† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 5922|Trả lời: 0

Thiên Sứ, Ma Quỷ và Chiến Trận Thuộc Linh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 08:44:17 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Thiên Sứ, Ma Quỷ và Chiến Trận Thuộc Linh
Tác giả: B. J. Oropera

Lời Giới Thiệu
Những chữ viết tắt
1 THIÊN SỨ VÀ MA QUỶ
2 NHỮNG CÂU HỎI VỀ CÁC THIÊN SỨ
3 NHỮNG CÂU HỎI VỀ CÁC CÔNG VIỆC CỦA THIÊN SỨ
4 NHỮNG CÂU HỎI VỀ CÁC THIÊN SỨ SA NGÃ
5 CÁC CÂU HỎI VỀ SA-TAN
6 NHỮNG CÂU HỎI VỀ CHIẾN TRẬN THUỘC LINH
7 NHỮNG CÂU HỎI VỀ KHOA HUYỀN BÍ
Ghi chú

Lời Giới Thiệu
Tập Thiên Sứ, Ma Quỉ Và Chiến Trận Thuộc Linh này được dịch từ cuốn 99 Answers to Questions About Angels, Demons & Spiritual Warfare (99 Câu Trả Lời Cho Những Vấn Nạn Về Thiên Sứ, Ma Quỉ Và Chiến Trận Thuộc Linh) của B. J. Oropeza do nhà xuất bản Inter-Vasity Press ấn hành năm 1997. cdc
Trong cuốn sách này, dưới ánh sáng Kinh Thánh, tác giả đã cố gắng giải đáp những câu hỏi liên quan đến thiên sứ, ma quỷ, Sa-tan, chiến trận thuộc linh, như: Thiên sứ là gì? được tạo dựng và hoạt động như thế nào? Sa-tan và ma quỷ có nguồn gốc, diện mạo, đặc tính, hoạt động ra sao? Từ đâu người ta có ý niệm Sa-tan có màu đỏ và hay cầm một cái chĩa ba? Làm sao chúng ta có thể biết được một biến cố siêu nhiên nào đó là đến từ Đức Chúa Trời hay từ các thế lực khác... Cuối cùng, tác giả cũng giải đáp các vấn đề siêu linh như thuật chiêm tinh, đĩa bay (UFO), xem sao đoán số, bói toán...
Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu Lời Chúa của các tôi con Chúa, Viện Thần Học Việt Nam đã dịch và ấn hành tập Thiên Sứ, Ma Quỉ Và Chiến Trận Thuộc Linh này với sự cho phép của nhà xuất bản Inter-Vasity Press. Chúng tôi xin chân thành cảm tạ quí tôi tớ con cái Chúa đã giúp đỡ trong việc chuyển ngữ, hiệu đính, dàn trang, ấn loát và tạo điều kiện thuận lợi để tập sách này đến tay người đọc.
Viện Thần Học Việt Nam
Tháng 7, 2002

Những Chữ Viết Tắt
b. Trích từ tập hợp những cổ bản về truyền thống Do
Thái của người Ba-by-lôn (Babylonian Talmud)
KJV Bản Kinh Thánh King James
LXX Bản Bảy Mươi
MT Bản Masoretic (chú giải Kinh Thánh của người
Do Thái)
NIV Bản Kinh Thánh New International
RSV Bản Kinh Thánh Revised Standard
Các Cuộn Biển Chết Và Những Văn Bản Có Liên Quan
CD Cairo Damascus Document
1QapGen Genesis Apocryphon từ Qumran Cave 1
1QH Hymns of Thanksgiving từ Qumran Cave 1
1QM War Scroll từ Qumran Cave 1
1QS Rule of the Community , Manual of Disci -
pline từ Qumran Cave 1
1QSb Phụ lục B, Rule of Benediction , 1QS
4Q400-407 Một phần của Songs of Sabbath Sacrifice
hay Angelic Liturgy từ Qumran Cave 4
11QPs Psalms Scroll từ Qumran Cave 11

THIÊN SỨ VÀ MA QUỶ
Vào đêm Giáng Sinh, chiếc xe của Tim, một thanh niên 21 tuổi, đột ngột chết máy, bỏ anh chơ vơ giữa một trận bão tuyết. Thình lình một chiếc xe cứu hộ xuất hiện trong cơn bão. Người tài xế đó kéo chiếc xe của Tim đến nhà một người bạn của anh tại Fort Wayne, Indiana. Khi Tim bước ra khỏi xe để trả tiền cho người tài xế, anh chẳng nhìn thấy ai cả. Vết bánh xe trên tuyết chính là vết xe của anh. Sau khi anh thuật lại việc đó cho mẹ mình, là nhà báo Joan Wester Anderson, bà đã gọi điện đến đội tuần tra xa lộ cũng như tất cả các dịch vụ kéo xe trong vùng, tất cả đều cho biết rằng đêm qua không có ai gọi họ cả. Bà tin rằng một thiên sứ đã viếng thăm con trai của mình trong đêm đó. Kinh nghiệm của cậu con trai đã tạo cảm hứng để bà viết cuốn When Angels Walk (tạm dịch Khi Thiên Sứ Bước Đi ), một cuốn sách nói về thiên sứ được tờ New York Times xếp vào loại sách bán chạy nhất.1
Cuốn sách thuộc hàng bestseller của bà Anderson không phải là cuốn duy nhất về thiên sứ. Năm trong số mười cuốn sách tôn giáo trong danh sách bestseller gần đây của Publisher’s Weekly đều nói về các thiên sứ.2 Hiện tượng “tôn sùng thiên sứ” (angelmani) hiện nay khá thịnh hành. Một cuộc thăm dò của tạp chí Newsweek cho biết rằng “13% người Mỹ đã nhìn thấy hoặc cảm nhận được sự hiện diện của một thiên sứ.”3 Cuộc thăm dò của tạp chí Time cho biết rằng 69% người Mỹ tin nơi sự tồn tại của các thiên sứ, và 46% tin rằng họ có một thiên sứ bảo vệ.4
Ngày nay, nhiều hiệu sách dành cả một kệ lớn cho đủ các chủng loại sách về thiên sứ. Các cửa hàng bán quần áo có hình thiên sứ, các bản tin về thiên sứ và các cuộc hội thảo về thiên sứ mọc lên như nấm. Những trường hàng đầu như Harvard Divinity School và Boston College đã mở các khóa học về thiên sứ. Trong một cuộc thi hội họa, Tony Kushner đã đạt giải Pulitzer nhờ bức tranh, Angels in America , một bức tranh gây xúc động trong đó vẽ hình một thiên sứ nhân từ giúp đỡ một nạn nhân bệnh AIDS.5 Trên màn bạc, những bộ phim nổi tiếng như Angels in the Outfield và Michael chứng tỏ sự đam mê những vị khách thiên thượng trong xã hội phương Tây hiện nay.
Nhưng các thiên sứ không giữ vị trí độc tôn trong lĩnh vực thuộc linh. Tà giáo, vùng đất sinh sản truyền thống của ma quỷ, cũng gây khá nhiều chú ý. Những bộ phim nổi tiếng gần đây như Independence Day và Phenomenon cùng với các chương trình TV như The X-files đã lôi kéo sự chú ý của xã hội vào những điều huyền bí. Một cuộc thăm dò dư luận của viện Gallup cho biết rằng 75% người Mỹ thỉnh thoảng xem tử vi cho mình, trong khi 25% còn lại thì xem rất thường xuyên. 25% khác tin rằng họ đã từng trải những kinh nghiệm ngoại cảm hoặc siêu linh ít nhất một lần, 25% tin vào hồn ma, và 10% khẳng định họ đã nhìn thấy một con ma. Cứ sáu người thì có một người tin rằng họ từng liên lạc với một ai đó đã chết. Những điều mê tín dị đoan có còn làm chúng ta sợ không? 14% người Mỹ sợ khi thấy một con mèo đen băng ngang đường đi của họ, và 12% sợ bước đi dưới một cái thang.
Một cuộc thăm dò gần đây của tạp chí Newsweek phát hiện rằng có 48% người Mỹ tin là có đĩa bay và 29% tin rằng chúng ta đã liên lạc được với người ngoài hành tinh.6 Niềm tin vào những điều huyền bí đã vươn đến tận Nhà Trắng: Nancy Reagan nhờ một nhà chiêm tinh tư vấn cho mình, còn Hillary Clinton thì “có những cuộc đàm đạo tưởng tượng với Eleanor Roosevelt.”7 Kinh ngạc hơn nữa là một cuộc thăm dò của viện Gallup phát hiện rằng có khoảng từ 19-24% những người Công Giáo, Tin Lành và các Cơ Đốc nhân được “tái sanh” tin có luân hồi-linh hồn đầu thai vào trong một thân thể mới.8
Câu Hỏi 1: Tại Sao Các Thần Linh Được Nhiều Người Quan Tâm Đến Như Thế?
Không cần phải là một khoa học gia tên lửa thì mới nhận thấy được tầm ảnh hưởng của thế giới thần linh trên xã hội chúng ta. Tại sao nền văn hóa phương Tây hậu hiện đại và thế tục hóa như của chúng ta lại khơi dậy chủ đề thiên sứ và ma quỷ của thời Trung Cổ? Sau đây là một vài lời đáp hợp lý.
1. Nhiều người trong xã hội phương Tây đang tái khám phá những cội nguồn tâm linh của họ . Tinh thần khoa học cứng nhắc, điều đòi hỏi rằng mọi sự phải được chứng minh bằng ngũ quan, hiện nay không còn thống trị nữa. Chủ thuyết “vũ trụ khép kín” (closed universe) thời Newton, có khuynh hướng loại bỏ Đức Chúa Trời và tâm linh, đang lu mờ dần bởi sự xuất hiện các ngành khoa học mới hơn của một “vũ trụ mở” (open universe) và cơ học lượng tử. Người ta thấy rất thoải mái khi đề cập tới vấn đề tâm linh của bạn. Chỉ cần bạn không khăng khăng cho rằng điều bạn tin là đúng còn điều người khác tin là sai!
Ngày nay, vấn đề tâm linh đã khoác lên mình một ý nghĩa mới khi con người theo đuổi sự tự nhận thức. Vào những năm 60, nhiều người đã “tìm thấy chính mình” khi tiếp thu những ý tưởng huyền bí của phương Đông. Các thuật ngữ Ấn Giáo như nghiệp chướng , guru , nhập thiền và đầu thai đã trở thành những khái niệm quen thuộc ở phương Tây kể từ khi phong trào Thời Đại Mới ra đời. Nhưng khi thế hệ baby-boom, thế hệ thời kỳ bùng nổ dân số và thế hệ X.9 Tìm hiểu sâu xa hơn văn hóa dị biệt của những năm 60, họ phát hiện ra rằng nguồn gốc tâm linh của chúng đưa họ trở về với các nguyên tắc Kinh Thánh. Báo chí hiện nay cho thấy, nhiều người thuộc thế hệ baby-boom đang trở lại với nhà thờ.
Một niềm tin phù phiếm, dở hơi có thể dẫn chúng ta đến với niềm tin đích thực sao? Có lẽ áp lực cuộc sống trong thế giới hiện đại-bao gồm cả sự bất hòa trong gia đình, áp lực công việc và sự bất ổn tài chánh-có liên quan tới việc lôi kéo con người đến với một quyền năng nào đó cao hơn chính họ.Và chúng ta cũng đừng quên lời cầu nguyện của các thánh.Đức Chúa Trời có cách để nói chuyện với chúng ta thông qua những kinh nghiệm cuộc sống. Thập niên 60 và 70 cho nhiều người thấy rằng ma túy và xuất thế không đem lại những câu trả lời mà họ đang tìm kiếm. Nhiều người không chạy trốn đã đặt lòng tin ở một hệ thống mà Việt Nam và Watergate đã làm lung lay. Do đó, cuộc tìm kiếm dưỡng chất tâm linh lành mạnh và trật tự trong những năm 80 và 90 có vẻ là một hướng đi hợp lý.
Nhưng sự quan tâm đến vấn đề thuộc linh không dẫn tất cả mọi người đến với cánh cổng nhà thờ. Nhiều người đã tìm kiếm tâm linh của mình trong những hiện tượng siêu linh. Tờ Newsweek số gần đây có một bài báo nói về phong trào duy linh mới như sau:
Dù đã đạt tới những năm vàng son của mình, những người thuộc thế hệ Baby-boom vẫn đang tìm kiếm Ý Nghĩa cho đời họ, một điều gì đó siêu việt hơn sự chết. Thế hệ X, vốn có khuynh hướng suy nghĩ một cách lý thuyết, tin rằng cơ hội để họ gặp gỡ người ngoài hành tinh còn lớn hơn cả cơ hội để họ lạc quyên cho Phúc Lợi Xã Hội. Nó là một thứ tôn giáo thay thế cho những người chưa có tôn giáo và là một thứ tôn giáo bổ sung cho những ai đã có tôn giáo rồi… “Tôi muốn tin” là câu thần chú của phong trào và thời đại.10
Nhận thức về thế giới tâm linh làm nảy sinh nhiều vấn đề. Nếu tôi tin nơi Đức Chúa Trời, thì tôi có cần phải tin có ma quỷ không? Tôi có trực tiếp đến với Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện của mình không? Đức Chúa Trời truyền tải sứ điệp của Ngài cho con người bằng cách nào? Điều này dẫn đến điểm thứ hai.
2. Các thiên sứ phục vụ như những trung gian hiền lành giữa Đức Chúa Trời và con người . Một lý do khác khiến người ta quan tâm nhiều tới thiên sứ chính là vai trò làm trung gian của các thiên sứ. Một số người sợ phải cầu nguyện trực tiếp với Đức Chúa Trời. Hình ảnh Đức Chúa Trời như Vị Thần Thời Gian (Father Time) với bộ râu trắng, cầm một vương trượng lan tỏa sấm chớp đã ám ảnh thế giới phương Tây. Động đất, lũ lụt và các thiên tai khác vẫn được xem là “việc Chúa làm,” và hệ tư tưởng của giới thanh niên nổi loạn vẫn không khác hơn: “Chúa là một ông già keo kiệt không muốn tôi vui chơi.”
Nhưng có nhiều người cầu nguyện với Chúa Giê-su. Kinh Thánh xác định chỉ có Ngài là Đấng Trung Bảo thật sự giữa Đức Chúa Trời và con người, và có nhiều người đã chạy đến với Ngài. Nhưng những người khác lại tìm đến các thiên sứ, có lẽ là vì Chúa Giê-su muốn sự vâng lời và thánh khiết. Chạy đến với Đấng Christ nghĩa là phải xưng tội và đầu phục hoàn toàn. Tương giao với các thiên sứ thì nhẹ nhàng hơn, và ít trách nhiệm hơn. Những người theo phong trào Thời Đại Mới công bố rằng họ có thể liên lạc với các thiên sứ của mình mà không sợ các thiên sứ đó bảo họ từ bỏ tội lỗi của họ.
3. Hầu như toàn thế giới đều tin có các thiên sứ . Các thiên sứ xuất hiện hầu như trong tất cả các nền văn hóa và tôn giáo trên thế giới, từ các nước Sumeria, Ai Cập và A-si-ry cổ đại cho tới các nền văn minh đương thời. Từ buổi bình minh của truyền thống lịch sử người Hê-bơ-rơ, khi A-đam và Ê-va bị chê-ru-bin (các thiên sứ) ngăn không cho trở lại vườn Ê-đen (và thậm chí trước đó, nếu gọi ma quỷ là thiên sứ sa ngã), các thiên sứ được nhắc tới trong tương quan với con người. Một nhà thần học Công giáo đã xác định, “Thiên sứ được cho là hiển nhiên; chỉ đơn giản là có họ, đúng như mọi tôn giáo dựa trên Kinh Thánh tin, và người ta chỉ biết là họ hiện hữu”11
Các thiên sứ không chỉ xuất hiện trong Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, mà họ còn xuất hiện trong các văn phẩm của Do Thái giáo, Qumran (các văn bản cổ được tìm thấy tại Biển Chết - Dead Sea Scrolls), Hồi giáo, Bái Hỏa giáo, Phật giáo và Ấn giáo. Và chúng ta cũng đừng quên vai trò của các thiên sứ trong nền nghệ thuật và văn chương phương Tây. Ai lại không thấy ấn tượng trước các tiểu thiên sứ của Michelangelo, hoặc sự mô tả chi tiết đoàn tùy tùng của quỷ trong tác phẩm Paradise Lost của Milton ?12 Do đó, các thiên sứ trở thành những người đại diện cho thời kỳ “tâm linh” của mạng lưới thông tin, toàn cầu hóa, tôn giáo toàn thế giới và chủ nghĩa “mọi tôn giáo cũng đều dẫn đến Đức Chúa Trời.”
Một số tôn giáo cũng nhìn nhận một hệ thống các hữu thể linh chuyên gây nên điều ác, thảm họa và hỗn loạn. Chúng thường được gọi là các uế linh, tà thần hay ma quỷ. Vào ngày 5 tháng 4 năm 1991, nhiều người Mỹ dán mắt vào TV để xem màn trình diễn tà thuật trực tiếp trên đài ABC, chương trình 20/20. Chứng kiến cảnh đó, Barbara Walters chợt hỏi, “Ma quỷ có thật không?” Quyền lực của ma quỷ có phần giảm bớt trong một số tôn giáo Đông phương không tin hoặc tránh né ma quỷ, sự đau đớn thể xác và tội lỗi. Nhưng quyền lực ma quỷ có thực sự mất đi hay không khi chỉ đơn giản vì họ không tin có chúng? Bỏ những tay lang băm sang một bên, thì liệu những hữu thể linh mà những người theo đạo giao tiếp được có phải là những linh giả mạo không?
4. Nhiều người có đạo thấy rằng họ đang ở trong trận chiến giữa điều thiện và điều ác . Các thiên sứ và ma quỷ là những độc thủ chính trong trận chiến này. Trận chiến thuộc linh này từ đâu mà có? Bái Hỏa giáo cổ xưa và văn chương tiên tri Do Thái thường mô tả trận chiến đó. Dĩ nhiên, Kinh Thánh khẳng định có sự tranh chiến giữa điều thiện và điều ác, cũng như thiên sứ và ma quỷ thực sự hiện hữu. Sách Khải Huyền mô tả trận đại chiến này và tiên đoán rằng điều thiện sẽ chiến thắng. Các cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất của Frank Peretti, This Present Darkness và Piercing the Darkness , đã cho các Cơ Đốc nhân một cái nhìn sáng tạo và đầy kịch tính về cách các thiên sứ và ma quỷ “đánh nhau” trong giới thần linh. Những cuốn khác như Pigs in the Parlor và He Came to Set the Captives Free , còn hấp dẫn hơn nữa khi tuyên bố rằng không chỉ có những người chưa tin bị quỷ ám, mà cả những người đã tin cũng có thể bị.
Cuốn sách này đề cập đến vấn đề thiên sứ và ma quỷ như thế nào?
Viết thêm một cuốn sách về xu hướng tâm linh ngày nay để làm gì? Nói ngắn gọn, để có sự phân định. Chúng ta cần biết phân định khi đề cập đến các hữu thể siêu nhiên như thiên sứ và ma quỷ. Liệu thuyết Thời Đại Mới có đúng không khi nó mô tả các thiên sứ là những tạo vật tử tế và luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng ta? Nếu nền văn chương Cơ Đốc và Do Thái sơ khai nói đúng về những ác linh, thì làm thế nào chúng ta có thể phân biệt được thiên sứ và ma quỷ? Những cuốn sách có đúng không khi khẳng định rằng ma quỷ luôn đứng sau mọi nan đề của chúng ta? Cuốn sách này đề cập đến những vấn đề này, và các vấn đề khác có liên quan, dựa trên việc nghiên cứu kỹ Kinh Thánh, là cuốn sách chép rất nhiều về sự xuất hiện của các thiên sứ và ma quỷ. Chúng tôi cũng tham khảo các tác phẩm văn chương Do Thái cổ và các tác phẩm của những người sống trong thời sơ khai của Hội Thánh đầu tiên vì các tư liệu này giúp chúng ta biết về cách các tác giả Kinh Thánh giải thích về thế giới linh.
Cuốn sách này được chia làm 3 phần. Các chương hai và ba tập trung vào đề tài thiên sứ. Trong chương hai, chúng ta sẽ tìm hiểu các vấn đề liên quan đến sự sáng tạo và đặc tính của các thiên sứ. Thiên sứ là gì? Các thiên sứ được tạo dựng ra sao? Có bao nhiêu thiên sứ hết thảy? Chương ba nhắm đến công việc của các thiên sứ. Các thiên sứ làm gì? Kêu cầu họ giúp đỡ có phải là điều sai hay không? Chúng ta sẽ trả lời những câu hỏi này và các câu hỏi khác dựa trên Kinh Thánh.
Các chương từ bốn đến sáu nói đến ma quỷ và Sa-tan. Chương bốn trả lời các nghi vấn về sự sáng tạo và đặc tính của ma quỷ. Chương năm bàn đến diện mạo của Sa-tan. Làm sao mà nhiều người đã đi đến kết luận rằng Sa-tan đã từng là một thiên sứ đẹp đẽ được gọi là Lu-xi-phe? Từ đâu mà chúng ta có ý niệm là Sa-tan có màu đỏ và hay cầm một cái chĩa ba? Trong chương sáu, chúng ta sẽ tìm hiểu cả công việc của Sa-tan lẫn các thuộc hạ của Sa-tan. Kinh Thánh nói gì về công việc của Sa-tan trong tương quan với con người? Làm sao chúng ta có thể biết được một biến cố siêu nhiên nào đó là đến từ Đức Chúa Trời hay từ các thế lực khác?
Cuối cùng, chương bảy giải đáp các nghi vấn về tà giáo. Chúng ta sẽ bàn đến những vấn đề siêu linh, từ thuật chiêm tinh đến việc xem sao đoán số, từ việc đầu thai đến các quyền lực siêu linh, từ UFO đến tà thuật, và nhiều thứ tương tự.
Một số độc giả muốn đọc ngay phần nói về ma quỷ, trong khi những người khác khi đọc hết phần nói về các thiên sứ tốt bụng ở chương ba thì không muốn đọc qua các phần khác. Những người khác thì muốn đọc hết cuốn sách một lượt. Cũng có những người chỉ đơn giản dùng cuốn sách này làm công cụ tham khảo để giải đáp các vấn đề đặc biệt của họ. Dù bạn chọn cách tiếp cận nào, tôi cũng muốn cảnh báo bạn điều này. Là một tác giả viết về các vấn đề phân định và từng là một người nghiên cứu về các phong trào tôn giáo mới cũng như các vấn đề siêu linh, tôi đã bàn đến những vấn đề này trong nhiều dịp khác nhau. Khi chúng ta bàn đến bản chất của những linh siêu nhiên, thì gần như chúng ta cũng đã mở cửa một chiều kích thuộc linh mà nó có thể đem đến một kinh nghiệm an bình hoặc một từng trải đáng sợ-nhiều lúc là cả hai.
Có thể một số độc giả không thích đối diện với thế giới linh. Nếu bạn cảm thấy chưa sẵn sàng cho vấn đề này, xin đừng đọc tiếp. Tôi không muốn làm giảm tính nghiêm trọng của vấn đề. Mặt khác, tôi thấy rằng những ai quan tâm tới vấn đề này cần có thêm thông tin và sự phân định mà cuốn sách này đem lại. Trên hết, chúng ta đừng đánh giá quá cao hoặc đánh giá quá thấp những thế lực linh của cả điều thiện lẫn điều ác. Nào, bây giơ chúng ta cùng vào cuộc nhé!

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CÁC THIÊN SỨ
Những người theo chủ nghĩa đổi mới xem các thiên sứ như là một sản phẩm tưởng tượng của quá khứ mê tín mà chúng ta đã trải qua. Vào thế kỷ mười chín, Friedrich Scheleiermacher, người được xem là ông tổ của thần học khoáng đạt, đã đặt vấn đề mục đích của việc duy trì giáo lý về các thiên sứ. Đến thế kỷ hai mươi, một học giả Thánh Kinh Tân Ước, ông Rudolf Bultmann, về cơ bản đã hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của các thiên sứ. Vậy thì có ích gì cho chúng ta khi đang hướng tới thế kỷ hai mươi mốt mà lại nghiên cứu về đề tài thiên sứ cổ xưa? Nhà thần học Millard Erickson liệt kê năm lợi ích cho tâm trí thuộc linh:13
1. Nó yên ủi chúng ta khi chúng ta biết rằng có vô số hữu thể linh đầy sức mạnh sẵn sàng giúp đỡ chúng ta (IISu 2Sb 6:17).
2. Sự thờ phượng của các thiên sứ chỉ cho chúng ta cách để thờ phượng Đức Chúa Trời (KhKh 4:8-11).
3. Việc một số thiên sứ sa ngã khiến chúng ta phải cảnh giác để không đánh mất đức tin của mình (ICo1Cr 10:12).
4. Sự thật về các thiên sứ sa ngã cảnh báo chúng ta về những cách mình có thể bị cám dỗ (Mat Mt 4:1-11)
5. Dù Sa-tan và tay sai của nó có mạnh mẽ đến đâu đi nữa, thì chúng ta cũng an tâm vì những việc chúng làm đều có giới hạn (Giop G 1:1-2:13).
Trào lưu thiên sứ trong thời đại này khiến cho người ta ít quan tâm tới những vấn đề sâu sắc về bản chất của các thiên sứ, mà chú ý nhiều hơn tới các hoạt động của thiên sứ. Chúng ta, những người chống chủ nghĩa hiện đại, lại quan tâm nhiều hơn tới những gì các thiên sứ có thể làm cho mình thay vì họ thực sự là ai. Nhưng điều này không giúp chúng ta nhận diện được sự khác nhau giữa các thiên sứ thiện và ác. Trước khi chúng ta tìm hiểu các thiên sứ có nhiệm vụ gì, chúng ta cần phải hiểu họ là ai và là gì. Và đó là trọng tâm của chương này.
Câu Hỏi 2: Chữ Thiên Sứ Có Nghĩa Gì?
Chữ thiên sứ trong tiếng Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh Cựu Ước là mal’ k , có nghĩa là “sứ giả” hay “người đại diện.” Chữ này xuất hiện trong tên của tiên tri Ma-la-chi, “sứ giả của ta,” tức là một sứ giả do Đức Chúa Trời sai đến. Theo thần thoại Hy Lạp, chữ “thiên sứ,” angelos , được dùng để gọi thần Hermes, người đóng vai trò sứ giả của các vị thần khác. Sứ giả có thể là một con người (SaSt 32:3; PhuDnl 5:6) hoặc một hữu thể linh (SaSt 28:12; DaDn 6:22).
Trong Mac Mc 1:2, Giăng Báp-tít là một sứ giả (angelos ) dọn đường cho Chúa. Trong LuLc 9:52, Chúa Giê-su sai các môn đồ của Ngài ra đi như những sứ giả để dọn đường cho Ngài tại xứ Sa-ma-ri. Chữ angelos xuất hiện 175 lần trong Thánh Kinh Tân Ước.14 Văn cảnh của một phân đoạn thường quyết định sứ giả đó là con người hay là một thần linh. Trong Mat Mt 28:2 chẳng hạn, sứ giả là một hữu thể siêu nhiên, một thiên sứ từ trên trời đến lăn hòn đá chận trước ngôi mộ của Chúa Giê-su. Việc làm của thiên sứ đó vượt hẳn khả năng bình thường của con người.
Lần đầu tiên các thiên sứ xuất hiện như những sứ giả siêu nhiên do Đức Chúa Trời sai đến được Kinh Thánh ghi nhận trong SaSt 3:24 “Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Ê-đen các thần chê-ru-bin với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống.”15 Những sứ giả này không phải là con người, vì trong Sáng-thế ký, A-đam và Ê-va là những con người đầu tiên. Sự thật này đưa chúng ta đến một kết luận quan trọng liên quan tới các thiên sứ. Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, lấy lá cây che thân và trốn khỏi Đức Chúa Trời, và sau khi Đức Chúa Trời tuyên bố hình phạt của Ngài trên họ, thì các thiên sứ mới xuất hiện lần đầu tiên. Chỉ sau khi tội lỗi chấm dứt mối tương giao mật thiết giữa A-đam, Ê-va và Đức Chúa Trời thì lúc đó các thiên sứ mới xuất hiện.
Do vậy, chữ thiên sứ thường ngụ ý một hữu thể siêu nhiên đóng vai trò trung gian như một sứ giả giữa Đức Chúa Trời và con người .16 Nhưng chúng ta cần phải lưu ý ngay từ đầu rằng các thiên sứ không phải là những nhân vật trung gian của sự cứu rỗi-Kinh Thánh khẳng định rằng chỉ có Đấng Christ là Đấng Trung Bảo duy nhất thực hiện công việc này (ITi1Tm 2:5). Đấng Christ hòa giải con người với Đức Chúa Trời và biến họ thành con cái Đức Chúa Trời; các thiên sứ chỉ hỗ trợ và phục vụ con người theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời.
Câu Hỏi 3: Thiên Sứ Là Gì?
Có lẽ những giả định được quan tâm nhiều nhất về bản chất của các thiên sứ là do Thomas Aquinas (1225-74), người có danh hiệu là Doctor Angelicus, đề xướng. Aquinas trả lời 118 câu hỏi về đặc tính và các thuộc tính của thiên sứ đồng thời đưa ra một định nghĩa cơ bản về thiên sứ “là những tạo vật hoàn toàn thuộc linh, có tri thức và phi vật chất.”17 Chúng ta hãy phân tích định nghĩa này để thấy được vài khía cạnh trong bản chất của các thiên sứ.
1. Các thiên sứ là các linh (spirits ). Giống như Đức Chúa Trời, thiên sứ là thần linh (không nhìn thấy được và phi vật chấtvà không bị vật chất giới hạn như đối với con người (HeDt 1:14 hãy so sánh với Giop G 4:15-16.18 Các thiên sứ không bao giờ chết (LuLc 20:36 Thomas Aquinas tuyên bố rằng các thiên sứ có thể hiện ra trong thân thể vật lý, ăn uống, nói năng v.v. như con người, dẫu rằng họ không thực sự làm trọn các công việc đó (Summa Contra Gentiles 50.5, 51.3 đối chiếu Tobit 12:19 Philo, Quaestiones in Genesin 4.9; Josephus, Antiquities of the Jews 1.11.2). Nếu họ là thần linh thì có lẽ họ không có các hệ thống tiêu hóa của thân thể vật lý. Tuy nhiên, các thiên sứ có thể tương tác với thế giới vật lý. Vị thiên sứ xuất hiện khi Chúa Giê-su phục sinh đã di chuyển hòn đá nặng nề trước mộ Chúa một cách dễ dàng (Mat Mt 28:2; Mac Mc 16:3-4).
2. Các thiên sứ là những hữu thể phi thường . Các thiên sứ là phi thường vì họ có những khả năng mạnh mẽ hơn con người. Họ có thể mở cửa ngục để giải phóng tù nhân (Cong Cv 5:19; 12:5-11), họ bày tỏ các sứ điệp từ Đức Chúa Trời (10:3-4; 23:9; 27:23), và họ thi hành sự đoán phạt thể chất trên kẻ ác (12:23). Trong SaSt 19:10-11, họ đã làm lòa mắt những người dân Sô-đôm đang quấy rầy họ.
Trong KhKh 7:1, Giăng nói tiên tri về bốn vị thiên sứ chặn đứng bốn hướng gió trên địa cầu. Có lẽ điều này ám chỉ niềm tin của người Do Thái, cho rằng các thiên sứ có quyền trên tự nhiên (2 Enoch 5.1). Tuy nhiên, chúng ta không biết được rằng các thiên sứ thực hiện những việc siêu nhiên bằng chính năng lực của họ hay họ được Đức Chúa Trời ban quyền năng để làm những việc đó. Dù trong trường hợp nào, các thiên sứ thiện lành đều hành động trong ý muốn của Đức Chúa Trời.
3. Các thiên sứ là những hữu thể có cá tính . Không giống như động đất, bão táp, hệ thống ra đa và các nguồn lực phi nhân cách khác, các thiên sứ là những nhân vị. Họ không chỉ là những quân cờ hoặc những rô-bốt thuộc linh của Đức Chúa Trời; họ có trí hiểu, tình cảm và ý chí. Đề cập đến vấn đề trí hiểu, họ có sự khôn ngoan và có thể phân biệt giữa thiện và ác (IISa 2Sm 14:17-20; 19:27). Họ khao khát hiểu được toàn bộ kế hoạch giải cứu của Đức Chúa Trời (IPhi 1Pr 1:10-12; Eph Ep 3:10). Về tình cảm, họ vui mừng trước sự sáng tạo của Đức Chúa Trời và vui mừng khi có bất cứ tội nhân nào ăn năn (Giop G 38:7; LuLc 15:7, 10). Do đó, chúng ta có thể suy ra rằng họ đau buồn khi có người từ chối sứ điệp cứu rỗi (Pseudo-Philo 19.12-16).19 Nói đến ý chí, họ có thể lựa chọn vâng theo lời Đức Chúa Trời hay không (Thi Tv 103:20; KhKh 22:8-9), ngay cả có một số thiên sứ được gọi là thiên sứ sa ngã vì cớ họ đã lựa chọn không vâng phục Đức Chúa Trời (Giu Gd 1:6).
4. Thiên sứ là các hữu thể thánh khiết . Các thiên sứ đôi khi được gọi là “đấng/thánh đồ” (DaDn 4:13, 17; ITe1Tx 3:13; Giu Gd 1:14; KhKh 14:10; 1 QH 3.22; 4.25; 11.12; 1 QM 1.10-11; 14.15-16). Dù họ có thể bao phủ chính họ bằng sự vinh hiển và ánh sáng chói lòa (LuLc 2:9; 24:3-5). và họ có thể ra vào thiên đàng (SaSt 28:12; LuLc 2:13-15; GiGa 1:51), sự thánh khiết của họ bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. Các thiên sứ không tự mình có được sự thánh khiết tuyệt đối; họ thờ phượng chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết tuyệt đối (Giop G 4:18-19; 15:15).20 Các sê-ra-phin hô lớn “thánh thay, thánh thay, thánh thay” trước ngai Đức Chúa Trời Toàn Năng (EsIs 6:2-3; KhKh 4:8). Người Do Thái đã hiểu rằng Đức Chúa Trời thánh khiết đến độ nếu các thiên sứ quên nói “thánh thay,” thì Ngài sẽ thiêu hủy họ bằng lửa và tạo nên các thiên sứ mới (3 Enoch 40:3-4)!
5. Thiên sứ không phải là các vị thần . Thiên sứ không phải là các tiểu thần tiên như trong thần thoại Hy Lạp. Quan điểm đó sẽ dẫn tới đa thần giáo-niềm tin nơi nhiều vị thần. Kinh Thánh tuyên bố rằng chỉ có một Đức Chúa Trời (độc thần giáo và không có thần nào khác ngoài Ngài (ICo1Cr 8:1-5; GaGl 4:8; EsIs 41:10-11). Thiên sứ thấp kém hơn Đức Chúa Trời và không có những đặc tính của Đức Chúa Trời như bất diệt, toàn năng, toàn tri và toàn tại.21
Câu Hỏi 4: Các Thiên Sứ Được Tạo Dựng Khi Nào?
Trước khi chúng ta tìm hiểu xem các thiên sứ được tạo dựng khi nào, chúng ta cần phải khẳng định rằng họ đã được dựng nên. Nếu không có khởi đầu, thì họ tồn tại đời đời như chính Đức Chúa Trời. Trong GiGa 1:1-3, Kinh Thánh cho biết rằng mọi vật đều do Đức Chúa Giê-su, Lời của Đức Chúa Trời tạo dựng nên, bao gồm cả các thiên sứ (hãy so sánh với NeNe 9:6; Thi Tv 148:2-5 CoCl 1:15-16) khẳng định rằng mọi sự đều do Đấng Christ tạo nên, “Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả.” Do đó các thiên sứ không hiện hữu từ trước vô cùng như Đức Chúa Trời; họ có một khởi điểm.
Nhưng Kinh Thánh không khẳng định việc tạo dựng các thiên sứ diễn ra khi nào. Họ đã hiện hữu khi Đức Chúa Trời dựng nên thế gian. Đức Chúa Trời hỏi Gióp, “Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi thông sáng, hãy tỏ bày đi… Nền nó đặt trên chi? Ai có trồng hòn đá góc của nó? Trong khi ấy các sao mai đồng hát hòa nhau, Và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng?” (Giop G 38:4-7). Cả Kinh Thánh lẫn một số truyền thống Do Thái ngụ ý rằng các thiên sứ tồn tại từ ngày đầu tiên của sự tạo dựng; do đó, có lẽ họ cũng có phần trong sự tạo dựng “trời” trong SaSt 1:1 (xem Jubilees 2.2-3, 11QPs Hynm to the Creator 26:13).
Tại sao Đức Chúa Trời tạo dựng các thiên sứ? Nếu chúng ta giả định rằng công việc của thiên sứ là phục vụ con dân của Đức Chúa Trời, thì sẽ có người cho rằng các thiên sứ được tạo nên trong sự biết trước của Đức Chúa Trời về nhân loại (HeDt 1:14). Nhưng điều này không đủ để giải thích tại sao Đức Chúa Trời lại tạo dựng các thiên sứ trước con người.22 Như chúng ta đọc Giop G 38:7, các thiên sứ vui mừng trước sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Có lẽ mục đích chính của họ là tôn vinh Đức Chúa Trời khi nhắc đến sự sáng tạo đầy quyền năng của Ngài.
Câu Hỏi 5: Hình Dong Của Các Thiên Sứ Như Thế Nào?
Các thiên sứ không chỉ xuất hiện trong những bộ trang phục trắng sáng như thường thấy trong các bức vẽ cổ điển. Vì họ là thần linh, nên họ có thể hiện ra dưới nhiều hình thể và diện mạo khác nhau. Họ có thể hiện ra dưới hình dạng của con người, như các sứ giả đã ngồi ăn với Áp-ra-ham và sau đó bị những người Sô-đôm nhầm lẫn (SaSt 18:1-19:38 so sánh với HeDt 13:2).23 Họ cũng hiện ra bằng những hình dạng khác. Các chê-ru-bin mà Ê-xê-chi-ên nhìn thấy thì có cánh và có nhiều mắt với bốn khuôn mặt, mặt người, mặt sư tử, mặt chim ưng và mặt chê-ru-bin (Exe Ed 10:12-14).24 Ở những chỗ khác thì họ có cánh, điều đó cho thấy rằng họ ở trên thiên đàng, chứ không phải trần gian (EsIs 6:2; XaDr 5:9). Họ mặc những bộ áo trắng hoặc những bộ đồ sáng chói (Mat Mt 28:3; Mac Mc 16:5; Cong Cv 1:10; LuLc 24:4-5; Cong Cv 10:30). Đôi lúc họ đeo đai bằng vàng (KhKh 15:6 so sánh 2 Maccabees 10:29-30). Loại trang phục đó cho thấy sự thanh sạch, thánh khiết và vinh hiển của họ.
Các thiên sứ hiện ra dưới nhiều kích thước khác nhau. Một số thiên sứ có kích thước của con người bình thường, trong khi những thiên sứ khác thì cao to khổng lồ, đủ lớn để đặt một bàn chân trên đất và chân còn lại dưới biển (Cong Cv 1:10-11; KhKh 10:1-11 Theo truyền thống Do Thái, một thiên sứ có tên là Metatron (theo sách vở thì dường như đó là Hê-nóc trong SaSt 5:24 có thân hình lớn cỡ địa cầu với 365,000 con mắt và 72 cánh-mỗi cánh đủ lớn để che phủ toàn cõi thế gian (3 Enoch 9)! Một thiên sứ khác, Hayli’el, có thể nuốt chửng cả trái đất (3 Enoch 20:2), trong khi thiên sứ ‘Opanni’el thì cao đến độ phải tốn 2,500 năm mới đi hết được chiều cao đó (3 Enoch 25:1-4). Sự phóng đại đó dường như muốn nhấn mạnh đến những ý nghĩa biểu trưng. Trong các trường hợp này, quyền lực của thiên sứ được nhấn mạnh.
Không hề có các thiên sứ nhỏ hoặc các nàng tiên trong Kinh Thánh. Dù rằng các chê-ru-bin trong tranh vẽ thường là khỏa thân, là các em bé bụ bẫm, nhưng Kinh Thánh không hề mô tả họ như vậy. Song, vì các thiên sứ là những hữu thể thần linh, nên họ có thể hiện ra trong bất cứ kích thước, hình dạng nào mà Đức Chúa Trời cho phép.
Câu Hỏi 6: Các Thiên Sứ Có Giới Tính Không?
Một truyền thống Do Thái nổi bật tuyên bố rằng những “con trai của Đức Chúa Trời” mà cưới “con gái loài người” trong SaSt 6:1-22 chính là các thiên sứ được gọi là “Người Thức Canh” (Watchers Jubilees 7.21-25; 1 Enoch 6). Rõ ràng điều này hàm ý rằng các thiên sứ đều có giới tính nam. Thậm chí có truyền thống cho rằng các thiên sứ chịu cắt bì ngay lúc họ được tạo nên (Jubilees 15.25-2).25 Điều này một lần nữa giả định rằng các thiên sứ đều là nam giới. Thật vậy, Kinh Thánh thường mô tả các thiên sứ hiện ra trong hình dạng của những người đàn ông (ví dụ, SaSt 18:1-19:38; XaDr 5:9-11 Tuy nhiên, các thiên sứ cũng có thể hiện ra trong hình dạng của những người phụ nữ (5:9-11).
Tuy nhiên, các phân đoạn mô tả thiên sứ không đề cập gì đến vấn đề giới tính của họ. Việc các thiên sứ hiện ra trong thân thể của đàn ông hay phụ nữ không có nghĩa là về bản chất họ là đàn ông hay phụ nữ. Vì là thần linh, nên họ không có giới tính. Vì các thiên sứ không có lập gia đình, nên giới tính của họ là không cần thiết. Về bản chất, các thiên sứ là vô tính (sexless và không tự sản sinh ra chính họ (Mac Mc 12:25).26
Câu Hỏi 7: Thiên Sứ Giữ Vị Trí Nào Trong Vòng Các Tạo Vật?
Vào thời Trung Cổ, nhiều Cơ Đốc nhân thấy rằng họ không xứng đáng để trực tiếp tương giao với một Đức Chúa Trời thánh khiết và tối cao. Triết lý của thuyết Tân Platon, một lý thuyết cho rằng thế giới vật lý tồn tại ở một cấp thấp, cách xa Đức Chúa Trời (hoặc “Đấng Thần Linh”), đã ảnh hưởng tư tưởng của Augustine (354-430và các giáo phụ khác. Quan điểm này đã đưa tới những nghi thức tôn giáo như xưng tội với linh mục và cầu nguyện với các thánh cũng như Đức Mẹ Đồng Trinh. Cùng thời điểm đó, Pseudo-Dionysius người A-then (Areopagite (c.500đã viết một luận thuyết về các thiên sứ, được gọi là “Concerning the Celestial Hierarchy” (De Hierarchia Coelesti ) Dionysius khẳng định rằng luật Môi-se đã được các thiên sứ truyền đạt lại, con người không thể nhận lãnh sự mặc khải thiêng liêng trừ khi thông qua trung gian là các thiên sứ.27 Siêu hình học thời Trung Cổ có khuynh hướng nhấn mạnh tính ưu việt của thiên sứ trên con người.
Dù thiên sứ giữ vai trò người trung gian để chuyển tải sứ điệp của Đức Chúa Trời cho con người (GaGl 3:19; Cong Cv 7:53; HeDt 2:2; PhuDnl 33:2 Bản Bảy Mươi), Kinh Thánh không nhấn mạnh sự ưu việt của họ trên con người. Họ thuộc một trật tự cao hơn con người trong thời điểm hiện tại (HeDt 2:5-8; IIPhi 2Pr 2:10-11), nhưng họ không đủ cao để con người phải nhờ họ mà tương giao với Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời cũng không cần phải thông qua họ mới đến với chúng ta được. Trong tương lai, các Cơ Đốc nhân sẽ đoán xét ít nhất là một vài thiên sứ (ICo1Cr 6:3).
Vực sâu không đáy giữa con người và Thượng Đế đã được Chúa Giê-su bắc cầu rồi, và các thiên sứ giống như những người phục vụ các thánh nhân (HeDt 1:14 hãy so sánh với GiGa 14:6; ITi1Tm 2:5). Cả Đức Chúa Cha lẫn Đức Chúa Giê-su Christ có một địa vị cao cả hơn nhiều so với các thiên sứ (Thi Tv 89:5-7; RoRm 8:38-39; Exe Ed 1:19-20; Phi Pl 2:9-11; CoCl 1:16; 2:10; HeDt 1:3-14; IPhi 1Pr 3:22; KhKh 5:1-7). Các thiên sứ, cùng với các Cơ Đốc nhân, thờ phượng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (NeNe 9:6; Thi Tv 148:2; HeDt 1:6). Do đó, trong hiện tại các thiên sứ có một vị trí cao hơn con người, nhưng Đức Chúa Trời tể trị trên tất cả.
Câu Hỏi 8: Con Người Có Thể Biến Thành Thiên Sứ Không?
Con người có được nhắc lên vị trí của thiên sứ sau khi chết không? Ở trên chúng ta có đọc rằng Hê-nóc được biến thành một thiên sứ, nhưng quan điểm này xuất phát từ các tài liệu Do Thái thuộc thế kỷ thứ năm hay thứ sáu S.C., chứ không phải Kinh Thánh. Đấng Christ phán rằng ở trên thiên đàng thì con người sẽ không còn cưới hỏi, cũng không có hôn nhân, nhưng họ “giống như thiên sứ trên trời vậy” (Mat Mt 22:30). Tuy nhiên, trở nên giống như thiên sứ không có nghĩa là thực sự biến thành thiên sứ. Trên thiên đàng, con người sẽ “giống như thiên sứ” trên các phương diện sau: (1) không cưới gả và (2) không bao giờ chết nữa. Kinh Thánh không cho thấy rằng chúng ta sẽ trở thành các thiên sứ.
Trước khi Đấng Christ tái lâm, thân thể của những người tin Ngài vẫn còn ở trong mộ phần, nhưng con người bề trong của họ thì ở với Đức Chúa Trời (LuLc 23:39-43; Phi Pl 1:21-23; IICo 2Cr 5:8). Thánh Kinh Tân Ước cho biết khi Đấng Christ tái lâm thân thể của họ sẽ được phục sinh từ cõi chết và được biến đổi sang trạng thái không thể chết được nữa (ITe1Tx 4:16-18; ICo1Cr 15:12-57; KhKh 20:4). Những người không tin cũng sẽ sống lại, song họ phải chịu sự hình phạt đời đời (GiGa 5:28-29; KhKh 20:11-15).
Câu Hỏi 9: Phải Chăng Có Nhiều Đẳng Cấp Thiên Sứ Khác Nhau?
Vì Đức Chúa Trời là Chúa của trật tự, nên chúng ta tin rằng các thiên sứ của Ngài cũng hiện hữu trong vòng trật tự. Có lẽ trật tự của sự thờ phượng nằm đằng sau ý nghĩa của ICo1Cr 11:10: “Bởi đó, vì cớ các thiên sứ, đờn bà phải có dấu hiệu trên đầu chỉ về quyền phép mình nương cậy.” Giống như các thiên sứ thờ phượng trong vòng trật tự, những người phụ nữ Cô-rinh-tô cũng phải thờ phượng một cách có trật tự. Sự thờ phượng vô trật tự có thể xúc phạm các thiên sứ. Một nghiên cứu I Cô-rinh-tô 11-14 cho thấy rằng Phao-lô đang cố gắng sửa lại vấn đề thờ phượng vô trật tự tại Cô-rinh-tô.28
Các thiên sứ được tổ chức như thế nào? Xác định rõ ràng các cấp bậc hoặc địa vị của thiên sứ quả khó khăn, và là một công việc chỉ mang tính phỏng đoán. Tuy nhiên, nếu Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người, động vật, côn trùng và cả một thế giới cây cỏ dưới nhiều hình dạng, kích cỡ, màu sắc và chức năng khác nhau, thì tại sao Đức Chúa Trời lại không tạo nên các cấp bậc thiên sứ cao thấp khác nhau? Kinh Thánh có nêu ra một vài hạng thiên sứ khác nhau.
1. Các thiên sứ trưởng . Một tầng lớp thiên sứ được gọi là “thiên sứ trưởng” (từ archè có nghĩa là “trưởng” hay “chính”). Giu-đe 9 xác định rằng Mi-chen (Michael-Mi-ca-ên) là thiên sứ trưởng. Chúng ta biết được thẩm quyền của Mi-chen trong KhKh 12:7-9, chỗ ghi lại người và đạo quân thiên sứ của mình giao chiến và đánh bại ma quỷ cùng thuộc hạ của nó. Chúng ta cũng thấy Mi-chen bẻ gãy quyền lực của một hữu thể linh khác được gọi là “vua nước Phe-rơ-sơ” trong DaDn 10:13. Nhưng Mi-chen không phải là thiên sứ trưởng duy nhất. Cũng trong câu đó, người được gọi là “một trong các quan trưởng đầu nhất,” ngụ ý rằng có những thiên sứ khác cũng giống như Mi-chen. Mi-chen trông nom con dân Y-sơ-ra-ên (10:21; 12:1).
2. Chê-ru-bin và Sê-ra-phin . Chê-ru-bin và Sê-ra-phin là một cấp bậc thiên sứ khác nữa.29 Các chê-ru-bin thường gắn liền với mây và sự di chuyển; họ cùng đi với Đức Chúa Trời trên thiên đàng (Thi Tv 18:11 hãy so sánh với 80:1; 99:1; 104:3; EsIs 19:1; IVua 1V 7:29-36; Exe Ed 1:10). Người Hê-bơ-rơ đặt hai hình chê-ru-bin trên nắp hòm giao ước (XuXh 25:10-22). Chê-ru-bin có bốn mặt, theo như Ê-xê-chi-ên các chương 1 và 10; và có lẽ cũng giống như bốn “sinh vật” trong KhKh 4:1-11. Trong cả hai trường hợp, người ta nói họ có bốn mặt: sư tử, người, bò, và chim ưng.30
Bốn sinh vật trong 4:1-11 có sáu cánh và hô lớn “thánh thay, thánh thay, thánh thay” trước mặt Đức Chúa Trời Quyền Năng, giống như các sê-ra-phin mà Ê-sai nhìn thấy trong EsIs 6:1-13. Có lẽ không có sự phân biệt rõ rệt nào giữa chê-ru-bin và sê-ra-phin-các tên gọi khác nhau có thể dùng để xác định những vai trò khác nhau của cùng một loại tạo vật. Một số người thậm chí tranh biện rằng họ không phải là những tạo vật thực thụ. Chẳng hạn, Augustus Strong, quả quyết rằng chê-ru-bin và sê-ra-phin không phải là những hữu thể có thật, nhưng họ chỉ là “những hình ảnh mang tính biểu tượng” (symbolic appearances) tượng trưng cho “nhân loại được giải phóng, được phục hồi mọi sự trọn vẹn cố hữu vốn đã mất đi trong sự Sa Ngã, và được tạo dựng để làm nơi ngự của Đức Chúa Trời.”31 Tuy nhiên, Thánh Kinh ghi nhận rằng các chê-ru-bin bảo vệ lối vào vườn Ê-đen sau khi A-đam và Ê-va bị đuổi đi (SaSt 3:24). Điều này cho thấy các tác giả Hê-bơ-rơ không coi chê-ru-bin như những hình ảnh “mang tính biểu tượng.”
3. Các thiên sứ được chọn . Trong ITi1Tm 5:21, Phao-lô có nhắc đến “các thiên sứ được chọn.” Một số người đồng nhất hóa các thiên sứ này với những thiên sứ chưa sa ngã theo Sa-tan. Vì sao họ được chọn? Phải chăng có một số thiên sứ được tiền định là sẽ không sa ngã, trái với những thiên sứ Đức Chúa Trời cho phép sa ngã? Phải chăng tất cả các thiên sứ đã chịu rủa sả trước khi họ sa ngã để qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ sự nhơn từ bằng cách ban ơn cho một số thiên sứ này chứ không phải một số thiên sứ kia? Chúng ta nên tránh giả thuyết cho rằng Đức Chúa Trời lựa chọn các thiên sứ giống như cách Ngài lựa chọn con người; Dường như Đức Chúa Trời không có kế hoạch giải cứu cho các thiên sứ (xem câu trả lời số 55).
Một cách giải thích khác cho từ được chọn không có liên quan gì đến sự sa ngã của các thiên sứ không được lựa chọn. Trước hết, 5:21 ngụ ý rằng Đức Chúa Trời lựa chọn một nhóm đặc biệt từ các thiên sứ thiện lành để làm chứng về sự đoán xét sau cùng (KhKh 14:10; Mat Mt 25:31; LuLc 9:26; ITe1Tx 3:13).32 Cách giải nghĩa này phù hợp với văn cảnh của phân đoạn, vì Phao-lô khuyến giục Ti-mô-thê tuân theo sự hướng dẫn về công tác chăn bầy của ông, “chớ tây vị bên nào… chớ hề nhúng vào tội lỗi kẻ khác” (ITi1Tm 5:21-22). Phao-lô đang khuyên giục Ti-mô-thê thực hiện mọi việc trong sự công chính, vì Đức Chúa Trời, Đấng Christ và một nhóm các thiên sứ đặc biệt đang theo dõi hành vi của ông và sẽ đoán xét các công việc của ông vào ngày sau rốt (IICo 2Cr 5:10; ICo1Cr 3:11-15).
Các thiên sứ được chọn có thể giống với “các thiên sứ đứng chầu” (angels of the Presence) được ghi trong các cuộn Biển Chết (1QSb 4.25; 1QH 6.13; so sánh với Jubilees 1.27-2.2; 1 Enoch 9.1; 20.1-7; 40.1-10; Testament of Levi 3:4-8). Đây là “những thiên sứ có thứ bậc đặc biệt, được đứng trước mặt (sự hiện diện vinh hiển) của Đức Chúa Trời (tức là họ ở trong một trạng thái vinh hiển nào đó cao hơn các thiên sứ khác); khái niệm này cũng phổ biến trong vòng Do Thái giáo”33 (1 Enoch 39.1 Odes of Solomon 4.8 Testament of Twelve Patriarchs 19, 4 Ezra 16:66 so sánh với DaDn 4:13, 17; XaDr 14:5). Nhóm thiên sứ này có thể có liên hệ tới tòa án thiên đàng với “hội đồng” thiên sứ (Thi Tv 58:1; 89:6-9; Gie Gr 23:18; IVua 1V 22:19-22; Giop G 15:8; LuLc 9:26 so sánh với 1 Enoch 14.21; 1QH 3.35; 1QM 12.7-8). Một lần nữa chúng ta giả định rằng các thiên sứ này ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và làm những công việc giống như chê-ru-bin và sê-ra-phin.
Chúng ta chưa nói hết về những cấp bậc khác nhau của thiên sứ. Chúng ta chưa bàn tới các cấp bậc khác nhau của những thiên sứ sa ngã, hoặc ma quỷ cũng như Sa-tan. Hơn nữa, chúng ta cũng chưa đề cập đến vị “thiên sứ” vĩ đại nhất, thiên sứ của Đức Giê-hô-va. Có thể có các cấp bậc thiên sứ khác nữa mà chúng ta được biết rất ít. “Các cơ binh” có thể là một cấp thiên sứ khác chuyên đánh trận (Thi Tv 148:2; Gia Gc 5:4); “đấng thánh canh giữ” cũng có thể là một tầng lớp khác (bản NIV dịch là “sứ giả” (messenger), DaDn 4:13, 17, 23 so sánh với 1 Enoch 6-16; Sibylline Oracles 1.95; Testament of the Twelve Patriarchs 5.5-6). Ngoại trừ các nhóm thiên sứ được Kinh Thánh đề cập đến, có thể có nhiều nhóm thiên sứ khác mà chúng ta không biết tí gì về họ (so sánh với PhuDnl 29:29).34
Câu Hỏi 10: Thiên Sứ Trưởng Là Gì?
Trong Kinh Thánh, các thiên sứ thuộc đẳng cấp cao được gọi là thiên sứ trưởng (Giu Gd 1:9; KhKh 12:7-9; DaDn 12:1 Chúng ta đã biết rằng Mi-chen là thiên sứ trưởng duy nhất được Kinh Thánh gọi như vậy, nhưng 10:13 ngụ ý rằng còn có các thiên sứ trưởng khác nữa. Nhiều người kể Gáp-ri-ên (“người hùng của Đức Chúa Trời”) là một thiên sứ trưởng khác, có lẽ là vì người có một tên riêng cụ thể, giống như Mi-chen (8:16; 9:21; LuLc 1:11-19, 26-38 Cái tên Raphael (Ra-pha-êncó xuất hiện trong ngụy kinh (Tobit 5.4).
Một số người gợi ý một trường hợp giúp xác định bảy thiên sứ trưởng, Mi-chen, Gáp-ri-ên, và Raphael là ba trong số họ (1 Enoch 20.1-8, 21, 40.9-10, 81.5; 90.21-22, Tobit 12:15 1QM 9.16 Testament of Levi 8.1 so sánh với KhKh 8:2). Tên gọi của các thiên sứ trưởng còn lại trong các danh sách đều khác nhau, nhưng thường thì tên của bốn vị thiên sứ đó là Uriel, Raguel, Seraqael (Zerachiel hoặc Araqael) và Haniel (Remiel hoặc Anael). Về sau, trong lịch sử Do Thái, Phanuel được thay thế bằng Uriel; trong lịch sử Hội Thánh, giáo hoàng Gregory (504-604) liệt kê bảy tên gọi đó như sau: Mi-chen, Gáp-ri-ên, Raphael, Uriel, Simiel, Orifiel và Zachariel.
Người ta cũng không đồng ý với nhau về việc giới hạn số thiên sứ trưởng là bảy. Theo Gustav Davidson, cổ văn Do Thái ghi nhận các tên gọi khác như Barachiel, Jehudiel, Sealtiel, Oriphiel, Sabrael, Arael, Iaoth, Adonael và Zadkiel. Mi-chen hoặc Raphael thường được coi là lãnh đạo. Các thiên sứ trưởng khác gồm có Azrael, thiên sứ sự chết (angel of death), và Israfel, thiên sứ âm nhạc, người thổi kèn vào ngày đoán xét.35
Câu Hỏi 11: Chúa Giê-su Có Phải Là Thiên Sứ Trưởng Mi-chen Hay Không?
Trong nỗ lực phủ nhận thần tánh của Đức Chúa Giê-su, Chứng Nhân Giê-hô-va khẳng định rằng Chúa Giê-su là thiên sứ trưởng Mi-chen. Theo báo Tháp Canh (Watchtower ), Chúa Giê-su là một thiên sứ đẳng cấp cao, thậm chí là một vị thần nhỏ, nhưng Ngài không phải là Con Đức Chúa Trời, Ngôi Hai đời đời của Ba Ngôi. Cách tuyệt vời để bác bỏ niềm tin sai lạc này là yêu cầu Chứng Nhân Giê-hô-va chỉ cho bạn xem phần Kinh Thánh nào khẳng định rằng Chúa Giê-su là thiên sứ Mi-chen. Không có chỗ nào trong Kinh Thánh nói như vậy cả.
Chứng Nhân Giê-hô-va thường trưng dẫn ITe1Tx 4:16 “Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống.” Câu này tuyên bố rằng khi Đấng Christ tái lâm thì sẽ có tiếng của thiên sứ trưởng (“thiên sứ lớn” kêu vang).36 Điều đó không có nghĩa là Đức Chúa Giê-su là thiên sứ trưởng hoặc vị thiên sứ trưởng đó là Mi-chen.
Có nhiều lý do khác để phản bác niềm tin rằng Chúa Giê-su là thiên sứ trưởng Mi-chen. Trước hết, Kinh Thánh khẳng định rằng Mi-chen là “một trong các quan trưởng đầu nhất” (DaDn 10:13). Nếu Mi-chen là Chúa Giê-su, thì chúng ta phải giả định rằng cũng có các Christ khác nữa! Tuy nhiên, không giống như Mi-chen, địa vị của Chúa Giê-su là độc nhất-Ngài không chia sẻ địa vị đó với bất cứ ai cả (ICo1Cr 8:1-5; ITi1Tm 2:5; GiGa 14:6). Thứ hai, không có thiên sứ nào nhận sự thờ phượng của con người, nhưng con người được phép thờ phượng Đấng Christ (Mat Mt 8:2; 9:18; 14:33; 20:20; 28:16 so sánh với CoCl 2:18; KhKh 19:9-10). Thứ ba, Chúa Giê-su được tất cả các thiên sứ thờ phượng, điều đó có nghĩa là thậm chí Mi-chen cũng phải thờ phượng Chúa Giê-su (HeDt 1:6; KhKh 5:11-14). Sau hết, các thiên sứ thiện lành không thờ phượng các thiên sứ thiện lành khác-các thiên sứ thiện lành chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Vì những lý do đó, chúng ta kết luận rằng Chúa Giê-su không phải là thiên sứ trưởng Mi-chen.
Câu Hỏi 12: Chúa Giê-su Có Phải Là Thiên Sứ Của Đức Giê-hô-va Trong Cựu Ước Không?
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va là thiên sứ nổi bật nhất trong Thánh Kinh Cựu Ước.37 Không như các thiên sứ khác, vị sứ giả đặc biệt này đôi lúc xuất hiện như chính Đức Chúa Trời (SaSt 22:11-18; 32:24-31; OsHs 12:2-4; SaSt 48:15-16; XuXh 23:20-21; Cac Tl 2:1-5; 6:11-24; 13:21-22 Sau khi A-ga, con đòi của Sa-ra, gặp vị thiên sứ này, bà “gọi Đức Giê-hô-va mà đã phán cùng mình, danh là ‘Đức Chúa Trời hay đoái xem,’ vì nàng nói rằng: ‘Chính tại đây, tôi há chẳng có thấy được Đấng đoái xem tôi sao?’” (SaSt 16:7-13). Khi Đức Chúa Trời hiện ra với Môi-se trong bụi gai cháy, (XuXh 3:1-22), phân đoạn đó gọi Ngài là “thiên sứ của Đức Giê-hô-va” (3:2 so sánh với Cong Cv 7:30-38).
J. M. Wilson có ba đề xuất liên quan đến xuất thân của vị thiên sứ này: (1) thiên sứ của Đức Giê-hô-va có thể chỉ đơn giản là một thiên sứ có nhiệm vụ đặc biệt; (2) thiên sứ đó có thể là sự giáng hạ tạm thời của Đức Chúa Trời vào trong thực tại thấy được (sự hiển hiện); (3) thiên sứ đó có thể là tiền nhập thể của Đấng Christ, Lời của Đức Chúa Trời.38 Đề xuất thứ nhất của Wilson có vẻ khó phù hợp với việc Kinh Thánh đôi lúc trực tiếp đồng nhất hóa thiên sứ này với Đức Chúa Trời.
Đề xuất thứ hai có vẻ hợp lý hơn, vì sự hiển hiện là một hình thức hiện hình gián tiếp của Đức Chúa Trời, giúp bày tỏ bản chất siêu việt của Ngài. Không như sự nhập thể của Đấng Christ, sự mặc khải lâu dài của Đức Chúa Trời (permanent revelation of God), sự hiển hiện chỉ là sự hiện ra tạm thời. Một học giả đã viết, “Y-sơ-ra-ên nhận thức rằng Đức Chúa Trời là một thực tại không thuộc thế giới này và cũng không bị giới hạn bởi nó (IVua 1V 8:27; AmAm 9:2-4; Thi Tv 139:1-24 Nhưng khi hiển hiện, Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình trong sự tự giới hạn vào những địa điểm cụ thể, và những hình dạng đặc thù ngay trong thế giới này.”(39 Do không một ai có thể trực tiếp nhìn thấy Đức Chúa Trời mà còn sống (XuXh 33:20-23), thiên sứ của Đức Giê-hô-va là sự hiện ra gián tiếp của Đức Chúa Trời cho con người. Vấn đề duy nhất của quan điểm này chính là đôi lúc thiên sứ của Đức Giê-hô-va tỏ ra là một ai đó khác hơn chính Chúa của thiên đàng (IISa 2Sm 24:16; XaDr 1:11-13; XuXh 23:20-21; Dan Ds 16:1-50).40
Đề xuất thứ ba của Wilson cho rằng thiên sứ của Đức Giê-hô-va chính là sự hiện ra của Đấng Christ trước khi Ngài nhập thể. Quan điểm này giải quyết được mâu thuẫn giữa một số phân đoạn Kinh Thánh mô tả Đức Chúa Trời như là thiên sứ của Đức Giê-hô-va và các phân đoạn khác phân biệt rõ ràng giữa hai nhân vật. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tránh thái độ võ đoán,41 bởi vì rất có khả năng không có bất cứ đề xuất nào ở trên bao trùm hoàn toàn khái niệm “thiên sứ của Đức Giê-hô-va.” Nhiều khi nó ngụ ý sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong khi những lần khác nó chỉ có ý nói đến một thiên sứ được Đức Chúa Trời sai phái. Một thần học gia đã nói như vầy:
Một Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình trong mal’àk (thiên sứ) không có nghĩa Ngài hiện ra trong thân thể của một con người hoặc một hữu thể có nhân cách một cách lâu dài, nhưng chỉ hiện ra trong suốt một khoảng thời gian giới hạn của lịch sử, ấy là thời kỳ Y-sơ-ra-ên sơ khai, và trong nhiều hình dạng khác nhau, lúc thì ngọn lửa, lúc thì có hình người, lúc thì trong giấc mơ, lúc thì qua tiếng phán.42
Câu Hỏi 13: Tướng Đạo Binh Của Đức Giê-hô-va Vạn Quân Là Ai?
Trong Gios Gs 5:13-15, ngay trước khi dân Y-sơ-ra-ên chinh phạt thành Giê-ri-cô, Giô-suê gặp một nhân vật đặc biệt, tự nhận mình là “tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va.” Khi Giô-suê sấp mình xuống trước mặt vị tướng đó, ông nói, “Hãy lột giày khỏi chân ngươi, vì nơi ngươi đứng là thánh.” Thiên sứ của Đức Giê-hô-va cũng nói điều đó với Môi-se chỗ bụi gai cháy (XuXh 3:2-6).
Giống như thiên sứ của Đức Giê-hô-va, tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va xuất hiện như thể vừa là Chúa, vừa là sứ giả của Chúa. Dường như chính Đức Đức Giê-hô-va đang phán với Giô-suê trong Gios Gs 6:2 (phân đoạn 5:13-6:5 nên nhóm lại thành một đoạn Rất có khả năng tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va Vạn Quân là tiền nhập thể của Đấng Christ hoặc sự hiển hiện của Đức Chúa Trời (xem lời đáp số 11 Để minh chứng cho những điều nói trên, khi chúng ta so sánh danh xưng của Đức Chúa Trời: “Ta Là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” nơi bụi gai đang cháy với GiGa 8:53-59, chúng ta thấy rằng Chúa Giê-su cũng từng tuyên bố “Đã Có Ta.” Ngài cũng chính là vị tướng của các đạo binh thiên đàng trong KhKh 19:11-14.
Câu Hỏi 14: Có Bao Nhiêu Thiên Sứ?
Chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu thiên sứ. Từ thời cổ xưa, con người thuộc các nền văn hóa khác nhau đã tin rằng có vô số các hữu thể thiên thượng. Trước khi Newton bàn về trọng lực, các nền văn hóa thượng và Trung Cổ đã nghĩ rằng các thiên sứ điều khiển sức mạnh của tự nhiên, và di chuyển những vì sao theo quỹ đạo của chúng (xem thêm 2 Enoch 4:1-2).43 Do đó, người ta cho rằng có vô số thiên sứ, giống như sao trên trời vậy. Thậm chí ngày nay có nhiều người tin rằng ít nhất mỗi người sẽ có một thiên sứ bảo vệ, như vậy, có ít nhất năm tỉ thiên sứ. Tuy nhiên, con số này lại dựa vào một giả thiết đáng nghi ngờ: mỗi người đều có một thiên sứ bảo vệ-vấn đề này sẽ được bàn đến trong chương tiếp theo.
Trong Khải Huyền, số các thiên sứ thờ phượng trước ngai Đức Chúa Trời có đến “hàng muôn hàng ngàn” (KhKh 5:11-13 Vì Khải Huyền là một sách mang tính biểu tượng cao, nên chúng ta không dám chắc số lượng thiên sứ theo nghĩa đen là trên 100 triệu.44 Con số của Giăng trong Khải Huyền có thể chỉ là cách nói bóng gió nhằm khẳng định là có vô số các thiên sứ (Giop G 25:2-3). Từ Hy Lạp “muôn” (myrios xuất hiện trong phân đoạn này dường như xác định rằng số lượng thiên sứ nhiều đến mức không thể đếm được bằng các phương tiện thông thường (HeDt 12:22 so sánh với Mat Mt 26:53; Giu Gd 1:14; DaDn 7:10; PhuDnl 33:2; Thi Tv 68:7).
Nền văn chương Cơ Đốc và Do Thái sơ khai mô tả cho chúng ta nhiều điều khác nhau về bản chất và các đặc tính của thiên sứ. Họ hiện ra theo nhiều cách khác nhau cho nhiều người khác nhau, và một số thiên sứ có vẻ thuộc đẳng cấp cao hơn các thiên sứ khác. Nếu thật sự tồn tại các đẳng cấp thiên sứ khác nhau, thì dĩ nhiên không phải mọi thiên sứ đều cùng làm một công việc. Tất cả họ đều có các vai trò hay nhiệm vụ đặc biệt để thi hành, và đây là trọng tâm của chúng ta trong chương tiếp theo.

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CÁC CÔNG VIỆC CỦA THIÊN SỨ
Trong bộ phim Grand Canyon , nam diễn viên Kevin Kline, trong vai Mack, nhớ lại lúc một người phụ nữ đã cứu sống anh. Anh đang chuẩn bị băng qua đại lộ Wilshire ở Los Angeles thì có một người phụ nữ kéo anh trở lại lề đường, vừa kịp lúc một chiếc xe bus chạy vụt qua, cách anh độ vài inch. Anh không biết được tên người phụ nữ đó vì cô biến mất trong đám đông. Anh chỉ để ý thấy cô đội một cái mũ bóng chày có ghi tên đội bóng là Pittsburgh Pirates. Tình cờ đó lại là đội bóng mà anh thích nhất. Anh thắc mắc không biết đó có phải là một thiên sứ không.
Trong phim, công việc của các thiên sứ là giúp đỡ con người, và Kinh Thánh thường cho biết họ đang bảo vệ các con cái của Đức Chúa Trời. Thiên sứ làm những công việc gì? Họ có can thiệp vào công việc của con người không? Chúng ta có các thiên sứ bảo vệ không? Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu về các công việc của thiên sứ.
Câu Hỏi 15: Có Các Thiên Sứ Bảo Vệ Hay Không?
Có rất nhiều bằng chứng về sự bảo vệ siêu nhiên từ các thiên sứ bảo vệ. Một luật sư sống trong khu phố cổ khẳng định rằng một thiên sứ có bảy chân đã bảo vệ cô ta khỏi một đám côn đồ.45 Một trường hợp khác, Wolly Tope đã tổ chức một mục vụ cho những người Mormon bị hoang tưởng. Khi ông nghe có cuộc nổi loạn nổ ra tại Los Angeles, Tope đã xuống đường và giảng cho những người nổi loạn. Một đám du côn chạy tới đánh ông đến nổi ông rơi vào trạng thái hôn mê sâu. Sang năm thì Tope chết trong tình trạng hôn mê sâu sau lần bị đánh đó. Tại sao các thiên sứ không bảo vệ Wolly Tope trong cuộc nổi loạn đó? Nếu mỗi người hay ít nhất là mỗi Cơ Đốc nhân đều có một thiên sứ bảo vệ, thì thiên sứ bảo vệ của Tope đã ở đâu vào đêm xảy ra sự việc đó?
Tin vào các thiên sứ bảo vệ không phải là chuyện mới mẻ gì. Các nhà tư tưởng cổ xưa trong thế giới Hy Lạp và La-mã như Plato, Menades, Plutarch và Plotinus cũng như các tác giả Ba-by-lôn và A-sy-ri46 tin có những linh bảo vệ. Truyền thống Do Thái cổ xưa ngụ ý rằng mỗi người đều có một thiên sứ bảo vệ (Jubilees 35.17 Testament of Levi 5.3 Philo De Gigantibus 12 hãy so sánh với Tobit 5.4, 2 Maccabees 3:25, 10:29, 11:6, 15:23).47 Theo một cách giải thích của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, Đức Chúa Trời đã ra lệnh cho các thiên sứ bảo vệ Y-sơ-ra-ên không được nài xin thay cho Y-sơ-ra-ên vì họ đã trở nên phản nghịch quá đỗi (Pseudo-Philo 15.5 so sánh với 11.12, 59.4). Theo các cuộn Biển Chết, các thiên sứ chăm lo cho những người nhu mì, bị khinh rẻ và mồ côi (1QH 5.20-22, so sánh với Mat Mt 18:10).
Nhiều giáo phụ tin có các thiên sứ bảo vệ, nhưng họ không đồng quan điểm về công việc của các thiên sứ này. Giáo phụ tại Hermas (nổi tiếng vào những năm 140-155) cho rằng mỗi người có một thiên sứ bảo vệ (Mandate 6.2.1-3), nhưng Jerome (342-420) tin rằng tội lỗi ngăn trở các thiên sứ này giúp đỡ kẻ ác (In Jeremiam 30.12 so sánh với Basil Homilies 33.5 1 En. 100.5). Mặt khác, Ambrose (339-397) lại tin rằng người công bình không có các thiên sứ bảo vệ. Các thánh nhân phải chiến đấu trong cuộc đời này mà không được sự giúp đỡ thiên thượng nào hầu có thể đạt được sự vinh hiển lớn hơn trong tương lai (In Psalmos Davidicos 37.43)48 Peter Lombard (1100-1160) tin rằng mỗi thiên sứ bảo vệ lo chăm nom vài người (Sentences 2:11). Ngược lại, một số người tranh luận rằng có một số cá nhân nào đó được nhiều thiên sứ bảo vệ chăm lo cho (so sánh Mat Mt 18:10-13). Công Giáo La-mã vẫn giữ niềm tin có các thiên sứ bảo vệ “trong vòng Hội Thánh,” dù rằng đây không phải là một tín điều cho giáo dân Công Giáo.49
Một số chỗ trong Kinh Thánh ủng hộ cho niềm tin về thiên sứ bảo vệ cá nhân (personal guardian angels (Thi Tv 90:11; 33:8; 34:5-7; Mat Mt 10:18; Cong Cv 12:15; HeDt 1:14). Thật được khích lệ khi nghĩ về một thiên sứ vô hình đang đứng bên cạnh chúng ta, nhưng tại sao điều đó lại đem đến cho chúng ta sự khích lệ nhiều hơn khi chúng ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời toàn tại luôn luôn chăm sóc chúng ta? (Mat Mt 10:29-31 so sánh với HeDt 4:13; Thi Tv 139:1-24). Bằng cách nào mà các thiên sứ bảo vệ có thể bảo vệ chúng ta nhiều hơn bất kỳ vị thiên sứ nào khác Đức Chúa Trời có thể sai đến bảo vệ chúng ta?
Một số giáo phụ, chẳng hạn Hermas và Gregory ? Nyssa (330-395), tin rằng mỗi người đều có một thiên sứ thiện và một thiên sứ ác (Mandate 6.2:1-3 De Vita Moysis 12-13)50 Một niềm tin mạnh mẽ nơi các thiên sứ bảo vệ sẽ dễ dàng đưa đến những kết luận đó. Nếu mỗi người trong chúng ta đều có một thiên sứ vô hình luôn luôn bảo vệ, thì tại sao có nhiều tai họa xảy đến trên chúng ta? Điều này có ngụ ý rằng Sa-tan cũng phân công một con quỷ “bảo vệ” để liên tục quấy rối mỗi người trong chúng ta không? Chúng ta cần phải đào sâu hơn nữa để đi đến một kết luận khả thi về các thiên sứ bảo vệ.
Khái niệm thiên sứ bảo vệ (guardian angel ) không hề xuất hiện trong Kinh Thánh. Nhiều phân đoạn Kinh Thánh được trưng dẫn để ủng hộ cho ý niệm này thực ra chỉ khẳng định sự quan phòng chung của Đức Chúa Trời trong việc bảo vệ các thánh nhân của Ngài bằng cách sai phái các thiên sứ.51 Nhưng có hai phân đoạn dường như ủng hộ quan niệm các thiên sứ bảo vệ: trong Công Vụ, các Cơ Đốc nhân nhầm Phi-e-rơ với “thiên sứ của người” (Cong Cv 12:15) trong Ma-thi-ơ Chúa Giê-su phán, “Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời” (Mat Mt 18:10).
Người Do Thái tin rằng các thiên sứ bảo vệ có thể hiện ra trong hình dạng của người mà họ bảo vệ.52 Các Cơ Đốc nhân đầu tiên giả định như vậy về Phi-e-rơ trong Cong Cv 12:15. Tuy nhiên, sách Công Vụ lại dùng lối văn miêu tả (descriptive ), chứ không phải là một thư tín quy tắc (prescriptive ). Vì hầu như mọi người trong Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem đều lớn lên cùng với những câu chuyện dân gian, nên đâu có gì đáng ngạc nhiên khi họ nhầm lẫn về việc các thiên sứ bảo vệ trông giống như những người mà họ bảo vệ? (Các thánh nhân đã không tin rằng chính Phi-e-rơ đang gõ cửa nhà họ, dù rằng họ đã liên tục cầu nguyện để ông được giải thoát khỏi nhà tù 12:3-15).
Nhưng có các thiên sứ được giao nhiệm vụ vì chính Đức Chúa Giê-su có dạy về họ trong Mat Mt 18:10.53 Tuy nhiên, phân đoạn này không ngụ ý rằng các thiên sứ đó là “thiên sứ bảo vệ,” nó cũng không xác định số thiên sứ Đức Chúa Trời chỉ định cho mỗi con người. Và nó cũng không khẳng định rằng Đức Chúa Trời chỉ định ít nhất một thiên sứ cho mỗi con người trên trần gian. Hơn nữa, nếu các thiên sứ này ở tại “trên trời” và “thường” ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, làm sao họ có thể liên tục giúp đỡ chúng ta trên trần gian này chứ? Nếu họ thường ở trên thiên đàng, thì công việc chính của họ có lẽ là theo dõi sự lựa chọn và đoán phạt của Đức Chúa Trời trên những ai làm hại con người (đối chiếu với KhKh 8:4; Giop G 5:1 MT/LXX; Tobit 12.12-15; 1 Enoch 9:3, 15.2, Testament of Dan 6.1; Pseudo-philo 15.5, 1QS 2.9, Origen Stromata 5.14, 7:12, Augustine City of God 7.30, 10.25).54 Nếu Đức Chúa Trời muốn, Ngài có thể sai những thiên sứ này, hoặc các thiên sứ khác, đến bảo vệ chúng ta trên đất.
Như vậy, chúng ta có thể nói gì về các thiên sứ bảo vệ? Họ có hiện hữu, nhưng không thường xuyên như điều được mô tả rộng rãi trong văn hóa tôn giáo. Có rất ít bằng chứng Kinh Thánh chứng tỏ rằng các thiên sứ vô hình bảo vệ đường đi, nước bước chúng ta mỗi ngày. Mat Mt 18:10 mô tả các thiên sứ nhìn xem và có lẽ giúp đỡ chúng ta từ trên thiên đàng, nhưng chúng ta không có bằng chứng nào xác nhận rằng các thiên sứ vô hình này đứng ngay trước mặt chúng ta để bảo vệ chúng ta luôn luôn. Cuối cùng, chúng ta cần nhớ rằng các thiên sứ được sai đến với chúng ta là do họ thuận phục ý chỉ của Đức Chúa Trời. Đôi lúc, tùy thuộc vào mục đích không thể hiểu được của Ngài, Đức Chúa Trời không sai các thiên sứ bảo vệ chúng ta về phương diện thuộc thể. Ngài chẳng hề hứa rằng Ngài sẽ bảo vệ chúng ta khỏi mọi hiểm họa thuộc thể trong thời điểm hiện tại này; Ngài có hứa rằng Ngài sẽ làm mọi việc vì lợi “ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (RoRm 8:28).
Câu Hỏi 16: Thiên Sứ Có Bảo Vệ Các Nước Không?
Các thiên sứ có bảo vệ toàn bộ các thành phố hoặc quốc gia không? Kinh Thánh gọi Mi-chen là “quan trưởng lớn,” người bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên (DaDn 10:21; 12:1). Trong Khải Huyền, Đấng Christ gởi bảy thông điệp cho các thiên sứ của bảy Hội Thánh ở Tiểu Á, có lẽ ngụ ý rằng các thiên sứ này coi sóc toàn bộ các hội chúng (KhKh 1:20; 2:1, 8, 12, 18; 3:1, 7, 14;). Sách Đa-ni-ên có đề cập đến “vua nước Phe-rơ-sơ” và “vua của Gờ-réc,” dường như là các thiên sứ đó coi sóc hai đất nước này (DaDn 10:13, 20-21 so sánh với Sirach 17.17 Jubilees 15.31-32). Do họ chiến đấu chống lại Mi-chen và Gáp-ri-ên (là các thiên sứ thiện), nên các thiên sứ của những đất nước này có vẻ là các thiên sứ sa ngã.
PhuDnl 32:8 chép, “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, phân rẽ những con cái A-đam, thì Ngài định bờ cõi của các dân, cứ theo số dân Y-sơ-ra-ên.” Một số học giả cho rằng phân đoạn này ám chỉ biến cố Tháp Ba-bên (2400-2000 T.C. Tất cả mọi người đều nói cùng một thứ tiếng, nhưng Đức Chúa Trời đã phân rẽ các nước ra bằng cách đa dạng hóa các ngôn ngữ của họ (SaSt 10:1-11:32 Chúng ta có thể giả định là có bảy mươi nước trong 10:1-32 và so sánh với bảy mươi người Y-sơ-ra-ên đã vào Ai Cập (SaSt 46:27; XuXh 1:5 so sánh với Dan Ds 11:16).
Vì vậy một số người nghĩ rằng Đức Chúa Trời phân chia bảy mươi quốc gia tùy theo bảy mươi người Y-sơ-ra-ên, ngụ ý quyền tể trị của sự lựa chọn của Đức Chúa Trời trên các nước. Nhưng chúng ta gặp một số khó khăn trong việc giải nghĩa chỗ này. Nếu theo truyền thống lịch sử Y-sơ-ra-ên, biến cố Tháp Ba-bên xảy ra trước khi Y-sơ-ra-ên lập quốc, làm sao Đức Chúa Trời có thể phân chia các nước tùy theo số con cháu Y-sơ-ra-ên khi mà đất nước này chưa ra đời vào thời điểm đó?55 Chúng ta phải phỏng đoán rằng Đức Chúa Trời đếm số các nước dựa trên sự biết trước của Ngài về Y-sơ-ra-ên, nhưng văn cảnh của phân đoạn này không phù hợp cho lối giải nghĩa đó.56
PhuDnl 32:8 57 trong Bản Bảy Mươi thay thế cụm từ “các thiên sứ của Đức Chúa Trời” (angels of God thành “số dân Y-sơ-ra-ên” (Bản Dịch Cũ) (children of Israel). Các cuộn Biển Chết thì thay thế cụm từ đó bằng “các con trai của Đức Chúa Trời” (sons of God (4QDeut). Các bản dịch này nhất loạt trái ngược với Bản Chú Giải Kinh Thánh Hê-bơ-rơ truyền thống của người Do Thái (Masoretic Hebrew text), trong đó dịch là “con cháu Y-sơ-ra-ên” (children of Israel). Các cuộn Biển Chết thường giải nghĩa “các con trai của Đức Chúa Trời” là các thiên sứ có cùng vai trò với “các con trai của Đức Chúa Trời” trong sách Gióp (các chương 1-2 Họ được gọi là “Các Con Trai Của Thiên Đàng” (Sons of Heaven), “Các Đấng Thánh” (Holy Ones và“Người Canh Giữ Thiên Thượng” (Heavenly Watchers).58 Dường như Đức Chúa Trời cho phép các thiên sứ giám sát các quốc gia, nhưng bằng chứng thì có khuynh hướng nói rằng hầu hết các thiên sứ này là thiên sứ ác (so sánh DaDn 10:13 với lời đáp số 66).59
Câu Hỏi 17: Các Thiên Sứ Có Tham Dự Giờ Thờ Phượng Của Hội Thánh Không?
Chúng ta biết rằng các thiên sứ thờ phượng Đức Chúa Trời (Thi Tv 29:1; 103:20-21; 148:1-2; LuLc 2:13-14; KhKh 4:1-5:32), nhưng họ có thờ phượng chung với con người trong các buổi thờ phượng của Hội Thánh không? Các thiên sứ có hiện diện nơi nào có đôi ba Cơ Đốc nhân nhóm lại (Mat Mt 18:20 không? Một số người làm chứng rằng các thiên sứ đã thăm viếng họ trong nhiều buổi thờ phượng (xem lời đáp số 23). Dù thỉnh thoảng các thiên sứ có hiện ra trong nơi thánh của Đức Chúa Trời (LuLc 1:11), nhưng không có bằng chứng Kinh Thánh nào nói rằng các thiên sứ vô hình dự phần vào công việc của Hội Thánh, và cũng không có bằng chứng nào nói rằng họ không tham dự vào.
Chúa Giê-su phán, “Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn” (15:10 so sánh với 15:7). Do đó, một số người cho rằng nếu trong buổi thờ phượng có người tin Chúa, thì các thiên sứ cũng hiện diện. Nhưng 15:7 khẳng định rằng sự vui mừng của các thiên sứ này diễn ra ở “trên trời,” không nhất thiết là trong một buổi thờ phượng của Hội Thánh. Tuy nhiên, phân đoạn này ngụ ý rằng các thiên sứ có biết về công việc của con người cũng như các buổi thờ phượng của Hội Thánh (so sánh với HeDt 1:14).
Câu Hỏi 18: Nói Chuyện Với Thiên Sứ Có Phải Là Điều Sai Quấy Không?
Không có gì sai quấy khi nói chuyện với một thiên sứ thiện lành hiện ra cùng chúng ta. Nhưng bao nhiêu người trong chúng ta đã từng trải kinh nghiệm đó? Trong hầu hết các trường hợp của những người tuyên bố là họ đã nói chuyện với các thiên sứ, thì chính họ là những người bắt đầu trước. Một số người hiểu sai nên đã cầu nguyện với các thiên sứ. Giáo phụ Ambrose (339-397) đã chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng nói chuyện với thiên sứ của Công Giáo La-mã. Ông dạy rằng, “Chúng ta phải cầu nguyện với các thiên sứ, là những người được sai đến để bảo vệ chúng ta.”60 Nhưng việc làm này là phi Kinh Thánh với nhiều lý do.
Khi Giăng quỳ xuống để thờ phượng vị thiên sứ hiện ra với ông trong các khải thị tiên tri, thiên sứ đó nói, “Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri” (KhKh 19:10 so sánh với 22:8-9).61 Dường như Phao-lô cảnh báo về việc tương giao với các thiên sứ khi ông viết, “Chớ để cho những kẻ kia cướp lấy phần thưởng chạy thi, là kẻ giả đò khiêm nhượng mà muốn thờ lạy các thiên sứ” (CoCl 2:18).62 Một số người sẽ tranh luận rằng họ không thờ phượng các thiên sứ, nhưng chỉ nhờ các thiên sứ cầu thay cho họ trước mặt Đức Chúa Trời thôi. Tuy nhiên, chúng ta thấy Kinh Thánh không cho phép chúng ta cầu nguyện với một ai khác ngoài Đức Chúa Trời (đối chiếu với Mat Mt 4:10). Tin vào việc các thiên sứ cầu thay cho con người là một chuyện; cầu nguyện với các thiên sứ giống như những người trung gian thì lại là chuyện khác.
Kinh Thánh khẳng định rằng chỉ có Chúa Giê-su là Đấng Trung Bảo duy nhất chúng ta cần trước mặt Đức Chúa Cha (GiGa 14:6-14 so sánh với ICo1Cr 1:1-2; ITi1Tm 2:5). Nếu chúng ta cầu nguyện với các thiên sứ, tức là chúng ta thẳng thừng tuyên bố rằng một mình Đấng Christ làm trung gian là không đủ. Điều thú vị là các mong ước tội lỗi của chúng ta, cũng như của ma quỷ, có khuynh hướng lôi kéo lời cầu nguyện và sự chú ý của chúng ta đến mọi thứ khác ngoại trừ Đức Chúa Giê-su, Đấng Trung Bảo thật của chúng ta. Nếu chúng ta cầu nguyện với những trung gian khác vì chúng ta nghĩ rằng Đấng Christ quá thánh khiết, và chúng ta không xứng đáng để đến với Ngài, thì chúng ta đang khiêm nhường giả tạo. Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian chết cho tội lỗi chúng ta, và do đó chúng ta có đặc quyền được đến với Đức Chúa Trời thông qua Con Ngài, Chúa Giê-su, bất luận chúng ta như thế nào.
Nếu chúng ta cầu nguyện với các thiên sứ và lời cầu nguyện của chúng ta “được nhậm,” thì trong tương lai há chúng ta không tiếp tục cầu nguyện trực tiếp với thiên sứ đó thay vì với chính Đức Chúa Trời sao? Đây là một cách khiến chúng ta dễ dàng lìa bỏ sự cầu nguyện với Chúa. Một số đồng bóng Thời Đại Mới trò chuyện với “các thiên sứ.” Nếu các đồng bóng này đang nói chuyện với các thực thể có thật, thì đó không phải là các thiên sứ thiện lành. Không một linh nào phát xuất từ Đức Chúa Trời lại dẫn chúng ta đi khỏi sự dạy dỗ rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung Bảo duy nhất chúng ta cần (GaGl 1:8-9; IGi1Ga 4:1-6).
Một số diễn giả nói rằng họ có thẩm quyền thuộc linh để liên lạc với các thiên sứ và ra lệnh cho họ. Niềm tin này có phù hợp với Kinh Thánh không? Không một chỗ nào trong Kinh Thánh nói rằng con người có quyền ra lệnh cho các thiên sứ; trái lại, chúng ta thấy có nhiều phân đoạn cảnh báo chúng ta về việc nói chuyện một cách quá tự phụ với các hữu thể thiên sứ (IPhi 1Pr 2:10-11; Giu Gd 1:8-10. Kinh Thánh lại ghi nhận chính các thiên sứ ra lệnh cho con người (chẳng hạn Cong Cv 10:3-6; 12:7-8).
Ra lệnh cho các thiên sứ cũng không khác gì việc cầu nguyện với các thiên sứ để họ cầu thay cho chúng ta. Cả hai việc làm trên đều liên quan tới việc tương giao với các thiên sứ, và cả hai đều không được Kinh Thánh ủng hộ. Sự tương giao đó tựa như ma thuật hơn là cầu nguyện-thiên sứ đóng vai trò của một thần linh hoặc một lá bùa. Các thiên sứ thiện lành đều làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, chứ không phải của chúng ta. Chúng ta không thể điều khiển họ được.
Câu Hỏi 19: Một Số Công Việc Mà Các Thiên Sứ Làm Là Gì?
Các thiên sứ có nhiều việc để làm cho con người ngoài việc bảo vệ họ. Sau đây là một vài công việc khác nữa mà họ làm.
1. Các thiên sứ bày tỏ cho con người biết ý muốn của Đức Chúa Trời . Các thiên sứ báo trước tương lai cho các tiên tri như Đa-ni-ên. Trong Tân Ước, họ bày tỏ sự mặc khải tiên tri của Đức Chúa Trời cho Giăng. Các thiên sứ không chỉ bày tỏ về tương lai, nhưng trên một ý nghĩa rộng hơn, họ bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời cho các thánh nhân (Dan Ds 22:31-35; IIVua 2V 1:3-4; Giop G 33:23; Cong Cv 27:23-25 so sánh với IVua 1V 13:1-8 Testament of Reuben 5.3 Testament of Issachar 2.1 Testament of Joseph 6.6 Joseph and Asenath 14). Trong Cong Cv 10:3-5, một thiên sứ bày tỏ cho Cọt-nây, một đội trưởng của dân ngoại bang, rằng Đức Chúa Trời nhìn thấy công việc tốt lành ông làm. Biến cố này là kết quả của sự tuôn đổ đầu tiên của Thánh Linh trên các tín hữu ngoại bang (10:44-11:18).
Trong Cựu Ước, các thiên sứ chuyển tải sứ điệp của Đức Chúa Trời đến cho con người. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va tỏ ra là đấng trung gian chủ yếu trong Cựu Ước (XuXh 3:1-22), và Thánh Kinh Tân Ước khẳng định rằng các thiên sứ truyền lại luật pháp Môi-se (GaGl 3:19; HeDt 2:2; Cong Cv 7:53). Dẫu rằng luật pháp Cựu Ước đã được trọn trong Đấng Christ (HeDt 7:12-25; 8:7-13; 10:1-10), nhưng trong Tân Ước các thiên sứ vẫn còn chuyển đạt mặc khải của Đức Chúa Trời (KhKh 1:1). Theo Kinh Thánh, họ sẽ không bày tỏ bất cứ điều gì trái ngược với Phúc Âm hoặc kỳ sau rốt (GaGl 1:8-9; KhKh 22:18-19).
Các thiên sứ có thể hiện hình trong thế giới vật lý, nhưng họ cũng có thể nói chuyện với con người trong các giấc mơ hoặc khải tượng. Vị thiên sứ đến thăm viếng Cọt-nây hiện ra trong một khải tượng (Cong Cv 10:1-48 so sánh với XaDr 1:8). Các thiên sứ cũng hiện ra với con người trong các giấc mơ (chẳng hạn SaSt 28:12; Mat Mt 1:20; 2:13; 2:19-20), còn những lần khác thì họ hiện ra trong thế giới vật lý (Cong Cv 12:7-11).
2. Các thiên sứ phục vụ con người . Công việc chính yếu của các thiên sứ là phục vụ con dân của Đức Chúa Trời (HeDt 1:14). Một trong những cách làm của họ là chỉ đường. Khi Áp-ra-ham sai người đầy tớ mình là Ê-li-ê-se đi tìm vợ cho con trai Y-sác của ông, ông nói với Ê-li-ê-se rằng Đức Chúa Trời “sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi, và nơi đó ngươi hãy cưới một vợ cho con trai ta” (SaSt 24:7). Thiên sứ đã đưa đường cho Ê-li-ê-se đến với bà con của Áp-ra-ham và đặc biệt là Rê-be-ca, người đã trở thành vợ của Y-sác. Trong Tân Ước, một thiên sứ đã dẫn đường cho giáo sĩ Phi-líp đến với hoạn quan Ê-thi-ô-bi (Cong Cv 8:26).
Đức Chúa Trời thường sai các thiên sứ của Ngài đến đặng thêm sức, khích lệ và bảo vệ con dân Ngài (IVua 1V 19:3-7; LuLc 22:43 so sánh với 1QM 17.5-8). Đầy tớ của Ê-li-sê sợ hãi khi vua Sy-ri đem quân đến bao vây nhà tiên tri. Ê-li-sê đáp, “‘Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.’ Đoạn, Ê-li-sê cầu nguyện mà rằng: ‘Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giê-hô-va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở chung quanh Ê-li-sê’” (IIVua 2V 6:15-17). Đạo quân Sy-ri sau đó tạm thời bị mù hoàn toàn.
3. Các thiên sứ phụ giúp (assist ) Đức Chúa Trời trong những việc liên quan đến lai thế . Chữ lai thế ngụ ý giáo lý về “những điều sau cùng,” hoặc những sự dạy dỗ về sự chết, đời sau, thiên đàng, địa ngục, và những thời kỳ cuối cùng. Sách Khải Huyền ghi nhận rất nhiều thiên sứ tham gia vào các công việc cuối cùng của thế giới. Sau khi người nghèo La-xa-rơ chết đi, ông được các thiên sứ đặt vào lòng Áp-ra-ham (pa-ra-đi, LuLc 16:23).64
4. Các thiên sứ thực hiện những công việc lạ lùng . Các thiên sứ minh chứng sự thực hữu của thế giới siêu nhiên (Cong Cv 5:19; 12:7-11; XuXh 14:19). Khi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô không chịu quỳ xuống trước pho tượng vàng của Nê-bu-cát-nết-sa (DaDn 3:8-29), họ bị ném vào trong một hồ lửa. Nhưng họ không bị lửa làm hại khi một thiên sứ của Đức Chúa Trời hiện ra. Ngạc nhiên trước cảnh tượng đó, Nê-bu-cát-nết-sa kêu lên, “Nầy, ta thấy bốn người không có bị trói, bước đi giữa lửa mà chẳng bị thương; và hình dong của người thứ tư giống như một con trai của các thần” (3:25).65 Một thiên sứ cũng đã hiện ra giúp đỡ Đa-ni-ên trong hang sư tử (6:22).
Câu Hỏi 20: Thiên Sứ Hay Ma Quỷ Có Giáng Họa Trên Kẻ Ác Không?
Có phải ma quỷ chịu trách nhiệm giáng họa trên kẻ ác không, hay đó là công việc các thiên sứ của Đức Chúa Trời? Kinh Thánh mô tả các thiên sứ hủy diệt có vẻ như thuộc về ma quỷ. Thiên sứ của vực sâu (angel of the abyss), tên gọi mang nghĩa hủy diệt trong cả tiếng Hê-bơ-rơ lẫn tiếng Hy Lạp, điều khiển những con châu chấu đáng sợ bay đi làm hại tất cả những ai không có dấu ấn của Đức Chúa Trời trên trán (KhKh 9:1-11 Dường như vị thiên sứ này cũng chính là “con thú dưới vực sâu” trồi lên và giết chết hai chứng nhân của Đức Chúa Trời (11:3-7).
Sau khi Sau-lơ dấy lên nghịch cùng Đức Giê-hô-va, “một ác thần khuấy khuất người” (ISa1Sm 16:14 so sánh với Cac Tl 9:23 Ác thần này rời khỏi Sau-lơ khi Đa-vít chơi đàn (ISa1Sm 16:23). Sau-lơ ở dưới sự ảnh hưởng của linh này khi ông cố giết chết Đa-vít hai lần (18:10-11; 19:9-10). Làm sao Đức Chúa Trời có thể sai khiến một ác linh được? Dường như là Đức Chúa Trời cho phép một ác linh nào đó hành hại Sau-lơ vì cớ sự sa ngã của ông.
Tiên tri Mi-chê mô tả Đức Chúa Trời ở trên ngôi với các hữu thể thiên thượng xung quanh Ngài. Một linh nói rằng mình có thể đánh lừa vua A-háp độc ác: “‘Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những tiên tri của người.’ Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói’” (IVua 1V 22:22). Đức Chúa Trời cho phép một linh lừa dối đến gạt A-háp vì cớ vị vua này đã nổi lên nghịch cùng Ngài. Linh lừa dối đã tác động đến các tiên tri giả để nói dối rằng nhà vua sẽ thắng trong trận chiến Ra-mốt tại Ga-la-át. Trái lại, A-háp đã chết ngoài chiến trường, y như điều Mi-chê đã cảnh báo (IIVua 2V 22:6, 23-38).
Tuy nhiên, trong các trường hợp khác thì dường như các thiên sứ thiện giáng họa trên kẻ ác. Trong SaSt 19:11, các thiên sứ thiện đã khiến cho những người Sô-đôm bị mù; trong DaDn 4:13-26, một thiên sứ thiện đã tuyên bố sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đối với Nê-bu-cát-nết-sa vì cớ sự kiêu ngạo của ông. Trong IIVua 2V 19:35, thiên sứ của Đức Chúa Trời đã đánh bại đạo quân A-sy-ri khi họ thách thức Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va tạo ra các dịch lệ chống lại Y-sơ-ra-ên sau khi Đa-vít phạm tội tổ chức tu bộ dân sự cách trái phép (IISa 2Sm 24:16). Một thiên sứ của Đức Chúa Trời đã đánh Hê-rốt bằng bệnh trùng đục vì ông không dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời sau khi dân sự hô lớn, “Ấy là tiếng của một thần, chẳng phải tiếng người ta đâu!” (Cong Cv 12:21-23).
Trong các trường hợp khác thì không rõ ràng là thiên sứ thiện hay ác. Đức Chúa Trời sai “một lũ sứ tai họa” chống lại người Ai Cập chẳng hạn (Thi Tv 78:49). Giống như những con châu chấu trong KhKh 9:1-21; Exe Ed 9:1-11 ghi nhận một nhóm các thiên sứ giết chết những ai không có dấu ấn trên trán.66 ICo1Cr 10:10 chép rằng những người Y-sơ-ra-ên nào lầm bầm nghịch cùng Đức Chúa Trời đều bị “thiên sứ hủy diệt” giết chết. Tương tự như vậy, các cuộn Biển Chết mô tả một hạng thiên sứ được xem là thiên sứ hủy diệt; họ làm việc cho Bê-li-an-một tên gọi khác của Sa-tan (1QM 13:12, 14:10), nhưng trong các phân đoạn khác, các thiên sứ hủy diệt lại hầu việc Đức Chúa Trời (1QS 4.12, CD 2.6, so sánh với Testament of Naphtah 8.6, Pseudo-Philo 15.5).
Do đó, chúng ta thấy rằng dường như Đức Chúa Trời dùng cả thiên sứ thiện và ác để giáng họa trên kẻ ác. Rõ ràng các thiên sứ sa ngã luôn muốn làm hại con người, nên đôi lúc Đức Chúa Trời cho phép chúng tấn công người không công bình, nhưng Ngài ra lệnh cho các thiên sứ thiện thi hành án phạt trên kẻ ác. Như trong trường hợp phạm tội của Đa-vít, Đức Chúa Trời cũng đoán phạt cả người công bình khi họ phạm tội trọng. Đức Chúa Trời cũng có thể cho phép ma quỷ tấn công người công bình để thử thách đức tin của họ (Giop G 1:1-2:13). Tuy nhiên, Kinh Thánh không hề ghi nhận rằng các thiên sứ thiện lành lại giáng họa trên những người công bình trung tín làm theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Câu Hỏi 21: Các Thiên Sứ Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Cuộc Đời Của Đấng Christ?
Các thiên sứ xuất hiện trong suốt cuộc đời và chức vụ của Đấng Christ. Họ có bốn vai trò quan trọng: (1) loan tin, (2) bảo vệ các con cái Chúa, (3) phục vụ Đấng Christ và (4) hỗ trợ Đức Chúa Trời trong các hoạt động vào kỳ sau rốt.67
Trước hết, các thiên sứ loan báo những biến cố đặc biệt trong đời sống và chức vụ của Đấng Christ. Gáp-ri-ên loan báo về sự giáng sinh của Đấng Christ cho trinh nữ Ma-ri (LuLc 1:26-38). Một “thiên sứ của Chúa” bảo Giô-sép phải đặt tên con trẻ là “Giê-su” (Mat Mt 1:18-25 so sánh với LuLc 2:21). Các thiên sứ loan báo về sự ra đời của Đấng Mết-si-a cho các mục tử (2:8-13 Thiên sứ Gáp-ri-ên loan báo với Xa-cha-ri về sự ra đời của Giăng Báp-tít, người dọn đường cho Đấng Christ (1:11-20). Các thiên sứ loan báo về sự phục sinh của Đấng Christ trong tất cả các Phúc Âm (Mat Mt 28:2-7; Mac Mc 16:5; LuLc 24:4-7; GiGa 20:11-12).
Thứ hai, các thiên sứ bảo vệ và hướng dẫn những ai có liên quan đến cuộc đời của Đấng Christ. Một thiên sứ đã cảnh báo Giô-sép trong giấc mơ và bảo ông lánh sang Ai Cập trước khi vua Hê-rốt giết hết các bé trai từ hai tuổi trở xuống trong vùng đó (Mat Mt 2:13). Các thiên sứ cũng báo cho Giô-sép biết khi nào an toàn để quay trở về Pa-lét-tin (2:19-21). Khi Đấng Christ bị bắt, Ngài tuyên bố rằng có hơn mười hai đạo binh thiên sứ từ nơi Đức Chúa Cha sẵn sàng tuân lệnh để bảo vệ Ngài (26:53).
Thứ ba, các thiên sứ phục vụ Đấng Christ bằng cách thêm sức và khích lệ Ngài. Sau khi Đấng Christ chịu cám dỗ, kiêng ăn suốt bốn mươi ngày trong đồng vắng, các thiên sứ đến và phục vụ Ngài (4:11; Mac Mc 1:13). Có lẽ họ đã mang tới thức ăn giống như những con quạ nuôi sống Ê-li trong đồng vắng sau khi bị hoàng hậu Giê-sa-bên ngăm dọa (IVua 1V 19:5-8). Sự giúp đỡ từ các thiên sứ của Đức Chúa Trời trái ngược với lời ma quỷ thách thức Chúa Giê-su nhảy khỏi nóc đền thờ để các thiên sứ bảo vệ Ngài (Mat Mt 4:5-6). Một thiên sứ cũng đã phục vụ Đấng Christ khi Ngài cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê (LuLc 22:43).
Cuối cùng, các thiên sứ sẽ đồng hành tái lâm với Đấng Christ (Mat Mt 25:31; Mac Mc 13:26; 14:62). Họ sẽ tập hợp những người được lựa chọn trong Đấng Christ (Mat Mt 24:31; Mac Mc 13:27), phân rẽ người công bình và người không công bình (Mac Mc 13:36-42 so sánh với KhKh 14:14-20), thi hành án phạt trên kẻ ác (Mat Mt 16:27; Mac Mc 8:38), và ngồi trên chỗ đoán xét với Đấng Christ (Mac Mc 8:38; LuLc 9:26; 12:8-9). Công việc nói trên cho thấy cơ cấu đặc biệt của “tòa án” thiên thượng gồm “các thiên sứ được chọn” mà ITi1Tm 5:21 có đề cập tới.
Các công việc của thiên sứ trong đời sống và chức vụ của Đấng Christ phản ánh các công việc của thiên sứ trong Cựu Ước. Chẳng hạn, thiên sứ của Chúa loan tin về sự sinh hạ của một ai đó (SaSt 16:11; Cac Tl 13:3-5). Tuy nhiên, không một thiên sứ Cựu Ước nào có đặc quyền loan báo về sự giáng sinh từ một trinh nữ hay sự phục sinh từ cõi chết. Trong các sách Phúc Âm, công việc của thiên sứ tập trung vào con người của Đấng Christ.68 Vai trò chính của các thiên sứ trong Tân Ước là phát triển vương quốc của Đức Chúa Trời vì cớ Đức Chúa Giê-su Christ.
Câu Hỏi 22: Các Thiên Sứ Có Thể Bày Tỏ Về Sự Tái Lâm Của Đấng Christ Hay Không?
“Đấng Christ sẽ trở lại sớm hơn hai người nghĩ. Thật ra, Mi-chen đã sẵn sàng để thổi kèn bất cứ lúc nào.” Đó là câu nói cuối cùng của một người vô danh đi nhờ xe và đã biến mất khỏi băng ghế sau chiếc xe do một cặp vợ chồng tín hữu đang lái trên xa lộ ở Arizona.69 Các thiên sứ có thể bày tỏ thời điểm Đấng Christ tái lâm không?
Rõ ràng các thiên sứ có liên quan đến việc bày tỏ các thông điệp tương lai từ nơi Đức Chúa Trời (SaSt 31:11-13; XaDr 2:3-5; DaDn 12:7-12; KhKh 1:1). Họ biết các chi tiết về sự tái lâm của Đấng Christ. Chẳng hạn như hai thiên sứ đứng với các môn đồ sau khi Đấng Christ thăng thiên đã tuyên bố, “Giê-su nầy đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy” (Cong Cv 1:11). Tuy nhiên, Chúa Giê-su đặc biệt khẳng định rằng Đức Chúa Trời không cho các thiên sứ biết thời điểm Đấng Christ tái lâm (Mat Mt 24:36; Mac Mc 13:32). Không có một thiên sứ nào từng nói cho ai biết về ngày giờ Đấng Christ tái lâm.
Câu Hỏi 23: Các Thiên Sứ Phụ Giúp Đức Chúa Trời Như Thế Nào Trong Thời Kỳ Sau Rốt?
Dù rằng các thiên sứ không biết rõ thời điểm Đấng Christ tái lâm, nhưng họ đóng một vai trò quan trọng trong việc phụ giúp Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt. Trong sách Khải Huyền, họ giáng họa trên kẻ ác. Bảy thiên sứ thổi bảy tiếng kèn dẫn đến nhiều thảm họa khác nhau trên kẻ ác (KhKh 8:1-9:21 Sau khi vị thiên sứ thứ sáu thổi kèn, có bốn vị thiên sứ sẽ được thả ra để “tiêu diệt một phần ba loài người” (9:15). Bảy thiên sứ đó cầm bảy chén thịnh nộ gây nên những thảm họa lớn cho con người (16:1-21). Các thiên sứ này thi hành sự đoán phạt trên kẻ ác, chứ không phải trên người công bình (KhKh 9:14-21; IITe 2Tx 1:7; Giu Gd 1:14-16 so sánh với 1 En. 90.20-27, CD 2.5-7). Trên thực tế, vị thiên sứ ra lệnh cho bốn thiên sứ khác chặn bốn hướng gió lại là để trì hoãn việc đoán xét cho tới khi hết thảy người công bình đã được đóng ấn của Đức Chúa Trời trên trán (7:1-17).
Các thiên sứ cũng sẽ đồng hành tái lâm với Đấng Christ (Mat Mt 16:27; LuLc 12:8-9; Mac Mc 13:26; 14:62; DaDn 7:9-10 so sánh với 1QH 3.35-36, 10:34-35 1QM 15:14) họ sẽ phân rẽ người công bình và kẻ ác ra (Mat Mt 13:39-42, 49-50; KhKh 14:14-20) họ sẽ tập hợp những người đã được chọn trong Đấng Christ (Mat Mt 24:31; KhKh 14:14-16 so sánh với 1 Enoch 100.4) và rõ ràng họ chịu trách nhiệm ghi nhận những việc làm của con người, là điều sẽ được giải tỏ trong ngày đoán xét (DaDn 7:10 so sánh với 1 Enoch 89.61-77, 90.14-20) 2 Enoch 19.5 Apocalypse of Zephaniah 3.7 Tertullian De Spectaculus 27). Cuối cùng, một thiên sứ được giao nhiệm vụ trói buộc Sa-tan bằng một sợi xích lớn và tống khứ hắn xuống vực sâu trong một ngàn năm (KhKh 20:1-3).
Câu Hỏi 24: Có Bằng Chứng Hiện Tại Nào Chứng Tỏ Các Thiên Sứ Viếng Thăm Con Người Không?
Nếu chúng ta phục vụ một Đức Chúa Trời có thể ban phước cho chúng ta theo đủ mọi cách phi thường, và nếu chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời có thể làm nhiều phép lạ ngay trong thời đại này, thì chúng ta có thể tin rằng thỉnh thoảng Đức Chúa Trời ban phước cho con người bằng sự viếng thăm của các thiên sứ. Sau đây là hai lời chứng về các trường hợp đó. Tôi có quen biết đôi vợ chồng trong bài làm chứng đầu tiên. Thật rất dễ để chúng ta giải thích cách sai lệch về các trường hợp này. Nhưng chúng ta không nên quá duy lý đến độ không sẵn lòng tin những điều siêu nhiên có thể xảy ra. Điều mai mĩa là một số Cơ Đốc nhân dường như luôn sẵn lòng tin rằng bất kỳ cuộc gặp gỡ siêu nhiên nào trong thời đại này đều bắt nguồn từ ma quỷ chứ không phải thiên sứ; thậm chí chính Kinh Thánh cũng cho thấy rằng các thánh nhân gặp gỡ thiên sứ nhiều hơn là đối diện với ma quỷ. Trái lại, những nhà huyền bí (occultists) dường như luôn xem các cuộc gặp gỡ siêu nhiên của họ là bắt nguồn từ thiên sứ chứ không phải ma quỷ. Cuối cùng, bạn phải tự quyết định để tin rằng hai trường hợp dưới đây là sự thăm viếng của thiên sứ hay ma quỷ.
Vài năm trước đây, Benjamin và Jacquie Cortez ở La Puente, California, đã cầu nguyện với Chúa về việc xin con nuôi. Trong lúc đang thăm viếng một trung tâm phục hồi của một tổ Cơ Đốc tại Tijuana, Mexico, họ gặp một bé trai có lòng khao khát Chúa cách khác thường. Cậu bé cầu nguyện và thờ phượng cũng giống như mọi người khác sống tại đó. Giám đốc trung tâm để em sống trong nhà mình vì cậu bé không có nhà riêng. Mẹ cậu là một người mại dâm, và cậu thì không biết cha mình là ai. Benji và Jaccquie tin rằng Chúa muốn họ nhận nuôi cậu bé. Tuy nhiên, họ cần phải được mẹ cậu bé đồng ý. Jacquie tìm khắp các đường phố ở Tijuana, hỏi thăm hết người này đến người khác xem mẹ cậu bé sống ở đâu. Dường như chẳng có ai biết cả.
Đến lúc không biết phải tìm ở chỗ nào nữa thì có một người đàn ông cao to, đẹp người, nói rằng ông biết chỗ của mẹ cậu bé. Ông dẫn Jacquie đến một căn lều dơ bẩn. Mẹ cậu bé đang ở trong đó. Khi Jacquie định cám ơn người đàn ông thì ông ta đã đi mất. Người mẹ đồng ý ký các giấy tờ cho con. Sau đó Benji và Jacquie có hỏi thăm xem có ai biết người đàn ông đã dẫn Jacquie đến chỗ người mẹ của cậu bé không. Không có ai từng nhìn thấy người đàn ông đó, và cũng không ai biết ông ta là ai. Benjamin và Jacquie tin rằng người đàn ông đó là một thiên sứ.
Vào tháng 1 năm 1996, Doug McCleary, một mục sư trong cuộc phấn hưng ở Toronto đã viết một bức email có tiêu đề “Thức Tỉnh” như sau:
Trong một buổi nhóm phấn hưng ba lần một tuần của chúng tôi, vài người đã nghe và một đôi vợ chồng “cảm nhận được” tiếng của dàn đồng ca thiên đàng. Đó là bài hát cuối cùng trong loạt bài hát của chúng tôi… Tôi đang đàn piano… Thình lình tôi nghe một âm thanh giống như của một nhóm người có giọng rất khỏe hát lên, “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay” cùng một cao độ, và khớp với nhịp của bài nhạc… Tôi không thể nhận ra được giọng hát đó của ai. Thế là tôi hát vào micro y như điều mà tôi được nghe. Tôi nói thầm vào micro, “Ai đang hát thế? Hay thật!” Không có ai trả lời… Suốt khoảng thời gian đó (chừng hai phút), bầu không khí trong hội trường bắt đầu thay đổi. Mọi người bắt đầu nhảy múa, reo vui, và tôi vẫn tiếp tục nghe âm thanh đó vang dội, “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay.” Khi kết thúc buổi nhóm… tôi hỏi cả hội chúng, “Có ai khác nghe được câu hát đó không?” Vài người đưa tay lên; một nhạc công guitar điện của chúng tôi nói rằng anh ta có nghe tiếng hát đó, anh nhìn quanh hội trường, và lúc đó thì anh thấy không có ai hát gì hết-đó ắt hẳn là các thiên sứ.
Câu Hỏi 25: Có Cách Nào Để Ghi Nhớ Các Việc Làm Của Thiên Sứ Không?
Bạn có bao giờ tự hỏi các thiên sứ làm gì suốt cả ngày không? Thomas Aquinas tin rằng các thiên sứ thuộc đẳng cấp cao hơn sẽ chỉ dẫn cho các thiên sứ thuộc đẳng cấp thấp hơn. Vì các thiên sứ ở đẳng cấp cao hơn sẽ gần gũi Đức Chúa Trời hơn, họ nhận được tri thức rồi sau đó chuyển cho các thiên sứ ở cấp thấp hơn (Summa Contra Gentiles 106.1-3). Điều quan trọng hơn đối với chúng ta là William Hendrickson đã nghĩ ra một cách để giúp chúng ta dễ dàng ghi nhớ một vài công việc của các thiên sứ mà Kinh Thánh có ghi nhận.72
Đồng hành với Đấng Christ (IITe 2Tx 1:7), Chủ Tể được tôn cao (Eph Ep 1:21-22; CoCl 2:10)
Mang tin mừng về sự cứu rỗi (LuLc 2:14; 24:4; Cong Cv 1:11; ITi1Tm 3:16).
Ca sĩ của thiên đàng (LuLc 15:10; ICo1Cr 13:1; KhKh 5:11-12).
Bảo vệ các con cái của Đức Chúa Trời (Thi Tv 34:8; 91:11; DaDn 6:22; 10:10, 13, 20; Mat Mt 18:10; Cong Cv 5:19; IITe 2Tx 1:7-10; KhKh 12:7).
Làm gương về sự vâng phục (Mat Mt 6:10; ICo1Cr 11:10).

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CÁC THIÊN SỨ SA NGÃ
Bạn có thích những phim kinh dị như The Exorcist , Friday the 13th, Night of the Living Dead ? Hiện nay, ở các hiệu sách Cơ Đốc địa phương, bạn có thể mua những quyển sách đang bán chạy nhất của Frank và Ida Hammond, quyển Pigs in the Parlor , hoặc của Rebecca Brown, quyển He Came To Set The Captives Free , và của Bob Larson, quyển Dead Air . Độc giả của những quyển sách “Cơ Đốc” đó cũng có thể bắt gặp của cảm giác sợ hãi như đang xem phim kinh dị.
Liệu chúng ta có bị lừa để tin rằng quyền lực của ma quỷ lớn hơn điều Kinh Thánh tuyên bố về chúng không? Thiện luôn thắng ác trong những cuốn sách Cơ Đốc này, nhưng những bộ phim kinh dị kia thì có đúng sự thật không? Những quyển sách đó có quá nhấn mạnh quyền lực của ma quỷ không? Những nền văn hóa thế tục lẫn Cơ Đốc đều đã bị tràn ngập bởi một sự mê hoặc bịnh hoạn về ma quỷ. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta đặt ma quỷ vào đúng chỗ của chúng bằng cách tìm hiểu rõ điều Kinh Thánh thực sự nói về chúng. Chúng ta hãy gạt sang một bên tất cả các tiểu thuyết kinh dị khi đến với chủ đề ma quỉ.
Câu Hỏi 26: Ma Quỷ Có Thật Sự Hiện Hữu Không?
Đề tài ma quỷ khiến cho nhiều người cảm thấy không thoải mái chút nào. Một số tư tưởng gia hiện đại phủ nhận sự tồn tại của ma quỷ, trong khi những người khác thì cố tìm cách giải thích để phủ nhận chúng. Một học giả Kinh Thánh, Rudolf Bultmann, cho rằng ma quỷ là chuyện hoang đường. Ông tuyên bố rằng “thật không thể vừa dùng đèn điện và các phương tiện không dây trong thế giới hiện đại với những khám phá mới về y học và giải phẫu của chúng ta, vừa tin nơi ma quỷ và các linh trong thế giới Tân Ước.”73
Tuy nhiên, thuyết thần bí của thế kỷ mười chín và hai mươi thì nói ngược lại. Tại sao có quá nhiều người bị thu hút bởi đạo Sa-tan, ma thuật, thông linh và rất nhiều các hoạt động tà thuật khác? Sự thật là nhiều người theo tà hôm nay đang tìm thấy quyền lực thực sự từ những gì họ làm-họ đang kinh nghiệm một điều gì đó rất thực! Quyền lực này đến từ cái mà Kinh Thánh gọi là ma quỷ.
Xuyên suốt lịch sử, nhiều tư liệu đã ghi nhận về các hoạt động của yêu tinh hay “ma ám” (xin xem lời đáp 34 Một số ghi nhận chỉ là giả tạo, nhưng không phải tất cả. Chính tôi đã từng trải một kinh nghiệm như vậy. Tôi thấy như thể mình đang bị tấn công bởi một thế lực vô hình, thù nghịch-mà Kinh Thánh gọi là một con quỷ.74
Còn sự đối đầu của Đấng Christ và ma quỷ thì sao? Phải chăng Ngài chỉ đang diễn kịch? Người bị quỷ ám biết rằng Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời (Mat Mt 8:28-29; Mac Mc 1:24, 34; 3:11-12 Điều này gợi ý rằng những con quỷ có đẳng cấp thuộc linh cao hơn đã nhập vào những người này vì chúng nhận ra Chúa Giê-su. S. E. McClellan giải thích rằng theo một số thần học gia, với định kiến chống lại những điều siêu nhiên, những cuộc đối đầu của Chúa Giê-su với ma quỷ “rốt cuộc chỉ là sự hòa giải với các niềm tin đương thời của người dân Pa-lét-tin mà không phản ánh quan điểm của Ngài trước nguyên nhân gây nên nỗi bất hạnh cho cá nhân đó.”75 Nói cách khác, vì cớ đám đông mê tín tin nơi ma quỷ, nên Chúa Giê-su giả đò tin theo họ, và hành động như vậy!
Phủ nhận ma quỷ là không tin sứ điệp Phúc Âm, vì Chúa Giê-su tuyên bố rằng quyền năng của Ngài trên ma quỷ là dấu hiệu cho thấy nước Đức Chúa Trời đã đến (Mat Mt 12:28; LuLc 11:20).76 Ngay cả những kẻ thù của Chúa Giê-su còn phải thừa nhận rằng Ngài đã đuổi quỷ; tuy nhiên, họ tuyên bố rằng Ngài dùng quyền lực của quỷ để đuổi quỷ (Mac Mc 3:22; Mat Mt 12:24). Các tài liệu Do Thái và Hy-La cổ nói rằng Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài được biết đến như những thầy phù thủy.77 Một số tài liệu Do Thái cổ tuyên bố rằng “Giê-su người Na-xa-rét… làm nghề phù thủy và dụ dỗ, dẫn dắt Y-sơ-ra-ên đi sai lạc” (b. Sanhedrin 43a; so sánh với 107b Origen đã viết về một quan điểm chống Cơ Đốc như sau: “Celsus khẳng định rằng nhờ tên gọi của một số con quỷ và nhờ các câu thần chú mà các Cơ Đốc nhân dường như bởi một quyền năng (siêu nhiên); theo tôi cho rằng, họ trục xuất các tà linh bằng thần chú” (Contra Celsus 1.6). Chúa Giê-su nổi tiếng như một phù thủy có quyền năng đến độ nhiều người không tin đã dùng danh Ngài mà phù phép (Testament of Solomon 6.8; 22.20 Papyrus Graece Magicae 4:12,34 Contra Celsus 1.6, 2.49 so sánh với LuLc 9:49; Cong Cv 19:13).78
Tin rằng ma quỷ không hiện hữu và không thể quấy rối cũng như ảnh hưởng chúng ta cũng giống như tin rằng thế giới này không có điều ác. Tuy nhiên, thực tại sự tàn bạo của con người chứng thực cho sự tồn tại của điều ác. Hình ảnh thu nhỏ của điều ác chính là quyền lực của ma quỷ. Chính nhà tâm lý C. G. Jung, là một người tập tành theo tà thuật, đã thừa nhận những điều sau đây:
Niềm tin nơi ma quỷ, về bản chất, là điều mà con người rõ ràng đã vượt qua được, nhưng lại vô tình nuốt chửng trở lại để rồi họ bị biến thành con rối cho ma quỷ… khi những sản phẩm này (tác động của ma quỷ đến tâm thần) trở thành bãi lầy của ảo tưởng và hão huyền, thì không còn cách gì để chặn đứng nguồn gốc của chúng. Trái lại, vì ma quỷ không thể cư trú trong các hòn đá, cây cối, núi non, và sông suối, chúng dùng con người để làm nơi trú ẩn, và điều đó thì nguy hiểm hơn nhiều.79
Câu Hỏi 27: Kinh Thánh Dùng Những Khái Niệm Gì Để Mô Tả Ma Quỷ?
Chữ ma quỷ trong tiếng Hy Lạp là daimonion (Mat Mt 7:22; 9:34; Mac Mc 1:34; KhKh 9:20). Chữ này được dùng để chỉ những khái niệm như ma quỷ, uế linh hay ác linh, tùy thuộc vào cách dùng của các bản dịch Tân Ước. Sau đây là một số khái niệm Kinh Thánh tương đồng với chữ ma quỷ :
1. Ma quỷ -tà linh . Người Hy Lạp thời xưa hiểu rằng chữ daim n ngụ ý những quyền lực siêu nhiên làm trung gian giữa các vị thần và con người, đồng thời giám sát cõi vũ trụ (Plato Symposion 202e; Hesiod Opera et Dies 122).80 Các thế lực này có thể là thiện hoặc ác, và thường gắng liền với định mệnh hoặc sự bảo vệ. Người Hy Lạp thường coi đây là các linh hồn của những người chết được mặc lấy quyền lực siêu nhiên.81 Trong Thánh Kinh Tân Ước và Bản Bảy Mươi (LXX; bản Kinh Thánh Cựu Ước tiếng Hy Lạp) ma quỷ được gọi là daimonion hay daimonia thay vì từ Hy Lạp cổ điển là daim n.82 Rõ ràng các tác giả Thánh Kinh rõ ràng đã thay đổi cách dùng chữ để nhấn mạnh rằng ma quỷ hoàn toàn độc ác; chúng không phải là các tạo vật tốt bụng hoặc kẻ vô hình trong văn chương Hy Lạp. Tuy nhiên, Ma-thi-ơ lại dùng từ daim n để ám chỉ đám quỷ có tên là Quân Đội mà Chúa Giê-su đã đuổi đi (Mat Mt 8:31).
2. Ma quỷ -các thần của những kẻ thờ lạy hình tượng . Kinh Thánh mô tả ma quỷ là “các thần” mà những kẻ thờ lạy hình tượng hằng thờ phượng (PhuDnl 32:17; Thi Tv 106:37; ICo1Cr 10:20-21 so sánh với Thi Tv 91:6; 96:5 LXX EsIs 13:21; 34:12; 65:3, 11). Tuy nhiên, ma quỷ không hẳn là các thần theo nghĩa đen. Phao-lô tuyên bố rằng về bản chất thì chỉ có một Đức Chúa Trời là thần (GaGl 4:8), và những ai thờ lạy hình tượng là những người đang thờ lạy ma quỷ (ICo1Cr 8:1-5 so sánh với 10:20-21).
Chữ Hê-bơ-rơ để chỉ những con quỷ này là
(PhuDnl 32:17; Thi Tv 106:37).83 Trong văn chương Ba-by-lôn, chữ thường là thù nghịch, đôi khi là bảo vệ. Có lẽ trong suốt các thời kỳ Y-sơ-ra-ên quay sang thờ lạy hình tượng, họ đã tôn cao thành các vị thần, nhưng sau đó họ xem chúng như những linh gian ác khi họ ăn năn sự thờ lạy thần tượng của mình.84 )
3. Ma quỷ -vương quốc của sự tối tăm . Thật không có gì ngạc nhiên khi liên hệ ma quỷ với “quyền của sự tối tăm” (LuLc 22:53; IICo 2Cr 6:14; Eph Ep 6:12; CoCl 1:12-13 Trong các phân đoạn đó, sự tối tăm tượng trưng cho sự dối trá, tội lỗi và bất khiết, trong khi ánh sáng tượng trưng cho chân lý, thánh khiết và thanh sạch (so sánh với GiGa 3:19-21; RoRm 13:12; ITe1Tx 5:4-5; IGi1Ga 1:5-7 Các cuộn Biển Chết có nói về hai thế lực tranh chiến lẫn nhau. Các con trai của sự sáng đánh trận chống lại các con trai gian ác của sự tối tăm (1QM 1.1-16; 3.6-9; 13.10-16; 14.17; 15.14; 1QS 3.18).
4. Ma quỷ . Chữ (gốc từ là , “dê đực” (he-goat) đôi khi được gọi là “những kẻ lông lá” (hairy ones Thánh Kinh Cựu Ước bản NIV dịch chữ này thành “các tượng thần dê” (goat idols LeLv 17:7 Chúng thường được xem là các thần Dê trong thần thoại, giống như thần Pan của Hy Lạp (IISu 2Sb 11:15 Kinh Thánh mô tả chúng là những con thú hoang trong đống đổ nát của sa mạc (EsIs 13:21; 34:14 so sánh với Gie Gr 50:39; KhKh 18:25 Vua Giê-rô-bô-am đã tạo ra xu hướng thờ lạy hình tượng trong Vương Quốc Phương Bắc khi ông ra lệnh cho các thầy tế lễ hướng dẫn thờ lạy một (IISu 2Sb 11:15).
5. Ma quỷ -lỵlỵt . Trong một phân đoạn của Kinh Thánh Cựu Ước, quỷ lỵlỵt ám chỉ “yêu quái ban đêm” (EsIs 34:14 Chúng ta không biết có phải Ê-sai xem lỵlỵt là một con quỷ không, hay ông chỉ đơn giản xem nó là một loài động vật sa mạc. Chữ lỵlỵt có thể bắt nguồn từ Ba-by-lôn, tại xứ đó, nó ám chỉ một con quỷ bão (storm demon gắn liền với gió.86 Đôi lúc nó được mô tả như là một “dạ ma nữ” (female night phantom).87 Theo truyền thống Cận Đông cổ xưa lỵlỵt thường tấn công phụ nữ lúc sinh con. Người ta nói rằng lỵlỵt ăn thịt đứa bé giống như Sa-tan cố gắng ăn thịt đứa bé trai mới chào đời trong KhKh 12:1-3 (so sánh với Testament of Solomon 4.1-2; 13.1-3 Truyền thống Do Thái kể lỵlỵt là một thần Dê có lông dài và có cánh, sinh ra những đứa trẻ ma quái (demonic children và tìm cách bắt con người trong lúc họ ngủ).88
Vì chúng ta chỉ biết ở mức độ giới hạn về cách các tác giả Cựu Ước hiểu những khái niệm mà chúng ta vừa bàn qua, nên chúng ta cần tránh thái độ võ đoán. Sự thật là các nền văn hóa cổ xưa và các truyền thống Do Thái về sau đã kết hợp , , và lỵlỵt với ma quỷ; chúng ta chỉ có thể phỏng đoán rằng các tác giả Kinh Thánh cũng hiểu về những khái niệm này như thế. Rõ ràng ma quỷ được gọi là daimonion trong Thánh Kinh Tân Ước, và rõ ràng chúng là nguồn gốc của các thói tục tà ác.
Câu Hỏi 28: Ma Quỷ Là Gì?
Kinh Thánh khẳng định rằng ma quỷ là những thiên sứ sa ngã độc ác làm việc bên cạnh Sa-tan (KhKh 12:7; Giu Gd 1:6 so sánh với Mat Mt 25:4189 Do đó về bản chất, ma quỷ là những hữu thể linh giống như các thiên sứ, nên chúng có những đặc tính giống như các thiên sứ khác. Điểm khác biệt chủ yếu giữa ma quỷ và thiên sứ nằm trong phẩm cách của chúng: ma quỷ thì độc ác, còn thiên sứ thì tốt lành. Nói cách khác, ma quỷ làm việc cho vương quốc của Sa-tan, kẻ luôn chầu chực để phá hại con dân của Đức Chúa Trời. Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về bản chất và những đặc tính của chúng cặn kẽ hơn.
1. Ma quỷ là các linh . Giống như thiên sứ, ma quỷ là những hữu thể phi vật chất.90 Kinh Thánh công bố rằng các Cơ Đốc nhân không chiến đấu cùng thịt và huyết, bèn là cùng các thế lực linh độc ác (Eph Ep 6:11-12). Đấng Christ phán rằng khi một con quỷ bị đuổi ra khỏi một người, nó sẽ đi tìm chỗ trú ẩn khác, ngụ ý rằng ma quỷ là những linh lìa khỏi xác (LuLc 11:24-26). Chúng được gọi là các linh (pneuma ) trong một số phân đoạn (chẳng hạn ISa1Sm 16:14; Mat Mt 8:16; Mac Mc 1:23; 9:17-25; IGi1Ga 4:1 so sánh với 1 Enoch 15.10-12; Jubilees 10.5-8; 11.5; Testament of Dan 6.1). Nhưng chúng ta không nên cho rằng mỗi khi Kinh Thánh nhắc đến linh (spirit tức là nói tới ma quỷ. Ngoại trừ Thánh Linh, tâm linh con người, và các tà linh hay uế linh, có một số phân đoạn dùng chữ linh (spirit ) để chỉ thái độ, sự ảnh hưởng, tâm trí hay tâm thần (Mat Mt 5:3; IITi 2Tm 1:7).
2. Ma quỷ là các hữu thể có cá tính . Ma quỷ không phải là những thế lực phi nhân cách. Hễ khi nào các thiên tai, chẳng hạn như lốc xoáy hay lũ lụt, xảy ra giết chết nhiều người, làm thiệt hại nhiều tài sản, thì chúng ta không được cho rằng những tác động phi nhân cách này là ma quỷ. Ma quỷ là các hữu thể có cá tính, tức là có trí hiểu, tình cảm và ý chí. Trước hết, ma quỷ có trí hiểu . Chúng biết rằng Chúa Giê-su là Con của Đức Chúa Trời (Mac Mc 1:24, 34; 5:6). Ma quỷ có thể tạo ảnh hưởng trên con người, khiến họ hướng đến các giáo lý sai lầm, dẫn họ đi lạc lối (ITi1Tm 4:1-6; GiGa 4:1-4). Một người đầy tớ gái bị quỷ Phi-tôn ám, có lẽ đang minh chứng lời tuyên bố của chủ mình rằng lời tiên tri của cô chính xác như của Phi-tôn, hay thần A-bô-lô (Delphi).91 Con quỷ nhập vào cô đã cho cô một khả năng thần giao cách cảm và khả năng tiên đoán có giới hạn (Cong Cv 16:16-18).92
Thứ hai, ma quỷ cũng có cảm xúc . Kinh Thánh thường mô tả sự sợ hãi của ma quỷ. Chúng run rẩy trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Gia Gc 2:19) và chúng sợ Đức Chúa Giê-su. Người đàn ông bị quỷ ám khi nhìn thấy Chúa Giê-su thì “la lên” và van xin để đừng bị trừng phạt (LuLc 8:28). Kinh Thánh mô tả Sa-tan trở nên cực kỳ tức giận khi bị đuổi khỏi thiên đàng (KhKh 12:12).
Thứ ba, ma quỷ có sự tự quyết . Khi Đấng Christ đối đầu với một binh đoàn của quỷ, chúng xin nhập vào đàn heo thay vì bị đuổi xuống vực sâu (LuLc 8:31-32). Các thiên sứ sa ngã là vì họ lựa chọn không vâng phục Đức Chúa Trời (Giu Gd 1:6).
3. Ma quỷ độc ác . Đôi lúc ma quỷ được gọi là “ác thần” (ISa1Sm 16:14; Mat Mt 12:43; Cong Cv 19:12-13 so sánh với Jub. 10.3-13; 11.4). Chúng hành động trong tội lỗi, chẳng hạn nói dối (ITi1Tm 4:1-5; GiGa 8:44), nhưng về cơ bản, chúng rất độc ác vì chúng tránh làm tất cả mọi điều lành và gắng sức xâm hại trật tự cũng như sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo. Ma quỷ chuyên phá hoại sự thánh khiết và đối nghịch với Thánh Linh.93 Chúng cũng được gọi là “tà ma” (Mac Mc 1:24-27; 5:2-3; 7:26; 9:25; Cong Cv 5:16; 8:7 so sánh với 1 En. 99.7). Tà ma ở Giê-sa-rê sống nơi mồ mả, nơi người Do Thái cho là không thánh sạch (Mac Mc 5:1-20 so sánh với Dan Ds 19:11-16). Đôi lúc chúng được gọi là những con thú không thanh sạch (Mac Mc 5:13; KhKh 16:13; 18:2).
4. Ma quỷ có quyền lực siêu nhiên nhưng giới hạn . Việc ma quỷ có quyền lực siêu nhiên được thể hiện qua những con người chúng nhập vào. Con quỷ ở Giê-sa-rê có thể bẻ gãy dây xích, và không một ai trong vùng đó có thể đánh bại được hắn (Mac Mc 5:1-4). Một người đàn ông bị quỷ nhập có thể áp đảo bảy anh em trai, khiến họ phải “trần truồng và bị thương, trốn ra khỏi nhà” (Cong Cv 19:16). Ma quỷ cũng có quyền lực để làm những dấu hiệu và những điều siêu nhiên lừa dối (KhKh 16:13). Nhưng quyền lực của chúng bị giới hạn, và chúng không thể đi khỏi ranh giới mà Đức Chúa Trời định cho chúng (Giop G 1:1-2:13).
Câu Hỏi 29: Nguồn Gốc Của Ma Quỷ Là Gì?
Kinh Thánh không khẳng định rõ ràng nguồn gốc của các tà linh. Có lẽ các tác giả Kinh Thánh tin rằng vấn đề đó không giúp ích bao nhiêu cho đời sống thuộc linh của độc giả, hoặc có lẽ họ cho rằng độc giả của mình đã biết về nguồn gốc của ma quỷ. Tuy nhiên, vấn đề này cũng đáng xem xét. Có ba giả thuyết chính về nguồn gốc của ma quỷ.
Giả thuyết 1: Đức Chúa Trời tạo dựng ma quỷ ngay từ đầu . Quan điểm này nhấn mạnh quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên toàn bộ sự sáng tạo (EsIs 45:7; Thi Tv 135:5). Trong Thánh Kinh Cựu Ước, chính Đức Chúa Trời cũng sai khiến các tà linh (Cac Tl 9:23; ISa1Sm 16:14). Đức Chúa Trời có toàn quyền đến độ Ngài có thể tạo ra những kết quả tốt lành từ những động cơ gian ác của Sa-tan, như được ghi lại trong sách Gióp. Học giả Kinh Thánh David Aune nhận định, “Theo truyền thống Do Thái, Đức Chúa Trời đã tạo nên các tà linh (mazzikim vào ngày thứ sáu của tuần lễ sáng tạo” ‘Abot câu 6).94
Nhưng nếu Đức Chúa Trời tạo dựng ma quỷ ngay từ đầu , tức là Ngài là tác giả của điều ác, thì điều đó sẽ làm lung lay những cơ sở mà chúng ta dựa vào đó để nói rằng Đức Chúa Trời là hoàn toàn tốt lành. Sáng-Thế Ký chứng minh rằng sau khi tạo dựng tất cả mọi sự, Đức Chúa Trời thấy rằng chúng thảy đều “rất tốt lành” (SaSt 1:31). Thật phi lý khi nói toàn bộ sự sáng tạo đều “rất tốt lành”nếu Đức Chúa Trời cũng đã tạo nên các thiên sứ ác. Hơn nữa, Phao-lô khẳng định rằng mọi sự đều được tạo dựng với mục đích tốt lành của chúng trong Đấng Christ (CoCl 1:15-16).95 Nhưng chúng ta thấy rằng Đấng Christ cần phải hòa giải mọi sự lại với Ngài trong sự chết của Ngài, bao gồm các chủ quyền và thế lực (các quyền lực thiên sứ, CoCl 1:20 so sánh với 2:15; Eph Ep 6:11-12). Điều này ngụ ý rằng giữa hoạch định khởi thủy của sự sáng tạo và sự chết của Đấng Christ có một điều gì đó đã đi sai trật. Tạo vật, kể cả các thế lực thiên sứ vô hình, đã đi trệch hướng. Cuối cùng, số phận đời đời của ma quỷ trong địa ngục cho thấy rằng trên một ý nghĩa nào đó, chúng thật đáng bị hình phạt vì hành động của chúng (Mat Mt 25:46). Rõ ràng có một số linh đã đi trệch khỏi mục đích nguyên thủy của Đức Chúa Trời cho họ.
Giả thuyết 2: Ma quỷ sa ngã cùng với Sa-tan trong những ngày đầu của công cuộc sáng tạo . Nếu giả thuyết thứ nhất dường như không thể chấp nhận được, thì đây là một giả thuyết nữa: Từ khởi thủy, Đức Chúa Trời đã tạo nên tất cả các thiên sứ thiện lành, nhưng rồi Ngài đã đuổi một nhóm các thiên sứ ra khỏi thiên đàng vì chúng nổi loạn chống lại Ngài. Bây giờ chúng tàn phá trái đất, cố gắng hủy diệt mão triều thiên trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời-con người. Quan điểm này thường cho rằng các quỷ sứ sa ngã theo Sa-tan. Tuy nhiều giả thuyết đưa ra có đề cập đến bản chất tội lỗi của Sa-tan, nhưng chỉ có một số ít cố gắng phân tích tại sao một số thiên sứ lại quyết định theo hắn.
Trong văn chương Do Thái, ma quỷ và các quỷ sứ của hắn đã tự tôn cao mình (2 Enoch 29:4). và không chịu thờ phượng A-đam khi Đức Chúa Trời muốn chúng làm như vậy (Apocalypse of Sedrach 5; Life of Adam and Eve 12.1-16.4). Vào ngày thứ hai của công cuộc sáng tạo, “Sataniel,” rõ ràng là một thiên sứ trưởng, đã sa ngã cùng với các thiên sứ dưới quyền của mình (2 En. 29, 69). Tương tự như vậy, một số người trong Hội Thánh đầu tiên dạy rằng do các thiên sứ không có bản chất tội lỗi như loài xác thịt, nên tội lỗi của các thiên sứ sa ngã mang tính thuộc linh, bao gồm sự kiêu ngạo và ghen tị, chống nghịch cùng Đức Chúa Trời. Ma quỷ đã chủ ý phạm tội ngay lúc chúng được sáng tạo hoặc lúc Sa-tan sa ngã. Ma quỷ cám dỗ nhiều thiên sứ dưới quyền của hắn (Thomas Aquinas Summa Contra Gentiles 63.1-9 hãy so sánh với Justin Martyr Dialogue with Trypho the Jew 14.1).
Phân đoạn Kinh Thánh duy nhất ngụ ý rằng các thiên sứ sa ngã theo cách này là KhKh 12:9 Sa-tan thất bại sau khi đánh trận cùng thiên sứ trưởng Mi-chen, và các quỷ sứ của hắn sa ngã theo hắn. Một số người cho rằng biến cố này ám chỉ đến sự sa ngã đầu tiên của ma quỷ, nhưng những người khác thì tuyên bố rằng 12:1-18 sẽ được ứng nghiệm trong tương lai (so sánh với 4:1; 12:12).96 Trong bất cứ trường hợp nào, phân đoạn này cũng không nói cho chúng ta biết tại sao các thiên sứ quyết định nổi loạn. Cả hai cách giải thích đều khả dĩ, nhưng trong quan điểm của tôi, không có cách nào phù hợp. Trong bối cảnh 12:1-18, sự sa ngã của các thiên sứ này cho thấy chiến thắng của Đấng Christ trên các thế lực bóng tối thông qua đời sống, sự chết, phục sinh và thăng thiên của Ngài (12:5-12 so sánh với LuLc 10:17-18 Sự giáng sinh của Đấng Christ khởi đầu việc thành lập vương quốc của Đức Chúa Trời trên trần gian và đưa chúng ta bước vào một kỷ nguyên lai thế mới (hay những ngày cuối cùng, Mat Mt 12:28; Cong Cv 2:17-23). Trong KhKh 12:1-18, việc trục xuất các thiên sứ miêu tả một biến cố thiên thượng xác định chiến thắng của Đấng Christ trên thập giá, và nó hàm chứa cả hiện tại lẫn tương lai.97
Ý tưởng cho rằng các thiên sứ lựa chọn sa ngã theo Sa-tan có vẻ khá lôi cuốn vì nó cho thấy rằng Đức Chúa Trời là tốt lành và từ khởi thủy Ngài tạo dựng mọi sự đều tốt lành. Để cho phù hợp với Sáng-Thế Ký, quan niệm này ngụ ý rằng vào một thời điểm nào đó giữa ngày thứ sáu trong kỳ sáng tạo (SaSt 1:31) và biến cố Ê-va bị lừa (3:1-24), các thiên sứ đã sa ngã vì họ lựa chọn phạm tội, chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Nhưng cả Kinh Thánh cho phép chúng ta kết luận rằng chỉ có một thiên sứ sa ngã trong thời A-đam và Ê-va-Con Rắn, thường được hiểu là Sa-tan.
Giả thuyết 3: Ma quỷ là các linh của “các con trai Đức Chúa Trời ,” những người phạm tội trong Sáng-Thế Ký 6, hoặc các linh của dòng dõi họ , “những người cao lớn ,” hoặc cả hai . Có nhiều bằng chứng ủng hộ quan điểm “các con trai của Đức Chúa Trời” là những thiên sứ sa ngã. Trong sách Gióp, khi con trai của Đức Chúa Trời đến trước mặt Đức Chúa Trời, Sa-tan cũng có mặt trong số những hữu thể linh thiêng này (Giop G 1:6; 2:1; 38:7). Sau đó chúng ta nhanh chóng nhận thấy rằng cụm từ “con trai của các thần” gần như ám chỉ các thiên sứ trong PhuDnl 32:8 (bản Bảy Mươi Hơn nữa, “con trai của Đức Chúa Trời” hay “con trai của các thần” thậm chí được những người ngoại bang hiểu là các thiên sứ (DaDn 3:25). Giả thuyết này cho rằng các con trai của Đức Chúa Trời hiện hình trong thế giới vật lý và phạm tội khi có quan hệ tính dục với những người nữ. Hậu quả là họ bị trận lụt xóa sổ. Họ, hay con cháu họ, “người cao lớn,” bây giờ đã trở thành những linh độc ác, không có thân thể, chúng đi lang thang khắp thế gian để tìm các thân thể làm nơi trú ngụ (1 Enoch 15.8, 16.1, 19.1 Justin Martyr Second Apology 5,10). Chúng ta sẽ bàn lại vấn đề này trong vài lời đáp sau.
Nhưng chúng ta không biết rõ việc các thiên sứ trong Sáng-Thế Ký 6 có sản sinh ra toàn bộ các dạng hữu thể mà ngày nay chúng ta gọi là ma quỷ hay không. Nếu có, thì dường như một số trong số những con quỷ này bị trói buộc và trục xuất xuống Tartarus (khái niệm người Hy Lạp dùng để ám chỉ địa ngục) cho tới ngày đoán xét, trong khi những con khác vẫn còn tự do phá hoại (IIPhi 2Pr 2:4; Giu Gd 1:6 so sánh với LuLc 8:31; KhKh 9:1; IPhi 1Pr 3:19-21).98 Do sự lựa chọn của mình, các thiên sứ phạm tội trong SaSt 6:1-22 là một cấp thiên sứ sa ngã hiện đang bị trói buộc và đoán phạt. Như vậy chúng ta có một loạt các thiên sứ có lẽ đã sa ngã cùng với Sa-tan vào ngày thứ sáu của công cuộc sáng tạo, chúng vẫn còn được tự do, và một loạt các thiên sứ sa ngã trong 6:1-22, chúng đã bị trừng phạt và nhốt lại trong Tartarus.
Câu Hỏi 30: “Các Con Trai Của Đức Chúa Trời” Trong Sáng-Thế Ký 6 Là Ai?
Có ba quan điểm nổi bật về cách giải nghĩa 6:1-4: “Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi, các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ. Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi.’ Đời đó và đời sau, có người cao lớn (‘giants’ KJV; gigantes LXX) trên mặt đất, vì con trai Đức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sanh con cái; ấy những người mạnh dạn ngày xưa là tay anh hùng (gibbôrỵm MT; gigantes LXX) có danh.”
Quan điểm 1: Khái niệm “các con trai của Đức Chúa Trời ” ngụ ý dòng dõi tin kính của Sết . Quan điểm này cho rằng “các con trai của Đức Chúa Trời” là các con trai của Sết, người con thứ ba của A-đam (5:3-4). “Con gái loài người” ám chỉ dòng dõi Ca-in, người đã giết em mình là A-bên (4:1-26). Nói cách khác, phân đoạn này ám chỉ sự trộn lẫn giữa dòng dõi tin kính của Sết và dòng dõi độc ác của Ca-in. các mối quan hệ hôn nhân này sinh ra những con người cực kỳ gian ác; cho nên, Đức Chúa Trời đã tạo ra trận lụt nhằm hủy diệt tất cả mọi người, ngoại trừ Nô-ê và gia đình của ông (6:5-22).
Những người theo quan điểm này khó tìm được bất cứ bằng chứng nào bảo vệ lập trường của họ. Không có lý do chính đáng nào để chúng ta nghĩ rằng “con gái loài người” ngụ ý dòng dõi của Ca-in. trong Kinh Thánh, một số người đàn ông đôi lúc được gọi là các con trai của Đức Chúa Trời (PhuDnl 14:1 so sánh với Exe Ed 4:22; OsHs 1:10), nhưng các phân đoạn đó không ám chỉ các con trai của Sết; chúng ám chỉ đến những con trai được chọn của Y-sơ-ra-ên.99 Không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh chứng tỏ các con trai của Sết là các con trai của Đức Chúa Trời. Lối giải nghĩa này hàm ý rằng “Sáng-Thế Ký 6 thực sự nói rằng ‘các con trai của một số người’ kết hôn cùng ‘các con gái của một số người khác.’… Điều vô lý hơn nữa đó là ‘loài người’ trong SaSt 6:1 ngụ ý cả nhân loại, chứ không phải một số người nào đó.”100 Lối giải nghĩa cho rằng các con trai của Đức Chúa Trời là các con trai của Sết thật giống như một luận cứ cho lời biện hộ đặc biệt được đưa ra nhằm tránh một kết luận khó chịu, đó là các con trai của Đức Chúa Trời thực sự là các thiên sứ.
Quan điểm 2: “Các con trai của Đức Chúa Trời ” ngụ ý các vua chúa . Quan điểm này cho rằng cụm từ “các con trai của Đức Chúa Trời” nhất định là một cách nói khác của những người cai trị . Có một vài chỗ trong Kinh Thánh gọi các vị vua là con trai của Đức Chúa Trời (Thi Tv 2:7; 89:19; IISa 2Sm 7:14; ISu1Sb 17:13; 22:10). Các nền văn hóa Cận Đông cổ đại thường cho rằng thần linh “sinh ra” vua chúa, đặc biệt là ở Ai Cập.101 Do đó SaSt 6:2 có nghĩa là những người cai trị trên trần gian này đã đưa vào hậu cung của họ bất cứ người phụ nữ nào họ muốn trong số các “con gái loài người.”
Nhưng quan điểm này có nhiều vấn đề. Văn cảnh nhấn mạnh rằng các mối quan hệ trong 6:2 và 6:4 là tội lỗi (so sánh với 6:3, 5). Tuy nhiên, không thể biết rõ tại sao Đức Chúa Trời lại ghê tởm chế độ đa thê đến nỗi phải hủy diệt cả thế gian bằng cơn lũ. Sau cơn lũ một thời gian dài, dân Y-sơ-ra-ên lại rơi vào tục đa thê mà không khiến Đức Chúa Trời nổi giận. Chính Y-sơ-ra-ên (Gia-cốp) là một người có nhiều vợ; vua Đa-vít cũng vậy. Do đó, quan điểm chế độ đa thê hoàng tộc này dường như phát xuất từ phần sau của lịch sử Do Thái. Gordon Wenham ghi chú: “Lối giải nghĩa hoàng tộc (6:2) xuất hiện trong giới giải kinh Do Thái khoảng giữa thế kỷ thứ hai S. C., một phần xuất phát từ niềm tin cho rằng thiên sứ không thể tận hưởng lạc thú trong quan hệ tính dục và một phần là để che đậy sự suy đoán về họ.”
Quan điểm 3: “Các con trai của Đức Chúa Trời ” ám chỉ các thiên sứ sa ngã . Tuy có vẻ lạ lùng, song quan điểm này có bằng chứng khá vững chắc ủng hộ nó. Trước hết, Kinh Thánh ủng hộ ý niệm các thiên sứ là “các con trai của Đức Chúa Trời” hay “con trai của các thần” trong các phân đoạn khác (Giop G 1:6; 2:1; 38:7; PhuDnl 32:8 LXX DaDn 3:25 Trong sách Giu-đe, đây là những thiên sứ sa ngã, những người đã “không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình,” hiện đang bị trói bởi xiềng xích và bóng tối cho tới ngày đoán xét (Giu Gd 1:6 so sánh với IIPhi 2Pr 2:4 Giu-đe đã trích dẫn một câu từ 1 Enoch (Giu Gd 1:11), chứng tỏ rằng một trong những tài liệu của ông là lời truyền khẩu Do Thái đặc biệt này. Trong 1 Enoch , các thiên sứ, được gọi là Những Người Thức Canh (Watchers), đã ham muốn những người đàn bà đẹp trên trần gian. Semyaz, là người dẫn đầu, và hai trăm thiên sứ khác đã xuống trần gian. Họ dạy cho con người các câu thần chú ma thuật và nhiều thứ khác, đồng thời quan hệ tính dục với những người đàn bà nhằm sinh sản chính họ trong một giống người khổng lồ (1 Enoch 6.1-16.4, 54.6 so sánh với 2 Enoch 18). Quan điểm này được củng cố bởi các tài liệu cổ khác cũng ủng hộ kiểu quan hệ tính dục thiên sứ-con người này. Trước hết, nhiều truyền thống Do Thái khẳng định cùng một câu chuyện đó (Philo De Gigantibus 6-7, 16, 60, Josephus Antiquities of the Jews 3.1, Jubilees 5.1, 7.21-22. 10.3-5, 2 Apocalypse of Baruc 56.11, 16, 2 Enoch 7.1 Testament of Reuben 5.-7), cũng như các truyền thống của Cơ Đốc giáo sơ khai (Tertulian On the Veiling of Virgins 1 Against Marcion 5.8 On Prayer 22 Clement of Alexandria Paedagogus 3 Paulinus of Nola Letters 23).
Các cuộn Biển Chết cũng xem “các con trai của Đức Chúa Trời” là thiên sứ, và họ được mô tả là “Các Con Trai Của Thiên Đàng,” “Các Đấng Thánh,” và “Những Người Thức Canh Thiên Thượng,” là những người đã rời khỏi địa vị thiên đàng của mình.103 Hơn nữa, văn hóa Cận Đông cổ, theo như được mô tả trong các bản văn Ugarit, đề cập đến “các con trai của Đức Chúa Trời” như là các thành viên của một đền bách thần, tương tự với quan niệm Hê-bơ-rơ cổ về các thiên sứ đứng trước hội đồng của Đức Chúa Trời (Giop G 1:1-2:13).104
Thứ hai, việc nhìn nhận các con trai của Đức Chúa Trời là thiên sứ giúp giải thích lý do tại sao dân Y-sơ-ra-ên xem các cuộc hôn nhân trong SaSt 6:1-20 là tội ác. Quan hệ tính dục giữa thiên sứ và con người cũng tương tự như quan hệ tính dục giữa các vị thần trong thần thoại Hy-La. Sự pha trộn hỗn tạp đó rõ ràng đã xâm phạm quan niệm về sự thánh khiết của người Y-sơ-ra-ên, một quan niệm đòi hỏi sự biệt riêng chứ không phải sự hợp nhất. Luật pháp Môi-se cấm ngặt việc cho hai giống loài lai với nhau (LeLv 19:19; 20:16; PhuDnl 7:3; 22:9-11).
Thứ ba, việc đồng hóa các con trai của Đức Chúa Trời với thiên sứ cũng rất phù hợp với truyền thống Do Thái cho rằng tội lỗi của các thiên sứ có liên quan đến tính dâm dục. Đề cập đến SaSt 6:2, Gordon Wenham viết:
Chuỗi từ “thấy… tốt đẹp… cưới” trong (6:2) gần như song song với cách dùng chữ trong 3:6 (Ê-va bị cám dỗ trong vườn Ê-đen) và nó mô tả hành vi phạm tội của các con trai Đức Chúa Trời. Khi người nữ (Ê-va) nhìn thấy và hái (trái cây), bà đã vượt qua ranh giới Đức Chúa Trời thiết lập. Bản chất sự phạm tội của A-đam là ông đã đồng tình với sự phạm tội của Ê-va khi ăn trái cây mà bà trao cho ông. Ở đây, tội lỗi của các con gái loài người có lẽ nằm ở chỗ họ đồng ý giao hợp với “các con trai của các thần.” Nó ngầm hiểu rằng cha của những người đàn bà này cũng có liên quan, vì nếu không phải bị cưỡng bức hay quyến rũ, thì dĩ nhiên họ phải đồng ý mới có các cuộc hôn nhân đó.105
Đối với các quan điểm và giả thuyết trong thời đó, dường như những độc giả Kinh Thánh đầu tiên, cùng với các sứ đồ, hiểu “các con trai của Đức Chúa Trời” trong SaSt 6:1-22 là các thiên sứ sa ngã. Dĩ nhiên quan điểm này cũng đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ. Làm sao chúng ta giải thích được lời tuyên bố của Đấng Christ trong Mat Mt 22:30, các thiên sứ không cưới gả, hàm ý rằng họ vô tính? Nhưng điều này thực sự có ý nghĩa gì? Phải chăng nó có nghĩa là các thiên sứ không thể cưới gả vì về bản chất họ không thể làm được việc đó? Hay nó có nghĩa là họ không cưới gả vì họ không muốn xâm phạm ranh giới rõ ràng mà Đức Chúa Trời đã vạch ra cho họ? Nếu trường hợp sau là đúng, thì nó rất phù hợp với Giu-đe 6. Theo cách nói của Giu-đe về Sáng-Thế Ký 6, dường như các thiên sứ đã vi phạm tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời khi từ bỏ sự sắp đặt hoàn hảo cho họ, không được cưới gả. Và thậm chí nếu các thiên sứ không thể cưới gả trong thời Đấng Christ đi nữa, thì điều đó không nhất thiết hàm ý rằng tất cả các tầng lớp thiên sứ, dù thiện hay ác, đều không bao giờ có thể làm chuyện đó trong quá khứ.
Có một vấn đề nữa với quan điểm “các con trai của Đức Chúa Trời” là thiên sứ: Nếu chúng ta chấp nhận biến cố SaSt 6:1-22 đã thực sự diễn ra trong lịch sử, làm sao chúng ta có thể tin rằng các thiên sứ đã thực sự quan hệ với đàn bà và sinh con cháu? Chúng ta có nên xem 6:1-22 là chuyện khoa học viễn tưởng không? Ý tưởng cho rằng các thần linh có quan hệ tính dục với con người đã xâm nhập nhiều nền văn hóa cổ xưa. Thần thoại Hy Lạp có rất nhiều truyền thuyết. Nếu tất cả những truyền thuyết này chỉ là hư cấu, tại sao nó lại quá phổ biến như vậy? Nếu chúng ta tin rằng các truyền thuyết về một trận đại lụt trong nhiều nền văn hóa khác nhau là bằng chứng cho trận lụt thời Nô-ê, thì phải chăng các truyền thuyết về “các con trai của Đức Chúa Trời” cũng giống như vậy? Có lẽ những ý niệm đại loại như việc thiên sứ trộn lẫn với con người đã phá vỡ tính hợp lý trong những tâm trí hiện đại của chúng ta. Nhưng, thế thì tại sao nhiều người vẫn còn tin rằng các thiên sứ là các linh hay các thiên sứ đã ngồi ăn với Áp-ra-ham trong 18:2-22? Hay đối với vấn đề đó, tại sao có nhiều Cơ Đốc nhân vẫn còn tin nơi sự sinh hạ từ một trinh nữ? Vậy thì vấn đề thật sự ở đây là liệu chúng ta có sẵn sàng chấp nhận rằng 6:1-5 là một biến cố siêu nhiên không thể giải thích được hay không.
Nếu các thiên sứ đã thực sự hiện ra trong hình dạng con người, làm sao họ có thể sao lại cấu trúc DNA của con người, vốn rất cần thiết để duy trì nòi giống (nếu sự hiểu biết hiện tại của chúng ta về cấu trúc con người là đúng)? Thậm chí nếu các thiên sứ có đủ thông minh để làm điều đó đi nữa, thì việc tạo ra sự sống con người vẫn là công việc chỉ có Đức Chúa Trời thực hiện.
Có lẽ cách giải thích cổ xưa tốt nhất về sự kết hợp tính dục này bắt nguồn từ một truyền thống Do Thái và Hội Thánh đầu tiên. Truyền thống đó nói rằng các con trai của Đức Chúa Trời thấy sự độc ác của loài người và xin Đức Chúa Trời ban cho họ thân thể người để họ có thể xuống trần gian và dạy con người về luật pháp và đạo đức. Việc này xảy ra vào thời Giê-rệt, con của Ma-ha-la-le (5:17-18). Đó là lý do tại sao Ma-ha-la-le đặt tên con trai của mình là Giê-rệt, tức là “sự giáng hạ” (descension). Chính lúc đó các thiên sứ đã từ trời xuống trần. Tuy nhiên, sau khi họ được mặc lấy xác thịt con người, họ lại sa ngã, làm y hệt những gì con người làm, và họ sa vào dục vọng của xác thịt, khao khát những người đàn bà trần tục. Dòng dõi của họ là những con người có sức mạnh khác thường. Khi Chúa khiến nạn lụt đến, những con người mạnh mẽ này bị chết chìm và bây giờ trở thành các linh không có thân thể hoặc ma quỷ (Jubilees 4.15 Pseudo Clement Homilies 8-9). Nhưng tùy chúng ta lựa chọn; chúng ta cũng có thể bỏ qua vấn đề này. Trong thời điểm này, chúng ta không có đủ khả năng khám phá hay tìm ra một lời giải thích lịch sử phù hợp với phân đoạn này.
Câu Hỏi 31: Tại Sao Dòng Dõi Của Các Con Trai Đức Chúa Trời Được Gọi Là “Những Người Cao Lớn”?
Sáng-Thế Ký 6 ghi nhận rằng “những người cao lớn” là dòng dõi của “các con trai của Đức Chúa Trời.” Trong tiếng Hê-bơ-rơ, họ được gọi là Nephilim (dòng dõi người khổng lồ-6:4-5). Nếu các con trai của Đức Chúa Trời là những thiên sứ sa ngã, thì những người khổng lồ này là quỷ. Nhưng bản King James và bản LXX gọi họ là “những người khổng lồ” theo chữ gigantes trong tiếng Hy Lạp. Người ta đã đưa ra vài giả thuyết về nguồn gốc của chúng. Hình như chữ Nephilim trong tiếng Hê-bơ-rơ bắt nguồn từ chữ npal có nghĩa là “sa ngã.” Điều này gợi lên một vài cách giải thích khả dĩ về “Nephilim ”:

Có lẽ lời mô tả tốt nhất về đặc điểm của Nephilim sẽ bao gồm một số ý nghĩa trên đây. Định nghĩa cuối cùng dẫn đến những ẩn ý khác nếu so sánh với Exe Ed 32:20-28. Phân đoạn này có thể đang ám chỉ SaSt 6:1-4, khi nó mô tả sự thất bại của những chiến binh to lớn (so sánh với 10:8-9) Nephilim như những chiến binh mạnh bạo có thể có liên quan tới nguồn gốc khổng lồ của họ. Hơn nữa, ý nghĩa của chữ Nephilim cho chúng ta biết chút ít về vóc dáng của họ.
Ngoài 6:1-22 ra, Kinh Thánh chỉ đề cập đến Nephilim một lần nữa mà thôi. Khi Môi-se sai mười hai người lãnh đạo thuộc các chi phái đi do thám xứ Ca-na-an, họ mang về những tin tức đầy thất vọng: “Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám, là một xứ nuốt dân sự mình; hết thảy những người chúng tôi đã thấy tại đó, đều là kẻ hình vóc cao lớn. Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức là con cháu của A-nác (con cháu của A-nác là dòng dõi của Nephilim, thuộc về giống giềnh giàng; chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy” (Dan Ds 13:32-33).
Phân đoạn này liên hệ Nephilim với dòng dõi A-nác (“thuộc về giống giềnh giàng”và Rê-pha-im (PhuDnl 2:10-11, 20-21 Những người này rất cao to. Các chiến binh Phi-li-tin khổng lồ, mà Gô-li-át là một trong số đó, là dòng dõi của Rê-pha-im (IISa 2Sm 21:16-22; ISu1Sb 20:4-8 so sánh với 2 Apocalypse of Baruch 3.26). Óc, vua Ba-san, là một người Rê-pha-im, có chiếc giường ngủ dài đến 3,9m và rộng 1,8m (PhuDnl 3:11).
Một truyền thống xa xưa bắt nguồn từ vùng Mê-sô-bô-ta-mi cho rằng Nephilim là giống người thân hình cao lớn. Chúng ta không biết kích thước thật sự của họ, nhưng chúng ta có thể đoán chừng họ cao to cỡ Gô-li-át (ISa1Sm 17:4 Theo điều Dan Ds 13:34 ngụ ý, dường như người Hê-bơ-rơ đã biết về kích thước của người Nephilim trước khi các thám tử về báo. Kích thước khổng lồ của họ chẳng phải là điều mà dân Hê-bơ-rơ chưa từng biết.
Câu Hỏi 32: Ngày Nay Có Còn Dòng Dõi Người Khổng Lồ Không?
Chúng ta đã chứng minh rằng người Nephilim, hay những người khổng lồ, trong SaSt 6:1-22 đã sống trước trận lụt. Họ là con cháu ra từ mối quan hệ giữa các con trai của Đức Chúa Trời và con gái loài người. Tuy nhiên, trong Dan Ds 13:33-34 tên của họ lại xuất hiện. Theo truyền thống lịch sử Do Thái, biến cố này xảy ra hàng trăm năm sau trận lụt. Nếu dân Y-sơ-ra-ên đã nhìn thấy người Nephilim tại vùng đất Ca-na-an, chẳng lẽ chúng ta phải giả định rằng con cháu của ma quỷ còn sống sót sau cơn lũ thời Nô-ê hay sao? Nếu chúng ta xem đây là việc có thật, thì một số người đang sống hiện nay đích thực là dòng dõi của ma quỷ ư?
Một số người cho rằng trận lụt thời Nô-ê chỉ mang tính địa phương, gây ảnh hưởng đến vùng Mê-sô-bô-ta-mi chứ không ảnh hưởng toàn cầu. Do đó, một số người Nephilim đã thoát khỏi cơn lũ khi chạy lên các vùng núi, hoặc dùng thuyền đi tới các nơi xa.111 Cách giải thích này không phù hợp với Sáng-Thế Ký (SaSt 6:17; 7:17-24), vì sách này nhấn mạnh rằng trận lụt ngập trên toàn trái đất và “hết thảy những ngọn núi cao ở dưới trời đều bị ngập” (7:19 Nếu mục đích của cơn lũ là xóa sạch tội ác thì tại sao Đức Chúa Trời lại để người Nephilim thoát được (so sánh 6:5-7)?
Vì Dan Ds 13:34 là nơi cuối cùng đề cập đến người Nephilim trong Kinh Thánh, nên chúng ta cần phải xem xét nó cẩn thận hơn (xin hãy xem thêm lời đáp 31 Giô-suê và Ca-lép đã báo cáo rằng có một giống dân mạnh sức, gọi là dân A-nác (Anakim), sống tại đó, nhưng họ không đồng nhất nhóm người này với người Nephilim (13:26-30 so sánh với 14:6-9). Mười thám tử kia báo cáo tin xấu, nhắc đến người Nephilim và nói rằng họ “khác nào con cào cào” nếu so với những kẻ đó (13:32-33). Rõ ràng mười thám tử đã phóng đại khi đề cập đến vóc dáng của kẻ thù của họ. Nếu lời nói của họ có những thông tin sai lạc, thì có lẽ họ đã nói dối khi tuyên bố rằng dân A-nác là dòng dõi của người Nephilim. Nếu như vậy thì họ giống người Nephilim cổ đại về vóc dáng, nhưng dân A-nác và dân Rê-pha-im có thể không phải là hậu tự thật của người Nephilim . Tương tự như vậy, một học giả Thánh Kinh Cựu Ước, ông Timothy Ashley, viết rằng, “Theo văn cảnh (13:31-33) thì rõ ràng số đông (các thám tư)] đã nói dối và không trung thành.”113
Phân đoạn 13:32-34 dường như ngụ ý rằng thông tin về người Nephilim mà các thám tử Y-sơ-ra-ên cung cấp là thông tin sai lạc, nên chúng ta có thể giả định rằng người Nephilim đã bị trận lụt giết sạch, không còn hậu tự.
Câu Hỏi 33: Ma Quỷ Có Phải Là Các Hồn Ma Không?
Hồn ma là “hồn hay bóng ma của người đã chết, thường xuất hiện như một hữu thể đang sống hoặc giống với người đã chết và thỉnh thoảng xuất hiện dưới các hình dạng khác.”114 Trái lại, ma quỷ không phải là những hồn của người chết, trừ khi chúng ta đồng nhất chúng với hồn của người Nephilim trong SaSt 6:1-22. Tuy nhiên, đôi lúc văn chương cổ khi đề cập đến ma quỷ thì cho rằng chúng là những linh của người chết (chẳng hạn như Josephus War 1.599, 607, 6.47, Pliny Nat . Hist . 18.118 Kinh Thánh xem những kẻ vô hình (repa’ỵm là các linh của người chết, hay điều mà ngày nay chúng ta thường nghĩ là các hồn ma (Giop G 26:5; Thi Tv 88:10-11; ChCn 2:18; EsIs 14:9; 26:14). Khi các môn đồ thấy Chúa Giê-su đi bộ trên mặt nước, và khi Ngài sống lại từ cõi chết (LuLc 24:39), họ tưởng Ngài là một hồn ma (phantasma , Mat Mt 14:26; Mac Mc 6:49 so sánh với Giop G 20:8 LXX Wisd. 17.14; Josephus Ant . 1.331-33).
Những hồn ma có thể từ cõi chết đến thăm hay ám ảnh chúng ta không? Một vài phân đoạn Kinh Thánh nói về các chuyến viếng thăm của người chết. Môi-se và Ê-li hiện ra cùng với Chúa Giê-su trên Núi Hóa Hình (Mac Mc 9:1-10; LuLc 9:28-33), và có thể chính tiên tri Sa-mu-ên đã hiện ra với Sau-lơ khi vua này đi cầu hỏi một đồng cốt (ISa1Sm 28:8-16). Tuy nhiên, các trường hợp như thế rất hiếm hoi chứ không phải là một quy luật. Và những chuyến viếng thăm này hoàn toàn không giống với bị ma ám. Do đó, hành động cầu hỏi một bà đồng cốt tại Ên-đô-rơ của Sau-lơ là hành động phản nghịch trong con mắt của Đức Chúa Trời và Sau-lơ phải chuốc lấy hậu quả; ông chết trong khi chiến trận (so sánh với ISu1Sb 10:13-14).
Người giàu qua đời trong LuLc 16:19-31 không được phép cảnh báo các anh em của mình về những khổ hình chốn Âm Phủ, điều đó khiến nhiều người giả định rằng các linh của những người chưa tin “không được tại ngoại” cho tới ngày đoán xét. Linh của những người chưa tin dường như bước ngay vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngay khi họ chết (IICo 2Cr 5:4-8; Phi Pl 1:21-24). Quan điểm cho rằng linh của các thánh có thể trở lại thăm viếng chúng ta là một lời dạy không mang tính quy phạm dựa trên Kinh Thánh; mặt khác, cũng không có bằng chứng Kinh Thánh nào dứt khoát nói rằng họ không thể thăm viếng chúng ta.116 Dẫu vậy, Kinh Thánh xem việc cầu hỏi người đã chết (thuật gọi hồnlà một tội trọng (PhuDnl 18:9-12 so sánh với ISu1Sb 10:13-14).
Nhiều người tuyên bố rằng một người bà con quá cố đã viếng thăm họ, khi thì trong giấc mơ, lúc thì trong một khải tượng, hoặc hiện ra hẳn hoi. Làm sao chúng ta biết được những chuyến viếng thăm đó không do người được viếng thăm tưởng tượng ra? Những việc này cần phải được đánh giá theo từng trường hợp cụ thể để xác định nguồn gốc của chúng. Nó có thể là một giấc mơ phát xuất từ nỗi đau buồn hay được Đức Chúa Trời cho phép để xoa dịu nỗi buồn khi mất người thân (Cong Cv 16:9 Đó cũng có thể là một ảo giác, một con quỷ, một thiên sứ hay có thể là một linh con người thực thụ. Cuối cùng, nếu hồn ma dạy những giáo lý bí mật hoặc giả dối, hay nếu nó khuyến khích người ta tập tành tà thuật, chúng ta có thể kết luận rằng nó không đến từ Đức Chúa Trời.
Câu Hỏi 34: Máng Xối Hình Thú, Yêu Tinh, Ma Hiện Hình Và Ma Quỷ Khác Nhau Ở Điểm Nào?
Máng xối hình thú (gargoyles) chỉ đơn giản là những ống dẫn nước bên hông các tòa nhà trong các nền văn hóa cổ xưa và trung cổ. Trong thời La-mã cổ đại, nhiều máng xối được chạm hình con sư tử, nhưng trong nghệ thuật Gô-tích, chúng trở thành những hình dạng kỳ dị, có sừng và cánh. Được coi là những vật bảo hộ tòa nhà, nhưng chúng là các sinh vật không có thực.Trong Thánh Kinh Cựu Ước, hai chê-ru-bin bảo vệ hòm giao ước dường như cũng có một vai trò tương tự như vậy-XuXh 25:17-22.Dù không phải là ma quỷ, nhưng các máng xối hình thú vốn có dụng ý ngăn ngừa các uế linh.
Theo truyền thống dân gian phương Tây, yêu tinh (goblin) là một linh lang thang khắp nơi tìm cách phá rối. Người ta cho rằng yêu tinh hay đập phá ấm nước, nồi niêu, đóng sập cửa lại, di chuyển đồ đạc trong nhà và ăn cắp quần áo ngủ của người ta.117 Người A-sy-ri và Ba-bi-lôn cổ đại tin rằng yêu tinh là một tạo vật nửa quỷ nửa người (semihuman Yêu tinh được gọi là lilu , lilitu và ardat lili ; do đó chúng giống với quỷ lỵlỵt trong Thánh Kinh Cựu Ước (EsIs 34:14).118
Ma hiện hình (poltergeists, tiếng Đức có nghĩa là “các linh ồn ào”) có thể đồng nghĩa với những yêu tinh của thời xưa. Chúng di chuyển đồ đạc, khua ấm, ném các vật dụng và xé quần áo. Chúng thường xuất hiện dưới dạng một hòn đá đang bay thường ở tốc độ chậm hoặc đốt cháy quần áo hay con người (sự tự bốc cháy). John và Charles Wesley kể lại một hiện tượng ma hiện hình hay quấy rối gia đình Epworth trong giờ cầu nguyện. Họ gọi nó là “Lão Jeffrey.”119 Ma hiện hình có thể gây nên những thiệt hại và khổ sở lớn trong đời sống những người từng trải nó đến độ đôi khi họ phải bỏ nhà đi, bị thương, hoặc thậm chí tự sát.120 Những người liên quan đến các hoạt động tà thuật và giới trẻ là đối tượng chính của ma hiện hình.
Một số người cho rằng ma hiện hình không phải là các linh mà là một sự thể hiện tột bực của hành động trong trạng thái xuất thần (extreme form of psychokinesis)-sự bùng nổ năng lực tâm lý cá nhân. Nhưng vì các hiện tượng này luôn mang tính hủy diệt, không đem lại ích lợi gì và gắn liền với tà thuật, ma hiện hình gần như giống với quỷ hơn. J. Stafford Wright cho rằng “vì con người thường là trung tâm bão, nên các linh có thể lợi dụng một lực tác động quan trọng nào đó, thường có liên hệ đến sự phát triển giới tính, điều mà chúng có thể vật chất hóa đủ để di chuyển các vật hữu hình. Đó là một hình thức thăng hoa vật lý của bản năng tính dục.” 121
Câu Hỏi 35: Có Các Cấp Bậc Khác Nhau Trong Vương Quốc Bóng Tối Không?
Vương quốc bóng tối phải có một trật tự và cấp bậc nào đó, vì các thế lực ma quỷ xem Sa-tan là người lãnh đạo của chúng và tỏ ra thống nhất với nhau trong việc chống lại công việc của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su phán, “Nếu một nước tự chia nhau, thì nước ấy không thể còn được… Vậy, nếu quỷ Sa-tan tự dấy lên nghịch cùng mình, tất nó bị chia xé ra, không thể còn được; song nó đã gần đến cùng rồi” (Mac Mc 3:24, 26). Chúng ta không biết trật tự và cấp bậc chính xác của ma quỷ, và chúng ta cũng không biết hết tất cả các cấp bậc ma quỷ khác nhau. Nhưng chúng ta biết rằng có nhiều thế lực thần linh độc ác khác nhau, dù một số trong số chúng có thể chồng chéo lên nhau.122 (ICo1Cr 15:24; Eph Ep 1:21; 6:10-12 so sánh với 2 Maccabees 3.24 1 Enoch 61:10, 2 Enoch 20-22 Testament of Levi 3)
Các chủ quyền (archai ). Kinh Thánh đôi khi xem “các chủ quyền” hay “những kẻ cầm quyền” không chỉ là những người cai trị thông thường. Địa vị cao trọng của họ là điều hiển nhiên. Phao-lô kể đó là những mối đe dọa tiềm tàng, nhưng họ không thể chia cắt các thánh nhân (các Cơ Đốc nhânkhỏi tình yêu thương của Đấng Christ (RoRm 8:38 so sánh với CoCl 2:10). Các thế lực này là những hữu thể linh luôn chống lại các thánh nhân (Eph Ep 3:10; 6:12; CoCl 2:15).
Các thế lực (exousia ). “Các thế lực” có quan hệ hết sức gần với “các chủ quyền.” Khái niệm này được dùng để chỉ các thế lực trên trần gian (RoRm 13:1-3), và trong một số phân đoạn nó mang chiều kích thuộc linh chống lại vương quốc Đức Chúa Trời (ICo1Cr 15:24; Eph Ep 1:21; 3:10; 6:12; CoCl 1:16; 2:15 so sánh với Testament of Levi 3.8, 2 Enoch 20.1). Một thuật ngữ Hy Lạp khác cũng khá gần và đôi khi dùng để ám chỉ các thế lực linh là dynameis (RoRm 8:38; Eph Ep 1:21 so sánh với DaDn 8:10 LXX 1 Enoch 61.10).123
Các vua ( ). Chữ Hê-bơ-rơ ám chỉ vị “vua” của nước Phe-rơ-sơ và “vua” của Hy Lạp, là những linh cai trị (DaDn 10:13, 20-21). Họ có quyền lực lớn vì dường như họ coi sóc toàn bộ các quốc gia. Vua của Phe-rơ-sơ đã đánh trận với thiên sứ trưởng Mi-ca-ên nhưng bị thất bại. Có thể khái niệm “những người cai quản đời này” (archontes ) trong Tân Ước của Phao-lô ám chỉ những hữu thể này.124 Nếu đúng như vậy, những “người cai quản” này đã tác động đến những kẻ cầm quyền, khiến họ quyết định giết chết Đấng Christ (ICo1Cr 2:6, 8). Cũng trong phân đoạn đó Phao-lô nói rằng nếu những “người cai quản” này biết được các hậu quả tích cực sau cái chết của Đấng Christ, họ sẽ không bao giờ đóng đinh Ngài.
Những Người Thức Canh hay các con trai của Đức Chúa Trời . IIPhi 2Pr 2:4 và Giu Gd 1:6 đề cập đến một nhóm các thiên sứ bị xiềng trong nơi tối tăm vì cớ tội lỗi của họ. Dù rằng tội lỗi của họ không được nhắc đến cách cụ thể, nhưng rõ ràng các phân đoạn này ngụ ý “các con trai của Đức Chúa Trời,” những người đã chung sống với đàn bà của trần gian trong SaSt 6:1-22. Các thiên sứ này được gọi là “Những Người Thức Canh” trong truyền thống Do Thái (xem các lời đáp 29-30).
Ma quỷ . Kinh Thánh đề cập đến ma quỷ, các tà linh hay uế linh, nhiều hơn so với các nhóm thế lực gian ác khác (chẳng hạn như Mat Mt 7:22; 8:31; 12:24; Mac Mc 1:34; LuLc 8:30; RoRm 8:38; Gia Gc 2:19). Đây là những linh chuyên tấn công hay ám ảnh con người.
Quyền lực của các cấp bậc ma quỷ khác nhau nhằm chống lại vương quốc của Đức Chúa Trời luôn bị giới hạn. Quyền năng của Đấng Christ vượt xa mọi thế lực của bóng tối (Eph Ep 1:21; CoCl 2:9-10). Đấng Christ là Đấng Tối Cao, vượt hẳn mọi thế lực bóng tối vì Ngài tạo dựng nên mọi quyền lực thuộc linh, bao gồm cả những hữu thể đã phản bội Ngài (CoCl 1:16). Ngài đánh bại chúng trong sự chết và sự phục sinh của Ngài (CoCl 2:15; Mat Mt 28:18; Phi Pl 2:10-11) và chúng sẽ hoàn toàn khuất phục Ngài khi Ngài tái lâm (ICo1Cr 15:24-25). Tình yêu thương của Đấng Christ mạnh mẽ đến độ không có “bề cao, hay là bề sâu” nào có thể chia cắt các thánh nhân ra khỏi Ngài (RoRm 8:39). Daniel Reid lưu ý rằng phân đoạn Rô-ma này “có thể ám chỉ điểm cao nhất và thấp nhất của các hữu thể thuộc linh và do đó chứa đựng toàn bộ quyền năng thiên thượng (so sánh với 1 En. 18.3, 11).”
Câu Hỏi 36: Có Bao Nhiêu Con Quỷ?
Một số người tuyên bố rằng các thiên sứ sa ngã với Sa-tan mà KhKh 12:9 đề cập tới là một phần ba các ngôi sao trong số “các ngôi sao” mà con rồng từ trên trời ném xuống trong 12:3. Họ phỏng đoán rằng ma quỷ chiếm một phần ba toàn thể vương quốc thiên sứ. Nhưng cách giải thích này thiếu cơ sở vì một số lý do sau đây.
Thứ nhất, không có đủ bằng chứng để khẳng định rằng các biến cố trong Khải Huyền 12 mô tả sự sa ngã của Sa-tan và các thiên sứ của hắn lúc bắt đầu sự sáng tạo. Sự sa ngã của Sa-tan và tay sai của hắn trong 12:1-18 dường như phù hợp với khung thời gian lúc Chúa Giê-su giáng sinh, mang những ẩn ý tương lai (12:4-5, 10-12 so sánh với LuLc 10:18).
Thứ hai, nếu “các ngôi sao” ám chỉ những thiên sứ bị Sa-tan ném xuống “đất” trong KhKh 12:4, thì tại sao họ lại ở “trên trời” một lần nữa trong 12:7? Cách giải nghĩa này dường như không phù hợp với văn cảnh.
Thứ ba, trong 12:3, “các ngôi sao” dường như ám chỉ các thánh nhân chứ không phải các thiên sứ. Các thánh thường được so sánh với “các ngôi sao” (DaDn 12:3; Mat Mt 13:43 so sánh với Phi Pl 2:15), những người sẽ cư ngụ tại “các nơi trên trời” trong Đấng Christ (Eph Ep 1:3; 2:6 so sánh với 1:20). Trong một phân đoạn tiên tri tương tự như KhKh 12:1-18, dân sự của Đức Chúa Trời được mô tả là “các ngôi sao” bị một người lãnh đạo Seleucid, Antiochus Epiphanes, một loại antichrist, kéo xuống (DaDn 8:10, 13, 24). Vì Kinh Thánh mô tả sự bắt bớ lớn và sự sa ngã của dân sự Đức Chúa Trời, nên các ngôi sao thiên đàng đã bị ném xuống trong KhKh 12:3 có thể ngụ ý biến cố này (IITe 2Tx 2:3; ITi1Tm 4:1 so sánh với Mat Mt 24:9-13 Giu Gd 1:13 KhKh 9:1).
Kinh Thánh không hề nói cho chúng ta biết có bao nhiêu con quỷ tồn tại. Chúa Giê-su đã đuổi cả một binh đoàn quỷ dữ, giả định là có đến hàng ngàn con, ra khỏi người bị quỷ ám tại Giê-sa-rê (Mac Mc 5:1-13). Phao-lô khẳng định rằng những người ngoại bang thờ lạy hình tượng chính là đang thờ lạy ma quỷ khi sấp mình trước các hình tượng của họ (ICo1Cr 10:20-21). Cho nên, nếu chúng ta giả định rằng ma quỷ chỉ đứng sau một phần nhỏ nào đó của việc thờ lạy hình tượng trên toàn thế giới, thì số lượng ma quỷ cũng rất nhiều. Tuy nhiên không có lý do nào để chúng ta tin rằng ma quỷ nhiều đến độ chúng có thể theo dõi từng con người trên trần gian này và liên tục cố gắng phá rối họ. Trái ngược với ít nhất một truyền thống Do Thái (Berakot 3a, 6a), chúng ta không nên nghĩ rằng chúng cư trú trong các cây, cỏ hay đá. Chúng ta không có lý do gì để tin rằng hàng tỉ người không phải Cơ Đốc nhân trên thế gian này đều bị quỷ ám cả. Dù số thiên sứ sa ngã có nhiều đến đâu đi nữa thì chúng cũng không đủ đông để đánh bại các thiên sứ thiện lành (KhKh 12:7-8).
Câu Hỏi 37: Ma Quỷ Có Thể Hiện Hình Hay Không?
Nếu các thiên sứ thiện có thể hiện ra cùng con người, thì ma quỷ có thể làm việc tương tự không? Trong cuốn He Came to Set the Captives Free , Rebecca Brown khẳng định rằng ma quỷ có thể hiện hình dưới dạng ma sói hay những con vật gớm ghiếc khác. Một truyền thống Do Thái cho rằng dù ma quỷ là các linh, chúng cũng cần thức ăn lẫn nước uống, và chúng có thể hiện ra như con người. Nhưng trong Kinh Thánh không hề ghi nhận trường hợp nào ma quỷ hiện ra trong thân thể vật lý.
Rõ ràng “các con trai của Đức Chúa Trời” trong SaSt 6:1-22 đã hiện ra, nhưng cách giải nghĩa phân đoạn này gợi ý rằng họ không phải là ma quỷ trước khi họ hiện ra trong thân thể vật lý trên trần gian (xem các lời đáp 29-30). Nếu ma quỷ có thể hiện ra trong thân thể vật lý, tại sao chúng lại cố nhập vào con người làm gì (Mat Mt 12:43; LuLc 11:46-48)? Tuy nhiên, chúng có thể gây hại bằng cách nhập vào thân thể người khác (Cong Cv 19:16).
Câu Hỏi 38: Quyền Năng Của Đấng Christ Trên Ma Quỷ Có Ý Nghĩa Gì?
Nhiều phân đoạn trong các sách Phúc Âm ghi lại việc Đức Chúa Giê-su đối đầu với các thế lực bóng tối, thường thì Ngài đuổi quỷ (Mac Mc 1:34, 39; 3:11-12). Một lần trong nhà hội, Ngài đuổi con quỷ tiết lộ xuất thân của Ngài là “Đấng Thánh của Đức Chúa Trời” (Mac Mc 1:23-24; LuLc 4:33-36). Trong vùng Giê-sa-rê, Chúa Giê-su đã chữa lành một người đàn ông bị quỷ ám nặng sống nơi mồ mả bằng cách đuổi cả một binh đoàn quỷ ra khỏi ông ta. Những con quỷ đó nhập vào bầy heo, khiến chúng phóng xuống biển và chết chìm (Mac Mc 5:1-20; LuLc 8:26-33). Đấng Christ cũng đã chữa lành một thanh niên bị quỷ hành với chứng phong điên (Mat Mt 17:14-21; Mac Mc 9:14-29; LuLc 9:37-43). Ngài đuổi bảy con quỷ ra khỏi Ma-ri Ma-đơ-len (Mac Mc 16:9; LuLc 8:2) và chữa lành một người đàn bà khỏi tà linh làm biến dạng lưng của bà (13:10-17). Dù không có mặt trực tiếp tại chỗ bé gái người Sy-rô-phê-ni-xi bị quỷ ám, nhưng Chúa Giê-su đã đuổi quỷ ra khỏi bé gái từ xa (Mac Mc 7:24-30; Mat Mt 15:21-28).
Các đám đông kinh ngạc trước thẩm quyền của Chúa Giê-su trên các thế lực bóng tối (9:23-34). Một số người đã rao truyền sứ điệp về quyền năng của Chúa Giê-su (Mac Mc 1:25-28), trong khi những người khác-những người từng sợ hãi trước người bị quỷ ám-lại đâm ra sợ Chúa Giê-su (LuLc 8:34-37). Thay vì thừa nhận rằng Ngài thi hành mọi việc thông qua Thánh Linh Đức Chúa Trời, một số người lãnh đạo tôn giáo lại phạm thượng Thánh Linh khi tuyên bố rằng Chúa Giê-su cậy quyền của Bê-ên-xê-bun là chúa quỷ mà đuổi quỷ (Mat Mt 12:22-32).
Đấng Christ tuyên bố rằng thẩm quyền đuổi quỷ của Ngài là một dấu hiệu vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến trần gian (Mat Mt 12:28; LuLc 11:20 so sánh với Cong Cv 8:5-12; 10:38; HeDt 6:5).129 David Aune gợi ý rằng Cựu Ước chỉ ghi lại một người đuổi tà ma, đó là Đa-vít, người đã chơi đàn để đuổi uế linh ra khỏi Sau-lơ (ISa1Sm 16:14-23 so sánh với Pseudo Philo 60). Truyền thống Do Thái nói rằng con trai của Đa-vít, Sa-lô-môn, là một chuyên gia đuổi tà (Josephus Antiquities of the Jews 8.2.5 Pesigta Rabbati 69a; so sánh với Testament of Solomon Người Do Thái hình dung một tương lai mà trong đó một nhân vật thuộc dòng dõi Đa-vít sẽ đuổi quỷ đi (XaDr 13:2 so sánh với 1QS 4.19-21, 1QM 14.10). Do đó, Chúa Giê-su, “con vua Đa-vít,” đã làm ứng nghiệm niềm mong đợi này khi Ngài đuổi quỷ và công bố sự khởi đầu của thời kỳ cuối cùng (Mat Mt 12:22-23; 15:21-28 so sánh với Mac Mc 7:29-30; Cong Cv 1:1-2:47).130
Thẩm quyền thiên thượng của Đấng Christ, cũng như lời Ngài tuyên bố rằng thời đại bị ảnh hưởng bởi vương quốc bóng tối sắp chấm dứt, đã phân biệt Ngài khỏi nhóm những người Do Thái đuổi tà ma trong thời kỳ đó (LuLc 10:18; GiGa 12:31). Thần học gia Tân Ước James Dunn nói rằng:
“Ngài (Chúa Giê-xu) đã không ngụ ý rằng phép đuổi quỷ Do Thái cũng minh chứng sự hiện đến của Vương Quốc. Trái lại, Ngài phân biệt mình với họ; phép đuổi quỷ của Ngài được thực hiện bởi Thánh Linh /ngón tay của Đức Chúa Trời . Trong trường hợp trói người đàn ông mạnh sức cũng vậy (Mat Mt 12:29; Mac Mc 3:27; LuLc 11:21). Chúa Giê-su thừa nhận rằng phép đuổi quỷ của Ngài không chỉ là sự chữa lành những người bị điên, không chỉ là đuổi quỷ ra, không chỉ là chiến thắng trước Sa-tan, nhưng còn là trói buộc những quyền lực của ma quỷ, điều mà người ta mong đợi vào cuối thời kỳ này. Trận chiến cuối cùng đã diễn ra rồi, và Sa-tan đã bị đánh bại rồi (10:18 Những lời công bố này hàm chứa một ý nghĩa rõ ràng về sự khác biệt của quyền năng Ngài co .” 131
Để phát triển vương quốc của Đức Chúa Trời trên đất, các tín nhân của kỷ nguyên mới cần phải công bố thẩm quyền của Đấng Christ trên ma quỷ bằng cách hầu việc trong quyền năng Thánh Linh. Vì, như Dunn ghi chú, “Nơi nào có Thánh Linh , nơi đó có Nước Trời.” 132
Câu Hỏi 39: “Đạo Lý Của Quỷ Dữ” Là Gì?
“Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỷ dữ” (ITi1Tm 4:1). Kinh Thánh tuyên bố rằng có một số lời dạy phát xuất từ ma quỷ. Đây là những đạo lý gì? Phao-lô khẳng định rằng bất cứ ai dạy thứ phúc âm nào khác hơn Phúc Âm thật, cho dù người đó có nhận lãnh sự dạy dỗ đó từ thiên sứ đi chăng nữa, thì cũng đáng bị rủa sả (GaGl 1:8-9 so sánh với ICo1Cr 15:1-3). Phao-lô cảnh báo Hội Thánh Ê-phê-sô rằng các giáo sư giả sẽ dấy lên sau khi ông đi (Cong Cv 20:29-30). Chúa Giê-su cũng cảnh báo về các tiên tri giả (Mat Mt 7:15-20; 24:4-5, 23-27). Bất cứ giáo lý nào dẫn dắt con người đi xa khỏi Đấng Christ chính là “thần của Kẻ địch lại Đấng Christ” (IGi1Ga 4:1-6).
Tại sao Kinh Thánh lại kịch liệt chống đối các giáo lý giả? ITi1Tm 4:1-5 liên hệ các đạo lý của quỷ dữ với những kẻ giả hình và dối trá, những người ngăn trở dân Chúa dự phần vào các phước hạnh trong tự nhiên mà Ngài ban cho con người, chẳng hạn như một số loại thức ăn và tình dục trong hôn nhân. Các thế lực tăm tối cố dẫn các tín nhân đi sai lệch thông qua các giáo huấn trá hình nhằm khiến cho họ từ bỏ niềm tin Cơ Đốc để đi theo một linh khác, một phúc âm khác, và một christ khác (IICo 2Cr 11:1-14). Như vậy, đời sống của dân Chúa bị hủy hoại khi ý nghĩa Thánh Kinh bị đảo lộn (IIPhi 2Pr 3:16). Một điển hình ngày nay chính là phái Chứng Nhân Giê-hô-va. Tổ chức Tháp Canh của họ không cho các thành viên truyền máu, dựa vào cách giải thích sai lệch về Kinh Thánh, và nhiều người theo Chứng Nhân Giê-hô-va đã chết cách vô ích.
Điều quan trọng là chúng ta phải biết tại sao chúng ta tin vào điều chúng ta đang tin, và chúng ta cần phải tránh xa bất cứ người nào lôi kéo chúng ta vào những niềm tin sai lạc. Chúng ta cần phải kiểm tra tất cả các giáo lý (Cong Cv 17:11; ITe1Tx 5:21). Chúng có phù hợp với Kinh Thánh không? Chúng có tôn vinh Đấng Christ là Cứu Chúa duy nhất chết trên thánh giá để cứu nhân loại khỏi tội lỗi hay không (GiGa 3:16)? Chúng có dạy rằng Chúa Giê-su là Đức Chúa Con, ngôi hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, là Đấng Sáng Tạo chứ không phải một tạo vật không (GiGa 1:1-3; Mat Mt 28:19; Tit Tt 2:13; HeDt 1:8)? Chúng có dạy rằng sự cứu rỗi là nhờ ân điển, bởi đức tin hay không (Eph Ep 2:8-9)?
Ma quỷ dẫn đưa nhiều người lạc lối về phương diện đạo đức, đặc biệt là sa vào sự thờ lạy hình tượng (ICo1Cr 10:1-22; LeLv 17:7; IISu 2Sb 11:15; Thi Tv 106:37; Cong Cv 17:18 so sánh với 1 Enoch 99.7 Jubilees 1.11, 22.17 Justin Martyr 1 Apology 1.5 Athenagoras Supplicatio 26.1 Origen Contra Celsum 7.69).133 Sự thờ lạy hình tượng xuyên tạc hình ảnh thật của Đức Chúa Trời và lôi kéo con người ra khỏi chỗ chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi, khiến họ dễ bị cám dỗ hơn. Cuối cùng, sự thờ lạy hình tượng đưa người ta tới chỗ thờ phượng ma quỷ, trong danh nghĩa các thần, các pho tượng hoặc hình ảnh mà người ta vái lạy (ICo1Cr 10:20; KhKh 9:20).
Tóm lại, các đạo lý của quỷ dữ bao gồm những lời dạy hoặc những tác động đưa con người xa khỏi Đức Chúa Trời chân thật mà đến gần những lời dạy giả dối, tha hóa đạo đức và ở dưới tầm ảnh hưởng của những linh lừa dối.
Câu Hỏi 40: Ma Quỷ Có Phải Là Nguyên Nhân Của Bệnh Tật Và Dịch Lệ Hay Không?
Thánh Kinh Tân Ước ghi nhận khá nhiều trường hợp ma quỷ gây nên bệnh tật. Chúa Giê-su đuổi một con quỷ phong điên ra khỏi người đàn ông (Mat Mt 17:14-21; Mac Mc 9:14-29, 33; LuLc 9:37-43). Ngài đuổi quỷ ra khỏi những người mù và câm (Mat Mt 9:32-34; 12:22; LuLc 11:14-15), và đuổi quỷ ra khỏi những người bị điên (Mat Mt 8:28-34; Mac Mc 5:1-20; LuLc 8:26-39). Nhưng chúng ta không được cho rằng hễ ai bị mù, động kinh hay các bệnh tật khác thì đều ở dưới tác động của ma quỷ. Chữa lành bệnh tật và đuổi quỷ không phải lúc nào cũng là một (Mac Mc 1:34; Mat Mt 8:16; LuLc 7:21; Cong Cv 5:16; 8:7).134
Khi cầu nguyện cho người bệnh, các Cơ Đốc nhân cần tránh điều những người chữa lành bởi đức tin thường làm. Trừ khi có bằng chứng cụ thể cho thấy rằng họ đang đối diện với ma quỷ, họ không được nói trực tiếp với người bị chứng phong điên, ung thư hay bất cứ loại bệnh tật nào khác như thể có một con quỷ đang đối diện đến lời quở trách của họ. Một chứng bệnh không thể nghe chúng ta nói được! Nếu chúng ta tự phụ khẳng định rằng căn bệnh đó do ma quỷ đem đến và người chúng ta cầu nguyện không được chữa lành, thì dường như ma quỷ đã chiến thắng. Có một cách tốt hơn để cầu nguyện cho người bệnh. Chúng ta đừng chú ý tới căn bệnh, đừng dựa vào năng lực cá nhân chúng ta, mà hãy cầu xin Đức Chúa Trời chữa lành người bệnh thông qua Đấng Christ.
Bước chân vào thế giới của ma quỷ không phải là một vấn đề đơn giản. Một số người có thể cảm thấy lo lắng khi đọc cuốn sách này. Chúng ta đang cố gắng hiểu các thế lực ma quỷ để chính chúng ta không bị chúng lừa gạt. Đối với một vấn đề nghiêm túc như thế này, không quan tâm tới cũng chẳng đem lại sự an tâm. Chương sáu sẽ bàn đến một số câu hỏi khác liên quan tới việc con người tranh chiến với ma quỷ. Các Cơ Đốc nhân không có gì phải sợ khi đề cập tới ma quỷ (IGi1Ga 4:4 Đấng Christ phán rằng Đấng đáng cho chúng ta phải sợ chính là Đức Chúa Trời, Đấng có quyền bỏ kẻ ác vào địa ngục (Mat Mt 10:28 Werner Foerster viết, “Tuy nhiên, khi sự sợ hãi về ma quỷ giảm đi, chúng ta sẽ nhìn thấy một hệ quả trên niềm tin Tân Ước: Đấng Christ là Đấng Bảo Vệ dân sự của Ngài. Trong ánh sáng của niềm tin này, mọi sợ hãi về ma quỷ phải nhường bước trước sự bảo đảm kiên định.” 135

CÁC CÂU HỎI VỀ SA-TAN
“Ông Kẹ,” “Ông Ba Bị,” “Quỷ Sứ,” “Quỷ Sa-tăng,” “Ma” v.v. là các biệt danh của ma quỷ suốt các thế kỷ. Các tên gọi đó biến ma quỷ thành một yêu nữ, bà tiên, thần lùn giữ của, hay yêu tinh. J. B. Russel nhắc nhở rằng:
Có đến hàng trăm tên như thế, chẳng hạn như Terrytop, Charlot, Federwisch, Hinkebein, Heinekin, Rumpelstilskin… Robin Hood, Robin Goodfellow và Knecht Ruprecht. Các biệt danh đó phổ biến không chỉ vì chúng gắn liền với “những con người nhỏ bé” nhưng cũng vì chúng đặt cho Ma Quỷ một cái tên ngớ ngẩn nhằm giảm thiểu nỗi sợ hãi do hắn gây ra.136
Chúng ta không được đánh giá thấp kẻ thù chúng ta là ma quỷ. Dù được mô tả là một thần rừng lố bịch, có sừng màu đỏ tay cầm chỉa ba, nhưng trong Kinh Thánh hắn là Sa-tan, kẻ cầm đầu những thiên sứ sa ngã. Trong chương này chúng ta sẽ bàn đến việc Sa-tan là ai, hắn sa ngã thế nào, và hắn làm công việc gì. Chúng ta cũng sẽ phân biệt những khía cạnh tưởng tượng về Sa-tan và những điều Kinh Thánh nói về hắn.
Câu Hỏi 41: Có Phải Sa-tan Đã Từng Là Thiên Sứ Lu-xi-phe Đẹp Đẽ?
Niềm tin phổ thông về sự sa ngã của Sa-tan đặt nền tảng trên EsIs 14:12 (Bản Dịch Cũ): “Hỡi sao mai (Lu-xi-phe), con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào!” Phân đoạn này tiếp tục nói về việc Lu-xi-phe cố gắng đưa ngai vàng của mình lên trên các ngôi sao và trở nên giống như Đấng Chí Cao, nhưng Đức Chúa Trời đã đuổi hắn xuống dưới vực sâu (14:13-15).
Phân đoạn này thường được so sánh với Exe Ed 28:11-19, phân đoạn nói về Lu-xi-phe là vua Ty-rơ sống trong Vườn Ê-đen. Hắn từng là một thiên sứ xinh đẹp, nhưng Đức Chúa Trời phán với hắn, “Lòng ngươi đã kiêu ngạo vì sự đẹp ngươi, và sự vinh hiển của ngươi làm cho ngươi làm hư khôn ngoan mình. Ta đã xô ngươi xuống đất, đặt ngươi trước mặt các vua, cho họ xem thấy” (28:17). Thậm chí một số người còn tuyên bố rằng Lu-xi-phe là nhạc trưởng dàn đồng ca thiên đàng dựa trên các tên gọi của những loại nhạc cụ được liệt kê trong Ê-xê-chi-ên 28:13. Từ đó có một giả thuyết khá phổ biến nói rằng Sa-tan, Lu-xi-phe, đã sa ngã vào thời điểm nào đó lúc bắt đầu sự sáng tạo. Tuy nhiên Kinh Thánh không có chỗ nào trực tiếp khẳng định rằng Sa-tan là Lu-xi-phe. Cách đọc EsIs 14:1-32 và Exe Ed 28:1-26 theo văn cảnh đặt ra nhiều nghi vấn về sự đáng tin cậy của giả thuyết “Lu-xi-phe là Sa-tan.”
Vua Ty-rơ là người hành động giống như một vị thần (Ê-xê-chi-ên 28). Không có lý do chính đáng nào để xem vua Ty-rơ trong Ê-xê-chi-ên là Sa-tan hay Lu-xi-phe. Trên thực tế, thật vô nghĩa khi chúng ta đọc thấy rằng Đức Chúa Trời (thông qua Ê-xê-chi-ên đã tuyên bố về vua Ty-rơ như vầy: “ngươi còn là loài người, không phải là Đức Chúa Trời” (28:2). Sa-tan không phải là người cũng không phải là Đức Chúa Trời, bèn là kẻ lãnh đạo các thiên sứ sa ngã (Mat Mt 25:41; KhKh 12:7-9). Hơn nữa, nếu phân đoạn này mô tả sự sa ngã đầu tiên, thì tại sao Sa-tan lại bị ném xuống trần gian và biến thành tro bụi trước mặt các vua (Exe Ed 28:17-18)?
Rõ ràng 28:1-26 mô tả điều mà nó công bố-vua Ty-rơ. Ê-xê-chi-ên (25-32) lên án các quốc gia khác nhau và những vị vua của chúng, gồm có Am-môn, Mô-áp, Ê-đôm, Phi-li-tin và Ai Cập. Ty-rơ chỉ là một trong những nước mà Ê-xê-chi-ên nói tiên tri về sự đoán phạt. Ê-xê-chi-ên (26-28) đã dùng ngôn ngữ khoa trương và châm biếm vị vua đại diện thành Ty-rơ (28:4-5, 13, 15, 18 so sánh với phép ngoa dụ trong Ê-xê-chi-ên 31, đặc biệt là các câu 8-9). Nhà vua, là một hình thức hoán dụ cho cả thành phố, được mô tả là có vẻ đẹp lộng lẫy cùng với niềm vinh quang nhờ sự giàu có, thương mại và nhiều thứ đá quý của thành. Do đó, Ê-xê-chi-ên ám chỉ cách châm biếm nhà vua rằng vua đang sống trong những điều kiện và vẻ đẹp tốt nhất: như một chê-ru-bin ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và như A-đam tận hưởng Vườn Ê-đen (28:13-15 Điều này khiến cho sự sa ngã của vua càng trở nên rõ nét-thành quách của ông chỉ còn là một đống tro bụi (câu 18 Đức Chúa Trời kết tội nhà vua không chỉ vì ông kiêu ngạo nhưng cũng vì ông mua bán gian lận (câu 18). Điều này thật khó có thể đúng đối với Lu-xi-phe hay Sa-tan.
Một số người cho rằng phân đoạn này ám chỉ một vị nhân vương nhưng trong một ý nghĩa sâu sắc hơn thì nó mô tả nguồn gốc của Sa-tan vì nó có hình ảnh Vườn Ê-đen và ý tưởng về một thiên sứ sa ngã.137 Tuy nhiên, tình trạng của nhà vua trước khi ông phạm tội (28:15) có thể không phải là lời ám chỉ về nguồn gốc thánh khiết nguyên thủy của một chê-ru-bin mà là, theo nhiều học giả, vô tội của A-đam (28:15; 28:13 so sánh với SaSt 2:1-25). Tuy nhiên, cho dù chúng ta cố chấp nhận khả năng phân đoạn này ám chỉ sự sa ngã của Sa-tan, thì làm sao chúng ta có thể quyết định các câu và chữ nào nói đến sự sa ngã của Sa-tan? Trong bất cứ trường hợp nào, văn cảnh vẫn không khẳng định rõ ràng Sa-tan đã từng là một thiên sứ có tên Lu-xi-phe.
Lu-xi-phe là vua Ba-by-lôn (Ê-sai 14). Chữ Lu-xi-phe xuất hiện trong bản Kinh Thánh King James. Chữ đó trong tiếng Hê-bơ-rơ là , bắt nguồn từ động từ “chiếu sáng” và có nghĩa là “vật sáng láng” hay “sao mai.” Lu-xi-phe là một chữ La-tin. Nó được đưa vào văn cảnh EsIs 14:12 thông qua các bản văn của những giáo phụ như Hexapla của Origen và Vulgate của Jerome. Kinh Thánh Vulgate (được dùng rộng rãi trong Hội Thánh Tây phương từ năm 600 S.C. cũng dùng chữ Lu-xi-phe để mô tả ánh sáng ban mai trong Giop G 11:17 và Thi Tv 109:3 (110:3 MT) và các ký hiệu hoàng đạo trong Giop G 38:32. Tôi thấy không có ai nói rằng Lu-xi-phe trong phân đoạn này là Sa-tan!
Văn cảnh của EsIs 14:1-32 khẳng định rằng “lời thí dụ nầy nói về vua Ba-by-lôn” (14:4). Vị vua này là hình ảnh ẩn dụ của một vị thần Ba-by-lôn có tên là
, người đã cố gắng lên đến các từng trời. Thay vì trở nên giống như Đấng Chí Cao, vị vua đó lại bị sa xuống như một con người tầm thường (hãy so sánh với sự kiêu ngạo của Nê-bu-cát-nết-sa và sự sỉ nhục Đức Chúa Trời khiến xảy ra sau đó trong DaDn 4:1-37 cũng hãy đọc Obad 4. Có lẽ Ê-sai đang dùng một thần thoại Ba-by-lôn phổ thông, nhưng ông đã đảo lộn nó một cách đầy bất ngờ. Ông thay thế vị thần sa ngã bằng vua Ba-by-lôn.139 Kỹ thuật này cũng giống như cách bắt đầu những chữ có vần như “Humpty Dumpty” rồi thay thế tên một người lãnh đạo đất nước bằng Humpty Dumpty.
Vua Ba-by-lôn, không phải Sa-tan, được đề cập đến vì ông ta “giày đạp các nước” (EsIs 14:12). Thật khó mà hiểu được làm thế nào Sa-tan có thể giày đạp tất cả các nước lúc hắn sa ngã, khi mà chưa có ai ra đời. Người tuyên bố mình giống như Đấng Chí Cao trong 14:14 cũng là người phải chết và có hai lần Kinh Thánh tuyên bố đây là một con người (14:15-17). Sa-tan có thể đã giả dạng con rắn, nhưng hắn chưa hề là người lần nào cả. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng đã bị sa xuống “vực thẳm” (14:15 so sánh với 14:12, 19-20). Trong Thánh Kinh Cựu Ước, từ vực thẳm có nghĩa là nơi chôn người chết hay một nhà tù (Thi Tv 28:1; 30:3; EsIs 24:22; 38:18; Gie Gr 37:16; Exe Ed 31:14; XaDr 9:11 so sánh với KhKh 9:1). Văn cảnh của EsIs 14:1-32 chứng minh cho cách dùng này. Nếu phân đoạn này mô tả sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan, thì tại sao hắn đã bị sa xuống vực thẳm rồi mà còn ngồi cáo buộc Gióp trước mặt Đức Chúa Trời trên trời (Giop G 1:1-2:12 so sánh với XaDr 3:1-4; Eph Ep 2:2; 6:12)?
Cũng như đối với Exe Ed 28:1-26, một số người nghĩ rằng EsIs 14:12 mô tả vị vua của Ba-by-lôn, và cũng ám chỉ sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan, với tên gọi Lu-xi-phe.140 Nhưng nếu chúng ta đọc phân đoạn này mà không in trí trước rằng Sa-tan là Lu-xi-phe, có lẽ chúng ta sẽ không kết luận rằng 14:1-1-32 ám chỉ sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan. Vậy thì làm sao chúng ta đi đến một giáo điều dạy rằng Sa-tan đã từng là thiên sứ thiện có tên là Lu-xi-phe?
Không có chỗ nào trong Thánh Kinh Tân Ước và các văn kiện của các sứ đồ khẳng định rằng Sa-tan đã từng là một thiên sứ đẹp đẽ tên là Lu-xi-phe. Các truyền thống Do Thái cho tới khoảng trước năm 100 S.C. thậm chí không làm rõ mối liên hệ giữa Sa-tan và 14:1-32. Và như chúng ta đã thấy, truyền thống Do Thái suy đoán một cách rất tự do về các thiên sứ và ma quỷ.
Origen, giáo phụ vào thế kỷ thứ ba, hình như là người đã truyền bá giả thuyết Lu-xi-phe là Sa-tan trong Hội Thánh Cơ Đốc (Origen, De Principiis 1.4-5 so sánh với Preface 6; Hexapla 14:12). Nhiều người chống lại giả thuyết của Origen. Chẳng hạn vào thế kỷ thứ tư, một giám mục Cơ Đốc có thể vẫn còn được gọi là thánh Lu-xi-phe, và những người dưới quyền ông là người theo Lu-xi-phe!142 Các giáo phụ về sau phổ biến ý niệm cho rằng Sa-tan đã từng là một thiên sứ thiện tên là Lu-xi-phe gồm có Augustine, Peter Lombard và Thomas Aquinas (chẳng hạn như Augustine De Genesi ad literem 3.10; Peter Lombard Sentences 2.6143 Theo một học giả Cựu Ước, ông John Oswalt, những người đầu tiên khởi xướng phong trào Cải Chánh dường như không công nhận mối liên hệ giữa Lu-xi-phe và Sa-tan trong 14:12. Trong kiệt tác Paradise Lost (1667) của mình, John Milton liên hệ Sa-tan với sự sa ngã của Lu-xi-phe (1.80; 5.743). Ngày nay, giả thuyết Sa-tan là Lu-xi-phe đã trở thành “lẽ thật Phúc Âm” mà không cần có một bằng chứng Kinh Thánh đầy sức thuyết phục nào. Điều này không phủ nhận việc Sa-tan là một thiên sứ sa ngã, nhưng chúng ta cần phải đặt nghi vấn về nền tảng mà dựa vào đó chúng ta gọi hắn là Lu-xi-phe.
Câu Hỏi 42: Sa-tan Sa Ngã Như Thế Nào?
Không có bằng chứng thuyết phục để xác định Lu-xi-phe là Sa-tan, chúng ta biết gì về sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan? Có vài phân đoạn Kinh Thánh được dùng để mô tả sự sa ngã của Sa-tan, nhưng khi nghiên cứu kỹ lưỡng, không có phân đoạn nào trực tiếp nói đến sự sa ngã nguyên thủy của hắn. Sáng-Thế Ký 3 mô tả một con rắn lừa dối A-đam và Ê-va (so sánh với KhKh 12:9; 20:2 Apocalypse of Moses 17.4). Con rắn đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt, Ngài đã rủa sả nó, nó phải bò bằng bụng, ăn bụi đất và luôn là kẻ thù của con người (SaSt 3:14-15). Nếu phân đoạn này ám chỉ sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan, thì chúng ta cũng không biết tại sao hắn lại chọn lừa dối Ê-va trước; văn cảnh giả định trước về bản chất lừa dối của Sa-tan. Tuy nhiên, dựa theo Kinh Thánh mà nói, điều này giống như sự thất bại nguyên thủy về phương diện đạo đức của Sa-tan mà thôi.
Sự xuất hiện của Đấng Christ trên trần gian đánh dấu khởi đầu sự thất bại của Sa-tan. Chúa Giê-su phán, “Ta đã thấy quỷ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp” (LuLc 10:18) và “hiện nay vua chúa của thế gian nầy phải bị xua đuổi” (GiGa 12:31 so sánh với 16:10 Nhưng các phân đoạn này không ám chỉ sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan. Con rồng và tay sai của nó đã bị sa xuống sau khi đánh trận cùng Mi-chen và các thiên sứ, tại đỉnh điểm chức vụ trên đất của Chúa Giê-su (KhKh 12:9-11 so sánh với Testament of Asher 7.3 Odes of Solomon 22.5 Testament of Solomon 14; 2 Apocalypse of Baruch 29.4 Psalms of Solomon 2.25 Sibyline Oracles 8.85 Ladder of Jacob 12-13).
Trong nền văn chương Cận Đông, con rồng tượng trưng cho con quỷ chuyên gây ra hỗn loạn. Một số người đưa ra ý kiến đó khi áp dụng nguyên tắc Urzeit wird Endzeit (thời kỳ nguyên thủy trở thành thời kỳ cuối cùng) trong văn chương khải huyền (chẳng hạn những lời ám chỉ đến Sáng-Thế Ký trong KhKh 21:1-22:20), 12:1-18 có thể ngụ ý sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan về phương diện đạo đức. Nhưng 12:1-18 nói đến sự sa ngã về địa vị tức là đã ngụ ý bản chất gian ác của Sa-tan. Nó không hề giải thích tại sao từ lúc nguyên thủy hắn đã sa ngã về phương diện đạo đức .144
Là “kẻ kiện cáo anh em,” Sa-tan có quyền đến trước mặt Đức Chúa Trời trên thiên đàng và xin phép thử thách các cá nhân (Giop G 1:1-2:12; XaDr 3:1-4; LuLc 22:31-32 so sánh với 1 Enoch 40.7 Jubilees 1.20; 48.15-18 Apocalypse of Zephaniah 4.2).145 KhKh 12:10 khẳng định rằng hắn đã bị “quăng xuống” khi Đấng Christ chết và sống lại.146 Việc Sa-tan bị đuổi xuống dưới vực sâu không đáy trong một ngàn năm và việc hắn bị bỏ vào hỏa ngục là hai sự đoán phạt khác nhau (20:1-15). Theo cách đó, Kinh Thánh ghi nhận vài sự “sa cơ” mà tốt hơn thì chúng ta nên hiểu là những sự đoán phạt khác nhau trên quyền lực của Sa-tan:

Do sự sa ngã của Sa-tan thể hiện qua nhiều giai đoạn, một số người nghĩ rằng tội của hắn gia tăng không ngừng. Vai trò kẻ kiện cáo trên thiên đàng của hắn trong Cựu Ước có thể khiến chúng ta kết luận rằng hắn không hành động trái lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Bước ngoặc của hắn chính là lúc hắn cám dỗ Đấng Christ trong đồng vắng (Mat Mt 4:1-25). Nhưng Chúa Giê-su khẳng định rằng ma quỷ là kẻ nói dối và cũng là kẻ sát nhân từ “lúc ban đầu” (GiGa 8:44 so sánh với IGi1Ga 3:8 Bản NIV dịch cụm từ Hy Lạp ouk estaken trong GiGa 8:44 là “không đi theo” lẽ thật. Ở đây, thì quá khứ chưa hoàn thành trong tiếng Hy Lạp ngụ ý rằng Sa-tan đã tiếp tục sống trong tình trạng dối trá và giết người. Chữ ban đầu liên hệ với bản chất sát nhân của Sa-tan. Vì Sa-tan không thể giết chết các thiên sứ (là các linh, họ không thể chết được), nên vai trò sát nhân của hắn liên hệ tới con người. Ma quỷ là kẻ sát nhân vì hắn là kẻ chủ mưu sự sa ngã của A-đam, điều khiến cho cả nhân loại phải bị chết (HeDt 2:13-14). Là kẻ chủ mưu của lòng hận thù phi lý, hắn khiến Ca-in giết chết A-bên (IGi1Ga 3:8, 11-15). Như vậy GiGa 8:44 khẳng định rằng ma quỷ đã phạm tội từ lúc bắt đầu lịch sử Y-sơ-ra-ên, nhưng không hề nói đến việc xảy ra trước đó.147
Một số người tuyên bố rằng ITi1Tm 3:6 ám chỉ sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan. Câu này nói rằng giám mục không được là người mới tin đạo, “e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỷ chăng” (Bản Dịch Cũ). Điều này có ngụ ý rằng từ lúc đầu Sa-tan sa ngã vì cớ lòng kiêu ngạo và tự phụ không? “Án phạt của quỷ dữ” trong câu này không nên hiểu là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên Sa-tan mà là sự trừng trị của ma quỷ trên những giám mục nào trở nên kiêu ngạo. Ma quỷ, kẻ mang đến sự “sỉ nhục” và “bẫy” trong 3:7 cũng chính là kẻ đem lại “án phạt” trong 3:6 (so sánh với IITi 2Tm 2:26; ITi1Tm 5:14 Chữ Hy Lạp được dịch là án phạt ở đây, krima , không có một mạo từ xác định đi trước nó. Điều này ngụ ý rằng ma quỷ được phép đem hình phạt đến trên những người lãnh đạo Hội Thánh phạm tội. Nếu câu này ám chỉ sự sa ngã của Sa-tan, thì bản dịch Hy Lạp phải có mạo từ xác định to đi trước chữ krima (to krima ): sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên ma quỷ.148
Kinh Thánh nói ít về vấn đề này, song chúng ta có thể tìm được những ước đoán hợp lý về sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan trong những tác phẩm của các giáo phụ. Origen tin rằng ma quỷ sa ngã vì cớ sự kiêu ngạo của hắn và Đức Chúa Trời tạo nên vũ trụ vật lý để bù lại tội lỗi của ma quỷ và các quỷ sứ hắn. Dù không hoàn toàn đồng ý với mọi điều Origen dạy, các giáo phụ như Athanasius, Basil và Augustine cũng tin rằng sự kiêu ngạo đã khiến Sa-tan sa ngã. Các thầy tu dòng Đô-mi-ních, chẳng hạn như Albert và Thomas Aquinas, tin rằng ma quỷ phạm tội ngay lúc bắt đầu sự sáng tạo vì lòng kiêu ngạo.149 Nhưng dường như hắn không thể sa ngã trước ngày thứ sáu của kỳ sáng tạo, vì mọi thứ Đức Chúa Trời tạo dựng đều rất tốt lành cho tới ngày thứ sáu (SaSt 1:31). Điều này đưa chúng ta đến vài giả thuyết về nguồn gốc sự sa ngã của Sa-tan.
1. Đức Chúa Trời tạo dựng Sa-tan là chính Sa-tan . Chúng ta có thể căn cứ vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời và cho rằng Ngài đã tạo nên Sa-tan vì mục đích tốt lành của riêng Ngài. Dĩ nhiên quan điểm này sẽ đặt ra nhiều nghi vấn xoay quanh sự nhơn từ của Đức Chúa Trời và vấn đề tội ác (xem lời đáp 28). Nó không giải thích được tại sao Sa-tan sa đọa về phương diện đạo đức và bị Đức Chúa Trời đoán phạt (LuLc 10:18; KhKh 12:1-18). Phải chăng Đức Chúa Trời và Sa-tan chỉ xuất hiện trong buổi diễn của “điều thiện và điều ác” vì cớ chúng ta? Lối lý luận này hoàn toàn trái ngược với những gì chúng ta biết về sự nhơn từ và chân thật của Đức Chúa Trời.
2. Sa-tan sa ngã vì lòng kiêu ngạo . Giả thuyết phổ biến nhất đó là Sa-tan sa ngã vì lòng kiêu ngạo. Nhưng vì giả thuyết này thường đặt trên nền tảng sự đồng nhất hóa Sa-tan với Lu-xi-phe trong EsIs 14:1-32 và Exe Ed 28:1-26, nó thiếu sự ủng hộ của văn cảnh. Tuy nhiên, antichrist-hiện thân của mọi điều thuộc về ma quỷ, tức là giống như Sa-tan-có bản tính kiêu ngạo, khoe khoang về những điều lớn lao và nói những lời ngạo mạn chống lại Đức Chúa Trời. Hắn cũng tìm kiếm sự tôn thờ bản thân (IITe 2Tx 2:3-4; KhKh 13:1-18 so sánh với DaDn 7:8, 20; 8:10-11).
3. Sa-tan sa ngã vì cớ ghen tị . Theo một số truyền thống Do Thái, vì cớ lòng ghen tị, Sa-tan từ chối yêu cầu thờ phượng A-đam của Đức Chúa Trời (xem lời đáp 28 Nhưng tại sao Đức Chúa Trời lại bảo các thiên sứ của Ngài thờ phượng A-đam trong khi sự thờ phượng chỉ dành riêng cho mình Ngài thôi? Một tài liệu Do Thái cổ xưa, Life of Adam and Eve (12-16), cố gắng làm giảm nhẹ vấn đề bằng cách tuyên bố rằng chính bởi hình ảnh của Đức Chúa Trời trong A-đam mà Sa-tan từ chối thờ phượng.150
Ngoài hình ảnh của A-đam ra, nếu sự sa ngã nguyên thủy của Sa-tan có liên hệ tới sự ghen tị, thì đối tượng lòng ghen tị của hắn rất có thể là chính A-đam.151 Có thể Sa-tan đã ghen tị với một tạo vật trên trần gian được tạo dựng theo hình ảnh của chính Đức Chúa Trời, đặc biệt là khi tạo vật đó nhận được sự chú ý và những đặc quyền mà Sa-tan không có (SaSt 1:26-30; 2:9-16, 22-25). Lập luận này phù hợp với việc Đức Chúa Trời tạo dựng mọi sự đều “tốt lành” cho tới ngày thứ sáu của kỳ sáng tạo (1:31). Điều đó cho thấy rằng sự đoán phạt đầu tiên trên Sa-tan là lời rủa sả Đức Chúa Trời phán với con rắn trong 3:14-15 (xem lời đáp 44). Tội lỗi đầu tiên thực sự của hắn là nuôi dưỡng lòng ghen tị trong lòng và lập kế hoạch lừa dối đôi vợ chồng đầu tiên.
Dĩ nhiên, tội lỗi đầu tiên của Sa-tan có thể bao gồm cả lòng ghen tị lẫn kiêu ngạo (hoặc bất cứ điều gì khác liên quan đến vấn đề đó). Nếu sự sa ngã của Sa-tan diễn ra tại vườn Ê-đen, lòng kiêu ngạo có thể được gắn liền với ý tưởng ghen tị vì dường như khi đề cập đến con rắn trong vườn thì Kinh Thánh có nhắc đến khía cạnh kiêu ngạo (xem lời đáp 44).
4. Sa-tan đã sa ngã như thế nào vẫn còn là một bí ẩn . Có lẽ chúng ta cần phải gạt bỏ lòng kiêu ngạo của mình mà thừa nhận rằng sự sa ngã của Sa-tan vẫn còn là một bí ẩn (PhuDnl 29:29). Chúng ta nên tránh gượng giải các phân đoạn Kinh Thánh để tìm câu trả lời cho những câu hỏi mà có lẽ Kinh Thánh không hề có ý định trả lời.
Câu Hỏi 43: Tại Sao Đức Chúa Trời Để Cho Sa-tan Sa Ngã Khi Ngài Biết Trước Rằng Sẽ Có Điều Ác Và Khổ Hạnh Cặp Theo?
Nếu Sa-tan sa ngã ngay từ buổi đầu của kỳ sáng tạo, tại sao Đức Chúa Trời lại để cho hắn sa ngã? Một Đức Chúa Trời biết rõ tương lai hẳn phải biết rằng các thiên sứ được tạo dựng với sự tự do phản nghịch có thể sẽ mang hỗn loạn, khổ hạnh và điều ác vào trong sự sáng tạo của Ngài. Vậy tại sao Ngài lại tạo nên một thiên sứ mà Ngài biết trước hắn sẽ phải nghịch lại Ngài? Liên hệ đến câu hỏi này là toàn bộ vấn nạn điều ác. Nếu Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời tốt lành, tại sao Ngài cho phép điều ác tồn tại?
Nhưng chúng ta đang nói gì ở đây? Phải chăng chúng ta muốn Đức Chúa Trời tạo dựng một thế giới không có ý chí tự do lựa chọn? Đức Chúa Trời sẽ nhận được vinh hiển gì khi các thiên sứ và toàn thể loài người được “lập trình” trước để thờ phượng Ngài? Làm thế nào mà Đức Chúa Trời có thể chia sẽ mối tương giao yêu thương chân thật với tạo vật của Ngài nếu tạo vật của Ngài bị ép buộc phải yêu mến Ngài? Cả các thiên sứ lẫn con người đều có thể lựa chọn điều ác thay vì điều lành, tuy nhiên sự tự do lựa chọn tự thân nó là điều tốt lành. Không thể có lòng yêu mến Đức Chúa Trời và lòng tin kính không thể phát triển nếu không thực sự có khả năng lựa chọn chống nghịch lại Ngài.
Tôi tin rằng Đức Chúa Trời biết trước điều ác sẽ dấy lên khi ban cho Sa-tan ý chí tự do. Có lẽ Đức Chúa Trời nghĩ rằng chia sẻ một mối quan hệ yêu thương hỗ tương với một số tạo vật của Ngài là điều tốt đẹp hơn là ép buộc mọi tạo vật yêu thương và thờ phượng Ngài. Chính chúng ta cũng có những quyết định tương tự khi chúng ta lựa chọn bạn đời, nuôi con, kết bạn, v.v., thậm chí chúng ta có thể biết trước cả những nỗi đau và khó khăn tiềm ẩn mà các quyết định đó mang đến cho chúng ta. Nếu một người phụ nữ phải lòng một người đàn ông lớn tuổi hơn, liệu cô ta có chịu cưới không khi biết rằng ông ta sẽ chết trước mình nhiều năm? Nếu cô ta yêu ông ấy, có lẽ cô ta sẽ cưới, dẫu cô ta biết rằng cô sẽ phải đau buồn nhiều khi ông ta qua đời. Tại sao? Vì cô ta đánh giá rằng tình yêu mà họ chia sẻ với nhau đáng giá hơn những đau khổ trong tương lai.152 Có lẽ đó cũng là lý do tại sao Đức Chúa Trời tạo dựng Sa-tan, các thiên sứ và loài người như những hữu thể tự do về phương diện đạo đức. Jim Stafford Wright viết:
Nếu là một người cha, người mẹ, liệu bạn sẽ lựa chọn một con búp bê biết nói tiếng người, hay một đứa con có thể làm lòng tan vỡ? Câu hỏi tại sao Đức Chúa Trời đã tạo nên những hữu thể về sau sẽ sa ngã tỏ ra là một câu hỏi dại dột, vì nó hàm ý rằng chúng ta đang đòi hỏi Đức Chúa Trời làm hai việc trái ngược nhau cùng một lúc: đó là tạo nên những hữu thể tự do không được tự do.153
Câu Hỏi 44: Phải Chăng Sa-tan Thực Sự Là Con Rắn Trong Vườn Ê-đen?
Tất cả chúng ta đều biết về câu chuyện Sa Ngã. Con rắn, loài động vật xảo quyệt nhất trong Vườn Ê-đen, đã cám dỗ Ê-va ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, khiến tội lỗi xâm nhập vào chủng tộc loài người. Dù rằng Thánh Kinh Cựu Ước không khẳng định con rắn đó là Sa-tan, nhưng trong Tân Ước, Giăng gọi con rồng là “con rắn xưa, gọi là ma quỷ và Sa-tan” (KhKh 12:9; 20:2). Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội ăn trái cấm, Đức Chúa Trời rủa sả A-đam, Ê-va và con rắn. Bắt đầu với con rắn, Đức Chúa Trời tuyên bố, “Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời” (SaSt 3:14). Rồi Ngài tiếp tục nói về tương lai thù địch giữa con rắn và loài người.
Có phải Sa-tan chính là con rắn đó không? Có phải tất cả những con rắn đều là hậu tự của Sa-tan không? Điều đó hàm ý rằng Sa-tan cũng có hậu tự sao? Sáng-Thế Ký 3 mô tả những đặc điểm nguyên thủy của một con rắn thực thụ, con rắn đặc biệt này có một số đặc điểm độc nhất. Nó có thể nói, và nó biết rõ những hậu quả của việc ăn trái cấm (3:5 Rõ ràng những con rắn hôm nay không phải là hậu tự của Sa-tan, và Sa-tan cũng không phải là một con rắn thực thụ.
Trong nhiều truyền thống tôn giáo, các con rắn luôn gắn liền với sự sáng tạo thế giới. Những câu chuyện đó có ở khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả Trung Đông, Ấn Độ, Châu Phi, Nam Mỹ, Nam Thái Bình Dương v.v…154 Nhiều chuyện thần thoại khác nhau kể về một cái cây của thế giới và là chìa khóa trung tâm vũ trụ, có một cái cột lên đến tận trời. Con rắn tượng trưng cho điều ác đôi lúc nằm ở dưới một gốc cây, và có một con chim đại bàng đậu trên đỉnh cây.155 Những con rắn thường là các nhân vật phản diện trong những chuyện thần thoại này. Hydra và Typho là hai nhân vật đại diện trong thần thoại cổ điển. Trong sử thi Gilgamesh của Ba-by-lôn, người anh hùng Gilgamesh tìm thấy một cây có thể đem đến sự sống vĩnh hằng. Nhưng một con rắn đang bơi trong hồ đã nuốt chửng nó.
Nếu chúng ta xem câu chuyện của A-đam và Ê-va là một biến cố lịch sử, giống như các tác giả Tân Ước (Mat Mt 19:4-6; GiGa 8:44 so sánh với HeDt 2:14; RoRm 5:12-19; ICo1Cr 15:20-26, 45-46), chúng ta có thể nói rằng những thần thoại thế giới này ám chỉ thực tại của một biến cố rất cổ xưa được mô tả trong SaSt 3:1-24. Loại trừ giá trị lịch sử của 3:1-24 tức là loại trừ sự giải thích của Tân Ước về tội lỗi và sự chết. Thế cho nên chúng ta cần phải suy nghĩ thật kỹ trước khi khẳng định rằng câu chuyện về con rắn trong Vườn chỉ là hư cấu!
Giả sử con rắn/Sa-tan trong vườn Ê-đen là thật, làm sao chúng ta có thể giải thích được tạo sao Sa-tan lại đội lốt con rắn? Có ba cách giải thích khả dĩ: (1Sa-tan cải trang thành con rắn; (2Sa-tan nhập vào thân thể của một con rắn thật; (3bằng cách dùng thuật nói chuyện từ xa (ventriloquismhay mánh khóe trong tư tưởng, Sa-tan đã lừa A-đam và Ê-va tin rằng chính con rắn đang nói chuyện với họ. Một truyền thống Do Thái cổ xưa mô tả Sa-tan là bậc thầy cải trang.156 Trên một ý nghĩa nào đó, ma quỷ đã “che đậy chính mình” bằng con rắn (so sánh với 3 Apocalypse of Baruch 9.7 Phao-lô tuyên bố rằng Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng (IICo 2Cr 11:14).
Vậy tại sao Đức Chúa Trời lại rủa sả chính con rắn, khiến nó phải bò bằng bụng và ăn bụi đất, nếu nó chỉ là một công cụ bị Sa-tan lạm dụng? Tại sao Đức Chúa Trời lại rủa sả con rắn về điều mà Sa-tan phải hoàn toàn chịu trách nhiệm? Ở đây có một cách giải thích đó là vật nào được dùng cho các mục đích tội lỗi thì thường bị hủy diệt hoặc rủa sả. Nếu một người nào đó giao cấu với một con vật, thì cả người đó và con vật phải bị giết (LeLv 20:15 so sánh với XuXh 21:28; HeDt 12:20. Một cách giải thích khác mà một số người đưa ra cho rằng con rắn đã từng đứng thẳng. Truyền thống Do Thái khẳng định con rắn đã từng có chân (Josephus Antiquities of the Jews 1.1.50; Genesis Rabbah 20.5). Điều này ngụ ý rằng con rắn đánh mất cấu trúc gene nguyên thủy của nó trong sự Sa Ngã. Địa vị thấp hèn của con rắn trở thành một bài học cho mọi thời đại. Cách giải thích thứ ba là như vầy: Nếu con rắn đã bò bằng bụng từ trước đó, thì lời rủa sả là dành cho Sa-tan; về phương diện biểu tượng, nó tiên đoán rằng cuối cùng hắn cũng sẽ chuốc lấy sự thất bại và nhận lãnh những phẩm chất thấp hèn mà con rắn vốn có.
Trong cái nhìn khác, lời rủa sả đó có thể áp dụng cho cả Sa-tan lẫn con rắn. Một số người dựa vào SaSt 3:1, “con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết” “trong các loài thú đồng,” mà suy ra địa vị cao trọng của con rắn trước khi gắn liền với bụi đất. Do vậy, Sa-tan đã lựa chọn tạo vật này làm công cụ của hắn vì hắn tin rằng những đặc tính nguyên thủy của con rắn có nét tương đồng với đặc tính của chính hắn! 158 Nhưng trái với địa vị cao trọng mà ma quỷ nghĩ đến, Đức Chúa Trời đã đặt hắn ở một nơi thấp hèn, được mô tả bởi hình ảnh con rắn bò bằng bụng và ăn bụi đất sau sự Sa Ngã (3:14-15 so sánh với Thi Tv 72:9; EsIs 49:23; MiMk 7:17). Có thể Đức Chúa Trời đang nói với Sa-tan, “Ngươi muốn nhại làm con rắn ư? Được thôi! Bây giờ ta sẽ thay đổi bản chất cao ngạo của con rắn thành một động vật thấp hèn để chính ngươi cũng sẽ bị xem là một tạo vật thất bại, thấp hèn, và dòng dõi của Ê-va sẽ luôn giày đạp đầu ngươi!”
Câu Hỏi 45: Tại Sao Sa-tan Được Gọi Là Con Rồng Lê-vi-a-than?
Chuyện thần thoại về những con rắn biển hoặc những con rồng cũng xa xưa như lịch sử loài người vậy. Tại sao Sa-tan được gọi là một con rồng? Chúng ta cần phải phân biệt được giữa Sa-tan như một thân vị (person) và con rồng như một biểu tượng của Sa-tan. Bảy đầu của con rồng trong KhKh 12:1-18 ám chỉ một con rồng Lê-vi-a-than. Hình ảnh con rồng Lê-vi-a-than (“kẻ xuyên tạc”trong suy nghĩ Cận Đông cổ là hiện thân của sự hỗn loạn. Một bản văn Ugaritic đã gọi hắn là “Lotan,” hay “Litan”: “Vì ngươi (Ba-anh) đánh bại Ltn con rắn uốn éo, (và) giết chết con rắn cong quẹo, kẻ bạo chúa có bảy đầu, trời sẽ nóng lên (và) chiếu sáng.”159 Đôi lúc Lê-vi-a-than được gọi là Ra-háp (tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “kẻ hung dữ”; so sánh với Thi Tv 98:10; Giop G 3:8; 26:13; EsIs 27:1). Nhưng không phải lúc nào Lê-vi-a-than cũng xuất hiện như một con quỷ biển/mây hỗn loạn trong các câu chuyện sáng tạo. Trong Giop G 40:1-41:25, Đức Chúa Trời đề cập đến Lê-vi-a-than như một con vật, không nhất thiết mang ý nghĩa xấu (Thi Tv 104:26 so sánh với tannỵn , “quỷ biển,” SaSt 1:21).160 Ở những nơi khác, dường như Lê-vi-a-than tượng trưng cho Ai Cập hay một quyền lực cai trị thế giới khác (Thi Tv 87:4; EsIs 30:7; 51:9-10 có lẽ Thi Tv 74:14; so sánh với Exe Ed 29:3-5; 32:2-10). Các phân đoạn này cho thấy các tác giả Cựu Ước không nghĩ rằng Lê-vi-a-than chính là Sa-tan.
Con rồng Lê-vi-a-than đôi lúc được dùng như một biểu tượng của Sa-tan (KhKh 12:3 so sánh với EsIs 27:1 Có lẽ cuối cùng người Do Thái cũng đã liên hệ con rắn trong Vườn Ê-đen với ý niệm Lê-vi-a-than Cận Đông cổ vì cả hai đều là những con vật trong các câu chuyện sáng tạo 161 . Đức Chúa Trời đã đánh bại con quái vật Lê-vi-a-than lúc bắt đầu sự sáng tạo, thể hiện quyền năng của Ngài trên các thế lực đe dọa trong tự nhiên (Thi Tv 74:14; 89:10; Giop G 3:8; 9:13; 26:12). Tương tự như vậy, sự thất bại của con rồng Lê-vi-a-than trong KhKh 12:1-18 nhấn mạnh quyền năng của Đấng Christ trên Sa-tan, thế lực nguy hiểm nhất trong toàn bộ các tạo vật. Đức Chúa Trời có quyền trên mọi điều liên hệ tới Lê-vi-a-than, thậm chí Sa-tan, một thế lực đáng sợ, các chủ quyền của thế gian hay một tạo vật giống như con rắn Thi Thiên chương 29, 65, 74, 93).
Câu Hỏi 46: Ma Quỷ Có Các Danh Hiệu Gì?
Ma quỷ có nhiều danh hiệu khác nhau trong Kinh Thánh. Như chúng ta đã lưu ý, hắn được gọi là “con rồng,” “con rắn,” và hắn được đồng nhất hóa với các khái niệm Lê-vi-a-than và Ra-háp . Các tên gọi khác gồm có Kẻ Gian Tà, Bê-ên-xê-bun và A-xa-sên. Dưới đây là một số danh hiệu thông thường của Sa-tan.
1. Kẻ thù . Tên gọi phổ biến nhất của ma quỷ là Sa-tan, một khái niệm Hê-bơ-rơ mang ý nghĩa là kẻ kiện cáo hoặc kẻ thù. Nó có thể áp dụng cho con người cũng như các hữu thể thần linh (Dan Ds 22:22, 32; ISa1Sm 29:4; IISa 2Sm 9:23; IVua 1V 5:18; Thi Tv 38:21; 71:13; 109:6 1 Enoch 40.7 Chữ này khiến chúng ta chú ý đến vai trò của ma quỷ trong thời Cựu Ước, là kẻ kiện cáo anh em (Giop G 1:1-2:12; XaDr 13:1-4; ISu1Sb 21:1 so sánh với Testament of Job 3.6; 6-8; 1QH 4.6; 45.32).162 Chữ nhấn mạnh ý nghĩa kẻ kiện cáo nhưng cũng mang nghĩa kẻ vu khống, tùy thuộc vào văn cảnh.163
Theo truyền thống Do Thái, hắn được gọi là “Satanael” trước khi sa ngã (3 Apocalypse of Baruch 4.8; 2 Enoch 18; 29; 31). Chữ Hê-bơ-rơ ở cuối tên của hắn có nghĩa là Đức Chúa Trời, ngụ ý rằng hắn có mối quan hệ hỗ tương với Đức Giê-hô-va Vạn Quân. Sau khi sa ngã, hắn đánh mất đặc quyền mang gốc
ở cuối tên mình và trở thành “Sa-tan” (so sánh với 3 Apocalypse of Baruch 4.7-9).164
Trong Tân Ước, tên gọi Sa-tan được dùng trong các bối cảnh nhấn mạnh vai trò kẻ chủ mưu, kẻ cám dỗ và kẻ dụ dỗ của Sa-tan (Cong Cv 5:3; ICo1Cr 7:5; IICo 2Cr 2:11; ITi1Tm 5:15). Hắn đã dụ dỗ Giu-đa phản bội Đấng Christ, nhiều đến độ “Sa-tan ám vào Giu-đa” (LuLc 22:3; so sánh với GiGa 13:27). Phao-lô đề cập đến Sa-tan như kẻ thi hành án phạt trên những kẻ bội đạo (ICo1Cr 5:5; ITi1Tm 1:20). Kinh Thánh cũng gọi ma quỷ là “Sa-tan” trong các phân đoạn đề cập đến thẩm quyền của Đấng Christ trên hắn (Mat Mt 4:10; LuLc 10:18; Cong Cv 26:17 so sánh với KhKh 12:9; 20:2). Phao-lô tuyên bố rằng Đức Chúa Trời sẽ giày đạp Sa-tan dưới chân các thánh (RoRm 16:20).
2. Ma quỷ . Chữ ma quỷ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, diabolos , và chữ này có chữ diaball , “chia cắt.” Do đó, có thể diabolos hàm chứa ý nghĩa kẻ chia cắt Đức Chúa Trời và con người.165 Khái niệm ma quỷ được dùng với ý nghĩa kẻ vu khống hay vu cáo. Chữ ma quỷ nhấn mạnh vai trò nguyên cáo trong Kinh Thánh, bản dịch tiếng Hy Lạp của Thánh Kinh Cựu Ước (Giop G 1:1-2:12; XaDr 3:1-2 LXX so sánh với Testament of Job 3.3).
Các tác giả Tân Ước dùng chữ ma quỷ trong những văn cảnh hắn được xem là kẻ cầm tù, bắt giữ hay bỏ tù những nạn nhân của hắn (Cong Cv 10:38; Eph Ep 4:27; IITi 2Tm 2:26; KhKh 2:10). Hắn cũng là một kẻ hủy diệt đáng sợ đưa con người đến chỗ bất hòa và bạo lực (IPhi 1Pr 5:8; LuLc 8:12; GiGa 8:44; IGi1Ga 3:8, 12; so sánh với Testament of Gad 4.7; Testament of Benjamin 7.1). Trong lúc Rô-ma bắt bớ (70-200 S. C.), các giáo phụ dùng khái niệm ma quỷ nhiều hơn là chữ Sa-tan . Nó xuất hiện trong 32 lần trong các tài liệu của Hội Thánh thế kỷ thứ hai.166 Khái niệm này cũng nói đến các vấn đề cám dỗ, tội lỗi và sự chết (Mat Mt 4:1; Cong Cv 13:10; HeDt 2:14; IGi1Ga 3:8 Wisdom of Solomon 2.24; 2 Enoch 11.74; Testament of Reuben 4.7; Testament of Joseph 7.4).
3. Điều ác . Nói ma quỷ như là “điều ác” tức là nhấn mạnh bản chất độc ác của hắn như là cha đẻ của mọi điều ác. Sứ đồ Giăng thường dùng danh hiệu này trong các tác phẩm của ông. Bài Cầu Nguyện của Chúa đề cập đến ma quỷ như là điều ác (Mat Mt 6:13 Khi Chúa Giê-su cầu thay cho Hội Thánh, Ngài cầu xin Đức Chúa Cha bảo vệ những người theo Ngài khỏi điều ác (GiGa 17:15 so sánh với IITe 2Tx 3:3). Ma quỷ phải chịu trách nhiệm về thế giới sa ngã (IGi1Ga 5:19). Hắn đánh cướp lời của Đức Chúa Trời khỏi tấm lòng con người (Mat Mt 13:19). Ca-in, người đã giết em trai mình là A-bên, thuộc về ma quỷ (IGi1Ga 3:12). Thuẫn đức tin của các Cơ Đốc nhân đỡ được các tên lửa của ma quỷ trên đường đi của họ (Eph Ep 6:16). Giăng viết rằng những ai mạnh mẽ và có lời của Đức Chúa Trời trong lòng họ sẽ vượt thắng hơn ma quỷ (IGi1Ga 2:13-14 so sánh với 4:4; 5:18).
4. Vua chúa của thế gian . Sa-tan được gọi là vua chúa của thế gian sa ngã, hay “chúa đời này” (IICo 2Cr 4:4; GiGa 12:31; 14:30; Eph Ep 2:2 so sánh với Martyrdom and Ascension of Isaiah 10:11-12 Ignatius Letter to the Ephesians 17.1, 19.1 Letter to the Magnesians 1.2; Letter to the Philadelphians 6.2). Danh hiệu này nhấn mạnh thẩm quyền của hắn trên hệ thống thế giới sa ngã (LuLc 4:5-7; IGi1Ga 5:19 so sánh với 3 Enoch 30; 26.12. Tại sao Phao-lô, người tin nơi sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời (GaGl 4:8), lại gọi Sa-tan là “chúa đời này”? G. Vos viết:
Tâm điểm của sự so sánh đầy can đảm này nằm ở đây: Giống như Đức Chúa Trời thật bởi Thánh Linh Ngài soi sáng cho tâm trí của những tín nhân, ban ơn để họ thấy được sự vinh hiển của Đấng Christ trong Phúc Âm, thì thần giả mạo của thời đại này cũng có một công việc tâm linh tương tự đó là làm mù tâm trí của những người không tin để họ không thấy được ánh sáng vinh hiển của Đấng Christ.167
5. Các danh hiệu khác của Sa-tan . Sa-tan có nhiều danh hiệu nhấn mạnh một đặc tính cụ thể trong bản chất hay công việc của hắn. Bao gồm “người mạnh sức” mà Chúa Giê-su đã trói buộc khi thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời trên đất (LuLc 11:21) “quỷ cám dỗ” (Mat Mt 4:3; ITe1Tx 3:5 Barnabas 2.10; 21.3) “kẻ thù” hay “kẻ thù nghịch” (Mat Mt 13:25; IPhi 1Pr 5:8 so sánh với Testament of Job 47.10), “kẻ giết người,” “cha sự nói dối” (GiGa 8:44 và có lẽ cả “vua của sự kinh khiếp” (Giop G 18:14).
Văn chương Do Thái có nhiều danh hiệu khác nữa của Sa-tan. Trong cuốn Tobit chẳng hạn, đôi lúc Sa-tan được xem là con quỷ hủy diệt tên là Asmodeus (Tobit 3.8). Trong các cuộn Biển Chết, hắn được đồng nhất hóa với vua chúa hay thiên sứ của bóng đêm (1QS 3.20-24 Trong các truyền thống Do Thái khác, hắn được đồng nhất hóa với linh “Mastema,” có nghĩa là sự hận thù hay thù địch (Jubilees 10.8; 11.5; 17.16; 19.28; so sánh với 1QM 13.4, OsHs 9:7-8).
Câu Hỏi 47: Quan Niệm Của Kinh Thánh Về Sa-tan Có Phải Đã Bắt Nguồn Từ Bái Hỏa Giáo Hay Không?
Người Do Thái bị bắt làm phu tù khi người Ba-by-lôn phá hủy Giê-ru-sa-lem khoảng năm 587 T.C. Sau đó người Ba Tư chinh phục những người Ba-by-lôn (IISu 2Sb 36:1-23; DaDn 1:1-6:28). Chúng ta đọc về người Do Thái dưới sự cai trị của Ba Tư trong các sách Ê-xơ-tê, Nê-hê-mi và E-xơ-ra. Vì ba lần duy nhất Kinh Thánh Cựu Ước đề cập tới Sa-tan là xoay quanh thời kỳ Ba Tư cai trị Y-sơ-ra-ên (Giop G 1:1-2:12; ISu1Sb 21:1; XaDr 3:1), do đó một số người cho rằng quan niệm của Do Thái về ma quỷ bắt nguồn từ Bái Hỏa giáo của người Ba Tư. Trong cuốn Zend-Avesta (kinh của Bái Hỏa giáo), Angra Mainyu, hay Ahriman, một uế linh, chống lại vị thần tốt, Ahura Mazda.
Vai trò của con quỷ Ba Tư tương tự như vai trò của vua bóng đêm trong các cuộn giấy Biển Chết (1QS 3.11-4.26).168 Trong Ngụy Kinh, cái tên Asmodeus , dùng để gọi con quỷ đuổi theo Tobit, có thể đồng nhất với khái niệm Aesma Daeva , hay con quỷ độc ác , được tìm thấy trong văn chương Ba Tư. Giống như Sa-tan, con quỷ Ba Tư là cha của sự dối trá, kẻ gieo rắc sự chết trên thế giới, đứng đầu các thế lực ma quỷ và gây ra bệnh tật. Hắn sẽ bị khuất phục bởi các thế lực thiện trong những ngày cuối cùng.169
Tuy nhiên, có những khác biệt đáng lưu ý giữa những con quỷ của Do Thái và Ba Tư. Trước hết, Sa-tan ở dưới quyền của Đức Chúa Trời (Giop G 1:1-2:12). Chúng ta không thấy những thế lực thiện và ác (thuyết nhị nguyên đồng quyền và cùng vĩnh hằng trong Cựu Ước như trong văn chương Ba Tư. Thứ hai, chỉ có Thánh Kinh Cựu Ước nhắc đến vai trò chính của Sa-tan là kẻ kiện cáo. Thứ ba, sách Gióp có thể được viết khoảng năm 700 T. C., trước cả hai chuyến lưu đày Ba-by-lôn và Ba Tư.170 Lời truyền khẩu cho rằng Gióp còn có thể được viết sớm hơn như vậy nữa. Cho nên, 1:1-2:12 ghi Sa-tan là kẻ cáo buộc bác bỏ lập luận ảnh hưởng bởi Ba Tư.
Tuy nhiên, các thiên sứ đóng vai trò nổi bật hơn trong văn chương Do Thái sau chuyến lưu đày Ba-by-lôn. Điểm nhấn mạnh về thiên sứ có thể bị ảnh hưởng bởi văn chương Ba Tư. Chuyến lưu đày Ba Tư dường như đã làm cho quan niệm Do Thái về thiện và ác trở nên sâu sắc hơn; chúng ta thấy sự ảnh hưởng này trong nền văn chương Do Thái hậu lưu đày, chẳng hạn như các cuộn Biển Chết. Hơn nữa, những hiểm họa mà người Do Thái phải đối diện trong tay kẻ cầm tù đã cho họ thấy ma quỷ và sự gian ác thuộc linh giới là những điều quá rõ ràng. Do đó, chúng ta thấy rằng dầu có thể quan niệm Do Thái về Sa-tan bị ảnh hưởng bởi Bái Hỏa giáo của Ba Tư thì nó cũng không bắt nguồn từ đó.171
Câu Hỏi 48: Việc Kinh Thánh Xem Sa-tan Là Bê-li-an Có Chịu Tác Động Của Các Cuộn Biển Chết Hay Không?
Sứ đồ Phao-lô đối chiếu giữa Chúa Giê-su và Bê-li-an (IICo 2Cr 6:14-15): “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin?” Những người Y-sơ-ra-ên phản nghịch và bội đạo đôi khi được gọi là “Các con của Bê-li-an” (Cac Tl 19:22; ISa1Sm 2:12; IISa 2Sm 22:5; IVua 1V 21:10-13 so sánh với NaNk 1:15). Các học giả đã nêu ra nhiều ý nghĩa khác nhau của chữ Hê-bơ-rơ belial , gồm vô trật tự, vô giá trị, thất bại và “những kẻ ở địa ngục”! “Các con của Bê-li-an” thường dự phần gây nên hỗn loạn trong cộng đồng (Cac Tl 19:22; 20:13; ISa1Sm 2:12; 10:27; IISa 2Sm 20:1). “Các con của Bê-li-an” dẫn Y-sơ-ra-ên đi lạc lối vì họ tạo ảnh hưởng khiến dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy các thần khác (PhuDnl 13:13).172
Nhưng “Các con của Bê-li-an” đó luôn là con người. Phao-lô là người duy nhất liên hệ Sa-tan với Bê-li-an. Dường như ông dựa vào văn chương Do Thái mà đưa ra lập luận đó-cũng có thể là ông dựa vào các cuộn Biển Chết, nguồn tài liệu thường xem Bê-li-an là kẻ lãnh đạo ma quỷ (1QS 1.9-11; 3.24; 4.18; 1QM 13.11; 1QH 4.29; so sánh với Pseudepigrapha Martyrdom of Isaiah 1-5). Trong War Scroll, Bê-li-an lãnh đạo đội quân gồm các con của bóng tối chống lại các con của ánh sáng. Hắn dấy Jannes và Jambres lên, hai thuật sĩ Ai Cập chống lại Môi-se (CD 5.18; so sánh với XuXh 7:11). Nhưng các thế lực của hắn sẽ bị Đức Chúa Trời đánh bại trong những ngày sau rốt (1QM 1.4-16; 18.1-3).
Chúng ta có thể thấy cách văn chương Do Thái đồng hóa Sa-tan với khái niệm Bê-li-an , căn cứ vào đặc điểm đáng hổ thẹn của “Các con của Bê-li-an” trong Cựu Ước. Do những người Do Thái thế kỷ thứ nhất hiểu Bê-li-an là một tên khác của Sa-tan, nên rõ ràng Phao-lô đã thu nhận cách dùng này. Khi ông dùng chữ Bê-li-an để đề cập đến Sa-tan, ông nhấn mạnh sự tương phản giữa sự sáng và bóng tối (IICo 2Cr 6:14), giống như các cuộn giấy Biển Chết vậy.173
Câu Hỏi 49: Sa-tan Và A-xa-sên Có Liên Hệ Gì Với Nhau?
Mỗi năm, vào ngày Lễ Chuộc Tội, trước kỳ Lễ Lều Tạm, thầy tế lễ cả phải dâng hai con dê trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa hội mạc. Ông bắt thăm để quyết định xem con nào thuộc về Đức Giê-hô-va, con nào thuộc về A-xa-sên. Sau đó thầy tế lễ sẽ dâng con dê như của lễ chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng còn con dê kia (trong tiếng Hê-bơ-rơ là ) lại có một chức năng khác. Thầy tế lễ đặt tay lên đầu con dê đó trong khi ông xưng nhận mọi tội lỗi của Y-sơ-ra-ên. Sau đó con dê này được thả vào trong đồng vắng (LeLv 16:6-22). Con dê bị giết tượng trưng cho sự chuộc tội của dân sự, trong khi con dê được thả tượng trưng cho sự cất tội lỗi ra khỏi cộng đồng.
Vậy ý nghĩa đằng sau chữ A-xa-sên là gì? Các học giả tuyên bố rằng chữ này có nghĩa là một vách đá lởm chởm, sự hủy diệt, sự cắt bỏ hoàn toàn hay một vị thần nổi giận.174 A-xa-sên có phải là Sa-tan không? Văn chương Do Thái mô tả A-xa-sên như một con quỷ đầu đàn sống trên trần gian, bị đuổi vào trong đồng vắng (1 Enoch 8.1; 10.4; Apocalypse of Abraham 13.17-14.6). Hắn được xem là kẻ đứng đầu của những thiên sứ sa ngã, kẻ lãnh đạo sự phản loạn của những kẻ phạm tội trong SaSt 6:1-21 (1 En 6; 10.4; Apoc. Abrah. 13.16; 14.4-6).
Trong Kinh Thánh, những con quỷ (đôi khi được mô tả là , hay ma quỷ, LeLv 17:7 sống trong đồng vắng, cũng như con dê A-xa-sên vậy (EsIs 13:21; 34:14; Mat Mt 12:43; KhKh 18:2 so sánh với Tobit 8.3). Nếu Sa-tan giữ vai trò kẻ cáo buộc trong Cựu Ước (Giop G 1:1-2:12). thì chúng ta khó chấp nhận việc những người Hê-bơ-rơ đầu tiên đồng nhất hóa Sa-tan với sự trục xuất A-xa-sên. Hai con dê trong LeLv 16:8 có thể hiểu là hình ảnh của Đấng Christ với Sa-tan.175 Đấng Christ (con dê đầu tiên phải chịu hy sinh vì tội lỗi của toàn thể cộng đồng, trong khi Sa-tan (con dê A-xa-sên) bị trục xuất khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời (đền tạm và sa mạc).
Câu Hỏi 50: Chữ Bê-ên-xê-bun Có Nghĩa Gì?
Bực tức trước bằng chứng không thể bác bẽ được về quyền năng đuổi quỷ của Chúa Giê-su, những người lãnh đạo tôn giáo chống lại Ngài đã tuyên bố, “Người nầy chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun là chúa quỷ mà trừ quỷ đó thôi” (Mat Mt 12:24). Do đâu mà Sa-tan có tên gọi này?
Bản Vulgate, bản dịch tiếng La-tin của Thánh Kinh Tân Ước, rõ ràng đồng nhất Bê-ên-xê-bun với vị thần của Éc-rôn, “Ba-anh-Xê-bụt” (IIVua 2V 1:2-3, 6, 16 so sánh với Josephus Antiquities of the Jews 19.9). Ba-anh có nghĩa là chúa trong tiếng Hê-bơ-rơ, và Xê-bụt ám chỉ một con ruồi. Cho nên Ba-anh-Xê-bụt có nghĩa là “chúa của loài ruồi.” Dân Phi-li-tin tin rằng vị thần này cai quản những đầm lầy đầy các côn trùng gây hại. Tuy nhiên, chữ Hy Lạp trong sách Mat. ở đây là beelzeboul , chứ không phải Beelzebub. Các bản văn Ca-na-an Ras Shamra dùng từ này với ý nghĩa “Chúa trên nơi cao.” Văn chương Do Thái thường mô tả Sa-tan là kẻ độc ác sống ở “những nơi cao,” hoặc trên trời (Targon of Job 28.7 so sánh với Eph Ep 2:2; 6:12). Bê-ên-xê-bun được hiểu là chỗ thảy phân, hay “chúa của đống phân.” Do đó, Bê-ên-xê-bun là một danh xưng sỉ nhục mà các ra-bi dùng để chỉ sự xem thường Sa-tan176 . Theo Testament of Solomon (6.2), Beelzeboul là con quỷ duy nhất còn sót lại trong số những thiên sứ sa ngã bị tống xuống dưới vực sâu (IIPhi 2Pr 2:4). Cho nên chúng ta chỉ có một số lời giải thích khả dĩ đối với từ Beelzebub . Điều quan trọng cần nhớ là Chúa Giê-su đồng nhất hóa Bê-ên-xê-bun với Sa-tan (Mat Mt 12:25-27; Mac Mc 3:22; LuLc 11:15).
Câu Hỏi 51: Sa-tan Có Biết Được Những Suy Nghĩ Của Chúng Ta Không?
Không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh chứng minh rằng Sa-tan có thể đọc được những suy nghĩ của chúng ta. Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Tri (EsIs 46:9-10; DaDn 2:27-28 so sánh với Eph Ep 3:10). Chỉ có Ngài biết được “lòng của con cái loài người” (IVua 1V 8:39). Augustine tin rằng tính lưu động và vô số năm kinh nghiệm của ma quỷ khiến cho chúng có tri thức hơn người nên chúng có thể đoán được các suy nghĩ của con người (De divinatione daemonum 3.7; 5.9). Theo cách đó, Sa-tan có thể “đọc” được con người trong một phương diện ý nghĩa giới hạn nào đó. Hắn có thể quan sát phản ứng của con người trước một số biến cố, trước người khác v.v., và từ đó có thể sắp đặt các tình huống tỏ vẻ như là hắn biết được những ý tưởng của họ.
Sau đây là một ví dụ. Một con quỷ quan sát tôi đọc một bài báo về thời trang những năm 60 có thể bảo bà đồng “tiết lộ” cho tôi rằng tôi đam mê thời trang thập kỷ 60, và nó nói đúng. Điều này đòi hỏi phải quan sát và có những suy đoán của một bộ óc khôn ngoan, chứ không phải là đọc được tâm trí. Ma quỷ cũng có thể gieo những ý tưởng vào tâm trí chúng ta. Có lẽ cách tốt nhất để chống lại điều này là làm đầy tâm trí chúng ta với những ý tưởng tôn vinh Đức Chúa Trời (Phi Pl 4:6-8).
Câu Hỏi 52: Sa-tan Mạnh Sức Như Thế Nào?
Quyền lực của Sa-tan có giới hạn. Hắn là chúa quỷ và là chúa của thế gian sa ngã (Mat Mt 4:8-9; IICo 2Cr 4:4; Eph Ep 2:2 Do có quyền thao túng trên thế gian, hắn có thể bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời. Hắn tấn công Gióp bằng cách xúi giục dân Sa-bê và Canh-đê đánh cướp tài sản của Gióp và giết chết những đầy tớ của ông (Giop G 1:12, 15, 17), và hắn dùng những thiên tai (chẳng hạn như lửa và gió mạnhđể giết chết đàn chiên, những người chăn chiên và các con của Gióp (Giop G 1:16, 18-19).177 Sau đó hắn tấn công thân thể của Gióp bằng căn bệnh đáng sợ (2:7-8).
Tuy nhiên, Sa-tan chẳng là gì khi so với Đức Chúa Trời (RoRm 16:20; KhKh 12:1-18, 20:1-15). Hắn phải xin phép Đức Chúa Trời để thử thách Gióp (Giop G 1:1-2:12), và hắn phải xin phép Đức Chúa Trời để tấn công Phi-e-rơ (LuLc 22:31-32). Sự tấn công của hắn cũng bị giới hạn. Hắn không được phép chạm đến mạng sống của Gióp (Giop G 2:6), và lời cầu thay của Chúa Giê-su đã bảo vệ Phi-e-rơ. Graham Twelfree viết về LuLc 22:31-32 như sau: “Sa-tan bị giới hạn trong thẩm quyền của lời cầu nguyện của Chúa Giê-su cho các môn đồ Ngài. Sa-tan có thể ‘sàng sảy’ (siniazơ ) nhưng không thể tiêu diệt Phi-e-rơ và các môn đồ.”178 Sa-tan có thể điều khiển hệ thống thế giới, nhưng Đức Chúa Trời bảo vệ tín nhân khỏi hắn (IGi1Ga 5:18-19). Các Cơ Đốc nhân tin chắc một điều Đức Chúa Trời ở trong lòng họ lớn hơn ma quỷ trong thế gian này (so sánh với IGi1Ga 4:4; KhKh 12:11).
Dù ma quỷ được ban cho một ít quyền lực, thì hắn là một kẻ thù đã bị đánh bại rồi kể từ khi Chúa Giê-su chiến thắng hắn và thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời (LuLc 11:17-22 so sánh với 10:18; Cong Cv 10:38; 26:18; HeDt 2:14; IGi1Ga 3:8). Sa-tan đã rút lui kể từ đó. Làn sóng chiến tranh Thế Giới II bắt đầu lan rộng khi quân Đồng Minh thành lập lực lượng năm 1942. Tuy nhiên, các cường quốc trong trục Berlin, Rome và Tokyo chưa bị đánh bại mãi cho tới năm 1945. Tương tự như vậy, khi Đấng Christ bắt đầu chức vụ, Sa-tan và tay sai của hắn rút lui. Cuối cùng chúng sẽ thất bại khi Đấng Christ trở lại.
Câu Hỏi 53: Có Phải Sa-tan Sống Trong Địa Ngục Không?
Người ta thường quan niệm sai lầm rằng ma quỷ sống trong địa ngục, và hắn ở một nơi nào đó đầy lửa trong lõi trái đất. Nhưng Kinh Thánh gọi Sa-tan là vua cầm quyền chốn không trung (aeros ), và tay sai của hắn cai trị các nơi trên trời (Eph Ep 2:2; 6:12 Đối với các tác giả Kinh Thánh, trời là nơi hiện hữu giữa thiên đàng (ngôi của Đức Chúa Trời và trái đất, và đây là nơi Sa-tan cùng tay sai của hắn cư ngụ.179 Theo các tài liệu Do Thái thì A-xa-sên, kẻ đứng đầu của các con quỷ, sống ở các nơi cao trên trời (Apocalypse of Abraham 13.7-14; 1 Enoch 10; Jubilees 10.1; Targum of Job 28.7). Nơi này bao gồm cả khu vực của bóng tối (Philo On Creation 7). Lãnh thổ của Sa-tan là “tầng trời thứ nhất,” bầu khí quyển và các đám mây (2 Enoch 3). Không thể xác định được những giới hạn lãnh thổ của hắn, nhưng chắc chắn một điều, dù con người có can đảm du hành bao xa vào vũ trụ, thì họ cũng có thể thấy Sa-tan ở đó.
Sa-tan đã ở trước mặt Đức Chúa Trời theo như mô tả của Giop G 1:1-2:12. Nếu Đức Chúa Trời không thể chịu được sự hiện diện của tội lỗi, thì làm sao Sa-tan có thể vào thiên đàng được? Dường như Đức Chúa Trời đã phải chịu đựng sự hiện diện của Sa-tan trước khi Đấng Christ chết trên thập giá (Cong Cv 17:30; 14:16; LuLc 22:31-32). Nhưng khi sự chuộc tội của Đấng Christ được hoàn tất, ma quỷ đã bị đoán phạt và bị đuổi khỏi thiên đàng vĩnh viễn (KhKh 12:9; GiGa 12:31; 16:30). Trong thời kỳ Hội Thánh, chúng ta không còn thấy Sa-tan kiện cáo anh em trong chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Câu Hỏi 54: Tại Sao Ma Quỷ Thường Được Mô Tả Là Có Da Màu Đỏ, Có Sừng Và Cầm Chĩa Ba?
Trong nhiều phim hoạt hình, ma quỷ thường được vẽ như một quái vật có màu đỏ, mũi quặp, nửa người, nửa dê, có đuôi, có sừng và cầm chĩa ba. Kinh Thánh không hề mô tả diện mạo cụ thể của ma quỷ. Vậy thì những hình ảnh hoạt hình về Sa-tan do đâu mà ra? Chúng ta có thể truy nguyên những hình ảnh con quỷ nửa người, nửa sinh vật đó từ thời cổ đại. Các tạo vật đó thường được mô tả trong hội họa của khu vực Cận Đông và Hy Lạp cổ đại.180 Hình ảnh phổ biến của ma quỷ giống như nhân vật Pan, một vị thần săn bắn và là chúa của những thần dê 181 . Một trong những tên gọi của ma quỷ là , đôi lúc được dịch là “dê đực” (IISu 2Sb 11:15 xem lời đáp 27). Các vở kịch thời Trung Cổ đôi lúc mô tả hắn giống như một thần dê 182 . Hình ảnh này dần dần được tiêu chuẩn hóa.
Con rồng trong KhKh 12:1-18 có màu đỏ và có nhiều sừng, nhưng khó mà khẳng định được các họa sĩ về sau đã vẽ tranh của họ dựa trên Khải Huyền. Con rồng có bảy đầu, nhưng Sa-tan thường được vẽ với chỉ một đầu. Các bức tranh cổ hơn vẽ hình Sa-tan màu đen, nhấn mạnh đặc trưng là chúa bóng đêm của hắn. Cộng đồng Hội Thánh Toledo (447) mô tả Sa-tan là một “con quỷ lớn, màu đen, gớm ghiếc, có sừng trên đầu, móng chẻ hai, tai lừa, có vuốt, mắt nảy lửa, răng lớn, dương vật thật lớn, và có mùi lưu huỳnh.”183 Sau đó màu đỏ trở thành màu đặc trưng của ma quỷ, làm nổi bật quan niệm sai lầm thời Trung Cổ cho rằng ma quỷ sống ở nơi đầy lửa dưới lòng đất và những người tóc hung là những người ác. Màu này cũng ám chỉ hắn là kẻ sát nhân khát máu. Hắn cầm một cái chĩa ba để tra tấn các nạn nhân của hắn trong địa ngục.184
Giống như bất kỳ bức tranh quái vật nào, tranh ma quỷ thường xấu xí và méo mó. Trong hội họa cổ xưa hơn, Sa-tan thường xuất hiện như một quái vật nửa người, nửa động vật, đôi khi có cánh nữa. Hắn trông xấu xí và lố bịch vì hắn rơi từ trên thiên đàng xuống và cũng bởi vì những đặc điểm đó thể hiện bản chất tội lỗi bên trong lòng hắn. J. B. Russell khẳng định, “Hình ảnh biểu tượng ở đây nhằm cho thấy ma quỷ đánh mất vẻ đẹp, sự cân đối, tính xác thực; hình dạng của hắn bị thay đổi theo chiều hướng hỗn loạn, và méo mó, xấu xí hơn bất cứ thiên sứ hay con người nào khác.”185
Câu Hỏi 55: Tại Sao Sa-tan Không Ăn Năn?
Một số người nghĩ rằng, nếu sự kiêu ngạo khiến cho ma quỷ sa ngã, thì sự kiêu ngạo cũng ngăn trở hắn ăn năn. Tuy nhiên, theo Kinh Thánh mà nói, chúng ta không biết chắc chắn rằng sự kiêu ngạo đã khiến hắn sa ngã (so sánh với những lời đáp 41-42). Rõ ràng Sa-tan biết Kinh Thánh và biết rằng Kinh Thánh mô tả số phận cuối cùng của hắn. Nếu hắn biết được số phận tương lai của hắn như vậy (Mat Mt 8:29; Mac Mc 1:23), tại sao hắn không gạt bỏ lòng kiêu ngạo mà ăn năn? Có lẽ lòng vô tín là một lời giải thích tốt hơn cho lòng kiêu ngạo. Cũng như có nhiều người biết Kinh Thánh nhưng không chịu ăn năn đường lối gian ác của mình. Có thể Sa-tan không tin rằng Kinh Thánh thực sự đang mô tả số phận của hắn; có thể hắn nghĩ rằng hắn có thể thoát khỏi kế hoạch tương lai của Đức Chúa Trời. Nhưng tất cả những điều này chỉ là suy đoán.
Kinh Thánh đưa ra một lời giải thích rõ hơn. Chúng ta đọc rằng: “Vì quả thật không phải Ngài (Đấng Christ) đến vùa giúp các thiên sứ, bèn là vùa giúp dòng dõi của Áp-ra-ham” (HeDt 2:16). Phân đoạn này ngụ ý rằng các thiên sứ không có cơ hội được tha thứ. Do đó, ma quỷ và tay sai của hắn không được giúp đỡ: Đấng Christ mặc lấy bản chất của một con người và chết cho con người chứ không phải thiên sứ. CoCl 1:20 khẳng định rằng Đức Chúa Trời “đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài (Đấng Christ) mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời.” Nhưng sự hòa giải này không ngụ ý rằng Sa-tan và tay sai của hắn sẽ ăn năn. Nó nhắc đến kết quả sự chết của Đấng Christ mang lại trong tương lai, đưa thiên đàng và trần gian trở lại trật tự hoàn hảo của chúng trước khi con người sa ngã (RoRm 8:19-23; ICo1Cr 15:24-28; Eph Ep 1:10).186 Khi Đấng Christ trở lại và khôi phục sự hòa thuận trong toàn cõi vũ trụ, sự hòa thuận đó sẽ bao hàm cả sự đoán phạt Sa-tan (KhKh 20:1-15). Sa-tan và các thiên sứ của hắn sẽ phải đầu hàng dù chúng có muốn hay không (Phi Pl 2:10-11 đối chiếu với Ascension of Isaiah 11.23)!
Tại sao Đức Chúa Trời không chuộc tội cho Sa-tan và các thiên sứ của hắn? Các giáo phụ đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Origen tuyên bố rằng Sa-tan và ma quỷ cuối cùng sẽ ăn năn (Principiis 1.6.3) vì Đức Chúa Trời là Đấng nhơn từ, yêu thương. Cyril ở Giê-ru-sa-lem (315-86) tuyên bố rằng một số thiên sứ sa ngã đã thực lòng ăn năn (Catechesis 2.10).187 Tuy nhiên, các giáo phụ khác nghi ngờ quan điểm này.188 Anselm ở Canterbury (1033-1109) gợi ý rằng các thiên sứ sa ngã không còn ở trong sự lựa chọn của Đức Chúa Trời nữa. Khi các thiên sứ sa ngã, có một khoảng trống trên thiên đàng cần được lấp lại. Để phục hồi trật tự vũ trụ, Đức Chúa Trời đã lựa chọn một số con người tương đương để thay thế các thiên sứ sa ngã (Cur Deus Homa 1.16-18).
Trong quan điểm của tôi, Primasius ở Hadrumetum vào thế kỷ thứ sáu đã đúng khi ông đưa ra ba lý do khiến Sa-tan không thể ăn năn: (1) con người bị ma quỷ cám dỗ, nhưng ma quỷ thì không bị ai cám dỗ cả, mà vẫn phạm tội; (2) con người làm theo lòng ham muốn xác thịt tự nhiên của mình khi phạm tội, nhưng ma quỷ là các linh phạm tội, nên không thể bào chữa gì được; (3) con người không bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời như Sa-tan; nên điều này cũng không thể bào chữa được.189 William Gouge, một học giả Kinh Thánh thế kỷ mười chín, nói thêm rằng tội của ma quỷ ghê tởm hơn tội của con người nhiều vì ma quỷ phạm tội trong sự hiểu biết nhiều hơn con người. Sa-tan cũng đã cám dỗ đôi vợ chồng đầu tiên phạm tội, đưa sự chết và tội lỗi vào mọi thế hệ sau. Trên hết, hắn vẫn còn cám dỗ con người trong thời đại ngày nay (đối chiếu với Augustine De correptione et gratia 10.27; Gregory the Great Moralia 4.3.8).190
Cho nên không thể tha thứ cho các thiên sứ được, vì các thiên sứ sa ngã đã phạm những tội không thể tha thứ được. Điều này cũng tương tự như tội nói phạm cùng Đức Thánh Linh (Mat Mt 12:32; Mac Mc 3:29). Ai hiểu biết nhiều hơn về những đường lối của Đức Chúa Trời thì càng phải chịu trách nhiệm nặng nề về điều mà người đó biết (Mac Mc 12:38-40; Gia Gc 3:1). Liều lĩnh phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời, sau khi biết Chúa và kinh nghiệm Chúa cách trọn vẹn, tạo nên một lương tâm đầy tội lỗi vốn không thể, hay đơn giản hơn là sẽ không chịu, ăn năn (HeDt 6:4-6; RoRm 1:28; ITi1Tm 4:2). Trong bất cứ trường hợp nào, nếu lời tiên tri là đúng, thì nhờ Kinh Thánh mà chúng ta biết rằng Sa-tan và tay sai của hắn sẽ không bao giờ ăn năn, vì số phận cuối cùng của chúng là ở trong hồ lửa (Mat Mt 25:46; KhKh 20:10-15).
Câu Hỏi 56: Sa-tan Có Dự Phần Với Đức Chúa Trời Trong Việc Đóng Đinh Đấng Christ Không?
Kế hoạch của Đức Chúa Trời bao gồm cả việc đóng đinh Con Ngài, Chúa Giê-su Christ (Cong Cv 2:23; 3:18; KhKh 13:8). Vậy thì tại sao Sa-tan tác động Giu-đa để ông phản bội Đấng Christ khiến Ngài bị đóng đinh (LuLc 22:3-5; GiGa 13:2)? Phải chăng Sa-tan đã dự phần với Đức Chúa Trời trong việc đóng đinh Đấng Christ?
Đức Chúa Trời có thể biến một hoàn cảnh tiêu cực thành một điều tích cực. Ngài có thể tạo ra những kết cuộc tốt lành từ những mục đích độc ác nhất của con người hay Sa-tan (Giop G 1:1-2:12; 42:1-17; ChCn 16:9; 19:21;; RoRm 8:28; IICo 2Cr 12:7-10). Các anh em của Giô-sép bán ông làm nô lệ, nhưng Đức Chúa Trời biến hoàn cảnh đó thành ra tích cực và Giô-sép đã cứu được sinh mạng của nhiều người khi cơn đói kém xảy đến trên đất Ai Cập và các vùng lân cận. Sau khi ông làm hòa với các anh em của mình, ông nói, “Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo” (SaSt 50:20).
Thậm chí dù Sa-tan, với mục đích gian ác là tiêu diệt Chúa Giê-su, đã tác động để Giu-đa phản bội Đấng Christ, thì Đức Chúa Trời vẫn tiến hành kế hoạch thiêng liêng của Ngài để cứu rỗi nhiều người. Chúng ta có thể giả định rằng: là một tạo vật giới hạn về tri thức, Sa-tan hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa công tác chuộc tội của Đấng Christ trên thập giá. Nếu hắn biết, ắt hẳn hắn đã cố hết sức để ngăn chặn Đấng Christ bị đóng đinh (ICo1Cr 2:6-8; Eph Ep 3:10; IPhi 1Pr 1:10-12).
Câu Hỏi 57: Tại Sao Sa-tan Khiến Phi-e-rơ Can Ngăn Đấng Christ Chịu Đóng Đinh Nếu Sau Đó Sa-tan Khiến Giu-đa Phản Bội Ngài?
Trong Mat Mt 16:21-23, sau khi Chúa Giê-su nói với các môn đồ rằng Ngài phải chết trên thập tự giá, Phi-e-rơ can ngăn Ngài làm việc đó. Chúa Giê-su đáp lại, “Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.” Nhưng trong LuLc 22:3-5 chúng ta đọc thấy “Sa-tan ám vào Giu-đa” khiến ông phản Đấng Christ, Đấng sau đó đã bị đóng đinh (so sánh với GiGa 13:2). Có gì mâu thuẫn không?
Ma-thi-ơ 16 không hề nói rằng Sa-tan thực sự đã tác động đến Phi-e-rơ. Chúa Giê-su gọi Phi-e-rơ là “Sa-tan” vì Phi-e-rơ đặt những giá trị của con người lên trên những mục đích của Đức Chúa Trời (Mat Mt 16:23). Werner Foerster khẳng định, “Theo cách đó, những gì thuộc về con người nghịch cùng Đức Chúa Trời thì chúng có thể bị coi là thuộc về Sa-tan, và đi ngược lại đường lối cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho con người.”191 Chúng ta không nên giả định rằng Sa-tan đã thực sự tác động để Phi-e-rơ nói những lời đó. Chúa Giê-su không quở trách Phi-e-rơ vì Sa-tan chiếm hữu hay tác động ông; mà Ngài quở trách Phi-e-rơ là vì, giống như Sa-tan, Phi-e-rơ đang nói những điều ngược lại kế hoạch của Đức Chúa Trời.
Thậm chí nếu chúng ta cho rằng Sa-tan đã thực sự tác động đến tư tưởng của Phi-e-rơ để ngăn trở Chúa Giê-su lên thánh giá, thì điều này cũng không nhất thiết mâu thuẫn với việc hắn xúi giục Giu-đa sau này. Chúng ta phải nhớ rằng Sa-tan không hoàn toàn hiểu được ý nghĩa của thập giá. Xuyên suốt chức vụ của Chúa Giê-su, có lẽ ma quỷ không có một mục tiêu nào, hoặc là đóng đinh Chúa Giê-su, hoặc là ngăn trở Chúa Giê-su chịu đóng đinh, làm mục tiêu chính của mình. Sự cám dỗ trong đồng vắng cho thấy rằng Sa-tan muốn Đấng Christ phạm tội để phá hỏng mối tương giao của Ngài với Đức Chúa Trời (Mat Mt 4:1-25). Trong Mat Mt 16:1-28, có thể Sa-tan đang cố gắng thuyết phục Chúa Giê-su phạm tội thông qua cảm giác tự thán hoặc cảm giác bất công, rằng bằng cách nào đó, Đức Chúa Cha không công bằng đối với Đấng Christ khi để Ngài phải chịu treo lên thập tự giá.
Câu Hỏi 58: Chúa Giê-su Có Đối Đầu Với Sa-tan Giữa Sự Chết Và Phục Sinh Của Ngài Hay Không?
Nhiều người thường hỏi điều gì xảy ra cho linh hồn của Chúa Giê-su trong suốt ba ngày giữa sự chết và phục sinh của Ngài. Một số diễn giả suy đoán cách dại dột rằng Đấng Christ bị đốt trong lửa địa ngục để được tái sanh! Vậy, Đấng Christ đã trải qua điều gì trong khoảng thời gian giữa thập giá và phục sinh? Một số người tuyên bố rằng Eph Ep 4:8; CoCl 2:15 và IPhi 1Pr 3:19 mô tả điều đã xảy ra trong suốt khoảng thời gian này.
1. Ê-phê-sô 4:8 ; Ngài dẫn muôn vàn kẻ phu tù . Eph Ep 4:8 khẳng định: “Ngài (Đấng Christ) đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, và ban các ơn cho loài người.” Một số người tuyên bố rằng phân đoạn này đề cập đến việc linh hồn của Đấng Christ chiến thắng các thế lực của bóng tối (“kẻ phu tù”khi Ngài chết và về trời trước khi phục sinh (so sánh với LuLc 23:43, 46). Nếu cách giải thích này là đúng, thì có thể đã diễn ra một cuộc đối đầu thuộc linh-nhưng nó đã xảy ra trong các nơi trên trời, chứ không phải địa ngục. Khi Chúa Giê-su chết, Ngài không đi đến một nơi nào đó thuộc không gian, vốn được diễn dịch sai lầm là địa ngục, tồn tại đâu đó sâu bên dưới địa cầu.192 Như điều đã nói ở trên, Sa-tan và tay sai của hắn không sống tại trung tâm của trái đất. Ê-phê-sô mô tả chúng sống trong không trung (Eph Ep 2:2; 6:11-12).
Mặt khác, 4:8 dường như đề cập đến việc Đấng Christ thăng thiên sau khi Ngài sống lại (Cong Cv 1:9-11). Không bao lâu sau khi thăng thiên, Chúa Giê-su ban Thánh Linh xuống (12:1-25). và “ban các ơn cho loài người” (Eph Ep 4:8 so sánh với 4:7, 11-12). Lối giải thích này gợi ý rằng “kẻ phu tù” chỉ đơn giản là cách tuyên bố sự chiến thắng của Đấng Christ trên kẻ thù thông qua sự chết, phục sinh và thăng thiên của Ngài. Một cách giải thích thứ ba về cụm từ Ngài đã lên ám chỉ sự tôn cao Đấng Christ hậu phục sinh, không có một khung thời gian đặc biệt nào (Eph Ep 1:20-22).
2. Cô-lô-se2:15 ; Ngài công khai tuyên bố về sự cai trị của các chủ quyền . CoCl 2:15 tuyên bố rằng khi Đấng Christ “truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng nó,” Ngài đã “nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ.” Đấng Christ đã “nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ” những thế lực bóng tối và tước bỏ quyền lực của chúng khi nào? Một số người tuyên bố rằng điều này diễn ra sau khi Ngài chết nhưng trước khi Ngài sống lại. Đấng Christ tước khí giới của Sa-tan bằng cách cất đi quyền của hắn trên sự chết (HeDt 2:14; KhKh 1:17 so sánh với 12:9-11). Đấng Christ đã thực sự chinh phục nhiều quyền lực khác nhau,193 nhưng CoCl 2:14-15 chỉ khẳng định rằng đây là kết quả sự chết của Đấng Christ trên thập giá. Phân đoạn này không nhất thiết tuyên bố rằng Đấng Christ đã thực sự đối đầu với Sa-tan đâu đó trong khoảng thời gian từ sự chết đến sự phục sinh của Ngài.
3. I Phi-e-rơ 3:19 : Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù . Một phân đoạn Kinh Thánh khó giải thích nữa nói về việc Đấng Christ giảng cho “các linh hồn bị tù” sau khi Ngài chết (IPhi 1Pr 3:18-19 đối chiếu với việc “được thiên sứ trông thấy” trong ITi1Tm 3:16. Một số người tin rằng phân đoạn này mô tả điều đã xảy ra với Đấng Christ trong khoảng thời gian giữa sự chết và phục sinh của Ngài: Ngài công bố với các linh hồn đang ở trong Tartarus về sự kết tội họ trong tương lai và quyền năng của Ngài trên sự chết (IIPhi 2Pr 2:4; IICo 2Cr 2:14; CoCl 2:15; KhKh 12:7-11; EsIs 61:1 LXX GiGa 3:2-4).194 Nhiều giáo phụ đầu tiên cũng tin rằng Đấng Christ đã đối diện với những con quỷ này trong khoảng thời gian giữa sự chết và phục sinh của Ngài.195
Tuy nhiên, học giả Kinh Thánh J. Ramsey Michaels đưa ra một giải thích khác.196 Trong IPhi 1Pr 3:18, “về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết” tương phản với câu “về phần linh hồn thì được sống.” Câu này nói đến sự chết và phục sinh thân thể của Đấng Christ (so sánh với RoRm 1:3-4; ITi1Tm 3:16; IPhi 1Pr 3:22). Chữ Hy Lạp ở đây có nghĩa là “làm cho sống”
( ) thường ám chỉ sự phục sinh của thân thể (GiGa 5:21; RoRm 4:1; 8:11; ICo1Cr 15:22). Sau khi Đấng Christ phục sinh, chứ không phải trong khoảng thời gian giữa sự chết và phục sinh của Ngài, thì Ngài mới đối đầu với ma quỷ, công bố rằng chúng phải khuất phục dưới quyền của Ngài thậm chí trong cả những nơi thuộc về chúng.197 “Điểm chính yếu ở đây là Đấng Christ đã công bố quyền tể trị của Ngài trên những linh này bất luận chúng đang ở đâu , trong bất cứ nơi nào chúng nghĩ là chúng được an toàn, thoát khỏi Kẻ Thù (Đức Chúa Trời) của chúng.”198
Chúa Giê-su có thực sự đối đầu với Sa-tan trong khoảng thời gian giữa sự chết và phục sinh của Ngài không? Không ai trong chúng ta biết rõ cả. Những phân đoạn Kinh Thánh được trưng dẫn để ủng hộ giả thuyết này không thuyết phục lắm. Chúa Giê-su đã tuyên bố sự đoán phạt trên Sa-tan và ma quỷ, nhưng chúng ta thấy rằng việc này xảy ra trong lúc Ngài thăng thiên, Cong Cv 1:9-11, sau khi Ngài sống lại từ cõi chết. Có thể Đấng Christ đã lên ba-ra-đi ngay sau khi Ngài chết (LuLc 23:43, 46), nhưng chúng ta không biết thêm bất cứ chi tiết nào khác.
Những người Do Thái tin rằng linh hồn con người vẫn ở đâu đó gần thi thể trong vài ngày (đối chiếu với GiGa 11:1-6, 14, 17). Có lẽ việc Đấng Christ chết ba ngày không chứng minh điều gì khác hơn là Đấng Christ đã chết thực sự . Sự chết của Ngài dẫn đến sự phục sinh hoàn toàn! Có lẽ Đức Chúa Trời không muốn chúng ta biết điều gì đã xảy ra trong suốt ba ngày đó vì nó có thể khiến chúng ta không còn chú ý đến điều quan trọng nhất: sự chết và phục sinh của Đấng Christ. Những gì xảy gia giữa lúc Chúa chết và phục sinh không quan trọng bằng sự thật Ngài đã chết và phục sinh.
Câu Hỏi 59: Cái Giằm Xóc Trong Xác Thịt Phao-lô Do Sa-tan Đem Đến Là Gì?
Sau khi Phao-lô từng trải kinh nghiệm “từng trời thứ ba,” ông viết: “Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỷ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo” (IICo 2Cr 12:7). Cái gằm xóc trong xác thịt này là gì? Các học giả trải nhiều thế kỷ đã đưa ra vô số quan điểm.199 Một trong những quan điểm đưa ra là “cái giằm xóc” đó liên quan tới một loại cám dỗ nào đó. Công Giáo thời Trung Cổ, sau khi có bản Kinh Thánh tiếng La-tin Vulgate (stimulus carnis ), tin rằng cái giằm xóc của Phao-lô ám chỉ dục vọng xác thịt. 200 Nhưng dường như Phao-lô không gặp phải nan đề nào trong lĩnh vực này (ICo1Cr 7:7). Luther và Calvin cho rằng đó là một sự cám dỗ thuộc linh.
Quan điểm thứ hai là của Tertullian, người tin rằng cái giằm xóc đó là một cơn đau đầu hay chứng đau tai (On Modesty 13). Trong quan điểm này, nhiều người đã đưa ra các chứng bệnh khác nhau, bao gồm cả chứng nói lắp (ICo1Cr 2:1; IICo 2Cr 10:1), chứng động kinh (Cong Cv 8:3-8; 22:17) hoặc bệnh sốt mà Phao-lô mắc phải ở Bam-phi-ly (13:13). Một gợi ý phổ biến nhất là Phao-lô bị chứng bệnh về mắt khiến ông có thị lực kém (GaGl 4:13-15; 6:11; Cong Cv 23:5).201 Dĩ nhiên Sa-tan có thể gây nên những bệnh tật trên thân thể (Giop G 2:1-12).
Quan điểm thứ ba, của John Chrysostom (347-407), nói rằng cái giằm xóc ý nói đến những kẻ thù của Phao-lô. Augustine tin rằng nó ám chỉ những đau đớn của Phao-lô (IICo 2Cr 11:16-33) Phao-lô có những người chống đối tại Cô-rinh-tô, những người mà ông xem là các sứ đồ giả chịu tác động của Sa-tan (11:1-15). Hơn nữa, “cái giằm xóc vào thịt” được dùng để chỉ sự quấy nhiễu thể chất trong Cựu Ước (Dan Ds 33:55; Exe Ed 23:24). Phao-lô nói rằng ông bị kẻ thù “vả trên mặt” (kolaphiz ). Chữ này thường được dùng để ám chỉ sự đánh đập thân thể (ICo1Cr 4:11 so sánh với Mac Mc 14:65; Mat Mt 26:67). Việc Phao-lô nhắc đến khải tượng tầng trời thứ ba của ông, xảy ra mười bốn năm trước (IICo 2Cr 12:2), ngụ ý rằng hoạn nạn này xảy ra lúc ông bắt đầu chức vụ. Có lẽ cái giằm xóc đó là sự đau đớn thể xác khi ông bị tấn công lúc ông bị bắt bớ (so sánh với Cong Cv 14:19).202
Mỗi quan điểm đều có điểm mạnh, điểm yếu riêng. Có hai điểm quan trọng đáng nhớ. Trước hết, cái giằm xóc trong thịt của Phao-lô là do Đức Chúa Trời “ban cho” để ngăn Phao-lô kiêu ngạo về từng trải đặc biệt của ông (IICo 2Cr 12:7). Phao-lô hẳn hiểu được điều này bởi vì ông tìm kiếm Đức Chúa Trời, thay vì quở trách ma quỷ, trong hoàn cảnh đó (12:8). Dù Sa-tan có thể quấy nhiễu chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời vẫn tể trị hoàn toàn. Thứ hai, Đức Chúa Trời nói không với Phao-lô (12:9). Những quyết định của Đức Chúa Trời trên cuộc đời chúng ta, dù đôi khi gây đau đớn, đều là tốt nhất (RoRm 8:28). Quyền năng của Đức Chúa Trời được nên trọn vẹn trong sự yếu đuối của Phao-lô, và ân điển của Ngài đối cùng ông là đủ rồi. Ân điển của Đức Chúa Trời trên Phao-lô khiến ông có quyền năng thuộc linh để phục vụ nhiều người (12:9, 12; 13:3; ICo1Cr 2:4-5).
Câu Hỏi 60: Sa-tan Và Anti-Christ Có Mối Liên Hệ Gì?
Nếu Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời nhập thể, thì chúng ta có nên xem Anti-Christ (kẻ địch lại Đấng Christ) là hiện thân của Sa-tan không? Các truyền thống Do Thái đôi lúc đồng nhất hóa Anti-Christ với Sa-tan hay Bê-li-an (chẳng hạn, Martyrdom and Ascension of Isaiah 4). Nhưng chúng ta nên tránh đặt Đấng Christ và Anti-Christ ở vị trí quá gần nhau. Không có chỗ nào trong Kinh Thánh nói rằng Sa-tan là Anti-Christ. Thay vào đó, Sa-tan trao cho con thú (kẻ được nhiều người cho là Anti-Christ “sức mạnh, ngôi, và quyền phép lớn” (KhKh 13:2).
Sa-tan và con thú là hai nhân vật khác nhau trong Khải Huyền. Khi Đấng Christ trở lại, con thú bị ném vào hồ lửa trong khi Sa-tan bị trói buộc một ngàn năm trong vực sâu không đáy (19:19-20:2 Chỉ khi nào Sa-tan được thả ra khỏi nơi cầm tù sau một ngàn năm và cố sức tấn công các thánh, thì hắn mới bị ném xuống hồ lửa. Con thú (cùng với tiên tri giảđã ở đó một ngàn năm trước khi Sa-tan cũng bị ném vào đó (20:10). “Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.” Cho nên, dựa trên nền tảng Kinh Thánh, đồng nhất hóa Sa-tan với Anti-Christ là sai.203
Câu Hỏi 61: Sa-tan Sẽ Làm Những Việc Gì Trước Khi Đấng Christ Trở Lại?
Rõ ràng Sa-tan đã mất đi thẩm quyền khi Đấng Christ xuất hiện (Mac Mc 3:25-27). Tuy nhiên, do chúng ta sống trong một thời đại nhiều nghịch lý của những điều “bây giờ nhưng chưa trọn,” chúng ta có thể kinh nghiệm được phước hạnh của sự cứu rỗi, nhưng chúng ta sẽ không thấy những kết quả chung cuộc cho tới khi Đấng Christ trở lại (RoRm 8:18-23; HeDt 6:4-5). Tương tự như vậy, chúng ta có thể hiểu Sa-tan bị trói buộc trong khái niệm “bây giờ nhưng chưa trọn.” Chúng ta thừa nhận thất bại của hắn nơi thập giá, nhưng chúng ta sẽ không thấy thất bại chung thẩm của hắn cho đến chừng nào Đấng Christ tái lâm. Thảm họa mà thế giới đã từng trải trong hai ngàn năm qua, chiến tranh, giết người, cưỡng hiếp, và các hình thức tàn phá khác, chứng tỏ rằng chúng ta sống trong một thời đại mà Sa-tan “biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu” (KhKh 12:12 so sánh với RoRm 16:20).
Theo Kinh Thánh, một số con quỷ đã bị trói buộc nơi vực sâu (IIPhi 2Pr 2:4; Giu Gd 1:6 so sánh với LuLc 8:31). Trong Khải Huyền, chúng ta thấy thiên sứ hủy diệt, được gọi là “A-ba-đôn” hay “A-bô-ly-ôn,” thả ra những sinh vật giống như châu chấu từ vực sâu để hành hại những người không có “dấu ấn” của Đức Chúa Trời trên trán (KhKh 9:1-11). Chúng ta cũng thấy Sa-tan đứng sau sự sa ngã của các thánh trong IITe 2Tx 2:1-16. Nếu chúng ta so sánh việc này với KhKh 13:1-18, chúng ta có thể giả định rằng sau khi sự sa ngã này diễn ra, Anti-Christ hay con thú xuất hiện và cai trị toàn thế giới, bắt bớ các thánh nhân và đàn áp những người theo hắn. Con người vô luật pháp này lấy quyền phép từ chính Sa-tan (KhKh 13:1-4).
Nhưng khi Đấng Christ tái lâm, Ngài sẽ đánh bại con thú và quân đội của hắn, đuổi con thú và tiên tri giả xuống hồ lửa (16:13-16; 19:11-21; EsIs 24:21 đối chiếu với 1QM 18.1-2 Hymn Fragments 4.6, 5.3 1 Enoch 54.6 Testament of Levi 18.12; Testament of Judah 25.3; Testament of Moses 10.1). Hệ thống thế giới mà Sa-tan cai trị sẽ bị hủy diệt, theo như 17:1-18:24. Trong 20:1-15, sau khi Sa-tan bị trói buộc trong vực sâu một ngàn năm, hắn được thả ra để lãnh đạo các nước chống lại các thánh nhân. Lần này, hắn bị ném xuống hồ lửa (đối chiếu với Mat Mt 25:41).
Những hình ảnh này gợi lên nhiều sự dạy dỗ cho những ai đặt niềm tin nơi Đấng Christ. Trước hết, chúng ta thấy rằng sự thất bại của Sa-tan là điều chắc chắn. Các thánh nhân sẽ chứng kiến sự thất bại của ma quỷ và sẽ làm những quan tòa xét xử các thế lực bóng tối (ICo1Cr 6:3). Cho dù sự thể xảy đến trên thế gian hay trong cuộc đời cá nhân chúng ta có tệ hại đến mức độ nào đi nữa, thì chúng ta vẫn có niềm hy vọng trong sự biết chắc rằng Đấng Christ sẽ hoàn toàn đánh bại Sa-tan khi Ngài tái lâm. Thứ hai, vì ma quỷ còn rất ít thời gian trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, nên chúng ta không được lơ là cảnh giác. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, vì ma quỷ “như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (IPhi 1Pr 5:8). Thứ ba, chúng ta biết rằng nhờ Đấng Christ, chúng ta có thể chiến thắng bất kỳ hoàn cảnh nào Sa-tan bày ra trước mắt chúng ta (IGi1Ga 4:4). Cuối cùng, theo Mat Mt 25:41, chúng ta biết rằng mục đích sự trừng phạt nơi địa ngục (hay hồ lửa) là dành cho ma quỷ và các thiên sứ của hắn chứ không phải con người. Trong thần học Tân Ước, những con người kết thúc cuộc đời họ trong địa ngục là do hậu quả những quyết định của họ trên trần gian (so sánh với IIPhi 2Pr 3:9).

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CHIẾN TRẬN THUỘC LINH
Thiên sứ và ma quỷ có bao giờ tranh chiến với nhau không? Kinh Thánh mô tả trận chiến diễn ra ở đâu đó trên trời, nhưng nó không mô tả nhiều chi tiết mà chỉ nói rằng Mi-chen và các thiên sứ của mình đánh bại Sa-tan và các quỷ sứ hắn (KhKh 12:7-9 so sánh với DaDn 10:13, 20). Điều quan trọng hơn mà chúng ta cần biết là cuộc chiến thuộc linh giữa con người và ma quỷ (Eph Ep 6:11-12). Nếu chúng ta đứng về phía vương quốc của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ phải tham gia vào chiến trận giữa hai bên. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về chiến trận thuộc linh, chúng ta cần phải có một quan điểm quân bình.
Câu Hỏi 62: Chiến Trận Thuộc Linh Là Gì?
Chiến trận thuộc linh đôi khi được định nghĩa là sự đối đầu vô hình giữa các thế lực của Đức Chúa Trời và các thế lực của ma quỷ, vương quốc của Đức Chúa Trời chống lại vương quốc của bóng tối. Không giống như chiến tranh trên trần gian, trận chiến thuộc linh liên quan tới việc đánh trận với kẻ thù vô hình (IIVua 2V 6:15-18). Donald Grey Barnhouse gọi đây là “cuộc chiến vô hình.” Đôi khi cuộc chiến này tạo ra những hoàn cảnh khiến tổn thương con người về phương diện thể chất, tình cảm, tâm trí hay tâm linh. Trong Thánh Kinh Tân Ước, các thế lực tối tăm biết rằng Phao-lô là tôi tớ của Đức Chúa Trời, và chúng tấn công ông (Cong Cv 19:15; IICo 2Cr 11:23-12:9).
Dù Thánh Kinh Tân Ước không nói trực tiếp, nhiều người vẫn cho rằng ma quỷ đã quấy rối họ về đêm, hoặc đã tấn công họ theo cách của yêu tinh (xem lời đáp 34). Nhưng tập trung vào các câu chuyện đó dễ đưa đến cách hiểu sai lệch về chiến trận thuộc linh. Mục tiêu chính của ma quỷ không phải là làm cho chúng ta đau đớn thể xác, hay tấn công chúng ta trong đêm. Thay vào đó, chúng ta có thể chắc chắn rằng hắn muốn ngăn trở những người không tin đặt niềm tin nơi Đấng Christ và khiến cho tín nhân suy giảm hay mất hẳn đức tin, hy vọng rằng các Cơ Đốc nhân sẽ làm theo hắn mà xây khỏi Đức Chúa Trời.
Thường thì chúng ta hay lạm dụng đề tài chiến trận thuộc linh. Một số người cố gắng tìm cho ra ma quỷ trong mọi tranh chiến mà họ từng trải. Họ dành nhiều thì giờ quở trách ma quỷ trong khi cầu nguyện, tưởng tượng rằng họ đang ở tiền tuyến và bị ma quỷ tấn công. Nhưng điều quan trọng cần phải nhớ là ngoài ma quỷ và quỷ sứ của hắn, chúng ta cũng có những xung đột với chính sự yếu đuối, bản chất tội lỗi, và ảnh hưởng của những người sa ngã trong một thế giới sa ngã trên chính chúng ta, vốn là điều tạo nên phần lớn nan đề của chúng ta!
Nếu cảm thấy rằng mình đang tranh chiến với một kẻ thù vô hình, thì chúng ta cần phải tin cậy nơi Đức Chúa Trời của Thánh Kinh để chiến thắng, chứ không phải nhờ vào tình trạng thuộc linh, sự khôn khéo hay những mưu lược đánh trận của mình (IICo 2Cr 5:7 Chúng ta cần phải giữ tâm trí của mình tập trung vào những điều thuộc về Đức Chúa Trời thay vì suy đoán về bước đi tiếp theo của ma quỷ (Phi Pl 4:8).
Câu Hỏi 63: Ma Quỷ Có Những Chiến Lược Gì?
Mục đích cuối cùng của Sa-tan trong Thánh Kinh Tân Ước là ngăn trở những mục đích Đức Chúa Trời muốn hoàn thành thông qua Đức Chúa Giê-su và các thánh nhân của Ngài (LuLc 22:31-32; IPhi 1Pr 5:8; Cong Cv 13:10; ITe1Tx 2:18; KhKh 2:10; 12:13-17;). Hắn có thể tấn công các thánh nhân bằng bệnh tật trên thân thể như đối với Gióp và sứ đồ Phao-lô (Giop G 2:7; IICo 2Cr 12:7 đối chiếu với 13:16). Hắn cố gắng nuốt bé trai Mết-si-a, đuổi theo người mẹ của đứa bé và tuyên chiến đối với hết thảy những đứa con của bà (KhKh 12:1-18). Hắn bắt bớ các Cơ Đốc nhân thông qua quyết định của những kẻ vô tín nhưng có địa vị cao (KhKh 16:12-15, 17), và hắn khiến một số người phạm tội giết người (IGi1Ga 3:10, 12). Hắn chính là kẻ ám sát và bắt bớ các thánh nhân (GiGa 8:44; KhKh 12:5, 12). Hắn đứng sau việc Giu-đa phản lại Chúa Giê-su (GiGa 13:2 đối chiếu với 14:30).
Sa-tan rất thích tạo nên lòng thù hận và xung đột trong con người (IGi1Ga 3:8-12; Eph Ep 4:25-27). và tận dụng mọi sự chia rẽ, sự không tha thứ giữa vòng các Cơ Đốc nhân (IICo 2Cr 2:11). Trong Cựu Ước, hắn kiện cáo các thánh nhân (Giop G 1:1-2:12; XaDr 13:1-4 đối chiếu với KhKh 12:10), và trong Tân Ước, hắn dùng những người không tin để vu cáo các tín nhân (ITi1Tm 3:6-7; IGi1Ga 5:19). Hắn có thể tác động đến những người không tin để thực hiện ý đồ của mình vì hắn đã làm mù tâm trí của họ trước lẽ thật Phúc Âm (IICo 2Cr 4:4 đối chiếu với Mac Mc 4:15; Mat Mt 13:38-41). Hắn là bậc thầy lừa dối, vì hắn là cha sự nói dối (GiGa 8:44; Cong Cv 13:10; IICo 2Cr 11:2-14; IITe 2Tx 2:9; ITi1Tm 5:15; Gia Gc 3:14; KhKh 12:9 đối chiếu với KhKh 2:9; 3:9 1 Enoch 69.6).
Sa-tan cám dỗ vua Đa-vít phạm tội khi ông cho điều tra dân số Y-sơ-ra-ên (ISu1Sb 21:1).204 Hắn cám dỗ Đấng Christ làm theo ý riêng của Ngài thay vì lệ thuộc nơi Đức Chúa Trời (Mat Mt 4:1-11) Sa-tan cám dỗ các cặp vợ chồng phạm tội ngoại tình (ICo1Cr 7:5).
Khi Sa-tan cám dỗ con dân của Đức Chúa Trời phạm tội, thì tự nhiên thảm họa cũng theo sau. Khi A-na-nia và Sa-phi-ra nói dối Thánh Linh lúc dâng hiến, y như điều Sa-tan đã cám dỗ họ, họ chết ngay lập tức (Cong Cv 5:1-42). Hắn được phép tấn công những người bỏ đạo, cũng như những người phạm tội tình dục trong ICo1Cr 5:1-5. Phao-lô phó những người phạm tội “cho quỷ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho linh hồn được cứu trong ngày Đức Chúa Jêsus” (5:5). Phao-lô đã phó Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, hai người bỏ đạo, “cho quỷ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa” (ITi1Tm 1:20). Có thể Phao-lô hiểu rằng Sa-tan là “kẻ hủy diệt” trong 10:10 (so sánh với KhKh 9:1, 11) Testament of Benjamin 3.3; Jubilees 11.11, 49.2 Assumption of Moses 10.1). Một trong những mục tiêu căn bản của Sa-tan là khiến các thánh nhân từ bỏ đức tin của mình (ITe1Tx 3:5; IITe 2Tx 2:1-12).
Câu Hỏi 64: Ma Quỷ Phá Hoại Công Việc Của Cơ Đốc Nhân Như Thế Nào?
Trong cuốn Những Lá Thư Của Quỷ Screwtape của C. S. Lewis, một con quỷ có đẳng cấp cao tên là Screwtape hướng dẫn một con quỷ nhỏ tên là Wormwood cách để làm suy yếu đức tin của một Cơ Đốc nhân. Tương tự như vậy, ma quỷ nhận mệnh lệnh từ Sa-tan. Trong Kinh Thánh, một trong những mục đích của chúng là hủy hoại đời sống con người bằng cách gây nên những bệnh tật thể xác (Giop G 2:7; Mat Mt 17:14; LuLc 13:10-17 đối chiếu với Jub. 10:10-13) và sự dày vò tâm trí (ISa1Sm 16:1-23:28; Mac Mc 5:2-5, 15 đối chiếu với GiGa 7:20; 8:48-52; 10:20-21 Jubilees 15:31). Bằng cách khống chế, lừa dối, và dùng tôn giáo giả, ma quỷ khiến những nạn nhân của chúng thực hành hiến tế người hoặc tự làm tổn thương họ (Thi Tv 106:36-38; Mac Mc 5:3-4 so sánh với IVua 1V 18:28). Chúng cũng có thể hủy hoại sự sống bằng cách xúi giục giết người, bạo lực và chiến tranh (ISa1Sm 18:10-11; KhKh 16:13-14).
Giống như Sa-tan, những con quỷ rất thích khiến cho các thánh nhân đi sai lệch (RoRm 8:38; ITi1Tm 4:1-5). Về bản chất, ma quỷ sẽ dùng đủ mọi cách để phá hoại sự bình an và thông công của Cơ Đốc nhân với Đức Chúa Trời. Những kỷ luật thuộc linh như là cầu nguyện và đức tin tạo thành một thứ vũ khí sắc bén giúp chúng ta chống lại các thế lực bóng tối (Eph Ep 6:10-18). Kinh Thánh cảnh báo rằng con dân của Đức Chúa Trời không được để cho ma quỷ có chỗ đứng trong cuộc đời họ (Eph Ep 4:27).
Câu Hỏi 65: Các Cơ Đốc Nhân Có Uy Quyền Để Quở Trách Sa-tan Và Quỷ Sứ Hắn Không?
Bạn có bao giờ nghe một nhà truyền giảng trên TV hướng dẫn cả hội chúng cầu nguyện như thế này: “Sa-tan, ta trói buộc và quở trách mi! Mi không được đụng đến những gì thuộc về ta!” Điều này có đúng Kinh Thánh không? Kinh Thánh dạy rằng các Cơ Đốc nhân có uy quyền trên ma quỷ (LuLc 9:1; 10:17, 20; Mat Mt 10:20; Mac Mc 16:17), nhưng điều đó không có nghĩa là họ có thể đi khắp nơi mà quở trách Sa-tan trong mọi ngóc ngách. Không có chỗ nào Kinh Thánh ghi nhận việc các sứ đồ trực tiếp quở trách Sa-tan và quỷ sứ hắn. Họ đối đầu với ma quỷ qua những người bị quỷ ám (Cong Cv 13:6-12; 16:16-18). Nhiều diễn giả đã đi quá xa trong lĩnh vực này.
Thường thì trong các buổi cầu nguyện, các Cơ Đốc nhân nhóm ân tứ bắt đầu lớn tiếng quở trách Sa-tan khi họ cầu nguyện. Đôi khi lời cầu nguyện của họ tập trung vào ma quỷ nhiều hơn là Đức Chúa Trời! Một số người có thể quở trách Sa-tan trong tâm trí, mà không biết rằng Sa-tan không thể đọc được những suy nghĩ của họ (xem lời đáp 51). Chúng ta đừng đánh giá quá cao quyền lực của Sa-tan. Hắn không toàn tri đâu. Thậm chí có thể hắn không biết rằng cả một hội chúng đang cầu nguyện chống lại hắn trừ khi hắn cũng có mặt. Tôi nghi ngờ việc ma quỷ có thể nghe được mọi lời quở trách của các Cơ Đốc nhân.
Có cách nào để quở trách Sa-tan và quỷ sứ hắn cách khôn ngoan không? Trước hết, cần phải chắc chắn rằng chúng có mặt để nghe bạn quở trách! Khi chúng ta đối diện với những người bị quỷ ám, chúng ta biết rằng ma quỷ đang có mặt. Nhưng trong một buổi cầu nguyện Cơ Đốc, có thể ma quỷ không hề có mặt.
Thứ hai, nếu bạn cầu nguyện đuổi quỷ cho một người nào đó mà người đó không có mặt, hãy hướng lời cầu nguyện đến Đức Chúa Trời , chứ không phải Sa-tan hay quỷ sứ của hắn. Con quỷ đang nhập vào một người ở xa chỗ của bạn không thể nghe bạn nói. Nhưng nếu bạn cầu nguyện xin Chúa quở trách ma quỷ, Đức Chúa Trời có thể nghe lời cầu nguyện của bạn, dù bạn đang ở đâu. Giải cứu “từ xa” là điều hoàn toàn có thể trong những trường hợp này (Mac Mc 7:24-30 so sánh với Cong Cv 19:11-12).
Thứ ba, nếu bạn có cơ sở để tin rằng ma quỷ đang có mặt, cách để quở chúng theo như Kinh Thánh là nói rằng, “Cầu Chúa phạt ngươi!” Giu-đe 9 khẳng định rằng thiên sứ trưởng Mi-chen đã không dám mắng nhiếc ma quỷ, nhưng nói với hắn rằng, “Cầu Chúa phạt ngươi!” (đối chiếu với XaDr 3:1-2 2 Apocalypse of Baruch 21.23; Life of Adam and Eve 39). Kinh Thánh lên án những ai tự phụ nói phạm đến các quyền lực trên cao (IIPhi 2Pr 2:10-12; Giu Gd 1:8-10).
Thẩm quyền mà các Cơ Đốc nhân có để quở trách ma quỷ đến từ danh của Đức Chúa Giê-su Christ; thẩm quyền này thuộc về Ngài, chứ không phải quyền lực của con người (Mac Mc 1:34; 3:11-12; LuLc 4:35-36; Cong Cv 4:7; Phi Pl 2:9-11; IITe 2Tx 2:8; IGi1Ga 4:4; KhKh 19:11). Sự chết và phục sinh của Đấng Christ đã thiết lập thẩm quyền đời đời của Ngài trên mọi tạo vật, gồm cả Sa-tan lẫn quỷ sứ hắn. Do đó, các Cơ Đốc nhân có thẩm quyền thông qua danh và huyết của Chúa Giê-su (tượng trưng cho sự chuộc tội, sự chết hy sinh của Đấng Christ: KhKh 12:11; Eph Ep 1:7; CoCl 2:15; HeDt 2:14; Mat Mt 28:18
Chữ Hê-bơ-rơ được dịch là “phạt” ( ) ở đây hàm ý sự quở trách. Lời phán sáng tạo của Đức Chúa Trời ban sự sống (EsIs 55:10-11), nên lời quở phạt của Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt các tạo vật nào làm Ngài không đẹp lòng (Giop G 26:11; Thi Tv 18:15; 103:7; 105:9; IIVua 2V 22:16; so sánh với 1QapGen 20.28-29 1QM 14:9-10).205 Trong Tân Ước, chữ “quở nặng” (tiếng Hy Lạp là epitima ) là chữ dùng để chỉ đặc quyền của Chúa Giê-su, công bố địa vị làm Chúa của Ngài (LuLc 4:31-37 đối chiếu với Mac Mc 8:32-33; Mat Mt 16:22; LuLc 9:55)206 Chỉ có Đấng Christ mới quở các sức mạnh thiên nhiên vì chính Ngài tạo nên chúng (Mac Mc 4:39-41; 11:23 so sánh với GiGa 1:1-3, 14; CoCl 1:15-18).
Câu Hỏi 66: “Buộc Và Mở” Là Gì?
“Ta trói buộc công việc của Sa-tan trong danh Chúa Giê-su và mở ra những ơn phước của Đức Chúa Trời!” Những người giảng đạo trên truyền hình thường hay khẳng định như thế. Từ đâu mà họ có khái niệm trói buộc và mở này? Khi Phi-e-rơ xưng Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su chúc phước cho ông và tuyên bố, “Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi; hễ điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ được mở ở trên trời” (Mat Mt 16:19).207 Quyền buộc và mở được ban cho mọi môn đồ (18:18).
Một số người nghĩ rằng Chúa Giê-su đang ban quyền trên ma quỷ cho Phi-e-rơ. Trong văn chương Do Thái, “buộc” và “mở” đôi lúc được dùng để nói đến những câu thần chú (Testament of Levi 18:12 Testament of Solomon Sol. 1:14 16:18) khẳng định rằng cửa âm phủ sẽ không thắng được Hội Thánh. Nhưng cụm từ cửa âm phủ không ám chỉ các thế lực ma quỷ.208 Chúng ta đã nhắc đến việc Sa-tan và quỷ sứ hắn không sống trong địa ngục (xem câu hỏi 53). Trong 16:18, Đấng Christ công bố rằng chính sự chết (địa ngục - âm phủ - sẽ không thắng nổi Hội Thánh vì Hội Thánh có quyền năng phục sinh của Đấng Christ (so sánh với KhKh 1:18; RoRm 8:38-39; ICo1Cr 15:51-57 Bản Kinh Thánh RSV dịch rất chính xác: “Các quyền lực của sự chết sẽ không thắng nổi Hội Thánh” (Mat Mt 16:18).
Hơn nữa, nếu, theo Mat Mt 16:19 và 18:18, Đấng Christ đang ban quyền năng trên ma quỷ cho các môn đồ, vậy thì họ nhận một quyền năng mà họ không có trên ý nghĩa nào? Xét cho cùng, Đấng Christ đã ban cho họ quyền năng trên ma quỷ khi Ngài sai họ đi giảng đạo (Mat Mt 10:1; LuLc 9:1). Nếu các phân đoạn này hàm nghĩa “trói buộc” Sa-tan, thì sự “mở” lại không có nghĩa là thả Sa-tan ra sao? Sự “buộc và mở” trong Kinh Thánh không liên quan nhiều đến chiến trận thuộc linh vì nó không trực tiếp “buộc và mở” Sa-tan.
Điều có liên quan nhiều hơn đến chiến trận thuộc linh là việc trói “người mạnh sức” trong Mac Mc 3:27. Câu này mô tả việc Chúa Giê-su trói người mạnh sức, một khái niệm ám chỉ Sa-tan trong 3:24. Thông qua chức vụ của Đấng Christ, vương quốc Đức Chúa Trời được thành lập trên đất và các quyền lực bóng tối bị đánh bại vì Ngài đã chiến thắng sự chết (HeDt 2:14; CoCl 2:15; GaGl 4:9).
Phi-e-rơ cũng được “buộc” và “mở” vì ông đã có “chìa khóa.” “Chìa khóa” ở đây ám chỉ điều gì? Ê-sai đã nói tiên tri về phước lớn cho Ê-li-a-kim, người gác cổng cung điện của vua (EsIs 22:22). Ông sẽ được nhận một chìa khóa và không ai có thể vào cung điện nếu không có chìa khóa của Ê-li-a-kim. Tương tự như vậy, Chúa Giê-su đang biến Phi-e-rơ và các môn đồ khác thành những người gác cổng cho vương quốc của Đức Chúa Trời. Do đó, khái niệm chìa khóa , buộc và mở ở đây là hình ảnh biểu tượng, nên hiểu trong các khái niệm là Chúa Giê-su trao cho các môn đồ thẩm quyền (chìa khóa để cấm (đóng/buộcvà cho phép (mở/thả người khác tiến vào nước thiên đàng (KhKh 3:7 so sánh với KhKh 1:18; LuLc 11:52 2 Enoch 40.9-11; 3 Apocalypse of Baruch 11.2; b. Sanhedrin 113a).209
Toàn bộ điều này sẽ có nghĩa một khi chúng ta hiểu được bối cảnh đề cập đến việc buộc và mở trong Mat Mt 18:15-20. Chủ đề phân đoạn này tập trung vào việc tha thứ (“mở”) hoặc dứt phép thông công (“buộc”) một tội nhân không chịu ăn năn trong Hội Thánh. Chúa Giê-su ban cho các môn đồ thẩm quyền để quyết định những điều ảnh hưởng đến sức khỏe của Hội Thánh. Cũng vậy, Ngài ban cho họ thẩm quyền dạy dỗ để công bố Phúc Âm thật, đặc trưng bởi sự tha thứ tội lỗi (GiGa 20:22-23; Cong Cv 2:37-42, 47; 3:19; 4:11-12; 8:20-24 so sánh với Giop G 42:9-10 LXX Targum Noefiti I of Genesis 4.7).
Vậy, các Cơ Đốc nhân có nên “buộc” ma quỷ không? Nếu họ nhắc để các thế lực bóng tối nhớ lại thất bại của chúng (việc chúng bị “buộc”thông qua chức vụ và sự chết của Chúa Giê-su trên thánh giá, thì việc buộc ma quỷ trong ý nghĩa này hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, thường thì tôi nghi ngờ là nhiều Cơ Đốc nhân dùng từ buộc với ý nghĩa buộc và mở trong Mat Mt 16:19 và 18:18. Buộc và thả ma quỷ không phải là ý nghĩa đằng sau của các câu Kinh Thánh này. Không nhất thiết là sai khi dùng từ trói buộc khi quở trách các thế lực ma quỷ; nhưng chúng ta cần phải nhận thức rằng nó không liên quan đến các phân đoạn này.
Câu Hỏi 67: Chúng Ta Chống Cự Lại Sa-tan Và Các Quỷ Sứ Hắn Như Thế Nào?
Thánh Gia-cơ khuyên rằng, “Vậy hãy phục Đức Chúa Trời; hãy chống trả ma quỷ, thì nó sẽ lánh xa anh em” (Gia Gc 4:7). Có rất nhiều cách để chống trả Sa-tan. Có lẽ phân đoạn nói dứt khoát nhất về chiến trận thuộc linh là Eph Ep 6:10-18. Ở đây, Kinh Thánh nói đến việc chống trả ma quỷ qua hình ảnh người lính La-mã. Cuộc chiến của chúng ta “chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền (archas ), cùng thế lực (exousias ), cùng vua chúa (kosmokratoras ) của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ (pneumatika tçs ponçrias ) ở các miền trên trời vậy” (6:12; IICo 2Cr 10:4-5).
Chúng ta cần phải đứng vững trước “mưu kế” của ma quỷ (Eph Ep 6:11). Nhận thức sáng suốt, sự khôn ngoan và lương tri luôn cặp theo chiến trận này, vì ma quỷ hiếm khi để lộ bộ mặt thật của hắn trong bất kỳ cuộc tấn công nào. Andrew Lincoln tuyên bố, “Không phải lúc nào ma quỷ cũng tấn công cách trực diện, nhưng hắn dùng những mưu mẹo xảo quyệt, điêu ngoa để thình lình tóm lấy các tín nhân”.210 Tuy nhiên, sức mạnh của chúng ta không nằm nơi chính bản thân chúng ta, bèn là nơi Đức Chúa Trời Toàn Năng (6:10). Phân đoạn này mượn hình ảnh Đức Chúa Trời là chiến binh tối thượng trong các tài liệu Do Thái khác (EsIs 11:1-5; 59:14-19 đối chiếu với Wisdom of Solomon 5.15-20; 1 Maccabees 2.42-3.5). Tuy nhiên, là các tôi tớ Đức Chúa Trời, chúng ta phải mặc lấy toàn bộ khí giới của Ngài. Eph Ep 6:14-17 đề cập đến nhiều khí giới.
1. Nịt lưng bằng lẽ thật . Đức Chúa Trời là Đấng chân thật vì Ngài công bố mọi sự đúng như trong thực tế và không hề nói dối (ISa1Sm 15:29; Thi Tv 31:5; HeDt 6:18), nên chúng ta cũng phải chân thật trong lời nói và hành vi (Eph Ep 4:25; 5:9). Do vậy, thứ khí giới đầu tiên trong bộ giáp của chúng ta chính là phẩm hạnh đạo đức (so sánh với EsIs 11:5). Hành vi của chúng ta chứng minh chúng ta là ai và chúng ta tin điều gì. Khi Gia-cơ khuyên các độc giả của mình chống lại ma quỷ, ông cũng khuyên những người hai lòng làm sạch lòng mình (Gia Gc 4:8). Đời sống đạo đức của người lính của Đức Chúa Trời không có chỗ cho sự bất trung. Do đó, Kinh Thánh công bố rằng một người lính phải tránh những việc đời (IITi 2Tm 2:4). Những người lính phải mạnh mẽ, sẵn sàng và bền chí (ITe1Tx 5:6; IITi 2Tm 2:1; ICo1Cr 16:13; Eph Ep 6:10-13).
2. Giáp công bình . Các Cơ Đốc nhân được xưng công bình nhờ sự công bình của Đấng Christ bởi đức tin. Và như một thần học gia nói, “Một người được xưng công bình bởi đức tin thì cũng phải bởi đức tin mà tìm kiếm những việc làm công bình và tăng trưởng trong sự công bình bởi ân điển Đức Chúa Trời (RoRm 6:12-18; Eph Ep 4:24; 5:9; Phi Pl 1:11; HeDt 11:1-40; Gia Gc 2:17-26; IPhi 1Pr 2:24; IGi1Ga 2:29).211 Nếu chúng ta phải làm những việc công bình, thì mọi hành vi của chúng ta phải công bình (MiMk 5:8; IICo 2Cr 6:7). Dù có thể không bao giờ chúng ta đạt được mức độ hoàn hảo trong cuộc đời này (đối chiếu với IGi1Ga 1:8, 10), chúng ta có thể tìm kiếm sự công bình thông qua sự tự đầu phục và đặt Đấng Christ lên trước hết trong cuộc đời chúng ta. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta phải xưng ra, và Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta (IGi1Ga 1:9; 2:1-2). Những tội lỗi không được xưng ra chính là cơ hội cho kẻ thù.
3. Mang giày sẵn sàng của Tin Lành bình an . Kinh Thánh mô tả bàn chân của người công bình là bàn chân mang tin mừng hay Tin Lành bình an đi khắp nơi (EsIs 52:7; NaNk 1:15; RoRm 10:15). Trong Ê-phê-sô, Phúc Âm của Đấng Christ (sứ điệp tin mừng về sự chết, chôn và phục sinh của Đấng Christ cùng với những lợi ích việc đó mang đến, ICo1Cr 15:1-8) phục hồi sự hòa thuận trong toàn cõi vũ trụ (Eph Ep 1:10; 3:10)212 và mang đến sự hòa bình giữa con người và Đức Chúa Trời, giữa dân Do Thái và dân ngoại (2:14-18). Những ai đứng vững trong Phúc Âm và tiến sâu vào biên giới của quân thù là những người đang trong quá trình phục hồi sự hòa thuận trong một vũ trụ đã bị Sa-tan làm rối loạn và hư hoại. Họ đang rao giảng Phúc Âm cho “toàn thể sự sáng tạo” (Mac Mc 16:15).213
4. Thuẫn đức tin . Đức tin nơi Đấng Christ là điều tuyệt đối cần thiết để được cứu rỗi (Eph Ep 2:8-9; Cong Cv 16:31; RoRm 10:9-10; GiGa 3:16; IGi1Ga 5:4-5), nhưng thuẫn đức tin đề cập đến việc không ngừng tin cậy nơi Đức Chúa Trời dù đang ở trong những hoàn cảnh bất lợi. Bởi đức tin, chúng ta có thể đứng vững trước những tên lửa (cám dỗ và tấn công) của Sa-tan. Thuẫn của lính La-mã thường làm bằng gỗ, nhưng chúng được bọc bằng da thấm nước. Cái thuẫn bảo vệ những người lính khỏi các mũi tên lửa đang bay đến chỗ của họ (Thucydides History of the Peloponnesian War 2.75.5). Người nào có đức tin sẽ thắng được thế gian, hay kosmos (vũ trụ), lãnh thổ của kẻ thù (IGi1Ga 5:4-5, 18-19; 4:4 so sánh với GiGa 16:33).
Nhờ sự tự chủ, cảnh giác, trông cậy và lệ thuộc nơi Đức Chúa Trời, chúng ta có thể chống cự được Sa-tan “sư tử rống,” biết rằng mọi người khác ở khắp thế giới đều phải đối diện với những thử thách mà chúng ta đối diện (IPhi 1Pr 5:8-9). Daniel P. Fuller, cố viện trưởng chủng viện thần học Fuller, nói rằng những bất hạnh không thể kéo chúng ta ra khỏi hy vọng tương lai (ITe1Tx 3:2-5) vì Đức Chúa Trời làm cho mọi sự trở nên ích lợi cho những ai yêu mến Ngài (RoRm 8:28; Gie Gr 29:11).214 Do đó, chúng ta cần phải chiến đấu bởi đức tin giữa những hoàn cảnh khó khăn, giống như các thánh nhân đầu tiên (ITi1Tm 6:12; IITi 2Tm 4:7). Chúng ta nên nhận thức rằng điểm quyết định trong chiến trận này chính là Đấng Christ đã chết và phục sinh.
5. Mão trụ cứu rỗi . Các Cơ Đốc nhân không còn bị tội lỗi và sự chết chia cắt khỏi Đức Chúa Trời (Eph Ep 2:1-9; RoRm 3:23-26; 6:23). Tuy nhiên, sự cứu rỗi lại có một khía cạnh nghịch lý: “bây giờ nhưng chưa trọn.” Các Cơ Đốc nhân được cứu, nhưng sự cứu rỗi cuối cùng vẫn còn trong tương lai (Eph Ep 1:13-14; 4:30; ICo1Cr 1:18). Cho nên, họ phải đứng vững trong sự bảo đảm của đức tin cho đến cuối cùng (HeDt 3:12-14; Mat Mt 24:13). Các Cơ Đốc nhân chịu sự bắt bớ nặng nề được thắng hơn Sa-tan nhờ vào tình yêu thương dành cho Đức Chúa Trời hơn là chính đời sống của họ (KhKh 12:11). Dù Sa-tan có cố gắng đến mức nào, hắn cũng không thể giật lấy chúng ta ra khỏi bàn tay Đức Chúa Trời nếu chúng ta tiếp tục đứng vững trong đức tin. Đức Chúa Trời hứa chắc chắn rằng Ngài không hề lìa hay bỏ chúng ta (HeDt 13:5; GiGa 10:28-30; IGi1Ga 5:13).
6. Gươm Thánh Linh -Lời Đức Chúa Trời . Trong thư Ê-phê-sô, cụm từ “lời Đức Chúa Trời” dường như đề cập đến Tin Lành về sự cứu rỗi (Eph Ep 1:13; 5:26 so sánh với IPhi 1Pr 1:25). Khi công bố sự hòa giải giữa Đức Chúa Trời và con người, chúng ta có thể thắng được điều ác.215 Bất cứ khi nào có ai làm chứng về Chúa Giê-su, người đó đang nhắc ma quỷ và các thế lực bóng tối về thất bại của chúng tại thập giá!
Gươm Thánh Linh nói đến tính hiệu quả của lời Đức Chúa Trời hay sự “sắc bén.”216 Thánh Linh ban quyền năng và sự thông hiểu bất cứ khi nào có ai đó công bố sứ điệp Phúc Âm (ITe1Tx 1:5). Do đó, để sử dụng “gươm” cách hiệu quả, chúng ta cần phải được đầy dẫy Thánh Linh (Eph Ep 5:18). Việc đầy dẫy Thánh Linh cũng cho phép tín nhân góp phần vào việc nuôi dưỡng và bảo vệ Hội Thánh thông qua các ân tứ Thánh Linh.217
Thông thường, để công bố sứ điệp Phúc Âm cứu rỗi cách có hiệu quả, trước hết chính chúng ta cần phải hiểu nó và áp dụng cho chính đời sống của chúng ta. Chúng ta hiểu được sứ điệp đó thông qua việc nghiên cứu Kinh Thánh. Khi Chúa Giê-su chịu cám dỗ, Ngài trưng dẫn Lời Đức Chúa Trời (Kinh Thánh) để đáp trả với Sa-tan (Mat Mt 4:1-25 so sánh với IGi1Ga 2:14). Chúng ta cũng có thể thắng hơn ma quỷ theo cách này.
7. Cầu nguyện . Dù cầu nguyện không phải là một phần trong bộ áo giáp, nó vẫn được đề cập đến trong phân đoạn nói về việc chống cự ma quỷ (Eph Ep 6:18). Cầu nguyện phải “trong Đức Thánh Linh” (Giu Gd 1:20). Đời sống đầy dẫy Thánh Linh gồm có sự ngợi khen, thờ phượng và ca hát (Eph Ep 5:18-20; ICo1Cr 14:15). Khi Đa-vít chơi đàn (có lẽ hát những bài hát tâm linh), uế linh liền ra khỏi Sau-lơ (ISa1Sm 16:14, 23). Lời cầu nguyện, cầu xin và cầu thay được Thánh Linh hướng dẫn là một phần hết sức quan trọng đối với kỷ luật thuộc linh (ITi1Tm 2:1-3). Phao-lô bảo Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca phải cầu nguyện không thôi (ITe1Tx 5:17). Các Cơ Đốc nhân phải phát triển thói quen cầu nguyện (LuLc 21:36; CoCl 4:2-4; Phi Pl 4:6; ITe1Tx 5:17). Chúa Giê-su phán rằng những thế lực ma quỷ ngoan cố có thể bị đánh bại bởi sự cầu nguyện (Mac Mc 9:29; Mat Mt 17:21). Chúng ta kháng cự lại Sa-tan khi chúng ta đến gần Đức Chúa Trời và xây khỏi tội lỗi (Gia Gc 4:7-8; XaDr 1:3; MaMl 3:7 so sánh với IISu 2Sb 15:2 Testament of Dan 6.2).
Những ai đặt niềm tin của mình nơi Đấng Christ sẽ thắng hơn Sa-tan nhờ đời sống đạo đức, công bình, mở rộng vương quốc Đức Chúa Trời, trông cậy nơi sự chu cấp và bảo vệ của Ngài trên đời sống chúng ta, nhận biết và thể hiện sứ điệp Phúc Âm đồng thời có một đời sống cầu nguyện được Thánh Linh dẫn dắt. Daniel Fuller liệt kê năm chiến lược đối đầu chống lại ma quỷ:
1. Chúng ta cần giữ mình bận rộn với việc lành, vì sự biếng nhác sinh ra tội lỗi (ITi1Tm 5:13-15).
2. Việc kỷ luật không được quá nghiêm khắc đến độ không thể tha thứ được (IICo 2Cr 2:6-11).
3. Những người lãnh đạo Hội Thánh phải có danh tiếng tốt (ITi1Tm 3:2-7).
4. Các cặp vợ chồng không nên tiết chế quan hệ tính dục quá lâu vì sẽ bị cám dỗ những lúc thiếu tự chủ (ICo1Cr 7:5).
5. Những người mới tin Chúa không được làm lãnh đạo, dù người đó có tài năng hay ân tứ nhiều bao nhiêu, vì “e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỷ chăng” (ITi1Tm 3:6).218
Câu Hỏi 68: Có Các Linh Chế Ngự Lãnh Thổ Hay Không?
Nhiều người dự một buổi cầu nguyện tại San Francisco. Mục đích của buổi họp là để giải thoát thành phố khỏi “linh dâm dục” đang ảnh hưởng đến các cư dân. Kinh Thánh nói gì về các linh này? PhuDnl 32:8-9 khẳng định rằng: “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, phân rẽ những con cái A-đam, thì Ngài định bờ cõi của các dân, cứ theo số dân Y-sơ-ra-ên vì phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là cơ nghiệp Ngài.”220 Như đã đề cập trong lời đáp 16, “các con trai của Đức Chúa Trời” có lẽ là các thiên sứ trông nom các quốc gia. Trong DaDn 10:1-21, chúng ta thấy các thiên sứ trông coi Ba Tư và Hy Lạp (10:13, 20 so sánh với Giop G 1:5-6; IIVua 2V 18:35; EsIs 24:21-22 2 Maccabees 5; Jubilees 15.30-32 1 Enoch 20:5, 89-90; Sirach 17.17; 1QM 17:5-18, PhuDnl 32:8-9) có thể ngụ ý rằng dù các nước khác đang ở dưới tầm ảnh hưởng của các thế lực khác, thì Y-sơ-ra-ên vẫn thuộc về Đức Chúa Trời.221 Trong Tân Ước, các thánh nhân hoàn toàn đi ngược lại thế giới sa ngã (Eph Ep 2:2-4; CoCl 4:4; IGi1Ga 5:19). Cho nên “các linh chế ngự lãnh thổ” có thể tồn tại, nhưng điều đó không biện minh cho những khái niệm sai lạc của một số người về các linh này.
Trước hết, các thiên sứ này hình như đóng vai trò những người bảo vệ. Không nhất thiết là họ chuyên tâm vào một tội lỗi đặc biệt nào. Thành phố San Francisco có thể có nhiều cư dân độc ác và dâm dục, nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là một con quỷ dâm ô khổng lồ ẩn nấp đằng sau mọi sự đó. Thứ hai, không có chỗ nào trong Kinh Thánh ghi nhận có ai đó được đặc biệt chỉ định để xác nhận hay cầu nguyện chống lại các linh chế ngự lãnh thổ. Nếu quả đúng như vậy thì Đức Chúa Trời đã bảo Đa-ni-ên quở trách vua nước Ba Tư thay vì hướng lời cầu nguyện của ông đến Đức Chúa Trời (DaDn 10:1-13). Cuối cùng, chúng ta không nên đề cập đến các linh ma quỷ khi cầu nguyện trừ khi chúng thực sự có mặt, đối diện với chúng ta. Nếu chúng ta thấy lòng mình nặng gánh phải cầu nguyện cho thành phố San Francisco về sự dâm dục, hoặc sự bắt bớ ở một nước cụ thể nào đó, chúng ta nên nói với Chúa về vấn đề đó chứ không phải nói với ma quỷ.
Wayne Grudem kể thêm bốn quan niệm sai lầm về các linh chế ngự lãnh thổ. “Không chỗ nào trong Thánh Kinh Tân Ước ghi nhận một ai đó đã (1) gọi một “linh chế ngự lãnh thổ’ đến … (2) hỏi những con quỷ về hệ thống thứ bậc của chúng tại địa phương … (3) nói rằng chúng ta phải tin hay dạy những gì ma quỷ nói … (4) dạy hay làm mẫu về việc ‘những đồn lũy của ma quỷ’ trên một thành phố nào đó phải được phá đổ trước khi có thể công bố Phúc Âm cách hiệu quả tại nơi đó.”222
Câu Hỏi 69: Chúa Giê-su Có Phải Là Thầy Phù Thủy Không?
Chức vị thầy phù thủy Cornelius, giám mục thành Rô-ma, đề cập đến lần đầu tiên trong Hội Thánh vào giữa thế kỷ thứ ba. Trong thời kỳ Hội Thánh đầu tiên, nhiệm vụ của một chức vị thầy phù thủy là đặt tay trên người bị quỷ nhập hoặc bị quấy nhiễu tâm thần (người bị quỷ ám và yểm trừ cho những người chuẩn bị làm báp-tem người mới học đạo .223 Người cải đạo từ bỏ Sa-tan và con đường cũ của mình trước khi chịu báp-tem. Người ta cho rằng việc làm báp-tem bằng nước có công dụng đuổi quỷ224 và dấu hiệu thập giá xua đuổi chúng đi (giải nạn ). Chức vị thầy phù thủy vẫn còn trong Hội Thánh Công Giáo La-mã. Trong thứ kinh Tobit , Tobias bắt một con cá ra khỏi nước theo yêu cầu của thiên sứ Raphael. Trái tim và lá gan của con cá được dùng làm thuốc xông chống lại những cuộc tấn công của các tà linh (Tobit 6:1-9). Các nghi lễ đuổi quỷ của những người ngoại giáo thậm chí còn khác thường và mang tính yêu thuật hơn nhiều.225
Chúa Giê-su không phải là một thầy phù thủy dùng những vật có tính chất ma thuật hoặc đọc những câu thần chú như kiểu phù phép, nhưng Ngài đã đuổi nhiều con quỷ. Không giống như nhiều người ngoại đạo và Do Thái giáo thời nay, Chúa Giê-su đuổi quỷ bằng chính thẩm quyền của Ngài, Ngài chỉ nói vài lời ngắn gọn như: “Hãy nín đi, ra khỏi người này” (Mac Mc 1:25), “đừng ám nó nữa” (9:25), và “hãy đi đi!” (Mat Mt 8:32). Thậm chí Chúa Giê-su cũng đã đuổi quỷ từ xa (15:21; Mac Mc 7:24-30 so sánh với Cong Cv 19:12). Và Ngài ban cho các môn đồ quyền năng tương tự trên ma quỷ (LuLc 9:1; 10:17; Mac Mc 3:14; 16:8; Cong Cv 5:16; 8:7; 16:18). Quyền năng của Ngài phi thường đến độ dân sự phải thốt lên, “Không hề bao giờ thấy sự như vậy trong dân Y-sơ-ra-ên” (Mat Mt 9:33 so sánh với LuLc 4:36). Chúa Giê-su xem việc đuổi quỷ là một dấu hiệu có ý nghĩa, cho thấy rằng vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến. Sa-tan bây giờ đang bị trói buộc và đánh bại (Mac Mc 3:22-27).
Câu Hỏi 70: Có Các Linh Truyền Từ Thế Hệ Này Sang Thế Hệ Khác Không?
Một số người cho rằng việc quỷ nhập hay các quyền lực tà giáo được di truyền từ cha mẹ hay tổ tiên, gọi là tà linh hay lời nguyền rủa truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Con người có thể thừa hưởng những đặc tính xấu của cha mẹ, và Đức Chúa Trời công bố rằng tội lỗi của cha mẹ sẽ giáng xuống con cháu đến “ba bốn đời” (XuXh 20:5). Một số người cho rằng chữ “familiar spirit” trong bản Kinh Thánh King James có nghĩa là một “family spirit” - tà linh của một gia đình - so sánh với LeLv 19:31 bản KJV; PhuDnl 18:10-12).
Tuy nhiên, nên hiểu người có linh đồng cốt là một người thông linh hoặc một người gọi hồn, giống như các bản dịch Kinh Thánh hiện đại xác định. Một học giả viết rằng vấn đề các đồng cốt “được đưa ra lúc niềm tin về sự hiện hữu của các uế linh trở nên sâu rộng, và lúc người ta cho rằng quyền lực con người có thể chinh phục hoặc đánh bại các linh đó đồng thời buộc chúng phải phục vụ chủ mới của chúng trong bất cứ công việc gì mà người đó chỉ định.” 226
Dù việc chúng ta thừa hưởng một số đặc tính của cha mẹ chúng ta là đúng đi nữa, thì việc di truyền ma quỷ vẫn hoàn toàn là một vấn đề khác. Cụm từ “đến ba bốn đời” dường như ám chỉ một đại gia đình, trong đó có ông bà, cha mẹ và các con, đôi lúc có cả ông bà cố nữa, cùng sống với nhau dưới một mái nhà (Dan Ds 16:31-34; Gios Gs 7:24; Thi Tv 103:17; 109:12). Vì những người lớn tuổi trong gia đình có tránh nhiệm phải hướng dẫn con cái đi theo đường lối Đức Chúa Trời, nên rõ ràng bậc cha mẹ nào phạm tội, không chịu làm việc đó phải gánh lấy sự “hình phạt” trên gia đình họ (PhuDnl 4:10, 28-30). Nhưng sự hình phạt đó chấm dứt khi cả gia đình thay đổi từ chỗ “căm ghét” sang “yêu thương” Đức Chúa Trời (XuXh 20:5-6). Do đó, phân đoạn này không đề cập đến việc di truyền ma quỷ.
Tuy nhiên, khi con cái đi theo dấu chân của cha mẹ hay ông bà có liên hệ đến tà giáo, việc bị quỷ nhập hoặc bị quấy phá là điều hoàn toàn có thể. Điều này đặc biệt đúng đối với những cha mẹ hiến mình cho ma quỷ hoặc các quyền lực tà giáo. Việc quỷ nhập có thể xảy ra thông qua các nghi thức tà giáo, sự thờ lạy hình tượng, bùa chú và sự chữa lành siêu linh.227 Có lẽ ma quỷ cũng có thể nhập vào khi sử dụng những loại dược chất làm thay đổi tâm trí, hoặc những trạng thái tâm trí trống rỗng, sẵn sàng cho những cuộc xâm hại bên ngoài (đối chiếu với Mat Mt 12:43-45; LuLc 11:24-26).228
Câu Hỏi 71: Những Dấu Hiệc Của Việc Quỷ Nhập Là Gì?
Không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận diện được việc quỷ nhập. Những người không tin sự tồn tại của ma quỷ cho rằng những trường hợp quỷ nhập thật sự là các chứng bệnh tâm thần, tình cảm hay thân thể.229 Những người khác thì quá cực đoan khi cho rằng bất cứ chứng bệnh thần kinh, thân thể hay tâm thần nào đều là do quỷ nhập. Điều khiến cho vấn đề trở nên phức tạp là việc phân loại các loại bệnh thần kinh, thân thể, tâm thần và tình cảm thường chồng chéo lên những trường hợp quỷ nhập thật sự. Trong Kinh Thánh, đôi khi ma quỷ gây nên những chứng bệnh thân thể và tâm thần (Mat Mt 8:28-34; 9:32-34; 17:14-21; LuLc 13:10-17), nhưng đôi khi thì không (Mac Mc 1:34; Mat Mt 8:16; LuLc 7:21).
Tuy nhiên, có những đặc điểm thuộc thể chất, tâm lý và tâm linh có thể giúp chúng ta phân biệt được trường hợp nào là bị quỷ nhập. Nhưng đây không phải là toàn bộ những triệu chứng của việc quỷ nhập, cũng không nhất thiết người bị quỷ nhập phải có đủ tất cả các triệu chứng đó. Hơn nữa, nếu một người chỉ có một trong số những triệu chứng này, thì không nhất thiết khẳng định rằng người đó bị quỷ nhập. Bảng tóm tắt dưới đây chỉ mang tính biểu trưng và chỉ cung cấp những đặc điểm chung của việc quỷ nhập. Nó không bao gồm mọi dấu hiệu.230

Câu Hỏi 72: Làm Sao Phân Biệt Được Khi Nào Thì Bị Quỷ Nhập Và Khi Nào Thì Bị Bệnh Tâm Thần?
“Đừng nhầm lẫn giữa một chứng bệnh tâm thần và một con quỷ. Có quá nhiều người sốt sắng nhưng thiếu kinh nghiệm đã gây hại nhiều hơn là làm lợi khi nhận diện những con quỷ không có mặt,” Basil Jackson, giám đốc Jackson Psychiatric Center tại Milwaukee phát biểu. Jackson đã gặp nhiều mục sư do không biết mà nhầm lẫn một chứng bệnh tâm thần, chẳng hạn như bệnh tâm thần phân liệt hay suy sụp tinh thần, với việc bị quỷ ám. Chẩn đoán nhầm việc bị quỷ ám có thể gây nên một hậu quả thảm khốc trên người bị bệnh về tâm thần hay tình cảm, dẫn đến những mặc cảm tội lỗi nặng nề và cảm giác bị Đức Chúa Trời bỏ rơi. Có thể tránh được hậu quả này nếu chuyển sang điều trị tâm thần thích hợp.231
Chứng tâm thần phân liệt có một số đặc điểm giống với những người bị quỷ nhập, chẳng hạn như thay đổi nhân cách, có sức mạnh thân thể khác thường, đổi giọng nói và biểu hiện trên gương mặt, v.v.. Như chúng ta đã nói ở trên, việc bị quỷ nhập và bệnh tâm thần có thể chồng chéo lên nhau. Nhiều khi các triệu chứng chỉ cho phép khẳng định đó là chứng bệnh tâm thần. Có khi người bệnh không chịu nổi chứng bệnh của họ, tức là chứng bệnh tâm thần khiến họ nghĩ rằng họ bị quỷ nhập, và thế là họ cư xử như thể họ bị quỷ nhập thật sự vậy.232 Những mục sư thiếu kinh nghiệm có thể vô tình củng cố cho hành vi đó khi khẳng định người này thực sự đã bị quỷ nhập.
Theo Henry A. Virkler, có nhiều điểm khác biệt giữa chứng tâm thần phân liệt chưa phân hóa và việc bị quỷ nhập. Trước hết, những người mắc chứng tâm thần phân liệt thường nói năng không mạch lạc, chứ không phức tạp và liền mạch như người bị quỷ ám. Thứ hai, người mắc chứng tâm thần phân liệt tin rằng họ là một người khác, và điều này thì người khác dễ dàng nhận biết được. Thứ ba, người mắc chứng tâm thần phân liệt thường công bố những điều giả dối liên quan tới khả năng thấu thị và thần giao cách cảm. Trái lại, khả năng ngoại cảm của những người bị quỷ nhập là khả năng có thật. Thứ tư, hầu hết những người bị tâm thần phân liệt không phản ứng tiêu cực trước lời cầu nguyện, nhưng người bị quỷ nhập thì có. Thứ năm, người mắc bệnh tâm thần thường không có những hoạt động của ma quỷ. Thứ sáu, người mắc chứng tâm thần phân liệt thường khá hơn sau khi điều trị đúng cách, còn người bị quỷ ám thì không. Cuối cùng, việc đuổi quỷ thường thất bại, hoặc chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, nếu người bị cho là quỷ nhập chỉ mắc chứng bệnh tâm thần phân liệt.
Bảng các đặc điểm của người bị quỷ nhập cuối lời đáp 71 và lời đáp 75 rất hữu ích. Mục sư nào thiếu kinh nghiệm đối diện với trường hợp tế nhị liên quan đến bệnh tâm thần nên đến nhờ một chuyên gia tâm thần học thông thạo việc quỷ ám.
Câu Hỏi 73: Cơ Đốc Nhân Có Thể Bị Quỷ Nhập Không?
Nhiều tín đồ Tin Lành bảo thủ tin rằng các Cơ Đốc nhân không thể bị quỷ nhập. Merrill Unger, tác giả cuốn Biblical Demonology , đã từng tin rằng các Cơ Đốc nhân không thể bị quỷ nhập. Nhưng ông đã thay đổi quan điểm của mình sau khi đọc vô số bức thư của các giáo sĩ, trong đó có ghi lại những trường hợp các Cơ Đốc nhân bị quỷ nhập.233 Nhiều người tuyên bố họ từng nhìn thấy Cơ Đốc nhân bị quỷ nhập. Nhưng không có bằng chứng Kinh Thánh nào trực tiếp nói đến hiện tượng này. Ở đây chúng ta gặp phải vấn đề Kinh Thánh bị vặn vẹo trệch hướng theo kinh nghiệm cá nhân vốn chỉ mang tính giả định mà thôi.
Kinh Thánh chỉ ghi lại trường hợp những người không tin bị quỷ nhập. Sa-tan đã cám dỗ A-na-nia và Sa-phi-ra, là những người tin Chúa, nói dối Thánh Linh trong Cong Cv 5:3-4, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy hắn đã thực sự nhập vào họ. Hắn đã nhập vào Giu-đa (LuLc 22:3), nhưng chúng ta phải đặt vấn đề liệu Giu-đa có phải là tín nhân thật hay không. Nếu chúng ta tin rằng ông là một tín nhân thật, thì có lẽ hợp lý khi nói rằng ông đã hoàn toàn đánh mất đức tin hơn là xem ông như một trường hợp Cơ Đốc nhân bị “quỷ ám” điển hình, đặc biệt là khi ông đã sống vào thời điểm mà khái niệm Cơ Đốc nhân chưa ra đời. Sau-lơ đại diện cho một trường hợp quỷ nhập hay ám trong thời kỳ tiền Cơ Đốc giáo. Cũng như Giu-đa, chúng ta có thể nói rằng ông là một “tín nhân” sau khi Thánh Linh Đức Chúa Trời lìa khỏi ông chăng (ISa1Sm 16:14)? Giống như Giu-đa, dường như ông đã sa ngã trầm trọng.
Nếu các Cơ Đốc nhân được báp-tem để gia nhập thân thể Đấng Christ và có Thánh Linh sống trong lòng họ, thì dường như khá mâu thuẫn khi nói rằng những ai trung tín ở “trong Đấng Christ” lại có thể bị quỷ nhập (RoRm 8:9-11; ICo1Cr 12:13; 6:19; 1:30; GiGa 15:1-5 so sánh với Mat Mt 7:16-20; Gia Gc 3:11-12; Dan Ds 23:23). Đấng Christ đã giải phóng các Cơ Đốc nhân khỏi vương quốc bóng tối, và ma quỷ không thể làm hại họ trên bất kỳ phương diện ý nghĩa cơ bản nào (CoCl 1:13; IGi1Ga 4:4; 5:18). Tôi không tin rằng các Cơ Đốc nhân đầy dẫy Thánh Linh có thể bị quỷ nhập .
Vậy còn những trường hợp được cho là Cơ Đốc nhân bị quỷ nhập thì sao? Một số trường hợp có thể liên quan đến bệnh tâm thần, trong khi những trường hợp khác thì bị ma quỷ tấn công mạnh mẽ đến độ nhầm lẫn đó là bị quỷ nhập. Vẫn có những trường hợp liên quan đến tâm lý yếu kém, những cá nhân không vững vàng giả vờ như bị quỷ nhập hoặc nhiều khi họ đi đến chỗ tin rằng mình đã bị quỷ nhập để được người khác chú ý. Những diễn giả nào có một quan điểm thiếu cân bằng về chiến trận thuộc linh và ma quỷ có thể khiến cho những cá nhân này hành động như thể họ bị quỷ nhập mà trong thực tế thì họ không bị.
Bản chất thật chính là trọng tâm của vấn đề này. Người bị quỷ nhập có thực sự là một Cơ Đốc nhân không? Một tín nhân tự xưng mình tin nơi Đấng Christ không nhất thiết là một Cơ Đốc nhân thực thụ (IGi1Ga 2:19; Cong Cv 8:9-24; Mat Mt 7:21-23; LuLc 6:46). Hãy nhớ lại câu chuyện chàng trai trẻ giàu có đã tuân giữ Mười Điều Răn và đang đi theo Chúa Giê-su. Thay vì xác nhận đây là tín nhân thật, Chúa Giê-su chỉ ra một động cơ đang điều khiển tấm lòng chàng thanh niên này-đó là lòng đam mê của cải (Mac Mc 10:27-33). Tôi tin rằng những người nào cải đạo mà không nói đến hoặc từ bỏ những lề thói tội lỗi hoặc thuộc về tà giáo của đời sống cũ thì đó có thể không phải là những Cơ Đốc nhân thật. Nói rằng “Tôi tin Chúa Giê-su” là không đủ nếu người đó vẫn còn bị trói buộc bởi những thói quen tội lỗi hay có tính chất tà giáo. Tin nơi Chúa Giê-su có nghĩa là xem Ngài là Chúa của đời sống chúng ta (LuLc 6:46; RoRm 10:9-10; Phi Pl 2:9-11) do đó, chúng ta phải ăn năn tội lỗi của mình (LuLc 13:3; Cong Cv 2:38; 3:19; KhKh 2:5).
Mặt khác, tôi tin rằng một Cơ Đốc nhân sa ngã có thể bị quỷ nhập. Nhưng một “Cơ Đốc nhân” như thế có phải thực sự là một Cơ Đốc nhân hay không? Một số người thì nói rằng người như thế không được cứu trước tiên. Trong bất cứ trường hợp nào, người bị quỷ nhập không còn được xem là một Cơ Đốc nhân nữa. Trong Kinh Thánh, chỉ có những người đã phạm phải tội bội đạo hay những tội lỗi cực kỳ tàn ác mới bị “phó cho quỷ Sa-tan” (ICo1Cr 5:5; ITi1Tm 1:20 so sánh với IGi1Ga 5:16-18).
Có nhiều vấn đề liên hệ đến niềm tin cho rằng các Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ nhập. Chẳng hạn, một Cơ Đốc nhân đam mê một tội lỗi đặc biệt nào đó có thể viện cớ là mình bị “con quỷ dục vọng” ám để khỏi phải chịu trách nhiệm cho chính hành động của mình. “Ma quỷ khiến tôi làm như thế” dễ nói hơn là “Tôi đã phạm tội.” Rất nhiều động cơ tội lỗi ra từ bản chất tội lỗi của chính chúng ta chứ không phải ma quỷ (Gia Gc 1:13-16; GaGl 5:19-21). Kinh Thánh không bao giờ nói rằng các Cơ Đốc nhân phải được đuổi quỷ bất cứ khi nào họ phạm tội. Thay vào đó, họ phải xưng nhận những tội lỗi của mình và lìa bỏ chúng (IGi1Ga 1:9-2:6).
Câu Hỏi 74: Có Sự Khác Biệt Gì Giữa Việc Bị Quỷ Nhập Và Bị Quỷ Quấy Rối?
Việc quỷ quấy rối thường được định nghĩa là một cuộc tấn công nghiêm trọng bên ngoài do ma quỷ gây ra, trong khi đó bị quỷ nhập thường ám chỉ việc ma quỷ thực sự nhập vào thân thể của một người và hoàn toàn điều khiển nó. Nhưng những định nghĩa này dễ làm phát sinh nan đề. Khi quỷ nhập thì chúng có hoàn toàn khống chế ý chí của con người không? Hay khống chế một phần? Khống chế thân thể, khiến nó làm những việc ý chí người đó không muốn chăng? Bị quỷ nhập có phải là khống chế một phần thân thể và ý chí của nạn nhân hay không? Việc quỷ quấy rối xảy ra liên tục, thỉnh thoảng, hay rất hiếm khi? Không có câu trả lời dễ dàng nào cho các câu hỏi này.
Những ai phủ nhận khả năng Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ nhập đôi khi hiểu việc quỷ quấy rối là một đợt tấn công kéo dài thực sự của ma quỷ, sự cám dỗ hay khuất phục các Cơ Đốc nhân (LuLc 4:2; 13:11-16; IICo 2Cr 12:7).234 Một lần nữa chúng ta lại đối diện với vấn đề định nghĩa ngôn ngữ. Thần học gia Wayne Grudem viết:
Chúng ta chỉ đang đặt vấn đề là đời sống Cơ Đốc nhân có thể trở nên khác thường như thế nào, đặc biệt là khi người đó không biết hoặc không tận dụng các vũ khí sẵn có cho Cơ Đốc nhân trên chiến trận thuộc linh, mà liên tục phạm một loại tội lỗi nào đó mở đường cho ma quỷ, đồng thời ở ngoài tầm với của một mục vụ nào đó vốn có thể giúp đỡ người này chống lại sự tấn công của ma quỷ. …Có lẽ tốt hơn hết chúng ta nên nhìn nhận rằng việc ma quỷ tấn công hay ảnh hưởng trên con người , thậm chí trên các Cơ Đốc nhân , có nhiều mức độ khác nhau , và dừng lại ở đó .235
Câu Hỏi 75: Việc Đuổi Quỷ Diễn Ra Như Thế Nào?
Trong Tân Ước, Đấng Christ ban cho các môn đồ quyền đuổi quỷ (LuLc 9:1; Mac Mc 16:17), và một số người trong Hội Thánh ngày nay được ơn trong lĩnh vực đuổi quỷ (ICo1Cr 12:4-11). Đuổi quỷ không phải là một vấn đề tầm thường. Tôi không phải là chuyên gia trong vấn đề này. Những lời khuyên của tôi phát xuất từ việc nghiên cứu và học hỏi hơn là kinh nghiệm cá nhân. Tôi không đề nghị rằng ai cũng phải trở thành một người đuổi quỷ. Bất cứ ai phải đối diện với ma quỷ cần tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã ban cho các Cơ Đốc nhân thẩm quyền trên ma quỷ thông qua Đấng Christ (IGi1Ga 4:4 so sánh với Mac Mc 16:17 KJV). Cho nên, tôi đề nghị những ai tin rằng mình được Đức Chúa Trời ban ơn để đảm nhiệm công việc này, đã có cơ hội đối đầu với ma quỷ, và đủ trưởng thành để giải quyết tình huống nên tham gia vào việc đuổi quỷ. Nhìn chung, những người mới tin không nên dự phần vào công việc này, nhưng dĩ nhiên, bất cứ ai cũng có thể dự phần cầu nguyện giải cứu cho nạn nhân.
Đối với Cơ Đốc nhân, những phẩm chất cần thiết để thực hiện đuổi quỷ cũng giống như các phẩm chất liệt kê trong Eph Ep 6:8-10 (xem lời đáp 67). Đời sống tin kính, đức tin, sự hiểu biết Kinh Thánh và sự cầu nguyện bền đỗ là những điều tuyệt đối cần thiết. Cầu nguyện kiêng ăn trước khi tiến hành đuổi quỷ cũng là việc nên làm (Mac Mc 9:29; Mat Mt 17:21).236 Một nhóm các thành viên khác trong Hội Thánh cũng nên có mặt trong buổi cầu nguyện đuổi quỷ, gồm có ít nhất là một tín nhân trưởng thành đã từng tham gia đuổi quỷ. Một nhóm cầu thay cũng nên liên tục cầu nguyện cho người bị quỷ nhập.
Chúng ta có thể rút ra được một số điểm sâu sắc trong những câu chuyện đuổi quỷ Kinh Thánh ghi lại. Trước tiên, Chúa Giê-su không dành nhiều thời gian nói chuyện với người bị quỷ nhập, nhưng Ngài lập tức đuổi quỷ ra (Mac Mc 1:25; 9:25). Thứ hai, việc đuổi quỷ trong Kinh Thánh không đòi hỏi sự hợp tác của người bị quỷ nhập, cho nên chúng ta có thể giả định rằng ít nhất một số ca đuổi quỷ ngày nay cũng có thể thành công tương tự như vậy. Cá nhân người đó đồng ý là điều tốt, nhưng không nhất thiết phải như vậy.237 Thứ ba, cũng không nhất thiết phải có mặt nơi người bị quỷ ám đang ở. Một số con quỷ có thể bị đuổi ra từ xa (Mat Mt 15:21; Mac Mc 7:24-30 so sánh với Cong Cv 19:12). Thứ tư, các Cơ Đốc nhân phải nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ và đuổi quỷ nhờ thẩm quyền của Ngài (Cong Cv 4:8, 12; 16:18). Thứ năm, phải từ bỏ mọi tội lỗi, bao gồm cả những hoạt động, vật dụng và niềm tin liên quan đến tà giáo (Cong Cv 19:17-20; PhuDnl 18:9-13). Cuối cùng, theo như Kinh Thánh ghi lại, khi ma quỷ xuất ra, có một dấu hiệu rõ ràng chúng ta có thể nhận biết được (Mat Mt 12:22; Mac Mc 7:25-30; 9:25-26; Cong Cv 19:11-12). Dĩ nhiên, mục đích quan trọng nhất là chính sự giải cứu, chữa lành.
Một khi quỷ đã bị đuổi ra rồi, các Cơ Đốc nhân cần phải giúp người đó tiếp tục cầu nguyện, học Kinh Thánh hằng ngày và đến nhóm tại nhà thờ. Ngoài ra, cố chuyên gia về tà giáo, ông Kurt Koch, thường đề nghị người vừa được giải cứu phải cắt đứt mọi liên hệ với tà giáo (bao gồm cả những người bạn theo tà giáo), được đầy dẫy Thánh Linh, gia nhập nhóm cầu nguyện và tìm gặp một nhà khải đạo.
Câu Hỏi 76: Có Phải Tâm Thần Nhút Nhát, Linh Ung Thư Và Các Linh Đại Loại Như Thế Là Các Linh Của Ma Quỷ Không?
Chúng ta biết về Thánh Linh, hồn/linh của con người và các linh của ma quỷ. Kinh Thánh cũng dùng chữ linh (spirit ) để ám chỉ nhiều khái niệm khác nhau như là tâm trí, thái độ, sự ảnh hưởng và một trạng thái hay một khuynh hướng, tùy thuộc vào văn cảnh. Những khái niệm này đặc biệt lẫn lộn trong bản King James. Những tân tín hữu và nhiều diễn giả đức tin thường nhầm lẫn “tâm thần nhút nhát” với một con quỷ chuyên làm cho các nạn nhân của nó sợ hãi (II Ti-mô-thê 1:7; KJV). Nhưng “tâm thần nhút nhát” không phải là một con quỷ, mà cũng không phải là các linh “vững mạnh, yêu thương và một tâm trí vững vàng”! Chữ tâm thần trong phân đoạn này ám chỉ đến thái độ hay một khuynh hướng: Đức Chúa Trời đã không ban cho chúng ta một thái độ sợ hãi, mà là thái độ yêu thương, mạnh mẽ và một tâm trí vững vàng.
Các khái niệm như “lòng khó khăn” (Mat Mt 5:3) và “lòng đau thương” (Thi Tv 34:18). không ám chỉ một con quỷ nào cũng như các khái niệm “thần linh ngay thẳng” (Thi Tv 51:10) và “tâm thần dịu dàng im lặng” (IPhi 1Pr 3:4) không hề ám chỉ các thiên sứ. Một số trong số những tâm thần này ám chỉ các ảnh hưởng xấu, nhưng như vậy cũng không có nghĩa chúng thảy đều là ma quỷ. Đơn cử là “tánh tự cao” (ChCn 16:18), “sự trái ngược” (EsIs 19:14), “lòng nặng nề” (61:3), “lòng dâm” (OsHs 4:12 và “mờ tối” (RoRm 11:8).
Có một số linh thậm chí không được Kinh Thánh ghi lại, nhưng chúng ta vẫn thường nghe các diễn giả quở trách chúng. Một số linh phổ biến thuộc loại này thường liên quan tới các chứng bệnh, các hành vi tội lỗi hoặc các thói quen ngoài ý muốn, chẳng hạn như “linh ung thư,” “linh nghiện rượu,” “linh hút thuốc,” và “linh thủ dâm.” Trong số này còn có những linh rất buồn cười, chẳng hạn “linh đãng trí,” “linh dị ứng” và “linh cắn móng tay.”
Các mục sư quở trách những “linh” này cần phải ý thức rằng những người không tin thường xem các chương trình của họ. Những hành vi kỳ lạ của họ khiến các Cơ Đốc nhân bị xem là những người mê tín, không bình thường chút nào. Vài phương pháp điều trị thông thường cũng giúp tránh được các “linh” này. Người nào bị dị ứng chỉ cần uống thuốc chống dị ứng và tránh xa tác nhân gây dị ứng; người nào có hơi thở hôi thì đừng ăn nhiều tỏi.
Vài chứng bệnh và thói xấu có thể do chính ma quỷ gây nên, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Người ta hay lạm dụng chữ linh mà không có bằng chứng nào chứng tỏ ma quỷ đứng sau nan đề. Không phải hễ “linh” nào mà những bác sĩ đức tin quở trách đều thực sự là một con quỷ.
Câu Hỏi 77: Sa-tan Có Thể Ngăn Trở Lời Cầu Nguyện Của Chúng Ta Hay Không?
Trong DaDn 10:13, chúng ta đọc thấy một nhân vật được gọi là vua nước Phe-rơ-sơ đã ngăn trở việc Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của Đa-ni-ên. Phải chăng điều đó có nghĩa là Sa-tan có thể ngăn trở lời cầu nguyện của chúng ta? Chúng ta cần phải lưu ý rằng DaDn 10:1-21 ghi nhận một biến cố huyền bí độc nhất: Vua Phe-rơ-sơ ngăn trở thiên sứ Gáp-ri-ên bước vào lãnh thổ của mình. Kinh Thánh không ghi lại rằng vua Phe-rơ-sơ biết rõ mình đang ngăn trở việc Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của Đa-ni-ên.238 Mặt khác, một số Cơ Đốc nhân nghĩ rằng Sa-tan không thể hiểu được khi họ nói tiếng mới (tiếng la). Dĩ nhiên bản thân họ cũng không thể hiểu điều mà họ cầu nguyện (ICo1Cr 14:2, 14-15). Trong bất cứ trường hợp nào, Phao-lô công bố rằng cầu nguyện tiếng mới là để thờ phượng, ngợi khen và gây dựng bản thân, chứ không phải là điều bảo đảm rằng Sa-tan sẽ không thể ngăn trở lời cầu nguyện (ICo1Cr 14:4; Cong Cv 2:4, 11).239
Nhiều người khẳng định rằng ma quỷ có thể gieo nghi ngờ hay mặc cảm tội lỗi vào tâm trí chúng ta, và chúng có thể cám dỗ chúng ta phạm tội. Theo cách đó, những tác động của chúng có thể khiến ngăn trở lời cầu nguyện của chúng ta (so sánh với IPhi 1Pr 3:7; RoRm 14:23). Tuy nhiên, chúng không thể ngăn trở Đức Chúa Trời lắng nghe mọi lời cầu nguyện được dâng lên bởi đức tin. Kinh Thánh không hề tuyên bố rằng Sa-tan toàn tri. Hắn không nghe hết mọi lời cầu nguyện, và cũng không thể đọc được tâm trí chúng ta để ngăn trở những lời thầm nguyện của chúng ta. Thậm chí nếu hắn có thể ngăn trở chúng ta nhận lãnh sự đáp lời cho điều chúng ta cầu xin đi nữa, thì hắn cũng không thể mãi ngăn trở việc Đức Chúa Trời đáp lời chúng ta. Dù sớm hay muộn, mọi lời cầu nguyện bởi đức tin sẽ được đáp lời, theo như điều Kinh Thánh nói (Mat Mt 7:7-10; GiGa 14:13-14; IGi1Ga 5:14-15).
Câu Hỏi 78: Các Hiện Tượng Như Nói Tiếng Mới, “Ngã Trong Thánh Linh” Và Cười Có Phải Thuộc Về Ma Quỷ Hay Không?
Không có bằng chứng nào cho thấy ân tứ nói tiếng mới (nói những thứ tiếng chưa được biết tới đã chấm dứt trong Hội Thánh.240 Cũng không có bằng chứng Kinh Thánh nào chứng tỏ rằng tiếng mới sẽ chấm dứt trong thời kỳ Hội Thánh. Tiếng mới sẽ chấm dứt chỉ khi Đấng Christ trở lại (xem ICo1Cr 13:8-13). Các Cơ Đốc nhân nói tiếng mới có lý do dựa trên nền tảng Kinh Thánh để làm việc đó. Chính Phao-lô cũng nói với Hội Thánh Cô-rinh-tô rằng, “Đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ” (14:39).
Trong một phong trào gần đây, được gọi là Toronto Blessing, hay Holy Laughter Renewal, nhiều người đã cười trong Thánh Linh, “ngã trong Thánh Linh” (ngất đi), co giật, gào thét và cư xử rất kỳ lạ. Việc đó không được Kinh Thánh trực tiếp ủng hộ. Phải chăng đây là những dấu hiệu của ma quỷ?
Tôi đã viết cả một cuốn sách về nhiều biểu hiện khác nhau trong phong trào Toronto Blessing.241 Các biểu hiện này xuất hiện khá thường xuyên trong những cuộc phấn hưng lớn của quá khứ. Các đợt phấn hưng Cơn Thức Tỉnh Lớn (Great Awakenings) cũng có những người cười, rên rỉ, ngất đi, “co giật” và những điều tương tự như vậy. Các cuộc phấn hưng Azusa Street và Welsh vào thế kỷ hai mươi cũng có những hiện tượng tương tự. Tuy nhiên, Jonathan Edwards, John Wesley, Charles Finney và những người khác thì phê phán những hiện tượng quá đáng , nhưng họ không cho rằng mọi trường hợp đều do ma quỷ mà đến. Trên thực tế, thường thì họ khẳng định những người đó đang từng trải sự đụng chạm của Đức Chúa Trời. Trong mỗi cuộc phấn hưng thật luôn có những biểu hiện đến từ Đức Chúa Trời, xác thịt và ma quỷ.
Sau khi nghiên cứu cả Kinh Thánh lẫn những cuộc phấn hưng trước đây, tôi kết luận rằng hầu hết những biểu hiện liên quan tới phong trào này là những phản ứng (và phản ứng quá mạnh mẽ con người vụng dại trước cảm nhận về sự hiện diện của Thánh Linh.242 Một số buổi thờ phượng trong phong trào Toronto Blessing và Ngũ Tuần/ân tứ có thể trở nên rất hỗn độn, nhưng không có nghĩa rằng điều đó do ma quỷ gây ra. Phao-lô khuyên các Cơ Đốc nhân Cô-rinh-tô “ân tứ” nên trật tự hơn (14:26-33, 40), nhưng ông vẫn xem họ là các Cơ Đốc nhân và tin rằng Thánh Linh vận hành thông qua hội chúng của họ bất luận sự lộn xộn (1:1-9; 3:16; 6:19-20; 12:13).
Ma quỷ đang đánh mất quá nhiều người không tin và những Cơ Đốc nhân hâm hẩm trong các phong trào này. Điều này đặc biệt đúng khi phong trào Toronto tạo một biến chuyển lớn trong việc truyền giáo cho người hư mất và trở lại với việc cầu nguyện và kiêng ăn. Dù các cuộc phấn hưng trong quá khứ đã từng trãi điều gì, thì chúng ta vẫn thấy những điều tương tự đang diễn ra trong phong trào Toronto Blessing, bao gồm cả những điều tốt, xấu và kỳ dị. Trong bất cứ trường hợp nào, phong trào này nhìn chung không phải là một cơn phấn hưng giả tạo.
Câu Hỏi 79: Làm Sao Để Phân Biệt Được Một Biến Cố Siêu Nhiên Nào Đó Là Đến Từ Đức Chúa Trời Hay Đến Từ Ma Quỷ?
Chúa Giê-su và những môn đệ Ngài không phải là những người duy nhất làm các dấu kỳ, phép lạ trong Hội Thánh. Gian-nét và Giam-be, các thuật sĩ Ai Cập, đã chống lại các phép lạ Đức Chúa Trời làm thông qua Môi-se bằng cách thực hiện các dấu kỳ của riêng họ.243 Tuy nhiên, Chúa đã chứng minh rằng Ngài quyền năng hơn phép thuật của Ai Cập (XuXh 7:11-12, 22; 8:7, 18-19; IITi 2Tm 3:8).
Kinh Thánh nói tiên tri rằng trong những ngày sau rốt, các tiên tri giả sẽ thực hiện nhiều dấu kỳ phép lạ khiến cho nhiều người lầm lạc (KhKh 13:11; 16:13; Mat Mt 24:20). Mục đích công việc của ma quỷ là để lừa dối con người và dẫn họ đi xa khỏi vương quốc của Đức Chúa Trời (IITe 2Tx 2:9-12). Vấn đề cần đặt ra khi muốn xác định xem một biến cố siêu nhiên nào đó là đến từ Đức Chúa Trời hay Sa-tan là, Biến cố đó có đưa dắt con người đến với vương quốc của Đức Chúa Trời không, hay nó dẫn họ đến với vương quốc của bóng tối? Nếu một biến cố siêu nhiên thực sự lôi kéo con người vào trong tà giáo, sự thờ lạy hình tượng, tội lỗi hoặc những giáo lý tà giáo244 thì tôi tin rằng ma quỷ đứng đằng sau biến cố đó (so sánh với PhuDnl 13:1-3 Trái lại, nếu một phép lạ đưa con người đến chỗ tiếp nhận Phúc Âm của Đấng Christ hoặc khao khát những điều thuộc linh (chẳng hạn như cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, thông công, nâng đỡ những người đau thương, và các việc lành khác làm vinh hiển danh Chúa), thì tôi nghĩ Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển thông qua phép lạ đó.

NHỮNG CÂU HỎI VỀ KHOA HUYỀN BÍ
Một người xui xẻo đập vỡ kính, một người khác đang đi bộ dưới cái thang vào thứ Sáu ngày 13, còn một người nữa lại nhìn thấy con mèo đen băng ngang qua đường mình. Một cuộc thăm dò quần chúng của viện Gallup vào năm 1990 về niềm tin nơi những điều siêu linh cho thấy rằng rất nhiều người vẫn còn mê tín, (245 Những điều người ta tin có vẻ hết sức phi lý, nhưng chúng là tập hợp của sợ hãi và dại dột. Mê tín là mặt trái của khoa huyền bí, một vương quốc mà sức ảnh hưởng của nó ta không nên xem thường. Thông linh, chiêm tinh, đầu thai, Thời Đại Mới, phái UFO, thiền, yêu thuật và đạo Sa-tan chỉ là một số điển hình cho các ảnh hưởng của khoa huyền bí. Những hình thức thật thật giả giả của khoa huyền bí mở đường cho ma quỷ lôi kéo con người về phía chúng.
Câu Hỏi 80: Huyền Bí Là Gì?
Khái niệm huyền bí (occult ) bắt nguồn từ một chữ La-tin có nghĩa là “che giấu.” Một nhà xã hội học và chuyên gia về tà giáo, ông Ronald Enroth, định nghĩa huyền bí là sự khôn ngoan “vượt quá giới hạn tri thức bình thường của con người… những điều huyền bí hay những hiện tượng kín giấu… không thể giải thích được.”246 Do đó, “huyền bí” ám chỉ những nghệ thuật, nghi thức và niềm tin kín giấu vốn đưa “con người vào mối liên hệ với những quyền lực siêu nhiên, phi thường, hoặc những thế lực ma quỷ.”247 Những người theo thuyết huyền bí khai thác các quyền lực huyền bí nhằm để khống chế con người hay hoàn cảnh. Khoa huyền bí trái ngược với Cơ Đốc giáo; nó dựa trên những nghệ thuật bí mật, còn Cơ Đốc giáo dựa trên lời mặc khải rộng mở của Đức Chúa Trời.
Những điều huyền bí là cả một đế chế với nhiều niềm tin, nhiều nhóm và hoạt động khác nhau.

Một số người xem bất cứ nhóm huyền bí nào cũng đều là tà giáo, nhưng có sự khác biệt giữa các tà giáo và những khoa huyền bí. Theo cách hiểu chung của văn hóa truyền thông cộng đồng ngày nay,253 tà giáo là một bộ phận tôn giáo (một nhóm nhỏ của một tôn giáo hay hệ phái lớn tin một cách mù quáng vào những “mạc khải” và/hoặc lời giải nghĩa của một người lãnh đạo nào đó. Trái lại, khoa huyền bí phần lớn liên quan tới những việc làm mang tính chất thần bí/bí truyền. Không phải tất cả những người theo tà giáo đều áp dụng những điều huyền bí, và cũng không phải tất cả những người theo khoa huyền bí đều ở trong một tà giáo. Chẳng hạn Chứng Nhân Giê-hô-va được xem là một tà giáo, nhưng lại chỉ trích các hình thức huyền bí. Richard Ramirez, “con quỷ sống” đã phạm tội giết người hàng loạt vào những năm 1980, có thể xem là một người theo thuyết huyền bí, nhưng hắn không thuộc về một tà giáo nào. Một số người thay thế từ “huyền bí” thành chữ siêu linh , hiện đại hơn.
Câu Hỏi 81: Khoa Huyền Bí Có Những Tập Tục Gì?
Các tập tục huyền bí thường rơi vào bốn nhóm: (1) liên lạc với một hữu thể thiêng liêng, một linh hay một con ma (ví dụ như đồng cốt và thông linh), (2) liên hệ hoặc cải thiện “bản ngã cao hơn” (ví dụ như yoga và thiền), (3) điều khiển con người hay thiên nhiên để thỏa mãn một mục đích nào đó (chẳng hạn như ma thuật và phép phù thủy), (4) tìm kiếm những tri thức ẩn giấu (chẳng hạn như tri giác ngoại cảm, xem bói). Các nhóm này không bao gồm tất cả mọi nghi thức, và nhiều khi một nghi thức huyền bí có thể bao gồm hai hoặc ba nhóm đó. Các nghi thức mô tả dưới đây chỉ là điển hình của những gì có trong thực tế.254
Thuyết thông linh . Thuyết thông linh hưng thịnh vào thế kỷ mười chín, được các chị em nhà Fox truyền bá: Margaret và Katie Fox ở Hydesville, New York. Thông linh là một nghi thức nhằm tìm cách liên hệ với các linh, có thể là thiên sứ, quỷ, hồn ma hay các linh khác. Người chết được liên lạc thông qua đồng cốt, thường là trong một buổi cầu hồn. Nghi thức này được Kinh Thánh gọi là cầu vong (PhuDnl 18:1-22). Phong trào Thời Đại Mới đã khơi lại việc cầu hồn, thông linh-một nghi thức mà qua đó sinh vật ngoài hành tinh, linh của người chết hoặc của một quyền lực nào đó nói thông qua người “trung gian.” Thông linh là một mối hiểm họa rõ ràng. Ma quỷ có thể giả làm người chết, người ngoài hành tinh hoặc các hữu thể khác. Đồng cốt là người dễ bị quỷ nhập.
Tri giác ngoại cảm . Tri giác ngoại cảm là thuật ngữ dùng để ám chỉ việc giao tiếp bằng những phương tiện ngoài ngũ quan. Thấu thị là khả năng có thể nhìn thấy những vật hữu hình ở ngoài tầm mắt, thường có dùng kèm quả cầu pha lê. Một biến thể của khả năng thấu thị là việc dò tìm những vật bị đánh mất hoặc bị giấu kín bằng cách dùng một cái que hình chữ V. Thần giao cách cảm được cho là khả năng đọc, giao tiếp hay thuyết phục suy nghĩ của người khác.255 Ngoại lực (telekinesis), được bộ phim kinh dị Carrie truyền bá, là khả năng di chuyển các đồ vật thể lý bằng tâm lý.
Tâm linh trị liệu là phương pháp dùng những bí thuật để điều trị các chứng bệnh thay vì dùng phương pháp điều trị hiện đại. Bệnh nhân có thể thiền, uống một chất lỏng nào đó hoặc dùng một vật giống như quả cầu pha lê. Nhà tâm linh dùng những lời cầu khẩn, và những kỹ thuật vật lý để chữa lành cho bệnh nhân. Phẫu thuật tâm lý là một hình thức phổ biến của tâm linh trị liệu. Bệnh nhân nằm tỉnh táo, nhà tâm linh “phẫu thuật” và “chuyển” căn bệnh đi. Việc phẫu thuật không để lại vết sẹo. Trò lừa này thường được làm bằng tay, mề và máu gà. Nhưng không phải mọi hình thức tâm linh trị liệu đều là trò lừa gạt. Có thể ma quỷ thực hiện một số mánh khóe siêu nhiên nào đó, và chúng có thể tạm thời “chữa lành” một số chứng bệnh nào đó nhằm mục đích lừa gạt con người. Tâm linh trị liệu hoàn toàn trái ngược với sự chữa lành thiên thượng (sự chữa lành thông qua đức tin nơi Đức Chúa Trời). Sự chữa lành thiên thượng đưa con người đến với Đức Chúa Trời, tâm linh trị liệu lôi kéo con người đến gần vương quốc bóng tối.
Yoga và thiền Phương Đông . Yoga là một loạt các giả thuyết và phương pháp tập luyện nhằm cố gắng “ràng buộc,” hay khai thác, tâm trí nhằm tập trung (thiền để đạt được một lợi ích mong muốn-cái gọi là sự thanh bình nguyên thủy (alpha tranquillity hoặc sự phát triển năng lực bản thân.256 Một số người tập yoga như tập thể dục, nhưng yoga thực thụ đã bước vào lĩnh vực thần bí. Nhìn chung nó bao gồm việc thiền sâu (deep mediation có thể dẫn đến ảo giác (visualization), những hình ảnh có định hướng và tập trung vào cái gọi là những tâm điểm của thân thể (body centers), chakras . Các tâm điểm này là những điểm tâm linh (psychic points mà người Ấn giáo gọi là các vị thần. Mẫu thần được gọi là kundalini , một con rắn cuộn tròn hoặc một luồng điện mà người ta cho rằng chúng tập trung gần đáy cột sống con người. Người ta cho rằng nguồn lực này mở ra những tâm điểm siêu linh của con người. Điều nguy hiểm của yoga là nó dẫn tới trạng thái ý thức bị biến đổi (altered state of consciousness), là một trạng thái dễ bị ma quỷ tác động và xâm nhập. Việc lạm dụng kundalini có thể dẫn đến cái chết hoặc khiến bị điên, theo như một số người luyện yoga cảnh báo. Một số người cho rằng hiện tượng người tự bốc cháy-thường được quy là do các yêu tinh gây ra-xảy ra là do lạm dụng phương pháp này.
Bói khoa . Bói khoa gồm có xem chỉ tay, đoán lá số tử vi, bói bài, v.v... Thầy bói “tiên đoán” tương lai của một ai đó thông qua việc khéo léo kết hợp những biểu hiện trên khuôn mặt, ngôn ngữ cử chỉ, sự suy đoán và sự hiểu biết về bản chất con người, cũng như những điều hầu hết các khách hàng mong muốn (tiền bạc, tình dục, quyền lực, trả thu. Thường thì điều mà người thầy bói quan sát nhiều nhất là điệu bộ của con người, giống như một nhà ngoại cảm. Tuy nhiên, vì ma quỷ có biết chút ít về tương lai (Cong Cv 16:16-19), nên chúng có thể là nguồn thông tin cho các tiên đoán của thầy bói.
Xuất linh . Thuật xuất linh, “sự ngao du của linh hồn” hay “hành trình Shaman,” khẳng định rằng linh con người có thể lìa khỏi thân thể vật lý và đi khắp địa cầu hoặc trãi qua những cõi hiện hữu khác nhau (different planes of existence), bao gồm cả trạng thái “vũ trụ” (astral , thường được hiểu là cõi sau khi chết). Một số người tuyên bố rằng kinh nghiệm lên đến từng trời thứ ba của Phao-lô và những biến cố tiên tri được “Thánh Linh cảm hóa” mà sứ đồ Giăng từng trải (IICo 2Cr 12:2-4; KhKh 4:1-3) ủng hộ cho hiện tượng này. Tuy nhiên, những kinh nghiệm của Phao-lô và Giăng có thể chỉ là những khải thị giống như của Phi-e-rơ (so sánh với Cong Cv 10:10-11). Thậm chí nếu những phân đoạn này mô tả những kinh nghiệm ngoài-thân-thể thực sự, thì chính các sứ đồ cũng không hề cố gắng đi qua các trạng thái vũ trụ khác nhau. Kinh nghiệm của họ được chính Đức Chúa Trời đem đến, chứ không phải do sức riêng họ đạt được.257 Họ không hề cố gắng để thiền và tập trung vào linh của họ khi nó rời khỏi thân thể. Giống như nhiều hình thức siêu linh khác, những ai cố gắng đạt đến trạng thái xuất linh đều đang mạo hiểm chính mình vì trạng thái ý thức bị thay đổi là cánh cửa rộng mở cho ma quỷ tác động hay xâm nhập.
Nhiều hoạt động thần bí là những trò lừa gạt, bất lương, nhưng điều đó không có nghĩa là ma quỷ không thể ảnh hưởng hay lừa gạt những người dự phần vào các hoạt động này. Ứng với từng ân tứ thuộc linh siêu nhiên mà Kinh Thánh ghi lại, dường như ma quỷ cũng có một trò giả mạo. Tuy nhiên, quyền năng của Đức Chúa Trời lớn mạnh hơn của Sa-tan nhiều (XuXh 7:11-13; 8:10; Mac Mc 3:27; IGi1Ga 3:8; 4:4).
Câu Hỏi 82: Kinh Thánh Nói Gì Về Những Điều Huyền Bí?
Kinh Thánh đề cập đến nhiều phương diện của những việc huyền bí. PhuDnl 18:9-13 liệt kê khá nhiều hoạt động huyền bí. Những người Ca-na-an đam mê các hoạt động tương tự với hoặc chính bản thân những điều huyền bí. Các hoạt động này được đồng nhất hóa với những điều ghê tởm hoặc những vật gớm ghiếc. Đức Chúa Trời đuổi dân Ca-na-an ra khỏi xứ Pa-lét-tin vì họ đã thực hành những hình thức sơ khai của thuyết huyền bí.258
Các phân đoạn trong Kinh Thánh nói về vấn đề huyền bí không nêu hết lĩnh vực rộng rãi của khoa huyền bí. Các tác giả Cựu Ước chỉ nhắm vào một số hình thức nào đó vì chúng là điều mà dân Y-sơ-ra-ên phải đối diện trong vùng đất Ca-na-an. Sau đó, họ phải đối diện với các hình thức khác, chẳng hạn như săn linh hồn, chiêm tinh và dùng bùa hộ mạng (Exe Ed 13:18-20; 21:21; DaDn 2:2, 10, 27; EsIs 8:20). Theo như David Aune ghi nhận, “A-sy-ri và Ba-by-lôn đã khiến dân sự quan tâm tới chiêm tinh. Ai Cập thì khiến họ chú tâm đến quyền lực trong những lời được nói hay viết ra, đặc biệt là các danh xưng bí mật. Ba Tư thì lôi kéo sự chú ý vào ma quỷ, như thể chúng là nguyên nhân của bệnh tật và nan đề trong đời sống con người, đồng thời cũng là kẻ hoàn thành những mong muốn của người làm phép.”259 Nhiều hình thức huyền bí hiện đại rất giống với các hình thức cổ xưa. Nhưng việc Kinh Thánh không đề cập đến một hình thức huyền bí nào đó hoàn toàn không có nghĩa là hình thức đó được chấp nhận.
Một số người cho rằng có những điểm tương đồng giữa việc tiên đoán mang tính chất huyền bí và lời tiên tri trong Kinh Thánh. Cả hai đều mang tính siêu nhiên, xuất phát từ một quyền lực bên ngoài. Khả năng thấu thị có thể tương tự với cách hiểu mang tính chất ân tứ về “lời tri thức,” và việc tìm kiếm quyết định của thần linh bằng cách rút mũi tên cũng không khác gì lắm so với hình thức rút thăm trong Kinh Thánh (Cong Cv 1:24-26). Vậy tại sao các hình thức huyền bí lại bị lên án trong khi những việc tương tự lại được thực hiện trong danh Chúa?
Những khác biệt lớn nhất của các việc làm trên không phải ở chỗ hình thức, mà là ở chỗ nguồn gốc và động cơ. Nguồn cội quyền năng của Cơ Đốc giáo chính là Thánh Linh. Các hình thức huyền bí (không phải giả mạo) lấy sức mạnh từ các thế lực chưa được biết đến hoặc từ ma quỷ, điều khiển thực tại ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời (PhuDnl 13:1-18; 18:14; 32:16-17; LeLv 7:7; IISu 2Sb 33:6; ICo1Cr 10:20-21). Do vậy, khi đối diện với thuật sĩ Ê-ly-ma, Phao-lô gọi ông ta là “con của ma quỷ,” (Cong Cv 13:4-12 so sánh với GaGl 5:19-21). Khi đối diện với một thầy bói, Phao-lô đuổi con quỷ ra khỏi bé gái đó (Cong Cv 16:16-19).260 Các thánh nhân cảnh báo rằng những ai phù phép và dùng tà thuật sẽ không hưởng được vương quốc của Đức Chúa Trời (GaGl 5:19-21; KhKh 21:8; 22:14-15). Kinh Thánh khuyên chúng ta phải có tâm thần tỉnh táo, nên trạng thái ý thức bị biến đổi do thôi miên, yoga, xuất linh hoặc những điều tương tự mang đến là trái với Lời Đức Chúa Trời (ITe1Tx 5:6, 8; Tit Tt 2:2, 4, 6; IPhi 1Pr 1:13; 4:7 so sánh với ChCn Ch25:28; GaGl 5:19-21).
Câu Hỏi 83: Các Nghi Thức Huyền Bí Dùng Những Đồ Vật Gì?
Những nhà huyền bí dùng nhiều đồ vật khác nhau. Nói chung, các đồ vật huyền bí được dùng để giúp nhà huyền bí giải phóng sức mạnh tiềm thức bằng cách thay đổi ý thức bình thường. Một số vật dụng được dùng để tiên đoán tương lai, trong khi những đồ vật khác được gán cho vận may hay vận rủi một cách hết sức mê tín.
Cỗ bài 78 lá . Người ta cho rằng bộ bài 78 lá bắt nguồn từ Ý trong thế kỷ mười bốn. Các bức hình trên lá bài là những hình nguyên mẫu, chẳng hạn như nhà vua, hoàng hậu thần chết v.v.. Bộ bài 78 lá tiêu chuẩn gồm có 52 lá bài cộng với bốn quân mã và hai mươi hai quân major arcana . Dường như có một vài hình ảnh Cơ Đốc; hai trong số đó là hình giáo hoàng và hình đoán xét chung thẩm. Những thầy bói thường dùng các lá bài này để tiên đoán tương lai bằng cách giải thích những bức tranh theo ý nghĩa biểu tượng của chúng.
Quả cầu pha lê . Những thầy bói và những nhà thông linh dùng quả cầu pha lê trong thấu thị và các nghi thức huyền bí khác.
Que và con lắc . Que và con lắc được dùng để dò tìm và định vị các tia của trái đất nhằm bảo vệ con người khỏi nguồn phóng xạ đến từ những tia này.
Bảng cầu cơ . Bảng cầu cơ hiện có bán ở nhiều cửa hàng đồ chơi và đồ cổ. Bảng này có các chữ cái, con số và một vài từ mà dựa vào đó người chơi đặt câu hỏi. Họ nhận được câu trả lời khi đặt ngón tay lên trên hoặc gần một cái đĩa xoay tròn trên những ký hiệu. Nó đã đưa nhiều người đến với thuyết huyền bí.261
Bùa may mắn và bùa tẩy trừ (tránh điều rủi ). Bùa tẩy trừ được dùng để ngăn ngừa sự tổn hại về phương diện tâm linh hoặc những điều rủi. Còn cái được gọi là bùa may mắn khi đánh bạc được cho là có thể ngăn ngừa vận rủi và tăng vận may trong khi chơi.
Bùa mê thuốc lú . Các cửa hàng theo huyền bí thuyết thường bán bùa mê thuốc lú, vốn là những mùi thơm lạ mà người ta tin là có thể thu hút một người nào đó. Đôi lúc chúng được ếm bằng một lời nguyền lấy từ một cuốn sách huyền bí nào đó.
Các vật chúc may mắn . Có nhiều đồ vật được dùng như những món đồ mang lại vận may. Bàn chân thỏ hay một sợi dây may mắn không nhất thiết mang tính huyền bí. Những người mê tín không nhận thức rằng các đồ vật đó về thực chất không có chút quyền lực gì. Những đồ vật đó chỉ được xem là huyền bí khi có ai đó đọc lời nguyền trên chúng hoặc cầu khấn một quyền lực nào đó. Những đồ vật dành riêng cho thuật huyền bí có thể thu hút ma quỷ đến. Nếu ai nghi ngờ một đồ vật nào đó đã được dùng trong thuật huyền bí thì nên vứt nó đi (đối chiếu với Cong Cv 19:13-20).
Những biểu tượng thần bí . Có nhiều biểu tượng liên hệ tới các hoạt động huyền bí. Dấu hiệu phổ biến nhất là con số 666 (dấu của con thú), ngôi sao năm cánh (dùng trong các nghi lễ huyền bí) và một dấu hỏi ngược với cây thập tự (biểu tượng của Sa-tan).262
Chúng ta không cần phải lo lắng trước bất cứ vật dụng nào giống như một vật của thuật huyền bí. Việc người Thời Đại Mới đeo những quả cầu pha lê không có nghĩa là tôi không được để những vật giống như quả cầu pha lê ở nhà. Một vật thuộc về thuật huyền bí là vật tượng trưng cho một lĩnh vực nào đó của thuật huyền bí, lôi kéo con người vào các hoạt động huyền bí, hoặc thu hút các quyền lực ma quỷ. Kinh Thánh dạy rằng những công cụ dùng trong thuật huyền bí hoặc trong các nghi lễ thờ cúng thần tượng cần phải phá hủy đi (XuXh 34:13-14; IIVua 2V 23:4; OsHs 4:12-14; Gie Gr 3:9; Cong Cv 19:13-20).
Câu Hỏi 84: Ma Thuật Là Gì?
Từ ma thuật có rất nhiều ý nghĩa (xem lời đáp 85). David Aune viết rằng “những lệch lạc trong tôn giáo chỉ mang tính ma thuật khi đối tượng của chúng là các quyền lực siêu nhiên.”263 Khái niệm ma thuật trong ý nghĩa này dường như ngụ ý việc điều khiển các thế lực vô hình hoặc siêu nhiên để thực hiện những mục đích cá nhân.264 Từ xa xưa, con người đã phân biệt giữa ma thuật trắng, dùng cho các mục đích tốt, và ma thuật đen, dùng cho các mục đích gian ác. Tuy nhiên, cả hai hình thức trên đều dựa vào các thế lực siêu linh và các thế lực ma quỷ (xem lời đáp 86).
Trong Kinh Thánh, những nền văn hóa cổ xưa nhìn chung sử dụng hình thức ma thuật này. Người ta tin rằng những câu thần chú có thể buộc các linh phải tuân theo mệnh lệnh của người đọc thần chú.265 Những người ngoại giáo thường dùng ma thuật để bảo vệ, thay đổi số mệnh, kích thích tình dục, nguyền rủa, chữa bệnh và hiểu biết những điều đặc biệt.266 Sách Ê-phê-sô chống lại việc này.267 Dĩ nhiên ma quỷ đứng đằng sau các quyền lực đó (đối chiếu với Eph Ep 2:2-5; 4:27; 6:10-18). Nhiều người tại Ê-phê-sô, do lo sợ trước mối đe dọa liên quan đến ma quỷ, đã đốt những sách vở ma thuật của họ (Cong Cv 19:13-19). Đối với Hội Thánh Ê-phê-sô, Đấng Christ quyền năng hơn mọi quyền lực trong tự nhiên, quyền lực của ma quỷ hoặc của ma thuật (Eph Ep 1:19:23; 4:8-10). Đấng Christ thể hiện thẩm quyền của Ngài trên mọi quyền lực khác bằng cách đuổi quỷ và sống lại từ cõi chết (Mat Mt 12:28-29; 28:18; Cong Cv 19:15).
Kinh Thánh lên án ma thuật khi nó được hiểu như một phương tiện để điều khiển hoặc ép buộc các thế lực thuộc linh. Nó liên quan tới phép phù thủy và yêu thuật (tiếng Hy Lạp là pharmakeia (tiếng Hê-bơ-rơ là m+kV @p và các chữ có liên quan, PhuDnl 18:10 LXX XuXh 7:11; IISu 2Sb 33:6; MaMl 3:5; GaGl 5:20; KhKh 9:21; 18:23; 21:8; 22:15 so sánh với XuXh 22:17 MT LeLv 19:26-31; 20:6, 27; IIVua 2V 23:24; GaGl 3:1). Thuật sĩ Si-môn nghĩ rằng ông có thể điều khiển quyền năng của Đức Thánh Linh. Phi-e-rơ đã trực tiếp quở trách ông ta khi ông ta định mua quyền năng Thánh Linh (Cong Cv 8:19-24).268
Câu Hỏi 85: Ảo Thuật Có Phải Là Một Hình Thức Huyền Bí Không?
Ảo thuật là một nghệ thuật trình diễn các trò khéo léo hoặc những ảo ảnh bằng hai bàn tay hoặc những phương tiện khác. Những ảo thuật gia như David Copperfield, Danny Korem và André Kole rơi vào nhóm này. Ảo thuật không nhất thiết thuộc về huyền bí. Khán giả hiểu rằng các ảo thuật gia đang trình diễn sự khéo léo của mình.
Tuy nhiên, người ta có thể dùng một số mánh khóe đó để khiến người khác tin vào thế giới siêu nhiên.269 Những người huyền bí thường tận dụng phương tiện trá hình này. Ảo thuật gia Cơ Đốc Danny Korem đã phơi bày những khía cạnh trá hình của huyền bí.270 Hầu hết các hình thức huyền bí và siêu linh có thể là giả dối, đặc biệt là việc xem bói, xem chỉ tay, chiêm tinh, chữa lành tâm lý, đồng bóng và thần giao cách cảm (xem lời đáp 81). Chúng ta sẽ xem xét những sự gian lận thông thường.
Các thông điệp tiềm thức . Các thông điệp tiềm thức được thâu trên những băng ghi âm với một tần số rất thấp mà người ta cho rằng chỉ có tiềm thức mới nghe được. Người ta cho rằng những cuộn băng này có thể cải thiện trí nhớ, nhân cách, vẻ bề ngoài hay bất cứ thứ gì trên con người bạn. Nhưng nhìn chung không có bằng chứng khoa học nào (có thể chấp nhận được) xác định rõ những lợi ích đến cho người nghe.271 Một biến thể tiềm thức khác có vẻ huyền bí hơn là những cuộn băng được cho chạy ngược lại; người ta nói rằng chúng đề cao Sa-tan và huyền bí thuyết. Song chưa ai thấy những kết quả rõ ràng từ việc nghe những cuộn băng đó. Chúng ta không cần phải lo lắng nhiều về một cuộn băng không nghe được gì dù cho chạy ngược hay chạy xuôi cũng như những gì nó phát ra khi cho chạy xuôi.
Đi bộ trên lửa . Đi bộ trên lửa là khả năng bước trên than hồng mà không bị phỏng nặng. Thuyết thần bí Phương Đông và những cá nhân có thiên hướng nhân bản dùng nó để thể hiện sự chế ngự của tâm trí và tâm linh trên vật chất. Nhưng có lẽ là không có gì siêu nhiên ở đây cả, vì than, giống như khi ở trong lò, là chất dẫn nhiệt rất kém.Có bao giờ bạn tự hỏi là tại sao không một ai thử đi bộ trên một miếng thép dài và nóng đỏ hay không?Mồ hôi và tốc độ cũng giúp người đi bộ trên lửa không bị phỏng.
Đoán số . Đoán số gồm có khả năng tiên đoán về tương lai hoặc hiểu được những sứ điệp ẩn giấu sau các con số. Nó thường được dùng trong pháp thuật của người Do Thái (một bộ phận huyền bí của Do Thái), khoa nghiên cứu bí ẩn kim tự tháp và những lời tiên tri về thời kỳ cuối cùng. Charles Taze Russell, người sáng lập Chứng Nhân Giê-hô-va, tin rằng ngày tận cùng của thế giới sẽ diễn ra vào năm 1914 khi ông tính toán kích thước của Kim Tự Tháp Lớn (Great Pyramid) ở Ai Cập.272
Nhịp sinh học . Những máy đo nhịp sinh học ghi nhận sự phấn chấn và suy nhược của cơ thể trong sự thành công, tình dục, sức khỏe, an toàn lái xe v.v. trên căn bản từng ngày. Nhịp sinh học thường được dùng như một lá số tử vi và cũng thiếu bằng chứng khoa học tương tự.
Những việc được đề cập trên đây là những trò lừa đảo, nhưng không loại trừ khả năng các thế lực ma quỷ thực sự đứng sau những việc này nhằm đạt được mục đích của chúng. Trước khi tin Chúa, tôi cũng tin vào những lá bài nhịp sinh học vì chúng dường như tiên đoán rất chính xác tương lai của tôi. Có thể là do ngẫu nhiên dựa trên sự theo dõi những lá bài với đầu óc thiếu nhận định, nhưng cũng có thể các thế lực siêu nhiên đang cố gắng điều khiển hoàn cảnh để kéo tôi đến gần hơn với huyền bí thuyết. Nếu đúng như vậy, chúng đã thành công đến mức độ khiến tôi tin vào lá số tử vi và những lá bài nhịp sinh học, những thầy bói và cỗ bài 78 lá. Tôi không còn hứng thú gì với thuyết huyền bí nữa kể từ khi tôi đọc những gì Kinh Thánh tiên đoán thay vì những gì người bói chỉ tay nói cho tôi nghe.
Kinh Thánh cảnh báo rằng những tiên tri giả sẽ lừa dối nhiều người vì lợi ích cá nhân (Cong Cv 20:28-35; RoRm 16:17-18; IICo 2Cr 11:13, 20; IIPhi 2Pr 2:1-9; Giu Gd 1:11). Kinh Thánh cảnh báo, “Nhưng những người hung ác, kẻ giả mạo thì càng chìm đắm luôn trong điều dữ, làm lầm lạc kẻ khác mà cũng lầm lạc chính mình nữa” (II Ti 3:13;). Trong câu Kinh Thánh này, chữ Hy Lạp được dịch là “kẻ giả mạo,” goçtes , thường được dùng để ám chỉ những kẻ lang băm và những trò ảo thuật lừa gạt.273
Câu Hỏi 86: PSI là gì?
Thái độ cực đoan khoa huyền bí là niềm tin cho rằng nhân loại có thể liên hệ với một thế lực bí mật trong vũ trụ để có quyền lực, để bói toán, chữa bịnh v.v.. Thế lực này gọi là PSI (theo chữ psi trong tiếng Hy Lạp). Những người theo thuyết huyền bí cho rằng đây là một thế lực trung lập. Nó không tốt cũng không xấu, nhưng con người có thể điều khiển được nhằm đạt được những mục đích tốt hoặc xấu. Họ thường tin rằng nó bất diệt, có thể chữa lành và có thể chứa đựng hoặc cô đặc trong các vật thể. Trong thuyết thần bí phương Đông và các nhóm siêu nhiên khác, nó có nhiều tên gọi khác nhau.274
Thánh Kinh không hề nhắc đến một thế lực siêu linh trung lập nào mà con người có thể điều khiển được. Kinh Thánh khẳng định rằng chỉ có một mình Đức Chúa Trời là đời đời, sáng tạo nên mọi vật hữu hình và vô hình, và không ai có thể điều khiển được (SaSt 1:1; GiGa 1:1-3; CoCl 1:15-18). Chúng ta cũng không nên liên hệ các thế lực siêu linh với quyền năng của Thánh Linh. Thánh Linh, cũng là Đức Chúa Trời (Cong Cv 5:3-4), không hề bị ai ép buộc và cũng không sản sinh ra một quyền lực phổ quát cho những người không tin (8:18-24; RoRm 8:9).
Một số người khẳng định rằng lúc đầu A-đam và Ê-va có những khả năng siêu linh, và sau sự Sa Ngã thì khả năng đó trở nên tiềm tàng, và hiện vẫn còn tiềm ẩn trong mỗi con người. Ma quỷ có thể dùng những khả năng này, nhưng ngày nay Đức Chúa Trời đã nghiêm cấm con người dùng những khả năng đó. Quan điểm này có một số vấn đề. Chỉ có một số ít người phát triển các năng lực PSI. Kinh Thánh chỉ cho chúng ta thấy rằng quyền năng và sự cứu rỗi đến từ bên trên, chứ không phải từ bên trong (GiGa 3:1-8; 17:1; Cong Cv 1:9-11; LuLc 24:49; Cong Cv 2:2-4).277 Có vẻ như là những thế lực siêu linh “thực thụ” bắt nguồn từ lĩnh vực tâm linh. Có lẽ nhiều chỗ trong hệ thống thần kinh con người có thể liên kết chúng ta với các thế lực tâm linh. Có lẽ ma quỷ có thể kích thích các trung tâm đó “bằng cách trực tiếp truyền một năng lực tâm linh, cũng như máy thu thanh bắt đầu hoạt động khi mở công tắc.”278
Dù sao đi nữa, quyền năng thực sự đến từ việc được đầy dẫy Thánh Linh (Cong Cv 2:4, 38-39; 4:31; ICo1Cr 12:1-31; Eph Ep 5:18-20). Khả năng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta để làm việc trong thế giới siêu nhiên không đến thông qua những quyền lực đang điều khiển; nó phát xuất từ việc được thuộc về Đấng Christ và hoàn toàn trông cậy nơi Ngài; chúng ta hoàn toàn vô dụng với chính sức riêng của mình (SaSt 41:14-16; DaDn 1:17-20; 2:27-30; Mac Mc 9:28-29; Cong Cv 3:12; 14:3).
Câu Hỏi 87: Chiêm Tinh Có Thuộc Về Huyền Bí Không?
Tờ báo địa phương của bạn hằng ngày có in lá số tử vi mà người ta nói rằng nó có thể tiên đoán tương lai. Những lá số tử vi dựa trên hình thức chiêm tinh cổ xưa, là khoa nghiên cứu mười hai ký hiệu hoàng đạo. Từ xa xưa con người đã tin rằng các ngôi sao có thể ảnh hưởng đến công việc của loài người. Nhưng Kinh Thánh lên án những ai cố gắng tìm biết số phận hoặc tương lai của họ dựa vào các ngôi sao-chiêm tinh là một nỗ lực vô ích (EsIs 47:13-14 so sánh với 65:11; Gie Gr 10:2; DaDn 2:2). Chiêm tinh thường được xem là huyền bí vì nó nói rằng nó biết được tương lai thông qua các thế lực khác ngoài Đức Chúa Trời. Kinh Thánh công bố rằng không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể biết toàn bộ tương lai, và Ngài không hề phán với bất cứ ai điều gì thông qua chiêm tinh (PhuDnl 29:29; EsIs 41:26; Mat Mt 14:36; Cong Cv 16:16). Chúng ta nên tin nơi Chúa là Đấng nắm giữ tương lai hay tin nơi sự tiên đoán rồ dại của con người?
Chiêm tinh cũng có rất nhiều điều mâu thuẫn. Trước hết, những ai tin theo nó không thể giải thích được một cách khoa học vì sao những ngôi sao, hầu hết đều cách trái đất một quãng đường xa vô cùng tận, lại có thể quyết định số phận của con người. Thứ hai, chiêm tinh dựa trên quan niệm sai lầm và xưa cũ là vũ trụ quay quanh trái đất. Thứ ba, chiêm tinh không hề đưa ra những lá số tử vi cho những người Scandinavian, Eskimo và những dân tộc khác sống phía trên vĩ tuyến 60. Trong khu vực này, các ký hiệu hoàng đạo không hề xuất hiện. Thứ tư, chúng ta gặp phải một nghịch lý liên quan đến các cặp song sinh. Làm thế nào các cặp song sinh ra đời trong cùng một ngày, dưới một ký hiệu hoàng đạo lại có đời sống hoàn toàn khác nhau? Cuối cùng, những lá số tử vi chỉ nói cách rất mập mờ, không nói đến bất cứ điều gì cụ thể, thực tế; mặt khác, nếu hai lá số tử vi phát xuất từ hai nơi khác nhau, thì chúng thường mâu thuẫn với nhau. Kinh Thánh công bố một cách rất hợp lý rằng chiêm tinh chẳng có ích lợi gì.279
Câu Hỏi 88: Sự Đầu Thai Có Phù Hợp Với Cơ Đốc Giáo Hay Không?
Nhiều nhóm Thời Đại Mới, Thần Bí Phương Đông và những người huyền bí công bố rằng sự đầu thai (niềm tin cho rằng linh hồn của một tạo vật hay con người có thể hóa thân vào một tạo vật hay con người khác sau khi chết) và Cơ Đốc giáo hoàn toàn phù hợp với nhau. Họ nói rằng Ê-li đã đầu thai vào Giăng Báp-tít, và việc “tái sinh” ám chỉ sự đầu thai! Họ cũng công bố rằng từ lúc đầu Kinh Thánh đã dạy về sự đầu thai, nhưng Hội Thánh không chấp nhận và đã hủy đi những phần Kinh Thánh đó vào khoảng thế kỷ thứ ba và thứ tư.
Không có bằng chứng nào cho thấy rằng các giáo phụ đã từng hủy bỏ những phần Kinh Thánh nói về sự đầu thai. Những người tin nơi sự đầu thai cần phải xem lại các bản thảo Kinh Thánh Tân Ước tiếng Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ tư hoặc trước đó, chẳng hạn như bản Sinaiticus, Vaticanus, Alexandrinus và vô số những cuốn sách giấy cói cũng như các bản thảo khác. Các tác phẩm này đồng loạt khẳng định rằng không có chỗ nào trong Kinh Thánh ủng hộ sự đầu thai trước khi Hội Thánh không đồng ý với nó. Ngay từ thời các sứ đồ, thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã liên tục chống lại thuyết đầu thai.280
Kinh nghiệm tái sanh không có liên quan gì đến sự đầu thai. Chúa Giê-su thẳng thắn bác bỏ việc con người có thể được sanh lại lần thứ hai từ trong tử cung. Kinh nghiệm tái sanh là một sự tái sanh thuộc linh. Khi quy đạo, tín nhân Cơ Đốc thừa hưởng sự sống đời đời và được báp-tem bởi Thánh Linh để gia nhập Hội Thánh vô hình của Đấng Christ (GiGa 3:3-8; 7:37-39; ICo1Cr 12:13; Tit Tt 3:5; IGi1Ga 5:1). Hơn nữa, nếu Chúa Giê-su dạy về sự đầu thai, Ni-cô-đem và những nhà lãnh đạo Do Thái khác sẽ xem Ngài là dị giáo.
Giăng Báp-tít đến trong tâm thần của Ê-li (LuLc 1:17), nhưng như chúng ta đã nhắc đến ở trên (xem lời đáp 76), chữ tâm thần có nhiều nghĩa. Không phải lúc nào nó cũng ám chỉ đến hồn linh của một con người hay một con quỷ. Trong văn cảnh của Lu-ca, từ tâm thần tượng trưng cho nhân cách. Giăng Báp-tít đến với một nhân cách hay cá tính tương tự như Ê-li. Không phải Ê-li đầu thai vào Giăng-Giăng thẳng thắn phủ nhận việc ông là Ê-li trong GiGa 1:21 “Họ lại hỏi: ‘Vậy thì ông là ai? Phải là Ê-li chăng?’ Người trả lời: ‘Không phải.’”281 Hơn nữa, Kinh Thánh nói rằng Ê-li không hề trải qua sự chết; ông được đưa về trời trong một cơn lốc (IIVua 2V 2:1-24). Thật khó để tin rằng Giăng lại có linh hồn của một người chưa bao giờ chết, ngay cả đối với một người theo thuyết đầu thai.
Thuyết đầu thai hoàn toàn không phù hợp với Cơ Đốc giáo. Kinh Thánh dạy về sự phục sinh, chứ không phải sự đầu thai. Sự chết là thật, và chúng ta chỉ chết có một lần. Sau khi chết, chúng ta chịu đoán xét và sẽ được tuyên án là ở thiên đàng hay ở địa ngục (HeDt 9:27; GiGa 5:28-29; ICo1Cr 15:20-26; KhKh 20:4-6, 11-15). Có nhiều lý do khác giải thích cho việc vì sao thuyết đầu thai không phù hợp với Cơ Đốc giáo. Chúng ta sẽ chỉ bàn đến một vài lý do nữa thôi.282
Thuyết đầu thai không biết gì đến sự tha thứ thiên thượng vì theo truyền thống nó bao hàm cả định luật về nghiệp chướng. Nghiệp chướng rõ ràng là khái niệm của phương Đông nói rằng chúng ta nhận lãnh điều chúng ta đáng phải nhận lãnh. Nó tương tự như ý tưởng gieo gì gặt nấy. Chẳng hạn nghiệp chướng nói rằng khi một người vợ bị đánh chết, thì đến kiếp sau, người chồng đánh chết người vợ đó sẽ đầu thai vào một người vợ khác cũng bị chồng đánh đập. Nghiệp chướng tin rằng một kẻ sát nhân dù có ăn năn thì đến kiếp sau vẫn phải bị ám sát. Thuyết luân hồi cũng dẫn đến những mâu thuẫn về phương diện đạo đức. Tại sao một người phải giúp đỡ đứa bé đang chết đuối hay một người ăn xin bị mù? Chẳng phải họ đang gánh lấy những hậu quả từ kiếp trước hay sao? Nếu chúng ta giúp họ, chẳng phải chúng ta can thiệp vào luật nghiệp chướng sao? Thuyết đầu thai không làm giảm bớt vấn đề tội lỗi và điều ác, nó chỉ kéo dài tội lỗi ra bất tận mà thôi. Không có sự tha thứ cuối cùng và cũng không có sự đoán xét chung thẩm, chỉ là một vòng xoay bất tận của nghiệp chướng.
Câu Hỏi 89: Nhạc Rock Có Phải Là Nhạc Của Sa-tan Không?
Chúng ta thường nghe nhạc rock có lời đề cao Sa-tan và nhạo báng Đức Chúa Trời. Không một Cơ Đốc nhân chân chính nào lại muốn nghe thứ nhạc đó, cũng như không một người thờ Sa-tan nào lại muốn nghe nhạc Phúc Âm. Dầu vậy, không phải tất cả các nhóm nhạc rock đều phỉ báng Chúa, thực sự có một số nhóm muốn tôn vinh Đức Chúa Trời bằng lời ca của mình. Vậy loại nhạc đó có phải ra từ ma quỷ không? Một số người bảo thủ cực đoan thì cho rằng nhịp điệu của nhạc rock bắt nguồn từ các nghi thức tôn giáo ngoại giáo. Trên thực tế, nhạc rock ra từ nhịp điệu và nhạc blues, bắt nguồn từ nền nhạc Phúc Âm!
Bất cứ một loại nhạc nào, miễn là nó không cổ xúy cho sự hỗn loạn và mơ hồ, về bản chất đều không phải là xấu. Nếu lời ca từ của một bài hát phỉ báng Đức Chúa Trời hay ca tụng Sa-tan, tội lỗi hoặc huyền bí, thì Cơ Đốc nhân không nên nghe nó. Cơ Đốc nhân không nên coi trọng bất cứ ngôi sao ca nhạc nào, hoặc bất cứ biểu tượng truyền thông nào, có thông điệp và lối sống đề cao ma túy, sự lang chạ hay huyền bí thuyết.
Câu Hỏi 90: Phong Trào Thời Đại Mới Có Thuộc Về Huyền Bí Hay Không?
Phong trào Thời Đại Mới là một nhóm người và tổ chức được liên kết điện tử với nhau, cùng làm việc để tạo ảnh hưởng trên thế giới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống với một thế giới quan Phương Đông, huyền bí, trong cái gọi là Thời Đại Aquarius.283 Mục tiêu của nó là hợp nhất con người làm một ý thức hay “bộ não toàn cầu” mà một số người gọi là Gaia. Nhiều người theo phong trào này có dính líu đến tà thuật và các niềm tin và nghi thức thần bí Phương Đông, chẳng hạn như đầu thai, yoga, chiêm tinh, thiền tiên nghiệm, v.v.. Thế giới quan Thời Đại Mới hoàn toàn đối nghịch với thế giới quan Cơ Đốc. Triết lý Thời Đại Mới hầu như không khác gì so với triết lý thần bí tổng quát, tin rằng mọi người là một (nhất nguyên luận), Đức Chúa Trời là mọi sự (phiếm thần thuyết), con người là Đức Chúa Trời hoặc một phần của Đức Chúa Trời, và chúng ta tạo nên chính thực tại của mình.284 Nhiều người Thời Đại Mới tin rằng tội lỗi là do sự không biết hay không nhận thức được tiềm năng con người của mình.
Kinh Thánh mô tả cho chúng ta một bức tranh hoàn toàn khác. Tội lỗi không chỉ là sự không biết, mà nó còn là tin vào hoặc làm theo một điều gì đó trái với các tiêu chuẩn, ý muốn và bản chất của Đức Chúa Trời (SaSt 3:1-24; Mat Mt 7:21; RoRm 3:23; 14:23; Gia Gc 4:17; IGi1Ga 3:4; 5:17;). Tội lỗi trong quan niệm của Thời Đại Mới là sự không biết, đạo đức chỉ mang tính tương đối, và con người tạo nên thực tại của riêng mình, làm dấy lên nhiều mâu thuẫn.285 Chúng ta có thể nói rằng Hitler làm điều tội ác khi thảm sát sáu triệu người Do Thái nếu theo quan điểm đạo đức của ông ta người Do Thái là dân phải bị tiêu diệt, hay không? Chúng ta có nên khen con gái của mình khi nó điểm rớt môn toán vì theo quan niệm về thực tại của nó , một cộng một bằng ba, hay không? Những ví dụ khá cực đoan này đặt ra một vấn đề: chúng ta không thể sống phù hợp với những thói quen của chúng ta nếu chúng ta nghĩ rằng chân lý và đạo đức hoàn toàn mang tính chủ quan và thực tại của chính chúng ta là điều duy nhất có ý nghĩa.
Trái với quan niệm Thời Đại Mới về Nhất Nguyên luận và phiếm thần thuyết, Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời hoàn toàn riêng biệt đối với sự sáng tạo của Ngài, và Ngài tạo dựng mọi sự từ hư vô, hay là từ chỗ không có gì hết (SaSt 1:1; HeDt 1:2; CoCl 1:15-18). Đằng sau giả thuyết Thời Đại Mới cho rằng Đức Chúa Trời là tất cả là một niềm tin rằng Đức Chúa Trời là một thế lực phi vị cách, thường được đồng nhất hóa với mana đời đời, hoặc một nguồn lực siêu linh của vũ trụ. Do người theo Thời Đại Mới không tương giao với một Đức Chúa Trời có vị cách, họ thường quay sang nỗ lực giao tiếp với các linh cá nhân. Tuy nhiên, Kinh Thánh khẳng định rằng Đức Chúa Trời là một hữu thể có vị cách, có sự khôn ngoan, tình cảm và ý chí (XuXh 2:20; Gie Gr 29:11-13; GiGa 3:16). Hơn nữa, con người không phải là Đức Chúa Trời; thay vào đó họ được tạo dựng trong hình ảnh của Đức Chúa Trời, mang những phẩm chất đạo đức, lý trí và thuộc linh (SaSt 1:26-27; EsIs 43:10; GaGl 4:8).
Câu Hỏi 91: Sa-tan Có Hành Động Thông Qua Phong Trào Thời Đại Mới Hay Không?
Trái với sự lo lắng thái quá của nhiều Cơ Đốc nhân, không có một âm mưu Thời Đại Mới hay Trật Tự Thế Giới Mới nào. Những người Thời Đại Mới không hề bí mật lập kế hoạch để thống trị thế giới và mở đường cho antichrist.286 Thời Đại Mới dường như không còn phổ biến như những năm 1980 nữa. Những người theo chủ nghĩa thế tục cho rằng những người theo Thời Đại Mới là những người lập dị hay không bình thường. Thảm họa tại San Diego (Rancho Santa Fe) cùng với tà giáo Cổng Trời (Heaven’s Gate) bắt đầu khiến một số người nghĩ rằng vài niềm tin nào đó của Thời Đại Mới là rất nguy hiểm. Những người theo thuyết Thời Đại Mới hiện nay đang tập trung vào các phương tiện truyền thông công cộng để truyền bá thông điệp của họ, chẳng hạn như viết tiểu thuyết (James Redfield, Celestine Prophecy ), bàn thảo về chính thể luận (Deepak Chopra), đưa ra những vấn đề môi trường và sinh thái học, tạo các trang web dị thường, và dĩ nhiên là nói về các thiên sứ.
Nếu Sa-tan có kế hoạch lôi kéo cả thế giới theo thuyết Thời Đại Mới, thì tôi nghĩ rằng hắn đã thất bại. Tuy nhiên, triết lý thần bí đằng sau phong trào Thời Đại Mới vẫn còn lan tràn khắp nơi. Triết lý này bao hàm cả sự đối kháng hoặc diễn dịch lại Cơ Đốc giáo chân chính. Như đã đề cập ở câu trả lời trên, cách hiểu Kinh Thánh truyền thống đi ngược lại ý tưởng Thời Đại Mới. Và Đấng Christ trong Kinh Thánh cũng vậy.
Nhìn chung, Thời Đại Mới tin rằng Chúa Giê-su không phải là Đấng Christ, nhưng Ngài là một phương tiện con người mà trong đó “Đấng Christ vũ trụ” cư ngụ.287 Chúa Giê-su là một cái vỏ bọc con người, và Đấng Christ là một nguồn lực vũ trụ phi vị cách. Trong thuật ngữ của Thời Đại Mới, Đấng Christ là một trong nhiều những hóa thân có “tinh thần Christ” (các hóa thân khác gồm có Ma-hô-mết, đức Phật, Krishna, Gandhi Mục tiêu cuối cùng của một số người Thời Đại Mới là làm sao đạt được “tinh thần Christ,” hoặc sự tự nhận thức rằng chính họ là Christ. Cho nên Chúa Giê-su là một người chỉ đường để giúp chúng ta tìm kiếm tinh thần Christ của chính mình. Chúa Giê-su thể nào, thì chúng ta cũng có thể trở nên thể ấy.288
Chấp nhận Christ Thời Đại Mới là chối bỏ Christ chân chính của Kinh Thánh (IGi1Ga 2:22-23). Đời sống lịch sử của Chúa Giê-su Christ được ghi lại trong bốn tác phẩm lịch sử gọi là các sách Phúc Âm. Dù rằng một số học giả Kinh Thánh còn tranh luận về những điểm nhỏ trong các tác phẩm này, thì phần đông còn lại vẫn khẳng định rằng các sách Phúc Âm thực sự mô tả một chức vụ lịch sử của Đấng Christ.289 Trong các tác phẩm này, Chúa Giê-su khẳng định rằng Ngài là Đấng Mết-si-a, Con của Đức Chúa Trời và là Cứu Chúa của dân Do Thái. Ngài đã chứng minh quyền năng Mết-si-a của mình khi phục sinh từ cõi chết. Sự phục sinh thực sự và mang tính lịch sử của Ngài tách Ngài ra khỏi mọi người lãnh đạo tôn giáo khác. Do Đấng Christ sống một đời sống đạo đức toàn hảo và là người duy nhất trong lịch sử vượt thắng sự chết, chúng ta phải tin nơi những gì Ngài phán. Ngài khẳng định rằng Ngài là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời hiện thân trong xác thịt con người, và là con đường duy nhất để đến với Đức Chúa Cha (GiGa 14:6; Mat Mt 11:27; 16:16-17; 26:63-64;; GiGa 4:25-26; 5:18; 10:30, 36 so sánh với Mat Mt 1:23; Cong Cv 4:12; ITi1Tm 2:5; KhKh 2:18). Ngài không phải là một trong những hóa thân; duy chỉ có một mình Ngài trong toàn nhân loại là chính Đức Chúa Trời. Ngài chết vì tội lỗi của những người khác và đã sống lại (GiGa 1:1-14; v8:24-58;; ICo1Cr 15:1-3 so sánh XuXh 3:14 với EsIs 43:10-11; PhuDnl 6:4; SaSt 1:1).
Câu Hỏi 92: UFO Có Phải Là Công Việc Của Sa-tan Không?
Năm 1947, một thương nhân Idaho tên là Ken Arnold phát hiện chín vật hình đĩa sáng chói đang bay với tốc độ rất nhanh. Sau đó ông đặt ra khái niệm “đĩa bay.” Từ Đệ Nhị Thế Chiến, hàng triệu người nói rằng họ đã từng thấy UFO, những vật thể bay không xác định.290 Thánh địa hiện nay của những người đam mê UFO là Vùng 51 (Area 51), một căn cứ ở Nevada, nơi mà nhiều người tin rằng một UFO đã rớt xuống. Các UFO và những sinh vật vũ trụ được phổ biến qua nhiều bộ phim chẳng hạn như E.T . và Independence Day , các chương trình TV như The X-Files , những cuốn sách như Chariots of the Gods ?291 của Erich von Daniken và Communion của Whitley Streiber, và các nhóm huyền bí như phong trào Thời Đại Mới, Urantia Foundation, và cuộc tự tử hàng loạt bằng điện của một bộ phận gọi là Cổng Trời. Vậy các UFO có phải là công việc của ma quỷ không?
Những cuộc tiếp cận loại ba ? Việc phát hiện UFO được chia làm ba mức độ tiếp cận: (1) tiếp cận loại một (UFO được phát hiện ở tầm gần); (2) tiếp cận loại hai (UFO được phát hiện và để lại bằng chứng vật lý); (3) tiếp cận loại ba (người ngoài hành tinh được quan sát bên trong UFO). Những cuộc bắt cóc của người ngoài hành tinh nằm trong nhóm thứ ba này. Một số vụ bắt cóc nổi tiếng đã được Betty và Barney Hill, Brian Scott và Whitley Streiber ghi lại. Nhìn chung, những người bị bắt cóc nói rằng họ được đưa vào bên trong phi thuyền, bị khảo sát và được thả ra. Đôi lúc họ nhớ lại những cuộc tiếp cận đó khi bị thôi miên.
Nhiều phát hiện UFO có thể được giải thích bằng các hiện tượng tự nhiên, chẳng hạn như ánh sáng khác thường, hơi ga, ảo giác, v.v.. Một tài liệu cho biết rằng gần 90% những phát hiện UFO rơi vào trường hợp này.292 10% còn lại có thể là thật. Một số ít trong số phần trăm nhỏ nhoi này được quan sát từ trên màn ảnh ra-đa, chúng phát ra những trường điện từ, chúng để lại những bằng chứng vật lý chẳng hạn như đất cháy thành than và những mùi hôi, và chúng làm các loài động vật cũng như con người náo động. Một số người cho rằng các phát hiện này là máy bay mật. Nhưng điều này không hẳn đúng trong mọi trường hợp, và một số phát hiện không nằm trong các định luật vật lý: (1) các UFO di chuyển với một tốc độ cao mà không tạo ra tiếng nổ đặc trưng khi một vật di chuyển với vận tốc âm thanh; (2) các UFO đổi hướng theo góc vuông hoặc đột ngột dừng lại giữa không trung khi đang tăng tốc đến 16000 dặm một giờ; (3các UFO thích nghi với hiểu biết của con người, cho nên vào thế kỷ mười chín, chúng hiện ra dưới dạng những con tàu bay hoặc các mũi tên; (4) các UFO có vẻ biến mất hoàn toàn; (5) đôi khi ra-đa, máy ảnh hoặc các phương tiện dò tìm khác không phát hiện được UFO; (6) có vẻ như các UFO có thể thay đổi hình dạng, kích thước hay màu sắc tùy ý muốn. Dĩ nhiên, một số người cho rằng chính phủ có những con tàu vũ trụ cấp cao được chế tạo theo những định luật khoa học bí mật và người ta làm cho dân chúng tin rằng nền kỹ thuật của chúng ta kém phát triển hơn nhiều so với thực tế. Nhưng loại lý luận có chủ mưu này thiếu bằng chứng và chẳng đưa chúng ta đi đâu cả. Bạn sẽ nghĩ rằng ít nhất phải có một khoa học gia hay một thành viên chính phủ còn sống để nói cho chúng ta nghe về chuyện đó!
Những cỗ xe bằng lửa : Đĩa bay ? Kinh Thánh hầu như im lặng về vấn đề sự sống ngoài trái đất. Một số người cho rằng “các con trai của Đức Chúa Trời” (SaSt 6:1-5), khải thị của Ê-xê-chi-ên (Exe Ed 1:1-28) và “xe lửa” của Ê-li (IIVua 2V 2:1-24) là các UFO hoặc các sinh vật vũ trụ. Tuy nhiên, giải nghĩa phân đoạn Kinh Thánh này theo hướng UFO làm nảy sinh nhiều vấn đề. Thứ nhất, Ê-li được cất lên trời trong một cơn gió lốc, không phải một cỗ xe (IIVua 2V 2:11). Nếu đó là một đĩa bay, thì ông phải bước vào cỗ xe và bay đi chứ. Cũng khá ngớ ngẩn khi giải thích “ngựa lửa” kéo xe là UFO. Những con ngựa, không kể những con ngựa lửa, sống trên các hành tinh khác có ích lợi gì chứ? Chúng ta có thể giả định rằng những sinh vật cao cấp đó có thể nghĩ đến việc thiết kế một phương tiện chuyên chở nào đó tốt hơn là loại xe ngựa thông thường của trái đất.293 Rõ ràng Ê-li đã nhìn thấy một khải thị thiên sứ hoặc sự hiển hiện từ Đức Chúa Trời.
Thứ hai, khải thị của Ê-xê-chi-ên cũng mang tính thuộc linh (so sánh với EsIs 6:1-13; KhKh 4:1-11), tức là về bản chất, những vật thể đang bay mà ông nhìn thấy mang tính thuộc linh hoặc ẩn dụ, chứ không phải là máy bay vật chất. Cũng vậy, các chê-ru-bin mà Ê-xê-chi-ên nhìn thấy mở đường cho sự khải thị từ nơi Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ bàn đến việc các thông điệp mà những sinh vật UFO mang đến ngày nay không bắt nguồn từ Đức Chúa Trời.
Thứ ba, “các con trai Đức Chúa Trời” trong SaSt 6:1-22 (xem lời đáp 29-30) hình như ám chỉ các hữu thể thiên sứ hoặc các thiên sứ sa ngã đã hiện hình ra trong thân thể vật lý. Thậm chí ngay chỗ này chúng ta cũng gặp phải những vấn đề liên quan tới cách hiểu chung về UFO như những sinh vật vũ trụ đến từ hành tinh khác. Tốt hơn hết nên hiểu “các con trai Đức Chúa Trời” là những hữu thể siêu nhiên sa ngã hơn là các sinh vật vũ trụ hữu hình . Và trong 6:1-22, chúng ta không thấy Kinh Thánh đề cập gì đến tàu vũ trụ hay “xe ngựa lửa.”294
Người hành tinh bắt cóc ? Sự sống có hiện hữu trên các hành tinh khác không? Thẳng thắn mà nói, tôi không biết. Nếu có, tôi không tin rằng các dạng sự sống vật lý, bất luận có thông minh đến thế nào, lại có thể vượt qua khoảng cách hàng triệu năm ánh sáng với vận tốc nhanh hơn ánh sáng mà vẫn còn sống để nói chuyện với chúng ta. Nhưng điều có ý nghĩa hơn đối với kết luận của tôi là trong số hàng triệu phát hiện UFO, không có một sinh vật vũ trụ nào cố gắng giao tiếp với nhiều người cùng một lúc. Thậm chí phi hành đoàn Star Trek dường như luôn phá lệnh của “chỉ huy trưởng” khi không can thiệp vào sự tiến hóa của các xã hội trên hành tinh khác!295 Tôi chỉ có thể kết luận không mấy chắc chắn rằng các sinh vật trên UFO là những sinh vật phi vật chất đến từ các hành tinh khác. Việc này chỉ đưa đến một giả thuyết khác có vẻ hợp lý hơn trong thời điểm này: họ là phi vật chất hoặc siêu nhiên-nói cách khác là các linh, thiên sứ hay ma quỷ.
Những người báo cáo là bị UFO bắt cóc thường có khuynh hướng thích thần bí thuyết. Nhiều người tuyên bố rằng họ có thể liên hệ với các UFO bằng các phương tiện như thông linh, bảng cầu cơ hay các nghi thức thần bí khác. Một số người theo thần bí thuyết, chẳng hạn như Uri Geller, tuyên bố rằng họ đã nhận được những sức mạnh từ các UFO này. Hơn nữa, những người bị UFO bắt cóc có những vấn đề về tâm lý, tình cảm và tâm thần tương tự như những người liên quan đến thần bí thuyết.296
Có lẽ một trong những bằng chứng xác thực nhất đối với tôi là thông điệp mà những người ngoài hành tinh này mang đến cho con người. Các sinh vật UFO có khuynh hướng phủ nhận thần tánh của Đấng Christ và sự chết chuộc tội của Ngài vì tội lỗi chúng ta. Họ thường đề cao huyền bí hoặc các niềm tin Thời Đại Mới, chẳng hạn như phiếm thần thuyết, Chủ Nghĩa Đại Đồng, và tiềm năng bản thân. Cho nên, nếu thực sự có những sinh vật UFO đích thực như thế, thì chúng có thể là các thế lực ma quỷ đang phô diễn chính chúng như những sinh vật vũ trụ nhằm để lôi kéo con người ra khỏi Đức Chúa Trời của Thánh Kinh. Đây quả là một mưu kế xảo trá nhằm thuyết phục những người không tin vào các quyền lực ma quỷ mà đi tin vào các giáo lý của chúng! John Keel, một người theo thuyết bất khả tri tự phong, viết rằng UFO có thể thực sự là “một trò đùa do các hữu thể vô hình tạo ra, là những kẻ luôn thích làm cho loài người sợ hãi, lẫn lộn và đi sai lệch.”297
Câu Hỏi 93: Tôi Có Nên Cho Con Mình Dự Lễ Halloween Không?
Halloween, bắt nguồn từ chữ “hallow’s eve” hoặc “holy evening” (đêm thánh), là đêm trước ngày Lễ Các Thánh (1 tháng 11). Đây là ngày tưởng niệm các thánh nhân vì đức tin và sự tuận đạo của họ. Rõ ràng nó được tổ chức vào thời điểm này của năm là để cạnh tranh với kỳ lễ mùa gặt của ngoại giáo, cũng diễn ra cùng một lúc. Ở phía bắc Âu Châu và các hòn đảo thuộc Anh Quốc, ngày Lễ Các Thánh đã thay thế ngày hội Samhain ngoại giáo (đọc là “sah ween), nhưng các phong tục phi Cơ Đốc trong ngày hội này vẫn tồn tại. Người ta tin rằng các linh hồn sẽ lang thang khắp nơi và quấy nhiễu nhiều gia đình trong ngày này. Theo một số truyền thống, các linh hồn lang thang được yên ủi bằng cách “chiêu đãi” chúng, nếu không chúng sẽ “quấy phá.” Một số linh bị khống chế bởi việc cắm một cây đèn cầy vào rễ một cây rau nào đó hoặc củ cải.298 Chúng ta thấy những dấu vết của các truyền thống này trong ngày hội Halloween hiện đại.
Vậy Cơ Đốc nhân phản ứng thế nào trước một ngày hội Cơ Đốc “thoái hóa” mang nhiều yếu tố huyền bí như các phù thủy và ma quỷ? Tôi tin rằng có nhiều lựa chọn cho chúng ta. Mỗi người phải tự quyết định cho mình xem điều nào thích hợp nhất cho họ và gia đình họ.
1. Khôi phục Halloween thành một đêm thánh . Các gia đình Cơ Đốc có thể một lần nữa tưởng niệm đời sống của các thánh nhân, hoặc kỷ niệm ngày Cải Chánh của Martin Luther.Theo truyền thống, ngày 31 tháng 10 được xem là ngày bắt đầu cuộc Cải Chánh. Các gia đình Cơ Đốc có thể tặng những cuốn sách Phúc Âm cùng với đèn cầy cho con. Con của họ cũng có thể hóa trang trong cách ăn mặc của thời Kinh Thánh, và đi thu tiền từ thiện từ các gia đình hàng xóm.
2. Thay đổi ngày Halloween . Các Hội Thánh có thể tổ chức ngày Halloween hoặc các bữa tiệc mùa gặt mà trong đó trẻ em có thể hóa trang trong những bộ y phục không mang tính huyền bí, ăn uống và chơi trò chơi.
3. Phớt lờ ngày Halloween . Có thể các gia đình chỉ cần phớt lờ ngày Halloween, không cho kẹo bánh cũng không cho con của họ tham dự trong bất cứ bữa tiệc nào. những cha mẹ nào làm theo cách này cần phải giải thích hợp lý cho con của mình tại sao chúng không được tham gia.
4. Dự lễ Halloween với nhiều thận trọng . Miễn là cộng đồng địa phương an toàn, các bậc cha mẹ có thể giám sát con cái mình, và y phục của những đứa trẻ không đề cao các phương diện thần bí của ngày Halloween, cá nhân tôi không tin rằng lũ trẻ sẽ cảm thấy tội lỗi khi đi gõ cửa từng nhà và xin kẹo. Các chuyên gia Bob và Gretchen Pasantino phơi bày một số huyền thoại về ngày Halloween khi họ viết:
Việc các món thết đãi trong ngày Halloween có tẩm thuốc độc không phải là một hiểm họa có thật nếu các bậc cha mẹ có đầu óc nhận định thận trọng. Hầu hết những câu chuyện kinh dị đều là những lời đồn vô căn cứ nhưng lại lan rất nhanh trên cả nước, được nhiều người thêm thắt vào, và khiến cho các bậc cha mẹ lo sợ cách không cần thiết. Nếu các bậc cha mẹ biết giới hạn con cái của mình để chúng chỉ nhận những món thết đãi của người quen mà họ biết và tin tưởng, hoặc từ một chương trình do Hội Thánh, một nhóm địa phương, hoặc một công ty thương mại đức ra tổ chức, thì chúng khá an toàn. Trong nhiều cộng đồng, các bệnh viện địa phương hoặc các trạm cảnh sát sẽ khám nghiệm thức ăn miễn phí.299
Câu Hỏi 94: Tôi Có Nên Cho Con Mình Nghe Chuyện Cổ Tích Không?
Một số Cơ Đốc nhân bảo thủ cực đoan cảm thấy cho con mình nghe những chuyện cổ tích thông thường là sai. Họ tin rằng kể cho những đứa trẻ về các phù thỷ, những cô tiên v.v. tức là giới thiệu với chúng các đề tài trong thần bí thuyết. Tôi đã từng phải tư vấn cho một quý cô bị ảnh hưởng bởi một tác giả bảo thủ cực đoan đến độ đã vứt toàn bộ những cuốn chuyện cổ tích cho trẻ em của cô. Cô sợ chúng sẽ để lại ảnh hưởng tiêu cực trên con cái của mình. Nói chung, chúng ta không nên can ngăn con cái chúng ta đọc các chuyện cổ tích, vì nhiều chuyện cổ tích có thể thực sự mở đường cho con cái chúng ta hiểu được sứ điệp Phúc Âm. Các câu chuyện như “Bạch Tuyết Và Bảy Chú Lùn,” “Nàng Công Chúa Ngủ Trong Rừng” và loạt truyện Lord of the Rings có những nhân vật giống với đời thường như vua, phù thủy, hiệp sĩ, công chúa đại diện cho các thế lực chống đối, điều thiện luôn thắng điều ác. Thường thì trong các câu chuyện này, một nhân vật giống như Đấng Cứu Thế xuất hiện để giải thoát con người khỏi phép phù thủy hoặc sự bức hại của các thế lực gian ác.300 )
Một ví dụ tuyệt vời cho thấy các câu chuyện thần tiên có thể được dùng để giới thiệu Phúc Âm là câu chuyện The Lion , the Witch and the Wardrobe của C. S. Lewis. Trong câu chuyện này, bốn đứa trẻ (được gọi là các con trai của A-đam) đi qua một cái tủ quần áo (có lẽ tượng trưng cho đức tin) dẫn đường cho chúng vào một thế giới gọi là Narnia, ở đó có một bà phù thủy (tức là ma quỷ) cứ khiến mùa đông kéo dài đến trọn năm (tức là sự sáng tạo bị rủa sả vì cớ sự Sa Nga) Một trong những đứa trẻ này, Edmund, bị bà phù thủy mê hoặc khi bà cho nó một cây kẹo gọi là Turkish Delight (tức là sự ham muốn của xác thịt). Bà phù thủy muốn giết các con trai của A-đam vì và đã nghe một lời tiên tri xa xưa rằng những đứa trẻ này sẽ cai trị Narnia một này nào đó (tức là thời kỳ giải hòa). Nhưng con sư tử Aslan (tức là Đấng Christ, “sư tử của Giu-đa”) giải thoát bé Edmund không xứng đáng khỏi bà phù thủy bằng cách hy sinh chính mạng sống của mình vì Edmund (tức là sự chuộc tội của Đấng Christ). Nhưng Aslan đã sống lại sau khi phiến đá giết chết Aslan bị vỡ đi (đó là sự phục sinh và ngôi mộ trống). Trong lúc đó, những đứa trẻ và các đạo quân của Aslan đánh trận cùng bà phù thủy và thế lực của bà (tức là trận chiến thuộc linh trong thời kỳ Hội Thánh). Nhưng bà phù thủy đã không hoàn toàn bị tiêu diệt cho tới khi Aslan trở lại (tức là sự tái lâm của Đấng Christ).
Câu Hỏi 95: Tôi Có Nên Cho Con Mình Chơi Với Những Con Quái Vật, Người Khổng Lồ Hoặc Những Con Búp Bê Giống Với Các Nhân Vật Huyền Bí Không?
Những búp bê hình người khổng lồ là các nhân vật có bụng bự, tóc rất dài. Trong truyền thống Scandinavia, những người khổng lồ là các tiểu yêu hoặc những chú lùn sống dưới lòng đất.Những con búp bê trông giống như những người khổng lồ nhưng có màu xanh, đội mũ trắng và tóc ngắn hơn được gọi là Smurf.Trong các truyện thần thoại cổ hơn, những người khổng lồ là các vị thần độc ác, đôi khi ăn cả thịt người. Trong các truyền thuyết về sau, chúng có vẻ tử tế hơn, chỉ ăn chuối và kem, thay vì ăn thịt người.301
Khi người ta tránh tổ chức những ngày lễ có nguồn gốc ngoại giáo, hoặc không ăn ngũ cốc Lucky Charms chỉ vì hình một con quỷ được in trên hộp, họ mắc phải chứng liên tưởng nguồn gốc (genetic fallacy ). Chúng ta mắc phải chứng này khi lên án một điều gì đó vì nguồn gốc của nó chứ không phải vì điều mà nó tượng trưng cho trong thời nay . Chắc chắn chúng ta không ngăn trở con cái chúng ta học về các ngày trong tuần và tháng của năm vì chúng được đặt tên theo tên các vị thần ngoại giáo!
Chúng ta cần phải có cái nhìn sáng suốt về đồ chơi của con mình. Nhưng không có một búp bê đồ chơi nào bị quỷ nhập cả. Chúng ta cần phải quan tâm đến việc những con búp bê đó đối với con cái chúng ta có ý nghĩa gì hơn là diện mạo bên ngoài của chúng. Con búp bê Incredible Hulk chẳng hạn, nó trông rất kỳ dị, là một người bất hạnh bị các tia gamma biến thành một con quái vật màu xanh. Nhưng hắn tỏ ra là một siêu anh hùng “tốt bụng” của nhiều đứa trẻ. Mặt khác, một con búp bê Barbie có vẻ vô hại, nhưng nếu con gái chúng ta muốn có một vóc dáng phi thực tế như Barbie hoặc tưởng tượng mình đang có các mối quan hệ bừa bãi với Ken hay G. I. Joe, điều đó há là tốt sao? Chúng ta hãy đặt những ưu tiên cần thiết trong việc nuôi dạy con cái. Viện Nghiên Cứu Cơ Đốc (Christian Research Institute) khẳng định, “Ngày nay, những người trẻ phải đối diện với quá nhiều nan đề nghiêm trọng, khó khăn, đòi hỏi phải cẩn thận suy nghĩ và cầu nguyện hơn là chú tâm vào những con búp bê. Nếu ngày nay chúng ta phải dạy cho con cái mình những điều có ý nghĩa, thì chúng ta cần phải vững vàng trong lập luận của mình, nếu không nó sẽ phản tác dụng hoàn toàn.302
Câu Hỏi 96: Phép Phù Thủy Là Gì?
Từ witch bắt nguồn từ một chữ tiếng Anh, wicca .303 Dạng danh từ của chữ này có nghĩa là “phù thủy,” và dạng động từ có nghĩa là “làm mê đắm.” Phép phù thủy được nhiều người gọi là “mánh khóe của người khôn.” Nó cũng được biết đến như một ma thuật cổ xưa. Trong nhiều nền văn hóa khác nhau, các phù thủy được xem là những kẻ lầm đường lạc lối, nhưng không phải lúc nào họ cũng độc ác. Các bác sĩ dùng ma thuật đôi khi có vai trò rất tích cực trong một số nền văn hóa thuộc các nước Thế Giới Thứ Ba.
Các phù thủy thường thờ các nữ thần và nam thần có sừng.304 Mẫu thần tượng trưng cho mặt trăng và thần có sừng tượng trưng cho mặt trời. Các tổ chức của phù thủy thường gặp nhau vào mùa trăng mới và trăng rằm để điều chỉnh hoặc “tái liên kết” chính họ với các thế lực tự nhiên. “Kéo mặt trăng xuống” là một nghi lễ có một người hành lễ bị mẫu thần nhập vào. Trong nền văn hóa phương Tây, các phù thủy được biết đến nhiều là Alister Crowley, Margaret Murray, Gerald Gardner, Sybil Leek và Margot Adler. Các phù thủy tuyên bố rằng phép thuật của họ lâu đời hơn Cơ Đốc giáo. Nó chính là “Tôn Giáo Xưa” (Old Religion), hoặc một ngoại giáo được phục hồi, từ đó có “tân ngoại giáo.” Kinh nghiệm là yếu tố quan trọng, nếu không phải là quan trọng nhất, trong niềm tin của họ. Phép phù thủy không giống với đạo Sa-tan, nó cũng không phải là phong trào Thời Đại Mới. Có những điểm khác biệt đáng lưu ý giữa ba nhóm, nhưng có một số chi tiết thì trùng lắp với nhau.
Giống như những người huyền bí khác, phù thủy dựa vào các thế lực siêu linh mà họ cho là những thế lực trung lập để thực hiện những mục đích hoặc tích cực (ma thuật trắng) hoặc tiêu cực (ma thuật đen). Giống như những người Thời Đại Mới, các phù thủy nhấn mạnh sự chấp nhận và thuyết tương đối (mặc dù họ không hề chấp nhận niềm tin của Cơ Đốc nhân Nhiều phù thủy đồng nhất hóa Cơ Đốc giáo với Tòa Án Dị Giáo và những hình ảnh các chính khách “Cơ Đốc” đang đốt các phù thủy và “những kẻ dư thừa của xã hội trên dàn thiêu.”
Cơ Đốc nhân không nên bày tỏ thái độ căm thù và thô bạo đối với các phù thủy.305 Thay vào đó, họ nên thể hiện tình yêu thương, lòng nhơn từ và sự tha thứ của Đấng Christ trong Tân Ước.
Câu Hỏi 97: Cách Nào Là Tốt Nhất Để Tôi Tiếp Cận Với Những Người Đang Theo Thuyết Huyền Bí?
Các Cơ Đốc nhân nên tìm kiếm những cơ hội để nói chuyện và chia sẻ niềm tin với những người theo khoa huyền bí.306 Cầu nguyện và phân định là những điều tiên quyết. Phúc Âm dùng để tấn công với những người theo huyền bí rồi bỏ chạy là không đủ. Bạn phải sẵn sàng yêu thương họ với tình yêu của Đấng Christ, kiên nhẫn giải thích với họ và giới thiệu họ với cộng đồng Cơ Đốc của bạn. Cho nên, trước hết bạn phải thực sự yêu thương và hiểu được những người bạn muốn giúp đỡ. Sau đó bạn phải có một số quyết định về họ. Sự đam mê của họ đối với khoa huyền bí chỉ giới hạn trong việc đọc lá số tử vi hằng ngày phải không? Phải chăng họ là những Cơ Đốc nhân có niềm tin sai lạc về sự đầu thai? Họ có phải là những người Thời Đại Mới, những phù thủy hay thuộc một nhóm nào khác?
Thứ hai, bạn phải nói lẽ thật trong tình yêu thương và thái độ cảm thông (Eph Ep 4:15 Một số người đến với những điều huyền bí mà không biết rằng Kinh Thánh chống lại việc làm của họ. Cho nên bạn phải chỉ cho họ thấy Lời Đức Chúa Trời nói gì liên quan tới các hoạt động huyền bí (PhuDnl 18:10-12; Cong Cv 13:4-12; GaGl 5:19-21 Chúng ta phải nhấn mạnh mối hiểm họa của việc tương tác với các thế lực ma quỷ. Những người có quan hệ với các thế lực siêu linh thường gặp phải những suy sụp về tình cảm và tinh thần, và một số người cũng đã cố tự sát. Bạn nên thay đổi những quan niệm sai lầm của họ về chính những việc họ làm. Ma thuật trắng cũng như ma thuật đen có thể là do các thế lực ma quỷ điều khiển, mọi ý định tốt lành có thể trở nên phản tác dụng.
Thứ ba (như đã ghi chú trong lời đáp 90), bạn nên chỉ cho người theo các khoa huyền bí thấy sự mâu thuẫn của việc đi theo một thế giới quan đặt nền tảng trên thuyết tương đối và thuyết phiếm thần. Từ cái nhìn của họ, nếu điều thiện và điều ác đều từ một nơi mà ra, thì không phải chính mẫu thần hay một thế lực siêu linh nào đó đã tạo nên mọi điều ác và sự đau khổ hay sao? Nếu họ không thể phân biệt được giữa điều thiện và điều ác, vậy thì tại sao họ nghĩ rằng việc các Cơ Đốc nhân đốt các phù thủy hoặc phá hủy những quả cầu pha lê của họ là sai? Một số người theo thuyết huyền bí có thể phủ nhận vấn đề tội ác, nhưng dù họ có phủ nhận hay không thì tội ác vẫn hiện hữu trên thế giới, và thế giới quan của chúng ta phải cố gắng làm cho hòa hợp điều chúng ta tin với việc chúng ta làm.
Thứ tư, bạn nên tìm hiểu để có thể bàn đến những quan niệm sai lầm về Cơ Đốc giáo mà những người theo thuyết huyền bí đang tin. Họ thường nhắm đến những sai lầm của các Cơ Đốc nhân hoặc những thiếu sót mà con người vấp phải trong danh những người theo đạo Cơ Đốc xuyên suốt các thế kỷ. Bạn nên giúp họ phân biệt giữa những thất bại của các Cơ Đốc nhân (hoặc các Cơ Đốc nhân trá hình) và cuộc đời của Đấng Christ như một khuôn mẫu trọn vẹn. Hãy xoáy vào Phúc Âm của Đấng Christ trong Kinh Thánh, nhấn mạnh cuộc đời, sự chết và Phúc Âm của Ngài, cũng như sự sống đời đời thông qua đức tin nơi Ngài (ICo1Cr 15:2-3; GiGa 3:16-18; RoRm 3:23; 5:8; 6:23; 10:9-10). Hãy chỉ cho những người theo thuyết huyền bí thấy những lợi ích của một đời sống Cơ Đốc trên các thế lực ma quỷ. Đường lối con người không có Đấng Christ dẫn đến chỗ chia cắt với Đức Chúa Trời và sự chết (đối chiếu với ChCn 14:12). Sức mạnh căn bản để làm việc lành bắt nguồn từ Đức Chúa Giê-su Christ, chứ không phải các thế lực siêu linh. Thông qua Đấng Christ, con người có được quyền năng trên ma quỷ và các hoạt động huyền bí (GiGa 1:12; IGi1Ga 4:4).
Câu Hỏi 98: Đạo Sa-tan Là Gì?
Đạo Sa-tan đảo ngược những giá trị Cơ Đốc, xem Đức Chúa Trời là điều ác và Sa-tan là điều thiện.307 Những người theo đạo này thay thế Kinh Thánh bằng Kinh Sa-tan. Những người theo Sa-tan thực sự luôn thờ phượng và cầu khẩn Sa-tan. Một số người xem hắn là một hữu thể có vị cách tương tự như, nếu không hoàn toàn, là một hữu thể trong Kinh Thánh; những người khác xem hắn là một thế lực phi vị cách hoặc một biểu tượng. Anton Levey, trưởng tế của Nhà Thờ Sa-tan tại San Francisco, tin rằng Sa-tan là một sự phát triển tiềm năng của chính con người. Sa-tan là một nguồn lực hay một bản ngã thay đổi mà qua đó con người có thể điều khiển vận mệnh của chính mình. Những đặc điểm bẩm sinh và thú tính trong con người được xem là “hiện thân” của Sa-tan. Do vậy, đạo Sa-tan là một phương tiện để thỏa mãn mọi dục vọng xác thịt.308 Theo một chuyên gia về huyền bí, ông Craig Hawkins, chúng ta có thể nhận biết được các nhóm khác nhau của đạo Sa-tan. Dưới đây là ba nhóm đó:
1. Những người học đòi . Những người thờ Sa-tan này hầu hết là thanh niên muốn thử nghiệm văn chương và âm nhạc Sa-tan, nhưng họ không nghiêm túc theo đạo. Có đến khoảng 90% những người thờ Sa-tan rơi vào nhóm này.
2. Người thờ Sa-tan công khai . Những người này xem những niềm tin của họ như một tôn giáo được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất (First Amendent). Thông thường họ không dự phần vào các hoạt động tội phạm.
3. Người thờ Sa-tan cách cá nhân . Những người này thường không gia nhập vào các tổ chức. Họ thường dính líu đến các hoạt động tội phạm. Các phạm nhân như Sean Sellers và Richard Ramirez rơi vào nhóm này.
Nói chuyện với một người thờ Sa-tan cần phải cầu nguyện nhiều và có sự khôn ngoan. Giống như các Cơ Đốc nhân, những người thờ Sa-tan rất ghét bị xuyên tạc. Phải bảo đảm rằng bạn có những lập luận thẳng thắn! Người thờ Sa-tan mà bạn đang đối diện thuộc nhóm nào? Nói chuyện với người này có thể gặp nguy hiểm thân thể nào không? Điều này có thể xảy ra. Tôi biết có một cô gái trẻ là một người mới tin Chúa, muốn làm chứng cho Richard Ramirez trong tù. Tôi khuyên cô không nên làm việc đó vì cô cần trưởng thành và hiểu biết nhiều hơn về điều mà cô muốn đối diện. Chúng ta phải trưởng thành, biết nhận định và khôn ngoan.
Nếu không giải nghĩa các khái niệm của bạn, có lẽ sẽ chẳng ích lợi gì khi nói với những người thờ Sa-tan rằng họ đang đi xuống địa ngục! Một số người thờ Sa-tan muốn xuống địa ngục. “Những người học đòi” thường xem địa ngục là một “bữa tiệc lớn” và thiên đàng là nơi chán ngắt, nơi mọi người chỉ đánh đàn hạc và nổi bồng bềnh trên các đám mây. Bạn có thể cho họ biết rằng thiên đàng là một nơi của niềm vui và vẻ đẹp, trong khi địa ngục là nơi của sự đau khổ và tăm tối, chứ không phải khoái lạc (LuLc 16:19-31; Mat Mt 8:12; Mac Mc 9:42-50; KhKh 14:11; 20:10). Hơn nữa, bạn có thể nói với họ rằng Sa-tan không thể tin cậy được. Hắn tìm cách để gài bẫy con người với những thói xấu xa, băng hoại (GiGa 8:44; 10:10; IITi 2Tm 2:25-26). Không giống như Sa-tan, Đức Chúa Trời quan tâm đến nhân loại và muốn ban cho con người sự sống đời đời thông qua Đức Chúa Giê-su Christ (Exe Ed 33:8-11; Cong Cv 17:25-28; GiGa 3:16; RoRm 5:8).
Câu Hỏi 99: Việc Lạm Dụng Các Nghi Lễ Sa-tan Có Thực Sự Xảy Ra Không?
Việc lạm dụng các nghi lễ Sa-tan và tội ác có thể hiếm khi xảy ra, nhưng cũng không chắc chắn việc có một nhóm những người thờ lạy ma quỷ bí mật đến độ họ không bao giờ để lại dấu vết hay bằng chứng nào hết thế hệ này sang thế hệ khác. Ý tưởng mưu đồ của Sa-tan được phổ biến qua các cuốn sách Michelle Remembers của Lawrence Pazder, Satan Seller của Mike Warnke, Satan’s Underground của Lauren Stratford và Dead Air của Bob Larson. Những lời chứng trong ba cuốn sách kể trên không thuyết phục chút nào, mà còn tỏ ra giả dối.309 Nhiều quan sát viên theo dõi việc lạm dụng nghi lễ Sa-tan được chẩn đoán là mắc chứng bệnh rối loạn đa nhân cách. Những lời chứng của họ thường không đáng tin. Các tư vấn viên thường thuật lại là các nạn nhân đã kềm nén những kinh nghiệm đau buồn thuở ấu thơ. Những kinh nghiệm trong việc lạm dụng nghi lễ Sa-tan xuất hiện với các kỹ thuật chữa bệnh đáng nghi ngờ, chẳng hạn như thôi miên hay tưởng tượng.
Chúng ta phải bày tỏ lòng cảm thông và yên ủi những người tuyên bố là họ đã phải chịu đựng sự lạm dụng đó, nhưng chúng ta cũng nên hoài nghi về mọi câu chuyện đại loại. Những lời tuyên bố nói rằng các em bé được sinh ra để ăn thịt hay tế lễ thiếu bằng chứng rõ ràng, cũng giống như những lời tuyên bố về nhiều trung tâm chăm sóc sức khỏe do chính những người thờ Sa-tan điều hành. Nhiều trường hợp mất con có liên quan đến việc cãi vả trong nhà, chứ không phải một nghi thức tế lễ. Kenneth Lanning, biệt phái viên FBI đã nói:
Một cuộc thảm sát theo phái Sa-tan có thể được định nghĩa là một người phạm tội theo kế hoạch của từ hai người khác trở lên, mà động cơ chính của kẻ sát nhân là hoàn thành một nghi lễ Sa-tan được định trước, nhưng đòi hỏi phải có một tên sát nhân. Theo định nghĩa này, nhà cầm quyền không thể xác định được thậm chí chỉ một tên sát nhân trên toàn nước Mỹ. Dù những kẻ sát nhân như thế có tồn tại đi nữa, thì số lượng của chúng cũng rất ít. Hơn nữa, nhiệm vụ giết người đó thường đánh dấu sự tan rã của một nhóm. Tôi không chắc rằng họ có thể tiếp tục giết thêm nhiều người nữa, hết năm này sang năm khác, mà không bị phát hiện.310
1 Barbara Graham, “Trò chuyện với… Joan Wester Anderson,” People Weekly , ngày 11 tháng 4 năm 1994, trang 25.
2 Nancy Gibbs, “Angels Among Us,” Time , ngày 27 tháng 12 năm 1993, trang 56.
3 Barbara Kantrowitz cùng với Patricia King, Debra Rosenberg, Karen Springen, Pat Wingert, Tessa Namuth và T. Trent Gegax, “In Search of the Sacred,” Newsweek , ngày 28 tháng 12 năm 1994, trang 54.
4 Gibbs, “Angel Among Us,” trang 56.
5 Như trên.
6 Rick Martin, “Alien Invasion!” Newsweek , ngày 8 tháng 7 năm 1996, trang 42.
7 Như trên, trang 43.
8 George Gallup Jr. và Frank Newport, “Out of This World,” Sunday Tribune /Early Morning Tribune , ngày 5 tháng 8 năm 1990, các trang 1, 12.
9 Thế hệ baby-boom gồm có những người ra đời sau Đệ Nhị Thế Chiến cho tới những năm của tổng thống Kennedy. Thế hệ thời kỳ bùng nổ dân số là những người ra đời trong chiến tranh Việt Nam, và “thế hệ X” ngụ ý những người ra đời vào thời kỳ hậu Watergate.
10 Marin, “Alien Invasion!” trang 44.
11 Karl Rahner, “Angels,” trong cuốn Encyclopedia of Theology : A Concise Sacramentum Mundi , hiệu đính: Karl Rahner (London: Burns and Oates, 1975), trang 7.
12 Để có cái nhìn tổng quát về thiên sứ trong các bức họa về Hội Thánh đầu tiên, hãy tìm đọc C. Carlent, “Angel,” trong cuốn Encyclopedia of the Early Church , hiệu đính: Angelo Di Berardino (Cambridge, U.K.: James Clarke, 1992), 1:38-40;.
13 Millard Erickson, Christian Theology (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1985), trang 451.
14 Từ angelos xuất hiện nhiều nhất trong các sách Phúc Âm Cộng Quan (Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca), Công Vụ và Khải Huyền (Hans Bietenhard, “Thiên Sứ, Sứ Giả, Gáp-ri-ên, Mi-chen,” trong cuốn The New International Dictionary of New Testament Theology (NIDNTT), hiệu đính: Colin Brown (Grand Rapids, Mich.: Regency Reference Library/Zondervan, 1986), 1:10,2.
15 Người ta có thể tranh luận rằng Sa-tan, kẻ đã hiện ra dưới hình dạng con rắn trong vườn Ê-đen, được Kinh Thánh đề cập đến đầu tiên như một thiên sứ siêu nhiên (SaSt 3:1-24 đối chiếu KhKh 12:9 Tuy nhiên, Sa-tan không xuất hiện trong vườn Ê-đen như một thiên sứ thiện lành do Đức Chúa Trời sai đến. SaSt 3:1
16 Chúng ta sẽ khám phá nhiều hơn về thiên sứ trong câu hỏi 3. Ma quỷ những thiên sứ sa ngã. Chúng ta sẽ khám phá bản chất, các đặc tính và vai trò của chúng trong các chương từ bốn đến sáu.
17 Định nghĩa này tóm tắt quan điểm của Aquinas về thiên sứ, được trích từ tác phẩm Church Dogmatics của Karl Barth (Edinburgh: T & T Clark, 1960), 3/3:39,1. Barth cho rằng công trình của Aquinas, Summa Contra Gentiles , “có lẽ là quan điểm hay nhất về thiên sứ trong toàn bộ lịch sử Hội Thánh.” Tuy nhiên, ông xem đó là kết quả của một triết lý hơn là một nền thần học, và ông tuyên bố rằng, “Về phương diện tiêu cực, chúng ta chỉ có thể so sánh nó với những lời giải thích dại dột mà nhiều thần học gia hiện đại đã đưa ra để bảo vệ chủ nghĩa hoài nghi của họ hoặc cũng không khác gì khi so với toàn bộ vấn đề (về thiên sứ)” (3:39,1-92 Rõ ràng Barth trách Aquinas về niềm tin của những người theo chủ nghĩa đổi mới, cho rằng những thần học gia thời Trung Cổ đã dành thời gian của họ để theo đuổi những vấn đề ngớ ngẩn, chẳng hạn như, Có bao nhiêu thiên sứ có thể nhảy múa trên đầu một cây kim?
18 HeDt 1:7 (“Đức Chúa Trời làm cho thiên sứ Ngài như gió, Và tôi tớ Ngài như ngọn lửa”thường được dùng làm bằng chứng nói lên bản chất siêu nhiên của các thiên sứ. Tuy nhiên, cách dịch tốt nhất cho câu này chính là, “Ngài dựng nên các thiên sứ của Ngài như gió …” (hãy so sánh với Thi Tv 104:4 Trong văn cảnh của Hê-bơ-rơ 1, phân đoạn này làm tương phản nét phụ thuộc và tạm thời trong bản chất của các thiên sứ (được mô tả là “gió” với “lửa”; hãy so sánh với sách II Esdras 8, 21; II Apocalypse of Baruc 21.6; 48.8với bản chất tối cao và đời đời của Đấng Christ (HeDt 1:4-6, 8-13 Theo truyền thống tôn giáo Do Thái, các thiên sứ tuyên bố, “Đức Chúa Trời thay đổi chúng ta mỗi giờ… đôi lúc Ngài biến chúng ta thành lửa, những lúc khác thì thành gió” (Yalkut Shimeoni 2.11.3
19 Ngược lại, Aquinas tuyên bố rằng cho dù các thiên sứ có vui mừng đi nữa, thì họ cũng không khóc được. Họ không thể kinh nghiệm sự đau buồn và đau đớn vì họ ở trong niềm hạnh phúc thiên đàng (heavenly bliss(Summa Contra Gentiles 113.7
20 Một số lời truyền khẩu thời Hội Thánh đầu tiên cho rằng các thiên sứ được chính Đức Thánh Linh làm cho trọn vẹn (Basil Homilies 32.4
21 Thomas Aquinas chỉ rõ rằng các thiên sứ phải luôn luôn ở tại một vị trí nào đó trong cùng một thời điểm và chỉ có một thiên sứ hiện diện tại chính xác một địa điểm trong một thời điểm nào đó. Giống như các tạo vật khác, họ phải di chuyển từ nơi này sang nơi khác (Summa Contra Gentiles 50.3; 52-53 Tuy nhiên, đặc tính cụ thể về không và thời gian của các thiên sứ là điều khó giải thích được. Nếu thiên sứ là các linh, chẳng lẽ họ không phải là những hữu thể không bị chi phối bởi các định luật vật lý là những định luật được áp dụng cho con người, hay sao?
22 Một lời truyền khẩu Do Thái cho rằng Đức Chúa Trời đã tạo nên các “thiên sứ nguyên thủy”-một nhóm các thiên sứ “cố vấn” (give advicecho Đức Chúa Trời. Khi Chúa có kế hoạch tạo dựng loài người, những thiên sứ này phản đối. Đức Chúa Trời đã hủy diệt hai hội đồng (councilthiên sứ trước khi nhóm thứ ba đồng ý với Ngài (b. Sanhedrin 38b; so sánh với 3 Enoch 4.6-10 Tuy nhiên, những ý tưởng kỳ cục đó có khuynh hướng xem nhẹ lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời.
23 Ba sứ giả trong SaSt 18:1-33 đôi khi bị diễn dịch sai lầm thành Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Linh không mang lấy hình hài con người (GiGa 1:18; 4:24 Nếu ba sứ giả đó là Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh, thì điều đó ủng hộ Tam Thần thuyết chứ không phải Tam Vị thuyết. Ba cá nhân riêng biệt sẽ là ba vị thần (Tam Thần thuyếtchứ không phải một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi (Tam Vị thuyết Trong khi đó, SaSt 18:16-33 ghi nhận rằng một trong ba sứ giả đó là một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời hiện thân (có lẽ là Đấng Christ tiền nhập thể (preincarnate)), hai sứ giả còn lại là các thiên sứ (so sánh SaSt 18:2, 16; 19:1
24 Một số người cho rằng khuôn mặt chê-ru-bin trong Exe Ed 10:12-14 nếu không giống thì cũng tương tự như gương mặt của một con bò (1:10; IISu 2Sb 4:4; KhKh 4:6-8 Hoặc là như vậy hoặc là chúng ta đã xuyên tạc nguyên tự Kinh Thánh bằng cách dịch chữ đó thành “bò” thay vì “chê-ru-bin.”
25 Quan niệm về các thiên sứ chịu cắt bì có vẻ khá ngớ ngẩn đối với chúng ta, tuy nhiên, sỡ dĩ có quan niệm này là vì các Cơ Đốc nhân thường không đồng nhất sự cắt bì với sự thánh khiết, và những người Do Thái cũng vậy. Họ cho rằng nếu những người phục vụ tại đền thờ và trong các nhà hội đã chịu cắt bì thì các thiên sứ phục vụ trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời cũng phải chịu cắt bì.
26 Tuy nhiên, một số người tranh cãi rằng các thiên sứ trong SaSt 6:1-22 đã bị trừng phạt vì họ đã từ bỏ trạng thái vô tính trước đó của mình mà ăn ở với những người phụ nữ trần tục (IIPhi 2Pr 2:4; Giu Gd 1:6 Chúng ta sẽ bàn lại vấn đề này trong chương bốn. Dù ở mức độ nào đi nữa, thì trong kỷ nguyên Cơ Đốc hiện nay, các thiên sứ không hề hiện ra và quan hệ tính dục với con người.
27 Vào thời các giáo phụ, Tertullian (160-225tin rằng các thiên sứ dọn đường cho Đức Thánh Linh bất cứ nơi đâu có một người nào đó được báp-tem (De Baptismo 4-6
28 Hãy xem thêm bài viết của Joseph Fitzmyer, “A Feature of Qumrân Angelogy and the Angels of 1 Cor. XI. 10,” New Testaments Studies 4 (1957-1958): 56-58. Học giả Kinh Thánh Dale Martin cho rằng ICo1Cr 10:11 đề cập đến sự vô trật tự lẫn sự xâm hại tính dục (Dale Martin, The Corinthian Body (New Haven, Conn.: Yale University Press, 1995), các trang 242-48.
29 Nguồn gốc của những chữ này rất khó xác định. Từ seraphim có thể bắt nguồn chữ một từ gốc Hê-bơ-rơ có nghĩa là “lửa” (EsIs 30:6) và cho thấy sự chuyển động nhanh như tên bắn của các tạo vật này (Exe Ed 1:13; 28:16 Để có một bản danh sách các gốc từ khả dĩ của khái niệm này, xin đọc George A. Barton, “Demons and Spirits (Hebrew),” trong cuốn Encyclopaedia of Religion and Ethics (ERE), hiệu đính: James Hastings (New York: Scribner’s/Edinburgh: T&T Clark, 1911), 4:59,5.
Chữ cherubim (kerubim ) có thể là một từ được vay mượn từ tên các vị thần Ba-by-lôn, kuribu , liên quan tới gió và bão (Walther Eichrodt, Theology of the Old Testament (London: SCM Press, 1967), 2:20,3 Một số người cho rằng chê-ru-bin giống như các quái thú lai tạo trong các nền văn hóa Cận Đông cổ xưa, có thân mình sư tử, và cánh chim ưng. Trong các nền văn hóa này, sư tử tượng trưng cho tiếng sấm, và cánh chim ưng tượng trưng cho gió (Theodore Hiebert, “Theophany in the OT,” trong cuốn Anchor Bible Dictionary (ABD), hiệu đính: David Noel Freedman (New York: Doubleday, 1992), 6:51,0; William F. Albright, “What Were the Cherubim?” Biblical Archaeology 1 (1983): 1-3 Sách 1 Enoch mô tả một nhóm thiên sứ thứ ba được gọi là ‘op annim (“những bánh xe”), được mô tả giống như những bánh xe ngựa trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên (1 Enoch 71:7 ; hãy so sánh với Exo Er 1:21
30 Có nhiều cách giải thích khác nhau về biểu tượng của bốn khuôn mặt. Các giáo phụ thường liên kết chúng với bốn sách Phúc Âm. Mặt người tượng trưng cho Phúc Âm Lu-ca (ngụ ý nhân tánh trọn vẹn của Đấng Christ), mặt sư tử tượng trưng cho Phúc Âm Ma-thi-ơ (Đấng Christ là con vua Đa-vít-sư tử của Giu-đa), mặt chim ưng tượng trưng cho Phúc Âm Giăng (thần tánh của Đấng Christvà mặt bò tượng trưng cho Phúc Âm Mác (thường mô tả Đấng Christ là đầy tớ Tuy nhiên, dường như từ khởi thủy bốn khuôn mặt đó không tượng trưng cho các sách Phúc Âm. Ngay chính những giáo phụ của Hội Thánh đầu tiên cũng không đồng ý về vấn đề này. Chẳng hạn Irenaeus cho rằng sư tử là Phúc Âm Giăng, bò là Phúc Âm Lu-ca, người là Phúc Âm Ma-thi-ơ, và chim ưng là Phúc Âm Mác. Điều có vẻ thích hợp hơn đó là bốn khuôn mặt tượng trưng cho một số đặc tính của các thiên sứ hoặc của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, “phước hạnh” (mặt người), “vinh dự” (mặt sư tử), “vinh hiển” (mặt chim ưngvà “quyền năng” (mặt bòmà các thiên sứ dâng lên cho Đức Chúa Trời có thể là một trong những cách giải thích ý nghĩa tượng trưng của bốn khuôn mặt kia (KhKh 5:3 hãy so sánh với 19:1
31 Augustus H. Strong, Systematic Theology (Westwood, N.J.: Revell, 1907), trang 449.
32 Walter Lock, A Critical and Exegetical Commentary on the Pastoral Epistles , International Critical Commentary (Edinburgh: T&T Clark, 1924), trang 63. Cũng có một cách hiểu khác về phân đoạn này. Từ được chọn (eklektos ) có nhiều nghĩa khác nhau. Nó có thể có nghĩa là “lựa chọn” hoặc “được chọn,” nhưng nó cũng có nghĩa là “sự lựa chọn,” “tuyệt vời” hoặc “thuần khiết,” tùy thuộc vào văn cảnh (hãy so sánh với Exe Ed 30:23 Bản Bảy Mươi Nếu chúng ta hiểu theo cách hiểu trên, thì Phao-lô ngụ ý rằng các thiên sứ thánh đang coi sóc hành vi của Ti-mô-thê.
33 Helmer Ringgren, The Faith of Qumran : Theology of the Dead Sea Scrolls (Philadelphia: Fortress, 1963), trang 83. Trái lại, trong dòng văn chương khải huyền Do Thái, học giả D. S. Russell khám phá ba cấp bậc của các thiên sứ: các thiên sứ trong sự hiện diện (angels of the presence), các thiên sứ thánh hóa (angels of sanctification), và các thiên sứ cao hơn trật tự tự nhiên (angels over the natural order(so sánh với Jubilees 2; D. S. Russel, The Method and Message of Jewish Apocalyptic : 200 B.C .-A.D . 100 (London: SCM Press, 1964), trang 241
34 Trong ngụy kinh, cơ cấu cấp bậc của các thiên sứ là chủ đề chính của các sách Enoch. 1 Enoch 61.10 liệt kê “tất cả các đấng thánh trên cao, và các thế lực của Chúa-chê-ru-bin, sê-ra-phin, ô-pha-nin (ophanim), tất cả các thiên sứ cai quản, Thiên Sứ Được Chọn, và các thế lực khác trên đất (vàtrên nước.” 1 Enoch 69 liệt kê một loạt các tên gọi của những thiên sứ sa ngã, làm đến cả Milton phải cau mày; 2 Enoch 3-20 liệt kê các công việc khác nhau của thiên sứ trong “bảy” từng trời; toàn bộ sách 3 Enoch là một danh sách các tầng lớp thiên sứ khác nữa.
Cơ cấu cấp bậc thiên sứ do Pseudo-Dionysius đề ra đã gây ảnh hưởng đến Hội Thánh thời Trung Cổ. Ông liệt kê chín nhóm thiên sứ khác nhau vào ba bộ ba. Cấp cao nhất gồm có các sê-ra-phin, chê-ru-bin và các thiên sứ đứng cạnh ngai (thrones Bộ ba thứ hai gồm có “quyền thống trị” (dominions -kyriot tes ), “quyền năng” (powers -dynameisvà thẩm quyền (authorities -exousiai Cấp thấp nhất bao gồm “các quyền lực” (principalities -archai ), các thiên sứ trưởng và các thiên sứ thông thường (De Hierarchia Coelesti 6
35 Gustav Davidson, A Dictionary of Angels (New York: Free Press/London: Collier-Macmillan, 1967), các trang 51, 338, 342. Theo thuyết thần bí Do Thái (Jew mysticism), mười hai thiên sứ trưởng tương đương với các ký hiệu hoàng đạo, và Thần Bí phái (Cabalachỉ liệt kê có mười tên. Kinh Cô-ran (Qu’rannói là có bốn, nhưng chỉ nêu ra hai tên: Jibril (Gáp-ri-ên), thiên sứ mặc khải, và Mi-chen, thiên sứ chiến trận. Trong 1 Enoch 20, mỗi thiên sứ trưởng có một vai trò đặc biệt. Chẳng hạn, Mi-chen được giao coi sóc một phần nhân loại và sự hỗn loạn (chaos); Gáp-ri-ên thì coi sóc nơi Ba-ra-đi (Paradise), các con rắn và chê-ru-bin; Raphael thì được đặt coi sóc các linh của con người.
36 Trong ITe1Tx 4:16, “tiếng của thiên sứ lớn” và “tiếng kèn” dường như vượt quá sự mô tả của “tiếng kêu lớn.” Hoặc “tiếng kêu lớn” nhắm đến người đã chết, ra lệnh cho họ sống lại (GiGa 5:28-29; 11:43-44; KhKh 11:12), hoặc đó là lời thông báo về sự tái lâm của Đấng Christ (11:15
37 Trong Thánh Kinh Cựu Ước, từ CHÚA được dùng thay thế cho Bốn Chữ Thánh (Tetragrammaton), YHWH , được phiên âm sang tiếng Anh là “Jehovah” (Giê-hô-va
38 J. M. Wilson, “Angel,” trong cuốn International Standard Bible Encyclopedia (ISBE ), hiệu đính: Geoffrey Bromiley, bản hiệu đính (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1979), 1:12,5. Eichrodt viết rằng thiên sứ của Đức Giê-hô-va có thể xem như là người bảo vệ (SaSt 24:7; IVua 1V 19:5; IIVua 2V 1:3, 15), người ám sát (IISa 2Sm 24:26; IIVua 2V 19:35) hoặc một quan xét (IISa 2Sm 14:17; XaDr 3:1 Theology of the Old Testament , 2:23-24.
39 Theodore Hiebert, “Theophany in the OT,” trong cuốn ABD , 6:50,5.
40 Khi nhắc đến thiên sứ của Đức Chúa Trời trong XuXh 32:30-34, 33, Gerhard von Rad cho rằng do sự thờ lạy hình tượng của dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đã thiết lập ba công cụ trung gian: thiên sứ của Đức Giê-hô-va (YHWH), Hội mạc và mặt Chúa (panim (Gerhard von Rad, Old Testament Theology : The Theology of Israel’s Historical Traditions (Edinburgh: Oliver và Boyd, 1962), 1:28,8
41 Quan điểm này có thể giải quyết mâu thuẩn trong Cựu Ước về hai nhân vật đều được gọi là “Đức Giê-hô-va” hay YHWH (SaSt 19:23-24; XaDr 3:2 Trong các thuật ngữ của Tam Vị thuyết, từ này ngụ ý cả Đức Cha lẫn Đức Con. Nếu thiên sứ của Đức Giê-hô-va được hiểu theo nghĩa này, thì về bản chất Ngài không thực sự là một thiên sứ, mà chính là Đức Chúa Trời. Do đó, cách dịch “sứ giả của YHWH (Đức Giê-hô-va)” là cách dịch đúng cho cụm từ này.
42 Eichrodt, Theology off the Old Testament , 2:28.
43 Carol A. Newman, “Angels,” trong cuốn ABD , 1:25,2 Russell, Method and Message , trang 244.
44 1 Enoch 71:8 (so sánh với 1:10, 60:1 tuyên bố rằng có “vô số” thiên sứ, nhưng rồi sau đó đưa ra con số là “một trăm ngàn nhân một trăm ngàn, mười triệu nhân mười triệu.”
45 Barbara Graham, People Weekly , ngày 11 tháng 4 năm 1994, trang 25.
46 Hugh Pope, “Guardian Angels,” trong cuốn The Catholic Encyclopedia (CE ), hiệu đính: Charles G. Herbermann, Edward A. Pace, C. B. Pallen, Thomas J. Shahan, John J. Wynne (New York: Encyclopedia Press, 1913), 7:49.
47 Để có một danh sách các tài liệu Do Thái, xin xem W. D. Davies và Dale Allison, The Gospel According to Saint Mathew , International Critical Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1991), 2:77,0.
48 Có lẽ quan điểm của Augustine được tô vẽ thêm bởi giáo lý của ông về sự tiền định, điều khiến cho việc tín-nhân-ở-dưới-sự-giám-sát-liên-tục-của-thiên-sứ trở nên ít cần thiết hơn. Ông không tin rằng mọi người đều có một thiên sứ bảo vệ (H. L. Pass, “Demons and Spirits (Christian),” trong cuốn ERE , 4:58,0
49 Pope trích dẫn Jerome, “Guardian Angel,” 7:49.
50 Trong một lời chú giải tương tự, Origen (185-254tin rằng linh hồn của mỗi người tin vừa được báp-tem sẽ nhận được một thiên sứ bảo vệ. Nếu linh hồn đó sa ngã vì lý do nào đó, nó trở nên ở dưới quyền của một thiên sứ ác (Homedia in Lucam 12-13
51 Để có một lời phản luận ngắn gọn về cái gọi là các phân đoạn (nói vềthiên sứ bảo vệ, hãy xem William Hendrickson, The Gospel of Mathew , New Testament Commentary (Edinburgh: Banner of Truth Trust, 1973), các trang 692-94.
52 Donald Guthrie, New Testament Theology (Downers Grove, Ill./Leicester, U.K.: InterVarsity Press, 1981), trang 136.
53 Trong phân đoạn này, Chúa Giê-su minh chứng rằng ngay cả những người ở địa vị thấp hèn-“những đứa trẻ”-cũng đều vô cùng quý giá đối với cả Đức Chúa Trời lẫn các thiên sứ cao nhất thường có mặt trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trớ trêu là Aquinas chỉ tin rằng các thiên sứ thuộc đẳng cấp thấp mới làm bảo vệ cho con người (Summan Contra Gentiles 113:1-3
54 Để có thêm ví dụ, xin xem Russel, Method and Message , trang 242.
55 Theo lời truyền khẩu của người Hê-bơ-rơ, Áp-ra-ham, tổ phụ của dân Do Thái, đã được kêu gọi trước biến cố Tháp Ba-bên nhiều thế kỷ.
56 Thánh Kinh Tân Ước đồng quan điểm với các cuộn Biển Chết về số người Y-sơ-ra-ên tiến vào đất Ai Cập, là bảy mươi lăm người, không nhất thiết phải là bảy mươi (Cong Cv 7:14 Các học giả ủng hộ giả thiết bảy mươi nước đã đi đến kết luận này khi cộng mười bốn nước ra từ các con trai của Gia-phết (SaSt 10:1-5), ba mươi nước ra từ các con của Cham (10:6-20và hai mươi sáu nước ra từ các con của Sem (10:21-31 Tuy nhiên, họ giả định rằng Nim-rốt là ông tổ của một nước thay vì xem ông là người khai sinh sáu hoặc có lẽ là chín thành lớn (10:9-12 Một cách giải thích khác là có bảy mươi thiên sứ trông coi bảy mươi nước (1 Enoch 89.59; 90.22
57 Bản Bảy Mươi được đặt tên như vậy là do bảy mươi học giả đã dịch Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ sang tiếng Hy Lạp dưới sự bảo trợ của Ptolemy Philadelphus, vua Ai Cập (250 T.C.
58 Hãy so sánh Giop G 1:1-2:12 với Manual of Discipline (11.5), Hymns of Thanksgiving (10.9và Damascus Rule (2.9 Cũng hãy đọc Geza Vernes, The Dead Sea Scrolls Qumran in Perspective (Philadelphia: Fortress, 1977), trang 205.
59 Trái lại, giáo phụ Gregory ở Nyssa và Thomas Aquinas tin rằng các thiên sứ bảo vệ đất nước, bao gồm cả vua nước Phe-rơ-sơ, là các thiên sứ thiện (Barth, Church Dogmatics , 3/3:39,8 Lời đáp 68 sẽ chứng minh tại sao tôi tin rằng hầu hết các thiên sứ này là ác.
60 Ambrose De Viduis 9 (đối chiếu với Augustine Contra Faustum 20.21 Trích dẫn của Pope, “Guardian Angel,” 1:47,7.
61 Một số người tuyên bố rằng phân đoạn này không chống lại việc thờ phượng các thiên sứ; mà nó cấm con người dự phần vào nghi thức tế lễ thiên sứ không thực tế (visionary angelic liturgy(so sánh với 4Q400-407; 3 Enoch 1 Họ tranh luận rằng những chữ Hy Lạp t n angel n (“thuộc về các thiên sứ”không nên hiểu là một tính từ sở hữu (sự thờ phượng hướng tới các thiên sứmà nên hiểu là chủ từ sở hữu (sự thờ phượng do các thiên sứ hướng dẫn(Daniel G. Reid, “Angels, Archangels,” trong cuốn Dictionary of Paul and His Letters (DPL ), hiệu đính: Gerald F. Hawthorne, Ralph P. Martin và Daniel G. Reid (Downers Grove, Ill./Leicester, U.K.: InterVarsity Press, 1993), trang 22
62 Chúng ta có thể thắc mắc tại sao Giăng, một đầy tớ trung tín của Đức Chúa Trời, lại đặt việc thờ phượng một thiên sứ lên hàng đầu. Có lẽ bằng cách nào đó ông đã nhầm lẫn thiên sứ với Đấng Christ vinh hiển mà ông nhìn thấy trong KhKh 1:1-19. Một trường hợp tương tự trong các tài liệu Hê-bơ-rơ, Zephaniah đã quỳ xuống trước một thiên sứ, vô tình nghĩ rằng đó là sự hiện ra của Đức Chúa Trời. Tương tự như điều xảy ra đối với Giăng, vị thiên sứ đó bảo Zephaniah đừng thờ phượng mình (Apocalypse of Zephaniah 6.11-15
63 Trong Khải Huyền, Giăng xin một thiên sứ trao cho ông cuộn giấy trong tay vị thiên sứ đó, nhưng nên nhớ rằng Đức Chúa Trời đã bảo Giăng làm như vậy (10:11 Chúng ta không thể dựa vào đây mà kết luận rằng chúng ta có thể làm điều tương tự như Giăng đã làm trong trường hợp độc nhất vô nhị này.
64 Nhưng sau cái chết của người giàu, (theo lời truyền khẩu thì tên của ông là Divesngười không khác gì so với La-xa-rơ, thì Kinh Thánh không ghi nhận có một thiên sứ nào đến đưa ông đi. Dives kết thúc trong hồ lửa!
65 Trái với điều đa số người tin, người thứ tư đó không phải là tiền thành nhục thể của Đấng Christ. Ở phần sau của câu chuyện, Kinh Thánh khẳng định rằng một thiên sứ đã bảo vệ ba người Hê-bơ-rơ (DaDn 3:28 Kẻ ngoại giáo như Nê-bu-cát-nết-sa không thể ám chỉ “Con của Đức Chúa Trời” theo như ý nghĩa trong Thánh Kinh Tân Ước được khi mà phải hàng trăm năm sau Thánh Kinh Tân Ước mới được viết ra. Chỗ này dịch chính xác nhất là “con trai của các vị thần” (lebar-‘el hỵn )
66 Trong Exe Ed 9:4, chữ dấu trong tiếng Hê-bơ-rơ là t w , cũng là chữ cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ. Trong nguyên bản, nó được viết như một dấu thập (X một số người cho rằng phân đoạn này có thể mang tính chất tiên tri, mô tả sự bảo vệ đặc biệt dành cho các Cơ Đốc nhân, những người mang dấu hiệu của thập gia, trên phương diện thuộc linh.
67 Tôi thật mắc nợ Maxwell J. Davidson vì tôi nhận được nhiều thông tin từ ông. Hãy xem Maxwell J. Davidson, “Angels,” trong cuốn Dictionary of Jesus Howard Marshall (Downers Grove, Ill./Leicester, U.K.: InterVarsity Press, 1992), các trang 8-11.
68 Như trên, trang 11.
69 Để biết thêm về người đi nhờ xe và biến mất, xin xem B. J. Oropeza, 99 Reasons Why No One Knows When Christ Will Return (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1994), các trang 137-39.
70 Tuy nhiên, việc bốn thiên sứ này bị trói cho thấy rằng họ có thể là các thiên sứ sa ngã được thả ra để hủy diệt loài người.
71 Điều thú vị là vị thiên sứ đến trói buộc Sa-tan không được gọi là một thiên sứ mạnh mẽ như một số các thiên sứ khác (KhKh 5:2; 10:1
72 Bài thơ này được trích từ Hendrickson, Gospel of Matthew , trang 694.
73 Rudolf Butmann, “The New Testament and Mythology,” trong cuốn Kerygma and Myth , hiệu đính: H. W. Bartsch (London: SPCK, 1953), 1:5
74 Có nhiều người khác chứng kiến với tôi khi chuyện “ma ám” này xảy ra (vào mùa hè năm 1984 Tôi nghe tiếng của ác linh như thể nó đang nói ngay bên tai tôi.Tôi không dám lập lại thứ ngôn ngữ bẩn thỉu mà nó dùng.Sau khi Marty, Tony và Nick (những người bạn ở cùng với tôicùng với tôi cầu nguyện trong khoảng ba mươi phút, chúng tôi cảm nhận rằng ma quỷ đã lìa khỏi căn nhà chúng tôi. Để có thêm các ghi nhận về yêu tinh, ma quỷ, hãy xem Frank Smyth, Ghosts and Poltergeist (London: Aldus Books/Danbury, 1975); George Colin Wilson, Poltergeist (St. Paul: Llewellyn, 1993 Một cuốn sách khác cũng giúp cung cấp nhiều bằng chứng về các cuộc chạm trán với thế giới tâm linh/tà giáo, do Richard Cavendish viết, Man , Myth and Magic , 3 tập (New York: Marshall Cavendish, 1970 Trên Internet, hãy đến xem thư mục chú giải mở rộng có tên “Borely Rectory Selected Bibliography” kết nối với “Archive X” (www.crown.net/x/).
75 S. E. McClelland, “Demon, Demon Possession,” trong cuốn Evangelical Dictionary of Theology , hiệu đính: Walter Elwell (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1984), trang 308.
76 Những ai không tin nơi sự tồn tại của ma quỷ thường ngụ ý rằng các môn đồ của Chúa Giê-su, những người viết các sách Phúc Âm, tự dựng lên chuyện ma quỷ biết Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời và xen các câu chuyện này vào. Dường như những người muốn phủ nhận sự tồn tại của ma quỷ đọc các phân đoạn này trong định kiến của riêng họ, tùy tiện phủ nhận sự hiện hữu của ma quỷ vì ý tưởng này xúc phạm đến sự hiểu biết của họ. Dường như họ cũng chẳng thèm nghe các giáo sĩ thuật lại vô số trường hợp họ phải đối đầu với ma quỷ. Thậm chí những tài liệu phi Kinh Thánh cổ xưa còn cho rằng Chúa Giê-su là một thầy phù thủy, như tôi đã có ghi chú. Điều này càng ủng hộ việc Đấng Christ đã thực sự đối đầu với ma quỷ.
77 David Aune, “Demonology,” trong cuốn ISBE , 1:92,3 Craig Evans, “Jesus in Non-Christian Sources,” trong cuốn DJG , các trang 364-68.
78 Tác phẩm phi Cơ Đốc Great Paris Magical Papyrus (4.3019), chẳng hạn, dùng công thức sau: “Ta khẩn cầu ngươi bởi Đức Chúa Trời của người Hê-bơ-rơ, Giê-su, Iaba, Iae, Abroath” (trích từ J. Stafford Wright, “Satan, Beelzebul, Devil, Exorcism,” trong cuốn NIDNTT , 3:47,6
79 C. G. Jung, Collectal Works , trưng dẫn trong J. Bruce Long, “Demons: An Overview,” trong cuốn The Encyclopedia of Religion: , hiệu đính Micrea Eliade (New York: Macmillan/London: Collier Macmillan, 1987), 4:28.7.
80 W. H. Kent ghi chú rằng từ daim n có thể bắt nguồn từ
dai , có nghĩa là “phân chia” hay “chia sẻ,” ngụ ý những hữu thể thiêng liêng giữa con người và các thần linh (W. H. Kent , “Demon,” trong cuốn CE , 4:71.0
81 Werner Foerster viết, “Theo niềm tin đại chúng (popular), ma quỷ là… ‘những kẻ vô hình xuất hiện ở khắp mọi nơi, đặc biệt là những nơi hoang vắng, vào mọi thời điểm, đặc biệt là ban đêm, và trong nhiều bộ dạng khác nhau, đặc biệt là những quái thú” (Werner Foerster, “daímw ktl.,” trong cuốn Theological Dictionary of the New Testament (TDNT ), hiệu đính: Gerhard Kittel và Gerhard Friedrich, 10 tập, (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1964-76), 2:6 so sánh với 2:2, 2:8
82 Các cuộn Biển Chết đôi lúc gọi một uế linh là daim n (1QS 3.18; 1QM 13.10 Ngụy kinh cũng dùng chữ này để ám chỉ các uế linh. Josephus phân biệt giữa daimonia , từ mà ông cho là ám chỉ uế linh, và daim n, chữ mà ông hiểu là linh bảo vệ (protective spirittheo quan niệm Hy Lạp. Philo cũng cho rằng khái niệm này ám chỉ một linh bảo vệ.
83 Nguồn gốc của chữ không rõ ràng. Có lẽ chữ này có quan hệ với chữ shidu , tượng bò khổng lồ của người A-sy-ri, hoặc một trong những vị thần của dân Ca-na-an (đối chiếu với S. R. Driver, A Cristal Exegetical Commentary on Deuteronomy , International Critical Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1965), các trang 362-63; C. A. Briggs, A Critical Exegetical Commentary on the Book of Psalms , International Critical Commentary (edinburgh: T & T Clark, 1907), trang 353
84 Eichrodt, Theology of the Old Testament , 2:22.4.
85 Một tạo vật khác, con đỉa, hay đỉa ngựa (horse leech) trong ChCn 30:15, thường được xem là ma cà rồng (demonic vampire Tuy nhiên, dường như phân đoạn này nói đến một loại động vật hút máu nào đó, chứ không nói rõ là thuộc về ma quỷ. Để có một danh sách những chữ khác liên quan tới ma quỷ, xin xem Aune, “Demonology,” 1:91.9.
86 Chữ gió trong tiếng Sumer là lil .
87 Eichrodt, Theology of the Old Testament , 2:22.4.
88 Ma thuật và mê tín dị đoan luôn xoay quanh lỵlỵt . Lowell Handy chú thích rằng một số cộng đồng Cận Đông và Do Thái cổ đeo bùa hộ mạng hoặc đọc thần chú để tránh lỵlỵt . Đôi lúc dân đồng bằng Mê-sô-pô-ta-mi cầu khẩn con quỷ Pazuzu, vua của lilu , để bảo vệ họ khỏi lỵlỵt (Lowell K. Handy, “Lilith,” trong cuốn ABD , 4:32.4-25
89 Các thiên sứ được RoRm 8:38 và ICo1Cr 4:9; 6:3 đề cập tới dường như là các thiên sứ sa ngã.
90 Tuy nhiên, Tertullian tranh luận rằng dù ma quỷ không có xác thịt, nhưng chúng không hề phi vật chất. Chúng được dựng nên từ một dạng vật chất rất nhẹ (Adversus Mareionem 2.8.2; De Carne Christi 6.9 Trong bất cứ trường hợp nào, tôi luôn nghi ngờ việc thiên sứ hay ma quỷ được cấu tạo bởi các phân tử và nguyên tử. Chân không hoặc bom nguyên tử cũng không làm hại được họ.
91 Tenrence Page, “Demons and Exorcism,” trong cuốn DPL , trang 210.
92 Chúng ta không biết khả năng tiên đoán của ma quỷ tới đâu. Chúng ta giả định rằng chúng, do là các linh, có tri thức siêu nhiên. Nếu tri thức của chúng nhiều hơn của chúng ta, thì chúng cũng có thể tiên đoán tương lai tốt hơn. Cũng vậy, do có khả năng ảnh hưởng trên con người, nên ma quỷ có thể tạo ảnh hưởng và sắp xếp những người không tin hay các biến cố sao cho khớp với lời tiên đoán mà chúng công bố qua người trung gian.
93 Foerster, “daímw ktl.,” TDNT 2:12-13.
94 Aune, “Demonology,” 1:92.0.
95 Daniel G. Reid, “Principalities and Powers,” trong cuốn DPL , trang 750.
96 Trong chương năm chúng ta sẽ khám phá ra rằng EsIs 14:12 và Exe Ed 28:1-2621 hầu như không đề cập đến sự sa ngã của Sa-tan (so sánh với lời đáp 41 Nhưng ngay cả khi các phân đoạn này mô tả sự sa ngã của Sa-tan, chúng cũng không nói đến sự sa ngã của bất cứ thiên sứ nào khác.
97 Những ai tranh luận rằng theo KhKh 4:1; 12:1-18 phải hoàn toàn thuộc về tương lai, đã bỏ qua nguyên tắc Khải Huyền là mọi biến cố trong quá khứ có thể để lại hậu quả trong hiện tại và tương lai (17:1-11 Đối với những độc giả đầu tiên của Khải Huyền, việc Sa-tan bắt bớ các thánh đồ trong hiện tại và tương lai là một thực tại mà theo họ nó bắt nguồn từ công việc được xức dầu của Đấng Christ. Nếu Khải Huyền 12 hoàn toàn nói về tương lai, thì “sự cứu rỗi” đã “đến” trong 12:10 không thể tồn tại trong thời kỳ hiện đại này.
98 Cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp ngoại giáo đều tin rằng Tartarus là một nơi ở dưới lòng đất-tầng dưới của địa ngục (Âm Phủ), nơi ở của những người chết. Trong thần thoại Hy Lạp, đây là nơi Titan bị giam giữ­ vì đã chống lại thần Zeus. Tartarus là nơi Đức Chúa Trời hình phạt kẻ ác (1 Enoch 20:2 Sibylline Oracles 2:30.2; Josephus Against Apion , 2.240 Bê-ên-xê-bun được coi là con quỷ duy nhất trốn thoát khỏi Tartarus (Testament of Solomon 6.2
99 Thêm vào đó, cụm từ các con trai của Đức Chúa Trời trong Sáng-Thế Ký 6 xuất hiện trong một văn cảnh hoàn toàn khác với PhuDnl 14:1. Văn cảnh của Sáng-Thế Ký 6 là lối kể chuyện, trong khi văn cảnh của Phục Truyền là những luật định của Môi-se. Sáng-Thế Ký 6 ngầm ý sự chọn lựa, trong khi 14:1-29 chỉ nhấn mạnh đến quyền sở hữu.Văn cảnh trong 14:1-2 là vì cớ dân Y-sơ-ra-ên thuộc về và được biệt riêng ra như tài sản của Đức Chúa Trời (họ là con cái được tuyển chọn của Đức Chúa Trời) nên họ không được hành xử giống như các nước xung quanh họ. Hơn nữa, “các con trai của Đức Chúa Trời” trong SaSt 6:2, tiếng Hê-bơ-rơ, là benê-ha -‘elohỵm , trong khi cụm từ “con cái Giê-hô-va Đức Chúa Trời” trong PhuDnl 14:1 là banỵm ‘attern layhwâh ‘elohêkem . Rõ ràng hai cụm từ này không giống nhau, nên không thể xem là tương đương được.
100 Gordon J. Wenham, Genesis 1-15, Word Bible Commentary (Waco, Tex.: Word, 1987), trang 139.
101 Brendan Eyrne, “Sons of God,” trong cuốn ABD , 6:15.6.
102 Wenham, Genesis 1-15, các trang 140-41.
103 So sánh Giop G 1:1-2:12 với Manual of Discipline (11. 5), Hymns of Thanksgiving (10.9), Damacus Rule (2.9và Genesis Apocryphon .
104 Như trên, trang 141.
105 Như trên, trang 141.
106 Để tham khảo thêm về các tài liệu cổ mô tả những cuộc hôn nhân giữa thần linh và con người, xin xem Wenham, Genesis 1-15, trang 138. Josephus tuyên bố rằng các thiên sứ và những người đàn bà đã “sinh ra những đứa con trai bất chính, và là những kẻ coi thường mọi điều lành, bởi họ tin rằng mình có sức mạnh, và theo truyền thống thì những người đàn ông này đã làm những việc giống như những người mà người Hy Lạp gọi là “người khổng lồ” (Antiquities of the Jews 3.1 Và đến cuối thế kỷ thứ hai kỷ nguyên Cơ Đốc, Justin Martyr đã viết, “Không biết do đâu mà các nhà thơ và những nhà thần thoại học, vốn không biết rằng chính các thiên sứ và những con quỷ do họ sinh ra đã làm những điều này (gây phạm tội ngoại tình, chiến tranh, v.v.) trên đàn ông và đàn bà, các thành phố và quốc gia mà họ có liên quan, lại quy họ cho chính Đức Chúa Trời, và những người được xem là thuộc về dòng dõi Ngài, và dòng dõi của những người được kêu gọi để làm anh em Ngài, Neptune và Pluto, và cả con cháu của dòng dõi này nữa” (Second Apology 5
107 Có lẽ sự cố gắng bắt chước khả năng ban sự sống của Đức Chúa Trời là một trong những lý do khiến các thiên sứ này bị trừng phạt. Bên cạnh đó, những gì Kinh Thánh mô tả về dòng dõi của họ, những người khổng lồ, lại ngụ ý sự dị dạng. Văn cảnh Sáng-Thế Ký dường như đang dạy rằng trong nỗ lực bắt chước sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, các con trai của Đức Chúa Trời chỉ có thể nhại lại khả năng của Ngài mà thôi.
108 Wenham, Genesis 1-15, trang 143. Philo dạy rằng Nim-rốt, chiến binh to lớn trong SaSt 10:8, là một trong số những người khổng lồ (De Gigantibus 58-65
109 Theo tôi, bản dịch NIV dịch phân đoạn này không tốt lắm. Phần trong ngoặc giữa cụm từ “con cháu của A-nác… thuộc về giống giềnh giàng” là phần mà dường như tác giả Thánh Kinh đã thêm vào ( ), để giúp độc giả hiểu thêm về nguồn gốc của Nephilim. Tuy nhiên, trong bản văn Hê-bơ-rơ thì không có chỗ ngoặc đơn này. Nội dung sát nghĩa hơn với văn bản Hê-bơ-rơ là như vầy: “Và tại đó chúng tôi nhìn thấy các Nephilim các con trai của A-nác của Nephilim.” Cách đọc tiếng Hê-bơ-rơ cho thấy rằng cụm từ này đã được những người thám tử phóng đại lên, chứ không phải do Môi-se hay một tác giả nào sau đó nói.
110 Các cuộn Biển Chết đã phóng đại lên rằng những người khổng lồ cao như cây hương nam, và lớn như núi (CD 2.18 1 Enoch 7 nói rằng họ cao đến ba trăm thước. Theo 1 Enoch (7-10), những người khổng lồ ăn hết mọi sản vật của vùng đất, nên người ta không cho họ đồ ăn nữa. Những người khổng lồ bắt đầu ăn thịt người! Họ cũng uống máu, ăn các loài vật không sạch, và chỉ cho con người cách làm vũ khí, áo giáp, mỹ phẩm, đồ trang sức v.v. Đa số họ đều độc ác. Loài người than thở và các thiên sứ thiện đã cầu xin Đức Chúa Trời đoán xét. Thế là Ngài tạo ra trận lụt và trói buộc họ bảy mươi thế hệ dưới một hòn đá cho tới ngày đoán xét. Lúc đó họ sẽ bị trừng phạt bằng lửa.
111 Một số học giả cho rằng cụm từ “đời đó và đời sau” trong 6:4 ám chỉ một thời điểm nào đó sau trận lụt, trước khi Dan Ds 13:33 đề cập tới người Nephilim . Nhưng cách giải thích này không phù hợp với văn cảnh Sáng-Thế Ký 6-9, nơi chép rằng trận lụt đã giết chết toàn thể loài người (SaSt 6:5-7:23 Xem lời giải thích thứ ba ở mục ghi chú tiếp theo.
112 Có một số cách giải thích khác như sau:
1. Người Nephilim trong Sáng-Thế Ký 6 và Dân-Số Ký 13 là hai giống người không có liên hệ gì với nhau, chỉ vô tình trùng tên gọi là thôi. Nhưng điều này không chắc đúng vì cả hai đều có thân hình to lớn.
2. Người Nephilim trong Dân-Số Ký 13 là dòng dõi của người Nephilim cổ xưa trên một ý nghĩa nào đó, họ có cùng những đặc điểm sau: có thân hình to lớn, bị dị dạng, có hành vi vô đạo đức hoặc bất cứ ý nghĩa nào chữ Nephilim chứa đựng mà chúng ta chưa biết tới. Do vậy, họ chỉ là những người làm theo, chứ không phải là dòng dõi theo nghĩa đen. Cách giải thích này mở nút cho hai phân đoạn Kinh Thánh nói về người Nephilim, SaSt 6:1-22 và Dan Ds 13:1-33.
3. Người Nephilim đã hiện hữu trước khi “các con trai của Đức Chúa Trời” có con. Quan điểm này nhấn mạnh rằng những từ “đời đó và đời sau” trong SaSt 6:4 ngụ ý người Nephilim đã có mặt trên đất trước các con trai của Đức Chúa Trời. Dòng dõi của các con trai Đức Chúa Trời là một giống Nephilim khác. Nói một cách cụ thể, họ là những người Nephilim anh hùng. Tuy nhiên, vì 6:1-9:29 nhấn mạnh rằng trận lụt bao phủ toàn cầu, nên nó lũ đã giết hết mọi nhóm khác nhau của người Nephilim, trừ khi khái niệm này không ám chỉ bất cứ một giống người cao to, độc ác nào hết. Điều này đưa chúng ta trở lại quan điểm 2. Các ra-bi cho rằng cụm từ “đời đó và đời sau” ám chỉ khoảng thời gian 120 năm trước nạn lụt (SaSt 6:3 Do đó, phần đầu của Sáng-Thế Ký 6 có thể hiểu như sau: “Trong thời dân số gia tăng, các thiên sứ cưới những người đàn bà. Lúc đó họ sanh ra người Nephilim, đời đó và đời sau-hơn 120 năm trước cơn nạn lụt-bất cứ khi nào các con trai của Đức Chúa Trời quan hệ với đàn bà, thì họ sanh ra người Nephilim. Những người Nephilim này là những vị anh hùng thời xưa.”
113 Timothy R. Ashley, The Book of Numbers , New International Commentary on the Old Testament (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1993), trang 243.
114 The New Encyclopedia Britannica : Micropaedia , tái bản lần thứ 15 (Chicago: Encyclopaedia Britannica/University of Chicago, 1975), 4:52.4.
115 Một số người cho rằng một con quỷ đã giả dạng Sa-mu-ên trong câu chuyện này. Nhưng phân đoạn này cho biết rằng chính Sa-mu-ên đã hiện ra với Sau-lơ. Trước hết, ISa1Sm 28:12, 15 khẳng định không chút do dự rằng, “Người đàn bà thấy Sa-mu-ên” và “Sa-mu-ên hỏi Sau-lơ” (so sánh với 28:16, 20 Thứ đến, lời tiên tri của Sa-mu-ên về Sau-lơ đã được ứng nghiệm (28:17, 19 Ngày hôm sau Sau-lơ và con trai ông chết trong trận đánh, và Đa-vít nhận lấy vương quốc của Sau-lơ (ISa1Sm 31:1-13; IISa 2Sm 1:1-5:25 Tôi thật không thể chấp nhận rằng một con quỷ có thể tiên đoán chính xác một việc trọng đại như cái chết của vị vua của dân sự Đức Chúa Trời và sự lên ngôi của vị vua Đa-vít công bình. Thứ ba, thật khó mà tin được có con quỷ nào chịu nói với Sau-lơ rằng ông ta sẽ bị trừng phạt vì cớ sự không vâng lời Đức Chúa Trời (28:18 Cuối cùng, điều người đàn bà cầu vong thốt lên trong ISa1Sm 28:12 cho thấy rằng bà ta thật sự ngạc nhiên khi chứng kiến sự hiện ra thật sự của một người chết-lần này không phải là một buổi cầu hồn giả dối, vớ vẩn.
116 Ở một mức độ nào đó, LuLc 16:19-31 chỉ chứng tỏ rằng người chết trong tình trạng tội lỗi (trong trường hợp này là người giàukhông thể viếng thăm người đang sống. Phân đoạn này không hề nói gì đến việc liệu người chết trong Chúa có thể tái viếng thăm những người đang sống hay không.
117 The New Encyclopaedia Britannica : Micropaedia , 4:59.1.
118 R. Campell Thompson, “Demons and Spirits (Assyr-Bab.),” trong cuốn ERE , 40:57.0-71.
119 J. Stafford Wright, Mind , Man and the Spirits (Grand Rapids, Mich.: Zondervan, 1971), trang 117.
120 John Weldon và Clifford Wilson, Psychic Forces and Occult Shock (Chattanooga: Global Publishers, 1987), các trang 446-53.
121 Wright, Mind , Man and the Spirits , trang 118.
122 Tôi thật cám ơn Daniel G. Reid vì nhờ bài viết “Principalities and Powers” của ông mà tôi rút ra được nhiều gợi ý cho câu hỏi này (DPL , các trang 746-52
123 Chúng ta cũng nên đề cập tới các thần của thế gian” (stoicheia (elemental spirits of the world Trong văn chương cổ, tinh thần chính là các thần sao và các ký hiệu hoàng đạo. Tuy nhiên, theo HeDt 5:12, dường như chúng chẳng là gì khác hơn các nguyên tắc căn bản của niềm tin tôn giáo. Trong IIPhi 2Pr 3:10-12, dường như chúng là các nguyên tố cơ bản của vũ trụ, chẳng hạn như lửa, nước, đất và không khí. Phao-lô dùng từ ta stoicheia để ám chỉ các quy tắc tôn giáo mà Cơ Đốc nhân không còn tuân theo nữa (GaGl 4:3, 9; CoCl 2:8, 20 Các thánh nhân Ga-la-ti và Cô-lô-se có thể đã tin rằng các thần tác động đến việc dạy dỗ về những quy luật này điều khiển các ngôi sao. Người Ga-la-ti đã từng thờ lạy các thần giả mạo (GaGl 4:8-11), và người Cô-lô-se đã bị cám dỗ để câu nệ luật pháp tôn giáo liên quan đến việc thờ phượng các thiên sứ (CoCl 2:18 Cả hai nhóm đều chọn những ngày đặc biệt có liên hệ tới sự quan sát mặt trăng và các ngôi sao. Những người Cô-lô-se, rõ ràng đã tin rằng soicheia điều khiển vận mệnh của con người, đã xoa dịu các ảnh hưởng này thông qua hình thức ép xác khổ tu (2:16-23 Do Phao-lô tuyên bố rằng Đấng Christ đã đánh bại “các chủ quyền cùng thế lực” trên thập giá, ông cam đoan với người Cô-lô-se rằng họ không còn lệ thuộc vào các nghi thức tôn giáo xưa cũ nữa, bao gồm cả nỗi sợ hãi trước các thần (2:13-15 Tuy nhiên, chúng ta không rõ việc Phao-lô có tin rằng chúng là những linh ma quỷ thực sự hay không.
Các cấp bậc ma quỷ khác cũng được liệt kê trong các danh sách mà Phao-lô kết hợp với “các chủ quyền cùng thế lực” (1:16; Eph Ep 1:21; 6:12 Các hình thức quyền lực cụ thể này bao gồm quyền cai trị (kyriotetes ), ngôi vua (thronoivà những kẻ cai trị vũ trụ (kosmokratetes Bản chất và các hoạt động của chúng thật khó mà xác định, và chúng có thể là tên gọi của những thế lực hay ý tưởng phi nhân cách, chứ không nhất thiết là ma quỷ.Để có thêm một số cách giải thích khả dĩ liên quan đến bản chất và các hoạt động của những thế lực này, xin xem Reid, “Pricipalities and Powers,” trang 749.)
124 Daniel Reid lưu ý rằng Bản Bảy Mươi dùng chữ strategos còn Theodotion dùng chữ archon để nói đến các vua nước Phe-rơ-sơ và Hy Lạp trong DaDn 10:1-21 (“Principalities and Powers,” trang 748 Có thể các chữ archontes , archai , exousia và các khái niệm chỉ thẩm quyền tương tự là cách Phao-lô dùng để ám chỉ một số người lãnh đạo trong thời của ông, những người mà ông tin rằng đã bị quyền lực ma quỷ tác động. Sau hết, các quyết định của những người có thẩm quyền trên các tỉnh hay các quốc gia đã để lại những hậu quả trên cách người dân sống và tin trong những cộng đồng đó. Các quyết định đó cũng ảnh hưởng đến các thái độ của xã hội đối với Cơ Đốc nhân trong những cộng đồng đó, và rõ ràng chúng đã ảnh hưởng đến Phao-lô lẫn các cộng sự của ông (xem Cong Cv 18:2; KhKh 2:13
125 CoCl 2:15 nói đến sự phục sinh chiến thắng của Đấng Christ trong hình ảnh giống như một chiến binh đang lãnh đạo thắng lợi trên những kẻ thù bị trói và bại trận.
126 Reid, “Pricipalities and Powers,” trang 748.
127 Hans Bietenhard, “Angel, Messenger, Gabriel, Michael,” trong cuốn NIDNTT , 1:45.1.
128 Để có thêm thông tin về việc quỷ nhập, hãy xem các lời đáp 71-75.
129 James Dunn viết rằng “‘Vương quốc của Đức Chúa Trời’ là một, dù chỉ một, trong những cách Do Thái giáo nói đến hy vọng cho thời đại mới, thời lai thế, lúc sự tể trị của Đức Chúa Trời sẽ được nhận biết rõ ràng, dân Y-sơ-ra-ên của Ngài sẽ được bênh vực và kẻ thù Ngài bị đoán xét…” (James D. G. Dunn, Jesus and the Spirit : A Study of the Religious and Charismatic Experience of Jesus and the First Christians As Reflected in the New Testament (London: SCM Press, 1975), trang 47 Để tìm hiểu mối liên hệ giữa Thánh Linh và “tay” hay “ngón tay của Đức Chúa Trời,” hãy so sánh LuLc 11:20 với Mat Mt 12:28 (cũng như XuXh 8:6-19; Exe Ed 3:14; 8:1-3; 37:1
130 Aune, “Demonology,” 1:92.3.
131 Dunn, Jesus and the Spirit , trang 48.
132 Như trên, trang 49.
133 Để có thêm thông tin trong các văn kiện Do Thái liên quan tới tội lỗi gắn liền với ma quỷ, hãy xem George A. Barton, “Demon and Spirits (Hebrew),” trong cuốn ERE , 4:59.9.
134 Cũng vậy, các ra-bi đầu tiên đã tuyên bố rằng không phải mọi dịch lệ đều do ma quỷ gây nên (Foerster, “ ” 2:13
135 Foerster, “ ,” 2:17.
136 Jeffrey Burton Russell, Lucifer : The Devil in the Middle Ages (Ithaca, N.Y./London: Cornell University Press, 1984), trang 66.
137 Một phân đoạn khác đôi lúc cũng được trích dẫn để ủng hộ cho giả thuyết Sa-tan/Lu-xi-phe là IICo 2Cr 11:14. Văn cảnh phân đoạn này ngụ ý Sa-tan là một “thiên sứ sáng láng” vì hắn có khả năng lừa dối thành rất thạo. Phân đoạn này không nói gì về việc hắn sa ngã thế nào hay lúc đầu hắn có phải là một thiên sứ “mang sự sáng” tốt lành và đẹp đẽ, Lu-xi-phe, hay không. Cũng vậy, việc Sa-tan sa xuống “như chớp” trong LuLc 10:18 ngụ ý sự bất ngờ của việc hắn sa ngã trong tương quan với chức vụ thiết lập vương quốc Đức Chúa Trời trên trần gian của Chúa Giê-su (xem thêm Foerster,
“ ” TDNT 1:50.5 Dường như cả hai phân đoạn đều không hề ám chỉ đến Lu-xi-phe trong EsIs 14:12.
138 Xem Walther Zimmerli, Ezekiel 2: A Commentary on the Book of the Prophet Ezekiel Chapters 25-48, Hermeneia (Philadelphia: Fortress, 1983), trang 95.
139 Các học giả đã ghi nhận những nét tương đồng của một vị thần sa ngã trong cả nền văn hóa Hy Lạp lẫn Cận Đông cổ đại. Trong thần thoại Hy Lạp, Phaethon là con trai của Eos, sao Kim. Eos sanh ra “sao mai” (eosphoros ; so sánh với EsIs 14:12 LXX Sao mai thử lái mặt trời chiến xa của cha mình xuyên qua các đám mây. Nhưng Zeus, vua của các vị thần, đã dùng sét đánh ông rớt xuống trái đất. Xem John D. W. Watts, Isaiah1 -33 (Waco, Tex: Word, 1985), trang 210.
Các tài liệu Ras-Shamra của Ugarit cổ (2000 T.C.nói rằng Ba-anh đang ngồi trên Núi Sapon khi mà người ta đặt ra vấn đề là có ai khác có thể ngồi trên ngai của ông ta không. “Athtar, ngôi sao Venus, được đề cử. Tuy nhiên ông ta quá nhỏ nên không vừa với ngai vàng và phải xuống trái đất để cai trị ‘tất cả các vị thần’” (J. Gray, “Day Star,” trong cuốn ISBE , 1:78.5 Các văn kiện này tương tự với EsIs 14:1-32, nhưng có thể ngày xưa Ê-sai dùng một hình ảnh song song rõ ràng hơn những gì chúng ta biết ngày nay.
140 Cách giải thích tốt nhất ở đây là áp dụng nguyên tắc Urzeit wird Endzeit (thời kỳ nguyên thủy trở thành thời kỳ cuối cùng Lời tiên tri đôi lúc mô tả cả những biến cố quá khứ lẫn tương lai.Đại dâm phụ của Ba-by-lôn trong KhKh 17:1-18 tỏ ra là lời ám chỉ Rô-ma cổ đại và tương lai cũng như Ba-by-lôn cổ đại.Nhưng nếu chúng ta áp dụng nguyên tắc này cho EsIs 14:1-32, thì phân đoạn này hình như mô tả sự sa ngã trong tương lai của antichrist-ít nhất cũng là một con người-hơn là sự sa ngã xa xưa của Sa-tan. Tuy nhiên, trên bất cứ phương diện cụ thể nào đi nữa thì phân đoạn này cũng không nói đến Sa-tan hay antichrist. Tốt hơn hết chúng ta hãy xem như nó nói đến đối tượng mà nó mô tả-vua Ba-by-lôn.
141 Một số người khẳng định rằng 2 Enoch là nơi đầu tiên ngụ ý rằng Lu-xi-phe là Sa-tan. Tuy nhiên, tài liệu Do Thái này có lẽ đã được viết vào khoảng thế kỷ thứ bảy S.C. Nếu tài liệu này dựa trên một bản cổ Hy Lạp trước thế kỷ thứ nhất, thì chúng ta không biết được tài liệu đó có mô tả sự sa ngã của Sa-tan hay không. Hãy xem John Burton Russell, Satan : The Early Christian Tradition (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1981), trang 130. Tuy nhiên, có lẽ cuốn sách này đã được viết bằng tiếng Hy lạp và La-tin khoảng năm 400 S.C. M. D. Johnson cho rằng văn kiện này dựa trên một bản văn Hê-bơ-rơ cổ hình thành trong khoảng thời gian từ 100-200 năm S.C.J. H. Charlesworth, bản hiệu đính, The Old Testament Pseudepigrapha (Garden City, N.Y.: Doubleday, 1985), 2:25.2 2 Enoch 29 tuyên bố rằng “Satanael đã bị ném từ trên cao xuống, cùng với các thiên sứ của hắn” vào ngày thứ hai của kỳ sáng tạo. Hắn là một thiên sứ trưởng có ý định làm những điều không tưởng-đặt ngai của mình lên trên các đám mây, trở nên ngang hàng với Đấng sau đó đã đuổi hắn khỏi thiên đàng. Bản văn này có thể ngụ ý EsIs 14:1-32. Tuy nhiên, tên của con quỷ ở đây là Satanael, chứ không phải Lu-xi-phe. Satanael là cái tên Do Thái đầu tiên của Sa-tan trước khi hắn sa ngã (3 Apocalypse of Baruch 4.7-9 Hắn đã đánh mất gốc “-el” (“-Đức Chúa Trời”trong tên của mình khi hắn sa ngã. Một tác phẩm khác cũng cho rằng 14:1-32 ám chỉ sự sa ngã của Sa-tan là cuốn The Life of Adam and Eve . Tuy nhiên, nó không dùng tên Lu-xi-phe (Adam and Eve 15:1-3 so sánh với 12:1-2, 16:1
1 Enoch 86 và 88 mô tả các thiên sứ sa ngã giống như các ngôi sao bị rơi xuống, tương tự như KhKh 9:1. Đây có lẽ là con đường ngắn nhất đưa chúng ta tới giả thuyết Sa-tan là Lu-xi-phe vào khoảng thế kỷ thứ nhất. Một học giả về Thánh Linh Cựu Ước, ông John D. W. Watts, đã viết, “Một điều thật ý nghĩa là phân đoạn ghi lại sự sa ngã của Sa-tan (KhKh 12:1-18 lại không có liên hệ gì đến EsIs 14:1-32” (Isaiah 1-33, Word Biblical Commentary (Waco, Tex.: Word, 1985), trang 212 Có lẽ Origen đã nhắc đến một tài liệu Do Thái trước đó, nhưng tôi không biết có bản sao nào của văn kiện đó còn lại hay không, và nó có khẳng định rõ rằng Sa-tan là Lu-xi-phe không. Dường như Origen là người đầu tiên công bố giả thuyết Lu-xi-phe là Sa-tan giữa vòng các Cơ Đốc nhân.
142 Hãy xem F. L. Cross, và E. A. Livingstone, bản hiệu đính, The Oxford Dictionary of the Christian Church , tái bản lần 2 (London: Oxford University Press, 1974), các trang 841-42. Joseph Jensen và William Irwin trong cuốn The New Jerome Biblical Commentary đã thẳng thắn ghi nhận rằng “các tác giả giáo phụ cho rằng phân đoạn này (EsIs 14:12 mô tả sự sa ngã của Sa-tan, Lu-xi-phe trở thành tên gọi ma quỷ” (The New Jerome Biblical Commentary , hiệu đính: Raymon E. Brown, J. A. Fitzmyer and Roland E. Murphy (London: Geoffrey Chapman, 1990), trang 239
143 John N. Oswalt, The Book of Isaiah : Chapters 1-39 (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1986), trang 320.
144 Gerhard von Rad và Werner Foerster cũng nói như vậy,
“ ,” trong cuốn TDNT , 2:75-78. Von Rad khẳng định rằng theo văn chương Do Thái, các con quỷ đầu phục Sa-tan hoàn toàn không liên quan gì đến biến cố Sáng-Thế Ký 6 (1 Enoch 54.6 Sa-tan, hay là “Mastema,” “không có liên quan gì đến sự sa ngã của các thiên sứ hoặc sự đoán phạt các thiên sứ sa ngã, dẫu rằng hắn dùng chúng làm công cụ của hắn” (so sánh với Jubilees 10:8
145 Tuy nhiên, một số người tranh luận rằng Sa-tan không phải là một trong những “con trai của Đức Chúa Trời” trong Giop G 1:1-2:12. Thay vào đó, hắn trà trộn vào “trong vòng chúng” (1:6 Dù việc hắn được xem là một trong các “con trai của Đức Chúa Trời” có đúng hay không thì vẫn còn lại một điều: trong Cựu Ước hắn đóng vai trò kẻ cáo buộc ở trên trời (XaDr 3:1-4; IVua 1V 22:19-22
146 Xem thêm Werner Foerster, “ ,” TDNT , 7:15.7.
147 Bản King James dịch là “chẳng bền giữ được lẽ thật” (Bản Dịch Cũ-abode not in the truthcó thể gây ngộ nhận. Thì quá khứ ở đây (abodecó thể ngụ ý rằng đã từng có lúc Sa-tan bền giữ được lẽ thật. Bản NIV và bản Kinh Thánh tiếng Hy Lạp không ám chỉ điều đó.
148 Đọc thêm Walter Lock, The Pastoral Epistles , International Critical Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1966), trang 39. Phao-lô đang đề cập tới loại án phạt nào? Dù Sa-tan không còn được kiện cáo các tín nhân nữa (so sánh với KhKh 12:9-11), hắn vẫn có quyền tấn công họ thông qua những lời cáo buộc và phỉ báng của những người không tin (ITi1Tm 5:14; Tit Tt 2:8; ChCn 6:24 so sánh với Sirach 51.2 Tội lỗi tạo cơ hội để ma quỷ tấn công dân sự của Đức Chúa Trời (Eph Ep 4:26-27; ITi1Tm 1:19-20 Trong 3:6-7, tội lỗi của một người lãnh đạo Cơ Đốc cho phép Sa-tan khởi sự cáo buộc và phỉ báng.
149 Anselm, Albert và Thomas Aquinas dạy rằng ma quỷ biết rõ mình không thể ngang bằng Đức Chúa Trời được (Gia Gc 2:19), nhưng, trái với ý muốn của Đức Chúa Trời, hắn phạm tội vì muốn dùng chính quyền lực của mình để được “phước lớn.” Ngược lại, Duns Scotus và những người thuộc dòng Franciscan tin rằng các thiên sứ có thể khao khát những điều không tưởng như thế nào thì ma quỷ cũng khao khát sự bình đẳng với Đức Chúa Trời thể ấy. Các thiên sứ không chỉ phạm có một tội ngay từ lúc đầu; họ phạm thêm nhiều tội khác nhau trước khi hoàn toàn chuyên tâm làm việc ác (Cross và Livingstone, Oxford Dictionary of the Christian Church , trang 397; W. H. Kent, “Demon,” trong cuốn CE , 4:76.5
150 Daniel G. Reid lưu ý một điểm khá thú vị khi so sánh giữa IICo 2Cr 4:4 với cuốn Life of Adam and Eve 12-16. Tài liệu sau thì nói rằng Sa-tan từ chối thờ phượng hình ảnh của Đức Chúa Trời trong A-đam. Kinh Thánh lại mô tả Đấng Christ, A-đam thứ hai trong hình ảnh của Đức Chúa Trời, loan truyền “Tin Lành” (Reid, “Satan, Devil,” trong cuốn DJG , trang 864 Vì Sa-tan từ chối quỳ xuống trước A-đam đầu tiên, nên hắn sẽ phải quỳ gối trước Đấng Christ, A-đam thứ hai (Phi Pl 2:10; RoRm 14:9-11
151 Theo một thần học gia Tây Ban Nha, ông Fancisco De Suárez (1548-1617), các thiên sứ thoáng thấy được sự nhập thể tương lai của Đức Chúa Giê-su, vừa là người, vừa là Đức Chúa Trời. Việc nhìn thấy một bản chất thấp hơn chính họ (một con ngườitrở thành Con của Đức Chúa Trời đã làm cho Sa-tan kiêu ngạo (De Angelis 7.13 Tuy nhiên, quan điểm này lại tiền giả định chính điều mà nó đang cố gắng chứng minh. Đấng Christ sẽ không cần nhập thể nếu ma quỷ không cám dỗ Ê-va phạm tội trước.
152 Tôi đặc biệt cám ơn một trong những giáo sư cũ của tôi, tiến sĩ A. E. Wilder-Smith, về ý này.
153 Wright, Mind , Man and the Spirits , các trang 127-28.
154 Hãy tìm đọc Lowell K. Handy, “Serpent (Religious Symbol),” trong cuốn ABD , 5:11.13-16; đối với các tài liệu khác (phi Cơ Đốc), hãy tìm đọc Roger Cook, The Tree of Life : Image for the Cosmos (New York/London: Thames và Hudson, 1995); David Maclagan, Creation Myths : Man’s Introduction to the World (New York/London: Thames và Hudson, 1992
155 Handy, “Serpent (Religious Symbol),” 5:11.13.
156 Chẳng hạn Sa-tan giả dạng người bán bánh mì (Testament of Job 23.1), một người ăn xin (Testament of Job 9.8-10.4và thiên sứ của sự sáng (Life of Adam and Eve 9.1
157 Ngày nay chúng ta cũng có nhiều ví dụ về việc phá hủy những vật đã từng được dùng cho các mục đích sai lầm. Chẳng hạn như một người có thể bẻ gãy cây bút của một phóng viên viết những lời vu khống về anh ta, hoặc một đứa trẻ, sau khi lớn lên, có thể phá bỏ một vật nào đó nhắc cô ta nhớ đến người đã từng ngược đãi cô ta.
158 Con rắn được xem là loài ranh mãnh vì khả năng di chuyển nhanh nhẹn của chúng (ChCn 30:19); một số người cho rằng đây là một đặt điểm mà con rắn đã đánh mất trong sự Sa Ngã.
159 Trích dẫn của John Day, “Leviathan,” trong cuốn ABD , 4:29.5. Cũng hãy đến xem con dấu Mê-sô-bô-ta-mi hình trụ tại viện bảo tàng Anh Quốc, London. Trong văn chương Ugaritic, con rồng được gọi là “Yamm.” Trong câu chuyện sáng tạo của Ba-by-lôn, Enuma Elish, nổi tiếng với tên gọi “Tiamat,” con quỷ hỗn loạn đã bị Marduk đánh bại. Một số người xem từ Tiamat đồng nhất với một từ Hê-bơ-rơ, tehôm , “vực sâu,” trong SaSt 1:2. Nhưng Day tranh luận rằng không có bằng chứng nào khẳng định rằng từ Hê-bơ-rơ đó bắt nguồn từ chữ “Tiamat” trong tiếng Akkadian. Khái niệm Lê-vi-a-than trong tiếng Hê-bơ-rơ có lẽ gần gũi với con rồng trong các chuyện thần thoại của Ca-na-an hơn là của Ba-by-lôn (John Day, “Dragon and Sea, God’s Conflict With,” trong cuốn ABD , 2:22.9 Để có tài liệu về con rồng phương Đông từ cái nhìn phi Cơ Đốc, hãy xem Francis Huxley, The Dragon : Nature of the Spirit , Spirit of Nature (New York/London: Thames và Hudson, 1992
160 Đồng nhất hóa Lê-vi-a-than với con cá sấu trong Giop G 41:1-25 là điều không có sức thuyết phục, khiến cho Lê-vi-a-than có một kích thước khổng lồ, bất bại và miệng của nó khạc ra lửa. Viện Nghiên Cứu Sáng Tạo tại El Cajon, California, giải nghĩa 40:1-41:25 theo nghĩa đen, cho rằng Lê-vi-a-than có thể là một loại khủng long. Con bọ quýt cũng tương tự như vậy, nó có thể bắn ra một sức nóng trên 200 độ (ICR, hội thảo Back to Genesis Trái lại, tác giả sách Gióp dùng ngôn ngữ văn thơ để mô tả một tạo vật huyền thoại phổ biến trong văn chương cổ. Trái với Jerome (Homilies 30), con rắn trong Vườn không khớp với sự mô tả về con rắn Lê-vi-a-than (so sánh với SaSt 3:1, 14-15 với Giop G 41:1-25
161 Dường như các nền văn hóa cổ đã liên kết con-rắn-sáng-tạo/con-rắn-trong-Vườn lại với nhau. Có lẽ họ không phân biệt hai loại khi giải thích nguồn gốc của điều ác. Điều này dẫn họ tới một giải thích mang tính vũ trụ học : điều ác là hỗn loạn, bóng tối và tai ương, và một cách giải thích mang tính nhân loại học : điều ác là tội lỗi, sự chết và sự độc ác. Câu chuyện Sáng Thế chỉ ủng hộ quan điểm thuộc nhân loại học về điều ác. Quan điểm vũ trụ học hỗn loạn, bóng tối, và cả tai ương nữa, nên xem là một phần trong sự sáng tạo tốt lành của Đức Chúa Trời (SaSt 1:2-10, 31 Tuy nhiên, chủ đề xuyên suốt sáng tạo-con rồng-biển-hỗn loạn dần dần trở thành một hình thức ám chỉ điều ác, thậm chí trong vòng người Do Thái; cuối cùng họ đã đồng nhất nó với con rắn (Sa-tantrong vườn. Cả con rồng và con rắn được dùng để ám chỉ Sa-tan trong KhKh 12:1-18. John Day lưu ý khả năng dân Y-sơ-ra-ên đã ăn mừng sự thất bại của con rồng hỗn loạn Lê-vi-a-than trong kỳ lễ đầu năm của họ (Lễ Lều Tạm), cũng như các nền văn hóa Cận Động cổ đại khác. Đối với dân Y-sơ-ra-ên, kỳ lễ đầu năm tưởng niệm quyền năng của Đức Chúa Trời trên biển lúc khởi đầu sáng tạo (Day, “Dragon and Sea, God’s Conflict With,” 2:22.8-29 Truyền thống này có liên hệ đến việc người Do Thái đồng nhất hóa con rồng với Sa-tan. Trong truyền thống Do Thái về sau, Sa-tan được xem là kẻ hoàn toàn bất lực trong ngày Lễ Chuộc Tội, diễn ra trước Lễ Lều Tạm. Việc thổi kèn vào ngày đầu năm được cho là để làm rối Sa-tan. Để có thêm thông tin về vấn đề này, tìm đọc Victor P. Hamilton, “Satan,” trong cuốn ABD , 5:98.8.
162 Victor Hamilton lưu ý rằng Gióp và Xa-cha-ri đề cập tới Sa-tan với một mạo từ xác định trước chữ trong tiếng Hê-bơ-rơ. Trong Cựu Ước, chỉ có I Sử-ký không dùng mạo từ xác định trước chữ Sa-tan, tức là đó là một tên riêng. Theo Hamilton, “Sa-tan” trong Gióp và Xa-cha-ri nên dịch chính xác hơn là “kẻ kiện cáo” (Hamilton, “Satan,” 5:98.6
163 Sự cáo buộc có thể đúng hoặc sai. Nó khác với vu khống, tức là luôn luôn sai (như trên, 5:98.5-86
164 H. E. Gaylord, “3 (Greek Apocalypse ofBaruch ,” trong cuốn The Old Testament Pseudepigrapha : Apocalyptic Literature and Testament , hiệu đính: James H. Charlesworth (London: Darton, Longman và Todd, 1983), 1:65.8.
165 Werner Foerster viết, “Tên gọi của kẻ thù luôn ngụ ý một nỗ lực , chia cắt Đức Chúa Trời và con người. Việc động từ (‘chia cắt’) có ảnh hưởng đến cách dùng hay không hãy vẫn còn là một vấn đề chưa giải đáp được” (Foerster, ,” trong cuốn TDNT , 2:73 đối chiếu với 71-72).
166 Knut Schaferdiek, “ ,” TDNT , 7:16.3. Nó xuất hiện nhiều nhất trong các tác phẩm của giáo phụ Hermas.
167 Trích dẫn của Alfred Plummer, Second Epistle of St . Paul to the Corinthians , International Critical Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1915), trang 114.
168 Để có thêm thông tin về Bái Hỏa giáo, tìm đọc Jack Finegan, Myth and Mystery (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1989), chương 3; A. V. Williams Jackson, “Demons and Spirits (Persian),” trong cuốn ERE 4:61.9-20.
169 Theodore H. Gaster, “Satan,” trong cuốn The Interpreter’s Dictionary of the Bible , hiệu đính G. A. Buttrick (New York: Abingdon, 1962), 4:22.6. Trong thần thoại Ba Tư, có một con rắn được gọi là “Dahaka” tức là sự nhập thể của linh gian ác Angra Mainyu. Yima, kẻ cai trị thời vàng son, đã chiến thắng con rắn này (John Skinner, Genesis , International Critical Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1930), trang 70 Một số người tuyên bố rằng quan niệm Do Thái về Sa-tan là con rắn phát xuất từ thần thoại này, nhưng chúng ta đã thảo luận với nhau sự phổ biến của câu chuyện con rắn-sáng tạo. Những thần thoại này, bao gồm cả câu chuyện Ba Tư, có thể nói đến lời truyền khẩu được mô tả trong SaSt 3:1-24.
170 Xem John E. Hartley, The Book of Job , New International Commentary on the Old Testament (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1988), các trang 17-20. Tuy nhiên, Hartley tuyên bố rằng “Sa-tan” trong Gióp giống như một danh hiệu chứ không phải một tên riêng. Dầu vậy, chúng ta vẫn có một ý tưởng về kẻ cáo buộc trước khi dân Do Thái bị lưu đày.
171 Hugh Pope trình bày một quan điểm khá thú vị về vấn đề này. Ông gợi ý rằng những người Ba Tư có thể đã vay mượn của người Do Thái thay vì ngược lại. Ông tuyên bố rằng quan niệm về các hữu thể thần linh Ba Tư không bắt đầu từ thời kỳ lưu đày của Do Thái, mà là sau đó, trong triều đại của Sassanides: “Nếu đúng như vậy, … chúng ta nên đảo ngược quan điểm, thành ra quan niệm về các thiên sứ trong Bái Hỏa giáo đã bị chính Kinh Thánh ảnh hưởng” (Hugh Pope, “Guadian Angel,” trong cuốn CE , 7:48
172 Theodore J. Lewis, “Belial,” trong cuốn ABD , 1:65.4-55.
173 Các cuộn giấy Biển Chết nhấn mạnh Bê-li-an là kẻ thù của Đức Chúa Trời. Phao-lô chuyển từ mô hình Đức Chúa Trời đối nghịch với Bê-li-an thành Đấng Christ đối nghịch với Bê-li-an (Jerome Murphy-O’Conner, bản hiệu đính, Paul and Qumran (Chicago: Priority Press, 1968), các trang 55-56
174 David P. Wright, “Azazel,” trong cuốn ABD , 1:53.6.
175 Trong khoa giải kinh, hình ảnh ám chỉ một vật, một nghi lễ hay biến cố trong Cựu Ước được thành trọn trong Tân Ước (chẳng hạn ICo1Cr 10:6-11
176 Theodore H. Gaster, “Beelzebul,” trong cuốn The Interpreter’s Dictionary of the Bible , 1:37.4.
177 Một sứ giả nói với Gióp rằng lửa từ trên trời là lửa của Đức Chúa Trời (Giop G 1:16 Nhưng rõ ràng đây là một giả định sai lầm của người sứ giả. Văn cảnh rõ ràng khẳng định rằng Sa-tan đứng đằng sau mọi chuyện.
178 Graham H. Twelfree, “Demon, Devil, Satan,” trong cuốn DJG , trang 170.
179 Hans Beitenhard, “Demon, Air, Cast Out,” trong cuốn NIDNTT , 1:44.9. Người Hy Lạp đã phân biệt giữa aer -bầu trời thấp hơn, không tinh sạch và đầy hơi nước (đối chiếu với KhKh 9:12; 16:17)-và ether -bầu không khí cao hơn, thuần khiết. Chúng ta không biết liệu Phao-lô có hiểu các khái niệm này giống như vậy không, nhưng ông có phân biệt giữa các từng trời (IICo 2Cr 12:2 so sánh với 2 Enoch 8.1-8
180 Để có thêm những hình ảnh tư liệu liên quan đến đề tài này, xin xem Heinz Mode, Fabulous Beasts and Demons (Longdon: Phaidon, 1975
181 Trong thần thoại Hy Lạp, thần rừng là những tạo vật nửa người, nửa dê đi theo Dionysus, vị thần rượu.
182 Russell, Lucifer , trang 254.
183 Như trên, trang 69.
184 Để có một danh sách các đặc điểm khác nhau của ma quỷ trong hội họa, xin xem sách trên, các trang 210-13.
185 Như trên, trang 131.
186 Eduard Lohse, Colosians and Philemon , Hermeneia (Philadelphia: Fortress, 1971), các trang 59-61; F. F. Bruce, The Epistle to the Colossians , Philemon , and to the Ephesians , New International Commentary on the New Testament (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1984), các trang 76, 111-12; Peter T. O’Brien, Colossians , Philemon , Word Biblical Commentary (Waco, Tex.: Word Books, 1982), các trang 54-57.
187 Để biết thêm những quan điểm của các giáo phụ về vấn đề này, xin tìm đọc H. L. Pass, “Demons and Spirits (Christian),” trong cuốn ERE , 4:57.9.
188 Thomas Aquinas tin rằng các thiên sứ đã từng một lần quyết định lựa chọn phục vụ hay không phục vụ Đức Chúa Trời từ thuở ban đầu, các quyết định của họ vĩnh viễn tác động đến số phận của họ. Các thiên sứ thiện lành cũng không tránh khỏi sự bất toàn của sự tự do dẫn họ đến một quyết định lầm lạc; các thiên sứ ác không thể ăn năn (Summa Contra Gentiles 62.8; 64.2 Tatian (160tin rằng bản chất của các thiên sứ là không có khả năng ăn năn (Orations 12, 15, 20
189 R. F. Wescott, The Epistle of the Hebrews (Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1974), trang 55.
190 William Gouge, Commentary on the Whole Epistle to the Hebrews (Edinburge: James Nichol, 1866), 1:17.6.
191 Foerster, “satanas,” TDNT , 7:15.9.
192 Khi các phân đoạn Kinh Thánh đề cập đến Đấng Christ ở “trong lòng đất” (chẳng hạn Mat Mt 12:40; Cong Cv 2:27), thì hầu như chúng đề cập đến mồ mả. Trong Eph Ep 4:9, sự Đấng Christ “đi xuống vực sâu” có vẻ như là một hình ảnh ẩn dụ mô tả sự nhập thể của Ngài và địa vị thấp hèn của Ngài trên đất (đối chiếu với Thi Tv 139:15; EsIs 44:23; RoRm 10:7 Tuy nhiên, những người khác nghĩ rằng chỗ này mô tả việc Ngài xuống âm phủ, và cũng có những người khác tin rằng phân đoạn này ám chỉ sự giáng lâm của Thánh Linh. Để tham khảo thêm về các quan điểm này, hãy tìm đọc Andrew T. Lincoln, Ephesians , Word Biblical Commentary (Waco, Tex.: Word Books, 1990), các trang 244-47.
193 Bruce, Epistle to the Colossians , Philemon , các trang 111-12. Stoicheia , dù là thực hay tưởng tượng, là những thế lực thuộc linh liên quan đến dị giáo Cô-lô-se. Hình như Phao-lô nhắc đến chúng trong định nghĩa của ông về “các chủ quyền cùng thế lực” trong CoCl 2:15.
194 Chữ “giảng” trong phân đoạn này là kçryssơ trong tiếng Hy Lạp, chứ không phải là euangelizơ . Nếu Kinh Thánh dùng chữ thứ hai thì chúng ta có thể cho rằng Chúa Giê-su đang giảng Phúc Âm cho các linh hồn này. Khái niệm linh hồn (pneumataở đây ám chỉ những linh siêu nhiên chứ không phải những linh con người (Mat Mt 8:16; LuLc 10:20; đối chiếu với 1 Enoch 15.4-10; 16.1 Trong 1 Enoch , dường như thần học của Phi-e-rơ rất quen thuộc với sách này, Đức Chúa Trời sai Hê-nóc đến công bố sự diệt vong của những thiên sứ sa ngã đã phạm tội với những người đàn bà (1 Enoch 12:4, 15:2; Các thiên sứ sa ngã đã ở trong các nhà tù (10:4-14, 13:1, 18:14-16, 21:6-10;
195 J. N. D. Kelly, A Commentary on the Epistles of Peter and Jude (London: Adam và Charles Black, 1969), trang 153. Origen dạy rằng Đấng Christ trở thành món tiền chuộc cho Sa-tan vì cớ tội lỗi của chúng ta. Khi chết đi, Đức Chúa Giê-su nộp linh hồn của Ngài cho Sa-tan để đổi lấy linh hồn của con người. Ma quỷ đã chấp nhận thỏa thuận đó, nhưng hắn đã không thể giam giữ Chúa Giê-su vì Con Đức Chúa Trời có quyền năng vượt hơn cả sự chết. Từ đó, Sa-tan đánh mất quyền của mình trên sự chết và hắn cũng không thể giam giữ linh hồn của Đấng Christ. Nhưng quan điểm của Origen, thường được gọi là thuyết tiền chuộc (ransom theory), thật đáng ngờ. Nó làm giảm tính tể trị của Đức Chúa Trời khi tuyên bố rằng Ngài phải thỏa thuận với ma quỷ. Hơn nữa, một số người sẽ nghi ngờ đạo đức của Đức Chúa Trời vì thuyết này hàm ý rằng Đức Chúa Trời chơi trò hai mặt với ma quỷ. Kinh Thánh khẳng định rằng Đấng Christ phó linh hồn của Ngài cho Đức Chúa Trời, chứ không phải Sa-tan, khi Ngài chết (LuLc 23:46 Tôi tin rằng sự chuộc tội được mô tả hay nhất qua thuyết chuộc tội (satisfaction theorytương tự như thuyết của Anselm (xem Cur Deus Homo
196 J. Ramsey Michaels, 1 Peter , Word Biblical Commentary (Waco, Tex.: Word Books, 1988), các trang 203-10.
197 Trong IPhi 1Pr 3:19, Michaels dịch chữ “tù” (phylake ) thành ra từ “đồn lũy” (so sánh với KhKh 18:2 Đồn lũy của ma quỷ là tầng trời thứ hai, chứ không phải ở đâu đó dưới lòng đất (2 Enoch 7:1-3
198 Michaels, 1 Peter , trang 210.
199 Để biết thêm về những quan niệm phổ biến nhất, hãy tìm đọc Philip Hughes, Paul’s Second Epistle to the Corinthians (London: Marshal, Morgan và Scott, 1961), các trang 442-48; Ralph P. Martin, 2 Corinthians , Word Biblical Commentary (Waco, Tex.: Word Books, 1986), các trang 412-17.
200 Clark H. Pinnock, “Thorn in the Flesh,” trong cuốn ISBE , 4:84.3.
201 Nhưng G. H. Twelfree cho rằng việc Phao-lô đề cập đến việc người Ga-la-ti móc mắt cho ông chỉ là một cách nói bóng gió ngụ ý rằng họ sẵn sàng hy sinh bất cứ thứ gì cho ông (GaGl 4:13-15 Các nền văn hóa cổ đại xem con mắt rất là tế nhị, và “móc mắt” cho người khác được dùng làm hình ảnh của tình bạn (PhuDnl 32:10; ISa1Sm 11:2 đối chiếu với Lucian On Friendship 40-41; G. H. Twelfree, “Healing, Illness,” trong cuốn DPL , trang 380
202 Hughes cho rằng Phao-lô nhận khải tượng này khi ông còn ở An-ti-ốt (Cong Cv 11:26 Hughes, Paul’s Second Epistle to the Corinthians , trang 430.
203 Để có thêm thông tin về vấn đề đồng nhất hóa Sa-tan với Anti-Christ, tìm đọc cuốn sách của tôi 99 Reasons Why No One Knows When Christ Will Return (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1994), các trang 156-57.
204 Một số người cho rằng Đa-vít phạm tội vì không tuân theo luật trả tiền đền mạng khi tiến hành điều tra dân số (XuXh 30:11-16 Không may là Kinh Thánh không nói cách cụ thể về bản chất tội lỗi Đa-vít đã phạm khi tiến hành điều tra dân số.
205 Ethelbert Stauffer, “ ,” TDNT , 2:62.4-25.
206 Stauffer (như trênlưu ý rằng chữ “quở trách” (epitimaơđược dùng cho Hội Thánh (LuLc 17:3; IITi 2Tm 4:2, so sánh với LuLc 23:40-41
207 Phần này dựa vào ghi chú trong bảng NIV. Những chữ ở đây là “sẽ được buộc” (estai dedemenonvà “sẽ được mở” (estai lelymenon Nhưng dịch theo nghĩa đen thì nó có thì tương lai hoàn thành: “will have been…” Đọc theo nghĩa đen có thể không quyết định ý nghĩa của phân đoạn. Tuy nhiên, R. T. France nói rằng thì tương lai hoàn thành hàm nghĩa là những quyết định của Phi-e-rơ được Chúa của thiên đàng “ưu tiên xác nhận” (R. T. France, Matthew , New Testament Commentary (Leicester, U.K.: InterVarsity Press/Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1985], trang 275 W. D. Davies và Dale Allison nói rằng phân đoạn song song trong Mat Mt 18:18 chép rằng, “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời.” Ở đây rõ ràng quyết định của Hội Thánh đi trước quyết định của Đức Chúa Trời trong vấn đề buộc và mở. Bản văn Hy Lạp cũng có thể dùng thì tương lai hoàn thành như là thì tương lai đơn (bị động), giống như bản dịch NIV (IIVua 2V 22:3 LXX EsIs 8:17; HeDt 2:13 Vì nhiều lý do, Davies và Allison nói rằng chúng ta không được quá nhấn mạnh ý nghĩa của thì tương lai hoàn thành (W. D. Davies và Dale Allison, The Gospel According to Matthew , International Critical Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1991), 2:63.8-39
208 Trong Cựu Ước, cũng như các bản văn Do Thái và ngoại giáo, “cửa địa ngục” thường ám chỉ sự chết (Giop G 17:16; 38:17; Thi Tv 107:18; đối chiếu với Wisdom of Solomon 16.13; 3 Maccabees 5.51 Xem D. A. Carson, “Matthew,” trong cuốn The Expositor’s Bible Commentary , hiệu đính Frank E. Gaebelein (Grand Rapids, Mich.: Regency Reference Library/Zondervan, 1984), 8:37.0.
209 Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là thiên đàng sẽ chấp nhận những quyết định bất công của những người lãnh đạo, dù họ là ai. Chúa Giê-su không chấp nhận thẩm quyền của những người lãnh đạo đoán xét người khác cách bất công (Mat Mt 15:1-20; 23:13;; GiGa 9:34-38 Tìm đọc William Hendrickson, The Gospel of Matthew , New Testament Commentary (Edinburgh: Banner of Truth Trust, 1973), trang 651.
210 Andrew T. Lincoln, Ephisians , Word Biblical Commentary (Dallas: Word Books, 1990), trang 443.
211 David W. Diehl, “Righteousness,” trong cuốn EDT , trang 953.
212 Lincoln, Ephesians , trang 449.
213 Bản dịch cũ dịch là “mọi người,” bản KJV dịch là “mọi tạo vật” (every creature), bản NIV dịch là “toàn thể sự sáng tạo” (all creation)-ND.
214 Daniel P. Fuller, “Satan,” trong cuốn ISBE , 4:34.3.
215 Lincoln, Ephisians , trang 451.
216 Như trên.
217 Chẳng hạn ân tứ phân biệt các linh giúp nhận biết được các giáo lý và sự hiện diện của ma quỷ (ICo1Cr 12:10 Có lẽ ân tứ này, hay ân tứ phép lạ, bao gồm cả khả năng đuổi quỷ của các thánh nhân (ICo1Cr 2:4; IICo 2Cr 12:12; GaGl 3:5; ITe1Tx 1:5
218 Fuller, “Satan,” 4:34.3.
219 Do không có chữ tương đương trong tiếng Việt, chúng ta tạm hiểu territorial spirits là các thế lực thuộc linh chế ngự cả một vùng lãnh thổ; hoặc là các tinh thần/xu hướng chung của người dân, do các thế lực thuộc linh thúc đẩy, trong một khu vực nào đó-ND.
220 Phần này dựa vào ghi chú trong bản dịch NIV. Xin tham khảo thêm lời đáp 16.
221 Tet-Lim N. Yee, “‘Put on the Amour of God’: Eph. 6.10-20 as a Test Case for Genuine Unity,” tài liệu và thuyết trình trong khóa hội thảo cao học về Tân Ước, Durham University, England, May 6, 1996.
222 Wayne Grudem, Systematic Theology (Leicester, U.K.: InterVarsity Press/Grand Rapids, Mich.: Zondervan, 1994), trang 421. Thêm một ghi chú về điểm thứ tư mà Grudem đưa ra: Như đã lưu ý trong lời đáp 67, việc công bố Phúc Âm tự nó đã đánh bại các thế lực bóng tối. Chúng ta không nhất thiết phải chờ đợi để một “đồn lũy” nào đó sụp đổ trước khi làm công việc này cách hiệu quả. Nhưng chúng ta thực sự cần quyền năng của Thánh Linh, và quyền năng này đến bởi sự thờ phượng, thông công và cầu nguyện.
223 Cross và Livingstone, bản hiệu đính, Oxford Dictionary of the Christian Church , trang 494.
224 Trong Testament of Solomon (5.12chúng ta thấy có niềm tin nói rằng ma quỷ không thích nước (so sánh với Mac Mc 5:13
225 Theo một niềm tin phổ thông của nhiều người cổ đại, những con quỷ phải nói và xưng tên cũng như bản chất của chúng ra. Người đuổi quỷ, sau khi nói lời nguyền rủa hay đọc các câu thần chú, sẽ ra lệnh cho con quỷ lìa khỏi người bị ám. Người ta tin rằng con quỷ cũng để lại một dấu hiệu thuộc thể khi nó xuất ra, chẳng hạn như đập vỡ một ly nước hay khiến nạn nhân hắt hơi. Các dược chất cũng được dùng trong một số thuật đuổi quỷ (David Aune, “Exorcism,” trong cuốn ISBE , 2:24.2-45 Justin Martyr tin rằng cầu nguyện, kiêng ăn, đặt tay, đốt rễ cây, rảy nước thánh và danh của Chúa Giê-su là những điều không thể thiếu khi đuổi quỷ (Second Apology 6 Quan điểm của ông phản ánh sự kết hợp những ý tưởng của cả Cơ Đốc giáo lẫn mê tín dị đoan.
226 M. Gaster, “Divination (Jewish),” trong cuốn ERE , 4:81.1.
227 Henry A. Virkler, “Demonic Influence and Psychopathology,” trong cuốn Baker Encyclopedia of Psychology , hiệu đính David G. Benner (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1985), trang 295. Truyền thống Hội Thánh có vẻ khá chung chung khi nói rằng ma quỷ có thể tác động thông qua việc thờ lạy hình tượng, ăn của cúng cho thần tượng hay bản chất tội lỗi di truyền từ A-đam (Clementine Recognitions 21.71
228 LuLc 11:24-26 có thể ngụ ý lý do tại sao ma quỷ thích nhập vào thân thể người. Chúng được dùng như là “nhà,” nơi mà ma quỷ bày tỏ chính mình (Wright, Mind , Man , and the Spirits , các trang 132-33 Ma quỷ cũng thích phá hủy và cướp đoạt sự sáng tạo của Đức Chúa Trời; chúng có thể làm được việc này một phần thông qua việc nhập vào động vật hoặc con người.
229 Để biết thêm về các trường hợp quỷ nhập, tìm đọc J. L. Nevius, Demon Possession , tái bản lần thứ 8 (Grand Rapids, Mich.: Kregel, 1968); cũng hãy tìm đọc John Warwick Montgomery, Demon Possession (Minneapolis: Bethany Fellowship, 1976
230 Bảng này dựa trên những điểm Virkler đưa ra trong bài báo, “Demonic Influence and Psychophathology,” trang 297.
231 Basil Jackson, “The ‘Demons’ of Misdiagnosis,” Ministries , mùa Xuân 1986, các trang 36-38.
232 Virkler, “Demonic Influence and Psychopathology,” trang 296.
233 Merrill Unger, “Can a Christian Be Demon Possessed?” Front Page 7 (tháng 7 năm 1991): 5-6; Virkler. “Demonic Influence and Psychopathology,” trang 295.
234 Cuộc tấn công trong “một đêm” của ma quỷ chỉ đơn giản được hiểu là một cuộc tấn công. Virkler (“Demonic Influence and Psychopathology,” trang 295), dẫn lời của Kurt Koch, khẳng định rằng: “Sự quấy rối có thể thay đổi từ một hình thức đơn giản của việc đi theo tà giáo và cứ âm thầm diễn tiến trong nhiều năm cho đến khi có một biến cố nào đó đặc biệt nó mới lộ diện, cho tới tình trạng một người liên tục bị bao vây và quấy rối bởi những quyền lực của bóng đêm. …Do sự cám dỗ, sự quấy rối và xâm nhập của ma quỷ mang tính liên tục hơn là những chi tiết rời rạc, những hình thức cực điểm của sự quấy rối có thể rất giống với việc bị quỷ nhập.” Đối chiếu với Kurt Koch, Occult Bondage and Deliverance (Grand Rapids, Mich.: Kregel, 1971), trang 32.
235 Grudem, Systematic Theology , các trang 424-25.
236 Một số bản Kinh Thánh có in chữ kiêng ăn trong những câu này (đối chiếu với bản KJV Nhưng một vài bản Kinh Thánh không đưa ra ý này. Tuy nhiên, tôi tin rằng việc kiêng ăn có thể rất hữu dụng khi đối diện với người bị quỷ nhập. Rõ ràng Hội Thánh đầu tiên đã nghĩ như vậy, nếu không từ kiêng ăn đã không được đưa vào các phân đoạn này.
237 Virkler cũng nói như vậy, “Demonic Influence and Psychopathology,” trang 298.
238 Theo nhiều nhà giải kinh, vua Phe-rơ-sơ dường như chỉ cố bảo vệ lãnh thổ của mình khỏi thế lực đang xâm nhập, hoặc cố gắng ngăn trở công việc của Đức Chúa Trời cách chung chung, vì biết rằng Gáp-ri-ên làm việc cho “kẻ thù.” Thêm vào đó, chúng ta không biết vua này đã ngăn trở Gáp-ri-ên như thế nào hay Mi-chen đã thắng vua Phe-rơ-sơ ra sao. Nếu chúng ta hiểu phân đoạn này theo nghĩa đen, tôi thật tò mò không biết các hữu thể linh “đánh trận” như thế nào!
239 Một số người trưng dẫn ICo1Cr 14:2, tuyên bố rằng không ai có thể hiểu được ngôn ngữ của những người nói tiếng mới. Điều này đúng; tuy nhiên, chỉ trong bối cảnh giữa con người và Đức Chúa Trời. Không người nào có thể hiểu được những gì người nói tiếng mới nói. Phân đoạn này không hề đề cập đến việc các thiên sứ có thể hiểu người nói tiếng mới hay không. Một phân đoạn khác cũng thường được trưng dẫn là RoRm 8:26. Nhưng không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy phân đoạn này ám chỉ việc nói tiếng mới. Những “lời thở than” của Thánh Linh “không thể” nói ra được. Trái lại, tiếng mới lại có thể nói được.
240 Những quan điểm trái ngược, cho rằng vấn đề tiếng mới và các ân tứ siêu nhiên khác đã chấm dứt trong thế kỷ thứ nhất, được nêu trong cuốn Systematic Theology , các trang 1016-38; Jack Deere, Surprised by the Power of the Spirit (Grand Rapids, Mich.: Zondervan, 1993); Stanley M. Burgess, The Holy Spirit : Ancient Christian Traditions (Peabody, Mass.: Henrickson; 1984); Jon Ruthven, “On the Cessation of the Charismata: The Protestant Polemic of Benjamin B. Warfield,” Pneuma 1 (mùa Xuân 1990): 14-31.
241 Tìm đọc cuốn sách của tôi A Time to Laugh : The Holy Laughter Phenomenon Examined (Peabody, Mass.” Hendrickson, 1995), các trang 145-78.
242 Dĩ nhiên, một số dấu hiệu trên thân thể có thể chứng minh việc bị quỷ nhập, nhưng sau khi tham dự khá nhiều buổi thờ phượng của phong trào Toronto Blessing, tôi nghĩ rằng những biểu hiện thân thể do ma quỷ gây ra rất hiếm thấy trong các buổi thờ phượng này, đo đó nó không phải là một quy luật.
243 Người Do Thái cũng đã nhầm lẫn khi cho rằng các phép lạ của Chúa Giê-su là do ma quỷ làm (GiGa 7:20; 8:48-52; 10:20-21), ngụ ý rằng họ cũng tin là ma quỷ có thể thực hiện được những việc siêu nhiên.
244 Chúng ta phải hết sức khách quan khi định nghĩa tà giáo. Người theo tà giáo không phải là “người không đồng ý với mọi giáo lý mà tôi tin.” Người theo tà giáo , theo ý nghĩa Cơ Đốc cổ điển của chữ này, ám chỉ một người chối bỏ hay chống lại những niềm tin đặt nền tảng trên những tín điều đầu tiên của Hội Thánh, chẳng hạn như giáo lý Ba Ngôi, thần tánh của Đấng Christ, sự chết chuộc tội và sự sống lại của thân thể Đấng Christ. Do đó, nếu một diễn giả phấn hưng nào dạy rằng Đức Chúa Trời bảo đảm sự thịnh vượng vật chất, lời dạy này có thể sai lầm, nhưng nó không phải là tà giáo theo ý nghĩa cổ điển của chữ. Do vậy, không nên vội vàng kết luận một biến cố siêu nhiên thực thụ diễn ra trong một buổi nhóm như thế là của ma quỷ. Đức Chúa Trời có thể làm nhiều phép lạ hoặc chữa lành thông qua những Cơ Đốc nhân lầm lạc đó bất chấp sai lầm của họ.
245 Theo cuộc điều tra, 14% dân số Mỹ sợ hãi khi có con mèo đen băng ngang qua đường đi của họ, 12% lo sợ khi phải đi bộ dưới một cái thang, 9% sợ thứ Sáu ngày 13, và 5% sợ đập vỡ kính. Để có thông tin về cuộc điều tra liên quan đến nguồn gốc của những điều mê tín này, hãy tìm đọc Daniel Cohen, A Natural History of Unnatural Things (New York: McCall, 1971
246 Ronald M. Enroth, “Occult, The,” trong cuốn Evangelical Dictionary of Theology , hiệu đính: Walter A. Elwell (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1984), trang 787.
247 Như trên.
248 Một tà giáo dựa trên một số niềm tin của Ấn Giáo và nhấn mạnh sự dâng hiến cho Krishna-ND.
249 Một nhóm những người xưng mình là thành viên của một đảng phái bí mật có nhiều hiểu biết và quyền lực huyền bí vào thế kỷ 17 và 18-ND.
250 Một tôn giáo vùng Ca-ri-bê, phát xuất từ Cuba, dựa trên những vị thần Yoruba được thờ phượng như các thánh trong Công Giáo La-mã, có một số nghi thức bao gồm cả tế lễ động vật-ND.
251 Một tà giáo ở Brazil, bao gồm những niềm tin và nghi thức bắt nguồn từ Phi Châu, cộng thêm một số yếu tố của Công Giáo La-mã bản xứ-ND.
252 Những tu sĩ của một tôn giáo cổ ở Xen-tơ-ND.
253 Khi nói “văn hóa truyền thông cộng đồng,” ý tôi muốn đề cập đến những tạp chí bán chạy và có ảnh hưởng nhiều nhất, các chương trình tin tức, các màn trình diễn v.v.. Một số Cơ Đốc nhân định nghĩa từ tà giáo là một nhóm chống lại hoặc phủ nhận những niềm tin Cơ Đốc chính thống trong lịch sử, đặt nền tảng trên các tín điều Cơ Đốc cổ điển. Các giáo phụ sẽ cho nhóm đó là một nhóm bội đạo hoặc dị giáo. Tôi thích dùng từ dị giáo để ám chỉ nhóm này hơn; dù vậy, chúng ta cần nhận biết rằng nhiều nhóm dị giáo cũng có những đặc điểm mang tính lạm dụng dựa trên các nhóm tà giáo hiện đại, chẳng hạn như People’s Temple hay Branch Davidians. Vì thế, cách hiểu bao quát dựa trên tính chính thống về tà giáo và cách hiểu trong nghĩa hẹp của phương tiện truyền thông rõ ràng chồng chéo lên nhau, nhưng chúng không đồng nghĩa.
254 Để có một bản danh sách về các khái niệm huyền bí, hãy tìm đọc “Glossary of Terms,” SCP Journal 2 (Winter 1980-1981): 7, 9, 11, 13, 15.
255 Sở dĩ tôi nói “được cho là” là vì trong Kinh Thánh, ngoài Đức Chúa Trời ra không có ai đọc được tư tưởng của con người. Có vẻ những nhà ngoại cảm (khái niệm do F. W. Meyers đặt rađang “đọc” những tình cảm, những biểu hiện trên khuôn mặt và các đặc điểm tâm lý của đối tượng. Óc phán đoán tốt cũng rất hữu ích. Nếu một người nhiều mánh khóe (hiểu biết những ngôn ngữ phi lời, các loại nhân cách, v.v.quan sát cẩn thận những phản ứng của đối tượng, thì người đó có thể đoán được khá chính xác những gì đối tượng đang suy nghĩ, cảm nhận đồng thời có thể thay đổi hay giải thích khác đi nếu những phản ứng trên khuôn mặt của đối tượng tỏ ra tiêu cực! Các trường hợp thần giao cách cảm thật sự có thể là do ma quỷ giúp đỡ vì chúng đã theo dõi các cuộc nói chuyện, điệu bộ, phản ứng v.v. của đối tượng, và bằng cách nào đó, chúng truyền đạt những thông tin này cho nhà ngoại cảm.
256 Trong truyền thống Phật giáo, mục đích của yoga là để đạt được niết bàn , một trạng thái “hạnh phúc” và được khai sáng, nơi được cho là không có những dục vọng hay sự ngu dốt, và tâm trí con người hoàn toàn điều khiển khoái lạc cũng như đau đớn của thân xác. Trong truyền thống Ấn giáo, mục đích của yoga là để đạt đến moksha , trạng thái hợp nhất với Bà-la-môn, một vị thần phiếm thần. Những ai thường xuyên tập yoga thường hy vọng rằng họ có thể tìm gặp hoặc “nhận thức” được chính mình và “hòa hợp” với vũ trụ.
257 Hãy tìm đọc “Astral Projection,” CRI Statement 4.058, Christian Research Institute (CRI), P.O. Box 500, San Juan Capistrano, CA 92693. Cần phải phân biệt giữa xuất linh với những kinh nghiệm cận kề cái chết hoặc sau cái chết. Raymond Moody và Elisabeth Kbler-Ross đã ghi nhận nhiều trường hợp chết lâm sàng rồi sau sống lại. Những người đó nói rằng họ vẫn còn ý thức sau khi chết. Một số đặc điểm chung mà nhiều người đã từng trải cái chết thuật lại là (1nghe được các bác sĩ nói rằng họ đã chết và thậm chí nhìn thấy cả thi thể của họ, (2gặp những người đã chết hoặc gặp những hữu thể thiên sứ, (3đi ngang qua một đường hầm và đến chỗ có ánh sáng rạng rỡ, thường được liên tưởng đến sự nhân từ tuyệt đối, tình yêu thương hoặc Đức Chúa Giê-su Christ. Nhiều người nói rằng họ đã đi tới một biên giới hay một giới hạn mà họ không thể đi xa hơn được nữa. Một số người có những kinh nghiệm tích cực, một số người có những kinh nghiệm tiêu cực. Nhưng không phải lúc nào Moody và Kbler-Ross cũng giải nghĩa đúng về kinh nghiệm của những người này. Dường như chúng đưa đến chủ nghĩa đại đồng, một chủ nghĩa quan niệm rằng không ai phải chịu đoán xét sau khi chết, mọi người đều được Đức Chúa Trời chấp nhận, hay “ánh sáng lớn.” Nhưng Maurice Rawlings, một chuyên gia khác cũng nghiên cứu về sự chết của con người, khẳng định rằng nhiều người đã từng trải những kinh nghiệm sau cái chết và cận kề cái chết rất đáng sợ, họ thấy địa ngục và sự đoán xét sau khi chết là có thật. Những người này thường tìm sự yên ủi thông qua sự cầu nguyện, ăn năn, hoặc cả hai.
258 Để có những tài liệu tham khảo hữu ích về phần này, xin tìm đọc S. R. Driver, A Critical and Exegetical Commentary on Deuteronomy , International Critial Commentary (Edinburgh: T & T Clark, 1895), các trang 221-27; Joanne K. Kuemmerlin-McClean, “Magic,” trong cuốn ABD , 4:46.8-69; David Aune, “Magic,” trong cuốn ISBE , 3:21.4-15; E. P. Graham, “Divination,” trong cuốn CE , 5:48-51 M. Gaster, “Divination (Jewish),” trong cuốn ERE , 4:80.6-11.
259 Aune, “Magic,” 3:21.8.
260 Tìm đọc Susan Garrett, The Demise of the Devil : Magic and the Demonic in Luke’s Writings (Minneapolis: Fortress, 1989), các trang 101-9. Theo David Aune (“Magic,” 3:21.8 phép thuật Hy-La chủ yếu bao gồm ma thuật bảo vệ (để tránh điều không may), ma thuật ác (đen), ma thuật yêu dùng để quyến rũ người khác và ma thuật nghe lén. Trong Cong Cv 16:1-40, Phao-lô gặp phải một số ma thuật này.
261 Tôi cũng nên nói đôi điều về Dungeouns và Dragons cũng như những trò chơi kỳ quái khác, những trò chơi thường bán tại các cửa hàng. Chúng gồm có nhiều người chơi và một “con rồng” tạo ra, điều khiển và chấm điểm cho các nhân vật. Người chơi có thể cho đọc thần chú, thực hiện một ma thuật tưởng tượng nào đó và nhờ nhiều vị thần khác giúp đỡ. Một số người chơi đam mê trò chơi đến độ khi họ mất một người hùng quái dị nào đó mà họ yêu thích thì họ có thể sụp đổ thật sự!
262 Người ta thường cho rằng biểu tượng hòa bình là một thánh giá lộn ngược và bị gãy của Nero, vị hoàng đế nổi tiếng chống Cơ Đốc giáo, và là một người bắt bớ Hội Thánh rất dữ dội. Những người khác thì cho rằng biểu tượng hòa bình là một dụng cụ của những thầy phù thủy, có hình bàn chân gà trống. Tuy nhiên, biểu tượng hòa bình hiện đại không hề liên quan gì tới huyền bí thuyết hoặc những biến cố chống Cơ Đốc giáo. Nó được vẽ năm 1985 tại London, giống như một biểu tượng phản đối chiến tranh hạt nhân. Biểu tượng gồm có các ký hiệu cờ hình chữ N (lá cờ đứngvà D (hai lá cờ nghiêng 45 độ), tượng trưng cho chữ giải trừ vũ khí hạt nhân . Dấu hiệu hòa bình hình hai ngón tay xếp dạng chữ V rõ ràng được mượn từ biểu tượng chiến thắng trong Đệ Nhị Thế Chiến.
263 Aunce, “Magic,” 3:21.4. Trong những nền văn hóa Cận Đông cổ đại, ma thuật là “một hình thức giao tiếp với thế giới siêu nhiên nhằm để tác động đến những biến cố trong hiện tại hoặc tương lai thông qua nhiều nghi thức (đặc biệt là những nghi thức có nét tương đồng với điều mà người thực hành các nghi thức đó muốn xảy rahoặc bằng cách lặp đi lặp lại những lời mô tả kết quả mong muốn, hoặc cầu khẩn các vị thần, ma quỷ, hoặc các linh được cho là có trong tự nhiên” (J. A. Scurlock, “Magic (ANE), “ trong cuốn ABD , 4:46.4 Để hiểu thêm về vấn đề ma thuật sơ khai, tìm đọc David Aune, “Magic and Early Christianity,” trong cuốn Aufstieg und Niedergang der Rưmischen Welt , hiệu đính Wolfgang Haase (Berlin: Awalter de Gruyter, 1980), 2:10.57-57.
264 Tìm đọc Colin Brown và J. Stafford Wright, “Magic, Sorcery, Magi,” trong cuốn NIDNTT , 2:55.2, 556.
265 Như trên, 2:55.2-61.
266 C. E. Arnold, “Magic,” trong cuốn DPL , trang 580.
267 Arnold (như trên, trang 583 nói rằng có thể Phao-lô đang chống lại giả thuyết ma thuật về “số phận” đồng bóng bằng cách nhấn mạnh sự tiền định và lựa chọn Hội Thánh trong Eph Ep 1:1-23. Và trái với những mục đích phục vụ bản thân của ma thuật, Phao-lô hướng dẫn các Cơ Đốc nhân phải sống vị tha và cầu nguyện theo ý muốn của Đức Chúa Trời (3:14-19; 5:2 Quyền năng của Đức Chúa Trời đến thông qua sự tương giao với Đấng Christ, chứ không phải những câu thần chú (2:5 Các Cơ Đốc nhân phải tranh chiến với những quyền lực đối địch với Cơ Đốc giáo (4:27; 6:10-18
268 Các giáo phụ tuyên bố rằng Si-môn là một người ngộ đạo, tạo nên một phong trào dị giáo gọi là Simonians (những người buôn thần bán thánh(Justin Apology 1.26; Irenaeus Against Heresies 1.16; so sánh với Acts of Peter 4-18
269 Trong nghiên cứu siêu linh, siêu nhiên ám chỉ hiện tượng nằm ngoài thế giới tự nhiên trong các ý niệm nguyên nhân và kết quả. Tìm đọc “Glossary,” SCP Journal , trang 15.
270 Tìm đọc Dan Korem, Powers : Testing the Psychic and Supernatural (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1988
271 “Subliminal Messages,” CRI Perspective , CRI.
272 Chẳng hạn chương “Time of Trouble,” trong cuốn Thy Kingdom Come , loạt 3 (Brooklyn: Watchtower, 1909 Để có thêm những luận chứng bác bỏ việc đoán số, hãy tìm đọc cuốn sách của tôi 99 Reasons Why No One Knows When Christ Will Return , chương 4.
273 Arnold, “Magic,” trang 582.
274 Để có thêm thông tin về những hiện tượng siêu linh, hãy tìm đọc John Weldon và Clifford Wilson, Psychic Forces and Occult Shock (Chattanooga: Global Publishers, 1987); Mark Albrecht và Brooks Alexander, “Biblical Discernment and Parapsychology,” SCP Journal 2 (mùa Đông 1980-81): 16-28.
275 Một hệ thống hay một phong trào tôn giáo huyền bí, tương tự như thuyết thần trí, do Rudolf Steiner sáng lập năm 1912-ND.
276 Một sức mạnh siêu linh năng động hay một sự tác động bắt nguồn từ các cá nhân, các linh hay các đồ vật và có thể làm ra điều thiện hoặc điều ác-ND.
277 Điều Chúa Giê-su phán: “Nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi” (LuLc 17:21 thường được nhiều người huyền bí lạm dụng. Tuy nhiên, nước Đức Chúa Trời không phải “ở trong các ngươi” theo ý nghĩa là mọi người đều có những sức mạnh siêu linh tiềm ẩn. Hơn nữa, câu này có ý nói rằng nước Đức Chúa Trời “ở trong vòng các ngươi” hay “chính giữa các ngươi” (entos hymon ) theo như ghi chú trong bản NIV (tìm đọc Leon Morris, The Gospel According to St . Luke : An Introduction and Commentary , New Testament Commentary (London: InterVarsity Press, 1974); trang 259 I. Howard Marshall viết, “Chúa Giê-su phán về việc con người đang tiến vào vương quốc, không phải vương quốc tiến vào con người… Chúa Giê-su đang nói về sự hiện hữu của vương quốc Đức Chúa Trời giữa vòng con người, có lẽ là một điều gì đó nằm trong tầm với của họ, chỉ cần họ nắm giữ lấy nó” (I. Howard Marshall, The Gospel of Luke : A Commentary on the Greek Text , New International Greek Testament Commentary (Exeter, U.K.: Paternoster, 1978), trang 655 Nếu Chúa Giê-su có ý nói đến một công việc nội tâm, thì công việc này có lẽ ám chỉ đến lời công bố của Đấng Christ về những người lãnh đạo tôn giáo mà Ngài đang đối diện rằng họ cần phải tin nơi sứ điệp của Đấng Christ về vương quốc của Đức Chúa Trời trước khi họ tìm kiếm những dấu hiệu bên ngoài của vương quốc đó.
278 Albrecht và Alexander, Biblical Discernment and Parapsychology , các trang 23-24.
279 Để có thêm những lập luận vững chắc chống lại chiêm tinh, hãy tìm đọc Charles Strohmer, What Your Horoscope Doesn’t Tell You (Wheaton, Ill.: Tyndale House, 1988); Andrew Fraknoi, Sky and Telescope , August 1989, các trang 146-50; Walter Martin, “Astrology,” băng cassette CRI C-005.
280 Những người theo thuyết đầu thai tuyên bố rằng Origen (185-254và một số giáo phụ khác đã dạy về sự đầu thai. Điều này không đúng. Những người theo thuyết đầu thai cần đưa ra bằng chứng rõ ràng, và họ thất bại vì hoàn toàn không có chuyện đó! Dù Origen tin nơi kiếp trước của linh hồn con người, nhưng ông không dạy về sự đầu thai. Để có thêm những lập luận phản bác việc này, hãy tìm đọc Joseph P. Gudel, Robert M. Bowman và Dan R. Schlesinger, “Reincarnation-Did the Church Suppress It?” Christian Research Journal , mùa Hè 1987, các trang 8-10, 12.
281 Tương tự như vậy, một số người tuyên bố rằng Hê-rốt tin Chúa Giê-su là sự đầu thai của Giăng Báp-tít (Mac Mc 6:14-16 Dường như Hê-rốt, một người Pa-lét-tin, đã tin vào ý niệm phương Đông về sự đầu thai, thậm chí khi ông biết rằng Giăng đã từng sống cùng thời với Chúa Giê-su. Những người theo thuyết đầu thai còn tin rằng linh hồn của một người có thể là linh hồn của một người khác khi cả hai cùng sống trong một thời kỳ. Có lẽ Hê-rốt tin nơi quan niệm vật linh, cho rằng linh hồn của một người bị chết thảm (tức là Giăng Báp-títcó thể bị những “thuật sĩ” điều khiển (tức là Chúa Giê-suđể có thêm quyền lực. Nhưng cho dù Hê-rốt có thực sự tin nơi thuyết đầu thai đi chăng nữa thì điều đó cũng không chứng minh rằng Chúa Giê-su và các môn đồ Ngài tin nơi điều đó.
282 Để có thêm thông tin về những luận cứ bác bỏ thuyết đầu thai, hãy tìm đọc Mark Albrecht, “Reincarniation Versus Resurrection,” Areopagus , Phục Sinh 1991, các trang 18-23.
283 Hãy tìm đọc Douglas Groothius, Unmasking the New Age (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1986), một bài tóm tắt và phê bình tuyệt vời về phong trào Thời Đại Mới. Cũng hãy tìm đọc vô số tài liệu sẵn có tại CRI và dự án Spiritual Counterfeits, P.O. Box 2418, Berkeley, CA94702.
284 Hãy so sánh những giáo lý của Thời Đại Mới nêu trên và những giáo lý của triết học thần bí trong bài báo của Brooks Alexander, “Occult Philosophy and Mystical Experience,” SCP Journal , Winter 1984, các trang 13-19.
285 Những người Thời Đại Mới tin rằng họ tạo nên thực tại của riêng mình đôi khi lại tin là họ có thể làm được việc đó bằng cách phủ nhận thực tại chủ quan hoặc cốt lõi những chân lý vũ trụ và các niềm tin đạo đức (thuyết tương đối Theo nghĩa rộng, khi những người theo thuyết tương đối nói rằng không có những điều tuyệt đối (không có những chân lý khách quan hoặc những nguyên tắc đạo đức mà mọi người phải tuân theo), thì họ cũng phải khẳng định rằng hoặc là câu nói của họ không tuyệt đối (cho nên chẳng ai cần phải theo hoặc tin nóhoặc là câu nói của họ là tuyệt đối (hoàn toàn trái ngược với điều họ tuyên bố
286 Để có thêm thông tin về những âm mưu Thời Đại Mới và Trật Tự Thế Giới Mới, hãy tìm đọc cuốn 99 Reasons của tôi, các trang 110-12, 142-47.
287 Tôi thật mắc nợ đồng nghiệp cũ của tôi tại CRI, ông Ron Rhodes. Những gì tôi biết về Christ Thời Đại Mới là ra từ việc nghe hay đọc bài nghiên cứu của ông và qua những lần nói chuyện với ông. Để có thêm thông tin về đề tài này, xin tìm đọc cuốn sách của ông, The Counterfeit Christ of the New Age Movement (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1990
288 Những người Thời Đại Mới đã đưa ra một cuốn sách với tựa đề là Life of St . Issa , do Nicholas Notovich phát hiện. Nó tuyên bố rằng Chúa Giê-su đã học Phật Giáo Tây Tạng trên dãy Himalayas trong suốt “những năm vắng mặt” giữa thời ấu thơ và lúc Ngài được Giăng Báp-tít làm báp-tem. Nhiều người Thời Đại Mới chủ trương Chúa Giê-su đã đến Ấn Độ trong suốt thời gian đó và đã trải qua bảy mức độ khai tâm trước khi Ngài trở thành Đấng Christ. Tuy nhiên, J. Edgar Goodspeed, một học giả Kinh Thánh đã quá cố, chứng minh rằng dù cuốn St . Issa được cho là viết ra sau khi Chúa bị đóng đinh bốn năm đi nữa, thì nó cũng dựa vào các sách Phúc Âm, Công Vụ và Rô-ma. Những văn kiện Kinh Thánh này được viết khoảng 30 năm hoặc hơn, kể từ sau khi Chúa bị đóng đinh. Thánh Kinh Tân Ước dường như trái ngược với lời công bố rằng Chúa Giê-su đã đi về hướng Đông trong suốt những năm vắng mặt đó (LuLc 2:52 (Chúa Giê-su trưởng thành và học kinh Torah) 4:16 (Ngài vào nhà hội “theo thói quen”); Mac Mc 6:1-6 (dân sự đã biết Chúa Giê-su nhiều năm rồi). Tại sao những nhà lãnh đạo tôn giáo không bao giờ buộc tội Ngài là dị giáo vì đã học dưới tay những người theo thuyết Phiếm Thần trong khoảng thời gian người ta cho là Ngài đã sống tại Ấn Độ? Trái ngược với những niềm tin Thời Đại Mới, Chúa Giê-su luôn luôn là Đấng Christ (LuLc 2:26; HeDt 13:8
289 Để nghiên cứu thêm về vấn đề tính đáng tin cậy của Đấng Christ và sự phục sinh của Ngài trong lịch sử, hãy tìm đọc Gary R. Habermas, Resurrection of Jesus : An Apologetic (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1980); Paul Barnett, Is the New Testament Reliable ? A Look at the Historical Evidence (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1987); Craig A. Evans, “Jesus in Non-Christian Sources,” trong cuốn DPL , các trang 364-68. Các sách khá phổ biến gồm có Paul Little, Know Why You Believe (Downers Grove Ill.: InterVarsity Press, 1968), và các tác phẩm của Josh McDowell (Here’s Life Publishers, P.O. Box 1576, San Bernardino, CA 92402-1576; 1-800-950-4457), gồm cả những cuốn như More Than a Carpenter và, gần đây hơn, A Ready Defense (1990
290 Một vài nguồn tài liệu của tôi: Mark Albrecht và Brook Alexander, “UFOs: Is Science Fiction Coming True?” SCP Journal , tháng 8 năm 1977, các trang 12-23; John Weldon và Clifford Wilson, Psychic Forces and Occult Shock , các trang 129-47; David Fetcho, “A Sum of Shipwrecked Stars: UFOs and the Logic of Discernment,” SCP Journal , tháng 8 năm 1977, các trang 25-30; William Alnor, “UFO Cults Are Flourishing in New Age Circles,” Christian Research Journal (in lại thành tập hồ sơ DU-005, hiện có tại CRI); William Alnor, UFOs in the New Age (Grand Rapids, Mich.: Baker Book House, 1992); Elizabeth L. Hillstrom, Testing the Spirits (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1995), các trang 195-209; và thông tin về UFO (báo chí, băng từcủa Hugh Ross, Reasons to Believe, P.O. Box 5978, Pasadena, CA91107.
291 Cần phải giải thích một chút về cuốn Chariots of the Gods ? Của Erich von Daniken vì nó có ảnh hưởng rất rộng. Von Daniken dạy rằng “các vị thần” của nhiều nền văn hóa cổ thực sự là các sinh vật ngoài hành tinh, đã sống và giao tiếp với con người trên trái đất. Ông giải nghĩa một số bức họa của những người Inca, Maya và các nên văn hóa khác là những bức tranh của người ngoài hành tinh trong bộ áo phi hành gia và các phi thuyền. Cuốn sách của ông bán được hơn ba mươi triệu bản. Những nhà phê bình đã đưa ra rất nhiều điểm sai trong cuốn sách của von Daniken (chẳng hạn như cuốn băng ghi âm C-085, “Chariots of the Who?” của Walter Martin; cuốn Psychic Forces and Occult Shock , các trang 130-36, của Weldon và Wilson Von Daniken đã phạm phải vô số sai lầm trong các tính toán, ngày tháng cũng như cách giải thích của ông về các bức họa hoặc những đồ vật của các nền văn hóa đầu tiên. Ông công bố rằng Kinh Thánh đầy những mâu thuẫn, nhưng như Weldon và Wilson đã mạnh mẽ chứng minh, chính những lời dạy của von Daniken mới đầy dẫy mâu thuẫn.
292 Weldon và Wilson, Psychic Forces and Occult Shock , trang 144.
293 Điều này không mâu thuẫn với lời khẳng định của tôi ở trên rằng các UFO đôi lúc hòa nhập với nền văn hóa mà họ bị phát hiện. Tại đó tôi tranh luận rằng các UFO thật có vẻ không thuộc về thế giới vật lý. Phân đoạn nói về “các cỗ xe bằng lửa” chỉ nhằm khẳng định cho giả thuyết này. Tôi thật khó chấp nhận rằng các giống loài phát triển về phương diện vật lý từ các hành tinh khác lại làm phi thuyền, hay một phần phi thuyền của họ, theo hình con ngựa. Phải chăng các hành tinh khác cũng có ngựa?
294 Điều này không hề ngụ ý rằng các “sinh vật” UFO không thể là các thiên sứ sa ngã. Trên thực tế, tôi muốn nói rằng các sinh vật UFO “thật sự” có thể là các thiên sứ sa ngã.
295 Một tính toán đã đưa ra giả thuyết là nếu có một triệu hành tinh trong vũ trụ mà những cư dân trên đó đủ thông minh để bay đến những nơi khác của vũ trụ, thì xác xuất để họ đáp xuống trái đất là bao nhiêu? Để chỉ một phi thuyền đáp xuống trái đất mỗi năm thì mỗi hành tinh trong số một triệu hành tinh đó phải phóng mười ngàn phi thuyền trong vòng một năm. Con số này không chỉ quá mức sản xuất của một nền văn minh, nhưng thậm chí nó cũng không bằng với vô số phát hiện UFO hằng năm (Albrecht và Alexander, “UFOs: Is Science Fiction Coming True?” trang 16
296 Như trên, trang 18-20.
297 John Keel, Operation Trojan Horse , trang 44, được trích dẫn trong cuốn trên, trang 19.
298 Hãy tìm đọc Bob và Gretchen Pasantino, “What About Halloween?” Answers in Action, P.O. Box 2067, Costa Mesa, CA92628. Trong một truyện cổ tích, có một người tên là Jack, hắn xảo quyệt đến độ thiên đàng lẫn địa ngục đều không muốn chất chứa hắn, nên hắn đi lang thang khắp nơi với một cái đèn lồng (“Jack-o-lantern”-đèn mađể tìm chỗ ở.
299 Như trên, trang 3.
300 Để có thêm thông tin về vấn đề này, hãy tìm đọc John Warwick Montgomery, Myth , Allegory and the Gospel : An Interpretation off J. R . R. Tolkien , C. S . Lewis , G. K . Chesterton and Charles Williams (Minneapolis: Bethany Fellowship, 1974
301 “Troll Dolls,” CRI Statement 3.137.
302 Như trên.
303 Tôi thật mắc nợ Craig Hawkins, cựu nghiên cứu gia CRI. Tôi đã ngồi nghe những bài thuyết trình của ông về thuyết huyền bí vào năm 1989 tại Trường Luật Simon Greenleaf, và đọc những bài báo của ông: “The Modern World of Witchcraft: Part One,” Christian Resarch Journal , Mùa Đông/Xuân 1990, các trang 9-14; “The Modern World of Witchcraft: Part Two,” Christian Research Journal , Đông/Xuân 1990, các trang 22-27. Một số thông tin của tôi căn cứ trên bài nghiên cứu của ông. Ngoài ra, những thông tin trực tuyến trên Internet cũng rất hữu ích.
304 Mẫu thần và nam thần có sừng được gọi với nhiều tên gọi khác nhau. Dưới đây là danh sách những vị thần phổ biến nhất:
305 Các phù thủy không hề ngồi trên cán chổi mà bay lên không trung. Những cây chổi đã từng (và thỉnh thoảng vẫn còn được dùng trong các nghi lễ để khích lệ trưởng thành, nhưng những người tham dự không hề bay trong không khí!
306 Các tài liệu hữu ích liên quan đến vấn đề này có trong cuốn Confronting the New Age của Douglas Groothius (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1989); Hawkins, “The Modern World of Witchcraft: Part Two”; Hawkins, “Witnessing to Witches,” Christian Research Journal , mùa Hè 1990, số DW-180, hiện có tại CRI; “Witnessing to Occultists,” CRI Perspective , CRI.
307 Tuy hơi cũ, nhưng một trong những dẫn nhập tốt nhất về đạo Sa-tan vẫn là cuốn sách của Craig Hawkins, Forward , chương “The Many Faces of Satanism,” mùa Thu 1986, các trang 17-22.
308 Như trên, trang 19.
309 Tìm đọc Gretchen và Bob Passantino và Hon Trott, “Satan’s Sideshows,” Cornerstone 18, số 90; Jon Trott, “Satanic Panic,” Cornerstone 20, số 95; Jon Trott và Mike Hertenstein, “Selling Satan,” Cornerstone 21, số 98; David G. Bromley, “Satanism: The New Cult Scare,” bài viết khóa hội thảo tại Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Hoa Kỳ (P.O. Box 90709, Santa Barbara, CA93109-0709), tháng Năm 1991; “Does Satanic/Sadistic Ritual Abuse Exist?” http://web.canlink.com/ocrt/ra_none.htm.
310 Kenneth Lanning, “Satanic, Occult, Ritualistic Crime: A Law Enforcement Perspective,” The Police Chief 56; trích dẫn của Bromley, “Satanism: The New Cult Scare,” trang 17.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 08:25 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách