† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3169|Trả lời: 0

Tìm Hiểu Thư Tít

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 18:58:47 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Tìm Hiểu Thư Tít
Tác giả: Stuart Briscoe
Lời giới thiệu
1. Đồng hóa với dân sự của Đức Chúa Trời
2. Giám sát dân sự của Đức Chúa Trời
3. Bảo vệ dân sự của Đức Chúa Trời
4. Huấn luyện dân sự của Đức Chúa Trời
5. Tinh luyện dân sự của Đức Chúa Trời
6. Nhắc nhở dân sự của Đức Chúa Trời
7. Thúc đẩy dân sự của Đức Chúa Trời
8. Cảnh tỉnh dân sự của Đức Chúa Trời

LỜI GIỚI THIỆU
Thư sứ đồ Phaolô gởi cho Tít là một trong những sách ngắn nhất của Kinh Thánh và thường được lướt qua. Dầu vậy, bức thư nầy không thể bị đánh giá thấp vì ý nghĩa và chiều sâu của sự dạy dỗ trong thư rất thích hợp cho Hội Thánh ngày nay.
Tít là một trong những người được chính Phaolô tuôn đổ đời sống và chia sẻ chức vụ cho. Mối thâm tình của họ là mẫu mực nên phát triển giữa các nhà lãnh đạo Cơ-đốc và thế hệ tiếp nối là những người sẽ gánh vác công việc của họ. Nhiều Hội thánh thường như nhánh nho đang khô héo, vì các nhà lãnh đạo vốn được Chúa dùng lại ra đi mà không có người kế tục. Điều này xảy ra tại đâu thì ở đó, Hội thánh của Đấng Christ không tránh khỏi việc bị bần cùng hoá. Vì thế Phaolô không chỉ nhắc chúng ta rằng huấn luyện người kế tục là sự đầu tư tốt nhất, mà còn dạy cách thực hiện điều này rất thực tiễn.
Ngày nay, với quá nhiều phương tiện truyền thông, các sứ điệp được truyền đi cách nhanh chóng. Thật không lạ gì khi cả những tín đồ hiểu biết nhất cũng bị sa lầy trong các vấn đề tranh luận đầy mâu thuẫn khi họ nghe theo hết tác giả nầy đến tác giả khác qua các sách, băng, đĩa phát thanh và truyền hình. Sự trưởng thành đáng có đòi hỏi phải hiểu biết Kinh Thánh và có các kỹ năng, hầu làm sáng tỏ những điều dễ ngộ nhận. Trong chức vụ mình, Phaolô đã nhận biết lẽ thật nầy nên khuyên Tít phải có sự dạy dỗ vững vàng, có áp dụng thực tế và huấn luyện cách cá nhân cho nhân sự trong các Hội Thánh non trẻ.
Tóm lại, Phaolô dạy Tít cách làm việc để khiến Hội Thánh sinh hoạt điều hoà và cộng đồng điạ phương có thể xem họ như là dân sự của Đức Chúa Trời. Trong lúc nhà thờ đầy những người với các ý kiến khác nhau về Hội Thánh là gì - nên làm gì, thì vẫn còn nhiều diễn giả hoặc tín hữu có ảnh hưởng nhận biết vị trí duy nhất và đáng kính của Hội Thánh địa phương là thực hiện kế hoạch của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, vì kế hoạch nầy tùy thuộc vào họ nên họ hứa nguyện dâng mình cách sâu xa để Đức Chúa Trời tự do làm việc trong họ, với họ và qua họ hầu tinh luyện dân sự Ngài. Quyển sách đang ở trong tay bạn do một người chia xẻ mối quan tâm nầy viết ra.

Đồng Hoá Với Dân Sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 1:1-5
Thoạt nhìn, bốn câu đầu của thư Phaolô gởi Tít, không chứa đựng lời hứa lớn nào vì chỉ là những lời mở đầu truyền thống. Vào thời của Phaolô, người viết thường giới thiệu chính mình, rồi đề cập đến người nhận và kế đến là lời chào theo truyền thống. Vậy, thư tín của Phaolô phù hợp với mẫu truyền thống nầy.
Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt. Phaolô dùng nghi thức truyền thống nầy với ý nghĩa đặc biệt. Thí dụ, ông không chỉ xưng: Phaolô, nhưng viết: ‘Phaolô, tôi tớ của Đức Chúa Trời và sứ đồ của Chúa Giêxu Christ’ rồi tiếp theo ba câu. Ông không chỉ nói: Tít, người nhận thư - mà thêm một lời cô đọng tuyệt vời: ‘con thật của ta trong đức tin chung’.
Như nghi thức đã nêu, ‘ân điển và bình an’ là lời chào thăm bình thường, nhưng cần biết rằng Phaolô đã viết ra với ý nghĩa sâu sắc. Vì ân điển và bình an mà Phaolô đang nói xuất phát ‘bởi Đức Chúa Trời là Cha và bởi Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta’.
Vậy, chúng ta biết rằng lời chào thăm theo nghi thức truyền thống cũng có ý nghĩa quan trọng.
Mục đích bức thư được nêu trong câu 5, không phải 4 câu trên. Phaolô và Tít đã cùng đến Cơrết trong một vòng Truyền giáo. Ông tiếp tục hành trình và viết cho Tít: ‘Ta đã để con lại Cơrết đặng sắp đặt mọi việc chưa thu xếp và theo như ta đã răn bảo con mà lập các trưởng lão trong mỗi thành’.
Sứ đồ Phaolô không chỉ quan tâm đến việc truyền giảng Tin Lành để nhiều người có được mối thông công riêng tư với Đấng Christ. Dĩ nhiên, đó là bước mở đầu. Ông cũng muốn lập các Hội Thánh, tạo nhóm thông công giữa các tân tín hữu, ‘trong mỗi thành (làng)’ ở Cơrết.
Phaolô bảo Tít ‘sắp đặt mọi việc chưa thu xếp’, đặc biệt để phát triển cấu trúc của Hội Thánh. Để làm điều nầy, Tít đã nhận trách nhiệm chỉ định cách cá nhân các trưởng lão trong mỗi thành. Vì vậy, chức vụ đặc biệt của Tít là gom nhặt các bông trái của vòng Truyền giáo, đưa họ vào các nhóm tín hữu (thân thể) ở khắp các thành khác nhau trên toàn đảo Cơrết và thành lập các Hội Thánh. Ngày nay, chúng ta gọi theo thuật ngữ chuyên môn là chức vụ mở mang Hội Thánh mới. Dĩ nhiên, đây là một lãnh vực rất quan trọng trong mọi chức vụ.
Tuy nhiên, trong lúc ý tưởng sắp đặt mọi việc chưa hoàn tất là chỉ định các trưởng lão trong mỗi Hội Thánh là trách nhiệm của con người, Phaolô cũng nêu lãnh vực thiêng liêng của việc này. Tit Tt 2:14 nói về Chúa chúng ta như sau: ‘Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành’.
Khi Tít đã đến các thành khác nhau ở Cơrết và thành lập các Hội Thánh, đó là phương diện thực hành của con người. Nhưng về mặt thuộc linh và thiêng liêng, Đức Chúa Trời đang tinh luyện một dân tộc thuộc riêng về chính Ngài. Nối kết hai điều nầy với nhau, bạn sẽ khám phá điều rất quan trọng: Chức vụ của Tin Lành đòi hỏi chúng ta khi đưa thân hữu đến với Đấng Christ thì phải giới thiệu họ bước vào mối thông công với các tín hữu, đó là chấp nhận sự kiện nghiêm túc rằng họ chính là dân sự thuộc riêng về Đức Chúa Trời tại địa phương của mình. Chúng ta đang xem xét bức thư nầy để hiểu ý nghĩa thật là không chỉ liên hệ với Đấng Christ, mà từ đó còn liên hệ với những kẻ thuộc về Ngài và là một phần tử của chính dân Chúa tại địa phương cụ thể nào đó.
Trong lời giới thiệu, Phaolô xưng mình là ‘tôi tớ của Đúc Chúa Trời và sứ đồ của Chúa Jêsus Christ, để đưa các người được chọn của Đức Chúa Trời...’ Chú ý thành ngữ ‘người được chọn của Đức Chúa Trời’. Chọn lựa có nghĩa ‘tuyển chọn’ và Kinh Thánh nói rõ Đức Chúa Trời có thói quen tuyển chọn. Mỗi khi nhắc đến sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, thì chúng ta nghĩ đến một dân mà Ngài đã kêu gọi, đã tuyển chọn cho chính Ngài. Sự kiện căn bản nầy được tìm thấy trong Cựu Ước vốn chép rất nhiều lần Đức Chúa Trời chọn một dân thuộc riêng về Ngài.
Đức Chúa Trời Chọn Y-sơ-ra-ên làm Dân sự Ngài
Họ không được chọn vì là đăïc biệt hay toàn hảo; họ không được chọn vì họ mạnh mẽ. Họ được chọn vì Chúa đã chọn họ. Nói cách khác, sự lựa chọn tùy thuộc chính mình Chúa. Nhưng bên cạnh còn một lý do khác: Chúa muốn có một dân của Ngài thế thôi. Vậy thì, sao Ngài lại muốn có một dân? Chúng ta có thể nêu câu hỏi đó khi nhớ lại các cuộc tranh luận của Chúa với dân Ngài là Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, tôi nghĩ câu trả lời rất quan trọng.
Tại sao Đức Chúa Trời lo tạo ra những cộng đồng cư dân mà theo một ý nghĩa đặc biệt, có thể dễ nhận biết là dân sự Ngài? Hãy nhớ rằng ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên người nam. Rồi Ngài rời người một lúc và thấy rằng loài người ở một mình thì không tốt, nên đã có quyết định tuyệt vời là tạo ra người nữ.
Khi dựng nên người nam, Đức Chúa Trời đã tạo dựng một cá nhân. Ngay khi dựng nên người nữø, Ngài đã tạo ra một tập thể, một cộng đồng. Rồi thảm họa bất ngờ xảy ra. Người nam thất bại và cả tập thể cũng bắt đầu tan rã. Mối quan hệ đẹp đẽ giữa 2 người đã nhanh chóng rã tan. Không chỉ thế, họ sanh ra con cái: đứa đầu lòng là một kẻ sát nhân, đã giết đứa em trai kế. Nói cách khác, cộng đồng - xã hội đã tan vỡ cách nhanh chóng.
Chúng ta biết chắc rằng Đức Chúa Trời lo liệu cho con người sa ngã đến mức đã ban Đấng Christ làm Cứu Chúa cho họ. Nhưng Ngài có quan tâm đến xã hội tan rã không? - Có, Ngài đã qui định những kẻ sa ngã được cứu chuộc bởi Đấng Christ, là một phần của cộng đồng thay thế, một xã hội mới, dễ nhận diện. Và cộng đồng thay thế đó được gọi là Hội Thánh, dân sự của Chúa, những người được tuyển chọn của Đức Chúa Trời, thuộc riêng về Ngài.
Để ban khuôn mẫu cho cộng đồng
Lý do đầu tiên Chúa chọn một dân để họ có thể sống như một tập thể mẫu mực, ở giữa sự tan vỡ để bày tỏ cộng đồng là gì. Ngài kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên và lập họ thành một quốc gia. Rồi Ngài đặt họ như một quốc gia và một dân tộc ở giữa các quốc gia khác và công bố: ‘Nào, bây giờ hãy cho các quốc gia khác biết khi Đức Chúa Trời là Chủ Tể thì các dân tộc sẽ cư xử ra sao’.
Để bày tỏ quyền Tể trị của Ngài
Lý do thứ hai Đức Chúa Trời chọn một dân cho riêng Ngài, vì muốn bày tỏ quyền Tể trị của Ngài. Ngài toàn quyền hành động như Ngài đã định. Chúa đã nhiều lần bày tỏ cho dân Ngài: lịch sử của họ là một câu truyện dài về những sự can thiệp của Chúa trên các công việc của họ. Có lẽ minh chứng nổi tiếng nhất là khi đoàn dân khổng lồ được đem ra khỏi Aicập. Điểm đáng lưu ý, Đức Chúa Trời đã giang rộng cánh tay quyền năng Ngài và giải cứu họ khỏi tay người Aicập. Mỗi khi đọc lịch sử Y-sơ-ra-ên, bạn sẽ thấy tuyển dân của Đức Chúa Trời luôn đề cập đến việc xuất Aicập như hành động tể trị của Đức Chúa Trời. Đó là đề mục căn bản trong lịch sử và là điều thật quan trọng với chính họ.
Để bày tỏ ân điển Ngài
Tuần tự, Đức Chúa Trời đối đãi với dân Ngài theo cách mà họ không đáng được. Ngài tuôn đổ các phước hạnh trên họ ngay cả lúc họ vô ơn hay chống nghịch Ngài. Thí dụ, hằng ngày trong sa mạc Ngài mưa mana, bánh từ trời trên họ. Nhưng họ là một dân hay lằm bằm: oán trách, muốn quay về Aicập, nghi ngờ người lãnh đạo, có khuynh hướng ly khai -thật như một nhóm người tồi tệ. Tuy nhiên, Đức ChúaTrời tuyên bố:‘Ta sẽ không ban những gì các ngươi đáng được, mà sẽ ban mana mà các ngươi không đáng được’.
Để bày tỏ thuộc riêng về Ngài có nghĩa gì
Thứ tư, Đức Chúa Trời chọn một dân để bày tỏ được thuộc riêng về Ngài là cao trọng.
Dầu họ là dân của Ngài, được chọn lựa cho chính Ngài, điều đó không có nghĩa là mọi sự đều đến cách tự động. Dân Ngài có đủ mọi trách nhiệm và Ngài bảo họ: ‘hoặc các ngươi vâng theo đường lối ta, hoặc các ngươi ở trong sự rắc rối’. Họ đã không làm theo ý muốn Ngài và hoàn toàn ở trong rắc rối. Ngài lặp lại lời cảnh cáo nầy qua các tiên tri rằng họ có thể bị lưu đày; họ vẫn không nghe Ngài. Kết quả là gì? Dân được chọn, được tuyển lựa, quyết tỏ rằng họ không muốn dự tiệc cùng với Đức Chúa Trời. Vì không theo đường lối Chúa mà theo đường riêng, dân được chọn đã bị lưu đày và tan tác khắp nơi trên thế giới - hậu quả của tội lỗi và sự không vâng lời của họ.
Vậy, Đức Chúa Trời đã có dân của Ngài. Ngài chọn họ để qua cách đối xử của Ngài, họ có thể học và dạy các quốc gia khác về Ngài.
Đức Chúa Trời Chọn Đấng Christ làm Vầng Đá của Ngài
Ngày nay dân được chọn của Đức Chúa Trời là Hội Thánh. Chúng ta là những người được chọn của Đức Chúa Trời qua mối liên hệ với Con Ngài, Chúa Jêsus Christ. Theo IPhi 1Pr 2:4: ‘Hãy đến gần Ngài là Vầng Đá sống -bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời - và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh...’
Phierơ đã dùng hình ảnh của Đấng Christ như hòn đá, người được chọn của Đức Chúa Trời, rồi ông cho biết thể nào Ngài là Đá góc nhà (câu 6;), đá móng (câu 7;), đá vấp chân (câu 8;). Chúa Jêsus đã được Đức Chúa Trời chọn để thể hiện các tư cách nầy.
Đá góc nhà là căn cứ cho mọi vật được xây trên nó, là nền tảng. Đá móng để giữ mọi thứ liên lạc với nhau. Đá vấp chân khiến người ta vấp ngã nếu không đối xử đúng với đá đó. Đấng Christ được chọn để làm mọi điều như trên. Ngài được chọn để làm nền tảng cho mọi điều Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại. Ngài được chọn làm Đá móng, để khiến mọi cách cư xử của Đức Chúa Trời với con người có ý nghĩa và liền lạc với nhau. Ngài là nền và là căn bản của mọi sự Đức Chúa Trời muốn làm, khi con người đáp ứng. Nếu họ không đáp ứng, Ngài sẽ là Đá vấp ngã khiến họ trầy chân, xước gối và dập mũi; họ sẽ vấp trên Ngài và thấy Ngài chống cự họ.
Đức Chúa Trời Chọn Chúng ta làm Hội thánh của Ngài
Eph Ep 1:4 nói về Hội Thánh, dân của Đức Chúa Trời. Phaolô nói về những kẻ ở trong Đấng Christ: ‘Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời’. Những người nầy là Hội Thánh, là thân thể Đấng Christ, Đức Chúa Trời cũng gọi họ là ‘người được chọn’, dân đặc biệt của Ngài. Đức Chúa Trời chọn Hội Thánh giữa thế giới ngày nay để trở nên dân thuộc riêng về Ngài. Thật rất quan trọng để tín hữu hiểu ý nghĩa của thân thể Đấng Christ và ở trong Ngài có nghĩa gì.
Nan đề là chúng ta chỉ sống và nghĩ cho chính mình. Điều nầy thấm cả vào kinh nghiệm thuộc linh của chúng ta, vốn thường giới hạn và có tính cách cá nhân. Như vậy chưa đủ, phải tự hiểu rằng chúng ta có mối liên hệ cá nhân không chỉ với Đấng Christ mà còn với những kẻ ở trong Đấng Christ, là dân được chọn của Đức Chúa Trời tại nơi riêng biệt là Hội Thánh.
Một nan đề chúng ta thường có, như tôi luôn nói khi còn nhỏ: ‘Tôi hoàn toàn ở trong ân sủng của Đấng Christ, còn liên hệ với Hội Thánh Ngài thì hãy quên điều đó đi’. Tôi nhớ cuộn phim về chàng trai Cliff Richards. Cậu đã nói với vị Giám mục kiểu mẫu của Anh Quốc Giáo: ‘Nếu tôi là Đấng Christ tái lâm và thấy những gì ông đã làm cho Hội Thánh của tôi, tôi đã kiện ông’. Tôi đã vỗ tay tán thưởng cùng với mọi người khác. Chúng ta nghĩ rằng điều đó đúng, vì thật dễ phê phán Hội Thánh. Ai không phê phán Hội Thánh thì khả năng phê bình của họ đã bị tê liệt. Hãy nhớ rằng Hội Thánh chỉ gồm toàn những tội nhân, vì vậy không cần cố gắng mới tìm ra lỗi lầm của người khác.
Chúng ta không được phép phê bình Hội Thánh của Chúa Jêsus Christ, vì đóù là cộng đồng dân Chúa, được Chúa chọn và đặt tại một điạphương để sống và làm một việc nào đó. Đây là sự kêu gọi cho chúng ta, tuy là sự kêu gọi đáng kính, đáng sợ nhưng vẫn là sự kêu gọi cho chúng ta.
Để làm vinh hiển Ngài
Sứ đồ Phaolô nói rằng chúng ta là những người được chọn trong Đấng Christ, được kêu gọi ‘để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài’ (Eph Ep 1:6). Đây không có nghĩa là ca ngợi cách cá nhân, bèn là một tập thể ca ngợi Ngài. Vì vậy, bạn thấy nhiều phiền nhiễu khi là thành viên trong Hội Thánh Đấng Christ. Đây là sự kêu gọi có đòi hỏi rất lớn - không chỉ cá nhân làm vinh danh Chúa, nhưng là cả tập thể với tính cộng đồng, nhóm thông công cùng tôn vinh Đức Chúa Trời.
Để làm điều tốt
Điều này không chỉ là bản chất mà còn là những điều chúng ta làm. Như đã nói, Tit Tt 2:14 xác nhận chúng ta là dân có lòng sốt sắng về các việc lành. Chúng ta là dân được nhận biết bởi đặc tính (để ca ngợi sự vinh hiển Ngài) và bởi những gì chúng ta làm (điều lành theo tiêu chuẩn Ngài).
Sứ đồ Phaolô sai Tít ra đi với một sứ mạng rất đơn giản: ‘Vậy, hãy đến mỗi thành ở Cơrết và lập Hội Thánh tại đó, từ bông trái của các vòng Truyền giáo. Phong chức các trưởng lão tại mỗi nơi và sắp đặt mọi việc chưa thu xếp. Và Tít, hãy luôn nhớ rằng lúc sắp đặt công việc thực tế trong các Hội Thánh nầy là con đang giúp Đấng Christ tinh lọc cho chính Ngài một dân thuộc riêng về Ngài tại những nơi nầy.
Thật phấn khởi, khi có thể đồng hoá với chính dân sự của Đức Chúa Trời trong mỗi thành tại Cơrết. Cũng thật hứng thú khi nghĩ rằng bạn có thể đồng hoá với chính dân sự của Đức Chúa Trời ngay trong thành hay làng hiện nay của mình. Vòng quanh trái đất, dầu ở bất cứ đâu, chúng ta đều có thể đồng hoá với chính dân sự của Đức Chúa Trời. Đó là điều chúng ta được kêu gọi để làm. Hội Thánh không chỉ gồm nhiều cá thể, mà còn là cộng đồng của những con người đan chặt với nhau như thân thể của Đấng Christ, như dân được kêu gọi của Đức Chúa Trời, dân thuộc riêng về Ngài.
Bạn có hiểu ý nghĩa việc được đồng hoá với Đấng Christ và với Hội Thánh? Nếu vậy, bạn có sẵn sàng công khai phó mình cho dân sự của Ngài không? Hoặc có muốn cùng với dân sự này cất bỏ mọi gánh nặng, vì sự vinh hiển Ngài, làm điều tốt lành, để có thể được đồng hoá cách rõ ràng tại địa phương mình như một thành viên của dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời không? Hay bạn đang giữ kín kinh nghiệm thuộc linh cho riêng mình? Bạn có đang luẩn quẩn ở vòng ngoài không? Phải chăng bạn đã chọn hướng đi là càng ít dấn thân càng tốt?
Tôi nhớ một lần nọ khi đề cập đến Hội Thánh, có người đã nói với tôi: ‘Stuart, xin anh hiểu cho, chúng tôi không phải là những người tham gia vì chẳng từng tham dự bất cứ điều gì’. Nhưng may mắn thay, họ bắt đầu lắng nghe Kinh Thánh và khám phá rằng khi liên hiệp với Đấng Christ thì mình được kêu gọi để liên hiệp với chính dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời.
Dân của Đức Chúa Trời là như Thể nào?
Khi họ đã sẵn sàng để có thể được nhận diện tại một điạ phương thì câu hỏi hợp lý sẽ là: Các đặc điểm của dân sự nầy là gì? Điều gì giúp nhận ra họ? Phaolô đã tỏ bày qua lời chào thăm chính thức, truyền thống nhưng phổ quát là ‘tôi tớ của Đức Chúa Trời và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus’ vì ba lý do: ‘để đưa các người được chọn của Đức Chúa Trời đến đức tin’; vì ‘sự thông hiểu lẽ thật là sự sanh lòng nhân đức’ và vì ‘trông cậy sự sống đời đời -là sự sống mà Đức Chúa Trời không thể nói dối đã hứa từ muôn đời về trước’.
Làm sao nhận biết dân sự của Đức Chúa Trời? - Trước hết, họ là những người của đức tin; thứ hai họ là những người thông hiểu lẽ thật; thứ ba, họ là những người của sự trông cậy - và mọi điều nầy không chỉ với tính cách cá nhân, nhưng như một tập thể.
Dân của đức tin
Dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời là những người tin cậy Ngài với ý nghĩa họ hiểu việc được xưng công bình bởi đức tin là gì. Mỗi người tin Đức Chúa Trời đều muốn mình luôn hoà hợp với Ngài. Nhiều kẻ tin lại muốn trì hoãn điều này càng trễ càng tốt, vì họ muốn xong việc riêng của mình và có thể chỉ phục hoà với Đức Chúa Trời vào phút cuối. Nhưng chính điều đó đơn giản cho thấy rằng họ biết Ngài quá ít .
Người nghiêm túc muốn mình hoà hợp với Đức Chúa Trời và họ nghĩ có thể thực hiện theo hai cách căn bản. Một là ‘dốc hết sức mình và hy vọng điều tốt nhất’. Nhưng quan niệm nầy gặp nan đề là người ta không đồng ý với định nghĩa điều gì là tốt nhất. Nếu họ cho rằng hoà hợp với Đức Chúa Trời bằng cách dốc hết sức mình và bạn cố kềm họ lại một chút, họ sẽ nói: giữ Mười điều răn, sống theo Bài giảng trên núi và làm theo luật vàng là các mẫu mực của sự ‘dốc hết sức mình’.
Tôi đã để thì giờ trao đổi với những người binh vực phương cách nầy và nhận ra rằng không một ai trong số họ có thể chỉ cho tôi Mười điều răn hay Bài giảng trên núi được chép ở đâu trong Kinh Thánh; không ai trong số họ có thể trích dẫn Luật vàng. Nói cách khác, quá nhiều người cho rằng cách phục hoà với Đức Chúa Trời là dốc hết sức mình lại không thực sự nghiêm túc. Nếu cố dốc hết sức mình để làm điều tốt nhất, mong rằng mình sẽ hoà hợp với Đức Chúa Trời thì có hai trường hợp xảy ra: hoặc bạn sẽ không làm nổi, hay ngay cả khi bạn làm được thì vẫn không bao giờ tốt đủ.
Cách thứ hai họ nghĩ để hoà hợp với Đức Chúa Trời là nhận biết mình không tốt đủ, tức là không đặt căn bản trên nỗ lực cao nhất của mình. Họ công khai thưa với Chúa: ‘Con yếu đuối, bất năng và là kẻ phản loạn, tội đồ. Con chỉ đáng nhận cơn giận công chính của Ngài, nhưng con biết Ngài ban cho điều mà con không xứng đáng, con nài xin và tiếp nhận mọi ân điển với niềm tin và lòng biết ơn’.
Người có đức tin không nói những lời vô nghĩa về việc hoàhợp với Đức Chúa Trời bởi nỗ lực cá nhân. Kẻ tin công bố cách duy nhất để phục hoà với Đức Chúa Trời là nài xin Ngài, vì cớ Đấng Christ, ban cho điều mà họ không xứng đáng và tiếp nhận ân điển đó bởi đức tin. Đây là điều mà Tit Tt 3:7 nói đến sự xưng nghĩa nhờ ân điển bởi đức tin. Dân của Đức Chúa Trời là dân thuộc riêng về Ngài nhận biết rằng mình được xưng công bình bởi đức tin. Vì vậy, hội thánh thường yêu cầu các tín hữu làm chứng lại việc họ đã được cứu nhờ ân điển bởi đức tin. Nếu không thể làm chứng, thì họ chưa từng bắt đầu là dân của đức tin.
Khởi đầu bạn là một tín đồ được xưng nghĩa bởi đức tin, rồi tiếp tục bước đi, sống bởi đức tin. Tiến sĩ Carl Henry đã khẳng định: ‘Phần lớn xã hội Mỹ vấp ngã trước tiêu chí cho rằng sự sống không đến từ Đức Chúa Trời, không hướng về Đức Chúa Trời và không được phong phú hoá bởi Đức Chúa Trời’. Đó là căn bản triết học của xã hội chúng ta ngày nay.
Chúng ta xưng mình là một quốc gia Cơ-đốc-giáo, say sưa nói về các vị sáng lập hay khoa trương về việc tái lập sự cầu nguyện trong trường học... Nhưng chúng ta thường gặp trong xã hội nầy đa số người dân thực sự không tin sự sống đến từ Đức Chúa Trời, đang hướng về Ngài hay có thể được phong phú hoá bởi Ngài; nói cách khác, Đức Chúa Trời hoàn toàn không thích hợp với họ.
Nếu mọi xã hội trên đất đều như vậy, liệu bạn có dễ dàng là người của đức tin và đứng vững giữa vòng họ không? Nếu bạn tin mình ra từ Đức Chúa Trời, đang hướng về Ngài và ứng hầu trước mặt Ngài, nếu bạn tin rằng hằng ngày Đức Chúa Trời có thể can thiệp vào mọi công việc của bạn bởi Thánh Linh, qua Lời Ngài và dùng sự thông công với các tín đồ làm phong phú cuộc đời bạn, thì bạn sẽ nổi bật lên như ngón tay sưng bầm giữa thế hệ vô tín nầy.
Vậy, cộng đồng các kẻ tin là gì? Đó là thân thể hữu hình, hiển nhiên trong hoàn cảnh cụ thể, bao gồm dân sự của đức tin. Bạn có là người của đức tin không? Bạn đã được xưng công bình bởi đức tin chưa? Bạn có thức dậy mỗi sáng, tạ ơn Đức Chúa Trời rằng mình ra từ Ngài, đang đến với Ngài và sống cho Ngài không? Bạn có mở lòng mình ra để Ngài can thiệp, tin cậy ân điển Ngài, nương tựa vào sự hiện diện Ngài và sống bằng sự sống vinh hiển của Ngài không? Đó chính là đức tin. Dân thuộc riêng về Ngài là dân của đức tin.
Dân của sự thông biết
Thứ hai, dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời là dân của sự hiểu biết. Ngài nói họ là dân ‘thông biết lẽ thật là sự sanh lòng nhân đức’. Thông biết lẽ thật nghĩa là trước hết, họ tích lũy các dữ kiện. Họ biết những sự kiện về chính lẽ thật của Đức Chúa Trời hay nói cách khác, họ để thì giờ nghiên cứu thần học.
Một trong những điều khiến tôi quan tâm về hội thánh hiện nay tại Bắc Mỹ là chúng ta hướng về kinh nghiệm hơn là về thần học. Thí dụ, khi xem các sách người ta thường mua, bạn sẽ thấy đa số hướng về kinh nghiệm: Làm sao để cảm thấy tốt hơn? Làm sao để có dáng vẻ đẹp hơn? Làm sao dàn xếp hôn nhân hoặc con cái? Làm sao để trở thành hay cảm thấy, trông thấy hoặc làm tốt hơn?
Rồi hãy xem bao nhiêu người mua sách thần học - về bản tánh của Đức Chúa Trời, của Đấng Christ hay của Đức Thánh Linh, về nhân loại học, lai thế học, hội thánh học. Bạn sẽ nhận thấy phần đông tập thể Cơ-đốc nhân không chịu học hỏi và đa số chuyên nghiên cứu về kinh nghiệm.
Những người để thì giờ tìm hiểu lẽ thật quả ít thay và đây là điều đáng quan tâm. Khi công bố dân sự của Đức Chúa Trời là dân của sự thông hiểu, sứ đồ Phaolô không chỉ nói về những người biết lẽ thật. Ông muốn nói họ thông hiểu và thừa nhận (acknowledging) lẽ thật. Ông dùng từ epignosis, có nghĩa là ‘biết cách xuyên suốt và công nhận điều mình biết’.
Tôi biết Elizabeth là nữ hoàng của vương quốc Anh. Nếu bà đang bước vào phòng, việc tôi biết bà không buộc tôi phải cư xử thích ứng với bà. Tôi vẫn có thể ngồi yên, nhai kẹo và làm lơ. Tôi có thể biết mà vẫn không thừa nhận bà là ai. Nhưng khi công nhận điều mình biết, tôi sẽ phải đứng dậy, im lặng chú ý đến bà và bày tỏ sự tôn trọng. Đây không có nghĩa là đồng ý với các chính sách hay yêu mến nhân cách của bà, nhưng có nghĩa: tôi thừa nhận bà là nữ hoàng. Biết là một việc, còn công nhận điều mình biết lại là việc khác. Epignosis như Phaolô đã nói, là thông hiểu và công nhận lẽ thật mà mình biết. Dân sự của Đức Chúa Trời là dân của sự thông hiểu -họ biết rõ và được chuẩn bị để thừa nhận lẽ thật qua chính đời sống mình. Đó là dân của Đức Chúa Trời, chính dân thuộc riêng về Ngài.
Nhưng hãy chú ý: Phaolô nói rằng thông biết lẽ thật sanh lòng nhân đức. Eusebeia có nghĩa đen là ‘run sợ trước mặt Đức Chúa Trời’, có lòng kính trọng trọn vẹn và sâu sắc đối với Ngài, hoặc theo thuật ngữ xưa là vô cùng kính sợ Chúa. Lòng nhân đức thật sự có nghĩa như vậy. Một phần nan đề là chúng ta trở nên thân mật gần gũi với Đức Chúa Trời, như với người bạn thân. Thật thích thú khi có mối thông công mật thiết với Chúa và điều này đáng quí, nhưng đừng quên sự kiện Ngài cũng là Đấng đáng kính sợ.
Người nhân đức luôn kính sợ khi hiểu rõ sự uy nghi của Đức Chúa Trời. Người nhân đức luôn ra mắt Chúa với một ý thức run rẩy, vì biết rằng trước sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, con người hoàn toàn là một tội nhân. Người nhân đức nhìn xem quyền năng Chúa và nhận biết sâu xa rằng mình hoàn toàn thiếu hụt. Vì vậy với ý thức kính sợ, xấu hổ và biết mình thiếu hụt, người ra mắt Đức Chúa Trời của mình, hạ mình xuống, lòng tràn ngập sự tôn trọng và kính sợ thánh khiết. Đó là những gì xảy ra khi bạn hiểu biết và công nhận lẽ thật. Nhận thức này sanh ra lòng nhân đức.
Dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời là dân của đức tin và thông biết. EsIs 66:2 đã tóm tắt điều này cách tuyệt vời. Đó là Chúa quí trọng người ‘nghèo khó có lòng ăn năn đau đớn, nghe lời Ngài nói mà run’. Dân Ngài được đồng hoá với tập thể những người có lòng ước muốn sâu xa được nhận biết tại nơi mình đang ở như chính là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời: dân của đức tin và thông hiểu.
Dân của sự hy vọng
Phaolô nói tiếp ông là tôi tớ và sứ đồ vì ‘trông cậy sự sống đời đời - là sự sống mà Đức Chúa Trời không thể nói dối đã hứa từ muôn đời về trước’ (Tit Tt 1:2). Ông muốn nói kẻ được liên hiệp với Đức Chúa Trời hằng sống là người có lòng trông cậy. Hy vọng là hoàn toàn tin và liên quan đến sự sống đời đời. Họ tin khi Kinh Thánh công bố những điều nầy được chép ‘hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời’ (IGi1Ga 5:13), Kinh Thánh đã viết ra để chúng ta tin nhận.
Tôi nhớ có lần trao đổi với một người đã nói: ‘Bạn có nghĩ mình có sự sống đời đời không? Có phải bạn đứng đó và nói với tôi rằng mình đang có sự sống đời đời chăng?’
- Đúng vậy, tôi không nghĩ nhưng tôi biết điều đó, tôi đáp.
- ‘Tôi cho rằng bạn tự kiêu’.
- Tôi hiểu điều ông muốn nói, tôi đáp.
- ‘Không có ai, phải, không ai có thể biết mình có sự sống đời đời’, ông tuyên bố
- Bây giờ, đến phiên tôi cho rằng ông tự kiêu, tôi đáp.
- ‘Tại sao vậy?’
- Vì ông tự cho mình hiểu biết hơn Lời của Đức Chúa Trời. Lời Chúa công bố: những điều nầy đã được chép để chúng ta nhận biết mình có sự sống đời đời. Và ông cho rằng mình biết tốt hơn. Vậy, ai kiêu ngạo? Kẻ tin Lời Đức Chúa Trời hay người biết sâu hơn chính lời của Đức Chúa Trời?
Không hề có sự kiêu ngạo khi bạn thật lòng tin cậy Đấng Christ, đến với Ngài với lòng ăn năn khiêm nhường và run sợ trước Lời của Đức Chúa Trời. Biết rõ mình không thể tự cứu, bạn mở rộng đôi tay trống không và lòng tan vỡ trước mặt Đức Chúa Trời, rồi thưa với Ngài: ‘Lạy Đức Chúa Trời, xin tha thứ cho con vì cớ Đấng Christ và ban cho con những gì mà con không xứng đáng’. Đây không phải là kiêu, bèn là hiểu đúng. Nhiều người ra mắt Chúa, biết mình có sự sống đời đời: điều nầy trở thành niềm tin và hy vọng cho họ. Vì sao? - vì chính Đức Chúa Trời, Đấng không thể mà cũng không hề nói dối đã hứa ban sự sống đời đời cho họ.
Norman J.Clayton, tác giả bài thánh ca tuyệt vời: Tôi trông cậy Chúa, đã viết: ‘Ngài chết vì tôi, Ngài sống cho tôi, ban tặng miễn phí cho tôi sự sống đời đời và ánh sáng Ngài’. Điều đó có nghĩa gì đối với tất cả dân của Đức Chúa Trời? Có nghĩa là cuộc sống trần thế được tô điểm bởi ánh sáng rực rỡ của cõi thiên thượng. Cõi đời đời được rót vào từng khoảnh khắc kinh nghiệm của chúng ta. Có nghĩa là ngay cả những điều trần tục nhất cũng được sự vinh hiển của thiên đàng chạm đến.
Tôi muốn nói với bạn một điều rất thú vị. Có những người đầy hy vọng và hiểu biết. Cũng có kẻ đầy đức tin. Khi gặp nhau, họ trở thành hội thánh với một hội chúng; họ thành một thực thể sống động, thực hữu trong cộng đồng xã hội - đó chính là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời.
Tôi khích lệ bạn cùng tham dự. Tôi đã được nhắc nhở như vậy. Bạn thân của tôi là một diễn giả nổi tiếng, đã góp ý sau khi nghe tôi giảng: ‘Stuart ơi, thần học của bạn không liên kết với giáo hội, điều đó khó đấy’. Ông muốn nói mọi điều tôi trình bày liên hệ đến mối tương giao cá nhân với Đức Chúa Trời. ‘Nhưng, thần học cần nhiều hơn thế nữa. Về mối liên hệ với nhau trong hội thánh, cộng đồng của những kẻ tin thì sao?’
Hãy tự hỏi những câu nầy: Tôi có xem hội thánh của Chúa Jêsus Christ là nghiêm túc không? Có hiệp nhất với dân sự của Đức Chúa Trời không? Họ có thể tin cậy tôi không? Họ có biết tôi là ai, có biết niềm tin, sự hiểu biết và hy vọng trong tôi không? Đức tin, hiểu biết và hy vọng của tôi có làm nảy sinh niềm tin, sự hiểu biết và hy vọng nơi người khác không? Rồi niềm tin, sự hiểu biết và hy vọng của anh em có khích lệ đức tin, sự hiểu biết và hy vọng trong tôi không? Tôi có là một phần tử trong số những người được nhận biết chính là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời chăng? Hay tôi chỉ đang đứng một mình, đoan quyết càng ít dấn thân càng tốt vào điều Đức Chúa Trời đã ủy thác - là xây dựng hội thánh Ngài?
Thực hành bài này
1. Xin cho biết 4 lý do Đức Chúa Trời đã chọn một dân tộc để trở thành dân thuộc riêng về Ngài?
2. Vì sao bạn lại nghĩ người đương thời thích thờ phượng cách cá nhân hơn là với tập thể?
3. Ba cách nào để chúng ta với tính cách hội thánh, có thể được nhận biết (đồng hoá) chính là dân sự của Đức Chúa Trời?
4. Đồng hoá với dân của Đức Chúa Trời trong vị trí đặc biệt có nghĩa gì? Bạn bày tỏ sự cam kết với hội thánh của mình ra sao?

Giám Sát Dân Sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 1:6-9
Sự lãnh đạo giống như chất xúc tác cho những gì xảy ra trong một tập thể. Đang khi Hội thánh hoàn thành nhiệm vụ bằng nhiều cách khác nhau và có các điểm nhấn mạnh khác nhau, thì các nghiên cứu rộng rãi bày tỏ rằng khi một hội thánh đầy sức sống, mạnh mẽ, đạt kết quả như Đức Chúa Trời kêu gọi thì hội thánh đó chắc chắn -không có ngoại lệ- đã có sự lãnh đạo đầy sức sống và mạnh mẽ.
Tôi nghĩ rằng nếu nhóm thông công của bạn có sự lãnh đạo yếu thì bạn có một nhóm thông công yếu. Điều này không có nghĩa lãnh đạo là tất cả mọi sự, nhưng lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng trong sự lớn lên, sung mãn và bông trái của nhóm. Các người lãnh đạo mà Tít phải nhận diện, được gọi là Trưởng lão.
Trưởng lão là gì?
Từ vựng ngày nay ít dùng chữ Trưởng lão. Nhưng Kinh Thánh lại thường dùng, nên phải hiểu từ này khi Phaolô nói về nhu cầu cần có Trưởng lão. Từ Trưởng lão trong câu 6 và Giám thị trong câu 7 đều như nhau (bản dịch khác có thể là giám mục hay một từ khác).
Sứ đồ Phaolô dùng hai từ Hylạp khác nhau để thay đổi: presbuteros và episkopos. Hai từ nầy cùng chỉ về một hạng người. Vì vậy, khi nói về trưởng lão, giám thị, giám mục hay bất cứ bản dịch Anh ngữ nào mà bạn đang sử dụng, là đang bàn về hai từ Hylạp: presbuteros và episkopos.
Presbuteros
Từ presbuteros được tìm thấy trong bản 70, là bản dịch Thánh Kinh Cựu Ước từ tiếng Hêbơrơ sang Hylạp. Nếu Kinh Thánh của bạn có chú thích bên lề hay cuối trang: LXX, là ký hiệu của bản 70 theo số La Mã. Presbuteros nghĩa gốc là người già hay người có râu cằm. Các con tôi thường trìu mến gọi tôi là: ông già (Tôi hy vọng là chúng chỉ gọi cách thân thiết thôi). Nhưng presbuteros trong nguyên ngữ nghĩa là ông già hay người có râu. Khi đến phương Đông ngày nay, bạn sẽ thấy những người nam luôn để râu. Nếu râu họ bạc, thì đó là dấu hiệu của sự cao trọng và trưởng thành.
Lần đầu đến Bangladesh, gặp một nhóm trưởng lão người Hồi giáo, tôi không hiểu sao họ lại tiếp đón mình rất nồng hậu. Sau đó tôi được bảo rằng vì tôi có râu! Một giáo sĩ trẻ, người đã dẫn tôi đến đó cho biết: ‘Tôi không được họ tiếp đón như ông, dầu tôi đã làm việc giữa vòng họ nhiều năm’. Và anh tiếp: ‘Tôi không thể chờ cho đến khi có râu và râu thành bạc trắng’. Lần cuối gặp tôi, anh đang bắt đầu để râu, nhưng tôi e rằng nó đen thui và chỉ như bóng tối lúc 5 giờ sáng!
Các trưởng lão trong Kinh Thánh (presbuteros, người già hay người có râu) đã thực hiện các quyết định khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Aicập và lưu lạc qua sa mạc.
Môise là người nhận mọi công trạng, cũng như mọi phiền trách của dân sự. Ông là người chịu trách nhiệm công khai, nhưng nếu đọc kỹ, bạn sẽ thấy có nhiều trưởng lão, các bậc trưởng thượng cùng nhận trách nhiệm lãnh đạo dân sự. Cuối cùng khi dân Y-sơ-ra-ên vào Đất hứa, họ kết thúc cuộc đời du mục và bắt đầu xây dựng các thành phố. Tại các thành phố mới, họ luôn có một nhóm Trưởng lão lãnh đạo thành phố. Họ có trách nhiệm ‘ngồi ở cổng thành’. Điều nầy có vẻ lạ với chúng ta, nhưng có nghĩa là bên cạnh các công việc khác, họ thi hành chức năng như một quan tòa. Các mối bất hòa trong dân sự được mang đến. Họ ngồi ở lối vào chính của thành phố, các trưởng lão có râu, trưởng thành, được dân sự tôn kính, là những người đã xử lý hầu hết các tình trạng khó xử nhất.
Sau này, khi dân Do Thái phát triển, tòa Công luận được thành lập, vài thành viên của tòa án cũng được gọi là Trưởng lão. Sau khi đền thờ của vua Hêrốt bị phá hủy, người Do Thái tản lạc khắp thế giới, trong bất cứ thành phố nào nếu có mười hai người đàn ông Do Thái thì họ được tự do lập Nhà hội. Khi lập nhà hội, phải có người cai quản và chữ Hylạp chỉ người cai quản là presbuteros.
Khi Phaolô là người Do Thái cùng các Cơ đốc nhân Do Thái khác, đến với những người Do Thái đang sống rải rác, giảng Tin Lành và đưa họ về với Đấng Christ, đã thành lập các Hội thánh Cơ đốc. Thật dễ hiểu qua bối cảnh đó rằng họ đã lập tức dùng từ Trưởng Lão để gọi các nhà lãnh đạo. Tôi tin rằng một trong những lý do khiến sứ đồ Phaolô trở lại nhiều vùng của miền Tiểu Á, thành lập các hội thánh, bổ nhiệm các Trưởng lão chỉ đơn giản vì ông đã nhận biết đây là điều quan trọng, sống còn trong kinh nghiệm thuộc linh.
Episkopos
Từ episkopos được người HyLạp dùng bình thường với nhiều cách khác nhau. Thí dụ, trong thần thoại Hylạp một vài thần được gọi là episkopoi. Đây không có nghĩa các vị thần là những giám mục. Episkopos theo nghĩa đen là canh giữ, trông nom hay chăm sóc. Vì vậy khi người ta gọi một vị thần là episkopos, có nghĩa đây là vị thần trông nom, canh giữ, giám sát và quan tâm đặc biệt đến một thành phố, một dân tộc và một xứ sở.
Cũng vậy, người Hylạp có các viên chức có thẩm quyền với danh hiệu episkopos. Thí dụ, khi chinh phục các lãnh thổ hay quốc gia, họ sẽ cử người quản lý đến các thành phố khác nhau. Những người nầy được gọi là episkopos, người quản lý hay giám sát. Khi dân Do Thái trở về từ chốn lưu đày và khôi phục lại Giêrusalem, một số lãnh đạo trong thời gian đặc biệt này và một số người quản lý việc tái lập Giêrusalem được gọi cùng một danh hiệu.
Vì vậy, từ nầy được dùng cách tự nhiên trong các nhóm thông công Cơ đốc mới, vì khi được thành lập, họ cần những người trưởng thành, được tôn trọng, có kinh nghiệm, có khả năng lãnh đạo, đồng thời cũng là những người có thể quản lý, giám sát, chăm sóc và chịu trách nhiệm đối với tập thể.
Vì sao sứ đồ Phaolô khi thì dùng presbuteros, lúc khác lại dùng episkopos? Tôi xin gợi ý hai cách trả lời. Một có thể presbuteros là chữ mô tả đặc tính của các trưởng lão, được biểu lộ qua sự trưởng thành và phẩm cách. Còn episkopos mô tả chức năng của họ hơn là đặc tính.
Một gợi ý khác là người Hêbơrơ có thể vì bản 70, thiên về phía presbuteros, còn những người xuất thân từ Hylạp có thể hiểu rõ ý nghĩa của từ episkopos hơn. Dù sao, khi Tít được giao việc phong chức các trưởng lão trong những vùng nầy, hay đúng hơn là Phaolô, dưới sự hà hơi của Đức Thánh Linh, đã dạy rằng hội thánh cần những người có phẩm cách tốt, trưởng thành, khôn ngoan, họ sẽ nghiêm túc thi hành việc giám sát, hướng dẫn và chăm sóc các nhóm thông công của tín hữu tại đây.
Họ là ai? Đầu tiên, tôi muốn gợi ý một số tiêu chuẩn chung cùng vài phẩm cách đặc biệt.
Các Tiêu chuẩn chung của Trưởng lão
Chú ý trong Tit Tt 1:6-9 so với I Tim 3, Phaolô đã chỉ dạy vài tiêu chuẩn chung: ‘Mỗi người trong vòng các Trưởng lão phải không chỗ trách được’. Đây không có nghĩa là họ phải toàn hảo, vì như vậy phải chăng sẽ thu hẹp sự chọn lựa của chúng ta? ‘Mỗi người trong vòng các Trưởng lão phải không chỗ trách được, là chồng của chỉ một vợ, con cái phải tin Chúa, không được bị cáo là buông tuồng hoặc ngỗ nghịch’. Vì người giám mục là kẻ quản lý nhà của Đức Chúa Trời phải không chỗ trách được. ‘Chẳng nên kiêu ngạo, giận dữ, ghiền rượu, hung tàn, tham lợi; nhưng phải hay tiếp đãi khách, bạn với người hiền, khôn ngoan, công bình, thánh sạch, tiết độ, hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy, hầu cho có thể theo đạo lành mà khuyên dỗ người ta và bác lại kẻ chống trả’.
Các tiêu chuẩn chung nầy không có tính cách đặc biệt; bất cứ ai nói mình noi theo Chúa Jêsus Christ đều được mong đợi có các đức tính này.
Tôi nghe nói trong một khoá học về Quản lý kinh doanh, các thương gia đã hội thảo về tiêu chuẩn của nhà quản lý. Một học viên, lắng nghe mọi tiêu chuẩn được nêu, đã mở Tân ước thư Tít 1 và I Timôthê 3, rồi chỉ cho người hướng dẫn thấy rằng họ đã phải trả một số tiền lớn để nghe từ ông ta điều mà họ có thể nhận cách miễn phí từ Kinh Thánh! Trong lãnh vực quản lý ngày nay, thật thú vị là khi tìm kiếm Lãnh đạo, người ta nêu các tiêu chuẩn căn bản đã ghi trong đoạn Kinh Thánh này. Chúng ta không xem nhẹ các tiêu chuẩn này, nhưng đời sống của Trưởng lão phải bày tỏ các đặc tính của sự trưởng thành thuộc linh, được mong đợi cách hợp lý nơi kẻ thật lòng tin kính Chúa.
Đạo đức chân thật
Trước hết, các Trưởng lão phải ‘không chỗ trách được’. Từ ngữ này mô tả một người có đời sống đạo đức chân thật. Nói cách khác, người đó cam kết theo Chúa, giữ các nguyên tắc đạo đức của Kinh Thánh. Người được nhận biết là vững vàng theo Chúa không chỉ bởi vị trí, nhưng cũng bày tỏ qua nếp sống.
Trong ITi1Tm 3:7 sứ đồ Phaolô nói rõ ‘không chỗ trách’ là được các tín hữu và người ngoại công nhận: ‘Giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho’. Nói cách khác, người thích hợp với việc lãnh đạo Hội thánh phải được cả nhóm thông công lẫn xã hội bên ngoài nhìn nhận là người thực thi quan điểm Kinh Thánh, có nếp sống thuộc linh và đạo đức Cơ đốc. Thật là không tưởng khi có ai đó tự nghĩ mình có thể lãnh đạo hội thánh của Chúa Jesus Christ, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời, mà không có nếp sống như đã nêu.
Thanh khiết trong liên hệ tình dục
Thứ hai, Trưởng lão là ‘chồng của chỉ một vợ’. Người Hylạp có một từ cho cả ‘đàn ông và chồng’. Họ cũng có một từ có thể dịch là ‘vợ hay đàn bà’ø. Chữ ‘chồng’ theo Hylạp, trong Tân Ước được dịch 50 lần là ‘chồng’ và 156 lần là ‘đàn ông’. Cũng vậy, chữ ‘vợ’ được dịch 92 lần là ‘vợ’ và 129 lần là ‘đàn bà’. Vì vậy, tôi thiết nghĩ theo nghĩa đen nên hiểu: Trưởng lão phải là người đàn ông chỉ có một bà vợ (a one-woman man).
Tại đây tuy ngôn từ có lắt léo, nhưng tôi thiết nghĩ Phaolô muốn nói rằng các Trưởng lão phải được nhìn nhận là thanh khiết trong quan hệ tình dục.
Điều này đặc biệt quan trọng trong hội thánh đầu tiên, vì đã có quá nhiều nan đề về tình dục vô đạo đức. Việc phân biệt hội thánh với xã hội băng hoại và đồi trụy, đặc biệt trong lãnh vực tình dục là điều cấp bách. Tôi tin rằng ngày nay, sự nhấn mạnh nầy rất cần thiết. Hội thánh của Chúa Jêsus Christ phải được phân biệt rạch ròi với tình dục vô đạo đức và bất khiết, đang thành thông lệ giữa vòng xã hội chúng ta.
Vì vậy, tôi thiết nghĩ cụm từ ‘Chồng của chỉ một vợ’ có thể dịch là ‘người đàn ông chỉ cómột bà vợ’ (a one-woman man). Tuy nhiên, nếu bạn muốn giữ lại cách dịch cũ là ‘Chồng của chỉ một vợ’ thì bạn phải hỏi, làm sao áp dụng điều nầy?
Có người cho rằng Phaolô nghiêm cấm kẻ đa thê không được lãnh đạo hội thánh Chúa. Nhưng các học giả Cơ đốc không đồng ý, vì nếu đa thê, họ đã không được phép thi hành bất cứ chức vụ nào trong hội thánh đầu tiên.
Người khác thấy lời tuyên bố nầy liên hệ đến ly dị và tái hôn. Vài người, kể luôn giáo phụ Tertullian, đã đi quá xa khi cho rằng điều này chỉ về trường hợp một người chồng khi vợ chết, sẽ không tục huyền để không bị mất chức vụ trưởng lão.
Nếu chỉ hiểu câu này hoàn toàn theo nghĩa bề ngoài, thì các người nam độc thân sẽ không đủ tiêu chuẩn thi hành chức vụ trưởng lão. Như vậy, cả Chúa Jesus và Phaolô đều không thể là Trưởng lão!
Nếp sống trong Gia đình
Phaolô tiếp tục: Trưởng lão phải là ‘người đàn ông mà con cái đều tin Chúa, không được bị cáo là buông tuồng và ngỗ nghịch’. So với I Timôthê 3, Phaolô giải thích vì sao ông tin điều nầy. Rồi ông nêu một luận cứ có sức thuyết phục rúng động: Một người không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị hội thánh của Đức Chúa Trời? Tất nhiên, đây là câu hỏi đúng.
Nhưng còn trường hợp các con của Trưởng lão đã trưởng thành và ra riêng? Họ không còn ở dưới trách nhiệm quản trị và ít chịu ảnh hưởng của ông. Còn về một Trưởng lão đã nuôi dưỡng con cái với uy quyền thuộc linh rõ ràng, được nhìn nhận là chủ gia đình, đã dạy con lớn lên trong sự răn bảo của Chúa và khi còn ở nhà, chúng là các tín hữu trẻ trung tín, nhưng sau khi rời nhà lại trở nên hoang đàng? Phải chăng Trưởng lão đó không đạt tiêu chuẩn? Phải xem xét điều này cách cẩn thận.
Theo tôi, chúng ta phải quyết định người cha có trách nhiệm lo cho con mình trong bao lâu. Cần làm rõ điều này vì một lần nữa, phải có hạn mức tối thiểu không thể gia giảm: Khi bàn về tiêu chuẩn của Trưởng lão là nói về người đang thực thi sự lãnh đạo thuộc linh trong gia đình. Họ đang bày tỏ sự lãnh đạo mà con cái đều thuận phục. Hơn nữa, tôi thiết nghĩ chúng ta đang tìm kiếm lời chứng từ gia đình (nơi rất khó để được chứng tốt), rằng con cái họ đều được chinh phục từ lời chứng của người chủ gia đình.
Không thể bảo đảm rằng con cái chúng ta sẽ tin. Nhưng sẽ là thảm họa, nếu người cha đang cai trị gia đình mà không có ý thức về sự lãnh đạo hoặc không bày tỏ sức lôi cuốn của kinh nghiệm thuộc linh, và cuối cùng gia đình trở nên hỗn độn, thì hiển nhiên người nầy không đủ tiêu chuẩn làm Trưởng lão trong hộäi thánh của Chúa Jêsus Christ. Điều này là nghiêm trọng, nhưng tôi nghĩ tại đây sứ đồ Phaolô đang trình bày điều vô cùng hợp lý. Nếu tôi không thể bày tỏ trong chính gia đình mình sự lãnh đạo, uy quyền và lời chứng Cơ đốc đầy lôi cuốn, nếu tôi không thể ảnh hưởng trên con cái mình thì tất nhiên, sẽ không thể mong rằng tôi có thể lãnh đạo cách có ý nghĩa, thực thi bất cứ uy quyền thuộc linh nào hay có bất kỳ ảnh hưởng mạnh mẽ nào trên hội thánh của Chúa Jêsus Christ.
Nhân cách đúng
Một giám mục được tin cậy trong công việc của Đức Chúa Trời phải có nhân cách phù hợp. Phaolô nói về điều nầy, vì nhiều người có lối sống không kềm chế. Họ là người độc đoán -hung dữ trong quan điểm và thái độ, đôi khi biểu lộ hành động dữ tợn, nhưng thường là có lời nói dữ. Họ thường vướng vào tình thế rắc rối và khuấy động thêm rắc rối. Họ không tuân giữ kỷ luật cả trong việc uống rượu hay quản lý tài chánh riêng.
Nói cách khác, vài người trong chúng ta cần thừa nhận rằng có những cá tánh kỳ lạ chứng tỏ chúng ta không thực sự kiểm soát được đời sống mình. Và nếu không kiểm soát được đời sống mình thì quả là không thích hợp để lãnh đạo hội thánh. Tôi vội vã nói thêm tại đây rằng mỗi chúng ta đều có những cá tính kỳ lạ, lệch lạc, và điều này không có nghĩa Trưởng lão là người không có cá tính khác thường. Tôi tin lời Kinh Thánh ở đây nói đến một người không biết chế ngự cá tánh kỳ lạ, nhân cách sai sót hay không thích hợp nhưng lại buông mình vào tính tình hay dời đổi, cư xử không hợp lý, thiếu tự chủ, người như thế sẽ không thích hợp với chức vụ Trưởng lão vào thời điểm đó.
Phẩm chất thuộc linh
Phaolô nói tiếp về phẩm chất thuộc linh. Theo câu 8, Trưởng lão ‘phải hay tiếp đãi khách’. Từ Hylạp ‘tiếp đãi khách’ có nghĩa đen là ‘yêu khách lạ’. Điều đó có nghĩa là người nhiệt tình, rộng rãi, mở rộng nhà cho mọi người. Đây là điều quan trọng trong hội thánh đầu tiên.
Khi công cuộc truyền giáo bắt đầu trong hội thánh đầu tiên thì không có nhà nghỉ cho các giáo sĩ hoặc họ không có tiền chi trả. Có quán trọ nhưng lại không phù hợp; vì vậy, sự hiếu khách là chìa khóa chính hỗ trợ việc truyền giáo. Nếu người ta không mở cửa tiếp các nhà truyền giảng lưu hành nầy, thì họ khó có thể ra đi. Hơn nữa, có nhiều người trở lại tin Chúa, được báp tem nhưng lại bị đuổi ra khỏi gia đình. Họ phải đi nơi khác để sống. Vì vậy, sự tiêáp khách không chỉ riêng cho giáo sĩ, nhưng cũng vô cùng cần thiết để chăm sóc và nuôi dưỡng các tân tín hữu.
Ngày nay, việc hiếu khách là quan trọng, tuy chưa ở mức độ như đã nêu. Người thực thi chức vụ Trưởng lão trong hội thánh của Chúa Jesus Christ phải mở rộng vòng tay, tấm lòng và căn nhà mình, vì ‘yêu mến điều lành’. Cụm từ này chỉ có một chữ trong tiếng Hylạp, có nghĩa là người yêu các điều tốt hay các người tốt. Nói cách khác, người thật lòng quan tâm đến điều tốt và những ai đang muốn trở nên tốt trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu có điều tốt xảy ra, người muốn được dự phần. Nếu có ai tốt ở gần, người muốn hoà đồng với. Nếu điều tốt đang được thực thi, người sẵn lòng tham dự.
Rồi Phaolô nói tiếp: Trưởng lão cũng phải ‘khôn ngoan, công bình, thánh sạch và tiết độ’. Nói cách khác, người phải bày tỏ phẩm cách thuộc linh trong các lãnh vực nầy.
Đạo thật
Theo câu 9, Trưởng lão ‘phải hằng giữ đạo thật, y như đã nghe dạy’. Người sắp đi giám sát, trông nom, chăm sóc hội thánh của Đức Chúa Trời phải là người lâu năm, quan tâm sâu sắc để thực sự nắm bắt lẽ thật của Phúc âm. Nói cách khác, người phải nắm vững thần học và kết ước sâu xa với Lẽ thật. Nhờ vậy, người mới có thể đứng vững giữa mớ hỗn độn về thuộc linh và tín lý.
Vào thời hội thánh đầu tiên, khi thuộc linh và giáo lý bị xao động nhiều, tất nhiên thật cần có người lãnh đạo vượt trên mọi xao động, nương tựa vững vàng trên lẽ thật. Tôi muốn nhắc bạn rằng ngày nay chúng ta đang ở trong tình huống đó. Mỗi hội thánh đều mong đợi cách hợp lý rằng sự lãnh đạo được xây nền trên Lẽ thật, nhờ đó, đang khi sự xáo trộn hoành hành xung quanh, đủ loại ý tưởng điên rồ khác nhau đang được truyền bá, dân sự có thể nhìn xem người lãnh đạo và thấy họ vững vàng trong chính lẽ thật.
Hiểu biết Lời Chúa
Cuối cùng, Trưởng lão phải có khả năng ‘khuyên dỗ người ta và bác lại kẻ chống trả’. Lời của Đức Chúa Trời phải đâm rễ sâu xa trong chính lòng người, đồng thời, cũng nắm vững Lẽ thật để kịp thời dùng Lời Chúa mỗi khi người khác cần được khích lệ, quở trách hay sửa trị các lỗi lầm. Đó là loại người mà Phaolô muốn nói.

Những phẩm cách đặc biệt

Yêu mến Hội thánh của Đức Chúa Trời
Trong câu 7, sứ đồ Phaolô nói: ‘Người giám mục là kẻ quản lý nhà Đức Chúa Trời’. Giámmục hay quản gia, là người quản lý công việc của chủ. Tôi tin rằng một trong những điều quan trọng cần có nơi người lãnh đạo là ý thức lớn lao về đăïc ân. Trưởng lão nên luôn hỏi: ‘Lạy Chúa, con là ai mà Ngài lập lên làm kẻ coi sóc chính dân thuộc riêng về Ngài?’
Vài lãnh đạo trong hội thánh Cơ đốc thường luôn càu nhàu và than phiền về công tác này. Họ không có chỗ đứng tại đây. Được cất nhắc làm lãnh đạo, nhận trách nhiệm quản lý chính dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời là một đặc ân vô giá. Nếu không thấy như vậy, thì đừng nên nhận trách nhiệm lãnh đạo.
Yêu mến Lời của Đức Chúa Trời
Tiếp theo, nếu người không yêu mến và học hỏi Lời của Đức Chúa Trời, thì chính người sẽ không đâm rễ sâu và tất nhiên không thể truyền Lời Chúa cho người khác.
Tôi nhớ một lần khi đến giảng tại một hội thánh nọ, tôi được mời ra trước mặt các chấp sự (không phải các Trưởng lão của hội thánh). Họ luân phiên quở cách tôi hướng dẫn thờ phượng buổi sáng hôm đó. Họ khó chịu vì tôi đã không mời gọi vào cuối buổi thờ phượng. Tôi cho biết sẽ vui thích trò chuyện và mời họ mở Kinh Thánh để cùng học hỏi về các sự mời gọi.
Tôi không mất nhiều thì giờ để học về các sự mời gọi, vì không ai trong số họ có Kinh Thánh. Vậy, tôi nói tiếp: ‘Chúng ta đã giải quyết xong vấn đề trên. Bây giờ, xin cùng học Kinh Thánh về các chấp sự. Vị nào có thể cho tôi biết chấp sự được đề cập ở đâu trong Kinh Thánh?’ Không một ai trong số họ tìm được một dẫn chứng nào. Họ là các thương gia, theo chủ nghĩa truyền thống; có các định kiến riêng, nhưng hoàn toàn mù tịt về Kinh Thánh.
Những người như thế không thể ở vị trí lãnh đạo. Tôi tin rằng Trưởng lão phải là một quản gia yêu mến hội thánh của Đức Chúa Trời, một học trò yêu mến Lời Ngài và một người chăn yêu mến dân sự của Đức Chúa Trời.
Yêu mến dân sự của Đức Chúa Trời
Chúng ta đã thấy ý tưởng về sự giám sát và chăm sóc là phần chính của chức vụ Trưởng lão, và cụm từ đăïc biệt ‘chăn bầy’ được dùng vài lần trong Kinh Thánh liên quan đến sự lãnh đạo. Trong Cong Cv 20:28, Phaolô nói với các Trưởng lão tại Êphêsô, gọi họ là những người chăn bầy của Đức Chúa Trời. Và bạn nhớ Chúa Jêsus đã răn dạy Phierơ (về sau cũng xưng mình là Trưởng lão): ‘hãy chăn chiên ta…chăn những chiên con ta…chăn chiên củata’.Vậy, Trưởng lão phải là người yêu mến dân sự của Đức Chúa Trời, phó mình để chăn dắt họ; là người yêu mến Lời Chúa, dâng mình để học hỏi Lời Ngài; là người yêu mến Hội Thánh của Đức Chúa Trời và phó chính mình để lãnh đạo, quản lý và chân thành dẫn dắt Hội thánh.
Chọn lựa các Trưởng lão
Trước nhất, xin chú ý Trưởng lão do các sứ đồ chỉ định. Chúa Jesus lập các sứ đồ và họ trở thành nền tảng của hội thánh. Nhưng rồi hội thánh qua khỏi thời đại các sứ đồ, vì họ cũng sớm qua đời. Vậy, đến lúc các Trưỡng lão sẽ lãnh đạo kế tục. Các Trưởng lão đầu tiên do các sứ đồ chỉ định. Trong sách Công vụ, chúng ta thấy Phaolô và Banaba đã đi thăm lại các hội thánh và bổ nhiệm các Trưởng lão. Nhưng trong thư Tít, bạn sẽ thấy một sự khác biệt nhỏ. Tại đây, vị đại diện các sứ đồ đã bổ nhiệm Trưởng lão. Theo Kinh Thánh, cách duy nhất để bổ nhiệm một Trưởng lão là chỉ định: trước là do các sứ đồ, rồi sau do đại diện các sứ đồ.
Tiếp theo, cần lưu ý các Trưởng lão thi hành chức vụ trong hội thánh địa phương ở số nhiều. Vài giai đoạn của lịch sử Hội thánh đã phát triển điều mà các nhà thần học gọi là chế độ giám mục có tính cách quân chủ. Tức là họ có một Giám mục hay Tổng giám mục. Hệ thống nầy đã phát triển trong lịch sử Hội thánh đầu tiên sau thời đại các sứ đồ, nhưng tôi tin nó không có nền tảng Kinh Thánh. Các Trưởng lão trong Kinh Thánh ở số nhiều.
Thứ ba, cần chú ý: Kinh Thánh không qui định cụ thể tiến trình chỉ định các Trưởng lão. Và thứ tư, không đề cập nhiệm kỳ của Trưởng lão. Nhưng, chúng ta cần in trí điều này: Phaolô nói với những người Êphêsô rằng chính Đức Thánh Linh đã lập họ làm Trưởng lão (Cong Cv 20:28).
Vậy, khi hội thánh quyết định bổ nhiệm các Trưởng lão, họ phải tuyệt đối chắc chắn rằng đó là những người được Đức Thánh Linh kêu gọi vào thánh chức nầy.

Các nhiệm vụ của Trưởng lão
Hội thánh phải được nuôi dưỡng tốt
Đầu tiên, các Trưởng lão phải hết sức chú ý về sự tinh sạch trong tín lý đang khi dạy dỗ và chăm sóc hội thánh. Họ cũng phải bảo đảm sự phong phú trong dạy dỗ và tư vấn cho sự thông công.
Hội thánh phải được hướng dẫn tốt
Thứ hai, các Trưởng lão phải có định hướng rõ ràng cho Hội Thánh. Vì chính họ là người lãnh đạo và Phierơ dạy rằng họ phải hướng dẫn chủ yếu bằng gương mẫu. Họ phải có sự suy nghĩ trong sáng. Qua khải tượng và sự quan tâm, họ phải suy nghĩ tường tận, phát triển ý thức định hướng và qua chính cách sống của mình mà khích lệ dân sự theo định hướng đó.
Để hội thánh được dẫn dắt tốt, người lãnh đạo phải khuyến khích thái độ ‘noi theo’. Điều quyết định bạn có là người lãnh đạo hay không tùy thuộc việc mọi người có theo bạn hay không. Vì vậy, các Trưởng lão phải làm nảy sinh qua sự thông công, thái độ noi theo. Nếu không, họ không lãnh đạo được. Điều đóù có nghĩa là họ phải có mối quan hệ tốt nhất với những kẻ được họ chăm sóc.
Cách bạn phát huy và duy trì sự noi theo này cần được xem xét cẩn thận. Nếu có sự xói mòn về uy tín giữa thông công và lãnh đạo thì bạn nên dừng lại, vì không thể để sa vào những chống đối và tranh cãi liên tục. Không chỉ cần có ý thức sâu rộng về tính nghiêm túc và đặc quyền đối với các Trưởng lão -mà trong sự thông công còn cần có thái độ sẵn sàng nhìn nhận sự lãnh đạo và noi theo định hướng của họ.
Trong ITe1Tx 5:12-13, Phaolô đã nói: ‘Hỡi anh em, xin hãy kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em. Hãy lấy lòng rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm’. Thư HeDt 13:17 thúc đẩy chúng ta: ‘Hãy vâng phục kẻ dẫn dắt anh em và chiụ phục những người ấy, vì họ tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình -hầu cho họ lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì điều ấy chẳng ích lợi gì cho anh em’.
Hội thánh phải được nuôi dưỡng tốt
Cuối cùng, phải bảo vệ hội thánh khỏi mọi ảnh hưởng của tà giáo và sự phân hủy đạo đức.
Điều đó có nghĩa là phải thi hành kỷ luật. Trong Hiến chương của hội thánh chúng tôi, các điều khoản được áp dụng và có hiệu lực, một số thành viên sẽ bị loại khỏi tập thể nếu quan điểm giáo lý của họ không hợp với lập trường của hội thánh hay lối sống của họ không đúng như đáng phải tuân giữ.
Người được giao trách nhiệm hướng dẫn, giám sát và chăm sóc hội thánh phải có khả năng phát hiện tà giáo từ xa. Họ không thể làm ngơ nhưngï phải đối diện, xử lý, đồng thời cầu thay. Họ nhận biết cần chăm sóc cả hội thánh cũng như từng cá nhân. Khi hội thánh bị cuốn vào bùn nhơ bởi tư cách vô đạo đức của một số tín hữu nào đó, thì các Trưởng lão phải xử lý việc đó.
Một trong các nhu cầu lớn nhất của Hội thánh đương thời là người lãnh đạo phải sẵn sàng cưu mang gánh nặng, chân thành yêu mến Hội thánh, hết lòng phục vụ Chúa và luôn khích lệ mọi người. Quả thật, Hội thánh nào có những người lãnh đạo như thế là Hội thánh được phước.
Thực hành bài này
1. Xin liệt kê sáu tiêu chuẩn chung của Trưởng lão trong hội thánh. Điều nào trong số này có thể xem là sự kỳ vọng hợp lý cho người xưng mình noi theo Chúa Jêsus?
2. Ngày nay, khi chọn các Trưởng lão chúng ta thường tìm kiếm theo các tiêu chuẩn nào? Xin so sánh các điều đó với ba phẩm cách cụ thể đã nêu trong chương nầy?
3. Làm sao có thể nhận biết Hội thánh được hướng dẫn tốt hay không?
4. Nếu là lãnh đạo Hội thánh, bạn tự lượng giá ra sao theo các tiêu chuẩn ghi trên? Nếu là người noi theo, bạn có thể giúp những gì để lãnh đạo hoàn tất trách nhiệm của họ?


Bảo vệ dân sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 1:9-16
Sứ đồ Phaolô đã bảo Tít, một trong số cộng tác viên trẻ của mình ở lại Cơrết. Những ai đến với Đấng Christ được khích lệ thành lập cộng đồng các tín nhân là hội thánh. Nhiệm vụ chính của Tit là xếp đặt trật tự cho các hội thánh mới nầy, bao gồm việc bổ nhiệm các Trưởng lão để giám sát và chăm sóc phúc lợi của hội thánh.
Tuy nhiên, có một điều sâu xa và vĩ đại hơn đã diễn ra trong lúc Tít đang cố sức liên kết từng chi tiết của các nhóm thông công này: chính Đức Chúa Trời ở tại Cơrết vào thời điểm đó, để tinh lọc cho chính Chúa một dân thuộc riêng về Ngài, sốt sắng làm điều lành.
Chủ đích của Tít về mặt con người, là các Trưởng lão này có trách nhiệm ổn định sinh hoạt và công việc của hội thánh địa phương. Nhưng mặt khác, lúc họ thực thi các điều trên, Đức Chúa Trời cộng tác để sản sanh trong hội thánh những người được nhận biết rõ ràng, được phân biệt hoàn toàn để trở thành một dân rất đặc biệt, dân duy nhất thuộc riêng về Đức Chúa Trời tại khu vực đó.
Vì vậy, mỗi khi nói về hội thánh, chúng ta có thể nói về cơ cấu tổ chức, thể chế, quyền hạn, hiến chương hay những điều cần thiết khác, nhưng phải luôn nhớ rằng mục tiêu cuối cùng của mọi điều nầy vẫn là tinh lọc cho chính Đức Chúa Trời một dân thuộc riêng về Ngài. Ghi khắc điều này, tôi muốn nói với bạn: bảo vệ dân sự Chúa là điều quan trọng.
Thư Phaolô viết cho Tít vào thời điểm đặc biệt nầy, dùng ngôn ngữ khá cứng rắn. Ông trích dẫn lời nói của một người Cơrết phê phán cư dân trên đảo, rồi cho rằng thi sĩ đó đã nhận định đúng! Dĩ nhiên Phaolô quan tâm đến mọi hội thánh non trẻ mới thành lập tại nhiều khu vực khác nhau ở Trung Đông và cư dân tại Cơrết đang trăn trở với nhiều chống đối. Có nhiều sự khó khăn, không chỉ chống cá nhân các tín đồ mà cũng chống sự thành lập các hội thánh mới. Các Cơ-đốc nhân mới này thấy khó hiệp lại với nhau và khó nhận biết mình chính là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời.
Sứ đồ Phaolô nói một trong các trách nhiệm lớn lao giữa nhiều việc khác, của lãnh đạo các hội thánh nầy là bảo vệ dân sự của Đức Chúa Trời và mối thông công giữa các tín hữu để họ thực sự là dân thuộc riêng về Ngài.
Đạo lành của các Sứ đồ
Theo câu 9, Phaolô cho biết nhiệm vụ của các Trưởng lão giữa nhiều điều khác, là ‘khuyên dỗngười ta và bác lại kẻ chống trả’. Phaolô nói lãnh đạo của hội thánh phải có cam kết sâu xa với đạo lành, khiến đạo luôn sẵn sàng và dư dật cho dân sự vì hai lý do: 1/ để nuôi dưỡng và khích lệ người tin; 2/ để bác bỏ kẻ chống đối.
Rồi ông tiếp tục giãi bày việc bác bỏ những người chống cá nhân tín hữu và chống việc thành lập hội thánh địa phương. Phaolô vẫn nhấn mạnh đạo lành. Bạn sẽ thấy thành ngữ nầy được lặp lại thường xuyên trong các thư tín mục vụ- hai thư Timôthê và thư Tít.
Đạo lành được bày tỏ
Phaolô khẳng định đạo lành được ủy thác cho ông và các sứ đồ khác không đến từ con người. Ông nói rõ trong GaGl 1:11-12: ‘Hỡi anh em, tôi nói cho anh em rằng, Tin Lành mà tôi đãtruyền, chẳng phải đến từ loài người đâu; vì tôi không nhận và không học Tin Lành đó với một người nào, nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Jêsus Christ’.
Hội thánh của Chúa Jêsus cần được nhắc nhở luôn rằng nếp sống của họ xây nền trên đạo lành, phúc âm của Chúa Jêsus Christ chúng ta không ra từ con người, nhưng do Đức Chúa Trời bày tỏ.
Phúc âm do Đức Chúa Trời mặc khải. Điều này phân biệt hội thánh với toàn bộ xã hội còn lại và là sự khác biệt căn bản giữa Cơ- đốc nhân với người ngoại. Xã hội hoạt động trên căn bản sự tích lũy của con người, không phải theo sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Cơ-đốc nhân được uốn theo đạo lành, hợp với mặc khải thiên thượng. Người ngoại không hề nhận biết điều nầy. Họ làm điều cảm thấy nên làm, hay điều xã hội cho phép. Vậy, một trong các điểm phân biệt cơ bản dành cho cá nhân tín hữu và hội thánh là mối quan tâm đến việc tuân thủ đạo lành, vì đạo đến từ Đức Chúa Trời.
Đạo lành được chuyển tiếp
Phaolô công bố tiếp: đạo lành không chỉ do Đức Chúa Trời mặc khải, nhưng cần được kẻ đã tin nhận chuyển tiếp. Ông không tự mình nói điều đó nhưng chỉ truyền lại điều đã nhận từ trước - và đây là một trong số thành ngữ thường dùng: ‘Vả, trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điềumà chính tôi đã nhận lãnh’ ( ICo1Cr 15:3). Ông cũng mở đầu lời dạy về Tiệc thánh y như vậy ở ICo1Cr 11:23.
Đạo lành được tiếp nhận
Mở đầu ICo1Cr 15:1, Phaolô tuyên bố: ‘Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin Lành mà tôi đãrao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không, dầu anh em có tin cũng vô ích’. Bạn có thấy hình ảnh này không? Đạo lành được mặc khải, đạo lành được chuyển giao, đạo lành được tiếp nhận. Người nghe đã tiếp nhận đạo lành; họ tin và, ở đây sứ đồ Phaolô nhấn mạnh cách sống động: họ đứng vững trong đạo ấy.
Nền tảng căn bản của nếp sống Cơ-đốc cá nhân là gì? và của cộng đồng Cơ đốc trong hội thánh là gì? - Đó chính là Đạo lành.
Đạo lành được phản ánh (reflected)
Hãy xem từ ‘lành’ mà Phaolô sử dụng trong Tit Tt 1:9. Theo tiếng Hylạp, từ tương tự trong Anh ngữ là vệ sinh hay sạch sẽ. Theo nghĩa đen là ‘lành, lành mạnh hay tốt lành’. Thật ra, vào thời của sứ đồ Phaolô, đôi khi từ này được dùng như lời chào ở Trung Đông.
Thật thú vị khi học được điều nầy vì nhiều năm trước tại Anh quốc, chúng tôi có hai sinh viên người Mỹ theo học Trường Kinh Thánh của chúng tôi. Họ đã đính hôn và thường niềm nở chào nhau mỗi sáng, khiến các bạn khác vui lây. Anh tên là Gene (khá lạ đối với người Anh vì đây là tên dành cho phụ nữ), cô là Ena. Họ thường chào nhau: Chào, Gene (Hi,Gene) - Chào, Ena (Hi, Ena). Lúc đó chúng tôi không thể hiểu vì sao hai từ vệ sinh (hygiene) và linh cẩu (hyenas) lại liên hệ với nhau. Rồi, tôi khám phá ra lời chào có ý nghĩa của họ. Hygiene, cũng là từ Hylạp, là lời chào.
Tuy nhiên tại đây, khi Phaolô nói đạo lành là chìa khoá, có nghĩa là: Đạo lành đã được mặc khải, chuyển giao và tiếp nhận thì cũng cần được phản ánh, vì đạo là tốt lành và luôn đem lại điều lành hay sức khoẻ thuộc linh. Vậy, khi muốn tìm một Cơ-đốc nhân khỏe mạnh, hãy tìm một người gắn bó với Đạo lành. Muốn tìm một hội thánh khỏe mạnh, hãy tìm một cộng đồng xây nền trên đạo lành. Cả sự dạy lành và đạo lành sanh ra nếp sống lành mạnh. Khi đạo lành được truyền đến mỗi người và xâm nhập vào cộng đồng, tất sẽ làm nảy sinh sức sống, sự lành mạnh và sức khoẻ thuộc linh.
Vì sao có lúc Cơ-đốc nhân dường như thiếu sinh lực? Lời đáp khá đơn giản vì họ thiếu sự dạy dỗ lành mạnh. Vì sao vài hội thánh dường như đang khô héo đi? Thường vì họ không chú ý đủ đến sự dạy dỗ lành mạnh, đem lại điều lành và khuyến khích sự lành mạnh (health-promoting) .
Vì vậy, sứ đồ Phaolô khẳng định trách nhiệm của Tít và các Trưởng lão được bổ nhiệm là bảo vệ việc truyền bá sự dạy dỗ lành mạnh, đem lại điều tốt lành. Muốn có các thánh đồ lành mạnh, cần có đạo lành. Muốn có một hội thánh lành mạnh, bạn cần có đạo lành.
Tại điểm nối kết này, có lẽ nên chú ý đến một thành ngữ thông dụng khác của Phaolô: ‘Lờinày là chắc chắn lắm’. Xem xét nhiều đoạn có câu này có thể đem lại nhiều lợi ích khi hiểu điều Phaolô gọi là đạo lành.
Sự dạy dỗ sai lạc của ‘Các kẻ chống đối’
Phaolô bảo rằng có rất nhiều lời dạy giả mạo hoàn toàn trái với đạo lành và sự dạy dỗ của các sứ đồ, đến từ những kẻ đối lập, hay theo nghĩa đen: kẻ chống đối. Chống đối là nói ngượclại và từ Hylạp dùng ở đây rất tương đồng. Nói cách khác, giữa vòng và xung quanh cộng đồng tín hữu có những kẻ hoàn toàn nói ngược với đạo lành. Họ là những kẻ đối lập, chống đối, nói ngược lại. Họ tạo ra điều hoàn toàn giả mạo.
Phaolô đã nói với Tít về điều đó: ‘Trách nhiệm của con và của các Trưởng lão sắp được bổ nhiệm, là phải xử lý đúng mức các giáo sư giả nầy và chỉ rõ các sự dạy dỗ lầm lạc của họ’.
Sự tranh chấp của các Giáo sư giả
Phản ứng của các giáo sư giả chống lại phúc âm mà sứ đồ Phaolô và Tít đã truyền dạy tại Cơrết là hoàn toàn bác bỏ. Họ được mô tả ở cuối câu 14 như ‘Những kẻ từ chối lẽ thật’.
Bây giờ, hãy đối diện điều nầy. Mỗi khi bạn trình bày phúc âm cho một người, người đó có tự do để tiếp nhận hay khước từ điều bạn nói. Chúng ta không cần lo về phản ứng của người nghe, nhưng có trách nhiệm dạy cách đúng đắn, cung ứng đạo lành để tùy họ có thể đáp ứng hay chối từ.
Cần nhớ rằng khi truyền bá lẽ thật do Chúa mặc khải cho các sứ đồ, rồi từ họ truyền đến hội thánh, luôn có những người chối từ. Luôn có những kẻ không muốn làm theo đường lối của Đức Chúa Trời, nhưng thật kỳ lạ là họ lại không hề muốn tách rời khỏi cộng đồng dân Chúa.Thật ra bạn sẽ thường thấy những kẻ chống cự Lời Chúa, lại muốn rút tỉa các lợi ích lớn lao từ dân Chúa. Rõ ràng họ sống trong sự khước từ lẽ thật, nhưng vẫn khăng khăng mình có đủ quyền làm con dân Ngài, y như những người vâng phục lẽ thật. Dầu loại người này được hoàn toàn tự do để thuận phục hay khước từ lẽ thật đã rao truyền, nhưng họ không có quyền tự do tiếp tục truyền bá sự khước từ đó giữa cộng đồng các tín hữu.
Phaolô không chỉ mô tả sơ lược phản ứng của họ, mà thật ra còn công bố toàn bộ các hoạt động của họ là phản loạn. Họ phản ứng bằng cách khước từ và sinh hoạt theo cách nổi loạn. Câu 10 gọi họ là ‘những kẻ chẳng chịu vâng phục, hay nói hư không và phỉnh dỗ’ mọi người. Ông cho biết bạn sẽ thấy giữa vòng cộng đồng Cơ-đốc, có những kẻ từ chối lẽ thật nhưng vẫn cố bám xung quanh dân Chúa với các lý do mà chỉ có họ mới biết. Họ nổi loạn trong lối sống, khước từ lẽ thật đã uỷ thác, nói huyên thuyên và luôn gieo rắc điều mình tin. Kết cuộc sau cùng là họ lừa dối mọi hạng người và dẫn tất cả vào con đường lầm lạc.
Phaolô bảo Tít: ‘Hãy canh chừng, đừng để họ đi khắp nơi gieo rắc các ý tưởng mình; đừng cho phép họ đi lòng vòng đầu độc chính dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời. Hãy nhận rõ chân tướng họ. Họ là những người từ chối lẽ thật và nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời’
Phaolô cũng công bố vài điều rất mạnh về động cơ của họ: đàng sau mọi sinh hoạt của họ là ‘mối lợi nhơ bẩn’. Sự quan tâm đến tài chính nằm bên dưới tất cả những gì họ đang làm.
Hãy mở rộäng điều này và thấy rằng chẳng có gì là bất thường khi gặp những kẻ từ chối lẽ thật và có lối sống nổi loạn, lại là người đòi hỏi và quyết phải có một chỗ đứng trong tập thể tín đồ. Họ tiếp tục truyền bá sự nổi loạn, khẳng định sự từ chối của mình, làm rối loạn và lừa dối mọi hạng người, vì đang rút tỉa lợi nhuận cho chính họ. Không nhất thiết là mối lợi kinh tế, nhưng có thể chỉ vì muốn kẻ khác nghe theo mình. Có thể họ muốn được chú ý và Cơ-đốc nhân là những người duy nhất nghe theo họ. Có thể đây là cơ hội duy nhất để nắm lấy quần chúng và tranh thủ bất kỳ mối quan tâm nào cho chính họ. Phaolô bảo Tít: ‘Vậy, hãy quởnặng họ’ (c.13;). Phải chắc chắn rằng lập trường (position) của họ bị bác bỏ.
Trong xã hội nói chung và trong tập thể Cơ-đốc nói riêng, thường cho rằng khi bẻ bác ai là đang đốn ngã hay loại bỏ họ. Lối suy nghĩ nầy thường được biểu lộ như người ngoại. Nhưng nếu cho phép những kẻ từ chối phúc âm của Đấng Christ tiếp tục đi truyền bá sự từ chối, khoe khoang sự nổi dậy của họ, gây hoang mang và lừa dối dân Chúa, thì bạn đang hành động không phải như một Cơ-đốc nhân, nếu bạn để họ đi ra với mọi điều đó. Quở nặng những kẻ gieo rắc sự sai lầm là phi Cơ đốc ư: chẳng hề như vậy! Nhưng thật sự là phi Cơ đốc, nếu chỉ đơn giản nhún vai và cho rằng điều đó sẽ qua đi hay không có gì quan trọng, hoặc tệ hơn nữa khi chấp nhận lời tuyên bố của loại Mục sư giả đạo đức: ‘À, mọi người đều có quyền có ý kiến riêng kia mà’.
Không ai được phép rao truyền các quan điểm giả mạo trong tập thể các tín đồ. Người lãnh đạo có trách nhiệm nhận biết điều gì đang được nói ra, do ai và có sự giảng dạy điều dối trá hay không. Trách nhiệm của lãnh đạo là phải quở trách tà giáo. Cách cứng rắn, không khoan nhượng.
Nội dung lời dạy sai lầm
Những người Cơrết đã nói điều gì quá sai đến nỗi Phalô phải quan tâm dường ấy? Chúng ta không biết rõ những câu tuyên bố sai trái nầy, nhưng có rất nhiều manh mối qua hai thư Timôthê và thư Tít khiến chúng ta có thể ước đoán bản chất cụ thể của sự dạy dỗ giả mạo nầy.
Chúng ta biết trên căn bản, sự dạy dỗ giả mạo chịu ảnh hưởng của tư tưởng thế tục. Thí dụ, ITi1Tm 4:3 viết về các giáo sư nầy: ‘Họ cấm cưới gả, bảo kiêng một số thức ăn’. Phaolô đáp: ‘Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy’. Tại đây, chúng ta có sự khác biệt chính giữa Lời của Đức Chúa Trời và điều mà các giáo sư giả dạy.
Lời Chúa dạy rằng Ngài đã ban thức ăn cách phong phú để chúng ta thưởng thức, nhưng các giáo sư nầy nói có những thức bạn không được đụng đến hoặc ăn. Khuynh hướng nầy dẫn đến lối tu khổ hạnh. Giải pháp của họ là: Trên căn bản, có điều sai trật trong vật chất và có điều xấu trong thân thể; vậy, phải nghiêm khắc canh giữ thân thể nầy và cẩn thận xử dụng những gì thuộc về vật chất. Họ cho rằng bạn sẽ trở thành thuộc linh qua việc nghiêm khắc kỷ luật thân thể vật lý và quyết tâm từ bỏ nó, bỏ các ước muốn Chúa ban và các nhu cầu, như vậy là mở đường cho sự giải phóng tâm linh.
ITi1Tm 6:20 cho chúng ta một manh mối khác về vấn đề nầy: ‘Hỡi Tmôthê, hãy giữ lấy sựgiao phó đã nấy cho con, tránh các lời hư không phàm tục và các sự cãi lẽ bằng tri thức, ngụy xưng là tri thức’. Những người nhấn mạnh sự khổ hạnh cũng tuyên bố họ có tri thức đặc biệt. ‘Tri thức’ trong tiếng Hylạp là gnosis. Những kẻ bắt đầu khai triển các ý tưởng nầy sau được gọi là Gnostics (người theo Trí huệ giáo- ngộ đạo).
Những người này có quan điểm sống đối nghịch với điều Kinh Thánh dạy. Họ tin rằng Đức Chúa Trời và những điều thuộc linh hoàn toàn tách biệt với thế giới và những gì là vật chất. Họ tuyên bố: Đức Chúa Trời và những điều thuộc linh chủ yếu là tốt, còn thế giới và vật chất trên căn bản là xấu. Đây là thuyết nhị nguyên. Họ không tin mọi sự đều ra từ một nguồn gốc chung và Đức Chúa Trời là Khởi đầu của mọi vật. Họ tin rằng có hai nguồn: một nguồn tốt và một nguồn xấu.
Họ tin rằng để có khả năng xử lý những điều xấu, bạn phải có khả năng xử lý vật chất. Nhưng họ cũng tin rằng bạn cần có tri thức đặc biệt, kinh nghiệm đặc biệt, nội tâm đặc biệt -sựngộ đạo đặc biệt. Và họ tin mình có điều đó. Hơn nữa nếu không thuộc về nhóm của họ, bạn sẽ không bao giờ ngộ đạo. Vậy, kết quả là gì? Họ chịu khổ vì mặc cảm tự tôn phức tạp. Những người nầy cứng rắn trong niềm tin, tin rằng họ có ‘nội tâm’(in) đặc biệt theo lẽ thật đã được tinh lọc cẩn thận và họ là một loại người siêu đẳng vượt trên mọi người khác. Họ chứng tỏ là cao trọng qua việc hoàn toàn miệt thị các nguyên tắc đạo đức mà hội thánh của Chúa Jêsus Christ đã truyền dạy. Họ cho rằng các nguyên tắc nầy ra từ thế giới (vốn là xấu và nhằm nô lệ hoá chúng ta) hay chỉ đơn thuần là các ý tưởng của con người.
Để tỏ ra mình hoàn toàn miệt thị, người theo Trí huệ giáo từ chối gắn bó với các nguyên tắc đạo đức của Kinh Thánh - có khi vì lý do khổ tu hoặc chỉ vì muốn sống phóng đãng. Họ hành động công khai, lo việc riêng của mình vì cho rằng họ đã ‘ở’ (in) trong lẽ thật.
Những người ngộ đạo nầy có ảnh hưởng mạnh mẽ trên hội thánh. Phaolô viết: ‘Lời nói của họnhư chùm bao ăn lan’. Phải chăng đó là lời tán tụng? ‘Hymênê và Philết thật như thế, họ xây bỏ lẽ thật’ Phaolô tiếp tục nêu điều họ đã dạy: ‘Họ nói rằng sự sống lại đã đến rồi, mà phá đổ đức tin của một vài người cách như vậy’ ( IITi 2Tm 2:17-18).
Nói sự sống lại đã xảy ra rồi là cho rằng chỉ có một sự sống lại duy nhất khi Chúa Jêsus sống lại từ cõi chết. Họ khẳng định việc tin rằng Cơ-đốc nhân sẽ được dự phần trong sự sống lại là hoàn toàn sai lầm. Đối với họ, thật ghê tởm khi nghĩ rằng thân thể mà họ cho là xấu xa này, sẽ được sống lại.
Khi dạy dỗ ý tưởng nầy, họ từ chối niềm hy vọng lớn lao cho tín hữu là một ngày kia chúng ta sẽ sống lại với Đấng Christ và chia sẻ sự vinh hiển đời đời với Ngài. Ảnh hưởng của phái Trí huệ giáo xâm nhập hội thánh chỉ thuần là thế tục. Nó không liên hệ gì với sự mặc khải của Kinh Thánh và thực tế, đã hoàn toàn ra ngoài sự mặc khải đó.
Và rồi những kẻ ngộ đạo đã dành quyền thổi vào hội thánh luồng tư tưởng thế tục, sự dạy dỗ thế tục và làm xáo trộn tính cách của mọi người.
Chúng ta rất dễ bị hoàn toàn thế tục hoá theo cách nghĩ của họ. Rồi họ đưa cách nghĩ này vào cộng đồng cơ đốc, phô bày sự mù lòa hoàn toàn về Kinh Thánh, nhưng lại huyên thuyên về các khái niệm và ý nghĩ, cố sức bóp méo các nguyên tắc thuộc linh của Thánh Kinh. Thế gian không để thì giờ tìm kiếm điều Lời Chúa dạy, nhưng phả lối nghĩ thế tục trên mọi công việc của hội thánh và cố sức uốn hội thánh rập khuôn nền tảng suy nghĩ thế tục. Khi họ làm như thế, Phaolô tuyên bố: ‘Phải quở trách họ cách nặng nề’.
Điều thứ hai có thể chú ý về nội dung sự dạy dỗ giả mạo nầy là nó dùng cách pha trộn hỗntạp (syncretic manipulations). Họ không chỉ đem vào ảnh hưởng của Trí huệ giáo mà còn kèm theo các loại ảnh hưởng của người Do thái và các tư tưởng Cơ-đốc độc đáo, rồi cố tổng hợp cả ba.
Thí dụ, họ thích vài điều mà phái Trí huệ giáo dạy và cũng thật sự thích thú với truyền thống Do Thái, đặc biệt điều mà Phaolô gọi là phù ngôn và gia phổ vô cùng là những điều gâynên sự cãi lẫy ( ITi1Tm 1:4 Tit Tt 3:9). Các tư tưởng nầy hoà hợp với con đường họ đang đi. Họ cũng tìm vài lãnh vực trong sự dạy dỗ Cơ-đốc mà họ cảm thấy thú vị, rồi gom chúng lại với nhau, cố làm cho hoà hợp và dạy điều đó lại cho hội thánh.
Xã hội chúng ta ngày nay cổ xúy mạnh mẽ phong trào thưởng thức và hoàn toàn chấp nhận mọi điều người ta tin và nghĩ. Thường thì đây là thái độ nên có, nhưng rồi kết thúc với việc sự dung nạp tạo ra hỗn loạn toàn diện. Đặc biệt trong tập thể tín hữu, chúng ta cố mang các ý tưởng hoàn toàn trái ngược, nhồi đúc với nhau để ra một giải pháp tuyệt vời.
Tôi xin nêu một dẫn chứng. Bạn còn nhớ TM, thiền xuất hồn (transcendental meditation)? Bạn có nhớ cái mốt nhất thời được nhiều tín hữu thích thú không? Họ biết mình cần phải suy gẫm, vậy họ áp dụng khái niệm Cơ-đốc về sự suy gẫm và trích dẫn những điều như là ‘Chờ đợi Chúa’.
Dầu vậy, các tín hữu không thích điều này, khi được cho thấy rằng thiền xuất hồn chỉ là Ấn giáo cải trang làm bối rối con người. Họ bác bỏ, khước từ và ghét bỏ nó khi họ được dạy bảo; tuy thế nó vẫn đã thật sự xảy ra. Và bạn sẽ thấy, không hề bất thường khi các tín hữu rơi vào trạng thái TM, thiền xuất hồn nầy. Họ nói nó thực sự giúp đời sống thuộc linh của mình lớn lên. Làm sao Ấn giáo có thể giúp Cơ đốc nhân lớn lên được - vì đây là nguyên tắc hoàn toàn trái ngược với lập trường Cơ đốc. Nhưng điều này vẫn tiếp diễn trong hội thánh Cơ đốc - các vận dụng kết hợp cách hỗn tạp .
Vậy, tại Cơrết sự dạy dỗ đã xây nền trên tư tưởng thế tục với các thuyết ô hợp của người Do Thái, Hylạp và các ý tưởng Cơ-đốc độc đáo. Họ đang cố dung hòa, chấp nhận tất cả và kết thúc với mớ tạp nhạp ưa thích. Điều nầy nghe có vẻ tuyệt, nhưng đó lại là lời lăng mạ nguyên tắc căn bản: Lẽ thật do Đức Chúa Trời mặc khải qua các sứ đồ và được bảo tồn cho chúng ta trong Lời Ngài.
Thứ ba, các giáo sư giả nầy quan tâm đến mọi loại suy đoán khác thường. Tit Tt 1:14 nói họ thích nghe các chuyện huyễn (thần thoại) của người Giuđa. ITi1Tm 1:4 thêm: ‘phù ngôn và giaphổ vô cùng’.
Vài giáo sư Do Thái cảm thấy có lỗ hổng trong các thông tin do Kinh Thánh cung ứng. Vậy, họ ngồi lại với cảm hứng và hồn nhiên lấp đầy các lỗ hổng nầy với các chi tiết kỳ dị và nhiều kịch tính nhất. Kết quả là các suy đoán kỳ lạ, không tưởng đã thành hình. Ngày nay không hề là bất thường khi có người đem vào tập thể Cơ-đốc những điều rất ít liên quan đến lẽ thật trong Kinh Thánh; có lẽ chỉ có 1% lẽ thật Kinh Thánh và 99% là các suy đoán viễn vông không tưởng.
Điều như vậy thật dễ xảy ra trên thế giới. Phaolô bảo Tít trông chừng những kẻ nầy, vì nếu không cẩn thận thì sẽ có một hội thánh đầy những con người điên dại, kỳ quặc, suy diễn không tưởng mà cứ cho rằng đó là Cơ-đốc giáo vững vàng, tốt lành.
Rồi Phaolô cũng cho biết sự dạy dỗ của họ bao gồm nhiều cách cư xử xác thịt. Theo Tit Tt 1:16, những người dạy như vậy ‘xưng mình biết Đức Chúa Trời’. Đây có thể liên hệ đến ý tưởng ngộ đạo. ‘Họ xưng mình biết Đức Chúa Trời, nhưng theo các việc làm thì đều từ chối Ngài,thật là đáng ghét, trái nghịch và không thể làm một việc lành nào hết’.
Tại đây, bạn cần lời giải thích như IITi 2Tm 3:1-5: ‘Hãy biết rằng trong các ngày sau rốt, sẽ cónhững thời kỳ khó khăn. Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội bạc, không tin kính, vô tình, khó hòa thuận, hay phao vu, không tiết độ, dữ tợn, thù người lành, lường thầy phản bạn, hay nóng giận, lên mình kiêu ngạo, ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Đức Chúa Trời, bề ngoài giữ điều nhơn đức nhưng chối bỏ quyền phép của nhơn đức đó. Những kẻ thể ấy, con hãy lánh xa đi’. Có bề ngoài nhân đức, hay theo thư Tít: ‘Xưng mình biết Đức Chúa Trời’, nhưng qua những gì họ làm, họ phủ nhận chính lời tuyên xưng nầy.
Hãy xem điều Phaolô nói tiếp - không phải tôi: ‘Trong bọn họ có kẻ lẻn vào các nhà, quyếndụ lòng các người đàn bà mang tội lỗi, bị bao nhiêu tình dục xui khiến; vẫn học luôn mà không hề thông biết lẽ thật’ ( IITi 2Tm 3:6-7). Ông không muốn nói ý chí của các bà đều yếu đuối, bèn là vài người trong số họ; cũng y như phái nam trong lãnh vực này. Các bà có ý chí yếu đuối rất dễ nhạy cảm với các kẻ mang danh thuộc linh, nhưng thực tế lại sa vào mọi lối nhục dục.
Hãy xem xét điều này. Các bà bị tổn thương, cô độc trong cảnh khó, đang cần được cảm thông, rất dễ bị loại người nầy lợi dụng. Thật không hiếm xảy ra, trong chức vụ của những người độc thân chúng ta, khi cá nhân nào lớn tiếng phản kháng về thuộc linh thì rõ ràng chúng ta thấy tất cả những gì họ thích chỉ thuần là khoái lạc nhục thể và vài buổi học Kinh Thánh đã diễn ra trên giường. ‘Hãy quở trách họ cách nặng nề’, Phaolô tuyên bố.
Hãy đi xa hơn một chút. Trong hội thánh ngày nay, chúng ta dễ thấy có người mang kè kè các quyển Kinh Thánh lớn, nhưng song hành với các buổi học Kinh Thánh và các quyển Kinh Thánh lớn là lối sống ham thích khoái lạc và tình dục hoàn toàn vô đạo đức. ‘Hãy quở tráchhọ cách nặng nề!’ Phaolô nói.
Các hậu quả của sự Dạy dỗ giả mạo
Phaolô quan tâm đến sự dạy dỗ giả mạo vì đức tin của kẻ khác bị hủy phá. Theo ITi1Tm 1:19, ông nói ‘đức tin họ bị chìm đắm’, cả gia đình họ cũng sụp đổ. Trong mọi điều nầy, người ta đã sập bẫy ma quỉ, bị nó giam cầm để làm theo ý muốn của nó. Nói cách khác, Hội thánh của Chúa Jêsus Christ phải nhận biết rằng bên cạnh đạo lành và sự dạy dỗ thánh, luôn có vài người tự xem mình là đồng hoá với dân sự của Đức Chúa Trời, nhưng lại truyền bá các quan điểm hoàn toàn trái Kinh Thánh, với sự huyên thuyên không dứt.
Kết quả rõ ràng của điều này là sự dạy dỗ huyên thuyên và lối sống của họ sẽ hủy phá đức tin của vài người, làm chìm đắm đức tin của một số khác, làm tan hoang nhiều gia đình, khiến nhiều người bị ma quỉ cầm tù và sa vào tội lỗi kinh khiếp. Phaolô cảnh báo Tít điều đó: ‘Tốt hơn, con phải chắc chắn có vài lãnh đạo tốt trong các hội thánh nầy, Tít ạ, vì có những sự dạy dỗ kém giá trị tại đây. Cần xử lý loại chuyện vớ vẩn này’.

Nhiệm vụ Quan trọng của Trưởng lão
Xử lý sự chống đối
Nhiệm vụ chính đầu tiên của các Trưởng lão là xử lý các sự chống đối - những kẻ gây tổn hại.
Thứ nhất, hãy quở nặng họ. Mọi người cho bạn là phi Cơ đốc khi chà đạp, loại trừ anh em. Hãy để họ nói. Còn bạn hãy làm điều Kinh Thánh dạy: Quở trách họ cách nặng nề!
Thứ hai, hãy bịt miệng họ lại ngay (Tit Tt 1:10). Ngay khi bạn thấy những gì họ đang làm, phải làm cho họ im lặng tức thì. Tại đây, Phaolô dùng từ theo nghĩa đen là ‘đặt cái rọ vào miệng họ’. Ông nói với lãnh đạo hội thánh khi gặp trường hợp nầy, phải quở trách và cất họ khỏi các vị trí tạo cho họ cơ hội truyền bá những điều chống lại Phúc âm Cơ-đốc.
Nếu điều này là khó nghe, tôi xin tiếp điều thứ ba: Hãy kiên nhẫn dạy họ. Chú ý điều Phaolô nói trong IITi 2Tm 2:25: ‘Dùng cách mềm mại sửa dạy những kẻ chống trả, mong rằng ĐứcChúa Trời ban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật’.
Bạn phải quở trách và chỉ ra điều sai mà họ đang nói. Phải khiến họ im lặng để bảo vệ những kẻ dễ bị ảnh hưởng bởi điều họ nói. Nhưng, như vậy không có nghĩa là bạn hất họ ra ngoài và nói: ‘hãy cút khỏi đây và khá hư mất đi’. Không có cách nào khác. Hãy quở trách, làm cho họ im lặng, rồi dùng mọi cơ hội để kiên nhẫn dạy dỗ, với hy vọng họ có thể đến chỗ hiểu biết lẽ thật.
Xử lý tín hữu
Người lãnh đạo có trách nhiệm bảo vệ các tín hữu khỏi bị tổn hại, khích lệ họ lớn lên và giúp họ phát triển nhận thức.
Năm 17 tuổi, tôi đã khởi đầu sự nghiệp như một chủ ngân hàng và không ai dạy tôi cách nhận diện các tờ bạc giả. Một ngày kia, tôi hỏi một nhân viên thâm niên: Sao không ai chỉ tôi cách phân biệt một tờ bạc giả?
Ông đáp: Ồ, chúng tôi không bao giờ làm thế, mà chỉ đưa cho ông nhiều tờ bạc thật để đếm. Ông sẽ quen đếm các tờ thật đó cho đến khi gặp một tờ giả, ông sẽ nhận ra nó ngay.
Tôi không nghi ngờ điều ích lợi khi người ta học biết sự dạy dỗ giả mạo để nhận diện các giáo sư giả và tín đồ giả, nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta trở nên quen thuộc sâu sắc với lẽ thật. Tôi thường ngạc nhiên với sự nhạy bén khá tốt của các tân tín hữu khi gặp sự dạy dỗ không hoàn chỉnh. Đây không phải vì họ đã học các khóa nâng cao về nhận diện tà giáo, nhưng vì lòng và trí họ đã thích nghi và quen thuộc với lẽ thật trong vẻ đẹp của nó. Càng quen thuộc với điều thật bao nhiêu, họ càng sẵn sàng để nhận ra sự giả tạo bấy nhiêu.
Thực hành bài này
1.Theo chương nầy, dân sự của Đức Chúa Trời cần được bảo vệ chống lại điều chính yếu nào?
2.Những người chống đối đạo lành trong thời của Phaolô và Tít đã bày tỏ sự từ chối, nổi loạn và các động cơ đáng trách. Làm sao nhận diện các kẻ chống đối đạo lành ngày nay?
3.Loại dạy dỗ giả mạo nào đang được truyền bá khắp nơi ngày nay? So với tà giáo thời Phaolô thì sao?
4.Làm sao để tự bảo vệ chính mình, đoàn thể và cá nhân, ở giữa rừng chủ nghĩa thế tục, thuyết đa nguyên và chủ nghĩa khoái lạc nhục dục đang lan tràn trong xã hội ngày nay?

Huấn luyện Dân sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 2:1-10
Sứ đồ Phaolô cùng với Tít, đã truyền giáo tại Cơrết, là nơi mà trước đó người ta hoàn toàn chưa biết lẽ thật. Họ đã rao giảng phúc âm và thăm viếng người Cơrết để đưa họ vào mối liên hệ cá nhân với Chúa Jêsus. Rồi Phaolô để Tít lại đó và tiếp tục ra đi, ông nói: ‘Tốt lắm, Tít ơi, hãy chăn giữ họ từ đây’.
Dĩ nhiên dẫn người ta vào mối thông công cá nhân với Đấng Christ là việc căn bản chủ yếu, là nền tảng mà chúng ta cần làm khi rao giảng phúc âm. Nhưng chúng ta không được chỉ thị để mặc họ tại điểm đó. Chúng ta đang môn đệ hóa các tín hữu trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ. Vậy, Tít đã được ủy nhiệm đến các thành ở Cơrết và cơ cấu các tín hữu, bổ nhiệm các Trưởng lão để giám sát đời sống thuộc linh, chăm sóc và tạo phúc lợi cho họ. Nói cách khác là thành lập các hội thánh.
Hội thánh - một mặt là thân thể phổ quát toàn cầu, vô hình và kỳ diệu, nhưng mặt khác là các tín hữu tại điạ phương, cụ thể và hữu hình - đang chính là dân thực sự thuộc riêng về Đức Chúa Trời. Điều quan trọng là không chỉ mỗi Cơ-đốc nhân biết cách cư xử như người có mối quan hệ cá nhân với Đấng Christ; nhưng cả tập thể Cơ-đốc, như một cộng đồng tín hữu (thân thể), biết cách sống để có thể làm mẫu mực cho thấy cách con người và tập thể sống chung với nhau như thế nào.
Vậy, Phaolô ủy thác cho Tít một nhiệm vụ quan trọng: bổ nhiệm các Trưởng lão, những người có khả năng hướng dẫn, định hướng, giám sát, khuyến khích và rao giảng cho một nhóm người để họ có thể được nhận biết như là dân sự của Đức Chúa Trời tại khu vực đó.
Chúng ta đã học điều nầy trong thư Tit chương 1 và chú ý các sự nhấn mạnh về việc dạy dỗ đúng và đạo lành. Điều này cũng thể hiện trong hai thư Timôthê. Tất nhiên kinh nghiệm thuộc linh được xây nền trên sự giảng dạy lời của Đức Chúa Trời, sự giảng dạy ‘lành mạnh’.
Phaolô nhấn mạnh: cần sự dạy dỗ lành mạnh vì các ý tưởng, triết học và giáo lý không ‘lành mạnh’ đang khuấy động các khu vực của dân ngoại. Vì vậy, ở giữa các nơi nầy, Tít phải khẳng định rằng sự dạy đạo lành - là lẽ thật đến từ Đức Chúa Trời, phải được áp dụng để sanh ra sự sống lành mạnh trong mỗi cá nhân lẫn tập thể.
Cũng phải biết rõ rằng sự dạy dỗ không lành mạnh đang đối đầu với Tít. Vì vậy, dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời phải được một giám mục thích hợp chăm sóc, người sẽ dạy họ mọi điều đúng. Họ phải được bảo vệ khỏi những điều sẽ ngăn trở và làm hư hoại kinh nghiệm của họ.
Trong Tít chương 2, Phaolô cho biết vài chi tiết tương đối cặn kẽ liên quan đến sự huấn luyện dân sự của Đức Chúa Trời. Tại đây, chúng ta thấy ông đã chia hội chúng thành nhiều nhóm nhỏ: các ông lớn tuổi, các bà lớn tuổi; các cậu, các cô; các kẻ thua thiệt như các nô lệ thời đó.
Sự nhấn mạnh, khi chia thành từng nhóm là để huấn luyện hội chúng. Dĩ nhiên đó là trách nhiệm của những người giám sát sự thông công giữa các tín hữu. Họ phải sẵn sàng dạy dỗ.
Tôi thường nói với các bạn trong chức vụ, đặc biệt khi họ ngã lòng: ‘bạn có thể dắt ngựa đến mé nước, nhưng không thể ép nó uống’. Trách nhiệm của các Trưởng lão lãnh đạo hội thánh không phải là khiến người ta uống. Chúng ta không thể khiến họ tham dự các buổi họp, khiến họ lắng nghe hay ăn uống. Chúng ta không làm như thế được. Nhiều người đã rời bỏ chức vụ vì tưởng rằngï trách nhiệm của mình là khiến người ta làm những điều mà hiển nhiên là họ không thích.
Một trong số điều làm nhẹ lòng nhất mà cấp lãnh đạo Hội thánh từng khám phá, đó là họ không phải gánh trách nhiệm khiến người ta học. Trách nhiệm của họ là dắt ngựa tới mé nước, mà không phải ép chúng uống. Nhưng tôi học được một điều, phải bảo đảm ở đó có đủ nước - tức là có sự dạy dỗ đầy đủ và sẵn sàng. Thêm vào đó là nên có nhiều muối trong lúa mạch- Hãy sẵn sàng dạy dỗ, vì khi có chút sự sống hay thích thú, dân sự sẽ muốn dự phần vào đó.
Vậy, khi thấy mình thật sự lưu ý đến các cơ hội huấn luyện thuộc linh, hãy hiểu điều nầy: Không cần quan tâm đến trách nhiệm của lãnh đạo. Khi bạn không làm gì cả, thì đó không hề là trách nhiệm của họ. Trách nhiệm của họ là dự bị nước dư dật và sẵn sàng, thêm đủ muối trong lúa mạch cho bạn nữa; còn nếu sau đó bạn vẫn không uống nước, thì chắc bạn đang có vấn đề. Khi không ham thích sự dạy dỗ lành mạnh, không muốn khám phá những điều thuộc về Đức Chúa Trời, thì tâm linh bạn đã chết hoặc là mang bệnh.
Có giáo trình sẵn sàng là điều cần thiết cho những ai đã học cách áp dụng sự dạy dỗ nầy. Đây chính là điều Phaolô bảo Tít qua phân đoạn nầy.
Định ý của sự Huấn luyện
Nhằm giải thích điều lành
Đầu tiên, mục đích của mọi sự huấn luyện thuộc linh là giải thích điều lành và đúng để chống lại điều không lành mạnh. Hay nói cách khác, định ý của sự dạy dỗ thuộc linh nhằm khiến dân sự phân biệt chân lý với tà giáo.
Xã hội ngày nay có sự lẫn lộn nghiêm trọng giữa thật với giả, mặc khải của Đức Chúa Trời với sự suy đoán của con người. Vì vậy, trách nhiệm của người giám sát hội thánh là bảo đảm cho dân sự có mọi cơ hội hiểu được sự khác biệt giữa điều lành với điều không lành, sự giảng dạy lành mạnh với sự giảng dạy không lành mạnh, và điều đến từ Đức Chúa Trời với điều ra từ con người. Không thể có điều này chỉ trong một đêm, bèn là qua một tiến trình lâu dài. Đây là điều chúng ta hằng phó mình để thực thi. Tôi có lời chứng trung thực rằng càng tự học Lời Đức Chúa Trời, tôi càng khiếp sợ khi thấy mình dốt nát về điều Chúa dạy.
Từ nước Anh, tôi đã được yêu cầu soạn loạt bài dạy Kinh Thánh theo sách tiên tri Êsai cho 16.000 bạn trẻ sẽ nhóm lại vào mùa hè. Điều khôi hài là suốt hơn 35 năm dạy đạo, tôi chưa từng giảng một loạt bài nào dựa trên Eâsai cả. Tôi thầm nghĩ: Ồ, nếu nhận lời, mình sẽ phảilàm việc thật cật lực; tuy đã giảng dạy 35 năm mà nhận thức của tôi vẫn còn những lỗ hổng lớn trong các lãnh vực của Lời Đức Chúa Trời.
Thiết nghĩ mỗi chúng ta cần nhận rõ sự hiểu biết của mình về Lời Chúa và các điều thuộc về Ngài còn nhiều lỗ hổng lớn. Đây là lý do quan trọng vì sao sự dạy dỗ và huấn luyện trong hội thánh của Chúa Jesus Christ phải thật sự nghiêm túc, hầu có thể hiểu được sự dạy dỗ lành mạnh. Tôi cảnh báo cách sâu sắc những ai ít quan tâm hay ít đầu tư cho sự dạy dỗ đạo lành.
Để nhấn mạnh điều phù hợp
Hãy chú ý một thành ngữ nhỏ thú vị trong Tit Tt 2:1: ‘Nhưng con hãy dạy điều hiệp với đạolành’. Các bản dịch cũ dùng một từ cổ dễ thương là: ‘Điều xứng hợp với đạo lành’.
Phaolô muốn nói: ‘Con phải dạy sao cho khi đã nắm vững đạo thì dân sự thấy cần học biết nếp sống tương xứng với đạo lành’.
Xin nêu một ví dụ: có vài kiểu mẫu và loại vải ít hợp với những người có hình dáng đặc biệt. Như không nên mặc hàng vải có sọc theo hướng đặc biệt hay nhiều màu sắc, khi không cần làm cho nổi bật. Nếu bạn mặc áo sọc theo hướng khác có lẽ hợp hơn. Tôi không hiểu chúng hợp cách nào và cũng không chắc có đúng như vậy không. Nhưng từ thông dụng về sự ăn mặc phù hợp là vừa vặn, xứng hợp - ‘Bạn đang mặc bộ áo thật vừa vặn. Cái mũ đó rất hợp với anh’. Đó là một từ cổ, dễ thương trong tiếng Anh.
Phaolô nhắc Tít: Đã dạy đạo lành, thì cũng phải dạy luôn cách sống xứng hiệp với đạo lành.
Trong Cơ-đốc giáo dục và huấn luyện, thần học và đạo đức Cơ-đốc liên kết trực tiếp với nhau. Nghề nghiệp Cơ đốc liên hệ với cách thể hiện là áp dụng niềm tin, được gọi là ‘nếp xử sự Cơ-đốc’.
Sau khi được dạy về đạo lành, người ta cần học biết phải sống xứng hợp ra sao. Dạy đúng là một việc và sống đúng lại là việc khác. Phải dạy lẽ thật, rồi giúp họ hiểu rằng quả có những cách sống không xứng hợp với kẻ tin. Vậy, cần cẩn thận dạy dỗ sự liên kết sâu xa, quan trọng giữa thần học và đạo đức.
Mọi người đều ý thức điều nầy, nhưng đáng tiếc là phải mất nhiều thì giờ để hiểu và chấp nhận. Tôi có thể kể ra nhiều cuộc đời xuất thân từ nền tảng ngoại giáo, đã đến với Đấng Christ; họ thực sự đã tin Kinh Thánh, hiểu tín lý Cơ-đốc, biết đáp án cho rất nhiều câu hỏi. Nhưng lạ thay, họ phải mất một thời gian dài để lột bỏ lối nghĩ cũ theo ngoại giáo và thoát cảnh rối rắm. Thường thì dễ giúp anh em học thư Philíp, nhưng thật khó giúp họ thực hành lối sống phù hợp với các nguyên tắc đang học.
Đó là toàn bộ trách nhiệm của hội thánh. Cần nhấn mạnh điều gì hợp và điều gì không xứng hợp với người hiểu sự dạy dỗ lành mạnh. Sau cùng, có những điều hợp pháp với xã hội ngoại giáo, nhưng lại hoàn toàn bất xứng khi bạn đã quyết tâm đầu phục Đấng Christ. Vì vậy, người mới tin cần có vài thay đổi.
Để khích lệ những gì là chiến lược
Theo câu 10, tôi muốn nêu một thành ngữ nho nhỏ, dễ thương nhưng tiềm ẩn, về cách nô lệ cư xử với chủ nhân. Phaolô bảo hãy dạy họ: ‘đừng ăn cắp của chủ, nhưng phải hằng tỏ mình hoàn toàn đáng tin cậy, để khiến sự dạy dỗ về Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta thành hấp dẫn mọi đường’. Chú ý một lần nữa, Phaolô nhấn mạnh sự dạy đạo.
Các nô lệ này đang phục vụ trong cộng đồng Cơ-đốc, sống trong các nhóm thông công lân cận, cùng dự buổi thờ phượng sáng Chúa nhật. Họ thực sự tiếp thu lời dạy. Nước dư dật và sẵn sàng, lúa mạch mặn mà, còn các nô lệ đang đi vòng quanh và uống.
Nhưng, sứ đồ Phaolô nói, họ rất cần được huấn luyện để cư xử sao cho đời sống mình khiến sự dạy dỗ ‘có sức lôi cuốn’. Từ dùng ở đây rất độc đáo, để chỉ cách bạn trau chuốt viên ngọc, hầu đạt giá trị cao nhất.
Đọc truyện cổ phương Tây, bạn nhớ đến người đi săn tìm ngọc quí, cất chúng vào bọc vải nhỏ cột ở thắt lưng và luồn vào túi. Như vậy, ngọc không hấp dẫn. Từ Hylạp được dùng mô tả điều bạn cần làm: đưa ngọc cho thợ khéo để cắt góc, mài bóng và đặt vào nơi xứng hợp. Phaolô nói trách nhiệm của người huấn luyện nhóm thông công Cơ-đốc là khiến kẻ hiểu đạo biết sống đạo đúng đắn, hầu cho cuộc đời họ trở nên như hộp đựng xứng hợp với châu báu của lẽ thật. Với tôi, đây là ý niệm thú vị nhất.
Hãy suy nghĩ một chút. Người cho rằng: ‘Đừng quấy rầy tôi về đạo, về sự dạy dỗ hoặc thần học hay các mớ bòng bong đó’, không thật sự hiểu rằng chúng ta cần được quấy rầy về giáo lý, về sự dạy dỗ hay thần học -vì con người cần hiểu điều đóù. Hãy thật lòng: đa số trong chúng ta không học, không thích các bài giảng dài dạy về điều đó. Hầu hết mọi người đều chấp nhận mức độ giới hạn mỗi tuần. Vậy, phải bày tỏ điều này cho họ bằng cách khác. Theo sứ đồ Phaolô, bạn dạy rằng thần học với giáo lý là thực tiễn và bảo đảm tỏ bày cách chiến lược qua đời sống mình, vốn là nơi xứng hợp để chứa châu báu của lẽ thật. Điều này cần nhiều công sức, kỷ luật và sự giúp đỡ.
Dạy giáo lý trừu tượng và thần học - tháp ngà rất dễ. Nhiều người nghĩ rằng những gì thật sự là Lời Đức Chúa Trời thuộc về viện thần học hay các mục sư. Tuy nhiên, Phaolô bảo Tít: ‘Hãy đến với người Cơrết và dạy họ lẽ thật về Đức Chúa Trời, về con người, sự cứu rỗi, sự sống đời đời; rồi giúp họ khép đời sống vào khuôn mẫu để trở thành nơi bày tỏ châu báu của lẽ thật, hầu cho lẽ thật không còn là trừu trượng mà trở thành tuyệt bích qua đời sống họ’.
Bạn có thấy công tác lớn lao nào phó cho hội thánh Chúa Jêsus, hay trách nhiệm của người lãnh đạo không? Trách nhiệm của họ là giải thích sự lành mạnh, rồi nhấn mạnh sự thích hợp và khích lệ dân sự sống tương xứng với lẽ thật của Đức Chúa Trời. Điều đó không xảy ra tức thì, nhưng phải mất nhiều công sức, kiên nhẫn, dạy dỗ và huấn luyện. Tuy nhiên, đó là điều hội thánh cần làm.
Để giải toả điều hoài nghi
Theo câu 5, Phaolô giải thích điều các bà lớn tuổi nên dạy phụ nữ trẻ rằng nếu họ làm mọi việc cách xứng hợp thì ‘không ai sẽ phỉ báng Lời Đức Chúa Trời’.
Có nhiều người hoài nghi về Lời Chúa, về những người xưng mình là Cơ-đốc-nhân, đã tái sanh, được đầy dẫy Thánh Linh, hay bất cứ hình dung từ nào mà bạn thấy có ngày nay. Tôi thường nghĩ họ có lý do để hoài nghi, vì chúng ta tuyên bố điều lớn lao. Chúng ta ngồi trong nhà thờ và sung sướng hát rằng mình là thánh và không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời.
Bạn có tin mình là thánh, không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời không? Thật dễ sử dụng các bản in rập khuôn với ý tưởng thánh mà không nhận ra rằng khi tuyên bố như vậy, vài người đi đường đang nghe. Họ có thể nghĩ: ‘Mấy gã này nghĩ mình là thánh và không chỗ trách chăng? Thật là trẻ con!’ Họ bỏ đi và cười cợt sau lưng chúng ta. Và các lời tuyên bố khuôn sáo về đức tin này lại thành những phương tiện để từ đó họ bắt đầu xé nát chính Đấng Christ ra nhiều mảnh.
Sứ đồ Phaolô nói: ‘Phải có sự huấn luyện ở đây để cất bỏ các cơ hội đó khỏi họ, vì chúng ta đang sống giữa những người hoài nghi, sẵn sàng phê phán mọi cách chúng ta ăn ở. Vậy, phải sống hoà hợp với đạo mình tin để họ thật sự khó phê phán đúng điều chúng ta đang làm’.
Vài người được ơn lớn trong sự phê bình. Đôi khi, tôi tự hỏi có phải ơn phê bình là ân tứ phổ biến nhất trong hội thánh Đấng Christ ngày nay không. Tôi thật sự tin rằng đó là ân tứ được luyện tập nồng nhiệt nhất. Chắc chắn, mỗi người đều có thể, sớm hay muộn thấy vài điều để phê bình người khác. Nhưng phải nhìn nhận rằng có nhiều lời phê bình hoàn toàn vô căn cứ và bất công. Nhiều lời phản ánh sự lầm lạc của người phê hơn là kẻ bị phê. Khi nói ra điều này, trách nhiệm chúng ta trong sự huấn luyện là làm sao để không ai có cơ hội hoài nghi.
Hãy chú ý câu 6-8. Phaolô bảo chính Tít phải nêu gương các điều mình dạy và các trai trẻ cần cư xử sao cho ‘các kẻ chống đối bị hổ thẹn vì không thể nói xấu chúng ta điều gì’. Chúng ta cần dạy mọi người sống hòa hợp với Đạo, để kẻ hoài nghi giữa vòng chúng ta bị thất vọng vì không thực hiện được điều họ mong ước là làm chúng ta mất uy tín.
Có một tờ báo ở Bắc Carolina công bố đã tìm ra sự thật, sau khi để nhiều thập kỷ làm mọi cách hạ uy tín của Billy Graham. Họ đều đặn, theo định kỳ hoặc đơn điệu, bám sát ông. Điều thú vị là tuy đã thử nghiệm mọi điều hay xem xét mọi sự họ muốn mà danh tiếng ông vẫn y nguyên. Chúng ta không cần cám ơn họ.
Có rất nhiều người sẵn sàng làm mọi sự để có thể hạ uy tín và xé nát đối phương ra từng mảnh. Tín hữu của hội thánh Chúa Jesus Christ phải biết mình đang sống giữa những loại người như vậy và sẽ nhận điều họ trao cho. Hãy dạy dỗ và huấn luyện dân sự hầu cho kẻ phỉ báng khó tìm thấy điều mâu thuẫn, bất nhất nơi chúng ta. Trách nhiệm của hội thánh là huấn luyện dân sự, hầu cho đạo họ đã tin nhận được thể hiện trong đời sống họ.
Phạm vi Huấn luyện
Phaolô chỉ cho chúng ta những manh mối hợp lý về phạm vi của sự huấn luyện.
Quản lý dân sự
Việc chia hội chúng thành các nhóm tự nhiên cho thấy ông là người quản lý tốt. Ông nói về nhóm nam giới và nhóm nữ giới, vì mỗi nhóm cần được nhấn mạnh khác nhau. Khi dạy các ông, bạn có thể dùng cách này và khi dạy các bà, bạn phải dùng cách khác. Tất nhiên, Phaolô biết rõ điều nầy nên chỉ dẫn cụ thể cách dạy phái nam và cách huấn luyện phái nữ.
Ông nói về người trẻ và người già. Phải dạy hai hạng người này cách khác nhau. Khi huấn luyện người trẻ, họ cần được nhấn mạnh về hướng này; với người lớn tuổi có lẽ không cần nhiều như vậy, nhưng vẫn phải cố dạy cho phù hợp với họ. Và Phaolô đặt điểm nhấn mạnh khác nhau tại đây.
Rồi, dĩ nhiên, có các người khuyết tật hay thiểu năng trong cuộc sống và có những người mạnh khoẻ, đầy đủ. Hai nhóm này có nan đề khác nhau, có mối quan tâm hay định kiến khác nhau. Kẻ-không-có theo đuổi điều nhóm người kia có và kẻ-có lại không muốn nhóm-không-có đạt được điều mình đang có. Đây là trường hợp mà Phaolô đề cập: ‘Phải biết rằng chúng ta cần dạy kẻ-có cách xử lý điều mình có và dạy nhóm-không-có xử lý điều họ không có, bắt đầu từ các lãnh vực này’.
Vậy, sứ đồ Phaolô bảo Tít quản lý con người cách đúng đắn, qua sự nhận diện các tình huống khác nhau, rồi sắp xếp sự dạy dỗ cần thiết cho họ.
Động viên cả nhóm
Tôi nghĩ khi Tít đến Cơrết và nhận các chỉ thị từ Phaolô, ông có thể gởi điện tín về: ’Thầy ơiâ, khi nói tất cả các thành tại Cơrết, có phải đó là điều Thầy muốn nói? Thầy muốn con huấn luyện tất cả các thành phố tại Cơrết sao? Còn nếu tại một thành nhỏ đẹp ở Cơrết thì sao? Tại đây, con đã tìm được một nơi như vậy’.
- ‘Không, ta muốn con lập hội thánh trong tất cả các thành tại Cơrết. Ta muốn con bổ nhiệm Trưởng lão trong tất cả các thành của Cơrết’.
Thưa: ‘Con không thể làm hết mọi việc đó, vì quả thật làm không nổi. Thầy biết đó, con chỉ có từng đó giờ mỗi ngày!’
- Phaolô tiếp: ‘Ta biết, nên không bảo con phải tự mình làm điều đó, nhưng hãy xem điều đã thực hiện. Con có nhận ra sự khác biệt không?’ Hãy chú ý hai điều mà Phaolô liền khuyên Tit.
Đầu tiên, ông bảo Tit đi bổ nhiệm các Trưởng lão tại mỗi nơi -rồi chính họ cũng đi dạy dỗ, huấn luyện, trang bị. Đây là nỗ lực của tập thể, chức vụ của cả nhóm.
Một trong các thảm họa lớn nhất những năm gần đây, là sự sai lầm nghiêm trọng khi hội thánh của Chúa Jêsus trả tiền cho một người để người đó làm mọi việc. Vì vậy, có quá nhiều hội thánh nhỏ bé. Điều này không thể khác hơn, vì đơn giản là chỉ có một người làm mọi việc; tầm cỡ của hội thánh tùy thuộc phạm vi năng lực của người ấy. Khi ông cạn kiệt năng lực, sức lực và ý tưởng thì Hội thánh hết tăng trưởng.
Mặt khác, khi đảm trách nhiều chức vụ khác nhau thì nên lập một nhóm để chia sẻ gánh nặng, làm giảm sức nặng, ủy thác quyền hạn và cơ hội, để không bị giới hạn bởi năng lực của một người. Đây luôn là nguyên tắc của Tân Ước. Chúng ta đánh mất điều này qua nhiều thế kỷ khi có người nghĩ ra sự phân chia này giữa tu-sĩ-với-giáo-dân.
Kinh Thánh nói khá rõ: người này là Trưởng lão, kẻ kia là Mục-sư-và-Giáo-sư, người khác là Sứ đồ hay là Tiên tri, họ có trách nhiệm trang bị cho dân sự để làm công việc của chức vụ - tức là huấn luyện. Trong hội thánh, bạn có đang bổ nhiệm các Trưởng lão và trang bị các người lãnh đạo không? Bạn có các Mục-sư-và-Giáo-sư có khả năng hoạt động theo cách mà gánh nặng lớn của cả cộng đồng được xử lý cách thực tế không?
Phaolô không chỉ nói về các Trưởng lão mà cũng động viên các phụ nữ lớn tuổi. Ông nói cần trang bị cho họ: ‘có thái độ hiệp với sự thánh, không nói xấu hay uống rượu quá độ, nhưng lấy điều khôn ngoan mà dạy bảo’ (câu 3;). Mặt khác, các bà cũng có trách nhiệm đặc biệt. Và chỉ trong môi trường và nền văn hoá nầy, ông nói họ cần được trang bị để huấn luyện các phụ nữ trẻ. Một nhóm đang hình thành.
‘Tít ơi, ta không bảo chính con phải tự mình làm hết mọi việc đó. Ta không bảo con chạy khắp các thành ở Cơrết và tự mình làm mọi sự. Hãy quản lý dân sự cách thích đáng, rồi động viên một nhóm và thúc đẩy họ’.
Khuôn mẫu cho lẽ thật
Người ta không chỉ nghe điều chúng ta nói, mà còn nhìn xem điều chúng ta làm (điều này dễ khiến nản lòng). Đây chính là điều sứ đồ Phaolô nói với Tít: ‘Hãy lấy chính mình con làm gương về việc lành cho họ. Trong sự dạy dỗ phải cho thanh sạch, nghiêm trang, nói năng phải lời, không chỗ trách được’ (Tit Tt 2:7-8). Nói cách khác, dạy họ lẽ thật và khuôn đúc lẽ thật đó qua cuộc đời bạn.
Một ngày kia, nhà tôi, Jill, trao đổi với cô vợ của Ray Stedman về mọi điều con người mong đợi. Cô nói về sức ép của việc cố đảm trách một vai trò kiểu mẫu, nhận biết các yếu đuối, mong manh, các thất bại, sa ngã và tội lỗi riêng của mình - các vấn đề mà mỗi chúng ta đều đối phó. Chúng tôi muốn chia sẻ lại nhận xét rất ích lợi của Elaine Stedman: ‘Chúng ta được kêu gọi để trở thành những kiểu mẫu, Jill. Nhưng không phải mẫu mực về sự toàn hảo, bèn là về sự tăng trưởng’.
Người ta trông mong nơi bạn sự toàn hảo, đó là điều khó vô cùng. Nhưng, họ lại không trông đợi điều đó nơi chính họ, bèn là nơi người khác. Đó là hy vọng không thực tế.
Nhưng, dân sự có thể hy vọng cách hợp lý các người ở vị trí lãnh đạo, hướng dẫn và làm kiểu mẫu cho lẽ thật theo cách thức vững vàng và ngày càng tăng trưởng. Trong chức vụ dạy dỗ và huấn luyện người khác, phải biết rằng điều chúng ta làm và sống có tác động mạnh hơn điều mình nói. Nếu kết hợp tất cả: lời nói, việc làm cùng sự dạy dỗ, với bản chất thật của mình thì quả có sự cân bằng mạnh mẽ. Phạm vi huấn luyện đòi hỏi người dạy phải làm mẫu mực cho lẽ thật, qua lối sống kiên định và sự giao tiếp thật có sức thuyết phục.
Một cách bày tỏ sức thuyết phục qua giao tiếp, là tạo ấn tượng cho thấy bạn hiểu rõ điều mình đang nói. Nếu bạn nỗ lực dạy kẻ khác, hãy tạo ấn tượng rằng bạn đã chuẩn bị tốt, đã xong bài tập, không phải chỉ mới thức giấc và vội vàng xuất hành. Rồi còn nhiều hơn thế nữa.
Tôi làm người khác ngạc nhiên về bài giảng sáng Chúa nhật, thực sự là nhờ các buổi tối thứ bảy đặc biệt. Những phút cuối làm mới lại vài điều đã biết, hay tu chỉnh lại điều đã học. Bạn sắp truyền đạt sự thuyết phục về lẽ thật, tất nhiên, bạn phải để thì giờ hình dung lẽ thật là gì, rồi mới truyền đạt lại cho người khác được.
Duy trì sức ép
Tôi chỉ sơ lược câu 15 vì sẽ giải luận nhiều hơn trong chương tới. Phaolô tóm tắt: ‘Hãy dạy các điều đó. Lấy uy quyền đầy đủ mà khuyên bảo, quở trách. Chớ để ai khinh dể con’.
Chú ý: Trong hội thánh của Chúa Jêsus, những người được kêu gọi để giám sát, dạy dỗ, huấn luyện, trang bị và hướng dẫn, được yêu cầu duy trì sức ép trên các thành viên là dân sự của Đức Chúa Trời qua việc áp dụng lẽ thật cách thích hợp. Đôi khi người ta cần một lời khích lệ. Phải bảo đảm họ nhận được lời đó. Kẻ khác cần có lời quở trách. Phải chắc chắc họ nhận được lời đó. Người kia cần ý thức uy quyền từ kẻ trình bày lẽ thật. Phải bảo đảm họ thấy uy quyền đó. Phaolô nói: ‘Đừng để bất cứ ai khinh dể con (schlepp off), Tít. Con là người của ta tại đó, như một đại biểu cho lẽ thật của các sứ đồ’.
Tôi thường nói với người ta rằng Stuart Bricoe, như một trong các mục sư của hội thánh Elmbrook, thực chất không có uy quyền gì. Nhưng khi Stuart Briscoe đứng trên bục giảng với Lời của Đức Chúa Trời thì ông có uy quyền và bạn phải tin điều đó. Đây không hề là uy quyền của cá nhân hay vị thế, bèn là uy quyền của Lời Đức Chúa Trời mà tôi trình bày.
Khi người ta cần sự quở trách trong danh Chúa dựa trên Lời của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta không quở trách là làm hỏng họ. Mặc khác, khi người ta cần một lời khích lệ mà chúng ta chỉ khoa trương giáo điều, thiếu phần áp dụng cá nhân thì chúng ta đang làm họ thất bại. Khi có kẻ vừa thoát khỏi một sự rắc rối, nói rằng: ‘Tránh ra, điều đó can dự gì với tôi?’ thì nếu người lãnh đạo để họ ra đi như vậy là làm họ sa ngã. Chúng ta không thể để kẻ khác khinh bỉ người quản lý Lời của Đức Chúa Trời, hay để họ đơn giản nhún vai bất chấp người mà Đức Chúa Trời đã giao uy quyền trên dân sự Ngài. Họ cần sự lãnh đạo và lãnh đạo cần biết phải làm gì. Vậy, người lãnh đạo trong bất cứ thể loại nào nên duy trì sức ép tương xứng.
Nội dung Huấn luyện
Phaolô biết rằng những người khác nhau cần được dạy các điều khác nhau, tùy hoàn cảnh đặc biệt của họ. Vậy, ông dặn Tít chú ý cẩn thận các ông lớn tuổi, các bà lớn tuổi, phụ nữ trẻ tuổi, người nam trẻ tuổi và các nô lệ (được gọi là các kẻ thất thế). Mỗi nhóm cần được dạy những điều mà Phaolô nghĩ họ cần nghe nhất.
Các ông lớn tuổi
Xã hội chúng ta thường cổ xúy giới trẻ và sự trẻ trung. Chúng ta quen với các quảng cáo đang cố thuyết phục rằng tóc hoa râm có thể trở lại cách tinh tế với ‘màu tự nhiên’ (vì cho rằng màu xám là không tự nhiên), và bức ảnh chụp hai cô gái đẹp mặc áo tắm mềm mại, miệng cười toe toét để lộ hàm răng sáng, mái tóc vàng lượn sóng, với đôi mắt xanh lấp lánh, chỉ với câu hỏi: bạn quyết định xem ai là mẹ, ai là con! Vậy, sứ điệp tế nhị là: trẻ thì đáng mơ ước và khen ngợi, còn già thì kém hơn. Xa hơn nữa, xã hội phương Tây khi đổi cái nhìn giá trị khôn ngoan của tuổi già lấy sự rực rỡ chói lọi của tuổi trẻ, đã bỏ qua kinh nghiệm và sự trưởng thành là tài sản không thể thay thế.
Quả thật, Ronald Reagan đã chút ít đảo ngược khuynh hướng trên với sự cường tráng trẻ trung đáng kể, nhưng báo chí cho biết ông ngủ gục trong các buổi họp hay khi gặp gỡ khán giả và cần bà Nancy giúp đỡ để trả lời câu hỏi, khi máy trợ thính của ông bị trục trặc.
Các xã hội khác chú trọng người già như là tiến trình tự nhiên của sự tôn kính tổ tiên. Vậy, người Phaolô đang trao đổi sẽ hiểu rằng nên tôn trọng các ông lớn tuổi; điều nầy cũng khiến các ông phải cư xử cách trang nghiêm và trưởng thành, xứng hợp với tuổi tác mình. Họ phải là người ‘ôn hoà, đáng trọng, tiết độ’ -nghĩa là khi mong được tôn trọng thì phải cư xử cách đáng trọng. Họ sẽ phải tự khép mình vào kỷ luật. Địa vị và tóc bạc khiến được tôn trọng trong khoảnh khắc, nhưng tư cách không phù hợp nơi người già chắc chắn không được tán thành.
Mẹ tôi đặc biệt không thích người già ăn mặc và cư xử trẻ hơn tuổi của họ - Bà hít hà: ‘Cừu già mà mặc như cừu non! Có lẽ bà chịu ảnh hưởng quá mức từ bà ngoại tôi là người luôn lặp lại: ‘Không có gì dại hơn một người già mà dại!’
Các ông lớn tuổi cần chắc chắn rằng mình cư xử theo phẩm cách thuộc linh rõ ràng: có đức tin lành mạnh, yêu thương và nhịn nhục. Người lớn tuổi cần hiểu biết lành mạnh về nội dung niềm tin theo thần học, bày tỏ thái độ tin cậy và cam kết trung thành.
Vài người già có khuynh hướng xem mình là trung tâm vào lúc cuối đời, nhưng Phaolô muốn Tít nhắc nhở họ nên yêu thương và tìm kiếm những ai cần được chăm sóc và nâng đỡ nhất. Khi tuổi tác thêm lên, sức lực hao mòn, ảnh hưởng mất dần, họ dễ nản chí và thất bại. Nhưng đừng để điều nầy xảy ra; các ông già còn nhiều điều để hiến dâng. Họ không được bỏ cuộc, tự thu mình lại, trở thành lập dị và cáu kỉnh. Nhưng phải giữ đức tin, sự điềm tĩnh và cứ tiếp tục như thế.
Các bà lớn tuổi
Trở lại với các bà lớn tuổi, Phaolô đã khôn ngoan không giải thích từ người già, nhưng thẳng thắn chỉ dạy theo hai loại. Ông bảo Tít nên cảnh báo họ về sự yếu đuối và hướng họ vào việc xây dựng.
Thoạt nhìn, các bà đang để thì giờ ngồi lê đôi mách và quá nhu nhược khi nếm thử rượu. Ngồi lê làm tổn hại các mối quan hệ tốt và rượu làm huỷ hoại chính mình. Nói hành được định nghĩa như là ‘chia xẻ điều bạn thích về một người mà bạn không thích’ và thật bất hạnh khi nhiều người trong chúng ta, không riêng gì các bà lớn tuổi, thiếu kỷ luật trong cả việc nghe và nói những điều mà tốt nhất không nên chia sẻ. Các bà đến với rượu như các vở kịch ủy mị thường mô tả, là kẻ cô đơn và tuyệt vọng, không tìm ra mối liên hệ ý nghĩa với đời. Họ cảm thấy bị bỏ rơi và vô dụng, vùi mình trong mặc cảm tự ti, bị cho ra rìa và bày tỏ sự cay đắng bên trong qua cung cách tự hủy hoại nhân cách mình.
Các bà này vào thời của Phaolô cũng như ngày nay, cần được hướng đến lối sống xây dựng. Họ cần được dạy nếp sống đáng kính và chính họ cũng phải truyền dạy lại những điều tốt. Từ đáng kính chỉ được dùng ở đây trong Tân ước có nghĩa là ‘thánh: thích hợp với một người, một việc hay một trường hợp’, và có khả năng liên hệ với các bà lớn tuổi, presbutida như với ‘các ông lớn tuổi’ hay presbuteroi là các trưởng lão. Dù muốn hay không, các bà này cũng được xem như cấp lãnh đạo trong hội thánh, họ được mong đợi dùng đời mình vào lối sống ích lợi và đáng kính.
Phụ nữ trẻ tuổi
Chức vụ của các bà lớn tuổi đặc biệt hướng đến các phụ nữ trẻ, nhưng không nhất thiết chỉ có vậy. Từ trẻ hơn có gợi ý là mới hay tươi mới có thể chỉ về các phụ nữ mới lập gia đình hoặc đã có con. Các lời dạy cho nhóm người nầy nhiều hơn cho bất kỳ nhóm nào khác. Họ phải ‘biết yêu chồng con mình’(câu 4;), hay theo nghĩa đen là ‘yêu chồng và ‘ yêu con’.
Thoạt nhìn, không cần huấn luyện các cô làm điều nầy, vì có khuynh hướng cho rằng đây là loại tình yêu tự phát và tất yếu. Nhưng Phaolô, Tít và mọi người khác kể luôn các nhà tư vấn về hôn nhân hiểu rằng tình yêu trong gia đình không chỉ là cảm xúc. Chúng ta luôn cần được giúp đỡ khi học cách thực tế để bày tỏ tình yêu, hầu yêu được kẻ có lòng nguội lạnh và tư cách đáng trách.
Có bao nhiêu người cần dạy cách đối xử với các con nhỏ bướng bỉnh và nổi loạn? Bao nhiêu phụ nữ trẻ với lòng tan vỡ không biết cách cầm giữ cơn giận và sự phẩn nộ đối với người chồng say sưa, lăng mạ và không trung thành? Mọi nhóm tuổi đều cần học tự chủ và Phaolô nói rõ khi trao đổi với người nam trẻ và các phụ nữ trẻ tuổi.
Có lẽ người nữ trẻ có gia đình phải luôn chú ý đến các con nhỏ, trong khi ông chồng lại ít nhạy cảm với nhu cầu của vợ. Điều đó làm bà vợ dễ nổi cáu và có thể trong một cơ hội nào đó, bùng nổ thành sự đối đầu một mất một còn hay sự gào thét vỡ tai. Huấn luyện cách xử lý các tình huống trên sẽ giúp ngăn chặn tình trạng gia đình đổ vỡ.
‘Tinh sạch’ chắc chắn bao gồm quan hệ tình dục chân chính, nhưng xa hơn nữa nói về động cơ bên trong ở mọi lãnh vực của đời sống. Các cô có thể bị cám dỗ tham dự các hoạt động đáng ngờ vì bị giới hạn trong những điều họ có thể làm và nói. Vậy, khi họ muốn dùng cách lừa dối trẻ con để đạt ý riêng, họ phải biết dừng lại. ‘Các mưu mẹo của phái nữ’ và động cơ tinh sạch khó đi đôi với nhau.
Hầu hết các bà vợ và bà mẹ trẻ biết rằng trông nom nhà cửa là công việc chính. Vậy, nói họ hãy chú tâm lo việc nhà dường như không cần thiết. Tuy nhiên, luôn có các phụ nữ trẻ bỏ bê việc nhàø và con cái, cũng như luôn có các bà lớn tuổi uống rượu và nói quá nhiều. Vấn đề cho cả hai có thể vì buồn chán hay/vàlười biếng. Thí dụ, các cô cần được huấn luyện vì chưa từng học về việc tề gia nội trợ trong thực tế. Trong hội thánh chúng tôi, nhóm Các Bà Mẹ Trẻ rất là ích lợi, đặc biệt khi giúp đỡ kinh nghiệm và khích lệ trong lãnh vực cụ thể này.
Dĩ nhiên, họ có thể bận rộn như con ong và nhiều lúc khó gần gũi như ong bầu. Thí dụ, Martha, vợ của Bethany trong lúc bận rộn làm điều cô nghĩ là cần thiết, đã trở thành cáu gắt trong công việc và với mọi người cô gặp. Giải pháp cho điều này là truyền dạy tinh thần dịu dàng. Có thể thực hiện tốt nhất qua sự nhận biết giá trị của việc trông nom nhà cửa và gia đình theo nhận thức chung và thật lòng ngưỡng mộ mọi công việc khó nhọc mà người nội trợ phải làm. Có lẽ các ông chồng và con cái nên khích lệ các bà mẹ trẻ qua sự giúp đỡ và tỏ lòng biết ơn, hoặc ít ra đôi lần nên làm như thế!
Sự chỉ dẫn cuối liên quan đến mối quan hệ vợ-chồng với nhận xét đặc biệt là vợ phải ‘thuận phục chồng mình’. Lời dạy nầy là nguyên nhân gây ra nhiều cuộc tranh luận trong xã hội ngày nay mà thời Phaolô không hề có, vì đơn giản là vào thế kỷ I, phụ nữ không có sự lựa chọn nào khác hơn là thuận phục chồng mình: họ được đánh giá cao hơn tài sản hay bất động sản một chút. Vậy, cũng nên hỏi sao Phaolô đưa ra sự phục tùng của phái nữ, mà chỗ khác thì để phái nam dẫn đầu, xem đó như một kết luận tự nhiên. Lời đáp có thể là sự giải phóng vô song mà Phúc âm Cơ đốc đã đem đến cho giới nữ, có lẽ cũng đem đến giữa vòng họ thái độ kém tôn trọng chồng mình và điều đó gây tai tiếng với xã hội thế tục. Nếu lời dạy của Phaolô ít làm các bà kinh ngạc thì lời dạy ‘chồng phải yêu vợ mình như Đấng Christ yêu hội thánh’ là một cuộc cách mạng và lời dạy ‘vợ-chồng phải vâng phục nhau’ quả khiến tâm trí con người do dự!
Phaolô và Tít nhận thức rõ những thay đổi tận gốc có tính xã hội khi Phúc âm được giới thiệu, và cũng thấy rằng nhiều thay đổi quá sớm có thể gây ra phản ứng ngược, qua đó, tạo cơ hội để kẻ thù nghịch ‘phỉ báng Lời Đức Chúa Trời’. Để ngăn điều đó xảy ra, dân sự của Chúa cần luôn nhận thấy phải cư xử cách tự chủ và đôi khi cần giới hạn cả sự tự do chính đáng của mình, vì cớ Phúc âm.
Người nam trẻ tuổi
Đáng ngạc nhiên là người nam trẻ tuổi chỉ được nhắc một điều: ‘tự chủ’. Thường có cùng một lời dạy cho nhiều người khác nhau, nhưng có lẽ Phaolô thấy chỉ cần đề cập đến sự tự chủ, vì khi họ có điều này thì sẽ dễ có các điều kia. Dĩ nhiên, nam giới có nhiều tự do hơn, vì người nữ bị giữ riêng trong nhà, không dám lộ diện hay làm việc bên ngoài và thường được đối xử như cách phái Hồi giáo chính thống áp dụng trong gia đình họ. Vậy, càng được tự do thì càng cần tự chủ nhiều hơn.
Tuổi trẻ rất cần sự tự chủ, và hai điều đó không dễ đi đôi với nhau! ‘Dồi dào sức trẻ, tinh thần cao, thích vui đùa’ là những thuật ngữ thông thường, đôi khi được dùng theo lối uyển ngữ (nói vòng cách nhẹ nhàng), thường không mô tả tư cách vô trách nhiệm, buông thả hay lăng mạ và ngược đãi. Rất may là nhiều bạn trẻ được xem như là ôn hòa và thiếu suy nghĩ, nhưng sự huấn luyện cẩn thận giúp họ biết xem xét trước khi lao vào, và như thế cứu họ khỏi các hậu quả xấu từ các dự định trẻ trung dễ tính.
Các nô lệ - hay những kẻ thất thế
Phúc âm mang lại điạ vị và cơ hội mới cho các phụ nữ trẻ ở thế kỷ thứ nhất, cho nam giới trẻ và lớn tuổiø, đồng thời cũng giới thiệu mầm mống mà từ đó sự giải phóng nô lệ được nở rộ. Người Hêbơrơ luôn theo sát các luật lệ nghiêm ngặt liên quan đến việc sở hữu và đối xử với nô lệ, trong đó có nhiều khía cạnh không chỉ làm vơi đau khổ của họ nhưng nhiều lúc, cũng cứu kẻ bất hạnh khỏi sự bần cùng và chết đói. Các nền văn hoá khác có thể không dành điều này cho nô lệ, nhưng sứ điệp Phúc âm nhấn mạnh Đức Chúa Trời quan tâm chăm sóc kẻ khiêm nhường - nghèo khó, và vị trí đầy phấn khởi của họ trong Nước Trời, đã đến với họ như hơi thở ngọt ngào, tươi mát, át mùi hôi hám của xà lim ẩm ướt.
Như các phụ nữ trẻ cần được huấn luyện để tránh lạm dụng sự tự do mới, các nô lệ cần được dạy sống với tư cách đã được giải phóng về mặt thuộc linh, tuy mất tự do về mặt xã hội. Các lời chỉ dạy nói về mối quan hệ với chủ. Họ phải ‘vâng phục chủ mình’; dĩ nhiên điều này không mới, cũng như vợ phải vâng phục chồng vậy. Các nô lệ được đặt ở vị trí buộc phải phục tùng và phục vụ. Tuy nhiên, sự khác nhau ở đây là họ tự nguyện từ đáy lòng, khác với sự phục tùng cáu kỉnh, bất hợp tác thường có của kẻ vô quyền. Điều nầy bày tỏ ước muốn chân thành ‘cố làm đẹp lòng’ chủ mình.
Chú ý: ‘cố làm đẹp lòng’ là lời dạy rất thực tế, vì cho thấy sự thật rằng không thể làm hài lòng một số người nào đó. Hiển nhiên, các nô lệ đã trở nên hung bạo vì ở địa vị thất thế, khiến họ thường ‘cãi trả’ và khi có dịp thì tìm cách ‘ăn cắp’ của chủ. Chắc hẳn, họ dễ hợp lý hóa lối cư xử đó, cho rằng mọi người thường làm như vậy và đó là cách duy nhất để bù đắp lại sự bạc đãi họ đang chịu.
Tuy nhiên, các nô lệ Cơ-đốc có mối quan tâm cao cả và đáng kính hơn, đó là ‘làm cho Đạo của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, thu hút hơn’. Cách duy nhất để họ làm được điều này là tỏ ra là người ‘hoàn toàn đáng tin cậy’.
Bằng nhiều cách, chế độ nô lệ đã chấm dứt từ lâu, sự xuất hiện của Phúc âm Cơ-đốc đã góp phần lớn vào việc khai tử nó, nhưng trên thực tế sự phân biệt chủng tộc vẫn còn, lạm dụng kẻ thất thế là chuyện bình thường và kẻ vô quyền vẫn bị thống trị. Phúc âm vẫn áp dụng theo hai hướng: Người phục vụ Đức Chúa Trời Công chính cần đại diện cho Ngài và cho kẻ thất thế; và Cơ-đốc-nhân giữa vòng những người này cần được khích lệ để sống tốt trong tình cảnh đó, cho tới khi bánh xe lịch sử chậm chạp chuyển động, khiến cuộc sống dễ chịu và công bằng hơn cho mọi người. Vậy, họ không chỉ giúp mà còn làm cho Phúc âm hấp dẫn, vì không có gì mau chóng cuốn hút sự chú ý đến sứ điệp của ân điển hơn là việc sống khoan dung (gracious, vì ân điển) dưới áp lực.
Thực hành bài này
1.Các Trưởng lão có trách nhiệm nào trong việc huấn luyện dân sự của Đức Chúa Trời?
2.Bốn mục tiêu nào được kiệt kê trong việc huấn luyện thuộc linh cho dân sự? Hội thánh có thể hoàn thành các mục tiêu nầy cách nào?
3.Những lời dạy nào được đưa ra cho mỗi nhóm người: các cụ ông, cụ bà, các cô, các anh và các nô lệ? Làm sao vâng phục để sự dạy dỗ về Đức Chúa Trời lôi cuốn phần thế giới chưa tin?
4.Theo chương nầy, xin cho biết một điều bạn muốn làm để tỏ mình là phần tử của chính dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời?


Tinh Luyện Dân Sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 2:11-15
Khi đến khu Golden Gate ở San Francisco, bạn sẽ thấy có một lối đi hẹp, chiều ngang hai dặm và dài bốn dặm. Ở mỗi phía của lối hẹp nầy, có những đồi khá dốc và con kênh sâu dẫn xuyên qua bờ cát. Rồi mở ra một bên là Thái Bình Dương và bên kia là vịnh San Francisco. Muốn đi từ bán đảo San Francisco tới bắc California và ngược lại, thường phải đi suốt cả vịnh nầy. Vì vậy, vài người nghĩ ra một ý, đó là quyết định lấp kín lỗ hổng. Họ xây một công trình mà tất cả chúng ta đều quen biết và khách du lịch bất kể từ đâu đến đều muốn xem: cầu Thiên Môn (Golden Gate Bridge) nổi tiếng.
Những người quen thuộc với nét tổng quát của cây cầu này đều biết có hai tháp trụ nâng đỡ nó. Nối liền hai tháp nầy là những sợi cáp khổng lồ mà từ đó, xuất phát tất cả những sợi cáp khác đủ loại khiến chiếc cầu được treo lơ lửng. Ý niệm đó thật lạ lùng, vì vậy họ gọi đó là cầu treo.
Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời có một số đông người ở phía bên này bờ vực mà Ngài muốn đưa họ sang bờ bên kia. Nhưng nan đề đặt ra là làm sao xây cầu qua bờ vực. Để hiểu đúng chức vụ của Đấng Christ và Hội thánh, chúng ta phải biết nơi loài người đang đứng, nơi Đức Chúa Trời muốn họ đến và chiếc cầu mà Ngài dùng để đưa họ qua bờ bên kia. Phaolô nói điều đó trong Tit Tt 2:11-15.
Nan đề của dân sự Đức Chúa Trời
Hãy nhận biết thực trạng khi chúng ta gặp, hay quan trọng hơn, khi Đức Chúa Trời đối diện nó ngày nay. Chú ý ba điều trong phân đoạn Kinh Thánh nầy về tình trạng nhân loại: sự không tin kính, yêu mến thế gian và đời này (câu 12;). Có ba từ cần xem xét cẩn thận: không tinkính, tình dục thế gian và đời nầy. Các từ nàyï tả rõ tình trạng nhân loại khi Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta bên bờ vực ngăn cách với Ngài.
Không tin kính
Không tin kính là có thái độ và lối sống tỏ ra rằng chúng ta không nghiêm túc với Đức Chúa Trời. Từ Hylạp ở đây ngược lại với từ tin kính thường dùng trong các thư tín. Chúa muốn mọi người tin kính. Theo ngữ căn có nghĩa là ‘nghiêm túc với Đức Chúa Trời’. Ngài muốn nói với cả xã hội và mỗi cá nhân là chúng ta đã không nghiêm chỉnh với Ngài và chúng ta bày tỏ điều nầy qua các sinh hoạt khác mà mình thấy hấp dẫn hơn.
Tình dục thế gian
Tình dục thế gian đi đôi với đời nầy và ngày nay, hai thuật ngữ nầy được gọi là thế tục hóa. Từ thế tục liên ý với thế giới và diễn tả thái độ của lòng, trí và lối sống chứng tỏ rằng chúng ta quan tâm đến đời nầy hơn là đời sau. Về mặt căn bản, chúng ta bị cuốn theo lối sống xây nền trên vật chất của đời nầy hơn là quan tâm về các giá trị thuộc linh của thế giới hầu đến.
Đời nầy
Tự điển Webster định nghĩa rất tốt: Thế tục hóa là ‘một hệ thống đạo đức xã hội đặt căn bản trên giáo điều, theo đó các tiêu chuẩn đạo đức và hạnh kiểm chỉ được xác định dựa trên lối sống hiện tại và phúc lợi xã hội, mà không dựa trên nền tảng tôn giáo’.
Nói cách khác, đó là một hệ thống đạo đức xã hội toàn cầu cho rằng nền tảng cần xem xét chỉ là phúc lợi xã hội màkhông cần bất cứ liên hệ nào đến tôn giáo. Thế tục hóa là thái độ của tâm trí làm nảy sinh chuẩn mực đạo đức cho cá nhân và xã hội, như một tổng thể hoàn toàn loại bỏ cõi đời đời cùng các định chuẩn tuyệt đối và không có bất kỳ liên hệ nào với đạo đức Cơ-đốc.
Đây là tình trạng xã hội ngày nay. Điều này thường xảy ra, không có gì mới. Từng xã hội vào các thời điểm khác nhau đã cố che đậy nó cách khôn khéo và cẩn thận. Nhưng ngày nay, không cần che đậy nữa. Thật rõ ràng là chuẩn mực căn bản của đạo đức trong xã hội chúng ta được ấn định chỉ dựa trên phúc lợi xã hội, liên quan đến đời này mà không cần bất cứ liên hệ nào đến Đức Chúa Trời. Các dẫn chứng đã rõ như lòng bàn tay.
Gần đây, tôi có một buổi tối rảnh rỗi mà tự nó cũng là kinh nghiệm quí cho tôi. Điện thoại không reo, không có ai đến: đây là tình trạng bất thường. Để trấn an, tôi ngồi xuống, mở truyền hình và trải qua một buổi chiều tẻ nhạt nhất trong đời. Tôi lên giường với gánh nặng trong lòng cho mọi người yêu dấu trong nước mình, là những người không biết làm gì khác ngoài việc xem truyền hình.
Tôi không muốn chống lại truyền hình. Tôi thích tin tức, thể thao và đài phát tin BBC. Nhưng nội dung trống rỗng và chết ngắt, khiến tôi chỉ thêm nản lòng vô kể.
Tôi nói điều này với một người bạn và chị hỏi tôi: Anh có xem chương trình kịch nhiều kỳ vào buổi chiều gần đây không?
+ ‘Tôi không xem chương trình đó đã nhiều năm rồi’.
Chị nói: Lâu lâu cũng nên xem một chút, ngay cả khi nó có vẻ tệ hại
Đài truyền hình của chúng ta đang làm gì? - Đơn giản là phác hoạ xã hội hiện tại. Chúng ta biết rõ rằng vì hoạt động theo lợi nhuận nên Truyền hình chỉ cung cấp những gì chúng ta muốn. Điều này nói gì về xã hội chúng ta? Không gì khác hơn là chúng ta đã trở nên vô cùng sinh động trong sự bất kính, bị thế tục hóa một cách sâu sắc và bị neo chặt vào đời nầy.
Chìm ngập trong sự không tin kính và các thái độ xấu, vì chúng đã bén rễ trong tình dục thế gian, chúng ta thường không nhận ra rằng mình đã bị chúng khống chế dường bao. Chúng ta cũng không nhận ra rằng sự suy nghĩ, đạo đức, các sinh hoạt của mình chỉ đơn thuần là kiểu mẫu trái với bản tánh của Đức Chúa Trời. Đó là nan đề của dân Chúa.
LẤP ĐẦY LỖ HỔNG
Đức Chúa Trời đã làm gì để giải quyết tình trạng nầy? Trở lại hình ảnh minh hoạ là cầu Thiên Môn, chúng ta có lời đáp. Bạn có nhớ hai cái tháp nầy không? Đọc phân đoạn Kinh Thánh nầy trong Tít, bạn sẽ thấy từ đó nổi bật hai tháp lớn. Chúng được nhận diện bởi từ đã xuấthiện hay đang xuất hiện. Xin cẩn thận chú ý từ nầy. Trong câu 11, Phaolô viết: ‘Vả ân điển của Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được tỏ ra rồi’. Rồi trong câu 13, ông nói: ‘Đang khi chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta là sự hiện ra vinh hiển của Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ’.
Trong cùng một ý, epiphany - xuất hiện- có thể được dùng để mô tả ánh sáng bỗng nhiên bùng lên khi mặt trời mọc. Tôi thường đi các chuyến bay đêm vòng quanh thế giới. Một trong những giây phút tuyệt vời nhất là khi rạng đông đến, mặt trời bỗng bùng lên trên chân trời. Đó là sự xuất hiện trong ý nghĩa mà người Hylạp dùng: bỗng nhiên xuất hiện.
Nhưng ý tưởng đã được lấy và dùng theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, các hoàng đế ngày xưa dùng epiphany để mô tả sự xuất hiện đầy ấn tượng của họ trong một hoàn cảnh nào đó. Khi hoàng hậu Elizabeth II đi du lịch bờ biển phía Tây nước Mỹ, thật thích thú khi thấy sự đáp ứng của nhiều người. Họ nhận ra sự uy nghi đáng kính, những điều không thể mô tả về nữ hoàng. Khi bà xuất hiện, dân sự vây kín xung quanh và đa số tỏ ra thoả lòng khi được gặp nữ hoàng. Và rồi tại đây là sự hiện ra, xuất hiện uy nghi - epiphany.
Hai tháp: sự đến thứ nhất và thứ hai của Đấng Christ
Đức Chúa Trời đã hoạch định hai sự xuất hiện oai nghiêm, đầy ấn tượng, và đó là những cái tháp của chiếc cầu mà Ngài đang xây. Thứ nhất là sự hiện ra lịch sử, đã xảy ra. Thứ nhì là sự hiện ra vào ngày tận thế, chưa xảy ra.
Tháp thứ nhất là sự hiện ra của ân điển. Ân điển là một thuật ngữ mới mà chúng ta quen thuộc, thường nghe. Điều này thật sự có nghĩa là ‘Đặc ân vô giá của Đức Chúa Trời đến từ sự chọn lựa tình nguyện của Ngài’. Nhân loại- (không tin kính, chìm sâu trong sự yêu mến thế gian, mọc rễ trong đời nầy, vui trong điều ác, tự bào chữa cho mình), đặc biệt không thích đến với Đức Chúa Trời và nói: Lạy Đức Chúa Trời, xin can thiệp. Ngài chạm đến con người trước khi họ muốn bất cứ điều gì khác. Lý do thật đơn giản vì Ngài quyết định ban cho chúng ta cách tự nguyện và không đòi hỏi, điều chúng ta không xứng đáng. Đó là sự lựa chọn tự do của Ngài, là sáng kiến của Ngài; Ngài quyết định làm điều đó.
Sự xuất hiện của ân điển, đặc ân vô giá của Đức Chúa Trời, được bày tỏ qua sự Nhập thể. Chúa Jêsus đã đặt vinh hiển Ngài qua một bên, nhận lấy nhân tánh, và xuất hiện trên đất. Ba mươi năm Ngài đã ở giữa chúng ta, cách oai nghiêm và đầy xúc động, bày tỏ Đức Chúa Trời trong thân xác con người. Kết thúc 33 năm nầy, Ngài đã tuôn đổ mạng sống mình ra. Đến ngày thứ ba, Ngài sống lại từ trong kẻ chết, tỏ mình cách công khai và như vậy, Ngài cho thấy điều Đức Chúa Trời đã chuẩn bị ban cho chúng ta, không vì lý do nào khác hơn là Ngài chọn sự nhân từ để đãi chúng ta.
Sự nhập thể, đóng đinh và sống lại -đây là các thuật ngữ ghi dưới tiêu đề của tháp lớn (I) về sự hiện ra của ân điển. Những gì Đức Chúa Trời đã chọn làm vì tình trạng nhân loại được xây trên tháp thứ nhất. Ngài đã chọn để ban cho chúng ta sự Nhập thể và Thập tự giá của chính Ngài. Ngài đã chọn để ban cho chúng ta sự Sống lại. Tất cả là công việc của ân điển.
Nhưng, không thể treo lơ lửng chiếc cầu trên một tháp. Phải có hai. Vậy, có hai sự hiện ra. Tháp thứ hai là sự hiện ra của vinh hiển. Và Phaolô bảo Tít rằng những người hiểu ân điển của Đức Chúa Trời, vui mừng vì điều đó và nói: ‘Ôi, Đức Chúa Trời, thật kỳ diệu rằng Ngài đối đãi chúng con bằng ân điển’. Họ tiên đoán sự hiện ra thứ hai. Phấn khởi về điều Đức Chúa Trời đã làm trong ân điển, họ lại càng thêm phấn khởi về những gì Ngài sắp làm để hoàn tất mọi việc Ngài đã định.
Ngài sắp làm điều gì? Ngài đã đặt kế hoạch cho một sự hiện ra đầy phấn khởi, một sự xuất hiện khác. Như mặt trời bỗng hiện ra vào bình minh và đem ánh sáng cho thế giới, Chúa Jêsus chúng ta cũng vậy. Ngài đã một lần hiện đến trong thế giới loài người cách oai nghiêm, Ngài sẽ làm như thế một lần nữa. Trong Kinh Thánh chúng ta được dạy rõ rằng Chúa Jêsus, Đấng đã đến cũng sẽ đến một lần nữa. Sự kiện nầy được gọi là sự Hiện Đến Thứ Hai. Đó là tháp thứ hai.
Nếu bạn khám phá được ý nghĩa của ân điển và sự kỳ diệu của những điều Đức Chúa Trời đã ban cho bạn trong Đấng Christ, thì bạn sẽ đáp ứng ân điển Ngài và quyết định bước ra khỏi bán đảo và đi về phía cây cầu. Lúc bước lên cầu, bạn sẽ đi đến tháp thứ nhất: sự hiện ra của ân điển và bạn sẽ nói: Lạy Đức Chúa Trời, trong sự vinh hiển lớn lao và uy nghi, Ngài đã ban cho chúng con Đấng Christ. Chúng con tin cậy Ngài. Và rồi bạn sẽ tiếp tục bước qua cầu đến tháp thứ hai, khi Đấng bạn tin cậy sẽ lại đến một lần nữa để đem bạn về với Ngài đời đời. Phaolô gọi điều này là ‘niềm hy vọng phước hạnh’ trong Tit Tt 2:13.
Khi Kinh Thánh nói về niềm hy vọng phước hạnh không có nghĩa là mơ ước đang khi suy nghĩ. Nhưng là vững vàng tin chắc điều sẽ đến khi biết rõ Đấng mình đã tin. Bạn đã bước ra khỏi bán đảo, nơi bạn có đời sống không tin kính và ham mến thế gian, bị neo chặt trong đời nầy và tuôn tràn sự gian ác. Bạn đã cam kết dâng mình cho Chúa và đang bắt đầu qua cầu, nhanh chóng tiến đến tháp thứ hai khi ngày lớn và vinh hiển của Đấng Christ sẽ đến. Sự đến thứ hai của Chúa Jêsus mà chúng ta mong đợi cách vững vàng, là tháp thứ hai của chiếc cầu nầy.
Vậy, dự án của Đức Chúa Trời nhằm giải quyết nan đề của dân sự Ngài là trước nhất, Ngài xây hai cái tháp: sự hiện ra của ân điển và sự hiện ra của vinh hiển, sự xuất hiện lịch sử và sự hiện đến vào thời kỳ cuối cùng. Chúng được xây dựng chắc chắn. Một đã xảy ra; một chắc chắn sẽ đến. Đây là căn bản của đức tin chúng ta.
Hai dây cáp: sự Cứu chuộc và Thánh hóa
Treo trên hai tháp nầy là hai dây cáp bởi đó, mọi thứ được mắc vào. Dây cáp thứ nhất là kinh nghiệm sự cứu chuộc. Tit Tt 2:14 nói rằng Chúa Jêsus Christ chúng ta, Đức Chúa Trời vĩ đại và Cứu Chúa chúng ta: ‘Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta ra khỏi tội lỗi’. Và tiếp tục nói rằng Ngài phó chính Ngài cho chúng ta ‘và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài’. Dây cáp thứ hai là sự thánh hóa.
Sự cứu chuộc có nghĩa là gì? Chú ý sự diễn tả được dùng ở đây. Ngài ‘là Đấng liều mình vì chúng ta để cứu chuộc chúng ta’, tương tự với sự biểu lộ được tìm thấy trong ITi1Tm 2:6 ‘Ngài đã phó chính mình Ngài để làm giá chuộc nhiều người -ấy là chứng đã làm đúng kỳ’. Ý tưởng về sự cứu chuộc hay giá phải trả (ransom), đã rải cách mạnh mẽ xuyên suốt sự dạy dỗ của Tân Ước. Chúa chúng ta là Jêsus Christ đã giải cứu nhiều kẻ bị bắt cóc. Nếu có thể hoà nhập ẩn dụ nầy, thì những kẻ bị bắt cóc đang ở trên bán đảo. Họ bị kẹt lại ở đó bởi sự không tin kính và gian ác của mình, bị chìm đắm do ham mến đời nầy và bằng mọi cách, cần được cứu khỏi tình trạng này.
Ngoài dây cáp Cứu chuộc, còn dây cáp Thánh hóa. Đấng Christ không chỉ quan tâm trả xong giá cứu chuộc để giải phóng chúng ta; Ngài còn tiến xa hơn nữa. Ngài muốn chúng ta từng trải sự thánh hóa. Thuật ngữ dùng ở đây là ‘để tinh lọc’ - tinh luyện cho chính Chúa một dân thuộc riêng về Ngài.
Xem xét thành ngữ ‘một dân thuộc riêng về Ngài’, lại thấy một từ phong phú khác có nghĩa là sự sở hữu rất đặc biệt. Thành ngữ này ra từ Cựu Ước XuXh 19:5, nơi Đức Giêhôva nói Y-sơ-ra-ên là một dân tộc đặt biệt, duy nhất của riêng Ngài. Ý tưởng nầy xuyên suốt Cựu Ước và xuất hiện trong Tân Ước tại đây, không nói về dân Y-sơ-ra-ên ngày nay, nhưng về Hội thánh của Chúa Jêsus Christ.
Vậy, suy nghĩ về sự thánh hóa, phải nhận thức điều nầy trước nhất: Khi cứu chuộc cuộc đời chúng ta, Chúa Jêsus cũng bắt đầu thánh hóa chúng ta. Vì nếu Ngài đã dẫn chúng ta ra khỏi chợ nô lệ bằng sự cứu chuộc, chúng ta trở thành của riêng Ngài. Như sứ đồ Phaolô đã nói trong ICo1Cr 6:19-20: ‘Anh em chẳng thuộc về chính mình nữa. Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi’.
Đó là điều dân sự của Đức Chúa Trời phải nắm giữ. Vì, đôi khi chúng ta mời thân hữu cầu nguyện tiếp nhận Đấng Christ hay mời Chúa Jêsus vào lòng. Họ dễ cầu nguyện hay mời Chúa như vậy, nhưng chưa đủ. Cần giải thích rõ: ‘Xin lắng nghe, nếu bạn kinh nghiệm sự cứu chuộc, thì đương nhiên được dự phần trong sự thánh hóa. Vì lẽ qua sự cứu chuộc, Đấng Christ đã trả giá để mua bạn rồi, thì trong tiến trình thánh hóa Ngài chiếm hữu bạn làm của riêng Ngài. Rõ ràng, bạn đã thuộc về Ngài’.
Lý do tôi muốn nhấn mạnh ở đây vì bạn có thể giúp người ta cầu nguyện tin nhận Đấng Christ mà chính họ lại không nghĩ gì về việc thuộc quyền sở hữu của Ngài; họ thích là của riêng họ. Chúng ta không thể đu đưa chiếc cầu trên một dây cáp. Có một dây cáp cứu chuộc, nơi chúng ta được mua lại thì cũng có dây cáp của sự nên thánh, nơi chúng ta được sở hữu.
Trong các chợ nô lệ thời Tân Ước, người ta đến trả giá để mua một nô lệ. Người mua sẽ tháo xiềng xích ra khỏi tay và chân kẻ nô lệ mình đã mua, cầm tay người dẫn đi, đưa vào một từng trải mới. Nói cách khác, người mua sẽ trả tiền chuộc và đem kẻ nô lệ về sống trong nhà mình. Điều gì cần làm trước? Kẻ nô lệ nầy phải được làm sạch trước. Đó là tiến trình tinh lọc. Đây là tất cả phần việc của Hội thánh Chúa Jêsus Christ. Thánh hóa, một mặt có nghĩa là chúng ta đã được biệt riêng cho Đức Chúa Trời và thuộc về Ngài; nhưng mặt khác, có nghĩa là nay đã thuộc về Ngài thì chúng ta phải làm sạch mọi hành vi của mình.
Vậy, dự án hoàn hảo của Đức Chúa Trời là gì? Đó là lấp đầy khoảng cách giữa nơi con người đang ở và nơi Ngài muốn họ có mặt. Ngài thực hiện điều đó cách nào? Đầu tiên, Ngài xây tháp về sự xuất hiện của ân điển - Điều này đã hoàn tất. Rồi Ngài xây tháp thứ hai, sự xuất hiện của vinh hiển - Điều này sẽ đến. Rồi trên hai tháp nầy Ngài cột dây cáp của sự cứu chuộc, nơi mọi người có khả năng được mua lại khỏi tội lỗi và thoát khỏi tình trạng của họ; rồi Ngài cột sợi cáp của sự thánh hóa là nơi mà khi đã thoát khỏi tình trạng tội lỗi, họ trở thành của riêng Ngài và Ngài bắt đầu thanh tẩy hành vi của họ. Chiếc cầu này đang được xây cách liên tục.
Bước qua cầu
Bây giờ, có người hiểu được tiến trình và đang trên đường đi ra khỏi bán đảo, nhưng phải làm gì cho họ đây?
Giáo dục: mở mang trí tuệ và áp dụng
Đầu tiên, tiến trình giáo dục phải được xây dựng trong con người. Phaolô nói ân điển của Đức Chúa Trời ‘dạy chúng ta biết nói: Không’ (Tit Tt 2:12). Mặt khác, khi hiểu ân điển của Đức Chúa Trời thì chính tôi đang bày tỏ tiến trình xây dựng của ân điển.
Tôi tin rằng một trong số nhu cầu lớn của tín đồ là hiểu rõ ân điển của Đức Chúa Trời. Ý tưởng về đặc ân vô giá từ Ngài, sự ban cho không hạn chế và quyền năng vô hạn của Ngài sẵn sàng cung ứng cho chúng ta, không vì một lý do nào khác hơn: Ngài đã chọn làm mọi sự đó; đây là điều đáng thuyết phục, cảm hoá lòng chúng ta. Vì sao? Nếu tôi hiểu ân điển đã dẫn Đấng Christ đến chỗ phó mình vì tôi, thay thế tôi và Ngài cần làm mọi sự nầy vì tôi không tin kính, gian ác, ham mê thế gian và hiện đang neo chặt vào đời nầy, nếu hiểu được điều đó, tôi sẽ thưa: ‘Lạy Đức Chúa Trời, con thật không thể trở lại với sự ham mê thế gian. Lạy Chúa! Nếu ân điển Ngài đã đem con ra khỏi mọi điều đó thì con không thể quay trở lại nữa’. Ân điển Chúa đã xuất hiện và bùng cháy trong đời sống tôi cách xúc động, uy nghi như mặt trời mọc, dạy rằng tôi không thể trở lại nếp sống cũ. Ân điển Ngài dạy tôi nói: Không.
Đây là khởi đầu của tiến trình tinh luyện, nơi vài người cần bắt đầu. Cần xem xét điều nầy cách nghiêm túc hơn. Thật là sỉ nhục Đức Chúa Trời khi nói rằng ân điển đã cứu chuộc tôi và đem tôi ra khỏi nơi ở ngày trước, nhưng nay tôi không muốn ở đây nữa, nên dùng mọi thì giờ để hướng về chỗ cũ.
Tiến trình cảm hoá của ân điển dạy chúng ta nói: ‘Không’ với sự không tin kính và các ham mê thế gian. Nếu bị vướng vào lối suy nghĩ thế tục và có thái độ không nghiêm túc đối với Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhận biết rằng thái độ nầy là sai, và mỗi khi chúng xuất hiện -nhờ ân điển -chúng ta nói: Không. Đó là tiến trình tinh luyện..
Không chỉ có điều đó thôi, chúng ta cũng phải học nói: Vâng - vâng với nếp sống tự chủ, ngay thẳng và tin kính. Chúng ta phải học nói: Vâng với thái độ mới về chính mình, về Đức Chúa Trời và về mọi người.
Đây là tiến trình cảm hoá và là trách nhiệm của hội thánh của Chúa Jêsus Christ để làm cho mọi người đều bước vào đó. Ân điển khai sáng. Các người nam và nữ của Đức Chúa Trời áp dụng sự cảm hoá. Đó là lý do Phaolô nói trong Tit Tt 2:15 rằng nên dạy mọi điều nầy- khích lệ người ta nói: Không, quở trách khi họ không nói: Không và hãy làm điều đó với uy quyền. Uy quyền nào? Uy quyền nầy đến vì bạn được xây trên các tháp, được treo trên các sợi cáp và đi trên chiếc cầu mà Đức Chúa Trời đã xây.
Niềm hy vọng
Kinh Thánh nói: ai tin Đấng Christ sẽ tái lâm là tin vào sự xuất hiện vinh hiển. Theo IITi 2Tm 4:8, đó là những người mong mỏi sự xuất hiện của Ngài. Vài người thật sự hồi hộp mong Chúa Jêsus trở lại, đôi khi vì cuộc sống quá khó khăn và họ muốn thoát ra khỏi. Tôi hiểu điều đó, nhưng không nghĩ đó là điều Phaolô đang nói. Ông muốn nói vì chúng ta quá phấn khởi về sự xuất hiện của ân điển - điều xảy ra khi Đấng Christ xuất hiện lần đầu - nên chúng ta mong ước sự hiện đến của Ngài để hoàn thành mọi việc Ngài đã khởi sự, kết thúc các công trình của Ngài. Và điều thật sự lôi cuốn chúng ta là trước đây Ngài đến để bị đóng đinh, nhưng lần tiếp theo này sẽ là lễ đăng quang.
Sự hăng hái
Niềm hy vọng về sự xuất hiện vinh hiển, đầy phấn khởi sẽ tác động đến hành vi của chúng ta mỗi ngày. Nó tạo nên ảnh hưởng tinh lọc lớn trên đời sống chúng ta. Nhưng cũng có yếu tố nhiệt tình nữa. Vì khi hiểu chiếc cầu và những gì Đức Chúa Trời đã làm, nhận biết những điều Ngài đã làm trong cuộc đời mình, thì chúng ta sẽ nhiệt tình mong đợi để được thấy ngày lớn và vinh hiển, đáng kính sợ của Đức Chúa Trời. Bạn biết làm cách nào bày tỏ điều nầy không? Chúng ta là những người khát vọng làm điều tốt!
Nếu thỉnh thoảng, tôi đến cùng bạn và hỏi: ‘Xin cho tôi biết hoài bão của bạn là gì’, thì bạn sẽ trả lời thế nào. Tôi thường hỏi người ta: Điều bạn thực sự muốn là gì? Bạn có biết câu trả lời đẹp đẽ nhất là gì không? - ‘Tôi thích là người tốt. Tôi thực sự muốn làm điều tốt’.
Nguyện Chúa ban cho chúng ta ân huệ để học và hiểu được món quà kỳ diệu của ân điển, trông cậy sự hiện đến thứ hai vinh quang của Ngài và sống cuộc đời hăng hái, kiên định khiến những người khác muốn biết vì sao chúng ta khác với ‘tiêu chuẩn’ của họ.
Có lẽ, trong ân điển và sự nhân từ của Ngài, chúng ta có thể nắm tay người đó và dẫn họ - anh/cô ấy - ‘bước qua cầu’ đến sự sống đời đời với Đức Chúa Trời.
Thực hành bài này
1.Nan đề của dân sự Đức Chúa Trời là gì? Ba thuật ngữ nào mô tả con người khi Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta?
2.Hai tháp nào giữ chiếc cầu giữa nhân loại và Đức Chúa Trời? Những dây cáp là gì?
3.Ngày nay, có những phần nào của chiếc cầu mà hội thánh làm ngơ? Sự nguy hiểm của việc mất một trong các phần nầy có thể là gì?
4.‘Vượt qua cầu’ bao gồm giáo dục, hy vọng và hăng hái. Điều nào trong số nầy cần nhấn mạnh nhiều trong hội thánh ngày nay?
5.Nếu có thể đào sâu sự hiểu biết về bất kỳ phần nào của chiếc cầu nầy, bạn sẽ nghiên cứu sâu phần nào trước? Vì sao?

Nhắc Nhở Dân Sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 3:1-5
Tôi đã đọc về trường hợp của một người, vì sự sai sót trong một cuộc giải phẫu não, một phần não bị dời lệch vị trí nên trí nhớ của ông hoàn toàn bị hủy hoại. Ông có khả năng hoạt động trong mọi lãnh vực khác nhưng không có trí nhớ. Mỗi lần cầm tờ báo, ông đọc như thể chẳng từng đọc trước đó. Mỗi lần gặp một người, ông như chưa từng gặp họ trước đây. Mỗi lần nghe một bản nhạc, ông như nghe lần đầu tiên. Mỗi hành động ông làm thì như thể nó chưa từng xảy ra trước đó. Thời gian của cuộc đời ông được dùng để học lại.
Điều này khiến tôi suy nghĩ, vì nhận ra chúng ta phải nhờ cậy trí nhớ nhiều dường nào. Nếu không có trí nhớ, chúng ta sẽ phải dùng mọi giây phút trong đời để học lại. Nhưng nhờ trí nhớ, chúng ta có thể giữ lại các điều đã học, tích lũy kinh nghiệm. Rồi có thể nhớ lại kinh nghiệm và kiến thức đã có và tập hợp chúng lại bất cứ lúc nào, vì vậy đời sống chúng ta không phải đầy những điều học lại nhưng là sự đáp ứng của việc tích lũy kinh nghiệm.
Trí nhớ làm phong phú đời sống chúng ta cách không ngờ. Tuy nhiên, cũng có vấn đề với trí nhớ; nếu ví nó như mỏ kim loại, thì cũng có những thứ chúng ta quên! Quên vì một số lý do: bên trong não là sự xói mòn chậm chạp đang tiến hành gọi là lão hoá. Bạn có nghe câu chuyện một giáo sư nói với sinh viên của mình: ‘Tôi muốn nói với các bạn hôm nay về sự lão hoá. Có ba chứng cớ xảy ra khi lão hóa. Thứ nhất là sự quên lãng, và... hai chứng cớ khác tôi quên mất rồi’.
Trí nhớ của bạn bắt đầu suy giảm khi bạn bắt đầu già đi, hoặc chỉ vì bạn không muốn nhớ; chúng ta thường có khả năng bỏ ra ngoài tâm trí những điều mình không muốn nhớ. Vậy, điều quan trọng là có trí nhớ trợ giúp cài sẵn trong cuộc đời mình.
Thật thú vị khi thấy Kinh Thánh thường nhấn mạnh, dầu có kinh nghiệm thuộc linh đến đâu, chúng ta vẫn luôn cần được nhắc nhở. Hãy nhớ lại Chúa Jêsus, vài ngày trước khi lìa các môn đồ, đã nói: Đức Thánh Linh sẽ đến để nhắc họ nhớ mọi điều Chúa Jêsus đã phán (GiGa 14:26).
Không chỉ thế, Kinh Thánh thường cho rằng trách nhiệm chính của người lãnh đạo Cơ-đốc là tiếp tục nhắc nhở mọi người. Vì sao? Vì lẽ để làm cho tăng trưởng thì không cần phải học lại kinh nghiệm thuộc linh mỗi khi gặp vấn đề, nhưng chỉ cần nhớ lại lẽ thật và kinh nghiệm đã tích lũy qua nhiều năm tháng. Chúng ta xây dựng và trưởng thành qua sự đáp ứng với điều đóù.
Cũng vậy, Phaolô lệnh cho Tít tiếp tục nhắc nhở dân sự một số điều. Samuel Johnson của nước Anh có lần đã nói: ’Chúng ta không hiểu rằng đúng ra, người ta thường cần được nhắc hơn là dạy’. Và chân thành mà nói, khi nhìn vào kinh nghiệm thuộc linh của mình, tôi thiết nghĩ nhiều người sẽ nhận thấy mình không cần thêm kinh nghiệm mới hay tin tức và lẽ thật mới. Nhưng, chúng ta cần được thường xuyên nhắc nhở, để có kinh nghiệm phù hợp với lẽ thật mà mình đã nhận.
Tit Tt 3:1-5 bắt đầu bằng Hãy nhắc. Trong nguyên ngữ, động từ này ở thì hiện tại và có nghĩa là ‘tiếp tục nhắc nhở’. Xin chú ý, phân đoạn nầy đề cập ba điều cần được nhắc nhở: Cách chúng ta từng sống, cách chúng ta được cứu và tư cách hiện nay của dân sự Đức Chúa Trời.
Cách chúng ta từng sống
Theo sứ đồ Phaolô, việc quan trọng là tiếp tục nhắc nhở những người xưng mình là môn đồ Chúa Jêsus về việc họ từng sống như thế nào. Ông không bảo Tit: Cơ-đốc-nhân phải thường xuyên khơi lại các kinh nghiệm trước đây, nhưng cho rằng đó là điều lành mạnh, nếu đang tăng trưởng mà được định hướng tốt. Và sự định hướng nầy đến từ việc nhận biết mình đã từng ở đâu.
Trí khôn tối tăm
‘Vì chưng chúng ta ngày trước cũng ngu muội’ (Tit Tt 3:3). Thành ngữ này nói về mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Ngày nay, khi nói về những người khờ hay có tính khờ dại, chúng ta muốn nói khác với thời Tân Ước. Thời trước, đó là người vô tư, không suy nghĩ gì về Đức Chúa Trời. Bạn còn nhớ ChCn 1:7: ‘Kính sợ Đức Giêâhôva là khởi đầu sự khôn ngoan’. Nói cách khác, sự hiểu biết về Đức Chúa Trời là nền tảng căn bản cho mọi tri thức thật.
Sứ đồ Phaolô nói với Tít, con và ta cũng như mọi người tại Cơrết này, trước đây trí khôn đã từng bị tối tăm không hiểu về sự sống. Nguyên do vì không nhận biết Đức Chúa Trời. Không biết Chúa, nên không hiểu rằng mọi vật đã được dựng nên và được gìn giữ bởi quyền năng cao cả của Ngài; chúng ta không có ý thức về mục đích hay giá trị đời đời của sự sống. Vì không biết Đức Chúa Trời, nên không hiểu về con người hay các mối quan hệ là thực hữu. Chúng ta biết nhiều điều, nhưng lại không biết Đức Chúa Trời. Và vì thiếu tri thức (hay là ngu dại) về Đức Chúa Trời, trí khôn chúng ta đã bị tối tăm trong mọi lãnh vực của kinh nghiệm sống.
Nhiều người nhìn lại thời điểm Đức Chúa Trời chiếu sự sáng vào cuộc đời mình và mọi sự bắt đầu có ý nghĩa. Đúng ra điều gì đã làm cho bừng sáng? Đó là sự kiện chúng ta nhận biết Ngài. Và khi ánh sáng Chúa chiếu trên bóng tối của cuộc đời, chúng ta nhận ra mình đã tối tăm là bao. Phaolô viết: ‘Chúng ta ngày trước cũng ngu muội’. Trí khôn bị tối tăm.
Không vâng theo lẽ thật của Đức Chúa Trời
Phaolô nói, chúng ta cũng từng bội nghịch. Có thể không vâng lời Đức Chúa Trời qua nhiều cách. Đơn giản như khi đọc Lời Chúa mà nghĩ: ‘Tôi không tin, không tiếp nhận và không muốn liên hệ với điều đó. Đơn giản, tôi làm ngơ hoàn toàn’, đó là không vâng lời.
Người khác lại nghĩ: ‘Phải, tôi tin đó là Lời Chúa và là điều nên làm; nhưng thật ra, còn các cân nhắc khác nên tôi thích làm sự mình muốn hơn là điều Chúa muốn’. Đó cũng là không vâng lời.
Cùng một ý nghĩa đó, nếu trong đời sống tôi tự xui mình làm ngơ điều Đức Chúa Trời nói, đó cũng là không vâng lời. Còn trường hợp đặc biệt của những người lớn lên trong xã hội Cơ-đốc phương Tây, luôn có cơ hội đọc Lời Chúa và vô số sách khác, các báo chí Cơ-đốc xuất bản hằng ngày hay định kỳ; theo dõi các chương trình phát thanh hoặc truyền hình Cơ-đốc mà vẫn không màng tìm hiểu điều Chúa phán dạy-đó là không vâng lời Chúa cách trắng trợn. Và nhiều người có thể nhìn lại thời điểm mà họ tự mình làm ngơ điều Đức Chúa Trời tuyên phán.
Bị lừa dối bởi tin tức sai lạc
Rồi Phaolô tiếp tục nói về mối liên hệ với chính mình. Đã có thời, chúng ta cũng ‘bị lừa dối và làm nô lệ cho mọi loại ham muốn và khoái lạc’. Ông nói, bị tin tức sai lạc lừa dối.
Chúng ta dễ nhận ra thời điểm lẽ thật của Đức Chúa Trời bừng sáng trong tâm trí và bắt đầu hiểu ra mình đã sai lầm dường nào về sự nhận biết Ngài hay mọi điều khác. Khi sai lạc với Đức Chúa Trời, tôi lầm lẫn về thế giới, nhân loại và xã hội. Khi sai lạc với Ngài, tôi lầm lẫn về thực tại và thời kỳ. Đây là ý tưởng bao trùm toàn thể, nhưng lại là sự thật. Khi sai lạc về Đức Chúa Trời, có nghĩa là tôi đang phát triển một thứ triết lý và lối sống mà tôi cho là đúng, nhưng chỉ khi nào Chúa chiếu sáng lẽ thật của Ngài vào cuộc đời, tôi mới hiểu ra rằng mình đã sống những năm bị lừa dối và lầm lạc. Điều tôi cho là thật, lại không thật chút nào. Điều tôi nghĩ là thực tế, thật ra chỉ là ảo tưởng. Điều tôi xem là đường đi, thực tế lại dẫn đến sự hủy hoại.
Kinh Thánh tuyên bố: ‘Có một con đường coi dường như chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết’ (ChCn 14:12). Thật quan trọng để nhắc nhở mọi người rằng trước khi biết Đức Chúa Trời và nhìn nhận Đấng Christ là Chúa Cứu Thế và Chủ, họ đã sống cuộc đời được tiêu biểu bằng sự tối tăm và không vâng lời, trong quan hệ với Đức Chúa Trời. Về mặt tâm linh, họ hoàn toàn bị lầm lạc. Kẻ thù của linh hồn họ đã cung cấp mọi loại thông tin sai lạc, và họ đã lầm lẫn mọi điều.
Nhiều người thường tâm sự với tôi: ‘Ông biết không? Nhìn lại cuộc đời mình, tôi thật không thể tin nổi mình đã lầm lẫn bao điều, đã bao lần quyết định sai, và sa vào bao nhiêu tình trạng hỗn loạn không tưởng’. Vì sao vậy? Vì họ sống xa cách Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài. Họ đã bị kẻ thù của linh hồn mình lừa dối.
Bị cai trị bởi sự tự kỷ trung tâm
Chú ý: Phaolô nói rằng chúng ta bị thống trị bởi sự quan tâm đến chính mình. Chúng ta ‘bị lừa dối và bị đủ thứ tham dục và khoái lạc sai khiến’. Người ta nghĩ khoái lạc là nhất và thích đắm mình trong các đam mê của riêng họ. Xã hội ngày nay tán thành: ‘Lúc có thể, hãy tìm kiếm càng nhiều khoái lạc càng tốt; nếu điều đó cảm thấy tốt, hãy làm đi’. Nhưng Kinh Thánh dạy điều họ không hề đề cập: Khi buông mình vào dục vọng, chỉ quan tâm đến khoái lạc riêng, thì cuộc đời bạn sẽ kết thúc bằng kiếp nô lệ cho dục vọng và khoái lạc. Phaolô nói điều đó trong Tit Tt 3:3.
Kinh Thánh khẳng định nhiều điều hoàn toàn trái ngược quan điểm con người. Xã hội cho rằng dục vọng là lãnh vực riêng tư và nên buông mình hưởng thụ nó- khoái lạc là quan trọng và sự chi đem đến khoái lạc, điều đó hẳn là tốt.
Kinh Thánh cho biết đi theo con đường ham mê dục vọng, say đắm các khoái lạc, bạn sẽ hoàn toàn trở thành nô lệ cho nó.
Đó chính là điều xã hội khuyến khích nên làm. Họ nhất quyết chủ trương tự do luyến ái. Nhưng không hề cho biết là khi sa vào tự do luyến ái hay lối sống tình dục trao đổi luân phiên - hoặc dưới bất kỳ tên gọi nào khác - chúng ta sẽ trở thành nô lệ cho dục vọng của mình, vì sẽ bị hoàn toàn tiêu hủy bởi ước muốn tự thỏa mãn cho mình. Và nếu khoái lạc là khẩu hiệu của đời sống và chỉ có thể vui khi kinh nghiệm sự khoái lạc, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhàm chán hoặc phải dự phần vào bất kỳ việc nào có tính thế tục hay theo lề thói hàng ngày (routine). Sống theo lối đó, chúng ta sẽ tiêu tốn tất cả thì giờ, tiền bạc và năng lực để cố né tránh thế giới thật và trở thành nô lệ cho ước muốn chạy trốn thực tế.
Đó là nơi chúng ta từng ở - bị thống trị hoàn toàn bởi ước muốn khoái lạc, nhất quyết đòi tự do nuông chìu dục vọng. Chúng ta bị chính dục vọng của mình cầm giữ, khống chế và nô lệ hoá.
Bị méo mó trong các mối liên hệ
Khi mối liên hệ giữa tôi với Đức Chúa Trời bị lầm lạc, thì mối tương quan với chính mình sẽ méo mó. Và như vậy, mối tương quan với người khác cũng không khỏi bị lầm lạc. Người chỉ quan tâm đến tình dục và khoái lạc riêng cho mình không thể là người chồng tốt. Người nữ nào chỉ quan tâm đến sự bảo đảm rằng mình luôn được săn sóc và hạnh phúc không thể là người mẹ hay vợ tốt. Và người chỉ chú tâm vào chính mình sẽ là một công nhân tồi hoặc là người chủ xấu.
Nói cách khác, khi nhận biết mình sai với Đức Chúa Trời thì sẽ nhận ra tôi cũng sai với chính mình và với người khác ở mọi nơi. Phaolô nói: ‘Vì chưng chúng ta ngày trước cũng ngu muội, bội nghịch’ (đối với Đức Chúa Trời), ‘bị lừa dối, bị đủ thứ tham dục dâm dật sai khiến’ (đối với chính mình). Rồi, ông tiếp: ‘sống trong sự hung ác tham lam, đáng bị người ta ghét và tự chúng ta cũng ghét lẫn nhau’. Nhiều người trong chúng ta biết điều nầy là đúng.
Nhưng, nhìn vào đời sống mình, cần nhận biết mối tương quan với người khác đã hoàn toàn bị méo mó, vì chúng ta phản ứng với họ không như đáng phải có. Thí dụ như đã lập gia đình, thì nên thích gì? Tình yêu chăng? - Không, tình dục. Khi kết hôn, nên quan tâm đến gì? Cam kết chung thủy cho đến chết chăng? - Không. Khoái lạc riêng là mọi điều chúng ta muốn. Chúng ta không thích Lời Đức Chúa Trời dạy về hôn nhân, cũng như về gia đình.
Nếu sống cuộc đời bảo đảm rằng mình sẽ vui vẻ, dục vọng luôn được thoả mãn, tôi sẽ thành vô cùng độc ác khi người khác không làm như tôi muốn. Điều này dẫn đến sự căm ghét. Trong xã hội ngày nay, các cuộc hôn nhân thường tương phản với điều nên có. Nhiều nơi, gia đình là tranh biếm họa ô nhục thay cho mái ấm đáng phải có. Chúng ta giải thích kết cuộc phân đôi nầy ra sao? Vì chúng ta sai lầm với Đức Chúa Trời, đều sai trong tương quan với chính mình, và không thể có mối liên hệ phải lẽ với nhau.
Bạn có thể nhìn lại thời điểm mình từng sống như loại người vừa được mô tả không? Quan trọng hơn, bạn có thể nhìn lại chính mình ngày nay và thấy sự khác biệt không? Điều này dẫn chúng ta sang điểm thứ hai. Cần tiếp tục nhắc người ta nhớ họ đã từng sống ra sao, và rồi được cứu thế nào.
Chúng ta được cứu thể nào
Nhưng là một từ quan trọng của Kinh Thánh mà tôi ưa thích. Nên khoanh tròn từ nhưng, vì bạn sẽ gặp ý trái ngược với điều vừa nói. Phaolô bảo ‘Chúng ta ngày trước đã...’ rồi tiếp tục nói: Nhưng.
Tiến sĩ Martin Lloyd-Jones, một nhà giảng thuyết nổi tiếng ở Luân đôn, khi dạy thơ Rôma đến chỗ: ‘Nhưng Đức Chúa Trời’, tôi nhớ ông đã dùng hai tháng chỉ để giải thích cụm từ nhỏ này. Tôi hứa giải thích ngắn hơn!
‘Nhưng từ khi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người đã được bày ra thì Ngài cứu chúng ta’ (Tit Tt 3:4-5). Vì sao cần tiếp tục tự nhắc cách mình đã sống? Vì khi nhớ về nếp sống cũ thì lại càng phấn khởi về cách Đức Chúa Trời đã cứu mình
Qua hành động của Đức Chúa Trời
Trước hết, Cứu rỗi là hành động của Đức Chúa Trời là Cứu Chúa vì cớ chúng ta, chứ không ra từ con người. Câu 4,5 viết: ‘Nhưng từ khi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người đã được bày ra thì Ngài cứu chúng ta, không phải vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài’.
Chúng ta có thể biết Đức Chúa Trời qua nhiều lãnh vực: Ngài là Cha, là Tạo hoá, Đấng Dựng nên, là Quan xét, Bảo vệ, là Đấng Chăn dắt ... Nhưng bạn phải biết Ngài như Cứu Chúa, Đấng can thiệp trực tiếp vào công việc của bạn và xử lý tội lỗi bạn. Ngài cần được biết như Cứu Chúa, Đấng ngự vào cuộc đời và biến đổi bạn từ người cũ sang con người ngày nay.
Vì sao Ngài làm điều đóù? Phải chăng vì bạn xứng đáng? Không phải. Hay vì bạn có công? Cũng không. Hoặc theo ý bạn mà Ngài làm như thế? Không đâu. Vậy, vì sao Ngài làm điều đó? Vì lòng yêu thương, nhân từ và ân điển vô giá của Ngài. Bạn được biến đổi từ người cũ sang người mới hiện nay hoàn toàn do Đức Chúa Trời và chỉ bởi Ngài mà thôi.
Chúng ta đã được tẩy não khi in trí rằng để có điều nào đó trong đời thì chính mình phải tự làm lấy. Vậy, bây giờ hãy nhận rõ điều này như chưa từng nhận ra trước đây: Bạn không thể tự cứu mình!
Cách đây vài năm ở Anh, tôi hướng dẫn một hội nghị cho các em thiếu niên chán đời. Đó là một ngày mùa hè tiêu biểu với cơn mưa trắng xóa phủ kín cả bầu trời. Có khoảng 500 em ở đó, chỉ biết đi lòng vòng và nhìn mưa rơi ngoài khung cửa, buồn muốn khóc. Tôi suy nghĩ phải làm một điều gì đó và mang một cái xô vào giữa phòng. Rồi nói: Ở đây tôi có một Bảng Anh, giấy bạc màu xanh cứng, dành cho người đầu tiên nào có thể đứng trong cái xô nầy và tự nhấc mình lên khỏi nền nhà. Các em nghĩ rằng đó là giải thưởng dễ lấy nhất trong đời. Trò chơi nầy làm chúng vui suốt buổi chiều, cố lấy cho được đồng Bảng đó. Nhưng tôi vẫn còn giữ nó đây, vì lẽ không ai có thể tự nhấc mình lên khỏi nền nhà đang khi đứng trong cái xô của họ. Cũng vậy, bạn không thể tự cứu mình được. Đó là hành động của Đức Chúa Trời, Ngài can thiệp vào cuộc đời bạn.
Đức Chúa Trời với tình yêu thương, sự nhân từ và quyền năng, là Cứu Chúa đã bước vào cuộc đời chúng ta và làm cho chúng ta điều chúng ta không thể tự mình làm được. Chú ý cách Phaolô nói trong câu 4: ‘Nhưng từ khi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, và tình yêu thương Ngài đối với mọi người chúng ta đã được bày ra’.
Bạn còn nhớ chiếc cầu treo chứ? Hãy nhớ cách Đức Chúa Trời đã hiện ra và cách Ngài sẽ xuất hiện; sự hiện ra lần I của Ngài là sự hiện ra của ân điển, khi Đức Chúa Trời xuất hiện qua thân vị của Đấng Christ, giống như bình minh chiếu sáng chân trời và xua tan bóng tối. Đức Chúa Trời đã hiện ra trong Đấng Christ. Ngài đã sống trên đất; đã chết trên thập tự giá; Ngài đã sống lại và về trời. Đó là sự xuất hiện vinh hiển thứ nhất của Chúa Cứu Thế chúng ta. Trong sự chết và sự sống lại của Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta điều chúng ta không thể tự mình làm được. Ngài đã cứu chúng ta. Vậy, dân sự của Đức Chúa Trời biết khi trước họ ra sao, và cũng biết nay họ đã được cứu qua hành động của Đức Chúa Trời.
Qua sự kiện
Thứ hai, Cứu rỗi là một sự kiện: ‘Ngài cứu chúng ta’ (câu 5;). Sự cứu rỗi không được phân loại theo cảm nhận, hoặc không cảm nhận gì. Cứu rỗi là sự kiện lịch sử, dựa trên sự hiện ra của Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta, qua thân vị Đấng Christ. Chúa Jêsus đã thật sự giáng sanh, đã thật sống trên đất. Ngài đã thật sự chết và thật sự sống lại. Với uy quyền, Ngài tỏ mình là Con Đức Chúa Trời bởi sự sống lại từ trong kẻ chết và ban cho chúng ta sự cứu rỗi.
Sự cứu rỗi là một sự kiện cụ thể, có thể xác minh vì đã xảy ra trong lịch sử, có thời điểm, có địa điểm. Sự Cứu rỗi không chỉ là khái niệm thần học hay kinh nghiệm siêu hình, mà là một sự kiện. Đấng Christ đã hiện ra, đã chết và sống lại để cứu chúng ta. Vậy, chúng ta tiếp tục nhắc mình luôn ghi nhớ điều nầy. Đức Chúa Trời đã hành động và sự kiện đó là chắc chắn!
Thật thích thú khi chú ý rằng trong tiếng Hylạp động từ ‘đã cứu’ câu 5 ở thì quá khứ dứt khoát (aorist), tức là sự kiện đã hoàn tất. Ngài đã cứu chúng ta cách dứt khoát, chắc chắn và hiển nhiên.
Qua lời hứa
Thứ ba, sự cứu rỗi là một hiệp ước. Đức Chúa Trời đã lập một bản thỏa thuận với chúng ta. Ngài nói: ’Nếu con đến với lòng ăn năn và tin cậy, bằng lòng để ta thực hiện cho con điều mà con không tự mình làm được; nếu con để ta đưa tay ra nắm lấy cái xô -là tình trạng lúng túng con đang ở - và để cho ta qua Đấng Christ, kéo con lên khi con không thể tự kéo mình lên, ta hứa thực hiện điều đó. Ta hứa cứu con ra khỏi tội, khỏi sự tự xem mình là trung tâm, khỏi sự hư mất đời đời’. Chúng ta cần nhắc nhở người ta về điều nầy.
Tôi đã thấy nhiều người miễn cưỡng xác nhận rằng: ‘Tôi đã được cứu’. Tôi không thể hiểu tại sao. Bạn có miễn cưỡng như vậy không? Tôi xin nhắc: bạn có thể nói điều đó vì biết rõ. Và bạn biết vì Đức Chúa Trời đã hành động. Ngài đã bày tỏ cho bạn rằng sự cứu rỗi của bạn là một sự kiện. Ngài đã ký giao ước nếu bạn đến với lòng ăn năn và tin cậy, Ngài sẽ cứu bạn.
Làm sao tôi biết mình đã được cứu? Trước tiên, tôi có thể biết vì nương trên Lời Chúa nên tiếp nhận và tin cậy Ngài. Rồi tôi lại càng có thể biết rõ hơn vì tiếp tục nắm lấy Lời Ngài.
Cách cư xử của dân sự Đức Chúa Trời
Xưng nhận mình đã được cứu, rằng Đức Chúa Trời đã chạm đến cuộc đời và ban cho điều mà tôi không tự mình làm được, là một việc. Nhưng còn phải chứng tỏ điều này qua cách cư xử của mình. Dân của Đức Chúa Trời sống khác với những ai không thuộc về Ngài. Điều đó rõ đến mức không cần nói ra, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục nhắc nhau. Vì sao? Vì quả thật, cư xử khác với dân ngoại là khó lắm. Và vì khó thực hiện nên dễ bỏ qua.
Cư xử khác biệt có nghĩa là không nuông chiều chính mình theo cách chúng ta vẫn thường làm. Và vì muốn buông thả chính mình nên chúng ta cố tình quên. Cư xử khác biệt là từ chối những điều người khác chấp nhận, hoặc khước từ việc sống theo cách họ muốn mình sống, và điều đó cũng tạo ra sự xa lánh. Vậy, phải làm gì? - Thôi, quên nó đi?
Một trong số thảm trạng lớn của Hội thánh Cơ-đốc ở Bắc Mỹ là hàng triệu người xưng mình đã được cứu nhưng hoàn toàn không bày tỏ một bằng chứng cụ thể nào, vì đời sống họ thể hiện tính cách của người chưa được cứu. Và nhiều người trong Hội thánh đang có suy nghĩ rằng, một trong các thảm trạng lớn của Hội thánh Mỹ hiện nay là có đầy đủ năng lực của cả phái nam lẫn của phái nữ, nhưng lại không có sức để biến đổi xã hội. Vì sao vậy?
Khi chúng ta muốn được cứu, mà không muốn sống khác đi thì sẽ chẳng thay đổi được gì. Sứ đồ Phaolô nói: ‘Hãy nhắc lại cho các tín đồ phải vâng phục các bậc cầm quyền chấp chánh, phải vâng lời các bậc ấy, sẵn sàng làm mọi việc lành, chớ nói xấu ai, chớ tranh cạnh, hãy dung thứ, đối với mọi người tỏ ra cách mềm mại trọn vẹn’ (Tit Tt 3:1-2).
Tôn trọng bậc cầm quyền
Trước nhất, thái độ của dân sự Đức Chúa Trời phải khác biệt khi liên hệ với các bậc cầm quyền. Tôi bất bình, khó chịu khi thấy một cậu bé xưng mình là Cơ-đốc-nhân, đang tranh cãi với trọng tài. Cậu đã bày tỏ sự không tôn trọng bậc cầm quyền. Tôi không hài lòng khi một tín hữu qua sự thông công với anh em, tỏ ra không chấp nhận các người lãnh đạo được Đức Chúa Trời bổ nhiệm. Tôi thật buồn phiền về những ai xưng mình là tín hữu mà không sẵn sàng chấp nhận các bậc cầm quyền hợp pháp trong xã hội. Họ không tuân thủ các luật lệ về đất đai; họ kháng cự hay phạm luật khi có cơ hội. Hãy đối diện với điều này: Một trong số cách chứng tỏ mình đã được cứu là có thái độ tôn trọng bậc cầm quyền.
Trong xã hội ngày nay, có một thái độ vô liêm sỉ được bày tỏ với bậc cầm quyền: trong các môn thể thao; qua cách lái xe; khắp mọi tầng lớp xã hội và mọi lãnh vực của đời sống. Một trong số cách mà Cơ-đốc-nhân tỏ ra khác biệt là tôn trọng bậc cầm quyền. Vì sao? Vì họ do Đức Chúa Trời bổ nhiệm. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải luôn đồng ý với họ, hay là họ luôn luôn đúng. Nhưng vì Đức Chúa Trời đã lập họ lên, nên chúng ta cần đáp ứng cách thích đáng vì tin rằng tất cả các bậc cầm quyền đều đến từ chính Đức Chúa Trời. Dân sự của Đức Chúa Trời cần được nhắc nhở để biết cư xử đúng đối với các bậc cầm quyền.
Sống từ thiện
Hãy nhắc mọi người ‘sẵn sàng làm mọi việc lành’. Bất kỳ lúc nào có cơ hội làm điều tốt lành, tử tế và từ thiện, Cơ-đốc-nhân nên đi đầu. Hãy xem các việc làm từ thiện đang tiếp diễn trong xã hội, có nhiều nỗ lực trợ giúp những ai có nhu cầu. Điều nên ghi nhận là thường ít thấy tín hữu muốn tham dự các loại hoạt động này. Vì sao vậy? Vì họ chưa chuẩn bị để thoát khỏi việc tự xem mình là trung tâm để bước vào sự tình nguyện giúp người khác. Nhưng khi Cơ-đốc-nhân bắt đầu hiểu rằng người đã được cứu phải có thái độ khác đối với bậc cầm quyền và thái độ lành mạnh hướng về việc từ thiện thì ảnh hưởng họ tạo ra sẽ không nhỏ.
Cư xử cách trung thực
Hãy nhắc nhở mọi người ‘đừng nói xấu ai, nhưng hãy hoà thuận và tử tế, bày tỏ sự khiêm nhu thật với tất cả mọi người’. Điều này có nghĩa là nói ra sự thật và chỉ nói điều cần thiết. Ngày nay, một trong các vũ khí nguy hiểm nhất của con người là cái lưỡi. Điều chúng ta nói về người khác hoặc về nhau thường thì không thật, chắc chắn là không cần thiết và gây thiệt hại kinh khiếp. Tôi không biết đã mất bao nhiêu thì giờ trong chức vụ mục sư để cố gắng chữa lành các vết thương do cái lưỡi của một ai đó gây ra. Và quả thật, hầu hết mọi điều nói ra chắc chắn là không cần thiết và nhiều điều trong số đó lại không thật. Người nói đã thiếu trung thực cách nghiêm trọng.
Tôn trọng người khác
Một ngày kia, Nhà tôi Jill đón một chiếc xe Limousine ra phi trường Tucson, Arizona. Chiếc xe này không còn là sang trọng nữa; mà như một xe chở hàng cũ. Jill và sáu ông nữa là hành khách, với một tài xế thật lịch sự. Có lẽ vì xe cũ nên công ty cho một tài xế lịch sự lái chăng. Dù sao, xe cũng bị hỏng máy sau khi vượt qua vài dãy nhà và sáu ông khách bắt đầu nổi nóng vì sợ trễ chuyến bay. Tài xế không sửa được xe, nên Jill hỏi: Chúng ta phải làm gì đây?
Ông đáp: ‘Chắc quí vị phải ra hiệu xin đón xe khác thôi’. Jill cho biết chuyến bay của cô rất sớm- thực sự, đó là chuyến sớm nhất trong số bảy người ở đó. Một chiếc taxi trờ tới, ba ông vội vã chuyển hành lý sang xe và ra đi. Một chiếc nữa đến, ba ông còn lại tiếp tục cất cánh. Jill bị bỏ lại một mình trong chiếc xe chở hàng bị hỏng.
Tôi không thể hiểu sao các ông đó lại hành động cách thô lỗ như vậy. Có lẽ bấy lâu họ thấy có quá nhiều phụ nữ đòi bình đẳng, nên quyết định cho bình đẳng vào lúc này chăng. Có thể nói nhiều điều khi xem xét cả hai mặt của một vấn đề, nhưng có một điều không bàn cãi, đó là Cơ-đốc-nhân không thể xử sự như vậy - họ ý thức sâu sắc về việc cư xử trân trọng với mọi người. Họ ân cần, lịch sự, dịu dàng và nhu mì. Nói cách khác, Cơ-đốc-nhân tôn trọng người khác. Chúng ta cần luôn nhắc nhở nhau về điều nầy.
Thực hành bài này
1.Vì sao việc nhắc Cơ-đốc-nhân nhớ lại nếp sống trước đây của mình là quan trọng?
2.Xin giải thích lời tuyên bố của tác giả: ‘Không phải mọi người đều là dân Chúa, nhưng toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời đều là những người đã được cứu’. Xã hội chúng ta ngày nay có ‘chấp nhận’ lời này không? Vì sao?
3.Làm thế nào để dân của Đức Chúa Trời cư xử khác với những người không phải là dân Ngài?
4.Làm thế nào để qua cách cư xử, bạn có thể chứng tỏ mình đã được cứu và có mối liên hệ với Đức Chúa Trời tại:
- nhà riêng- cộng đồng dân cư
- hội thánh - nơi làm việc?

Thúc Đẩy Dân Sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 3:5-8
Một trong các chủ đề lớn được lập đi lập lại trong bức thư ngắn nầy là các tín hữu có cách cư xử đặc biệt và cụ thể. Và khía cạnh độc đáo của tư cách tín đồ là bày tỏ mối quan hệ với Đức Chúa Trời qua cách đối xử với người khác. Chúng ta thấy thư Tit luôn nhấn mạnh: Là tín đồ, bạn cần cam kết sống cuộc đời làm điều lành trong xã hội của mình.
Dầu vậy, theo kinh nghiệm tôn giáo, thật khó thúc đẩy người khác về mặt thuộc linh. Có rất nhiều lý do. Với thì giờ và năng lực có hạn, chúng ta khó xử lý và giữ quân bình cho mọi việc. Thông thường, nan đề lại rơi vào lãnh vực kinh nghiệm thuộc linh hay tôn giáo.
Điều nầy không đúng cho mọi người. Thí dụ, có người đã cống hiến hoàn toàn cho hoạt động tôn giáo. Họ được thôi thúc cách lạ lùng để dâng trọn cuộc đời. Họ sẵn lòng từ bỏ mọi sự, tuyên thệ cam kết, đến mức không còn lưu tâm đến điều gì khác ngoài kinh nghiệm thuộc linhï. Nhưng khi xem xét động cơ, bạn thường tìm ra nguyên do họ siêng năng, quyết tâm và tận hiến vì cho rằng nếu mình cống hiến đủ, bận rộn đủ, được thúc giục đủ thì hy vọng mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp và họ sẽ được cứu; họ sẽ bước vào kinh nghiệm với Đức Chúa Trời hằng sống.
Nói cách khác, nhiều người được thúc giục mạnh mẽ trong lãnh vực tôn giáo, với hy vọng mình sẽ nhận được sự cứu rỗi như một phần thưởng.
Trong khi đó, Kinh Thánh lập đi lập lại nhiều lần rằng sự cứu rỗi không hề là phần thưởng cho những cuộc đời được thúc đẩy mạnh mẽ hay tận hiến. Không chỉ trong thư Tít, Kinh Thánh luôn nhấn mạnh nguyên tắc của sự cứu rỗi không hề là: Đức Chúa Trời cứu chúng ta do các việc công bình chúng ta đã làm. Trái lại, mọi việc công bình của chúng ta ‘chỉ như áo nhớp’ trước mặt Ngài (EsIs 64:6). Chúng không hề khiến chúng ta được cứu rỗi.
Vậy, các lãnh đạo Cơ-đốc gặp nan đề lớn. Nếu suốt thời gian dài, dân sự được thúc đẩy về mặt tôn giáo - chỉ để được phần thưởng, nay bạn cất bỏ khả năng nhận phần thưởng đó thì thúc giục họ tham gia cách nào? Làm sao tạo cảm hứng cho họ để làm bất kỳ việc gì? Đây là một trong các vấn đề lớn mà Hội thánh Chúa ngày nay phải đương đầu.
Mọi người trong chức vụ đều nhận biết nan đề nầy. Vậy, có nhiều phương cách để thúc đẩy những kẻ vốn biết mình không được cứu bởi việc làm, nên không còn đặc biệt hứng thú làm bất kỳ việc gì nữa.
Nhiều diễn giả chia xẻ gánh nặng lớn của họ và nài khuyên mọi người. Thường lời kêu gọi có hiệu lực với một, hai linh hồn nhạy cảm, nhưng không tác động trên cả hội chúng. Một cách nữa là hăm dọa: ‘Nếu bạn không làm điều nầy thì tôi sẽ...’ Nhưng cũng không hiệu quả vì dù sao, người ta vẫn làm điều họ muốn. Một cách khác là thách thức họ làm điều nào đó. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, sau một thời gian được thách thức, họ trở nên chai lì với điều đó.
Vậy, kêu gọi không hiệu quả; đe dọa hay thách thức cũng không; ra tối hậu thư cũng vậy; chỉ có việc rao phần thưởng là hiệu quả lâu dài. Thế thì, làm cách nào để thúc đẩy mọi người ?
Đó là một trong các câu hỏi quan trọng nhất có thể tìm thấy trong Kinh Thánh và được Phaolô giải đáp ở đây: Ông bảo Tít cách thúc đẩy mọi người ở Cơrết sống cuộc đời tốt lành, đầy thách thức, cam kết và hết lòng dấn thân.
Sự cứu rỗi bắt nguồn từ đâu
Đầu tiên, cần chú ý rằng Phaolô nhấn mạnh sự dạy dỗ, vốn liên hệ đến chức vụ của ông và luôn công bố các lẽ thật thuộc linh quan trọng. Càng lúc, tôi càng thấy dường như sứ đồ đang khi dạy dỗ mọi người, không nói nhiều về sự kêu gọi, hăm dọa hay thách thức. Dường như ông vững tin rằng khi dân sự được dạy dỗ cách đầy đủ và thích hợp thì lẽ thật sẽ được tiếp thu và trở thành nguồn năng lực thúc đẩy lối sống của họ. Sự thôi thúc bao gồm việc nhấn mạnh những điều quan trọng.
Và Phaolô dạy điều gì? Bạn sẽ thấy ông cẩn thận tiếp tục nhấn mạnh, hầu như đến mức ‘phát chán’ rằng: sự cứu rỗi không do thành quả con người, nhưng bắt nguồn từ Đức Chúa Trời.
Ân điển của Đức Chúa Trời.
Dù đã giãi bày Lời Đức Chúa Trời trong thư Tít, tôi vẫn nhận thấy ý tưởng đã bén rễ sâu xa là ‘sự cứu rỗi đến từ cách chúng ta sống’. Cần tiếp tục nhấn mạnh rằng đây là một trong các sai lầm chủ yếu trong sự suy nghĩ của nhân loại; nó bén rễ từ lòng kiêu ngạo của con người. Chúng ta tin mình là trung tâm của mọi điều. Sâu kín trong lòng, chúng ta thật sự tin mình có giải pháp cho mọi nan đề và bằng cách nầy hay cách khác, mọi sự đều tùy thuộc nơi chúng ta; ngay cả mối tương quan thuộc linh cũng chủ yếu tùy thuộc vào việc chúng ta làm tốt và qua đó, Đức Chúa Trời mới có thể đáp ứng!
Nhưng, Kinh Thánh dạy rằng sự cứu rỗi bắt nguồn từ ân điển của Đức Chúa Trời. Tit Tt 3:7 công bố: Chúng ta nhờ ơn Ngài mà được xưng công bình. Câu 4 dạy: ‘Lòng nhân từ và yêu thương của Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta đã được bày ra’, vì thế Ngài có thể cứu chúng ta ‘theo lòng thương xót Ngài’ (câu 5;). Bạn kinh nghiệm sự cứu rỗi hoàn toàn do ân điển, lòng thương xót, sự nhân từ và yêu thương của Đức Chúa Trời. Ân điển bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, vì Ngài muốn ban cho điều bạn không hề xứng đáng. Điều này hoàn toàn là nền tảng độc nhất của Cơ-đốc giáo.
Thân vị của Chúa Jêsus Christ
Thứ hai, Phaolô nhấn mạnh: sự cứu rỗi xuất hiện trong thân vị của Chúa Jêsus Christ. Câu 6 nói Đức Thánh Linh đã được ‘rải ra trên chúng ta cách dư dật bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta’. Tit Tt 2:13 nói đến ‘sự tái lâm vinh hiển của Cứu Chúa chúng ta là Jêsus Christ’. Sự cứu rỗi, bắt nguồn từ ân điển của Đức Chúa Trời, được cung ứng cho chúng ta chỉ trong Chúa Jêsus Christ.
Đáng ghi nhận là nhiều người trong Hội Thánh ngày nay nghĩ rằng: họ có thể được cứu bằng nhiều cách khác nhau và những gì bạn tin không quan trọng, miễn là bạn thành thật. Nhiều người từng nghe giảng Lời Đức Chúa Trời suốt nhiều tuần, tháng hay năm, mà vẫn chưa nắm vững sự kiện về sự cứu rỗi. Vì vậy, họ không quan tâm đến công tác truyền giáo. Họ vẫn nghĩ: không biết về Đấng Christ thì cũng chẳng hề gì, vì những người đó không thật sự bị mất linh hồn. Họ không hiểu vì sao việc người ta từ bỏ chính mình để đem sứ điệp về Đấng Christ đến với những ai chưa từng nghe lại là quan trọng. Họ không xem đó là quan trọng vì không chấp nhận sự kiện Kinh Thánh dạy rằng sự cứu rỗi chỉ có trong Chúa Jesus Christ mà thôi; không hề có sự cứu rỗi trong danh nào khác.
Sự tuôn tràn Đức Thánh Linh
Thứ ba, sự cứu rỗi của chúng ta bắt nguồn từ sự tuôn tràn Đức Thánh Linh. Sự cứu rỗi đến vào nhiều thời điểm khác nhau. Thời quá khứ, chúng ta nói mình ‘đã được cứu’. Trong tương lai, chúng ta trông chờ và tin rằng mình ‘sẽ được cứu’. Rồi trong hiện tại, nhìn vào kinh nghiệm hằng ngày chúng ta có thể nói mình ‘đang được cứu’. Trong mọi chiều hướng này, Đức Thánh Linh đang hành động.
Bạn có biết vì sao mình được cứu không? Bạn được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời- một thái độ từ Đức Chúa Trời- Ngài đã chủ động ban Đấng Christ cho bạn, một Chúa Cứu thế mà bạn không tự cung ứng được. Bạn có biết mình đã hiểu và đáp ứng sứ điệp của Đấng Christ cách nào không? Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã mở đôi mắt mù lòa, chạm vào tấm lòng cứng cỏi, lay chuyển lương tâm mê muội, rồi khiến bạn bắt đầu hiểu chiều sâu của tội lỗi mình và sự kỳ diệu của vinh hiển Đấng Christ. Nay, bạn có thể nhìn lại quá khứ và nói: ‘Tôi đã từng sống như thế, nhưng nay không như vậy nữa’; vì Chúa Thánh Linh đã mở mắt bạn, nay đang ngự trong lòng và dần dần biến đổi bạn theo hình ảnh của Đấng Christ. Bạn đã không tự mình mở mắt. Ấy không bởi khả năng phi thường hay do thông minh sắc sảo mà bạn có thể nắm bắt chiều sâu của lẽ thật. Đó là công việc của Chúa Thánh Linh- Ngài hà hơi trên Kinh Thánh, trên người giảng và kẻ làm chứng, Ngài làm việc trong lòng bạn, đem sự thuyết phục và hiểu biết đến - nhờ vậy, bạn nhận được sự cứu rỗi.
Nếu muốn thúc giục mọi tín hữu cách thích đáng, cần phải giúp họ hiểu: sự cứu rỗi bắt nguồn từ ân điển của Đức Chúa Trời qua sự hiện ra của Đấng Christ trong sự tuôn đổ Đức Thánh Linh. Bạn và tôi không thể làm điều đó. Tất cả đều do ân điển, lòng thương xót và sự chủ động thánh. Đây là nền tảng trong sự hiểu biết của chúng ta.
Sự Cứu rỗi Bao gồm Những gì
Được tẩy rửa qua sự Tái sanh
Trong câu 5, Phaolô nói đến sự tẩy rửa của sự sanh lại. Thành ngữ này gợi cho tôi hai ý. Đầu tiên, tẩy rửa nói lên sự cần thiết để làm sạch các vết dơ. Và sanh lại nói lên cơ hội để có một khởi đầu tươi mới. Nhiều nhà thần học đã có những ý bất đồng về câu nầy. Chúng ta không đi vào lãnh vực bất đồng, nhưng tập trung vào điểm chính của phân đoạn Kinh Thánh để thúc đẩy dân sự của Đức Chúa Trời - bằng cách giúp họ hiểu được điều gì là cần yếu.
Một trong những điều quan trọng là khi được cứu, chúng ta được rửa sạch khỏi các dơ bẩn của quá khứ và được dẫn vào kinh nghiệm là nhận đặc ân vô giá của sự khởi đầu tươi mới. Nhiều người vui trong điều nầy. Cũng có kẻ như người phụ nữ tội lỗi đã đến gặp Chúa Jêsus, khi Ngài ngồi tại bàn tiệc, đổ dầu thơm quí giá trên chân Ngài, khóc và lau chân Ngài bằng tóc mình. Và khi dân sự phê bình bà là có tư cách ‘không xứng hợp’, Chúa chúng ta đã nói: ‘Tội lỗi người đàn bà nầy nhiều lắm - đã được tha hết, vì bà đã yêu mến nhiều’ (LuLc 7:47).
Tôi thấy ai hiểu được ý nghĩa của sự cứu rỗi này -là tẩy sạch, gột rửa, cất bỏ các vết nhơ của quá khứ, thường là người được thúc đẩy mạnh mẽ nhất trong sự phục vụ Cơ-đốc. Kẻ được tha nhiều, là người yêu nhiều. Ai hiểu được chiều sâu của tội lỗi là người phấn khởi về sự kỳ diệu của việc được tẩy sạch. Họ phấn chấn đến mức muốn dùng mọi cơ hội để bày tỏ lòngï biết ơn.
Sự tẩy rửa về sự sanh lại cũng nói lên sự khởi đầu mới mẻ. Chủ đề Tái sanh -nghĩa đen là ‘sanh ra lần 2’, sự sáng tạo mới, khởi đầu mới - được tìm thấy nhiều chỗ trong Kinh Thánh và là một chủ đề thú vị.
Nhiều người tuyệt vọng khi nói về quá khứ của mình. Họ tự hỏi làm sao có điều tốt nào có thể phát xuất qua đời sống mình. Nhưng sứ điệp lớn của Phúc âm Cơ-đốc là Đức Chúa Trời đã chuẩn bị bước vào cuộc đời tan vỡ nhất, để ban cho sự sáng tạo mới. Điều kỳ diệu của sự khởi đầu này là Đấng Christ trở thành Cứu Chúa và Chủ của chúng ta, Đức Thánh Linh được tuôn đổ cách dư dật trên chúng ta và trở thành động lực của toàn bộ kinh nghiệm mới.
Hãy nghĩ: sự khởi đầu này là mới mẻ dường bao. Cho tới thời điểm đó chính bạn lái chiếc tàu riêng của mình, chèo chiếc thuyền riêng của mình. Cho tới lúc đó bạn đang lao xuống các ghềnh thác của xã hội và va đập trên các hòn đá hay tảng đá; bạn bị tràn ngập, vùi dập và đang chìm dần. Nhưng có điều đột ngột xảy ra. Bạn đưa tay lái con tàu cho Chúa, cho Thánh Linh quyền năng, Ngài có khả năng xông vào tình cảnh nầy và chịu trách nhiệm. Đó là sự khởi đầu mới.
Sứ đồ Phaolô nói cần nhấn mạnh điều này cách cấp bách để mọi người có thể hiểu rằng sự cứu rỗi bao gồm tẩy sạch các tội lỗi dơ bẩn của quá khứ và ban cho cơ hội có một khởi đầu tươi mới.
Vậy, vài người có thể hỏi: ‘Chúng ta đang bàn cãi gì ở đây?’ Sự bàn luận nầy ra từ chữ tẩyrửa. Nhiều người - có lẽ hầu hết các nhà giải kinh nói đây có nghĩa là thông qua lễ Báptêm, bạn được tái sanh và có sự khởi đầu mới này.
Một nhánh của Christendom giải thích như sau: Khi một người kinh nghiệm lễ Báptêm, thì tự động - hầu như trong ý thức cách máy móc - bảo đảm rằng người đó được sanh lại và đổi mới. Tôi xin minh hoạ ý nghĩ cực đoan này. Khi Jill, nhà tôi sắp sinh đứa con thứ ba là Peter, thì cô gặp đủ mọi nan đề. Peter không muốn bước vào thế giới lạnh lẽo này, cháu thích tiện nghi riêng trong bụng mẹ và chúng tôi đã phải hồi tưởng lại lúc đó, cháu ra sao. Không hề vội vã, cháu đã nằm lại, như đang nằm bây giờ. Rồi sau cùng thì cháu cũng xuất hiện, nhưng phải qua nhiều lần báo động giả đầy kinh hãi cho các y tá đang chăm sóc sản phụ và đứa bé chưa sanh.
Cô y tá nói với tôi: Ông có nhận thấy rằng rất có khả năng đứa bé nầy bị chết không?
Tôi đáp: ‘Vâng, có thể như vậy’.
- Vậy, khi em vừa sanh thì ông làm Báptêm theo các bước nào?
Tôi đáp: ‘Không bước nào cả’.
- Chắc ông hoàn toàn mất bình tĩnh rồi. Tôi không thể tin có người lại có thái độ như vậy và tôi muốn ông đưa người đến đây, để làm Báptêm cho cháu khi nó vừa sanh.
Tôi hỏi: ‘Vì sao vậy?’
- Vì nếu không được báptêm mà chết, em bé sẽ vào địa ngục.
‘Vậy nếu em bé nhận phép báptêm thì điều gì sẽ xảy ra?’
- Em sẽ lên thiên đàng.
‘Vậy, nói cách khác, em sẽ được cứu bởi phép báptêm?’
Cô đáp: Đúng như vậy.
Và tôi tiếp: ‘Ồ, thưa cô, với tất cả sự tôn trọng, tôi cho rằng cô hoàn toàn sai rồi’.
Cô đáp: Không, ông mới sai. Nếu ông không sắp xếp để em được nhận phép Báptem, thì chính tôi sẽ làm Báptêm cho em.
‘Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho cô. Hãy làm ngay đi’.
Cô đáp: Thật ra, không nên làm như vậy. Ông nên mời mục sư đến thực hiện việc đó đi.
Người nữ nầy rất thành thật. Nếu biết Kinh Thánh, cô có thể tuyên bố Tit Tt 3:5 và các câu tương tự. Và cô có thể nói: Xin lắng nghe, ấy là qua sự tẩy sạch mà sự Tái sanh và đổi mới diễn ra. Đó là qua phép Báptem.
Tuy nhiên, chúng ta muốn nói rõ điều này: Không có chỗ nào trong Kinh Thánh dạy rằng sự tái sanh, đổi mới và phục hòa với Đức Chúa Trời là những kết quả máy móc của việc làm theo nghi lễ. Hơn nữa, Kinh Thánh dạy rằng tái sanh và đổi mới (phấn hưng) là kết quả của việc con người bởi đức tin đáp ứng với ân điển của Đức Chúa Trời.
Có khi chúng ta thấy những gì Đức Chúa Trời làm được mô tả là có liên quan tới đức tin, và khi thì liên hệ tới lễ Báptêm. Nói cách khác, Kinh Thánh dạy rằng người ta được tái sanh và đổi mới bởi đức tin trong ân điển của Đức Chúa Trời và toàn bộ hành động của đức tin bao gồm luôn việc nhận báptêm. Không phải báptêm trong ý thức máy móc, tự động sẽ dẫn đến sự cứu rỗi mà không cần có đức tin, nhưng đức tin cũng đòi con người giữ vững mối thông công với Đấng Christ, và một phần của điều đó là kinh nghiệm lễ Báptêm.
Đến đây, vài người nghĩ rằng mình có thể được cứu chỉ qua lễ Báptem. Nhưng bạn đang bỏ qua toàn bộ điểm nhấn mạnh của phân đoạn nầy rằng chúng ta được xưng công bình bởi ân điển và ai tin Đức Chúa Trời thì nấy được cứu.
Thứ hai, là tín đồ mà không biết ý nghĩa của Báptem, thì bạn cần xét kỹ điều nầy. Vì lẽ nếu chưa kinh nghiệm lễ Báptêm, theo cách này hay cách khác, thì bạn cần làm ngay đi.
Được đổi mới bởi Đức Thánh Linh
Cũng vậy trong câu 5, chúng ta thấy sự cứu rỗi bao gồm sự đổi mới bởi Đức Thánh Linh. Ý tưởng về sự đổi mới là một chủ đề đẹp đẽ khác trong Kinh Thánh. Thí dụ, theo CoCl 3:10: Bởi đức tin trong Đấng Christ, chúng ta được dựng nên mới. Người cũ đã qua đi; người mới được dựng nên theo hình ảnh Đấng Christ. Qua RoRm 12:2, chúng ta có một tâm trí mới thường xuyên được phục hồi. Và trong IICo 2Cr 4:16, dù người bề ngoài hư nát -nghĩa là tóc rụng, da nhăn, nhưng điều quan trọng là người bề trong của chúng ta cứ ngày càng đổi mới. Điều nầy có nghĩa gì?
Có nghĩa là khi tôi đến với đức tin trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời cho tôi cơ hội để trở thành người mới. Ngài sẽ cất bỏ chiếc áo cũ trên người cũ nầy. Như RoRm 6:4 công bố: Người cũ đã được chôn với Đấng Christ trong lễ Báptêm. Chúng ta đồng chết với Ngài hầu cho có thể được đồng sống lại trong đời mới với Ngài.
Đây là một trong các điều phấn khởi nhất bạn có thể kể cho mọi người, đặc biệt những ai muốn vượt khỏi quá khứ mình và nhận biết Đức Chúa Trời có thể đổi mới và ban cho họ cơ hội để sống tích cực, sau thời gian dài làm những điều tiêu cực. Đây chính là điều Phaolô muốn nói: chúng ta có thể được đổi mới bởi Thánh Linh, được dựng nên mới, có khả năng vượt khỏi con người cũ của mình, có tâm trí mới hay thái độ mới- thường xuyên được đổi mới. Dầu bề ngoài đang phai tàn thì bề trong đang phục hồi, tươi mới, mạnh mẽ. Càng thêm tuổi đời, chúng ta càng thêm tươi mới và phấn hưng. Đó là điều Đức Chúa Trời ban qua sự cứu rỗi, khi bởi đức tin chúng ta đáp ứng với ân điển Ngài.
Được xưng công bình bởi ân điển
Theo câu 7, Phaolô nói về xưng công bình bởi ân điển. Xưng công bình liên hệ với từ công nghĩa. Kinh Thánh dạy về Đức Chúa Trời công nghĩa, tức là Ngài luôn luôn đúng trong mọi điều.
Bây giờ, hoàn toàn trái ngược với sự vô tội của Đức Chúa Trời công bình, con người là tội nhân đã làm những việc không công bình. Và tình trạng vô cùng gian nan là làm sao một tội nhân có thể ra mắt Đức Chúa Trời công bình? Câu trả lời là chỉ thông qua sự xưng công bình xuất phát từ ân điển của Đức Chúa Trời.
Xưng công bình là gì? Theo nghĩa đen: Đức Chúa Trời tuyên bố tôi hoà hợp (đúng) với Ngài. Đây là từ pháp lý. Giống như tôi đang bị xét xử và Đức Chúa Trời là Quan toà. Tôi đang bị luận tội -tôi đã như thế nào và đã làm gì- mọi nhơ bẩn thấp hèn đều phơi bày. Mọi chứng cớ được trưng ra. Tôi không thể bác bỏ; không thể làm gì được nữa. Tại đó, tôi đứng trước một Đức Chúa Trời hoàn toàn công bằng và thánh khiết, Ngài biết rõ mọi điều về tôi. Ngài nghe mọi điều cần nghe về tôi và rồi Ngài phán quyết, kết luận hiển nhiên là bị cáo có tội. Dĩ nhiên, tôi có tội trước mắt của Đức Chúa Trời công bình.
Rồi tôi có thể làm gì? Tôi có thể đứng đó và đơn giản thừa nhận tội mình. Hoặc kể ra vài điều nhỏ nhặt mình đã làm trong sự tuân thủ tôn giáo, miễn cưỡng ‘sống tốt’ cách nửa vời. Nhưng đó chỉ là một âm thanh trống rỗng trong phòng xử án của Đức Chúa Trời, Ngài lắng nghe mọi sự và tuyên án: dầu vậy, tôi vẫn là phạm nhân. Và tôi biết đó là sự thật: tôi là tội nhân.
Đức Chúa Trời kết án, nhưng rồi Ngài làm điều đáng chú ý nhất. Ngài cởi chiếc áo của Quan toà, bước xuống, và chính Ngài trả tiền phạt. Trả xong án phạt cho tôi, Ngài về chỗ ngồi, mặc lại áo choàng và công bố một điều thật êm dịu cho tôi: ‘Bị cáo đang đứng trước mặt Ta là kẻ hoàn toàn bất chính; Ta, Đức Chúa Trời công bình, đã thấy tội lỗi người. Toà đã tuyên án, nhưng án phạt đã trả xong. Chính ta tự mình trả án đó; vậy, là Quan toà công bình, Ta tuyên bố người nầy được tự do. Đối với Ta, người không còn bất cứ nghĩa vụ nào nữa. Ta kể người là công chính - được xưng công bình’.
Có phải bạn sẽ nói trong phiên toà đó rằng: ‘Ồ, việc tôi gia nhập Hội thánh và dâng phần mười khi tôi 45 tuổi thật tốt làm sao? Nếu không dâng thì sao vào được thiên đàng? Rồi việc tôi đối xử tốt với người mẹ già 83 tuổi nữa: nhờ đó tôi mới thoát nạn đây’. Không, bạn sẽ không nói gì về mọi điều đó. Bạn sẽ ra khỏi phòng xử án và nói: ‘Tôi hoàn toàn sai trái trước mặt Đức Chúa Trời công bình. Quả thật, Ngài biết tôi có tội; chính Ngài đã trả án phạt của tôi qua Con yêu dấu của Ngài là Chúa Jesus. Ngài đã ban cho điều tôi không tự mình làm được. Tôi nhận ơn Chúa bởi đức tin. Ngài lại là Quan Toà và tuyên bố tôi trắng án’. Vì sao? Đó là ân điển! Chớ hề quên.
Giải thích điều này trong thư Rôma, sứ đồ Phaolô đã hỏi: Vậy, sự khoe mình ở đâu? và tôi thích lời đáp: Đã bị trừ bỏ rồi! (RoRm 3:27). Một trong các điều tốt của thiên đàng là không ai tự hào, vì tại đó không ai có điều gì để tự hào cả. Nơi đó chỉ có những ai được xưng công bình cách miễn phí bởi ân điển Chúa, được tái sanh, đổi mới, trở nên kẻ thừa kế sự sống đời đời.
Ân điển mở đường cho cứu rỗi. Đức tin ăn năn với bàn tay mở ra khiến sự cứu rỗi thành hiện thực và những kẻ được xưng công bình ngoài lòng biết ơn, còn được thúc giục sâu xa để tôn vinh Cứu Chúa và Chủ của họ.
Động cơ thúc đẩy thật

Vậy, tôi đã thông suốt về giáo lý, đã hiểu sự cứu rỗi hoạt động thể nào và làm sao hoà hợp với Đức Chúa Trời. Có liên hệ đúng đắn với Chúa, tất có sự đòi hỏi về đạo đức. Nay là tín hữu, tôi phải sống cách khác: cần làm điều này và tránh điều kia. Đây là đạo đức Cơ-đốc. Cách nào khiến dân sự làm điều nên làm và tránh điều phải tránh? Có thể thành công khi giáo lý về ân điển thu hút họ đến mức họ nắm vững đạo lý về lòng biết ơn. Khi lòng tràn ngập điều tốt lành và ân điển vô giá của Đức Chúa Trời, tôi sẽ đắm mình trong ý thức về lòng biết ơn. Tôi sẽ bày tỏ điều này qua việc sống đúng như Ngài muốn tôi sống. Đó chính là động lực thôi thúc tinh khiết nhất cho Cơ-đốc nhân.
Bạn có thể de dọa họ bao lâu tùy thích, hay biện luận bao lâu cũng được. Bạn có thể thách thức họ cho đến khi bạn kiệt sức. Tôi tin chắc rằng về lâu dài, mọi điều trên cũng có giá trị như động cơ thúc đẩy, nhưng chủ yếu vẫn là giúp dân sự hiểu rõ họ được cứu chỉ bởi ân điển của Đức Chúa Trời và chính lòng biết ơn Chúa thôi thúc họ sống như đáng phải sống.
Vì vậy, khi có người hỏi tôi về động lực Cơ-đốc, họ ngạc nhiên thấy tôi thường trở lại điểm khởi đầu, để bảo đảm rằng họ hiểu rõ sứ điệp đơn giản về ân điển của Đức Chúa Trời. Nhớ lại mình từng ra sao trước khi được ân điển Chúa chạm đến, tôi dễ nhận ra tình trạng hiện thời của người ta, và điều này thúc đẩy tôi hướng về họ.
Tôi nghe người ta nói về sự cạn kiệt: các y tá bị mất sức, các giáo sư cạn kiệt năng lực và ngay cả các diễn giả bị khô hạn!
Tôi được cảnh tỉnh khi nghe sự việc nêu trên, vì với tôi dường như bất cứ diễn giả nào am hiểu ân điển của Đức Chúa Trời và nhớ lại mình từng ra sao, đều có đủ nguồn ân điển để thêm năng lực và lòng dạn dĩ trong chức vụ của ân điển. Tất nhiên, cần xem xét các điều khác nữa, nhưng nói chung, nắm vững ân điển giúp chúng ta tiếp tục công việc. ‘Lời nầy là chắc chắn, ta muốn con nói quyết sự đó, hầu cho những kẻ đã tin Đức Chúa Trời lo chăm chỉ làm việc lành: đó là điều tốt lành và có ích cho mọi người’ (Tit Tt 3:8). Như đã biết về giới hạn của động cơ thúc đẩy dân sự trong hội thánh, chúng ta ít nghĩ về sự biện luận hay thách thức, mà thường nghĩ chủ yếu là sự dạy dỗ. Dạy là nhấn mạnh điều quan trọng để họ hiểu ý nghĩa, hầu có thể đáp ứng cách thoả đáng. Và thế nào là đáp ứng đúng? Đó là hoàn toàn kết ước với điều lành và khao khát tìm điều tốt nhất trước mặt Đức Chúa Trời.
Qua sự thông công Cơ đốc, mỗi tín hữu tùy nghi khám phá mình đã được cứu để làm các việc lành nào, rồi hết lòng thực hiện như là làm cho Chúa. Điều nầy tôn vinh Đức Chúa Trời, đem lại phước hạnh cho người nhận và làm phong phú cho kẻ dấn thân cách kỳ diệu.

Thực hành bài này
1.Vì sao thiếu động cơ thúc đẩy là một trong các nan đề lớn mà hội thánh Cơ-đốc ngày nay đang gặp?
2.Sự cứu rỗi bắt nguồn từ đâu? Xã hội chúng ta phản ứng ra sao với thông tin nầy? Lý do? Cơ-đốc-nhân bày tỏ mình cũng tranh chiến với điều này như thế nào?
3.Những ai hiểu rõ nhất về sự ‘tẩy rửa của sự lại sanh’? Sự hiểu biết nầy dẫn đến kết quả nào?
4.Phương pháp tốt nhất để thúc đẩy người khác cho sự phục vụ Cơ-đốc là gì? Điều gì thúc giục cá nhân bạn?


Cảnh Tỉnh Dân Sự của Đức Chúa Trời
Tit Tt 3:8-15
Thật quan trọng khi nhận ra vị trí của hội thánh địa phương trong cơ cấu tổ chức của Đức Chúa Trời. Theo quan điểm con người, hội thánh địa phương là tập thể những người có liên hệ với Chúa Jêsus. Và theo quan điểm thuộc linh như đã thấy trong thư mục vụ nầy, hội thánh địa phương được gọi là chính dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời.
Vì có đặc ân trong hội thánh địa phương là chính dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời, nên bạn cũng có trách nhiệm tương xứng. Tức là cá nhân bạn không chỉ sống sao cho người ta biết mình thuộc về Chúa Jêsus, mà còn phải sống với tính cách tập thể như là các con cái Ngài. Thế giới quanh ta không chỉ nhìn vào tư cách của mỗi cá thể để có thể cảm nhận Đấng Christ, nhưng cũng nhìn vào tập thể tín hữu, một thân thể Cơ đốc, để có thể thấy các Cơ-đốc-nhân khác biệt ra sao. Hãy đối diện với điều nầy, người ngoại muốn biết có phải giáo lý Cơ-đốc là thật và điều gì khiến các tín hữu quákhác biệt với họ.
Một trong những cách tốt nhất để bày tỏ là chỉ vào một hội thánh địa phương, rồi cho thấy tập thể Cơ đốc này đã cư xử khác các tập thể khác trong xã hội chúng ta. Đây là trách nhiệm thật căng thẳng, không chỉ là tín hữu mà còn là thành viên của nhóm thông công địa phương, một chi thể của hội thánh Đấng Christ.
Hiểu rõ mọi điều đó, chúng ta xem đến từ cuối cùng trang trọng hơn của sứ đồ Phaolô.
Cảnh báo: Không chấp nhận sự Chia rẽ trong Hội thánh
Theo Tit Tt 3:10: ‘Hãy cảnh cáo kẻ gây chia rẽ (theo tà giáo) một lần, rồi nhắc nhở họ lần thứ hai vàsau đó, hãy lánh họ!’ Nếu chưa biết chắc câu này có nghĩa gì, thì điều này có thể giúp bạn: đánh một cú, đánh cú thứ hai; thế là xong! (you’re out). Có lẽ cách đó khá sống sượng, nhưng Phaolô nghiêm khắc cảnh cáo, rất trang trọng và dứt khoát về sự chia rẽ trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ: Hoàn toàn không thể chấp nhận được.
Thiết nghĩ một trong các yếu điểm của hội thánh trong bối cảnh hiện nay là trở nên quá mềm yếu trong lãnh vực phân rẽ. Chúng ta không nhận ra thật nghiêm trọng dường nào đối với những kẻ tự xưng là thân thể của tín hữu mà lối sống lại hoàn toàn hiển nhiên là không cùng một thân thể. Chúng ta thường đơn giản phủ một lớp sơn lên các kẽ nứt; chúng ta tô trắng tình huống, hy vọng nó sẽ qua đi, hay coi như nó chẳng từng xảy ra. Kết quả, qua nhiều ví dụ, hội thánh của Chúa Jêsus bị mất tín nhiệm. Vì thế, cần đọc kỹ điều sứ đồ Phaolô đang đề cập.
Sự Chia rẽ xảy ra Cách nào?
Sự chia rẽ trong hội thánh là gì và làm sao điều đó xảy ra? Chú ý trong câu 9, Phaolô bảo Tít và những người đang được chăm sóc ‘tránh những điều cãi lẽ dại dột’.
Một vấn đề được nêu
Từ Hylạp ‘tranh luận’ có gốc là ‘tìm kiếm’. Tôi có cảm nghĩ hầu hết các tranh luận bắt đầu từ một chủ đề được quan tâm đủ để mong tìm ra nội dung thật của nó. Họ tham dự và bắt đầu nghiên cứu ngày càng sâu hơn. Rồi họ va chạm với những ai nhất thiết không cùng cách nhìn với mình, và bắt đầu tranh cãi.
Rồi theo Tân Ước, chữø đầu tiên là ‘tìm kiếm’ đã trở thành ‘tranh luận’ và cuối cùng là ‘tranh cãi’. Tại đây trong thư Tít, Phaolô nói rõ về các sự tranh cãi. Chú ý tĩnh từ ông dùng để mô tả là ‘các cãi lẽ dại dột’.
Có người tìm hiểu một vấn đề, rồi kẻ khác thấy được khía cạnh khác và kết quả khó tránh là sự bàn bạc và tranh luận nảy sinh. Dầu vậy, điều này có thể trở thành tranh cãi và khi có ‘những cãi lẽ dại dột’ thì sự chia rẽ nảy mầm. Thật vậy, sứ đồ Phaolô nói phải cẩn thận canh giữ điều đó.
Sự nhấn mạnh được giới thiệu
‘Hãy tránh các cãi lẽ dại dột, các gia phổ’. Khi viết cho Timôthê tại Êphêsô cũng như cho Tít ở Cơrết, Phaolô nói rằng họ sẽ gặp rắc rối với ‘các phù ngôn và gia phổ không cùng’. Điều này là gì? Có vài giáo sư cho rằng một số gia phổ trong Cựu Ước chưa đầy đủ nên tìm cách lấp đầy khoảng trống, hay họ tự nghĩ như vậy - bằng mọi thứ huyền thoại. Kết quả là họ nảy ra những ý nghĩ viển vông không tưởng, rồi để trọn thì giờ bàn bạc và tranh cãi các chi tiết nào làm họ thích thú.
Tôi không biết bạn có chú ý điều nầy, nhưng trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ, thật dễ quan tâm đến một điểm nhấn mạnh nào đó. Phải luôn nhớ rằng nếu điểm này không gắn liền với sự nhấn mạnh tương xứng của Kinh Thánh thì đó là nền tảng nảy sanh tà giáo. Một trong số nan đề của hội thánh đương đại là sự nhấn mạnh trở thành mốt. Có người cho rằng có lẽ một trong các chứng bịnh kinh niên hiện nay của hội thánh Bắc Mỹ là ‘chủ nghĩa kỳ dị’ (fadism, theo đuổi sở thích ngông). Điều này không có nghĩa là chúng ta rơi vào ‘các gia phổ không cùng’, nhưng khi không thỏa lòng với những điều Kinh Thánh dạy mà cố đưa vào điều mình cảm thấy Kinh Thánh đáng phải nói như vậy, rồi tiếp tục xây dựng nhấn mạnh toàn bộ và sa lầy vào đó (get gung-ho). Chúng ta đi quá xa đến mức không còn chứng minh được từ Kinh Thánh. Kết quả là chúng ta bắt đầu quậy đục cả giòng nước. Tình huống nầy đi đôi với các tranh cãi dại dột, có thể là ngòi nổ cho các xung đột, bắt đầu gây chia rẽ trong hội thánh.
Dân sự phản ứng
‘Hãy tránh các cãi lẽ dại dột, các gia phổ và các tranh luận về luật pháp’. Từ tranh luận ở đây được dịch là xung đột tại các chỗ khác trong Kinh Thánh - dân sự sa vào các điểm nhấn mạnh này với nhiều lập trường, quan điểm và hoàn toàn bị xáo trộn. Thay vì hội thánh hài hòa và thật sự hiệp một như đã được kêu gọi, thì dân sự mải mê sa vào các tranh luận.
Phaolô bảo phải cẩn thận về điều nầy và nêu ví dụ về hội thánh Côrinhtô, nơi làm mẫu về điều không nên có (ICo1Cr 3:1-4). ‘Tôi chẳng thể nói với anh em như với người thiêng liêng, nhưng như với người xác thịt, như với các con đỏ trong Đấng Christ vậy. Tôi lấy sữa nuôi anh em, chớ chẳng lấy đồ ăn cứng, vì anh em không chịu nổi; đến bây giờ cũng chưa chịu được, vì anh em hãy còn thuộc về xác thịt. Thật, bởi trong anh em có sự ghen ghét và tranh cạnh, anh em há chẳng phải là tánh xác thịt ăn ở như người thế gian sao? Có người nói: Ta là môn đồ của Phaolô; kẻ khác: Ta theo Apôlô, vậy anh em há không chỉ là người cũng như kẻ khác sao?’ Phaolô muốn nói điều này: Trong Hội thánh của Chúa Jêsus Christ, chúng ta có thể phản ứng cách ấu trĩ về mặt thuộc linh: ‘theo xác thịt’ là trong một tình huống thuộc linh mà có phản ứng hoàn toàn thế tục.
Phaolô nói khi đáp ứng với các sự nhấn mạnh hay mối quan tâm đặc biệt này theo cách thế tục hay kém thuộc linh, thì kết quả sẽ là đủ loại xáo trộn và xung đột. Điều nầy đã được minh hoạ tỏ tường qua hội thánh Côrinhtô. Dân sự thay vì đương đầu với nan đề đang gặp, lại bắt đầu xoay qua tấn công người nhận ra các nan đề đó. Một trong số dấu hiệu chắc chắn nhất cho thấy hội thánh đang gặp khó khăn là khi các cá nhân bị tấn công thay cho nan đề.
Đây là điều đã xảy ra cho các hội thánh Côrinhtô, Êphêsô và Cơrết. Vậy, không có gì ngạc nhiên nếu điều đó cũng xảy ra cho hội thánh ngày nay, bất cứ nơi nào trên mặt đất. Những sự tấn công đó là điềm báo trước sự chia rẽ.
Tình trạng leo thang
Rồi Phaolô dùng từ mạnh hơn. Ông nói anh em có ‘các cãi lẫy dại dột, các gia phổ, các tranh cạnh và nghị luận về luật pháp’. Từ tranh cạnh đơn giản là từ ‘chiến đấu’. Đây là cuộc chiến một mất một còn truyền thống trong hội thánh. Chiến đấu liên hệ với gươm: khi gươm được rút ra, đó là sự sỉ nhục hoàn toàn cho Hội thánh của Chúa Jêsus Christ.
Vì sao có những Chia rẽ?
Hãy trở lại một chút và xem sự đấu tranh nầy xảy ra cách nào. Có ba từ cần chú ý: Sự khácbiệt, Khó khăn và Chia rẽ. Tôi thật lòng tin rằng không thể tránh việc khác nhau trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ. Vì vậy, rất có thể hội thánh sa vào các khó khăn và rồi sự chia rẽ xuất hiện.
Sự chia rẽ là gì? - Là sự khó khăn không được xử lý đúng. Bạn nói: ‘Vậy, hãy loại bỏ mọi khó khăn đi’. Làm điều này cách nào? Tôi sẽ bảo bạn: Hãy loại bỏ mọi người đi. Nếu bạn không muốn có khó khăn và phân rẽ, thì chỉ cần làm cho hội thánh không còn ai, đó là cách hành xử duy nhất.
Nhưng thật ra, không thể làm thế. Thay vào đó, hãy gắn bó với mọi người, chấp nhận sẽ gặp các khác biệt và khó khăn. Nhưng phải luôn bảo đảm rằng giữa mọi điều đó, đừng bao giờ cho phép sự phân rẽ ngước cái đầu hắc ám của nó lên.
Sự khác biệt là tất yếu
Vì sao có các khác biệt trong Hội thánh của Chúa Jêsus Christ?
Đầu tiên, có những khác biệt lớn trong sự hiểu biết về Kinh Thánh. Trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ, vài người nói với uy quyền mạnh mẽ về một chủ đề nào đó dù chưa từng xem xét Kinh Thánh. Mặt khác, lại có người đã nghiên cứu cách nghiêm túc và cần mẫn, họ sẽ đưa ra một tình huống theo quan điểm hoàn toàn khác. Người này không nhất thiết có mọi đáp án và không phải luôn luôn đúng. Còn người không học Kinh Thánh không phải lúc nào cũng sai. Nhưng Phaolô muốn nói: Khi khác nhau trong kiến thức về Kinh Thánh, thì người ta sẽ chăm chú vấn đề từ các vị trí thuận lợi hoàn toàn khác. Phải thấy điều này, có người không biết nhiều về Kinh Thánh nhưng lại có nhận thức tốt theo lẽ thường (common sense,lương tri).
Hãy tạ ơn Chúa vì những ai có lương tri. Thật kỳ diệu nếu họ chịu khó tìm hiểu điều Đức Chúa Trời muốn nói qua Lời Ngài.
Bạn cũng có thể gặp những người thật sự nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời, nhưng lại không có nhiều áp dụng theo lương tri. Có lẽ, họ đã học một lãnh vực của Kinh Thánh nhưng không có thời gian xem xét các lãnh vực khác để cân bằng. Vậy, về kiến thức Kinh Thánh, có rất nhiều loại khác biệt.
Thứ hai, có rất nhiều loại khác biệt về kinh nghiệm thuộc linh. Trong hội thánh Cơđốc, có người là con trẻ trong Đấng Christ. Đây không phải là phê bình mà là sự thật. Họ tương đối non trẻ trong sự nhận biết Đấng Christ là Chúa và Đấng Cứu chuộc mình. Họ kinh nghiệm về Ngài cách mới mẻ, vui mừng và phấn khởi, nhưng chưa có dấu vết của sự trưởng thành sâu nhiệm.
Mặt khác, có người đã trưởng thành trong Đấng Christ nhưng rồi đưng lại cách nghiêm trọng - họ không còn dấu hiệu của lòng phấn khởi. Sự tươi mới đã qua đi từ lâu và họ là điển hình cho loại hội thánh hình thức trước mắt mọi người. Nhiều người trưởng thành thuộc linh nhưng lại lạnh lùng, đúng mực, hợp lệ nhưng chết ngắt (khô khốc và sơ cứng). Nhiều em bé thuộc linh thì nhiệt tình, tươi mới và phấn khởi, nhưng không biết rõ điều mình đang nói. Khi bạn gom các người này lại với nhau, bạn có đủ mọi loại khác biệt.
Thứ ba, có sự khác nhau về ưu đãi xã hội (graces). Có người có thể làm chủ cuộc tranh luận mà người khác lại không. Có người có thể ngồi trò chuyện, nêu các điểm khác biệt, rồi cuối cùng làm hoà vì nhận ra rằng không ai nắm giữ tất cả lẽ thật, hoặc có thể tiêu hóa và tích lũy tất cả sự kiện. Vậy, có lẽ điều sáng suốt nên làm là cùng thoả thuận để giải quyết sự bất đồng. Nhưng có nhiều người không thể hay không muốn làm điều đó. Với họ, điểm nhỏ trở thành vấn đề, vấn đề thành trận chiến, trận chiến thành thảm họa, và họ có cả một quá trình dài về việc từng bị rối loạn toàn diện.
Rồi có những khác biệt về bản chất tâm lý. Có người thật sự chú ý đến việc chấm trên các chữ i hay xổ ngang trên các chữ t, vì cảm thấy không thoải mái khi có sự linh động. Còn kẻ khác lại cảm thấy bị nghẹt thở khi không thể linh động. Người muốn có i được chấm và t được gạch quả là người cẩn thận, chú ý đến chi tiết và chân thành. Khi đến với Cơ-đốc-giáo, họ muốn trưng dẫn đoạn và câu cho mọi thứ. Họ sẽ dí ngón tay vào Kinh Thánh và nói: ‘Xin chỉ cho tôi điều đó được chép ở đâu’.
Mặt khác, có người thoải mái hơn về mọi sự. Họ sẽ nói: ‘Bạn ơi, tôi không thể trưng ra đoạn và câu, nhưng nào có hề gì. Nguyên tắc chung có tại nơi nào đó giữa Sáng-thế-ký và Khải-huyền’.
Khi hội thánh có tín hữu với bản chất tâm lý khác nhau, điều gì sẽ xảy ra? Có người rất sợ khi có sự khác biệt. Còn kẻ khác, khi gặp các người này lại cảm thấy thất vọng não nề về họ. Mọi điều này tạo nên đủ thứ khác biệt trong hội thánh, mà nếu bạn không cẩn thận, sẽ sinh ra sự khó khăn.
Khó khăn có thể xảy ra
Đầu tiên, sự khó khăn đến vì lập trường không rõ ràng (position). Thiết nghĩ, chúng ta cần nhận ra một điều đơn giản: Người ta không nhất thiết có ý nói như thế. Điều này khiến tôi thấy dễ chịu. Tôi thật mong rằng nhiều điều người ta đã nói với mình không thực sự có nghĩa đó!
Còn điều nữa cần nhận ra: người ta không nhất thiết phải nghe những gì bạn nói. Khi họ không thiết nghe điều bạn nói và không nói rõ điều họ nghĩ, bạn có thể có mọi tình huống vì lập trường của họ không rõ ràng, khi họ diễn đạt tồi hay nghe không đủ.
Kết quả là quan điểm mờ mịt (perspective, viễn cảnh) khi họ bắt đầu nhập cuộc từ vấn đề đặc biệt này. Họ mất nhiều thì giờ nói về vấn đề đó, rồi cuối cùng quên mất vì sao mình lại đến chỗ này. Chúng ta đi trên ngọn cây mà quên rằng rừng và gỗ ở trong tầm tay. Quả thật, điều đó khiến quan điểm của hội thánh có thể bị hoàn toàn mờ mịt.
Rồi, thứ ba, các cá nhân dự phần vào. Điều này là một trong các bi thảm khi sự Khác biệt trở thành Khó khăn. Người không diễn đạt rành mạch hay không nghe đầy đủ, đôi khi thúc đẩy các kẻ có liên hệ tới vấn đề. Đó là một trong số điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra. Nhận rõ: ‘việc này là vấn đề’ là một chuyện, nhưng khi mất tầm nhìn lại trở thành: ‘Ông này là vấn đề’ là một chuyện khác, thật nghiêm trọng.
Tệ hơn nữa khi có người thêm thắt: ‘Ông ấy là vấn đề vì quả thật, ông đang làm và nghĩ điều đó. Như vậy, chúng ta nâng cấp vấn đề khiến thêm nhiều rắc rối. Khi các cá nhân tham dự và các động cơ thúc đẩy - hầu hết luôn luôn làø xấu, được gán cho các người tham dự thì bạn có vấn đề thứ tư: Các phe đảng được hình thành.
Ở Côrinhtô, phe phái phát triển xoay quanh các cá nhân có uy quyền: phe Apôlô, phe Phierơ, phe Phaolô và rồi các siêu nhân nói: ‘Chúng tôi chỉ là dân sự của Đấng Christ’. Lúc này, bạn thật sự gặp rắc rối vì không chỉ có các người nghe hoặc nói không rõ ràng, mà họ còn tùy tiện nhận định động cơ thúc đẩy các cá nhân liên hệ và hình thành các phe nhóm xung quanh họ. Và trước khi bạn nhận biết điều gì đã xảy ra, thì toàn bộ năng lực của hội thánh bị tiêu hao trong sự đấu tranh giữa các phe đảng này.
Các phân rẽ có khả năng xảy ra
Khi Hội thánh đi đến chỗ có các phe phái được hình thành, thì rất có khả năng rằng khía cạnh phong phú mà họ lưu tâm trở thành quan trọng hơn sự hiệp một của thân thể. Nói cách khác, như trong lãnh vực chính trị, chúng ta nhắm tới sự bỏ phiếu đơn độc (single-issue), thì trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ người ta có thể tạo ra các phản ứng đơn độc. Và khi điều này xảy ra thì dân sự không còn quan tâm đến thân thể như một tổng thể nữa. Họ không còn thích nếp sống cân bằng trong mối thông công với toàn thể. Họ chỉ lưu ý đến một vấn đề. Khi vấn đề chia rẽ nầy trở thành quan trọng cho họ hơn là sự hiệp một và nếp sống của toàn thân, thì rất dễ cho cá nhân hay phe nhóm đó tách rời. Thật là nghiêm trọng.
Còn có yếu tố khác. Đôi khi sa vào tình huống nầy, những cái tôi bắt đầu tham dự, rồi sự kiêu ngạo xen vào và các lời tuyên bố được nói ra, không rút lại được. Chúng ta nhận lấy vị trí không thay đổi được, giống như đi trên một cành cây mà tự mình đã cưa nó ra. Và vì không có đường trở lui nên chúng ta chỉ quyết định: Tôi tiếp tục giữ lòng kiêu hãnh với cái tôinguyên vẹn và tiếp nhận bất cứ ai đến với mình, vì danh dự cá nhân quan trọng hơn là điều tốt lành cho tập thể.
Khi điều nầy xảy ra, sứ đồ Phaolô bảo Tít: ‘Hãy tránh các điều cãi lẽ dại dột, các gia phổ, các sự tranh cạnh nghị luận về luật pháp, vì mọi sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi, thì hãy lánh họ, vì biết rằng người như thế đã bội nghịch mà cứ phạm tội, thì tự đoán phạt lấy mình’ (câu 9-11;).
Vì sao các sự Chia rẽ là Anathema?(đáng dứt phép thông công)

Từ Hylạp Anathema có nghĩa là điều gì đó ‘bị kết án cách tuyệt đối, hoàn toàn không thể chấp nhận’. Vì sao lại dùng từ mạnh đến mức như anathema cho sự chia rẽ? Vì một số lý do:
Thân thể Đấng Christ không thể chia cắt
Nếu bạn đồng hoá mình với thân thể của các tín hữu, rồi lại chọn trở thành một phần của nhánh tách biệt trong thân thể đó, là bạn đang gây ra sự chia cắt thân thể đó. Vì vậy, bạn phải luôn cẩn thận trước khi tách rời hay gia nhập một hội thánh.
Có sự khác nhau giữa việc rời bỏ một hội thánh trong cơn giận dữ và rời bỏ hội thánh vì một vấn đề rồi gia nhập một nhóm người để thành lập một hội thánh mới. Tôi gọi đó là cấy ghép bộ phận. Trên thế giới, nhẫn tâm cắt bỏ một phần chi thể hoàn toàn khác với việc hào phóng ban tặng một bộ phận. Tôi tin điều sau được chấp nhận và là cần thiết, còn điều trước là sai lầm. Anathema (biện pháp kỷ luật) của sự chia rẽ khiến thân thể Đấng Christ đau đớn trong sự chia cắt.
Chính nghĩa của Đấng Christ bị xuyên tạc
Rất nhiều người sẵn sàng phê bình Cơ-đốc-nhân và hội thánh Đấng Christ. Có người không muốn dính líu đến Hội thánh, vì sự thất bại của chúng ta trong mức độ cụ thể này. Chúng ta đã cung cho họ mọi cơ hội để hiểu sai Đấng Christ là ai, hội thánh Ngài là gì và Cơ-đốc-nhân đại diện cho điều gì. Nên cẩn thận trước khi tặng cho các kẻ phê bình cơ hội tìm ra lỗi lầm trong chúng ta.
Các môn đồ Đấng Christ bị sỉ nhục
Kết thúc một trận chiến, thật bất hạnh là luôn có kẻ thắng và người thua. Nhưng thật ra, Hội thánh Đấng Christ mất tất cả. Vì sao? Vì kẻ thắng luôn cảm thấy mình hoàn toàn đúng trong cách xử lý các vấn đề. Còn người thua lại bị tổn thương với nhiều cay đắng. Thực sự phải mất thời gian dài để khắc phục điều đó. Nhưng hãy nhớ: họ vẫn là thành viên trong thân thể Đấng Christ. Vậy, Phaolô bảo phải hết sức cẩn thận về toàn bộ vấn đề chia rẽ trong hội thánh.
Xin nêu một ví dụ. Năm 1983, tờ nguyệt san Moody Monthly yêu cầu tôi viết một bài về việc phải chăng các ân tứ của phụ nữ đang bị chôn vùi trong Hội thánh Đấng Christ? Tôi nghĩ điều này rất có thể xảy ra nên đã viết theo ý đó. Bài báo đã tạo ra một số thư phản hồi cho chủ bút. Thí dụ, một ông viết: Bài của Stuart Briscoe theo tôi là vô lý. Một bà khác: Sau khi đọc vài bài về vai trò phụ nữ, tôi phẫn nộ quá nên phải ngồi xuống, hồi đáp ngay: Xin hủy phần đăng ký mua báo của tôi!
Điều đáng ngạc nhiên là tuy cùng phản đối mạnh mẽ điều tôi đã viết, nhưng họ đang ở vị trí đối lập.
Sự khó khăn ở đây nảy sinh từ sự khác biệt trong cách tiếp cận (nêu vấn đề). Hãy đối diện với điều này, nhiều người chưa từng tra xem Kinh Thánh về vấn đề nêu trên. Vài người trong hội thánh của Chúa Jêsus Christ đề cập về phụ nữ trong hội thánh, theo quan điểm thế gian 100%. Họ không phải là người binh vực quyền lợi nữ giới. Nay đã hiểu họ, nên tôi có sự cảm thông ở mức độ nào đó với vài điều họ nói. Dầu vậy, tôi thường không cảm thông nổi với cách họ nói.
Nhưng khi người ta bắt đầu đề cập đến các vấn đề cụ thể của Hội thánh với cách tiếp cận hoàn toàn thế tục, chúng ta cần chấp nhận với tất cả sự tôn trọng rằng họ có vài mức độ của lẽ thật, nhưng chưa thật sự nắm được vấn đề. Mặt khác, vài người có thể dí ngón tay vào ICo1Cr 14:34 và cho rằng: ‘Ở đây nói: Đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em. Toàn bộ vấn đề chỉ có vậy thôi’. Nhưng, tất cả không chỉ có vậy, vì lẽ chính người đã viết: Đàn bà phải nínlặng cũng giải thích trong hoàn cảnh nào họ được phép phá vỡ sự im lặng đó. Ông cũng có các phụ nữ làm việc chung với mình, là những người được ông chấp nhận, đã làm mọi việc nhưng giữ im lặng.
Có người chọn một câu và gạch dưới cho đến khi nó hằn lên ở mặt sau của trang sách. Họ đã có lập trường của mình. Kẻ khác sắp xếp câu nầy với câu kia, rồi bạn biết họ sẽ thấy điều gì không? Họ sẽ khám phá rằng điều nầy phức tạp hơn là mình từng nghĩ.
Thực ra, tôi tin Phúc âm của Chúa Jêsus Christ đơn giản về căn bản, nhưng ẩn chứa nhiều phức tạp. Và thành thật mà nói, càng học Lời Chúa, tôi càng ít giáo điều về nhiều vần đề mà mình đã được chuẩn bị.
Nếu khác nhau về cách tiếp cận, hay về phản ứng tâm lý, hãy đối diện với nó. Thật thích thú khi là thuộc viên của Hội thánh Đấng Christ, vì bạn luôn có sự khác biệt. Nếu bạn không cẩn thận, chúng sẽ sinh ra khó khăn, và khi các khó khăn không được xử lý cách chính xác, bạn sẽ kết thúc bằng sự chia rẽ.
Vì sao Không thể né tránh Kỷ luật trong Hội thánh
Nhiều lần trong lịch sử Hội thánh, kỷ luật được thi hành vì một điều tựa như sự thích thú độc ác. Chúng ta cũng nhận biết các phê bình về sự quá quắt của những người đi trước trong việc thi hành kỷ luật của Hội thánh. Bị trói vào cọc và thiêu sống, mặc áo điều, toà án dị giáo... quả đã khiến dân sự trong Hội thánh ngày nay căng thẳng về việc kỷ luật các tín hữu.
Gần đây nhất, ám ảnh về các hành động pháp lý của tòa án và các tổn hại nặng nề có thể xảy ra khiến các lãnh đạo Hội thánh càng thêm miễn cưỡng khi phải xử lý các thành viên sai phạm. Nhưng thực tế, nếu không áp dụng kỷ luật phù hợp khi có cần, thì kết quả sẽ khiến bản chất thuộc linh của hội thánh xuống cấp cách tỏ tường và khiến những ai đang cố lượng giá các điều thuận hay bất lợi trong kinh nghiệm tôn giáo bị lẫn lộn. Rồi, dĩ nhiên, có sự mất mát đau buồn cho các tín hữu lầm lỗi nếu họ chưa từng bị quở trách về tư cách, với định ý để được phục hồi.
Khi nào kỷ luật là cần thiết?
Có ít nhất ba đáp án cho câu hỏi nầy.
Đầu tiên, khi có người gây rối loạn sự gây dựng thân thể. Có lần các thuộc viên hội thánh, vì một lý do nào đó, sẵn sàng phá đổ những gì mà kẻ khác đang cố công xây dựng trong danh Đấng Christ. Họ cần được xem xét cách kiên nhẫn và cẩn thận để hiểu được vì sao họ lại cư xử như vậy. Nhưng loại người nầy đòi được chú ý nhiều hơn điều họ đáng được, và sẽ đến lúc cấp lãnh đạo hội thánh phải quyết định quan tâm đến mức nào, trước khi thẳng thắn bày tỏ ý kiến của mình. Loại kỷ luật này đòi hỏi sự khéo léo và thấu đáo, vì lẽ đang khi luôn quan tâm đến cá nhân, chúng ta cũng không quên phúc lợi của toàn thân thể.
Thứ hai, khi sự thực hành làm suy bại đời sống của thân thể. Dường như có sự gia tăng số trường hợp các tín hữu sa vào sự vô đạo đức trong việc làm ăn hay trong sinh hoạt tình dục riêng tư. Tình trạng nầy thật sự gây khó khăn cho mọi người có liên quan và theo khuynh hướng tự nhiên, người ta hy vọng điều đó không có thật hoặc mong rằng nó sẽ qua đi. Nan đề ở đây là khi một thuộc viên trong thân thể công khai liên đới với hành vi vô đạo đức, hiển nhiên thanh danh của nhóm thông công bị nhơ nhuốc và rồi, các kẻ thù nghịch Đấng Christ lại có cơ hội phỉ báng danh Chúa. Vậy, không thể dùng cách giả đò làm ngơ như trước, mà cần có ngay hành động cẩn thận và dứt khoát.
Thứ ba, khi các nan đề ngăn trở chức vụ của hội thánh. Phaolô đã khuyên tất cả tín hữu sống hòa thuận với mọi người (RoRm 12:18), nhưng chính ông cũng đã nhắc nhở Phierơ về cách xử sự đáng trách trong GaGl 2:11. Phải chăng Phaolô tự mâu thuẫn? Không, lúc này ông nhận thấy việc hoà thuận với Phierơ trở thành kém quan trọng hơn sự bảo đảm rằng công việc của chức vụ vẫn tiếp diễn mà không bị ngăn trở. Đúng thời điểm, Phaolô đã bày tỏ lập trường, dù phải va chạm nảy lửa nhưng cần nhớ rằng sau đó, hai ông vẫn tỏ ra giữ tình bạn tốt. Có thể các quyết định như vậy cần được thực hiện trong mọi chức vụ. Nhưng như mọi vấn đề về kỷ luật, điều này thật không dễ dàng và cần phải rất thận trọng.
Thi hành Kỷ luật Cách nào?
Thi hành cách cá nhân với người có liên quan. Cần nhấn mạnh điều nầy vì rất dễ đụng đến người khác thay vì chính kẻ gây rối. Và dĩ nhiên, các biện pháp nầy nhằm ‘cảnh cáo’ cá nhân, báo cáo tình trạng nghiêm trọng của tư cách và có thể phác họa hậu quả tất yếu của các yếu tố đã tỏ lộ. Sự chỉ dẫn nầy sẽ đưa đến sự phác họa các loạt bước phù hợp để sửa lại tình trạng này, và đồng thời nhóm thông công cũng nghiêm giọng tuyên bố sẽ can thiệp khi các biện pháp đề nghị bị bỏ qua hay không được quan tâm. Nếu lời đề nghị được đáp ứng cách thoả đáng, thì có thể bắt đầu sự hòa hợp, còn nếu không đạt được gì thì sẽ thế nào?
Một lần nữa, tiếp cận các đối tượng liên hệ. Dĩ nhiên là liên kết các chỉ dẫn nầy với lời dạy nổi tiếng của Chúa chúng ta trong Mat Mt 18:15-20. Nếu sự chỉ dẫn của người chăn bầy hài hoà với lời dạy của Chúa Jêsus, thì nên có thêm những người biết rõ vấn đề và biết chăm sóc tốt cả kẻ chống đối lẫn người bị chống đối, khi đi thăm trở lại. Tại điểm nối kết này, luôn hy vọng rằng nếu lần thăm trước không kết quả thì chuyến sau sẽ không chỉ bày tỏ mối quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Hội thánh, mà còn tỏ ra vấn đề là nghiêm trọng khi có đông người tham dự. Nhưng nếu vẫn không có đáp ứng?
Những người liên quan đã bị kỷ luật. Tít được yêu cầu thực hiện kỷ luật liên hệ với kiểu khai trừ xã hội, là sự sỉ nhục sâu sắc và có sức hủy hoại vào thời hội thánh đầu tiên cũng như ngày nay. Bấy giờ, hầu hết các thành Cơrết đều không có hội thánh tại mỗi góc phố; vì vậy, khi kẻ nhận kỷ luật bị ‘xa lánh’ và các thuộc viên của nhóm thông công ‘không có liên hệ nào với họ’, thì đó là sự sỉ nhục lớn.
Ngày nay, người ta thường không chịu ăn năn khi bị khiển trách, nhưng né tránh vấn đề bằng cách phủ nhận điều mình đã làm và đơn giản chuyển sang hội thánh khác, nơi thường không quan tâm tìm hiểu vì sao họ rời bỏ nhóm thông công trước. Thêm vào điều nầy là nỗi lo ngại về hành động pháp lý. Tóm lại, một tình trạng đáng buồn xảy ra trong hội thánh ngày nay, khi cố thử áp dụng hành động kỷ luật. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa là cần bãi bỏ kỷ luật, vì luôn có trường hợp khi người ta được đối xử cứng rắn nhưng đầy yêu thương, đã đáp ứng và kết quả là qua kinh nghiệm, đã trở nên phong phú và trưởng thành hơn. Cũng một thể ấy với hội thánh và cấp lãnh đạo, khi tìm kiếm kỷ luật thích hợp, với mục đích tôn cao danh Đấng Christ, gìn giữ mối thông công toàn vẹn và dẫn đưa người lẫm lỗi đến chỗ nhận biết Chúa sâu nhiệm hơn.
Trong Hội thánh, không thiếu những kẻ có tính nóng nảy với trái tim băng giá, họ không hề tô điểm cho Phúc âm. Chúng ta cần những người tỉnh táo với lòng ấm áp, khi hội thánh phải áp dụng kỷ luật trong tiến trình môn đệ hoá.
Tôi không thích kết thúc quyển sách nầy với một ý tưởng như thế. Không ai muốn tập trung vào sự chia rẽ trong Hội thánh, vào các nguyên nhân và cách chữa trị. Dầu vậy, khi Hội thánh được nhìn nhận là ‘dân sự của Đức Chúa Trời’ mà Chúa đã tinh lọc cho chính Ngài, thì phải đứng vững trên lập trường rằng những ai có nếp sống chống lại các mục đích cao cả của Đức Chúa Trời phải được xử lý, để tôn cao Danh Chúa và vì phúc lợi của dân Ngài.
Với tâm niệm nầy, tôi muốn khích lệ bạn, người đọc sách này, nghiêm túc gìn giữ cái nhìn phấn khởi về Hội thánh địa phương mà Phaolô đã giãi bày cách mạnh mẽ cho Tít. Tôi mong thôi thúc bạn trở nên một công cụ như Tít, mà qua ông các mục đích vinh hiển Đức Chúa Trời dành cho Hội thánh đã được hoàn thành.

Thực hành bài này
1.Các sự chia rẽ trong Hội thánh xảy đến như thế nào?
2.Hội thánh ngày nay bị phân rẽ trong các lãnh vực nào? Làm sao có thể bày tỏ sự hiệp một dầu có nhiều khác biệt trong các lãnh vực nầy?
3.Vì sao phải nghiêm ngặt khi đối đầu với sự chia rẽ trong Hội thánh?
4.Nên thực hiện kỷ luật trong Hội thánh khi nào và cách nào?


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 09:33 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách