† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2735|Trả lời: 0

Tôi Tin Đức Thánh Linh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 19:03:13 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Tôi Tin Đức Thánh Linh
Tác giả: Michael Green

Lời Tựa
1. Đức Thánh Linh
2. Đức Thánh Linh trong Cựu Ứớc
3. Thánh Linh của Chúa Giêxu
4. Đức Thánh Linh và Chúa Giêxu
5. Đức Thánh Linh trong công tác truyền giáo
6. Đức Thánh Linh trong từng cá nhân
7. Đức Thánh Linh trong Hội thánh
8. Phép báptem của Đức Thánh Linh
9. Sự đầy dẫy Đức Thánh Linh
10. Các ân tứ của Đức Thánh Linh
11. Chúng ta nghĩ sao về phong trào phục hưng ân tứ
12. Sau mười năm: Đâu là tương lai của phong trào ân tứ?

Lời Tựa
Đây là quyển sách đầu tiên trong loạt sách “Tôi Tin” xuất bản vào những năm 1970. Các quyển sách này đã được hoan nghênh và sử dụng rộng rãi và một số quyển đã được tái bản theo một khuôn khổ khác. Điều này khiến các tác giả có cơ hội, sửa chữa và bổ sung văn bản và tôi rất hân hoan được dịp duyệt xét lại quyển “Tôi tin Thánh Linh.” Không phải vì hiện nay tôi không còn đồng ý với lập trường của mình mười năm về trước, mà vì trong thập kỷ vừa qua, chính sự hiểu biết của tôi về công tác của Đức Thánh Linh trong từng cá nhân và trong Hội Thánh đã phát triển quan trọng, và toàn thể phong trào ân tứ (the charismatic movement) hay là phong trào phục hưng bấy giờ hãy còn non trẻ, giờ đây đã trưởng thành rất nhiều bên trong sinh hoạt của Hội Thánh nói chung.
Các quyển sách này nhằm đưa ra một cái nhìn tươi mới đối với những vấn đề trái ngược nhau vốn vẫn gây ra nhiều tranh luận về đức tin Cơ đốc. Chúng được viết ra bởi các học giả vốn đã có một chân đứng neo chặt trong Kinh Thánh, và chân kia cũng đứng vững vàng không kém trong bối cảnh đương thời. Mỗi tác giả đều tìm cách đưa ra một lời chú giải toàn diện của Kinh Thánh cho chủ đề của mình; nhưng phải làm thế nào để nó có giá trị thực tiễn cho các Cơ đốc nhân hiện đại, là những người đang cảm thấy rối trí vì những sự tranh luận trái ngược nhau cùng một chủ đề. Vì vậy, trong khi cố gắng trình bày sự dạy dỗ của Kinh Thánh về Đức Thánh Linh sao cho đầy đủ, rõ ràng, tôi sẽ bị thất bại trong việc đáp ứng mục đích của quyển sách “Tôi Tin”, nếu bỏ qua các vấn đề đang được tranh luận về phép báp tem, các ân tứ và sự đổ đầy Đức Thánh Linh.
Vì các quyển sách này vốn không chỉ hướng đến các độc giả ưu tú mà thôi, nhưng nhằm vào Hội Thánh nói chung, các tác giả đã cố gắng giữ cho bút pháp được tương đối nhẹ nhàng, mặc dù về nội dung, theo kỳ vọng của tôi, sẽ có một giá trị lớn nào đó.
Tôi lựa chọn viết về Đức Thánh Linh là vì một lý do nhất định. Từ mười lăm năm qua, tôi đã được đặc ân sống trong một cộng đồng Cơ đốc giáo, nơi mà vấn đề ân tứ đã được đem ra tranh luận hết sức sống động và là nơi mà những người ‘nhận ân tứ’ và ‘không nhận ân tứ’ vẫn sống chung với nhau trong sự tin cậy và yêu thương nhau ở mức độ cao. Tại nhiều nơi, phong trào ân tứ đã gây chia rẽ và khiến nảy sinh sự nghi ngờ, nhất là trong những ngày đầu tiên, nhưng theo niềm tin vững chắc và từng trải của tôi, thì sự việc đáng lẽ không cần như vậy, và Đức Thánh Linh của sự hiệp một vốn muốn cho tình hình phải khác hơn thế. Do đó, tôi giới thiệu quyển sách này với hy vọng nó thể hiện được một viễn ảnh chữa lành và hiệp nhất về phong trào vừa đầy phấn khởi nhất và vừa gây bối rối nhất của thời đại chúng ta. Trong khi duyệt xét lại bản in lại này, quyển sách cũng nhằm mục đích ấy: cung cấp một nhịp cầu nối liền giữa những ai tự nhận thấy mình đã bị phong trào phục hưng gây chia rẽ. Chia rẽ các Cơ đốc nhân là chức năng của Linh Bất khiết (tà linh). Đức Thánh Linh thì hiệp một mọi người lại với nhau. Đây vẫn luôn là niềm xác quyết căn bản ẩn sau việc tái bản quyển sách này.
Đã có rất nhiều sách báo bàn về chủ đề này trong mười năm qua, và suốt trong thời gian đó, tình hình đã không đứng yên một chỗ. Trong mọi góc cạnh, các Cơ đốc nhân đều đã bắt đầu thức tỉnh đối với sinh lực sống động của Đức Thánh Linh. Sự nghi ngờ mà mọi người thường nhận định về phong trào phục hưng ân tứ, cũng như những lời rêu rao chối tai của phong trào ấy dường như đã giảm bớt. Một phong trào hoàn toàn mới mẻ và sung mãn của Cơ đốc giáo, các Hội Thánh tư gia đã phát sinh; thế nhưng cũng có nhiều người bảo rằng phong trào phục hưng ân tứ đã qua rồi, và nhấn mạnh về điều đó chỉ là việc tầm thường hoặc sai lầm. Do đó, thiết tưởng nhìn lại chủ đề cách mới mẻ là điều thích đáng.
Trong lần xuất bản đầu tiên, tôi hàm ơn vị giáo sư già của tôi là Giáo sư Geofrey Lampe, sau đó đã dũng cảm qua đời vì bệnh ung thư. Tôi hàm ơn các bạn thân, Mục sư David Watson và Mục sư Julian Charley, tri ân ông Edward England, người xuất bản sách của tôi, và biết ơn trường Cao đẳng St.John, Nottingham, mà lúc ấy tôi là hiệu trưởng, và nhờ Ban giám đốc trường ấy, tôi đã dành riêng được thì giờ để viết quyển sách này. Từ ấy đến nay, đã có biết bao thay đổi! David Watson đã về hưu, và đã qua đời vô cùng can đảm, rạng rỡ cũng vì bệnh ung thư, khiến toàn thể các Cơ đốc nhân trên thế giới đã phải chịu một mất mát lớn lao. Ông Edward England, người đầu tiên đã được linh cảm để cho ra đời quyển “Tôi Tin” đã rời khỏi Hoddess và tôi cũng rời khỏi St.John năm 1975 để trở thành Mục sư của Hội Thánh St.Aldate, Oxford. Tôi đã ở đó đến nay gần mười năm, và đó là những năm tôi đã học hỏi rất nhiều điều về quyền năng của Đức Thánh Linh, các ân tứ của Ngài, sự khiêm nhu hạ mình và tan vỡ của Ngài, và cách vinh hiển mà Ngài đã sử dụng, biến hóa các hội chúng và đời sống mỗi người từ mọi bối cảnh khi họ chịu mở rộng lòng ra cho Ngài. Và trên hết mọi lời tri ân, tôi muốn tạ ơn Đức Chúa Trời về lòng rộng lượng không lời nào mô tả được của Ngài, đã ban Đức Thánh Linh cho loài người sa ngã chúng ta, để Đức Thánh Linh trở nên vừa là phương tiện của ân điển vừa là niềm hy vọng về vinh hiển cho chúng ta.
Năm 1984 của Chúa chúng ta.
Michael Green
St.Aldate Church
Oxford.


ĐỨC THÁNH LINH
Thánh Linh
Bị xem thường?
Giáo hội Cơ đốc lúc nào cũng có nhiều thành viên rất giống với các môn đệ tại Êphêsô, khi được thánh Phaolô hỏi: “Từ khi anh em tin, có lãnh được Đức Thánh Linh chăng?” đã trả lời: “Chúng tôi cũng chưa nghe nói có Đức Thánh Linh nào” (Cong Cv 19:2). Tất nhiên, nếu trước đó những người Êphêsô này chịu lắng nghe Giăng Báptít thì đã được nghe đôi điều gì đó về Đức Thánh Linh, nhưng họ vốn không biết rằng lời hứa ban Thánh Linh là dành cho họ, rằng Ngài có quyền biến đổi hẳn cuộc đời họ. Rất nhiều người thuộc tất cả các giáo phái (denominations) có tâm trạng như thế. Dĩ nhiên là họ đã từng được nghe nói về Đức Thánh Linh, nhưng hoặc cho rằng tất cả những điều đó vốn chỉ có nghĩa biểu tượng thần học, hoặc cho rằng điều đó không dành cho người bình dân như họ, Đức Thánh Linh có thể đã bị xem thường trong tất cả những mục đích thực tiễn. Cơ đốc giáo được coi là việc đi nhà thờ, là kiên nhẫn tiếp tục tiến bước và cố gắng hết sức mình để làm điều thiện và tin rằng Đức Chúa Trời thực hữu, tin vào cuộc đời có thật của Chúa Giê-Xu đã ghi trong lịch sử cũng như sự chết của Ngài (ngay cả thần tánh về sự sống lại của Ngài cũng không được coi trọng nữa).
Bị giam hãm trong Hội thánh...?
Mặt khác, trong Hội Thánh Cơ đốc cũng luôn luôn có người biết rất rõ ràng về Đức Thánh Linh. Điều này thật đơn giản. Ngài vốn là Đấng hậu thuẫn thiên thượng cho những sự dạy dỗ của họ đặc biệt những bài nhấn mạnh về thần học và việc hành đạo. Mấy năm gần đây, người ta đã viết rất nhiều về Công giáo nguyên thủy và một khuynh hướng hết sức rõ ràng ngay trong chính giai đoạn Tân Ước nhằm thuần hóa Đức Thánh Linh, biến Ngài thành điều được thừa hưởng của Hội Thánh. Những người đã chịu phép báp tem một cách hợp lệ, hoặc đã được bổ nhiệm phải phép vào chức vụ trong Hội Thánh, đều được đảm bảo là mình có Đức Thánh Linh.
...hoặc Kinh Thánh?
Không phải chỉ có giới Công giáo Cơ đốc là đã sai phạm trong việc tìm cách “thuần hóa” Đức Thánh Linh như vậy. Người Tin Lành vốn không kém phần băng khoăn,cũng muốn làm thế, vì Đức Thánh Linh vốn là một ảnh hưởng gây xáo trộn. Do đó, người ta chỉ cần phục vụ thờ phượng Ngài bằng môi miệng mà thôi, còn về mặt thực tiễn, phải nhốt kín Ngài trong Kinh Thánh, là nơi Ngài chẳng gây ra điều tai hại gì. Cứ để cho Ngài tham dự trong lời xưng tội giữa vòng những người mang danh hiệu đặc biệt là thuộc giáo phái Tin Lành. Cứ mặc kệ những chi tiết kỳ quặc và đầy nét lạ lùng mà các tài liệu trong Tân Ước đã ghi chép về hoạt động của Ngài và trả chúng về cho những ngày xa xưa thời các sứ đồ. Còn nếu nói chuyện Đức Thánh Linh phán với con người ngày nay, hay khiến người ta làm các phép lạ, cho người ta nói được các ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ của mình, thì thật là rắc rối, lộn xộn về phương diện giáo lý. Đúng ra Kinh Thánh mới là chỗ an toàn nhất dành cho Đức Thánh Linh. Ngài vốn thuộc về Kinh Thánh chứ chẳng nên có vai trò gì trong đời sống thực tế xô bồ này cả.
...hay thần học?
Ít ra cũng có điều này cần phải nói về các lập trường chính của Công giáo cũng như của giáo hội Tin Lành. Nếu những lập trường ấy có phần hẹp hòi và bị hạn chế, thì vẫn dễ hiểu và rõ ràng. Tuy nhiên, từ khi phong trào phê bình Kinh Thánh phát triển suốt hai thế kỷ qua và cuộc cách mạng chống lại chủ nghĩa độc đoán trong suốt năm mươi năm rồi, thì đã có một khuynh hướng rõ rệt muốn tìm kiếm Đức Thánh Linh trong nhiều lãnh vực khác nữa. Vì chúng ta không còn có thể bị trói buộc lâu hơn nữa với chủ nghĩa độc đoán của một quyển Kinh Thánh đã bị làm mất uy tín và một ngôi vị Giáo hoàng đã bị sụp đổ, chúng ta phải trông đợi việc linh cảm được thực hiện qua tâm linh con người. Để bắt đầu, các thần học gia tự do đã nghĩ về Thánh Linh của Đức Chúa Trời như chỉ phán dạy cho con người ngày nay qua trung gian những yếu tố trong Kinh Thánh, hoặc qua truyền thống Giáo hội, vốn phù hợp hơn cả theo những cái nhìn xuyên suốt của riêng họ. Giáo hoàng và Kinh Thánh đều bị truất ngôi, để nhường chỗ cho ông Giáo sư Thần học. Nhưng rủi thay, ông ta đã không ngồi được lâu lắm, chẳng bao lâu, các quan điểm của ông ta đều bị những người kế vị ông ta cho là lỗi thời. Thế thì tại sao lại dám quyết đoán rằng Đức Thánh Linh vốn hoạt động tích cực đặc biệt trong các vị giáo sư? Phải chăng chắc chắn đây chỉ là một cách đề cao của kinh viện chủ nghĩa về một bộ Kinh Thánh vô ngộ và của chủ nghĩa độc đoán về chức vụ giảng dạy của hàng giáo phẩm?
...hay các hội nghị?
Có lẽ tốt hơn là nên đi tìm các nhân chứng đương thời của Đức Thánh Linh trong các cuộc thảo luận có tính cách toàn thế giới, là nơi mà tất cả mọi người đều có thể đóng góp sự hiểu biết sâu xa riêng biệt của mình, và chắc chắn là người ta sẽ tìm thấy Đức Thánh Linh trong đa số phiếu được biểu quyết vào cuối ngày họp. Tôi từng được tham dự quá đầy đủ các hội nghị Cơ đốc thế giới, nơi vẫn rêu rao rằng tiếng nói của Đức Thánh Linh nằm sau những phiếu bầu của các đoàn quân đông tướng mạnh ấy đến nỗi tôi muốn nhuốm bệnh vì nó. Vào thời của Kinh Thánh, không hề có cái lệ nhận biết ý của Đức Thánh Linh nhờ vào số đông người đồng ý như thế.
...hay rộng lớn hơn?
Chúng ta thường được kêu gọi nên có một quan điểm rộng rãi hơn, toàn diện hơn để khám phá ra rằng Đức Thánh Linh đang vận hành trong Phật giáo và trong chủ nghĩa cộng sản, trong nhân bản chủ nghĩa và trong vô thần chủ nghĩa nữa. Thế thì, phải chăng tôi cũng gán cho Đức Thánh Linh trách nhiệm luôn về việc Phật giáo phủ nhận khả năng có sự tha tội, hay về thái độ ngạo mạn của chủ nghĩa cộng sản đối với chân lý và đời sống con người, hay về phần đông các nhà nhân bản học thời nay tập trung vào việc làm thỏa mãn cái tôi của con người chăng?. Lối giải thích rộng rãi về thân vị và công tác của Đức Thánh Linh như vậy thật ra rất mập mờ và lộn xộn, đó là chỉ mới nói thật ít mà thôi. Toàn thể đề tài ấy vốn đã dựng lên vô số vấn đề.
...trong cơn phục hưng?
Phải chăng điều đáng ngạc nhiên là ngược với một bối cảnh lộn xộn như vậy, một phong trào mới mẻ và đầy sinh lực đã nảy sinh, mà niềm tin chủ yếu lại là quyền năng về sự thực hữu của Đức Thánh linh? Hồi đầu thế kỷ này, chẳng hề có những người thuộc Ngũ tuần (Pentecostals). Hiện nay, nhân số của phái này lên đến nhiều triệu người tính ra từ hầu hết tất cả các quốc gia trên địa cầu và từ hầu hết các giáo phái khác nữa. Những đặc điểm được nhấn mạnh của phong trào này có thể được thấy rõ, chỉ cần nhìn lướt qua một số nhan đề các sách đã được xuất bản về chủ đề ấy trong những năm gần đây. Trước hết và nổi tiếng nhất, là quyển ‘Nơi ẩn náu của quần chúng (The Haven of the Masses) một phong trào quần chúng, không hề bị giới giáo phẩm của họ (ministry) thống trị, cũng chẳng chịu lệ thuộc giáo lý ngoại lai. Quyển ‘Họ nói các ngôn ngữ khác (They speak with others tongues) mà nhiều người không phải là thành viên của bối cảnh Ngũ tuần vốn lấy làm khó chịu và không ưa. Lời tuyên bố rằng chính họ và chỉ có họ mới nhận được phép báp tem bằng Đức Thánh Linh mà thôi, tương phản với phép báp tem bằng nước vốn là các dấu hiệu của số người còn lại trong Cơ đốc giáo, việc ăn năn quy đạo được trình bày trong phần lớn nền thần học Tin Lành cũng như phép thêm sức trong Công giáo. Quyển ‘Như lúc ban đầu (As at the Beginning) bàn về các ân tứ của ngày lễ Ngũ tuần đã được làm mới lại cho một Hội Thánh đang khô hạn, và quyển’ Điều này có thể xảy ra cho bất cứ ai (It can happen to Anybody). Dành cho những người đang bị lạnh cóng trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời là quyển ‘Con đường dẫn đến quyền năng (Pathway to Power); từng cá nhân cũng như Hội Thánh đều được tập trung để ‘Nhận quyền phép (Gathered for Power). ‘Một quyền lực thứ ba (The Third Farce) đã bước vào Cơ đốc giáo và đây là một quyền lực rất đáng kể. Chữa bệnh, đuổi quỉ, nói tiếng lạ, nói tiên tri, chỉ là phần nổi ngoạn mục của khối băng trôi, còn trái tim của nó là sự thông công sống động, đầy lòng yêu thương và tin cậy của Cơ đốc giáo.
Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra điều gì?
Vậy, đứng trước quá nhiều tiếng nói trái ngược như thế, một Cơ đốc nhân phải nghĩ sao về Đức Thánh Linh? Chúng ta phải bắt đầu từ đâu? Điều quan trọng cần nhớ, ấy là chúng ta chỉ là những con người nói chuyện với nhau về Đức Chúa Trời, và chúng ta không thể biết được bất cứ điều gì về Ngài, nếu Ngài không rộng lượng đủ để tự bày tỏ mình ra. Có một quyển khác thuộc bộ sách “Tôi Tin” đã bàn đến vấn đề mặc khải, thiết tưởng chỉ cần nói ở đây rằng nếu không có sự mặc khải chúng ta không thể nói gì cả về Chúa là Thánh Linh. Phaolô đã nói rõ vấn đề này, ông hỏi: “Nếu không phải là thần linh trong lòng người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, nếu không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời” (ICo1Cr 2:11). Nói khác đi, phải chính là Đức Chúa Trời mới có thể bày tỏ Đức Chúa Trời ra được. Rồi Phaolô tuyên bố rằng chính Đức Chúa Trời đã làm như vậy rồi qua trung gian Đức Thánh Linh, Đấng giải thích những chân lý thuộc linh cho những người có Thánh Linh. Cho nên, mục đích của sách này là khảo sát những gì Kinh Thánh đã dạy về Đức Thánh Linh, nhất là nhờ phần ánh sáng đầy đủ hơn của Tân Ước cung cấp cho, để liên kết sứ điệp của những sách ấy vào hoàn cảnh của chúng ta.
Các thần học gia thường phân biệt Đức Chúa Trời đúng như Ngài vốn có, với Đức Chúa Trời đã tự mặc khải cho chúng ta. Theo thiển ý cố gắng đi xuyên qua những gì không được cho biết về yếu tính của Ba Ngôi Đức Chúa Trời là điều vừa vô ích vừa tự phụ. Theo tôi, gắng nắm lấy cách thức mà Đức Chúa Trời đã tự tỏ mình ra cho chúng ta được biết, thì đã quá đủ rồi. Và không cần phải nói quanh co dài dòng, bạn có thể nói ngay rằng đó là một vở kịch gồm ba màn.
Màn thứ nhất: bắt đầu từ vườn Eđen.
Màn một rất dài. Nó bắt đầu từ buổi khai thiên lập địa của lịch sử thế giới cho đến ngày Chúa Cứu thế Giê-Xu giáng lâm. Nó bao gồm toàn thể lịch sử dân Y-sơ-ra-ên cho đến ngày Đấng Mê-si-a ra đời. Luật pháp, Các sách tiên tri và các Văn phẩm (tức là ba phần quan trọng của Kinh Thánh Cựu Ước) kết hợp lại với nhau để truyền dạy một bài học căn bản duy nhất. Đó là: Có một Đức Chúa Trời duy nhất, ngoài Ngài ra không còn có vị thần thứ hai thứ ba nào khác nữa. Đó là bài học mà Áp-ra-ham đã học tại miền đất thờ đa thần ở U-rơ, xứ Canhđê. Rồi hậu duệ của ông còn học đi học lại rất nhiều lần nữa qua hai mươi thế kỷ tiếp sau đó. Yahweh, Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, là chân thần duy nhất. Các thần khác của người ngoại đạo đều là hình tượng (trong Hi-bá-lai văn; có nghĩa là “hư không, chẳng là gì cả") những người nô lệ bị giày đạp tại Ai-cập vào thời Xuất-Ê-díp-tô ký đã nhận thức được rằng Đức Gia-vê, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu duy nhất (XuXh 3:14) là Đấng giải phóng đầy quyền năng mà họ đáng tin tưởng. Luật pháp Môise nhấn mạnh sự kiện toàn thể sinh hoạt xã hội, tôn giáo và thường nhật của họ đều phải được chỉ đạo bởi lòng tận trung với Đức Chúa Trời duy nhất đó, là Đấng đã đưa họ ra khỏi xứ Ai-cập là nhà nô lệ. Qua thời gian, họ đã quên bức thông điệp ấy không biết bao nhiêu lần. Các phần ký thuật của Cựu Ước ghi lại việc họ chạy theo các tà thần, các thần của những dân tộc sống chung quanh họ bất cứ khi nào có cơ hội. Êli đã phải kéo họ khỏi việc thờ lạy do Giêsabên đưa vào, để trở về với Đức Chúa Trời. Ô-sê đã kêu gọi họ quay về với Yahweh là mối tình đầu của họ, khi họ đã bỏ nhà ra đi và phạm tội ngoại tình - như chính bà vợ của Ôse vậy - với một vài “Chúa” khác nào đó, mà họ đêm ngày thờ phượng, tận tụy hết lòng. Giêrêmi và Ê-sai đã không hề mỏi mệt trong việc nhắc nhở dân mình rằng chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất có quyền cứu vớt được dân Ngài, còn tất cả những nơi ẩn náu khác đều chỉ là hư không. Cuối cùng, thì bài học đã được nhập tâm, và đến hai thế kỷ cuối cùng trước ngày Đấng Christ ra đời, dân Do thái mới có dấu hiệu chứng tỏ là họ tận trung với Đức Chúa Trời duy nhất. Dưới thời họ Ma-ca-bê, họ đã chống lại các nỗ lực của Antiochus nhằm đô hộ đất nước họ và phá tan đạo giáo của họ. Về sau, dưới thời chiếm đóng của người La mã, họ vẫn triệt để duy trì được độc thần chủ nghĩa của mình bằng lòng dũng cảm không gì phá vỡ nổi, đến nổi quan tổng trấn La mã vẫn không dám đưa cờ của mình vào Giêrusalem, vì e ngại các huy chương được gắn trên đó nói về hoàng đế La mã có thể bị hiểu là vi phạm Điều răn Thứ Hai của họ. Tiền đúc của La mã đúc tại xứ Palestine không mang hình của hoàng đế. Thật ra, khi Philát cho đúc một đồng tiền có hình đầu vị hoàng đế ở mặt sau, rất có thể khiến ông ta bị mất chức, vì hình đầu người gây cảm tưởng về một tôn giáo ngoại lai, vốn là điều không thể được duy trì tại Giuđê. Cuối cùng, như mọi người đều biết, đức tin của người Do thái vào chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi là Đấng duy nhất xứng đáng cai trị dân Y-sơ-ra-ên, đã dẫn tới cuộc khởi nghĩa vĩ đại của những năm 66-70 SC. Đỉnh cao của nó là việc thành Giêrusalem thất thủ, đền thờ bị phá hủy với Nơi Chí Thánh trống không, công bố thật hùng hồn sự cao cả của Đức Chúa Trời, vì danh Ngài vốn quá thánh khiết để người ta có thể nói tới, và bản thân Ngài vốn vô cùng thiêng liêng đến nỗi người ta không thể dùng bất kỳ một hình ảnh nào để in sao lại cả. Màn một đã kết thúc. Dân Y-sơ-ra-ên được biết rõ không còn nghi ngờ gì nữa cả, rằng chỉ có môt Đức Chúa Trời duy nhất, là Đấng Tạo Hóa cả thế gian đã tự bày tỏ mình ra một cách đặc biệt cho dân tộc mình.
Màn thứ hai: bắt đầu từ Bếtlêhem
Nhưng Đấng người ta không thể nêu danh mà khỏi bị trừng phạt, không thể in sao bản thể Ngài mà không làm biến dạng được, vẫn tồn tại bên ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Trong Màn Hai, Đức Chúa Trời đã đích thân đến trong thân vị để bày tỏ chính Ngài cho mọi người được biết. Sau nhiều năm nhìn chăm vào Chúa Giê-Xu ở Naxarét, lắng nghe lời truyền dạy của Ngài, theo dõi cá tính Ngài, chứng kiến các phép lạ Ngài làm, sau khi mục kích cái chết đầy nhục nhã và từng trải được sự phục sinh quang vinh của Ngài, những người đã được quen biết Ngài nhiều nhất đều tin chắc rằng: Con người ấy đã đem Đức Chúa Trời đến trong tầm mắt của loài người.
“Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian. Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài, lấy lời quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật”.
“Sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình”.
“Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất...mọi vật đều bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài”.
“Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết”.
Bằng những lời lẽ như trên, Phaolô, Giăng và trước giả thư Hêbơrơ đã phấn đấu để diễn tả lời tuyên bố chưa từng được nghe ai khác dám nói ra, khiến bản thân các vị ấy cũng phải tưởng rằng mình lộng ngôn, nhưng vì bằng chứng hiển nhiên không chối cãi được về đời sống, sự chết và sống lại của Chúa Giê-Xu, nên đã tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã thật sự thăm viếng và cứu chuộc dân Ngài. Đấng mà việc gọi tên Ngài sẽ bị cho là phạm pháp, đã nhận lấy tên “Em-ma-nu-ên” (Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta) và “Giê-Xu” (Đức Chúa Trời giải cứu). Ngài đã làm đúng cái công việc ấy; đã cùng sống với họ, cứu họ khỏi số phận nghiệt ngã và ách nô lệ tai hại hơn cả những gì từng trói chặt tổ tiên họ tại xứ Ai-cập của các Pharaôn. Họ không còn có thể biện bạch rằng mình chẳng biết gì về Đức Chúa Trời nữa. Ngài đã trở thành một người ở giữa họ, một người đồng thời với họ. Trong Chúa Giê-Xu, tất cả những gì mà Đức Chúa Trời có thể bộc lộ ra bằng phương cách loài người, đều đã được bộc lộ cả. Họ đã được nhìn thấy Đức Chúa Trời vốn giống hệt như Chúa Cứu thế vậy. Màn Hai đã kết thúc. Đức Chúa Trời chân thật duy nhất vốn không ngự trị bên trên họ với tư cách Đấng Tạo Hóa. Ngài đã sống chung với họ, tự bộc lộ mình ra trong các cung cách của con người, và rồi cứu vớt họ khỏi thái độ tự-làm-mặt-lạ mà họ đã từng sa vào.
Màn thứ Ba: từ ngày lễ Ngũ tuần
Màn ba bắt đầu vào ngày lễ Ngũ tuần, và đến nay vẫn chưa kết thúc. Nó cũng chưa kết thúc trước khi Đức Chúa Trời hoàn tất các chủ đích của Ngài đối với thế gian này khi Chúa Cứu thế tái lâm. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, từng trở thành người để sống chung với loài người trong Chúa Giê-Xu, bây giờ tự nguyện đến với họ ngay trong chính nhân cách của họ. Người ta không thể nào quan niệm nổi là có ai đó nghĩ ra được một giáo lý nào ẩn chứa những điều khó có thể có được như Giáo lý về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Giáo lý ấy đã được áp đặt trên họ bằng kinh nghiệm. Họ đã chịu thuyết phục vào sự hiệp một và có một không hai của Đức Chúa Trời, nên các môn đệ của Chúa tin quyết rằng Ngài vốn hiện diện trong Chúa Giê-Xu. Sau ngày lễ Ngũ tuần, họ lại được bảo đảm rằng kinh nghiệm của họ về việc Đức Chúa Trời đã hành động giữa họ và trong công tác truyền giáo của họ, chẳng có gì khác hơn là công tác và sự hiện diện của Chúa Giê-Xu được tiếp tục giữa vòng họ. Cho nên họ đã không hề nao núng để nói về “Linh của Đức Chúa Trời”, “Linh của Chúa Giê-Xu” và “Linh của Chúa Cứu thế” một cách giống y nhau. Chúa Giê-Xu ở Naxarét giờ đây đã trở thành khối lăng kính, qua đó nhiều chùm tia sáng khác nhau trong Cựu Ước đề cập đến Đức Thánh Linh đã trở thành rạng rỡ và rõ nét đối với họ.
Cách so sánh như tôi vừa rút ra từ một vở kịch ba màn về sự cứu rỗi, có thể bị hiểu lầm một cách nguy hiểm. Nó có thể dẫn tới điều mà các thần học gia gọi là “Phương thức chủ nghĩa” (modalism), chủ trương rằng Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ mình ra qua ba phương thức hay hình dạng liên tục - các thể thức không phù hợp với bất kỳ những điểm dị biệt nào trong bản thể Ngài, mà chỉ nhằm đem lợi ích cho chúng ta. Tôi không nghĩ điều đó là đúng. Chính chức vụ của Chúa Giê-Xu đã phản bác thật đầy đủ lý thuyết ấy. Một mặt, Ngài vốn đã được “hoài thai” bởi Đức Thánh Linh và đã được Đức Thánh Linh làm phép báptem cho, cũng hứa ban ân tứ của Đức Thánh Linh đó cho những người theo Ngài sau khi Ngài chịu chết. Mặt khác, rõ ràng Ngài đã nhìn Đức Chúa Trời như Cha mình, và khi trút linh hồn, Ngài đã phó thác linh hồn mình vào tay Cha. Nói khác đi, đã có hai lần trùng lắp trong chức vụ của Chúa Giê-Xu, không cho phép chúng ta quyết đoán rằng Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh là ba cái khuôn để Đức Chúa Trời tự đúc ra mình vào ba giai đoạn khác nhau của lịch sử sự cứu rỗi.
Tuy nhiên, mặc dầu có các nguy cơ như trên, vở kịch ba màn này có thể cung cấp cho chúng ta những gì trí hiểu của chúng ta tiếp cận được với thân vị (person:con người) và công tác của Đức Thánh Linh, và cũng có lẽ đúng để cho chúng ta tìm tòi tra cứu càng chi tiết hơn nữa. Cho nên trong chương sau, tôi sẽ xét đến những đường nét lớn trong lời dạy của Cựu Ước về Đức Thánh Linh dưới ánh sáng quan sát cách đầy đủ hơn mà Chúa Giê-Xu là Đấng cưu mang Đức Thánh Linh trong Ngài đến mức tối cao, đã đem đến.


ĐỨC THÁNH LINH TRONG CỰU ƯỚC
Thần (Linh) của Đức Chúa Trời
Từ ngữ đã được dùng chỉ Linh (thần) của Đức Chúa Trời, cả trong tiếng Hi-bá-lai lẫn Hi văn, đều có ý nghĩa vô cùng hàm súc. Ruach trong Hi-bá-lai văn và pneuma trong Hi văn đều có ba ý nghĩa chính chỉ “gió”, “hơi thở” và “linh”. Thần của Đức Chúa Trời (trong Cựu Ước) là hơi-thở-ban-sự-sống (sinh khí) của Ngài, mà nếu không có nó thì con người ta chỉ còn là một vật bất động về thuộc linh. Nó chính là ngọn gió huyền bí của Đức Chúa Trời khiến con người không thể nào nắm bắt được để điều khiển mọi sự theo ý riêng mình, như Chúa Giê-Xu từng nhắc nhở Ni-cô-đem: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động, nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh (pneuma) thì cũng như vậy” (GiGa 3:8). Gió cũng có sức mạnh phi thường: Đức Chúa Trời đã dùng ngọn gió mạnh mẽ để làm dịu khô đi biển nước của cơn Đại Hồng Thủy (SaSt 8:1), và Ngài cũng dùng gió khiến nước rẽ ra trước mặt dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi xứ Aicập (XuXh 14:21). Hai khái niệm sinh đôi đó về năng lực và tính huyền bí của gió, đều được nhấn mạnh trong lời dạy dỗ cả của Cựu lẫn Tân Ước khi đề cập đến Thần (Linh) của Đức Chúa Trời.
Phẩm chất của con người?
Điều này nằm ngay bên lề phần nghiên cứu học hỏi này của chúng ta. Thần (Linh) của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh không phải là một phẩm chất tự nhiên của con người. Nó không có nơi trú ẩn bí mật nào trong thân thể chúng ta cả. Vì một lý do là người Hi-bá-lai không hề chia con người ra làm ba phần là linh, trí và thân xác như chúng ta thường có khuynh hướng làm như vậy; họ nghĩ về con người là một thân xác biết hoạt động, một con người sống. Vì một lý do khác nữa, họ có một từ ngữ rất hay, hoàn toàn đầy đủ để mô tả sinh lực của con người, cái phẩm chất để đánh dấu, để phân biệt rõ ràng người sống với kẻ chết, và từ ngữ đó là nephesh. Từ ngữ này ít khi được liên hệ với từ ngữ ruach - tuy chúng ta không mong đợi mà cũng không tìm thấy sự khẳng định như vậy. Quả thật từ ngữ ruach đã được dùng chỉ (thần) linh của con người trong vài trường hợp. Nó được dùng trong câu chuyện cơn Đại Hồng Thủy chẳng hạn, để nói về “sinh khí” (SaSt 6:17) mà Đức Chúa Trời ban cho - rồi lấy lại. Nó cũng được dùng nói lên phần sinh lực dồi dào, nói lên sự kinh ngạc của mỹ nương Sê-ba khi nhìn thấy các kho tàng của Sa-lô-môn - “thì mất cả ruach trong bà” (IVua 1V 10:5). Rồi nó lại có nghĩa là trung khu của tình cảm, trí tuệ và ý chí nữa - đặc biệt là nó thường được dùng để chỉ sức thúc đẩy, chỉ đạo đời sống một người (thí dụ ChCn 25:28; Thi Tv 32:2; Dan Ds 14:24). Do đó mà thỉnh thoảng ruach của một người dường như được xem là tương đương với nephesh của người ấy - linh (hồn, vía) được xem là chính đời sống, mạng sống - nhưng đó không phải là cách dùng bình thường. Ruach và nephesh thường có ý nghĩa riêng. Thỉnh thoảng chu vi của hai vòng tròn có thể trùng lắp nhau, nhưng nội dung chính của mỗi vòng tròn vốn đều rõ ràng. Nephesh có tính cách tự nhiên, nó thuộc về con người. Ruach là siêu nhiên, nó thuộc về Đức Chúa Trời. Tuy người ta có thể tìm thấy ruach trong một người thì có thể nói là nó thường ở trong tình trạng được vay mượn chớ không phải là một điều sở hữu, một người khách lạ tạm trú chớ không phải là dân địa phương (người chính quốc).
Nguyên lý sự sống?
Và chính vì thần linh không tương đồng với một đặt tính nào nơi con người, nó cũng không thể được xem như phần nguyên liệu tạo nên thế gian; là nguyên lý sự sống bao quát đã xâm nhập vũ trụ này theo như những người Khắc kỷ (Stoics) đã chủ trương - một quan điểm do ảnh hưởng triết học ngoại đạo, đã len lõi vào các sách ngoại kinh của giai đoạn giữa Cựu và Tân Ước. Không, Cựu Ước nhấn mạnh rằng Thần Linh đầy quyền năng và huyền bí đó vốn thuộc về Đức Chúa Trời và chỉ thuộc về một mình Ngài mà thôi. Điều cần yếu là chính Đức Chúa Trời là Đức Yahweh đang hành động. Cho nên, điều mà chúng ta sẽ khảo xét để có được phần bối cảnh cho giáo lý về Đức Thánh Linh, là lời truyền dạy của Cựu Ước về Thần (Linh) của Đức Giê-hô-va, là ruach adonai.
Linh xâm nhập
Có lẽ điều đầu tiên gây kinh ngạc cho chúng ta khi đọc Cựu Ước, là điểm nhấn mạnh về Thần của Đức Chúa Trời như một quyền lực xâm nhập mạnh bạo. Giống như ngọn gió lồng lộng thổi qua sa mạc hay gào rú qua các rừng cây tùng cây bách, hoặc lướt ào theo các dòng sông. “Cỏ khô, hoa rụng, vì hơi thở Đức Giê-hô-va (ruach adonai) thổi qua. Phải dân này khác nào cỏ ấy” (EsIs 40:7). Ê-sai đã từng la lớn lên như vậy, và đó là một câu nói tiêu biểu. Có không biết bao nhiêu chỗ cho chúng ta biết hành động của Đức Chúa Trời giống như gió, rất mạnh mẽ, ồn ào, không kìm hãm nổi. Ngài sai gió đến. Ngài kiểm soát nó. Ngài truyền lịnh cho nó dừng lại.
Trong Kinh điển...
Khi đề cập Thần của Đức Giê-hô-va, các trước giả Cựu Ước đã có chung ý nhấn mạnh việc xâm nhập mạnh mẽ của Đức Chúa Trời từ bên ngoài vào kinh nghiệm của chúng ta, gây xáo trộn và hết sức bí mật, giống như gió vậy. Đó là cách các ví dụ ấy nhấn mạnh rằng Đấng Trên Cao đã đến giữa chúng ta, và chúng ta không có cách gì để điều động Ngài hay thuần hóa Ngài được. Điều này được biểu hiện hết sức mạnh mẽ trong sách Các quan xét. Dân Y-sơ-ra-ên bị áp bức đã kêu gào Đức Giê-hô-va, xin Ngài tiếp cứu họ. Lời đáp lại của Ngài là “dấy lên cho chúng nó một người giải cứu, là Ốt-ni-ên. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên người, người đoán xét dân Y-sơ-ra-ên và đi ra chiến trận. Người thắng trận...” (Cac Tl 3:9, 10). Rồi đến Ghê-đê-ôn vốn là người hết sức tầm thường, cho đến khi “Thần của Đức Giê-hô-va chiếm hữu Ghê-đê-ôn” (Cac Tl 6:34). Chừng đó, ông mới trở thành công cụ để giải phóng đất nước, sau khi được chứng kiến một dấu lạ giải cứu. Điều đáng chú ý nhất là trường hợp chàng Sam-sôn đầy quyền lực đã trở thành huyền thoại. Chính nhờ “Thần của Đức Giê-hô-va cảm động “mà Sam-sôn đã “xé con sư tử như xé con dê con vậy” (Cac Tl 14:6). Sức mạnh vốn không phải là của riêng ông khiến ông làm được rất nhiều việc cho quê hương đất nước chống lại các lãnh chúa người Philitin. Ông đã nhớ lại thật sâu sắc điều đó khi bất tuân lệnh của Đức Chúa Trời để cho Đa-li-la mê hoặc mình, và tỉnh dậy để thấy rằng “Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ mình” (Cac Tl 16:20). Nhiều khi quyền phép mạnh mẽ của thần linh đã được nhìn thấy như trong những lời lẽ mô tả thân xác, như khi Thần của Đức Giê-hô-va vào trong Ê-xê-chi-ên, dựng ông đứng dậy, cất ông lên, hay đưa ông ra ngoài thung lũng vậy (Exe Ed 2:2, 3:12; 37:1).
Ngày nay.
Tôi tin rằng ngày nay, chúng ta phải coi trọng phương diện này của Đức Thánh Linh. Chúng ta quen trông đợi Thần của Đức Chúa Trời nói ra bằng giọng êm dịu nhỏ nhẹ, chớ không phải bằng tiếng gió thét gào. Chúng ta từng tìm cầu Ngài bằng việc Ngài cảm động trong lòng chúng ta hay bằng các biểu quyết của các ban ngành của chúng ta. Chúng ta đang gặp nguy cơ là quên mất rằng chúng ta đang nói về Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta nâng đỡ chúng ta, và quyền tể trị tối cao của Ngài vẫn ở trên chúng ta. Đức Chúa Trời có thể bất thần xâm nhập vào đời sống chúng ta và nhiều khi Ngài làm như vậy một cách táo bạo, bất ngờ, kỳ lạ. Cùng một Đức Thánh Linh đã đưa Chúa Giê-Xu vào sa mạc để chịu cám dỗ sau khi Ngài chịu phép báp tem, đã mở đường tiên phong trong công cuộc truyền giáo thời Hội Thánh đầu tiên thường là bằng những hành động kỳ quái, bất ngờ và “không chính thống” nhất, đã bắt lấy một người như Philíp, chuyển ông từ một chiến dịch truyền giáo đang gặt hái nhiều kết quả tại Samari để đẩy ông vào đồng vắng - bởi vì có một người đang cần được ông giúp đỡ. Sau khi việc giúp đỡ kia đã xong xuôi thì “Linh của Chúa đem Philíp đi” y như trường hợp của Ê-xê-chi-ên trước ông rất lâu và “Người ta thấy Philíp ở trong thành A-xốt...giảng Tin Lành khắp những thành nào mình đã ghé qua” (Cong Cv 8:26, 39, 40). Tôi đã từng gặp một thiếu nữ thức giấc lúc 2giờ sáng và nhận thấy mình bị Thần linh của Đức Chúa Trời “bắt lấy”. Cô vốn bị bại liệt, và chân cô đã được chữa lành - Đó là một cái chân đã từng thách thức nỗ lực của nhiều bác sĩ lừng danh trong nước - và cô nhận thấy mình đang cảm tạ Đức Chúa Trời bằng tiếng lạ. Hiện nay, cô đang là công cụ vô cùng hữu dụng trong công tác phục vụ Cơ đốc giáo.
Tôi nghĩ đến một người khác, hư hỏng, tự cao tự đại, muốn đến để chế nhạo một buổi nhóm ân tứ, nhưng bỗng nhiên thấy mình run rẩy liên hồi, nước mắt dầm dề và được gặp gỡ sâu xa với Đức Chúa Trời, là Chúa của những việc hết sức bất ngờ. Chắc chắn là ngọn gió của Đức Chúa Trời đã thổi trên người ấy, tuy ông ta vốn đã là Cơ đốc nhân rồi; ông ta đã không trở thành một con người gương mẫu trong đầu hôm sớm mai, nhưng rõ ràng ông đã thay đổi vị trí và thái độ của mình, một điều không ai có thể chối cãi được. Có lẽ sự đầu phục quyền năng của Linh Đức Chúa Trời đó, sự sẵn sàng để Ngài bắt lấy chúng ta, đập vỡ và mài mòn chúng ta đó, là một trong những bài học đầu tiên mà phong trào ân tứ xuyên qua nhiều Hội thánh đang dạy cho chúng ta trong thời đại này. Mấy năm trước đây, Giám mục Joe Fison đã diễn tả rất hay điều đó trong quyển sách của ông về Đức Thánh Linh nhan đề ‘Lửa giáng xuống Địa cầu ’ (Fire upon the Earth; tr.9):
Lẽ dĩ nhiên, sự bùng dậy có tính nguyên thủy, có tính siêu nhiên và thuộc phần vô thức, là việc bị Đức Thánh Linh “chiếm lĩnh” này, không phải là chứng cứ hiển nhiên đầy-đủ-trọn-vẹn và là kết quả cuối cùng của Kinh Thánh về giáo lý Đức Thánh Linh, nhưng đó là khởi điểm của giáo lý này. Và chỉ khi nào chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng để chịu bắt đầu tại nơi mà Kinh Thánh bắt đầu, thì rất có thể chúng ta sẽ được từng trải những gì mà công tác của Đức Thánh Linh có thể đạt tới ở điểm cao hơn. Chúng ta không thể nhảy vọt bằng cách đốt giai đoạn được.
Linh của lời tiên tri.
Liên kết chặt chẽ với việc nhấn mạnh trên “tính cách khác hẳn” của Linh Đức Chúa Trời, là điều được nhấn mạnh qua suốt Cựu Ước về sự linh cảm của lời tiên tri. Đây là một trong những chủ đề lớn của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời siêu vượt trên chúng ta, và xâm nhập thế giới của chúng ta, không phải để gây kinh hoàng, nhưng để tương giao thông công với chúng ta. Gió hay Linh của Đức Giê-hô-va lẽ tất nhiên là quyền năng nhưng đã được định nghĩa là quyền năng đạo đức, nhằm truyền thông ý chỉ của Đức Chúa Trời để đưa loài thọ tạo của Ngài sống sao cho phù hợp với ý chỉ ấy. Theo thiển ý, thì đó là lý do của việc thường có sự nối kết giữa “Linh của Đức Giê-hô-va” với “Lời của Đức Giê-hô-va” trong Kinh Thánh. Người ta không thể ly gián hơi thở của Đức Chúa Trời với thông điệp của Đức Chúa Trời. Cho nên, rất nhiều lần, thi ca Hi-bá-lai, dabar (lời) và ruach (linh) đã đi cùng với nhau tay trong tay. Chẳng hạn như:
“Các từng trời được làm nên bởi Lời Đức Giê-hô-va; cả cơ binh trời bởi hơi thở của miệng Ngài mà có” (Thi Tv 33:6)
“Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, và Lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta” (IISa 2Sm 23:2).
Lời và Linh
Khi Sau-lơ không vâng lời Đức Chúa Trời bị truất ngôi vua Y-sơ-ra-ên, chúng ta đọc thấy “Ngươi đã từ bỏ lời của Đức Giê-hô-va” cho nên, trong việc phán xét “Thần của Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ” (ISa1Sm 15:26; 16:14). Trong quyển sách rất cảm động và nhận thức sâu xa của mình ‘Đi giữa Đức Chúa Trời ’ Giám mục John Taylor đã vạch rõ tầm quan trọng của sự liên kết này giữa Linh - với toàn thể quyền phép không kỳ thị, không phân biệt của Ngài - và Lời với tất cả các ý nghĩa đặc biệt của nó. Do phân biệt quá khe khắt giữa Lời của Đức Chúa Trời và Linh của Đức Chúa Trời, mà Hội thánh đã đánh mất phần viễn ảnh quan trọng nhất của Kinh Thánh. Chắc chắn sự liên kết này vốn rất vững chắc và rõ ràng trong Kinh Thánh Cựu Ước. Khi nào Đức Thánh Linh giáng trên một người, thì Ngài cũng truyền một thông điệp nào đó từ Đức Chúa Trời. Bức thông điệp này có thể mang nhiều hình thức lạ lùng, bí mật. Nó có thể được truyền thông qua những giấc mộng, như khi Giôsép biện biệt và giải nghĩa được các chiêm bao của Pharaôn nhờ Linh của Đức Chúa Trời ở trong ông (SaSt 41:38 và tt). Nó có thể đến qua các khải tượng. Những nhân vật như Áp-ra-ham (SaSt 15:1), Gia-cốp (SaSt 46:2), Ê-xê-chi-ên (Exe Ed 1:1) và Đa-ni-ên (DaDn 1:17; 4:5; 7:7) đều nắm bắt được một điều gì đó về mục đích của Đức Chúa Trời trong một khải tượng. Nó có thể đến qua những lời nói trong trạng thái xuất thần, như khi Đức Thánh Linh giáng trên vua Sau-lơ lúc ông nhập vào đoàn các nhà tiên tri lưu động. Nhưng ngay cả phương tiện trung gian này cũng không phải chỉ có sự phấn khởi suông mà thôi khi Đức Chúa Trời từ cõi siêu việt xâm nhập và bắt lấy ông: đã có sự tương giao và tiếp xúc để truyền thông nữa. Không phải Sau-lơ chỉ nói tiên tri, mà theo một ý nghĩa khó giải thích được, ông đã trở thành “một con người khác” (ISa1Sm 10:7-13). Các nhà tiên tri về sau ít nhấn mạnh tình trạng xuất thần hơn. A-mốt phản đối không nhận mình là nhà tiên tri theo ý nghĩa người nói trong tình trạng xuất thần như người ta vẫn thấy nơi một số người túc trực tại các nơi thánh của đền thờ, vào thời các ông. “Ta không phải là đấng tiên tri; nhưng ta là một kẻ chăn. Đức Giê-hô-va đã bắt lấy ta từ sau bầy”. Tuy nhiên, ông đã nói thật rõ ràng rằng chính Đức Chúa Trời đã linh cảm bức thông điệp của ông: “Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đi nói tiên tri cho dân Y-sơ-ra-ên ta. Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va” (AmAm 7:14-16). Không phải tình trạng xuất thần là dấu hiệu của lời tiên tri, nhưng chính là sự gặp gỡ Đức Chúa Trời, để Đức Chúa Trời phán qua trung gian nhà tiên tri. Chính A-mốt đã đặt vấn đề nói tiên tri hết sức đơn giản:
“Khi sư tử gầm thét, thì ai mà chẳng sợ? Khi Đức Giê-hô-va đã phán dạy, thì ai mà chẳng nói tiên tri?” (AmAm 3:8).
Một nhà tiên tri vào một thời kỳ rất sớm như Đa-vít, bảo rằng khi ông nói ra lời sấm ký (tiên tri) thì chẳng phải gì khác hơn là “Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán” (IISa 2Sm 23:2). Vào thế kỷ thứ tám TC, Ô-sê mô tả nhà tiên tri là “người được cảm động bởi thần linh” (OsHs 9:7) đến mức độ tối cao; còn Mi-chê thì nói lên đầy đủ hơn nữa bằng lời tuyên bố của ông chống lại các tiên tri giả không hề được lời từ Đức Chúa Trời phán với mình:
“Nhưng ta, ta được đầy dẫy sức mạnh, sự xét đoán và lòng bạo dạn bởi Thần của Đức Giê-hô-va, để rao ra cho Gia-cốp về sự phạm pháp nó, cho Y-sơ-ra-ên về tội lỗi nó” (MiMk 3:8).
Vào một thời kỳ muộn hơn nữa, Ê-sai ở Ba-by-lôn biết rằng thông điệp mình truyền ra là đúng sự thật, vì “Chúa Giê-hô-va và Thần của Ngài, sai ta đến” (EsIs 48:16). Sau khi từ cuộc lưu đày hồi hương Xa-cha-ri đã chẳng nghi ngờ gì về việc Đức Chúa Trời đã nhờ Thần của Đức Giê-hô-va để đưa “luật pháp và lời” cho dân Ngài qua trung gian các nhà tiên tri (XaDr 7:12).
Vấn đề vốn không cần gì phải khổ công trau chuốt, đề cập dài dòng. Khi một người nói tiên tri, ấy là vì Thần của Đức Giê-hô-va đã giáng trên người ấy và truyền cho người ấy một bức thông điệp để người ấy đứng trung gian, truyền lại cho nhiều người khác nữa. Nhưng (Linh) Thần tiên tri đó có nhiều phương diện đặc biệt quan trọng, và được Tân Ước nhắc lại.
Linh và người đầy tớ.
Thần của Đức Giê-hô-va đã được hứa ban cho người Đầy Tớ của Yahweh:
“Nầy, đầy tớ ta đây, là kẻ ta nâng đỡ, là kẻ ta chọn lựa, là kẻ mà linh hồn ta lấy làm đẹp lòng. Ta đã đặt thần ta trên người, người sẽ tỏ ra sự công bình cho các dân ngoại” (EsIs 42:1).
Nếu không được mặc khải của Đức Thánh Linh, người ta không thể biết được ý chỉ của Đức Chúa Trời thể nào, thì cũng vậy, nếu không được sự trang bị của cùng một (Đức Thánh) Linh ấy, người ta cũng không thể nào phục vụ Đức Chúa Trời được. Chỉ qua mặc khải của Đức Chúa Trời, chúng ta mới có thể nhận biết Ngài. Chỉ nhờ quyền năng Ngài, chúng ta mới có thể phục vụ Ngài. 61:1 đề cập chủ đề này, nhà tiên tri kêu lên:
“Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng Tin Lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù ra khỏi ngục; đặng rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va”.
Chính Chúa Giê-Xu đã đặc biệt truyền rao các khải tượng tiên tri của Đức Thánh Linh, đề cập người Đầy Tớ của Đức Yahweh và nhà tiên tri được xức dầu của Ngài. Việc trước xảy ra vào ngày Ngài chịu phép báptem, và việc sau xảy ra vào lần Ngài giảng bài đầu tiên (Mac Mc 1:11; LuLc 4:18). Phóng đại ý nghĩa của chúng không phải là chuyện dễ. Với tư cách là nhà tiên tri Chúa Giê-Xu đã có thể nói cách đầy uy quyền rằng “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi” rồi tuyên bố rằng mình đang nói về chân lý tối hậu về Đức Chúa Trời: “Chúng ta nói đều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy” (GiGa 3:11). Là Người Đầy Tớ của Đức Yahweh Chúa Giê-Xu đã noi theo nẻo đường của sự thống khổ và vâng lời để thẳng đến Gô-gô-tha; đến nỗi Phi-e-rơ đã có thể mô tả sự thương khó và chịu chết của Ngài bằng lời lẽ trích dẫn từ lời tiên tri lừng danh nói về Người Đầy Tớ trong sách Ê-sai:
“Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá; Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng sử đoán công bình; Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhơn những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bệnh” (IPhi 1Pr 2:22 và tt).
Linh và vua
Các ý tưởng
Có một lãnh vực khác nữa, trong đó Chúa Giê-Xu đã làm ứng nghiệm những đường nét lớn của lời truyền dạy Cựu Ước liên hệ đến (Thánh) Linh. Đức Chúa Trời đã ban (Thần) Linh Ngài cho nhà vua được xức dầu để trang bị Ngài cho chức vụ lãnh đạo dân Ngài. Sau-lơ là thí dụ cổ điển. Sa-mu-ên xức dầu cho Sau-lơ làm vua: vua được hứa và đã tiếp nhận được quyền năng của Đức Chúa Trời trên ông (ISa1Sm 10:1, 6). Sau đó, Sau-lơ bất tuân lệnh Đức Chúa Trời một cách thảm hại, nên bị gạt qua một bên, không còn làm vua nữa, mà đặc ân ấy được trao sang cho Đa-vít. Sa-mu-ên xức dầu cho Đa-vít, và chúng ta đọc thấy “Từ ngày đó về sau, Thần của Đức Giê-hô-va cảm động (nguyên văn là nhảy sang) Đa-vít” (ISa1Sm 16:13). Vậy thì chuyện gì đã xảy ra cho Sau-lơ? “Thần của Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ”, và chúng ta đọc thấy từ đó trở về sau, một ác thần (ruach elohim) khuấy khuất người. Thần (Linh) của Đức Giê-hô-va (ruach adonai) chuyển sang Đa-vít để trang bị cho ông hầu đảm nhiệm chức vụ làm vua của ông. Từ ngữ thế tục elohim (không nhất thiết phải ám chỉ Đức Yahweh) bây giờ được dùng mô tả khả năng xuất thần và điên loạn của Sau-lơ.
Thực tại
Tai hại thay, các vua Y-sơ-ra-ên đều lâm vào số phận rất đáng thất vọng, và phần đông họ chỉ cho thấy rất ít dấu hiệu là có hiện diện của Thần (Linh) Đức Giê-hô-va trong đời sống và sự trị vì của họ. Tuy nhiên, sợi dây chuyền vẫn không bị gián đoạn và hy vọng nảy sinh trong dân Y-sơ-ra-ên là một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một nhà vua thuộc dòng dõi Đa-vít, mà Thần Linh sẽ không phải được ban cho tạm thời, được ban xuống rồi rút lại khi ông nối gót các tiên vương trong sự không vâng lời. Trái lại, Thần (Linh) của Đức Giê-hô-va sẽ ở lại và ngự trong một nhân vật như thế. Do đó, mà có giấc mơ vừa nên thơ vừa chất phác trong (EsIs 11:1 và tiếp theo:
“Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Ysai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái. Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, tức là Thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va”
Hy vọng
Niềm hy vọng này sống trong Do thái giáo trong giai đoạn giữa Cựu và Tân Ước chúng ta đọc thấy về Đấng Mê-si-a rằng “Đức Chúa Trời sẽ khiến Ngài nên mạnh mẽ trong Thánh Linh” (Thi thiên của Sa-lô-môn 17:37), và trong phần Targum hay chú giải EsIs 42:1, Người Đầy Tớ đã được nhìn thấy như là Đấng Mê-si-a, và Đức Chúa Trời phán về Ngài rằng: “Ta sẽ khiến Thánh Linh ta ngự trên ngôi”. Do đó, điều vô cùng có ý nghĩa là khi đọc về Chúa Giê-Xu trong Tân Ước, chúng ta thấy Thánh Linh đã ngự xuống và ngự luôn trong Ngài (GiGa 1:32), và Đức Chúa Trời không phải ban Thần Linh Ngài cho Chúa Giê-Xu một cách chừng mực hay rất hạn chế (GiGa 3:24). Trong Chúa Giê-Xu, chúng ta thấy sự thể hiện cuối cùng của Đức Chúa Trời về nhà cai trị tư tưởng, và Ngài được trang bị hoàn toàn đầy đủ bằng việc ban cho Đức Thánh Linh mà không hề bị rút lại.
Linh và người dân thường
Niềm hy vọng tiên tri này còn có một chiều kích rộng rãi hơn nữa. Nói chung thì trong thời Cựu Ước, bạn phải là một nhân vật thật sự đặc biệt mới có được Thần (Linh) của Đức Chúa Trời. Một nhà tiên tri, một lãnh tụ quốc gia, một ông vua, và có lẽ là một con người khôn ngoan đặc biệt nào đó (ChCn 1:23), một nhân vật tài hoa về nghệ thuật (XuXh 31:3) - trong trường hợp bạn có tài trong hàng Hội Mạc của Đền Tạm hay nói lên sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Thánh Linh vốn không dành cho một anh Tư anh Sáu hay chú Gióp chú Ất nào đó. Lẽ tất nhiên là đã có nhiều lời hứa theo nghĩa hết sức tổng quát, rằng: “Thần ta ở giữa các người; chớ sợ hãi” (AgKg 2:5), nhưng đây là lời hứa cho toàn dân chúng nói chung chớ không phải cho từng cá nhân . Nói chung thì ân tứ của Đức Chúa Trời được ban cho những con người đặc biệt để thực hiện những công tác đặc biệt. Nó không được cung cấp cho tất cả mọi người nói chung, cũng không phải là được cung cấp thường xuyên.
Điều cần thiết: một giao ước mới
Nhiều người Do thái tin kính chắc đã cảm nhận được điều kỳ diệu mà Môise trông mong chờ đợi, là “Ôi chớ chi cả dân sự Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban thần Ngài cho họ” (Dan Ds 11:29). Nhưng đó cũng chính là điều Đức Chúa Trời cảm thúc các nhà tiên tri báo trước cho những ngày sau rốt:
“Sau đó ta sẽ đổ thần ta trên mọi loài xác thịt; con trai và con gái các người sẽ nói tiên tri, những người già cả và các người sẽ thấy chiêm bao, những kẻ trai trẻ các người sẽ xem thấy sự hiện thấy. Trong những ngày đó, dầu những đầy tớ trai và đầy tớ gái, ta cũng sẽ đổ thần ta lên” (Gio Ge 2:28 và tt).
Vào ngày lễ Ngũ tuần, Ngài đã làm đúng điều đó; và ân tứ đó đã không bao giờ bị rút lại. Sau này, chúng ta sẽ xét đến điều ấy cặn kẽ hơn, nhưng ở đây, thiết tưởng chỉ cần vạch rõ ân tứ của Đức Thánh Linh ban xuống cho toàn thể tín hữu không phân biệt, đã làm ứng nghiệm niềm hy vọng sâu rộng hơn đó của các nhà tiên tri xưa kia rồi. Những nhân vật như Giêrêmi và Ê-xê-chi-ên vốn trông mong cái ngày mà Đức Chúa Trời sẽ lập ra một giao ước mới, hay một thỏa ước mới với loài người. Vấn đề của bản giao ước hiện hữu là như vầy: Tuy mọi sự đều do sáng kiến của Đức Chúa Trời, do Ngài đi bước trước, nhưng sự việc gồm có hai mặt như sau: Đức Giê-hô-va đã phán với dân Y-sơ-ra-ên sau khi xuất Ai-cập: “nếu các ngươi vâng lời ta, và giữ giao ước ta, thì trong muôn dân, các người sẽ thuộc riêng về ta” (XuXh 19:5). Nhưng ở đây có chỗ rắc rối. Họ đã không thể và không thật sự tuân thủ giao ước Ngài. Họ luôn luôn vi phạm giao ước về phía họ. Và tuy về phía Ngài, Đức Chúa Trời vẫn luôn luôn thành tín với thỏa ước đó, đã theo dõi chăm sóc dân Ngài một cách kỳ diệu trải qua nhiều thế kỷ, giao ước ấy đã không đưa đến kết quả thỏa đáng. Nó vẫn cứ bị hư hỏng, vẫn liên tục bị vi phạm. Có thể nói Giêrêmi đã trông mong cái ngày mà Đức Chúa Trời sẽ “viết lại” cả hai phương diện của giao ước. Chẳng những Ngài vẫn giữ đúng phía của mình, mà còn giúp dân Y-sơ-ra-ên giữ được phía của họ, bằng cách đặt Thánh Linh vào trong lòng dân sự Ngài. Hãy lắng nghe khải tượng của ông:
"Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên...Giao ước này sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Êdíptô, tức là giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó; Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó mà chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa” (Gie Gr 31:31 và tt).
Một giao ước mới, gồm cả sự tha thứ hoàn toàn, sự nhận biết cá nhân về Đức Giê-hô-va, và ý chỉ Đức Chúa Trời không phải chỉ ở ngoài họ trên những tấm bảng đá, nhưng được khắc ngay trong lòng họ. Đó mới quả thật là một giao ước mới! Ê-xê-chi-ên cũng nói đại ý như vậy, mà nhất là gán sự thay đổi đó cho Thần (Linh) của Đức Chúa Trời:
“Ta sẽ rưới nước trong trên các người, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo” (Exe Ed 36:25 và tt).
Đó là điều vẫn còn thiếu. Một thần mới, chính Thần Linh của Đức Chúa Trời bên trong con người sẽ sưởi ấm lòng người để muốn noi theo con đường của Đức Chúa Trời, để giúp cho ý chí người ấy cứ giữ đúng theo con đường ấy. Đó là niềm hy vọng cho những ngày sau rốt, và là niềm hy vọng mà các Cơ đốc nhân đã thấy ứng nghiệm từ ngày Chúa Giê-Xu sống lại rồi thăng thiên. HeDt 8:7 và tiếp theo, và 10:15 và tiếp theo đã đề cập việc ấy khá đầy đủ.
Đó là niềm hy vọng có tính cách tiên tri, không những cho Người Đầy Tớ Thống Khổ hay Đấng Mê-si-a của dân Y-sơ-ra-ên, mà cho toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên điều ấy không thể đến được nếu không có sự ăn năn và phục hưng rộng lớn trên cấp bậc, quốc gia dân tộc. Ê-xê-chi-ên vốn rất bạo dạn khi trông đợi việc ấy, nên Đức Chúa Trời đã ban cho ông khải tượng về trũng hài cốt khô (chương 37) như lời bảo đảm cho cái ngày từ lâu mong đợi, rồi chắc chắn cũng phải đến. Ruach của Đức Chúa Trời, tức là hơi thở Ngài, có thể “thổi” một sinh khí mới vào các hài cốt khô; ruach của Đức Chúa Trời, tức là Thần (Linh) Ngài có thể đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi mồ mả, để ban sự sống cho họ.
Linh Tạo Hóa?
Khi nhìn vào lời truyền dạy của Cựu Ước về Thần (Linh) của Đức Chúa Trời, chúng ta còn có thêm nhiều ngạc nhiên khác nữa. Trước hết, Ngài vốn luôn luôn có liên hệ gắn bó với công cuộc sáng tạo trời đất muôn vật. Điều này còn có ý nghĩa nhiều hơn nữa khi chúng ta suy nghĩ về bản tính của thần bí học, vốn rất phổ biến trong tất cả các ngoại giáo cổ thời. Nhưng trong tôn giáo của dân Y-sơ-ra-ên, không hề có lời bóng gió nào đá động đến việc ấy, vì lúc ấy nhằm chủ trương nhấn mạnh thật rõ ràng một “tính cách khác” (otherness), là tính cách siêu việt của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Thật ra, trong Cựu Ước, phần ngôn ngữ đề cập Thánh Linh vốn rất hạn hẹp, hầu như chỉ dành riêng cho lãnh vực bàn về mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và con người mà thôi.
Dầu vậy, tất cả các nền thần học đều đã được xây lên trên chủ đề Thánh Linh Đấng Tạo Hóa. Thật xúc động khi nghĩ về Thần (Linh) của Đức Chúa Trời cũng từng tham gia tiến trình sáng tạo trời đất muôn vật một cách liên tục và vẫn còn đang tiếp diễn. Thật là hấp dẫn khi theo dõi óc tưởng tượng thơ mộng của John Taylor, khi ông gán cho Thần (Linh) của Đức Chúa Trời phần “ý thức nội tâm về điều chưa đạt tới được”, “Sự kích thích để có sáng kiến dám đi bước trước và dám lựa chọn”, và “nguyên tắc của sự hy sinh” gắn liền với sự phát triển sáng tạo cái thế giới này của chúng ta (The Go-Between God, chương 2). Tuy nhiên gốc rễ của tất cả những điều đó trong Cựu Ước thật ra vẫn khá mờ nhạt.
Giáo sư Moule đã nắm bắt được sự kiện chỉ có bốn chỗ trong cả Cựu Ước dường như có kết hợp Thánh Linh với công trình sáng tạo - và ngay đến bốn chỗ đó cũng có tiềm năng được giải nghĩa khác đi. SaSt 1:2, 5 “Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước” có thể nói lên chức năng sáng tạo của Đức Thánh Linh, nhưng cũng có thể mô tả cảnh hỗn mang được đề cập trong phần đầu câu ấy “đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực” : một ruach adonai, một trận cuồng phong mạnh mẽ từ Đức Chúa Trời đến, chuyển động bên trên các vùng nước mênh mông hỗn loạn kia, có thể là một cách dịch đúng hơn. Thi Tv 104:30 “Chúa sai thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới” ám chỉ việc sáng tạo muông thú, nhưng không có nghĩa rõ rệt lắm là Thần (Linh) đã sáng tạo chúng, nhưng như trong SaSt 2:7, có nghĩa là Đức Chúa Trời hà sinh khí của Ngài vào cho các thú vật và con người đã được nắn nên, có hình dáng sẵn rồi. Nói khác đi, Thi Tv 104:30 có thể nói về việc ban cho năng lực chớ không đề cập công tác sáng tạo của Thánh Linh và như thế, sẽ phù hợp với lời truyền dạy của phần còn lại trong Cựu Ước về ruach là “hơi thở”. Thi 33:6 cũng chẳng chắc chắn gì hơn. Lẽ tất nhiên: "Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va, cả cơ binh trời bởi hơi thở (ruach) của miệng Ngài mà có “có thể có nghĩa là ruach, là Thánh linh, đã sáng tạo các từng trời. Nhưng càng có thể hơn căn cứ vào thể song đối với chữ “lời” trong nửa câu trước, ruach ở đây có nghĩa là fiat của Đức Chúa Trời, tức là lời sáng tạo của Ngài. Khi Ngài phán: “Phải có sự sáng” thì có sự sáng. Chỗ cuối cùng ám chỉ Thần Linh Sáng Tạo trong Cựu Ước là Giop G 33:4, nhưng một lần nữa, điều này rất mơ hồ. Nó có thể có nghĩa là “Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi”, nhưng căn cứ vào thể song đối “Hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống”, thì nó cũng có nghĩa y như bảo rằng Thần (Linh) vốn là nguyên lý hoạt động của sự sống.
Có thể giáo sư Moule đã không đúng trong cách giải nghĩa bốn câu trên. Rất có thể là Cựu Ước đã đưa ra bốn chỗ trên để đề cập Thần Linh Sáng Tạo, và chắc chắn là tư tưởng ấy đã được tìm thấy trong giai đoạn nằm giữa Cựu và Tân Ước - là thời kỳ mà sự song đối đề cập sự Khôn ngoan, Lời và Linh được xem là quan trọng - nhưng người ta có thể viện dẫn tính cách hiếm hoi của những trường hợp như thế và tính cách hữu lý khi hiểu chúng theo một nghĩa khác như vậy, khiến người ta phải hết sức thận trọng khi muốn xây dựng một giáo lý quan trọng về việc Đức Thánh Linh đang cộng tác trong công tác sáng tạo vẫn đang tiếp diễn này. Thần (Linh) của Đức Chúa Trời hà hơi thở của Ngài vào trong con người; Ngài khiến các hài cốt khô hồi sinh; Ngài truyền sinh lực vào vật chất im lìm bất động; nhưng chứng cứ hiển nhiên rằng Ngài từng tham gia công trình sáng tạo thế gian vốn rất lu mờ trong Cựu Ước và không thấy có trong Tân Ước. Cho nên chúng ta cần cẩn thận để đừng xây cất một công trình quá cao trên một nền móng mong manh như vậy.
Thánh Linh?
Ngạc nhiên thứ hai liên hệ đến tính cách hiếm hoi của việc Cựu Ước đề cập Đức Thánh Linh. Văn học ngoại đạo Hi lạp vốn không hề có một câu nào như vậy, và chúng ta chỉ tìm thấy một hoặc hai câu như thế trong Cựu Ước mà thôi. Trong EsIs 63:10, 11, chúng ta đã được thấy dân sự mà Đức Chúa Trời đã đem lòng yêu thương “đã bạn nghịch và làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu” tuy Ngài đã đặt Thánh Linh Ngài giữa họ khi cứu họ khỏi Ai-cập. Trong Thi thiên, với lòng ăn năn thống hối, tác giả cầu nguyện:
"Đức Chúa Trời ôi, xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng, xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa” (Thi Tv 51:10, 11).
Trong cả hai trường hợp, các tác giả vốn ý thức rõ ràng phương diện luân lý và đạo đức của ruach của Đức Chúa Trời. Trong Ê-sai 63, toàn dân đã làm buồn Đấng Thánh mà trước đây họ từng được dâng cho Ngài. Cá nhân của Thi thiên 51 cũng làm như vậy. Sự thánh khiết của Linh Đức Chúa Trời hoàn toàn tương phản với sự bất khiết của các tôi tớ dễ thất bại sa ngã của Ngài, nên có lẽ chính vì thế mà Linh ở đây đã được gọi là Thánh. Trong Tân Ước, dĩ nhiên đây là tên bình thường của Linh, có lẽ vì Đức Chúa Trời cứ ngày càng được gọi là “Đấng thánh” thường hơn (đã có khuynh hướng tăng thêm trong các tác phẩm của thời giữa Cựu và Tân Ước và của các cuộn sách Tử hải, đề cập “Đức Thánh Linh"), nhưng cũng có thể sở dĩ như vậy chính là do đặc tính của Chúa Giê-Xu. Đấng vốn có Linh thường xuyên ngự trong người gây kinh ngạc cho mọi người bằng đời sống vô tội của mình. Đó là đặc tính mà Thần Linh của Đức Yahweh tạo ra trong đời sống con người một khi Ngài được dành cho trọn quyền kiểm soát. Do đó, đây cũng phải là đặc tính của những người theo gót Chúa Giê-Xu, vốn được kêu gọi để nên “thánh” hay “biệt riêng ra” cho Đức Chúa Trời, làm tài sản đặc biệt của Ngài (IPhi 1Pr 1:15 và tt 2:9). Như chúng ta đã thấy, Ê-xê-chi-ên và Giêrêmi từng trông mong Đức Chúa Trời sẽ thay đổi người ta vào những ngày của giao ước mới bằng cách đặt Thần Linh Ngài vào lòng họ, hầu họ có thể bước đi trong đường lối Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài. Sau lễ Ngũ tuần, Đức Thánh Linh đã bắt đầu tạo ra sự thánh khiết cho dân sự Đức Chúa Trời. Điều này không có nghĩa là tách rời các tội nhân theo nghĩa là tự-cô-lập-hóa để tự-toại-nguyện như các tu sĩ tại Qumran. Trái lại, nó có nghĩa là dấn thân vào trong nhân loại đang thiếu thốn, sa ngã, băng hoại, noi theo gương và được ban cho Linh của Đấng vốn là bạn thiết của những người thâu thuế và tội nhân.
Linh được nhân cách hóa?
Điều ngạc nhiên cuối cùng là trong Cựu Ước, Linh không hề xuất hiện như một vị thần. Đúng ra thì người ta chỉ được thấy Ngài với tư cách là Đức Chúa Trời đích thân hiện diện và can thiệp. Vấn đề đã được vạch rõ trong một câu như EsIs 31:3.
“Vả, người Ê-díp-tô là loài người, không phải là Đức Chúa Trời; những ngựa nó chỉ là xác thịt”
Trong câu này, Ê-sai không hề đặt sự tương phản giữa xác thịt và tâm linh như cách chúng ta vẫn làm; như là phần bên ngoài và phần bên trong của cùng một hữu thể. Không phải như vậy. ông đang nhập xác thịt chung với loài người, và nhập Đức Chúa Trời chung với Linh. Linh vốn đứng về phía thực tại của Đức Chúa Trời khác hẳn với phía chúng ta. Và khi Thần (Linh) của Đức Giê-hô-va hiện diện với loài người, thì điều đó có nghĩa là chính Đức Chúa Trời đầy ân điển đang đích thân can thiệp. Như chúng ta đã thấy ngay trong chương 63 sách Ê-sai này, Linh là sự đích thân bộc lộ của Đức Chúa Trời cho nên Ngài có thể bị làm buồn: Ngài vốn thánh khiết, Ngài không phải chỉ là quyền phép của Đức Chúa Trời, mà còn là đặc tính đạo đức của Đức Chúa Trời nữa. Ngài là Đức Chúa Trời đang hành động vì lợi ích cho dân Ngài - xin chú ý thế nào Linh vốn được xem là ngang hàng với “cánh tay” của Đức Yahweh, nghĩa là với hành động cứu rỗi của Ngài. Linh chẳng phải là điều gì khác hơn là quyền năng cá nhân, đạo đức và hoạt động của Giê-hô-va Đức Chúa Trời; và chúng ta phải chờ qua Màn Hai mới có được sự mặc khải đầy đủ hơn về bản thể Ngài, là Chúa Giê-Xu giáng lâm, mà chúng ta sẽ tiến đến trong chương tiếp sau đây.


THÁNH LINH CỦA CHÚA GIÊ-XU
Bốn trước giả các sách Tin Lành, mỗi vị theo phương pháp riêng của mình, đã trình bày rõ ràng rằng với sự giáng lâm của Chúa Giê-Xu, người Naxarét, một kỷ nguyên mới đã bắt đầu. Đây là kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a từng được mong đợi từ lâu, kỷ nguyên này có đặc điểm là Thần (Linh) của Đức Chúa Trời đã được ban cho sẵn. Và Chúa Giê-Xu chính là Đấng Mê-si-a do việc Ngài đã được ban cho Thần (Linh) của Đức Chúa Trời cách chưa hề có như trước đây. Ngài là Đấng duy nhất mang lấy Linh trong mình, vừa cũng là Đấng duy nhất phân phối Linh ấy cho các môn đệ. Hơn nữa, từ nay cho đến vĩnh viễn về sau, Linh vẫn là dấu hiệu ấn chứng cho cá tính Ngài.
1. CHÚA GIÊ-XU LÀ NHÂN VẬT DUY NHẤT CỦA LINH.
Mác trong phép Báptem của Chúa Giê-Xu.
Rất có thể Mác là trước giả đã viết sách Tin Lành sớm nhất. Ông vốn biết rõ quyền phép và sự thực hữu của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh thời của ông, khi ông viết sách vào những năm thứ 60 của thế kỷ đầu tiên. Nhưng ông đã phải hết sức cực lòng để loại ra khỏi sách Tin Lành của mình tất cả những câu đề cập Thánh Linh như là Đấng được ban sẵn cho các tín hữu ngoại trừ một trường hợp quá rõ ràng. Tại sao vậy? Chắc chắn là vì ông muốn vạch rõ rằng chính Chúa Giê-Xu, và chỉ một mình Chúa Giê-Xu mà thôi, mới là con người của Linh. Chỉ sau khi Ngài chịu chết và sống lại, thì Linh ấy mới sẵn sàng được ban cho các môn đệ Ngài.
Thời đại của sự ứng nghiệm.
Mác bắt đầu sách Tin Lành của mình thật thích hợp bằng câu chuyện về phép báp-tem của Chúa Giê-Xu. Đám quần chúng tụ tập đông đảo lại để nghe Giăng Báptít giảng về sự ăn năn, được ông làm phép báp-tem cho dưới sông Giôđanh, với tinh thần thống hối trông chờ kỷ nguyên của sự ứng nghiệm các lời tiên tri) mà ông đã rao truyền. Nhưng khi Chúa Giê-Xu chịu phép báp-tem, thì Mác nói rõ ràng rằng kỷ nguyên của lời tiên tri được ứng nghiệm đã bắt đầu. Người ta nghe có tiếng từ trời phán xuống. Từ rất lâu rồi, người ta bị thiếu hẳn những bức thông điệp từ thiên đàng. Các tác phẩm của các rabi vẫn nhắc đi nhắc lại rằng Đức Thánh Linh đã từ bỏ dân Y-sơ-ra-ên sau thời các vị tiên tri cuối cùng, là A-ghê, Xa-cha-ri và Malachi (thí dụ như T.Sota 13:2). Điều còn nghiêm trọng hơn nữa, là Thần của Đức Chúa Trời, và vinh quang của Đức Giê-hô-va (Shekinah) không còn được tìm thấy trong ngôi Đền Thờ Thứ Hai nữa (b.Yoma 21b). Mỗi người ấp ủ nỗi buồn nhớ ánh hào quang của ngôi đền thờ trước nay không còn nữa, và hoài vọng Thần của Đức Yahweh thời Cựu Ước, thường tự bày tỏ quyền năng qua nhiều đấng giải cứu để dấy lên giải phóng và qua các nhà tiên tri được linh cảm. Vâng, mọi người đều buồn nhớ, hoài mong, trông chờ những lời hứa của Ê-xê-chi-ên và Giêrêmi, của Giô-ên và Ê-sai về sự giải phóng, về một nhà vua được xức dầu, về cơn phục hưng của Thần (Linh) của những ngày mà các lời tiên tri sẽ được ứng nghiệm. Và Mác nói, quả thật, cuối cùng thì những ngày ấy đã đến rồi. Trong chức vụ của Giăng Báptít, các bạn đã thấy những lời tiên tri từ xa xưa về một sứ giả sẽ đến để dọn đường cho Chúa đã ứng nghiệm. Đó chính là việc Giăng Báptít hiện đang làm. Và Mác đưa ngay Chúa Giê-Xu lên sân khấu: vị sứ giả đã dọn xong đường cho Chúa. Thật là những lời lẽ táo bạo, vì theo nhà tiên tri Malachi thì rõ ràng chúng đề cập chính Đức Yahweh. Mác trầm tĩnh tuyên bố rằng Chúa Giê-Xu vốn chẳng phải ai khác hơn là chính Đức Yahweh, đã đến với thế gian chúng ta trong con người của Chúa Giê-Xu. Dường như nói như thế vẫn chưa đủ, ông còn tuyên bố thêm hai điểm gây chấn động nữa.
Chấm dứt thời kỳ im lặng.
Điểm thứ nhất là thời kỳ im lặng lâu dài đã kết thúc. Đức Chúa Trời đã lại lên tiếng. Các từng trời không còn lầm lì, chẳng nói chẳng rằng nữa. Các rabi vốn tin rằng khi Đức Thánh Linh đã rút lui khỏi dân Y-sơ-ra-ên vào cuối kỷ nguyên tiên tri, thì Đức Chúa Trời đã thay vào đó bằng “con gái của tiếng nói”, (bath qol), có nghĩa là “tiếng vang”. Người ta thường bảo rằng trong tiếng phán từ trời xuống lúc Chúa Giê-Xu chịu phép báp-tem, chúng ta thấy một thí dụ về tiếng “bath qol” đó. Nhưng nói như thế là hoàn toàn sai. Tiếng vang bath qol là một thứ tiếng nói thay thế cách kém cỏi cho Lời Đức Chúa Trời trước kia từng được Linh ban cho một nhà tiên tri. Còn tiếng phán ở đây không phải chỉ là một tiếng nhỏ nhẹ yếu ớt để thay thế, nhưng là tiếng phán trực tiếp của Đức Chúa Trời và vốn đã im lặng từ lâu. Chúng ta không thể quan niệm rằng ở đây, khi Mác truyền rao sự trở lại của Thần Linh trong Chúa Giê-Xu, ông lại ghi một điều chẳng ra gì, có tính cách thứ yếu như một tiếng vang mà thôi. Nội dung của lời phán ấy còn đáng kinh ngạc bội phần hơn sự xuất hiện của nó nữa: “Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng”, dường như là cố ý kết hợp hai văn bản lừng danh trong Cựu Ước. “Ngươi là Con ta” trong Thi Tv 2:7, nơi nhà vua của dân Y-sơ-ra-ên được gọi là “Con” của Đức Chúa Trời. Những nhà vua đã mang những tư cách thật thấp kém so với danh gọi là “Con”; họ bộc lộ quá ít nét giống với dòng dõi thuộc hoàng gia của Đức Yahweh, cho nên từ lâu, dân Y-sơ-ra-ên vẫn hy vọng có một ngày nào đó Đức Chúa Trời sẽ đưa đến cho thế gian một Con Trai là Đấng Mê-si-a, một nhà vua xứng đáng để ngự trên ngôi Đa-vít. Sở dĩ chúng ta biết được dân chúng vốn ấp ủ niềm hy vọng đó vào thời của Chúa Giê-Xu, bởi vì trong các hang đá ở Qumran người ta tìm thấy có một tuyển tập trích dẫn những câu đề cập Đấng Mê-si-a, gồm cả lời tiên tri đã ban cho Đa-vít trong IISa 2Sm 7:14. Trong đó, Đức Chúa Trời bảo đảm sẽ ban một vương quốc đời đời cho chàng thanh niên, và “Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta”. Tiếng phán từ trời mà Mác ghi lại đã báo tin rằng cuối cùng nhà vua Mê-si-a đã đến qua Chúa Giê-Xu.
Vai trò của Đấng Mê-si-a.
Nhưng đó mới chỉ là phân nửa bức thông điệp. Phân nửa kia “đẹp lòng ta mọi đàng” đến từ bức tranh về Người Đầy Tớ của Đức Yahweh trong EsIs 42:1 mà chúng ta từng thấy qua chương trước. Vậy, lúc Ngài chịu phép báp-tem, Chúa Giê-Xu đã được phó thác cách công khai vai trò song phương: vai trò của Người-Con-Trai-làm-Đấng-Mê-si-a và vai trò của Người-Đầy-Tớ-Thống-Khổ. Đó là số phận mà Ngài tự nguyện đảm nhận.
Sự ban cho Thần Linh.
Nhưng phép báp-tem của Chúa Giê-Xu không phải chỉ chấm dứt sự im lặng đã kéo dài quá lâu, mà Đức Chúa Trời còn tuyên bố rằng trong Chúa Giê-Xu, vai trò của Người Đầy Tớ và Người Con Trai đã chuyển hướng: kỷ nguyên khô khan từ lâu và khao khát Đức Thánh Linh cũng kết thúc nữa. Như chúng ta đã thấy trong chương trước, nhà vua được xức dầu của dân Y-sơ-ra-ên vốn được trang bị bằng Thần Linh đã giúp mình thực hiện công tác, do đó mà 11:1 và phần tiếp theo mới hy vọng rằng Đấng Mê-si-a cũng được trang bị thật đầy đủ Thần Linh ấy hơn nữa. Với Người Đầy Tớ cũng vậy Đức Chúa Trời đã cậy nhà tiên tri để phán rằng: “Ta sẽ đặt thần ta trên người; người sẽ dùng sự công bình để đoán xét các dân các nước”. Giờ đây, Thần Linh ấy đã đến, và cách ký thuật phép báp-tem đó của Mác đã vạch rõ rằng ông nhìn thấy Chúa Giê-Xu là Người-Con-Trai-Mê-si-a và là Người-Đầy-Tớ-Thống-Khổ được trang bị cho nhiệm vụ phi thường đó bằng Thần Linh mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kỳ sau rốt. Những ngày sau rốt không còn hoàn toàn nằm trong tương lai nữa; nó đã lố dạng nơi con người của Chúa Giê-Xu. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên, khi những lời phán của Chúa Giê-Xu được Mác ghi lại trước nhất trong sách Tin Lành của ông, là “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần “ (Mac Mc 1:15).
Mác trong trận chiến với Satan
Mác có hai cách để nhấn mạnh sự kiện Chúa Giê-Xu đã được đổ đầy Thánh Linh và cũng là người duy nhất được đổ đầy Đức Thánh Linh trong vai trò Người Con Trai và Người Đầy Tớ của Đức Yahweh, là Đấng đem vương quyền của Đức Chúa Trời đến cho kỳ sau rốt. Thứ nhất, ông đã nói rất nhiều đến cuộc chiến đấu với Sa tan, trong đó Chúa Giê-Xu vừa phải chịu sự cám dỗ trong đồng vắng là nơi Thánh Linh đã “giục” Ngài vào (Mac Mc 1:12) ngay sau khi Ngài chịu phép báp-tem; và thứ hai, là trong việc Ngài chữa bệnh và đuổi quỉ tiếp sau đó trong chức vụ của Ngài. Ngài đã làm việc ấy một cách thật tinh vi, tế nhị.
Sự cám dỗ.
Cựu Ước có dùng từ ngữ ruach theo một ý nghĩa mà tôi chưa đề cập. Nó liên quan đến các ác linh, được cho thấy là những tạo vật phản loạn chống lại Đức Yahweh, cố gắng phá hoại các chủ đích của Ngài nhưng cuối cùng đều bị Ngài chế phục cả. Trong những sách đầu của Cựu Ước, chúng ta đọc thấy về các ác linh đó (ISa1Sm 18:14; Cac Tl 9:23; IVua 1V 22:21); về sau, chúng được nhân cách hóa với Sa tan, là tên chưa được xuất hiện mãi cho đến những sách về sau như ISử ký (ISu1Sb 21:1 và tt), Gióp (Giop G 1:6 và tt) và Xa-cha-ri (XaDr 3:1 và tt). Trong giai đoạn giữa Cựu và Tân Ước, đã có nhiều sách đề cập các ác linh này và vua của chúng. Điều quan trọng cần ghi nhớ kỹ, là trong tôn giáo của người Hêbơrơ không hề có nhị nguyên thuyết tuyệt đối. Ngay đến ma quỉ cũng là ma quỉ của Đức Chúa Trời: nó đang bị xiềng và bị Đức Chúa Trời nắm giữ tuy rằng sợi dây xiềng ấy khá dài. Ma quỉ và các ác linh (thần) của nó là một trường hợp lệch lạc, tẻ tách khỏi công trình sáng tạo tốt lành nguyên thủy của Đức Chúa Trời; và tuy chúng được cho phép cám dỗ gây tai họa vì cớ sự gian ác của loài người (chẳng hạn có thể đọc Jubilees 10:7-11), đến kỳ sau rốt, chúng sẽ bị xiềng lại để trừng phạt. Ở đây, chúng ta phải đặt điều mà Mác nhấn mạnh về việc Chúa Giê-Xu trói Sa tan lại trên cái bối cảnh tư tưởng đó. Sau khi được đổ đầy Thánh Linh, Chúa Giê-Xu đã vào đồng vắng, nơi dân Y-sơ-ra-ên từng bị thử nghiệm ròng rã bốn mươi năm sau khi ra khỏi xứ Ai-cập, để đánh trận quyết định với đứa cám dỗ suốt bốn mươi ngày. Ngài chiến thắng nơi trước đây dân Y-sơ-ra-ên cam chịu thất bại. Trong Ngài, đã lố dạng những ngày ứng nghiệm, những ngày Sa tan bị đánh bại.
Việc đuổi quỉ.
Và chiến thắng ấy cứ tiếp tục qua suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ. Chúng ta thấy Ngài đuổi nhiều tà ma (linh) ra khỏi những kẻ bị khuấy khuất nhiều lần: đây là một trong nhiều đặc điểm được thấy rõ trong sách Tin Lành Mác, nói chung là sách chứa đựng ít lời truyền dạy, nhưng rất nhiều hành động của Chúa Giê-Xu. Phần hành động này bao gồm nhiều phép lạ chữa bệnh mà quan trọng nhất là việc chữa trị cho người bị quỉ ám. Ý nghĩa thật rõ ràng: Chúa Giê-Xu đã chiến thắng các lực lượng của ma quỉ nhờ quyền phép của Đức Thánh Linh. Ngài là người chiến thắng Sa tan, và Ngài đã kể một câu chuyện thật hay, thật đẹp đi thẳng vào vấn đề: “Không ai có thể vào được nhà của một người có sức mạnh để cướp tài sản của người ấy mà trước hết không trói được người ấy. Phải trói người ấy trước đã, rồi sau đó, mới cướp nhà người ấy được”. Toàn văn trong Mac Mc 3:20-30 cho thấy rất rõ ràng là bằng việc chữa bệnh và trừ tà ma, Chúa Giê-Xu đã đuổi quỉ ra khỏi nhiều người. Con người được ban cho Thánh Linh vốn vượt hẳn các tà ma, đó là điểm mà phần ký thuật trong sách Mác muốn nhấn mạnh. Chúa Giê-Xu là người chiến thắng. Cho nên thiên hạ đã vô cùng kinh ngạc. Họ thấy sự hiện diện và quyền phép của Chúa Giê-Xu là hình ảnh huy hoàng của sự chiến thắng tối hậu trên các lực lượng gian ác. “Người này lấy quyền phép sai khiến đến tà ma, mà nó cũng phải vâng lời” (Mac Mc 1:27)
Những cuộc tranh luận.
Nhưng không phải chỉ qua việc chữa bệnh và đuổi quỉ mà Chúa Giê-Xu đã tự chứng minh Ngài đang có Thánh Linh: Ngài còn công khai tuyên bố điều ấy trong một cuộc tranh luận với các thầy thông giáo về Bê-ên-xê-bun (rõ ràng là một tên khác của Sa tan, được quan niệm là “Chúa của gia tộc"). Để đáp lại lời tố cáo của họ (Mac Mc 3:22) rằng Ngài đã cậy quyền phép của ma quỉ để đuổi quỉ, Chúa Giê-Xu bảo rằng không có gia đình nào chia rẽ nhau mà lại có thể đứng vững được: nếu Sa tan lại đuổi Sa tan, thì đế quốc của nó phải sụp đổ. Rồi Ngài đưa ra lời phát biểu khủng khiếp về vấn đề phạm tội với Đức Thánh Linh mà nhiều người vì đó phải tự giày vò mình một cách không cần thiết: “Mọi tội lỗi sẽ tha cho con cái loài người và hết thảy những lời phạm thượng họ sẽ nói ra cũng vậy; nhưng ai nói phạm đến Đức Thánh Linh thì chẳng hề được tha...vì họ nói rằng: Ngài bị tà ma ám”. Hình thức mà câu này xuất hiện trong phần tài liệu “Q” (những câu nói của Chúa Giê-Xu được lưu truyền trong hai sách Mathiơ và Luca độc lập với sách Mác) đã chiếu thêm vào đó nhiều tia sáng. “Ai nói nghịch cùng Con người, thì được tha; song kẻ nói lộng ngôn phạm đến Đức Thánh Linh, thì không được tha đâu” (LuLc 12:10). Sự hiểu lầm và trình bày sai lầm về Chúa Giê-Xu - vì Ngài đã tự khoác lên người sự khiêm hạ với tư cách Con người là một việc; rồi đọc và hiểu sai những lời truyền dạy bằng ẩn dụ của Ngài dưới hình thức những câu đố nát óc, là một việc khác. Còn đã thấy rõ chân lý mà cố ý chối bỏ, lại là một việc khác nữa; còn lấy quyền phép của Đức Thánh Linh đem gán cho ma quỉ như các thầy thông giáo đã làm, lại là một việc khác. Nếu người ta cương quyết chối bỏ công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-Xu, là họ tự phá hủy khả năng để chính họ có thể được cứu vớt, không phải vì ý chỉ Đức Chúa Trời là như thế, nhưng vì chính họ tự nói - như Sa tan trong quyển ‘Thiên đường đã mất (Paradise lost) - rằng: “Hỡi bóng tối, hãy là ánh sáng cho ta”.
Vậy, Chúa Giê-Xu là người “mang” Thánh Linh đến. Chính Ngài và chỉ một mình Ngài mang Thánh Linh suốt giai đoạn thi hành chức vụ. Đây là dấu chỉ cho thấy Mác đã chứng tỏ lòng trung thực phi thường của mình đối với hoàn cảnh lịch sử về đời sống của Chúa Giê-Xu, ở chỗ khi viết về sự từng trải Thánh Linh theo như cách ông và các bạn ông được từng trải sau khi Chúa Giê-Xu sống lại. Chỉ có một chỗ duy nhất, ông có vén bức màn lên. Đó là trong “bài thuyết giảng Khải huyền” của Mác chương 13, Chúa Giê-Xu hứa với các môn đệ Ngài rằng trong những ngày sắp tới, khi họ đi ra truyền giảng Tin Lành, họ sẽ liên tục bị bắt bớ và bị tố cáo một cách bất công. Chừng đó, Đức Thánh Linh sẽ ban cho họ những lời lẽ để trở thành chứng nhân. Lời hứa này liên hệ đến những ngày sau khi Chúa Giê-Xu sống lại; nó không phải là một ngoại lệ so với bức chân dung sắc nét của Mác rằng chỉ có một mình Chúa Giê-Xu là người duy nhất đã được Đức Thánh Linh chiếm hữu.
Lời truyền dạy của Mathiơ
Mathiơ cũng tin quyết rằng Thánh Linh đã tập trung mọi hoạt động vào Chúa Giê-Xu. Ông đã làm sáng tỏ bằng nhiều cách, để thêm vào những gì chúng ta đã ghi nhận trong sách Mác.
Sự giáng sanh của Chúa Giê-Xu.
Điều đầu tiên, là ông đã kéo lui câu chuyện kể về Chúa Giê-Xu từ lúc Ngài chịu phép báp-tem, để trở về tận lúc Ngài được thai dựng. Chính việc này vốn cũng được Đức Thánh Linh thực hiện cách thật đặc biệt (Mat Mt 1:18, 20). Như Thần Linh đã hà sinh khí vào mũi con người đầu tiên thể nào (SaSt 2:7), thì ở đây, Thần Linh ấy cũng được kết hiệp với việc ra đời của A-đam thứ hai này y như thế. Nhưng Mathiơ còn công bố một điều vượt xa hơn nữa. Ông biết rằng Đấng Mê-si-a là người duy nhất đã được ban Thánh Linh cho, và ông đã nhấn mạnh điều đó ngay từ phần bắt đầu cuộc đời Chúa Giê-Xu như trường hợp vừa kể.
Vai trò của Người Đầy Tớ.
Mathiơ đã vạch rõ cách Chúa Giê-Xu đóng trọn vai trò của Người Đầy Tớ. Ông đã trích dẫn đầy đủ EsIs 42:1-4 và bảo rằng các công tác chữa bệnh của Chúa Giê-Xu đã làm ứng nghiệm lời tiên tri đó. Nói khác đi, quyền phép của Đức Thánh Linh đã được đặc biệt vạch rõ là nguyên tắc tăng cường năng lực trong chức vụ chữa bệnh của Chúa Giê-Xu.
Sự trang bị cho công tác truyền giáo.
Cuối cùng, cũng như Mác nhà truyền giáo này đã nhận biết rằng giai đoạn Chúa Giê-Xu thi hành chức vụ, Đức Thánh Linh vốn được tập trung vào chỉ một mình Ngài mà thôi, và sẽ được sẵn ban cho các môn đệ Ngài chỉ khi nào chính họ cũng dấn thân vào công tác truyền giáo. Chừng đó, họ sẽ làm phép báp-tem cho những ai đã được nghe họ giảng Tin Lành nhơn danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh (Mat Mt 28:19), còn trong khi chờ đợi, họ chỉ được ban Thánh Linh cho một lần duy nhất để thực nghiệm - nếu có thể gọi như thế - khi họ được sai đi nhân một chuyến truyền giáo (10:20). Lời hứa trong sách Mác, là Đức Thánh Linh sẽ lo về những lời lẽ họ phải nói khi bị lôi ra trước các tòa án vì họ truyền giảng Tin Lành, đã được Mathiơ đưa vào phần “Nhiệm vụ truyền giáo được ký thác” : dường như căn cứ vào một biến cố tình cờ riêng lẻ trong chức vụ của Chúa Giê-Xu, ông đã nhìn xa để thấy rõ rằng công tác truyền giáo rồi đây sẽ được tiếp tục trong Hội Thánh thuộc thời kỳ hậu-phục-sinh, mà chính ông là một thành viên vậy.
Lời truyền dạy của Luca.
Luca đã nói rất nhiều về Đức Thánh Linh, cả trong sách Tin Lành của ông, lẫn trong sách Công vụ. Giờ đây, thiết tưởng chỉ cần ghi nhận việc ông đồng ý với các trước giả sách Tin Lành khác rằng Chúa Giê-Xu là Đấng Mê-si-a, người duy nhất đã mang Thánh Linh đến là đủ.
Bình minh mới.
Ông đặc biệt nhấn mạnh sự hiện diện và hoạt động của Thánh Linh trong các câu chuyện kể lại về sự ra đời của Giăng và sự giáng sanh của Chúa Giê-Xu, và trong việc nhấn mạnh sự bùng nổ mới mẻ về lời tiên tri, vốn đã im hơi lặng tiếng từ lâu, nhưng như chúng ta đã thấy, đã được trông đợi với lòng tin quyết tươi mới trong Kỷ Nguyên Sắp Đến. Ngay ở phần bắt đầu câu chuyện về Tin Lành, chúng ta đã thấy Thánh Linh hành động bằng năng lực đầy đủ của Ngài. Kỷ nguyên kế tiếp đã lố dạng và người ta đã được từng trải các dấu hiệu về sự hiện diện của nó. Quyển sách bổ ích của Dunn nhan đề ‘Phép báp-tem trong Đức Thánh Linh (Baptism in the Holy Spirit) có một nhược điểm, là ông đã gác qua một bên trên dưới cả chục những câu có đề cập Đức Thánh Linh như vậy trong ba chương đầu của sách Luca, và nhấn mạnh rằng nước thiên đàng vẫn chưa đến trước ngày Chúa Giê-Xu chịu phép báp-tem. Thật ra, Luca khó có thể nói dài dòng gì hơn để nhấn mạnh về Kỷ nguyên Hầu Đến đã bắt đầu cùng với sự ra đời của Chúa Giê-Xu. Thánh Linh vốn tích cực hoạt động trong một lời tiên tri đột ngột, đã hoạt động trong sự ra đời của Giăng và của Chúa Giê-Xu, đã ngự trên Chúa Giê-Xu, và bằng quyền năng Ngài, đã thực thi nhiều phép lạ, và sau ngày phục sinh, đã phân phát cùng một Thánh Linh ấy cho các môn đệ Ngài. Từ Bếtlêhem lúc sách Tin Lành của ông bắt đầu, cho đến Rôma chỗ sách Công vụ kết thúc, chỉ có một Đức Thánh Linh hoạt động xuyên suốt; nhằm trước hết là vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất sự cứu rỗi của Đấng Mê-si-a do Chúa Giê-Xu đem đến, và sau là sự cứu rỗi ấy đã được truyền bá như thế nào.
Luca còn nhấn mạnh việc Đức Thánh Linh hành động trên toàn thể cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-Xu hơn bất cứ một trước giả sách Tin Lành nào khác. Bởi Thánh Linh, Ngài đã vào đồng vắng; bởi Thánh Linh, Ngài đã được dẫn dắt tại đó, rồi cũng bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, Ngài đã trở về xứ Galilê để bắt đầu chức vụ (LuLc 4:1, 14).
Đấng Mê-si-a và Đức Thánh Linh.
Luca luôn luôn kiên trì nối kết kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a với ân tứ của Đức Thánh Linh theo nhiều cách hết sức tinh vi, tế nhị. Trong cách Luca chép lại Bài Cầu Nguyện của Chúa, một cổ bản được chứng thực rất sớm ngay từ thời Marcion hồi thế kỷ thứ hai có một điểm hơi khác. Đó là câu: “Nguyền xin Thánh Linh Ngài giáng trên chúng con và thanh tẩy chúng con” thay vì “nước Cha được đến”. Nếu nguyên văn quả đúng như vậy, thì điều đó gợi ý rằng Luca đã thấy Đức Thánh Linh là đối tượng tối cao duy nhất mà chúng ta có thể khao khát sự cầu nguyện (như trong phần ông chép lại câu nói của Chúa Giê-Xu được ghi ở 11:13 “Nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!”...so với câu trong sách Mathiơ chép là “vật tốt” thay vì “Đức Thánh Linh”. Nó cũng gợi ý rằng ông đã thấy ân tứ của Đức Thánh Linh là đặc điểm tối cao của nước thiên đàng. Nhưng các môn đệ phải chờ cho đến sau khi Người được đầy Thánh Linh đã chịu chết và sống lại, thì họ mới từng trải được sự đổ đầy Đức Thánh Linh. Cũng như trong sách Mathiơ, lời hứa riêng biệt về việc ban Thánh Linh trong nhiệm vụ truyền giảng đã được phó thác cho các môn đệ (đang lúc Chúa Giê-Xu hãy còn thi hành chức vụ) và nhằm chỉ vào những ngày sau này khi họ thật sự dấn thân vào công cuộc truyền giảng. Trong khi chờ đợi, chỉ một mình Chúa Giê-Xu mới có Đức Thánh Linh ngự bên trong thật đầy đủ, trọn vẹn. Lời tiên tri của EsIs 6:1 “Thần của Chúa ngự trên ta; vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo...” cũng nổi bật trong sách Tin Lành Luca (LuLc 4:8) như một ánh đèn pha chiếu sáng trên toàn thể chức vụ của Ngài. Đây là khúc sách Ngài đã đọc lên trong nhà hội tại quê hương mình lúc bắt đầu chức vụ. Nó hàm chứa tất cả các chủ đề lớn của Tin Lành. Nó đồng nhất hóa Đức Thánh Linh với Đấng được xức dầu, và Ngài đã bình tĩnh bảo họ rằng: “Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi đã được nghe đó”. Có điều gì có thể nhấn mạnh được việc Đức Thánh Linh vốn tập trung vào con người của Đấng Mê-si-a để Ngài thực thi chức vụ truyền giáo của mình hơn là câu này hay không? Cũng chính là điểm này, mà Giăng đã khẳng định Chúa Giê-Xu vốn được “ban cho Đức Thánh Linh cách không chừng mực” và Đức Thánh Linh vẫn ngự trên Ngài, ở mãi với Ngài - để ứng nghiệm lời hứa của Cựu Ước (3:34; 1:32, 33).
Có một khúc sách lạ lùng hồi đầu thế kỷ thứ hai trong sách ‘Tin Lành theo người Hêbơrơ (The Gospel according to the Hebrews) có thể dùng tóm tắt vấn đề này. Chính sách Tin Lành ấy thì đã bị mục nát rồi, mặc dầu nó vốn được phổ cập khá sâu rộng vào thời có cộng đồng người Do thái theo Cơ đốc giáo lúc ban đầu. Tuy nhiên, một mẩu còn lại của sách ấy - vì được Jerome trích dẫn - đã nói lên một cách có ý nghĩa trong phần chú giải lời tiên tri về Đấng Mê-si-a trong EsIs 11:1 của ông. Đoạn sách ấy chép như sau:
“Rồi chuyện xảy ra khi Chúa từ dưới nước lên, cả nguồn suối Thánh Linh xuống ngự trên Ngài, và phán: Hỡi Con ta, trong tất cả các nhà tiên tri, ta đã mong chờ nơi Con để Con sẽ đến và ta sẽ ngự trên Con, vì Con là nơi yên nghỉ của ta, Con là Con ta, Con Trai một ta, là Vua đời đời”.
2. CHÚA GIÊ-XU LÀ ĐẤNG DUY NHẤT BAN PHÁT THÁNH LINH.
Vậy, nếu tất cả các trước giả sách Tin Lành đều đồng ý rằng Chúa Giê-Xu là Đấng duy nhất “mang” Đức Thánh Linh đến là quyền năng Ngài dành cho kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a, thì các vị cũng đồng ý với nhau không kém về một điểm quan trọng khác nữa. Mà ở đây, thì sách ‘Tin Lành theo người Hêbơrơ lại im lặng. Lẽ tất nhiên, toàn thể nguồn suối của Thánh Linh đều thuộc về Ngài, nhưng không phải chỉ thuộc về một mình Ngài mà thôi, đúng hơn là Ngài còn phải ban phát ra cho những người theo Ngài nữa. Và đó là điều mà các trước giả sách Tin Lành được liệt vào Kinh Thánh đều nhấn mạnh, mỗi vị theo cách riêng của mình. Vấn đề là Chúa Giê-Xu là Đấng duy nhất Ban Phát Đức Thánh Linh. Bạn sẽ không thể nào tiếp nhận được Ngài, nếu không qua trung gian là Chúa Giê-Xu, hay bạn cũng không thể đến với Chúa Giê-Xu mà không qua trung gian là chính Đức Thánh Linh.
Phép báp-tem của Giăng: ơn thương xót.
Cả bốn trước giả sách Tin Lành đều ghi lại lời hứa của Giăng Báptít rằng, ông chỉ làm phép báp-tem bằng nước, Đấng đến sau ông sẽ làm phép báp-tem nhưng bằng Đức Thánh Linh (theo Mathiơ và Luca là “bằng lửa"). Đúng ra Giăng Báptít thật khó biết rõ Giăng Báptít trông chờ điều gì. Nhưng rõ ràng là công tác của Giăng chỉ có tính cách chuẩn bị: khiến người ta dọn mình cho sẵn sàng để tiếp nhận sự tha tội mà phép báp-tem của ông chỉ là cái “bóng” chớ ông không tự xưng là mình có thể ban cho người ta sự tha tội đó; ông cũng chỉ cảnh cáo mọi người về sự phán xét, về cơn thạnh nộ hầu đến. Phép báp-tem của ông tiêu biểu cho hai chủ đề mà ông truyền dạy đó. Nhà tiên tri Ê-xê-chi-ên vốn đã nhận lời phán truyền này từ Đức Chúa Trời và hướng về thời đại mà nó sẽ được ứng nghiệm:
“Ta sẽ thâu lấy ngươi khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước, và đem về trong đất riêng của các ngươi. Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi”( Exe Ed 36:25 và tt).
Giăng thấy phép báp-tem của mình là phần chuẩn bị cho kỷ nguyên đó. ông không hề có ảo tưởng rằng nước có thể đem đến sự tha tội. Cùng với những nhân vật ở Qumran, mà ông thấy dường như có liên hệ phần nào, Giăng xem việc tắm rửa bằng nước là một nghi lễ chuẩn bị, còn sự thanh tẩy trọng đại và ân tứ của Thánh Linh thì vẫn còn nằm trong tương lai (IQS: 9,10 và GiGa 4:21).
Phép báp-tem của Giăng: sự phán xét.
Những sự phán xét cũng như ơn thương xót khoan hồng đều được phép báp-tem của Giăng hình dung ra trước. Cựu Ước đã nói rất nhiều điều về việc Đức Chúa Trời sử dụng lửa. Và nó luôn luôn có nghĩa, hoặc là sự hủy diệt, hoặc là sự thanh tẩy. DaDn 7:10 có đề cập dòng sông lửa từ ngôi Đức Chúa Trời lưu xuất, và cả điều đó cũng được một bài ca Qumran thu nhặt để mô tả một con sông của sự phán xét chảy tràn lan trên thế gian này vào ngày sau rốt (IQS GiGa 3:28 và tt). Rất có thể Giăng đã liên tưởng đến ý niệm này. Ngay trong sách Malachi mà ông rút ra sự thông hiểu về chính sứ mạng dọn đường cho Chúa của mình, chắc ông đã phải đọc thấy ngọn lửa, vừa thiêu hủy những kẻ làm ác, mà cũng đồng thời luyện lọc và thanh tẩy người tận trung như là ngọn lửa luyện vậy (MaMl 4:1 và tt 3:1-4). Có lẽ số người đã đến để ăn năn tội và sẵn sàng cho dòng nước của sông Giôđanh tuôn chảy qua trên đầu họ, đều nghĩ như mình đang trải qua sự đoán xét có tính cách biểu tượng của Đức Chúa Trời để họ sẽ khỏi phải từng trải điều đó bằng sự thật khủng khiếp của nó vào ngày phán xét.
Phép báp-tem của Giăng: chuẩn bị.
Dầu sao, Giăng vốn biết rằng phép báp-tem của mình chỉ có tính cách chuẩn bị. Đấng Mê-si-a hầu đến sẽ làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh và lửa. Trong quyển ‘Đức Thánh Linh và Nước Thiên đàng (The Spirit and the Kingdom) T.E.Yates đã cố gắng xác nhận rằng lời tiên tri này đã được ứng nghiệm trong chức vụ của Chúa Giê-Xu, vì chẳng những Ngài đã được đổ đầy Thánh Linh, mà còn là ngọn lửa phán xét đối với những người nghe Ngài qua lời truyền dạy và các phép lạ của Ngài. Lẽ tất nhiên, sự thật là Chúa Giê-Xu giáng lâm đã đem lửa đến thiêu cháy địa cầu này, một ngọn lửa phán xét; con người đã phải tự xét đoán mình qua cách họ đáp ứng với Ngài. Nhưng Ngài vẫn chưa làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh mãi đến sau khi Ngài chịu chết và sống lại. Chúng ta không cần dựa vào câu từng khiến Yates bối rối ("bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống vì Đức Chúa Giê-Xu chưa được vinh hiển” GiGa 7:39) tuy về điểm đó, câu ấy cũng đủ rõ ràng rồi. Cả Tân Ước đều đồng thanh truyền dạy rằng Cơ đốc nhân chỉ có thể từng trải Đức Thánh Linh sau khi Chúa Giê-Xu đã chịu chết và sống lại mà thôi.
Chúng ta đã thấy chứng cứ rõ ràng, đầy đủ về điều đó trong những trang sách trước đây. Mác nhấn mạnh điều đó bằng cách chỉ để một câu duy nhất trong sách Tin Lành của ông đề cập đến trường hợp các Cơ đốc nhân có được Đức Thánh Linh, và trong một lời tiên tri về số phận của họ sẽ ra thể nào sau tuần lễ thương khó (Mac Mc 13:11). Trong sách Tin Lành của mình, Mathiơ và Luca chỉ đề cập Đức Thánh Linh được ban cho các Cơ đốc nhân trong nhiệm vụ truyền giáo được phó thác cho họ, báo trước vai trò của họ trong tương lai sẽ là các sứ giả của Đấng Christ. Hơn nữa, Mathiơ nhấn mạnh rằng nhiệm vụ rao truyền Tin Lành và làm phép báp-tem cho thiên hạ sẽ chỉ được phó thác cho họ sau khi thập tự giá và phục sinh đã ban cho họ một Tin Lành để truyền giảng và một Đức Thánh Linh để họ phải nhận lãnh mà thôi (28:19). Như chúng ta đã thấy, Luca từng cầu nguyện xin Đức Thánh Linh là phước hạnh tối cao trong kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a, và và bày tỏ sự kỳ diệu thế nào Ngài đã được rải ra trên các môn đệ đang khao khát của Chúa Giê-Xu kể từ ngày lễ Ngũ tuần trở về sau - chớ không phải là trước đó.
Tuy ý định của sách Tin Lành Giăng không nhằm bao gồm việc kể lại những gì Hội Thánh đã thực hiện được sau khi được trang bị Đức Thánh Linh, nhưng đã ghi lại những điểm có tính cách hàm ý mà thôi, do đó đã không dành nhiều trang sách cho ngày lễ Ngũ tuần (như Luca đã làm ở phần đầu bộ sách thứ hai của ông), tuy nhiên ông cũng cho thấy rõ ràng ông cũng có cùng một quan điểm như vậy. Trong chương đầu sách Tin Lành của mình, Giăng nhấn mạnh rằng Thánh Linh chỉ ngự độc quyền trên một mình Chúa Giê-Xu mà thôi, là Đấng làm ứng nghiệm các niềm hy vọng về Đấng Mê-si-a của Cựu Ước về người “mang” Thần (Linh) trong người. Trong chương thứ hai mươi, sau thập tự giá và sự sống lại, Giăng đã trình bày một cách có ý nghĩa thế nào Chúa Giê-Xu làm ứng nghiệm phần thứ hai của điều mà Cựu Ước trông chờ ở kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a qua việc Ngài hà hơi trên các môn đệ, phó thác cho họ sứ mạng truyền giáo của Ngài, thúc giục họ tiếp tục vai trò của Ngài là truyền bá sự chuộc tội cho những ai biết ăn năn thống hối, và sự phán xét cho những kẻ không chịu lắng nghe, Ngài phán với họ: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh” (20:22 và tt). Đức Thánh Linh từng ngự trên Ngài, bây giờ được chuyển sang cho họ, cùng với sứ mạng Ngài từng dấn thân thực hiện, bây giờ, cũng được phó thác cho họ nữa. Như chúng ta sẽ thấy, Thánh Linh và sứ mạng truyền giáo luôn đi đôi với nhau. Vấn đề quan trọng không phải là cố gắng hòa hợp phần ký thuật này với phần ký thuật của Luca trong sách Công vụ - dầu sao rất có thể là Giăng đã không hề được đọc tác phẩm của Luca - nên ông đã trình bày các tài liệu theo một phương pháp khác hẳn và nhằm những mục tiêu khác hẳn. Tôi không nghĩ là chúng ta sẽ hiểu được gì nhiều hơn khi cho rằng Chúa Giê-Xu đã thổi (thở, hà hơi) Thánh Linh Ngài ra đến hai lần, một lần tại phòng cao và một lần vào ngày lễ Ngũ tuần của Luca. Không. Quan điểm của cả hai vị đều là Chúa Giê-Xu đã được trang bị cho sứ mạng truyền giáo với tư cách Đấng Mê-si-a, bằng Đức Thánh Linh được hứa ban cho những ngày sau rốt, và rằng Đức Thánh Linh vốn không được ban cho những người khác trong suốt thời gian Ngài còn sống trong xác thịt; và rằng sau khi Ngài chịu chết và sống lại, thì những ngày sau rốt đã được mở rộng ra có thể nói là qua những người theo Ngài. Họ đang kế thừa sứ mạng truyền giảng của Ngài, uy quyền của Ngài và Thánh Linh của Ngài. Về điểm này, thì tất cả các trước giả sách Tin Lành đều nhất trí.
3. CHÚA GIÊ-XU ĐÓNG ẤN MỘT ĐẶC TÁNH MỚI LÊN ĐỨC THÁNH LINH.
Điều này dẫn chúng ta đến một điểm quan trọng thứ ba về mối liên hệ giữa Đức Thánh Linh với Chúa Giê-Xu. Chúng ta đã thấy rằng Thần (Linh) của Đức Chúa Trời từng xuất hiện đúng lúc kịp thời, dưới nhiều hình thức khác nhau, và trong những lời tiên tri của thời Cựu Ước, đã chiếu toả ra cách liên tục, riêng tư (personally) và đầy đủ trên con người ở Naxarét. Người ta không còn gặp một Đức Thánh Linh với tư cách một quyền năng trần trụi; Ngài đã được mặc lấy nhân cách và đặc tính của Chúa Giê-Xu. Nếu muốn bạn có thể nói rằng Chúa Giê-Xu là cái phễu (quặng) để qua đó, Đức Thánh Linh được đổ vào cho loài người. Chúa Giê-Xu chuyển đổi vị trí Thánh Linh thành ra một cung điệu hoàn toàn riêng tư. Chúa Giê-Xu là khối lăng kính qua đó ánh sáng khuếch tán và thích hợp của Đức Thánh Linh được tập trung lại. Chúa Giê-Xu là nhà tiên tri (LuLc 7:16; Cong Cv 3:22; 7:37), nhà tiên tri của kỳ sau rốt đã được mong đợi từ lâu. Qua Ngài, Thần Linh tiên tri vốn hoạt động rất tích cực trong Cựu Ước được bày tỏ ra trọn vẹn và dứt khoát. Chúng ta đã thấy Chúa Giê-Xu ban Thánh Linh ấy cho các môn đệ Ngài qua sự chết và sự sống lại của Ngài. Việc xảy ra tiếp sau đó là Thánh Linh được vĩnh viễn đánh dấu bằng đặc tính của Chúa Giê-Xu. Thật vậy, Ngài có thể được gọi là “Linh của Chúa Giê-Xu” (Cong Cv 16:7).
Đây là lời dạy dỗ phổ biến của Tân Ước, nhưng không một trước giả nào tập trung chú ý vào điểm ấy thật sắc nét như Giăng. Trong sách Tin Lành thứ tư, Chúa Giê-Xu đã phán với những môn đệ đang sầu não vì Ngài sắp từ giã họ, rằng Ngài làm như thế là tốt hơn cho họ:
“Dầu vậy, ta nói thật cùng các ngươi, ta đi là ích lợi cho các ngươi, vì nếu ta không đi, Đấng Yên ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu, song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến” (GiGa 16:7).
Tóm lại, nhiệm vụ của Đấng Yên ủi (Paraclete) là phổ cập hóa sự hiện diện của Chúa Giê-Xu cho cả thế gian này. Vào những ngày Ngài sống trong xác thịt, Chúa Giê-Xu vốn bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Sự ra đi về thuộc thể của Ngài khiến Đức Thánh Linh có thể đến với tư cách Đấng yên ủi, và như thế, chẳng còn có chướng ngại vật nào về không và thời gian có thể ngăn chận các môn đồ tiếp xúc mật thiết với Ngài. Thật vậy, họ sẽ nhận thấy mối liên hệ đó lại gần gũi, thiết thân hơn cả tình bạn giữa họ với Chúa Giê-Xu lúc Ngài còn sống trong xác thịt. Họ đã nếm biết được Chúa Giê-Xu là Đấng yên ủi (chúng ta sẽ khảo xét ý nghĩa của từ ngữ Paraclete này trong phần sau) suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ. Ngài đã ở với họ, nhưng Đấng mà Ngài hứa như thế là Đấng Yên ủi khác sẽ ở trong họ (GiGa 14:17). Đức Thánh Linh phổ cập hóa hiện diện của Chúa Giê-Xu trong lòng toàn thể các môn đệ Ngài ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Thánh Linh là Đấng Yên-ủi (Paraclete)
Lời truyền dạy của Giăng.
Thiết tưởng cần xem xét kỹ lời truyền dạy của sách Tin Lành Giăng về Đức Thánh Linh là Đấng Yên-ủi. Trong mấy bài giảng để giã từ, có năm lần đề cập đến Ngài. Đó là GiGa 14:15-18; 14:25-27:8; 15:26, 27; 16:7-11; 16:13-15. Trong phần còn lại của Tân Ước, chúng ta chỉ gặp danh hiệu này một lần nữa, trong IGi1Ga 2:1 mà thôi. Và theo thiển ý, thì điều này rất có ý nghĩa. Trong thư Giăng, chúng ta thấy Chúa Giê-Xu là Đấng Yên-ủi. Ngài là Đấng đại diện cho chúng ta trước mặt Cha Ngài ở trên trời. Chúa Giê-Xu là Đấng công chính sau khi giải quyết xong sự ô uế của tội lỗi chúng ta, đang đại diện cho chúng ta - đứng ra thay mặt cho chúng ta trước mặt Cha Ngài. Như vậy, Ngài là người bảo đảm cho chúng ta để chúng ta được Đức Chúa Trời vui nhận. Trong sách Tin Lành, Chúa Giê-Xu cũng tự ví mình với Đấng Yên-ủi, vì khi hứa sai đến “một Đấng Yên-ủi khác” hay “một đấng khác làm Đấng Yên ủi” trong GiGa 14:16 (nói cách nào thì trong Hi văn cũng chẳng có gì khác nhau) rõ ràng là Chúa Giê-Xu muốn nhấn mạnh rằng chính Ngài đang là Đấng Yên-ủi của họ rồi, cũng y như trong thư tín của Giăng vậy. Thật khó có cách nào khác hơn để nhấn mạnh sự đồng nhất hóa giữa Chúa Giê-Xu và Đức Thánh Linh, nhất là khi Ngài lại tiếp tục nói: “Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu; Ta sẽ đến cùng các ngươi” (14:18). Khi các môn đệ Chúa từng trải được Đức Thánh Linh như là Đấng Yên-ủi, thì Đức Thánh Linh như chính Chúa Giêxu hiện thân, sẽ không bị mất đi chút gì về mặt nhân cách của chính Ngài. Dĩ nhiên là Giăng đã phải vứt bỏ mọi mẹo luật của Hi văn khi ông đề cập Đức Thánh Linh (là một từ ngữ trung tính trong Hi văn) bằng đại danh từ theo giống đực. Đức Thánh Linh cũng là một con người như Chúa Giê-Xu, mà Ngài đã đến để thay mặt.
Một mốc liên hệ tay đôi...
Người ta từng tập trung tranh luận nhiều về ý nghĩa của từ ngữ Đấng Yên-ủi (Paraclete) này. Nó đã được hiểu là “Đấng Yên-ủi”, “Đấng Cầu thay”, “Đấng Giải nghĩa”, “Nhà Truyền đạo”, hoặc “Quan Biện lý” hoặc là “Trạng sư”. Nghĩa gốc của từ ngữ này là “Người được gọi đến bên cạnh để trợ giúp”. Chúa Giê-Xu là Đấng được gọi đến bên cạnh Đức Chúa Cha để giúp đỡ chúng ta, theo sách Tin Lành Giăng. Cách thức Ngài trợ giúp sẽ được hiểu rõ hơn khi đọc trong văn bản, chớ không phải bằng cách suy diễn ý nghĩa của từ ngữ ấy. Nhưng trước khi làm việc đó, thiết tưởng nên ghi nhận sự gợi ý sáng suốt của giáo sư Raymond Brown rằng ở phần sâu nhiệm nhất của óc tưởng tượng ẩn sau từ ngữ này, là ý niệm về điều mà ông gọi là một “mối liên hệ tay đôi”. Nhiều lần trong thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời ban Thần linh Ngài cho một người xứng đáng để rồi người ấy sẽ chuyển Thần Linh ấy sang cho người kế vị mình. Như Môse chuyển Thần Linh của Đức Chúa Trời cho Giôsuê (PhuDnl 34:9) và Êli cũng làm như vậy cho Êlisê (IVua 1V 2:9, 10, 15). Rồi Chúa Giê-Xu cũng chuyển sang cho các môn đệ Ngài, Thánh Linh vốn “ngự” trên Ngài suốt giai đoạn Ngài thi hành chức vụ.
...giữa vòng các môn đệ.
Chúng ta sẽ tìm thấy gì khi xét thật chi tiết những lời hứa về Đấng Yên-ủi? Nói chính xác hơn thì mối liên hệ tay đôi và mối dây liên kết được lặp đi lặp lại với Chúa Giê-Xu trong lịch sử sẽ dẫn chúng ta đến chỗ mong đợi điều gì? Ấy là Đức Thánh Linh hành động vì con người, trong con người và chống lại với con người đúng y như cách Ngài từng làm lúc còn sống trên thế gian này. Chúa Giê-Xu đã từ nơi Đức Chúa Cha đến thế gian như món quà Đức Chúa Cha tặng cho nhân loại thế nào, thì với Đấng Yên-ủi cũng vậy (GiGa 5:43; 16:28; 3:16 và tt) Đức Chúa cha đã sai Con Ngài đến thế gian làm đại diện cho Ngài làm sao, thì Đấng Yên-ủi cũng sẽ được sai đến nhân danh Chúa Giê-Xu y như vậy (5:43; 14:26). Chúa Giê-Xu đã ở với và hướng dẫn các môn đệ Ngài thế nào, thì với Đấng Yên-ủi cũng vậy (14:16-18). Chúa Giê-Xu đã dạy họ chân lý vì Ngài vốn là chân lý làm sao, thì Thần Linh của chân lý cũng sẽ dẫn họ vào mọi lẽ thật về Chúa Giê-Xu y như vậy (14:6, 17; 15:26; 16:13). Chúa Giê-Xu đã không hề thu hút sự chú ý của thiên hạ vào chính Ngài nhưng chỉ bày tỏ ra sự vinh hiển của Cha Ngài bằng cách truyền lại bức thông điệp của Đức Chúa Cha cho họ thế nào (8:28; 12:28), thì cũng vậy, Đấng Yên-ủi “không nói tự mình...nhưng sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (16:14). Chúa Giê-Xu đã làm chứng cho Đức Chúa Cha thì Đức Thánh Linh cũng sẽ làm chứng cho Đức Chúa Giê-Xu (15:26, 27) vì Chúa Giê-Xu hãy còn rất nhiều điều để truyền dạy cho các môn đệ Ngài, nhưng họ chưa hiểu nổi trước khi Ngài chịu thương khó; cho nên Ngài bảo đảm với họ rằng rồi đây Đức Thánh Linh sẽ kế tục nhiệm vụ truyền dạy của Ngài giữa họ sau khi Ngài lìa khỏi họ (16:13).
...trong thế gian.
Chẳng những Đức Thánh Linh phải phổ cập hóa con người Giê-Xu cho toàn thể các tín hữu trong tương lai, mà Ngài còn phải làm như vậy cho cả thế gian vô tín nữa. Một trong những chủ đích hàng đầu của việc Ngài đến, là để thúc giục các môn đệ làm chứng cho Chúa Giê-Xu trước mặt cả một xã hội đang thù ghét hoặc chẳng ưa gì họ. Hãy xem 15:26, 27 “Ngài sẽ làm chứng về ta. Còn các ngươi cũng sẽ làm chứng về ta”. Và cùng với lời làm chứng của các môn đệ mà Ngài sẽ áp đặt vào lòng những kẻ nghe, Đức Thánh Linh sẽ cáo trách thiên hạ về việc họ đã sai quấy. Như vậy, ba trong số các đại đề mục mà các sứ đồ từng truyền giảng đã được đề cập: tội lỗi, sự công chính, và sự phán xét. Qua lời làm chứng của các sứ đồ và của Thánh Linh (giờ đây được nhìn thấy là Đầy Tớ Cáo Buộc Tội), chỉ cho loài người được chỉ cho thấy là họ vốn sai lầm trong các ý niệm luân lý đạo đức về tội của họ; tội chính yếu là khước từ không chịu phó thác chính mình cho Chúa Giê-Xu là vị cứu tinh, là Cứu Chúa do Đức Chúa Trời sai đến. Họ đã sai quấy trong quan điểm của họ về sự công chính, cho rằng Chúa Giê-Xu cũng là tội nhân y như họ - và có lẽ còn tồi tệ hơn thế nữa, bởi vì Ngài đã kết thúc đời mình trên thập tự giá, tại một nơi đã bị nguyền rủa (xem PhuDnl 21:23). Nhưng sự vô tội của Ngài đã được đền đáp bằng sự sống lại (đi về cùng Cha“). Và họ còn sai quấy khi tưởng rằng sự phán xét hoàn toàn nằm trong tương lai; nhưng trận đánh quyết định để truất phế Sa tan đã được chiến thắng tại thập tự giá, và từ đó trở đi, nó là một kẻ thù đã bại trận, và các tín hữu đang cướp phá đế quốc của nó. Nhưng phải chăng đây là bức thông điệp gồm ba phương diện được Đấng Yên-ủi đưa đến trong chức vụ truyền giảng của các sứ đồ, chớ không phải chính là những gì Đấng Christ của Giăng đã công bố trong khúc sách của ông, và đặc biệt là riêng khúc sách như GiGa 9:35-41? Tóm lại, thì Đấng Yên-ủi nhận lấy vai trò của Chúa Giê-Xu. Nhưng thế gian đã khước từ không chịu tiếp nhận Chúa Giê-Xu thể nào thì họ cũng sẽ chối bỏ, không chịu tin nhận Đấng Yên-ủi y như vậy (1:10, 11 và 14:17) Như Chúa Giê-Xu đã phải làm chứng trong một bối cảnh đầy thù hận, chỉ vì Ngài đã rao báo một chân lý mà họ không sẵn lòng đón nhận (7:7), thì với Đức Thánh Linh cũng vậy (16:8). Cho dù chúng ta có nhìn vào vai trò của Đấng Yên-ủi trong thế gian hay giữa vòng các môn đệ của Chúa, thì câu trả lời vẫn y nhau. Đức Thánh Linh là một “Chúa Giê-Xu khác”.
Một Chúa Giê-Xu khác.
Ngài đã được phái đến để thay thế Chúa Giê-Xu giữa vòng các môn đệ, để làm cho họ những gì Chúa Giê-Xu từng làm trên đất này. Hơn nữa, Ngài còn phải trang bị họ cho sứ mạng truyền giảng như đã từng trang bị cho Chúa Giê-Xu trong sứ mạng của Ngài. Thế nhưng Đức Thánh Linh không hề có trọn quyền tự tung tự tác, như chính Chúa Giê-Xu vốn cũng như vậy. Ngài phải sống cuộc đời lệ thuộc Cha thiên đàng: nếu muốn thật sự hình dung đúng bản thể của Đức Yahweh trong các điều kiện của con người, thì với tư cách một con người, Ngài phải luôn luôn vâng lời Đức Yahweh, vừa như Nhà Vua Được Xức Dầu cho, lẫn như Người Đầy Tớ biết vâng lời. Và nếu Đức Thánh Linh muốn thật sự đại diện cho Chúa Giê-Xu, thì Ngài phải chịu trói buộc vào thân vị và đặc tính của Chúa Giê-Xu. Chúa Giê-Xu vốn là (Ngôi) Lời Cuối Cùng của Đức Chúa Trời đối với loài người, cho nên nhiệm vụ của Đức Thánh Linh không phải là để đưa ra một mặc khải mới mẻ nào khác về riêng Ngài nhưng là phải làm chứng cho Chúa Giê-Xu, phải giãi bày những ý nghĩa còn tiềm ẩn trong Lời Cuối Cùng của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ xét đến một số những ý nghĩa như thế trong chương sau, nhưng trước khi kết thúc chương sách này, có lẽ điều rất thích hợp là nên suy luận xem tại sao trong cả Kinh Thánh, lại chỉ có sách Tin Lành Giăng mới nhấn mạnh đến vấn đề Đức Thánh Linh là Đấng Yên-ủi như vậy. Lý do có thể gồm hai mặt:
Đức Thánh Linh thay thế các sứ đồ.
Có lý do chính đáng để tin rằng sách Giăng là sách Tin Lành cuối cùng đã được viết ra. Chương 21 dường như đã được soạn thảo để làm đoạn kết cho phần thân chính của Tin Lành mà tuyệt đỉnh là 20:31 cho thấy có lời đồn đãi trong giới Cơ đốc nhân, rằng Giăng sẽ không chết, rằng ông vẫn còn sống cho đến ngày Đấng Christ tái lâm. Hãy tưởng tượng các Cơ đốc nhân đã cảm nghĩ thế nào khi hay tin ông cụ đã qua đời!
Một mặt thì các vị sứ đồ cuối cùng đều đã qua đời; người cuối cùng trong số những người có thẩm quyền để giải thích về con người và công tác của Chúa Giê-Xu bây giờ cũng lại bỏ họ trong cảnh tang tóc. Mặt khác, lời hứa tái lâm vẫn chưa thành hiện thực. Trong hoàn cảnh như vậy điều gì sẽ có thể giúp ích được cho họ nhiều nhất? Phải rồi, trước hết phải sắp xếp phần ký thuật cho đâu vào đấy đã. Thật ra Chúa Giê-Xu không nói Giăng sẽ còn sống cho đến ngày Ngài tái lâm, nhưng chỉ nói: “Nếu ta muốn người cứ ở cho tới khi ta đến, thì can hệ gì với ngươi?” (21:23) mà thôi. Sau khi đã làm việc đó, thì phải trực diện đối đầu với vấn đề, trên cả hai phương diện.
Đức Thánh Linh là Đấng Yên-ủi, đưa ra lời giải đáp cho cả hai vấn đề. Các Cơ đốc nhân đang bối rối, vì kỷ nguyên mặc khải đã qua rồi (và họ đã ý thức được điều đó hết sức sâu sắc vì thế hệ các sứ đồ đã qua rồi, điều đó được làm sáng tỏ chẳng những qua việc thừa nhận nhanh chóng vào thế kỷ thứ hai rằng các tác phẩm của các vị ấy đã viết ra được xem là có tính cách quyết định cho đức tin Cơ đốc nhân, nhưng cũng bằng ý thức sâu xa nỗi buồn thương nhớ tiếc, đã được thấy nơi các tác giả tiếp ngay sau các sứ đồ như Polycarp và Ignatius). Nhưng có một lời hứa đã đến với họ, ấy là họ sẽ không lâm vào cảnh khốn khổ tồi tệ hơn, mà lại được thoải mái, dễ dàng hơn. Có thể họ đã bị mất đi các sứ đồ, nhưng lại được chính Đức Thánh Linh của Chúa ở lại với họ để dạy dỗ và cảm thúc họ. Chúa Cứu thế phục sinh tiếp tục công tác truyền dạy của Ngài qua Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho Hội Thánh. Ngày nay, lắm khi có người than phiền mình không phải là người đồng thời với Chúa Giê-Xu của lịch sử, ngụ ý rằng nói chung, nếu được như vậy thì họ sẽ dễ tin Ngài hơn và sẽ được lợi thế hơn. Mấy lời sau đây của Chúa Giê-Xu thiết tưởng vẫn còn có thể ứng dụng được cho họ: “Ta đi là ích lợi cho các ngươi, vì nếu ta không đi thì Đấng Yên-ủi sẽ không đến cùng các ngươi; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến” và đó là việc Ngài đã làm. Đức Thánh Linh là tặng phẩm từ giã của Ngài cho Hội Thánh, để khiến hiện diện của Ngài vẫn còn là sự thật cho họ, dường như họ vẫn còn nghe lời truyền dạy của Ngài bên bờ biển Galilê; và Thánh Linh còn có thể làm cho chúng ta càng nhiều việc hơn những gì Chúa Giê-Xu đã làm cho chúng ta nếu chúng ta sống đồng thời với Ngài, vì Thánh Linh có thể đến với chúng ta, cư trú ngay trong lòng chúng ta. Chẳng những Thánh Linh có thể nhắc cho chúng ta nhớ lại những gì Chúa Giê-Xu đã truyền dạy, mà còn mặc khải cho chúng ta phần ý nghĩa sâu nhiệm hơn về thân vị của Ngài, sự chết và sự sống lại của Ngài mà rất có thể là chúng ta sẽ chẳng bao giờ lãnh hội được, nếu chúng ta sống đồng thời với Ngài. Rõ ràng là chúng ta đã không bị thiệt thòi, mà còn có phần được ích lợi nhiều hơn.
Đức Thánh Linh dự báo kỳ sau rốt.
Vấn đề thứ hai có thể đã khiến người trung tín bị bối rối khi vị sứ đồ cuối cùng qua đời là thế này: Tại sao lời hứa về sự tái lâm vẫn chưa xảy đến? Đó là vấn đề nổi lên rất sớm, chính vì thế mà thư ITêsalônica được viết ra để đáp ứng. Nó còn là một vấn đề cấp bách hơn cả lúc Phi-e-rơ soạn thảo thư tín thứ hai: đặc biệt là chương 3 của thư tín ấy nhằm vào những kẻ đã vứt bỏ niềm hy vọng về sự tái lâm của Chúa Cứu thế. Nhưng khi vị sứ đồ cuối cùng qua đời, mà Chúa Giê-Xu là người từng nói mấy lời bí hiểm sau đây: “Trong những người đứng đây, có mấy kẻ sẽ chẳng chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời lấy quyền phép mà đến” (Mac Mc 9:1) vẫn chưa trở lại - thì họ phải nghĩ làm sao? Phải chăng họ đã bị lừa gạt?
Không, họ đã không bị gạt. Theo đúng nghĩa câu ấy - chớ không phải theo nghĩa mà họ mong đợi - thì nước trời đã đến bằng quyền phép của Đức Chúa Trời. Nước ấy đã đến bằng quyền phép của Đức Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ tuần, và quyền phép ấy đã không hề bị rút lại và sẽ chẳng bao giờ bị rút lại. Chương sách trước đây trong sách Giăng đã lưu ý điều đó. Chúa Giê-Xu đã hà hơi (thổi, thở) Thánh Linh Ngài trên các môn đồ Ngài. Đây là ân tứ qua đó Đấng Mê-si-a hoàn tất công tác của Ngài. Đó là sự ban cho dành cho kỳ sau rốt mà vì đó, Ngài đã sống và đã chết - thế nhưng trang chót của chương cuối cùng của lịch sử nhân loại vẫn chưa được viết xong. Các môn đệ của Chúa có gì khác hơn Chúa của họ không? Không. Chắc chắn trang chót của chương cuối cùng vẫn chưa được viết ra khi vị sứ đồ cuối cùng qua đời hay như khi Đấng Mê-si-a chịu chết; nhưng, cũng như Ngài, các môn đệ Ngài đã được vui hưởng món quà ân tứ của kỳ sau rốt, là Đức Thánh Linh mà các nhà tiên tri đã biết trước là sẽ được ban cho trong những ngày sau rốt. Cho nên, họ chớ nên than phiền về việc ngày Chúa hiện ra (Perousia) vẫn đang bị trì hoãn. Chúa Giê-Xu đã không để họ mồ côi. Ngài đã đến trong thân vị (person) của Đức Thánh Linh, Đấng chẳng những vốn là ân tứ đặc biệt của Đấng Mê-si-a dành cho thần dân Ngài, giúp họ biết rõ Ngài vẫn tiếp tục hiện diện với họ, mà còn là của cầm trước tiên (của đặt cọc) cho kỷ nguyên hầu đến, là của tin để bảo đảm rằng những ngày sau rốt đã lố dạng cùng với Đức Chúa Giê-Xu người Naxaxét. Một ngày gần đây Ngài sẽ đến để thực hiện phần kết thúc trọn vẹn của Đức Chúa Trời.


ĐỨC THÁNH LINH VÀ CHÚA GIÊ-XU
Có lẽ bạn đang ngạc nhiên tự hỏi tại sao tôi lại nhọc công để chứng minh rằng Thần Linh của Đức Chúa Trời, là sự can thiệp tích cực của Ngài vào sân khấu nhân loại dưới nhiều hình thức trong Cựu Ước, lại được tập trung vào con người Chúa Giê-Xu là Đấng Mê-si-a, rồi lại được Ngài đổ xuống trên cộng đồng thuộc kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a như vậy. Tại sao việc đó lại quan trọng đến như thế?
Vấn đề ấy rất hệ trọng, cho nên trong chương này, tôi muốn phác họa một số hàm ý của mối dây liên hệ bất khả xâm phạm giữa Chúa Giê-Xu và Đức Thánh Linh đó theo như các trước giả Tân Ước đã đề cập
Đức Thánh Linh trong các sách Tin Lành?
Về một mặt, nó đưa ra một lời đáp mà nếu không có, sẽ tạo ra một vấn đề hết sức rắc rối. Tại sao trong các sách Tin Lành nói rất ít về Đức Thánh Linh? Chúng ta biết rằng Hội Thánh nguyên thuỷ vốn tràn ngập từng trải về Đức Thánh Linh, và việc sách Tin Lành Giăng tương đối im lặng về Ngài đã gây được niềm tin lớn lao cho tính cách trung thực về mặt lịch sử cho Ngài, ấy là người ta không viết các sách ấy bằng cách lấy các tình trạng thuộc giai đoạn sau khi Chúa Giê-Xu phục sinh để gán cho giai đoạn Ngài đang sống tại thế. Điều này tự nó vốn có nhiều ý nghĩa, nhất là từ ngày có nhiều học giả Tân Ước dường như tin rằng các Cơ đốc nhân nguyên thuỷ vốn chẳng ý thức gì về đặc tính lịch sử cả, và có lẽ vì quá vui mừng, nên họ đã tưởng tượng ra một số câu nói để gán cho Chúa Giê-Xu, hoặc khi được nghe một bức thông điệp nào đó của các nhà tiên tri Cơ đốc trong một hội chúng, họ lại đem nó gán vào môi miệng Chúa Giê-Xu của lịch sử cho rằng Ngài đã nói chăng. Chúng ta phải kinh ngạc mà khen ngợi các sách ấy về tính cách trung thực đáng tin về phương diện lịch sử, vì hầu như chúng ta không tìm thấy các sách Tin Lành ghi lại những mối bận tâm chính yếu nào của Hội Thánh nguyên thuỷ, nếu họ có ý muốn giải quyết các vấn đề của họ liên hệ đến việc giữ luật pháp, được Đức Thánh Linh chiếm hữu, phép cắt bì, luật pháp, ân điển, bằng cách bày đặt ra “những lời phán của Chúa Giê-Xu” để dàn xếp các vấn đề ấy.
Nhưng cứ cho là vì muốn bảo vệ tính cách trung thực đáng tin về phương diện lịch sử khiến các trước giả sách Tin Lành phải dè dặt đối với Đức Thánh Linh, thì điều đó vẫn chưa giúp gì được cho chúng ta trước vấn đề tại sao trong các sách Tin Lành, đã chẳng có một người nam người nữ nào được đổ đầy Thánh Linh cả, ngay trong lúc rõ ràng là Ngài đang hoạt động trở lại. Nếu Ngài đã hành động tích cực trong Chúa Giê-Xu, thì tại sao Ngài lại không hoạt động trong các môn đệ Ngài? Câu trả lời thật rõ ràng. Bởi vì Thánh Linh vốn bị buộc chặt với con người của Chúa Giê-Xu. Ngài là cái phễu để qua đó, mọi từng trải tiếp theo về Thần Linh của Đức Chúa Trời đều phải xuyên qua. Chính vì thế mà nhiều người khác đã không nhận lãnh được Đức Thánh Linh giữa khoảng thời gian Ngài chịu phép báp-tem với ngày lễ Ngũ tuần. Món quà về Thánh Linh của Đấng Mê-si-a được hứa cho dân sự Đức Chúa Trời vào kỳ sau rốt vốn tùy thuộc vào việc Mê-si-a hoàn tất sứ mạng truyền giảng của Ngài cho đến khi Ngài chịu chết để loài người được tha tội, cho đến khi Đức Chúa Trời khiến Ngài từ kẻ chết sống lại để minh chứng về Ngài thì Đức Thánh Linh vốn đang ngự trong Ngài chưa được sẵn sàng để ban cho người khác.
Thánh Linh trong các đạo khác?
Vấn đề thứ hai nữa là: Tại sao Tân Ước chẳng nói gì về việc Đức Thánh Linh tự tỏ mình ra trong nhiều đạo khác khi loài người cố gắng phấn đấu để tìm kiếm Đức Chúa Trời, và trong các nỗ lực đạo đức của những người đúng đắn, mộ đạo? Như đã đề cập ở chương 1, hiện nay thỉnh thoảng chúng ta cũng nghe nói về nỗ lực của các chính khách, về những biểu quyết trong các kỳ hội nghị của chúng ta, và các tiến bộ về mặt đạo đức của nhiều nhà nhân bản học, đang được Đức Thánh Linh hướng dẫn, điều khiển...Chúng ta còn đi xa hơn, như người ta thường bảo rằng Đức Chúa Trời đã mặc khải Thần Linh Ngài cho Phật giáo và Ấn giáo cũng nhiều như cho Cơ đốc giáo vậy - và dĩ nhiên là mặc khải trong vô thần chủ nghĩa, cũng nhiều như trong hữu thần chủ nghĩa nữa.
Điều tai tiếng về đặc quyền.
Ngày nay, khi mà cuộc đối thoại liên tôn (intes-faith dialogue) rất dễ rơi vào việc hòa đồng, và khi mà việc loài người tìm kiếm Đức Chúa Trời rất dễ bị đưa ra để thay thế mọi ý niệm về việc Đức Chúa Trời tự bày tỏ mình ra cho loài người, thì điều tối quan trọng là phải nhớ lại rằng Tân Ước đã khẳng định mạnh mẽ tính cách hiệp một chặt chẽ giữa Đức Thánh Linh và Đức Chúa Giê-Xu. Nếu Đức Chúa Trời thật sự tự bày tỏ mình ra trong Con Ngài, và nếu Đức Chúa Con vốn có đặc điểm là được Đức Thánh Linh chiếm hữu, rồi Ngài lại chuyển giao Đức Thánh Linh sang cho những người theo Ngài, thì không thể nào chủ trương rằng Đức Chúa Trời cũng tự mặc khải Ngài cho Phật giáo cũng nhiều như cho Cơ đốc giáo. Chúng ta không thể làm một món “tạp-pín-lù” tôn giáo nếu tất cả chúng ta là những người chân thành muốn tìm kiếm một Đức Chúa Trời tự giấu mình đi. Theo thiển ý, thì các trước giả Tân Ước không gán cho Đức Thánh Linh đã linh cảm những sự dạy dỗ cao thượng trong các nền đạo đức học ngoại giáo hay các tôn giáo khác, là điều có ý nghĩa quyết định. Vì nhiệm vụ của Đức Thánh Linh là làm chứng cho Đức Chúa Giê-Xu. Ngài vốn là Thần Linh của Chúa Cứu thế.
Ánh sáng trong các đạo khác.
Nói như vậy không có nghĩa là bảo rằng trong các giềng mối của các đạo khác chỉ có rất ít chân lý. Dĩ nhiên trong đó có nhiều điều đúng, đồng thời cũng có nhiều điều không đúng. Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời đã thất tín, không ban một dấu chỉ về chính Ngài cho người ta qua “luật đạo đức trong lòng và qua bầu trời đầy sao”. Nó không có nghĩa là Đức Thánh Linh không thể hành động trên những người có các đạo khác, để thôi thúc họ, khiến họ khao khát, trông mong Chúa Cứu thế. Trong quyển ‘Vị-Thần-trung-gian (The Go-Between God) John Taylor nói rất đúng rằng: “Thần Linh đời đời từng hành động trong mọi thời đại, trong mọi nền văn hoá để khiến loài người ý thức và kêu gọi họ đáp ứng, và bây giờ Đấng mà Ngài chỉ ra và làm chứng cho cũng là Ngôi Lời (the Logos), là Chiên Con đã bị giết từ trước ngày sáng tạo thế gian này. Mọi tôn giáo đều là mọi truyền thống để đáp ứng lại với Ngài, cho dù nó chỉ quờ quạng trong bóng tối để hướng về Ngài hay âu lo xao xuyến muốn xa lánh Ngài”. Ông còn tiếp tục nêu một thí dụ sáng chói về điều ông đang nghĩ, khi một ông cụ là tín đồ Hồi giáo cứ tiếp tục nài khuyên một híp-pi người Anh đang cai ma túy hãy “cầu nguyện với Chúa Giê-Xu là Đấng Mê-si-a” cho đến lúc cậu ta ăn năn quy đạo và được giải cứu. Sau đó, ông cụ đã giải thích quan điểm của mình về vấn đề ấy cho một người bạn Cơ đốc rằng: “Với một người thường, trong hoàn cảnh bình thường, thì chỉ cần trung tín tin Đức Chúa Trời là đủ. Nhưng khi có ai sa vào quyền lực của điều ác như vậy thì ngoài Chúa Cứu thế Giê-Xu ra, chẳng có gì có thể cứu nổi người ấy nữa, đây là điều tôi tin quyết”.
Tiến sĩ Taylor còn nêu lên một dẫn chứng khác về việc Đức Thánh Linh kéo một người đến với Chúa Giê-Xu trong một hoàn cảnh vô cùng bất lợi và qua một trung gian có thể nói là chẳng mấy gì trong sáng. Các giáo sĩ đầu tiên đến giảng đạo cho những người Hồi giáo tại miền Bắc Nigeria được chào đón bởi một nhóm người đã tin Chúa Giê-Xu và tự xưng là nối gót Ngài. Họ là môn đệ của một người tên Malam Ibrahim, một giáo viên dạy Kinh Coran mà nhờ nghiên cứu học hỏi, đã lần lần chịu thuyết phục rằng Chúa Giê-Xu mà ông ta nghiên cứu học hỏi qua các trang sách vốn là người trung gian dâng những lời cầu nguyện của người thành tâm lên cho Đấng Toàn Ái. Rồi ông ta tập họp quanh mình một nhóm người để bắt đầu nguyện cầu nhân danh Isa Masih, nghĩa là Chúa Giê-Xu, là Đấng Mê-si-a. Khi nhà cầm quyền Hồi giáo phát giác được việc đó, họ đã tố cáo rằng ông bội đạo, nhưng ông ta không chịu rút lại niềm tin của mình, và vì thế bị đóng đinh vào thập tự giá tại công viên chợ Kano ba mươi năm trước khi có một nhà truyền đạo Cơ đốc đến xứ ấy.
Tầm quan trọng của ngôn ngữ Kinh Thánh.
Trong những hoàn cảnh như vậy, thì cho rằng những người không phải là Cơ đốc nhân chịu học hỏi cũng được Đức Thánh Linh “chỉ giáo” là điều hoàn toàn phù hợp với lời truyền dạy của Tân Ước. Nhiệm vụ của Ngài há không phải là cáo trách người thế gian về tội lỗi, sự công chính và sự phán xét, hay sao? Há không phải qua môi giới là Đức Thánh Linh, người ta mới tự xưng là Cơ đốc nhân nhận “Giê-Xu là Chúa” (ICo1Cr 12:3) và được tái sanh (GiGa 3:5) hay sao? Dầu sao thì vai trò của Đấng Yên ủi cũng là làm chứng cho Chúa Giê-Xu, và Ngài làm việc đó với mọi người, dầu có đạo nào hay không hoặc chúng ta có cộng tác hay không.
Nhưng một số các nhà nghiên cứu công cuộc truyền giáo hiện đại đưa ra một số lời giải thích không đúng, tách rời Đức Thánh Linh với Đức Chúa Giê-Xu, thì đó lại là một vấn đề khác hẳn. Họ muốn tránh “tai tiếng về đặc quyền Ngài” nên gán cho Đức Thánh Linh bất cứ công tác gì họ thấy có vẻ đáng hoan nghênh, đáng ngưỡng mộ trong các niềm tin và cách hành đạo của những người theo các tôn giáo khác. Nếu muốn biết có sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh một cách chắc chắn, thì chúng ta phải tìm xem có phải sự hướng dẫn đó bao giờ cũng là về Chúa Giê-Xu hay không. Như giáo sư Moule có viết một bài chưa được đăng báo “tổng quát hóa Đức Thánh Linh và sử dụng từ ngữ ấy nói lên hoạt động của Đức Chúa Trời ở bất cứ nơi nào và khắp mọi nơi, là bỏ qua chủ đề tuyển chọn và phục vụ của Kinh Thánh và chẳng đếm xỉa gì đến phương pháp lạ lùng của Đức Chúa Trời trong việc phân công hóa để phổ cập hóa”.
Trong một bài báo đăng trong Quý sau The Church tháng tư 1971, giám mục Stephan Neil cũng đưa ra cùng một quan điểm như thế. Đức Thánh Linh của Tân Ước “không được tìm thấy ở bất cứ nơi nào nằm ngoài lãnh vực mà người ta gặp gỡ trực tiếp và riêng tây với Chúa Cứu thế phục sinh...Nếu các tác giả Cơ đốc nhân chịu lấy Kinh điển Cơ đốc giáo hiện có để làm gương cho mình, thì sẽ có lợi lớn”.
Đức Thánh Linh một thân vị?
Còn có một vấn đề thứ ba nữa mà chìa khóa được cung cấp bởi mối liên hệ giữa Chúa Giê-Xu và Đức Thánh Linh. Như chúng ta đã thấy, trong Cựu Ước, Thần của Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ mình ra bằng nhiều cách: sức mạnh, khôn ngoan, xuất thần, cả đến trạng thái mê loạn được gán cho là do gió hay Thần của Đức Yahweh nữa. Mặt khác, vào thời các thư tín Tân Ước, Thánh Linh lại là sự thể hiện trọn vẹn thân vị của Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Sự thay đổi đó đã xảy ra như thế nào?
Đơn giản là do sự kiện trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời hiện diện một cách mờ nhạt, ít rõ ràng, chỉ hiện đến thật đúng lúc kịp thời và có khi còn mượn hình-hài-của-con-người-khác (a sub-personal presence) nữa với tư cách Thần Linh, thì lần đầu tiên đã được quy tụ rõ rệt vào Chúa Giê-Xu ở Naxarét. Không còn sự hiện diện mờ nhạt nữa, nó được tập trung, được định vị thật rõ rệt trong Chúa Giê-Xu. Không còn được định nghĩa cách mơ hồ nữa, mà được đánh dấu rõ rệt bằng chính cá tính của Ngài. Không còn phải hiện đến kịp lúc nữa mà chính Đức Thánh Linh đã ngự trị thường xuyên trên Ngài mà không lúc nào rút đi. Ngài không còn vay mượn hình hài một ai khác nữa, mà được gắn chặt vào nhân cách của Chúa Giê-Xu. Từ nay trở đi, Đức Thánh Linh được nhìn thấy với tư cách là một thân vị trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, tuy Tân Ước không hề quan tâm việc hình thành một giáo lý như vậy. Tuy nhiên, từ những sự kiện rõ rệt qua kinh nghiệm, đã thúc đẩy các Cơ đốc nhân thừa nhận thần tánh của Đức Yahweh, Đức Chúa Giê-Xu và Đức Thánh Linh trong khi vẫn phân biệt là có Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Như vậy, Chúa Giê-Xu là Đấng thiêng liêng, nhưng Ngài không phải là tất cả Đức Chúa Trời như Ngài vốn hiện hữu: Ngài đã sống cuộc đời trên đất trong sự lệ thuộc vào Đức Yahweh. Đức Thánh Linh là Đấng thiêng liêng, được đánh dấu bằng chính ấn chứng của Chúa Giê-Xu, thế nhưng vẫn khác biệt, vì Chúa Giê-Xu vốn được Đức Thánh Linh xức dầu cho, Ngài đã sống trong Đức Thánh Linh rồi chuyển Thánh Linh sang cho Hội Thánh. Việc Ba Ngôi Đức Chúa Trời tuy khác nhau, nhưng hiệp một ngày càng đưa các trước giả Tân Ước từ chỗ thừa nhận mà hầu như không cần phải suy nghĩ đến chỗ khẳng định, để trở thành nguyên liệu sống cho thuyết chính thống về Đức Chúa Trời Ba Ngôi hiệp một. Như trong ICo1Cr 12:4-6 Phaolô gắn liền công tác của Đức Thánh Linh , Chúa (tức là Chúa Giê-Xu), và Đức Chúa Trời. Ông lại làm như vậy trong Eph Ep 4:4-6, IITe 2Tx 2:13, 14; GaGl 4:4-7; RoRm 8:9-11 và trong “ân điển” ai ai cũng biết của IICo 2Cr 13:14. Chúng ta từng đề cập phép báp-tem nhân danh “Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh” đã được Chúa Cứu thế phục sinh phó thác cho các môn đệ Ngài trong Mat Mt 28:19. Trong nhiều chỗ và nhiều đoạn sách khác của Tân Ước chúng ta cũng gặp những câu đề cập ba Ngôi trong Thần tánh một cách vô thức tương tự như thế. Đoạn đáng chú ý nhất là trong bài giảng của Phi-e-rơ vào ngày lễ Ngũ tuần khi ông chủ trương rằng “Đức Chúa Giê-Xu này, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó. Vậy, sau khi Ngài đã được đem lên bên hữu Đức Chúa Trời, và từ nơi Cha đã nhận lấy Đức Thánh Linh mà Cha đã hứa ban cho thì Ngài đã đổ Đức Thánh Linh ra, như các ngươi đương thấy và nghe” (Cong Cv 2:32 và tt). Bạn cũng sẽ thấy cùng một việc như thế được nêu rõ trong IPhi 1Pr 1:2 và KhKh 1:4, 5.
Vậy nếu Đức Thánh Linh là một thân vị trọn vẹn, và nhân cách mà Ngài nhận lấy chính là nhân cách của Chúa Giê-Xu, thì tiếp theo đó sẽ là hai hệ quả vô cùng quan trọng. Chúng ta không thể nói đúng khi gán cho Đức Thánh Linh bất cứ một lời truyền dạy nào mà không chiếu sáng trên Chúa Giê-Xu, hoặc một từng trải tôn giáo nào không phù hợp với đời sống của Chúa Giê-Xu. Trong giai đoạn hiện tại, khi các Cơ đốc nhân đang rất nồng nhiệt về Đức Thánh Linh, thì có cơ nguy cho chúng ta có thể sa vào cả hai cạm bẫy trên đây. Tôi xin bàn rộng thêm vấn đề này một ít.
Một định chuẩn cho giáo lý
Mấy năm trước đây, rất ít nghe ai truyền giảng về Đức Thánh Linh, thì mấy lúc gần đây, dường như thiên hạ chẳng nói gì khác hơn là đề cập đến Ngài. Có tình trạng tôn sùng Đức Thánh Linh, và thường thường nếu có ai nói gì về Chúa Giê-Xu hay Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, thì đó là một cơ hội hiếm hoi, quý báu. Thật là phù hợp khiến Tom Smail đã viết một quyển sách, nhan đề ‘Người Cha bị lãng quên (The Forgotten Father). Về sự chểnh mảng này của quá khứ, người ta có khá đầy đủ lý do để hiểu được. Nhưng không vì đó mà nó bớt đi được phần nguy hiểm chút nào. Đức Thánh Linh không hề khiến thiên hạ chú ý đến chính Ngài. Ngài đã được Đức Chúa Cha sai đến để tôn vinh Chúa Giê-Xu, để phô bày nét cao đẹp thu hút của Chúa Giê-Xu, chớ không phải để làm trung tâm cho mọi người lưu ý. Một trong những tiêu chuẩn khôn ngoan nhất chúng ta có thể áp dụng cho bất cứ lời rêu rao nào về Đức Thánh Linh, hoặc bất luận một lời truyền dạy nào về Đức Thánh Linh đang được đưa ra từ khắp nơi hiện nay, chính là điều này: Điều đó có tôn vinh Chúa Cứu thế không? Đặc điểm của Đấng yên ủi là làm chứng cho Đức Chúa Giê-Xu, là tôn vinh Đức Chúa Giê-Xu, là lấy những điều của Chúa Giê-Xu để truyền rao cho chúng ta (GiGa 15:26; 16:13 và tt). Tương phản với điều mà các trước giả Tân Ước đã nhấn mạnh, hiện nay phần lớn những điểm nhấn mạnh về Đức Thánh Linh đã hạ nhục Đức Chúa Giê-Xu, có khuynh hướng chèn ép, đẩy Ngài ra khỏi bức tranh và suy diễn rằng đầu phục Đức Chúa Giê-Xu chỉ là mức thấp nhất mà người ta đạt tới trong sinh hoạt Cơ đốc nhân, còn các đỉnh cao đều thuộc về Đức Thánh Linh. Tình trạng mất thăng bằng như vậy là điều chúng ta có thể chờ đợi, vì chúng ta đều chỉ là loài người, sự hiểu biết của chúng ta vốn rất hạn chế, và cách nhìn của chúng ta vốn thường được xác lập bởi những gì đập mạnh vào các giác quan, khiến chúng ta ngạc nhiên. Nhưng có một lời nhắc nhở bổ ích cho chúng ta ấy là ngoài Cơ đốc giáo có Ba Ngôi Đức Chúa Trời trọn vẹn thì chẳng có gì đủ để có thể đứng vững được.
Cơ nguy trong Công giáo.
Có một vài nhóm nhánh trong Cơ đốc giáo giới, nhất là Công giáo, chỉ nhấn mạnh trên Đức Chúa Trời là Cha, mà hầu như loại trừ Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Họ cần nhớ rằng Đức Chúa Cha từng phán: “Này là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng. Hãy nghe lời người” và được Giăng phản ảnh lại bằng câu khẳng định: “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết” (GiGa 1:18).
Cơ nguy trong giáo hội Tin Lành.
Nhiều nhánh khác, nhất là trong giáo hội Tin Lành, lại quá tập trung vào “Chúa Giê-Xu” trong những sự dạy dỗ và thờ phượng của họ đến nỗi hầu như biến xác thịt của Chúa Giê-Xu thành một thần tượng, thay vì nhờ trung gian của Ngài để đến với Đức Chúa Cha. Họ cần nhớ rằng ngay cả Chúa Giê-Xu cũng không trước hết lôi kéo sự chú ý của thiên hạ vào chính Ngài, nhưng dạy mọi người rằng họ có thể tìm thấy Đức Chúa Cha qua con đường mà Ngài vạch ra, qua chân lý mà Ngài mặc khải, và qua cuộc đời mà Ngài đã sống.
Cơ nguy của giáo hội Ngũ tuần.
Nhiều nhóm nhánh khác, nhất là giáo hội Ngũ tuần, thì sai lầm trong việc tập trung vào Đức Thánh Linh và có thiên kiến với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Giê-Xu. Hồi cuối thế kỷ thứ hai thuyết của Montanus là phong trào hướng về Thánh Linh rất có thế lực, nhưng lại sa vào sai lầm khủng khiếp là không còn nhìn thấy Chúa Giê-Xu là yếu tố kiểm soát trong lãnh vực thuộc linh nữa. Tôi xin trích dẫn một lần nữa, câu nói rất khôn ngoan của giáo sư Moule: “Cơ đốc giáo chân chính tự tìm cách phát ngôn nhơn danh quyền phép của Thánh Linh của Đức Chúa Trời, trình dâng Đức Chúa Giê-Xu là Con Đức Chúa Trời lên cho Đức Chúa Trời là Cha, do đó làm chứng về Chúa Giê-Xu cho thế gian. Chính sự quân bình đó đã giữ nó được xác thực và đáng tin”.
Một định chuẩn cho từng trải.
Nếu nhớ rằng Linh vốn là Linh của Chúa Giê-Xu giữ cho việc hình thành giáo lý có được tính chân chính của nó, thì cũng có thể nói y như vậy đối với sự từng trải, thật là nguy hiểm khi người ta đánh giá quá cao việc nói các tiếng lạ (mà tôi tin có thể là một ân tứ thật sự của Đức Thánh Linh) đến nỗi những người thiếu ân tứ ấy lại xem là các Cơ đốc nhân hạng nhì, nếu không nói chẳng phải là Cơ đốc nhân chi cả. Theo điều chúng ta được biết thì Chúa Giê-Xu đã không hề nói tiếng lạ. Mà Đức Thánh Linh chính là Linh của Chúa Giê-Xu. Do đó, bảo rằng nói tiếng lạ là một dấu hiệu cần thiết của đời sống trong Linh của Chúa Cứu thế, không phải là một cái nhìn thấu đáo có tính cách Cơ đốc giáo; trong khi cái nhìn xuyên suốt có tính cách Cơ đốc giáo là nhấn mạnh trên chính tình yêu thương cùng sự thánh khiết đã được bộc lộ rõ ràng chẳng ai chối cãi được trong đời sống của Đấng Nhập Thể đó phải là dấu hiệu của những người tự xưng có Thánh Linh của Ngài. Linh của Chúa Giê-Xu chỉ cho chúng ta trở lại với Chúa Giê-Xu. Nếu chúng ta muốn thấu hiểu và được đổ đầy Đức Thánh Linh, chúng ta cần nhìn chăm trước nhất là vào chính Chúa Cứu thế, vì tất cả những lời làm chứng của Đức Thánh Linh đều hướng về Ngài. Làm như vậy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ cho rằng những điều chẳng liên hệ gì đến Đức Chúa Giê-Xu lại là lời truyền dạy của Đức Thánh Linh cả. Và chúng ta sẽ không dám rêu rao một từng trải nào đó là từng trải về Đức Thánh Linh mà không chứng minh được nó đã lưu xuất từ Chúa Giê-Xu.
Mối liên hệ chặt chẽ giữa Đức Thánh Linh và Đức Chúa Giê-Xu khiến sự xác định của chúng ta trong từng trải về Đức Thánh Linh còn có một ý nghĩa sâu sắc hơn nữa. Linh của Chúa Giê-Xu là Linh đã “đánh dấu” Ngài khiến người ta nhận biết Ngài là Con Đức Chúa Trời, là Người Đầy Tớ của Đức Yahweh, và sai phái Ngài thi hành sứ mạng truyền giảng cho dân Y-sơ-ra-ên và cho cả thế gian. Nếu Linh của Chúa Giê-Xu là ân tứ được ban xuống cho những người theo Ngài, thì chúng ta cũng trông mong sẽ được có cùng những đặc điểm từng “đánh dấu” cho sinh hoạt Cơ đốc nhân đích thực trong Thánh Linh y như vậy. Và phần lớn những điều đó, chúng ta tìm thấy trong các trang sách Tân Ước.
Linh của địa vị làm con.
Trước hết hãy đưa ra vấn đề địa vị làm Con. Ở đây, có chỗ khác nhau rất rõ rệt giữa chúng ta và Chúa Giê-Xu. Ngài vốn sanh ra qua trung gian của Đức Thánh Linh, còn chúng ta thì không. Ngài là Con chính thức đúng theo quyền thừa kế; chúng ta chỉ là những người con nuôi. Tuy nhiên, chính nhờ có được Đức Thánh Linh chiếm hữu mà Chúa Giê-Xu được biệt riêng ra để làm Đấng Mê-si-a, Con Đức Chúa Trời, khiến vào lúc chịu phép báp-tem, đã có Đấng từ trời phán xuống: “Ngươi là Con ta”. Vì là Con, Chúa Giê-Xu đã gọi Đức Chúa Trời bằng tên khác. Chúa Giê-Xu gọi tên Ngài là “A-ba” (Mac Mc 14:36). Trong quyển ‘Bức thông điệp trung tâm của Tân Ước (The Central Message of The New Testament) Jeremias đã chứng minh rằng trong nền văn học tiền Mê-si-a, đã không hề có ai dám gọi Đức Chúa Trời bằng từ ngữ thân mật trong gia đình đó mà chúng ta có thể dịch là “Ba” hoặc “Cha yêu dấu”. Đây là một từ ngữ dành cho người Cha thân yêu, thiết cận trong gia đình, chớ không phải dành cho việc thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúa Giê-Xu, Đấng duy nhất đã được Đức Thánh Linh biệt riêng ra để làm Con Đức Chúa Trời, mới dám gọi Ngài bằng cái tên đó. Ngài là người duy nhất có cái quyền ấy, vì chỉ mình Ngài mới hưởng được mối liên hệ mật thiết của địa vị làm Con của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha.
Con thừa nhận.
Chính Ngài đã đặt chúng ta vào địa vị làm con ấy. Ngài giúp chúng ta để có thể cầu nguyện bằng Bài Cầu Nguyện của Chúa, mà theo Luca hình thức được biết bắt đầu thật đơn giản: “A-ba”, “Cha”. Chính Đức Thánh Linh đã thừa nhận chúng ta làm con nuôi để cùng với Chúa Cứu thế, có được địa vị làm con Đức Chúa Trời, và giúp chúng ta có thể gọi tiếng “Cha” của đám con nhỏ trong gia đình Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phaolô mừng rỡ reo lên: “Anh em đã nhận lấy Linh khiến anh em trở thành con cái khi chúng ta kêu lên: A-ba, Cha. Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời cũng là kẻ kế tự với Chúa Cứu thế, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài” (RoRm 8:15 và tt). Đây là đặc quyền và địa vị khó tin nổi của các Cơ đốc nhân. Cơ đốc nhân có Thánh Linh của Con Đức Chúa Trời, khiến người ấy trở thành con Đức Chúa Trời, được phép dùng tiếng thân mật trong gia đình để gọi Đức Chúa Trời là “A-ba”. Cho nên Jeremias đã kết luận rất đúng rằng toàn thể Phúc âm được cô đọng trong từ ngữ duy nhất này là “A-ba”.
Linh của địa vị làm đầy tớ.
Với Chúa Giê-Xu
Nhưng ngay trong từ ngữ nói lên đặc quyền và mối liên hệ cao cả nhất cũng còn ẩn tàng trong đó một khía cạnh khác nữa của đời sống được đổ đầy Đức Thánh Linh mà Chúa Cứu thế đã tuôn đổ cho những người theo Ngài. Phaolô nói: “miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài”, có lẽ nhằm nhắc nhở chúng ta về bối cảnh thương khó tại vườn Ghết-sê-ma-nê, nơi Chúa Giê-Xu đã gọi Đức Chúa Trời bằng “A-ba”. Khác với các vua Y-sơ-ra-ên từng mong mỏi được danh hiệu “Con” của Đức Yahweh, Chúa Giê-Xu đã bày tỏ lòng tin cậy tuyệt đối vào Cha Ngài ở trên trời, dù viễn cảnh chỉ nhìn thấy một màu đen như bóng đêm. Ngài vâng lời tuyệt đối Cha Ngài, cả khi việc đó dẫn Ngài đến thập tự giá; và Ngài hoàn toàn sẵn sàng chịu khổ - dù với mồ hôi rơi xuống như giọt máu lớn tại vườn đó, và sau là cả huyết lẫn mồ hôi Ngài, với cảnh địa ngục lúc Ngài bị đóng đinh vào thập tự giá. Địa vị làm con không thể nào tách rời khỏi địa vị làm đầy tớ. Con trai Đức Chúa Trời là Đấng Mê-si-a từng được Đức Thánh Linh bổ nhiệm lúc Ngài chịu phép báp-tem, cũng chính là người Đầy Tớ Thống Khổ.
Với các Cơ đốc nhân.
Về phương diện này, thì từng trải của Cơ đốc nhân chân chính cũng được đóng bằng dấu ấn của Người Đầy Tớ. Trong niềm phấn khởi của việc nhấn mạnh mới mẻ liên hệ đến Đức Thánh Linh hiện nay, nhiều khi Ngài được giới thiệu như là nẻo đường dẫn tới quyền năng trong sinh hoạt Cơ đốc nhân, là bí quyết để thành công trong sinh hoạt và đời sống phục vụ cá nhân. Trong vấn đề này vốn có chân lý, nhưng mới chỉ một nửa chân lý mà thôi. Mặt kia của đồng tiền là chân lý chịu thống khổ trong bóng đêm, là sự vâng lời tuyệt đối khi mọi khuynh hướng của con người riêng chúng ta đều muốn noi theo con đường khác, và là sự sẵn sàng chịu khổ đã từng ghi dấu nơi Chúa chúng ta. Chính lúc các sứ đồ đầu tiên phải chịu khổ lần đầu vì Chúa Cứu thế, họ đã quay sang các bạn hữu mình, cầu nguyện (không phải là xin được an toàn nhưng xin được bạo dạn) và họ nhận thấy nơi mình ở đang bị rúng động bởi Đức Thánh Linh (Cong Cv 4:29-31). Chính Đức Thánh Linh chẳng những chỉ thuyết phục Phaolô rằng “dây xích và hoạn nạn” đang chờ đợi ông nếu ông lên Giêrusalem, mà còn thúc ép ông hãy chấp nhận cái số phận ấy (Cong Cv 20:22, 23). Chính Phi-e-rơ cũng nhấn mạnh rằng Đức Thánh Linh kêu gọi chúng ta hãy bước vào sự từng trải chịu khổ mà Chúa Cứu thế đã trải qua. Ông kêu gọi các độc giả đang bị bách hại của ông hãy vui mừng khi họ vì làm Cơ đốc nhân mà phải chịu khổ, vì như thế tức là cùng san sẻ nỗi thống khổ của Chúa Cứu thế, vì “sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em” (IPhi 1Pr 4:13-16).
Những chiếc mão gai
Nhưng có lẽ khía cạnh đen tối của sự chịu khổ vì vâng lời Đức Chúa Trời mà Linh của Chúa Giê-Xu kêu gọi chúng ta bước vào, đã được Phaolô nêu thật nổi bật trong thư Côrinhtô. Kasemann đã nhận xét rất sâu sắc trong quyển ‘Chúa Giê-Xu có nghĩa là Tự do (Jesus Means Freedom), rằng Hội Thánh Côrinhtô này vốn bị mê mẩn vì nền thần học về Đức Thánh Linh, trong khi lại bị “dị ứng” với nền thần học về thập tự giá. Họ vui mừng về từng trải được Đức Thánh Linh phục hưng thật phong phú, đến nỗi cộng đồng được ban cho nói tiếng lạ, được phép lạ chữa bệnh và ơn nói tiên tri. Họ nhìn nhận là đã được đồng trị với Chúa Cứu thế: họ đã nên giàu có rồi, đã được đổ đầy quyền phép của kỷ nguyên hầu đến (ICo1Cr 4:8) Phaolô đã như trút cả tấn gạch xuống trên cái thái độ xem Đức Thánh Linh là môi giới của từng trải tôn giáo hay một sự thể hiện quyền năng siêu nhiên này chớ không phải là một lời kêu gọi và việc được trang bị cho vai trò của Người Đầy Tớ. Ông đặt địa vị tự mãn của họ tương phản với địa vị của chính ông: “Đức Chúa Trời dường như đã phơi chúng tôi là các sứ đồ ra, giống như kẻ sau rốt mọi người, giống như tù phải tội chết, làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy”. Ông tiếp tục nói về những gian khổ mà ông phải chịu đựng, như phải chịu đói khát, phải làm việc khổ nhọc, bị chống đối, sống không nhà không cửa, bị chế nhạo, và kết luận: “chúng tôi giống như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người cho đến ngày nay” (ICo1Cr 4:8-13). Ông khó có thể nói gì hơn nữa về cái chân lý sống động rằng Đức Thánh Linh đã giáng xuống trên các Cơ đốc nhân, cũng chính là Đức Thánh Linh của Chúa Giê-Xu, và rằng số phận của chúng ta cũng gồm luôn với nỗi thống khổ nhọc nhằn của Người Đầy Tớ của Đức Giê-hô-va nữa. Chính vì lý do đó mà ông quyết định chẳng thiết gì đến những điều khiến người Côrinhtô phấn khởi đó ngoại trừ “Chúa Cứu thế Giê-Xu, và Chúa Cứu thế Giê-Xu bị đóng đinh trên thập tự giá” (ICo1Cr 2:2) Vì như ông viết ở những chỗ khác, quyền phép của sự sống lại của Chúa Cứu thế chỉ dành cho những ai sẵn sàng “thông công với sự thương khó của Ngài và trở nên giống như Ngài trong sự chết Ngài” (Phi Pl 3:10) mà thôi. Kỷ nguyên của Đức Thánh Linh trong đó các Cơ đốc nhân có thể reo mừng (ICo1Cr 3:1-22) sẽ dẫn tới, không tránh né vào đâu được, việc bị từ bỏ, chịu khổ, bối rối và đau khổ phần xác mà vị sứ đồ đề cập trong chương 4, vì chính ông đã mang trong thân thể mình sự chết của Chúa Giê-Xu, để sự sống của Chúa Giê-Xu có thể chiếu sáng qua nhân cách của ông (IICo 2Cr 4:10). Tóm lại, chẳng có chiếc mão miện nào mà chẳng có gai. Không có niềm vui mừng, kinh nghiệm hoan hỉ nào về Thánh Linh của Chúa Cứu thế mà khỏi phải nếm trải nổi thống khổ tương ứng của Chúa Cứu thế.
Linh của sự làm chứng.
Con, Đầy Tớ và Chứng nhân. Đây là ba đặc điểm rõ rệt của Đức Thánh Linh trong Chúa Cứu thế, và đó cũng là điều được ghi nhận khắp nơi trong từng trải của Hội Thánh đầu tiên về Đức Thánh Linh. Chính nhờ quyền phép Đức Thánh Linh mà Chúa Giê-Xu đã thực thi công tác của Ngài, truyền giảng Tin Lành về việc Đức Chúa Trời làm vua trị vì (LuLc 4:18), cũng nhờ quyền phép của cùng một Đức Thánh Linh ấy mà các môn đệ Chúa đã bắt tay vào việc sau khi Ngài sống lại. Chúa Giê-Xu từng bảo họ đừng suy luận về việc bao giờ nước trời sẽ được đưa đến chỗ đầy đủ trọn vẹn, mà ngay sau khi nhận lãnh Đức Thánh Linh, họ phải làm chứng cho Ngài tại Giêrusalem, xứ Giuđê, xứ Samari và khắp thế gian (Cong Cv 1:8). Đó chính là điều họ đã làm và chúng ta sẽ khảo xét cặn kẽ hơn sau này. Ở đây, thiết tưởng chỉ cần lưu ý mối liên hệ giữa Đức Thánh Linh với quyền phép để làm chứng đạo mà chúng ta có thể nhìn thấy được qua cuộc đời của Chúa Giê-Xu lẫn sinh hoạt của Hội Thánh sau ngày Ngài thăng thiên.
Kết luận
Sau khi rút ra và so cho bằng ba mối chỉ trên đây, thiết tưởng cần phải nói - như chúng ta đã thấy rõ - rằng nếu Đức Thánh Linh là Thánh Linh của Chúa Giê-Xu, thì chúng ta cũng mong đợi được nhìn thấy những dấu hiệu tương tự xảy ra trong Hội Thánh thuộc thời đại chúng ta và trong mọi thời đại, như Đức Thánh Linh đã từng bày tỏ trong cuộc đời của Chúa chúng ta. Chúng ta mong đợi Đức Thánh Linh sẽ bảo đảm cho mình rằng, thật sự chúng ta cũng là con Đức ChúaTrời, và ngược lại, chúng ta sẽ thận trọng để không phủ nhận bất luận một Cơ đốc nhân nào, một người con nào của Cha Thiên thượng, là không có Linh của sự làm con nuôi hay không được Đức Thánh Linh thừa nhận. Thứ hai, chúng ta sẽ hết sức hoài nghi bất kỳ một lời tuyên xưng nào rằng đó là phước hạnh thuộc linh, nhưng lại không khiến cho người tuyên xưng điều đó sẵn sàng chịu bước theo nẻo đường của Người Đầy Tớ, để vui vẻ chịu đựng gian khổ. Và thứ ba, chúng ta sẽ chẳng quan tâm chú ý gì tới kẻ nào rêu rao rằng Đức Thánh Linh đang hiện diện ở một nơi mà người ta lại không sẵn sàng ra đi làm chứng cho Chúa Giê-Xu bằng quyền năng và niềm vui của cùng một Đức Thánh Linh ấy. Trên hết mọi điều đó, chúng ta sẽ nhận thức được rằng mối liên hệ vững chắc giữa Đức Thánh Linh và Đức Chúa Giê-Xu dẫn chúng ta đến chỗ biết suy nghĩ về Ngài bằng ngôn ngữ của một thân vị (a person), là một Đấng đã khiến Chúa Giê-Xu trở thành thực hữu đối với chúng ta và dùng đời sống chúng ta là chất đất sét để biến nó thành kho báu vô giá mang đặc tính của Chúa Cứu thế.


ĐỨC THÁNH LINH TRONG CÔNG TÁC TRUYỀN GIÁO
Tại sao Đức Chúa Trời lại sai Đức Thánh Linh đến với chúng ta? Thật là một câu hỏi lý thú, và có thể có rất nhiều câu trả lời. Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng trên từng cá nhân Cơ đốc nhân để tạo ra trong họ một đời sống có phẩm chất, mà nếu không có Ngài, đó là điều vượt quá khả năng của họ. Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng trên một cộng đồng Cơ đốc nhân là nhằm kết hợp họ trong một mối thông công mà không một tập thể nào khác có thể sánh kịp. Chúng ta sẽ xét đến hai chức năng quan trọng đó của Đức Thánh Linh trong chương tiếp theo đây. Nhưng sau khi khảo xét thật vô tư những gì Tân Ước ghi chép lại, thì chúng ta nhận biết rõ ràng chủ đích đầu tiên để Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng trên các môn đệ Chúa là nhằm trang bị họ cho công tác truyền giáo. Đấng Yên ủi đến không phải là để cho người ta được sống thoải mái, dễ chịu, nhưng là để khiến họ trở thành các nhà truyền giáo.
Điều này vốn rất trái ngược với các quyết đoán chung của chúng ta (tức là cho rằng Đức Thánh Linh - dù chúng ta có quan niệm hết sức mơ hồ về Ngài như một ân tứ nội tâm cho người trung tín - chỉ thích hợp để được nói đến bên trong Hội Thánh mà thôi) vì điều tối quan trọng là chúng ta phải thấy được mối liên hệ chính yếu giữa Đức Thánh Linh với công tác truyền giáo đã được trình bày cho chúng ta trong các trang Tân Ước. Các trước giả sách Tin Lành đã nói lên quan điểm của mình theo cách riêng của từng vị.
Thời đại của Đức Thánh Linh và công tác truyền giáo
Viễn ảnh của Mác.
Như chúng ta đã thấy, đoạn sách duy nhất mà Mác đề cập Đức Thánh Linh đối với các Cơ đốc nhân, đã được đặt trong Bài Giảng Thuyết Khải huyền ở chương 13, là chỗ Chúa Giê-Xu dự kiến về cơn đại nạn mà các môn đệ Ngài phải đương đầu trong những năm sau đó dẫn tới việc thành Giêrusalem thất thủ và đặt nó chen vào chủ đề này, cho đến ngày tận thế. Họ sẽ phải trải qua những thời kỳ khó khăn gian khổ, bị chống đối, bách hại, đói kém, chiến tranh và hoạn nạn. Nhưng nổi bật trên bối cảnh đen tối đó (rất đúng với các từng trải của các Cơ đốc nhân tại Rôma, họ đã bị đàn áp dữ dội trong thập kỷ 60 và Mác đã viết Tin Lành của ông cho họ) là hai tia sáng rõ ràng và có liên hệ chặt chẽ. Thời đại sắp tới là thời đại để Tin Lành phải được truyền giảng cho tất cả các dân các nước; đồng thời nó cũng được đánh dấu bằng sự hiện đến của Đức Thánh Linh, giúp các Cơ đốc nhân có thể trung tín làm chứng cho Chúa Giê-Xu, mặc dầu họ đã phải trả giá thật đắt cho các kết quả của nó (Mac Mc 13:9-13). Quả thật đó là đoạn sách duy nhất đề cập việc ấy. Mác đã viết lại câu chuyện về Chúa Giê-Xu, chớ không phải là về Hội Thánh. Nhưng chỉ một phần đề cập như vậy đã có nội dung cho nhiều bộ sách dày. Thời đại của Hội Thánh mà Chúa Giê-Xu đang hướng về vốn được đánh dấu bằng công cuộc truyền giáo và Đức Thánh Linh. Ngài là quyền năng cho sứ mạng truyền giáo.
Viễn ảnh của Mathiơ.
Phương pháp của Mathiơ cũng nhằm nói lên cùng một quan điểm như vậy: Như chúng ta thấy, ông rất quan tâm tới ân tứ của Đức Thánh Linh đã được ban cho Đức Chúa Giê-Xu, nhưng chỉ có một lần trong chức vụ của mình, Ngài đã đề cập đến các môn đệ Chúa có Đức Thánh Linh. Trong Mat Mt 10:1 và tiếp theo, ông long trọng nêu tên mười hai sứ đồ và cho biết Chúa Giê-Xu đã phái họ ra đi truyền giáo như thế nào. Rồi ông lại nêu lên hai điều rất ý nghĩa. Thứ nhất, đây là lần đầu tiên trong sách Tin Lành của mình, ông đã gọi họ là các sứ đồ. Thứ hai, ông nói rằng Chúa Giê-Xu đã ban cho họ quyền phép để trừ tà ma, và khi lâm vào tình trạng bức bách, Đức Thánh Linh của Cha họ sẽ lên tiếng nói ngay trong lòng họ (11:20). Cho dù đối với mười hai sứ đồ ra đi trong vòng truyền giáo ngắn ngủi đó, nó có ý nghĩa gì đi nữa (và Đức Thánh Linh chắc đã tạm thời giáng trên họ thật đúng lúc như cách Ngài vẫn làm trong Cựu Ước để trang bị họ cho một chủ đích đặc biệt) thật là khó lầm lẫn được rằng cái bóng của biến cố này vẫn ngả trên thời kỳ của Hội thánh, khi những người được Chúa Giê-Xu sai phái (“kẻ được sai phái” là nghĩa gốc của từ ngữ “sứ đồ") sẽ được Ngài trang bị cho bằng Đức Thánh Linh để họ thực hiện chính sứ mạng truyền giáo của Ngài trong thế gian này. Dường như để nhấn mạnh điểm này, Mathiơ kết thúc sách Tin Lành của ông bằng nhiệm vụ mà Chúa Giê-Xu ủy thác cho các môn đệ Ngài: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, khiến họ trở nên môn đồ ta”. Công tác này phải được thực hiện như thế nào? Nó vốn nằm trong phạm vi quyền phép của Chúa Giê-Xu, Đấng mà mọi uy quyền cả trên trời lẫn dưới đất đều đã được giao phó cho. Chúa Giê-Xu này vẫn luôn luôn ở với họ trong khi họ thi hành sứ mạng truyền giáo cho đến ngày tận thế; cho nên, lẽ tự nhiên họ làm phép báp-tem cho người ta, chẳng những để số người đó chỉ có được Đức Thánh Linh “nhơn danh” Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, mà còn được bước vào lãnh vực của Đức Thánh Linh, Đấng khiến cho Chúa Cứu thế phục sinh trở thành thực hữu đối với họ, ban cho họ quyền phép trong công tác khiến mọi người được biết Ngài (28:18-20).
Khải tượng của Giăng.
Nếu quay sang Giăng, thì chúng ta cũng gặp cùng một bức tranh như thế tuy được tô bằng nhiều màu sắc khác. Sau khi Chúa Giê-Xu được cất khỏi các môn đệ Ngài, thì Đức Thánh Linh sẽ đến trên họ. Ngài sẽ làm chứng nghịch lại thế gian như Chúa Giê-Xu từng làm, và Ngài sẽ cáo trách người ta về tội lỗi (GiGa 16:8). Nhưng Ngài sẽ không tự tung tự tác: “Ngài sẽ làm chứng về ta...các ngươi cũng sẽ làm chứng về ta” (15:27). Vậy, khi Chúa Giê-Xu hà hơi (thở Đức Thánh Linh) trên các môn đệ Ngài sau khi Ngài sống lại, ấy là để cho họ bước vào nhiệm vụ mà chính Ngài đã nhận lãnh từ Đức Chúa Cha, là rao truyền sự tha tội cho những ai chịu tin và sự đoán phạt cho những kẻ không chịu ăn năn thống hối (20:20-23). Giăng đã nói rất lớn tiếng, rất rõ ràng rằng sở dĩ Đức Thánh Linh giáng trên Hội Thánh, là để trang bị Hội Thánh cho công cuộc truyền bá Phúc âm.
Điểm nhấn mạnh của Phaolô.
Nếu quay sang Phaolô, chúng ta thấy ông trình bày đặc biệt công tác truyền giáo của mình nhân danh Chúa Cứu thế giữa vòng các dân ngoại như là một việc dâng tế lễ của thầy tế lễ đã được Đức Thánh Linh khiến nên thánh (RoRm 15:16). Đây là một việc làm bất thường và gây kinh ngạc cho óc tưởng tượng, nhưng cũng có cùng một mối liên hệ giữa Đức Thánh Linh với công cuộc truyền bá Phúc âm theo lịnh truyền của Chúa Cứu thế . Nếu quay sang IPhi 1Pr 1:11, 12, chúng ta nhận thấy rằng chính Đức Thánh Linh, trước kia từng vận hành trong các nhà tiên tri đã hướng về Chúa Cứu thế chịu thương khó, bởi sự giục giã và trong Thánh Linh Ngài cũng đã khiến các nhà truyền giáo Phúc âm đưa các độc giả thư tín của ông đến đức tin.
Nẻo đường của Luca.
Nhưng người vẽ ra cho chúng ta một bức tranh rõ ràng nhất về mối liên hệ chặt chẽ giữa Đức Thánh Linh và công cuộc truyền bá Phúc âm là Luca trong hai tác phẩm của ông. Trong quyển đầu, ông chứng minh thế nào Chúa Giê-Xu chính là người “mang” Đức Thánh Linh: Ngài đã được thai dựng và ra đời trong một bầu không khí nơi Đức Thánh Linh được đổ ra cách tươi mới vào những ngày cứu rỗi của Đấng Mê-si-a. Ngài được làm báp-tem bằng Đức Thánh Linh, mà như Phi-e-rơ viết sau này, là: “Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Giê-Xu ở Naxarét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép” (Cong Cv 10:38). Từ ngữ “xức dầu” (echrisen) vốn cùng một gốc với từ ngữ Mê-si-a (Hi văn: christos). Do việc Đức Thánh Linh đậu trên Ngài mà Chúa Giê-Xu được gọi là Đấng Mê-si-a hay “Đấng được xức dầu” (Christed) nên Ngài đã tuyên bố rằng lời tiên tri của EsIs 61:1 đã được ứng nghiệm: “Ngài đã xức dầu (echrisen) cho ta, đặng giảng Tin Lành” (LuLc 4:18). Đức Thánh Linh được định trước cho những ngày của Đấng Mê-si-a, những ngày cứu rỗi, đã đến để ở lại trong Chúa Giê-Xu. Chính vì lý do ấy mà khi ký thuật về cuộc đời của Chúa Giê-Xu, Luca đã nhiều lần nhấn mạnh rằng việc làm và lời nói của Ngài đều là sự linh cảm của Đức Thánh Linh (4:1, 14; 10:21; 23:46 v.v...). Cũng vậy, khi dẫn lần đến ngày lễ Ngũ tuần, Luca đã rất chịu khó trình bày rõ rằng Đức Thánh Linh là Đấng đã trang bị cho Đức Chúa Giê-Xu trong công tác truyền giáo, cũng trang bị cho các môn đệ Ngài để tiếp nối công tác đó.
Bắt đầu tại Giêrusalem
Kết thúc của khởi điểm
Trước hết, cần lưu ý cách thức Luca nối kết sự thăng thiên của Chúa Giê-Xu với Đức Thánh Linh và công cuộc truyền giáo. Trong sách Tin Lành, chúng ta đã được bảo cho biết là Chúa Giê-Xu sẽ đem đến một lần Xuất Ai cập mới (LuLc 9:31 =qua đời) bằng sự chết và sống lại của Ngài tại Giêrusalem: một sự giải thoát khỏi một ách nô lệ còn tệ hại hơn, và khỏi một cái chết còn khủng khiếp hơn điều đã giáng trên dân Y-sơ-ra-ên tại Ai cập nữa. Ba lần Luca nói cho chúng ta biết mục tiêu mà Chúa Giê-Xu nhắm đến là Giêrusalem (9:51; 13:22; 17:11). Thánh Linh của Người Đầy Tớ Thống Khổ đã dẫn Chúa Giê-Xu đến Giêrusalem. Cho nên, đến cuối sách Tin Lành Luca, chúng ta thấy những lần Chúa Giê-Xu hiện ra sau khi sống lại đều dành cho thành phố đó, nơi mà các biến cố đột ngột đổi thay đã diễn ra. Chắc bạn đã để ý là chẳng có câu nào về Thánh Linh cả: chỉ có lối nói hình bóng về vai trò các môn đệ của Chúa là làm chứng cho Đấng Mê-si-a đã chịu khổ và từ kẻ chết sống lại, để sự ăn năn và tha tội có thể được truyền giảng cho các dân các nước, bắt đầu tại Giêrusalem (24:46 và tt). Và tới đó, bức màn được hạ xuống trên sách Tin Lành Luca. Quyển sách đề cập sự cứu rỗi đã đến với dân Y-sơ-ra-ên được kết thúc với sự chết và sống lại của Chúa Giê-Xu. Sự thăng thiên của Ngài để về ngự bên hữu quyền năng của Đức Chúa Trời, là một kết luận thích hợp.
Khởi điểm của đoạn kết.
Nhưng ngay đầu sách Công vụ, chúng ta thấy câu chuyện về sự thăng thiên được kể lại từ một quan điểm khác hẳn. Lần này, sự thăng thiên không khiến bức màn bị kéo xuống trên đời sống của Chúa Giê-Xu, mà trái lại, bức màn được vén lên trên sinh hoạt của Hội Thánh. Việc Chúa Giê-Xu được tôn cao bên hữu Đức Chúa Cha không những chỉ là minh chứng của Đức Chúa Trời về thân vị và công lao của Ngài mà còn là điều kiện tiên quyết để Thánh Linh Ngài giáng trên các chứng nhân sẽ tiếp tục thi hành sứ mạng truyền giáo của Ngài (Cong Cv 2:32 và tt). Trong sách Tin Lành Luca cho chúng ta biết những gì Chúa Giê-Xu đã bắt đầu làm và dạy, cho đến khi Ngài thăng thiên để ngự bên hữu Đức Chúa Trời. Quyển sách sau nói cho chúng ta về những gì Chúa Giê-Xu tiếp tục làm và dạy qua trung gian Hội Thánh thời kỳ các sứ đồ sau khi Ngài thăng thiên, do ân tứ của Đức Thánh Linh mà Ngài đã đổ xuống trên Hội Thánh ấy. Chắc chắn đó là hàm ý của 1:1 và tiếp theo, với phần nghiên cứu quay lui về phần mở đầu sách Tin Lành của Luca. Cũng như Đức Thánh Linh đã được đổ xuống rất dồi dào khi Đấng Mê-si-a giáng lâm - có lời nói tiên tri, Đấng thiên thượng được sanh ra làm người, có tiếng phán từ trời xuống, phép báp-tem và vân vân, thì tương tự như vậy, lúc bắt đầu kỷ nguyên làm chứng của Hội Thánh cho Chúa Giê-Xu, chúng ta cũng thấy có sự hiển lộ mãnh liệt của Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh đã trang bị cho chức vụ của Chúa Giê-Xu thế nào, thì Ngài cũng làm y như vậy cho dân sự của Chúa Giê-Xu.
Luca vạch rõ một phần quan điểm của ông qua sự hiểu lầm của các môn đệ Chúa. Họ vẫn còn suy nghĩ về nước trời theo các ngôn ngữ vật chất. Chừng nào thì Chúa Giê-Xu làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài và thực hiện nó? Họ đã học bài học rằng ngày chiến thắng cuối cùng của Đức Chúa Trời có thể còn trì hoãn rất lâu, và họ không thể nói được là ngày tháng năm nào (một điểm mà rõ ràng nhiều thế hệ liên tiếp những kẻ hăng hái muốn dự đoán nó vẫn còn mù mịt). Tuy nhiên đích thân nhà vua đã thăng thiên, chẳng bao lâu, Ngài gởi đến cho họ phần của cầm đầu tiên để thiết lập nước trời. Từ nay cho đến ngày cuối cùng, khi Ngài đưa nước trời vào, có hai đặc điểm sẽ đánh dấu thời đại của Hội Thánh: Đức Thánh Linh, và việc làm chứng cho Chúa Giê-Xu. Đức Thánh Linh, Đấng từng linh cảm Chúa Giê-Xu để dạy dỗ, chữa bệnh và truyền giảng Tin Lành về Đức Chúa Trời sẽ làm vua trị vì loài người, sẽ giáng trên họ, họ được đánh dấu bằng tất cả các đặc tính của Chúa Giê-Xu. Sứ mạng truyền giáo mà Chúa Giê-Xu từng dấn thân sẽ được chuyển sang vai họ. “Khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lãnh quyền phép và làm chứng nhân cho ta” (Cong Cv 1:8). Cũng y như trong sách Mác, chúng ta thấy Đức Thánh Linh và sứ mạng truyền giáo là dấu hiệu rõ ràng của Hội Thánh, làm Đấng trung gian cho công cuộc truyền giảng Phúc âm, là phương cách mà nước trời hiện diện giữa nhân loại cho đến ngày nhà vua trở lại.
Loan truyền ra từ Giêrusalem
Và như Tin Lành đã tập trung tại Giêrusalem là địa điểm mà Đức Chúa Trời dùng để đưa loài người thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, thì cũng vậy, sách Công vụ cho thấy công tác truyền giáo đã từ trung tâm ấy tràn lan ra khắp nơi, cứ ngày càng rộng hơn. Như Chúa Giê-Xu đã từng vạch rõ trong LuLc 24:47, nó phải hoàn toàn được bắt đầu tại Giêrusalem, do đó Giêrusalem đã được nhấn mạnh là nơi mà ân tứ của ngày lễ Ngũ tuần đã đến. Đừng bao giờ để mất liên lạc với Giêrusalem; vì thế những vòng lưu hành truyền giáo của Phaolô đều phải quay về với thành phố trung tâm này (thí dụ Cong Cv 18:22; 19:21) và nhiều lãnh tụ của Hội Thánh tại Giêrusalem đã đi thăm viếng để giám sát nhiều khu vực mà Cơ đốc giáo đã lan tràn đến (thí dụ 8:14; 4:22). Nhưng phải bắt đầu ra đi từ Giêrusalem. Sách Công vụ các sứ đồ là câu chuyện về sự ra đi đó.
Những sáng kiến mới.
Trước hết tại Giêrusalem, đã có ba ngàn người ăn năn quy đạo ngay trong ngày lễ Ngũ tuần; thật là khó có cách nào khác để nhấn mạnh hơn nữa mối liên hệ giữa Đức Thánh Linh với công tác truyền giáo hơn là vạch rõ ràng công cuộc truyền giáo đầy kết quả ấy chính là hệ quả của việc được nhận lãnh Đức Thánh Linh vào cái ngày đáng ghi nhớ đó! Rồi Tin Lành lan tràn ra theo mẫu mực đã được phác họa trong 1:8. Về tất cả mọi mặt, chính Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời đề ra sáng kiến, đã đi bước trước.
Chính Đức Thánh Linh đã linh cảm cho Phi-e-rơ để ông chống lại các nhà cầm quyền Y-sơ-ra-ên (4:8 và tt) và rao truyền cho họ về Chúa Giê-Xu là Đấng Mê-si-a. Đức Thánh Linh đã khiến Êtiên nổi bật hẳn lên với tư cách một công cụ vận chuyển đặc biệt của Đức Chúa Trời, khi ông không chịu cứ ở yên một chỗ để bị giới hạn trong khu vực đền thờ, nhưng đã chuyển sang những đồng cỏ rộng lớn (6:3, 5, 10; 7:55).
Chính Đức Thánh Linh đã đóng dấu ấn phước hạnh của Ngài trong việc truyền giảng Tin Lành cho những kẻ mà người ta lấy làm ghê tởm không thèm đụng chạm tới (theo quan điểm truyền thống của dân Do thái) là dân Samari ở nửa phần đầu chương 8 sách Công vụ, và cho viên hoạn quan ở nửa phần sau của chương ấy. Vì chính Đức Thánh Linh đã gọi Philíp từ Samari nơi ông đang truyền giảng rất thành công, để đuổi theo viên hoạn quan người Êthiôbi hầu đem Tin Lành đến cho ông ta (8:29 và có lẽ câu 26 nữa), rồi đưa ông đi một vòng truyền giáo xa hơn nữa, đến tận thành phố Sêsarê đã được Hy lạp hóa.
Chính tại Sêsarê này, Phi-e-rơ đã học được bài học nhớ đời, là đừng bao giờ gọi người nào là “ô uế” cả - mà vốn là người Do thái, bản năng ông đã làm như vậy đối với tất cả người ngoại bang. Nhằm nhấn mạnh quan điểm rằng Thánh Linh của Đấng Mê-si-a là Đức Thánh Linh của thời đại cứu rỗi vốn thật sự được sẵn ban cho tất cả những ai tin, trước hết, Đức Thánh Linh đã linh cảm Phi-e-rơ bằng một khải tượng về các loài thú vật không sạch trong một mảnh khăn lớn và bảo ông hãy ăn thịt chúng, rồi ứng dụng khải tượng đó cho viên sĩ quan người La mã mà lúc ấy, thuộc hạ của ông ta đang chờ ở ngoài sân nhà, yêu cầu Phi-e-rơ hãy theo họ đến nhà Cọt-nây, để ông này tin nhận Tin Lành của Chúa Giê-Xu. Dầu vậy, do thành kiến Do thái giáo của Phi-e-rơ, Đức Thánh Linh đã phải đi bước trước bằng cách giáng xuống trên Cọt-nây và những người theo ông ta ngay trước khi Phi-e-rơ dứt lời để kêu gọi mọi người hãy ăn năn, tin Chúa và chịu phép báp-tem (10:44 và tt).
Đức Thánh Linh đã chứng minh rằng Ngài chuẩn nhận và xem là có giá trị mọi công cuộc truyền giảng Cơ đốc giáo cho dân Do thái, cho những người ngoại bang đã nhập giáo Do thái, “những người kính sợ Đức Chúa Trời” (như tên người ta vẫn gọi những người ngoại bang tham gia hội họp trong nhà hội người Do thái) và ngay cả đến những “người ngoại”, như các hoạn quan và người Samari nữa. Nhưng vẫn còn nhiều người khác phải đến với Ngài nữa.
Công cuộc truyền giáo cho các dân ngoại.
Công cuộc truyền giáo cho các dân ngoại dưới quyền lãnh đạo của Phaolô đã chiếm trọn phần thứ hai của sách Công vụ các sứ đồ. Chính Đức Thánh Linh hướng dẫn Hội Thánh tại Antiốt phái Phaolô và Banaba ra đi vòng lưu hành truyền giáo đầu tiên (13:2, 4) khiến hai vị có thể trở về và tường trình rằng “Chúa đã mở cửa đức tin cho người ngoại” (14:27). Đây là viên đá chính, ngự trị trên điểm cao nhất của vòm cửa ngày càng được mở rộng thêm cho sứ mạng truyền giáo trong sách Công vụ. Đức Thánh Linh đã phá tan mọi ngăn trở do con người dựng lên và đã thâu nhận đủ loại người, thuộc đủ thứ bối cảnh, vào cộng đồng của Đấng Mê-si-a. Giáo sư Edward Schweizes đã viết trong quyển ‘Trật tự Hội Thánh trong Tân Ước ’ (Church Order in the New Testament) trang 75: “Tính cách vĩ đại của quan điểm Luca là ở chỗ ông chứng minh được rõ ràng hơn bất kỳ ai khác rằng Hội Thánh có thể chỉ sống bằng việc truyền giảng Tin Lành mà thôi, và noi theo bất cứ những nẻo đường mới nào mà Đức Thánh Linh chỉ cho.” Các nẻo đường ấy cứ ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động cho chính nghĩa của Chúa Cứu thế . Trong sách Tin Lành, Luca từng nói với chúng ta ba lần rằng Chúa Giê-Xu tập trung cái nhìn của Ngài vào Giêrusalem, và chính là tại Giêrusalem, các môn đệ Ngài phải chờ đợi Đức Thánh Linh để Ngài sẽ trang bị cho họ sứ mạng truyền giáo, kết thúc quyển sách thứ hai của mình bằng cách nhắc lại ba lần rằng Tin Lành vốn bắt đầu từ Giêrusalem (LuLc 24:47) đã đến được Rôma (Cong Cv 19:21; 23:11; 27:24). Cánh bướm Tin Lành đã lột xác tại Giêrusalem và đã bay đến tận trung tâm của thế giới văn minh. Đức Thánh Linh từng ngự trong lòng Đấng Mê-si-a của dân Y-sơ-ra-ên bây giờ cũng được ban cho công dân La mã nữa. Đạo của người Y-sơ-ra-ên cũng là Tin Lành cho cả thế gian.
Sự quân bình trọn vẹn
Một trong những dấu chỉ rõ ràng sự quân bình của Luca rằng ông sắp xếp mọi sự khi nhấn mạnh việc Đức Thánh Linh luôn luôn đi bước trước để mở rộng phạm vi truyền bá Tin Lành, là nhắc nhở rằng công cuộc truyền giáo chỉ có một mà thôi. Phaolô đã nhận sứ mạng đi đến với các dân ngoại trong một lần bị ngất trí trong đền thờ tại Giêrusalem (Cong Cv 22:17 và tt). Vị sứ đồ đã kết thúc sách Công vụ bằng việc truyền giảng tự do không bị ai cản trở trong kinh đô của thế giới ngoại đạo cũng được họ thấy chính là người từng tranh luận suốt ngày với các lãnh tụ dân Do thái tại Giêrusalem “giảng về nước Đức Chúa Trời” và “thuyết phục họ về Chúa Cứu thế Giê-Xu” bằng cách viện dẫn luật pháp và lời tiên tri (Cong Cv 28:16-31). Qua việc truyền giảng Tin Lành về những gì Đấng Mê-si-a đã làm, Đức Thánh Linh được sẵn sàng ban cho, trước là người Do thái, sau là người Hy lạp. Sử gia đã ghi về Đức Thánh Linh là Đấng đi bước trước trong công tác truyền giáo khắp thế giới, đã không thiên vị người Do thái hay người ngoại bang, tuy ông đã ứng dụng khúc sách nổi tiếng về “sự mù quáng” trong Ê-sai chương 6 cho các cấp lãnh đạo người Do thái vì họ khước từ không chịu nhận Đấng Mê-si-a, và câu khẳng định của ông: “Hãy biết sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời này đã sai đến cho người ngoại. Những người đó sẽ nghe theo” (28:25-28) gợi ý về chiều hướng sẽ diễn tiến một phần lớn sứ mạng truyền giáo của Cơ đốc nhân.
Đức Thánh Linh bắt đầu sứ mạng truyền giáo.
Đức Thánh Linh đi bước trước.
Như vậy, tất cả những lời nhấn mạnh rằng Đức Thánh Linh là tác giả, là người kiểm soát và khích động sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh, đều rất có ý nghĩa. Nó nhắc nhở chúng ta rằng vào những ngày đầu tiên, sứ mạng truyền giáo vốn không nảy sinh từ cấp lãnh đạo Hội Thánh. Đây không phải là vấn đề đã được Phi-e-rơ, và sau đó Phaolô nói rằng: “Chúng ta thử truyền giảng Tin Lành chút ít xem sao?”. Luca không hề dạy chúng ta rằng các sứ đồ đã đi bước trước, đã mở màn cho công cuộc truyền giáo. Họ đã ngồi yên tại Giêrusalem, cho đến khi Đức Thánh Linh giáng trên họ vào ngày lễ Ngũ tuần; và sau đó, họ đã không thể ngồi yên được nữa trước các công việc quyền năng của Đức Chúa Trời. Không phải mười hai vị sứ đồ đã làm ứng nghiệm lịnh truyền của Chúa họ, là hãy đi ra, giảng Tin Lành cho tất cả các dân các nước. Đúng hơn thì đó là một người nguyên thuộc phe Pharisi từng chống đối Tin Lành, được ăn năn qui đạo do trung gian trực tiếp của Đức Chúa Trời, đã đẩy mạnh công cuộc truyền giáo dưới quyền lãnh đạo của Đức Thánh Linh. Đây không phải là các sứ đồ tại Giêrusalem, vì họ chẳng bao giờ mơ tưởng tới việc đem Tin Lành cho một hoạn quan hay cho người Samari, mà chính là Đức Thánh Linh đã mở ra con đường ấy. Không phải các cấp lãnh đạo tại Giêrusalem đã đồng ý với việc gieo rắc Lời Chúa thật rộng rãi lần đầu tiên. Việc ấy đã xảy ra nhân dịp họ chạy trốn khỏi Giêrusalem khi có cơn bắt bớ tiếp sau cái chết của Êtiên. Hậu quả của việc bị tan lạc vì cơn bắt bớ đó là họ có thể truyền giảng Tin Lành dọc theo duyên hải xứ Phê-ni-xi, cho đến khi họ đến được Antiốt, sau này trở thành trung tâm truyền giáo cho các dân ngoại. Và như thế là cứ tuần tự nhi tiến. Những bước đi đầu trong công cuộc truyền bá Phúc âm bao giờ cũng do Đức Thánh Linh. Đến nỗi việc giáng trên Cọt-nây đã được xem là tối quan trọng, và đã được ghi lại trong sách Công vụ đến ba lần để chẳng ai còn mù mờ về bức thông điệp của nó. Đức Thánh Linh không chỉ dành riêng cho một số rất khả kính người Do thái, cũng không dành riêng cho cấp lãnh đạo có đặc quyền của Hội Thánh. Ngài là Đấng cầm quyền tể trị và là lãnh tụ của toàn thể phạm vi mà Cơ đốc giáo đạt tới cũng như được quyền năng của Cơ đốc giáo khích động. Hội Thánh chỉ thành công khi chịu dẹp tan mọi bùa chú, mọi chia rẽ kỳ thị xưa cũ để noi theo Đức Thánh Linh, là Đấng đã có thể giáng xuống cả trên người Samari, người ngoại bang cũng như người Do thái. Cho nên, Hội Thánh không phải là người nắm độc quyền chiếm hữu và phân phát Đức Thánh Linh, như Kasemann đã vô cùng kinh ngạc khi đọc các tài liệu đề cập Giáo hội Công giáo nguyên thuỷ trong sách Công vụ (xem Essays on New Testament Themes, pp. 89) nhưng chính Đức Thánh Linh là Đấng đã thúc đẩy công tác truyền bá Phúc âm của Hội Thánh, và giục lòng nhiều người, thường là những thuộc viên không mấy sẵn lòng, để họ bắt tay vào công tác mà vì đó, Đức Chúa Trời đã đặt tay trên họ, đó là công tác truyền giáo.
Quyền tể trị của Đức Thánh Linh.
Quyền tể trị của Đức Thánh Linh này là đều đáng cho chúng ta suy nghĩ không thôi. Dường như Đức Chúa Trời muốn “hạ nhục” chúng ta khi nhận thấy là không tìm được trong sách Công vụ một giáo lý ổn định, có ngăn nắp về Đức Thánh Linh; hay về vấn đề này, thì cả trong toàn bộ Tân Ước nữa. Ngài bao giờ cũng vẫn còn là “sự khác đi” không tiên đoán được, rất bí hiểm của ruach adonai. Hoàn toàn không có trung gian nào báo trước việc Ngài giáng lâm vào ngày lễ Ngũ tuần, và về điều đã được gọi là “lễ Ngũ tuần của các dân ngoại” đối với Cọt-nây và đám thủ hạ của ông. Đức Thánh Linh luôn luôn hành động theo nhiều cách khác nhau, Ngài hướng dẫn bằng một kỳ đại hội như giáo hội nghị tại Giêrusalem (Cong Cv 15:28), qua trung gian một nhà tiên tri trong 11:28, qua một cơn ngất trí 10:19. Trong 13:2, Ngài bày tỏ ý chỉ Ngài cho cộng đồng đang hội họp để thờ phượng. Lắm khi Ngài khiến người ta cảm thấy sự hiện diện Ngài qua một sức thúc ép nội tâm bí mật, như khi Ngài hướng dẫn Phaolô chuyển hướng công tác truyền giảng Tin Lành khỏi tỉnh A-si trong 16:6, 7 và hướng vào những gian khổ, chống đối mà ông biết là mình sẽ phải đương đầu nếu cứ đi lên Giêrusalem chuyến cuối cùng (Cong Cv 20:22, 23). Người ta không thể nào trói buộc được Đức Thánh Linh, hay lồng các chuyển động của Ngài trong sách Công vụ vào một khuôn mẫu ổn định nào có tính cách giáo phẩm hay giáo lý được. Ngài vẫn còn là Đức Thánh Linh cầm quyền tể trị nhưng luôn luôn là một Đức Thánh Linh sẵn sàng cúi xuống để hướng dẫn những người thuộc về Chúa Giê-Xu đi vào sứ mạng truyền giáo.
Đức Thánh Linh phổ cập hóa công tác truyền giáo.
Chúng ta đã được thấy vài điểm nhấn mạnh về điều này trong phần ký thuật của Luca về ngày lễ Ngũ tuần. Nhưng trong câu chuyện ấy, còn có nhiều sắc thái tế nhị hơn nữa. Rõ ràng Luca đã giải thích lễ Ngũ tuần làm ứng nghiệm lời tiên tri của Giăng Báptít mà ông dẫn chứng trong 1:5. Giăng Báptít vốn đang trông mong phép báp-tem mãnh liệt của Đức Thánh Linh. Do đó, điểm mà Luca nhấn mạnh là những cái lưỡi bằng lửa có hình thể vật chất xuất hiện trên các môn đồ Chúa, và ngọn gió ào ạt trang bị họ cho sứ mạng truyền giáo của họ, vốn giống hệt việc Đức Thánh Linh giáng xuống trên Chúa Giê-Xu mặc lấy hình chim bồ câu” (LuLc 3:22) để trang bị Ngài cho chức vụ của Ngài (3:22). Sau khi đã chịu phép báp-tem trong quyền năng mạnh mẽ của Đức Thánh Linh vốn đã ở trong Chúa Giê-Xu, các môn đệ Chúa đã giải thích ngay rằng điều đó ứng nghiệm lời tiên tri của Giô-ên về việc Đức Thánh Linh sẽ được ban xuống trong những ngày sau rốt rồi truyền giảng Tin Lành cho đám quần chúng đại diện cho “tất cả các dân các nước ở dưới trời” đang tụ tập tại Giêrusalem để dự lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:16 và tt).
Các khía cạnh khác nhau của ngày lễ Ngũ tuần.
Lễ Ngũ tuần không chỉ có nghĩa là ngày lễ dâng quả đầu mùa cho Đức Chúa Trời (và các trái đầu mùa đặc biệt mà Đức Thánh Linh dâng lên cho Chúa ngày hôm đó là ba ngàn người tin, chịu phép báp-tem, và gia nhập đoàn môn đệ đang ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời trong đền thờ); những người Do thái của thế kỷ đầu tiên chắc đã nhớ việc ban bố luật pháp trên núi Si-na-i (xem Jubilees 1:1, 6:17). Theo một truyền thống Do thái giáo (được ghi lại trong Tauchuma 26 của Midrash), khi luật pháp được ban bố tại Si-na-i, “mười điều răn được công bố chỉ bằng một tiếng vang duy nhất”, thế nhưng sách ấy viết: “Cả dân sự đều nghe được tiếng vang ấy” (XuXh 20:18). Điều này có nghĩa rằng khi tiếng ấy vang ra, thì nó..."vang ra thành bảy mươi ngôn ngữ, và mỗi người đều nghe tiếng ấy theo ngôn ngữ của chính mình”. Theo sách Sáng thế ký chương 10 các dân tộc trên thế gian được thừa nhận là bảy mươi. Rất có thể là Luca đã theo truyền thống đó, mà nếu vậy, ông ngụ ý muốn chúng ta hiểu rằng vào ngày lễ Ngũ tuần, các đại biểu “từ tất cả các dân các nước dưới trời” đã tụ tập lại để nghe công bố những việc quyền năng của Đức Chúa Trời, “mỗi người được nghe...trong chính ngôn ngữ của mình”. Ngày lễ Ngũ tuần của Cơ đốc giáo chẳng những đảo ngược lại Lời Nguyền Rủa tại Ba-bên (SaSt 11:9), mà còn có ý nghĩa hình bóng chỉ về giao ước đã được thiết lập tại Si-na-i lúc luật pháp được ban bố. Điều mà thời bấy giờ vốn ở bên ngoài con người, thì bây giờ, trong giao ước mới, đã được Đức Thánh Linh đem đặt vào trong lòng con người.
Tin Lành cho mọi người.
Một lời giải nghĩa như vậy rất hấp dẫn, nhưng có tính cách ức đoán. Có thể phù hợp với lời truyền dạy của Phaolô, đặt luật pháp tương phản với Thánh Linh trong IICô 3; hoặc cũng phù hợp với hai chương 8 và 10 thư Hêbơrơ. Nhưng Luca đã không đề cập đến giao ước mới ở đâu cả, trừ ra LuLc 22:19, 20 vốn có trong nguyên văn (trái với sự chứng thực có trọng lượng đối với các cổ bản). Ông thích thấy các tín hữu được kế thừa giao ước khai sinh cho dân sự của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước (Cong Cv 3:25) đã được lập với Áp-ra-ham hơn. Dầu sao, chúng ta vẫn không sai lầm khi cho rằng nếu Ngài kêu gọi chúng ta là những người thuộc mọi quốc tịch là việc quá rõ ràng trong ngày lễ Ngũ tuần (2:5-11), thì không phải là không có lý do chính đáng. Ít nhất ông cũng chứng minh cho chúng ta rằng Tin Lành của Cơ đốc giáo vốn dành cho cả thế gian.
Đức Thánh Linh dùng lời chứng
Các nhà truyền giáo vô danh.
Lẽ dĩ nhiên, những tác nhân của sứ mạng truyền giáo này đã được Đức Thánh Linh khai sinh là các môn đệ của Chúa Giê-Xu. Nhưng không vì thế mà vai trò ấy chỉ dành riêng cho Mười Hai Sứ Đồ. Từ rất xa xưa, Harnack đã viết: “Thật ra thì sứ mạng truyền giáo vĩ đại của Cơ đốc giáo đã được các nhà truyền giáo không chính thức (informal) thực hiện” (The Mission and Expansion of Christianity p.368). Ông đã nói đúng. Ngay từ Công vụ chương 6, chúng ta đã thấy các sứ đồ tuyển chọn các đại diện để quản trị Hội Thánh về mặt hành chánh, trong khi các vị tự biệt riêng ra để cầu nguyện và phục vụ cho Đạo (Lời). Bảy Đại Biểu (hay Đại Diện, thường được gọi không mấy đúng là Chấp sự) lập tức được bổ nhiệm. Nhưng ngay sau đó, Êtiên, là một trong những nhà quản trị ấy, Êtiên, đã tận tình làm công tác truyền giáo! Ngay sau khi ông bị thanh toán thì một vị khác, là Philíp, đã đảm nhận công tác. Chính Philíp lại có bốn con gái được ân tứ nói tiên tri: chẳng có gì để nghi ngờ, là các cô này cũng dấn thân đi truyền giáo nữa. Cũng chương 8 của sách Công vụ ghi lại việc Tin Lành lan tràn ra nhờ các nhà truyền giáo không chính thức, tức là những người nam người nữ tản cư khỏi Giêrusalem do cuộc bách hại tiếp sau cái chết của Êtiên. Bức thông điệp thật rõ ràng. Tất cả các môn đệ của Chúa đều được trông đợi phải làm chứng cho Chúa Giê-Xu. Sở dĩ Đức Thánh Linh được ban cho họ, chính là vì lý do ấy.
Ý nghĩa của “nhân chứng”.
Từ ngữ “làm chứng” rất có ý nghĩa. Tự căn của nó xuất hiện hơn ba mươi lần trong sách Công vụ, dưới một hình thức này hoặc hình thức khác. Các sứ đồ, những người dân quê được biết Chúa Giê-Xu trước kia tại xứ Galilê, Êtiên, Phaolô - tất cả đều là nhân chứng về những điều đó; và cả Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho những kẻ vâng lời Ngài cũng vậy (Cong Cv 5:32). Nhân chứng là người chứng thực từng trải, kinh nghiệm của mình; người ấy không nhất thiết phải giảng một bài. Sách Công vụ đưa ra cho chúng ta nhiều thí dụ về các Cơ đốc nhân làm chứng cho Chúa Giê-Xu đặc biệt là về sự chết và sự sống lại của Ngài, cho các binh lính và các quan cai trị, cho các vua chúa và người quý tộc, cho các đám quần chúng đông đảo và cho từng cá nhân. Làm chứng nhân trong Tân Ước không phải là âm thầm đi nhà thờ mà nhiều Cơ đốc nhân cho là mình đi làm chứng, cũng không phải là lời tự quảng cáo làm lợm giọng do kết quả của bài “làm chứng” của một tín hữu, làm chứng chỉ đơn giản là kể lại các sự kiện liên hệ đến Chúa Giê-Xu của lịch sử, sự chết và sống lại của Ngài, việc Ngài ban Đức Thánh Linh, với những giá sẵn ban và quyền năng hiện tại của Ngài.
Quyền năng của lời chứng.
Điểm nhấn mạnh trên lời làm chứng này là một trong những thế mạnh của cuộc phục hưng Ngũ tuần hiện tại ở Nam Mỹ. Tại Chí-lợi, bạn vẫn chưa được xem là một Cơ đốc nhân cho đến khi nào bạn làm chứng cho Chúa Giê-Xu ngoài đường phố. Việc làm này không nhất thiết là phương pháp tốt nhất để truyền giảng Tin Lành, nhưng nó khuấy động lòng khách qua đường, khi thấy không phải các linh mục chuyên nghiệp đang rao giảng mà chính là người vá giày, anh thợ mỏ, người bán những tấm vĩ nướng thịt...là những người đang nói cho họ nghe về Chúa Giê-Xu. Trong quyển sách nhan đề ‘Bến đậu của quần chúng (Haven of the Masses) trang 47, Tiến sĩ dmô tả sức xâm nhập của một lời làm chứng như thế. Lẽ dĩ nhiên, nó gây khó chịu cho người ưu tú. Một giáo viên nói: “Những người đó không biết nói cả tiếng Castilian mà chỉ nói tiếng lóng; nhiều khi họ cũng chẳng biết viết nữa, còn đọc thì chỉ lem nhem thôi. Thế nhưng họ lại trích dẫn được các thư tín của Phaolô, là các sách khó hiểu đến nỗi từ hai ngàn năm rồi các thần học gia từng cặm cụi nghiên cứu vẫn chưa hiểu được thật thấu đáo. Họ đã cậy uy quyền nào mà truyền dạy như vậy?”. Đây đúng là phản ứng do Chúa Giê-Xu và các nhà truyền giáo không chính thức trong sách Công vụ đã tạo ra (Mac Mc 1:27; Cong Cv 4:13). Giới ưu tú thì bị xúc phạm, nhưng giới bình dân lại yêu thích. Ngôn ngữ nói ra có tiếng lóng thì có gì quan trọng, nếu người giảng đạo lại thật rạng rỡ, hớn hở với từng trải mình đang nói, dù họ đang sống trong cùng một hoàn cảnh xã hội, với tất cả những vấn đề khó khăn rắc rối y như kẻ nghe? Khi những người nam người nữ tầm thường được Đức Thánh Linh nung đốt như vậy để làm chứng về “một ông Chủ đã tha tội và yêu thương, một ông Chủ có đầy đủ quyền lực như những ông chủ đất, chủ mỏ, hay nghiệp đoàn các thư ký, vì Ngài là Đức Chúa Trời, một Đức Chúa Trời ao ước được gọi bằng Cha, và đối xử với kẻ hư xấu nhất giữa vòng loài người như con” (d) thì người ta sẽ chịu ngồi lại và chú ý lắng nghe. Họ đã làm vậy hồi thế kỷ thứ nhất, và vẫn còn làm vậy khi các Cơ đốc nhân từ những khu ổ chuột của họ tỏa ra và bàn tán luôn luôn về Tin Lành trên các đường phố.
Đức Thánh Linh khiến Lời trở thành sống động.
Quyền năng của Lời.
Đức Thánh Linh không phải chỉ hứa trợ giúp cho việc làm chứng không chính thức cho Chúa Giê-Xu như vậy mà thôi đâu. Ngài cũng hứa như vậy cho việc truyền giảng Đạo một cách chính thức nữa. “Lời (Đạo) vốn quen thuộc trong sách Công vụ cũng như “Đức Thánh Linh” vậy, và cả hai luôn luôn đi đôi, hết sức chặt chẽ với nhau. Một trong những kỳ công của C.K.Barrett, quyển sách ‘Sử gia Luca trong những công cuộc nghiên cứu gần đây (Luke the Historian in Recent Study) nêu rõ tầm quan trọng Luca dành cho Lời như là nhân tố hàng đầu qua đó Đức Thánh Linh mở rộng Tin Lành của Chúa Cứu thế . Nó được diễn tả bằng nhiều cách: “Lời của Đức Chúa Trời”, “Lời (Đạo) cứu rỗi”, “Đạo Tin Lành” hay thật đơn giản là “Đạo” (Ngôi Lời). Nó có nghĩa là bức thông điệp nói về Chúa Giê-Xu. Bất kỳ nơi nào những Cơ đốc nhân đầu tiên đi đến, họ mang theo là “Đạo” (Cong Cv 8:4) khi Phaolô được tình bạn của A-qui-la và Bê-rít-sin khích lệ tại Côrinhtô, chúng ta đọc thấy là ông “chuyên lo về sự giảng đạo” (18:5 bản Anh văn của tác giả dịch là: người bị Lời (Đạo) bắt lấy). Suốt hơn hai năm ông thi hành sứ mạng truyền giáo tại Êphêsô “mọi người ở trong cõi A-si đều được nghe Lời của Chúa” (19:10). Khi Luca muốn bày tỏ sự thành công của công tác truyền bá Tin Lành, ông đã có thể nói: “đạo bèn đồn ra, càng ngày càng được thắng”. Tại xứ Giu-đê (6:7), xứ Samari (8:4-7,14), trong vòng lưu hành truyền giáo thứ nhất (13:49) và tại A-si (19:10) cũng đều như vậy. Chính Đạo cũng có sức xâm nhập đối với Thê-ô-phi-lơ (LuLc 1:1; Cong Cv 1:1), Cọt-nây (10:44), quan trấn thủ đảo Chíprơ (13:7) và các công dân tại Antiốt (13:44) y như vậy. Cho nên, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Mười Hai Sứ Đồ xem đó là điều ưu tiên của mình, và các nhà truyền giáo không được biết tên trong 8:4 đã lấy đó làm vũ khí quan trọng cho họ. Vì sở dĩ một người tin, là do chính Lời Chúa đem đến (4:4). Sở dĩ một người nhận lãnh Đức Thánh Linh, là vì người ấy đáp ứng lại với Lời Chúa (10:44). Bảo rằng Lời Chúa là công cụ hàng đầu đã được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời sử dụng để đẩy mạnh công tác truyền bá Cơ đốc giáo, thiết tưởng không phải là quá đáng.
Nội dung sứ điệp của các Sứ đồ.
Khảo xét nội dung “Lời Chúa” của các sứ đồ sẽ đưa chúng ta đi khá xa. Cơ bản là những lời ấy liên hệ đến Chúa Giê-Xu. Nhiều người đã cố gắng tóm tắt nó, và có lẽ nỗ lực đáng đề cao hơn hết là của C.H.Dodd trong quyển S’ự truyền giảng và phát triển truyền giảng của các Sứ đồ (The Apostolic Preaching and its Development). Ông chủ trương rằng Tin Lành về Chúa Giê-Xu vốn có một hình thức rõ ràng, dứt khoát. Hình thức ấy có thể phân biệt được trong sách Tin Lành Mác, trong các bài giảng của sách Công vụ trong các thư tín của Phaolô và vài phần khác nữa trong Tân Ước. Lời truyền dạy của các sứ đồ về Chúa Giê-Xu là Chúa Cứu thế trong thời kỳ đầu tiên nằm trong bố cục này, gồm đại khái những điều sau đây:
Kỷ nguyên của mọi sự được ứng nghiệm đã bắt đầu. Việc này xảy ra qua chức vụ, sự chết và sống lại của Chúa Giê-Xu người Naxarét. Bởi sự phục sinh, Chúa Giê-Xu đã được cất lên ngự bên hữu Đức Chúa Trời, làm Đấng Mê-si-a, đứng đầu trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh trong Hội Thánh là dấu hiệu về quyền năng và sự vinh hiển hiện tại của Chúa Cứu thế . Thời đại của Đấng Mê-si-a sẽ nhanh chóng đạt tới tuyệt đỉnh của nó khi Chúa Cứu thế tái lâm. Do đó, điều quan trọng là người ta phải ăn năn tội, có đức tin, chịu phép báp-tem để được tham dự vào cộng đồng của Đấng Mê-si-a, được nhận lãnh sự tha tội và Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời ban cho.
Có nhiều cước chú được thêm vào cho Dodd, nhưng mẫu mực trên đây vẫn còn là phần tóm tắt rất tốt về sự dạy dỗ vào thời kỳ đầu tiên từng được truyền giảng trong phạm vi chúng ta có thể tái tạo được. Nhưng những tóm tắt như thế dẫu sao cũng không tránh được tính ức đoán, vì trong Tân Ước, chúng ta chỉ có một người duy nhất để xác định đâu là nội dung của sự dạy dỗ thời đầu tiên từng được truyền giảng cho những người không phải là Cơ đốc nhân, và đó là những bài giảng trong sách Công vụ. Một vấn đề vẫn còn được tranh luận là trong phạm vi nào, Luca đã được đặc quyền cho phát hành những ký thuật của ông về lời truyền giảng của các sứ đồ. Hơn nữa, như tôi từng cố gắng trình bày trong quyển sách của mình nhan đề ‘Công tác truyền giảng Tin Lành trong Hội Thánh đầu tiên (Evangelism in the Early Church) là có sự linh động khá lớn trong cách truyền giảng Tin Lành cho những cử tọa khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau, đi đôi với tính đồng nhất lớn lao trong cách trình bày cho người ta về con người (thân vị) của Chúa Giê-Xu, về sự tha tội được ban cho bởi sự chết của Ngài trên thập tự giá, về lời hứa ban Đức Thánh Linh, và việc thúc giục mọi người hãy ăn năn tội, tin Chúa và chịu phép báp-tem. Về cơ bản, đó chính là Đạo mà người ta chắc chắn có thể trông đợi Đức Thánh Linh sẽ đem đặt vào lòng những người nghe và ngày nay Ngài vẫn còn làm như vậy.
Huyền nhiệm về công tác truyền giảng.
Truyền giảng là một điều rất nhục nhã. Bạn cảm thấy mình như là một người xuẩn ngốc vậy. Phaolô đã nói lên cái cảm thức đó trong IICo 2Cr 4:1-6). Nhà truyền đạo phải dấn thân vào một cuộc chạm trán không lời, trong khi bản thân ông chỉ là “người tí hon của xứ Li-li-bụt”. Ông nhận thức rằng: “vị chúa của thời đại này (tức là ma quỉ) đã làm mù tâm trí của những kẻ không tin, kẻo e ánh sáng Tin Lành quang vinh của Chúa Cứu thế , vốn là hình ảnh của Đức Chúa Trời, sẽ chiếu sáng trên họ chăng”. Tất cả các nhà truyền đạo thành công đều biết rằng truyền giảng chẳng những bao gồm việc truyền thông, mà gồm cả việc đối đầu nữa. “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy” (Eph Ep 6:12). Chúng ta chẳng đi tới đâu được với cách mà Phaolô gọi là rao giảng chính mình; những mánh lới tuyên truyền chẳng giúp ích được gì cho chúng ta cả. Ấy là chúng ta vì cớ Chúa Giê-Xu, chuẩn bị để làm đầy tớ cho mọi người hầu ánh sáng có thể chiếu xuyên qua chúng ta để đến được với họ. Ánh sáng thì không thiếu: “Thượng Đế đã truyền bảo `ánh sáng phải soi chiếu trong cõi tối tăm,“nên Ngài soi sáng lòng chúng tôi, giúp chúng tôi hiểu được vinh quang Thượng Đế hằng sáng rực trên khuôn mặt Chúa Cứu thế” (IICo 2Cr 4:6). Nhưng làm thế nào sự vinh hiển đó xuyên qua chúng ta để đến với người khác? Ấy chỉ nhờ Đức Thánh Linh lấy bức thông điệp “rồ dại” của Tin Lành đặt thẳng vào lòng người ta, rồi thuyết phục họ về chân lý của nó; thật sự chính là nhờ đó, mà chính nó là “sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đối với người nào tin” (ICo1Cr 1:18 và tt). Chúng ta trở lại với chủ đề về sự làm chứng song hành mà Tân Ước luôn nêu ra trước mặt chúng ta là việc bởi Đức Thánh Linh cùng với chúng ta. Một nhà truyền đạo có thể nói cho đến khi xây xẩm mặt mày mà chẳng đưa được ai đến chỗ có đức tin vào Chúa Cứu thế cả. Nhưng Đức Thánh Linh có thể đặt lời lẽ của ông ta vào trong lương tâm kẻ nghe, hạ lòng người ấy xuống để biết ăn năn tội và có đức tin vào Chúa Cứu thế đã bị đóng đinh vào thập tự giá và đã sống lại. Người nào từng làm công cụ trong việc biến hóa đời sống của một người nhờ sự xâm nhập của Lời (Đạo) Đức Chúa Trời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết rằng đó không phải là việc làm của chính mình. Có lần tôi đã giảng cùng một bài giảng trong hai Hội Thánh khác nhau. Trong một nhà thờ, thì có khoảng hai mươi đến ba mươi người ăn năn tin Chúa; còn ở nhà thờ kia, chẳng có ai tin Chúa cả. Đức Thánh Linh, sứ điệp và sứ giả, tất cả đều phải biết hiệp nhau để thực hiện việc chuyển hóa lạ lùng của sự tái sanh. Nhưng chỉ một mình Đức Thánh Linh mới cần thiết nhất và không thể thiếu được mà thôi.
Đức Thánh Linh và Lời.
Mới đây, tôi được nghe một Cơ đốc nhân hàng đầu người Ấn độ, Mục sư Samuel Kamelesan kể lại câu chuyện rất hay sau đây. Một người bạn của ông làm người bán sách Cơ đốc giáo đã quyết định đến tận trung tâm của Bà-la-môn-giáo tại Kumbbakoman ở miền Nam Ấn-độ. Ông ta muốn làm chứng về Chúa Giê-Xu tại địa điểm mà thiên hạ rất cứng cổ cứng lòng này. Ông mời một số Cơ đốc nhân vùng phụ cận cùng đi với mình. Họ từ chối rằng: “Chúng tôi phải sinh sống ở đây”. Thế là ông ta đi một mình.
Con người can đảm ấy đã vào sân của ngôi đền chính, và bắt đầu giảng về Chúa Giê-Xu. Ông ta chỉ chờ đợi để bị giết. Nhưng trái lại, vừa bắt đầu, một phụ nữ có đạo Bà-la-môn ôm chầm lấy ông ta, và hỏi: “Tại sao ông không đến đây sớm hơn?”. Câu chuyện của bà ta thật hấp dẫn. Người phụ nữ giàu có thuộc giai cấp thượng lưu này mắc bệnh ung thư đã đến giai đoạn cuối cùng. Các bác sĩ cho biết bà ta chỉ còn sống được một thời gian ngắn ngủi nữa mà thôi. Vậy nên bà ta đến Madras, mong sống nốt những tuần lễ cuối cùng của đời mình nơi vùng khí hậu tốt lành đó. Rồi sau đó, hẳn nhiên bà ta chết. Người ta đã đặt bà vào nhà xác. Nhưng bà ta chưa chết, mà chỉ bị hôn mê nặng thôi. Trong tình trạng đó, bà nhìn thấy một khải tượng về Chúa Giê-Xu, người bà chưa hề biết bao giờ. Trong khải tượng, Chúa nhìn bà bằng cái nhìn đầy tình yêu thương. Bà đã hứa: “Lạy Chúa, nếu Ngài để cho con sống, con sẽ dâng đời sống con cho Ngài”.
Trong lúc người phụ nữ nằm mê man bất tỉnh trong nhà xác, một người quét dọn đi ngang qua thình lình nhận thấy “xác” của bà ta hơi động đậy. Người ta lập tức chở bà đến vị bác sĩ đã ký giấy chứng nhận rằng bà đã chết. Vị bác sĩ khám bà ta, nhận thấy mạch nhảy rất yếu, liền thực hành phương pháp giúp con bệnh hồi sinh. Cần phải truyền máu. Chuyện tình cờ là chính người quét dọn này lại có cùng nhóm máu với bà mệnh phụ giàu có, theo đạo Bà-la-môn nọ. Người này lại là một Cơ đốc nhân. Bà ta vui vẻ hiến máu. Sau đó, vị bác sĩ đã bảo bệnh nhân: “Bà phải mang ơn người quét dọn kia về việc bà được sống lại hôm nay, vì nhờ người ấy đầu tiên phát giác ra một cử động khi bà nằm trong nhà xác, rồi sau đó lại còn tặng máu cho bà nữa”. Người phụ nữ có đạo Bà-la-môn kia đã giữ đúng lời hứa mình. Từ đó trở đi, bà ta chỉ thờ phượng một mình Chúa Giê-Xu mà thôi, và bỏ Ấn-độ giáo. Điều này đã gây nhiều chống đối, chẳng những ngay trong gia đình bà mà cả trong một thành phố rất sùng Ấn giáo như Kumbbakoman. Người phụ nữ ấy bắt đầu làm chứng về Chúa Giê-Xu là Đấng hầu như bà chẳng biết gì cả. Bà phải chịu đòn vọt vì những lời làm chứng của mình. Thật ra, các anh em của bà còn đánh bà đến gãy hai cái răng. Tuy vậy, lời làm chứng đơn sơ của bà đã đưa được ba trong số năm người anh em trai của bà đến với Chúa Cứu thế . Rồi khi người nhân sự bán sách bắt đầu giảng về Chúa Giê-Xu trong sân đền thờ thì người phụ nữ ấy chạy đến, ôm choàng lấy ông ta, sung sướng vì tìm được một người đồng đạo tại một nơi hết sức bất ngờ như vậy. Ông đã dạy thêm cho bà nhiều điều nữa về Chúa mà bà đã tin, giống như việc Phaolô, A-qui-la và Bê-rít-sin đã làm cho A-bô-lô vậy.
Vậy thì, trong câu chuyện kể trên, chỉ có một trong số những nhân tố thường có trong công tác truyền bá Tin Lành, đó là Đức Thánh Linh. Đã không có sự rao giảng đạo để đưa người phụ nữ theo đạo Bà-la-môn kia đến chỗ tin Chúa. Cũng không có sứ giả là một người nào đến nói cho bà về Chúa Giê-Xu, tuy vai trò của người quét nhà thuộc giai cấp thấp hèn tình cờ đi ngang qua là vô cùng quan trọng. Thánh Linh sự sống chẳng những khiến người phụ nữ ấy hồi sinh, khiến chứng ung thư tự nhiên được lành, mà còn đem được bà ta đến chỗ tin cậy Chúa Cứu thế - từ một bối cảnh như thế, quả thật là một phép lạ lớn. Theo nhiều ý nghĩa, chúng ta có thể cùng nói với Bài Tín Điều: “Tôi tin Đức Thánh Linh, là Chúa, là Đấng ban sự sống”.
Đức Thánh Linh vừa cáo trách vừa thu hút
Cáo trách.
Trong quá trình một người trở thành Cơ đốc nhân, có sự tham gia của Đức Thánh Linh trong mọi phương diện. Như chúng ta đã thấy khi thảo luận GiGa 16:8, chính Đức Thánh Linh đã hành động như một ủy viên công tố (quan biện lý) để buộc tội (cáo trách về tội) người ta. Không ai có thể làm được việc ấy đối với một người khác. Nếu sự cáo trách đó có nảy sinh qua sự giảng đạo của tôi, thì thường thường chỉ là vài câu nói hay vài lời thúc giục mà tôi không hề cố ý. Tôi nhớ rõ một cô gái nghiện ma túy rất cứng cỏi ở Yorkshire, đến dự một buổi truyền giảng. Lòng cô đã tan vỡ vì một câu tình cờ mà tôi không hề cố ý nói ra về việc Đức Chúa Trời đã khiến Pharaôn cứng lòng. Tôi chẳng hay biết gì việc Đức Thánh Linh đã cáo trách cô ta về tội, cho đến một tuần sau đó, cô ta gọi điện thoại cho tôi từ Halifax, và hỏi: “Đức Chúa Trời có thật sự làm cứng lòng người ta hay không?”. Qua khúc Kinh Thánh tình cờ đó, Đức Thánh Linh đã đánh thẳng vào lòng cô, khiến cô trở thành Cơ đốc nhân đúng lúc. Tôi cũng nhớ lại một người đàn ông khác đã cùng tôi đi xem diễn binh. Trong khi sánh bước với nhau, tôi bắt đầu nói điều gì đó về Chúa Cứu thế Giê-Xu. Ông ta có vẻ rất dửng dưng, và tôi đã không tiếp tục câu chuyện nữa. Dầu sao, thì khung cảnh lúc ấy quả là không thuận tiện chút nào. Mãi đến bây giờ, tôi vẫn không nhớ nổi mình đã nói gì với ông ta. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh đã đưa thẳng mấy lời đó vào lòng ông, và Ngài đã không trật mục tiêu. Ngày hôm sau, ông đến gặp tôi vì không ngủ được, mà cũng không quên được. Ông đã bắt đầu nhận ra mình là người như thế nào trước mặt Đức Chúa Trời, nên không còn dửng dưng chút nào khi được nghe những gì Chúa Cứu thế Giê-Xu đã làm cho mình. Ông ta đã hạ mình đầu phục Chúa Cứu thế ngay đêm đó.
Thu hút.
Chẳng những Đức Thánh Linh cáo trách người ta về tội, mà cũng chính Ngài, và chỉ một mình Ngài mà thôi, mới có thể khiến Chúa Giê-Xu trở thành hấp dẫn. Như chúng ta đã thấy, chính Đức Thánh Linh làm chứng cho Chúa Giê-Xu và tôn vinh Ngài (GiGa 15:26; 16:14). Nhiều khi việc ấy xảy ra qua một thời gian dài, khi một người cảm thấy mình bị ép buộc phải đến dự một buổi nhóm thờ phượng của Cơ đốc giáo, hay bị lôi cuốn phải đọc Kinh Thánh Cơ đốc giáo. Tôi đã nhiều lần gặp những người từng được Đức Thánh Linh sưởi ấm để nhìn thấy vẻ đẹp của Chúa Cứu thế trong đời sống một nhóm tín hữu hay trong một truyện tích trong Tân Ước, và nhờ đó mà đã theo đạo. Nhiều khi sức thu hút đó của Chúa Giê-Xu chỉ xảy ra trong khoảnh khắc, và Ngài được mặc khải trong nháy mắt như là Đấng ban ý nghĩa cho đời sống con người. Tôi nhớ có lần sau một buổi nhóm lại, một nữ viện trưởng người Anh đến bảo tôi rằng tối đó bà cũng nhận thấy được rằng Chúa Cứu thế Giê-Xu chính là lời đáp cho lập trường hiện sinh chủ nghĩa tiêu cực mà bà đã ném cả cuộc đời mình vào. Đó chính là công tác của Đức Thánh Linh, đã mặc khải Chúa Cứu thế cho bà ta.
Đức Thánh Linh đem đến sự ăn năn và đức tin
Ăn năn.
Nhiều khúc sách trong Tân Ước dường như ngụ ý rằng Đức Thánh Linh là món quà của Đức Chúa Trời ban, khiến người ta biết ăn năn tội mình. Cong Cv 11:15-18 là trường hợp được đề cập ở đây. Phi-e-rơ đang kể lại câu chuyện của Cọt-nây. Ông kể lại thế nào Đức Thánh Linh đã giáng xuống trên Cọt-nây, và vạch rõ rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Cọt-nây cùng một ân tứ Ngài từng ban cho các tín hữu khác người Do thái. Câu trả lời của mọi người là: “Vậy Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho người ngoại để họ được sự sống”. Điều rõ ràng có thể rút ra từ câu nói đó, ấy là nhờ tác động của Đức Thánh Linh mà số người ngoại kia đã biết ăn năn tội lỗi. Cùng một ý ấy có thể cũng hàm ngụ trong 5:31 và IITi 2Tm 2:25.
Đức tin.
Đến lượt đức tin, chúng ta lâm vào trường hợp nghi ngờ, phải chẳng đó cũng là một ân tứ của Đức Chúa Trời do Đức Thánh Linh đem đến? Không ai có thể khiến được một Cơ đốc nhân xưng nhận “Giê-Xu là Chúa”, nếu không phải là Đức Thánh Linh khiến người ấy làm như vậy (ICo1Cr 12:3). Nhìn trong toàn văn của nó, thì câu này vốn có ý nghĩa hơn hết. Vì người Côrinhtô lúc ấy đang bị cuốn hút bởi những khía cạnh ân tứ và xuất thần qua các công việc của Đức Thánh Linh. Phaolô đã nói ngay ở phần đầu của ba chương sách mà ông thảo luận về các ân tứ thuộc linh rằng tình trạng xuất thần không phải là dấu hiệu chắc chắn cho thấy một người đã được linh cảm. Những người được cho là có linh cảm trong hội chúng người Côrinhtô đó có thể và thật sự đã lớn tiếng nguyền rủa Chúa Giê-Xu trong khi xuất thần (12:3). Dấu hiệu chắc chắn của người được Đức Thánh Linh cảm hóa, là khi người ấy thật lòng xưng nhận Giê-Xu là Chúa mình. Một lần nữa, chúng ta muốn biết chắc chắn, thì Đức Thánh Linh phải được kết hợp với con người Chúa Giê-Xu, và chính khi Đức Thánh Linh khiến một người nhìn thấy được Chúa Giê-Xu là ai và đáp lại Ngài bằng sự thuận phục, thì ngay tức khắc đức tin được nảy sinh. Chính Đức Thánh Linh đem những điều thuộc về Đức Chúa Trời để mặc khải cho chúng ta (ICo1Cr 2:12), và Phaolô đã có thể nói rất đúng rằng chính khả năng đáp ứng bằng đức tin là một ân tứ của Đức Chúa Trời, chớ không phải là một thuộc tính nhân tạo để chúng ta có thể dựa vào đó mà khoe khoang (Eph Ep 2:8). Do đó, Đức Thánh Linh có thể được gọi là “Thánh Linh của đức tin” (IICo 2Cr 4:13) còn có được của tin về Đức Thánh Linh thì được giải thích là có một đời sống bằng đức tin (5:5, 7).
Làm con nuôi.
Nói khác đi, ấy là nhờ công tác của Đức Thánh Linh, chúng ta mới có thể trở thành Cơ đốc nhân. Ngài chính là Thánh Linh đã thừa nhận chúng ta, đưa chúng ta vào trong gia đình của Đức Chúa Trời cùng với Chúa Giê-Xu (RoRm 8:13; GaGl 4:6). Tuy về bản tính, chúng ta là người ngoại bang vốn “không có Chúa Cứu thế, là những kẻ xa lạ đối với dân Y-sơ-ra-ên, là khách lạ đối với giao ước và lời hứa, ở thế gian không có sự trông cậy và không có Đức Chúa Trời” - qua sự hy sinh của Chúa Cứu thế cho chúng ta - đã tiếp nhận chúng ta vào trong gia đình của Đức Chúa Trời (Eph Ep 2:12-18). Phaolô hoan hỉ nhắc nhở các độc giả của ông rằng “giờ đây, anh em không còn là người xa lạ, người ngoại quốc nữa, nhưng là những công dân ngang hàng với các tín hữu thời Cựu Ước, là chính người nhà của Đức Chúa Trời”. Các trước giả của Tân Ước đã dùng rất nhiều từ ngữ để nói về công tác của Đức Thánh Linh khiến chúng ta trở thành Cơ đốc nhân. Trong thư Galati, Phaolô nói: “Anh em đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh”, Anh em đã “nhận được Đức Thánh Linh” hay “Đức Thánh Linh đã hứa cho” (GaGl 3:2,3,5,14). Có khi cuộc gặp gỡ đầu tiên với Đức Thánh Linh được nhìn thấy như là “một sự rửa sạch lớn” (ICo1Cr 6:11). Có khi nó là sự sanh lại (Tit Tt 3:5; GiGa 3:3, 5) có được là nhờ Đức Thánh Linh bước vào trong đời sống chúng ta. Cho dầu hình ảnh tưởng tượng ra là gì đi nữa, thì có một điều vẫn luôn luôn tồn tại: Ấy là chỉ nhờ trung gian là Đức Thánh Linh , chúng ta mới có thể ăn năn tội và tin Chúa. Ngài cáo trách, thuyết phục chúng ta về tội lỗi mình và khiến Chúa Giê-Xu trở nên lôi cuốn, thu hút chúng ta, thì chúng ta mới có thể trở thành Cơ đốc nhân được. Chính Thánh Linh của Chúa Cứu thế đã kết hợp chúng ta vào Chúa Cứu thế , khắng khít đến nỗi Phaolô phải nói: “Nếu ai không có Thánh Linh của Chúa Cứu thế , thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (RoRm 8:9).
Trong một chương sách sau, chúng ta sẽ lại khảo xét cặn kẽ hơn về vấn đề khá rắc rối là bước đầu của Cơ đốc nhân và mối liên hệ của Đức Thánh Linh với phép báp-tem. Nhưng chúng ta đã thấy khá đầy đủ để đưa ra được một câu trả lời rõ ràng cho vấn đề đã hình thành ngay đầu chương sách này. Sở dĩ Đức Chúa Trời sai Thánh Linh của Chúa Giê-Xu đến với những người theo Ngài, là để trang bị cho họ, hầu cho họ có thể thực thi sứ mạng truyền giáo của Con Ngài cho thế gian. Sau khi được ban cho quyền phép và làm chứng về Chúa Giê-Xu phục sinh, các Cơ đốc nhân nguyên thuỷ cũng như những thế hệ tiếp sau đó đã nhận thấy rằng những tấm lòng cứng cỏi đã bị khiến nên mềm mại hơn, những con người mạnh bạo đã bị đưa đến chỗ bằng lòng ăn năn tội lỗi, những kẻ hoài nghi trở nên có đức tin, và mọi người thuộc đủ các hạng tuổi, các bối cảnh và giai cấp xã hội đều đã đến để nếm trải sự cứu rỗi trong cộng đồng của Đấng Mê-si-a, và được sanh vào chính gia đình của Đức Chúa Trời.


ĐỨC THÁNH LINH TRONG TỪNG CÁ NHÂN
Nếu chiến lược toàn diện của Đức Chúa Trời là sai phái Thánh Linh Ngài đến với chúng ta để trang bị cho Hội Thánh thực thi sứ mạng truyền giáo, đưa người ta vào vương quốc của Đấng Mê-si-a, là lãnh vực của sự cứu rỗi thì chúng ta có thể đặt câu hỏi: Ngài làm gì sau khi đưa họ đến đó? Tại sao Ngài lại ban Thánh Linh Ngài cho từng cá nhân?
1. ĐỨC THÁNH LINH TRONG BƯỚC ĐẦU CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
Đức Thánh Linh mở lòng chúng ta
Cơ đốc nhân được dự phần
Như chúng ta đã thấy, chính Đức Thánh Linh đưa người ta đến chỗ ăn năn tội, có đức tin vào Chúa Cứu thế. Tin nhận Tin Lành, đáp lại tiếng gọi của Chúa Giê-Xu, và nhận lãnh được Đức Thánh Linh, là ba cách để nhìn vào cùng một vấn đề (IICo 2Cr 11:4). Cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều tham dự trong việc cứu vớt và phục hồi địa vị cho nhân loại, cho nên chúng ta mới đọc thấy là Phaolô thay mặt các Cơ đốc nhân để dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời, vì “Đức Chúa Trời đã chọn anh em từ ban đầu, để anh em được cứu rỗi”. Việc ấy đã được thực hiện như thế nào? Là khi “Đức Thánh Linh biệt riêng anh em ra” - đó là phương diện của Đức Chúa Trời; và “khi anh em tin nhận lẽ thật” - đó là về phía chúng ta. “Ấy là cùng vì đó mà Ngài đã dùng Tin Lành chúng tôi gọi anh em, đặng anh em hưởng được sự vinh hiển của Chúa Cứu thế Giê-Xu chúng ta” (IITe 2Tx 2:14). Cơ đốc nhân là những người đã thử nghiệm “ơn của Chúa Cứu thế Giê-Xu, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự thông công của Đức Thánh Linh” (IICo 2Cr 13:13). Ba từng trải này không hề tách rời nhau được. Phi-e-rơ viết: “Anh em là những người được chọn bởi Đức Chúa Cha, được nên thánh (biệt riêng ra) bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Chúa Cứu thế Giê-Xu và có phần trong sự rải huyết Ngài” (IPhi 1Pr 1:2). Nói khác đi, bất kỳ một kinh nghiệm nào trong Chúa Cứu thế, cũng đều là một từng trải của Đức Thánh Linh, là Đấng Trung Bảo giữa chúng ta với Chúa Cứu thế . Trong khúc sách rất hấp dẫn ở RoRm 8:9-11, Phaolô thừa nhận “Thánh Linh của Đức Chúa Trời” của thời Cựu Ước vốn chẳng phải ai khác hơn "Thánh Linh của Chúa Cứu thế" là Đức Thánh Linh từng ngự trong Chúa Cứu thế để rồi Chúa Cứu thế lại ban Ngài cho chúng ta. Vậy, có Đức Thánh Linh tức là có Chúa Cứu thế, và ngược lại Thánh Linh là Đấng khiến Chúa Cứu thế trở thành thực hữu đối với chúng ta. Cho nên, “nếu người nào không có Thánh Linh của Chúa Cứu thế thì người ấy chẳng phải là Cơ đốc nhân”. Nói rằng: “Nếu Chúa Cứu thế ngự trong anh em”, rồi trong câu tiếp theo đó lại nói: “Nếu Thánh Linh của Đấng đã khiến Chúa Giê-Xu từ kẻ chết sống lại ngự trong anh em” là đúng, vì chính là nhờ Thánh Linh, là Linh của Đức Chúa Trời, là Linh của Chúa Cứu thế, mà Chúa Giê-Xu biến người tín hữu thành nhà ở của mình. Đức Thánh Linh là phương cách để Đức Chúa Trời ngự trong người ta. Chính vì lý do đó mà trong sách Tin Lành Giăng, Chúa Giê-Xu đã có thể hứa rằng nhờ sự giáng lâm của Đấng Yên ủi, chẳng những chính Ngài sẽ trở lại ngự trong lòng các môn đệ Ngài, mà cả Đức Chúa Cha cũng sẽ làm như vậy (GiGa 14:17, 18, 21, 23). Chúng ta đang trở lại với vỡ kịch ba màn mà chúng ta đã từng bắt đầu. Màn ba cho thấy thần tánh thật sự ngự trị trong lòng các tín hữu, và việc ấy có thể xảy ra chính là nhờ Đức Thánh Linh.
Sự ngự trị hai chiều.
Các trước giả Tân Ước có khi nói về Chúa Cứu thế sống trong các Cơ đốc nhân, có khi lại nói Đức Thánh Linh đang sống trong Cơ đốc nhân (GaGl 2:20; Cong Cv 1:2; RoRm 8:10, 11; ICo1Cr 3:16). Nhiều khi các vị nói các Cơ đốc nhân vốn ở trong Chúa Cứu thế, lúc khác lại nói họ ở trong Đức Thánh Linh (Phi Pl 1:1; RoRm 8:1; 8:9 Cong Cv 1:18; Eph Ep 2:22). Chúng ta nhìn điều đó, theo cách nào dường như chẳng quan hệ gì lắm. Nếu bạn đan các ngón tay của bạn vào nhau, thì bảo rằng bàn tay phải của bạn đang ở bên trái, hay bàn tay trái đang ở bên phải bạn, đều đúng cả. Vấn đề là chúng đang được kết hợp chặt chẽ với nhau. Và đó chính là điều Tân Ước muốn nói về mối liên hệ giữa chúng ta với Chúa Cứu thế và với Thánh Linh Ngài. Nói chung, chúng ta có khuynh hướng bảo rằng chúng ta ở trong Chúa Cứu thế, và Đức Thánh Linh thì ở trong chúng ta. Đây là cách nhấn mạnh nổi bật và rất hữu ích để giúp cho chúng ta. Chúa Cứu thế là một con người mới, là một A-đam cuối cùng (ICo1Cr 15:45), còn các Cơ đốc nhân là các chi thể của thân thể Ngài (ICo1Cr 12:12 và tt) Đức Thánh Linh đến và chiếm hữu thân thể chúng ta để làm nơi Ngài trú ngụ và dùng làm đền thờ Ngài (ICo1Cr 6:19).
Như thế thì thật tuyệt vời. Đức Thánh Linh đã đến và chiếm lấy một người làm nơi cư trú khi người ấy bằng lòng mời Ngài vào. Vậy nhiệm vụ của Ngài là gì?
Qua các thánh lễ, Đức Thánh Linh bảo đảm cho chúng ta
Bảo đảm...
Khi một người “từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của ma quỉ mà đến Đức Chúa Trời” (Cong Cv 26:18), thì dường như điều đòi hỏi đầu tiên mà người ấy cần là sự bảo đảm. Người ấy cần biết rằng mình đã thuộc về một gia đình mới, rằng mình đã được “tiếp nhận trong Con yêu dấu của Đức Chúa Trời” (Eph Ep 1:6). Và đó chính là việc Đức Thánh Linh làm. Giăng cho chúng ta biết đây là một trong những chức năng chính của Ngài. “Chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta” (IGi1Ga 3:24). Ông nhắc lại điều đó trong 4:13 “Bởi điều này chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, là Ngài đã ban Thánh Linh cho chúng ta”. Rồi trong chương 5, ông giảng rộng thêm ý nghĩa của nó.
...bằng phép báp-tem
Ông cho chúng ta biết có ba nền tảng để bảo đảm cho Cơ đốc nhân: “Thánh Linh, nước, và huyết”. Khúc sách này phải được khảo xét trên bối cảnh của nó. Vào thời Giăng viết thư tín này, thì Cerinthus, giáo sư của Trí huệ phái (Gnostic) đang hoạt động tích cực tại Tiểu Á-châu. Ông ta dạy rằng Chúa Cứu thế của thiên đàng chỉ giáng trên con người Giê-Xu lúc Ngài chịu phép báp-tem mà thôi, rồi lìa bỏ Ngài trước khi Ngài chịu thương khó: sự kết hợp giữa hai vị ấy với nhau chỉ dường như có thật mà thôi - thật ra việc ấy chỉ là tạm thời. Nếu quả thật như vậy, thì đã không có Tin Lành của Cơ đốc giáo để mà truyền giảng, không có sự nhập thể của Con Đức Chúa Trời, không có sự kết hợp khắng khít giữa Ngài với chúng ta, không có sự chết chuộc tội trên thập tự giá. Cho nên Giăng đã phản đối kịch liệt. Đức Chúa Giê-Xu là Chúa Cứu thế, Đấng đã đến bằng nước của phép báp-tem Ngài, bằng huyết Ngài trên thập tự giá và được Đức Thánh Linh đứng trung gian cho chúng ta. Sự đến thế gian của Ngài bằng nước, thập tự giá và ân tứ của Đức Thánh Linh đều hoàn toàn là các biến cố lịch sử, nhưng còn hơn thế nữa. Chúng là những yếu tố liên tục xảy ra trong sinh hoạt của Hội Thánh qua từng trải mà các Cơ đốc nhân đã có về Đức Thánh Linh, và qua các thánh lễ bằng nước (phép báp-tem) và huyết (Tiệc thánh) là điều dường như chính sách này muốn ám chỉ. Phép báp-tem là dấu hiệu của sự thuộc về, một nền tảng để bảo đảm, mà Đức Thánh Linh có thể đặt vào lòng chúng ta. Việc đã xảy ra như vậy với Martin Luther khi ông bị cám dỗ để thất vọng về tình trạng thuộc linh của mình. Ông đã vui mừng nhớ lại: “Baptizatus sum”. Vui mừng vì ông đã không đứng trên chính đức tin của mình, tuy ông đánh giá nó là mạnh mẽ, nhưng khi phân vân nghi ngờ người ta không còn tin cậy nơi những thái độ chủ quan như đức tin nữa. Nhưng phép báp-tem của ông đã được một người khác hành lễ cho ông, đã đóng ấn trên thân thể ông tính khách quan của những gì Chúa Cứu thế đã làm cho ông trên thập tự giá, và thật vậy, nó là một nền tảng bảo đảm chắc chắn cho ông. Chính thánh lễ về sự công bình nhờ ân điển đó là điều nhắc nhở trên thân thể ông, có thể sờ mó được, rằng Đức Chúa Trời đã thay ông hành động mà không cần ông giúp đỡ, trước khi ông đáp ứng lại.
...về Tiệc thánh
Tiệc thánh cũng là một trong những phương cách để Đức Thánh Linh bảo đảm với chúng ta. Trong chương 6 sách Giăng ngụ ý mạnh mẽ rằng Đức Thánh Linh được đặt thật gần với mối liên hệ “ăn thịt và uống huyết Ngài” để nhờ đó, tin quyết rằng mình được ở trong Chúa Cứu thế, được Ngài nuôi dưỡng và được Ngài khiến sống lại vào ngày sau rốt (6:54, 56, 63), cũng như trong 3:3-8 Ngài liên hệ với sự tái sanh. Dĩ nhiên, các thánh lễ có thể hoàn toàn rỗng tuếch như phép hôn phối vậy. Nhưng chính việc nhớ lại ngày cử hành hôn lễ của mình để tôi tin chắc rằng mình đã kết hôn rồi là điều phải lẽ, thì cũng vậy, việc nhớ lại phép báp-tem như dấu hiệu Đức Thánh Linh đã ban cho tôi xác nhận tôi đã thật sự được tái sanh trong Chúa Cứu thế cũng là điều phải lẽ; rồi lại nhìn vào Tiệc thánh như một của làm tin, rằng tôi được chia sẻ sự sống với Ngài, được Ngài nuôi dưỡng, và đến ngày sau rốt tôi sẽ cùng chia sẻ sự sống lại với Ngài.
Đức Thánh Linh bảo đảm cho chúng ta - bằng các dấu hiệu.
Các dấu hiệu trong đời sống.
Nhưng không phải Đức Thánh Linh bảo đảm chúng ta thuộc về Chúa Cứu thế chỉ qua các thánh lễ mà thôi. Thư IGiăng nêu lên nhiều phương cách khác giúp chúng ta tin chắc địa vị mới mẻ của mình. Đức Thánh Linh cho chúng ta biết chúng ta đang ở đâu (IGi1Ga 3:24; 5:13) thư tín ấy đã chịu khó vạch ra nhiều dấu hiệu khác nhau giúp người tín hữu chân chính có lòng tin quyết, đồng thời đập tan sự bảo đảm giả dối.
Thay đổi cách ăn ở, cư xử.
Các Cơ đốc nhân phải trông mong việc Đức Thánh Linh ngự vào lòng mình sẽ khiến mình được thay đổi hẳn. Nếu một người không có sự đổi mới, ta có lý do chính đáng để cho rằng Đức Thánh Linh vẫn chưa được tiếp nhận vào đời sống người ấy. Chẳng hạn một tín hữu bắt đầu” vâng giữ lời Đức Chúa Trời” hoặc “bước đi theo như cách Chúa Cứu thế đã bước đi” (2:5, 6). “Ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời” (IGi1Ga 3:9). Dĩ nhiên, Giăng không hề ngụ ý rằng Cơ đốc nhân sẽ trở thành người vô tội trong đầu hôm sớm mai. Ông vốn biết rõ rằng các Cơ đốc nhân vẫn có thể và vẫn còn phạm tội, và nếu nói khác đi, là chúng ta nói dối (1:8, 10). Nhưng điều ông muốn nhấn mạnh bằng lời lẽ minh bạch trên giấy trắng mực đen, ấy là người đã được địa vị làm con Đức Chúa Trời, có Đức Thánh Linh làm trung gian, phải tự bày tỏ qua cách ăn nết ở của mình. Nếu Đức Thánh Linh đang cư trú trong lòng mình, thì chúng ta không thể cứ tiếp tục không xử lý lối sống tự-kỷ-trung-tâm cũ, mà chẳng hề thay đổi gì cả.
Sự thông công
Một trong các dấu hiệu khác nữa về việc chúng ta đã thuộc về Đức Chúa Trời, là việc phải sẵn sàng đương đầu với sự chống đối của "thế gian” (một thuật ngữ trong sách của Giăng chỉ cái xã hội đã gạt bỏ Đức Chúa Trời ra ngoài), và phải dự phần thông công bằng tình yêu thương với gia đình của Chúa Cứu thế . “Hỡi anh em, nếu thế gian ghen ghét anh em, thì chớ lấy làm lạ. Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống vì chúng ta yêu anh em mình” (3:13 và tt).
Tình yêu thương, niềm vui và quyền năng
Điều càng quan trọng hơn nữa là Đức Thánh Linh đã ngự trong lòng những người theo Chúa Giê-Xu, đứng trung gian để giúp họ chiến thắng thế gian như Chúa Giê-Xu từng chiến thắng (4:4) khi họ tin cậy nơi Ngài để được quyền năng thắng hơn sự cám dỗ (5:3, 4). Sự thông công vui vẻ với nhau cũng là một dấu hiệu của đời sống mới mà Đức Thánh Linh làm nảy sinh trong chúng ta (1:3, 4), mà đó cũng như từng trải lời cầu nguyện của chúng ta đã được nhậm. Có lẽ trên hết mọi sự, là tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời và đồng bào đồng loại mà Đức Thánh Linh làm phát sinh trong lòng chúng ta là một phẩm cách mà chúng ta không hề có được khi chưa nhờ cậy vào Ngài (4:18 và tt).
Lòng tin quyết nội tâm.
Trên cả điều đó nữa, Giăng cho chúng ta biết về lời làm chứng của Đức Thánh Linh trong tâm linh người tín hữu, bảo đảm với người ấy rằng lời chứng của Đức Chúa Trời cho Con Ngài là đáng tin, bảo đảm với người ấy rằng từng trải của Cơ đốc nhân là có thật. Các Cơ đốc nhân được khuyên chẳng những tin Chúa Giê-Xu, mà còn phải biết rằng mình đã được sự sống đời đời (5:13), và nhiệm vụ của Đức Thánh Linh là đem niềm tin quyết thầm lặng đó đặt vào lòng chúng ta.
Tin cậy chớ không phải tự phụ.
Dầu sao thì chúng ta cũng cần biết mình vốn thuộc về Đức Chúa Trời. Không ai có thể xây một ngôi nhà đồ sộ trên một nền tảng mong manh được. Ta không thể nào sống cuộc đời làm Cơ đốc nhân trên bãi cát hoài nghi về mối liên hệ giữa chúng ta với Chúa mình. Cũng vậy, bảo rằng: “Tôi mong rằng mình là một Cơ đốc nhân, nhưng không thể nói thêm gì nữa cả” thì không phải là biết khiêm tốn đâu. Thật ra, nếu do sự tốt lành thiện hảo riêng hay do nỗ lực thực hiện những thành tích lớn lao mà kết quả là trở nên Cơ đốc nhân, thì có thể nói thế được. Nhưng các trước giả Tân Ước đều đồng thanh nhấn mạnh không hề như vậy. Sở dĩ tôi được cứu rỗi, là nhờ ân điển của Đức Chúa Trời can thiệp, bênh vực tôi, chớ không hề nhờ “việc làm”, bất kỳ là thuộc loại nào. Cho nên tôi chẳng có gì để khoe khoang cả. Phaolô nói với người Côrinhtô: “Ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Chúa Cứu thế Giê-Xu là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta, hầu cho như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa” (ICo1Cr 1:30). Do đó, nếu ta nói với niềm tin quyết trầm lặng rằng: “Tôi biết tôi thuộc về Chúa Cứu thế. Tôi đã chẳng làm được việc gì đáng công cả, nhưng Đức Chúa Trời đã ban Thánh Linh Ngài cho tôi, tiếp nhận tôi vào gia đình Ngài; và Ngài muốn tôi biết rằng mình thuộc về Ngài” thì điều ấy không phải là tự phụ.
Năm phương diện công tác của Đức Thánh Linh.
Có năm từ ngữ đặc biệt mà các trước giả Tân Ước dùng mô tả các khía cạnh khác nhau của công tác bảo đảm mà Đức Thánh Linh thực hiện cho người tín hữu.
Thừa nhận làm con.
Cách ví von đầu tiên là “thừa nhận làm con nuôi”. Phaolô ám chỉ một tập quán của người ngoại đạo - dĩ nhiên là hiếm thấy trong thế giới Do thái - do đó, một người có thể nhận con cái của một gia đình khác làm con mình. Có một việc làm khá phổ biến, là các Hoàng đế thường chọn người kế vị mình theo cách đó. Và vị sứ đồ nói, đó là cách Đức Chúa Trời đã làm đối với chúng ta. Chúa Giê-Xu đã chịu chết để cứu chuộc chúng ta, rồi nhận chúng ta vào gia đình của Đức Chúa Cha; và vì chúng ta là con cái Ngài, nên Đức Chúa Cha đã sai Thánh Linh của Con Ngài đến ngự trong lòng chúng ta, khiến chúng ta có thể gọi: “A-ba! Cha!” (GaGl 4:5, 6; Eph Ep 1:5; RoRm 8:15). Thánh Linh của Chúa Giê-Xu khi ngự vào lòng chúng ta, đã đến với chúng ta như món quà tặng để thừa nhận chúng ta làm con Ngài - để có thể gọi Ngài bằng cái tên thân mật trong gia đình như chính Chúa Giê-Xu đã dùng, mà chương trước chúng ta đã xem xét. Đức Thánh Linh đã hoàn tất và áp dụng cho địa vị làm con của chúng ta, thế là mọi đặc quyền đều từ đó phát sinh, "vì nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và đồng kế tự với Chúa Cứu thế “ (RoRm 8:17).
Ấn chứng.
Từ ngữ thứ hai là “đóng ấn”. Phaolô bảo người Êphêsô rằng sau khi họ được nghe đạo thật và tin Tin Lành cứu rỗi, thì họ được “ở trong Chúa Cứu thế “ và được “đóng ấn” bằng Đức Thánh Linh là Đấng đã được hứa ban từ lâu rồi (Eph Ep 1:13, đối chiếu IICo 2Cr 2:21) “Ấn” là một từ ngữ chỉ về tài sản. Nó nói lên sự thuộc về. Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta, là để đồng nhất hóa chúng ta với Chúa Cứu thế, xem chúng ta như đã thuộc về Ngài, như dấu ấn trên một bức thư hay dấu sắt nung đóng trên con chiên chứng thực nó thuộc quyền sở hữu của chủ nó vậy. Trong việc bảo đảm chủ quyền được đề cập ở đây có thể có đến hai sắc thái. Dấu ấn của Đức Thánh Linh có thể có nghĩa là sự bảo đảm rằng chúng ta thuộc về Chúa Cứu thế, và thứ đến, là để người khác cũng biết được sự kiện ấy. Có thể chúng ta đã sai lầm khi đọc Tân Ước và cho rằng các Cơ đốc nhân hồi thế kỷ thứ hai xem từ ngữ “ấn” được dùng theo nghĩa rõ ràng chỉ phép báp-tem, hoặc có khi chỉ phép thêm sức (confirmation) nữa. Phaolô đã dùng nó để chỉ Đức Thánh Linh mà không nói về một dấu hiệu bên ngoài nào khác cả. Nhưng do những khúc sách như trong KhKh 7:3 đề cập việc “đóng ấn lên trán các tôi tớ của Đức Chúa Trời”, và RoRm 4:11 đề cập phép cắt bì như là “dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin”, có thể vị sứ đồ đã liên tưởng tới phép báp-tem khi nói về việc Đức Thánh Linh đóng ấn này. Dưới giao ước cũ, đối với người có đức tin thì phép cắt bì bảo đảm với họ rằng họ đã thuộc về Đức Yahweh, thì dưới giao ước mới phép báp-tem đối với Cơ đốc nhân cũng vậy; và CoCl 2:11, 12 đã đặt hai nghi lễ chung với nhau quanh thập tự giá của Chúa Cứu thế, là nơi duy nhất khiến cho chúng có ý nghĩa.
Phần đặt cọc đầu tiên
Một từ ngữ khác nữa Phaolô dùng chỉ Đức Thánh Linh bảo đảm cho địa vị của các Cơ đốc nhân, là “của tin” hay “của cầm” (earnest). Trong ba lần xuất hiện thì hai lần, từ ngữ ấy cùng đi với công tác ấn chứng của Đức Thánh Linh (IICo 2Cr 1:22; Eph Ep 1:14. Lần thứ ba là trong IICo 2Cr 5:5). Nếu “ấn” là từ ngữ chỉ tài sản thì "của tin" là từ ngữ tiên tri. Khi nói về một ân tứ có thật trong hiện tại, nó hướng về một ân tứ quan trọng hơn trong tương lai. Nó thường được dùng trong thương mại như “tiền đặt cọc” hay một số tiền trả trước, nên rất phù hợp với trường hợp của Đức Thánh Linh. Ngài là phần đặt cọc đầu tiên, là "của đặt cọc" của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi trong tương lai đang chờ đợi chúng ta, là một phần của tương lai mà chúng ta nhận được trong hiện tại; là sự bảo đảm cho đời sống hầu đến. Tuy nhiên, người Hy lạp ngày nay dùng từ ngữ ấy để chỉ chiếc nhẫn hứa hôn, gợi cho chúng ta một ý nghĩa khá thú vị về công tác của Đức Thánh Linh như “của đặt cọc” trong tư tưởng Phaolô. Ngài chính là chiếc nhẫn hứa hôn mà người yêu thiên thượng đã trao cho chúng ta. Chúng ta sẽ đeo chiếc nhẫn hứa hôn ấy để đi vào cõi tương lai của Đức Chúa Trời; do đó, chúng ta sẽ được kết hợp hoàn toàn với Chúa Cứu thế. Hiện nay, Đức Thánh Linh là sự bảo đảm cho phước hạnh hầu đến. Ngài quả thật là một phần của chúng ta tại đây, ngay bây giờ; Ngài sẽ chẳng bao giờ bị thay thế. Nhưng sắp tới, khi kỳ hạn của Đức Chúa Trời đã trọn, sẽ còn nhiều điều càng tốt đẹp hơn nữa. Đó là sắc thái về Thánh Linh với tư cách “của cầm về cơ nghiệp chúng ta”.
Trái đầu mùa.
Từ ngữ thứ tư là trái đầu mùa. Đây là thuật ngữ trong nông nghiệp. Nếu trái đầu mùa mà tốt, thì hứa hẹn một mùa gặt bội thu. Lối ví von này đã được Tân Ước dùng trong nhiều cách khác nhau. Ê-bai-nết là trái đầu mùa của vụ gặt số người ăn năn quy đạo trong tỉnh A-si (RoRm 16:5). Sự phục sinh của Chúa Cứu thế đã được xem là trái đầu mùa của mồ mả, và là của cầm về một mùa gặt thật trúng hầu đến khi những người trong Chúa Cứu thế được tham dự sự sống phục sinh với Ngài trên thiên đàng (ICo1Cr 15:20, 23). Phaolô được an ủi về các trái đầu mùa của các tín hữu người Do thái, là đến thời kỳ của Đức Chúa Trời, toàn dân Do thái sẽ trở lại với Chúa (RoRm 11:16). Và Đức Thánh Linh đã được ban cho như trái đầu mùa của vụ gặt mà Đức Chúa Trời đang dành sẵn cho chúng ta (8:23)
Tin quyết
Từ ngữ thứ năm là "tin quyết" mô tả việc Thánh Linh làm chứng cho tâm thần chúng ta rằng chúng ta chắc chắn đã là con cái Đức Chúa Trời (8:16) là “tin quyết”. Trong ITe1Tx 1:5, Phaolô nhắc nhở độc giả của ông về thế nào khi Tin Lành mới được truyền giảng cho họ, thì đã đến “không những chỉ bằng lời nói mà thôi, lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa”. Nghĩa đen của từ ngữ này dường như là một người được đổ đầy Đức Thánh Linh đến nỗi đem đến sự thuyết phục khi nói về Chúa Cứu thế . Sự tin quyết của Cơ đốc nhân không phải chỉ là sự thuyết phục tri thức nhưng là từng trải sự chịu thuyết phục mạnh mẽ của Đức Thánh Linh đang ngự trị trong lòng họ trào dâng lên và tuôn tràn ra cho nhiều người khác nữa. Đó là lòng tin quyết mà Đức Thánh Linh muốn ban cho các tín hữu.
Đã...nhưng mà chưa.
Một từ ngữ cần thiết cuối cùng trước khi chúng ta từ giã phương diện này về công tác của Đức Thánh Linh. Trong viêc làm chứng chắc chắn của Đức Thánh Linh có cái “đã có rồi” nhưng “vẫn chưa có”. Việc nhắc lại cái “chưa có” vốn rất rõ ràng trong từ ngữ “của cầm”. Đức Chúa Trời vẫn chưa trở lại để mua cơ nghiệp Ngài (là các Cơ đốc nhân), mà Ngài đã trả “tiền cọc” bằng Đức Thánh Linh (Eph Ep 1:4); và chính là trong phạm vi cơ nghiệp tương lai ở đời sau, mà Phaolô đã nói về Đức Thánh Linh là “của cầm” của chúng ta (IICo 2Cr 5:5). Cũng vậy “ấn chứng” cũng có một viễn ảnh tương lai cho nó. Eph Ep 4:30 nói với chúng ta rằng Đức Thánh Linh ấn chứng cho chúng ta, là nhằm chuẩn bị chúng ta cho ngày cứu chuộc: chữ “đã-có-rồi-nhưng-vẫn-chưa-có”, được kết hợp lại trong câu này. Nói về “trái đầu mùa” thì điều không thể tránh né được là phải hướng mắt về phía “điều vẫn chưa có” (và việc này được minh giải trong RoRm 8:23). Ngay đến sự làm con của chúng ta được Đức Thánh Linh làm chứng, cũng có tính cách mơ hồ về điểm đó như vậy. Một mặt, chúng ta vốn có thể chắc chắn rằng Đức Thánh Linh đã khiến chúng ta trở thành con cái của Đức Chúa Trời (8:15). Mặt khác, chúng ta vẫn còn phải chờ đến ngày Chúa tái lâm mới được thừa nhận làm con một cách dứt khoát (8:23). Và để sánh kịp với lòng tin quyết của mình, đời sống chúng ta được đổ đầy Thánh Linh để Ngài tuôn tràn qua chúng ta, và ở mặt kia của bức tranh, chúng ta cũng than thở trong Thánh Linh, và Ngài cũng than thở với chúng ta nữa (8:26). Vì công tác của Đức Thánh Linh trong việc khiến chúng ta có lòng tin quyết là để ban cho chúng ta một nền tảng vững chắc để từ đó mà tiến lên, chớ không phải là để chúng ta khoe mình; điều “đã-có-nhưng-vẫn-chưa-có" của Đức Thánh Linh làm chứng trong lòng chúng ta giúp chúng ta tin chắc mà không tự phụ.

2. ĐỨC THÁNH LINH TRONG TÂM TÍNH CƠ ĐỐC NHÂN
Sau khi bảo đảm với chúng ta về địa vị làm con, Đức Thánh Linh bắt đầu tạo ra trong chúng ta một tâm tính và những vẻ đẹp của gia đình mà chúng ta đã được nhận vào. Trước hết và quan trọng nhất là Ngài đặt chúng ta vào chiều kích tự do hoàn toàn mới.
Thánh Linh tự do
Sự tự do của Cơ đốc nhân - không cố công ra sức.
Phaolô đặc biệt nhận thấy rằng khi ông giảng về sự tha thứ và ân tứ của Đức Thánh Linh mà Chúa Cứu thế khiến cho chúng ta có thể có được, là ông đã phải chạm trán với một vấn đề thăm căn cố đế. Dân Do thái vào thời của ông đã xem luật pháp Cựu Ước không phải như người chỉ đường cho một đời sống biết tin cậy, vâng lời Đức Chúa Trời, như mục đích mà luật pháp nhằm đến; trái lại, họ nhìn thấy luật pháp Cựu Ước là một bộ luật cần phải cẩn thận tuân thủ từng chi tiết nhỏ nhặt, Nếu bạn quyết tâm làm được như vậy, thì đến ngày sau rốt lẽ tất nhiên - hầu như có tính cách bó buộc - Đức Chúa Trời phải ban khen bạn. Tất cả đều tùy thuộc sự cố gắng của con người. Người ta phải nhờ giữ luật pháp mà được xưng công bình. Niềm tin này, tuy không được Cựu Ước truyền dạy, vốn được dân Do thái chủ trương rộng rãi trong bối cảnh hoạt động của Phaolô; ngày nay mọi người cũng tin rằng chỉ cần bạn cố gắng ra sức để làm điều tốt nhất mình có thể làm được, thì cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ vui nhận bạn. Vị sứ đồ đã tấn công vào niềm tin ấy bằng cả một pháo đội luận cứ. GaGl 3:10-14 là một thí dụ rất hay.
Cố công ra sức sẽ chẳng đi đến đâu.
Trước hết, ông nghiêm nghị vạch rõ rằng người ta không thể nào giữ luật pháp cho trọn vẹn được. Nếu bạn không thể giữ được tất cả những gì đã ghi trong sách luật pháp, bạn vẫn ở dưới sự nguyền rủa dành cho kẻ vi phạm luật pháp. Như Gia-cơ viết trong thư tín của ông: “Người nào giữ trọn luật pháp mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy” (Gia Gc 2:10). Nếu bạn phải thực hiện một hợp đồng có tính cách pháp lý, thì chỉ một vi phạm cũng đủ khiến bản hợp đồng trở thành vô giá trị. Thế thì có ai trong chúng ta là người chưa vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời hàng ngàn lần, chớ đừng nói chi là chỉ một lần thôi? Vậy, con người dầu cố công ra sức đến đâu, cũng không thể nào làm hòa được với Đức Chúa Trời. Với những thất bại, phạm tội, mọi người chúng ta đều ở dưới sự “nguyền rủa” dành cho kẻ phạm luật. “Mọi người đều đã phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời” (RoRm 3:23), người Do thái cũng như người ngoại bang, người có đức hạnh cũng như kẻ gian ác. Mọi người đều thiếu hụt tiêu chuẩn thiên thượng mà Đức Chúa Trời đã quy định cho đời sống làm người; chẳng ai có thể rêu rao nhờ giữ trọn luật pháp mà mình nhận được án lệnh là hoàn toàn vô tội, trắng án. “Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, chẳng có phân biệt chi hết” (3:23). Không phải chỉ có các hành động bên ngoài là có thể bị buộc tội, mà cả đến các tư tưởng trong lòng, thái độ chống lại Đức Chúa Trời vốn là đặc điểm của mọi người chúng ta, đều bị định tội (3:9-20).
...và không được chấp nhận
Thứ hai, cả khi người ta có thể thực hiện được điều không ai làm nổi, và sống một cuộc đời trọn vẹn, thực hiện trọn vẹn mọi đòi hỏi của Đức Chúa Trời thật xuất sắc đi nữa, thì giáo thuyết lập công chuộc tội vẫn không được Đức Chúa Trời của Kinh Thánh chấp nhận. Vì theo các nhà tiên tri, thì “người công chính sống bởi đức tin”, mà luật pháp thì không được lập nền trên đức tin, vì “người nào vâng giữ các điều răn thì sẽ nhờ đó mà sống” (GaGl 3:12). Toàn thể nguyên tắc và công lao đã chống lại chính Đức Chúa Trời mà Kinh Thánh tả vẻ là không thể liên hệ giao thiệp được với các loài thọ tạo của Ngài. Người cha trong gia đình sẽ chẳng bao giờ toại nguyện, nếu con cái ông ta đánh giày, dọn bàn ăn cho ông, nhưng chẳng bao giờ chịu trò chuyện, chẳng bao giờ chịu đá động gì đến ông ta cả. Làm thế nào Cha trên trời hài lòng được, nếu người ta chỉ vâng lời Ngài một cách máy móc mà chẳng hề thương yêu, tin cậy Ngài?
...và không phải là đường lối của Đức Chúa Trời
Và thứ ba, Phaolô lý luận rằng phương pháp kể công với Đức Chúa Trời để tự khoe mình vốn không phải là cách làm của các bậc anh hùng của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Người Do thái thời Phaolô vốn không thể tự khoe khoang họ là con cháu Áp-ra-ham nếu họ không có thái độ giống như Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham một cơ nghiệp, chớ không ban cho ông một phần thưởng vì ông biết giữ luật pháp (3:18). Ngài đã lấy ân điển để hiện ra với Áp-ra-ham là người chẳng đòi hỏi gì nơi Ngài cả, và đề nghị ban cho ông một dòng dõi đông như sao trên trời vậy. Áp-ra-ham đáp lại ân huệ đó bằng một hành động của đức tin mà kết quả là đời sống biết vâng lời. Toàn thể trọng lượng của luận cứ mà Phaolô đưa ra ở đây, và cả trong thư Rôma nữa, là người Do thái chân chính phải noi gương Áp-ra-ham và đáp lại bằng đức tin và sự vâng lời Đức Chúa Trời, Đấng đã lấy ân điển mà tìm gặp mình. Đó chính là lời lẽ của Tin Lành mà Phaolô rao giảng. Chỗ khác nhau duy nhất là điểm này: Áp-ra-ham được Đức Chúa Trời tiếp nhận là nhờ những gì Chúa Cứu thế sẽ làm trên thập tự giá để gánh lấy sự nguyền rủa vì luật pháp đã bị vi phạm trên đôi vai làm người đại diện của Ngài. Những ai sống theo thập tự giá thì có thể được Đức Chúa Trời tiếp nhận khi họ đặt lòng tin cậy những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ qua trung gian là Chúa Giê-Xu. Đó là điểm khác biệt duy nhất. “Chúa Cứu thế đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta - vì có lời chép rằng: Đáng rủa sả thay là kẻ bị treo trên cây gỗ” - để trong Chúa Cứu thế Giê-Xu phước hạnh dành cho Áp-ra-ham có thể đến trên các dân ngoại, và để bởi dức tin, chúng ta có thể nhận được lời hứa về Đức Thánh Linh (3:14). Điều mỉa mai huyền bí trong sự cứu rỗi nằm trong cái nghịch lý này: Chúa Giê-Xu, con người duy nhất đã giữ trọn luật pháp thật hoàn toàn lại phải chịu cực hình dành cho những kẻ vi phạm luật pháp bằng cách chịu phơi thây trên thập tự giá của sự nguyền rủa và chịu cho Đức Chúa Trời hình phạt mình. Ngài đã làm người thay thế, người đại diện cho toàn thể nhân loại. Kết quả là các tín hữu cả dưới giao ước cũ lẫn giao ước mới đều được tiếp nhận trước mặt Đức Chúa Trời dường như họ vốn vô tội, vì họ đã nhận lấy thân xác của Đấng Mê-si-a vô tội làm của mình, còn Ngài thì thay chỗ cho họ để nhận lấy tội lỗi và sự đoán phạt của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 5:21). Họ được “xưng công bình” nhờ ân điển Đức Chúa Trời ban mà họ vốn không xứng đáng để nhận lãnh, và bởi “đức tin” tiếp nhận món quà hào hiệp ấy, và đáp lại bằng cách hiến thân thuận phục tình yêu thương hào hiệp đó. Phương pháp cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được chứng minh giống y nhau qua các thời đại: loài người lấy đức tin đáp ứng lại sáng kiến hay ân điển mà Đức Chúa Trời đã đề xướng. Qua hành động quyết định của “dòng dõi Áp-ra-ham, tức là Chúa Cứu thế “ (CoCl 3:16) cả đến những người ngoại bang bị khinh dể nhất cũng trở thành con cái của con người vốn có đức tin mẫu mực nguyên thủy là Áp-ra-ham, và nhận được Đức Thánh Linh đã hứa.
Tính chất hay chết của luật pháp chủ nghĩa.
Thế thì mọi nỗ lực làm điều công bình riêng để tự xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời đều phải bị vứt bỏ. Chúng là điều mà loài người không thể nào làm nổi, là vô luân lý đạo đức, và lỗi thời đối với toàn thể lịch sử về sự cứu rỗi. Đấng Mê-si-a đã thay thế chúng ta làm điều mà chúng ta chẳng bao giờ làm nổi để khiến chúng ta được phục hòa với Đức Chúa Trời, và món quà về Thánh Linh Ngài buông tha chúng ta ra khỏi nhu cầu tự cố gắng làm cho mình thành ra người công bình. Phaolô từng hỏi số người Galati cố gắng muốn trở về với luật pháp chủ nghĩa: “Anh em đã nhận được Đức Thánh Linh, là cậy các việc luật pháp, hay là bởi nghe và tin?” (GaGl 3:2). Đức Thánh Linh đem đến sự sống mới, mà không cần đến các thái độ hợp pháp xưa cũ ấy. “Chúng ta hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự” (RoRm 7:6). "Chữ (luật pháp thành văn) làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống” (IICo 2Cr 3:6). Sự sống mới của Ngài ban sự giải thoát cho chúng ta khỏi mọi nỗ lực đã lỗi thời tự tìm lấy sự công bình riêng, tự xưng công bình cho chính mình. “Thánh Linh của Chúa ở đâu thì sự tự do cũng ở đó” (3:17).
Linh quyền năng
Tự do chớ không phải phóng túng.
Nhưng tự do chớ không có nghĩa là phóng túng. Nếu Chúa Giê-Xu đã chịu chết để cho người bất công bất nghĩa được xưng là công bình, thì Ngài cũng ban Thánh Linh Ngài cho họ để khiến họ trở thành người công bình, chân chính nữa. Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta điều mà việc tuân giữ luật pháp vốn thường bị bản tính sa ngã của chúng ta khiến cho suy yếu, mong manh, chẳng bao giờ thực hiện nổi. Ngài đã sai chính con Ngài đến trong xác thịt loài người, đồng hóa với chúng ta ngoại trừ việc Ngài chẳng bao giờ phạm tội, để Đức Chúa Trời hình phạt tội lỗi loài người nơi chính con người Chúa Cứu thế, Ngài bị treo trên thập tự giá, làm sinh tế chuộc tội cho chúng ta. Sở dĩ Ngài phải làm như vậy, là để đáp ứng trọn vẹn điều mà Đức Chúa Trời đòi hỏi và đã được ghi rõ trong luật pháp đối với chúng ta, và để chúng ta sẽ sống, không phải là theo nguyên tắc tự-mình-cố-gắng nữa, mà nhờ quyền phép của Đức Thánh Linh. Đây là cách diễn ý rất thô thiển RoRm 8:3, 4. Nó chứng minh cho chúng ta rằng Chúa Cứu thế mang lấy tội lỗi vốn không hề thủ tiêu những gì luật pháp đòi hỏi, nhưng là điều kiện tiên quyết giúp loài người có thể đương đầu với chúng. Nói khác đi, chúng ta được tha tội không phải là nhờ tuân giữ luật pháp, nhưng một khi đã được tha tội rồi, thì chúng ta được kêu gọi hãy tuân giữ luật pháp. Đòi hỏi của một Đức Chúa Trời thánh khiết là ai muốn thông công với Ngài, thì chẳng những phải được tha tội và được xưng là công bình, mà thật ra là còn phải lần lần được làm nên công chính ngày càng hơn theo một ý nghĩa đạo đức đã được các thư tín của Phaolô nhấn mạnh. Không có một khoảnh khắc nào ông đã để cho giáo lý xưng công bình bởi đức tin vô điều kiện của ông và nhờ ân điển có thể bị dẫn tới chủ nghĩa chống đối luật pháp (antinomiamism) (6:1 và tt). Trái lại là khác. Vì sự xưng công bình và chính phép báp-tem là biểu tượng bề ngoài của nó, vốn có nghĩa là đồng chịu chết với Chúa Cứu thế để được sống lại, chết đối với lối sống tội lỗi cũ, sẵn sàng xem chúng là đặc điểm của bản tính chưa tái sanh mà Chúa Giê-Xu đã thanh toán trên thập tự giá rồi và phải bị bỏ luôn ở đó. Rồi nó có nghĩa là chúng ta cũng được đồng sống lại để chia xẻ đời sống mới mà Ngài khiến chúng ta có khả năng làm được. Phaolô đã mô tả thật đầy đủ và chi tiết trong Rôma chương 8, và ông tôn xưng cho Thánh Linh của Chúa Giê-Xu là Đấng đang ngự trị trong lòng chúng ta.
Quyền năng để làm trọn luật pháp của Đức Chúa Trời.
Luật pháp của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự thánh khiết, nhưng không giúp cho người ta có khả năng đạt được điều đó. Luật pháp chỉ là một uy quyền ngoại tại diễn tả đều Đức Chúa Trời đòi hỏi, mà không ban cho người ta năng lực để tuân giữ. Yêu cầu cũng như đòi hỏi vẫn tồn tại. Nhưng qua Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta khả năng làm trọn đòi hỏi đó. Không những “chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Cứu thế “, mà “luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Chúa Cứu thế Giê-Xu buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết” (8:1, 2) nữa. Phaolô nhận thấy sau khi ông được kết hợp với Chúa Cứu thế, chẳng những ông được sự tha tội một cách mới mẻ, mà còn được một quyền năng mới nữa. Thánh Linh của Chúa Giê-Xu đã đến trong ông, tạo ra một định luật cao hơn định luật của tội lỗi và sự chết. Nói như vậy, ông ngụ ý rằng cái nguyên tắc mà ông từng trải trước đây thống trị trên đời sống ông là nguyên tắc của tội lỗi dẫn tới sự chết không thể nào tránh khỏi. Nhưng giờ đây trong Chúa Cứu thế, ông đã có một nguyên tắc mới đang tích cực hành động trong ông, một định luật cao hơn, là quyền năng ban sự sống của Đức Thánh Linh. Cũng như định luật cao hơn của sự sống ngăn được trái táo nằm trong tay tôi khỏi phải tuân theo định luật về hấp lực (mà nó phải vâng lời nếu không có bàn tay của tôi) làm sao, thì cũng vậy, định luật (Phaolô đã mạnh bạo nói như vậy) của Thánh Linh cũng thắng hơn luật của sự chết là luật mà các Cơ đốc nhân đã phải chịu phục theo nếu không có Ngài.
Cuộc chiến đấu
Trong vấn đề này, không có gì là tự nhiên, tự động cả. Phaolô vốn biết rõ - chẳng những nhờ từng trải từ thời ông chưa ăn năn quy đạo, nhưng đọc kỹ Rôma chương 7, ta thấy - một kinh nghiệm đau thương về cuộc chiến đấu và bị thất bại trong đời sống là Cơ đốc nhân, là khi nào ông tin tưởng, trông cậy vào các nguồn tài lực của chính mình (có lẽ đây là một sắc thái của cái “chính mình tôi” trong 7:25) thì ông vẫn bị phục dưới định luật của tội lỗi. Nhưng nhờ những gì Đức Chúa Trời đã cậy Đức Chúa Giê-Xu ban cho chúng ta, Phaolô biết rằng chúng ta chẳng cần phải chịu thất bại nữa. Tuy sức thúc đẩy phạm tội cứ ở lại trong chúng ta cho đến ngày qua đời, nhưng chúng ta nhất thiết còn có khả năng áp đảo nữa. Nhờ Thánh Linh, chúng ta có thể “xử tử” những việc làm của xác thịt (ông ngụ ý bản tính của người chưa được cứu chuộc, xa cách Đức Chúa Trời, 8:13). Và đến cuối cuộc hành trình của loài người chúng ta, Thánh Linh từng chiến thắng tội lỗi, cũng sẽ ban cho chúng ta khả năng để thắng vượt sự chết nữa. “Nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Chúa Cứu thế Giê-Xu sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Giê-Xu Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống” (8:11).
Nói khác đi, chính Thánh Linh của Chúa Giê-Xu đã lập lại trong chúng ta sự chịu đóng đinh và sự sống lại của Chúa chúng ta. Con người cũ chưa được tái sanh là “Tôi” đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Cứu thế (GaGl 2:20). Chúng ta “sống trong Thánh Linh” hay “bước đi theo Thánh Linh” trong phạm vi chúng ta để cho Đức Thánh Linh “đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá” (5:24). Cũng chính là Đức Thánh Linh đã truyền quyền năng của Chúa Cứu thế phục sinh sang cho chúng ta, và giúp chúng ta chia xẻ sự đắc thắng khải hoàn đó. Vậy, “hãy bước đi theo Thánh Linh, thì anh em sẽ không làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt” (5:16 theo bản dịch Anh văn). Trong Rôma chương 8 và Galati chương 5, Phaolô đã vạch ra hết sức rõ ràng rằng có một cuộc chiến tranh giành lấy ngôi vua đang diễn biến ác liệt trong đời sống tín hữu. Một trận đánh còn quan trọng hơn cả lúc họ chưa được kết hợp với Chúa Cứu thế nữa. Sở dĩ như vậy, là vì Thánh Linh vốn đối lập với bản tính tự nhiên của con người sa ngã mà tôi vốn được sanh ra (và cũng chưa mất đi sau khi tôi đã kết hợp với Chúa Cứu thế ). Hai nguyên tắc này luôn chống đối nhau. Tất cả các Cơ đốc nhân đều biết bằng kinh nghiệm cuộc chiến tranh xảy ra sau đó có nghĩa là hoặc, họ không thể thực hiện được điều họ có thiện chí muốn làm, hoặc- nếu được hiểu theo một nghĩa khác trong Hi văn - là hiện diện của Thánh Linh quyền năng ngăn trở họ làm điều nếu chỉ tuân theo lịnh truyền của ý riêng họ mà thôi, thì chắc chắn họ sẽ làm (5:17). Dầu sao, chúng ta đã được nhắc nhở về cuộc chiến tranh thuộc linh đó. Quyền năng kìm chế các khuynh hướng của xác thịt đã sa ngã chỉ có thể có được khi nào chúng ta tự nguyện, tự chọn việc giao phó cho Đức Thánh Linh quyền cai trị kiểm soát chúng ta. Ngài có quyền thắng hơn các ham muốn của xác thịt bị băng hoại của tôi, nhưng sẽ không sử dụng quyền ấy, trừ phi chính tôi yêu cầu Ngài.
Sự biến hóa.
May thay, Đức Thánh Linh vốn đầy lòng thương xót, nên vận hành từ nơi sâu thẳm của tiềm thức bản ngã tôi. Trong khi tôi vốn tự cao tự đại đến mức chẳng nghĩ gì đến chuyện yêu cầu Đức Thánh Linh ban sức lực của Ngài cho mình, chỉ thích tự lực tự cường mà thôi; thì tôi được khích lệ để nhớ lại rằng “Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi Pl 2:13). Xin chúng ta chớ có lầm lẫn để thấy rằng câu nói về Đức Chúa Trời này vốn ám chỉ Đức Thánh Linh. Ngài là Đấng chẳng những ban cho chúng ta quyền năng để làm điều phải, điều đúng, mà còn tác động trong lòng chúng ta để chúng ta biết muốn làm điều tốt, mà nếu không có việc đó, chúng ta sẽ chẳng bao giờ chịu quay sang để yêu cầu Ngài ban cho mình sức lực ấy.
Nhưng sức lực ấy vốn dành cho tất cả những ai ở trong Chúa Cứu thế. Nó chẳng phải là điều gì khác hơn chính quyền năng siêu nhiên đã khiến Chúa Cứu thế sống lại từ kẻ chết, rồi được dẫn truyền vào các thân thể loài người của chúng ta (Eph Ep 1:18 và tt). Rõ ràng Phaolô muốn ám chỉ Đức Thánh Linh khi ông nói về quyền phép ấy, vì chẳng những ông cầu xin Đức Thánh Linh sẽ mặc khải điều đó cho tất cả các độc giả của mình, mà cùng với các trước giả Tân Ước khác, ông còn kết hiệp Đức Thánh Linh với sự sống lại từ kẻ chết của Chúa Cứu thế (ITi1Tm 3:16; IPhi 1Pr 3:18). Trong Eph Ep 3:16, Phaolô đã nói thẳng điều đó ra. Ông cầu nguyện “Đức Chúa Cha tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng”.
Linh của sự giống như Chúa Cứu thế
Hạt giống của Đức Thánh Linh.
Phần quyền phép được ban cho các cá nhân này không phải là cái ruach trần trụi mà thỉnh thoảng chúng ta gặp trong thời Cựu Ước nơi các nhân vật như Sau-lơ và Sam-sôn. Đây là việc ứng dụng đầy quyền năng cho các tín hữu tâm tính của Chúa Cứu thế . Vì vậy, khi Phaolô nói về cuộc chiến đấu thuộc linh trong Galati chương 5, nội dung của sự tự do mà ông bênh vực được định nghĩa là tâm tính của Chúa Giê-Xu. Đức Thánh Linh đầy quyền năng luôn luôn chiến thắng này ngự trong lòng các tín hữu và có thể cứ giữ cho các bản tính tội lỗi của họ bị đóng đinh luôn vào thập tự giá, giống như một hột giống được gieo xuống đất là đời sống người tín hữu. Nếu được vun bón, nuôi dưỡng, hột giống ấy sẽ tăng trưởng để trở thành một cây ăn quả tươi tốt, đẹp đẽ. và trái đó có vị như :’ "Yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” (GaGl 5:22).
Mà đó là gì, nếu không phải là đặc tính của Chúa Giê-Xu? Một Đức Chúa Trời thánh khiết đòi hỏi dân Ngài phải nên thánh. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng “gọi chúng ta đến sự nên thánh...đã ban Thánh Linh Ngài trong anh em” (ITe1Tx 4:7, 8) để giúp chúng ta làm trọn điều Ngài đòi hỏi. Sự nên thánh này không những là việc hiến thân cho thần tánh (thế giới thời cổ có nhiều cách gắn bó với thần tánh mà chẳng thánh khiết chút nào - như việc thờ phượng bằng cách bán dâm rất phổ biến trong các đền miếu), cũng không phải chỉ là việc sống theo các luật lệ đạo đức (cũng có nhiều người từng làm như vậy vào thời thượng cổ nữa, và họ cam chịu đủ thứ thiệt thòi, trong khi vẫn thiếu mất các ưu điểm của luật pháp Do thái giáo). Sự thánh khiết của Cơ đốc nhân bao gồm cả sự hiến thân lẫn nếp sống đạo đức. Nó xuất phát từ việc đầu phục Chúa Giê-Xu, Đấng thể hiện cách ăn ở cư xử lý tưởng của con người ngay trong bản thân Ngài.
Các phẩm chất của Chúa Giê-Xu.
Kết quả là chúng ta thấy các đặc tính của Chúa Giê-Xu đã được nhấn mạnh nhiều lần qua suốt Tân Ước, như đó là những phẩm hạnh mà Đức Thánh Linh đang tìm cách làm nảy sinh giữa dân sự của Chúa Cứu thế. Vương quyền của Đức Chúa Trời mà Chúa Giê-Xu từng công bố và thể hiện một cách đầy ý nghĩa, không phải chỉ là một vấn đề bên ngoài, như là bạn ăn gì uống gì, mà là sự công chính, bình an và vui mừng trong Đức Thánh Linh (RoRm 14:17), và cả ba phẩm hạnh ấy đều nổi bật hẳn nơi Chúa Giê-Xu. Quyền phép đã đánh dấu cho việc truyền giảng của các sứ đồ bởi Đức Thánh Linh tại Têsalônica, và sự vui mừng đánh dấu cho việc đạo Chúa đã được người Têsalônica tin nhận (ITe1Tx 1:5 và tt). Đức Thánh Linh đã ngự trên Đấng Mê-si-a chịu thống khổ, cũng ngự trên các Cơ đốc nhân đang chịu gian khổ (IPhi 1Pr 4:14). Cuộc đời của Chúa Giê-Xu thể hiện tình yêu của Đức Chúa Trời làm sao, thì chúng ta nhận thấy Đức Thánh Linh cũng đặc biệt được ban cho các tín hữu để họ sống bằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong những cuộc đời mà trước đây họ không hề có tình yêu ấy. Phaolô nói trong RoRm 5:5: “Sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” và ông vui mừng được nghe nói về “tình yêu thương của Đức Thánh Linh đó”, mà ông tìm thấy trong Hội Thánh tại Côlôse (CoCl 1:8). Đây là một đức hạnh tối quan trọng, là dấu hiệu rõ rệt về một người được đổ đầy Đức Thánh Linh của Chúa Cứu thế Giê-Xu, đến nỗi giữa ba chương sách đề cập các ân tứ thuộc linh (ICo1Cr 12:1-14:40) của mình, Phaolô đã đề cao ân tứ yêu thương, xem đó là tột đỉnh của các ân tứ. Người ta chỉ cần thay tên “Giê-Xu” vào chữ “yêu thương” trong chương này sẽ thấy trọn vẹn đó chính là bức tranh vẽ cách sống của Chúa Cứu thế Giê-Xu bằng ngòi bút. Trái đầu tiên mà cũng là cuối cùng của Đức Thánh Linh là tình yêu thương hướng về tha nhân bất chấp sự phản trắc của họ; đó vốn là điều đã đánh dấu trên Đấng ban Thánh Linh trong đời sống tại thế của Ngài.
Con đường dẫn đến sự nên thánh.
Sự nên thánh đích thực mà Đức Thánh Linh gọi chúng ta đến vốn chẳng phải điều gì khác hơn là trở nên giống như Chúa Cứu thế và trong một khúc sách tuyệt vời Phaolô đặt tương phản hai chế độ cũ và mới. Phaolô đã đạt tới điểm này, xem như đó là chủ đề tột đỉnh của ông. Đức Giê-hô-va là Đấng từng tự bày tỏ mình ra cách đúng lúc kịp thời và bằng nhiều hình thức khác nhau dưới giao ước cũ, khi Môise đứng trung gian giữa Đức Giê-hô-va trên núi Si-na-i với dân sự trong đồng bằng (có vinh quang của Đức Giê-hô-va phản chiếu trên gương mặt ông từ sự tương giao với Đức Chúa Trời) thì bây giờ Ngài đã tự bày tỏ mình ra rõ ràng, không giấu mặt nữa để ai nấy đều có thể đến gần được. Dưới giao ước mới, Đức Yahweh tự bày tỏ hiện diện của mình cho dân Ngài với tư cách là Đức Thánh Linh (dường như đó chính là ý nghĩa của câu “Thánh Linh của Chúa ở đâu” (IICo 2Cr 3:17); và vì sự hiện diện của Ngài như vậy là thường xuyên, không giấu giếm, và hết sức rõ ràng. Hiện diện của Đức Chúa Trời vốn được tập trung trong Chúa Cứu thế và được phổ cập cho mọi người qua sự chết và sống lại của Ngài, và được dành sẵn để biến hóa dân sự của Ngài. Khi chúng ta nhìn chăm vào Chúa Giê-Xu, thờ phượng Ngài và phản chiếu lại đặc tính mà Ngài phơi bày cho chúng ta trong các sách Tin Lành, thì gương mặt chúng ta sẽ sáng rực lên như gương mặt của Môise khi ông diện kiến Đức Giê-hô-va vậy. Nhưng ánh hào quang sẽ không phai mờ trên gương mặt các Cơ đốc nhân như nó đã phai mờ trên mặt Môise. Mà còn tăng thêm nữa. Chủ đích của Đức Chúa Trời là biến hóa chúng ta bằng chính Thần Linh Ngài ngự trong chúng ta (từ ngữ “biến hóa” đã được dùng trong các sách Tin Lành để nói lên việc Chúa Giê-Xu biến hình), và đã biến đổi chúng ta từ một mức độ vinh hiển này lên một mức độ vinh hiển khác. Sự vinh hiển nói lên thân vị và cá tính của Đức Chúa Trời dưới hình ảnh của ánh sáng. Nếu chúng ta muốn thấy vinh hiển của Đức Chúa Trời (vốn chẳng hề có ai thấy được trực tiếp không qua trung gian, mà còn sống, XuXh 33:20), thì chúng ta phải tìm nó nơi con người của Chúa Giê-Xu. Nơi Ngài, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã chiếu tỏa trong hình thức con người (GiGa 1:14; IICo 2Cr 4:4). Vậy, công tác của Đức Thánh Linh trong người tín hữu, trước hết, là biến hóa chúng ta từ mức độ vinh hiển này sang mức độ vinh hiển khác, nghĩa là, Ngài khiến chúng ta ngày càng giống Chúa Cứu thế hơn.
Phần thưởng hằng ngày.
Trong Tit Tt 3:5, Đức Thánh Linh được cho biết Ngài là Đấng chẳng những tái sanh chúng ta, mà còn làm mới lại chúng ta nữa; và công tác làm mới lại từ bên trong các bản tính của chúng ta được nhấn mạnh trong RoRm 12:2 (khi chúng ta dâng thân thể mình làm một của lễ sống cho Đức Chúa Trời) và trong CoCl 3:10. Trong câu ấy, Phaolô giải thích nếp sống mới của họ do hiệp một với Chúa Cứu thế bị đóng đinh và sống lại bao gồm việc dứt khoát từ bỏ “thạnh nộ, buồn giận, hung ác, lộng ngôn, nói tục” vốn là đặc điểm của “người cũ” (nghĩa là bản tính sa ngã của loài người). Thay vào đó, họ phải mặc lấy - như một chiếc áo mới thích hợp - phần nhân tính đã được đem đến cho họ trong Chúa Cứu thế và luôn luôn được đổi mới bằng sự thông hiểu ngày càng sâu nhiệm hơn về Chúa Cứu thế, để trở thành ảnh tượng nguyên thủy ban đầu của con người mà Đấng Tạo Hóa dựng nên, giống như chính Đức Chúa Trời vậy, tức là “nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nhường nhịn, yêu thương, hòa nhã, và biết ơn mà ông tiếp tục đề cập (3:1, 5-16)”. Vậy, đó là công tác của Đức Thánh Linh, khiến chúng ta ngày càng phản ánh rõ ràng hơn tâm tính của Chúa Cứu thế, vốn là Con Người Cuối Cùng minh họa cho ảnh tượng của Đức Chúa Trời, là con người mà Ngài muốn có khi dựng nên chúng ta.
Sự thánh hóa tiệm tiến.
Quá trình biến một người trở nên giống như Chúa Cứu thế là một tiến trình: xin đừng ai tưởng rằng mình đã là thánh rồi. Bản thân Phaolô sau mấy chục năm nhận biết Chúa Cứu thế, vẫn phải nói rằng mình chưa đạt tới mục đích mà Chúa Cứu thế đã đặt trước mặt mình. ông vẫn còn phải tiếp tục bươn tới (Phi Pl 3:8-15). Nhưng với tuổi tác ngày càng cao và nhận thấy dấu hiệu của sự hư nát trong thân thể hay chết của mình, ông đã mừng rỡ khi nghĩ rằng con người bề trong của ông vẫn được đổi mới hằng ngày cho đến khi nào ông được “ở với Chúa” là điều mà cả đời sống Cơ đốc nhân của ông đang hướng tới, và ông được ban cho Đức Thánh Linh để bảo đảm (IICo 2Cr 4:16 và tt 5:1và tt 5:8).
Cho nên trong việc chúng ta được thánh hóa và được bảo đảm, bao giờ cũng có một phần “đã có rồi” và một phần “chưa có” trong công tác của Đức Thánh Linh. Thật sự Ngài đã được ban cho để thực hiện trong chúng ta đặc tính của Chúa Cứu thế, nhưng tiến trình này vẫn chưa hoàn tất trước khi chúng ta được nhìn thấy Ngài như thật có vậy, hoặc là khi chúng ta qua đời, hoặc khi Ngài sẽ hiện ra. Xin nhường cho Giăng nói lời cuối cùng về chủ đề này: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bấy giờ, chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy. Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch” (IGi1Ga 3:2 và tt).
3. THÁNH LINH TRONG SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
Đức Thánh Linh vốn vừa hiệp làm một với Đức Chúa Trời, vừa cư trú trong chúng ta, còn có một vai trò tích cực hơn nữa trong đời sống người tín hữu. Như John Taylor đã gọi rất đúng, là Ngài “Đức Chúa Trời đứng trung gian” để một mặt vừa nhận lấy những điều của Đức Chúa Trời, vừa biến chúng thành thực hữu cho chúng ta, và mặt khác, đem những ước mong và lời cầu nguyện rụt rè của chúng ta dâng lên cho Đức Chúa Cha.
Đức Thánh Linh chiếu sáng Đức Chúa Trời
Phaolô phát triển một luận cứ lý thú và độc đáo trong ICô chương 2. Ông giải thích rằng thông điệp Cơ đốc giáo không phải là sự khôn ngoan của đời này như điều mà các nhà hiền triết lưu động thời đó vẫn bán rao khiến một số người Côrinhtô đã bị nhầm lẫn. Không. Nó chẳng phải điều gì khác hơn là chân lý của Đức Chúa Trời, được Đức Thánh Linh đứng trung gian để đem đến cho chúng ta (ICo1Cr 2:9). Và cũng như sự khôn ngoan của loài người chỉ được truyền thông và tiếp nhận bằng tâm linh con người bên trong, thì với chân lý của Đức Chúa Trời cũng vậy. Không ai lãnh hội nổi những điều thuộc về Đức Chúa Trời; và nếu về phía chúng ta đã không hiểu nổi, thì chỉ còn có cách là chính Đức Chúa Trời phải tự bày tỏ mình ra. Đó là việc Ngài đã làm. Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta để chúng ta có thể thấu hiểu, không phải là về tương lai, nhưng là các ân tứ mà bởi ân điển Ngài, Đức Chúa Trời đã ban xuống trên chúng ta (2:12).
Chúa Giê-Xu điểm hội tụ của mọi sự soi sáng
Nhưng há chúng ta đã đọc thấy là Giăng bảo rằng chính Chúa Giê-Xu đã khiến chúng ta biết về Đức Chúa Cha và tiết lộ cho chúng ta biết bản tính của Ngài (GiGa 1:18; 3:13, v,v...) sao? Điều đó vốn chắc chắn. Nhưng cùng một sách Tin Lành ấy cũng trình bày rõ ràng rằng Đức Thánh Linh sẽ giải thích chính Chúa Giê-Xu là điểm hội tụ cho toàn thể sự mặc khải của Đức Chúa Trời . Chính vì thế mà “Thần lẽ thật đến từ Đức Chúa Cha” đã được bày tỏ là có vai trò làm chứng cho Chúa Giê-Xu chính là chân lý của Đức Chúa Trời nhập thể (GiGa 15:16; 16:14, 15; 14:6). Trong việc này, Phaolô cũng nhìn thấy y như Giăng. Trong ICô 2, ông có thể nói gần giống y như vậy, là chính Đức Thánh Linh bày tỏ cho các tín hữu những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, và chúng ta vốn có tâm trí của Chúa Cứu thế. Một lần nữa, chúng ta lại chạm phải mối liên hệ bất khả phân ly giữa Đức Thánh Linh và Đức Chúa Giê-Xu. Thật vậy, Ngài mặc khải cho chúng ta sự cung ứng đầy ân điển của Đức Chúa Trời. Nhưng tên của sự cung ứng đó chính là Giê-Xu. Trong nhiều chỗ khác nữa của Tân Ước, Đức Thánh Linh từng hành động tích cực trong các nhà tiên tri cũng được hứa ban cho các Cơ đốc nhân để hướng dẫn họ, nhưng bao giờ việc hướng dẫn đó cũng quy chiếu vào Chúa Giê-Xu, trong Đấng ấy chân lý của Đức Chúa Trời đã mặc lấy hình dạng con người. Trong RoRm 8:14, chúng ta có lời hứa là sẽ được ban Đức Thánh Linh hướng dẫn, nhưng hướng dẫn để noi theo nẻo đường của kẻ làm con, nối gót Chúa Giê-Xu để gọi Đức Chúa Trời bằng “A-ba” và chia sẻ sự chết cũng như sự sống phục sinh của Ngài.
Một lời cầu nguyện cho Êphêsô.
Trong Eph Ep 1:17 và tiếp theo, Phaolô cầu nguyện để các độc giả của ông được Đức Thánh Linh soi sáng cho. Nhưng sự soi sáng này lại được Đức Chúa Trời của Chúa Cứu thế Giê-Xu chúng ta ban cho, chỉ để “nhận biết Ngài”. Đức Thánh Linh giúp chúng ta biết được Chúa Giê-Xu vị Thầy của mình, ý thức được ý chỉ Ngài, nắm bắt được những điều của tâm trí Ngài, và nhìn thấy mọi sự việc, theo như cách chính Ngài nhìn thấy. Nhất là Phaolô đã cầu xin Đức Thánh Linh tỏ ra cho họ ba điều:
Thứ nhất, “điều trông cậy về sự kêu gọi”. Trong câu này, đặc biệt Đức Thánh Linh đã đứng trung gian giữa “điều đã có rồi” và “điều chưa có”. Sự kêu gọi đã thuộc về quá khứ. Niềm hy vọng về sự kêu gọi đó vốn còn trong tương lai. Của đặc cọc về thiên đàng, là chính Đức Thánh Linh, giúp chúng ta thấy được thực tại sự kêu gọi của chúng ta và kết cuộc tương lai của nó.
Thứ hai, “sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ” một câu có ý nghĩa mơ hồ cố ý, có thể có nghĩa là các thánh đồ có Đức Chúa Trời làm cơ nghiệp - và đó là một nguồn “giàu có” vô cùng tận. Nhưng nó cũng có thể chứa đựng một chân lý còn gây sửng sốt hơn nữa, là các thánh đồ chính là cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, và đặt ra vấn đề là Ngài được để cho tự do nắm giữ cái cơ nghiệp đó, là những cuộc sống của chúng ta đến mức độ nào.
Thứ ba, Phaolô cầu nguyện cho họ nhận biết được “quyền năng vô hạn của Ngài đối với chúng ta có lòng tin...mà Ngài đã tỏ ra trong Chúa Cứu thế , khi khiến Chúa Cứu thế từ kẻ chết sống lại và làm cho ngồi bên hữu mình tại các nơi trên trời”. Thế là chúng ta lại được sự mặc khải của Đức Thánh Linh đưa trở về với Chúa Cứu thế . Ánh sáng từ Đức Chúa Trời đã và sẽ không chiếu ra từ một ai khác hơn là Chúa Cứu thế : nhiệm vụ của Đức Thánh Linh là soi sáng Ngài cho chúng ta nhìn thấy. Và để nhấn mạnh hơn về sự tập trung vào Chúa Cứu thế đó, vị sứ đồ kết thúc phân đoạn đó của ông bằng cách nhắc nhở các độc giả của ông rằng Chúa Cứu thế đầy quyền năng, đã sống lại và đã thăng thiên, đó chính là cái đầu mà Hội Thánh là thân thể, và sự đầy dẫy của Ngài đang được đổ đầy cho đời sống họ (1:23).
Một lời cầu nguyện cho Côlôse.
Trong CoCl 1:9 và tiếp theo, thì điều khẩn cầu đầu tiên Phaolô cầu nguyện cho các Cơ đốc nhân mình chưa hề gặp mặt bao giờ là xin Đức Thánh Linh ban cho họ có được sự hiểu biết ý chỉ của Đức Chúa Trời trên đời sống họ, để họ sống được một cuộc đời phù hợp với ý chỉ đó bằng cách làm đẹp lòng Chúa trong mọi sự; sau nữa, là để họ được thêm lên trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời; và cuối cùng, để họ được tăng cường bằng tất cả sức lực tùy theo mức độ mà quyền phép vinh hiển của Ngài có thể đem đến cho họ như đã được làm cho Chúa Cứu thế, không phải trong sự tự cao tự đại, nhưng trong sự nhịn nhục và chịu khổ. Đó là nẻo đường, mà Cơ đốc nhân có thể noi gương Chúa Cứu thế và có thể trông cậy Đức Thánh Linh sẽ chiếu sáng cho. Bản chất sự mặc khải của Ngài một lần nữa lại tập trung trước hết vào Chúa Cứu thế. Đó là đặc điểm mà thư Hêbơrơ cũng nhấn mạnh về việc hiểu biết sẽ dẫn người ta đến chỗ vâng lời.
Sự soi sáng trong thư IGiăng.
Trong tình hình phái Trí huệ đang thịnh hành, IGiăng đã được viết ra, thì “biết” (tri, trí thức) là từ ngữ then chốt, và các giáo sư giả đang đòi độc quyền việc đó. Câu trả lời của Giăng là họ chẳng cần gì đến các giáo sư giả hay bất luận giáo sư nào khác cho vấn đề ấy. “Về phần các con, đã chịu xức dầu (nguyên văn là Christed: đã được Cơ đốc hóa) từ nơi Đấng thánh, thì đã biết mọi sự rồi” (IGi1Ga 2:20). Chẳng có gì nghi ngờ về nội dung sự soi sáng thiên thượng mà Đức Chúa Trời đã san sẻ cho chúng ta. “Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải là kẻ chối Đức Chúa Giê-Xu là Chúa Cứu thế sao?” (2:22). Họ được cảnh cáo là không nên tin tưởng vào tất cả những biểu hiện thuộc linh, bởi vì những tiết lộ chân chính của Đức Thánh Linh bao giờ cũng là làm chứng cho Chúa Giê-Xu nhập thể. “Bởi điều này, hãy nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: phàm thần nào xưng Chúa Cứu thế Giê-Xu lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời; còn thần nào không xưng Đức Chúa Giê-Xu, chẳng phải bởi Đức Chúa Trời” (4:2). Nhờ tin quyết rằng sự xức dầu mà mọi người trong vòng họ đều đã được nhận lãnh là chính Thần (Linh) của Đấng Được Xức Dầu vẫn còn ở trong họ (2:27), Giăng biết rằng ông có thể an lòng giao phó việc dạy dỗ họ cho cùng một Đức Thánh Linh ấy vốn là Đấng thành tín để vạch rõ cho họ thấy phải làm thế nào để cứ ở trong Chúa Cứu thế, là Đấng một ngày kia sẽ tái lâm (2:28 và tt). Điều này hoàn toàn phù hợp với điều mà trước giả Khải huyền nói: “Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Giê-Xu là Linh của lời tiên tri” (Câu tác giả trích ở đây dịch là: “Chính Thần (Linh) của lời tiên tri làm chứng cho Chúa Giê-Xu” (KhKh 19:10). Vì Chúa Giê-Xu là lời nói cuối cùng của Đức Chúa Trời phán với loài người; và Đức Thánh Linh thì soi sáng và giải nghĩa, nhưng chẳng thêm gì vào lời đó cả.
Thánh Linh sẽ truyền dạy.
Nói như thế có nghĩa là nếu một người thật sự được đưa đến chỗ đặt đức tin vào Chúa Giê-Xu, thì không phải người ấy đã nhờ vào các giáo sư loài người hướng dẫn mình đâu - dầu số giáo sư ấy rất hữu ích. Chính Thánh Linh của thiên đàng mới là giáo sư của người ấy. Và người ấy có thể cho rằng chính Đức Thánh Linh đã hướng dẫn mình trong bất cứ điều gì khiến mình thấy được Chúa Giê-Xu càng rõ rệt hơn. Tôi học được bài học này mấy năm trước đây, khi một binh sĩ được tôi giúp đỡ trước đó, bằng lòng đến với Chúa Cứu thế. Lúc ấy tôi rất lo lắng, vì hầu như ngay sau đó, anh ta được phái đi Bắc phi, tôi chẳng hy vọng gì để giúp đỡ thêm cho anh ta hầu có thể tiến bộ trong những ngày đầu tiên trong đời sống Cơ đốc nhân. Mấy tháng sau đó, tôi nghe anh ta đang tổ chức một lớp học Kinh Thánh trong đơn vị của mình tại Bắc phi, trong đó chẳng những chỉ có bè bạn lính mới của anh ta đang học, mà có cả các sĩ quan quân đội đến cấp bậc thiếu tá tham dự nữa! Anh ta đã không có thầy giáo loài người, nhưng có Thánh Linh Chúa Cứu thế và Kinh Thánh, để nhờ đó, tăng trưởng trong sự hiểu biết và trở nên tầm thước vóc giạc thiêng liêng.
Thánh Linh hướng dẫn các tín hữu
Hai điều sai lầm phổ biến.
Vấn đề Thánh Linh hướng dẫn chúng ta như thế nào là điều mà mỗi Cơ đốc nhân khiêm nhu đều phải đương đầu. Câu trả lời không phải dễ dàng, vì Thánh Linh như gió muốn thổi đâu thì thổi, con người chẳng bao giờ ra lịnh hay điều khiển, kiểm soát được Ngài. Trong thực tế, có thể phân biệt hai khuynh hướng trong Hội Thánh. Khuynh hướng thứ nhất cho rằng Đức Chúa Trời luôn luôn hướng dẫn bằng đa số phiếu bầu, bằng điều hợp lý, bằng lương tri đã được thánh hóa. Trường hợp này rất dễ thoái hóa để trở thành sự phán đoán thận trọng, lập kế hoạch theo cách của thế gian và điều hành mọi việc bằng phương thức đầu phiếu. Khuynh hướng thứ hai là cho rằng sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh bao giờ cũng phi thường, riêng biệt cho từng cá nhân, và rất bấtngờ.
Bốn nguyên tắc hướng dẫn.
David Watson có nói mấy lời thật khôn ngoan về vấn đề này trong quyển ‘Hiệp một trong Thánh Linh (One in the Spirit) của ông (tr.54 và tt). Ông đồng thời rút ra từ Kinh Thánh bốn nguyên tắc hướng dẫn của Đức Chúa Trời mà nếu đem phối hợp lại, sẽ cung cấp một nền tảng đáng tin cậy để hành động, tránh được thái độ cực đoan trong việc rêu rao quá đáng rằng: “Chúa bảo tôi phải làm thế này, thế này”
Thứ nhất: Đức Chúa Trời hướng dẫn bằng hoàn cảnh (Cong Cv 16:10). Ngài đóng một số cửa này, mà mở một số cửa khác; trách nhiệm của chúng ta là phải nhạy cảm đối với sự hướng dẫn của Ngài, để khi các cánh cửa được mở ra thì bước vào ngay.
Thứ hai: Đức Chúa Trời hướng dẫn bằng các Cơ đốc nhân khác, như Ngài làm trong Công vụ chương 6, khi cả đám đông chọn Bảy Chấp sự, hay trong Công vụ chương 13, khi Đức Thánh Linh truyền dạy Hội Thánh tại An-ti-ốt về nhu cầu để Phaolô và Banaba ra hải ngoại. Nhưng điều mà một cá nhân tin quyết, phải được đưa ra cho các Cơ đốc nhân khác thử nghiệm, chỉ dẫn. Nếu quả thật niềm tin quyết của chúng ta đến từ Đức Chúa Trời, thì những người khác vốn cùng có liên hệ với Đức Chúa Trời, sẽ xác nhận nó. Watson đã thẳng thắng nói rằng: “Cơ đốc nhân nào không chịu nghe theo lẽ phải, là ngu dại”. Muốn chắc chắn hơn, thì đây cũng không phải là đích chuẩn duy nhất, vì nhiều tiếng nói của quá nhiều Cơ đốc nhân cũng có thể rất lộn xộn. Nhưng ít ra thì trên nguyên tắc, chúng ta phải sẵn sàng tiếp nhận sự hướng dẫn qua trung gian các chi thể khác trong thân thể Chúa Cứu thế .
Thứ ba: Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng ta qua Kinh Thánh. Đức Thánh Linh đã linh cảm những gì được viết ra trong đó, hoàn toàn có khả năng lấy một phần trong đó viết lên tấm lòng chúng ta như mũi tên chỉ đường khiến chúng ta không tài nào tẻ tách, mà phải làm phương hướng đặc biệt cho hành động. Nhưng nếu chỉ lấy riêng nó mà thôi thì phương pháp này cũng rất dễ bị lạm dụng. Chọn một câu tình cờ nào đó trong Kinh Thánh cũng chẳng chứng minh được gì, ngoại trừ việc chúng ta có thể bị lừa gạt và không dùng Kinh Thánh theo đúng mục đích mà sách ấy dành cho chúng ta. Lời khuyên của Phaolô khác hẳn thế: “Nguyền xin lời của Chúa Cứu thế ở đầy trong lòng anh em, và anh em dư dật mọi sự khôn ngoan...để dạy và khuyên nhau” (ICo1Cr 3:16). Sự nhận biết lời Chúa ngày càng sâu rộng hơn sẽ phát huy khả năng “đánh hơi” được ý chỉ của Đức Chúa Trời trong bất cứ hoàn cảnh nhất định nào.
Thứ tư: Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng ta trong sự cầu nguyện. Watson chỉ cho chúng ta CoCl 3:15: “Nguyền xin sự bình an của Chúa Cứu thế cai trị (làm trọng tài) trong lòng anh em”. Có khi chúng ta phải cầu nguyện cho đến chừng được biết chắc ý chỉ của Đức Chúa Trời về một vấn đề nào đó. Chúng ta phải có sự bình an sâu xa trong lòng, không phải là sự chắc chắn tuyệt đối về phương diện tri thức, nhưng là lòng tin quyết thực tế, cho phép chúng ta hành động bằng lòng tin quyết vui mừng.
Trên đây là vài phương pháp theo đó chúng ta có thể trông mong Thánh Linh của Đức Chúa Trời soi sáng, chẳng những là chính Đức Chúa Trời, mà là ý chỉ Ngài đối với chúng ta. Ngài là vị Giáo sư tối cao của Cơ đốc nhân nào đang tăng trưởng trong ân điển và trong sự thông biết Chúa mình.
Linh ban quyền năng cho sự cầu nguyện.
Đức Thánh Linh - đối tượng của sự cầu nguyện.
Với tư cách Đấng Trung Bảo, Đức Thánh Linh chẳng những dạy chúng ta chân lý của Đức Chúa Trời, mà còn mở mắt cho chúng ta nhìn thấy Đấng vốn là chân lý nhập thể, và hướng dẫn chúng ta trong đời sống mình. Ngài cũng giúp chúng ta đến gần Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện. Chúng ta đã thấy là mọi người được Đức Thánh Linh kết hợp lại, nên cả người Do thái lẫn người ngoại bang đều được phép vào ra mắt Đức Chúa Cha như nhau (Eph Ep 2:18). Chúng ta từng nhận xét rằng ấy là nhờ Đức Thánh Linh mà các con thừa nhận được gọi Đức Chúa Trời bằng “Cha”. “A-ba” là hình thức gọi thân mật được nghe thấy lần đầu tiên trên môi miệng Chúa Giê-Xu. Biết rõ rằng “A-ba” là tiếng mở đầu Bài cầu Nguyện chung theo tiếng A-ram, có thể nói rất đúng rằng chỉ qua trung gian Đức Thánh Linh, chúng ta mới có thể cầu nguyện và sống theo lời cầu nguyện đó. Thật vậy, theo phân đoạn tiếp ngay sau Bài Cầu Nguyện của Chúa trong sách Luca, Chúa Giê-Xu còn hứa rằng Đức Chúa Cha sẽ ban Đức Thánh Linh cho những ai cầu xin Ngài. Như vậy, Đức Thánh Linh là đối tượng tối cao của sự cầu nguyện. Và thật lý thú khi thấy Luca đã trình bày chủ đề này của ông trong hai tác phẩm riêng biệt như thế nào. Ông cho chúng ta biết là ngay khi Chúa Giê-Xu cầu nguyện trước lúc chịu phép báp-tem, Đức Thánh Linh đã giáng trên Ngài. Rồi ngay khi các môn đệ Chúa cầu nguyện tại Giêrusalem để chờ ngày lễ Ngũ tuần, thì Đức Thánh Linh cũng giáng trên họ. Sau từng trải trên con đường đi Đa-mách, Sau-lơ người Tạt-sơ đã kiêng ăn ba ngày để cầu nguyện, điều đó chứng tỏ ông có tâm trạng sẵn sàng tiếp nhận, và mời Đức Thánh Linh đến. Với Cọt nây cũng vậy; ông là một cột mốc quan trọng khác trong sách Công vụ đánh dấu việc Tin Lành được truyền bá lan tràn. Chính Cọt-nây đã hạ mình xuống để cầu nguyện và chờ đợi, sẵn sàng đến nỗi ân tứ tối cao của Đức Chúa Trời là Đức Thánh Linh đã đổ xuống trên ông trước khi Phi-e-rơ đạt tới tuyệt đỉnh bài giảng Tin Lành cho ông! Quả thật Luca khó có cách nào khác để nhấn mạnh hơn, rằng đối tượng tối cao của sự cầu nguyện chính là Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Đức Thánh Linh, Đấng cảm thúc việc cầu nguyện.
Nhưng như thế vẫn chưa hết. Đức Thánh Linh là đối tượng tối cao của sự cầu nguyện, cũng là Đấng đầu tiên cảm thúc sự cầu nguyện. Chẳng những Ngài khiến chúng ta có thể kêu lên “A-ba” với lòng vâng phục vui mừng và tin cậy của một thành viên mới được thừa nhận vào trong gia đình. Chẳng những Ngài giúp chúng ta biết cầu nguyện và nói lên lời cầu nguyện mà Chúa Giê-Xu đã dạy chúng ta, nhưng Ngài còn đi bước đầu để cảm động chúng ta cầu nguyện trong ít nhất là ba cấp bậc.
Trước hết, chúng ta đọc thấy các Cơ đốc nhân “cầu nguyện trong Đức Thánh Linh” (Giu Gd 1:20; Eph Ep 6:18, theo bản Anh văn). Dường như trường hợp này ám chỉ một thì giờ cầu nguyện sâu lắng, tự do và triệt để, khi Đức Thánh Linh chiếm hữu, kiểm soát và hướng dẫn việc cầu nguyện, và người ta có thể cứ tiếp tục cầu nguyện trong nhiều giờ mà không ý thức được thời gian đang trôi qua. Những ai từng tham dự các đêm cầu nguyện chắc đều có thể nhớ lại những lúc chính Đức Thánh Linh đã hướng dẫn mọi người cầu nguyện thật hài hòa, tha thiết, có chiều rộng, với lòng kiên trì và tin quyết. Phaolô viết: “Hãy nhờ Đức Thánh Linh (cầu nguyện trong Đức Thánh Linh) thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đỗ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó...Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện...để tôi được tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin Lành” (Eph Ep 6:18 và tt). Trong đoạn văn này, có một điều rất hấp dẫn liên hệ đến cuộc chiến tranh thuộc linh, trong đó chúng ta bị bắt buộc chú ý đến công tác của Đức Thánh Linh trong hai ý niệm chồng chất lên nhau: cầu nguyện, và Lời của Đức Chúa Trời mà Phaolô gọi là gươm của Đức Thánh Linh. Vị Thần đứng trung gian ngỏ lời với chúng ta trước hết qua Ngôi Lời (Đạo) hay bức thông điệp được gói ghém trong Kinh Thánh, và thứ hai, Ngài khiến chúng ta có thể ngỏ lời với Đức Chúa Trời một cách tự do và với lòng tin quyết bằng lời cầu nguyện.
Một phương pháp thứ hai để Đức Thánh Linh cảm thúc sự cầu nguyện, là ban cho một người ân tứ nói tiếng lạ. Chúng ta sẽ khảo xét vấn đề này trong một chương khác. Ở đây, thiết tưởng cần ghi nhận rằng nói các thứ tiếng là một trong những ân tứ của Đức Thánh Linh ban cho người thuộc về Ngài (ICo1Cr 12:10), và chủ đích đầu tiên là nhằm khiến người ấy cầu nguyện với Đức Chúa Trời từ những nơi sâu thẳm của lòng mình, chớ không phải trên mức độ ý thức của tâm trí người ấy mà thôi. Thậy vậy, phần tâm trí ý thức của con người không được dùng đến khi một Cơ đốc nhân cầu nguyện với Chúa bằng tiếng lạ (ICo1Cr 4:14). Có lẽ, chúng ta ngày càng bận tâm quá nhiều đến mức độ ý thức của lý trí, mà bỏ đi quá lâu các kho tàng của tiềm thức là điều mà dường như Đức Thánh Linh đụng chạm đến và sử dụng khi một người cầu nguyện bằng tiếng lạ, cho nên kết quả là người ấy được gây dựng, tuy vẫn không hiểu mình đang nói gì (ICo1Cr 14:4). Chẳng có gì để nghi ngờ là giữa vòng những người được ban cho ân tứ nói tiếng lạ thì sinh hoạt cầu nguyện và khả năng ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh của họ đã tăng trưởng một cách lạ lùng. Đây là một trong các phương pháp để Đức Thánh Linh thúc giục dân sự của Đấng Mê-si-a cầu nguyện.
Mức độ thứ ba, trong đó Đức Thánh Linh thay thế chúng ta trong sự yếu đuối của chúng ta đã được vạch rõ thật cảm động trong RoRm 8:26 và tiếp theo: “Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy. Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời”. Ở đây có một số những điều sâu nhiệm để Cơ đốc nhân phải suy gẫm. Đối với nhiều người trong chúng ta, cầu nguyện trong Thánh Linh là điều chúng ta biết rất ít. Sự cầu nguyện của chúng ta thường có khuynh hướng máy móc, hay khá lắm cũng chỉ tập trung vào chính mình mà thôi, còn cầu nguyện trong Đức Thánh Linh có nghĩa là để cho Thánh Linh Chúa Cứu thế cầu nguyện trong chúng ta, để Ngài đổ vào linh hồn chúng ta sự sống cầu thay trào tuôn của Ngài.
“Ông Hyde hay cầu nguyện”.
Tôi xin kể qua tấm gương trong câu chuyện gần đây về John Hyde - biệt danh là “ông-Hyde-hay-cầu -nguyện” - một giáo sĩ Ấn độ hồi đầu thế kỷ này. Có lần kia, một người nọ đến xin ông cầu nguyện cho mình. “Ông bước vào phòng tôi, khóa cửa lại, quỳ gối xuống, im lặng năm phút mà chẳng thốt ra lời nào. Tôi có thể nghe thấy tiếng trái tim tôi đập mạnh. Tôi cảm thấy những giọt nước mắt nóng hổi chảy trên mặt tôi. Tôi biết là mình đang ở với Đức Chúa Trời. Rồi ông ngước mặt lên trời, với những dòng lệ tuôn chảy, ông nói: Lạy Đức Chúa Trời. Rồi ông im lặng ít nhất cũng trong vòng năm phút nữa, ông lại im lặng, và khi biết là mình đang trò chuyện với Đức Chúa Trời, ông choàng một cánh tay qua vai tôi, và từ nơi sâu thẳm của lòng ông tuôn trào ra những lời khẩn cầu cho người khác mà tôi chưa hề được nghe trước đó. Sau đó tôi đứng dậy và thật biết được lời cầu nguyện đích thực là thế nào” Tôi thiết nghĩ cầu nguyện trong Đức Thánh Linh không nhất thiết phải luôn luôn có sự xúc động cao độ như thế. Điều cần yếu là phải có sự gặp gỡ trực tiếp với Đức Chúa Trời.
Đức Thánh Linh giúp đỡ trong sự cầu nguyện.
Đây là chỗ mà sự trợ giúp của Đức Thánh Linh trở thành quan trọng trong sự cầu nguyện của chúng ta. Vì chẳng những Đức Thánh Linh thấu rõ, cả tâm trí của Chúa như chúng ta thấy trong ICô chương 2 mà còn thấy rõ cả tâm trí của các Cơ đốc nhân đang chiến đấu nữa. Ngài biết chúng ta nhận thấy rằng cầu nguyện là điều vô cùng khó khăn. Ngài biết nhiều khi chúng ta có cảm thức rất sâu xa nhưng rất bối rối, không thốt ra lời khẩn xin được, mà chỉ đến im lặng van nài với Chúa. Ngài biết chúng ta vốn thường phân vân không biết chắc chắn ý chỉ của Đức Chúa Trời là thể nào, do đó, không thể cầu nguyện rõ ràng, quả quyết được; Ngài biết những hoàn cảnh đa dạng và rối rắm mà chúng ta bị đặt vào. Và Ngài giúp đỡ chúng ta - chính từ ngữ này trong Hi văn vốn gợi ý về rất nhiều điều. Nó có nghĩa là Ngài nắm lấy hoàn cảnh ấy vì chúng ta và cùng với chúng ta. Ngài đặt những lời khẩn nguyện lên môi miệng chúng ta; và Ngài cùng chúng ta cầu nguyện với Đức Chúa Cha, bằng những lời thở than từ nơi sâu thẳm của cõi lòng, đến nỗi không thể thốt nên lời. Còn đối với nhiều hoàn cảnh rắc rối chúng ta đang phải đương đầu thì Thánh Linh cùng hành động với chúng ta giải quyết chúng, và mục đích của Ngài là tạo ra mọi sự tốt lành, có lợi cho chúng ta.
Đây quả thật là một điều khích lệ phi thường cho chúng ta. Chúng ta có một Đức Thanh Linh vốn là Đấng Cầu thay thiên thượng đang cư trú trong chúng ta, để dạy chúng ta cầu nguyện và cùng cầu nguyện với chúng ta. Có lẽ chính vì lý do ấy mà chúng ta chỉ tìm thấy rất ít, hay chẳng tìm thấy một bài cầu nguyện nào trong Tân Ước dâng lên cho Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh là thành phần của thần tánh đã được ban cho chúng ta để giúp chúng ta có thể cầu nguyện. Bình thường lời cầu nguyện của Cơ đốc nhân được dâng lên cho Đức Chúa Cha, qua trung gian Đức Chúa Con, hoặc “nhơn danh Ngài”, và trong khi được Đức Thánh Linh cảm thúc.
Sự trợ giúp của Chúa Giê-Xu trong sự cầu nguyện
Trong HeDt 7:25 có một khúc sách hướng dẫn, nói đến Chúa Giê-Xu có quyền “cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống mà cầu thay cho những kẻ ấy”. Từ ngữ “cầu thay” trong 7:25 cũng chính là từ ngữ trong RoRm 8:26, ngoại trừ trong Rôma, có một tiền tố trí từ (chữ đứng trước - prefix ) chỉ cường độ, hay có lẽ là nhấn mạnh những điều đã được làm cho chúng ta. Nhưng trong cả hai trường hợp, ý nghĩa chỉ là một. Câu ấy không nói rằng Đức Thánh Linh hay Đức Chúa Con cầu xin Đức Chúa Cha ban cho chúng ta điều mà nếu không có sự cầu xin như vậy thì chúng ta sẽ không nhận được. Từ ngữ thường dùng để “xin” không được sử dụng ở đây, mà thay vào đó, chúng ta có một từ ngữ lạ lùng, rất ít khi được dùng đến, có nghĩa là “đi quanh quẩn để tìm”. Phải chăng điều này vốn rất có ý nghĩa? Cơ đốc nhân có thể có niềm xác tín nào khác hơn là - như từ ngữ này phản ảnh việc ở trên trời, - Chúa Cứu thế phục sinh với nhân tánh đã thăng thiên của Ngài, đang “đi quanh quẩn để tìm” điều ích lợi cho chúng ta? Sự hiện diện của Ngài bên cạnh Đức Chúa Cha là sự bảo đảm thầm lặng rằng chúng ta đã được Đức Chúa Trời vui nhận. Trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời trên thiên đàng, có một Ngôi vốn hiểu rõ, thông cảm trọn vẹn với chúng ta, đang ngồi đó làm đại diện và làm đầu của chúng ta. Cũng vậy, thật đáng khích lệ biết bao khi được biết trong khi đang chiến đấu dưới đất này, các Cơ đốc nhân còn được một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đang “đi quanh quẩn để tìm” cách bênh vực chúng ta, và khi chúng ta thiết tha cầu nguyện mà tự mình vẫn chưa đến gần được Đấng Toàn Năng vì cớ sự thiếu thốn nghèo nàn của mình, thì chúng ta có Đức Thánh Linh làm đại diện cho Đức Chúa Trời trong lòng chúng ta, để giúp chúng ta cầu nguyện và được nhậm lời!
Tổng kết vấn đề.
Chương viết về công tác của Đức Thánh Linh trong từng Cơ đốc nhân đã khá dài. Nhưng nếu chỉ ghi ra một bảng liệt kê thật đầy đủ những kho tàng được dành sẵn cho chúng ta làm cơ nghiệp, mà chúng ta lại chẳng sử dụng được thì chỉ vô ích thôi. Đức Thánh Linh là món quà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, Ngài không muốn cho chúng ta chỉ đọc, biết về Ngài mà thôi, nhưng còn phải biết sống với Ngài nữa. Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết rằng chúng ta vốn ở trong Chúa Cứu thế, và đã ban Đức Thánh Linh cho chúng ta, để bảo đảm với chúng ta điều đó. Đức Chúa Trời muốn chúng ta tăng trưởng để trở nên giống như Chúa Cứu thế, và đã ban Đức Thánh Linh cho chúng ta để đổi mới chúng ta. Đức Chúa Trời muốn giải thoát chúng ta khỏi xiềng xích của tánh ích kỷ và tự thâu góp tất cả cho mình vốn là dấu đặc biệt xưa kia của chúng ta và trang bị cho chúng ta bằng Thánh Linh của Đấng Mê-si-a, hầu chúng ta được tự do phục vụ Ngài mà không còn nghĩ về chính mình nữa, phục vụ Ngài cách thật hữu hiệu và vui mừng. Đức Chúa Trời đã gieo hột giống của Thánh Linh Ngài vào lòng chúng ta, và muốn tạo ra trong chúng ta một mùa gặt gồm nhiều đức hạnh đẹp đẽ trong tâm tính mình nếu chúng ta không làm buồn Đức Thánh Linh (Eph Ep 4:30) bằng sự cố ý không vâng lời hay bê trễ, hờ hững. Đức Chúa Trời sẽ đích thân dạy dỗ chúng ta qua Thánh Linh, nếu chúng ta để Ngài dẫn chúng ta vào sự thông hiểu cặn kẽ và sự vâng lời Chúa Cứu thế Giê-Xu. Và Đức Chúa Trời không chỉ lắng nghe lời cầu nguyện vô nghĩa của chúng ta, mà còn ban Đức Thánh Linh cho chúng ta để giúp chúng ta cầu nguyện và san sẻ với chúng ta những nhiệm vụ cấp bách nhất. Như thế cũng chưa phải là nói hết phạm vi bao quát của lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh cũng than thở (RoRm 8:26). Chúng ta là người có được trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, đang thở than trong khi chờ đợi sự cứu chuộc thân thể chúng ta (8:23): Thật vậy, cả cõi thọ tạo đang than thở (8:22) như đang nhón gót ngóng chờ ngày được giải phóng khỏi mọi thống khổ, thất vọng để được chia sẻ sự tự do vinh hiển với các con trai Đức Chúa Trời. Vậy, Đức Thánh Linh đang dấn thân trọn vẹn trong sự đau đớn quặn thắt đã thai dựng thế giới của chúng ta và trong việc thai dựng chúng ta thành những Cơ đốc nhân, và Ngài đang hướng về ngày mà những cơn quặn thắt khó nhọc sẽ nhường chỗ cho những niềm vui của sự sanh nở. Chính sự hiện diện của Ngài trong thế giới và trong đời sống chúng ta bảo đảm cho ngày tương lai đó: Ngài vốn là một phần tương lai của Đức Chúa Trời đang hiện diện ngay tại đây và ngay bây giờ. Chính vì lý do ấy mà trong Tân Ước nhiều lần Ngài đã được nối kết với niềm hy vọng. Chúng ta chỉ có thể “nhờ quyền phép Đức Thánh Linh mà được dư dật sự trông cậy” (15:13) Vì Đức Thánh Linh và hi vọng là hai mặt của cùng một đồng tiền, Ngài chính là hai thể thức vừa khách quan vừa chủ quan khiến cõi tương lai được trở thành hiện thực cho chúng ta. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong cùng một câu ấy, Phaolô đã khuyên chúng ta hãy cứ vui mừng và an lòng trọn vẹn trong sự tin cậy. Với sự trang bị đầy quyền năng và trọn vẹn là chính Đức Thánh Linh, Cơ đốc nhân có đầy đủ lý do để an lòng và vui mừng mà tin cậy.


ĐỨC THÁNH LINH TRONG HỘI THÁNH
Chức năng của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh là gì? Xét về phương diện lịch sử, thì đã có hai khuynh hướng chính. Nhiều khi Hội Thánh đã cố gắng thực thi quyền làm chủ trên Đức Thánh Linh, hạn chế Ngài vào các giáo lý nền tảng của niềm tin, vào những việc tấn phong, bổ nhiệm các cấp lãnh đạo quản trị, và vào các thánh lễ trong Hội Thánh. Nhiều khi nhóm “người thuộc linh” đã phản ứng chống lại Hội Thánh có tổ chức của thời đại mình, tách rời ra để hình thành một “Hội Thánh thuần khiết” gồm bản thân họ và các bạn bè đồng tâm đồng chí, rồi chẳng bao lâu, Hội Thánh mới này thường càng trở thành cứng nhắc với những khuôn phép đóng chặt vào đấy như Hội Thánh mà trước đó họ đã rời bỏ.
Vào thời Tân Ước, các Cơ đốc nhân đã phải đương đầu với các vấn đề tương tự, nhưng họ đã thu xếp để sống chung với chúng và rồi thắng vượt chúng. Vì vậy, chương này sẽ khảo xét những phương thức mà các Cơ đốc nhân đầu tiên đã nhờ đó nhận biết sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong cộng đồng của họ; bốn chương tiếp theo sau sẽ nhìn lướt qua một số các vấn đề hiện nay của chúng ta liên hệ đến Đức Thánh Linh trong Hội Thánh, khi đặt trên bối cảnh này.
Đức Thánh Linh tạo nên sự hiệp một #
Đức Thánh Linh làm cho hiệp một.
Một trong những cách Đức Thánh Linh tự hiển hiện trong cộng đồng Cơ đốc giáo là Ngài tạo ra sự hiệp một. Trong Eph Ep 4:3, 4 Phaolô phác họa nhiều điều mà tất cả các Cơ đốc nhân đều có chung với nhau, ông đã phải nói: “(Hãy cố gắng)...dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi...Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp-tem; chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người. Nhưng, đã ban ân điển cho mỗi một người trong chúng ta theo lượng sự ban cho của Chúa Cứu thế". Rồi ông tiếp tục phác họa vài ân tứ của Chúa Cứu thế đã thăng thiên: “Ấy chính Ngài đã cho người này làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác nữa làm mục sư và giáo sư”. Cho nên, trong khi đề cập đủ thứ ân tứ khác nhau mà Đức Chúa Trời đã ban cho Hội Thánh Ngài, cũng như nhiều tài năng khác nhau mà Ngài ban cho những thành viên khác nhau, Phaolô nhấn mạnh rằng Đức Thánh Linh tạo ra sự hiệp một, và nhiệm vụ của các Cơ đốc nhân là phải duy trì sự hiệp một đó chứ không phá hỏng nó. Nhưng có điều nghịch lý, ấy là trong sinh hoạt Cơ đốc nhân, sự hiệp một là một ân tứ Đức Chúa Trời ban, thế mà chúng ta lại rất khổ công với nó.
Hội Thánh phải gìn giữ sự hiệp một.
Không có gì đáng ngạc nhiên về sự hiệp một do Đức Chúa Trời ban này. Như chúng ta đã thấy, các Cơ đốc nhân đầu tiên đã ý thức được rằng Thánh Linh của Đấng Mê-si-a đã đến để ngự trong lòng họ. Vậy chẳng có gì ngạc nhiên là với Thần Linh của Thầy mình họ đã trở nên con cái Đức Chúa Trời và họ phải ý thức được những sợi dây ràng buộc họ với các thành viên khác trong gia đình đó. Trong cái gia đình được xem như một Thân thể duy nhất có cùng một Thánh Linh ngự trị bên trong ấy, không còn chỗ cho những sự phân biệt về của cải hay địa vị, giới tính hay quốc tịch, không còn chỗ cho sự kiêu ngạo về học vấn hay đặc quyền tôn giáo (CoCl 3:11; Gia Gc 2:1 và tt). Nói cho cùng, chẳng ai trong số họ có được điều gì để khoe khoang. Tất cả đều đã được Chúa cứu vớt trong khi họ không thể làm gì để được cứu cả. Còn về các ân tứ khác nhau, thì thật ra, tất cả đều được Đức Chúa Trời ban cho, nên họ chẳng có lý do gì để kiêu ngạo cả. “Ai phân biệt ngươi với người khác? Ngươi há có điều chi mà đã chẳng nhận lãnh sao? Nếu ngươi đã nhận lãnh, thì sao còn khoe mình như chẳng từng nhận lãnh?” (ICo1Cr 4:7). Mối quan tâm về việc giữ gìn sự hiệp một mà Đức Thánh Linh đã tạo nên, góp phần lớn lao vào sinh hoạt và sự dạy dỗ của Hội Thánh đầu tiên. Nó đã góp phần để các cấp lãnh đạo tại Giêrusalem quyết định không thể để Hội Thánh tại Samari phát triển một cách độc lập mà không có sự hàn gắn vết rạn nứt lâu đời giữa cộng đồng ấy với Do thái giáo (Cong Cv 8:1-40). Nó đã góp phần vào quyết nghị của giáo hội nghị Giêrusalem là không nên để vấn đề phép cắt bì làm rạn nứt Hội Thánh (Cong Cv 13:1-22). Nó góp phần vào việc luôn luôn trở về với Hôi Thánh tại Giêrusalem của vị sứ đồ sau những lần thăm viếng thường xuyên những người ngoại bang (Cong Cv 18:1; 20:16; 25:1, v.v...), và việc đã tổ chức một cuộc lạc quyên lớn để giúp họ, dù ông chẳng tán thành nền thần học của họ (RoRm 15:26; ICo1Cr 16:1; IICo 2Cr 8:1 và tt). Nó góp phần vào việc Phaolô cứ nhắc đi nhắc lại các Cơ đốc nhân tại Philíp hãy đồng tâm hiệp ý với nhau (Phi Pl 1:27; 2:1 và tt 4:1-3). Nó giải thích tại sao Phaolô đã không cho phép trong Hội Thánh Côlôse có những Cơ đốc nhân được soi sáng đặc biệt ngả theo Trí huệ phái vì huyền nhiệm về Tin Lành của Đức Chúa Trời là một bí mật được rộng mở, và Phaolô đã cảnh cáo mọi người, dạy dỗ mọi người về mọi thứ khôn ngoan để có thể dâng mọi người lên cho Chúa Cứu thế trong tình trạng đã trưởng thành (CoCl 1:26, 28). Giăng cũng làm như vậy với điểm nhấn mạnh rằng: “Các con...thì đã biết mọi sự rồi...không cần ai dạy cho hết” (IGi1Ga 2:20, 27). Sự hiệp một trong Thánh Linh này đã bắc một nhịp cầu trên chiếc hố sâu ngăn cách người Do thái và các dân ngoại khi họ đã trở thành Cơ đốc nhân (Eph Ep 2:15) và đập tan sự đố kỵ, thù ghét nhau giữa những người không cùng màu da, và bối cảnh với nhau.
Sự hiệp một tại Antiốt.
Hội Thánh tại Antiốt đã có một tấm gương lớn (Cong Cv 13:1 và tt). Cấp lãnh đạo tại đó là một tập thể, chớ không phải như phần lớn các Hội Thánh hiện đại. Hội Thánh ấy cũng bao gồm một đặc tánh khác thường, đó là các nhà tiên tri, giáo sư và các lãnh tụ đều hiệp làm một với nhau mà theo bình thường họ là số người vốn không dễ gì làm bạn đồng tâm đồng chí với nhau. Nhưng càng đáng kinh ngạc hơn nữa là thành phần cấu tạo của tập thể này. Có Banaba, thường được xem là một chủ đất giàu có người Lêvi ở đảo Chíprơ; Simêôn gọi là Ni-giê, dường như là một người da đen; Lusiút người Syren, chắc chắn là một người Do thái lưu lạc tại Bắc phi; Manahem, người được dưỡng dục trong triều đình với vua chư hầu Hêrốt; và Sau-lơ người Tạt-sơ, một người Do thái Đông phương đến, từng thọ giáo Gamaliên. Thật là một tập thể lãnh đạo với nhiều nhân vật khác hẳn nhau! Chính tên của họ đã chứng minh cách hùng hồn về sự hiệp một mà Đức Thánh Linh đã tạo ra. Ý chỉ của Chúa Cứu thế đối với Hội thánh Ngài, là mọi người đều phải hiệp làm một (GiGa 17:21), đã được thực thi trong cộng đồng Cơ đốc giáo tại Antiốt. Chính vì lý do đó mà Phaolô đã vô cùng tức giận và bối rối khi ông nghe tin có nhiều chia rẽ trong Hội Thánh Cơ đốc tại Côrinhtô.
Sự chia rẽ tại Côrinhtô.
Vấn đề này chiếm trọn ba chương đầu sách ICôrinhtô. Người Côrinhtô cứ tưởng rằng đạo Chúa là một triết lý, còn những người đến giảng đạo cho họ chỉ như các nhà trí thức lưu động, vì thế, họ nghĩ rằng bản thân họ là những quan tòa phán xét nhiều điểm nhấn mạnh khác nhau mà họ được nghe. Những tiếng hò hét: “Ta là môn đồ của Phaolô”, “Ta là của Abôlô”, “Ta là của Phi-e-rơ”, và có lẽ là cả “Ta là của Chúa Cứu thế” nữa (ICo1Cr 1:12) đều chỉ là những hình thức tinh vi để tự quảng cáo. Phaolô đã mạnh mẽ phản đối. Không thể nào đem Tin Lành ra để so sánh với sự khôn ngoan của triết học; vì đối với người thế gian, đó là một sự điên dại. Các giáo sư Tin Lành không phải là triết gia lưu động, mà là các bạn đồng công cộng tác với nhau trong vườn nho của Đức Chúa Trời, kẻ trồng người tưới, nhưng chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên được (3:6). Người Côrinhtô không có địa vị đặc quyền phê phán những điều tinh tế của thần học. Nếu họ tưởng như vậy, thì điều đó chứng minh rằng họ đã không được Đức Thánh Linh cai trị, mà vẫn còn bị điều khiển bởi các thái độ và quan điểm của thời họ chưa được tái sanh (3:1, 3). Chúa Cứu thế hoàn toàn gớm ghét việc chia rẽ. Hội Thánh không thể chấp nhận sự chia rẽ, cũng như Chúa Cứu thế và phép báp-tem đều không thể bị chia rẽ vậy (1:13) Đức Chúa Trời đã gây dựng Hội Thánh để trở thành một ngôi đền thờ cho Thánh Linh của Ngài ngự vào (3:16). Ý muốn nói ở đây là Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà vinh quang Ngài đã tràn ngập cả đền thờ của Sa-lô-môn bấy giờ, lại chiếu sáng qua đền thờ của cuộc đời Chúa Giê-Xu (xem GiGa 2:18-22) thì bây giờ đang ngự giữa cộng đồng các Cơ đốc nhân. Tuy Phaolô không khai triển sự so sánh đó, nhưng theo thiển ý, thì ông vốn hoàn toàn đồng ý từng chi tiết với điều chúng ta đọc thấy trong Phi-e-rơ: các Cơ đốc nhân là những viên đá thuộc linh được đưa vào để xây lên ngôi đền thờ thuộc linh trong Chúa Cứu thế (IPhi 1Pr 2:5). Dầu sao ông đã nói rất mạnh trong ICô chương 3 này. Kẻ nào phá hủy đền thờ Đức Chúa Trời bằng cách xui giục chia rẽ thì sẽ bị Đức Chúa Trời hủy diệt (ICo1Cr 3:17). Đó là cách Phaolô đánh giá rất cao sự hiệp một trong Hội Thánh Cơ đốc giáo.
Đức Thánh Linh đem đến sự hòa giải
Sự giải hòa vốn có liên hệ chặt chẽ với ý niệm về hiệp một. Phaolô đã nêu ra thật rõ ràng trong Eph Ep 2:14, 18. Đã có một bức tường lớn ngăn cách dân Do thái với người ngoại bang trong thế giới cổ xưa, đó là luật pháp. Điều này đã được tượng trưng một cách gợi hình bằng việc lưu ý rằng sân ngoài của đền thờ là mối đe dọa xử tử bất kỳ người ngoại bang nào vượt qua ranh giới ấy. Kẻ “ô uế” không thể vào nơi thánh của Đức Giê-hô-va. Hàng rào này đã ngầm tạo ra sự thù địch. Dân Do thái khinh và ghét người ngoại bang, khinh vì họ không ở trong tuyển dân, và ghét vì họ lại làm chủ, cai trị tuyển dân của Đức Chúa Trời. Người ngoại bang thì thích thú trả đũa lại, như điều có thể thấy rõ trong những gì Martial Horace và Juvenal nói về dân Do thái. Nhưng trong Chúa Cứu thế, hàng rào đó đã bị triệt hạ, cùng lúc với bức tường còn cao dày bội phần hơn, đã phân cách cả người Do thái lẫn các dân ngoại với Đức Chúa Trời. Cả hai đều được giải hòa để trở thành chỉ một Thân thể duy nhất bởi Chúa Cứu thế trên thập tự giá. Tất nhiên, khi hiệp làm một với Ngài, thì cả hai đều trở thành một nhân loại mới. Sự hòa bình của kỷ nguyên Đấng Mê-si-a thuộc về cả hai nhóm người: một, trước kia vốn là người ngoài và một nhóm trước kia vẫn tự cao tự đại cho rằng mình là tuyển dân “vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Đức Thánh Linh” (2:18). Đây không phải chỉ là lý tưởng chủ nghĩa thần học suông. Chúng ta đã thấy nó xảy ra trong một khúc sách quan trọng (Cong Cv 10:1-48), ghi lại việc ăn năn quy đạo của Cọt nây. Tại đó, việc Cọt nây được nhận lãnh “cùng một Đức Thánh Linh” đã thuyết phục được Phi-e-rơ, một người Do thái chính thống, rằng một quân nhân người ngoại bang đã được Đức Chúa Trời vui nhận vào gia đình Ngài, trên cùng một nền tảng giống hệt các môn đệ đầu tiên. Đức Thánh Linh đã triệt hạ những chướng ngại vật, những hàng rào không ai lay chuyển nổi. Đức Thánh Linh hòa giải những người rất khác biệt, trái tánh trái nết nhau. Đây là đặc điểm nổi bật trong công tác của Đức Thánh Linh giữa Hội Thánh.
Đức Thánh Linh tạo sự thông công
Chia xẻ mối liên hệ lẫn nhau.
Một phương thức liên hiệp chặt chẽ khác nữa mà Đức Thánh Linh đã tự hiển hiện trong Hội Thánh nguyên thủy, là qua sự thông công. Thật vậy, chính Đức Thánh Linh gây dựng mối thông công giữa các Cơ đốc nhân với nhau. Có hai trường hợp chúng ta đọc thấy về “sự giao thông của Đức Thánh Linh”, một trong IICo 2Cr 13:13, và một là nền tảng Phaolô nài khuyên người Philíp phải giữ vững sự hiệp một với nhau (Phi Pl 2:1). Câu này có thể có nghĩa là “sự thông công mà Đức Thánh Linh ban cho” hay “cùng chia phần trong Đức Thánh Linh” mà tất cả các Cơ đốc nhân đều được vui hưởng. Thật ra, hai việc này không cách xa nhau lắm vì Đức Thánh Linh ban một phần của chính Ngài cho toàn thể các tín hữu, khiến mọi người được dự phần vào Đức Thánh Linh như nhau. Phẩm chất của mối thông công này có thể được đo lường đúng nhất, căn cứ vào mấy chương đầu sách Công vụ. Những người mới ăn năn quy đạo sau khi đáp lại đề nghị của Phi-e-rơ về việc tha tội và nhận lãnh Đức Thánh Linh, đều chịu phép báp-tem và “bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện” (Cong Cv 2:42).
Chia của cải cho nhau.
Sự thông công của họ không phải là chỉ tỏ ra niềm nở suông. Nó gồm luôn việc sinh sống tập thể, hi sinh, chia sẻ với nhau về tài chánh, lo lắng cho những người thiếu thốn, và tạo cơ hội để có thì giờ sinh hoạt chung với nhau (2:44 và tt). Bạn có thể thấy họ vui vẻ kết bạn với nhau, chia của cải cho nhau, ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời trong đền thờ, thường xuyên nhóm lại cầu nguyện, chăm lo cho quả phụ cô nhi trong cộng đồng Cơ đốc giáo khỏi mất phần trợ cấp về tiền bạc và lương thực. Trong 4:32, chúng ta cũng thấy cùng một bức tranh giống như vậy “Vả, người tin theo đông lắm, cứ một lòng một ý cùng nhau, chẳng ai kể của mình là của riêng, nhưng kể mọi vật là của chung cho nhau...Trong tín đồ không ai thiếu thốn cả, bởi những người có ruộng hay nhà đều bán đi, được bao nhiêu tiền cũng đem đến đặt dưới chân các sứ đồ, rồi tùy theo sự cần dùng của mỗi người mà phát cho”.
Chủ nghĩa công xã Cơ đốc giáo.
Một trong những điều mỉa mai của lịch sử là một phong trào xưng nhận nối gót một ông rabi thợ mộc không một đồng xu dính túi với đám môn đệ nghèo thiếu của ông ta, một phong trào ngay từ những tài liệu căn bản đầu tiên của mình đã yêu chuộng hình ảnh một đời sống tập thể theo lối công xã, lại trở thành đối lập với cộng sản chủ nghĩa, và bị buộc chặt với việc tôn suy quyền tư hữu tài sản của tư bản chủ nghĩa. Lẽ dĩ nhiên Cơ đốc giáo có thể chẳng liên hệ gì với vô thần chủ nghĩa cộng sản và dửng dưng đối với chân lý và giá trị của con người, nhưng việc họ công xã hóa tài sản lại có tính cách Cơ đốc giáo nhiều hơn là việc chúng ta tôn vinh của cải và bị ám ảnh bởi cá nhân chủ nghĩa. Chắc chắn nỗ lực nguyên thủy về đời sống công xã tại Giêrusalem đã là một thất bại, nhưng đó là một thất bại quang vinh biết bao! Cho đến khi có sự chia đều thật sự về tiền bạc và tài sản, Hội Thánh Cơ đốc đã có thể thực hiện việc phân phát đồng đều các nguồn tài nguyên và các điều kiện để sinh sống cho nhau, khiến những kẻ vô tín không thể xuyên tạc gì được phần phẩm chất của sự thông công giữa chúng ta. Sự thông công đích thực trong Thánh Linh (Koinõnia) có nghĩa là chúng ta không thể đứng riêng ra khỏi số người mà chúng ta thông công với, cho dù phải trả giá như thế nào. Tôi được cho biết mấy năm trước đây, Tổng thống Nyrere xứ Tanzania đã gởi các bản sao những câu trong sách Công vụ chép về sinh hoạt công xã cho toàn thể hàng giáo phẩm với lời giải thích ngắn gọn đính kèm như sau: “Đây là chính sách của Tổng thống”. Đã có một nhân vật cố gắng đem nguyên tắc công xã của Cơ đốc giáo áp dụng cho tài sản công xã nhằm làm phát triển một quốc gia Phi châu. Ông ta đáng nêu gương cho Cơ đốc giáo giới theo tư bản chủ nghĩa Tây phương.
Chăm sóc theo Cơ đốc giáo.
Thí nghiệm của Hội Thánh tại Giêrusalem là một thất bại. Hội Thánh bị tan vỡ và rất xứng đáng với cái tên mà họ lấy làm tự hào, là kẻ nghèo (ebionim) của Đức Chúa Trời. Vài năm trôi qua, công cuộc truyền giáo cho người ngoại bang ra đời và đã sinh ra được một Hội Thánh rực rỡ tại Antiốt, cách đó mấy trăm dặm. Hội Thánh này nhận được một lời cảnh cáo tiên tri từ một nhà tiên tri ở Giêrusalem, là sẽ có một nạn đói lan tràn rộng khắp. Thế thì số Cơ đốc nhân người ngoại bang tại Antiốt phải làm gì đây? Họ đã không chờ cho đến nạn đói xảy ra. Ngay khi nghe lời của nhà tiên tri tại Giêrusalem (mà rất có thể họ cho đó chỉ là một thành kiến) họ đã mở một cuộc lạc quyên. Mỗi môn đệ Chúa đóng góp tùy các phương tiện của mình rồi trao cho Sau-lơ và Banaba nhờ gởi về Giêrusalem (11:28 và tt).
Theo thiển ý, đây là một việc rất đáng chú ý. Họ có thể nói: “Dân Giêrusalem ở cách xa mình quá, và xét ra thì mình có nợ họ chi đâu? Hãy cứ lo cho người trong Hội Thánh nhà trước đã, rồi chừng nào nạn đói ấy đến hẵng hay, chứ bây giờ bù đầu với chuyện đó làm chi”. Họ cũng có thể nói: “Nạn đói này sẽ dạy cho hạng người ngu dại đó một bài học. Họ sẽ học được bài học gay go là khi nhập chung vốn liếng lại để rồi chia nó ra, thì không thể tồn tại nổi lâu đâu. Họ sẽ học biết muốn thay đổi thì phải làm như thế nào. Dầu sao đó cũng là một bài học hay”. Họ cũng có thể nói: “Chúng tôi không thấy tại sao mình lại phải giúp đỡ số Cơ đốc nhân thất bại đó (nếu tên này áp dụng cho họ thì chẳng hay ho gì mấy) tại Giêrusalem. Nền thần học của họ thật hẹp hòi; nghi lễ chủ nghĩa của họ quá gắt gao; họ còn muốn chống lại công cuộc truyền giáo và bắt buộc chúng ta phải giữ phép cắt bì cùng các luật lệ về thực phẩm ngay trong Hội Thánh rất đông đủ các sắc người tại Antiốt này nữa chớ!” Họ đã có thể đưa ra những nhận xét gay gắt như vậy mà khó ai chê trách gì họ được. Nhưng họ đã không để cho sự khác nhau về thần học, về Hội Thánh, về tổ chức Hội Thánh và khoảng cách khá xa khiến khỏi phải bày tỏ một sự thông công trong Đức Thánh Linh hết sức cảm động và hùng hồn. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi rất đông người đã được cuốn hút vào mối thông công ấy, vì phẩm chất sống đó vốn chẳng có gì vào thời thượng cổ sánh kịp.
Đức Thánh Linh giúp chúng ta thờ phượng
Phẩm chất của sự thờ phượng.
Một phương cách thứ tư để Đức Thánh Linh biểu hiện sự hiện diện của Ngài trong Hội Thánh, là trong sự thờ phượng của Hội Thánh. Các môn đệ đầu tiên chẳng những được Đức Thánh Linh hướng dẫn để chia sớt tài sản cho nhau, mà còn được Ngài hướng dẫn để có được cách thờ phượng vô cùng sâu nhiệm. “Còn ở nhà thì (họ) bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau” dường như cho thấy có những lễ tiệc thánh được tổ chức tại nhà riêng. Họ dùng bữa với nhau “cách vui vẻ thật thà” (từ ngữ Luca dùng nói lên đặc điểm vui vẻ cộng đồng của thời đại của Đấng Mê-si-a, khi họ thât vui vẻ về những gì Chúa Cứu thế đã làm cho họ, những gì họ hiện được từng trải về sự tốt lành thiện hảo của Ngài, và những gì đang chờ đợi họ khi Ngài tái lâm). Cần lưu ý là họ vẫn ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời cả khi bị đe dọa hay cầm tù nữa (4:24 và tt 16:25). Thật vậy, ca ngợi tán tụng là kết quả đặc biệt của việc Đức Thánh Linh đã giáng trên họ (Cong Cv 2:47; 3:8, 9). Người ta gặp họ thờ phượng theo nghi lễ trong đền thờ, cũng như tại tư gia, trong những cuộc họp mặt ấm cúng chẳng theo nghi thức nào cả. Họ nhóm lại đều đặn trong những buổi thờ phượng tại nhà hội, nhiều khi ở một trung tâm lớn có đông đảo người Do thái như tại Antiốt xứ Bisiđi (13:14 và tt); nhiều khi tại những nơi như Philíp, có rất ít dân Do thái để thành lập được một nhà hội. Nhóm hội chúng nhỏ bé tại đó đã đi xuống một nơi cầu nguyện cạnh mé sông, và Phaolô cùng đoàn tùy tùng của ông cũng đã đến nhóm lại với họ, và kết quả thật tốt đẹp là họ đã đưa được Lyđi đến với đạo (16:14).
Các yếu tố trong việc thờ phượng.
Chúng ta thấy khi các Cơ đốc nhân tự tổ chức việc thờ phượng của họ thì thường thường Thánh Linh của Chúa cũng được đề cập đến. Trong Công vụ chương 13, trước vòng lưu hành truyền giáo đầu tiên, Hội Thánh hiệp một nhau lại để thờ phượng (và rất có thể là có dâng của tế lễ nữa, Hi văn là leitourgountòn, 13:2) và bày tỏ lòng sốt sắng của họ bằng sự kiêng ăn. Chính trong một bối cảnh như thế, Đức Thánh Linh mới có thể cho mọi người biết sự hướng dẫn của Ngài. Có lẽ Ngài đã linh cảm cho một nhà tiên tri để kêu gọi hãy biệt riêng Banaba và Sau-lơ cho công tác phục vụ đặc biệt; có lẽ đó là một niềm tin quyết Ngài đặt để trên tấm lòng của những người hiện diện tại đó. Trong mọi biến cố ấy công cuộc truyền giáo bắt đầu từ Antiốt đã được khai sinh trong lúc thờ phượng như vậy, có dấu hiệu rõ ràng cho thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang hiện diện. Phaolô muốn rằng những người khách đến thăm một Hội Thánh trong khi mọi người nhóm lại để thờ phượng và đang mở lòng ra cho Đức Thánh Linh trực tiếp phán dạy qua các nhà tiên tri trong hội chúng, thì họ phải ý thức rằng Đức Chúa Trời đang có ở đó, để chính họ cũng bị bắt buộc phải thờ phượng nữa (ICo1Cr 14:25). Sách Khải huyền đã viết ra từ việc Giăng được Đức Thánh Linh cảm hóa vào ngày của Chúa - chắc chắn là trong bối cảnh một buổi nhóm lại thờ phượng (KhKh 1:10). Rồi trong chương 4 và nhiều lần nữa qua suốt quyển sách, chúng ta thường thấy trước giả đang tham dự cuộc thờ phượng trong Đức Thánh Linh, trước ngôi Đức Chúa Trời (4:2, 5).
Sự thờ phượng thuộc linh.
Sự thờ phượng thật là trong Đức Thánh Linh, như Chúa Giê-Xu từng vạch rõ cho người phụ nữ Samari (GiGa 4:24). Khúc sách này thường bị hiểu lầm, dường như nó có ý bảo rằng trong viêc thờ phượng thì địa điểm thờ phượng là không quan trọng, và rằng những tâm linh con người của chúng ta vốn có ái lực (affinity) với Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Nhưng, như G.S.Hendry đã vạch rõ trong quyển ‘Đức Thánh Linh trong thần học Cơ đốc giáo (The Holy Spirit in Christian Theology) trang 32, điều đó trái ngược hẳn với sự thật. Theo Giăng cũng như Phaolô, thì Linh (Spirit) đối lập với xác thịt (flesh), mà xác thịt thì tiêu biểu cho toàn thể nhân tánh sa ngã của chúng ta. Bảo rằng Đức Chúa Trời là Thần (Linh: Spirit) và cách duy nhất để thờ phượng Ngài là trong Thánh Linh và bằng chân lý (bản Kinh Thánh Việt văn dịch là “lấy tâm thần và lẽ thật") tức là như dập mạnh cánh cửa trước mặt chúng ta khi chúng ta cậy sức riêng mình và sự tốt lành thiện hảo của riêng mình để đến gần Đức Chúa Trời. Làm thế nào “xác thịt” lại đến gần với Đức Chúa Trời, vốn là “Thần Linh”, được? Làm thế nào tội nhân lại đến gần Đức Thánh Linh được? Họ không thể nào đến gần Ngài được. Nhưng tin tức tốt lành, ấy là Đức Chúa Trời đã mở ra một con đường. Đức Chúa Trời đã khiến người ta đến với Ngài được bằng cách khiến Ngôi Lời trở nên xác thịt, và giờ đây, Ngài có thể được thờ phượng tại nơi mà chính Ngài đã tự bày tỏ mình ra, tức là Chúa Cứu thế Giê-Xu, Đấng tuyên bố với người phụ nữ Samari “Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó”. Hendry kết luận: “Đức Chúa Trời tích cực tìm kiếm con người thờ phượng Ngài trong tâm linh và trong chân lý bằng cách khiến người ta có thể đến với Ngài qua Con Ngài, là chân lý nhập thể, và bằng công tác của Đức Thánh Linh, Đấng vốn là Linh của chân lý". Do đó, thờ phượng Đức Chúa Trời trong linh và chân lý (tâm thần và lẽ thật) là sự thờ phượng Ba Ngôi Đức Chúa Trời; đó là thờ phượng Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu thế Giê-Xu và trong Đức Thánh Linh.
Sự cầu nguyện trong khi thờ phượng.
Trước khi rời khỏi phương diện này của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh, chúng ta không nên bỏ qua trường hợp đã ghi lại trong Cong Cv 4:23 và tt. Sau khi bị Tòa Công luận bỏ tù, Phi-e-rơ và Giăng được thả ra và được khuyến cáo là đừng nói gì về sự sống lại của Chúa Giê-Xu nữa. Hai vị trở về bắt liên lạc với các Cơ đốc nhân khác, và hành động tức khắc của hai vị rõ ràng khác hẳn với điều sẽ xảy ra giữa phần lớn các giới Cơ đốc nhân ngày nay. Có thể chúng ta sẽ tổ chức một kiến nghị đòi những quyền tự do công dân hay tìm đến ông Đại biểu Quốc hội của tỉnh mình, hoặc ít nhất cũng bầu ra một tiểu ban để nghiên cứu vấn đề chính quyền đe dọa như vậy. Nhưng hai vị sứ đồ đã không làm thế. Hai vị đã dành thì giờ để cầu nguyện. Dường như là một buổi nhóm gồm cả sự thờ phượng dâng hiến và cầu nguyện tự do. Bài cầu nguyện được ghi lại, phần lớn dựa vào Thi Tv 2:1-12, kèm theo một lời cầu xin ngắn. Nhưng hai vị đã không đề nghị với Đấng Toàn Năng nên làm gì. Hai vị đã không cầu xin được che chở bảo vệ, mà chỉ trình bày sự việc trước mặt Chúa và xin Ngài “xem xét”. Hai vị đề cao quyền tể trị của Ngài, bất chấp mọi lời đe dọa của con người. Và hai vị cầu xin được lòng dạn dĩ truyền giảng Tin Lành của Chúa Giê-Xu. "Khi đã cầu nguyện, thì nơi nhóm lại rúng động, ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ” (4:31). Đó là thực trạng khi Đức Thánh Linh hiện diện giữa buổi nhóm thờ phượng của họ.
Đức Thánh Linh linh cảm Kinh Thánh
Kết hợp chặt chẽ với sự hiện diện của Thánh Linh trong giờ thờ phượng, là việc Ngài linh cảm Kinh điển. Như chúng ta thấy, các nhà tiên tri đời xưa đã nhận mình vốn được Thần Linh của Đức Giê-hô-va sai phái và linh cảm. Chính Chúa Giê-Xu cũng ấn chứng sự linh cảm của Đức Thánh Linh cho Thi Tv 110:1-7 chẳng hạn: “Chính Đa-vít đã cảm Đức Thánh Linh mà nói rằng” (Mac Mc 12:36). Chúng ta cũng thấy trong Cong Cv 1:16; 4:25 v.v.., ghi lại Đức Thánh Linh đã linh cảm Cựu Ước y như vậy, và điều này hoàn toàn phù hợp không những với Cơ đốc nhân mà còn với người tín đồ Do thái giáo chính thống, khi chúng ta thấy lời tuyên bố thẳng thắn trong IITi 2Tm 3:16 rằng: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn (linh cảm)".
Thánh Linh linh cảm Kinh Thánh Cựu Ước.
Chúng ta không tìm được lời giải thích nào cho việc Đức Chúa Trời linh cảm các trước giả là con người cách gần gũi, sát sao hơn là IPhi 1Pr 1:20 và tt, trong đó trước giả nói với chúng ta rằng lời tiên tri vốn đến từ Đức Chúa Trời, chớ không từ ý riêng của nhà tiên tri. Lời ấy đến khi các trước giả là người được Đức Thánh Linh cảm hóa hay dìu dắt. Theo nguyên văn Hi lạp đây là cách nói ví von trong nghề đi biển, gợi ý về cách một chiếc tàu bị gió đẩy đi. Các nhà tiên tri đã giương buồm lên (có thể nói như vậy, vì các vị biết vâng lời và sẵn sàng tiếp nhận sứ mạng từ Đức Chúa Trời), và Đức Thánh Linh ngự vào, tràn ngập trong các vị và dìu các vị theo hướng Ngài muốn. Các trước giả Kinh Thánh không phải là những người máy, nhưng là những con người, những nhân vật của thời đại mình, có bối cảnh sinh hoạt và tri thức khác nhau, có những thành kiến và quan điểm khác nhau. Nhưng các nhân vật ấy đã đầu phục sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh đến độ Ngài có thể phán qua họ. Nói cho đúng, đã có sự cộng tác của trước giả là con người với Thánh Linh của Đức Chúa Trời; và không hề có sự gợi ý rằng nhân cách hay cá tính của trước giả đã bị vứt bỏ đi. Đức Thánh Linh không phải chỉ sử dụng các công cụ; Ngài dùng những con người, những người thánh, để qua họ có thể phán dạy con người thuộc những thời đại sắp đến. Phaolô viết: “Những gì đã được viết ra đời xưa, là viết để dạy dỗ chúng ta”. Còn Phi-e-rơ thì viết: “Các đấng tiên tri...đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em...tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Chúa Cứu thế ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Chúa Cứu thế và về sự vinh hiển sẽ theo sau” (IPhi 1Pr 1:10 và tt). Do đó, các Cơ đốc nhân đầu tiên đã phải trở về với Kinh Thánh Cựu Ước được linh cảm để “vật lộn” tìm hiểu ý nghĩa về Chúa Cứu thế và công tác của Ngài. Những khúc sách mà họ nhận thấy có sự soi sáng đặc biệt, đã bắt phục được họ, đều được C.H.Dodd vạch ra thật đầy đủ trong quyển sách của ông nhan đề ‘Theo Kinh điển (According to the Scriptures) và trong quyển ‘Việc này là câu đó (This is That) của F.F.Bruce. Dĩ nhiên, chính vì lý do được linh cảm mà Cựu Ước đã trở thành Kinh Thánh cho các Cơ đốc nhân đầu tiên. Chẳng những họ đã có được nó như di sản nguyên thủy của Do thái giáo, mà còn được thuyết phục rằng Cựu Ước chỉ về những ngày cứu rỗi mà Chúa Giê-Xu đã đem đến, rằng người ta không thể nào hiểu rõ Chúa Giê-Xu và sự cứu rỗi của Ngài ngoài phần bối cảnh vốn nằm trong Cựu Ước này. Thần Linh từng hành động tích cực trong các nhà tiên tri, chính là Đức Thánh Linh được thể hiện nơi Đức Chúa Giê-Xu.
Thánh Linh linh cảm Kinh Thánh Tân Ước.
Tuy nhiên, không thể bỏ ngang vấn đề ấy ở đó. Chúa Giê-Xu chẳng hứa ban Thánh Linh cho những người theo Ngài sao? Là Đức Thánh Linh sẽ dạy dỗ và dẫn dắt vào mọi lẽ thật về Ngài sao? Và chẳng phải Đức Thánh Linh ấy đã trở thành ân tứ bất khả ly thân của họ kể từ ngày lễ Ngũ tuần đó về sau hay sao? Thế thì, há không phải cùng một Thánh Linh trong linh cảm các nhà tiên tri nói về Chúa Giê-Xu, cũng linh cảm cho các sứ đồ như vậy khi họ làm chứng về Chúa Giê-Xu, hay sao? Đây chắc chắn là niềm tin của các sứ đồ. Trong 1:10-12 vừa đề cập ở trên, Phi-e-rơ chẳng những tuyên bố rằng Thánh Linh của Chúa Cứu thế đã linh cảm cho các nhà tiên tri để nói về Đấng Mê-si-a, mà còn tuyên bố rằng Tin Lành là sự ứng nghiệm những điều các nhà tiên tri đã nói, đã được các sứ đồ làm chứng lại cho các độc giả của mình, và do “Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống để giảng”. Cùng một Đức Thánh Linh từng hoạt động tích cực trong các nhà tiên tri, cũng đã hành động tích cực trong các sứ đồ. Do đó, không hề có sự sai lầm về niên đại khi Phi-e-rơ đã xếp các thư tín của Phaolô bên cạnh các Kinh điển khác (IIPhi 2Pr 3:16). Phải đợi ba trăm năm sau, các sách Tân Ước theo đúng hình thức như chúng ta hiện có ngày nay mới được truyền bá chính thức, nhưng ngay từ thời các sứ đồ, các Cơ đốc nhân đã thấy rõ là chính Đức Thánh Linh đã linh cảm các sách tiên tri cũng đã hậu thuẫn cho những lời lẽ của Chúa Giê-Xu và các sứ đồ Ngài. Phaolô có thể tuyên bố rằng ông có cùng một tâm ý với Chúa Cứu thế để rao giảng, không phải bằng lời của loài người bèn là lời của Đức Chúa Trời, và dạy dỗ không chỉ phần bố cục rộng rãi, nhưng cả những lời lẽ chi tiết mà Thánh Linh của Chúa đã chia xẻ cho ông (ICo1Cr 2:16; ITe1Tx 2:13; ICo1Cr 2:13). Cho nên ông mới dám thách thức những ai tưởng mình được “linh cảm” hãy thừa nhận mà theo đúng những gì ông đã nói (ICo1Cr 14:38). Vậy nên, ông trông mong rằng các thư tín của ông sẽ được đem ra đọc trong các buổi nhóm thờ phượng cùng với những lời dạy dỗ đã được linh cảm của Cựu Ước (CoCl 4:16).
Người ta gặp được Đức Thánh Linh trong Kinh Thánh.
Do đó, trong Kinh Thánh Cựu lẫn Tân Ước, với Chúa Giê-Xu là nhân vật trung tâm thì Đức Thánh Linh là Đấng chúng ta thường gặp. Chính vì thế mà việc đọc Kinh Thánh cả trong Hội Thánh lẫn với từng cá nhân, đều chiếm một địa vị quan trọng trong Cơ đốc giáo. Không hề có bóng dáng của việc tôn sùng Kinh Thánh trong đó. Sự kiện chỉ đơn giản là tại đó người ta sẽ gặp Đức Thánh Linh là Đấng linh cảm Kinh Thánh. Chúng ta đọc Kinh thánh là để được Ngài soi sáng cho và được Ngài biến hóa để ngày càng giống Chúa chúng ta hơn. IICô chương 3 là chương sách cổ điển nói về vai trò của Đức Thánh Linh là Đấng soi dẫn Kinh Thánh. Chính khi loài người hướng về Chúa Thánh Linh, thì bức màn mới được cất đi khỏi đôi mắt thông hiểu của họ. Một lần nữa, người ta thấy được tài ba của giám mục John Taylor khi ông mệnh danh cho Đức Thánh Linh là “Đấng đứng trung gian” Ngài chính là Đấng đã linh cảm Kinh Thánh. Rồi cũng chính Ngài giải thích Kinh Thánh cho độc giả khiêm hạ có lòng tìm kiếm Ngài.
Đức Thánh Linh phán dạy qua việc truyền giảng
Còn một điểm nữa cần thêm vào trong phương cách Đức Thánh Linh đã tự biểu hiện qua Kinh Thánh. Ngài làm việc đó qua một công trình khác nữa được thực hiện trong bối cảnh một hội chúng nhóm lại thờ phượng, gồm có một hoặc nhiều thành viên hơn đảm trách, tức là việc truyền giảng. Điển hình là Cong Cv 4:8 “Bấy giờ, Phi-e-rơ đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói rằng...” rồi ông bắt đầu giảng dạy.
Truyền giảng - một nẻo đường dẫn đến quyền năng của Đức Chúa Trời.
Như chúng ta đã thấy trong chương 6, một phần trong công tác của Đức Thánh Linh là thuyết phục một người về nhu cầu của người ấy, là khiến Chúa Cứu thế trở nên hấp dẫn đối với người ấy; điều này rất thường xảy ra trong khi truyền giảng, nhất là truyền giảng lời Kinh Thánh. Một trong những nhược điểm to lớn của Cơ đốc giáo ngày nay, là sự nghèo nàn trong việc truyền giảng. Nhiều hàng giáo phẩm xem đó là một việc làm buồn chán, và nhiều Hội Thánh than phiền khi bài giảng kéo dài hơn mười phút. Dường như người ta rất ít trông mong Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ hiện diện và hành động tích cực, để đưa thẳng vào lòng người nghe lời lẽ mà mình từng kỳ vọng đã cầu nguyện và đã chuẩn bị sẵn, để được Ngài hiện diện, khiến cho bài giảng (hay một phần của bài giảng) sẽ soi sáng và thật sự biến đổi đời sống ai đó trong vòng hội chúng. Nhưng đó là sự kiện đã xảy ra khi việc truyền giảng có sự cầu nguyện, có niềm tin, được truyền giảng ra bằng quyền phép của Đức Thánh Linh, có sự tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ dùng nó. Nhiều lần, sau một bài giảng, người ta đã nói với tôi: “Tại sao ông lại biết rõ tôi như vậy, khi ông nói điều nọ điều kia của tôi?” Đó là công việc của Đức Thánh Linh. Tôi có thể chỉ biết rất ít hay chẳng biết gì cả về các nhu cầu của họ. Nhưng Đấng đã dò xét lòng người vốn biết rõ, và Ngài đem những lời truyền giảng để ứng dụng cho các nhu cầu của những người hiện diện.
Tôi nhớ một sinh viên từng khám phá ra việc này trong khi anh ta đang giảng. Trước đó, anh chẳng tin tưởng mấy vào giá trị của việc truyền giảng, và chắc chắn anh không nghĩ rằng mình lại có thể giảng tốt được. Nhưng anh ta đã soạn bài giảng về sự cầu nguyện cách hết sức cẩn thận và cũng đã cầu nguyện nhiều, và anh đã đứng lên với sự sợ hãi run rẩy để giảng bài ấy. Anh vô cùng kinh ngạc khi nhận thấy số người trong hội chúng của thành phố đã bị Lời của Đức Chúa Trời bắt phục, và một người chẳng bao giờ đi nhà thờ bị một sinh viên khác lôi vào, đã phải bỏ đi ra vì bị cáo trách dữ dội bởi lời lẽ của bài giảng. Chàng sinh viên ấy chẳng bao giờ còn nghi ngờ nữa về việc Thánh Linh của Đức Chúa Trời có thể sử dụng những lời được truyền giảng. Lúc được phong chức anh ta sẽ không bỏ qua bài giảng đặng dành nhiều thì giờ cho âm nhạc và việc thảo luận hơn nữa. Vì âm nhạc vốn có phần của nó, việc thảo luận cũng vậy, nhưng Đức Thánh Linh thường sử dụng được bài giảng một cách đặc biệt.
Truyền giảng là một công việc làm chung.
Nhưng đây không phải là do cố gắng của một người duy nhất. Hội chúng có thể “hỗ trợ” nhà truyền đạo qua cách thức họ đáp ứng lại, bằng việc họ hậu thuẫn cho ông ta trong sự cầu nguyện, bằng cách đánh giá những gì ông ta nói, và bằng cách họ thờ phượng. Họ tạo ra bầu không khí trong đó Thánh Linh của Đức Chúa Trời có thể dễ dàng truyền thông với họ - nếu tôi có thể nói như vậy. Tôi còn nhớ rất rõ một buổi truyền giảng phúc âm tại miền Bắc nước Anh. Tôi biết Đức Chúa Trời sắp đưa nhiều người đến với Chúa Cứu thế trong buổi nhóm ấy, lúc tôi đã giảng được nửa bài, trước khi kết thúc bài giảng khá lâu: tôi nhận thấy rất rõ ràng ý thức thờ phượng rất chân thật, tình yêu thương và sự dâng hiến cho Chúa Cứu thế. Thật cảm động khi được đứng hằng nửa giờ giữa hai hàng ghế nhà thờ để tiếp đón dòng người cuồn cuộn kéo lên vì được các bạn bè đưa tới buổi nhóm, và chính số người đó cũng sẽ ở lại để giúp đỡ họ trong những ngày đầu tiên của cuộc đời làm Cơ đốc nhân, sau khi dâng đời sống mình cho Chúa Cứu thế và xin Đức Thánh Linh ngự vào lòng họ đêm ấy. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có rất nhiều thần học gia theo Barth chủ trương rằng Kinh Thánh không phải đơn giản là Lời Đức Chúa Trời, nhưng chỉ trở thành Lời Đức Chúa Trời khi Đức Thánh Linh sử dụng Lời được rao giảng hay được đọc để tạo ra một cuộc gặp gỡ nơi lòng người.
Đức Thánh Linh khiến các thánh lễ trở thành sống động
Đức Thánh Linh trong phép Báp-tem và Tiệc Thánh.
Nếu Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động tích cực trong Lời (Đạo), trong Hội Thánh, thì Ngài cũng quan tâm không kém đến việc đem sự sống đến qua các thánh lễ. Rất có thể là câu GiGa 3:5 đề cập việc “nhờ nước và Thánh Linh mà sanh” vốn có ý ám chỉ phép báp-tem của Cơ đốc giáo, và câu trong 6:53 “nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cũng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu” để ám chỉ tiệc thánh. Nếu vậy thì việc Đức Thánh Linh được nhấn mạnh trong cả hai liên văn kể trên vốn không phải là điều ngẫu nhiên. Trong 3:5, người “được sanh lại bởi nước và Thánh Linh” là việc mở rộng trường hợp “được sanh lại” (bản Anh văn là “sanh từ trên cao") của 3:3, chính Đức Thánh Linh trong sự tái sanh là chủ đề của phần thảo luận tiếp theo đó. Trong chương 6 cũng vậy, cùng với lời văn thật thô thiển về việc chúng ta thật sự “ăn thịt” và “uống huyết” Ngài, là câu khẳng định (câu 63): “Ấy là Thần Linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống”. Rõ ràng Đức Thánh Linh giữ vai trò tối quan trọng cho phép báp-tem có hiệu lực và tiệc thánh có ý nghĩa.
Các phương tiện chuyển tải phước hạnh.
IGi1Ga 5:7, 8 là một khúc sách thật đẹp, dường như vạch rõ Đức Thánh Linh đã dùng các thánh lễ để bảo đảm với người thuộc về Ngài rằng họ vốn là những phương tiện chuyển tải phước hạnh, và phải hành động như là các phương tiện thuộc thể để chuyển tải các phước hạnh thuộc linh: “Đức Thánh Linh đã làm chứng vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật. Vì có ba làm chứng: Đức Thánh Linh, nước và huyết, và cả ba hiệp một”. Ngoài các lý do khác nữa, thư tín này của Giăng đã được viết ra để phản bác tà thuyết của Doceti thời Hội Thánh đầu tiên, chủ trương rằng thân thể thuộc linh của Chúa Cứu thế vốn quá thánh khiết nên khó có thể bị ô uế vì tiếp xúc thường xuyên với xác thịt loài người (Docetism). Tà thuyết này còn một số điểm khác nữa, nhưng đều bác bỏ cái ý niệm cho rằng Chúa Cứu thế của đạo với Chúa Giê-Xu của xứ Palestine chỉ là một người. Nhưng trong mấy câu này, Giăng vạch rõ rằng chính sự đồng nhất hóa đó vốn thiết yếu đối với Tin Lành. Đức Chúa Trời đã thật sự làm người, và Chúa Giê-Xu đã không đến chỉ mang theo nước mà thôi (thần tánh, phép báp-tem của Ngài?) mà còn đem theo cả huyết nữa (nhân tánh, việc Ngài bị đóng đinh?). Cho dù ý nghĩa của câu rất khó hiểu này là gì đi nữa, thì điều Giăng ngụ ý là thần tánh của Chúa Giê-Xu đã trở thành điều mà loài người có thể đụng chạm tới, nhìn thấy được. Và điều ấy vẫn là sự thật! Các thánh lễ bằng nước và huyết (và ít ra, chắc chắn trong mấy chữ này cũng có nói bóng về phép báp-tem và tiệc thánh), đã được Đức Thánh Linh dùng để làm chứng cho chúng ta về thực tế của sự cứu rỗi chúng ta, và về sự kiện chúng ta thật sự là con cái trong gia đình Cha chúng ta trên trời. Hơn nữa, chúng ta là những vật thuộc thể, mang đến phước hạnh thuộc linh, vì Đức Thánh Linh có thể và thật sự vận hành qua các thánh lễ trong Hội Thánh, như Ngài từng vận hành qua đời sống Chúa Giê-Xu người Naxarét vậy.
Nhưng không phải là tà thuật.
Nhưng, khi Chúa Giê-Xu còn sống trong xác thịt, một người có thể nhìn thấy Ngài lắng nghe Ngài, dụng chạm vào người Ngài, mà chẳng nhận được điều lợi ích gì từ Ngài cả, có khi chẳng hề biết Ngài là ai nữa, thì với các thánh lễ cũng vậy. Chúng có thể chỉ là những dấu hiệu suông, rỗng tuếch, hoặc cũng có thể trở nên sống động do sự sống của Đức Thánh Linh. Điều đó tùy thuộc phần lớn vào lòng tiếp nhận của người nhận thánh lễ. Chắc chắn số người đi nhà thờ không phải chỉ khoanh tay ngồi đó, và tin quyết rằng mình đã nhận các thánh lễ nên đã được mối liên hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời rồi. ICô chương 10 cho thấy trường hợp này. Người Côrinhtô dường như xem sinh hoạt thánh lễ của họ là một loại bùa hộ mạng, cho phép họ cứ thờ thần tượng và phạm tội tà dâm mà khỏi bị hình phạt. Phaolô nhắc nhở họ rằng dân Y-sơ-ra-ên đời xưa vốn cũng có phần nghi lễ riêng tương đương với các nghi lễ trong Cơ đốc giáo, và họ đã trông cậy vào đó để mong được an toàn - nhưng làm thế chỉ vô ích mà thôi. Họ đã phạm tội ngoại tình và thờ thần tượng như người Côrinhtô vậy, và “Đức Chúa Trời đã không đẹp lòng về họ; vì họ bị đánh hạ trong đồng vắng”. Các thánh lễ trong Hội Thánh là những phương tiện để chúng ta tiếp nhận ân điển, là nền tảng khách quan để chúng ta tin chắc, nhưng chúng không có ma lực, hay phép thần diệu nào đâu.
Đức Thánh Linh mở đầu sứ mạng truyền giáo.
Một dấu hiệu khác nữa của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh là sứ mạng truyền giáo. Ngay từ những ngày đầu tiên của Cơ đốc giáo, thì sự việc vốn đã là thế, như chúng ta thấy ở chương 5. Đến với nhiều người khác là phần bổ sung cho mối thông công bên trong gia đình Cơ đốc giáo. Hoạt động của Đức Thánh Linh trong sự thờ phượng và thông công, trong Kinh Thánh, trong việc giảng dạy và trong các thánh lễ của Hội Thánh phải được giữ quân bình bằng việc thúc giục các thành viên của nó thực hiện sứ mạng truyền giáo cho thế gian đang đói khát - “hãy ăn, này là thịt ta”. Tin Lành của Cơ đốc giáo không dành riêng cho một ai cả. Khi Hội Thánh là một Hội Thánh chân chính, thì chẳng bao giờ là một câu lạc bộ khép kín, chỉ dành cho “nội bộ” mà thôi. Hội Thánh luôn luôn phải là toàn thể gia đình của Đức Chúa Trời họp nhau lại để thực thi sứ mạng truyền giáo. Cho nên chúng ta thấy nhiều lần trong Hội Thánh đầu tiên, tiếp sau việc thờ phượng là công tác truyền giáo.
Sự thờ phượng thuộc linh dẫn đến công tác truyền giáo.
Chúng ta sẽ nhìn lướt qua vài thí dụ, vì chúng ta đã khảo xét khá chi tiết mối liên hệ giữa Đức Thánh Linh với công tác truyền giáo. Nhưng cần lưu ý là trong Công vụ chương 2, sau khi ghi lại việc thờ phượng và thông công với nhau của các tín hữu đầu tiên, chúng ta đọc thấy: “Mỗi ngày, Chúa lấy kẻ được cứu thêm vào Hội thánh” (Cong Cv 2:47). Rồi sau buổi nhóm cầu nguyện, ở chương 4, chúng ta đọc thấy: “Ai nấy...đều giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ...Các sứ đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Chúa Cứu thế Giê-Xu và hết thảy đều được phước lớn". Trong khúc sách ở ICôrinhtô mà chúng ta đã khảo xét trước đây, thì kết quả người ta thường trông mong ở sự thờ phượng được đổ đầy Đức Thánh Linh, là việc có nhiều người ăn năn quy đạo được thêm vào Hội Thánh. Trong trường hợp Hội Thánh Antiốt trong chương 13 sách Công vụ thì cũng có cùng một khuôn mẫu như thế: công tác truyền giáo theo sát sự thờ phượng được Thánh Linh hướng dẫn. Vấn đề này rất quan trọng, vì thật ra có rất ít nhân tố để tạo ra sự truyền giảng phúc âm cách có quyền năng bằng qua việc thông công trong việc thờ phượng là nơi nhiều ân tứ khác nhau của Đức Thánh Linh được thực hiện trong tình yêu thương và sự hòa hợp giữa nhóm người vốn nhận biết rằng họ đang ở dưới quyền lãnh đạo của cùng một Đức Thánh Linh. Và điều đó dẫn chúng ta đến một dấu hiệu quan trọng cuối cùng bày tỏ có Đức Thánh Linh trong Hội Thánh, đó là sự lệ thuộc lẫn nhau trong Thân thể Chúa Cứu thế .
Đây là một bài học mà các Cơ đốc nhân tại Côrinhtô đã không tiêu hóa nổi, nên Phaolô phải dùng đến ba chương để dạy dỗ họ.
Đức Thánh Linh gây dựng thân thể Chúa Cứu thế bằng tình yêu thương
Một Hội Thánh năng động.
Côrinhtô là một Hội Thánh dồi dào ân tứ. Trong số các ân tứ ấy, họ đánh giá rất cao ân tứ nói các thứ tiếng. Từ hai bối cảnh Hi bá lai và Hi lạp, việc họ đánh giá cao ân tứ nói tiếng lạ là điều có thể hiểu được. Chỉ cần nghĩ tới việc ruach adonai đã giáng trên Sau-lơ cách mãnh liệt siêu nhiên đến nỗi ông đã phải nhảy múa như một đạo sĩ, hay giáng trên Ê-xê-chi-ên đưa ông đến một nơi khác, thì người ta có thể thông cảm với người Côrinhtô trong việc cho rằng cách biểu lộ phi thường như vậy là dấu hiệu chắc chắn cho hoạt động của Đức Thánh Linh. Trong thế giới Hi lạp cũng vậy. Ngay đến nhà đại trí thức Plato cũng viết trong sách Phaedrus: “Chính là qua trung gian của mania (xuất thần do thần linh chiếm hữu) mà các phước hạnh quan trọng đã đến với chúng ta”; và trong sách Timaeus: “Chẳng một ai nhờ có nous (lý trí) mà đạt tới được những điều cao siêu chân chính của thần linh”. Điều siêu lý chính là dấu hiệu của thần cảm: càng có nhiều pneuma bao nhiêu, thì nous càng ít đi bấy nhiêu. Người Côrinhtô chắc đã đánh giá bằng cách đề cao vượt bậc giá trị của các giáo sư (liên hệ đến lý tính - rationality - của họ), cả nhà tiên tri (nói ra theo thần cảm, nhưng có thể hiểu được) và những người nói tiếng lạ (mà sự linh cảm được đánh dấu bằng tính cách không hiểu được).
Một nguy cơ nghiêm trọng.
Là một Hội Thánh sống động, một Hội Thánh đầy dẫy tài năng, sự tự do, cởi mở và tươi mới, nhưng Hội Thánh Côrinhtô đang gặp nguy cơ nghiêm trọng. Nếu cho rằng một người càng mất tự chủ bao nhiêu thì càng được Đức Chúa Trời linh cảm nhiều bấy nhiêu, có nghĩa là người ta phủ nhận địa vị của Đức Chúa Trời trong lãnh vực hữu lý (rational). Nếu cho rằng những đột biến phi ngã (non-personal irruptions) của ruach là dấu hiệu của sự linh cảm, tức là quên rằng chúng ta đang đề cập đến Thánh Linh của chính Chúa Giê-Xu. Bất cứ điều gì vứt-bỏ-đi-thân-vị (depersonalisation) của Thánh Linh như thế thì cũng chối bỏ luôn những gì là đạo đức, cho rằng hễ bạn có dấu hiệu linh cảm đó trên mình, thì dầu bạn hành động cư xử thế nào đi nữa cũng chẳng sao. Nếu ân tứ đặc trưng này được đánh giá cao hơn tất cả các ân tứ khác thì nó rất dễ dẫn người ta đến chỗ tôn sùng kinh nghiệm, đến cá nhân chủ nghĩa (sự ghen tị của người không có ân tứ ấy, kiêu ngạo nơi những người có nó). Và giữa tất cả mọi điều đó, tình yêu thương Cơ đốc có thể biến mất đi thật dễ dàng.
Câu trả lời của Phaolô.
Phaolô đã đối phó như thế nào với tình hình khó khăn đó, một tình hình rất dễ phá hoại sự nương tựa lẫn nhau trong cộng đồng Cơ đốc giáo, khiến nhiều thành viên ghen tị, ganh đua nhau về các ân tứ thuộc linh như vậy? Ông đã trực diện đối đầu với nó.
ICo1Cr 12:1-3
Trong mấy câu 1-3, ông giải thích mối liên hệ giữa Đức Thánh Linh với việc xuất thần. Trước hết, ông nhắc nhở lòng họ rằng không phải mọi lời người ta nói ra trong lúc xuất thần đều có tính cách Cơ đốc giáo. Họ vốn biết rõ điều đó lúc chưa được tái sanh, khi thờ phượng các thần Bacchus hay Attis. Họ từng tham dự những bữa tiệc cúng tế ma quỉ (10:19 và tt) và đã sa vào vòng ảnh hưởng của chúng. Dĩ nhiên, từ ngữ Hi văn được dùng ở đây, apagomenoi, cho thấy họ vốn thật sự từng trải việc bị quỉ ám: họ đã bị “cất ra khỏi bản thân họ” để nói nhảm khi thờ lạy các hình tượng tự chúng vốn câm, chẳng đáp lại được lời cầu xin, khẩn nài của họ. Justin từng đề cập việc những người ngoại đạo “bị ma quỉ cầm roi săn đuổi” (IApology, 5), còn Lician, khi nói về quyền lực của tình yêu, đã nói: “một thứ thần (nghĩa đen là quỉ, cùng một chữ mà Phaolô dùng) đưa chúng ta đi xa (agei) đến nơi nào tùy ý nó, và không thể nào chống lại nổi” (Đối thoại với kẻ chết, 19:1). Đây là loại quyền năng siêu nhiên mà người Côrinhtô đã từng trải trong những ngày họ còn theo ngoại giáo, thúc đẩy họ thờ lạy hình tượng. Thiết tưởng cần nhắc để mọi người nhớ rằng những người sùng mộ Hồi giáo ở Sudan cũng nói tiếng lạ chẳng kém gì Cơ đốc nhân ở tại Guildford hay Cleveland!
Không phải dễ biết chắc được đã có gì xảy ra khi người ta - rõ ràng là được cảm thúc từ trên - hò hét trong Hội Thánh rằng “Giê-Xu đáng nguyền rủa”. Hầu như chúng ta không thể nào tin được rằng có một Cơ đốc nhân nào đó lại đi nguyền rủa Chúa Giê-Xu. Nhưng ít ra chúng ta cũng biết được có ba hoàn cảnh việc ấy thật sự đã xảy ra. Quan tổng trấn người La mã ở Bithini là Pliny, báo cáo với Hoàng đế Trajan về các nỗ lực của ông ta nhằm dập tắt Cơ đốc giáo trong tỉnh ấy vào khoảng năm 112 SC, và thế nào “một số Cơ đốc nhân hay vốn là Cơ đốc nhân...đã cầu đảo các thần và nguyền rủa Christ, mà người ta bảo rằng không hề có Cơ đốc nhân chân chính nào lại có thể bị thúc đẩy để làm như vậy” (Epistles 10:96). Nếu có người vì bị áp lực của cơn bắt bớ mà nguyền rủa Chúa Giê-Xu thì những người khác đã cũng làm như vậy bằng cách chối bỏ, con người mang tên Giê-Xu trong lịch sử đã chết đau đớn trên thập tự giá đầy sỉ nhục; thay vào đó họ tập trung lòng trung thành tận tụy đối với Chúa trên trời, tức là Chúa Cứu thế đã sống lại. Cerinthus đã phân biệt chính hai hạng người như vậy, và bị các giáo phụ của Hội Thánh như Epiphanius và Iranaeus khiển trách nghiêm khắc. Rồi còn có một giáo phái Cơ đốc theo tà thuyết Trí huệ phái gọi là người Ophites cũng đòi hỏi các thành viên của mình nguyền rủa Chúa Giê-Xu (Origen, Contra Celsum, 5:1,28). Điều này chứng tỏ không phải người ta chưa hề nghe nói đến số người tự xưng là Cơ đốc nhân, nhưng lại nguyền rủa Chúa Giê-Xu. Rất có thể một vài Cơ đốc nhân tại Côrinhtô, do cơn xuất thần của men rượu kinh nghiệm tôn giáo đưa đẩy, đã tách rời Chúa Giê-Xu của lịch sử với Chúa Cứu thế, Đấng ban Thánh Linh; dường như cũng có một trường hợp tương tự như vậy đã xảy ra trong cộng đồng mà Giăng đã phải viết thư IGi cho nơi có mấy kẻ “nói dối” bảo rằng Chúa Giê-Xu không phải là Chúa Cứu thế (IGi1Ga 2:22). Dầu sao thì Phaolô cũng dùng việc xảy ra gây chấn động này để dạy người Côrinhtô một bài học tối quan trọng. Dấu hiệu thật sự quyết định việc Đức Thánh Linh hiện diện không phải là bằng nhiệt thành tôn giáo hoặc cả việc nói các thứ tiếng (vốn có thể nảy sinh do quỉ ám hay do các điều kiện tâm lý cũng như là do Đức Thánh Linh), nhưng là việc xưng nhận Giê-Xu là Chúa. Nói khác đi, chính nội dung lời truyền giảng của Cơ đốc giáo mới quan trọng. Con người từng bước đi trên các đường phố xứ Palestine đã được đưa lên ngôi chủ tể, cai trị toàn thể vũ trụ; Chúa Giê-Xu của lịch sử không thể bị tách rời khỏi Chúa Cứu thế của đức tin (đạo). Một lần nữa, cũng như trong hai chương 3 và 4, chúng ta thấy Thánh Linh của Chúa Cứu thế làm chứng cho Chúa Giê-Xu trong lịch sử. Đấng mà chúng ta gặp gỡ với tư cách Đức Thánh Linh, chính là Thánh Linh của Chúa Giê-Xu. Ngoài Ngài ra, hãy còn nhiều “thần” nhiều “linh” khác nữa, và người ta rất dễ bị chúng lừa gạt (4:1 và tt).
Nhưng cũng có lý do chính đáng để cho rằng “Giê-Xu là Chúa” là lời tuyên xưng trước nhất khi người ta chịu phép báp-tem. Đó là một điều chắc chắn mà mỗi một Cơ đốc nhân đều có thể nói lên; và là điều tối thiểu không thể nào rút gọn hơn nữa trong đức tin Cơ đốc giáo. Phaolô đã chú tâm chứng minh cho người Côrinhtô thấy rằng việc thật sự được Đức Thánh Linh chiếm hữu không phải chỉ được đánh dấu bằng cách nói tiếng lạ mà thôi, nhưng là bằng lời tuyên xưng không chút mơ hồ rằng Giê-Xu người Naxarét là Chúa, Chúa của toàn thể vũ trụ, và Chúa của đời sống chúng ta. Đây là tiêu chuẩn đầu tiên và cuối cùng của sự hiện diện đích thực của Đức Thánh Linh. Và điều này không phải chỉ hạn chế trong vòng vài người Côrinhtô là Cơ đốc nhân đã nhận ân tứ đặc biệt để rồi khinh dể người khác là không được “đổ đầy Đức Thánh Linh” (pneumatikei), nhưng đúng ra, đó là điều kiện căn bản để trở thành Cơ đốc nhân, vốn nằm sẵn trong lời xưng nhận khi một người chịu phép báp-tem! Phaolô còn đưa ra một dấu hiệu lớn lao hơn nữa về việc một người thật sự có Đức Thánh Linh, mà chúng ta sẽ bàn tới trong câu 7. Nhưng câu này vốn là căn bản cho tất cả phần thảo luận tiếp theo đây.
ICo1Cr 12:4-6
Trong mấy câu 4-6, Phaolô tiếp tục đưa ra một điểm tối quan trọng. Ông đối chiếu sự khác nhau của các ân tứ với sự hiệp một của Đấng đã ban các ân tứ ấy. Xin chú ý việc lặp đi lặp lại mấy chữ “một Đức Thánh Linh...một Chúa...một Đức Chúa Trời”, đối chiếu với ba lần “có...khác nhau” trong mấy câu này. Ở đây, chúng ta có công thức cổ xưa nhất về giáo lý Ba Ngôi (Đức Chúa Trời) trong cả Tân Ước. Nó hoàn toàn có nguồn gốc Hi bá lai. Phaolô đã không hề suy nghĩ bằng ngôn từ Hi lạp về “Ba Ngôi hiệp một Đức Chúa Trời". Ông đang suy nghĩ với tư cách là một người Y-sơ-ra-ên chân chính về hành động của Đức Chúa Trời. Cùng một Đức Chúa Trời và chỉ một Đức Chúa Trời mà thôi, đã hành động theo nhiều cách khác nhau. Do đó, điều quan trọng là cần khảo xét chỗ khác nhau giữa ba từ ngữ mà Phaolô đã dùng mô tả hành động đa năng đa diện của Đức Chúa Trời. Câu trả lời khá đơn giản về mặt ngữ học: charisma là “ân tứ”, diakonia là “phục vụ”, và energẽma là “ban cho quyền năng”, tự chúng đều có tính cách giải nghĩa rõ ràng, nhưng điều lý thú là cách mà vị sứ đồ đã “cáp đôi” chúng. Ân tứ (các sự ban cho) được ghép vào với Đức Thánh Linh; các hành động phục vụ (chức vụ) được ghép vào với Chúa Giê-Xu; và quyền năng cần có thì được ghép với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Nói khác đi, các ân tứ thuộc linh tôi có là các ân tứ được san sẻ cho tôi từ món quà ân điển tối cao là chính Đức Thánh Linh. Chúng không phải là của riêng, là vật sở hữu riêng tây để tôi tự ý sử dụng tùy thích. Chúng vốn là của Ngài cho tôi mượn. Và chúng được cho mượn để làm gì? Không phải để tôi tự cao hay muốn dùng làm gì thì làm cho thỏa thích. Cũng không phải để phô trương, hay để tự so sánh mình với những người khác vốn được ban cho các ân tứ kém hơn hay khác hơn. Không phải như vậy. Chúng được ban cho là nhằm phục vụ (dikoinia) người khác, theo mẫu mực của Đấng duy nhất đã được đổ đầy Đức Thánh Linh và là Người Đầy Tớ tối cao của Đức Giê-hô-va. Rồi khi sự phục vụ ấy được đưa tới chỗ thành công, khi nó giúp đỡ được một ai đó, thì đó không phải do tài năng hay sự thánh khiết của tôi, mà chỉ đơn giản là do Đức Chúa Trời đã ban quyền năng đó cho tôi. Ngài chính là Đấng đã khiến mọi sự từ không ra có ngay từ buổi đầu và dùng quyền năng Ngài để nâng đỡ, bảo trì chúng.
ICo1Cr 12:7-11
Chúng ta sẽ khảo xét các câu 7-11 chi tiết hơn trong chương 10. Ở đây, thiết tưởng cần ghi nhận rằng Phaolô còn đẩy luận cứ của ông đi xa hơn nữa bằng cách cho người Côrinhtô biết rằng Đức Thánh Linh ban ân tứ cho tất cả các thành viên trong Hội Thánh; rằng các ân tứ ấy vốn khác nhau và được biểu hiện cụ thể trong nhiều cách ban cho khác nhau đối với các thành viên khác nhau. Tất cả đều nhằm tạo lợi ích chung. Điều này dẫn chúng ta đến một chân lý thứ hai có tính cách bổ túc về định chuẩn đúng để phân biệt đâu là một ân tứ đích thực của Đức Thánh Linh. Chúng ta đã thấy chân lý thứ nhất trong câu 3. Chúng ta phải đặt câu hỏi: “Phải chăng nó chỉ về Chúa Giê-Xu là Chúa, không lầm lẫn vào đâu được?”. Rồi chúng ta gặp chân lý thứ hai trong câu 7: “Nó có ích lợi và gây dựng cho cộng đồng Cơ đốc nhân không?”. Nội dung bức thông điệp và cộng đồng dân sự của Đức Chúa Trời là hai câu hỏi quan trọng mà vị sứ đồ dạy chúng ta phải đặt ra nếu chúng ta nghi ngờ giá trị của một lời rêu rao hay một từng trải thuộc linh nào đó.
Vậy, trong mấy câu có tính cách quyết định này, Phaolô đã vạch rõ cho chúng ta thấy hành động thống nhất của Đức Thánh Linh qua rất nhiều ân tứ khác nhau. Ông đặt nền cho luận cứ đó trên chính yếu tính hiện hữu của Đức Chúa Trời và hành động của Ngài trong lịch sử. Vì bản thân Đức Chúa Trời vốn vừa-khác-biệt-vừa-thống-nhất, và Ngài từng tỏ mình ra như vậy qua các hành động cứu độ của Ngài trong lịch sử, cho nên Ngài cũng đang hành động bên trong Hội Thánh như vậy. Một Đức Chúa Trời duy nhất vốn là nguồn gốc cho nhiều biểu hiện khác nhau của cùng một Đức Thánh Linh trên Thân thể của cùng một Chúa Cứu thế, là Hội Thánh. Các biểu hiện do chính Đức Chúa Trời hành động đó được gọi là energẽmata, “các việc làm”, nhấn mạnh trên những gì Đức Chúa Trời làm (12:6, 10), được gọi là chariomata, nhấn mạnh trên ân tứ do sự phân phát tể trị các khả năng đó của Ngài (12:4, 9, 28) và được gọi là diakonia, nhắc nhở độc giả của ông rằng mọi ân tứ được ban cho là nhằm phục vụ người khác (12:5). Vậy, thật ra có nhiều ân tứ khác nhau, nhưng chỉ có cùng một Đức Thánh Linh đã phân phối chúng. Lẽ tất nhiên có nhiều cách phục vụ Chúa, nhưng mọi người chúng ta đều phục vụ cùng một Chúa. Tất nhiên Đức Chúa Trời có nhiều cách để hành động trong chúng ta, nhưng mọi tài năng và sức lực để chúng ta sử dụng cách ích lợi, đều chỉ do một mình Ngài ban cho mà thôi. Do đó, chúng ta chẳng có gì để khoe khoang hay ghen tị. Các ân tứ ấy không nhất thiết có liên hệ đến đời sống thánh khiết hay năng lực phục vụ, mà chúng đều là những sự ban cho của Đức Thánh Linh, chớ không phải là những nét đẹp của những cá tính. Và chúng được ban cho là nhằm gây dựng cộng đồng Cơ đốc giáo toàn diện để phục vụ cho cùng một Chúa.
ICo1Cr 12:12-31
Từ câu 12 cho đến cuối chương sách, Phaolô dùng một thí dụ gợi hình để giãi bày chủ đích các ân tứ của Đức Thánh Linh. Ông xem Hội Thánh như Thân thể Chúa Cứu thế, trong đó tất cả những tín đồ Côrinhtô (12:27) và dĩ nhiên là toàn thể tín hữu trên cả thế gian (1:2) nữa đều là các chi thể. Mọi người chúng ta đều dự phần vào cùng một Thân thể Chúa Cứu thế đó. Chính Đức Chúa Cha chỉ định để giúp chúng ta phải giữ vai trò nào, và Ngài ban cho chúng ta các ân tứ để thử giữ vai trò ấy (12:18, 24, 28). Chính Đức Thánh Linh khiến chúng ta trở thành các chi thể của Thân thể ấy. “Vì chưng chúng ta hoặc người Giuđa hoặc người Gờréc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Đức Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã cùng uống chung một Thánh Linh nữa” (12:13). Phaolô nhấn mạnh rằng toàn thể Cơ đốc nhân đều được báp-tem bởi cùng một Thánh Linh để trở thành cùng một Thân thể, bất chấp bối cảnh, quốc tịch và ân tứ của họ. Một số người có những ân tứ được mọi người chú ý như nói tiếng lạ, một số thì không có (12:30). Nhưng tất cả mọi người như nhau, đều chìm ngập trong cùng một vùng biển của Thánh Linh, mọi người đều được nước sống của Ngài chảy tràn vào và tưới mát cuộc đời khô hạn của họ (dường như đây là ý nghĩa của hai cách nói ví von trong câu 13). Trong câu Kinh Thánh lừng danh này còn vài vấn đề đặc biệt về chi tiết mà chúng ta sẽ quay lại trong một chương sau. Nhưng căn cứ vào văn mạch, rõ ràng vị sứ đồ đã không ngụ ý đề cập một phép báp-tem bằng hay trong Thánh Linh mà chỉ một vài người trong số họ đã nhận được, nhưng ông nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều nhận được phép báp-tem ấy, cũng như họ đều là các chi thể của Chúa Cứu thế và đều là con cái của Đức Chúa Cha ở trên trời vậy. Tư tưởng ở đây từ đầu chí cuối, đều liên hệ đến cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Lẽ dĩ nhiên nó gây kinh ngạc, nhưng nó vốn cố ý gây ngạc nhiên như vậy. Chúng ta rất dễ bỏ qua thí dụ ví von chỉ được diễn tả nửa vời trong câu 12, là câu bắt đầu đoạn sách lý luận này. Giá như ông nói: “như thân là một, mà có nhiều chi thể, và các chi thể của thân dẫu có nhiều, cũng chỉ họp thành một thân mà thôi, Hội Thánh khác nào như vậy” thì vấn đề đã rõ ràng, chẳng có gì phải lưu ý đến. Nói như thế thì cũng có điểm giống với tư tưởng khắc kỷ, nhưng ông lại nói một điều dường như chưa từng thấy trong bất kỳ sách vở nào. Ông nói: “Chúa Cứu thế khác nào như vậy”. Bằng câu, phát biểu nát óc này, ông ngụ ý gì?
Ông muốn cho người Côrinhtô phải ngồi ngay lại và chú ý. Hội Thánh không phải là một hiệp hội của đời. Đó là sự thể hiện của Chúa Giê-Xu, là Đấng Mê-si-a. Hội Thánh như thế nào, là do quyền năng, sự hiện diện và hành động của Chúa của Hội Thánh. Chúa Cứu thế là nơi mà toàn thể các tín hữu đều được kết hợp chặt chẽ lại. Chúa Cứu thế chính là không khí mà họ hít thở. Như giáo sư Edward Schweizer thường nhận xét, danh hiệu “Cơ đốc nhân” chỉ xuất hiện trong Tân Ước trên môi miệng người ngoại đạo, có lẽ là điều rất ý nghĩa. Danh hiệu mà Phaolô thích dùng để chỉ Hội Thánh, là "những người ở trong Chúa Cứu thế”. Nếu họ khác biệt với mọi người, ấy là vì Chúa Cứu thế ở trong họ, và họ ở trong Chúa Cứu thế. Đây là điều quan trọng đối với Hội Thánh. Chính vì lý do ấy Phaolô đã không nói Thân thể mà tất cả chúng ta thuộc về là Hội Thánh, nhưng là Chúa Cứu thế. Và bởi tinh thần chia rẽ và tự cao của họ mà những người Côrinhtô này đang phá hoại sự hài hòa không phải là của Hội Thánh, nhưng chính là của Chúa Cứu thế .
Vậy thì, tất cả những tín đồ ở Côrinhtô đều có Đức Thánh Linh. Và các ân tứ mà họ rêu rao rằng mình có đều do Ngài ban cho. Vai trò cá nhân của họ có lẽ là làm tai, làm mắt, bàn tay, bàn chân trong Thân thể đó. Vấn đề muốn nói đây là sở dĩ họ có mặt ở đó là kết quả của việc Đức Chúa Trời đã chỉ định, trang bị cho họ bằng ân tứ của Đức Thánh Linh. Kế đó, Phaolô giải quyết hai khuynh hướng khác biệt nhau bên trong Thân thể Chúa Cứu thế. Một số chi thể vốn có những ân tứ kém cỏi hơn, và có khuynh hướng cảm thấy mình là những chi thể thấp kém hơn trong Thân thể. Trong mấy câu 14-20, Phaolô khích lệ số thành viên này. Thật khủng khiếp biết bao, nếu, Thân thể chỉ gồm một con mắt thật to mà thôi! Nếu tất cả các chi thể đều có cùng một ân tứ giống nhau, thì sự hài hòa “hiệp-một- mà- khác- biệt” sẽ nhường chỗ cho sự “đồng bộ” đáng sợ (12:19, 20). Hơn nữa, trách cứ Đức Chúa Trời là Đấng sắp xếp từng cơ quan một trong Thân thể theo như cách Ngài thấy là thích hợp, thì thật ngoan cố (12:18). Đó là điều mà họ phải khắc cốt ghi tâm. Tự ty mặc cảm trong nhà của Đức Chúa Trời là điều không đúng. Ngài biết rõ Ngài làm gì khi phân phối các ân tứ khác nhau như thế. Tất cả các chi thể trong Thân thể đều cần thiết và lệ thuộc lẫn nhau.
Trong mấy câu tiếp theo đó, Phaolô nói về những kẻ có mặc cảm tự tôn. Họ được nhắc nhở rằng mọi chi thể đều có vai trò riêng của mình; nhưng Đức Chúa Trời thường tôn trọng đặc biệt những thành phần có vẻ yếu đuối, kém cỏi hơn: “các chi thể của thân xem ra yếu đuối lại là cần thiết. Chi thể nào trong thân chúng ta bị xem là hèn hạ hơn, thì được tôn trọng hơn” (12:22 và tt). Nếu số người có các ân tứ kém cỏi hơn mà bị xem nhẹ, thì toàn thể Hội Thánh sẽ trở nên nghèo nàn.
Đây là điểm mà Phaolô trau chuốt để dẫn đến đoạn kết thúc, khi trực tiếp ứng dụng cách ví von so sánh của mình, để làm sáng tỏ vấn đề của họ. Một lần nữa, ông lại rất dễ bị hiểu lầm. Khi ông nói: “Lại trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng”, thì ông không hề muốn ám chỉ sự đoàn kết yêu thương nhau giữa các Cơ Đốc nhân. Điểm ông muốn nhấn mạnh là sự kiêu ngạo của người Côrinhtô. Ông muốn các thành viên tự cao của thân thể ở đó nhận thức được sâu sắc rằng nếu có một thành viên nào, dầu hèn kém đến đâu, có chức vụ tầm thường đến đâu, mà bị ngăn trở trong việc thi hành nhiệm vụ của mình, thì toàn thể Thân thể sẽ bị tổn hại! Mặt khác, nếu có một thành viên được tôn trọng và đã thực hiện tốt phần chức vụ được dành cho mình, thì cả Thân thể cùng được tôn trọng. Cũng như đối với người Côrinhtô,ngày nay, chúng ta khó chấp nhận và thấy bất ngờ trước cái chân lý rằng toàn thể Hội Thánh sẽ bị thiệt thòi nếu toàn thể các thành viên không được tạo cho cơ hội tốt để đóng góp phần ân tứ Đức Chúa Trời đã ban cho đời sống và sự thờ phượng của mình. Nhưng đó chính là điểm Phaolô muốn khẳng định qua chương sách này. Với ông, Thân thể của Chúa Cứu thế luôn luôn đứng hàng đầu, còn cá nhân thành viên là thứ yếu. Đây chính là điều trái ngược đối với người Côrinhtô- và cả đối với chính chúng ta nữa - vốn có tư tưởng hẹp hòi, nhỏ mọn. Người Côrinhtô phải học biết rằng cá nhân họ không phải là những “Chúa Cứu thế nho nhỏ”, có đầy đủ mọi ân tứ, mà trái lại, họ chỉ là những chi thể của Chúa Cứu thế với một vài ân tứ nào đó mà thôi. Chẳng có ai là không cần thiết, mà cũng chẳng có ai là đầy đủ trọn vẹn cả: họ đều cần cho nhau trong Thân thể Chúa Cứu thế .
ICôrinhtô 13: tâm điểm của tình yêu thương.
Đến đây Phaolô đóng góp chương sách bậc thầy của ông, đề cập đến tình yêu thương. Chúng ta không biết phải chăng đoạn sách này đã được viết ra trước khi ông viết thư tín này, hoặc chính bản thân ông hay ai khác đã viết nó. Dầu sao nó được đưa vào đây là điều hết sức thích hợp. Lời khuyến giục cuối cùng của ông trong chương 12, là “hãy ước ao cho được ân tứ lớn hơn hết”, mà ân tứ lớn hơn hết có thể được ban cho chúng ta không phải là nói tiếng lạ hay nói tiên tri, chữa bệnh hay làm phép lạ, nhưng là yêu thương, agapẽ. Thế giới thời xưa đều biết rõ về philia là tình bạn, về eros là tình yêu đam mê (giữa nam nữ); nhưng họ vốn chẳng biết gì cả về loại tình yêu thương không căn cứ vào tính cách xứng đáng của người nhận, mà được quyết định bởi lòng thiện hảo, tốt lành của người ban cho, loại tình yêu thương tìm cầu lợi ích cho tất cả mọi người bất chấp thành tích công lao và sức hấp dẫn cảm hóa của bản thân họ. Phải chờ đợi cho đến khi Chúa Giê-Xu xuất hiện, người ta mới thấy được tình yêu thương theo ý nghĩa đó. Thế là một từ ngữ mới - agapẽ - đã được thêm vào từ vựng yêu thương để mô tả nó. Và như đã thấy, chúng ta có thể thay chữ “Giê-Xu” cho chữ “tình yêu thương” trong cả chương ICô 13 mà chương sách ấy không hề bị thiệt mất chút gì. Tình yêu thương này vốn không được tác tạo bởi sự cố công ra sức của con người, chính là ân tứ tối cao mà Đức Thánh Linh ban cho người thuộc về Ngài. “Sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh, đã được ban cho chúng ta” (RoRm 5:5). Không còn có ân tứ nào cao hơn ân tứ này, và chính vì lý do đó nó đã được đưa vào đoạn giữa của cuộc thảo luận dài ba chương sách, liên hệ đến các ân tứ thuộc linh. Trừ phi người ta gặp gỡ Chúa Cứu thế phục sinh đầy tình yêu thương qua trung gian Đức Thánh Linh còn thì dầu tôi có nói tiếng lạ, có cái nhìn tiên tri xuyên suốt, hay được ân tứ khôn ngoan, hiểu biết mọi điều thuộc linh, có cả đức tin để dời núi, cũng chỉ là vô ích mà thôi. Dầu tôi đem cả gia tài ra bố thí, hoặc phải đương đầu cả với sự hi sinh cùng cực là chịu tử vì đạo, nhưng nếu tôi vẫn chưa gặp gỡ được Chúa Giê-Xu đầy tình yêu thương, tôi cũng chẳng làm được trò trống gì. Thật là một lời quở trách nặng nề cho số người Côrinhtô tự cao tự đại về những ân tứ khác nhau mà họ sở đắc - mà cũng là một lời quở trách nặng nề đối với chính chúng ta nữa. Trong chương sách kỳ diệu này, tình yêu thương của Chúa Giê-Xu được đặt bên cạnh các thói xấu của người Côrinhtô. Trái ngược hẳn với từng trải thuộc linh, là sự kiêu ngạo khiến họ “lên mình” (c.4). Trái ngược hẳn với từng trải thuộc linh, là việc những người nhận được rất nhiều ân tứ đặc biệt lại tự cao tự đại và ghen tị nhau (4). Trái ngược hẳn với từng trải thuộc linh, là việc sử dụng các ân tứ đặc biệt một cách ích kỷ để thỏa mãn các tham vọng cá nhân mà Phaolô gọi là “kiếm tư lợi” (c.5). Người Côrinhtô đang tìm cầu “con đường cao cả hơn” của từng trải thuộc linh. Phaolô trình bày cho họ “con đường thấp kém hơn” của tình yêu thương - nếu họ có thể nghĩ như vậy; là tình yêu thương của Người Đầy Tớ tên Giê-Xu, Đấng chẳng bao giờ lên mình kiêu ngạo, chẳng bao giờ vị kỷ trong việc sử dụng các ân tứ đã được ban cho mình. Tất cả đều vì người khác. Như thế là ông đã quay về với chủ đề ở cuối chương 12, nơi mà “điều lợi ích chung” cai trị việc thực thi các ân tứ, chủ đề ông sẽ khai triển trong chương 14. Vì đường lối của Chúa Giê-Xu là hiến thân cho người khác; đó cũng là đường lối của Đức Thánh Linh; dĩ nhiên đó cũng chính là cách sống của thiên đàng, vì đến ngày mọi ân tứ dành cho chúng ta trên trần gian này đều qua đi, mọi lời tiên tri đều đã ứng nghiệm, khi các thứ tiếng đều đã hòa nhập vào bài ca của những kẻ được chuộc trên thiên đàng, khi chúng ta được biết như đúng ra phải biết, đức tin trở thành điều được nhìn thấy tận mắt và hi vọng được Đấng yêu thương làm ứng nghiệm đến mức tuyệt đỉnh có thể có được - thì tình yêu thương vẫn tồn tại. Những người được cứu chuộc trên thiên đàng sẽ vẫn hiệp một với nhau trong của lễ vui lòng tự hiến thân cho Chúa và cho anh em mình, vốn đánh dấu cho những cuộc chiến đấu cao cả nhất về phần thuộc linh của họ trên đất khi được Đức Thánh Linh đưa đến chỗ được gần giống hệt nhất với tình yêu thương của Người Đầy Tớ tên Giê-Xu.
Hãy đặt tình yêu thương làm mục tiêu cho bạn!
Cho nên, Phaolô đã hành động đúng khi đến cuối chương sách đáng ghi nhớ này, ông đã khẩn khoản người Côrinhtô: “Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương” (ICo1Cr 14:1 bản Anh văn dịch là: Hãy đặt tình yêu thương làm mục tiêu cho anh em). Lời khẩn khoản của ông được Jonh Wesley nhắc lại trong quyển Điều rõ rệt đáng kể trong sự trọn vẹn của Cơ đốc nhân (A Plain Account of Perfection) trong một khúc sách rất thích hợp để kết luận cho chương này: “Một nền tảng khác nữa cho những điều này, và là một ngàn lần lầm lẫn, ấy là việc không chịu nhận thấy sâu sắc rằng tình yêu thương là ân tứ cao nhất của Đức Chúa Trời - nghĩa là tình yêu thương khiêm hạ, dịu dàng, nhẫn nhục; mọi khải tượng, mặc khải, biểu hiện ra bề ngoài đủ loại đều chỉ là nhỏ mọn khi đem so sánh với tình yêu thương; và mọi ân tứ đã được đề cập ở trên thì đều chỉ bằng tình yêu thương, hoặc là vô cùng thấp kém hơn nó.
Điều rất hay cho bạn, là cần phải hết sức mẫn cảm với điều này: tình yêu thương là thiên đàng của những thiên đàng. Trong tôn giáo, chẳng có gì cao hơn nó - thật ra, chẳng có gì khác ngoài ra nó; nếu bạn trông chờ một điều gì nhiều hơn là tình yêu thương, tức là bạn đang tìm kiếm vượt quá mọi giới hạn vậy, bạn đã tẻ tách khỏi con đường vương giả. Và khi bạn hỏi những người khác: Bạn đã nhận được phước hạnh này hay phước hạnh nọ chưa?, nếu bạn ngụ ý ám chỉ điều gì nhiều hơn là tình yêu thương, tức là bạn đang sai lầm, bạn đang dẫn dắt họ tẻ tách khỏi chánh đạo, và đặt họ trên một nẻo đường lầm lạc. Hãy ghi khắc vào lòng, là...bạn đừng nên nhắm vào một mục tiêu nào cao hơn thế, mà chỉ nhắm càng nhiều hơn vào tình yêu thương đã được mô tả trong ICo1Cr 13:1-13. Bạn sẽ chẳng bao giờ vượt cao hơn điều đó được, cho đến khi bạn được đặt vào lòng Áp-ra-ham”.


PHÉP BÁP-TEM CỦA ĐỨC THÁNH LINH
1. ĐỨC THÁNH LINH VÀ PHÉP BÁP-TEM TRONG CUỘC TRANH LUẬN CẬN ĐẠI.
Một trong những cuộc tranh luận cận đại sống động nhất về tính thuộc linh (Spirituality) có liên hệ với điều thường được gọi là phép báp-tem “trong” hay “bằng” Đức Thánh Linh. Nói rộng ra, có ba thái độ đối với vấn đề này:
Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh có phải là phép báp-tem bằng nước không?
Trước hết, có một số người đồng nhất hóa phép báp-tem trong Đức Thánh Linh với phép báp-tem chỉ đơn giản bằng nước. Nếu một người được làm phép báp-tem bằng nước nhân danh Ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì người ấy phải được xem là một con cái Đức Chúa Trời, một người thừa kế nước thiên đàng, một người được trang bị bằng Đức Thánh Linh. Những người theo quan điểm này tin rằng thánh lễ ấy không những là biểu tượng, mà còn thật sự tạo ra sự thay đổi từ tối tăm qua sáng láng, từ chỗ ở dưới quyền của Sa tan được chuyển sang quyền phép Đức Chúa Trời, từ chết qua sống. Họ nhấn mạnh thật hợp lý vào tính khách quan của sự nhập thể và chuộc tội của Chúa Cứu thế vốn đã và đang được truyền sang chúng ta qua phép báp-tem. Họ đã có lý khi nhấn mạnh rằng chúng ta được cứu không phải nhờ bất kỳ điều gì chúng ta đã làm, nhưng nhờ những gì Chúa Cứu thế đã làm cho chúng ta, độc lập với mọi cố gắng và thành tích công lao mà chúng ta tưởng tượng ra, và từ rất lâu trước khi chúng ta có thể có được một sự đáp ứng nào. Họ đã có lý khi chỉ vào phép báp-tem duy nhất mà các Cơ đốc nhân khắp thế giới cùng chia xẻ với nhau như là phương pháp thật sự có ý nghĩa, đánh dấu việc đầu phục Chúa Giê-Xu và thông công với tất cả những người khác cùng tham gia phép báp-tem có ý nghĩa tắm rửa này.
Nhưng nhược điểm của quan điểm này ở trong toàn lãnh vực đáp ứng đức tin, và đầu phục của cá nhân. Đã có nhiều triệu người chịu phép báp-tem lúc còn bé, chẳng hề hiểu biết gì hay có sự đồng ý của chính họ. Người ta đã “làm việc đó” cho họ một cách bí mật trong một nhà thờ của giáo khu, vào một chiều chúa nhật và chẳng có ai khác hiện diện ngoài gia đình họ ra. Bản thân họ cũng chưa hề tin tưởng những truyện tích trong Cơ đốc giáo, mà cả số người đem họ đến để chịu phép báp-tem cũng vậy, ngoại trừ có lẽ họ cũng tin tưởng vào điều có tính cách tổng quát nhất, nếu không nói là do mê tín. Họ đã không thực hành Cơ đốc giáo. Họ không đi nhà thờ. Họ không tin các tín điều. Họ chẳng từng trải được tí gì về quyền năng của Đức Thánh Linh biến đổi cuộc đời người ta. Vấn đề đã được áp đặt thật gay gắt cho chúng ta: theo ý nghĩa nào, người ta có thể gọi những người như thế là Cơ đốc nhân, mặc dầu có sự kiện họ đã được làm phép báp-tem bằng nước nhân danh Ba Ngôi Đức Chúa Trời?
Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh có phải là việc ăn năn quy đạo không?
Quan điểm chính thứ hai là: Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, chính là việc ăn năn quy đạo. Khi một người ăn năn tội và tin Chúa Giê-Xu, khi người ấy dâng đời mình cho Giê-Xu làm Chúa mình và tiếp nhận Đức Thánh Linh của Chúa Cứu thế phục sinh vào lòng mình, thì bởi đó, người ấy đã được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Quan điểm khá phổ biến trong các giáo hội Kháng Cách và Tin Lành này, vốn mạnh ở chỗ mà quan điểm trước yếu, và ngược lại, rất yếu ở chỗ mà quan điểm trước lại mạnh. Sức mạnh của nó nằm ở chỗ nhấn mạnh trên việc đương sự đáp ứng với ân điển của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu thế . Sự ăn năn tôị và có đức tin cá nhân rất quan trọng nơi một người, nếu người ấy cần được Đức Thánh Linh làm phép báp-tem cho để được trở thành chi thể trong Thân thể Chúa Cứu thế .
Nhưng theo quan điểm này, thì phép báp-tem bằng nước là thế nào? Hoặc nó bị cho là không thích hợp một phần lớn (dầu sao phần biểu tượng có gì là quan trọng một khi bạn đã có thực chất rồi?), hoặc bị xem như chỉ là dấu hiệu về một người đã ăn năn tội và đã có đức tin. Tất nhiên, phép báp-tem vốn liên hệ thật sự với việc ăn năn và đức tin, nhưng phải chăng tất cả chỉ có thế thôi? Phải chăng đó chỉ hoàn toàn là những gì chúng ta làm, chớ không phải là tất cả những gì Đức Chúa Trời làm cho, làm vì chúng ta? Nếu quả thật như thế, thì thật là kỳ lạ vì Tân Ước đã chẳng nói gì đến việc một người tự làm phép báp-tem cho chính mình; trái lại, phép báp-tem bao giờ cũng là một việc do một người khác làm cho mình. Rõ ràng chúng ta phải nhìn kỹ hơn vào ý nghĩa của phép báp-tem trong Tân Ước trước khi có thể chấp nhận việc đồng nhất hóa sự ăn năn quy đạo với phép báp-tem trong Đức Thánh Linh. Và ngay khi đã tin quyết như vậy rồi, thì quan điểm này của giáo hội Kháng Cách vẫn còn có vấn đề. Nó vốn có quá nhiều ý nghĩa lễ nghi, trí thức. Còn con cái các gia đình đã tin Chúa thì sao? Phải chăng chúng vẫn phải chịu xa lạ với Thánh Linh của Đức Chúa Trời, cho đến khi chúng có hành động chứng minh cho đức tin cá nhân của mình? Phải chăng Hội Thánh chỉ là thân thể của những người có thể thực thi lòng tin của mình một cách tích cực mà thôi? Phải chăng Hội Thánh không dành chỗ nào cả cho những người quá già, quá trẻ, hay được trang bị quá ít, quá yếu về phương diện tinh thần để có thể tin vào Phúc âm và tự hiến thân cho Chúa Cứu thế ? Phải chăng tất cả những người đó đều phải bị cắt đứt, chia lìa với Đức Thánh Linh?
Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh phải chăng là một bước khởi đầu gồm hai giai đoạn?
Lời đáp thứ ba cho câu hỏi “Phép báp-tem trong Đức Thánh Linh là gì?” đến bằng một giọng nói phân đôi từ hai bối cảnh rất khác nhau.
Quan điểm của Công giáo.
Trên một phương diện, một số tín đồ Công giáo nhận thấy rằng phép báp-tem bằng nước cho trẻ con nhất thiết phải tạo ra sự tái sanh trong Thánh Linh là chưa đầy đủ, nên lý luận rằng không phải chỉ có phép báp-tem mà thôi, nhưng là phép báp-tem kèm theo việc đặt tay trong phép thêm sức (thường là mấy năm sau đó) mới chia xẻ được Đức Thánh Linh cho một người. Các thần học gia Công giáo nổi tiếng như Thornton, Mason, và Gregory Dix đã theo quan điểm này. Họ lưu ý mọi người về hai khúc sách trong Công vụ, nơi Đức Thánh Linh được ban cho qua việc các sứ đồ đặt tay lên đầu người đã được làm phép báp-tem rồi, nhưng vẫn chưa nhận lãnh Đức Thánh Linh. Trong Công vụ chương 8, người Samari đã nhận lãnh Đức Thánh Linh nhờ được hai sứ đồ Giăng và Phi-e-rơ đặt tay; trong chương 19, một số môn đồ của Giăng Báptít nhận lãnh Đức Thánh Linh qua chức vụ của Phaolô. Cũng vậy, họ tin rằng khi chịu phép thêm sức do vị giám mục là người (mà người ta hi vọng là) trực tiếp thừa kế truyền thống các sứ đồ, người ta sẽ nhận lãnh được Đức Thánh Linh cách đầy đủ và rõ ràng. Câu “phép báp-tem trong Thánh Linh” thông thường vốn không được số người nghĩ như vậy dùng đến; nhưng rõ ràng họ bênh vực cho bước khởi đầu để trở thành Cơ đốc nhân gồm hai giai đoạn. Bước một là phép báp-tem, vốn bất toàn; bước hai, phép thêm sức, đưa Đức Thánh Linh vào đời sống một người.
Quan điểm của Ngũ tuần.
Điều khá lạ lùng là các Cơ đốc nhân Ngũ tuần có thói quen dùng đúng y những câu Kinh thánh như thế để chủ trương rằng bước khởi sự để trở thành Cơ đốc nhân gồm hai giai đoạn. Phần đông họ vốn xuất thân từ một bối cảnh Kháng Cách, nên có khuynh hướng xem sự ăn năn quy đạo của một người là giai đoạn một, và giai đoạn hai là một từng trải được ban cho quyền năng của Đức Thánh Linh, mà thông thường (tuy không nhất thiết phải có) là tiếp sau việc nói tiếng lạ. Chính giai đoạn thứ hai này được các tín đồ Ngũ tuần và Tân Ngũ tuần gọi phổ biến là “phép báp-tem trong Thánh Linh”, nó được xem là bước cần thiết để được ban cho quyền phép thuộc linh và một đời sống Cơ đốc nhân sung mãn. Tuy giáo hội Ngũ tuần với tư cách một giáo phái (denomination) chỉ mới có từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, và giáo hội Tân Ngũ tuần (việc lời dạy dỗ và thực hành phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh lan tràn sang các giáo phái khác) chỉ mới nổi bật từ giữa thế kỷ này, nhưng các gốc rễ của nó vốn có từ rất lâu đời. John Wesley từng truyền dạy “một công tác thứ hai của ân điển” trong người tín hữu sau khi đã được xưng công bình. Phong trào Thánh Khiết lan tràn khắp thế giới gồm luôn bản hiến chương Keswick, những tên tuổi như Finney, Torrey, Andrew Murray và Watchman Nee (Nghê Thác Thanh) đều thừa nhận quan điểm về hai giai đoạn khiến một người trở thành Cơ đốc nhân này. Tuy thuật ngữ khác nhau, nhưng hễ bạn nói về “sự nên thánh hoàn toàn”, “ân tứ”, “phước hạnh”, “phước hạnh thứ hai”, hay “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” thì chỉ có ít điểm khác nhau, trừ khi mô tả chi tiết các nội dung của từng trải ấy. Trong tất cả các trường hợp, nó đều ám chỉ một phẩm chất mới của từng trải Cơ đốc nhân, phân biệt với việc ăn năn quy đạo; một từng trải mà đối với một số người, sẽ khiến cho sinh hoạt Cơ đốc nhân ở cấp bậc trước đó có vẻ rất mờ nhạt, rất thấp kém, chẳng xứng đáng với tên Cơ đốc nhân chút nào. Và dầu số người lãnh nhận được đó có đặc biệt khoe khoang rằng mình có đời sống được thánh hóa như các tín đồ Giám lý đầu tiên đã làm, hay đề cao từng trải về Đức Thánh Linh được đánh dấu bằng việc nói tiếng lạ, như các tín đồ Ngũ tuần hay không, thì trong thực tế, điều đó chẳng khác nhau bao nhiêu. Vì số người có được từng trải ấy đều đi tới chỗ nghĩ về chính họ như nhóm người “bên trong” - những người đã thành đạt - còn số người không tham dự vào từng trải ấy thì bị xem như các Cơ đốc nhân hạng nhì - không tránh né vào đâu được. Dầu sao thì họ vẫn chưa nhận được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh...
Dưới ánh sáng của các quan điểm khác nhau đó, chúng ta hãy quay về với Kinh Thánh để cố tìm hiểu phạm vi rộng lớn của lời truyền dạy về phép báp-tem.
2. ĐỨC THÁNH LINH VÀ PHÉP BÁP-TEM TRONG TÂN ƯỚC
“Phép báp-tem” trong Tân Ước.
Một từ mới
Từ ngữ baptisma là đặc thù của Cơ đốc giáo. Người ta không thấy có nó trước khi nó xuất hiện trong Tân Ước. Những nét chính của lời truyền dạy trong Tân Ước về phép báp-tem có thể được thấy rất rõ trong cách dùng từ ngữ ấy. Nó thường được ứng dụng cho phép báp-tem của Giăng, được gọi là “phép báp-tem về sự ăn năn” (LuLc 3:3; Cong Cv 13:24) Phép báp-tem của Giăng hướng tới nước trời hầu đến, mà Đấng Lớn Hơn Giăng sẽ đem lại. Những người sẵn sàng để Đức Chúa Trời làm vua cai trị đời sống họ “đều kéo nhau đến chịu phép báp-tem” như Josephus viết, quyết định sống một cuộc đời đức hạnh và tin kính (Antiquities, 18:11;6f). Các trước giả sách Tin Lành cho chúng ta biết chịu phép báp-tem là “để được tha tội” (Mac Mc 1:4; LuLc 3:3). Nó không đem sự tha tội đến, mà chỉ đường cho người ta đi đến chỗ được tha tội; và chính vì mối liên hệ sâu xa với sự tha tội đó, mà các Cơ đốc nhân từng thắc mắc, không hiểu tại sao Chúa Giê-Xu lại phải chịu phép báp-tem. Do đó mà có câu chuyện trong Mat Mt 3:13 và tiếp theo, trong đó ghi lại Giăng đã ngần ngại không chịu làm phép báp-tem cho Chúa Giê-Xu, khiến Ngài phải phán: “Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn vẹn mọi việc công bình như vậy”. Dường như Chúa Giê-Xu tự đồng nhất hóa với tội nhơn trong hành động đầy kịch tính của phép báp-tem, tuy bản thân Ngài vốn chẳng có tội lỗi gì để phải ăn năn cả. Về sau, Ngài sẽ lại phải tự đồng nhất hóa sâu đậm hơn nữa với các tội nhân khi Ngài thay họ nhận trách nhiệm trên thập tự giá. Thật vậy, một điều lý thú khi chúng ta nghe Chúa Giê-Xu đã hai lần nói bóng gió đến sự chết của Ngài bằng các từ ngữ ví von của “phép báp-tem” (Mac Mc 10:38; LuLc 12:50). Chính thập tự giá đã khiến cho sự tha tội có thể thực hiện được - sự tha tội mà số người Y-sơ-ra-ên biết ăn năn đang hướng về, khi họ bước xuống sông Giôđanh để được Giăng làm phép báp-tem cho. Ăn năn, được tha tội, trở thành thành viên trong cộng đồng của Đấng Mê-si-a - phép báp-tem của Giăng. Giăng còn hướng về một ân tứ lớn hơn nữa, tuy nó không thể đem đến cho họ. Giăng đã tuyên bố hết sức rõ ràng rằng phép báp-tem của ông chỉ là một nghi lễ chuẩn bị; Đức Chúa Giê-Xu sẽ làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Và lời hứa này đã bắt đầu ứng nghiệm vào ngày lễ Ngũ tuần.
Tính cách “một lần đủ cả” của phép báp-tem.
Chúng ta có thêm vài ý niệm rõ ràng hơn về cách các Cơ đốc nhân đầu tiên đã đánh giá phép báp-tem, nhờ chú ý đến cách sử dụng từ ngữ baptisma của hai vị sứ đồ Phaolô và Phi-e-rơ. Phaolô bảo rằng trong phép báp-tem, chúng ta cùng được chôn với Chúa Cứu thế trong sự chết Ngài, để hễ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời khiến Chúa Cứu thế được từ kẻ chết sống lại làm sao, thì chúng ta cũng có thể bước đi một cách mới mẻ trong đời sống y như vậy. Trong mạch văn, ông đang đề cập sự xưng công bình bởi đức tin, và sự kiện nó không đưa chúng ta đến cách ăn ở bất chấp luật pháp. Thật vậy, ông bảo họ không thể sống như thế, vì đã chịu phép báp-tem để cùng chịu chết và sống lại với Chúa Cứu thế. Phép báp-tem (dĩ nhiên là đồng thời với đức tin, sự ăn năn và đầu phục Chúa Giê-Xu) đã kết hợp các Cơ đốc nhân vào với Chúa Cứu thế. Họ cùng chia xẻ sự chết đối với tội lỗi của Ngài; họ cùng chia xẻ sự sống lại với Ngài. Thật ra thì phép báp-tem là thánh lễ về sự xưng công bình. Cùng một quan điểm như vậy cũng được vạch rõ trong CoCl 2:12. Phaolô lý luận rằng người Côlôse không cần phải có thêm ai khác để có thể cứu họ nữa. Họ đã có Chúa Cứu thế, và trong Ngài chẳng những đã có “sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời” mà chính họ cũng đã “có được đầy dẫy mọi sự trong Ngài” rồi. Việc ấy đã xảy ra như thế nào? “Vì anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép của Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại”. Rồi ông tiếp tục: “Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Chúa Cứu thế, vì đã tha thứ hết mọi tội lỗi chúng ta; Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cũng phá hủy tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tư". Đây không phải là từng trải thứ hai mà Phaolô ám chỉ: nó là phép báp-tem của Cơ đốc nhân, phép báp-tem duy nhất mà mọi người đều cùng chia xẻ với Ngài với tư cách Cơ đốc nhân. Phép báp-tem là một trong bảy thành phần cấu thành sự hiệp một của Hội Thánh mà vị sứ đồ đã đề cập cách quả quyết trong Eph Ep 4:5 “Một Chúa, một đức tin, một phép báp-tem...” Phép báp-tem là dấu hiệu chứng nhận Cơ đốc nhân thuộc về Đức Chúa Trời, là vết hằn mà toàn thể những người thuộc về Đức Chúa Trời đều có chung với nhau, dầu họ vốn khác nhau. Tân Ước không hề biết tới những người tin Chúa Giê-Xu mà không chịu phép báp-tem (tuy có vài người, như tên trộm cướp ăn năn thống hối trên thập tự giá, dĩ nhiên anh ta đã không có được cơ hội đó). Tân Ước cũng không hề biết tới các Cơ đốc nhân tự ý chịu người ta làm phép báp-tem cho mình lần thứ hai. Vì phép báp-tem là thánh lễ cho thấy bước đầu tiên người ta trở thành Cơ đốc nhân.
Sự tự hứa nguyện dâng mình trong phép báp-tem.
Nếu cách dùng từ ngữ baptisma không hậu thuẫn cho một ý niệm nào về bước đầu tiên để trở thành Cơ đốc nhân phải gồm hai giai đoạn, thì nó cũng chẳng hề hậu thuẫn cho ý niệm rằng phép báp-tem bằng nước sẽ nhất định cứu được người ta mà chẳng cần đến sự ăn năn, đức tin, vâng lời, và sự hiến thân cho Chúa Cứu thế và Hội Thánh Ngài. IPhi 1Pr 3:21 đã làm sáng tỏ vấn đề này. Sau khi dùng câu chuyện chiếc tàu trong cơn nước lụt, nhờ đó Nôê và gia đình ông được cứu như là bức tranh mô tả phép báp-tem của Cơ đốc nhân, Phi-e-rơ nói: “phép báp-tem tương ứng với việc ấy, cứu anh em bây giờ” nhưng dường như ông ý thức được rằng mấy lời đó ông có thể bị giải nghĩa sai, nên ông tiếp: “không phải bằng cách rửa sạch sự ô uế của thân thể” (nghĩa là sự tẩy rửa thuộc thể tự nó chẳng làm được việc gì cả). "nhưng là một sự hứa nguyện (của cầm) của một lương tâm tốt với Đức Chúa Trời, bởi sự sống lại của Chúa Cứu thế Giê-Xu...” Từ ngữ dịch ra là “của cầm” vốn được giải nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nó có thể ám chỉ “câu hỏi” đã được những người chịu phép báp-tem đặt ra; nó cũng có nghĩa là việc “kêu gọi” đến Đức Chúa Trời để có được một lương tâm tốt; nó cũng có thể có cả cái nghĩa là “sự quyết định” để Đức Chúa Trời làm nẩy sinh một lương tâm tốt. Nhưng bất cứ là trường hợp nào, nó đều nói về sự chân thành hiến thân từ phía con người. Việc đề cập Chúa Cứu thế đã sống lại và ngự bên hữu Đức Chúa Trời ám chỉ phần quyền năng được ban cho, người chịu phép báp-tem khi đương sự không phải chỉ trải qua một nghi lễ tẩy rửa mà thôi, nhưng thật sự biết ăn năn, có đức tin và chịu vâng lời Chúa Cứu thế Giê-Xu. Chính loại phép báp-tem đó mới cứu được chúng ta.
Sự rõ ràng của phép báp-tem.
Rồi từ ngữ baptisma rất rõ ràng này của Cơ đốc giáo đã được kết hợp với sự ăn năn, sự được vào nước trời, sự tha tội, việc được nhận lãnh Đức Thánh Linh và được hiệp một với Chúa Cứu thế trong sự chết và sống lại của Ngài. Nó không cho phép chúng ta giả thiết là còn có một phép báp-tem nữa cho Cơ đốc nhân sau khi đã ăn năn quy đạo, cũng không cho phép chúng ta nghĩ rằng đó chỉ là việc tuân thủ bề ngoài một nghi lễ chẳng ảnh hưởng trên bất cứ điều gì cả. Phép báp-tem rõ ràng là sự bộc lộ bằng một nghi lễ bề ngoài của sự tái sanh, sự được xưng công bình, được làm con cái Đức Chúa Trời - bạn có thể gọi nó là gì tùy ý; nó là dấu hiệu của một đời sống mới, và đời sống này bao gồm nhiều thành tố quan trọng khác nữa của sự ăn năn, đức tin, và được nhận lãnh Thánh Linh của Chúa Cứu thế, là Đấng duy nhất có thể khiến chúng ta thành một con người mới.
“Làm phép báp-tem” trong Tân Ước
Làm phép báp-tem trong thế gian.
Khi quay sang động từ “làm phép báp-tem” (baptise) chúng ta cũng gặp một bức tranh tương tự. Khác với danh từ baptisma, động từ baptizò vốn đã được sử dụng trong Hi văn vào trườc thời của Chúa Cứu thế. Nó có nghĩa là dìm xuống nước, và theo nghĩa đen được dùng chỉ việc “nhận chìm” một chiếc tàu, “vùi” xuống bùn, và ở thể thụ động là “chết mất”, là “bị tràn ngập”. Điều rất hấp dẫn là cho rằng ý niệm bị nhận chìm trong nước và chết đi đã được nền thần học của Phaolô đề cập xuyên suốt trong Rôma chương 6 và Côlôse chương 2, nhưng điều đó không được chứng minh.
“Làm phép báp-tem” trong Do thái giáo.
Từ ngữ này cũng được dùng trong Do thái giáo vào thời trước Chúa Cứu thế, nên dĩ nhiên là có một tầm quan trọng rất lớn. Đối với số người cải giáo theo đạo Do thái, thì lễ tẩy rửa (baptism: phép báp-tem) là một phần mở đầu rất có ý nghĩa. Sinh tế cũng bị đòi hỏi đồng thời với phép cắt bì cho các thành viên nam giới trong gia đình, nhưng tất cả những người cải giáo theo đạo Do thái, cả nam lẫn nữ, cả người lớn lẫn trẻ con, đều phải chịu phép tẩy rửa. Họ tự tắm rửa lấy bằng nước và cho rằng việc đó tẩy sạch tất cả những gì là ô uế của họ với tư cách người ngoại bang, quan trọng đến nỗi các rabi xem người mới cải giáo theo đạo Do thái như “một đức trẻ mới sanh” vậy. Người ấy có được một quy chế mới. Hơn nữa, tẩy lễ ấy khiến người đó có thể bước một cách tượng trưng vào biến cố mang ý nghĩa tối quan trọng trong lịch sử về sự cứu rỗi dân Y-sơ-ra-ên, là việc Xuất Ai cập. Chúng ta có một chỗ nói bóng về việc này trong ICo1Cr 10:2, khi Phaolô đề cập các nghi lễ Cựu Ước vốn là kiểu mẫu của các thánh lễ Cơ đốc giáo. Ông nhắc nhở người Côrinhtô - dường như họ đã dựa vào phép báp-tem và tiệc thánh như chúng vốn có công hiệu phù phép - rằng người thời Cựu Ước cũng từng có các thánh lễ riêng của họ, và các thánh lễ ấy chẳng cứu được họ khi họ không vâng lời làm theo. “Họ đều đã ở dưới đám mây, đi ngang qua biển, chịu Môise làm phép báp-tem trong đám mây và dưới biển” - nghĩa là lúc họ Xuất Ai cập; và “ăn một thức ăn thiêng liêng, và uống một thức uống thiêng liêng”, tuy nhiên, nhiều người trong vòng họ vẫn bị chết trong đồng vắng vì sự không vâng lời và thờ hình tượng của họ. Câu “chịu Môise làm phép báp-tem trong” khá kỳ lạ, là một trường hợp song đối gần gũi nhất chúng ta thấy nổi bật trong Tân Ước mô tả Cơ đốc nhân là người đã được làm phép báp-tem trong Chúa Cứu thế . Ý niệm ở đây trước hết là về sự hiến thân cho nhân vật đã hành động tích cực để cứu rỗi - một trường hợp là Môise và trong trường hợp kia là Chúa Cứu thế; nhưng với Chúa Giê-Xu thì ý nói có phần mạnh mẽ hơn, vì Ngài vốn được xem là cái đầu của một nhân loại mới, và các tín hữu được hòa nhập trong Ngài.
“Làm phép báp-tem” với Phaolô.
Ngoài các trước giả sách Tin Lành, thì trước giả duy nhất sử dụng động từ “làm phép báp-tem” là Phaolô; và tìm xem ông dùng nó như thế nào đem lại nhiều điều dạy dỗ chúng ta.
Trước hết và sau cùng, ý nghĩa của phép báp-tem vốn xuất phát từ hành động cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu thế . Chúng ta đọc thấy: “Chúa Cứu thế đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh, để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch” (Eph Ep 5:25 và tt). Tuy từ ngữ “làm phép báp-tem” không được dùng ở đây, ý nghĩa của nó thật rõ ràng, và chúng ta có cách nói bóng hết sức rõ ràng về việc tắm rửa người cầu lễ báp-tem trong nước, việc người ấy đáp ứng bằng lời xưng tội (xem ICo1Cr 12:3), và cả hai việc đó đều lệ thuộc vào tình yêu thương tự hiến thân của Chúa Giê-Xu, Đấng đã đến thập tự giá để khiến việc thanh tẩy cho chúng ta có thể thực hiện được. Lại nữa, phần thảo luận về sự không hiệp một với nhau trong ICô chương 1 được Phaolô sắp xếp để nhắc nhở họ rằng họ đều chịu phép báp-tem trong danh Chúa Cứu thế (nghĩa là để thuộc về, thuộc quyền sở hữu của Ngài) Đấng đã vì họ mà chịu đóng đinh vào thập tự giá (c.12-15). Như chúng ta đã thấy, lúc chịu phép báp-tem, Chúa Giê-Xu đã hướng tới sự chết làm sinh tế của Ngài, xem đó như là phép báp-tem tối cao, và Phaolô, khi nhìn lui về thập tự giá, đã nhấn mạnh mối liên hệ ấy. Phép báp-tem đưa một người đến tiếp xúc với công tác cứu rỗi của Chúa Cứu thế .
Phép báp-tem và sự xưng công bình.
Cũng vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy rằng phép báp-tem có liên hệ với sự xưng công bình trong RoRm 6:3 và tt, và ICo1Cr 6:11. Nhiều Cơ đốc nhân Tin Lành xem sự công bình bởi đức tin là phản đề của thánh lễ báp-tem. Phaolô thì thấy cả hai như là mặt ngoài và mặt trong của một sự vật, sự việc. Xin xem xét kỹ ba điểm này.
Thứ nhất, phép báp-tem cũng như sự xưng công bình vốn ‘được thực hiện cho chúng ta. Không hề có ai tự xưng công bình cho bản thân được. Cũng chẳng hề có ai tự làm phép báp-tem cho mình bao giờ. Tương phản với lễ tẩy rửa (phép báp-tem) cho người nhập giáo Do thái, chính người ứng viên tự tẩy rửa lấy, phép báp-tem của Cơ đốc nhân bao giờ cũng có tính cách thụ động. Đây là một việc mà một người khác làm cho bạn, dường như có ý nhắc nhở bạn rằng sự cứu rỗi của bạn hoàn toàn là vấn đề của ân điển, chớ không phải là một cái gì đó mà bạn có thể đóng góp tích cực vào một chút.
Thứ hai, phép báp-tem cũng như sự xưng công bình, là ‘làm một lần thì đủ cả. Nó không được lặp lại. Bạn không thể nào được tái xưng công bình cũng như không thể chịu phép báp-tem lần thứ hai. Cả hai ý niệm trên đều vô nghĩa. Phép báp-tem nói về Chúa Cứu thế đã chịu chết một lần đủ cả trên thập tự giá để chúng ta được tha tội. Sự xưng công bình nói về sổ sách của chúng ta đã được tính toán xong cả rồi, về bản án vào Ngày Sau Rốt mà chúng ta có thể được kể là trắng án ngay tại đây và ngay bây giờ. Cả hai đều có cứu cánh tính, có giá trị dứt khoát. Lẽ dĩ nhiên là trong Cựu Ước, phép cắt bì cũng có cùng một chủ đích như thế. Áp-ra-ham “đã nhận lấy dấu cắt bì như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì” (RoRm 4:11) Áp-ra-ham là mẫu đầu tiên về người tín hữu chân chính. Đức Chúa Trời đã ban cho ông ân điển mà ông không xứng đáng nhận lãnh, ban cho ông các đầu cùng đất làm cơ nghiệp và khiến hậu duệ ông đông như sao trên trời vậy. Áp-ra-ham đã đáp lại bằng đức tin và sự vâng lời, và được ban cho nghi lễ cắt bì như một dấu hiệu thuộc thể về địa vị vững bền mà ông được hưởng với Đức Chúa Trời ngay từ bây giờ, và như một dấu ấn của toàn thể việc chuyển nhượng gia tài, mà về sau trong những ngày ông bị cám dỗ để nghi ngờ ông có thể nhìn lại với lòng tin chắc. Phép báp-tem cũng vậy: đó là một tặng vật ân điển cho các tín hữu như dấu hiệu về quyền lợi vững chắc họ có nơi Đức Chúa Trời, và là một dấu ấn cho toàn thể sự chuyển nhượng, trao đổi giữa ân điển Đức Chúa Trời với đức tin của con người.
Và thứ ba, phép báp-tem cũng như sự xưng công bình, nói lên ‘sự hòa nhập vào với Chúa Cứu thế. Đây là toàn thể vấn đề của thành ngữ lừng danh mà chúng ta vẫn thường gặp là: “chịu phép báp-tem trong Chúa Cứu thế” từ ngữ eis trong Hi văn hoàn toàn có nghĩa là rõ ràng, dứt khoát. Qua cả một quá trình phức tạp của sự ăn năn, đức tin và chịu phép báp-tem, một người được đưa vào trong Chúa Cứu thế, để từ nay trở đi, địa vị của người ấy có thể được mô tả bằng câu định nghĩa tâm đắc của Phaolô về một Cơ đốc nhân là “người ở trong Chúa Cứu thế”. Vâng, phép báp-tem nói về sự hòa nhập vào trong Chúa Cứu Thế và sự xưng công bình cũng vậy. Thật là sai lầm nếu tưởng tượng sự xưng công bình là một quy chế pháp lý nào đó mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta do việc Đức Chúa Trời đem công lao của Chúa Cứu thế để gán trên chúng ta. Trái lại, Chúa Cứu thế đã hành động dứt khoát và đầy đủ thay cho chúng ta qua thập tự giá và sự chết Ngài. Kết quả của hành động đó, là chúng ta có thể được xưng công bình, được trắng án, được thừa nhận là đã hòa thuận với Đức Chúa Trời, miễn là chúng ta được hòa nhập vào trong Chúa Cứu thế, được hiệp làm một với Đấng Công Chính, được Đấng Yêu thương tiếp nhận. Do đó, phân nửa chương 5 của thư Rôma có thể nói rất mạnh mẽ về sự xưng công bình, đó là Chúa Cứu thế đã làm mọi sự vì chúng ta. Cả phân nửa sau của chương ấy hoàn toàn đề cập Ađam Mới và việc chúng ta được hòa nhập vào trong Ngài: Chúng ta ở trong Chúa Cứu thế. Cả hai đều thuộc về nhau. Vì sự xưng công bình có sự hòa nhập vào trong Chúa Cứu thế cũng như hệ luận có nhân tố căn bản vậy. Điều này được làm sáng tỏ qua những lời kết luận trong IICô chương 5, Phaolô nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời đã thật sự làm cho Chúa Giê-Xu trở thành tội lỗi vì chúng ta. Chúa Giê-Xu vốn vô tội; Ngài bị khiến trở nên tội lỗi là để chúng ta có được sự công chính của Đức Chúa Trời - một cuộc trao đổi hầu như không thể nào quan niệm nổi. Nhưng Phaolô vẫn chưa ngưng tại đó, vì làm như vậy Đức Chúa Trời sẽ bị tố cáo là bất công, là hành động bất hợp pháp. Ông thêm vào đó phần tối quan trọng của câu ấy: “trong Ngài”. Chỉ ở trong Chúa Cứu thế, chúng ta mới được khiến nên công chính. Đức Chúa Trời ở trong Chúa Cứu thế đã xưng công bình cho tôi: tôi ở trong Chúa Cứu thế, đã được xưng công bình. Sự xưng công bình cũng như phép báp-tem, đều đề cập việc hòa nhập vào trong Chúa Cứu thế .
Thánh lễ bước đầu tiên.
Nếu cần nhấn mạnh hơn nữa về phép báp-tem với vai trò là thánh lễ bắt đầu của Cơ đốc nhân, chúng ta có thể quay sang đoạn cuối của Galati chương 3. Bằng nhiều câu liên tiếp, Phaolô đã có thể nói: “Chúa Cứu thế đã đến, là để cho chúng ta bởi đức tin được xưng công bình”; “Trong Chúa Cứu thế Giê-Xu anh em hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời” và “Anh em (hễ đã) chịu phép báp-tem trong Chúa Cứu thế thì thảy đều mặc lấy Chúa Cứu thế" (c 24,26,27). Được xưng công bình bởi đức tin, được trở thành con trai Đức Chúa Trời, và được làm phép báp-tem trong Chúa Cứu thế là ba cách mô tả cùng một sự việc: bắt đầu cuộc đời làm Cơ đốc nhân. Và kết thúc phân đoạn ấy, Phaolô đưa chúng ta quay về với mẫu mực quan trọng là sự xưng công bình bởi đức tin, Phaolô nhắc nhở các độc giả của ông: “Nếu anh em thuộc về Chúa Cứu thế, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa". Áp-ra-ham đã tin lời hứa của Đức Chúa Trời, vâng theo tiếng gọi của Ngài và được xưng công bình bởi đức tin nhờ ân điển của Đức Chúa Trời để nhận được dấu hiệu và dấu ấn của phép cắt bì làm sao, thì với Cơ đốc nhân cũng vậy.
Sự so sánh thật chính xác. Qua các thời đại, Đức Chúa Trời chỉ có một phương pháp duy nhất để cứu loài người. Trong thời Cựu Ước, Ngài không cứu người ta nhờ việc làm của họ, rồi đến thời Tân Ước, Ngài lại cứu họ bằng đức tin. Trải qua lịch sử, Ngài vẫn không hề thay đổi, vẫn tiếp nhận vào mối liên hệ với Ngài những người qua mọi thời đại đã sẵn sàng từ bỏ đường lối gian ác của họ để gieo mình vào sự thương xót khoan hồng của Ngài, để bước vào cộng đồng được Ngài thừa nhận qua một thánh lễ bề ngoài - đời xưa là phép cắt bì và trong kỷ nguyên Cơ đốc giáo là phép báp-tem. Thật ra, trong một khúc sách nổi bật của ông trong thư Côlôse, Phaolô đã đem các thánh lễ của cả Cựu lẫn Tân Ước xếp chung lại với nhau quanh cây thập tự của Chúa Cứu thế , là điều duy nhất khiến cho chúng có hiệu lực: “Anh em cũng chịu cắt bì trong Ngài (Đấng Christ), không phải phép cắt bì bởi tay người ta làm ra...Anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài”, mà sở dĩ có được mọi sự đó, ấy là nhờ Chúa Cứu thế chiến thắng các lực lượng của điều ác tại thập tự giá (CoCl 2:11-15)
Phép báp-tem - bước đầu tiên với chỉ một giai đoạn duy nhất.
Thế thì phép báp-tem - chớ không phải là phép báp-tem cộng với một phép thêm sức hay một “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” tiếp sau đó - là thánh lễ đánh dấu một người là Cơ đốc nhân. Đó là thánh lễ không được làm lại trong bước khởi đầu làm Cơ đốc nhân, cũng như Tiệc Thánh là thánh lễ về sự cùng bước đi với Chúa Cứu thế trong Hội Thánh Ngài. Tất nhiên không thể xem phép báp-tem như một nghi lễ suông bề ngoài. Kinh Thánh đầy dẫy những lời công kích những gì chỉ là bề ngoài (xem Thi Tv 51:10; RoRm 2:28; ICo1Cr 10:1-11; Mac Mc 7:14 và tt Exe Ed 18:31; 32:26; EsIs 1:10 và tt và v.v...) Phép báp-tem bao gồm ý niệm về địa vị làm con, về việc được vào nước trời, được hội nhập vào Chúa Cứu thế, được Đức Thánh Linh tiếp nhận, được xưng công bình. Khi thì từ ngữ này được dùng, lúc thì từ ngữ khác; nhưng toàn khối phức tạp này vốn thuộc về nhau. Có ba tao trong một sợi dây, khiến một người trở thành Cơ đốc nhân khi nhập chung đánh lại với nhau. Có phương diện của con người - ăn năn tội và đức tin. Có phương diện của Đức Chúa Trời - được Đức Thánh Linh tiếp nhận, được làm con nuôi trong gia đình Đức Chúa Trời, được tha tội, được xưng công bình. Rồi có phương diện của Hội Thánh nữa - phép báp-tem vào trong cùng một thân với các tín hữu. Cả ba phương diện này đều thuộc về nhau và là những thành phần cần thiết cho bước đầu tiên. Nếu bạn đặt câu hỏi: “Thành phần nào là quan trọng nhất?”, thì đó là một câu hỏi ngớ ngẩn, nhưng giả sử phải trả lời, tôi xin nói đó là phương diện của Đức Chúa Trời. Nếu bạn hỏi thế phần nào là ít quan trọng nhất, thì câu hỏi này lại càng ngớ ngẩn hơn nữa, nhưng tôi cũng giả sử phải trả lời, thì đó là phương diện của Hội Thánh. Nhưng dù thứ tự chúng được đưa vào có là thế nào chăng nữa (mà kinh nghiệm đã chứng minh, như Augustine đã nhận thức được từ rất lâu rồi, có khi phép báp-tem đến trước sự tái sanh, có khi nó lại đi sau, và nhiều khi lại chẳng bao giờ dẫn tới việc đó vì thiếu đức tin về phía con người và thiếu ân tứ Thánh Linh về phía Đức Chúa Trời), thì cả ba đều cùng nằm trong kế hoạch của Đức Chúa Trời cách chắc chắn như tình bạn yêu thương nhau, đến mối liên hệ tình dục và con cái, tất cả đều thuộc về nhau trong kế hoạch hôn nhân của Đức Chúa Trời vậy.
Thế thì những khúc sách đề cập giai đoạn là thế nào?
Nếu quả thật như vậy, chúng ta phải làm sao đối với những khúc sách trong Công vụ đề cập bước đầu gồm hai giai đoạn?
Thoạt nhìn thì có hai khúc sách như vậy: Công vụ chương 8, nơi các tín hữu người Samari đã không nhận lãnh được Đức Thánh Linh tức khắc, và trong Công vụ chương 19, nơi một số các môn đệ vốn theo Giăng Báptít tuyên bố rằng họ chẳng hay biết là có Đức Thánh Linh, nhưng sau đó, đã nhận lãnh được Ngài, rồi nói các thứ tiếng ngoại quốc (lạ) và nói tiên tri. Thêm vào đó, chúng ta có thể kể việc ăn năn quy đạo của Sau-lơ người Tạt- sơ, dường như đã có một khoảng cách ba ngày giữa lúc ông đầu phục Chúa Cứu thế trên con đường đi Đa mách, và lúc ông chịu phép báp-tem và được đổ đầy Đức Thánh Linh. Nhưng trước khi nhấn mạnh đến mấy khúc sách này, thiết tưởng nên ghi nhận một điểm tổng quát. Dường như Luca hoàn toàn chẳng quan tâm gì tới việc đưa ra một nền thần học về những bước khởi đầu của một Cơ đốc nhân. Những ai đến với ông, mong tìm ra những đồ biểu thần học hẹp hòi đều bị thất vọng. Nhiều khi việc nhận lãnh Đức Thánh Linh theo sau phép báp-tem (thí dụ Cong Cv 2:38 và tt); nhưng nhiều khi cũng đi trước phép báp-tem (thí dụ 10:44-48); và cũng lắm khi một người chịu phép báp-tem mà chẳng có phần gì trong những điều thuộc về Chúa Cứu thế, và lòng họ vẫn còn vấn vương những điều gian ác (Cong Cv 8:21). Luca rất ít quan tâm đến việc viết một sách chỉ nam về bước đầu làm Cơ đốc nhân là thế nào, đến nỗi ông chẳng thiết nói cho chúng ta biết Abôlô có được Aquila và Bêrítsin làm phép báp-tem cho theo Cơ đốc giáo hay không, mà chỉ nói hai người này đã bắt tay chỉ dạy ông trong khi ông chỉ biết có “phép báp-tem của Giăng mà thôi”. Tuy nhiên ngay trong chương sách sau đó, Luca đã chép lại câu chuyện đáng ghi nhớ về việc làm phép báp-tem lại cho mười hai môn đệ của Giăng Báptít do Phaolô tự tay thực hiện! Giáo sư Dunn đã lý luận trong quyển ‘Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh (Baptism in the Holy Spirit) của ông rằng lý do rất rõ ràng: tất cả những gì quan trọng, chính là việc có được Đức Thánh Linh, mà Abôlô đã có Đức Thánh Linh rồi nên ông không được làm phép báp-tem lại, trong khi mười hai môn đệ của Giăng tại Êphêsô vẫn chưa được nhận lãnh Đức Thánh Linh, cho nên đã được tạo cơ hội để bắt đầu cách đầy đủ đời sống làm Cơ đốc nhân. Rất có thể ông có lý, nhưng riêng tôi thì có điều nghi ngờ. Ông bảo rằng Abôlô đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh chỉ có căn cứ rất bấp bênh trong văn bản mà thôi. Câu zeòn tò pneumati trong Công vụ 18:25; có thể có nghĩa là “được Đức Thánh Linh nung nóng”, nhưng cũng có thể chỉ có nghĩa là “có trạng thái tinh thần nồng nhiệt”. Ở một chỗ duy nhất khác mà nó xuất hiện là RoRm 12:4 nó cũng rất có thể có nghĩa như thế. Người ta thường nhận xét rằng Phaolô vốn quan tâm nhiều hơn đến công tác bên trong của Đức Thánh Linh, làm an lòng các tín hữu, biến đổi đời sống họ và v.v...; trong khi Luca lại quan tâm nhiều đến bức tranh rộng lớn hơn của việc Đức Thánh Linh giáng trên Hội Thánh, và biểu lộ ra bên ngoài bằng lời tiên tri, nói các thứ tiếng (lạ), và việc Ngài hướng dẫn công cuộc truyền bá Cơ đốc giáo. Chắc chắn là điều sai lầm nếu chúng ta cố gắng lập nền cho một giáo lý về sự cần thiết mang tính thần học trên những khúc sách trong các tác phẩm của Luca vốn nhằm mục tiêu mô tả, nhiều giai đoạn dường như có ý nghĩa đối với ông trong việc loan truyền một công tác của Đức Chúa Trời.
Với sự ghi nhận điểm cần thận trọng này trong trí, chúng ta hãy khảo xét ba khúc sách liên hệ đến vấn đề này.
Sự ăn năn quy đạo của Phaolô?
Thật là nông nổi nếu chúng ta xây dựng giáo thuyết về hai giai đoạn, bắt đầu trên ba ngày trì hoãn trong từng trải ăn năn quy đạo của Phaolô. Như chúng ta đã thấy ngay trong các tác phẩm của ông, rõ ràng Phaolô là con người-của-một-giai-đoạn mà sự xưng công bình và địa vị làm con đã được biểu tượng và ấn chứng bằng phép báp-tem và việc được nhận lãnh Đức Thánh Linh. Chính Luca cũng thấy từng trải cả ba ngày ấy như là một mà thôi. Như trong phần ghi lại việc Phaolô ăn năn quy đạo được kể lại trước mặt những người Do thái tại Giêrusalem (Cong Cv 22:10 và tt), biến cố về Anania được nhắc lại cùng với việc ông được sai phái và chịu phép báp-tem; còn trong phần ký thuật khác mà Phaolô kể lại trước mặt Ạcrípba (Cong Cv 26:12 và tt), thì ông đã chẳng nói gì đến thời gian ba ngày chờ đợi, đến vai trò của Anania, và cả đến phép báp-tem nữa. Điểm nhấn mạnh duy nhất chúng ta gặp trong cả ba phần ký thuật đó, cũng như điểm Phaolô thường đề cập trong các thư tín của ông, ấy là cuộc gặp gỡ giữa Sau-lơ người Tạtsơ với Chúa Giê-Xu đã hoàn toàn thay đổi cả một cuộc đời.
Mười hai người tại Ê-phê-sô?
Thật ra thì văn bản nói gì?
Cũng vậy, chẳng có nền tảng nào để chủ trương rằng các biến cố trong Công vụ chương 19 là nhằm biện minh cho bước đầu gồm hai giai đoạn của Cơ đốc nhân. Đây rõ ràng là một trường hợp ngoại lệ: chỉ có một số rất ít người can dự vào đây, tức là mười hai “môn đồ”. Chắc chắn từ ngữ này thường dùng để chỉ các Cơ đốc nhân, và thoạt đầu, Phaolô lầm tưởng họ là Cơ đốc nhân. Nhưng ông đã nhận ra ngay rằng mình sai lầm. Dường như họ chẳng có dấu hiệu nào cho thấy Đức Thánh Linh ngự trong lòng. Vì thế ông đã hỏi họ - không phải như bản Authorized Version ( và cả bản Việt văn của chúng ta nữa) đã dịch không được đúng là “Từ khi anh em tin, có lãnh được Đức Thánh Linh chăng?” có vẻ như bản Hi văn bảo đảm rằng có một khoảng trống khá dài giữa lúc họ tin và lúc họ nhận được Đức Thánh Linh, nhưng là - “Anh em đã tin và nhận được Đức Thánh Linh chưa?” - hai phân từ “tin” và “nhận” vốn đồng thời với nhau. Thật là điều không may khi nhiều sách báo Ngũ tuần vẫn dựa vào một chỗ dịch sai khá đơn giản từ nguyên văn Hi lạp ở đây để truyền dạy về từng trải gồm hai giai đoạn của họ. Trong khi viết mấy dòng này, tôi đang có trước mặt quyển sách nhỏ của Don Basham nhan đề ‘Phục vụ phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh (Ministering the Baptism in the Holy Spirit). Ông đã cộng tác với Hội Thông công các Doanh gia truyền bá Phúc âm Toàn vẹn ( Full Gospel Business MenFellowship), một ngành đứng hàng đầu của Giáo hội Ngũ tuần, và giải nghĩa 19:2 như sau: “Từ khi anh em tin nhận Giê-Xu Christ làm Cứu Chúa mình, thì đã nhận lãnh được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh chưa?” Không những câu ấy chẳng hề nói gì việc “tin nhận Giê-Xu Christ làm Cứu Chúa” hoặc về việc “nhận lãnh phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”, mà cả đến thời gian trong mấy chữ “từ khi anh em tin” theo bản dịch Anh (và Việt) văn cũng không hề được bản Hi văn bảo đảm. Thật đáng kinh ngạc khi đọc trong phần dẫn nhập của ông, sau ba chỗ sai trong chỉ một câu Kinh Thánh như vậy, lại còn có rêu rao rằng “Đức Thánh Linh đã soi dẫn ông (tức là ông Basham) để trình bày hầu như là từng chữ từng tiếng bức thông điệp mà quyển sách này chứa đựng”. Lối giải kinh và những lời rêu rao như vậy thật chẳng bổ ích gì.
Họ có thật sự là Cơ đốc nhân chăng?
Khúc sách tiếp tục làm sáng tỏ như pha lê rằng các môn đồ này không hề là Cơ đốc nhân. Họ vốn là những người theo Giăng Báp-tít, được Giăng làm phép báp-tem cho (c.3) rồi đã vượt mấy trăm dặm về hướng Tây bắc để đến Êphêsô. Rõ ràng họ chưa hề được tiếp xúc với lời làm chứng về Chúa Giê-Xu của Giăng sau này, vì họ cần được Phaolô cho biết Đấng Hầu Đến mà Giăng báo trước đúng ra là chính Chúa Giê-Xu. Họ chưa từng nghe nói về Chúa Giê-Xu, cũng chưa hề tin Chúa Giê-Xu hoặc chịu phép báp-tem nhân danh Chúa Giê-Xu, và hoàn toàn chẳng hay biết gì về Đức Thánh Linh. Trái với tính cách đặc sắc của mình, dường như bản dịch King James (cũng như bản dịch Việt văn) lại dẫn chúng ta đi sai ở điểm này. Theo bản dịch ấy, thì họ trả lời Phaolô rằng: “Chúng tôi cũng chưa nghe có Đức Thánh Linh nào” (c.2). Dĩ nhiên, đây có thể là một cách hiểu Hi văn, nhưng thật là khó cho bất cứ ai từng được nghe Giăng Báptít - dầu lơ là đến đâu chăng nữa - có thể nghi ngờ được việc ông vốn quan tâm đến Đức Thánh Linh. Rất có thể nguyên văn đúng ra nên dịch là: “Chúng tôi cũng chưa nghe nói là Đức Thánh Linh đã được ban cho”. Chẳng những Giăng Báptít từng nói về Đức Thánh Linh sẽ là tặng phẩm (ân tứ) tương lai của Đấng Hầu Đến, mà Giăng trước giả sách Tin Lành cũng đã nhận xét về câu phát biểu của Chúa Giê-Xu “Bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Chúa Giê-Xu chưa được vinh hiển” (GiGa 7:39). Các môn đồ của Giăng tại Êphêsô vốn chưa biết rằng kỷ nguyên của Đức Thánh Linh đã đến rồi. Thật khó mà cho rằng số người vốn là môn đồ của Giăng Báptít chẳng hề biết Chúa Giê-Xu hay Đức Thánh Linh này, lại có thể được gọi là Cơ đốc nhân và được đưa ra như mẫu mực cho giáo thuyết bước đầu làm Cơ đốc nhân gồm hai giai đoạn! Số người này chưa bao giờ là Cơ đốc nhân cả, và bước đầu để họ trở thành những người ở trong Chúa Cứu thế dường như chỉ xảy ra sau khi được nghe Phaolô giảng dạy. Họ được Phaolô làm phép báp-tem cho. Họ được Phaolô đặt tay lên người họ. Họ đã nhận lãnh Đức Thánh Linh cách rõ ràng, vì họ nói các thứ tiếng và nói tiên tri. Đúng ra họ là những con người của chỉ một giai đoạn mà thôi.
Những người Samari trở lại đạo?
Tại sao lại có trì hoãn?
Câu hỏi này đưa chúng ta đến với khúc sách còn lại, là Công vụ chương 8. Dầu bạn giải nghĩa nó như thế nào, nó vẫn để lại cho bạn nhiều thắc mắc. Philíp giảng Tin Lành cho dân Samari. Có vô số người đã đáp ứng. Tà linh bị đuổi ra, kẻ què được chữa lành, một niềm vui lớn tràn ngập cả thành phố. Rồi thuật sĩ Simôn được dẫn tới dưới mắt bạn. Hắn ta tự cao tự đại, cho rằng mình được quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời, nhưng nhận biết mình là tên mạt hạng, nên “chính Simôn cũng tin, và khi đã chịu phép báp-tem, thì ở luôn với Philíp; người thấy những dấu lạ phép kỳ đã làm ra, thì lấy làm lạ lắm”. Đến đây thì Phi-e-rơ và Giăng từ Giêrusalem đến để khảo sát công việc; và hai ông đã cầu nguyện để người Samari nhận được Đức Thánh Linh, vì Ngài vẫn chưa giáng xuống trên một ai trong họ cả. Họ chỉ mới chịu phép báp-tem nhân danh Chúa Giê-Xu mà thôi. Tại sao lại có sự trì hoãn này?
Một trường hợp ngoại lệ?
Câu trả lời của người theo Giáo hội Ngũ tuần và của một số đông người theo Giáo hội Công giáo, đều như nhau. Các tín hữu người Samari cần được các sứ đồ đặt tay thêm sức cho, khiến họ trở thành thuộc viên của Hội Thánh (theo quan điểm Công giáo) hoặc làm phép báp-tem cho họ bằng Đức Thánh Linh (theo quan điểm Ngũ tuần). Trái hẳn với các nền thần học thường có điểm mâu thuẫn nhau do cả người Do thái lẫn Ngũ tuần xây dựng trên khúc sách này, nhiều người vạch rõ rằng, không còn chỗ nào khác trong Tân Ước chép rằng việc đặt tay được xem là động tác quyết định để một người bắt đầu trở thành Cơ đốc nhân. Để cho chắc chắn, thỉnh thoảng nó cũng có một vai trò như những khúc sách trong Cong Cv 19:6 và HeDt 6:2 làm sáng tỏ; nhưng trong ngày lễ Ngũ tuần, đã không có ai đặt tay trên các sứ đồ để thêm sức cho các vị - hoặc để trang bị Đức Thánh Linh cho các vị. Với Cọt nây, với hoạn quan người Êthiôbi, với những người ăn năn trở lại đạo vào ngày lễ Ngũ tuần cũng như với hầu hết những người khác đã được Kinh Thánh chép là đã ăn năn quy đạo, thì đều như thế cả! Nếu cho rằng Công vụ chương 8 biện minh cho việc hoặc phép thêm sức hay phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh do việc đặt tay là giai đoạn thứ hai rất thiết yếu để trở thành Cơ đốc nhân, thì qua phần chứng minh của chính Tân Ước, chỉ có một số rất hiếm hoi các Cơ đốc nhân đã có được cơ hội quý báu đó! Không phải như vậy! Biến cố tại Samari này không phải là tiêu biểu, và sở dĩ Luca đã chép lại, là vì nó không có tính cách điển hình. Với phần ký thuật ấy, ông có một điều quan trọng gì đó muốn chứng minh cho chúng ta thấy, nhưng tiếc thay, ông đã không làm sáng tỏ được quan điểm của mình!
Một dấu hiệu đoàn kết?
Có một quan điểm của giáo sư Lampe đề ra và chịu ảnh hưởng rất nhiều các tác phẩm của Conzelmann, ấy là Luca đã phải hết sức vất vả để nhấn mạnh các mối liên hệ giữa Hội Thánh của các sứ đồ tại Giêrusalem, với các giới Cơ đốc nhân ngày càng lan rộng ra. Có rất nhiều chứng cứ hiển nhiên hậu thuẫn cho quan điểm này. Như ở đây, trong biến cố độc đáo này, giáo sư Lampe nhận thấy Phi-e-rơ và Giăng được Hội Thánh tại Giêrusalem phái đi “không phải để thêm sức cho người Samari, nhưng là để xác nhận phép báp-tem mà Philíp đã cử hành, và để thâu nhận họ bằng dấu hiệu đoàn kết, liên đới với nhau qua việc đặt tay, để thâu nhận họ vào cộng đồng của Đức Thánh Linh ngày lễ Ngũ tuần; để những người Samari đã ăn năn quy đạo cũng trở thành một Hội Thánh như Hội Thánh Giêrusalem được mở rộng ra” (tr.22). Quan điểm này tuy hấp dẫn, nhưng không hoàn toàn đúng với chứng cứ hiển nhiên. Sự ăn năn quy đạo của Sau-lơ, về mọi phương diện, đều chứng tỏ sự tiến bộ quan trọng của Cơ đốc giáo, thế nhưng Anania theo điều chúng ta được biết thì vốn chẳng có liên hệ gì đến với Hội Thánh Giêrusalem cả, đã đặt tay lên đầu ông. Và cả khi Phaolô và Banaba đến với người ngoại bang một cách triệt để hơn trong vòng lưu hành truyền giáo đầu tiên (Cong Cv 13:46) chúng ta cũng chẳng nghe nói có ai được đặt tay trên đầu, mà chỉ nghe nói về đức tin, sự phát triển Đạo Chúa niềm vui và Đức Thánh Linh.

CHÚ THÍCH:
(Giáo sư Lampe giải thích trong quyển ‘Luca và Hội Thánh tại Giêrusalem (St. Luke and the Church at Jerusalem): “Tôi không nghĩ rằng quan điểm của tôi về chuyến đi truyền giáo cho người Samari trở thành một việc làm để mở rộng Hội Thánh tại Giêrusalem nhờ hành động của Phi-e-rơ và Giăng biến nó trở thành có giá trị như ông nói. Luca vốn tế nhị khi chứng minh rằng phần lớn sự phát triển công cuộc truyền bá Cơ đốc giáo đều được thực hiện dưới sự che chở của Giêrusalem, nhưng ông cũng biết việc ấy đã được thực hiện theo nhiều cách. Tại Samari, nó phải do hành động đặc biệt của hai vị vốn là lãnh tụ trong vòng các sứ đồ ở Giêrusalem, vì rõ ràng phép báp-tem của Philíp cần được chứng thực và phê chuẩn. Phaolô cũng được Anania ban cho cùng một dấu hiệu giống như vậy. Hiện diện của Phi-e-rơ và Giăng vốn không có tính cách bắt buộc, vì đã không hề có sự rạn nứt nào cần phải hàn gắn trong trường hợp của Phaolô. Nhưng Luca nhấn mạnh rằng Anania vốn là một môn đồ vững vàng trong truyền thống Do-thái-Cơ-đốc-giáo (Cong Cv 9:10; 22:12), nghĩa là ông đại diện cho cộng đồng (Cơ đốc giáo) nguyên thủy; và ông đưa Phaolô lên Giêrusalem để thông công với các sứ đồ thật sớm khi có thể được, sau giai đoạn của Anania. Không hề có nhu cầu phải đặt tay trên người ngoại bang (13:46) cũng như ở bất luận nơi nào khác trong vòng lưu hành truyền giáo đó, vì Phaolô và Banaba vốn được phép của Hội Thánh tại Antiốt, mà chính Hội Thánh này thì đã được Banaba, với tư cách sứ giả được Giêrusalem biệt phái, chứng thực rồi (11:22 và tt). Theo Luca, thì bản thân Phaolô cũng là một đặc phái viên của Giêrusalem để báo cáo lại cho Hội Thánh ấy càng thường xuyên càng hay. Sau Phaolô những người còn cần chứng thực là Abôlô, qua sự chỉ giáo bởi sự cộng tác của Phaolô, và người Êphêsô rất có thể vốn do Abôlô dìu dắt ăn năn quy đạo”. Như sẽ thấy trong văn bản, tôi không đồng quan điểm với Giáo sư Lampe về tất cả các chi tiết, và không nghĩ rằng Luca vốn tế nhị để làm công việc chứng thực như ông đã làm. Tuy nhiên, cách chép lại sự việc của ông có thể là đúng, và chắc chắn rất ý nghĩa đối với rất nhiều hiện tượng xảy ra trong sách Côngvụ).
Khởi điểm của thực tại?
Một quan niệm khác nữa đã được Giáo sư Dunn đề ra trong quyển ‘Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh của ông. Ông nghĩ rằng người Samari đã không hề thật sự tin Chúa; họ chỉ tập trung chú ý vào Philíp, chớ không phải vào Chúa Cứu thế. Simôn, tuy đã chịu phép báp-tem và bảo là mình tin Chúa, nhưng rõ ràng vẫn chưa phải là Cơ đốc nhân; giáo sư Dunn đã nhận xét rất đúng. Ông gợi ý rằng số người Samari còn lại cũng bị cuốn hút vào làn sóng người đang xúc động mạnh đó, họ chỉ tin Philíp chớ không phải tin Chúa Giê-Xu, căn cứ vào cấu trúc của từ ngữ Hi văn pistenò chỉ trường hợp gián tiếp (dative), chớ không phải theo cách thông dụng hơn là từ ngữ pistenò eis. Tuy nhiên, có những trường hợp khác, trong đó pisteuò được dùng theo lối chỉ gián tiếp cũng nói lên đức tin để được cứu (như 16:34; 18:8) cho nên chúng ta không thể quá nhấn mạnh vào điểm này, và việc chữa bệnh, niềm vui, những tà ma bị đuổi ra cho thấy rõ ràng, đức tin của người Samari, và gợi ý rất mạnh mẽ rằng đó quả thật là đức tin Cơ đốc giáo thuần chánh. Thế thì tại sao trong có hội duy nhất này, Đức Chúa Trời lại cầm giữ Thánh Linh của Ngài lại?
Việc chữa lành một vết rạn nứt?
Tôi tin rằng câu trả lời nằm trong vết rạn nứt từ nhiều thế kỷ giữa người Do thái với dân Samari. Như Giăng đã nhận xét: “Dân Giuđa chẳng hề giao thiệp với dân Samari” hoặc có lẽ là: “vẫn từ chối không chịu dùng chung chén bát với người Samari” (Cong Cv 4:9). Nếu Đức Thánh Linh được ban xuống ngay sau khi người Samari xưng nhận đức tin và chịu phép báp-tem, rất có thể vết rạn nứt lâu đời đó vẫn cứ tiếp tục, và sẽ có hai Hội Thánh, chẳng có sự thông công gì với nhau cả. Sách Công vụ chương 15 đã cho thấy vết rạn nứt giữa Cơ đốc giáo Do thái và Cơ đốc giáo của các dân ngoại đã được các Cơ đốc nhân đầu tiên cẩn thận giải quyết một cách dứt khoát như thế nào. Sách Công vụ chương 8 dường như cũng nhấn mạnh cùng một vết rạn nứt tai hại như vậy đã được giải quyết tại Samari. Đức Chúa Trời đã không ban Thánh Linh Ngài (hay có lẽ là những bộc lộ siêu nhiên của Thánh Linh ấy trong việc nói các thứ tiếng và nói tiên tri?) cho người Samari ngay tức khắc, trước khi các đại biểu từ Giêrusalem xuống để tỏ tình đoàn kết với số người mới ăn năn quy đạo bằng cách cầu nguyện cho họ và đặt tay trên họ. Chừng đó, họ mới được nhận lãnh Đức Thánh Linh. Thật ra, việc sử dụng thì động từ bất toàn (imperfect), elambanon, có thể rất có ý nghĩa. Họ đã nhận được những bộc lộ của Đức Thánh Linh nhiều lần liên tiếp nhau. Đây không phải là việc được Giêrusalem cho phép, hay việc mở rộng Hội Thánh tại Giêrusalem, mà là một lịnh truyền của Đức Chúa Trời bảo phải xoá bỏ vết rạn nứt trong Hội Thánh non trẻ, một vết rạn nứt có thể lan rộng mà không ai để ý trong mối thông công giữa các Cơ đốc nhân, khi số người ăn năn quy đạo từ cả hai phía của “bức màn Samari” đã tìm được Chúa Cứu thế và làm hòa lại với Ngài, nhưng lại không có sự gặp gỡ để làm hòa với nhau. Rất có thể đây chính là lý do của việc một phép báp-tem và tất cả những gì nó tiêu biểu cho, đã bị phủ nhận. Tôi tin là chính vì lý do ấy mà Đức Chúa Trời đã trì hoãn trong cơ hội này. Chương 8 sách Công vụ đã ghi lại chính xác việc đó để chứng minh tính cách bất thường của một phép báp-tem không dẫn tới việc được nhận lãnh Đức Thánh Linh. Khúc sách này ngụ ý (còn phần còn lại của Tân Ước thì công nhiên vạch rõ) dạy rằng cả hai việc vốn thuộc về nhau. Thật ra, Simon Tugwell đã viết rất dúng: “Điều này không hề ngụ ý dạy rằng Tân Ước không quan tâm tới sự biểu lộ kia của Đức Thánh Linh. Rõ ràng Tân Ước có quan tâm đến việc ấy! Tất cả những gì đã được công bố, ấy là: phép báp-tem là điểm hẹn, là điểm “hữu hình” của việc nhận lãnh Đức Thánh Linh. Chúng ta không nên phóng đại lời công bố, ấy như phái đề cao thánh lễ (sacramentalists) có khuynh hướng làm vậy, cũng không thu nhỏ nó lại như khuynh hướng thường thấy của những người thuộc các giáo hội Tin Lành và nhất là thuộc giáo hội Ngũ tuần. Đức Thánh Linh vốn có rất nhiều đường lối khác nhau để hành động trong chúng ta. Có một điều chung, đối với tất cả mọi người và sợi dây hiệp một của chúng ta ấy là phép báp-tem" (‘Bạn đã nhận lãnh Đức Thánh Linh chưa? Did you receive the Spirit? p.85f.)
Sự dạy dỗ của Tân Ước về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh
“Trong” và “bằng”
Điều có lẽ gây ngạc nhiên nhiều, ấy là Tân Ước rất ít đề cập phép báp-tem “trong” hay “bằng” Đức Thánh Linh. Thật ra chỉ có bảy chỗ mà thôi. Trước khi khảo xét chúng, thiết tưởng nên làm sáng tỏ thành ngữ tôi vừa sử dụng: “trong hay bằng Đức Thánh Linh”. Trong Hi văn, từ ngữ “en” có thể có nghĩa hoặc là “trong”, hoặc có thể nói lên cái công cụ xuyên qua đó, một điều gì đó đã xảy ra, tức là “bằng”. Cuối cùng thì thật khó xác định được phép báp-tem liên hệ với Đức Thánh Linh ám chỉ Đức Thánh Linh là Đấng mà trong đó chúng ta được làm phép báp-tem để được hòa nhập vào hầu được cùng chia xẻ sự nghiệp và số phận của Chúa Cứu thế . Phần chứng cứ hiển nhiên có hơi nghiêng về lời giải nghĩa sau, mà chúng ta sẽ thấy.
Sáu chỗ trong Tân Ước đề cập phép báp-tem trong Đức Thánh Linh.
Chỉ có bảy chỗ trong Tân Ước sử dụng thành ngữ vừa kể. Trong đó, có sáu chỗ đề cập phép báp-tem mà Giăng Báptít đã hứa là sẽ được Đấng Hầu Đến thực hiện. Tương phản với phép báp-tem của chính ông, Chúa Giê-Xu sẽ làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Đây là ý nghĩa rõ ràng của Mac Mc 1:8 và câu tương đương với nó trong LuLc 3:16 và Mat Mt 3:11; GiGa 1:33 cũng tương tự như vậy, chúng ta đã từng khảo sát câu này rồi: “Đấng mà ngươi thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Đấng làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”. Cong Cv 1:5 cũng rõ ràng như vậy. Chúa Giê-Xu đã nhắc lại mấy lời của Giăng cho các môn đồ Ngài: “Vì Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước, nhưng trong ít ngày, các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”. Lời hứa của Chúa Giê-Xu đã ứng nghiệm mấy ngày sau đó, khi Đức Thánh Linh từng “đậu” trên họ, đầy dẫy họ và khiến họ nói được các thứ tiếng. Câu thứ sáu được chép trong 11:15, 16. Phi-e-rơ đang giải thích biến cố liên hệ đến Cọt-nây cho số người tại Giêrusalem đã chỉ trích ông: “Ta mới khởi sự nói, thì có Đức Thánh Linh giáng trên họ (nghĩa là Cọt-nây và người nhà ông) cũng như ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta. Ta bèn nhớ lại lời Chúa đã truyền rằng: Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước, nhưng các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Vậy, nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ cùng một ân tứ Ngài từng ban cho chúng ta khi chúng ta tin Chúa Cứu thế Giê-Xu, thì tôi là ai mà ngăn trở Đức Chúa Trời được?” Phi-e-rơ đang kể lại một biến cố rất có ý nghĩa cho sự tiến bộ của Cơ đốc giáo, như việc số người Samari đầu tiên đã ăn năn theo đạo: người ngoại bang “kính sợ Đức Chúa Trời” là Cọt-nây đã được ghép vào gia đình Đức Chúa Trời. Và cũng như Đức Chúa Trời đã rút Đức Thánh Linh của Ngài khỏi dân Samari cho đến khi các Cơ đốc nhân người Do thái sẵn lòng hàn gắn vết rạn nứt giữa họ và hiệp một với họ để trở thành cùng một Hội Thánh, thì bây giờ, Đức Chúa Trời cũng ban Đức Thánh Linh Ngài cho Cọt-nây và gia đình ông, trước khi Phi-e-rơ ngỏ lời kêu gọi họ ăn năn và có đức tin, dường như để xóa mọi dấu vết tự cao và tự tôn khỏi Phi-e-rơ, và dạy ông đừng khinh dể người ngoại bang, gọi họ là bần tiện hay ô uế nữa. Đây là một trong những cao điểm của sách Công vụ mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã phá tan đầu óc kỳ thị, chia rẽ chủng tộc của loài người. Chính vì thế nó đã được nhắc đi nhắc lại không dưới ba lần. Chính vì thế, Phi-e-rơ đã xem ngày ấy là ngày của người ngoại bang tương đương với ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Giê-Xu chẳng những chỉ làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh đã được Giăng hứa từ lâu rồi cho dân Do thái và người Samari, mà cả cho người ngoại bang nữa. Cùng một ân tứ ấy đã được ban cho “họ” cũng như “chúng ta”. Chẳng có sự phân biệt giữa vòng những người biết ăn năn (11:18), tin Chúa Giê-Xu (11:17) và nhận lãnh cùng một Đức Thánh Linh đã làm phép báp-tem cho họ để họ được hiệp một với Chúa Cứu thế .
Chỗ thứ bảy trong Tân Ước.
Đến đây, chúng ta đã có sáu chỗ trình bày một bức tranh rõ ràng, chẳng có chút gì mơ hồ cả. Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước, như dấu hiệu của sự ăn năn; Chúa Giê-Xu làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, để đưa người ta vào các phước hạnh của Giao Ước Mới. Việc này đã có thể xảy ra vào ngày lễ Ngũ tuần, khi các môn đồ Chúa từng chịu phép báp-tem của Giăng đều được làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Chính Đức Thánh Linh từng làm phép báp-tem cho những người Do thái đã theo Chúa Giê-Xu, kết bạn với Ngài khá lâu và có sự ràng buộc sâu xa với Chúa Cứu thế nhập thể, cũng đã làm phép báp-tem cho Cọt-nây trước sự kinh ngạc của Phi-e-rơ - vì Cọt-nây vốn là người chưa hề biết hay quen với Chúa Cứu thế nhập thể. Trong cả hai trường hợp, phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh là bước đầu tiên để người ta bước vào phước hạnh của Giao Ước Mới. Và cùng một sự việc y như thế cũng đã được truyền dạy trong chỗ thứ bảy và là chỗ cuối cùng đề cập phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh (ICo1Cr 12:13) “Vì chưng chúng ta hoặc người Giuđa hoặc người Gờréc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa”. Phaolô khó có cách nào viết câu này cho rõ ràng hơn - dĩ nhiên là khó viết trong trường hợp có bút chiến. Vì có nhiều độc giả người Côrinhtô của ông đang tự cao tự đại về các ân tứ chữa bệnh, nói tiếng lạ, nói tiên tri, đức tin và vân vân của họ. Họ khinh dể người khác và tự tách riêng ra. Họ thích rêu rao rằng chỉ có những người có ân tứ chữa bệnh, những người nói được tiếng lạ mới được làm phép báp-tem trong hoặc bằng Đức Thánh Linh mà thôi. Nhưng Phaolô đã phản bác lời rêu rao đó ngay trước khi chúng được nói ra. Chỉ có cùng một Đức Thánh Linh đã khiến người ta đưa ra lời xưng nhận khi chịu phép báp-tem: “Giê-Xu là Chúa” (12:3). Và cũng chính cùng một Đức Thánh Linh ấy đã làm phép báp-tem cho các tín hữu để mọi người cùng hiệp một trong thân thể Chúa Cứu thế - mặc dầu họ vốn khác nhau. Phép báp-tem duy nhất của cùng một Đức Thánh Linh là yếu tố hiệp nhất quyết định, cũng như chỉ có một Đức Chúa Cha đã linh cảm cho tất cả các con cái Ngài như nhau, và chỉ có một Chúa mà tất cả mọi người đều phục vụ (12:4 và tt). Thật khó biết chắc từ ngữ “en” chỉ về nơi chốn, hay chỉ công cụ. Nó có thể có nghĩa là mọi người đều bị chìm ngập trong cùng một Thánh Linh duy nhất, nhưng vì tất cả đều “cùng trở nên một thân thể” nữa, và nói như vậy có vẻ hơi khó nghe, cho nên rất có thể cách dùng ở đây và những câu khác mà chúng ta vừa khảo xét đều được dùng để ám chỉ cái công cụ để thực hiện việc ấy. Người Côrinhtô đều được làm phép báp-tem do cùng một Đức Thánh Linh để hòa nhập thành một thân thể duy nhất của Chúa Cứu thế. Và để chắc chắn hơn nữa, Phaolô nhìn thấy Đức Thánh Linh chẳng những như Đấng đã nhận chìm họ trong Chúa Cứu thế, mà còn như Đấng đã giáng xuống trên họ như một gàu nước mát, hay một dòng nước được dẫn vào chỗ đất khô hạn: “Anh em đã được tạo dựng để cùng uống chung một Thánh Linh”.
Các Cơ đốc nhân không được dặn phải được báp tem với Đức Thánh Linh.
Chứng cứ hiển nhiên vạch rõ hai sự kiện có tầm quan trọng lớn lao về phương diện giáo lý. Trước hết, tiếp sau ngày lễ Ngũ tuần, không có chỗ nào bảo rằng các Cơ đốc nhân đã được làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Lễ Ngũ tuần là ngày xức dầu, ngày “Cơ đốc hóa: Christing” các môn đồ đầu tiên của Chúa. Họ từng có Chúa Giê-Xu bên cạnh mình. Giờ đây, họ lại có Thánh Linh của Chúa Giê-Xu ở trong họ nữa. Và ân tứ của Đức Thánh Linh được ban cho vào ngày Chúa nhật lễ Ngũ tuần đầu tiên đó không hề bị rút lại. Đức Thánh Linh sẵn sàng được ban cho tất cả những ai ăn năn tội, tin Chúa và được làm phép báp-tem để hòa nhập vào trong Chúa Cứu thế . Những người ăn năn tin đạo vào ngày lễ Ngũ tuần đã được Phi-e-rơ hứa rằng: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Chúa Giê-Xu chịu phép báp-tem để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh”. Họ đã ăn năn hối cải, và đã nhận thấy đó là sự thật. Hai phước hạnh phân biệt của Giao Ước Mới đã thuộc về họ và cùng một lần. Cọt nây cũng nhận thấy sự thật ấy; người Côrinhtô cũng vậy; mà các Cơ đốc nhân trải qua các thời đại cũng vậy. Thật vậy, “Ai không có Thánh Linh của Chúa Cứu thế, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (RoRm 8:9). Vậy phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh không phải là giai đoạn hai của từng trải đối với một số Cơ đốc nhân, nhưng là từng trải ban đầu cho toàn thể các Cơ đốc nhân. Nếu không có nó, chúng ta chưa phải là Cơ đốc nhân gì cả.
Các Cơ đốc nhân không được bảo là phải chờ đợi Đức Thánh Linh.
Điều quan trọng thứ hai là các Cơ đốc nhân chẳng bao giờ được bảo hãy chờ đợi hay cầu nguyện để được báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Lẽ tất nhiên là không, bởi vì họ đều đã chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh rồi. Quả là các môn đồ đầu tiên đã được bảo hãy chờ đợi Đức Thánh Linh giáng lâm, nhưng đó là việc của thời kỳ trước lễ Ngũ tuần, trước khi có từng trải rõ ràng về Thánh Linh của Chúa Giê-Xu vào ngự trong lòng người tín hữu. Từ ngày lễ Ngũ tuần đó trở về sau, không cần thiết phải “có những buổi nhóm để chờ đợi” được báp-tem bằng Đức Thánh Linh nữa. Đây là khởi điểm chớ không phải là cùng đích của Cơ đốc nhân chúng ta.
3. SỬ DỤNG NGÔN NGỮ SAI: TỪNG TRẢI THẬT
Từng trải về “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”.
Nếu đây chính là lời truyền dạy của Tân Ước về Đức Thánh Linh, tại sao có quá nhiều Cơ đốc nhân nhiệt thành lại sử dụng từ ngữ này theo một nghĩa khác hẳn? Tại sao họ lại gọi nó là một từng trải thứ hai? Câu trả lời nằm ngay trong chính từ ngữ từng trải này. Họ đã có một từng trải mãnh liệt về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; một từng trải đã từng thay đổi dứt khoát cuộc đời Cơ đốc nhân của họ như cuộc vật lộn tại Gia bốc đã thay đổi cuộc đời của Gia-cốp vậy. Rồi họ dán cái nhãn hiệu này lên cho từng trải ấy. Từng trải của Graham Pulkingham là một thí dụ nổi tiếng nhưng không phải không điển hình. Trong quyển ‘Nhóm lại để được Quyền năng (Gathered for Power) ông kể lại cho chúng ta về các nhóm Tự do của Giáo hội theo tổ chức Giám mục (the Liberal circles of Episcopalism) là môi trường trong đó ông được trưởng dưỡng, về cuộc gặp gỡ của ông với Hội Thánh của Đấng Cứu Thế (The Church of the Redeemer) ở Houston, về sự bất năng bất lực của ông trước tình hình sa sút trong Hội Thánh và vùng phụ cận, và việc ông trông mong được một từng trải sâu nhiệm hơn về Đức Chúa trời. Ông kể lại cho chúng ta, ông đã gặp David Wilkerson, tác giả quyển ‘Thập tự giá và con dao bấm (Cross and Schwichblade) nổi tiếng - và cùng đi với ông ta đến nhà phục hồi nhân phẩm cho gái điếm mà tổ chức của David Wilkerson trông nom. Pulkingham nói: “Chính tại đây, tôi đã được từng trải báp-tem bằng Đức Thánh Linh” (tr.75). Dave Wilkerson thình lình bảo ông hãy quỳ xuống, và Pulkingham nhớ lại rằng: “Tôi quỳ xuống và họ hấp tấp đi nhanh qua phòng. Khi tay họ chạm đầu tôi, có một cái gì đó ở trong tôi đã nhảy lên reo mừng, và ngay đến cách cầu nguyện bất thường của họ cũng không hề gây khó chịu - nó được nói lên lớn tiếng và bằng các ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ đối với tôi”. Hầu như tiếp ngay sau đó “mọi ý thức về những con người và lời cầu nguyện của họ, và gian phòng, và về cả bản thân tôi nữa đều bị xóa sạch bởi sự hiện diện mông mênh của quyền năng Đức Chúa Trời. Ngài đang hiện diện tại đây, không lầm lẫn vào đâu được, và sự đáp ứng trong lòng tôi giống như tiếng của một bụi tre reo lên khi gặp cơn gió mạnh; các nền tảng của tâm hồn tôi đã rung động mãnh liệt”. Ông ta đã cúi đầu xuống thật thấp trước sự vĩ đại của Đức Chúa Trời, và khóc lóc về sự không xứng đáng của chính mình. Dave nói với bạn mình: “Đấng làm phép báp-tem đang ở đây; bây giờ chúng ta có thể đi” và họ bỏ đi, để Graham lại một mình với Đức Chúa Trời.
Đó là cách mà Graham Pulkingham mô tả từng trải về Đức Chúa Trời đã thay đổi hẳn cuộc đời Cơ đốc nhân của ông. Tiếp sau đó là một niềm vui mới, một quyền năng mới trong chức vụ, trong việc chữa bệnh, trong sự giảng dạy, một sự tự do trong việc cầu nguyện và thờ phượng, một sự vượt khỏi mọi bối cảnh giáo phái, về một cuộc thử nghiệm kỳ diệu (mà ông vẫn còn tiếp tục) trong sinh hoạt cộng đồng theo cách của sứ đồ gây kinh ngạc cho một công ty truyền hình thương mại tại Hoa kỳ, đến nỗi họ làm một thiên phóng sự về việc đó. Làm thế nào Pulkingham có thể gọi từng trải đã tạo ra nhiều sự cách mạng mãnh liệt trong mọi lãnh vực ông đã được biết của Cơ đốc giáo, bằng một cái tên nào kém hơn là “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”?
Mô tả “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”
Ta rất có thể thông cảm với các Cơ đốc nhân được từng trải về Đức Thánh Linh như Graham Pulkingham gọi cái từng trải đó là “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”, nhưng tất cả đều đã lầm lẫn như nhau. Đó không phải là cách Tân Ước kể lại về phép báp-tem và Đức Thánh Linh. Như chúng ta đã thấy phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh luôn luôn là một từng trải bước đầu. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đưa người ta vào trong gia đình của Đức Chúa Trời, cho nên nói về Đức Thánh Linh làm phép báp-tem cho một người đã có Đức Thánh Linh rồi là hoàn toàn lẫn lộn. Đây là một việc lẫn lộn (confusion) dẫn tới nhiều hậu quả bất hạnh.
Xuyên tạc
Thứ nhất, làm như vậy thì chúng ta hoặc đã bỏ qua, hoặc là xuyên tạc điều Tân Ước đã nói về Đức Thánh Linh và phép báp-tem. Hãy lấy quyển’ Đức Thánh Linh với Bạn (The Holy Spirit and you) của Dennis Bennett làm thí dụ. Ông ta trích dẫn chỉ có “một phép báp-tem” trong Eph Ep 4:5 rồi nói tiếp: “nhưng rõ ràng là một phép báp-tem này của Tân Ước được chia ra làm ba. Trong ICo1Cr 12:13 Phaolô nói: “Chúng ta...đã chịu phép báp-tem chung cho một Thánh Linh để hiệp làm một thân...và chúng ta đều chịu uống chung một Thánh Linh nữa. Điều này ám chỉ phép báp-tem thuộc linh trong Chúa Cứu thế xảy ra khi người tiếp nhận Chúa Giê-Xu làm Cứu Chúa. Tiếp theo đó là phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, trong đó, Đức Thánh Linh ngự trị trong lòng giờ đây được đổ ra để bày tỏ Chúa Giê-Xu cho thế gian qua đời sống người tín hữu. Hoặc trước hoặc là sau phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, thì đều có dấu hiệu bề ngoài của phép báp-tem bằng nước”. Ở đây dường như có điều lộn xộn! Không phải chỉ có một phép báp-tem, mà có đến ba. Và để phân biệt, chúng đòi hỏi phải có ba câu viết trong ngoặc kép để giải thích: “phép báp-tem thuộc linh trong Chúa Cứu thế “, “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”, và “dấu hiệu bề ngoài của phép báp-tem bằng nước”. Như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời đã nhập chung cả ba phép báp-tem ấy lại trong phương diện ý nghĩa, tuy có thể khác nhau về thời gian chúng được từng trải. Phép báp-tem bằng nước là biểu tượng bằng thánh lễ sự ăn năn và đức tin ở một mặt, và ở mặt kia là ân tứ của Đức Thánh Linh. Mọi sự đều chỉ là một. Do đó, nếu chúng ta dùng câu “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” để ám chỉ một từng trải thứ hai nữa của Cơ đốc nhân, là chúng ta bất chấp Tân Ước vậy.
Lộn xộn.
Một khi đã dùng câu ấy như thế, tức khắc chính bạn bị sa vào sự rắc rối thần học sâu xa. Bởi vì căn cứ vào những câu như RoRm 8:9 thì rõ ràng tất cả các Cơ đốc nhân đều có Đức Thánh Linh. Vậy thì, làm thế nào một mặt họ đã có Đức Thánh Linh rồi, mà mặt khác, họ lại chưa nhận được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh? Thật là lộn xộn và mâu thuẫn. Trong những câu tiếp theo đó, Dennis Bennett viết: “Vì bạn đã tin nhận Chúa Giê-Xu, bạn đã có Đức Thánh Linh rồi, cho nên chẳng cần ai ban Ngài cho bạn nữa”, và “Chúa Giê-Xu đang sống trong bạn, Ngài sẵn sàng làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh cho bạn ngay khi bạn sẵn sàng đáp ứng” (tr.56). Điều ông ngụ ý muốn nói đã khá rõ ràng; ông gọi “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” cái từng trải sâu nhiệm về Đức Chúa Trời gắn liền với việc nói các thứ tiếng (lạ). "Chúng ta đã được chứng minh rằng nói các thứ tiếng (lạ) tất nhiên là một mẫu số chung trong các trường hợp được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh mà Kinh Thánh đã chép” (tr.57). Nói khác đi, thì dẫu Bennett, ông không thuộc số người Tân Ngũ tuần “năng nổ” (hardline), thì ông đã kể việc nói tiếng lạ là một thành phần thiết yếu của phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Thật đáng ngạc nhiên khi câu tuyên bố này do một nhân vật đầy ân điển và ôn hòa của phong trào ân tứ thốt ra mới đây vào năm 1971. Nó cũng giống hệt tư tưởng của phong trào ân tứ tại Côrinhtô; nó chính là điều cần thiết để ba chương từ 12-14 của ICôrinhtô phải được viết ra để nhấn mạnh về một Đức Thánh Linh duy nhất, tuy Ngài tự biểu lộ theo nhiều cách trong thân thể Chúa Cứu thế mà tất cả các Cơ đốc nhân đều nhân danh Ngài để chịu phép báp-tem và được hòa nhập vào.
Chia rẽ.
Hậu quả bất hạnh lớn nhất thứ ba tiếp sau việc xem từng trải sâu nhiệm này về Đức Chúa Trời, - thường được đánh dấu bằng khả năng nói tiếng lạ - “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” này là sự gây chia rẽ. Tân Ước đã nêu rất rõ ràng rằng người có Thánh Linh của Đức Chúa Trời vốn khác xa với người không có. Bản thân bạn phải hoặc là “trong Thánh Linh” hoặc là “trong xác thịt”. Nhưng phong trào ân tứ đã có khuynh hướng đổi nhị nguyên thuyết rất vững chắc ấy của Cơ đốc giáo, cái “hoặc là cái này, hoặc là cái kia” đó, để lấy cái từng trải mà họ dán nhãn hiệu là “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh". Những người có phép báp-tem đó thì “ở trong”, còn những người không có thì “ở ngoài”. Đó là sự chia rẽ mà phong trào ân tứ thường gây ra cho các Hội Thánh. Tất nhiên có nhiều lý do khác nhau cho sự chia rẽ này; tính không thuộc linh của các thành viên tầm thường trong hội chúng và việc họ không sẵn sàng cởi mở trước mặt Đức Chúa Trời và anh em mình; một ý thức thỏa mãn về việc mình-đã-thành-đạt-rồi của một số tín đồ Tân Ngũ tuần, và vân vân.. Nhưng phần lớn rắc rối vốn do cách sử dụng sai lầm câu “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”. Vì phép báp-tem có nghĩa là khởi điểm; nó là nghi lễ đầu tiên của Cơ đốc nhân, và nói về từng trải đầu tiên của Cơ đốc nhân. Nếu các Cơ đốc nhân tin Chúa được bảo là họ phải được làm phép báp-tem cho bằng Đức Thánh Linh, thì điều đó gợi ý cách quả quyết rằng họ đang thiếu Ngài, rằng họ vẫn chưa bắt đầu chi cả. Thế nhưng họ đã bắt đầu rồi! Họ đã ở trong Chúa Cứu thế, đã được xưng công bình, đã được nhận vào gia đình Đức Chúa Trời, đã là những cái bình chứa đựng Thánh Linh của ân điển. Sự kiêu căng không cố ý gây chia rẽ giữa Cơ đốc nhân đã được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh với những người chưa có, có thể đã được giải tỏa một phần lớn nếu số người của phong trào ân tứ chịu từ bỏ cách sử dụng không đúng với Kinh điển từ ngữ “được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” để mô tả một từng trải thứ hai cho những người đã là Cơ đốc nhân rồi. Nó trái với cách dùng từ ngữ ấy trong Tân Ước, gây lộn xộn cùng cực và góp phần gây chia rẽ giữa số người duy nhất vốn thuộc về Đức Thánh Linh.
Một lời thỉnh cầu nên cẩn thận trong ngôn ngữ.
Nhờ một phần lớn các Cơ đốc nhân biết suy nghĩ chín chắn trong phong trào ân tứ của Công giáo, là họ đã nhận thấy và tránh được cơ nguy chụp ngay lấy lời mô tả “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” của các tín đồ Ngũ tuần mà không cần phê phán gì để mô tả lại cơn phục hưng mà họ đã nhận được. Khi viết về nền tảng thần học của cuộc phục hưng Công giáo Fr.Killian Mo Donnall, O.S.B, đã tránh được điều từng khích động người bạn Công giáo La mã của mình là Simon Tugwell trong chương 5 quyển ‘Bạn đã nhận lãnh Đức Thánh Linh chưa? (Did you receive the Holy Spirit?) Ông nhập chung mọi từng trải về Đức Thánh Linh vào trong một phép báp-tem duy nhất “phong trào phục hưng ân tứ có các nền móng thần học trong việc cử hành nghi lễ nhập giáo, và kêu gọi một sự phục hưng trong phần ý thức quan niệm rộng rãi hơn về phép báp-tem, tức là “được hiểu biết những ơn mà chúng ta đã nhận được” (ICo1Cr 2:12). Có một nét trong phong trào phục hưng thường gây lộn xộn là cách dùng câu “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” vì nhiều lý do có tính cách lịch sử, nhiều người Công giáo trong phong trào phục hưng đã tiếp nhận câu đó, vốn đã phổ biến giữa các tín đồ Ngũ tuần cổ điển rồi, để mô tả từng trải qua đó họ bước vào sự nhận biết mới mẻ sự hiện diện và quyền năng của Đức Thánh Linh trong đời sống họ.
“Nhưng có một vấn đề trong việc sử dụng câu này, tức là nó có thể được giải nghĩa rằng chỉ số người có một từng trải loại đặc biệt về Đức Thánh Linh mới thật sự được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh mà thôi. Sự thật không phải như vậy, vì mọi bước đầu có giá trị và có kết quả của Cơ đốc nhân đều nói lên ân tứ của Đức Thánh Linh (Cong Cv 2:38), và “được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh chỉ có nghĩa đơn giản của một cách nói khác trong Kinh Thánh, là tiếp nhận (nhận được, được nhận lãnh) Đức Thánh Linh.
“Do đó nhiều người thích dùng những thành ngữ khác để mô tả việc đã xảy ra trong phong trào phục hưng ân tứ. Trong số những cách nói khác đã được đề nghị, có những thành ngữ như "trả tự do cho Đức Thánh Linh”, “phục hưng các thánh lễ bước đầu”, “hiện thực hóa các ân tứ đã nhận được trong tiềm năng”, “biểu hiện của phép báp-tem, nhờ đó ân điển giấu kín được ban cho trong phép báp-tem hiển hiện qua từng trải có ý thức". Đó là tất cả những cách thức để nói rằng quyền năng của Đức Thánh Linh vốn đã được ban cho lúc người ta bắt đầu trở thành Cơ đốc nhân, nhưng từ đó đến nay vẫn chưa được từng trải, thì bây giờ sẽ trở thành điều từng trải riêng mà chúng ta ý thức được”. Rồi ông tiếp tục chứng minh rằng từng trải có ý thức đó có thể lần lần phát triển, hay qua một từng trải khủng hoảng, “cả hai khuôn mẫu tăng trưởng và khuôn mẫu bị khủng hoảng đó đều phải được xem như những cách thức đích thực để nhận biết khởi điểm của ân điển ở mức độ ý thức”. Nếu tất cả mọi người bên trong phong trào phục hưng đều sử dụng ngôn ngữ một cách thận trọng như nhà thần học Công giáo La mã này, thì người ta đã có thể tránh được rất nhiều chuyện rắc rối, lộn xộn, gây đau lòng.
Thực tại đàng sau phần mô tả không chính xác.
Rượu mới.
Mặt khác, nếu ngôn ngữ mà những người Tân Ngũ tuần dùng chỉ từng trải của họ là không đúng thì đó không phải là trường hợp của chính cái từng trải đó. Điều bi thảm là có nhiều Cơ đốc nhân tự làm cho mình bị mất phước vì họ đã không tin cậy, sợ hãi hay khinh dể phong trào ấy. Họ vốn hài lòng với một trình độ thuộc linh thấp kém. Họ đã không để cho Đức Chúa Trời giải phóng họ trong sự cầu nguyện, tán tụng và trong các mối liên hệ riêng tây để họ thoát khỏi cảnh tù ngục bởi những điều ngăn trở từ rất lâu đời rồi. Khi ăn năn quy đạo, họ đã không trông đợi Đức Chúa Trời hành động để thay đổi cuộc đời ương ngạnh, để chữa lành và để hướng dẫn họ thật rõ ràng, hiển nhiên. Họ đã quên rằng những biểu lộ của Đức Thánh Linh trong Tân Ước vốn có bản tính cụ thể bất ổn định. Phần lớn những chia rẽ trong Hội Thánh đã xảy đến cùng với những tín đồ Ngũ tuần vốn không phải là lỗi của chính họ, mà là chính do cái Cơ đốc giáo hẹp hòi, đầy sợ hãi, không thuộc linh mà nhiều người trong chúng ta từ lâu rồi vẫn muốn ở mãi trong các vùng nước hâm hẩm đó. Chúng ta vốn sợ hãi không dám lao mình vào từng trải sâu nhiệm về Đức Chúa Trời. Trong một thời đại mà Đức Thánh Linh đang đập tan vùng đất bỏ hoang và mọi chướng ngại vật do loài người tạo ra trên khắp thế giới, và bất chấp mọi giáo phái, thì thật là mỉa mai nếu chúng ta bị hụt mất điều vốn dành cho mình, bởi vì chúng ta khước từ, không chịu đi tìm bên dưới phần ngôn ngữ sai lầm mà người Ngũ tuần có thói quen dùng diễn tả từng trải sống động của họ về Đức Chúa Trời. Xin hãy để cho những ai muốn giữ lại mối liên hệ của Tân Ước giữa phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh và phép báp-tem bằng nước, sự xưng công bình, sự được thừa nhận làm con - tức là những điều để một người thật sự trở thành Cơ đốc nhân - hãy biết chắc rằng đó đúng là ý niệm họ đã tin nhận; đó là việc lặn sâu xuống bên dưới các dòng nước của Đức Thánh Linh để được chìm ngập trong Ngài, để Ngài tạo cho chúng ta một sức sống khiến người ta phải kinh ngạc không biết chúng ta có bị say rượu chăng - Chúng ta đã có phần quyền năng đó trong sự cầu nguyện, có sức mạnh đó để chống lại sự cám dỗ, có sự tăng trưởng để ngày càng trở nên giống Chúa Cứu thế hơn là những điều đã từng đánh dấu các cộng đồng của Chúa Cứu thế trong thời Tân Ước xưa kia khi chỉ một phép báp-tem duy nhất vốn là sợi dây trói buộc phía bên ngoài, hay chưa?
Các bầu da cũ.
Hồi thế kỷ thứ mười sáu, khi sự căng thẳng giữa truyền thống từng trải, giữa Cơ đốc giáo của nhà thờ và của đời sống mới trong Chúa Cứu thế được cảm nhận thật sắc bén, các nhà Cải Chánh đã không nói: “Hãy xóa bỏ hết mọi cơ cấu giáo hội! Đả đảo phép báp-tem bằng nước! bởi vì nó rõ ràng không đem đến sự tái sanh. Chỉ có sự xưng công bình là quan trọng mà thôi!” Thay vào đó, các vị ấy đã nói đến việc “cải thiện” phép báp-tem, và nói như thế là các vị ngụ ý rằng, phải làm sao bảo đảm được cái phần thực chất lẫn phần biểu tượng. Hãy tưởng tượng nếu các vị ấy sống vào thời đại hiện nay của chúng ta, chắc các vị ấy đã tự chứng tỏ mình là những học giả uyên thâm để không sẵn sàng sử dụng câu nói "phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” theo cách nhiều người Ngũ tuần đang dùng ngày nay; chắc các vị vẫn giữ lại ý nghĩa theo Kinh Thánh của từ ngữ ấy như một yếu tố thiên thượng trong bước đầu tiên của Cơ đốc nhân. Nhưng các vị cũng sẽ hoàn toàn đồng ý với những người Ngũ tuần để nhấn mạnh phần từng trải sâu nhiệm về Đức Chúa Trời. Chắc các vị sẽ kêu gọi chúng ta ngày nay hãy “cải thiện” phép báp-tem của chúng ta, để chắc chắn rằng chúng ta không chỉ đã được nhận chìm trong Đức Thánh Linh bằng biểu tượng suông qua phép báp-tem bằng nước mà thôi, nhưng bằng cả cuộc đời của chúng ta nữa. Phong trào Ngũ tuần đang nhắc Hội Thánh của Đức Chúa Trời nhớ lại việc hoàn toàn đầu phục Chúa là Thánh Linh đó, việc mở rộng lòng chúng ta ra để Ngài tràn ngập đời sống chúng ta. Nếu Hội Thánh không chịu chú ý đến, thì điều rất đáng tiếc có thể sẽ là phải có chai mới để đựng rượu mới vậy.


SỰ ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH
Hai bất ngờ đầu tiên về “sự đổ đầy”
Qua suốt lịch sử Hội Thánh, đặc điểm của những phong trào nên thánh là tuyên bố rằng sự đầy dẫy Đức Thánh Linh tùy thuộc việc Hội Thánh phải hội đủ các điều kiện đặc biệt. Ngôn từ có thay đổi: “trọn vẹn”, “tan vỡ”, “đầu phục trọn vẹn”, “nên thánh” tất cả đều đã được sử dụng, nhưng “được đầy dẫy Đức Thánh Linh" có lẽ là lời tuyên bố cận đại và rõ ràng nhất. Điều thông thường trong sách báo Ngũ tuần và Tân Ngũ tuần, là trong khi toàn thể các Cơ đốc nhân đều được dự phần vào Đức Thánh Linh đến một chừng mực nào đó, thì chỉ có những người “được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” mới có thể biết sự được đầy dẫy Ngài. Sự đổ đầy Đức Thánh Linh do chính Ngài đích thân đến, ngự trị thường xuyên và trọn vẹn trong lòng một người để trang bị người ấy phục vụ, chỉ có được bằng từng trải tột đỉnh là "phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”. Thật ra, “được đầy dẫy Đức Thánh Linh” thường được những người trong phong trào phục hưng dùng mô tả ai đó được chia xẻ cùng một từng trải ấy với họ, một tình trạng trái ngược lại để phân biệt với lối sống quanh quẩn chẳng đi đến đâu cả thông thường của các Cơ đốc nhân. Tân Ước đã nói gì về sự đầy dẫy Đức Thánh Linh?
Điều rất đáng ngạc nhiên, là Tân Ước đã chẳng nói gì cả. Từ ngữ Hi văn chỉ sự đầy dẫy là plèròma được dùng chỉ rất nhiều điều trong Tân Ước, cả cho Chúa Cứu thế lẫn cho Hội Thánh, nhưng chẳng bao giờ chỉ về Đức Thánh Linh. Đây không phải là điều quan trọng, vì ý niệm ấy có thể hiện diện mà không cần phải có một từ ngữ; nhưng nó có thể chứng minh rằng điều đó vốn không có căn cứ trong Kinh Thánh để người ta cố gắng biến sự “đầy dẫy Đức Thánh Linh”, thành một tiếng reo hò chiến trận dường như đó là một giáo lý tối quan trọng trong Kinh Thánh đã bị bỏ qua vậy.
Điểm thứ hai đáng lưu ý, là động từ “được đổ đầy”, pimplèsthai hầu như là độc quyền của Luca mà thôi. Trừ hai trường hợp trong sách Mathiơ, tất cả hai mươi hai lần xuất hiện khác của từ ngữ ấy đều tìm thấy trong sách Luca hay Công vụ. Hình dung từ “đầy” được lan tràn rộng rãi hơn, nhưng trong mười sáu lần nó xuất hiện thì đã mười một lần là trong hai sách Luca hoặc Công vụ. Rõ ràng đây là một từ ngữ mà Luca rất thích dùng. Thêm vào đó, thiết tưởng cần nói đến từ ngữ thông thường có nghĩa “đổ đầy”, plèroun, nhưng từ này chỉ được dùng hai lần để nói về Đức Thánh Linh (Cong Cv 13:52; Eph Ep 5:18) và hai lần được kết hợp lỏng lẻo với Ngài (RoRm 15:13 và tt CoCl 1:8, 9).
Hai cách dùng chính của từ “đầy dẫy”
Các từ này đã được dùng theo hai cách :
Một sự mô tả tổng quát.
Một trong hai cách trên là nói lên đặc điểm tổng quát của một người “được đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Thí dụ rõ rệt nhất về lối dùng này, tất nhiên là để chỉ Chúa Giê-Xu (LuLc 4:1), nhưng sau ngày lễ Ngũ tuần thỉnh thoảng Luca dùng nó chỉ các Cơ đốc nhân. Các phẩm cách đòi hỏi phải có nơi Bảy chấp sự trong Công vụ chương 6, là các vị ấy phải “đầy dẫy Đức Thánh Linh và trí khôn” Trong số đó, Êtiên được mô tả là “đầy đức tin và Thánh Linh” và điểm này được nhắc lại khi ông chịu tuận đạo (Cong Cv 7:55). Banaba là người thứ hai duy nhất được mô tả như vậy: “Banaba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin” (11:24). Dường như Luca dùng câu này để chỉ một người với đặc điểm là có tài điều khiển, cai trị, có địa vị kiểm soát chỉ huy. Như chúng ta đọc thấy về một người “mắc bệnh phung đầy mình” (LuLc 5:12) nghĩa là hoàn toàn bị chứng bệnh ấy bắt lấy, khống chế. Chúng ta đọc thấy Êlyma vốn “đầy mọi thứ gian trá và hung ác” (Cong Cv 13:10), và phải hiểu là hắn ta vốn bị những động cơ thúc đẩy xấu xa đó kiểm soát, khống chế. Do đó, câu “đầy dẫy Đức Thánh Linh” không phải là khó tìm hiểu. Nó có nghĩa là một người thường xuyên được Chúa Thánh Linh cai trị và điều khiển như chính Chúa Giê-Xu vậy. Và không có gợi ý nào về tình trạng đó của người ấy vốn do một nghi lễ hay từng trải đặc trưng nào.
Sự đổ đầy thình lình.
Cách thứ hai, khái niệm được đổ đầy Đức Thánh Linh mà chúng ta gặp trong Kinh Thánh, hoàn toàn khác. Nó không chỉ các đặc điểm ổn định cho cả cuộc đời, mà chỉ sự linh cảm đột ngột trong khoảnh khắc. Các thí dụ về sự xuất hiện của nó như sẽ được kể ra sau đây, đáng chú ý hơn hết vì nhiều khi nó mang đặc tính của điều mà chúng ta gọi là “phong trào ân tứ”, và nhiều khi lại là đặc tính của “phong trào phi-ân tứ”. Nhưng điều lạ lùng nhất là trường hợp đầu tiên của Giăng Báptít. Vì lời hứa cho Xa-cha-ri là "Người...sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ” (LuLc 1:15). Nhưng một câu như vậy không thể hòa hợp với một khuôn mẫu thần học có sẵn nào, của bất luận một người nào được, và việc nó không hòa hợp được cũng rất đúng! Vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời. Ngài có quyền tự do hành động theo ý chỉ và chủ đích tể trị của Ngài. Nếu Ngài quyết định đổ đầy Thánh Linh Ngài cho Giăng Báptít ngay từ lúc ông còn trong lòng mẹ, thì chúng ta là ai mà dám cản ngăn? Tuy nhiên, cần nhớ rằng ở đây và trong hai chỗ tiếp theo đây nữa, chúng ta không bàn tới chuyện Cơ đốc nhân từng trải sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là điều chỉ có thể xảy ra sau khi Chúa Giê-Xu đã chịu chết và được tôn vinh, mà chỉ bàn tới một cái gì có liên hệ gần gũi hơn với ruach adonai của thời Cựu Ước. Tuy Giăng Báptít vốn vĩ đại, ông chỉ về hướng nước Trời, nhưng không phải là một thành viên của nước ấy, ông không hưởng được các phước hạnh riêng biệt của nó, là sự hiện diện của Thánh Linh của Đức Chúa Giê-Xu trong lòng mình (Mat Mt 11:11).
Có lẽ việc nhấn mạnh rằng Giăng Báptít vốn được đầy dẫy Đức Thánh Linh ngay từ trong lòng mẹ, là do sự kiện Tân Ước nhìn thấy ông như “tiếng kêu của người trong đồng vắng: Hãy dọn đường cho Chúa”. Ông vốn có chức năng của một nhà tiên tri, và các nhà tiên tri đều được trang bị bằng Thần của Đức Giê-hô-va để có thể truyền rao lời Ngài. Đây chính là ý nghĩa muốn nói khi Êlisabét (1:41) và Xa-cha-ri (1:67) được bảo cho biết là họ đầy dẫy Đức Thánh Linh. Chủ đích trong cả hai trường hợp, đều được bày tỏ rõ ràng; phải được như vậy thì cả hai mới có thể nói tiên tri. Đức Thánh Linh đã giáng trên họ, đầy dẫy họ, để khiến họ nói ra những lời được linh cảm.
Năm chỗ sau ngày lễ Ngũ tuần.
Nhưng chính những khúc sách tiếp sau lễ Ngũ tuần mới được chúng ta chú trọng trước hết. Chúng ta có phân biệt được những gì đã nói về số người được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong sách Công vụ, có những điểm hướng dẫn rõ ràng nào cho chúng ta ngày nay không?
Đã có đúng năm trường hợp.
Trước nhất, là vào ngày lễ Ngũ tuần, lúc “các lưỡi như bằng lửa” đậu trên các môn đồ Chúa, và họ “đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Kết quả của sự đổ đầy đầu tiên, tối quan trọng này là gì? Họ đã nói các ngôn ngữ khác, lớn tiếng ca tụng Đức Chúa Trời, mạnh dạn truyền giảng Tin Lành một cách thành công; và phát ngôn nhân của họ là Phi-e-rơ. Đức Thánh Linh đã trang bị họ để phục vụ, mở trói cho lưỡi họ được tự do ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời, khiến họ nói được nhiều ngôn ngữ. Người tín đồ Ngũ tuần nhấn mạnh trên những đặc điểm đó của việc được đổ đầy Đức Thánh Linh là hoàn toàn đúng. Nhưng khi họ đi đến chỗ cực đoan của biến cố ấy, và cả quyết rằng được đầy dẫy Đức Thánh Linh thì bao giờ cũng phải có các kết quả giống y như thế, là họ đã phạm một lỗi lầm nghiêm trọng. Nhưng họ cả quyết rằng sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là từng trải duy nhất không hề được lập lại, đưa một người lên một vùng cao nguyên mà từ đó về sau người ấy sẽ chẳng bao giờ bước xuống nữa, là họ cùng phạm lỗi lầm nghiêm trọng tương tự - tuy không nghiêm trọng bằng những Cơ đốc nhân đã bị buộc chặt vào đất này và vốn không tin có một vùng cao nguyên thuộc linh nào để chúng ta phải trèo lên cả. Chúng ta sẽ tìm thấy gì trong chỗ thứ hai đề cập việc được đổ đầy Đức Thánh Linh?
Nó xảy ra ở Cong Cv 4:8 và liên hệ đến Phi-e-rơ. Tuy đã được đổ đầy rồi trong ngày lễ Ngũ tuần, ông còn được đổ đầy Thánh Linh lần nữa, và vì chủ đích tối quan trọng là làm chứng cho Chúa Giê-Xu. Đã không có tiếng lạ, không có lời ca ngợi tán tụng, không có cái- từng-trải-chẳng-bao-giờ-được-lặp-lại-nữa, mà chỉ có sự mạnh dạn truyền giảng Tin Lành. Chúa Giê-Xu từng dạy các môn đồ Ngài hãy trông mong Đức Thánh Linh sẽ trang bị cho họ để bất thần làm chứng trong những trường hợp như vậy (10:19 và tt). Và Phi-e-rơ đã từng trải điều đó, cũng như vô số các chứng nhân Cơ đốc từ bấy giờ đến nay. Đây là sự đổ đầy đặc biệt nhằm đáp ứng một cơ hội đặc biệt.
Thứ ba, Hội Thánh non trẻ, đã dấn sâu vào việc cầu thay (4:31). Họ hoàn toàn gieo mình vào sự lệ thuộc Đức Chúa Trời. Kết quả là họ “rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ”.
Chính điểm nhấn mạnh vào việc làm chứng này là đặc điểm của chỗ thứ tư đề cập một người được đổ đầy Đức Thánh Linh. Lần này là Sau-lơ người Tạtsơ. Theo lịnh truyền của Chúa, Anania đến với ông, khiến đôi mắt đã bị mù của ông lại tràn đầy ánh sáng và cuộc đời trống rỗng của ông được đổ đầy Đức Thánh Linh (9:17). Chúng ta đọc thấy ông được sáng mắt trở lại, chịu phép báp-tem, ăn uống và được tăng cường sức lực, rồi ông đi ra, dũng cảm làm chứng về Chúa Giê-Xu ngay trong thành phố mà trước đó ông định đến tìm tất cả mọi người theo Chúa Giê-Xu mà ông tìm được để bắt giam.
Chỗ thứ năm là trong 13:9. Êlyma cậy tà thuật để tranh giành với Phaolô linh hồn của quan trấn thủ Chíprơ, người La mã tên Sê-giút Phao-lút, là người mà dường như ông ta đã nhờ cậy để được địa vị cao trọng. Dường như muốn đối chiếu quyền năng của Đức Thánh Linh với quyền lực của tà thuật, Luca ghi lại rằng Phaolô được đầy dẫy Đức Thánh Linh, còn Êlyma thình lình lại bị mù - kẻ từng lên mặt chỉ dẫn cho người khác, bây giờ lại phải chịu đưa tay ra cho người khác dẫn đường - và quan trấn thủ đã theo đạo. Hẳn việc Êlyma bị mù một cách kỳ lạ đã góp phần lớn vào việc thuyết phục ông ta về quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta được bảo cho biết, thật ra điều khiến ông ta kinh ngạc là “sự dạy dỗ của Chúa”. Một lần nữa, sự đầy dẫy Đức Thánh Linh trực tiếp liên hệ với việc làm chứng đạo.
Còn có một cơ hội khác nữa trong sách Công vụ, chúng ta thấy một từ ngữ khác đã được dùng chỉ việc được đổ đầy Đức Thánh Linh. Trong 13:52, chúng ta đọc thấy các môn đệ tại Bisiđi và Antiốt được đầy dẫy sự vui vẻ và Đức Thánh Linh. Toàn bản văn ấy đã soi sáng cho chúng ta. Đây là một trường hợp làm chứng đạo trong khi đang bị bách hại. Họ đang làm tròn vai trò của Người Đầy Tớ khi soi sáng cho người ngoại bang bằng cách đem sự cứu rỗi đến các đầu cùng đất (13:47). Họ đang nhận lấy số phận chịu khổ của Người Đầy Tớ trong việc bị thiên hạ chối bỏ và chống đối. Và họ đã được hưởng phần trang bị của Người Đầy Tớ thật đúng lúc đó là chính Đức Thánh Linh Ngài.
Kết luận.
Nếu nhìn lại những chỗ đề cập việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh này, chúng ta có thể kết luận như thế nào? Chắc chắn phải nói rằng các Cơ đốc nhân phải được đổ đầy Đức Thánh Linh như chính Chúa Giê-Xu (LuLc 4:1), như Êtiên (Cong Cv 6:5), như Banaba (11:24) và như Bảy Chấp Sự (6:3) vậy. Đây phải là tình trạng liên tục của một Cơ đốc nhân, nhưng người ấy còn có thể trông đợi những lần được đặc biệt đổ đầy Đức Thánh Linh nhân những cơ hội đặc biệt, nhất là khi có cơ hội để làm chứng cho Chúa Cứu thế . Nhấn mạnh rằng vào ngày lễ Ngũ tuần, việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh đã tự bày tỏ ra qua việc nói các thứ tiếng và trong trường hợp của Êlyma, thì được tự bày tỏ ra bằng một phép lạ, là đúng. Những người “không được ân tứ” thường hay quên mất điều đó. Nhưng điều quan trọng cũng cần phải nhớ là việc mạnh dạn làm chứng đạo, một buổi nhóm lại để hiệp một với nhau cầu nguyện, việc quản trị Hội Thánh một cách khiêm tốn, và lời làm chứng can đảm, vui vẻ trong lúc bị bắt bớ bách hại, cũng là những dấu hiệu không hề thua kém về những người đã được đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
“Hãy đầy dẫy Đức Thánh Linh ”
Ý nghĩa của Êphêsô 5:18.
Trong ánh sáng của tất cả những điều vừa nói, chúng ta phải nghĩ thế nào về lệnh truyền trong Eph Ep 5:18 rằng chúng ta đừng say rượu nhưng hãy đầy dẫy Đức Thánh Linh? Ta có thể đưa ra cách giải nghĩa hợp lý của giáo hội Ngũ tuần. So sánh những hiệu quả của Đức Thánh Linh với việc say rượu tự nhiên kéo chúng ta về với những gì có thể đã xảy ra vào ngày lễ Ngũ tuần; sự ca hát tán tụng Chúa, luôn luôn dâng lời cảm tạ Ngài, thông hiểu ý chỉ Ngài, được đề cập trong đoạn văn tiếp ngay sau đó, tất cả đều có thể ám chỉ các ân tứ phục hưng của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên nếu xét kỹ cả mạch văn, nó sẽ gợi ý khác hơn thế. Ở đây, Phaolô đang đưa ra những lời giáo huấn về cách ăn ở của Cơ đốc nhân. Ánh sáng Tin Lành chiếu vào những nơi tối tăm, do đó, các Cơ đốc nhân cần thận trọng về cách ăn ở của mình, phải mau mắn lợi dụng các cơ hội để phục vụ, chú tâm phân biệt và noi theo sự hướng dẫn của Chúa. Họ không nên để cho rượu kích thích mình, cần phải từ bỏ việc làm quá độ đó. Nhưng nếu do Đức Thánh Linh tác động thì không dẫn đến hiệu quả như vậy. Người đầy dẫy Ngài cũng đầy dẫy sự vui mừng, lời cảm tạ Chúa, và sẵn sàng thuận phục các chi thể khác trong Thân thể Chúa Cứu thế do tình yêu thương. Rồi ông tiếp tục bàn đến những gương tốt - về vợ chồng, chủ, tớ. Tuy không loại bỏ việc Phaolô có thể đang nghĩ đến một vài ân tứ đặc biệt nào đó của Đức Thánh Linh, rõ ràng lịnh truyền của ông ở đây là cho toàn thể Cơ đốc nhân bất chấp những ân tứ họ đang có. Mọi người đều được lịnh phải đầy dẫy Đức Thánh Linh hầu làm tròn chức năng chiếu ra sự sáng của mình trong xã hội. Một lần nữa, chúng ta lại thấy nếu các từ ngữ được phác họa theo nghĩa rộng rãi nhất, thì Tân Ước tin quyết rằng Đức Thánh Linh vốn được dành cho nhiệm vụ truyền giáo. Theo thiển ý, thì giải nghĩa Eph Ep 5:18 như trên đây là đúng, và điều đó được sự hậu thuẫn của hai khúc sách có phần nào liên hệ với điều tôi đề cập trước đây.
Hai khúc sách làm hậu thuẫn.
Trong RoRm 13:13, là một liên văn dành riêng cho công tác truyền giáo giữa người ngoại bang, Phaolô cầu nguyện để họ được đầy dẫy hi vọng, niềm vui và sự bình an khi tin Chúa, vì họ đã được Đức Thánh Linh ban quyền năng cho. Rõ ràng ông đã kết hợp các đức hạnh của Đức Thánh Linh với việc được đầy dẫy Ngài. Tương tự trong CoCl 1:8, 9, Phaolô dâng lên lời cảm tạ về tình yêu thương của họ trong Đức Thánh Linh và cầu xin cho họ được đầy dẫy sự hiểu biết ý chỉ Đức Chúa Trời, thì cũng vậy - ấy là để đời sống họ biết nhờ cậy Chúa hầu có kết quả cho Ngài, được tăng thêm sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, và được tăng cường sức lực để kiên trì chịu đựng gian khổ, nhẫn nhục làm chứng về việc Đức Chúa Trời đã giải thoát khỏi tối tăm để đưa họ vào nước của Con yêu thương Ngài. Cả phạm vi rộng lớn đó đều ám chỉ việc được đầy dẫy Đức Thánh Linh, những gì mà từ ngữ ấy nói lên rõ ràng là vắng bóng một sự gợi ý quả quyết về một cơn phục hưng, nhưng những hàm ý về nếp sống đạo đức của Thánh Linh của Chúa Giê-Xu vốn được đặt lên phía trước. Đầy dẫy Đức Thánh Linh có nghĩa là để cho Chúa Giê-Xu nắm trọn quyền kiểm soát đời sống chúng ta mà chúng ta ý thức được. Bao lâu chúng ta làm như vậy, thì chúng ta luôn tìm ra được những lãnh vực mới mẻ có xu hướng về-bản-ngã để giao nộp cho Chúa. Khi Chúa chiếm hữu chúng ta ngày càng trọn vẹn hơn bởi Thánh Linh Ngài. Toàn thể các Cơ đốc nhân đều được kêu gọi đến sự đầu phục ấy. Đây không phải là một sự hoán chuyển chỉ cần làm một lần là đủ cả. Trong nguyên văn, câu này có nghĩa là “hãy cứ tiếp tục đầy dẫy Đức Thánh Linh”.
Phép báp-tem và sự đầy dẫy.
Như vậy, nếu phép báp-tem trong Thánh Linh là từng trải đầu tiên về Chúa Cứu thế được Thánh Linh đem đến để đáp lại sự ăn năn, đức tin và làm phép báp-tem, thì sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là tình trạng tiếp tục sau đó của Cơ đốc nhân. Nó không phải là một vùng cao nguyên mà bạn được đặt vào trong một giai đoạn thứ hai nào đó sau bước bắt đầu, một vùng cao nguyên làm ngăn cách bạn với các Cơ đốc nhân khác không có cùng một từng trải như bạn. Dầu sao, Tân Ước cũng không hậu thuẫn cho quan điểm ấy. Nói trắng ra, chúng ta phải ngày càng được đầy dẫy càng hơn Thánh Linh của Chúa Cứu thế Giê-Xu chúng ta. Địa vị này có thể bị mất đi qua sự không vâng lời (thí dụ Cong Cv 5:3, 9; 7:51). Và nó cũng có thể được lại bằng sự ăn năn cầu xin Đức Chúa Trời lại đổ đầy chúng ta cách tươi mới. Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho người vâng lời Ngài (Cong Cv 5:22) và cầu xin Ngài (LuLc 11:13).
Tôi khám phá điều này chẳng bao lâu sau khi ăn năn quy đạo, khi tôi dành cho Ngài quyền làm Chúa một lãnh vực mà vì không vâng lời và ích kỷ, tôi đã đánh giá nó rất cao; sau cuộc chiến đấu và chịu đầu hàng, lòng tôi tràn ngập niềm vui và bình an, cùng với một ý thức về quyền năng Ngài. Nếu muốn, bạn có thể gọi đó là một phước hạnh thứ hai. Nhưng xin đừng bỏ mặc cho nó an nghỉ tại đó. Từ đó trở đi, đã nhiều lần tôi có được nhiều từng trải tương tự khi tôi tăng trưởng trong sự thông biết Chúa và sống trong Đức Thánh Linh. Nếu được nhấn mạnh quá đáng, một phước hạnh thứ hai có thể bị khiến thành cứng nhắc. Chúng ta hãy trông đợi một phước hạnh thứ ba, và một phước hạnh thứ một trăm lẻ ba nữa,v.v... khi bươn bả tiến lên trên con đường hướng thượng, vì đó là chủ đích khiến Chúa Cứu thế đặt tay Ngài trên chúng ta.
Thật ra, bất luận một tình trạng đặc biệt nào được định nghĩa là “được đầy dẫy Đức Thánh Linh” đều cũng nguy hiểm và rất ít được Tân Ước hậu thuẫn. Thiết tưởng chúng ta cần bỏ công tìm hiểu xem tại sao lại như vậy.
Nguy cơ của việc rêu rao độc quyền được “đầy dẫy”
Sai lầm của người Galati.
Trước hết, bất luận một giáo thuyết nào dành độc quyền cho sự đầy dẫy Đức Thánh Linh tiếp sau việc ăn năn quy đạo, cho rằng đó là điều thiết yếu trong sinh hoạt Cơ đốc nhân có phẩm chất cao, đều phải đương đầu với những chỉ trích khe khắt của Phaolô chống lại một hoàn cảnh tương tự trong các thư tín ông gởi cho người Galati và người Côlôse. Một số giáo sư tại Galati đã chủ trương rằng nếu bạn không giữ luật pháp Do thái giáo và chịu phép cắt bì, thì hoặc bạn chỉ là một Cơ đốc nhân hạng nhì, hoặc bạn chẳng phải là Cơ đốc nhân chi cả. Toàn thể trọng tâm của bức thư đầy tình yêu thương tha thiết ông dành cho họ, ấy là khẳng định với họ rằng chính Chúa Cứu thế và chỉ một mình Chúa Cứu thế mà thôi, mới là con đường cứu rỗi. Chính là nhờ đức tin nơi Chúa Cứu thế “chịu phơi thây trước mặt họ như một tên tử tội bị đóng đinh vào thập tự giá” mà người Galati được bước vào lãnh vực của Đức Thánh Linh; và giờ đây, bằng cách thêm vào một đòi hỏi khác nữa ngoài ra Chúa Cứu thế ( tức là việc giữ luật pháp) họ ngụ ý rằng Chúa Giê-Xu vẫn chưa phải là đầy đủ. Toàn thể mũi nhọn trong bức thư của ông đều nhằm đánh đổ lời gièm pha Chúa Cứu thế đó. Ông đã giận dữ bảo rằng thà họ tự chặt mình còn hơn (GaGl 5:12).
Sai lầm của người Côlôse.
Tại Côlôse, điều gây rắc rối không phải là luật pháp chủ nghĩa, nhưng là một triết lý hòa đồng. Người ta lý luận rằng Chúa Giê-Xu chỉ là một trong những hữu thể trung gian, đưa người ta đến với Đức Chúa Trời, rằng Ngài góp phần của loài người vào sự đầy đủ trọn vẹn của Đức Chúa Trời, rằng Ngài là một đại diện đã thực hiện sự cứu rỗi rất thành công, nhưng không phải là vị đại diện duy nhất, nắm độc quyền. Câu trả lời của Phaolô cho vấn đề này thật sắc sảo và dứt khoát. Chỉ một mình Chúa Cứu thế, vừa là Đấng đại diện trong công cuộc sáng tạo trời đất, vừa là Đấng đại diện để giữ gìn nó bởi sự chết Ngài trên thập tự giá, nên có thể cứu chuộc loài người (CoCl 1:14-20). Trái hẳn với tư tưởng cho rằng Chúa Giê-Xu chỉ là một phần trong công tác trung gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, họ phải biết rằng trong Chúa Cứu thế có sự đầy đủ trọn vẹn của Đức Chúa Trời trong hình thể (con người), và họ có được đầy dẫy mọi sự trong Ngài (2:9). Lời tuyên bố này là chính xác và rất độc quyền. Sự đầy đủ trọn vẹn của Đức Chúa Trời vốn tập trung trong Chúa Cứu thế, và chỉ trong một mình Ngài mà thôi. Nó không bị phân tán giữa nhiều hữu thể khác nhau trong không trung như bọn tà giáo tại Côlôse truyền dạy mà phải tìm “sự đầy dẫy trọn vẹn” trong Ngài. Hơn nữa, trong Hi văn có một từ ngữ có nghĩa mạnh và một từ ngữ có nghĩa yếu để chỉ Đức Chúa Trời và từ mà Phaolô dùng là từ có nghĩa mạnh. Có một từ ngữ chỉ sự cư trú vĩnh viễn, và một từ ngữ nói lên việc tạm trú mà thôi, và một lần nữa, từ mà ông dùng là từ theo nghĩa trước. Và như một đòn cuối cùng, ông nói thêm: “như có hình” (in bodily form), nghĩa là Chúa Giê-Xu của lịch sử, sống, chết, rồi sống lại và đã từng được giới thiệu cho họ như là điểm gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và loài người. Rõ ràng Phaolô không hề đồng ý với bất luận một giáo thuyết nào chỉ xem Chúa Giê-Xu như người tiền khu rao báo về một phước hạnh thuộc linh sau này. Người từng nhấn mạnh là “Không” đối với tiếng kêu gào “Chúa Giê-Xu và phép cắt bì” hoặc “Chúa Giê-Xu và các thiên sứ đứng trung gian”, chắc chắn không có chỗ đứng nào cho giáo thuyết muốn nói rằng “Anh em phải có Chúa Giê-Xu và sự đầy dẫy Đức Thánh Linh thì đạt đến đỉnh cao của sinh hoạt Cơ đốc nhân”. Thật ra, ông tiếp tục nhắc nhở người Côlôse rằng thay vì cần bắt đầu một bước khác nữa để đi vào các huyền nhiệm và khải tượng thuộc linh sâu xa hơn (2:19 và tt) thay vì cần có nhiều tài nguyên thuộc linh phong phú hơn nữa (1:15-20), thì họ vốn đã có đầy đủ mọi sự trong Chúa Cứu thế rồi vì chính Ngài mang trong người sự đầy đủ trọn vẹn, và “sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa trời thảy đều ở trong Chúa Cứu thế “ (2:9). Đứng trước câu này, thật khó mà chủ trương rằng Phaolô sẽ hậu thuẫn cho một giáo thuyết về phước hạnh thứ hai nào biện hộ cho sự đầy đủ trọn vẹn được thêm vào với Chúa Cứu thế .
Những sai lầm của người Côrinhtô.
Hơn nữa, nếu chúng ta rêu rao có cá nhân độc quyền sở hữu sự đầy dẫy Đức Thánh Linh, là chúng ta bị sa vào những nguy cơ rõ rệt tại Côrinhtô. Tôi cho rằng các nguy cơ này gồm năm phương diện:
Trước hết, toàn thái độ của họ là theo lối Trí huệ phái. Thuyết ấy dành độc quyền về một hình thức hiểu biết khiến họ trở thành cao trọng hơn các Cơ đốc nhân bình thường. Phaolô đã phải nhắc nhở họ: sự hay biết sanh kiêu căng, còn sự yêu thương thì xây dựng (ICo1Cr 8:1).
Thứ hai, cũng như số người theo Trí huệ phái, người Côrinhtô chẳng chú ý gì đến sự sống lại hay một vương quốc nào trong tương lai; họ hiện đã được đầy đủ rồi, đã bắt đầu cầm quyền cai trị rồi (ICo1Cr 15:1-58 và 4:8 và tt). Vị sứ đồ đã mỉa mai trả lời họ: “Thật mong cho anh em cai trị, có lẽ rồi tôi cũng được anh em chia phần cho chăng!" Rồi ông nhắc họ rằng tuy ông làm sứ đồ, nhưng vẫn cùng chia xẻ sự gian khổ, sự bị chối bỏ, và phải trả giá cao của người làm môn đệ Chúa, là những điều đã đánh dấu rõ nét trong cuộc đời của Chúa Giê-Xu. Họ cần nhớ rằng đời sống của Cơ đốc nhân chân chính phải được đánh dấu bằng thập tự giá cũng như bằng sự sống lại. Sự đầy đủ trọn vẹn tối hậu được có với Chúa Cứu thế trên thiên đàng, còn ai rêu rao mình được đầy đủ trọn vẹn trong hiện tại, là cưỡng chiếm trước tương lai của Đức Chúa Trời cách bất hợp lệ.
Thứ ba, mặc dầu đã rêu rao là được đầy đủ rồi, đã vào được thiên đàng để cai trị rồi, nhưng người Côrinhtô đang gặp nhiều khó khăn vì họ rất khiếm khuyết trong cách ăn ở của Cơ đốc nhân. Gây bè kết đảng, kiện tụng tranh chấp, sống vô luân vô đạo đến mức độ chưa từng nghe xảy ra dù ngay trong vòng người ngoại đạo, cộng với sự tham lam và mất trật tự trong khi hội họp, là dấu hiệu của đời sống họ. Vì thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Phaolô phải trách họ là Cơ đốc nhân xác thịt. Thế nhưng, đây là những người đã có các ân tứ nói tiếng lạ, làm phép lạ, có đức tin, chữa bệnh và các ân tứ giống như vậy, khiến họ tin quyết mình là những con cái được đặc ân của thiên đàng và tưởng rằng mình đã đầy đủ rồi! Một điều nhận xét khác nữa, ấy là những kẻ nói nhiều nhất rằng mình được đầy dẫy Đức Thánh Linh lại thường bị các linh Spirit (trong Anh văn) khác cai trị, chẳng hạn như tinh thần kiêu căng, chia bè lập đảng, gây rối, thiếu tình yêu thương và hay chỉ trích. Thật là khó thấy thể nào một người đầy dẫy Đức Thánh Linh được, nếu những thất bại rõ rệt đó cứ tồn tại.
Thứ tư, người Côrinhtô vốn có khuynh hướng coi trọng từng trải đến mức cực đoan. Họ bị các ân tứ siêu nhiên của Đức Thánh Linh thu hút trên hết mọi sự. Chính việc nói tiếng lạ và làm phép lạ đã gây xúc động mạnh nhất cho họ. Và một phần mũi dùi trong câu trả lời của Phaolô là nhằm đả phá sự phân biệt giữa cái “tự nhiên” và cái “siêu nhiên” mà họ mê thích đó. Thí dụ như trong quyển sách của Harold Horton nhan đề ‘Các ân tứ của Đức Thánh Linh (The Gifts of the Spirit), chủ trương lập trường thông thường của Hội Ngũ tuần là có chín ân tứ của Đức Thánh Linh, không hơn không kém (ICo1Cr 12:8 và tt), và ông nói rằng “điểm nhấn mạnh được đặt một trăm phần trăm trên đặc tính siêu nhiên của từng ân tứ một và trong tất cả các ân tứ” (tr.8). Tuy nhiên cả Phaolô lẫn các trước giả Kinh Thánh khác đều không có ai chia cắt cái “tự nhiên” với cái “siêu nhiên” cả. Cũng như Kinh Thánh không cho phép tách rời việc tạo dựng với việc cứu chuộc (cả hai vốn gắn liền nhau như hai mặt bổ túc cho nhau trong việc Đức Chúa Trời tự bày tỏ mình ra), thì cũng vậy, Kinh Thánh không hề biết tới việc tách rời cái tự nhiên với cái siêu nhiên. Toàn thể chân lý của Đức Chúa Trời đều là chân lý cả; toàn thể ân tứ đều là ân tứ; thiên nhiên và ân điển, cả hai đều xuất phát từ cùng một Tác giả. Khái niệm về cái tự nhiên và cái siêu nhiên là của người Hi lạp chớ không phải của Cơ đốc giáo, và đánh giá những cái gọi là ân tứ siêu nhiên của Đức Thánh Linh cao hơn cái tự nhiên, tức là chống lại với Đức Chúa Trời đã nhập thể trong Chúa Cứu thế . Nhưng đó chính là sai lầm mà người Côrinhtô mắc phải, và ngày nay, nó cũng rất thường được lặp lại giữa vòng các Cơ đốc nhân vẫn coi rẻ “kẻ cứu giúp, cai quản, thầy giáo” của 12:28 và tiếp theo, mà lại đề cao “kẻ làm phép lạ, chữa bệnh, nói tiếng lạ”. Họ vẫn cần phải học hỏi về sự lệ thuộc, nhờ cậy lẫn nhau trong thân thể Chúa Cứu thế, và trong chương 12 của thư tín ấy, Phaolô đã phải kêu gọi họ hãy làm như vậy.
Điều này tự nhiên dẫn tới cơ nguy thứ năm trong lập trường của người Côrinhtô. Nó vốn có tính cách cá nhân cực đoan. Đó cũng là điều được nói rất nhiều hiện nay về sự đầy dẫy Đức Thánh Linh. Người ta ngụ ý rằng đó là một đức hạnh riêng mà người ta có thể có, độc lập với số người còn lại trong cộng đồng Cơ đốc giáo. Quả thật cần có các Cơ đốc nhân có biệt tài lãnh đạo và dâng mình cho Đức Chúa Trời mới kéo được nhiều người khác theo mình, và điều rất ý nghĩa là bất cứ khi nào Tân Ước sử dụng từ ngữ “đầy dẫy”, thì nó vẫn có nghĩa tập thể chớ không có nghĩa cá thể. Chúng ta đã ghi nhận trong CoCl 2:9 là “sự đầy dẫy” vốn được dành cho Chúa Cứu thế; và tiếp theo là “anh em (số nhiều) nhờ Ngài mà có được đầy dẫy mọi sự”. Cũng vậy, trong Eph Ep 1:23, Hội Thánh tuy-rất-khác-nhau-nhưng-hiệp-một được gọi là plèròma của Chúa Cứu thế, là sự “đầy dẫy” hay phần “bổ túc” cho Ngài. Hơn nữa, trong 3:17 và tt, khi Phaolô cầu nguyện cho các bạn thân người Êphêsô của ông được tăng trưởng, ông khẩn xin để họ được “hiệp cùng các thánh đồ” mà đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, hầu được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời. Trong câu 5:18 cần nhớ rằng lời khuyên hãy đầy dẫy Đức Thánh Linh vốn theo số nhiều. Nói khác đi, nói về sự đầy dẫy Đức Thánh Linh chỉ theo nghĩa cá nhân mà thôi thì chẳng có ý nghĩa bao nhiêu, và chắc chắn là không đúng lắm với Kinh Thánh. Đức Chúa Trời vốn quan tâm đến sự khác-nhau-nhưng-hiệp-một trong Thân thể Chúa Cứu thế có Đức Thánh Linh, cũng như chính sự cứu rỗi, vốn có tính cách tập thể chẳng kém gì tính cách cá nhân.
Những lời nhắc nhở.
Vì tất cả các lý do vừa kể, thiết tưởng chúng ta phải thận trọng, đừng rêu rao rằng mình đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Một lời rêu rao như thế thường là thiếu trưởng thành và có tính cách cá nhân, nhiều khi hầu như còn mang tinh thần Trí huệ phái nữa ở chỗ nó muốn dành độc quyền đối với các Cơ đốc nhân khác. Cũng rất nguy hiểm vì thêm một cái gì đó vào sự đầy dẫy trọn vẹn của Chúa Cứu thế, và thường bị những khuyết điểm về đạo đức chứng minh ngược lại, và lại căn cứ trên sự phân biệt phi-Cơ đốc giữa cái tự nhiên và cái siêu nhiên. Thế nhưng chúng ta sẽ lâm vào một trường hợp còn tệ hại hơn nhiều nếu vì để phản đối cách nói năng thiếu chính xác và nền thần học thiếu phân minh của một vài người Ngũ tuần, chúng ta lại không chịu thi đua với sự hiến thân thật sự của họ cho Chúa Cứu thế, đời sống hi sinh của họ, đức tin của họ vào sự thực hữu của Đức Chúa Trời và vào lòng sẵn sàng mà Ngài đã phán dạy, ban quyền năng, chữa lành và giải thoát người ta khỏi xiềng xích của các tà linh. Bao lâu Cơ đốc giáo của thế kỷ hai mươi vẫn còn vô năng vô quyền, còn bị buộc chặt vào đất này, còn tỏ ra hoài nghi và quên đi cuộc chiến đấu thuộc linh và nhu cầu phải thức canh cầu nguyện, thì chừng đó, điều mà hệ phái Ngũ tuần nhấn mạnh vẫn còn tiếp tục thách thức và chê trách những kẻ vốn có nền thần học có lẽ là vững chắc phần nền tảng, nhưng lại kém thiếu hơn nhiều phần hiểu biết và từng trải về Đức Chúa Trời hằng sống.
Một Hội thánh đầy dẫy Đức Thánh Linh?
Một Hội Thánh vẫn tồn tại.
Tôi xin kết thúc chương này bằng một nét sơ phác về một Hội Thánh tôi đã đến thăm mấy năm trước đây, môt nơi hiếm hoi mà tôi nhận biết trước sự đầy dẫy Đức Thánh Linh. Nó không thuộc về một giáo phái nào trong số các giáo phái đã được công nhận. Người ta đến từ nhiều Hội Thánh khác đã không được sưởi ấm hay được nuôi dưỡng đầy đủ, họ đã quay quần với nhau tại đây; các thành phần cấu thành gồm nhiều Hội Thánh có cách thờ phượng theo nghi thức tế lễ (liturgical) như Công giáo La mã, Anh quốc giáo và Giáo hội theo Luther; có cả tín đồ Mennonites, Giám lý, Báptít, Anh em và Ngũ tuần. Nhưng phần đông họ vốn chẳng đến từ một Hội Thánh nào cả; họ đã ăn năn tin Chúa tại đây. Nhà thờ đông nghẹt người, nhóm lại ba lần mỗi chúa nhật. Năm trăm người đã nhóm lại như vậy, chật cả các ghế ngồi, chật luôn cả nền nhà. Phần tiếp đón mọi người đến thật đặc biệt: nồng ấm và bao dung. “Hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau” được thực hiện đúng nghĩa đen. Buổi nhóm kéo dài hai tiếng đồng hồ, nhưng qua nhanh như chỉ mấy phút. Mọi người thật sự cảm nhận được sự hiệp nên một Thân trong Chúa Cứu thế. Vị mục sư và người phụ tá cũng góp phần trong buổi nhóm, nhưng không phải phần nổi bật có ảnh hưởng lớn. Họ ngồi chung với mọi người khiến chẳng ai phân biệt được, ăn mặc y phục thường thường. Những người đầu đường xó chợ, lêu lổng lang thang với các giáo sư, các bà nội trợ ngồi xen lẫn nhau cách vui vẻ và thật tự nhiên trong buổi nhóm thờ phượng. Tất cả các nhóm người tiêu biểu cho đủ hạng tuổi, cả nam lẫn nữ đều hiện diện, đa số dưới ba mươi tuổi, cũng có môt số người trên tuổi ấy. Không có ban hợp xướng: cả hội chúng đều ca hát, dâng lòng mình cho Chúa. Được cùng hát ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời với hội chúng này thật là một từng trải không thể nào quên được. Chúng tôi như được nhấc cao ra khỏi chính mình để bước vào sự thờ phượng Chúa. Có một khoảng thời gian để hát bằng các thứ tiếng ân tứ, và các âm thanh khác nhau được hòa điệu chỉ bởi sư hài hòa, rập ràng với nhau từ đầu chí cuối mà thôi, như là theo sự ra dấu của một người hướng dẫn vậy; nhưng đã chẳng có ai hướng dẫn cả - dù chỉ là sự hướng dẫn của một người nào đó. Một người hát bằng tiếng lạ, rồi giải nghĩa bằng tiếng hát. Phần giải nghĩa khớp đúng với giọng hát bà ta vừa hát bằng tiếng lạ, và giọng hát của bà thật thoát tục. Về sau tôi được biết rằng bình thường giọng hát của bà vốn chẳng có gì hay ho cả. Nội dung lời giải nghĩa là kêu gọi hội chúng hãy cầu nguyện cho các người thuộc Chứng nhân Đức Giê-hô-va đang họp đại hội trong thành phố lúc ấy. Mọi sự đều được linh cảm bằng tình yêu thương, chớ không phải bằng tinh thần phê phán chỉ trích, và để đáp lại, hội chúng bắt đầu cầu nguyện cho các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va. Bất chấp sự nóng nực và chật chội của ngôi nhà, cả hội chúng đều chăm chú lắng nghe một bài giảng suốt bốn mươi lăm phút, và rõ ràng là còn muốn nghe lâu hơn nữa. Sau đó, vị mục sư mời mọi người đặt câu hỏi với người giảng và nêu lên những chỗ khó hiểu hoặc những điểm gợi ý, để sự tiếp xúc giao lưu không phải chỉ một chiều mà thôi. Tiếp sau đó là hai mươi phút đối thoại nữa trôi qua, và rõ ràng là việc ấy rất được tán thưởng. Rồi lại ca hát, thờ phượng, dâng tiền rộng rãi, và buổi nhóm được kết thúc. Nhưng mọi người vẫn chưa hối hả ra về. Tại một góc nhà thờ, một người nước mắt chảy dài đang xin ý kiến khuyên giúp; tại một góc khác, một tín hữu nữa được chữa bệnh đang vui vẻ với các bạn thân. Bên ngoài, mọi người thông công vui vẻ với nhau gần cả giờ trước khi chia tay. Họ cảm thấy có Đức Chúa Trời đầy dẫy tại đó, và họ đã nghĩ đúng. Tôi gặp một vài người đã bỏ nhà riêng để đến sinh sống với những gia đình mở rộng hơn. Khoảng một trăm người trong hội chúng ấy đã làm như vậy; họ coi mọi sự là của chung như Hội Thánh nguyên thủy; cả cuộc đời họ đều được tắm trong sự cầu nguyện phục vụ nhau và những người khác mới đến với họ. Theo từng trải, họ vốn hiểu sống như vậy khó khăn biết bao, cũng biết mình vốn rất dễ nhường bước cho lòng ích kỷ và sự chia rẽ. Nhưng cả đại gia đình vẫn gia tăng nhân số và phẩm chất đời sống. Con cái cũng như cha mẹ, người trẻ cũng như người lớn tuổi, đều sống chung nhau như vậy. Họ đã không họp thành một gia đình chỉ gắn bó bằng sự đồng cảm giữa con người với nhau mà thôi, nhưng vì họ cảm nhận được Chúa Thánh Linh đã cảm động họ làm như vậy. Thỉnh thoảng cũng có việc tái thành lập các nhóm. Thỉnh thoảng gia đình cũng tách ra - như lối phân thân của loài trực trùng a-míp - để thâu nhận nhiều thành viên mới. Có lẽ bây giờ còn quá sớm để đoan quyết cách đúng đắn về sự giải thể của gia đình hạt nhân kiểu mẫu từng ngự trị trên xã hội Tây phương từ quá lâu rồi. Theo những gì tôi thấy được, thì đám con cái không còn chịu khổ sở nữa; các bà mẹ được giúp đỡ nhiều hơn; các góc nhọn về cá tính đã được mài mòn do tinh thần thân thiết trong sinh hoạt hằng ngày; và sự nồng ấm trong mối thông công chỉ có thể được bảo tồn bằng sự cầu nguyện sâu nhiệm và tha thiết là điều chúng ta vốn chưa từng biết tới, cùng sự thành thật xưng ra các lỗi lầm với nhau, là điều hoàn toàn xa lạ đối với phần lớn các mối thông công của chúng ta. Theo thiển ý, dường như không có một nơi nào mà các kiểu mẫu về đời sống và sự thờ phượng có tính cách công xã trong Cơ đốc giáo như Tân Ước đã vạch rõ, lại được thực thi rõ rệt hơn là tại đây. Tôi rất ít khi từng trải được một sự thông công sâu đậm đến thế, và chưa bao giờ thấy sự hiệp một, sự dâng mình cho Chúa, và sự thờ phượng tập thể vui mừng như vậy. Ở đây, và nếu có nơi nào tương tự, mới chính là một Hội Thánh có thể tự hào rằng mình được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Còn trên đường hành hương - chưa đến đích?
Nhưng việc không phải thế. Họ không hề khoe khoang là do chính họ mà được như vậy. Họ vốn quá chân thành để bảo rằng mình đã đạt đến đích; và điều đáng ngạc nhiên là họ quá bận tâm đến Hội Thánh toàn thế giới và không có giờ để tự thỏa lòng, hay tự cho mình đã đầy đủ rồi. Họ vốn rất ý thức về một Hội Thánh chung, và đang phấn đấu tìm cách để chứng tỏ nó. Sau khi chứng kiến trong thành phố đã có một phong trào lớn về Đức Thánh Linh giữa vòng những người có văn hóa đối ngược nhau và có một số người đông đảo đến theo đạo của Chúa Cứu thế thì trong tất cả các Hội Thánh, chỉ có họ mới dành chỗ cho số anh em đi chân đất, không được tắm rửa sạch sẽ trong Chúa Cứu thế, để khiến họ cảm thấy được tư nhiên như ở nhà mình, đến nỗi không còn có thể phân biệt họ với các thành viên khác trong Hội Thánh nữa. Không, họ sẽ không khoe khoang về Hội Thánh của họ hay về cá nhân họ rằng họ đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh, và trong việc đó, họ đã làm đúng. Vì họ hãy còn cả một con đường dài phải vượt qua nữa, chẳng hạn, trong các mối liên hệ cá nhân giữa các cấp lãnh đạo Hội Thánh ấy, vẫn còn nhiều căng thẳng và lúng túng vụng về. Cũng như tại Côrinhtô, những điểm khác biệt gay gắt về cá nhân vốn đi song song với tính cách phong phú lạ lùng trong các ân tứ và sự thờ phượng. Nếu Đức Chúa Trời cứ chờ cho đến khi nào một Hội Thánh hay một cá nhân trở thành trọn vẹn đã, rồi mới đổ Thánh Linh Ngài xuống đầy dẫy cho họ, có lẽ Ngài sẽ phải chờ đợi mãi mãi.
Hai năm sau đó tôi lại đến thăm Hội Thánh ấy, thì bức tranh nó phơi bày ra đã khác rồi. Đã có sự chia rẽ giữa các lãnh đạo, đã có một chế độ “chăn dắt độc đoán” và vị mục sư trước kia đã lặng lẽ tránh qua một bên, để thành lập một Hội Thánh ở nơi khác (chẳng bao lâu, số tín đồ ở đó tăng lên đến 600!). Phần nhiều điều tốt đẹp vẫn còn, nhưng không thể chối cãi là một số vinh quang của nó đã không còn nữa. Biến cố này khiến tôi nghĩ lại là chúng ta sẽ rất kém khôn ngoan nếu rêu rao rằng có một Hội Thánh nào đó đã được đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Rất có thể nó đã được như thế, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi. Phần chúng ta, thì chớ bao giờ nên cả quyết. Và nếu có khi nào “sự đầy dẫy” ấy được nhìn nhận một cách cứng nhắc, nếu việc người ta công nhận là được đầy dẫy Đức Thánh Linh căn cứ trên sinh hoạt của cá nhân chúng ta hay của Hội Thánh chúng ta, thì chúng ta đang ở trong tình trạng vô cùng nguy hiểm. Vì chúng ta vẫn cần phải tiếp tục mở lòng mình ra cho Đức Chúa Trời là Thánh Linh đến mức nào mình có thể làm được. Nhưng xin đừng bao giờ quên rằng mình vốn là công dân của hai thế giới, là con cái của cả hai gia đình, chúng ta vốn vừa ở trong Chúa Cứu thế vừa ở trong Ađam, và chúng ta sẽ vẫn là như vậy cho đến ngày qua đời. Sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời chờ đợi cho đến ngày sau rốt, khi sự cứu rỗi loài người đã hoàn tất, và chúng ta được giải thoát vĩnh viễn khỏi điều ác vẫn đang ám ảnh chúng ta, đang xoắn bện những dây mơ rễ má của nó vào những gốc rễ sâu xa trong con người chúng ta. Chỉ đến chừng đó, chúng ta mới được giải thoát hoàn toàn khỏi điều ác, mới được đầy dẫy trọn vẹn Đấng Đổ Đầy chúng ta. Nẻo đường của Cơ đốc nhân từ đây đến đó thật rõ ràng, mà cũng thật khó khăn nữa. Ấy chẳng phải là việc lớn tiếng khoe khoang tình trạng đã được đầy dẫy của chúng ta, cũng không phải để ganh đua nhau bằng cách đánh giá các ân tứ của mình mà là chúng ta phải đồng thanh với Phaolô để nói rằng: “Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đang chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Trời ...kêu gọi để giựt được giải ở trên trời, trong Chúa Cứu thế Giê-Xu” (Phil 3: 12,14 theo bản Anh văn). Cơ đốc nhân trưởng thành có thể ham thích câu ghi khắc hết sức đơn giản trên mộ bia của một người hướng dẫn leo núi ở Thụy sĩ: “Chết khi đang leo”.

CÁC ÂN TỨ CỦA ĐỨC THÁNH LINH.
Trong chương 7, chúng ta đã khảo xét vài phương thức qua đó Đức Thánh Linh tự bày tỏ Ngài ra trong Hội Thánh, và chúng ta kết thúc bằng các dòng nước rối rắm hỗn độn trong ICôrinhtô chương 12, nơi Phaolô khuyến cáo Hội Thánh hãy sử dụng ân tứ được ban cho thật phong phú để làm ích lợi cho toàn Thân thể của Chúa Cứu thế, chớ không phải lạm dụng các ân tứ để ganh đua nhau một cách ích kỷ. Điều này làm nảy sinh câu hỏi: Những charismata (ân tứ) mà người Côrinhtô quá chú trọng vào đó là gì?
Qua nhiều thế kỷ, các chương Kinh Thánh trên tương đối bị các Hội Thánh bỏ quên trong im lặng, nhưng từ khi phong trào Ngũ tuần dấy lên trong thế kỷ này, và lan tràn vào các giáo phái chính trong ba mươi năm vừa qua, chủ đề ấy lại được đặt ra, nổi bật lên mỗi khi có cuộc thảo luận về Đức Thánh Linh. Vì phong trào Ngũ tuần với tất cả các phương diện khác nhau của nó, nhấn mạnh đủ các charismata (ân tứ) như vậy, nên chúng ta hãy khảo xét chúng từng điểm một. Lập trường thông thường của Hệ phái Ngũ tuần là có chín ân tứ, được nêu ra trong ICo1Cr 12:8-10. Đó là “lời nói khôn ngoan, lời nói tri thức, đức tin, ơn chữa lành các bệnh, nói tiên tri, phân biệt các thần (linh), nói nhiều thứ tiếng khác nhau, và thông giải các thứ tiếng ấy”. Có thể chia làm ba nhóm để khảo xét cho thuận tiện, đó là các ân tứ để nói (tiên tri, tiếng lạ và thông giải); các ân tứ để làm (chữa bệnh, phép lạ, đức tin), và các ân tứ để biết (phân biệt các linh, tri thức và khôn ngoan).
1. CÁC ÂN TỨ ĐỂ NÓI
Ân tứ nói các thứ tiếng
Thứ nhất, là ân tứ nói các thứ tiếng. Đây là khả năng nói bằng ngôn ngữ mà người nói không hề học, không hiểu, mà cả người nghe cũng không hiểu nữa. Tôi nói “ngôn ngữ” với chút ít dè dặt, vì nếu có một số người của phong trào phục hưng rêu rao rằng họ nói một ngôn ngữ nhất định nào đó của loài người, thì nhiều người khác lại không bảo như vậy, nhưng xem ân tứ ấy là một “ngôn ngữ của Đức Thánh Linh” nhằm giúp cả loài người lẫn các thiên sứ thờ phượng Đức Chúa Trời một cách sâu nhiệm, thoải mái hơn bằng nội tâm của họ, như ngôn ngữ yêu đương của một đôi vợ chồng hạnh phúc, có thể chẳng có ý nghĩa gì khi người ta đem phân tích các lời lẽ ấy, nhưng chúng nói lên sự mật thiết và tin cậy nhau của đôi vợ chồng trong cuộc. Quan điểm sau này sẽ phù hợp hơn với công cuộc sưu tầm nghiên cứu gần đây về việc nói các thứ tiếng lạ (W.J.Samarin, Tongues of Men and Angels, Macmillan, 1972) đã kết luận rằng nói tiếng lạ (glossolalia) về cơ bản không phải là một ngôn ngữ, dầu thoạt nhìn bề ngoài, cả hai có những điểm tương đồng. Nó là một thứ giống-như-là-một-ngôn-ngữ (a pseudo-language), một hình thức tiếng nói tiền nhận thức (precognitive), không được sàng lọc qua tâm trí đã được sắp xếp cho có trật tự của bút pháp và từ vựng. Như vậy là rất phù hợp với điều Phaolô ám chỉ trong 14:7-11. Ông đã đưa ra ba cách so sánh.
Ba cách so sánh.
Thứ nhất là với nhạc cụ bất động. Nếu ống sáo hay đàn cầm mà không phát ra nhiều âm hiệu có ý nghĩa khác nhau, thì chẳng ai hiểu được gì, cũng chẳng ai thèm đụng đến chúng. Nói tiếng lạ mà không giải nghĩa, thì chẳng khác gì đánh những nhạc khí ấy cách bừa bãi, chẳng ra bài bản gì cả, tương phản với việc nói tiên tri, vừa có ý nghĩa, vừa thúc giục người ta hành động.
Thứ hai, ông quay sang ngôn ngữ của loài người, cũng đưa ra cùng hai điểm ấy. Nếu tôi không nói ra bằng lời lẽ rõ ràng, thì chẳng ai hiểu được tôi, và chẳng có ích lợi gì cả. Khi đưa ra sự so sánh này, Phaolô đã áp dụng lối chơi chữ trên từ ngữ “tiếng” (ngôn ngữ). Trong Hi văn từ ngữ này vừa có nghĩa một thành phần của thân thể (cái lưỡi, Anh văn là tongue), vừa có nghĩa là ngôn ngữ (tiếng nói của loài người). Và ông đã khéo léo quở trách người Côrinhtô về thói hay tôn sùng cái khó khăn chẳng ai hiểu nổi của họ. Vì đối với họ “nói tiếng lạ” là nói mà chẳng ai hiểu cả; còn đối với Phaolô, thì cái lưỡi, vì là một thành phần của thân thể, nên nhất thiết phải được kết hợp với điều gì để người ta có thể hiểu được, nếu không, nó chẳng lợi ích gì cả.
Thứ ba, ông dùng một thí dụ soi sáng bằng cách nói về các ngôn ngữ khác, cũng nhằm vạch rõ hai điểm trên. Nếu tôi nói một thứ tiếng ngoại quốc nào đó, thì mọi người sẽ chẳng hiểu là tôi nói gì hoặc không thể đáp lại điều tôi muốn truyền thông cho họ - trừ phi câu nói ấy được thông dịch. Người ta sẽ cho tôi là một tên mọi rợ. Điều này đặc biệt gây tổn thương cho người Côrinhtô, vì vốn là người Hi lạp, họ rất khinh ghét người ngoại quốc mà ngôn ngữ nghe như tiếng “bí ba bí bô, xí xô xí xào” vô nghĩa - (do đó mà họ gọi người man rợ, dã man, là barbarians) Từng điểm trong ba điểm mà vị sứ đồ đã nêu ra, đều nhằm làm nản lòng những người nói tiếng lạ mà không giải thích được trong Hội Thánh- dường như ông muốn vạch rõ rằng hiện tượng nói các thứ tiếng lạ không phải là nói một ngôn ngữ (của loài người), nhưng đúng ra là một thứ ngôn ngữ yêu thương sâu sắc mà người Côrinhtô cảm nhận đối với Chúa của họ.
Các thứ tiếng?
Tuy nhiên, vì có quá nhiều thí dụ được chứng thực rõ ràng về “các thứ tiếng” được một ai đó hiện diện là người thuộc về một nhóm ngôn ngữ khác đã hiểu được, cho nên tốt hơn hết là nên hiểu cẩn thận câu của Phaolô “nói các thứ tiếng lạ” theo nghĩa rộng, và kết luận rằng trong khi vài người nói tiếng lạ nói ra một thứ tiếng mà chính người ấy không biết nhưng có người khác lại hiểu thứ ngôn ngữ ấy, thì có nhiều “tiếng lạ” khác vốn không phải là một ngôn ngữ nào cả, nhưng đúng hơn đó là sự thốt ra những mong ước sâu xa nhất từ một tấm lòng đã được Thánh Linh của Đức Chúa Trời giải tỏa mà thành lời cầu nguyện, tán tụng hay ca hát.
Như vậy “tiếng lạ” có thể là một ngôn ngữ, hoặc không phải là một ngôn ngữ, tùy thuộc hoàn cảnh và ân tứ đặc biệt Đức Chúa Trời ban cho một cá nhân. Có điều bất ngờ, là một vài bản dịch Kinh Thánh hiện đại lại dịch nó một cách sai lầm là “các thứ tiếng trong lúc xuất thần” mà đáng kể nhất là bản New English Bible. Trong vấn đề này, đã chẳng có một sự ép buộc hay một sự xuất thần nào cả. Nó được nói ra dưới quyền kiểm soát của người nói (như những người đã được ân tứ ấy vốn biết rõ) - nếu không, chắc Phaolô đã không cần phải khuyến cáo những người nói tiếng lạ hãy tự chế trong Hội Thánh khi chẳng có người thông giải.
Chủ đích của tiếng lạ.
Vậy thì ân tứ ấy đã được ban cho nhằm chủ đích gì? Phaolô nêu ra một số khá nhiều. Trước hết, nó khiến một người có thể trò chuyện được với Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện “vì người nào nói tiếng lạ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mình - hoặc có lẽ là trong Thánh Linh - mà người kia nói lời mầu nhiệm)”. Vị sứ đồ đã nói như vậy trong 14:2. Ông chủ trương rằng ân tứ nói tiếng lạ mở ra một chiều kích mới mẻ cho đời sống cầu nguyện của một người. Người ấy thật sự mong muốn cầu nguyện, trong khi trước đó, phải cố gắng lắm người ấy mới có thể cầu nguyện được. Thì giờ dường như chẳng còn quan trọng nữa, và nếu người ấy dành cả một hai giờ để tương giao với Chúa thì chẳng có gì trở ngại cả. Hiện nay, ân tứ nói tiếng lạ đã tạo ra cùng một tác dụng như vậy; đó là sự tự do đích thực để cầu nguyện.
Thứ hai, tiếng lạ khiến một người có thể ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời từ nơi sâu thẳm của linh hồn mà trước đó người ấy chưa từng biết. Chắc chắn đây là điểm chính yếu đã được sách Công vụ nhấn mạnh. Tại nhà Cọt-nây, những người mới ăn năn quy đạo đã "nói tiếng ngoại quốc và khen ngợi Đức Chúa Trời” (Cong Cv 10:46). Vào ngày lễ Ngũ tuần, trường hợp cũng giống y như vậy. Đám đông nhận thức rõ ràng là những người kia đang ca ngợi Đức Chúa Trời về những công việc lạ lùng của Ngài, tuy họ đã nghi ngờ rằng nguyên nhân khiến xảy ra việc ấy là do say rượu (Cong Cv 2:11-13). Có lẽ mấy câu Phaolô đề cập việc hát những bài ca thiêng liêng cho Chúa (Eph Ep 5:19; CoCl 3:16) là ám chỉ việc ca hát bằng tiếng lạ; chắc chắn đây phải là một hiện tượng đẹp đẽ và hài hòa nhất, khiến nâng bổng linh hồn con người lên một trình độ tuyệt vời trong khi thờ phượng. Nhưng cho dầu việc ca hát đó có bằng tiếng lạ hay không, thì một sự kiện không chối cãi được, ấy là khi người ta nhận được ân tứ nói tiếng lạ, thì họ tự nhiên cảm thấy được tự do để ca ngợi cảm tạ, thờ phượng và tôn vinh Cha trên trời của mình theo một cách mà trước đó họ chưa từng làm. Trong những buổi nhóm lại thờ phượng phục hưng, ca ngợi tán tụng thường là yếu tố nổi bật; còn trong buổi hội họp cầu nguyện chiếu lệ của các nhóm Tin Lành thì thường không như vậy. Chúng ta đừng ngạc nhiên về điều này. Tất cả những cơn phục hưng xuyên suốt sử ký Hội Thánh đều có sự ca hát kèm theo. Khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã hành động trong lòng người ta, thì họ phải bộc lộ các cảm xúc của họ bằng những bài ca tán tụng. Phong trào phục hưng ân tứ đã sản sinh ra một loạt các ca khúc và điệp khúc mới được lan truyền khắp thế giới Cơ đốc giáo. Đó là kết quả tự nhiên từ những gì Thánh Linh của Chúa đã hành động trong lòng người ta.
Thứ ba, tiếng lạ gây dựng cho cá nhân (ICo1Cr 14:4). Điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nếu tiếng lạ giải tỏa các trở ngại từng ngăn cấm chúng ta cầu nguyện và ca ngợi tán tụng Chúa. Chắc chắn là trong chương sách này Phaolô đang cố gắng muốn đặt sự tương phản giữa việc nói tiếng lạ vốn chỉ gây dựng cho người nói tiếng ấy mà thôi, với việc nói tiên tri, nhằm xây dựng được cho Hội Thánh. Nhưng không thể vì đó mà phủ nhận việc nói tiếng lạ có gây dựng cho cá nhân, như nhiều nhà giải kinh đã quy nạp. Không, đó là một cách thức để giúp tăng trưởng đời sống làm Cơ đốc nhân cho những người được ân tứ ấy. Tiếng lạ là một ân tứ Chúa ban cũng như những cách bộc lộ khác của Đức Thánh Linh, để chúng ta được lợi ích (ICo1Cr 12:7)
Giá trị càng cao hơn của tiếng lạ.
Có lẽ một trong những lãnh vực lợi ích mà chúng ta cần nhớ trong cái thời đại quá thiên về lý trí này, là nó cho phép tâm linh của người ta cầu nguyện, dù khi tâm trí chẳng được ích lợi gì vì nó không thể nào hiểu được (ICo1Cr 14:14). Nhiều người đã cầu nguyện bằng tiếng lạ trong khi lái xe hay làm việc, giặt giũ, lau rửa - tâm trí họ có thể sử dụng ở chỗ khác. Cho nên rõ ràng tiếng lạ vốn là một ân tứ có giá trị cho việc gây dựng cá nhân, riêng tây. Nó có thể đem đến một ý thức sâu nhiệm về hiện diện của Đức Chúa Trời mà hiệu quả là đưa người ta ra khỏi sự căng thẳng, âu lo, đào sâu thêm tình yêu thương và lòng tin cậy. Khi Đức Thánh Linh hướng dẫn người tín hữu trong sự cầu nguyện như vậy, thì người ấy thường ý thức sâu xa rằng mình đang được hòa hợp với Đức Chúa Trời .
Còn có nhiều cách khác nữa để sử dụng tiếng lạ trong việc gây dựng riêng tư. Nhiều người nhận thấy nó thật sự giúp được mình chịu đựng nổi sự đau đớn thể xác hay sự bối rối tâm hồn. Nó là một phụ tá đắc lực giá trị trong việc cầu thay, nhất là khi người ta không biết phải cầu xin gì. Ta không thể xem RoRm 8:26-28 như chiếm độc quyền về sự cầu nguyện trong ân tứ, nhưng chắc chắn cũng không thể trừ nó ra khỏi sự cầu nguyện đó. Chúng ta đã được hứa rằng hễ khi nào chúng ta không biết phải cầu nguyện gì như đáng lẽ nên cầu nguyện, thì chúng ta có thể trông đợi được Đức Thánh Linh giúp đỡ mình, rằng Ngài ngự trong lòng chúng ta để cầu thay bằng những tiếng thở than sâu nhiệm đến mức lời lẽ bình thường không thể nào nói ra được, rằng Đức Chúa Cha vốn hiểu rõ điều Đức Thánh Linh đã thúc giục chúng ta cầu xin tuy chúng ta không hiểu, và rằng sự cầu nguyện như vậy chắc chắn sẽ phù hợp với ý chỉ Đức Chúa Trời, do đó, sẽ được nhậm và sử dụng nhằm mục đích làm ích lợi cho những người yêu mến Đức Chúa Trời.
Có lẽ một trong những công dụng quan trọng nhất của nó là trong chiến trận thuộc linh. Khi chúng ta ý thức được là tà linh áp bức mình, khi chúng ta dấn thân vào một chức vụ nhằm giải thoát cho người khác, thì sự cầu nguyện bằng tiếng lạ được chứng tỏ là một công cụ đầy quyền năng để Chúa Thánh Linh sử dụng. Trong Eph Ep 6:18, Phaolô kết thúc phần mô tả toàn bộ binh giáp mà một Cơ đốc nhân cần mặc vào để chống lại cuộc tấn công của Sa tan bằng lời khuyên hãy "nhờ Đức Thánh Linh thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện” (bản Anh văn dịch là: hãy luôn luôn cầu nguyện trong Thánh Linh). Điều này bao gồm việc cầu nguyện do sự cảm thúc của Đức Thánh Linh bằng những lời lẽ mà chúng ta hiểu được, và cả bằng những lời lẽ mà chúng ta không hiểu được nữa (ICo1Cr 14:15). Cho nên tiếng lạ có giá trị lớn lao trong việc sử dụng ân tứ ấy cho từng cá nhân riêng biệt. Nhưng công dụng của ân tứ ấy giữa hội chúng, thì chẳng có giá trị gì, thật ra nó còn gây rối khiến mọi người bị phân tâm, trừ phi trong đám người hiện diện có người được ân tứ thông giải. Vì nếu không có như vậy, thì chẳng ai có thể hiểu được gì cả. “Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ nhiều hơn hết thảy anh em; nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn ngoan mình mà rao giảng trong Hội Thánh, để được dạy dỗ kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ” (ICo1Cr 14:19).
Tiếng lạ không được thông giải.
Nếu tiếng lạ vốn chẳng có giá trị gì trong việc gây dựng Hội Thánh, thì nó còn vô dụng hơn nữa trong việc truyền giảng Tin Lành. Nó khiến cho người ngoài tình cờ bước vào một hội chúng sẽ tưởng rằng các Cơ đốc nhân là một bọn điên cuồng (ICo1Cr 14:23). Thật là hoàn toàn sai lầm khi cho rằng tiếng lạ đã được sử dụng để truyền giảng Tin Lành trong ngày lễ Ngũ tuần. Nhiều khi những người không thuộc về phong trào ân tứ tưởng rằng người Ngũ tuần tin như vậy, nhưng không phải thế. Trong quyển ‘Các ân tứ của Đức Thánh Linh (The Gifts of the Spirit), Harold Horton giải thích ngắn gọn:
“Khái niệm cho rằng ân tứ tiếng lạ là sự ban cho cách lạ lùng cho phép các sứ đồ nguyên thủy nói được các ngoại ngữ để giảng Tin Lành cho tất cả mọi người là một sai lầm; chỉ có những người chẳng bao giờ chịu cẩn thận khảo xét toàn bộ Kinh Thánh về chủ đề ấy chủ trương mà thôi. Theo Kinh Thánh ghi lại, Phi-e-rơ là người duy nhất đã giảng Tin Lành trong ngày lễ Ngũ tuần, ông đã không sử dụng các thứ tiếng khác mà chỉ dùng tiếng A-ram - vốn được tất cả mọi người (nghe và) hiểu - hoặc tiếng Hi lạp - vốn cũng được mọi người (nghe và) hiểu”.
Các thứ tiếng khác đã được các môn đệ Chúa dùng ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời, chớ không phải để truyền giảng Tin Lành. Các nhóm người thuộc nhiều chủng tộc người nói tiếng khác nhau đã có mặt tại đó, dường như đã được ban cho ân tứ thông dịch nhân cơ hội ấy, cho nên họ đều nghe được những lời ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời bằng chính ngôn ngữ của họ.
Thật ra, trong việc giảng Tin Lành, tiếng lạ không được thông giải chẳng những tai hại, mà còn nói lên sự phán xét của Đức Chúa Trời trên cộng đồng Cơ đốc giáo nữa. Dường như đó là sức mạnh của ICo1Cr 14:20 tt. Sau khi vạch rõ sự vô ích của tiếng lạ không được thông giải, Phaolô tiếp: “Hỡi anh em, về sự khôn sáng, chớ nên như trẻ con; nhưng về gian ác, thật hãy nên như trẻ con vậy. Còn về sự khôn sáng hãy trở nên như kẻ thành nhơn. Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ, và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân này; dầu vậy, họ chẳng nghe ta. Thế thì các thứ tiếng lạ là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin”. Câu trích dẫn này là của EsIs 28:11, 12. Vấn đề muốn nói, là dân Y-sơ-ra-ên đã chối bỏ thông điệp của các nhà tiên tri công bố cho họ bằng sự diễn giảng rõ ràng không chút mơ hồ. Cho nên để trừng phạt họ, Đức Chúa Trời đã dùng người Asyri đến để nói với họ bằng những tiếng lạ lùng, không thân thiện. Sở dĩ các thứ tiếng ấy đến với họ, là vì họ “không tin”. Họ đã không tin những gì các nhà tiên tri phán, cũng chẳng vâng theo. Do đó, tiếng nói của dân Asyri là một “dấu cho người chẳng tin”. Các thứ tiếng nói lên việc Đức Chúa Trời đã lìa bỏ dân Ngài, chớ không phải là sự hiện diện của Ngài; chúng rao ra sự phán xét của Ngài, chớ không phải là sự hài lòng của Ngài. Khi Đức Chúa Trời phán thật rõ ràng, ấy là để Ngài tự bày tỏ mình ra cho dân sự Ngài. Khi Ngài phán mà chẳng ai hiểu, thì ấy là để Ngài tự ẩn mình đi. Cho nên, trong việc người Côrinhtô thích nghe các thứ tiếng chẳng ai hiểu nổi hơn là nghe lời tiên tri thẳng thắn, tức là họ đang gặp nguy cơ tiến đến gần sự phán xét của Đức Chúa Trời. Do đó thay vì lên mình kiêu căng, họ cần phải coi chừng việc nói tiếng lạ mà không biết kìm chế khiến chẳng ai hiểu gì cả như thế trong giờ thờ phượng công cộng, nhất là khi có mặt người ngoại đạo.* Tuy nhiên, ngay cả ở đây, các sai lầm của loài người cũng được lòng thương xót khoan dung của Đức Chúa Trời tể trị. Nhiều thí dụ được ghi lại việc có người đến với đạo Chúa Cứu thế nhờ nghe một ai đó trong hội chúng Cơ đốc giáo nói tiếng nước họ, là ngôn ngữ mà người kia chưa hề học đến.
CHÚ THÍCH:
(*Có người gợi ý rằng trích dẫn EsIs 28:11 tt ở đây chỉ nhằm vạch rõ tiếng lạ là dấu hiệu cho thấy Đức Chúa Trời chối bỏ người không tin, tức là người ngoài; những người ngoại đạo đến với hội chúng mà chỉ nghe tiếng lạ thôi, không được nghe Tin Lành, chỉ nhận được cái dấu hiệu Đức Chúa Trời chối bỏ họ, xác nhận rằng họ vô tín; trong khi nếu dùng lời tiên tri, thì họ có thể ăn năn tin Chúa. Chủ trương này có vẻ hấp dẫn, nhưng nó ép “dân này” trong sách tiên tri, chỉ các dân ngoại đạo không cho nó ám chỉ dân sự không chịu vâng lời của Đức Chúa Trời, khiến câu “dầu vậy, họ cũng chẳng nghe ta” trở thành vô nghĩa. Có lẽ gợi ý hữu lý hơn là của J.P.M.Sweet trong J.T.S.1966, pp.240-57. Ông nghĩ rằng rất có thể “những người thuộc linh” tại Côrinhtô, những teleioi của câu 20 đã cãi rằng “các thứ tiếng lạ là dấu hiệu cho người tin”; nó là một khẩu hiệu nói lên sự vượt trội về mặt thuộc linh của họ. Phaolô vặn lại họ bằng cách bảo họ hãy nghe lời Kinh Thánh (c.21). Ông trích dẫn một văn bản trong EsIs 28:1-29, xem như nó được các Cơ đốc nhân dùng để biện luận chống lại Do thái giáo. Các Cơ đốc nhân vốn bị người Do thái nhạo cười vì nói tiếng lạ (xem Cong Cv 2:13) nên quay sang văn bản này để trả lời lại. Nhưng trong câu 23 Phaolô chuyển sang đám người Côrinhtô đang bênh vực EsIs 28:11, 12. Câu ấy đã chẳng có gì làm hậu thuẫn cho những lời rêu rao rằng họ được vượt trội hơn về phương diện thuộc linh bởi vì nói được tiếng lạ; đó không phải là “dấu cho kẻ tin”. Trái lại, nó là dấu hiệu để chống lại (thì của động từ được dùng (dative) nói lên tình trạng bất lợi - có thể là như vậy) những kẻ không tin. Nó khiến những kẻ
Bản tính các thứ tiếng tại Côrinhtô.#
Cả cuộc thảo luận về ân tứ tiếng lạ trong ICo1Cr 12:1-14:40 đã tạo ra một số cách giải nghĩa đáng chú ý, không phải bao giờ cũng có nguồn gốc từ văn bản. Nhưng nhiều người thường lý luận rằng “các thứ tiếng” trong hai chương này phải có nghĩa là “ngoại ngữ”. Nói như thế sẽ khiến đoạn sách này trở nên vô nghĩa. Chẳng hạn, làm thế nào bạn có thể cầu nguyện bằng ngoại ngữ được nếu không để hết tâm trí mình vào đó? (c.14)? Tại sao Đức Chúa Trời lại phải ban cho một người ân tứ về ngoại ngữ thì mới tương giao với người ấy được (c.2)? Tại sao nói ngoại ngữ lại có thể gây dựng bạn (c.4)? Nếu bạn nói bằng một ngoại ngữ, tại sao lại còn phải cầu nguyện, xin được khả năng thông dịch (c.13)?
Cũng có người lý luận rằng 12:1-14:40 chiếm độc quyền về việc sử dụng ân tứ này nơi công cộng, do đó, ứng dụng bất luận phần nào trong các chương ấy cho việc cầu nguyện bằng tiếng lạ của phần đông những người theo phong trào ân tứ là hợp lý. Nhưng Phaolô vốn ý thức rõ ràng rằng nói tiếng lạ trước hết là nói với Đức Chúa Trời chớ không phải là với người ta (c.2) và rằng người nói tiếng lạ tự gây dựng mình bằng cách sử dụng ân tứ ấy, đồng thời không gây dựng được cho Thân thể Chúa Cứu thế, trừ phi khi nó được thông giải. Nhưng rõ ràng Phaolô đang phản ảnh cả hai cách sử dụng công khai và riêng tây của ân tứ này trong ICôrinhtô, và đang điều chỉnh cách sử dụng công khai ân tứ ấy trong các cơ hội nó được thông giải.
Tầm quan trọng của các thứ tiếng lạ tại Côrinhtô.
Việc có nhiều người đề cao tiếng lạ đòi hỏi cần phải nhận xét thêm vài điều nữa về sự bàn luận về chủ đề ấy của Phaolô trong ba chương sách này.
Trước hết, Phaolô đã không hề tiên báo rằng các tiếng lạ sẽ chấm dứt khi người ta đã đạt được mức trưởng thành. 13:10 đặt tương phản bản tính có chừng mực của các ân tứ và sự hiểu biết chưa trọn vẹn của chúng ta trong đời này, với tính cách hoàn toàn, trọn vẹn, của chúng ở đời sau, khi chỉ còn có tình yêu thương mới là quan trọng mà thôi. Sự hiểu biết và lời tiên tri rồi sẽ kết thúc, ứng nghiệm trọn vẹn. Nói tiếng lạ sẽ không còn cần thiết nữa. Sự chưa trọn lành rồi sẽ không còn nữa; khi sự trọn vẹn đã đến. Nhưng như một số người đã lý luận khi nói “lúc sự trọn lành đã đến", Phaolô hướng về việc hoàn tất của Kinh Thánh Tân Ước và sau đó thì các thứ tiếng sẽ không còn cần thiết nữa, là một thí dụ rõ ràng về việc chối bỏ ý nghĩa rõ ràng của khúc sách này một cách có lợi cho một giáo điều độc đoán.
Thứ hai, không hề có gợi ý rằng nói các thứ tiếng lạ là dấu hiệu chắc chắn của một người thuộc linh. Dường như tại Côrinhtô cũng như hiện nay, có nhiều người chủ trương rằng nếu không nói tiếng lạ thì chưa được báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Phaolô hoàn toàn kết án điều này. Chẳng những ông bảo họ rằng mọi người trong vòng họ đều đã nhận được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, dầu có nói tiếng lạ hay không (12:13) mà ông còn bảo họ rằng bất kỳ ai chịu xưng nhận điều căn bản nhất của Cơ đốc giáo rằng “Giê-Xu là Chúa” thì chỉ có thể làm việc đó dưới sự cảm động của Đức Thánh Linh mà thôi (12:3). Trong những chương sách này, không hề có điều nào dựa vào việc nói tiếng lạ để chủ trương sự ưu tú thuộc linh (elitism).
Thứ ba, Phaolô hoàn toàn bất đồng ý kiến với những người chủ trương rằng mỗi Cơ đốc nhân đều phải nói tiếng lạ. Ông đã trình bày thật rõ ràng rằng đó là một ân tứ do quyền cấp phát của Đức Thánh Linh. Ngài phân phát các ân tứ ấy, cũng như các ân tứ khác khi nào Ngài thấy thích hợp (c.7,8). “Có phải...cả thảy đều nói tiếng lạ sao?” rõ ràng là chờ đợi câu trả lời “không”, cũng như khi ông hỏi: “Có phải...cả thảy là tiên tri sao?” (12:29, 30).
Thứ tư, ân tứ nói tiếng lạ, cũng như các ân tứ khác, vốn không được Phaolô xem như là điều bảo đảm cho sự trưởng thành thuộc linh. Nó không phải là cái gì để kẻ nhận lãnh nó có quyền tự hào. Tai hại thay, nó lại có đồng thời với những tội lỗi hết sức sống sượng đang đầy dẫy trong Hội Thánh tại Côrinhtô. Thế nhưng mục đích trước nhất mà nó phải nhằm vào là tạo lợi ích chung (c.7). Do đó, cần phải sử dụng nó một cách có ý thức và dè dặt, chớ không phải là bừa bãi vào những lúc không thích hợp (14:23). Phaolô đã ước ao cho tất cả mọi người trong vòng họ đều được ân tứ ấy, nhưng ông nhấn mạnh rằng việc sử dụng nó phải tùy thuộc các lợi ích để ai nấy đều hiểu được (c.19) và để giúp đỡ - chớ không phải là ngăn trở - những người khác trong hội chúng (c.16,17). Trong mấy chương sách này, Phaolô vạch rõ rằng nói các thứ tiếng lạ không phải là ân tứ quan trọng nhất của Đức Thánh Linh, và đừng tưởng rằng khi đã có nó, người ta đã đạt đến mức trưởng thành của Cơ đốc nhân rồi. Triệu triệu Cơ đốc nhân trưởng thành đã không hề nói tiếng lạ, và triệu triệu người đã nói tiếng lạ nhưng không phải là người đã trưởng thành thuộc linh.
Cuối cùng, Phaolô đã ý thức rõ ràng rằng ân tứ nói tiếng lạ rất dễ bị lạm dụng và trở thành một mối nguy, hơn là một phước hạnh trong Hội Thánh. Nó có thể dẫn tới kiêu ngạo và chia rẽ; nó có thể dẫn tới một nền thần học chủ trương có hai giao đoạn bắt đầu; nó có thể khiến người ta quên mất chủ đích chính của Đức Thánh Linh, là khiến chúng ta trở nên giống với Chúa Cứu thế. Nó có thể góp phần khiến người ta tâp trung chú ý vào một ân tứ thay vì vào Đấng ban ân tứ ấy, chăm chú vào một điều kỳ quặc thay vì vào điều đạo đức. Nếu đem sử dụng sai chỗ, nó có thể gây rắc rối nghiêm trọng. Nó có thể bị các thành viên khác trong hội chúng xem là cách phô trương biệt tài thật ích kỷ rồi bị vấp phạm, đưa tới cảnh hỗn loạn mất trật tự, và những lời tố cáo là điên cuồng, nếu không được kiểm soát và thông giải. Tệ hại nhất là nó có thể dẫn tới việc đánh giá cao mà không cần suy xét, phê bình xem các tiếng lạ ấy từ đâu tới, vì rõ ràng Phaolô bảo rằng có một vài bạn bè ông người Côrinhtô đã nói các thứ tiếng lạ không phải do Đức Thánh Linh ban phát, mà do ảnh hưởng các tàn tích của ma quỉ thời họ còn theo ngoại đạo để lại. Tuy nhiên, sau khi nói lên mọi điều đó ông đã không ngăn cấm, mà còn nhẹ nhàng khuyến khích việc sử dụng ân tứ quý báu ấy của Đức Chúa Trời, cả cho riêng mình lẫn trong hội chúng, miễn là phải bảo đảm được cái nguyên tắc hành động là do tình yêu thương Cơ đốc nhân.
Ân tứ thông giải.
Một sự vận dụng bởi đức tin.
Nói về các thứ tiếng lạ như thế là đã quá nhiều rồi. Cho nên có thể bàn đến ân tứ thông giải tiếng lạ ngắn gọn hơn. Đó là tài năng giải nghĩa những điều vừa được nói ra bằng một ngôn ngữ chẳng ai biết khi việc ấy được thực hiện trong hội chúng. Đức Thánh Linh đã chỉ dẫn cho một người nói một thứ tiếng mà mình không hiểu làm sao, thì cùng một Thánh Linh ấy cũng soi dẫn cho chính người ấy hoặc một ai khác đang hiện diện để giải nghĩa những điều vừa được nói ra hay được hát lên y như vậy. Đây không phải là việc phiên dịch chính xác. Thường thường thì người thông giải cũng chẳng biết gì về thứ tiếng vừa được nói ra đó, nhiều hơn số người còn lại trong hội chúng. Nhưng người ấy cảm thấy Đức Thánh Linh thúc giục mình nói, không phải là thông dịch nhưng là thông giải. Công việc này là một sự vận dụng bởi đức tin nhiều hơn. Khi đứng lên để nói, người ấy chẳng biết gì nhiều hơn là những lời đầu tiên mình sắp nói ra. Người ấy phải trông cậy vào sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh.
Các vấn đề.
Toàn thể chủ đề thông giải tiếng lạ là vấn đề còn mờ mịt nhất và dễ bị lạm dụng hơn nữa. Những người khác không hề có tiêu chuẩn khách quan nào để duyệt xét xem sự thông giải đó có trung thực không, và không thể bảo đảm trước là lời khuyên của vị sứ đồ có được tuân thủ hay không, tức là nếu không có ai hiện diện để thông giải, thì đừng có ai nên nói tiếng lạ trong Hội Thánh cả.
Cách ngăn ngừa việc lạm dụng ân tứ ấy tốt nhất, gồm những điểm sau đây. Bình thường thì người thông giải phải là người mà đời sống riêng và sự trưởng thành với tư cách một Cơ đốc nhân đều được hội chúng địa phương thừa nhận. Lời thông giải phải phù hợp với giọng điệu (mood) của tiếng lạ nguyên thủy. Lời thông giải không phản ảnh bất luận một khuynh hướng hay thiên kiến nào của riêng người thông giải cả. Người thông giải phải khiêm tốn và cởi mở, sẳn sàng chịu người khác sửa sai nếu ý nghĩa tổng quát của lời thông giải của người ấy là không đúng và ngược lại, một trong những dấu hiệu chắc chắn nhất cho tính cách trung thực là khi toàn thể hội chúng cảm nhận những điều vừa được nói ra đều phải, đều đúng.
Có thể có người sẽ thắc mắc: nếu toàn thể chủ đề này vốn rất dễ gặp nguy cơ bị giả mạo như vậy, thế tại sao Đức Chúa Trời lại chọn cách kết hợp phi thường giữa nói tiếng lạ và thông giải tiếng lạ như vậy để gây dựng dân sự Ngài? Câu trả lời có thể nằm trong tính cách kết hợp cần thiết giữa việc nói và thông giải tiếng lạ. Nếu quả thật đây là một ân tứ để gây dựng Thân thể, thì thật thích hợp khi toàn thể các thành viên tham gia Thân thể ấy phải cùng vận dụng chuyển mình để tiến về phía trước nhờ vào Đức Chúa Trời và nhờ cậy lẫn nhau. Có thể họ sẽ không luôn luôn thực hiện được tốt. Nhưng cả như thế cũng có thể dẫn tới việc gây dựng hội chúng trong nhẫn nhục, trong việc sửa sai lẫn nhau, và trong tình yêu thương. Các ân tứ của Đức Thánh Linh vốn là loại rượu mạnh; chắc chắn là phải có sai lầm và chệch choạc. Nhưng vì chắc chắn là trong Thân thể vốn có tình thương, nơi những người thực thi các ân tứ ấy vốn có sự khiêm nhu, và có sự phân biệt đáng kính trong số người có được các ân tứ ấy, sự tăng trưởng sẽ xảy ra. Nếu không dám liều lĩnh, không thử nghiệm, sẽ không thể có sự sống và sự tăng trưởng được. Điều Phaolô dặn dò người Côrinhtô là hãy liều lĩnh kèm theo sự kiểm soát và tình yêu thương.
Tiếng lạ và việc thông giải.
Phaolô khuyến giục những ai đã được ân tứ nói tiếng lạ nên cầu nguyện để được cả ân tứ thông giải nữa (14:13). Tuy có một số người được ân tứ thông giải nhưng không nói được tiếng lạ đó là điều bất thường, vì phần đông những người đã có ơn nói tiếng lạ, thì sau đó cũng được cả ơn thông giải nữa. Và rõ ràng đây là điều đáng ao ước để gây dựng Hội Thánh khi tiếng lạ được sử dụng trong thờ phượng và cũng để gây dựng trí khôn cho cá nhân Cơ đốc nhân ấy khi cầu nguyện bằng tiếng lạ nữa - vì như chúng ta đã thấy, tâm trí người ấy vốn chẳng được kết quả gì, tuy tâm linh người ấy hướng lên để cầu nguyện với Đức Chúa Trời.
Căn cứ vào 14:5, thì rõ ràng tuy nói tiếng lạ là một ân tứ thua kém ân tứ nói tiên tri (là khả năng nói ra lời Đức Chúa Trời một cách trực tiếp nhân một cơ hội nào đó), vì nó chỉ gây dựng cho cá nhân mà không gây dựng cho Hội Thánh, tuy nhiên, nói tiếng lạ đồng thời cũng thông giải, thì tương đương với nói tiên tri. Nó cũng giống nói tiên tri vì đó là một thông điệp được Đức Chúa Trời linh cảm, và cả hai ân tứ đó nhập chung lại, cũng giống lời tiên tri là có thể khiến người ta hiểu được, do đó, đều đụng chạm đến cả trí khôn lẫn tâm linh những người hiện diện. Việc thông giải không nhất thiết phải luôn luôn là bằng lời nói. Có khi nó là một bức tranh được ban cho một thành viên trong hội chúng. Có khi tiếng lạ tiết lộ lời xưng tội của một thành viên nào đó. Nó có thể rất khác nhau. Dầu vậy, điều mà Phaolô thích hơn vẫn thật rõ ràng. Kết luận của ông cho vấn đề này là: “Hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ” (ICo1Cr 14:39).
Vài điều chỉ dẫn.
Vậy, nếu phải nhờ ICôrinhtô hướng dẫn mình, chúng ta phải thừa nhận rằng nói tiếng lạ kèm theo việc thông giải, có thể là một ân tứ thật sự của Thánh Linh Đức Chúa Trời cho một số người, và Phaolô ước ao ân tứ ấy được sử dụng trong thì giờ cầu nguyện riêng để người tín hữu được gây dựng, và nơi công cộng khi cả hai ân tứ được sử dụng đồng thời với nhau. Tuy nhiên, ông còn cẩn thận điều chỉnh cách thực hành sau này qua việc ông bận tâm nghĩ đến trật tự trong sự thờ phượng có phần lộn xộn của người Côrinhtô. “Ví bằng có người nói tiếng lạ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải”. Đó là lịnh truyền của ông. Trong lời khuyên của Phaolô, rõ ràng là có dụng ý thận trọng, ông vốn không vui về cách mọi việc xảy ra tại Côrinhtô, “sự say mê” tiếng lạ của họ. Ông biết rằng đó có thể là một ân tứ thật sự của Thánh Linh Đức Chúa Trời, do đó, đang khi ông cẩn thận chấn chỉnh nó, ông vẫn không hề ngăn cấm. Nhưng theo suy đoán của tôi, chắc ông cũng biết rằng việc nói tiếng lạ có thể do tình trạng tâm lý mà ra. Ông cũng nhận thức được như nhiều người Ngũ tuần - rằng ma quỉ cũng giả mạo việc nói tiếng lạ. Trong hội chúng tại Côrinhtô, đã có người “nguyền rủa Chúa Giê-Xu” sử dụng tiếng lạ mà họ đã dùng trong những ngày còn theo ngoại đạo, trong sự thờ lạy hình tượng. Thật vậy, nói tiếng lạ là một hiện tượng rất phổ biến và được quan sát thấy trong nhiều nền văn hóa, cả cổ xưa lẫn hiện đại. Nó không phải là dấu hiệu độc quyền của việc được Đức Thánh Linh chiếm hữu, nhưng Đức Thánh Linh có thể sử dụng nó. Tuy nhiên, vì nó vốn có thể dẫn đến điều tốt hoặc điều xấu, vì nó vốn khó hiểu thấu được, vì nó có tính cách vị kỷ, vì nó có thể bị lạm dụng, và vì cớ tính cách không thuộc về đạo đức và tùy thuộc vào một người, vị sứ đồ đã không muốn đồng ý với người Côrinhtô trong việc đánh giá nó như là ân tứ tốt nhất, có giá trị nhất của Đức Thánh Linh. Có lẽ không phải là điều ngẫu nhiên, khi mỗi lần đề cập việc nói tiếng lạ và thông giải, chúng đều được Phaolô xếp vào hàng cuối cùng trong bảng liệt kê của ông chớ không phải là ở hàng đầu, như chắc chắn là người Côrinhtô vốn muốn đánh giá chúng như vậy.
Ân tứ nói tiên tri.
Một sự tuôn đổ tươi mới.
Ân tứ để nói thứ ba là nói tiên tri. Lời tiên tri đã chết đi trong dân Y-sơ-ra-ên từ nhiều thế kỷ, nhưng đã được làm cho sống lại khi Chúa Giê-Xu, nhà tiên tri người Naxarét, Đấng tiên tri giống như Môise (Mat Mt 21:11; Cong Cv 3:22; 7:37) giáng lâm. Chúa Giê-Xu đã đến, không phải chỉ để làm trọn các sách Luật pháp (Torah) mà cả các sách tiên tri nữa (Mat Mt 5:17), và chẳng những Ngài làm ứng nghiệm một số ít những lời tiên tri chung quanh sự giáng lâm của Ngài và sự ra đời của Giăng Báptít mà thôi, nhưng vẫn tiếp tục được ứng nghiệm trong dân sự Ngài mãi cho đến sau khi Ngài đã chịu chết. Thật ra, người ta sẽ không hề sai lầm khi khẳng định rằng lời tiên tri của Cơ đốc giáo được khai sinh vào ngày lễ Ngũ tuần, khi sự xâm nhập ngoạn mục của Thánh Linh Đức Chúa Trời đã thuyết phục các môn đệ Ngài rằng họ đã chứng kiến việc ứng nghiêm lời tiên tri của Giô-ên . “Trong những ngày đó, ta sẽ đổ thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái, chúng nó đều nói lời tiên tri” (Cong Cv 2:18). Câu cuối cùng “chúng nó đều nói tiên tri” không có trong nguyên văn sách Giô-ên; nó là một câu viết trong dấu ngoặc đơn của Cơ đốc giáo. Nhưng nó chứng minh rõ ràng rằng lúc ấy các Cơ đốc nhân ý thức được là Thần Linh của lời tiên tri đang ở giữa họ, và thấy qua việc đó Đức Thánh Linh từng ngự trong lòng Thầy họ đã trực tiếp tuôn trào ra, làm ứng nghiệm những niềm hi vọng của Cựu Ước rằng toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời sẽ nói tiên tri (Dan Ds 11:29). Lời tiên tri của Cơ đốc giáo có thể truyền rao bởi những người nam hay người nữ (Cong Cv 21:9; KhKh 2:20; ICo1Cr 11:5). Ba cô con gái nói tiên tri của Nhà Truyền đạo Philíp đã gây xúc động phi thường cho cả Hội Thánh nói chung, và là một kiểu mẫu được lưu truyền đến tận thế kỷ thứ hai. Thật ra, ngay trong ICôrinhtô, khi Phaolô hết sức quan tâm điều chỉnh các trường hợp nói tiếng lạ hầu tránh mọi thái cực có thể khiến Cơ đốc nhân bị mang tiếng xấu, ông đã chẳng hề nói gì để gây nản lòng cho các nữ tiên tri về việc họ ngỏ lời trong hội chúng cả, trái lại là khác (11:1 và tt).
Được phổ biến rộng rãi.
Việc nói tiên tri được phổ cập rộng rãi. Chẳng những chỉ có các nhà tiên tri tại Giêrusalem và Sêsarê, mà cả tại Antiốt (Cong Cv 11:27; 13:1), Rôma (RoRm 12:6 Côrinhtô, Têsalônica (ITe1Tx 5:19, 20) và các Hội Thánh tại Tiểu Á châu (Khải 1:3;) nữa. Cả Luca lẫn Mathiơ đều vạch rõ rằng Chúa Giê-Xu đã tiên báo việc nói tiên tri sẽ được tiếp tục giữa vòng các môn đệ Ngài (Mat Mt 10:41 và tt LuLc 11:49). Đó là một ân tứ được đánh giá rất cao, tuy chỉ do một cá nhân duy nhất thực thi, hay như trong một số các khúc sách gợi ý, là do cả một nhóm tín hữu nói tiên tri thực hiện (Cong Cv 13:1; Eph Ep 2:20; 3:5; 4:11; KhKh 10:7; 22:6, 9). Thật dễ hiểu tại sao nó được đề cao như vậy: vì nói tiên tri có nghĩa là được Chúa Thánh Linh cai trị. Trong việc nói tiên tri, Đức Chúa Trời trực tiếp truyền thông cho loài người qua con người. Cùng với vị sứ đồ, nhà tiên tri làm môi giới cho sự mặc khải, nhưng sở dĩ các nhà tiên tri kém các sứ đồ vì họ không thể lui lại sau và cũng không thể đi vượt quá lời chứng của các sứ đồ về Chúa Giê-Xu - dầu sao họ vẫn không được như các sứ đồ, là đã chứng kiến tận mắt mặc khải cuối cùng của Đức Chúa Trời, là Chúa Giê-Xu đã lấy xác thịt đến với loài người.
Vậy, lời tiên tri có giá trị, vì qua đó, Đức Chúa Trời đã trực tiếp phán với dân Ngài. Ngài từng làm như vậy qua trung gian các nam nữ tiên tri của thời Cựu Ước; Ngài từng làm như vậy qua “nhà tiên tri người Naxarét”, là “đấng tiên tri giống như Môise”, tức là chính Chúa Giê-Xu; và Ngài vẫn tiếp tục làm như vậy qua trung gian các cá nhân hay nhóm người được linh cảm, làm chứng cho Chúa Giê-Xu bằng những lời lẽ không phải do chính họ nghĩ ra - mà Chúa Giê-Xu chính là Đấng đã từ kẻ chết sống lại, là nguồn mạch của mọi sự khôn ngoan và tri thức.
Lời tiên tri của Cơ đốc giáo là gì?
Việc làm sáng tỏ cách chính xác lời tiên tri của Cơ đốc nhân đầu tiên không phải là dễ dàng. Có thể có khác nhau giữa lời tiên báo của một người như Agabút, những huyền nhiệm của sách Khải huyền (một thí dụ rất hay về lời tiên tri thời nguyên thủy, xem KhKh 1:3), với việc chỉ định một Cơ đốc nhân vào một chức vụ đặc biệt (ITi1Tm 4:14), lời làm chứng cho Chúa Giê-Xu (KhKh 19:10), và việc sử dụng nó khi truyền giảng Phúc âm, để gây dựng, an ủi hay dạy dỗ (ICo1Cr 14:3, 24, 29). Vậy thì việc nói tiên tri rất khác nhau đó trong Cơ đốc giáo là gì?
Trước hết và trên hết, đó là một lời trực tiếp từ Đức Chúa Trời cho tình hình đang xảy ra, qua môi miệng của một người trong số dân sự của Ngài (và có khi, có thể do bất luận một Cơ đốc nhân nào, kể cả những người không được thừa nhận là “các nhà tiên tri”, KhKh 10:7; 11:10). Một điều khác nữa liên hệ đến lời tiên tri, ấy là một lời nói rõ ràng, chẳng cần phải thông giải. Đây là ưu điểm quan trọng nhất của nó so với tiếng lạ. Bởi vì nó có thể hiểu được, nó cần đến trí khôn của người nói (là cái tâm trí, cái trí khôn không được dùng đến khi nói tiếng lạ, ICo1Cr 14:14); nó góp phần vào việc gây dựng toàn Thân thể của Chúa Cứu thế đã nhóm lại để thờ phượng; nó đánh mạnh vào lòng những kẻ không tin đang hiện diện, họ bị ngạc nhiên về tính cách thẳng thắn và thích hợp của những gì đang được nghe nó chứng minh rằng chắc chắn Đức Chúa Trời đã hiện diện với hội chúng (ICo1Cr 14:4, 24 tt). Cho nên, nó là một ân tứ mà các Cơ đốc nhân nên tìm cầu và đánh giá cao. Không phải tất cả Cơ đốc nhân đều có ân tứ ấy (ICo1Cr 12:29), nhưng mọi người đều được khuyến khích hãy cầu xin cho được nó, vì nó vốn hết sức hữu ích cho các thành viên (chi thể) khác của Thân thể Chúa Cứu thế (ICo1Cr 14:1).
Nó không phải là xuất thần.
Đến đây thì nhiều hiểu lầm thông thường đã chen vào. Trước hết là sai lầm gọi việc nói tiên tri, là “nói trong lúc xuất thần”. Đây cũng rất gần với sai lầm chúng ta thấy khi khảo xét cách dùng từ ngữ “xuất thần” cho việc nói tiếng lạ. Nó sẽ là sự mô tả đầy đủ, nếu có nghĩa là ân tứ do sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh. Nó sẽ không chính xác nếu gợi ý về một sự thúc đẩy, khích động mà người ta không thể cưỡng lại nổi. Vì trong Tân Ước không hề có dấu hiệu nào cho thấy lời tiên tri là sản phẩm của sự khích động thuộc linh. Cũng không có dấu chỉ nào cho thấy nó có tính cách ép buộc. Mà trái hẳn lại, điều khá lý thú là vào thời kỳ hưng thịnh của phong trào Montanus, người ta rêu rao rằng lời tiên tri là một cái gì thúc đẩy, không thể trốn thoát được. Montanus bảo rằng “Con người như cây thất-huyền-cầm, còn Ta (tức là Đức Thánh Linh) lướt trên đó như cái móng để gãy đàn vậy” (Epiphanius, Haer.48:4.1). Người ta bảo rằng Maximilla còn nhấn mạnh hơn nữa: “Chúa đã sai ta như một người trong đạo, một nhà truyền đạo và giải nghĩa cơn họan nạn, sự giao ước và lời hứa này; Ngài đã thúc đẩy ta, dầu muốn dầu không, cũng phải học biết sự tri thức của Đức Chúa Trời” (như trên, 48:13.1). Sự nhấn mạnh không phải lẽ và sức thúc đẩy đó chắc chắn khiến người ta phải cộng tác hết mình với Đức Chúa Trời vốn được ngụ ý cho là tác giả đích thực của lời tiên tri. Thế cân bằng của lời dạy dỗ trong Tân Ước vốn có phần nào và dứt khoát là khác hơn. Phaolô có thể bảo một số người nói tiên tri hãy im lặng, trong khi một số khác được cơ hội để nói. Ông cũng hạn chế chỉ hai hoặc ba người việc sử dụng lời tiên tri trong một Hội Thánh đang nhóm lại nói mà thôi (ICo1Cr 14:29). Điều này không thể nào có được, nếu ân tứ ấy được sử dụng độc lập ngoài ý muốn người sử dụng nó. Nhưng sự thật không phải như vậy. Nó gồm luôn việc sử dụng trí khôn của người ấy nữa. Nó lệ thuộc quyết định của lý trí người ấy.
Nó không giống việc dạy dỗ.
Điều ta thường nghe là nói tiên tri cũng giống như truyền giảng hay dạy dỗ. Người ta chỉ có thể khăng khăng như vậy khi muốn bất chấp toàn thể mọi chứng cứ hiển nhiên ghi lại trong Tân Ước. Những người thuộc thế kỷ thứ nhất mỗi khi nghe, đã biết phân biệt đâu là lời truyền giảng, đâu là lời dạy dỗ, và đâu là lời tiên tri. Hai việc ấy vốn hoàn toàn khác nhau. Các nhà tiên tri và các giáo sư đã được phân biệt trong những khúc sách như Cong Cv 13:1; ICo1Cr 12:29. Soạn một bài giảng theo sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh rồi giảng nó ra bằng quyền năng của cùng một Đức Thánh Linh ấy là một việc; còn cảm thấy bị Đức Thánh Linh chiếm hữu để qua Chúa Cứu thế mà phán trực tiếp với mình bằng những lời lẽ mà mình không hề định ý nói ra, lại là một việc khác. Trong quyển ‘Truyền giảng Tin Lành trong Hội Thánh đầu tiên (Evangelism in the Early Chruch) tôi có chỉ ra trong một khúc sách khá hấp dẫn của Giám mục Melito ở Sạt-đe hồi thế kỷ thứ hai vừa được phát giác trong số các tài liệu bằng giấy vỏ cây Bodmer. Trong khúc sách đó, vị Giáo sư Cơ đốc giáo lừng danh ấy đã thình lình buôc miệng nói tiên tri trực tiếp phán dạy qua trung gian của ông. Tình hình đôt nhiên thay đổi khiến mọi người đều kinh ngạc. Melito đang giảng rằng: “Chúa đã mặc lấy bản tính con người, đã chịu đau khổ thay cho kẻ đau khổ, chịu trói thay cho kẻ bị trói, và chịu chôn thay cho kẻ phải bị chôn (nghĩa là trong tội lỗi) đã từ kẻ chết sống lại và lớn tiếng rao truyền bức thông điệp (bài giảng) này” Rồi tới lời tiên tri:
Ai sẽ dám chống lại ta? Hãy đến đứng trước mặt ta. Chính ta là người đã giải thoát cho kẻ bị định tội. Chính ta là người ban sự sống cho kẻ chết. Chính ta là người đã khiến kẻ bị chôn sống lại. Có ai sẽ tranh luận với ta chăng? Chính ta là Chúa Cứu thế phán: Ta đã tiêu diệt sự chết. Chính ta đã chiến thắng kẻ thù. Và giày đạp âm phủ, trói kẻ mạnh sức, và đưa nhân loại lên đến từng trời cao. Ta là Chúa Cứu thế phán: chính ta (đã làm việc đó). Vậy, hỡi toàn thể các ngươi thuộc về các gia đình của loài người, vốn bị tội lỗi các ngươi đè bẹp, hãy đến đây. Để nhận được sự tha thứ cho các việc làm sai lầm của các ngươi. Vì ta là sự tha tội cho các ngươi. Ta là lễ Vượt Qua đem sự cứu rỗi đến. Ta là sự sống, là sự sống lại của các ngươi. Ta là ánh sáng cho các ngươi, Ta là sự cứu rỗi cho các ngươi, Ta là Vua của các ngươi. Chính ta đưa các ngươi lên các từng cao của thiên đàng. Chính ta sẽ ban cho các ngươi sự sống phục sinh tại đó. Ta sẽ chỉ Cha Đời Đời cho các ngươi. Bằng chính tay hữu ta, ta sẽ nâng các ngươi lên.
Người ta không thể nào căng óc tưởng tượng của mình ra để mô tả rằng đó chỉ đơn thuần là việc truyền giảng hay dạy dỗ. Đức Thánh Linh đã chiếm hữu Melito và trực tiếp ngỏ lời với các thính giả qua trung gian của ông. Đó là thực chất của lời tiên tri.
Nó vẫn chưa tàn lụi.
Một sự hiểu lầm khác nữa là cho rằng lời tiên tri đã chấm dứt khi kỷ nguyên của các sứ đồ đã kết thúc. Chắc chắn nó đã trở thành kém quan trọng đối với Hội Thánh khi Kinh Thánh Tân Ước đã được lưu hành và được mọi người thừa nhận là lời dạy có uy quyền về Chúa Giê-Xu. Rõ ràng người ta không còn có thể thêm vào một lời nào cho lời cuối cùng của Đức Chúa Trời phán với nhân loại; Chúa Giê-Xu chính là (Ngôi) Lời của Đức Chúa Trời nhập thể; và chẳng còn có gì mới mẻ về Ngài mà loài người thuộc thế hệ thứ hai và các thế hệ sau đó có thể thêm vào ngoài ra qua trung gian lời làm chứng của các sứ đồ. Như vậy, phạm vi của lời tiên tri đã bị thu hẹp hơn khi tiêu chuẩn của Kinh Thánh trở thành rõ rệt hơn. Thật ra, nhu cầu về nó có phần giảm bớt trong phạm vi truyền dạy tổng quát cho những người trung tín. Nhưng cho rằng lời tiên tri không còn cần thiết nữa để khích lệ những người trung tín, để cáo trách những người ngoại đạo, và để hướng dẫn Hội Thánh trong những vấn đề đặc biệt là rất sai lầm. Chẳng hạn, chính là nhờ đáp ứng lại một lời tiên tri của một Cơ đốc nhân mà Hội Thánh Giêrusalem đã trốn khỏi thành Giêrusalem và đến trú ngụ tại Pella trước khi Giêrusalem bị thất thủ vào năm 70 SC (Euselius, Hist.Eccl.3:5.3). Sau thời đại các sứ đồ, chúng ta thấy có những nhà tiên tri lưu hành vòng quanh các Hội Thánh Cơ đốc giáo, vận dụng một chức vụ về ân tứ, và bổ sung cho công tác của các trưởng lão sở tại. Những tên tuổi như Ammia và Quadratus được tìm thấy trong số các nhà tiên tri của thế kỷ thứ hai; còn các tác giả như Ignatius (Trallians 5, Ephesians 20), Polycarp (Epistle 5:2 và Martyr.Polc. 16), Hermas (Mand.11) đều biết có các nhà tiên tri vẫn tiếp tục chức vụ của họ trong thời của các vị. Tác giả vô danh chống lại phái Montanus có đề cập những nét chính của Cơ đốc giáo hồi thế kỷ thứ hai khi viết rằng: “Vị sứ đồ tin rằng ân tứ nói lời tiên tri sẽ tiếp tục cho đến tận thế trong khắp Hội Thánh” (Eusebius H.E.5:17). Mãi đến tận cuối thế kỷ thứ tư, Cyril người Giêrusalem còn suy nghĩ rõ ràng là rất có thể các ứng viên chịu ông làm phép báp-tem sẽ nhận được ân tứ nói tiên tri (Catechetical lectures, 16:12, 17:37).
Việc ấy đã trở thành đáng nghi ngờ.
Cho nên, tuy lời tiên tri vẫn được tiếp tục, nó ngày càng trở thành đáng nghi ngờ và có thể bị lạm dụng. Sách Didache, có từ những thập niên 30-50 trong thế kỷ thứ hai, có đề cập mấy điểm sắc nét về các tiên tri và những kẻ tự xưng là nhà tiên tri, như chúng ta sẽ thấy khi khảo xét ân tứ về sự biện biệt. Thiết tưởng ở đây, chỉ cần lưu ý rằng việc nói tiên tri có chiều hướng được tiếp tục trong Hội Thánh, nhưng vì các nguy cơ bị lạm dụng và tinh thần chủ quan, mà nhất là vì phong trào của Montanus hồi cuối thế kỷ thứ hai, hầu như nó đã bị mai một. Chỉ mới mấy năm trước đó, Justin đã chủ trương rằng về trình độ, không có sự phân biệt về mức độ linh cảm giữa các nhà tiên tri của Cựu Ước với Tân Ước. Có hai đều làm chứng cho Chúa Giê-Xu. Ông lý luận rằng chính vì lý do ấy mà từ ngày Chúa Cứu thế trở đi, người Do thái đã không còn các nhà tiên tri nữa, trong khi chức vụ tiên tri đã trở thành hiển nhiên hơn trong Hội Thánh (Dialogue 51 và 82). Các nhà tiên tri sở dĩ có những tiên tri là vì lợi ích của dân sự Đức Chúa Trời nói chung, và chính vì lý do đó mà Hermas đã viết sách ‘Người Chăn Chiên (Shepherd) của ông cho toàn thể Hội Thánh, cũng như Giăng đã viết sách Khải huyền của ông cho bảy Hội Thánh tại A-si, tiêu biểu cho Hội Thánh phổ quát vậy.
Cuộc khủng hoảng của Montanus.
Nhưng với phong trào của Montanus, mọi điều đó đã kết thúc. Bấy giờ đã có cái khuynh hướng đồng nhất hóa chức năng tiên tri với chức vụ giám mục (được hậu thuẫn bởi sự kiện tự thân một số giám mục lừng danh như Melito và Polycarp cũng đã là các nhà tiên tri rồi), nhưng sau thời lộn xộn của Montanus, thì việc đồng nhất hóa ấy trở thành tuyệt đối, và vị giám mục bắt đầu được xem như người phát ngôn có thẩm quyền để truyền dạy lời Đức Chúa Trời cho địa phận của mình. Việc vị giám mục “nuốt mất” nhà tiên tri như thế vốn rất tai hại cho Hội Thánh, nhưng trong hoàn cảnh ấy, thì điều đó có thể hiểu được. Vì Montanus, giám mục người A-si, rêu rao rằng ông và các nữ cộng tác viên với ông là Maximilla và Prisca, là những người kế thừa truyền thống tiên tri của Cơ dốc giáo nguyên thuỷ. Nếu chỉ có chừng đó thì cũng tốt thôi. Nhưng khi họ (tự xưng là phát ngôn nhân của Đức Thánh Linh) dạy rằng thành Giêrusalem trên trời sẽ xuất hiện lập tức gần Pepuza; khi họ tự xưng chính họ là Đức Thánh Linh nhập thể; khi họ loại trừ tất cả các Cơ đốc nhân khác vì bị cho là xác thịt, và tuyên bố rằng chỉ có họ mới được “đầy dẫy Đức Thánh Linh” mà thôi; khi họ từ chối không để những lời dạy dỗ của họ phải chịu sự trắc nghiệm của Kinh Thánh mà xem đó cũng là một thành phần nhỏ, có thẩm quyền như các phần ký thuật của Tân Ước vậy - thì chừng đó Hội Thánh phải ra tay hành động, đó là loại trừ những người theo Montanus, và đồng thời cũng dập tắt luôn Đức Thánh Linh của lời tiên tri trong Hội Thánh. Phải chi những người theo Montanus chịu quyết định đầu phục thẩm quyền của Kinh Thánh, chịu chống lại sự cám dỗ dành độc quyền và loại trừ toàn thể các Cơ đốc nhân khác, thì sự việc đã tốt hơn cho Hội Thánh chung biết bao! Nếu người Công giáo đã nhấn mạnh việc phải trắc nghiệm tính cách chân thực của lời tiên tri thay vì xóa bỏ cả phong trào ấy, cả tốt lẫn xấu, thì sự việc đã tốt đẹp hơn biết bao! Rõ ràng là các lãnh tụ Công giáo đã xem sự tồn tại của các nhà tiên tri như một mối đe dọa cho chức vụ thường xuyên của Hội Thánh. Nhưng đáng lẽ không nhất thiết phải như vậy, khi người ta nhớ rằng những nhân vật như Giu-đe và Si-la, Sau-lơ và Banaba, đều vốn là các nhà tiên tri, vừa là những trưởng lão; và khi trong số đó có vài giám mục hàng đầu hồi thế kỷ thứ hai như Ignatius, Polycarp và Melito, đã kết hợp cả hai chức vụ giám mục với ân tứ nói tiên tri lại làm một. Nếu việc nói tiên tri không được xếp đặt theo trật tự có thể tiêu tan trong cá nhân chủ nghĩa để rồi kết thúc bằng bè phái chủ nghĩa, thì ngược lại, sự trật tự mà không có lời tiên tri rất dễ trở thành một cái tai điếc trước sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời và sa vào cảnh an bình của mồ mả. Đối với những người “có ân tứ” cũng như những người “không theo ân tứ”, thì việc hoàn toàn thất bại trong sự tương giao thông cảm nhau trong vụ án Montanus là thảm kịch không nên để cho tái diễn, nếu về một phương diện Hội Thánh coi trọng sự hiệp nhất của mình thì phương diện kia, đó là sự sống động của mình.
2. CÁC ÂN TỨ ĐỂ HÀNH ĐỘNG.
Thiết tưởng chúng ta đã nói khá nhiều về các ân tứ để nói: nói tiếng lạ, thông giải tiếng lạ, và nói tiên tri. Giờ đây là các ân tứ để hành động: chữa bệnh, làm phép lạ và đức tin.
Các ân tứ chữa bệnh
Chúa Giê-Xu và các môn đệ.
Chúa Giê-Xu đã chữa bệnh cho người ta; và Ngài ủy thác các môn đệ làm nhiệm vụ y như vậy. Điều lý thú cần ghi nhớ là từ ngữ “cứu” trong nguyên văn có nghĩa là “chữa bệnh” cũng như “giải cứu”. Cho nên điều không chối cãi được, là phần đông số người cần được Chúa Giê-Xu giúp đỡ lúc Ngài còn sống trong xác thịt, vốn vừa được phục hòa với Đức Chúa Trời cả về mặt thuộc linh, lẫn được chữa lành bệnh tật về mặt thuộc thể nữa. Điều cũng không chối cãi được, là qua suốt thời gian Chúa Giê-Xu thi hành chức vu, việc chữa bệnh ngày càng được nhấn mạnh ít đi. Ngài không tán thành việc người ta tìm cầu phép lạ và các công việc quyền năng; và Ngài hạn chế thực hiện chúng khi những người tiếp nhận thiếu đức tin. Hơn nữa, có trường hợp Ngài đã lánh mặt khi gặp trường hợp có thể làm phép lạ chữa bệnh, để tập trung vào công tác truyền giảng (Mac Mc 1:38; LuLc 4:43).
Khi khảo xét hoạt động chữa bệnh của các Cơ đốc nhân nguyên thủy, chúng ta cũng cần phải có sự lưu ý tương tự. Về một mặt, các sứ đồ từng được lịnh chữa bệnh trong thời gian Chúa Giê-Xu thi hành chức vụ (Mat Mt 10:8, đối chiếu với trường hợp Bảy Mươi Môn Đồ trong LuLc 10:9) nhưng những ai muốn xem câu này như một lệnh truyền bao quát cả cho các Cơ đốc nhân ngày nay nữa, thì phải dừng lại ở câu tiếp theo đó, là “khiến sống kẻ chết”. Việc này không xảy ra ngày nay. Người ta không thể tránh né được vấn đề này, bằng cách kể lại một vài câu chuyện khiến người chết sống lại tại Inđônêxia mà lời chứng thực vốn do những người gián tiếp nghe kể lại qua các nhân chứng thứ ba, thứ tư, nên rất đáng ngờ.
Sự chữa bệnh trong Hội Thánh.
Cả hai Phi-e-rơ và Phaolô, cùng với Giăng và các sứ đồ khác nói chung đều từng là các nhân vật trung gian để thực thi sự chữa bệnh của Đức Chúa Trời trong Hội Thánh nguyên thủy (Cong Cv 3:7; 9:34; 5:12-16; 28:19). Chữa bệnh được dành cho một chỗ trong bảng liệt kê các ân tứ của Đức Thánh Linh ICo1Cr 12:9, 28, 30. Hơn nữa, nó còn được đề cập rất thường trong thời kỳ tiếp sau thời kỳ các sứ đồ. Justin có nói về những người nhân danh Chúa Giê-Xu để thực thi ân tứ chữa bệnh trong thời của ông, còn Iranaeus thì phân biệt các giáo sư thật của Cơ đốc giáo với các giáo sư giả bằng khả năng chữa bệnh của họ. Do đó, nó quả là một ân tứ cần phải được thi thố bên trong và cho Thân thể Chúa Cứu thế. Mấy năm gần đây, có hàng loạt sách làm chứng cho việc phục hồi ân tứ này tại nhiều nơi trong Hội thánh ngày nay. Các sách ấy đều rất có giá trị về tính cách đáng tin và về phẩm chất, cả về thần học lẫn y học. Trong số những sách tốt nhất, có thể kể quyển ‘Phép lạ chữa bệnh với Cơ đốc giáo, trong tư tưởng cổ đại và thời hiện đại (Healine and Christianity, in ancient thoughts and modern times) của Morton Helsey, và hai quyển ‘Phép lạ Chữa bệnh (Healine) và’ Quyền phép chữa bệnh (Power to Heal) của Francis MacNutt. Điều không chối cãi được, là các Cơ đốc nhân ngày nay đang thức tỉnh đối với khả năng chữa bệnh, là điều mà trước đây họ không tin có thể có được.
Cùng một sự việc như thế cũng đã xảy ra với Augustine. Trong những năm đầu tiên của đời sống mình, ông đã loại bỏ khái niệm về phép lạ chữa bệnh. Nhưng khi ông bắt đầu viết tác phẩm’ Đô thị của Đức Chúa Trời (The City of God), ông đã kể lại cho chúng ta biết ông đã thay đổi quan điểm như thế nào “một khi tôi được biết thế nào rất nhiều phép lạ hiện đang xảy ra trong thời đại của chúng ta vốn rất giống với các phép lạ đời xưa, và thật sai lầm biết bao nếu chúng ta để cho các phép lạ do quyền phép của Đức Chúa Trời đó bị xóa nhòa khỏi ký ức của dân tộc ta. Việc ghi chép lại các phép lạ ấy chỉ mới được bắt đầu từ hai năm nay tại Hippo đây, mà phần ghi lại đó đã có tới gần bảy mươi phép lạ được chứng thực hẳn hoi”
Tuy nhiên, người ta không có cảm tưởng rằng phép lạ chữa bệnh đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc mở rộng Hội Thánh vào thời nguyên thủy. Những người làm phép lạ chữa bệnh đã không được ghi vào danh sách các cộng-tác-viên của Hội Thánh trong Eph Ep 4:11, hoặc trong bảng liệt kê đầy đủ hơn trong RoRm 12:6-8. Trong các Giám mục thư, nhiệm vụ của các chức vụ trong Cơ đốc giáo đều được mô tả đầy đủ, nhưng người ta không thấy đề cập phép lạ chữa bệnh như một trong số đó.
Khi không có phép lạ chữa bệnh.
Chắc chắn Gia Gc 5:14 đề cập quyền phép chữa bệnh của Đức Chúa Trời để nhậm lời cầu nguyện có đức tin, và việc xức dầu của các cấp lãnh đạo Cơ đốc giáo (nghi lễ hay dùng thuốc) cho con bệnh. Nhưng rõ ràng là việc chữa bệnh còn có tính cách bất ngờ, chớ không có tính phổ quát. Ngay đến các sứ đồ không phải bao giờ cũng có khả năng chữa bệnh. Đức Chúa Trời không phải lúc nào cũng ở trong quyền sử dụng để các vị tùy ý lôi kéo. Chính Phaolô đã phải để người bạn thân đang bệnh hoạn của mình là Trôphim lại Milê (IITi 2Tm 4:20). Rõ ràng ông cũng đã chẳng làm gì được đối với căn bệnh của Épbaphôđích (Phi Pl 2:25-27). Ông khuyên Timôthê nên dùng rượu để làm thuốc chữa bệnh về đường tiêu hóa, mà không bảo Timôthê cầu xin được chữa bệnh một cách siêu nhiên (ITi1Tm 5:23). Bản thân ông cũng bị một chứng bệnh đau mắt (GaGl 4:13) và phải chịu một cực hình như gai xóc vào thịt mà theo sự khôn ngoan của Ngài, Đức Chúa Trời vẫn để nguyên và không cất nó đi. Chúa đã không chữa lành cho ông nhưng chỉ cho ông có đủ sức để chịu đựng hoạn nạn đó mà thôi (IICo 2Cr 12:7-9). Điều quan trọng nên nhớ về phương diện này của phần tài liệu trong Kinh Thánh cùng với việc Kinh Thánh thường nhấn mạnh đến sự “yếu đuối” của chúng ta, trong khi có nhiều người cực đoan cho rằng Đức Chúa Trời vốn chẳng bao giờ muốn chúng ta bị đau ốm cả. Trong cái thế giới mà tội lỗi vẫn chưa bị ý chỉ Đức Chúa Trời loại trừ (tuy rõ ràng đó không phải là ý chỉ trực tiếp của Ngài đối với chúng ta) thì tại sao chúng ta lại nghĩ rằng mình có quyền được cứu thoát khỏi sự đau ốm? Phaolô đã không được cái ngoại lệ đó. Và chúng ta cũng vậy. Đau đớn, tội lỗi, bệnh tật và chết chóc, tất cả mọi điều đó là số phận dành cho loài người đã bị sa ngã, và chúng sẽ cứ ở với chúng ta cho tới ngày chúng ta lên thiên đàng. Thật là độc ác khi thấy nỗi âu lo của một kẻ đau yếu được một người đứng đắn khích lệ tinh thần bằng cách bảo rằng người ấy sẽ được phép lạ chữa bệnh, nhưng rồi đã chẳng có phép lạ nào cả; rồi người kia lại bảo rằng hoặc vì con bệnh vẫn còn giấu một tội lỗi nào đó chưa chịu xưng ra *, hoặc là vì người ấy chưa có đủ đức tin. Thật là khó tưởng tượng nổi đương sự sẽ phải sống trong cảnh đau khổ, hấp hối để dò xét lòng mình do hậu quả của việc làm ấy như thế nào Mac Mc 9:29 dẫn chúng ta thoát khỏi việc đo lường đức tin mình một cách vô nghĩa bằng cách căn cứ vào một điều gì có phẩm chất cao hơn: nhu cầu yên lặng chờ đợi với lòng tin quyết là Đức Chúa Trời đang kiểm soát mọi sự. Tôi không biết lối chữa bệnh như vậy có hại nhiều hơn hay ít hơn cách của các Cơ đốc nhân vốn có khuynh hướng duy vật với tầm nhìn nhỏ hẹp, không tin rằng Đức Chúa Trời có thể chữa lành mà không cần đến thuốc men. Tất nhiên là Ngài có thể chứ. Và tất nhiên là Ngài đã từng làm như vậy. Việc ấy đã xảy ra trên thế giới. Nó xảy ra với mọi chứng bệnh của cơ thể người như bệnh lao, bệnh ung thư, bệnh đui mù, và tay chân dị dạng, cũng như với những đau đớn không nằm trong cơ thể. Vấn đề là mọi sự chữa lành đều là công việc của Đức Chúa Trời. Ngài có quyền chữa lành bằng thuốc men hay chẳng cần đến thuốc men. Được chữa lành bằng việc đặt tay và cầu nguyện vốn chẳng “thuộc linh” gì hơn là được chữa lành bằng cách nằm bệnh viện và dùng thuốc. Nhưng Đức Chúa Trời không luôn luôn chọn việc chữa bệnh cho thân xác chúng ta, mà có lẽ không làm như vậy còn hơn. Có biết bao nhiêu người sẽ đổ xô đến theo Cơ đốc giáo (và do đủ thứ động cơ thúc đẩy sai lầm khác nữa) nếu khi làm vậy, họ sẽ tự nhiên tự động được miễn trừ đau ốm bệnh tật? Nếu tất cả các Cơ đốc nhân đau ốm bệnh tật đều được chữa lành ngay tức khắc, thì phải chăng các đức hạnh của Cơ đốc giáo, như sự kiên trì nhẫn nhục, chịu đựng đều trở thành vô nghĩa? Nếu sự lành mạnh thể xác được thực hiện trọn vẹn ngay trên đất này, trong khi một phần sự lành mạnh thuộc linh lại cần phải chờ cho đến khi vào thiên đàng đã, thì phải chăng nó sẽ tạo ra cho người ta một cảm tưởng sai lầm về sự cứu rỗi? Một chuyện kỳ quặc biết bao nếu Đức Chúa Trời đã lên án chết cho tất cả các con cái Ngài, mà lại không cho phép bệnh tật đau ốm đụng chạm gì tới họ? Không, những kẻ rêu rao rằng Cơ đốc nhân được miễn nhiễm bệnh tật là bỏ qua các sự kiện cụ thể để tạo ra những hi vọng giả tạo; về măt thần học họ phạm lỗi y như vậy khi giảng dạy rằng người ta có thể đạt được tình trạng trọn vẹn vô tôi trong đời này. Cả hai đều muốn có được ngay tại đây và ngay bây giờ, điều mà Đức Chúa Trời đã giữ lại cho đời hầu đến, khi sự lành mạnh trọn vẹn và sự tự do khỏi tội lỗi đang hằng ngự trị bên trong sẽ bắt tay nhau và cùng đi chung.
Khi có phép lạ chữa bệnh.
Thế thì, phép lạ chữa bệnh là một ân tứ Đức Chúa Trời ban cho một số chi thể trong Thân thể của Chúa Cứu thế, để khiến họ có thể hành động như những con kênh, những ống dẫn, đem tình yêu thương và sự thương xót đến cho nhiều người khác nữa. Vị sứ đồ hỏi “Có phải...cả thảy đều được ơn chữa bệnh sao?” Câu trả lời rõ ràng là “Không”. Nhưng những ai có thể được ân tứ đó phải sử dụng nó để làm ích lợi cho người khác. Ngày nay dường như đây là một trong những ân tứ tốt lành của Đức Thánh Linh đang được thực hiện ngày càng nhiều thêm, và nhiều Cơ đốc nhân vốn không hề nghĩ rằng mình có được ân tứ ấy đang nhận thấy họ đã được sử dụng trong chức vụ chữa bệnh này. Gần đây, đã có sự bùng nổ của phép lạ chữa bệnh trong hai thánh đường, một tại Phi châu và một tại Á châu là nơi chính tôi có các bạn thân hiện diện và làm chứng cho chúng ta. Họ kể cho tôi nghe là có nhiều ngàn người đã đến, và nhiều người đã được chữa lành các bệnh đui mù, ung thư, bại xuội và nhiều chứng bệnh khác nữa, trong khi một số càng đông hơn đã đến để có được một đức tin sống động vào Cứu Chúa.
Các ân tứ chữa bệnh khác nhau.
Lắm khi phép lạ chữa bệnh được thực thi qua một cá nhân đặc biệt dường như được Đức Chúa Trời trang bị cho ân tứ chữa bệnh đặc biệt. Tôi nghĩ đến một người bạn, một người thật khiêm tốn của Đức Chúa Trời mà qua ông, nhiều phép lạ chữa bệnh ngoạn mục đã thường xảy ra. Tôi có một bạn đồng sự, cũng được ân tứ giống như vậy, và nhiều người đã được ông ta giúp đỡ để chữa lành nhiều chứng bệnh, cả của cơ thể lẫn của tình cảm. Nhưng có những cơ nguy quan trọng trong việc tôn sùng người làm phép lạ chữa bệnh, và có lẽ chính vì lý do ấy mà Phaolô đã không “nhân cách hóa” các ân tứ chữa bệnh ấy trong ba lần ông ám chỉ các ân tứ ấy ở chương 12. Đức Thánh Linh cung ứng cho Hội Thánh Ngài các ân tứ chữa bệnh, chớ không nhất thiết phải cung cấp những người chữa bệnh. Tôi biết một người làm phép lạ chữa bệnh chỉ một lần trong suốt cuộc đời khá dài thi hành chức vụ của mình, nhưng để đáp lại lời cầu nguyện và đặt tay của ông ta, con bệnh vốn được cho biết là phải nằm liệt giường suốt phần đời còn lại, đã tức khắc đứng lên, được chữa lành ngay lập tức và vĩnh viễn. Ngay trong hội chúng của chúng tôi, chúng tôi đã thấy và thường thấy các phép lạ chữa các bệnh về thân thể, tình cảm và tâm sinh lý, để đáp lại lời cầu nguyện xức dầu, và đặt tay. Trong hội chúng, chúng tôi không có một ai nổi tiếng là “thầy chữa bệnh” cả, những ân tứ chữa bệnh xảy ra khi hội chúng - hay một nhóm ít người - lấy đức tin cầu nguyện và chờ đợi Đức Chúa Trời hành động. Giữa vòng chúng tôi, không có giáo lý về phép lạ chữa bệnh đem đến chiến thắng khải hoàn. Mọi người chúng tôi đều ý thức rõ ràng rằng có khi Đức Chúa Trời lựa chọn làm phép lạ chữa bệnh, và có khi Ngài không làm như vậy. Chúng tôi truyền dạy một nền thần học về sự chịu khổ và các bông trái của nó, cũng truyền dạy cả một nền thần học về phép lạ chữa bệnh nữa. Nhưng khi mọi việc đã được nói và làm, thì phép lạ chữa bệnh thường xảy ra. Tôi phải lấy làm hối tiếc mà thú nhận rằng tôi thường không tin điều đó. Bây giờ thì tôi đã thấy, đã từng trải nó ngay trong thân thể tôi, và thỉnh thoảng tôi cũng làm con kênh, làm chiếc ống dẫn, để đem nó đến cho những người khác. Sự thật về ân tứ này chỉ bị nghi ngờ đối với những ai không sẵn sàng khảo xét các chứng cứ hiển nhiên mà thôi. Tương tự như vậy với số người chủ trương rằng nếu các Cơ đốc nhân biết sống gần gũi với Chúa Cứu thế thì chẳng bao giờ phải chịu đau đớn vì bệnh tật, rằng phép lạ chữa bệnh và sự cứu rỗi luôn luôn phải bất khả phân ly - những người như thế cũng không sống phù hợp theo các chứng cứ hiển nhiên của Kinh Thánh, của lịch sử hoặc của từng trải.
Các ân tứ làm phép lạ
Các hành động quyền năng.
Ân tứ thứ hai để làm, tức là “làm phép lạ”, vốn được Kinh Thánh chứng thực rộng rãi. Các phép lạ rất thường xảy ra trong Cựu Ước, trong đời sống Chúa Giê-Xu, và trong sách Công vụ các Sứ đồ. Người ta nghĩ đến các cửa ngục mở ra giải thoát cho một Phi-e-rơ hay một Phaolô; về thuật sĩ Êlyma bị khiến đui mù, và v.v...Nếu cách đọc từ dumameòn, sau từ energèmata trong ICo1Cr 12:10 theo số nhiều mà đúng, thì câu đó chỉ có thể có nghĩa là Phaolô thừa nhận khả năng làm phép lạ là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, vì trong các cổ bản tốt nhất lại thấy chép là dunamèos, là thì thuộc cách số ít (genitive singular) do đó, nghĩa của nó sẽ không phải là “làm phép lạ”, nhưng là “các hiệu quả của quyền phép” - việc thực hiện quyền năng của Đức Chúa Trời trong chức vụ của Cơ đốc nhân khi các tín hữu tiếp nhận và sử dụng quyền năng của Đức Thánh Linh. Cho dầu trong bản văn đang còn tranh luận đó chưa quyết chắc cách đọc nào là đúng, thì điểm nhấn mạnh rõ ràng cũng là vào quyền năng. Từ thời các sứ đồ đến nay, có một số người đã được đặc biệt ban cho quyền năng của Đức Chúa Trời khiến họ có thể làm được những điều mà nếu không có như thế họ chẳng bao giờ có thể làm được. Chỉ cần nghĩ đến các tác động do quyền năng của Chúa Cứu thế trên các nhân vật như Martin Luther hồi thế kỷ mười sáu, hay trên Martin Luther King trong thế kỷ hai mươi; ta sẽ thấy rõ vấn đề.
Giăng 14:2 - và Inđônêxia
Các sách báo thông thường của hội Ngũ tuần hiện hành không thấy viết nhiều về ân tứ làm phép lạ. Nó không chiếm được nhiều chỗ cho bằng các thứ tiếng lạ, nói tiên tri và quyền phép chữa bệnh. Tuy nhiên, trong cuộc phục hưng tại Inđônêxia, người ta kể lại rằng đã có nhiều phép lạ xảy ra tương đương với những gì đã ghi lại trong sách Công vụ các Sứ đồ. GiGa 14:12 đã được suy diễn là vạch rõ cho mọi người thấy rằng Chúa Giê-Xu vốn trông đợi những người theo Ngài sẽ làm nhiều điều còn vĩ đại hơn cả những gì chính Ngài từng làm, và vấn đề thường bị bỏ lửng ở đó, ngoài một vài giai thoại gây được vài ấn tượng có tính cách cá nhân.
Bây giờ nhìn lại những việc đó, người ta thấy có nhiều yếu tố mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến phong trào phục hưng thật rõ ràng của Cơ đốc giáo tại Inđônêxia; những người quen biết với tôi từng đến thăm quốc gia ấy hơn một lần, đã kể với tôi rằng các lời tường thuật về phép lạ đã bị phóng đại rất nhiều. Khoảng cách bao giờ cũng thêm vẻ huyền diệu cho câu chuyện. 14:12 không nhất thiết ám chỉ các phép lạ, mà chỉ đề cập sự kiện hiển nhiên, là qua suốt thời gian thi hành chức vụ của Ngài, Chúa Giê-Xu đã tự ý hạn chế hành động trong vòng dân Y-sơ-ra-ên. Sau khi Ngài trở về cùng Đức Chúa Cha (vốn là toàn thể trọng lượng mũi nhọn của văn bản ấy) các môn đệ Ngài sẽ làm nhiều việc hơn những gì chính Ngài đã làm, vì Thánh Linh của Chúa Giê-Xu giờ đây không còn bị giới hạn trong một thân xác con người nữa, nhưng ngự trị ngay trong chính nhân cách của họ, sẽ ban cho họ quyền năng để làm chứng bằng cả lời nói lẫn việc làm, cho cả phần thế giới đã được biết tới. Có thể quyền năng ấy cũng có ý gồm luôn các phép lạ nữa, nhưng câu ấy đã không nói như vậy.
Loại quyền năng nào?
Khi Phaolô đề cập ân tứ energèmata dunamèos hay dunameòn, có lẽ ông chỉ muốn nói về sự thành công đơn giản bằng lời nói và việc làm mà Đức Chúa Trời ban cho một số Cơ đốc nhân để gây ấn tượng trên người ta. Dường như đó là điều Chúa Giê-Xu muốn nói trong Giăng chương 14. Ngài bảo các môn đệ rằng qua những lời nói (14:10) và việc làm (14:11) của Ngài đã chứng minh cho họ thấy về sự thực hữu của Đức Chúa Cha, Đấng họ không thể thấy được. Cũng vậy, Ngài hứa với họ rằng họ sẽ làm nhiều việc vĩ đại hơn những điều đó nữa, khi Ngài trở về với Đức Chúa Cha và sai Thánh Linh đến với họ. Những lời nói và việc làm của họ sẽ là chứng cứ hiển nhiên cho mọi người trong tất cả các dân các nước (chớ không phải chỉ cho dân Y-sơ-ra-ên mà thôi) về sự thực hữu của Chúa Giê-Xu là Đấng đã được giảng cho họ nhưng họ không được nhìn thấy. Chính cái dunamis tác động đầy quyền năng này sẽ đánh mạnh vào lòng người ta về những lời truyền dạy của Chúa Giê-Xu và cách cư xử của Ngài. Khi nghe Ngài dạy dỗ trong nhà hội tại Naxarét, các đồng hương của Ngài đã ngạc nhiên và hỏi: “Người này đã lấy ở đâu ra sự khôn ngoan, và những cái dunamis của mình, nghĩa là, các hành động quyền năng đó?”
Tôi không hề có ý giảm thiểu một tí gì phần quyền năng siêu nhiên mà Phaolô đang đề cập. Chắc chắn từ ngữ ấy vốn được dùng trong các sách Tin Lành để nói lên các phép lạ chữa bệnh kỳ diệu của Chúa Giê-Xu, và thật ra là sự huy hoàng rạng rỡ của việc Ngài tái lâm nữa, cũng như về sức ảnh hưởng của những lời nói và việc làm của Ngài. Tôi không tin là Đấng Toàn Năng lại bị các “định luật tự nhiên” trói buộc (chúng chẳng phải điều gì khác hơn là một loạt những điều giống nhau mà người ta nghiệm thấy). Chẳng hạn nếu khoa học huyền bí và óc trầm tư Đông phương có thể thực hiện được việc nhấc bổng một vật nặng lên thì tôi thấy chẳng có lý do gì để một Cơ đốc nhân lại không thể được ban cho khả năng đó. Đây chỉ là một vấn đề giải kinh. Phải chăng Phaolô ngụ ý rằng Đức Thánh Linh có thể khiến một số Cơ đốc nhân phá bỏ điều bình thường vẫn được cho là các định luật tự nhiên chăng? Hay điều đó có nghĩa rằng Đức Thánh Linh điều khiển kiểm soát nhân cách của một số các Cơ đốc nhân để lời nói và việc làm của họ đều có một tác động quyền năng đặc biệt cho Đức Chúa Trời?
Quyền năng - hay nhiều quyền năng?
Nếu đúng là từ dunameòs của ICo1Cr 12:10 được viết theo số ít, rất có thể chúng ta phải chọn lối giải nghĩa thứ hai trong hai cách giải nghĩa có thể chọn trên đây. Như vậy sẽ không đúng với lời tuyên bố của Phaolô rằng Đức Thánh Linh ban quyền phép cho lời nói của ông (ICo1Cr 1:5; RoRm 15:10; ICo1Cr 2:4; IICo 2Cr 6:7), và quyền phép Ngài được chiếu tỏa ra qua đời sống ông (Phi Pl 3:10; Cong Cv 1:11; Eph Ep 1:19 và tt IICo 2Cr 12:9 và tt). Đây quả thật là sự “bắt chước Chúa Cứu thế”, là việc tác động của Thánh Linh của Chúa Cứu thế trên những lời nói và việc làm của người tín hữu.
Tuy nhiên, nếu cách viết theo số nhiều là đúng (dunamèon), thì nó khiến cán cân nghiêng về cách giải nghĩa “làm phép lạ”, nhất là dưới ánh sáng của cách viết theo số nhiều trong ICo1Cr 12:28, 28, và của ý nghĩa rõ ràng chỉ về phép lạ trong RoRm 15:18 và IICo 2Cr 12:12, khi nó được kết hợp với "dấu kỳ phép lạ”. Nếu trường hợp đúng là như vậy, chúng ta phải tự hỏi phải chăng đã có một sự bày tỏ siêu nhiên về quyền phép được chứng thực rất rõ ràng trong đời sống của Chúa Giê-Xu và sau đó trong thời đại của các sứ đồ chăng?
Người ta sẽ lập tức thấy hiển hiện trong tâm trí vấn đề đuổi quỉ. Quyền phép của Chúa Giê-Xu đã được chứng minh bằng dấu hiệu rõ ràng là việc đuổi quỉ trừ tà “Người lấy phép và quyền đuổi tà ma, và chúng nó liền ra” (LuLc 4:36). Việc đuổi quỉ vẫn còn thực thi đều đặn sau thời kỳ các sứ đồ, và đã được đánh giá cao. Phần Kết thúc Dài hơn tuy không được công nhận là xác thực của sách Tin Lành Mác liệt kê việc đuổi quỉ vào số các dấu lạ kèm theo việc truyền giảng Tin Lành. Sách Công vụ các Sứ đồ chứng minh là việc ấy đã xảy ra. Nó được tiếp tục như một vũ khí chính yếu trong bộ binh giáp của Cơ đốc nhân vào giai đoạn tiếp sau các sứ đồ. Chẳng hạn như Justin viết: “Và giờ đây, anh em có thể học hỏi được điều đó căn cứ vào những gì đang xảy ra dưới mắt anh em. Nhiều người trong vòng Cơ đốc nhân chúng ta đã thực thi (nhân danh Chúa Cứu thế Giê-Xu đã bị đóng đinh vào thập tự giá dưới tay Bônxơ Philát) vô số các trường hợp đuổi quỉ trừ tà ở khắp nơi trên thế giới, và trong chính thành phố của anh em. Khi mà tất cả những thầy trừ quỉ và các chuyên viên cầu đảo và chữa bệnh bằng thuốc đều thất bại, thì các Cơ đốc nhân đã và vẫn đang còn chữa lành cho họ, khiến ma quỉ trở thành bất năng bất lực và đuổi chúng ra” (2Apology6).
Chức vụ giải cứu.
Đây không phải là chỗ để khảo xét vấn đề đuổi quỉ theo chiều sâu. Việc đó, tôi đã thử làm rồi trong quyển ‘Tôi tin là Sa tan bị sa bại (I believe in Satandownfall). Như phép lạ chữa bệnh, đây là một ân tứ không còn được sử dụng nữa từ rất lâu rồi, nhưng giá trị của nó vừa lại được thừa nhận một cách tươi mới trong Hội Thánh. Chúng ta chẳng những được kêu gọi hãy kêu cầu Chúa để xin Ngài trợ giúp, mà còn phải “chống cự ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em”. Đặc biệt đây là một ân tứ gây xúc động mạnh mẽ và nguy hiểm nữa. Trong phần nhiều các Hội Thánh, nó vốn được các cấp giáo quyền xây hàng rào chung quanh bằng nhiều biện pháp an toàn, và như thế là có lý do chính đáng. Nói chung thì những người bị tà ma ám ảnh đều còn có nhiều vấn đề khác nữa, và một người thiếu từng trải tiếp cận họ một cách đơn giản sẽ rất dễ nhận lãnh tai họa do việc đuổi quỉ gây ra. Tuy nhiên việc lạm dụng cũng không loại bỏ được cách sử dụng phải lẻ. Và chức vụ giải cứu này, tức là việc giải thoát người ta khỏi các quyền lực của ma quỉ mà chính họ đã tự nguyện chịu khuất phục (thường là do một vài sự dấn thân tích cực nào đó vào những chuyện huyền bí phù phép) là một ân tứ thuộc linh quan trọng có thể tìm thấy trong bất kỳ một Hội Thánh nào vẫn còn sống động về phương diện thuộc linh. Có một mối liên hê đăc biêt chặt chẽ giữa việc Đức Chúa Trời cung ứng Thánh Linh Ngài cho chúng ta, với việc trục xuất các linh vốn không phải đến từ Đức Chúa Trời (GaGl 3:5). Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tin quyết vào chức vụ giải cứu này, đồng thời với sự đối phó quyết liệt hơn, là việc đuổi quỉ trừ tà, là điều Phaolô đã nghĩ đến khi ông nói về “phép lạ”, nhất là khi chúng được xếp sát bên nhau trong bảng liệt kê các “tật bịnh cần được chữa lành”. Nhiều khi thật là khó hành động cho có kết quả trong tình hình hiện đại ở một giáo xứ nếu không sử dụng ân tứ ấy. Trong một thời đại mà phần đông thiên hạ đã chối bỏ Đức Chúa Trời, thì người ta tự ý dấn thân theo đuổi các quyền lực “thuộc linh” khác, và điều này để lại dấu vết của nó trên các đời sống bị tan vỡ. Các lực lượng của tà ma cần bị thách thức nhân danh Chúa Cứu thế, thì người ta sẽ thấy rõ quyền phép của Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tại đây, một lần nữa, tôi cũng rất hay hoài nghi. Nhưng tôi đã thấy và thường được dùng làm công cụ để thay đổi tức khắc đời sống của một người, khi người ấy vốn khổ sở do các lực lượng tà ma khiến cho ô uế, đã được giải phóng. Tôi từng thấy một cán bộ làm công tác xã hội bị kinh ngạc đến độ chẳng nói nên lời khi nhìn thấy một người vẫn hò hét và có hành động dữ tợn chẳng khác gì người bị quỉ ám tại Gađara, “lại chịu ngồi yên, mặc quần áo tử tế vào, tâm trí được sáng suốt”, khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời đuổi một lực lượng ma quái ra khỏi người đàn bà đã bị chúng hành hạ từ lâu.
Ân tứ đức tin
Ân tứ thứ ba trong nhóm các ân tứ để hành động này, là ân tứ về đức tin. Tất cả những nhà giải kinh đều đồng ý rằng ở đây, Phaolô không nói về đức tin để được cứu của một người tin Chúa Cứu thế. Quả đúng, đây là một ân tứ của Đức Chúa Trời, theo ý nghĩa là, nếu Đức Chúa Trời không ban cho một ai đó cái khả năng tin cậy, thì chẳng một ai trong chúng ta có thể có được cái đức tin vào Chúa Cứu thế đó. Rõ ràng ở đây, Phaolô không nghĩ về đức tin ấy. Ông đang đề cập đến khả năng tin cậy Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh tối đen, khi đủ thứ chuyện phiền phức đều nổi lên chống lại bạn; cái khả năng để bám chặt Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện suốt trong nhiều năm cho một người thân yêu nào đó của mình được ăn năn quy đạo; sự nhận biết chắc chắn ý chỉ của Đức Chúa Trời liên kết đến một vấn đề đặc biệt nào đó trong tương lai, khiến bạn hành động dường như việc ấy đã xảy ra rồi vậy.
Nô-ê đã có cái ân tứ về đức tin này để tin Đức Chúa Trời, chống lại mọi sự nhạo báng, rằng sẽ có cơn nước lụt, và ông hành động với niềm tin đó bằng cách đóng một chiếc tàu, bất chấp lời cười chê của đồng bào ông. Áp-ra-ham đã có ân tứ về đức tin đó, khi tin rằng Đức Chúa Trời kêu gọi mình ra khỏi xứ Urơ, tuy ý nghĩ ấy là một hành động điên rồ, vì bỏ đi một ngôi nhà đắt giá trong một thành phố phồn vinh để phó thác mình cho Đức Chúa Trời và cho sa mạc. Hudson Taylor đã có ân tứ về đức tin đó khi sáng lập và tiếp trợ cho một trong các hội truyền giáo lớn nhất thế giới trong khi ông hoàn toàn không có một chỗ dựa nào về tài chánh cả, lại không chịu lạc quyên tiền bạc, mà chỉ tin quyết không lay chuyển vào ý chỉ Đức Chúa Trời. Tôi nhớ khi tôi còn bé, một thầy giáo mới đầu phục Chúa chưa đầy năm, đã chỉ cho tôi các tòa nhà của cô nhi viện giáp ranh sân khúc côn cầu của quận Bristol, và thường bảo tôi rằng: “Đừng bao giờ cười nhạo sự cầu nguyện. Khi nào cậu nhìn Cô nhi viện này, cậu sẽ thấy ngay rằng lời cầu nguyện đã được đáp lại bằng gạch và hồ. George Muller đã xây chúng lên bằng lời cầu nguyện và duy trì nó bằng lời cầu nguyện đấy!" Đó hoàn toàn là sự thật; Muller cũng là một trong số những người đã được Đức Chúa Trời ban cho ân tứ về đức tin đặc biệt đó. Ân tứ ấy vẫn chưa bị dập tắt!
Chúng ta thấy rõ tại sao ân tứ này lại được đề cập cùng với ơn chữa bệnh và các phép lạ (hay việc quyền năng?). Bạn không thể nào nhân danh Chúa để chữa bệnh cho người ta, nếu không có đức tin rằng chính Đấng Chữa Bệnh vĩ đại ấy sẽ hành động. Bạn sẽ không thể nào nhân danh Chúa Cứu thế để đuổi quỉ nếu chưa từng vận dụng đức tin cách sâu xa. Đức tin để dời núi được là một ân tứ của Đức Thánh Linh, và nó liên hệ mật thiết với hành động bằng quyền phép của Đức Thánh Linh. Nó không giống như bông trái của Đức Thánh Linh, bao gồm tình yêu thương, sự vui mừng, bình an, đức tin và những điều khác nữa. Các phẩm chất này phải được nhìn thấy dần dần tăng lên trong đời sống của mỗi một Cơ đốc nhân. Còn ân tứ về đức tin dường như là cái nhìn xuyên thấu rõ ràng vào ý chỉ Đức Chúa Trời, là việc neo chắc tất cả mọi sự vào đó, là niềm tin quyết không gì lay chuyển nổi, rằng Đức Chúa Trời sẽ chu cấp mọi sự ngay cả trong những hoàn cảnh khó có thể thực hiện được nhất. Đó là điều đã đánh dấu trên một số Cơ đốc nhân của mọi thời đại là những người đã nhận được ân tứ đặc biệt đó từ Đức Thánh Linh.
3. CÁC ÂN TỨ VỀ TRI THỨC
Ba ân tứ cuối cùng trong ba nhóm ân tứ được đề cập trong khúc sách quan trọng ICo1Cr 12:6-10 không phải là các ân tứ để nói, để hành động, nhưng là về tri thức. Chúng đều là những sự bày tỏ do Đức Chúa Trời ban cho. Đó vẫn là phần việc của Đức Thánh Linh bày tỏ ra cho những người được Ngài ngự trong lòng nhận biết những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Và đây là điều vô cùng quan trọng. Khi cầu nguyện cho người Côlôse mà mình chưa hề gặp bao giờ, lời cầu xin đầu tiên của Phaolô cho họ, là họ được đầy dẫy sự hiểu biết sâu nhiệm về ý chỉ Đức Chúa Trời, cùng với mọi sự khôn ngoan và sự thông suốt thuộc linh, nhằm mục đích duy nhất là để họ có thể sống một cuộc đời biết vâng lời, đẹp lòng Chúa (CoCl 1:9-11)
Ân tứ về tri thức
“Tri thức” trong ngoại đạo
Trước hết, chúng ta hãy xem xét khi nói tri thức là Phaolô muốn ngụ ý gì. Gnòsis là từ Hi văn được dùng trong Tân Ước, nó được dùng rất dè sẻn, có thể là vì màu sắc trí huệ phái (gnostisicm) của nó. Đây là một phong trào mưu tìm sự cứu rỗi bằng tri thức. “Tri thức” có thể là bất cứ điều gì từ ma thuật phù phép đến những sự mặc khải khai tâm cho người ta bước vào các tôn giáo thần bí, cho đến triết học. Ý niệm ngoại đạo này về sư cứu rỗi bởi tri thức là một vấn đề đặc trưng tại Côrinhtô và tạo ra một phản đề nguy hiểm cho tri thức Cơ đốc giáo trong ba phương diện.
Thỏa hiệp
Trước hết, trong lãnh vực hành đạo, nó dẫn tới sự thỏa hiệp. Căn cứ vào ICo1Cr 8:11 và tiếp theo, thì rõ ràng các Cơ đốc nhân còn quyến luyến với cái ý niệm trí huệ phái này, đang đem “tri thức” của họ để thay thế cho sự vâng lời Chúa. Họ vốn quá khôn ngoan để không tin vào sự thực hữu của các thần tượng, do đó, rất sẵn sàng thỏa hiệp địa vị Cơ đốc của họ với mọi người bằng cách ăn các của cúng trong đền thờ thần tượng. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi họ bị kể là những Cơ đốc nhân xác thịt trong chương 3 của Thư tín ấy. Vì có tri thức sắc bén, họ đứng về phía người ngoại đạo cho rằng sự cứu rỗi là vấn đề nằm trong sự tri thức ấy, mà họ là những người đã may mắn chiếm hữu được.
Khắc khổ và phóng túng.
Thứ hai, trong lãnh vực thuộc thể, nhấn mạnh trên “tri thức” dẫn người ta đến hai hậu quả tuy “sinh đôi” nhưng lại mâu thuẫn nhau, là khắc khổ chủ nghĩa và phóng túng chủ nghĩa. Có một khuynh hướng quan trọng trong tư tưởng Hi lạp dường như đã ảnh hưởng đến người Côrinhtô, chủ trương rằng thân thể là cái huyệt mả đang giam cầm linh hồn bất diệt trong đó. Điều quan trọng là phải soi sáng cho cái linh hồn đó để cuối cùng, cứu nó thoát khỏi sự giam cầm của thân xác; còn điều gì xảy đến cho thân xác thì chẳng có chi là quan trọng. Do đó, người ta có thể tiến tới chỗ cực đoan của khắc khổ chủ nghĩa, là hành hại thân xác bằng những phương cách bất tiện gây khổ sở đau đớn; hoặc có thể buông thả thân xác cho sự phóng túng nhục dục, vì nó có quan trọng gì đâu, phần quan trọng là linh hồn kia mà. Chính trên cái bối cảnh đó mà chúng ta hiểu được những lời quở trách của Phaolô đối với những kẻ buông tuồng trong chương 6 và những kẻ khắc khổ trong chương 7. Cả hai đều hành động do cùng một quan điểm sai lầm cho rằng thân thể là xấu, (hay đúng ra là coi thường), còn linh hồn là tốt, là thiện (nhất là khi nó được tri thức chiếu sáng cho).
Chia rẽ.
Thứ ba, việc họ nhấn mạnh trên tri thức tạo ra sự chia rẽ kém lành mạnh nhất. Nếu sự cứu rỗi trước hết là vấn đề của tri thức thì những người có nó được dành cho một địa vị có quyền xem thường, xem khinh kẻ khác, và kiêu căng khoác lác về tri thức của mình. Đó là việc đã xảy ra tại Côrinhtô. Nó là nguyên nhân cho việc lập bè kết đảng tranh chiến nhau mà chúng ta đọc thấy trong mấy chương đầu sách ấy. Nó là nguyên nhân của những vụ kiện cáo (chương 6) và những chuyện rắc rối liên hệ với bàn Tiệc thánh (chương 11), khi một số người cứ ăn uống thỏa thuê, trong lúc nhiều người khác lại chẳng có gì để ăn cả. Nó là động lực khiến Phaolô cảm thấy phải đưa vào chương 13 vĩ đại về tình yêu thương, là ân tứ mà nếu không có, thì tất cả các ân tứ khác đều vô giá trị.
“Tri thức” theo Phaolô.
Do đó, theo như người ta hiểu tại Côrinhtô, thì tri thức khiến người ta dễ dàng thỏa hiệp với nhau về mặt tôn giáo, nó giải phóng người ta khỏi những đòi hỏi bình thường của luân lý đạo đức, cho phép người ta khinh dể các anh em Cơ đốc nhân khác không có được cái ân tứ của mình. Có lẽ bối cảnh này sẽ giúp chúng ta đứng vào một vị trí thuận lợi để hiểu những gì Phaolô ngụ ý nói khi ông đề cập ân tứ thuộc linh về tri thức. Điều quan trọng cần hiểu, đó là chẳng hề có ai trong chúng ta dám chắc chắn điều gì Phaolô ngụ ý nói khi ông đề cập ân tứ tri thức trong bảng liệt kê này, tuy có nhiều người cho rằng họ biết! Tuy nhiên, nhờ khảo xét cách ông sử dụng từ ngữ ấy ở vài chỗ khác, chúng ta có thể tìm ra được vài đầu mối.
Tri thức về Đức Chúa Trời.
Trước hết, đây là sự hiểu biết về chính Đức Chúa Trời, như đã được Chúa Cứu thế Giê-Xu bộc lộ rõ ràng (IICo 2Cr 2:14; 4:6). Nó không phải là sự hiểu biết những điều bí mật ở trên trời hay các phương pháp có tính cách rắc rối và tri thức về sự cứu rỗi, nhưng là sự hiểu biết Đức Chúa Trời. Nhiều khi Phaolô đã sử dụng hình thức có ý nghĩa mạnh hơn của từ ngữ ấy, là epi-gnòsis, có sắc thái của sự tri thức sâu xa hoặc riêng tây. Sự hiểu biết này về Đức Chúa Trời không nhờ người ta nỗ lực mà có được; ICô 12 nhấn mạnh điểm này. Con người vốn hữu hạn và đầy tội lỗi, nên không thể nào nhờ tiến trình trí tuệ và sức phấn đấu tâm linh để đến được với Đức Chúa Trời, là Đấng vô hạn và thánh khiết. Mọi tri thức về Đức Chúa Trời đều phải nhờ Đức Thánh Linh làm trung gian chuyển giao chúng ta; Ngài là Đấng dò xét những điều sâu nhiệm của Đức Chúa trời để mặc khải chúng cho các tín hữu, khiến có thể bảo được rằng họ có tâm ý (tâm trí: mind) của Chúa Cứu thế (ICo1Cr 2:9-16).
Sự thánh khiết.
Thứ hai, sự hiểu biết này không thể thích hợp với một cuộc đời bất khiết. Các Giáo Mục Thư nhấn mạnh rất nhiều về mối liên hệ giữa giáo lý thuần chánh và đời sống thánh khiết, Phaolô cũng làm vậy trong các thư tín ông gởi người Côrinhtô. Ông tuyên bố rằng mình rất giàu có về ân tứ tri thức, nhưng cũng trong một câu đó, ông đã phơi bày cả đời sống mình ra cho người Côrinhtô tra xét (IICo 2Cr 11:6). Như chúng ta đã thấy, ông vạch rõ rằng “sự hiểu biết” không hề nghĩ đến việc thỏa hiệp với việc thờ lạy thần tượng. Tri thức chân chính về Đức Chúa Trời phải kết hợp chặt chẽ, bất khả phân ly với một đời sống thánh khiết.
Tình yêu thương.
Thứ ba, tri thức này không thể thích hợp với thái độ ích kỷ hay kiêu căng đối với người khác. Do đó, ông nhấn mạnh đến việc tôn trọng lương tâm của người khác (ICo1Cr 8:1-13), cả khi bạn nhận biết nó vốn sai lầm, vì đó là tình yêu thương. Dĩ nhiên cùng một trường hợp như thế cũng xảy ra trong chương 13 và chương 6 nữa, khi Phaolô vạch ra rằng con đường của tình yêu thương là phải khích lệ các Cơ đốc nhân thà chịu bị lừa gạt còn hơn là đi kiện cáo anh em mình (6:7). Điều khá lý thú là trong IICo 2Cr 6:6, tri thức được đặt nằm giữa “sự thanh sạch” và “khoan nhẫn”, dường như trong đời sống của môt người, ít nhất sự thông biết cũng được đánh giá phần nào bởi sự thánh khiết và lòng khoan nhẫn đối với tha nhân. Điều chắc chắn là trong 8:7 tình yêu thương quyên góp cho những người bị thiếu thốn vốn được xem chính là kết quả của “tri thức”. Thật vậy, sự bộc lộ ra bên ngoài hướng về tha nhân ẩn tàng trong ân tứ này được nhấn mạnh qua hình thức nó phát lộ trong bảng liệt kê mà chúng ta đang khảo xét, tức là “lời nói có tri thức": những gì được đánh dấu là vốn đến từ Đức Chúa Trời không những chỉ qua nội dung của nó, nhưng còn qua cách truyền đạt của nó nữa. Người có tri thức về Đức Chúa Trời thì không thể cứ giữ nó cho riêng mình mà phải chuyển giao nó cho người khác nữa.
Đó là tri thức của Cơ đốc giáo. Nó tập trung vào Chúa Cứu thế, là nơi giấu kín mọi kho tàng về khôn ngoan và tri thức (CoCl 2:3). Và đó là điều Phaolô mong mỏi toàn thể người Côrinhtô phải có để tăng trưởng trong đó (ICo1Cr 1:5).
Một “lời có tri thức”.
Nhưng Phaolô còn muốn nói một điều sâu xa hơn nữa, khi ông đưa tri thức vào bảng liệt kê các ân tứ thuộc linh này. Nếu đem khúc sách này đối chiếu với 13:2 và 14:6, chúng ta sẽ thấy rõ ràng là Phaolô đang đề câp đến một lời nói có tính cách mặc khải, nhằm tiết lộ một điều gì mới mẻ từ Đức Chúa Trời vì lợi ích cho người khác. Chính vì lý do ấy mà ở đây, ông đã không chỉ nói là tri thức, mà bảo “lời nói có tri thức”. Ông không nghĩ về một đức hạnh ổn định của đương sự, mà về một lời nói đặc thù nào đó đến từ Đức Chúa Trời, đâm thấu vào tâm can kẻ tiếp nhận nó. Rõ ràng Chúa Giê-Xu đã có và từng sử dụng ân tứ này khi Ngài nhìn thấy thấu suốt tánh tình của Nathanaên lúc ông ngồi dưới cây vả, khi Ngài bảo những kẻ hầu bàn trong tiệc cưới tại Cana hãy múc nước trong các ché đá đem đến cho người chủ bữa tiệc, khi Ngài nhìn lên cây vả và gọi đích danh Xachê, và khi Ngài bảo người phụ nữ Samari rằng bà ta đã có năm đời chồng rồi v.v.... Phi-e-rơ cũng có ân tứ ấy khi ông biết rõ lòng của Anania và Saphira vốn không ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Dường như đó là ân tứ mà vị sứ đồ đang đề cập ở đây. Đây là một sự hiểu rõ do Đức Chúa Trời ban, mà bình thường, người tiếp nhận nó vốn không có. Nó được ban cho không phải là để khen thưởng, nhưng nhằm xây dựng. Nó là một ân tứ đặc biệt cho Cơ đốc nhân làm công tác tư vấn, khuyên giúp, giải đáp thắc mắc, vốn cần phải thấu rõ nỗi lòng của kẻ đang trò chuyện với mình. Ngày nay nó vẫn được cung ứng cho ta. Thỉnh thoảng tôi cũng được ban cho ân tứ ấy khiến người đối diện với tôi phải hỏi: “Sao ông lại biết việc đó của tôi?”, và dĩ nhiên, tôi phải trả lời là tôi nào có biết! Nhiều khi một sự hiểu biết xuyên suốt như thế không đến bằng một câu nói trực tiếp nhưng qua một khải tượng hay một hình ảnh đem đến sự soi sáng đột ngột; khi tri thức đến cách như vậy, thì thật khó phân biệt được nó do bức tranh hay là một sự mặc khải, vốn là một phần của lời tiên tri. Một lời định nghĩa thật chính xác rất dễ trở thành lạc đề!
Ân tứ về khôn ngoan
Việc sùng bái sự khôn ngoan.
Phần lớn những điều đã được nói về tri thức cũng có thể đem áp dụng cho ân tứ liên minh chặt chẽ với nó, là ân tứ về sư khôn ngoan. Người Hi lạp luôn luôn có khuynh hướng nghĩ về Đức Chúa Trời bằng các ngôn từ chỉ sự khôn ngoan và về sau trong Do thái giáo cũng có khuynh hướng mạnh mẽ như vậy, khi sự khôn ngoan đã nhân cách hóa và được xem như đồng nghĩa với Đấng Yahweh. Rõ ràng sự việc xảy ra tại Côrinhtô cũng thuộc loại này. Cơ đốc giáo được xem như một sự khôn ngoan mới mẻ. Người ta nhìn vào các giáo sư của đạo ấy như những người cung cấp sự khôn ngoan mới lạ đó. Và người Côrinhtô đang đứng vào vị trí các quan tòa để phê phán giữa các nhân vật Abôlô, Phaolô và Phi-e-rơ: họ có thể phân biệt được các giáo sư, vì họ vốn khôn ngoan mà! Việc này hoàn toàn làm phương hại cho bản chất của Tin Lành, của các Cơ đốc nhân, và của các giáo sư Cơ đốc giáo của họ, cho nên trong Thư tín thứ nhất của mình, Phaolô đã phải đả phá nó, để rồi xây dựng lại.
Cơ đốc giáo không phải là “sự khôn ngoan”
Trước hết, ông đả phá quan niệm của họ rằng Cơ đốc giáo là sự khôn ngoan. Từ căn bản, nó khác hẳn sự khôn ngoan của thế gian. Thế gian với tất cả sự khôn ngoan của nó, không bao giờ đạt được tri thức về Đức Chúa trời. Trong Kinh Thánh, Ngài há đã chẳng từng tuyên bố rằng Ngài “sẽ hủy phá sự khôn ngoan của người khôn ngoan, tiêu trừ sự thạo biết của người thạo biết” (1:19) hay sao? Không, thông điệp Cơ đốc giáo chỉ là điều điên dại, vì nó tập trung chung quanh một người tân là Giê-Xu đã bị đóng đinh vào thập tự giá. Thật là khó tìm cho ra sự khôn ngoan trong việc này! Một người bị đóng đinh vào thập tự giá là một kẻ thất bại về mọi mặt. Và cả khi người ấy đã thành công rực rỡ nhất, người ta không thể tìm được sự khôn ngoan tối hậu nơi một con người đặc biệt nào đó - từ thời Plato về sau, tất cả mọi người có học đều biết rằng mình vốn dựa vào những câu cách ngôn, các ý niệm, và những điều tương tự, có ý nghĩa phổ quát ở mọi nơi. Đó là cách mà người Hi lạp đã phản ứng khi nghe truyền giảng về thập tự giá. Nhưng chính vì người Côrinhtô đã nương dựa vào sự khôn ngoan một cách sai lầm như vậy, nên Phaolô mới quyết định rằng ông sẽ chẳng giảng gì khác hơn là về thập tự giá; mà thật thế, đối với người đời thập tự giá bị cho là điên dại; nhưng với những ai đã nếm trải được quyền năng cứu rỗi của nó, thì kể đó là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (1:18).
Các sứ đồ không phải là giáo sư dạy khôn ngoan.
Thứ hai, các giáo sư Cơ đốc giáo không phải là giáo sư dạy sự khôn ngoan, như người Côrinhtô vẫn tưởng. Nghĩ như vậy là dành cho họ một địa vị quá cao, dường như họ chẳng cần phải lệ thuộc vào Đức Chúa Trời và bất cứ điều gì cả (3:7 và tt), mà cũng là dành cho họ một địa vị quá thấp, dường như họ phải chịu trách nhiệm trước người Côrinhtô về những gì họ đã dạy và đã làm (4:1-13). Như vậy là quên rằng thập tự giá không chỉ là điều để giảng dạy suông, nhưng còn phải sống theo đó nữa; nó không chỉ là nội dung giáo lý của vị sứ đồ, nhưng còn là mẫu mực đời sống của vị sứ đồ nữa. Thật là kiêu căng khi người Côrinhtô cả quyết rằng các quyền phép thiên đàng đã được ban cho họ, rằng họ đang được cầm quyền cai trị, và có thể bước lệch ra ngoài nẻo đường thập tự giá trong một từng trãi dư dật về sự sống phục sinh. Cả trong bản dịch cũng không thể mất đi nét châm biếm trong lời quở trách của Phaolô: “Anh em đã được no đủ, được giàu có rồi, chẳng nhờ chúng tôi, anh em đã khởi sự cai trị. Thật mong cho anh em được cai trị, hầu cho chúng tôi cũng cai trị với anh em!...Chúng tôi là kẻ ngu dại vì cớ Chúa Cứu thế, nhưng anh em được khôn ngoan trong Chúa Cứu thế. Chúng tôi yếu đuối, các anh em mạnh mẽ. Anh em quí trọng; chúng tôi khinh hèn” (4:8 và tt). Nói khác đi, các sứ đồ sống theo con đường thập tự giá, còn người Côrinhtô với đầy đủ các thứ ân tứ thuộc linh, đã không sống như vậy.
Các Cơ đốc nhân không nên “đoán xét” những giáo sư của mình.
Vậy nên Phaolô quay sang sự sai lầm thứ ba của họ, là cho rằng họ có quyền làm quan tòa để phán xét các mục sư của họ, y như điều họ có thể làm đối với bất kỳ một giáo sư triết học lưu động nào, đã đến để khai tâm cho họ về một trường phái đặc biệt nào đó của triết học Hi lạp. Họ không có quyền gì để phê phán các lãnh đạo của mình cho dù rất tự hào về các ân tứ thuộc linh phong phú của mình. Vấn đề lớn nhất của Phaolô tại Côrinhtô là một “băng” Cơ đốc nhân vô kỷ luật, có ân tứ nhưng lại xem các ân tứ thuộc linh có thể thay thế cho con đường thập tự giá, cho việc phải vâng lời các cấp lãnh đạo Cơ đốc giáo, cho đời sống thánh khiết và cho tình yêu thương anh em. Vì thế có gì đáng ngạc nhiên chăng khi Phaolô phải gọi số người có nhiều ân tứ đó là “xác thịt”, là “con đỏ trong Chúa Cứu thế”? Họ xem người không có các ân tứ như họ là “người xác thịt” hay “không thuộc linh”, nhưng chính họ mới là những người bộc lộ mọi đặc điểm của những kẻ có cách ăn ở không được Đức Thánh Linh điều khiển, cai trị, cho dù họ đã nói về Ngài nhiều đến mức nào. Họ vẫn còn là những Cơ đốc nhân “xác thịt” (3:3), có cách ăn ở hằng ngày bị điều khiển bởi những tham muốn tự nhiên của bản tính sa bại của họ, chớ không phải bởi sự hiệp một, khiêm nhu, yêu thương, thánh khiết và theo những lời dạy dỗ của Chúa Cứu thế. Cho nên Phaolô bảo rằng dầu họ có kể lể điều gì đi nữa, thì đối với ông chẳng có gì quan trọng cả. Ông không cần phải đương đầu với sự đoán xét của họ hiện nay, mà chỉ phải đối diện với sự phán xét của Chúa Cứu thế trong ngày sau rốt mà thôi; và chính họ cũng phải đối diện với điều ấy nữa. Họ không phải là người xét đoán thiên hạ, nhưng là kẻ chịu xét đoán. Và Chúa là Đấng biết rõ từng người một sẽ được tôn vinh trong ngày sau rốt. Trong khi chờ đợi, nếu khôn ngoan hơn thì họ phải bớt khoe khoang về sự khôn ngoan của mình đi, và càng bắt chước nếp sống của các sứ đồ trong sự gian khổ và chịu chết suốt con đường thập tự giá, theo gót Chúa Giê-Xu.
Sự khôn ngoan thật.
Thế thì, mọi cố gắng đề cao sự khôn ngoan như là một ân tứ do Đức Thánh Linh ban cho, là một dấu hiệu của lối sống không thuộc linh. Đức Chúa Trời không kêu gọi những kẻ tự xưng là khôn ngoan, và là người được coi là thuộc linh mà lại xem các Cơ đốc nhân “xác thịt” (tầm thường, hạng nhì) là ngu dại (3:18; 2:14). Trái lại, Ngài chỉ kêu gọi những người tự cho là mình ngu dại, để làm xấu hổ những kẻ khôn ngoan (1:26 và tt). Vì nguồn mạch duy nhất của sự khôn ngoan chính là Đức Chúa Trời. Ngài không để cho ai khoe khoang trước mắt Ngài cả. Chính do việc Ngài làm mà tất cả những người Côrinhtô đó đã được ở trong Chúa Cứu thế, và cũng chỉ trong Chúa Cứu thế họ mới có thể tìm được sự khôn ngoan, sự công bình, sự thánh khiết và sự cứu rỗi (1:30). Do đó, mọi sự khoe khoang đều bị triệt để loại trừ.
Rồi Phaolô đã tẻ đề để công kích tánh kiêu ngạo và các sai lầm về sự khôn ngoan của người Côrinhtô. Thật ra có một sự khôn ngoan Cơ đốc, nhưng họ vốn thiếu trưởng thành để tiếp thu được nó (2:7). Trong mấy câu tiếp theo, Phaolô vạch ra rằng sự khôn ngoan qui tụ vào Chúa Cứu thế, nó bao trùm thập tự giá, và được truyền ra bởi Đức Thánh Linh. Sự khôn ngoan này là một từ ngữ có nghĩa rất rộng. Chẳng hạn trong Êphêsô, Phaolô ứng dụng nó cho toàn thể huyền nhiệm về sự cứu rỗi chúng ta, về việc chúng ta được tiếp nhận trong Chúa Cứu thế, và về sự giàu có phong phú của ân điển Đức Chúa Trời (1:8). Ông cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban cho họ thần (Thánh Linh?) khôn ngoan để mặc khải cho họ được biết càng nhiều hơn về Chúa, về niềm hy vọng mà Ngài kêu gọi họ đến, về sự giàu có và vinh hiển của phần cơ nghiệp Ngài ban cho những người thuộc về Ngài, và các nguồn tài nguyên về quyền năng Ngài dành cho những người tin cậy Ngài là thế nào (Eph Ep 1:17). Do đó dường như ân tứ khôn ngoan này của Đức Thánh Linh là một điều vô cùng rực rỡ về nhiều phương diện (3:10). Nó xuất phát từ Chúa Cứu thế là Đấng mà nơi Ngài mọi khôn ngoan được giấu kín (CoCl 2:3), nó được nuôi dưỡng bằng lời của Chúa Cứu thế mà người ta học tập và tin cậy (3:16) và gồm luôn sự khôn ngoan thực tiễn để biết cách ăn ở theo đường lối Cơ đốc cả với những người không theo đạo (4:5) nữa.
Giacơ cũng từng đề cập nếp sống thực tế, trong đó sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời sẽ tự bày tỏ ra (Gia Gc 3:13). Đó là một ân tứ mà Đức Chúa Trời hứa ban cho người tín hữu nào lấy đức tin cầu xin Ngài (1:5). Và Giacơ đã viết cho độc giả của ông theo như cách Phaolô cũng dễ dàng đồng ý với ông mà nhắc lại cho người Côrinhtô.
“Trong anh em, có người nào khôn ngoan thông sáng chăng? Hãy lấy cách ăn ở tốt của mình mà bày tỏ việc mình làm bởi khôn ngoan nhu mì mà ra. Nhưng nếu anh em có sự ghen tị cay đắng và có sự tranh cạnh trong lòng mình, thì chớ khoe mình và nói dối nghịch cùng lẽ thật. Sự khôn ngoan đó không phải từ trên mà xuống đâu; trái lại, nó thuộc về đất, về xác thịt và về ma quỉ. Vì ở đâu có những ghen tị tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn xộn và đủ mọi thứ ác. Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống, thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành, không có sự hai lòng và giả hình. Vả, bông trái của điều công bình thì gieo trong sự hòa bình, cho những kẻ nào làm sự hòa bình vậy” (3:13-18).
Dường như đây chính là bản tính của sự khôn ngoan mà Phaolô đang mời gọi người Côrinhtô cần tìm cầu, một khi họ chịu từ bỏ những lời rêu rao về sự khôn ngoan nhân tạo của họ, từ bỏ sự kiêu căng mà nó làm nảy sinh.
“Một lời khôn ngoan”
Dường như có rất ít lý do để biện minh cho lời rêu rao của người Tân Ngũ tuần cho rằng sự khôn ngoan mà Phaolô đề cập trong bảng liệt kê các ân tứ thuộc linh của ông, là “ân tứ khôn ngoan được ban cho đột ngột và lạ lùng nhằm đáp ứng một hoàn cảnh đặc biệt, trả lời một câu hỏi đặc biệt, hoặc sử dụng một phần tri thức tự nhiên hay siêu nhiên một cách đặc biệt": (Bennett, sđd.tr.163). Trước hết, trong ICôrinhtô chẳng có gì gợi ý rằng từ ngữ chỉ sự khôn ngoan này có tính cách siêu nhiên hay là một phép lạ cả. Phaolô không hề phân biệt cái tự nhiên với cái siêu nhiên; ông nhìn thấy Đức Chúa Trời là tác giả của cả hai. Mọi sự khôn ngoan đều đến từ Ngài. Thứ hai, cách dùng từ ngữ này trong Tân Ước rất ít khi gợi ý rằng ân tứ này được ban cho một cách đột ngột, thình lình. Câu duy nhất có thể dùng rất thích hợp để suy diễn ngược lại, là LuLc 21:15. Ở đây, Chúa Giê-Xu hứa ban cho những người theo Ngài “lời lẽ và sự khôn ngoan” khi họ cần phải làm chứng cho Ngài trong những hoàn cảnh bất ngờ. Nhưng thay vì cho rằng đây là một ân tứ khôn ngoan được ban cho đột ngột, thì ngược lại, với cách dùng thông thường của từ ngữ ấy trong Tân Ước, nó chắc chắn có nghĩa rằng khi có cơn khủng khoảng xảy đến, Chúa chúng ta sẽ ban cho chúng ta khả năng để nói ra sự thông hiểu về ơn cứu rỗi của Ngài vốn đã có căn cứ rộng rãi và được tăng trưởng trong lòng chúng ta qua nhiều năm rồi. Chắc chắn là, ở đây, Phaolô đang nghĩ về một điều gì hết sức đặc thù: đó là một “lời nói khôn ngoan”, chớ không phải là sự khôn ngoan. Nhưng chẳng có điều gì gợi ý nó có tính cách đột ngột cả. Trái lại, cả Chúa Giê-Xu lẫn Giăng Báptít đều được cho biết là càng tăng trưởng về tuổi tác, thì càng tăng trưởng về khôn ngoan (2:40, 52). Do đó, ở đây, có thể chúng ta nói đúng khi giải thích rằng lời nói khôn ngoan là cách sử dụng cách nói năng nhân một cơ hội đặc biệt nào đó, bằng cách áp dụng sự khôn ngoan Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta qua Thánh Linh Ngài. Sự khôn ngoan đó là một tình trạng ổn định của tâm trí, thường tìm thấy nơi một người đã từng kết bạn lâu ngày với Chúa. Nó là một ân tứ khiến Cơ đốc nhân có thể rút ra một sự hiểu biết sâu rộng các chủ đích của Đức Chúa Trời, về Kinh Thánh và trên hết là Chúa Giê-Xu và thập tự giá của Ngài, để nói ra những lời lẽ khôn ngoan thật đúng lúc, hầu gây dựng các chi thể trong Thân thể Chúa Cứu thế. Thật ra, đây là một ân tứ vô cùng quý báu.
Ân tứ biện biệt
Trong bảng liệt kê của Phaolô, còn có một ân tứ cuối cùng nữa, là các khả năng (số nhiều) để phân biệt các thần (linh). Đây không chỉ là khả năng phân biệt thuộc linh nói theo nghĩa rộng của từ ngữ ấy, mà là nhiều khả năng khác nhau cần thiết cho sự biện biệt xem một thần (linh) có phải từ Đức Chúa Trời đến hay không. Trong một Hội Thánh sống động với nhiều ân tứ thuộc linh như tại Côrinhtô, thì đây là một ân tứ có tầm quan trọng chính yếu.
Sống động về tiếng lạ.
Chẳng hạn, hãy lấy thí dụ về vấn đề nói tiếng lạ. Như chúng ta đã thấy, nói tiếng lạ là một phương tiện vận chuyển của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Người ta cũng có thể nói tiếng lạ do động cơ tâm lý, và là một hiện tượng hoàn toàn quen biết, phổ biến, trong giới ngoại đạo. Rất có thể người Côrinhtô đã từng nói tiếng lạ trong thời gian họ còn theo ngoại đạo; như chúng ta đọc thấy trong ICo1Cr 12:2. Và nỗi ám ảnh của những ngày ấy vẫn còn lởn vởn trong Hội Thánh; một số người khoe rằng họ được Đức Thánh Linh cảm thúc để nói tiếng lạ, nhưng lại nói ra lời nguyền rủa Chúa Giê-Xu (12:3). Ân tứ biện biệt rất cần thiết ở đây.
...hay đuổi quỉ
Hoặc hãy xem vấn đề đuổi quỉ trừ tà. Trong Cong Cv 16:17 hai nhà truyền đạo Phaolô và Sila bị một cô gái cứ đi theo quấy rầy, và kêu to: “Những người này là đầy tớ của Đức Chúa Trời rất cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi “. Đây hoàn toàn là sự thật. Hai vị quả đang làm cái công việc ấy; nhưng Phaolô vốn có ân tứ biện biệt, ông nhận biết rằng lời làm chứng này là của một tà linh (linh của quỉ) ở trong cô gái, nên ông đã đuổi nó ra khỏi cô ta: “Ta nhơn danh Chúa Cứu thế Giê-Xu mà truyền mày ra khỏi người đàn bà này”, nó liền ra khỏi cô gái. Chúa Giê-Xu cũng từng chứng tỏ Ngài có cùng một ân tứ biết biện biệt các thần (linh) khi Ngài từ chối không chịu chấp nhận lời làm chứng của một người bị quỉ ám mặc dầu lời ấy là đúng sư thật (Mac Mc 1:23 và tt 5:7 và tt). Đó là linh để biện biệt mà Phaolô đang nghĩ đến.
...hoặc lời tiên tri.
Hay hãy xem ân tứ nói tiên tri. Làm sao để bạn biết được một người tự xưng là tiên tri thật ra đang nói những điều từ Đức Chúa Trời hay tự ý người ấy nói ra? Trong quyển sách tuyệt vời ‘Đấng trong Thánh Linh (One in the Spirit), David Watson nêu ra cho chúng ta ba trắc nghiệm liên hệ đến cái khả năng biện biệt các thần (linh) này. Thật ra, là ba cách trắc nghiệm ấy sẽ cho chúng ta biết về cách biện biệt do Đức Thánh Linh:
“Các cách trắc nghiệm thật là rõ ràng: a) Chúa Giê-Xu có làm Chúa của người ấy không? “Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Giê-Xu là Chúa" (ICo1Cr 12:3); b) Đức Chúa Giê-Xu có được thừa nhận là con người hoàn toàn mà cũng là Đức Chúa Trời hoàn toàn, hay không? “Bởi điều này hãy nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: phàm thần nào xưng Chúa Cứu thế Giê-Xu lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời (IGi1Ga 4:2) c)Người ấy có thật sự tin kính và thánh khiết đến một mức độ nào đó hay không? “Cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu...Các ngươi nhờ những trái đó mà nhận biết được” (Mat Mt 7:15-20).
Tiêu chuẩn.
Hội Thánh nguyên thủy còn áp dụng một số các định chuẩn khác nữa. Dường như một trong các định chuẩn ấy là bề dài của việc giảng thuyết. ICo1Cr 14:29, 30 tưởng tượng ra một trường hợp trong Hội Thánh khi có một người cứ nói tiên tri thao thao bất tuyệt, trong khi có một người ngồi gần đó rất sốt ruột mà chẳng nói xen vào được một lời nào. Phaolô khuyên “anh em” (có lẽ là các lãnh tụ khác của Hội Thánh, có lẽ là các anh em khác có ân tứ phân biệt các linh) hãy sử dụng khả năng biện biệt của mình. Rồi ông nói tiếp: “Song nếu một người ngồi có lời tỏ sự kín nhiệm, thì người trước phải nín lặng. Bởi vì anh em đều cứ lần lượt mà nói tiên tri được cả, để ai nấy đều được dạy bảo, ai nấy đều được khuyên lơn”. Rất có thể, hễ một người càng nói dai bao nhiêu, là người ấy đang nói theo ý riêng chớ không phải nói theo ý Chúa! Người ấy phải ngồi xuống và im lặng, để một anh em khác có một sứ điệp tươi mới hơn đến từ Chúa, có thể truyền rao thông điệp ấy cho mọi người biết.
Như chúng ta đã thấy vào thời kỳ của Montanus trước đây, còn một trắc nghiệm nữa có thể đem ra áp dụng, ấy là thái độ sẵn sàng thuận phục các cấp lãnh đạo Hội Thánh, và dành cho Kinh Thánh phần quyết định dứt khoát. Đức Chúa Trời không phải là tác giả của sự lộn xộn. Ngài không phải là nguồn của bất kỳ một lời dạy dỗ nào do một kẻ mệnh danh là tiên tri nói ra mà lại mâu thuẫn với lời làm chứng của các sứ đồ về Chúa Giê-Xu, hay với các lãnh tụ vốn được bổ nhiệm theo tiêu chuẩn hợp pháp đó. Phaolô từng nói trước về trắc nghiệm này bằng một câu châm biếm cay độc ở cuối ICô 14. ông hỏi: “Có phải là đạo Đức Chúa Trời ra từ nơi anh em, hoặc chỉ đến cùng anh em mà thôi chăng?” để khiển trách đầu óc cá nhân và tánh kiêu căng của họ, và ông tiếp: “Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là được Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng điều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa. Nếu ai muốn bỏ qua không chịu thừa nhận, thì (Đức Chúa Trời ) cũng không thừa nhận họ nữa (theo bản Anh văn). Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ. Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự”. Cần ghi nhận đây là chỗ ông hoàn toàn làm chứng cho Chúa Giê-Xu với tư cách một sứ đồ. Nếu một người thật sự thuộc linh, nếu người ấy là một nhà tiên tri nói lên lời Đức Chúa Trời, thì người ấy phải biết rõ, phải tôn trọng, và phải dựa vào lời chứng của các sứ đồ. Nhà tiên tri không thể thêm các tiết mục mới vào phần mặc khải của “đạo đã được truyền giảng cho các thánh đồ”. Ông ta chỉ là người nhận được ân tứ, được Đức Chúa Trời ban cho lời để nói ra nhằm an ủi, dạy dỗ hoặc truyền giảng Tin Lành bằng cách sử dụng một vài yếu tố nào đó trong phần mặc khải của các sứ đồ, rồi ứng dụng nó một cách có quyền năng cho tình hình trước mắt. Phaolô cũng đồng thời quở trách họ vì không chịu nhận uy quyền của ông với tư cách lãnh tụ thuộc linh của họ. Nhiều khi người nhận lãnh những mặc khải về ân tứ cảm thấy khó khăn khi phải thuận phục theo trật tự trong Hội Thánh!
Thực thi việc biện biệt trong sách Didache
Một trong những khúc sách lý thú chúng ta có được về việc biện biệt các thần (linh) vốn được trích từ sách Didache chương 11. “Không phải bất kỳ người nào theo thần linh (Spirit) thì đều là nhà tiên tri, mà chỉ có người có cách ăn ở cư xử của Chúa, mới là nhà tiên tri. Thế thì, người ta căn cứ vào cách ăn ở của một người để biết được người ấy là nhà tiên tri thật, hay tiên tri giả. Và nhà tiên tri nào dạy chân lý mà không sống theo chân lý mình dạy đó, là tiên tri giả”. Điểm nhấn mạnh vào đời sống tin kính này rất quan trọng, mà cũng đặc thù nữa. “Về các sứ đồ và nhà tiên tri, hãy hành động theo mạng lịnh của Tin Lành. Hãy tiếp rước vị sứ đồ nào đến với anh em, như tiếp rước Chúa vậy (dường như Mat Mt 10:41 ngụ ý dạy như thế). Người ấy sẽ không ở lại hơn một ngày, hoặc nếu cần thì có thể ở đến ngày thứ hai; nhưng nếu kẻ ấy lưu lại đến ba ngày, thì kẻ ấy là một tiên tri giả”. Rõ ràng là đã có các giáo sư Cơ đốc giáo lưu động tự xưng là sứ đồ (có lẽ không theo nghĩa là sứ đồ của Chúa Cứu thế Giê-Xu như Mười Hai Sứ Đồ, nhưng theo nghĩa là Sứ giả, là đặc phái viên được các Hội Thánh sai đi - xem ICo1Cr 8:23; Phi Pl 2:5) hay những nhà tiên tri đã tự phong chức cho mình. Họ đương nhiên được mọi người tiếp rước và tôn trọng, có khi còn thâu phần mười của các hội chúng nữa (Didache 13). Nhưng nếu họ lần lữa cứ ở lì lâu hơn thời gian cần thiết, thì rõ ràng đó là dấu hiệu của sự ích kỷ, chỉ nghĩ đến họ. Cùng định chuẩn ấy cũng được áp dụng cho việc cung cấp lương thực. “Không một nhà tiên tri nào nhân danh Thánh Linh truyền lịnh phải dọn cho mình một bữa aăn, sẽ ăn bữa ăn đó. Nếu khác đi, thì hắn là tiên tri giả”. Đó là lời khuyên khôn ngoan mà tác giả Cơ đốc vô danh sách Didache đưa ra để chống lại sự lạm dụng trong việc tiếp đãi khách lạ. Cùng một thái độ thận trọng như vậy cũng được áp dụng cho vấn đề tài chánh: “Ai nhân danh Đức Thánh Linh nói rằng: Xin cho tôi tiền bạc hay vật gì khác thì bạn đừng nghe hắn; nhưng nếu người ấy xin cho người khác đang thiếu đói, thì xin đừng ai đoán xét”.
...trong sách của Hermas
Chúng ta cũng thấy cùng một cách đánh giá thận trọng đạo đức của những người tự xưng được ân tứ nói tiên tri y như vậy trong các tác phẩm của Hermas “Hãy thử người có Thánh Linh của Đức Chúa Trời bằng đời sống của người ấy. Trước hết, người có Thánh Linh của Đức Chúa Trời từ trên ban xuống là người nhu mì, hòa nhã, khiêm tốn và biết tự chế đối với tội lỗi và sự ham muốn hư không của đời này, tự hài lòng với những nhu cầu tối thiểu, ít hơn các nhu cầu của những người khác; người ấy không nói cách riêng tây (Hermas tiếp tục giải thích, ngụ ý bảo rằng nhà tiên tri chân chính nói trong buổi họp của Hội Thánh khi mọi người dâng lời cầu nguyện lên cho Đức Chúa Trời; Đức Thánh Linh đầy dẫy người ấy, và người ấy nói ra ý chỉ của Đức Chúa Trời cho cả đám đông) và Đức Thánh Linh không nói theo tính khí bất thường của loài người, mà chỉ nói theo ý chỉ Đức Chúa Trời”. Mặt khác, “Hãy nghe về thần (linh) của đất này, vốn rỗng tuếch, bất năng bất lực và điên dại. Thứ nhất, kẻ dường như có Thánh Linh tự đề cao mình, muốn được ngồi ghế cao nhất, táo bạo, hỗn xược, nói nhiều và sống xa hoa, có nhiều ảo tưởng, và đòi phần thưởng cho lời tiên tri của mình”. Đoạn kết rất ngắn và rất đúng vào vấn đề: “Hãy thử kẻ tự xưng mình được linh cảm bằng những việc làm và đời sống của hắn” (mand. 11).
Đây đúng là định chuẩn mà chính Chúa Giê-Xu đã quy định trước đó từ lâu. “Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là chó sói hay cắn xé. Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được...Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? Nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? Và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta” (Mat Mt 7:15-23).
...trong thuyết của Montanus
Điều lý thú cần ghi nhận là vào những ngày đầu tiên, dầu sao chính Montanus cũng thừa nhận định chuẩn đó. Epiphanius bảo rằng Montanus từng nói: “Hãy nhìn xem con người ta như cây thất-huyền-cầm, còn ta thì lướt trên đó, như chiếc móng gãy đàn vậy. Người ta thì ngủ, còn ta thì thức. Hãy nhìn xem, Chúa là Đấng ném lòng người ta vào cơn xuất thần, và ban cho người ta một tấm lòng mới” (Haer, 48:4,1). Nói khác đi, Đức Thánh Linh không những chỉ là tác giả của sự xuất thần, mà cũng là tác giả của những hành vi đạo đức nữa; Ngài khích động lòng người, và ban cho một tấm lòng mới. Chắc đã có lời nói bóng, ám chỉ về tiên tri thật và tiên tri giả của Chúa Giê-Xu trong Math 7, khi Maximilla, một trong những nữ tiên tri của Montanus than thở rằng: “Ta bị đánh đuổi như một con chó sói ra khỏi những con chiên; Ta không phải là chó sói; Ta là lời, là linh, và là quyền năng” (Eusebius, H.E. 5:16,17). Tuy nhiên, cuối cùng thì Maximilla vốn là chó sói. Như chúng ta đã thấy, một trong những định chuẩn cho lời tiên tri, một điều rất khó khăn là nó phải ứng nghiệm. Maximilla nói: “Sau tôi, sẽ không còn các nhà tiên tri nữa, nhưng chỉ là phần chung cuộc mà thôi” (Epiphanus, Haer 48:2,4). Hội Thánh đã sử dụng ân tứ biện biệt để nhận ra rằng Maximilla đã không nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà nói, và dứt khoát (có lẽ là quá dứt khoát nữa) chối bỏ phong trào của Montanus.
Tầm quan trọng của nó.
Còn một số ân tứ khác nữa của Đức Thánh Linh cần thiết cho Hội Thánh hơn là ân tứ biện biệt. Tác giả của phong trào ân tứ Công giáo, Fr.Kilian Mc Donnell viết về vấn đề này, xem đó như vấn đề quan trọng nhất trong toàn thể phong trào:
“Đã có việc chấp nhận lời tiên tri và nói tiếng lạ mà không cần phê phán chọn lọc, không có sự biện biệt đầy đủ để xem điều gì vốn từ Đức Thánh Linh đến, điều gì là do tâm lý con người. Phân biệt các thần (Biện biệt các linh) là một trong những vấn đề hiện hành tối quan trọng của cuộc phục hưng. Cần nhớ rằng việc phán xét cuối cùng về tính chất chân thật của các ân tứ thuộc về người lãnh đạo Hội Thánh, mà trọng trách đặc biệt không phải là dập tắt Thánh Linh, nhưng là phải thử nghiệm mọi sự để giữ lấy những gì là tốt lành”
Vậy trên đây là chín ân tứ của Đức Thánh Linh, thường được các Cơ đốc nhân Ngũ tuần chủ trương là những sự ban cho siêu nhiên mở rộng cho toàn thể các tín hữu đã nhận được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Chúng ta đã thấy việc phân loại các “Cơ đốc nhân được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” phân biệt với các Cơ đốc nhân thông thường, là điều rất khó có thể hòa giải với Tân Ước. Chúng ta cũng đã thấy rằng các trước giả Tân Ước đã không phân biệt giữa các ân tứ tự nhiên, với các ân tứ siêu nhiên do Đức Thánh Linh. Vấn đề còn lại cần khảo xét, là chẳng hay có lời biện minh nào cho việc hạn chế các ân tứ vào chín ân tứ mà thôi, hay không.

4. NHỮNG SỰ BAN CHO VỀ ÂN TỨ
Con số các ân tứ.
Theo thiển ý, dường như sau đây là một lý do khiến người ta không thể xem chín ân tứ kể trên là đầy đủ về số lượng cũng như phẩm chất: Phaolô đưa ra nhiều bảng liệt kê về các ân tứ hoặc các chức năng thuộc linh, và các bảng liệt kê ấy đều rất khác nhau. Chúng thay đổi về các ân tứ và chức năng thuộc linh, nhưng chúng ta không nên ngạc nhiên về điều đó nếu nhớ rằng nhiều loại chức dịch (ministry) khác nhau trong Hội Thánh đều được gọi là ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho người thuộc về Ngài (Eph Ep 4:11). Hễ có bao nhiêu người phục vụ (ministers) thì có bấy nhiêu ân tứ Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, cũng như các ân tứ thuộc linh vậy. Cả hai đều thuộc về nhau, vì các ân tứ thuộc linh sẽ vô nghĩa, trừ khi chúng được những con người thuộc linh vận dụng các ân tứ của mình nhằm phục vụ Chúa.
Bảng liệt kê thứ nhất của Phaolô trong ICôrinhtô chương 12.
Trong ICo1Cr 12:1-31, Phaolô đưa ra bảng liệt kê các ân tứ: bảng thứ nhất ở mấy câu 8-10; bảng thứ hai trong câu 28, và bảng thứ ba trong hai câu 29,30. Bảng liệt kê đầu tiên gồm chín ân tứ chúng ta đã khảo xét: lời nói khôn ngoan, lời nói có tri thức, đức tin, ơn chữa bịnh, phép lạ, nói tiên tri, khả năng phân biệt các thần (linh), nói nhiều thứ tiếng khác nhau (tiếng lạ) và thông giải các thứ tiếng ấy.
Bảng liệt kê thứ hai của Phaolô trong ICôrinhtô chương 12
Trong 12:28 còn có một bảng liệt kê thứ hai. Ở đây, Phaolô đưa ra một thứ tự đặc biệt về tầm quan trọng cho ba chức vụ đầu tiên, là các sứ đồ, các nhà tiên tri và các giáo sư, có thể vì cả ba chức vụ này đều vừa phải sử dụng cả tâm trí lẫn các phương diện khác nữa của nhân cách (căn cứ vào toàn thể phần lý luận của ông trong 4:1-21, chúng ta biết ông nhận thấy điều này rất quan trọng), và chắc chắn là vì cả ba đều chú trọng vào việc gây dựng toàn thể Hội Thánh theo Phúc âm. Rồi tiếp theo là những người làm phép lạ, chữa bệnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng. Các sứ đồ, giáo sư, người cứu giúp, người quản trị được đưa vào bảng liệt kê; việc thông giải các thứ tiếng, đức tin, phân biệt các thần, lời nói tri thức và lời nói khôn ngoan bị loại ra.
Người giúp đỡ, người cai quản (nguyên văn là những công việc giúp đỡ, những công tác quản trị) rất đáng chú ý. Chúng không phải là các ân tứ thuộc linh thường được mọi người tìm cầu hơn hết, vì chúng vốn không thể đem ra phô trương trong khi phần đông người ta muốn săn đuổi các ân tứ là vì mong ước có được điều gì thật ngoạn mục, đặc sắc. Nhưng chúng vốn có giá trị biết bao trong bất kỳ một hội chúng nào. Antilempseis (giúp đỡ), trong nguyên văn chỉ về vai trò của những người đứng ra thay cho người khác - để làm chính công việc đang cần thiết của đúng thời điểm đó. Tôi nhớ đến một người đã tốt nghiệp đại học Oxford, anh đã làm việc một thời gian trong chi hội của chúng tôi trước khi xuất ngoại làm giáo sĩ ở Brazil. Anh ta là một thí dụ điển hình rõ ràng nhất về một người đã được ban cho cái ân tứ ấy cách phong phú nhất mà tôi từng được thấy. Khiêm tốn và luôn luôn tự giấu mình đi, anh ta luôn luôn có mặt để giúp đỡ, luôn luôn đi thăm viếng những người thiếu thốn, luôn luôn nghĩ trước những phương pháp nho nhỏ nào đó để có thể giúp cho đời sống những người quanh mình được dễ chịu hơn. Tôi cũng nhớ đến một người khác cùng có cái ân tứ ấy: bà ta là một mệnh phụ cao tuổi đã bị điếc! nhưng có một sinh lực đáng kinh ngạc - Bạn sẽ tìm thấy bà ấy lo nước trà sau buổi nhóm, nhận tiền quyên trợ những người kém may mắn, làm những công việc vụn vặt để lấy tiền bố thí, quét dọn nhà bếp của nhà thờ, xếp dọn lại các quyển sách sau buổi nhóm. Những công việc nhỏ nhặt mà mọi người khác chẳng quan tâm, thì bạn đều thấy chính bà ta làm. Nếu biết được mình có cái ân tứ thuộc linh đó, hẳn bà phải kinh ngạc vô cùng, nhưng quả thật bà đã có cái ân tứ ấy. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ban cho bà.
Từ ngữ được dịch là “cai quản” cũng không kém phần lý thú. Nó có thể mang đúng ý nghĩa ấy, và những ân tứ không thể nào đếm hết được của một nhà quản trị giỏi trong một Hội Thánh một khi người ấy được thật sự tin cậy để toàn quyền hành động. Ông ta vừa là nhà truyền đạo có giá trị, giảng hay, vừa làm công việc của một vị mục sư và còn là nhà truyền giáo; có thể còn hơn thế nữa đối với cả Hội Thánh nói chung. Đa số các Hội Thánh phải chịu khổ dưới sự quản trị kém cỏi và do thiếu sự tương giao cảm thông nên thường gây ra sự giận hờn, thiếu tin cậy lẫn nhau. Việc quản trị tốt có thể thay đổi mọi điều đó, nó giúp cho các giáo sư và các nhà truyền đạo được tự do để thực hiện công tác mà Thánh Linh Đức Chúa Trời đã trang bị cho họ.
Nhưng từ ngữ kubernètès này còn có một sắc thái khác nữa. Vì anh ta là người “lái” tàu, nhân vật mà bàn tay đặt lên bánh lái, sẽ quyết định hướng đi của chiếc tàu. Chính chức vụ này rất quan trọng đối với bất cứ một Hội Thánh nào đang chuyển động. Ân tứ của người lèo lái rất quan trọng. Người ấy cần được Đức Thánh Linh trang bị để có khải tượng, biết định hướng, và cũng có năng lực cần thiết để lèo lái Hội Thánh tiến theo hướng ấy. Người giữ vai trò này không nhất thiết phải là vị mục sư trưởng của chi hội. Đức Chúa Trời có thể trang bị cho bất cứ thành viên nào trong Thân thể để có được ân tứ ấy, và nếu có một ai khác hơn là vị mục sư trưởng, thì vị sau này cần được Đức Chúa Trời ban cho cái ân tứ đặc biệt là biết khiêm tốn trong Chúa để chú ý lắng nghe những gì người giữ vị trí hoa tiêu nói ra! Sở dĩ chúng ta thấy khó làm nổi như vậy, là do chúng ta quan niệm về quyền lãnh đạo là theo chức vụ; nhưng phương pháp của Phaolô là do ân tứ, do charisma và mọi chức vụ trong Hội Thánh đều phải có người đảm nhiệm, vì cớ người nắm giữ chức vụ ấy đã có đầy đủ ân tứ cần thiết mà mọi người đều thừa nhận. Khi các Hội Thánh hoạt động theo mẫu mực này, thì mọi chi thể đều tìm ra được chức năng đúng đắn của mình, và sẽ hoàn thành chúng, khiến cả Thân thể đều tăng trưởng trong tình yêu thương và sự hoạt động kiến hiệu, vì những cái chốt tròn đã không bị ép để tra vào các lỗ mộng vuông.
Như vậy là chúng ta đã nói khá nhiều về bảng liệt kê thứ hai về ân tứ được tìm thấy trong 12:28.
Bảng liệt kê thứ ba của Phaolô trong ICôrintô chương 12.
Trong hai câu tiếp sau đó, Phaolô đưa ra một bảng liệt kê có hơi khác hơn một chút. Một lần nữa, ông kết hợp những con người, tức là các sứ đồ, các nhà tiên tri, các giáo sư, với các phẩm chất, tức là phép lạ, ân tứ chữa bệnh, nói và thông giải các thứ tiếng. Một lần nữa, các ân tứ về khôn ngoan và tri thức, đức tin và biện biệt, bị loại ra, so với bảng liệt kê thứ nhất, những người giúp đỡ và người cai quản (là những vai trò không được đánh giá cao tại Côrinhtô!) cũng bị loại ra so với bảng liệt kê thứ hai; trong khi việc thông giải tiếng lạ lại được ghi lại. Chúng ta bắt đầu thấy là rất nông nổi, liều lĩnh, nếu lý luận rằng bảng liệt kê nào trong ba bảng liệt kê trên là đầy đủ và có tính cách dứt khoát, liên hệ đến các ân tứ mà Đức Thánh Linh có thể ban xuống.
Ba bảng liệt kê phụ trội.
Trong RoRm 12:6-8, Phaolô đề cập nhiều charismata và nhấn mạnh rằng chúng được ban xuống cho chúng ta, và chúng vốn khác nhau. Chúng ta phải sử dụng chúng “theo lượng đức tin”, nghĩa là chúng vốn là những vật được cho mượn chớ không phải là các sự ban cho (ân tứ), các tặng vật được cho luôn, và cần phải được tiếp nhận bởi đức tin và phải được sử dụng để phục vụ người khác. Các ân tứ này gồm có nói tiên tri, các hành động phục vụ tha nhân, dạy dỗ, ân tứ đáng yêu là khuyên bảo khích lệ, bố thí rộng rãi, sự lãnh đạo Hội Thánh và “làm sự thương xót”, hẳn là lo lắng cho những kẻ gặp điều rủi ro bất lợi, bị tổn thương và cô đơn. Rõ ràng các ân tứ ấy vốn hết sức cần thiết cho tất cả mọi hội chúng, chớ không chỉ riêng tại Rôma mà thôi. Nhưng điều đáng lưu ý là trong chín ân tứ “nguyên thủy” trong ICo1Cr 12:8, 9, chỉ có việc nói tiên tri là còn lại mà thôi! Tuy nhiên, cũng như trong 13:1-13, tình yêu thương đã đứng đầu hết thảy (RoRm 12:9).
Một bảng liệt kê khác xuất hiện trong Eph Ep 4:11, 12. Phaolô đang trình bày bản chất của chức vụ Cơ đốc. Đó là ân tứ mà Chúa Cứu thế ban cho Hội Thánh Ngài; ông đã nhấn mạnh ba lần như vậy. Mà chức vụ không phải chỉ có một. Cũng không phải đó là vấn đề liên hệ đến các giám mục, trưởng lão và chấp sự. Không, một lần nữa điều ông quan tâm là chức năng chớ không phải chức vị. Ông cho ta biết các ân tứ mà Chúa Cứu thế đã thăng thiên ban cho là các vị sứ đồ, các nhà tiên tri, những thầy giảng Tin Lành, các mục sư và giáo sư. Và tất cả số người đó đều được kêu gọi để trang bị cho Thân thể Chúa Cứu thế về sự phục vụ và góp phần gây dựng Thân thể ấy trong tình yêu thương. Bảng liệt kê đã được chọn lọc kỹ càng. Điều chắc chắn là Tân Ước bao giờ cũng cho rằng chức vụ sứ đồ và tiên tri là căn bản. Nhưng ở đây, điểm nhấn mạnh rõ ràng là chính họ là các ân tứ được ban cho Hội Thánh. Trong từng Hội Thánh Cơ đốc đều phải có sự biểu hiện của một vài ân tứ trong số năm ân tứ này. Vai trò của vị sứ đồ có thể nhìn thấy theo hai phương diện: lời làm chứng độc nhất vô nhị của các vị ấy nay đã được ghi vào Tân Ước cho chúng ta; và chiều rộng của sự lưu hành truyền giáo gây dựng của các sứ đồ không cho phép những Hội Thánh lại chỉ biết lo liệu cho mình và mang tính cách một giáo xứ, hay một chi hội địa phương cô lập. Chức năng nói tiên tri cũng cần thiết cả trong việc truyền giảng cho toàn thể xã hội theo nghĩa riêng của việc nói tiên tri, lẫn theo nghĩa đặc thù mà Cơ đốc giáo hiểu về lời tiên tri như chúng ta đã khảo xét. Có các nhu cầu phải truyền giảng Phúc âm, dạy dỗ và chăn bầy trong từng chi hội lành mạnh. Chẳng có lý do gì để cho rằng chỉ duy nhất một người phải đảm nhiệm tất cả mọi vai trò đó. Có thể sẽ phải là nhiều người khác nhau. Vậy ân tứ của Chúa Cứu thế cho Hội Thánh Ngài là một chức vụ đa phương với nhiều ân tứ khác nhau: Phần nhiều các Hội Thánh lại có một chức vụ khác xa điều này! Nhưng các ân tứ ấy đều ẩn tàng bên dưới bề mặt của từng chi hội, miễn là có người đủ can đảm giải phóng cho chúng.
Phi-e-rơ còn đề cập nhiều charismata nữa trong IPhi 1Pr 4:9-11. Theo ông hiểu thì mỗi một Cơ đốc nhân đều nhận được một ân tứ, và được kêu gọi hãy sử dụng nó để phục vụ lẫn nhau trong gia đình Cơ đốc. Ông kể ra việc tiếp đãi khách mà không than phiền, thái độ tự nguyện phục vụ tận tình, và truyền giảng như rao giảng lời sấm truyền của Đức Chúa Trời vậy. Sự truyền giảng chân chính phải có tính chất “sốt dẻo” đó, như dấu hiệu cho thấy nó vốn đến từ Đức Chúa Trời và chẳng liên hệ gì với sự khôn ngoan của loài người cả. Đó là một charisma đặc biệt từ Đức Chúa Trời đến.
Chỉ là các mẫu hàng mà thôi!
Bây giờ thì đã rõ ràng các bảng liệt kê kể trên chỉ tìm cách đưa ra các kiểu mẫu về những gì Đức Thánh Linh sẽ làm trong đời sống người tín hữu, không nhằm đưa ra các bảng liệt kê thật đầy đủ về các ân tứ, mà một số được dán cho nhãn hiệu là tự nhiên, và một số khác là siêu nhiên. Dĩ nhiên, quả thật có một số các ân tứ ấy vốn hấp dẫn và phấn khởi như nói tiên tri, nói tiếng lạ, và chữa bệnh, so với những ân tứ thường và cực nhọc hơn, như cai quản, giúp đỡ người khác, hoặc dạy dỗ. Nhưng cùng một Thánh Linh đã vận hành tích cực trong cả hai. Và cách đánh giá trị tương đối của Phaolô về nhiều ân tứ khác nhau đó của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh đã làm sáng tỏ sự kiện trong từng bảng liệt kê như vậy của ICo1Cr 12:1-40, ông đã xếp việc nói tiếng lạ và thông giải tiếng lạ vào cuối bảng, trong khi người Côrinhtô thì lại muốn xếp chúng lên đầu bảng! Hơn nữa, tuy bản thân ông vốn được rất nhiều ân tứ theo chiều hướng đó, ông vẫn thích hạ bệ cái ân tứ rõ ràng có tính phô trương và được cho là “siêu nhiên”, tức là ân tứ nói tiếng lạ trong giờ thờ phượng đó, để có thể nói ra - dù ngắn gọn - với tư cách một giáo sư Cơ đốc giáo, hầu có thể gây dựng - không phải chỉ cho bản thân ông - nhưng là người khác. “Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ nhiều hơn hết thảy anh em; nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội Thánh, để được dạy dỗ kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ” (ICo1Cr 14:18 và tt) - tỷ lệ là một phần trên hai ngàn!
Ý nghĩa của “ân tứ” (charisma)
Ân tứ yêu thương của Đức Chúa Trời
Còn một lý do nữa để cho rằng chúng ta đã sai lầm khi tưởng chín ân tứ trong 12:8-10 là các ân tứ duy nhất hoặc là những charismata tiêu biểu mà Đức Thánh Linh ban xuống. Từ ngữ ân tứ gây phục hưng (charisma) được người Ngũ tuần và Tân Ngũ tuần sử dụng phổ biến nhằm chỉ về các ân tứ của 12:8-10 (với sự nhấn mạnh đặc biệt trên việc nói tiếng lạ, thông giải, nói tiên tri và chữa bệnh), theo nguyên văn vốn có nghĩa là ân tứ của charis. Mà charis trong Hi văn chỉ về tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là những kẻ không xứng đáng (để được yêu thương như vậy). Xét xem từ ngữ ấy đã được sử dụng như thế nào trong Tân Ước, sẽ dạy dỗ chúng ta nhiều điều. Phải chăng chúng chỉ được áp dụng cho chín ân tứ ấy, và cho chín ân tứ ấy mà thôi? Phải chăng chúng chỉ được giới hạn cho một giai cấp (hạng) Cơ đốc nhân đặc biệt mà thôi?
...được sử dụng không hạn chế
Từ ngữ này là độc quyền của Phaolô ngoại trừ trong IPhi 1Pr 4:10 khích lệ chúng ta sử dụng các ân tứ đã được Đức Chúa Trời ban cho mình, để giảng rao lời sấm truyền và tham gia phục vụ Ngài (không đúng như điều thấy chép trong ICo1Cr 12:8-10). Phaolô đã dùng nó khoảng mười sáu lần, và theo nhiều cách khác nhau. Ông dùng nó nhiều nhất để chỉ sự tha tội bởi ân điển của Đức Chúa Trời, tương phản với sự phản loạn gây hậu quả thảm khốc của Ađam (RoRm 5:15, 16). Nói khác đi, là loài người xứng đáng nhận án tử hình vì cớ các hành động của mình; tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một ân tứ, ân điển Ngài (một món quà tặng không bởi lòng rộng rãi của Ngài) là charisma, là sự sống đời đời (RoRm 6:23). Ông dùng từ ngữ ấy để chỉ về ân điển của Đức Chúa Trời đã ban cho ông giải cứu ông thoát khỏi một nguy cơ khủng khiếp nhưng không được nói rõ (IICo 2Cr 1:11), ông đã nói về các kết quả của mối thông công lẫn nhau mà ông trông mong nơi các Cơ đốc nhân tại Rôma (RoRm 1:11), về việc Timôthê được tấn phong (ITi1Tm 4:14; IITi 2Tm 1:6), về sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên phản loạn của Ngài (RoRm 11:29), và về nếp sống trong hôn nhân (hoặc nếp sống độc thân tùy sự lựa chọn của mỗi người) như là một charisma do ân điển của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 7:7). Để tóm tắt tất cả, ông khích lệ người Côrinhtô hãy mong ước được ban cho các ân tứ tốt nhất, rồi ngay trong câu tiếp theo đó, bắt đầu bài thánh ca tán tụng của ông, và như thế ông vạch rõ cách không thể lầm lẫn được, rằng ân tứ quan trọng nhất trong các ân tứ mà ân điển Đức Chúa Trời ban cho các Cơ đốc nhân là ân tứ của tình yêu thương, là chính bản thể của Đức Chúa Trời, được cấp phát cho chúng ta qua Đức Thánh Linh (ICo1Cr 12:31; 13:11 và tt). Các ân tứ gây phục hưng (charismatic gifts) vốn chẳng phải gì khác hơn là các ân tứ do tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
...đều là các ân tứ tự nhiên và siêu nhiên.
Những charismata, các ân tứ của tình yêu thương của Đức Chúa Trời này, bắt đầu với công cuộc tạo dựng và cứu chuộc chúng ta. Chúng bao gồm việc nâng cao các đức tính vốn đã tiềm ẩn trong chúng ta, như các ân tứ quản trị, lãnh đạo, dạy dỗ làm vợ làm chồng, âm nhạc và các ân tứ tương tự. Điều quan trọng là phải nhận biết các đức tính tự nhiên đó - hoặc các tài năng đắc thủ, như nấu ăn hay đánh máy chữ - có thể được xem là các charismata là các ân tứ do ân điển Chúa ban, nếu và bao lâu chúng được tiếp nhận từ tay Ngài, được dâng hiến cho việc phục vụ Ngài và gây dựng người thuộc về Ngài trong sức lực mà Ngài cung cấp cho. Tôi nhớ có lần một ông hiệu trưởng tại Singapore đến gặp tôi, tỏ ra bối rối vì ông ta thiếu mất ân tứ nói tiếng lạ. Có lẽ bây giờ thì ông đã có được nó rồi. Nhưng điều đó chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Điều chính yếu là hôm đó ông ta đã ra về với sự biết ơn mới mẻ rằng các tài năng dạy học của ông cũng là một charismata mà Đức Chúa Trời ban cho ông. Ông thấy được rằng cái khả năng tự nhiên đó có thể sử dụng hoặc là cho nghề nghiệp mà ông đã được đào tạo, hoặc là sử dụng nó hằng ngày, ông ta có thể chọn việc đặt cả chương trình làm việc của ngày hôm ấy trước mặt Chúa bằng lời cầu nguyện rằng: “lạy Chúa, Ngài đã ban cho con khả năng dạy dỗ. Con muốn dùng nó như người đại diện cho Ngài hôm nay. Hôm nay con muốn cho tình yêu thương và chân lý của Ngài sẽ chiếu sáng qua con trong lớp học con dạy. Hôm nay, con muốn Ngài sử dụng trọn vẹn cái charis mà Ngài đã phó thác cho con”. Các ân tứ tự nhiên cũng rất có thể được gọi là charismata nếu chúng được xem như ân tứ Đức Chúa Trời ban và được sử dụng để phục vụ Ngài. Nếu sử dụng chúng một cách ích kỷ, chúng có thể gây tai hại.
Sự thật cũng đúng như vậy đối với các ân tứ vượt quá tài năng bình thường, như nói tiên tri, nói tiếng lạ, phân biệt các thần, chữa bệnh và đuổi quỉ. Chúng cũng không phải là những charismata khi không có sự chứng nhận. Chúng không phải là một điều gì bất động mà chúng cũng có thể trở thành một phước hạnh hoặc là một tai họa, tùy theo cách chúng được sử dụng cho lợi ích chung với thái độ khiêm nhu nhằm phục vụ, hay được dùng cho sự kiêu ngạo hoặc chỉ để thỏa mãn lòng người mà chúng đã được phó thác cho. Như chúng ta đã thấy trong phần trước đây (chương 7, tiểu mục Đức Thánh Linh qua lời truyền giảng) charisma vốn được liên kết bất khả phân ly với dikonia và energèma trong sách lược của Đức Chúa Trời. Người ta thấy được một Cơ đốc giáo phục hưng khi các ân tứ bởi ân điển của Đức Chúa Trời được thừa nhận đúng với danh nghĩa ấy với lời cảm tạ tri ân, và được sử dụng không phải bằng thái độ tự cao tự mãn, nhưng bằng thái độ khiêm hạ, nhờ cậy vào quyền năng Đức Chúa Trời để phục vụ dân sự Ngài.
Tuyệt đỉnh của các ân tứ.
Nhưng tất cả các ân tứ ấy, dầu là bẩm sinh hay đắc thủ, đều chỉ mở rộng đúng mức trong tình yêu thương, là ân tứ quan trọng nhất, có thể được ban cho tất cả mọi người. Vì nói cho đúng , thì trở thành Cơ đốc nhân là trở thành người được ban cho ân tứ của tình yêu thương (charismatic). Trước mặt Đức Chúa Trời, chẳng có gì khác nhau giữa người được ân tứ và người không có ân tứ, giữa những người “đã có” và những người “chưa có” (phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh theo quan điểm của người Ngũ tuần) trong cái cộng đồng củaChúa Cứu thế vốn chỉ có một hạng người duy nhất mà thôi. Vì tất cả mọi người đều như nhau, đều là kẻ không xứng đáng đời đời mắc nợ tình yêu thương (charis) của Đức Chúa Trời, Đấng đã tìm kiếm, cứu vớt chúng ta, trang bị cho chúng ta nhiều ân tứ khác nhau, và san sẻ chính bản thể yêu thương mà Ngài đã đổ xuống thật rời rộng trên tất cả những ai đang ở trong Chúa Cứu thế.
CHÚ THÍCH:
(Thỉnh thoảng trong các giới Tân Ngũ tuần có người cãi rằng không có chỗ nào trong Tân Ước bảo rằng tình yêu thương là một charisma cả. Do đó, nó đứng ngoài các ân tứ đã được khảo xét. Tôi không nghĩ rằng luận cứ ấy có thể đứng vững được. Vì một điều: ICô 13, bài thánh ca vĩ đại về tình yêu thương đi tiếp ngay sau lời khuyên của Phaolô: “Hãy ước ao cho được sự ban cho (charismata) lớn hơn hết; rồi tôi sẽ chỉ cho anh em con đường tốt lành hơn (kath huperbolèn). Và ông tiếp tục chứng minh tính cách ưu việt của tình yêu thương, là chính sự sống của Đức Chúa Trời. Đưa tình yêu thương vào đây rõ ràng là ông cố ý muốn nhấn mạnh, nhất là sau khi ông đã từ chối xếp hạng các ân tứ trong mấy câu 21-36. Vì yêu thương có nghĩa là tự hiến, chớ không phải tự khẳng định mình; nó là con đường phục vụ, con đường mà chính Chúa Giê-Xu đã lựa chọn. Do đó mà có điều nghịch lý là tình yêu thương là ân tứ lớn hơn hết trong số các ân tứ vốn chẳng có quyền ưu tiên nào trên nhau cả. Khúc sách thứ hai dường như cũng vạch rõ tình yêu thương là một trong số các charismata, là RoRm 12:1-40. Trong câu 6, Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta vốn có những charismata khác nhau tùy theo ân điển đã được Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Và sau việc dạy dỗ, lãnh đạo, bố thí, làm sự thương xót, ông tự nhiên chuyển sang tình yêu thương. Do đó, tuy chữ nghĩa không gợi ý rằng tình yêu thương là một charisma, Rôma chương 12 và ICo1Cr 12:1-31 đều khẳng định điều đó).


CHÚNG TA NGHĨ SAO VỀ PHONG TRÀO PHỤC HƯNG ÂN TỨ?
Không thể nào viết về chủ đề Đức Thánh Linh trong những ngày này mà lại không đề cập đầy đủ đến phong trào phục hưng ân tứ đã gây ảnh hưởng trên các Hội Thánh khắp thế giới và khuấy động các giới thần học cũng như giáo quyền suốt mấy thập niên vừa qua. Phần khảo xét về charismata trong chương trước đây, sẽ tự nhiên dẫn tới ba câu hỏi khiến chúng ta phải bận rộn trong chương sách này. Ngày nay, chúng ta có trông đợi các ân tứ phục hưng (charismatic gifts) trong Hội Thánh không? Đâu là những ưu điểm và những nhược điểm của phong trào nhằm đẩy mạnh việc sử dụng chúng? Và những người “có ân tứ” và “không có ân tứ” có thể nào sống chung, hiệp một với nhau, và tạo kết quả tốt đẹp trong cùng một Hội Thánh hay không?
1. NGÀY NAY CHÚNG TA CÓ NÊN TRÔNG ĐỢI CÁC ÂN TỨ PHỤC HƯNG TRONG HỘI THÁNH KHÔNG?
Phải chăng các ân tứ đều đã bị mai một?
Từ lâu nay, Cơ đốc nhân thuộc cả hai nhánh chính theo truyền thống Công giáo và Tin Lành rất ít trông mong các ân tứ của Đức Thánh Linh sẽ có thể xảy ra như chúng ta từng đọc thấy trong Tân Ước. Người ta thường cho rằng chúng đều đã tàn lụi cả sau thời các sứ đồ. Người ta cảm thấy thoải mái hơn khi trông đợi những biểu hiện hiện đại của Đức Thánh Linh trong sự bình an và trật tự của Hội Thánh ngày nay, hơn là những sự bùng nổ mảnh liệt của những ngày đầu tiên. Cả hai phía Công giáo cũng như Tin Lành đều bị tiêm nhiễm nặng duy lý chủ nghĩa của thời kỳ phục hưng và đều thiên về trí óc một cách không phải lẽ (do đó nó chỉ còn hấp dẫn người có học vấn mà thôi). Nếu người Côrinhtô vốn có khuynh hướng nhận diện Đức Thánh Linh bằng cái bất bình thường, thì chúng ta lại có khuynh hướng sa vào sự sai lầm ngược hẳn lại, và cho rằng Ngài chỉ có thể tự biểu hiện trong sự đổi mới về đạo đức, sự soi sáng trong tâm linh, và qua Kinh Thánh, hoặc qua các thánh lễ tùy theo khuynh hướng thần học của chúng ta. Tuy nhiên, thái độ đó chỉ là chủ nghĩa trốn tránh suông, để khỏi tự phó mình cho đời sống đầy quyền năng của Đức Thánh Linh. Ngài vẫn còn là Đức Thánh Linh của gió và lửa; Ngài vẫn còn cầm quyền tể trị trên Hội Thánh, và không thể bị đem nhốt vào một phòng kín nào của hàng giáo phẩm cả. Vấn đề đơn giản là các ân tứ chữa bệnh, nói tiên tri, trừ quỉ và nói tiếng lạ đã không bị chết đi với vị sứ đồ cuối cùng. Một khúc sách như ICo1Cr 13:8 ("các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói tiếng lạ sẽ thôi") cũng không thể bị suy diễn là nhằm chứng minh cho các giả thuyết để chối bỏ các ân tứ ấy. Chúng chỉ qua đi khi nào “sự trọn lành đã đến” mà thôi - nghĩa là khi nào Chúa Cứu thế sẽ hiện ra (Parousia) - chớ không phải là vào lúc kết thúc thời đại các sứ đồ hay lúc đã hoàn thành công việc ghi chép Tân Ước . thật ra, đã có đầy đủ các bằng cớ hiển nhiên chứng minh rằng các ân tứ ấy vẫn chưa mai một vào thời kỳ tiếp sau các sứ đồ và thỉnh thoảng trong nhiều giai đoạn qua suốt lịch sử Hội Thánh nữa, tuy chúng vẫn thường bị các nhà cầm quyền của Hội Thánh nhìn với những cặp mắt hoài nghi. Trong quyển ‘Truyền giảng Phúc âm trong Hội Thánh đầu tiên (Evangelism in the Early Chruch) của mình, tôi có sưu tập một số tài liệu của thời kỳ tiếp ngay sau thời đại các sứ đồ. Và điều hoàn toàn hiển nhiên căn cứ vào sự tăng trưởng lan tràn của Hội Thánh Ngũ tuần và của phong trào Tân Ngũ tuần trong tám mươi năm sau này, là Đức Chúa Trời đã đổ các ân tứ ấy xuống trên những người thuộc về Ngài với mức độ hết sức phong phú, tuy chúng ta là những con người duy lý và vẫn hoài nghi về chúng.
Một địa vị cho tiếng lạ?
Do đó, chúng ta phải trông đợi Thánh Linh của Đức Chúa Trời tự bày tỏ Ngài là Đức Chúa Trời. Chúng ta không nên bài bác việc nói tiếng lạ, cũng không xem đó như ân tứ thuộc linh duy nhất hay chỉ cần có nó là đủ cả. Về điểm này, thì cách đánh giá của một người Công giáo về các ân tứ tỏ ra có giá trị: “Rõ ràng vấn đề phục hưng không phải là nói tiếng lạ, hay nhấn mạnh trên việc cầu nguyện bằng tiếng lạ như một phương pháp cần thiết để chứng minh cho bước đầu tiên trong việc được nhận lãnh các thực tại thuộc linh. Nhiều người ngoại cuộc đã chú trọng vào tiếng lạ như là tâm điểm của sự phục hưng, trong khi chính nó vốn không được phản ảnh tại phần lớn các khu vực có cơn phục hưng. Mặt khác, những người được tham dự cơn phục hưng đã vạch rõ rất đúng rằng ân tứ phục hưng (charisma) này vốn hết sức phổ biến trong các cộng đồng Tân Ước. Ta không nên chú ý quá đáng vào nó, cũng như không nên khinh thường nó. "Ta không nên ngạc nhiên khi thấy nó rất phổ biến như vậy, vì nó chỉ là cái charismata thấp kém nhất".
Giá trị và nguy cơ.
Câu nói trên quả thật là một chân lý khôn ngoan và quân bình, khi Tân Ước đưa chúng ta đến đối diện với vấn đề ấy. Cho nên, chúng ta hãy vui mừng khi có người trong hội chúng khám phá ra rằng mình có ân tứ nói tiếng lạ. Dĩ nhiên chúng ta phải thận trọng. Ân tứ nói tiếng lạ chẳng gây dựng được cho ai khác cả, trừ khi nó được thông giải; bằng không, nó phải được sử dụng một cách riêng tây khi đương sự tĩnh nguyện mà thôi. Nhưng nếu được thông giải, nó có thể có giá trị để gây dựng hội chúng. Ta có thể thắc mắc tại sao Đức Chúa Trời lại chọn để thỉnh thoảng dùng tiếng lạ cộng thêm việc thông giải, thay vì dùng lời tiên tri vốn có tính cách trực tiếp hơn và khỏi cần phải thông giải? Như chúng ta đã thấy, câu trả lời có thể nằm nơi mối liên hệ mật thiết lệ thuộc nương cậy lẫn nhau bên trong Thân thể Chúa Cứu thế, mà Đức Chúa Trời đang tìm cách khiến càng sâu nhiệm thêm. Và nói tiếng lạ mà không có người thông giải thì cũng vô dụng cho Thân thể, cũng như có người thông giải mà chẳng có ai nói tiếng lạ. Sự liên hệ, lệ thuộc nương cậy lẫn nhau là điều quan trọng.
Chỉ cần có ai đó đề cập việc nói tiếng lạ trong Hội Thánh, nhất là trong một Hội Thánh thuộc một nhánh lớn, là bị nhao nhao phản đối ngay. Nhưng tại sao lại như thế, nếu đó là một ân tứ thật sự từ Đức Chúa Trời ban? Dĩ nhiên, một trong các lý do là vì sợ, mà đây là một lý do rất không xứng đáng. Tại sao chúng ta lại sợ điều mà Cha chúng ta trên trời cho phép, để gây dựng chúng ta? Một lý do khác, là vì trật tự. Nhưng đúng ra đây không nhất thiết phải là vấn đề, nếu lời khuyên của sứ đồ Phaolô được tuân thủ, là trong một buổi nhóm lại chỉ có một, hai hoặc nhiều lắm là ba người đứng lên để truyền rao những thông điệp như thế mà thôi, để tránh việc chúng được rao ra mà không được thông giải, và phải có sự thông cảm và thuận phục lẫn nhau (ICo1Cr 14:27, 29, 40). Dĩ nhiên rất khó biết được sẽ có ai thông giải hay không, nhưng điều đó không phải là không giải quyết nổi. Nếu người nói tiếng lạ bị cảm thúc nói ra, chúng ta có thể tin rằng Đức Chúa Trời sắm sẵn một ai đó để thông giải. Nếu không có ai tiến lên, thì sau một thời gian chờ đợi vừa phải người hướng dẫn buổi nhóm thờ phượng, sẽ tiếp tục chương trình. Trường hợp ấy có thể, hoặc là do ai đó chống lại sự thúc giục thông giải, hoặc do người nói tiếng lạ ban đầu đã hành động sai lầm, mà đáng lẽ không nên bắt đầu nói tiếng lạ như vậy. Trong một hội chúng đã được ban cho các ân tứ thuộc linh thì có sai lầm là điều không thể tránh được, và xin lỗi để nhận lỗi là một trong những phương pháp chắc chắn nhất để có thể trưởng thành và nhạy bén trong những điều Đức Chúa Trời thật sự phán dạy.
Cũng còn rất nhiều vấn đề khác sẽ nảy sinh. Phải chăng có người cảm thấy bị “thua kém” khi có những người khác nói tiếng lạ trước công chúng? Có thể có như vậy, nhưng nếu hội chúng đã được dạy dỗ đầy đủ về vấn đề có nhiều ân tứ khác nhau và tất cả đều lệ thuộc nhau, hỗ trợ nhau, thì sẽ tránh được trường hợp ấy. Không phải tất cả các Cơ đốc nhân đều được ban cho cùng một ân tứ ấy. Cũng như các ân tứ khác, chính Đức Thánh Linh phân phối nó, theo ý Ngài muốn (ICo1Cr 12:11). Vậy, rất có thể nó sẽ được ban cho chúng ta nếu chúng ta cầu xin (ICo1Cr 12:10, 30) hoặc khi chúng ta cầu xin. Lúc tôi viết quyển sách này trong lần xuất bản đầu tiên, tôi đã cầu xin ân tứ này nhưng đã không nhận được. Thay vào đó, Đức Chúa Trời ban cho tôi những ân tứ khác, còn hữu dụng hơn cả nói tiếng lạ nữa, và nhiệm vụ của tôi là phải tận dụng các ân tứ đó. Trong thời gian ấy, Ngài lại gia ơn cho tôi và tôi được cái ân tứ nói tiếng lạ khi tôi không hề chờ đợi hay cầu xin nó. Cho nên điều quan trọng là phải yên lặng chờ đợi trong việc tìm cầu các ân tứ của Đức Thánh Linh. Ngài vốn biết rõ điều gì là tốt nhất cho chúng ta, lúc nào là cần thiết, và bao lâu chúng ta chịu chờ trông và nhờ cậy Ngài, thì chúng ta có thể tin rằng Ngài sẽ trang bị cho chúng ta khi Ngài thấy thích hợp để chúng ta tự hoàn thiện bản thân và hoàn thiện Hội Thánh.
Nếu bạn đã có nó...
Do đó, nếu bạn đã có ân tứ này, hãy ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời bằng lời lẽ thông thường, và hãy ca ngợi tán tụng Ngài bằng tiếng lạ nữa; hãy ca hát tôn vinh Ngài bằng lời lẽ thông thường, và ca hát tôn vinh Ngài bằng tiếng lạ nữa. Đừng bối rối xấu hổ khi phải nhảy múa trước mặt Chúa trong niềm vui Đức Thánh Linh ban cho. Hãy để Ngài cất đi những trở ngại khiến từ quá lâu rồi, bạn đã giữ mình trong tinh thần “lý trí” quá đáng và trong sự riêng tư hẹp hòi. Hãy cẩn thận, chớ xem ân tứ này như dấu hiệu tỏ ra bản thân bạn đã đạt được trình độ siêu-thuộc-linh rồi, như một điều gì khiến bạn được biệt riêng ra. Chẳng có gì thuộc loại đó cả. Các nhà thần bí học Hồi giáo vẫn nói tiếng lạ; và như William Sargent vạch rõ trong quyển ‘Cuộc chiến vì tâm trí (Battle for the Mind) của ông, tiếng lạ có thể do tâm lý của những người chẳng hề có đức tin chi cả nói ra. Có một câu chuyện hấp dẫn kể về phong trào phục hưng ân tứ của giáo phái theo Irving hồi thế kỷ trước. Một thanh niên hoài nghi đến một buổi nhóm lại của họ để chỉ trích họ, bỗng thấy chính mình lại nói tiếng lạ khiến anh ta vô cùng kinh ngạc. Kết quả là anh ta trải qua một cuộc cải giáo từ lập trường triết học theo Hegel chuyển sang làm tín đồ của Zoroaster! Tiếng lạ không phải là độc quyền của Cơ đốc giáo, hoặc ngay cả là một hiện tượng tôn giáo mà thôi, cho nên người được nó chẳng có cơ sở nào để mà tự hào cả.
Nếu bạn không có?...
Nhưng nếu bạn không có ân tứ nói tiếng lạ, và cả sau khi cầu xin, bạn vẫn không nhận được nó, thì đừng bối rối! Đức Chúa Trời vẫn còn một ân tứ khác hoặc nhiều ân tứ khác để ban cho bạn. Rất có thể bạn chẳng cần gì đến nó cả, hay dầu sao thì cũng chưa cần có nó bây giờ. Rất có thể bạn đang cần ân tứ về khả năng quản trị, hoặc được chuẩn bị để đảm nhận địa vị phụ tá cho một cấp lãnh đạo khác. Và xin bạn hãy tin tôi, là các ân tứ đó đối với Hội Thánh (vốn chẳng kém gì các ân tứ vô giá) cũng cần được Đức Thánh Linh đổ xuống thật dồi dào ngang hàng với việc nói tiếng lạ vậy. Chỉ cần bạn phải thận trọng, đừng nằng nặc đòi cho kỳ được ân tứ tiếng lạ mà bạn không có. Bạn không cần phải lớn tiếng bài bác số người có ân tứ ấy là cực đoan, cũng như đừng âm thầm ghen tị với họ. Vì bạn biết là chỉ có một Đức Thánh Linh, và Ngài ban ân tứ cho ai tùy ý Ngài chọn, để gây dựng Thân thể Chúa Cứu thế. Còn chính bạn, thì hãy tạ ơn Chúa về vai trò mà Ngài đã chọn cho bạn, và về các ân tứ mà Ngài đã trang bị cho bạn.
Một địa vị cho ân tứ chữa bệnh
Có lẽ Đức Chúa Trời đã ban cho bạn ân tứ chữa bệnh. Có lẽ bạn sẽ được Chúa dùng để chữa bệnh một cách đều đặn như vậy, giống như Oral Roberts bên Mỹ. Cũng có thể thỉnh thoảng Đức Chúa Trời mới dùng đến bạn. Nếu chữa bệnh là ân tứ của bạn, hãy vui mừng, và sử dụng nó để làm lợi ích cho những người mà Đức Chúa Trời đưa đến với bạn. Nhưng nên nhớ cơ nguy do việc sử dụng ân tứ ấy làm nảy sinh, là cơ nguy của sự lên mình kiêu căng, cơ nguy cho rằng người chữa bệnh mà chẳng cần gì thuốc men thì thuộc linh hơn là người chữa bệnh mà phải dùng đến các phương tiện thuốc men - dường như Đức Chúa Trời không phải là tác giả thực hiện mọi trường hợp chữa bệnh, dầu là qua y học chính thống, châm cứu, thôi miên, tâm lý trị liệu, hay chữa bệnh bằng quyền phép Đức Thánh Linh. Bạn sẽ bị cám dỗ để nghĩ rằng trong dầu hay tay người đặt trên con bệnh, vốn có một đặc tính nào đó. Bạn sẽ lâm vào cơ nguy đùa giỡn với Đức Chúa Trời để quả quyết rằng họ sẽ được bình phục trong khi lẽ ra họ sẽ phải chết. Bạn sẽ lâm vào nguy cơ cho rằng sự đau đớn có thể vốn không bởi ý chỉ cho phép của Đức Chúa Trời, do đó, có thể đánh giá thấp vai trò của sự đau đớn để khiến chúng ta biết sống lệ thuộc vào sức lực của Chúa, do sự yếu đuối mà đâm bông trái (ICo1Cr 12:9). Bạn sẽ bị cám dỗ để nghĩ rằng sở dĩ Đức Chúa Trời dùng bạn, là do một đức hạnh, một phẩm chất đặc biệt nào đó của riêng bạn. Dân Y-sơ-ra-ên đời xưa đã phải học hỏi để biết rằng Đức Chúa Trời không hề tuyển chọn họ vì họ vĩ đại và thánh khiết, nhưng chỉ để Ngài tỏ ra một phần nào đó tình yêu thương của Ngài đối với họ mà thôi (PhuDnl 7:7), và ngày nay điều đó vẫn đúng đối với việc tuyển chọn và ban ân tứ của Đức Chúa Trời. Vậy, đang khi bạn vui mừng về ân tứ được ban cho hãy nhớ kỹ các mối nguy cơ vì lợi ích của những người khác. Và Hội Thánh nào không hạn chế sự chữa lành chỉ gồm việc an ủi thuộc linh, nhưng còn mở rộng phạm vi cho các thành viên được ân tứ thực thi các ân tứ của họ với tình yêu thương, với lòng khiêm nhường, đi đôi với các phương pháp thông thường của y học, là một Hội Thánh có sự khôn ngoan vậy.
Có nhiều con đường hơn là chỉ một con đường duy nhất.
Có nhiều cách thức để một hội chúng có thể cầu xin ơn chữa bệnh. Tôi từng ở nhiều Hội Thánh, khi nghe nói có người đang cần chữa lành thì một nhóm các trưởng lão họp lại quanh đương sự và thiết tha cầu nguyện, cả bằng tiếng Anh lẫn bằng tiếng lạ. Thỉnh thoảng có người có dấu hiệu được Chúa dùng để chữa bệnh thực thi chức vụ đó cho đương sự, trong khi số người còn lại của hội chúng cầu nguyện, đó là phương pháp thích hợp nên làm. Nhiều khi người ta bị lật ngửa ra đằng sau và như “đã chết trong Thánh Linh” một lúc, đang khi mọi người đều cầu nguyện và đặt tay lên đầu đương sự. Tôi nhớ lại lần đầu tiên việc ấy đã xảy ra cho tôi: tôi vừa ngạc nhiên vừa kinh hãi. Tôi đã làm chi vậy? Nhưng tôi hiểu ngay rằng mình đã chẳng làm gì cả; điều đó chỉ có nghĩa rằng nhu cầu đã được trình dâng trước mặt Đức Chúa Trời rồi. Ngài đã chọn dùng phương pháp ấy để đến với người đang có cần. Tôi nhìn thấy cơn choáng (sự ngất đi) này xảy ra, khi lời cầu nguyện được dùng như một thứ thuốc mê của Đức Chúa Trời - ta có thể nói như vậy - trong khi chính Ngài làm một công việc vô hình sâu bên trong con bệnh. Thường thường tiếp theo đó, có một dấu hiệu nào đó cho thấy có bàn tay của Đức Chúa Trời trên đương sự.
Thỉnh thoảng, Đức Chúa Trời cũng thực hiện một cách chữa bệnh khác nữa là đáp lại lời cầu nguyện và xức dầu. Dĩ nhiên việc này đã có một lịch sử lâu đời trong Hội Thánh Chúa Cứu thế, và nó vốn có quyền năng. Điểm này chẳng có gì để ngạc nhiên, vì nó được thực thi trong sự trực tiếp vâng lời theo Kinh Thánh (Gia Gc 5:14). Chắc chắn trong Hội Thánh của chúng tôi đều đã thấy những sự chữa bệnh ngoạn mục là kết quả của phương pháp này, cả trên mặt thể xác lẫn trên mặt tâm lý. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng thông báo là sẽ có sự cầu nguyện chữa bệnh vào một ngày Chúa nhật nào đó, và yêu cầu những ai muốn được cầu nguyện cho thì hãy ghi tên họ và các nhu cầu trên giấy và nộp trước, hoặc là ngay vào giờ ấy. Lắm khi số người tiến lên tòa giảng có tới bảy mươi người, và hội chúng đã tiếp tục cầu nguyện trong nhiều tiếng đồng hồ! Rõ ràng đây là một công việc không thể được thực hiện quá thường xuyên, nhưng chúng tôi vẫn đều đặn dành cơ hội vào những buổi nhóm dự Tiệc thánh thường kỳ hầu phục vụ mọi người sau khi họ đã cùng dự thánh lễ ấy. Còn một cách thức khác nữa để chứng kiến quyền phép chữa bệnh hành động trong hội chúng, là yêu cầu mọi người cầu nguyện cho bất cứ nhu cầu nào họ trình bày khi đến nhóm lại tại nhà thờ với các thành viên khác trong Hội Thánh rồi cùng nhau hiệp một để cầu nguyện thầm cho họ trên dưới năm phút. Việc làm này khiến toàn thể hội chúng đều cầu nguyện xin được chữa bệnh.
Điều hết sức quan trọng là những ai đã được chữa bệnh qua sự cầu nguyện như vậy cần được cơ hội để làm chứng lại cho hội chúng ngay khi có dịp tiện đầu tiên. Việc làm này vừa tạo cho con bệnh làm chứng, vừa khích lệ lớn lao cho hội chúng và nâng cao lòng trông đợi của mọi người trong việc tin rằng Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời cầu nguyện. Mỗi một hội chúng đều phải trở thành một cộng đồng của sự “cứu rỗi” có nghĩa là được chữa lành về mọi phương diện của từ ngữ ấy, và thật đáng xấu hổ khi chỉ đến mấy năm gần đây, chúng tôi mới thật sự trông mong Đức Chúa Trời nhậm lời chữa bệnh trong các buổi nhóm hiệp một cầu nguyện bởi đức tin của cả hội chúng.
Một địa vị cho việc đuổi quỉ
Các lực lượng của ma quỉ.
Hiện nay, ngày càng có nhiều Cơ đốc nhân nhận thấy mình được kêu gọi để thi hành việc đuổi quỉ trừ tà. Sở dĩ như vậy, có lẽ là vì có một việc đang rất phổ biến trong xã hội của chúng ta ngày nay, ấy là một khi Đức Chúa Trời đã bị đuổi ra ở cửa trước, thì nhiều lực lượng của ma quỉ tranh nhau tìm cách kéo vào nhà bằng cửa sau. Chúa Giê-Xu há đã chẳng cảnh cáo chúng ta thật chính xác về cái cơ nguy này rồi hay sao (LuLc 11:24 tt)? Dầu sao người ta cũng phải ghi nhận rằng nạn bùa chú phù phép và người bị quỉ ám đang ngày càng gia tăng. Nhiều khi những việc ấy xảy ra do người ta tự nguyện đầu phục quyền lực của ma quỉ như câu chuyện lừng danh đã có từ lâu rồi về nhân vật Faust đã bán linh hồn mình cho quỉ. Lắm khi, nó xảy ra chỉ do có sự tiếp xúc của thân thể, chẳng hạn như với một thứ bùa chú nào đó được đem về từ một xứ sở thờ bái vật giáo, mà loại bùa chú ấy vốn đã được dâng cúng cho ma quỉ. Lắm khi có thể có một ngôi nhà nào đó đã bị tà ma khuấy khuất hay một nhóm thanh thiếu niên bắt đầu trò chơi cầu cơ. Người Tây phương chúng ta từ lâu vốn đã có thái độ khinh bỉ, xem nhẹ ý niệm bị ma quỉ ám ảnh, và chúng ta đang phải trả giá cho sự kiêu căng hợm hĩnh của mình bằng một dấu hiệu ngày càng gia tăng về các hoạt động của ma quỉ. Nếu không có như vậy, thì tại sao một giám mục có tri thức hàng đầu lại phải viết một bảng tường trình về việc đuổi quỉ trừ tà? Đây quả thật là một ân tứ của Thánh Linh Đức Chúa Trời, và chắc chắn nó đã không mai một đi với thời đại của các sứ đồ - và đó cũng là điều may mắn cho chúng ta. Đây cũng là cách mà Đức Thánh Linh vẫn thường làm trong Hội Thánh nguyên thủy, khi Tin Lành bành trướng quá nhanh. Chẳng hạn Tertullian đã có thể nói với đám người ngoại đạo nhạo báng Chúa Cứu thế:
“Các người cứ nhạo báng tùy thích, nhưng hãy để ma quỉ cùng nhạo báng với các người! Cứ để mặc chúng phủ nhận việc Chúa Cứu thế sắp đến để xét đoán tất cả mọi người...Cứ để mặc chúng phủ nhận rằng một khi đã bị định tội vì sự gian ác mình, chúng vốn bị dành cho ngày phán xét ấy. Tại sao vì mọi quyền phép và uy quyền mà chúng ta có trên chúng do việc chúng ta nhân danh Chúa Cứu thế, là Đấng Phán Xét. Vì sợ Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu thế và sợ Chúa Cứu thế trong Đức Chúa Trời, chúng phải đầu phục các tôi tớ của Đức Chúa Trời và của Chúa Cứu thế. Khi chúng ta truyền lịnh, thì chúng vô cùng đau khổ và miễn cưỡng phải rời khỏi các thân xác mà chúng từng nhập vào” (Apology 23).
Tôi không dám cho là mình thấu rõ chuyện ma quỉ ám vào người ta. Nhưng tôi biết việc đó có thật, và không phải là không thường được Chúa dùng làm công cụ để giải phóng người đã bị nó gây rắc rối.
Việc đuổi quỉ trừ tà đúng đắn.
Trong vấn đề này, điều quan trọng là phải tránh ngôn ngữ của bùa chú. Giáo hội Công giáo La mã từ lâu đã khôn ngoan thừa nhận rằng chỉ có thể thật sự thực hiện việc đuổi quỉ sau khi đã điều tra thật đầy đủ, cả về phương diện y học lẫn tâm lý học, và khi đã rõ ràng rằng đương sự hoàn toàn phó mình cho quyền lực của ma quỉ. Nó sẽ chỉ được thực hiện bởi các lãnh đạo cao cấp của giáo hội, thường là giám mục hay các đồng sự, và nó vốn khó khăn cũng như rất hiếm hoi. Nếu làm sai, nó có thể (và đã từng) gây rắc rối khủng khiếp, và có một trường hợp xảy ra tại Yorkshire đã đưa đến tội sát nhân, vì vấn đề đã không được giải quyết đúng cách.
Sự giải cứu.
Nhưng trường hợp không phải thường xảy ra, có những kẻ đã tự phó mình cho ma quỉ đến nỗi trong họ; chẳng còn gì nữa để đáp ứng lời đề nghị trả tự do lại cho họ; mà tự do lại là điều Chúa Cứu thế ban cho. Có một điều kém hơn việc đuổi quỉ, đó là Đức Chúa Trời ban cho một chức vụ giải phóng cho người chân thành, vùng vẫy chiến đấu muốn được thoát khỏi các ảnh hưởng của sự tối tăm (nhiều khi là do di truyền) trên đời sống của họ. Phần lớn các Hội Thánh được chạm đến bởi cơn phục hưng ân tứ đã chứng kiến những người bị trói buộc như vậy được giải thoát. Thường thường thì người liên hệ chẳng hề hay biết gì về việc có một lực lượng ma quái đang hành động trên họ. Nhưng sau khi được giải thoát, thì họ biết việc ấy rất rõ, và ý thức được một cách mới mẻ về cuộc chiến đấu thuộc linh mà tất cả mọi người chúng ta đều đang tham dự, dầu chúng ta có ý thức hay không.
Bị ám vào và bị áp bức?
Thỉnh thoảng có người cho rằng có sự khác nhau giữa việc bị một lực lượng tà ma ám vào và bị một lực lượng như thế áp bức. Nếu mọi người đều đồng ý rằng theo nghĩa mạnh của nó, việc bị một tà linh áp bức không giống với việc có một con quỉ trú ngụ trong lòng một người, thì thật ra, đã không có cơ sở nào trong Tân Ước để phân biệt giữa việc bị một tà ma áp bức và việc bị nó chiếm ngụ. Từ ngữ được sử dụng thông thường nhất chỉ đơn giản là daimonizesthai “bị quỉ hóa”
Chức vụ đối với người bị quỉ nhập.
Không có một phương pháp vẹn toàn nào cho việc giải quyết các ảnh hưởng của tà ma này. Bạn cần nhờ cậy thật nhiều vào sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Lời khuyên của tôi, là xin đừng ai thử thực hiện chức vụ chế ngự một trường hợp như vậy một mình, hoặc thiếu sức hậu thuẫn của sự cầu nguyện. Điều quan trọng là bản thân người thực thi chức vụ ấy cần phải phục hòa với Đức Chúa Trời, và việc xưng tội để xin Đức Chúa Trời tha thứ cho là chính yếu đối với số người tự nguyện trong chức vụ ấy, trước khi muốn thử giúp đỡ người đang gặp nạn. Phần nạn nhân thì phải từ bỏ bất luận điều gì dính dấp với chuyện phù phép và phải thiêu hủy mọi hình ảnh, các lá bài dùng bói toán hoặc những vật tương tự, mà mình đang giữ. Rồi số người thực hiện chức vụ ấy sẽ nhân danh uy quyền của chính Chúa Cứu thế để truyền lịnh cho lực lượng tà ma hãy lìa khỏi người kia. Thỉnh thoảng việc này xảy ra thật yên lặng, đến mức chỉ có con bệnh là ý thức được rằng sự giải thoát đã bắt đầu mà thôi. Nhiều khi lại có những cuộc chiến đấu vùng vẫy gay go mãnh liệt, có những cơn ói mửa, có những nỗ lực muốn tự tử hoặc sát nhân. Thế giới của phù phép là một thế giới tối tăm, và những kẻ bị nó bắt cầm tù không được giải thoát cách nhẹ nhàng đâu. Điều cần ghi nhớ, là quyền phép của Chúa Cứu thế vốn lớn hơn mọi quyền lực của kẻ thù, và chiến thắng cuối cùng là điều chắc chắn nếu chúng ta nhân danh Ngài.
Một lời dặn dò nên thận trọng.
Nhưng xin đừng có ai tìm cầu chức vụ này. Đây là một sự đòi hỏi thuộc linh cao không tiên đoán được, và có thể gặp nguy hiểm. Nó chỉ nên được thực thi hết sức cẩn mật, và người ta sẽ bị thương tổn lớn lao nếu bị cho là bị quỉ ám, trong khi sự thật không phải vậy. Chính vì lý do ấy mà phần nhiều các giáo khu đều có mạng lịnh rất nghiêm khắc - và như thế là phải lẽ - khi chỉ cho phép một số rất ít người trong hàng giáo phẩm từng được thử thách và đáng tin cậy mới được tham gia chức vụ rất tế nhị và khó khăn này. Theo tôi thấy thì không có lý do đặc biệt nào buộc chức vụ này phải dành riêng cho hàng giáo phẩm. Nó vốn không chỉ được giao phó cho các giáo phẩm, nhưng cũng được phó thác cho tất cả các Cơ đốc nhân nữa. “Hãy chống cự ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em”. Nhưng vẫn phải có một lời khuyên nên khôn ngoan và thận trọng. Mấy năm gần đây, đã có nhiều người gây lắm tổn hại, vì khi được báo động rằng có yếu tố quỉ ám, là họ “đánh hơi” thấy ma quỉ dưới từng bụi cây, trong từng cơn cảm lạnh thông thường. Điều rất thường xảy ra, là có những chứng bệnh cần được chữa trị bằng thuốc men, bằng tâm lý trị liệu và bằng liệu pháp thuộc linh, thường bị đan lẫn lộn với nhau nơi người bị quỉ nhập, và thật vô cùng ngây thơ khờ khạo khi tưởng rằng những trường hợp như thế đều có thể được chữa trị chỉ bằng thuốc men, châm cứu, thôi miên hoặc bằng tâm lý trị liệu hay bằng chức vụ thuộc linh đơn thuần. Tất cả những liệu pháp kể trên có thể đều là cần thiết. Có lẽ cách trắc nghiệm chắc chắn nhất để biết một người có thể bị quỉ nhập hay không là quan sát phản ứng của người ấy có mạnh mẽ khi nghe đến danh Giê-Xu hay không. Đây là đặc điểm của những người bị quỉ ám khi Chúa Giê-Xu còn tại thế, và đối với những người có dính dấp với chuyện bùa phép, thì danh Chúa Cứu thế vẫn khiến họ bị bối rối mạnh mẽ. “Phàm thần nào xưng Chúa Cứu thế Giê-Xu lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời; còn thần nào không xưng Chúa Cứu thế Giê-Xu, chẳng phải bởi Đức Chúa Trời. Đó là thần của Kẻ địch lại Chúa Cứu thế mà các con đã nghe rằng hầu đến, và hiện nay đã ở trong thế gian rồi” (IGi1Ga 4:3 và tt) và Giăng tiếp: “Hỡi các con cái bé mọn, phần các con là thuộc về Đức Chúa Trời, đã thắng được họ rồi, vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian” Quyền phép của Đức Thánh Linh vốn lớn hơn các lực lượng của ma quỉ thỉnh thoảng vẫn áp bức và ám vào người ta. Và chúng ta làm đúng khi cậy quyền phép đó để đuổi các lực lượng ấy ra, khi mà việc trị liệu bằng thuốc men và phương pháp tâm lý vẫn không chữa trị được. Chi hội địa phương phải trông mong có một số thành viên của mình được trang bị bằng Đức Thánh Linh để giải quyết chức vụ giải phóng ấy, và họ phải được hậu thuẫn bằng sự cầu nguyện của hội chúng, vì đó là một công việc rất nguy hiểm; những ai từng dấn thân vào đều biết rõ vậy.
Lời tiên tri cho ngày nay?
Cũng chẳng có lý do gì để cho rằng lời tiên tri đã mai một theo thời đại các sứ đồ. Như chúng ta đã thấy trong chương trước, các nhà tiên tri vẫn còn sống động và mạnh giỏi trong hồi thế kỷ thứ hai, mà chỉ do gương mặt khó chấp nhận được của những người theo thuyết của Montanus, đã khiến cho việc nói tiên tri bị mang tai tiếng và bị sát nhập vào chức vụ giám mục. Điều rất đáng khích lệ, là ân tứ ấy đã được khôi phục vào thời đại của chúng ta, là khi được Đức Thánh Linh dắt dẫn, thì nhiều người nam người nữ đã trực tiếp truyền lại lời từ Đức Chúa Trời phán ra cho hội chúng, khiến cả chi hội địa phương thừa nhận giá trị của ân tứ ấy, và khích lệ họ hãy sử dụng nó. Tôi đã viết rất đầy đủ về chủ đề ấy và cách sử dụng nó một cách thực tiễn trong Hội Thánh, trong quyển ‘Gởi cho Côrinhtô với Tình yêu thương (To Corinth with Love). Tất nhiên, một người có các ân tứ nói tiên tri phải nhớ rằng mình vốn rất dễ sai lầm và lẫn lộn giữa ý riêng với thông điệp của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Do đó, điều khôn ngoan là người ấy biết tránh việc nói ra với tư cách là Đức Chúa Trời bằng ngôi thứ nhất. Phần lớn những gì đã được nói ra bằng Anh ngữ thời nữ hoàng Elizabeth và được cho là lời tiên tri, đều có nội dung thô thiển, nông cạn! Cần nhận định rõ ràng rằng Đức Chúa Trời không còn một mặc khải nào nữa cho chúng ta ngoài ra Chúa Cứu thế Giê-Xu, do đó, nếu một lời tiên tri là chân thật, thì nó không thể trái với các Kinh Thánh tiên tri của Cựu và Tân Ước vốn đều tập trung vào Chúa Cứu thế. Người ta không thể chống lại việc phải chịu thử nghiệm và trắc nghiệm lời tiên tri của mình. Ngoài việc đồng ý rằng có nhiều người được ân tứ biện biệt, định chuẩn của Cựu Ước đối với một nhà tiên tri chân chính vốn có tính cách đòi hỏi, bắt buộc đầy đủ đối với lương tâm mọi người:
“Khi kẻ tiên tri nhơn danh Đức Giê-hô-va nói, ví bằng lời người nói không xảy đến và không ứng nghiệm, ấy là lời mà Đức Giê-hô-va chẳng có phán” (PhuDnl 18:22).
Ông ta không nên bị sững sờ bởi nguồn gốc thiên thượng của ân tứ mình có để cho rằng mình thuộc linh hơn người phụ nữ đã đem nước trà cho mình sau buổi nhóm mà mình đã nói lời tiên tri.
Một nạn đói về Lời Chúa.
Nhưng chẳng những người đã có các ân tứ ấy cần ý thức các nguy cơ, mà chi hội địa phương cũng phải ý thức các cơ nguy ấy nữa. Họ phải ý thức là giữa vòng họ không phải chỉ có hàng giáo phẩm mới có thể phán lời từ Đức Chúa Trời. Họ phải ý thức là không nên khinh dể một lời phán trực tiếp từ Đức Chúa Trời, hay là e sợ phải bước vào chỗ thông công sâu nhiệm khi có việc như thế xảy ra. Trong nhiều Hội Thánh, vẫn còn có một nạn đói khủng khiếp về việc được nghe Lời Chúa; và điều đó không chỉ có nghĩa rằng việc giảng dạy đã chỉ được đánh giá bằng thái độ dửng dưng; người ta đã hiểu sai phần lớn Kinh Thánh, hay Kinh Thánh rất ít khi được dùng đến. Điều thật sự gây kinh ngạc, là các Hội Thánh đã trông đợi (tự họ cũng như hàng giáo phẩm) rằng mình luôn giữ im lặng và thụ động ngoài việc hát thánh ca. Trong Hội Thánh Tân Ước, và trong nhiều Hội Thánh đang chào mừng các ân tứ phục hưng đã thật sự có một trật tự nhưng cũng có cơ hội thật sự cho những người đang có thông điệp của Chúa được chia xẻ một cách đơn giản và trực tiếp cho số người còn lại trong hội chúng.
Lời tiên tri trong hội chúng.
Lời tiên tri ấy có thể đến bằng lời nói trực tiếp, cũng có thể đến qua trung gian một “hình ảnh” mà chính nó đã nung nấu tâm trí của một thành viên nào đó trong hội chúng. Không nhất thiết nó phải có tính cách báo trước: phần nhiều lời tiên tri trong Tân Ước không có tính cách ấy. Nó có thể thât đơn giản, chỉ là một lời khích lệ đang cần thiết (ICo1Cr 14:3). Trong Hội Thánh của chúng tôi, chúng tôi nhận thấy hoàn toàn đơn giản, là dành ra một lúc yên lặng để suy nghĩ sau thì giờ thờ phượng, hoặc trước khi buổi nhóm kết thúc, là lúc mọi ý kiến đóng góp từ phía hội chúng rất được hoan nghênh, nếu họ biết chắc là họ có một điều thích hợp nào đó để thêm cho những gì đã được bộc lộ hết rồi. Nhiều khi phần đóng góp đó chỉ là vài câu Kinh Thánh; có khi là một bức tranh hay một lời nói thẳng với hội chúng: Phaolô đã khuyên những người tỏ ra ân tứ đó phải sẵn sàng chịu để cho những lời nói của mình được thử nghiệm, và trong hội chúng của chúng tôi thì nói chung; chúng tôi muốn những người có ý trình bày một chức vụ như vậy nên để cho các cấp lãnh đạo xem qua trước. Việc này khiến cả hội chúng hiệp một lại với nhau. Một mặt để có việc xét duyệt những gì được nói và nói ra khi nào, và mặt khác, là một biện pháp có tính cách sửa sai, lành mạnh chống lại giáo phẩm chủ nghĩa nữa. Có khi một phần bức thông điệp được thấy ngay là thích hợp, và phần còn lại thì không. Tôi nhớ lại một chuyện như vậy đã xảy ra lúc Tổng giám mục Canterbury hiện diện và có người đưa lên một lời tiên tri. Hai chúng tôi đang hướng dẫn buổi nhóm trao nó cho Tổng giám mục, và cả ba chúng tôi đều thấy rõ là phân nửa bức thông điệp thật sự là lời đến từ Đức Chúa Trời, cần được đọc ra cho mọi người nghe, trong khi phần kia, tuy cũng có giá trị, nhưng chưa phải là cần thiết vào lúc ấy, và có thể xuất phát từ người nói, chớ không phải từ Đức Chúa Trời. Việc biện biệt rất khó khăn. Nhưng thật là dễ nhớ lại cái thời mà một lời tiên tri tạo được trên toàn thể hội chúng một niềm tin quyết về “điều phải phép”. Và những lần như vậy cũng khích lệ chúng ta có thêm nhiều cơ hội tương tự như vậy hơn. Có thể sẽ có những nhầm lẫn, nhưng nếu bảo đảm được là tất cả mọi người tham dự đều khiêm nhu, yêu thương và muốn khích lệ lẫn nhau, thì cả người nói lẫn kẻ nghe đều được gây dựng như nhau, miễn là chúng ta chịu dành thì giờ cho ân tứ thuộc linh có ích lợi và đẹp đẽ nhất này. Nói tóm lại, nếu các Cơ đốc nhân có được các ân tứ phục hưng cần phải giữ mình khiêm nhu và không cho rằng mình đang có một trình độ thuộc linh cao hơn, thì đối với các Cơ đốc nhân không được các ân tứ phục hưng cũng vậy - rất có thể như vây là tôi đã gọi họ một cách sai lầm - họ nên lưu ý đến mạng lịnh của Phaolô trong một đoạn văn đã được chúng ta thảo luận rồi, liên hệ đến việc thực thi các ân tứ thuộc linh: “Chớ dập tắt Thánh Linh; chớ khinh dể các lời tiên tri. Hãy xem xét mọi việc, điều chi lành thì giữ lấy” (ITe1Tx 5:19 vàtt).
2.ĐÂU LÀ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHỮNG NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHONG TRÀO PHỤC HƯNG ÂN TỨ?
Có một sự thật, là nhược điểm của chúng ta vốn thường liên hệ chặt chẽ với các ưu điểm của chúng ta. Điều này chắc chắn đúng trong sự lan tràn của phái Tân Ngũ tuần trong Hội thánh khắp thế giới hiện nay.
Trong lãnh vực sinh động về:
Sự sống.
Đây là một phong trào có sự sống, có sinh lực thuộc linh năng động bùng nổ, giữa một Hội Thánh trông có vẻ rất chết về nhiều lãnh vực thì sự sống hiếu động, trẻ trung, thiếu phối hợp rất dễ dẫn tới những thái quá trong lãnh vực thuộc linh cũng y như điều sẽ dẫn đến trong lãnh vực thuộc thể. Nhưng nếu không có lớp người trẻ, thì tương lai sẽ ra sao? Hội Thánh nào nhất định “chẳng dính dáng gì tới chuyện phục hưng đang xảy ra chung quanh” rất có thể là đang dựng lên tấm bảng cảnh cáo “Xin đứng ngoài” đối với Thánh Linh sự sống của Chúa Cứu thế Giê-Xu. Chắc chắn Hội Thánh tại Côrinhtô đã bị quở trách vì nhiều thất bại của nó, nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, vì cớ sự sống và tính cách thuộc linh rất phong phú của một Hội Thánh như thế, mới khiến có thể có những thất bại như vậy! Ngày nay có bao nhiêu Hội Thánh cần được có thư ICôrinhtô gửi đến như vậy?
Đức tin.
Đó là một phong trào của đức tin, đức tin sâu xa và đích thực nơi Đức Chúa Trời. Niềm tin rằng với Đức Chúa Trời thì mọi sự đều được cả; niềm tin rằng các lời hứa của Đức Chúa Trời cần phải được công bố hiện nay, chớ không thể bị xem như những chuyện đã qua rồi trong lịch sử, cần phải được các thần học gia đem ra mổ xẻ. Nó là một cuộc cách mạng chống lại chiếc áo choàng quá chật của Giáo hội Tin Lành đang hạn chế Đức Thánh Linh trong một điều khoản của bài Tín điều, và của Giáo hội Công giáo đang giới hạn Đức Thánh Linh nơi những nhân vật đã được tiền định và trong các thánh lễ mà thôi. Đây là cuộc cách mạng chống lại bàn tay đã chết khô của thần học, vốn có thể cho phát hành vô khối những quyển sách khô khan (nếu nói như thế là đúng với thuật ngữ) về Đức Thánh Linh mà không hề gợi ý rằng các tác giả ấy có biết rõ quyền năng của Đức Thánh Linh trong đời sống mình chăng. Đây quả thật là một dấu hiệu khích lệ của sự sống. Nhưng chính nó cũng phơi mình ra trước rất nhiều nguy cơ. Nguy cơ của sự ngây thơ (thiếu hiểu biết) về phương diện thuộc linh. Nguy cơ của chủ nghĩa chống tri thức. Nguy cơ đánh giá quá cao các ân tứ có tính cách phô trương nhiều hơn. Và phong trào phục hưng ân tứ đã sa vào tất cả các nguy cơ đó; nhưng may thay, các lãnh tụ của nó đã biết học hỏi nhanh chóng, và nguồn sinh lực hết sức dồi dào của phong trào đã được khai thông để được tăng trưởng lành mạnh trong các lãnh vực mà họ từng có nhược điểm.
Phúc âm
Đó là một phong trào của Tin Lành, là lời kêu gọi tận tình tha thiết hãy ăn năn tội, đến với sự sống mới và với một nếp sống mới qua việc trở về với Chúa Giê-Xu và tiếp nhận Thánh Linh Ngài. Điều đáng khen là những người thuộc phong trào phục hưng ân tứ này không chịu hài lòng chỉ với khuynh hướng cổ truyền của Công giáo là xem phép báp-tem bằng nước hết sức đơn giản làm bước đầu tiên để trở thành Cơ đốc nhân; hoặc với khuynh hướng truyền thống của giáo hội Tin Lành là đồng nhất hóa bước khởi đầu với niềm tin có tính trí tuệ vào những lời được rao giảng ra; hoặc với sự nhấn mạnh tiêu biểu của các giáo hội Tin Lành về việc tiếp nhận Chúa Cứu thế vào đời sống cá nhân mình lúc ăn năn quy đạo. Họ đã vạch rõ rằng có thể bạn đã có mọi điều đó, nhưng vẫn còn là một tên ăn mày trong cung điện của Nhà Vua. Trừ phi Đức Thánh Linh được tiếp đón như là Chúa tể của đời sống với cả tình yêu thương và quyền năng của Ngài, bằng không bạn sẽ chỉ có một cuộc đời Cơ đốc nhân rất đáng hối tiếc mà thôi. Mà đây là một điểm nhấn mạnh vô cùng cần thiết. Trong thực tế, Cơ đốc giáo đã trở thành thuộc về có hai ngôi và Đức Thánh Linh thì trở thành một người khách lạ khả kính và được trọng vọng. Nhưng với việc nhấn mạnh phải lẽ tập trung vào Đức Chúa Trời của phong trào phục hưng ân tứ, thì họ đã có sự chối bỏ mất thăng bằng về sứ mạng gắn chặt vào đất này, về việc Phúc âm đi vào xã hội, vốn là đặc điểm chiếm phần ưu thắng của Cơ đốc giáo trong thế kỷ này. Kết quả là mối bận tâm của họ đối với xã hội và việc dấn thân vào chính trị thường rất nghèo nàn, như các nhà phê bình rất có thiện cảm đã vạch rõ và thâu thập tài liệu để chứng minh, chẳng hạn như dtrong quyển ‘Bến đậu của quần chúng (Haven of the Masses) và Hollenwenger trong quyển ‘Những người Ngũ tuần (The Pentecostals).
Trong lãnh vực của sự thánh khiết
Đây là một phong trào của sự thánh khiết, xuất phát từ một truyền thống của những phong trào như vậy. Theo nhận xét của tôi, thì đa số chớ không phải là tất cả những người tự xưng là “được từng trải sự phục hưng” quả thật đã trở thành những người có nhiều tình yêu thương, ít vị kỷ, cũng dâng mình nhiều hơn, đáng tin cậy và có lòng sốt sắng cầu nguyện nhiều hơn chính họ trước đó. Nhưng chính sự kiện ấy lại có thể làm nảy sinh cùng một nguy cơ đã phát sinh tại Côrinhtô; những người nhận được một vài ân tứ thuộc linh (nhất là nói tiếng lạ) đã xem các Cơ đốc nhân khác như thuộc hạng nhì, họ lại còn chủ trương rằng ân tứ ấy là cánh cửa mở vào quyền phép và cá tính thuộc linh nữa. Hoàn toàn đứng ngoài sự kiện, Phaolô đã cẩn thận phân biệt bông trái của Đức Thánh Linh bằng các ngôn từ khác với chữ charismata để chỉ các ân tứ của Đức Thánh Linh. Chỉ cần nhìn thoáng qua thư ông gửi người Côrinhtô cũng đã thấy rằng số người được “phục hưng” cao độ đó rõ ràng là rất yếu đuối về phương diện thánh khiết của đời sống: chia bè lập đảng, sống bừa bãi vô luân vô đạo, không tin sự sống lại, dự tiệc thánh vô trật tự, lộn xộn trong Hội Thánh, các cấp lãnh đạo bị chỉ trích phê bình, và vân vân, tất cả đều rất hiển nhiên. Thái độ kiêu căng mà nhiều người nhìn thấy nơi những người chưa trưởng thành của phong trào phục hưng hiện nay cũng gây bối rối không kém. Họ tự xưng mình là kẻ cả, là người đã thành đạt rồi, nên thường thô bạo kết án người khác bằng thái độ của họ, và không chịu nghe lời khuyên bảo của bất cứ ai không cùng loại thuộc linh như họ. Điều này thường không nảy sinh từ thái độ kiêu ngạo thuộc linh đặc biệt xấu xa nào, nhưng do sự dạy dỗ sai lầm mà họ đã đưa vào về vấn đề bước đầu tiên để trở thành Cơ đốc nhân, cho rằng nhất thiết nó phải gồm hai giai đoạn, các Cơ đốc nhân khác mới chỉ đạt tới giai đoạn một, còn họ thì qua “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”, đã thật sự vào giai đoạn hai - một chỏm núi mà họ không còn có thể xuống được nữa cho dù họ có làm gì, (vì họ đã là những người đầy dẫy Đức Thánh Linh; họ đã đến nơi, đã thành đạt rồi), một chỏm núi khiến cất khỏi họ mọi sự cần thiết phải tiếp tục trèo cao hơn nữa. Lý thuyết về bước đầu trở thành Cơ đốc nhân gồm hai giai đoạn này đã được khảo xét và nhân thấy là thiếu sót. Điều này vừa đủ để vạch rõ điều mỉa mai thê thảm về một trong những vị mục sư Cơ đốc giáo rất thân thương và rất thành công mà tôi biết, đã bị chính con trai ông bài bác rằng ông không thuôc linh, chỉ vì chàng thanh niên bồng bột này đã nhận được ân tứ nói tiếng lạ, còn cha của cậu thì không. Bao lâu thái độ kiêu căng này còn tồn tại nơi những người thuộc phong trào phục hưng thì họ sẽ còn bị chống đối và xứng đáng để bị chống đối bên trong Hội Thánh.
Trong lãnh vực thông công
Sinh hoạt của thân thể
Phong trào phục hưng là một phong trào tập thể, nhằm cho các chi thể khác nhau trong Thân thể Chúa Cứu thế bộc lộ rất nhiều ân tứ của mình một cách hài hòa. Đây chính là phản đề của chủ nghĩa độc quyền phục vụ, gây đau khổ cho tất cả các Hội Thánh thuộc mọi giáo phái, là nơi chẳng có gì được thực hiện mà không do vị mục sư, và là nơi mà phần hướng dẫn thờ phượng là một trách nhiệm được phân công (hay giành giựt nhau) giữa vị mục sư và người đánh đàn đại phong cầm! Mục đích của nó là dành chỗ cho tất cả các thành viên đều đóng góp phần của mình. Các bài thánh ca sẽ không phải chỉ do người đánh đàn đại phong cầm chọn nữa; những lời cầu nguyện có thể từ môi miệng của tất cả mọi người dâng lên, chớ không phải chỉ do những người thuộc hàng giáo phẩm, một lời khuyên bảo đầy quyền năng nhất có thể do một người thư ký nói ra, chớ không phải do nhà truyền đạo. Đây là một cuộc cách mạng, một quan niệm tập thể về “sinh hoạt của Thân thể”. Việc này có giá trị đáng kể một phần là nhờ sức hấp dẫn của nó. Hội chúng không còn là một đám người chỉ biết lắng nghe mà thôi, nhưng là những người tham dự. Chức vụ thầy tế lễ của toàn thể các tín hữu, từng được khẳng định lâu nay như một giáo lý, đã trở thành sự thật. Và một khi việc ấy xảy ra, nó có thể làm nảy sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng. Một số mục sư đã cố sức dập tắt nó, vì họ cảm thấy bị đe dọa thất nghiệp, thay vì nhận thức rằng nếu cả hội chúng đều trở nên sống thật như vậy, thì công việc của vị mục sư sẽ phải tăng lên gấp mười! Nhưng về phía những người của phong trào phục hưng cũng có nhiều khuyết điểm nữa. Rất có thể họ vốn có khuynh hướng chẳng chú ý bao nhiêu đến chức vụ đáng ra phải có trong chi hội địa phương. Thế thì hoặc là họ phải cúi đầu tuân phục những chỉ thị độc đoán độc tài của vị “sư phụ” phục hưng hợp thời của giờ phút ấy, hoặc là họ sẽ hành động theo ý riêng; vì họ há không phải là những người đã thành đạt, đã đi đến nơi cả rồi hay sao? Đức Chúa Trời há đã chẳng trực tiếp truyền phán lời tiên tri và làm phép lạ chữa bệnh qua trung gian của họ hay sao? Họ còn cần gì ông mục sư già lụm cụm kia nữa? Một lần nữa, mọi việc lại quay về với tình hình tại Côrinhtô. Và lại quay trở về với vấn đề từng tạo cơ hội cho thư tín Giuđe hay IIPhi-e-rơ được viết ra, khi những người theo phong trào phục hưng lên mặt kiêu căng, tưởng rằng họ đã đạt được địa vị thuộc linh rồi và chẳng cần chú ý gì tới ân tứ mà Đức Chúa Trời ban cho người thuộc về Ngài trong hình thức của chức vụ tại địa phương. Cho nên điều khá lý thú là ITêsalônica chương 5 không những chỉ cần phải nói (cho những người cẩn trọng “không được phục hưng") là “chớ dập tắt Thánh Linh. Chớ khinh dể các lời tiên tri”, mà cũng nói (với những người “được phục hưng” đang hung hăng): “Anh em hãy kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em. Hãy lấy lòng rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm”. Cả hai mạng lịnh trên đều vẫn còn cần thiết.
Sự thuộc về
Rồi một lần nữa, phong trào phục hưng đã biến sự thông công trong Đức Thánh Linh thành sự thật đối với những người mà từ ngữ “thông công” đã hầu như vô nghĩa. Thánh Linh ban sự sống của Chúa Cứu thế đã đưa tình yêu thương của Chúa Cứu thế vào các mối liên hệ cá nhân cho vô số các Cơ đốc nhân hiện đại. Các thành viên đã thật sự lo lắng chăm sóc lẫn nhau, và không xấu hổ bộc lộ tình yêu thương của họ bằng cách ôm choàng lấy nhau, vui vẻ nhảy múa, quan tâm đến nhau trong việc công khai cầu nguyện cho nhau, lòng tin cậy nhau trong việc xưng tội với nhau và trả giá đắt để đền bồi cho nhau. Chiều sâu của sự thông công ở cấp bậc địa phương là một trong những đặc điểm cảm động nhất của toàn thể phong trào. Kết quả của nó, là sự quên mình tận tình phục vụ, lòng hào hiệp trong việc tiếp khách, và tình yêu thương chăm sóc lo lắng cho các anh em trong Chúa Cứu thế, không nhận thấy việc phải cưu mang như vậy là quá khó khăn nặng nề gì đối với họ.
Thống nhất Cơ đốc giáo
Trong một phạm vi rộng lớn hơn, vào lúc mà phong trào thống nhất Cơ đốc giáo sau hơn bảy mươi năm đang tỏ ra có vài dấu hiệu thành công, thì phong trào phục hưng kéo được các thành viên của mình từ mọi giáo phái cùng đến dưới mặt trời, hứa hẹn trở thành một phong trào Thống nhất Cơ đốc giáo mới, nhưng với điểm khác biệt này: Nguồn sinh lực của nó không phải do những ông lớn ở địa vị chớp bu, mà do sinh hoạt thông thường trong Đức Thánh Linh mà nó đã từng trải ở cấp bậc địa phương giữa các tín hữu với nhau, dầu họ là người Công giáo hay giáo hội theo Luther, người của hội Ngũ tuần hay hội Giám lý, hội Báptít, hội Cải chánh Hà lan, hay giáo hội Chính thống hoặc giáo hội Moravian. Đây là sự thông công ở mức độ vừa rộng khắp mà cũng rất sâu xa, bên trong nó chính là quyền năng.
Đức Thánh Linh tạo sự hiệp một, và những người của phong trào phục hưng đã chứng tỏ việc ấy bằng một mức độ yêu thương và phó thác cho nhau, có lẽ chưa có ngành Cơ đốc giáo cận đại nào khác có thể sánh kip. Nhưng ngay trong sự hiệp một đó cũng ẩn nấp sự cám dỗ đặc biệt của nó. Lắm khi sự thông công theo chiều sâu cũng hạn chế ở mức những-người-giống-mình, những Cơ đốc nhân đã có cùng những từng trải như mình về Đức Thánh Linh. Tại nhiều hội chúng địa phương, phong trào phục hưng đến đã làm sâu đậm thêm mối thông công; nhưng trong nhiều hội chúng địa phương khác, sự việc xảy ra lại trái ngược hẳn. Thay vì phong phú hóa sự thông công, nó lại xé hội chúng ra làm đôi. Trên mặt trận thống nhất Cơ đốc giáo cũng vậy, quả thật là phong trào phục hưng có giúp cho nhiều người nam người nữ thuộc mọi giáo phái khác nhau được đoàn kết gắn bó với nhau hơn, trong một cách mà phong trào thống nhất Cơ đốc giáo chưa bao giờ bắt đầu tiến đến được, nhưng giá phải trả cho nó cũng tương đương như vậy. Cái giá ấy có khi là việc dứt khoát loại trừ các Cơ đốc nhân nào không có được “từng trải phục hưng”, và một khuynh hướng bảo rằng giáo lý là không quan trọng bởi vì nó gây chia rẽ, trong khi nhấn mạnh từng trải trong Đức Thánh Linh khiến cho mọi người hiệp một. Do đó, nếu không hết sức cẩn thận, thì từng trải sẽ được dùng làm định chuẩn cho chân lý, chớ không phải lấy chân lý để làm định chuẩn cho từng trải. Và Hội Thánh đã bị thất bại vì quá theo “đầu óc” sẽ nhường chỗ cho Hội Thánh thất bại vì bất chấp lý trí một cách cực đoan.
Dấu trừ...
Vẫn còn rất nhiều điều có thể nói thêm trong quyển ‘Thần học về ‘Đức Thánh Linh (Theology of the Holy Spirit) F.D.Bruner đã căn cứ vào các khuôn mẫu trong thư Côrinhtô để vạch ra ba nét tương phản rõ rệt.
Số người của phong trào phục hưng này bao giờ cũng muốn được nhiều hơn, còn Phaolô thì luôn luôn nhấn mạnh rằng Chúa Cứu thế và chỉ một mình Chúa Cứu thế mà thôi, là phước hạnh của các Cơ đốc nhân. Bất luận giáo lý nào thêm vào một cái gì đó cho Chúa Cứu thế, như một số người theo phong trào phục hưng lắm khi kêu gào: "Chúa Cứu thế, vâng, nhưng ngoài Chúa Cứu thế ra bạn còn cần Đức Thánh Linh nữa", thì họ đã tự kết án chính mình.
Số người của phong trào phục hưng này bao giờ cũng đi tìm quyền phép; họ bị quyền phép của Đức Thánh Linh khích động, và họ luôn luôn tìm kiếm những con đường tắt để có được quyền phép. Ngày nay cũng vậy. Câu trả lời của Phaolô là ông không khoe mình về năng lực (power: quyền phép, quyền năng) mà về sự yếu đuối (nhược điểm) của mình, vì chỉ qua đó, quyền phép của Chúa Cứu thế mới có thể chiếu tỏa ra. Phaolô vốn có đủ các dấu hiệu của một sứ đồ, về dấu lạ, phép lạ và việc quyền năng (IICo 2Cr 12:12), nhưng ông biết rằng năng lực của một vị sứ đồ hoặc của bất kỳ một Cơ đốc nhân nào khác, đều đến từ sự kiên trì nhẫn nhục gian khổ, như ông có được nhờ cái gai (cây dầm) xóc vào thịt ông, hoặc sự kiên trì chịu đựng bị gièm pha và chịu khổ như ông từng phải chịu đựng khi đi truyền giáo (ICo1Cr 4:1-21). Người của phong trào phục hưng đã có nền thần học về sự phục hưng và quyền phép của nó, họ cần được học tập lại cách tươi mới bí quyết của thập tự giá và sự sỉ nhục của nó...thế nhưng, chính đó là quyền phép của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 1:8 tt).
Số người của phong trào phục hưng này luôn luôn tìm kiếm bằng chứng hiển nhiên. Chính vì lý do đó mà việc nói tiếng lạ, chữa bệnh, và làm phép lạ được họ đánh giá rất cao. Nhưng Phaolô biết rằng khi còn sống trên đời này, chúng ta phải bước đi bằng đức tin chớ không bằng mắt thấy. Rất nhiều lần, Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta hãy tin cậy Ngài trong chỗ tối tăm, mà chẳng có chứng cớ hiển nhiên nào hậu thuẫn cả.
...và dấu cộng
Nhưng nếu chỉ kết thúc phần đánh giá ngắn gọn phong trào phục hưng bằng một âm hiệu tiêu cực như vậy, thì quả là quá gay gắt. Tôi tin rằng nó đã thực hiện được nhiều điều tốt hơn là gây tai hại. Tôi tin rằng nó đã nhấn mạnh điều mà các Hội Thánh ngày nay muốn bỏ qua để chuốc lấy tai họa. Nó đã dạy dỗ chúng ta phải tin vào sự thực hữu của Đức Chúa Trời và khả năng của Ngài, để phá vỡ ngay chính phương hướng chung của chúng ta bằng quyền năng xâm chiếm của Thánh Linh Ngài. Nó đã đem giáo lý ra khỏi kệ sách bụi bặm, để đặt thân vị của Đức Thánh Linh vào ngay giữa trung tâm của phòng khách. Nó đã cất đi phần hình thức, phần buồn tẻ ngột ngạt ẩm mốc, sự thống trị có tính cách nghề nghiệp, sự khô khan mà ai cũng thừa biết, ra khỏi việc thờ phượng của chúng ta, để khiến nó trở thành sống động, có tính cách tập thể, nâng tinh thần và đầy vui mừng. Nó đã thừa nhận các ân tứ rất khác nhau mà Đức Chúa Trời đã ban cho những người thuộc về Ngài, khám phá ra một số ân tứ đã bị quên từ lâu, và ngày càng nhấn mạnh hơn vào một cơ cấu sinh hoạt của Hội Thánh, là nơi các ân tứ ấy có thể đem ra thực thi. Nó đã đưa những người nam người nữ từ những bối cảnh xã hội khác nhau nhất đến chỗ thông công mật thiết với nhau. Nó đã lôi kéo được những Cơ đốc nhân im lặng đến chỗ vui vẻ và can đảm làm chứng cho Chúa họ. Nó đã bày tỏ nghiêm trọng về yếu tố đen tối của Sa tan và ma quỉ, và làm sống lại nơi các Cơ đốc nhân ý thức về trận chiến thuộc linh. Nó đã mở rộng các cánh cửa cho nước lụt tràn vào thành lời cầu nguyện ca ngợi tán tụng trong nhiều tấm lòng vốn đã khô cằn. Trong mỗi thế hệ, Đức Chúa Trời đều dấy lên một ảnh hưởng cân bằng cho những sự yếu đuối và lạm dụng hiện nay trong Hội Thánh Ngài. Trong thời đại của chính chúng ta, Ngài đã dấy lên phong trào đáng chú ý mà chúng ta gọi là phong trào phục hưng ân tứ này. Điều này sẽ trở thành bi kịch, nếu Hội Thánh không học hỏi được điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta học hỏi.
Điểm này đưa thẳng đến câu hỏi thứ ba của chúng ta.
3. TRẬT TỰ VÀ TỰ DO CÓ THỂ ĐƯỢC DUNG HÒA TRONG HỘI THÁNH NGÀY NAY KHÔNG?
[td Sự căng thẳng giữa trật tự và tự do
Mở đầu.
Người tín đồ đi nhà thờ theo truyền thống rất hoài nghi những lời rêu rao của các thành viên nào trong hội chúng, bảo rằng họ hướng dẫn buổi nhóm lại là theo sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh. Đối với người ấy, thì lời rêu rao như vậy dường như đáng ghê sợ y như đối với Giám mục Luân đôn khi ông nghe Wesley làm như vậy hồi thế kỷ thứ mười tám vì cớ trật tự ta không nên liều lĩnh để cho Đức Thánh Linh chịu trách nhiệm về sự tự do được. Mặt khác, người đang say sưa với từng trải của Thánh Linh giải phóng của Đức Chúa Trời dễ bị cám dỗ mất kiên nhẫn với giáo hôi theo tổ chức và bị kéo vào sự thờ phượng “tự do” cùng với các bạn bè có tâm chí giống như mình. Phong trào phục hưng bất tín nhiệm trật tự, còn người theo truyền thống thì lại sợ sự tự do.
Sẽ là một tấn thảm kịch vĩ đại, nếu như người thuộc phong trào phục hưng và người không thuộc phong trào phục hưng không thể sống chung hòa bình và hòa hợp với nhau trong cùng một Hội Thánh; thật là bi thảm nếu chúng ta chẳng học hỏi được gì cả qua các thế kỷ, kể từ ngày Phaolô viết thư cho người Côrinhtô. Phaolô đã đánh giá cao trật tự trong Hội Thánh, vì trật tự là dấu hiệu về sự thành tín của Đức Thánh Linh. Phaolô cũng yêu mến quyền tự do mà Đức Thánh Linh đã đến để ban cho chúng ta. Ông vốn biết trật tự có thể thoái hóa để trở thành sự an bình của huyệt mả, còn tự do có thể trở thành cảnh hỗn loạn của chốn ăn chơi. Những người sốt sắng nghiệt thành cần nhớ là đừng nên làm cho Đức Thánh Linh điều mà chính Ngài không tự làm cho mình, và đó là tìm kiếm ánh đèn màu tức là tìm kiếm sự chú ý của mọi người. Còn người theo truyền thống thì phải nhớ là họ không cầm quyền kiểm soát Đức Thánh Linh, nhưng chính Đức Thánh Linh mới sáng tạo, ngự trị bên trong, và hướng dẫn cộng đồng Hội Thánh. Đó là lý do tại sao họ không nên sợ hãi nếu phải tin cậy nơi Ngài. Vì Đức Thánh Linh vốn vừa có trật tự vừa là tự do, sẽ không hướng dẫn các nhà tiên tri cùng lên tiếng một loạt, hay những người nói tiếng lạ nói huyên thuyên khi chẳng có ai hiện diện có thể thông giải cả. Những người theo phong trào phục hưng không nên sa vào hoạt động lầm lỗi là luôn luôn đồng nhất hóa hoạt động của Đức Thánh Linh với cái bất bình thường; hoặc cho rằng họ có độc quyền về Đức Thánh Linh, vì Ngài vẫn hiện diện qua các ân tứ khác và qua các thành viên (chi thể) khác của cùng một Thân thể Chúa Cứu thế, cũng chẳng kém gì chính họ. Người có tính tổ chức hơn thì phần họ cần giữ kiên nhẫn nếu chất rượu mới của phong trào phục hưng thỉnh thoảng có làm nứt các bầu da cũ để chảy ra ngoài cách cư xử của Hội Thánh theo truyền thống; hãy thông cảm nếu một vài góc cạnh trong công tác của Đức Thánh Linh có tạm thời khiến người ta có một cách nhìn lệch lạc; và phải sẵn sàng học hỏi nơi những người của phong trào phục hưng về lòng nhiệt thành hăng say để được làm mới lại của họ, về sự dâng hiến càng sâu xa hơn cho Chúa, và một thái độ sẵn sàng dám liều lĩnh vì cớ Đức Chúa Trời, và trở nên những kẻ ngông cuồng dại dột vì cớ Chúa Cứu thế, nếu cần, đồng thời cũng biết dâng mình một cách mới mẻ để truyền giảng Phúc âm và cầu nguyện.
Dành chỗ.
Trong thực tế, nó sẽ có nghĩa là hãy dành chỗ trong sinh hoạt thờ phượng của hội chúng cho những người có ân tứ đặc biệt thi thố ra. Vì nếu chỉ tán thành phong trào phục hưng một cách rộng rãi mà không dành chỗ cho chức vụ của từng thành viên một, và để cho các ân tứ nói tiếng lạ, nói tiên tri và chữa bệnh được tận dụng trong dòng chảy chính yếu của sinh hoạt Hội Thánh để mọi người đều được ích chung, thì vẫn chưa đủ. Không nên hạn chế những sinh hoạt này trong phạm vi có phần nào bí mật của một buổi nhóm lại giữa tuần cho những người vốn thích việc đó mà thôi. Vì nếu chúng quả thật là một ân tứ, thì chúng chính là những ân tứ dành cho Thân thể Chúa Cứu thế, và sẽ phải được thi thố khi toàn thể hội chúng nhóm lại. Những việc như thế cần được thực hiện như thế nào, thì phải được bàn bạc trong phạm vi nội bộ. Có lẽ cơ hội thích hợp nhất là trong khung cảnh Tiệc thánh. Trong những Hội Thánh có phần nghi thức tế lễ, thì đã sẵn có chỗ dành cho sự tự do và uyển chuyển trong phần nghi thức đó rồi. Nói chung, trong thực tế đã có nhiều người từ nhiều thành phần khác nhau đã đóng góp vào. Dĩ nhiên cần thận trọng để đừng có quá nhiều điều mới mẻ vào quá nhanh chóng. Ta không thể nào đánh giá quá cao tinh thần bảo thủ của phần lớn các hội chúng. Nhưng nên kiên nhẫn dạy dỗ, yêu thương, và từ từ đưa vào những nét mới mẻ; một hội chúng có thể được chuẩn bị để tiếp nhận các ân tứ từ trước đến giờ vẫn chưa được sử dụng hoặc thừa nhận, mối thông công có thể được duy trì; và trật tự với tự do có thể dựa vào nhau để ngày càng được phong phú thêm. Thật ra, những người biết nương cậy vào Thánh Linh của Đức Chúa Trời để kết hợp trật tự với tự do không phải là điều gì vượt quá khả năng của họ, miễn là cả hai đàng nhận thức được rằng họ có những cái nhìn xuyên suốt vừa bổ túc cho nhau vừa riêng biệt để thấu rõ bản tính và cách tác động của Đức Thánh Linh, là Đấng vốn vĩ đại hơn những gì chúng ta lãnh hội được về Ngài. Nếu chỉ riêng rẽ một mình, thì những điểm nhấn mạnh của cả hai đàng đều khiến cho Phúc âm bị biến dạng đi; nhưng nếu cùng hiệp một với nhau, tất cả sẽ cùng gây dựng Một Thân thể của Chúa Cứu thế, được Đức Thánh Linh dẫn truyền sự sống vào để thành một đền thờ duy nhất của Đức Chúa Trời, trong đó, tuy có nhiều điều nhấn mạnh khác nhau, nhưng vẫn được Ngài vui lòng ngự vào (Eph Ep 2:22). Chắc chắn mọi sự sẽ không dễ dàng, nhưng có ai dám hứa rằng cuộc đời làm Cơ đốc nhân là dễ dàng?
Mối căng thẳng giữa trật tự và sự đổi mới đã nảy sinh sắc bén nhất là trong ba lãnh vực đặc biệt: chức vụ, Hội Thánh, và bước đầu để trở thành Cơ đốc nhân.
...Trong chức vụ
Người của phong trào phục hưng thường bất tín nhiệm chức vụ do tổ chức đặt định. Sự việc vốn là như vậy hồi thế kỷ thứ nhất, như IIPhi-e-rơ và thư Giuđe vạch rõ cho chúng ta; đây là một vấn đề cấp bách của thế kỷ thứ hai, như sách Didache cho thấy. Sự việc vẫn còn là như thế. Và vấn đề này vốn có hai nguyên nhân.
Giáo phẩm chủ nghĩa
Trước hết, người của phong trào phục hưng bất tín nhiệm chức vụ do tổ chức (giáo hội) đặt định, vì một lý do thích đáng. Đó là việc nhiều vị linh mục đã đồng nhất hóa chức dịch (ministry) với chức vị (office), và cho rằng trong Hội Thánh, nếu không có được chức vị chính thức, thì không thể thực thi chức dịch một cách kiến hiệu được. Nói tóm lại, chức vị chính thức, thay vì thực thi cái chức năng Đức Chúa Trời đã phó thác là gây dựng các thánh đồ cho công tác phục vụ Chúa của họ (Eph Ep 4:12), lại thật sự ngăn trở Thân thể hành động như một Thân thể, với tất cả các thành viên (chi thể) đảm nhiệm phần dành riêng cho mình. Chức dịch được tập trung vào tay vị chức sắc; để rồi chẳng những chỉ có vị chức sắc ấy mà toàn thể các thành viên (chi thể) của Thân thể đều bị tổn hại, vì nhiều thành viên (chi thể) đã không được cho phép đóng góp phần của họ. Biết bao lần, những Cơ đốc nhân trung tín được phó thác cho một ân tứ đặc biệt dành cho hội chúng địa phương, đã đau lòng nói với tôi rằng họ không được phép thi thố ân tứ ấy “vì ông linh mục không thích như vậy”. Người của phong trào phục hưng đã có lý khi than phiền người được tấn phong vào chức vụ, khi ông ta đóng sai vai trò của mình như thế.
Bất tín nhiệm
Nhưng, hãy còn một nguyên nhân khác nữa cho sự bồn chồn của họ, tuy không xứng đáng lắm, nhưng cũng dễ thông cảm. Người của phong trào phục hưng có khuynh hướng bất tín nhiệm người được tấn phong vào chức dịch, vì hàng giáo phẩm dường như không chia xẻ từng trải mãnh liệt về Đức Thánh Linh mà chính bản thân họ đã được hưởng. Các vị mục sư liên hệ cảm thấy bị tổn thương vì không được tín nhiệm, cho rằng những người theo phong trào phục hưng là chưa trưởng thành, và có lẽ còn thù ghét ảnh hưởng mà họ có thể có trong Hội Thánh. Đây cũng là môt thảm kịch của chân lý nửa vời. Đức Thánh Linh vốn không hề tự giới hạn mình riêng cho người của phong trào phục hưng cũng như của tổ chức chính thức. Chức vị không phải là kẻ thù của charisma (ân tứ). Phaolô có thể nói rằng việc bổ nhiệm, phong chức là một charisma của Đức Thánh Linh san xẻ cho Timôthê do việc đặt tay của ông và của các trưởng lão bạn (ITi1Tm 4:14; IITi 2Tm 1:8). Đức Thánh Linh có thể thật sự hiện diện (hoặc vắng mặt) trong một buổi lễ tấn phong của người Công giáo cũng như trong một buổi nhóm lại để ca ngợi tán tụng Chúa của người Ngũ tuần. Ân tứ phục hưng với giáo phẩm không nhất thiết đố kỵ nhau, bao lâu người có ân tứ không bài bác chức năng quản lý của vị chức sắc được tấn phong vốn do sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, và vị chức sắc thì không quyết đoán cho rằng mình là nhân vật “thuộc linh” duy nhất trong hội chúng, và chẳng có ai trong đám họ có thể có, hay được cho phép thực thi, một ân tứ thuộc linh mà chính mình không có. Cách của Chúa Giê-Xu là phương cách của tình yêu thương, và phương cách gây dựng Thân thể, không cho phép tạo ra một sự ngăn cách giữa trật tự và charisma (ân tứ).
...Trong Hội Thánh.
Lãnh vực thứ hai mà sự căng thẳng giữa tự do và trật tự này đã trở nên cấp bách là vấn đề ly khai. Vì giáo hội trên con đường xuống dốc đã bày tỏ rõ ràng là không thuộc linh, cho nên, chúng ta là “những con người thuộc linh” tốt nhất là nên thoát ly để tìm một giáo hội riêng cho mình. Tai hại thay, thái độ cả quyết khi rêu rao là mình vâng theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh như vậy, thật ra lại bày tỏ rõ ràng không vâng theo các lịnh truyền của Đức Thánh Linh trong Kinh Thánh là phải duy trì sự hiệp một. Thật là tai hại cho thái độ kiêu căng khi thấy rằng cái giáo hội mà người ta theo sau này, cũng chẳng thuộc linh gì hơn cái giáo hội mà mình đã ly khai. Charles Spurgeon được nổi tiếng về một lần kia ông đã trả lời một phụ nữ “thuộc linh” theo cách đó đang đi tìm một Hội Thánh trọn vẹn, hoàn toàn: “Thưa bà, bà sẽ chẳng bao giờ tìm ra nó dưới gầm trời bên này cõi thiên đàng đâu; mà nếu có tìm ra, thì xin bà đừng đến gần nó, e rằng bà sẽ phá hỏng nó chăng!”
Phân ly hay phục hưng?
Dường như phân ly vốn không phải là đường lối của Đức Chúa Trời: qua suốt lịch sử lâu dài của Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã tự chứng minh Ngài vốn Đấng làm cho hồi sinh, cải tạo và tái tạo những chiếc bình đã bị thất vọng. Ngài là Đấng mà Thần Linh Ngài đã không tiêu hủy trũng hài cốt khô, nhưng đã thổi sự sống mới vào đó. Ngay trong các bức thư gởi cho Bảy Hội Thánh trong Khải huyền cũng không hề có một gợi ý nào rằng người ta phải “thoát ly” khỏi một giáo hội đã “chết”. Thật là buồn cười nếu không nói là đáng thương hại và rất tai hại, khi tin tưởng rằng có một nhóm người tội lỗi nào đó lại có thể trục xuất tính không thuộc linh khỏi giữa họ chỉ đơn giản bằng cách ly khai với số người mà họ không dễ dàng sống chung được. Thế thì, chuyện gì đã xảy ra với nhân loại mới bao gồm cả người Do thái lẫn người ngoại bang, cả người nam lẫn người nữ, cả người nô lệ lẫn người tự chủ - số người từng thông công với nhau trong tình yêu thương và sự hiệp một như chúng ta đã thấy, là mái ấm gia đình của Đức Thánh Linh trong thời Tân Ước? Chính qua việc phục hưng, làm nên mới chớ không phải qua việc ly khai, Đức Chúa Trời đã luyện lọc những người thuộc về Ngài từ thời của Áp-ra-ham, cho đến thời đại của chúng ta ngày nay. Khi có những cá nhân hay những đoàn thể ly khai, họ đã chứng tỏ rằng họ không phải là những con người của Đức Thánh Linh như họ đã tự cho mình như vậy (ICo1Cr 3:3)
Sự sống và trật tự.
Cho nên, những người theo phong trào phục hưng mà ly khai với một Hội Thánh bởi vì Hội Thánh ấy không thuộc linh, thì nói chung, họ đã sai lầm. Cấp lãnh đạo trong Hội Thánh phải thi hành việc kiểm soát các cá nhân có các ân tứ phục hưng là một việc làm đúng. Nhưng điều đó không có nghĩa là muốn giữ trật tự thích đáng cho Hội Thánh, thì họ phải ngưng thực thi các ân tứ ấy. Trái lại là khác. Chúa là Đấng đã giao cho Hội Thánh Ngài một chức dịch nhất định bắt đầu từ Mười Hai sứ đồ, cũng ban các nhà tiên tri cho Hội Thánh Ngài. Số người này không được sự thừa kế theo truyền thống. Chức năng của các nhà tiên tri này là ngăn ngừa không cho Hội Thánh đồng nhất hóa truyền thống của mình với ý chỉ Đức Chúa Trời mà không suy xét kỹ càng. Các vị vốn là, và vẫn còn là con mòng của Đức Chúa Trời với cái kim châm chích, để chỉ cho người ta thấy đâu là chân lý, khi Hội Thánh Ngài lâm vào nguy cơ ngủ mê và ngày càng tự mãn. Các vị không thể nào làm thinh được.
Dĩ nhiên, cũng như vị chức sắc chính thức có thể lâm vào nguy cơ đồng nhất hóa Đức Thánh Linh với những cách thức làm việc theo truyền thống hay với các biểu tượng thiêng liêng truyền thống; thì nhà tiên tri cũng có thể sa vào bẫy rập của việc đồng nhất hóa Đức Thánh Linh bằng thông giải các biến cố theo cách riêng mình, và có khi với cả các định kiến riêng của mình nữa. Phaolô vốn ý thức rõ việc này, và ông đã không nhờ vào một sự phê chuẩn hợp pháp nào, trái lại là trông cậy vào cảm thức biện biệt của chính nhà tiên tri và của các bạn đồng lao của ông, để bài bác kẻ kiêu ngạo và lắm lời (ICo1Cr 14:29-32). Nhà tiên tri cũng không được miễn trừ việc bị những cám dỗ của thế gian, xác thịt và ma quỉ, hơn vị trưởng lão hay giám mục. Có khi lời Đức Chúa Trời đến qua người nói tiên tri, có khi là qua vị giám mục. Như Haddon Willmer đẽ viết rất sâu sắc trong một bài báo về ‘Đức Thánh Linh trong Hội Thánh (The Holy Spirit in the Church) “Bản thân vị giám mục có thể là một nhà tiên tri, và trong vị ấy, chính định chế có thể trở thành lời tiên tri - hoặc cũng có thể là không phải. Kết quả là không thể vạch ra trước những lằn ranh mà nhà tiên tri không thể vượt qua, e có thể gây rắc rối cho sự hiệp một của Hội Thánh”. Thật ra, mối căng thẳng giữa các giới người trong Hội Thánh thường là rất lớn. Tôi tưởng tượng rằng trong Giáo hội nghị Giêrusalem vào thời sách Công vụ, đã có nhiều căng thẳng. Willmer tiếp tục: “Dấu hiệu về hiện diện của Đức Thánh Linh không phải là sự thiếu vắng việc tranh luận nhưng là phẩm chất của nó. Tình thương biết nhịn nhục, nín chịu mọi sự, hi vọng mọi sự, giữ cho thái độ thất vọng chán nản không làm cho những người tranh luận trở thành cay đắng với nhau, không để cho những lời khoe khoang, phô trương sống sượng gây chia rẽ và làm mất đi đặc điểm đầy tràn hi vọng của Đức Thánh Linh. Tình yêu thương giữ cho tinh thần nói tiên tri khỏi chú trọng vào tội lỗi người ta và hướng dẫn họ đến chỗ vui trong chân lý, điều mà chỉ nhờ nó, những điểm trái ngược nhau có thể biến thành kết quả tốt" (Church Quaterly April 1971 p.292 f)
...Trong bước đầu tiên của cơ đốc nhân
Lãnh vực căng thẳng thứ ba giữa charisma và trật tự trong Hội Thánh liên hệ với cả vấn đề về điều gì khiến cho một người trở thành Cơ đốc nhân. Sự căng thẳng đã có từ rất lâu rồi ngay cả trong cùng một chi hội, giữa những người cho rằng bước đầu tiên để trở thành Cơ đốc nhân là ở các thánh lễ, với những người nhấn mạnh rằng bước đầu của Cơ đốc nhân là ở việc tin Chúa Giê-Xu và ăn năn quy đạo. Rồi sự căng thẳng này lại bị làm cho phức tạp thêm. Phong trào phục hưng ân tứ đã tập thành thói quen cho rằng kinh nghiệm được Đức Chúa Trời chiếm hữu cách mạnh mẽ và đặc biệt gọi nó là “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh”. Điều này đã vừa gây ngạc nhiên, vừa làm bối rối cả người Công giáo lẫn người Tin Lành chân thực, nhưng nó đã được chứng minh là một sự khuấy rối lành mạnh nhất. Vì nó nhắc chúng ta nhớ rằng có đến ba, chớ không phải chỉ có hai cách mà thôi, để định nghĩa bản tính của Hội Thánh.
Những người đã chịu phép báp-tem rồi?
Người ta có thể nghĩ về Hội Thánh như là việc mở rộng số dân của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Nói rộng ra, thì giáo hội Công giáo có khuynh hướng nghĩ như vậy. Và Kinh Thánh có bằng chứng hiển nhiên để hậu thuẫn cho một quan điểm như vậy. Trong sách Công vụ, Giêrusalem là trung tâm của Hội Thánh hữu hình trên toàn thế giới; Hội Thánh Giêrusalem thể hiện và tiếp tục lịch sử của sự cứu rỗi từ thời của Áp-ra-ham trở về sau. Điều này được nhấn mạnh trong ngày lễ Ngũ tuần khi Phi-e-rơ kêu gọi những người nghe ông giảng hãy ăn năn hối cải và tự cứu mình khỏi “dòng dõi gian tà này”. Câu này ám chỉ về PhuDnl 32:5, qua đó các công dân thật sự của dân Y-sơ-ra-ên được kêu gọi hãy chứng tỏ là mình được phân biệt với dòng dõi gian tà của số dân Y-sơ-ra-ên bội đạo chung quanh họ. Phần suy luận thật rõ ràng. Hội Thánh là dân Y-sơ-ra-ên thật; dân Y-sơ-ra-ên vô tín là dòng dõi gian tà; chịu phép báp-tem và gia nhập Hội Thánh là tự chứng tỏ mình là dân Y-sơ-ra-ên chân chính của Đức Chúa Trời trong lịch sử. Cong Cv 3:25, 26 cũng vạch rõ cùng một quan điểm đó. Những người tin Chúa Giê-Xu phải tự chứng minh mình là dân Y-sơ-ra-ên thật, là những người thật sự kế tục Áp-ra-ham bằng cách tham gia cộng đồng này, không phải gia nhập bằng cách chịu phép cắt bì nữa mà bằng phép báp-tem. Có điều dạy dỗ rất hay, khi chúng ta thấy thế nào Cựu Ước đã gọi dân sự của Đức Chúa Trời là hoi hagioi là “các thánh” - rồi các trước giả Tân Ước cũng dùng lại tên ấy để áp dụng cho Hội Thánh (Cong Cv 9:13, 32, 41 v.v..). Hội Thánh là dân Y-sơ-ra-ên thật, mà người ta được gia nhập là nhờ phép báp-tem. Đây là lý luận được thu gọn cho trường hợp người Công giáo. Và nó là một phần của chân lý.
Những người tin?
Một cách khác để định nghĩa Hội Thánh nữa, là xem nó là cộng đồng các tín hữu có sự thông công với nhau. Người Tin Lành phần đông theo khuynh hướng này. Một lần nữa, Kinh Thánh cũng có chứng cứ hiển nhiên để trưng ra làm hậu thuẫn cho quan điểm này, và cũng được lấy ra từ cùng một nguồn tài liệu là sách Công vụ. Qua suốt bộ sách ấy người ta thường gặp lời mô tả các Cơ đốc nhân là “người tin” (2:44; 4:32; 5:14,v.v..) Muốn nhập đoàn người này, thì phải ăn năn hối cải và có đức tin (2:38; 16:31). Phép báp-tem là dấu hiệu của người tín hữu, vì chỉ có những người tin Chúa mới có quyền đích thân công bố điều mà Chúa Cứu thế đã thực hiện cho tất cả mọi người. Đây là sự hiểu biết phổ biến có ưu thế của những người Tin Lành về Hội Thánh. Và đây cũng là một phần của chân lý.
Những người đã nhận lãnh Đức Thánh Linh?
Nhưng có một cách thứ ba nữa để nhìn Hội Thánh, đã chiếu thẳng vào giữa mặt chúng ta suốt nhiều thế kỷ, mà chúng ta đã không nhìn thấy. Đặc điểm tối quan trọng của Hội Thánh Tân Ước, là nó gồm những người nam người nữ đã nhận được một từng trải sống động về Đức Thánh Linh cho chính đời sống họ. Đây chính là điều đã biến đổi các môn đệ đầu tiên, từ một nhóm người hoàn toàn tuyệt vọng vì lãnh tụ của mình đã bị giết rồi sống lại và từ giã họ, trở thành một Hội Thánh được nhận lãnh Đức Thánh Linh. Đây chính là điều đã đánh dấu cho số Cơ đốc nhân tại Samari khi bước đầu tiên để họ trở thành Cơ đốc nhân được thực hiện: là họ đã được nhận lãnh Đức Thánh Linh cách rõ ràng. Đây cũng là cách mà Phi-e-rơ đã nhận biết khiến ông phá bỏ các nguyên tắc của mình, và làm phép báp-tem cho Cọtnây - là người rõ ràng như một đỉnh núi nổi bật trên nền trời, rằng đời sống ông đã được chói rạng bởi Đức Thánh Linh. Một trong những kỳ công của J.D.G.Dunn trong quyển ‘Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh (Baptism in the Holy Spirit) là ông thừa nhận trọng tâm của sự nhận lãnh Đức Thánh Linh trong cách Tân Ước định nghĩa Hội Thánh. Trong phần kết luận tác phẩm của mình, ông hỏi: “Đâu là dấu ấn phân biệt của một Cơ đốc nhân?” và ông tiếp: “Việc nghiên cứu học hỏi của chúng tôi đã cho chúng tôi câu trả lời khá chính xác của Tân Ước về câu hỏi trên: Rằng một người là Cơ đốc nhân, khi người ấy đã nhận được ân tứ của Đức Thánh Linh bởi sự phó dâng chính mình cho Chúa Giê-Xu phục sinh để Ngài làm Chúa mình, và là người sống đúng theo ý nghĩa đó”. Chúng ta phải chịu ơn phong trào Ngũ tuần vì đã lưu ý chúng ta về câu định nghĩa tối quan trọng đó của Tân Ước. Điều hoàn toàn có thể xảy ra, là bạn đã chịu phép báp-tem, đã tin các điều khoản của đạo Cơ đốc, nhưng vẫn chưa có Đức Thánh Linh trong đời sống mình.
Không phải là ba cách, nhưng chỉ một mà thôi.
Khi lấy riêng từng câu định nghĩa một mà chúng ta vừa khảo xét trên đây, thì thật là dễ thấy những lạm dụng. Điều quan trọng là phải thấy rằng cả ba đều nằm trong ý định của Đức Chúa Trời đối với người thuộc về Ngài. Trong phần ký thuật của mình rất có thể trước giả sách Công vụ đã thể hiện cả ba cách nhìn khá khác nhau về Hội Thánh đó, thế nhưng, hẳn Luca đã phải vô cùng kinh ngạc nếu ông biết trong những thế kỷ về sau này, cả ba cách nhìn đó lại bị người ta đưa ra để ganh đua, tranh luận với nhau. Trong một nền thần học thật sự theo Kinh Thánh, thì việc bắt đầu trở thành Cơ đốc nhân chỉ đơn giản gồm ba hành động thuộc lẫn nhau, tuy chúng có thể được nhân lãnh cách nhau khá lâu trong thời gian, và có thể không theo bất kỳ một thứ tự nào. Đó là sự ăn năn hối cải và đức tin của một người, phép báp-tem bằng nước của Hội Thánh, và việc được Đức Chúa Trời ban Đức Thánh Linh. Trong nền thần học theo Kinh Thánh không còn có điều gì khác nữa, để một Cơ đốc nhân bắt đầu được tiếp nhận vào cộng đồng, dầu đó là bằng phép thêm sức do một giám mục cử hành (như một số người Công giáo “theo hai giai đoạn” có thể lý luận), hay bằng một “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” (như một số người Ngũ tuần “theo hai giai đoạn" có thể chủ trương). Bằng cùng một biểu tượng như vậy, một người không thể chỉ nói đơn giản rằng: “Tôi đã chịu phép báp-tem rồi; vậy tôi là một Cơ đốc nhân” hay: “Tôi đã tin Chúa Cứu thế; vậy tôi là một Cơ đốc nhân”. Người theo phong trào phục hưng chắc sẽ vạch rõ thật phải lẽ cho những người như thế thấy rằng Tân Ước có những dấu hiệu rõ ràng về một người đã trở thành Cơ đốc nhân, tức là những biểu hiện rõ ràng trong đời sống người ấy do Đức Thánh Linh mà người ấy đã tiếp rước vào. Chúng có thể (mà cũng không có thể) là những ân tứ nổi bật khiến mọi người phải lưu ý như nói tiên tri và nói tiếng lạ, nhưng điều người ta có thể trông đợi phải có trong đời sống Cơ đốc nhân chính là trái của Đức Thánh Linh. Nếu không có tình yêu thương, sự vui mừng, bình an, tử tế, thiện hảo, đức tin, và tự chủ, thì chẳng có bằng cớ hiển nhiên nào để chứng minh Đức Thánh Linh đã ngự trị trong đời sống ấy, không có bằng cớ hiển nhiên nào để chứng minh rằng người ấy đã bắt đầu gắn liền với Chúa Cứu thế, cho dầu phép báp-tem của người ấy vốn có giá trị, và người ấy có lớn tiếng cãi rằng mình có đức tin. Nếu không có sự cảm thúc kỳ diệu và vui mừng rằng mình đã là con cái của Đức Chúa Trời; nếu không có lòng cảm thông và quan tâm lo lắng chăm sóc các anh chị em khác trong cùng một gia đình; nếu không có lời cầu nguyện, ca ngợi tán tụng Chúa, lòng yêu thích Phúc âm; nếu không có ước muốn đem Phúc âm đến cho những người khác nữa, thì chúng ta phải nói thẳng rằng người ấy không phải là một Cơ đốc nhân theo Tân Ước mà chúng ta đang đề cập chút nào cả. Đây là vấn để chúng ta phải trực diện đối đầu, và rõ ràng phong trào phục hưng ân tứ đã đánh thức mọi người để phải quan tâm chú ý đến sự kiện đó.
Các dấu hiệu của Đức Thánh Linh
Vậy, để trở lại với vấn đề trật tự và tự do trong Hội Thánh của chúng ta, đâu là các dấu hiệu của Đức Thánh Linh mà chúng ta trông mong được thấy? Chúng ta phải tự hỏi sự phục hòa của chúng ta đã đem lại hiệu quả nào? Đã có sự hiệp một thật tự nhiên không gượng ép, đã có sự thông công sâu xa và chân thật, đã có sự thờ phượng sống động và đích thực, mà mọi người đều đóng góp, chia xẻ cho nhau trong toàn Thân thể Chúa Cứu thế, hay chưa? Chúng ta phải lo sao cho việc truyền giảng Phúc âm có được địa vị cao nhất trong số những điều ưu tiên một mà mỗi cá nhân và cả hội chúng đều nghĩ đến - vì Chúa Thánh Linh vốn hiện diện trong người biết ăn năn quy đạo chẳng kém gì trong việc nói tiếng lạ của những người thuộc phong trào ân tứ. Chúng ta phải trông mong nhìn thấy công việc của Đức Thánh Linh trong sự nương cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong Hội Thánh, là nơi tình yêu thương kiểm soát mọi thái độ, và là nơi mà các ân tứ được sử dụng vì lợi ích của cộng đồng, chớ không phải để thỏa mãn cá nhân. Một Hội Thánh như vậy sẽ rất quan tâm đến việc gây dựng các thành viên của mình trong sự vâng phục quyền chủ trị của Chúa Giê-Xu, vì đối với người ấy sống có Chúa làm Chủ, vừa là lời xưng nhận trong phép báp-tem của một Cơ đốc nhân, vừa là sự hứa nguyện (nghĩa vụ) vĩnh viễn. Trong một Hội Thánh mà Đức Thánh Linh được để tự do, thì người có ân tứ sẽ không bị ngăn trở trong việc vận dụng các ân tứ của mình, mà vị chức sắc được bổ nhiệm cũng không sợ hãi điều đó. Cả hai dòng người đều cần đến nhau để cùng hoạt động như sự hoạt động của một cơ thể là Thân thể Chúa Cứu thế; và trong một Hôi Thánh biết vâng phục Đức Thánh Linh, thì cả hai dòng người đều biết chống lại sự cám dỗ muốn ly khai những người bạn đồng hội đồng thuyền nhưng thỉnh thoảng lại hay “trái chứng” (kỳ quặc) của mình. Họ sẽ giữ gìn sự hiệp một mà Đức Thánh Linh ban cho họ, trong sự bình an, vui vẻ và phục vụ lẫn nhau do cùng một Đức Thánh Linh làm nảy sinh. Cả khi họ đứng trên cùng một lập trường với nhau, họ vẫn chưa phải là trọn vẹn. Vì Hội Thánh trên đất này sẽ chẳng bao giờ đạt được mức thành toàn. Tưởng tượng rằng người thật sự được linh cảm đã có sự đầy dẫy Thánh Linh Đức Chúa Trời trong mình ngay bây giờ, thì đó là sự thất bại của người theo trí huệ phái. Phaolô đã dạy cho người Côrinhtô một viễn ảnh tốt đẹp hơn. Chúng ta chẳng bao giờ được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong chính bản thân chúng ta mà thôi, nhưng chỉ khi nào chúng ta sáp nhập vào Thân thể ấy, vào đền thờ ấy, là nơi Đức Thánh Linh phô bày các vẻ đẹp khác nhau trong sự hài hòa của Ngài. Và chúng ta cũng chẳng bao giờ được đầy dẫy Đức Thánh Linh chỉ trong đời sống này mà thôi. Vì Đức Thánh Linh chẳng bao giờ cho chúng ta được đầy dẫy Ngài trong cái thế giới của thời gian và cảm giác này. Ngài là phần đặt cọc đầu tiên của Đức Chúa Trời cho tương lai. Ngài là của tin (của cầm) cho thiên đàng. Và đời sống trong Hội Thánh ngay tại đây và ngay bây giờ dầu tốt đẹp đến đâu, vốn cũng chỉ là cái bóng chỉ về sự hiệp một và phục vụ, về sự hài hòa và tình yêu thương, về sự phục hòa trọn vẹn, và cuối cùng, về sự ca ngợi và thờ phượng không dứt của chính thiên đàng. Cho đến tận ngày phải qua đời, chúng ta vẫn chưa được hưởng trọn vẹn những điều đó. Nó chính là tuyệt đỉnh cuối cùng của một thực tại mà chúng ta đã được hưởng qua, nếu trong từng trải và sự dâng hiến cá nhân, chúng ta có thể nói được: “Tôi tin Đức Thánh Linh”.

SAU MƯỜI NĂM: ĐÂU LÀ TƯƠNG LAI CỦA PHONG TRÀO PHỤC HƯNG ÂN TỨ?
1. MỘT THẬP KỶ THU HÚT SỰ CHÚ Ý
Sự sống mới trong các Hội Thánh
Mười năm sau khi viết quyển sách này, tôi đã bắt đầu duyệt xét lại nó. Thật là một từng trải gây kinh ngạc. Tôi không thấy cần phải sửa đổi nhiều về những gì mình đã viết liên hệ với tài liệu rút ra từ Kinh Thánh. Tôi không có sự thay đổi gì về đại thể của nguyên tác, vốn nhằm bắc một nhịp cầu giữa số người tự xưng là được phục hưng, với những người không xưng như vậy. Tôi vẫn còn dấn thân trọn vẹn cho công tác bắc cầu đó. Cơ đốc giáo không thể là một nước có hai đảng phái.
Nhưng tôi nhận thấy những gì mình đã viết về các ân tứ của Đức Thánh Linh đã bị mất tính thời gian một cách kỳ lạ, nên cần phải viết lại một phần lớn. Không chỉ đơn giản là vì bây giờ tôi đã thâu thập và học hỏi được rất nhiều điều suốt thập kỷ vừa qua, cũng không phải vì Hội Thánh nơi tôi phục vụ đã học được nhiều điều trong thập niên vừa qua, mà còn là vì toàn thể bầu không khí đã thay đổi, và có một sự tươi mát, một sự trông đợi mới, một sự tự do mới trong rất nhiều lãnh vực của các Hội Thánh đã được thành lập trên xứ này và nhiều quốc gia khác nữa. Bạn sẽ thấy các nghi lễ thờ phượng theo Cơ đốc giáo cử hành trong các thánh đường được kèm theo những bài ca ngợi tán tụng vui vẻ, có sự nhảy múa và việc cầu nguyện vượt ra ngoài quy định. Bạn sẽ tìm thấy nhiều cuộc hội thảo về “Sự sống trong Thánh Linh” được tổ chức khắp thế giới, mà đi tiên phong là những người Công giáo La mã, để giúp mọi người có được từng trải cá nhân về Đức Thánh Linh trong đời sống họ và trong Hội Thánh. Bạn sẽ thấy nhiều người họp lại trong các tư gia, nhóm lại khắp nơi, để thông công với nhau và ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời, để đem Tin Lành đến cho mọi người và để nuôi dưỡng họ, và các thành viên của những nhóm ấy thì bất kể thuộc giáo phái nào, mà chỉ căn cứ vào sự sống trong Đức Thánh Linh, mà sự sống thì cần phải có sự sống mới có thể hòa hợp với nhau để tác động lẫn nhau. Bạn sẽ nhận thấy các Hội Thánh hủy bỏ các buổi nhóm tối của mình để tạo cơ hội cho các thành viên nhóm nhau lại tại các tư gia, và khám phá ra rằng ở đó có sự thân mật và cơ hội tốt để phục vụ lẫn nhau như cách đáng phải có trong các nhóm tế bào Cơ đốc nhân. Bạn sẽ thấy những quyển sách như ‘Tôi tin vào Hội Thánh (I believe in the Church) của David Watson hay ‘Tôn vinh kỷ luật (Celebration of Disciplive) của Richard Fosher được toàn thể Hội Thánh đọc và đánh giá cao; và dĩ nhiên cả hai tác giả đều kéo những điều dạy dỗ ấy từ sâu dưới những suối nước phục hưng. Thật vậy, chính từ ngữ “phục hưng” hầu như đã trở thành khẩu hiệu cho các Hội Thánh, mọi người hầu như đều rất thiết tha với nó, cho dầu họ có biết ý nghĩa của nó hay không! Còn về các ứng viên giáo phẩm, tôi nhận thấy như ở Singapore chẳng hạn, số người xin ghi tên vào các trường cao đẳng thần học nhờ phong trào phục hưng đã chiếm một tỷ lệ rất cao. Có nhiều điều xảy ra ngay tại xứ này (Anh quốc) cũng giống như thế. Các trường cao đẳng thần học nhấn mạnh trên sự phục hưng đều không thiếu người ghi danh học.
Nói tiếng lạ không còn là một đề tài bị cấm trong các Hội Thánh nữa. Thật ra, nó đã trở thành một đề tài thích hợp cho các nhà xã hội học nghiên cứu. Mười năm về trước việc “chữa bệnh nội tâm” (inner healing) là một từ ngữ ít nghe thấy trong các Hội Thánh chính thống. Các bài hát của phong trào phục hưng đã lan tràn khắp nơi và được mọi giáo phái ca hát. Tại nhiều phần đất trên thế giới, sự tàn lụi của phong trào thống nhất Cơ đốc giáo đã được thay thế bằng một thứ phong trào thống nhất Cơ đốc giáo mới, sự san sẻ cho nhau giữa những người vừa khám phá ra được sự sống tươi mới trong Đức Thánh Linh - một sự chia xẻ vượt khỏi các khuôn khổ của giáo phái và văn hóa. Từ mười năm qua, thế giới này đã là một thế giới mới. Hiện nay, hầu như mỗi địa phận giám mục của Giáo hội Anh quốc không chỉ có một "thầy trừ quỉ" cho địa phận mình, nhưng có cả một danh sách các vị thuộc hàng giáo phẩm đã có từng trải trong chức vụ giải cứu này. Nhiều trung tâm chữa bệnh đã mọc lên tại nhiều nơi trong nước, và các Cơ đốc nhân không còn tỏ ra kinh ngạc nữa, khi bạn bè họ được chữa bệnh nhờ lời cầu nguyện và đặt tay, được nhậm và có linh nghiệm. Bạn sẽ thấy những linh mục và nữ tu sĩ tham gia nói tiếng lạ, và một số giám mục hướng dẫn người trong địa phận của mình chữa bệnh, cử hành lễ ca ngợi tán tụng Đức Thánh Linh, và những buổi nhóm cầu nguyện phục hưng. Tất cả các giáo phái lớn đều bị bắt buộc phải đánh giá cao phong trào này, và công bố những thông cáo để đánh giá nó. Giáo hoàng John XXIII từng cầu nguyện: “Xin Chúa làm sống lại các dấu kỳ phép lạ của Ngài trong thời đại của chúng con, như có một lễ Ngũ tuần mới vậy” Giáo hoàng Paul VI khẳng định: “Hội Thánh cần một lễ Ngũ tuần vĩnh viễn”, và điều rất ý nghĩa, là ngay trong Giáo hội La mã - vốn là giáo hội đã được cơ cấu hóa và theo truyền thống khắt khe nhất trong các giáo hội- phong trào phục hưng này đã bùng nổ mạnh mẽ và gây được nhiều ảnh hưởng hơn hết. Những tín đồ Tin Lành cả đời từng xa lánh các tín đồ Công giáo, bỗng nhiên nhận thấy mình đang cùng cầu nguyện với họ và cùng ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời về việc Ngài đã tuôn đổ Đức Thánh Linh. Còn người Công giáo vốn có thói quen xem Hội Thánh như độc quyền của Giáo hội La mã mà thôi, cũng bắt đầu vui mừng vì Chúa cũng ban Thánh Linh Ngài cho các anh em Tin Lành nữa. Việc này đang xảy ra trên một phạm vi rất rộng lớn tại Mỹ châu La tinh, là nơi những tín đồ Công giáo được phục hưng và Ngũ tuần vốn là những lực lượng thuộc linh đang tăng trưởng nhanh chóng nhất tại phần phía Nam của châu Mỹ, họ đang siết chặt tay nhau trong mối thông công của Đức Thánh Linh.
Phương thức thờ phượng mới
Hiện nay mọi sự đang diễn tiến tốt đẹp tại khắp nơi trên thế giới. Chẳng những tại châu Mỹ La tinh, mà tại phần lớn châu Phi nằm về phía Nam Sahara, trong phần lớn nước Inđônêxia, tại Singapore, Triều Tiên, Trung hoa và Liên xô, các ân tứ thuộc linh đang nở rộ một cách đáng kinh ngạc. Ngay trong nền văn minh hậu Cơ đốc giáo mờ nhạt của Tây Âu chúng ta, chính các Hội Thánh chịu mở rộng cửa cho ngọn gió lành đem phục hưng của Đức Thánh Linh đến mới là nơi đang tăng trưởng nhanh chóng. Khi nghĩ đến chính Hội Thánh của chúng tôi tại Oxford, tôi không khỏi kinh ngạc về những điều khác biệt mà thập kỷ vừa qua đã mang lại. Tôi không dám nói rằng chúng tôi hiện đang tốt hơn hay tệ hơn trước đâu, nhưng chắc chắn là chúng tôi đã đổi khác. Trước đây, chúng tôi có một ngôi nhà thờ điển hình cho Anh quốc giáo, nay nó đã được thu xếp để khiến cho sinh hoạt của Thân thể (Chúa Cứu thế) được dễ dàng hơn. Trước đây buổi nhóm lại của chúng tôi hoàn toàn có thể tiên đoán trước được. Bây giờ thì không phải như vậy nữa - và nó thường ngắt quãng bằng sự cầu nguyện cho việc sai phái một giáo sĩ hay cho một đội ra đi phục vụ nhân dịp cuối tuần, và bằng thì giờ ca hát phụ trội (có khi là bằng tiếng lạ) hay bằng việc nói tiên tri. Trước đây chỉ có một người hướng dẫn, giờ đây, có rất đông người tham gia chức vụ hướng dẫn việc thờ phượng. Trước kia, có một ban hợp xướng tham gia hát những bài thánh ca đã được soạn thảo trong quá khứ, giờ đây, những người ca hát thường tự sáng tác lấy các ca khúc của mình để thờ phượng và dạy cho cả hội chúng cùng hát - có khi còn tự ghi âm chúng nữa. Trước kia, diễn kịch và nhảy múa trong nhà thờ quả là điều gây kinh ngạc, giờ đây đó chỉ là chuyện thường. Trước kia, chúng tôi vốn không hề cầu nguyện xin được chữa bệnh và không dám trông mong gì nhiều vào việc Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời, bây giờ thì có. Trước kia, vị mục sư lãnh đạo phần lớn công việc trong Hội Thánh, giờ đây, vị ấy có mặt hay không dường như chẳng có gì quan trọng; nhiều khi nếu vị ấy vắng mặt còn có phần tốt hơn, vì khi đó, các ân tứ đã được Đức Chúa Trời ban phát cho nhiều thành viên khác trong hội chúng sẽ được sử dụng tự do hơn. Trước kia chỉ có rất ít, nếu không nói là chẳng có, các nhóm tư gia, giờ đây, đã có gần ba mươi; và chúng tự chứng tỏ là nhân tố mục vụ chính yếu của chi hội, khi các thành viên mang các gánh nặng cho nhau, và cùng chia xẻ niềm vui lẫn nỗi khổ với nhau. Chính trong những nhóm này mà các ân tứ bắt đầu biểu hiện và được cơ hội phát triển. Vấn đề không phải chúng tôi là một Hội Thánh được phục hưng đặc biệt, nhưng tất cả mọi điều đó sở dĩ được đem đến là nhờ cái gọi là phong trào phục hưng ân tứ. Chắc chắn thập kỷ vừa qua đã là một thập kỷ của sự thay đổi.
Những hình thức mới của Hội Thánh
Trong khoảng trên dưới mười năm nay, còn có một sự phát triển mạnh mẽ hơn, hoặc có thể nói, càng có ý nghĩa hơn, đã xảy ra. Đó là sự dấy lên của “Hội Thánh được phục hồi địa vị”. Đây là một hiện tượng có tầm cỡ quốc gia khắp nước Anh, trong đó các Cơ đốc nhân đã được Đức Thánh Linh đưa vào sự sống mới, đã bị vỡ mộng với các giáo phái theo truyền thống, đã tách khỏi các hệ phái ấy để trông cậy vào Đức Chúa Trời sẽ phục hồi sự hiệp một và thuần khiết của Hội Thánh Ngài, như họ vẫn tin nó vốn là như vậy trong những ngày đầu tiên của Cơ đốc giáo. Họ tin rằng các ân tứ của những ngày đầu tiên ấy giờ đây đã được Đức Chúa Trời phục hồi cho những người thuộc về Ngài; cho nên các Cơ đốc nhân cảm thấy phận vụ của họ là phải thoát ly khỏi các giáo phái để gia nhập đoàn dân duy nhất, không phân biệt nhau của Đức Chúa Trời, bằng cách tổ chức các “Hội Thánh tư gia” khắp nước. Arthur Wallis (mà quyển sách ‘Cơ đốc nhân cấp tiến đã gây được nhiều ảnh hưởng của ông có một phần phê bình sắc bén các giáo hội chính thống, tuy đã có đổi mới, và đưa ra một lời kêu gọi đầy thúc giục hãy chịu phép báp-tem lần thứ hai và thoát ly), Terry Virgo, George Costes, và Bryn Jones là một vài người trong số các lãnh tụ nổi tiếng nhất của điều từng được biết đại khái là phong trào Hội Thánh tại gia. Họ đã gây được ấn tượng sâu sắc về phương diện phẩm chất của sự thờ phượng và sự chăm sóc mục vụ, mà chiều sâu là sự chia xẻ đời sống của các thành viên với nhau, sự hi sinh quên mình và lòng rộng rãi, về các ân tứ thuộc linh và việc tìm đến với người khác. Vấn đề phải cẩn thận suy xét thật nhiều là chẳng hay lý tưởng của Đức Chúa Trời là làm cho sống lại hay phải dứt khoát phân tách nhau; và như chúng ta đã thấy ở phần trên là đã có khá đầy đủ các lý do trong Kinh Thánh để biện minh cho việc làm cho sống lại! Thái độ độc quyền đối với các Cơ đốc nhân khác, cũng là điều đáng chê trách đối với một vài thành phần của phong trào này, và có một khuynh hướng ngày càng gia tăng về việc bắt đầu chỉ là một phản ứng chống đối tất cả các hệ phái khác, nhưng rồi chính họ lại trở thành một giáo phái khác nữa! Tuy nhiên, thật rất khó nói rằng chúng tôi đã nhấn mạnh quá đáng tầm quan trọng của phong trào này tại Anh quốc. Phong trào tuần lễ nghiên cứu Kinh Thánh tại Dales (The Dales Bible Week), đang nảy sinh tại nhiều vùng trên xứ này, qui tụ được nhiền ngàn Cơ đốc nhân nhóm nhau để thờ phượng, chữa bệnh, dạy dỗ và gây dựng lẫn nhau. Tôi đã viết mấy dòng chữ này từ khu trung tâm xứ Wales nơi tổ chức tuần lễ Kinh Thánh tại Builth, là biến cố duy nhất có thể tranh đua với Đoàn Trình diễn Hoàng gia Welsh (the Royal Welsh Show) tại Builth Wells, ngay tại nơi có cuộc trình diễn, tại đó các thành viên của các Hội Thánh tại gia nhóm lại với hàng ngàn người để tổ chức lễ tạ ơn về đời sống mới mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ trong Đức Thánh Linh. Chắc chắn không có một giáo phái nào trong số các giáo phái theo truyền thống tại xứ Wales có thể sánh kịp với một buổi nhóm như vậy. Cho dầu nó có thể có nhược điểm nào chăng nữa, thì vẫn rõ ràng là Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang hành động, và chính vì lý do ấy, mà toàn thể các Cơ đốc nhân cần hoan nghênh nó. Rõ ràng phong trào phục hưng không phải chỉ đứng lại với chúng ta mười năm, sau khi tôi đã viết và cho xuất bản quyển sách này lần đầu tiên, nhưng nó còn tăng trưởng nhanh chóng.
2. PHONG TRÀO ĐANG TRƯỞNG THÀNH
Khi quyển sách này được viết ra để xuất bản lần đầu tiên, phong trào phục hưng chỉ mới tác động trong xứ này được trên dưới mười hai năm mà thôi, và đã bộc lộ rất nhiều điều ấu trĩ, chưa trưởng thành, của một phong trào hãy còn non trẻ. Có lý do để tin rằng từ đó cho đến nay, đã có sự phát triển đến mức trưởng thành, tuy việc ấy cũng có có thể đã kèm theo một sự giảm sút về lòng hăng say. Sau đây là một số lãnh vực mà tôi nhận thấy đã có tăng trưởng:
Ít nhấn mạnh hơn đến tiếng lạ
Trước hết, đã có sự ít nhấn mạnh hơn trên những điểm khác nhau về văn hóa. Mọi tổ chức đều phát triển bằng cách làm việc theo các đường lối riêng của mình, mà khi chưa trưởng thành thường có khuynh hướng kỳ thị những người làm việc theo phương pháp khác mình. Điều này đã được nghiệm đúng với phong trào phục hưng ân tứ. Nếu bạn không nói tiếng lạ, bạn không thể được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Nếu bạn không đưa hai tay lên trong khi thờ phượng, bạn vẫn chưa được giải phóng. Nếu bạn không hát đi hát lại một ca khúc nhiều lần, tức là bạn vẫn chưa thật sự học được cách thờ phượng. Và vân vân. Nhân loại vốn có một nhược điểm là thường dựng điều hạng nhì lên đứng hàng đầu, và phong trào phục hưng cũng không tránh khỏi sự thất bại này hơn bất kỳ ai khác. Nhưng hiện nay, tôi nhận thấy người ta dửng dưng đối với việc có đưa hai tay lên trời hay không khi ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời; dĩ nhiên người ta đã “đưa cao” tấm lòng của họ lên, và điều khá phổ biến, là được thấy mọi người “chú tâm vào việc chiêm bái, yêu thương và ca ngợi tán tụng”. Nó gây một tác động sâu xa trên hội chúng, và số người từ bên ngoài bước vào thường được cảm động sâu xa vì bầu không khí đó. Ngay trong hội chúng của mình, chúng tôi nhận thấy rằng chỉ riêng việc thờ phượng mà thôi cũng đã khiến được một số khách tới thăm đã đến được với đạo sự sống.
Ít nhấn mạnh hơn đến phép báp-tem
Thứ hai, đã có ít sự nhấn mạnh hơn (tại Anh quốc, tuy có lẽ không phải là tại Hoa kỳ) về từ ngữ “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” để gọi từng trải được tái ban nguồn sinh lực mà người theo phong trào phục hưng ám chỉ đến. Đây chẳng bao giờ là một từ ngữ mà người ta thích nghe cả, một phần vì nó rất ít được hậu thuẫn bởi ngôn ngữ Tân Ước, và một phần hẳn nhiên là vì nó gây tinh thần chia rẽ. Dầu sao thì phép báp-tem cũng vẫn là nghi lễ có tính cách quyết định và không thể được lập lại lần thứ hai trong bước đầu tiên để trở thành Cơ đốc nhân, và nếu bạn nói về một người nào đó, rằng: "Khổ lắm, anh ta vẫn chưa được phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh", thì điều không tránh né vào đâu được, là bạn đã tạo ra sự phân cách lớn lao giữa hai người vậy. Giáo thuyết về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh vốn bắt nguồn từ giáo hội Ngũ tuần cổ điển và người ta đã rút ra từ các phong trào thánh khiết của thế kỷ trước đây; thật vậy, về yếu tính, nó có nguồn gốc từ giáo lý "hãy nên trọn vẹn" của Wesley, là giáo lý về sự nên thánh hoàn toàn, yêu thương trọn vẹn, hoặc nói cách đơn giản hơn là về việc được phước hạnh lần thứ hai. Hiện nay, nó vốn được nhiều người đồng ý hơn, nghĩa là nó là quyền phép tái sinh của Đức Thánh Linh như là hoàn toàn phân biệt với những bao biện mà người Ngũ tuần đã áp đặt trên thế giới vào đầu thế kỷ này, và nghĩa là sợi dây ba tao của phép báp-tem bằng nước, sự ăn năn và đức tin, cùng các ân tứ của Đức Thánh Linh đều là ba tao của bước đầu tiên duy nhất để trở thành Cơ đốc nhân, tuy có thể xảy ra theo thứ tự khác nhau với nhiều người khác nhau. Cho nên, khuynh hướng đánh giá thấp các Cơ đốc nhân khác không có được cái từng trải phi thường thứ hai về Đức Thánh Linh đã giảm đi, nhưng đã lần lần được sống lại cho Đức Chúa Trời và bởi lòng hào hiệp của Ngài. Việc này được phản ảnh trong ngôn ngữ ngày càng được dùng nhiều hơn để mô tả hương vị rượu mới không phải là “phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh” mà là “được giải phóng trong Đức Thánh Linh” hay “được đổ đầy Đức Thánh Linh một cách mới mẻ” hoặc những cách nói tương tự. Việc thay đổi ngôn ngữ đó, tuy tự nó có thể không quan trọng, nhưng vốn rất quan trọng vì như một dấu hiệu cho thấy có sự khiêm tốn và tình yêu thương ngày càng tăng đối với các anh chị em khác trong cùng một gia đình của Đức Chúa Trời.
Ít nhấn mạnh hơn trên việc làm phép báp-tem lại
Tôi mong là mình có thể nói rằng trong các giới người thuộc phong trào phục hưng đã có sự trưởng thành ngày càng lan rộng. Tại nhiều nơi trong xứ này thật đã có như thế. Người ta thừa nhận là chỉ có một phép báp-tem để được hội nhập vào Thân thể Chúa Cứu thế, chớ không có nhiều hơn. Người ta không còn đòi hỏi phải làm phép báp-tem lại bằng nước cho những người đã từng trải việc được đổ đầy Đức Thánh Linh, cũng như các nhà truyền đạo Tin Lành khôn ngoan cũng không đòi hỏi phải làm phép báp-tem lại cho những người đã ăn năn quy đạo và có đức tin. Tuy nhiên, các tín đồ Báptít thì luôn luôn phải làm điều đó. Các Hội Thánh tư gia cũng làm như vậy. Và đã có nhiều người từng được phong trào phục hưng gây dựng vẫn muốn nhận được dấu ấn của phép báp-tem bằng cách dìm người xuống nước. Tôi thấy việc này giống như việc chấm một ngòi bút vào mực để chứng tỏ rằng nó đang sẵn sàng để được sử dụng, như có nhiều người nhận thấy họ cần được bảo đảm cả về mặt tâm lý lẫn về mặt vâng lời điều mà họ cho là mẫu mực đã được sách Công vụ các Sứ đồ nêu ra. Chắc chắn là với tư cách một người từng được làm phép báp-tem từ lúc còn nhỏ, tôi hoàn toàn chấp nhận rằng những sự lạm dụng nghiêm trọng trong việc làm phép báp-tem cho trẻ con, là điều khuyến khích người ta chủ trương phải làm phép báp-tem lại. Chúng ta đã từng xem đó chỉ có tính cách hình thức mà thôi. Chúng ta đã cho phép việc đó như một việc làm tốt đẹp có tính cách xã hội. Chúng ta đã làm phép báp-tem cho trẻ con, lúc chúng chưa có một tia nhỏ đức tin nào của Cơ đốc nhân, và chưa biết gì về việc gia nhập gia đình Cơ đốc. Và chúng ta đã sai lầm khi làm như vậy. Tôi không trách số người nhận xét rằng một phép báp-tem như vậy không phải là phép báp-tem. Tôi không đồng ý với họ, nhưng thông cảm với họ. Chúng ta đã không dành đủ thì giờ cho việc công khai xưng nhận đức tin vào Chúa Cứu thế, vốn rất quan trọng trong phép báp-tem, được thực hiện đến nơi đến chốn; trong nhiều giáo phái, việc ấy còn bị giấu kín bằng một vài phép thêm sức thường chỉ có tính cách bó buộc về mặt văn hóa, hoàn toàn chỉ là hình thức và vô nghĩa, cũng như việc cử hành phép báp-tem trước nó vậy. Tôi thương hại số người phải chịu phép báp-tem lần thứ hai: làm thế nào một thánh lễ chỉ làm một lần là đủ cho cả cuộc đời một Cơ đốc nhân, lại có thể phải được làm lại? Nhưng tôi có thiện cảm với những người đã bị lôi kéo vào đó vì sự lạm dụng về khởi điểm của một Cơ đốc nhân mà họ và những người quanh họ đã phải nhận chịu trong phần lớn các giáo hội. Tôi cảm tạ lòng thương xót của Đức Chúa Trời khi nhận thấy có nhiều người đã đến với đạo, có được đức tin sau khi chịu phép báp-tem và phép thêm sức, nhiều người đã được sống lại trong Đức Thánh Linh, và vui vẻ không chịu phép báp-tem lần thứ hai, mà lợi dụng cơ hội để làm chứng công khai cho Chúa Cứu thế trong nhà thờ, và giải thích điểm khác nhau đã xảy ra trong đời sống của họ. Còn sự ao ước được làm phép báp-tem lại để được sự thay đổi cũng nói lên sự tăng trưởng để trưởng thành!
Ít kiêu ngạo và thành kiến hơn.
Tôi nhận thấy trong những ngày đầu tiên của phong trào phục hưng, đã có một khuynh hướng mạnh mẽ tự nghĩ là mình cao hơn điều mà đáng ra mình phải nghĩ, và nghĩ về người khác là không cao bằng mình, nhất là những người có cách thờ phượng và bộc lộ đức tin khác mình. Có một điều gì đó nhiều hơn là một chút khoe khoang: “Tôi đã nhận được điều đó, còn bạn thì chưa”. Điều này rất tai hại. Do đó mà số người cảm thấy mình bị đe dọa đã bài bác và chán bỏ những người tự xưng rằng mình được phục hưng. Hậu quả là chia rẽ, và chính nó đã gây rắc rối cho phong trào phục hưng vào những ngày đầu tiên trong phần lớn các giáo hội tại xứ này. Hiện nay, tôi nghe rất ít về chuyện đó. Có một sự khiêm nhu mới, một thái độ sẵn sàng mới mẻ, chịu nghe người khác nói, để vừa học hỏi vừa đóng góp ý kiến với họ, có một sự thừa nhận mới mẻ rằng chúng ta có thể cùng đứng chung và sống chung với nhau để yêu thương nhau. Tóm lại, việc phê bình chỉ trích và chia rẽ nhau đang lui dần trong phong trào phục hưng. Mong sao chúng sẽ cứ được duy trì như vậy.
Liên minh chặt chẽ với một chút kiêu căng thường lộ rõ nơi những người phục hưng tại Anh quốc, là cái cảm tưởng về chủ nghĩa cầu toàn luôn tiềm ẩn dưới bề mặt của các nền thần học và chủ trương khởi điểm của Cơ đốc nhân gồm hai giai đoạn. Xem như là người “đầy dẫy Đức Thánh Linh” thì đang sống trên một vùng cao nguyên còn những người khác không thể nào đạt tới được, ngoại trừ phải noi theo cùng một con đường như họ đã từng đi, và họ cũng không thể nào tuột xuống khỏi nơi đó được nữa, cho dầu họ có vi phạm gì đi nữa. Cho nên, vào những ngày đầu tiên trong vòng những người theo phong trào phục hưng, đã có sự thu nhỏ tội lỗi lại rất nhiều, kể cả vài hình thức của tự do chủ nghĩa nữa. Tôi từng gặp khá nhiều người rêu rao rằng một khi đã là những tín hữu thuộc linh như họ, thì nơi họ, tội lỗi chẳng còn đất sống nữa, thế nhưng kinh nghiệm đã chứng minh rằng nghĩ như vậy thật là điên dại và lộng ngôn, và ngày nay, may mắn thay, chúng ta ít phải đương đầu với những người phục hưng theo chủ nghĩa cầu toàn như vậy. Họ đã vượt khỏi được cái tà thuyết gây khó chịu đặc biệt đó; và ngày nay, trong các giới phục hưng, thường có sự sẵn sàng chấp nhận có tội lỗi và thất bại trong phương diện cá nhân, trong Hội Thánh và trong toàn cả xứ. Tôi đã thấy và gặp sự sâu nhiệm và lòng thành thật mà ở nơi khác rất ít khi gặp.
Ít bận tâm hơn đến các ân tứ
Một trong các khẩu hiệu gây chia rẽ đầu tiên là cho rằng người được báp-tem bằng Đức Thánh Linh là người có khả năng nói tiếng lạ. Nếu muốn làm thành viên chân chính của gia đình (phục hưng), thì mỗi người đều phải có “tiếng lạ” riêng của mình khi cầu nguyện. Đó là huyền thoại. Dĩ nhiên nó lan tràn ra từ bối cảnh Ngũ tuần cổ điển, là nơi xảy ra việc toàn thể nhóm người được phục hưng ở Azuse Street tại Los Angeles vào năm 1906, đều thật sự đã nói tiếng lạ như là kết quả của từng trải đó. Nhưng dĩ nhiên là gần phân nửa tổng số người Ngũ tuần hiện nay đều không nói tiếng lạ, như những cuộc điều tra nghiên cứu đã cho thấy. Và niềm tin rằng nói tiếng lạ là của tin về việc một người đã được báp-tem bằng Đức Thánh Linh là sai Tân Ước (và từng trải nữa), cũng như khái niệm cho rằng phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh là từng trải thứ hai trong bước đầu trở thành Cơ đốc nhân vậy. Nhiều người rõ ràng là đang sống trong Thánh Linh nhưng không hề nói tiếng lạ. Có nhiều người mà đời sống họ rất mờ nhạt, chẳng gây ấn tượng sâu sắc gì lại có nói tiếng lạ. Và nhiều người trong phong trào phục hưng cũng chỉ nhận được ân tứ nói tiếng lạ sau nhiều năm đã nhận được các ân tứ khác. Bản thân tôi cũng vậy. Nó không phải là của tin đích thực, cũng không phải là từng trải sơ khởi bắt buộc đối với toàn thể các Cơ đốc nhân “đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Ngày nay, người ta càng sẵn sàng hơn để xem ân tứ nói tiếng lạ chỉ đơn giản là một trong số rất nhiều ân tứ khác nhau mà Đức Thánh Linh ban ra tùy ý Ngài, và chúng ta không thể đòi hỏi nó như một quyền lợi phải có của mình. Cùng lắm là nó chỉ được xem như một thứ thẻ tín dụng thiết yếu, mà nếu không có nó thì chức vụ của một người có thể bị nghi ngờ. Điều này dẫn đến việc nhiều người đã giả mạo ân tứ ấy để được người ta nhìn nhận, tôn trọng mình, cho nên lẽ tất nhiên là chính ân tứ ấy đã bị mang nhiều tai tiếng.
Vào những ngày đầu tiên của phong trào phục hưng tại xứ này, đã có mối bận tâm về các vấn đề nội bộ trong các nhóm, về sự thông công, sự thờ phượng và các ân tứ. Hiện nay, đang có sự bận tâm nhiều hơn đến việc truyền giảng Phúc âm và người ta đã hiểu rằng các ân tứ vốn không được ban cho theo sở thích của chúng ta mà để chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời trong một thế giới đang bị thiếu thốn. Tôi tin rằng trường hợp hiện nay của phần nhiều nhóm và Hội Thánh phục hưng là họ thuộc số người đang lưu tâm nhiều nhất đến việc truyền giảng Tin Lành.
Sự cắt đứt với đắc thắng chủ nghĩa
Vào những ngày đầu tiên, đã có sự ngây thơ, hầu như là một chủ nghĩa lãng mạn muốn trốn tránh điều tầm thường vô vị, hoặc là những việc đáng ghê sợ của đời sống hằng ngày. Điều này đặc biệt liên hệ với vấn đề chữa bệnh. Người ta đã nói bóng gió, và dĩ nhiên, thường thường còn dạy công khai nữa, rằng Đức Chúa Trời bao giờ cũng muốn chữa bệnh cho người thuộc về Ngài; và nếu không được như vậy, thì chắc vì cớ tội lỗi, vì thiếu đức tin của chính đương sự, hoặc của số người phục vụ cho người ấy. Sự mất thăng bằng này xuất phát từ một nền thần học về quyền phép của sự phục sinh mà không lưu ý tới phần chân lý bổ túc của Chúa Cứu thế. Nó là một chủ nghĩa đắc thắng xa lạ với Cơ đốc giáo chân chính cũng như chủ trương lạnh lùng chấp nhận đã đi trước nó. Chúng ta có thể trông mong Đức Chúa Trời chữa bệnh. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng Ngài đang cầm quyền tể trị, đang hành động một cách kín nhiệm, nên không thể để cho bất cứ một thầy chữa bệnh của phong trào phục hưng hay bất luận một ai khác bẻ cong cánh tay của Ngài. Tôi chú ý là giữa vòng những người thuộc phong trào phục hưng hiện đại, đã có sự ý thức ngày càng nhiều hơn về hai chân lý có phần nghịch lý này. Họ đang cầu nguyện, trông mong được Đức Chúa Trời chữa bệnh và nhậm lời; và họ không còn phạm sai lầm cho rằng mình biết điều gì là tốt hơn cho đương sự, và cho rằng bổn phận của họ là thuyết phục Đức Chúa Trời phải theo quan điểm của họ. Qua sự chết của mình, David Watson đã cho thế giới Cơ đốc giáo thấy một tấm gương đầy khích lệ rằng bài học này cần đến thẳng với nhiều người theo đắc thắng chủ nghĩa. David Watson đã có đủ các loại thuốc men công hiệu nhất; ông đã được sự phục vụ tận tâm nhất của những thầy chữa bệnh hàng đầu của phong trào phục hưng trên thế giới. Ông được nhiều người cầu nguyện cho hơn bất cứ ai khác suốt mấy thập kỷ - thế nhưng ông vẫn qua đời. Nhưng cái chết của ông thật quang vinh. Trong khi nằm trên giường bệnh, ông đã đến rất gần với ranh giới của thiên đàng, và đối với tôi, được cùng cầu nguyện với ông và nghe ông cầu nguyện cho tôi và gia đình tôi ngay trước khi ông qua đời đã khiến tôi không cầm được nước mắt, đó là một trong những từng trải thuộc linh mà tôi ghi nhớ suốt đời. Sự chết của ông không phải là một thất bại, nhưng là một chiến thắng. Nhưng sự kiện vẫn tồn tại là bản thân ông là người đã từng chữa lành cho nhiều người bệnh tật, đã không được chữa lành cho chính mình, trừ ra là bằng cái chết. Đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng chống lại đắc thắng chủ nghĩa nông cạn như thường được thấy trong các giới người từng bắt đầu kinh nghiệm được quyền phép chữa bệnh của Đức Chúa Trời trong sự đáp lời cầu nguyện bởi đức tin.
Rút lui khỏi chủ nghĩa chống trithức và đổ thừa mọisự cho maquỉ
Còn nhiều lãnh vực nữa mà sự trưởng thành đang đến với phong trào phục hưng. Hiện có ít tình trạng thiếu trưởng thành về phương diện thần học hay ít chăm chú vào Đức Thánh Linh mà bỏ quên Đức Chúa Cha và Chúa Cứu thế Giê-Xu như trước đây. Cũng như có ít chủ nghĩa chống tri thức hơn trước, và ngày càng có việc thừa nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng ban Thánh Linh Ngài cho loài người, cũng chính là Đấng ban lý trí cho họ nữa. Cũng có ít chủ trương đổ thừa mọi sự cho ma quỉ (pom-demonism) hơn trước; là thái độ cho rằng hầu hết các cuộc chiến thuộc linh như là việc chiến tranh giữa Đức Chúa Trời và ma quỉ trong đời sống con người, trong đó cá nhân Cơ đốc nhân hầu như chỉ là một khách bàng quan. Nó dẫn tới việc chối bỏ trách nhiệm rất nguy hiểm, và càng nguy hiểm hơn khi ỷ lại vào một anh em Cơ đốc nhân nào đó sẽ đến để thực hiện việc giải phóng cho mình - trong khi điều thật sự có cần là phải quyết định đóng đinh xác thịt mình vào thập tự giá, chớ không phải là đổ thừa mọi sự cho ma quỉ. Trước đây, chắc chắn đã có sự quá chú trọng vào ma quỉ, do kết quả của sự nhận thức mới mẻ về cuộc chiến đấu thuộc linh cũng là một phần của từng trải phục hưng. Đây là cơ nguy vẫn tồn tại trong chúng ta, nhưng tôi tin là nó đang trên đường tàn lụi rồi. Theo thiển ý, dường như qua mọi điều vừa kể, người ta có thể phân biệt rõ ràng đã có sự tăng trưởng và trưởng thành suốt mấy năm sau này trong phong trào lạ lùng đã xâm lấn một cách đáng kinh ngạc vào thế giới Cơ đốc giáo hiện nay của chúng ta. Đây vẫn chưa phải là chúng ta đã đạt được sự trưởng thành đúng mức, nhưng sự tăng trưởng về hướng ấy thật là ngoạn mục, và tôi nghĩ rằng đây là một thách thức đối với các khu vực của Hội Thánh đang nhìn vào phong trào phục hưng với thái độ sợ hãi, không tán thành hay khinh dể để nỗ lực thi đua với họ.
3. MỘT ĐÓNG GÓP CÒN MÃI
Phải chăng phong trào phục hưng đã kết thúc?
Có nhiều người tin rằng phong trào phục hưng đã chấm dứt. Tôi thì tin rằng nó chỉ vừa mới bắt đầu. Tuy nhiên trong nhiều chi hội vẫn còn có sự an bình sâu xa - một sự an bình của mồ mả. Phong trào này rất cần được chú trọng ở khắp nơi trên thế giới.
Tây Âu đang cần đến nó, vì đây là nơi mà đức tin đã trở thành một thánh tích cổ xưa chẳng ai muốn vứt đi, nhưng cũng chẳng ai biết rõ là có thể dùng nó để làm gì trong cái thế giới hiện đại này. Cơ đốc giáo dường như chỉ còn là vấn đề tôn giáo của giới bình dân, của luân lý đạo đức hay một tôn giáo để đem ra đối chiếu, hoặc một hiện tượng học về tôn giáo để đem ra sưu tầm nghiên cứu trong các trường đại học. Người ta không có thói quen xem nó như một lối sống năng động trong đó quyền phép của Đức Chúa Trời hằng sống đã được phơi bày. Nhưng đó chính là điều tin tưởng của phong trào phục hưng và nó đang phơi bày ra bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình. Điều tai hại, ấy là trong phong trào ấy đã có sự nhẹ dạ dễ tin, có người phô trương kỹ xảo, có sự thiếu trưởng thành và thích khoa trương; nhưng trong đó cũng có quyền phép của Chúa Cứu thế hằng sống, biến đổi được những người nam người nữ nữa. Thật là một niềm vui khi được tham dự một hội đồng phục hưng tại Bỉ mới đây, nơi những tín đồ Tin Lành và Công giáo nhóm lại để cùng chia xẻ với nhau trong Chúa Cứu thế và cùng ca ngợi tán tụng Ngài. Đã có sự hiệp một, tình yêu thương và quyền năng thuộc linh trong hội đồng này, là điều khác hẳn với nếp sống bình thường vốn có giữa những người Công giáo La mã hay người của giáo hội Cải chánh. Những thành viên tham dự hội đồng này, cả Công giáo lẫn Tin Lành, đều đi thăm viếng các tư gia trong thành phố, cùng nói cho mọi người biết về Chúa Cứu thế hằng sống, rồi cùng rao giảng về Ngài trong nhà thờ Công giáo địa phương. Phải nói là dân chúng ở đó đã vô cùng kinh ngạc, sửng sốt! Tại Ái nhĩ lan, sự việc cũng xảy ra giống như vậy. Chúng ta thường nghe tin tức hàng đầu đề cập việc các giáo phái thù ghét, giết hại nhau. Nhưng khi chịu để cho Đức Thánh Linh can thiệp thì mọi sự đều thay đổi. Một trong những vinh quang không lời lẽ nào mô tả được của xứ Ái nhĩ lan, là việc hàng ngàn người cả Công giáo lẫn Tin Lành hội họp nhau lại để cùng dự những buổi lễ tôn vinh thờ phượng Chúa, người Công giáo cũng như người Tin Lành sẵn sàng hi sinh mạng sống cho nhau và lo lắng chăm sóc lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn. Phẩm chất của một đời sống theo Cơ đốc giáo như thế đã khiến cho óc kỳ thị giáo phái tầm thường bị lu mờ trước điều rất cảm động đang xảy ra, và chứng minh rằng quyền năng của Chúa Cứu thế hằng sống có thể làm thay đổi một tình hình mà nếu không có Ngài, sẽ không thể nào giải quyết nổi.
Sự tăng trưởng ngoạn mục của phong trào phục hưng Cơ đốc giáo tại các nước như Triều tiên và nhiều vùng đất rộng lớn tại Mỹ châu La tinh, chỉ là tiên vị những gì người ta được nếm trước về những gì Đức Chúa Trời muốn làm cho cả thế gian. Mới đây, tôi được đặc ân chứng kiến quyền phép chữa bệnh của Đức Chúa Trời tại một hội đồng các giám mục ở Nigeria. Khổ nổi, đó lại là điều ngạc nhiên lớn cho những người hiện diện, và tôi xin phản ảnh sự xấu hổ của Cơ đốc giáo Tây phương vốn vô năng vô quyền, lại được “xuất cảng” sang một xứ vốn biết rõ các lực lượng tà linh như vậy. Hậu quả là thế nào? Khi các Cơ đốc nhân tại Nigeria thật sự có nhu cầu hay gặp rắc rối, họ thường đến khấn vái tại các đền miếu bái vật giáo hoà đồng, hoặc nhờ những tay lang băm có một phần Cơ đốc giáo thoái hóa giúp đỡ cho, bởi vì các Hội Thánh đã không hướng dẫn họ trông mong rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời vốn thật sự tích cực để chữa bệnh và ban cho họ các ân tứ của Ngài.
Tôi xin kết luận là cho đến nay, những gì chúng ta đã được thấy về công việc của Đức Thánh Linh qua phong trào ấy chỉ là một chút chỏm băng nổi bên trên của cả một tảng băng ngầm của những điều chúng ta có thể cầu nguyện và trông mong nơi Đức Chúa Trời.
Một tấm bảng báo hiệu cho hội thánh nói chung
Không có một phong trào nào trong Cơ đốc giáo có thể tồn tại vì chính nó. Nếu như thế, nó thật xứng đáng bị tàn lụi, và không thể phục vụ cho Hội Thánh rộng lớn hơn. Một phong trào thuộc linh là một tấm bảng báo hiệu về điều mà toàn thể Hội Thánh phải trở thành giống như vậy. Vì vậy như Giáo hội Công giáo không được phép là một giáo phái hay đảng phái, nhưng phải là nơi để phơi bày quyền năng, và một dấu chỉ đường đến sự trọn lành mà Chúa Cứu thế muốn dành cho tất cả những người thuộc về Ngài. Giáo hội Tin Lành không được phép là một đảng nằm trong Cơ đốc giáo giới, hay một nền văn hóa thấp kém hòa đồng mọi giáo phái. Bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình, nó phải là mũi tên chỉ vào tình yêu thương vươn rộng với Tin Lành của Chúa Cứu thế trong Tân Ước, đó phải là đặc điểm của toàn thể những người thuộc về Đức Chúa Trời. Cũng vậy, phong trào phục hưng sẽ cống hiến được rất ít, nếu nó chỉ là một bộ phận gồm những người nhiệt thành vào một giai đoạn đặc biệt của lịch sử, nhưng nó sẽ cống hiến được mọi sự nếu nó chứng minh được cho Hội Thánh phổ quát thấy rằng việc nhờ cậy vào ân điển Đức Chúa Trời, sự trông mong Ngài sẽ tích cực can thiệp, vốn là các dấu ấn của các Cơ đốc nhân đầu tiên nhưng ngày nay lại hoàn toàn rất hiếm hoi. Tương lai của phong trào phục hưng vốn không do chính nó quyết định, nhưng do việc nó trung tín thể hiện đời sống phục hưng của Đức Thánh Linh đang tràn vào toàn thể Hội Thánh. Theo thiển ý, thì dường như tổ chức Fountain Trust là một gương mẫu về việc này. Tổ chức Fountain Trust đã được thành lập để khiến cho phong trào phục hưng tăng trưởng tại Anh quốc trong những năm sáu mươi và bảy mươi. Và sau đó, khi đã gây được ảnh hưởng quan trọng về đủ các lĩnh vực trong sinh hoạt thuộc linh của cả nước, tổ chức Fountain Trust đã tự giải tán. Tôi tự hỏi chẳng hay có bao nhiêu tổ chức chịu làm như vậy? Nhưng đây là một tấm gương vĩ đại về việc sẵn sàng chịu chết đi để sự sống có thể tuôn trào ra “Nếu hột lúa mì kia chẳng chết...”
Những đóng góp còn tồn tại mãi.
Nhưng đâu là những đóng góp sẽ còn lại mãi mà phong trào phục hưng sẽ phải đóng góp cho Hội Thánh nói chung khi chính cái tên phong trào phục hưng có thể đã bị quên đi?
Trong quyển sách rất có giá trị nhan đề ‘Hãy bước theo cho kịp Đức Thánh Linh (Keep in step with the Spirit), tiến sĩ Jim Packer đã đưa ra cho chúng ta một phần đánh giá và phê bình được nhận định cẩn thận về phong trào phục hưng, đồng thời nhắc chúng ta nhớ lại các giá trị của phong trào Thanh giáo (Puritans) mà chính ông đã từng thụ giáo nhiều năm. Ông nhìn xa hơn cơn phục hưng của phong trào phục hưng ân tứ để nhìn thấy cuộc phục hưng đích thực, là công tác tể trị của Đức Chúa Trời mà không ai có thể tổ chức nổi, nhưng cũng không ai có thể lầm lẫn được một khi nó hiện diện. Ông tóm tắt các đặc điểm của nó như sau: Đức Chúa Trời giáng xuống, lời Đức Chúa Trời đến thẳng vào lòng, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời tràn qua, dân sự Đức Chúa Trời đều sống lại; và khi điều này xảy ra, thì người ngoài sẽ được kéo vào Hội Thánh. Ông căn cứ vào Kinh Thánh và lịch sử Cơ đốc giáo để đánh giá phần phân tích này, rồi chuyển sang việc đem nó ra đối chiếu với phong trào phục hưng. Ông đã có lý khi bảo rằng cả hai không phải chỉ là cùng một sự việc giống nhau, rồi phân tích các đóng góp của phong trào phục hưng cho Hội Thánh như sau:
@BT-05O = 1. Tìm lại được Đức Chúa Trời hằng sống và Chúa Cứu thế của Ngài, cùng những chiều kích siêu nhiên của sinh hoạt Cơ đốc giáo qua phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh hay việc Đức Thánh Linh “được giải tỏa”.
@BT-05O = 2. Trở về với Kinh Thánh với tư cách Lời được hà hơi bởi Đức Chúa Trời, để nhờ đó mà nuôi dưỡng linh hồn.
@BT-05O = 3. Những thói quen thờ phượng riêng cũng như chung, nhằm đưa con người toàn diện gồm cả thân thể lẫn linh hồn đến chỗ hoàn toàn trông cậy, lệ thuộc vào Đức Thánh Linh (nói tiếng lạ được xếp vào đây).
@BT-05O = 4. Một cách thức ca ngợi tán tụng và cầu nguyện tự do thoải mái mà mọi người đều có thể đóng góp, dự phần.
@BT-05O = 5. Một cách sử dụng các ân tứ thuộc linh để từng thuộc viên (chi thể) một của Chúa Cứu thế có thể phục vụ trong Thân thể Ngài.
@BT-05O = 6. Thăm dò các khả năng của chức dịch qua một nếp sống cộng đồng (communal lifestyle) .
@BT-05O = 7. Nhờ đó và qua nhiều phương pháp khác nữa để có được sự cống hiến tích cực để đến với những người đang cần được truyền giảng Phúc âm và phục vụ.
@BT-05O = 8. Một mức độ trông mong cao, rằng bàn tay của Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục được bày tỏ qua những chứng cớ thần hựu ngoạn mục (phép lạ), các bức thông điệp tiên tri của người này người khác, các khải tượng, việc chữa bệnh siêu nhiên, và những biểu hiện tương tự.
Ông đối chiếu những điều đó với những gì đã được từng trải trong các trường hợp phục hưng trong lịch sử, và đưa ra hai nhận xét. Có một nhận xét thì tôi tin là đúng; nhận xét kia còn cần phải xét lại. Sự thật mà ông chỉ ra trong sự thờ phượng theo phong trào phục hưng là việc thiếu vắng sự sợ hãi và tôn kính đi đôi với những điều sai sót quá đáng và quá rõ rệt về hình thức, cùng với một yếu tố ích kỷ, thích phô trương cũng rất dễ nhận ra. Rủi thay, đây không phải trường hợp thường thấy, và cần phải bị nhổ bỏ đi. Theo thiển ý, thì điều có phần ít đúng hơn, là câu ông Packer bảo rằng có một luồng siêu nhiên chủ nghĩa chạy xuyên qua phong trào phục hưng vốn là điều xa lạ với những cơn phục hưng đích thực (revival), và luôn luôn bị những cơn phục hưng ấy xem như một dấu hiệu của tình trạng ấu trĩ, chưa trưởng thành. Tôi không tin điều này là đúng. Tất cả những cuộc phục hưng từ thời của sách Công vụ các Sứ đồ trở về sau, đều là quyền phép của Đức Chúa Trời được bày tỏ ra trong việc chữa bệnh, các phép lạ, và trong việc cáo trách tội cách đáng sợ, được thực hiện giữa đông đảo quần chúng mà người ta không giải thích được. Phần lớn các từng trải siêu nhiên của cơn phục hưng hiện nay đều đã có xảy ra vào thời của Wesley và Finney, nhiều khi hiện nay còn rõ rệt hơn nữa. Trong một cơn phục hưng, Đức Chúa Trời cho người ta thấy bàn tay của Ngài. Phong trào phục hưng ân tứ hiện nay chưa phải là một cơn phục hưng thật sự (revival), nhưng nó vốn là việc góp nhặt, nhen nhúm đáng chú ý những mẩu than lửa đỏ của Đức Chúa Trời hằng sống bởi Đức Thánh Linh, và chúng ta không thể phủ nhận các hành động quyền năng của Ngài để xem đó chỉ là “các dấu hiệu ấu trĩ gây bối rối” (Sđd.tr.247). Trong thời đại ngày nay, Đức Thánh Linh đang lại mang đến trước mặt chúng ta những ân tứ tươi mới mà chúng ta biết là cần thiết cho nhiệm vụ của chúng ta với tư cách là một Hội Thánh. Chúng ta không thể bị lừa gạt và chẳng phê bình gì cả khi có người tự nhận là đang thực thi các ân tứ mà nếu không có chúng thì chúng ta sẽ chẳng làm được gì cả. Đức Chúa Trời không ban các ân tứ Ngài để người ta giả mạo chúng.
Jim Packer kết thúc quyển sách của ông bằng cách đưa ra vài thách thức đặt ra cho Hội Thánh, từ việc bước theo cho kịp Đức Thánh Linh. Ông liệt kê những điều vốn là sự thật và là sức sống trong sinh hoạt thờ phượng Đức Chúa Trời, chủ nghĩa cấp tiến trong trật tự và tổ chức của Hội Thánh, đến với người khác bằng tình yêu thương, đói khát phục hưng, và hiện thực chủ nghĩa thuộc linh, sẵn sàng đối diện và hành động chống lại các góc cạnh không hay của bản thân chúng ta và Hội thánh chúng ta. Ông vạch ra rằng Chúa Cứu thế vốn thù ghét sự giả vờ và không thực tế, và Ngài sẽ phơi bày nó ra. Đây đều là những điểm quan trọng cả. Tôi tin rằng hầu hết chúng đều ở trong các bài học mà phong trào phục hưng phải dạy cho Hội Thánh. Bản thân tôi sẽ chọn những thách thức sau đây mà phong trào phục hưng đã đặt ra cho Hội Thánh nói chung, những thách thức sẽ có tính cách thích hợp mãi mãi.
Một lời thách thức cho định chế chủ nghĩa trong Hội Thánh.
Trước hết, phong trào phục hưng đưa ra một thách thức đối với định chế chủ nghĩa (institutionalism) trong Hội Thánh. Người ta rất thường nhận thấy Hội Thánh, và dĩ nhiên Hội Thánh quả là, một câu lạc bộ của những người cùng thích “loại sự việc” như vậy. Hội Thánh được nhìn thấy như một tổ chức mà chi nhánh địa phương của nó là gạch và hồ (hoặc một cách mỉa mai là một công trình xây dựng theo kiểu kiến trúc Gothic) nằm ngoài đường phố. Nhưng đó không phải là Hội Thánh. Nó chỉ là một nơi hội họp của Hội Thánh mà thôi. Hội Thánh là những người sống động trong Đức Thánh Linh! Bao lâu có Chúa ở giữa họ, thì nơi họ nhóm nhau lại là phi vật chất. Hội Thánh bên Liên xô được ước lượng có khoảng 60 triệu người, vốn biết rõ sự thật này. Trong Liên bang Xô viết, chỉ một số rất ít các nhà thờ được phép mở cửa mà thôi, còn phần lớn những buổi nhóm thờ phượng đều được tổ chức ở trong rừng, trên núi vào lúc nửa đêm, khi các tín hữu lén lút nhóm lại với nhau để tôn vinh Chúa của họ. Phong trào của Đức Thánh Linh luôn luôn đưa ra một thách thức đối với chủ nghĩa bảo thủ của định chế đã được tổ chức chặt chẽ. Dầu sao thì Hội Thánh của Chúa Cứu thế cũng phải thể hiện cả hai mặt là ân tứ và trật tự, và phong trào phục hưng bao giờ cũng còn là một thách thức đối với những ai đề cao định chế, đặt tổ chức lên trên sự sống.
Một thách thức đối với tri thức chủ nghĩa trong Hội Thánh.
Thứ hai, phong trào phục hưng là một thách thức đối với tri thức chủ nghĩa (intellectualism) trong Hội Thánh. Như chúng ta đã thấy, phong trào ấy thường yếu kém về tầm quan trọng của trí tuệ, và đã đánh giá nó quá thấp. Đây là một sai lầm nghiêm trọng mà chúng tôi hi vọng nó sẽ sớm được sửa sai. Nhưng các Hội Thánh theo truyền thống còn sa vào một sai lầm càng nghiêm trọng hơn nhiều. Họ đã tri thức hóa đức tin Cơ đốc giáo đến nỗi điều đó hầu như quá tầm tay với của những người bình dân. Phần đông các thần học gia đều ở quá tầm với tới của những người trên ghế nhà thờ, và dường như họ đang sống một cuộc đời độc lập, chớ không phải đang xem công tác của họ là để phục vụ những người thuộc về Đức Chúa Trời, để giúp họ thông hiểu và ứng dụng đức tin. Cơ đốc giáo dường như quá thường trở thành một vấn đề của sự đồng ý (hay nghi ngờ) có tính cách tri thức, của việc đi nhà thờ, và của luân lý đạo đức, dành cho giới trung lưu. Nó chẳng có sự khác biệt gì đối với đời sống, những người đi nhà thờ cũng có một nếp sống chẳng có gì khác lắm với số người không đi nhà thờ. Nhưng chẳng có ai có thể nói như vậy về những người thuộc phong trào phục hưng. Bạn có thể bảo họ là điên, là cuồng nhiệt về tôn giáo, và mọi điều tương tự như vậy. Nhưng họ bộc lộ một cái gì khác hẳn. Mà ruach adonai, Thần (Linh) của Đức Giê-hô-va, là một cái gì khác hẳn. Người ta không thể tri thức hóa hay thuần hóa Ngài. Những người theo phong trào phục hưng vốn biết rõ điều đó. Họ cho người ta cái cảm tưởng là mình đã tìm được điều làm-biến-đổi-cuộc-đời-mình, và đó chính là phẩm chất mà Cơ đốc giáo chân chính luôn luôn cần có.
Một thách thức đối với con người duy nhất lãnh đạo Hội Thánh.
Thứ ba, phong trào phục hưng đã đặt một vấn đề còn mãi như một dấu hiệu nhằm chống lại chế độ quân chủ độc đoán trong Hội Thánh. Từ nhiều thế kỷ qua, trong bất cứ giáo phái nào, đã luôn luôn có khuynh hướng đồng nhất hóa ân tứ với phẩm trật và muốn nhìn thấy cả hai điều đó phải nằm trong tay của một người duy nhất (hoặc của một số rất ít người mà thôi). Dù là trong giáo phái nào, chế độ quân chủ độc tài vẫn có khuynh hướng nắm quyền cai trị. Điều gì ông linh mục hay ông mục sư hoặc người lãnh đạo muốn đều là tốt. Ông ta có nghề chuyên môn. Người ta cho rằng ông ta rất thạo việc, biết hết mọi sự. Nhưng phong trào phục hưng không chịu để như vậy. Một trong những khám phá đầu tiên của họ là Chúa Cứu thế mới là Chúa tể của Hội Thánh, mà ước muốn của Ngài là ban ân tứ cho từng chi thể một trong Thân thể Ngài để tất cả đều có thể góp phần tạo điều tốt lành, ích lợi cho toàn thân. Không phải chỉ một vài người, nhưng là tất cả mọi người đều đã được kêu gọi để phục vụ. Chức vụ là đặc quyền của tất cả mọi người, chớ không chỉ dành cho một thiểu số. Việc tái kêu gọi các tín đồ bình thường vào chức vụ này, kêu gọi tất cả các thành viên chia xẻ chức vụ, tham gia phục vụ này vốn có tính cách cách mạng vượt xa việc nói tiếng lạ và vượt hẳn về tầm quan trọng nữa. Đã có nhiều dấu hiệu cho thấy nó đã được áp dụng trong nhiều giáo phái khác nhau. Nhưng mối nguy, ấy là phong trào đề cao người tín đồ bình thường lại chỉ là để giáo-phẩm-hóa người tín đồ ấy, chớ không nhằm để họ được tự do phục vụ Chúa trong Hội Thánh với các ân tứ mà Đức Chúa Trời đã phó thác cho họ. Nếu phong trào phục hưng có thể bởi quyền năng thần hựu của Đức Chúa Trời, ghi khắc lên cuộc giam cầm vì định chế của Hội Thánh cái chân lý, rằng mỗi thành viên đều được kêu gọi để phục vụ, rằng quyền lãnh đạo sở dĩ có là để trang bị các thánh đồ cho công tác phục vụ mà Đức Chúa Trời dành cho họ, và cả hai đều phải vừa phong phú, vừa đa dạng, thì chừng đó, nó mới có thể tự biến mình thành một trong những phong trào quan trọng nhất mà Hội Thánh từng được trải qua.
Một thách thức đối với sự vô tín trong Hội Thánh.
Thứ tư, phong trào phục hưng đã đến vào lúc sự vô tín trong Hội Thánh đã đạt tới những tỷ lệ kỷ lục trong lịch sử. Là một người đã dành phần lớn cuộc đời mình giảng dạy môn thần học, tôi biết rõ cái hoài nghi chủ nghĩa tiềm ẩn trong nhiều quyển sách về thần học mà các sinh viên cần phải học hỏi nghiên cứu. Có một số người viết những quyển sách đó vốn không tin vào một Đức Chúa Trời có thân vị (a personal God), cũng không tin có sự nhập thể của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu thế, và cũng chẳng tin cả đến các phép lạ hay sự sống lại của Ngài nữa. Họ tự nhận mình theo thuyết bất can thiệp. Đức Chúa Trời của họ vốn bất năng bất lực, chẳng can thiệp gì được vào cái thế giới này của chúng ta. Nhưng hiện nay chính là giai đoạn lịch sử mà Đức Chúa Trời Toàn năng đang phá lên cười. Ngài đưa phong trào này của Thánh Linh Ngài vào thế gian trong một phạm vi rộng khắp, đến những nơi chốn và những giáo phái không ai ngờ tới, dường như ngụ ý rằng: “Ta vẫn còn sống và mạnh giỏi, cám ơn!” Phong trào phục hưng là một sự nhắc nhở thường xuyên rằng Đức Chúa Trời vẫn chưa chết, Ngài cũng không hề vắng mặt. Phong trào này đã đóng góp một phần to tát trong việc nhóm lên và nhen nhúm lại phần đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng rất vui lòng đáp lại lời cầu nguyện để gây dựng dân sự Ngài thành một khối hợp nhất, và để trang bị ân tứ Ngài cho họ.
Một thách thức đối với sự nội hướng trong Hội Thánh.
Cuối cùng, tôi sẽ tiếp tục đánh giá phong trào phục hưng là có giá trị vì nó là một lời phản đối mạnh mẽ chống lại tình trạng nội hướng (introversion) của Hội Thánh. Hội Thánh không phải chỉ dành cho những người trong nhà. Nó được dành cho cả thế gian. Tin tức tốt lành đã bị giấu kín, đã im tiếng từ quá lâu rồi. Có điều chắc chắn là nhiều phong trào khác trong lịch sử Cơ đốc giáo đều đã nhấn mạnh trên sức vươn ra xa của Tin Lành của Chúa Cứu thế. Nhưng cái phong trào vốn có liên hệ mật thiết với Đức Thánh Linh này, khi trung thành với lời kêu gọi của mình (vì lắm khi nó đã không tin như thế), đã làm sáng tỏ được rằng Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta, là để chúng ta phục vụ, để thực hiện sứ mạng truyền giáo, để chúng ta yêu thương và thờ phượng. Ngài không thể bị bó rọ hay giam nhốt lại. Vì Đức Thánh Linh chính là tiên vị của ngày mà cả đất này sẽ được đầy dẫy sự nhận biết Chúa như nước tràn ngập biển vậy (EsIs 11:9). Đây là một lời tiên tri về thời tận thế, và Đức Thánh Linh là một ân tứ cho thời sau rốt, giúp chúng ta bước vào cõi tương lai của Đức Chúa Trời ngay tại đây và ngay bây giờ. Tầm quan trọng tối cao của phong trào đang đề cao sự hiện diện và quyền phép của Đức Thánh Linh trong thời hiện đại của chúng ta đây, là nâng cao lòng chúng ta lên để biết trông đợi tương lai của Đức Chúa Trời, điều mà Đức Thánh Linh vốn là của tin và là sự bảo đảm.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 23-7-2018 07:36 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách