nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 3014|Trả lời: 0

Thánh Kinh Lược Khảo 2

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 20:25:26 | Xem tất |Chế độ đọc

Thánh Kinh Lược Khảo 2
Tác giả: Henry H. Halley

Xuất Ê-díp-tô Ký
400 năm ở Ai-cập
Ra khỏi Ai-cập
Mười điều răn
Đền tạm
Môi-se đã căn cứ vào các tài liệu sẵn có mà viết sách Sáng thế ký. Với sách Xuất Ê-díp-tô ký, truyện tích của chính Môi-se đã bắt đầu. Đời sống và sự nghiệp của ông là đầu đề của các sách Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký, Dân số ký, và Phục truyền luật lệ ký. Chính ông đã viết các sách nầy. Truyện tích của Môi-se chiếm chừng 1 phần 7 toàn bộ Kinh Thánh, và gần bằng 2 phần 3 toàn bộ Tân Ước.
XuXh 1:1-22-- Dân Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập
Giữa sách Sáng thế ký và sách Xuất Ê-díp-tô ký có một khoảng trống gần ba trăm năm, tức là từ lúc Giô-sép qua đời tới lúc Môi-se sanh ra; hoặc tổng cộng là 430 năm từ khi Gia-cốp di cư xuống Ai-cập tới khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập (XuXh 12:40, 41). Trong thời gian nầy, dân Y-sơ-ra-ên sanh sản hết sức đông đúc (1:7). Sau khi Giô-sép qua đời, một cuộc đổi thay triều đại khiến họ thành ra tôi mọi, vì công lao của họ tỏ ra rất có lợi cho các Pha-ra-ôn (vua Ai-cập). Vào khoảng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, họ có 600.000 người nam trên 20 tuổi, ấy là không kể đờn bà và con nít (Dan Ds 1:46). Tổng cộng suýt soát 3 triệu người. Từ 70 người mà lên đến con số ấy trong vòng 430 năm, thì cần phải cứ 25 năm lại tăng dân số gấp đôi; đó là điều rất dễ xảy ra. Trong khoảng 400 năm, dân số nước Mỹ từ không chi đã tăng lên trên 100 triệu, chẳng phải hoàn toàn do di cư, khiến ta tin được lời quả quyết trên đây về sự gia tăng dân số Y-sơ-ra-ên.
Những ký văn gia đình của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp chắc đã được đem theo xuống Ai-cập, và trở thành một phần quốc sử của người Y-sơ-ra-ên; trải qua những năm nô lệ dài đằng đẵng, họ vẫn nhứt tâm ấp ủ lời hứa rằng ngày kia, xứ Ca-na-an sẽ trở thành Tổ quốc của mình.
Nước Ai-cập và Kinh Thánh
Trước hết, Ai-cập có dòng dõi của Cham đến cư ngụ. Áp-ra-ham đã ở Ai-cập ít lâu. Gia-cốp cũng vậy. Giô-sép cầm quyền nước Ai-cập. Dân tộc Hê-bơ-rơ, trong thời ấu trĩ, đã ở Ai-cập 400 năm. Môi-se là con nuôi của một hoàng hậu Ai-cập, và khi được dự bị làm nhà lập pháp của nước Y-sơ-ra-ên, ông đã được dạy cho mọi khôn ngoan và tri thức của nước Ai-cập. Sa-lô-môn đã cưới con gái của một Pha-ra-ôn (vua) Ai-cập. Tôn giáo Ai-cập, là sự thờ bò con, đã trở thành tôn giáo của nước Y-sơ-ra-ên ở phương Bắc. Giê-rê-mi đã qua đời tại Ai-cập. Từ kỳ Lưu đày cho đến thời Đấng Christ, có rất đông người Do-thái ở Ai-cập. Bản dịch Cựu Ước "Septante " đã được thực hiện tại Ai-cập. Đức Chúa Jêsus ở Ai-cập ít lâu đương thời thơ ấu. Ai-cập đã trở nên một trung tâm quan trọng của đạo Đấng Christ lúc khởi đầu.
Ai-cập
Một thung lũng rộng từ 2 đến 30 dặm, và rộng trung bình chừng 10 dặm, bề dài 750 dặm; có sông Ni-lơ chảy từ Aswan tới Địa-trung-hải, qua đầu phía đông của sa mạc Sahara, mỗi bên đều có một cao nguyên hoang vu, cao chừng 310 thước.
Đáy thung lũng có phù sa đen rất tốt lắng xuống đóng kín, từ cao nguyên xứ A-bít-si-ni đổ xuống; phù sa nầy phì nhiêu vô song, và luôn luôn đổi mới vì sông Ni-lơ tràn lút hằng năm.
Thung lũng nầy được dẫn thủy nhập điền từ lúc khởi đầu lịch sử, do một hệ thống kinh đào cùng hồ chứa nước rộng lớn và kỹ xảo. Đập Aswan, do người Anh xây ít lâu nay, hiện chế ngự sự tràn lụt của sông Ni-lơ, và nạn đói chỉ là chuyện quá khứ.
"Ai-cập được sa mạc bao quanh, cô lập hóa và che chở; tại đây, đại đế quốc thứ nhứt trong lịch sử đã được phát triển; cũng tại đây, những chứng cớ của nền văn minh thượng cổ đã được bảo tồn hơn nơi nào hết."
Ngày nay, dân số chừng 16 triệu; đương thời đế quốc La-mã, dân số có 7 triệu; đương thời dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ, có lẽ cũng chừng đó hoặc kém.
Trung châu là một hình tam giác, và là nơi cửa sông Ni-lơ mở rộng. Miền nầy đo được chừng 100 dặm từ Bắc tới Nam, và chừng 150 dặm từ Đông tới Tây, tức là từ Port Said tới Alexandrie. Đây là miền phì nhiêu nhứt nước Ai-cập, xứ Gô-sen, trung tâm cư trú chính của người Y-sơ-ra-ên, là phần phía Đông của trung châu nầy.
Tôn giáo Ai-cập
Huân tước Flinders Petrie, nhà Ai-cập học trứ danh, nói rằng tôn giáo nguyên thủy của Ai-cập là độc thần giáo. Nhưng trước khi thời kỳ lịch sử bắt đầu, đã phát triển một tôn giáo trong đó mỗi bộ lạc có vị thần riêng, hình dung bằng một con vật.
Ptah (Apis ) là thần của thành Mem-phi, hình dung bằng con bò.
Amon, thần của thành Thèbes, hình dung bằng con chiên đực.
Hathor, nữ thần thượng đẳng của Ai-cập, hình dung bằng con bò cái.
Mut, vợ của Amon, hình dung bằng con kên kên.
Horus, thần của từng trời, hình dung bằng con chim ó.
Ra, thần mặt trời, hình dung bằng con diều hâu.
Set (Sa-tan), thần của biên giới phía Đông, hình dung bằng con cá sấu.
Osiris, thần của kẻ chết, hình dung bằng con dê. Isis, vợ của nó, hình dung bằng con bò cái.
Thoth, thần của trí khôn, hình dung bằng con khỉ không đuôi.
Heka, một nữ thần, hình dung bằng con nhái.
Nechebt, nữ thần của Nam bộ, hình dung bằng con rắn.
Bast, một nữ thần, hình dung bằng con mèo.
Còn nhiều thần khác nữa. Các Pha-ra-ôn được tôn làm thần. Sông Ni-lơ là sông thánh.
* * *
1:1-22-- Dân Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập Lịch sử Ai-cập đương thời nầy
Đang khi dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ tại Ai-cập, thì nước nầy tiến thành một đế quốc cai trị cả thế giới (mà người ta biết thời đó). Khi dân Y-sơ-ra-ên ra đi, Ai-cập bèn suy yếu, trở nên một cường quốc hạng nhì và cứ ở địa vị ấy mãi. Từ thời Giô-sép cho đến sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, đã có các triều đại sau nầy:
Triều đại thứ 13, 14, 17.-- 25 vua. Cai trị ở phương Nam, còn dòng Hyksos cai trị ở phương Bắc. Đây là một thời kỳ rất rối loạn.
Triều đại thứ 15, 16.-- 11 vua. Dòng Hyksos, hoặc các vua chăn chiên, là một giống Sémitique từ Á-châu đến chinh phục Ai-cập. Họ là bà con gần với người Do-thái, từ phương Bắc tràn xuống, thống nhứt quyền cai trị Ai-cập và xứ Sy-ri. Người ta thường cho rằng Apepi đệ nhị, thuộc triều đại thứ 16, là Pha-ra-ôn đã đại dụng Giô-sép. Đang khi dòng Hyksos trị vì, thì dân Y-sơ-ra-ên được địa vị tối huệ trong xứ. Nhưng khi dòng Hyksos bị triều đại thứ 18 đuổi đi, thì chánh phủ Ai-cập thay đổi thái độ, bắt đầu dùng những biện pháp đàn áp để kéo dân Y-sơ-ra-ên vào vòng tôi mọi.
Triều đại thứ 18: 13 vua.
Triều đại thứ 19: 8 vua.
Hai triều đại nầy đã đưa Ai-cập lên địa vị đế quốc cai trị cả thế giới (mà người ta biết thời đó). Dưới đây là tên các vua thuộc hai triều đại nầy:
Amosis (Ahmes, Ahmose ).-- 1580 T.C.. Đuổi dòng Hyksos đi. Bắt xứ Pa-lét-tin và xứ Sy-ri làm chư hầu của Ai-cập.
Amenhotep (Amenophis ).-- 1560 T.C.
Thothmes (Thothmes, Thutmose ).-- 1540 T.C.. Cầm quyền cai trị tới sông Ơ-phơ-rát. Lăng tẩm đầu tiên đục trong vầng đá.
Thothmes đệ nhị. -- 1510 T.C.. Hatshepsut, chị cùng cha khác mẹ và cũng là vợ của ông, thật đã cầm quyền cai trị. Thường đem quân tấn công miền sông Ơ-phơ-rát.
Thothmes đệ tam. -- 1500 T.C.. Hoàng hậu Hatshepsut, là chị cùng cha khác mẹ của ông, đã cầm quyền phụ chánh trong 20 năm đầu đời trị vì của ông. Dầu ông khinh dể bà nầy, nhưng bà đã hoàn toàn cai trị ông. Sau khi bà qua đời, thì ông một mình trị vì 30 năm. Ông là người chinh phục oai hùng nhứt trong lịch sử Ai-cập. Ông khắc phục xứ Ê-thi-ô-bi, cai trị đến tận miền sông Ơ-phơ-rát, tiến đánh xứ Pa-lét-tin và Sy-ri 17 lần. Ông đã tổ chức Hải quân. Ông đã thâu trữ rất nhiều của cải và thực hiện nhiều công trình kiến trúc vĩ đại. Ông ghi công nghiệp của mình rất tỉ mỉ trên các bức tường và đài kỷ niệm. Lăng tẩm ông ở tại thành Thèbes, và xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire (Ai-cập). Nhiều người cho rằng ông là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên. Nếu vậy, thì hoàng hậu Hatshepsut trứ danh chính là con gái Pha-ra-ôn đã cứu vớt, trưởng dưỡng Môi-se, và trở nên người bạn oai quyền của Môi-se.
Hatshepsut. -- Con gái của Thothmes đệ nhứt. Làm phụ chánh cho em cùng cha khác mẹ và chồng của mình, là Thothmes đệ nhị, và cho em cùng cha khác mẹ của mình là Thothmes đệ tam trong 20 đầu đời trị vì của vua nầy. Bà là hoàng hậu trứ danh đầu tiên trong lịch sử. Bà là bậc phụ nữ rất có tiếng tăm, là một trong những người cai trị nước Ai-cập oai hùng hơn hết. Đã cho tạc nhiều tượng hình dung mình như một bậc trượng phu. Mở mang đế quốc. Xây cất nhiều đài kỷ niệm, hai tháp lớn tại Karnak, và miễu thờ đồ sộ tại Deir El Bahri trong đó có bày nhiều tượng của bà. Thothmes đệ tam ghét bà, và khi bà qua đời, một trong những hành động đầu tiên của ông là bôi xóa tên bà khỏi mọi đài kỷ niệm và hủy phá hết tượng của bà. Những tượng của bà ở Bahri bị đập ra từng mảnh, quăng vào một hầm đá gần đó. Tại đây, nó bị cát bay phủ kín, và mới đây, nhơn viên Bảo-tàng-viện Thủ đô đã tìm được những mảnh tượng nầy.
Amenhotep đệ nhị. -- 1450 T.C.. Nhiều học giả cho ông nầy là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Ông duy trì đế quốc do Thothmes đệ tam sáng lập. Xác ướp của ông ở trong lăng tẩm tại thành Thèbes.
Thothmes đệ tứ. -- 1420 T.C.. Người ta tìm thấy chiếc xe ngựa mà ông đã dùng. Xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire.
Amenhotep đệ tam. -- 1415 T.C.. Đế quốc lên tới cực điểm vinh quang. Luôn luôn xâm lăng xứ Pa-lét-tin. Xây cất những miễu thờ đồ sộ. Xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire.
Amenhotep đệ tứ. -- Năm 1380 T.C.. Ông là một nhà cải cách tôn giáo, chớ không phải một chiến sĩ. Dưới đời trị vì của vua nầy, Ai-cập mất đế quốc ở Á-châu. Ông toan thiết lập độc thần giáo, là sự thờ lạy mặt trời. Vì các tế sư ở thành Thèbes phản đối chương trình của ông, nên ông dời thủ đô qua Amarna. Nếu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, mấy chục năm trước, thì phong trào độc thần nầy có thể do ảnh hưởng gián tiếp của các phép lạ Môi-se đã làm.
Semenka. -- 1362 T.C.. Một vua nhu nhược.
Tutankhamen. -- 360-1350 T.C.. Con rể của Amenhotep đệ tứ. Ông là một trong những vua Ai-cập tầm thường, vào lúc chấm dứt thời kỳ vinh quang nhứt của lịch sử nước ấy. Nhưng ngày nay ông nổi danh vì cớ những vật báu lạ lùng và sự huy hoàng của lăng tẩm ông, do nhà khảo cổ Howard Carter khám phá được năm 1922. Xác ướp của ông vẫn ở trong lăng tẩm. Quan tài phía trong chứa xác ướp làm bằng vàng khối. Xe ngựa và ngai của ông vẫn còn đó. Đây là lăng tẩm của một Pha-ra-ôn chưa bị trộm cắp mà người ta khám phá được.
Ay (Eye) và Setymeramen. -- 1350 T.C.. Hai ông vua nhu nhược.
Harmhab (Harembeb).-- 1340 T.C.. Khôi phục sự thờ lạy Amon.
Ramsès đệ nhứt. -- 1320 T.C..
Seti (Sethos) đệ nhứt. -- 1319 T.C.. Xứ Pa-lét-tin được khôi phục. Bắt đầu xây cất lâu đài đồ sộ tại Karnak. Xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire.
Ramsès đệ nhị. -- 1300 T.C.. Trị vì 65 năm. Ông là một trong những Pha-ra-ôn oai hùng nhứt, mặc dầu kém Thothmes đệ tam và Amenhotép đệ tam; nhưng ông là một nhà đại kiến trúc, một nhà quảng cáo đại tài, và hơi có óc sang đoạt, vì trong một vài trường hợp, ông đã nhận công nghiệp của các tiên vương của mình. Ông khôi phục đế quốc từ xứ Ê-thi-ô-bi tới sông Ơ-phơ-rát. Nhiều lần ông đã xâm lăng và cướp phá xứ Pa-lét-tin. Ông hoàn thành lâu đài đồ sộ tại Karnak cùng nhiều công trình kiến trúc lớn lao khác, như thành lũy, kinh đào, miễu thờ, do công lao xây cất của bọn tôi mọi bắt được trên chiến trường, hoặc của đoàn lũ người da đen từ phương Nam xa xôi đem về, và cũng của giai cấp cần lao bổn quốc. Những bọn người nầy làm lụng khó nhọc tại hầm đá hoặc lò gạch, hoặc kéo tảng đá lớn trên đất mềm.
Merneptah. -- 1235 T.C., có người tưởng ông nầy là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Xác ướp của ông ở tại kinh thành Le Caire. Phòng thiết triều của ông tại thành Mem-phi (OsHs 9:6) đã do phái đoàn của Bảo tàng viện Đại học đường Pennsylvania phám phá được.
Arnenmeses, Siptah, Seti đệ nhị. -- Ba vua nhu nhược.
* * *
XuXh 1:1-22 -- Dân Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập
Ai là Pha-ra-ôn trong sách Xuất Ê-díp-tô ký?
Có hai ý kiến đáng kể hơn hết:
Amenhotep đệ nhị. -- (1450-1430 T.C.), hoặc Merneptah (1235-1220 T.C.).
Nếu dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, thì Thothmes đệ tam là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên rất tàn khốc, còn chị của ông lại trưởng dưỡng Môi-se. Người chị nầy chính là hoàng hậu Hatshepsut trứ danh. Những thực sự trong đời trị vì của bà ăn hiệp với truyện tích Kinh Thánh một cách lạ lùng dường nào! Bà chú ý đến các mỏ ở vùng Si-na-i, và đã trùng tu miễu thờ ở Serabit mà Môi-se có lẽ đã xem thấy khi ông có cơ hội làm quen với vùng Si-na-i nầy. Lại nữa, khi Môi-se sanh ra, thì Thothmes đệ tam còn thơ ấu, và Hatshepsut làm phụ chánh. Đến khi bà qua đời, thì dân Y-sơ-ra-ên càng bị hà hiếp tàn khốc hơn, và Môi-se chạy trốn. Mấy điều nầy cũng giải thích một phần nào cái uy tín của Môi-se tại Ai-cập.
Nếu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Merneptah, thì Ramsès đệ nhị là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên rất tàn khốc, còn con gái ông đã trưởng dưỡng Môi-se.
Như vậy, Môi-se đã được trưởng dưỡng hoặc dưới đời trị vì của Thothmes đệ tam, hoặc dưới đời trị vì của Ramsès đệ nhị, -- cả hai ông nầy đứng trong hàng các vua danh tiếng nhứt Ai-cập.
Và Môi-se đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập hoặc dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, hoặc dười đời trị vì của Merneptah.
Dầu sao đi nữa, người ta cũng đã tìm được xác ướp của cả bốn vua nầy. Vậy, bây giờ ta có thể thấy bộ mặt thực của Pha-ra-ôn đương thời Môi-se, -- với chính Pha-ra-ôn đó, Môi-se đã có liên quan rất mật thiết.
Khám phá được các xác ướp
Năm 1871, trên một ghình đá chưa từng có ai để chơn tới, ở phía sau thành Thèbes, một người Ả-rập đã khám phá được một ngôi mộ chứa đầy bửu vật và quan tài chứa 40 xác ướp của những vua và hoàng hậu Ai-cập. Anh ta giữ bí mật trong 10 năm để bán các bửu vật ấy cho du khách. Những bửu vật của các vua oai hùng nhứt thời xưa bắt đầu thấy lưu hành. Các nhà chức trách của Bảo tàng viện Le Caire bèn đi đến thành Thèbes để điều tra. Họ tìm được người Ả-rập nầy. Bằng cách cho tiền, tra khảo và dọa nạt, họ đã bắt anh ta chỉ chỗ đó cho. Các xác ướp không ở trong phần mộ nguyên thủy, nhưng bị dời tới một nơi giấu bí mật từ thuở xưa vì đã sớm xuất hiện những kẻ chuyên nghiệp quật mồ để ăn trộm. Những xác ướp nầy đã được dời về Le Caire.
* * *
1:1-22-- Dân Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập4 Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập:
Amenhotep đệ nhị hay là Merneptah?
Các bằng cớ tỏ ra là Amenhotep đệ nhị
1. Các thơ tín Amarna gởi cho Amenhotep đệ tam và Amenhotep đệ tứ, khẩn cấp xin Pha-ra-ôn tiếp viện, tỏ ra rằng thời ấy (theo niên hiệu sớm hơn của việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập), xứ Pa-lét-tin đang bị mất về tay người "Habiri. " Đây là một đoạn trích lục: "Người Habiri đang chiếm thành trì, đô thị của ta, tiêu diệt các quan cai trị của ta, cướp phá toàn xứ của vua. Xin vua gởi quân sĩ đến mau chóng. Nếu nội năm nay, không gởi quân sĩ đến, thì toàn xứ sẽ mất khỏi tay vua."
Nhiều học giả cho rằng người "Habiri " tức là người "Hê-bơ-rơ;" như vậy, đây là thơ của người từ xứ Ca-na-an mô tả cuộc chinh phục xứ ấy bởi tay Giô-suê. Còn các nhà học giả quả quyết dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập nhằm niên hiệu muộn hơn, thì cho rằng người "Habiri " có thể là những kẻ trước đó đã xâm lăng hoặc di cư (ISu1Sb 4:21-22, 7:21).
2. Khảo cổ học chứng thực rằng thành Giê-ri-cô đã sụp đổ khoảng năm 1400 T.C.. Tấn sĩ John Garstang, người đã đào bới khắp vùng Giê-ri-cô, tin quyết điểm nầy.
Các bằng cớ tỏ ra là Merneptah.
1. Tấm bảng "Y-sơ-ra-ên " của Merneptah. -- Năm 1906, Huân tước Flinders Petrie tìm thấy một phiến thiểm trường thạch đen có ghi chép những cuộc chiến thắng của Merneptah, nhằm năm thứ 5 đời trị vì của ông. Phiến đá nầy cao hơn ba thước tây, và bề ngang hơn một thước rưỡi, hiện nay bày trong Bảo-tàng-viện Le Caire. Chữ "Y-sơ-ra-ên" được ghi ở giữa dòng thứ hai, tính từ dưới lên. Đây là bản ký văn: "Ca-na-an bị cướp phá. Y-sơ-ra-ên bị hoang vu; dòng dõi nó không còn nữa. Đối với Ai-cập, xứ Pa-lét-tin đã trở thành một quả phụ." Ký văn nầy dường như ngụ ý nói đến việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Câu: "Dòng dõi nó không còn nữa" có thể chỉ về sự tiêu diệt những con trai nhỏ tuổi. Vì các vua thời xưa không hề chép việc chi trừ ra những cuộc chiến thắng của mình, nên sự thực có lẽ là như vầy: Dầu cố hết sức ngăn cản dân Y-sơ-ra-ên ra đi không được, nhưng ông cũng ghi chép sự họ ra đi khỏi Ai-cập như là mình đã thắng dân ấy.
Các học giả đã quyết đoán dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập nhằm niên hiệu sớm hơn, thì cho rằng ký văn nầy ngụ ý nói đến việc Merneptah xâm lăng xứ Pa-lét-tin chừng 200 năm sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong xứ Ca-na-an .
2. Ramsès đệ nhị tự nhận rằng mình đã xây cất hai thành Phi-thom và Ram-se với nhơn công Y-sơ-ra-ên (XuXh 1:11).
Năm 1883, ông Naville đã tìm ra vị trí thành Phi-thom. Trên cổng thành, ông thấy một bi văn của Ramsès đệ nhị: "Ta đã xây thành Phi-thom ở cửa phía Đông của sông Ni-lơ."
Ông tìm thấy một tòa nhà có tường dày phi thường, trên gạch có khắc tên Ramsès đệ nhị. Chỉ có một lối vào do mái nhà. Đây là những kho tàng mà dân Y-sơ-ra-ên đã xây cất.
Năm 1905, ông Petrie tìm ra vị trí thành Ram-se. Năm 1922, tại thành Bết-san (ISa1Sm 31:10), thuộc xứ Pa-lét-tin, ông Fisher, nhơn viên Bảo-tàng-viện Đại học đường Pennsylvania, đã tìm thấy một tấm bia của Ramsès đệ nhị, cao chừng 2 thước rưỡi, rộng chừng 80 phân, trên đó ghi khắc rằng ông "xây cất thành Rase với nhơn công của bọn tôi mọi Sémitique thuộc Á-châu (Hê-bơ-rơ)."
Như vậy, hai bi văn nầy chỉ rõ Ramsès đệ nhị là Pha-ra-ôn đã truyền xây cất hai thành nầy cho mình, và là kẻ đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên; và như vậy, cũng chỉ rõ người kế vị ông, là Merneptah, chính là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Tuy nhiên, người ta biết rằng Ramsès đệ nhị là một tay hay sang đoạt, đã nhận một số đài kỷ niệm của các vị tiên đế là của mình, và truyền ghi khắc tên mình trên những đài kỷ niệm ấy. Các nhà học giả chấp nhận niên hiệu sớm hơn của việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và chấp nhận Thothmes đệ tam là vua đã xây cất hai thành nầy, đều cho các bi văn trên đây có nghĩa là Ramsès đệ nhị đã xây cất lại hoặc sửa chữa hai thành nầy với công lao của những người Hê-bơ-rơ không cùng ra đi với Môi-se.
Về đại cương, chúng tôi nghĩ rằng các bằng cớ chứng rõ hơn rằng Amenhotep đệ nhị chính là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập.
* * *
XuXh 1:1-22-- Dân Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập 5 Di tích thành Thèbes
Di tích thành Thèbes mà người Y-sơ-ra-ên đã dự phần xây cất, thật là di tích vĩ đại nhứt thế giới. Vị trí thành Thèbes ở trên cả hai bờ sông Ni-lơ, trong một đồng bằng hình bán nguyệt, giữa các ghình đá phía Đông và phía Tây. Di tích thành Thèbes chiếm một khu vực chừng 5 dặm từ Đông qua Tây, và 3 dặm từ Bắc xuống Nam. Không một đô thị nào có nhiều miễu thờ, cung điện và đài kỷ niệm bằng đá như vậy. Đá chạm những màu lộng lẫy hơn hết và óng ánh vàng thật. Thèbes trở nên một đô thị lớn dưới triều đại thứ 12, tức là 2000 năm T.C., đương thời Áp-ra-ham. Thành nầy được vinh quang từ 1600 đến 1300 T.C., là khoảng dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ tại Ai-cập; chắc nhiều đền đài tráng lệ của nó do công lao khó nhọc, mồ hôi và máu của bao nhiêu ngàn tôi mọi Y-sơ-ra-ên, không sao đếm xiết. Thành bị quân A-si-ri hủy phá năm 661 T.C., rồi được xây cất lại, rồi lại bị quân Ba-tư triệt hạ năm 535 T.C.. Thành bị hủy hoại bởi một nạn động đất năm 27 T.C., và từ đó tới nay, chỉ còn là một đống hoang tàn.
Miễu đồ sộ thờ thần Amon
Tại Karnak, thuộc khu phía Đông thành Thèbes, có một công trình kiến trúc vào hạng đồ sộ nhứt. Phần chính giữa của công trình kiến trúc nầy gọi là Lâu đài có trụ đỡ; người ta đã tưởng tượng Lâu đài nầy sừng sững đương thời vinh quang và đã nắn lại kiểu mẫu của nó, đem bày tại Bảo-tàng-viện Thủ đô. Trên cổng chính đi vào có một vầng đá dài chừng 13 thước tây và cân nặng 150 tấn. Có 134 cây trụ lớn, mà 12 cây chính giữa cao chừng 24 thước tây và đường kính gần 4 thước. Trên đỉnh một cây trụ nầy đủ chỗ cho 100 người đứng.
Hai ngọn tháp của hoàng hậu Hatshepsut, mà một còn đứng nguyên, cao chừng 31 thước tây, cân nặng 150 tấn, có bi văn ghi rằng nó được chở về trên 30 chiếc thuyền ghép lại, gồm 960 tay chèo, từ các hầm đá cách xa 150 dặm.
2:1-25-- Môi-se
Nhiều người đã phê bình Môi-se. Họ hiện ra rồi biến đi, nhưng Môi-se vẫn còn nổi bật lên như một người siêu việt nhứt của thế giới trước thời có đạo Đấng Christ. Ông đã nhận lấy một chủng tộc tôi mọi, và trong những hoàn cảnh khó khăn không tưởng tượng được, đã nắn đúc họ thành một dân tộc hùng mạnh thay đổi cả trào lưu lịch sử.
Ông là người Lê-vi (câu 1). Người chị đã bày mưu cứu ông, tên là Mi-ri-am (15:20). Cha của ông tên là Am-ram, và mẹ tên là Giô-kê-bết (6:20). Bà mẹ quí hóa biết bao! Từ lúc ông còn thơ ấu, mẹ đã cho ông thấm nhuần các cổ phong của dân tộc, đến nỗi tất cả sức quyến rũ của cung điện ngoại đạo kia không hề bôi xóa được những ấn tượng lúc ấu trĩ. Ông hấp thụ được nền giáo dục tối hão mà Ai-cập có thể cung hiến; nhưng nó không thể khiến ông thay đổi đầu óc, và cũng không cướp được đức tin đơn sơ từ hồi ấu trĩ của ông. Môi-se và Phao-lô là hai tỷ dụ tỏ ra Đức Chúa Trời sử dụng những bậc anh tài xuất chúng để làm công việc Ngài.
40 năm ở trong cung vua
Người ta thường nghĩ rằng "Con gái Pha-ra-ôn" đã nuôi Môi-se làm con chính là hoàng hậu trứ danh Hatshepsut. Tình trạng nầy có thể đưa ông lên nối ngôi vua; vậy nên nếu ông từ bỏ sự đào luyện của mẹ, thì ông có thể ngồi trên ngôi vua hiển hách nhứt hoàn cầu. Bạn bè của ông toàn là những hoàng thân ở trong cung điện.
Người ta tưởng rằng khi Môi-se trưởng thành, ông đã được bổ chức cao trọng trong chánh phủ Ai-cập, hoặc ở ngành hành chánh, hoặc trong quân đội. Sử gia Josèphe nói rằng ông chỉ huy một đạo quân ở phương Nam. Chắc ông có quyền thế và danh vọng lớn lao; bằng không, ắt ông chẳng dám gánh vác công việc vĩ đại, là giải phóng dân Y-sơ-ra-ên. Theo Cong Cv 7:25, ông đã có ý ấy khi can thiệp vào cuộc đánh lộn (câu 11-15). Nhưng dầu nhận thức quyền thế của mình và đầy lòng tự tin, ông cũng đã thất bại, vì dân Y-sơ-ra-ên chẳng sẵn sàng nhận ông làm thủ lãnh.
40 năm ở trong đồng vắng
Theo thiên cơ, đây là một phần huấn luyện Môi-se. Đống vắng hiu quạnh và ngang tàng đã làm phát triển những đức tánh hùng mạnh hầu như không thể phát triển nơi cung điện đầy nhung lụa. Thời gian nầy cũng giúp ông quen biết khu vực mà ông phải dắt dẫn dân Y-sơ-ra-ên trải qua 40 năm nữa.
Xứ Ma-đi-an (câu 15).-- Trung tâm xứ Ma-đi-an, là nơi Môi-se kiều ngụ, ở trên bờ phía Đông của vịnh Akaba, mặc dầu dân Ma-đi-an đi dông dài rất xa tới phía Bắc và phía Tây. Đương thời Môi-se, họ kiểm soát những cánh đồng cỏ xanh tốt ở quanh vùng Si-na-i. Chắc trong 40 năm chăn chiên, Môi-se đã trải qua khắp cả miền nầy.
Môi-se cưới một thiếu nữ Ma-đi-an, tên là Sê-phô-ra (câu 21) làm vợ; nàng là con gái của Giê-trô, cũng có tên là Rê-u-ên (câu 18, XuXh 3:1). Giê-trô làm thầy tế lễ xứ Ma-đi-an, chắc là một quan cai trị. Dân Ma-đi-an là dòng dõi Áp-ra-ham, do Kê-tu-ra sanh ra (SaSt 25:2), và chắc theo các truyền thuyết về Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham. Môi-se có hai con trai, là Ghẹt-sôn và Ê-li-ê-se (18:3, 4). Theo một vài truyền thoại, thì Môi-se đã viết sách Gióp đang khi ở xứ Ma-đi-an 40 năm.
XuXh 3:1-4:31-- Bụi gai cháy
Sau bao nhiêu năm ôm ấp sự đau khổ của dân mình và những lời hứa từ lâu đời của Đức Chúa Trời, rốt lại, lúc Môi-se được 80 tuổi, ông nghe Đức Chúa Trời trực tiếp, rõ ràng và dứt khoát kêu gọi mình đi giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Song Môi-se không còn tự tin như lúc thanh niên nữa. Ông ngần ngại chẳng muốn đi, và tìm đủ cách thoái thác. Nhưng rồi ông đã đi, vì tin chắc có Đức Chúa Trời giúp đỡ và được Ngài ban cho quyền năng để làm các phép lạ.
5:1-23-- Lời yêu sách đầu tiên của Môi-se với Pha-ra-ôn#
Pha-ra-ôn rất láo xược, đã ra lịnh cho bọn đốc công bắt dân Y-sơ-ra-ên làm việc nặng nhọc hơn, tức là đòi họ làm đủ số gạch mà đồng thời phải tự đi tìm kiếm rơm (câu 10-19).
Bí Chú Khảo Cổ: Gạch ở thành Phi-thom
Năm 1883, ông Naville và năm 1908, ông Kyle đã tìm thấy tại Phi-thom những lớp gạch ở dưới có nhiều rơm xắt tốt; những lớp giữa có ít rơm đi, và trộn lẫn rạ nhổ nguyên cả rễ, những lớp gạch trên toàn là đất sét, chẳng có một chút rơm nào, lạ lùng thay, điều nầy xác nhận truyện tích trong sách Xuất Ê-díp-tô ký!
6:1-30 -- Gia hệ của Môi-se
Đây chắc là một gia hệ rút ngắn, chỉ ghi chép những bậc tiên tổ có danh tiếng hơn. Dường như Môi-se là cháu nội của Kê-hát, nhưng đương thời ông đã có 8600 con cháu của Kê-hát (Dan Ds 3:28).
7:1-25-- Tai vạ thứ nhứt trong mười tai vạ
Nước sông Ni-lơ biến thành huyết. Các thuật sĩ đã bắt chước phép lạ nầy với một mực độ thấp hơn. Tên của các thuật sĩ nầy là Gian-nét và Giam-be (IITi 2Tm 3:8).
Bất cứ tánh chất của phép lạ nầy là gì, nó cũng làm chết cá, và nhơn dân không uống nước được.
Sông Ni-lơ là một thần. Mười tai vạ nhằm thẳng vào các thần Ai-cập, và cốt làm bằng cớ quyết chắc rằng Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên cao trọng hơn các thần của dân Ai-cập. Kinh Thánh nhiều lần lặp lại rằng bởi các phép lạ nầy, cả dân Y-sơ-ra-ên và người Ai-cập "biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời" (XuXh 6:7, 7:5, 17, 8:22, 10:2, 14:4, 18) cũng như về sau, ma-na và chim cút cốt để tỏ ra lẽ ấy (16:6, 12).
Tôn giáo Ai-cập
Ở trang 122 đã kể tên một số thần hình dung bằng súc vật. Trong các miễu thờ, những súc vật "thánh" được đoàn thể tế sư nuôi nấng và chăm sóc rất chu đáo, xa hoa. Trong số súc vật nầy, con bò được coi là "thánh" hơn cả. Họ đốt hương và dâng tế lễ trước mặt con bò "thánh". Khi qua đời, nó được xông thuốc thơm, và bỏ vào quan tài bằng đá mà chôn với nghi lễ long trọng chẳng kém gì vị đế vương. Con cá sấu cũng được tôn trọng lắm; trong miễu thờ nó tại Tanis, có 50 tế sư, hoặc hơn nữa, phục dịch nó.
Đó là đạo của nhơn dân mà giữa vòng họ, dân tộc Hê-bơ-rơ đã được trưởng dưỡng trong 400 năm.
XuXh 8:1-31 -- tai vạ ếch nhái, chí rận (1) và ruồi mòng
Ếch nhái là một thần của Ai-cập. Theo lịnh của Môi-se, ếch nhái từ sông Ni-lơ tràn lên đông đúc, đầy dẫy nhà cửa, phòng ngủ và bếp. Các thuật sĩ lại bắt chước phép lạ nầy; nhưng Pha-ra-ôn chịu thuyết phục và hứa để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi. Tuy nhiên, ông đã đổi ý.
Chí rận. -- Môi-se đập bụi đất, nó biến thành chí rận, bu vào người và súc vật. Bọn thuật sĩ thử bắt chước phép lạ nầy, nhưng thất bại; chúng phải tin rằng đó là do Đức Chúa Trời. Chúng thôi không cố gắng chống trả Môi-se nữa, và khuyên Pha-ra-ôn nhượng bộ.
Ruồi mòng. -- Hằng hà sa số ruồi mòng bu vào người, đất và đầy dẫy nhà cửa của người Ai-cập. Nhưng về phía người Y-sơ-ra-ên thì chẳng có một con nào.
Pha-ra-ôn cứng lòng (câu 15, 32).-- Đây chép rằng "Pha-ra-ôn cứng lòng..." Chỗ khác lại chép rằng "Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng" (10:20). Cả Pha-ra-ôn và Đức Chúa Trời đã dự phần trong việc nầy. Mục đích của Đức Chúa Trời là làm cho Pha-ra-ôn ăn năn. Nhưng khi một người nào định ý chống nghịch Đức Chúa Trời, thì cả đến sự thương xót của Ngài cũng chỉ làm cho lòng người ấy càng cứng hơn.
9:1-35 -- Các tai vạ súc vật bị dịch lệ, ghẻ chốc và mưa đá
Súc vật bị dịch lệ. -- Đây là một đòn ghê gớm đánh vào các thần Ai-cập. Con bò là thần thượng đẳng của họ. Lại có sự phân biệt giữa người Ai-cập và người Y-sơ-ra-ên: Súc vật của người Ai-cập chết vô kể, nhưng súc vật của người Y-sơ-ra-ên chẳng có con nào chết cả. Chữ "hết thảy" ở câu 6 không dùng đúng theo tự nghĩa, vì có một số súc vật còn lại (câu 19-21).
Ghẻ chốc. -- Tai vạ nầy giáng trên cả người lẫn súc vật, và trên các thuật sĩ nữa; ghẻ chốc do tro mà Môi-se tung lên không khí.
Mưa đá. -- Trước khi mưa đá, có lời thương xót cảnh cáo những người Ai-cập sẵn lòng tin hãy đem súc vật của mình về chuồng. Đây lại có sự phân biệt giữa người Ai-cập và người Y-sơ-ra-ên, vì chẳng có mưa đá tại Gô-sen.
Vào khoảng thì giờ nầy, nhơn dân Ai-cập đã chịu thuyết phục rồi (10:7). Các tai vạ thình lình xảy ra và thình lình chấm dứt trên một quy mô rộng lớn như vậy, theo lời truyền khẩu của Môi-se, đều được nhìn nhận là phép lạ hiển nhiên của Đức Chúa Trời. Nhưng Pha-ra-ôn lưỡng lự, vì ông sẽ thiệt thòi vô kể nếu mất lao công của đoàn tôi mọi Y-sơ-ra-ên. Lao công của họ đã giúp nhiều cho Ai-cập bước lên địa vị hùng cường; khi họ ra đi, thì Ai-cập bắt đầu suy yếu.
Chúng ta không biết Mười tai vạ kéo dài một thời gian chừng nào. Có người cho là gần một năm. Nếu dám, chắc Pha-ra-ôn đã giết Môi-se rồi. Nhưng với những tai vạ đã qua, uy tín của Môi-se ngày càng lên cao (11:3). Nếu Pha-ra-ôn toan làm hại Môi-se, thì sẽ nguy hiểm cho mình lắm.
10:1-28-- Các tai vạ châu chấu (1) và tối tăm
Chấu chấu là tai vạ kinh khủng hơn hết. Chúng kéo đến như những đám mây lớn, và ăn hết cây cối, rau, cỏ mọc lên từ sau trận mưa đá. Đến đêm, chúng đậu trên đất, thành từng lớp cao tới 10 hoặc 12 phân tây. Khi chúng bị nghiền nát, thì mùi hôi thúi không sao chịu nổi. Chỉ lời đe dọa sẽ có tai vạ châu chấu cũng đủ khiến quần thần của Pha-ra-ôn xin vua hãy nhượng bộ (câu 7).
Tối tăm. -- Đây là một đòn đánh thẳng vào Ra, thần mặt trời của Ai-cập. Có sự tối tăm trên khắp nước Ai-cập trong 3 ngày; nhưng nơi dân Y-sơ-ra-ên cư trú thì trời sáng tỏ. Pha-ra-ôn nhượng bộ, những rồi lại đổi ý.
11:1-12:50-- Các con đầu lòng của nước Ai-cập phải chết
Gần một năm đã trôi qua. Rốt lại, lúc quyết liệt đã tới. Đòn giáng mạnh đến nỗi Pha-ra-ôn nhượng bộ, và dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
Nếu chẳng nhờ Mười ta vạ nầy, thì dân Y-sơ-ra-ên chẳng hề được giải cứu, và cũng chẳng có quốc gia Hê-bơ-rơ.
"Xin " đồ nữ trang (12:35).-- Không phải là cho mượn, nhưng là cho đứt. Đây là người Ai-cập trả nợ cho bao nhiêu thế hệ lao công của đoàn tôi mọi mà họ đã dùng để xây dựng vinh quang, oai hùng. Chính Đức Chúa Trời đã truyền lịnh cho dân Y-sơ-ra-ên xin những tặng phẩm nầy (3:21, 22, 11:2, 3). Người Ai-cập sung sướng chấp thuận, vì họ sợ Đức Chúa Trời của Môi-se (12:33). Như vậy, một phần lớn của cải Ai-cập chuyển qua dân Y-sơ-ra-ên. Một phần đã dùng để dựng Đền tạm.
Bí Chú Khảo Cổ: Con đầu lòng của Pha-ra-ôn phải chết (12:29)
Người ta đã tìm những bi văn tỏ ra rằng Thothmes đệ tứ, người kế vị Amenhotep đệ nhị, không phải là con đầu lòng của ông nầy, và cũng không phải là kẻ kế tự.
Con trai đầu lòng của Merneptah cũng chết trong những trường hợp đặc biệt, còn kẻ kế vị ông chẳng phải là con đầu lòng của ông, và cũng chẳng phải là kẻ kế tự mà ai nấy giả định.
Vậy, bất cứ ai là Pha-ra-ôn đương thời đó, lời chép trong Kinh Thánh cũng được xác nhận.
Khởi đầu Lễ Vượt Qua
Chiên con, huyết bôi trên cột cửa, sự chết của các con đầu lòng, sự giải cứu khỏi một nước thù địch, và sự cử hành lễ nầy suốt cả lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, _ mọi điều đó dường như đã được Đức Chúa Trời trù định làm bức tranh lịch sử vĩ đại về Đấng Christ, Chiên Con của Lễ Vượt Qua, là Đấng dùng chính Huyết Ngài giải cứu chúng ta khỏi một thế giới thù địch.
13:1-22 -- Bánh không men. Sự dâng các con đầu lòng
Phải ăn bánh không men trong ngày Lễ Vượt Qua để đời đời ghi nhớ đêm giải cứu họ là khẩn cấp dường nào (12:34).
Phải dâng các con đầu lòng của họ cho Đức Chúa Trời trải qua các đời để ghi nhớ rằng họ đã được cứu chuộc bởi sự chết của các con đầu lòng Ai-cập,
Đường đi đến xứ Ca-na-an (câu 17).-- Suốt con đường thẳng dọc theo bờ biển, xuyên qua xứ Phi-li-tin, có quân đội Ai-cập đồn trú. Và đương thời ấy, có một vách thành cao ngất chạy từ Biển Đỏ đến Địa-trung-hải. Con đường khả dĩ đi được nhứt là con đường vòng quanh qua đồng vắng. Đức Chúa Trời đã sắp đặt như vậy; vì dân Y-sơ-ra-ên vốn là một chủng tộc tôi mọi, nên cần được huấn luyện trong đồng vắng để thực hiện cuộc chinh phục xứ Ca-na-an .
Trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm (câu 21, 22).-- Họ đã ra khỏi Ai-cập, và bây giờ phải đi qua các xứ thù địch; vậy, chính Đức Chúa Trời săn sóc họ, và Ngài dùng trụ mây cùng trụ lửa làm dấu hiệu hiển nhiên về sự dắt dẫn và che chở của Ngài. Hai trụ nầy không hề lìa khỏi họ cho đến khi họ đi tới Đất hứa, 40 năm về sau (14:19, 24, 33:9, 10, 40:34-38, Dan Ds 9:15, 23, 10:11).
14:1-31-- Họ vượt qua Biển Đỏ
Người ta cho rằng dân Y-sơ-ra-ên đã vượt qua Biển Đỏ tại một nơi gần vị trí của kinh Suez ngày nay. Đức Chúa Trời đã dùng một "trận gió Đông thổi mạnh" làm cho biển cạn (câu 21). Gió làm cho nước dồn lên là một việc thường xảy ra. Nhưng trong trường hợp nầy, nước "dựng" lên "thành một tấm vách ngăn bên bữu và bên tả" (15:8, 14:22). Sự "dựng" nước lên và sự dồn nước trở lại đúng lúc để cứu dân Y-sơ-ra-ên và để tiêu diệt người Ai-cập, chỉ có thể xảy ra bởi phép lạ trực tiếp của Đức Chúa Trời. Biến cố nầy làm cho các dân tộc lân cận phải khủng khiếp (15:14-15).
15:1-27-- Bài ca của Môi-se
Sự giải cứu khỏi Ai-cập nầy giống như sự giải cứu Hội Thánh khỏi thế giới trong ngày sau rốt, đến nỗi một bài ca khải hoàn của những kẻ được cứu chuộc được đặt tên là: "Bài ca Môi-se và bài ca Chiên Con" (KhKh 15:3). Những việc quyền năng mà bài ca nầy kể ra để cảm tạ Đức Chúa Trời dường như làm hình bóng về những việc quyền năng hơn mà người được cứu chuộc sẽ kể ra để hát ngợi khen Đức Chúa Trời trải qua các thời đại vô tận của cõi đời đời.
16:1-36-- Ma-na và chim cút
Mới được một tháng, mà những nỗi nhọc nhằn của đời sống nơi đồng vắng đã bắt đầu ảnh hưởng đến tâm trạng họ. Họ bắt đầu phàn nàn và cứ phàn nàn mãi, mắt chăm chú vào nồi thịt của Ai-cập, chớ không chăm chú vào Đất hứa nữa (câu 2, 3).
Ma-na là một viên nhỏ, dùng thay bánh mì; Kinh Thánh chép rằng nó có "mùi như bánh ngọt pha mật ông" (câu 31). Hoặc nó là một công trình sáng tạo trực tiếp, hoặc nó là một sản phẩm thiên nhiên đã do phép lạ làm cho tăng thêm gấp bội. Ban đêm, nó sa xuống cùng với sương móc, và trông giống như hột ngò. Họ nghiền nó trong cối xay, hoặc giã trong cối, rồi bỏ vào nồi mà làm bánh. Mỗi người được phép lượm mỗi ngày một ô-me (chừng 3 lít rưỡi). Đến ngày thứ sáu thì có dư để dùng cả ngày Sa-bát. Ma-na bắt đầu có một tháng sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, và Đức Chúa Trời cứ ban nó cho họ hằng ngày, suốt 40 năm; cho đến khi họ vượt qua sông Giô-đanh, bấy giờ nó mới thình lình hết cũng như nó đã thình lình bắt đầu có (Dan Ds 11:6-9, Gios Gs 5:12). Đức Chúa Jêsus kể ma-na là một hình bóng về chính mình Ngài (GiGa 6:31-58).
Chim cút (câu 13).-- Đức Chúa Trời đưa chim cút đến, nhưng không liên tục như ma-na. Kinh Thánh chỉ chép hai lần, -- ở đây và một năm sau khi dân Y-sơ-ra-ên lìa khỏi núi Si-na-i (Dan Ds 11:31-34). Chúng bay tới đông vô kể và sà xuống thấp. Dân chúng có những bầy súc vật đông đúc (12:38), nhưng phải tiết kiệm, không dùng nhiều làm đồ ăn. Tại Ai-cập, đồ ăn phần nhiều của họ chỉ có cá.
Núi Si-na-i
Cũng gọi là Hô-rếp. Bán đảo Si-na-i có hình tam giác, ở giữa hai cánh của Biển Đỏ. Bờ phía Tây dài chừng 180 dặm; bờ phía Đông dài chừng 130 dặm; đường biên giới ở phía Bắc dài chừng 150 dặm. Phần phía Bắc của bán đảo là một sa mạc, còn phần phía Nam là "một chòm nhiều núi gập ghình, hỗn độn."
Có lẽ miền nầy được đặt tên theo thần mặt trăng của người Ba-by-lôn, là Sin. Từ đời thượng cổ, người ta đã biết miền nầy vì các mỏ đồng, sắt, thổ hoàng và bửu thạch. Lâu lắm, trước thời Áp-ra-ham, các vua Đông phương đã đắp một con đường chung quanh biên giới phía Bắc và phía Tây của sa mạc Ả-rập cho tới vùng Si-na-i.
Ngọn núi đặc biệt, gọi là núi Si-na-i, tại đó người ta cho rằng dân Y-sơ-ra-ên đã tiếp nhận Luật pháp, ở về mỏm phía Nam của bán đảo. Núi Si-na-i nầy là một "khối đá chơ vơ, hiểm trở, từ đồng bằng nhô lên, có vẻ hùng vĩ khủng khiếp." Ở góc Tây-bắc có một đồng bằng dài 2 dặm, rộng nửa dặm, dân Y-sơ-ra-ên có thể đã đóng trại tại đó.
Cách núi Si-na-i 40 dặm về phía Tây-bắc, trong "Thung lũng của các Động," có một bức chạm trổ trên vầng đá nhẵn, cao hơn hầm mỏ chừng 127 thước tây; ấy là vua Semerkhet, thuộc triều đại thứ nhứt của các Pha-ra-ôn Ai-cập, đã truyền lịnh chạm trổ chính mình đang giết vua Si-na-i. Có chừng 250 bi văn của các vua sau Semerkhet. Cách "Thung lũng của các Động" 10 dặm về phía Bắc, là Serabit-el - Khadem, có miễu thờ Hathor, nữ thần Ai-cập; chính tại đây, Huân tước Flinders Petrie đã tìm thấy bản viết chữ cái cổ nhứt mà người ta từng biết.
Bản đồ số 30
XuXh 17:1-16-- Nước từ vầng đá tràn ra
Sau mọi việc trên kia ít lâu, Môi-se đã làm cho nước ở Ma-ra hóa ngọt (15:25). Tới đoạn nầy, tại Rê-phi-đim, ông đã làm cho nước từ vầng đá tràn ra. Về sau, ông cũng làm một phép lạ giống như vậy tại Mê-ri-ba (Dan Ds 20:1-13).
Giao chiến với quân A-ma-léc (câu 8-15).-- Đây là lần đầu tiên, ở ngoài nước Ai-cập, quân thù đã toan cản trở dân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ Ca-na-an. Kết quả là Đức Chúa Trời truyền lịnh phải tuyệt diệt dân A-ma-léc (câu 14, PhuDnl 25:17-19).
XuXh 18:1-27-- Lời khuyên của Giê-trô
Dầu Môi-se được Đức Chúa Trời dẫn theo mức dành riêng cho ít người, nhưng do lời khuyên bảo của vị quan trưởng Ma-đi-an, là nhạc phụ mình, ông đã quyết định tổ chức dân chúng một cách hữu hiệu hơn.
19:1-25-- Tiếng phán của Đức Chúa Trời trên núi Si-na-i
Dân Y-sơ-ra-ên ở tại vùng núi Si-na-i 11 tháng (câu 1, Dan Ds 10:11). Trong một trận bão có sấm sét khủng khiếp, theo sau có động đất và hồi kèn siêu nhiên, cả núi bị khói bao bọc và trên đỉnh núi có lửa đỏ rực, kìa, Đức Chúa Trời truyền phán Mười Điều răn và ban bố Luật pháp!
500 năm sau, cũng trên núi nầy, Ê-li được ngụ ý tỏ cho biết rằng công việc của Đức Chúa Trời ở trên mặt đất sẽ được hoàn thành; sự ngụ ý nầy không do lửa và động đất, nhưng do "tiếng êm dịu, nhỏ nhẹ" của một Đấng Tiên tri Hậu lai (IVua 1V 19:1-31).
XuXh 20:1-26-- Mười Điều răn
"Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác.
Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình,... chớ quì lạy trước các hình tượng đó.
Ngươi chớ lấy Danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi.
Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.
Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.
Ngươi chớ giết người.
Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
Ngươi chớ trộm cướp.
Ngươi chớ làm chứng dối.
Ngươi chớ tham vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."
Những Điều răn nầy do chính miệng Đức Chúa Trời trực tiếp truyền phán từ trên núi, giữa sấm sét, động đất và kèn thổi vang; sau đó đã ghi khắc trên cả hai mặt của hai bảng đá, "bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra" (XuXh 31:18). Hai bảng đá là công trình của Đức Chúa Trời, và chữ viết là chính chữ của Đức Chúa Trời (SaSt 31:18, 32:15, 16). Hai bảng đá nầy đã được giữ gìn trong hòm giao ước trải qua nhiều thế kỷ. Người ta nghĩ rằng có lẽ nó đã bị đập vỡ đương thời dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày. Nhưng nếu một ngày kia, người ta kiếm được thì sao?
Mười Điều răn là nền tảng của luật pháp Hê-bơ-rơ. Bốn điều trên liên quan đến thái độ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời, còn sáu điều dưới liên quan đến thái độ của chúng ta đối với kẻ đồng loại. Đức Chúa Jêsus đã đúc lại làm hai Điều răn: "Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi... Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình" (Mat Mt 22:37-39).
Tôn kính Đức Chúa Trời là nền tảng của Mười Điều răn. Đức Chúa Jêsus tỏ ra rằng Ngài kể sự tôn kính Đức Chúa Trời là tư cách sơ đẳng để đến gần Đức Chúa Trời; Ngài cũng đặt sự tôn kính Đức Chúa Trời ở đầu Bài Cầu nguyện Chung: "Danh Cha được tôn thánh!" Thật là kỳ lạ, biết bao người trong lúc trò chuyện thông thường, lại luôn luôn nói phạm thượng đến Danh Đức Chúa Trời và dùng Danh Ngài một cách quá coi thường!
Cấm ngặt thờ lạy hình tượng. Chúng tôi tự hỏi sự thờ lạy hình tượng thạnh hành trong một vài giới tự nhận theo Cơ-đốc-giáo, có thích hợp với Điều răn nầy chăng?
XuXh 21:1-24:18-- "Quyển sách giao ước. "
Sau Mười Điều răn, đây là bộ Luật pháp đầu tiên trên đó quốc gia Hê-bơ-rơ đã được xây dựng. Những Luật pháp nầy được chép trong một quyển sách, rồi giao ước vâng theo nó đã được đóng ấn bằng huyết (24:4, 7, 8).
Những Luật pháp nầy liên quan đến: Chế độ tôi mọi; kẻ giết người phải xử tử; sự bắt cóc; rủa mắng cha mẹ; sự báo trả "mắt đến mắt"; trộm cắp; làm hại mùa màng; đền thiệt hại; sự dụ dỗ; phù pháp; cấu hợp với thú vật; thờ lạy hình tượng; lòng nhơn ái với quả phụ và cô nhi; sự cho mượn; của cầm; không được rủa sả kẻ cầm quyền; trái đầu mùa và con đầu lòng; lời chứng dối; Sự theo phe đảng; sự công bình; tử tế với súc vật; hối lộ; khách lạ; ngày Sa-bát; Năm Sa-bát; Lễ Vượt Qua; lễ mùa gặt; không được nấu súc vật nhỏ trong sữa mẹ nó; không được lập giao ước với người Ca-na-an; kẻ nào vâng lời sẽ được ban thưởng.

XuXh 25:1-31:16-- Các huấn thị dựng Đền tạm
Chính Đức Chúa Trời truyền kiểu mẫu rất tỉ mỉ (25:9). Kiểu mẫu nầy được ghi chép hai lần: Ở đây -- "Y như kiểu" -- và ở đoạn 35 đến 40 , tại đó có nhắc lại đúng các chi tiết -- "Y như mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn" (40:6).
Đền tạm là "hình và bóng của những sự trên trời" (HeDt 8:5).
Nó có ý nghĩa đặc biệt cho dân tộc Hê-bơ-rơ, tuy nhiên, nó "là hình bóng của sự tốt lành ngày sau" (HeDt 10:1 xem 9:1-10:39).
Đền tạm và Đền thờ (về sau Đền thờ được xây cất theo kiểu Đền tạm) là trung tâm sanh hoạt quốc gia của người Do-thái.
Trực tiếp phát xuất từ nơi Đức Chúa Trời. Đền tạm là một cách biểu thị vô cùng quan trọng một vài ý tưởng mà Đức Chúa Trời muốn ghi khắc trên tâm trí loài người, và là hình bóng về nhiều giáo lý của đạo Đấng Christ.
XuXh 32:1-33:23-- Bò con bằng vàng
Con bò là thượng đẳng thần của người Ai-cập. Về sau, nó được tôn làm thần của 10 chi phái Y-sơ-ra-ên (IVua 1V 12:28). Đức Chúa Trời vừa mới phán như sấm sét từ trên núi rằng "Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác," và bao nhiêu phép lạ cũng mới xảy ra tại Ai-cập; như vậy, sự bội đạo đáng thương nầy chứng tỏ dân Y-sơ-ra-ên đã sa xuống vòng thờ lạy hình tượng của người Ai-cập là dường nào! Đây là một sự khủng hoảng, cần phải nêu kỷ luật lên ngay, nên sự hình phạt thật mau chóng và nghiêm khắc. Từ ngày đó trở đi, họ "cất đồ trang sức trong lòng mình" (XuXh 33:4-6).
Môi-se sẵn lòng chịu "xóa tên khỏi sách Ngài đã chép đi" (32:31, 33) vì cớ nhơn dân, đủ tỏ ra tâm tình ông cao cả dường nào!
34:1-35-- Môi-se lại lên núi
Lần thứ nhứt ông đã ở trên núi 40 ngày, đêm (24:18). Bây giờ ông lại lên ở đó 40 ngày, đêm nữa (34:2, 28). Lần thứ nhứt, ông đã nhận lãnh hai bảng đá và những huấn thị về Đền tạm. Bây giờ hai bảng đá được làm lại, và giao ước được lập lại.
Mặt Môi-se "sáng rực" (câu 29-35), vì Đức Chúa Trời ngự trong ông; ấy cũng như khi Đức Chúa Jêsus hóa hình, thì "mặt Ngài sáng lòa như mặt trời" (Mat Mt 17:2).
Đoạn 35 đến 40 -- Dựng Đền tạm
Bây giờ họ dựng Đền tạm và làm mọi dụng cụ trong đó đúng theo các chỉ thị Đức Chúa Trời đã ban cho ở các đoạn 25 đến 31.
Đền tạm
Dài chừng 14 thước tây, rộng gần 5 thước, và cao cũng gần 5 thước. Làm bằng những tấm ván dọc và có màn phủ kín. Đền tạm trông về phía Đông.
Có 20 tấm ván cho phía Bắc, 20 cho phía Nam, và 6 cho phía Tây; mỗi tấm ván dài gần 5 thước tây, và rộng chừng 70 phân. Ván làm bằng gỗ si-tim cứng rắn, thớ sít, và bọc vàng. Đầu mỗi tấm ván có hai cái mộng để tra vào hai lỗ mộng bằng bạc cho ván dựng thẳng lên. Các tấm ván kết liền nhau bởi năm cây xà ngang chạy qua những khoen bằng vàng ở trên các tấm ván.
Có 10 bức màn, mỗi bức dài chừng 12 thước tây và rộng gần 2 thước tây, làm bằng vải gai mịn, chỉ màu xanh lơ(1), đỏ điều, đỏ sậm, có thêu hình chê-ru-bin cực xảo, những bức màn nầy kết lại với nhau bằng nhiều móc vàng và thắt vòng chỉ màu xanh lơ, làm thành một tấm. Tấm màn nguyên nầy do 10 bức màn hợp thành, dài chừng 18 thước ở phía Đông và phía Tây, chừng 13 thước ở phía Bắc và phía Nam, còn dư gần 5 thước thì rủ xuống góc phía Tây. Bức màn nầy giăng trên các tấm ván bọc vàng chạy kín, làm thành chính Đền tạm.
Vàng và bạc dùng để dựng Đền tạm và làm các dụng dụ trong đó đáng giá chừng 1.250.000 Mỹ kim. Dân chúng trích số bửu vật của người Ai-cập tặng mà quyên dâng (XuXh 12:35).
Bong che trên Đền tạm
Bong nầy phủ trên Đền tạm, và làm bằng vải lông dê: Nó gồm 11 bức màn, mỗi bức dài chừng 14 thước, rộng gần 2 thước, 11 bức màn nầy kết lại với nhau bằng những móc đồng; toàn thể dài chừng 21 thước ở phía Đông và phía Tây, chừng 14 thước ở phía Bắc và phía Nam. Trên 11 bức màn nầy có một tấm lá phủ bằng da chiên đực nhuộm đỏ, và bên trên nữa lại có một tấm lá phủ bằng da cá nược.
Tấm bong có ba lớp nầy, tức là vải lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ và da cá nược, chắc do thượng lương chống đỡ ở trên nóc, và hai phía thoai thoải xuống. Mái của chính Đền tạm chắc là bằng phẳng.
Nơi Chí thánh
Chính là 15 bộ (gần 5 thước) ở phía Tây của Đền tạm, và là một khối đều đặn. Nơi Chí thánh hình dung cho nơi ngự của Đức Chúa Trời. Nó chỉ chứa có hòm giao ước. Mỗi năm thầy tế lễ thượng phẩm vào đó một lần. Nó làm hình bóng về Thiên đàng (HeDt 9:24).
Hòm giao ước
Là một cái tủ, dài chừng 1 thước 10 phân, rộng chừng 70 phân, và cao chừng 70 phân. Làm bằng gỗ si-tim bọc vàng ròng. Nó chứa hai bảng Mười Điều răn, một bình ma-na, và cây gậy của A-rôn.
Nắp thi ân (1) là nắp của hòm giao ước, làm bằng vàng nguyên khối. Mỗi đầu có một chê-ru-bin liền với nắp; hai hình chê-ru-bin nầy đối mặt với nhau, xè cánh ra và nhìn xuống nắp thi ân. Nắp thi ân ở ngay trên hai bảng Mười Điều răn, hình dung cho nơi gặp gỡ của Luật pháp và Sự Thương xót. Như vậy là "hình bóng" về Đấng Christ. Hai hình chê-ru-bin tỏ ra một cách rất linh động rằng các vì thiên thượng đặc biệt chú ý đến sự cứu chuộc loài người. Đây dường như là điều Sứ đồ Phi-e-rơ nghĩ tới khi ông nói rằng: "Các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó" (IPhi 1Pr IPhi1:12).
Có lẽ hòm giao ước đã bị mất trong thời kỳ bị lưu đày tại Ba-by-lôn. Trong sách KhKh 11:19, Sứ đồ Giăng thấy hòm giao ước "trong Đền thờ." Nhưng ông thấy trong một dị tượng, và không có nghĩa là hòm giao ước bằng vật chất có tại đó, vì ở trên trời sẽ chẳng có "đền thờ nào" (KhKh 21:22).
Bề ngoài của Đền tạm có thể như thế nầy
Nơi thánh
Gồm 30 bộ (hơn 9 thước tây) phía Đông của Đền tạm. Nó chứa cái bàn bánh trần thiết ở phía Bắc, chơn đèn ở phía Nam, và bàn thờ xông hương ở ngay trước cái màn. Có lẽ đây là hình bóng về Hội Thánh.
Bức màn
Làm bằng vải gai mịn, chỉ màu xanh lơ, đỏ tía, đỏ sậm, và thêu hình chê-ru-bin cực xảo. Nó phân chia Nơi Thánh với Nơi Chí thánh, hoặc, nói cách khác, điện thiết triều của Đức Chúa Trời với phòng chờ đợi của loài người. Khi Đấng Christ chịu chết, bức màn nầy đã bị xé làm hai (Mat Mt 27:51), có nghĩa là chính lúc đó, cửa của Hiện diện Đức Chúa Trời được mở toang cho loài người vào.
Còn một bức màn khác, gọi là màn cửa, ở lối vào phía Đông của Đền tạm, làm bằng vải gai mịn, chỉ màu xanh lơ, đỏ điều và đỏ sậm.
Chơn đèn
Làm bằng vàng ròng, có một thân chính giữa, và mỗi bên có ba ngọn. Người ta cho rằng chơn đèn cao chừng 1 thước 60 phân, và ngang ở đầu ngọn chừng 1 thước 10 phân. Chơn đèn được đổ dầu ô-li-ve trong nhứt; hằng ngày phải làm đèn và thắp đèn (XuXh 30:7, 8).
Các chơn đèn trong Đền thờ do Sa-lô-môn xây cất đã làm theo kiểu mẫu nầy, và có lẽ cũng gồm cả chơn đèn nầy nữa. Chắc các chơn đèn ấy ở trong số bửu vật bị đem qua Ba-by-lôn, rồi sau được trả lại (Exo Er 1:7).
Chơn đèn trong Đền thờ do Hê-rốt xây cất, đương thời Đức Chúa Jêsus, có lẽ là một trong những chơn đèn nầy. Năm 70 S.C., nó bị đem qua kinh thành La-mã, khắc vào khải hoàn môn của Titus; rồi được đặt trong miễu thờ Hòa bình; rồi bị Genseric đem qua xứ Carthage, năm 455 S.C.; rồi do Belisarius lấy lại và đem qua kinh thành Constantinople; rồi "được cung kính đặt trong nhà thờ đạo Đấng Christ tại Giê-ru-sa-lem" năm 533 S.C.. Sau đó người ta không biết gì về chơn đèn nầy nữa. Chơn đèn khắc trên khải hoàn môn của Titus có lẽ là một công trình kỹ xảo hình dung lại chơn đèn sẵn có.
Chơn đèn có thể là hình bóng về Lời Đức Chúa Trời ở trong Hội Thánh, mặc dầu trong sách KhKh 1:12, 20, chơn đèn chỉ về các chi hội.
Chơn đèn khắc vào khải hoàn môn Titus
Bàn bánh trần thiết
Dài 95 phân tây, rộng 48 phân, và cao 80 phân tây. Làm bằng gỗ si-tim, bọc vàng ròng. Phải bày 12 ổ bánh trên bàn nầy luôn luôn; cứ đến ngày Sa-bát thì phải đổi bánh mới. Bàn nầy đặt tại phía Bắc của Nơi Thánh. Đó là biểu hiện lòng biết ơn Đức Chúa Trời vì Ngài cho bánh ăn hằng ngày (LuLc 11:3).
Bàn thờ xông hương
Cao 95 phân tây, và bề mặt 0,1536 m2. Làm bằng gỗ si-tim, bọc vàng ròng. Đặt ở trước bức màn. Phải xông hương trên đó luôn luôn, buổi sáng và buổi chiều tối. Có nghĩa là phải cầu nguyện không thôi (KhKh 8:3-5).
Bàn thờ dâng lễ thiêu
Bàn thờ lớn để dâng tế lễ bằng sanh vật. Cao chừng 1 thước 40, và bề mặt 0,7680m2. Làm bằng những tấm gỗ si-tim và bọc đồng. Bàn thờ nầy rỗng và đổ đầy đất. Chừng nửa bề cao có cái bờ chạy bốn phía để cho các thầy tế lễ đứng lên trên. Đặt bàn thờ nầy ở phía Bắc Đền tạm, gần lối vào hành lang. Lửa trên bàn thờ nầy được đốt lên do một phép lạ, và không hề tắt (LeLv 9:24, 6:9). Đó là hình bóng về loài người không có phép đến gần Đức Chúa Trời, trừ khi họ là tội nhơn đã được Huyết Chúa Jêsus cứu chuộc. Bàn thờ dâng của lễ thiêu nầy là hình bóng về sự chết của Đấng Christ.
Thùng rửa
Đây là một cái thùng lớn bằng đồng để chứa nước, dành cho các thầy tế lễ rửa tay, chơn trước khi hành chức nơi bàn thờ hoặc trong hội mạc. Có nghĩa là phải sạch sẽ trong thân thể và cũng phải sạch tội lỗi. Đây là hình bóng về sự tẩy sạch tội lỗi bởi Huyết Đấng Christ, và có lẽ cũng là hình bóng về lễ báp-têm trong đạo Đấng Christ.
Hành lang
Là hàng rào chung quanh Đền tạm. Dài gần 50 thước, rộng gần 25 thước, và trông ra phía Đông. Có những tấm bố vi bằng vải gai đậu mịn, cao chừng 2 thước rưỡi, treo trên trụ bằng đồng cách nhau chừng 2 thước rưỡi, có đinh và nuông trụ bằng bạc, cùng lỗ trụ bằng đồng. Cửa hành lang ở phía Đông, rộng gần 10 thước tây, làm bằng vải gai mịn, chỉ xanh lơ, đỏ điều và đỏ sặm.

Bản đồ số 31 -- Họa đồ Đền tạm
================================

Lê-vi Ký
Các của lễ
Ban thầy tế lễ
Các mùa thánh
Các luật pháp linh tinh

Theo nguyên văn, chữ "Lê-vi ký" nghĩa là "thuộc về người Lê-vi." Ấy nghĩa là sách nầy chứa một chế độ luật pháp do ban thầy tế lễ Lê-vi thi hành, và dân tộc Hê-bơ-rơ phải sống dưới chế độ luật pháp ấy. Phần nhiều luật pháp nầy đã ban bố trên núi Si-na-i, và suốt hành trình qua đồng vắng, đã có gia thêm, lặp lại và giải thích.
Người Lê-vi là một trong 12 chi phái, được biệt riêng để làm công việc Đức Chúa Trời. Ngài lấy họ thay cho các con đầu lòng của toàn dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đòi các con đầu lòng về phần Ngài, cả của người và của súc vật. Người Lê-vi được cấp dưỡng bằng số dâng phần mười, và họ có 48 thành (Dan Ds 35:7, Gios Gs 21:49).
Một gia đình người Lê-vi, là A-rôn và các con trai ông, đã được biệt riêng làm thầy tế lễ.
Còn những người Lê-vi khác thì phụ tá các thầy tế lễ. Phận sự của họ là trông nom, khiêng vác Đền tạm, và về sau trông nom Đền thờ. Họ cũng làm giáo sư, ký lục, nhạc công, sĩ quan và quan xét (xem ISu1Sb 23:1-32).
LeLv 1:1-5:19-- Các thứ của lễ
Của lễ thiêu bằng bò, chiên, dê, chim bò câu. Của lễ nầy bị thiêu trọn, có nghĩa là dâng hết cho Đức Chúa Trời.
Của lễ chay bằng bột lọc hoặc bánh không men. Chỉ thiêu đốt một ít, còn thì dành cho thầy tế lễ.
Của lễ thù ân bằng bò, chiên, hoặc dê. Thiêu mỡ, còn lại thì thầy tế lễ ăn một phần và người dâng tế lễ ăn một phần.
Của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi. -- Phải dâng nhiều của lễ khác nhau vì những tội lỗi khác nhau. Thiêu mỡ, còn thì thiêu ngoài trại quân trong một vài trường hợp, hoặc để các thầy tế lễ ăn trong một vài trường hợp khác. Nếu làm thiệt hại cho kẻ khác, thì phải bồi thường và thêm một phần năm, rồi mới được dâng của lễ. Đây có nghĩa là tội lỗi phải được nhìn nhận và đền chuộc.
6:1-7:38-- Chỉ thị bổ túc về các của lễ
Ngoài những của lễ trên đây, còn có của lễ quán, của lễ đưa qua đưa lại, của lễ dâng giơ lên; đó là phần bổ túc cho những của lễ khác.
Cách dâng của lễ. -- Người dâng đem con vật tới Đền tạm, đặt tay trên nó để khiến nó đại diện cho mình. Rồi con vật bị giết. Huyết nó đem rưới hoặc rảy trên bàn thờ, còn thì đổ hết xuống chơn Đền thờ. Đoạn, phải thiêu đốt phần đã chỉ định.
Thường dâng của lễ. -- Hằng ngày phải dâng của lễ thiêu, buổi sáng một chiên con, và buổi chiều một chiên con. Ngày Sa-bát, phải tăng gấp đôi. Ngày mồng một mỗi tháng, phải dâng thêm của lễ. Nhằm các ngày Lễ Vượt Qua, lễ Ngũ tuần và lễ Lều tạm, họ dâng rất nhiều súc vật làm của lễ. Ngày đại lễ chuộc tội cũng vậy. Ngoài những của lễ thường xuyên vì toàn dân dâng lên, còn có những của lễ dâng trong cơ hội đặc biệt, dâng vì cá nhơn, vì tội lỗi, vì hứa nguyện, và dâng để cảm tạ Đức Chúa Trời, vân, vân.
8:1-9:24-- Lễ phong chức cho A-rôn
Và các con trai ông làm thầy tế lễ. Trước thời Môi-se, các của lễ đều do gia trưởng dâng lên Đức Chúa Trời. Nhưng bây giờ quốc gia đã được tổ chức, một chỗ đã được biệt riêng để dâng của lễ, và một lễ chế đã được qui định, nên phải có một đoàn người đặc biệt được cử lên do lễ long trọng để truyền tử lưu tôn phụ trách việc tế lễ. A-rôn và con trai đầu lòng kế tiếp ông, đã làm thầy tế lễ thượng phẩm. Các thầy tế lễ được trợ cấp bằng phần mười của các phần mười dành cho người Lê-vi và bằng một phần các của lễ. Họ cũng được cấp 13 thành (Gios Gs 21:13-19).
Y phục của thầy tế lễ thượng phẩm. -- Chính Đức Chúa Trời đã ban huấn thị về mọi chi tiết (XuXh 28:1-43). Một cái áo dài bằng vải gai mịn, thêu chỉ màu xanh lơ, đỏ điều, đỏ sặm; ở trôn áo có những chuông nhỏ kêu lên khi ông vào trong Đền tạm.
Chiếc ê-phót, giống như cái áo choàng gồm hai miếng nối nhau trên vai, dủ xuống một miếng trước ngực và một miếng sau lưng, và trên mỗi vai có một viên bích ngọc, mỗi viên ghi tên 6 chi phái. Ê-phót làm bằng vải gai mịn, thêu kim tuyến, chỉ xanh lơ, đỏ điều và đỏ sặm.
Một tấm bảng đeo ngực, chừng 65 phân vuông, làm bằng vải gai mịn, thêu kim tuyến, chỉ xanh lơ, đỏ điều và đỏ sặm. Bảng có hai bề chập lại, phía trên mở ra như một cái túi tiền; có dây chuyền bằng vàng cột vào ê-phót; có gắn 12 viên ngọc, mỗi viên mang tên một chi phái; và bên trong có chứa U-rim và Thu-mim, dùng để tìm biết ý chỉ Đức Chúa Trời, nhưng chính nó là cái gì, thì ta chẳng biết.
Lễ chế nầy phát nguyên từ Đức Chúa Trời
Và do Ngài đặt ở chính trung tâm cuộc sanh hoạt quốc gia của dân Do-thái. Dầu lễ chế nầy áp dụng trực tiếp cho dân Do-thái thể nào và bao gồm trực tiếp những gì cho dân ấy, nhưng chắc chắn là Đức Chúa Trời muốn dùng sự dâng súc vật làm của lễ luôn luôn và ngọn lửa không ngừng cháy trên các bàn thờ để khiến loài người cảm biết sâu xa tội lỗi của mình và để làm hình bóng lâu đời về Của lễ mà Đấng Christ sẽ dâng bằng chính thân thể Ngài. Quả thật, các của lễ kia chỉ về Ngài và được ứng nghiệm trong Ngài.
Ban thầy tế lễ Lê-vi
Do Đức Chúa Trời phong chức cho để làm trung gian giữa Ngài và dân Hê-bơ-rơ trong chức vụ dâng thú vật làm của lễ. Những của lễ ấy đã được ứng nghiệm trong Đấng Christ. Không cần dâng thú vật làm của lễ nữa. Cũng không cần thầy tế lễ nữa. Chính Đấng Christ là Thầy Tế lễ Thượng phẩm của loài người, Ngài là Đấng Trung bảo duy nhứt giữa Đức Chúa Trời và loài người. Thơ Hê-bơ-rơ, đoạn 8, 9, 10 giải luận điểm nầy rất rõ ràng.
Các chức dịch của đạo Đấng Christ không phải là thầy tế lễ đâu. Không có chỗ nào trong Tân Ước kêu họ là "thầy tế lễ" (thầy cả). Danh từ nầy chỉ ứng dụng cho tín đồ Đấng Christ ở IPhi 1Pr 2:5, 9 và KhKh 1:6, 20:6. Nhưng là ứng dụng cho hết thảy tín đồ Đấng Christ, chớ không hề ứng dụng cho các chức dịch của đạo Đấng Christ.
"Điều tai hại hơn hết từng gây nên cho đạo Đấng Christ chính là các chức dịch đã tự nhận lấy danh hiệu và nhiệm vụ của Thầy Tế Lễ. " Ban thầy tế lễ của Giáo hội kia đã tự nhận mình là trung gian giữa Đức Chúa Trời và loài người; đó là động lực chính của ma quỉ để phá hoại đạo Đấng Christ, và là tai họa lớn nhứt từng xảy đến cho Hội Thánh.
LeLv 10:1-20-- Na-đáp và A-bi-hu #
Sự hình phạt mau lẹ và kinh khiếp giáng trên họ là một lời cảnh cáo những ai coi thường mạng lịnh của Đức Chúa Trời, luôn với những thủ lãnh Hội Thánh đã làm sai lệch Tin Lành Đấng Christ bởi mọi thứ truyền thuyết của loài người.
11:1-47-- Những thú vật sạch và không sạch
Trước nạn nước lụt, đã có sự phân biệt giữa thú vật sạch và thú vật không sạch (SaSt 7:2). Môi-se đã đặt sự phân biệt thành luật pháp. Luật pháp nầy căn cứ một phần vào lẽ nó dùng làm đồ ăn tinh khiết, và một phần vào những lý do tôn giáo, vì cốt dùng làm dấu hiệu phân rẽ dân Y-sơ-ra-ên với các dân khác. Đức Chúa Jêsus đã bãi bỏ sự phân biệt ấy, "làm cho mọi đồ ăn được sạch" (Mac Mc 7:19). Sách Cong Cv 10:12-15 ngụ ý rằng sự phân biệt không còn nữa, và người dân ngoại không còn là "dơ dáy" cho người Do-thái.
LeLv 12:1-8-- Tẩy uế sản phụ
Nếu sanh con trai, thì phải biệt riêng 40 ngày; nếu sanh con gái, thì phải biệt riêng 80 ngày. Có người nghĩ rằng luật lệ nầy nhằm mục đích giữ sự thăng bằng giữa hai giống, vì đờn ông phải ra trận, nên phải chịu tử nạn nhiều hơn đờn bà.
13:1-14:57-- Thử nghiệm bịnh phung
Các định lệ nầy cốt để chế ngự một bịnh gớm ghiếc và kinh khủng nhứt thời ấy, không cho nó lan rộng.
15:1-33-- Sự ô uế
Đây là một loạt chi tiết kỹ lưỡng để nhứt định người nào có thể trở nên "ô uế" theo phương diện nghi lễ và những sự đòi hỏi liên quan đến sự ô uế ấy; mọi điều nầy dường như cốt để khuyến khích người ta giữ vệ sinh cá nhơn và luôn luôn nhìn nhận Đức Chúa Trời trong mọi đường đời. Lệ phạt là phải phân rẽ khỏi đền thánh và hội chúng. Còn sự tẩy uế thì một phần do tắm rửa, một phần do dâng của lễ.
16:1-34-- Đại lễ chuộc tội hằng năm
Lễ nầy cử hành ngày 10, tháng 7. Đây là ngày lễ long trọng hơn hết trong một năm, tức là ngày mà thầy tế lễ thượng phẩm vào Nơi Chí thánh để chuộc tội cho toàn dân. Sự cất bỏ tội lỗi chỉ trong vòng một năm (HeDt 10:3), nhưng nó chỉ bóng về sự cất bỏ đời đời (XaDr 3:4, 8, 9, 13:1, HeDt 10:14).
A-xa-sên (câu 8).-- Có người cho rằng A-xa-sên là một tên để chỉ Sa-tan. Sau khi con dê về phần Đức Giê-hô-va được dâng làm của lễ rồi, thì thầy tế lễ thượng phẩm đặt tay trên con dê dành cho A-xa-sên mà xưng tội lỗi của nhơn dân. Rồi họ dẫn con dê đi, thả vào đồng vắng; như vậy, nó đem tội lỗi của nhơn dân đi mất. Cũng như chiên con của Lễ Vượt Qua hằng năm được dâng lên, lễ nầy là một trong những hình bóng lịch sử của Đức Chúa Trời dùng để chỉ về sự chuộc tội loài người sẽ được thực hiện bởi sự chết của Đấng Christ. Nếu không, thì còn có ý nghĩa chi nữa?
LeLv 17:1-16-- Cách dâng của lễ
Luật pháp đòi phải trình những con vật tại cửa Đền tạm. Cấm ngặt không được ăn huyết (3:17, 7:26-27, 17:10-16, SaSt 9:4, PhuDnl 12:16, 23-25) và ngày nay vẫn còn cấm ngặt (Cong Cv 15:29).
LeLv 18:1-30-- Những tội gớm ghiếc của dân Ca-na-an
Nếu chúng ta ngạc nhiên vì có ghi chép cả các tội nầy: loạn luân, kê gian và ăn nằm với súc vật, thì phải biết rằng nó rất thông thường giữa vòng những kẻ lân cận của người Y-sơ-ra-ên. Vậy, Đức Chúa Trời phải cảnh cáo họ nghịch cùng các tội ấy.
LeLv 19:1-20:27-- Các luật pháp linh tinh
Về ngày Sa-bát; sự thờ lạy hình tượng; của lễ thù ân; mót lúa, trộm cắp; thề dối, tiền công; tòa án; ngồi lê đôi mách; lòng yêu thương anh em; cho súc vật khác giống phủ lẫn nhau và gieo nhiều thứ giống cùng một thửa ruộng; gian dâm; các vườn cây trái; bói khoa; pha khóe râu và cắt thịt; kỵ nữ; kính trọng người già cả; tử tế với người khách lạ; trái cân và thước đo đúng mực; sự thờ lạy tà thần Mo-lóc; tà thuật; đối với cha mẹ; tội loạn luân; kê gian; thú vật sạch và không sạch.
"Hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình " (19:18)
Đây là một trong những yếu điểm của luật pháp Môi-se. Phải tỏ lòng rất kính trọng người nghèo. Phải trả tiền công từng ngày một. Không được cho mượn tiền ăn lời. Phải cho người thiếu thốn mượn, hoặc tặng họ luôn. Khi gặt lúa, phải để lại cho người nghèo mót. Suốt cả Cựu Ước, không có chỗ nào khuyến khích người ta biếng nhác, nhưng lại luôn luôn nhấn mạnh phải tử tế với quả phụ, cô nhi và khách lạ.
Lấy vợ bé, đa thê, ly dị và chế độ tôi mọi
Đều cho phép, nhưng rất hạn chế (19:29, PhuDnl 21:15, 24:1-4, XuXh 21:2-11). Luật pháp Môi-se nâng hôn nhơn lên bậc bội phần cao hơn ở các nước lân cận. Chế độ tôi mọi đã bị hạn chế bởi những quan điểm nhơn đạo; vả, nó không lan rộng trong vòng dân Do-thái, và cũng chẳng tàn ác hoặc khủng khiếp như ở Ai-cập, A-si-ri, Hy-lạp, La-mã và nhiều nước khác.
Tử hình
Những tội phạm đáng bị tử hình là: sát nhơn (SaSt 9:6, XuXh 21:12, PhuDnl 19:11-13) bắt cóc (XuXh 21:16, PhuDnl 24:7) gây án mạng vì cầu thả (XuXh 21:28, 29) đánh và rủa sả cha mẹ (XuXh 21:15-17, LeLv 20:9, PhuDnl 21:18-21) thờ lạy hình tượng (LeLv 20:1-5, PhuDnl 13:1-19, 17:2-5) tà thuật (XuXh 22:18) tiên tri giả (PhuDnl 18:10, 11, 20) lộng ngôn (LeLv 24:15, 16) không giữ ngày Sa-bát (XuXh 31:14) gian dâm (LeLv 21:10, PhuDnl 22:22) cưỡng hiếp (PhuDnl 22:23-27) Thất tiết trước khi lấy chồng (PhuDnl 22:13-21) kê gian (LeLv 20:13) ăn nằm với súc vật (LeLv 20:15, 16) loạn luân (LeLv 20:11, 12, 14).
Những luật pháp nầy là luật pháp của Đức Chúa Trời
Một vài luật pháp nầy giống như luật pháp của [gr9 Hammurabi mà Môi-se chắc biết rõ lắm. Dầu Môi-se có thể chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Ai-cập và của cổ phong Ba-by-lôn, nhưng biết bao lần ông nhắc lại: "Đức Giê-hô-va phán," tỏ ra rằng những luật pháp nầy là do Chính Đức Chúa Trời trực tiếp ban hành.
Đối với chúng ta, một vài luật pháp dường như nghiêm khắc. Nhưng nếu ta có thể lùi về thế giới đương thời Môi-se, thì sẽ thấy như là chưa nghiêm khắc đủ. Về đại cương, vì luật pháp Môi-se "nhấn mạnh vào đạo đức cá nhơn và sự bình đẳng của mọi người, coi trọng người già, người trẻ, người tôi mọi, kẻ thù và súc vật, ban hành các thể lệ về vệ sinh và thực phẩm, nên nó thuần khiết, hợp lý, nhơn đạo và dân chủ bội phần hơn, lại cũng tỏ ra sự khôn ngoan bội phần hơn bất cứ cái gì trong pháp chế thượng cổ của xứ Ba-by-lôn, Ai-cập, hoặc nước nào khác." Luật pháp Môi-se là "phép lạ đạo đức của thế giới trước khi có đạo Đấng Christ."
Đức Chúa Trời đã chỉ định luật pháp Môi-se làm "thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ" (GaGl 3:24). Theo như đã giải rõ cho tín đồ Ga-la-ti và tín đồ Hê-bơ-rơ, thì một vài điều khoản của Luật pháp cốt để hòa giải với "lòng cứng cỏi" của dân Y-sơ-ra-ên (Mat Mt 19:8) và dành cho những kẻ "còn thơ ấu" đang ở địa vị phải "phục" (làm tôi mọi). Trong ánh sáng của Tin Lành Đấng Christ, các điều khoản ấy bị coi là "lề thói hèn yếu, nghèo nàn" (GaGl 4:3, 9).
LeLv 21:1-22:33-- Các thầy tế lễ và các của lễ
Đây giải luận rộng hơn những điều khoản ở đoạn 1 đến 9. Các thầy tế lễ phải có thân thể không tì vít, và chỉ có thể cưới nữ đồng trinh làm vợ. Các súc vật dâng làm của lễ cũng phải không tì vít, và rất ít là đã sanh ra được 8 ngày.
23:1-24:23-- Các ngày lễ, đèn, bánh trần thiết, tội lộng ngôn
Và các ngày lễ, xin xem thêm ở PhuDnl 16:1-22. Chơn đèn phải sáng luôn luôn; bánh trần thiết phải thay mỗi ngày Sa-bát. Kẻ lộng ngôn phải bị xử tử. Pháp chế "mắt đền mắt" là một phần dân luật, và hoàn toàn công bình. Xin xem Mat Mt 5:38 và LuLc 6:27.
LeLv 25:1-55-- Năm Sa-bát, năm hân hỉ
Cứ 7 năm lại có một năm Sa-bát. Phải để cho đất ruộng nghỉ; không gieo; không gặt; không tỉa sửa vườn nho. Những sản vật tự nhiên thì phải để cho người nghèo và người kiều ngụ. Đức Chúa Trời hứa ban đủ trong năm thứ 6 để có mà dùng trong năm thứ 7. Phải xóa hết nợ nần cho đồng bào Do-thái.
Cứ 50 năm lại có một năm hân hỉ. Năm hân hỉ tiếp theo năm Sa-bát thứ 7, như vậy là có hai năm nghỉ liền. Năm hân hỉ bắt đầu nhằm ngày Đại lễ Chuộc Tội. Phải tha hết nợ nần, giải phóng tôi mọi, và đất ruộng đã bán đi thì được trả lại. Đức Chúa Jêsus dường như coi năm hân hỉ là hình bóng về Năm Đại hân hỉ mà Ngài đã đến để công bố (LeLv 25:10, LuLc 4:19).
Quyền sở hữu đất đai
Xứ Ca-na-an chia cho 12 chi phái, và các chi phái lại chia cho các gia tộc. Trừ một vài ngoại lệ, không thể ban phần sản nghiệp của gia tộc một cách vĩnh viễn. Bán cũng coi như là cho mướn, tới năm hân hỉ thì sản nghiệp lại trả về gia đình cố chủ. Đó là kế hoạch của Đức Chúa Trời để giữ cho tài sản trong nước khỏi bị một số ít người thâu tóm hết.
Số Bảy
Qui tắc về các mùa thánh trong sách Lê-vi ký xây dựng trên một loạt số 7:
Cứ 7 ngày lại có một ngày Sa-bát.
Cứ 7 năm lại có một năm Sa-bát.
Mỗi năm Sa-bát thứ 7 lại có một năm hân hỉ theo sau.
Tháng 7 nào cũng đặc biệt thánh, vì có 3 kỳ lễ.
Có 7 tuần lễ giữa Lễ Vượt Qua và Lễ Ngũ Tuần .
Lễ Vượt Qua kéo dài 7 ngày.
Lễ Lều tạm kéo dài 7 ngày.
Nhằm kỳ Lễ Vượt Qua, mỗi ngày dâng 14 chiên con (2 lần 7).
Nhằm kỳ lễ Lều tạm, mỗi ngày dâng 14 chiên con và 70 con bò tơ.
Nhằm ngày Lễ Ngũ Tuần, dâng 7 chiên con.
26:1-46-- Vâng lời và không vâng lời
Cũng như Phục truyền luật lệ ký, đoạn 28, đoạn nầy chứa những lời hứa tuyệt mỹ và những lời cảnh cáo kinh khiếp; nó là một trong những đoạn trọng đại nhứt của Kinh Thánh. Hãy thường đọc đoạn nầy.
27:1-34-- Các lời hứa nguyện và các thuế phần mười
Các thuế phần mười: SaSt 14:20, 28:22, LeLv 27:30-32, Dan Ds 18:21-28, PhuDnl 12:5, 6, 11, 17, 18, 14:23, 28, 29, 26:12). Phải dâng cho Đức Chúa Trời một phần mười thổ sản và một phần mười súc vật sanh ra trong các bầy chiên và bầy bò.
Đây kể ra ba loại phần mười: Cho người Lê-vi, cho các kỳ lễ, và cho người nghèo cứ 3 năm một lần. Có người cho rằng chỉ dâng một phần mười, dùng một phần cho các kỳ lễ, và cứ ba năm lại một lần dùng một phần cho người nghèo. Lại có người cho rằng phần mười dâng cho các kỳ lễ trích ở 9 phần 10 còn lại sau khi nộp một phần mười cho người Lê-vi.
Lệ dâng một phần mười đã thi hành lâu lắm trước thời Môi-se. Áp-ra-ham và Gia- cốp đã nộp một phần mười. Trong vòng dân Do-thái, thuế một phần mười dùng để cấp dưỡng người Lê-vi; vả, người Lê-vi phục vụ trong nền hành chánh cũng như trong nghi lễ tôn giáo (xem ISu1Sb 23:1-32). Chắc hẳn tín đồ Đấng Christ sẽ vui lòng dâng tiền của để ủng hộ Tin Lành cũng nhiều như dân Do-thái đã dâng cho nghi lễ tôn giáo của họ, và hơn nữa.
Trái đầu mùa: Đức Chúa Trời đòi về phần Ngài chẳng những các phần mười, song luôn cả con đầu lòng của mọi gia đình (Ngài đã nhận chi phái Lê-vi thay cho những con đầu lòng nầy) và con đầu lòng của các bầy chiên, bầy bò, cùng trái đầu mùa của đất ruộng. Phải dâng trái đầu mùa gặt nhằm ngày Lễ Vượt Qua, và nếu chưa dâng, thì không được sử dụng phần nào của mùa màng cả (LeLv 23:14). Nhằm năm thứ tư, phải dâng bông trái đầu tiên của vườn cây cho Đức Chúa Trời, và nếu chưa làm như vậy, thì không được sử dụng bông trái nào hết. Ý ở đây là nếu chưa dâng sản phẩm của vườn lên Đức Chúa Trời, thì vườn ấy vẫn là ô uế. Sự dạy dỗ ở đây là: Phải đặt Đức Chúa Trời ở hàng đầu cuộc đời mình.
==============================

Dân Số Ký
40 năm trong đồng vắng
Ra khỏi Ai-cập: Ngày 15, tháng giêng Vượt qua Biển Đỏ Tại Ma-ra; Ê-lim; đồng vắng Sin.
Tại Tha-bê-ra: Lửa, chim cút và tai vạ. Tại Hát-sê-rốt: Cuộc dấy loạn của Mi-ri-am và A-rôn.
Tại Ca-đe-Ba-nê-a lần thứ hai: Mi-ri-am qua đời, nước từ vầng đá tràn ra; tội của Môi-se. Năm thứ 40, tháng giêng Lên đường lần chót để đi xứ Ca-na-an.
Phía Nam núi Hô-rơ: Rắn lửa.
Chiến thắng quân A-mô-rít và quân Ba-san.
Họ vượt qua sông Giô-đanh. Năm thứ 41, ngày 10, tháng giêng
Bản đồ số 32 Dan Ds 1:1-54-- Kiểm tra dân số Cuộc kiểm tra nầy thi hành tại núi Si-na-i, tỏ ra có 603.550 người nam trên 20 tuổi, không kể người Lê-vi (câu 45-47). 38 năm sau, lại có một lần kiểm tra dân số nữa, trên bờ sông Giô-đanh, tỏ ra có 601.730 người. Xem thêm ở đoạn 26.
2:1-4:49-- Tổ chức trại quân
Bên-gia-min 35.400 Mê-ra-ri 6.200 Giu-đa 74.600 Ma-na-se 32.200 Họ Ghẹt-sôn 7.500 Đền Tạm Môi-se A-rôn Tây ß Y-sa-ca 54.400 à Đông
Khi họ dời trại, thì chi phái Giu-đa và các chi phái đóng phía Đông dẫn đầu cuộc tiến quân. Ở giữa, Đền tạm có các chi phái đóng phía Nam và phía Tây bao quanh; còn các chi phái đóng phía Bắc thì đi hậu tập.
5:1-6:27-- Một loạt luật pháp
Về người phung, sự báo trả, phụ nữ bị nghi là ngoại tình, các lời hứa nguyện. Lời chúc phước tuyệt diệu (6:24-26).
7:1-9:23-- Dự bị cuộc hành trình
Các quan trưởng dâng của lễ. Khánh thánh Đền tạm. Người Lê-vi được biệt riêng ra thánh. Giữ Lễ Vượt Qua. Trụ mây (9:15-25 xem thêm XuXh 13:21).
Dan Ds 10:1-11:35-- Họ tiến tới Đất Hứa
Họ đã ở miền núi Si-na-i một năm. Trụ mây cất lên. Các ống loa bằng bạc thổi vang. Chi phái Giu-đa dẫn đầu cuộc tiến quân, và họ lên đường.
Trong vòng ba ngày, tại Tha-bê-ra, họ bắt đầu lằm bằm (10:33, 11:1-3). Đó là đặc điểm của họ. Họ biết cách than phiền. Đức Chúa Trời bèn đưa chim cút đến cho họ ăn, nhưng rồi Ngài cho dịch lệ hành hại họ (xem XuXh 16:1-36).
Dan Ds 12:1-16 -- Mi-ri-am và A-rôn dấy loạn
Tội nghiệp! Cuộc dấy loạn chưa dứt, thì Mi-ri-am đã mong sao mình không hề nhóm nó lên! Môi-se "rất khiêm hòa(1)" (câu 3). Đó là một đặc điểm đáng kính biết bao của một bậc đệ nhứt vĩ nhơn của mọi thời đại! Với tất cả quyền phép của Thiên đàng trong tay, Đức Chúa Jêsus vẫn là Đấng "nhu mì" (Mat Mt 11:29), và Ngài phán rằng: "Phước cho những kẻ nhu mì! " (5:5).
Dan Ds 13:1-14:45 -- Cử 12 thám tử vào xứ Ca-na-an
Môi-se tính đi thẳng từ núi Si-na-i vào xứ Ca-na-an. Ông đi thẳng tới Ca-đe, cách núi Si-na-i 150 dặm về phía Bắc và cách Bê-e-Sê-ba 50 dặm về phía Nam. Ca-đe là cửa phía Nam của xứ Ca-na-an, vậy là Môi-se muốn vào xứ ấy ngay lập tức.
Nhưng các thám tử đã phúc trình dễ làm cho ngã lòng, và nhơn dân bắt sợ. Họ không chịu tiến lên, và nếu chẳng có Đức Chúa Trời can thiệp lạ lùng, thì họ đã ném đá chết Môi-se rồi. Đó là chặng quyết định của cuộc hành trình. Họ thấy xứ Ca-na-an trước mắt, nhưng đã quay lại. Cơ hội không hề trở về với họ nữa. Trong số 600.000 người nam trên 20 tuổi, chỉ có Ca-lép và Giô-suê, là hai thám tử muốn tiến lên, được sống sót mà vào xứ Ca-na-an.
15:1-41, 18:1-19:22-- Các định lệ về của lễ, thầy tế lễ và người Lê-vi
Giải luận thêm cho sách Lê-vi-ký, từ đoạn 1 đến đoạn 9, có xen truyện tích nơi đồng vắng.
16:1-17:13-- Cô-rê dấy loạn
Cô-rê ganh ghét Môi-se, bèn tìm cách chiếm quyền lãnh đạo của ông. Môi-se đến thẳng cùng Đức Chúa Trời, theo như ông thường làm mỗi khi có việc trầm trọng. Đức Chúa Trời đã giải quyết vấn đề ngay lập tức. Đất hả miệng ra, và bọn loạn nghịch bị nuốt hết.
Những hoạn nạn của Môi-se
Chắc ông đã có nhiều hoạn nạn lắm. Ông vừa mới ra khỏi Ai-cập, thì hoạn nạn đã bắt đầu. Quân A-ma-léc tấn công ngay; rồi một năm sau, chúng lại tấn công tại Ca-đe; có lẽ trong 40 năm ấy, Môi-se đã phải giao chiến với chúng nhiều lần. Những người Ê-đôm, Mô-áp, A-môn, A-mô-rít và Ma-đi-an đều hợp nhau cản đường dân Y-sơ-ra-ên, không cho vào xứ Ca-na-an .
Chính dân của ông đã được giải phóng khỏi Ai-cập và được nâng đỡ bởi những phép lạ cả thể, cũng lằm bằm, than phiền và nổi loạn mãi. Họ bắt đầu than phiền tại Ai-cập, rồi tại Biển Đỏ, rồi tại Ma-ra, rồi trong đồng vắng Sin, rồi tại Rê-phi-đim, Tha-bê-ra, Hát-sê-rốt, Mê-ri-ba. Đến bây giờ, tại Ca-đe, họ thấy Đất Hứa trước mắt, nhưng lại nhứt định không chịu tiến lên; tình trạng nầy hầu như đã làm cho trái tim Môi-se tan vỡ.
Ngoài mọi việc đó, Môi-se còn gặp hoạn nạn hoài, do những thủ lãnh mà ông tin cậy gây nên. A-rôn làm bò con vàng tại vùng núi Si-na-i. Mi-ri-am và A-rôn toan chiếm quyền lãnh đạo của ông (đoạn 12). 10 trong số 12 thám tử xui cho dân chúng không chịu vào xứ Ca-na-an . Họ tức giận và nóng nảy đến nỗi toan ném đá Môi-se (14:10, XuXh 17:4).
Rốt lại, Môi-se không được phép vào Đất Hứa, tức là giấc mộng tha thiết suốt đời ông không thành.
Nếu chẳng bởi ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời, thì chúng ta không thấy tại sao ông lại chịu nỗi mọi sự ấy. Nhưng khi trên bờ sông Giô-đanh, Đức Chúa Trời cất ông, không phải vào xứ Ca-na-an, mà là vào Xứ Thiên thượng, thì ông đã hiểu.
Dan Ds 20:1-29-- Lên đường lần chót vào xứ Ca-na-an
Dường như có một khoảng trống 38 năm, giữa đoạn 19 và đoạn 20, tức là thời gian từ lúc đến Ca-đe lần đầu tiên (13:26) tới lúc dời khỏi Ca-đe lần chót để vào xứ Ca-na-an. Trong thời gian nầy, không ghi chép chi hết. Đoạn 33 liệt kê những nơi đóng trại -- 40 nơi tất cả, -- từ Ai-cập đến đồng bằng Mô-áp. Trong số ấy, 18 nơi ở giữa Rít-ma và Ca-đe. Người ta cho rằng Rít-ma là một tên khác của Ca-đe.
Vậy, dựa vào mấy chữ "ở tại Ca-đe lâu ngày" (PhuDnl 1:46) và dựa vào lời chép 18 nơi đóng trại giữa lần thứ nhứt và lần thứ hai tới Ca-đe, chúng tôi đoán rằng có lẽ Ca-đe là tổng hành dinh, còn những nơi đóng trại khác ở dọc theo phía Nam tới núi Si-na-i, đúng như Đức Chúa Trời đã huấn thị. Họ không di chuyển luôn đâu. Có khi họ ở một nơi ít lâu, thả bầy chiên, bầy bò trên các gò nỗng và thung lũng chung quanh. Rồi khi có dấu hiệu từ trại phát ra, họ lên đường.
Môi-se phạm tội, không được vào Đất Hứa; dường như tội nầy là ông không dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời trong phép lạ nước từ vầng đá tràn ra (câu 10, 12).
Mi-ri-am, A-rôn và Môi-se, cả ba làm xong công việc, đã qua đời cùng một năm. Mi-ri-am qua đời tại Ca-đe (câu 1); A-rôn qua đời trên núi Hô-rơ (câu 28); Môi-se qua đời trên núi Nê-bô (PhuDnl 32:50, 34:1, 5). Mi-ri-am hưởng thọ chừng 130 tuổi, A-rôn 123, và Môi-se 120.
"Về nơi tổ phụ mình" (câu 24) làm một thành ngữ tuyệt diệu của Cựu Ước để chỉ về sự chết, ngụ ý đến sự tái hợp với những kẻ thân yêu ở bên kia mồ mả.
Bí Chú Khảo Cổ: Ca-đe
Ngày nay, phần đông người ta cho rằng Ca-đe-Ba-nê-a chính là Ain Kadees, một vùng cây cối "đẹp đẽ lạ lùng" ở giữa sa mạc, có hai suối nước trong veo từ một ghình đá chảy qua. Dọc theo đó có một suối cạn. Cobern nghĩ rằng Môi-se chắc đã đập vầng đá ở phía trên suối cạn nầy. Ông đập "hai lần" (Dan Ds 20:11), thì hai suối mới nầy đã trào nước ra, và cứ chảy cho đến ngày nay. Xem sách: "Recent explorations in Palestine (1)" của Cobern.
21:1-35-- Từ Ca-đe đến sông Giô-đanh
Có lẽ cuộc đồng minh của dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở ngay phía Bắc Ca-đe dường hùng mạnh quá đối với dân Y-sơ-ra-ên, nên họ không dám thử đi đường thẳng tới Hếp-rôn. Dầu sao, Đức Chúa Trời cũng có những kế hoạch khác. Họ tiến về phía Đông để tới bờ phía Đông của Biển Chết, qua địa phận Ê-đôm. Nhưng người Ê-đôm không cho phép họ đi qua.
Môi-se bèn xây về hướng Nam, xuống Araba, là thung lũng quạnh hiu chạy từ Biển Chết tới Biển Đỏ, và là "đồng vắng minh mông và gớm ghê" (PhuDnl 1:19) ông đi con đường dài, quanh co, nguy hiểm, chạy quanh phía Đông xứ Ê-đôm và xứ Mô-áp; rồi đi ngược về phía Bắc, dọc theo biên giới xứ A-ra-bi, có lẽ dọc theo đường hỏa xa La Mecque ngày nay, cho tới xứ Ba-san, ở phía Đông biển Ga-li- lê; rồi lại đi xuôi phía Nam, tới đồng bằng xứ Mô-áp, đối diện với thành Giê-ri-cô. Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se phải hành hại người Ê-đôm, người Mô-áp, hoặc người Am-môn, mặc dầu chúng muốn cản đường dân Y-sơ-ra-ên.
Rắn lửa (câu 6-9).-- Đây là một hình bóng lịch sử về Tin Lành. Những kẻ bị rắn độc cắn nhìn vào con rắn đồng và được chữa lành thể nào, thì cũng một thể ấy, nếu chúng ta, là kẻ đã bị con rắn xưa, là ma quỉ, cắn cho bị thương, chịu nhìn xem Đức Chúa Jêsus, thì chúng ta được sống (GiGa 3:14).
Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên tôn con rắn bằng đồng lên làm thần tượng, gọi nó là Nê-hu-tan, và xông hương cho nó; mãi tới 700 năm sau, Ê-xê-chia mới tiêu hủy nó (IIVua 2V 18:4). Ấy họ đã dùng nó trái phép; nhưng ít ra, nó cũng là bằng cớ tỏ ra sự thực lịch sử của biến cố nầy.
Chiếm xứ Ga-la-át và xứ Ba-san (câu 21-35).-- Người A-mô-rít đã vượt sang phía Đông sông Giô-đanh và đã đẩy lui người Am-môn; lúc nầy người A-mô-rít tấn công dân Y-sơ-ra-ên. Môi-se đã giữ gìn cẩn thận, không tấn công nhơn dân của những xứ mà ông đi qua. Nhưng bây giờ người A-mô-rít tấn công trước, nên ông phải đánh trả lại và chiếm lấy xứ họ. Rồi người Ba-san cũng tấn công; nhưng ông đánh bại chúng, và cả miền Đông sông Giô-đanh vào tay ông.
Bí Chú Khảo Cổ: Đường đi của dân Y-sơ-ra-ên
Những cuộc đào bới mới đây đã phát lộ di tích của hàng trăm thành trì xưa kia xây cất trên các gò nỗng xứ Mô-áp, Am-môn và Ga-la-át; Những di tích nầy đương thời Môi-se, nhơn dân ở đây đông đúc và hùng mạnh.
Dan Ds 22:1-25:18-- Ba-la-am
Các lời tiên tri của ông đã dự ngôn kỳ diệu về địa vị ưu thế của dân Y-sơ-ra-ên trong lịch sử, do "một Ngôi Sao" (một Vua lỗi lạc) "hiện ra từ Gia-cốp" (24:17). Dầu Đức Chúa Trời đã dùng Ba-la-am nói ra lời tiên tri rất đúng, nhưng vì cớ tiền bạc, ông đã xui cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội xấu hổ với phụ nữ Mô-áp và Ma-đi-an; do đó, ông đã bị giết và 24.000 người Y-sơ-ra-ên phải bỏ mạng (31:8, 16, 25:9). Tên Ba-la-am đã thành ra đồng nghĩa với giáo sư giả (IIPhi 2Pr 2:15, Giu Gd 1:11, KhKh 2:14).
Dan Ds 26:1-65-- Kiểm tra dân số lần thứ hai
Đời sống nơi đồng vắng chắc là nhọc nhằn, vì trong số 600 ngàn người trên 20 tuổi lúc kiểm tra dân số lần thứ nhứt (đoạn 1), chỉ có 2 người trên 60 tuổi sống sót. Thế hệ trẻ hơn đã quen với đồng vắng và được đồng vắng làm cho cứng rắn; với can đảm và sức lực, họ là một hạng người khác với ông cha mình vốn làm tôi mọi và mới được giải phóng khỏi những nồi thịt của Ai-cập.
Sách Dân số ký được đặt tên như vậy là vì hai cuộc kiểm tra dân số nầy.

Dan Ds 27:1-36:13-- Các định lệ và biến cố khác nhau
Những con gái không có anh em trai (đoạn 27); các ngày lễ và của lễ (đoạn 28, 29) các lời hứa nguyện (đoạn 30); giết người Ma-đi-an (đoạn 31); đó là Đức Chúa Trời hình phạt chúng theo luật pháp và báo trả chúng theo sự công bình, xứng với tội lỗi của chúng (25:16, 17) hai chi phái rưỡi định cư ở phía Đông sông Giô-đanh (đoạn 32) tóm tắt nhựt ký của 40 năm (đoạn 33) đây giống như một nhựt ký chép ngay tại chỗ, chớ không phải "một mớ truyền thoại từ bao nhiêu thế kỷ trước khi viết ra thành sách;" chỉ thị về sự chia xứ (đoạn 43) xem thêm Giô-suê 13) các thành của người Lê-vi (đoạn 35; xem thêm Giô-suê 21); các con gái không có anh em trai (đoạn 36; cũng xem đoạn 27).
Lịch Do-thái
Có năm tôn giáo và năm hành chánh. Năm tôn giáo bắt đầu ở mùa xuân. Năm hành chánh bắt đầu ở mùa thu. Tháng 7 của năm tôn giáo là tháng giêng của năm hành chánh. Năm chia làm 12 tháng theo mặt trăng, và cứ 19 năm lại 7 lần có 13 tháng.
Ngày thiên nhiên là từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Đêm thiên nhiên là từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời mọc. Ngày hành chánh là từ lúc mặt trời lặn đến lúc mặt trời mọc.
Giờ thì tính từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối. Canh một từ 6 đến 9 giờ tối; canh hai từ 9 giờ tối đến 12 giờ đêm; canh ba từ 12 giờ đêm đến 3 giờ sáng, là lúc gà gáy; canh tư từ 3 giờ đến 6 giờ sáng.
Hai Ziv, hoặc Lyar Tháng 5
Tư Tammuz Tháng 7
Tám Bul, hoặc Marcheshvan Tháng 11
Lễ Dâng thiết lập sau nầy, đương thời các anh em Macchabées; còn lễ Phu-rim được thiết lập đương thời hoàng hậu Ê-xơ-tê.
Đồng vắng làm thể nào mà nuôi nấng được 3 triệu người trong 40 năm?
Có người giải thích rằng từ ngữ ở đây chỉ về một số dân ít hơn. Người khác lại cho đó là thần thoại. Kinh Thánh chỉ trả lời rằng đó là do Sự Tiếp Trợ Trực Tiếp Lạ Lùng Của Đức Chúa Trời. Các phép lạ liên tục và kỳ diệu đến nỗi mục đích rõ rệt của ký văn là để tỏ ra rằng nếu chẳng bởi bàn tay của Đức Chúa Trời, thì không thể có như vậy. Với ai thấy là khó tin những điều nầy, chúng tôi xin đáp rằng: Đối với một số người trong chúng tôi, tin những điều ấy đúng như đã ghi chép còn dễ hơn tin những lý thuyết kỳ lạ và hư ảo mà họ đặt ra để làm cho người ta nghi ngờ nó. Những điều ấy ăn hiệp với tất cả truyện tích Kinh Thánh.
Chúng tôi có thể cho rằng mục đích của các phép lạ trong đồng vắng chính là: 1) Để bảo vệ dân tộc. Trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, một dân tộc sanh ra Đấng Mê-si đã dọn đường cho Đấng Mê-si ngự đến. 2) Để gây dựng lòng tin Đức Chúa Trời, là Chơn Thần duy nhứt, trong một dân tộc đã được trưởng dưỡng giữa nước Ai-cập thờ lạy hình tượng, và để treo gương cho mọi đời tương lai rằng có thể tin cậy Đức Chúa Trời trong mọi sự đòi hỏi của đời sống. 3) Để có ảnh hưởng đến các dân tộc ở chung quanh, nhứt là dân Ca-na-an, ngõ hầu chúng hiểu biết rằng cuộc tiến của dân Y-sơ-ra-ên tới xứ Ca-na-an là do Đức Chúa Trời và chúng sẽ phải tính sổ với Đức Chúa Trời.
Không kể đến những phép lạ cặp theo, sự dời cả một dân tộc đông đúc từ xứ nầy qua xứ khác, và đồng thời nuôi nấng họ suốt 40 năm trong đồng vắng, chính là một phép lạ kỳ diệu nhứt trải qua các thời đại. Theo một phương diện, người Do-thái ngày nay vẫn còn là một phép lạ.
Các phép lạ
Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Một phần ký văn của Kinh Thánh là Phép Lạ, cốt để đặc biệt tỏ ra Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Nếu không có những phép lạ, thì chúng ta làm thể nào mà biết rằng Kinh Thánh là sự Khải thị Siêu nhiên của Đức Chúa Trời? Không có phép lạ, thì không có chứng cớ tỏ ra Đức Chúa Trời.
Dầu phép lạ là một đặc điểm hiển nhiên của Kinh Thánh, nhưng không phải phần nào của Kinh Thánh cũng đầy dẫy phép lạ. Không kể lời tiên tri và sự ứng nghiệm của lời tiên tri, ta đặc biệt nhận thấy các phép lạ trong bốn thời kỳ trọng đại, cách nhau nhiều thế kỷ:
Lúc thành lập quốc gia sanh ra Đấng Mê-si -- Môi-se và Giô-suê: 1400 T.C.
Lúc nghiêm trọng phải tranh đấu với sự thờ lạy hình tượng -- Ê-li và Ê-li-sê: 850 T.C.
Lúc bị lưu đày, tức là lúc sự thờ lạy hình tượng thắng thế -- Đa-ni-ên: 600 T.C.
Lúc mở đầu cho đạo Tin Lành -- Đức Chúa Jêsus và các Sứ đồ
Chỉ có một vài lần trong lịch sử, Đức Chúa Trời đã thay đổi cách làm việc thường, và đó là nhằm lúc có sự khủng hoảng nghiêm trọng.
Các phép lạ của Môi-se
Ngoại trừ Đức Chúa Jêsus, Môi-se là người thứ nhứt xưa nay được dùng làm môi giới để nhiều lần tỏ ra quyền phép của Đức Chúa Trời một cách kỳ diệu lớn lao:
Các dịch lệ giáng trên nước Ai-cập. Nước Biển Đỏ khôn cạn. Nước đắng đổi ra ngọt tại Ma-ra. Chim cút bay tới tại đồng vắng Sin và tại Tha-bê-ra. Cung cấp ma-na hằng ngày trong 40 năm. Nước từ vầng đá tràn ra tại Rê-phi-đim và Mê-ri-ba. Cảnh tượng oai nghiêm, hùng vĩ tại núi Si-na-i. Tiếng Đức Chúa Trời phán từ trên núi. Ngón tay của Đức Chúa Trời ghi Mười Điều răn trên bảng đá. Mặt của Môi-se chói sáng. Môi-se hầu chuyện với Đức Chúa Trời mặt đối mặt. Mi-ri-am bị phung và được lành. Cô-rê và bọn phản nghịch bị đất nuốt mất. Các dịch lệ hình phạt tại Tha-bê-ra, Ca-đe và Phê-ô. Cây gậy của A-rôn trổ hoa. Người ta được con rắn bằng đồng chữa lành. Con lừa của Ba-la-am nói được, Ba-la-am nói những lời tiên tri lạ lùng. Dân Y-sơ-ra-ên được dắt dẫn 40 năm bởi một đám mây siêu nhiên. Quần áo không hề cũ, và chơn không hề phỏng.
Nếu không có sự cứu trợ trực tiếp và lạ lùng của Đức Chúa Trời, thì Môi-se không thể nào giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập và nuôi sống họ 40 năm trong đồng vắng. Như trong trường hợp của Phao-lô, đặc ân thiêng liêng cao quí nầy có cặp theo sự đau khổ hầu như không tin là có được.
===================================

Phục Truyền Luật Lệ Ký
Các bài giảng từ biệt của Môi-se
Thuật lại lịch sử
Lặp lại những luật pháp chánh yếu
Những lời cảnh cáo long trọng
Trong sách nầy có:
· Lời dự ngôn về một Đấng Tiên tri giống như Môi-se (PhuDnl 18:15-19).
· Mạng lịnh mà Đấng Christ gọi là "điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết" (6:4;).
· Những lời mà Đấng Christ đã trưng dẫn khi ma quỉ cám dỗ Ngài (6:13, 16, 8:3).
· Một vài lời hùng biện nhứt thế giới.
Theo nguyên văn, tên "Phục truyền luật lệ ký" nghĩa là "Luật pháp thứ hai," hay là "Nhắc lại Luật pháp." Trong các sách Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký và Dân số ký, đã ban hành nhiều luật pháp từng hồi từng lúc. Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên không đi lưu lạc nữa, nhưng sắp vào xứ Ca-na-an, nên những luật pháp đó được nhắc lại và giải thích để dự liệu và áp dụng cho đời sống định cư.
Một vài đoạn thật là hùng biện, không có áng văn nào trổi hơn được, dầu là của Démosthènes, Cicéron, Pitt hay là Webster cũng vậy.
PhuDnl 1:1-3:29-- Từ núi Si-na-i đến sông Giô-đanh
Đây là tóm tắt ôn lại sách Dan Ds 1:1-33:56.
Sau khi làm nên một sự nghiệp cao quí và anh hùng hơn hết của các thời đại, Môi-se xin Đức Chúa Trời ban cho ơn cuối cùng, là được vượt qua sông Giô-đanh, nhưng Đức Chúa Trời không cho (PhuDnl 3:23-28), vì Đức Chúa Trời đã dành cho ông một phước tốt đẹp hơn trong một thế giới tốt đẹp hơn.
PhuDnl 4:1-5:33-- Nắm chặt Lời Đức Chúa Trời
Môi-se tha thiết khuyên nhủ dân Y-sơ-ra-ên hãy vâng theo các mạng lịnh của Đức Chúa Trời, chuyên cần dạy cho con cháu biết các mạng lịnh ấy, và tránh xa sự thờ lạy hình tượng; ông luôn luôn nhắc họ nhớ rằng sự an ninh, thạnh vượng của họ tùy theo họ có trung thành với Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài hay chăng.
10 Điều răn (đoạn 5) cũng có chép ở Xuất Ê-díp-tô ký, đoạn 20.
6:1-25 -- Điều răn lớn
"Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi" (câu 5). Điều răn nầy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần (10:12, 11:1, 13, 22). Đức Chúa Jêsus lại nhấn mạnh vào Điều răn nầy (Mat Mt 22:37), và đặt nó ở hàng đầu sự dạy dỗ của Ngài.
Để lưu truyền các ý tưởng của Đức Chúa Trời giữa vòng nhơn dân, họ không được nương cậy sự giáo huấn công cộng mà thôi, song phải chuyên cần bày dạy các ý tưởng ấy trong gia đình nữa (câu 6-9). Vì sách vở ít ỏi và tản mác, nên họ phải ghi chép một vài phần hệ trọng của Luật pháp trên cột cửa, buộc nó vào cánh tay, vào trán và nói đến nó luôn luôn. Ấy cốt để ghi sâu Lời Đức Chúa Trời trên họ, đến nỗi Lời ấy trở thành một phần của tâm trí họ.
PhuDnl 7:1-26 -- Phải tiêu diệt dân Ca-na-an và hình tượng
Không được lập giao ước hoặc cưới gả lẫn lộn với chúng. Cần làm vậy để cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi sự thờ lạy hình tượng và mọi điều gớm ghiếc do thờ lạy hình tượng.
PhuDnl 8:1-20 -- Nhắc lại những việc lạ lùng trong đồng vắng
Trong 40 năm, dân Y-sơ-ra-ên đã bị "thử," bị "hạ xuống," được "ăn ma-na," và "áo xống không hư mòn, chơn chẳng phù lên," ngõ hầu họ học tập tin cậy Đức Chúa Trời và sống bởi Lời Ngài (câu 2-5).
9:1-10:22-- Dân Y-sơ-ra-ên luôn luôn dấy nghịch
Ba lần nhắc cho họ nhớ rằng Đức Chúa Trời đối xử với họ lạ lùng như vậy chẳng phải "vì cớ sự công bình" của họ đâu (9:4, 5, 6). Suốt cả đường, họ là một dân hay than phiền, dấy loạn và cứng cổ.
11:1-32-- Phước lành do sự vâng lời
Đây là một đoạn quan trọng. Cũng như đoạn 6 và đoạn 28, nó kêu gọi dân Y-sơ-ra- ên hãy sùng kính Lời Đức Chúa Trời và vâng theo các Điều răn của Ngài, lấy đó làm nền tảng của sự thạnh vượng quốc gia. Kèm theo tiếng kêu gọi nầy, có những lời hứa lạ lùng và những lời cảnh cáo khủng khiếp.
PhuDnl 12:1-15:22-- Các mạng lịnh linh tinh
Phải phá hủy hết hình tượng. Dầu Môi-se được trưởng dưỡng trong "lòng" nước Ai- cập thờ lạy hình tượng và suốt đời có những dân tộc thờ lạy hình tượng vây quanh, nhưng ông chẳng hề thỏa hiệp với sự thờ lạy hình tượng. Theo như ông đã nhiều lần cảnh cáo, sự thờ lạy hình tượng thật đã gây cho quốc gia Y-sơ-ra-ên bị hủy hoại.
Hãy "vui vẻ." Xin chú ý, chữ nầy thường được dùng lắm (12:7, 12, 18, 14:26, 28:47). Đó cũng là một chữ mà Thi Thiên và các thơ tín hay dùng. Hãy vui sướng trong Đức Chúa Trời.
Súc vật sạch và không sạch (14:1-21 xem thêm LeLv 11:1-47) các thuế một phần mười (PhuDnl 14:22-29 xem thêm LeLv 27:1-34) năm Sa-bát (PhuDnl 15:1-11 xem thêm LeLv 25:1-55) chế độ tôi mọi (15:12-18 xem 19:1-37) trái đầu mùa (PhuDnl 15:19-23 xem thêm LeLv 27:1-34).
PhuDnl 16:1-22-- Các kỳ lễ
Mỗi năm ba lần, hết thảy người nam phải đến chầu trước mặt Đức Chúa Trời, tức là nhằm Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần, và lễ Lều tạm. Ngoài ra còn có lễ Thổi Kèn và đại lễ Chuộc Tội. Những lễ nầy cốt để làm cho nhơn dân tưởng đến Đức Chúa Trời luôn và để thực hiện sự thống nhứt quốc gia. Nó nhằm mục đích tôn giáo và xã hội, nhứt là đối với người nghèo."
Lễ Vượt Qua: Cũng gọi là lễ Bánh Không Men, cử hành vào mùa xuân, ngày 15 tháng giêng, kéo dài 7 ngày, cốt để kỷ niệm sự giải cứu họ khỏi nước Ai-cập.
Lễ Ngũ Tuần: Cũng gọi là lễ Bảy Tuần, lễ Mùa Gặt, hoặc lễ Trái Đầu Mùa, cử hành ngày thứ 50 sau Lễ Vượt Qua, và kéo dài 1 ngày.
Lễ Lều tạm: Cũng gọi là lễ Mùa Gặt (XuXh 23:16), cử hành ngày 15 tháng 7, 5 ngày sau đại lễ Chuộc Tội, và kéo dài 7 ngày.
Lễ Thổi Kèn: Cử hành ngày 1 tháng 7, mở đầu năm hành chánh (xem thêm Dan Ds 28:1-31).
Đại lễ Chuộc Tội: Cử hành ngày 10 tháng 7 (xem thêm Lê-vi ký, đoạn 16).
PhuDnl 17:1-20-- Nói tiên tri về một vua
Chính Đức Chúa Trời phán tiên tri ở đây, thêm vào mấy huấn thị và mấy lời cảnh cáo (câu 14-20). Chừng 400 năm sau mới có chế độ quân chủ (xem thêm I Sa-mu-ên 8). Sa-mu-ên bảo dân chúng rằng họ đòi có vua tức là chối bỏ Đức Chúa Trời đó. Ấy không phải là mâu thuẫn đâu. Đức Chúa Trời biết trước họ muốn có một vua, thì chẳng có nghĩa là Ngài ưng chịu hành động của họ; nhưng chỉ có nghĩa là Ngài biết trước họ sẽ làm như vậy và muốn họ cầu vấn Ngài trong khi lựa chọn. Khi họ từ bỏ chánh thể mà Đức Chúa Trời thiết lập cho họ, thì tức là họ từ bỏ Ngài vậy. Hãy chú ý lời Chúa dạy rằng các vua phải đọc Lời Đức Chúa Trời trọn đời mình (câu 18-20). Đó là lời khuyến cáo quí báu thay cho các bậc cầm quyền ngày nay! Cũng hãy chú ý rằng các vua đã lập tức bắt đầu làm những việc mà Đức Chúa Trời bảo họ chớ làm, tức là cưới nhiều vợ, nuôi nhiều ngựa và tích trữ nhiều bạc, vàng (câu 16, 17, IVua 1V 10:14-29, 11:1-13).
Đoạn 18 -- Một Đấng Tiên tri giống như Môi-se
Lời dự ngôn nầy (câu 15-19) có thể là một lời phụ thuộc nói chung đến ban tiên tri, tức là các đấng tiên tri nối tiếp nhau dấy lên để đối phó với những lúc khẩn trương trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Nhưng từ ngữ của lời dự ngôn nầy chắc chắn chỉ về một Cá nhơn Trứ danh, tức là Đấng MÊ-SI. Đó là một trong những lời dự ngôn đặc biệt nhứt của Cựu Ước về Đấng Christ. Chính Đức Chúa Jêsus đã hiểu như vậy (GiGa 5:46), và Phi-e-rơ cũng đã hiểu như vậy (Cong Cv 3:22).
Quốc gia Hê-bơ-rơ đã được Đức Chúa Trời thành lập làm môi giới do đó một ngày kia, mọi dân tộc sẽ được phước. Đây là một lời tuyên bố minh bạch rằng chế độ theo đó quốc gia Hê-bơ-rơ lúc ấy được thành lập chẳng phải là chế độ do đó quốc gia Hê-bơ-rơ sẽ ban phước cho mọi dân tộc khác; nhưng chế độ ấy sẽ được thay thế bởi một chế độ khác do một Đấng Tiên tri khác thiết lập. Chế độ sau nầy sẽ truyền sứ điệp (message ) của Đức Chúa Trời cho muôn dân. Ấy là đạo Do-thái sẽ bị thay thế bởi đạo Đấng Christ.
PhuDnl 18:1-22 -- Các thành ẩn náu
Cốt để bảo vệ những kẻ ngộ sát. Môi-se đã biệt riêng 3 thành ẩn náu ở phía Đông sông Giô-đanh, là Bết-se, Ra-mốt, Gô-lan (4:41-43). Về sau, Giô-suê biệt riêng 3 thành ẩn náu ở phía Tây sông Giô-đanh, là Kê-đe, Si-chem, Hếp-rôn (Gios Gs 20:7). Cả 6 thành nầy là của người Lê-vi, và gồm trong số 48 thành dành riêng cho họ (Dan Ds 35:6).
PhuDnl 20:1-20-- Luật chiến tranh
Những kẻ mới xây nhà, hoặc mới trồng vườn nho, hoặc mới cưới vợ đều được miễn quân dịch. Phải tiêu diệt người Ca-na-an; những cây sanh thực phẩm thì phải chừa lại.
21:1-26:19-- Các luật pháp linh tinh
Trong trường hợp không biết kẻ sát nhơn. Vợ của kẻ tôi mọi. Con cái do chế độ đa thê. Các con cái bội nghịch. Xử giảo. Súc vật đi lạc. Đồ vật bị mất. Quần áo đờn ông và đờn bà phải khác nhau. Phải thả con chim đang ấp. Mái nhà phải có câu lơn. Trồng tỉa và y phục. Kỵ nữ. Gian dâm. Cưỡng hiếp. Người hoạn. Con ngoại tình. Người A-môn, A-háp, Ê-đôm. Trại quân phải sạch sẽ. Cách đối đãi những tôi mọi tỵ nạn. Buôn hương. Kê-gian. Cho vay lấy lời. Hứa nguyện. Ly-dị. Hôn nhơn. Của cầm. Bắt cóc. Bịnh phung. Tiền công. Xử công bình với kẻ nghèo. Mót lúa. Chỉ được đánh đòn 40. Anh em chồng lấy chị em dâu. Can thiệp khi đánh lộn. Cân già và cân non. Người A-ma-léc. Trái đầu mùa và thuế một phần mười (xem thêm LeLv 27:1-34).
PhuDnl 27:1-26-- Phải ghi Luật pháp trên núi Ê-banh
Giô-suê đã làm việc nầy (Gios Gs 8:30-32). Trong thời đại sách vở hiếm có, người ta có thói quen ghi luật pháp trên bia đá, đem dựng tại các đô thị, hầu cho nhơn dân được biết. Tại Ai-cập và tại xứ Ba-by-lôn, người ta đã làm như vậy, thí dụ như bộ luật của Hammurabi. Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải làm việc ấy trước nhứt khi vào xứ Ca-na-an. Bia đá phải thoa vôi, và Luật pháp phải "khắc(1) cho thật rõ ràng" (câu 8). Theo thời gian, vôi long lở và chữ viết biến mất. Nếu ghi khắc trên đá, thì chữ có thể vẫn còn; nhưng theo thời gian, các bia đá sẽ trở thành thần tượng. Trong thế giới của Môi-se, sự cám dỗ thờ hình tượng rất mạnh mẽ, và các thần của người Ca-na-an phần lớn là hình tượng bằng đá; vậy nên Đức Chúa Trời truyền lịnh cho dân Y-sơ-ra-ên chớ dùng đá khắc, tức là đề phòng cho họ khỏi sa vào những sự gớm ghiếc của người Ca-na-an .
PhuDnl 28:1-68-- Lời tiên tri trọng đại về người Do-thái
Đây là một đoạn sách kỳ diệu, vì nó phác họa tất cả lịch sử tương lai của quốc gia Hê-bơ-rơ. Sự lưu đày tại Ba-by-lôn và sự phá diệt bởi người La-mã được mô tả linh động. "Chim ưng" (câu 49) là biểu hiệu của quân đội La-mã. Khi quân Ba-by-lôn và quân La-mã vây thành Giê-ru-sa-lem, thì đờn ông, đờn bà ăn chính con cái mình (câu 53-57). Người Do-thái bị tản lạc, phải rày đây mai đó, chịu bắt bớ luôn luôn, lòng run rẩy và linh hồn hao mòn cho tới ngày nay, đều đã được dự ngôn linh động. Đem sách Phục truyền luật lệ ký, đoạn 28 nầy đối chiếu với lịch sử quốc gia Hê-bơ-rơ, ta sẽ có bằng cớ lạ lùng hơn hết, không sao chối cải được, tỏ ra Kinh Thánh đã được Đức Chúa Trời soi dẫn. Bằng không, sao có như vậy?
29:1-30:20-- Giao ước và những lời cảnh cáo sau chót
Vì Môi-se thấy những kết quả tai hại của sự bội đạo, nên ông nói mấy lời sau chót nầy: Hầu việc Đức Chúa Trời là con đường sống, còn hầu việc hình tượng thì chắc phải chết.
31:1-29-- Môi-se chép Luật pháp nầy trong một quyển sách
40 năm trước, Môi-se đã chép các lời Đức Chúa Trời phán trong một quyển sách (XuXh 17:14, 24:4, 7). Ông đã chép nhựt ký các cuộc hành trình của mình (Dan Ds 33:2). Bây giờ ông đã chép sách xong, bèn giao cho các thầy tế lễ cùng người Lê-vi, và dặn họ phải thường đọc cho dân chúng nghe. Dạy Lời Đức Chúa Trời cho dân chúng luôn, đó là phương pháp an toàn nhứt và hiệu nghiệm nhứt để giữ cho đạo của họ khỏi suy bại. Khi dân Y-sơ-ra-ên chăm chú vào Lời Đức Chúa Trời, thì họ thạnh vượng. Còn khi xao lãng Lời ấy, thì họ lâm vào nghịch cảnh.
Chính nhờ đọc Lời Đức Chúa Trời mà Giô-si-a đã thực hiện được cuộc phục hưng lớn lao (IIVua 2V 23:1-37). E-xơ-ra (NeNe 8:1-18) và Luther cũng đã từng trải như vậy. Các sách Tân Ước đã được chép ra để đọc trong các Hội Thánh (ITe1Tx 5:27, CoCl 4:16). Chính Lời Đức Chúa Trời là quyền phép ở trong lòng người ta. Ôi! Ước gì các vị Mục sư, Truyền đạo ngày nay học tập đặt mình ở đằng sau và đặt Lời Đức Chúa Trời ở hàng đầu!
PhuDnl 32:1-52-- Bài ca của Môi-se
"Khi Môi-se chép... cuốn sách xong rồi" (31:24), thì ông làm một bài ca cho dân chúng hát. Ông đã mừng sự giải phóng họ khỏi Ai-cập bằng một bài ca (XuXh 15:1-27). Ông cũng đã viết một bài ca khác, tức là Thi Thiên 90. Những bản dân ca là phương pháp tốt nhứt để ghi khắc ý tưởng trên tấm lòng dân chúng. Đê-bô-ra và Đa-vít đã dốc đổ linh hồn trước mặt Đức Chúa Trời trong những bài ca. Từ lúc khởi thủy đến nay, Hội Thánh cũng dùng thánh ca làm phương pháp bảo tồn và truyền bá những ý tưởng mà mình binh vực. Chỉ khi nào Hội Thánh thâm nhiễm tinh thần thế gian, thì mới giảm bớt sự hát thánh ca của hội chúng và thay thế bằng ban hát huy hoàng thường không có chi gây dựng đời tin kính.
PhuDnl 33:1-29-- Lời chúc phước của Môi-se
Trong lời chúc phước nầy, ông gọi tên hết các chi phái, và có lời tiên tri về mỗi chi phái; ấy cũng giống như Gia-cốp chúc phước cho các con trai mình (SaSt 49:1-33).
PhuDnl 34:1-12-- Môi-se qua đời
"Lúc 120 tuổi, mắt chưa mờ, sức thiên nhiên chưa mòn mỏi, ông già nầy leo lên núi Phích-ga; và đang khi ông nhìn xem Đất Hứa mà ông mong ước được vào, thì Đức Chúa Trời nhẹ nhàng cất ông lên Xứ tốt đẹp hơn. Trong giây lát, linh hồn ông đã bay vào phía trong màn, và ông đã về ở nhà với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời an táng thân thể ông. Không ai biết mộ phần ông ở đâu. Thi hài ông đã được đem xa, để dân chúng không thể thờ lạy thi hài ông như một hình tượng."
Môi-se hầu chuyện Đức Chúa Trời "giáp mặt" (câu 10; Xuất Ê-díp-tô ký 33:11;, Dân- số Ký 12:8;). Ấy không có nghĩa là ông đã thấy Đức Chúa Trời trong sự sáng chói của Ngài, chẳng chút che khuất, vì đang khi ở trong xác thịt, chúng ta không thể thấy Ngài như vậy (GiGa 1:18); nhưng là sự biểu thị vinh quang của Đức Chúa Trời một cách thân mật hơn là đã dành cho kẻ khác.
Môi-se qua đời ở ngoài Đất Hứa vì ông đã phạm tội liên quan đến một phép lạ tại Ca-đe (Dan Ds 20:12). Hơn nữa, ông cũng đã cao tuổi, đã chịu nhiều nỗi nhọc nhằn nơi đồng vắng, nên không còn đủ sức đảm đương cuộc chinh phục xứ Ca-na-an.
Núi Nê-bô
Đó là ngọn cao nhứt của núi Phích-ga, ở cách cửa sông Giô-đanh 8 dặm về phía Đông; đây là cuối cùng cuộc hành trình của Môi-se trên mặt đất. Từ ngọn núi nầy có thể thấy các gò nỗng xứ Giu-đê và xứ Ga-li-lê, cùng núi Cạt-mên, là nơi 500 năm sau, đấng tiên tri Ê-li đã xin và được lửa từ trời giáng xuống; cũng từ núi Cạt-mên nầy, Ê-li đã đi tới núi Si-na-i, là nơi Môi-se ban bố Luật pháp, rồi đi tới núi Phích-ga, là nơi Môi-se qua đời, dường như ông muốn ở chung với Môi-se lúc chết. Bấy giờ từ nơi Môi-se đã qua đời, các thiên sứ giáng xuống và rước Ê-li đi gặp Môi-se trong nơi vinh hiển.
Lúc Đức Chúa Jêsus hóa hình
Nhằm ngày trong sáng, từ đỉnh núi Phích-ga, có thể thấy rất xa ở phương Bắc, ngọn núi Hẹt-môn có tuyết phủ, là nơi Đức Chúa Jêsus hóa hình. Tại đây, mắt loài người lại thấy Môi-se và Ê-li, đại diện cho Luật pháp và các Tiên tri, trò chuyện với Đức Chúa Jêsus về công cuộc mà Luật pháp và các đấng Tiên tri đã mở đường cho. Tại đây, Môi-se dự phần cuộc báo cáo từ trời rằng đã đến lúc chế độ do ông thiết lập phải nhường chỗ cho chế độ của Đấng Tiên tri cao trọng hơn mà ông đã dự ngôn; rằng từ nay trở đi, không còn sấm sét của núi Si-na-i nữa, nhưng có "tiếng êm dịu, nhỏ nhẹ" của "Đức Chúa Jêsus mà thôi" (Mat Mt 17:8). Núi Si-na-i, núi Phích-ga, Núi Hẹt-môn, Môi-se, Ê-li, Đức Chúa Jêsus!
Môi-se
Tới đây chấm hết phần tư thứ nhứt của Cựu Ước (gần bằng cả Tân Ước), do một người, là Môi-se, viết ra. Môi-se phải là một người phi thường dường nào! Ông thân mật với Đức Chúa Trời biết bao! Ông làm công việc vĩ đại biết bao! Ông làm ơn cho loài người là dường nào! 40 năm trong cung điện Pha-ra-ôn. 40 năm tỵ nạn trong xứ Ma-đi-an. 40 năm dắt dẫn dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng. Giải phóng một dân tộc 3 triệu người khỏi ách tôi mọi; di cư họ từ xứ nầy qua một xứ khác; tổ chức cho họ một nền tư pháp làm căn nguyên của phần lớn văn minh thế giới!
Ý kiến của ông Winston Churchill, nguyên Thủ tướng nước Anh, về Môi-se
"Chúng tôi khinh dể mà chối bỏ hết mọi ý kiến hoang đường, tuy thông thái và dụng công, rằng Môi-se chỉ là một nhơn vật thần thoại trên đó các thầy tế lễ và nhơn dân Hê-bơ-rơ đã san định những qui tắc chánh yếu của họ về xã hội, luân lý và tôn giáo. Chúng tôi tin rằng nếu công nhận truyện tích Kinh Thánh đúng theo tự nghĩa, thì quan điểm khoa học hơn hết, quan niệm tân tiến và duy lý hơn hết cũng sẽ được thỏa mãn đầy đủ hơn hết. Chúng ta có thể chắc chắn rằng mọi việc nầy xảy ra đúng như Kinh Thánh đã chép. Chúng ta có thể tin rằng mọi việc nầy đã xảy ra cho những người không khác chúng ta bao nhiêu; ấn tượng của những người ấy đã được ghi chép rất đúng, và được lưu truyền trải qua các thế kỷ; còn xác thực hơn các biến cố mà ta đọc trong điện tín ngày hôm nay. Theo lời trong một tác phẩm của ông Gladstone mà người đã quên, chúng ta có thể vững lòng và yên nghỉ trên Vầng Đá không hề rúng động, tức là Kinh Thánh. Các nhà khoa học và các học giả hãy cứ mở rộng tri thức, cứ dò xét và tìm kiếm, đối với mỗi một chi tiết của những ký văn đã bảo tồn cho chúng ta từ các thời đại thượng cổ. Kết quả là họ chỉ tăng cường tánh chất đơn giản cao trọng và xác thực tuyệt đối của những chơn lý ghi chép đây, bấy lâu đã soi sáng con đường của loài người."
===============================


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 22-1-2018 04:26 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách