† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2256|Trả lời: 0

Thánh Kinh Lược Khảo 3

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 20:26:43 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Thánh Kinh Lược Khảo 3
Tác giả: Henry H. Halley

Giô-Suê
Chinh phục xứ Ca-na-an
Vượt qua sông Giô-đanh
Thành Giê-ri-cô sụp đổ
Toàn thắng người Ca-na-an
Mặt trời dừng lại
Các chi phái định cư trong xứ

Con người Giô-suê
Ông thuộc về chi phái Ép-ra-im (Dan Ds 13:8). Nếu viết tên ông theo lối Hy-lạp, thì là "Jêsus." Vì ông đã dẫn dắt dân chúng vào xứ Ca-na-an, nên về phương diện nầy, ông có thể làm hình bóng về Đấng cao trọng hơn kế vị mình, tức là Đấng đang dẫn dắt dân mình vào Đất hứa có Vinh quang đời đời.
Giô-suê là người đặc biệt theo hầu Môi-se suốt 40 năm lưu lạc trong đồng vắng. Ông đã cầm quân đánh người A-ma-léc (XuXh 17:9), đã ở trên núi Si-na-i với Môi-se, và là một trong 12 thám tử (Dan Ds 13:8, 16). Sử gia Josèphe nói rằng khi kế vị Môi-se, Giô-suê đã 85 tuổi. Người ta cho rằng ông đã mất 6 năm để khắc phục xứ Ca-na-an, còn những năm sau đó của đời ông, thì ông định cư và cai trị 12 chi phái. Tổng cộng thời gian ông cầm quyền trên dân Y-sơ-ra-ên chừng 25 năm. Lúc qua đời, ông được 110 tuổi, và được an táng tại Sim-nát Sê-rách, thuộc miền Ép-ra-im. Ông là một chiến sĩ đại tài, thi hành kỷ luật đối với binh sĩ, cử thám tử đi, nhưng cũng cầu nguyện và tin cậy Đức Chúa Trời.
Bí Chú Khảo Cổ: Tên của Giô-suê
Trên các tấm bảng Amarna viết thời đó, từ xứ Pa-lét-tin gởi về cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập, về sự thất bại của vua Pella, có mấy chữ nầy: "Hỏi Bên-gia-min. Hỏi Tadua. Hỏi Giô-suê."
Gios Gs 1:1-18-- Quyển sách
Đây là một đoạn vĩ đại. Dân Y-sơ-ra-ên có một Quyển Sách. Đó chỉ là một phần của Kinh Thánh mà chúng ta có ngày nay. Nhưng, ôi, quan trọng biết bao! Lúc Giô-suê bắt tay làm công vụ trọng đại, Đức Chúa Trời đã cảnh cáo ông phải cẩn thận làm theo mọi lời chép trong Sách ấy. Giô-suê đã vâng lời Ngài, nên Ngài tôn trọng ông, cho được thành công kỳ diệu. Đó là một bài học quí giá biết bao cho các thủ lãnh Hội Thánh!
Gios Gs 2:1-24-- Hai thám tử và nàng Ra-háp
Ra-háp đã nghe nói đến các phép lạ mà Đức Chúa Trời làm để cứu giúp dân Y-sơ- ra-ên, và đã tin quyết rằng Đức Chúa Trời của dân ấy là Chân Thần (câu 10, 11). Khi gặp các thám tử, nàng bèn liều mạng quyết đứng về phía dân Y-sơ-ra-ên và Đức Chúa Trời của họ.
Có lẽ nàng không xấu xa như đã tỏ ra trong chữ "kỵ nữ" ta dùng ngày nay. Nàng sống giữa đám dân vô luân lý. Các nữ tế sư của tôn giáo người Ca-na-an đều hành nghề mãi dâm. Đám dân mà nàng chung sống đó coi nghề nghiệp của nàng là danh giá, chớ chẳng phải là hổ nhục như giữa vòng chúng ta ngày nay.
Về sau, Ra-háp lấy một người Y-sơ-ra-ên, tên là Sanh-môn (Mat Mt 1:5). Ca-lép cũng có một con trai tên là Sanh-môn (ISu1Sb 2:51). Có lẽ là cùng một Sanh-môn(1). Nếu vậy, thì do hôn nhơn, nàng đã gia nhập một gia đình cao quí trong dân Y-sơ-ra-ên. Dầu sao, do cuộc hôn nhơn nầy, nàng đã trở nên tổ mẫu của Bô-ô, Đa-vít và Đấng Christ nữa. Nàng được ghi danh trong hàng các vị anh hùng đức tin (HeDt 11:31).
Bí Chú Khảo Cổ: Nhà Ra-háp ở trên vách thành
Tại Giê-ri-cô, người ta thật có xây nhà trên vách thành.
Gios Gs 3:1-17-- Họ vượt qua sông Giô-đanh
Khi hòm giao ước của Đức Giê-hô-va được khiêng xuống mé nước, thì sông dâng lên thành một đống cao ngất tại A-đam (câu 16). Thành A-đam ở cách đó 16 dặm về phía Bắc. Phía dưới thành nầy, nước khô cạn, bày lòng sông có đá sỏi, khá khô, có thể đi qua được. Vì là giữa mùa xuân, nước sông Giô-đanh đang chảy tràn, nên phép lạ nầy càng kỳ diệu. Tại A-đam, sông Giô-đanh chảy qua những bãi đất sét cao chừng 13 thước tây, rất dễ lở. Năm 1927, một cơn động đất lớn làm sụt những bãi đất nầy, đến nỗi suốt 21 giờ, nước không chảy qua được. Đức Chúa Trời có thể dùng phương pháp ấy khiến nước "dồn" lại cho Giô-suê đi qua. Dầu sao, đó cũng là một phép lạ lớn lao, và khiến cho người Ca-na-an khiếp sợ lại càng thêm khiếp sợ (5:1).
1400 năm sau, Đức Chúa Jêsus đã chịu lễ báp-têm tại chính chỗ Giô-suê vượt qua sông Giô-đanh.
Bản đồ số 34
4:1-24-- Các hòn đá kỷ niệm
Có hai đống đá nầy: Một tại chỗ hòm giao ước dừng lại ở mé phía Đông sông Giô- đanh (câu 9), và một tại Ghinh-ganh, ở phía Tây, nơi họ đóng trại (4:20). Đá đặt tại đó để cho các thế hệ tương lai không quên nơi đã xảy ra phép lạ vĩ đại.
5:1-15 -- Giữ Lễ Vượt Qua
Rốt lại, trên Đất Hứa, nhằm ngày thứ tư sau khi vượt qua sông Giô-đanh, việc đầu tiên họ làm là giữ Lễ Vượt Qua (4:19, 5:10). Ngày hôm sau, hết ma-na (5:2). Đoạn, Đức Chúa Trời sai một Vị Tướng lãnh đạo quân vô hình của Ngài đến giục lòng Giô-suê can đảm để làm trách vụ đang đợi chờ ông (5:13-15).
6:1-26-- Thành Giê-ri-cô sụp đổ
Giê-ri-cô bị chiếm do Đức Chúa Trời trực tiếp giúp đỡ, cốt để khiến dân Y-sơ-ra-ên sanh lòng tin cậy trong lúc bắt đầu chiến thắng những dân tộc hùng mạnh hơn mình. Do hòm giao ước của Chúa dẫn đầu và có đội kèn thổi vang, họ đi vòng quanh thành Giê-ri-cô 7 ngày. Trên trời có đạo binh vô hình của Đức Giê-hô-va bay lượn (5:14), chờ đợi giờ chỉ định; đến ngày thứ 7, lúc kèn thổi vang và dân chúng la lên, thì thành sụp đổ.
Trong một lời tiên tri kỳ lạ, có câu rủa sả kẻ nào toan tính xây lại thành nầy (câu 26). Xem IVua 1V 16:34, thấy câu rủa sả nầy được ứng nghiệm.
Thành Giê-ri-cô cách bờ sông Giô-đanh chừng 6 dặm; Ghinh-ganh, tổng hành dinh của Giô-suê, ở khoảng giữa đường.
Vách thành Giê-ri-cô bao bọc chừng 3 mẫu tây. Nó là một đô thị có thành lũy, làm nơi trú ẩn cho dân chúng đông đúc ở chung quanh.
Thành Giê-ri-cô đời Tân Ước cách xa thành Giê-ri-cô đời Cựu Ước chừng 1 dặm về phía Nam. Làng Giê-ri-cô hiện thời cách xa chừng 1 dặm về phía Đông-nam.
Bí Chú Khảo Cổ:
Năm 1929-1936, Tấn sĩ John Garstang, Giám đốc Anh quốc Khảo-cổ-viện tại Giê-ru-sa-lem, kiêm Giám đốc Cổ-học-viện của chánh phủ xứ Pa-lét-tin, đã đào bới di tích thành Giê-ri-cô. Ông thấy đồ gốm và những di tích chứng tỏ rằng thành nầy đã bị hủy phá chừng năm 1400 T.C., phù hợp với niên hiệu của Giô-suê. Cũng có nhiều chi tiết xác nhận truyện tích Kinh Thánh một cách lạ lùng hết sức.
"Vách thành liền ngã sập" (câu 20). Tấn sĩ Garstang nhận thấy rằng vách thành thật đã ngã sập. Có hai vách thành, cách nhau gần 5 thước tây; vách ngoài dày gần 2 thước tây, vách trong dày gần 4 thước tây; cả hai cao gần 10 thước tây. Hai vách thành nầy xây không chắc chắn lắm, trên nền có khuyết điểm và không đều đặn, bằng gạch dày 10 phân tây, dài từ 30 đến 60 phân, trét hồ bùn. Hai vách thành nối liền bằng những nhà xây cất qua chót vách, tỉ như nhà của Ra-háp "ở tại trên vách thành" (Gios Gs 2:15). Tấn sĩ Garstang nhận thấy vách thành phía ngoài đổ ra ngoài, trút xuống sườn đồi, kéo theo vách trong luôn với các nhà cửa, vì dọc theo sườn đồi, lớp gạch lần lần mỏng hơn. Vách làm nền cung điện, gồm 4 lớp đá chồng cao lên, vẫn còn ở nguyên vị trí, nhưng nghiêng ra phía ngoài. Tấn sĩ Garstang cho rằng có những dấu tích tỏ ra vách thành đã bị cơn động đất lay đổ, và ta có thể thấy vết tích của cơn động đất nầy; đó là phương pháp mà Đức Chúa Trời có thể dùng dễ dàng như bất cứ phương pháp nào khác.
"Chúng phỏng hỏa cái thành" (câu 24). Những dấu tích hỏa hoạn và hủy phá rất rõ rệt. Tấn sĩ Garstang thấy nhiều lớp than và tro rộng lớn, cùng di tích các bức tường bị lửa đốt ra đỏ. Vách thành phía ngoài bị hư hại nặng nhứt. Nhà cửa dọc theo vách thành bị thiêu đốt tới mặt đất. Nói chung, địa tằng nầy phủ một lớp dày những mảnh vụn bị thiêu đen; dưới đó, lại có nhiều mảng tro trắng phủ một lớp gạch đổ, màu hơi đỏ.
"Hãy cẩn thận về vật các ngươi phú dâng diệt đi" (câu 18). Dưới những đống tro và vách tường đổ, trong di tích của những kho lương thực, Tấn sĩ Garstang thấy rất nhiều thực phẩm, lúa mì, lúa mạch, trái chà là, đậu, cùng nhiều thứ khác, cháy thành than vì nóng hực, chưa ai đụng đến và cũng chẳng ai ăn. Đó là bằng cớ tỏ ra các người chiến thắng đã giữ mình, không chiếm lấy các thực phẩm, ý theo lịnh truyền.
Gios Gs 7:1-8:35-- Thành A-hi và thành Bê-tên bị chiếm
Tại A-hi, thoạt tiên dân Y-sơ-ra-ên bị bại trận kinh khủng vì cớ tội phạm của A-can. Sự bại trận nầy làm cho dân Y-sơ-ra-ên xúc động khủng khiếp, vì nó xảy ra ngay sau khi họ vượt qua sông Giô-đanh một cách lạ lùng và sau khi thành Giê-ri-cô sụp đổ cũng rất lạ lùng. Đây là một bài học sửa trị. Đức Chúa Trời ở cùng họ, nhưng Ngài muốn họ hiểu rằng Ngài mong ước họ vâng lời Ngài.
Bí Chú Khảo Cổ: Bê-tên
Lời chép ở đoạn 8:9, 12, 17 tỏ ra là một trận đánh cả A-hi lẫn Bê-tên; đoạn 8:28 và 12:9, 16 tỏ ra cả hai thành nầy đã bị hủy phá. Hai thành chỉ cách nhau một dặm rưỡi. Ông Albright cho rằng cả Bê-tên và A-hi mang chung một tên A-hi.
Gò nỗng Bê-tên (Beitan ) đã được đào bới năm 1934, do phái đoàn kỷ niệm Kyle, dưới sự bảo trợ hỗn hợp của Mỹ-quốc Học đường ở Giê-ru-sa-lem và Thần đạo Học đường Xenia ở Pittsburgh, có ông W.F. Albright cầm đầu. Họ thấy thành nầy bị hủy phá, đồng thời với lúc Giô-suê xâm lăng, bởi một "nạn cháy kinh khủng, hung hăng dữ dội vô cùng." Có một khối dày hơn 1 thước rưỡi, toàn "gạch đổ cháy đỏ, đất đen đầy tro, và mảnh vụn đốt thành than." Albright nói rằng ông không thấy ở nơi nào khác trong xứ Pa-lét-tin những dấu tích hỏa hoạn hủy phá nhiều hơn.
8:30-35 -- Luật pháp khắc trên núi Ê-banh
Môi-se đã truyền lịnh phải làm việc ấy (xem thêm PhuDnl 27:1-26). Thành Si-chem, trung tâm của xứ, ở giữa núi Ê-banh và núi Ga-ri-xim, trong một thung lũng đẹp tuyệt vời và có giá trị chiến lược vô song. Tại đây, 600 năm trước, Áp-ra-ham đã lập bàn thờ thứ nhứt trong xứ để thờ lạy Đức Chúa Trời. Tại đây, trong một cuộc lễ long trọng, Giô-suê đã đọc Sách Luật pháp cho dân chúng nghe.
Gios Gs 9:1-10:43-- Trận đánh và mặt trời dừng lại
Ga-ba-ôn là một trong những đô thị rộng lớn nhứt xứ Ca-na-an, ở cách Giê-ru-sa-lem 10 dặm về phía Tây-bắc. Người Ga-ba-ôn khủng khiếp vì thành Giê-ri-cô và thành A-hi sụp đổ, nên vội vã xin làm tôi mọi cho dân Y-sơ-ra-ên. Điều nầy chọc giận các vua ở Giê-ru-sa-lem, Hếp-rôn, Giạt-mút, La-ki, Éc-lôn, nên họ kéo quân đánh Ga-ba-ôn. Giô-suê bèn đến cứu ứng Ga-ba-ôn. Kết quả là trận đánh trứ danh ở Ga-ba-ôn, Bết-hô-rôn và ở phía Tây, tại đó mặt trời dừng lại cả một ngày. Chúng ta không biết mặt trời đã dừng lại thể nào. Có người tính rằng lịch đã mất một ngày vào khoảng thời kỳ đó. Dầu sao, bằng cách nầy hay bằng cách khác, sự sáng ban ngày đã kéo dài kỳ diệu, hầu cho Giô-suê được toàn thắng.
Bí Chú Khảo Cổ: La-ki, Đê-bia
Hai thành nầy ở trong số những thành bị hủy phá (10:32, 39).
La-ki. -- Năm 1931, phái đoàn khảo cổ Wellcome tìm thấy một lớp tro rộng lớn đồng thời với Giô-suê.
Bản đồ số 35
Đê-bia. (Ki-ri-át-Sê-phe, Tel Beit Mirsim).-- Tại đây, năm 1926-1928, phái đoàn hỗn hợp của Thần đạo Học đường Xenia và Mỹ quốc Học đường ở Giê-ru-sa-lem đã tìm thấy một lớp tro, than và vôi dày, cùng những dấu tích chỉ rõ một nạn cháy kinh khủng; cũng có những dấu tích văn hóa tỏ ra nạn cháy nầy xảy ra đương thời Giô- suê, vì mọi vật ở dưới lớp nầy là của người Ca-na-an, còn mọi vật ở trên lớp nầy là của người Y-sơ-ra-ên.
Gios Gs 11:1-23-- Các vua phương Bắc bị đánh bại
Trong trận đánh ở Bết-hô-rôn, là nơi mặt trời dừng lại, Giô-suê đã phá tan oai lực của các vua phương Nam. Bây giờ, ông lại thắng các vua phương Bắc tại Mê-rôn, nên kiểm soát được toàn xứ.
Phần lớn sự thành công nầy do ba phép lạ kỳ diệu: Nước sông Giô-đanh rẽ ra, thành Giê-ri-cô sụp đổ, và mặt trời dừng lại. Đức Chúa Trời đã làm mọi sự đó.
Bí Chú Khảo Cổ: Hát-so
"Giô-suê... phóng hỏa thành Hát-so" (11:11). Tấn sĩ Garstang đã tìm thấy tro của hỏa hoạn nầy, và những đồ gốm chứng tỏ hỏa hoạn nầy đã xảy ra lối 1400 năm T.C..
Cũng có một tấm bảng Amarna do vị đặc sứ Ai-cập tại miền Bắc Pa-lét-tin viết cho Pha-ra-ôn, năm 1380 T.C., rằng: "Xin Hoàng thượng nhớ những hoạn nạn mà vua Hát-so và thành Hát-so đã phải chịu."
Vậy, cuộc chinh phục xứ Pa-lét-tin bởi Giô-suê đã được minh chứng bởi những lớp tro rộng lớn, mang dấu tích của thời Giô-suê, tại Giê-ri-cô, Bê-tên, La-ki, Đê-bia, và Hát-so; do đó, truyện tích Kinh Thánh được xác nhận.
12:1-24-- Danh sách các vua bị tiêu diệt
Đây kể tên 31 vua. Nói chung, toàn xứ đã bị chinh phục (10:40, 11:23, 21:43). Tuy nhiên, vẫn còn những nhóm người Ca-na-an thưa thớt (13:2-7, 15:63, 23:4, Cac Tl 1:2, 21, 27, 29, 30, 31, 33, 35). Sau khi Giô-suê qua đời, bọn nầy gây rối cho dân Y-sơ-ra-ên. Lại nữa, những xứ Phi-li-tin, Si-đôn và Li-ban vẫn chưa bị chinh phục.
Bản đồ số 36 -- Vị trí các chi phái
Gios Gs 13:1-22:34-- Phân chia xứ
Bản đồ ở trang trước chỉ tỏ vị trí gần đúng của các dân tộc Ca-na-an, và sự phân chia cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên. Có 6 thành ẩn náu (đoạn 20; xem thêm PhuDnl 19:1-21), và 48 thành cho người Lê-vi, kể cả 13 thành cho các thầy tế lễ (21:19, 14). Bàn thờ ở bờ sông Giô-đanh (đoạn 22) dầu thoạt tiên bị các chi phái phía Tây hiểu lầm, nhưng đã được dùng làm dấu hiệu thống nhứt quốc gia cho một dân tộc bị một con sông lớn chia làm hai.
Gios Gs 23:1-24:33-- Bài giảng từ biệt của Giô-suê
Giô-suê đã nhận từ nơi Môi-se Quyển Sách Luật pháp của Đức Chúa Trời (1:8). Bây giờ ông thêm sách của mình vào đó (24:26). Giô-suê dùng các "sách" phải đường cũng như Môi-se đã dùng (xem Phục truyền luật lệ ký 31). Ông đã sai người đi vẽ địa đồ của xứ "trên một quyển sách" (18:9). Ông đọc "sách" của Môi-se cho dân chúng nghe (8:34). Tại núi Ê-banh, ông "khắc trên đá một bản luật pháp" (8:32). Ông có liên quan với "sách Gia-sa" (10:13), -- có lẽ đây là một bộ thánh ca.
Trong bài giảng cuối cùng của Giô-suê, ông cốt khuyên họ chống lại sự thờ lạy hình tượng. Sự thờ lạy hình tượng của người Ca-na-an là một hòa hợp thẩm mỹ giữa tôn giáo và sự tự do phóng túng theo nhục dục, nên chỉ những ai có tâm tình cương quyết đặc biệt mới chống được sức dụ dỗ của nó.
Dân Ca-na-an
"Dân Ca-na-an " là một danh từ chung để chỉ về cư dân trong xứ. Theo một nghĩa hẹp hơn, nó ứng dụng cho những người ở đồng bằng Ách-ca-lôn và các đồng bằng tiếp cận. "Dân A-mô-rít" cũng là một danh từ chung thường ứng dụng cho mọi cư dân, nhưng đặc biệt hơn cho một bộ lạc ở phía Tây Biển Chết, đã đánh đuổi người Am-môn mà chiếm lấy xứ ở phía Đông sông Giô-đanh. "Dân Phê-rê-sít" và dân "Giê-bu-sít" chiếm các núi ở phía Nam. "Dân Hê-vít" và dân "Hê-tít" là hai nhóm tách khỏi nước hùng cường ở phía Bắc, đã đóng đô tại Cạt-kê-mít; họ chiếm miền Li-ban. Người ta cho rằng "dân Ghi-rê-ga-sít" ở phía Đông biển Ga-li-lê, mặc dầu ta không biết rõ điều chi về họ. Biên giới của mọi dân nầy hay di chuyển, và có nhiều lúc họ chiếm cứ những chỗ khác nhau.
Tôn giáo của dân Ca-na-an
Ba-anh là thần thượng đẳng của họ; Ashtoreth, vợ của Ba-anh, là nữ thần thượng đẳng của họ. Ashtoreth là sự nhơn cách hóa cái yếu tố sanh sản trong cõi thiên nhiên. Tên của nó trong tiếng Ba-by-lôn là Ishtar. Át-tạt-tê là tên của nó trong tiếng Hy-lạp và La-mã. "Baallim " là số nhiều của Ba-anh, chỉ về các hình tượng của Ba-anh (Cac Tl 2:11). Ashtaroth (1) là số nhiều của Ashtoreth. A-sê-ra là một cây sào thánh, một phiến đá hình nón, hoặc một thân cây, hình dung nữ thần nầy. Các miễu thờ Ba-anh và Át-tạt-tê thường ở cùng một chỗ. Các nữ tế sư hành dâm trong miễu thờ. Còn bọn kê gian là đờn ông mãi dâm trong miễu thờ. Sự thờ lạy Ba-anh, Át-tạt-tê và những thần Ca-na-an khác gồm có những cuộc say sưa, phóng túng quá mức; miễu thờ của chúng là trung tâm hư xấu, tồi bại.
Bí Chú Khảo Cổ: Tôn giáo của xứ Ca-na-an
Đức Chúa Trời truyền lịnh rõ ràng cho dân Y-sơ-ra-ên phải tiêu diệt hoặc tống đuổi dân Ca-na-an (PhuDnl 7:2, 3). Giô-suê hết sức sốt sắng làm công việc ấy, và chính Đức Chúa Trời đã làm những phép lạ lớn lao để giúp đỡ ông. Thật ra, chính Đ­ức Chúa Trời Đã Làm Việc Ấy.
Năm 1904-1909, trong cuộc đào bới tại Gezer, ông Macalister, nhơn viên của "Quỹ Thám hiểm xứ Pa-lét-tin," đã tìm thấy (trong địa tằng của dân Ca-na-an, ngay trước khi dân Y-sơ-ra-ên chiếm xứ, khoảng năm 1500 T.C.) di tích của một "nơi cao," vốn là cái miễu tại đó họ thờ lạy thần Ba-anh và nữ thần Ashtoreth (Át-tạt-tê).
Đây là một khu đất dài chừng 50 thước và rộng chừng 40 thước, chung quanh có tường, không có mái; tại đó, dân chúng cử hành các hội hè tôn giáo. Phía trong tường có 10 trụ đá sù sì, cao từ 1 thước rưỡi tới 3 thước rưỡi; họ dâng tế lễ trước những trụ đá đó.
Tại "nơi cao" nầy, dưới những đống tàn vụn, Macalister tìm thấy rất nhiều hũ chứa hài cốt của các con trẻ đã dâng làm của lễ cho thần Ba-anh. Tất cả khu nầy là một nghĩa địa chôn vùi con trẻ sơ sanh.
Còn một tục lệ gớm ghiếc nữa, ấy là cái họ gọi là "tế lễ nền nhà." Khi xây nhà, họ phải dâng một đứa trẻ làm tế lễ, xác nó gắn chung vào vách tường để đem may mắn cho mọi người khác trong gia đình. Người ta tìm thấy nhiều xác con trẻ như vậy tại Gezer, và cũng tại Mê-ghi-đô, Giê-ri-cô và nhiều nơi khác nữa.
Cũng tại "nơi cao" nầy, dưới đống rác rến, ông Macalister tìm thấy rất nhiều hình tượng và tấm thẻ (plaques ) của nữ thần Át-tạt-tê, có hình sanh-thực-khí quá thô lỗ, cốt để kích thích nhục dục.
Người Ca-na-an thờ lạy như vậy đó. Trước mặt thần, họ phóng túng, vô đạo, coi đó như một nghi lễ tôn giáo; rồi họ giết con đầu lòng để dâng làm của lễ cho các thần ấy.
Xứ Ca-na-an dường đã trở nên một xứ Sô-đôm và Gô-mô-rơ theo mực độ rộng lớn, vì cả nước như vậy.
Chúng ta còn ngạc nhiên chăng, khi Đức Chúa Trời truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải tuyệt diệt người Ca-na-an? Một nền "văn minh" gớm ghiếc, ô uế và tàn bạo như vậy còn được quyền tồn tại chăng? Đó là một gương trong lịch sử về cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời nghịch cùng sự gian ác của các dân.
Những nhà khảo cổ đào bới di tích các đô thị xứ Ca-na-an phải tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời không tiêu diệt chúng sớm hơn?
Ngoài sự đoán phạt dân Ca-na-an , mục đích của Đức Chúa Trời khi Ngài truyền lịnh tuyệt diệt dân ấy, còn là để giữ cho người Y-sơ-ra-ên khỏi sa vào vòng thờ lạy hình tượng và các tục lệ nhơ nhuốc cặp theo. Đức Chúa Trời sáng lập quốc gia Y-sơ-ra-ên vì mục đích duy nhứt, vĩ đại và đặc biệt, là dọn đường cho Đấng Christ ngự đến bằng cách củng cố giữa thế giới các Ý Niệm rằng có một Đức Chúa Trời chơn thật và hằng sống. Nếu dân Y-sơ-ra-ên sa vào vòng thờ lạy hình tượng, thì không còn lý do tồn tại với tư cách một quốc gia nữa. Để đề phòng, cần phải tẩy xứ Ca-na-an sạch hết vết tích cuối cùng của sự thờ lạy hình tượng. Trong vấn đề nầy, Giô-suê đã giúp dân Y-sơ-ra-ên khởi sự tốt đẹp. Nếu họ cứ tiếp tục như vậy, thì lịch sử của họ đã đổi khác là dường nào!
===================================

Các Quan Xét
300 năm đầu trong Đất Hứa
Những vụ hà hiếp và giải phóng liên tiếp
Ký thuật những chiến công hiển hách
Rốt lại, dân tộc Hê-bơ-rơ đã ở trong xứ mình; lúc nầy, trong thời kỳ ấu trĩ quốc gia, sau khi Giô-suê qua đời, họ không có một chánh quyền trung ương vững mạnh. Họ là một khối huynh đệ, hoặc một khối liên bang gồm 12 chi phái hoặc tiểu bang độc lập, không có năng lực đoàn kết nào ngoài ra Đức Chúa Trời của họ. Người ta thường gọi chánh thể đương thời các Quan xét là "thần chánh" (théocratie ), nghĩa là họ phỏng định rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng trực tiếp cai trị quốc gia. Nhưng nhơn dân không long trọng tiếp nhận Đức Chúa Trời; trái lại, họ luôn luôn sa ngã, bỏ Ngài mà đi thờ lạy hình tượng. Dân tộc Hê-bơ-rơ trong tình trạng vô chánh phủ hoặc ít hoặc nhiều, thường bị nội chiến khuấy rối, và bị vây quanh bởi những quân thù luôn luôn toan tính tiêu diệt kẻ mới chiếm ngụ; vậy, cuộc phát triển quốc gia của họ rất chậm chạp, và họ không trở nên một dân tộc thật hùng mạnh trước khi được tổ chức thành một vương quốc dưới đời Sa-mu-ên và Đa-vít.
Ta không biết chắc thời kỳ Các quan xét kéo dài bao lâu. Số năm kể cho các vụ hà hiếp là 91 (xem trang sau), cho Các quan xét cùng các kỳ thái bình là 299, tổng cộng là 390 năm. Nhưng một vài con số nầy có thể lấn qua con số khác. Giép-thê là người sống gần lúc cuối thời kỳ nầy: ông nói rằng nó gồm 300 năm (Cac Tl 11:26). Người ta thường cho rằng nó gồm chừng 300 năm, ấy là tính chẵn (khoảng 1400-1100 T.C.). Từ lúc ra khỏi Ai-cập cho tới thời Sa-lô-môn, gồm cả những thời kỳ lưu lạc trong đồng vắng, thời kỳ Hê-li, Sa-mu-ên, Sau-lơ và Đa-vít, tổng cộng là 480 năm (IVua 1V 6:1).
Dân Mô-áp Dân Am-môn Dân A-ma-léc 18 năm Ê-hút, thuộc chi phái Bên-gia-min 80 năm
Dân Ma-đi-an Dân A-ma-léc 7 năm Ghê-đê-ôn, thuộc chi phái Ma-na-se 40 năm
Thô-la, thuộc chi phái Y-sa-ca 23 năm
Iếp-san, ở Bết-lê-hem, chi phái Giu-đa 7 năm
Cũng có những vụ hà hiếp do dân Si-đôn và dân Ma-ôn (Cac Tl 10:12).
"40 năm"
Kinh Thánh chép rằng Ốt-ni-ên, Đê-bô-ra và Ba-rác, Ghê-đê-ôn, mỗi người đã đoán xét dân Y-sơ-ra-ên trong 40 năm; Ê-hút đoán xét 2 lần 40 năm. Về sau, Hê-li đoán xét 40 năm; sau-lơ, Đa-vít và Sa-lô-môn, mỗi vua trị vì 40 năm. "40 năm" dường như là con số chẵn chỉ về một thế hệ, có đủ 40 năm, nhưng không phải đúng như vậy luôn. Hãy chú ý, con số 40 thường được dùng suốt cả Kinh Thánh: Lúc xảy ra nạn nước lụt, trời mưa 40 ngày; Môi-se chạy trốn lúc 40 tuổi, ở xứ Ma-đi-an 40 năm, và ở trên Núi Si-na-i 40 ngày; dân Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong đồng vắng 40 năm; các thám tử ở trong xứ Ca-na-an 40 ngày; đấng tiên tri Ê-li kiêng ăn 40 ngày; Đức Chúa Trời triển hạn cho thành Ni-ni-ve 40 ngày; Đức Chúa Jêsus kiêng ăn 40 ngày, và sau khi sống lại, Ngài cũng ở trên mặt đất 40 ngày.
Cac Tl 1:1-36 -- Những người Ca-na-an còn sót lại trong xứ
Giô-suê đã tiêu diệt hết người Ca-na-an ở một vài khu vực trong xứ, còn những người khác thì ông bắt làm tôi mọi (Gios Gs 10:40, 43, 11:23, 13:2-7, 21:43-45, 23:4, 24:18). Sau khi ông qua đời, chúng còn ở trong xứ rất đông đúc (Cac Tl 1:28, 29, 30, 32, 33, 35).
Đức Chúa Trời đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải hoàn toàn tiêu diệt người Ca-na- an, hoặc đuổi chúng ra (PhuDnl 7:2-4). Nếu dân Y-sơ-ra-ên hoàn toàn vâng theo mạng lịnh nầy, thì họ đã thoát khỏi nhiều hoạn nạn.
Bí Chú Khảo Cổ: Sắt ở xứ Pa-lét-tin
Kinh Thánh bày tỏ rằng vì cớ người Ca-na-an và người Phi-li-tin có sắt, nên dân Y-sơ-ra-ên không đuổi chúng đi được (1:19, 4:3, Gios Gs 17:16-18, ISa1Sm 13:19-22). Lại cũng bày tỏ rằng chỉ sau khi Sau-lơ và Đa-vít phá tan oai lực của người Phi-li-tin, thì sắt mới được thông dụng trong vòng dân Y-sơ-ra-ên (IISa 2Sm 12:31, ISu1Sb 22:3, 29:7).
Các cuộc đào bới đã đem ra ánh sáng nhiều di vật bằng sắt trong xứ Phi-li-tin, làm từ 1100 năm T.C.; nhưng ở vùng đồi núi không có di vật nào bằng sắt làm trước 1000 năm T.C..
Cac Tl 2:1-3:6 -- Sự bội đạo sau khi Giô-suê qua đời
Thế hệ dũng cảm, được đào luyện trong đồng vắng, đã chiếm xứ Ca-na-an dưới quyền lãnh đạo hùng mạnh của Giô-suê. Khi thế hệ nầy lần lần qua đời, thì thế hệ mới vì định cư trong một xứ phong phú và thiếu quyền lãnh đạo trung ương, nên chẳng bao lâu đã sa vào lề thói phóng túng của những dân tộc lân cận thờ lạy hình tượng.
Điệp khúc chạy suốt sách Các quan xét
"Mọi người cứ làm theo ý mình tưởng là phải" (17:6 v.v...). Dân Y-sơ-ra-ên luôn luôn lìa bỏ Đức Chúa Trời mà sa vào sự thờ lạy hình tượng. Khi họ làm vậy, thì Ngài phó họ vào tay những kẻ hà hiếp họ. Bấy giờ dân Y-sơ-ra-ên chịu đau khổ và hoạn nạn, bèn quay trở lại, và kêu cầu Đức Chúa Trời. Ngài động lòng thương xót họ, dấy Các quan xét cứu họ khỏi tay kẻ thù nghịch. Đang khi Quan xét còn sống, thì nhơn dân phụng sự Đức Chúa Trời. Nhưng khi Quan xét qua đời, thì nhơn dân lại lìa bỏ Đức Chúa Trời, đi hành dâm với các hình tượng.
Khi họ phụng sự Đức Chúa Trời, thì được thạnh vượng; khi họ hầu việc hình tượng, thì bị đau khổ. Luôn luôn như vậy, không hề thay đổi. Sự không vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên là nguyên nhơn trực tiếp gây cho họ bị khổ nạn. Họ không tự phân rẽ với các hình tượng. Họ không tuyệt diệt cư dân trong xứ, theo như Đức Chúa Trời đã truyền dạy; vậy nên từng hồi từng lúc, cuộc tranh giành quyền bá chủ lại diễn ra. Nhiều lần dân Y-sơ-ra-ên gần bị tuyệt diệt, nhưng khi ấy Đức Chúa Trời lại can thiệp mà cứu họ.
Cac Tl 3:1-31-- -Ốt-ni-ên, Ê-hút, Sam-ga
Ốt-ni-ên, quê ở Ki-ri-át Sê-phe, thuộc miềm cực nam của xứ, đã cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Mê-sô-bô-ta-mi, là quân xâm lăng từ phía Đông-bắc kéo tới.
Ê-hút, người Bên-gia-min, đã cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay quân Mô-áp, Am-môn và A-ma-léc.
Dân Mô-áp là dòng dõi của Lót. Họ chiếm vùng cao nguyên ở phía Đông Biển Chết. Thần của họ tên là Kê-nóc (Dan Ds 21:29), và họ dâng mạng người làm tế lễ để thờ lạy nó. Họ luôn luôn giao chiến với dân Y-sơ-ra-ên. Ru-tơ là người Mô-áp.
Dân A-môn cũng là dòng dõi của Lót. Lãnh thổ của họ tiếp giáp với phía Bắc xứ Mô-áp, và bắt đầu từ khoảng 30 dặm phía Đông sông Giô-đanh. Thần của họ là Mo- lóc, và họ thờ lạy nó bằng cách thiêu đốt con nít.
Dân A-ma-léc là dòng dõi của Ê-sau; họ là một bộ lạc du mục; họ tụ tập nhiều nhứt ở miền Bắc bán đảo Si-na-i, nhưng cứ đi phiêu lưu thành vòng tròn rộng lớn, tới cả xứ Giu-đa và xa lắm về Đông phương. Họ là những người đầu tiên đã tấn công dân Y-sơ-ra-ên khi dân nầy ra khỏi Ai-cập. Môi-se cho phép tuyệt diệt họ (XuXh 17:8-16). Họ đã tiêu diệt, không còn trong lịch sử nữa.
Sam-ga đã cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay quân Phi-li-tin; Kinh Thánh ít nói đến ông.
Người Phi-li-tin là dòng dõi của Cham. Họ chiếm cứ đồng bằng mé biển, trên biên giới Tây-nam của xứ Ca-na-an. Chữ "Pa-lét-tin" do họ mà có. Về sau, họ lại hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên đương thời Sam-sôn.
Cac Tl 4:1-5:31-- Đê-bô-ra và Ba-rác
Họ cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ca-na-an. Người Ca-na-an đã bị Giô-suê khắc phục, nhưng lại trở nên hùng mạnh và với những chiến xa bằng sắt, đã chà nát cuộc sanh hoạt của dân Y-sơ-ra-ên.
Bí Chú Khảo Cổ: Người Ca-na-an hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên (4:3).
Dân Y-sơ-ra-ên thắng trận tại Mê-ghi-đô (5:19)
Năm 1937, khi đào bới tại Mê-ghi-đô, nhơn viên Đông phương Học viện đã tìm thấy ở địa tằng thuộc thế kỷ thứ 12 T.C. (thời Đê-bô-ra và Ba-rác) những dấu tích của một nạn cháy khủng khiếp. Dưới sàn của cung điện có chừng 200 món trang sức bằng ngà và vàng chạm, -- một cái hình dung vua Ca-na-an đang đón nhận một hàng phu tù trần trụi đã chịu phép cắt bì. Đây chắc là chứng cớ tỏ ra người Ca-na-an đã bị thất trận khủng khiếp, và cũng tỏ ra trước đó, họ hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên.
6:1-8:35-- Ghê-đê-ôn
Quân Ma-đi-an, A-ma-léc và "người phương Đông" (tức là người Ả-rập -- 6:3, 8:24) đã tràn vào xứ, đông đúc và hùng mạnh, hà hiếp suốt 7 năm, đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên phải ẩn núp trong hang đá và đào hố giấu thóc lúa đi (6:2-4, 11). Với một đội quân 300 người, cầm đuốc giấu trong bình, và do Đức Chúa Trời trực tiếp giúp đỡ, Ghê-đê-ôn đã đại thắng chúng đến nỗi chúng không kéo đến nữa.
Dân A-ma-léc. -- Đây là lần thứ hai chúng xâm lăng (xem dưới đoạn 3).
Người Ma-đi-an là dòng dõi của Áp-ra-ham và Kê-tu-ra. Họ tập trung ở phía Đông núi Si-na-i, nhưng họ đi dông dài đây, đó. Môi-se đã ở giũa vòng họ 40 năm, và cưới một người nữ Ma-đi-an làm vợ. Ban đầu họ thân hữu với người Y-sơ-ra-ên. Lần lần họ đồng hóa với người Ả-rập.
Người Ả-rập là dòng dõi của Ích-ma-ên. Xứ Ả-rập là một bán đảo rộng lớn, từ Bắc đến Nam được 1500 dặm, và từ Đông đến Tây được 800 dặm. Xứ Ả-rập rộng gấp 150 lần xứ Pa-lét-tin. Nó là một vùng cao nguyên, phía Bắc thoai thoải xuống sa mạc xứ Sy-ri. Dân cư thưa thớt, gồm những bộ lạc du mục. Phần nhiều là sa mạc, rải rác có những vùng cây cối xanh tốt và suối nước (oasis).
Bí Chú Khảo Cổ: Các hố giấu thóc lúa
Năm 1926-1928, phái đoàn hỗn hợp của Thánh kinh Học đường Xenia và Mỹ quốc Học đường, do ông Kyle và ông Albright điều khiển, đã đào bới vùng Ki-ri-át-Sê-phe; họ tìm thấy nhiều hố giấu thóc lúa trong một địa tằng thuộc về thời Các Quan- xét, tỏ ra đời sống không an ninh và tài sản không bảo đảm.
Cac Tl 9:1-57-- A-bi-mê-léc
Con của một người cha phi thường, nhưng chính hắn là kẻ tàn bạo, muốn làm vua. Đó là truyện tích điển hình trong cuộc tranh đấu vĩnh viễn của kẻ bất lương, hung bạo để giành quyền.
Bí Chú Khảo Cổ: A-bi-mê-léc hủy phá thành Si-chem
Với số bạc lấy ở miễu thờ thần Ba-anh (câu 4), hắn đi thuê người tàn sát anh em mình, "rồi phá thành và rắc muối ở đó" (câu 45).
Năm 1913-14 và năm 1926-28, ông Sellin phát giác một gò nỗng ở gần thành Si- chem hiện tại, là di tích của thành Si-chem thời xưa. Ông thấy một địa tằng của dân Ca-na-an vào khoảng 1600 năm T.C., và trên địa tằng ấy có một lớp của người Y-sơ-ra-ên với những dấu tích tỏ ra nó đã bị phá hủy và bỏ hoang vào khoảng 1100 năm T.C. (thời kỳ A-bi-mê-léc). Trong lớp nầy, ông thấy di tích một miễu thờ thần Ba-anh, và ông tin rằng đó là miễu thờ có ghi ở câu 4.
Cac Tl 10:12:15-- Thô-la, Giai-rơ, Giép-thê, Iếp-san, Ê-lôn, Áp-đôn
Thô-la chỉ được ghi chép là làm Quan xét. Giai-rơ-cũng vậy.
Giép-thê quê ở Mích-ba, miền Ga-la-át, cố hương của Gióp và Ê-li, trong địa phận phía Đông của chi phái Ma-na-se. Dân Am-môn đã bị Ê-hút, một trong những Quan xét đầu tiên, đánh tan quyền lực; nay chúng lại mạnh mẽ và cướp phá nước Y-sơ-ra-ên. Điều đáng thương trong truyện tích Giép-thê là ông đã dâng con gái mình làm tế lễ.
Iếp-san, Ê-lôn, Áp-đôn cũng chỉ được ghi chép là đã làm Quan xét.
13:1-16:31-- Sam-sôn
Sam-sôn thuộc về chi phái Đan, giáp giới xứ Phi-li-tin; trước khi sanh ra, ông đã được Đức Chúa Trời chỉ định làm người giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Phi-li-tin. Đức Chúa Trời ban cho ông sức lực phi thường; do Đức Chúa Trời cai quản, ông đã gây được những chiến công lạ lùng. Ông là Quan xét cuối cùng có ghi chép trong sách Các quan xét. Sau đó ít lâu, vương quốc được tổ chức.
17:1-18:31-- Người Đan di cư
Người Đan đã được dành phần lãnh thổ gồm đồng bằng Phi-li-tin, nhưng họ không thể chiếm được. Vậy, vì thiếu chỗ ở, một phần chi phái Đan đã ăn cắp một hình tượng, rồi di cư lên miền Bắc xa xôi và định cư gần nguồn sông Giô-đanh.
19:1-21:25-- Hành động hổ nhục của người Bên-gia-min
Mấy đoạn nầy tường thuật sự hình phạt dã man báo trả một tội ác gớm ghiếc khôn tả xiết; kết quả là chi phái Bên-gia-min thiếu điều bị tuyệt diệt.
Bí Chú Khảo Cổ: Thiêu đốt thành Ghi-bê-a (20:40)
Năm 1922-1923, trong đống di tích thành Ghi-bê-a, ông Albright tìm thấy lớp tro do hỏa hoạn đã xảy ra khoảng 1200 năm T.C.. Chắc là hỏa hoạn nầy đây.
Các bậc anh hùng đức tin
Ba-rác, Ghê-đê-ôn, Giép-thê và Sam-sôn được liệt vào hàng các bậc anh hùng đức tin trong thơ HeDt 11:32. Họ có đức tin đến Đức Chúa Trời mặc dầu trong đời họ có một vài điểm làm cho ta phải ngạc nhiên.
Những phép lạ trong sách Các quan xét
Thiên sứ hiện ra với Ghê-đê-ôn và với cha mẹ của Sam-sôn. Sương đóng trên lốt chiên làm dấu hiệu. Với 300 chiến sĩ, Ghê-đê-ôn đã thắng quân Ma-đi-an. Sam-sôn do người mẹ son sẻ sanh ra và sức mạnh phi thường của chàng. Những phép lạ nầy tỏ ra rằng Đức Chúa Trời, bởi lòng thương xót, vẫn còn đoái xem dân Ngài, mặc dầu họ đã sa xuống bậc thấp nhứt.
Những sự khám phá của khảo cổ học
Người Phi-li-tin có sắt trong khi người Y-sơ-ra-ên chẳng có chút nào. Tại Mê-ghi-đô, người Ca-na-an hà hiếp người Y-sơ-ra-ên và bị họ đánh bại. Những hố giấu thóc lúa tại Ki-ri-át-Sê-phe. A-bi-mê-léc hủy phá thành Si-chem. Thiêu đốt thành Ghi-bê-a. Đó là những bằng cớ tỏ ra sách Các quan xét là lịch sử thật.
Tại sao có quyển sách như vậy trong Kinh Thánh?
Nầy, đó là lịch sử thuần túy. Đức Chúa Trời đã sáng lập một quốc gia với mục đích dùng họ dọn đường cho Đấng cứu chuộc loài người ngự đến. Đức Chúa Trời đã quyết dịnh duy trì quốc gia ấy. Và Ngài thật đã duy trì nó, mặc dầu nó thờ lạy hình tượng, yếu đuối và gian ác. Nếu không nhờ những vị thủ lãnh như các Quan xét, không nhờ Đức Chúa Trời cứu giúp trong những lúc khẩn trương, thì dân Y-sơ-ra-ên chắc đã bị tuyệt diệt.
=============================

Ru-Tơ
Bà Cố Nội Của Đa-vít Khởi Đầu Của Gia-Tộc Sanh Ra Đấng Mê-si
Truyện tích khả ái của một bậc phụ nữ khả ái nầy tiếp theo các cảnh trạng hỗn loạn của sách Các quan xét, chẳng khác gì lúc bình tĩnh theo sau cơn giông tố. Đây là bức tranh huyền ảo và tuyệt mỹ vẽ lại cuộc sanh hoạt gia đình trong một thời kỳ rối loạn, vô chánh phủ.
1000 năm trước, Áp-ra-ham đã được Đức Chúa Trời kêu gọi sáng lập một quốc gia với mục đích một ngày kia, sẽ do đó mà phát sanh Cứu Chúa của loài người. Trong sách Ru-tơ nầy, chúng ta thấy sáng lập gia tộc ở giữa dân tộc do đó Cứu Chúa sẽ phát xuất. Ru-tơ là bà cố nội của vua Đa-vít. Từ đây trở đi, suốt cả phần còn lại của Cựu Ước, gia tộc của Đa-vít được quan tâm đến nhiều nhứt.
Ru R 1:1-22 -- Kiều ngụ tại xứ Mô-áp
Vì cớ nạn đói kém, một gia đình ở Bết-lê-hem, chồng là Ê-li-mê-léc, vợ là Na-ô-mi, và hai con trai, đã đi kiều ngụ trong xứ Mô-áp. Người Mô-áp là dòng dõi của Lót (SaSt 19:37) như vậy, họ có bà con xa với người Do-thái. Nhưng họ thờ lạy hình tượng. Thần của họ là Kê-móc, được họ thờ lạy bằng sự dâng con trẻ làm của lễ. Hai cậu thanh niên Bết-lê-hem đã cưới hai thiếu nữ Mô-áp. Sau 10 năm, người cha và hai con trai qua đời. Ru-tơ, vợ góa của một trong hai thanh niên đó, có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, đã bộc phát lòng thương mến bà gia, là Na-ô-mi (1:16, 17), và theo bà về Bết-lê-hem.
2:1-23-- Ru-tơ mót lúa trong đồng ruộng của Bô-ô
Bô-ô là con trai của Ra-háp, người Ca-na-an làm kỵ nữ tại thành Giê-ri-cô (Gios Gs 2:1, Mat Mt 1:5 xem thêm Gios Gs 2:1-24). Như vậy, bà cố nội của Đa-vít là người Mô-áp, và ông cố nội của Đa-vít là người lai Ca-na-an. Máu dân ngoại đã dự phần cấu tạo gia tộc được tuyển lựa ở giữa tuyển dân; đó là hình bóng về Đấng Mê-si được ban cho mọi dân tộc.
Hãy chú ý mối liên lạc thân ái giữa Bô-ô và những người làm công cho ông (câu 4).
Cách Bết-lê-hem chừng 1 dặm về phía Đông, có một khu ruộng gọi là "ruộng của Bô-ô," tại đó, theo truyền thoại, Ru-tơ đã mót lúa. Gần đó là "cánh đồng của các gã chăn chiên," là nơi theo truyền thoại, các thiên sứ đã báo tin Đức Chúa Jêsus giáng sanh cho bọn chăn chiên. Vậy, theo các truyền thoại nầy, "sân khấu" cho bản tình ca giữa Bô-ô và Ru-tơ để đưa tới sự cấu tạo gia tộc sẽ sanh ra Đấng Christ, 1100 năm sau, đã được chính Đức Chúa Trời lựa chọn làm nơi thiên sứ báo tin Đấng Christ ngự đến.
Ru R 4:1-5:22-- Bô-ô và Ru-tơ thành hôn
Dưới Giáo đường Giáng sanh tại thành Bết-lê-hem, có một căn phòng mà người ta nói rằng Đức Chúa Jêsus đã sanh ra ở đó. Theo một truyền thoại thời xưa, thì chính căn phòng nầy là một phần tòa nhà tổ tiên của Đa-vít, và -- trước Đa-vít-- của Bô-ô và Ru-tơ. Vậy, theo truyền thoại nầy, Bô-ô đã cưới Ru-tơ làm vợ và bắt đầu cấu tạo gia tộc sẽ đưa Đấng Christ vào thế gian nầy trong chính căn phòng mà 1100 năm sau, Đấng Christ đã giáng sanh tại đó.
Gia hệ (4:17-22) tỏ ra con trai của Ru-tơ là Ô-bết, con trai của Ô-bết là Y-sai, và con trai của Y-sai là Đa-vít; chính cốt vì gia hệ đó mà sách Ru-tơ đã được chép ra. Từ đó trở đi, ý tưởng của Cựu Ước qui tụ vào Vua của các vua hầu đến sẽ sanh ra trong dòng dõi Đa-vít. Và chính Ru-tơ đã mở đầu cho dòng dõi ấy.
================================

I Sa-mu-ên
Tổ chức vương quốc Sa-mu-ên -- Sau-lơ -- Đa-vít Sa-mu-ên là điểm nối liền Các quan xét với chế độ vương quốc Niên hiệu: Khoảng 1100-1050 T.C. Sân khấu của chức vụ Sa-mu-ên

Ra-ma cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 6 dặm về phía Bắc, là nơi Sa-mu-ên ra đời, thi hành quyền tư pháp và được an táng (ISa1Sm 1:19, 7:17, 25:1).
Bê-tên, cách Ra-ma chừng 5 dặm về phía Bắc, là văn phòng của Sa-mu-ên ở phía Bắc. Bê-tên là một trong bốn điểm cao nhứt trong xứ, ba nơi kia là Ê-banh, Hếp-rôn và Mích-ba. Từ Bê-tên, ta thấy phong cảnh của xứ đẹp tuyệt. Tại đây, 800 năm trước, Gia-cốp đã thấy chiếc thang bắc lên trời. Về sau, Bê-tên trở thành trung tâm thờ lạy con bò con bằng vàng (IVua 1V 12:28, 29).
Mích-ba, cách Ra-ma 3 dặm về phía Đông, ở trên núi Neby Samwil (nghĩa là "đấng tiên tri Sa-mu-ên), là văn phòng phía Tây của Sa-mu-ên. Tại đây, Sa-mu-ên dựng phiến đá "Ê-bên-Ê-xe" (ISa1Sm 7:12). Trên sườn phía Bắc của núi nầy là Ga-ba-ôn, tại đây lâu lắm về trước, Giô-suê đã làm cho "mặt trời dừng lại."
Ghi-bê-a (ngày nay tên là Tell-el-Ful ), ở khoảng giữa Ra-ma và Giê-ru-sa-lem, là quê hương của Sau-lơ.
Bết-lê-hem cách Ra-ma 12 dặm về phía Nam, là nơi Đa-vít sanh ra, và về sau là nơi Đức Chúa Jêsus giáng sanh.
Si-lô cách Ra-ma chừng 15 dặm về phía Bắc, là nơi đặt Đền tạm từ đời Giô-suê đến đời Sa-mu-ên; cũng là nơi Sa-mu-ên hầu việc Đức Chúa Trời lúc còn thơ ấu.
Ki-ri-át-Giê-a-rim cách Ra-ma chừng 8 dặm về phía Tây nam, là nơi đặt hòm giao ước sau khi từ xứ Phi-li-tin trở về.
ISa1Sm 1:1-2:11 -- Sa-mu-ên sanh ra
Cha mẹ ông là người Lê-vi (ISu1Sb 6:33-38). Mẹ ông, là An-ne, đáng được ta tôn kính hết sức. Bà treo gương từ mẫu cao quí, và con trai bà đã trở thành một nhơn vật cao thượng và thanh khiết nhứt trong lịch sử.
Bí Chú Khảo Cổ: Si-lô (ISa1Sm 1:3)
Giô-suê đặt Đền tạm tại Si-lô (Gios Gs 18:1).
Từ năm nầy qua năm khác, dân Y-sơ-ra-ên lên Si-lô để dâng tế lễ (ISa1Sm 1:3).
Đa-vít đem hòm giao ước về thành Giê-ru-sa-lem (IISa 2Sm 6:15), khoảng 1000 năm T.C..
Giê-rê-mi (Gie Gr 7:12-15), chừng 600 năm T.C., chép rằng Si-lô đã bị phá hủy.
Các khúc sách trên đây hàm ý rằng Si-lô là một đô thị quan trọng từ đời Giô-suê đến đời Đa-vít, nhưng sau đó, vào khoảng 600 năm T.C., nó đã bị hủy phá, trở thành hoang vu, và không còn nữa.
Năm 1922-1931, một phái đoàn Đan-mạch tìm thấy trong di tích của thành Si-lô những mảnh đồ gốm khoảng 1200-1050 T.C., làm chứng cho nền văn hóa Y-sơ-ra-ên, nhưng không một chứng cớ nào tỏ ra có người ở trước đó và sau đó, mãi tới khoảng 300 năm T.C. mới có. Albright cho rằng Si-lô bị hủy phá vào khoảng 1050 năm T.C.. Vậy, các cuộc đào bới phù hợp với những lời Kinh Thánh chép về thành Si-lô.
ISa1Sm 2:12-36 -- Báo cáo thay đổi ban thầy tế lễ
Câu 31-35 dường như ứng dụng trực tiếp cho Sa-mu-ên, là người kế vị Hê-li làm Quan xét và cũng tạm quyền thầy tế lễ nữa (7:9, 9:11-14) nhưng mấy câu nầy dường như cũng chỉ về một ban thầy tế lễ sẽ còn "luôn luôn" (câu 35).
Mấy câu nầy được ứng nghiệm khi Sa-lô-môn cất chức A-bia-tha, thuộc gia đình Hê- li, mà trao cho Xa-đốc, thuộc một nhánh khác của gia tộc A-rôn (IVua 1V 2:27, ISu1Sb 24:3, 6).
Nhưng mấy câu nầy được ứng nghiệm tối hậu trong chức Thầy tế lễ đời đời của Đấng Christ. Trong đoạn 8, 9, 10, chúng ta thấy thể nào Sa-mu-ên đã khởi xướng một cuộc cải cách chánh thể từ chế độ Các quan xét qua chế độ quân chủ. Dưới chế độ quân chủ, chức vua và chức thầy tế lễ được phân biệt rõ rệt. Ở câu 35 đây có hứa cho một ban thầy tế lễ đời đời thể nào, thì cũng một thể ấy, ở IISa 2Sm 7:16, Đa-vít được Đức Chúa Trời hứa ban cho ngôi vua đời đời. Cả chức Thầy tế lễ đời đời và ngôi Vua đời đời chỉ trước về Đấng Mê-si, -- hai chức nầy hiệp một trong Đấng Christ, vì chính Ngài trở nên Thầy tế lễ đời đời và Vua đời đời của loài người.
Sự tạm thời hiệp nhứt chức Quan xét và chức thầy tế lễ trong cá nhơn Sa-mu-ên đang khi từ chế độ Quan xét chuyển qua chế độ quân chủ, dường như là một hình bóng lịch sử về sự hiệp nhứt tối hậu của hai chức vụ ấy trong Đấng Christ.
ISa1Sm 3:1-21-- Sa-mu-ên được kêu gọi làm tiên tri
Sa-mu-ên là một "tiên tri" (3:20). Ông hành chức thầy tế lễ, vì đã dâng của lễ (7:9). Ông cũng "đoán xét" dân Y-sơ-ra-ên (7:15-17), tuần hành tới Bê-tên, Ghinh-ganh, Mích-ba, và đặt văn phòng chánh tại Ra-ma. Ông là "Quan xét" sau chót, là "Tiên tri" thứ nhứt, và là người sáng lập "nền quân chủ;" ông là người duy nhứt cầm quyền cai trị từ đời Hê-li đến đời Sau-lơ. Sứ mạng chánh yếu của ông là tổ chức vương quốc.
Chánh thể dưới đời các Quan xét đã thất bại (xem lời chú giải mở đầu sách Các quan xét). Trải 300 năm, dân Y-sơ-ra-ên ít tấn bộ trong sự phát triển quốc gia. Vậy nên Đức Chúa Trời dấy Sa-mu-ên lên để thống nhứt quốc gia dưới quyền của một vua (xem thêm các đoạn 8, 9, 10).
Các Tiên tri
Danh từ "Tiên tri" thường dùng trước thời Sa-mu-ên, tỉ như ở SaSt 20:7 và XuXh 7:1. Nhưng dường như Sa-mu-ên là người sáng lập một ban tiên tri chánh thức, và có mở trường hoặc "thần đạo học viện" trước nhứt tại Ra-ma (ISa1Sm 19:20); về sau, có những trường như vậy tại Bê-tên, Giê-ri-cô, và Ghinh-ganh (IIVua 2V 2:3, 5, 4:38). Ban thầy tế lễ đã hoàn toàn bại hoại; vậy, đồng thời với sự tổ chức vương quốc, Sa-mu-ên mở những trường nầy dường như để kiểm soát phần đạo đức của các thầy tế lễ và các vua.
Những tiên tri nầy hành chức trải qua 300 năm trước thời kỳ các Tiên tri viết 17 quyển sách cuối cùng của Cựu Ước. Họ được gọi là "Tiên tri nói" để phân biệt với các "tiên tri viết" sách.
Những tiên tri "nói" quan trọng nhứt là: Sa-mu-ên, người tổ chức vương quốc; Na- than, cố vấn của Đa-vít; A-bi-gia, cố vấn của Giê-rô-bô-am; Ê-li và Ê-li-sê, hai người đã tranh đấu kịch liệt chống sự thờ tà thần Ba-anh.
ISa1Sm 4:1-7:17-- Hòm giao ước bị quân Phi-li-tin bắt lấy và được trả lại
Sau khi bị quân Phi-li-tin bắt lấy, thì hòm giao ước không hề được đưa về Si-lô nữa. Từ đó trở đi, Si-lô không còn là một nơi quan trọng nữa. Hòm giao ước ở các đô thị Phi-li-tin 7 tháng; trong thời gian đó, nhiều tai vạ giáng trên người Phi-li-tin, nên chúng quyết định trả lại cho dân Y-sơ-ra-ên.
Hòm giao ước được đưa về Bết-sê-mết, rồi về Ki-ri-át-Giê-a-rim, và hòm ở tại đây 20 năm (7:2). Về sau, Đa-vít thỉnh hòm về Giê-ru-sa-lem, và dựng cho hòm giao ước một cái trại (IISa 2Sm 6:12, IISu 2Sb 1:4), và hòm giao ước cứ ở đó cho đến khi Sa-lô-môn xây xong Đền thờ. Sau khi Nê-bu-cát-nết-sa hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, thì ta không biết chi về lịch sử hòm giao ước nữa.
Sau khi hòm giao ước dời khỏi Si-lô, thì Đền tạm lúc ở Nóp (ISa1Sm 21:1, Mac Mc 2:26), lúc ở Ga-ba-ôn (ISu1Sb 21:29), cho đến khi Sa-lô-môn đưa vào trong Đền thờ (IVua 1V 8:4).
Sau khi hòm giao ước từ xứ Phi-li-tin trở về, thì do Đức Chúa Trời trực tiếp giúp đỡ, Sa-mu-ên đã đánh cho quân Phi-li-tin đại bại tại chính chỗ chúng đã chiếm hòm giao ước (ISa1Sm 4:1, 7:12).
ISa1Sm 8:1-10:27-- Tổ chức vương quốc
Cho tới lúc nầy, chánh thể của quốc gia Y-sơ-ra-ên là "Thần chánh" (Théocratie ). Trong một thế giới tham tàn mà mọi dân tộc chuyên nghề cướp bóc và chỉ có luật pháp của bạo lực được thừa nhận, một quốc gia muốn tồn tại tất phải khá hùng mạnh. Vậy, chiều theo lề thói của loài người, Đức Chúa Trời đã để cho dân Ngài Thống Nhứt dưới quyền cai trị của một vua, y như các dân khác. Vua thứ nhứt, là sau-lơ, đã thất bại. Nhưng vua thứ hai, là Đa-vít, đã thành công mỹ mãn.
Bí Chú Khảo Cổ: Nhà của Sau-lơ ở Ghi-bê-a (10:26)
Năm 1922-23, ông Albright tìm thấy di tích của thành trì mà Sau-lơ đã xây cất tại Ghi-bê-a, trong địa tằng 1000 năm T.C..
Bản đồ số 37
11:1-15:35-- Sau-lơ làm vua
Sau-lơ thuộc về chi phái Bên-gia-min; đương thời các Quan xét, chi phái nầy đã gần bị tuyệt diệt; ông sanh trưởng tại thành Ghi-bê-a, là nơi tai họa khủng khiếp đã nhóm lên.
Cao lớn, đẹp đẽ và khiêm tốn, Sau-lơ đã bắt đầu đời trị vì bằng một trận toàn thắng dân Am-môn. Mọi sự nghi ngờ đối với "dòng vua mới" đã tiêu tan. Quốc gia dường như cứ đà ấy tiến tới bậc hùng cường.
Rồi Sa-mu-ên long trọng cảnh cáo dân và vua chớ có quên bỏ Đức Chúa Trời, lời cảnh cáo nầy được xác nhận bằng một trận bão tố có sấm sét lạ lùng (đoạn 12).
Lầm lỗi thứ nhứt của Sau-lơ (đoạn 13).-- Sự thành công của ông đã bốc lên đầu ông rất mau chóng. Sự khiêm tốn nhường chỗ cho sự kiêu căng. Ông dâng của lễ, là việc dành riêng cho các thầy tế lễ. Đó là dấu hiệu thứ nhứt tỏ ra Sau-lơ tự thị và tự cho là quan trọng.
Lầm lỗi thứ hai của Sau-lơ (đoạn 14).-- Ông dại dột ra lịnh cấm quân đội ăn và dại dột lên án xử tử Giô-na-than, tỏ cho nhơn dân thấy vua của họ khờ khạo dường nào!
Lầm lỗi thứ ba của Sau-lơ (đoạn 15).-- Ông cố ý không vâng lời Đức Chúa Trời trong vấn đề người A-ma-léc. Vì cớ ấy, ông nghe Sa-mu-ên tuyên án khủng khiếp rằng: "Bởi ngươi đã từ bỏ lời của Đức Giê-hô-va, nên Ngài cũng từ bỏ ngươi, không cho ngươi làm vua" (câu 23).
16:1-23-- Đa-vít được bí mật xức dầu làm vua
Không thể xức dầu cho Đa-vít công khai, e Sau-lơ giết ông. Mục đích sự xức dầu nầy là hiến cho Đa-vít cơ hội tự huấn luyện làm vua. Từ ngày đó trở đi, Đức Chúa Trời chăm lo cho Đa-vít (câu 13).
Đa-vít là người nhỏ thấp, da dẻ hồng hào, vẻ mặt xinh đẹp, có sức khỏe lạ lùng và cá tánh rất hấp dẫn. Ông là một chiến sĩ, nói năng khôn khéo, rất can đảm, rất có khả năng về âm nhạc, và rất sùng đạo.
Vì ông nổi danh nhạc sĩ, nên Sau-lơ chú ý đến ôn; vả lúc đó, Sau-lơ không biết rằng Đa-vít đã được xức dầu để kế vị mình. Ông được dùng làm người vác binh khí cho Sau-lơ. Do đó, ông được giao thiệp với vua và các cố vấn của vua, được cơ hội học tập thuật cai trị và chiến tranh.
17:1-58-- Đa-vít và Gô-li-át
Dường như lần đầu tiên, Đa-vít chỉ ở triều đình của Sau-lơ ít lâu và ông đã trở về Bết-lê-hem; mấy năm trôi qua, trong thời gian ấy mặt mày Đa-vít đổi khác đến nỗi Sau-lơ không nhận biết ông nữa (câu 55-58).
Sô-cô, nơi Gô-li-át đóng trại, cách Bết-lê-hem chừng 15 dặm về phía Tây. Gô-li-át cao chừng 2 thước 70 phân, và bộ giáp trụ của hắn cân nặng chừng 70 cân tây, riêng mũi cây lao của hắn cân nặng hơn 8 cân tây. Với cây gậy và cái trành ném đá, Đa-vít tính hạ Gô-li-át, thì thật là một hành động vô cùng táo bạo và tuyệt đối tin cậy Đức Chúa Trời. Sự đắc thắng của ông làm cho toàn dân sửng sốt, kinh ngạc. Lập tức Đa-vít được làm phò mã của Sau-lơ, thống suất quân đội, và trở nên vị anh hùng được toàn dân quí mến.
18:1-20:43-- Sau-lơ ganh ghét Đa-vít
Đa-vít được nhơn dân hâm mộ, nên Sau-lơ xây qua chống nghịch ông. Nhiều lần Sau- lơ toan giết ông đi. Đa-vít chạy trốn, và lẩn tránh trong vùng núi non suốt mấy năm.
Tình bằng hữu của Giô-na-than với Đa-vít (đoạn 20).-- Giô-na-than là người sẽ được kế ngôi vua. Chàng đã toàn thắng quân Phi-li-tin (đoạn 14) và có tâm tình cao thượng; đó là bằng cớ xác đáng tỏ ra chàng sẽ là một bậc minh quân. Nhưng chàng biết Đức Chúa Trời đã phong cho Đa-vít làm vua. Một cách tuyệt mỹ, chàng đã tự xóa bỏ mình đi, không màng quyền kế vị, và một cách vô kỷ, chàng đã tận tụy với địch thủ của mình, -- những cái đó tạo thành một truyện tình bằng hữu cao thượng nhứt và tốt đẹp nhứt trong lịch sử.
21:1-27:12-- Đa-vít trốn khỏi Sau-lơ
Thầy tế lễ ở thành Nóp ban bánh thánh cho Đa-vít đang trốn tránh, và Đức Chúa Jêsus đã nhắc đến việc ấy ở sách Mat Mt 12:4. Đoạn, Đa-vít trốn qua khu vực của người Phi-li-tin và giả dạng điên. Cảm thấy nguy hiểm, ông lại chạy tới hang đá A-đu-lam, ở miền Tây lãnh thổ của chi phái Giu-đa, rồi tới xứ Mô-áp, rồi trở lại miền Nam đất Giu-đa, tại Kê-hi-la, Xíp và Ma-ôn. Ông đã tụ tập được 600 đồ đệ, và Sau-lơ vẫn đuổi theo ông bén gót, nhưng ông luôn luôn thoát khỏi. Ông đã viết nhiều Thi Thiên trong thời kỳ nầy.
Tại Ên-ghê-đi, Sau-lơ mắc bẫy; nhưng Đa-vít tha chết cho Sau-lơ, vì không chịu lên ngôi vua bằng cách làm đổ huyết. Đa-vít cũng tha chết cho Sau-lơ một lần nữa tại Xíp. Sau-lơ nhìn nhận mình là kẻ "điên cuồng" (ISa1Sm 26:21), nhưng ông cứ điên cuồng mãi.
Tại Ma-ôn, A-bi-gia-in, một người nữ giàu có, khôn khéo và phong nhã, đã trở thành vợ của Đa-vít. Rốt lại, Đa-vít lại đi ẩn náu trong xứ Phi-li-tin, và cứ ở đó cho tới khi Sau-lơ qua đời.
ISa1Sm 28:1-31:13-- Sau-lơ qua đời
Quân Phi-li-tin xâm lăng xứ Y-sơ-ra-ên, và đóng trại tại Ghinh-bô-a. Một vua chúa Phi-li-tin muốn Đa-vít và đồ đệ của ông đi cùng với họ. Nhưng các quan trưởng khác không tin cậy Đa-vít. Vậy, Đa-vít ở lại hậu phương, và cùng 600 chiến sĩ phòng vệ miền Nam, chống lại người A-ma-léc.
Trong khi ấy, Sau-lơ hoàn toàn khiếp sợ, bèn nhờ một bà bóng ở Ên-đô-rơ làm trung gian để phỏng vấn thần linh của Sa-mu-ên. Bài tường thuật đơn sơ và thành thật dường như ngụ ý rằng thần linh của Sa-mu-ên thật đã hiện về. Tuy nhiên, người ta có ý kiến khác nhau, kẻ cho rằng sự hiện hồn đó là thật, kẻ cho là giả. Dầu sao, Sau-lơ đã bỏ mạng trong trận đánh nầy. Ông đã trị vì 40 năm (Cong Cv 13:21).
Bí Chú Khảo Cổ: Binh khí của Sau-lơ (ISa1Sm 31:10)
Câu Kinh Thánh trên đây chép rằng "chúng để binh khí của Sau-lơ tại trong đền thờ Át-tạt-tê" ở Bết-san, và ở ISu1Sb 10:10 chép rằng "đầu người thì đóng đinh treo trong chùa Đa-gôn."
Bết-san (Beisan ) ở ngay phía Đông núi, ở chỗ thung lũng sông Giô-đanh và thung lũng Rít-ghê-ên gặp nhau, trên ngã tư những con đường chính cao hơn hai thung lũng ấy. Năm 1921-30, tại Bết-san, trong địa tằng 1000 năm T.C., phái đoàn của Bảo tàng viện Đại học đường Pennsylvania khám phá được di tích của một miễu thờ Át-tạt-tê và một miễu thờ Đa-gôn, -- chính là hai nơi mà binh khí và đầu của Sau-lơ đã bị treo. Ít ra, đó cũng là bằng cớ tỏ ra có những miễu thờ như vậy tại Bết-san đương thời Sau-lơ.
==================================

II Sa-mu-ên
Đời trị vì của Đa-vít Đa-vít là đầu của một triều vua đời đờI
IISa 2Sm 1:1-6:23 Đa-vít buồn rầu vì cớ Sau-lơ tử trận. Đa-vít được tôn làm vua miền đất Giu-đa. Giao chiến 7 năm với Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ. Đa-vít được tôn làm vua cả nước Y-sơ-ra-ên. Giê-ru-sa-lem được chọn làm thủ đô toàn quốc. Hòm giao ước được đưa về Giê-ru-sa-lem.
7:1-29-- Đức Chúa Trời hứa ban cho Đa-vít ngôi vua đời đời
Cựu Ước là truyện tích về Đức Chúa Trời đối xử với quốc gia Hê-bơ-rơ cốt để một ngày kia, họ có thể ban phước cho muôn dân.
Truyện tích nầy lần lần phát triển, thì có lời giải thích rằng quốc gia Hê-bơ-rơ sẽ bởi gia tộc Đa-vít mà ban phước cho muôn dân.
Truyện tích nầy phát triển hơn nữa, thì có lời giải thích thêm rằng gia tộc Đa-vít sẽ ban phước cho thế giới do trung gian của một Vua Cao Trọng, ngày kia sẽ sanh ra trong gia tộc ấy: Chính Ngài sẽ sống đời đời và sáng lập một Nước Vô Cùng Tận.
Trong đoạn 7 của sách II Sa-mu-ên nầy, bắt đầu một loạt nhiều lời hứa rằng gia tộc Đa-vít sẽ cai trị dân Đức Chúa Trời cho đến đời đời; nghĩa là từ gia tộc Đa-vít sẽ phát xuất một triều vua mà tuyệt điểm là một Vua Đời Đời. Dưới đây là một vài lời hứa thuộc loại ấy.
"Ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi" (7:16). (Đức Chúa Trời phán với Đa-vít ).
"Nhược bằng các con trai ngươi cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết ý theo lẽ thật mà đi ở trước mặt Ta, thì ngươi sẽ chẳng hề thiếu người ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên (IVua 1V 2:4). (Đức Chúa Trời phán với Đa-vít. Lời hứa nầy thoạt tiên có điều kiện, nhưng về sau là bất biến, vì Vua đời đời đã giữ trọn điều kiện ).
"Con trai mà ngươi sẽ sanh ra,... tên nó sẽ là Sa-lô-môn;... Ta sẽ lập ngôi nước nó trên Y-sơ-ra-ên được bền vững đời đời" (ISu1Sb 22:8, 9, 10). (Đức Chúa Trời phán với Đa-vít ).
"Nếu ngươi khứng đi trước mặt Ta như Đa-vít, cha ngươi đã làm,... thì Ta sẽ lập nước ngươi được bền vững, y theo lời ước Ta đã kết với Đa-vít, cha ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu người quản trị Y-sơ-ra-ên" (IISu 2Sb 7:17, 18). (Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn ).
"Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của Ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ Ta, mà rằng: Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời...
Lại Ta cũng sẽ làm ngươi thành Con Trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất...
Lập cùng ngươi giao ước Ta cho vững bền. ta cũng sẽ làm cho dòng dõi ngươi còn đến đời đời, và ngôi ngươi còn lâu dài bằng các ngày của trời...
Ta sẽ không hề bội giao ước Ta, cũng chẳng đổi lời đã ra khỏi môi miệng Ta. Ta đã chỉ sự thánh Ta mà thề một lần, cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít... Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi" (Thi Tv 89:3, 4, 27-29, 34-37).
"Đức Giê-hô-va đã thề quyết với Đa-vít, Ngài cũng chẳng hề bội mà rằng: Ta sẽ đặt trên ngôi ngươi một con ngươi sanh ra" (132:11).
"Trong ngày đó, Ta sẽ dựng lại nhà tạm của Đa-vít, là nhà đã đổ,... đến nỗi chúng nó sẽ thâu được... hết thảy các nước được xưng bởi Danh Ta, Đức Giê-hô-va phán vậy" (AmAm 9:11, 12).
"Vì có một Con Trẻ sanh cho chúng ta, tức là một Con Trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu Luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít" (EsIs 9:5-7).
"Có một Chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái... đứng lên làm cờ cho muôn dân, các nước đều tìm đến Ngài" (11:1, 10).
"Hỡi Bết-lê-hem (thành Đa-vít),... từ nơi ngươi sẽ ra cho Ta một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên; gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng... Ngài sẽ làm lớn cho đến các đầu cùng đất" (MiMk 5:1-3).
"Hỡi đất, đất, đất! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va... Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh Công bình. Ngài sẽ cai trị làm Vua... Người ta sẽ xưng Danh Đấng ấy là: Đ­ức Giê-Hô-Va Sự Công Bình Chúng Ta " (Gie Gr 22:29, 23:5-6).
"Nếu các ngươi có thể phá giao ước ban ngày của Ta, đến nỗi chẳng có ngày và đêm trong kỳ nó nữa, thì mới có thể phá giao ước của Ta với Đa-vít" (Gie Gr 33:20, 21).
"Nầy, quả thật, ta sẽ làm cho đầy tớ Ta, là Chồi, dấy lên... Ta sẽ cất sự gian ác khỏi đất nầy trong một ngày" (XaDr 3:8, 9).
"Có một người tên là Chồi mống,... người ấy sẽ xây Đền thờ Đức Giê-hô-va; và chính người sẽ được sự oai nghiêm, ngồi cai trị trên ngôi mình... Quyền thế Ngài sẽ trải từ biển nầy đến biển kia, từ Sông cái cho đến các đầu cùng đất" (XaDr 6:12, 13, 9:10).
"Trong ngày đó,... nhà Đa-vít sẽ như Đức Chúa Trời... Trong ngày đó sẽ có một Suối mở ra cho nhà Đa-vít,... vì tội lỗi và sự ô uế" (XaDr 12:8, 13:1).
Như vậy, lời hứa rằng một Vua đời đời sẽ dấy lên từ gia tộc Đa-vít được nhắc đi nhắc lại cho Đa-vít và Sa-lô-môn, trong các Thi Thiên, bởi các đấng tiên tri A-mốt, Ê-sai, Mi-chê, Giê-rê-mi và Xa-cha-ri, trải qua một thời kỳ gần 500 năm.
Rồi khi kỳ hạn đã trọn, thiên sứ Gáp-ri-ên được sai đến thành Na-xa-rét, gặp ma-ri, thuộc dòng Đa-vít, mà phán rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một Con Trai, mà đặt tên là JÊSUS. Con Trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít, là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, Nước Ngài vô cùng" (LuLc 1:30-33).
Trong Con Trai Nầy, các lời hứa cho Đa-vít sẽ được ứng nghiệm.
IISa 2Sm 8:1-10:19-- Các cuộc đắc thắng của Đa-vít
Sau khi Sau-lơ qua đời, thì Đa-vít được tôn làm vua đất Giu-đa, đóng đô tại Hếp rôn. 7 năm sau, ông được tôn làm vua cả nước Y-sơ-ra-ên. Lúc lên ngôi vua, ông được 30 tuổi. Ông trị vì đất Giu-đa 7 năm rưỡi, và trị vì cả nước Y-sơ-ra-ên 33 năm; tổng cộng là 40 năm (5:3-5). Lúc qua đời, ông được 70 tuổi.
Sau khi lên làm vua cả nước Y-sơ-ra-ên ít lâu, Đa-vít thiên đô về Giê-ru-sa-lem. Từ thời Giô-suê, chỉ có Giê-ru-sa-lem đương đầu được với quân lực Y-sơ-ra-ên. Vì thành nầy ở vị trí không ai chiếm được và vì có truyền thoại về Mên-chi-xê-đéc, là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao, nên Đa-vít cho rằng nó đáng làm thủ đô toàn quốc hơn hết. Ông bèn chiếm lấy Giê-ru-sa-lem, đem hòm giao ước của Đức Chúa Trời vào đó, và lập kế hoạch xây cất Đền thờ (đoạn 5, 6, 7).
Đa-vít giao chiến rất thắng lợi. Ông hoàn toàn khắc phục các dân Sy-ri, Phi-li-tin, Mô-áp, Ê-đôm, Am-môn, A-ma-léc và mọi nước lân cận thù địch ở giữa Ai-cập và sông Ơ-phơ-rát. "Hễ nơi nào Đa-vít đi đến, thì Đức Giê-hô-va cho người được thắng" (8:6).
11:1-12:31-- Đa-vít và Bát-sê-ba
Đây là vết đen thui trên cuộc đời Đa-vít: Ông phạm tội ngoại tình rồi cố sát để che giấu tội ngoại tình ấy. Sự hối hận làm cho lòng ông tan vỡ. Đức Chúa Trời tha thứ cho ông, nhưng Ngài tuyên án khủng khiếp: "Gươm chẳng hề thôi hủy hoại nhà ngươi" (12:10), và thật đã có như vậy. Đa-vít gặt chính cái mình đã gieo, và hơn nữa; thật là mùa gặt dai dẳng, nặng nhọc và cay đắng. Con gái ông, là Ta-ma, bị anh, là Am-môn, cưỡng hiếp, rồi chính Am-môn lại bị anh, là Áp-sa-lôm, giết chết. Áp-sa-lôm cầm đầu một cuộc dấy loạn chống lại cha mình, là Đa-vít, rồi bị giết trong một trận đánh. Các cung phi của Đa-vít đã bị hãm hiếp công khai, cũng như ông đã lén lút cưỡng hiếp vợ của vị anh hùng U-ri. Như vậy, đời trị vì vinh quang của Đa-vít đã bị mờ ám vì khổ nạn không dứt trong những năm sau cùng. Thật là một bài học quí giá cho những ai tưởng mình có thể phạm tội, phạm tội, phạm tội, rồi tự gỡ thoát tội lỗi được!
Tuy nhiên, đây là "một người theo lòng Ngài" (ISa1Sm 13:14, Cong Cv 13:22). Phản ứng của Đa-vít đối với tội mình tỏ ra ông thật là người như vậy. Một vài Thi Thiên, như Thi Tv 32:1-11, 51:1-19, đã phát sanh từ quá trình cay đắng nầy.
IISa 2Sm 13:1-21:22-- Các khổ nạn của Đa-vít
Ta-ma bị cưỡng hiếp. Am-môn bị hạ sát. Áp-sa-lôm chạy trốn. Áp-sa-lôm được gọi về.
Áp-sa-lôm lập mưu cướp nước (đoạn 15 đến 19). Chắc Áp-sa-lôm biết rằng Sa-lô- môn đã được chọn làm vua kế vị Đa-vít. Vậy nên chàng cố cướp ngôi của cha mình, là Đa-vít. Xét khoảng dành cho sự tường thuật biến cố nầy, chắc ta thấy đây là một sự rối loạn lớn nhứt trong đời trị vì của Đa-vít. Nó cũng tỏ ra khuyết điểm của mấy cố vấn mà Đa-vít tin cậy hơn hết, và làm cho lòng ông tan nát. Nhưng đến cuối cùng, Áp-sa-lôm đã bị giết, và Đa-vít lại khôi phục được ngôi vua.
Rồi tới sự dấy loạn của Sê-ba (đoạn 20).-- Vì Áp-sa-lôm toan cướp ngôi, nên chắc oai quyền của Đa-vít trên dân chúng suy giảm đi. Vậy, Sê-ba toan lợi dụng cơ hội ấy, nhưng chẳng bao lâu, hắn bị đè bẹp. Bấy giờ, quân Phi-li-tin lại trở thành bạo dạn (đoạn 21), nhưng Đa-vít lại toàn thắng.
22:1-51-- Bài ca ngợi khen của Đa-vít
Tại đây, cũng như trong nhiều Thi Thiên khác, Đa-vít bày tỏ lòng mình tin cậy Đức Chúa Trời, chẳng hề mòn mỏi, cùng lòng cảm kích vô biên đối với Đức Chúa Trời vì Ngài hằng săn sóc mình.
23:1-39 -- Những lời cuối cùng của Đa-vít
Đây là Thi Thiên cuối cùng của ông. Nó tỏ ra tâm trí Đa-vít chú trọng vào những gì lúc ông đi hết đường đời vinh quang mà đầy hoạn nạn: Ấy là sự công bình trong đời trị vì của ông, việc ông trứ tác các Thi Thiên, lòng ông quí mến Lời Đức Chúa Trời, giao ước của Đức Chúa Trời lập với ông về một triều vua đời đời, và đến cuối cùng, kẻ không tin thờ Đức Chúa Trời sẽ bị tiêu diệt.
24:1-25-- Kiểm tra dân số
Chúng ta khó thấy tại sao kiểm tra dân số trong nước lại là tội lỗi. Chính Đức Chúa Trời đã ra lịnh kiểm tra dân số lúc bắt đầu và lúc chấm dứt 40 năm lưu lạc trong đồng vắng (Dan Ds 1:2, 26:2) Có lẽ trong trường hợp nầy, sự kiểm tra dân số tỏ ra rằng Đa-vít vốn suốt đời bền lòng và tuyệt đối tin cậy Đức Chúa Trời, nhưng bây giờ lại bắt đầu sa sút mà toan nương cậy sự hùng cường của nước mình. Sự kiểm tra dân số là ý tưởng của quỉ Sa-tan (ISu1Sb 21:1). Có lẽ nó cho đó là cơ hội để khiến Đa-vít bỏ lòng tin cậy Đức Chúa Trời mà tự tin cậy mình. Dầu sao, Đức Chúa Trời coi hành động đó là một tội lỗi đáng bị hình phạt.
Theo sự kiểm tra dân số, thì có chừng một triệu rưỡi chiến sĩ, không kể người Lê-vi và người Bên-gia-min (ISu1Sb 21:5), hoặc tổng số nhơn dân chừng 5 triệu.
Để hình phạt, Đức Chúa Trời giáng dịch lệ hành hại thành Giê-ru-sa-lem. Đa-vít dựng một bàn thờ tại chỗ tay của thiên sứ ngừng lại (câu 25). Và Sa-lô-môn đã xây cất Đền thờ tại chỗ Đa-vít dựng bàn thờ đó (IISu 2Sb 3:1).
Đa-vít
Tổng quát, Đa-vít là một nhơn vật vĩ đại: Ông có nhơn tánh mãnh liệt, xung động, tận tụy, khoan hồng đối với kẻ lầm lỗi. Ông đã làm một vài điều rất trái phép, nhưng với tư cách một vua Đông-phương, ông là người rất đáng kính chuộng. Ông tận tâm, tận tụy với Đức Chúa Trời và các đường lối của Ngài. Trong một thế giới thờ lạy hình tượng và trong một quốc gia luôn luôn sa ngã vào sự thờ lạy hình tượng. Đa-vít đứng vững như một vầng đá về phía Đức Chúa Trời. Trong mọi trường hợp ở đời, ông đi thẳng đến Đức Chúa Trời bởi lời cầu nguyện, cảm tạ và ngợi khen. Hai công trạng vĩ đại của ông là: Thực hiện vương quốc và trứ tác các Thi Thiên.
=============================

I Các Vua
Đời trị vì của Sa-lô-môn Đền thờ Sự huy hoàng của triều đình Sa-lô-môn Thời đại hoàng kim của lịch sử Hê-bơ-rơ Nước bị chia đôi và suy tàn Mười chi phái bội đạo Ê-li
Trong Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ, sách I Các vua và II Các vua chỉ là một cuốn. Các dịch giả bản Septante đã chia ra làm hai. Sơ lược mà nói, hai sách nầy tường thuật: 1) Đời trị vì của Sa-lô-môn. 2) Nước chia làm hai và lịch sử song hành của hai nước. 3) Lịch sử tiếp theo của nước Do-thái cho đến khi bị bắt làm phu tù.
Sách I Các vua mở đầu bằng hồi vinh quang của quốc gia Hê-bơ-rơ. Sách II Các vua chấm hết bằng lúc suy vong của quốc gia ấy. Cả hai sách gồm một khoảng chừng 400 năm, vào lối 1000-600 T.C..
Tác giả
Không biết ai là tác giả. Theo một truyền thoại Do-thái, thì tác giả là Giê-rê-mi. Dầu là ai, tác giả cũng nhiều lần nhắc đến biên niên sử của nhà nước và nhiều sử ký khác sẵn có đương thời mình, tỉ như: "Sách hành trạng của Sa-lô-môn" (IVua 1V 11:41), "sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên" (IVua 1V 14:19), "sách sử ký của các vua Giu-đa" (IVua 1V 14:29). Xin xem thêm I Các vua 15:7, 23, 31; 16:5, 14, 27,v.v... Vậy, dường như có nhiều ký văn mà tác giả thánh được dọc và dùng, lẽ tự nhiên là có Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn ông.
1:1-2:46-- Sa-lô-môn lên làm vua
Sa-lô-môn là con trai của Bát-sê-ba, người mà Đa-vít đã cưỡng chiếm làm vợ. Dầu không phải là con kế vị, nhưng ông đã được Đa-vít lựa chọn, và được Đức Chúa Trời phê chuẩn làm người kế ngôi Đa-vít (1:30, ISu1Sb 22:9, 10).
Dường như A-đô-ni-gia, con trai thứ tư của Đa-vít, có hy vọng lên ngôi vua (IVua 1V 2:15, 22 IISa 2Sm 3:3, 4) vì Am-môn, Áp-sa-lôm và có lẽ Ki-lê-áp nữa, đều đã qua đời. Vậy, đang khi Đa-vít hấp hối trên giường và trước khi Sa-lô-môn được chánh thức xức dầu làm vua, thì A-đô-ni-gia, được vài tướng lãnh của Đa-vít giúp đỡ, đã toan mưu cướp nước. Nhưng đấng tiên tri Na-than đã cản trở mưu nghịch ấy, và Sa-lô-môn đối xử với A-đô-ni-gia rất khoan hồng. Nhưng A-đô-ni-gia cứ cố quyết cướp ngôi vua, nên chẳng bao lâu, hắn và một vài kẻ đồng lõa đã phải chết.
IVua 1V 3:1-28-- Sa-lô-môn chọn sự khôn ngoan
Việc nầy xảy ra tại Ga-ba-ôn (3:4). Ga-ba-ôn cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 10 dặm về phía Tây-bắc, là nơi đặt Đền tạm và bàn thờ bằng đồng đương thời ấy (ISu1Sb 21:29), mặc dầu hòm giao ước ở Giê-ru-sa-lem (IVua 1V 3:15). Đức Chúa Trời bảo Sa-lô- môn hãy xin điều chi mình muốn. Sa-lô-môn xin Ngài ban cho sự khôn ngoan để trị dân. Lời đó đẹp lòng Đức Chúa Trời, nên Ngài ban thưởng cho ông rất trọng hậu (câu 10-12). "Ta không biết trong lịch sử có lời nào đẹp đẽ hơn hứa cho được cao trọng thật, hoặc bức tranh nào đẹp đẽ hơn mô tả sự tin kính của thanh niên."
4:1-34 -- Quyền thế, sự giàu có và khôn ngoan của Sa-lô-môn
Ông đã thừa hưởng của cha, là Đa-vít, ngôi vua của nước hùng mạnh nhứt đương thời ấy. Đây là một kỷ nguyên thái bình và thạnh vượng. Sa-lô-môn có những cuộc doanh thương lớn lao, và nổi tiếng vì những tác phẩm văn chương của ông. Ông đã viết 3000 châm ngôn, 1005 bài ca, những thiên khảo cứu về thảo mộc học, động vật học (câu 32, 33). Ông viết ba sách trong Kinh Thánh: Châm Ngôn, Truyền đạo, và Nhã Ca. Xin xem thêm ở trang sau.
5:1-8:66-- Sa-lô-môn xây cất Đền thờ
(Xem thêm IISu 2Sb 2:1-7:22)
Bản đồ số 38 -- Những hàng chấm chỉ tỏ biên giới của nước Sa-lô-môn.
IVua 1V 9:1-10:29-- Sự huy hoàng của nước Sa-lô-môn
Hai đoạn nầy giải luận thêm đoạn 4. Sa-lô-môn chuyên tâm vào thương mại và các đại công tác. Ông lập giao ước với vua Ty-rơ để sử dụng hải quân của vua nầy mà kiểm soát sự buôn bán của Tây phương. Ông có hải quân tại Ê-xi-ôn-Ghê-be, và kiểm soát thương lộ ở phía Nam, qua xứ Ê-đôm tới xứ Ả-rập, Ấn-độ và Phi-châu. Ông xây dựng đế quốc của mình bằng thương mại hòa bình, chớ không phải bằng chinh phục, võ công.
Kỷ nguyên Đa-vít và Sa-lô-môn là hoàng kim thời đại của lịch sử Hê-bơ-rơ. Đa-vít là một chiến sĩ, còn Sa-lô-môn là một nhà kiến thiết. Đa-vít kiến tạo vương quốc, còn Sa-lô-môn xây cất Đền thờ. Ở thế giới bên ngoài, đây là thời đại của Homère, lúc lịch sử Hy-lạp bắt đầu. Lúc đó, các nước Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn ở hàng nhược quốc, và Y-sơ-ra-ên là nước hùng cường nhứt thế giới. Giê-ru-sa-lem là thành phố đẹp đẽ nhứt, và Đền thờ là công trình kiến trúc quí giá, nguy nga nhứt trên mặt đất. Từ các đầu cùng đất, người ta kéo đến nghe sự khôn ngoan của Sa-lô-môn và thấy sự vinh hiển của ông. Nữ hoàng danh tiếng xứ Sê-ba than rằng: "Người ta chẳng nói đến được phân nửa!" (10:7).
Bí Chú Khảo Cổ: Các chuồng ngựa của Sa-lô-môn
Đây, tác giả Kinh Thánh nói đến các bầy ngựa của Sa-lô-môn (10:26, 28). Mê-ghi-đô là một trong những thành tại đó ông nuôi ngựa (9:15, 19).
Tại Mê-ghi-đô, nhơn viên Đông phương Học viện đã khám phá được di tích các chuồng ngựa của Sa-lô-môn. Ta có thể thấy những trụ bằng đá để cột ngựa Sa-lô- môn, và những máng cỏ cho ngựa ăn.
Bí Chú Khảo Cổ: Vàng của Sa-lô-môn
Kinh Thánh chép rằng số vàng cung cấp hàng năm cho Sa-lô-môn rất lớn: thuẫn bằng vàng, khiên bằng vàng, mọi đồ dùng trong cung điện bằng vàng, ngai của ông bằng ngà voi cẩn vàng; tại Giê-ru-sa-lem, vàng "thường như đá sỏi" (IISu 2Sb 1:15, IVua 1V 10:10-22). Khoảng 5 năm sau khi Sa-lô-môn băng hà, Si-sắc, vua Ai-cập, đã đến chiếm hết số vàng đó đem đi (14:25, 26, IISu 2Sb 12:2, 9-11).
Lạ lùng thay! Năm 1939 trước đây, người ta đã tìm thấy xác ướp của Si-sắc tại Tanis (Ai-cập), trong một quan tài bằng đá bọc vàng, có lẽ là vàng mà ông đã lấy của Sa-lô-môn.
Bí Chú Khảo Cổ: Hải quân của Sa-lô-môn tại Ê-xi-ôn-Ghê-be
IVua 1V 9:26 chép rằng Sa-lô-môn đóng một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be, để buôn bán với xứ Ả-rập, Ấn-độ và miền duyên hải phía Đông của Phi-châu. Ê-xi-ôn-Ghê- be ở đầu phía Bắc của vịnh Akaba, trên Biển Đỏ.
Năm 1938-1939, Tấn sĩ Nelson Glueck, nhơn viên Đông phương Khảo cứu viện nước Mỹ, đã đào bới và xác nhận di tích của thành Ê-xi-ôn-Ghê-be. Ông tìm thấy di tích các lò đúc, lò rèn, nồi nấu kim thuộc và lò luyện kim thuộc của Sa-lô-môn. Ông cũng tìm thấy những lớp quặng đồng và quặng sắt ở gần đó, dùng để chế tạo dĩa, đinh, mũi cây giáo và lưỡi câu; những thứ nầy được xuất cảng, đổi lấy ngà voi và vàng.
Bí Chú Khảo Cổ: Đá xây vách của Sa-lô-môn
Khi Sa-lô-môn xây cung điện và vách thành Giê-ru-sa-lem, thì ông dùng "đá quí và lớn, có hòn thì mười thước" (7:9-12, 9:15).
Ở góc Đông nam của khu Đền thờ, vách cao tới 25 thước tây. Năm 1868, người ta thuốn trục xuống 26 thước tây, mới tới nền đá. Như vậy, vách xây lên tới 51 thước. Viên đá góc của nó dài 4 thước rưỡi và cao 1 thước 25 phân. Việc Sa-lô-môn "lấp vá lại nơi hư lủng" (11:27) cũng được xác nhận.
Năm 1852, ông Barkley khám phá được hầm đá, là nơi Sa-lô-môn lấy đá lớn để xây cất tại Giê-ru-sa-lem. Bây giờ là một cái hang đá rộng ăn lần ở dưới phần lớn thành Giê-ru-sa-lem. Lối vào là một cái lỗ hẹp ở gần cổng Đa-mách. Một số viên đá đẽo nửa chừng còn tại đó, nhờ vậy mà ta biết phương thức họ khai thác hầm đá. Với những cái cuốc có cán dài, họ cắt xẻ bên trên, bên dưới và bốn cạnh. Họ khoét những lỗ nhỏ thành hàng, đóng nêm gỗ vào đó, rồi đổ nước lên nêm. Như vậy, nêm nở ra và làm tung đá. Người ta cũng khoét những lỗ nhỏ trong vần đá để cặm nến (đèn cầy) soi sáng công nhơn làm việc lúc trời tối mịt.
11:1-43-- Sa-lô-môn cưới nhiều vợ và bội đạo
Đời trị vì vinh quang của Sa-lô-môn đã bị một lỗi lầm lớn lao làm cho mờ ám: Ông cưới nhiều người nữ thờ lạy hình tượng làm vợ. Ông có 700 hoàng hậu và 300 cung phi (11:3) chính điều đó là một tội nặng đối với ông và với những người nữ kia. Chúng tôi tưởng rằng ít ra là về phương diện nầy, người khôn ngoan của mọi thời đại đó rõ ràng chỉ là một kẻ điên dại, tầm thường.
Nhiều người nữ nầy thờ lạy hình tượng, là con của các vua ngoại đạo, và đã gả cho ông cốt để kết đồng minh chánh trị. Người đã xây cất Đền thờ Đức Chúa Trời cũng đã vì bọn vợ mình mà dựng nhiều bàn thờ ngoại đạo song song với Đền thờ kia. Vậy, sự thờ lạy hình tượng mà Đa-vít hết lòng hăng hái dẹp bỏ, đã được lập lại trong cung vua. Sự kiện nầy chấm dứt kỷ nguyên vinh quang mà Đa-vít đã mở đầu, và đưa quốc gia vào con đường suy vong. Mặt trời đã lặn trên thời đại hoàng kim của nước Y-sơ-ra-ên. Lúc già cả, Sa-lô-môn đã dại dột mà bội đạo, -- đó là một cảnh tượng thảm thương hơn hết trong Kinh Thánh. Có lẽ Đức Chúa Trời cho chép truyện tích cốt để nêu gương cảnh xa hoa và sự khoái lạc vô tận có thể làm gì cho cả những người tốt hơn hết.
IVua 1V 12:1-33-- Nước bị chia hai
Vương quốc đã kéo dài 120 năm: Sau-lơ trị vì 40 năm (Cong Cv 13:21); Đa-vít 40 năm (IISa 2Sm 5:4); và Sa-lô-môn 40 năm (IVua 1V 11:42). Sau khi Sa-lô-môn băng hà, thì nước bị chia hai. 10 chi phái họp thành nước phía Bắc, gọi là "Y-sơ-ra-ên." Còn chi phái Giu-đa và chi phái Bên-gia-min họp thành nước phía Nam, gọi là "Giu-đa." Nước phía Bắc kéo dài được hơn 200 năm, rồi bị người A-si-ri hủy diệt khoảng năm 721 T.C.. Nước phía Nam kéo dài được hơn 300 năm, rồi bị người Ba-by-lôn hủy diệt khoảng năm 600 T.C..
Sự ly khai của 10 chi phái là "bởi Đức Giê-hô-va dẫn đến" (12:15, 11:11, 31) để hình phạt sự bội đạo của Sa-lô-môn và để làm bài học cho người Giu-đa.
Niên hiệu của nước bị chia hai
Giê-rô-bô-am 933-911 Rô-bô-am 933-916 Na-đáp 911-910 A-bi-giam 915-913 Ba-ê-sa 910-887 A-sa 912-872 Ê-la 887-886 Xim-ri 886 Ôm-ri 886-875 A-háp 875-854 Giô-sa-phát 874-850 A-cha-xia 855-854 Giô-ram 850-843 Giô-ram 854-843 A-cha-xia 843 Giê-hu 843-816 A-tha-li 843-837 Giô-a-cha 820-804 Giô-ách 843-803 Giô-ách 806-790 A-ma-xia 803-775 Giê-rô-bô-am II 790-749 Ô-xia 787-735 Xa-cha-ri 748 Giô-tham 749-734 Sa-lum 748 Ma-na-hum 748-738 Phê-ca-hia 738-736 A-cha 741-726
Ma-na-se 647-642
Giô-a-cha 608
Giê-hô-gia-kin 597
Tôn giáo của nước phía Bắc
Giê-rô-bô-am, vua của nước phía Bắc, muốn giữ cho hai nước cứ chia rẽ, nên đã dùng một biện pháp chánh trị. Ông lựa chọn sự thờ lạy con bò con, là tôn giáo Ai-cập, lấy đó làm quốc giáo cho nước mình mới thành lập. Sự thờ lạy Đức Chúa Trời đã thâm nhiễm nước Giu-đa và gia tộc Đa-vít. Vậy, con bò con xen vào, tượng trưng cho nền độc lập của nước Y-sơ-ra-ên đối với nước Giu-đa. Giê-rô-bô-am làm cho sự thờ lạy con bò con ăn sâu vào lòng dân của nước phía Bắc, đến nỗi nó tồn tại mãi tới khi nước ấy suy sụp.
Sự thờ lạy tà thần Ba-anh do Giê-sa-bên đem vào thạnh hành chừng 30 năm, rồi bị Ê-li, Ê-li-sê và Giê-hu tuyệt diệt không hề phục hồi nữa, mặc dầu nó thỉnh thoảng còn dấy lên trong nước Giu-đa cho đến khi người Giu-đa bị bắt làm phu tù.
Hết thảy 19 vua của nước phương Bắc đi theo sự thờ lạy con bò con bằng vàng. Một vài vua trong số đó cũng phụng sự Ba-anh. Nhưng không hề có một vua nào toan định đem dân trở về cùng Đức Chúa Trời.
Tôn giáo của nước phía Nam
Sự thờ lạy Đức Chúa Trời. -- Dầu hầu hết các vua Giu-đa phụng sự hình tượng và đi theo đường lối gian ác của các vua Y-sơ-ra-ên, nhưng cũng có một vài ông thờ lạy Đức Chúa Trời, và thỉnh thoảng có những cuộc cải cách tôn giáo lớn lao trong nước Giu-đa. Tuy nhiên, nói chung, thì mặc dầu các đấng tiên tri thường cảnh cáo kinh khiếp, nước Giu-đa cũng ngày càng chìm sâu xuống sự thờ lạy tà thần Ba-anh gớm ghiếc và các tôn giáo khác của người Ca-na-an cho đến khi không còn phương cứu vãn nữa.
Na-đáp 2 năm xấu A-bi-giam 3 năm phần nhiều xấu
Xim-ri 7 ngày Xấu Giô-ram 8 năm Xấu
Giê-hu 28 năm Phần nhiều xấu Ô-xia 52 năm Tốt
Xa-cha-ri 6 tháng Xấu Ma-na-se 25 năm Xấu nhứt
Phê-ca-hia 2 năm Xấu Giô-a-cha 3 tháng Xấu
Ô-sê 9 năm Xấu Giê-hô-gia-kin 3 tháng Xấu
Một vài đời trị vì song song trong một thời gian.
Hết thảy vua Y-sơ-ra-ên phụng sự con bò con; những vua xấu nhứt thì phụng sự Ba- anh.
Phần đông các vua Giu-đa thờ lạy hình tượng; một số ít thờ lạy Đức Giê-hô-va.
Một vài vua xấu có một phần tốt; một vài vua tốt có một phần xấu.
IVua 1V 13:1-14:30-- Giê-rô-bô-am, vua Y-sơ-ra-ên (933-911 T.C.)
Giê-rô-bô-am là một quan trưởng mạnh dạn, tài cán và siêng năng trong chánh phủ của Sa-lô-môn. Ông được đấng tiên tri A-hi-gia khuyến khích và được Đức Chúa Trời, bởi miệng đấng tiên tri ấy, hứa ban cho ngôi vua trên 10 chi phái và một triều đại vững bền, miễn là ông chịu đi trong đường lối của Ngài; ông bèn dấy nghịch cùng Sa-lô-môn, và Sa-lô-môn tìm cách giết ông. Ông chạy qua Ai-cập, đến triều đình Si-sắc, vua Ai-cập; có lẽ ông đã thỏa hiệp được với Si-sắc và làm cho vua nầy thèm muốn những kho tàng của Sa-lô-môn.
Khi Sa-lô-môn băng hà, ông bèn trở về, lập 10 chi phái làm một nước độc lập. Nhưng chẳng coi lời cảnh cáo của A-hi-gia vào đâu, ông đã thiết lập ngay sự thờ lạy con bò con. Đức Chúa Trời sai A-hi-gia đến bảo ông rằng nhà ông sẽ bị tiêu diệt, và dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị dời đi khỏi xứ, bị tản lạc ở nước bên kia sông Ơ-phơ-rát (14:10, 15).
Lời tiên tri lạ lùng gọi đích danh Giô-si-a từ 300 năm trước khi vua nầy sanh ra (13:2), đã được ứng nghiệm (IIVua 2V 23:15-18).
Sau khi nước bị chia đôi, chiến tranh cứ dai dẳng, liên tục giữa nước Y-sơ-ra-ên và nước Giu-đa.
Nước phía Bắc, gọi là "Y-sơ-ra-ên" (933-721 T.C.)
50 năm đầu: Bị nước Giu-đa và xứ Sy-ri khuấy rối.
Rồi 40 năm: Hoàn toàn thạnh vượng dưới sự trị vì của nhà Ôm-ri.
Rồi 40 năm: Sa sút rất nhiều dười đời trị vì của Giê-hu và Giô-a-cha.
Rồi 50 năm: Được mở mang rộng nhứt dưới đời trị vì của Giê-rô-bô-am II.
30 năm sau rốt: Hỗn loạn, suy vong và bị bắt làm phu tù.
Nước phía Nam, gọi là "Giu-đa" (933-606 T.C.)
80 năm đầu: Hoàn toàn thạnh vượng, thêm hùng cường.
Rồi 70 năm: Tai hại lớn, "nhập cảng" sự thờ lạy Ba-anh.
Rồi 50 năm: Được mở mang rộng nhứt dưới đời trị vì của Ô-xia.
Rồi 15 năm: Dưới đời trị vì của A-cha, phải làm chư hầu của nước A-si-ri.
Rồi 30 năm: Khôi phục nền độc lập dưới đời trị vì của Ê-xê-chia.
100 năm sau rốt: Phần lớn thời gian nầy làm chư hầu của nước A-si-ri.
Liên quan giữa hai nước
80 năm đầu: Đánh nhau luôn.
Rồi 80 năm: Hòa hiếu với nhau.
50 năm sau rốt: Thỉnh thoảng đánh nhau, cho đến khi cùng tiêu diệt.
Các triều đại
Nước phía Bắc có 9 triều đại (các vua thuộc về một gia tộc): 1) Giê-rô-bô-am, Na-đáp. 2) Ba-ê-sa, Ê-la. 3) Xim-ri. 4) Ôm-ri, A-háp, A-cha-xia, Giô-ram. 5) Giê-hu, Giô-a-cha, Giô-ách, Giê-rô-bô-am II, Xa-cha-ri. 6) Sa-lum. 7) Ma-na-hem, Phê-ca-hia. 8) Phê-ca. 9) Ô-sê. Tổng cộng là 19 vua. Tính trung bình, mỗi đời trị vì được 11 năm. Giữa vòng họ đánh nhau rất nhiều. Trong số 19 vua nầy, có 8 ông bị giết.
Ở nước phía Nam chỉ có 1 triều đại, là dòng vua Đa-vít, trừ ra một kẻ chiếm ngôi, là A-tha-li, người nước phía Bắc đã do hôn nhơn mà nhập dòng vua Đa-vít, làm cho sự kế vị bị gián đoạn trong 6 năm. Tổng cộng có 20 vua. Tính trung bình, mỗi đời trị vì được chừng 16 năm.
IVua 1V 14:21-31 -- Rô-bô-am, vua Giu-đa. Xem thêm IISu 2Sb 10:1-19.
IVua 1V 15:1-8 -- A-bi-giam, vua Giu-đa. Xem thêm IISu 2Sb 13:1-22
IVua 1V 15:8-25 -- A-sa, vua Giu-đa. Xem thêm IISu 2Sb 14:1-15.
IVua 1V 15:25-32 -- Na-đáp, vua Y-sơ-ra-ên (911-910 T.C.)
Con trai của Giê-rô-bô-am, "phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm." Trị vì 2 năm. Bị Ba-ê-sa mưu sát, và Ba-ê-sa giết cả nhà Giê-rô-bô-am.
15:33-16:7 -- Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên (910-887 T.C.)
Dùng bạo lực cướp ngôi vua. Trị vì 24 năm. "Đi theo đường của Giê-rô-bô-am, và tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm." Đánh nhau với nước Giu-đa. Vua Giu-đa thuê quân A-si-ri tấn công Ba-ê-sa.
16:8-14 -- Ê-la, vua Y-sơ-ra-ên (887-886 T.C.)
Con trai của Ba-ê-sa. Trị vì 2 năm. Phóng túng. Bị Xim-ri hạ sát đang lúc say rượu. Xim-ri cũng giết cả nhà Ê-la.
16:15-20 -- Xim-ri, vua Y-sơ-ra-ên (886 T.C.)
Trị vì 7 ngày. Là võ tướng, nhưng chỉ có một "công trạng," là tru diệt triều vua Ba-ê-sa. Tự thiêu chết.
16:21-28 -- Ôm-ri, vua Y-sơ-ra-ên (886-875 T.C.)
Trị vì 12 năm. "Ăn ở tệ hơn các người tiền bối người." Tuy nhiên, ông là một vua có tài. Ông chiếm được địa vị cao đến nỗi lâu lắm sau đời ông, nước Y-sơ-ra-ên còn được gọi là "Xứ của Ôm-ri." Ông đóng đô tại Sa-ma-ri. Cho tới lúc đó, thủ đô của nước phía Bắc là Tiệt-sa (14:17, 15:33).
Bí Chú Khảo Cổ:
Ôm-ri. -- Phiến đá Mô-áp, khoảng năm 850 T.C., có ghi: "Ôm-ri, vua Y-sơ-ra-ên."
Một bi văn của Adadnirari (808-783 T.C.) có ghi: "Xứ của Ôm-ri."
Tiêm-bi đen của Sanh-ma-na-se III (860-825 T.C.) có chép về lễ vật của Giê-hu, "người kế vị Ôm-ri."
Thành Sa-ma-ri. -- 16:24 chép rằng Ôm-ri đã xây thành Sa-ma-ri. Trong đống di tích của thành nầy, một phái doàn của trường Đại học Harvard đã tìm thấy nền cung điện của Ôm-ri, xây trên vầng đá, có nhiều di vật và ký văn, nhưng không có gì trước thời Ôm-ri; đó là bằng cớ tỏ ra ông đã xây thành nầy.
16:29-22:40 -- A-háp, vua Y-sơ-ra-ên (875-854 T.C.)
Trị vì 22 năm. Gian ác nhứt trong vòng các vua Y-sơ-ra-ên. Ông cưới Giê-sa-bên, một công chúa Si-đôn, làm vợ; đây là một người đờn bà hung hăng, liều lĩnh, hay trả thù, quả cảm, yêu quái, và thật là hiện thân của ma quỉ. Nhiệt thành thờ lạy Ba-anh, nàng đã xây cho nó một miễu thờ tại thành Sa-ma-ri, nuôi 850 tiên tri của Ba-anh và Át-tạt-tê, giết các tiên tri của Đức Giê-hô-va, và bãi bỏ sự thờ lạy Đức Giê-hô-va (18:13, 19). Nàng truyền tên mình cho các nữ tiên tri về sau tìm cách đem các lề thói hoang dâm của sự thờ lạy hình tượng vào trong Hội Thánh (KhKh 2:20).
Bí Chú Khảo Cổ: Xây lại thành Giê-ri-cô (IVua 1V 16:34)
Lời tiên tri của Giô-suê 500 năm về trước đã được ứng nghiệm lạ lùng (Gios Gs 6:26). Di tích thành Giê-ri-cô tỏ ra rằng nó có người ở luôn từ thời trước Áp-ra-ham cho tới khoảng 1400 năm T.C.; sau đó, không có dấu hiệu tỏ ra có người ở cho tới thế kỷ thứ 9 T.C., là thời của A-háp. Còn rất ít di tích của thời kỳ nầy.
Trong địa tằng nầy, người ta tìm thấy một căn nhà lớn, có lẽ là nhà của Hi-ên (IVua 1V 16:34). Tìm thấy một cái chum chứa hài cốt một đứa trẻ ở chỗ xây cổng thành, và hai cái chum như vậy trong vách tường của một căn nhà. Từ đó tới nay, vị trí nầy bị bỏ hoang. Thành Giê-ri-cô của Tân Ước ở cách xa một dặm.
Ê-li (IVua 1V 17:1-IIVua 2:24)
Dành riêng 6 đoạn chép lịch sử đời trị vì của A-háp, còn hầu hết các vua khác chỉ được một phần đoạn mà thôi. Lý do là phần lớn 6 đoạn ấy chép truyện tích của Ê-li. Ê-li là người Đức Chúa Trời dùng để đáp lại A-háp và Giê-sa-bên. A-háp và Giê-sa-bên đã đem Ba-anh thay thế Đức Chúa Trời. Ngài bèn sai Ê-li để trừ diệt đạo Ba-anh hư hoại và tàn ác.
"Ê-li xuất hiện rất ít, thình lình và ngắn ngủi; ông có can đảm phi thường, sốt sắng như lửa đốt, đắc thắng rất vẻ vang, ngã lòng rất thê thảm, ra đi vinh hiển, và lại xuất hiện trên núi Hóa hình một cách bình tĩnh tuyệt mỹ. Những điểm ấy khiến ông trở thành nhơn vật vĩ đại nhứt và kỳ lạ nhứt mà nước Y-sơ-ra-ên từng sản xuất được."
IVua 1V 17:1-18:46 -- Hạn hán
Đức Chúa Trời ban cho Ê-li quyền phép để đóng cửa các từng trời trong 3 năm rưỡi; suốt thời gian ấy, ông đã được nuôi nấng bởi con quạ tại khe Kê-rít và bởi bà góa ở thành Sa-rép-ta mà vò bột và bình dầu không hề cạn.
Việc Ê-li mạo hiểm vì đức tin trên núi Cạt-mên thật là tuyệt mỹ. Chắc bởi một cách nào đó, Đức Chúa Trời đã khải thị cho Ê-li rằng Ngài sẽ giáng lửa và mưa xuống. Nhưng mọi sự đó chẳng cảm hóa Giê-sa-bên chi hết.
Bí Chú Khảo Cổ: Sự thờ lạy Ba-anh
Nhơn viên Đông phương Học viện đào bới tại Mê-ghi-đô, gần thành Sa-ma-ri, có tìm thấy, ở địa tằng thời A-háp, di tích của một miễu thờ nữ thần Át-tạt-tê, vợ của Ba-anh. Miễu thờ hai tà thần nầy thường không xa nhau. Cách miễu thờ Át-tạt-tê chỉ mấy bước, có một nghĩa địa, tại đây họ tìm thấy nhiều chum chứa hài cốt của con trẻ đã bị dâng làm của lễ trong miễu thờ ấy. Vậy, đủ tỏ ra tánh chất sự thờ lạy Ba-anh. Các tiên tri của Ba-anh và Át-tạt-tê là kẻ chánh thức hạ sát con trẻ. Vậy, đủ minh chứng tại sao Ê-li xử tử bọn tiên tri của Ba-anh (18:40), và giúp ta hiểu tại sao Giê-hu trừ diệt đạo Ba-anh, chẳng chút thương xót.
19:1-21-- "Tiếng êm dịu nhỏ nhẹ. "
Hoàn toàn chán nản, Ê-li chạy trốn tới núi Hô-rếp, là nơi 500 năm về trước, Môi-se đã tổ chức quốc gia; và ông cầu xin Đức Chúa Trời cho mình chết đi (19:4). Đức Chúa Trời bèn dạy ông một bài học kỳ diệu: Ngài không ở trong "gió," hoặc trong "động đất," hoặc trong "lửa," nhưng ở trong "tiếng êm dịu nhỏ nhẹ (câu 11, 12). Chức vụ Ê-li là một chức vụ của phép lạ, lửa và gươm. Ông đã đóng cửa các từng trời, đã được nuôi sống bởi chim quạ và bởi vò bột, bình dầu không hề cạn, đã kêu kẻ chết sống lại, đã làm cho lửa từ trời giáng xuống, đã dùng gươm giết các tiên tri của Ba-anh, và đã làm cho mưa xuống khắp xứ.
Dường như Đức Chúa Trời nhắm mục đích bảo Ê-li điều nầy: Dầu thường khi vì cớ một chỗ rẽ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, cần phải có sức mạnh và bày tỏ quyền phép một cách đẹp mắt, nhưng rốt lại, công việc thật của Ngài trên thế giới nầy không được thành tựu bởi những phương thức ấy. Còn điều nầy nữa: Thường khi Đức Chúa Trời làm và kêu gọi người ta làm những điều hoàn toàn trái với bổn tánh Ngài, song vì cớ một tình trạng cấp bách, thì cần phải làm như vậy.
Mấy thế kỷ sau, Ê-li lại hiện ra cho mắt người xem thấy trên núi Hóa hình: Ông trò chuyện với Đấng Christ, mà ông đã dự phần mở đường cho Ngài, về công cuộc lúc nầy đang được đưa vào thế giới, tức là sự biến cải đời sống người ta ra giống như hình ảnh Đức Chúa Trời bởi "tiếng êm dịu nhỏ nhẹ" của Đấng Christ ở trong lòng họ.
IVua 1V 20:1-22:54-- Sự chết của A-háp
Ông chấm dứt đời trị vì của mình bằng sự hạ sát Na-bốt rất tàn ác; rồi ông bị giết trong khi giao chiến với quân Sy-ri. Đó là kết cuộc của một nhơn vật đáng khinh bỉ.
Bí Chú Khảo Cổ: A-háp
Một bi văn của Sanh-ma-na-se (860-825 T.C.) ghi rằng: "Tại Karkar, ta đã tiêu diệt... 2000 xe trận và 10.000 người của A-háp, vua Y-sơ-ra-ên."
"Đền bằng ngà " của A-háp (22:39).-- Một phái đoàn của trường Đại học Harvard đã tìm thấy di tích của đền nầy tại thành Sa-ma-ri. Vách đền giát ngà. Có hàng ngàn mảnh của các món đồ chạm và khảm đẹp tuyệt, như ván cửa, tấm biển, tủ và giường. Đền nầy ở ngay trên di tích của cung điện Ôm-ri.
22:41-50 -- Giô-sa-phát, vua Giu-đa (xem IISu 2Sb 17:1-19)
IVua 1V 22:51-53 -- A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên (xem IIVua 2V 1:1-18)
===============================

II Các-Vua
Nước bị chia hai Ê-li-sê 130 năm sau rốt của nước phía Bắc 250 năm sau rốt của nước phía Nam Nước Y-sơ-ra-ên bị người A-si-ri bắt làm phu tù Nước Giu-đa bị người Ba-by-lôn bắt làm phu tù
Sách II Các vua theo liền sách I Các vua, bắt đầu khoảng 80 năm sau khi nước bị chia hai, và cứ ghi chép song song lịch sử của hai nước ước chừng 130 năm, cho tới khi nước phía Bắc suy sụp; đoạn, cứ chép thêm lịch sử của nước phía Nam 120 năm nữa, cho tới khi nước nầy cũng suy sụp. Sách nầy chép về 12 vua sau rốt của nước phía Bắc, và 16 vua sau rốt của nước phía Nam (xem dưới I Các vua 12), tổng cộng thời gian chừng 250 năm, khoảng 850-600 T.C..
Nước phía Bắc, gọi là Y-sơ-ra-ên, sụp đổ năm 721 T.C., vì tay của người A-si-ri đóng đô ở Ni-ni-ve (xem dưới đoạn 17).
Nước phía Nam, gọi là Giu-đa, sụp đổ năm 600 T.C., vì tay của người Ba-by-lôn đóng đô tại Ba-by-lôn (xem dưới đoạn 25).
Ê-li và Ê-li-sê là tiên tri của Đức Chúa Trời sai đến để cố gắng cứu nước phía Bắc. Chức vụ của cả hai ông kéo dài 75 năm, ở khoảng giữa thời kỳ của nước phía Bắc, chừng 875-800 T.C., và trải qua 6 đời vua, là A-háp, A-cha-xia, Giô-ram, Giê-hu, Giô-a-cha, Giô-ách.
IIVua 2V 1:1-18 -- A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên (885-854 T.C.)
Truyện tích đời trị vì của vua nầy bắt đầu ở IVua 1V 22:51. Trị vì 2 năm. Cùng trị vì với cha mình, là A-háp, và cũng gian ác như cha. Đây chúng ta lại thấy một phép lạ khác của Ê-li bằng lửa (câu 9-14).
IIVua 2V 2:1-24 -- Ê-li được biến hóa
Ê-li là người miền Ga-la-át, quê hương của Giép-thê. Ông sanh trưởng nơi khe nước trên núi hoang dại, trơ trọi, mặc áo choàng bằng da chiên và lông lạc đà thô sơ, tóc dài buông xuống sau lưng. Sứ mạng của ông là tống đuổi đạo Ba-anh ra khỏi nước Y-sơ-ra-ên. Có lẽ chức vụ ông kéo dài chừng 25 năm, trải qua đời trị vì của hai vua gian ác, là A-háp và A-cha-xia. Ông phải làm một công việc nặng nề, gay go và khó chịu. Ông tưởng mình đã thất bại. Dầu ông thân mật với Đức Chúa Trời tới mức ít ai đạt được, nhưng ông vẫn hoàn toàn là người y như chúng ta; ông đã xin Đức Chúa Trời cất mạng sống mình đi. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng nghĩ rằng ông đã thất bại. Khi ông làm xong công việc, thì Đức Chúa Trời sai một đoàn xe thiên sứ đến chở ông về trời cách khải hoàn.
Ê-li vừa mới ở núi Hô-rếp, là nơi Môi-se ban bố Luật pháp. Bây giờ cảm thấy đã tới lúc mình ra đi, ông bèn đi thẳng tới nơi Môi-se được an táng, là núi Nê-bô (PhuDnl 34:1), ở phía Đông sông Giô-đanh, dường như ông muốn được chôn cùng một chỗ với Môi-se. Chúng tôi đoán rằng Ê-li không mất nhiều thì giờ kiếm được Môi-se, và hai ông liền trở thành thiết hữu ở trên trời. Hai ông cũng vui mừng hơn hết mà trông đợi sự ngự đến của Vị Thiết Hữu cao trọng hơn mà cùng với Đấng ấy, Đức Chúa Trời đã gia ơn cho phép hai ông được xuất hiện trong chốc lát trên mặt đất (Mat Mt 17:3).
Ê-li là một tiên tri "lửa." Ông đã xin "lửa" từ trời giáng xuống núi Cạt-mên; ông đã xin "lửa" giáng xuống tiêu diệt sĩ quan và binh lính của A-cha-xia. Bây giờ ông được "xe lửa" rước về trời. Chỉ có một người nữa là Hê-nóc, đã được cất lên nơi Đức Chúa Trời, không phải trải qua sự chết (SaSt 5:24). Có lẽ Đức Chúa Trời định dùng biến hóa của hai ông nầy để thoáng tỏ trước sự biến hóa Hội Thánh trong ngày hân hỉ mà các xe thiên sứ sẽ ào tới và hạ thấp để thâu nhóm chúng ta đi mừng đón Cứu Chúa tái lâm.
Ê-li-sê (IIVua 2V 2:1-13:25)
Do chỉ thị của Đức Chúa Trời, Ê-li đã xức dầu cho Ê-li-sê để kế chức mình (IVua 1V 19:16-21), và đã huấn luyện cho Ê-li-sê. Khi Ê-li được cất lên trời, thì áo choàng của ông rớt nhằm Ê-li-sê, và Ê-li-sê liền bắt đầu làm phép lạ như Ê-li đã làm.
Nước sông Giô-đanh rẽ ra cho Ê-li-sê trở về, cũng như đã rẽ ra cho Ê-li đi qua (2:8, 14). Nguồn nước ở Giê-ri-cô đã được chữa cho hết độc (IIVua 2V 2:21). 42 đứa con trai thờ lạy hình tượng ở Bê-tên đã bị gấu xé chết (2:24). Đức Chúa Trời, chớ chẳng phải Ê-li-sê, đã sai gấu đến. Bê-tên là trung tâm thờ lạy Ba-anh. Ta đoán rằng bọn con trai đó có ý nhục mạ Đức Chúa Trời của Ê-li-sê.
Đức Chúa Trời đã ngụ ý bảo Ê-li rằng lửa và gươm chẳng phải là phương thức hoàn thành công việc thật của Ngài (IVua 1V 19:12). Tuy nhiên, công việc của lửa và gươm vẫn tiếp tục. Bọn người thờ lạy Ba-anh không thể hiểu "lời nói" nào khác. Ê-li-sê xức dầu cho Giê-hu để tiêu diệt quốc giáo Ba-anh (IVua 1V 19:16, 17, IIVua 2V 9:1-10). Giê-hu đã làm việc ấy kịch liệt quá chừng (đoạn 9, 10).
IIVua 2V 3:1-9:37-- Giô-ram, vua Y-sơ-ra-ên (854-843 T.C.)
Trị vì 12 năm. Ông bị Giê-hu giết (9:24). Dưới đời trị vì của ông, vua Mô-áp dấy loạn, mặc dầu trước kia vẫn triều cống cho A-háp (3:4, 6).
Bí Chú Khảo Cổ: Phiến đá Mô-áp
Đoạn 3 chép về Giô-ram cố gắng để lại khắc phục xứ Mô-áp. Chính "Mê-sa, vua dân Mô-áp" (3:4), đã ghi chép cuộc dấy nghịch nầy, và người ta đã tìm thấy ký văn đó, có tên là "Phiến đá Mô-áp." Năm 1868, ông F.A.Klein, một Giáo sĩ người Đức, đã tìm thấy phiến đá nầy ở xứ Mô-áp, tại thành Dibon, cách Biển Chết 20 dặm về phía Đông. Đây là một phiến đá huyền-vũ-nham, màu lam lợt, cao chừng 1 thước 20, rộng chừng 60 phân, và dày chừng 36 phân, có ký văn của Mê-sa. Đang khi Bảo tàng viện Bá-linh (Đức) điều đình để chiếm hữu phiến đá ấy, thì tòa Lãnh sự Pháp ở Giê-ru-sa-lem đã đề nghị trả một số tiền lớn, và các nhà chức trách Thổ-nhĩ-kỳ can thiệp.
Năm sau, người Ả-rập đốt lửa chung quanh và đổ nước vào phiến đá, khiến cho nó vỡ thành nhiều mảnh, để đem đi làm bùa. Sau đó, người Pháp đã lấy được phần nhiều các mảnh, ráp lại và giữ được bi văn nguyên vẹn. Hiện nay đặt tại Bảo tàng viện Le Louvre.
Bi văn rằng: "Ta, Mê-sa vua Mô-áp, lập đài nầy cho Kê-nóc (thần xứ Mô-áp) để kỷ niệm sự giải phóng khỏi tay người Y-sơ-ra-ên. Cha ta trị vì xứ Mô-áp 30 năm, và ta trị vì sau cha ta. Ôm-ri, vua Y-sơ-ra-ên, hà hiếp xứ Mô-áp lâu ngày, và con trai hắn (A-háp) lại hà hiếp xứ Mô-áp sau hắn. Nhưng ta giao chiến với vua Y-sơ-ra-ên, đuổi hắn đi, chiếm các thành của hắn, là Medeba, A-ta-nốt, Nê-bô và Gia-hát, mà hắn đã xây cất đang khi giao chiến với ta. Ta phá hủy các thành của hắn, phú dâng chiến lợi phẩm cho thần Kê-nóc, cùng đờn bà, con gái cho thần Ashtar. Ta dùng tù binh Y-sơ-ra-ên xây cất thành Qorhah, và đặt những kẻ chăn chiên tại Beth-Diblathaim. "
4:1-7:20-- Các phép lạ của Ê-li-sê
Ê-li-sê bắt đầu chức vụ bằng những phép lạ, theo như đã tỏ trong đoạn 2. Phép lạ nầy kế tiếp phép lạ kia. Dầu của bà góa tăng thêm. Con trai người đờn bà Su-nem được từ kẻ chết sống lại. Nồi canh độc được chữa cho hết độc. Những ổ bánh tăng thêm. Na-a-man được chữa lành bịnh phung. Lưỡi rìu nổi lên được. Thành Sa-ma-ri được giải cứu bởi các xe ngựa vô hình của Ê-li-sê. Quân Sy-ri bị đánh bại bởi ngựa và xe của Đức Chúa Trời (7:6). Hầu hết tài liệu chép về Ê-li-sê là phép lạ do ông đã làm. Cũng như các phép lạ của Đức Chúa Jêsus, hầu hết các phép lạ của Ê-li-sê là hành động nhơn từ và thương xót.
Đức Chúa Jêsus kể việc Ê-li-sê chữa lành cho Na-a-man như lời tiên tri ngụ ý rằng Ngài cũng được sai đến với các dân ngoại (LuLc 4:25-27).
IIVua 2V 8:1-15 -- Ê-li-sê xức dầu cho Ha-xa-ên
Để kế vị Bên-Ha-đát, làm vua xứ Sy-ri. Một tiên tri của nước Y-sơ-ra-ên xức dầu cho một vua ngoại bang để hình phạt chính dân tộc của mình. Đức Chúa Trời đã ban chỉ thị phải làm như vậy (IVua 1V 19:15), tức là chỉ định Ha-xa-ên làm một dụng cụ của Đức Chúa Trời để hình phạt dân Y-sơ-ra-ên vì cớ tội lỗi kinh khiếp của họ (IVua 1V 10:32, 83).
Bí Chú Khảo Cổ: Bên-Ha-đát và Ha-xa-ên (IIVua 2V 8:7-15)
Việc Ha-xa-ên kế ngôi Bên-Ha-đát đã được xác chứng trong một bi văn của Sanh- ma-na-se, vua A-si-ri: "Ta giao chiến với Bên-Ha-đát và đánh bại hắn. Ha-xa-ên, con trai của một thường nhơn, đã chiếm ngôi hắn."
Ê-li-sê
Ê-li-sê bắt đấu chức vụ dưới đời trị vì của Giô-ram (3:1, 11), có lẽ vào khoảng năm 850 T.C., và cứ tiếp tục trải qua đời trị vì của Giê-hu và Giô-a-cha; ông qua đời dưới đời trị vì của Giô-ách (13:14-20), vào khoảng năm 800 T.C.. Vậy, ông thi hành chức vụ chừng 50 năm.
Ông vốn là một thanh niên nông dân, ở A-bên-Mê-hô-la, thuộc thung lũng miền trên sông Giô-đanh (IVua 1V 19:16, 19). Ông đã được Ê-li huấn luyện làm tiên tri (IVua 1V 19:21, IIVua 2V 3:11). Ông và Ê-li rất khác nhau. Ê-li giống như bão tố và động đất, còn Ê-li-sê giống như tiếng êm dịu, nhỏ nhẹ. Ê-li cứng như đá lửa, còn Ê-li-sê thì hiền lành, từ ái, có tài ngoại giao. Ê-li là người của đồng vắng, bận áo choàng bằng lông lạc đà; còn Ê-li-sê sống ở đô thị, ăn mặc như mọi người khác, có lòng thương xót, có tài xã giao, và tánh tình vui vẻ. Tuy nhiên, cái áo choàng của Ê-li đã rớt trên Ê-li-sê (IVua 1V 19:19, IIVua 2V 2:13).
Bản đồ số 39
Các phép lạ của Ê-li-sê
Các phép lạ nầy được liệt kê ở các đoạn 2, 4, 5, 6, 7. Trong số các phép lạ ấy, có một trong bảy sự sống lại mà Kinh Thánh đã chép. Bảy sự sống lại nầy là: Ê-li làm cho con trai bà góa sống lại (IVua 1V 17:1-24) Ê-li-sê làm cho con trai người đờn bà Su-nem sống lại (IIVua 2V 4:1-44) Đức Chúa Jêsus làm cho con gái Giai-ru (Mac Mc 5:1-43), con trai bà góa ở Na-in (LuLc 7:1-50) và La-xa-rơ (GiGa 11:1-57) sống lại; Phi-e-rơ làm cho Đô-ca sống lại (Cong Cv 9:1-41) và Phao-lô làm cho Ơ-tích sống lại (20:1-38).
Bảy sự sống lại nầy không gồm sự sống lại của Đức Chúa Jêsus, là tuyệt điểm của tất cả. Sự sống lại của Ngài đã thực hiện mà không cần người ta làm dụng cụ, và cũng không cần việc ngẫu nhiên kỳ lạ do hài cốt của Ê-li-sê (IIVua 2V 13:21).
Ê-li-sê mở trường thần đạo
Căn cứ vào ISa1Sm 19:20, dường như Sa-mu-ên đã mở một trường, hoặc thần đạo học đường, để huấn luyện các tiên tri tại Ra-ma. Ê-li-sê cũng điều khiển các trường như vậy tại Bê-tên, Giê-ri-cô, Ghinh-ganh và nhiều nơi khác (IIVua 2V 2:3, 5, 4:38, 6:1). Ngoài những nơi nầy, dường như ông còn ở tại núi Cạt-mên, và các thành Su-nem, Đô-than, Sa-ma-ri (IIVua 2V 2:25, 4:10, 25, 6:13, 22). Chắc ông kiêm chức mục sư, tiên tri và giáo sư. Ông cũng là cố vấn của vua, và có ảnh hưởng rất lớn. Lời khuyến cáo của ông bao giờ cũng được làm theo. Ông không ưng chịu mọi việc các vua làm, nhưng trong lúc khẩn trương, ông vẫn đến cứu giúp họ.
Ê-li-sê ở nước phía Bắc, có lẽ đồng thời với Giô-ên ở nước phía Nam. Có lẽ ông là giáo sư của Giô-na và A-mốt, vì lúc đó hai tiên tri nầy còn thanh niên.
Bởi đời sống riêng và bởi sự nghiệp công khai, cặp Ê-li và Ê-li-sê dường như làm hình bóng linh động về cặp Giăng Báp-tít và Đức Chúa Jêsus. Giăng được gọi là Ê-li (Mat Mt 11:14), và chức vụ nhơn từ của Đức Chúa Jêsus là sự phát triển rộng rãi chức vụ nhơn từ của Ê-li-sê. Sự trạng nầy chứng minh rằng những người hoàn toàn khác nhau có thể làm việc chung nhau vì các mục đích giống nhau.
IIVua 2V 8:16-24 -- Giô-ram, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 21:1-20)
IIVua 2V 8:25-29 -- A-cha-xia, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 22:1-12)
IIVua 2V 9:1-10:36-- Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên (843-816 T.C.)
Trị vì 28 năm. Vốn là một sĩ quan trong đội phòng vệ của A-háp. Có mặt lúc Na-bốt bị hạ sát. Nghe Ê-li tuyên án nhà A-háp. Ông được Ê-li-sê xức dầu làm vua để trừ diệt nhà A-háp và tuyệt trừ đạo Ba-anh. Ông lập tức bắt tay làm công việc đẫm máu một cách hung hăng. Thật là công việc thô lỗ, tàn ác. Nhưng Giê-hu xứng đáng làm điều ấy. Ông gan dạ, nghiêm khắc, không thương xót, và tận tâm làm việc. Có lẽ nếu không có những tư cách ấy, thì chẳng làm được việc nầy. Ông giết Giô-ram, là vua Y-sơ-ra-ên, Giê-sa-bên và A-cha-xia, vua Giu-đa (con rể của A-háp), 70 con trai của A-háp, các anh em của A-cha-xia, hết thảy bạn hữu và người ủng hộ nhà A-háp, hết thảy thầy tế lễ của Ba-anh và mọi kẻ thờ lạy Ba-anh. Ông hủy phá miễu thờ và các trụ thờ Ba-anh. Dầu Giê-hu tuyệt diệt sự thờ lạy Ba-anh, nhưng ông "không hết lòng cẩn thận theo luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên; người chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am" (10:31).
Nếu chúng ta ngạc nhiên vì Đức Chúa Trời dùng một cán bộ như Giê-hu, thì hãy nhớ rằng đạo Ba-anh xấu xa, hư hoại và tàn ác không thể tả xiết. Có khi Đức Chúa Trời dùng những người và những dân ở rất xa địa vị họ đáng phải ở, để thi hành sự phán xét của Ngài trên kẻ gian ác.
Đang khi Giê-hu mải miết với cuộc cách mạng đẫm máu ở trong nước Y-sơ-ra-ên, thì Ha-xa-ên, vua Sy-ri, chiếm mất miền Ga-la-át và miền Ba-san, là phần nước Y-sơ- ra-ên ở phía Đông sông Giô-đanh (10:32, 33). Giê-hu cũng đã bị rối vì người A-si-ri mà sự hùng cường đang gia tăng ở bên kia sông Ơ-phơ-rát một cách mau lẹ đáng ngại.
Bí Chú Khảo Cổ: Giê-hu
Năm 1845-49, tại Ca-lách, gần thành Ni-ni- ve, ông Layard tìm thấy trong di tích cung điện của Sanh-ma-na-se, một khối đá cứng đen cao hơn 2 thước tây, chạm trổ hình và chữ mô tả các huân công của ông. Khối đá nầy gọi là "Tiêm bi-đen," hiện nay bày trong Anh quốc Bảo tàng viện. Ở hàng thứ hai, tính từ trên xuống, có hình một người với đặc điểm Do-thái rõ rệt, đang quì dưới chơn vua, và bên trên có ký văn nầy: "Ta đã nhận cống phẩm của Giê-hu, con trai (kẻ kế vị) Ôm-ri, gồm có bạc, vàng, bát vàng, ly vàng, chén vàng, bình vàng, chì, cây phủ việt của vua, những cây giáo."
Bí Chú Khảo Cổ: Giê-sa-bên
Giê-sa-bên "vẽ mắt mình" (9:30 -- theo một bản tiếng Anh). Năm 1908-10 và 1931, dưới sự bảo trợ của trường Đại học Harvard, trường Đại học Hê-bơ-rơ ở Giê-ru-sa- lem, Anh quốc Khảo cổ Học viện, và Quỹ Thám hiểm xứ Pa-lét-tin, một phái đoàn đã tìm thấy ở thành Sa-ma-ri, trong di tích "đền bằng ngà," chính các đĩa và hộp nhỏ bằng đá mà Giê-sa-bên dùng để trộn những chất hóa trang. Các đĩa và hộp nầy có nhiều lỗ nhỏ để chứa các màu khác nhau: phấn đen để đánh màu đen, lam ngọc để đánh màu xanh lá cây, và thổ hoàng để đánh màu đỏ; ở chính giữa có một chỗ trũng để trộn. Những dĩa và hộp nầy còn có dấu đỏ.
Bí Chú Khảo Cổ: Mê-ghi-đô
Chính tại Mê-ghi-đô, gần thành Sa-ma-ri, trong địa tằng của thời A-háp và Giê-sa-bên, người ta tìm thấy nhiều chum đựng hài cốt của con nít đã bị dâng làm của lễ cho Ba-anh; vậy, đủ minh chứng tánh chất gớm ghiếc của sự thờ lạy Ba-anh.
Mê-ghi-đô chính là chiến trường trứ danh (Ha-ma-ghê-đôn) sẽ lưu danh nó cho trận đại chiến chung kết của các thời đại (KhKh 16:16). Nó ở phía nam đồng bằng Ách-ca-lôn, cách Na-xa-rét 10 dặm về phía Tây-nam. Nó ở lối vào đèo chạy qua dãy núi Cạt-mên, trên con đường chính giữa Á-châu và Phi-châu; nó là ngã tư chánh yếu của thế giới thời xưa, là vị trí tối trọng giữa sông Ơ-phơ-rát và sông Ni-lơ, là nơi gặp gỡ của các đạo quân từ Đông-phương và Tây-phương kéo đến. Vua Thothmes III đã làm cho Ai-cập thành đế quốc bá chủ thế giới(1), nói rằng: "Mê-ghi-đô quí bằng một ngàn đô thị." Năm 1918, trong cuộc Thế giới chiến tranh thứ nhứt, tại Mê-ghi-đô, Đại tướng Allenby đã đánh tan đạo quân Thổ-nhĩ-kỳ. Người ta nói rằng máu đổ trên ngọn đồi nầy nhiều hơn bất cứ nơi nào khác trên mặt đất.
Năm 1924, nhờ chánh phủ xứ Pa-lét-tin giúp đỡ, nhơn viên Đông phương Học viện của trường Đại học Chicago đã được quyền kiểm soát ngọn đồi nầy. Từ ngày đó, họ theo phương thuật mà gỡ lên hết lớp nầy tới lớp khác, ghi chép và bảo tồn được mọi tài liệu lịch sử.
IIVua 2V 11:1-21-- A-tha-li, nữ hoàng Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 22:1-12)
IIVua 2V 12:1-21-- Giô-ách, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 24:1-27)
IIVua 2V 13:1-8 -- Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên (820-804 T.C.)
Trị vì 17 năm. Dưới đời trị vì của ông, nước Y-sơ-ra-ên bị quân Sy-ri hạ xuống rất thấp.
13:10-25 -- Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên (806-790 T.C.)
Trị vì 16 năm. Giao chiến với quân Sy-ri, và chiếm lại những thành mà cha mình đã để mất. Giao chiến với nước Giu-đa, và cướp phá thành Giê-ru-sa-lem.
14:1-22 -- A-ma-xia, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 25:1-28)
IIVua 2V 14:23-29 -- Giê-rô-bô-am II, vua Y-sơ-ra-ên (790-749 T.C.)
Trị vì 41 năm. Kế tiếp cha mình, là Giô-ách, mà cứ chiến thắng quân Sy-ri; nhờ có tiên tri Giô-na giúp đỡ, ông đã đưa nước phương Bắc lên địa vị hùng cường hơn hết và có lãnh thổ rộng lớn hơn hết. Sự thờ lạy hình tượng và tình trạng xã hội gớm ghiếc dưới đời trị vì của Giê-rô-bô-am đã hiến cơ hội cho hai tiên tri A-mốt và Ô-sê thi hành chức vụ.
Bí Chú Khảo Cổ: Cái ấn của tôi tớ Giê-rô-bô-am
Năm 1903-1905, tại Mê-ghi-đô, trong lớp di tích thuộc về thời Giê-rô-bô-am, ông Schumacher đã tìm thấy một cái ấn bằng vân thạch, có ghi hàng chữ nầy: "Thuộc về Shema, tôi tớ của Giê-rô-bô-am." Ấn nầy đã được đặt trong kho tàng của vua Thổ- nhĩ-kỳ.
IIVua 2V 15:1-7 -- A-xa-ria, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 26:1-23).
IIVua 2V 15:8-12 -- Xa-cha-ri, vua Y-sơ-ra-ên (748 T.C.)
Trị vì 6 tháng.
15:13-15 -- Sa-lum, vua Y-sơ-ra-ên (748 T.C.)
Trị vì 1 tháng.
15:16-22 -- Ma-na-hem, vua Y-sơ-ra-ên (748-738 T.C.)
Trị vì 10 năm. Can đảm và tàn ác, ông đã giết vị vua trước mình.
Bí Chú Khảo Cổ: Ma-na-hem
Cống phẩm của Ma-na-hem gởi cho Phun, vua A-si-ri (câu 19, 20). Trong một bi văn của Phun, ông nói rằng: "Ta nhận... cống phẩm của Ma-na-hem ở Sa-ma-ri." Bi văn của Phun có kể tên Ô-xia, A-cha, Phê-ca và Ô-sê.
15:23-26 -- Phê-ca-hia, vua Y-sơ-ra-ên (748-736 T.C.)
Trị vì 2 năm. Ông bị mưu sát như Xa-cha-ri và Sa-lum.
15:27-31 -- Phê-ca, vua Y-sơ-ra-ên (748-730 T.C.)
Trị vì 20 năm. Ông là một võ tướng hùng mạnh, và người ta tưởng ông đã đồng trị vì với Ma-na-hem và Phê-ca-hia. Ông liên minh với xứ Sy-ri mà tấn công nước Giu-đa. Vua Giu-đa yêu cầu người A-si-ri cứu viện. Vua A-si-ri bèn đến, chiếm cả nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri, và đem nhơn dân miền Bắc và miền Đông nước Y-sơ-ra-ên đi: Đó gọi là: "cuộc lưu đày Ga-li-lê" (734 T.C.). Nước phía Bắc chỉ còn lại Sa-ma-ri. Việc nầy được tường thuật đầy đủ hơn ở II Sử ký 28 và Ê-sai 7.
Bí Chú Khảo Cổ: Dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc bị bắt làm phu tù
Bởi Tiếc-la-Phi-lê-se (câu 29). Chính bi văn của Tiếc-la-Phi-lê-se chép rằng: "Ta đày dân của xứ Ôm-ri qua A-si-ri cùng với tài sản của chúng."
15:32-38 -- Giô-tham, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 27:1-9) IIVua 2V 16:1-20-- A-cha, vua Giu-đa (Xem thêm IISu 2Sb 28:1-27)
Dân Y-sơ-ra-ên bị quân A-si-ri bắt làm phu tù (721 T.C.)
IIVua 2V 17:1-41-- Ô-sê (730-721 T.C. ), vua Y-sơ-ra-ên sau chót. Trị vì 9 năm. Ông phải triều cống vua A-si-ri, nhưng đã bí mật liên minh với vua Ai-cập. Bấy giờ, quân A-si-ri kéo tới, đánh cho nước phương Bắc một đòn chí tử cuối cùng. Sa-ma-ri sụp đổ, và nhơn dân ở đó phải theo mọi người khác trong nước Y-sơ-ra-ên đi làm phu tù. Các tiên tri đương thời nầy là Ô-sê, Ê-sai và Mi-chê. Nước phía Bắc tồn tại được chừng 200 năm. Trong số 19 vua, thì vua nào cũng đi theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, là người lập quốc. Đức Chúa Trời đã sai hết tiên tri nầy đến tiên tri khác, đã giáng hết sự đoán phạt nầy đến sự đoán phạt khác, để cố khiến nhơn dân xây bỏ tội lỗi, nhưng vô ích, Y-sơ-ra-ên đã liên kết với các hình tượng. Không còn phương pháp cứu vãn, nên cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã nổi dậy, và Ngài đuổi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ.
Bí Chú Khảo Cổ: Ô-sê
"Ô-sê... mưu phản Phê-ca,... và đánh giết người, rồi lên làm vua thế cho" (15:30). "Ô-sê... đóng thuế (Nên dịch là "triều cống") cho người (vua A-si-ri) (17:3).
Một bi văn của Tiếc-la-Phi-lê-se chép rằng: "Chúng đã lật đổ Phê-ca, là vua của chúng. Ta đặt Ô-sê cai trị chúng. Ta nhận nơi Ô-sê 10 ta-lâng vàng và 1000 ta-lâng bạc."
Bí Chú Khảo Cổ: Dân Y-sơ-ra-ên bị bắt làm phu tù
"Vua A-si-ri... đến vây Sa-ma-ri trong 3 năm,... hãm lấy Sa-ma-ri, đem dân Y-sơ-ra-ên sang qua A-si-ri, đem người ở Ba-by-lôn..., đặt ở trong các thành của Sa-ma-ri" (17:5, 6, 24).
Một bi văn của Sa-gôn (EsIs 20:1) chép rằng: "Năm thứ nhứt đời trị vì của ta, ta đã chiếm Sa-ma-ri. Ta bắt 27.290 người dân làm phu tù. Còn dân nhiều xứ khác không hề triều cống, thì ta đem định cư tại Sa-ma-ri."
Bản đồ số 40
Đế quốc A-si-ri
Nước Y-sơ-ra-ên đã bị tiêu diệt bởi đế quốc A-si-ri. Những năm gần đây, người ta đã tìm được biên niên sử của các vua A-si-ri, trong đó các vua ấy đã cho ghi chép nhiều võ công của mình. Trong biên niên sử nầy có ghi tên 10 vua Hê-bơ-rơ: Ôm-ri, A-háp, Giê-hu, Ma-na-hem, Phê-ca, Ô-sê, Ô-xia, A-cha, Ê-xê-chia, Ma-na-se. Người ta tìm được nhiều lời xác nhận, bổ túc, hoặc chứng minh những lời chép trong Kinh Thánh. Thủ đô của đế quốc A-si-ri là Ni-ni-ve.
Chánh sách của đế quốc A-si-ri là lưu đày những dân tộc bị chinh phục qua các xứ khác, để tiêu diệt tinh thần quốc gia của họ và để dễ khiến họ thuần phục mình. Người A-si-ri là chiến sĩ có tài. Họ luôn luôn đi viễn chinh và tấn công. Phần nhiều dân tộc thời đó chuyên nghề cướp bóc. Người A-si-ri dường như vào hạng xấu tệ nhứt. Chúng kiến thiết quốc gia bằng vật cướp bóc của những dân tộc khác. Chúng thi hành những thủ đoạn tàn ác. Chúng lột da tù binh đang còn sống, hoặc chặt tay, chơn, mũi, tai của họ, hoặc móc mắt họ, hoặc kéo đứt lưỡi họ, và cũng chất sọ người thành gò nỗng; mọi sự đó cốt để làm cho người ta khủng khiếp.
Ít lâu trước năm 2000 T.C., A-si-ri đã được sáng lập bởi những người thực dân Ba-by-lôn; trải qua nhiều thế kỷ, khi thì thần phục, khi thì chống đánh Ba-by-lôn. Khoảng năm 1300 T.C., Sanh-ma-na-se I và con trai, là Tukulti-Mas, bẻ gãy ách của Ba-by-lôn, và cai trị tất cả thung lũng sông Ơ-phơ-rát. Rồi đế quốc A-si-ri suy tàn. Năm 1120-1100 (gần đồng thời với Sa-mu-ên), Tiếc-la-Phi-lê-se lại làm cho A-si-ri trở thành cường quốc. Rồi lại có một thời A-si-ri suy tàn, đương thời ấy nước của Đa-vít và Sa-lô-môn dấy lên. Rồi có thời kỳ vinh quang 300 năm, trong khoảng đó A-si-ri là một đế quốc bá chủ thế giới(1) có những vua dưới đây trị vì:
Assur-banipal II (885-860 T.C.).-- Hiếu chiến và tàn ác. Tổ chức A-si-ri thành bộ máy chiến đấu tốt nhứt thế giới thời cổ.
Sanh-ma-na-se II (860-825 T.C.).-- Vua A-si-ri thứ nhứt giao chiến với nước Y-sơ-ra-ên. A-háp đánh ông, còn Giê-hu thì triều cống ông.
Shansi-adad (825-808); Adad-nirari (808-783); Sanh-ma-na-se III (783-771); Assur-dayan (771-753); Assur-lush (753-747). Suy tàn.
Tiếc-la-Phi-lê-se III (747-727).-- Biệt hiệu của ông là Phun. Ông bắt dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc đi làm phu tù, năm 734 T.C.. Xem dưới sách Ê-sai, đoạn 7.
Sanh-ma-na-se IV (727-722).-- Vây hãm Sa-ma-ri; chết trong cuộc vây hãm.
Sa-gôn II (722-705).-- Kết thúc sự phá hủy Sa-ma-ri và sự bắt dân Y-sơ-ra-ên đi làm phu tù. Sa-gôn I là một vua Ba-by-lôn từ 2000 năm trước.
San-chê-ríp (705-681).-- Vua A-si-ri có danh tiếng nhứt. Bị một thiên sứ đánh bại trước thành Giê-ru-sa-lem. Đốt thành Ba-by-lôn. Xem dưới II Sử ký 22.
Esar-haddon (681-668).-- Xây lại thành Ba-by-lôn. Chiến thắng Ai-cập. Là một trong những vua A-si-ri oai hùng nhứt.
Assur-banipal (668-626).-- Cũng có tên là Sardanopalus, Osnapper. Hủy phá thành Thèbes. Thâu thập được một thơ viện lớn. Hùng cường, tàn ác, và thích văn chương.
Assur-etil-ila-ni, Sin-sar-iskun (Saracos) (626-607).-- Bị quân Sy-the, Mê-đi và Ba-by-lôn bao vây, đế quốc hung tàn nầy đã sụp đổ.
IIVua 2V 18:1-25:30 chép về 9 vua sau chót của nước Giu-đa, từ Ê-xê-chia đến Sê-đê- kia. Cước chú về các vua nầy và về người Giu-đa bị bắt đi làm phu tù, xin xem IISu 2Sb 29:36.
Người Giu-đa bị quân Ba-by-lôn bắt làm phu tù (năm 606 T.C.)
IIVua 2V 25:1-30 -- Sê-đê-kia (597 T.C.), vua sau chót của nước Giu-đa. Sự bắt dân Giu-đa đi làm phu tù đã thực hiện trong 4 giai đoạn:
606 T.C. .-- Nê-bu-cát-nết-sa chiến thắng Giê-hô-gia-kim, đem bửu vật trong Đền thờ và dòng dõi nhà vua, kể cả Đa-ni-ên, qua Ba-by-lôn (IISu 2Sb 36:6-7, DaDn 1:1-3).
597 T.C. .-- Nê-bu-cát-nết-sa lại đến, chiếm các bửu vật còn sót, bắt vua Giê-hô-gia-kin, và 10.000 người hoàng tộc, sĩ quan, bậc sang trọng về Ba-by-lôn làm phu tù (IIVua 2V 24:14-16).
586 T.C. .-- Quân Ba-by-lôn lại kéo đến, thiêu hủy Giê-ru-sa-lem, phá hủy thành lũy, móc mắt vua Sê-đê-kia, xiềng ông lại mà dẫn về Ba-by-lôn cùng với 832 phu tù, chỉ để một ít người nghèo nhứt ở lại trong xứ (IIVua 2V 25:8-12, Gie Gr 52:28-30) Sách Giê-rê-mi thuật ít hơn sách II Các vua, có lẽ chỉ gồm những điểm quan trọng nhứt. Quân Ba-by-lôn phải mất 1 năm rưỡi mới khắc phục được Giê-ru-sa-lem. Chúng bắt đầu vây thành nầy ngày 10, tháng 10, năm thứ 9 đời trị vì của Sê-đê-kia, và chiếm được thành ngày 9, tháng 4, năm thứ 11. Một tháng sau, tức là ngày 7, tháng 5, thành bị thiêu hủy.
Như vậy, Nê-bu-cát-nết-sa mất 20 năm để hủy phá thành Giê-ru-sa-lem. Nếu muốn, ông đã làm được việc ấy ngay từ lúc đầu. Nhưng ông chỉ muốn thâu cống phẩm. Lại nữa, Đa-ni-ên mà ông đem về Ba-by-lôn lúc khởi đầu 20 năm ấy, chẳng bao lâu đã trở thành thân hữu và cố vấn của ông. Chắc Đa-ni-ên đã có ảnh hưởng kìm hãm ông, mãi đến khi nước Giu-đa cố quyết liên minh với Ai-cập, thì Nê-bu-cát-nết-sa mới buộc phải xóa Giê-ru-sa-lem khỏi bản đồ.
581 T.C. .-- 5 năm sau khi Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy, quân Ba-by-lôn lại kéo đến, bắt thêm 745 phu tù (Gie Gr 52:30) sau khi một số dân đông đúc, kể cả Giê-rê-mi, đã chạy xuống Ai-cập (43:1-13). Sự sụp đổ thành Giê-ru-sa-lem đã đưa tới chức vụ của ba đại tiên tri, là Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên.
Việc dân Giu-đa bị bắt làm phu tù đã do hai tiên tri Ê-sai và Mi-chê dự ngôn từ 100 năm trước (EsIs 39:6, MiMk 4:10). Bây giờ, lời tiên tri ấy đã được ứng nghiệm rồi, Giê-rê-mi lại dự ngôn rằng cuộc lưu đày nầy sẽ kéo dài 70 năm (Gie Gr 25:11, 12).
Vậy là chấm dứt nước của Đa-vít trên mặt đất. Nước nầy đã tồn tại 400 năm. Theo một ý nghĩa thiêng liêng, nước nầy đã phục hưng khi Đấng Christ ngự đến, và sẽ được vinh quang tuyệt điểm khi Ngài tái lâm.
Bí Chú Khảo Cổ: Nê-bu-cát-nết-sa
Về việc ông thiêu hủy các thành của Giu-đa (IIVua 2V 25:9, Gie Gr 34:7), tại La-ki, Bê-tên, Ki-ri-át-Sê-phe và Bết-sê-mết, người ta đã tìm thấy nhiều lớp tro do lửa thiêu hủy nhằm khoảng 600 năm T.C.. Đó là hỏa hoạn do Nê-bu-cát-nết-sa gây nên. tại La-ki và Bết-sê-mết, lửa thiêu thành thình lình đến nỗi dưới những lớp mảnh vụn, tro và than, người ta tìm thấy (tại La-ki) bửu vật của miễu thờ,bàn thờ lư hương, bát, xương của tế vật, và (tại Bết-sê-mết) những kho lương thực như đậu, nho khô, ô-li-ve và nhiều thứ khác.
Ba-by-lôn
Đế quốc A-si-ri bắt dân Y-sơ-ra-ên đi làm phu tù (734-721 T.C.).
Đế quốc Ba-by-lôn bắt dân Giu-đa đi làm phu tù (606-586 T.C.).
A-si-ri là phần phía Bắc của thung lũng sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ.
Ba-by-lôn là phần phía Nam của thung lũng sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ.
Ni-ni-ve là thủ đô của đế quốc A-si-ri.
Ba-by-lôn là thủ đô của đế quốc Ba-by-lôn.
Ni-ni- ve và Ba-by-lôn cách nhau chừng 300 dặm.
Đế quốc Ba-by-lôn cũ
Ba-by-lôn là nơi loài người phát tích.
Chừng 2000 T.C., Ba-by-lôn là cường quốc bá chủ thế giới.
Rồi trong khoảng 1000 năm, thường có chiến tranh giữa Ba-by-lôn và A-si-ri.
Rồi A-si-ri nắm quyền bá chủ gần 300 năm (885-607 T.C.).
Đế quốc Ba-by-lôn mới
606-536 T.C. Thường khi gọi là đế quốc Neo(1) Ba-by-lôn. Đây là đế quốc đã phá tan oai lực của A-si-ri, và trong cuộc tiến qua phía Tây, đã tiêu diệt nước GIU-ĐA cùng chinh phục Ai-cập. Các vua của đế quốc Ba-by-lôn là:
Nabopolassar (625-604 T.C.), phó vương Ba-by-lôn. Ông bẻ gãy ách của người A-si- ri (625 T.C.), và kiện toàn nền độc lập của Ba-by-lôn. Với sự giúp đỡ của Cyaxares, người Mê-đi, ông đã chinh phục và phá hủy thành Ni-ni-ve (607 hoặc 612 T.C.). Năm 609 T.C., con trai ông, là Nê-bu-cát-nết-sa, làm thống tướng các đạo quân của ông; và năm 606 T.C., Nê-bu-cát-nết-sa đồng trị với cha mình.
Nê-bu-cát-nết-sa (606-561 T.C.) là vua có danh tiếng hơn hết trong các vua Ba-by-lôn, và cũng là một trong những hoàng đế oai hùng nhứt của mọi thời đại. Ông trị vì 45 năm. Đế quốc Ba-by-lôn do ông tạo thành một phần lớn. Ông mở rộng quyền lực của Ba-by-lôn trên hầu hết thế giới mà ta biết thời đó, và làm cho thành Ba-by-lôn đẹp đẽ gần như quá trí tưởng tượng. Ông là vua đã bắt dân Giu-đa đi làm phu tù, kể cả Đa-ni-ên và Ê-xê-chi-ên. Ông hết sức quí chuộng Đa-ni-ên, và đặt ông nầy làm một cố vấn chánh yếu của mình. Chắc ảnh hưởng của Đa-ni-ên đã làm cho số phận của những phu tù Giu-đa được dễ chịu hơn. Xem thêm về Nê-bu-cát-nết-sa cùng đồ trang sức của ông làm bằng đá ngũ sắc, và về thành Ba-by-lôn ở mục: "Sách Đa-ni-ên."
Ê-vinh-Mê-rô-đác (IIVua 2V 25:27 561-560 T.C.); Neriglis-sar (559-556); Labash-Marduk (556).
Nabonidus (555-536 T.C.).-- Con trai ông, là Bên-xát-sa, đồng trị với ông trong mấy năm sau chót đời trị vì của ông. Đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ. Quyền bá chủ sang qua Ba-tư. Về truyện bàn tay viết trên tường và sự sụp đổ của Ba-by-lôn, xin xem mục: "Sách Đa-ni-ên."
Đế quốc Ba-by-lôn tồn tại được 70 năm. 70 năm người Giu-đa phải làm phu tù chính là 70 năm Ba-by-lôn thống trị thế giới. Chính năm Si-ru, vua Ba-tư, chiến thắng Ba-by-lôn (536 T.C.), thì ông cho phép người Giu-đa trở về cố hương.
Ba-by-lôn, đế quốc hà hiếp dân của Đức Chúa Trời trong đời Cựu Ước, đã lưu danh của mình cho Hội Thánh bội đạo mai sau sẽ hà hiếp dân của Đức Chúa Trời (Khải- huyền 17).


I Sử Ký
Các gia hệ Đời trị vì của Đa-vít
12 sách đầu tiên của Kinh Thánh chấm dứt ở chỗ dân tộc Hê-bơ-rơ bị bắt làm phu tù. Hai sách Sử ký nầy kể lại truyện tích ấy và kết thúc ở cùng một điểm ấy. Hai sách nầy tóm tắt mọi điều xảy ra từ trước, và chú ý đặc biệt đến đời trị vì của Đa-vít, Sa-lô-môn và các vua Giu-đa kế tiếp.
Một phần sách I Sử ký giống như sách II Sa-mu-ên. Nó chép riêng truyện tích Đa-vít, và trước đó có 9 đoạn chép gia hệ dùng làm tiểu dẫn. Các gia hệ gồm cả thời gian từ A-đam cho tới khi dân Giu-đa hồi hương sau cuộc lưu đày, và dường như là một bản tóm tắt cả thánh sử trước đó.
Tác giả
I Sử ký, II Sử ký, E-xơ-ra, và Nê-hê-mi nguyên thủy là một bộ sách. Truyền thoại Do-thái luôn luôn cho rằng E-xơ-ra là tác giả của hai sách Sử ký nầy.
Thường nhắc đến các Sử ký, biên niên sử và công văn: "Sử ký vua Đa-vít" (ISu1Sb 27:24) "sách của Sa-mu-ên, đấng tiên kiến,... sách của Na-than, đấng tiên tri,... sách của Gát, đấng tiên kiến" (ISu1Sb 29:29) "sách truyện Na-than, là đấng tiên tri, và... sách tiên tri của A-hi-gia, người Si-lô, cùng... sách dị tượng của Giê-đô, đấng tiên kiến" (IISu 2Sb 9:29) "sách truyện của Sa-ma-gia, đấng tiên tri,... sách Y-đô, đấng tiên kiến" (IISu 2Sb 12:15) "sách tuyện của tiên tri Y-đô" (IISu 2Sb 13:22) "truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên" (ISu1Sb 20:34) "sách truyện các vua" (IISu 2Sb 24:27); "đấng tiên tri Ê-sai đã biên chép các công sự khác của Ô-xia từ đầu đến cuối" (IISu 2Sb 26:22) "sách dị tượng của Ê-sai, đấng tiên tri" (IISu 2Sb 32:32) "sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên" (IISu 2Sb 32:32) "các lời của đấng tiên kiến" (IISu 2Sb 33:18).
Vậy, ta thấy rằng tác giả đã được đọc các nhựt ký và công văn mà ngày nay ta không biết. Ông cũng được đọc các sách trước đây của Cựu Ước. Do Đức Chúa Trời giúp đỡ, ông đã sao lại, bỏ bớt, hoặc thêm vào những tài liệu phù hợp với chính tác phẩm của mình. Như vậy, trong phần nầy của Cựu Ước, chúng ta có hai bản tường thuật.
Sự quan trọng của hai bản tường thuật
Vì tin rằng cả Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời cốt để cho mọi người sử dụng, nên chúng tôi tự hỏi phải chăng khi lặp lại Hai Lần phần nầy của thánh sử, Ngài còn nhắm mục đích nào khác ngoài ra nhu cầu trực tiếp của E-xơ-ra, là tái định cư nhơn dân trên xứ sở và cải tổ quốc gia?
Thường thì sự lặp lại rất quan trọng. Ít ra, chúng ta cũng phải cẩn thận, chớ xao lãng phần nầy của Kinh Thánh. Mặc dầu chúng ta thường tưởng sự đọc sách Các vua và sách Sử ký là hơi khô khan, nhưng nó có chứa truyện tích về các cách Đức Chúa Trời đối xử với dân Ngài, và mỗi khi đọc, ta lại tìm thấy trong đó những viên ngọc đẹp nhứt của Kinh Thánh.
Điểm khác nhau giữa hai sách Các vua và hai sách Sử ký
Sách Các vua tường thuật song song lịch sử của nước phía Bắc và nước phía Nam, còn sách Sử ký chỉ chuyên chú vào nước phía Nam. Sách Sử ký dường như trước nhứt chuyên chú vào nước của Đa-vít, và cứ mô tả triều đại của ông cho tới lúc đương thời tác giả.
ISu1Sb 1:1-9:44-- Các gia hệ
Dường như mục đích trực tiếp của các gia hệ nầy là để tái định cư nhơn dân trong xứ tùy những văn kiện của nhà nước. Những người từ chốn lưu đày trở về được phép nhận đất đai mà gia tộc xưa kia đã chiếm giữ. Trong đời Cựu Ước, đất đai được cấp phát cho các gia tộc, và không thể đem bán vĩnh viễn đến nỗi gia tộc mất hẳn quyền sở hữu. Nếu bán đi, thì đến năm hân hỉ, phải trả về gia tộc vốn là sở hữu chủ (xem dưới Lê-vi ký 25).
Chức thầy tế lễ cũng truyền tử lưu tôn. Thầy tế lễ vẫn có con trai mình kế chức. Đó là luật pháp trong xứ.
Về dòng vua Đa-vít cũng vậy. Lời hứa quan trọng và quí báu hơn hết: Đấng Cứu thế sẽ phát xuất từ gia tộc Đa-vít. Các gia hệ nầy cốt ý theo dõi sự lưu truyền dòng dõi Đa-vít.
Hầu hết các gia hệ không đầy đủ, và các bản liệt kê có lắm chỗ gián đoạn. Chắc tác giả đã dựa vào nhiều tài liệu ghi trên tấm bảng, chỉ thảo và giấy da bò non, mà lập các gia hệ nầy; còn một phần thì chép ở các sách trước của Cựu Ước.
9 đoạn chép gia hệ nầy là dây ràng buộc cả lịch sử Kinh Thánh từ trước tới đây, từ thế hệ nầy tới thế hệ khác. Ta không cần đọc để tài bồi đời tin kính, như những phần khác của Kinh Thánh. Nhưng thật ra, các gia hệ nầy và các gia hệ tương tự rải rác khắp Cựu Ước, chính là "bộ xương" của Cựu Ước, là phần liên kết cả Kinh Thánh làm một, khiến cho Kinh Thánh được thống nhứt và có vẻ là LỊCH SỬ thật, chớ không phải là thần thoại.
10:1-12:40 -- Đa-vít được tôn làm vua
Nếu không kể các gia hệ, thì sách II Sa-mu-ên và sách I Sử ký chỉ chuyên chép về đời trị vì của Đa-vít. Cả hai sách gần như kể lại những việc giống nhau. Nhưng sách I Sử ký đặc biệt chú ý đến sự tổ chức cuộc thờ phượng ở Đền thờ. Vì sách I Sử ký được chép sau khi nhơn dân từ chốn lưu đày trở về, nên tưởng nói điều nầy cũng chẳng phải là sai lạc: Sách I Sử ký ví như một bài giảng lịch sử, căn cứ vào sách II Sa-mu-ên, cốt để khuyến khích những phu tù mới hồi hương hãy khôi phục địa vị xứng đáng cho sự thờ phượng nơi Đền thờ trong cuộc sanh hoạt quốc gia của họ.
Trong sách IISa 2Sm 2:1-4:12 có chép thể nào Đa-vít được tôn làm vua xứ Giu-đa (sau khi Sau-lơ băng hà), đóng đô tại Hếp-rôn, là thành của Áp-ra-ham, và trị vì tại đó 7 năm rưỡi. Trong thời gian ấy ông phải giao chiến với Ích-bô-sết, con trai của Sau-lơ. Rồi sau khi Ích-bô-sết qua đời, Đa-vít được tôn làm vua cả nước Y-sơ-ra-ên.
Khi làm vua cả nước Y-sơ-ra-ên rồi, hành động thứ nhứt của Đa-vít là chiếm lấy Giê-ru-sa-lem và chọn nó làm thủ đô toàn quốc. Việc nầy được thuật đầy đủ hơn ở II Sa-mu-ên 5. Giê-ru-sa-lem ở gần trung tâm của xứ hơn mọi thành khác, và khó chiếm vì ở trên ngọn núi, các phía Đông, Tây, và Nam có thung lũng bao quanh. Trong khoảng 400 năm từ Giô-suê đến Đa-vít, dân Y-sơ-ra-ên đã không chiếm được thành nầy, và người Giê-bu-sít vẫn còn ở đó (Gios Gs 15:63, IISa 2Sm 5:6-10, ISu1Sb 11:4, 5).
Bí Chú Khảo Cổ: Khe nước
Năm 1866, ông Warren, nhơn viên "Quỹ Thám hiểm xứ Pa-lét-tin," đã tìm thấy khe nước (IISa 2Sm 5:8) do đó các chiến sĩ của Đa-vít vào được thành Giê-ru-sa-lem. Đây là một đường hầm thoai thoải, có tam cấp, đục trong đá, từ đỉnh đồi chạy xuống khe Ghi-hôn ở chơn đồi phía Đông; như vậy, từ phía trong vách thành, người ta có thể đi tới một nguồn nước. Đồi có một vách thành bao quanh, dày gần 8 thước tây. Không ai chiếm được nó cho tới ngày Đa-vít khám phá ra lối bí hiểm nầy đi từ khe nước vào trong thành.
Bí Chú Khảo Cổ: Tường thành do Đa-vít xây cất
ISu1Sb 11:8 chép rằng Đa-vít "xây tường thành bốn phía." Người ta đã tìm thấy di tích của tường thành nầy, dài 130 thước. Ở nhiều chỗ, còn trông thấy nền cũ của người Giê-bu-sít ở dưới tường thành do Đa-vít xây cất.
13:1-16:43-- Chở hòm giao ước lên thành Giê-ru-sa-lem
Hòm giao ước đã bị quân Phi-li-tin chiếm mất (ISa1Sm 4:11). Nó ở nơi chúng 7 tháng (ISa1Sm 6:1). Rồi nó được gởi trả dân Y-sơ-ra-ên, và đặt ở Ki-ri-át-Giê-a-rim 20 năm (ISa1Sm 7:2). Ki-ri-át-Giê-a-rim cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 10 dặm về phía Tây-bắc. Đa-vít đã chọn Giê-ru-sa-lem làm thủ đô toàn quốc, bèn nhóm họp toàn dân Y-sơ-ra-ên để thỉnh hòm giao ước lên Giê-ru-sa-lem trong một cuộc lễ rước hết sức long trọng.
Nhưng việc U-xa chẳng may xảy ra (ISu1Sb 13:10), đã làm gián đoạn cuộc lễ rước. U-xa chết vì cử chỉ xung động toan cứu hòm giao ước (13:9), thì ta tưởng như là nghiêm khắc quá. Tuy nhiên, chỉ người Lê-vi được phép khiêng hòm giao ước (15:2, 13). Lại nữa, hành động của U-xa là trực tiếp vi phạm luật pháp (Dan Ds 4:15), nên sự chết của ông là lời cảnh cáo mọi người phải cẩn thận.
Sau 3 tháng đặt tại nhà Ô-bết-Ê-đôm (ISu1Sb 3:14), là người Lê-vi (15:17, 18, 21, 24), hòm giao ước được rước về Giê-ru-sa-lem giữa sự vui mừng cả thể, và được đặt vào nhà trại mà Đa-vít đã dựng cho nó (15:1). Còn nhà trại nguyên thủy thì ở Ga-ba-ôn (21:29).
Đa-vít cưới nhiều vợ (14:3) thì trái với luật pháp của Đức Chúa Trời. Nhưng đó là thói tục của các vua thời xưa, và là một dấu hiệu của uy tín và vương quyền mà nhơn dân dường như mong thấy nơi người cai trị họ. Đương thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời dường như khoan dung sự đa thê đó. Tuy nhiên, trong những lúc gia đình lục đục, Đa-vít thật đã gặt trái của sự đa thê (xem thêm IISa 2Sm 13:1-39).
ISu1Sb 17:1-27-- Đa-vít định xây cất Đền thờ
Đó là ý của Đa-vít, Đức Chúa Trời thỏa lòng với một nhà trại (câu 4-6). Tuy nhiên, Ngài cũng chiều theo Đa-vít. Nhưng Ngài chẳng để ông xây cất Đền thờ, vì ông "là một tay chiến sĩ" (28:3) và "đã đổ huyết ra nhiều" (22:8). Rồi Ngài giao nhiệm vụ ấy cho Sa-lô-môn (17:11-14, 28:6).
ISu1Sb 18:1-20:8 -- Những cuộc chiến thắng của Đa-vít (xem thêm IISa 2Sm 8:1-18)
ISu1Sb 21:1-30-- Kiểm tra dân số (xem thêm IISa 2Sm 24:1-25)
ISu1Sb 22:1-19-- Đa-vít dự bị cho Đền thờ
Dầu Đức Chúa Trời cấm Đa-vít xây cất Đền thờ, nhưng ông đã đặt kiểu Đền thờ, và để một phần lớn đời trị vì của mình mà thâu góp rất nhiều vàng, bạc, và đủ thứ vật liệu xây cất; theo nhiều người ước lượng khác nhau, thì tổng số vật liệu xây cất đáng giá từ 2 đến 5 tỷ Mỹ kim. Đền thờ nầy "phải rất nguy nga, có danh tiếng rực rỡ trong các nước" (22:5). Đền thờ phải là vinh quang tột bậc của nước Y-sơ-ra-ên. Lời Đa-vít khuyên bảo Sa-lô-môn ở đây lại được giải rộng hơn ở đoạn 28.
23:1-32-- Chỉ định phận sự của người Lê-vi
Không cần khiêng Đền tạm nữa (câu 26), vì bây giờ Đền thờ sẽ đặt luôn ở Giê-ru-sa-lem; vậy, công việc của người Lê-vi được xác định lại. Một số người Lê-vi sẽ cai quản công việc của Đền thờ (câu 4); một số giữ cửa (câu 5); một số làm nhạc công (câu 5); có một ban hát gồm 4000 người Lê-vi (câu 5; 15:16). Một số làm "quan đốc lý và quan xét" (23:4); một số "cai quản các việc ngoài của Y-sơ-ra-ên" (26:29); một số "cai trị các việc của Đức Chúa Trời và việc của vua" (26:32). Khoản chót nầy dường như tỏ ra người Lê-vi dự phần công việc hành chánh cũng như dự phần công việc tôn giáo.
24:1-31-- Tổ chức các thầy tế lễ
Họ được tổ chức thành 24 ban để hầu việc trong Nơi Thánh. Họ được gọi là "các trưởng của Nơi Thánh" và "các trưởng của Đức Chúa Trời" (câu 5). Họ phụ trách dâng các của lễ. Công vụ của họ chấm dứt khi Đấng Christ ngự đến! Khá hài hước thay, chính "các thầy tế lễ" đã âm mưu đóng đinh Đấng Christ vào Thập tự giá (Mat Mt 27:1, 6, 20, 41)! Không có chỗ nào trong Tân Ước gọi các chức dịch Tin Lành là "thầy tế lễ." Thơ Hê-bơ-rơ đã được chép để tỏ ra rằng không cần "các thầy tế lễ" nữa. Chỉ có KhKh 1:6, 5:10 và 20:6 dùng chữ "thầy tế lễ" theo một ý nghĩa của đạo Đấng Christ, và trong trường hợp nầy, nó ứng dụng cho Hết Thảy tín đồ của Ngài, chớ không ứng dụng cho một hạng tín đồ đặc biệt muốn đè đầu những tín đồ khác.
ISu1Sb 25:1-27:34-- Thêm sự tổ chức
Để có hiệu lực trong sự thờ phượng ở Đền thờ và trong sự cai trị quốc gia; nhứt là tổ chức các nhạc công mà nhiệm vụ không chấm dứt khi Đấng Christ ngự đến, nhưng lại có ý nghĩa mới mẻ. Đa-vít là một đại nhạc sĩ. Tất cả linh hồn ông vui thỏa vì làm cho các từng trời vang lừng những bài ca khen ngợi Đức Chúa Trời (15:27, 28, 16:41, 42).
28:1-29:30-- Lời nói và lời cầu nguyện sau chót của Đa-vít
Liên quan đến Đền thờ. Đó là điều lòng ông chăm chú vào trong lúc linh hồn ông bay lên "nhà đời đời... không phải bởi tay người làm ra" (IICo 2Cr 5:1). "Người theo lòng Ngài" (ISa1Sm 13:14) đã "phụng sự thế hệ mình" một cách cao thượng. Chắc ông vui mừng biết bao vì được gặp Đấng sau nầy mang danh hiệu "Con vua Đa-vít" (Mat Mt 22:42).
===============================

II Sử Ký
Đời trị vì của Sa-lô-môn Đền thờ Lịch sử nước Giu-đa sau khi 10 chi phái ly khai
Sách II Sử ký cùng một đề tài như hai sách Các vua, duy nó bỏ qua không tường thuật lịch sử các vua của 10 chi phái ly khai.
IISu 2Sb 1:1-9:31-- Đền thờ và vinh quang đời trị vì của Sa-lô-môn (cũng xem thêm IVua 1V 1:1-11:43)
Trong 400 năm, dân Y-sơ-ra-ên chỉ có một nhà trại làm nơi Đức Chúa Trời ngự giữa họ; dường như Đức Chúa Trời cũng hài lòng với sự sắp đặt ấy (IISa 2Sm 7:5-7). Tuy nhiên, khi xét là thích đáng cho họ có một Đền thờ, thì Đức Chúa Trời muốn phán một lời về Đền thờ phải được kiến trúc thể nào. Chính tay Ngài "chép ra kiểu mẫu" (ISu1Sb 28:19, XuXh 25:9) mà trao cho Đa-vít, vì Ngài thỏa hiệp với ước muốn của họ rằng Đền thờ "phải rất nguy nga, có danh tiếng rực rỡ trong các nước" (ISu1Sb 22:5).
Đa-vít muốn xây cất Đền thờ, nhưng Đức Chúa Trời không cho phép, vì ông là một chiến sĩ (ISu1Sb 22:8). Đức Chúa Trời đã giúp Đa-vít trong các cuộc chiến tranh của ông. Nhưng dường như Đức Chúa Trời nghĩ rằng một chiến sĩ xây cất nhà Ngài thì không phải là tốt nhứt, e rằng các dân tộc bị trị phục sẽ thù oán Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên; ấy vì rốt lại, mục đích của Ngài khi sáng lập quốc gia Hê-bơ-rơ chính là để nhờ họ dắt đem các dân tộc khác đến cùng Ngài.
Đền thờ xây bằng những phiến đá lớn, xà và ván bằng gỗ hương nam bên trong cẩn vàng (IVua 1V 6:14-22, 7:9-12). Vàng, bạc và những vật liệu khác dùng xây cất Đền thờ (ISu1Sb 22:14-16, 22:2-9) thì nhiều người tính phỏng là đáng giá từ 2 đến 5 tỷ Mỹ kim; chắc hẳn đó là công trình kiến trúc quí giá và nguy nga nhứt trên mặt đất đương thời ấy. Vẻ huy hoàng, đồ sộ của Đền thờ có lẽ đã hữu ích một phần nào; nhưng vàng của nó gây cho các vua khác tham lam, thèm muốn, do đó mà nước Y-sơ-ra-ên bị rối reng.
Đền thờ xây cất theo kiểu mẫu tổng quát của Đền tạm, phần nào cũng rộng gấp hai; ấy nghĩa là nếu tính một "thước" Do-thái được chừng 48 phân tây, thì Đền thờ dài chừng 28 thước 80 phân tây, ngang chừng 9 thước 60 phân, và cao chừng 14 thước 40 phân (IVua 1V 6:2).
Đền thờ nhìn về phía Đông. 9 thước 60 ở phía Tây là Nơi Chí thánh, còn 19 thước 20 phân ở phía Đông thì là Nơi Thánh (IVua 1V 6:16-20). Hai nơi nầy có một cái màn phân cách (IISu 2Sb 3:14).
Trong Nơi Chí thánh có hòm giao ước được hai chê-ru-bin che phủ (IVua 1V 6:23-28). Trong Nơi Thánh, gần cái màn, ở chính giữa, có bàn thờ xông hương bằng vàng; và có 5 chơn đèn bằng vàng ở phía Bắc, 5 chơn đèn bằng vàng ở phía Nam, 5 bàn bánh trần thiết ở phía Bắc, 5 bàn bánh trần thiết ở phía Nam (IVua 1V 7:48, 49, IISu 2Sb 4:8).
Đằng trước, về phía Đông, có một cái hiên cửa, bề dài bằng bề ngang của Đền thờ (chừng 14 thước 40 phân) và rộng chừng 7 thước 20 phân. Trên hiên cửa có hai cây trụ bằng đồng; mỗi cây trụ có đường kính chừng 1 thước 92 phân tây, và cao chừng 11 thước 20 phân; mỗi cây trụ ở một bên hiên cửa (IVua 1V 6:3, 7:15-21).
Dựa vào vách Đền thờ, ở các phía Bắc, nam và Tây, có ba từng lầu, chia làm nhiều phòng cho các thầy tế lễ sử dụng (IVua 1V 6:5-10).
Phía trước Đền thờ có bàn thờ bằng đồng để dâng của lễ thiêu, bề dài và bề ngang chừng 9 thước 60 phần, và cao chừng 4 thước 80 phân (IISu 2Sb 4:1). Người ta tưởng rằng bàn thờ bằng đồng nầy ở ngay trên vầng đá tại đó Áp-ra-ham đã dâng Y-sác, và bây giờ gọi là "Vầng Đá Mái Vòm;" hiện nay vầng đá nầy ở ngay dưới trung tâm của giáo đường Hồi giáo. gần đó, ở phía Nam, có cái thùng lớn bằng đồng, hoặc "biển," hình tròn, đường kính chừng 4 thước 80 phân, sâu chừng 2 thước 56 phân, đặt trên 12 con bò bằng đồng, thảy đều đúc nguyên khối. Thùng nầy đựng nước cho các thầy tế lễ tắm rửa. Lại có 10 cái thùng nhỏ hơn, 5 ở phía Bắc, 5 ở phía Nam, để đựng nước rửa các của lễ (IVua 1V 7:38, 39, IISu 2Sb 5:1-6).
Chung quanh Đền thờ có hai hành lang: "Hành lang phía trong" và hành lang lớn" (IVua 1V 6:36, 7:12). Chúng ta không biết kích thước của hai hành lang nầy. Người ta cho rằng có lẽ hành lang lớn gồm cả cung điện của Sa-lô-môn.
Đền thờ do 30.000 người Y-sơ-ra-ên và 150.000 người Ca-na-an xây cất (IVua 1V 5:13-16, IISu 2Sb 2:17, 18, 8:7-9). Hết 7 năm mới xây cất xong (IVua 1V 6:38). Mỗi phần được chuẩn bị ở nơi xa vị trí Đền thờ, và được đặt vào đúng chỗ mà không có tiếng búa hoặc dụng cụ nào (IVua 1V 6:7).
Giê-ru-sa-lem được xây cất trên 5 ngọn đồi. Vách thành của Đa-vít ở trên ngọn đồi ở phía Đông-nam. Còn vách thành của Sa-lô-môn, thì người ta nghĩ rằng nó ở trên hai ngọn đồi Trung-đông và Tây-nam. Cung điện của Sa-lô-môn ở mạn dưới đồi, ngay phía Nam của hành lang Đền thờ. Ở ngay phía Tây cung điện, có biệt cung của con gái Pha-ra-ôn; và ở phía Nam cung điện có phòng thiết triều của Sa-lô-môn; ở phía Nam phòng nầy có cái "cung rừng Li-ban" mà người ta cho là một kho chứa võ khí (IVua 1V 7:2, 8). Bản đồ số 41 ở trang trước đây phác họa sơ sài những công trình tạo tác trên đây.
Đền thờ do Sa-lô-môn xây cất đã tồn tại chừng 400 năm (970-586 T.C.). Đền thờ do Xô-rô-ba-bên xây cất tồn tại được chừng 500 năm (520-20 T.C.). Đền thờ do Hê-rốt xây cất tồn tại được 90 năm (20 T.C.-70 S.C.).
Bản đồ số 41 --
Đền thờ và cung điện do Sa-lô-môn xây cất có lẽ được sắp đặt như thế nầy
Các Đền thờ của Đức Chúa Trời
Đền tạm. -- Chỉ là một nhà trại. Nó là nơi ngự nhứt định của Đức Chúa Trời giữa dân Y-sơ-ra-ên trong 400 năm. Phần lớn thời gian nầy, Đền tạm đặt tại Si-lô (xem thêm Xuất Ê-díp-tô ký 25 đến 40).
Đền thờ do Sa-lô-môn xây cất. -- Vinh quang của nó chẳng lâu bền. Bị cướp bóc 5 năm sau khi Sa-lô-môn băng hà. Bị quân Ba-by-lôn phá hủy năm 586 T.C..
Đền thờ của Ê-xê-chi-ên. -- (Exe Ed 40:1-43:27).-- Không phải một Đền thờ thực sự, nhưng là sự hiện thấy về Đền thờ tuyệt đẹp sẽ được xây dựng lại trong tương lai.
Các nhà hội. -- Dựng lên trong thời kỳ lưu đày. Không phải Đền thờ, mà là những nhà nhỏ ở các trú khu Do-thái rải rác, dùng trong những cuộc nhóm họp địa phương.
Đền thờ do Xô-rô-ba-bên xây cất. -- Xây xất sau khi dân chúng từ chốn lưu đày hồi hương. Xem phần luận về sách "E-xơ-ra" và "Nê-hê-mi." Tồn tại được 500 năm, cho đến khi được thay thế bởi Đền thờ do Hê-rốt xây cất.
Đền thờ do Hê-rốt xây cất. -- Đây là Đền thờ mà Đấng Christ đã ngự vào. Do Hê-rốt xây cất bằng cẩm thạch và vàng. Nguy nga khôn tả xiết. Bị quân La-mã phá hủy năm 70 S.C.. Xem dưới GiGa 2:13, 14 và Mat Mt 24:1-51.
Thân thể Đấng Christ. -- Đức Chúa Jêsus gọi thân thể Ngài là một Đền thờ (GiGa 2:19-21). Trong Ngài, Đức Chúa Trời đã ngự giữa loài người. Đức Chúa Jêsus phán rằng các Đền thờ trần gian không cần thiết cho sự thờ phượng Đức Chúa Trời (GiGa 4:20-24).
Hội Thánh, về toàn thể, là Đền thờ của Đức Chúa Trời, nơi Ngài ngự trong thế gian nầy (ICo1Cr 3:16-19).
Mỗi tín đồ cá nhơn là một Đền thờ của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 6:19), mà Đền thờ huy hoàng do Sa-lô-môn xây cất có thể làm hình bóng cho.
Các nhà thờ mà ta xây cất cũng có khi được gọi là Đền thờ của Đức Chúa Trời, nhưng không có chỗ nào trong Kinh Thánh gọi như vậy.
Đền thờ ở trên trời. -- Đền thờ là kiểu mẫu của một cái gì ở trên trời (HeDt 9:11, 24). Sứ đồ Giăng đã thấy một Đền thờ ở trên trời (KhKh 11:19). Nhưng về sau, chính Đức Chúa Trời và Chiên Con đã trở nên Đền thờ (KhKh 21:22).
IISu 2Sb 10:1-12:16-- Rô-bô-am, vua Giu-đa (933-916 T.C.)
Con trai của Sa-lô-môn. Trị vì 17 năm. Cũng được chép ở IVua 1V 12:1-14:30. Ông là một thanh niên cuồng dại. Dưới đời trị vì của ông, nước huy hoàng của Sa-lô-môn vụt từ tuyệt điểm vinh quang sa xuống đáy hổ nhục và hèn mọn. Trong 12 chi phái, thì 10 đã ly khai khỏi nước ông; và Si-sắc, vua Ai-cập, đã cướp bóc thành Giê-ru-sa-lem (IISu 2Sb 12:2-9).
Bí Chú Khảo Cổ: Si-sắc xâm lăng nước Giu-đa
Chính Si-sắc đã ghi khắc cuộc chiến tranh nầy trên vách phía Nam của miễu lớn thờ thần Amon tại Karnak; ông nói rằng mình dâng 156 thành của xứ Pa-lét-tin cho thần Amon của mình.
Người ta đã tìm thấy một lớp tro do ông thiêu đốt thành Ki-ri-át-Sê-phe. Cũng tìm thấy một đài kỷ niệm mà ông đã dựng tại Mê-ghi-đô.
Năm 1939, người ta tìm thấy xác ướp của Si-sắc tại Tanis, trong một quan tài bằng bạc bọc vàng nguyên khối; có lẽ đây là một số vàng của Sa-lô-môn mà ông đã cướp tại Giê-ru-sa-lem.
IISu 2Sb 13:1-22-- A-bi-gia, vua Giu-đa (915-913 T.C.)
Trị vì 3 năm. Cũng được chép ở IVua 1V 15:1-8. Gian ác như cha mình. Nhưng khi giao chiến với Giê-rô-bô-am, ông "nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời" (câu 18) và đánh bại kẻ thù, chiếm lại được một số thành ở phía Bắc.
IISu 2Sb 14:1-16:14-- A-sa, vua Giu-đa (912-972 T.C.)
Trị vì 41 năm. Cũng được chép ở IVua 1V 15:9-24. Đời trị vì lâu dài của ông trùm lấn đời trị vì của 7 vua nước phía Bắc, từ lúc hết đời trị vì của Giê-rô-bô-am tới lúc bắt đầu đời trị vì của A-háp. Ông là một vua tốt, rất sốt sắng hầu việc Chúa. Một luồng sóng cải cách lớn lao tràn cuốn khắp xứ. Ông phá hủy bàn thờ thần ngoại bang, nơi cao, trụ thờ, hình mặt trời và A-sê-ra. Ông tống đuổi bọn vĩ gian, và cất chức thái hậu của chính mẹ mình vì bà nầy thờ lạy một hình tượng. Nước rất được thạnh vượng.
IISu 2Sb 17:1-20:37-- Giô-sa-phát, vua Giu-đa (874-850 T.C.)
Trị vì 25 năm. Cũng được chép ở IVua 1V 22:41-50. Rất mộ đạo, ông "tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình" (IISu 2Sb 17:4). Ông thiết lập một chế độ giáo dục công cộng, sai các thầy tế lễ và người Lê-vi đi tuần hành thường xuyên, đem theo sách Luật pháp để dạy dỗ dân chúng. Ông lập những tòa án khắp cả nước, với một tòa thượng thẩm ở Giê-ru-sa-lem. Ông duy trì một đạo quân lớn và tự tỏ ra là hết sức hùng mạnh.
IISu 2Sb 21:1-20-- Giô-ram, vua Giu-đa (850-843 T.C.)
Trị vì 8 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 8:16-24. Con trai và cháu nội của hai vua hiền đức, nhưng đã trở nên hư xấu vì cưới phải một người nữ gian ác, là A-tha-li, con gái của Giê-sa-bên vô hạnh. Dưới đời trị vì của ông, thành Giê-ru-sa-lem bị người Ả-rập và người Phi-li-tin cướp bóc. Ông mắc bịnh gớm ghiếc mà chết: "Ruột gan tan rớt ra" và "qua đời chẳng ai tiếc" (câu 19, 20).
IISu 2Sb 22:1-9 -- A-cha-xia, vua Giu-đa (834 T.C.)
Trị vì 1 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 8:25-29. Con trai của A-tha-li, cháu ngoại của Giê-sa-bên; một con cháu của nhà Đa-vít do một cuộc kết hôn kinh khiếp. Ông rất gian ác, và bị Giê-hu giết chết. Ấy là "ý Đức Chúa Trời... gây cho người bị bại hoại" (câu 7).
IISu 2Sb 22:10-23:21 -- A-tha-li, nữ hoàng Giu-đa (843-837 T.C.)
Trị vì 6 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 11:1-21. Bà là con gái của Giê-sa-bên vô hạnh kia, và cũng quỉ quái như mẹ mình. Bà lấy Giô-ram, vua Giu-đa, và là mẹ của A-cha-xia, vua kế tiếp. Như vậy, ngoài 6 năm tự quyền cai trị, bà còn làm hoàng hậu 8 năm và làm thái hậu 1 năm; tổng cộng là 15 năm. Bà cuồng tín phụng sự tà thần Ba-anh, nên đã tàn sát chính các cháu nội của mình mà cướp ngôi vua.
IISu 2Sb 24:1-22-- Giô-ách, vua Giu-đa (843-803 T.C.)
Trị vì 40 năm (có lẽ kể cả 6 năm của A-tha-li). Cũng được chép ở II Các vua 12. Giô-ách là cháu nội của A-tha-li. Đang khi A-tha-li tàn sát dòng dõi nhà vua, thì Giô-ách, con trai của A-cha-xia, còn thơ ấu, đã được người ta đánh cắp và giấu trong Đền thờ trong 6 năm Khi Giô-ách được 7 tuổi, thì Giê-hô-gia-đa, thầy thầy tế lễ thượng phẩm, là dượng rể của ông, đã lập mưu trừ bỏ A-tha-li và tôn ông lên làm vua. Giê-hô-gia-đa thật đã cầm quyền cai trị trọn đời mình. Dưới sự giám hộ của Giê-hô-gia-đa, Giô-ách đã trừ bỏ đạo Ba-anh trong xứ, sửa chữa Đền thờ mà A-tha-li đã phá hủy, và lập lại sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Ông dùng một cái "hòm" để lạc quyên tiền bạc cho công cuộc sửa chữa; do đó mà trong các cuộc lạc quyên của Hội Thánh, người ta hay dùng danh từ "cái hòm của Giô-ách."
"Giô-ách làm điều thiện... trọn đời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa" (câu 2). Nhưng sau khi Giê-hô-gia-đa qua đời, thì ông bội đạo và đặt hình tượng lên. Các quan trưởng vốn trải biết sự phóng túng thờ lạy tà thần A-sê-ra đã gây cho Giô-ách bị diệt vong. Thậm chí Giô-ách truyền lịnh ném đá chết Xa-cha-ri, là con trai của Giê-hô-gia-đa, người đã đặt ông lên ngôi vua. Vậy, trong vòng một năm sau khi Xa-cha-ri bỏ mạng, quân Sy-ri đã kéo đến, cướp bóc thành Giê-ru-sa-lem, giết các quan trưởng và "xử hình phạt cho Giô-ách" vì ông "đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời" (câu 24). Ông lìa bỏ Chúa, nên dân chúng xây lại nghịch cùng ông.
IISu 2Sb 25:1-28-- A-ma-xia, vua Giu-đa (803-775 T.C.)
Trị vì 29 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 14:1-22. Ông "làm điều thiện..., song lòng không được trọn lành" (câu 2). Ông giao chiến với người Ê-đôm, rồi thờ lạy các thần của chúng. Ông cũng giao chiến với quân Y-sơ-ra-ên, và thành Giê-ru-sa-lem bị vua Y-sơ-ra-ên cướp bóc.
IISu 2Sb 26:1-23-- Ô-xia (A-xa-ria ), vua Giu-đa (787-735 T.C.)
Trị vì 52 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 15:1-7. Người ta cho rằng ông đã đồng trị với cha mình, là A-ma-xia, trong một thời gian. Ông "làm điều thiện..., rắp lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời" (câu 4, 5). Ông "tìm kiếm bao lâu, thì Đức Chúa Trời khiến cho ông đặng may mắn bấy lâu" (câu 5). Ông có một đạo quân đông đúc và những võ khí tối hảo. Đã thắng người Phi-li-tin, Ả-rập và Am-môn. Rất chú trọng đến ngành canh nông. Nước được mở mang rộng nhứt kể từ khi mười chi phái ly khai. Nhưng ông đã đổi ra ngạo mạn, nên bị Đức Chúa Trời giáng cho bịnh phung.
Bí Chú Khảo Cổ: Ô-xia
Một bi văn của Tiếc-lát-Phin-nê-xe(1), vua A-si-ri (747-727 T.C.), người đã bắt dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc đi làm phu tù, có ghi 4 lần: "A-xa-ria (Ô-xia), người Giu-đa."
Tấn sĩ E.L. Sukenik, nhơn viên Đại học đường Hê-bơ-rơ ở Giê-ru-sa-lem, đã tìm thấy mộ chí của Ô-xia trong Nga quốc Khảo cổ Bảo tàng viện ở trên núi Ô-li-ve. Trên mộ chí có ghi bằng chữ A-ram, là thứ chữ đương thời Đấng Christ, rằng: "Hài cốt của Ô-xia, vua Giu-đa, đã được đem tới đây, chớ mở." Ô-xia đã được táng trong thành Đa-vít (IIVua 2V 15:7); nhưng dường như vì một lý do nào đó, về sau người ta đã khai quật mộ phần và di chuyển hài cốt ông đến một nơi khác.
IISu 2Sb 27:1-9 -- Giô-tham, vua Giu-đa (749-734 T.C.)
Trị vì 16 năm, phần lớn thời gian đồng trị với cha mình. Cũng được chép ở IIVua 2V 15:32-38. Ông "trở nên cường thạnh, bởi vì ông đi đường chánh đáng trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời mình" (câu 6), y như cha mình, là Ô-xia, đã làm vậy.
BÍ CHÚ KHẢO CỔ: Giô-tham
Trong đống đào bới tại Ê-xi-ôn-Ghê-be (IVua 1V 9:26), người ta đã tìm thấy một cái ấn có ghi rằng: "Của Giô-tham."
IISu 2Sb 28:1-27-- A-cha, vua Giu-đa (741-726 T.C.)
Trị vì 16 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 16:1-20. Dường như đã đồng trị với cha mình trong một thời gian, nhưng khác hẳn cha. Ông là một vua trẻ tuổi gian ác, làm trái hẳn chánh sách của tổ tiên. Ông tái lập sự thờ lạy Ba-anh, phục hưng sự cúng thờ Mo-lóc, và thiêu chính các con trai mình trong lửa. Nhưng các tà thần ấy chẳng cứu giúp ông chút nào. Quân Sy-ri và quân Y-sơ-ra-ên tấn công ông từ phía Bắc, quân Ê-đôm từ phía Đông, và quân Phi-li-tin từ phía Tây. Vì cớ A-cha, nước Giu-đa bị hạ xuống rất thấp.
BÍ CHÚ KHẢO CỔ: A-cha
Người ta đã tìm thấy một cái ấn ghi chữ là thuộc về một "văn thần của A-cha."
A-cha và cống phẩm của ông nộp cho Tiếc-la-Phi-lê-se (câu 16, 16:6-8). -- Một bi văn của Tiếc-la-Phi-lê-se ghi rằng: "Ta đã nhận cống phẩm của A-cha, người Giu-đa, gồm có vàng, bạc, chì, thiếc, vải gai. Ta hủy phá thành Đa-mách. Ta bắt được Rê-xin. Còn các võ quan của hắn thì ta đóng đít chúng vào cọc cho chết. Ta chặt hết vườn cây trái của hắn, và không để một cây nào còn đứng." Bi văn nầy ăn hiệp với bản tường thuật ở 16:1-20 và EsIs 7:1-29.
IISu 2Sb 29:1-32:33-- Ê-xê-chia, vua Giu-đa (726-697 T.C.)
Trị vì 29 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 18:1-20:21. Thừa hưởng một nước hỗn loạn và một gánh nặng do sự tiến cống cho A-si-ri. Khởi sự trị vì với một cuộc cải cách lớn lao. Phá hủy các hình tượng mà A-cha đã dựng lên. Mở lại và dọn sạch Đền thờ. Khôi phục sự thờ lạy Đức Chúa Trời. "Nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời" (IIVua 2V 18:5). "Đức Giê-hô-va ở cùng người; hễ người đi làm sự gì, đều được thành tựu" (IIVua 2V 18:7). Chiếm lại các thành Phi-li-tin và khôi phục được nền độc lập, chớ không phải lệ thuộc người A-si-ri nữa. Suốt đời ông trị vì, đấng tiên tri Ê-sai là vị cố vấn được ông tin cậy.
Năm thứ 6 đời trị vì của Ê-xê-chia (721 T.C.), nước phía Bắc sụp đổ. Năm thứ 14 đời trị vì của ông (713 T.C.), dường như San-chê-ríp, với tư cách thống tướng các đạo quân của cha mình, là Sa-gôn, đã xâm lăng nước Giu-đa, và Ê-xê-chia nộp cống phẩm cho hắn. Năm sau (713 T.C.), Ê-xê-chia lâm bịnh (IIVua 2V 20:1-11), và được Chúa hứa cho sống thêm 15 năm nữa. Rồi sứ giả Ba-by-lôn tới thăm ông (IIVua 2V 20:12-15), làm cho San-chê-ríp sanh lòng nghi ngờ, nên năm 701, hắn lại xâm lăng nước Giu-đa, Ê-xê-chia tu bổ vách thành, xây "kinh dẫn nước" (IIVua 2V 20:20), và chuẩn bị quân sự hùng mạnh. Sau đó có sự giải cứu cả thể bởi thiên sứ (IIVua 2V 19:35). Cuộc đắc thắng nầy khiến cho Ê-xê-chia được nhiều uy tín và thế lực.
Bí Chú Khảo Cổ:
Ê-xê-chia sửa sang vách thành (IISu 2Sb 32:5) một cách vội vàng và cẩu thả, vì cớ áp lực do cuộc vây hãm của quân A-si-ri. Điều nầy được tỏ rõ nơi các vách thành trong tình trạng ngày nay. Người ta khám phá ra nền móng của "cái vách... ở phía ngoài" (IISu 2Sb 32:5) chạy song song với vách thành do Đa-vít xây xất; hai vách thành nầy cách nhau gần 10 thước tây.
Kinh (1) mà Ê-xê-chia đã đào (32:3, 4, IIVua 2V 20:20), để dẫn nước vào trong thành. Đã tìm thấy cái kinh nầy. Khe Ghi-hôn, cũng gọi là "Suối trinh nữ," ở chơn phía Đông của ngọn đồi Ô-phên, ở ngay ngoài vách thành.
Công nhân của Ê-xê-chia đục kinh qua đá cứng, ở dưới ngọn đồi, từ khe Ghi-hôn chạy dài chừng 850 thước về phía Tây-nam, đến hồ Si-lô-ê (IIVua 2V 20:20, NeNe 3:15) ở phía trong vách thành; như vậy, nước khe Ghi-hôn không còn tự nhiên chảy vào khe Xết-rôn nữa. Trung bình, kinh nầy bề cao gần 2 thước tây và bề rộng chừng 80 phân tây, và nước từ hơn hai thước tây đổ xuống. Ở ngay miệng kinh, người ta đã tìm thấy bi văn Si-lô-ê.
Bi văn Si-lô-ê -- Năm 1880, một học sanh trốn học đang chơi ở miệng kinh Ê-xê- chia, bỗng nhận thấy một vài dấu khắc trên vách đá, cách miệng kinh chừng 6 thước tây, ngó như chữ viết. Cậu bèn thưa với giáo sư, là Tấn sĩ Schick, và ông nhận thấy đó là một bản tiếng Hê-bơ-rơ tường thuật sự đào kinh. Ông bèn sao lấy nhiều bản, rồi thình lình nó biến mất, nhưng lại tìm thấy trong túp lều của một người bổn xứ; anh nầy muốn bán lấy tiền. Nhà chức trách bèn tịch thâu nó, và gởi đến Bảo tàng viện Constantinople, đến nay vẫn còn ở đó. Bi văn chép rằng:
"Kinh đã đào xong. Và đây là truyện tích của kinh nầy. Đang khi những thợ đục đá giơ cuốc lên, mỗi người giơ về phía kẻ lân cận mình (vì họ đối đầu với nhau), và đang khi họ còn cách nhau ba thước(2), thì bỗng nghe tiếng kẻ nọ kêu người kia; sau đó thì cuốc bổ vào cuốc, rồi nước từ khe đổ vào hồ, đường dài 1200 thước. Núi đá bên trên cao 100 thước."
San-chê-ríp xâm lăng nước Giu-đa (IISu 2Sb 32:1).-- Trong cuộc xâm lăng nầy, hắn chiếm "các thành kiên cố của Giu-đa" (IIVua 2V 18:13), vây Giê-ru-sa-lem (IIVua 2V 18:17), rồi trở về mà không chiếm thành ấy (IIVua 2V 19:35, 36).
Người ta đã tìm thấy chính bản của San-chê-ríp tường thuật cuộc xâm lăng nầy, ghi trên một giáp trụ bằng đất sét tự tay hắn làm ra. Ngày nay, giác trụ nầy bày trong Bảo tàng viện của Đông-phương Học-viện ở thành Chicago. Ghi rằng:
"Về phần Ê-xê-chia, vua Giu-đa, không chịu phục dưới ách của ta, thì ta đã dùng chiến cụ công phá, máy móc, mìn, đồ xoi lỗ hỏng và rìu mà vây và chiếm 46 thành kiên cố của nó cùng vô số thành nhỏ. Ta đã cướp chiến lợi phẩm gồm có 200.150 người nam, phụ, lão, ấu và ngựa, la, lừa, lạc đà, bò, chiên, không sao đếm được. Ta đã vây hãm Ê-xê-chia tại Giê-ru-sa-lem, là hoàng thành của hắn, chẳng khác chi một con chim ở trong lồng. Ta xây một dãy đồn lũy để đánh hắn, và đuổi trở về mỗi tên nào thò ra khỏi cổng thành. Những thành của hắn mà ta chiếm được thì ta ban cho vua Ách-đốt, vua Éc-rôn và vua Ga-xa."
Tuy rằng không một vua A-si-ri nào từng ghi chép một cuộc bại trận của mình, tỷ như cuộc bại trận của đạo quân San-chê-ríp trước vách thành Giê-ru-sa-lem (IIVua 2V 19:35, 36), nhưng thật cũng có ý nghĩa lắm khi ông không tự nhận đã chiếm được thành Giê-ru-sa-lem. Quả thật, đó là một điểm rất kỳ lạ minh xác truyện tích Kinh Thánh.
San-chê-ríp "vây La-ki " với "cả đạo binh của người" (IISu 2Sb 32:1). Trên vách cung điện của San-chê-ríp ở Ni-ni-ve, ông Layard đã tìm thấy một bức chạm nổi mô tả việc ông đóng quân vây thành La-ki, có ghi khắc rằng: "San-chê-ríp, vua của thế giới, vua của A-si-ri, ngồi trên ngai và truyền đem chiến lợi phẩm của La-ki qua trước mặt mình."
Cống phẩm của Ê-xê-chia gởi cho San-chê-ríp (IIVua 2V 18:14-16). Bi văn ghi rằng: "Ê-xê-chia khiếp sợ oai ta. Hắn đã gởi dâng cống phẩm: 80 ta-lâng vàng, 800 ta-lâng bạc, bửu thạch, phấn hồng, ngà voi, cung nữ, nhạc công, và đủ thứ tặng vật."
La-ki và Ghi-bê-a (IISu 2Sb 32:9, EsIs 10:29) được ghi trong số các thành chịu khổ nạn vì tay San-chê-ríp. Tại La-ki, phái đoàn khảo cổ Wellcome tìm thấy một lớp tro do hỏa hoạn xảy ra năm 700 T.C.. Còn tại Ghi-bê-a, ông Albright tìm thấy một lớp tro do hỏa hoạn cùng xảy ra năm ấy. Vậy, di tích xứ Pa-lét-tin vẫn còn mang dấu vết cuộc tấn công của San-chê-ríp.
San-chê-ríp bị chính các con trai mình hạ sát (IISu 2Sb 32:21, IIVua 2V 19:36, 37). Một bi văn A-si-ri ghi rằng: "Ngày 20 tháng 10, San-chê-ríp đã bị các con trai mình giết trong một cuộc nổi loạn. Ngày 18 tháng 4, con trai ông, là Ê-sạt-ha-đôn, lên ngôi vua" (xem 19:37).
IISu 2Sb 33:1-20 -- Ma-na-se, vua Giu-đa (697-642 T.C.)
Trị vì 55 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 21:1-18. Là vua Giu-đa gian ác nhứt, mà lại trị vì lâu năm nhứt. Làm lại các hình tượng mà Ê-xê-chia, cha của ông, đã phá hủy. Tái lập sự thờ lạy Ba-anh. Thiêu chính các con trai mình trong lửa. Nước phía Bắc vừa mới bị hủy diệt vì cớ tội ác của nó; nhưng thảm trạng ấy chẳng có ảnh hưởng đến Ma-na-se chút nào. Ông làm cho Giê-ru-sa-lem ngập huyết. Theo truyền thoại, thì ông đã cưa tiên tri Ê-sai làm hai.
Bí Chú Khảo Cổ: Ma-na-se
Một bi văn của Ê-sạt-ha-đôn, vua A-si-ri (681-668 T.C.) chép rằng: "Ta bắt buộc 22 vua ở xứ Tây phương cung cấp vật liệu để xây cất cung điện của ta." Trong số các vua ấy, hắn có ghi: "Ma-na-se, vua Giu-đa."
IISu 2Sb 33:21-25 -- A-môn, vua Giu-đa (641-640 T.C.)
Trị vì 2 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 21:19-25. Cũng gian ác như Ma-na-se.
IISu 2Sb 34:1-35:26 -- Giô-si-a, vua Giu-đa (639-608 T.C.)
Trị vì 31 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 22:1-23:37. Lên ngôi trị vì lúc mới 8 tuổi. Lúc 16 tuổi, ông đã bắt đầu tìm kiếm Đức Chúa Trời của Đa-vít. Lúc 20 tuổi, ông khởi xướng những cuộc cải cách. Năm ông 26 tuổi, sự tìm được "quyển sách Luật pháp" đã đẩy mạnh các cuộc cải cách của ông, -- thật là cuộc cải cách triệt để mà nước Giu-đa từng trải qua. Nhưng lòng dân chúng đã chìm đắm trong sự thờ lạy hình tượng, vì đời trị vì lâu dài và gian ác của Ma-na-se hầu như xóa bỏ Đức Chúa Trời khỏi tư tưởng của họ. Những cuộc cải cách của Giô-si-a đã hoãn lại, chớ không thể cản trở sự đoán phạt giáng trên nước Giu-đa mau lẹ. Các tiên tri Giê-rê-mi và Sô-phô-ni đã giúp việc ông.
Đương thời Giô-si-a, cuộc xâm lăng của dân Sy-the (CoCl 3:11) trải qua miền Tây Á-châu như một thiên tai, và làm cho đế quốc A-si-ri suy yếu đi nhiều. Khi Pha-ra-ôn tiến đánh Cạt-kê-mít (IISu 2Sb 35:20-24), thì đế quốc A-si-ri đang suy vi đã bị một đòn chí tử cuối cùng. Là chư hầu của A-si-ri, Giô-si-a cảm thấy mình có bổn phận tấn công Pha-ra-ôn tại Mê-ghi-đô, nên phải bỏ mạng.
36:1-4 -- Giô-a-cha, vua Giu-đa (608 T.C.)
Trị vì 3 tháng. Cũng được chép ở IIVua 2V 23:30-34. Bị Pha-ra-ôn truất phế, giải về Ai-cập, và ông qua đời tại đó.
IISu 2Sb 36:5-8 -- Giê-hô-gia-kim (Ê-li-a-kim ), vua Giu-đa (608-597 T.C.)
Trị vì 11 năm. Cũng được chép ở IIVua 2V 23:34-24:7. Được Pha-ra-ôn đặt làm vua, và phải nộp cống phẩm cho Pha-ra-ôn. Sau 3 năm, ông bị vua Ba-by-lôn khắc phục (DaDn 1:1). Ông phụng sự vua Ba-by-lôn 3 năm, rối dấy loạn. Vua Ba-by-lôn bèn kéo quân tới, và bất thần xiềng ông mà đem về Ba-by-lôn (IISu 2Sb 36:6). Nhưng ông chưa dời khỏi thành Giê-ru-sa-lem, thì đã chết, hoặc bị giết, bị quăng ra ngoài và chôn như một con lừa (Gie Gr 22:18, 19, 36:30). Ông vốn tự phụ, cứng lòng và gian ác, khác hẳn cha mình, là Giô-si-a. Ông là kẻ thù sâu cay của Giê-rê-mi và nhiều lần tìm các giết tiên tri nầy (Gie Gr 26:21, 36:26).
IISu 2Sb 36:8-10 -- Giê-hô-gia-kin (Giê-cô-nia ), vua Giu-đa (597 T.C. )
Trị vì 3 tháng. Cũng được chép ở IIVua 2V 24:6-17. Ông bị đem qua Ba-by-lôn, tại đó ông đã sống rất ít là 37 năm (IIVua 2V 24:15, 25:27).
Bí Chú Khảo Cổ: Giê-hô-gia-kin
Ấn viên quản gia của Giê-hô-gia-kin. -- Năm 1928, tại Ki-ri-át-Sê-phe, trong lớp tro do hỏa hoạn mà Nê-bu-cát-nết-sa gây nên, ông Kyle và ông Albright đã tìm thấy hai cái quai xách hũ có khắc chữ: "Thuộc về Ê-li-a-kim, quản gia của Giê-hô-gia-kin." Một trong hai cái quai nầy hiện nay để trong trường thần học Xenia, ở Pittsburgh (nước Mỹ). Năm 1930, ông Grant cũng tìm thấy dòng chữ khắc ấy tại Bết-sê-mết.
Giê-hô-gia-kin được tha và được cấp dưỡng (IIVua 2V 25:27, 30).-- Ông Albright phúc trình rằng trong đống di tích Vườn Treo ở Ba-by-lôn, ông Weidner đã phám phá ra những tấm bảng liệt kê tên những người được thường xuyên cấp phát dầu và lúa mì, trong số ấy có "Giê-hô-gia-kin, vua của xứ Giu-đa."
IISu 2Sb 36:1-25-- Sê-đê-kia, vua Giu-đa (597-586 T.C.)
Trị vì 11 năm. Cũng được ghi chép ở IIVua 2V 24:1-25:30. Ông được Nê-bu-cát-nết-sa đặt lên ngôi vua. Một vua nhu nhược. Năm thứ tư đời trị vì, ông đã đi thăm viếng kinh thành Ba-by-lôn. Nhưng về sau, ông dấy nghịch cùng Ba-by-lôn. Bấy giờ, Nê-bu-cát-nết-sa kéo quân tới, hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, bắt Sê-đê-kia, móc mắt, xiềng lại mà đem về Ba-by-lôn, tại đó, ông đã chết trong ngục thất (Gie Gr 52:11). Đó là chung cuộc hiển nhiên của nước Đa-vít (xem thêm ở dưới IIVua 2V 25:1-30).
Ghê-đa-lia được đặt làm tổng đốc (IIVua 2V 25:22). Xem thêm Gie Gr 40:1-16.
Phần dân sót lại chạy xuống Ai-cập (IIVua 2V 25:26). Xem thêm Gie Gr 42:1-22.
Chiếu chỉ của Si-ru (IISu 2Sb 36:32). Xem them Exo Er 1:1-11.
Bí Chú Khảo Cổ: Sê-đê-kia
Sê-đê-kia chạy trốn "giữa hai vách thành' (IIVua 2V 25:4). Con đường ở giữa hai vách thành nầy ở phía Đông-nam thành Giê-ru-sa-lem, và ngày nay ta có thể nhìn thấy một quãng dài 48 thước tây.
==========================================

E-xơ-ra - Nê-hê-mi - Ê-xơ-tê
Từ chốn lưu đày trở về cố hương Thành Giê-ru-sa-lem được xây cất lại
Ba sách nầy hợp thành phần chót của lịch sử Cựu Ước. Nó tường thuật truyện tích dân Do-thái từ Ba-by-lôn trở về, sự xây lại Đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem, và sự khôi phục cuộc sanh hoạt quốc gia của người Do-thái trên chính đất nước của họ. Ba sách nầy gồm một khoảng chừng 100 năm (536-432 T.C.).
Ba tiên tri cuối cùng, là A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi, đã sống và hoạt động trong thời kỳ phục hưng nầy của người Do-thái.
Có hai thời kỳ đặc biệt:
536-516 T.C. .-- Trong 20 năm nầy, dưới quyền điều khiển của quan trấn thủ Xô-rô- ba-bên và thầy thầy tế lễ cả Giê-hô-sua, Đền thờ, là trung tâm cuộc sanh hoạt quốc gia của người Do-thái, đã được xây cất lại (E-xơ-ra, đoạn 3 đến 6). A-ghê và Xa-cha-ri thuộc về thời kỳ nầy.
457-432 T.C. .-- Trong 25 năm nầy, dưới quyền quan trấn thủ Nê-hê-mi và thầy tế lễ E-xơ-ra, vách thành đã được xây cất lại, và Giê-ru-sa-lem lại là một thành kiên cố. Ma-la-chi thuộc về thời kỳ nầy.
E-xơ-ra tường thuật cả hai thời kỳ
Nê-hê-mi tường thuật thời kỳ thứ hai.
Ê-xơ-tê xen vào giữa hai thời kỳ
Có ba lần hồi hương:
536 T.C.. Xô-rô-ba-bên cùng với 42.360 người Do-thái, 7337 tôi tớ, 200 ca công, 736 con ngựa, 245 con la, 435 con lạc đà, 6720 con lừa và 5400 khí dụng bằng vàng, bằng bạc đã bị cướp mất ở Giê-ru-sa-lem.
457 T.C.. E-xơ-ra với 1754 người nam, 100 ta-lâng vàng, 750 ta-lâng bạc, kể cả lễ vật của vua. Không nói có đờn bà, con trẻ cùng đi hay chăng. Hành trình hết 4 tháng.
444 T.C.. Nê-hê-mi, với tư cách trấn thủ và có một đội quân hậu vệ, đã trở về xây lại thành Giê-ru-sa-lem, có vách lũy kiên cố, các khoản kinh phí do chánh phủ chịu.
Niên hiệu của cuộc phục hưng
536 T.C.. 49.897 người từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem
536 T.C.. Tháng 7, họ lập bàn thờ và dâng tế lễ.
535 T.C.. Công việc xây Đền thờ bắt đầu và bị ngưng trệ.
520 T.C.. A-ghê và Xa-cha-ri lại khởi công.
516 T.C.. Hoàn thành Đền thờ.
458 T.C.. Ê-xơ-tê được làm hoàng hậu Ba-tư.
457 T.C.. E-xơ-ra từ Ba-by-lôn về Giê-ru-sa-lem.
444 T.C.. Nê-hê-mi xây lại vách thành.
432 T.C.. Nê-hê-mi lại từ Ba-by-lôn trở về.
Nước Y-sơ-ra-ên đã bị A-SI-RI bắt làm phu tù (721 T.C.).
Nước Giu-đa đã bị Ba-By-Lôn bắt làm phu tù (606 T.C.).
Sự hồi hương từ chốn phu tù đã do Ba-Tư cho chép (536 T.C.).
Đế quốc Ba-tư
Chánh sách của các vua A-si-ri và Ba-by-lôn là lưu đày những dân tộc bị chinh phục, nghĩa là đem họ đi xa xứ sở và làm cho tan lạc ở những nước khác; còn chánh sách của vua Ba-tư lại trái hẳn, tức là đem những dân tộc ấy trở về xứ sở của họ. Các vua Ba-tư có nhơn đạo hơn các vua A-si-ri và Ba-by-lôn.
Một trong những hành động đầu tiên của Si-ru, vị vua Ba-tư thứ nhứt, "một hoàng đế cao thượng và công bình lạ lùng," là cho phép người Do-thái trở về xứ sở.
Ba-tư là một vùng cao nguyên rộng lớn, có núi non, ở phía Đông của mạn dưới thung lũng Ơ-phơ-rát và Ti-gơ-rơ. Đế quốc Ba-tư rộng lớn hơn các đế quốc trước, phía Đông giáp biên giới Ấn-độ, và phía Tây giáp biên giới Hy-lạp. Thủ đô là Persepolis và Su-rơ (EtEt 1:2). Thỉnh thoảng các vua Ba-tư cũng ở tại Ba-by-lôn. Với tư cách đế quốc bá chủ thế giới, Ba-tư đã tồn tại được 200 năm (536-331 T.C.). Các vua Ba-tư là:
Si-ru (538-529 T.C.). Chiến thắng Ba-by-lôn (536 T.C.). Đưa Ba-tư lên địa vị đế quốc bá chủ thế giới. Cho phép dân Do-thái trở về quê hương, để được ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai.
Cambyses (529-522 T.C.). Người ta tưởng rằng ông là "t-ta-xét-xe" có chép ở Exo Er 4:7, 11, 23 đã ra lịnh ngưng việc xây cất Đền thờ.
Đa-ri-út I (Hystaspes ) (521-485 T.C.). Cho phép hoàn thành Đền thờ (Exo Er 6:1-22). Trứ tác bi văn "Behistun " có danh tiếng.
Xẹt-xe (A-suê-ru) (485-465 T.C.). Nổi tiếng vì đã giao chiến với người Hy-lạp. Ê-xơ-tê là hoàng hậu của ông. Mạc-đô-chê là thủ tướng của ông.
t-ta-xét-xe I (Longimanus ) (465-425 T.C.). Rất khoan hồng đối với dân Do-thái. Cho phép Nê-hê-mi, quan tửu chánh của mình, xây lại thành Giê-ru-sa-lem.
Xẹt-xe II (424); Đa-ri-út II (Nothius ) (423-405); t-ta-xét-xe II (Mnemon ) (405-358); t-ta-xét-xe III (Ochus ) (358-338); Arses (338-335).
Đa-ri-út III (Codomanus ) (335-331). Ông bị Alexandre đại đế đánh bại năm 331 T.C., tại trận Arbela nổi danh trong lịch sử, gần vị trí thành Ni-ni-ve. Đó là lúc Ba-tư sụp đổ và Hy-lạp dấy lên. Đế quốc chuyển từ Á-châu qua Âu-châu.
Bản đồ số 42 -- Đế quốc Ba-tư
=======================================

E-xơ-ra
Từ Chốn Lưu Đày Trở Về Xứ Sở Xây Lại Đền Thờ Hành trình của E-xơ-ra về Giê-ru-sa-lem

Người ta cho rằng chính E-xơ-ra là tác giả sách nầy
Exo Er 1:1-11 -- Chiếu chỉ của Si-ru
Hai câu chót của sách II Sử ký giống in hai câu đầu của sách E-xơ-ra, có lẽ vì nguyên thủy sách Sử ký và sách E-xơ-ra là một. Chiếu chỉ cho phép dân Do-thái trở về Giê-ru-sa-lem đã được ban bố ít lâu sau khi Đa-ni-ên đọc chữ mà bàn tay viết trên tường, có ý tuyên bố rằng Ba-by-lôn sẽ mất về tay Ba-tư; biến cố nầy đã xảy ra ngay đêm đó (DaDn 5:25-31). Có lẽ Đa-ni-ên chỉ cho Si-ru xem những lời tiên tri đã được ứng nghiệm như vậy (Gie Gr 25:11-12, 29:10), luôn với những lời tiên tri của Ê-sai, từ 200 năm trước, đã gọi đích danh Si-ru và quả quyết rằng dưới đời trị vì của ông, người Do-thái sẽ trở về và xây lại thành Giê-ru-sa-lem (EsIs 44:26-28, 45:1, 13). Si-ru hết sức tôn trọng Đức Chúa Trời của dân Do-thái, nào có lạ gì (câu 3). "Sết-ba-xa" (câu 8) chắc là tên của Xô-rô-ba-bên theo tiếng Ba-by-lôn (Exo Er 3:2).
Exo Er 2:1-70-- Lập sổ những người hồi hương
42.360 người, không kể các tôi tớ (câu 64, 65). Tổng cộng các con số tách riêng kém tổng số nầy chừng 11.000. Có người cho rằng số thặng dư nầy gồm những kẻ lưu đày thuộc về các chi phái khác ngoài chi phái Giu-đa. Hai chi phái Ép-ra-im và Ma-na-se được ghi chép ở ISu1Sb 9:3, còn "Y-sơ-ra-ên" thì được nhắc đến ở Exo Er 10:25. Danh từ "cả dân Y-sơ-ra-ên" dùng để chỉ về những kẻ hồi hương (2:70, 6:17, 8:35). Họ đã dâng 12 con bò đực và 12 con dê đực vì "cả dân Y-sơ-ra-ên" (6:17). Ấy dường như những phu tù Giu-đa trên đường về cố hương, đi ngược thung lũng Ơ-phơ-rát, qua miền định cư của những phu tù thuộc nước Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc, và đã thâu nhận một số người muốn cùng hồi hương với mình. Điểm nầy giúp ta hiểu biết tại sao đương thời Tân Ước, người Do-thái vẫn được gọi là "Mười hai chi phái" (LuLc 22:30, Cong Cv 26:7, Gia Gc 1:1).
Exo Er 3:1-13 -- Đặt nền móng Đền thờ
Nhằm tháng 7, năm thứ nhứt của cuộc hồi hương, họ lập bàn thờ và giữ lễ Lều tạm, vui mừng cảm tạ Đức Chúa Trời. Tháng 2 năm sau, khi nền móng Đền thờ đã đặt xong, họ làm cho các từng trời rung chuyển vì tiếng hò reo ngợi khen Chúa. Song những người già cả đã thấy Đền thờ thứ nhứt, thì lớn tiếng khóc lóc, vì so sánh với Đền thờ kia, Đền thờ nầy chẳng ra chi hết. "Giê-sua" (Gios Gs 1:1) mà AgKg 1:1 chép là "Giê-hô-sua," là con trai của thầy tế lễ Giô-sa-đác đã bị đem qua Ba-by-lôn (ISu1Sb 6:15 dịch là "Giê-hô-xa-đác"). "Xô-ra-ba-bên" làm quan trấn thủ (AgKg 1:1). Ông là cháu nội của Giê-hô-gia-kin, là vua đã bị đưa qua Ba-by-lôn (ISu1Sb 3:17-19). Nếu còn nước, thì ông đã được làm vua. Với sự trang nhã tột bậc, Si-ru đã cử ông làm quan trấn thủ xứ Giu-đa.
======================================

Nê-hê-mi
Xây Lại Vách Thành Giê-ru-sa-lem
Theo truyền thoại lâu đời của người Do-thái, thì E-xơ-ra là tác giả của các sách I Sử ký, II Sử ký, E-xơ-ra và Nê-hê-mi, vì 4 sách nầy nguyên thủy là một cuốn. Tuy nhiên, có một số người tưởng rằng chính Nê-hê-mi đã viết sách Nê-hê-mi.
E-xơ-ra là chắc nội của thầy tế lễ Hinh-kia, người 160 năm trước, đã điều khiển cuộc cải cách của vua Giô-si-a (Exo Er 1:1, IIVua 2V 22:8). Ông xứng đáng là chắc của một ông cố nội trứ danh. Ông từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem năm 457 T.C., tức là 80 năm sau khi đoàn người Do-thái thứ nhứt hồi hương, và 13 năm trước khi Nê-hê-mi tới nơi. Ông vừa là thầy tế lễ, vừa là văn sĩ (Tân Ước dịch là "thầy thông giáo) (Exo Er 7:11), trong giai đoạn chuyển tiếp từ các tiên tri qua các văn sĩ. Người ta nói rằng ông đã giúp việc cấu tạo Kinh điển Cựu Ước.
Nê-hê-mi về tới Giê-ru-sa-lem năm 444 T.C.; và E-xơ-ra đã ở đó 13 năm rồi. Nhưng E-xơ-ra là thầy tế lễ, dạy đạo cho nhơn dân. Còn Nê-hê-mi về với tư cách quan trấn thủ, được vua Ba-tư cho phép xây lại vách lũy và khôi phục Giê-ru-sa-lem làm một thành kiên cố. Người Do-thái đã hồi hương gần 100 năm rồi, nhưng họ ít tiến xa hơn sự xây lại Đền thờ, -- một Đền thờ rất tầm thường; ấy vì mỗi khi họ khởi công xây vách thành, thì những người lân cận hùng mạnh hơn hoặc phô trương thanh thế ngăn cản họ, hoặc dùng mưu khiến triều đình Ba-tư ra lịnh ngừng công việc lại.
NeNe 1:1-2:20-- Hành trình của Nê-hê-mi về Giê-ru-sa-lem
Nhiều khúc của sách nầy dùng ngôi thứ nhứt, vì là trực tiếp trưng dẫn các bản phúc trình chánh thức của Nê-hê-mi.
Nê-hê-mi là một người cầu nguyện, ái quốc, hoạt động, can đảm và bền đỗ. Bao giờ ông cũng được thúc giục cầu nguyện trước hết (1:4, 2:4, 4:4, 9, 6:9, 14). Ông để 4 tháng cầu nguyện trước khi thỉnh cầu vua (1:1, 2:1).
Nê-hê-mi là quan tửu chánh của t-ta-xét-xe (1:11, 2:1), tức là giữ một chức vụ tin cẩn và quan trọng. t-ta-xét-xe là vua Ba-tư (465-425 T.C.), con trai của Xẹt-xe, và như vậy, ông là con ghẻ của hoàng hậu Ê-xơ-tê, người Do-thái. Ê-xơ-tê được làm hoàng hậu Ba-tư chừng 60 năm sau khi người Do-thái trở về Giê-ru-sa-lem. Sự trạng nầy chắc đã làm cho người Do-thái được uy tín lớn tại triều đình Ba-tư. Chắc lúc E-xơ-ra và Nê-hê-mi về Giê-ru-sa-lem, thì Ê-xơ-tê còn sống và rất có thế lực trong hoàng cung. Chúng tôi đoán rằng chính là nhờ Ê-xơ-tê mà Ạt-ta-xét-xe có lòng nhơn từ đối với người Do-thái và lo cho thành Giê-ru-sa-lem được xây lại.
3:1-32 -- Sửa chữa các cổng thành
Bí Chú Khảo Cổ:
Ngày nay ta có thể thấy rõ di tích của "cái thang từ thành Đa-vít trở xuống" (câu 15), "nơi đối ngang góc thành" (câu 25), và "tháp ló ra" (câu 26).
4:1-6:19-- Xây vách thành
Những kẻ thù lâu đời của dân Do-thái, là người Mô-áp, Am-môn, Ách-đốt, Ả-rập, hiện đang chiếm xứ; lại thêm những người Sa-ma-ri mới đưa tới nữa. Một cách xảo quyệt và sâu cay, bọn nầy đã phản đối việc xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem. Chúng huy động quân đội và tiến đánh Giê-ru-sa-lem. Nhưng Nê-hê-mi đặt đức tin nơi Đức Chúa Trời, khéo léo cấp khí giới cho các chiến sĩ của mình và bố trí họ, rồi cứ tiến hành công việc suốt ngày đêm; vậy, mặc dầu có mọi trở lực, vách thành đã hoàn tất trong 52 ngày. Rốt lại, 142 năm, sau khi bị hủy phá (586 T.C.), Giê-ru-sa-lem lại là một thành kiên cố.
7:1-8:18 -- Đọc quyển sách Luật pháp trước công chúng
Xây vách thành Giê-ru-sa-lem xong, Nê-hê-mi và E-xơ-ra bèn triệu tập dân chúng để tổ chức cuộc sanh hoạt quốc gia. Đoạn 7 gần giống như đoạn 2 sách E-xơ-ra, vì nó kê danh sách những người đã cùng Xô-rô-ba-bên trở về Giê-ru-sa-lem gần 100 năm trước. Có một vài vấn đề gia hệ cần phải để ý đến.
Rồi suốt 7 ngày, ngày nào cũng từ sáng sớm tới trưa, E-xơ-ra và những kẻ giúp việc ông "giở sách ra trước mặt cả dân sự... Họ đọc rõ ràng trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời, rồi giải nghĩa nó ra, làm cho người ta hiểu lời họ đọc" (8:5, 8). Sự đọc và giải nghĩa Sách của Đức Chúa Trời trước công chúng đó đã làm cho nhơn dân ăn năn tha thiết như sóng dậy, và có một cuộc phục hưng cả thể, cùng long trọng kết ước vâng giữ Luật pháp, như ta nhận thấy ở các đoạn 9, 10.
Chính sự tìm thấy quyển sách Luật pháp, đã đem lại cuộc cải cách lớn lao dưới đời trị vì của Giô-si-a (IIVua 2V 22:1-20). Chính nhờ Martin Luther tìm thấy Kinh Thánh (thời ấy người ta cấm lưu hành) mà có cuộc Cải chánh Tin Lành, đem lại tự do tín ngưỡng cho thế giới ngày nay. Vì lấy sắc lịnh của loài người thay thế Lời Đức Chúa Trời, nên một Giáo hội kia đã bị cằn cỗi. Nhược điểm của Hội Thánh Tin Lành ngày nay là xao lãng Kinh Thánh mà ta tự nhận là vâng theo. Nhu cầu trọng đại của tòa giảng (Mục-sư, Truyền đạo) ngày nay là giải nghĩa Kinh Thánh một cách giản dị. Hầu hết những lời giảng dạy khác chẳng đáng cho ta nghe.
NeNe 9:1-12:47-- Giao ước; Lễ khánh thành vách lũy
Với lòng ăn năn thống thiết và sốt sắng tột bậc, họ "lập giao ước chắc chắn,... ghi chép nó,... đóng ấn cho,... mà thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời" (9:38, 10:29). Vách lũy đã hoàn thành và khánh thành rồi, một phần mười dân chúng bèn được đưa vào ở Giê-ru-sa-lem, và họ lo tổ chức hành chánh cùng sự thờ phượng trong Đền thờ.
13:1-31-- Chung kết sự nghiệp của Nê-hê-mi
Ông sửa lại những khuyết điểm và thuế phần mười, ngày Sa-bát và sự cưới gả lẫn lộn với người dân ngoại. Nê-hê-mi làm quan trấn thủ xứ Giu-đa rất ít là 12 năm (5:11). Sử gia Josèphe nói rằng ông sống rất lâu và làm quan trấn thủ xứ Giu-đa cho tới lúc qua đời. Sách II Macchabées chép rằng: "Nê-hê-mi sáng lập một thư viện, thâu thập những sách vở về các vua và các tiên tri, những sách của Đa-vít và những thư tín của các vua đã bị rải rác vì chiến tranh."
===================================

Ê-xơ-tê
Dân Do-thái được giải cứu khỏi bị tuyệt diệt
Dân Do-thái từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem năm 536 T.C..
Đền thờ được xây lại năm 536-516 T.C..
Ê-xơ-tê, một thiếu nữ Do-thái, được phong làm hoàng hậu Ba-tư năm 478 T.C..
Ê-xơ-tê cứu dân Do-thái khỏi bị tàn sát năm 473 T.C.
E-xơ-ra từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem năm 457 T.C.
Nê-hê-mi xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem năm 444 T.C..
Vậy, Ê-xơ-tê xuất hiện chừng 40 năm sau khi Đền thờ được xây lại và chừng 30 năm trước khi vách thành Giê-ru-sa-lem được xây lại.
Về niên đại, thì dầu sách Ê-xơ-tê được chép sau sách Nê-hê-mi, nhưng các biến cố trong sách Ê-xơ-tê lại xảy ra trước các biến cố trong sách Nê-hê-mi chừng 30 năm. Dường như Ê-xơ-tê đã giúp cho Nê-hê-mi thi hành công tác được. Vì bà lấy được vua, nên dân Do-thái chắc đã được nhiều uy tín. Nếu không có Ê-xơ-tê, thì ta không thể đoán đã có gì xảy đến cho dân tộc Do-thái. Nếu chẳng có bà, thì thành Giê-ru-sa-lem chẳng bao giờ được xây lại, và lịch sử mọi thời đại tương lai chắc là khác hẳn.
Sách Ê-xơ-tê luận về một biến cố lịch sử rất quan trọng, chớ không phải chỉ là truyện tích nêu lên một điểm đạo đức. Biến cố ấy là dân tộc Hê-bơ-rơ được cứu khỏi bị tuyệt diệt trong những ngày theo sau cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn. Nếu dân tộc Hê-bơ-rơ hoàn toàn bị trừ diệt 500 năm trước khi sanh ra Đấng Christ trong thế gian nầy, thì có lẽ các kế hoạch của Đức Chúa Trời và số phận của loài người đã đổi khác: Không có dân tộc Hê-bơ-rơ, thì không có Đấng Mê-si; không có Đấng Mê-si, thì loài người vẫn bị hư mất. Dầu trang thiếu nữ Do-thái kiều diễm xưa kia có lẽ không biết, nhưng nàng thật đã đóng vai quan trọng mở đường cho Đấng Cứu thế ngự đến.
-- Hoàng hậu Vả-thi bị phế
"A-suê-ru" là một tên khác của Xẹt-xe, đã trị vì đế quốc Ba-tư từ 485 đến 465 T.C.. Ông là một trong những hoàng đế danh tiếng lừng lẫy nhứt thời xưa. Nhờ các bi văn Ba-tư, ta được biết rằng vua đã mở đại yến chép trong đoạn nầy để dự bị cuộc viễn chinh đánh Hy-lạp lừng danh trong lịch sử,-- trong cuộc viễn chinh nầy, ông đã đánh hai trận Thermopyles và Salamine (480 T.C.). Dường như ông truất phế hoàng hậu Vả-thi năm 482 T.C., trước khi ra đi, và đã cưới Ê-xơ-tê năm 478 T.C., sau cuộc viễn chinh đánh Hy-lạp và bị thua lớn (1:3, 2:16).
Bí Chú Khảo Cổ: Cung điện Su-sơ (câu 2)
Su-sơ, cách Ba-by-lôn 200 dặm về phía Đông, thủ đô xứ Ê-lam, là nơi ở mùa đông của các vua Ba-tư. Năm 1852, ông Loftus đã tìm thấy vị trí của Su-sơ, vì đã kiếm được một bi văn của vua Ạt-ta-xét-xe II (405-358 T.C.) có ghi rằng: "Tổ tiên ta, là Đa-ri-út, đã xây cất cung điện nầy từ ngày xưa; đến đời trị vì của ông nội ta (Ạt-ta-xét-xe I), thì cung điện nầy vị thiêu hủy. Chính ta đã xây cất nó lại."
Vậy, cung điện nầy là nơi ở của Đa-ri-út, là vua đã cho phép xây lại Đền thờ; của Xẹt-xe, là chồng của Ê-xơ-tê, và của Ạt-ta-xét-xe I, là vua đã cho phép Nê-hê-mi xây lại thành Giê-ru-sa-lem.
Năm 1884-1886, một người Pháp, tên là Dieulafoy, tiếp tục đào bới, và trong đống di tích, ông đã chỉ đúng "cửa vua" (4:2); "nội viện" (5:1) "ngoài viện" (6:4) "ngự viện" (7:7) thậm chí ông cũng tìm được "phu rơ" (3:7), là vật họ dùng để bắt thăm.
2:1-23 -- Ê-xơ-tê được làm hoàng hậu
13 năm sau, A-suê-ru băng hà. Chắc Ê-xơ-tê còn sống lâu lắm trong đời trị vì của con ghẻ mình, là Ạt-ta-xét-xe, và với tư cách thái hậu, bà chắc là người có thế lực lớn đương thời E-xơ-ra và Nê-hê-mi.
3:1-7:10-- Chiếu chỉ do Ha-man nhơn danh A-suê-ru mà ban hành
Để giết người Do-thái ở khắp các tỉnh (3:12, 13). Việc nầy xảy ra năm thứ 12 đời trị vì của vua A-suê-ru, và sau khi Ê-xơ-tê làm hoàng hậu được 5 năm.
Khi Ê-xơ-tê bước vào để vì dân mình mà kêu xin vua, thì sự ân cần của ông (5:3) tỏ ra rằng dầu bà đã làm vợ ông 5 năm rồi, ông vẫn còn quí mến bà.
Kết cuộc là Ha-man đã bị treo trên trụ hình, và địa vị của hắn được ban cho Mạc-đô-chê, là anh họ của Ê-xơ-tê.
Sách Ê-xơ-tê chẳng ghi danh hiệu Đức Chúa Trời, có lẽ vì sách nầy đã sao lại các ký văn Ba-tư. Tuy nhiên, không có chỗ nào sự săn sóc và sắp đặt của Đức Chúa Trời được thấy rõ ràng hơn.
8:1-9:32-- Sự giải cứu; lễ Phu-rim
Vì chiếu chỉ của vua Ba-tư không thể thay đổi (8:8, DaDn 6:15), nên chiếu chỉ tàn sát dân Do-thái không thể đổi khác. Nhưng Ê-xơ-tê đã thuyết phục vua ký một chiếu chỉ khác cho phép dân Do-thái chống cự và giết mọi kẻ tấn công họ; và họ thật đã giết 75000 người. Vậy, Ê-xơ-tê cứu chủng tộc Do-thái khỏi bị tuyệt diệt.
Ê-xơ-tê chẳng những xinh đẹp, nhưng còn khôn ngoan. Chúng ta kính mộ bà chẳng những vì bà yêu nước và can đảm, nhưng cũng vì bà khéo léo và sáng suốt, biết cách khiến được chồng mình; chúng tôi tưởng đó không phải là một hành động ti tiện trong đời sống phụ nữ.
Đó là căn nguyên của lễ Phu-rim mà ngày nay người Do-thái còn giữ.
EtEt 10:3-- Sự cao trọng của Mạc-đô-chê
Mạc-đô-chê được địa vị cao trọng trong triều đình, chỉ kém một mình vua mà thôi. Càng ngày ông càng cao trọng; danh tiếng ông vang lừng khắp các tỉnh (9:4, 10:3). Việc nầy xảy ra dưới đời trị vì của Xẹt-xe, vị hoàng đế oai hùng của đế quốc Ba-tư: Thủ tướng của ông là một người Do-thái, và chính vợ sủng ái của ông cũng là người Do-thái. Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê là bộ óc và trái tim của cung vua! Sự kiện nầy mở đường cho công nghiệp của E-xơ-ra và Nê-hê-mi. Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê ở Ba-tư cũng như Giô-sép ở Ai-cập và Đa-ni-ên ở Ba-by-lôn vậy.
===========================
Gióp
Vấn đề khổ nạn
Suy gẫm về các đường lối của Đức Chúa Trời
bằng thi ca và triết lý
Các sách thi ca
Gióp đứng đầu loại sách Cựu Ước gọi là "Thi ca," -- những sách theo sau là Thi- thiên, Châm Ngôn, Truyền đạo và Nhã Ca. Những sách nầy cũng gọi là sách "Khôn ngoan." Phần nhiều đoạn luận về sự khôn ngoan viết bằng thi ca. Vậy, nói chung, gọi những sách nầy là sách "Thi ca" hoặc sách "Khôn ngoan" đều được cả.
Hầu hết bộ sách nầy thuộc về hoàng kim thời đại của lịch sử Hê-bơ-rơ, tức là kỷ nguyên của Đa-vít và Sa-lô-môn; ấy cũng như các sách tiên tri liên quan đến sự suy vong của dân tộc Hê-bơ-rơ. Sự sắp loại nầy chỉ đúng một phần nào; vì phần đông người ta cho rằng sách Gióp thuộc về một niên hiệu sớm hơn còn một số Thi Thiên thì lại sau nhiều. Nhưng phần lớn các Thi Thiên được kể là của Đa-vít; còn ba sách Châm Ngôn, Truyền đạo, và Nhã Ca, nói chung, được kể là của Sa-lô-môn. Vậy, vì trong Kinh Thánh của chúng ta, 5 sách nầy đứng chung một bộ, nên ta đặt chúng vào thời kỳ Đa-vít và Sa-lô-môn một cách tổng quát, chớ không tuyệt đối, tưởng cũng không phải là trái lẽ.
"Thi-ca" Hê-bơ-rơ không có vận cước (pied ) hoặc vần như thi ca Anh, Việt v.v... Trái lại nó gồm những câu đối nhau, hoặc âm tiết (rythme ) của tư tưởng. Cùng một tư tưởng được lặp lại bằng lời khác nhau, -- lời thứ hai mâu thuẫn với lời thứ nhứt, hoặc đưa lời thứ nhứt lên tuyệt điểm, làm thành những đoạn ca đồng nghĩa hoặc đối ngẫu. "Tình cảm của một hàng chữ vang dội trong hàng chữ kế tiếp." Thường khi các đoạn ca lại gấp đôi, gấp ba, hoặc gấp bốn, làm thành những câu 2 hàng, 4 hàng, 6 hàng hoặc 8 hàng."
Giá trị văn chương của sách Gióp
Victor Hugo nói: "Có lẽ sách Gióp đứng hàng đầu tuyệt phẩm của trí óc loài người."
Thomas Carlyle nói: "Không kể đến những lý thuyết về sách nầy, tôi cho nó là một trong những tác phẩm vĩ đại nhứt từng được viết ra. Đây là bản văn thứ nhứt và cũ nhứt của bài toán vô tận, -- tức là số phận của loài người và các đường lối của Đức Chúa Trời đối với họ trên mặt đất. Tôi tưởng không một tác phẩm nào có giá trị văn chương bằng sách Gióp."
Phillip Schaff nói: "Sách nầy vươn lên như một kim tự tháp trong lịch sử văn chương, không có tiền bối và cũng không có địch thủ."
Sân khấu của sách nầy
Người ta cho rằng "xứ Út-xơ" (Giop G 1:1) ở dọc theo biên giới giữa xứ Pa-lét-tin và xứ Ả-rập, chạy dài từ Ê-đôm ở phía Bắc và phía Đông tới sông Ơ-phơ-rát, bọc quanh con đường thương đội giữa Ba-by-lôn và Ai-cập. Phần đặc biệt của xứ Út-xơ mà truyền thoại gọi là "quê hương của Gióp" chính là Hauran, một miền ở phía Đông biển Ga-li-lê, nổi danh vì đất đai phì nhiêu và thóc lúa sung túc, xưa kia dân ở đông đúc, nhưng nay rải rác có di tích của 300 thị trấn. Trong miền nầy có một chỗ gọi là Deir Eyoub, và dân tại đây nói chính là chỗ Gióp đã sanh trưởng.
Con người Gióp
Dựa theo truyền thoại thượng cổ, trong một lời phụ chú, bản Séptante nói rằng Gióp chính là "Giô-báp," vua thứ hai của Ê-đôm (SaSt 36:33). Các tên và chỗ ghi trong sách nầy (xem dưới đoạn 2) dường như "đặt sách vào" giữa đám hậu tự của Ê-sau. Nếu điểm nầy là đúng và nếu Hauran là quê hương của Gióp, thì chứng tỏ rằng các vua đầu tiên của Ê-đôm có thể từng hồi từng lúc di cư từ các ghình đá Ê-đôm tới những đồng bằng Hauran phì nhiêu hơn ở phía Bắc. Dầu sao, sách nầy cũng có không khí của thời thái cổ và "được đặt vào" giữa những bộ lạc thượng cổ, là dòng dõi Áp-ra-ham, ở dọc theo biên giới phía Bắc xứ Ả-rập; còn về thời gian, thì gần đồng thời với lúc dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ tại Ai-cập.
Tác giả của sách
Truyền thoại cổ của dân Do-thái cho rằng Môi-se đã chép sách nầy. Đang khi ở đồng vắng Ma-đi-an (XuXh 2:15 -- xem bản đồ số 32), giáp giới xứ Ê-đôm, thì ông dễ được con cháu của Gióp thuật lại cho nghe truyện tích Gióp; hoặc lúc đó chính Gióp còn sống và có lẽ đã tự thuật truyện mình cho Môi-se, lại trao cho ông một bản sao ký truyện của gia đình mình. Vì Gióp là dòng dõi của Áp-ra-ham, nên tự nhiên Môi-se có thể nhận thấy Gióp thuộc trong phạm vi sự khải thị của Đức Chúa Trời. Các nhà phê bình kim thời tự khoe học thức uyên thâm, đoán rằng sách Gióp được chép lâu lắm về sau nầy; nhưng đó chỉ là phỏng đoán. Chúng tôi tin rằng quan điểm của truyền thoại có thể đúng hơn.
Tánh chất của sách nầy
Ta có thể gọi sách nầy là một thi ca của lịch sử, nghĩa là một thi ca căn cứ vào một biến cố thật đã xảy ra. Nó dường như là một cuộc tranh luận công khai về ý nghĩa sự khổ nạn của Gióp. Dầu các bạn của Gióp tự nhận là đến để "an ủi" ông (Giop G 2:11), nhưng chúng tôi tự hỏi phải chăng đó là một thứ hội nghị công cộng, tại đây những người có tên tuổi nhứt một thời đã tỏ bày tư tưởng của mình? Sự khổ nạn của Gióp kéo dài suốt mấy tháng (7:3). Không cần phải nghĩ rằng các bài diễn thuyết đã được ứng khẩu. Cuộc tranh luận chắc đã kéo dài lâu ngày, gồm nhiều phiên họp, và mỗi diễn giả được phép dùng một khoảng thì giờ để sửa soạn bài đáp.
Đề mục của sách nầy
Sách nầy là một bản tranh luận triết lý, dùng lời lẽ đầy thi tứ mà nói về vấn đề khổ nạn của loài người. Từ lúc khởi đầu lịch sử, người ta đã băn khoăn, bối rối về những nỗi bất bình đẳng và bất công khủng khiếp của đời sống: Tại sao Đức Chúa Trời nhơn ái lại có thể dựng nên một thế giới như thế nầy, trong đó có biết bao khổ nạn, và biết bao khổ nạn lại giáng trên những kẻ ít đáng chịu nhứt? Ngày nay chúng ta vẫn chẳng hiểu vấn đề nầy hơn họ đã hiểu đương thời Gióp. Chúng ta ra đời mà không liên quan chi hết tới việc đem mình đến cõi đời nầy. Ta mở mắt, nhìn chung quanh, và chính ta là một dấu hỏi lớn: "Mọi sự nầy để làm gì?" Ta càng lớn lên, càng thấy những nỗi bất bình đẳng và bất công trên thế giới, thì dấu hỏi càng lớn hơn: "Tại sao Đức Chúa Trời nhơn ái lại có thể dựng nên một thế giới như thế nầy?" Nhưng dầu ta có lẽ không hiểu vấn đề hơn họ đã hiểu đương thời Gióp, ta cũng có lý lẽ nhiều hơn để dung hòa với nó. Vì trong thời gian đó, chính Đức Chúa Trời đã giáng xuống đời nầy và chia sẻ sự khổ nạn của chúng ta. Ấy chẳng phải dường như Ngài đã tạo nên một thế giới có khổ nạn, rồi đứng xa mà phán rằng: "Hãy để mặc nó chịu khổ nạn!" Truyện tích Đức Chúa Jêsus, vừa là Người Công bình công bình nhứt thế giới, vừa là Người chịu đau khổ nhứt thế giới, là chứng cớ tỏ ra Đức Chúa Trời chịu khổ nạn chung với loài người thọ tạo của Ngài. Vậy, chúng ta chẳng khó gì mà tin rằng cả sự khổ nạn nhằm vào một mục đích tốt đẹp, mặc dầu hiện nay ta không hiểu rõ. Rồi Đức Chúa Jêsus cũng đã sống lại từ trong kẻ chết, cho ta chắc chắn được vào cõi đời tương lai, tại đó mọi sự bí mật sẽ được giải quyết và mọi sự bất bình đẳng sẽ được san phẳng.
Giop G 1:1-22-- Sự khổ nạn thình lình của Gióp
Sách mở đầu kể truyện của Gióp, là một vị tộc trưởng, một ông hoàng trong sa mạc, hoặc là một vua theo như họ gọi đương thời ấy. Ông rất giàu có, ảnh hưởng lớn, nổi danh vì thanh liêm, tin kính và lòng từ thiện. Ông là một người tốt, gặp phải những nghịch cảnh khủng khiếp xảy đến thình lình và dồn dập đến nỗi khắp nơi ai cũng biết. Ông thành ra đầu đề của cuộc đàm thoại và suy lý thường ngày, làm cho mọi người kinh ngạc.
Dân Sê-ba cướp bò của ông; sét đánh chết chiên của ông; người Canh-đê đánh lạc đà của ông đi mất; một cơn gió lốc làm chết các con trai ông; quỉ Sa-tan giáng cho ông một bịnh tật gớm ghiếc. Mọi tai họa đó tiếp tục nhau rất mau lẹ. Dân Sê-ba ở phía Nam xứ Ả-rập, và là con cháu của Sem (SaSt 10:28). Người Canh-đê ở phương Đông, là quê hương của Áp-ra-ham.
Giop G 2:1-13 -- Bàn tay của Sa-tan ở trong đó
Đây chúng ta thoáng thấy cõi thần linh, tại đó những mầu nhiệm của đời sống đều được biết rõ. Sa-tan là thiên thần hay cáo tội, gợi ý với Đức Chúa Trời rằng Gióp chỉ ăn ở nhơn đức vì tư lợi; ấy nghĩa là Gióp phụng sự Đức Chúa Trời chỉ vì nhờ đó, ông được lợi lộc vật chất. Đức Chúa Trời bèn cho phép Sa-tan thử xem lời cáo tội của nó có đúng chăng?
Người ta thường cho rằng Gióp bị bịnh phung dưới một hình thức kinh khiếp, lại thêm biến chứng sùi da (éléphantiasis ), là một chứng dơ dáy và nhức nhối ở Đông-phương.
Ba người bạn. -- Ê-li-pha, người Thê-man, là dòng dõi của Ê-sau (SaSt 36:11), tức là một người Ê-đôm. Binh-đát, người Su-a, là dòng dõi của Áp-ra-ham và Kê-tu-ra (SaSt 25:2). Sô-pha, người Na-a-ma, không rõ gốc tích và quê quán ở đâu. Cả ba là những ông hoàng du mục ở sa mạc, những tiểu vương đương thời ấy. Ê-li-hu, người Bu-xi, là dòng dõi Na-cô, anh của Áp-ra-ham (SaSt 22:21).
Giop G 3:1-26-- Lời than thở của Gióp
Ông mong ước mình không hề sanh ra, và cầu nguyện cho chết đi. Ông mô tả cõi chết thật là kỳ diệu, vì ông coi nó cách giải thoát khỏi những khổ nạn của đời nầy. Về sau, Đức Chúa Trời quở trách ông không biết chi về sự chết (38:17). Theo lời dạy của Đấng Christ, thì kẻ gian ác bị khổ nạn không thôi (câu 17, Mat Mt 25:41).
Trong những cuộc đàm thoại tiếp theo, Gióp nói 9 lần, Ê-li-pha 3, Binh-đát 3, Sô-pha 2, Ê-li-hu 1, và Đức Chúa Trời 1.
Nói chung, mấy ông nầy biện luận điềm tĩnh, song đôi khi cũng rất hăng hái.
Không phải dễ mà tìm thấy đề tài của cuộc biện luận luôn luôn. Trong một vài đoạn, chúng ta phải tự hỏi họ có biết đúng mình biện luận vì mục đích gì không? Phải chăng họ chỉ muốn biết ai hùng biện tài tình hơn cả? Quả thật, nhiều đoạn biện luận của họ chỉ tuyệt mỹ mà thôi. Họ dường như hiệp ý về nhiều điểm. Ta có thể lần thấy những điểm tranh luận chánh yếu của họ như sau đây:
Ba bạn của Gióp dường như nghĩ rằng mọi khổ nạn giáng trên loài người cốt để hình phạt tội lỗi của họ; rằng nếu chúng ta chịu khổ nạn nhiều, thì đó là bằng cớ tỏ ra ta là đại tội nhơn; còn nếu tội lỗi ta giấu kín, thì sự khổ nạn chứng tỏ ta là kẻ giả hình.
Ý tưởng của chàng thanh niên Ê-li-hu dường như là sự khổ nạn giáng trên loài người chẳng những để hình phạt tội lỗi, song, hơn nữa, còn để giữ cho họ khỏi phạm tội. Sự khổ nạn có tánh cách sửa trị hơn là hình phạt.
Bài diễn thuyết của Đức Chúa Trời từ trong gió lốc, ở cuối sách, dường như tỏ ra theo quan điểm của Ngài, thì Ngài nghĩ rằng loài người không thể trông mong hiểu biết mọi sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo và cai trị vũ trụ của Ngài; ấy vì trí óc họ hữu hạn, và họ sống trong một thế giới mà hằng ngày họ thấy những điều mình không hiểu nổi, lại nữa, họ ở dưới những quyền lực tự mình không sao chống lại được.
Nói chung, bài học trọng đại của sách nầy dường như là: Vì Gióp kiên nhẫn chịu lấy khổ nạn, nên rốt lại, ông được thấy Đức Chúa Trời và được Ngài ban thưởng trọng hậu.
Giop G 4:1-5:27-- Ê-li-pha đáp lại
"Nào bao giờ có kẻ vô tội bị hư mất?" (4:7). Sự hiện thấy của ông về Đức Chúa Trời trong ban đêm thật là tuyệt vời (4:12-19). Ông khuyên Gióp hãy quay về với Đức Chúa Trời (5:8), và bàn rằng nếu Gióp ăn năn, thì sự khổ nạn của ông sẽ tiêu tan (5:17-27).
6:1-7:21-- Bài diễn thuyết thứ hai của Gióp
Gióp thất vọng về các bạn hữu của mình. Ông ước ao được cảm thương, chớ không muốn bị quở trách sâu cay (6:14-30). Ông dường như kinh ngạc. Ông thừa biết mình chẳng phải là một người gian ác. Tuy nhiên, "thịt ông bị bao phủ giòi tửa" (7:5), và ông đau đớn ê chề. Thật ông không hiểu nổi. Dầu cho ông có phạm tôi đi nữa, chắc cũng không quá tàn khốc đến nỗi đáng chịu hình phạt kinh khiếp như vậy. Ông cầu nguyện cho mình chết đi (6:9).
8:1-22-- Bài diễn thuyết thứ nhứt của Binh-đát
Ông cho lời nói của Gióp là "gió bão" (câu 2). Ông nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là công bình trong cách Ngài đối xử với loài người; rằng sự khổ nạn của Gióp là chứng cớ tỏ ra ông gian ác; rằng nếu Gióp chịu quay về với Đức Chúa Trời, thì mọi sự lại sẽ tốt lành.
9:1-10:22-- Bài diễn thuyết thứ ba của Gióp
Ông nhấn mạnh rằng mình "chẳng phải gian ác" (10:7) và Đức Chúa Trời giáng sự hình phạt trên người công bình cũng như trên người gian ác (9:22) ông cũng than thở đắng cay về cách Đức Chúa Trời đối xứ với mình, và ông mong ước mình chẳng hề sanh ra (10:18-22).
11:1-20-- Bài diễn thuyết thứ nhứt của Sô-pha
Ông theo đường lối của Ê-li-pha, Binh-đát và tàn nhẫn bảo Gióp rằng sự hình phạt Gióp còn nhẹ hơn là Gióp đáng phải chịu (câu 6). Ông cho là Gióp khoe khoang sự công bình riêng của mình (câu 2-4), và nhấn mạnh rằng nếu Gióp chịu từ bỏ tội ác của mình, thì sự khổ nạn của Gióp sẽ qua hết, sẽ được quên đi, và an ninh, thạnh vượng, hạnh phước sẽ trở lại (câu 13-19).
12:1-14:22-- Bài diễn thuyết thứ tư của Gióp
Ông đổi ra nói châm chọc vì cớ những lời gay gắt của họ (12:2); ông bảo họ hãy làm thinh, để mặc ông (13:13). Ông nhấn mạnh rằng kẻ gian ác được thạnh vượng, còn người công bình chịu đau khổ. Trong tình trạng hoàn toàn thất vọng, Gióp dường như nghi ngờ cả đời sau (14:7, 14). Nhưng về sau ông có lòng tin chắc tuyệt diệu về điểm nầy (xem thêm ở đoạn 19).
15:1-35-- Bài diễn thuyết thứ hai của Ê-li-pha
Sự châm chọc của Ê-li-pha hóa ra cay đắng. Ông giả định rằng Gióp gian ác, và cho Gióp là tự phụ. Cuộc tranh luận càng lâu càng hăng hái. Họ đổi ra nóng nảy và giận dữ. "Mắt" Gióp "ngó chớp lách" (câu 12). "Ông nổi giận, bèn xẻ rạch mình" (18:4). Ông "vỗ tay mình" (34:37). Họ "lắc đầu về " ông (16:4).
16:1-17:16-- Bài diễn thuyết thứ 5 của Gióp
"Nếu linh hồn các ngươi thế cho linh hồn ta, tất ta cũng sẽ... lắc đầu về các ngươi" (16:4). Gióp cứ tiếp tục than thở. "Mắt ông sưng đỏ lên vì cớ khóc" (16:16). "Bạn hữu ông nhạo báng ông" (16:20). Ông "trở nên tục ngữ của dân," và "chúng khạc nhổ nơi mặt" ông (17:6).
18:1-21-- Bài diễn thuyết thứ hai của Binh-đát
Trong lúc nổi giận, ông la Gióp rằng: "Ông nổi giận, bèn xẻ rạch mình" (câu 4). Giả định rằng Gióp gian ác, ông bèn mô tả số phận kinh khiếp của kẻ gian ác, toan làm cho Gióp hoảng sợ.
19:1-29-- Bài diễn thuyết thứ sáu của Gióp
"Các bạn thân thiết đều gớm ghét" ông (câu 19). "Các tớ gái ông đãi ông như một khách lạ" (câu 15), và "hơi thở ông làm gớm ghiếc cho vợ ông" (câu 17). "Những đứa trẻ cũng khinh bỉ" ông (câu 18); "xương cốt ông sát vào da và thịt ông" (câu 20). Bị tan vỡ tứ phía, ông bèn kêu xin bạn hữu "thương xót" mình (câu 21). Đoạn, thình lình, từ vực sâu tuyệt vọng, chẳng khác gì ánh mặt trời chiếu qua kẽ mây, Gióp phát ra một lời tuyệt diệu của đức tin, xưa nay chưa từng có: "Tôi Biết Rằng Đấng Cứu Chuộc Tôi Vẫn Sống, đến lúc cuối cùng, Ngài sẽ đứng trên đất. Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, bấy giờ ngoài xác thịt, Tôi Sẽ Xem Thấy Đ­ức Chúa Trời " (câu 25-27).
20:1-29-- Bài diễn thuyết thứ hai của Sô-pha
Tiếp theo điệu thứ hai của Binh-đát và giả định rằng Gióp gian ác, ông cố gắng mô tả địa vị thê thảm dành cho những kẻ ác.
21:1-34-- Bài diễn thuyết thứ bảy của Gióp
Gióp đồng ý rằng đến cuối cùng, kẻ gian ác sẽ bị đau khổ, nhưng ông nhấn mạnh rằng chúng thường được thạnh vượng.
22:1-30 -- Bài diễn thuyết thứ ba của Ê-li-pha
Ông đả kích sự gian ác của Gióp càng lâu càng kịch liệt hơn, và nhứt là ông đặc biệt nêu lên cách Gióp đối đãi người nghèo tàn nhẫn.
23:1-24:25-- Bài diễn thuyết thứ tám của Gióp
Ông binh vực sự công bình của mình. "Lời của miệng Ngài" (23:12). -- mấy chữ nầy tỏ ra rằng đương thời Gióp, đã có những tác phẩm được nhìn nhận là Lời của Đức Chúa Trời.
25:1-6-- Bài diễn thuyết thứ ba của Binh-đát
"Làm sao loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?" (câu 4). Ông diễn thuyết rất ngắn, rồi thôi hẳn.
26:1-31:40-- Bài diễn thuyết chót của Gióp
Ông càng thêm tự tin mà binh vực sự vô tội của mình. "Cho đến kỳ chết, tôi chẳng hề thôi quả quyết rằng tôi trọn vẹn" (27:5). Ông đối chiếu sự thạnh vượng, hạnh phước, danh vọng, tôn trọng, hảo tâm, từ ái và hữu ích quá khứ của mình (đoạn 29) với sự đau khổ kịch liệt hiện tại của mình (đoạn 30). Ông nói mình "trở nên lời ca hát của họ, làm đề cho chuyện trò của họ" (30:9). Họ "nhổ khạc nơi mặt" ông (30:10). Ông trở thành anh em của "chó rừng" (30:29). "Da ông thành đen" (30:30). Rồi ông cương quyết chối rằng mình không hề ức hiếp kẻ nghèo, hoặc tham lam, hoặc vô luân thường, hoặc che giấu tội mình (đoạn 31).
Sự thờ lạy hình tượng. -- Trong sách Gióp, chỉ có một chỗ ngụ ý nói đến sự thờ lạy hình tượng (31:26-28). Đây dường như nói đến sự thờ lạy mặt trời. Đó là một bằng cớ tỏ ra sách Gióp được chép từ thời thượng cổ, -- đương thời ấy, người ta còn giữ theo truyền thuyết độc thần nguyên thủy, tỉ như Áp-ra-ham, Mên-chi-xê-đéc, Ba-la-am.
32:1-37:24-- Bài diễn thuyết của Ê-li-hu
Gióp đã làm cho ba bạn hữu ngậm miệng. Ê-li-hu tức giận họ, vì họ câm, không trả lời Gióp được. Ông tức giận Gióp, vì Gióp tự cho là công bình, tự xưng mình là công bình, chớ không xưng Đức Chúa Trời là công bình. Bây giờ tới phiên Ê-li-hu nói với họ một, hai điều. Ông có tự phụ chăng? Cả trái đất hãy yên lặng, Ê-li-hu sắp cất tiếng nói. Phần lớn bài diễn thuyết của ông cốt bảo họ rằng ông sẽ nói những diều kỳ diệu. Song, cũng như những người khác, sự khôn ngoan của ông chỉ cốt tại dùng những lời làm tối, chớ không làm rõ điều ông muốn nói. Điểm tranh luận chính của ông dường như là Đức Chúa Trời dùng sự khổ nạn để sửa trị chớ không phải để hình phạt.
38:1-41:25-- Bài diễn thuyết của Đức Chúa Trời
Ngài phán từ trong cơn gió lốc. Ngài luận rằng đối với Đức Chúa Trời, thì loài người ngu dốt, bất lực, yếu đuối và hết sức nhỏ bé. Ngài hỏi hết câu nầy đến câu khác, làm cho Gióp kinh khiếp mà làm thinh, và khiến ông quỳ mọp xuống. Đây là những đoạn vĩ đại, tuyệt vời.
42:1-17-- Gióp ăn năn và được phục hưng
Gióp kêu lên rằng: "Tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi" (câu 6). Đức Chúa Trời xác nhận ý tưởng mà Gióp bày tỏ, chớ không xác nhận ý tưởng của những người kia (câu 7). Gióp không phải là người gian ác như họ đã giải luận, nhưng là một người thật tin kính; khi được đưa đến đối mặt với Đức Chúa Trời, thì ông "gớm ghê" sự công bình riêng của mình và mọp xuống trong bụi đất.
=============================

Thi Thiên
Những Bài Hát Tin cậy Trong tiếng Hê-bơ-rơ, gọi là "Sách Ngợi khen " 150 Bài Thơ Phổ Nhạc để dùng khi thờ phượng Quyển Thánh Ca và Quyển Cầu nguyện của dân Y-sơ-ra-ên để dùng trong đời tư và trong cuộc thờ phượng công cộng Quyển Sách Cựu Ước được quí mến hơn hết Tác phẩm vinh hiển hơn hết trong Hoàng kim thời đại của dân Y-sơ-ra-ên Trong số 283 câu Tân Ước trưng dẫn Cựu Ước, thì 116 câu ở sách Thi Thiên

Tác giả của các Thi Thiên
Cứ theo các đầu đề, thì 73 Thi Thiên là của Đa-vít; 12 của A-sáp; 11 của con cháu Cô-rê; 2 của Sa-lô-môn (72, 127); 1 của Môi-se (90); 1 của Ê-than (89); và 50 không ghi tên tác giả. Người ta cho rằng một vài Thi Thiên vô danh có thể kể là của tác giả Thi Thiên ngay trước đó. Chắc Đa-vít là tác giả của một số Thi Thiên vô danh.
Đầu đề không hẳn chỉ rõ tác giả, vì trong tiếng Hê-bơ-rơ, những chữ "của," "cho," và "vì" là một. Một Thi Thiên "của" Đa-vít có thể do chính ông viết ra, hoặc do người khác viết "cho" Đa-vít, nghĩa là để tặng Đa-vít.
Tuy nhiên, những đầu đề đã có từ lâu đời, và ta rất tự nhiên giả định rằng nó chỉ tỏ tác giả. Theo truyền thoại lâu đời, phổ thông và liên tục, thì Đa-vít là tác giả chánh yếu của các Thi Thiên. Một vài nhà phê bình kim thời đã cố gắng tuyệt vọng để loại trừ Đa-vít ra khỏi sân khấu. Nhưng có đủ lý do để thừa nhận (chớ không có lý do vững vàng nào để nghi ngờ) phần lớn sách Thi Thiên là tác phẩm của Đa-vít. Tân Ước cũng thừa nhận như thế.
Vậy, chúng ta nói rằng các Thi Thiên là của Đa-vít, vì ông là tác giả hoặc soạn giả chánh yếu. Nói chung, người ta thừa nhận rằng một ít Thi Thiên đã có trước thời Đa-vít, làm thành nguyên điểm của cuốn Thánh ca thờ phượng. Cuốn Thánh ca nầy đã được Đa-vít bổ sung, rồi từ thế hệ nọ tới thế hệ kia cứ thêm vào, và rốt lại, do E-xơ-ra hoàn thành dưới hình thức hiện tại.
Đa-vít là một chiến sĩ can đảm chưa từng thấy, có tài thao lược, và cũng là một nhà chánh trị đưa quốc gia lên tuyệt điểm hùng cường. Ông lại là một thi sĩ kiêm nhạc sĩ, và hết lòng kính mến Đức Chúa Trời. Quả thật, việc ông sáng tác các Thi Thiên là một công trạng bội phần vĩ đại hơn việc ông sáng lập nước Y-sơ-ra-ên. Đây là một công trình cao quí hơn hết của mọi thời đại. Các Thi Thiên nầy diễn tả tâm tình thật của Đa-vít; và trong đó, con cái Đức Chúa Trời thường thấy bức tranh khá đẹp mô tả chính mình họ, cùng những tranh đấu, tội lỗi, sầu khổ, hoài vọng, vui mừng và đắc thắng của họ. Vì cớ các Thi Thiên, cho đến đời đời vô cùng. Đa-vít sẽ nhận được lòng cảm kích bất diệt của muôn triệu người mà Đức Chúa Trời đã cứu chuộc.
Đức Chúa Jêsus rất ưa thích các Thi Thiên
Các Thi Thiên thật đã trở thành một phần của trí óc Ngài, đến nỗi khi thốt lời hấp hối trên Thập tự giá, Ngài cũng trưng dẫn Thi Thiên (Thi Tv 22:1, 31:5, Mat Mt 27:46, LuLc 23:46). Ngài phán rằng nhiều điều viết trong các Thi Thiên chỉ về Ngài (LuLc 24:44).
Ông W.E.Gladstone luận về các Thi Thiên
"Tất cả kỳ quan của nền văn minh Hy-lạp chất lại một chỗ, vẫn chưa lạ lùng bằng quyển Thi Thiên đơn sơ nầy."
Các Thi Thiên được viết ra để ca hát
Môi-se đã hát và dạy dân chúng ca hát (XuXh 15:1-27, PhuDnl 32:1-33:29). Dân Y-sơ-ra-ên ca hát suốt cả hành trình tới Đất Hứa (Dan Ds 21:17). Đê-bô-ra và Ba-rác đã ca hát (Cac Tl 5:1-31). Đa-vít là một nhạc sĩ đại tài, và ông hết lòng ca hát (IISa 2Sm 6:5, 14, 16). Những ca công của Ê-xê-chia ca hát lời Đa- vít theo tiếng kèn thổi (IISu 2Sb 29:28-30). Những ca công của Nê-hê-mi hát lớn tiếng lúc khánh thành vách lũy (NeNe 12:42). Phao-lô và Si-la hát trong khám tù (Cong Cv 16:25). Lúc mới dựng nên muôn vật "các sao mai đồng hát hòa nhau, và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng" (Giop G 38:7). Trên Thiên đàng, muôn vàn thiên sứ ca hát, và cả muôn vật được cứu chuộc hòa theo (KhKh 5:11-13). Trên Thiên đàng, mọi người sẽ ca hát, và suốt cõi đời đời, ai nấy sẽ không ngớt tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời, chẳng hề mệt mỏi.
Nhạc cụ
Họ dùng nhạc cụ có dây, nhứt là đờn cầm và đờn sắt; nhạc cụ hơi gió, như quyển, sáo, còi, kèn; và nhạc cụ đánh bằng tay như trống, chập chỏa. Đa-vít có một ban nhạc 4000 người (ISu1Sb 23:5).
Phân loại các Thi Thiên
Các Thi Thiên sắp thành năm quyển: 1-41; 42-72; 73-89; 90-106; 107-150. Sự phân chia nầy có trong cả bản Septante và bản Hê-bơ-rơ, từ thời thượng cổ, và người ta cho là làm vậy để bắt chước năm sách (Ngũ kinh) của Môi-se. Cuối mỗi quyển có một bài chúc tụng Đức Chúa Trời. Thi Thiên chót cũng là một bài chúc tụng Đức Chúa Trời.
Những bộ Thi Thiên nhỏ hơn nữa
Những Thi Thiên của các con trai Cô-rê (Thi Tv 42:1-49:20 xem ở Thi Tv 42:1-11); những Thi Thiên của A-sáp (73:1-83:18 xem ở 73:1-28) những Thi Thiên Michtam (56:1-60:12 xem ở Thi Thiên 56; những bài ca từng bậc (120:1-134:3 xem ở 120:1-7). Các bộ nhỏ nầy dường như đã được phân ra nhiều lúc khác nhau, rồi sau được nhập vào những quyển lớn hơn.
Những cách phân loại khác
Tùy theo cách cấu tạo và vấn đề: Về Đấng Mê-si (xem ở 2:1-12) về lịch sử (xem ở 78:1-72) về sự ăn năn (xem ở 32:1-11) về sự rủa sả (xem ở Thi Thiên 35); theo thể chiết cú thi (acrostiche ), hoặc theo thứ tự chữ cái (xem ở Thi Thiên 9); về thần chánh (xem ở 95:1-11) các Thi Thiên Hallel (xem ở 113:1-9); các Thi Thiên A-lê-lu-gia (xem ở 146:1-10).
Một vài Thi Thiên rất dài. Một vài Thi Thiên lại rất ngắn. Tính theo quyển Kinh Thánh cỡ trung bình, thì mỗi Thi Thiên được chừng nửa trang. 119:1-176 dài nhứt, và cũng là đoạn dài nhứt trong Kinh Thánh, 117:1-2 ngắn nhứt, cũng là đoạn ngắn nhứt và ở chính giữa Kinh Thánh. 118:8 là câu ở chính giữa Kinh Thánh, và cũng là một câu quí báu.
Những ý tưởng chính của các Thi Thiên
"Tin Cậy " là ý tưởng đầu tiên và chánh yếu của cả sách nầy, và được lặp đi lặp lại mãi. Bất cứ hoàn cảnh thể nào, hoặc vui mừng, hoặc kinh khiếp, Đa-vít cũng đi thẳng tới Đức Chúa Trời. Dầu Đa-vít có những nhược điểm nào, ông cũng Sống Trong Đức Chúa Trời.
"Sự ngợi khen" ở trên môi miệng ông luôn. Đa-vít luôn luôn xin Đức Chúa Trời ban cho một ơn nào, và ông luôn luôn hết linh hồn cảm tạ Ngài đã đáp lại các lời cầu nguyện của mình.
"Vui mừng" cũng là một tiếng mà ông ưa thích lắm. Những hoạn nạn không dứt của Đa-vít vẫn chẳng bao giờ làm giảm được sự vui vẻ của ông trong Đức Chúa Trời. Ông luôn luôn kêu lên rằng: "Hãy hát," và "Khá hát mừng rỡ" (Thi Tv 67:4), nhắc cho ta nhớ Phao-lô (Phi Pl 4:4).
Chữ "nhơn từ" (thương xót) được nhắc hàng mấy trăm lần. Đa-vít thường nói đến sự công bình và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Nhưng ông khoe mình về lòng nhơn từ của Ngài.
"Kẻ ác." Đa-vít rất bối rối vì cớ sự gian ác thắng thế. Đối với ông cũng như đối với các tác giả khác của Kinh Thánh, chỉ có hai hạng người: Người công bình và kẻ gian ác, mặc dầu lắm kẻ muốn vừa là công bình, vừa là gian ác.
"Kẻ thù nghịch." Ta ngạc nhiên vì Đa-vít luôn luôn nói đến kẻ thù nghịch. Chúng ta tự hỏi tại sao một vua nhơn đức và công bình như Đa-vít lại bị kẻ thù nghịch khuấy rối luôn? Trong một vài trường hợp, ông nói đến kẻ thù nghịch riêng của mình; trong những trường hợp khác, ông nói đến kẻ thù nghịch của dân Y-sơ-ra-ên, hoặc của Đức Chúa Trời.
Thi Tv 1:1-8.-- Hạnh phước của những kẻ lấy Lời của Đức Chúa Trời làm vui thích. Nếu Đa-vít quí mến những tác phẩm ngắn ngủi hợp thành Lời Đức Chúa Trời, thì ngày nay chúng ta lại càng phải yêu quí Kinh Thánh đã được hoàn thành và có trung tâm là Truyện tích kỳ diệu của Đấng Christ! Quí báu thay, lời hứa rằng những kẻ lấy Lời Đức Chúa Trời làm nguồn tư tưởng của đời mình sẽ giống như cây trồng gần dòng nước! 19:1-14, 119:1-176 cũng luận về Lời Đức Chúa Trời.
2:1-12.-- Một bài Thánh ca luận về Đấng Mê-si hầu đến, về Thần tánh Ngài, và về lúc Ngài trị vì cả thế giới. Đây là Thi Thiên đầu tiên luận về Đấng Mê-si.
Các Thi Thiên luận về Đấng Mê-si
Nhiều Thi Thiên chứa lời chỉ về Đấng Christ; dầu được viết ra hàng ngàn năm trước khi Ngài giáng sanh, nhưng ta hoàn toàn không thể ứng dụng nó cho một nhơn vật nào khác trong lịch sử ngoài ra Đấng Christ. Trong các Thi Thiên có một vài lời tuyên bố dường như chỉ về Đa-vít theo một nghĩa không quan trọng và không hoàn toàn; nhưng rõ ràng lắm, Đức Chúa Trời định dùng nó để chỉ tỏ Một Nhơn Vật thuộc về gia tộc Đa-vít, trong Ngài lời hứa ban ngôi vua đời đời cho Đa-vít sẽ được ứng nghiệm tối hậu (xem ở II Sa-mu-ên 7). Ngoài những câu chỉ rõ về Đấng Mê-si, trong các Thi Thiên còn có nhiều từ ngữ dầu kém trực tiếp, song dường như làm hình bóng lờ mờ về Đấng Mê-si.
Những Thi Thiên chỉ rõ về Đấng Mê-si là:
2:1-12-- Thần tánh và đời trị vì thế giới của Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu.
8:1-9.-- Bởi Đấng Mê-si, loài người được trở thành chúa tể muôn vật.
16:1-5.-- Ngài sống lại từ trong kẻ chết.
22:1-31.-- Sự thương khó của Ngài.
45:1-17.-- Tân phụ và Ngôi đời đời của Ngài.
69:1-36.-- Lại luận về sự thương khó của Ngài.
72:1-30.-- Sự trị vì vinh hiển và đời đời của Ngài.
89:1-52.-- Đức Chúa Trời thề rằng Ngôi Ngài sẽ tồn tại đời đời vô cùng.
110:1-7.-- Ngài là Vua và Thầy Tế lễ đời đời.
118:1-29.-- Ngài bị các tay thủ lãnh của dân tộc Ngài chối bỏ.
132:1-18.-- Ngài kế tự ngôi Đa-vít đời đời.
Những câu luận về Đấng Mê-si
Dưới đây là những câu Thi Thiên mà Tân Ước tuyên bố rõ ràng là chỉ về Đấng Christ (xem thêm ở dưới Mat Mt 2:22): --
"Ngươi là Con Ta; ngày nay Ta đã sanh ngươi" (Thi Tv 2:7, Cong Cv 13:33).
"Chúa khiến muôn vật phục dưới chơn người" (Thi Tv 8:6, HeDt 2:6-10).
"Chúa sẽ chẳng bỏ linh hồn tôi trong Âm phủ, cũng không để cho người thánh Chúa thấy sự hư nát" (Thi Tv 16:10, Cong Cv 2:27).
"Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?" (Thi Tv 22:1, Mat Mt 27:46).
"Người phú thác mình cho Đức Giê-hô-va, Ngài khá giải cứu người" (Thi Tv 22:8, Mat Mt 27:43).
"Chúng nó đâm lủng tay và chơn tôi" (Thi Tv 22:16, GiGa 20:25).
"Chúng nó chia nhau áo xống tôi, bắt thăm về áo dài tôi" (Thi Tv 22:18, GiGa 19:24).
"Nầy, tôi đến; trong quyển sách đã có chép về tôi: Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa" (Thi Tv 40:7, 8, HeDt 10:7).
"Người bạn thân tôi... đã ăn bánh tôi, cũng giơ gót lên nghịch cùng tôi" (Thi Tv 41:9, GiGa 13:18).
"Hỡi Đức Chúa Trời, Ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia" (Thi Tv 45:6, HeDt 1:8).
"Sự sốt sắng về Đền Chúa tiêu nuốt tôi" (Thi Tv 69:9, GiGa 2:17).
"Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, và cho tôi uống giấm trong khi khát" (Thi Tv 69:21, Mat Mt 27:34, 48).
"Nguyện kẻ khác chiếm lấy chức phận nó đi!" (Thi Tv 109:8, Cong Cv 1:20).
"Đức Giê-hô-va phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu Ta, cho đến chừng Ta đặt kẻ thù nghịch ngươi làm bệ chơn cho ngươi" (Thi Tv 110:1, Mat Mt 22:44).
"Đức Giê-hô-va đã thề... rằng: Ngươi là Thầy tế lễ đời đời , tùy theo ban Mên-chi-xê-đéc" (Thi Tv 110:4, HeDt 7:17).
"Hòn đá mà thợ xây loại ra, đã trở nên đá đầu góc nhà" (Thi Tv 118:22, Mat Mt 21:42).
"Đáng ngợi khen Đấng nhơn Danh Đức Giê-hô-va mà đến!" (Thi Tv 118:26, Mat Mt 21:9). Xem thêm ở dưới IISa 2Sm 7:1-20 và Mat Mt 2:22.
Thi Thiên 3.-- Đa-vít tin cậy Đức Chúa Trời trong lúc Áp-sa-lôm phản nghịch (IISa 2Sm 15:1-37). Ông có thể ngủ yên vì "bàn tay Đức Chúa Trời là cái gối của ông."
"Sê-la" (câu 2). Chữ nầy dùng 71 lần trong các Thi Thiên. Người ta cho là dấu bảo ngừng trong khi hòa nhạc.
Thi Tv 4:1-8.-- Lại một Thánh ca tỏ lòng tin cậy, vì Đa-vít dường như dựa vào ngực Đức Chúa Trời mà ngủ bình an.
Ở đầu đề của các 4:1-8, 6:1-10, 61:1-8, nguyên văn có chữ "Neginoth, " nghĩa là: "đờn dây."
5:1-12.-- Một lời cầu nguyện buổi sáng. Đa-vít bị những kẻ thù nghịch xảo quyệt vây quanh, bèn cầu nguyện, rồi reo mừng vì tin rằng Đức Chúa Trời sẽ binh vực mình. Trong nguyên văn, ở đầu đề có chữ "Nehiloth, " nghĩa là: "Kèm theo nhạc cụ hơi gió."
6:1-10.-- Tiếng kêu la của một tấm lòng tan vỡ, trong lúc bịnh hoạn, nhục nhã và hổ thẹn, có thể là vì cớ Đa-vít đã phạm tội cùng Bát-sê-ba. Đây là Thi Thiên Ăn năn thứ nhứt (xem thêm 32:1-11). Trong nguyên văn, ở đầu đề Thi Thiên nầy và 12:1-8 có chữ "Sheminith, " nghĩa là "thứ tám" hoặc bát độ âm giai (octave ), có lẽ chỉ về giọng trầm, hoặc giọng đờn ông.
7:1-17.-- Lại một lời cầu xin Đức Chúa Trời che chở mình khỏi những kẻ thù nghịch gian ác, giống như Thi Thiên 5. Đa-vít binh vực sự công bình của mình (xem thêm 32:1-11).
"Cút" ở đầu đề có lẽ là một võ tướng của Sau-lơ đang đuổi theo Đa-vít (xem thêm 54:1-7).
Theo nguyên văn, ở đầu đề có chữ "Shiggaion, " có lẽ là tên của một âm điệu linh hoạt.
8:1-9.-- Loài người được làm chúa tể muôn vật Đức Chúa Trời dựng nên (câu 6). Việc nầy sẽ thực hiện khi Đấng Christ toàn thắng và trị vì (HeDt 2:6-10). Xem thêm Thi Tv 2:1-12.
Chữ "Ghi-tít" ở đầu đề Thi Thiên nầy và những 81:116, 84:1-12, có thể là tên một nhạc cụ hoặc nhạc điệu của xứ Gát.
9:1-20.-- Một Thi Thiên cảm tạ vì thắng trận. Đức Chúa Trời ngự làm Vua cho đến đời đời. Các dân tộc hãy biết rằng mình chỉ là người. Thi Thiên nầy và 10:1-18 là những chiết cú thi.
Những Thi Thiên theo thể chiết cú hoặc theo thứ tự chữ cái là những Thi Thiên trong đó chữ đầu của các câu kế tiếp nhau theo thứ tự chữ cái Hê-bơ-rơ, người ta cho rằng đó là một phương pháp giúp cho dễ nhớ. Những Thi Thiên chương 25, 34, 37, 111, 112, 119, 145 cũng thuộc về loại nầy.
"Mút-la-bên" ở đầu đề có lẽ là tên một nhạc điệu.
"Hi-gai-ôn" (câu 16) có lẽ là một âm hiệu.
10:1-18.-- Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời tiếp trợ mình để chống trả sự gian ác, hà hiếp và trộm cắp, dường như ở trong chính nước ông.
11:1-7.-- Số phận của kẻ ác. Đức Chúa Trời chẳng bỏ mặc chúng đâu. Ngài sẽ mưa lửa, diêm sanh trên kẻ ác, và thổi gió nóng vào chúng.
12:1-13:6.-- Kẻ ác đi bốn phía. Dầu Đa-vít đau đớn thấm thía, nhưng ông tin cậy ở kết cuộc và hoan hỉ trong Đức Chúa Trời.
14:1-7.-- Cả loài người có tội; gần giống như 53:1-6 được trưng dẫn ở RoRm 3:10-12 để chứng tỏ loài người có cần Cứu Chúa.
Thi Tv 15:1-5.-- Công dân chơn chánh của Si-ôn. Thomas Jefferson gọi Thi Thiên nầy là chơn dung của bậc quân tử.
16:1-11.-- Thi Thiên về sự sống lại. Đa-vít dường như nói về chính mình ông; dầu sao, môi miệng Đa-vít cũng thốt ra những lời thần bí của Vua hầu đến thuộc dòng Đa-vít (câu 10). Tân Ước đã trưng dẫn câu nầy như là dự ngôn về Đức Chúa Jêsus phục sanh (Cong Cv 2:27). Xem thêm Thi Tv 2:1-12.
17:1-15.-- Đa-vít bị kẻ thù nghịch gian ác vây kín, bèn cầu nguyện và binh vực sự công bình của mình (xem thêm 32:1-11).
18:1-50.-- Người ta cho đây là bản Thánh ca của Đa-vít cảm tạ Đức Chúa Trời trong ngày ông lên ngôi vua. Địa vị "làm đầu các nước" (câu 43-45) chỉ đúng với Đa-vít một phần thôi. Nó vượt quá thời Đa-vít, và chỉ về ngôi Vua của Con Đa-vít vốn oai hùng hơn ông bội phần (xem thêm 2:1-12).
19:1-14.-- Vinh quang của cuộc sáng tạo và sự trọn lành của luật pháp Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời của cõi thiên nhiên được tỏ ra cho loài người bởi Lời Kinh Thánh. Những ý tưởng về Lời Đức Chúa Trời (câu 7-14) lại được giải luận sâu rộng hơn ở 119:1-176. Thi Thiên nầy có lẽ là hai bài thơ hiệp lại, cũng như các 24:1-9, 27:1-14;, 36:1-12
20:1-9.-- Một Thi Thiên tỏ lòng tin cậy; người ta cho rằng Đa-vít hát Thi Thiên nầy lúc ra chiến trận. Có người tưởng rằng Thi Thiên nầy ám chỉ Vua Mê-si, như ta thấy ở các Thi Thiên chương 2, 18, 21, 45, 61, 72, 89, 110, 132.
21:1-13.-- Sau cuộc chiến trận, cảm tạ Đức Chúa Trời vì được thắng; vả, ở Thi Thiên 20, trước khi ra trận, họ đã cầu xin Đức Chúa Trời cho được toàn thắng. Sự chỉ về Đấng Mê-si còn rõ hơn là ở Thi Thiên 20. Đặc tánh vĩnh viễn của đời Vua trị vì chắc chỉ về Đấng Christ, chớ không phải về Đa-vít.
22:1-31.-- Thi Thiên về sự đóng đinh vào Thập tự giá, được trứ tác 1000 năm trước khi xảy ra. Lời mô tả linh động đến nỗi ta tưởng chính tác giả có mặt trước Thập tự giá: Nào lời của Đức Chúa Jêsus khi hấp hối, nào lời chế giễu của kẻ thù nghịch, nào tay và chơn Ngài bị đâm lủng, nào áo xống Ngài bị phân chia. Một vài lời nói ở đây không thể ứng dụng cho Đa-vít, hoặc cho một biến cố nào trong lịch sử mà ta được biết, duy chỉ có thể ứng dụng cho sự đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá (xem thêm Thi Thiên 2).
Ở đầu đề, chữ "Aijeleth-Shahar " trong nguyên văn có nghĩa là "con nai cái lúc rạng đông". Có lẽ là một dấu chỉ về thì giờ, hoặc tên của một nhạc điệu.
23:1-6.-- Thi Thiên về Đấng Chăn Chiên. Đoạn Cựu Ước được quí mến hơn hết. Ông Beecher luận đại ý như thế nầy: "Như một con chim, Thi Thiên nầy bay lên, bay xuống trên mặt đất, hát bài du dương hơn hết mà ta từng được nghe. Nó ru cho người buồn phiền được yên nghỉ, còn hơn tất cả triết lý của trần gian. Nó cứ hát cho con cái của anh em và của tôi, rồi cho con cái chúng, mãi tới khi chấm dứt thời gian. Khi đã xong việc, nó sẽ bay trở về lòng Đức Chúa Trời, cụp cánh lại, và cứ hát đời đời trong điệp khúc vui tươi của những kẻ mà nó dự phần đưa tới đó."
24:1-9.-- Vua ngự đến Si-ôn. Có lẽ Thi Thiên nầy được trước tác cho cuộc lễ rước hòm giao ước vào thành Giê-ru-sa-lem (IISa 2Sm 6:12-15). Có lẽ chúng ta sẽ hát Thi Thiên nầy để nghinh đón Vua trong ngày vui mừng Ngài trở lại. Thi Thiên nầy giống như Thi Tv 15:1-5 một phần.
25:1-22.-- Lời cầu nguyện của một linh hồn bị tội lỗi hà hiếp (câu 7, 11, 18). Đây, Đa-vít không tự nhận là công bình (xem thêm 32:1-11).
26:1-12.-- Đây, Đa-vít binh vực sự công bình của mình bằng những lời khá quả quyết; khác hẳn Thi Thiên trước (xem thêm 32:1-11).
27:1-14.-- Tận tụy với Nhà Đức Chúa Trời. Nếu Đa-vít thiết tha yêu mến chỗ thời đó gọi là Nhà Đức Chúa Trời, là nơi họ dâng súc vật làm tế lễ, thì chúng ta lại càng phải tận tụy với chỗ ngày nay gọi là Nhà Đức Chúa Trời, tại đó truyện tích kỳ diệu của Cứu Chúa được kể cho ta nghe mãi!
28:1-9.-- Lời cầu nguyện và cảm tạ vì Chúa đã đáp lại. Đa-vít tin cậy Đức Chúa Trời và được cứu giúp. Vậy, ông ca hát và hoan hỉ.
29:1-11.-- Tiếng phán của Đức Chúa Trời trong trận bão sấm. Ngài ngự làm Vua lúc có nạn lụt; Ngài ngự làm Vua đời đời.
30:1-12.-- Bài ca ngợi khen của Đa-vít lúc khánh thành cung điện của ông (IISa 2Sm 5:11, 7:2). Đa-vít luôn luôn ngợi khen Đức Chúa Trời.
Thi Tv 31:1-24.-- Thi Thiên luận về sự thương khó và sự đắc thắng. Đức Chúa Jêsus ưa thích Thi Thiên nầy. Ngài trưng dẫn Thi Thiên nầy khi thốt lời cuối cùng trên Thập tự giá (câu 5 LuLc 23:46).
Thi Tv 32:1-11.-- Một Thi Thiên luận về sự ăn năn, xưng tội và được tha thứ, chắc viết trong cơ hội Đa-vít phạm tội cùng Bát-sê-ba (IISa 2Sm 11:1-12:31). Ông không tìm được đủ lời để diễn tả sự xấu hổ, nhục nhã của mình. Tuy nhiên, chính Đa-vít nầy cũng nhiều lần tự nhận mình là công bình (Thi Tv 7:3, 8, 17:1-5, 18:20-24, 26:1-4). Làm sao dung hòa được những đặc điểm mâu thuẫn nầy trong cuộc đời Đa-vít? 1) Có lẽ các Thi Thiên "công bình" nầy được viết trước khi Đa-vít phạm lỗi lầm kinh khủng đó. 2) Người ta có thể cảm thấy mình mắc tội lỗi trong lúc nầy nhiều hơn trong lúc khác. 3) Sự công bình của Đa-vít chỉ tương đối, chớ không tuyệt đối. So sánh với hành vi tổng quát của những kẻ ác, thì Đa-vít là một vị thánh, đạo cao đức trọng; nhưng so sánh với Đức Chúa Trời, thì sự công bình của ông chỉ như giẻ rách dơ bẩn. 4) Một thiện nhân có thể phạm tội, mà vẫn là thiện nhân (xem thêm IISa 2Sm 11:1-27). Có sự khác nhau (như trời với đất) giữa người thiện, mặc dầu có khi họ chiều theo sự cám dỗ của xác thịt, và kẻ ác vẫn cố ý và cố quyết khinh dể tất cả qui tắc của sự đoan chánh (xem IGi1Ga 3:1-24).
Người ta nói rằng Thánh Augustin đã viết Thi Thiên nầy trên tường, ngay trước giường ngủ của mình, để ông đọc không thôi, và mỗi lần đọc, thì ông khóc dầm dề.
Những Thi Thiên chương 6, 25, 38, 51, 102, 130 và 143 cũng luận về sự ăn năn.
Trong nguyên văn, ở đầu đề Thi Thiên nầy và những Thi Thiên chương 42, 44, 45, 52, 53, 54, 55, 74, 78, 88, 89, 142, có chữ "Maschil; " người ta cho chữ nầy có nghĩa là một thi ca dùng để dạy dỗ, hoặc để suy gẫm.
Thi Tv 33:1-22.-- Thi Thiên vui mừng và ngợi khen. Trong sách Thi Thiên thường nói đến "một bài ca mới" (câu 3 40:3, 96:1, 98:1, 144:9). Có một vài bài hát cũ mà không bao giờ cũ; vì đối với con cái Đức Chúa Trời, đang khi họ trải qua đường đời, thì luôn luôn có sự giải cứu và vui mừng mới mẻ, làm cho những bài hát cũ có ý nghĩa mới mẻ, và đến cuối cùng, sẽ lên tới tuyệt điểm mà trào ra sự vui mừng mới mẻ lúc vinh quang của Thiên đàng bắt đầu tỏ rõ (KhKh 5:9, 14:3).
Thi Tv 34:1-22-- Đa-vít cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài đáp lại lời cầu nguyện của ông ở 54:1-7 mà giải cứu ông khỏi tay người Phi-li-tin. Mỗi khi được giải cứu, ông liền đến trước mặt Đức Chúa Trời mà cảm tạ và ngợi khen Ngài. Sống Trong Đức Chúa Trời như vậy, thật là vinh hiển biết bao, và cũng đẹp lòng Ngài biết bao! Có người nói rằng: "Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời vì có ánh sáng của ngôi sao, thì Ngài sẽ ban cho anh em ánh sáng của mặt trăng. Hãy cảm tạ Ngài vì có ánh sáng của mặt trăng, thì Ngài sẽ ban cho anh em ánh sáng của mặt trời. hãy cảm tạ Ngài vì có ánh sáng của mặt trời, thì một ngày kia, Ngài sẽ đưa anh em đến nơi chính Ngài là Sự Sáng."
35:1-28.-- Một Thi Thiên rủa sả. Những Thi Thiên chương 52, 58, 59, 67, 109 và 137 cũng thuộc về loại nầy. Nó phừng ra sự báo trả kẻ thù nghịch. Đó chẳng phải lời Đức Chúa Trời tuyên bố giáng cơn thạnh nộ trên kẻ ác, nhưng là lời một người cầu xin Ngài báo trả kẻ thù nghịch của mình. Thật khác hẳn lời Đức Chúa Jêsus dạy rằng chúng ta phải yêu thương kẻ thù nghịch. Dưới đời Cựu Ước, mục đích của Đức Chúa Trời là bảo tồn một Dân Tộc trên thế giới để mở đường cho Đấng Christ ngự đến. Ngài dường như hành động theo bổn tánh loài người, và không buộc phải phê chuẩn mọi điều mà cả những tôi tớ tận tụy hơn hết của Ngài đã nói hoặc làm. Một vài Thi Thiên nầy là bài ca xuất trận, bày tỏ tinh thần yêu nước nồng nhiệt, cốt để giữ cho quốc gia được sống còn trong cuộc chiến đấu sanh tử với những quân thù hùng mạnh. Khi Đấng Christ ngự đến, thì sự khải thị của Đức Chúa Trời về ý nghĩa đời người và những mẫu mực hành vi của đời người đã được hoàn bị. Đức Chúa Trời bèn đổi hướng công việc Ngài, -- không trực tiếp chú trọng vào sự duy trì một dân tộc nữa, nhưng trực tiếp chú trọng vào sự biến cải các Cá Nhân thành những người hợp với ý muốn của Ngài. Vậy, Ngày Nay Ngài không tha thứ nhiều điều mà Thời Đó Ngài đã bỏ qua. Trong thời Cựu Ước, vì cớ tùy nghi, Đức Chúa Trời đã hòa theo ý tưởng của loài người một phần nào. Trong thời Tân Ước, Đức Chúa Trời bắt đầu đối xử với loài người tùy theo ý tưởng của Ngài (xem thêm ở LuLc 6:27).
Thi Tv 36:1-12.-- Một bài suy gẫm về sự gian ác của loài người và sự công bình, thành tín, thương xót, từ ái của Đức Chúa Trời.
37:1-40.-- Ở trong thế gian mà không thuộc về thế gian. Đây là một trong những Thi Thiên được quí mến hơn hết. Đa-vít luôn luôn bối rối vì cớ ưu thế của tội ác, nhưng ở đây, ông bày tỏ triết lý của mình để sống giữa những kẻ ghét Đức Chúa Trời cùng các sự vật mà ông ưa thích: Ấy là hãy làm lành, tin cậy Đức Chúa Trời và chớ lo phiền. Thi Thiên nầy nhắc chúng ta nhớ sách GiGa 15:19 và thơ Phi Pl 2:15.
Thi Tv 38:1-22.-- Một Thi Thiên bày tỏ sự khổ não đắng cay. Một trong những Thi Thiên về sự ăn năn (xem thêm ở 32:1-11). Dường như Đa-vít đang chịu đau đớn vì bịnh tật gớm ghiếc do tội lỗi ông gây nên. Vì cớ bịnh tật ấy, bạn hữu thân thiết nhứt và bà con gần nhứt của ông đã thành ra xa lạ, còn kẻ thù ông đã gia tăng và hóa nên rất táo bạo. Thi Thiên nầy tỏ ra "người theo lòng Ngài" (ISa1Sm 13:14) thường khi cũng sa xuống vực sâu sầu thảm vì cớ tội mình.
Thi Tv 39:1-13.-- Một bản ai ca về đời người ngắn ngủi, yếu hèn và hư không. "Giê-đu-thun" ở đầu đề Thi Thiên nầy và các 62:1-12, 77:1-20, là một trong ba nhạc trưởng của Đa-vít, hai người kia là A-sáp và Hê-man (ISu1Sb 16:37-42). Theo IISu 2Sb 35:15, thì ông là "đấng tiên kiến của vua."
Thi Tv 40:1-17.-- Ngợi khen Đức Chúa Trời vì một sự giải cứu lớn lao. Luật pháp của Đức Chúa Trời ở trong lòng ông (câu 8), nhưng ông hoàn toàn bị tội ác của mình chà nát (câu 12). Phần cuối Thi Thiên nầy giống như 70:1-5.
41:1-13.-- Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu mình. Người ta cho Thi Thiên nầy thuộc về thời kỳ Áp-sa-lôm chiếm ngôi vua (IISa 2Sm 15:1-37) khi ấy, vì Đa-vít lâm bịnh (câu 3-8), nên cuộc mưu phản có cơ hội chín mùi. "Người bạn thân" (câu 9) chắc là A-hi-tô-phe, tên Giu-đa của thời Cựu Ước (IISa 2Sm 15:12, GiGa 13:18).
Thi Tv 42:1-43:5.-- Người tha hương thèm khát Nhà Đức Chúa Trời. Tác giả dường như ở miền núi Hẹt-môn, thuộc phía Đông sông Giô-đanh, giữa các người không tin kính Đức Chúa Trời và thù nghịch với mình. Hai Thi Thiên nầy hợp thành một thi ca.
"Con cháu Cô-rê" ở đầu đề các Thi Thiên chương 42-49, 84, 85, 87, 88, là một chi tộc người Lê-vi có khiếu thi ca, do Đa-vít (đang khi dự bị cuộc thờ phượng ở Đền thờ) tổ chức thành một ban nhạc xuất sắc tồn tại trải qua nhiều thế hệ (ISu1Sb 6:31-48, 9:19, 22, 23).
Thi Tv 44:1-26.-- Một tiếng kêu la tuyệt vọng trong lúc quốc gia bị tai họa, -- dường như đạo quân của họ đã bị thảm bại.
45:1-17.-- Bài ca hôn lễ của một Vua mang danh hiệu Đức Chúa Trời và ngự trên Ngôi đời đời. Thi Thiên nầy có lẽ trực tiếp liên quan đến Đa-vít, hoặc Sa-lô-môn. Nhưng có một vài lời hoàn toàn không thể ứng dụng cho Đa-vít, hoặc Sa-lô-môn, hoặc một ông vua nào khác. Đây chắc phải là bài ca của Đấng Mê-si, báo trước hôn lễ của Chiên Con (KhKh 19:7).
Chữ "Sa-san-nim " ở đầu đề Thi Thiên nầy và những Thi Thiên 69, 80, có nghĩa là "bông huệ." Đây có lẽ là một bài ca mùa xuân, hoặc một ám dụ (métaphore ) chỉ về điệp khúc của phụ nữ.
Thi Tv 46:1-11.-- Bài ca xuất trận của Si-ôn. Đây là nền tảng của bài Thánh ca nổi danh do Martin Luther trứ tác: "Đức Chúa Trời là Thành kiên cố ta." Thánh ca nầy là bài ca xuất trận của các nhà Cải chánh.
Chữ "A-la-mốt " ở đầu đề có nghĩa là "Trinh nữ," hoặc điệp khúc của các thiếu nữ.
47:1-48:14.-- Đức Chúa Trời là Vua. Đức Chúa Trời trị vì. Si-ôn là thành của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nầy là Đức Chúa Trời của chúng ta đời đời. Vậy, cả trái đất hãy mừng rỡ!
49:1-20.-- Của cải trần gian là hư không. Giống như một vài lời dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus (Mat Mt 6:19-34, LuLc 12:16-21, 16:19-31).
Thi Tv 50:1-23.-- Đức Chúa Trời là Chủ của trái đất và mọi vật trong đó. Khi ta dâng tài vật cho Đức Chúa Trời, thì chỉ trả lại những cái vốn thuộc về Ngài.
51:1-19.-- Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời thương xót mình. Kết quả do tội lỗi ông đã phạm với bà Bát-sê-ba (IISa 2Sm 11:1-12:31). Xem thêm ở Thi Tv 32:1-11.
Thi Tv 52:1-9.-- Bài ca của Đa-vít tỏ lòng tin cậy rằng ông sẽ được giải cứu khỏi tay Đô-e (ISa1Sm 21:1-22:23).
Thi Tv 53:1-6-- Cả loài người có tội. Giống như 14:1-7. Được trưng dẫn ở RoRm 3:10-12. Người ta cho rằng chữ "Ma-ha-lát" ở đầu đề có nghĩa là tật bịnh, hoặc một điệu nhạc u buồn.
Thi Tv 54:1-7.-- Lời cầu nguyện của Đa-vít tại Xíp, đang khi ông ẩn trốn khỏi Sau-lơ (ISa1Sm 23:19-28, 26:1-25). Các Thi Thiên khác mà Đa-vít viết đang khi trốn khỏi Sau-lơ là: Thi Thiên chương 7 (?), 34, 52, 54, 56, 57, 59, 63(?), 142.
Thi Tv 55:1-23.-- Đa-vít bị bạn hữu phản bội, nhưng tin cậy Đức Chúa Trời. Cũng như 41:1-13, Thi Thiên nầy dường như thuộc về thời kỳ Áp-sa-lôm dấy loạn; nhứt là nó ám chỉ A-hi-tô-phe (câu 12-14; IISa 2Sm 15:12, 13).
Thi Tv 56:1-13.-- Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu mình khỏi tay người Phi-li-tin. Ông triệt để sử dụng các phương tiện của mình, thậm chí đã giả điên, theo như có chép ở ISa1Sm 21:10-13. Nhưng ông đã cầu nguyện và tin cậy Đức Chúa Trời cho được kết quả tốt đẹp. Thi Tv 34:1-22 là bài ca cảm tạ của ông vì đã thoát nạn.
Trong nguyên văn, ở đầu đề các 16:1-11, 56:1-60:12, có chữ "Michtam. " Người ta cho rằng chữ nầy nghĩa là "châu ngọc" hoặc "bằng vàng," tức là những thi ca quí như vàng, có tư tưởng đáng ghi trên những bi văn vĩnh cửu.
"Giô-nát-ê-lem-Rô-hô-kim" có lẽ là tên một điệu nhạc.
57:1-11.-- Lời cầu nguyện của Đa-vít đang khi ẩn trốn khỏi Sau-lơ (ISa1Sm 22:1, 24:1, 26:1). Trong nguyên văn, ở đầu đề các Thi Thiên chương 57, 58, 59, 75 có chữ "Al-tash-hesh, " nghĩa là: "Chớ phá hủy," và dường như ám chỉ vào 26:9.
Thi Tv 58:1-11.-- Một lời cầu nguyện nghịch cùng kẻ gian ác. Ngày báo trả chúng chắc sẽ tới. Xem thêm ở 35:1-28.
59:1-17.-- Một lời cầu nguyện nữa, khi Sau-lơ sai lính tới vây bắt Đa-vít tại nhà (ISa1Sm 19:10-17). Nhưng Đa-vít tin cậy Đức Chúa Trời.
Thi Tv 60:1-12.-- Cầu nguyện lúc quốc gia lâm nạn, cũng như các Thi Thiên chương 44, 74, 79, 108. Chữ "Shushan-eduth " ở 60:1-12, 80:1-13 nghĩa là: "Bông huệ chứng cớ." Xem thêm ở 45:1-17.
61:1-8.-- Một Thi Thiên tỏ lòng tin cậy đang khi xa nhà, có lẽ đương thời Áp-sa-lôm dấy nghịch.
62:1-12.-- Một thi ca mô tả lòng sốt sắng tận tụy với Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài, không chút lay chuyển. Hãy dốc lòng trước mặt Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài luôn luôn.
63:1-11.-- Một Thi Thiên của đồng vắng; người ta cho rằng có lẽ Thi Thiên nầy thuộc trong thời kỳ Đa-vít trốn khỏi Áp-sa-lôm, nhưng ông tin chắc sẽ khôi phục được ngôi vua.
64:1-10.-- Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời che chở mình khỏi âm mưu của những kẻ thù bí mật, và ông tin chắc rằng nhờ Đức Chúa Trời, mình sẽ thắng trận.
65:1-13.-- Một bài ca về biển cả và mùa gặt. Đức Chúa Trời ban ơn lành suốt cả năm. Trái đất reo mừng.
66:1-20.-- Một Thi Thiên toàn quốc cảm tạ Đức Chúa Trời. Hãy ngợi khen và kính sợ Đức Chúa Trời. Hãy ca hát và vui vẻ. Con mắt Đức Chúa Trời xem xét các dân tộc.
67:1-7.-- Một Thi Thiên truyền giáo, nói trước về Tin Lành truyền khắp trái đất. Các nước hãy hát mừng.
68:1-35.-- Một hành khúc xuất trận. Thi Thiên nầy rất được các Thập tự quân, phái Huguenots (1), ông Savonarole và ông Oliver Cromwell ưa thích.
69:1-36.-- Một Thi Thiên luận về sự thương khó, giống như 22:1-31. Qua bức màn thương khó của Đa-vít, ta thoáng thấy sự thương khó của Đấng Christ, nên Thi Thiên nầy đã được trưng dẫn ở Tân Ước (câu 4, 9, 21, 22, 25, GiGa 2:17, 15:25, 19:28-30, Cong Cv 1:20, RoRm 11:9, 15:3).
Thi Tv 70:1-5-- Một tiếng kêu cứu khẩn cấp. Thi Thiên nầy gần giống như phần cuối Thi Thiên 40. Đức Chúa Trời không hề thất tín với ông.
71:1-24.-- Một Thi Thiên về tuổi già. Hồi tưởng một cuộc đời tin cậy, bị hoạn nạn và quân thù bao vây suốt cả đường.
72:1-20-- Vinh quang và sự vĩ đại của Đấng Mê-si trị vì. Thi Thiên nầy và 127:1-5 là của Sa-lô-môn. Nước của Sa-lô-môn đã lên tới tuyệt điểm vinh quang. Chúng ta có thể nghĩ rằng Thi Thiên nầy mô tả đời trị vì thái bình và vinh hiển của Sa-lô-môn một phần nào. Nhưng một vài lời trong Thi Thiên nầy và nội dung của nó chỉ có thể ứng dụng cho nước của MỘT VUA hùng mạnh hơn Sa-lô-môn. Xem thêm ở 2:1-12.
73:1-28.-- Về sự thạnh vượng của kẻ ác thì thế nào? 50:1-23, 73:1-83:18 đều có ghi: "A-sáp làm." A-sáp là nhạc trưởng của Đa-vít (ISu1Sb 15:16-20, 16:5). Ban hợp ca của Ê-xê-chia đã hát những Thi Thiên của A-sáp (IISu 2Sb 29:30).
Thi Tv 74:1-23.-- Một lời cầu nguyện khi quốc gia lâm nạn, có lẽ là ám chỉ vào cuộc xâm lăng của Si-sắc (IVua 1V 14:25, 26 IISu 2Sb 12:2, 9).
Thi Tv 75:1-10.-- Kẻ ác chắc chắn bị hủy diệt. Người công bình chắc chắn sẽ đắc thắng. Mọi sự nầy sẽ xảy ra trong ngày trái đất tiêu tan.
76:1-12.-- Cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã đại thắng. Dường như ám chỉ vào sự tiêu diệt đạo quân của San-chê-ríp (IIVua 2V 19:25).
Thi Tv 77:1-20.-- Lại một tiếng kêu cứu trong thời hoạn nạn. Tác giả nhắc Đức Chúa Trời nhớ những việc lạ lùng mà Ngài đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời quá khứ.
78:1-72.-- Thi Thiên nầy và những Thi Thiên chương 81, 105, 106, 114 được gọi là Thi Thiên "lịch sử." Đây là những bài thơ thuật lại lịch sử quá khứ của dân Y-sơ-ra-ên để ai nấy nhớ lại những cách Đức Chúa Trời đối xử diệu kỳ với dân ấy.
79:1-13.-- Một lời than vãn vì cớ thành Giê-ru-sa-lem bị hoang vu; người ta cho rằng Thi Thiên nầy ám chỉ về sự xâm lăng của Si-sắc hoặc của người Ba-by-lôn.
80:1-19.-- Lại một Thi Thiên khác đương lúc quốc gia lâm nạn; có lẽ ám chỉ về sự suy sụp của nước phía Bắc.
81:1-16.-- Sự không vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên là nguyên nhơn họ bị hoạn nạn. Nếu họ chịu nghe theo Đức Chúa Trời, thì tình hình đã khác hẳn.
82:1-8.-- Các quan án không công bình thật đáng trách vì để cho tội ác thắng thế; họ đã quên trách nhiệm của mình đối với Quan Án Tối cao.
83:1-18.-- Lời cầu nguyện nghịch cùng sự âm mưu của những người Ê-đôm, Ả- rập, Mô-áp, Am-môn, A-ma-léc, Phi-li-tin, và nhiều dân khác.
84:1-12.-- Phước lành cho những ai tận tụy với Nhà Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu mến những ai yêu mến con đường đi tới Si-ôn. Xem thêm ở 27:1-14.
85:1-13.-- Cảm tạ Đức Chúa Trời vì được từ chốn lưu đày trở về quê hương; cũng có lời cầu nguyện cho đất nước được khôi phục và cho tương lai được tốt đẹp hơn.
86:1-17.-- Lời kêu xin Đức Chúa Trời thương xót; giống như nhiều Thi Thiên khác của Đa-vít. Ông là người hiền đức, tin kính, song vẫn cần được tha thứ. Xem thêm ở 32:1-11.
87:1-7.-- Si-ôn, thành của Đức Chúa Trời, là một trong những danh hiệu đầy thi vị của Hội Thánh. Si-ôn có sổ ghi tên những kẻ được kế tự Thiên đàng (câu 6 HeDt 12:22).
88:1-18.-- Tiếng kêu thương của một người đã chịu khổ nạn suốt đời. "Hê-man" ở đầu đề là một trong những trưởng ban hát của Đa-vít (ISu1Sb 15:17-19), đồng thời với Sa-lô-môn (IVua 1V 4:31). Trong nguyên văn có chữ "Mahalath-Leannoth, " nghĩa là: "Một bài hát trong cơn bịnh hoạn."
Thi Tv 89:1-52.-- Đức Chúa Trời thề rằng ngôi vua của Đa-vít sẽ vô cùng tận. Một Thi Thiên tuyệt mỹ (xem thêm ở 2:1-12 và IISu 2Sb 7:1-22) "Ê-than" là một trong những trưởng ban hát của Đa-vít, cùng với A-sáp và Hê-man (ISu1Sb 15:16-19).
90:1-17.-- Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Vì Thi Thiên nầy của Môi-se và Môi-se đã sống 400 năm trước Đa-vít, nên có thể đây là Thi Thiên thứ nhứt đã được viết ra. Môi-se còn viết nhiều bài ca khác (XuXh 15:1-27 PhuDnl 32:1-52). Theo truyền thoại của các Ra-bi (đạo sư Do-thái), thì 10 Thi Thiên vô danh (91-100) là của Môi-se. Nếu vậy thì loạt Thi Thiên nầy có thể là nguyên điểm của sách Thi Thiên.
Thi Tv 91:1-16.-- Một Thi Thiên tuyệt mỹ về lòng tin cậy. Không một tai họa nào sẽ xảy đến cho anh em. Đức Chúa Trời sẽ sai thiên sứ gìn giữ anh em trong mọi bước đường. Có đức tin như vậy, thì vinh hiển biết bao!
92:1-15.-- Một Thánh ca ngợi khen Chúa trong ngày yên nghỉ; dường như nhìn vào ngày yên nghỉ của công việc sáng tạo trong thời quá khứ và sự yên nghỉ đời đời trong thời tương lai.
93:1-5.-- Ngôi Đức Chúa Trời có sự oai nghiêm, quyền phép, thánh khiết, và còn đến đời đời. Đức Chúa Trời trị vì từ đời đời cho đến đời đời.
94:1-23.-- Một lời cầu xin Đức Chúa Trời báo thù kẻ gian ác và chấm dứt đời trị vì dai dẳng, nặng tội của chúng. Xem thêm ở Thi Thiên 35.
95:1-100:5.-- Tiếp tục ý tưởng bày tỏ trong Thi Thiên 93, những Thi Thiên nầy gọi là Thi Thiên "thần chánh" vì nó liên quan đến quyền cao cả của Đức Giê-hô-va và ngụ ý nói đến đời trị vì của Đấng Mê-si hầu đến.
95:1-11.-- Hãy ca hát và mừng rỡ. Đức Chúa Trời là Vua. Chúng ta hãy quì trước mặt Ngài. Chúng ta là dân của Ngài, hãy lắng tai nghe tiếng Ngài.
96:1-13.-- Hãy ca hát. Đức Chúa Trời trị vì. Các từng trời hãy vui mừng, và trái đất hãy hớn hở! Ngày phán xét hầu gần.
97:1-12.-- Đức Giê-hô-va ngự đến. Trái đất rung chuyển. Đây là một bản quốc thiều cử hành trong "Lễ Đăng quang," có lẽ ám chỉ về cả sự ngự đến thứ nhứt và sự ngự đến thứ hai của Đấng Christ.
98:1-9.-- Đây dường như là bài ca của "Ngày Đăng quang." Vì là "một bài ca mới" (câu 1), nên có lẽ đây là một trong những bài ca sẽ hát ở trên trời (KhKh 5:9-14).
Thi Tv 99:1-9.-- Đức Chúa Trời trị vì. Các dân hãy run rẩy. Đức Chúa Trời là Đấng Thánh. Ngài ưa thích sự sông bình và đáp lại lời cầu nguyện.
100:1-5.-- Âm luật của Thi Thiên nầy được gọi là "Thứ một trăm xưa." Đây là điệu nhạc "Ngợi khen Đức Chúa Trời, từ Ngài mọi phước lưu ra."
101:1-8.-- Người ta cho rằng có lẽ Thi Thiên nầy được trứ tác khi Đa-vít lên ngôi vua, và kể ra những nguyên tắc ông sẽ áp dụng để trị nước.
102:1-28.-- Một lời cầu nguyện ăn năn trong lúc bị hoạn nạn ghê gớm, bị nhục nhã và hổ thẹn. Xem thêm ở 32:1-11. Câu 25-27 luận về sự vĩnh cửu của Đức Chúa Trời, đã được trưng dẫn ở HeDt 1:10-12 để ứng dụng cho Đấng Christ.
103:1-22.-- Một Thi Thiên về sự thương xót của Đức Chúa Trời. Người ta cho rằng Thi Thiên nầy được trứ tác khi Đa-vít đã cao tuổi, và tóm tắt cách Đức Chúa Trời đối xử với ông. Đây là một trong những Thi Thiên được quí chuộng hơn hết. Chúng ta ưa đọc Thi Thiên nầy biết bao!
104:1-35.-- Một Thi Thiên về cõi thiên nhiên. Đức Chúa Trời săn sóc các loài thọ tạo của Ngài. Nhắc ta nhớ lời Đức Chúa Jêsus phán rằng: "Ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì chẳng hề một con (chim sẻ) nào rơi xuống đất" (Mat Mt 10:29).
105:1-15.-- Một bài thơ tóm tắt lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Xem thêm ở Thi Thiên 78. Đặt biệt luận về Chúa giải cứu họ khỏi nước Ai-cập một cách kỳ diệu.
106:1-48.-- Lại một Thi Thiên lịch sử nữa, đem sự thương xót lạ lùng của Đức Chúa Trời đối chiếu với sự cố quyết không vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên.
107:1-43.-- Những việc lạ lùng do lòng từ ái của Đức Chúa Trời đang khi đối xử với dân Ngài và đang khi cai quản mọi sự trong cõi thiên nhiên.
108:1-13.-- Đây dường như là một trong những bài ca xuất trận của Đa-vít. Nó gần giống nhiều phần của 57:1-11, 60:1-12.
109:1-31.-- Báo trả những kẻ thù nghịch Đức Chúa Trời. Đây là một trong các Thi Thiên rủa sả (xem thêm ở 35:1-28). Tên Giu-đa có mặt trong bức tranh nầy (câu 8 Cong Cv 1:20).
Thi Tv 110:1-7.-- Vua hầu đến sẽ trị vì đời đời và làm Thầy tế lễ đời đời. Thi Thiên nầy không thể ám chỉ vào một nhơn vật nào trong lịch sử trừ ra Đấng Christ; tuy nhiên, nó được trứ tác 1000 năm trước thời Đấng Christ (câu 1, 4, Mat Mt 22:44, Cong Cv 2:34, HeDt 1:13, 5:6). Xem thêm ở Thi Tv 2:1-12.
111:1-10.-- Một Thi Thiên luận về sự oai nghiêm, tôn quí, công bình, thương xót, thành tín, chơn thật, thánh khiết và vĩnh cửu của Đức Chúa Trời.
112:1-10.-- Phước lành của người nào công bình, hay thương xót và hay làm ơn như Đức Chúa Trời, nhơn từ đối với kẻ nghèo, và yêu mến các đường lối của Đức Chúa Trời.
113:1-118:29.-- Những Thi Thiên nầy được gọi là Thi Thiên "Hallel. " Người ta hát chung trong gia đình, nhằm đêm Lễ Vượt Qua: 113:1-114:9 lúc bắt đầu dùng bữa; Thi Thiên chương 115, 116, 117 và 118 lúc đã ăn xong. Đây chắc là những Thánh ca mà Đức Chúa Jêsus và các Sứ đồ đã hát khi ăn bữa tiệc cuối cùng (Mat Mt 26:30).
113:1-9.-- Một bài hát ngợi khen. Bắt đầu và chấm dứt bằng chữ "Ha-lê-lu- gia," nghĩa là: "Ngợi khen Chúa!" Hãy Ngợi khen Ngài đời đời.
114:1-8.-- Một Thánh ca nhắc lại những phép lạ trong sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập, tức là lúc bắt đầu có Lễ Vượt Qua.
115:1-15.-- Giê-hô-va là Đức Chúa Trời duy nhứt. Phước thay cho dân Ngài! Phước thay cho những kẻ tin cậy Ngài, chớ không tin cậy tà thần của các nước!
116:1-19.-- Một bài ca tỏ lòng biết ơn Đức Chúa Trời vì Ngài đã giải cứu mình khỏi sự chết, khỏi sự cám dỗ, và đã nhiều lần đáp lại lời cầu nguyện.
117:1-2.-- Một lời kêu gọi các dân hãy tiếp nhận Đức Giê-hô-va. Đã được trưng dẫn ở RoRm 15:11. Đây là đoạn ở chính giữa Kinh Thánh, và cũng là đoạn ngắn nhứt.
Thi Tv 118:1-29 Đây là bài Thánh ca từ giã mà Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đã hát khi Ngài dời khỏi phòng dự Lễ Vượt Qua để đi lên Thập tự giá (Mat Mt 26:30). Thi Thiên nầy gồm có lời dự ngôn về Ngài bị chối bỏ (câu 22, 26, Mat Mt 21:9, 42).
Thi Tv 119:1-176.-- Vinh quang của Lời Đức Chúa Trời. Đây là đoạn dài nhứt Kinh Thánh, gồm 176 câu. Trừ những câu 90, 121, 122, 132, còn thì câu nào cũng nói đến Lời Đức Chúa Trời dưới một trong những danh hiệu nầy: Luật pháp, chứng cớ, đoán ngữ, luật lệ, điều răn, giềng mối, lời, mạng lịnh, đường lối. 119:1-176 là một bản giải rộng 1:1-8, 19:1-14. Đây là một Thi Thiên theo thứ tự chữ cái, gồm 22 khúc, mỗi khúc có 8 dòng, và mỗi dòng trong 8 dòng ấy bắt đầu bằng cùng một chữ cái (xem thêm ở 9:1-20). Đây là Thi Thiên mà nhà văn hào Ruskin rất ưa thích.
120:1-134:3.-- Những Thi Thiên nầy gọi là "bài ca đi lên từng bậc," hoặc "bài ca của kẻ đi dự lễ.". Những Thi Thiên nầy cốt để hát lên, và nói chung, người ta cho là dân Do-thái đã hát những Thi Thiên nầy trên đường đi dự các đại lễ ở thành Giê-ru-sa-lem, hoặc đang khi họ đi lên 15 bậc để tới hành lang Đền thờ dành cho đờn ông. Hoặc chữ "đi lên" còn có nghĩa là "hát cao giọng," hay là "lối tư tưởng cao tột."
120:1-7.-- Lời người sống giữa những kẻ lừa dối, phản phúc, cách xa Si-ôn, cầu xin Đức Chúa Trời che chở mình.
121:1-8.-- Đây có lẽ là Thánh ca mà các người đi dự lễ đã hát khi vừa mới thấy các núi bao quanh thành Giê-ru-sa-lem.
122:1-9.-- Đây có lẽ là Thánh ca mà các người đi dự lễ đã hát khi gần tới cổng Đền thờ, ở bên trong vách thành Giê-ru-sa-lem.
123:1-4.-- Còn Thi Thiên nầy thì những người đi dự lễ hát ở bên trong Đền thờ, đang khi họ ngước mắt nhìn lên Đức Chúa Trời và cầu xin Ngài thương xót mình.
124:1-8.-- Một bản Thánh ca cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời ở trong Đền thờ, vì Ngài luôn luôn giải cứu quốc gia những lúc có hiểm họa khủng khiếp.
125:1-5.-- Một Thánh ca tỏ lòng tin cậy. Các núi bao quanh thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì Đức Chúa Trời cũng bao phủ dân Ngài đời đời thể ấy.
126:1-6.-- Một bài hát cảm tạ Đức Chúa Trời vì được từ chốn lưu đày trở về cố hương. Phước tốt đẹp quá đến nỗi dường như không thật có, và dường như họ đang chiêm bao.
127:1-5.-- Dường như là hai bài thơ hợp làm một, luận về sự xây dựng Đền thờ và xây dựng gia đình. Một trong hai Thi Thiên do Sa-lô-môn trứ tác. Thi Thiên kia là 72:1-20.
128:1-6.-- Một bài ca hôn lễ. Tiếp tục phần cuối của 127:1-5, các gia đình đạo đức, tin kính là nền tảng của sự an lạc quốc gia.
129:1-8.-- Dân Y-sơ-ra-ên cầu xin cho quân thù của mình bị lật đổ, vì chúng đã làm khổ họ từ lúc thiếu thời, hết thế hệ nầy đến thệ khác.
130:1-8.-- Tiếng kêu la của một linh hồn nặng trĩu mối cảm biết mình có tội. Đây là một trong những Thi Thiên Ăn năn. Xem thêm ở 32:1-11.
131:1-3.-- Một Thi Thiên tỏ lòng khiêm cung tin cậy Đức Chúa Trời, chẳng khác gì trẻ thơ. Tôi đã làm cho linh hồn mình yên tịnh trong Đức Chúa Trời, cũng như trẻ thơ ở bên mẹ nó vậy.
132:1-18.-- Thi ca lặp lại lời Đức Chúa Trời hứa với Đa-vít, không hề vi phạm, rằng Ngài sẽ ban cho ông một Vị Kế tự ngôi ông đời đời. Xem thêm ở 2:1-12.
133:1-134:3.-- Một Thi Thiên luận về tình huynh đệ và sự sống đời đời. Còn một Thi Thiên luận về những kẻ ban đêm canh giữ Đền thờ và lời họ chào nhau.
135:1-21.-- Một bài hát ngợi khen Đức Chúa Trời vì các công việc lạ lùng của Ngài trong cõi thiên nhiên và trong lịch sử. Bắt đầu và chấm dứt bằng chữ "Ha-lê-lu-gia," nghĩa là: "Ngợi khen Chúa!"
136:1-26.-- Thi Thiên "Hallel " vĩ đại. Câu nào cũng lặp lại mấy chữ: "Sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời." Họ hát Thi Thiên nầy lúc bắt đầu cử hành Lễ Vượt Qua. Đây là một bài hát trong Đền thờ mà ai nấy ưa thích (ISu1Sb 16:41, IISu 2Sb 7:3, 20:21, Exo Er 3:11).
137:1-9.-- Một Thi Thiên lúc bị lưu đày. Những kẻ bị lưu đày ở nước ngoài mong ước trở về cố hương. Những kẻ bắt họ đi làm phu tù chắc chắn sẽ bị báo trả.
138:1-8.-- Một bài hát cảm tạ, dường như nhằm cơ hội Đức Chúa Trời đặc biệt đáp lại lời cầu nguyện, có lẽ là lúc Đa-vít lên ngôi vua.
139:1-24.-- Sự hiểu biết vô cùng của Đức Chúa Trời. Chẳng có gì giấu khỏi Ngài. Ngài biết hết ý nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta. Sự tối tăm cũng không giấu chi khỏi Đức Chúa Trời được.
140:1-13.-- Một trong những lời Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời che chở mình khỏi những kẻ thù nghịch gian ác và tiêu diệt chúng đi. Đây là một Thi Thiên rủa sả. Xem thêm 35:1-28.
141:1-10.-- Lại một lời Đa-vít cầu xin Đức Chúa Trời che chở mình khỏi kẻ thù nghịch. Dầu đời trị vì của Đa-vít vinh quang, nhưng ông luôn luôn bị quân thù khuấy rối.
142:1-7.-- Một trong những lời cầu nguyện của Đa-vít lúc thanh niên, đang khi trốn trong hang đá để tránh khỏi Sau-lơ (ISa1Sm 22:1, 24:3). Xem thêm ở 54:1-7.
143:1-12.-- Lời Đa-vít ăn năn kêu xin Đức Chúa Trời cứu giúp, có lẽ trong lúc đang bị con trai, là Áp-sa-lôm, truy kích (IISa 2Sm 17:1-18:33). Xem thêm ở 32:1-11
144:1-15.-- Một trong những bài ca xuất trận của Đa-vít. Có lẽ đạo quân của ông đã hát các Thánh ca như bài nầy đang lúc tiến ra mặt trận.
145:1-21.-- Một bản Thánh ca ngợi khen Chúa. Có lẽ Đa-vít đã truyền lịnh cho quân đội mình hát những bài thuộc loại nầy sau khi từ mặt trận trở về, để cảm tạ Chúa đã cho mình đắc thắng.
146:1-150:6.-- Những Thi Thiên nầy gọi là Thi Thiên "Ha-lê-lu-gia," vì mỗi Thi Thiên bắt đầu và chấm dứt bằng chữ "Ha-lê-lu-gia," nghĩa là: "Ngợi khen Chúa." Chữ "Ha-lê-lu-gia" nầy cũng thường thấy trong những Thi Thiên khác. Sách Thi Thiên lên đến tuyệt điểm và chấm dứt với tiếng hô: "Ha-lê-lu-gia" vĩ đại; tiếng ấy cứ chạy suốt cho tới hết Kinh Thánh và vang dội trong ban hát thiên thượng gồm những người đã được cứu chuộc (KhKh 19:1, 3, 4, 6).
Thi Tv 146:1-10.-- Tôi còn sống bao lâu, thì sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời bấy lâu. Đức Chúa Trời trị vì. Đang khi thân tôi còn, tôi sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Chúa Trời!
147:1-20.-- Muôn loài thọ tạo hãy ngợi khen Đức Chúa Trời! Hãy cảm tạ mà hát cho Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên hãy ngợi khen Đức Chúa Trời! Núi Si-ôn hãy ngợi khen Ngài! Ha-lê-lu-gia!
148:1-14.-- Ha-lê-lu-gia! Các thiên sứ hãy ngợi khen Đức Chúa Trời. Mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao hãy ngợi khen Đức Chúa Trời! Các từng trời hãy reo hò: Ha-lê-lu-gia!"
149:1-9.-- Ha-lê-lu-gia! Các thánh đồ hãy ngợi khen Đức Chúa Trời! Họ hãy hát mừng đi! Họ hãy hớn hở trong Đức Chúa Trời! Núi Si-ôn hãy vui mừng! Ha-lê-lu-gia!
150:1-6.-- Hãy dùng kèn, đờn sắt và đờn cầm mà ngợi khen Đức Chúa Trời. Mọi vật có hơi thở, hãy ngợi khen Đức Chúa Trời! Ha-lê-lu-gia!
=================================

Châm Ngôn
Các lời nói khôn ngoan phần nhiều của Sa-lô-môn,
luận về các việc thực tế ở đời, và nhứt là nhấn mạnh
vào sự công bình cùng sự kính sợ Đức Chúa Trời
Sách nầy, cũng như sách Thi Thiên và Ngũ kinh của Môi-se, đã tùy theo các đầu đề của nó mà chia làm năm phần: Các châm ngôn của Sa-lô-môn (1-9); các châm-ngôn của Sa-lô-môn (10-24); các châm ngôn của Sa-lô-môn mà những tôi tớ của Ê-xê-chia đã sao lại (25-29; xem ở đoạn 25); những lời của A-gu-rơ (30; xem ở đoạn nầy); những lời của vua Lê-mu-ên (31; xem ở đoạn nầy).
Như vậy, phần lớn các Châm Ngôn được kể là của Sa-lô-môn. Ông liên quan với sách Châm Ngôn cũng gần như Đa-vít liên quan với sách Thi Thiên vậy. Hai ông đều là tác giả chánh yếu. Thi Thiên là một sách dùng khi thờ phượng Đức Chúa Trời. Còn Châm Ngôn là một sách luân lý thực hành.
Sa-lô-môn, lúc còn thanh niên, đã khát khao, thèm muốn sự tri thức và sự khôn ngoan (IVua 1V 3:9-12). Ông đã trở nên một văn hào kỳ diệu của thế giới. Kiến thức của ông là kỳ quan của thời đại. Các vua từ đầu cùng trái đất đã đến để nghe ông giảng luận. Ông đã diễn thuyết về thảo mộc học và động vật học. Ông chẳng những là một nhà khoa học, một nhà chánh trị, một nhà kinh doanh lớn lao (xem ở I Các vua 9), song còn là một thi sĩ, một nhà luân lý và một nhà truyền đạo (xem thêm ở I Các vua 4).
Châm Ngôn là một câu nói ngắn ngủi, khúc triết, minh bạch nhờ sự đối ngẫu (anthithèse ) và so sánh mà thành ra linh động. Các Châm Ngôn hoàn toàn không liên lạc với nhau. Cốt dùng cho thanh niên trước hết. Phương pháp dạy dỗ của người Đông phương là luôn luôn lặp lại những tư tưởng khôn ngoan hoặc thực tế, dưới một hình thức làm cho dính chặt vào trí óc.
Các đề mục: Khôn ngoan. Công bình. Kính sợ Đức Chúa Trời. Tri thức. Luân lý. Thanh khiết. Cần mẫn. Tự chế. Tin cậy Đức Chúa Trời. Dâng phần mười. Sử dụng tiền của cho phải cách. Tử tế với người nghèo. Giữ lưỡi mình. Khoan hồng đối với kẻ thù nghịch. Chọn bạn. Tránh người đờn bà xấu nết. Ngợi khen người nữ hiền đức. Dạy dỗ con trẻ. Siêng năng. Lương thiện. Tránh sự ăn không ngồi rồi. Tội biếng nhác. Công lý. Giúp ích kẻ khác. Sự thỏa lòng. Sự vui vẻ. Sự cung kính. Lương tri.
Kỹ thuật giải luận: Sách nầy nhằm mục đích ghi tạc trong trí những đức tánh đã được Kinh Thánh chú trọng từ đầu đến cuối. Suốt cả Kinh Thánh, bằng rất nhiều cách và bởi những phương pháp khác nhau, Đức Chúa Trời đã ban cho loài người sự dạy dỗ phong phú, từ dòng nầy đến dòng khác, từ qui tắc nầy đến qui tắc khác, đây một chút, kia một chút, để tỏ ra Ngài muốn họ sống thế nào; như vậy, nếu chúng ta không đạt tới mục đích, thì không thể chữa chối nữa. Các sự dạy dỗ trong sách Châm Ngôn nầy không được giãi bày dưới hình thức: "Đức Giê-hô-va có phán như vầy" như trong luật pháp Môi-se, trong luật pháp đó, chính những điều nầy đã được truyền dạy như là mạng lịnh trực tiếp của Đức Chúa Trời. Trái lại, các sự dạy dỗ trong sách Châm Ngôn được truyền ra như là phát xuất từ từng trải của một kẻ đã thử nghiệm đầy đủ mọi sự mà người ta có thể nhúng vào. Môi-se nói rằng: "Đây là các điều răn của Đức Chúa Trời." Còn đây, Sa-lô-môn nói rằng: "Những điều Đức Chúa Trời truyền dạy đã được từng trải chứng minh là tốt nhứt cho loài người, và yếu tố sự khôn ngoan loài người là kính sợ Đức Chúa Trời cùng vâng giữ các điều răn của Ngài." Trong bản dài ghi chép sự khải thị chính mình Ngài và ý chỉ Ngài cho loài người, Đức Chúa Trời dường như đã dùng mọi phương pháp có thể dùng được, nào điều răn, nào qui tắc, nào tấm gương (xem bí chú về sách Truyền đạo), để thuyết phục loài người rằng các điều răn của Đức Chúa Trời là thật và đáng làm khuôn phép cho đời sống. Danh tiếng của Sa-lô-môn đã làm cho lời ông nói vang dậy đến đầu cùng trái đất, và khiến ông trở thành một tấm gương cho cả thế giới về các ý tưởng của Đức Chúa Trời là rất khôn ngoan. Sách Châm Ngôn nầy được gọi là: "Quyển sách chỉ nam tốt nhứt mà thanh niên có thể làm theo để được thành công."
ChCn 1:1-32.-- Mục đích của sách nầy: Để tăng gia sự khôn ngoan, khuyên dạy, thông sáng, công bình, lý đoán, chánh trực, khôn khéo, tri thức, dè dặt, học vấn và mưu trí lành mạnh (câu 2-6). Những lời tuyệt mỹ thay! Khởi điểm là kính sợ Đức Chúa Trời (câu 7). Rồi phải chăm theo sự dạy dỗ của cha mẹ (câu 8-9). Rồi phải tránh những bạn bè hư xấu (câu 10-19). Sự khôn ngoan được nhơn cách hóa, kêu lớn tiếng để cảnh cáo loài người (câu 20-33).
2:1-22.-- Muốn có sự khôn ngoan, phải hết lòng tìm kiếm nó. Lời Đức Chúa Trời là nơi tìm thấy sự khôn ngoan (câu 6). Tiếp theo có lời cảnh cáo về "dâm phụ" (câu 16), và lời cảnh cáo nầy thường được lặp lại.
3:1-35.-- Một đoạn tuyệt mỹ luận về sự nhơn từ, thành thực, sống lâu, bình an, tin cậy Đức Chúa Trời, lấy tài vật tôn vinh Đức Chúa Trời, thạnh vượng, an ninh, hạnh phước và được phước lành.
4:1-27.-- Sự khôn ngoan là điều chánh yếu. Vậy, hãy nhận lãnh sự ngôn ngoan. Đường của người công bình càng ngày càng sáng láng, còn đường của kẻ gian ác càng ngày càng tối tăm.
5:1-22.-- Sự vui mừng và thủy chung trong đạo vợ chồng. Cảnh cáo về tình yêu không thuần khiết. Sa-lô-môn có nhiều vợ, nhưng lại khuyên người ta chớ đa mang. Ông dường như nghĩ rằng độc thê tốt hơn (câu 18-19; xem TrGv 7:28).
ChCn 6:1-35.-- Cảnh cáo về trách nhiệm trong sự giao dịch khả nghi, về tánh biếng nhác, sự giả hình xảo quyệt, kiêu căng, nói dối, gây rối, khinh thường cha mẹ và tình yêu bất chánh.
7:1-27.-- Cảnh cáo về dâm phụ mà chồng vắng nhà. Các đoạn 5, 6, 7 luận về bọn phụ nữ phóng túng. Vì Sa-lô-môn dành nhiều chỗ luận về chúng, nên chắc đương thời ấy bọn chúng khá đông.
8:1-9:18.-- Sự khôn ngoan được nhơn cách hóa thành một người nữ, mời ai nấy đến dự bữa tiệc dọn đủ cao lương mỹ vị, thật khác hẳn những người nữ hoang dâm mời họ đến uống "nước ăn cắp lấy làm ngọt ngào" (9:13-18).
10:1-12.-- Những điểm khác nhau rõ rệt giữa người khôn ngoan và kẻ điên dại, giữa người công bình và kẻ gian ác, giữa người siêng năng và kẻ biếng nhác, giữa người giàu và kẻ nghèo.
11:1-31.-- Cái cân không đúng là điều gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va. Người đờn bà có nhan sắc mà không dè dặt thì ví như đồ trang sức đeo ở mũi con heo. Linh hồn rộng rãi sẽ được béo bổ. Người nào chinh phục được linh hồn thì là khôn ngoan.
12:1-28.-- Người nữ hiền đức là vinh quang của chồng mình. Môi miệng nói dối là điều gớm ghiếc cho Đức Chúa Trời. Những vật quí báu của loài người dành cho kẻ siêng năng. Không có sự chết trên con đường của người công bình.
13:1-25.-- Ai giữ môi miệng mình, thì giữ được mạng sống mình. Hy vọng chậm đến làm cho đau lòng. Con đường của kẻ vi phạm thật là hiểm trở. Hãy cùng đi với người khôn ngoan, thì anh em sẽ hóa ra khôn ngoan.
14:1-35.-- Ai mau giận dữ, ắt sẽ hành động dại dột; ai chậm giận, thì có sự hiểu biết hơn. Sự kính sợ Đức Chúa Trời là một suối sanh mạng. Lòng bình tĩnh là sự sống của xác thịt. Ai ức hiếp kẻ nghèo, thì làm nhục Đấng tạo nên mình.
15:1-33.-- Lời đáp êm nhẹ tránh được cơn thạnh nộ. Con mắt Đức Chúa Trời canh chừng khắp mọi nơi. Lưỡi nhu mì là một cây sự sống. Lời cầu nguyện của kẻ ngay thẳng làm cho Đức Chúa Trời vui thỏa. Ai có lòng vui mừng, thì được dự tiệc luôn. Con khôn ngoan làm cho cha nó vui sướng.
16:1-33.-- Lòng người ta toan định đường lối của mình, nhưng Đức Chúa Trời hướng dẫn bước đi của họ. Sự kiêu ngạo đi trước sự hủy diệt. Mái tóc bạc là mũ triều thiên vinh hiển nếu ta thấy nó trên đường công bình.
17:1-28.-- Ai sanh ra kẻ dại dột, thì sẽ bị buồn khổ. Lòng vui mừng là vị thuốc hay. Ngay kẻ ngu dại, nếu giữ lòng bình tịnh, cũng được kể là khôn ngoan.
18:1-24.-- Miệng kẻ ngu dại gây cho nó bị hủy diệt. Chết và sống đều do quyền của lưỡi. Ai tìm được vợ, tức là tìm được điều tốt lành và nhận được ân huệ của Đức Chúa Trời. Sự khiêm nhường đi trước danh vọng.
19:1-29.-- Người vợ cẩn trọng do Đức Chúa Trời ban cho. Ai thương xót kẻ nghèo thì cho Đức Chúa Trời vay mượn, Ngài sẽ báo lại việc lành của người ấy. Trong lòng người ta có nhiều mưu toan, nhưng ý định của Đức Chúa Trời sẽ đứng vững.
20:1-30.-- Rượu là một kẻ chế nhạo. Ai tránh xa sự cãi lẫy, thì là một vinh dự, song kẻ ngu dại nào cũng ưa gây lộn. Môi miệng hiểu biết giống như ngọc báu. Những trái cân khác nhau và cái cân gian dối là điều gớm ghiếc cho Đức Chúa Trời.
21:1-31.-- Thà ở xó nóc nhà hoặc ở một xứ hoang vắng còn hơn ở chung với một người nữ hay tranh cạnh và hay quạu trong một nhà rộng lớn. Người nào bịt tai không nghe tiếng kêu cứu của kẻ nghèo, ắt cũng sẽ kêu cứu mà chẳng ai nghe. Ai giữ lưỡi mình, ắt giữ được linh hồn mình khỏi khổ nạn. Ngựa sẵn sàng ra trận, nhưng sự đắc thắng là do Đức Chúa Trời.
22:1-29.-- Thà chọn lấy danh tiếng tốt còn hơn được tiền của nhiều. Người giàu và kẻ nghèo gặp nhau: Đức Chúa Trời đã làm nên cả hai. Hãy dạy dỗ con trẻ theo đường nó phải đi, thì đến lúc già nua, nó cũng không xây bỏ đường ấy. Ai có con mắt từ thiện, thì sẽ được phước. Anh có thấy người siêng năng làm công việc chăng? Người ấy sẽ đứng trước mặt các vua.
23:1-35.-- Chớ lo làm giàu. Hãy lắng tai nghe lời cha mẹ. Hãy để khi già cả, cha mẹ được vui thỏa nơi anh. Ai mắc khổ nạn? Ấy là kẻ nán trễ bên rượu. Đến cuối cùng, rượu sẽ cắn như con rắn và chích như rắn lục.
24:1-34.-- Có sự an toàn giữa đám đông mưu sĩ. Chớ bối rối vì cớ kẻ làm ác. Tôi đi qua ruộng của kẻ biếng nhác. Nó mọc đầy gai. Tôi thấy và được dạy dỗ: Ngủ chút nữa, khoanh tay ngủ chút nữa, thì ma nghèo sẽ đến.
25:1-28.-- Một lời nói phải thời giống như trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc. Nếu kẻ thù có đói, hãy cho nó ăn, nếu khát, hãy cho nó uống, thì Đức Chúa Trời sẽ thưởng cho anh (trưng dẫn ở RoRm 12:20).
"Các người của Ê-xê-chia" (câu 1) -- Đây nói rằng "các người của Ê-xê-chia" đã sao lại bộ Châm Ngôn nầy của Sa-lô-môn (đoạn 25-29). Ê-xê-chia sống hơn 200 năm sau Sa-lô-môn, có lẽ bản thảo của Sa-lô-môn đã rách nát, hoặc giấu trong một chỗ khuất của Đền thờ. Điểm then chốt trong cuộc cải cách của Ê-xê-chia là lại làm cho ai nấy quí chuộng Lời Đức Chúa Trời (IIVua 2V 18:1-36).
26:1-28.-- Anh có thấy người nào khôn ngoan theo ý niệm của mình chăng? Kẻ ngu dại còn có hy vọng hơn hắn. Cửa xây trên bản lề thể nào, thì kẻ biếng nhác cũng trăn trở trên giường hắn thể ấy. Lưỡi dối trá ghét những kẻ nó đã làm thương tổn.
27:1-37.-- Chớ khoe mình về ngày mai, vì anh không biết một ngày có thể đem chi đến cho mình. Còn nhiều Châm ngôn về kẻ ngu dại.
28:1-29:27.-- Kẻ nào che mắt khỏi người nghèo, ắt bị nhiều điều rủa sả. Kẻ ngu dại xổ ra tất cả sự giận dữ của mình, nhưng người khôn ngoan giữ nó lại và dẹp nó đi. Giải luận thêm về kẻ ngu dại. Sa-lô-môn chẳng ưa kẻ ngu dại, và đả kích chúng không chán.
30:1-33.-- Các Châm ngôn của "A-gu-rơ." Ta chẳng biết A-gu-rơ là ai. Có lẽ ông là một người bạn của Sa-lô-môn. Sa-lô-môn ưa thích các Châm Ngôn của ông đến nỗi tưởng nên sắp chung vào sách của mình.
31:1-31.-- Lời mẹ khuyên vua. Người ta nghĩ rằng "vua Lê-mu-ên" có lẽ là một tên khác của Sa-lô-môn. Nếu vậy thì Bát-sê-ba là người mẹ đã dạy ông bài thơ tuyệt mỹ nầy. Dầu có một đám mây mờ phủ cuộc hôn nhơn của bà với Đa-vít (có lẽ bà là nạn nhơn vô phương tự vệ trong vấn đề nầy, vì Đa-vít là vua), nhưng chưa từng có bà mẹ nào nuôi dạy được đứa con lỗi lạc hơn. Là một thanh niên, Sa-lô-môn đã có tâm tình cao quí như bất cứ người nào trong lịch sử. Tuy nhiên, lúc tuổi già, ông thật đã "lìa khỏi đó," trái hẳn chính Châm Ngôn của ông (22:6). Đúng ra, bài thơ nầy luận về các bà mẹ hơn là về các vua. Đây là một bài thơ theo thể chiết cú.
================================
Truyền Đạo
Nếu không có hy vọng chắc chắn sẽ được bất diệt, thì đời sống trần gian chỉ là hư không, và điều đó đã được chứng minh bởi từng trải Sa-lô-môn.
Sa-lô-môn, tác giả sách nầy, là vị vua danh tiếng nhứt và oai hùng nhứt thế giới đương thời ông, nổi danh vì sự khôn ngoan, giàu có và sự nghiệp văn chương; xem thêm ở IVua 1V 4:1-34, 9:1-28.
"Hư không của sự hư không, thảy đều hư không, " đó là luận đề của sách nầy. Nó cũng thể hiện sự cố gắng hiến một câu đáp triết lý phải làm thế nào để sống tốt nhứt trong một thế giới mà mọi sự là hư không. Sách nầy chứa nhiều điều đẹp đẽ tột bậc và khôn ngoan tuyệt vời; nhưng điệu nhạc chính của nó thật là buồn rầu, não nuột khôn tả, thật khác hẳn sự vui mừng, hớn hở của các Thi Thiên. Trong cuộc tranh đấu dai dẳng và gây go để xây dựng vương quốc, Đa-vít, cha của Sa-lô-môn, luôn luôn reo hò, vui mừng, ca hát và ngợi khen Đức Chúa Trời. Còn Sa-lô-môn ngồi bình an, yên ổn trên ngôi vua mà Đa-vít đã kiến tạo, có của cải, danh vọng, huy hoàng, oai lực khó mơ tưởng, và sống trong xa hoa gần như là thần thoại; ông là người duy nhứt trên cả thế giới mà ta có thể gọi là sung sướng. Tuy nhiên, dầu một trong những kết luận triết lý của ông là loài người đáng phải vui mừng, nhưng điệp khúc không dứt của ông lại là: "Thảy đều hư không," và quyển sách nầy, là tác phẩm của ông lúc tuổi già, khiến ta có cảm tưởng rõ rệt rằng ông không phải là người sung sướng. Ông dùng chữ "hư không" 37 lần.
"Sự đời đời " (TrGv 3:11 -- hoặc dịch là "cõi đời đời" thì hơn) có thể gợi cho ta ý tưởng then chốt của sách nầy. Nguyên văn tiếng Hê-bơ-rơ dùng chữ nầy bảy lần (1:4, 10, 2:16, 3:11, 14, 9:6, 12:5); và dịch nhiều cách khác nhau: "luôn luôn," "sự đời đời," "từ lâu" "Ngài đã đặt Cõi Đời Đời ở nơi lòng loài người." Trong nơi sâu thẩm của bổn tánh mình, loài người thèm khát những sự vật đời đời mà không chi ở trần gian có thể thỏa mãn. Nhưng đương thời ấy, Đức Chúa Trời không khải thị nhiều về những sự vật đời đời. Nhiều chỗ trong Cựu Ước có ngụ ý nói đến hoặc nói thoáng qua về đời sau, và Sa-lô-môn dường như đã có những ý niệm mơ hồ về đời sau. Nhưng chính ĐẤNG CHRIST đã "dùng Tin Lành phô bày sự sống và sự không hề chết ra cho rõ ràng" (IITi 2Tm 1:10). Bởi sống lại từ trong kẻ chết, Đấng Christ đã chứng minh hiển nhiên cho thế giới rằng chắc chắn có sự sống bên kia mồ mả. Sống 1000 năm trước Đấng Christ, Sa-lô-môn chắc không thể có niềm tin quyết chắc về đời sau mà Đấng Christ đã ban cho thế giới. Nhưng Sa-lô-môn đã thấy đời sống trần gian tốt đẹp nhứt. Chúng ta hầu như không thể suy nghĩ về một điều nào mình muốn làm hoặc muốn có mà Sa-lô-môn lại không thể làm hoặc có tới cực độ; không có một thị dục nào mà ông không thể làm thỏa mãn bất cứ lúc nào mình muốn; ông dường như đã nhứt định rằng công việc chánh yếu ở đời là làm thỏa mãn các thị dục của mình, để xem thử mình được hoan lạc tới mực nào. Sách nầy chứa triết lý của Sa-lô-môn về đời người, và suốt cả sách có một điệu bi ai khôn tả xiết, dường như Sa-lô-môn nói rằng: "Không có gì đáng kể trong cách tôi đã sống đời mình. Thảy là hư không và làm cho ta phật ý."
Tại sao một quyển sách như vậy lại có thể là Lời Đức Chúa Trời? Vì Đức Chúa Trời đã truyền chép nó ra. Không phải tất cả ý tưởng của Sa-lô-môn là của Đức Chúa Trời (xem lời chú giải IVua 1V 11:1-43). Song những lời dạy dỗ hiển nhiên, tổng quát của sách nầy là do Đức Chúa Trời. Ngài đã ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan và cơ hội vô song để xem xét và dò biết mọi ngành của đời sống trần gian. Sau nhiều ngày nghiên cứu và thí nghiệm, Sa-lô-môn kết luận rằng nói chung, loài người ít tìm thấy hạnh phước lâu bền trong cuộc đời; và ông nhận thấy trong lòng mình có sự mong ước được một cái gì ở ngoài mình, nói ra khôn xiết. Vậy, sách nầy như đã vang lên tiếng loài người kêu xin cho được một Cứu Chúa.
Khi Đấng Christ ngự đến, thì sự "hư không" của đời tiêu mất. Tiếng kêu la đã được đáp lại. Chẳng còn "hư không" nữa, nhưng là "vui mừng," bình an," và "sung sướng." Thậm chí Đức Chúa Jêsus chẳng hề dùng chữ "sự hư không," nhưng phán nhiều về "sự vui mừng" của Ngài ngay cả dưới bóng Thập tự giá. "Vui mừng" là một trong những danh từ chánh yếu của Tân Ước. Trong Đấng Christ, loài người đã tìm được cái mà mọi thời đại mong ước, tức là sự sống đầy dẫy, tràn ngập, vui vẻ, vinh hiển, đời đời.
TrGv 1:1-4:16.-- Thảy đều hư không. Trong một thế giới mà mọi sự qua đi và chẳng làm cho thỏa mãn, Sa-lô-môn bèn lo trả lời câu hỏi nầy: "Trong một thế giới như vậy, ta giải quyết vấn đề đời sống thể nào?" (TrGv 1:3, 13, 17, 2:3, 3:9, 5:16, 6:12, 8:16). Đoạn 1. Một lời suy gẫm về sự buồn tẻ vô tận của mọi sự trần gian. Đoạn 2. Sa-lô- môn cảm thấy mọi công nghiệp lớn lao của mình chỉ là hư không, trống rỗng và vô ích. Cả đến sự khôn ngoan mà Sa-lô-môn chuyên tâm tìm kiếm và quí chuộng biết bao, cũng làm cho ông thất vọng (1:17, 18, 2:13). Đoạn 3. Nói chung, những cuộc truy hoan và khoái lạc của loài người chỉ là chạy theo gió. Đoạn 4. Mọi sự hóa ra tồi tệ hơn vì cớ tội ác và sự hung bạo của loài người tràn ngập. Nghĩ đến tình trạng ấy, Sa-lô-môn bắt kêu lên rằng: "Thà chẳng sanh ra còn hơn" (2:17, 4:2, 3, 6:3, 7:1).
5:1-10:20.-- Những châm-ngôn linh tinh, xen vào giữa có nhiều điều nhận xét khác nhau, liên quan đến tổng đề của sách nầy. Văn thể mà Sa-lô-môn ưa thích là thể châm-ngôn (xem lời chú giải sách Châm Ngôn). 7:27, 28 dường như nói qua đến hậu cung của Sa-lô-môn. Ông đã có một ngàn người vợ (IVua 1V 11:1-11). Do 7:26-28, ta đoán rằng ông đã khó giữ những cung phi bất chánh của mình trong vòng đạo nghĩa.
TrGv 11:1-12:14.-- Sa-lô-môn đáp lại câu hỏi dùng làm luận đề của ông: "Trong một thế giới mà thảy là hư không, thì loài người nên làm chi?" Câu đáp của ông rải rác khắp cả sách, và tóm tắt ở phần cuối: Hãy ăn, uống, vui chơi, làm lành, sống yên vui bên cạnh vợ mình, bất cứ tay mình thấy phải làm gì, hãy hết sức mà làm (2:24, 3:12, 13, 22, 5:18, 8:15, 9:7-10, 11:1, 9), và trên hết, hãy Kính Sợ Đức Chúa Trời, chăm chú vào ngày phán xét sau cùng (3:14, 17, 5:7, 7:18, 8:12, 13, 11:9, 12:1, 13, 14). Dầu đã hết lời than phiền về tánh chất của muôn vật thọ tạo, nhưng Sa-lô-môn không chút nghi ngờ sự thực hữu và công bình của Đấng Tạo Hóa. "Đức Chúa Trời" được ghi danh rất ít là 40 lần trong sách nầy.
Câu hỏi của Sa-lô-môn được đáp lại đầy đủ ở thơ RoRm 8:18-25, tại đó Sứ đồ Phao-lô giải thích rằng đối với con cái Đức Chúa Trời, thế giới hư không nầy sẽ được thay thế bằng một thế giới vinh hiển đời đời.
==============================

Nhã Ca Của Sa-lô-môn
Tôn vinh tình phu phụ
Một bản tình ca đặt giữa mùa xuân trăm hoa đua nở, đầy dẫy cách nói bóng và biểu tượng (images ) Đông phương, tỏ ra Sa-lô-môn rất yêu mến cõi thiên nhiên, vườn tược, đồng cỏ, vườn nho, vườn cây trái và các bầy súc vật (IVua 1V 4:33). Trong nguyên văn, sách nầy gọi là "Bản Ca của các bản ca," có lẽ để tỏ ra rằng Sa-lô-môn coi nó là hay nhứt trong số 1005 bài ca mà ông đã trứ tác (IVua 1V 4:32). Còn trong tiếng La-tinh, thì gọi là "Bài ca ngợi." Người ta cho rằng sách Nhã Ca đã được trứ tác để mừng cuộc thành hôn của Sa-lô-môn với người vợ mà ông sủng ái.
Là một thi ca, nó được các nhà học giả thông thạo cách kết cấu thi văn Hê-bơ-rơ kể là một tác phẩm tuyệt diệu. Nhưng ta khó hiểu sách nầy vì nó thình lình chuyển từ người đối thoại nầy qua người đối thoại khác và từ chỗ nầy qua chỗ khác, mà không một lời giải thích nào về sự thay đổi cảnh trí và vai trò. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, sự thay đổi người đối thoại được chỉ tỏ bằng sự thay đổi giống (genre ).
Những người đối thoại. -- Dường như rõ ràng rằng những người đối thoại gồm có: Tan phụ, tên là "Su-la-mít" (Nha Dc 6:13), vua và một đoàn cung nữ gọi là "các con gái Giê-ru-sa-lem." Cho tới lúc nầy, hậu cung của Sa-lô-môn chưa đông đúc, chỉ gồm có 60 hoàng hậu, 80 cung phi và vô số cung nữ (6:8). Về sau hậu cung tăng số, gồm 700 hoàng hậu và 300 cung phi (IVua 1V 11:3 xem bí chú ở câu nầy và cũng xem bí chú sách TrGv 7:26-28).
Tân phụ. -- Theo ý kiến thông thường và có lẽ là ý kiến đúng nhứt, thì "Sa-lu-mít" chính là A-bi-sát, người Su-nem, là "người gái trẻ... rất... lịch sự" đã hầu hạ Đấng Christ trong những ngày cuối cùng của ông (IVua 1V 1:1-4). Nàng chắc đã trở thành vợ của Sa-lô-môn, vì nếu nàng làm vợ của người khác, ắt sẽ nguy hại cho ngôi vua của Sa-lô- môn (IVua 1V 2:17, 22). Người khác lại cho rằng Tân phụ có thể là con gái của Pha-ra-ôn (IVua 1V 3:1). Một vài nhà học giả thời nay lại nêu lý thuyết rằng thiếu nữ ở đây không phải là một tân phụ của Sa-lô-môn, nhưng là tình nhơn của một gã chăn chiên và giữ lòng chung thủy với gã, mặc dầu Sa-lô-môn cố toan dụ dỗ nàng vào hậu cung của mình.
Các cách giải thích. -- Về mặt ngoài, thi ca nầy là một bài tán tụng những niềm vui của đời sống hôn nhân; song ta thấy tinh túy của nó trong những lời dịu hiền và nồng nàn diễn tả sự thân mật và lạc thú của tình phu phụ. Ví bằng nó chẳng có chi hơn nữa, nó cũng đáng có một chỗ trong Lời Đức Chúa Trời, mặc dầu Danh Ngài chẳng được ghi nhắc một lần nào. Ấy vì hôn nhân đã do Đức Chúa Trời thiết lập, và hạnh phúc và sự an lạc của loài người một phần lớn tùy thuộc thái độ hổ tương thích hợp trong những liên lạc rất thân mật của đời sống hôn nhơn.
Tuy nhiên, cả người Do-thái lẫn tín đồ Đấng Christ đã thấy trong thi ca nầy những ý nghĩa sâu nhiệm hơn là liên quan đến cuộc hôn nhơn của loài người. Người Do-thái đọc sách nầy trong ngày Lễ Vượt Qua, coi như một truyện nói bóng về cuộc di cư khỏi Ai-cập, tại đó Đức Chúa Trời đã "cưới" dân Y-sơ-ra-ên cho chính mình Ngài; ấy vì trong sách nầy, "lòng yêu thương tự nhiên của một vua oai hùng và một thiếu nữ thấp thỏi" làm thí dụ về lòng yêu thương của Ngài đối với họ. Trong Cựu Ước, dân Y-sơ-ra-ên được gọi là vợ của Đức Chúa Trời (Gie Gr 3:1, Exe Ed 16:1-63, 23:1-49).
Nói chung, tín đồ Đấng Christ coi sách Nhã Ca của Sa-lô-môn như là bản ca hôn lễ của Đấng Christ và Hội Thánh; vì trong Tân Ước, Hội Thánh được gọi là "Tân phụ của Đấng Christ" (Mat Mt 9:15, 25:1, GiGa 3:29, IICo 2Cr 11:2, Eph Ep 5:23, KhKh 19:7, 21:2, 22:17). Ấy để tỏ ra rằng niềm vui của cuộc hôn nhơn loài người là điểm đối chiếu và tiền vị của mối liên lạc hoan hỉ giữa Đấng Christ và Hội Thánh Ngài.
Tại sao một vua có cả ngàn vợ lại có thể yêu thương một người trong bọn họ đến nỗi đáng làm hình bóng về lòng yêu thương của Đấng Christ đối với Hội Thánh Ngài? Nầy, một số thánh đồ Cựu Ước đã cưới nhiều vợ. Mặc dầu ngay từ ban đầu, luật pháp của Đức Chúa Trời đã chống chủ nghĩa đa thê, theo như Đấng Christ đã tuyên bố rõ ràng, nhưng đương thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời dường như đã chiều theo các phong tục đang thạnh hành một phần nào. Vua Chúa thường có nhiều vợ. Đó là một trong những dấu hiệu của vương quyền. Vậy, sự tận tụy của Sa-lô-môn đối với giai nhơn nầy dường như là chân thành và quang minh. Lại nữa, ông là vua thuộc về gia tộc sẽ phát sanh Đấng Mê-si. Vậy, cuộc hôn nhơn của ông làm hình bóng về cuộc hôn nhơn vĩnh cửu của Đấng Mê-si với Tân phụ của Ngài, tưởng không phải là không thích đáng. Chúng tôi nghĩ rằng niềm vui của bài ca nầy sẽ lên tới tuyệt điểm khi muôn triệu tiếng "Ha-lê-lu-gia" vang lừng trong tiệc cưới Chiên Con (KhKh 19:6-9).
Theo cách giải nghĩa bóng Cựu Ước do Origène khởi xướng vào thế kỷ thứ 3 S.C., một số người nhận thấy bản thi ca nầy ám chỉ tỉ mỉ về nhiều biến cố trong đời sống Đấng Christ và lịch sử Hội Thánh. Chúng tôi tưởng tốt nhứt là đừng quá câu chấp đối với những cách giải thích ấy. Nhưng đối với chúng tôi, nó có vẻ hơi gò ép.
Nha Dc 1:1-17 -- Lòng yêu thương của tân phụ đối với vua. Phần nhiều là lời thiết tha, nồng nhiệt của nàng, xen vào có những câu đáp ngắn ngủi của vua và ban hợp xướng.
2:1-17 -- Tân phụ vui thỏa vì lòng yêu thương của vua. Hầu hết là lời nàng nói một mình về sự ôm ấp của vua.
3:1-5 -- Tân phụ chiêm bao thấy người yêu của mình biến mất, và vui mừng vì lại thấy chàng.
3:6-11 -- Đám cưới. Tại vườn ngự uyển, các cung nữ chào mừng xe đám cưới.
4:1-16-- Vua quí mến tân phụ. Nàng đáp lại, mời vua đến vườn của mình để sum vầy.
5:1-16 -- Một chiêm bao khác. Lại thấy người yêu của mình biến mất sau cuộc sum vầy; nàng tỏ lòng chân thành thương mến chàng.
6:1-13 -- Su-la-mít là người đẹp nhứt trong các người đẹp, ở giữa 140 mỹ nhơn trong cung vua; chính vua và các mỹ nhơn ấy cũng nhìn nhận nàng là đẹp nhứt.
7:1-13-- Họ tỏ lòng thành thực quí mến lẫn nhau bằng rất nhiều lời nói bóng giữa khúc ca mùa xuân.
8:1-14-- Lòng yêu thương của họ không dập tắt được, và sự phối hợp của họ không tiêu tan được. Một phần là lời của tân phụ, một phần là lời của ban hợp xướng.
====================================

Các Tiên Tri

Các sách lịch sử của Cựu Ước, từ Sáng thế ký đến Ê-xơ-tê, là truyện tích sự dấy lên và suy sụp của quốc gia Hê-bơ-rơ.
Các sách thi ca, từ Gióp đến Nhã Ca của Sa-lô-môn, đại để thuộc về hoàng kim thời đại của quốc gia Hê-bơ-rơ.
Các sách tiên tri, từ Ê-sai đến Ma-la-chi, thuộc về thời kỳ suy sụp của quốc gia Hê-bơ-rơ.
Có 17 sách tiên tri, nhưng chỉ có 16 tiên tri, vì Giê-rê-mi đã viết hai sách: Sách mang tên ông và sách Ca Thương.
Những sách nầy thường được gọi là "Đại tiên tri" và Tiểu tiên tri," kể ra như dưới:
Đại tiên tri: Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên.
Tiểu tiên tri: Ô-sê, Giô-ên, A-mốt, Áp-đia, Giô-na, Mi-chê, Na-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni, A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi.
Sự phân loại nầy căn cứ vào mực lớn, nhỏ của các sách. Ba quyển Ê-sai, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên, thì quyển nào đứng riêng cũng lớn hơn cả 12 sách Tiểu tiên tri hợp lại. Sách Đa-ni-ên gần bằng hai sách Ô-sê và Xa-cha-ri, là hai sách Tiểu tiên tri lớn nhứt hợp lại.
Phân loại theo thời gian: 13 tiên tri liên quan đến sự hủy diệt quốc gia Hê-bơ-rơ; 3 tiên tri liên quan đến sự trùng hưng quốc gia ấy.
Sự hủy diệt quốc gia Hê-bơ-rơ thực hiện làm hai giai đoạn.
Nước phía Bắc sụp đổ (734-721 T.C.). Trước và trong thời kỳ nầy có: Giô-ên, Giô-na, A-mốt, Ô-sê, Ê-sai, Mi-chê.
Nước phía Nam sụp đổ (606-586 T.C.). Trong thời kỳ nầy có: Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên, Áp-đia, Na-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni.
Quốc gia trùng hưng năm 536-444 T.C.. Trong thời kỳ nầy có: A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi.
Phân loại theo sứ điệp: Dầu còn gồm có nhiều sứ điệp (messages ) trọng đại khác nữa, song các sách Tiên tri cốt gởi như sau đây:
Cho nước Y-sơ-ra-ên: A-mốt, Ô-sê.
Cho thành Ni-ni-ve: Giô-na, Na-hum.
Cho nước Ba-by-lôn: Đa-ni-ên.
Cho những kẻ bị lưu đày tại Ba-by-lôn: Ê-xê-chi-ên.
Cho xứ Ê-đôm: Áp-đia.
Cho nước Giu-đa: Giô-ên, Ê-sai, Mi-chê, Giê-rê-mi, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni, A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi.
Mỗi người đọc Kinh Thánh phải Học Thuộc Lòng tên các sách Tiên tri nầy theo thứ tự để có thể mở ra mau lẹ.
Biến cố lịch sử đòi hỏi chức vụ của các đấng tiên tri chính là sự bội đạo của 10 chi phái lúc chấm dứt đời trị vì của Sa-lô-môn (xem ở dưới I Các vua 12). Nước phía Bắc chọn lấy sự thờ lạy bò con, là đạo của Ai-cập, làm quốc giáo, coi đó là một biện pháp chánh trị để duy trì tình trạng phân chia của hai nước. Sau đó ít lâu, họ thêm sự thờ lạy tà thần Ba-anh, và đạo nầy cũng tràn xuống nước phía Nam. Các đấng tiên tri xuất hiện trong cuộc khủng hoảng nầy, là lúc dân Đức Chúa Trời lìa bỏ Ngài, đi theo sự thờ lạy hình tượng của các dân tiếp cận, Danh Đức Chúa Trời bị trí óc người ta lãng quên, và các kế hoạch của Đức Chúa Trời để sau cùng cứu chuộc thế giới sắp thành vô hiệu.
Các tiên tri và thầy tế lễ. -- Các thầy tế lễ được chánh thức chỉ định để dạy đạo cho nhơn dân. Họ là một giai cấp truyền tử lưu tôn. Và thường là những kẻ gian ác nhứt trong nước. Tuy nhiên, họ vẫn là những thầy dạy đạo. Họ chẳng kêu la nghịch cùng tội lỗi của nhơn dân, nhưng lại đồng tình với chúng, và thành ra các tay thủ lãnh làm ác. Còn các tiên tri thì không phải là một giai cấp truyền tử lưu tôn. Mỗi người được Đức Chúa Trời trực tiếp kêu gọi. Họ được kêu gọi từ các chức nghiệp khác nhau: Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên là thầy tế lễ; có lẽ Xa-cha-ri cũng là thầy tế lễ. Ê-sai, Đa-ni-ên và Sô-phô-ni là dòng dõi nhà vua. A-mốt làm nghề chăn chiên. Còn những tiên tri khác thì ta không biết họ vốn làm gì.
Sứ mạng và sứ điệp của các tiên tri là:
1. Cố cứu nhơn dân khỏi sự thờ lạy hình tượng và tội ác.
2. Không thành công, họ bèn báo cáo rằng quốc dân sẽ bị tiêu diệt.
3. Nhưng không phải là hoàn toàn tiêu diệt. Một phần sót lại sẽ được cứu.
4. Từ phần dân sót lại nầy sẽ phát xuất một ảnh hưởng lan tràn khắp mặt đất và dắt đem muôn dân trở về cùng Đức Giê-hô-va.
5. Ảnh hưởng ấy do một Vĩ Nhân mai sau sẽ dấy lên trong gia tộc Đa-vít. Các tiên tri gọi Ngài là "Chồi." Cây của gia tộc Đa-vít vốn hùng mạnh nhứt thế giới, đã bị chặt đương thời các tiên tri để chỉ trị vì một nước nhỏ bé, bị khinh dể, và chính nước ấy lúc đó cũng không còn nữa. Thật là một dòng vua không có nước. Nhưng chính gia tộc không tiêu mất. Nó sẽ phục hồi. Từ gốc của gia tộc sẽ nẩy ra một Chồi, một Nhánh vĩ đại.
Cả thời kỳ các tiên tri đại để gồm chừng 400 năm (800-400 T.C.). Biến cố quan trọng nhứt của thời kỳ nầy là sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem vào lối giữa thời kỳ. Bằng cách nầy hoặc cách khác, có 7 tiên tri liên quan với biến cố nầy, hoặc thực sự, hoặc theo niên biểu: Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên. Áp-đia, Na-hum, Ha-ba-cúc, Sô-phô-ni. Sự sụp đổ thành Giê-ru-sa-lem là thời gian các tiên tri hoạt động nhiều nhứt, vì họ gắng ngăn cản hoặc giải thích biến cố ấy. Dầu chính Đức Chúa Trời gây nên sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, nhưng nói theo loài người, Ngài đã làm mọi sự có thể làm để cản trở tai họa ấy. Dường như Ngài thích có một cơ sở binh vực ý niệm về Đức Chúa Trời, mặc dầu cơ sở ấy bị hư hỏng hoàn toàn vì tội ác và bại hoại, hơn là không có cơ sở nào hết. Có lẽ vì đó mà Ngài cứ để cho một Giáo hội lầm lạc kia tồn tại suốt thời Trung cổ. Dẫu sao, Đức Chúa Trời cũng đã sai một đoàn Tiên tri xuất sắc đi cố gắng cứu thành Giê-ru-sa-lem.
* * *
Các Tiên Tri 2
Các tiên tri không cứu nỗi Thành Thánh đã hóa ra ô uế, bèn truyền lại đúng những lời giải thích và quả quyết của Đức Chúa Trời rằng sự suy vong của dân Ngài không có nghĩa là các kế hoạch Ngài bị hủy bỏ; rằng sau một thời gian hình phạt, sẽ có cuộc trùng hưng và một tương lai vinh hiển cho dân Đức Chúa Trời.
Sứ điệp của các Tiên tri cho xã hội. -- Sách vở kim thời giải luận các Tiên tri nhấn rất mạnh vào sứ điệp cho xã hội: Nào tố cáo sự bại hoại chánh trị, nào sự hà hiếp, nào đạo đức thúi nát của quốc dân. Tuy nhiên, điều làm cho các Tiên tri bối rối hơn hết chính là nhơn dân THž LẠY HÌNH TƯỢNG và có một quan niệm lầm lạc về Đức Chúa Trời. Chúng ta ngạc nhiên vì phần lớn các nhà văn kim thời bỏ qua điểm ấy, nhứt là trong lúc ai nấy nhìn nhận sự thực nầy: Đời sống xã hội của một nước là sản phẩm trực tiếp do tôn giáo nước ấy.
Yếu tố dự ngôn. -- Các nhà học giả kim thời có khuynh hướng giảm giá trị của yếu tố dự ngôn trong Kinh Thánh. Nhưng yếu tố dự ngôn còn đó. Ý tưởng mà cả Cựu Ước bày giải nhiều hơn hết là: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân tộc Hê-bơ-rơ, một ngày kia, sẽ trở thành Đức Chúa Trời của mọi dân tộc. Các thế hệ trứ giả Cựu Ước nối tiếp nhau, đã đi từ chỗ tổng quát đến chỗ riêng biệt trong khi mô tả chi tiết và cách thức thực hiện điều đó. Trong các sách Tiên tri, ta nhận thấy điểm nầy: Dầu chính họ không hiểu hết tầm quan trọng của một vài lời mình rao truyền, dầu một vài dự ngôn của họ bị che khuất bởi các biến cố lịch sử đương thời họ, nhưng cả truyện tích Đấng Christ và sự lan tràn đạo Đấng Christ khắp trái đất đã được mô tả trước, vừa tổng quát, vừa tỉ mỉ, bằng các lời lẽ không thể nào áp dụng cho sự kiện hoặc nhân vật nào khác trong lịch sử.
Sứ điệp của mỗi Tiên tri được tóm tắt như dưới đây:
Giô-ên: Sự hiện thấy về thời đại Tin Lành; Đức Giê-hô-va thâu nhóm muôn dân.
Giô-na: Ngụ ý tỏ ra Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên chú ý đến các kẻ thù nghịch dân ấy.
A-mốt: Nhà Đa-vít hiện nay bị dân Y-sơ-ra-ên chối bỏ, nhưng sẽ cai trị thế giới.
Ô-sê: Đức Giê-hô-va bị dân Y-sơ-ra-ên chối bỏ, nhưng một ngày kia, Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của muôn dân.
Ê-sai: Đức Chúa Trời có một phần dân sót lại, và một tương lai vinh hiển được dành cho họ.
Mi-chê: Vua sẽ ngự đến Bết-lê-hem và sẽ trị vì thế giới.
Na-hum: Thành Ni-ni-ve sắp bị đoán phạt và tiêu diệt.
Sô-phô-ni: Thực hiện một sự khải thị mới, gọi bằng một danh hiệu mới.
Giê-rê-mi: Thành Giê-ru-sa-lem phạm tội, bị đoán phạt, và tương lai sẽ được vinh hiển.
Ê-xê-chi-ên: Thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, được khôi phục, và được vinh hiển trong tương lai.
Áp-đia: Xứ Ê-đôm sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt vì thù nghịch dân Đức Chúa Trời.
Đa-ni-ên: Bốn nước, rồi tới Nước đời đời của Đức Chúa Trời gồm cả thế giới.
Ha-ba-cúc: Đến cuối cùng, dân của Đức Chúa Trời chắc sẽ toàn thắng.
A-ghê: Đền thờ thứ hai và Đền thờ tương lai nguy nga, đồ sộ hơn.
Xa-cha-ri: Vua hầu đến, dòng họ Ngài, và Nước danh tiếng vang lừng của Ngài.
Ma-la-chi: Sứ điệp cuối cùng cho dân tộc sẽ sanh ra Đấng Mê-si, nhưng hiện đang không vâng lời Đức Chúa Trời.
Khung cảnh lịch sử và niên hiệu gần đúng của các Tiên tri
Giê-rô-bô-am 933-911 Rô-bô-am 933-916 Na-đáp 911-910 A-bi-giam 915-913
Ê-la 887-886 Xim-ri 886 Ôm-ri 886-875
Giô-ram 854-843 A-cha-xia 834
Giô-a-cha 820-804 Giô-ách 843-803 Giô-ên (?) 840-830
Xa-cha-ri 748 Giô-tham 749-734 A-mốt 780-740
Phê-ca-hia 738-736
Ô-sê 730-721 Ê-xê-chia 726-697
Ma-na-se 697-642 A-môn 641-640
Giô-a-cha 608 Na-hum 630-610
Giê-hô-gia-kin 509 Ha-ba-cúc 606-586 Sê-đê-kia 597-586 Áp-đia 585
Đa-ni-ên 606-534 Ê-xê-chi-ên 592-570
Giê-hô-sua 536-516 A-ghê 520-516 Xô-rô-ba-bên 536-516 Xa-cha-ri 520-516
E-xơ-ra 547-530
====================================

Ê-sai

Tiên tri về Đấng Mê-si
Ê-sai được gọi là "Tiên tri về Đấng Mê-si," vì ông hoàn toàn thấm nhuần ý tưởng rằng dân tộc ông sẽ ban Đấng Mê-si cho thế giới, nghĩa là bởi dân tộc ấy, một ngày kia, ơn phước lớn lao và kỳ diệu sẽ từ Đức Chúa Trời giáng trên mọi nước. Ông luôn luôn mơ tưởng một thời kỳ mà công việc lớn lao, kỳ diệu giữa muôn dân đó sẽ thực hiện.
Tân Ước chép rằng Ê-sai đã "thấy sự vinh hiển của Đấng Christ và nói về Ngài" (GiGa 12:41).
Con người Ê-sai
Ông là Tiên tri của nước Giu-đa ở phía Nam, vào thời nước Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc đã bị quân A-si-ri tiêu diệt.
Ê-sai sống dưới đời trị vì của các vua Ô-xia, Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia. Ông được Chúa kêu gọi năm vua Ô-xia băng hà; nhưng một vài sự hiện thấy của ông đã xảy ra sớm hơn (xem ở EsIs 6:1). Theo truyền thoại của người Do-thái, thì ông đã bị Ma-na-se giết chết. Chúng ta có thể phỏng định niên hiệu chức vụ tích cực của ông vào khoảng năm 745-695 T.C.., như vậy là gồm 50 năm hoặc hơn nữa.
Theo truyền thoại của các đạo sư Do-thái, thì A-mốt (không phải tiên tri A-mốt), cha của Ê-sai, là anh em vua A-ma-xia. Như vậy, Ê-sai là anh em thúc bá với vua Ô-xia, và là cháu nội của vua Giô-ách. Thế thì ông có dòng máu nhà vua, và là một quí nhơn ở triều đình.
Văn phẩm của ông. -- Ông còn viết nhiều sách khác, nhưng đã thất truyền: Một tiểu sử của vua Ô-xia (IISu 2Sb 26:22), một "sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên" (IISu 2Sb 32:32). Ông vừa là sử gia, vừa là đấng tiên kiến. Tân Ước trưng dẫn lời của ông nhiều hơn bất cứ đấng tiên tri nào khác. Ông có trí óc phi thường biết bao! Trong một vài đoạn văn, ông đã trổi hơn cả Shakespeare, Milton, hoặc Homère.
Ông tuận đạo. -- Trong sách "Talmud " mà nhiều Giáo phụ của Hội Thánh công nhận là chơn chánh, có một truyền thoại rằng ông phản đối các chiếu chỉ của Ma-na-se liên quan đến sự thờ lạy hình tượng, nên bị bắt, bị cột giữa hai tấm gỗ, rồi cưa làm đôi. Như vậy, ông đã chết đau đớn và khủng khiếp hơn hết. Người ta cho rằng thơ HeDt 11:37 ngụ ý nói đến cảnh tuận đạo của Ê-sai đây.
Bối cảnh A-si-ri trong chức vụ của Ê-sai
150 năm trước thời của Ê-sai, đế quốc A-si-ri đã bành trướng và "nuốt" nhiều nước lân cận. Vào năm 840 T.C., nước Y-sơ-ra-ên, dưới đời trị vì của Giê-hu, đã bắt đầu triều cống đế quốc A-si-ri. Năm 734 T.C., khi Ê-sai còn là một thanh niên, thì quân A-si-ri đã bắt hầu hết dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc đi làm phu tù. 13 năm sau (721 T.C.), thành Sa-ma-ri sụp đổ, và phần dân Y-sơ-ra-ên còn sót lại cũng bị bắt đi. Rồi mấy năm sau nữa, quân A-si-ri xông vào xứ Giu-đa, hủy phá 46 thành trì kiên cố, và bắt 200.000 người đi làm phu tù. Rốt lại, năm 701 T.C., khi Ê-sai đã cao tuổi, quân A-si-ri bị chặn lại trước vách thành Giê-ru-sa-lem, rồi chúng bị một thiên sứ của Đức Chúa Trời đánh cho đại bại. Như vậy, suốt đời Ê-sai ở dưới bóng hăm dọa của đế quốc A-si-ri, và chính ông đã chứng kiến tay chúng hủy phá cả nước mình, chỉ trừ ra thành Giê-ru-sa-lem.
Bí Chú Khảo Cổ: Cuốn sách của Ê-sai
Theo chỗ chúng ta biết, thì hết thảy nguyên bổn các sách Kinh Thánh đã thất lạc, Kinh Thánh của chúng ta ngày nay gồm những bản sao của những bản sao. Các bản sao nầy chép bằng tay cho tới khi sáng chế được máy in, nhằm năm 1454 S.C..
Các sách Cựu Ước đã viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Còn các sách Tân Ước viết bằng tiếng Hy-lạp. Các bản thảo toàn bộ Kinh Thánh cũ nhứt mà ta được biết và hiện còn đã có từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Các bản ấy bằng tiếng Hy-lạp, và về phần Cựu Ước, thì có quyển Septante, là bản dịch Cựu Ước từ tiếng Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp, nhằm thế kỷ thứ 2 T.C..
Các bản thảo Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ cũ nhứt mà ta được biết và hiện còn, thì đã có từ khoảng 900 năm S.C.. Bản Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ gọi là "Messoretic Text " đã căn cứ vào các bản thảo trên đây và được dùng để dịch Cựu Ước ra tiếng Anh. Bản "Messoretic Text " là kết quả của sự so sánh mọi bản thảo sẵn có và do nhiều dòng văn sĩ (scribes ) khác nhau sao lại những bản sao có từ trước. Các bản thảo nầy khác nhau rất ít, nên các nhà chuyên khảo cứu tiếng Hê-bơ-rơ đều đồng ý rằng trừ một vài điểm dị đồng không đáng kể, bản Kinh Thánh (tiếng Anh) của chúng ta đúng như nguyên bổn.
Tới nay, năm 1947, tại 'Ain Fashkha, cách Giê-ri-cô chừng 7 dặm về phía Nam và cách Biển Chết 1 dặm về phía Tây, một số người Ả-rập du mục chở hàng hóa từ thung lũng sông Giô-đanh tới làng Bết-lê-hem, đang tìm một con dê lạc mất tại một dòng suối nông cạn đổ vào Biển Chết, bỗng tới cái hang đã sụp đổ một phần; trong đó, họ tìm thấy một số bình vỡ có những cuốn sách góc ló ra ngoài. Bọn người du mục bèn kéo các cuốn sách ra, đem đi giao cho Nữ tu viện Thánh Mác của Giáo hội Chánh thống phái Si-ry tại Giê-ru-sa-lem, rồi những vị phụ trách nơi đây lại giao cho Mỹ quốc Đông phương Khảo cứu Học viện để xét xem giá trị thể nào.
Người ta nhận ra một trong những cuốn sách nầy là Sách Ê-Sai chép cách đây 2000 năm, và 1000 năm cũ hơn bất cứ bản thảo nào của bất cứ sách nào trong Kinh Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ mà ta được biết. Thật là một Sự Phát Giác Lạ Lùng!
Cuốn sách nầy viết trên giấy da chiên thô sơ, dài chừng 8 thước tây, do nhiều mảnh dài 38 phân và rộng 25 phân khâu liền với nhau, toàn là chữ Hê-bơ-rơ thời cổ; và có bằng cớ chứng tỏ rằng sách đã viết vào thế kỷ 2 T.C..
Cuốn sách nầy và nhiều cuốn sách khác nguyên thủy, đã được bọc trong vải gai, ngoài phết sáp ong đen, rồi giấu kín trong những bình bằng đất. Rõ ràng lắm, chúng là một phần thơ viện của dân Do-thái, đã được giấu nơi hang đá chơ vơ nầy trong lúc nguy hiểm, có lẽ đương thời quân La-mã chinh phục xứ Giu-đê.
Về nội dung, cuốn nầy giống in sách Ê-sai trong Kinh Thánh của chúng ta; thật là tiếng nói ở trong bụi đất từ 2000 năm nay, do Đức Chúa Trời gìn giũ một cách lạ lùng, để xác nhận Kinh Thánh là chơn chánh. Ông W.F. Albright gọi nó là "bản thảo quan trọng nhứt phát giác được đương thời nay" (xem số 1948 và 1949 của tạp chí "Mỹ quốc Đông phương Nghiên cứu Học viện" và tạp chí "Nhà Khảo cổ Kinh Thánh").
Sự nghiệp vĩ đại của Ê-sai là giải cứu thành Giê-ru-sa-lem khỏi tay quân A-si-ri. Chính là nhờ lời ông cầu nguyện, lời ông khuyên bảo vua Ê-xê-chia và sự can thiệp trực tiếp lạ lùng của Đức Chúa Trời, mà đạo quân A-si-ri dũng mãnh đáng sợ đã bị đánh bại trước vách thành Giê-ru-sa-lem. Chính Ê-sai đã cứu thành ấy lúc sự đoán phạt dường như chắc chắn (xem đoạn 36 và 37). Dầu San-chê-ríp, vua A-si-ri, còn sống 20 năm sau cuộc thất bại nầy, nhưng hắn không hề tiến đánh thành Giê-ru-sa-lem nữa.
Những vua Giu-đa đồng thời với Ê-sai
Ô-xia: (787-735 T.C.). Một vua tốt. Đời trị vì lâu dài và thành công mỹ mãn.
Giô-tham: (749-734 T.C.). Một vua tốt. Phần lớn đồng trị vì với Ô-xia.
A-cha: (741-726 T.C.). Một vua rất gian ác. Xem thêm ở dưới II Sử ký 28.
Ê-xê-chia: (726-697 T.C.). Một vua tốt. Xem ở dưới II Sử ký 29.
Ma-na-se: (697-542). Một vua rất gian ác. Xem ở dưới II Sử ký 33.
Các vua Y-sơ-ra-ên đồng thời với Ê-sai
Giê-rô-bô-am II: (790-749 T.C.). Một đời trị vì lâu dài, thạnh vượng, chuyên thờ lạy hình tượng.
Xa-cha-ri: (748). Bị mưu sát.
Sa-lum: (748). Bị mưu sát.
Ma-na-hem: (748-738 T.C.). Tàn ác tột bậc.
Phê-ca-hia: (738-736 T.C.). Bị Phê-ca mưu sát.
Phê-ca: (748-730 T.C.). Dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc bị bắt làm phu tù (734 T.C.).
Ô-sê: (730-721 T.C.). Thành Sa-ma-ri bị chiếm (721 T.C.). Nước phía Bắc bị diệt vong.
Bí Chú Khảo Cổ: Sa-gôn
Sách EsIs 20:1 có chép: "Sa-gôn, vua A-si-ri, sai Ta-tân đến Ách-đốt vây thành và chiếm lấy." Trong tất cả văn chương cổ hiện còn, ta chỉ biết đó là chỗ duy nhứt có ghi tên Sa-gôn. Các nhà phê bình đã nói rằng Kinh Thánh ghi tên một vua mà không hề ai biết là có thật, thì đã phạm một lầm lỗi về phương diện lịch sử.
Nhưng, lạ lùng thay, năm 1842, ông Botta đã tìm thấy di tích của cung điện Sa-gôn tại Khorsabad, ở phía Bắc thành Ni-ni-ve, có những kho tàng và bi văn tỏ ra rằng Sa-gôn là một trong những vua A-si-ri oai hùng nhứt! Nhưng tên ông đã biến mất khỏi lịch sử, trừ ra lời ghi đơn độc trong sách Ê-sai, cho tới khi nhà khảo cổ Botta ngày nay phát giác được.
Những năm gần đây, nhơn viên Đông phương Học viện đã đào bới di tích cung điện Sa-gôn, gồm nơi Sa-gôn thiết triều, ngai của ông và con bò rừng to lớn bằng đá canh gác lối vào cửa, v.v...
Do các bi văn, ta được biết rằng Sanh-ma-na-sa đã chết đang lúc vây hãm thành Sa-ma-ri, có Sa-gôn kế vị và hoàn tất cuộc chiếm cứ thành ấy. Hơn nữa, để chứng minh lời trưng dẫn sách 20:1 trên kia, một bi văn của Sa-gôn chép rằng: "Azuri, vua Ách-đốt, toan tính trong lòng không triều cống nữa. Trong cơn tức giận, ta kéo đoàn vệ binh thường trực đi đánh Ách-đốt. Ta chiếm được Ách-đốt và Gát: Ta cướp của báu và nhơn dân của hai thành nầy, rồi đem dân các xứ phía Đông đến ở đó. Ta nhận cống phẩm của các xứ Phi-li-tin, Giu-đa, Ê-đôm và Mô-áp."
EsIs 1:1-31-- Tội ác khủng khiếp của nước Giu-đa
Lời khủng khiếp tố cáo dân chúng đây dường như ở vào khoảng giữa đời trị vì của Ê-xê-chia, sau khi nước phía Bắc bị diệt vong, và sau khi A-si-ri đã xâm lăng xứ Giu-đa, bắt một phần lớn nhơn dân đi làm phu tù, chỉ còn sót lại thành Giê-ru-sa-lem (câu 7-9). Ê-xê-chia là một vua hiền đức, nhưng các cuộc cải cách của ông chỉ mới "cào sơ" cái vỏ ngoài đời sống thúi nát của nhơn dân. Trận gió lốc khủng khiếp do quân A-si-ri mỗi ngày mỗi gần hơn. Nhưng họ vẫn chẳng đổi khác chi, cứ việc nhảy múa. Quốc gia bại hoại không tự làm cho mình tinh sạch, nhưng lại càng tỉ mỉ chú ý che đậy bằng sự giả bộ nhiệt thành dự các nghi lễ tôn giáo. Lời Ê-sai đay nghiến tố cáo sự đạo đức giả hình của họ (câu 10-17) khiến ta nhớ lời Đức Chúa Jêsus lên án các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, chẳng chút thương xót (Mat Mt 23:1-39). Ta không nên hiểu rằng những lời nầy có ý giảm bớt cái phận sự trung tín dự các cuộc thờ phượng trong Nhà Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời truyền lịnh phải có các cuộc thờ phượng ấy. Ý chính ở đây là đối với "Sô-đôm" (câu 10), sự phô trương tôn giáo chẳng có ích lợi chi cả. Chỉ có sự ăn năn thành thật và sự vâng lời mới cứu được họ (câu 16-23). Đoạn, Ê-sai từ bức tranh thê thảm xây qua ngày Si-ôn được tẩy sạch và được cứu chuộc, còn kẻ ác bị bỏ mặc cho cháy đời đời (câu 24-31).
EsIs 2:1-4:6-- Sự hiện thấy về thời đại Đấng Christ
Ba đoạn nầy dường như giải rộng ý tưởng sau chót của đoạn 1: Vinh quang tương lai của Si-ôn khác hẳn với sự đoán phạt giáng trên kẻ ác. Lời nhắc đến hình tượng và thói tục ngoại bang lan tràn (2:6-9) khiến ta có thể minh xác rằng sự hiện thấy nầy xảy ra dưới đời trị vì của A-cha.
Si-ôn sẽ là trung tâm của nền văn minh thế giới, trong một kỷ nguyên bốn phương thiên hạ hòa bình vô tận (2:2-4). Những lời lạc quan tuyệt diệu nầy đã thốt ra trong thời kỳ thành Giê-ru-sa-lem thật là một "hố phân" ô uế, bại hoại. Bất cứ thời đại ấy được thực hiện thể nào, lúc nào và ở đâu, nó cũng sẽ là cơ nghiệp của dân Đức Chúa Trời, còn kẻ ác thì bị loại ra. Xem thêm ở dưới đoạn 11:6-9.
Hình tượng và kẻ thờ lạy hình tượng sẽ bị đoán phạt (2:5-22). Sự đau đớn và lưu đày đang đợi chờ dân Giu-đa vì cớ tội lỗi họ (3:1-15), kể cả bọn phụ nữ Giê-ru-sa-lem chai đá, ăn bận đúng thời trang (3:16-26). Ấy cũng như bọn phụ nữ xa hoa ở thành Sa-ma-ri (AmAm 4:1-3). "Bảy người nữ sẽ bắt lấy một người nam" (EsIs 4:1), vì bọn đờn ông bị giết ngoài mặt trận.
"Chồi " hầu đến (4:2-6). Đây là lần đầu tiên Ê-sai nói đến Đấng Mê-si hầu đến. Danh Ngài là "CHỒI," nghĩa là một Nhánh nứt ra từ cái gốc cây nhà Đa-vít đã đổ nát (11:1, 53:2, Gie Gr 23:5, 33:15, XaDr 3:8, 6:12). Ngài là Đấng sẽ tẩy sạch sự ô uế của Si-ôn, và khiến Si-ôn thành nguồn ơn phước cho thế giới.
5:1-30 -- Bài ca về vườn nho
Đây là một bản ai ca. Sau bao nhiêu thế kỷ được Đức Chúa Trời săn sóc lạ lùng hơn cả, tới nay vườn nho của Ngài, tức là dân Ngài, chẳng sanh trái chi cả, làm cho Ngài thất vọng, đến nỗi bị Ngài từ bỏ và chặt đi. Lời Đức Chúa Jêsus phán thí dụ về vườn nho (Mat Mt 21:33-45) dường như là hồi thanh và bài giải rộng thí dụ trên đây. Những tội lỗi bị đặc biệt tố cáo ở đây là: Tham lam, bất công và say sưa. Những sản nghiệp rộng lớn của người giàu đã thâu được bằng cách bốc lột kẻ nghèo, chẳng bao lâu sẽ trở thành đất hoang. Một "bát" (câu 10) có 36 lít. Một "ô-me" có 11 thùng; một "ê-pha" là một thùng. Ấy nghĩa là mùa gặt sẽ kém số hột giống đã đem theo. "Phải bắt làm phu tù" (câu 13); trong nguyên văn, câu nầy ở thì quá khứ cũng như Ê-sai 53; ấy vì tương lai chắc chắn xảy ra đến nỗi nói như là việc đã qua rồi. Lại nữa, đương thời ấy, một phần lớn nhơn dân cũng đã đi làm phu tù rồi. "Dùng đõi xe kéo tội lỗi" (câu 18), nghĩa là bào chữa sự hư hoại của mình bằng cách ngụy biện và giễu cợt cái ý tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ hình phạt họ. Những dân tộc từ xa sẽ đến xâm lăng (25-30). Người A-si-ri đương thời Ê-sai và, 100 năm sau, người Ba-by-lôn hủy phá thành Giê-ru-sa-lem. Rồi tới năm 70 S.C., người La-mã đánh một đòn chí tử, làm cho quốc gia Do-thái không sanh tồn nữa.
6:1-13 -- Ê-sai được kêu gọi
Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh không đồng ý về sự hiện thấy nầy có thể xảy ra trước các sự hiện thấy ở năm đoạn đầu. Các niên hiệu ghi trong sách nầy đều theo thứ tự niên đại: 6:1, 7:1, 14:28, 20:1, 36:1. Sự kiện nầy tỏ ra rằng sách viết theo thứ tự niên đại tổng quát, nhưng không buộc phải đúng từng chi tiết. Có lẽ lúc về già, Ê-sai sắp lại các sự hiện thấy mình đã viết ra ở những giai đoạn khác nhau của chức vụ lâu dài; ông đã theo thứ tự ý tưởng một phần nào, nên việc ở một vài đoạn sau lại thật xảy ra trước những đoạn trước.
Người ta cũng có ý kiến khác nhau về đây là Ê-sai được kêu gọi lần đầu tiên đi hành chức tiên tri, hay là ông được giao cho một sứ mạng đặc biệt. Ở 1:1 chép rằng một phần chức vụ của ông đã thi hành đương thời vua Ô-xia, còn sự kêu gọi ở đây lại xảy ra năm vua ấy băng hà; như vậy, ngụ ý rằng trước đó ông cũng đã rao giảng, và sự kêu gọi nầy là Đức Chúa Trời cho phép ông lên tiếng.
Cứ bề ngoài mà xét, thì chức vụ đặc biệt mà Chúa kêu gọi ông làm dường như là khiến cho quốc dân cứng lòng cực điểm ngõ hầu sự hủy diệt chắc chắn xảy đến (câu 9-10). Nhưng, lẽ tự nhiên, mục đích của Đức Chúa Trời chẳng phải là làm cho quốc dân càng cứng lòng trong tội lỗi, mà là khiến họ ăn năn để được cứu khỏi bị hủy diệt. Tất cả chức vụ của Ê-sai, cùng với những sự hiện thấy kỳ diệu, mà tuyệt điểm là một trong những phép lạ vĩ đại nhứt của các thời đại, có thể nói là dường như Đức Chúa Trời nôn nả phất cờ đỏ để làm cho dân Y-sơ-ra-ên dừng lại, chớ không cứ điên cuồng nhào tới vùng nước xoáy. Nhưng khi một dân tộc cố quyết chống lại Đức Chúa Trời, thì cả đến sự thương xót của Ngài kết quả cũng chỉ làm cho họ cứng lòng hơn.
"Cho đến chừng nào?" (câu 11). Nghĩa là: Phương thức làm cho cứng lòng nầy sẽ tiếp tục cho đến chừng nào? Đáp lại: Cho đến khi xứ sở bị hoang vu và nhơn dân bị bắt đi (câu 11-12). "Một phần mười" (câu 13). Sẽ có một phần sót lại, nhưng rồi cũng bị hủy diệt, và chỉ còn lại cái gốc từ đó một Nhánh sẽ nẩy ra. Lời nầy rao truyền năm 735 T.C.. Một năm sau, người Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc bị quân A-si-ri bắt đi làm phu tù. Và 14 năm sau, tất cả phần sót lại của nước phía Bắc sụp đổ (721 T.C.), chỉ có nước Giu-đa còn lại (gần "một phần mười," vì là một trong số 12 chi phái). Một trăm năm sau, nước Giu-đa cũng bị tiêu diệt.
7:1-25 -- Con trẻ "Em-ma-nu-ên "
Lời tiên tri nầy rao truyền trong cơ hội nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri liên minh xâm lăng nước Giu-đa. Ban đầu, chúng tấn công nước Giu-đa riêng biệt (IISu 2Sb 28:5-6), rồi sau chúng hiệp nhau mà tấn công (IIVua 2V 16:5). Mục đích của chúng là đặt một vua khác thế cho A-cha (câu 6). A-cha bèn xin vua A-si-ri tiếp cứu (IIVua 2V 16:7. Đáp lời xin ấy, vua A-si-ri xâm lăng nước Y-sơ-ra-ên và xứ Si-ry, bắt dân chúng đi làm phu tù (IIVua 2V 15:29, 16:9). Đó là cuộc lưu đày "Ga-li-lê" (734 T.C.).
Lúc quân Sy-ri và Y-sơ-ra-ên mới tấn công thành Giê-ru-sa-lem, thì Ê-sai dám quả quyết với A-cha rằng cuộc tấn công ấy sẽ thất bại, nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri sẽ bị tiêu diệt, còn nước Giu-đa sẽ được cứu thoát. Người ta cho rằng "65 năm" (câu 8) gồm khoảng thì giờ từ cuộc lưu đày người Y-sơ-ra-ên lần thứ nhứt (734 T.C.) cho tới khi Ê-sạt-Ha-đôn định cư những người ngoại bang vào khoảng năm 670 T.C.. (IIVua 2V 17:24, Exo Er 4:2).
"Nữ đồng trinh" và con trai nàng, là "Em-ma-nu-ên" (câu 10-16). Sự trạng nầy được gọi là "một điềm," cốt để làm cho A-cha đang hoài nghi sẽ tin quyết ở sự giải cứu mau lẹ. Có thể có nghĩa rằng hai nước xâm lăng kia bị tiêu diệt vào lúc một thiếu nữ khi ấy còn đồng trinh, sẽ lấy chồng, sanh một con trai, và nuôi dạy nó cho tới khi phân biệt được điều lành, điều dữ. Nhưng sự trạng ấy là "một điềm" ở chỗ nào? "Điềm" là một phép lạ thực hiện cốt để chứng minh điều gì. "Nữ đồng trinh" không được chỉ đích danh, nhưng chắc chỉ về một điều gì rất phi thường sẽ xảy ra ngay lập tức trong gia tộc Đa-vít (tức là chính gia tộc A-cha). Điều gì đó đã không được giải thích thêm. Đây là một trường hợp hòa trộn các bức tranh ở chơn trời gần và chơn trời xa, rất thông thường trong các sách tiên tri. Tánh cách đế vương của con trẻ được tỏ ra ở đoạn EsIs 8:8, và thừa tiếp văn tỏ ra con trẻ ấy chính là Con Trẻ Lạ lùng ở đoạn 9:6-7, vả Con Trẻ Lạ lùng đó không thể là người nào khác trừ ra Đấng Mê-si hầu đến. Sách Mat Mt 1:23 đã trưng dẫn lời nầy theo ý nghĩa ấy. Vậy, đang khi Ê-sai nói với A-cha về điềm trong chính gia tộc ông, tức là gia tộc Đa-vít, thì Đức Chúa Trời chiếu trong trí óc ông hình ảnh của điềm vĩ đại hơn bội phần sẽ hiển hiện trong gia tộc Đa-vít: Ấy là Con Trai Đa-vít, oai hùng hơn ông, sẽ do nữ đồng trinh sanh ra.
Nước Giu-đa sẽ bị quân A-si-ri làm cho hoang vu (câu 17-25). Đây chính là quân A-si-ri đang giúp đỡ nước Giu-đa chống lại nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri. Việc nầy đã xảy ra lúc sanh tiền của Ê-sai, chỉ có thành Giê-ru-sa-lem còn lại.
EsIs 8:1-23 -- "Ma-he-Sa-la-Hát-Bát "
Có ba con trẻ được ghi tên, liên quan đến cuộc xâm lăng của quân Y-sơ-ra-ên và quân Sy-ri: Một người thuộc về gia tộc Đa-vít, là "Em-ma-nu-ên" (7:13-14), hai người thuộc về gia đình Ê-sai, là "Sê-a-gia-súp" (7:3) và "Ma-he-Sa-la-Hát-Bát" (8:1-4).
"Sê-a-gia-súp" nghĩa là: "Một phần còn sót sẽ trở về." Một trăm năm trước khi xảy ra, Ê-sai đã coi việc dân Giu-đa bị bắt qua Ba-by-lôn làm phu tù như thực hiện rồi; nhưng ông được sự hiện thấy về một phần còn sót lại sẽ được cứu, bèn đặt tên con trai mình theo ý đó. Phần sót lại ấy và tương lai vinh hiển của họ chính là đề tài của sách Ê-sai.
"Ma-he-Sa-la-Hát-Bát nghĩa là: Chiến lợi phẩm đến mau, mồi tới vội vàng," tức là xứ Sy-ri và nước Y-sơ-ra-ên sẽ bị cướp bốc gấp. Như vậy, Ê-sai đặt tên con để tỏ ý sẽ có sự giải cứu mau lẹ, thì đó là cách ông đã nhấn mạnh vào những điều mình đã dự ngôn ở 7:4, 7, 16. Việc nầy xảy ra mau chóng, đúng như Ê-sai đã nói. Đạo quân A- sy-ri toàn thắng tràn vào nước Giu-đa (theo như đã dự ngôn -- câu 8), và chỉ bị chận lại nhờ sự can thiệp trực tiếp của Đức Chúa Trời (37:36).
Như vậy, tên các con trai của Ê-sai thể hiện ý tưởng trong sự giảng dạy hằng ngày của ông: Sự giải cứu hiện tại, cảnh lưu đày hầu đến, và sự vinh hiển tương lai.
Sự sầu thảm và bóng tối tăm của cảnh phu tù (câu 9-22). Chúa truyền cho Ê-sai hãy chép lời tiên tri của mình, và giữ lại để tham chiếu trong ngày nó được ứng nghiệm (câu 16).
9:1-20 -- Con Trẻ Lạ lùng
Sự hiện thấy tuyệt vời về Đấng Mê-si nằm trong khung cảnh suy vong của nước Y- sơ-ra-ên mà Ê-sai vừa mới dự ngôn ở đoạn 7 và đoạn 8. Sa-bu-lôn và Nép-ta-li (câu 1), là khu vực Ga-li-lê, sẽ sụp đổ đầu tiên trước mặt quân A-si-ri (IIVua 2V 15:29). Nhưng một ngày kia, chính khu vực ấy sẽ được cái vinh dự cao tột, là hiến cho thế giới Đấng cứu chuộc loài người và Vua muôn đời. Ở EsIs 2:2-4, Ê-sai đã thấy trong tương lai, Si-ôn sẽ cầm quyền cai trị cả thế giới; ở 4:2-6, ông thấy chính vua (GiGa 12:41); tới EsIs 7:14, ông dự ngôn về Ngài do nữ đồng trinh sanh ra. Tại đây (9:6-7), thần tánh và ngôi đời đời của Ngài được mô tả bằng những lời vừa ôn hòa, vừa oai nghiêm (xem thêm ở dưới đoạn 11 và 12).
Sa-ma-ri cố quyết chẳng ăn năn (9:8-10:4). Theo thói quen thường đột ngột chuyển từ lúc đương thời mình qua tương lai và ngược lại, Ê-sai thình lình xây mắt qua Sa-ma-ri. Phần lớn dân Y-sơ-ra-ên đã bị bắt đi làm phu tù năm 734 T.C.; nhưng Sa-ma-ri cầm cự được cho tới năm 721 T.C.. Những dòng chữ nầy dường như liên quan đến khoảng 13 năm ở giữa hai biến cố trên đây; trong thời gian nầy, đám dân còn sót không tự tỉnh trước quốc nạn khủng khiếp, nhưng cứ bất chấp cả Đức Chúa Trời lẫn quân A-si-ri. Đây là một bài thơ có 4 đoạn, mỗi đoạn chấm dứt bằng cùng một điệp khúc cảnh cáo dân Sa-ma-ri về số phận dành cho họ.
10:5-34 -- Quân A-si-ri tiến đến
Đoạn nầy chép sau khi Sa-ma-ri sụp đổ (câu 11), và tỏ ý bất chấp đạo quân A-si-ri đang khoe khoang mà tiến vào nước Giu-đa, đến tận cổng thành Giê-ru-sa-lem. Các thành ghi tên ở câu 28-32 ở ngay phía Bắc Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Trời đã dùng quân A-si-ri hành phạt nước Y-sơ-ra-ên, nhưng đây Ngài cảnh cáo họ chớ đánh giá sức mạnh của chúng quá mức (câu 15), và hứa sẽ đánh cho chúng thảm bại (câu 26), y như quân Ma-đi-an đã bị Ghê-đê-ôn đánh bại (Cac Tl 7:19-25) và quân Ê-díp-tô đã bị đánh bại tại Biển Đỏ (XuXh 14:1-31). Cả hai cuộc thắng đó là phép lạ vĩ đại. Một năm sau khi hủy diệt Sa-ma-ri, Sa-gôn đã quay về phía Nam, xâm lăng nước Giu-đa (720 T.C.), chiếm một số thành Phi-li-tin, và đánh bại đạo quân Ai-cập. Lại nữa, năm 713 T.C., đạo quân của Sa-gôn (người ta cho là do San-chê-ríp, con trai ông, thống lãnh) xâm lăng nước Giu-đa và các xứ Phi-li-tin, Ê-đôm, Mô-áp. Rồi tới năm 701, San-chê-ríp cầm đầu một đạo quân đông đảo, xông vào nước Giu-đa. Lúc nầy Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài, là đánh cho quân A-si-ri một đòn thình lình và mạnh mẽ đến nỗi chúng không hề kéo đến đánh Giê-ru-sa-lem nữa (EsIs 37:36).
11:1-12:6-- "Chồi " và Nước của Ngài
Đây là giải rộng các đoạn 2:2-4, 4:2-6, và 9:1-7. Tại đây, Ê-sai lại thình lình đưa mắt từ sự chiến thắng đạo quân A-si-ri qua tương lai và hiến chúng ta một bức tranh vinh hiển hơn hết về thế giới hầu đến mà ta được thấy trong cả Kinh Thánh. Đây là một thế giới chẳng có chiến tranh, dưới quyền trị vì của một Vua công bình, nhơn ái, thuộc dòng Đa-vít; thế giới nầy gồm những người được cứu chuộc giữa muôn dân cùng phần dân Do-thái còn sót lại và được khôi phục trong ngày toàn thắng; khi ấy, hết thảy phần tử đối nghịch, gọi bóng là những quân thù lân cận của Giu-đa (câu 14), sẽ bị hạ xuống. Chúng ta không biết tình trạng nầy sẽ xảy ra trong thế giới bằng thịt và huyết của ta đây, hay là trong một kỷ nguyên ở bên kia bức màn. Nhưng ta biết chắc sẽ có, cũng như buổi sáng tiếp theo ban đêm vậy. Đề mục nầy được tiếp tục được giải luận ở 25:6. Đoạn 12 là một bài ca ngợi ngày chiến thắng hân hỉ mà Đức Chúa Trời đã đặt ở môi miệng Ê-sai; đây là một bản thánh ca của Thiên đàng mà hết thảy chúng ta sẽ hát khi tới đó.
13:1-23:18-- Sự Phán Xét Các Nước: Ba-by-lôn, Phi-li-tin, Mô-áp, Đa-mách, Ê-thi-ô-bi, Ai-cập, Đu-ma, A-ra-bi, Ty-rơ.


Thánh Kinh Lược Khảo 2
Tác giả: Henry H. Halley
13:1-4, 14:1-27 -- Ba-by-lôn suy vong
Đương thời Ê-sai, A-si-ri là bá chủ thế giới. Ba-by-lôn vốn là một chư hầu của A-si-ri. Ba-by-lôn lên địa vị cường quốc bá chủ thế giới năm 606 T.C., và suy vong năm 536 T.C.. Như vậy Ê-sai báo cáo sự suy vong của Ba-by-lôn 100 năm trước khi nó dấy lên. Vậy, các nhà phê bình kim thời phát biểu ý kiến rằng đó không thể là dự ngôn của Ê-sai, mà là của một tiên tri nào sau ông. Tuy nhiên, 13:1 đặc biệt quả quyết rằng đây là lời của Ê-sai.
Sự huy hoàng mà Ba-by-lôn vươn tới 100 năm sau thời Ê-sai, để trở thành thủ đô của thế giới trước kỷ nguyên Đấng Christ, "sự vinh hiển các nước" (13:19), đã được tỏ rõ trong sự hiện thấy ở đây, dường như Ê-sai đã có mặt ở đó. Ấy là Thần Đức Chúa Trời đã soi sáng trí óc Ê-sai một cách lạ lùng. Nhưng gánh nặng của lời tiên tri nầy là sự suy vong của Ba-by-lôn, đã được mô tả tỉ mỉ đến nỗi chúng ta kinh sợ và ngạc nhiên vô cùng. Người Mê-đi là một dân tộc hầu như chẳng ai biết đến đương thời Ê-sai, nhưng đã được chỉ danh là kẻ hủy diệt Ba-by-lôn (13:17-19).
Đại ý của lời tiên tri: Ba-by-lôn sẽ thay thế A-si-ri (14:25); Mê-đi sẽ thay thế Ba-by-lôn (13:17), và Ba-by-lôn sẽ tiêu diệt đời đời (13:19-22, 14:22-23). Hãy xem ở dưới IIVua 2V 25:1-30 để thấy lời tiên tri lạ lùng nầy đã được ứng nghiệm.
Điểm hào hứng đặc biệt cho dân Do-thái, đồng bào của Ê-sai, là sư suy vong của Ba-by-lôn có nghĩa là đoàn phu tù sẽ được phóng thích (EsIs 14:1-4). Trong vòng một năm sau khi Ba-by-lôn suy vong, Si-ru, vua Mê-đi-Ba-tư, đã ra chiếu chỉ cho phép dân Do-thái trở về cố quốc (Exo Er 1:1).
Một trăm năm sau Ê-sai, khi Ba-by-lôn đã lên địa vị cường quốc, đã phá tan đế quốc A-si-ri và đang hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, thì Giê-rê-mi tiếp theo Ê-sai mà kêu đòi báo thù (xem Gie Gr 50:1-51:64).
Ba-by-lôn, đế quốc đã hà hiếp dân Do-thái, là phần đối chiếu và kiểu mẫu của một cường quốc đời Tân Ước bắt Hội Thánh làm tôi mọi (KhKh 17:1-19:21).
EsIs 14:28-32 -- Phi-li-tin
Chữ "Pa-lét-tin" (xứ Do-thái) do chữ "Phi-li-tin" mà ra. "Rắn" (câu 29) có lẽ chỉ về Tiếc-la-phi-lê-se, người đã chiếm một số thành Phi-li-tin và đã chết đúng một năm trước A-háp (câu 28). Còn những thuồng luồng và rắn lửa bay có lẽ chỉ về Sa-gôn và San-chê-ríp, là kẻ đã làm cho xứ Phi-li-tin hoàn toàn hoang vu. "Sứ giả" (câu 32) có lẽ là các sứ thần mà Phi-li-tin đến yêu cầu Giê-ru-sa-lem giúp chúng chống lại quân A-si-ri. Ta còn thấy nhiều lời khác tố cáo dân Phi-li-tin ở Gie Gr 47:1-7, AmAm 1:6-8, SoXp 2:4-7 và XaDr 9:5-7.
EsIs 15:1-16:14 -- Mô-áp
Mô-áp là một cao nguyên không bằng phẳng, gồm những đồng cỏ xanh tươi, ở phía Đông Biển Chết. Người Mô-áp là dòng dõi của Lót (SaSt 15:37), và như vậy, họ có bà con với dân Do-thái. Đây là một trong những lời tiên tri đầu tiên của Ê-sai, và bây giờ được lặp lại, nói thêm thời hạn 3 năm (EsIs 16:14). Các thành nêu tên đã bị cướp phá bởi Tiếc-la-phi-lê-se năm 734 T.C., bởi Sa-gôn năm 713 T.C., và bởi San-chê-ríp năm 701 T.C.. Không nói rõ lời tiên tri của Ê-sai chỉ về cuộc cướp phá nào. Tuy nhiên, Ê-sai khuyên họ rằng họ sẽ được lợi nếu lại chịu đầu phục nhà Đa-vít (16:1-5) khi nhắc tới nhà Đa-vít, thì có hình ảnh Đấng Mê-si hầu đến trong sự hiện thấy của ông (câu 5). Bởi Ru-tơ, người Mô-áp đã dự phần sáng lập nhà Đa-vít. Về các lời tiên tri khác liên quan đến xứ Mô-áp, xin xem Gie Gr 48:1-47, AmAm 2:1-3, SoXp 2:8-11.
EsIs 47:1-15-- Đa-mách
Tiếp tục ý tưởng ở đoạn 7, có lẽ đã viết cùng một lúc, đang khi quân Sy-ri và quân Y-sơ-ra-ên tấn công nước Giu-đa (năm 734 T.C.). Sau ít lâu, lời tiên tri đã được ứng nghiệm, khi Tiếc-la-phi-lê-se và Sa-gôn xâm lăng. Lời tiên tri nầy cũng nghịch cùng người Y-sơ-ra-ên (câu 3-4), vì chúng liên minh với Đa-mách. "Ngó về Đấng tạo mình" (câu 7): Việc dân sót lại của nước phía Bắc quay về với Đức Giê-hô-va đã được tỏ ra ở IISu 2Sb 34:9. Cuối lời tiên tri nầy có sự hiện thấy về quân A-si-ri bị đánh bại sau khi thắng Sy-ri và Y-sơ-ra-ên (câu 12-14); nhứt là câu 14 dường như chỉ rõ về đoạn EsIs 37:36.
18:1-7-- Ê-thi-ô-bi
E-thi-ô-bi ở phía Nam Ai-cập, vua hùng cường của Ê-thi-ô-bi đương thời ấy cầm quyền cả Ai-cập. Đây không phải một lời tiên tri đoán phạt; trái lại, nó dường như nói đến sự hăng hái và động viên giữa vòng người Ê-thi-ô-bi khi đạo quân của San-chê-ríp tiến vào nước Giu-đa, vì một khi nước Giu-đa suy vong, thì con đường sẽ mở rộng cho quân A-si-ri kéo vào Ai-cập (câu 1-3); cũng nói đến thành Giê-ru-sa-lem được giải cứu lạ lùng (câu 4-6, 37:36), và người Ê-thi-ô-bi gởi dâng lễ vật tạ ơn vì đạo quân A-si-ri đã bị hủy diệt (câu 7, IISu 2Sb 32:23).
EsIs 19:1-25-- Ai-cập
Một thời kỳ hỗn loạn và nội chiến (câu 1-4).-- Tình trạng nầy đã bắt đầu ở triều đại thứ 25, vào khoảng Ê-sai qua đời. "Chúa hung dữ" (câu 4). Sau khi Ê-sai qua đời ít lâu, thì Ê-sạt-ha-đôn khắc phục Ai-cập, chia ra làm nhiều chánh phủ nhỏ mà phận sự chánh yếu là "giết, cướp phá và bóc lột" thần dân.
Dự ngôn về sự suy sụp và phân chia Ai-cập (câu 5-17).-- Mọi điều nầy đã xảy ra. Xem Gie Gr 46:1-28 và Exe Ed 29:1-21.
Ai-cập và A-si-ri dầm thấm đạo Do-thái (câu 18-25). Sau cuộc lưu đày, nhiều người Do-thái cứ ở thung lũng Ơ-phơ-rát, và cũng có một số lớn định cư tại Ai-cập. Alexandrie (Cong Cv 6:9, 18:24, v.v...), thành phố thứ hai của thế giới đương thời Đức Chúa Jêsus, là nơi người Do-thái ở gần hết. Tại đó, Cựu Ước đã được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp, gọi là bản Septante. Tại Héliopolis, "thành hủy diệt" (câu 18), năm 149 T.C., đã cất một Đền thờ theo kiểu Đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, làm trung tâm thờ phượng của người Do-thái ngụ ở Ai-cập. Người ta cho rằng đó là "bàn thờ" ở câu 19. Đương thời Đấng Christ xuất hiện, quốc gia Hê-bơ-rơ gồm ba khu vực chính, có những "đường cái" nối liền (câu 23): Khu vực Pa-lét-tin, khu vực Ai-cập, và khu vực Mê-sô-bô-ta-mi, dường như thành ra ba quốc gia (câu 24). Ba miền nầy ở trong số tiếp nhận đạo Đấng Christ trước nhứt. Như vậy, đoạn nầy thuật đúng trước một giai đoạn lịch sử Y-sơ-ra-ên gồm 600 năm theo sau.
EsIs 20:1-66;-- Ai-cập và Ô-thi-ô-bi
Ê-sai rao báo rằng hai nước nầy sẽ thua trận và bị bắt làm phu tù, cốt để làm cho nước Giu-đa chán nản, đừng trông mong Ai-cập giúp mình chống đánh quân A-si-ri nữa. "Đi trần" (câu 2-3), có lẽ không phải là hoàn toàn lõa thể, nhưng là mặc áo của kẻ phu tù. Có lẽ ông không ăn bận như vậy luôn, nhưng từng hồi từng lúc, trải qua 3 năm. Việc nầy xảy ra năm 713 T.C., và lời tiên tri được ứng nghiệm 12 năm sau. Năm 701 T.C., biên niên sử của San-chê-ríp chép rằng: Ta giao chiến với các vua Ai-cập, lật đổ chúng, bắt sống những kẻ đánh xe ngựa và những con trai của chúng." Về sau, Ê-sạt-Ha-đôn lại làm cho Ai-cập hoang vu thêm (xem ở dưới 19:1-4). "Ta-tân " (câu 1) không phải là tên một người, mà là một chức vị tương đương với "tổng tư lịnh." "Sa-gôn " (câu 1): Ta chỉ biết có đây nói đến tên Sa-gôn, cho đến khi các nhà khảo cổ của thế kỷ trước phát giác rằng ông là một trong những vua A-si-ri hùng mạnh nhứt.
21:1-17-- Ba-by-lôn, Ê-đôm, A-ra-bi
Ba-by-lôn (câu 1-10) có rất nhiều đê và kinh bao bọc chung quanh, giống như một thành ở giữa biển. Đây là lời linh động rao báo nó sẽ suy sụp. Ê-lam và Mê-đi được nhắc đến (câu 2), tỏ ra nó sẽ bị Si-ru chiếm lấy, năm 536 T.C. (xem thêm ở dưới các đoạn 13, 14).
Đu-ma (câu 11-12) là tên một địa hạt ở phía Nam Ê-đôm, và đây dùng để chỉ về Ê- đôm mà Sê-i-rơ là trung tâm. Câu hỏi nầy dường như có nghĩa là: Cuộc xâm lăng, tàn phá của quân A-si-ri có lan tới Ê-đôm chăng? Tiên tri dường như cố ý đáp lại cho khó hiểu. Xem thêm đoạn 34:5-17.
A-ra-bi (câu 13-17) là sa mạc ở giữa Ê-đôm, và Ba-by-lôn. Đê-đan, Thê-ma và Kê- đa là những bộ lạc Ả-rập hùng mạnh nhứt. Đây là lời dự ngôn rằng trong vòng một năm, họ sẽ bị một đòn nặng khủng khiếp. Sa-gôn xâm lăng xứ A-ra-bi năm 716 T.C..
22:1-25-- Giê-ru-sa-lem
Giê-ru-sa-lem được gọi là "Trũng của sự hiện thấy" (câu 1) vì ngọn đồi, vị trí của nó, có nhiều trũng bao quanh, bên ngoài lại có những ngọn đồi cao hơn nữa, và đó là nơi Đức Chúa Trời tự khải thị. Đây, thành Giê-ru-sa-lem bị quở trách vì phóng túng, chẳng lo lắng gì, đang khi bị đạo quân A-si-ri vây hãm. Cuộc dự bị phòng thủ của họ (câu 9-11, IISu 2Sb 32:3-5) gồm hết mọi sự, trừ ra không quay về với Đức Chúa Trời.
Giáng chức Sép-na (câu 15-25).-- Là một thượng quan của nhà Đa-vít, có lẽ ông đã cầm đầu những hành vi phóng túng tại Giê-ru-sa-lem ở trước hiểm họa nặng nề. Trong sự nhắc Ê-li-a-kim lên ngôi vua, có hơi ngụ ý nói đến Đấng Mê-si (câu 22-25).
EsIs 23:1-18-- Ty-rơ
Trải qua bao nhiêu thế kỷ, Ty-rơ là hải cảng trung tâm của nền thương mại thế giới. Nó đã tạo lập thuộc địa ở khắp các bờ biển Địa-trung-hải. Lúa mì của Ai-cập là một trong những món hàng chánh yếu do nó buôn bán. Nó chịu đau đớn kinh khiếp bởi tay quân A-si-ri vừa mới mở rộng quyền bá chủ trên Ba-by-lôn (câu 13). Đây dự ngôn rằng nó bị lật đổ và suy sụp trong 70 năm, rồi được khôi phục (câu 14-18). Người ta cho rằng đây nói đến thời kỳ nó bị Nê-bu-cát-nết-sa khắc phục (xem thêm ở dưới Ê-xê-chi-ên, đoạn 26 đến 28).
24:1-27:13-- Đến Cuối Cùng Trái Đất Sẽ Bị Tiêu Hủy
Từ đoạn 13 đến 23, có lời phán xét nghịch cùng những quốc gia đặc biệt. Tới đây có sự phán xét sau cùng cho cả thế giới.
24:1-23 -- Thế giới bị đảo lộn
Sự hiện thấy nầy dường như liên quan đến cùng một thời kỳ mà Đức Chúa Jêsus đã giải luận ở sách Ma-thi-ơ, đoạn 24. Nó mô tả những tai họa kinh khiếp làm cho trái đất tiêu mất luôn với những giai cấp, chức vị và danh vọng xã hội. Cũng như nạn nước lụt đời Nô-ê, những tai họa nầy do sự gian ác của loài người gây nên. Giê-rê-mi đã nói rằng: "Ba-by-lôn sẽ chìm xuống" và "sẽ chẳng còn chổi dậy nữa" (Gie Gr 51:64); và ở đây, Ê-sai cũng nói về trái đất như vậy (câu 20). Về sau, Ê-sai nhìn xa và thấy các từng trời mới và trái đất mới (EsIs 65:17-66:24).
25:1-12 -- Sự chết bị thủ tiêu
Đây, Ê-sai đi xa hơn cảnh tượng các thế giới tan vỡ mà vào thời đại của các từng trời mới và trái đất mới. Ông đặt vào miệng những kẻ được cứu chuộc một bài hát ngợi khen Đức Chúa Trời vì các công việc lạ lùng của Ngài. Lạ lùng hơn hết là sự tiêu diệt Tử thần (câu 8) "tại trên núi nầy" (câu 6) của Giê-ru-sa-lem. Lời nầy không thể chỉ về biến cố nào khác ngoài ra sự Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết, là biến cố độc nhứt vô nhị đã thủ tiêu Tử thần và bảo đảm cho loài người được sự sống đời đời; là "diên rượu ngon cho mọi dân tộc" (câu 6); là tiếng reo vui của muôn đời; là biến cố "lau nước mắt khỏi mọi mặt" (câu 8). Trong phần nầy, Ê-sai cũng nói đến Mô-áp (câu 10), chứng tỏ rằng trí óc ông quen thình lình chuyển từ vinh hiển tương lai qua những tình cảnh địa phương hiện tại, và ngược lại. Đây ta có thể dùng số phận của Mô-áp, kẻ thù truyền tử lưu tôn của Giu-đa, làm hình bóng về số phận của những kẻ thù nghịch với Si-ôn nói chung.
26:1-21-- Một bài ca tin cậy và đắc thắng
Đây là tiếp tục bài ca ở đoạn trước. "Thành bền vững" (câu 1) là nơi trung tâm gặp gỡ của dân Đức Chúa Trời "Thành cao ngất" (câu 5) là thành lũy lý tưởng của kẻ ác. Câu 3 là một câu vĩ đại. Nhưng câu vĩ đại nhứt của đoạn nầy là câu 19, luận về sự sống lại. Đoạn 25:8 nói về sự sống lại của Đấng Christ; còn đây nói về sự sống lại chung của con cái Đức Chúa Trời. "Tỏ bày huyết nó ra" (câu 21) trong ngày phán xét, khi ấy đời trị vì lâu dài, gian ác và đổ huyết của loài người sẽ bị đem ra ánh sáng và bị báo trả.
27:1-13-- Vườn nho của Đức Chúa Trời được phục hưng
Ở đoạn 5:1-7, Ê-sai hát bài ai ca về vườn nho của Đức Chúa Trời. Đây là một khúc hoan ca về vườn nho ấy sống lại. Đó là một hình bóng tuyệt diệu về đạo Đấng Christ trổ bông từ phần sót lại của nước Giu-đa hoang vu, và rải ảnh hưởng tốt lành trên khắp trái đất! "Lê-vi-a-than," "con rắn" và "con vật lớn dưới biển" (câu 1) có lẽ chỉ về A-si-ri, Ba-by-lôn và Ai-cập, hoặc là tên bóng của các quyền lực tội ác. Sự đoán phạt để sửa trị nước Giu-đa (câu 7-11). Rốt lại, dân Y-sơ-ra-ên được thâu nhận vào Hội Thánh khải hoàn (câu 12-13).
"Trong ngày đó" (câu 1, 2, 12, 13). Hãy chú ý mấy chữ nầy được dùng luôn trong sách 4:2, 7:20, 23, 11:10, 11, 12:1, 14:3, 17:4, 7, 9, 23, 24, 22:12, 26:1, 28:5, 29:18, 30:23, v.v... Chúng ta hầu như có thể gọi "Ngày đó" là đề mục của sách nầy; cũng có những khúc, những câu luận về "Ngày đó" và chính ngày (thời) của Ê-sai lẫn lộn với nhau.
28:1-29-- Tố cáo Sa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem
Từ những sự hiện thấy về "Ngày đó" trở về, Ê-sai nghiêm nghị cảnh cáo dân mình (đang phóng túng theo nhục dục) về tai họa hầu gần, như ở đoạn 22. Lời cảnh cáo nầy chắc có trước lúc Sa-ma-ri sụp đổ (721 T.C.). "Đẹp nhứt" (câu 1): Sa-ma-ri, thủ đô của nước phía Bắc, ở trên một trái đồi tròn, trong thung lũng phì nhiêu, đẹp đẽ, và có những cung điện nguy nga, vườn tược tuyệt mỹ. "Một người mạnh và có quyền" (câu 2) là cường quốc A-si-ri, sau 3 năm vây hãm, đã chiếm Sa-ma-ri, nhưng phải quay lại "nơi cửa thành" Giê-ru-sa-lem (câu 6). Những kẻ vui chơi nhạo báng, cho các lời cảnh cáo của Ê-sai là chuyện con nít (câu 9-10). Ê-sai đáp (câu 11-13) rằng họ sẽ thấy ách nô lệ của A-si-ri cũng buồn tẻ như lời cảnh cáo của ông vậy. Các quan trưởng ở Giê-ru-sa-lem chế giễu Ê-sai (câu 14-22). Ê-xê-chia là một vua tốt, nhưng nhiều quyền thần trong chánh phủ ông nhạo báng cả Ê-sai lẫn Đức Giê-hô-va, nương cậy sức mạnh của mình và Ai-cập. "Ước kết với sự chết" (câu 15), mặc dầu họ chế giễu và khoe khoang mình được an toàn. "Đá góc" (câu 16): Đó là lời Đức Chúa Trời hứa với Đa-vít mà họ đáng phải nương cậy. "Việc khác thường" (câu 21): Đó là Đức Chúa Trời dùng gươm của người ngoại bang mà hình phạt dân Ngài. Có sự yên ủi cho kẻ trung tín (câu 23-29): Mấy câu nầy dường như có nghĩa là dân Đức Chúa Trời cần được đối xử nhiều cách khác nhau, hợp thời và thích ứng với tình trạng của họ.
29:1-24-- Thành Giê-ru-sa-lem sắp bị vây
"A-ri-ên" (câu 1) là một tên khác của Giê-ru-sa-lem, nghĩa là: "Sư tử của Đức Chúa Trời." A-ri-ên sẽ hiên ngang chống lại đạo quân A-si-ri. Thành nầy sẽ chịu cảnh thiếu thốn do một cuộc vây hãm lâu dài (câu 2-4). Đạo quân vây hãm gồm lính của nhiều nước, sẽ thình lình bị đè bẹp (câu 5-8), và điều nầy chẳng bao lâu đã xảy ra (37:36). Si-ôn đui mù không thấy Đức Chúa Trời, dầu lấy môi miệng tôn thờ Ngài (Câu 9-16), nhưng đã lấy các điều răn của loài người thay thế lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jêsus đã trưng dẫn câu nầy để áp dụng cho phe Pha-ri-si đương thời Ngài. Chúng tôi tưởng lời nầy còn đúng cho nhiều người "hành đạo nhà nghề." "Việc lạ lùng" (câu 14) là sự giải cứu Giê-ru-sa-lem bằng một phép lạ (37:36). Ruộng và rừng sẽ đổi chỗ (câu 17-24): Ngôn ngữ khó hiểu nầy có lẽ ngụ ý nói đến ngày các dân ngoại được tháp chung với dân Đức Chúa Trời (RoRm 11:1-36).
30:1-33-- Giu-đa nương cậy Ai-cập
Những đoàn người dẫn lạc đà chở nặng tặng phẩm quí giá, từ Giê-ru-sa-lem đi qua sa mạc ở phía Nam có thú dữ khuấy phá, để cầu viện Ai-cập (câu 6-7). Dân Giu-đa bị bắt làm phu tù (câu 8-17). Ai-cập chẳng ích lợi chi. Giu-đa sẽ bị chà nát. Hãy chép biến cố ấy trong sách, để các thế hệ tương lai thấy rằng nó đã được dự ngôn. Việc xảy ra 100 năm sau, do tay của quân Ba-by-lôn. Có sự khôi phục sau một thời kỳ hình phạt (câu 18-26). A-si-ri bị tiêu diệt (câu 27-33). Sau đó ít lâu, đạo quân A-si-ri bị đánh bại (37:36), và trong vòng 100 năm sau, đế quốc A-si-ri đã bị tiêu diệt.
31:1-9--- Đức Chúa Trời hứa giải cứu
Rất nhiều lần Ê-sai quả quyết tỏ lòng tin cậy rằng kết cục Si-ôn sẽ toàn thắng trong cuộc khủng hoảng do quân A-si-ri gây nên (37:36), biến cố tương lai đó dường như là bối cảnh của hầu hết mọi câu trong đoạn nầy.
32:1-20-- Đời trị vì của Đấng Mê-si
Đang khi Ê-sai mải nghĩ đến kết quả vui mừng do sự giải cứu Si-ôn khỏi tay đạo quân A-si-ri và uy tín của nước Ê-xê-chia nhờ đó mà tăng lên rất nhiều, thì ở phía xa sự hiện thấy của ông, hiện ra hình ảnh của Vua tương lai thuộc dòng Đa-vít; mọi lời tiên tri Cựu Ước chỉ vào Vua ấy, tất cả lịch sử Cựu Ước tiến về phía Vua ấy, và dưới đời trị vì công bình, hạnh phước của Vua ấy, người và vật sẽ đứng vào địa vị xứng đáng, sẽ được gọi bằng danh hiệu thích hợp. Ta khó tìm thấy mối liên lạc trong bài giảng lạc đề cho "những con gái không hay lo" (câu 9-15). Chắc trong triều đình có một nhóm phụ nữ quyền thế, không kính sợ Đức Chúa Trời, đã chống nghịch mọi điều mà Ê-sai binh vực (3:12, 16-26). Đây dường như ông có ý nói rằng sẽ có một thời kỳ khổ nạn xen vào giữa sự thất bại của đạo quân A-si-ri và đời trị vì của Đấng Mê-si. "Rừng" (câu 19) là đạo quân A-si-ri. "Thành" (câu 19) là Ni-ni-ve, hoặc những lực lượng tội ác tập trung trong thời kỳ sau rốt. "Gieo giống ở bên mọi dòng nước" (câu 20): Đó là kỷ nguyên hạnh phước vì nền thạnh vượng được phục hồi, hoặc (đang khi chờ đợi kỷ nguyên ấy) là bình tĩnh và kiên nhẫn cứ lo tròn phận sự hằng ngày để tỏ lòng tin cậy Đức Chúa Trời.
33:1-24-- Ngay trước lúc giao tranh
Đoạn 28 đến 33 liên quan đến những ngày khủng khiếp do quân A-si-ri vây hãm thành Giê-ru-sa-lem như có mô tả ở các đoạn 36 và 37. Đạo quân của San-chê-ríp đang cướp phá thành thị và thôn quê (câu 8-9). Các cuộc thương thuyết thất bại (câu 7). San-chê-ríp đã nhận một số tiền lớn lao (IIVua 2V 18:14-16), nhưng rồi lại bội lời kết ước (câu 8) và vây hãm Giê-ru-sa-lem. Dân chúng đều hoảng sợ (câu 13-14), trừ ra những kẻ tin cậy Đức Chúa Trời (câu 2, 15-16). Trong cả tình cảnh nầy, Ê-sai bình tĩnh đi đây đó, quả quyết với dân chúng rằng Đức Chúa Trời sẽ làm cho quân thù khủng khiếp, và chúng sẽ bỏ lại rất nhiều chiến lợi phẩm (câu 3-4). Chính Đức Chúa Trời che chở Giê-ru-sa-lem như một dòng nước bao quanh, và những tàu tan rã của quân thù sẽ chìm ở đó (câu 21-23). Xem các đoạn 36, 37.
EsIs 34:1-17-- Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các nước
Cũng như đoạn 34, đoạn nầy dường như là sự hiện thấy về thời kỳ sau rốt. Ê-đôm được dùng làm kiểu mẫu đặc biệt của cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời. Xưa kia, nó đông dân ở và phì nhiêu, nhưng bây giờ là một trong những chỗ hoang vu nhứt trên mặt đất, phần lớn chỉ có thú dữ, chim và rắn ở (câu 10-15). Hãy xem ở dưới sách Áp-đia. Hãy chú ý, Ê-sai đố thách các thế hệ tương lai so sánh lời ông với mọi sự sẽ xảy ra trong xứ Ê-đôm (câu 16-17).
35:1-10-- Ngày Hội Thánh khải hoàn
Đây là một trong những đoạn quí báu nhứt của Kinh Thánh. Đây là một bài thơ đẹp đẽ hiếm có. Đây là bức tranh về thời kỳ sau rốt, là lúc Hội Thánh đã chịu hoạn nạn rất lâu rồi, cuối cùng sẽ chói sáng tất cả vinh quang thiên thượng của mình. Câu 5-6 dường như là sự hiện thấy về Đấng Christ làm các phép lạ chữa bịnh. Bức tranh phu tù hồi hương đi dọc theo đường cái (câu 8-10) chính là một bài tuyệt diệu diễn tả mọi người được cứu chuộc đang đi đường về ở với Đức Chúa Trời.
36:1-37:38-- Đạo quân A-si-ri bị đánh bại
Biến cố nầy được ghi chép ba lần: Ở đây, IIVua 2V 18:1-19:36 và IISu 2Sb 32:1-33. Đây là một trong những phép lạ vĩ đại nhứt của Cựu Ước: Trong một đêm, đạo quân A-si-ri đã bị lực lượng của Thiên đàng trực tiếp tấn công và tiêu diệt (EsIs 37:36). Đó là chiến công vĩ đại mà Ê-sai đã nhiều lần quả quyết sẽ xảy ra (10:24-34, 17:12-14, 29:5-8, 14, 30:27-33, 31:4-9, 33:3-4, 21-23, 38:6). Các đoạn nầy dường như thuật lẫn lộn hai cuộc xâm lăng. San-chê-ríp thống lãnh quân đội của cha, là Sa-gôn, đã xâm lăng nước Giu-đa năm 713 T.C., và chiếm nhiều thành của Giu-đa. E-xê-chia nộp tiền cho hắn kéo quân đi. Năm 701 T.C., hắn lại kéo quân đến, và lần nầy thiên sứ của Đức Chúa Trời tiêu diệt chúng. Xem ở dưới II Các vua 17.
38:1-39:8-- Ê-xê-chia lâm bịnh.
Các sứ giả Ba-by-lôn
Theo niên biểu, thì hai đoạn nầy ở trước đoạn 37, nhưng lại đặt ở sau, có lẽ cốt để dẫn (39:6) đến các đoạn kế tiếp chép về cuộc lưu đày qua Ba-by-lôn. Ê-xê-chia lâm bịnh 15 năm trước khi qua đời (38:5), nghĩa là năm 721 T.C.. Còn sự giải cứu khỏi tay quân A-si-ri thì mãi sau nữa mới xảy ra (38:6). Ê-xê-chia được lành bịnh một cách lạ lùng, thì đã khiến cho người Ba-by-lôn chú ý (IISu 2Sb 32:31, EsIs 38:7-8). Phái đoàn ngoại giao Ba-by-lôn đến Giê-ru-sa-lem chắc làm cho San-chê-ríp nghi ngờ, nên có lẽ hắn đã vội vã xâm lăng lần thứ hai.
40:1-66:24-- Những Bản Ca Tuyệt Diệu Về Tương Lai
Hầu suốt cả đời, Ê-sai đã sống dưới sự hăm dọa của đế quốc A-si-ri khủng khiếp. Quân A-si-ri đã hủy diệt nước Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc (734 T.C.) và phần sót lại của nước phía Bắc đó (721 T.C.), đã xâm lăng nước Giu-đa (713 T.C.). Và vào khoảng 701 T.C., chúng đã chiếm cả nước Giu-đa, trừ ra thành Giê-ru-sa-lem. Suốt những năm ấy, Ê-sai cứ kiên quyết dự ngôn rằng Giê-ru-sa-lem sẽ đứng vững. Và nó thật đã đứng vững. Đó là công nghiệp vĩ đại của đời Ê-sai. Ông đã cứu thủ đô khi sự hủy diệt hầu như chắc chắn. Nhưng bây giờ cơn khủng hoảng do quân A-si-ri qua hết, thì Ê-sai (trước kia đã dự ngôn rằng Giê-ru-sa-lem sau nầy sẽ sa vào tay quân Ba-by-lôn -- 39:6-7) lại coi cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn như một sự trạng hoàn thành rồi. Và trong trí óc, ông đứng chung với đoàn phu tù. Các sự hiện thấy của ông rõ ràng, đến nỗi ông nói về tương lai chẳng khác chi nói về quá khứ.
Hai Ê-sai chăng?
Không một chỗ nào trong sách nầy, hoặc trong Kinh Thánh, hoặc trong truyền thoại của dân Do-thái và của tín đồ Đấng Christ, có chép hoặc ngụ ý nói rằng sách nầy có hai tác giả, hoặc nhiều hơn. "Ê-sai thứ hai" là do sự tưởng tượng của phái phê bình kim thời. Trong Kinh Thánh của chúng ta và đương thời Đức Chúa Trời, sách Ê-sai là Một, chớ chẳng phải Hai. Nó không phải là nhiều mảnh ghép lại, nhưng từ đầu đến cuối, đặc điểm của nó là Sự Thống Nhứt tư tưởng bày tỏ bằng ngôn ngữ tuyệt vời, khiến nó trở thành một trong những tác phẩm vĩ đại hơn hết xưa nay. Nếu, theo phái phê bình quả quyết, phần thứ hai do một "tiên tri vô danh" của thời kỳ lưu đày trứ tác, thì thật đáng tiếc quá, vì ta không được biết tác giả của văn phẩm tuyệt mỹ nầy. Chúng tôi không tin rằng có một số "Ê-sai phụ."
40:1-31-- Những tiếng phán yên ủi
Một vài câu trong đoạn nầy dường như là lời của các thiên sứ nói với Ê-sai hoặc với nhau, để bày tỏ niềm vui vì những sự lạ lùng dành sẵn cho dân Đức Chúa Trời khi đêm tối hoạn nạn dai dẳng đã qua. Sự ngự đến của Đấng Christ là đầu đề của câu 1-11. Cả bốn sách Tin Lành trưng dẫn câu 3-5 để tỏ ra Ngài ngự tới mặt đất (Mat Mt 3:3, Mac Mc 1:3, LuLc 3:4-6, GiGa 1:23). Về điểm nầy, ghi nhắc rằng Lời Đức Chúa Trời muôn đời vững chắc (câu 6-8), thì có nghĩa các lời hứa tiên tri của Ngài không thể nào không ứng nghiệm. Đấng Christ và Thiên đàng là Chắc Chắn. Quyền phép vô biên của Đức Chúa Trời và tuổi thanh xuân đời đời của những kẻ tin cậy Ngài là đề mục của câu 12-31. Đây thật là một đoạn sách vĩ đại.
EsIs 41:1-29-- Si-ru dấy lên
Si-ru không được chỉ đích danh ở đây, nhưng ở đoạn 44:28 và 45:1. Không còn lầm lẫn chi nữa, ông là "người dấy lên từ phương Đông" (câu 2) và "người từ phương Bắc" (câu 25). (Các đạo quân từ phương Đông luôn luôn do phương Bắc mà vào xứ Pa-lét- tin). Ê-sai qua đời 150 năm trước thời Si-ru; nhưng đây là một sự hiện thấy về Si-ru mau lẹ chinh phục cả thế giới, và người ta cho rằng cuộc chinh phục nầy là do thiên mạng (câu 4). Các nước khủng khiếp trước sự lan tràn thình lình của các đạo quân Si- ru, bèn hối hả làm các thần tượng (câu 5-7), hy vọng được chúng bảo hộ. Đức Giê-hô-va hứa che chở dân Y-sơ-ra-ên (câu 8-20), rồi Ngài đố thách thần của các dân khác hãy tỏ tài dự ngôn tương lai (câu 21-29). Xem thêm ở dưới đoạn 44.
EsIs 42:1-25-- Tôi tớ của Đức Giê-hô-va
Một sự hiện thấy khác về Đấng Mê-si hầu đến và về công việc của Ngài giữa các dân (câu 1-17). Lời nầy đã được trưng dẫn ở Mat Mt 12:17-21. Nhưng ở câu 18-25, thì tôi tớ của Đức Giê-hô-va lại là quốc gia Y-sơ-ra-ên bị sửa phạt nhiều lần vì cớ đui mù và bại hoại.
EsIs 43:1-28-- Đức Chúa Trời săn sóc dân Y-sơ-ra-ên
Đức Chúa Trời đã tạo lập dân tộc Y-sơ-ra-ên cho chính mình Ngài. Nhưng họ luôn luôn không vâng lời Ngài. Dầu vậy, họ vẫn là dân tộc của Ngài, và Ngài sẽ hành động qua mọi tội lỗi và thống khổ của họ để chứng tỏ rằng một mình Ngài là Đức Chúa Trời.
44:1-45:25 -- Si-ru
Hai đoạn nầy dự ngôn rằng dưới đời trị vì Si-ru, dân Y-sơ-ra-ên sẽ từ chốn lưu đày trở về cố hương; cũng đặc biệt nhấn mạnh rằng Đức Giê-hô-va có quyền phép vô song để Dự Ngôn tương lai. Si-ru, vua Ba-tư, trị vì từ 538 đến 529 T.C.. Ông đã cho phép dân Do-thái trở về Giê-ru-sa-lem, và ra chiếu chỉ cho phép họ xây lại Đền thờ (IISu 2Sb 36:22-23, Exo Er 1:1-4). Ê-sai nói tiên tri từ 745 đến 695 T.C., tức là hơn 150 năm trước thời Si-ru. Tuy nhiên, Ê-sai gọi đích danh ông và dự ngôn rằng ông sẽ xây lại Đền thờ; vả, đương thời Ê-sai, Đền thờ nầy chưa bị phá hủy.
Điểm chính của hai đoạn nầy là: Sự Đức Giê-hô-va cao trọng hơn các hình tượng được chứng minh bởi Ngài có khả năng dự ngôn tương lai. Ý tưởng nầy được lặp lại luôn từ đoạn 40 đến đoạn 48- EsIs 41:21-24, 22:8-9, 43:9-13, 44:6-8, 45:20-21, 46:9-11, 48:3-7. Việc gọi đích danh Si-ru lâu lắm trước khi ông sanh ra được nêu lên làm tỷ dụ về Đức Giê-hô-va có quyền phép để tuyên bố những việc chưa xảy đến (45:4-6). Nếu đây không phải là một Dự Ngôn, thì nó chẳng có ý nghĩa chi hết theo phương diện mà nó được dùng. Các nhà phê bình gán những đoạn nầy cho một tác giả sau thời kỳ lưu đày, thật có những ý kiến kỳ lạ về sự thống nhứt của thừa tiếp văn.
Lời tiên tri làm chứng rằng có Đức Chúa Trời,-- đó là một trong những luận đề chánh yếu của Ê-sai. Ông rất thích chế giễu các hình tượng và kẻ thờ lạy hình tượng mà rằng: "Những hình tượng nầy mà các dân thờ lạy thậm chí không thể làm việc loài người làm được. Chúng không thể thấy, hoặc nói, hoặc nghe." Rồi Ê-sai nói rằng: "Nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta mà chúng ta thờ phượng trong nước Y-sơ-ra-ên, chẳng những có thể làm việc loài người làm được, mà còn làm được nhiều việc loài người không thể làm. Ngài có thể phán trước những việc sẽ xảy đến." Đoạn, Ê-sai mời các dân họp hội nghị để so sánh các thần; ông hỏi có dân nào có trong nền văn chương của họ những dự ngôn từ thời xưa về những việc sau xảy ra chăng? Ông nói rằng: "Từ đời xưa, trong quốc sử của chúng ta, có một dòng dự ngôn không dứt về các biến cố về sau luôn luôn xảy ra." Bây giờ tôi cũng xin hỏi câu mà Ê-sai đã hỏi 2500 năm trước: "Ngoài Kinh Thánh của chúng ta ra, trong văn chương của cả thế giới, nào tôn giáo, nào chánh trị, nào triết lý, nào thi ca có lời tiên tri nào từ thời xưa về tất cả lịch sử tôn giáo của một người nào chăng?" Đó há chẳng phải là bằng cớ tỏ ra Kinh Thánh là tác phẩm do một Trí Óc trổi hơn trí óc của loài người, sao?
46:1-48:22-- Ba-by-lôn suy vong
Tiếp tục các đoạn 13, 14. Cảnh cáo chớ chịu ảnh hưởng bởi các thần tượng lộng lẫy của Ba-by-lôn (46:3-7), chớ ngần ngại tin cậy lời dự ngôn của Đức Chúa Trời (46:8-13). Các hình tượng và thầy pháp đông đúc của Ba-by-lôn sẽ chẳng có hiệu lực gì để chống lại đạo quân của Si-ru (47:12-15). Trái lại, hình tượng bằng vàng của các thần mà chúng khoe khoang sẽ chẳng có sức gì để cứu thủ đô của chúng, và cũng không tự cứu mình được; hình tượng sẽ bị chất trên thú vật và trên xe, chở đi làm chiến lợi phẩm (46:1-2). Nhắc lại Đức Chúa Trời có quyền phép độc hữu và vô song để dự ngôn và kiểm soát dòng lịch sử. Ngài quở trách dân Y-sơ-ra-ên vì không chịu tin cậy Ngài và lời dự ngôn của Ngài, nhưng luôn luôn có khuynh hướng nương cậy hình tượng. Đây lại long trọng dự ngôn về Ba-by-lôn sụp đổ bởi tay Si-ru và về dân Do-thái được giải phóng. "Người mà Đức Giê-hô-va yêu" (48:14), tức là Si-ru, là một hoàng đế cao thượng và công bình phi thường.
49:1-50:11-- Tôi tớ của Đức Giê-hô-va
Trong các đoạn trước (40-48), ý tưởng cốt yếu là: Lời Đức Giê-hô-va dự ngôn tương lai là bằng cớ tỏ ra có Đức Chúa Trời. Ở các đoạn 49-55, ý tưởng chuyên chú vào Tôi tớ của Đức Giê-hô-va. Trong một vài khúc sách, tôi tớ dường như là quốc gia Y-sơ- ra-ên; còn trong những khúc khác, Tôi tớ chính là Đấng Mê-si, trong Ngài nước Y- sơ-ra-ên được nhân cách hóa và những lời hứa cho nước ấy sẽ được thành tựu. Hai hạng khúc sách nầy khá lẫn lộn với nhau, và chính thừa tiếp văn tỏ cho ta thấy định nói về ai.
Đây là tiếp tục các ý tưởng đã súc tích từ trước: 41:8, 42:1, 19, 43:10, 44:1, 2, 21, 49:3-6, 52:13, 53:11.
Các đoạn nầy dường như là lời Tôi tớ nói một mình, xen vào có lời Đức Chúa Trời đáp lại, và chuyên luận về nhiệm vụ Ngài dắt đem muôn dân trên thế giới đến cùng Đức Chúa Trời.
51:1-52:14-- Si-ôn được cứu chuộc và được khôi phục
Sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi cảnh lưu đày đau khổ cũng chắc chắn như các công việc lạ lùng của Đức Chúa Trời trong quá khứ. Đó là một phần kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời: Từ một cặp vợ chồng (51:2), trải qua các đời, Ngài đã xây dựng một thế giới được cứu chuộc có sự vinh hiển vô tận (51:6). 52:1-14 là một bài ca về ngày Si-ôn toàn thắng.
53:1-12 -- Tôi tớ của Đức Giê-hô-va là Người chịu thương khó
Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh được quí mến hơn hết. Đây là bức tranh mô tả Cứu Chúa chịu thương khó. Nó bắt đầu ở 52:13 và có những chi tiết linh động đến nỗi ta gần như tưởng Ê-sai đang đứng ở chơn Thập tự giá. Cảnh tượng rõ rệt trong trí óc ông đến nỗi ông dùng thì quá khứ mà tường thuật nó, dường như nó đã xảy ra rồi. Nó không thể thích ứng với một nhơn vật nào khác trong lịch sử. Tuy nhiên, đoạn sách nầy đã được chép 700 năm trước khi Đấng Christ chịu chết trên núi Gô-gô- tha.
54:1-55:13-- Si-ôn được mở mang rộng lớn
Vì đã chịu thương khó, nên Tôi tớ của Đức Chúa Trời sẽ làm cho Si-ôn tươi trẻ lại, có diện tích vô biên và vinh quang vô tận. 55:1-13 là lời Tôi tớ mời cả thế giới vào Nước Ngài và chia xẻ ơn phước của Ngài.
56:1-59:21 -- Các tội lỗi đương thời Ê-sai
Phạm ngày yên nghỉ; các thủ lãnh Y-sơ-ra-ên tham ăn, mê uống; sự thờ lạy hình tượng lan tràn và có những lề thói hư hoại; câu nệ kiêng ăn, nhưng làm việc bất công hiển nhiên; mọi sự đó chắc chắn sẽ bị báo trả.
60:1-62:12-- Đấng cứu chuộc Si-ôn
Bài ca về thời đại Đấng Mê-si, bắt đầu ở 59:20, mô tả kỷ nguyên rao giảng Tin Lành khắp thế giới, và hòa lẫn với vinh quang đời đời của Thiên đàng . Đoạn 60 tiếp tục ý tưởng của đoạn 49, mô tả các vua và các dân từ bốn phương thế giới họp lại để đi đến Si-ôn mà triều kiến Vua Si-ôn. Đây là một trong những đoạn vĩ đại nhứt của Kinh Thánh. Đức Chúa Jêsus trưng dẫn 61:1-3 và phán rằng nó chỉ về Ngài (LuLc 4:18). "Tên mới" (EsIs 62:2) của Si-ôn: Ở đoạn 65:15 có nhắc lại rằng các tôi tớ của Đức Chúa Trời sẽ được gọi bằng một "danh khác." Cho tới ngày Đấng Christ ngự đến, dân Đức Chúa Trời vẫn được gọi là "người Do-thái," hoặc "người Hê-bơ-rơ." Sau đó, họ được gọi là "Cơ-đốc-nhân" (tín đồ Đấng Christ). "Mão triều thiên đẹp đẽ" (62:3). Đối với Đức Chúa Trời, Hội Thánh là như vậy đó. Mặc dầu Hội Thánh hữu hình đã bị hư hoại trong tay loài người và không phải là một "mão triều thiên đẹp đẽ," nhưng đoàn thể các thánh đồ trung tín của Đức Chúa Trời thì thật là như vậy. Suốt cõi đời đời , họ sẽ làm cho Đức Chúa Trời thỏa thích và vui vẻ (câu 3-5).
63:1-64:12-- Lời cầu nguyện của những kẻ bị lưu đày
Ta hơi khó hiểu tại sao lại nói đến Ê-đôm ở đây (63:1-6). Hai đoạn nầy, trừ 6 câu đầu, có tánh chất một lời cầu xin Đức Chúa Trời giải phóng dân Y-sơ-ra-ên đang làm phu tù. Người Ê-đôm, kẻ thù truyền kiếp của dân Giu-đa, đã liên hiệp với quân Ba-by-lôn mà hủy phá thành Giê-ru-sa-lem (xem dưới sách Áp-đia). Vị chiến sĩ vấy huyết giày đạp Ê-đôm trong cơn thạnh nộ và "có quyền lớn để cứu rỗi Si-ôn" (63:1), giống như Đức Chúa Trời cứu chuộc Si-ôn trong ba đoạn trước. Ngôn ngữ dùng đây là căn bản cho các biểu tượng về Chúa tái lâm trong sách KhKh 19:11-16.
EsIs 65:1-66:24 -- Các từng trời mới và trái đất mới
Hai đoạn nầy là Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu nguyện của những kẻ bị lưu đày trong hai đoạn trước. Lời cầu nguyện của họ sẽ được nhậm. Phần trung tín sót lại sẽ được khôi phục (65:8-10). Còn kẻ chẳng vâng lời sẽ bị hoàn toàn tiêu diệt (65:2-7, 11-12). Các quốc gia mới mẻ sẽ được dẫn vào ràn chiên (65:1, 66:8). Hết thảy sẽ được gọi bằng một tên mới (65:15). Họ sẽ được thừa hưởng các từng trời mới và trái đất mới (65:17, 66:22). Trong chế độ mới sẽ không cần Đền thờ hoặc của lễ (66:1-4). Người trung tín và kẻ không vâng lời sẽ phân cách nhau đời đời, - người nầy được phước đời đời, còn kẻ kia bị hình phạt đời đời (66:22-24). Chính Đức Chúa Jêsus đã xác nhận những lời đó (Mac Mc 9:48). Sứ điệp sau chót của Phi-e-rơ cho tín đồ Đấng Christ là phải chăm xem các từng trời mới và trái đất mới (IIPhi 2Pr 3:10-14). Kinh Thánh lên tới tuyệt điểm sau chót với sự hiện thấy kỳ diệu về các từng trời mới và trái đất mới (KhKh 21:1-22:21); vả, sự hiện thấy nầy chính là bài giải rộng đoạn 66, sách Ê-sai.
Tóm Tắt Các Dự Ngôn Của Ê-sai
Đã được ứng nghiệm lúc ông còn sống
Giu-đa được giải cứu khỏi Sy-ri và Y-sơ-ra-ên (EsIs 7:4-7, 16).
Sy-ri và Y-sơ-ra-ên bị A-si-ri tiêu diệt (8:4, 17:1-14).
A-si-ri xâm lăng Giu-đa (8:7-8).
Người Phi-li-tin bị khắc phục (14:28-32)
Mô-áp bị cướp phá (15 và 16).
Ai-cập và Ê-thi-ô-bi bị A-si-ri chiến thắng (20:4).
A-ra-bi bị cướp phá (21:13-17).
Ty-rơ bị khắc phục (23:1-12).
Giê-ru-sa-lem được giải cứu khỏi A-si-ri (xem dưới đoạn 36).
Ê-xê-chia được tăng thọ 15 năm (38:5).
Được ứng nghiệm sau khi ông qua đời
Cảnh phu tù tại Ba-by-lôn (39:5-7).
Ba-by-lôn bị Sy-ru lật đổ (46:11).
Ba-by-lôn bị người Mê-đi và Ê-lam lật đổ (13:17, 21:2, 48:14).
Ba-by-lôn bị hoang vu vĩnh viễn (13:28-22).
Si-ru được gọi đích danh (44:28, 45:1, 4).
Si-ru chinh phục thế giới (41:2-3).
Si-ru giải phóng những phu tù (45:13).
Si-ru ra lịnh xây lại thành Giê-ru-sa-lem (44:28, 45:13).
Y-sơ-ra-ên được khôi phục (27:12-13, 48:20, 51:14).
Đạo của dân Y-sơ-ra-ên thấm nhuần Ai-cập và A-si-ri (19:18-25).
Đạo của dân Y-sơ-ra-ên lan tràn khắp thế giới (27:2-6).
Ty-rơ phải làm phu tù và được khôi phục (23:13-18).
Ê-đôm bị hoang vu vĩnh viễn (34:5-17).
Về Đấng Mê-si một phần đã được ứng nghiệm, một phần sẽ được ứng nghiệm
Sự ngự đến của Ngài (40:3-5).
Ngài do nữ đồng trinh sanh ra (7:14).
Miền Ga-li-lê làm sân khấu cho chức vụ của Ngài (9:1-2).
Ngài là Đức Chúa Trời và làm Vua đời đời (9:6-7).
Ngài chịu thương khó (53:1-12).
Ngài phải chết chung với kẻ gian ác (53:9).
Ngài được chôn chung với người giàu (53:9).
Đời trị vì của Ngài có quyền oai và sự dịu hiền (40:10-11).
Đời trị vì của Ngài có sự công bình và ban phước lành (32:1-8, 61:1-3).
Ngài công bình và từ ái (42:3-4, 7).
Ngài cai trị các dân ngoại (2:2-3, 42:1, 6, 49:6, 55:4-5, 56:6, 60:3-5).
Ảnh hưởng rộng lớn của Ngài (49:7, 23).
Các thần tượng sẽ biến mất (2:18).
Sẽ thực hiện một thế giới không chiến tranh (2:4, 65:25).
Trái đất bị tiêu hủy (24:1-23, 26:21, 34:1-4).
Dân Đức Chúa Trời được gọi bằng một tên mới (62:2, 65:15).
Sẽ dựng nên các từng trời mới và trái đất mới (65:17, 66:22).
Người công bình và kẻ gian ác sẽ phân cách nhau đời đời (66:15, 22-24)
==============================

Giê-rê-mi
Đức Chúa Trời Cố Gắng Lần Chót Để Cứu Giê-ru-sa-lem
Giê-rê-mi sống chừng 100 năm sau Ê-sai. Ê-sai đã cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay quân A-si-ri. Giê-rê-mi cố cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay quân
Ba-by-lôn, nhưng thất bại

Giê-rê-mi được kêu gọi làm tiên tri năm 626 T.C.. Giê-ru-sa-lem bị phá hủy một phần năm 606 T.C., bị tàn phá thêm năm 597 T.C.; rốt lại, bị thiêu hủy và hoang vu năm 586 T.C.. Giê-rê-mi đã sống trải qua 40 năm khủng khiếp nầy, là lúc nền quân chủ kết liễu, quốc gia hấp hối và chết. Ông là một nhân vật sầu thảm, cô đơn, truyền sứ điệp sau chót của Đức Chúa Trời cho Thành Thánh đã dính theo các hình tượng một cách tuyệt vọng và cuồng tín. Ông kêu la không dứt rằng nếu họ ăn năn, thì Đức Chúa Trời sẽ cứu họ khỏi tay Ba-by-lôn.
Như vậy, A-si-ri là bối cảnh của chức vụ Ê-sai thể nào, thì Ba-by-lôn là bối cảnh của chức vụ Giê-rê-mi thể ấy.
Tình hình quốc nội
Nước phía Bắc đã sụp đổ, và phần lớn nước Giu-đa cũng đã sụp đổ. Cả hai đã chịu hết khổ nạn nầy đến khổ nạn khác, cho đến khi chỉ còn lại thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng họ vẫn không kể đến những lời cảnh cáo liên tiếp của các Tiên tri, càng ngày càng cứng lòng trong sự thờ lạy hình tượng và tội ác. Giờ đoán phạt sắp điểm.
Tình hình quốc tế
Ba nước A-si-ri, Ba-by-lôn và Ai-cập tranh nhau làm bá chủ thế giới. Trải qua 300 năm, A-si-ri ở thung lũng phía Bắc sông Ơ-phơ-rát, thủ đô là Ni-ni-ve, đã thống trị thế giới; nhưng lúc nầy nó đã suy yếu. Ba-by-lôn ở thung lũng phía Nam sông Ơ-phơ- rát, đã trở nên hùng cường. Ai-cập ở cách 300 dặm về phía Tây nam, trong thung lũng sông Ni-lơ, 1000 năm trước, Ai-cập là một cường quốc bá chủ thế giới và đã suy yếu, nhưng nay lại có tham vọng. Vào khoảng giữa chức vụ của Giê-rê-mi, Ba-by-lôn đã thắng, phá tan quyền lực của A-si-ri năm 607 T.C., và 2 năm sau (605 T.C.), đè bẹp Ai-cập tại trận Cạt-kê-mít (Gie Gr 46:2). Và trong 70 năm, Ba-by-lôn đã thống trị thế giới; trong thời kỳ ấy, dân Do-thái đã lâm cảnh phu tù.
Sứ điệp của Giê-rê-mi
Ngay lúc đầu, tức là hai mươi năm trước khi kết cuộc phân minh, Giê-rê-mi đã luôn luôn nhấn mạnh rằng Ba-by-lôn sẽ thắng. Trong mọi lời than phiền đắng cay không dứt về sự gian ác của dân Do-thái, ta thấy Giê-rê-mi luôn luôn nhắc lại những ý sau đây:
1. Nước Giu-đa (Do-thái) sẽ bị tiêu diệt bởi Ba-by-lôn toàn thắng.
2. Nếu nước Giu-đa xây bỏ tội ác mình, thì dẫu sao, Đức Chúa Trời cũng cứu nó khỏi bị tiêu diệt bởi tay Ba-by-lôn.
3. Về sau, khi dường như chẳng còn hy vọng cho dân Do-thái ăn năn nữa, thì chỉ còn một phương tiện chánh trị, là nếu họ đầu phục Ba-by-lôn. ắt sẽ được dung tha.
4. Nước Giu-đa bị hủy phá, nhưng sẽ khôi phục và thống trị thế giới.
5. Ba-by-lôn đã tiêu diệt nước Giu-đa, thì chính mình nó sẽ bị tiêu diệt, không hề chổi dậy nữa.
Sự dạn dĩ của Giê-rê-mi
Giê-rê-mi không dứt khuyên bảo dân Giê-ru-sa-lem hãy hàng phục vua Ba-by-lôn, đến nỗi kẻ thù cáo ông là phản quốc. Vì ông khuyên bảo dân chúng như vậy, nên Nê-bu-cát-nết-sa ban thưởng cho ông: Chẳng những bảo toàn mạng sống ông, nhưng còn hiến ông bất cứ danh vọng nào mà ông muốn nhận, ngay cả một địa vị xứng đáng tại triều đình Ba-by-lôn (39:12). Nhưng Giê-rê-mi nhiều phen kêu la lớn tiếng rằng vua Ba-by-lôn đã phạm trọng tội hung tàn vì tiêu diệt dân của Đức Giê-hô-va, và bởi trọng tội đó, một ngày kia, Ba-by-lôn sẽ bị hoang vu và sẽ cứ hoang vu cho đến đời đời (xem các đoạn 50, 51).
Các vua Giu-đa đồng thời với Giê-rê-mi
Ma-na-se (697-642 T.C.).- Trị vì 55 năm. Rất gian ác (xem ở II Sử ký 33). Giê-rê-mi sanh ra dưới đời trị vì của vua nầy.
A-môn (641-640 T.C.).- Trị vì 2 năm. Đời trị vì lâu dài và gian ác của Ma-na-se, cha của ông,đã quyết định số mạng nước Giu-đa.
Giô-si -a (639-608 T.C.).- Trị vì 31 năm. Vua hiền đức,thực hiện cuộc cải cách lớn lao. Giê-rê-mi bắt đầu chức vụ năm thứ 13 của đời trị vì Giô-si-a.Cuộc cải cách chỉ có bề ngoài. Trong lòng, nhơn dân vẫn còn khuynh hướng thờ lạy hình tượng.
Giô-a-cha (608 T.C.).- Trị vì 3 tháng. Bị đem xuống Ai-cập.
Giê-hô-gia-kim (608-597 T.C.).- Trị vì 11 năm. Công khai thờ lạy hình tượng,liều lĩnh bất chấp Đức Giê-hô-va, và là một kẻ thù cay độc của Giê-rê-mi.
Giê-hô-gia-kin (597 T.C.).- Trị vì 3 tháng, bị đem qua Ba-by-lôn.
Sê-đê-kia (597-586 T.C.).- Hơi thân thiện với Giê-rê-mi, nhưng là một vua nhu nhược, một dụng cụ trong tay của các quan trưởng gian ác.
Niên biểu thời Giê-rê-mi
627 T.C. Giô-si-a bắt đầu các cuộc cải cách. Xem ở dưới IISu 2Sb 34:1-33.
626 T.C. Giê-rê-mi được Chúa kêu gọi.
626 T.C. Cuộc xâm lăng của quân Sy-the. Xem ở dưới Gie Gr 4:1-31.
621 T.C. Tìm thấy Quyển Sách. Cuộc cải cách lớn lao của Giô-si-a (IIVua 2V 22:1-23:37).
608 T.C. Giô-si-a bị Pha-ra-ôn giết tại Mê-ghi-đô.
607 T.C. Ni-ni-ve bị Ba-by-lôn tiêu diệt (hoặc 612 T.C.?)
606 T.C. Giu-đa bị Ba-by-lôn khắc phục. Cuộc lưu đày thứ nhứt.
605 T.C. Trận Cạt-kê-mít: Ba-by-lôn đè bẹp Ai-cập.
597 T.C.. Giê-hô-gia-kin bị bắt làm phu tù.
593 T.C. Sê-đê-kia qua thăm Ba-by-lôn.
586 T.C. Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy. Nước Đa-vít tạm thời chấm dứt.
Các tiên tri đồng thời với Giê-rê-mi
Giê-rê-mi là thủ lãnh của nhóm tiên tri xuất sắc qui tụ như một chòm sao sáng chung quanh sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem.
Ê-xê-chi-ên, một bạn cùng làm thầy tế lễ, nhưng hơi trẻ tuổi hơn Giê-rê-mi, cũng giảng tại Ba-by-lôn, giữa vòng các phu tù, chính những điều mà Giê-rê-mi giảng tại Giê-ru-sa-lem.
Đa-ni-ên, một người thuộc về hoàng tộc, cứ giữ được địa vị ấy trong triều đình Nê-bu-cát-nết-sa.
Ha-ba-cúc và Sô-phô-ni giúp việc Giê-rê-mi tại Giê-ru-sa-lem.
Đồng thời, Na-hum dự ngôn rằng thành Ni-ni-ve sẽ suy vong.
Đồng thời, Áp-đia dự ngôn rằng xứ Ê-đôm sẽ bị hủy diệt.
Niên biểu trong sách Giê-rê-mi
Các sứ điệp của Giê-rê-mi khi thì có niên hiệu, khi thì không. Những chỗ có chỉ tỏ thời gian là: Dưới đời trị vì của Giô-si-a: Gie Gr 1:2, 3:6. Dưới đời trị vì của Giê-hô-gia-kim: 22:18, 25:1, 26:1, 35:1, 36:1, 45:1. Dưới đời trị vì của Sê-đê-kia: 21:1, 24:1, 8, 27:3, 12, 28:1, 29:3, 32:1, 34:2, 37:1, 38:5, 39:1, 49:34, 51:59. Tại Ai-cập: 43:7, 8, 44:1. Như vậy, ta thấy rằng sách nầy không sắp đặt theo thứ tự niên đại. Một vài sứ điệp cuối lại ở đầu sách, còn một vài sứ điệp đầu lại ở cuối sách. Những sứ điệp nầy truyền bằng miệng, và có lẽ lặp đi lặp lại nhiều lần trải qua lâu năm, rồi sau Giê-rê-mi mới viết ra. Viết cuốn sách như vậy là một công việc lâu dài và khó nhọc. Viết trên những tấm giấy làm bằng da chiên hoặc da dê, thật là ít có và tốn kém. Những tấm giấy nầy cuốn quanh cây gậy, thành một cuốn sách. Có lẽ một phần vì đó mà sách Giê-rê-mi thiếu thứ tự. Sau khi chép một biến cố hoặc một diễn văn, ông mới nhớ lại một bài đã giảng từ mấy năm trước, bèn viết ra; và trong một vài trường hợp, ông không đề niên hiệu; bằng cách đó, ông viết trọn tấm giấy da đang khi mở nó ra. Về sau, khi nghĩ đến một vài bài giảng khác mà muốn viết ra, thì ông phải bắt đầu ở nơi mới ngừng viết trên cuốn giấy da, mặc dầu có mạch lạc hay không.
Gie Gr 1:1-19 -- Giê-rê-mi được Chúa kêu gọi
Ông được kêu gọi làm một công việc khó nhọc và bạc bẽo. Như Môi-se (XuXh 3:11, 4:10), ông miễn cưỡng nhận lấy trách nhiệm. Ông được kêu gọi lúc còn "là con trẻ" (câu 6), có lẽ chừng 20 tuổi. "A-na-tốt" (câu 1), quê hương ông, cách Giê-ru-sa-lem 2 dặm rưỡi về phía Đông bắc, ngày nay gọi là "Anata. " Nhắc đến "cây hạnh" (câu 11-12), là cây trổ bông rất sớm lúc mùa xuân, thì có nghĩa rằng Đức Chúa Trời sẽ mau lẹ làm thành mọi lời Ngài đặt vào miệng ông. "Nồi nước sôi" (câu 13) chỉ về đạo quân Ba-by-lôn. Lời giảng đầu tiên của ông là sự hủy diệt bởi tay Ba-by-lôn (câu 14).
Gie Gr 2:1-37 -- Dân Y-sơ-ra-ên bội đạo
Trong một lời bi thảm và hăng hái quở trách dân Y-sơ-ra-ên thờ hình tượng một cách vô liêm sỉ, ông ví họ với người vợ bỏ chồng để đi giao du hỗn loạn với bọn đờn ông, làm cho mình thành một con điếm đĩ thô bỉ.
3:1-25-- Dân Giu-đa còn xấu hơn dân Y-sơ-ra-ên
Trong đoạn 2, "Y-sơ-ra-ên" chỉ về cả nước. Trong đoạn nầy, nó chỉ về nước phía Bắc: 300 năm trước, nước phía Bắc đã phân tách khỏi nước Giu-đa, và 100 năm trước, đã bị quân A-si-ri bắt đi làm phu tù. Ám ý (métaphore ) về người vợ ngoại tình đã tiếp theo đoạn 2. Nước Giu-đa đui mù không thấy ý nghĩa sự suy vong của nước Y-sơ-ra- ên: Chẳng những họ không ăn năn, nhưng dưới đời trị vì lâu dài và gian ác của Ma-na-se, họ càng ngày càng sa ngã xuống vực sâu bại hoại. Giê-rê-mi dự ngôn rằng Giu-đa và Y-sơ-ra-ên sẽ lại thống nhứt (câu 17-18). Cũng xem 50:4-5 và OsHs 1:11.
Gie Gr 4:1-31 -- Nước Giu-đa sắp bị hoang vu
Đoạn nầy mô tả bước tiến của đạo quân Ba-by-lôn hủy phá thành Giê-ru-sa-lem (606-586 T.C.). Một phần có lẽ cũng chỉ về cuộc xâm lăng của quân Sy-the, xảy ra trước cuộc xâm lăng của quân Ba-by-lôn ít lâu.
Cuộc xâm lăng của quân Sy-the
Chính năm Giê-rê-mi được kêu gọi (626 T.C.), thì những đạo quân man rợ rất đông đúc từ phương Bắc gieo khủng khiếp cho các nước ở Tây nam Á-châu. Chúng đánh cho cường quốc A-si-ri đang nghiêng ngã một đòn kinh khủng. Nếu Pha-ra-ôn không nộp tiền cho chúng tại Ách-đốt để chúng kéo đi, thì chắc chúng đã hủy diệt nước Giu- đa. Rawlinson luận về chúng rằng: "Hết đoàn nầy tới đoàn khác của quân Sy-the tràn qua các đèo của dãy núi Caucase; chẳng ai biết chúng từ đâu đến và định làm gì. Chúng đóng đen nghịt các đồng bằng phì nhiêu của phương Nam. Chúng tiến lên như một đoàn châu chấu, không sao đếm được, không sao cự địch được; chúng thấy đất đai ở trước mặt mình như một cảnh vườn, nhưng khi chúng đi qua rồi, thì chỉ còn là một đồng vắng hiu quạnh. Người già và phụ nữ cũng chẳng được dung tha. Quân xâm lăng tàn sát dân chúng, chẳng chút thương xót; tử tế nhứt là chúng bắt họ làm tôi mọi cho chúng. Mùa màng bị ăn hết, các bầy sức vật bị đuổi đi hoặc tiêu diệt, làng mạc và nhà cửa bị thiêu hủy; khắp xứ hiện ra một cảnh tượng quạnh hiu. Sự tàn phá của chúng giống như sự tàn phá của bọn Hung nô khi tràn vào đất Ý, hoặc của quân Bảo-gia-lợi khi xâm lăng các tỉnh tốt đẹp nhứt của đế quốc Byzantin. "
Gie Gr 5:1-30 -- Cả nước Giu-đa hư hoại
Không có một người nào công bình (câu 1), hoặc trong vòng thường dân, hoặc trong vòng các quan trưởng (câu 4-5). Ai nấy phóng túng, dâm loạn, dầu người đã có vợ, có chồng cũng vậy, chẳng khác gì thú vật (câu 7-8). Họ chế giễu lời tiên tri cảnh cáo rằng gần có sự hình phạt (câu 12). Họ hoàn toàn bươn theo sự dối gạt, hà hiếp và trộm cắp (câu 26-28); họ hoàn toàn lấy sự thúi nát trong chánh phủ làm thỏa mãn (câu 30-31). Xem bí chú về các tiên tri giả (câu 30) ở dưới đoạn 23.
6:1-30-- Sự hủy diệt từ phương Bắc tới
Đây là lời tiên tri linh động mô tả sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem bởi tay quân xâm lăng Ba-by-lôn cứng rắn và hung ác (câu 22-26). Về sau, sự hủy phá nầy đã xảy ra đương lúc Giê-rê-mi còn sống. Năm nầy qua năm khác, nhiều lần, cũng như ở đây (câu 16-19), ông thiết tha và mạnh mẽ cảnh cáo họ rằng sự ăn năn là cơ hội cuối cùng cho họ có thể thoát khỏi bị hủy diệt.
7:1-34 -- Ăn năn là hy vọng duy nhứt của họ
Đây là một trong những lời Giê-rê-mi như xé lòng kêu gọi dân chúng ăn năn, căn cứ trên lời Đức Chúa Trời hứa lạ lùng rằng nếu dân chúng chịu lắng tai nghe Đức Chúa Trời mình, thì thành Giê-ru-sa-lem sẽ không sụp đổ (câu 5-7). Mặc dầu họ có những thói tục gớm ghiếc và đã dựng hình tượng ngay trong Đền thờ (câu 30), nhưng họ vẫn mê tín tôn trọng Đền thờ và các cuộc lễ ở đó. Họ dường như nghĩ rằng bất cứ việc gì xảy ra, Đức Giê-hô-va cũng không để cho thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, vì có Đền thờ Ngài ở đó (câu 4-10). Giê-rê-mi nhắc cho họ nhớ gương của Si-lô (câu 12-14; xem ở dưới I Sa-mu-ên 1).
Đức Chúa Jêsus đã trưng dẫn lời của Giê-rê-mi để ứng dụng cho Đền thờ đương thời Ngài (câu 11, Mat Mt 21:13). "Nữ vương trên trời" (câu 18) là Át-tạt-tê, nữ thần chánh yếu của dân Ca-na-an, -- sự thờ lạy nó kèm theo những hình thức vô đạo, bại hoại hơn hết. "Hi-nôm" (câu 31-32) là trũng ở phía Nam Giê-ru-sa-lem, tại đó, con nít bị thiêu làm của lễ cho Mo-lóc; về sau người ta dùng tên "Hi-nôm" để chỉ về hỏa ngục.
Gie Gr 8:1-22 -- "Mùa gặt đã qua " (câu 20)
Giê-rê-mi hoàn toàn nhận thấy những lời kêu gọi và quở trách của mình là vô ích; ông bèn nói về sự hoang vu hòng gần của nước Giu-đa mà ông coi như đã thành sự thực rồi (câu 20). "Bới xương" (câu 1): Quân xâm lăng sẽ làm như vậy để nhạo báng các hình tượng của Giu-đa. "Các tiên tri giả" (câu 10-11): Chúng nhấn mạnh rằng thành Giê-ru-sa-lem chẳng bị nguy hiểm chi hết; đó là một trong những vấn đề khó khăn hơn hết cho Giê-rê-mi (xem ở dưới đoạn 23).
9:1-26 -- Tiên tri tan vỡ cõi lòng
Giê-rê-mi là một người thương khó ở giữa một dân buông theo mọi sự hư xấu (8:6, 9:2-9). Ông khóc lóc ngày đêm vì nghĩ đến sự báo trả khủng khiếp hầu đến. Ông đi qua đi lại giữa vòng họ, nài nỉ, khuyên lơn, thuyết phục, hăm dọa và cố xin họ hãy xây khỏi tội ác, nhưng vô ích.
10:1-25-- Giê-hô-va là Chân Thần
Dường như mối đe dọa về quân Ba-by-lôn xâm lăng đã thúc giục nhơn dân nước Giu- đa làm việc hăng hái để chế tạo hình tượng, tưởng chừng hình tượng cứu họ được. Nhơn dịp nầy, Giê-rê-mi nhắc họ nhớ rằng công việc họ đang làm đó chẳng những không ích lợi gì, song còn khiến cho tội lỗi gớm ghê họ phạm nghịch cùng Đức Chúa Trời càng nặng nề hơn.
11:1-23-- Giao ước bị vi phạm
Đoạn nầy dường như thuộc về thời kỳ phản bội, sau khi đọc quyển sách Luật pháp mới tìm thấy và sau cuộc cải cách lớn lao của Giô-si-a, như IIVua 2V 23:1-37 đã thuật. Lúc nầy dân chúng đã dựng lại hình tượng, và chối bỏ giao ước mà họ vừa mới tái lập. Vì Giê-rê-mi quở trách họ, nên họ toan mưu giết ông đi (câu 9, 21).
Gie Gr 12:1-17-- Lời than phiền của Giê-rê-mi
Giê-rê-mi than phiền về các đường lối của Đức Chúa Trời khi ông đối chiếu sự khổ nạn của mình với cảnh thạnh vượng bề ngoài của những kẻ mà ông giảng nghịch đó, -- những kẻ đã chế giễu lời hăm dọa của ông. Đức Chúa Trời đáp rằng Giê-rê-mi còn phải chịu khổ nạn nhiều hơn nữa (câu 5, 6), và sự thạnh vượng của quốc gia gian ác chẳng bao lâu sẽ hết (câu 7-14). Rồi có lời hứa khôi phục trong tương lai (câu 15-17).
13:1-26-- Cái đai mục
Trong khi giảng, Giê-rê-mi dùng rất nhiều vật tượng trưng (xem ở 19:1). Cái đai chắc được tô điểm đẹp đẽ, và là một phần dễ thấy của y phục Giê-rê-mi đang khi ông đi quanh các đường phố Giê-ru-sa-lem. Về sau, nó mục, rách và dơ bẩn, dễ làm cho người ta chú ý. Đang khi đám đông tụ họp chung quanh tiên tri, thì ông được cơ hội mà giải thích rằng: Cũng một thể ấy, dân Giu-đa mà Đức Chúa Trời đã mặc lấy để đi lại giữa loài người, vốn đẹp đẽ, vinh hiển, sẽ mục và bị quăng đi.
14:1-15:21-- Lời cầu thay của Giê-rê-mi
Một cơn hạn hán dai dẳng đã làm cho xứ không có thực phẩm. Mặc dầu nhơn dân gian ác, cứng cõi đã ghen ghét, giễu cợt, nhạo báng ông, và nhiều lần tìm cách giết ông đi, nhưng Giê-rê-mi cũng đau lòng khi thấy họ khổ sở. Lời ông vì họ cầu xin Đức Chúa Trời cất cơn hạn hán đi, theo như đã chép ở hai đoạn nầy, thật là gần giống tinh thần Đấng Christ, ít thấy trong nơi nào khác của Cựu Ước. Ông bền đỗ, còn Đức Chúa Trời thì không chuyển động. Kết quả, gần như có sự bất hòa giữa Giê-rê-mi và Đức Chúa Trời. Cái gọi là "Động của Giê-rê-mi" là một trong những nơi vắng vẻ mà người ta cho rằng ông -- giống như Cứu Chúa biết bao! -- đã lui về để than khóc. Hang nầy ở chơn ngọn đồi mà 600 năm sau, người ta đã trồng Thập tự giá của Đức Chúa Jêsus.
16:1-21-- Đức Chúa Trời cấm Giê-rê-mi cưới vợ
Trong một vài trường hợp, đời sống gia đình của các Tiên tri được dùng để tăng cường gánh nặng truyền giảng của họ. Ê-sai và Ô-sê có vợ, và đặt tên con cái để bày tỏ những ý tưởng chánh yếu của mình. Còn Giê-rê-mi thì Đức Chúa Trời truyền cho ông ở độc thân để làm bối cảnh tượng trưng cho những lời ông kiên quyết dự ngôn rằng sắp có cuộc tàn sát kinh khủng. "Gây dựng một gia đình thì có ích gì chăng? Vì con cái sanh ra sẽ bỏ mạng trong cuộc tàn sát kinh khủng mà nhơn dân nước Giu-đa là nạn nhơn." Lại hãy chú ý lời hứa khôi phục trong tương lai (câu 14, 15).
17:1-27-- Tội lỗi của dân Giu-đa không thể bôi xóa được
Họ sẽ suy vong, không sao tránh khỏi. Nhưng lời hứa được lặp đi lặp lại rằng nếu họ chịu quay về với Đức Chúa Trời, thì Giê-ru-sa-lem sẽ tồn tài mãi mãi (câu 24-15). Việc họ phạm ngày yên nghỉ đã đặc biệt làm mếch lòng Đức Chúa Trời (câu 20-27).
18:1-23-- Đất sét của thợ gốm
Đây là một thí dụ rất linh động về Đức Chúa Trời có quyền phép để thay đổi vận mạng của một quốc gia. Giê-rê-mi dùng thí dụ nầy làm nền tảng cho một lời khác kêu gọi dân tộc gian ác hãy sửa lại đường lối của mình, nhưng vô ích.
19:1-15-- Cái bình bằng đất
Đây có thể là một cái bình tuyệt xảo. Giê-rê-mi cố ý đập bể bình trước mặt các thủ lãnh Giê-ru-sa-lem: Đó là một cách thức dễ cảm động để rao truyền rằng thành kiêu hãnh ấy sắp bị hủy phá. "Tô phết" (câu 6) là góc phía Đông của Hi-nôm (xem dưới đoạn 7).
Giê-rê-mi còn dùng một vài sự tượng trưng khác để khiến người ta chú ý đến, tỉ như: Cái đai mục (đoạn 13); ở độc thân (đoạn 16); đất sét của thợ gốm (đoạn 18); xiềng và ách (đoạn 27); mua ruộng (đoạn 32).
20:1-18-- Giê-rê-mi bị cầm tù
Sau khi đập bể bình trước mặt các thủ lãnh trong trũng Hi-nôm, Giê-rê-mi đi thẳng tới Đền thờ, và tại đây, ông bắt đầu giảng cùng một bài đó cho dân chúng. Vì cớ ấy, Pha-su-rơ, một chức viên trọng yếu của Đền thờ, bỏ tù ông. "Cùm" (câu 2) là một khung gỗ dùng để cột chơn, cổ và tay vào đó, khiến thân thể bị vẹo đi và đau đớn vô cùng. Bị khổ hình nầy, Giê-rê-mi lại cất tiếng phiền trách Đức Chúa Trời (câu 7-18). Xem ở dưới đoạn 12.
21:1-14-- Cuộc vây hãm bắt đầu
Dầu đoạn nầy ở phần đầu sách, nhưng lại thuộc về những ngày cuối cùng của đời Giê-rê-mi. Vua Sê-đê-kia khiếp sợ khi đạo quân Ba-by-lôn kéo đến gần, bèn xin Giê-rê-mi kêu cầu với Đức Chúa Trời. Giê-rê-mi khuyên Sê-đê-kia hãy nộp thành cho quân Ba-by-lôn để cứu dân khỏi chết.
22:1-30-- Cảnh cáo Giê-hô-gia-kim
Về niên hiệu, đoạn 22 nầy ở trước đoạn 21. Nó thuộc về đời trị vì của Giê-hô-gia-kin, là một vua cứng cỏi, gian ác và hung bạo, làm sỉ nhục cho dân tộc Đa-vít. "Sa-lum" (câu 11) chính là Giô-a-cha đã bị bắt qua Ai-cập và chết tại đó (IIVua 2V 23:31-34). Sự chết khốn nạn của Giê-hô-gia-kin (câu 18-19) đã được nhắc đến ở 24:6 và IISu 2Sb 36:6. Giê-cô-nia (Giê-hô-gia-kin) "không có con cái" (câu 30): Ông thật có con cái (ISu1Sb 3:17, Mat Mt 1:12). Do đó mà Đấng Christ xuất hiện, nhưng ông và chú là Sê-đê-kia, là các vua trần gian cuối cùng ngồi trên ngôi Đa-vít. Đó là chung cuộc của nước Giu-đa trong đời nầy.
Gie Gr 23:1-40-- Các tiên tri giả
Đây là một lời cay đắng cáo tội các thủ lãnh của dân Đức Chúa Trời. Lời Giê-rê-mi gắt gao tố cáo các vua thuộc dòng Đa-vít là một bối cảnh cho sự hiện thấy về Đấng Mê-si thuộc dòng Đa-vít sẽ ngự đến: Chính họ là trở lực lớn nhứt cản người ta tiếp nhận lời giảng của Giê-rê-mi. Những kẻ tự nhận là tiên tri của Đức Chúa Trời đã nhơn Danh Ngài mà rao truyền sứ điệp riêng và phụng sự quyền lợi riêng của mình; chúng la lên rằng: "Giê-rê-mi nói dối. Chúng ta là tiên tri của Đức Chúa Trời, và Ngài đã phán dạy chúng ta rằng thành Giê-ru-sa-lem bình an vô sự."
24:1-10-- Hai giỏ trái vả
Trái vả tốt tiêu biểu cho những người quí phái trong dân đã bị bắt qua Ba-by-lôn làm phu tù cùng với Giê-hô-gia-kin năm 597 T.C., và trước nữa, trong số ấy có Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên. Còn trái vả xấu tiêu biểu cho những người ở lại Giê-ru-sa-lem, toan nhờ Ai-cập viện trợ mà chống lại đế quốc Ba-by-lôn (IIVua 2V 24:10-20).
Gie Gr 25:1-37-- Dự ngôn 70 năm làm phu tù
Lời dự ngôn nầy ở khoảng đầu đời trị vì của Giê-hô-gia-kin (câu 1). Chừng năm 604 T.C., là lúc thế giới mà ta biết thời đó bắt đầu bị giày xéo dưới chơn đế quốc Ba-by-lôn (câu 15-38). Có điểm kỳ diệu là dự ngôn đúng đế quốc ấy cầm quyền bao lâu (câu 11-14, 29:10, IISu 2Sb 36:21, Exo Er 1:1, DaDn 9:2, XaDr 7:5). Một lời tiên tri lạ lùng. Nếu không bởi sự khải thị trực tiếp của Đức Chúa Trời, thì Giê-rê-mi không làm sao mà biết được điều ấy.
Gie Gr 26:1-24-- Giê-rê-mi bị xét xử trước mặt các quan trưởng
Các thầy tế lễ và tiên tri giả đã tố cáo ông. Nhưng Giê-rê-mi có bạn hữu trong vòng các quan trưởng, nhứt là A-hi-cam, đã cứu ông thoát chết. Tuy nhiên, một bạn đồng sự của Giê-rê-mi, là tiên tri U-ri, chẳng được may mắn như ông (câu 20-24).
Bí Chú Khảo Cổ: U-ri, Ên-na-than, Nê-đa-bia, Sa-lum
U-ri chạy trốn qua Ai-cập (câu 20-24). Vua Giê-hô-gia-kin sai Ên-na-than, là một quan trưởng (câu 22, 36:12), qua Ai-cập bắt ông về.
Một trong những "Bức thư La-ki" viết đương thời ấy (xem ở dưới đoạn 34), có nhắc đến "vị chỉ huy quân đội, là Chebariah, con trai của Ên-na-tha, đã đi qua trên đường xuống Ai-cập." Lời nầy dường như chỉ về việc tường thuật ở câu 20-24.
"Bức thư La-ki" nầy cũng nói đến "bức thư của Nê-đa-bia, tôi tớ vua, đã do tiên tri trao cho Sa-lum." Nê-đa-bia là cháu nội của vua Giê-hô-gia-kin. Sa-lum (Giô-a-cha), là anh của Giê-hô-gia-kin (IIVua 2V 23:30, 34, ISu1Sb 3:15, Gie Gr 22:11), đã bị bắt qua Ai-cập.
Gie Gr 27:1-28:16-- Xiềng và ách
Giê-rê-mi mang ách trên cổ, chẳng khác gì ách bò, và đi khắp thành Giê-ru-sa-lem mà nói rằng: Người Ba-by-lôn sẽ tra ách trên cổ dân nầy như vậy." Một tiên tri giả, tên là Ha-na-nia, mặt chai mày đá, đã bẻ gãy ách ấy (28:10). Hắn bị phạt, phải chết trong vòng hai tháng (28:1, 17).
Gie Gr 29:1-32:44-- Bức thư của Giê-rê-mi gởi cho những kẻ bị lưu đày
Viết sau khi vua Giê-hô-gia-kin và những người quí phái trong dân bị bắt qua Ba-by-lôn. Ông khuyên bảo họ hãy ở bình an và vâng phục trong cảnh phu tù, và hứa rằng sau 70 năm, họ sẽ được trở về cố hương (câu 10). Nhưng ngay ở Ba-by-lôn, các tiên tri giả, là kẻ thâm thù Giê-rê-mi, vẫn tiếp tục giao tranh với ông (câu 21-32). Đoạn 30, 31 -- Bài ca trùng hưng
Cho cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, có kèm những lời dự ngôn về Đấng Mê-si. Bài ca nầy do Đức Chúa Trời bảo viết (câu 2), để giữ lại mà so sánh với các biến cố trong những thời đại tương lai.
Tiếng khóc ở Ra-ma (31:15-20) đã được trưng dẫn ở Mat Mt 2:17-18, và lời tiên tri về sự đau đớn của Bết-lê-hem vì con trẻ ở đó bị tàn sát khi Đấng Christ giáng sanh. Đại để mối liên quan dường như thế nầy: Ra-ma là chỗ mà Giê-rê-mi (đang khóc) được thả ra khỏi đoàn phu tù sắp bị giải qua Ba-by-lôn (Gie Gr 40:1). Nơi nầy không xa Bết-lê-hem. Giê-rê-mi hình dung Ra-chên, một tổ mẫu của dân Y-sơ-ra-ên, an táng gần đó, đang khóc lóc con cháu bị hạ sát. Ngôn ngữ ông dùng đây cốt để làm hình bóng về sự đau khổ khác của Bết-lê-hem có liên quan với Biến Cố trong lịch sử thành ấy.
Giao ước mới (31:31-34). Cựu Ước là truyện tích Đức Chúa Trời đối xử với dân tộc Hê-bơ-rơ trên căn bản của giao ước lập tại núi Si-na-i. Đây là một dự ngôn minh bạch rằng giao ước Môi-se sẽ được thay thế bằng một giao ước khác. Sự thay thế giao ước Môi-se bằng giao ước Đấng Christ là luận đề chánh yếu của thơ Hê-bơ-rơ.
32:1-44-- Giê-rê-mi mua một khu ruộng
Việc nầy xảy ra một năm trước khi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Sự thiêu hủy thành phố và sự hoang vu của Giu-đa đã gần lắm. Giữa bóng tối tăm và sự tuyệt vọng của giờ phút ấy, Đức Chúa Trời truyền lịnh cho Giê-rê-mi mua một khu ruộng trong cuộc lễ công khai và cất kỹ tờ khế, để thêm sức mạnh cho lời ông dự ngôn rằng đoàn phu tù sẽ được hồi hương và đất sẽ lại được trồng tỉa.
33:1-26-- "Nhánh "
Từ Đa-vít cho đến khi bị lưu đày, có 20 vua thuộc dòng Đa-vít trị vì nước Giu-đa trong 400 năm; phần nhiều các vua nầy rất xấu. Chỉ có mấy vua xứng đáng với danh Đa-vít. Trong đoạn 22 và 23, Giê-rê-mi gắt gao tố cáo dòng vua nầy mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Ngôi Đời Đời. Tới đoạn 33 đây, ông nhắc lại và giải thích đầy đủ hơn lời tiên tri về Một Vua Cao Trọng gọi là "Nhánh," trong Ngài lời hứa sẽ được ứng nghiệm.
34:1-22-- Sê-đê-kia tuyên bố tự do
Trong khi thành Giê-ru-sa-lem bị vây, thì Sê-đê-kia tuyên bố trả tự do cho hết thảy tôi mọi, có lẽ để được ơn của Đức Chúa Trời, nhưng ông không thi hành được lời tuyên bố ấy.
Bí Chú Khảo Cổ: Các "Bức thư La-ki"
34:7 có chép rằng thành La-ki và thành A-xê-ca đã bị vua Ba-by-lôn vây hãm đang khi vua ấy cũng vây hãm thành Giê-ru-sa-lem. Người ta tìm thấy nhiều mảnh của 21 bức thư từ một đồn tiền tuyến của La-ki gởi về cho vị tướng lãnh phòng thủ La-ki trong lúc bị vây hãm. Tìm thấy năm 1935, do phái đoàn khảo cổ Wellcome, dưới quyền điều khiển của ông J.L. Starkey và Huân tước Charles Marston.
Những thư nầy viết ngay trước khi Nê-bu-cát-nết-sa tấn công lần chót bằng cách đốt lửa rực trời để thiêu thành ấy.
Người ta tìm thấy một đống tro và than ở trên sàn phòng đội vệ binh, là nơi đóng cuối cùng của những người chống giữ La-ki.
Trong một bức thư, vị sĩ quan chỉ huy đồn tiền tuyến nói rằng mình đang "chờ xem các ám hiệu từ La-ki" và mình "không thể thấy ám hiệu từ A-xê-ca" (có lẽ thành nầy đã bị chiếm rồi).
Những bức thư nầy nói đến và nhắc đích danh một số người có tên trong bản tường thuật của Kinh Thánh: "Ghê-ma-ria," một sĩ quan của vua Sê-đê-kia (Gie Gr 29:3); "Gia-a;xa-nia," một võ tướng của Nê-bu-cát-nết-sa (IIVua 2V 25:23); "Ma- tha-nia," tên cũ của vua Sê-đê-kia (IIVua 2V 24:17); "Nê-ri-gia," cha Ba-rúc, thơ ký của Giê-rê-mi (Gie Gr 43:3). Những bức thư nầy do một người đồng thời với Giê- rê-mi viết bằng chữ Hê-bơ-rơ cổ điển. Như tiếng nói từ trong kẻ chết vang lên, nó xác nhận truyện tích của Giê-rê-mi.
Gie Gr 35:1-19-- Gương của những người Rê-cáp
Người Rê-cáp là một chi phái nguồn gốc từ thời Môi-se (ISu1Sb 2:55, Dan Ds 10:29-32, Cac Tl 1:16, IIVua 2V 10:15, 23). Trải qua các thế kỷ, họ đã triệt để sống một đời khắc khổ, giản dị.
Gie Gr 36:1-32-- Vua đốt sách của Giê-rê-mi
Lúc nầy Giê-rê-mi đã nói tiên tri được 23 năm, từ năm thứ 13 đời Giô-si-a tới năm thứ 4 đời Giê-hô-gia-kin. Bây giờ, Chúa truyền bảo ông thâu góp những lời tiên tri ấy thành một quyển sách để đọc cho dân chúng nghe, vì lúc nầy Giê-rê-mi không được tự do giảng cho họ nữa (câu 5). Phải mất trên dưới một năm mới viết xong quyển sách (câu 1, 9). Sự đọc sách đã cảm động một vài quan trưởng rất sâu xa; nhưng vua đã cứng cỏi và liều lĩnh đốt sách đi. Bấy giờ Giê-rê-mi phải chép lại.
37:1-38:28-- Giê-rê-mi bị bỏ tù
Thành Giê-ru-sa-lem đang bị vây hãm, thì quân Ba-by-lôn tạm thời rút lui vì quân Ai-cập gần kéo tới; có lẽ vì tại Giê-ru-sa-lem thiếu thực phẩm, nên Giê-rê-mi toan lìa khỏi đó mà về quê hương, là A-na-tốt. Vì cớ ông bền đỗ khuyên phải đầu hàng vua Ba- by-lôn, nên kẻ thù nghịch cho đó là ông toan nhập bọn với quân Ba-by-lôn. Vậy, Giê-rê-mi bị bỏ tù vì chúng nghi ông phản quốc, làm tay sai của quân Ba-by-lôn. Sê- đê-kia thân thiện với Giê-rê-mi, nhưng lại là một vua nhu nhược.
39:1-18-- Thành Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy
Biến cố nầy cũng được chép ở đoạn 52, ở IIVua 2V 25:1-30 (xem lời chú giải ở đó) và ở IISu 2Sb 36:1-23. Nê-bu-cát-nết-sa hay tin Giê-rê-mi đã suốt đời khuyên dỗ nhơn dân Giê-ru-sa-lem đầu phục mình, bèn hứa ban cho ông bất cứ danh vọng nào mà ông chịu nhận, dầu là một địa vị cao quí tại triều đình Ba-by-lôn cũng được (câu 11-14, Gie Gr 40:1-6).
40:1-41:18-- Ghê-đa-lia được lập làm tổng đốc
Ghê-đa-lia được Nê-bu-cát-nết-sa lập làm tổng đốc cai trị đám dân còn sót lại ở Giu-đa; ông là con trai A-hi-cam, bạn có thế lực của Giê-rê-mi (40:5, 26:24). Nhưng ba tháng sau, ông đã bị mưu sát (39:2, 41:1).
Bí Chú Khảo Cổ: Cái ấn của Ghê-đa-lia
Năm 1935, tại La-ki, trong một lớp tro do Nê-bu-cát-nết-sa thiêu cháy còn lại, ông Starkey, nhân viên phái đoàn khảo cổ Wellcome, đã tìm thấy, cùng với những "Bức thư La-ki," một cái ấn có ghi lời nầy: "Thuộc về Ghê-đa-lia, người cai quản cả nhà."
Cũng tìm thấy cái ấn của Gia-a-xa-nia (Giê-xa-nia) (Gie Gr 35:3, 40:8, IIVua 2V 25:23). Ông nầy là một trong những tướng lãnh của đạo quân Ghê-đa-lia. Năm 1932, trong đống di tích của thành Mích-ba, cách Giê-ru-sa-lem 6 dặm về phía Tây bắc, là thủ đô của chánh phủ Ghê-đa-lia, W.F. Bade, nhơn viên Thái-bình-dương Tôn giáo Học viện, tìm thấy một cái ấn tuyệt mỹ bằng ngọc mã não có ghi: "Thuộc về Gia-a-xa-nia, tôi tớ của vua."
Gie Gr 42:1-43:18-- Đi Ai-cập
Đám dân còn sót lại sợ Nê-bu-cát-nết-sa trả thù vì đã giết Ghê-đa-lia, bèn chạy xuống Ai-cập, mặc dầu có lời Đức Chúa Trời cảnh cáo rõ ràng rằng nếu chạy xuống đó, sẽ bị tuyệt diệt. Họ kéo cả Giê-rê-mi đi theo.
Bí Chú Khảo Cổ: Tác-pha-nết (43:8-13)
Đây là một nơi ở biên giới Ai-cập, vừa làm đồn lũy, vừa làm cung điện, trên đường đi xứ Pa-lét-tin. Người ta đã tìm thấy đúng vị trí của nó, ở chừng mười dặm về phía Tây kinh Suez. Năm 1886, Huân tước Flinders Petrie phát giác di tích của một cung điện rộng lớn, phía trước đó có một "sân gạch rộng lớn, lộ thiên." Petrie tin rằng đây chính là chỗ Giê-rê-mi đã cất những cục đá lớn (43:8, 9).
Lại nữa, trong biên niên sử của Nê-bu-cát-nết-sa, người ta thấy chép rằng ông thật đã xâm lăng Ai-cập năm 37 tuổi, tức là năm 568 T.C., -- 18 năm sau khi Giê-rê-mi nói tiên tri rằng vua ấy sẽ làm việc ấy (43:10). Người ta tìm thấy ba bi văn của Nê-bu-cát-nết-sa ở gần Tác-pha-nết. Sử gia Josèphe quả quyết rằng Nê-bu-cát-nết-sa bắt người Do-thái từ Tác-pha-nết đi làm phu tù.
44:1-30-- Lời kêu gọi cuối cùng của Giê-rê-mi
Đây là ông cố gắng lần chót để thuyết phục họ hãy bỏ sự thờ lạy hình tượng và các thói tục kèm theo sự thờ lạy ấy; nhưng ông thất bại. Họ thách đố ông. "Nữ vương trên trời" (câu 17) là tà thần Át-tạt-tê, sự thờ lạy nó có kèm theo những hành vi đồi bại của phụ nữ, và trong trường hợp nầy, chồng họ cũng ưng thuận (câu 15, 19).
Ta không biết Giê-rê-mi qua đời tại đâu và cách nào. Theo một truyền thoại, ông đã bị người Do-thái ném đá chết tại Ai-cập. lại theo một truyền thoại khác, thì Nê-bu-cát-nết-sa đã đem ông cùng Ba-rúc từ Ai-cập qua Ba-by-lôn, và ông qua đời tại đó.
45:1-5-- Ba-rúc
Ba-rúc, thơ ký của Giê-rê-mi, là anh của Sê-ra-gia, quan thị vệ của vua (32:12, 51:59), và có lẽ là cháu nội của quan tổng đốc Giê-ru-sa-lem (IISu 2Sb 34:8). Vậy, ông là một người có địa vị và có dục vọng cao xa (câu 5). Bây giờ, tại Ai-cập ông nhớ lại lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời từ 18 năm trước và lời hứa cho sống. Ông được nhìn nhận là có ảnh hưởng lớn tới Giê-rê-mi (Gie Gr 43:3). Ông có địa vị cao đến nỗi một số sách giả mạo được gán cho ông, trong số đó có cả ngụy thư Ba-rúc căn cứ trên khẩu truyền rằng ông đã được đem qua Ba-by-lôn.
46:1-28-- Ai-cập
Mô tả sự bại trận của đạo quân Ai-cập tại Cạt-kê-mít (605 T.C.), ở khoảng giữa đời Giê-rê-mi (câu 1-12); và thêm lời tiên tri rằng Nê-bu-cát-nết-sa sẽ xâm lăng Ai-cập (câu 13-26). Lời tiên tri nầy thêm vào lời tiên tri ở 43:8-13 (xin xem khúc sách nầy). Hơn 100 năm trước, Ê-sai đã nói tiên tri về quân A-si-ri xâm lăng Ai-cập (xem ở dưới Ê-sai 18 đến 20). Ê-xê-chi-ên cũng có nói về Ai-cập (Exe Ed 19:1-32:32).
Gie Gr 47:1-7-- Xứ Phi-li-tin
Đây là lời tiên tri về quân Ba-by-lôn làm cho xứ Phi-li-tin phải hoang vu, và nói ra từ "trước khi Pha-ra-ôn chưa đánh Ga-xa" (câu 1), -- chắc là nhằm lúc đánh trận Mê-ghi-đô (608 T.C.), mà Giô-si-a bị giết, tức là lúc tương lai Ai-cập có vẻ tốt đẹp. Lời tiên tri nầy được ứng nghiệm 20 năm sau, lúc Nê-bu-cát-nết-sa chiếm đất Giu-đa. Các tiên tri khác có nói đến xứ Phi-li-tin là: EsIs 14:28-32, AmAm 1:6-8, Exe Ed 25:15-17, SoXp 2:4-7, XaDr 9:1-7.
Gie Gr 48:1-47-- Xứ Mô-áp
Bức tranh diễn tả sự hoang vu hòng gần của xứ Mô-áp, Mô-áp đã giúp Nê-bu-cát- nết-sa đánh nước Giu-đa, nhưng về sau chính nó lại bị tay vua ấy tàn phá (năm 582 T.C.). Trải qua nhiều thế kỷ, xứ nầy hoang vu và ít có dân ở; di tích của nhiều đô thị chứng tỏ rằng xưa kia nó rất đông dân. Sự khôi phục của Mô-áp (câu 47) và của Am-môn (49:6) có lẽ đã được thực hiện khi chúng sáp nhập chủng tộc Ả-rập. Một số người Ả-rập đã có mặt tại Lễ Ngũ Tuần, khi ơn phước của Tin Lành đã được công bố cho thế giới lần đầu tiên (Cong Cv 2:11). Hoặc có thể có nghĩa rằng xứ lại sẽ được thạnh vượng. Còn có những lời tiên tri khác về xứ Mô-áp: EsIs 15:1-16:14 Exe Ed 25:8-11, AmAm 2:1-3 SoXp 2:8-11.
Gie Gr 49:1-39-- Am-môn, Ê-đôm, Sy-ri, Hát-so, Ê-lam
Một lời tiên tri rằng Nê-bu-cát-nế-sa sẽ chiến thắng những nước nầy, và thật đã xảy ra như vậy. Về phần Am-môn, xin xem ở dưới Exe Ed 25:1-11 về Ê-đôm, xin xem ở dưới Áp-đia. Đa-mách đã bị Nê-bu-cát-nết-sa cướp phá năm 582 T.C..
Gie Gr 50:1-51:64-- Dự ngôn về đế quốc Ba-by-lôn suy vong
Đây dự ngôn về Ba-by-lôn suy vong và bị hoang vu vĩnh viễn. Lời lẽ xứng đáng với đề tài vĩ đại (51:37-43), cũng như Ê-sai đã mô tả trước kia (EsIs 13:17-22). Người Mê-đi dẫn đầu số nhiều dân tộc và được gọi là kẻ chiến thắng (Gie Gr 50:9, 51:11, 27, 28). Hai đoạn báo cáo sự suy vong của Ba-by-lôn nầy đã được sao lại thành một sách riêng và do một phái đoàn, có vua Sê-đê-kia cầm đầu, đem qua Ba-by-lôn, 7 năm trước khi Nê-bu-cát-nết-sa thiêu hủy thành Giê-ru-sa-lem (51:59-64), thơ nầy do chính Sê-ra-gia, quan thị vệ của vua, là anh Ba-rúc, thơ ký của Giê-rê-mi, đem đi (32:12, 51:59). Đa-ni-ên đã ở Ba-by-lôn 15 năm, và đã nói tiên tri cho Nê-bu-cát-nết-sa rằng nước của vua ấy sẽ sụp đổ (DaDn 2:1-49). Phải đọc quyển sách nầy trước công chúng, rồi trong một cuộc lễ long trọng, phải quăng sách xuống sông Ơ-phơ-rát và nói rằng: "Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy! Nó sẽ chẳng còn chổi dậy nữa" (Gie Gr 51:64).
Gie Gr 52:1-34-- Giu-đa bị bắt làm phu tù
(Xem IIVua 2V 24:1-25:30)
=====================================
Ca Thương
Một bản ai ca về sự hoang vu của thành Giê-ru-sa-lem
Sách nầy bày tỏ sự buồn rầu của Giê-rê-mi vì cớ thành Giê-ru-sa-lem mà ông đã hết sức cố cứu; tuy nhiên, ông vẫn có đức tin rằng thành nầy sẽ từ đống hoang tàn chổi dậy (CaAc 3:21, 31, 32). Nó nhắc ta nhớ lời Đức Chúa Jêsus than thở về thành Giê-ru-sa-lem (Mat Mt 23:37-38, LuLc 19:41, 44). Giê-ru-sa-lem thật đã chổi dậy và làm thủ đô của thế giới được cứu chuộc, có vinh quang đời đời (HeDt 12:22, KhKh 21:2).
Phần phụ lục cho sách Giê-rê-mi
Đoạn cuối cùng của sách Giê-rê-mi luận về sự thiêu hủy Giê-ru-sa-lem và khởi đầu cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn. Phải dọc đoạn ấy như là tiểu dẫn của sách Ca Thương. Bản Septante thêm lời mở đầu rằng: "Xảy ra khi dân Y-sơ-ra-ên bị bắt đi làm phu tù và thành Giê-ru-sa-lem bị hoang vu, thì Giê-rê-mi ngồi khóc và than vãn về Giê-ru-sa-lem bằng bài than vãn nầy, mà rằng." Người ta cho rằng lời mở đường nầy chắc ở bản Hê-bơ-rơ đã dùng để dịch ra bản Septante.
Tuy nhiên, trong Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ, sách Ca thương không tiếp theo liền sách Giê-rê-mi như trong Kinh Thánh của chúng ta, nhưng ở trong bộ sách gọi là "Hagiographa " hoặc "Tác phẩm," tức là: "Nhã Ca, Ru-tơ, Ca Thương, Truyền đạo, Ê- xơ-tê. Những sách nầy chép thành mấy cuốn riêng, vì đọc ở các lễ khác nhau. Cho tới ngày nay, khắp cả thế giới, bất cứ nơi nào có người Do-thái, họ cũng đọc sách Ca thương nầy trong nhà hội nhằm ngày 9, tháng 4 (Gie Gr 52:6), để nhớ lại sự hủy phá Giê-ru-sa-lem. Đây là một khúc ca sầu thảm, "mỗi chữ viết bằng nước mắt, và mỗi lời viết với tiếng vang của trái tim tan vỡ."
"Động của Giê-rê-mi "
Là tên của chỗ ở ngay vách ngoài thành Giê-ru-sa-lem về phía Bắc, tại đó, theo truyền thoại, Giê-rê-mi đã khóc lóc đắng cay và viết bản ai ca sầu thảm nầy về thành mà mình đã hết sức cố cứu. Động nầy ở dưới ngọn đồi nay gọi là "Gô-gô-tha," chính là ngọn đồi trồng cây Thập tự của Đức Chúa Jêsus. Như vậy, đấng tiên tri đau thương đã khóc ở nơi về sau Cứu Chúa chịu chết.
Thơ chiết cú theo vần chữ cái
Sách nầy có 5 bài thơ, mà 4 bài thuộc thể chiết cú, nghĩa là mỗi câu bắt đầu bằng một chữ cái của vần Hê-bơ-rơ, cứ theo thứ tự của vần. Đó là một hình thức thi ca Hê- bơ-rơ mà người ta rất ưa thích, cốt để giúp cho dễ nhớ. Những chữ cái của vần Hê-bơ-rơ là: Aleph, Beth, Gimel, Daleth, He, Waw, Zayin, Heth, Teth, Yodh, Kaph, Lamedh, Mem, Nun, Samekh, Ayin, Pe, Sadhe, Qoph, Resh, Sin, Taw. Trong các đoạn 1, 2, 4 mỗi đoạn có 22 câu, một chữ cái cho mỗi câu. Đoạn 3 có 3 câu cho mỗi chữ, cộng là 66 câu. Đoạn 5 có 22 câu, nhưng không theo thứ tự chữ cái.
Công dụng trực tiếp
Sách nầy chắc được trứ tác trong khoảng 3 tháng giữa lúc thành Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy và dân sót kéo xuống Ai-cập (Gie Gr 39:2, 41:1, 18, 43:7). Trong thời gian nầy chánh phủ đóng đô tại Mích-ba (Gie Gr 40:8), cách Giê-ru-sa-lem chừng 6 dặm về phía Tây bắc. Có lẽ sách đã được sao làm nhiều bản, -- bản thì đem xuống Ai-cập, bản thì đem qua Ba-by-lôn cho các phu tù học thuộc lòng và hát.
CaAc 1:1-22-- Si-ôn bị hoang vu
Tìm đầu đề cho mỗi đoạn không phải là dễ. Những ý tưởng giống nhau chạy suốt các đoạn, duy có lời thì khác: nào cuộc vây hãm khủng khiếp, nào những đống hoang tàn, hết thảy do tội lỗi của Si-ôn. Giê-rê-mi sửng sốt, kinh ngạc, tan nát lòng và khóc lóc khủng khiếp, không sao yên ủi được. Một vài chỗ, ông viết như là chính Si-ôn lên tiếng. Ở đoạn nầy, ông đặc biệt nhấn mạnh vào nhiều điểm, trong đó có điểm nầy: Vì cớ tội lỗi của mình, nên nhơn dân tự chuốc lấy tai họa (câu 5, 8, 9, 14, 18, 20, 22).
2:1-22-- Cơn giận của Đức Chúa Trời
Ông cho rằng thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá là trực tiếp bởi cơn giận của Đức Chúa Trời (câu 1, 2, 3, 4, 6, 21, 22). Giê-ru-sa-lem ở trên núi, và chung quanh có núi non bao bọc; dầu đem so sánh với Ba-by-lôn, Ni-ni-ve, Thèbes và Mem-phi, là những thành kiến thiết trên đồng bằng, Giê-ru-sa-lem cũng là đô thị đẹp nhứt thời đó theo chỗ ta biết, và "là sự đẹp đẽ trọn vẹn" (câu 15). Hơn nữa, Giê-ru-sa-lem là thành được Đức Chúa Trời săn sóc đặc biệt, được Ngài lựa chọn cho một sứ mạng vô song, là môi giới chính cho những đường lối Đức Chúa Trời đối xử với loài người, là thành được ân huệ và đặc quyền cao nhứt thế giới, được Ngài yêu mến và che chở một cách rất đặc biệt. Hơn nữa, nó có vách lũy kiên cố đến nỗi ai cũng tưởng quân thù không tài nào chiếm được (4:2). Nhưng thành nầy của Đức Chúa Trời đã hóa ra hư xấu, bại hoại hơn Sô-đôm (4:6), và những vách lũy bất khả xâm phạm không thể nào chống giữ khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có sự yêu thương vô cùng, không sao dò được, cũng là Đức Chúa Trời có cơn giận khủng khiếp nghịch cùng những ai cố ý cự tuyệt sự yêu thương của Ngài: Đó là một giáo lý được quả quyết và chứng minh rất nhiều lần suốt cả Kinh Thánh.
3:1-66-- Sự sầu khổ của Giê-rê-mi
Trong đoạn nầy, Giê-rê-mi dường như than thở rằng Đức Chúa Trời không kể đến ông và lời cầu nguyện của ông (câu 8); Đức Chúa Trời đã "ẩn mình trong mây, đến nỗi chẳng lời cầu nguyện nào thấu qua được" (câu 44). Ông vì chính mình mà nói, nhưng cũng có lúc dường như nói thay cho dân Y-sơ-ra-ên. Dầu than thở, nhưng ông cũng xưng Đức Chúa Trời là công bình, và nhìn nhận rằng họ đáng bị hình phạt nặng nề hơn nữa (câu 22). Đây là một lời cầu nguyện thảm thương xin Đức Chúa Trời lại tỏ lòng thương xót của Ngài, và chẳng phải là hoàn toàn vô hy vọng (câu 21.31, 32). Tuyệt điểm của sách nầy là câu 21-39.
4:1-5:22-- Những sự đau đớn vì cuộc vây hãm
Những sự đau đớn nầy đã được kể ra tóm tắt. Giê-rê-mi không thể không nghĩ đến những nỗi khủng khiếp của cuộc vây hãm, nhưng tiếng kêu la của con trẻ đói khát (2:11, 12, 19, 4:4), và những bà mẹ nấu con nhỏ mình mà ăn (2:20, 4:10).
Mặc dầu có những sự đau đớn khủng khiếp ấy, Giê-ru-sa-lem vẫn không học bài cần phải học. Sau cuộc lưu đày, Giê-ru-sa-lem đã được xây cất lại, và đương thời Đức Chúa Jêsus, nó lại trở thành một đô thị rộng lớn, hùng mạnh và tội lỗi nó lên tới tuyệt điểm vì đã đóng đinh Con Đức Chúa Trời vào Thập tự giá. Rồi tới lúc đạo quân La-mã tuyệt diệt Giê-ru-sa-lem (70 S.C.). Xem ở dưới HeDt 13:1-25.
=================================

Ê-xê-chi-ên
Thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ Sự đoán phạt các nước lân cận Sự khôi phục Y-sơ-ra-ên "Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va "

Ê-xê-chi-ên là một tiên tri trong thời kỳ bị lưu đày. Ông bị đem qua Ba-by-lôn năm 597 T.C., tức là 11 năm trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy.
Y-sơ-ra-ên đã bị quân A-si-ri bắt làm phu tù 120 năm trước:
734 T.C.. Xứ Ga-li-lê và miền Bắc, miền Đông Y-sơ-ra-ên, bởi tay Tiếc-la-Phi-lê-se.
721 T.C. Xứ Sa-ma-ri là phần sót lại của Y-sơ-ra-ên, bởi tay Sa-gôn.
701 T.C. 200.000 dân Giu-đa, bởi tay San-chê-ríp.
Cuộc lưu đày của dân Giu-đa qua Ba-by-lôn đã thực hiện như sau đây:
606 T.C. Một số phu tù bị đem qua Ba-by-lôn, kể cả Đa-ni-ên.
597 T.C. Thêm phu tù bị bắt qua Ba-by-lôn, kể cả Ê-xê-chi-ên.
586 T.C. Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy.
Cuộc lưu đày nầy kéo dài 70 năm (606-536 T.C.). Ê-xê-chi-ên ở Ba-by-lôn từ năm 597 T.C. tới rất ít là năm 570 T.C.. Như vậy, ông đã chịu phần nửa đầu của thời kỳ lưu đày.
Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên
Khi Ê-xê-chi-ên tới Ba-by-lôn, thì Đa-ni-ên đã ở đó 9 năm rồi, và đã được danh tiếng lớn. Đa-ni-ên ở trong triều đình, còn Ê-xê-chi-ên ở trong xứ. Có lẽ hai ông thường gặp nhau.
Ê-xê-chi-ên và Giê-rê-mi
Cả hai ông là thầy tế lễ. Giê-rê-mi cao tuổi hơn. Có lẽ Ê-xê-chi-ên là môn đệ của Giê-rê-mi. Khi Ê-xê-chi-ên bị bắt đi khỏi thành Giê-ru-sa-lem, thì Giê-rê-mi đã làm xong quá nửa chức vụ. Ê-xê-chi-ên giảng giữa vòng các phu tù những điều mà Giê- rê-mi giảng tại Giê-ru-sa-lem, ấy là dân Giu-đa chắc chắn bị hình phạt vì cớ tội lỗi của họ.
Ê-xê-chi-ên và Giăng
Một vài sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên dường như kéo dài tới sách Khải Huyền: Chê- ru-bin (Exe Ed 1:1-28, KhKh 4:1-11) Gót và Ma-gót (Exe Ed 38:1-23 KhKh 20:1-15) ăn cuốn sách (Exe Ed 3:1-27, KhKh 10:1-11) thành Giê-ru-sa-lem mới (Exe Ed 40:1-48:35 KhKh 21:1-22) sông nước sự sống (Exe Ed 47:1-22, KhKh 22:1-21).
"Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va "
Đây là một lời cốt yếu trong sách Ê-xê-chi-ên. Chúng ta đếm được 62 lần chép lời nầy: Exe Ed 6:7, 10, 13, 14, 7:4, 9, 27, 11:10, 12, 12:15, 16, 20, 13:9, 14, 21, 14:8, 15:7, 16:62, 17:21, 24, 20:21, 20, 28, 38, 42, 44, 21:5, 22:16, 22, 23:49, 24:24, 27, 25:5, 7, 11, 17, 26:6, 28:22, 23, 24, 26, 29:6, 9, 16, 21, 30:8, 19, 25, 26, 32:15, 33:29, 34:27, 30, 35:4, 9, 12, 15, 36:1, 23, 36, 38, 37:13, 14, 28, 38:16, 23, 39:6, 7, 22, 23, 28.
Sứ mạng của Ê-xê-chi-ên dường như là giải thích và chứng minh hành động của Đức Chúa Trời khi Ngài khiến hoặc cho phép dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày. Ấy vì họ đã phạm những sự gớm ghiếc không tả xiết, tức là những sự gớm ghiếc đã gây cho nhiều dân tộc khác bị tuyệt diệt. Nhưng đối với dân Y-sơ-ra-ên, chỉ là sự sửa phạt. Vì bị sửa phạt, họ sẽ Biết Rằng Giê-Hô-Va Là Đức Chúa Trời. Và họ thật đã biết. Cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn C­ứu Chữa dân Do-thái khỏi sự thờ lạy hình tượng. Cho tới lúc đó, dầu có chi đi nữa, họ cũng vẫn thờ lạy hình tượng. Nhưng từ ngày đó tới ngày nay, dầu dân Do-thái phạm tội chi khác, họ cũng không phạm tội thờ lạy hình tượng nữa.
Niên biểu của sách Ê-xê-chi-ên
Then chốt của sách nầy là sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, xảy ra năm 586 T.C.. Các lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên có từ 6 năm trước đó, và kéo dài 16 năm sau đó, tổng cộng là 22 năm. Trước khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ, bằng cách nầy hoặc cách khác, Ê-xê-chi-ên luôn luôn dự ngôn rằng chắc nó sẽ sụp đổ (đoạn 1-24). Sau đó, ông nói tiên tri về các quốc gia thờ lạy hình tượng ở tiếp cận nước Y-sơ-ra-ên sẽ bị lật đổ (đoạn 25-32), về nước Y-sơ-ra-ên sẽ được khôi phục và được vinh hiển trong tương lai (đoạn 33-48).
Exe Ed 1:2 Năm thứ 5 Tháng 4 (tháng 7 dương lịch) Ngày 5 592 T.C. 8:1 Năm thứ 6 Tháng 6 (tháng 9 dương lịch) Ngày 5 591 T.C. 20:1 Năm thứ 7 Tháng 5 (tháng 8 dương lịch) Ngày 10 590 T.C. 24:1 Năm thứ 9 Tháng 10 (tháng 1 dương lịch) Ngày 10 587 T.C. Cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem bắt đầu năm thứ 9, tháng 10, ngày 10 26:1 Năm thứ 11 Tháng 5 (?) (tháng 8 dương lịch) Ngày 1 586 T.C. 29:1 Năm thứ 10 Tháng 10 (tháng 1 dương lịch) Ngày 12 586 T.C. 29:17 Năm thứ 27 Tháng 1 (tháng 4 dương lịch) Ngày 1 570 T.C. 30:20 Năm thứ 11 Tháng 1 (tháng 4 dương lịch) Ngày 7 586 T.C.
32:1 Năm thứ 12 Tháng 12 (tháng 3 dương lịch) Ngày 1 584 T.C.
33:21 Năm thứ 12 Tháng 10 (tháng 1 dương lịch) Ngày 5 584 T.C.
Vì Ê-xê-chi-ên rất cẩn thận ghi niên hiệu các sự hiện thấy của ông, thậm chí ghi đúng cả ngày nữa, nên ta phỏng đoán rằng mọi biến cố chép sau một niên hiệu nhứt định đều thuộc về niên hiệu ấy, cho tới chỗ ghi một niên hiệu mới.
1:1-3 -- Nơi ở và niên hiệu của Ê-xê-chi-ên
Ông bị bắt đi làm phu tù cùng với vua Giê-hô-gia-kin năm 597 T.C. (ông nói về sự trạng ấy rằng: Chúng ta bị bắt làm phu tù -- 32:21, 40:1). Ông có vợ (24:15-18) và có nhà riêng (8:1). Ông sống giữa đám phu tù, trên bờ sông Kê-ba, là con kinh lớn cho tàu chạy, tách khỏi sông Ơ-phơ-rát phía trên Ba-by-lôn và chạy qua thành Nippur mà đổ vào sông Ti-gơ-rơ. Nippur cách Ba-by-lôn 50 dặm về phía Đông nam, chính là Ca-lách, một trong những thành mà Nim-rốt đã xây cất sau nạn nước lụt ít lâu (10:11). Tên A-bíp dường như là thị trấn Ê-xê-chi-ên cư ngụ (3:15, 24). Người ta cho rằng tên A-bíp ở gần Nippur. Trong miền nầy có một làng tên là "Kilfil, " là chữ "Ê-xê-chi-ên" trong tiếng Ả-rập; theo truyền thoại, thì ông ở đây và cũng được an táng tại đây. Cách đó chừng 40 dặm, có thành Fara, là nơi, theo truyền thoại, Nô-ê đã cư ngụ. Có lẽ vì đó mà Ê-xê-chi-ên đã nhắc đến tên Nô-ê (14:14, 20). Còn Eridu, vị trí của vườn Ê-đen theo truyền thoại, thì chỉ cách xa 100 dặm. Có lẽ vì đó mà Ê-xê-chi-ên thường nhắc đến vườn Ê-đen (28:13, 31:8, 9, 16, 18, 36:35).
"Con người ": Đức Chúa Trời kêu Ê-xê-chi-ên bằng danh hiệu ấy 90 lần. Trong sách DaDn 7:13, danh hiệu ấy dùng chỉ về Đấng Mê-si. Đó là phẩm tước mà Đức Chúa Jêsus thường dùng để chỉ về Ngài (xem ở dưới GiGa 1:14).
Sự hiện thấy và hành động tượng trưng là đặc điểm của sách Ê-xê-chi-ên. Một vài hành động tượng trưng của ông có kèm theo những sự đau đớn, buồn thảm, cay đắng nặng nề nhứt cho bổn thân ông. Ông phải câm một thời gian lâu (Exe Ed 3:26, 24:27, 33:22); phải nằm nghiêng một bề suốt hơn một năm (4:5) phải ăn thực phẩm kinh tởm (4:15) và vợ ông mà ông hết sức thương mến đã bị cất đi thình lình (24:16-18).
1:4-28 -- Sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên về Đức Chúa Trời
Những "vật sống" được xác định là "chê-ru-bin" (10:20). Mỗi vật sống đứng giữa một cạnh của một hình vuông, sè cánh ra đụng tới các góc của hình vuông. Mỗi chê-ru- bin có bốn mặt: mặt người từ hình vuông nhìn ra phía ngoài; bên hữu là mặt sư tử; bên tả là mặt bò; phía sau có mặt chim ưng nhìn vào trung tâm hình vuông. Có bốn cái "bánh xe quay chóng" to lớn (10:6), mỗi bánh xe ở bên cạnh một chê-ru-bin. Các bánh xe hình như bằng lục ngọc thạch, và vành bánh xe đầy những mắt. Bốn vật sống nầy chuyển vận từ nơi nọ đến nơi kia như chớp nhoáng, phát ra tiếng động như đại dương gầm thét.
Bên trên các vật sống có "một vòng khung giống như thủy tinh" (câu 22). Trên vòng khung có cái ngai bằng bích ngọc. Trên ngai "có hình như Người" (câu 26), mặc ánh sáng ngời và có cái móng bao bọc. Khung của cảnh trạng nầy là đám mây bảo vĩ đại và những chớp lửa quay mau. Đức Chúa Trời đã hiện ra với Ê-xê-chi-ên dưới hình trạng ấy. Mọi sự nầy có nghĩa chỉ về Ngài vinh hiển, quyền oai, toàn tri, toàn năng, tối cao, oai nghiêm và chí thánh.
Chê-ru-bin đã canh giữ con đường đến cây sự sống (SaSt 3:24). Hình chê-ru- bin được đặt trên hòm giao ước (XuXh 25:18-20) và thêu trên bức màn của Đền tạm (XuXh 26:31). Hình chê-ru-bin được tái tạo trong Đền thờ (IVua 1V 6:23, 29, IISu 2Sb 3:14). Không cần suy nghĩ rằng những thần tượng hình bò tót có cánh và mặt người, hoặc có đầu chim ưng, đã gợi cho Ê-xê-chi-ên sự hiện thấy về những vật sống hỗn hợp nầy. Là thầy tế lễ, ông đã thấy các chê-ru-bin trong Đền thờ. Từ lúc ban đầu, các chê-ru-bin liên quan với ý tưởng trong Kinh Thánh về tư cách thiên sứ hầu việc Đức Chúa Trời. Trong sách KhKh 4:6, 7, 5:6, 6:1, 6, 7:11, 14:3, 15:7, 19:4, các chê-ru-bin đều liên quan mật thiết với số phận của Hội Thánh đang được tỏ ra.
Chê-ru-bin là gì? Người ta thường nghĩ rằng chê-ru-bin là một ban thiên sứ thể hiện các đức tánh của muôn loài có sanh khí và liên hiệp với Đức Chúa Trời trong khi Ngài tể trị vũ trụ. Có người kể chê-ru-bin là tượng trưng cho nhơn loại được cứu chuộc, bày tỏ các quyền năng của thân thể phục sanh. Xem thêm ở 4:6.
Exe Ed 2:1-3:27-- Sứ mạng của Ê-xê-chi-ên
Ngay lúc đầu, Đức Chúa Trời cảnh cáo Ê-xê-chi-ên rằng ông được kêu gọi sống một đời chịu khó nhọc và bắt bớ. Sứ điệp mà ông phải giảng thì Ngài trao cho ông dưới hình thức một quyển sách, và Ngài truyền bảo ông phải ăn sách ấy cũng như Giăng vậy (KhKh 10:9). Sách ngọt ngào trong miệng ông, dường như có nghĩa rằng ông thấy vui mừng vì được làm sứ giả của Đức Chúa Trời, mặc dầu ông phải rao truyền một sứ điệp khổ nạn. Ăn quyển sách, hoặc ăn thật hay chỉ ăn trong sự hiện thấy, thì có nghĩa là hoàn toàn tiêu hóa nội dung quyển sách đến nỗi sứ điệp của nó trở thành một phần của chính mình ông. Ở Exe Ed 3:17-21, Đức Chúa Trời dường như đặt trên vai Ê-xê-chi-ên cái trách nhiệm về số phận của dân tộc ông; ông có trung tín truyền giảng sứ điệp của Đức Chúa Trời, thì mới tránh khỏi trách nhiệm. Ông cũng được cảnh cáo rằng thỉnh thoảng Đức Chúa Trời sẽ bắt ông làm thinh (3:26, 24:27, 33:22), cốt để khiến ông cẩn thận, chỉ nói theo như Ngài truyền bảo, chớ không tỏ bày ý tưởng riêng của mình.
4:1-7:27-- Tượng trưng cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem
Đoàn phu tù đang hy vọng sớm được trở về Giê-ru-sa-lem; nhưng đây, trong bài giảng đầu tiên, ông linh động cảnh cáo họ rằng thành Giê-ru-sa-lem sắp bị phá hủy, chẳng bao lâu sẽ có những phu tù khác nhập bọn với họ, và thời kỳ lưu đày của họ sẽ kéo dài rất ít là 40 năm. Có lẽ 40 năm là con số chẵn, chỉ tỏ một thế hệ. Lúc nầy (592 T.C.), một số phu tù đã ở đó 14 năm. 6 năm sau, thành Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy. Và kể từ ngày ấy, cuộc lưu đày còn kéo dài 50 năm nữa (586-536 T.C.).
Về số 390 năm tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên (4:5), thì bản Septante dịch là 190 năm, tức là suýt soát khoảng từ 721 đến 536 T.C.. Nếu đúng là 390 năm, thì 200 năm thêm vào sẽ kéo dài thời gian tới thời kỳ đế quốc Hy-lạp của A-lịch-sơn đại đế, trong khi chinh phục các xứ, vua nầy đã tỏ ra rất trọng vọng hết thảy người Do-thái. Có người nghĩ rằng 430 năm (390+40) là thời gian kiều ngụ tại Ai-cập (XuXh 12:40), cốt để tượng trưng cho một cuộc lưu đày thứ hai, giống như vậy.
Để làm dấu hiệu về nạn đói kém, Ê-xê-chi-ên đã ăn một thứ bánh kinh tởm làm bằng ngũ cốc, mỗi ngày ăn chừng 280 gờ-ram, và uống chừng một lít nước; bánh ấy nướng bằng phân bò (thường dùng làm nhiên liệu). Suốt cả thời kỳ vây hãm Giê-ru- sa-lem, ông nằm nghiêng một bên, hoặc luôn luôn hoặc một phần lớn mỗi ngày; nằm như vậy và ăn uống như thời đói kém đó, thì bực bội lắm.
Exe Ed 5:1-17-- Khi cuộc vây hãm đã dứt, để tượng trưng thêm cho số phận dân chúng Giê- ru-sa-lem, Đức Chúa Trời truyền lịnh cho Ê-xê-chi-ên cắt tóc, cạo râu, đốt một phần, đánh một phần bằng gươm, còn thì rải ra theo gió bốn phương.
6:1-7:27-- Một bản ai ca về đất Y-sơ-ra-ên bị hủy phá và hoang vu; ý chính là bởi sự sửa phạt kinh khủng nầy, dân Do-thái sẽ biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.
Exe Ed 8:1-11:25-- Trong sự hiện thấy, Ê-xê-chi-ên về thăm Giê-ru-sa-lem
Nhằm tháng 9, năm 591 T.C., tức là 1 năm, 2 tháng sau khi ông được kêu gọi, vào khoảng ông đã chấm dứt cuộc tượng trưng vây hãm thành Giê-ru-sa-lem. Trong trạng thái xuất thần nhập hóa (extase ), ông được chở về thành Giê-ru-sa-lem, tại đó Đức Chúa Trời chỉ cho ông thấy những cuộc thờ lạy hình tượng gớm ghiếc cử hành ngay trong Đền thờ. "Hình tượng sự ghen tương" (8:3) có lẽ là tà thần Astarte (thần Vệ nữ của người Sy-ri). Sự thờ lạy thú vật lén lút (8:10) có lẽ là bắt chước người Ai-cập. Dẫn đầu sự thờ lạy nầy là Gia-a-xa-nia (câu 11), con trai Sa-phan, thủ lãnh cuộc cải cách dưới đời trị vì của Giô-si-a (IIVua 2V 22:8). Anh em của hắn, tên là A-hi-cam và Ghê-ma-ria, vốn là thiết hữu của Giê-rê-mi (Gie Gr 26:24, 36:10, 25) ngay khi chính Giê-rê-mi kêu la gớm ghiếc hành động phạm thánh (sacrilège ) đó. Tham-mu (Exe Ed 8:14) là tà thần Adonis của người Ba-by-lôn, chồng của thần vệ nữ Sy-ri; sự thờ lạy nó cử hành với những cuộc say sưa, phóng túng, vô đạo. Như vậy, dầu hết lời cảnh cáo nầy đến lời cảnh cáo khác, hết sự hình phạt nầy, đến sự hình phạt khác, nước Giu-đa (xưa kia hùng mạnh, nhưng bây giờ đã gần tiêu diệt) vẫn cứ sa ngã càng ngày càng thấp trong vòng thờ lạy hình tượng nhơ nhuốc. Đó là một mùi hôi thúi mà mũi Đức Chúa Trời không chịu được nữa.
9:1-11-- Sự hiện thấy về cuộc tàn sát những kẻ thờ lạy hình tượng ở Giê-ru-sa-lem, trừ ra những kẻ trung tín có mang dấu của vị thiên sứ kiêm thư ký (câu 3, 4).
10:1-22-- Các chê-ru-bin ở đoạn 1 lại hiện ra, chỉ huy cuộc hủy phá và tàn sát thành Giê-ru-sa-lem.
11:1-25-- Sự hiện thấy về những kẻ phu tù được khôi phục trong tương lai sau khi bị hạ xuống, được tẩy sạch và được chữa khỏi thờ lạy hình tượng (câu 10, 12).
Làm xong sứ mạng rồi, Ê-xê-chi-ên được xe chê-ru-bin chở về nhà ở nơi bị lưu đày, rồi ông thuật lại mọi sự cho các trưởng lão nghe (8:1, 11:25).
12:1-28-- Ê-xê-chi-ên dọn đồ đạc trong nhà
Đây là một hành động tượng trưng khác để càng nhấn mạnh rằng nhân dân thành Giê-ru-sa-lem sắp bị bắt làm phu tù. Nó chứa một lời tiên tri tỉ mỉ lạ lùng về số phận Sê-đê-kia: Ông bí mật chạy trốn, bị bắt và đem qua Ba-by-lôn mà không thấy chi hết (câu 10, 12, 13). 5 năm sau, việc xảy ra đúng như lời Ê-xê-chi-ên đã nói: Sê-đê-kia toan bí mật thoát thân, nhưng bị bắt, bị móc mắt, và bị đem qua Ba-by-lôn (Gie Gr 52:7-11).
Exe Ed 13:1-23-- Các tiên tri giả
Có rất nhiều tiên tri giả tại Giê-ru-sa-lem và ở giữa vòng các phu tù (xem Giê-rê-mi 23 và 29). Chúng đem hy vọng giả dối phỉnh gạt nhân dân, chẳng khác chi xây tường mà chẳng có vữa. "Gối" (câu 18) và "khăn" (câu 21) chắc đã dùng trong một thứ nghi lễ yêu thuật.
14:1-23-- Những kẻ cầu hỏi giả hình
Đáp lại phái đoàn của những kẻ say mến hình tượng, Đức Chúa Trời không dùng lời, nhưng Ngài tiêu diệt Y-sơ-ra-ên đang thờ hình tượng một cách mau lẹ và kinh khiếp. Ngài không vì cớ một số ít người trung tín mà dung tha nó nữa. Có lẽ vì cớ Đa-ni-ên (câu 14), nên cho tới lúc nầy, Nê-bu-cát-nết-sa còn dung tha Giê-ru-sa-lem.
15:1-8 -- Thí dụ về cây nho
Không thể lấy trái, hoặc lấy gỗ, chỉ dùng làm củi thôi. Cũng một thể ấy, Giê-ru-sa-lem không dùng làm chi được nữa, chỉ để thiêu hủy đi.
16:1-63-- Thí dụ về người vợ ngoại tình
Đoạn nầy mô tả dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng rất linh động. Đây dùng hình bóng một tân phụ được chồng yêu dấu, phong làm hoàng hậu, ban cho lụa là, da hải cẩu và mọi vật tốt đẹp. Nhưng rồi nàng mãi dâm với mỗi người đờn ông đi qua, chẳng những không lấy tiền, song còn trả tiền cho các bạn tình của mình nữa. Thậm chí làm cho Sô-đôm và Sa-ma-ri phải hổ thẹn. hãy chú ý, ngay trong cảnh trạng nầy, vẫn có lời hứa lập giao ước đời đời (câu 60-63).
17:1-24-- Thí dụ về hai con chim ưng
Con chim ưng thứ nhứt là vua Ba-by-lôn. "Nhành non rất cao" (câu 4) là vua Giê-hô-gia-kin đã bị bắt qua Ba-by-lôn (IIVua 2V 24:11-16) 6 năm trước khi phán thí dụ nầy. "Giống của đất ấy" (câu 5, 13) được đem trồng (câu 5) là Sê-đê-kia (IIVua 2V 24:17). Còn chim ưng thứ hai (câu 7) là vua Ai-cập mà Sê-đê-kia nương cậy. Vì cớ phản bội, Sê-đê-kia sẽ bị đem qua Ba-by-lôn, bị hình phạt và chết ở đó (câu 13-21). Việc nầy xảy ra 5 năm sau, đúng như Ê-xê-chi-ên đã nói tiên tri từ trước (Exe Ed 12:10-16). "Chồi non" (câu 22-24) mà Đức Chúa Trời trồng về sau, trong nhà vua Đa-vít được khôi phục, đã được ứng nghiệm trong Đấng Mê-si.
18:1-32-- "Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết "
Trong các sách tiên tri, dân nói rất nhiều rằng sự lưu đày của họ là do tội lỗi chồng chất của những thế hệ trước. Thế hệ bị lưu đày bỏ qua cái thực sự rằng họ "ăn ở càng xấu hơn tổ phụ mình" (Gie Gr 7:26), và bây giờ cố đổ lỗi cho ông cha. Đại ý của đoạn nầy là Đức Chúa Trời phán xét mỗi người tùy theo hành vi riêng của họ; hơn nữa, hạnh kiểm sau chót của một người sẽ định đoạt địa vị thật của người ấy trước mặt Đức Chúa Trời (câu 21-24). Đó là một lời thiết tha kêu gọi kẻ ác hãy ăn năn (câu 30-32).
19:1-14-- Bản ai ca về ngôi của Đa-vít sụp đổ
Dùng hình bóng của một sư tử cái. Nhà Đa-vít xưa kia cao đại và hùng cường, bây giờ bị lật đổ. Sư tử con thứ nhứt là Giô-a-cha (Sa-lum) bị bắt qua Ai-cập (IIVua 2V 23:31-34). Sư tử con thứ hai (câu 5) là Giê-hô-gia-kin hoặc Sê-đê-kia, cả hai đã bị bắt qua Ba-by-lôn (IIVua 2V 24:8-25:7).
Exe Ed 20:1-44 -- Nhắc lại dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng
Hết thế hệ nầy tới thế hệ khác, họ đã dầm mình trong sự thờ lạy hình tượng dơ bẩn. Hãy chú ý lời tiên tri về sự khôi phục (xem ở dưới đoạn 37).
21:1-37-- Bài ca về thanh gươm
Thanh gươm sắp rút ra khỏi vỏ để đánh Giê-ru-sa-lem và Am-môn. "Phía Nam" (câu 2) là xứ Giu-đa. Nê-bu-cát-nết-sa được hình dung là đang lưỡng lự, không biết nên tiến đánh nơi nào trước, Giê-ru-sa-lem hay là Am-môn (câu 26). Ông đã chọn Giê-ru-sa-lem, và tấn công Am-môn 5 năm sau. "Cho đến chừng nào Đấng đáng được sẽ đến" (câu 32), nghĩa là sự lật đổ ngôi vua Sê-đê-kia sẽ kết liễu nước của Đa-vít cho đến khi Đấng Mê-si hiện ra (34:23-24, 37:24, Gie Gr 23:5, 6).
Exe Ed 22:1-31-- Các tội lỗi của Giê-ru-sa-lem
Nhiều lần Ê-xê-chi-ên kê khai rõ ràng các tội lỗi của Giê-ru-sa-lem: Tự làm ô uế bởi hình tượng, đổ huyết, ăn nuốt linh hồn, ức hiếp trẻ mồ côi cha và đờn bà góa, khinh cha mẹ, phạm ngày yên nghỉ, cho vay nặng lãi (lời), vu cáo. trộm cắp, tà dâm hỗn loạn; còn các quan trưởng, thầy tế lễ và tiên tri thì ví như muông sói, tham lam, lợi lộc, bất nghĩa.
23:1-49-- Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba
Hai chị em dâm đãng không hề chán. Đây là một thí dụ về tội thờ hình tượng của dân Y-sơ-ra-ên. Ô-hô-la là Sa-ma-ri, còn Ô-hô-li-ba là Giê-ru-sa-lem. Cả hai đã phạm tội tà dâm cho tới lúc già nua. Cả hai bị tiêu diệt bởi các tình nhơn bất chánh của chúng. Nhiều lần tình vợ chồng được dùng để diễn tả mối liên quan giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài (xem ở dưới đoạn 16). Tội ngoại tình hỗn loạn chắc đã lan tràn rất rộng (16:32, 18:6, 11, 15, 22:11, 23:43, Gie Gr 5:7, 8, 7:9, 9:2, 23:10, 14, 29:23).
Exe Ed 24:1-27-- Cái nồi sôi sục sục
Tượng trưng cho sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem nay đã gần rồi. Thịt lấy từ trong nồi đang sôi ra chỉ về các phu tù. Ten rét dính trên nồi chỉ về sự đổ máu và việc vô đạo ở trong thành. Nồi trống rỗng lại đặt trên lửa chỉ về thành bị đốt cháy.
Vợ Ê-xê-chi-ên qua đời (câu 15-24). Việc nầy xảy ra đúng ngày Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị vây hãm (câu 1, 18, IIVua 2V 25:1). Đó là một dấu hiệu xé lòng đoàn phu tù, tỏ ra rằng thành Giê-ru-sa-lem yêu dấu của họ, là sự kiêu hãnh và vinh quang của nước họ, bấy giờ bị cất đi khỏi họ. Đó là một điều mà họ không tin rằng có thể xảy ra. Ê-xê-chi-ên bắt buộc phải im lặng cho tới ba năm sau, khi được tin thành ấy đã bị thiêu hủy (câu 27, Exe Ed 33:21, 22).
25:1-17-- Am-môn, Mô-áp, Ê-đôm, Phi-li-tin
Bốn nước nầy là láng giềng gần nhứt của nước Giu-đa ở các phía Đông, Nam và Tây. Ấy là các nước thù nghịch, lấy làm khoái trá khi nước Giu-đa bị quân Ba-by-lôn tàn diệt. Ở đây, Ê-xê-chi-ên dự ngôn cho chúng cùng một số phận như vậy, y như Giê-rê-mi đã dự ngôn (Gie Gr 27:1-7). Nê-bu-cát-nết-sa khắc phục người Phi-li-tin khi chiếm lấy nước Giu-đa, và bốn năm sau, đã xâm lăng Am-môn, Mô-áp và Ê-đôm.
Exe Ed 26:1-28:26-- Thành Ty-rơ, các sự hiện thấy trong năm 586 T.C.
Những sự hiện thấy về số phận thành Ty-rơ nầy đã được ban cho Ê-xê-chi-ên cùng một năm thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, nghĩa là năm thứ 11 (26:1). Không có ghi tháng, nhưng là sau khi Giê-ru-sa-lem "trở nên hoang vu" (26:2), nhằm tháng 4 (Gie Gr 52:5, 6) và đang khi thành Ty-rơ chưa bị Nê-bu-cát-nết-sa tiến đánh (Exe Ed 26:7 -- "sẽ đem").
26:1-20-- Một lời tiên tri về thành Ty-rơ bị Nê-bu-cát-nết-sa vây hãm và bị hoang vu vĩnh viễn. Năm sau (585 T.C.), Nê-bu-cát-nết-sa vây hãm Ty-rơ. Ông mất 13 năm mới chiếm được thành nầy (585-573 T.C.).
Ty-rơ ở cách Na-xa-rét 60 dặm về phía Tây bắc, thật ra là hai thành, một ở trên hòn đảo, còn một ở trên đại lục, trong một đồng bằng phì nhiêu và có nhiều sông ngòi, ở chơn phía Tây của dãy núi Li-ban, cách cửa sông Leontes 5 dặm về phía Nam. Ty-rơ là một cường quốc hàng hải của thế giới thượng cổ, lên tới tuyệt điểm từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 6 T.C.; nó có thuộc địa ở duyên hải Bắc, Tây Phi-châu, ở Tây-ban- nha, ở Anh quốc, và kiểm soát nền thương mại Địa-trung-hải; hàng hóa của mọi nước đi qua hải cảng của nó. Thành nầy nổi tiếng vì sự huy hoàng và giàu có kinh khủng. Vì bị Nê-bu-cát-nết-sa khắc phục, nó không còn là một cường quốc độc lập nữa. Về sau, nó bị khắc phục bởi quân Ba-tư, rồi bởi A-lịch-sơn đại đế (năm 332 T.C.). Vua nầy đã chiếm nó bằng cách đắp một con đê rộng nửa dặm, từ đại lục tới hòn đảo. Nó không hề khôi phục được vinh quang thời xưa, và trải bao nhiêu thế kỷ, chỉ còn là "vầng đá sạch láng,... làm một chỗ người ta phơi lưới" (26:4, 5, 14). Lạ lùng thay, đã ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên rằng nó "không có dân ở nữa" (26:14, 20, 27:36, 28:29)!
27:1-36-- Ty-rơ, nữ chúa Địa-trung-hải, được mô tả bằng hình bóng một chiếc tàu oai hùng, đẹp đẽ vô song, chở hàng hóa và bửu vật của các nước, nhưng sắp chìm.
28:1-19.-- Lật đổ vua kiêu hãnh của thành Ty-rơ; ngự ngai trên hòn đảo không ai tới gần và chiếm được, vua nầy vẫn chế giễu mọi sự hăm dọa cảnh an ninh của mình.
28:20-24.-- Lật đổ thành Si-đôn, ở cách Ty-rơ 20 dặm về phía Bắc. Nó bị Nê- bu-cát-nết-sa chiếm cùng một lúc với thành Ty-rơ.
28:25-26Nước Y-sơ-ra-ên được khôi phục sau khi các nước lân cận nghịch thù nó đã biến mất.
29:1-32:32-- Ai-cập, sáu sự hiện thấy
Dự ngôn Nê-bu-cát-nết-sa sẽ xâm lăng Ai-cập, và Ai-cập sẽ trở thành một nước kém cỏi suốt cả tương lai.
Nê-bu-cát-nết-sa xâm lăng và cướp phá Ai-cập năm 572 và 568 T.C.. Ai-cập không bao giờ khôi phục được vinh quang thời xưa, và từ đó đến nay, chỉ đóng một vai thấp kém trong lịch sử thế giới. Thật đã ứng nghiệm lời Ê-xê-chi-ên nói tiên tri rằng nó "sẽ là một nước yếu hèn hơn hết các nước" (29:15).
29:1-16.-- Tháng giêng dương lịch, năm 586 T.C.. 6 tháng trước khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ. 15 năm trước khi Nê-bu-cát-nết-sa xâm lăng Ai-cập. Trong sự hiện thấy nầy, Ai-cập được hình dung là một con cá sấu, cũng như Ty-rơ đã được hình dung là một chiếc tàu ở đoạn 27. Con cá sấu, vua sông Ni-lơ, là một thần của Ai-cập. "40 năm" Ai-cập làm phu tù và bị hoang vu (câu 11, 12). Ấy là gần 40 năm, từ lúc Nê-bu-cát-nết-sa khắc phục Ai-cập cho tới khi đế quốc Ba-tư dấy lên (536 T.C.) và cho phép mọi dân bị bắt làm phu tù được trở về cố hương.
29:17-30:19.-- Tháng tư dương lịch, năm 570 T.C.; 16 năm sau khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ.
Sự hiện thấy nầy được ban cho Ê-xê-chi-ên lâu năm sau 5 sự hiện thấy kia và gần lúc Nê-bu-cát-nết-sa tiến vào Ai-cập; nhưng nó được đặt vào đây cho vấn đề được thống nhứt. "Chưa được tiền công nào... cho đạo binh mình" (29:18). Nê-bu-cát-nết-sa, tôi tớ mà Đức Chúa Trời dùng để hình phạt các dân, đã vây hãm thành Ty-rơ suốt 13 năm (585-573 T.C.). So với thời gian vây hãm, thì chiến lợi phẩm đã làm cho họ thất vọng, vì rất nhiều người dân đã đem của cải trốn mất. Nhưng bây giờ tại Ai-cập, ông sẽ được đền bù (câu 20). "Trong đất Ê-díp-tô sẽ không có vua nữa" (30:13), nghĩa là không có người bổn xứ cầm quyền cai trị quan trọng.
30:20-26.-- Tháng 4 dương lịch năm 586 T.C., 3 tháng trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ. "Đã bẻ" (câu 21) có lẽ chỉ về đạo quân của Pha-ra-ôn bị thất trận (Gie Gr 37:5-9).
Exe Ed 31:1-18-- Tháng 6 dương lịch, năm 586 T.C.. 1 tháng trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Ai-cập được cảnh cáo hãy chú ý đến số phận của A-si-ri, vốn hùng cường hơn Ai-cập, nhưng đã suy vong vì tay quân Ba-by-lôn.
32:1-16.-- Tháng 3 dương lịch, năm 584 T.C.. 1 năm, 8 tháng trước khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Một bức tranh mô tả Ai-cập và các đồng bạn của nó ở cõi chết.
33:1-20 -- Sự công bình của Đức Chúa Trời
Lặp lại và thêm vào ý tưởng đã giải tỏ ở 3:17-21 và 18:5-29.
33:21-33 -- Hay tin thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ
Một năm rưỡi sau khi thành nầy sụp đổ (xem niên biểu ở dưới 1:1-3). Ê-xê-chi-ên đã im lặng từ ngày cuộc vây hãm bắt đầu, tức là một khoảng 3 năm (24:1, 26, 27, 33:22). Những sự hiện thấy từ đoạn 26 đến đoạn 31 (mà phần nhiều đã được ban cho ông trong khoảng 3 năm nầy và đều nghịch cùng Ty-rơ và Ai-cập), chắc đã được viết ra, chớ không phải nói ra. sau khi nhận được tin ấy, lời nói đầu tiên của Ê-xê-chi-ên là số ít người gian ác còn sót lại tại nước Giu-đa sẽ bị tuyệt diệt (câu 23-29). 5 năm sau, Nê-bu-cát-nết-sa bắt thêm 745 phu tù (Gie Gr 52:30).
Rồi tới một lời chú thích rằng Ê-xê-chi-ên được đoàn phu tù quí chuộng (câu 30-33), vì lời giảng của ông hấp dẫn họ; nhưng họ vẫn chẳng ăn năn.
Exe Ed 34:1-31-- Một lời tố cáo những kẻ chăn dân Y-sơ-ra-ên
Đây trực tiếp đổ trách nhiệm về dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày cho các vua và thầy tế lễ tham lam, tàn ác, đã đục khoét dân chúng cùng làm cho họ lầm lạc. Đối với bối cảnh, Ê-xê-chi-ên được sự hiện thấy về Đấng chăn dân Đức Chúa Trời trong tương lai, tức là Đấng Mê-si hầu đến, phát xuất từ Đa-vít (câu 15, 23, 24). Dưới sự chăn dắt của Ngài, họ sẽ không bao giờ phải đau khổ nữa, và sẽ có "cơn mưa của phước lành" (câu 26).
35:1-15-- Số phận của Ê-đôm
Nhân dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên lúc nầy đã bị bắt đi, người Ê-đôm bèn nghĩ rằng đây là một cơ hội để chiếm lấy xứ sở của họ (câu 10, 36:2, 5). Nhưng 3 năm sau, Ê-đôm cũng chung số phận. Xem dưới sách Áp-đia.
36:1-38-- Đất Y-sơ-ra-ên sẽ lại có người ở
Dầu lúc nầy nó hoang vu, nhưng một ngày kia, sẽ nên giống như vườn Ê-đen (câu 35), có người Giu-đa và người Y-sơ-ra-ên ở đông đúc (câu 10, 31). Ấy không phải vì cớ họ, nhưng để Danh Đức Chúa Trời được vinh hiển (câu 23, 32).
37:1-28-- Sự hiện thấy về hài cốt
Đây là lời dự ngôn về sự phục sanh quốc gia của dân Y-sơ-ra-ên đang bị tản lạc, về họ trở lại cố hương, về Giu-đa và Y-sơ-ra-ên sẽ lại thống nhất dưới đời trị vì của một Vua vĩnh viễn, gọi là "Đa-vít" (câu 24-26). Đây là lời tiên tri rõ ràng rằng dân Giu-đa sẽ hối cải, quay về với Đấng Christ, như Phao-lô đã nói tiên tri ở RoRm 11:15, 25, 26.
Sự hiện thấy liên quan đến "cả nhà Y-sơ-ra-ên" (câu 11-22), cả Giu-đa và Y-sơ-ra- ên. Sách E-xơ-ra và sách Nê-hê-mi thuật lại các phu tù Giu-đa hồi hương, nhưng không nói chi hết đến các phu tù Y-sơ-ra-ên hồi hương. Tuy nhiên, những người hồi hương đều gọi là "Y-sơ-ra-ên: (Exo Er 9:1, 10:5, NeNe 9:2, 11:3). Ông Geikie nói rằng phần dân Y-sơ-ra-ên còn sót đã từ A-si-ri trở về và định cư tại xứ Ga-li-lê. Nhưng ta không thể nói rằng trong lịch sử quá khứ có gì làm ứng nghiệm lời tiên tri nầy tới một mức vừa phải. Sự ứng nghiệm còn ở tương lai.
Người ta không đồng ý kiến về điểm nầy: Phải giải thích những lời nầy đúng nghĩa đen và ứng dụng cho dân Do-thái tới mức nào, và phần nào có thể làm "hình bóng" cho giao ước Đấng Christ về đại cương (câu 26-28). Không phải luôn luôn dễ phân biệt rõ ràng cái gì phải hiểu theo nghĩa đen và cái gì phải hiểu theo nghĩa bóng. Thí dụ, cuộc đại chiến của Gót và Ma-gót ở đoạn 38, 39, sẽ xảy ra sau nầy, thì dường như không thể đánh thực sự bằng "những cung và tên, những giáo và sào" (Exe Ed 39:9). "Đa-vít" (37:24) không phải thật là Đa-vít, mà là Đấng Mê-si. Danh từ "Y-sơ-ra-ên" trong Tân Ước dầu thường dùng cho người Do-thái, song thỉnh thoảng cũng áp dụng cho tín đồ Đấng Christ (GaGl 6:16), và cũng có tỏ ra rằng người dân ngoại được bao hàm trong ý nghĩa ấy (GaGl 3:7-9, 29, RoRm 2:28-29, 4:13-16, Phi Pl 3:3). Như vậy, sự hiện thấy về xứ sở lại có dân ở, về quốc gia được phục hưng và vinh quang nầy dầu có nghĩa đen rõ rệt là thích ứng lắm, song theo một phương diện, cũng có thể là bức tranh tượng trưng cho trái đất được đổi mới; ấy cũng như sách Khải Huyền dùng một thành đẹp đẽ trên đất làm hình bóng mô tả Thiên đàng vậy (KhKh 21:1-22). các lời tiên tri trong Kinh Thánh về tương lai thường được mô tả bằng những danh từ thông dụng đương lúc ấy. Chúng tôi nghĩ trong những khúc sách giống như khúc sách nầy, có cả nghĩa đen và nghĩa bóng; ấy cũng như những sách Ma-thi-ơ, đoạn 24, một vài lời của Đức Chúa Jêsus dường như chỉ về cả sự phá hủy thành Giê-ru-sa-lem và lúc tận thế, biến cố nầy làm hình bóng cho biến cố kia.
Đấng Mê-si là trung tâm các sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên về tương lai dân Y-sơ-ra- ên. Ông gọi Ngài là "Vua" (Exe Ed 34:23, 24, 37:24, 25, 44:3, 45:7, 46:16, 17, 18, 48:21).
38:1-39:29-- Gót và Ma-gốc
Gót là vua của xứ Ma-gốc. SaSt 10:2, Ma-gốc, Mê-siếc, Tu-banh và Gô- me được kê khai là con của Gia-phết, và đã sáng lập nhóm quốc gia ở phương Bắc. Ở Exe Ed 27:13, Mê-siếc và Tu-banh được ghi là kẻ bán tôi mọi cho thành Ty- rơ; và đoạn 32:26 ghi chúng là những dân chuyên làm giặc cướp thời xưa. Có người tưởng rằng Rô-sơ nghĩa là nước Nga; người khác lại cho là không biết đúng chỉ về ai. Có người tưởng rằng Mê-siếc nghĩa là Mạc-tư-khoa (thủ đô nước Nga), hoặc Moscovie, một tên của nước Nga thời xưa, hoặc một dân tộc gọi là Moschi mà các bi văn A-si-ri có ghi là ở miền núi Caucase. Lại có người cho rằng Tu-banh là Tobolsk, một đô thị ở Tây-bá-lợi-á, hoặc một dân tộc gọi là Tibareni, ở bờ Đông-nam của Hắc-hải. Có người cho rằng Gô-me là dân Cimmériens từ phương Bắc tràn vào miền núi Caucase đương thời đế quốc A-si-ri và chiếm nhiều nơi thuộc Tiểu-Á-tế-á, nhưng rồi bị đánh lui. Còn Tô-ga-ma thì người ta cho là xứ c-mê-ni. Bất cứ các dân tộc nầy thật là ai, Ê-xê-chi-ên cũng nói rằng họ "ở phía cực Bắc" (38:6, 15, 39:2), và ta biết khá chắc chắn rằng ông có ý nói đến những dân tộc ở bên kia dãy núi Caucase. Nhìn qua bản đồ, ta cũng thấy rõ rằng trong trí óc ông nghĩ đến phần thế giới ngày nay gọi là nước Nga. Các dân tộc nầy vốn dã man, và trong cổ văn, họ được gọi chung là người Sy-the (CoCl 3:11). Vào khoảng Ê-xê-chi-ên sanh ra, miền Tây-nam Á-châu bị những đoàn quân Sy-the đông đảo từ phương Bắc tràn vào và khủng bố (xem "Cuộc xâm lăng của người Sy-the" ở dưới Giê-rê-mi 4). Những đồng bạn cao tuổi hơn Ê-xê-chi-ên còn nhớ rõ những nỗi khủng khiếp do chúng gây nên.
Trong hai đoạn nầy, Ê-xê-chi-ên dự ngôn một cuộc xâm lăng khác của người Sy-the, hung bạo hơn bội phần: Chúng liên minh với các dân tộc ở Đông-phương (Exe Ed 38:5) mà tràn vào Đất Thánh, đánh dân Y-sơ-ra-ên mới được khôi phục. Biến cố nầy xảy ra "trong những năm sau rốt" (38:8), hình như đương thời kỳ của Đấng Mê-si. Nhờ Đức Chúa Trời giúp đỡ dân Ngài, chúng sẽ bị thảm bại đến nỗi khí giới của chúng đủ dùng làm củi trong 7 năm (39:9), và phải mất 7 tháng mới chôn hết tử thi của chúng (39:14).
Có người giải thích lời dự ngôn nầy theo nghĩa đen là cuộc tấn công hùng hậu cuối cùng của các dân ngoại vào dân Do-thái, trong thời kỳ sau rốt. Người khác lại cho đó là hình bóng tiên tri về sự đắc thắng cuối cùng của Nước Đức Chúa Trời trên các lực lượng của tội ác.
Trong sách Khải Huyền, những chữ "Gót" và "Ma-gốc"(1) dùng để chỉ về mọi nước dự phần cuộc tấn công hung hăng cuối cùng của quỉ Sa-tan vào dân Đức Chúa Trời (KhKh 20:7-10).
Exe Ed 40:1-48:35-- Đền thờ được xây lại
Tháng 4 dương lịch, năm 572 T.C.. Vào khoảng Lễ Vượt Qua. 14 năm sau khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Ê-xê-chi-ên trở về thăm Giê-ru-sa-lem lần thứ hai trong sự hiện thấy; lần thứ nhứt xảy ra 19 năm trước (8:1-13), để thi hành sứ mạng tuyên án hủy diệt thành ấy. Lần nầy cốt để chỉ rõ sự trùng tu Giê-ru-sa-lem, phần lớn xác định các chi tiết của Đền thờ.
Sự hiện thấy nầy chẳng được ứng nghiệm khi dân Do-thái từ Ba-by-lôn trở về cố hương. Rõ ràng lắm, nó dự ngôn về thời kỳ Đấng Mê-si.
Có người giải thích sự hiện thấy nầy theo nghĩa đen rằng: Một ngày kia, 12 chi phái lại sẽ ở trong xứ, sẽ được phân chia xứ đúng như có tỏ đây, và Đền thờ sẽ được xây cất lại đúng như mọi đặc điểm minh xác đây, cũng sẽ có dâng thú vật làm của lễ thật. Họ gọi Đền thờ nầy là "Đền thờ của thời kỳ 1000 năm hòa bình."
Người khác lại giải thích theo nghĩa bóng, cho là một tỉ dụ nói trước về cả kỷ nguyên đạo Đấng Christ, dưới hình bóng một quốc gia được phục sanh, trùng hưng và vinh hiển.
Dầu có nhiều sự đổi khác, nhưng về đại thể, Đền thờ trong sự hiện thấy của Ê-xê- chi-ên, với những hành lang, cách sắp đặt và bày biện, theo đúng kiểu mẫu tổng quát của Đền thờ do Sa-lô-môn xây cất.
Đức Chúa Trời "sẽ ở đời đời" trong Đền thờ nầy (43:7). Lời lẽ nầy hầu như không thể xác định là một Đền thờ thật bằng vật chất. Nó chắc phải chỉ bóng về một cái gì, vì trong sách GiGa 4:21-24, Đức Chúa Jêsus đã bãi bỏ sự thờ phượng trong Đền thờ, và ở trên trời, sẽ chẳng có Đền thờ (KhKh 21:22).
Các của lễ (Exe Ed 45:9-46:24). ta tự hỏi tại sao phải có các của lễ dưới đời trị vì của "Vua"? Thơ Hê-bơ-rơ tuyên bố rõ rằng các của lễ ấy đã được ứng nghiệm và bị bãi bỏ bởi sự chết của Đấng Christ một lần đủ cả. Những người nghĩ Đền thờ nầy thật là một "Đền thờ của thời kỳ 1000 năm hòa bình" thì cho rằng dân Do-thái sẽ cứ dâng các sanh tế nầy trong khi chưa hối cải, hoặc các của lễ cốt để kỷ niệm sự chết của Đấng Christ.
Dòng sông ban sự sống (47:1-12). Đây là một trong những khúc vĩ đại nhứt của sách Ê-xê-chi-ên. Giô-ên và Xa-cha-ri cũng nói đến giòng sông nầy (Gio Ge 3:18, XaDr 14:8). Dường như đây mô tả "sông nước sự sống" ở Thiên đàng (KhKh 22:1-2). Bất cứ dòng nước nầy có thể ứng dụng theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen thể nào, nhưng về đại cương, không cần phải gò bó chút chi, ta chắc cũng có thể coi nó là một bức tranh kỳ diệu mô tả các ảnh hưởng tốt lành của Đấng Christ phát xuất từ Giê-ru-sa-lem, thành một dòng sông càng ngày càng sâu rộng, lan ra khắp thế giới, ban phước cho muôn dân bởi hiệu lực truyền sự sống, mãi tới đời đời vô cùng trên Thiên đàng.
============================== Đa-ni-ên Người Hê-bơ-rơ làm chánh khách và tiên tri tại Ba-by-lôn. Từ lúc còn thiếu niên, Đa-ni-ên đã bị đem qua Ba-by-lôn, và sống tại đó suốt cả thời kỳ lưu đày; nhiều lúc ông giữ địa vị rất cao trong đế quốc Ba-by-lôn và đế quốc Ba-tư.
Thành Ba-by-lôn1 Ba-by-lôn, nơi Đa-ni-ên thi hành chức vụ, là thành phố kỳ quan của thế giới thời xưa. Vị trí của Ba-by-lôn ở nơi loài người phát tích, gần khu vực của vườn Ê-đen, và được kiến thiết chung quanh tháp Ba-bên. Nó là thủ đô đầu tiên của đế quốc; là nơi ở của các vua Ba-by-lôn, A-si-ri, Ba-tư và của cả A-lịch-sơn đại đế nữa; là một đô thị danh tiếng suốt cả thời kỳ trước đạo Đấng Christ. Ba-by-lôn lên tới tuyệt điểm hùng cường và vinh quang đương thời Đa-ni-ên, bởi tay Nê-bu-cát-nết-sa, là bạn của Đa-ni-ên. Suốt 40 năm trị vì, Nê-bu-cát-nết-sa không ngừng xây cất và tô điểm các cung điện và đền miễu tại Ba-by-lôn.
Diện tích thành Ba-by-lôn. -- Các sử gia thời xưa nói rằng châu vi vách thành nầy là 60 dặm, mỗi bề 15 dặm, cao gần 100 thước tây, dày hơn 25 thước, và sâu xuống đất gần 12 thước, hầu cho quân thù không đào ở dưới được. Vách thành xây bằng gạch chừng 1000 phân vuông, và dày từ 7 đến 10 phân; suốt chung quanh, có khoảng trống 1/4 dặm giữa thành và vách thành; vách thành được che chở bằng những đường mương (kinh đào) sâu, rộng, đổ đầy nước. Trên vách thành có 250 tháp canh, những phòng cho lính gác, và 100 cổng thành bằng đồng. Thành có sông Ơ-phơ-rát chảy qua, chia làm hai phần đều nhau. Suốt dọc hai bờ sông, có vách gạch phòng vệ, với 25 cổng nối liền các đường phố và đò ngang. Có một chiếc cầu xây trên trụ đá, dài nửa dặm, rộng gần 10 thước tây, có cầu rút, ban đêm cất đi. Dưới sông có một đường hầm, rộng chừng 5 thước tây và cao chừng 4 thước. Những cuộc đào bới trong mấy năm gần đây đã chứng minh phần lớn ký văn dường như thần thoại của các sử gia thời xưa.
Đền đồ sộ thờ Marduk (Bel ) tiếp giáp tháp Ba-by-lôn (Ba-bên?), và là đền thờ có danh tiếng hơn hết suốt cả thung lũng Ơ-phơ-rát. Trong đó có tượng thần Bel bằng vàng và một cái bàn bằng vàng, cả hai cân nặng không dưới 50.000 cân Anh (chừng 22.650 kí-lô). Trên nóc cũng có tượng thần Bel và thần Ishtar bằng vàng, 2 con sư tử bằng vàng, một cái bàn bằng vàng dài chừng 13 thước tây và rộng chừng 5 thước tây, một cái hình người bằng vàng đặc, cao gần 6 thước tây. Quả thật, Ba-by-lôn là kinh thành có rất nhiều vàng. Thành nầy rất sùng đạo: Nó có 53 ngôi đền và 180 bàn thờ thần Ishtar.
Có lẽ "tượng bằng vàng" đã được dựng lên tại đồng bằng ở giữa tháp Ba-by-lôn và cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa.
Cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa mà Đa-ni-ên thường ra vào, là một trong những công trình kiến trúc đẹp đẽ nhứt từng có trên mặt đất. Năm 1899-1912, ông Koldeway khám phá được di tích rộng lớn của cung điện nầy. Vách phía Nam của điện vua ngự triều dày hơn 6 thước tây. Phía Bắc của cung điện có 3 bức tường phòng vệ. Ngay phía Bắc 3 bức tường nầy lại có những bức tường dày hơn 16 thước tây. Xa hơn chút nữa, lại có những bức tường đồ sộ. Và chừng một dặm nữa là vách lũy phía trong của thành, gồm hai bức tường chạy song song, xây bằng gạch, mỗi bức dày hơn 6 thước rưỡi, cách nhau hơn 13 thước tây, khoảng giữa đổ đầy gạch vụn; tổng cộng bề dày là 26 thước và phía ngoài có đường mương (con kinh) vừa sâu, vừa rộng. Xa hơn nữa là vách lũy phía ngoài, cũng xây cất theo cách đó. Trong những ngày tranh chiến thời xưa, thành Ba-by-lôn quả là không sao chiếm được.
Vườn treo của Ba-by-lôn là một trong 7 kỳ quan của thế giới thời xưa, do Nê-bu-cát-nết-sa xây dựng cho hoàng hậu, người Mê-đi, con gái kiều diễm của Cyaxeres (tiếng Pháp là: Cyaxare ), đã giúp cha của ông chiếm thành Ni-ni-ve. Vườn nầy ở trên nhiều hàng khung vòm, hàng nọ chồng lên hàng kia, và mỗi hàng đỡ một cái sân mặt phẳng đúc đặc. Mỗi sân chiếm chừng 36 thước vuông. Sân và nóc có hoa, cây nhỏ, cây lớn bao phủ. Trên nóc có hồ chứa nước tưới, do máy bơm thủy áp từ dưới sông đưa lên đó. Bên dưới, trong những khung vòm, có nhiều căn phòng hoa lệ, là nơi tiêu khiển của cung điện. Vườn Treo xây cất đang khi Đa-ni-ên cai quản các bác sĩ Ba-by-lôn. Ông Koldeway phát giác được các khung vòm ở góc Đông-bắc của cung điện, và ông cho đó là Vườn Treo.
Đường rước kiệu, là con đường lớn và thánh của nhà vua, bắt đầu ở phía Bắc, lần lần lên cao, chạy vào khu cung điện ở góc Đông-bắc, qua cổng Ishtar, lên trung tâm của thành, và lần lần xuống thấp tới góc Đông-nam của tháp Ba-by-lôn, tại đó nó xây thẳng ra phía Tây, tới cầu bắc trên sông cái. Ở hai bên có những bức tường phòng thủ kiên cố, dày hơn 6 thước rưỡi, tô điểm bằng những hình sư tử chạm nổi, có nhiều màu chói lọi và bóng láng. Đường lát bằng đá phiến 30 tấc vuông. Gần lối vào cung điện, các phiến đá vẫn còn nguyên chỗ cũ, y như Đa-ni-ên bước chơn trên đó.
* * *
Thành Ba-by-lôn2
Dự ngôn sự hủy phá. -- "Ba-by-lôn, là sự vinh hiển các nước, sự hoa mỹ của lòng kiêu ngạo người Canh-đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Đức Chúa Trời đã lật đổ. Nó sẽ chẳng hề có người ở nữa, trải đời nọ sang đời kia không ai ở đó... Những thú rừng nơi sa mạc sẽ cùng chó rừng làm ổ tại đó... Nhà cửa đầy những chim cú... Sài lang sủa trong cung điện, chó rừng tru trong đền đài vui sướng... Chúng nó sẽ ngủ một giấc đời đời và không tỉnh thức nữa (EsIs 13:17-22, Gie Gr 51:37-43, 57).
Suốt thời kỳ đế quốc Ba-tư, Ba-by-lôn vẫn còn là một đô thị quan trọng. A-lịch-sơn đại đế muốn khôi phục vinh quang của nó, nhưng kế hoạch nầy không thành vì ông đã sớm băng hà. Sau ông, nó đã suy vi. Đương thời Đấng Christ, nó mất ngôi bá chủ chánh trị và thương mại; nhằm thế kỷ thứ nhứt S.C.; phần lớn nó đã thành đống hoang tàn. Gạch của nó dùng để kiến thiết thành phố Bagdad và sửa chữa các kinh đào. Trải qua nhiều thế kỷ, nó chỉ là một đám gò nỗng hoang vu, một nơi ở của thú vật chuyên sống trong sa mạc. Lời tiên tri đã ứng nghiệm lạ lùng; Ba-by-lôn vẫn chẳng có người ở, trừ ra một làng ở góc Tây-nam.
Di tích. -- Các gò nỗng ngày nay là di tích của những lâu đài đồ sộ đã chiếm khu trung tâm của Ba-by-lôn. Phần nhiều ở phía Đông của sông cái, và chiếm một khu dài 3 dặm rưỡi, rộng 3 dặm. Ba gò nỗng chính mà ta nhận thấy trên bản đồ là: Babil ở phía Bắc, Kasr ở giữa, và Amran ở phía Nam. Babil là pháo lũy chống giữ lối vào thành ở phía Bắc; lối vào nầy cách Babil và Kasr chừng một dặm rưỡi. Kasr chừng nửa dặm vuông, cao chừng 23 thước tây, và gồm di tích cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa. Amran cách Kasr nửa dặm về phía Nam, cũng rộng và cao như vậy, chứa di tích của miễu thờ thần Marduk (Bel ). Trên đồng bằng ở góc phía Bắc của gò nỗng Amran có di tích tháp Ba-by-lôn đồ sộ mà người ta thường cho là tháp Ba-bên. Những gò nỗng thấp ở giữa Kasr và Amran, hơi hướng về phía Đông, mang tên Merkes, vốn là khu thương mại và cư trú của thành Ba-by-lôn.
Bản đồ số 43 -- Di tích thành Ba-by-lôn
Nhìn vào đống hoang tàn, ta khó nhận thấy rằng đây là vị trí của Ba-by-lôn vĩ đại thuở xưa, là thành hoa lệ, hoang phí và tội ác quá mức tưởng tượng, vô song trong lịch sử thế giới, mà nay chỉ là một cảnh tượng hoàn toàn hoang vu và tàn diệt.
Các cuộc đào bới do ông Rich bắt đầu năm 1811 S.C., rồi cứ tiếp tục bởi Layard (1850), Oppert (1854) và Rassam (1878-1889). Nhưng công việc hoàn hảo nhứt đã do một phái đoàn Đức, dưới quyền điều khiển của Robert Koldeway (1899-1912).
Đế quốc Ba-by-lôn
Đương thời Đa-ni-ên, Ba-by-lôn chẳng những là đô thị bậc nhứt của thế giới trước kỷ nguyên Đấng Christ, song còn là thủ phủ của đế quốc hùng mạnh nhứt chưa từng có tới ngày đó. Đế quốc nầy tồn tại được 70 năm. Đa-ni-ên ở đó từ lúc nó dấy lên cho tới lúc nó suy vong.
Đa-ni-ên đã sống dưới đời trị vì của các vua sau đây: Nabopolassar (625-604 T.C.); Nê-bu-cát-nết-sa (604-561 T.C.); Ê-vinh-mê-rô-đác (561-560 T.C. -- xem IIVua 2V 25:27); Neriglissar (559-556 T.C.); Labash-marduk (556 T.C.); Nabonidas (555-436 T.C.); con trai ông nầy là Bên-xát-sa, đồng trị với ông trong những năm cuối cùng của đời ông trị vì.
Như vậy, Đa-ni-ên sống tại Ba-by-lôn từ năm thứ nhứt của Nê-bu-cát-nết-sa, trải qua đời trị vì của 5 vua kế tiếp, trải qua lúc đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ, đến đế quốc Ba-tư, trải qua đời trị vì của Đa-ri-út, người Mê-đi, mãi tới năm thứ ba của Si-ru, người Ba-tư (DaDn 10:1). Tổng cộng là 72 năm, từ 606 T.C. tới 534 T.C., tức là từ năm thứ nhứt dân Do-thái bị lưu đày tới năm thứ hai sau khi họ từ chốn lưu đày hồi hương. Ông là người làm chứng cho Đức Chúa Trời trong triều đình của đế quốc đã cai trị thế giới.
Nê-bu-cát-nết-sa
Đa-ni-ên là bạn hữu và cố vấn của Nê-bu-cát-nết-sa. Nê-bu-cát-nết-sa là bậc thiên tài và là người thật đã tạo lập đế quốc Ba-by-lôn. Ông trị vì 45 năm trong số 70 năm của đế quốc nầy.
Nabopolassar, cha của Nê-bu-cát-nết-sa, làm phó vương Ba-by-lôn và đã bẻ gãy ách thống trị của người A-si-ri (625 T.C.). Ông thực hiện nền độc lập của Ba-by-lôn, và cai trị thành nầy từ 625 đến 604 T.C..
Năm 609 T.C., Nê-bu-cát-nết-sa được cử làm thống tướng các đạo quân của cha mình. Ông xâm lăng các nước ở phương Tây, đoạt quyền kiểm soát xứ Pa-lét-tin nơi tay người Ai-cập (606 T.C.), và bắt một số người Do-thái về Ba-by-lôn làm phu tù, trong số đó có Đa-ni-ên.
Cùng năm đó (606 T.C.), ông lên ngôi đồng trị với cha mình; và năm 604 T.C., ông trị vì một mình. Ông tự tỏ ra là một vua hùng mạnh nhứt của mọi thời đại.
Năm sau (605 T.C.), ông phá tan thế lực của Ai-cập tại trận Cạt-kê-mít lừng danh trong lịch sử. Năm 597 S.C., ông đè bẹp một cuộc nổi loạn mới tại xứ Pa-lét-tin, bắt vua Giê-hô-gia-kin và nhiều phu tù khác về Ba-by-lôn, trong số ấy có Ê-xê-chi-ên.
Năm 586 T.C., ông thiêu hủy thành Giê-ru-sa-lem, bắt thêm nhiều phu tù. Rồi suốt 13 năm, quân đội của ông vây hãm thành Ty-rơ (585-573 T.C.).
Năm 582 T.C., ông xâm lăng, cướp phá các xứ Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm và Li-ban. Năm 581 T.C., ông lại bắt thêm phu tù Do-thái. Ông xâm lăng, cướp phá Ai-cập năm 572 T.C., và 568 T.C.. Ông băng hà năm 561 T.C..
Đa-ni-ên có ảnh hưởng mạnh mẽ trên ông; ba lần ông nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên là Chân Thần (DaDn 2:47, 3:29, 4:34).
Bí Chú Khảo Cổ: Viên đá ngũ sắc của Nê-bu-cát-nết-sa
Trong quyển Thánh Kinh từ điển của Schaff có lời chép rằng: "Tại Bảo-tàng-viện của kinh thành Bá-linh, có một viên đá ngũ sắc nền đen, chạm hình Nê-bu-cát-nết-sa do lịnh ông truyền, và có ghi câu nầy: Để tôn vinh Mê-rô-đác, Chúa của mình, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đang lúc sanh tiền, đã truyền lịnh làm vật nầy." Ta há chẳng thích thú vì thấy hình của ông vua hùng mạnh trong lịch sử Kinh Thánh thời xưa, sao?
Sách Đa-ni-ên
Chính sách nầy tỏ ra Đa-ni-ên là tác giả của nó (7:1, 28, 8:2, 9:2, 10:1, 2, 12:4, 5). Chính Đấng Christ đã thừa nhận như vậy (Mat Mt 24:15). Người Do-thái và các tín đồ trong Hội Thánh đầu tiên đều đã nhìn nhận như vậy. Porphyre, một nhà vô tín ở thế kỷ thứ 3 S.C., đưa ra lý thuyết rằng sách Đa-ni-ên là sách giả mạo soạn trong thời kỳ phái Macchabées khởi nghĩa (168-164 T.C.). Tuy nhiên, cái quan điểm cổ truyền rằng sách nầy là một tài liệu lịch sử có từ lúc Đa-ni-ên sanh tiền, đã được toàn thể các học giả tin theo Đấng Christ và các học giả Do-thái chấp nhận, cho tới khi phái phê bình kim thời dấy lên. Ngày nay, nhơn danh "học giới kim thời," các nhà phê bình làm sống lại lý thuyết của Porphyre, nêu ra như một thực sự hiển nhiên rằng sách nầy do một tác giả vô danh biên trứ, -- tác giả nầy sống 400 năm sau đời Đa-ni-ên, mạo nhận tên Đa-ni-ên, và trao tác phẩm giả mạo của mình cho người đương thời mà bảo đó thật là tác phẩm của một vị anh hùng đã chết từ lâu. Tuy nhiên, các nhà phê bình nhấn mạnh rằng sự trạng nầy không thủ tiêu giá trị tôn giáo của sách. Đó là một quan điểm kỳ lạ về luận lý, phải không? nếu sách không phải do Đa-ni-ên trứ tác như nó tự nhận đó, thì chúng ta làm thế nào mà nghĩ được rằng Đức Chúa Trời đã dự phần trong sự lừa dối đó? Vì nếu tác giả đội danh các vị anh hùng đã sống lâu lắm về trước mà trình bày ý tưởng riêng của mình thì đó chưa phải là sự lương thiện thông thường nữa kia. Hơn nữa, các nhà phê bình kim thời cố gắng "giải thích rằng việc xảy ra trước chỉ là phản chiếu việc xảy ra sau, thành thử chính việc xảy ra sau không sao giải thích được," và gây thêm nhiều khó khăn, chớ chẳng giải quyết chi cả. Chúng tôi ngờ rằng then chốt thật của sự toan làm mất giá trị của sách Đa-ni-ên chính là trí khôn kiêu hãnh, không chịu nhìn nhận các phép lạ tuyệt vời và các lời tiên tri kỳ diệu ghi chép trong sách ấy.
Sách chép bằng tiếng Araméen, hoặc Canh-đê, từ 2:4 đến 7:28, là tiếng thương mại và ngoại giao đương thời ấy. Còn thì chép bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Đó là điều ta có thể tiên liệu trong một quyển sách viết cho người Do-thái đang sống giữa người Ba-by-lôn, trong có bản sao các công văn của chánh phủ Ba-by-lôn bằng nguyên văn Ba-by-lôn. Chắc E-xơ-ra đã đem sách nầy về Giê-ru-sa-lem.
1:1-21-- Con người Đa-ni-ên
Đa-ni-ên ở trong đoàn phu tù đầu tiên bị bắt từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn (606 T.C.). Ông thuộc về hoàng tộc hoặc quí tộc (câu 3). Sử gia Josèphe nói rằng Đa-ni-ên và ba bạn của ông là bà con với vua Sê-đê-kia. Do đó, họ được phép ra vào cung điện Ba-by-lôn dễ dàng hơn. Họ là những thanh niên đẹp đẽ, thông minh, xuất sắc, đã được Đức Chúa Trời săn sóc đặc biệt và huấn luyện để làm chứng cho Danh Ngài tại triều đình ngoại đạo khi ấy đang cai trị thế giới. "Đồ ngon vua ăn" (câu 8) mà họ không chịu ăn, chắc đã dâng làm tế lễ cho các hình tượng Ba-by-lôn rồi. Việc Đa-ni-ên dấy lên địa vị tiếng tăm khắp thế giới một cách kỳ lạ đã được ghi ở sách Exe Ed 14:14, 20 và 28:3, là sách chép 15 năm sau, trong lúc Đa-ni-ên còn là một thanh niên. Ông là một người phi thường thay! Ông tuyệt đối không tẻ tách khỏi lòng tin đạo kiên quyết, nhưng lại rất trung thành với ông vua thờ lạy hình tượng đến nỗi được giao cho cai quản công việc của đế quốc Ba-by-lôn.
DaDn 2:1-49 -- Pho tượng trong chiêm bao
Việc nầy xảy ra năm thứ hai đời vua Nê-bu-cát-nết-sa trị vì một mình. Đa-ni-ên vẫn còn là một thanh niên, và mới ở Ba-by-lôn có 3 năm.
Theo như người ta thường hiểu, thì 4 đế quốc cầm quyền bá chủ thế giới dự ngôn ở đây thì chính là các đế quốc Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp và La-mã. Từ thời Đa-ni-ên cho đến khi Đấng Christ xuất hiện, thế giới do bốn đế quốc nầy cai trị, đúng như Đa-ni-ên đã dự ngôn. Đương thời đế quốc La-mã, Đấng Christ xuất hiện và lập một Nước: Mới đầu như hột cải, Nước Ngài trải qua nhiều cuộc thăng trầm, và ngày nay tự chứng tỏ rằng sẽ trở nên một Nước đời đời, gồm cả thế giới và sẽ được vinh quang đầy trọn khi Chúa tái lâm.
Các nhà phê bình cho rằng sách Đa-ni-ên được trứ tác đương thời khởi nghĩa của phái Macchabée; vậy, muốn giải thích rằng sách Đa-ni-ên liên quan đến những biến cố quá khứ, chớ chẳng phải là dự ngôn về tương lai, họ thấy cần đặt cả 4 đế quốc vào niên hiệu trước khi biên trứ sách Đa-ni-ên nầy. Vậy, họ chia đế quốc Ba-tư làm hai đế quốc: Mê-đi và Ba-tư, để đặt đế quốc Hy-lạp vào hàng thứ tư. Nhưng thật ra không có đế quốc Mê-đi và đế quốc Ba-tư sau khi đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ. Muốn đặt ra tình trạng ấy, thì chỉ là cố gắng làm sai lạc các thực sự lịch sử để chứng minh một lý thuyết. Người Mê-đi và người Ba-tư là một đế quốc ở dưới quyền cai trị của các vua Ba-tư. Đa-ri-út, người Mê-đi, chỉ là một phó vương cai trị ít lâu và ở dưới quyền của Si-ru, người Ba-tư, cho đến khi Si-ru tới nơi.
Hơn nữa, trong thời kỳ phái Macchabée khởi nghĩa, không xảy ra biến cố nào khả dĩ tương xứng với "Hòn Đá đục ra từ núi" (câu 45), hoặc khả dĩ gọi là khởi đầu của Nước Đức Chúa Trời bất cứ theo phương diện nào.
Hơn nữa, không thể có cách nào "nắn" các con số để khiến cho 70 tuần lễ ở đoạn 9 được đầy trọn nhằm thời phái Macchabée khởi nghĩa.
Lời tiên tri về 4 đế quốc đây lại được nói rộng thêm ở đoạn 7 luận về 4 con thú, ở đoạn 8 luận về chiên đực và dê đực, ở đoạn 9 luận về 70 tuần lễ, và ở đoạn 11 luận về các cuộc giao tranh giữa vua phương Bắc và vua phương Nam.
3:1-30-- Lò lửa hực
Theo bản Septante, biến cố nầy xảy ra năm thứ 18 đời trị vì của Nê-bu-cát-nết-sa, sau khi Đa-ni-ên và ba bạn ông đã ở Ba-by-lôn chừng 20 năm. Đó chính là năm mà Nê-bu-cát-nết-sa thiêu hủy thành Giê-ru-sa-lem (năm 586 T.C.).
Mấy năm trước, Đức Chúa Trời đã tỏ cho Đa-ni-ên chiêm bao của Nê-bu-cát-nết-sa và cách giải thích chiêm bao thể nào, thì cũng một thể ấy, bây giờ Ngài đặt trong lòng ba người nầy sự kiên quyết trung thành với Đức Chúa Trời. Rồi Ngài cùng đi vào lò lửa với họ, chẳng những để tôn trọng đức tin họ, song cũng để bày tỏ trước mắt quần thần của đế quốc rất rộng lớn đang tụ hội kia rằng Đức Chúa Trời của Giê-ru-sa-lem có quyền phép trên các thần của Ba-by-lôn mà chúng vẫn khoe khoang. Như vậy, lần thứ hai, Đức Chúa Trời đã tỏ mình trong triều đình của một đế quốc hùng mạnh, và cũng lần thứ hai, vua Nê-bu-cát-nết-sa hùng mạnh sấp mình trước mặt Đức Giê-hô-va và tuyên bố Ngài là Chân Thần cho tới biên giới cùng tột của đế quốc mình.
Có một ngụy kinh gọi là "Bài ca của ba đứa con thánh," nội dung là lời ba người nầy ca khen Đức Chúa Trời vì được Ngài giải cứu. Bài ca nầy được thêm vào sách Đa-ni-ên, sau đoạn 3:23. Nó thể hiện một truyền thuyết lan rộng trong dân chúng, nhưng không bao giờ được coi là một phần của Kinh Thánh (Cựu Ước) Hê-bơ-rơ.
Năm 1854, ông Oppert đào bới di tích ở Ba-by-lôn, đã thấy cái bệ của một pho tượng khổng lồ tại một chỗ gọi là Duair; có lẽ đó là di tích tượng vàng khổng lồ của Nê-bu-cát-nết-sa (câu 1).
4:1-37 -- Nê-bu-cát-nết-sa hóa điên và được lành mạnh
Đây là truyện tích một chiêm bao khác của Nê-bu-cát-nết-sa mà Đa-ni-ên giải thích, và mọi sự đã xảy ra rất đúng. Nê-bu-cát-nết-sa bị một bịnh tinh thần, tưởng mình là con thú và đã hành động như một con thú. Ông đi lang thang giữa những con thú trong vườn của khu hoàng cung. Lần thứ ba Nê-bu-cát-nết-sa sấp mình trước mặt Đức Giê-hô-va, và tuyên bố quyền phép của Ngài với cả thế giới. "Bảy kỳ" (câu 32), -- chữ nầy nghĩa là "mùa." Có người tưởng là 7 năm, có kẻ cho là 7 tháng. Ông Rendal Harris nói rằng: "Ở xứ Ba-by-lôn, người ta chỉ kể mùa hạ và mùa đông." Như vậy là 3 năm rưỡi.
Trong một bi văn của Nê-bu-cát-nết-sa ghi các công cuộc kiến thiết và công nghiệp của ông, Huân tước Henry Rawlinson có đọc những lời nầy: "Trong 4 năm, nơi ở của nước ta chẳng làm cho lòng ta vui thích. Ta chẳng dùng quyền lực mình mà xây cất một dinh thự trọng đại nào trên các lãnh thổ của ta. Ta không xây dựng cung điện nào ở Ba-by-lôn cho mình và để danh mình được tôn vinh. Trong sự thờ lạy Mê-rô-đác, là thần của ta, ta chẳng hát ngợi khen thần ấy; ta cũng chẳng dâng tế vật trên bàn thờ thần ấy, và không dọn sạch các kinh đào." Có người nghĩ rằng đây là nói đến bịnh điên của ông một cách xa xôi, mặc dầu các vua thời xưa vẫn ra lịnh không được ghi những việc như vậy trên bi văn của mình.
Ông Lenormant quả quyết người Canh-đê có truyền thoại rằng Nê-bu-cát-nết-sa leo lên mái hoàng cung và kêu la: "Hỡi người Ba-by-lôn, một người Ba-tư sẽ đến bắt các ngươi làm tôi mọi. Một người Mê-đi sẽ hợp tác với hắn." Nếu thật vậy, thì dường như Nê-bu-cát-nết-sa đã lãnh hội được một vài ý tưởng của Đa-ni-ên.
5:1-31 -- Bữa tiệc của Bên-xát-xa
Việc nầy xảy ra chính đêm đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ. Đa-ni-ên đã ở Ba-by-lôn 70 năm, và lúc nầy ông cao tuổi lắm.
Bí Chú Khảo Cổ: Bên-xát-xa
Cho tới năm 1853, người ta không thấy các ký văn Ba-by-lôn có chép đến Bên-xát- xa. Người ta chỉ biết rằng Nabonidas (555-538 T.C.) là vua Ba-by-lôn sau chót. Đối với các nhà phê bình, đó là một bằng cớ tỏ ra rằng sách Đa-ni-ên không đúng với lịch sử. Song năm 1853, người ta tìm thấy một ký văn trên phiến đá góc của đền thờ do Nabonidas xây tại U-rơ cho một thần. Ký văn rằng: "Nguyện tôi, là Nabonidas, vua Ba-by-lôn, không phạm tội nghịch cùng thần! Và nguyện sự tôn kính thần ở trong lòng Bên-xát-xa, con trai đầu lòng yêu quí của tôi!"
Do những bi văn khác, người ta được biết rằng phần nhiều Nabonidas ẩn dật ở phía ngoài kinh thành Ba-by-lôn; còn Bên-xát-xa chỉ huy quân đội, điều khiển chánh phủ, đồng trị với cha mình, và chính Bên-xát-xa đã đầu hàng Si-ru. Điều nầy giải thích tại sao Đa-ni-ên, có thể "dự chức thứ ba trong việc chánh trị nhà nước" (câu 16, 29). "Nê-bu-cát-nết-sa, cha vua" (câu 11), không phải là cha thật của Bên-xát-xa, nhưng là bậc tiên đế đối với ông.
Bí Chú Khảo Cổ: Bàn tay viết trên tường (câu 25, 28)
Người ta đã phát giác được chính nền móng của bức tường nầy.
Các ông Xénophon, Hérodote và Bérose đã thuật lại sự suy vong của Ba-by-lôn như sau đây: "Si-ru đào một con kinh mới cho sông Ơ-phơ-rát chảy vào đó, rồi nhờ hai tên lính đào ngũ dẫn lối, ông do lòng sông khô cạn mà tiến vào trong thành, đang khi người Ba-by-lôn say sưa yến tiệc mừng các thần của họ."
Ký văn trên các tấm bảng Ba-by-lôn mà người ta tìm thấy mấy năm gần đây, có ghi rằng đạo quân Ba-tư dưới quyền chỉ huy của Gobryas, đã chiếm Ba-by-lôn mà không phải đánh một trận nào, và Gobryas đã giết con trai của vua (tức là Bên-xát-xa); còn Si-ru thì sau mới vào thành.
Đa-ri-út, người Mê-đi, đã nhận lấy nước (câu 31) và trị vì tại Ba-by-lôn cho tới khi Si-ru lên cầm quyền (6:28, 9:1). Dưới đời trị vì của Đa-ri-út, Đa-ni-ên đã bị quăng vào hang sư tử. Nhưng các ký văn không chép chi về Đa-ri-út. Người ta cho rằng hoặc Đa-ri-út là Gobryas, người mà các tấm bảng Ba-by-lôn ghi là đã chiếm thành ấy, hay là -- theo lời sử gia Josèphe -- Cyaxares, người Mê-đi, cha vợ của Si-ru. Có một tên Ba-by-lôn và một tên bổn quốc là điều thông thường; tỉ như Đa-ni-ên và ba bạn ông đã được đặt tên mới (1:7). Nhưng dầu Đa-ri-út là cha vợ của Si-ru hoặc là một tướng của Si-ru, ông cũng đã cầm đầu đạo quân chiếm Ba-by-lôn trong khi Si-ru bận đánh trận ở phía Bắc và phía Tây. Cho tới ngày Si-ru đến nơi, Đa-ri-út đã làm vua trị vì tại Ba-by-lôn, có lẽ chừng 2 năm (538-536 T.C.).
Đã có lời dự ngôn rằng người Mê-đi sẽ chiến thắng Ba-by-lôn (EsIs 13:17, 21:2, Gie Gr 51:11, 28). Cho tới lúc Si-ru đến nơi, thì là "người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ" (Ba-tư -- DaDn 5:28, 6:8). Sau đó thì là "Phe-rơ-sơ (Ba-tư) và Mê-đi" (EtEt 1:14, 18, 19).
DaDn 6:1-28-- Đa-ni-ên trong hang sư tử
Đa-ni-ên là một đại thần của đế quốc Ba-by-lôn suốt 70 năm, là cả thời gian đế quốc ấy tồn tại. Dầu lúc nầy ông rất già, có lẽ đã trên 90 tuổi, nhưng Đa-ri-út, người chiến thắng Ba-by-lôn, lập tức đặt ông cầm đầu chánh quyền Ba-by-lôn. Ấy có lẽ vì Đa-ni-ên vừa mới nói tiên tri rằng người Mê-đi thắng trận (5:28). Đó là một cách khen tặng sự khôn ngoan, thanh liêm và vô tư của ông. Nhưng ông vẫn kiên quyết tận tụy với Đức Chúa Trời mình (câu 10). Đức tin lớn lao thay! Can đảm lớn lao thay! Thật là một ông già dũng cảm biết bao! Chúng tôi có nghe một vị Truyền đạo nói rằng sở dĩ bầy sư tử không cắn xé, ăn nuốt Đa-ni-ên là vì ông cứng quá!
Ngụy kinh "Bel và Con Rồng" là phần thêm vào truyện tích Đa-ni-ên trong hang sư tử.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 23-7-2018 07:44 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách