhất, nhưng cũng không tìm được mục đích trong điều nầy. Ông đặt tựa đề cho sự giàu có là hư không vì ông không thể đem tiền bạc theo xuống mồ. Điều đó cũng lặp lại khi ông muốn đăt tựa đề cho việc tìm kiếm mục đích và ý nghĩa của cuộc sống trong sự khôn ngoan, vì ông thấy rằng ông không thể chuyển sự khôn ngoan thành hạnh phúc: “Vì nếu sự khôn ngoan nhiều, sự phiền não cũng nhiều; ai thêm sự tri thức ắt thêm sự đau đớn” (TrGv 1:18).
Bức tượng của nhà tư tưởng không phải là hình ảnh của một người hạnh phúc. Ngu dốt là sự mãn nguyện đầy vui thích và đần độn, khi nó đặt trên căn bản là sự ngu muội. Vì có cố sức tìm kiếm tri thức cũng không làm tăng thêm hạnh phúc, nên Salômôn đã đặt tựa đề cho sự tìm kiếm mục tiêu và ý nghĩa cuộc sống của ông qua sự khôn ngoan cũng là Hư không.
Khoái Lạc
Cuộc tìm kiếm mục đích và ý nghĩa cuộc sống tiếp theo của Salômôn là lao vào sự vui chơi, phóng túng và buông thả. Ông buông mình vào mọi lạc thú của thế gian: “Ta chẳng từ điều gì mắt mình ước ao, cũng chẳng cấm điều gì lòng mình ưa thích” (2:10a). Chưa có người nào từng vui chơi tiệc tùng như Salômôn. Nhưng, sau khi thỏa mãn mọi khoái lạc, Salômôn tự hỏi: Nó mang lại điều tốt lành nào? Mục đích để làm gì? Và tôi đạt được điều gì qua đó? Salômôn khám phá tận đáy lòng rằng tiệc tùng, khoái lạc thâu đêm suốt sáng, không phải là mục đích của cuộc sống.
Nhận Định
Kết luận bài thuyết giảng, Salômôn nhận định với các thính giả trẻ tuổi rằng trong cụôc đời, ông đã học được một chân lý quan trọng nhất: “Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến nỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy” (12:13-14). Theo nguyên ngữ tiếng Hêbơrơ ngụ ý rằng sự kính sợ và giữ điều răn của Đức Chúa Trời làm cho bạn trở thành một người toàn vẹn. Sự kính sợ Đức Chúa Trời là khởi đầu sự khôn ngoan, đó là điều tất nhiên. Đây là mục đích mà Salômôn tìm kiếm suốt cả cuộc đời.
Với sự khôn ngoan, Salômôn lập luận cách chắc chắn là phải có một sự phán xét công bằng vì trong suốt bài thuyết giảng, ông nói rằng cuộc sống đầy dẫy sự bất công. Người ta thừa hưởng tiền của không bởi mình làm ra, người bị áp bức thì không nhận được sự an ủi, và những người có nhiều lại thường không thỏa lòng. Sự bất công, kỳ thị, bóc lột người nghèo, sự áp bức của kẻ ác, và nhiều tội ác khác vẫn chưa bị trừng trị, khiến cho Salômôn dễ dàng lập luận là phải có một sự phán xét công bằng.
Chân Lý Vàng Được Mặc Khải Trong Sách Truyền Đạo
Khi đọc xuyên suốt sách Truyền đạo, bạn sẽ khám phá phương thức hai chiều của chân lý. Lúc nầy, Salômôn dường như đang đóng vai một người theo chủ nghĩa hoài nghi, người hay dò hỏi và nghi ngờ - là người không có sự mặc khải từ Đức Chúa Trời, và lập luận đơn thuần như một người không thuộc linh, người thế gian - Lúc khác, ông lại suy nghĩ và nói như một người thuộc linh được Đức Chúa Trời mặc khải. Mặc dù thoạt đầu tư tưởng Salômôn có nhiều sự nghi ngờ, nhưng chân lý mà ông trình bày lại giống như một người nào đó rất uyên thâm, giúp chúng ta hiểu rõ về mục đích và ý nghĩa của cuộc sống.
Hãy đọc câu nầy trong đoạn ba: “Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định.Có kỳ sanh ra, và có kỳ chết; có kỳ trồng, và có kỳ nhổ vật đã trồng; có kỳ giết, và có kỳ chữa lành; có kỳ phá dỡ, và có kỳ xây cất; có kỳ khóc và có kỳ cười; có kỳ than vãn, và có kỳ nhảy múa” (1-2). Sứ điệp nầy tương tự với sứ điệp trong Thi thiên thứ nhất, cho chúng ta biết về người được phước sẽ “Sanh bông trái theo thì tiết” (3b). Việc Đức Chúa Trời làm trong đời sống mỗi người sẽ đến đúng thời điểm của Ngài.
Salômôn cũng giúp chúng ta hiểu thấu về hôn nhân khi ông viết: “Hai người hơn một,vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. Nếu người nầy sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên;nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên! Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được? Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thế chống cự nó; một sợi dây bện ba lấy làm khó đứt” (4:9-12).
Khi Đức Chúa Trời thiết lập mối quan hệ hôn nhân, Ngài muốn người nam và người nữ hiệp làm một về tâm trí, thể xác và tâm linh. Kế hoạch của Ngài từ xưa đến nay là phải có chiều sâu ngày càng hơn về tâm linh và tâm trí phải biểu lộ sự vui mừng qua thể xác, đó là quan hệ tình dục. Salômôn có thể đã suy nghĩ như vậy khi ông nói một sợi dây bện ba lấy làm khó đứt. Khi xét trên phương diện hôn nhân, thì tình dục là một hình thức cao nhất của mối tương thông. Vì vậy, nếu như mối quan hệ thể xác không có chiều sâu về mặt tâm trí và tâm linh, thì cũng chỉ như quan hệ giữa loài vật mà thôi.
Trong chương thứ chín, Salômôn mô tả một thành phố được cứu nhờ sự góp ý của một người khôn ngoan: “Vả, trong thành ấy có một người nghèo mà khôn, dùng sự khôn ngoan mình giải cứu thành ấy: Song về sau không ai nhớ đến người nghèo đó” (14-15). Salômôn cho việc thành phố ấy bỏ quên người khôn ngoan là một sự bất công. Công sức của người khôn ngoan không được tưởng thưởng. Ông kết luận: “Lời của người khôn ngoan được nghe tại nơi êm lặng còn hơn tiếng kêu la của kẻ cai trị trong đám dại dột” (17). Đối với ông, sự hoàn tất công việc quan trọng hơn là việc nhận lấy lời khen ngợi nơi người khác.
Kết thúc bài giảng, ông khuyên nhủ thanh niên: “Trong buổi còn thơ ấu hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa ngươi,trước khi những ngày gian nan chưa đến, trước khi những năm tới mà ngươi nói rằng: Ta không lấy làm vui lòng” (12:1;). Ông biết rằng tuổi trẻ là thời điểm hưởng phước hạnh và kết quả, nhưng cũng biết rằng không thể tránh khỏi tuổi già đang đến gần. Salômôn khuyên giục: “Lại hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa trước khi dây bạc đứt, và chén vàng bể, trước khi vò vỡ ra bên suối, và bánh xe gãy ra trên giếng; và bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó” (6-7). Mọi người khi còn trẻ hãy làm điều ngay thẳng và sống tốt đẹp theo ý muốn Đức Chúa Trời, vì họ sẽ phải đối mặt với Ngài trong ngày sau rốt. Và cuối cùng, Salômôn xác định ý nghĩa của cuộc sống: “Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi” (13).
SÁCH NHÃ CA
Nhã ca là sách cuối cùng của các sách thi văn. Chúng ta biết rằng Salômôn đã viết 1.005 bài thơ ca, nhưng đây là bài duy nhất được giữ lại trong Kinh thánh. Nhã ca ghi lại cuộc trò chuyện lãng mạn giữa hai người yêu nhau. Khi ở tuổi 30, thanh niên Hêbơrơ mới được đọc sách nầy.
Bạn có thể thắc mắc tại sao sách nầy lại được đứng chung với các sách được thần cảm khác trong Kinh thánh. Có nhiều lời giải đáp cho câu hỏi nầy. Đây là sách dạy về sự thánh khiết ở chốn khuê phòng. Trong Sáng thế ký, chúng ta biết Đức Chúa Trời phán rằng người nam ở một mình thì không tốt, do đó, Đức Chúa Trời tạo nên một người nữ để làm người ấy nên trọn vẹn. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng nên họ là nam và nữ, Ngài kết hợp họ lại với nhau trong mối quan hệ thể xác. Theo tiến trình sáng tạo, sau khi tạo dựng xong, Ngài phán rằng mọi vật Ngài dựng nên đều tốt lành. Khi Đức Chúa Trời tạo ra tình dục, Ngài cũng phán rằng tình dục là “rất tốt”.
Nếu không có ý nghĩa nào sâu xa hơn trong sách Nhã ca, thì sứ điệp về sự thánh khiết trong tình dục cũng đủ quan trọng để quyển sách tuyệt vời nầy trở thành một phần trong thư viện thánh mà chúng ta gọi là Kinh thánh. Thật quan trọng nếu như các bậc cha mẹ dạy dỗ cho con cái biết rằng tình dục là điều tốt đẹp. Đó là sự kêu gọi phải dạy dỗ cho con cái biết dành tình dục cho hôn nhân, và không nên khiến cho chúng có ấn tượng tình dục là tội lỗi. Nếu làm cho con cái nghĩ tình dục là sai trái, thì chúng ta đã làm giảm đi sự hiểu biết đúng đắn về tình dục trong hôn nhân. Chúng sẽ có thái độ khắt khe về tình dục khi bước vào hôn nhân, điều đó sẽ làm ngăn trở sự đáp ứng của chính bản thân với người bạn đời cách nghiêm trọng.
Sách Nhã ca dạy rằng Đức Chúa Trời chúc phước, thánh hóa và xức dầu cho chốn khuê phòng và “niềm hạnh phúc của vợ chồng”. Khi đọc sách Nhã ca, bạn sẽ thấy rõ ý định của Đức Chúa Trời trong niềm vui được biểu lộ qua sự thân mật yêu đương giữa vợ chồng trong hôn nhân.
Tấm lòng thành kính với một ý nghĩa sâu xa được tìm thấy trong sách Nhã ca. Người ta thấy có sự so sánh thâm thúy giữa mối quan hệ giữa hai người yêu nhau tương tự như mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời và với Đấng Christ, thường được diễn tả như mối quan hệ trong hôn nhân. Người ta tin rằng sách Nhã ca được đưa vào Kinh thánh để làm hình bóng về tình yêu của Đức Giêhôva dành cho dân Ysơraên. Khi đọc Tân ước, bạn sẽ thấy ẩn dụ về mối quan hệ yêu thương nầy cũng áp dụng cho Đấng Christ và Hội thánh. Đấng Christ là chàng rể và Hội thánh là nàng dâu (Mat Mt 25:1-13, KhKh 21:2, 17).
Ứng Dụng Thuộc Linh Trong Sách Nhã Ca
Biểu tượng cuối cùng trong sách nầy áp dụng cho sự quan hệ giữa tình yêu cá nhân của chúng ta đối với Đấng Christ Hằng sống. Trong Cựu ước, dân Ysơraên nhận mạng lệnh hãy yêu mến Đức Chúa Trời bằng tất cả tấm lòng. Chúa Jêsus xác nhận lời dạy nầy khi Ngài bị hỏi điều răn nào là lớn nhất trong luật pháp (Mat Mt 22:35-40). Mối quan hệ yêu thương cá nhân của mỗi người đối với Đức Chúa Trời và với Đấng Christ là hiện thân biểu tượng tốt đẹp giữa hai người yêu nhau. Sự diễn giải và áp dụng sách Nhã ca có thể làm cho quyển sách nầy trở thành quyển sách thuộc linh nhất trong Kinh thánh, dạy chúng ta về mối quan hệ thân mật với Đấng Christ phục sinh và hằng sống.
So Sánh Mối Quan Hệ Thuộc Linh Trong Sách Nhã Ca
Chàng rể trong sách Nhã ca, trước hết đưa nàng dâu vào phòng riêng của mình (Nha Dc 1:4) rồi đưa đến phòng yến tiệc (2:4). Điều nầy muốn cho thấy rằng sự quan hệ của chúng ta với Đấng Christ phải có sự thân mật riêng tư trước khi biểu lộ công khai. Chúa Jêsus nói rõ điều nầy trong bài giảng trên núi. Ngài phê phán những người thường cầu nguyện và làm phước chốn đông người, vì việc làm của họ nhằm mưu cầu cho lợi ích của con người, chứ không vì Đức Chúa Trời (Mat Mt 6:5-7).
Chúa Jêsus nhấn mạnh rằng chúng ta nên cầu nguyện với Đức Chúa Trời trong nơi kín nhiệm và sự bố thí như là làm cho Chúa cách kín giấu. Martin Luther viết: “Chúa Thánh Jêsus, Con Trẻ hiền lành, hãy làm cho Ngài một chiếc giường, êm ái, tinh khiết trong lòng tôi, và tấm lòng nầy là căn phòng yên tịnh dành riêng cho chỉ một mình Ngài mà thôi”. Tấm lòng của bạn có phải là căn phòng yên tịnh dành riêng cho một mình Ngài không?
Trong sách Nhã ca, mặc dầu mối quan hệ giữa hai người yêu nhau bị đổ vỡ, thì cũng không phải do chàng rể. Hình ảnh nầy áp dụng cho sự quan hệ giữa chúng ta với Đấng Christ. Mối quan hệ của chúng ta với Đấng Christ có thể tiếp tục, nhưng khi sự thân mật bị đứt đoạn, bị đổ vỡ thì là do chúng ta chứ không phải Đấng Christ. Sự gãy đổ giữa chúng ta và Đấng Christ không bao giờ là do Đấng Christ bỏ quên chúng ta mà chỉ do chúng ta không trung tín với Ngài.
Khi chàng rể đến phòng cô dâu, thì không được nàng mở cửa, do nàng đang rối lên vì bận xức dầu thơm và sửa soạn đẹp đẽ. Cuối cùng, khi mở cửa, thì chàng đã đi rồi! (Nha Dc 5:1-6). Chúng ta thường bận tâm với các nghi thức, hoặc với các ân tứ của Đức Thánh Linh mà lại khóa cửa thông công với Đấng ban cho các ân tứ thiêng liêng đó. Vì bận rộn với sự bày tỏ kỳ diệu của các ân tứ Thánh Linh, chúng ta lại quên đi Chàng Rể, là Đấng mong muốn có được mối quan hệ thân thiết với chúng ta, đang đứng chờ ở ngoài cửa.
Nàng dâu trong sách Nhã ca hiểu công việc của chàng rể: “Vừa sớm mai, chúng ta sẽ thức dậy, đi đến vườn nho, đặng xem thử nho có nứt đọt, hoa có trổ, thạch lựu có nở bông chăng: Tại đó tôi sẽ tỏ ái tình tôi cho chàng” (7:12). Theo như những gì Chúa Jêsus phán với Phierơ trong sách Phúc âm Giăng, chúng ta có thể bày tỏ tình yêu của mình với Chúa bằng cách quan tâm, chăm sóc, yêu thương bầy chiên mà Ngài rất yêu thương (GiGa 21:15-17).
Điều áp dụng quan trọng nhất trong sách Nhã ca nầy là gì? Nhã ca là ngôn ngữ của con tim nói lên cảm xúc quan trọng nhất: Tình yêu. Nó diễn tả mối quan hệ yêu thương quan trọng nhất mà chúng ta sẽ từng trải - mối quan hệ với Đấng Christ - bằng hình bóng về tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, và sự đáp ứng của chúng ta đối với Ngài.
Để hiểu được tính chất duy nhất của tình yêu, chúng ta phải bắt đầu với tình yêu của Đức Chúa Trời. Có hai nơi trong Tân ước chúng ta có thể thấy tình yêu của Đức Chúa Trời được phân tích và bày tỏ. Trong chương nói về tình yêu của Phaolô và Giăng, tình yêu của Đức Chúa Trời được nhìn qua lăng kính của một tâm trí được thần cảm và tỏ ra ở một khía cạnh khác như một chuỗi các mỹ đức (ICo1Cr 13:1-13, IGi1Ga 4:7-21). Phaolô và Giăng cho chúng ta biết tình yêu của Đức Chúa Trời là: không thể diễn tả, không thể thay thế, không thể hủy diệt, vô điều kiện, hấp dẫn mạnh mẽ, đầy cảm thúc, thuộc linh, bất diệt và siêu nhiên.
Khi yêu với tình yêu như vậy, chúng ta có thể yêu người phối ngẫu của mình, yêu con cái, cha mẹ, và thậm chí yêu thương cả những người rất khó yêu. Sách Nhã ca dạy rằng tình yêu chúng ta chia sẻ với Đấng Christ là tình yêu riêng tư, thân mật, độc quyền, mãnh liệt, vị tha, hỗ tương, thỏa lòng, sáng suốt, không bị đe dọa, kết quả và còn mãi đến đời đời.

SƠ LƯỢC VỀ TIÊN TRI
Các sách tiên tri được xem là cốt lõi của Cựu ước, đặc biệt trong bối cảnh Tân ước, Chúa Jêsus đã nói về Cựu ước như là “Luật pháp và lời tiên tri” (Mat Mt 7:12, 22:40). Luật pháp là năm sách đầu của Kinh thánh - Sáng thế ký, Xuất Êdíptô ký, Lêvi ký, Dânsố ký, Phục truyền luật lệ ký. Giờ đây chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu từ sách Êsai và kết thúc ở Malachi.
Sứ đồ Phaolô bày tỏ sự lưu tâm về các tiên tri khi ông tiếp kiến một vị vua. Ông là người rao giảng Tin lành rất mạnh mẽ đến nỗi vị vua đó nhận xét rằng Phaolô gần như khiến ông trở thành một Cơ đốc nhân. Phần kịch tính nhất trong lời làm chứng của vị sứ đồ nầy là khi ông hỏi: “Tâu vua Acrípba, vua có tin các đấng tiên tri chăng? Tôi biết thật vua tin đó!” (Cong Cv 26:27) Phaolô thường đặt nhiều câu hỏi về các tiên tri, những bài giảng và ký thuật của ông được xức dầu và đầy năng quyền. Cách thức để nhận biết một người có đức tin không là hãy hỏi: “Bạn có tin các đấng tiên tri không?”
Khi Tân ước nói về các tiên tri, thì thường đề cập đến những vị tiên tri là người viết sách ấy. Có mười bảy sách tiên tri do mười sáu tiên tri ký thuật (Giêrêmi viết hai sách - Giêrêmi và Ca thương).
Trước khi chúng ta khảo sát về các sách tiên tri, tôi muốn giải đáp câu hỏi: “Thật ra ai là tiên tri?” Tôi bắt đầu trả lời câu hỏi nầy bằng cách so sánh giữa tiên tri và thầy tế lễ. Khi các sách luật pháp được viết ra, các nhà lãnh đạo thuộc linh quan trọng là các thầy tế lễ. Các thầy tế lễ có một vai trò quan trọng bởi vì họ cầu thay cho dân sự khi phạm tội. Các thầy tế lễ cũng giải nghĩa Kinh thánh, và là thầy giáo của dân sự Đức Chúa Trời. Họ giải đáp những thắc mắc về Kinh thánh, làm chức tế lễ và dâng của lễ trong đền tạm nơi hoang mạc và trong đền thờ Salômôn sau nầy.
Thầy tế lễ khi sanh ra đã là thầy tế lễ, do người ấy thuộc dòng dõi Arôn hay là chi phái Lêvi. Đáng buồn thay, các thầy tế lễ thường là những người suy đồi và phạm tội. Ôsê đã đưa ra một thành ngữ: “Thầy tế lễ nào, dân sự nấy”. Thường khi dân sự bội đạo và phạm tội thì thầy tế lễ sẽ chỉ dẫn cách thức hành động trong khi phạm lỗi, nhưng khi thầy tế lễ yếu đuối và phạm tội thì Đức Chúa Trời bèn sai tiên tri đến.
Tiên tri không sanh ra tiên tri. Những người làm chức vụ tiên tri được kêu gọi từ trong các tầng lớp xã hội. Có hai ba vị tiên tri cũng là thầy tế lễ, họ được kêu gọi làm tiên tri, song đó là trường hợp ngoại lệ. Một số tiên tri được kêu gọi từ tầng lớp quý tộc Giuđa. Một số tiên tri khác được kêu gọi từ tầng lớp lao động bình thường, như tiên tri Amốt, một người làm nghề hái trái vả và chăn chiên. Thực chất, thầy tế lễ là người đi vào trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời và cầu thay cho dân sự. Tiên tri là người đi ra từ trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, đến với dân sự để truyền đạt sứ điệp của Ngài.
Tất cả các trước giả tiên tri sống trong thời kỳ khoảng 400 năm, khoảng từ năm 800 TC đến 400 TC, trong thời kỳ dân sự sống trong tội lỗi, đặc biệt là tội thờ hình tượng. Vì cớ thờ lạy hình tượng cho nên Đức Chúa Trời đã đoán phạt họ bằng cách cho quân Asyri xâm lăng và thần phục Vương quốc phía Bắc làm phu tù. Khoảng một trăm năm sau người Babylôn lại tiếp tục chinh phục Vương quốc phía Nam và bắt họ lưu đày. Các tiên tri viết sách chẳng những nói trước về các cuộc lưu đày nầy, mà còn thi hành chức vụ và giảng dạy trong thời kỳ phu tù nữa, hoặc họ sống và giảng dạy trong lúc dân sự hồi hương sau các sự kiện bi thảm nầy.
Trong mười sáu trước giả tiên tri, có ba người thi hành chức vụ và giảng dạy sau thời kỳ phu tù, sự giảng dạy của họ thường đề cập đến sự hồi hương và tái thiết ngay sau khi dân sự quay trở lại cùng Đức Chúa Trời và họ được trở về từ Babylôn. Tuy nhiên, hầu hết họ nói tiên tri về cuộc xâm lăng và phu tù, hoặc họ thi hành chức vụ trong lúc đang xảy ra các sự kiện đó.
Các tiên tri đã tiên đoán về sự xâm lăng của người Asyri vào Vương quốc phía Bắc, và người Babylôn vào Vương quốc phía Nam. Về cơ bản họ rao giảng: “Nếu các ngươi thức tỉnh về tình trạng thuộc linh của mình, nếu các ngươi thực lòng ăn năn về tội thờ hình tượng, thì cuộc xâm lăng của người Asyri hoặc người Babylôn sẽ không xảy ra”. Các tiên tri nầy kêu gọi sự ăn năn và thức tỉnh thuộc linh. Dầu vậy, hầu như sứ điệp của họ đã bị bỏ qua. Các tiên tri thường bị đánh đập, nhạo báng, bắt bớ và tuận đạo. Nhiều người trong số họ đã chết vì giảng dạy một sứ điệp mà không ai muốn nghe.
Khi các nhà tiên tri nhận ra rằng dân sự không quan tâm đến sứ điệp của họ, họ bèn giảng: “Cuộc xâm lăng đang đến gần, khi ấy cơn đoán phạt của Đức Chúa Trời Toàn Năng sẽ đổ xuống trên các ngươi, bởi vì các ngươi không chịu ăn năn về tội thờ hình tượng”. Và các lời đó đã ứng nghiệm, khi người Asyri xâm lược Vương quốc phía Bắc và bắt họ làm phu tù thì họ không còn nghe lại các sứ điệp đó nữa. Một trăm năm sau, người Babylôn tiếp tục xâm lược Vương quốc phía Nam.
Các tiên tri còn rao giảng một sứ điệp hy vọng có liên quan đến việc bị người Babylôn xâm lăng và bắt làm phu tù. Họ nhận được sự mặc khải tiên tri và rao giảng: “Sau bảy mươi năm các ngươi sẽ được trở về từ chốn phu tù”. Họ nhận thấy việc mình bị phu tù dưới ách thống trị của người Babylôn và được trở về là sự bày tỏ lòng thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời. Hầu hết các tiên tri nầy không còn sống để chứng kiến phép lạ đó xảy ra.
Những Lời Tiên Tri Về Đấng Mêsi
Một chủ đề đáng được quan tâm khác trong sứ điệp của các tiên tri là sự rao giảng về dân sự của Đức Chúa Trời sẽ bị tản lạc khắp đất. Khi rao giảng về sự tản lạc, họ cũng thường rao giảng về sự trở về sau kỳ tản lạc đó. Và khi nói đến sự trở về từ sự cai trị của người Babylôn, các tiên tri cũng tiên tri về Đấng Mêsi xen lẫn với sứ điệp trở về từ chốn phu tù.
Lời tiên tri về sự hiện đến của Đấng Christ ở trong hai sự kiện, hoặc là hai sự hiện đến. Ngài đến lần đầu với tư cách là Đấng Cứu Chuộc, chịu đau đớn để chết thay cho tội lỗi của nhân loại, nhưng khi Ngài đến lần thứ hai - mà chúng ta gọi là sự tái lâm của Đấng Christ - thì với tư cách là Vua trên muôn Vua, Chúa trên muôn Chúa, để chinh phục các thế lực của ma quỷ và thiết lập trời mới, đất mới với sự cai trị công bình.
Thật rất khó phân chia những lời tiên tri về Đấng Mêsi ra khỏi việc tiên báo sự trở về từ chốn phu tù. Cũng thật khó khi phân biệt những lời tiên tri về sự hiện đến lần đầu của Đấng Mêsi và sự tái lâm của Ngài xảy ra vào lúc nào trong thời đại của chúng ta. Việc tiên báo về sự hiện đến của Đấng Mêsi là các lời tiên tri thú vị nhất trong các sách tiên tri của họ.
Phát Ngôn Viên Của Đức Chúa Trời
Khi chúng ta nghe nói đến chữ “tiên tri”, thì chúng ta thường nghĩ đến vai trò của họ giống như là một “nhà dự báo thời tiết thuộc linh”, là người tiên báo cho chúng ta biết về thời tiết ngày mai sẽ như thế nào. Chữ “tiên tri” thực sự có nghĩa là “phát ngôn viên của Đức Chúa Trời”. Vì thế, tiên tri là một người bình thường mà Đức Chúa Trời dùng để công bố Lời của Ngài. Các tiên tri công bố Lời của Đức Chúa Trời theo hai cách. Trước hết, họ “phát ngôn” lời của Đức Chúa Trời. Có nghĩa họ là những nhà rao giảng Kinh thánh vĩ đại. Thứ hai, họ cũng “tiên báo” hay tiên đoán về các biến cố chưa xảy ra. Một số trong các biến cố mà họ báo trước vẫn chưa xảy ra.
Chúng ta cần suy nghĩ về phạm trù tiên báo của chức vụ tiên tri. Đó là phần rất năng động trong chức vụ của người ấy, nhưng lại là một phần tương đối nhỏ. Tiên tri chủ yếu là người rao giảng lời Chúa. Họ kêu gọi dân sự vâng theo và áp dụng Lời Đức Chúa Trời vào cuộc sống. Các tiên tri thường được mặc khải về chân lý mới, nhưng phần lớn bắt đầu từ thời kỳ Giôsuê, họ rao giảng Lời Đức Chúa Trời được chép bởi Môise. Đó chính là lý do mà tôi nói rằng Môise là một người phi thường giữa vòng các tiên tri, vì ông nhận lãnh Lời của Đức Chúa Trời, và các tiên tri đã căn cứ trên Lời đó để rao giảng.
Chữ “tiên tri” được ghép bởi hai từ, có nghĩa là “đứng trước” và “làm sáng tỏ”. Tiên tri đứng trước Lời đã được chép bởi Đức Chúa Trời và làm cho sáng tỏ Lời đó ra. Người cũng thúc giục dân sự Đức Chúa Trời vâng phục và áp dụng Lời Ngài vào cuộc sống. Khi nhận được sự mặc khải về các sự kiện tương lai, tiên tri luôn thúc giục dân sự Đức Chúa Trời hãy sống thánh khiết theo ánh sáng mặc khải mà Ngài đã bày tỏ cho họ, và chia sẻ cho dân sự về các sự kiện tương lai.
Không Có Nan Đề, Không Có Tiên Tri
Tiên tri xuất hiện trong một hoàn cảnh nào đó khi có nan đề. Nghĩa là bạn có thể nói “không có nan đề, không có tiên tri”. Khi bạn nghiên cứu về cuộc đời và sứ điệp của từng vị tiên tri, bạn sẽ có câu hỏi: “Nan đề nào đã ngăn trở công việc của Đức Chúa Trời khiến người đặc biệt nầy được kêu gọi vào chức vụ tiên tri, và làm thế nào để qua chức vụ của người nầy có thể cất đi sự ngăn trở ngay trong thời của họ?”
Thí dụ, vào thời tiên tri Aghê, trong lúc trở về từ chốn lưu đày Babylôn, công việc của Đức Chúa Trời liên quan đến việc tái thiết đền thờ tại Giêrusalem. Khi dân sự của Đức Chúa Trời bắt đầu tái thiết đền thờ, họ phải đương đầu với sự bức hại khốc liệt. Mặc dù vua nước Batư đã cho phép họ hồi hương và cung cấp vật liệu để tái thiết đền thờ, họ vẫn gặp sự chống đối khi khởi công xây cất.
Khi sự bắt bớ dấy lên, họ đã ngưng việc tái thiết đền thờ. Thế rồi họ trở nên xao lãng và bận tâm vào việc xây cất nhà riêng. Việc đó kéo dài suốt mười lăm năm cho đến khi Đức Chúa Trời kêu gọi tiên tri Aghê. Thật vậy, Aghê đã rao giảng vì đền thờ đó. Ông nói cùng dân sự: “Nay có phải là thì giờ các ngươi ở trong nhà có trần ván, khi nhà nầy hoang vu sao? ”(AgKg 1:4) Aghê kêu gọi dân sự trở lại với công việc tái thiết đền thờ của Đức Chúa Trời.
Bởi lời rao giảng của Aghê, dân sự đã ngưng xây cất nhà riêng. Họ xem lại thứ tự ưu tiên và trước hết là xây dựng nhà của Đức Chúa Trời, kế đến mới là nhà riêng của họ. Như vậy, công việc của Đức Chúa Trời được phục hồi và Aghê bước ra khỏi hoàn cảnh đó.
Các thư tín Tân ước hay là các bức thư của các sứ đồ (và của những người khác), đều có hình thức tương tự. Vào thời Tân ước, công việc của Đức Chúa Trời là xây dựng Hội thánh của Đấng Christ. Khi nan đề xảy đến làm cản trở công việc của Đức Chúa Trời, Ngài dấy các sứ đồ lên để viết các thư tín. Mục đích thư tín của các sứ đồ là gì? Nhằm lên tiếng chống lại sự ngăn trở công việc xây dựng Hội thánh của Đấng Christ phục sinh, cho đến khi các nan đề đó được loại bỏ và công việc Chúa lại có thể tiếp tục.
Những điều ngăn trở mà các tiên tri đề cập đến không giống như các nan đề trong các thư tín thời Tân ước. Nhưng khi bạn phối hợp sứ điệp của các tiên tri và các sách thư tín thời Tân ước, bạn sẽ thấy có khoảng chừng bốn mươi sách trong Kinh thánh chứa đựng các mạng lịnh chỉ cách giải quyết các nan đề đang làm ngưng trệ công việc Chúa ngày nay.
Đức Chúa Trời muốn thực hiện công việc của Ngài qua dân sự. Ngày nay cũng chẳng khác gì vào thời các tiên tri và sứ đồ. Khi bạn thật sự nhận thấy công việc của Đức Chúa Trời đang thực hiện tại một nơi nào đó trên thế giới mà Ngài có ý định đặt để trên bạn, bị cản trở bởi những nan đề, nếu bạn tin rằng Đức Chúa Trời không thực hiện được theo như ý Ngài muốn, hãy cầu nguyện cho đến khi bạn thấy rõ nan đề đang làm ngưng trệ công việc Chúa. Khi bạn thấy rõ sự ngăn trở đó là gì, hãy tìm đọc những sách của các tiên tri hay các sứ đồ, và cầu xin Đức Chúa Trời ban cho bạn sự khôn ngoan, ân điển và sự dạn dĩ để áp dụng sứ điệp vào các nan đề đang ngăn trở công việc Chúa nơi bạn đang hầu việc Ngài.
Qua các tiên tri và sứ đồ, Đức Chúa Trời bày tỏ cho bạn cách làm thế nào để cất bỏ những trở lực làm ngưng trệ công việc Chúa. Nếu tiên tri và sứ đồ không cho thấy sự ngăn trở làm ngưng trệ công việc Chúa trong vị trí của bạn, thì có thể theo tinh thần của họ, Đức Chúa Trời muốn bạn hãy kêu khóc về những nan đề ngăn trở đó cho đến khi chúng được cất đi và công việc Chúa được tiếp tục.
SỰ GỌI ĐẾN VÀ SAI ĐI CỦA ÊSAI
Các tiên tri được chia làm hai thành phần, “đại tiên tri” và “tiểu tiên tri”. Danh hiệu nầy không ám chỉ “đại tiên tri” thì cao hơn “tiểu tiên tri”. Sự khác biệt nầy thuộc vào độ dài của sách mà họ viết. Khi chúng ta suy nghĩ về “đại” hay “tiểu” tiên tri thì Êsai chính là một “đại” tiên tri vì sách của ông dài nhất trong tất cả các sách tiên tri.
Êsai xuất thân từ giới quý tộc. Truyền thống Rabi cho chúng ta biết rằng ông có bà con bên nội với vua Ôxia và vua Giôách. Chức vụ Êsai trải qua nhiều đời vua, di sản vương tộc của ông là sự chuẩn bị tốt cho chức vụ mà Đức Chúa Trời kêu gọi.
Một Số Cái Nhìn Cốt Lõi Mang Tính Lịch Sử
Vì đây là sự khảo sát Kinh thánh một cách thực tế và hết lòng, nên có một vài bối cảnh lịch sử mà bạn cần phải lưu ý để hiểu về sứ điệp của các tiên tri. Trong thời các tiên tri sống, rao giảng, viết sách, và thi hành chức vụ (khoảng từ 800 TC đến 400 TC) thì có ba thế lực lớn: Đế quốc Asyri xâm lược Vương quốc phía Bắc của Ysơraên; Đế quốc Babylôn, xâm lược và cai trị Vương quốc phía Nam của Giuđa sau khi họ chinh phục đế quốc Asyri, và Mêđi-Batư xâm chiếm Babylôn.
Êsai sống vào thời kỳ Asyri thống trị các thế lực trên thế giới. Trước khi Asyri xâm chiếm Vương quốc phía Bắc và kinh đô Samari, mười chi phái phía Bắc được gọi là “Ysơraên”, Ysơraên bị bắt làm phu tù và không còn được nhắc đến nữa. Nhiều bài giảng của Êsai đã cảnh báo Vương quốc phía Bắc rằng cuộc xâm lược của người Asyri đang đến gần, đó là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời về tội thờ hình tượng.
Sau khi xâm chiếm Vương quốc phía Bắc, bắt mười chi phái nầy làm phu tù, người Asyri quay về phía Nam và xâm lược Vương quốc phía Nam. Họ chiếm lấy bốn mươi sáu thành của Giuđa. Quân đội Asyri càng lúc càng tiến gần đến thành Giêrusalem, bắt hai trăm ngàn tù binh đem về Asyri. Tuy nhiên, khi quân đội Asyri tiến đến thành Giêrusalem, thì chức vụ tiên tri của Êsai bắt đầu tỏa sáng.
Lúc đó vua của Vương quốc Giuđa phía Nam là Êxêchia, một người tin kính và là một chiến sĩ cầu nguyện, là trước giả của mười Thi thiên. Khi quân Asyri tiến đến cổng thành Giêrusalem, vị tướng của chúng lớn tiếng lăng mạ những người giữ thành, kêu gọi dân Giuđa đầu hàng.
Trong khi vua Êxêchia ở trong đền thờ kêu xin Đức Chúa Trời giải cứu cho dân Ngài, thì Êsai có một khải tượng. Do vậy, ông vào trong đền thờ và nói với Êxêchia rằng sự giải cứu đang đến gần vì Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu xin của vua. Êsai nói với vua rằng quân đội Asyri sẽ nhận được lịnh rút quân. Và khi về đến Asyri, vị tướng của họ sẽ bị giết.
Đêm hôm đó, 185.000 quân Asyri bị chết trong trại quân của họ vì một căn bịnh truyền nhiễm. Sáng hôm sau, phát hiện ra điều nầy, quân đội Asyri liền quay về nhà. Khi chúng về đến Asyri, lời tiên báo của Êsai liền được ứng nghiệm, vị tướng kia bị hai con trai mình sát hại. Nói theo cách loài người, thì bạn có thể nói rằng nếu không được tác động bởi chức vụ của Êsai, thì người Asyri đã thôn tính và hủy diệt cả hai Vương quốc, phía Bắc và phía Nam.
Êsai cho chúng ta một trong những tấm gương quan trọng nhất của Kinh thánh về việc tiên báo của một vị tiên tri. Ông tiên báo quân Pherơsơ sẽ xâm chiếm Babylôn, rồi Siru Đại đế cho phép các phu tù hồi hương để xây dựng đền thờ. Ông nhắc đến tên Siru hai lần và nói trước về sự kiện vĩ đại nầy trong lịch sử dân Do thái.
Truyền thuyết kể rằng các trưởng lão Giuđa bị phu tù đã trình sứ điệp của Êsai lên vua Siru, và lời tiên tri lạ lùng nầy đã làm lay chuyển Siru đến nỗi ông đã ban ra một chiếu chỉ khác thường. Không những ông đồng ý cho phép họ hồi hương mà còn đóng góp vật chất để tái thiết đền thờ. Lời tiên báo của tiên tri Êsai ứng nghiệm chính xác, khi Pherơsơ xâm chiếm Babylôn, việc đầu tiên Siru đại đế thực hiện là ban hành chiếu chỉ cho các phu tù Giuđa được trở về Giêrusalem và tái thiết đền thờ (EsIs 44:28-45:7, Exo Er 1:2-4).
Một Nhà Rao Giảng Vĩ Đại
Êsai ắt hẳn là một nhà rao giảng vĩ đại. Theo Chúa Jêsus thì Giăng Báptít là vị tiên tri lớn nhất do người nữ sanh ra (LuLc 7:28). Tuy nhiên, chúng ta biết rằng khi Giăng rao giảng trong sa mạc, thì ông đã giảng bài giảng của Êsai (3:4). Khi vị “tiên tri lớn nhất do người nữ sanh ra” trình bày bài giảng của Êsai, thì có thể nói Êsai là “tiên tri của các tiên tri”.
Êsai rao giảng ít nhất trong năm mươi năm, có thể là sáu mươi năm. Ông sống trong khoảng năm đời vua Giuđa và sáu đời vua Ysơraên. Cho dù ông nói rất nhiều việc xảy ra cho Vương quốc phía Bắc bởi người Asyri, song công việc chủ yếu và lòng quan tâm thì lại hướng về Vương quốc phía Nam Giuđa.
Nếu bạn muốn biết bối cảnh lịch sử của sách Êsai, hãy đọc cẩn thận các câu mở đầu của lời tiên tri nầy. Các sách tiên tri thường xác định niên đại một tiên tri qua việc ký thuật cho chúng ta biết người ấy đã sống và thi hành chức vụ dưới đời vua nào. Các vị vua cai trị trong thời Êsai, có vua tốt và cũng có vua gian ác nữa. Một trong các vua gian ác là Manase, theo truyền khẩu là người đã giết Êsai bằng cách cưa làm hai. Nhiều học giả tin rằng sự tuận đạo của Êsai được mô tả trong chương nói về đức tin của các anh hùng đức tin trong Cựu ước, họ đã bị “cưa làm hai” (HeDt 11:37).
Sự Phân Chia Sách
Sách Êsai được chia cách hợp lý như sau: Ba mươi chín chương đầu là sứ điệp liên quan đến việc cảnh báo dân sự về thảm họa xâm lược và bị phu tù dưới tay người Asyri. Hai mươi bảy chương sau là sứ điệp chữa lành và an ủi. Gần như ba mươi chín chương đầu của Êsai là “cuộc giải phẫu thuộc linh”, và hai mươi bảy chương sau là sự hồi phục sau khi “giải phẫu”.
Cách phân chia sáu mươi sáu chương của sách Êsai khiến chúng ta nghĩ là có sự tương đồng nào đó giữa sách nầy của Kinh Thánh với chính Kinh thánh. Hãy nghĩ đến sự tương đồng đầy lý thú nầy: có sáu mươi sáu chương trong sách Êsai; cũng có sáu mươi sáu sách trong Kinh thánh. Sách Êsai được chia làm hai phần, với ba mươi chín chương và hai mươi bảy chương. Kinh thánh cũng được chia làm hai phần, Cựu ước có ba mươi chín sách, và Tân ước có hai mươi bảy sách. Phần đầu của sách Êsai giống Cựu ước, với nhiều lời cảnh báo nghiêm khắc và sứ điệp trừng phạt, bày tỏ tình trạng thực tế của con người và con người có thể tìm được giải pháp trong Đức Chúa Trời.
Phần thứ hai của sách Êsai lại giống Tân ước, trong đó đem lại sự an ủi và hy vọng cho những người hướng sự quan tâm về nhu cầu của họ vào Đấng Cứu Chuộc vì họ đã đọc phần “Cựu ước” của sách Êsai là phần chỉ dẫn phương cách đến với Đấng Cứu chuộc. Cựu ước bắt đầu với chữ “Ngươi ở đâu? ”(SaSt 3:9). Tân ước bắt đầu với câu hỏi: “Ngài ở đâu? ”(Mat Mt 2:2). Hai phần của sách Êsai hướng sự quan tâm của chúng ta về Đấng Cứu Chuộc và giới thiệu về Người Đầy Tớ chịu thương khó trong chương năm mươi ba.
Sự Kêu Gọi Êsai
Hai phần trong sách Êsai giúp chúng ta hiểu về chính con người, cũng như chức vụ và sứ điệp của ông. Trong chương sáu, mô tả về sự kêu gọi, hay là sứ mệnh của Êsai. Trong Kinh thánh, tất cả dân sự của Đức Chúa Trời đến với Ngài cũng đầy ý nghĩa như khi họ ra đi cho Ngài. Chương sáu của sách Êsai diễn tả kinh nghiệm về sự kêu gọi và sự ra đi của ông cho Đức Chúa Trời.
Khi Êsai kinh nghiệm sự kêu gọi, ông nghe tiếng Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? ”(8). Để đáp ứng, Êsai bày tỏ sự thuận phục: “Có tôi đây, xin hãy sai tôi!” Gương mẫu nầy rất rõ ràng trong Kinh thánh. Tất cả dân sự của Đức Chúa Trời đến với Ngài để nhận một sứ mệnh và ra đi cho Ngài.
Đức Chúa Trời giải thích cho Êsai: “Hỡi Êsai, dân sự sẽ không lắng nghe ngươi. Mục đích đi ra của ngươi không phải là làm cho chúng nó hồi tâm. Chúng nó đã chọn con đường lìa bỏ Ta.Nhưng Ta muốn người đi, bởi vì Ta muốn họ nghe sứ điệp của Ta”. Đó quả là một sự khắc nghiệt cho người rao giảng. Bạn hãy tưởng tượng một người rao giảng suốt năm mươi hoặc sáu mươi năm mà không hề có một người nào đáp ứng!
Sự tận tụy trong sứ mạng của Êsai là điều đáng kinh ngạc. Ông chỉ hỏi một cách đơn giản: “Đến bao giờ thì họ sẵn lòng lắng nghe? ” Đức Chúa Trời trả lời: “Cho đến chừng các thành bị hoang vu, không có dân ở, nhà không có người, và đất đã nên hoang vu cả; cho đến chừng Đức Giêhôva dời dân đi xa, và trong xứ rất là tiêu điều” (EsIs 6:11-12). Sự thuận phục của Êsai chính là tấm gương cho hết thảy chúng ta. Thật ra, sự thuận phục của tất cả các tiên tri nầy chính là bài giảng vĩ đại nhất mà họ rao giảng. Họ kết ước với Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sai họ đi, thế là họ đi. Khi họ ra đi, điều quan trọng đó là giữ lòng trung thành với Đức Chúa Trời và làm trọn phận sự mà Ngài sai phái.
Phận sự của chúng ta là làm những gì Đức Chúa Trời kêu gọi và sai phái, kết quả sự vâng lời của chúng ta là việc của Ngài. Chỉ có Ngài, Đức Thánh Linh, có thể làm cho kết quả. Phận sự của chúng ta là trung tín. Sanh ra kết quả là trách nhiệm của Đức Chúa Trời. Phận sự của chúng ta là hãy hết lòng làm những gì Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm.

SỨ ĐIỆP VỀ ĐẤNG MÊ-SI
Sách Êsai có nhiều sứ điệp về Đấng Mêsi hơn các sách tiên tri khác trong Kinh thánh. Sách tiên tri Êsai được trích dẫn nhiều hơn bất kỳ sách tiên tri nào khác trong Cựu ước. Khi bạn đọc Êsai, hãy lưu ý sứ điệp về Đấng Mêsi qua lời rao giảng của ông. Trong sách Êsai bạn sẽ tìm thấy lời tiên tri liên quan đến những danh xưng về Đấng Mêsi: “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng, là Đấng Mưu Luận, là Đức Chúa Trời Quyền Năng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An” (EsIs 9:5). Êsai giải nghĩa về Đấng Mêsi là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, hoặc “Emmanuên” nghĩa là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Mat Mt 1:23).
Êsai cũng cho chúng ta biết bản chất của Đức Thánh Linh sẽ được bày tỏ ra qua Đấng Mêsi khi Ngài đến: “Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Ysai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái. Thần của Đức Giêhôva sẽ ngự trên Ngài, tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giêhôva. Ngài lấy sự kính sợ Đức Giêhôva làm vui; chẳng phán xét theo mắt mình thấy, và chẳng cứ sự tai nghe mà đoán định” (EsIs 11:1-3). Đây là điều được ám chỉ trong sách Khải huyền: “Bảy vị thần của Đức Chúa Trời” (KhKh 3:1: 4:5, 5:6).
Trong Kinh thánh, con số bảy là biểu tượng cho sự trọn vẹn, khi Êsai nói cho chúng ta về sự hiện đến của Đấng Mêsi, ông thật sự muốn nói: “Đấng Mêsi sẽ là sự bày tỏ trọn vẹn Thánh linh của Đức Chúa Trời”. Đấng Mêsi sẽ bày tỏ bản chất thần linh của Đức Chúa Trời trong bảy phương diện nầy. Biểu lộ ra đời sống của Ngài là Thần khôn ngoan, Thần hiểu biết, Thần thông sáng, Thần mưu luận, Thần mạnh sức, Thần thờ phượng, và Thần của Đức Chúa Trời.
Khi đọc bốn sách Phúc âm, hình ảnh nào về Chúa Jêsus khiến bạn luôn ghi nhớ trong tâm trí? Theo Êsai thì đặc tính của Đấng Mêsi là: Đời sống của Ngài bày tỏ Thần của sự khôn ngoan và hiểu biết. Ngài biết và hiểu rõ Lời của Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn. Thần của sự khôn ngoan có nghĩa là áp dụng sự hiểu biết, vì thế Chúa Jêsus cũng bày tỏ Thần khôn ngoan khi Ngài áp dụng Lời của Đức Chúa Trời vào đời sống riêng tư của Ngài và đời sống của người khác. Điều nầy có nghĩa là Ngài sẽ bày tỏ Thần mưu luận. Khi Ngài hành động, sẽ có một đời sống năng động thay đổi trong đời sống và chức vụ của Ngài, bày tỏ Thần linh mạnh sức và quyền phép.
Cuối cùng, Êsai nói tiên tri rằng Đấng Mêsi sẽ hiện đến và bày tỏ Thần linh của sự thờ phượng, hoặc Thần kính sợ Đức Chúa Trời. Ông giải luận thêm rằng Ngài sẽ vui thích trong sự bày tỏ cuối cùng về Thần linh thờ phượng nầy. Khi bạn đọc các sách Phúc âm, bạn sẽ thấy là khi Chúa Jêsus không phục vụ con người thì Ngài cầu nguyện và thờ phượng trong nơi vắng vẻ. Hãy đọc bốn sách Tin lành để tìm kiếm con số bảy nầy, sự bày tỏ trọn vẹn Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã được đầy trọn trong cuộc đời Chúa Jêsus.
Vào nửa cuối thế kỷ hai mươi, có xảy ra một cuộc phấn hưng kỳ diệu trong Đức Thánh Linh. Khi chúng ta giải thích những kinh nghiệm của mình về Đức Thánh Linh, chúng ta thường tạo ra sự chia rẽ và lộn xộn vì chúng ta mắc phải một số lỗi lầm trong cách mà chúng ta gán cho những kinh nghiệm đó là của Đức Thánh Linh. Thí dụ như bạn có bao giờ nghe người ta nói về Đức Thánh Linh đầy dẫy trên các tín hữu, mục sư hoặc Hội thánh chưa? Điều nầy ngụ ý đến hai loại tín hữu, mục sư hoặc Hội thánh. Có nhiều tín hữu, mục sư và Hội thánh được đầy dẫy Đức Thánh Linh và cũng có nhiều tín hữu, mục sư và Hội thánh khác không bao giờ được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Đó có phải là điều Kinh thánh muốn nói đến khi mô tả những tín hữu được đầy dẫy Đức Thánh Linh không? Tất cả tín hữu đều nhận được mạng lệnh: “Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh” (Eph Ep 5:18). Theo nghĩa đen của nguyên ngữ thì đây là mạng lệnh cho chúng ta: “Phải được đầy dẫy Đức Thánh Linh”, trong nguyên ngữ Hylạp, lời dạy dỗ nầy được xây dựng theo một mạng lệnh rõ ràng và không có sự chọn lựa nào khác cho các môn đệ đích thật của Chúa Jêsus.
Được đầy dẫy Đức Thánh Linh nghĩa là gì? Trong sách Công vụ cho chúng ta biết rằng Phierơ “được đầy dẫy Đức Thánh Linh”, đã giảng một bài giảng rất thành công trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Sau đó chúng ta đọc: “Phierơ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh” tiếp tục rao giảng nữa và hàng ngàn người được cứu. Mãi về sau chúng ta cũng còn đọc thấy: “Phierơ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh” làm việc nầy hoặc việc kia. Vậy thì, giữa những lần Kinh thánh cho chúng ta biết Phierơ được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì liệu ông có được đầy dẫy Đức Thánh Linh không?
Đức Thánh Linh không phải là một hợp chất, mà là một Thân Vị, và chúng ta có thể có sự hiện diện của Thân vị Đức Thánh Linh trong đời sống hoặc không. Câu hỏi thật sự không phải là: “Chúng ta có Đức Thánh Linh bao nhiêu?” nhưng là: “Đức Thánh Linh chiếm hữu chúng ta bao nhiêu?” Khi Ngài chiếm hữu chúng ta trọn vẹn, có nghĩa là chúng ta được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Một tín hữu được đầy dẫy Đức Thánh Linh tức là tín hữu được Đức Thánh Linh kiểm soát. Trước khi Phaolô truyền mạng lệnh cho chúng ta phải được đầy dẫy Đức Thánh Linh, ông viết: “Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; , nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh” (Eph Ep 5:18). Giống như một người say ở dưới sự ảnh hưởng hoặc kiểm soát của rượu, thì chúng ta cũng ở dưới sự ảnh hưởng hoặc kiểm soát của Thánh Linh.
Lời tiên tri tuyệt vời nầy của Êsai có thể dạy chúng ta rằng chúng ta không nên sợ được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Bởi vì, nếu chúng ta được đầy dẫy Đức Thánh Linh, được Thánh Linh của Đức Chúa Trời kiểm soát hoàn toàn, và nếu chúng ta kinh nghiệm Đức Chúa Trời là thể nào trong Thánh Linh, thì chúng ta trở nên giống Đức Chúa Jêsus Christ khi Ngài biểu lộ và bày tỏ ra bảy phương diện về Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Ở đây Êsai cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus là sự bày tỏ trọn vẹn về Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus lúc nào cũng được Đức Thánh Linh kiểm soát một trăm phần trăm, hay là Ngài được đầy dẫy Đức Thánh Linh mọi lúc mọi nơi. Thánh Linh của Đức Chúa Trời được bày tỏ trọn vẹn qua cuộc đời của Chúa Jêsus Christ. Và Ngài như thế nào? Hãy đọc bốn sách Tin lành và xem xét. Phải chăng có người nào đọc các sách Tin Lành mà không muốn giống Chúa Jêsus? Hiển nhiên, đời sống của Ngài là kiểu mẫu mà qua đó mọi người chúng ta nên sống để bày tỏ bản chất thuộc linh của Đức Chúa Trời - Ngài là Đức Thánh Linh.
Đại Lộ Của Đức Chúa Trời
Trong Êsai bốn mươi chúng ta thấy lời tiên tri tuyệt vời khác về Đấng Mêsi:”Có tiếng kêu rằng: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giêhôva; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Đức Chúa Trời chúng ta! Mọi nơi sủng thấp sẽ được cao lên; mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống: các nơi gập ghềnh sẽ làm cho bằng, các nơi dốc hãm sẽ làm thành đồng nội. Bấy giờ sự vinh hiển của Đức Giêhôva sẽ hiện ra, và mọi xác thịt đều sẽ xem thấy; vì miệng Đức Giêhôva đã phán vậy” (3-5).
Khi Giăng Báptít rao truyền các bài giảng của Êsai, thì LuLc 3:4-6 là một bài giảng vĩ đại nhất của Êsai. Ông giảng rằng Đức Chúa Trời đến trong thế gian nầy trong Thân vị Con Đức Chúa Trời, là Đấng Mêsi. Êsai so sánh việc nầy với việc một vị vua du hành. Nếu vị vua đi đến một làng xa kia, các thần dân của ông sẽ xây một đại lộ để vua có thể đi qua. Họ gọi con đường đó là “Đại lộ của Hoàng đế”. Khi xây đắp một đại lộ, bạn cần phải làm bốn việc: san bằng các đồi núi, lấp đầy các trũng, làm thẳng các chỗ quanh co, và làm bằng phẳng các chỗ gồ ghề.
Êsai sử dụng minh họa thường ngày với ý muốn nói: “Đức Chúa Trời muốn du hành vào trong thế gian nầy, Ngài cần một đại lộ. Đại lộ mà Đức Chúa Trời dùng để đến thế gian nầy chính là cuộc đời của Con Ngài. Cuộc đời của Con Đức Chúa Trời là một đời sống đã được tiên báo rằng các núi kiêu ngạo sẽ bị san bằng, các trũng thấp sẽ được làm cho đầy, các nơi quanh co tội lỗi sẽ được làm cho ngay thẳng, và Con Đức Chúa Trời sẽ làm cho những chỗ gồ ghề trở nên bằng phẳng, êm ái. Kế đến, Đại lộ được hình thành để Đức Chúa Trời có thể du hành vào trong thế gian nầy, và mọi xác thịt sẽ xem thấy sự cứu rỗi và vinh quang của Đức Chúa Trời qua Đại lộ đó”.
Khi Chúa Jêsus hướng dẫn cho chúng ta cách sống, thì điều nầy có nghĩa là cuộc sống của chúng ta trở nên đại lộ của Đức Chúa Trời. Tôi kêu gọi bạn hãy cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời, xin hãy làm cho cuộc đời con trở thành một đại lộ mà trên đó Ngài có thể bước vào thế gian nầy”. Khi bạn cầu nguyện lời nầy rồi, thì đừng ngạc nhiên nếu “Thần linh san bằng” của Đức Chúa Trời bày tỏ ra, và san bằng núi kiêu ngạo của bạn, làm đầy chỗ trũng thấp và trống rỗng, làm thẳng các chỗ tội lỗi quanh co, và làm bằng phẳng, êm ái các chỗ gồ ghề của bạn. Khi bạn và tôi cầu nguyện lời nầy rồi, Đức Chúa Trời sẽ treo một bảng báo hiệu trên đời sống của chúng ta: “Chú ý: Công trường của Đức Chúa Trời đang làm việc!”
Bản Tuyên Ngôn Naxarét
Một bài giảng tuyệt vời khác của Êsai nằm trong chương sáu mươi mốt. Đây là lời tiên tri về chức vụ công khai của Đức Chúa Jêsus. Khi Chúa Jêsus bắt đầu ba năm chức vụ, Ngài khởi sự với một bản tuyên ngôn, mà các học giả gọi là “Bản Tuyên Ngôn Naxarét”. Chúa Jêsus vào trong nhà hội và lấy cuộn sách tiên tri Êsai. Ngài mở đến gần cuối cuộn sách và đọc những lời nầy: “Thần của Chúa Giêhôva ngự trên Ta; vì Đức Giêhôva đã xức dầu cho Ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai Ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; đặng rao năm ban ơn của Đức Giêhôva; đoạn Ngài tuyên bố rằng những lời mà Ngài vừa đọc đang được ứng nghiệm” (EsIs 61:1-2, LuLc 4:18).
Nếu bạn so sánh lời tiên tri của Êsai trong chương sáu mươi mốt với lời trích dẫn của Chúa Jesus ở sách Luca trong chương bốn, bạn sẽ nhận thấy rằng Ngài dừng sự trích dẫn sách Êsai ngay chính giữa một câu. Êsai còn tiếp tục “và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta”. Chúa Jêsus không đọc phần nầy vì câu đó diễn tả sự hiện đến lần thứ hai của Ngài. Đấng Mêsi sẽ trở lại và báo thù mọi kẻ thù nghịch của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã ngừng lại giữa câu đó và trả cuộn sách lại cho các thầy Rabi, Ngài công bố bản tuyên ngôn về ba năm chức vụ của Ngài kể từ hôm đó. Xong rồi Ngài phán: “Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó” (EsIs 61:1-2, LuLc 4:18-21).
Chúa Jêsus phán: “Thần của Chúa ngự trên Ta, vì Ngài đã xức dầu cho Ta đặng truyền Tin lành cho kẻ nghèo”. Những người nghèo nầy là nghèo trong ý nghĩa bị mù lòa. Sự mù lòa của họ có nghĩa là họ không biết phân biệt phải trái. Họ cũng nghèo trong ý nghĩa bị trói buộc, không được tự do. Họ cũng nghèo trong nghĩa bị tan vỡ và thương tích.
Trong nhà hội ngày hôm đó, Chúa Jêsus công bố: “Chức vụ của Ta hướng về những người mù, bị trói buộc, tan vỡ và thương tích. Khi Ta công bố Tin lành cho người nghèo, thì người mù sẽ thấy, người bị trói buộc được buông tha, và người tan vỡ, thương tích được chữa lành”. Khi công bố bản tuyên ngôn Naxarét vĩ đại nầy, Đức Chúa Jêsus bắt đầu công khai ba năm chức vụ của Ngài.
Bản tuyên ngôn Naxarét là một khuôn khổ tuyệt vời mà qua đó bạn có thể xem xét chức vụ của Chúa Jêsus trong bất cứ sách nào của bốn sách Tin lành, đặc biệt là trong sách Tin lành Luca. Khi Chúa Jêsus, là Đức Chúa Trời ở với chúng ta, muốn công bố một bản tuyên ngôn để cho biết Ngài là ai, Ngài là gì và đang làm gì ở đây, giống như Giăng Báptít, Ngài đã giảng một trong những bài giảng của Êsai.
Khi bạn đọc bốn sách Tin lành, hãy xem Chúa Jêsus đã làm gì trong ba năm, sau khi công bố bản tuyên ngôn của Ngài. Ngài đã ban ánh sáng cho người mù. Mặc dù Ngài chữa lành người mù theo nghĩa đen, qua chức vụ giảng đạo, Ngài cũng ban ánh sáng thuộc linh cho những người bị mù tâm linh. Ngài có lòng thương xót lớn lao đối với đoàn dân bởi vì họ giống như chiên không biết phân biệt phải trái. Ban ánh sáng cho người mù thuộc linh hiển nhiên là một phép ẩn dụ mô tả chức vụ giảng đạo của Ngài.
Trong chức vụ khuyên bảo, Ngài cho kẻ phu tù được tự do. Ngài hứa với người bị trói buộc rằng nếu họ muốn theo Ngài, thì Ngài sẽ dẫn họ vào trong Lẽ Thật để họ được buông tha (GiGa 8:30-35).
Nếu bạn là một người mù lòa thuộc linh, bị lẫn lộn, không thể phân biệt phải trái, thì nhiệm vụ của Đấng Mêsi là hướng dẫn bạn. Bổn phận của Ngài là đáp ứng nhu cầu của bạn, giúp bạn nhận được ánh sáng trong sự tối tăm của mình. Nếu bạn chưa được tự do, nếu bạn là người nghiện ngập, bị sai khiến bởi thói quen xấu và tham dục, thì trách nhiệm của Đấng Mêsi là hướng dẫn bạn. Ngài đến vì những người như bạn. Ngài muốn bạn được tự do. Nếu bạn bị thương tích và ngã quỵ vì cuộc sống khó khăn, hãy nhớ rằng Chúa Jêsus đến vì những người như bạn. Ngài muốn bạn được chữa lành. Ngài muốn làm cho bạn nên trọn vẹn.
Nếu bạn đã kinh nghiệm sự cứu rỗi kỳ diệu mà Chúa Jêsus và Êsai mô tả trong bản tuyên ngôn về Đấng Mêsi, thì khi bạn hòa nhập vào trong thế gian và tiếp xúc với mọi người, hãy nhớ rằng công việc của Chúa Jêsus là hướng dẫn họ. Hãy tự hỏi: “Họ có bị mù không? Có bị trói buộc không? Có đau khổ không?” Chúa Jêsus Christ, Đấng sống trong bạn, muốn hành động trong đời sống của họ giống như Ngài đã hành động trên bạn. Ngay lúc nầy Ngài muốn thực hiện qua đời sống bạn.
Khi dành thì giờ cuối cùng với các môn đệ trước khi lên thập giá, Chúa Jêsus phán với họ rằng Ngài sẽ sai Đấng Yên Ủi, là Đức Thánh Linh đến ở cùng họ. Đó là điều Tân ước muốn nói đến khi bảo rằng chúng ta, những người theo Chúa Jêsus, là Hội thánh, là “thân thể của Đấng Christ”. Ngài sống trong chúng ta, chúng ta là tay của Ngài, là chân của Ngài, là chính thân thể của Ngài mà qua đó, ngày nay, Ngài bày tỏ chính mình Ngài, ban ánh sáng cho người mù, giải thoát cho người bị trói buộc, chữa lành cho người bị tan vỡ và thương tích trong thế gian nầy.
Sự Thương Khó Của Chúa Cứu Thế
Một lãnh vực khác trong sứ điệp về Đấng Mêsi của Êsai là hướng về sự chết của Chúa Jêsus Christ. Trong Kinh thánh, Êsai năm mươi ba là chương hàm ý rõ ràng nhất về sự chết của Chúa Jêsus. Trong chương tuyệt vời nầy Êsai bắt đầu với câu hỏi: “Ai tin điều đã rao truyền cho chúng ta, và cánh tay Đức Giêhôva đã được tỏ ra cho ai? ” Hãy nhớ rằng Êsai được giao sứ mạng rao giảng cho những người không tin ông. Ông nhận thức rất rõ về điều đó khi Lời của Đức Chúa Trời được rao giảng, Nếu Đức Thánh Linh không bày tỏ ý nghĩa Lời ấy cho con người, thì không ai có thể hiểu hoặc tin được.
Điều mà Êsai thật sự muốn hỏi là: “Người nào thực sự hiểu được ý nghĩa sự chết của Chúa Jêsus?” Trọng tâm lời giảng của Êsai trong chương nầy nằm trong câu thứ sáu: “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người”. Đức Chúa Trời chất hết thảy tội lỗi của chúng ta trên Đấng Mêsi bằng cách nào? “Nhưng Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa phạt Người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi Người chúng ta được lành bịnh” (5).
Câu sáu bắt đầu và kết thúc với chữ “hết thảy”. Lần đầu Êsai dùng chữ “hết thảy” là ông ví chúng ta giống như chiên. Có bao gồm cả bạn không? Hãy xem lại Thi thiên 23: “Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi. Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi” (1-2). Khi chúng ta xưng nhận Đức Chúa Trời là Đấng chăn giữ chúng ta, thì chúng ta cũng đang cho rằng mình là chiên. Vậy thì, ở đây, trong lời sâu sắc nầy của Êsai, chúng ta tìm thấy một chỗ nữa trong Kinh thánh khuyến khích chúng ta xưng nhận mình là chiên. Hết thảy chúng ta đều như chiên đi lạc. Nói một cách khác, tất cả chúng ta đều là tội nhân, đều đi theo ý riêng của mình.
Lần thứ nhì dùng chữ “hết thảy”, Êsai muốn thông báo cho chúng ta một Tin Mừng. “Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Người”. Bạn có tin rằng mình cũng được bao gồm trong chữ “hết thảy” sau cùng đó của Êsai không? Nếu bạn nhìn nhận chữ “hết thảy” đầu tiên có cả bạn, và cũng nhận rằng chữ “hết thảy” sau cùng cũng bao hàm cả mình nữa, tức là bạn đang xưng nhận ý nghĩa sự chết của Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá có tác động trên cuộc đời bạn. Kế đến bạn có thể kinh nghiệm sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ khi Ngài dùng đời sống của Con Ngài như là một Đại lộ mà qua đó Ngài bước vào thế gian nầy.
TIÊN TRI GIÊRÊMI NHỮNG LỜI THAN KHÓC
Đại tiên tri tiếp theo trong Cựu ước là Giêrêmi. Ông được mệnh danh là “tiên tri than khóc” bởi vì ông từng than khóc nhiều lần. Vì thế, lời tiên tri của Giêrêmi thật sự là “những lời than khóc”. Sách của ông hầu như không thể lập được dàn ý, vì người ta không thể khóc theo dàn ý được. Sau khi khóc trong năm mươi hai chương, Giêrêmi đã viết một bài thơ đáng ngạc nhiên, đó là phụ lục cho các lời tiên tri của ông, được gọi là sách Ca thương, có nghĩa là “than khóc”. Qua khúc bi thương tuyệt diệu và cũng là một kiệt tác văn chương nầy, Giêrêmi đã than khóc rất nhiều.
Vài Nét Về Bối Cảnh Lịch Sử
Giêrêmi than khóc về điều gì? Tại sao ông quá bối rối như thế? Điều gì làm cho lòng ông đau đớn cực độ? Để trả lời được các câu hỏi nầy, bạn phải hiểu bối cảnh lịch sử mà vị tiên tri nầy đang sống, rao giảng và viết lên lời tiên tri khác thường nầy mà chúng ta gọi là “Sách Giêrêmi”.
Trong các câu mở đầu, chúng ta biết tiên tri khởi đầu chức vụ vào năm thứ mười ba đời vua Giôsia và thi hành chức vụ suốt thời kỳ cai trị của vua Sêđêkia, nghĩa là khoảng bốn mươi mốt năm. Ông khởi đầu chức vụ khi vị vua tốt, Giôsia, cai trị Giuđa. Trong thời Giôsia trị vì, có một vài nhân công trong lúc sửa sang đền thờ đã phát hiện nhiều cuộn sách Kinh thánh bằng da. Về mặt thuộc linh, dân sự lìa xa Đức Chúa Trời đã lâu nên không còn nhận ra đó là các bản Kinh thánh hoặc luật pháp của Đức Chúa Trời còn tồn tại. Những vị vua được đề cập trong các câu mở đầu của sách Giêrêmi là các vua tiếp nối Giôsia, có liên quan đến việc thành Giêrusalem bị sụp đổ và quân Babylôn bắt làm phu tù.
Thành Giêrusalem sụp đổ là một thảm họa kéo dài trong hai mươi năm. Thời gian đầu của sự sụp đổ thành Giêrusalem, thì Giêhôgiakim làm vua. Ông đã đầu hàng quân đội của Nêbucátnếtsa và phục tòng vua đó trong vòng ba năm tại Giêrusalem. Khi Nêbucátnếtsa đánh hạ Giêrusalem, quân đội của Babylôn đã vào trong thành, người Giuđa buộc phải phục dịch và cống nộp cho Babylôn. Tuy nhiên, sau ba năm Giêhôgiakim đã làm phản, vì thế quân đội của Nêbucátnếtsa lại đánh hạ Giêrusalem lần thứ hai. Khi Giêrusalem bị đánh hạ lần thứ hai thì Giêhôgiakin con trai của Giêhôgiakim, vẫn còn nhỏ, ra lịnh chính thức đầu hàng một lần nữa. Lần nầy người Babylôn bắt nhiều người Giuđa đem về Babylôn làm phu tù.
Khi Giêhôgiakin cho thành phố đầu hàng lần thứ hai, anh của ông là Sêđêkia được chỉ định làm “vua bù nhìn”, trên danh nghĩa là người cai trị tại Giêrusalem. Ông cai trị mười một năm, rồi cũng tạo phản, nổi dậy chống lại người Babylôn. Lần nầy, quân đội Babylôn hủy diệt, phá sập hoàn toàn thành Giêrusalem, không còn một hòn đá nào trên một hòn đá nào. Khi người Babylôn đánh hạ Giêrusalem lần thứ ba, họ bắt tất cả dân Giuđa đem về Babylôn trừ những người già nua, bịnh tật, yếu đuối và Giêrêmi, vị tiên tri than khóc.
Trong thời vua Giôsia cai trị, Đức Chúa Trời ban cho Giêrêmi một sự hiện thấy về một tai họa lớn sắp xảy ra. Ông bắt đầu rao giảng rằng sự xâm lăng của người Babylôn sắp xảy đến, sự xâm chiếm và lưu đày là hậu quả tội lỗi của dân sự. Tội thờ hình tượng là chính, và cũng bởi các tội lỗi gia tăng do sự bội đạo và bỏ qua lời của Đức Chúa Trời.
Trước hết, về cơ bản thì sứ điệp của Giêrêmi và của các tiên tri khác đều nói: “Nhược bằng dân sự Ta, là dân gọi bằng danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì Ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (IISu 2Sb 7:14). Nhưng khi dân sự không để ý đến lời rao giảng của họ, thì sứ điệp tiên tri sẽ thay đổi. Lúc đó các tiên tri như Giêrêmi sẽ rao giảng: ”Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đang đến gần. Các người không thể tránh khỏi!”
Một Người Bị Ghét Bỏ
Khi thành Giêrusalem khởi sự bị vây hãm, Giêrêmi rao giảng một sứ điệp không được ưa chuộng, ông trở thành vị tiên tri bị ghét bỏ hơn bất kỳ vị tiên tri nào khác. Ông có một sứ điệp kép. Phần đầu của sứ điệp là việc hủy phá và bị bắt làm phu tù là điều không thể tránh khỏi, nhưng phần sau của sứ điệp là niềm hy vọng. Không giống như sự phu tù của Vương quốc phía Bắc, các tiên tri tiên báo về sự xâm chiếm và phu tù đến từ người Babylôn nhằm vào Vương quốc phía Nam có kèm theo sứ điệp hy vọng: “Các người sẽ được hồi hương sau bảy mươi năm bị phu tù ở Babylôn”.
Giêrêmi tin và giảng một cách mạnh mẽ về sứ điệp hy vọng, khi quân Babylôn bắt đầu vây hãm Giêrusalem, ông rao giảng: “Đây là chương trình của Đức Chúa Trời và không thể thay đổi được. Các ngươi hãy đi ra và đầu hàng Nêbucátnếtsa. Các ngươi đi đến Babylôn càng sớm thì ngày trở về cũng sẽ sớm hơn”.
Vì Giêrêmi rao giảng khuyên người Giuđa đầu hàng nên họ càng ghét ông hơn. Họ nói rằng sứ điệp của Giêrêmi là phản quốc. Họ ném ông vào ngục tối và giam ông trong một hầm đầy bùn. Họ ném ông xuống đó, bỏ đói và cho sống với chuột bọ.
Đất Sét Và Thợ Gốm
Giêrêmi và một số tiên tri thường làm một vài điều gì đó để minh họa quan điểm của họ. Họ diễn tả một cách sống động về những gì họ đang cố gắng truyền đạt, đôi khi qua những điều được gọi là “Giảng bằng hành động biểu tượng”. Thí dụ như Giêrêmi, một bài giảng với hành động biểu tượng trong chương mười tám được gọi là: “Bình gốm được phục hồi”. Giêrêmi giảng rằng Đức Chúa Trời bảo ông hãy đi đến nhà người thợ gốm, tại đó ông quan sát người thợ gốm nắn một cái bình. Người thợ cố nắn một cái bình đẹp, nhưng cái bình lại không theo như ý muốn. Tức mình, ông ném cái bình xuống đất và nó vỡ ra. Người thợ nhồi đất sét trở lại và làm cái bình khác.
Khi giảng bài nầy, Giêrêmi muốn nói với dân sự rằng “Các ngươi cũng giống như cái bình gốm, mà người thợ gốm thuộc linh là Đức Chúa Trời tạo nên. Các ngươi đã không trở nên như cách mà Đức Chúa Trời muốn, vì thế sẽ Ngài hình phạt các ngươi. Ngài sẽ đem các ngươi qua Babylôn, tái tạo các ngươi, rồi đưa các người trở về như cái bình được làm nên mới hoàn toàn”.
Rõ ràng điều nầy có thể áp dụng cho cá nhân bạn và tôi. Đôi khi cuộc đời chúng ta không đi theo ý muốn Đức Chúa Trời. Vì vậy, Đức Chúa Trời phải tái tạo chúng ta. Bạn có bao giờ cảm thấy như vậy chưa? Bất ngờ cuộc đời bạn bị sụp đổ, bạn cảm thấy như bị ném xuống giống như một đống đất sét và sau đó được làm thành một cái bình mới. Sự biến chuyển từ một cái bình cũ sang một cái bình mới có thể gây đau đớn, nhưng sau khi cái bình mới đã có hình thù cụ thể rồi, thì nó sẽ được vẻ vang! Như sứ đồ Phaolô viết: “Nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người được dựng nên mới” (IICo 2Cr 5:17).
Qua sách Giêrêmi, chúng ta nên tìm cho mình những áp dụng cá nhân từ những bài giảng sâu sắc của vị đại tiên tri nầy. Đây là thời điểm Đức Chúa Trời cần đập vỡ và tái tạo chúng ta thành chiếc bình mới. Khi hậu quả tội lỗi của chúng ta không thể thay đổi và vết thương lòng không thể xóa nhòa, thì các bạn cần được trở nên một cái bình mới trong tay người thợ gốm vĩ đại như bài giảng của Giêrêmi. Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta không tìm kiếm và cầu xin Đức Chúa Trời biến đổi đời sống chúng ta, giống như dân sự đã loại bỏ lời giảng của Giêrêmi.
Cái Bình Vỡ
Một ngày kia, Đức Chúa Trời phán bảo Giêrêmi hãy đi mua một cái bình lớn có giá trị, cũng hãy mời theo một số trưởng lão và thầy tế lễ đến gần lối vào Cửa Gốm. Khi ông khiến cho dân sự chú ý, ông lấy cái bình và ném xuống đất cho vỡ ra từng mảnh! Đoạn Giêrêmi giảng: “Ta sẽ đập vỡ dân nầy và thành nầy cũng như đập cái bình bằng gốm, chẳng còn làm liền lại được; người ta sẽ chôn thây tại Tôphết, cho đến thiếu chỗ để chôn” (Gie Gr 19:10-11).
Những Lời Tiên Tri Về Đấng Mêsi
Khi Giêrêmi giải thích rõ ràng sứ điệp về sự lưu đày và tiếp đến là niềm hy vọng, giống như Êsai, ông xen kẻ những lời tiên tri về sự hồi hương từ chốn lưu đày với lời tiên tri về sự hiện đến của Đấng Mêsi. Sự hiện đến của Đấng Mêsi là niềm hy vọng tối thượng, không chỉ cho người Giuđa, song cho toàn thế giới.
Một sứ điệp như thế nằm trong chương thứ hai mươi chín. Dân sự bắt đầu bị đày sang Babylôn. Qua bức thư của Giêrêmi, Đức Chúa Trời phán với họ: “Đức Giêhôva phán: Vì Ta biết ý tưởng Ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình.Bấy giờ các ngươi sẽ kêu cầu Ta, sẽ đi và cầu Nguyện Ta,và Ta sẽ nhậm lời. Các ngươi sẽ tìm Ta, và gặp được khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng. Đức Giêhôva phán: Ta sẽ cho các ngươi tìm được Ta, và sẽ đem những phu tù các ngươi trở về. Đức Giêhôva phán: Ta sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước và mọi nơi mà Ta đã đuổi các ngươi đến,và sẽ đem các ngươi về trong đất mà Ta đã khiến các ngươi bị đày đi khỏi đó” (11-14).
Đây là lời tóm tắt của bài giảng tuyệt vời mà Giêrêmi chia sẻ với dân Giuđa, khi họ bắt đầu trải qua cuộc sống phu tù và lao động nhọc nhằn tại Babylôn: “Đức Chúa Trời là Cha yêu thương của các ngươi, sẽ đập vỡ các ngươi, nhưng đó lại là điều tốt cho các ngươi chứ không phải làm hại. Đức Chúa Trời muốn ban cho các ngươi niềm hy vọng và một tương lai. Trong khi các ngươi ở Babylôn, hãy kêu cầu Đức Chúa Trời. Hãy đến và tìm cầu Ngài. Nếu các ngươi tìm kiếm Đức Chúa Trời hết lòng, thì Ngài sẽ lắng tai nghe các ngươi. Ngài sẽ tìm và đem các ngươi trở về từ chốn phu tù”.
Khi Giêrêmi nói tiên tri về sự phu tù, ông đã phải chịu khổ nhiều cách và bị bắt bớ vì sứ điệp của mình. Tuy nhiên, ông tin vào sứ điệp vì biết rằng Đức Chúa Trời ban sứ điệp cho ông và đó là chân lý. Thật vậy! Việc khảo sát quan trọng để đánh giá lời tiên tri của Giêrêmi, đó là tất cả các lời tiên tri nầy đều được ứng nghiệm.
Khi bạn đọc sách tiên tri Giêrêmi, hãy tìm kiếm sứ điệp về sự đập vỡ và đoán phạt của Đức Chúa Trời trên dân Giuđa. Tuy nhiên, cũng đừng quên sứ điệp hy vọng. Áp dụng cả hai sứ điệp đó vào đời sống riêng của bạn, và hãy nhớ điều nầy: Khi Đức Chúa Trời đập vỡ bạn, Ngài biết chương trình Ngài dành cho bạn - chương trình nhào nặn bạn về mặt thuộc linh, chương trình ban cho bạn niềm hy vọng và một tương lai. Điều quan trọng là sự đáp ứng của bạn qua sự đập vỡ của Đức Chúa Trời một cách đúng đắn, hầu cho cuối cùng Đức Chúa Trời có thể đưa bạn từ chỗ phu tù của sự hoang đàng trở thành một cái bình mới.
NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN CUỘC PHU TÙ
Trong lúc dân Giuđa bị xiềng xích đưa về Babylôn, Giêrêmi gởi đến họ những lời hy vọng để đối phó với sự phu tù. Những người nầy đã đầu hàng một cách thảm bại khi thành Giêrusalem sụp đổ. Họ bị choáng váng trong đau buồn, khiếp sợ và căm thù. Những lời được xức dầu của Giêrêmi giúp họ vuợt qua được bảy mươi năm phu tù: “Đức Giêhôva phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình; Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết Ta là Đức Giêhôva, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì Ta ưa thích những sự ấy, Đức Giêhôva phán vậy” (Gie Gr 9:23-24).
Chữ được dùng thay cho chữ “khoe” trong một vài bản dịch khác là “tự hào”, thật sự Giêrêmi muốn nói: “Nếu ngươi giàu, chớ tự hào về sự giàu có mình. Nếu ngươi mạnh, chớ tự hào về sự mạnh mình. Nếu các ngươi khôn ngoan hoặc được giáo dục tốt, chớ tự hào về sự khôn ngoan và sự giáo dục tốt của mình”. Chữ “tự hào” có nghĩa là “đưa ra tất cả những tiềm năng có thể thực hiện trong bất kỳ hoàn cảnh nào để bày tỏ bản chất thực sự của Đức Chúa Trời, Ngài là ai và Ngài như thế nào trong đời sống của bạn”.
Trong tình cảnh nầy, Giêrêmi đang áp dụng không phải cho Đức Chúa Trời nhưng cho những người bị phu tù. Ví dụ, Giêrêmi đang nói với người giàu: “ngươi chớ tin vào sự giàu có của mình nữa mà bày tỏ tiềm năng dồi dào của mình. Ngươi sẽ không tìm được sự đáp ứng vì giàu có”. Những người giàu có trong vòng những người bị phu tù cũng đã bị lột sạch. Họ có thể đã tự hào về sự giàu có mình trước khi Giêrusalem sụp đổ, nhưng bây giờ thì hết rồi. Cũng thế, Giêrêmi đang nói với những người có giáo dục và mạnh mẽ rằng: “Hỡi người khôn ngoan, bây giờ ngươi không cảm thấy rất đau khổ khi đang bị dắt đi trong xiềng xích sao? Hỡi người mạnh mẽ, người không còn tự hào về sự mạnh mẽ mình sao? Ngươi được nuôi với những khẩu phần bị hạn chế, thiếu thốn tại Babylôn và trải qua những bịnh tật ghê gớm trong thân thể”.
Âm hưởng của lời đó trông giống như một sứ điệp tiêu cực. Nhưng ở đây có một phần xác thực trong sứ điệp của Giêrêmi. Đức Chúa Trời phán với những kẻ phu tù qua Giêrêmi: “Nếu các ngươi thật muốn biết ý nghĩa và mục đích của cuộc sống cũng như đáp ứng tiềm năng của riêng ngươi, thì hãy đến cùng Ta và tương giao với Đấng Hằng Hữu”. Giêrêmi rao giảng rằng: “Các ngươi sẽ khám phá ra sự đầy đủ của mình khi các ngươi biết Đức Chúa Trời ở trên trời đang tể trị trên đất. Các ngươi sẽ hiểu rõ về Đấng Hằng Hữu và về thân phận loài người, nếu các ngươi hiểu rõ Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài trên đất”.
Trong bài giảng tuyệt vời nầy của Giêrêmi, ông giảng rằng: “Đây là điều các ngươi có thể biết Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có thể được nhận biết bởi Ngài là Đấng có tình yêu không thay đổi, sự công nghĩa, và công bằng tuyệt đối”. Bây giờ, những điều đó được bày tỏ cho dân sự để suy gẫm khi họ bị đày ải tại Babylôn! Họ biết rằng không thể tìm được sự cung ứng và ý nghĩa trong sự giàu có hoặc giáo dục hay là sức lực. Họ cần biết là phải tìm kiếm sự cung ứng và ý nghĩa ở một nơi khác. Theo vị tiên tri thì đây là lúc thuận tiện để tìm kiếm ý nghĩa và sự cung ứng qua sự nhận biết Đức Chúa Trời. Và cũng phải nhận biết rằng những người chủ nô lệ không lúc nào rời mắt khỏi họ.
Bằng Chứng Cho Sự Hồi Hương
Trong Gie Gr 32:1-33:26, chúng ta thấy Giêrêmi đã làm một việc rất có ý nghĩa. Đây là đỉnh điểm của cuộc bao vây, vào thời kỳ cai trị cuối cùng của vua Sêđêkia, thành phố đang sụp đổ. Lúc bấy giờ Giêrêmi đang bị tù vì những lời ông rao giảng, ông nhận được khải tượng từ nơi Đức Chúa Trời. Ngài bày tỏ cho Giêrêmi rằng con trai của chú ông là Hanamêên sẽ đến và yêu cầu ông mua miếng ruộng mà ông ấy đang sở hữu tại Anatốt. Trong lúc Giêrusalem đang bị bao vây, thì không phải là lúc tốt nhất để mua ruộng gần Giêrusalem! Nhưng Đức Chúa Trời bảo Giêrêmi phải mua ruộng. Đầy lòng tin chắc, Hanamêên đến và nói: “Tôi có một miếng ruộng ở Anatốt, Đức Chúa Trời đã bảo trong lòng tôi rằng hãy bán miếng ruộng nầy cho ông”.
Giêrêmi đồng ý mua miếng ruộng và trồng cấy trong tài sản của mình. Ông mời những người làm chứng, các thầy thông giáo làm tờ khế mua bán. Sau đó ông ký tên, đóng ấn và cất vào một cái bình đất. Thế rồi ông giảng một bài giảng với biểu tượng hành động khác. Ông giảng: “Ta đã nói với các ngươi rằng các ngươi sẽ trở về từ sự phu tù dưới tay người Babylôn. Nầy, ta cho các ngươi biết rằng ta thật sự tin như vậy. Ta hiện đã mua một miếng ruộng cách Giêrusalem ba dặm. Các ngươi nghĩ thế nào khi ta làm việc nầy nếu ta không tin rằng các ngươi sẽ trở về, Đức Chúa Trời sẽ phục hồi lại dân Ysơraên!” Hãy đọc cách cẩn thận bài giảng đầy sự hùng biện, quyền năng mà Giêrêmi đã giảng để áp dụng và giải nghĩa hành động đức tin tuyệt vời nầy (chương 32).
Bài giảng tuyệt vời về sự hy vọng của Giêrêmi bắt đầu ở chương ba mươi hai là một tình huống lịch sử mà trong đó ông rao giảng với những lời rất quen thuộc: “Đức Giêhôva phán rằng…Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời cho; Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết” (Gie Gr 33:3). Bạn đã bao giờ kêu cầu Đức Chúa Trời chưa? Ngài muốn tất cả chúng ta hãy kêu cầu Ngài bởi vì Ngài muốn bày tỏ cho chúng ta những việc lớn và đầy quyền năng mà từ trước đến bây giờ chúng ta chưa hề thấy.
Bạn thấy không, các bài giảng của Giêrêmi không phải hoàn toàn là sự diệt vong và buồn thảm. Có rất nhiều hy vọng cho dân sự của Đức Chúa Trời trong các bài giảng của ông. Đó là sự hy vọng duy nhất cho dân Giuđa khi thành Giêrusalem sụp đổ và họ bị bắt đưa đi làm phu tù tại Babylôn.
Những Chủ Đề Trọng Tâm
Khi chúng ta xem xét một cách vắn tắt các bài giảng khác của Giêrêmi, nên nhớ rằng chúng ta không nghiên cứu theo thứ tự thời gian. Ông và người thơ ký là Barúc không ký thuật lại bài giảng ngay khi ông giảng, nhưng là hồi ký sau nhiều năm ông bị bỏ tù.
Một số tóm lược các bài giảng của Giêrêmi được tìm thấy trong sách. Đức Chúa Trời đã phán qua Giêrêmi: “Dân Ta đã làm hai điều ác: Chúng nó đã lìa bỏ Ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được”. (2:13)
Dân sự lìa bỏ Đức Chúa Trời và quên đi sự khôn ngoan đến từ lời Ngài. Theo lời Giêrêmi, họ tin những thầy thông giáo là kẻ làm cho luật pháp của Đức Chúa Trời trở nên dối trá. Vị đại tiên tri đó đã viết: “Sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là khôn sáng, có luật pháp Đức Giêhôva ởvới chúng ta? Nhưng, nầy, ngọn bút giả dối của bọn thông giáo đã làm cho luật pháp ấy ra sự nói dối!” (8:8). Vậy thì khi người ta thành công trong việc thuyết phục bạn rằng Lời Đức Chúa Trời không đáng tin, lúc đó bạn tin vào điều gì? Tất cả chỉ là khôn ngoan và triết lý của xác thịt mà thôi. Giêrêmi kêu gọi hãy so sánh sự khôn ngoan của họ là thế nào khi đem so sánh với sự khôn ngoan được tìm thấy trong Lời Đức Chúa Trời?
Con Người Có Thể Tự Thay Đổi Được Không?
Bạn có quan tâm đến những điều mà Kinh thánh không bao giờ bảo bạn hãy thay đổi hoặc cố gắng khó nhọc để làm cho tốt hơn không? Tôi ngạc nhiên thấy có một số người cho rằng đó là tất cả những gì mà Kinh thánh dạy dỗ: Hãy làm tốt những gì có thể và cố gắng khó nhọc để làm cho tốt hơn. Kinh thánh không bảo bạn làm như thế. Thật ra, Giêrêmi chế giễu chúng ta hãy cố gắng tự thay đổi đi. Ông giảng: “Sao ngươi chạy mau để đổi đường ngươi? ”(2:36), “Người Êthiôbi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng? Nếu được thì các ngươi là kẻ đã làm dữ quen rồi, sẽ làm lành được” (13:23).
Chúng ta không tự thay đổi được. Chúng ta được khuyến khích: “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình” (RoRm 12:2). Chúa Jêsus dạy chúng ta phải được tái sanh. Khi chúng ta được biến đổi hoặc được sanh lại, về phần chúng ta đó là một kinh nghiệm thụ động. Điều đó không giống với việc bảo chúng ta hãy thay đổi hoặc cố gắng khó nhọc hơn để làm tốt hơn.
Ai Biết Được Lòng Chúng Ta?
Giêrêmi cũng nói về tấm lòng của loài người: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? ”(Gie Gr 17:9) Dĩ nhiên, câu trả lời là chỉ có Đức Chúa Trời mới biết được lòng chúng ta “Ta, Đức Giêhôva, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm” (10).
Đức Chúa Trời biết lòng của bạn. Bạn có thể lừa dối gia đình, bạn bè và ngay cả chính mình, nhưng bạn không thể lừa dối Đức Chúa Trời. Ngài biết rõ lòng bạn và muốn đổi mới nó. Hãy cầu nguyện như vua Đavít khôn ngoan từng cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi,và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời” (Thi Tv 139:23-24).
Xuyên suốt sách tiên tri Giêrêmi, chúng ta hãy tìm những ứng dụng cá nhân qua các bài giảng của vị tiên tri vĩ đại nầy. Có những lúc Đức Chúa Trời phải đập vỡ và tái tạo chúng ta thành cái bình mới. Khi những thói quen tội lỗi và những vết thương lòng không thể thay đổi được, thì chúng ta cần được tái tạo thành một cái bình mới như bài giảng mà Giêrêmi đã giảng khi Đức Chúa Trời sai ông đến nhà người thợ gốm.
NỖI BUỒN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Giêrêmi nhận được một khải tượng về hai giỏ trái vả (chương 24). Một số còn tươi ngon, vừa mới chín; còn số kia thì đã hư, nổi mốc và không thể ăn được. Đức Chúa Trời phán với Giêrêmi: “Như những trái vả tốt nầy, Ta cũng sẽ xem những kẻ phu tù Giuđa, mà Ta đã sai từ nơi nầy đến trong đất người Canhđê, cho chúng nó được ích. Ta sẽ để con mắt Ta trên chúng nó làm ích cho, và Ta sẽ đem họ về trong xứ nầy, lập lên mà không phá đi nữa, trồng lại mà không nhổ đi nữa.Ta sẽ ban cho chúng nó tấm lòng hay nhận biết Ta là Đức Giêhôva. Chúng nó sẽ làm dân Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó; vì chúng nó sẽ hết lòng trở về cùng Ta.
Còn như Sêđêkia, vua Giuđa, các quan trưởng nó và dân sót lại của thành Giêrusalem,là dân còn ở trong đất nầy, và những kẻ ở trong đất Êdíptô, thì người ta làm cho những trái vả xấu quá ăn không được thể nào, Ta cũng sẽ làm cho chúng nó thể ấy. Ta sẽ phó chúng nó để bị ném đi ném lại giữa mọi nước thế gian cho chúng nó chịu khổ, chịu mắng nhiếc, xoi bói, cười chê, rủa sả, trong mọi xứ mà Ta sẽ đuổi chúng nó đến. Ta sẽ sai gươm dao, đói kém, ôn dịch giữa chúng nó, cho đến chừng chúng nó bị hủy diệt khỏi đất Ta đã ban cho chúng nó cùng tổ phụ chúng nó” (Gie Gr 24:4-10).
Giêrêmi tiếp tục rao giảng sứ điệp nầy. Có hai loại người tại thành Giêrusalem khi thành phố rơi vào tay đế quốc Babylôn - những người thật sự nhận ra rằng sự lưu đày đến Babylôn là sự đập vỡ của Đức Chúa Trời. Họ đi đến Babylôn, chấp nhận sự sửa phạt của Đức Chúa Trời và ăn năn. Một số người, như Sêđêkia, không chịu thừa nhận đây là ý muốn của Đức Chúa Trời, loại bỏ lời giảng của Giêrêmi, và nổi loạn chống lại người Babylôn. Họ giống như những trái vả bị hư hoặc như cái bình bị vỡ trong bài giảng trước đó của Giêrêmi.
Những Lý Lẽ Nghịch Lại Chủ Nghĩa Nhân Văn
Một số bài giảng của Giêrêmi tương phản với cái mà ngày nay chúng ta gọi là “chủ nghĩa nhân văn”. Một số hệ tư tưởng dấy lên và trở nên phổ biến trong thế giới ngày nay, và chúng ta cho rằng chúng thịnh hành và hiện đại, nhưng thật ra không có gì mới. Chúng chỉ đơn giản là những dị giáo cũ được cải biến. Giống như chủ nghĩa nhân văn, những hệ tư tưởng nầy dạy rằng tất cả nhu cầu của con người là con người, được tìm thấy trong lịch sử cổ xưa. Câu thần chú của người theo chủ nghĩa nhân văn: “Tôi là chủ số mệnh tôi, và là hoa tiêu của linh hồn mình”. Nhưng khi nghiên cứu đời sống của Môise, chúng ta tìm thấy hệ tư tưởng đối nghịch. Chúng ta thấy sự nổi bật hoàn toàn về mặt thuộc linh, như là: “Không phải là tôi mà là Chúa, Đức Chúa Trời ở với tôi; tôi bất năng, nhưng Ngài là Đấng Toàn Năng và Ngài đang ở cùng tôi”.
Chúng Ta Có Cần Đức Chúa Trời Không?
Giêrêmi đưa ra lý lẽ chống lại tư tưởng theo chủ nghĩa nhân văn khi ông giảng trong chương thứ mười: “Hỡi Đức Giêhôva, tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước của mình” (23), cũng hãy xem câu nầy: “Đức Giêhôva phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giêhôva” (17:5). Giêrêmi cho chúng ta thấy hậu quả tỏ tường của lẽ thật nầy: “Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giêhôva, và lấy Đức Giêhôva làm sự trông cậy mình” (17:7).
Có nhiều người tin rằng họ sống mà không cần Đấng chăn giữ. Không có nan đề nào mà họ không thể giải quyết, họ tin vào tài khéo, trí khôn và khả năng của con người, ấy là tất cả mọi sự họ cần. Nhưng Kinh thánh nói một cách kiên định: “Không, đó không phải là tất cả những gì bạn cần, bạn cần Đấng chăn giữ, bạn cần sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời, bạn cần năng lực (ân điển) từ Đức Chúa Trời để ứng dụng sự khôn ngoan mà bạn nhận được từ Đức Chúa Trời” (Gia Gc 1:5, IICo 2Cr 9:8). Đó là triết lý sống kiên định và cũng là sự giảng dạy của các tiên tri, và cũng của cả Tân ước và Cựu ước.
Sẵn Sàng Cho Lời Chúa
Phương cách chữa trị của Giêrêmi cho tội lỗi và sự bội đạo của dân Giuđa, là đem họ vào sự phu tù dưới tay người Babylôn, được trình bày trong một bài giảng lớn khác được tìm thấy trong chương bốn: “Vả, Đức Giêhôva phán cùng người Giuđa và cùng Giêrusalem như vầy: Hãy cày mở ruộng mới các ngươi, chớ gieo trong gai gốc. Hỡi các ngươi, là người Giuđa và dân cư Giêrusalem,hãy tự cắt bì mình cho Đức Giêhôva, và cất dương bì khỏi lòng ngươi! Bằng chẳng vậy, cơn giận Ta sẽ phừng lên như lửa, đốt cháy các ngươi, không ai dập tắt được, vì việc ác các ngươi đã làm” (3-4).
Bài giảng nầy cũng tương tự như bài giảng của Đức Chúa Jêsus được tìm thấy trong các sách Tin lành, đó là “Thí dụ về người gieo giống”. Chúa Jêsus phán rằng khi lời Đức Chúa Trời được rao ra, thì giống như người nông dân gieo hạt. Khi người ấy gieo, thì các hạt giống rơi trên bốn loại đất.
Bốn loại đất là hình bóng của bốn sự đáp ứng với lời của Đức Chúa Trời khi nghe giảng dạy: Có khi lời Đức Chúa Trời không thâm nhập được vào trong tâm trí và ý muốn của người nghe; có khi lời ấy thấm được vào trong tâm trí và ý muốn, nhưng khi lời đó lớn lên thì bị nghẹt ngòi vì cỏ dại, tức là sự lo lắng về đời nầy, sự giàu có và những thú vui khác, có khi lời ấy phát triển và kết nhiều quả.
Trong ví dụ nầy, Chúa Jêsus đã dựa vào bài giảng của Giêrêmi. Vị tiên tri nói với dân sự: “Đời sống các ngươi như đất bỏ hoang, lâu ngày không có gieo trồng”. Họ đã quên lời của Đức Chúa Trời. Mọi nan đề và hoàn cảnh xảy ra cho dân sự như đất được sửa soạn để tái nhận hạt giống Lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã sửa soạn đất là chính đời sống của họ để nghe lời Ngài.
Giêrêmi nói về sự cắt bì ở trong lòng. Sứ đồ Phaolô cũng dùng tương tự như thế, có thể rút ra từ Giêrêmi. Phaolô viết rằng sự cắt bì đó dành cho dân sự trong thời Cựu ước cũng như phép Báptêm cho dân sự Chúa thời Tân ước và chúng ta ngày nay. Phép cắt bì là một nghi thức, mà qua đó dân Giuđa tuyên xưng đức tin của họ. Ngày nay, phép báptêm là phương cách mà Chúa Jêsus dạy chúng ta để tuyên xưng đức tin của mình trong danh Chúa Jêsus.
Bất cứ hình thức nào cũng có thể trở thành hình thức trống rỗng. Bất cứ lễ nghi nào mà không bày tỏ được ý nghĩa thực sự của nó thì cũng có thể trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Chúa Jêsus, các sứ đồ và các tiên tri đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa hành động và lời nói. Hành động và cách sống của bạn, quan trọng hơn những lời nói ra. Bày tỏ nếp sống hằng ngày là tiêu biểu cho lễ nghi mà Giêrêmi và Phaolô gọi là “cắt bì ở trong lòng”.
Bạn có tuyên xưng niềm tin không? Nếu có, thì đừng chỉ tuyên xưng những gì bạn tin, nhưng cũng hãy bày tỏ trong cuộc sống của bạn về những gì mà bạn đã tuyên xưng.
Nỗi Buồn Của Đức Chúa Trời
Trong chương hai mươi ba, Giêrêmi trình bày khá hài hước và châm biếm trong bài giảng của mình: “Nếu dân nầy, kẻ tiên tri hay là thầy tế lễ, hỏi ngươi rằng: Gánh nặng của Đức Giêhôva là gì? Khá đáp rằng: Gánh nặng gì? Đức Giêhôva phán: Ta sẽ từ bỏ các ngươi. Còn như kẻ tiên tri, thầy tế lễ, và dân sẽ nói rằng: Gánh nặng của Đức Giêhôva-thì Ta sẽ phạt người ấy và nhà nó” (Gie Gr 23:33-34).
Người ta chế nhạo Giêrêmi vì ông ta chẳng bao giờ nói ra điều gì tốt lành cả. Như chúng ta thấy, sứ điệp của ông là những lời tiêu cực do tai họa đang đến. Và những gì ông nói đều ứng nghiệm, buồn rầu và tang thương nhưng cũng còn có niềm hy vọng nữa. Bài giảng của Giêrêmi là hy vọng duy nhất của những người Giuđa biết lắng nghe, và lời tiên tri về Đấng Mêsi xen lẫn với những lời hứa về sự trở về từ chốn lưu đày của họ, bày tỏ sự hy vọng phước hạnh tối hậu của chúng ta ngày nay.
Gánh Nặng Của Giêrêmi
Sứ điệp của ông rất cảm động “Ôi! Tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi;lòng đương bối rối trong tôi. Tôi không thể làm thinh! Hỡi linh hồn tôi, vì mầy nghe giọng kèn và tiếng giặc giã. Hủy diệt càng thêm hủy diệt, báo tin chẳng dứt, cả đất bị phá tán; nhà tạm tôi thình lình bị hủy, lều trại tôi bỗng chốc bị hư!” (4:19-20). Trong lời tiên tri mặc khải về sự xâm chiếm của Babylôn, Giêrêmi thậm chí nghe được cả tiếng reo hò của quân đội Babylôn và tiếng của dân Giuđa. Vì ông vẫn còn cảm thấy kinh hoàng về các sự kiện nầy, ông hỏi: “Tôi sẽ thấy cờ và nghe tiếng kèn cho đến chừng nào? ”(21), và Đức Chúa Trời trả lời: “Thật dân Ta là ngu muội, chúng nó chẳng nhìn biết Ta. Ấy là những con cái khờ dại, không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện” (22).
Bài giảng nầy của Giêrêmi có thể áp dụng cho thế hệ chúng ta. Ngày nay chúng ta thành thạo trong việc chế tạo các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng có phải chúng ta đều biết điều gì là tốt? Bạo hành và tội ác đang lan truyền trong thế giới của chúng ta. Chúng ta có những thiên tài phát minh những vũ khí nhiệt hạch, hóa học và vi trùng có thể hủy diệt hàng loạt, nhưng chúng ta dường như không có nhiều khả năng để làm điều tốt. Ngay cả chúng ta cũng chẳng biết điều gì là tốt nữa.
Sự Kiên Nhẫn Của Giêrêmi
Giêrêmi đã đọc cho Barúc, người thơ ký trung tín, viết lại nguyên phần sách nầy từ trong ngục tối. Hoàn tất cuộn sách bài giảng theo những gì ông nhớ, ông yêu cầu cuộn sách nầy phải được đọc trước dân sự trong kỳ lễ kiêng ăn. Điều nầy gây ra một tác động lớn trên dân sự và cuối cùng cũng đến tai vua. Khi cuộn sách nầy được đọc cho vua nghe, thì tại đó có một lò lửa. Mới đọc được vài phân đoạn, nhà vua lấy một con dao nhỏ, cắt cuộn sách ra từng miếng và ném vào lửa cho đến chừng cháy hết.
Khi Giêrêmi nghe thuật lại việc nầy, ông cho gọi Barúc, người thơ ký trung tín lấy một cuộn da lớn và chép lại cuộn sách nầy. Ông nhớ lại nhiều bài giảng không được chép trong cuộn sách trước, ông đọc cho Barúc chép năm mươi hai chương sách mà ngày nay chúng ta đang khảo sát. Chúng ta sẽ không có sách Giêrêmi nếu không nhờ sự kiên nhẫn của vị đại tiên tri nầy (chương 36).
SÁCH CA THƯƠNG ĐỨC CHÚA TRỜI VẪN YÊU BẠN
Sách Ca thương là cuốn tiếp theo sách Giêrêmi. Qua năm mươi hai chương, Giêrêmi khóc lóc vì khải tượng tiên tri mà Đức Chúa Trời ban cho ông về sự đe dọa xâm lược của người Babylôn. Sách Giêrêmi kết thúc với việc vị tiên tri vẫn còn ở trong đất Giuđa, trong khi hầu hết dân sự bị bắt đưa đi làm phu tù. Sau đó ông di trú sang Aicập, và theo truyền thuyết, ông đã tuận đạo tại đó. Một số học giả khác cho rằng ông đi đến Babylôn để giảng cho dân Giuđa rằng ông rất yêu họ, trong khi một số khác lại cho rằng ông ở tại đất Giuđa cho đến cuối đời.
Sách Ca thương được đặt tên khá hợp lý. “Tiên tri than khóc” vẫn tiếp tục khóc vì quốc gia vẫn còn bị thôn tính, và những người ông rất mực yêu thương không bị tàn sát đã bị bắt đi làm phu tù, nô lệ ở một xứ sở xa xôi.
Nan đề ông trình bày trong sách Ca thương, cũng được trình bày trong các sách tiên tri khác như Êxêchiên và Đaniên, đó là việc họ không được ở gần đền thờ. Người Giuđa tin rằng đền thờ là nơi Đức Chúa Trời ngự. Sự hiện diện siêu nhiên của Ngài thực sự tồn tại trong nơi chí thánh của đền thờ Giêrusalem. Đó là một sự cảm nhận về đền thờ, là nơi Đức Chúa Trời bày tỏ cho những vị tiên tri tin kính. Đây là lý do vì sao tiên tri Đaniên quay mặt về Giêrusalem để cầu nguyện. Giờ đây, Đức Chúa Trời đang hiện diện ở đâu với dân sự đang sống ở Babylôn? Đối với họ, Giêrusalem là thành phố của Đức Chúa Trời. Họ cảm thấy xa cách thành thánh và Đức Chúa Trời chí thánh của họ.
Cái Hang Của Giêrêmi
Giêrêmi viết sách Ca thương khi ông sống trong một cái hang trên một ngọn đồi. Ngày nay, nơi đó còn được gọi là “hang Giêrêmi”, trên ngọn đồi có tên là “Gôgôtha”. Trong ý định thần hựu của Đức Chúa Trời, hang Giêrêmi, là một hang động, ở trên đồi Calvary, là nơi Chúa Jêsus chết thay cho nhân loại. Chúng ta sẽ thấy ý nghĩa của ý định đó khi bước vào sứ điệp của sách Ca thương.
Hình Thức Văn Chương Của Sách Ca Thương
Sách Ca thương là một tác phẩm văn học, là một kiệt tác theo thể thi ca, gồm năm bài thơ, hoặc những khúc bi thương, chứa đựng trong năm chương. Mỗi chương là một bài thơ riêng biệt, và có bốn chương thuộc thể thơ chữ đầu câu. Theo thể thơ chữ đầu, câu đầu được bắt đầu với chữ cái đầu tiên trong bảng mẫu tự, câu thứ hai bắt đầu với chữ thứ hai trong bảng mẫu tự, và cứ tiếp tục như thế. Cho dù hình thức văn chương của sách nầy tuyệt vời, nhưng chính sứ điệp được soi dẫn mới làm cho sách được xếp vào hàng Kinh thánh.
Sứ điệp được soi dẫn xoay quanh thảm kịch xâm chiếm và phu tù dưới tay người Babylôn. Sứ điệp được diễn tả một cách linh hoạt và rất cảm động: “Ta làm chứng gì cho ngươi?Hỡi gái Giêrusalem, Ta kể thí dụ chi? Ta lấy gì sánh cùng ngươi đặng yên ủi ngươi, hỡi con gái đồng trinh Siôn? Sự phá hại ngươi to như biển: ai sửa sang lại được? ”(CaAc 2:13) Sự diễn tả sinh động của Giêrêmi về thành Giêrusalem sau khi bị người Babylôn xâm chiếm, là hình ảnh đầy kinh khiếp của một thành phố bị xâm chiếm bởi một đế quốc hùng mạnh như Babylôn.
Chúng ta hãy suy nghĩ về thời điểm trong sách nầy tràn ngập sự buồn rầu và thất vọng. Như đã diễn tả trong lời tiên tri mình, Giêrêmi làm cho chúng ta bất ngờ với sứ điệp tuyệt vời đầy sự hy vọng về Đấng Mêsi. Bạn có thể nhớ lại rằng Gióp cũng có hy vọng tương tự vào lúc đau khổ tột đỉnh (Giop G 19:25-26). Chương ba của sách Ca thương, trong lúc quá thất vọng, Giêrêmi lại nhận được khải tượng lạ lùng: “Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giêhôva mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt; Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm. Hồn ta nói: Đức Giêhôva là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài. Đức Giêhôva ban sự nhân từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài. Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Đức Giêhôva”#(CaAc 3:22-26).
Sứ điệp hy vọng đã bày tỏ cho Giêrêmi là: Đức Chúa Trời không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta! Khi chúng ta phạm tội, Ngài vẫn yêu thương chúng ta bất kể điều đó như thế nào. Sự hy vọng của chúng ta ở trong tình yêu của Đức Chúa Trời. Giêrêmi nói với những người phu tù khi họ bị dẫn đến Babylôn: “Đức Giêhôva phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình; Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết Ta là Đức Giêhôva, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì Ta ưa thích những sự ấy. Đức Giêhôva phán vậy” (Gie Gr 9:23-24). Bây giờ Đức Chúa Trời cho Giêrêmi biết rằng chúng ta không thể giành được tình yêu của Ngài bởi việc lành, và chúng ta cũng không thể đánh mất tình yêu của Ngài bởi hành vi tiêu cực. Đức Chúa Trời không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta.
Bằng Chứng Tình Yêu Của Đức Chúa Trời
Trong Ca thương chương ba chép: “Nếu chẳng phải Chúa truyền lịnh, ai hay nói ra và sự ấy được thành? Há chẳng phải từ miệng Đấng Rất Cao ra tai họa và phước lành. Cớ sao người đang sống phàn nàn vì chịu hình phạt về tội lỗi mình? Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Đức Giêhôva” (CaAc 3:37-40).
Khi Giêrêmi trình bày sự hy vọng lớn lao nầy, ông chia sẻ một chân lý mà chúng ta đã khám phá trong sách Gióp, đó là phước lành và tai họa đều đến từ Đức Chúa Trời (Giop G 2:10). Chân lý nầy cũng được Salômôn dạy dỗ: “Đi đến nhà tang chế hơn là đến nhà yến tiệc; vì tại đó thấy sự cuối cùng của mọi người; và người sống để vào lòng, Trong ngày thới thạnh hãy vui mừng,trong ngày tai nạn hãy coi chừng; vì Đức Chúa Trời đặt ngày nầy đối với ngày kia, hầu cho người đời chẳng thấy trước đặng điều sẽ xảy ra sau mình” (TrGv 7:2, 14).
Hãy nhớ rằng dân sự của Đức Chúa Trời đã phạm tội thờ hình tượng. Tội thờ lạy hình tượng của họ không có ranh giới, ngay cả những thầy tế lễ sa bại và tiên tri giả cũng phạm đến. Nhưng sứ điệp của tiên tri Giêrêmi và của các tiên tri bị phu tù cũng chứa đựng sự hy vọng nầy: “Đức Chúa Trời rất yêu bạn khi thấy bạn yếu đuối, hằng ngày sống trong tội lỗi. Đức Chúa Trời không muốn những điều đó xảy ra cho bạn vì bạn là con dân của Ngài”.
Ứng dụng thuộc linh cho chúng ta, đó là khi chúng ta phạm tội, Đức Chúa Trời sẽ sửa phạt, sự sửa phạt đó chứng tỏ rằng chúng ta thật là con cái Ngài. Là cha mẹ, chúng ta nên có kỷ luật với con cái nếu thấy chúng làm điều sai trái. Làm như thế là đúng, vì chúng là con chúng ta. Chúng ta không thể kỷ luật trẻ con hàng xóm vì chúng không phải là con của chúng ta. Trước giả sách Hêbơrơ viết rằng các sự sửa phạt đó là bằng chứng Đức Chúa Trời là Cha Thiên Thượng và Ngài yêu chúng ta (HeDt 12:1-29).

SÁCH ÊXÊCHIÊN
MỌI SỰ ĐỀU KỲ DIỆU VÀ LẠ LÙNG
Khi dân sự của Đức Chúa Trời bị dẫn đến Babylôn, trước giả của một Thi thiên nói rằng những kẻ làm cho họ đau khổ đã chế nhạo họ: “Các ngươi là những kẻ hay hát ngợi khen Đức Chúa Trời. Thế thì, hãy cho chúng ta nghe bài ca của các ngươi đi!” Nhưng trước giả Thi thiên đã viết: “Trên đất ngoại bang, chúng tôi làm sao hát được bài ca của Đức Giêhôva? ”(Thi Tv 137:4).
Đó là bối cảnh lịch sử mà các tiên tri Êxêchiên và Đaniên đã sống một cuộc sống phi thường và phục vụ với tư cách là một tiên tri. Êxêchiên và Đaniên hầu như sống đồng thời với nhau. Đaniên bị bắt đến Babylôn làm phu tù lúc khoảng mười bốn tuổi. Êxêchiên bị đưa đến Babylôn chín năm sau đó, lúc ông hai mươi lăm tuổi. Ông rao giảng trong các trại nô lệ, là tiên tri duy nhất phục vụ trực tiếp các tù nhân.
Ngay cả vào lúc dân sự của Đức Chúa Trời bị phu tù, Ngài không muốn họ không có tiên tri. Vì vậy, Ngài sai Êxêchiên trẻ tuổi vào chỗ phu tù và thi hành chức vụ cho những kẻ bị lưu đày. Câu gốc trong sách nầy là: “Ta đã tìm một người trong vòng chúng nó, đặng xây lại tường thành, vì đất mà đứng chỗ sứt mẻ trước mặt Ta, hầu cho Ta không hủy diệt nó; song Ta chẳng tìm được một ai” (Exe Ed 22:30). Đức Chúa Trời muốn tìm một người tại chỗ phu tù để “đứng vào chỗ sứt mẻ” ở giữa Đức Chúa Trời và dân sự. Ngài đã chọn Êxêchiên để làm điều đó.
Tác Phẩm Mặc Khải
“Mọi sự đều kỳ diệu và lạ lùng” là tựa đề rất phù hợp cho sách Êxêchiên bởi vì nó chứa nhiều lời tiên tri lạ lùng và kỳ diệu. Cũng có nghĩa chính Êxêchiên, là một tiên tri khác thường và tuyệt vời. Khi bạn so sánh các tiên tri, bạn sẽ thấy Đaniên, Êxêchiên và sứ đồ Giăng đều bị lưu đày khi viết sách Đaniên, Êxêchiên và Khải huyền. Đaniên và Êxêchiên bị lưu đày trong thời Babylôn, còn Giăng bị lưu đày dưới thời Lamã tại đảo Bátmô. Cả ba người đều viết sách mà các học giả gọi là “tác phẩm mặc khải”. Chữ “mặc khải” có nghĩa là “vén bức màn lên” để cho người ta có thể thấy được những điều mà họ không thể thấy bằng cách nào khác.
Tác phẩm mặc khải nầy còn được gọi là tác phẩm văn chương thuộc thuyết mạt thế, không chỉ đưa chúng ta ra phía sau bức màn, nhưng còn hướng chúng ta vào tương lai. Thuyết mạt thế (mạt thế = những sự cuối cùng) có nghĩa là “sự nghiên cứu về những ngày sau cùng”. Một tiên tri thuộc thuyết mạt thế bày tỏ cho chúng ta biết những gì xảy ra khi Đức Chúa Trời kết thúc lịch sử loài người theo chương trình của Ngài. Các học giả cho rằng chương trình của Đức Chúa Trời cho việc kết thúc lịch sử loài người là giáo lý về những ngày cuối cùng hay là tận thế.
Đại Cương Sách Êxêchiên
Lời tiên tri của Êxêchiên được sắp xếp rất tốt, có thể chia ra như thế nầy: Êxêchiên nói tiên tri về sự hủy phá thành Giêrusalem, là một tiên tri bị lưu đày, một phần mục tiêu trong chức vụ của ông là chống lại sứ điệp của các tiên tri giả đang rao giảng rằng sẽ có hồi hương sớm, vì đó là những gì mà những người bị lưu đày muốn nghe.
Giêrêmi đề cập đến một tiên tri giả tên là Hanania, là người chống lại Giêrêmi và nói rằng sự phu tù không kéo dài đến bảy mươi năm, mà chỉ có hai năm thôi. Giêrêmi đối đầu với hắn và tiên báo rằng hắn sẽ chết trước khi chấm dứt hạn định đó. Lời tiên tri của Giêrêmi được ứng nghiệm (Gie Gr 28:11-17). Dường như có nhiều tiên tri giả đang rao giảng sứ điệp đó.
Trong câu đầu tiên chương hai mươi bốn, Êxêchiên bác bỏ lời tiên tri giả nầy và nhấn mạnh việc thành Giêrusalem sẽ bị phá hủy. Giống như Giêrêmi, Êxêchiên rao giảng rằng không có cách nào tránh khỏi cuộc xâm lược của người Babylôn và sự phá hủy thành Giêrusalem. Từ chương 25 cho đến 32, Êxêchiên nói tiên tri nghịch lại Babylôn, là nước sẽ phá hủy thành Giêrusalem. Ông nói tiếp với một sự hy vọng - Giêrusalem sẽ được tái thiết (chương 33-40). Cuối chương tám có một lời tiên tri về ngày tận thế. Ông tiên tri rằng ngay tại chỗ đền thờ Salômôn đã xây cất, sẽ có một đền thờ khác xây lên, ám chỉ đến đền thờ một nghìn năm bình an.
Sứ Mệnh Của Êxêchiên
Hầu hết các bài giảng của ông đều đến từ khải tượng, một số khải tượng đó cũng được tìm thấy trong sách Khải huyền. Khải tượng đầu tiên của Êxêchiên bắt đầu: “Năm thứ ba mươi, ngày mồng năm tháng tư, khi ta đương ở giữa phu tù, trên bờ sông Kêba, các từng trời mở ra, và ta xem những sự hiện thấy của Đức Chúa Trời.
Ngày mồng năm tháng ấy, bấy giờ là năm thứ năm sau khi vua Giêhôgiakin bị bắt làm phu tù, Lời của Đức Giêhôva phán riêng cho thầy tế lễ Êxêchiên, con trai Buxi, tại trong đất người Canhđê, trên bờ sông Kêba. Ấy là tại đó mà tay Đức Giêhôva đặt trên người.
Nầy, ta thấy có luồng gió bão đến từ phương bắc, một đám mây lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng nhoáng ra từ chính giữa lửa. Từ giữa nó, thấy giống như bốn vật sống, hình trạng như vầy: bộ giống người, mỗi con có bốn mặt và bốn cánh… Còn như hình mặt nó,, thì bốn con đều có mặt người; bốn con đều có mặt sư tử ở bên hữu; bốn con đều có mặt bò ở bên tả; và bốn con đều có mặt chim ưng… Vả, đang khi ta ngắm xem các vật sống ấy, nầy, trên đất có một cái bánh xe ở kề bên các vật sống ấy, mỗi một trong bốn mặt đều có một bánh xe … … Khi các vật sống đi, chúng nó cũng đi; dừng, chúng nó cũng dừng; và khi các vật sống bị cất lên khỏi đất, thì các bánh xe cũng bị cất lên kề bên, vì thần của vật sống ở trong các bánh xe”# (Exe Ed 1:1-6, 10, 15, 21).
Bốn sinh vật sống là phần quan trọng trong khải tượng. Sứ đồ Giăng cũng đề cập đến bốn sinh vật sống nầy trong sách Khải huyền, một cánh cửa vào thiên đàng được mở ra trong khải tượng về thiên đàng của ông: “Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, còn chính giữa và chung quanh có bốn con sinh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt. Con sinh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay” (KhKh 4:6-7).
Một số học giả cho rằng khải tượng của Êxêchiên và Giăng là tóm tắt sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh. Lần đầu tiên khi Đức Chúa Trời mặc khải chính Ngài cho con người trên núi Sinai, tiếng Ngài giống như tiếng gầm của sư tử. Lần tiếp theo Đức Chúa Trời mặc khải chính Ngài cho con người qua sự hiến tế như được diễn tả trong sách Xuất Êdíptô ký và Lêvi ký. Con bò đực chỉ về sinh tế chuộc tội cho con người.
Con người ở giữa các sinh vật sống đưa chúng ta đến với Tin lành, nơi Đức Chúa Trời trở thành Người. Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta ba mươi ba năm. Có một số người cho rằng chim ưng là hình bóng Đức Chúa Trời. Con Người sống giữa chúng ta, “thực sự là Người và cũng thực sự là Chúa” như bài tín điều đã nói. Sự nhập thế của Chúa Jêsus là cao điểm mặc khải về chính mình Ngài cho thế gian.
Các bánh xe có thể tượng trưng cho việc đang và sẽ tiếp tục mặc khải của Đức Chúa Trời, có lẽ các bánh xe đó bao gồm luôn cả những tiên tri là người công bố khải tượng, bởi lẽ linh của các vật sống ở trong các bánh xe. Đó là những điều có thể thông giải được về khải tượng đầu tiên của Êxêchiên.
Sau khi nhận được khải tượng, Êxêchiên cũng nhận được sứ mạng từ Đức Chúa Trời (chương 2). Điều nầy có thể gọi là “Từng trải về sự kêu gọi” của Êxêchiên. Bạn có nhớ kinh nghiệm về việc đến với Chúa của Êsai không? Tất cả những tiên tri và người của Đức Chúa Trời trong Cựu ước đều có từng trải được gọi đến và sai đi. Khi từng trải đã đem họ đến với Đức Chúa Trời, thì kế đến họ sẽ có từng trải “ra đi” cho công việc Ngài.
Các tiên tri và người của Đức Chúa Trời trong Cựu ước có từng trải về sự kêu gọi đôi khi kéo dài suốt nhiều năm, như trong trường hợp của Môise. Ông có tám mươi năm để từng trải về sự kêu gọi và bốn mươi năm sau đó từng trải sự sai đi. Đó là lý do vì sao bốn mươi năm từng trải sự ra đi nầy của ông thật đầy năng lực; bốn mươi năm từng trải sự ra đi đó xuất phát từ từng trải của tám mươi năm trước ông được kêu gọi đến với Chúa.
Trong chương một, khải tượng về bốn sinh vật sống và các bánh xe là từng trải về sự kêu gọi. Lúc Êxêchiên được sai phái, dân Giuđa đã đánh mất khải tượng của Đức Chúa Trời, họ không còn Giêrusalem, không còn đền thờ, không còn Lời của Đức Chúa Trời, không còn sự thờ phượng. Cho nên, người lãnh đạo thuộc linh trong thời kỳ đó như Êxêchiên rất cần khải tượng thiêng liêng của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời ban cho Êxêchiên khải tượng về chính Ngài bằng nhiều cách. Trước hết Êxêchiên luôn lặp đi lặp lại rằng: “Có lời của Đức Chúa Trời phán với tôi”. Đó là sự thật của tất cả các tiên tri. Êxêchiên cũng nói: “Tay của Đức Chúa Trời đặt trên tôi”. Êxêchiên được biết đến như là một tiên tri của Đức Thánh Linh bởi vì ông thường nhắc đến Đức Thánh Linh nhiều hơn các vị tiên tri khác. Nhưng điều làm cho Êxêchiên trở thành người duy nhất giữa vòng các tiên tri, đó là việc ông nhìn thấy các từng trời mở ra và ông đã thật sự nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời ban khải tượng nầy cho Êxêchiên để giữ dân sự của Đức Chúa Trời không bị diệt vong. Khải tượng nầy cũng được ban cho Êxêchiên để ông có thể phục vụ với tư cách một tiên tri trong một thời điểm và nơi chốn vô cùng khó khăn, đó là trại tù tại Babylôn.
Người Canh Giữ Thuộc Linh
Bài giảng tuyệt vời của Êxêchiên được ghi lại trong chương ba. Bài giảng nầy được gọi là: “người canh giữ nhà Ysơraên”. Ẩn dụ nầy dựa trên phong tục về các thành phố có tường bao bọc thường xuyên bị những kẻ thù tấn công. Salômôn cũng dùng ẩn dụ nầy khi ông viết rằng nếu Đức Chúa Trời không canh giữ thành thì người canh thức canh uổng công (Thi thiên 127:1;). Phải luôn có một người canh gác đứng trong tháp canh vào ban đêm để canh gác và lắng nghe động tĩnh của kẻ thù. Ẩn dụ của Êxêchiên bắt nguồn từ trách nhiệm quan trọng của người canh giữ, để báo động cho dân chúng trong thành khi có kẻ thù xuất hiện. Bài giảng của Êxêchiên bắt đầu: “Khỏi bảy ngày, có Lời của Đức Giêhôva phán cùng ta như vầy: Hỡi con người, Ta đã lập ngươi lên đặng canh giữ nhà Ysơraên; khá nghe lời từ miệng Ta, và thay Ta răn bảo chúng nó…Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình” (16-17, 19).
Khi Giêrêmi quở trách các tiên tri giả, ông nói cách mạnh mẽ: “Các ngươi không cảnh cáo dân dự về tội lỗi của họ và thiếu cố gắng để giải cứu chúng khỏi các tai vạ”. Êxêchiên nói sâu xa hơn: “Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi. Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình” (18-19).
Sứ đồ Phaolô tin điều đó trong thời đại của ông. Ông viết: “Vì chúng tôi ởtrước mặt Đức Chúa Trời là mùi thơm của Đấng Christ, ở giữa kẻ được cứu,và ở giữa kẻ bị hư mất: Cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy? ” (IICo 2Cr 2:15-16).
Áp dụng thuộc linh cho chúng ta là: Nếu bạn chia sẻ Tin lành cho một người nào đó và họ tiếp nhận, như thế bạn là mùi của sự sống cho người đó. Nhưng nếu bạn chia sẻ Tin lành với một người nào mà họ từ chối, như thế bạn là mùi của sự chết đối với họ, bởi vì bạn đã khiến cho họ không thể nói rằng: “Tôi không biết, tôi chưa bao giờ nghe”. Nếu bạn tin Kinh thánh là Lời được linh cảm của Đức Chúa Trời, thì chúng ta nên hiệp ý với Êxêchiên trong việc tin rằng chúng ta là những “người canh giữ” linh hồn của những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống.
Đó là lý do vì sao Êxêchiên nhấn mạnh đến Đức Thánh Linh trong các bài giảng của ông. Giống như Phao lô, Êxêchiên tìm kiếm năng lực trong Đức Thánh Linh cho nhiệm mạng trọng đại của mình. Phao lô viết: “Năng lực của chúng ta đến từ Đức Chúa Trời”. Phao lô tin rằng khi ông chia sẻ Tin lành cho mọi người, chẳng hạn như người Côrinhtô, thì điều đó không phải đến từ ông, bèn là từ Đức Thánh Linh (IICo 2Cr 3:5, ICo1Cr 2:3-5). Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể ban cho chúng ta năng lực để làm một người canh giữ thuộc linh.

TRŨNG XƯƠNG KHÔ
Nhiều mục sư rao giảng Lời Đức Chúa Trời cả cuộc đời, vẫn mãi yêu thích bài giảng mà Êxêchiên đã giảng về một nghĩa trang, có thể nơi đây là một cánh đồng chết chóc, nhiều người ngã chết bởi những cuộc tàn sát. Khi đọc, chúng ta thấy Êxêchiên được đưa đến một cánh đồng đầy xương khô (chương 37). Nhiệm vụ của Êxêchiên được Đức Chúa Trời giao là hãy đi giảng cho những hài cốt khô ấy.
Nói theo lối ẩn dụ, đây là một thách thức mà một mục sư thường phải đối diện khi đứng trước hội chúng vào mỗi Chúa nhật. Một mục sư nói rằng khi Chúa trở lại, Hội thánh của ông sẽ được sống lại trước tiên bởi vì Phao lô đã viết: “Kẻ chết trong Chúa sẽ được phục sinh trước hết” (ITe1Tx 4:16). Đôi khi ông tự nhủ, những bộ xương khô nầy có thể sống lại được chăng? Tôi có thể rao giảng theo cách của tôi và sứ điệp của tôi sẽ được mạnh mẽ bởi Đức Thánh Linh, và sự sống thuộc linh có tuôn đổ vào đời sống của những người nầy được không?
Êxêchiên vâng mạng Chúa truyền, đi giảng cho các xương khô: “Ngài phán cùng ta rằng:Hỡi con người, những hài cốt nầy có thể sống chăng? Ta thưa rằng: Lạy Chúa Giêhôva, chính Chúa biết điều đó!
Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy, và bảo chúng nó rằng: Hỡi hài cốt khô, khá nghe lời Đức Giêhôva. Chúa Giêhôva phán cùng những hài cốt ấy rằng: Nầy, Ta sẽ phú hơi thở vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống” (Exe Ed 37:3-5).
Dân Giuđa giống như các bộ xương khô. Đức Chúa Trời thách thức Êxêchiên: “Ngươi nghĩ rằng những xương khô nầy có thể sống chăng?” Trong Kinh thánh, Đức Chúa Trời luôn thách thức các tiên tri về khải tượng của họ. Chúng ta quan sát thấy Êxêchiên không nói: “Vâng, tôi tin rằng chúng sẽ sống”. Thay vì vậy, ông nói: “Lạy Chúa, chỉ một mình Chúa biết”. Vị tiên tri không phạm tọi với Chúa dầu ông không thật sự tin rằng các xương nầy sẽ sống. Thế rồi Đức Chúa Trời phán với ông: “Hãy giảng cho các xương nầy”.
Vậy Êxêchiên bắt đầu giảng cho các bộ xương khô nầy. Sau khi giảng một lúc, Êxêchiên nghe có tiếng động, tiếng lách cách, và các xương bắt đầu ráp lại với nhau. Sau khi đã ráp lại với nhau từng bộ, nhưng xương vẫn không có gân và thịt. Êxêchiên lại được lịnh “hãy rao giảng”. Khi ông rao giảng, gân và thịt mọc ra trên các bộ xương ấy.
Khi nhóm hiệp đội quân xương đã có thịt và cơ bắp, nhưng Exêchiên vẫn chưa trả lời được câu hỏi của Đức Chúa Trời: “Các xương nầy có thể sống được chăng? ” Những xác chết nầy vẫn chưa sống lại được; không có hơi thở trong các xác đó. Vậy có mạng lịnh từ Đức Chúa Trời: “Hãy giảng về hơi thở”. Trong Kinh thánh, từ chỉ về gió, hơi thở và Thánh linh đều giống nhau. Hơi thở chỉ về Đức Thánh Linh. Đây là nguyên tắc mà bạn tìm thấy được trong suốt Kinh thánh: tách rời khỏi Đức Thánh Linh, người rao giảng sẽ uổng công vô ích.
Bất cứ một tiên tri nào cũng biết rằng nếu không có Đức Thánh Linh ngự trên người ấy, nâng đỡ và dùng bàn tay mạnh sức hoặc xức dầu cho họ, thì mọi cố gắng của họ đều không đạt được gì hết. Khi Êxêchiên giảng về Thánh Linh, hơi thở đã vào trong các xác nầy để trở nên một đội quân mạnh mẽ.
Ứng dụng chủ yếu cho dân Giuđa qua sứ mạng mà Êxêchiên rao giảng là: “Ta sẽ phục hồi các ngươi từ chỗ phu tù. Ta có thể và sẽ đưa các ngươi trở về từ Babylôn, trở về xứ sở của các ngươi. Ta sẽ phục hồi sự hưng thịnh của Ysơraên”.
Áp dụng thứ hai của sứ điệp vĩ đại nầy cho chúng ta một hình ảnh liên quan đến chức vụ gây dựng Hội thánh ngày nay. Sự rao giảng Tin lành gây dựng Hội thánh. Các xương khô ám chỉ về những người hư mất. Ngày nay có hơn sáu tỷ người trên thế giới, thì có bao nhiêu người biết về Chúa Jêsus? Có bao nhiêu người sống với Chúa Jêsus? Có bao nhiêu người được Thánh Linh ngự trị, và được biến đổi bởi Ngài? Chỉ có một số ít. Đây là một thách thức mà ngày nay Hội thánh cần phải đối diện. Áp dụng thuộc linh về bài giảng của Êxêchiên cho các xương khô là sự thách thức nầy: Hội thánh của Chúa Jêsus Christ có thể được mạnh mẽ bởi Đức Thánh Linh để thực hiện sứ mạng đem Tin lành của Chúa Jêsus Christ đến với người hư mất trong thế giới nầy không?
Bạn có phải là một trong các bộ xương khô nầy không? Có phải bạn là người bị hư mất vì chưa bao giờ nghe về Tin lành cứu rỗi không? Phải chăng sứ điệp nầy có thể áp dụng cho bạn bởi vì bạn chỉ lưu tâm đến sự sống đời nầy mà quên đi “đời sống đích thực?” Bạn có hơi thở Thánh linh của Đức Chúa Trời trong đời sống và trong chức vụ của bạn không? Dẫu hoàn cảnh của bạn có ra sao, thì cũng không khó khăn như Êxêchiên đã đối diện khi thức giấc vào mỗi buổi sớm mai. Nếu Đức Chúa Trời có thể làm cho các xương khô sống lại cho Êxêchiên, thì Ngài cũng có thể làm điều đó cho bạn và tôi.
Nếu Đức Thánh Linh sống trong bạn, bạn sẽ làm gì để gây dựng Hội thánh? Bạn không cần phải là một nhà truyền đạo mới có thể chia sẻ Tin lành cho người khác. Bạn phải tin rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ xức dầu cho Lời của Ngài trong khi bạn chia sẻ. Có thể nói rằng một người truyền giáo là một người ăn mày chỉ cho người ăn mày khác nơi có bánh. Nếu bạn là một trong những người ăn mày nầy thì hãy nói cho người ăn mày khác về nơi có bánh, nói theo cách thuộc linh, thì bạn phải hiểu sự kết hợp đầy năng lực giữa sự cầu nguyện và chia sẻ lời Chúa.
Trong sách Công vụ đoạn hai, chúng ta thấy các sứ đồ sống với nhau trong sự hiệp một thuộc linh trọn vẹn. Họ chia sẻ tài sản và lương thực cho nhau - họ thực hiện một chủ nghĩa xã hội thuần túy. Các sứ đồ là những người phục vụ hoặc đứng ra phân phối thực phẩm, song chính điều nầy dễ khiến họ xa khỏi chức vụ chăn bầy. Chúng ta thấy họ đã có một quyết định rất quan trọng. Họ chọn ra ban chấp sự đầu tiên và nói: “Các ông trông nom công việc nầy, còn chúng tôi sẽ dâng mình cho sự cầu nguyện và giảng dạy lời Đức Chúa Trời”. Đức Chúa Trời đã chúc phước trên quyết định của họ, là sứ đồ cần phải biệt riêng ra cho sự cầu nguyện và giảng dạy lời Đức Chúa Trời.
Đây là một sự kết hợp tương tự được Êxêchiên sử dụng cho chức vụ của ông. Có người cho rằng khi chúng ta nhóm họp với nhau, nếu không có ai được thay đổi, thì chẳng có việc gì xảy ra. Khi chúng ta rao giảng lời Đức Chúa Trời, nếu chúng ta chỉ đưa ra những thông tin, kiến thức, thì sẽ chẳng có tác động gì cho người nghe. Tuy nhiên, nếu chúng ta noi gương Êxêchiên và các sứ đồ, chúng ta sẽ thấy rằng khi sự cầu nguyện đi trước sự giảng dạy, nhiều điều sẽ xảy ra. Đời sống của những người nghe lời Đức Chúa Trời sẽ được thay đổi mãi mãi.
Khi bạn được ủy thác công bố Tin Lành của Đức Chúa Trời, khi bạn rao giảng cho “các hài cốt khô”, thì cũng phải giảng về Hơi thở, về Thánh Linh. Bạn phải trông đợi Đức Chúa Trời xức dầu Thánh Linh mạnh mẽ trên từng lời bạn nói ra khi rao giảng hay chia sẻ Tin lành cho người khác. Khi quyền năng của Ngài tuôn đổ dồi dào trên bạn và lời bạn nói ra, thì các xương nầy sẽ hồi sinh.

TIÊN TRI ĐANIÊN
NHỮNG TÍN HỮU ĐƯƠNG ĐẦU VỚI NGƯỜI BABYLÔN
Đaniên là sách thứ tư, cũng được gọi là “đại tiên tri” và là người thứ ba trong số các tiên tri bị phu tù. Khi thành Giêrusalem bị sụp đổ, Đaniên khoảng mười bốn tuổi. Vào thời điểm đó không có nhiều người bị lưu đày đến Babylôn, chỉ có một số ít người được chọn lựa, trong đó có Đaniên và ba bạn trẻ của ông. Tất cả bọn họ cùng bị đưa đi làm phu tù. Nêbucátnếtsa là vua Babylôn ra chỉ dụ: “Ta muốn các tầng lớp quý tộc, các vương hầu và các thanh niên khôn ngoan phải được giáo dục tại các trường học của ta”. Đức Chúa Trời dùng sắc lịnh của kẻ cai trị ngoại đạo để đặt một chức vụ có tính chiến lược vì mục đích tốt lành cho dân sự của Ngài tại Babylôn, đến nỗi vào thời điểm đó, hầu hết mọi người phu tù bị đưa đến Babylôn đều có một số ảnh hưởng nào đó trong vương triều của Nêbucátnếtsa.
Gương Mẫu Và Những Lời Khuyên Bảo
Mười hai chương sách Đaniên có thể được chia làm hai phần bằng nhau. Sáu chương đầu là sự tường thuật về lịch sử. Từ chương bảy đến chương mười hai là các khải tượng tiên tri. Câu chìa khóa cho phần tường thuật lịch sử trong chương 1-6 là một câu được tìm thấy trong Tân ước: “Những sự ấy có nghĩa hình bóng, và họ đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời” (ICo1Cr 10:11).
Trong Cựu ước, bạn thấy đời sống thuộc linh của hầu hết dân sự của Đức Chúa Trời có lúc lên, lúc xuống. Tuy nhiên, điều đó không đúng với Giôsép và Đaniên. Cả hai đều được trưởng thành hoàn toàn trong nền văn hóa thù địch của sự xung đột chính trị trong khắp đế quốc. Cả hai người đều là những người sống ngay thẳng nhất mà bạn gặp được từ trong Lời của Đức Chúa Trời. Trong khi Giôsép như cánh tay phải của Pharaôn vua Êdíptô, thì Đaniên trưởng thành trong nền văn hóa thù địch của Babylôn và nền chính trị của Pherơsơ.
Ông sống qua hai triều đại của Nêbucátnếtsa và Bênxátsa. Ông chứng kiến đế quốc Babylôn rơi vào tay đế quốc Pherơsơ. Ông sống lâu và giữ chức vụ tiên tri trong suốt thời kỳ bảy mươi năm lưu đày. Ông quá già yếu để hồi hương cùng với các phu tù khác, nhưng ông chứng kiến sự hồi hương của họ.
Vai trò của Đaniên là bày tỏ cho dân Giuđa làm thế nào để đương đầu với sự phu tù, một nhiệm vụ mà ông bắt đầu lúc chỉ mới mười bốn tuổi. Đaniên đương đầu với sự phu tù một cách dũng cảm và là một gương mẫu tuyệt vời cho dân Giu-đa - và cho chúng ta ngày nay.
Sự Kiên Quyết Của Đaniên
Sứ đồ Phaolô viết: “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (RoRm 12:2). Câu nầy có thể được diễn giải như sau: “Đừng để cho thế gian dồn ép bạn vào khuôn đúc của nó, nhưng hãy để Đức Chúa Trời uốn nắn tâm trí bạn từ bên trong”. Đây là một sự thách thức cho các tín hữu trong thời Tân ước, và cũng được áp dụng tương tự cho Đaniên khi ông đến Babylôn.
Không lâu sau, Đaniên nhận ra những áp lực trên đời sống của ông là phải sống sao cho phù hợp với phong tục của người Babylôn. Ông được chọn và bị buộc phải vào trường huấn luyện ở Babylôn, được những nhà thông thái của Nêbucátnếtsa dạy dỗ để cho đến một ngày, họ sẽ trở thành những người lãnh đạo giỏi của Babylôn. Vấn đề đầu tiên đưa đến cho Đaniên chính là nguồn thực phẩm dồi dào của người Babylôn. Các thực phẩm đó gồm thịt heo và các loại thực phẩm không sạch khác được dọn cho các chàng thanh niên Giuđa: “Vả, Đaniên quyết định trong lòng rằng không chịu ô uế bởi đồ ngon vua ăn và rượu vua uống, nên cầu xin người làm đầu hoạn quan để đừng bắt mình phải tự làm ô uế” (DaDn 1:8).
Tên của Đaniên có nghĩa là “Đức Chúa Trời là quan xét của tôi”. Đaniên bước đi trước mặt Đức Chúa Trời, cầu xin Đức Chúa Trời xem xét mọi hành động của ông. Ba người bạn của ông cũng được đặt tên có ý nghĩa thuộc linh. Misaên có nghĩa là “Ai giống như Đức Chúa Trời?”, Hanania nghĩa là “Giêhôva ban ân huệ” và Axaria là “được Giêhôva vùa giúp”.
Điều đầu tiên người Babylôn làm là đổi tên những thanh niên Hêbơrơ nầy. Tên của Đaniên được đổi thành Bêntơxátsa, có nghĩa là ”thần Bel bảo hộ cuộc sống”. Bel là tên của một vị thần của người Babylôn. Người Babylôn cố tình muốn cho Đaniên tin rằng ông ở dưới sự bảo hộ của một vị thần ngoại giáo. Misaên được đổi thành Mêsắc, là tên thần Mađốc của người Babylôn. Tên của Hanania được đổi thành Sađơrắc tức là tên thần mặt trăng của người Babylôn. Tên của Axaria được đổi thành Abếtnêgô, có nghĩa là “tôi tớ thần khôn ngoan của người Babylôn” (Đaniên 1:7;).
Nêbucátnếtsa nói với bốn thanh niên: “Chúng ta sẽ làm cho các ngươi thành người Babylôn”. Nhưng Đaniên và ba bạn trẻ đã đối đầu với Nêbucátnếtsa và cả đế quốc Babylôn khi họ có ý muốn nói: “Các ông làm cho chúng tôi thành người Babylôn, nhưng chúng tôi sẽ làm cho các ông thành người tin cậy Đức Chúa Trời”.
Chương bốn sách Đaniên cho chúng ta thấy Nêbucátnếtsa, một bậc kỳ tài đã thâu tóm thiên hạ thành đế quốc Babylôn rộng lớn, nay tuyên xưng đức tin nơi Đức Chúa Trời. Đây là một chương tuyệt vời trong Kinh thánh. Điều gì làm cho Nêbucátnếtsa tuyên xưng đức tin vào Đức Chúa Trời? Mọi sự bắt đầu khi Đaniên không chịu bị ô uế bởi thực phẩm không sạch của người Babylôn mà chọn thực phẩm thanh sạch.
Thông Giải Điềm Chiêm Bao
Không lâu sau đó, Đaniên và ba bạn của ông gặp một sự đối đầu khác. Nêbucátnếtsa có một giấc chiêm bao, và điều nầy khiến cho ông rất bối rối. Ông triệu tập tất cả các nhà thông thái và nói với họ: “Hãy nói cho ta biết ta đã mơ thấy gì và giải nghĩa điềm chiêm bao đó”.
Bạn hãy hình dung, đây là một nan đề rất lớn cho các nhà thông thái Babylôn. Không những chỉ khó giải nghĩa mà còn làm thế nào để biết được điềm chiêm bao đó là gì? Đó là điều mà Nêbucátnếtsa yêu cầu. Khi vua đưa ra thách thức nầy trước các nhà thông thái, thì họ trở nên hoảng loạn. Khi một người chuyên quyền như Nêbucátnếtsa yêu cầu bạn làm một điều gì đó, thì hoặc là bạn phải làm hoặc là bạn gặp một rắc rối lớn.
Họ tâu với nhà vua: “Chẳng có người nào trên đất nầy có thể tỏ ra việc của vua; vì chẳng có vua nào, chúa nào, người cai trị nào đem việc như thế hỏi đồng bóng, thuật sĩ, hay người Canh đê nào. Vì sự vua đòi là hiếm có, và không ai có thể tỏ cho vua được, chỉ có các vì thần không ởvới loài xác thịt” (DaDn 2:10-11). Câu trả lời đó làm cho Nêbucátnếtsa tức tối đến nỗi ông ra lệnh tử hình các nhà thông thái. Điều đó có nghĩa là bao gồm luôn cả Đaniên và các bạn của ông bởi vì họ là học trò của các nhà thông thái nầy.
Khi hạn định tử hình đã đến, với sự khôn ngoan và khéo léo, Đaniên hỏi: “Tại sao sắc lịnh của nhà vua lại nghiêm khắc như vậy?” Người thi hành án tử hình trả lời: “Nhà vua và các nhà thông thái có sự bất đồng với nhau. Các nhà thông thái nói rằng các thần linh của họ không sống trong con người, và vì thế cho nên họ không thể thuật cho vua biết về những gì mà ông đã mơ thấy”.
Phản ứng của Đaniên có thể được tóm lược như thế nầy: “A! đó là chỗ họ sai lầm, bởi vì Đức Chúa Trời thì sống trong con người”. Đaniên đến gặp vua và xin nhà vua cho ông một hạn định hầu cho ông có thể thuật lại và giải nghĩa chiêm bao. Rồi Đaniên nói với ba người bạn về việc ông phải làm, rồi họ bắt đầu cầu nguyện. Đêm hôm đó, trong một khải tượng, Đức Chúa Trời đã bày tỏ một cách siêu nhiên về chiêm bao của Nêbucátnếtsa và ý nghĩa về điềm chiêm bao đó cho Đaniên.
Nêbucátnếtsa đã nghe Đaniên, và thực chất cuộc đối thoại đó là: “Hỡi chàng trai trẻ kia, ta biết ngươi có thể thuật cho ta về điềm chiêm bao và giải nghĩa cho ta”. Đaniên trả lời: “Chỉ có Đức Chúa Trời có thể làm điều mà vua yêu cầu các nhà thông thái làm, thưa vua, các nhà thông thái của vua đã sai lầm. Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài tỏ cho tôi biết về giấc chiêm bao vua đã thấy và ý nghĩa của chiêm bao đó nữa”. Khi Đaniên thuật lại điềm chiêm bao và giải nghĩa cho vua, thì nhà vua sấp mặt xuống, và từ đó trở đi, vua luôn nói về Đaniên như là “người có thần linh của Đức Chúa Trời ở cùng” (Chương 2).
Sự giải nghĩa của Đaniên về điềm chiêm bao cho vua Nêbucátnếtsa chỉ là một trong năm phép lạ được ghi lại trong sách Đaniên, chứng tỏ thực tế đó là một việc siêu nhiên. Bốn phép lạ kia là: Ba bạn của Đaniên bị ném vào lò lửa hực (chương ba), sự tuyên xưng đức tin của Nêbucátnếtsa (chương bốn), bàn tay viết trên tường (chương năm), sự giải cứu Đaniên trong hang sư tử (chương sáu).
Qua những phép lạ trên, Đaniên và ba người bạn của mình đã chứng tỏ rằng đức tin có thể đương đầu với những thời kỳ đen tối nhất. Họ có đức tin, tin một cách tuyệt đối vào quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Trời. Họ tin tuyệt đối vào quyền năng của sự cầu nguyện, và sự quan phòng của Đức Chúa Trời dành cho họ tại Babylôn.
Bạn có bao giờ bị khủng hoảng trong đời sống, tưởng chừng như vô vọng, không thể chịu đựng nổi và phải đối đầu với các nan đề vô phương giải quyết không? Sự khủng hoảng mà Đaniên và ba bạn của ông phải đối đầu tại Babylôn là điều không thể tránh khỏi, không thể chịu đựng nổi và vô phương giải quyết. Họ đã tỏ cho chúng ta biết cách để sống với cơn khủng hoảng ấy, bằng cách họ đã vượt qua được cơn khủng hoảng của họ tại Babylôn.
Khi bạn suy gẫm về các phép lạ trong sách Đaniên, hãy tự hỏi chính mình bằng những câu hỏi sau: Bạn có tin vào quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Trời không? Bạn có tin vào năng lực của sự cầu nguyện không? Bạn có tin vào sự quan phòng và mục đích của Đức Chúa Trời khi đặt bạn vào một vị trí để làm sáng danh Ngài không? Bạn có tin những điều đó cách tuyệt đối không?
VINH HIỂN TẠI BABYLÔN
Đây không phải là sự nghiên cứu theo cách của một học giả, nhưng là một sự khảo sát về mặt thuộc linh xuyên suốt Kinh thánh, có một vài bối cảnh trong lịch sử mà bạn phải đánh giá đúng để hiểu rõ sứ điệp sách Đaniên. Kinh thánh quen dùng thời trị vì của các vua hoặc của các Sêsa để đặt niên lịch cho các sự kiện trong Kinh thánh, như trong câu mở đầu câu chuyện giáng sinh trong sách Tin lành Luca chương hai.
Trong sự kiện ở chương bốn sách Đaniên, Nêbucátnếtsa là vua đế quốc Babylôn. Trong chương năm sách Đaniên chúng ta thấy con trai của Nêbucátnếtsa là Bênxátsa làm vua. Trong câu kết thúc chương năm và câu đầu của chương sáu sách Đaniên, chúng ta thấy người Mêđi (Pherơsơ) xâm chiếm Babylôn và Đariút làm vua Mêđi. Theo cách nầy, chúng ta được biết sáu chương đầu của sách Đaniên nói về bảy mươi năm lịch sử Babylôn.
Lịch sử chứa đựng các sự kiện được gói gọn trong Kinh thánh trải qua nhiều thời kỳ của các đế quốc như Aicập, Asyri, Babylôn, Pherơsơ, Hylạp và Lamã. Hai đế quốc chồng lên nhau trong sách Đaniên, đế quốc Babylôn, kết thúc sau bảy mươi năm, và đế quốc Pherơsơ với 127 tỉnh thành thuộc Mêđi Batư, cũng nằm trong bối cảnh lịch sử của sách Êxơtê. Một trong những lời tiên tri của Đaniên, có liên quan đến bốn đế quốc nầy: Babylôn, Pherơsơ, Hylạp và Lamã.
Điều nầy giúp chúng ta hiểu sự sắp xếp lịch sử trong sách Đaniên, và đánh giá đúng sự huy hoàng và vinh hiển của vua Nêbucátnếtsa. Nếu bạn có cơ hội nghiên cứu về thành Babylôn, xem sự miêu tả về thành phố do một học giả nghiên cứu về lịch sử thời Cựu ước: “Đó là ngôi nhà chung của hơn hai triệu người, và vườn treo Babylôn là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ. Sử ký cho chúng ta biết rằng bức tường thành bao quanh thành phố với chu vi hơn 100km và khoảng 25km ở mỗi cạnh. Tường thành cao 110m và dày 30m. Móng sâu xuống đất khoảng 13m để cho kẻ thù không thể đào hầm xuyên qua được. Có khoảng 400m được chừa trống giữa thành phố và tường thành cặp theo chung quanh tường thành. Tường thành được bảo vệ từ phía bên ngoài với một hào rộng và sâu đầy nước, có 250 tháp canh trên mặt tường thành”.
“Thành phố được chia ra làm hai phần gần bằng nhau bởi sông Ơphơrát. Cả hai dải đất đều được bảo vệ trong tường xây bằng gạch, có 25 cổng nối với các con đường thủy bộ. Một cây cầu được xây trên các trụ bằng đá, dài khoảng 1km và rộng 11m, cùng với nhiều cầu quay khác được xếp lại khi đêm xuống. Có một đường hầm dưới sông, rộng 7m và cao 4m. Trong cuộc chiến thời xưa, đây là một thành phố bất khả xâm phạm”.
Trong thời Đaniên, Babylôn không phải là thành phố hàng đầu, nhưng nó được thống lãnh bởi một đế quốc hùng mạnh nên tồn tại cho đến lúc đó, một đế quốc chỉ kéo dài bảy mươi năm. Đaniên đã ở đó từ lúc đế quốc khởi đầu cho đến khi suy vong. Ông là bạn và cũng là quân sư của vua. Nêbucátnếtsa là nhà cai trị thiên tài và đầy uy quyền, đã dựng nên đế quốc Babylôn. Ông lãnh đạo đế quốc nầy bốn mươi năm trong số bảy mươi năm tồn tại của đế quốc.
Uy quyền của Nêbucátnếtsa là tuyệt đối. Chúng ta đọc trong chương năm: “Vì cớ Ngài đã ban cho người quyền to, thì hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều run rẩy trước mặt người, và sợ hãi người. Người muốn giết ai thì giết, và muốn để ai sống thì để. Người nâng ai cao lên hay hạ ai thấp xuống thì tùy ý người” (19). Thật khó cho nhiều người hiện nay có thể đánh giá đúng về uy quyền tuyệt đối của vị vua độc tài như Nêbucátnếtsa. Tuy nhiên, khi bạn đánh giá con người nầy theo lịch sử, bạn sẽ nhận ra rằng đúng là một phép lạ vĩ đại mà Kinh thánh ký thuật lại khi ông tuyên xưng đức tin nơi Đức Chúa Trời của Đaniên.
Sự nhận diện kỳ diệu của Đaniên về giấc chiêm bao của Nêbucátnếtsa, và giải nghĩa chiêm bao đó (chương 2), đã ảnh hưởng sâu sắc đến con người cai trị thế giới nầy. Trong chiêm bao đó, Nêbucátnếtsa nhìn thấy hình dạng của một người. Đầu bằng vàng, ngực bằng bạc, bụng và đùi bằng đồng, ống chân bằng sắt, bàn chân bằng sắt pha đất sét.
Đaniên giải nghĩa đó là bốn vương quốc lớn. Khi Đaniên giải nghĩa chiêm bao của Nêbucátnếtsa, ông nói: “Vua là cái đầu bằng vàng bởi vì ngày nay vua cai trị toàn thế giới, nhưng sự cai trị của vua không kéo dài, vương quốc của vua sẽ sụp đổ và một vương quốc khác chiếm lấy. Đó là phần bằng bạc của tượng nầy. Vương quốc nầy là Pherơsơ không lớn mạnh như vương quốc của vua. Vương quốc bằng đồng là Hylạp, sẽ tiếp nối. Cuối cùng vương quốc được mô tả chân bằng sắt là Đế quốc Lamã”. Mười ngón chân ám chỉ về mười nước thuộc về đế quốc Lamã.
Hình như, Nêbucátnếtsa lòng đầy kiêu ngạo khi nghe mình là “cái đầu bằng vàng”. Cho nên ông đã làm một pho tượng bằng vàng và buộc mọi người phải cúi xuống thờ lạy pho tượng đó. Từ lúc đó, ông đi xa trong việc thay đổi tôn giáo! Nhưng như chúng ta thấy, sự làm chứng của Đaniên và ba bạn là một ảnh hưởng sâu sắc và thay đổi cuộc đời Nêbucátnếtsa khiến ông tuyên xưng đức tin nơi Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống.
Sự An Năn Của Nêbucátnếtsa
Trong giấc chiêm bao của Nêbucátnếtsa, có một hòn đá được đục ra từ núi, nhưng không bởi tay người ta. Hòn đá siêu nhiên nầy rơi trên bàn chân pho tượng Nêbucátnếtsa, bàn chân bằng sắt và đất sét. Điều đó khiến cho cả pho tượng sụp đổ, tan rã và bị thổi đi khắp nơi như trấu trên sân đập lúa. Sự giải nghĩa của Đaniên bày tỏ toàn cảnh các vương quốc cho Nêbucátnếtsa, các vương quốc được ví sánh như vàng, bạc, đồng, sắt một ngày kia sẽ bị một vương quốc siêu nhiên chinh phục, vương quốc của Đức Chúa Trời. Chúng ta không biết chính xác Đức Chúa Trời sử dụng đời sống và lời nói của Đaniên như thế nào để chinh phục Nêbucátnếtsa, nhưng thật kỳ diệu, trong chương bốn chúng ta đọc: “Ta lấy làm tốt lành mà rao cho các ngươi những dấu lạ và sự lạ mà Đức Chúa Trời Rất Cao đã làm ra đối với ta. Ôi! Những dấu lạ của Ngài lớn lao là dường nào! Những sự lạ của Ngài mạnh sức là dường nào! Nước Ngài là nước còn mãi mãi, và quyền thế Ngài từ đời nọ đến đời kia” ( 2-3).
Trong chương sách kỳ diệu nầy, Nêbucátnếtsa lại có một chiêm bao khác. Ông thấy một cái cây cao lớn lạ thường, mọi người trên khắp thế gian đều thấy nó. Các nhánh của nó đầy những trái, có đủ cho mọi người trên thế gian ăn. Rồi có một thiên sứ từ trời xuống kêu lớn tiếng: “Hãy đốn cây và chặt nhành nó; hãy làm rụng lá và vãi trái nó ra; hãy cho thú vật tránh khỏi dưới nó, và chim chóc khỏi nhành nó! Dầu vậy, hãy để lại gốc của rễ nó trong đất, mà cột nó bằng một dây xích sắt và đồng, nơi giữa cỏ xanh trong đồng ruộng; cho nó bị sương trên trời thấm ướt; và cho người cùng các loài thú chia phần cỏ dưới đất!” (DaDn 4:14-15).
Thiên sứ nói tiếp: “Cho lòng người bị đổi đi, và người được ban cho lòng thú; và trải qua bảy kỳ trên người” (16) Thiên sứ nói rằng việc nầy xảy ra với mục đích cho thế gian biết rằng: “Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người; Ngài muốn ban cho ai tùy ý, và lập kẻ rất hèn hạ trong loài người lên đó” (17).
Nhà vua kể điềm chiêm bao đó cho Đaniên. Khi vị tiên tri nầy nghe xong, ông ngồi bối rối và im lặng trong một giờ, kinh ngạc về ý nghĩa của giấc chiêm bao. Cuối cùng ông nói: “Thưa chúa. nguyền cho điềm chiêm bao đến cho những kẻ ghét chúa và sự giải nghĩa cho kẻ thù nghịch chúa!” (19).
Sau khi nhà vua nghiêm trang chờ đợi Đaniên giải nghĩa điềm chiêm bao, Đaniên nói: “Người ta sẽ đuổi vua ra khỏi giữa loài người. và chỗ ở vua sẽ ở giữa những thú vật trong đồng. . Vua sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò,và sẽ được thấm nhuần sương móc trên trời; bảy kỳ sẽ trải qua trên vua, cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý”#(25).
Tuy nhiên, Đaniên tiếp tục nói rằng Đức Chúa Trời sẽ phục hồi vương quốc cho Nêbucátnếtsa khi ông nhận biết sự tể trị của Đức Chúa Trời. Sau đó Đaniên nài khuyên: “Vậy nên, hỡi vua,xin hãy nghe lời tôi khuyên vua: hãy lấy sự công bình mà chuộc tội lỗi, hãy thương xót những kẻ nghèo khó để chuộc những điều gian ác mình. Như vậy sự bình an vua còn có thể lâu dài hơn nữa” (27).
Sau đó dường như Đaniên viết một vài câu diễn tả sự ứng nghiệm lời giải nghĩa điềm chiêm bao nầy. Sau khi sự thử thách kinh khiếp nầy kết thúc, Nêbucátnếtsa đã viết vắn tắt lời tuyên xưng đức tin và ngợi khen dâng lên Đức Chúa Trời chân thật của Đaniên. Ông ngước mắt lên trời và ngợi khen, dâng vinh hiển và làm sáng danh Đức Chúa Trời chí cao.
Chúng ta thấy Đức Chúa Trời có một mục đích cho Nêbucátnếtsa qua từng trải đáng sợ nầy: Đức Chúa Trời chí cao cai trị trên vương quốc của loài người. Nêbucátnếtsa phải sống như thú vật trong bảy năm cho đến khi ông học xong điều cần phải học. Thật là một sự nhận thức lớn lao mà ông nhận được từ Đức Chúa Trời trong bảy năm để làm cho người cai trị thế giới nầy phải khuất phục.
Phải chăng có một lúc nào đó trong cuộc đời chúng ta phải trải qua sự buồn rầu, bởi vì Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cho chúng ta biết rằng Ngài có quyền tể trị trên thế giới nầy và trên cuộc đời chúng ta? Khi điều đó xảy ra, nó sẽ kéo dài cho đến khi bạn thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Chúa là Đức Chúa Trời của con! Ngài có quyền. Ngài tể trị và có uy quyền tuyệt đối trên cuộc đời con!”
NHỮNG KHẢI TƯỢNG VÀ SỰ MẶC KHẢI CỦA ĐANIÊN
Sáu chương đầu của sách Đaniên là phần lịch sử và dễ hiểu. Giống như sách Khải huyền, các sách tiên tri Êxêchiên và Xachari, sáu chương sau thì lại vô cùng khó hiểu. Sự giải nghĩa của Đaniên về điềm chiêm bao đầu tiên của Nêbucátnếtsa trong chương hai, cho chúng ta một kiểu mẫu để hướng dẫn chúng ta khi thử giải nghĩa những sự mặc khải và khải tượng khó hiểu trong sách Đaniên. Chỉ qua sự dạy dỗ của Đức Thánh Linh mới có thể cho chúng ta sự hiểu biết về những khải tượng được mặc khải tiên tri về những công việc vĩ đại của Đức Chúa Trời cho thế giới chúng ta.
Đây là một số bước cần thực hiện để chúng ta có thể hiểu được khải tượng và mặc khải trong sách Đaniên. Trước hết, hãy xem xét các biểu tượng trong khải tượng. Ví dụ, khải tượng đầu tiên trong số các khải tượng khó giải nghĩa của Đaniên, được ký thuật trong chương bảy, các biểu tượng trong khải tượng nầy tương tự như điềm chiêm bao đầu tiên của Nêbucátnếtsa.
Bốn hướng gió bắt đầu thổi và xô xát trên biển lớn và có bốn con thú lớn xuất hiện. Con thú thứ tư dữ tợn và rất mạnh, nó hủy diệt các con thú khác, nhưng trước khi có sự hủy diệt đó, có mười sừng mọc ra từ con thú. Rồi có một sừng nhỏ mọc ra giữa mười sừng đó, cái sừng nhỏ đó có mắt và một cái miệng lớn nói những lời vĩ đại và mạnh mẽ.
Thứ hai, hãy quan sát những hành động và sự tác động giữa các biểu tượng. Hãy xem xét sự giải nghĩa được ban cho, đó là một sứ điệp được xức dầu. Sau khi bạn xem xong rồi, trong sự cầu nguyện, hãy cầu xin Đức Thánh Linh bày tỏ cho bạn biết ý nghĩa đó là gì. Hãy tự vấn: “Điều nầy nói gì, điều nầy có nghĩa gì đối với họ và có ý nghĩa gì đối với tôi?”
Sự giải nghĩa về điềm chiêm bao của Đaniên trong chương bảy bảo chúng ta hãy xem lại bốn vương quốc lớn kia. “Bốn con thú lớn đó là bốn vua sẽ dấy lên trên đất. Nhưng các thánh của Đấng Rất Cao sẽ nhận lấy nước, và được nước làm của mình đời đời, cho đến đời đời vô cùng” (17-18). Vương quốc thứ tư sẽ xuất hiện trên đất và tàn phá khắp đất. Mười sừng là mười vua ra từ vương quốc nầy. “Mười cái sừng là mười vua sẽ dấy lên từ nước đó; và có một vua dấy lên sau, khác với các vua trước, và người đánh đổ ba vua. Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao mòn các thánh của Đấng Rất Cao, và định ý đổi những thời kỳ và luật pháp;các thánh sẽ bị phó trong tay người cho đến một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ” (24-25).
Trong Kinh thánh, bất cứ khi nào đề cập đến cái sừng, chúng đều được ám chỉ về thế lực, sức mạnh. Giống như cái sừng của con thú dùng để húc các con thú khác. Mười sừng và cái sừng nhỏ nầy cũng ám chỉ về thế lực hoặc vương quốc. Có nhiều người diễn dịch vương quốc thứ tư nầy là đế quốc Lamã hồi sinh. Trong điềm chiêm bao của Nêbucátnếtsa, chân bằng sắt - vương quốc thứ tư - ám chỉ đế quốc Lamã. Một số người tin rằng khải tượng nầy ám chỉ về vương quốc Lamã hồi sinh nhưng xảy ra trong tương lai. Người khác thì nói không phải, vương quốc thứ tư mạnh mẽ hơn tất cả các vương quốc đã qua. Đó là bức tranh về vương quốc của Đức Chúa Trời và là mô tả tiên tri về việc Đức Chúa Trời trút cơn thạnh nộ.
Theo ý kiến của tôi, chúng ta không nên giải nghĩa theo cách suy đoán đối với các lời tiên tri của Đaniên. Dầu cho chúng ta đúng hoặc sai về các chi tiết, chúng ta phải nhớ một chân lý từ lời tiên tri trong chương bảy nầy: Nếu bạn là người của Đức Chúa Trời, thì bạn là một phần tử trong vương quốc chiến thắng. Tất cả những khải tượng nầy đều kết thúc lạc quan. Vương quốc của Đức Chúa Trời chinh phục tất cả các vương quốc khác và là một vương quốc còn lại đời đời.
Khải Tượng Về Bảy Mươi Tuần Lễ
Khải tượng đáng quan tâm nhất của Đaniên hoặc sự mặc khải tiên tri được gọi là “khải tượng về bảy mươi tuần lễ”. Đaniên ký thuật cho chúng ta là đang khi ông đọc sách tiên tri Giêrêmi, ông nhận thấy đây là lúc dân sự của Đức Chúa Trời hồi hương từ Babylôn. Êsai và Giêrêmi đều tiên đoán sau khi dân Giuđa bị phu tù tại Babylôn được bảy mươi năm, họ sẽ được hồi hương. Cuối chương năm và đầu chương sáu, ông đang ở trong thời kỳ cai trị của Đariút vua Mêđi, ông sống vào thời điểm cuối cùng hạn định bảy mươi năm phu tù.
Trong khi Đaniên dâng lời cầu nguyện trong chương chín, ông hoàn toàn bị tràn ngập trong cảm nhận rằng hạn định cuối cùng của bảy mươi năm đang đến gần. Khi Đaniên đang cầu nguyện cho điều đó, ông xưng tội của chính mình và của dân sự. Đaniên là một người có phẩm hạnh trong sạch nhất trong Kinh thánh, ông liệt mình vào hàng những tội nhân trong dân sự qua cách nói như thế nầy: “Tội lỗi chúng tôi” và “chúng tôi là tội nhân”, ba mươi hai lần như vậy trong bài cầu nguyện của ông.
Đaniên cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ. Ông thưa: “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, xin ghé tai và nghe. Xin mở mắt nhìn xem những nơi hoang vu của chúng tôi, và thành đã được xưng bởi danh Ngài! Không phải cậy những sự công bình mình mà chúng tôi nài xin Ngài. nhưng cậy những sự thương xót cả thể của Ngài” (DaDn 9:19) Trong bài cầu nguyện của mình, rõ ràng ông rất phấn khích bởi vì Đức Chúa Trời sẽ tha thứ và phục hồi dân Ngài.
Khi Đaniên đang cầu nguyện, thiên sứ Gápriên hiện ra với ông và phán: “Lời phán dặn đã ra từ khi ngươi bắt đầu nài xin; và ta đến để tỏ lời đó cho ngươi, vì ngươi đã được yêu quí lắm.Vậy hãy suy nghĩ sự đó và hãy hiểu biết sự hiện thấy” (9:23). Đây là sự đáp lời của Đức Chúa Trời cho lời cầu xin của Đaniên, là một trong những lời tiên tri chính xác nhất được tìm thấy trong Kinh thánh. Khải tượng nầy là “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi,đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào,đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh” (9:24).
Xen lẫn giữa tin mừng về sự hồi hương sắp xảy ra là một sứ điệp về sự hiện đến của Đấng Mêsi - Đức Chúa Jêsus Christ. Giải nghĩa lời tiên tri kỳ diệu nầy có liên hệ đến vài phép tính đơn giản. Đức Chúa Trời phán với Đaniên rằng khi sự phu tù đến hạn định bảy mươi năm, thời gian giữa sự phu tù và sự hiện đến của Đấng Mêsi sẽ là bảy lần bảy mươi năm hoặc 490 năm. Các năm nầy có thể chia thành các tuần lễ trong năm (chu kỳ bảy năm), và luân phiên, bảy mươi tuần lễ sẽ được ngắt ra như sau: bảy tuần lễ, sáu mươi hai tuần lễ, và một tuần. Ở giữa một tuần đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị “cất đi”, hoặc phải bị giết.
Niên đại của lời tiên tri nầy là vào thời kỳ Siru ban chiếu chỉ cho dân sự hồi hương tái thiết đền thờ Giêrusalem. Có ba cuộc hồi hương như vậy, nhưng chủ yếu xảy ra trong năm 475 TC. nếu bạn lấy sáu mươi hai tuần lễ cộng với bảy, và nhân số đó với bảy, bạn có 483 năm. Ngược dòng lịch sử kể từ năm 475 TC đến năm 26 SC, các nhà học giả nói rằng đó là năm Đấng Christ bắt đầu chức vụ công khai. Được tính là một tuần trong năm (hoặc bảy năm), theo cách đó, giữa tuần lễ, Đấng Thánh bị cất đi. các học giả tin rằng chính xác ba năm rưỡi kể từ năm 26 SC là thời điểm Chúa Jêsus bị đóng đinh.
Trong khi các học giả tranh cãi về các chi tiết, có một điều rõ ràng về lời tiên tri nầy, đó là sự tiên đoán chính xác một cách lạ lùng về thời điểm hiện đến và sự đóng đinh của Đấng Mêsi cũng như sự khởi đầu Vương quốc của Ngài, không có thời điểm kết thúc. Đây là vương quốc được dự đoán trong điềm chiêm bao thứ hai, khải tượng của Nêbucátnếtsa, mà Đaniên đã giải nghĩa (2:34-35;, 44-45). Vương quốc được diễn tả là một hòn đá lớn đập vào bàn chân bức tượng là hình ảnh của bốn vương quốc và làm cho chúng đổ xuống tan tành như tro trấu.
Phần của bức tượng mà hòn đá đập vào ám chỉ về Đế quốc Lamã. Sự tiên báo chính xác và mạnh mẽ về việc Chúa Jêsus bắt đầu vương quốc của Ngài trong thời kỳ Đế quốc Lamã, Vương quốc của Đức Chúa Trời được Chúa Jêsus lập ra đã tồn tại đến bây giờ hơn hai ngàn năm, và không kết thúc.
Áp Dụng Cá Nhân Về Lời Tiên Tri Nầy
Giải nghĩa và áp dụng lời tiên tri kỳ diệu nầy, đó là những người dự phần vào trong Vương quốc đời đời sẽ có cuộc sống vĩnh cửu, vì họ là một phần tử trong Vương quốc đời đời.
Nói theo lối ẩn dụ, nếu bạn là một tín hữu, là một người thuộc về dân của Đức Chúa Trời, thì bạn là một chiến sĩ của đoàn quân chiến thắng trong cuộc chiến giữa thiện và ác. Cuộc chiến giữa thiện và ác đã xảy ra hằng ngàn năm trước và còn tiếp diễn trong nhiều lãnh vực trong thế giới hôm nay. Vị trí luôn luôn thay đổi; thiện và ác có nhiều phương diện khác nhau, nhưng cuộc chiến đó vẫn tiếp diễn kể từ khi Cain giết em mình là Abên.
Công Dân Thiên Quốc
Sứ đồ Phaolô viết rằng chúng ta là công dân Thiên quốc và Kinh thánh cho biết những tín hữu là khách bộ hành trong thế gian nầy, đang tìm kiếm một thành do Đấng Xây Dựng và Sáng Tạo là Đức Chúa Trời. Dân sự của Đức Chúa Trời được ví như một dòng sông chảy qua thế gian nầy vào trong thành của Đức Chúa Trời là nơi có sự vui mừng lớn khi dòng sông chảy qua đó (HeDt 11:13-16, Thi Tv 46:4, 5).
Bạn có phải là thần dân của Vương quốc vĩnh cửu của Ngài và được chia sẻ sự đắc thắng mà chính Ngài và Cha Ngài chắc chắn đắc thắng không? Chúa Jêsus là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn Chúa, là Đấng lãnh đạo cuối cùng chinh phục các thế lực của ma quỷ trên thế gian nầy. Nếu chúng ta là môn đồ đích thực, là chiến sĩ trong đoàn quân thuộc linh của Ngài. Chúng ta có thể sẽ bị tổn thất trong suốt cuộc chiến, nhưng chúng ta sẽ chiến thắng. Chúng ta sẽ sống với sự thật nầy: Đây là một địa vị mà chúng ta được dự phần trong sự chiến thắng của Ngài, mà địa vị đó quyết định tính chất đời đời của chúng ta.

NHÌN CHUNG VỀ CÁC TIỂU TIÊN TRI
Bây giờ, chúng ta bắt đầu xem xét mười hai vị tiên tri cuối cùng là những người thường được gọi là các Tiểu Tiên Tri. Sở dĩ có tên gọi nầy là vì các sách của họ ngắn hơn những sách tiên tri mà chúng ta vừa mới khảo sát. Vì mười hai vị tiên tri sau cùng nầy đã tiên tri vào giai đoạn cuối của lịch sử Hêbơrơ, cho nên, họ còn được gọi là những hậu tiên tri. Các thầy thông giáo xưa vẫn thường gọi chung những hậu tiên tri là “Mười Hai Tiên Tri”, vì họ đánh giá cao và không muốn bỏ qua bất cứ ai trong số các tiên tri ấy.
Mười hai sách lịch sử Cựu ước trình bày nội dung về những giai đoạn lịch sử mà các tiên tri đã viết, đã sống và rao giảng. Để quan điểm lịch sử của mình không bị thiên lệch, bạn nên cố gắng lập ra một bản đồ ghi lại nơi các tiên tri từng sống trong giai đoạn lịch sử Hêbơrơ mà bạn đã học khi chúng ta nghiên cứu các sách lịch sử Cựu ước. Vì đây không phải là một lập luận hoàn toàn dựa trên lý thuyết mà là một bài học Kinh Thánh có tính suy niệm, cho nên, tôi xin nhắc lại bảy sự kiện trong lịch sử Hêbơrơ để giúp bạn nắm vững được bối cảnh khi đọc các sách tiên tri nầy:
1. Vương quốc hợp nhất.
2. Vương quốc bị phân chia.
3. Asyri chinh phục Vương quốc phía Bắc.
4. Vương quốc phía Bắc sụp đổ.
5. Babylôn lưu đày Vương quốc phía Nam.
6. Pherơsơ chinh phục Babylôn.
7. Các phu tù từ Babylôn trở về.
TIÊN TRI ÔSÊ
Hầu hết chúng ta đều biết Đức Chúa Trời là tình yêu, tuy nhiên, bạn đã thấy hoặc đọc được bao nhiêu sách nói về tình yêu của Ngài? Ôsê là sách được thần cảm trong thư viện thánh của Đức Chúa Trời, nội dung đề cập về tình yêu thương của Ngài. Ôsê được Đức Chúa Trời ủy thác làm tiên tri nói về tình yêu ấy cho mười chi phái thuộc Vương quốc phía Bắc, còn gọi là Ysơraên. Ông rao giảng về tình yêu của Đức Chúa Trời khi họ xây bỏ Ngài và thờ lạy hình tượng.
Lẽ thật thứ nhất chúng ta học được từ tiên tri Ôsê. Khi Đức Chúa Trời gọi chúng ta làm công việc trọng đại nào đó cho Ngài, Ngài thường chuẩn bị chúng ta cho công việc đó qua những kinh nghiệm sống của chính chúng ta. Ngài dùng mỗi ngày mà chúng ta đang sống để sửa soạn chúng ta cho những ngày tới sẽ sống và hầu việc Ngài.
Phúng Dụ Về Sự Nhẫn Nhịn
Đức Chúa Trời phán bảo Ôsê chuẩn bị rao giảng tình yêu của Ngài cho một dân tộc vô tín, Ôsê cưới một kỵ nữ tên là Gôme làm vợ (OsHs 1:2-3). Ôsê yêu Gôme và nàng sinh con cho ông như thể nàng là người vợ tốt nhất trong xứ vậy. Sau nhiều năm, Gôme lại quay về với những người tình cũ, Đức Chúa Trời lại truyền Ôsê đón nàng trở về, và lại tiếp tục yêu thương nàng (3:1). Đó là tất cả những gì tối thiểu mà Đức Chúa Trời cho phép xảy ra nhằm chuẩn bị cho Ôsê đi ra rao giảng cho dân Ysơraên về tình yêu thương vô điều kiện và sự chấp nhận của Đức Chúa Trời.
Mặc dầu không xứng đáng với tình yêu ấy, nhưng dân Ysơraên được Đức Chúa Trời chọn làm tuyển dân của Ngài, chẳng khác nào Gôme được Ôsê chọn làm vợ, cho dù nàng là một kỵ nữ. Phúng dụ là một câu chuyện, trong đó con người, nơi chốn, và mọi thứ đều chứa đựng ý nghĩa sâu sắc, dạy dỗ chúng ta về bài học luân lý đạo đức và thuộc linh. Hôn nhân của Ôsê là một câu chuyện phúng dụ về sự nhẫn nhịn trong tình yêu vô điều kiện của Đức Chúa Trời dành cho Ysơraên.
Sự Rao Giảng Của Ôsê
Thờ lạy thần tượng là tội ăn sâu vào tâm khảm mà dân sự ở Vương quốc phía Bắc thường xuyên vi phạm, vì thế ngay tại đó, Ôsê đã rao ra những bài giảng thích đáng với lời lẽ rất hùng hồn.Việc thờ lạy hình tượng dẫn họ đến sự suy đồi nghiêm trọng. Ôsê rất thẳng thắn và mạnh dạn khi rao giảng cho họ.
Đây là phần trích dẫn đã được diễn ý về sự rao giảng của Ôsê, sẽ giúp bạn làm quen với phong cách giảng dạy của ông: “Người Ysơraên hễ buông rượu ra thì lại đến với kỵ nữ. Tình yêu của họ thật đáng xấu hổ chứ không hề có sự tôn trọng… Rượu chè, đàn bà và ca nhạc hát xướng đã cướp đi trí lực của dân sự Ta. Vì các ngươi đi cầu xin một miếng gỗ hãy nói cho mình biết phải làm gì … Cho nên, các ngươi giống như cái cung bị bẻ gập lại, luôn bắn sai mục tiêu. Các ngươi gieo gió nên sẽ gặt bão lốc… Rồi đây, Ysơraên sẽ bị hủy diệt; như chiếc bình vỡ nằm giữa các dân tộc khác. Vinh quang của Ysơraên sẽ bay đi như chim bay xa”.
Vì Ysơraên là tuyển dân của Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, cho nên Ôsê xem sự xây hướng sang các thần khác của họ là tội “ngoại tình thuộc linh”, chống nghịch lại Ngài: “Dân sự Ta cầu hỏi những tượng bằng gỗ, nhờ vào cây gậy phép của thầy bói để đoán trước sự việc cho họ; vì linh hồn của phường trụy lạc đã dẫn họ đi sai đường lạc lối, ăn chơi sa đọa, trụy lạc nên bị phân cách với Đức Chúa Trời”.
“Tất cả dân sự đều là những kẻ ngoại tình; giống như lò của người nướng bánh thường xuyên được đốt lửa cháy rực, ngoại trừ những khi ông ta nhào bột và chờ bột nở, thì những kẻ ngoại tình kia cũng thường xuyên bị lửa dâm dật hừng lên thiêu đốt như vậy. Dân sự Ta sống lẫn lộn với người ngoại giáo và đã nhiễm những thói hư tật xấu của họ; do đó dân sự trở thành những kẻ không ra gì, chẳng khác nào cái bánh nửa sống nửa chín”. Khi Ôsê rao giảng: “Thầy tế lễ nào dân sự nấy!” , ông đã thốt lên rằng: “Hỡi thầy tế lễ! Ngươi đừng chỉ tay vào người khác nữa. Ta đang chỉ tay vào ngươi đây!”
Hậu quả của việc thờ thần tượng khiến họ bị rơi vào chốn giam cầm: “Ysơraên đã bị nuốt.Bây giờ chúng nó ở giữa các dân, như khí mạnh chẳng ai ưa thích. Vì chúng nó đã lên Asyri, như con lừa rừng đi một mình; Épraim đã hối lộ cho những kẻ yêu nó”( 8:8-9). Số phận của Vương quốc phía Bắc là làm phu tù cho Asyri. Nó sẽ chẳng bao giờ được trở về quê hương để lập lại vương quốc. Những người sống sót sau cuộc chinh phục và lưu đày của Asyri bị tản lạc giữa vòng các dân ngoại trên toàn cầu.
Tình Yêu Thương Vô Điều Kiện Của Đức Chúa Trời
Dân Ysơraên phải bước vào cuộc sống lưu đày, tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn yêu thương họ và đem họ trở về, chính Ngài phục hồi đời sống thuộc linh cho họ: “Ta sẽ cưới ngươi cho Ta đời đời; Ta sẽ cưới ngươi cho Ta trong sự công bình và chánh trực, nhân từ và thương xót. Phải, Ta sẽ cưới ngươi cho Ta trong sự thành tín, và ngươi sẽ biết Đức Giêhôva” (2:19-20). Sự phục hưng thuộc linh nầy của Ysơraên là điều mà các tiên tri đã rao giảng nhưng chưa được ứng nghiệm. Chúng ta sẽ phải chờ đợi cho đến thì giờ cuối cùng để xem sự ứng nghiệm của lời tiên tri nầy.
Ôsê rao giảng tình yêu của Đức Chúa Trời một cách hùng hồn: “Vì Ta ưa sự kính mến của các ngươi chứ không ưa của lễ, ưa sự nhìn biết Ta hơn là ưa của lễ thiêu”. Để xây tấm lòng họ về đúng hướng với Đức Chúa Trời, Ôsê rao giảng như Giêrêmi từng rao giảng: “Hãy vỡ đất mới của chính tấm lòng ngươi, vì là kỳ tìm kiếm Đức Giêhôva, cho đến chừng nào Ngài đến và mưa sa công bình trên các ngươi… Vậy ngươi khá trở lại cùng Đức Chúa Trời ngươi, và luôn luôn trông đợi Đức Chúa Trời ngươi” (10:12, 12:7).
Ứng Dụng Cá Nhân
Mặc dầu chúng ta phải chờ lời tiên tri về sự phục hồi thuộc linh của dân Ysơraên được ứng nghiệm, nhưng chúng ta không cần phải chờ sự phục hồi thuộc linh của chính mình với Đức Chúa Trời đầy lòng yêu thương. Phân đoạn Kinh Thánh trong sách Ôsê mà tôi ưa thích chính là cách kết thúc thật tuyệt vời cho bài tóm tắt ngắn gọn về những lời rao truyền mà bạn vừa nghe từ tiên tri Ôsê: “Hãy đến, chúng ta hãy trở về cùng Đức Giêhôva;vì Ngài đã xé chúng ta, song Ngài sẽ chữa lành cho; Ngài đã đánh chúng ta, song sẽ buộc vết tích. Trong hai ngày, Ngài sẽ khiến chúng ta tỉnh lại; ngày thứ ba, Ngài sẽ dựng chúng ta dậy, chúng ta sẽ sống trước mặt Ngài. Chúng ta khá nhìn biết Đức Giêhôva; chúng ta khá gắng sức nhìn biết Ngài. Sự hiện ra của Ngài là chắc chắn như sự hiện ra của mặt trời sớm mai, Ngài sẽ đến cùng chúng ta như mưa, như mưa cuối mùa tưới đất” (6:1-3).
TIÊN TRI GIÔ-ÊN
Giô-ên là vị tiên tri thứ hai trong số mười hai Tiểu Tiên Tri. Sứ điệp của Giôên tập trung hướng về một thành ngữ mà ông và các vị Tiểu Tiên Tri thường dùng là: “Ngày của Đức Giêhôva”. Giôên cũng gọi tai vạ châu chấu kinh khiếp tàn phá Vương quốc phía Nam là “Ngày của Đức Giêhôva”. Trong khi ông gán cho tai vạ châu chấu cái tên “Ngày của Đức Giêhôva”, thì ông cũng liên hệ tai vạ nầy với sự cầm tù của người Babylôn đang đe dọa sắp xảy ra. Giống như các Đại Tiên Tri, Giôên nói tiên tri về sự giam cầm của người Babylôn xen lẫn với lời tiên tri về Sự Tái Lâm của Đấng Christ.
Nhiều người khá quen thuộc với Giôên vì ông có lời tiên tri đáng nhớ về Ngày Lễ Ngũ Tuần. Những người có mặt trong ngày khai sinh Hội Thánh hôm ấy đã thắc mắc: “Việc nầy nghĩa là sao? ” Phierơ liền bắt đầu bài giảng của mình trong Ngày Lễ Ngũ Tuần bằng lời giới thiệu: “Đây là điều mà đấng tiên tri Giôên đã nói” (Cong Cv 2:12, 16). Giôên từng rao giảng rằng Ngày của Đức Giêhôva dành cho bạn và tôi đã từng có trong quá khứ, hằng còn trong hiện tại và sẽ xảy ra trong tương lai của đời sống chúng ta.
Tai Vạ Châu Chấu
Sách Giôên ra mắt bằng sự mô tả Vương quốc phía Nam bị tàn phá bởi tai vạ châu chấu. Giôên rao giảng: “Cái gì sâu keo còn để lại, cào cào ăn; cái gì cào cào còn để lại, sâu lột vỏ ăn;cái gì sâu lột vỏ còn để lại, châu chấu ăn” (Gio Ge 1:4). Tai vạ châu chấu lan tràn khắp xứ, chúng lột trụi vỏ cây trên đất và chẳng để lại thứ gì sau sự hủy hoại.
Khi Giôên đề cập đến tai vạ châu chấu nầy là “Ngày của Đức Giêhôva” (1:15), ông đã thể hiện như thể ngày ấy đang diễn ra ở hiện tại vậy. Chính xác là Giôên muốn nói gì khi ông đề cập đến Ngày của Đức Giêhôva theo cách nầy? Khi chứng kiến tai ương khủng khiếp và biết là Đức Giêhôva cho phép xảy ra như vậy, ông muốn nói với chúng ta rằng Đức Chúa Trời tể trị ngay cả trên nghịch cảnh của chúng ta. Bởi sự tàn diệt kinh hoàng của nạn châu chấu có thể khiến dân sự nghĩ Đức Chúa Trời đã lìa bỏ họ, song Giôên tuyên bố là Đức Chúa Trời có hiện diện trong ngày ấy, nghĩa là rồi đây, trong ngày tai ương đó, “Ngày của Đức Giêhôva” có thể sẽ xảy ra vì cớ những người yêu kính Ngài và vì mục đích của Ngài (RoRm 8:18).
Sự Giam Cầm Của Người Babylôn
Một đàn châu chấu đông khủng khiếp, hoạt động chẳng khác nào đội quân đông đảo đang cùng nhau kéo đi hủy diệt tất cả mọi thứ chúng gặp trên đường tiến quân của mình. Giôên dùng hình ảnh sự tàn diệt hoàn toàn của “đội quân” châu chấu nhằm gây sự chú ý cho người Giuđa và sửa soạn họ; dân sự sắp phải nghe lời tiên tri về sự hủy diệt mà họ sẽ trải qua, đó là cuộc xâm lăng của đội quân Babylôn. Giôên viết: “Chúng nó (châu chấu ) chạy như những người bạo mạnh; trèo các vách thành như những lính chiến; mỗi người bước đi trước mặt mình, chẳng hề sai hàng ngũ mình. Chúng nó chẳng hề đụng chạm nhau, ai đi đường nấy; xông qua những khí giới mà chẳng bỏ đường mình. Chúng nó nhảy trên thành phố, chạy trên tường, trèo lên các nhà, vào bởi các cửa sổ như là kẻ trộm” (Gio Ge 2:7-9).
Ngày Lễ Ngũ Tuần
Sau khi Giôên tuyên bố ngày mà bầy châu chấu đông vô số kể kia xuất hiện chính là Ngày của Đức Giêhôva trong hiện tại, và ông cũng rao báo sự giam cầm của người Babylôn chính là Ngày của Đức Giêhôva trong tương lai, ông bắt đầu nói về một ngày khác nữa cũng là Ngày của Đức Giêhôva - Ngày Lễ Ngũ Tuần. Sau khi công bố lời tiên tri của Đức Chúa Trời, Giôên viết: “Sau đó, Ta sẽ đổ Thần Ta trên cả loài xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri; những người già cả các ngươi sẽ thấy chiêm bao, những kẻ trai trẻ các ngươi sẽ xem sự hiện thấy ” (2:28).
Lời tiên tri nầy ít nhất cũng đã được ứng nghiệm phần nào trong Ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:1-4). Chúng ta đọc thấy rằng Đức Thánh Linh đã giáng xuống trên những người đang nhóm lại thờ phượng Chúa trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Bấy giờ người ta thấy những lưỡi lửa tách ra đậu trên đầu các sứ đồ, và nghe họ nói một thứ tiếng mà chỉ có những người biết được nhiều thứ tiếng mới có thể hiểu được. Và khi nghe “có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào”, họ hỏi Phierơ: “Việc nầy nghĩa là thế nào? ”, ông đáp rằng: “Đó là điều mà đấng tiên tri Giôên đã nói” (2:16).
Sự Tái Lâm Của Đức Chúa Jêsus Christ
Xem xét kỹ chúng ta sẽ thấy qua lời tiên tri về Ngày Lễ Ngũ Tuần của Giôên, Đức Chúa Trời muốn cho chúng ta biết những gì sẽ xảy ra vào Ngày của Đức Giêhôva trong kỳ sau rốt, nhưng lại không xảy ra trong Ngày Lễ Ngũ Tuần: “Ta sẽ tỏ những sự lạ ra trong các từng trời và trên đất: tức là máu, lửa, và những trụ khói. Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giêhôva chưa đến. Bấy giờ ai cầu khẩn danh Đức Giêhôva thì sẽ được cứu; vì theo lời Đức Giêhôva, thì ở trên núi Siôn và trong Giêrusalem, sẽ có những người trốn khỏi, và trong những người còn sống sót, sẽ có kẻ mà Đức Giêhôva kêu gọi” (Gio Ge 2:30-32).
Rõ ràng Giôên nói tiên tri về Ngày Lễ Ngũ Tuần, và nếu bạn nghiên cứu thật kỹ lời tiên tri của ông, bạn sẽ thấy ông cũng đang nói tiên tri về các biến cố khác nữa, song chưa được ứng nghiệm trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Một học giả nghiên cứu về các Tiểu Tiên Tri viết rằng lời tiên tri nầy của Giôên đã được ứng nghiệm trong Ngày Lễ Ngũ Tuần và cũng sẽ được ứng nghiệm trong ngày Chúa Jêsus Christ Tái Lâm.
Như tất cả các tiên tri khác, khi những lời tiên tri của Giôên về các biến cố như cuộc xâm chiếm của người Babylôn hoặc biến cố trong Ngày Lễ Ngũ Tuần, thảy đều được ứng nghiệm từng chữ, chúng ta rất được khích lệ là những lời tiên tri ông nói về ngày Đấng Christ Tái Lâm quả thật cũng sẽ được ứng nghiệm.
Phierơ gọi Ngày của Đức Giêhôva trong tương lai là “Ngày Lớn Rất Kinh Khiếp”. Khi viết về ngày nầy, ông tập trung vào biến cố duy nhất trong những biến cố sẽ xảy ra vào ngày Đấng Christ tái lâm. Theo Phierơ, khi ngày ấy đến, thì “Các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả” (IIPhi 2Pr 3:1-18).
Ứng Dụng Cá Nhân
Giôên không chỉ rao giảng về ngày của Đức Giêhôva trong hiện tại và về ngày của Ngài trong tương lai. Ông còn khích lệ chúng ta là con dân Chúa hãy nói cho các hậu tự, con cái và các thế hệ tương lai của chúng ta biết về ngày của Đức Giêhôva (Gio Ge 1:2-3). Ông cũng khuyến khích chúng ta phải nhận biết rằng mỗi ngày của chúng ta trôi qua - trong quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ được xem như là ngày của Đức Giêhôva vậy. Khi nhớ lại những việc tốt lành mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta trong thời gian qua, thì chúng ta ắt sẽ thêm lòng tin cậy nơi Chúa trong hoàn cảnh hiện tại của mình (RoRm 8:28).
Tại sao Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết về Ngày Lớn đầy kinh khiếp của Ngài trong tương lai? Để chúng ta cần phải suy nghĩ về cách ăn nết ở của mình. Hãy lắng nghe sự ứng dụng cá nhân của Phierơ khi ông nói cho chúng ta biết về Ngày của Đức Giêhôva trong tương lai: “Vậy nên,hỡi kẻ rất yêu dấu, vì anh em trông đợi những sự đó, thì phải làm hết sức mình, hầu cho Chúa thấy anh em ở bình an, không dấu vít, chẳng chỗ trách được. Lại phải nhìn biết rằng sự nhịn nhục lâu dài của Chúa chúng ta cốt vì cứu chuộc anh em” (IIPhi 2Pr 3:14-15a). Khi hướng về Ngày của Chúa sắp đến, chúng ta sẽ thấy Giôên và tất cả các tiên tri đều đưa ra những ứng dụng cá nhân tương tự với ứng dụng mà Phierơ đã thách thức mọi môn đệ của Đấng Christ.
TIÊN TRI AMỐT
Amốt là người sống bằng nghề hái trái vả và chăn chiên, sống ở một thị trấn nhỏ tên là Thêcôa, cách Giêrusalem mười hai dặm về hướng Nam. Năm mươi năm trước khi Vương quốc phía Bắc bị Asyri bắt làm phu tù, Đức Chúa Trời kêu gọi ông từ Vương quốc phía Nam đi đến nói tiên tri nghịch cùng Vương quốc phía Bắc. Chúng ta được biết Amốt đã truyền giáo trong thời trị vì của vua Ôxia ở Vương quốc phía Nam, là thời kỳ thịnh vượng, hùng cường cả về quân đội lẫn kinh tế của dân Giuđa. Họ cho rằng chẳng có kẻ thù nào dám xuất hiện hoặc bén mảng tới đe dọa họ. Thế nhưng lời tiên tri Amốt lại nghịch cùng dân Giuđa ngay trong thời kỳ phồn thịnh nầy, cũng giống như ở Vương quốc phía Bắc của Ysơraên.
Sự Phán Xét Của Đức Chúa Trời Sắp Đến
Amốt bắt đầu nói tiên tri bằng những lời mà các công dân Vương quốc phía Nam rất muốn nghe - ông bảo với họ rằng Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ thù nghịch họ (AmAm 1:3-2:3). Khi ông gọi đích danh các dân tộc thù nghịch đó và báo trước sự phán xét sẽ giáng trên họ, thì những người đang nghe ông rao giảng sứ điệp ấy rất hài lòng - Ắt hẳn họ thích nghe về cách Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt những kẻ mà họ thù ghét. Thế rồi một lần nọ, khi họ đang bị các bài giảng của Amốt thu hút, thì ông báo cho họ một tin xấu: Giuđa và Ysơraên cũng sẽ bị đoán xét (2:4-8). Ông cáo trách Giuđa đã chối bỏ luật pháp của Đức Giêhôva và không tuân giữ các mạng lịnh Ngài. Ông cũng lên án Ysơraên về sự tham lam, vô đạo đức với một xã hội đầy dẫy bất công làm ô danh Đức Giêhôva.
Amốt tiếp tục nói tiên tri nghịch cùng Ysơraên bằng việc tiên đoán họ sẽ bị Asyri giam cầm: “Người lẹ làng sẽ không thể trốn được; người mạnh mẽ sẽ không bổ sức cho mình nữa, và người bạo dạn sẽ chẳng cứu được mạng sống mình. Kẻ giương cung sẽ chẳng đứng vững được; kẻ có chân lẹ làng sẽ chẳng lánh khỏi được; người cỡi ngựa sẽ không thể cứu mình; và kẻ bạo gan trong những người mạnh mẽ sẽ ở trần mà trốn trong ngày đó, Đức Giêhôva phán vậy” (2:14-16).
Vương quốc phía Bắc đã cười nhạo, chế giễu khi nghe sứ điệp nầy, vì họ đang sống trong thời thịnh trị, với đội quân tinh nhuệ xuất sắc như Amốt mô tả sơ lược trong bài giảng nầy. Thế nhưng, trong vòng năm mươi năm sau đó, Vương quốc phía Bắc của Ysơraên đã bị quân đội Asyri đánh bại và tất cả dân chúng đều bị bắt làm phu tù.
Đức Chúa Trời muốn ngăn chặn đạo quân Asyri bằng cách ban cho Ysơraên nhiều cơ hội ăn năn (4:6-13). Ngài khiến họ bị đói kém, hạn hán, Ngài sai gió nóng thổi lên và cho phép ôn dịch sâu lúa tràn lan, dầu vậy, như Ngài đã nói về họ qua tiên tri nầy: “…các ngươi vẫn không trở lại cùng Ta!” (4:8-11). Bởi vì Ysơraên không lưu tâm đến lời kêu gọi ăn năn của Đức Chúa Trời, nên Amốt công bố sự đoán phạt, sự đoán phạt nầy có thể là vĩnh cửu - Ysơraên sẽ không bao giờ được trở về xứ mà họ từng bị quân Asyri bắt đi lưu đày.
Amốt báo trước sự đoán phạt của Đức Chúa Trời qua sự rao giảng về năm khải tượng mà Ngài tỏ cho ông. Sự đoán phạt nầy được phác họa trong hai khải tượng đầu, một khải tượng được mô tả là tai họa cào cào và khải tượng kia là ngọn lửa thiêu đốt đã được dập tắt khi Amốt nài xin sự thương xót của Đức Chúa Trời (7:1-6). Khải tượng thứ ba là một dây thước đo chuẩn mực dùng để đo đường thẳng của bức tường, cho thấy lý do tại sao Đức Chúa Trời nổi giận - dân sự Ngài thiếu sự “ngay thẳng”, không tuân theo các mạng lịnh Ngài, họ là những người “quanh co”, hay chối bỏ luật lệ của Ngài và chọc giận Ngài.
Khải tượng thứ tư là một giỏ trái cây chín muồi, cho thấy sự đoán phạt theo dự định đã quá kỳ hạn, và sự đoán phạt của Đức Chúa Trời nghịch cùng họ được tiên đoán trong khải tượng thứ năm. Ngài đứng ngay tại bàn thờ và phán rằng: “Ta thấy Chúa đứng gần bàn thờ và phán rằng:Hãy đánh các đầu cột, hầu cho những ngạch cửa bị rúng động; hãy đập bể ra trên đầu hết thảy chúng nó! Kẻ nào sót lại trong chúng nó thì Ta sẽ giết bằng gươm, không một người nào trốn được, không một người nào lánh khỏi” (9:1). Trong khải tượng nầy, Đức Chúa Trời cho thấy sự đoán phạt của Ngài giáng trên Ysơraên đã đến kỳ cuối cùng. Không ai có thể thoát được, và không kẻ nào có thể được miễn xá cả. Vả lại, sự trừng phạt của Đức Chúa Trời sắp xảy đến.
Đời Sống Thuộc Linh Thuận Lợi, Trách Nhiệm Càng Gia Tăng
Amốt không cho rằng Giuđa hoặc Ysơraên sẽ thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên họ. Thay vào đó, ông cho biết là họ phải chịu sự phán xét thậm chí còn nghiêm khắc hơn các dân tộc ngoại giáo. Tội lỗi của họ càng nghiêm trọng hơn, bởi vì họ có điều kiện thuộc linh thuận lợi, cùng với kiến thức về Lời Đức Chúa Trời, tuy nhiên, họ lại không tuân giữ các luật thánh và mạng lịnh Ngài. Theo Amốt, trách nhiệm thuộc linh được tính tỷ lệ thuận với điều kiện thuận lợi trong đời sống thuộc linh, và điều kiện thuộc linh thuận lợi sẽ tác động mạnh mẽ trên cách sống chúng ta.
Làm theo điều chúng ta biết còn quan trọng hơn nhiều so với điều chúng ta biết. Chúng ta cần được nhắc nhở rằng sống theo sự hiểu biết còn quan trọng hơn là tích lũy thêm sự hiểu biết. Trong khi người thế gian luôn cho rằng chỉ có sự hiểu biết mới có đạo đức, thì các tiên tri lại rao giảng là khi ứng dụng sự hiểu biết cách khôn ngoan thì mới khiến cho con người có đạo đức.
Lời Hứa về Sự Phục Hưng
Giống như các nhà tiên tri khác, Amốt rao giảng về sự phục hưng cuối cùng của dân Ysơraên: “Trong ngày đó, Ta sẽ dựng lại nhà tạm của Đavít, là nhà đã đổ, và tu bổ lại những chỗ rách nát của nó. Ta sẽ dựng lại những nơi đổ nát và xây nó lại như ngày xưa; đến nỗi chúng nó sẽ thâu được những dân sót của Êđôm và hết thảy các nước được xưng bởi danh Ta, Đức Giêhôva là Đấng làm trọn mọi điều ấy phán vậy” (9:11-12).
Lời tiên tri nầy nói dân Ysơraên sẽ quay trở về thờ phượng Đức Chúa Trời. Sự phục hưng thuộc linh nầy chưa xảy ra. Chúng ta thấy người Do Thái sau khi bị tản lạc khắp đất, nay đã trở về, chính quyền Ysơraên đã được lập lại, nhưng cuộc phục hưng thuộc linh của họ hiện nay chưa được ứng nghiệm.
TIÊN TRI ÁP-ĐIA
“Nầy Ta đã khiến ngươi làm nhỏ giữa các nước. Ngươi bị khinh dể lắm. Hỡi ngươi là kẻ ởtrong khe vầng đá, trong nơi cao, ngươi nói trong lòng mình rằng: Ai sẽ có thể xô ta xuống đất?Sự kiêu ngạo của lòng ngươi đã lừa dối ngươi. Dầu ngươi lên cao như chim ưng, dầu ngươi lót ổ giữa các ngôi sao, Ta cũng sẽ xô ngươi xuống khỏi đó, Đức Giêhôva phán vậy!” (ApOv 1:2-4).
Sách tiên tri Ápđia bắt đầu như vậy. Ápđia đang muốn nói điều gì khi ông đề cập đến những con người kiêu ngạo, sống trong những nơi cao, bốn bề vách đá và nghĩ rằng không ai có thể xô họ ngã xuống khỏi sào huyệt của mình được. Có một số người nói sách nầy cảnh cáo những ai đang sống ở thế kỷ hai mươi mốt hiện nay nhưng lại muốn đi thám hiểm, khám phá sự sống trên các hành tinh khác. Những thế hệ trước đây, các câu Kinh Thánh nầy được hiểu và áp dụng như là Đức Chúa Trời không muốn chúng ta sống trong những tòa nhà cao tầng. Trong thế kỷ hai mươi mốt, một số người giải thích câu nầy theo nghĩa: “Nếu chúng ta lên mặt kiêu ngạo về khoa học kỹ thuật, cố tình lên sống trên các hành tinh khác trong không gian, thì Đức Chúa Trời sẽ đánh hạ và xô chúng ta xuống đất trở lại”.
Ápđia không viết về những tòa nhà cao tầng hoặc ngoài không gian. Ông đang nóng cháy bởi cơn giận thánh, và gởi sách ngắn nhất trong các sách tiên tri nầy tới một dân tộc thù địch, thường làm những việc khủng khiếp, tồi tệ chống lại dân Giuđa khi Giêrusalem bị sụp đổ dưới tay người Babylôn.
Êđôm Bị Đoán Phạt
Đức Chúa Trời phán truyền qua Ápđia rằng Ngài sẽ đoán phạt một dân tộc có tên là “Êđôm”. Dân tộc nầy từng sống ở một nơi nổi tiếng mà ngày nay bạn có thể đến thăm là “Thành phố hoa hồng đỏ của Petra” nằm ở xứ Giôđanh. Những vách đá đỏ, cùng với khoảng không gian rộng lớn được dựng bởi hai vách đá ở hai bên cao chừng 700 feet (213m) khiến cho bạn có cảm giác như đang cỡi trên lưng ngựa đi vào một hẻm núi lớn. Khoảng không gian nầy xưa kia là thành phố, nơi cư trú của dân tộc mà Ápđia đang đề cập.
Dân nầy thường bất ngờ tấn công và cướp bóc các thành phố thù địch, hoặc những đoàn lái buôn giàu có, sau đó họ sẽ leo lên những chiếc thang dây rồi trốn vào các khe đá trên cao, là nơi trú ẩn của họ, tránh xa sự truy đuổi của kẻ thù. Với nơi ẩn núp nầy, họ tưởng rằng mình sẽ được an toàn. Đó là lý do tại sao Ápđia viết: “Hỡi ngươi là kẻ ở trong khe vầng đá, trong nơi cao, ngươi nói trong lòng mình rằng: Ai sẽ có thể xô ta xuống đất? Sự kiêu ngạo của lòng ngươi đã lừa dối ngươi” (3).
Dân tộc nầy chính xác là ai? Họ là những hậu duệ của Êsau - anh của Giacốp. Sách Sáng thế ký cho chúng ta biết Giacốp và Êsau là hai anh em sinh đôi, nhưng họ có nguyên tắc và cách sống khác hẳn nhau. Trong khi Giacốp là người ranh mãnh nhưng thuộc linh, còn Êsau vừa là người trần tục lại không tin kính, mẫu người mà ngày nay chúng ta gọi là “người đời”. Hình ảnh nầy được phác họa đầy ngụ ý trong sách Sáng thế ký, khi Êsau bán quyền trưởng nam cho Giacốp chỉ để lấy một tô canh.
Trong khi hậu duệ của Giacốp mang tên ông (Ysơraên) và trở thành dân Do Thái, thì Êsau là tổ phụ của dân Êđôm, kẻ thù lâu đời của dân Do Thái. Dân Êđôm rất căm ghét và thường xuyên tìm cơ hội liên minh với các dân tộc khác hòng tiêu diệt dân Do Thái.
Ápđia viết lời tiên tri rất ngắn, tiên đoán về sự sụp đổ của Êđôm, một sự sụp đổ được xem như là hậu quả trực tiếp do họ thù ghét và ngược đãi người Do Thái. Ápđia đưa ra tám lời buộc tội rất cụ thể nghịch cùng Êđôm. Chúng ta nghe tám lần ông buộc tội: “Ngươi chớ!” (có nghĩa là dân Êđôm thật sự đã làm những điều nầy).
“Ôi!Chớ nhìn xem ngày của anh em ngươi, là ngày tai nạn của nó; chớ vui mừng trong ngày hủy diệt của con cái Giuđa; cũng đừng nói cách khoe khoang trong ngày nó bị khốn khổ. Chớ vào cửa thành dân Ta, đang ngày nó bị họa; chớ nhìn xem tai nạn nó, đang ngày nó bị khốn khó! Chớ vồ lấy của cải nó, đang ngày nó bị họa hoạn. Chớ đứng nơi ngã ba đường đặng diệt những kẻ trốn tránh của nó, và chớ nộp những kẻ sống sót sau cùng của nó trong ngày nguy nan, vì ngày của Đức Giêhôva đã gần trên hết thảy các nước” (12-15a).
Nhiều học giả cho rằng Ápđia lên án Êđôm về cách cư xử của họ trong thời kỳ Giêrusalem bị sụp đổ dưới triều vua Sêđêkia. Khi thành phố bị san bằng thành bình địa và dân Giuđa người thì bị tàn sát, kẻ thì bị lưu đày sang Babylôn. Dân Êđôm đã giúp đỡ quân Babylôn trong thời gian chúng vây hãm Giêrusalem, và họ còn hùa theo tham gia cướp phá thành phố. Khi dân Do Thái chạy trốn khỏi tai ách gươm đao nầy, thì dân Êđôm đuổi theo bắt giữ, rồi đem nộp cho quân Babylôn.
Từ sự lên án dân Êđôm, Ápđia quay trở lại cùng với các tiên tri khác rao giảng về Ngày của Đức Giêhôva. Ông nói cùng dân Êđôm: “Vì ngày của Đức Giêhôva đã gần trên hết thảy các nước:Bấy giờ người Ta sẽ làm cho ngươi như chính mình ngươi đã làm, những việc làm của ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi!” (15). Ngày ông tiên đoán được ứng nghiệm, dân tộc Êđôm sẽ bị tuyệt diệt hoàn toàn. Thậm chí ông còn tiên đoán chính xác cả những phương cách mà Đức Chúa Trời sẽ dùng để hủy diệt họ. Các nước đồng minh sẽ quay lại chống nghịch họ, và đất nước Êđôm sẽ không còn sót lại gì: “Nhà Giacốp sẽ là lửa, và nhà Giôsép sẽ là ngọn lửa; nhà Êsau sẽ là đống rơm,mà chúng nó sẽ đốt và thiêu đi. Nhà Êsau sẽ không còn sót chi hết; vì Đức Giêhôva đã phán vậy” (18). Lời tiên tri nầy đã được ứng nghiệm theo nghĩa đen đến từng chữ. Nước Êđôm hoàn toàn biến mất khỏi trang lịch sử nhân loại, khi nó bị người La mã tiêu diệt hoàn toàn vào năm 70 SC.
Ứng Dụng Cá Nhân
Xuyên suốt Kinh Thánh, chúng ta thấy người có đời sống tin kính luôn tương phản với người vô tín (Thi Tv 1:1-8, Mat Mt 7:13-27, ICo1Cr 2:14-16). Nếu chúng ta quen thuộc với câu chuyện Giacốp và Êsau trong sách Sáng thế ký, và qua lời diễn giải của Sứ đồ Phaolô, thì chúng ta sẽ không khó khăn gì để nhận ra rằng lời tiên tri ngắn ngủi nầy của Ápđia còn phản chiếu cho chúng ta thấy hình ảnh về đời sống của một người thuộc linh, người xác thịt, và người tự nhiên (SaSt 25:29-34, 27:1-46, RoRm 9:10-11). Cuộc đời Giacốp là tấm gương của một người thuộc linh bởi vì ông luôn sốt sắng, hết lòng tìm cầu Đức Chúa Trời và các giá trị thuộc linh cùng các ơn phước từ Ngài.
Chúng ta nhận được bài học trong Sáng thế ký qua sự kiện Giacốp “vật lộn” cùng Đức Chúa Trời, tên ông được đổi thành Ysơraên: “Người lại nói: tên ngươi sẽ chẳng là Giacốp nữa, nhưng tên là Ysơraên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng” (SaSt 32:28). Bên cạnh đó, Êsau là hình ảnh về người tự nhiên, xác thịt. Qua việc bán quyền trưởng nam của mình (quyền thừa kế của người con trai trưởng) để lấy một tô canh, Êsau cho chúng ta thấy ông là người thiếu chín chắn, sai lầm trong việc chọn lấy quyền ưu tiên thuộc linh cho mình. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nguyên tắc và lối sống của “Êsau” đã dẫn đến “Êđôm” - một dân tộc luôn thù địch, chống nghịch lại những người sống theo mục đích và giá trị thuộc linh của Đức Chúa trời.
Chúng ta được biết Giacốp và Êsau lần đầu khi họ còn nằm trong bụng mẹ, bà Rêbeca. Theo nghĩa bóng, có một sự liên hệ cá nhân trong vấn đề nầy, đó là bản tánh của Êsau và Gia cốp đều tồn tại trong mỗi người chúng ta ngày nay.
Phaolô phác họa hai bản tánh nầy thật rõ nét trong thư tín gởi cho người Galati. Ông viết rằng Đức Thánh Linh và xác thịt luôn tranh chiến vì hai bên trái nghịch nhau. Khi Phaolô dùng từ “xác thịt”, ý ông muốn nói đến “bản chất con người tự nhiên của chúng ta, không có sự nhờ cậy Đức Chúa Trời”. Đức Thánh Linh ban cho chúng ta năng lực để trở nên thuộc linh như Giacốp, khi Đức Thánh Linh ngự vào đời sống chúng ta thì bản chất con người xác thịt, tự nhiên của chúng ta sẽ bị đánh bật ra. Ngài là Đấng có quyền khiến chúng ta trở nên thuộc linh là yếu tố được thêm vào bản tính xác thịt vốn có của chúng ta. Điều nầy đưa đến cho chúng ta hai bản chất vừa đề cập ở trên (Giacốp và Êsau). Lời tiên tri mạnh mẽ của Ápđia thách thức chúng ta câu hỏi nầy: Chúng ta sẽ nuôi dưỡng bản chất nào?
TIÊN TRI GIÔNA
Sách Giôna kể cho chúng ta về một nhà tiên tri được Đức Chúa Trời kêu gọi để rao giảng về sự ăn năn và cứu rỗi cho kẻ thù của ông. Ông hiểu rõ bản tính của Đức Chúa Trời, nếu ông đáp lại sự kêu gọi của Ngài thì kẻ thù sẽ được cứu. Chính sự hiểu biết về tình yêu thương vô điều kiện của Đức Chúa Trời khiến ông quyết định không đến thành Ninive, và vì không muốn đến đó nên ông cũng không đến cùng Đức Chúa Trời. Thay vào đó, ông cố tình lánh mặt Ngài và lên tàu không chỉ đi về hướng ngược lại mà còn đến một hải cảng thật xa, cũng như những người cùng thời với ông, khi muốn rời xa khỏi thành Ninive thì họ cũng sẽ đi theo hướng đó (Gion Gn 1:3, 4:2-3).
Thành Ninive là thủ phủ của kẻ thù tàn ác nhất của dân Do Thái cổ đại. Sự tàn bạo của Asyri trong lịch sử cổ đại không gì ví sánh bằng. Giôna hoặc các thành viên trong gia đình ông có thể là nạn nhân của sự hung ác nầy. Có lẽ ông có nhiều lý do rất hợp lý để nói lên lòng căm thù của mình với những người đang sống trong thành Ninive. Để có cái nhìn dưới góc độ lịch sử, chúng ta hãy hình dung Đức Chúa Trời giao phó nhiệm mạng cho một người Do Thái vào đầu thập niên 1940. Hãy đi đến Berlin của Đức, nơi mà cái chết của từng người Do Thái đang chực chờ sẵn để rao giảng sự đoán phạt của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên thành phố đó, nếu như dân thành ấy không chịu ăn năn tội lỗi mình. Vậy liệu người Do Thái kia có trốn chạy khỏi trách nhiệm được giao hay không?
Giôna Không Đi Và Cũng Không Đến (Chương 1)
Các nhà tiên tri trong Cựu ước và hết thảy những người tin kính thường có một điểm chung trong sự tương giao với Đức Chúa Trời. Tôi đã đề cập cách thức nầy khi chúng ta tìm hiểu chức vụ của tiên tri Êsai. Họ có nhiều kinh nghiệm thật ý nghĩa khi đến với Đức Chúa Trời, và cũng có kinh nghiệm kết quả khi ra đi cho Ngài. Câu chuyện về Đức Chúa Trời của Giôna cho chúng ta thấy cách thức nầy hoàn toàn đảo ngược.
Trong chương đầu của tiên tri Giôna ngắn ngủi này, chúng ta thấy Đức Chúa Trời sai Giôna đến thành Ninive, song ông từ chối, và khi đã quyết định dứt khoát không đi Ninive, ông cho chúng ta thấy ông tin vào hai phương diện đến cùng Đức Chúa Trời và ra đi cho Ngài. Giôna biết điều đó bởi vì ông kinh nghiệm sâu sắc về sự đến cùng Đức Chúa Trời để nhận nhiệm vụ đi đến thành Ninive. Vì ông không thể, hoặc không muốn làm điều đó, nên ông quyết định không đi đến thành Ninive. Và để quyết định dứt khoát, ông cũng không đến với Chúa.
Vì Giôna cố tình trốn khỏi Đức Chúa Trời, nên khi lên tàu, ông nằm dưới lòng tàu và ngủ mê (1:5). Chúng ta thấy Đức Giêhôva khiến nổi lên một cơn bão thật khủng khiếp, suýt đánh chìm tàu. Trong khi các thủy thủ trên tàu kinh hãi, kêu cầu các thần của họ thì Giôna vẫn cứ ngủ, vẫn cố sức lẫn tránh những nan đề của mình bằng cách chìm vào trong giấc ngủ. Giôna cố tình lánh khỏi Ninive, lánh mặt Đức Chúa Trời và trốn tránh các nan đề của mình.
Khi chủ tàu chất vấn Giôna tại sao ông vẫn ngủ giữa lúc bão tố như thế, Giôna thừa nhận rằng Đức Chúa Trời của ông là Đấng sáng tạo biển cả, và Ngài đang nổi giận với ông. Ngài sai cơn bão tới vì Ngài giao phó trọng trách cho ông hãy đi đến Ninive nhưng ông đã từ chối (1:9-10). Giôna còn bảo với người chủ tàu rằng chỉ có một cách làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời là ném ông xuống biển, cuối cùng các thủy thủ miễn cưỡng làm theo như vậy (1:15). Ngay tức khắc, biển đang gầm thét liền trở nên yên lặng.
Sự việc biển trở nên yên lặng khiến cho các thủy thủ ngoại đạo trên tàu tin nhận Chúa. Ngay cả khi Giôna trốn chạy, lánh mặt Đức Chúa Trời và lẫn tránh công việc Ngài giao phó, thì Ngài vẫn dùng ông để đem niềm tin đến cho các thủy thủ trên tàu. Chúng ta hãy đọc trong 1:16: “Vì vậy mà những người ấy rất kính sợ Đức Giêhôva. Họ dâng của lễ cho Đức Giêhôva, và hứa nguyện cùng Ngài”. Chúng ta thấy Đức Chúa Trời cũng chuẩn bị sẵn một con cá lớn đặng nuốt Giôna. Ông nằm trong bụng cá suốt ba ngày đêm. Giôna không hề bảo con cá lớn nầy là cá voi. Con cá lớn nầy chính là sự sắm sẵn lạ lùng của Đức Chúa Trời, được Ngài chuẩn bị một cách siêu nhiên cho vị tiên tri có tâm tính nổi loạn nầy.
Giôna Đến Cùng Đức Chúa Trời (Chương 2)
Sách Giôna cho chúng ta một nhận thức rằng ngay cả Đức Chúa Trời cũng không bao giờ ép buộc chúng ta phải làm bất cứ việc gì - Ngài để cho chúng ta có ý chí tự do trong những quyết định trước mắt - Ngài sẽ chiều theo ý chúng ta theo như hoàn cảnh của chúng ta, cho đến khi chúng ta nhận biết rằng chỉ ý muốn của Đức Chúa Trời là điều hợp lý và chúng ta cần phải thực hiện. Bạn có thể viết đè lên trên chương một của tiên tri nầy những từ: “Tôi sẽ không!” Nhưng bạn có thể viết đè lên trên chương hai những từ: “Tôi sẽ!”
Phải mất ba ngày trong bụng cá, Giôna mới ăn năn về việc tránh né lời kêu gọi của Đức Chúa Trời. Ăn năn có nghĩa là “nghĩ lại” hoặc “có sự thay đổi trong tâm trí, tấm lòng, ý muốn và hướng đi”. Điểm quan trọng của chương hai là Giôna ăn năn trong bụng cá. Giôna đã cầu nguyện trong bụng cá. Ông nhớ lại từng Lời Kinh Thánh mà ông có thể nhớ được trong nơi khủng khiếp nầy. Trong lời cầu nguyện của mình, ông trích dẫn hoặc đề cập đến hơn sáu mươi câu Kinh Thánh từ sách Gióp, Ca thương, ISamuên, Giêrêmi, ICácvua, và nhiều câu trong Thi thiên. Điều nầy có nghĩa là tâm trí ông chứa đầy Lời Đức Chúa Trời, và ông đang hát lên những bài Thánh ca mà ông có thể nhớ được giữa lúc ông đang ở trong bụng cá.
Điều quan trọng của lời cầu nguyện dựa trên nền tảng Kinh Thánh nầy là sự ăn năn của Giôna. Ông đi từ câu “Tôi sẽ không” đến câu “Tôi sẽ” ba lần. Ông thưa với Đức Chúa Trời: “Tôi sẽ lại còn nhìn lên Đền Thánh của Ngài” (2:5b), “Tôi sẽ dùng tiếng cảm tạ mà dâng của lễ cho Ngài” (2:10a), và “Tôi sẽ trả sự tôi đã hứa nguyện” (2:10b). Kết quả ăn năn của Giôna là: “Đức Giêhôva bèn phán cùng con cá, và nó mửa Giôna ra trên đất khô” (2:11).
Giôna Ra Đi Cho Đức Chúa Trời (Chương 3)
Bước vào chương ba, chúng ta đọc: “Lại có lời Đức Giêhôva phán cùng Giôna lần thứ hai mà rằng” (3:1). Bên cạnh sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời, Giôna còn nghe cả lời kêu gọi lần thứ hai của Ngài - lời kêu gọi giống như lần trước: “Ngươi khá chờ dậy! Hãy đi đến thành lớn Ninive, và rao cho nó lời Ta đã dạy cho ngươi (3:2).
Lần nầy, thay vì trốn chạy, Giôna đã vâng theo tiếng gọi và đi đến thành Ninive. Ông lớn tiếng rao giảng sứ điệp đoán phạt của Đức Chúa Trời rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ninive sẽ bị đổ xuống!” (3:4b). Hết thảy cả thành - ngay cả nhà vua - đều ăn năn quy đạo và tin nhận Đức Chúa Trời (3:6). Bởi vì cả thành đều hối cải, xưng nhận tội lỗi mình cho nên “Đức Chúa Trời bèn ăn năn sự họa mà Ngài đã phán sẽ làm cho họ, và Ngài không làm sự đó” (3:10b). Cuối cùng, khi Giôna nói “Tôi sẽ”, thì kết quả là một chiến dịch truyền giảng Tin Lành lớn nhất trong lịch sử của Đức Chúa Trời và loài người.
Giôna Đến Và Ra Đi Cho Đức Chúa Trời (Chương 4)
Trọng tâm sứ điệp của sách Giôna nằm trong chương cuối. Nội dung phần nầy cho chúng ta thấy cách Giôna đáp lại sự ăn năn của dân thành Ninive ra sao. Chúng ta nghĩ rằng Giôna là một tiên tri của Đức Chúa Trời thì chắc ông sẽ hết sức vui mừng khi thấy toàn bộ thành Ninive đều trở lại tin nhận Ngài. Thế nhưng, ông lại không vui. Thực tế lúc ấy ông rất giận dữ, ông chỉ muốn chết còn hơn là nhìn thấy Đức Chúa Trời cứu vớt thành Ninive - và ông đã nói thẳng điều đó với Ngài! Thay vì ngợi khen Đức Chúa Trời, ông lại thưa với Ngài: “Hỡi Đức Giêhôva, tôi cầu xin Ngài, ấy há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao? Vì đó nên tôi lật đật trốn qua Tarêsi vậy. Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, và đổi ý không xuống tai vạ. Hỡi Đức Giêhôva, vậy bây giờ, tôi nài xin Ngài hãy cất sự sống tôi; vì về phần tôi, chết còn hơn sống!” (4:2-3). Nói cách khác: “Tôi chỉ muốn chết còn hơn là nhìn thấy Chúa cứu những người nầy!”
Nhà Tiên Tri Có Thành Kiến
Có điều gì đó bất ổn với Giôna chăng? Lời giải đáp cho câu hỏi nầy là vì Giôna ghét dân thành Ninive và có thành kiến với họ, nên ông không thể đáp lại bằng sự ngợi khen Đức Chúa Trời về phép lạ mà ông đã thấy tại kinh đô của đế quốc Asyri. Ông từng thú nhận thành kiến nầy của mình ngay từ đầu chương bốn. Ông lẫn tránh Đức Chúa Trời và công việc được giao, vì ông biết Ngài là Đấng yêu thương, nên Ngài sẽ cứu thành Ninive nếu như ông vâng lời Ngài đi đến đó rao giảng.
Đáp lại sự giận dữ của Giôna, Đức Chúa Trời đã dạy cho ông một bài học rất thực tế. Trong khi ông chỉ muốn thỏa mãn tâm trạng của mình, và đang giận dỗi vì Đức Chúa Trời cứu kẻ thù nghịch của ông, thì ông dựng lên một căn chòi nhỏ trên một ngọn đồi để quan sát thành Ninive. Ông vẫn tin, hoặc ít nhất là có một tia hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt thành phố gian ác nầy. Mặt trời nóng rực lên như đang thiêu đốt Giôna. Ngay lúc ấy, Đức Chúa Trời khiến mọc lên một dây leo có lá to phủ lên mái chòi, che cho Giôna khỏi bị nắng nóng. Ông cảm thấy dễ chịu và hài lòng lắm. Nhưng sau đó, Chúa sai một con sâu đến ăn rễ cây làm cho cây chết và lá bị héo, ngay lập tức, Giôna lại nổi giận.
Đức Chúa Trời bèn phán cùng ông: “Ngươi đoái tiếc một dây mà ngươi chưa hề khó nhọc vì nó, ngươi không làm cho nó mọc, một đêm thấy nó sanh ra và một đêm thấy nó chết. Còn Ta,há không đoái tiếc thành lớn Ninive, trong đó có hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả, lại với một số thú vật rất nhiều hay sao? ” (4:10-11). Các học giả cho rằng những người mà Đức Chúa Trời đề cập trong câu nầy là những con trẻ thành Ninive, chúng chưa đến tuổi để chịu trách nhiệm về hành động của mình. Lẽ thật quan trọng ở đây là Đức Chúa Trời đang dạy cho vị tiên tri vốn có thành kiến về những giá trị và thứ tự ưu tiên.
Sự Ngăn Trở
Có lẽ bạn còn nhớ cách tôi đến với những vị tiên tri nầy, tôi đã từng chia sẻ với bạn rằng một trong những chức năng của nhà tiên tri là tháo gỡ những chướng ngại đang ngăn trở công việc Đức Chúa Trời trên đất. Trong sách Giôna, vấn đề trở ngại đang ngăn trở công việc lạ lùng mà Đức Chúa Trời muốn thực hiện tại Ninive chính là sự thành kiến của tiên tri Giôna.
Như chúng ta đã học được từ tiên tri Ôsê rằng tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu vô điều kiện, không dựa trên tình trạng tích cực hay tiêu cực của người được yêu. Nếu Đức Chúa Trời yêu thương một dân tộc, song nhà tiên tri lại ghét dân tộc ấy, thì thử hỏi làm sao Ngài có thể dùng tiên tri đó rao báo tình yêu của Ngài cho họ được?
Ứng Dụng Cá Nhân
Bạn có nhìn thấy chính mình trong câu chuyện nầy không? Bạn có đang trốn chạy khỏi sự kêu gọi mà Đức Chúa Trời đặt trên đời sống bạn không? Đức Chúa Trời đã cho xảy ra điều gì để bạn bằng lòng vâng theo Lời Ngài? Hãy học tập từ cuộc đời của tiên tri Giôna - vị tiên tri không muốn đi đến thành Ninive và cũng không muốn đến cùng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thường dùng hoàn cảnh để dẫn chúng ta vào trong ý muốn của Ngài vì cớ cuộc sống chúng ta, mặc dầu đôi khi chúng ta không sẵn lòng bước theo Ngài. Hãy quan sát sách tiên tri ngắn ngủi nầy đáp ứng bài học về sự dự phòng của Đức Chúa Trời: Đức Giêhôva khiến xảy ra cơn bão lớn, Ngài sắm sẵn con cá khổng lồ, cho mọc lên một dây leo và cũng sai con sâu đến. Bạn có nhìn thấy ý muốn của Đức Chúa Trời đang hành động trong mọi hoàn cảnh của đời sống bạn không?
Khía cạnh sống động nhất của tiểu tiên tri có tác động mạnh mẽ tập trung ở chỗ khi chúng ta biết chính Giôna là người viết cuốn sách nầy, cuốn sách rất trung thực khi nói về ông như là một người dại dột. Giôna đang viết chương quan trọng về cuộc đời và chức vụ của mình là một tiên tri của Đức Chúa Trời. Ông đang nói với chúng ta một cách khiêm tốn, việc ông đã học tập được gì ở thành Ninive về tình yêu vô điều kiện của Đức Chúa Trời dành cho những kẻ tội lỗi, gian ác - và thành kiến trong lòng ông đã ngăn trở việc bày tỏ tình yêu ấy ra sao.
Giôna đang chia sẻ về sự ăn năn thật của một tiên tri chân thật trong quyển sách ngắn ngủi mang tên ông. Về cơ bản, ông thú nhận: “Tôi không có tình yêu thương thật khi đến thành Ninive, nhưng Đức Chúa Trời có, và Ngài ở với tôi. Tôi không thể nào yêu được những người độc ác ở Ninive, nhưng Đức Chúa Trời yêu họ, và Ngài ở với tôi. Tôi không thể yêu thương dân thành Ninive, nhưng Đức Chúa Trời yêu thương họ qua tôi, bởi vì Ngài ở với tôi ”.
Có phải Đức Chúa Trời muốn qua bạn để yêu những tội nhân là những người vô thần, sống không có tình yêu thương, nhưng sự thành kiến và lòng ghen ghét của bạn với họ đã ngăn trở tình yêu và sự cứu rỗi mà Ngài muốn chia sẻ với họ không? Bạn có thể nhìn thấy chính mình trong lời xưng tội thành thật và thẳng thắn của một tiên tri rất đỗi có thành kiến không?
TIÊN TRI MICHÊ
Sách Michê ký thuật ba bài giảng lớn của tiên tri Michê. Ông sinh ra và lớn lên tại một thôn trang, nhưng ông được Đức Chúa Trời kêu gọi rao giảng tại thủ đô Samari và Giêrusalem, ông công bố Lời Đức Chúa Trời cho các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị ở cả hai thủ đô của Vương quốc Ysơraên phía Bắc và Vương quốc Giuđa phía Nam. Ông cùng với nhiều nhà tiên tri khác lên tiếng cáo trách sự suy đồi về đạo đức lẫn tâm linh của những người được Đức Chúa Trời lập lên để lãnh đạo tôn giáo và chính trị tại cả hai Vương quốc nầy.
Bài Giảng Thứ Nhất Của Michê (1: 3-5)
Đây là bài giảng thứ nhất trong số ba bài giảng của Michê nhằm gởi cho mọi dân tộc trên đất và mời gọi họ đến xem “ngọn roi” giáng trên hai Vương quốc phía Bắc và phía Nam của Ysơraên và Giuđa. Bởi vì dân sự Đức Chúa Trời từ chối đi theo đường lối Ngài, nên Ngài dự định sửa trị họ: “Nầy, Ta toan tính nghịch cùng họ hàng nầy một tai vạ mà các ngươi không thể thoát khỏi cổ, và các ngươi sẽ không ngước đầu lên mà đi; vì ấy là kỳ hoạn nạn” (MiMk 2:3). Câu Kinh Thánh nầy rõ ràng đang đề cập đến những cuộc chinh phục và giam cầm của Babylôn và Asyri. Qua sự giam cầm nầy, Đức Chúa Trời sửa trị Ysơraên và Giuđa, và sự sửa trị nầy thể hiện tính thánh khiết của Ngài, cho thấy Ngài không thể dung thứ tội ác, và nó còn bày tỏ tình yêu của Ngài là tình yêu của một người Cha thành tín dành cho những đứa con ngỗ nghịch.
Việc Đức Chúa Trời sửa phạt tuyển dân Ngài vì họ thờ hình tượng, suy đồi thuộc linh và sống vô đạo đức là để cho thế gian thấy rằng Ngài luôn đòi hỏi một tiêu chuẩn đạo đức thánh khiết. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời cũng được bộc lộ qua sự phục hưng cuối cùng của tuyển dân Ngài, như điều Michê rao giảng trong phần cuối của bài giảng nầy: “Hỡi Giacốp! Ta chắc sẽ nhóm cả ngươi lại. Ta chắc sẽ thâu góp phần còn lại của Ysơraên …”(2:12).
Bài Giảng Thứ Hai Của Michê (3:1-5:15)
Bài giảng thứ hai của Michê dành cho cả ba giới lãnh đạo: thầy tế lễ, tiên tri và nhà cầm quyền. Nhiệm vụ chủ yếu của thầy tế lễ là dạy dỗ, nhà tiên tri là khích lệ dân sự vâng lời, nhà cầm quyền là khiến dân sự phải tuân theo luật lệ của Đức Chúa Trời. Trong thời Michê, vấn đề trở ngại đang ngăn trở công việc của Đức Chúa Trời đó là cả ba giới lãnh đạo do Đức Chúa Trời lập lên thảy đều suy đồi, bại hoại.
Thay vì dạy dỗ dân sự và đáp ứng các luật lệ của Đức Chúa Trời, thì các thầy tế lễ lại “dạy dỗ vì tiền công”, hoặc “dạy thuê” (3:11). Họ biến sự kêu gọi làm chức vụ tế lễ thành một nghề chuyên nghiệp, và điều mà họ quan tâm đầu tiên là tiền bạc kiếm được. Michê lấy làm bối rối khi chức vụ tế lễ trở nên thế tục hoá, sự dạy dỗ vì công giá khiến cho các thầy tế lễ trở thành những người chuyên đi khiến người khác bỏ đạo.
Cũng vậy, các tiên tri đã làm tổn thương sự kêu gọi vào chức vụ tiên tri của Đức Chúa Trời bởi việc “nói tiên tri vì bạc” (3:11). Họ không chỉ biến sự kêu gọi vào chức vụ tiên tri trở thành một nghề chuyên nghiệp, mà còn biến nó thành những trò ma thuật. Họ thích nói về sự hiện thấy trong giấc mơ của chính mình hơn là những lời tiên tri được mặc khải, và họ thường dùng uy tín của một tiên tri để trục lợi. Nếu họ được trả tiền ít thì họ tiên báo về sự phán xét thật khủng khiếp trên dân sự, còn nếu họ được trả nhiều tiền thì họ sẽ tiên tri về những điều tốt lành trên đời sống của những người trả tiền cho họ.
Những nhà lãnh đạo chính quyền cũng đều biến chất nên đã “xét đoán vì của hối lộ” (3:11). Tùy theo số tiền được trả, những người trả tiền sẽ được các quan trưởng xét xử theo chiều có lợi hoặc bất lợi. Tình trạng tham nhũng của những người lãnh đạo cứ thường xuyên lặp lại như vậy, và ngày nay nó lại càng trở nên phổ biến khắp thế giới.
Mối quan tâm đầu tiên của Michê là khi các thầy tế lễ dạy thuê, sẽ khiến cho dân sự trở nên bối rối vì họ không được học Lời Đức Chúa Trời. Khi các tiên tri chỉ nói tiên tri vì tiền, thì dân sự Chúa chẳng thể nào nghe được Lời Ngài. Khi cấp chính quyền tham nhũng, thì dân chúng sẽ bị vỡ mộng, họ mất lòng tin vào chính phủ, luật pháp và trật tự xã hội.
Michê nhấn mạnh đến một lẽ thật, đó là Đức Chúa Trời giao trách nhiệm cho các cấp lãnh đạo để cai trị dân sự, nhưng sự lãnh đạo do Đức Chúa Trời thiết lập chỉ có thể được thực hiện nếu những người có trách nhiệm nầy thi hành công tác cai trị của họ theo đúng kế hoạch của Đức Chúa Trời về phương diện thuộc linh lẫn chính trị. Nếu ba giới lãnh đạo nầy mục nát, thì mục đích của Đức Chúa Trời trên sự lãnh đạo đó cũng sẽ bị phá sản. Vì các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị trong thời Michê không tuân theo mục đích của Đức Chúa Trời, cho nên ông cáo trách họ về sự sa sút thuộc linh và suy đồi đạo đức của cả dân tộc.
Giải Pháp Cuối Cùng Của Đức Chúa Trời
Sau khi mạnh dạn chỉ ra sự thất bại của các cấp lãnh đạo Ysơraên và Giuđa, Michê rao giảng một sứ điệp hy vọng cho dân sự Đức Chúa Trời và cho tất cả dân tộc trên khắp thế giới qua lời tiên tri về Đấng Mêsia. Ông tiên đoán sự tái lâm của Đấng Christ, là Đấng sẽ “Đứng vững, và sẽ cậy sức mạnh của Đức Giêhôva với oai vọng của danh Giêhôva Đức Chúa Trời mình mà chăn bầy của mình; và chúng nó sẽ ở yên, vì nay Ngài sẽ làm lớn cho đến các đầu cùng đất. Ấy chính Ngài sẽ làm sự bình an của chúng ta” (5:3-4a).
Tại Giêrusalem và Samari, nơi mà chính quyền loài người thất bại, thì uy quyền tối thượng của Đấng Christ không hề thất bại, và Ngài sẽ đem sự bình an thật đến cho dân sự Ngài. Ngài là tấm gương toàn hảo về một Vị Tiên Tri, Thầy Tế Lễ và Nhà Vua. Phần kết thúc trong bài giảng thứ hai của Michê trình bày Đấng Christ là Đấng Cai Trị toàn hảo. Ngài sẽ mở ra một Vương quốc mới không bao giờ phải đối diện với sự chết hoặc sự hư hoại. Vì lý do nầy, khi Đấng Christ đến thế gian, các môn đệ của Ngài thường hỏi bao giờ thì Ngài sẽ thiết lập Vương quốc đời đời và trọn vẹn của Ngài (Cong Cv 1:6).
Bài Giảng Thứ Ba Của Michê (6-7)
Trong bài giảng thứ ba, ông trình bày một vụ xử án theo nghĩa bóng giữa Đức Chúa Trời và loài người. Ông rao giảng: “Bây giờ hãy nghe lời Đức Giêhôva phán: Ngươi hãy chỗi dậy; khá đối nại cùng các núi, và làm cho các đồi nghe tiếng ngươi! Hỡi các núi, và các nền hằng vững chắc của đất, hãy nghe lời đối nại của Đức Giêhôva! Vì Đức Giêhôva có sự đối nại với dân Ngài, và Ngài sẽ đối nại với Ysơraên” (MiMk 6:1-2).
Khi Michê trình bày lý lẽ của Đức Chúa Trời nghịch cùng Ysơraên, Ngài nhắc cho dân Ysơraên nhớ lại sự nhân từ của Ngài qua việc giải cứu họ ra khỏi Êdíptô: “Ta đã đem ngươi lên khỏi đất Êdíptô, đã chuộc ngươi ra khỏi nhà tôi mọi, và đã sai Môise, Arôn, Miriam đến trước mặt ngươi” (6:4).
Bởi vì dân Ysơraên đáp lại tấm lòng nhân từ của Đức Chúa Trời bằng việc tìm kiếm các thần khác, thỏa mãn những tham muốn vị kỷ của chính mình, cho nên Michê đã đưa ra những lời tiên đoán của ông trước tòa án của Đức Chúa Trời: “Ta sẽ đem vật gì chầu trước mặt Đức Giêhôva và quì lạy trước mặt Đức Chúa Trời rất cao? Ta sẽ đến trước mặt Ngài với những của lễ thiêu và với những bò con giáp niên sao? Đức Giêhôva há có thích những hàng ngàn chiên đực hay là hàng vạn sông dầu sao? Ta há nên dâng con đầu lòng của ta vì sự phạm pháp ta, và trái của thân thể ta vì tội lỗi linh hồn ta sao? ” (6:6-7).
Bản cáo trạng của Michê viết về tội lỗi của Ysơraên đáp lại lòng nhân từ của Đức Chúa Trời cho thấy họ không thể tự bênh vực mình. Ông kết luận rằng nếu tội lỗi không được xưng ra thì nó sẽ bao trùm khắp Ysơraên.
Tình trạng khó xử mà Michê trình bày tại tòa án lớn nầy sửa soạn cho người nghe về kết luận của sứ điệp ông: “Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giêhôva đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao? ”(6:8).
Sau khi lên tiếng buộc tội dân sự, Michê đã cầu hỏi là họ cần phải làm gì để Ngài nguôi giận, Đức Chúa Trời tỏ cho Michê biết là loài người không thể tự làm gì để chuộc tội mình. Duy chỉ có một cách là nhờ ân điển do Đức Chúa Trời ban cho những ai có lòng ăn năn để được Ngài tha thứ tội lỗi.
Michê kết thúc bài giảng thứ ba của ông bằng sự mặc khải tiên tri khác. Trong những ngày cuối cùng, ông nói với dân Ysơraên: “Các nước thấy sự đó, sẽ bị xấu hổ về cả sức mạnh mình;chúng nó sẽ đặt tay trên miệng, và tai chúng nó sẽ điếc. Chúng nó sẽ liếm bụi như con rắn, và run rẩy mà ra khỏi hang mình như loài bò trên đất; sẽ kinh hãi mà đến cùng Giêhôva Đức Chúa Trời chúng ta, và vì Ngài mà khiếp sợ” (7:16-17).
Tại đây chúng ta lại thấy sự ứng nghiệm về Đấng Mêsia, là Đấng Lãnh Đạo sẽ cai trị các dân tộc. Và, đúng như Michê dự đoán, Đấng Cai Trị nầy sẽ thương xót tuyển dân của Ngài: “Ngài không cưu giận đời đời, vì Ngài lấy sự nhân từ làm vui thích. Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi, dập sự gian ác chúng tôi dưới chân Ngài; và ném hết thảy tội lỗi chúng nó xuống đáy biển. Ngài sẽ làm ra sự chân thật cho Giacốp, và sự nhân từ cho Ápraham, là điều Ngài đã thề hứa cùng tổ phụ chúng tôi từ những ngày xưa” (7:18-20).
Đức Chúa Trời trong sứ điệp của Michê là một Đức Chúa Trời giàu lòng thương xót, nhân từ, và yêu thương vô điều kiện. Điều nầy có nghĩa là chúng ta không thể có, hoặc đạt được tình yêu của Ngài bằng một việc làm tích cực - mà chỉ có thể tiếp nhận nhờ ân điển - và chúng ta cũng không thể đánh mất tình yêu của Đức Chúa Trời bằng một việc làm tiêu cực.
Nếu hiểu một cách chính xác, thì sứ điệp của các tiên tri là sứ điệp của niềm hy vọng được xây dựng trên nền tảng tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, tình yêu và ân điển của Cha Thiên Thượng chúng ta luôn đi đôi với sự công bình của Ngài - sự công bình chỉ có thể được thỏa mãn qua sự chết trọn vẹn của Con Độc Sanh Ngài, hầu cho chúng ta có thể nhận được tình yêu tuyệt vời và ân điển đời đời của Đức Chúa Trời.
TIÊN TRI NA-HUM
Bối Cảnh Lịch Sử
Những tiên tri viết các sách tiên tri trong Cựu ước đều ký thuật về cuộc chinh phục bốn thành phố: Giêrusalem, Samari, Babylôn, và Ninive. Giêrusalem và Samari là thủ đô của Vương quốc phía Nam và phía Bắc của Giuđa và Ysơraên, bị tách ra; Trong khi đó Babylôn và Ninive là thủ đô của kẻ thù họ. Như chúng ta đã biết, sự rao giảng của Giôna đem lại sự ăn năn và cứu rỗi cho dân thành Ninive. Còn lời tiên tri của Nahum công bố sự chết và hủy diệt của thành nầy. Về mặt lịch sử thì Nahum nói tiên tri sau Giôna khoảng một trăm hai mươi năm.
Trong khi sách Giôna ghi lại sự ăn năn của dân thành Ninive, thủ đô của kẻ thù tàn bạo nhất của Ysơraên, thì sáu mươi năm sau kể từ khi họ đáp lại sự rao giảng sống động của ông, quân Asyri đã xâm chiếm Vương quốc phía Bắc của Ysơraên và bắt mười chi phái của Vương quốc nầy sang làm phu tù ở Asyri. Khoảng chừng sáu mươi năm sau cuộc lưu đày ở Asyri, Nahum nói tiên tri về sự đoán phạt hầu đến và sự diệt vong của Ninive. Sau khi Nahum rao giảng những lời tiên tri đáng sợ nầy, thì hai mươi ba năm sau, chúng được ứng nghiệm đến từng chữ.
Quân Asyri tàn bạo không gì tả xiết đã thôn tính hầu hết các nước trên toàn cầu và bắt họ làm phu tù. Hành động man rợ của chúng thật chưa từng có trong lịch sử cổ đại, và chúng trở thành một đại cường quốc, cả thế giới đều khiếp sợ tính tàn bạo của chúng. Thủ đô của Đế quốc Asyri là thành Ninive, được biết đến với cái tên Thành Phố Nữ Hoàng của cả trái đất. Vậy mà rốt cuộc nó đã bị hủy diệt đúng như lời tiên báo của tiên tri Nahum.
Nahum Công Bố Sự Hủy Diệt Ninive (Chương 1)
Chương đầu tiên của sách Nahum tuyên bố sự sụp đổ của thành Ninive. Mặc dù có hai con sông làm vành đai bảo vệ thành ở cả hai bên, song Nahum tiên báo rằng: “Ngài dùng nước lụt hủy diệt chỗ nó” (NaNk 1:8). Hai con sông nầy đem lại sức mạnh cho Ninive vì nó bảo vệ vòng đai, thế mà Nahum lại tiên báo Chúa sẽ khiến cho sự bảo vệ nầy nổi lên chống nghịch nó, chảy tràn qua và hủy diệt nó.
Tên của Nahum có nghĩa là “đầy lòng yên ủi”, và sứ điệp của ông đem lại sự yên ủi rất lớn cho Vương quốc phía Nam. Thấy Asyri đã chinh phục Vương quốc phía Bắc, dân sự ở Vương quốc phía Nam rất sợ hãi vì e rằng chúng sẽ quay sang miền Nam thôn tính cả họ. Sau khi Asyri đánh chiếm và bắt Vương quốc phía Bắc giam cầm, chúng đã kéo đến miền Nam để chinh phục vương quốc phía Nam. Chúng đánh chiếm được bốn mươi sáu thành phố và bắt hai trăm ngàn người đi lưu đày.
Như điều chúng ta đã học khi nghiên cứu về tiên tri Êsai, khi quân Asyri đến cổng thành Giêrusalem, thì qua chức vụ của vị tiên tri vĩ đại nầy mà Vương quốc phía Nam được giải cứu. Dù vậy, Vương quốc phía Nam vẫn lo sợ một ngày nào đó sẽ lại bị Asyri xâm lược. Bạn có thể thấy lời tiên tri của Nahum: “Dầu chúng nó sức mạnh đầy đủ và người đông, cũng sẽ bị trừ đi và trở nên hư không” (1:12), đã đem lại sự yên ủi, bình an và hy vọng cho xứ Giuđa ra sao.
Nahum Mô Tả Sự Hủy Diệt Ninive (Chương 2)
Trong chương hai của sách tiên tri Nahum, ông mô tả chi tiết sự sụp đổ của thành Ninive. Ông mô tả màu sắc quân phục và thuẫn của quân thù chói loè ra dưới ánh nắng mặt trời (2:3). Ông diễn tả thật sinh động quang cảnh các chiến xa xông lên tấn công ồ ạt, chen lẫn giữa đám người đang thi nhau chạy trốn một cách hỗn loạn trên những con đường của thành phố sắp bị tiêu diệt (2:4). Ông báo trước tình trạng của những người lính chiến chạy trốn khỏi thành phố và đất nước nầy mà không dám quay lại nhìn (2:8). Qua sự mô tả của Nahum, hoàng hậu bị lột trần và diễu hành trong xiềng xích đến chốn lưu đày (2:7). Những đầu gối run rẩy, những tấm lòng tan chảy vì sợ hãi, và người ta đứng sững kinh hoàng, mặt mày tái nhợt và run sợ (2:10). Sự mô tả chi tiết nầy khiến Vương quốc phía Nam thêm vững lòng, Đức Chúa Trời có cách đem sự bình an và niềm an ủi đến cho dân Ngài qua sự hủy diệt thủ đô của kẻ thù họ.
Nahum Ủng Hộ Việc Hủy Diệt Ninive (Chương 3)
Nahum liệt kê ra một số lý do tại sao cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ đổ xuống nghịch cùng Ninive. Ông lên án họ về tội làm đổ huyết, nói lời dối trá, cướp bóc các thành phố và hành nghề kỵ nữ. Các học giả của lịch sử cổ đại thuật lại rằng quân Asyri đày những người mà chúng đã bắt được đến những xứ khác để tiêu diệt niềm tự hào dân tộc của họ, và chúng cư xử với họ bằng những hành vi hết sức dã man, độc ác. Chúng lột da các phu tù còn đang sống, và khi chúng chiếm được một thành phố nào, thì chúng thường tàn sát một nửa cư dân, rồi chất đầu lâu của những người bị giết thành một đống thật lớn ngay trước cổng thành để khủng bố tinh thần những người mà bọn chúng còn để cho sống.
Bởi vì mọi dân tộc trong xứ đều nằm trong tay đội quân Asyri tàn ác, như là một phản ứng của ông trước sự tàn bạo vô đạo của chúng, Nahum rao ra những lời của Chúa dành cho Asyri: “Đức Giêhôva vạn quân phán: Nầy, Ta nghịch cùng ngươi; Ta lột áo xống ngươi, phô bày sự trần truồng ngươi ra cho các dân tộc, và tỏ sự xấu hổ ngươi ra cho các nước” (3:5), “Vết thương ngươi không thuốc chữa, dấu vít ngươi rất hiểm nghèo; phàm kẻ nghe nói về ngươi đều vỗ tay trên ngươi; vì ai là kẻ chẳng từng chịu luôn sự hung ác của ngươi!” (3:19). Sự sụp đổ của Ninive sẽ là nguồn yên ủi cho mọi dân tộc đang sống trong nỗi khiếp đảm bởi tính tàn bạo của chúng.
Nahum Bảo Vệ ĐặcTính Của Đức Chúa Trời
Quyển sách ngắn ngủi nầy giới thiệu với chúng ta về tình yêu và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Trong tiếng Hêbơrơ, từ ngữ dùng để chỉ về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời truyền đạt một khái niệm về sự trút đổ cơn giận. Nó hàm chứa bản chất của Đức Chúa Trời là tình yêu, nhưng có nhiều lần, khi sự gian ác và lòng vô tín của con người buộc Ngài phải thể hiện một khía cạnh khác của bản chất Ngài, đó là tính thánh khiết và công bình tuyệt đối. Tại điểm nầy, Ngài đã “trút đổ sự giận dữ” của mình vào cơn thịnh nộ và sự đoán phạt, bởi vì cuối cùng sự gian ác không thể đồng tồn tại với bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời.
Tôi từng chứng kiến một người cha nọ rất hiền từ và nhân hậu đã vùng vẫy trong tay các nhân viên cảnh sát, khi ông nhìn thấy người đã cưỡng hiếp và giết chết đứa con gái mới lên bảy của ông bị bắt đem vào đồn cảnh sát. Nếu người cha đó có bản tính mềm mại, yêu thương mà còn phải sục sôi giận dữ như vậy, thì thử hỏi tại sao Đức Chúa Trời lại không thể trút đổ cơn thạnh nộ như vậy trong bản tính của Ngài?
Vì thế, chúng ta có thể định nghĩa cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là: “thường xuyên, phù hợp, và là thái độ tối hậu của sự thánh khiết tuyệt đối đối với tội lỗi và sự gian ác”. Chúng ta cũng có thể nói về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là “Phản ứng của Tình yêu tuyệt đối hướng về những điều đang hủy hoại đối tượng mà Ngài yêu thương”. Trong trường hợp nầy, đối tượng được yêu thương của Đức Chúa Trời là tất cả những người đang bị quân Asyri hà hiếp, chẳng hạn như những người ở Vương quốc phía Bắc Ysơraên đang bị bắt giữ.
Giống như dân sự Đức Chúa Trời tại Vương quốc phía Nam Giuđa, chúng ta được yên ủi vì tin chắc rằng Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng có bản tính tuyệt đối về tình yêu thương trọn vẹn, cuối cùng Ngài sẽ “trút đổ” cơn thịnh nộ của Ngài vì cớ các con cái Ngài đang bị hà hiếp. Ngài sẽ tiêu diệt kẻ ác qua sự biểu lộ hoàn toàn tuyệt đối về tính thánh khiết và công bình của Ngài.
TIÊN TRI HABACÚC
Những ai quen thuộc với tiểu tiên tri Habacúc nầy, đều nghĩ ông là một tiên tri không có lời giải đáp, nhưng lại là người có quá nhiều câu hỏi. Dường như thể đầu óc của ông chỉ thích thú với những câu hỏi mà thôi. Trong ba chương ngắn ngủi ghi lại lời tiên tri của mình, ông kêu lớn tiếng cùng Đức Chúa Trời hết lần nầy đến lần khác với những câu hỏi “tại sao”. Vì lý do nầy, có một số người đã gán cho ông biệt danh “Nhà Tiên Tri theo thuyết bất khả tri”.
Người theo thuyết bất khả tri tin rằng chúng ta không thể biết gì về Đức Chúa Trời, và nhiều triết gia cùng các nhà thần học cũng đã có những câu hỏi như thế trong suốt hàng ngàn năm qua. Một số theo thuyết bất khả tri thường nói rằng: “Tôi không biết, anh không biết, và cũng không ai biết. Nhưng chỉ có sự thông minh mới hiểu được điều đó!”. Tôi thường hỏi người theo thuyết bất khả tri là: “Nếu anh không thể biết, thì làm sao anh lại biết rằng anh không thể biết?”
Trong quá trình tiếp cận với các tiểu tiên tri, tôi nhận thấy Đức Chúa Trời kêu gọi họ từ mỗi bước đi trong cuộc sống mà chúng ta có thể hình dung ra được. Chúng ta học được từ những sách lịch sử của Cựu ước rằng Đavít từng chọn bốn ngàn thầy tế lễ, biệt riêng ra để ngợi khen Đức Giêhôva bằng những nhạc cụ do chính ông chế tạo cho mục đích đó (ISu1Sb 23:5). Những người Lêvi chuyên lo công việc thờ phượng và âm nhạc đã sáng tác nhiều Thi Thiên. Habacúc là một trong số các nhạc sĩ Lêvi đó. Ông là người mà hiện nay, trong nền văn hóa chúng ta gọi là nhạc trưởng hoặc là người hướng dẫn chương trình trong buổi thờ phượng.
Tháp Canh Của Habacúc
“Các diễn giả thường trả lời những câu hỏi không ai hỏi và thảo luận những điều người ta không mong đợi”. Đôi khi nhiều người trong số chúng ta là những diễn giả đã phải thú nhận tội lỗi qua bản cáo trạng đó, vì nó có đủ bằng chứng để kết tội chúng ta. Song đây không phải là trường hợp của Habacúc.
Habacúc sống cùng thời với Giêrêmi. Ông thấy dân sự cư xử một cách tàn nhẫn đối với vị tiên tri nầy. Tôi tin Habacúc có lập luận thế nầy, nếu như dân Giuđa đối xử với một tiên tri lớn như Giêrêmi như thế, thì thử hỏi họ sẽ đối xử ra sao với một nhạc trưởng như ông, lại cho rằng mình đang có sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho họ?
Tôi chắc rằng Habacúc đã nghĩ ra một hình thức văn chương thật khéo léo để lồng vào lời tiên tri của mình hầu thu hút được sự chú ý, và dọn lòng dân Giuđa để họ nhận lãnh Lời Đức Chúa Trời mà Ngài đã phán với ông. Tôi cũng tin là khi Habacúc nêu lên những câu hỏi của mình, cũng là những vấn nạn mà dân Giuđa đang muốn hỏi Ngài, và cứ mỗi ngày một lần.
Dân Giuđa trong thành Giêrusalem cho rằng các đội quân Babylôn sắp xuất hiện. Những lính canh đang đứng vào vị trí của họ và mỗi người đang quan sát, chú ý lắng nghe những dấu hiệu đầu tiên và những âm thanh đáng sợ của quân Babylôn. Habacúc tuyên bố ông sẽ xây một “tháp canh” thuộc linh. Ông tự bước vào vị trí của mình tại tháp canh đó, và chuẩn bị hỏi Đức Chúa Trời tất cả những câu hỏi của ông (cũng là của dân sự). Sau đó, ông quan sát, lắng nghe và chờ đợi Đức Chúa Trời trả lời các câu hỏi của ông (và của dân sự).
Tôi hình dung dân sự đang khích lệ Habacúc hãy đi tới “tháp canh” của ông và hỏi Đức Chúa Trời những câu hỏi đang đè nặng trong lòng họ. Khi Habacúc ở trong tháp canh của mình, ông liền hỏi Đức Chúa Trời tại sao Ngài lại dùng một giống dân gian ác - Babylôn - để hủy diệt tuyển dân của Ngài. Ông thắc mắc: “Hỡi Giêhôva, Đức Chúa Trời tôi, Đấng Thánh của tôi!Ngài há chẳng phải là từ đời đời vô cùng sao? Vậy chúng tôi sẽ không chết! Hỡi Đức Giêhôva, Ngài đã lập dân nầy đặng làm sự xét đoán của Ngài. Hỡi vầng Đá! Ngài đã đặt nó đặng làm sự sửa phạt! Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi? ”(NaNk 1:12-13).
Habacúc (và dân Giuđa), đã nhận thức được một sự thật cay nghiệt là Đức Chúa Trời đang dùng người Babylôn để trừng phạt dân Giuđa vì cớ tội lỗi họ, tuy nhiên, cả ông (và dân sự) đều cảm thấy khó hiểu là tại sao Chúa lại dùng một dân tộc ngoại giáo để sửa phạt dân Ngài. Cuối cùng, ông (và dân sự) biện luận rằng, sự gian ác của người Babylôn đã vượt quá sự bất kính Chúa của dân Giuđa. Vậy, tại sao Chúa lại dùng một dân tộc vô đạo để sửa trị dân Ngài?
Đây là những câu hỏi và cũng là nội dung của sách Habacúc, chứa đựng nhiều sự thắc mắc, không chỉ đè nặng trong lòng Habacúc mà còn trong lòng tất cả dân Giu đa bất hạnh. Trước ngưỡng xâm chiếm và lưu đày của quân Babylôn, ông đang quan sát, lắng nghe, và chờ đợi Đức Chúa Trời trả lời ông (cùng dân sự). Ông tuyên bố: “Ta sẽ đứng nơi vọng canh, chôn chân nơi đồn lũy, rình xem Ngài bảo ta điều gì, và ta trả lời thế nào về sự đối nại của ta” (2:1).
Sứ Điệp Của Habacúc
Hãy thử hình dung sự phấn khích của dân sự khi Habacúc loan báo rằng ông vừa nghe được tiếng Chúa tại tháp canh! Bút pháp của vị tiên tri nầy thật khéo léo và gợi trí tò mò để cho sứ điệp của ông được công bố đúng thời điểm. Habacúc rao giảng rằng Đức Chúa Trời đã trả lời cho các câu hỏi của ông (cũng là của dân sự). Mặc dù Đức Chúa Trời đang dùng một dân tộc ngoại giáo để sửa phạt hành vi sai trái của Giuđa, tuy nhiên Ngài cũng cho Habacúc biết rằng Babylôn không phải là một cường quốc bá chủ thế giới lâu dài. Như chúng ta đã biết, nó chỉ tồn tại được bảy mươi năm mà thôi.
Tại tháp canh, Đức Chúa Trời phán cùng ông rằng quân Babylôn đã gieo mầm hủy diệt ngay chính trong tấm lòng chúng. Ông chép lấy Lời Chúa phán với ông là người Babylôn, có lòng dạ không ngay thẳng. Về cơ bản, Đức Chúa Trời phán cho Habacúc nghe điều mà Chúa Jêsus từng dạy dỗ khi Ngài bảo: “Hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết vì gươm” (Mat Mt 26:52b). Chúng sẽ phải bị tiêu diệt bởi sự gian ác, bạo ngược và hung tợn của chúng: “Nầy, lòng người kiêu ngạo, không có sự ngay thẳng trong nó; song người công bình thì sống bởi đức tin mình. Nó ghiền rượu, làm sự dối trá,kiêu ngạo và chẳng ở yên chỗ mình, mở rộng lòng ham mê nó như âm phủ, như sự chết chẳng được no chán; nó thâu góp mọi nước và hội hiệp mọi dân cho mình” (NaNk 2:4-5).
Babylôn rõ ràng là “kẻ kiêu ngạo” như Đức Chúa Trời đã nói ở đây, lòng dạ của chúng gian xảo, không ngay thẳng. Duy chỉ có người công bình, hoặc người ngay thẳng - những người nhận biết Chúa và vì thế họ sống nhờ đức tin đặt nơi lời hứa của Ngài - thì ắt sẽ được sống (4).
Câu Kinh Thánh “Người công bình sẽ sống bởi đức tin” chỉ có một cách hiểu nhưng có nhiều sự ứng dụng. Thật vậy, qua sự trả lời cho câu hỏi của Habacúc, Đức Chúa Trời hứa ban niềm hy vọng tương lai cho Giuđa. Nếu họ có đức tin, tin lời của các tiên tri, như Êsai, và đặc biệt là Giêrêmi, thì họ sẽ được sống như là một dân tộc và sẽ được trở về xứ mình. Niềm hy vọng nầy cũng có nghĩa là dân Babylôn ngoại giáo kia chắc chắn sẽ không gặt hái được chiến thắng cuối cùng. Song người công bình sẽ sống nếu họ có đức tin, tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời mà họ được nghe qua những nhà tiên tri chân thật.
Bên cạnh đó, sự ứng dụng sống động được tìm thấy trong Tân ước, câu này được trích dẫn ba lần. Phong trào Cải Chánh ra đời khi một linh mục Thiên Chúa giáo tên là Martin Luther, trong thì giờ tĩnh nguyện buổi sáng của mình đã nhận ra câu Kinh Thánh nầy nằm ở chương đầu tiên của thư tín Phaolô gởi cho người Rôma (RoRm 1:17). Hệ thống thần học của cuộc cải chánh được Martin Luther công bố thật rõ ràng qua những bài tiểu luận của ông về các thư tín Phaolô gởi người Rôma và Galati (GaGl 3:11). Lần thứ ba câu Kinh Thánh nầy được Tân ước trích dẫn nhằm cung cấp bối cảnh cho chương Kinh Thánh nói về đức tin vĩ đại trong HeDt 10:38.
Bài Ca Của Habacúc
Chúng ta không có một bảng ký thuật nào cho biết quá trình trở thành một nhạc trưởng năng nổ của vị tiên tri nầy. Khi thành Giêrusalem sụp đổ, một nửa cư dân bị tàn sát, còn những người sống sót bị lưu đày trong xiềng xích. Mặc dù Habacúc biết trước rằng cuộc xâm chiếm và giam cầm của quân Babylôn sắp xảy ra, và sẽ kéo dài trong bảy mươi năm, song ông vẫn kết thúc sứ điệp của mình bằng một bài ca ngợi khen. Ông không thể biết được tương lai của ông sẽ ra sao, nhưng ông biết rằng tương lai của dân tộc ông tràn đầy hy vọng. Bảy mươi năm sau, Giuđa sẽ trở về, Babylôn sẽ sụp đổ, và Giuđa vẫn là tuyển dân của Đức Chúa Trời.
Habacúc bắt đầu lời tiên tri bằng tiếng thở dài đầy tuyệt vọng và ngờ vực, song ông kết thúc lời tiên tri của mình bằng bài ca ngợi khen, thờ phượng và sự tin quyết. Bởi cách kết thúc nầy, ông tỏ cho dân sự Đức Chúa Trời thuộc mọi thế hệ và mọi nền văn hóa biết cách để biến tiếng thở dài thất vọng thành bài ca ngợi khen.
Bài ca và tấm gương của Habacúc khi ông sáng tác, mô tả sơ lược hình ảnh đối lập của một tín hữu theo thuyết vị lợi. Một tín hữu theo thuyết vị lợi là người luôn tận dụng Đức Chúa Trời lúc nào anh ta muốn, tương tự như chúng ta sử dụng những phương tiện công cộng như điện, nước hoặc là hệ thống vận tải công cộng. Kết thúc bài ca của mình, Habacúc đã phác họa một mẫu người sống bởi đức tin, và biết rằng Đức Chúa Trời sẽ không từ bỏ chương trình của Ngài, là Đấng Mêsia sẽ đến thông qua tuyển dân Ngài. Nếu Lời của Đức Chúa Trời là thật, như Habacúc đã tin, thì chắc chắn dân sự Ngài sẽ không bị bỏ rơi. Trước mắt, họ có thể bị đuổi ra khỏi quê hương và bị sửa phạt vì cớ tội lỗi của mình, tuy nhiên họ sẽ không bao giờ bị tận diệt hoàn toàn nếu như những lời tiên tri về Đấng Mêsia được ứng nghiệm.
Đức Chúa Trời đã ban một sự mặc khải tuyệt vời cho Gióp trong lúc ông đang chịu những cơn đau đớn cùng cực, cho Giêrêmi khi ông sáng tác Ca Thương, và Ngài cũng ban bài ca tuyệt vời nầy cho Habacúc vào thời điểm đen tối nhất của cuộc đời ông. Đây là một phần trích dẫn trong bài ca đó:
“Hỡi Đức Giêhôva!
Tôi đã nghe danh tiếng Ngài thì tôi sợ hãi.
Hỡi Đức Giêhôva!
Xin Ngài lại khiến công việc Ngài dấy lên giữa các năm,
Tỏ ra cho biết giữa các năm;
Khi Ngài đương giận, xin hãy nhớ lại sự thương xót!
Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa,
Và sẽ không có trái trên những cây nho;
Cây ôlive không sanh sản,
Và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn;
Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn,
Và không có bầy bò trong chuồng nữa.
Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giêhôva,
Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.
Đức Giêhôva là Chúa, là sức mạnh của tôi,
Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu,
Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình”.
(Phó cho quản phường nhạc, khảy đàn mà hát bài nầy )
(HaKb 3:2, 17-19)
Ứng Dụng Cá Nhân
Mặc dù rất ít người trong chúng ta phải đối mặt với cơn khủng hoảng như Habacúc. Khi những nan đề tràn ngập, có thể chúng ta sẽ dồn hết tất cả sức lực, tình cảm, tinh thần để giải quyết, hoặc là chúng ta có thể dựng lên một vọng canh thuộc linh và canh phòng cho đến khi nhìn thấy cách Đức Chúa Trời hành động trên đời sống mình. Chúng ta cũng có thể lắng tai cho đến khi nghe được cách Chúa hành động trên đời sống mình. Tiếp theo, như Habacúc, chúng ta có thể thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng đang làm việc trên đời sống chúng ta.
Bạn có bao giờ xây cho mình một tháp canh thuộc linh - nơi bạn quan sát, chờ đợi và lắng nghe cho đến chừng nghe được tiếng Chúa chưa? Sách Habacúc dạy rằng chúng ta nên xây cho mình tháp canh thuộc linh và đến gần Đức Chúa Trời để trình dâng cho Ngài những vấn đề của chúng ta. Ngài sẽ đáp lời trong lúc chúng ta quan sát, lắng nghe, và chờ đợi Ngài. Một vị mục sư tin kính thuộc thế hệ trước đây bảo rằng: “Tôi từng nói rằng Đức Chúa Trời ngày nay không còn phán dạy dân sự Ngài như từng phán với Habacúc thuở xưa nữa. Hay nói chính xác hơn là dân sự Đức Chúa Trời thời nay không còn biết lắng nghe tiếng Chúa như trong thời của vị nhạc trưởng tài ba đầy lòng yêu mến Chúa nầy!”
TIÊN TRI SÔPHÔNI
Tương tự như tiên tri Giôên, Sôphôni tiên tri về Ngày của Đức Giêhôva. Trong khi Giôên nhấn mạnh Ngày của Đức Giêhôva ở quá khứ, hiện tại và tương lai, thì Sôphôni lại tập trung hướng lời tiên tri của mình vào Ngày sau rốt của Ngài là một trong những sự cuối cùng mà Chúa Jêsus, các tiên tri và các sứ đồ đã nói với chúng ta.
Nội Dung Ngày Của Đức Giêhôva (Chương 1)
Khi Sôphôni rao giảng về Ngày của Đức Giêhôva, ông mô tả lại một sự kiện tàn khốc ắt sẽ xảy ra trên mọi loài thọ tạo. Qua Sôphôni, Đức Chúa Trời tuyên bố: “Ta sẽ diệt sạch mọi sự khỏi mặt đất, Đức Giêhôva phán vậy. Ta sẽ diệt loài người và loài thú, chim trời và cá biển, cùng mọi sự ngăn trở với kẻ dữ; và ta sẽ trừ tiệt loài người khỏi mặt đất, Đức Giêhôva phán vậy” (SoXp 1:2-3).
Theo Sôphôni, Ngày của Đức Giêhôva là sự cuối cùng sắp xảy ra và là một biến cố lớn. Nó không chỉ liên quan đến dân Giuđa và quân Babylôn là kẻ giam cầm họ; mà còn ảnh hưởng đến loài người và mọi loài thú trên đất, kể cả chim trời và cá biển nữa.
Giống như các tiên tri khác, Sôphôni nói tiên tri về Ngày sau rốt của Đức Giêhôva đan xen với sự bắt bớ của người Babylôn khi ông tuyên bố lời Đức Chúa Trời trong những câu kế tiếp: “Ta sẽ dang tay Ta trên Giuđa và trên hết thảy dân cư Giêrusalem; sẽ trừ tiệt phần sót lại của Baanh,các tên của thầy cả và thầy tế lễ nó khỏi nơi nầy… Trong ngày tế lễ của Đức Giêhôva, Ta sẽ phạt các quan trưởng và các con trai của vua, và hết thảy những kẻ mặc áo lạ. Trong ngày đó, Ta sẽ phạt hết thảy những kẻ nhảy qua ngạch cửa, và những kẻ làm đầy dẫy sự bạo ngược và quỷ quyệt trong nhà chủ mình” (1:4, 8-9).
Sôphôni nối tiếp tiên tri Michê, quở trách và lên án các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo của Giuđa vì sự sa sút thuộc linh và suy đồi đạo đức của dân sự. Theo hai vị tiên tri nầy, thì do hậu quả tội lỗi của các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo mà Đức Chúa Trời giáng sự đoán phạt trên toàn bộ dân sự như vậy. Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng trên giới lãnh đạo cho đến thường dân, cho thấy Ngài muốn nhấn mạnh đến trách nhiệm của các giới lãnh đạo trước Đức Chúa Trời và trước dân sự của họ.
Đặc Điểm Về Ngày Của Đức Giêhôva (Chương 2)
Mặc dù Sôphôni chủ yếu rao báo về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên Giuđa vì cớ tội lỗi họ, ông cũng nói tiên tri về Ngày của Đức Giêhôva sắp xảy đến nghịch cùng tất cả các dân tộc, đặc biệt đối với những dân từng ngược đãi dân Giuđa: “Trong Ngày lớn và cuối cùng đó, tất cả loài người trên đất phải chịu trách nhiệm giải trình những công việc mình đã làm, và Đức Chúa Trời sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng. Sôphôni tuyên bố rằng chỉ có những ai trọn đời thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật duy nhất thì mới có thể tránh khỏi cơn thịnh nộ của Ngài trong Ngày cuối cùng”.
Trong bối cảnh của lẽ thật nầy, Sôphôni kêu gọi các dân tộc hãy ăn năn: “Hỡi dân chẳng biết xấu hổ! Hãy nhóm hiệp lại, phải, hãy nhóm hiệp lại, trước khi mạng lịnh chưa ra, ngày giờ chưa qua như trấu, trước khi sự nóng giận của Đức Giêhôva chưa đến trên các ngươi, trước khi ngày thạnh nộ của Đức Giêhôva chưa đến trên các ngươi. Hỡi các ngươi là mọi kẻ nhu mì của đất, làm theo mạng lịnh của Chúa, hãy tìm kiếm Đức Giêhôva, tìm kiếm sự công bình, tìm kiếm sự nhu mì, hoặc giả các ngươi sẽ được giấu kín trong ngày thạnh nộ của Đức Giêhôva” (2:1-3).
Các dân tộc ngoại giáo mặc dầu đã được Chúa dùng để thi hành sự đoán phạt của Ngài nghịch cùng dân Giuđa, nhưng họ không phải là con cái của Đức Chúa Trời hằng sống, chân thật và duy nhất. Sôphôni kêu gọi họ hãy ăn năn để được cứu thoát khỏi lửa hủy diệt mà Đức Giêhôva sẽ cho xảy đến trong Ngày cuối cùng của Ngài.
Sự vô tín và tội lỗi của các dân tộc sẽ là chất xúc tác cho Ngày của Đức Giêhôva. Trong sự diễn tả của mình về cả dân Giuđa lẫn các dân tộc ngoại giáo, Sôphôni nêu lên một số tội như là giàu có bất chính, thiếu quan tâm, vô tín, bất tuân, chống nghịch Chúa và gian ác. Theo Sôphôni, thì những tội nầy của dân sự Đức Chúa Trời và của các dân tộc ngoại đạo sẽ kích động cơn thạnh nộ của Ngài và chúng chính là chất xúc tác dẫn đến Ngày cuối cùng của Đức Giêhôva.
Sôphôni tiên đoán rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ lan đến các dân tộc miền duyên hải, và sẽ lan xa như lời tiên tri khẳng định: “Khốn thay cho dân cư ở miền biển, tức là dân tộc Cơrết! Hỡi Canaan là đất của người Philitin, lời của Đức Giêhôva cũng nghịch cùng các ngươi; Ta sẽ hủy diệt ngươi cho đến không còn dân cư nữa. Miền biển sẽ trở nên đồng cỏ, với những lều của kẻ chăn và chuồng của bầy chiên. Miền ấy sẽ thuộc về phần sót lại của nhà Giuđa; chúng nó sẽ chăn trong các nơi đó, ban tối sẽ nghỉ trong các nhà của Áchcalôn, vì Giêhôva Đức Chúa Trời chúng nó sẽ thăm viếng chúng nó, và đem phu tù chúng nó trở về” (2:5-7). Ông cũng rao giảng nghịch cùng Môáp và Ammôn, cũng như Êthiôbi và Asyri. Tất cả mọi việc nầy chứng tỏ rằng những dân tộc ngoại giáo không thể thoát khỏi sự phán xét của Đức Giêhôva.
Sự Tạo Lập Mới Vào Ngày Của Đức Giêhôva (Chương 3)
Sôphôni quở trách dân Giuđa vì những lãnh đạo của họ hối lộ và chống nghịch Đức Chúa Trời: “Khốn thay cho thành bạn nghịch và ô uế, làm sự bạo ngược! Nó không nghe lời; không chịu sửa dạy; không nhờ cậy Đức Giêhôva; không đến gần Đức Chúa Trời mình. Các quan trưởng ở giữa nó như sư tử gầm thét, các quan xét nó như muông sói ban đêm, không để dành chi lại đến sáng mai.Các kẻ tiên tri nó đều là càn dỡ dối trá; các thầy tế lễ nó làm ô uế nơi thánh, và làm quanh quẹo luật pháp” (3:1-4). Ông tuyên bố rằng bởi những việc họ đã làm, nên họ sẽ bị quân Babylôn bắt làm phu tù. Ông cũng nói đến niềm hy vọng mà họ sẽ nhận được trong Ngày cuối cùng của Đức Giêhôva. Trong ngày đó, tất cả các dân tộc trên đất sẽ nhận biết Giêhôva chính là Đức Chúa Trời (3:8-11), và những người Ysơraên còn sót lại sẽ sống chân thật, trung tín với Chúa: “Những kẻ sót lại của Ysơraên sẽ không làm sự gian ác, không nói dối, không có lưỡi phỉnh gạt trong miệng chúng nó; vì chúng nó sẽ ăn và nằm ngủ, không ai làm cho kinh hãi” (3:13).
Cho dù dân Giuđa có bất trung với Ngài. Song Sôphôni báo trước rằng Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ, và giải cứu họ thoát khỏi cảnh phu tù trong những ngày cuối cùng, hễ ai trung thành, thì sẽ giữ lòng trung thành với Ngài mãi mãi, trở nên tạo vật mới và đẹp đẽ. Chúng ta thấy lời tiên tri nầy đã được ứng nghiệm phần nào trong các sách lịch sử Exơra, Nêhêmi, và trong ba sách tiên tri cuối cùng mà chúng ta sẽ khảo sát. Đây là những tiên tri thuộc thời hậu lưu đày, có trách nhiệm rao giảng cho những người còn sống sót sau cuộc Lưu Đày của Babylôn.
Vì lời tiên tri của Sôphôni chủ yếu tập trung vào Ngày cuối cùng của Đức Giêhôva, cho nên có nhiều người tin rằng lời tiên tri của ông nói về những điều còn lại như sự nhu mì, khiêm nhường và công bình đã được ứng nghiệm trong Hội Thánh Đấng Christ phục sinh hằng sống. Tất cả các sứ đồ đều là người Do Thái, song Phaolô viết rằng tất cả người Ngoại bang nào được tái sinh thì sẽ trở nên con cái Ápraham (GaGl 3:7). Phaolô cũng là một nhà tiên tri khi ông tiên báo rằng Đức Chúa Trời sẽ phục hưng dân tộc Do Thái cho chính Ngài và “tất cả người Ysơraên sẽ được cứu” (RoRm 9:1-11:36).
TIÊN TRI AGHÊ
Tất cả các nhà tiên tri mà chúng ta đề cập sau đây đã từng sống và rao giảng trước hoặc trong thời kỳ lưu đày tại Babylôn. Các tiên tri nầy là: Aghê, Xachari và Malachi, được gọi là “những tiên tri hậu lưu đày”, vì họ rao giảng cho người Do Thái trở về từ chốn lưu đày ở Babylôn. Mười hai sách lịch sử Cựu ước cung cấp cho chúng ta bối cảnh lịch sử mà các nhà tiên tri đã sống và rao giảng. Để hiểu rõ giai đoạn lịch sử trong thời của ba nhà tiên tri nầy, chúng ta hãy đọc sách Exơra, hoặc đọc cuốn “Ngũ Kinh và Các Sách Lịch Sử” của tôi, chúng sẽ nhắc cho bạn nhớ lại những điều chúng ta đã học về ba đợt trở về từ chốn lưu đày Babylôn.
Aghê và Xachari rao giảng cho những người thuộc nhóm đầu tiên bị bắt lưu đày ở Babylôn và đã được hồi hương. Lần trở về thứ nhất diễn ra ngay sau khi Đế quốc Babylôn rơi vào tay người Mêđi-Batư. Sự trở về lần nầy nhằm thực hiện một công việc được xác định rất rõ ràng. Khải tượng cho lần trở về đầu tiên là xây dựng lại Đền Thờ Salômôn. Mục tiêu của sứ mạng đó là trọng tâm và linh hồn cho các sứ điệp của tiên tri Aghê và Xachari.
Để ứng nghiệm lời tiên tri kỳ diệu của Êsai, Siru Đại đế, Hoàng đế của đế quốc Ba Tư ban chiếu chỉ cho phép trở về từ cuộc lưu đày, và được cung cấp vật liệu để tái thiết Đền Thờ. Mặc dù sự trở về để xây lại Đền Thờ là một phép lạ đầy vinh hiển, song sự trở về trên thực tế chẳng có chút nào gọi là vinh hiển. Năm mươi ngàn người tị nạn trông thật rách rưới trên đường trở về xây lại Đền Thờ. Có lẽ họ rất giống những người tị nạn ngày nay chúng ta vẫn thường thấy.
Họ từng là một đội quân hùng mạnh gồm 600.000 chiến sĩ mà ai cũng khiếp sợ, ấy là thời họ sống trong những thành trì được phòng vệ vững chắc ở Canaan (Gios Gs 2:9-14). Còn bây giờ họ không có quân đội, và thậm chí cũng chẳng có quốc gia. Họ càng đau buồn và thất vọng hơn khi thấy quê hương mình bị những người ngoại giáo chiếm cứ, là những người không hề hoan nghênh họ chút nào. Bây giờ chúng ta hãy đặt mình vào bối cảnh lịch sử và những thách thức mà tiên tri Aghê và Xachari phải đối mặt.
Sứ Điệp Của Tiên Tri Aghê
Đoàn người lưu đày sau khi trở về nhìn thấy những người đang sống tại Giêrusalem và Giuđê, là những người bị quân Babylôn chinh phục, trục xuất ra khỏi xứ và đưa đến sống ở Giuđa. Những người nầy hằn học chống đối việc tái thiết Đền Thờ. Họ cho rằng chính Đền Thờ đã giúp cho người Do Thái trước đó trở thành một dân tộc cường thịnh, cho nên đã quấy nhiễu và gây khó dễ người Giuđa ngay khi việc tái thiết Đền Thờ vừa khởi công. Vì gặp sự chống đối của nhóm người ngoại giáo nầy, dân Giuđa quá hoảng sợ nên đành phải dừng công việc xây lại Đền Thờ đến mười lăm năm! Thế rồi, họ hoàn toàn quên lãng mục tiêu sứ mệnh của mình và bắt đầu lao vào lo xây cất nhà cho riêng mình. Bây giờ chúng ta hãy cùng nhập cuộc với tiên tri Aghê!
Hãy nhớ rằng nhiệm vụ của tiên tri là lên tiếng phản đối mọi trở lực nào ngăn trở công việc của Đức Chúa Trời, cho đến chừng trở lực đó không còn nữa và công việc Ngài được thực hiện trở lại. Công việc của Đức Chúa Trời khi Aghê thi hành chức vụ là tái thiết Đền Thờ. Sự ưu tiên của dân Giuđa bị lệch mục tiêu là vấn đề trở ngại đang cản trở công việc của Đức Chúa Trời. Aghê chia sẻ bốn bài giảng tuyệt vời với nội dung ca ngợi về Đền Thờ.
Bài Giảng Thứ Nhất Của Aghê: “Hãy Tập Trung Vào Thứ Tự Ưu Tiên!” (Chương 1)
Một nửa sách Aghê ngắn ngủi nầy là phần ký thuật, và tiếp theo Aghê mô tả kết quả bài giảng thứ nhất của mình. Trong bài giảng, Aghê thách thức dân Giuđa: “Các ngươi khá xem xét đường lối mình!” Sứ điệp của toàn bộ Kinh Thánh có thể được rút gọn thành bốn chữ: “Chúa là trên hết!” Lời thách thức của Aghê cho những người đi lưu đày trở về cơ bản là: “Hãy xem thì giờ của các ngươi và thì giờ của Đức Chúa Trời. Các ngươi có thì giờ cho căn nhà mình, nhưng không có thì giờ cho nhà Chúa!”.
Để phát ngôn cho Đức Chúa Trời, Aghê rao giảng: “Khá xem đường lối Ta! Các ngươi trông nhiều mà được ít; các ngươi đem vào nhà, thì Ta đã thổi lên trên. Đức Giêhôva vạn quân phán: Ấy là tại làm sao?Ấy là tại nhà Ta thì hoang vu, còn các ngươi ai nấy lo xây nhà mình” (AgKg 1:9). Một bản dịch khác trích lời của Aghê nói rằng họ đã bỏ tiền mình vào túi lủng. Nhà tiên tri thách thức họ hãy xem xét đường lối Đức Chúa Trời vì Lời Ngài cho biết rằng Ngài là Đấng đã làm cho túi của họ bị lủng.
Aghê thách thức những người lưu đày hãy cân nhắc điều họ đang làm và điều Đức Chúa Trời đang làm. Vì họ đặt sai thứ tự ưu tiên, nên dẫn đến hậu quả là Đức Chúa Trời cho phép hạn hán xảy ra trên công việc của họ và trên cả dân Giuđa (1:10-11). Thay vì ban mưa thì Chúa lại sai nạn đói đến. Họ làm lụng hết sức vất vả khó nhọc nhưng chẳng thu hoạch được gì, và đó là hậu quả nhãn tiền mà họ phải gánh chịu do không đặt Chúa lên trên hết.
Aghê là một diễn giả đầy quyền năng bởi vì dân sự hoàn toàn bị bắt phục để vâng lời. Họ bắt đầu dồn sự ưu tiên của mình vào công việc Đền Thờ. Bài giảng thứ nhất của Aghê được chia làm hai phần. Phần thứ nhì nói về việc dân Giuđa đáp lại trong sự vâng lời của họ. Nội dung chủ yếu của phần thứ nhì là: “Ta ở cùng các ngươi, Đức Giêhôva phán vậy!” (1:13). Một khi tổ chức lại thứ tự ưu tiên của mình, họ được Đức Chúa Trời ở cùng. Khi đặt Chúa lên trên hết, Ngài ban phước cho họ và công việc của họ.
Bài Giảng Thứ Hai Của Aghê: “Hãy Hướng Đến Viễn Cảnh Của Các Ngươi!” (2: 1-9)
Đền Thờ đầu tiên do Salômôn xây dựng bằng những vật liệu rất có giá trị như vàng, bạc và các loại đá quý. Tất cả sự sang trọng và giàu có của Salômôn đã cung cấp vật liệu để xây cất ngôi Đền Thờ nguyên thủy nầy. Khi những người Giuđa còn sót lại tái thiết Đền Thờ Salômôn, họ chỉ là những người tị nạn nghèo nàn. Nguồn vật liệu mà những người lưu đày hồi hương có được chỉ là đống gạch vụn của Đền Thờ nguyên thủy, và một số do hoàng đế của Ba Tư là Siru Đại Đế giúp đỡ.
Nhiều người tham gia xây dựng lại Đền Thờ thứ hai chưa hề nhìn thấy Đền Thờ đầu tiên, vì họ được sinh ra trong thời gian bị lưu đày. Những người lớn tuổi đã từng thấy Đền Thờ trước, bây giờ không thể làm gì được ngoài việc khóc than cho một Đền Thờ còn lâu mới được huy hoàng như Đền thờ đầu tiên (Exo Er 3:12-13).
Trong bài giảng thứ hai của Aghê, ông nhận thấy những người cao tuổi sau lưu đày đang buồn rầu và ngã lòng. Aghê nhắc nhở họ rằng ý nghĩa của Đền Thờ là về mặt thuộc linh chứ không phải về mặt thuộc thể hay vật chất (Đền Tạm trong đồng vắng chỉ là một cái lều!) Aghê cũng nhắc cho họ rằng ngay trong khi bị lưu đày thì Thần của Đức Chúa Trời vẫn ở với họ.
Bài giảng thứ hai của Aghê dạy dân sự cần phải chú ý đến viễn cảnh của mình. Từ “viễn cảnh” có nghĩa là “ở phía trước”. Kinh Thánh nhiều lần khích lệ chúng ta hãy nhớ đến ý nghĩa nầy, và cũng nhiều lần Kinh Thánh dạy chúng ta rất rõ ràng là hãy quên mọi sự ở đàng sau.
Đôi khi việc nhìn lại đàng sau sẽ gây họa cho chúng ta, vì thế Đức Chúa Trời dùng những vị tiên tri như Aghê thách thức chúng ta đừng nên có cái nhìn “phiến diện” như thế, nghĩa là đừng để tâm đến những trở ngại và những điều gây bối rối đã qua, đơn giản là hãy nhìn vào hiện tại, và hướng tới tương lai, đó là điều Chúa muốn ở chúng ta, và cũng là sứ điệp chính trong bài giảng thứ nhì của Aghê.
Bài Giảng Thứ Ba Của Aghê: “Hãy Hướng Đến Động Cơ Thúc Đẩy Của Các Ngươi!” (2:10 -19)
Sau khi người Hêbơrơ khởi công tái thiết Đền Thờ, họ muốn nhìn thấy ngay phước lành trên công việc của mình mà Đức Chúa Trời đã hứa ở phần hai, trong bài giảng thứ nhất của Aghê. Họ làm việc suốt nhiều tháng, hết mùa thu sang mùa đông, thế nhưng vẫn chưa nhận được phước hạnh mà họ đang mong đợi.
Aghê đưa ra hai câu hỏi cho những người đang nản lòng. Vì thầy tế lễ là những người thường trả lời các câu hỏi của dân sự về Kinh Thánh, nên Aghê đưa ra cho các thầy tế lễ hai câu hỏi như sau. Câu thứ nhất, ông hỏi: “Nếu có kẻ gói thịt thánh trong chéo áo, và chéo áo mình đụng đến bánh,hoặc vật gì nấu chín, hoặc rượu, hoặc dầu, hay là đồ ăn gì, thì vật đó có nên thánh không?Các thầy tế lễ đều đáp rằng: Không!” Câu hỏi thứ hai của ông là: “Nếu ai bị ô uế vì thây chết đụng đến các vật ấy, thì các vật ấy có lây ô uế không? Các thầy tế lễ trả lời rằng: Các vật ấy sẽ bị ô uế !”( AgKg 2:12-13).
Bằng hai câu hỏi nầy, ông minh họa sự thay đổi đã xảy ra trong dân chúng từ khi họ bị lưu đày trở về. Trước khi lưu đày, họ giống như người bị ô uế. Vì hậu quả của tội lỗi, mọi thứ họ chạm đến cũng sẽ bị ô uế theo. Nhưng qua sự sửa phạt bằng việc bị lưu đày, họ được tẩy uế, và bây giờ những việc họ làm trong công cuộc tái thiết Đền Thờ được xem là thánh khiết.
Tuy nhiên, họ cần phải hiểu rằng, sự thánh khiết không thể xảy đến một cách nhanh chóng được, như là một căn bệnh truyền nhiễm. Tội lỗi lây lan theo cách đó, nhưng phải tốn nhiều thời gian mới trở nên thánh khiết. Nếu các phước hạnh Chúa ban cho chỉ đơn giản là nhờ vào sự vâng lời của chúng ta, thì ơn phước của Chúa có thể trở thành kết quả của công đức chúng ta chứ không phải nhờ ân điển của Ngài. Động cơ cho sự nên thánh của chúng ta chính là lòng kính mến Chúa, chứ không phải mong đợi các phước hạnh. Trong bài giảng thứ ba của mình, Aghê thách thức dân sự hãy hướng động cơ của họ vào sự phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách xây sửa lại Đền Thờ.
Bài Giảng Thứ Tư Của Aghê: “Hãy Để Ý Đến Nỗi Sợ Hãi Của Các Ngươi!” (2:21-23)
Sau bảy mươi năm bị giam cầm, sống trong cảnh nô lệ, những người lưu đày sau khi trở về Giêrusalem, họ không còn khả năng tự vệ, vì thế họ mang nỗi sợ hãi sẽ bị các dân tộc khác bắt làm nô lệ lần nữa.
Bài giảng thứ tư của Aghê đề cập đến nỗi khiếp sợ của họ. Ông nói tiên tri rằng Đức Chúa Trời sẽ lật đổ ngôi của các nước mà họ sợ hãi và kế hoạch của Ngài sẽ làm rúng động các từng trời và đất.
Trong bài giảng thứ tư của mình, Aghê báo trước Đức Chúa Trời sẽ làm rúng động đất cho đến chừng những gì còn lại trên đất không thể bị lay chuyển được nữa. Tác giả sách Hêbơrơ trích dẫn từ bài giảng thứ hai của Aghê, và sau đó nói cho chúng ta biết rằng chúng ta đã nhận lãnh Vương Quốc không hề bị rúng động (HeDt 12:26-29). Đó là trọng tâm bài giảng thứ tư của Aghê.
Ứng Dụng Cá Nhân
Hãy ứng dụng bài giảng của vị tiên tri cao quý nầy vào trong đời sống bạn ngay hôm nay. Điều bạn ưu tiên là gì? Đức Chúa Trời có ban phước cho công việc của bạn không? Bạn đang làm gì cho đời sống thuộc linh của mình? Sự đoán phạt kinh khủng nhất mà Đức Chúa Trời giáng trên những người bị lưu đày là do họ đặt sai thứ tự ưu tiên, đó là Ngài sẽ gọi hạn hán đến trên họ và trên công việc của họ. Có bao giờ bạn cảm thấy mình đang nếm trải một cơn hạn hán thuộc linh không? Nếu Đức Chúa Trời không chúc phước cho công việc khó nhọc của bạn, và nếu bạn nhận thấy chính mình đang ở một trong những nơi khô hạn thuộc linh, thì sứ điệp cầu nguyện của Aghê dành cho bạn sẽ là: “Hãy xem xét đường lối ngươi,” và “Hãy xem xét đường lối Chúa”.
Viễn cảnh của bạn ra sao? Bạn có đang nhìn thẳng về phía trước không? Hay là bạn vẫn tiếp tục nhìn lại đằng sau và so sánh công việc Đức Chúa Trời đã làm trên đời sống bạn trong quá khứ, trong khi Đức Chúa Trời lại muốn bạn chú tâm vào công việc Ngài đang làm ngay hôm nay và trong tương lai?
Bạn đang hầu việc Chúa vì những động cơ nào? Bạn có nôn nả đòi hỏi phải nhận được ngay các phước hạnh khi hầu việc Chúa không? Có phải bạn đang làm công việc Chúa vì nghĩ rằng sẽ nhận được phần thưởng ngay lập tức không?
Điều gì khiến bạn sợ hãi? Aghê cũng như Phierơ bảo đảm rằng bạn có thể trao hết mọi điều lo lắng của mình cho Ngài vì Ngài luôn chăm sóc bạn (IPhi 1Pr 5:7). Vì bạn vừa đọc xong lời tiên tri của Aghê, cho nên bạn hãy hướng đức tin mình vào những điều ưu tiên của bạn, viễn cảnh của bạn, động cơ và những nỗi sợ hãi của bạn.
TIÊN TRI XACHARI
Khi Aghê rao ra bốn bài giảng đầy sống động, bạn có thể nghe lời của vị tiên tri trẻ hơn là Xachari nói về vị tiên tri lão thành Aghê: “Nhưng ông Aghê ơi! khi dân sự không được phòng thủ và dễ bị tấn công, chẳng còn cách nào khác để tự vệ; khi dân sự nản lòng và thối chí; người ta rơi vào chỗ tuyệt vọng, khi những con người thất bại và vô vọng đang lâm vào cảnh sợ hãi và bị đe dọa bởi sự bắt bớ; thì ấy chính là lúc những con người đó cần nghe nhiều hơn những lời nầy: ‘Hãy mạnh mẽ và làm việc!” Khi dân sự đang tuyệt vọng vì họ trải qua cơn khủng hoảng, thì tất cả những gì họ có thể thấy được chỉ là những tấn thảm kịch trong cơn khủng hoảng của họ.
Các nhà tiên tri được gọi là “những nhà tiên kiến” bởi vì họ có thể “thấy” Đức Chúa Trời đang hành động ở phía sau, phía trên và ngay cả trong cuộc khủng hoảng. Một nhà tiên kiến thấy điều mà những người khác không thấy, bởi vì họ nhìn thấy Chúa. Xachari là một trong số những hình ảnh cao quý nhất của một “nhà tiên kiến” trong cả Kinh Thánh.
Xachari tin rằng những người Giuđa có lòng tan vỡ nầy cần có khải tượng về một Đức Chúa Trời quyền năng tuyệt đối, là Đấng đã ở cùng, ban sức mạnh, và chiến đấu thay cho họ. Đức Chúa Trời dùng sự rao giảng của Xachari để đem đến cho những người lưu đày trở về đang thất bại, chán nản và tuyệt vọng một khải tượng về chính Ngài.
Hình Thức Văn Chương Của Xachari
Trọng tâm lời tiên tri của Xachari chia sẻ cho những người bị lưu đày nầy, cùng với bạn và tôi là tám sự hiện thấy. Ông chú trọng đến vấn đề chăm sóc những người Giuđa sống sót sau cuộc lưu đày đang ngã lòng, thất vọng nầy. Kế đến, ông kéo ngược tấm màn ảo lên và trình bày sự mặc khải về cách Đức Chúa Trời đang hành động ở phía sau những bức màn ấy. Ông thực hiện tám lần như vậy trong lời tiên tri sống động nầy. Đó là hình thức văn chương của sách Xachari.
Sứ Điệp Của Xachari
Lời Đức Giêhôva phán qua Xachari: “Hãy trở lại cùng Ta… thì Ta sẽ trở lại cùng các ngươi!” . Giống như người Do Thái ở Ysơraên ngày nay, những người bị lưu đày nầy đã hồi hương, đây là sự kiện được một số tiên tri báo trước. Qua sự rao giảng của Xachari, Đức Chúa Trời hỏi dân sự Ngài về sự đáp ứng thuộc linh, không phải với một thành phố hay Đền Thờ, nhưng với chính Ngài. Trong khi vấn đề nầy rõ ràng là chưa xảy ra giữa vòng dân Do Thái ở Ysơraên ngày nay, thì Xachari cùng nhiều tiên tri khác và cả sứ đồ Phaolô nữa, đã tiên báo rằng sẽ có sự phấn hưng thuộc linh và khi đó:“Tất cả người Ysơraên sẽ được cứu” (XaDr 8:20-23, RoRm 11:26, EsIs 59:20-21).
Xachari sử dụng từ ngữ: “Đức Giêhôva Vạn Quân” đến năm mươi ba lần để giới thiệu Đức Chúa Trời là Chúa Tể của muôn vàn thiên sứ, của các vì sao, và của tất cả quyền lực siêu nhiên mà Ngài sẽ dùng để hoàn tất mục đích của Ngài trong thế giới nầy. Trên một phương diện nào đó thì từ ngữ nầy tóm tắt những lời tiên tri của Xachari, vì tất cả khải tượng của Xachari đều nói cho chúng ta biết rằng ông đã nhìn thấy Đức Chúa Trời là “Đức Giêhôva Vạn Quân”, ngay cả vào thời điểm dân sự Chúa đang trong tình trạng suy yếu về quân đội lẫn chính trị.
Xachari thấy Đức Giêhôva Vạn Quân hành động theo ba phương diện vì cớ ích lợi dân sự của Đức Chúa Trời. Thứ nhất, Chính Ngài là Đức Giêhôva Vạn Quân. Thứ hai, và cũng là phương diện quan trọng nhất, đó là Đức Chúa Trời sẽ ban cho dân sự trở lại cùng Ngài qua một Đấng mà tiên tri Xachari gọi là “Chồi”. Ngoại trừ sáu mươi sáu chương của sách Êsai, thì chỉ có 14 chương của sách Xachari là chứa đựng nhiều lời tiên tri về Đấng Mêsia hơn bất kỳ sách tiên tri nào khác. Khi Đấng Mêsia đến làm ứng nghiệm lời tiên tri của Xachari, Đấng Christ khẳng định thật rõ ràng, dứt khoát với dân sự Đức Chúa Trời: “Ta là Đường Đi, Lẽ Thật và Sự Sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha!” (GiGa 14:6).
Phương diện thứ ba mà Xachari rao giảng, đó là Đức Chúa Trời sẽ trở lại cùng chúng ta và đem chúng ta về với Ngài như lời hứa về ngày Lễ Ngũ Tuần quen thuộc: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giêhôva vạn quân phán vậy” (XaDr 4:6). Xachari tiên báo về phép lạ vĩ đại xảy ra trong ngày Lễ Ngũ Tuần và tất cả những phước hạnh sẽ được Đức Chúa Trời ban cho dân sự Ngài trong ngày lớn đó.
Khi nói đến phương diện nầy, Xachari đã vẽ lên một bức tranh tuyệt vời về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Đức Giêhôva Vạn Quân là Đức Chúa Cha; con đường trở lại cùng Đức Chúa Cha phải xuyên qua Chồi, là Đức Chúa Con. Khi dân sự Đức Chúa Trời trở lại cùng Cha bởi con đường là Con, thì Đức Chúa Con sẽ ban cho họ quyền năng của Đức Thánh Linh trong ngày Lễ Ngũ Tuần.
Tám Khải Tượng Của Xachari
Từ “khải huyền” trong tiếng Hy Lạp là “mặc khải”. Sự mặc khải có nghĩa là tiết lộ. Từ “khải huyền” còn có nghĩa là “kéo bức màn lên để lộ ra những điều mà ngay cả người khôn ngoan cũng chưa bao giờ được biết”. Xachari kéo bức màn ấy lên tám lần và chỉ cho dân sự thấy công việc Đức Chúa Trời đang hành động ở đằng sau bức màn được lộ ra. Đức Chúa Trời ban những sự hiện thấy cho Xachari, nhằm tăng thêm sức mạnh cho dân sự Ngài đang trong tình trạng yếu đuối, và ban niềm hy vọng giữa lúc họ đang thất vọng.
Khải Tượng Thứ Nhất: Về Nơi Có Bóng Mát ([dc 1:7-17;)
Theo nhiều học giả Kinh Thánh, người đứng trong trũng có những cây sim tượng trưng cho sự từng trải khó khăn của giai đoạn chuyển tiếp mà những người bị lưu đày đang trải qua. Đó là giai đoạn chuyển tiếp giữa sự trở về lạ lùng của họ, thoát khỏi cảnh nô lệ và sự đày ải tại Babylôn, với sự thách thức biến đống gạch vụn đổ nát thành một ngôi Đền Thờ, đó là thời kỳ dân sự vô cùng nản lòng và mất hết ý chí, can đảm. Mặt khác, họ tự cảm thấy mình như đang ở dưới đáy vực sâu vậy. Vấn đề trở ngại “phía trước bức màn” mà chúng ta có thể thấy được khiến họ ngã lòng là một thực tế không thể phủ nhận, rằng họ không còn quốc gia nữa, mà chỉ là đám người tị nạn nghèo khổ, rách rưới trông thật thảm hại. Họ lâm vào một trong những thời kỳ chuyển tiếp tồi tệ mà tất cả chúng ta cũng sẽ trải qua.
Khi Xachari kéo bức màn lên, ông nhìn thấy Đấng mà ông gọi là “Đấng Nhìn Xem”, và Đấng đó chính là Đức Giêhôva Vạn Quân. Ngài quan tâm và đang quan sát sự chuyển tiếp nầy của dân sự. Cuối cùng, Ngài kết thúc sự lưu đày của dân sự Ngài một cách siêu nhiên. Trong thời điểm và đường lối Ngài, Đức Chúa Trời sẽ làm trọn chương trình của Ngài dành qua sự khôi phục lại dân Ngài trên xứ họ và phục hưng tâm linh họ một cách hoàn toàn, trọn vẹn.
Khi Đức Chúa Trời muốn làm một điều gì đó mới mẻ trong đời sống chúng ta, khi Ngài muốn kêu gọi chúng ta đi đến một nơi xa lạ, thì hầu hết chúng ta đều tận dụng thì giờ để trình bày cho Ngài ba trở lực. Vì chúng ta chỉ chú trọng về sự an ninh của chính mình, nên chúng ta không muốn rời bỏ cái nôi an toàn thân quen, là nơi chúng ta đang sống và làm việc. Tuy nhiên, Chúa buộc lòng phải đưa chúng ta ra khỏi nơi đó, trước khi Ngài dẫn chúng ta vào một nơi ở mới. Đó là lý do tại sao sự kêu gọi của Đức Chúa Trời thường có hai chiều - một sức kéo từ phía trước và một sức bật từ phía sau. Hay nói cách khác, Đức Chúa Trời phải phá tung chúng ta ra khỏi chỗ cũ, để dẫn chúng ta vào nơi ở mới. Bạn có nghĩ là Chúa đã từng làm những việc lạ lùng đó nhiều lần vì cớ bạn không? Tôi gọi những việc lạ lùng ấy là “sự can thiệp thánh”.
Khi chúng ta ở giữa nơi cũ và mới, Đức Chúa Trời luôn gìn giữ chúng ta để có thể kéo chúng ta vượt qua giai đoạn chuyển tiếp. Lúc đó, Ngài buộc chúng ta phải đi đúng hướng để Ngài có thể sắp xếp cho chúng ta vào nơi ở mới, và nhiệm vụ mới mà Ngài muốn thực hiện trong đời sống và chức vụ của chúng ta. Lúc dân Ysơraên còn ở Êdíptô, Đức Chúa Trời muốn dẫn họ vào miền Đất Hứa, và Ngài mô tả phép lạ đó như thế nầy: “Ta đã đem các ngươi ra khỏi xứ ấy, để dẫn vào xứ Ta đã thề cùng tổ phụ các ngươi; để ban cho các ngươi” (PhuDnl 6:23).
Sự Hiện Thấy Thứ Hai: Bốn Cái Sừng (1:18-21)
Trong Kinh Thánh, cái sừng biểu tượng cho sức mạnh. Trở lực có thể nhìn thấy được nằm trước bức màn, chính là họ đã nuôi dưỡng sự sợ hãi các cường quốc hùng mạnh, đã từng xâm chiếm và bắt họ làm phu tù. Các cường quốc nầy có thể dễ dàng trở lại chinh phục và bắt họ làm nô lệ.
Khi Xachari kéo bức màn lên, ông nhìn thấy những điều ở phía sau và tỏ cho những người lưu đày khiến họ được khích lệ và hy vọng. Phía sau bức màn, Xachari thấy những cường quốc mà Đức Giêhôva Vạn Quân sử dụng để tiêu diệt những “cái sừng”, là những cường quốc mà dân sự lo sợ là sẽ chinh phục và bắt họ làm nô lệ.
Sự Hiện Thấy Thứ Ba: Thành Giêrusalem (2:1-4, 10-13)
Vấn đề trở ngại hiện ra phía trước bức màn là đống đổ nát đã có thời từng là một thành phố Giêrusalem tuyệt mỹ. Lúc Xachari kéo bức màn lên, ông thấy những gì ở phía sau và tỏ cho dân sự biết là thành Giêrusalem sẽ được trùng tu đẹp đẽ. Sự mặc khải nầy cho họ biết rằng đống đổ nát hiện tại rồi đây sẽ biến thành một thành phố vĩ đại đến nỗi người ta không thể đo được, và sẽ được Đức Giêhôva Vạn Quân bảo vệ nghiêm ngặt, do đó nó sẽ không cần đến một bức tường nào nữa.
Giêrusalem và Đền Thờ đã được tái thiết, là nơi mà Chúa Jêsus đã từng nhiều lần viếng thăm. Sau thời Chúa Jêsus bốn mươi năm, quân La Mã lại hủy diệt và biến thành phố nầy thành bình địa. Nhưng sau đó thành phố được xây dựng như hiện nay. Toàn bộ các nghi thức tế lễ bằng việc dâng sinh tế là thú vật đã bị bãi bỏ khi quân La Mã hủy diệt thành Giêrusalem vào năm 70 SC. Lời tiên tri của Xachari về Giêrusalem đã được ứng nghiệm phần nào khi thành được tái thiết vào trước thời Đấng Christ, và nó lại tiếp tục được xây dựng sau khi bị quân La Mã phá hủy tàn khốc lần nữa. Lời tiên tri nầy sẽ được ứng nghiệm hoàn toàn khi Giêrusalem trở thành Giêrusalem Mới mà Sứ đồ Giăng đã phát họa sơ lược trong KhKh 21:2.
Sự Hiện Thấy Thứ Tư: Kẻ Kiện Cáo Tín Hữu (3:1-2; 8-10)
Vấn đề Xachari hướng đến ở phía trước bức màn đang làm nản lòng đoàn người lưu đày là sự hiện thấy về thầy tế lễ thượng phẩm Giêhôsua, người mặc một cái áo bẩn. Trong sự hiện thấy nầy, Satan đang kiện cáo Giêhôsua. Điều Xachari muốn đề cập ở đây là tội thờ thần tượng của dân sự đã được tha thứ và thanh tẩy qua cảnh sống giam cầm, hơn là ông muốn nói đến những sự tố cáo của Satan.
Satan, kẻ kiện cáo, hay lợi dụng những hậu quả hoặc sự gớm ghiếc của tội lỗi, là điều đã được tha thứ để ngày đêm kiện cáo anh em. Sách Khải huyền cho chúng ta biết rằng khi quyền lực Satan bị vô hiệu hóa thì sự cứu rỗi, sức mạnh, Vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta và quyền năng của Đấng Christ sẽ đến (12:10).
Khi Xachari kéo tấm màn lên, ông nhìn thấy và tiết lộ cho dân sự biết sự mặc khải về Ba Ngôi Đức Chúa Trời - Đức Giêhôva Vạn Quân, về tình yêu và quyền năng của Đức Chúa Trời, xuyên qua Đấng Mêsia - Đấng được gọi là “Đấng Biện Hộ”. Ông cũng nhìn thấy cả Đức Thánh Linh, và một phần trong những phép lạ ở tương lai là sự Tái Lâm của Đức Chúa Jêsus Christ.
Sự Hiện Thấy Thứ Năm: Chân Đèn Vàng Và Nguồn Dầu (4:1-7)
Vấn đề phía trước bức màn trong sự hiện thấy lần nầy góp phần làm mất tinh thần những người Do Thái bị lưu đày, là tinh thần mà họ được Đức Chúa Trời giao cho trách nhiệm để chia sẻ Lời Ngài cho toàn thế giới. Khi họ là những người nhận lãnh Lời Đức Chúa Trời cho cả thế gian, họ có nhiệm vụ phải thực hiện và rao truyền Lời ấy cho toàn thế giới. Nhìn vào ngôi Đền Thờ đổ nát, thành phố, quê hương thân yêu của họ, và ngay cả đời sống cá nhân của họ nữa, đã khiến cho họ cảm thấy rằng mình không thể nào trở thành những tấm gương, hay là những người rao giảng Lời của Đức Chúa Trời được.
Bạn đã bao giờ ở trong một sa mạc thuộc linh nào đó, như là bệnh tật, ngã lòng, hoặc gặp phải các hình thức thất bại thuộc linh khác khi ma quỉ đưa ra những sự kiện cáo chống nghịch bạn chưa? Trong những lần bị tổn thương đó, có phải bạn nghe tiếng thì thầm rằng: “Ngươi có còn nghĩ mình là tấm gương mẫu mực cho thế giới nhìn thấy - là muối của đất và là ánh sáng của thế gian nữa không?”
Khi Xachari dời bức màn đi, ông nhìn thấy Đức Thánh Linh, Đấng được mô tả như là nguồn dầu: “Người đáp lại rằng: Đây là lời của Đức Giêhôva phán cho Xôrôbabên, rằng: Ấyt chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giêhôva vạn quân phán vậy” (XaDr 4:6). Khải tượng nầy bảo đảm cho dân sự rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ quyền năng để họ trở nên những người như Ngài mong muốn, và thực hiện những gì mà Ngài bảo họ, qua quyền năng của Đức Thánh Linh. Cũng giống như tiên tri Giôên và Xachari, ông đã cho chúng ta lời tiên tri kỳ diệu về ngày Lễ Ngũ Tuần.
Sự Hiện Thấy Thứ Sáu: Cuộn Sách Bay (5:1-4)
Vấn đề tập trung trước bức màn trong sự hiện thấy lần nầy, là những người lưu đày trở về bị áp đảo bởi sự gây rối và quyền lực của kẻ ác. Khi những điều tồi tệ xảy ra vào một lúc nào đó trong cuộc đời, nếu không thận trọng, thì chúng ta sẽ bị lấn át bởi quyền lực đáng sợ của sự gian ác. Nỗi ám ảnh về sự áp bức, cùng với quyền lực khủng khiếp của sự gian ác khiến cho dân sự Đức Chúa Trời nghĩ rằng những thế lực thiện lành và quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ chẳng bao giờ thắng được quyền lực đáng sợ của các thế lực gian ác.
Khi vén bức màn lần nữa, Xachari nhìn thấy những điều ở phía sau, và ông tiết lộ cho dân chúng qua sự rao giảng rằng Đức Giêhôva Vạn Quân sẽ trang bị cho dân sự của Ngài thắng hơn các thế lực gian ác. Theo như sự hiện thấy của Xachari, thì Đức Chúa Trời sẽ kiểm soát, giới hạn, thậm chí đôi lúc Ngài còn dùng cả sự gian ác để làm vinh hiển và hoàn thành những mục đích của Ngài. Cho dù sự gian ác chẳng có gì là tốt lành, thế nhưng Đức Chúa Trời vẫn có thể dùng trong kế hoạch của Ngài để làm thành điều ích lợi cho dân Ngài (EsIs 45:7, RoRm 8:28).
Sự Hiện Thấy Thứ Bảy: Người Đàn Bà Ngồi Trong Rổ (5:5-11)
Vấn đề trong sự hiện thấy lần nầy của Xachari chính là sự gian dối trong việc mua bán của thế gian. Khi vén bức màn lên, ông bày tỏ một lẽ thật, đó là sự thiếu trung thực trong việc mua bán ở đời nầy sẽ bị khống chế bởi Đức Giêhôva Vạn quân.
Cho dù chúng ta không hiểu được điều nầy, cũng như tất cả những việc xấu xa trên thế giới, tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn có thể dùng điều xấu để hoàn thành mục đích và đem lại vinh hiển cho chính Ngài. Giống như một người thợ kim hoàn dùng một tấm vải nhung đen làm nền để trưng bày những viên kim cương của mình, Đức Chúa Trời cũng xem điều xấu xa ở nơi phố chợ trong cõi đời nầy như cái nền màu đen, để trưng bày lên trên đó tình yêu thương vô điều kiện của Ngài. Tình yêu ấy được thể hiện qua sự tha thứ và giải cứu dân Ngài thoát khỏi kiếp phu tù, nó được phô bày qua sự cứu rỗi mà nhờ đó chúng ta mới có thể quay về với Chúa và Ngài cũng sẽ trở lại cùng chúng ta.
Sự Hiện Thấy Thứ Tám: Bốn Cỗ Xe (6:1-8)
Vấn đề Xachari đề cập trong sự hiện thấy lần thứ tám là việc dân sự Đức Chúa Trời đang nuôi dưỡng một nỗi sợ hãi, và ấp ủ nỗi thất vọng đối với giới lãnh đạo quá đồi bại, đến nỗi dân sự đánh mất lòng tin nơi những người lãnh đạo của mình. Trên khắp thế giới ngày nay, đâu đâu cũng đầy dẫy tình trạng các cấp chính quyền hối lộ, tham nhũng đến mức người dân vốn chính trực cũng không còn tín nhiệm và tin tưởng vào cách giải quyết và sự lãnh đạo của họ nữa.
Điều Xachari nhìn thấy phía sau bức màn tương tự như sứ điệp của tiên tri Michê. Sự lãnh đạo trong sạch chỉ được tìm thấy trong Vương quốc Đức Chúa Trời. Cho đến khi Vua của các vua và Chúa của các chúa trị vì, thì lúc ấy mới không còn có những sự lãnh đạo thối nát nữa. Tuy nhiên, tương tự như ở hai sự hiện thấy trước đó, Đức Chúa Trời sẽ lãnh đạo. Đức Giêhôva Vạn Quân sẽ cầm quyền tối cao. Chính quyền trong Vương quốc Đức Chúa Trời là chính quyền có tổ chức, có quy củ và luôn ở trong sự hài hòa trọn vẹn.
Lời Tiên Tri Về Đấng Mêsia Của Xachari
Có nhiều nhà lãnh đạo của dân sự Đức Chúa Trời không tin Đấng Mêsia là Đấng Giải Cứu, và họ đã làm cho những người tin nhụt chí. Lời tiên tri về Đấng Mêsia của Xachari cho thấy Đức Chúa Trời sẽ ngự trên ngôi chí cao, làm Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa, là Đấng sẽ hợp nhất và thể hiện cả ba chức vụ Tiên Tri, Thầy Tế Lễ và Nhà Vua trong sự trị vì một nghìn năm của Ngài.
Một số lời tiên tri tiêu biểu của Xachari nói về Sự Giáng Thế của Đấng Mêsia như: XaDr 3:8 9:9, 16;;, 11:11-13, 12:10, 13:1, 6 và đề cập đến Sự Tái Lâm của Ngài: 6:12, 8:20-23, 14:1-9. Trong số những câu nầy, có một câu Xachari nói tiên tri sơ lược về sự phục hưng thuộc linh của dân Do Thái. Một số học giả thủ cựu tin rằng lời tiên tri nầy có thể đã được ứng nghiệm phần nào trong ngày Lễ Ngũ Tuần và nó cũng sẽ còn được ứng nghiệm trong những ngày sau rốt (8:20-23).
TIÊN TRI MALACHI
Những năm gần đây ở Bắc Mỹ, có một tệ nạn trong giới lãnh đạo thuộc linh, họ sa ngã về mặt thuộc linh và đạo đức. Sách cuối cùng của Cựu ước chứa đựng một sứ điệp dành cho các nhà lãnh đạo tôn giáo. Tiên tri Ôsê có lời nhận xét chính xác rằng: “Thầy tế lễ thế nào, thì dân sự cũng thể ấy”( OsHs 4:9). Đây là tình trạng thường gây tổn hại khôn lường cho dân sự Đức Chúa Trời, cho công việc Chúa, và ảnh hưởng đến sự vinh hiển của Ngài khi một lãnh đạo tôn giáo sa ngã. Malachi trình bày cách chi tiết về sự sa ngã của một nhà lãnh đạo. Mục đích của ông là muốn cho những người lãnh đạo dân sự Đức Chúa Trời thấy cần phải làm gì để ngăn chặn tiến trình dẫn đến sự chết, và phải làm thế nào để phục hồi mối tương giao với Đức Chúa Trời khi họ sa ngã.
Malachi nối tiếp công tác của Aghê và Xachari sau chừng một trăm năm, và sau chức vụ của Nêhêmi khoảng mười năm. Ông cũng đối đầu với những tệ nạn tương tự như Nêhêmi, chẳng hạn như sự ly dị tràn lan, sự băng hoại đạo đức, và giới lãnh đạo thuộc linh ăn của đút lót (NeNe 13:23-25). Bởi ông cùng với nhiều nhà tiên tri khác quy những vấn đề đó cho giới lãnh đạo thuộc linh, cho nên ông thường dành hầu hết sứ điệp của mình cho các thầy tế lễ đang làm nhiệm vụ chăn dắt dân Giuđa trên phương diện thuộc linh.
Vị tiên tri gan dạ nầy lên tiếng cáo trách các thầy tế lễ đã xây bỏ đường lối Đức Chúa Trời, không vâng lời Ngài và gây ra nhiều tội lỗi do sự dạy dỗ vô tín, những hành vi của các thầy tế lễ thật đáng hổ thẹn trong mắt dân sự, họ đang biến “Chức thầy tế lễ thành sự chế giễu lố bịch” (XaDr 2:7-9).
Ông trở thành tiên tri giữa lúc dân sự Đức Chúa Trời sống hời hợt, chỉ theo hình thức tôn giáo, từ bỏ mối tương giao với Đức Chúa Trời. Tình trạng thuộc linh của họ nguội lạnh, thờ ơ khiến cho nhà tiên tri nhiệt thành nầy lấy làm đau đớn về tinh thần. Lời tiên tri của Malachi là lời cảnh báo cho những vị lãnh đạo tôn giáo trong dân Giuđa rằng, nếu chỉ tuân giữ luật lệ và hình thức mà không có sự sống thì họ chỉ giống như một xác chết mà thôi.
Vị tiên tri cuối cùng của Cựu ước không rao giảng về sự hiện thấy như Xachari và Aghê, không kêu gọi dân sự Đức Chúa Trời xây lại Đền Thờ. Gánh nặng trong lòng ông và sứ điệp là Đức Chúa Trời cần có mối liên hệ yêu thương với dân sự Ngài. Thế nhưng các thầy tế lễ và dân Giuđa chẳng hề quan tâm đến việc nhận biết Chúa và kính mến Ngài. Cũng như Ôsê, Malachi nhận thấy dân sự Chúa đang phạm tội ngoại tình thuộc linh với thế gian.
Khi Đấng Christ phục sinh, hằng sống truyền cho sứ đồ Giăng viết thư gởi cho Hội Thánh đầu tiên ở thành Êphêsô, Ngài trách họ vì “đã bỏ lòng kính mến ban đầu” (KhKh 2:4). Trở lực ở đây được nhà tiên tri sốt sắng nầy chỉ ra là dân Giuđa, đặc biệt các thầy tế lễ, đã từ bỏ tình yêu ban đầu - mối tương giao của họ với Đức Chúa Trời - và đang sống trong tội lỗi.
Malachi bắt đầu lời tiên tri của mình bằng những lời tốt đẹp nầy: “Gánh nặng lời Đức Giêhôva cho Ysơraên bởi Malachi. Đức Giêhôva có phán: Ta yêu các ngươi” (MaMl 1:1-2a). Khi đọc xuyên suốt Kinh Thánh, nhiều người không hề nghĩ rằng họ sẽ đọc thấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời cho tới khi đọc đến Tân ước, đặc biệt là Bài Giảng Trên Núi. Họ chẳng bao giờ nghĩ rằng sẽ tìm thấy khái niệm về tình yêu của Đức Chúa Trời qua các nhà tiên tri. Song tình yêu của Chúa thực sự luôn là đề tài chủ đạo của những tác phẩm văn chương tiên tri, chẳng hạn như Ca Thương của Giêrêmi, sách Ôsê, Giôna và Malachi.
Theo những tiên tri thời Cựu ước thì Đức Chúa Trời yêu dân Ngài bằng một tình yêu không thể đạt được bằng việc làm tích cực, hoặc bị mất đi bởi việc làm tiêu cực. Chủ đề trong lời tiên tri của Malachi là Đức Chúa Trời luôn yêu thương các thầy tế lễ và dân Giuđa. Khi Malachi chia sẻ gánh nặng trong lòng mình, ông đã đến với những người mà ông vừa đề cập, và tuyên bố rằng dù gì đi nữa thì Đức Chúa Trời vẫn luôn yêu thương dân sự Ngài bằng tình yêu không điều kiện, Ngài muốn có một sự liên hệ tình yêu với họ.
Mặc dù tình yêu của Đức Chúa Trời là vô điều kiện, tuy nhiên, bởi vì tấm lòng của họ đã nguội lạnh với Chúa, và họ đang sống trong tội lỗi, Malachi rao giảng rằng các thầy tế lễ và dân Giuđa đang làm tổn thương tấm lòng nhân ái của Đức Chúa Trời. Chủ đề của Malachi là chỉ ra tình trạng của các thầy tế lễ lẫn dân Giuđa đều đang sống trong tội lỗi, đức tin nguội lạnh và bội đạo, rằng mối tương giao của họ với Chúa đã bị gãy đổ ra sao, và làm thế nào để có thể phục hồi lại mối tương giao đó. Trọng tâm sứ mệnh trong lời tiên tri của Malachi là thức tỉnh lòng yêu mến Chúa nơi các thầy tế lễ và cả những người mà họ đang có trách nhiệm chăn dắt, dạy dỗ.
Hình Thức Văn Chương Của Malachi
Malachi dùng thể loại văn chương tương tự như Habacúc ở chỗ vận dụng rất khéo léo. Nếu bạn là các bậc cha mẹ, đã từng cố gắng dạy dỗ con mình đang ở tuổi vị thành niên có tính nổi loạn, thì chắc hẳn bạn sẽ rất ngưỡng mộ hình thức văn chương mà Malachi chọn để truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời cho dân Ngài. Tương tự như thể loại văn chương mà Habacúc đã dùng, bạn có thể gọi hình thức văn chương của Malachi là văn chương “diễn đàn” hay “thảo luận” cũng được.
Trong lời tiên tri của mình, Malachi có nhiệm vụ truyền đạt cho các thầy tế lễ và cả dân Giuđa biết họ đã xây bỏ khỏi mối tương giao với Chúa ra sao và ở chỗ nào. Cứ mỗi lần ông nói với họ điều nầy, họ đều phủ nhận trách nhiệm, và giống như một trẻ vị thành niên đang đứng trước cha mẹ nó, dân sự hỏi: “Ai? Tôi hả?” hoặc “Chúng tôi làm việc đó hồi nào?” Malachi hàm ý rằng Đức Chúa Trời đang nhìn thấy những việc họ làm. Thế nhưng dân sự đã phủ nhận tất cả và từ chối tiếp nhận một sự thật khó nghe là những lời lên án, cáo trách của Cha thiên thượng qua vị tiên tri trung thành nầy.
Có bảy bài tranh luận dưới hình thức diễn đàn văn chương và đó cũng là bố cục của sách. Có một vị giáo sư Kinh Thánh tài ba nọ là người mở ra cho tôi sự hiểu biết về các tiên tri, gọi bảy cuộc tranh luận nầy là “Bảy Lời Thì Thầm Của Tấm Lòng Đang Nguội Lạnh Đối Với Chúa”.
BẢY LỜI THÌ THẦM CỦA TẤM LÒNG ĐANG NGUỘI LẠNH ĐỐI VỚI CHÚA
Thứ Nhất: Nghi Ngờ Tình Yêu Của Đức Chúa Trời (1: 1-5)
Malachi bắt đầu lời tiên tri của mình với câu tuyên bố: “Gánh nặng lời Đức Giêhôva cho Ysơraên bởi Malachi. Đức Giêhôva có phán: Ta yêu các ngươi” (1:1-2a), thì cuộc tranh luận thường bắt đầu bằng phản ứng: “Có thật không, Chúa yêu chúng tôi hồi nào?” Malachi trả lời dân sự bằng những gợi ý về các chứng cứ của tình yêu Đức Chúa Trời dành cho họ.
Mọi mối quan hệ yêu thương được biểu lộ qua hai chiều: cho và nhận. Có một câu hỏi tế nhị được ngụ ý ở đây: “Nếu bạn không còn gần gũi Đức Chúa Trời như trước đây, thế thì lỗi do ai vậy?” Hoặc “Nếu hiện giờ bạn không còn có mối quan hệ yêu thương với Đức Chúa Trời như xưa nữa, thế thì trách nhiệm thuộc về ai ?” Khi chúng ta nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời, có nghĩa là đã có sự bất ổn xảy ra trong tình yêu của chúng ta với Ngài.
Trong sách Khải huyền, các vị lãnh đạo là những người chăn dắt dân sự Chúa trong thời kỳ thiên niên kỷ đã được mô tả là hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi trên những ngai nhỏ xung quanh một ngai lớn ở trên trời. Các vị trưởng lão nầy mặc áo trắng tinh, đầu đội mão triều thiên bằng vàng ròng. Chúng ta đọc thấy rằng mỗi người trong số họ đều cầm một cây đàn và những bình bằng vàng đựng đầy hương (KhKh 4:4, 5:8).
Những chiếc áo trắng của các trưởng lão tượng trưng cho đời sống đạo đức thánh khiết của họ, hoặc ngụ ý rằng họ đã đến đích. Mão triều thiên bằng vàng biểu tượng cho chiến thắng thuộc linh về đức tin. Chúng ta còn được biết rằng những bình bằng vàng đựng đầy hương kia chính là những lời cầu nguyện của dân sự, và hình ảnh mỗi trưởng lão cầm một cây đàn chứng tỏ họ là những người đang thờ phượng Đức Chúa Trời.
Vì Malachi nói tiên tri chủ yếu cho những vị lãnh đạo đang trong tình trạng thuộc linh bị suy đồi, và tấm lòng của họ đối với Chúa ngày càng nguội lạnh, vì thế chúng ta có thể cho rằng ông đang nói với từng vị lãnh đạo thuộc linh đang dần dần sa sút nầy. Malachi mang gánh nặng khủng khiếp về những hậu quả đáng sợ của những người lãnh đạo Hội thánh đang ngày càng nguội lạnh trong mối tương giao với Đức Chúa Trời. Theo Malachi, thì những nhà lãnh đạo thuộc linh nào không có đời sống cầu nguyện cá nhân, hoặc “đã đánh mất cây đàn của mình” thì chắc chắn họ sẽ bị mất hết tất cả.
Làm sao mà dân sự Chúa trở nên giống như xác chết thuộc linh? Theo Malachi, tiến trình nguy hiểm chết người nầy thường bắt đầu khi người lãnh đạo thuộc linh nghi ngờ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho cá nhân mình, và theo thời gian, người ấy sẽ dần dần xao lãng không còn cầu nguyện, bày tỏ tình yêu của mình đối với Chúa nữa. Lẽ thật nầy rõ ràng cũng áp dụng cho mọi tín đồ, chứ không chỉ riêng cho các vị lãnh đạo.
Thứ Hai: Khinh dể Danh Đức Chúa Trời (1: 6- 2:4)
Sự lên án kế tiếp của Đức Chúa Trời qua Malachi được tóm lược trong lời thì thầm thứ hai nói về tấm lòng đang ngày càng nguội lạnh với Chúa. Về cơ bản, lời thì thầm thứ hai xuất hiện khi các nhà lãnh đạo thuộc linh hoặc tín đồ của Chúa khinh dể danh Ngài. Lời đối đáp lại tiếp tục với sự phủ nhận: “Chúng tôi khinh dể danh Đức Chúa Trời hồi nào?”. Liền có câu trả lời: “Vào mỗi khi các ngươi nói: thật là phiền phức khi phải dâng thứ gì thật có giá trị cho Đức Giêhôva!”
Malachi đang nói với các thầy tế lễ nầy rằng: “Khi các ngươi thản nhiên dâng cho Đức Chúa Trời những con vật bị bệnh, bị mù lòa và què quặt để làm của lễ thì ấy là lúc các ngươi khinh dể danh Ngài”. Một trong số những sứ điệp mạnh mẽ nhất của Malachi là chuyển tải Lời Đức Chúa Trời đến cho các thầy tế lễ nầy, chính là lời ông tuyên bố: “Nầy, Ta sẽ quở trách giống gieo của các ngươi, rải phân trên mặt các ngươi, tức là phân của những lễ các ngươi; các ngươi sẽ bị đem đi với phân ấy” ( MaMl 2:3). Ông kêu lớn tiếng rằng: “Ước gì trong các ngươi có một người đóng các cửa, hầu cho các ngươi không nhen lửa vô ích nơi bàn thờ Ta. Đức Giêhôva vạn quân phán: Ta chẳng lấy làm vui lòng nơi các ngươi, và Ta chẳng nhận nơi tay các ngươi một của dâng nào hết” (1:10).
Danh của Đức Chúa Trời nói lên bản chất của Ngài. Nghiên cứu kỹ lưỡng về các danh xưng của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh là chúng ta đang thực sự nghiên cứu về bản tánh của Ngài. Điều thứ ba trong Mười Điều Răn cảnh cáo chúng ta là không được lấy danh Đức Giêhôva ra đùa cợt (XuXh 20:7). Điều răn nầy không chỉ cấm chúng ta không được xúc phạm, mà còn ra lệnh cho chúng ta không được gọi danh Đức Chúa Trời trong lúc thờ phượng nếu trong lòng không kính sợ Ngài, và cũng không được gọi danh Ngài một cách vô cớ. Khi Chúa Jêsus dạy các sứ đồ cầu nguyện, sau khi bảo họ hãy xưng Đức Chúa Trời là Cha Thiên Thượng, Ngài dạy họ lời cầu xin đầu tiên như vầy: “Danh Cha được tôn thánh” (Mat Mt 6:9).
Các thầy tế lễ vẫn cứ thản nhiên chấp nhận những của lễ mà dân Giuđa dâng cho Đức Chúa Trời một cách kém chất lượng. Và khi dân sự của Đức Chúa Trời làm điều ấy có nghĩa là họ đang khinh dể danh Ngài. Chẳng khác nào họ tuyên bố rằng Đức Chúa Trời không có giá trị gì cả. Sự phục vụ của chúng ta cũng nói lên điều chúng ta đang suy nghĩ Ngài là ai, và là Đấng như thế nào. Theo Malachi, lời thì thầm thứ hai của tấm lòng đang ngày càng nguội lạnh với Đức Chúa Trời chính là sự khinh dể danh Ngài.
Bạn có thấy chính mình ở trong những lời thì thầm nầy không? Bạn có mối tương giao yêu thương, thân mật, kính mến và một cách cá nhân với Chúa không? Phải chăng bạn đang bày tỏ qua sự thờ phượng của mình rằng bạn yêu Chúa và nhận thức được Ngài là ai và Ngài xứng đáng như thế nào?
Thứ Ba: Phá Vỡ Sự Cam Kết Với Đức Chúa Trời (1:13)
Khi một nhà lãnh đạo thuộc linh, một tín đồ tin kính không còn biểu lộ mối tương giao yêu thương một cách cá nhân đối với Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng, và có những hành động cho thấy họ đang coi thường Ngài, không cần biết Ngài là ai, và là Đấng thế nào, thì lúc ấy lời thì thầm kế tiếp dấy lên từ tấm lòng của họ rằng công việc Chúa sao mà khó khăn quá. Tại đây qua lời tiên tri của mình, Malachi khéo léo hỏi các thầy tế lễ: “Phải chăng các ngươi làm việc quá sức ? Hay các ngươi quá tận tụy?” Ông thách thức các thầy tế lễ, là những người hay phàn nàn rằng công việc Chúa sao mà quá khó khăn qua câu hỏi: “Có phải công việc Chúa thật sự quá khó khăn không? Có phải các ngươi đã rũ bỏ tình yêu ban đầu của mình và không còn kính mến Chúa như trước nữa?”
Bây giờ tôi xin nhắc lại với bạn cụm từ được dành cho chúng ta trong tiên tri Aghê, cũng như cả Kinh Thánh, rằng: “Chúa là trên hết!”. Từ Sáng thế ký đến Khải huyền, chúng ta thường gặp lời thách thức là hãy đặt Chúa lên hàng đầu và chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi. Khi một người lãnh đạo trong Hội Thánh hầu việc Đức Chúa Trời với tấm lòng bị phân tâm thì không bao lâu sau người ấy sẽ thấy công việc Ngài vô cùng khó khăn. Những người đáng thương nhất trên thế gian nầy chính là những người lãnh đạo thuộc linh, hoặc những tín đồ tin kính đang hầu việc Đức Chúa Trời song không hết lòng tận tụy với Ngài.
Hãy tìm kiếm thực chất của lẽ thật nầy xuyên suốt Kinh Thánh: “Nếu Đức Chúa Trời là trên hết đối với bạn, thì Ngài là quan trọng nhất với bạn. Vì trước khi Đức Chúa Trời chưa là quan trọng nhất đối với bạn, thì Ngài thực sự không phải là trên hết đối với bạn”. Bây giờ hãy xem Êli thách thức dân sự Chúa trên núi Cạtmên ra sao qua câu hỏi: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giêhôva là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Baanh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn” (IVua 1V 18:21). Cũng hãy nghe Lời Đấng Christ hằng sống phục sinh đã phán cho Hội thánh Laođixê: “Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy, vì ngươi hâm hẩm,không nóng cũng không lạnh, nên Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng Ta” (KhKh 3:15-16).
Giacơ nói cho chúng ta biết kẻ nghi ngờ thì thường hay dao động, không chắc việc gì cả. Khi tôi nhìn thấy được vấn đề nầy, tôi cũng nhận được sự dạy dỗ của Chúa Jêsus rằng nếu chúng ta có cái nhìn lạc quan, sáng sủa thì chúng ta sẽ có cuộc sống hạnh phúc vui vẻ, còn nếu chúng ta có “cái nhìn thuộc linh một cách hoài nghi” thì nó chỉ dẫn chúng ta đến sự tối tăm, buồn thảm và bất hạnh mà thôi (Mat Mt 6:22-23). Lời của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh truyền dạy chúng ta phải hầu việc Ngài thật hết lòng.
Hình Ảnh Của Một Thầy Tế Lễ (2: 5-9)
Khi trình bày nội dung mà ông đề cập đến trong chương hai, Malachi mô tả cho chúng ta về hình ảnh một thầy tế lễ thật của Đức Chúa Trời là người như thế nào. Ông trích dẫn những lời Môise nói về Lêvi, tổ phụ của các thầy tế lễ: “Người đã truyền đạt cho dân sự tất cả những lẽ thật mà người đã nhận lãnh từ Ta. Luật pháp của sự chân thật đã ở trong miệng người, trong môi miếng người chẳng có một sự không công bình nào; người đã bước đi với Ta trong sự bình an và ngay thẳng, làm cho nhiều người xây bỏ khỏi sự gian ác” (PhuDnl 33:10, MaMl 2:6).
Như một món quà để tỏ lòng tri ân đến các Mục sư đã dành nhiều năm hầu việc Chúa cách trung thành và tận tụy, hết lòng với công việc Chúa, một số Phái Đoàn Truyền Giáo đã khắc những lời của Môise và Malachi nầy vào một tấm bảng bằng đồng rồi đặt nó ở một nơi thật dễ nhìn, ngay tại nhà thờ mà họ từng hầu việc Chúa, để cho các thế hệ sau có thể đọc đến.
Những nét phác họa của Malachi về một thầy tế lễ mẫu mực được tiếp tục bằng lời nầy: “Vì môi miếng của thầy tế lễ nên giữ sự thông biết, người ta tìm luật pháp trong miệng nó, vì nó là sứ giả của Đức Giêhôva vạn quân” (MaMl 2:7). Sau đó, ông đem đối chiếu với hình ảnh của những thầy tế lễ sa ngã, băng hoại, tấm lòng đã nguội lạnh như ông đề cập đến trong lời lên án thứ tư và trong hầu hết lời tiên tri mà ông công bố.
Thứ Tư: Phá Vỡ Giao Ước Hôn Nhân (2:10-16)
Một khi các thầy tế lễ và người Giuđa đã phá vỡ mối giao ước theo chiều đứng với Đức Chúa Trời thánh khiết, thì chúng ta có thể nghĩ rằng đó là vấn đề trước khi họ phá vỡ giao ước theo chiều ngang với người phối ngẫu của họ. Hãy cố gắng theo dõi tiếp những lời thì thầm nầy. Khi giao ước theo chiều dọc với Chúa đã bị rạn nứt, thì giao ước theo chiều ngang với con người cũng chẳng khác nào những vỏ bánh mì khô giòn - bị nát vụn ra.
Bây giờ Malachi đề cập đến vấn đề ly dị. Cũng như Nêhêmi, ông quan tâm đến tình trạng con cái của những cuộc hôn nhân chấm dứt trong tình trạng ly dị (NeNe 13:23-25). Ông nhắc nhở các thầy tế lễ và người Giuđa rằng hôn nhân là chương trình của Đức Chúa Trời dành cho con cái. Trước khi bước vào đời lập thân, chúng được dưỡng dục trong vòng hai mươi năm ở gia đình. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời ghét sự ly dị (MaMl 2:15).
Salômôn nói với chúng ta rằng cha mẹ ví như cái cung, còn con cái thì giống những mũi tên. Con cái bước vào đời như thế nào là tùy thuộc vào sự hướng dẫn và dạy dỗ của cha mẹ. Giả sử bạn là một người gian ác, và bạn biết được ẩn dụ của Salômôn, trình bày lẽ thật về việc con cái cần phải được nuôi nấng và dạy dỗ để chuẩn bị cho chúng bước vào cuộc sống, thì liệu bạn sẽ làm gì đây? Có lẽ bạn sẽ cố cắt đứt sợi dây cung ấy chăng? Đó là điều mà các bậc cha mẹ xấu xa đã làm trong thời vị tiên tri cuối cùng nầy sống và rao giảng. Và dường như ông cũng nói điều đó với chúng ta ngày nay.
Hãy nhớ rằng Malachi đang lập biểu đồ cho những lời thì thầm của một tấm lòng đang ngày càng nguội lạnh với Chúa. Ông cảnh báo dân Giuđa hễ giao ước của họ với Chúa bị gãy đổ thì giao ước của họ với con người sớm muộn gì cũng sẽ bị phá vỡ.
Ông chủ yếu nói đến mức độ xa cách nguội lạnh của các thầy tế lễ với Chúa, khiến họ đi đến chỗ coi việc ly hôn như là điều giải quyết chính đáng, bởi họ đồng tình, chấp nhận của tế lễ của những người đã ly hôn. Malachi lên án một cách mạnh mẽ rằng những người đã ly dị nầy vừa lấy nước mắt che lấp bàn thờ, lại vừa trách móc Chúa sao lại lấy đi các ơn phước mà Ngài đã ban trên đời sống họ. Sau đó ông giải thích lý do tại sao Đức Chúa Trời lại cất đi những phước hạnh mà Ngài đã ban cho người Giuđa, đó là vì họ đối xử phụ bạc với vợ mình bằng việc ly dị. Người vợ đã chung thủy với họ ngay từ khi họ còn rất trẻ. Họ từng lập giao ước cách nghiêm túc với Chúa và với vợ mình là sẽ chung sống trọn đời, cho dù có ra sao, và chỉ có sự chết mới chia lìa họ. Theo Malachi thì việc phá vỡ giao ước chính là sự phản bội.
Thứ Năm: Vấn Đề Đạo Đức Tương Đối (2:17-3:7)
Để chữa lành nỗi đau tội lỗi của họ, cách duy nhất mà qua đó họ có thể sống không trung thực là đặt ra cái gọi là đạo đức tương đối. “Đạo đức mới” hay “Đạo đức tương đối” làm xoa dịu bệnh tâm thần phân liệt thuộc linh và cho những người Do Thái hai lòng nầy có một tiêu chuẩn an ủi mới giúp họ cứ sống theo nguyên tắc và đời sống tội lỗi.
Khi bạn nghĩ đến phương diện đạo đức tuyệt đối theo Luật Pháp Đức Chúa Trời do Môise ban hành, thì ý tưởng về “Đạo đức mới” hay “Đạo đức tương đối” chỉ là thần học quái gở mà thôi. Chúng ta hãy nghĩ đến ý tưởng về tinh thần đạo đức tương đối, hoặc luân thường đạo lý ở thế kỷ 21 nầy, là sự phát triển về phương diện đạo đức mới đây. Nhưng nếu bạn đọc và tin các vị tiên tri, thì bạn sẽ nhận ra rằng tất cả họ đều gần như giống Malachi trong việc chỉ ra những vấn đề về tinh thần đạo đức giả nầy.
Malachi lên án các thầy tế lễ và dân Giuđa vì họ cho rằng gian ác là tốt, những người gian ác làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, rằng Ngài không để ý đến vấn đề về đạo đức - thậm chí Ngài không hề quan tâm đến điều ấy nữa (2:17). Nếu không để ý đến sự phân chia của những phân đoạn trong chương nầy, thì bạn có thể thấy Malachi dùng một cuộc tranh luận của hai nhóm người đang bài bác về vấn đề đạo đức tương đối của những người đang cố xoa dịu sự mặc cảm về tội lỗi của mình.
Thứ nhất, Malachi nói đến sự kiện Đấng Mêsia hiện đến lần đầu, tức là Sự Giáng Sinh của Ngài (3:1-6). Ông hỏi: “Nhưng ai sẽ đương nổi ngày Ngài đến, và ai đứng được khi Ngài hiện ra” (3:2a). Khi Đấng Mêsia đến, Ngài giống như ngọn lửa nóng rực của thợ kim hoàn dùng để tôi luyện các kim loại quý, Ngài sẽ tẩy sạch những chiếc áo dơ bẩn nhất, thánh hóa các đặc sứ của Đức Chúa Trời, Ngài cũng sẽ làm mọi điều ra ngay thẳng trong Thành Thánh (3:2-5). Khi Đấng Mêsia đến, Ngài sẽ rao giảng rằng Đức Chúa Trời vốn không hề thay đổi, và Ngài luôn có ý muốn như vậy về vấn đề đạo đức (3:6).
Phần hai trong cuộc tranh luận của Malachi nằm ở chương bốn, tập trung vào sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Mêsia (4:1-2, 3:18). Malachi đang rao giảng về một trong những luật lệ căn bản, không bao giờ thay đổi của Đức Chúa Trời, được nhấn mạnh trong Kinh Thánh - rằng Ngài không hề dửng dưng trước vấn đề đạo lý của con người và chúng ta sẽ phải gặt lấy những gì mình đã gieo.
Thứ Sáu: Ăn Trộm Của Đức Chúa Trời (3:8-12)
Tiếng nói thì thầm thứ sáu của tấm lòng đang nguội lạnh với Chúa, nằm ở trong lời buộc tội của Malachi rằng các thầy tế lễ và dân Giuđa đang ăn trộm của Đức Chúa Trời. Tiếp theo là lời tranh luận của dân sự: “Chúng tôi ăn trộm của Chúa hồi nào? ” Họ được bảo cho biết là đã ăn trộm của Ngài khi không chịu dâng một phần mười cho Ngài.
Trong tiếng Hêbơrơ, từ “một phần mười” có nghĩa là “phần thứ mười”. Ý nghĩa đặc biệt của từ nầy là phần thứ mười đầu tiên của mọi thứ mà người tín đồ tin kính nhận được trong cuộc sống. Việc dâng phần mười là cơ hội cho con cái Chúa học tập, rèn luyện và kế đến là để lượng giá được mức độ của việc mình đang thực hiện nguyên tắc “Chúa là trên hết” mà Kinh Thánh đã dạy. Khi dân sự Chúa tiến chiếm Đất Hứa, thì tất cả các chiến lợi phẩm của mười thành đầu tiên mà họ chiếm được đều thuộc về Đức Chúa Trời. Thậm chí dân sự còn phải dâng tất cả con trai đầu lòng của mình cho Ngài nữa.
Ngoài việc dâng một phần mười, luật pháp Đức Chúa Trời còn dạy con cái Chúa phải dâng những của lễ và các sinh tế. Đavít từng nói rõ thế nào là một của lễ khi ông viết: “Ta không muốn dâng cho Giêhôva Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi” (IISa 2Sm 24:24). Theo cái nhìn của Malachi về việc dâng một phần mười, ấy là phần thứ mười đầu tiên của tất cả những gì họ có và nhận được, vì đó rõ ràng là phần của Chúa, cho nên hễ họ từ chối không dâng phần mười cho Chúa, có nghĩa là họ đang ăn trộm những gì thuộc về Ngài.
Hãy xem xét nội dung lời thì thầm thứ sáu của tấm lòng đang nguội lạnh với Đức Chúa Trời. Sau đó bạn sẽ thấy cảm phục tài khéo léo của nhà tiên tri nầy khi ông mô tả sơ lược tiến trình dần dần đi đến sự bội đạo của con dân Chúa: Họ không còn tận hiến tình yêu cho Đức Chúa Trời nữa, hành động của họ không còn thể hiện lòng ngưỡng mộ, tôn quý Chúa là Đấng đáng được tôn quý. Có một sự gãy đổ trong sự kết ước với Đức Chúa Trời. Khi sự kết ước với Đức Chúa Trời gãy đổ sẽ kéo theo sự kết ước giữa con người với nhau bị đổ vỡ.
Khi chúng ta lắng nghe xong năm lời thì thầm đầu, có lẽ chúng ta mong ước sẽ có một sự cản trở nào đó trong việc dâng phần mười và sự dâng hiến. Lời thì thầm thứ sáu đến muộn hơn trong tiến trình nầy, và Malachi đã dùng sứ điệp của mình chủ yếu để nói với các thầy tế lễ suy đồi. Chúng ta có thể nghĩ rằng ông đang ám chỉ đến những thầy tế lễ dường như đã biển thủ các phần mười và các của tế lễ.
Thứ Bảy: Sự Vô Tín! (3: 13-15)
Lời thì thầm thứ bảy của tấm lòng đối với Chúa giờ đây đã hoàn toàn nguội lạnh, đó là sự vô tín. Khi Malachi làm phát ngôn cho Đức Chúa Trời, ông đã nói một cách mạnh mẽ về sự vô tín, ông cũng công bố lời tuyên cáo thứ bảy nghịch cùng các thầy tế lễ và dân Giuđa - và họ đã cãi trả với ông: “Đức Giêhôva Vạn Quân phán: ‘Thái độ của các ngươi đối với Ta thật kiêu căng và ngạo mạn’. Nhưng các ngươi nói: ‘Ngài nói như vậy có nghĩa là gì? Chúng tôi đã nói điều gì nghịch cùng Ngài cơ chứ?’ Hãy lắng nghe, các ngươi đã nói rằng: ‘Thật là dại dột khi thờ phượng Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài. Vâng theo luật pháp của Ngài, và buồn rầu về tội lỗi của mình thì có ích gì nào? Từ xưa đến nay chúng tôi chỉ thấy những kẻ ngạo mạn là có phước! Đối với kẻ ác sẽ được thịnh vượng và ngay cả kẻ thách thức Ngài cũng được thoát nạn”.
Mặc dù các thầy tế lễ nầy không còn tin Chúa nữa, song từ khi sinh ra đã là thầy tế lễ rồi, vì thế làm sao họ có thể từ bỏ chức vị nầy được. Họ cứ tiếp tục làm thầy tế lễ. Một trong những nhiệm vụ của các thầy tế lễ là dạy Kinh Thánh cho dân Giuđa, nhưng họ sẽ dạy dân sự điều gì một khi họ không còn tin vào Kinh Thánh nữa? Theo Malachi thì họ đã dạy rằng: “Những kẻ ngạo mạn là có phước!”
Nếu bạn quen thuộc với Kinh Thánh, ắt bạn biết rõ Đức Chúa Trời ghét kẻ tự cao và kiêu ngạo là dường nào. Sự tự cao là cội nguồn của mọi tội lỗi. Vậy thì tại sao các thầy tế lễ lại giảng dạy: “Những kẻ kiêu ngạo là có phước?” Ở đây, Malachi muốn nói với chúng ta rằng các thầy tế lễ giờ đây đã hoàn toàn mất đức tin.
Khi chúng ta nghe lời giảng rõ ràng trái với Kinh Thánh, chúng ta không thể không ngạc nhiên là tại sao họ lại đi đến mức bội đạo và vô tín như thế. Câu trả lời thật sâu sắc của Malachi là tất cả mọi điều đó bắt đầu kể từ khi chúng ta lắng nghe những lời thì thầm của lòng mình. Phải mất nhiều năm, thì một tín hữu hoặc một vị lãnh đạo thuộc linh mới có thể nghe thấy bảy lời thì thầm nầy trong lòng mình.
Nếu bạn thả một con ếch vào trong chảo nước đang sôi, chắc chắn nó sẽ nhảy ra khỏi chảo. Thế nhưng, nếu bạn bỏ nó vào trong chảo nước lạnh và tăng nhiệt độ lên từ từ, thì nó sẽ sớm bị luộc chín hoàn toàn. Tiến trình tinh vi nầy được Malachi mô tả sơ lược tương tự theo cách đó - thật chậm rãi - nhưng hậu quả cuối cùng của nó lại sản sinh ra những nhà lãnh đạo thuộc linh suy đồi, tệ nạn ly dị, đạo đức tương đối và sự vô tín.
PHẦN KẾT (Malachi: 3:16- 4:4)
Việc nghiên cứu tỉ mỉ về Kinh Thánh được nói ở trên cho thấy rằng bài giảng của Malachi đã kết thúc tại chương ba câu mười lăm. Phần còn lại của sách tiên tri nầy là phần kết luận, mô tả việc đáp ứng với bài giảng vĩ đại của Malachi về tấm lòng nguội lạnh của các tín hữu, họ đã bỏ đi mối tương giao với Đức Chúa Trời, thậm chí cả đức tin của họ nữa, và những người kính sợ Đức Chúa Trời thì không làm như vậy.
Qua sách tiên tri Malachi, chúng ta nghe được sự trả lời của Đức Chúa Trời cho những lời tranh luận của các thầy tế lễ và dân Giuđa có tấm lòng cứng cỏi và nguội lạnh với Ngài. Trong phần kết có hậu nầy, chúng ta nghe được sự đáp lại yêu thương của Đức Chúa Trời đối với những con dân thật của Ngài, là những người kính sợ và yêu mến Đức Giêhôva, đã được xác nhận trong sự rao giảng của Malachi. Họ là dân sự của Đức Chúa Trời, đã không rời bỏ tình yêu ban đầu, hoặc đã ăn năn và quay trở lại với tình yêu mà họ dành cho Đức Chúa Trời qua lời giảng của Malachi.
Chúng ta hãy đọc: “Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giêhôva nói cùng nhau, thì Đức Giêhôva để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giêhôva và tưởng đến danh Ngài”( MaMl 3:16).
Mục tiêu sứ mệnh của Malachi là phục hồi lại mối tương giao yêu thương của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài qua một cơn phục hưng thuộc linh. Sách Malachi kết thúc bằng việc nói cho chúng ta biết Malachi đã đạt được mục tiêu của mình, vì những lời nầy mô tả về một cơn phục hưng.
Phần kết cũng ký thuật về sự trả lời tuyệt diệu của Đức Chúa Trời cho sự đáp ứng nầy của các nhà tiên tri và những con dân thật của Ngài. Malachi trình bày khi sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ xảy ra thì Mặt Trời sẽ mọc lên, trong cánh Ngài có sự chữa bệnh để chữa cho những người trung tín. Nhưng Ngài sẽ dành sự đoán phạt cho những kẻ nguội lạnh - là những người mà Malachi nói đến rất nhiều trong sách tiên tri của ông. Ông cho họ biết rằng rồi đây họ sẽ biết được Đức Chúa Trời sẽ nghĩ gì về vấn đề đạo đức tương đối.
Lời Tiên Tri Cuối Cùng (4: 5-6)
Malachi kết thúc sự rao giảng sống động của mình bằng việc nói về sự hiện đến của một vị tiên tri giống như Êli. Người ấy sẽ tiên báo và giới thiệu về Đức Chúa Jêsus Christ. Chúa Jêsus xác nhận rất rõ rằng Giăng Báptít chính là vị tiên tri đó (Mat Mt 11:7-14). Tuy nhiên, lại cũng có người nghĩ Giăng Báptít là do Êli đầu thai, song Giăng đã dứt khoát phủ nhận (GiGa 1:21).
Có lẽ Malachi kết thúc sách tiên tri của mình như thế nầy: “Vẫn còn tiếp diễn - trong vòng bốn trăm năm!” Sau bốn trăm năm yên lặng, khi mà dân Do Thái không có tiên tri hay là Lời Đức Chúa Trời, thì Giăng Báptít đã đến rao giảng trong tinh thần và linh lực của Êli. Các thầy tế lễ, những nhà lãnh đạo thuộc linh, và dân Giuđa đã bỏ nhiều giờ để lắng nghe nhà tiên tri được gọi là vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri.
Khi Chúa Jêsus rao giảng, thì những nhà lãnh đạo tôn giáo cũng đã bỏ ra nhiều thì giờ lắng nghe Đấng Mêsia của họ. Một số người trong họ đã ném đá Ngài, nhưng cũng có một số người khác thì la lên: “Chúng ta đã gặp được Đấng Mêsia!” Đó là những người tin Ngài, bước theo Ngài, và trở thành môn đồ của Ngài.
Niềm vui đã đến với bạn khi khảo sát Cựu ước, và tôi xin kết thúc tại đây bằng hai câu hỏi thách thức bạn:
1. Bạn sẽ làm gì với những điều vừa học được? Bạn sẽ loại bỏ Đấng Mêsia ra khỏi cuộc đời mình hay sẽ bước theo Ngài?
2. Bạn có cùng chúng tôi tiếp tục nghiên cứu Kinh thánh khi chúng tôi bắt đầu khảo sát Tân ước không


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 24-4-2018 02:43 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách