nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2121|Trả lời: 0

Thánh Kinh Lược Khảo 4

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 20:27:57 | Xem tất |Chế độ đọc

Thánh Kinh Lược Khảo 4
Tác giả: Henry H. Halley

Các phép lạ trong sách nầy
Trong sách nầy có kể lại nhiều chuyện lạ lùng. Với những ai thấy là khó tin những chuyện nầy, chúng ta xin nói rằng: Chúng ta hãy nhớ rằng trải qua 1000 năm, Đức Chúa Trời đã trưởng dưởng dân tộc Hê-bơ-rơ vì một mục đích, là bởi dân tộc ấy, giữa thế giới gồm toàn những nước thờ lạy hình tượng, Ngài lập vững cái Ý Tưởng rằng Giê-hô-va Là Đức Chúa Trời. Lúc nầy dân tộc của Đức Giê-hô-va đã bị tiêu diệt bởi một dân tộc thờ lạy hình tượng. Trước mắt cả thế giới, đó là bằng cớ tỏ rõ rằng các thần của Ba-by-lôn có quyền phép hơn Đức Chúa Trời của dân Do-thái. Đó là một lúc khẩn trương trong cuộc tranh đấu của Đức Giê-hô-va nghịch cùng sự thờ lạy hình tượng. Nếu có lúc nào mà Đức Giê-hô-va cần làm một việc gì để Tỏ Ra Ai Là Đức Chúa Trời, thì chính là lúc dân Do-thái bị lưu đày tại Ba-by-lôn. Nếu không có điều chi phi thường xảy ra, hẳn cũng lạ thật! Nếu những phép lạ vĩ đại nầy không thực hiện, thì trong lịch sử Kinh Thánh chắc phải thiếu một cái gì. Dầu khó tin những phép lạ nầy, nhưng nếu không có nó, thì ta càng khó tin các phần khác của truyện tích trong sách Đa-ni-ên. Từ lúc đầu, hết thế hệ nầy tới thế hệ khác, người Do-thái luôn luôn sa vào vòng thờ lạy hình tượng; song rốt lại, lúc nầy, đang khi bị lưu đày tại Ba-by-lôn, ít ra họ cũng tin quyết rằng Đức Chúa Trời của họ là Chân Thần; và từ đó trở đi, họ không hề sa vào vòng thờ lạy hình tượng nữa. Chắc những phép lạ nầy đã góp phần thuyết phục họ. Những phép lạ nầy có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên cả Nê-bu-cát-nết-sa và Đa-ri-út (3:29, 6:26).
7:1-28-- Bốn con thú
Đây là tiếp tục lời tiên tri ở đoạn 2, đã nói ra 60 năm trước: Ta thấy hai trạng thái của một hệ thống lịch sử vĩ đại, là 4 đế quốc bá chủ thế giới, rồi tới Nước Đức Chúa Trời. Đoạn 2 hình dung bằng một pho tượng đầu bằng vàng, ngực và cánh tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng, và chơn bằng sắt, cả thảy bị nghiền nát bởi Hòn Đá đục ra từ núi. Trong đoạn nầy, 4 đế quốc bá chủ thế giới ấy lại được hình dung bằng con sư tử, con gấu, con beo và một con thú kinh khiếp. Đoạn nầy thêm nhiều lời giải thích tỉ mỉ, nhứt là về đế quốc thứ tư.
Người ta thường cho 4 đế quốc bá chủ thế giới nầy là Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp, và La-mã (xem ở dưới đoạn 2), gồm khoảng thì giờ từ thời Đa-ni-ên cho tới Đấng Christ. Những con thú nầy dường như làm nền tảng cho sự hiện thấy về con thú có 7 đầu và 10 sừng ở sách Khải Huyền, đoạn 13.
Người ta cho "mười cái sừng" của con thú thứ tư (câu 24) là 10 nước mà đế quốc La-mã đã bị phân tán ra. Còn "cái sừng nhỏ khác" (câu 8, 20, 24, 25) dấy lên giữa 10 cái sừng, thì người ta thường hay cho là thủ lãnh của một Giáo hội kia, tức là sự liên hiệp của con beo và con chiên con ở sách Khải Huyền, đoạn 13. Người ta cho rằng "ba vua" bị đánh đổ (câu 8, 24) chỉ về xứ của người Lombards, thành Ravenne và thành La-mã đã được trao cho các thủ lãnh kia lúc họ bắt đầu có nước ở trần gian (năm 754 S.C.).
Do lời giải thích nầy cùng với lời giải thích lịch sử về con thú bảy đầu và mười sừng của sách Khải Huyền, chúng ta được thấy sơ lược cả lịch sử thế giới: Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp, La-mã, La-mã của thủ lãnh Giáo hội kia. Theo sau La-mã có "mười nước;" chúng tôi tưởng đó là con số chẵn tỏ ra quyền cai trị thế giới không giao cho một quốc gia nào, nhưng cho một số quốc gia. Đó như là mười nước tiếp tục đế quốc La-mã cho tới kỳ sau rốt. Từ đó tới nay, không hề có một đế quốc nào làm bá chủ thế giới. Nã-phá-luân đã thử làm như vậy, nhưng thất bại. Vua nước Đức (Kaiser ) và Hitler cũng thử làm như vậy, nhưng cũng thất bại.
"Cái sừng nhỏ khác" (câu 8, 20, 24, 25) rất đúng với thủ lãnh của Giáo hội kia. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng nó cũng chỉ về Antichrist.
Các khoảng thì giờ trong sách Đa-ni-ên
"Một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ" ở 7:25, chỉ về thời gian "cái sừng nhỏ khác" của con thú thứ tư tồn tại.
"Một kỳ, những kỳ và nửa kỳ" ở 12:7 chỉ về thời gian từ Đa-ni-ên cho tới "kỳ sau rốt."
"Một thì, các thì và nửa thì" được dùng ở KhKh 12:14, tương đương với 42 tháng và 1260 ngày (11:2, 3, 12:6, 14, 13:5). Các câu nầy chỉ về thời gian Thành Thánh bị giày xéo, hai người làm chứng nói tiên tri, người đờn bà ở trong đồng vắng, và con thú sống lại ngồi trên ngôi.
"Hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai" (DaDn 8:14) chỉ về thời gian Nơi Thánh bị cái sừng nhỏ của con thú thứ ba giày xéo dưới chơn. Có thể là 2300 ngày, hoặc 2300 nửa ngày, tức là 1150 ngày, tức là gần 3 năm rưỡi, hoặc gần 7 năm.
"Một ngàn hai trăm chín mươi ngày" (12:11) là thời gian tồn tại của "sự gớm ghiếc làm cho hoang vu," hoặc thời gian từ khi nó bắt đầu cho tới kỳ sau rốt. Ấy là hơn khoảng 1260 ngày một chút.
"Một ngàn ba trăm ba mươi lăm ngày" (12:12), dường như là thêm 40 ngày nữa, vào khoảng 1290 ngày, sau đó có phước lành chung kết.
"Bảy mươi tuần lễ" (9:24) là thời gian từ khi có chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem cho tới khi Đấng Mê-si xuất hiện. Nó gồm "bảy tuần lễ" của "kỳ khó khăn" (9:25) và "một tuần lễ" trong đó Đấng chịu xức dầu bị trừ đi (9:26, 27).
Người ta thường cho rằng chữ "kỳ" (thì) ở câu "một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ" có nghĩa là một năm; như vậy, câu nầy nghĩa là 3 năm rưỡi, tức là 42 tháng, hoặc (tính mỗi tháng có 30 ngày) 1260 ngày.
Người thì cho đó thật có nghĩa đen là 3 năm rưỡi. Người khác, theo lối giải thích một ngày là một năm (Dan Ds 14:34, Exe Ed 4:6), lại cho đó là một khoảng 1260 năm. Kẻ khác nửa lại không cho là con số chỉ về khoảng thời gian hay thì giờ, mà là con số tượng trưng: 7 tượng trưng cho sự hoàn toàn, 3 rưỡi, tức là một nửa 7, chỉ về sự bất toàn, nghĩa là đời trị vì của tội ác chỉ tạm thời thôi.
Những khoảng thì giờ nầy có liên quan mật thiết với câu "sự gớm ghiếc làm cho hoang vu," là công tác do cái sừng nhỏ của con thú thứ ba (DaDn 8:13, 11:31). "Sự gớm ghiếc" nầy cũng có sau khi Đấng Mê-si bị trừ đi (9:27), và là khởi điểm của 1290 ngày (12:11). Đức Chúa Jêsus trưng dẫn câu "sự tàn phá làm cho hoang vu" nầy, và cho là nó chỉ về thành Giê-ru-sa-lem gần bị đạo quân La-mã phá hủy (Mat Mt 24:15). Ngài trưng dẫn câu ấy trong một bài giảng có những lời hỗn hợp bao hàm kỳ tận thế.
Có nói đến "kỳ khó khăn" dành cho 7 tuần lễ lúc đầu và 1 tuần lễ lúc cuối của khoảng 70 tuần lễ (DaDn 9:25, 25). Có dự ngôn về "tai nạn, đến nỗi... chẳng có như vậy bao giờ" (12:1), dành cho "kỳ cuối cùng" (hoặc kỳ sau rốt -- 12:4, 9, 13). Đức Chúa Jêsus đã trưng dẫn câu nầy để chỉ về sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem luôn với lúc tận thế (Mat Mt 24:21).
Antiochus đã xúc phạm Đền thờ trong 3 năm rưỡi (168-165 T.C.). Quân đội La-mã tấn công thành Giê-ru-sa-lem trong 3 năm rưỡi (67-70 S.C.). Thủ lãnh của Giáo hội kia quản trị thế giới gần 1260 năm, từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 18 S.C.. Hồi giáo cai trị xứ Pa-lét-tin năm 637 S.C., và mãi vào khoảng 1260 năm sau (1917 S.C.), quyền cai trị ấy mới chuyển qua Cơ-đốc-giáo.
Chúng tôi nghĩ rằng không một lời giải thích nào có thể thấu triệt ý nghĩa các điểm thời gian nầy của Đa-ni-ên. Có thể hiểu các điểm ấy theo nghĩa đen, nghĩa bóng và nghĩa tượng trưng. Có thể các điểm ấy được ứng nghiệm trước nhứt trong một biến cố lịch sử, rồi được ứng nghiệm trong một biến cố khác, và cuối cùng được ứng nghiệm ở kỳ sau rốt. Sự xúc phạm Đền thờ bởi Antiochus, sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem bởi Titus, và sự tiếm quyền trong Hội Thánh do thủ lãnh kia, có thể đều là tiền khu và tượng trưng cho cơn Đại nạn trong thời Antichrist. Nếu không cảm thấy chắc chắn mình đã hiểu biết, thì chúng ta chớ quá thất vọng; chính Đa-ni-ên cũng phát đau ốm vì không hiểu rõ (DaDn 8:27).
8:1-27-- Chiên dực và dê đực
Đoạn nầy chứa thêm lời dự ngôn về đế quốc bá chủ thế giới thứ hai và thứ ba đã nói đến ở đoạn 2 và đoạn 7, tức là đế quốc Ba-tư và đế quốc Hy-lạp.
Đế quốc Ba-tư được hình dung ở đoạn 7:5 là một con gấu cắn nuốt, và ở đây được hình dung là con chiên đực có hai cái sừng (câu 3-4), vì nó là cuộc liên minh của người Mê-đi và người Ba-tư.
Đế quốc Hy-lạp được hình dung ở đoạn 7:6 là con beo có bốn đầu, và ở đây được hình dung là con dê đực hùng hổ và mau lẹ từ phía Bắc xông tới, có một sừng lớn, và khi sừng nầy bị gãy, thì có bốn sừng khác thay thế.
Sừng lớn là A-lịch-sơn đại đế, đã phá tan đế quốc Ba-tư năm 331 T.C.. Lời tiên tri nầy viết năm 539 T.C., tức là 200 năm trước khi được ứng nghiệm. Đó là dự ngôn rất lạ lùng về sự xung đột và kết quả sự xung đột giữa hai đế quốc bá chủ thế giới mà lúc dự ngôn, chưa một đế quốc nào đã dấy lên.
"Bốn cái sừng" (câu 8, 21-22) và bốn cái đầu (7:6) là bốn nước mà đế quốc của A- lịch-sơn đại đế đã phân tán ra (xem thêm ở đoạn 11).
"Cái sừng nhỏ" (câu 9) từ bốn cái sừng kia mọc lên, thì người ta đồng ý cho là chỉ về Antiochus Epiphane (175-164 T.C.), thuộc nhánh Sy-ri của đế quốc Hy-lạp, người đã cương quyết cố gắng trừ diệt đạo Do-thái (xem ở dưới 11:21-35). Tuy nhiên, mấy chữ "kỳ sau rốt" được lặp lại (câu 17, 19) có thể có nghĩa là cùng với Antiochus sắp xuất hiện, ở bối cảnh xa xăm của sự hiện thấy còn có hình ảnh bất tường của một tay hủy diệt khủng khiếp hơn bội phần (câu 26), -- nó sẽ làm đen tối những ngày sau chót của lịch sử, và Antiochus chỉ là một tiền khu tượng trưng cho nó mà thôi.
9:1-27-- 70 tuần lễ
Cuộc lưu đày đã kéo dài 70 năm và gần chấm dứt. Đây thiên sứ bảo Đa-ni-ên rằng cho tới lúc Đấng Mê-si xuất hiện, còn có "70 tuần lễ" nữa (câu 24).
Người ta thường hiểu rằng "70 tuần lễ" nghĩa là 70 lần 7 năm, hoặc 7 lần 70 năm, tức là 490 năm. Dường như thiên sứ nói rằng: "Cuộc lưu đày đã kéo dài 70 năm; khoảng thì giờ giữa cuộc lưu đày và sự xuất hiện của Đấng Mê-si sẽ dài gấp bảy lần chừng đó."
Con số 7 và những vòng 7 bảy năm thường có ý nghĩa tượng trưng; song các biến cố thực sự trong lời tiên tri nầy thật rất lạ lùng như sau đây:
Niên hiệu phải bắt từ đó mà tính 70 tuần lễ là năm ban hành chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem (câu 25). Các vua Ba-tư đã giáng ba chiếu chỉ nhằm mục đích ấy, vào các năm 536 T.C.; 457 T.C.; và 444 T.C., (xem dưới sách E-xơ-ra). Quan trọng nhứt là chiếu chỉ ban hành năm 457 T.C..
70 tuần lễ được chia ra làm 7 tuần lễ, 62 tuần lễ và 1 tuần lễ (câu 25, 27). Ta khó nhận thấy "7 tuần lễ" được áp dụng thể nào; nhưng 69 tuần lễ (gồm cả 7 tuần lễ kia) bằng 483 ngày, ấy là theo thuyết một ngày thay cho một năm (Exe Ed 4:6); như vậy là 483 năm, theo cách giải thích thường được công nhận.
483 năm nầy là thời gian ở giữa chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem và sự xuất hiện của "Đấng chịu xức dầu" (câu 25). Như đã ghi chú trên kia, chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem giáng năm 457 T.C.. Thêm 483 năm vào năm 457 T.C., ta sẽ có năm 26 S.C., là chính năm Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm và khởi thi hành chức vụ công khai. Đó là lời tiên tri của Đa-ni-ên được ứng nghiệm rất lạ lùng, đúng cả năm nữa (kỷ nguyên Cơ-đốc bắt đầu năm thứ 4 T.C.).
Hơn nữa, sau 3 năm rưỡi, Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào Thập tự giá, tức là vào khoảng tuần ấy, "Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi", "đặng... trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào" (câu 24, 26, 27).
Như vậy, Đa-ni-ên chẳng những dự ngôn lúc Đấng Mê-si xuất hiện, song cũng dự ngôn thời gian Ngài thi hành chức vụ công khai và sự chết của Ngài để đền tội lỗi loài người.
Có người nghĩ rằng Đức Chúa Trời ngưng niên biểu của Ngài lúc Đấng Christ chịu chết, cứ để nguyên vậy đang khi dân Y-sơ-ra-ên bị tản lạc, và nửa cuối của "một tuần lễ" thuộc về kỳ sau rốt.
Tóm tắt các lời tiên tri của Đa-ni-ên
Bốn nước, rồi tới Nước đời đời của Đức Chúa Trời (đoạn 2).
Nê-bu-cát-nết-sa bị chứng điên và được lành (đoạn 4).
Đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ và đế quốc Ba-tư dấy lên (đoạn 5).
"Đế quốc thứ tư," "mười cái sừng" của nó và cái "cái sừng nhỏ khác" (đoạn 7).
Đế quốc Hy-lạp và "bốn cái sừng" của nó (đoạn 8).
"Bảy mươi tuần lễ," thời gian từ Đa-ni-ên đến Đấng Mê-si (đoạn 9).
Các hoạn nạn của Đất Thánh trong thời gian giữa Cựu Ước và Tân Ước (đoạn 11).
Các dấu hiệu về kỳ sau rốt (đoạn 12).
10:1-21-- Thiên sứ của các nước
Sự hiện thấy cuối cùng nầy (đoạn 10, 11, 12) xảy ra hai năm sau khi dân Do-thái trở về xứ Pa-lét-tin (534 T.C.). Đức Chúa Trời giở bức màn lên và tỏ cho Đa-ni-ên thấy một vài thực sự của thế giới vô hình, -- tức là cuộc giao tranh tiếp diễn giữa các bậc trí tuệ siêu nhân, một bên thiện, một bên ác, để cố gắng kiểm soát trào lưu của các nước; một vài bậc ấy tìm cách che chở dân Đức Chúa Trời. Mi-ca-ên là thiên sứ bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên (câu 13, 21). Một thiên sứ không được ghi tên, trò chuyện với Đa-ni-ên. Hy-lạp có thiên sứ riêng của mình (câu 20) và Ba-tư cũng vậy (câu 13, 20). Dường như Đức Chúa Trời tỏ cho Đa-ni-ên thấy một vài cán bộ bí mật của Ngài đang hoạt động để thực hiện sự hồi hương của dân Y-sơ-ra-ên. Một thiên sứ giúp đỡ Đa-ri-út (11:1). Trong đoạn nầy, các thiên sứ ấy được tỏ ra là đang chăm chú đến số phận dân Y-sơ-ra-ên; và trong sách Khải Huyền, thì họ được tỏ ra là chăm chú đến số phận của Hội Thánh. Ở KhKh 12:7-9, Mi-ca-ên và các thiên sứ của mình giao chiến với Sa-tan và các quỉ sứ của nó. Theo thơ Eph Ep 6:12, các quyền lực gian ác của thế giới vô hình là kẻ thù chánh yếu mà tín đồ Đấng Christ phải giao tranh với. Khi Đức Chúa Jêsus giáng sanh, thì các thiên sứ rất hoạt động. Đức Chúa Jêsus tin có thiên sứ (xem ở dươi Mat Mt 4:11).
DaDn 11:1-45-- Các vua phương Bắc và các vua phương Nam
Các đoạn 2, 7, 8, 9, 11 chứa những lời dự ngôn về 4 đế quốc và các biến cố từ Đa-ni-ên đến Đấng Christ; các đoạn ấy dường như có liên quan đến những cường quốc trên thế giới về sau và những biến cố tiếp diễn từ thời Đấng Christ cho tới kỳ sau rốt. Đây là đại cương sử ký thế giới gồm trong các đoạn ấy:
Đế quốc Ba-by-lôn (606-536 T.C.).
Đế quốc Ba-tư (536-332 T.C.).
Đế quốc Hy-lạp, sau chia làm 4 nước (331-146 T.C.).
Chiến tranh giữa các vua Hy-lạp cai trị khu Sy-ri và khu Ai-cập (323-146 T.C.).
Antiochus Epiphane và việc hắn xúc phạm thành Giê-ru-sa-lem (175-164 T.C.).
Đế quốc La-mã (146 T.C.- 400 S.C.).
Thủ lãnh Giáo hội kia cầm đầu đế quốc bá chủ thế giới (thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 18).
Hồi giáo cai trị Đất Thánh (thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 20).
Những hoạn nạn trên thế giới và sự sống lại nhằm "kỳ cuối cùng."
Những lời dự ngôn nầy cứ lần lần giải thích thêm chi tiết. Ở đoạn 2 có lời tuyên bố đại cương rằng có 4 đế quốc bá chủ thế giới từ thời Đa-ni-ên cho đến thời Đấng Mê-si. Ở đoạn 7 có chi tiết về đế quốc thứ tư. Ở đoạn 8 có chi tiết về đế thứ quốc thứ hai và đế quốc thứ ba. Ở đoạn 11 có thêm chi tiết về đế quốc thứ ba.
Đế quốc thứ ba là đế quốc Hy-lạp do A-lịch-sơn đại đế sáng lập năm 331 T.C.. Khi ông qua đời, thì đế quốc nầy chia ra giữa các tướng của ông và trở thành: Hy-lạp, Tiểu-Á-tế-á, Sy-ri, Ai-cập. Trong đoạn nầy, các vua Sy-ri được gọi là "vua phương Bắc," còn các vua Ai-cập được gọi là: "vua phương Nam." Đa-ni-ên dự ngôn về cuộc hành quân của các vua nầy 200 năm trước khi có đế quốc Hy-lạp và 400 năm trước khi có những vua nầy. Lời ông mô tả tỉ mỉ các cuộc hành quân của họ tỏ ra dự ngôn và lịch sử theo sau ăn hiệp với nhau một cách rất lạ lùng. Đoạn 11 là lịch sử viết trước của thời kỳ giữa Cựu Ước và Tân Ước. Dưới đây là đại lược các biến cố ăn hiệp với những câu Kinh Thánh đã dự ngôn nó:
"Ba vua trong nước Phe-rơ-sơ" (câu 2): Ấy là Si-ru, Cambyse và Đa-ri-út Hystaspe. "Vua thứ tư" là Xerxès, vua Ba-tư giàu có nhứt và hùng mạnh nhứt, đã xâm lăng Hy-lạp, song bị thất trận tại Salamine (480 T.C.).
"Một vua mạnh" (câu 3) là A-lịch-sơn đại đế. Nước của vua nầy bị chia ra làm "bốn" (câu 4), là Hy-lạp, Tiểu-Á-tế-á, Sy-ri, Ai-cập.
"Vua phương Nam" (câu 5) là Ptolémée I, vua Ai-cập. "Một trong các tướng của vua" là Séleucos Nicartor; ông nầy vốn là một tướng ở dưới quyền Ptolémée, đã trở thành vua Sy-ri và là vua kế vị hùng mạnh nhứt của A-lịch-sơn đại đế.
"Công chúa" (câu 6): Đây là Bérénice, con gái của Ptolémée II, gả cho Antiochus II và bị mưu sát. "Một chồi ra từ rễ công chúa" (câu 7) là Ptolemée III, em của Bérénice, đã xâm lăng Sy-ri để trả thù, và thắng một trận lớn (câu 8).
"Hai con trai" (câu 10) là Séleucos III và Antiochus III (đại đế). Câu 11-12: Ptolémée IV đánh bại Antiochus III, gây cho tổn thất nặng nề, trong trận Raphia, gần biên giới Ai-cập (217 T.C.). Câu 13: 14 năm sau, đem đạo quân lớn trở lại đánh Ai-cập. Câu 14: Người Do-thái giúp đỡ Antiochus. Câu 15: Antiochus đánh bại các lực lượng của Ai-cập. Câu 16: Antiochus, chiếm xứ Pa-lét-tin. Câu 17: Antiochus gả con gái, là Cléopâtre cho Ptolémée V, mong nhờ tình thông gia bịp bợm mà kiểm soát được Ai-cập. Nhưng nàng đã theo chồng. Câu 18, 19: Bấy giờ Antiochus xâm lăng Tiểu-Á-tế-á và Hy-lạp, rồi bị đạo quân La-mã đánh bại tại Magnésie (190 T.C.). Ông trở về xứ mình và bị giết.
"Kẻ đáng khinh dể" (câu 21-35) là Antiochus Epiphane. Câu 21: Hắn không phải là kẻ kế vị chánh thống, nhưng đã dùng mưu chước quỉ quyệt mà được ngôi vua. Câu 22-25: Hắn tự tôn làm vua Ai-cập, một phần bởi võ lực, một phần bởi mưu mô lừa gạt. Câu 26: Ptolémée VI, con trai của Cléopâtre, cháu của Antiochus, bị bầy tôi phản bội, nên thua trận. Antiochus và Ptolémée làm bộ thân thiện, nhưng lại tranh giành và phản bội nhau. Câu 28: Trên đường từ Ai-cập trở về, Antiochus tấn công Giê-ru-sa-lem, giết 80 ngàn người Do-thái, bắt 40 ngàn người và bán 40 ngàn người làm tôi mọi. Câu 29: Antiochus lại xâm lăng Ai-cập. Nhưng hạm đội La-mã bắt buộc hắn phải rút lui. Câu 30-31: Hắn trút cơn thạnh nộ trên thành Giê-ru-sa-lem, và trong lúc điên cuồng, hắn xúc phạm cả Đền thờ. Câu 32: Có những người Do-thái bội đạo giúp đỡ hắn. Câu 32-35: Sự nghiệp hiển hách của các anh em Macchabées anh dũng.
Về câu 36-45, thì có ý kiến khác nhau, có người nói rằng nó luận về Antiochus Epiphane: người thì cho là chỉ về thời kỳ Hồi giáo chiếm Đất Thánh; người thì tưởng là chỉ về Antichrist, người lại cho là chỉ về cả ba và "đã bắt đầu ứng nghiệm lần đầu."
12:1-13-- Kỳ cuối cùng
Để chấm dứt bức họa các thời kỳ và biến cố của lịch sử thế giới, Đa-ni-ên lẹ làng tiến tới kỳ cuối cùng (câu 4, 9, 13), là lúc sẽ có tai nạn chưa từng thấy (câu 1), theo sau có sự sống lại của kẻ chết và sự vinh hiển đời đời cho các thánh đồ (câu 2, 3).
"Có tai nạn, đến nỗi từ khi mới có nước đến kỳ đó cũng chẳng có như vậy bao giờ" (câu 1). Câu nầy không phải là không thể ứng dụng cho thế hệ chúng ta: Nào khảo đả, đau đớn và chết mất của nhiều toàn thể dân tộc, do tay bọn độc tài như quỉ sứ. Có lẽ không khốc liệt hơn những sự hung bạo do tay của Antiochus, Titus, các hoàng đế La-mã và các thủ lãnh Giáo hội của thời Tôn giáo Pháp đình (Inqufsition ), nhưng với một mực độ vô song trong tất cả lịch sử từ trước đến nay. Nhưng chưa đến cuối cùng đâu.
"Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên" (câu 4). Đó là đặc điểm của kỳ cuối cùng. Điều nầy cũng ứng dụng cho thế hệ chúng ta, chớ không còn ứng dụng cho thế hệ nào khác: Xe lửa, xe hơi, tàu biển, phi cơ, sách vở, báo chí, máy thâu thanh, đó là những phương pháp du hành và phổ biến trí thức với một mực độ chưa hề có ai mơ tưởng trong bất cứ thời kỳ lịch sử quá khứ nào.
Và ngày nay, trên hết mọi sự đó, đã có bom nguyên tử, làm cho lòng người ta khủng khiếp đến nỗi ta tự hỏi phải chăng mình thật đang sống trong thời kỳ mà Đức Chúa Jêsus phán là khung cảnh tái lâm của Ngài: "Dưới đất, dân các nước sầu não, rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào. Người ta nhơn trong khi đợi việc hung dữ xảy ra cho thế gian, thì thất kinh, mất vía" (LuLc 21:25-26)?
================================

Ô-sê
Nước Y-sơ-ra-ên bội đạo sẽ bị xua bỏ Nhiều nước khác sẽ được kêu vô

Ô-sê là một tiên tri của nước phía Bắc: Ông gọi vua nước ấy là "vua chúng ta" (OsHs 7:5). Ông truyền giảng cho nước phía Bắc, và thỉnh thoảng có nói đến nước Giu-đa .
Niên hiệu của Ô-sê
Vào khoảng 40 năm sau chót của nước phía Bắc. Ông bắt đầu chức vụ khi nước Y-sơ- ra-ên, dưới đời trị vì của Giê-rô-bô-am II, lên tới tuyệt điểm hùng cường (xem ở dưới II Các vua 14). Như vậy, ông chứng kiến lúc nước ấy suy vong mau lẹ. Ông đồng thời với A-mốt, nhưng trẻ tuổi hơn. Ông cũng đồng thời với Ê-sai và Mi-chê, nhưng cao tuổi hơn hai ông nầy. Lúc còn là con trẻ, có lẽ ông được biết Giô-na. Ông đã nói tiên tri dưới đời trị vì của Ô-xia, Giô-tham, A-cha, Ê-xê-chia, là các vua Giu-đa, và dưới đời trị vì của Giê-rô-bô-am II, vua Y-sơ-ra-ên. Niên hiệu suýt soát của các vua nầy là:
Các vua của Y-sơ-ra-ên, nước phía Bắc
Giê-rô-bô-am II (790-749). Một đời trị vì rất thạnh vượng. Ô-sê bắt đầu chức vụ.
Xa-cha-ri (748). Trị vì 6 tháng. Bị Sa-lum giết.
Sa-lum (748). Trị vì 1 tháng. Bị Ma-ha-nem giết.
Ma-na-hem (748-738). Tàn ác không thể nói xiết. Là bù nhìn của A-si-ri.
Phê-ca-hia (738-736). Bị Phê-ca giết.
Phê-ca (748-730). Bị Ô-sê giết. Dân xứ Ga-li-lê bị bắt làm phu tù (734).
Ô-sê (730-721). Thành Sa-ma-ri sụp đổ (721). Nước phía Bắc cáo chung.
Các vua của Giu-đa, nước phía nam
Ô-xia (787-735). Một vua tốt. Ô-sê bắt đầu chức vụ.
Giô-tham (749-734). Một vua tốt.
A-cha (741-726). Rất gian ác. Dân xứ Ga-li-lê bị bắt làm phu tù (734).
Ê-xê-chia (726-697). Một vua tốt. Thành Sa-ma-ri sụp đổ (721).
Một vài niên hiệu nầy lấn qua niên hiệu khác và rất lộn xộn. Vậy, thời gian tối đa mà Ô-sê có thể đã nói tiên tri là từ 790 đến 697 T.C., và thời gian tối thiểu là từ 750 đến 725 T.C.. Giả định rằng chức vụ ông kéo dài qua một phần lớn đời trị vì của Giê-rô-bô-am và Ê-xê-chia, thì có lẽ ta đặt ông vào khoảng 760-720 là chắc đúng hơn. Ô-sê sống tới đời trị vì của Ê-xê-chia, và cũng đồng thời với 6 vua của nước phía Bắc theo sau Giê-rô-bô-am. Những vua nầy không được kể tên ra có lẽ vì đời họ trị vì rất ngắn: 6 vua trong vòng 20 năm, mà 4 vua bị mưu sát. Đó là một thời kỳ hung bạo, dã man kèm theo sự hấp hối của quốc gia.
Tình hình
Chừng 200 năm trước thời Ô-sê, 10 chi phái trong số 12 chi phái đã ly khai với nước Đa-vít và lập một nước độc lập, lấy bò con vàng làm thần chánh thức của nước. Trong thời gian ấy, Đức Chúa Trời đã sai các tiên tri, Ê-li, Ê-li-sê, Giô-na, A-mốt, và bây giờ Ô-sê đến cùng dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng họ kiên quyết không chịu quay về với Đức Giê-hô-va, và đã sa xuống hố thờ lạy hình tượng gớm ghiếc ngày càng sâu hơn.
OsHs 1:1-3:5-- Vợ của Ô-sê
Đức Chúa Trời truyền cho Ô-sê "hãy đi, lấy một người vợ gian dâm" (câu 1, 2 -- có thể dịch là: "vợ giang hồ"). Là "Tân phụ" của Đức Giê-hô-va (Exe Ed 16:8-15), Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ Ngài, buông mình thờ lạy các thần khác, chẳng khác gì đờn bà có chồng lại hiến mình cho một người đờn ông khác. Vậy, "vợ gian dâm" là một danh hiệu thích hợp cho toàn thể quốc gia đã phạm tội tà dâm thiêng liêng, chớ không phải chỉ gồm ý rằng Gô-me là một người đờn bà phóng túng. Một vài nhà chuyên học Kinh Thánh giải thích khúc sách nầy theo nghĩa bóng, cho là một sự hiện thấy chứng minh tội bội đạo khủng khiếp, lìa xa Đức Chúa Trời chơn thật.
Tuy nhiên, lời lẽ giản dị và tự nhiên gồm ý rằng đây là một sự từng trải thật trong đời sống của Ô-sê; lời giải thích thường được nhìn nhận là: Ô-sê, tiên tri của Đức Chúa Trời, thật đã được Ngài truyền lịnh phải cưới một người đờn bà bất trinh để tượng trưng lòng yêu thương của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên. Hoặc giả người đờn bà nầy lúc đầu trinh khiết, nhưng sau, đã tỏ lòng bất trinh, lìa bỏ ông mà trở nên tình nhơn của một người có thể làm thỏa mãn sự ham chuộng xa hoa của nàng nhiều hơn. Nhưng Ô-sê vẫn yêu thương nàng và chuộc nàng lại (OsHs 3:1-2). Sự thờ lạy hình tượng ở khắp xứ có kèm theo những thói tục vô đạo (4:11-14), nên đờn bà khó giũ mình trinh khiết, và chắc hầu hết phụ nữ đương thời ấy mắc tội "gian dâm" (giang hồ) theo nghĩa đen. Chắc Ô-sê phải cưới một người đờn bà thuộc loại ấy, hoặc không cưới ai hết.
Một phần lời lẽ ứng dụng cho gia đình Ô-sê theo nghĩa đen, một phần ứng dụng cho dân tộc Y-sơ-ra-ên theo nghĩa bóng; lại một phần ứng dụng cho cả hai, nghĩa đen và nghĩa bóng kế tiếp nhau. "Các câu nói của Ô-sê rơi xuống như tiếng đập của trái tim tan vỡ."
Ô-sê chuộc vợ lại (3:1-5).-- Ông chuộc nàng lại, nhưng bảo nàng phải ở riêng trong một thời gian, để dự ngôn cụ thể về dân Y-sơ-ra-ên "sẽ trải qua nhiều ngày không vua, không quan trưởng, không của lễ" trước khi quay về với Giê-hô-va, Đức Chúa Trời mình, và Đa-vít, vua mình (câu 3-4).
Con cái. -- Chẳng những sự cưới vợ của Ô-sê minh chứng cho điều ông rao giảng, song ông cũng đặt tên cho con cái hợp với những sứ điệp chánh yếu của đời ông. "Gít-rê-ên" (1:4, 5) là con trai đầu lòng của ông. Gít-rê-ên là thành mà Giê-hu đã phạm tội đổ huyết rất tàn ác (IIVua 2V 10:1-14). Thung lũng Gít-rê-ên (ngày nay gọi là Ách-ca-lôn) là chiến trường lâu đời tại đó nước Y-sơ-ra-ên hầu sụp đổ. Bởi đặt tên con trai là Gít-rê-ên, Ô-sê nói với vua và toàn dân rằng: Giờ báo trả và hình phạt đã điểm!
"Lô-ru-ha-ma" (OsHs 1:6) là tên đứa con thứ hai, và nghĩa là: "Không còn sự thương xót" cho Y-sơ-ra-ên nữa, mặc dầu Giu-đa được trì hoãn (câu 7). "Lô-am-mi" là tên đứa con thứ ba (1:9), nghĩa là: Chẳng phải là dân Ta nữa." Đoạn, ở 2:1, Ô-sê nhắc lại hai tên không có chữ "Lô" (nghĩa là: không), để tỏ ra thời kỳ họ lại được làm dân của Đức Chúa Trời. Và bằng lời song quan (jeu de mots ), ông dự ngôn ngày mà nhiều dân khác sẽ được gọi là dân Đức Chúa Trời (1:10). Phao-lô đã trưng dẫn câu nầy, cho là nó chỉ về sự rao giảng Tin Lành cho các dân ngoại (RoRm 9:45).
OsHs 4:1-18-- "Ép-ra-im sa mê thần tượng " (câu 17)
Sự thờ lạy hình tượng là nguồn gốc các trọng tội khủng khiếp của họ (câu 1-3). Các thầy tế lễ sống bằng tội lỗi của dân (câu 4-10). Các thiếu nữ là điếm đĩ; đờn bà có chồng rồi thì tiếp đờn ông khác, đờn ông thì đi tẻ với phường điếm đĩ (câu 11-14). Giu-đa (câu 15) không sa ngã vào vòng thờ lạy hình tượng quá thấp như Y-sơ-ra-ên, nên còn đứng được chừng 100 năm sau khi Y-sơ-ra-ên bị hủy diệt. "Ghinh ganh" (câu 15) là một trung tâm của sự thờ lạy hình tượng; người ta cho rằng Ghinh ganh ở cách Bê-tên chừng 7 dặm về phía Tây-bắc. "Bết-A-ven" (câu 15) là một tên khác của Bê-tên, "tổng hành dinh" thờ lạy hình tượng của nước phía Bắc. "Ép-ra-im" (câu 17) là chi phái rộng lớn nhứt và ở chính giữa các chi phái phía Bắc, nên đã trở thành tên của cả nước phía Bắc. "Gió" (câu 19) đã cuốn quốc gia tội lỗi dưới cánh nó để đem đi đến một xứ khác. Đây là một cách nói bóng rất mạnh mẽ!
5:1-15-- "Ép-ra-im sẽ nên hoang vu " (câu 9)
Các thầy tế lễ, vua và dân đều "là kẻ bạn nghịch" cùng Đức Chúa Trời (câu 1-3). Họ dầm mình trong tội lỗi, lấy thế làm kiêu hãnh, và "công việc chúng nó làm ngăn trở chúng nó về cùng Đức Chúa Trời mình" (câu 4-5). "Những con cái ngoại tình" (câu 9) là con sanh với bọn đờn ông không phải là chồng mình. "Đã bằng lòng theo điều răn của loài người" (câu 11): Câu nầy chỉ về các mạng lịnh mà Giê-rô-bô-am I đã "tự chọn lấy" (IVua 1V 12:28-33) khi mới lập nước phía Bắc. "Đi đến cùng người A-si-ri" (câu 13): Vua cố gắng tiến cống quân A-si-ri để chúng kéo đi (IIVua 2V 15:19), nhưng vô hiệu.
OsHs 6:1-11-- "Bọn thầy tế lễ cũng giết người và làm sự gian dâm " (câu 9, 10)
"Ngày thứ ba" (câu 2): Có nghĩa là sau một thời gian ngắn, Y-sơ-ra-ên sẽ được khôi phục. Người ta thường hiểu rằng đây là ngụ ý nói trước về Đấng Mê-si sống lại nhằm ngày thứ ba. "Ga-la-át" (câu 8) và "Si-chem" (câu 9) là hai đô thị trọng yếu của xứ, và đặc biệt gớm ghiếc vì là trung tâm của hư hoại và hung bạo. "Khi Ta đem phu tù của dân Ta trở về" (câu 11): Có lẽ đây là đầu của câu 1, đoạn 6.
7:1-16-- "Hết thảy chúng nó đều tà dâm " (câu 4)
"Chúng nó thảy đều nóng hừng như lò lửa, nuốt các quan xét mình; hết thảy các vua chúng nó đều bị sụp đổ" (câu 4, 7): Có lẽ chỉ về thời kỳ dân phóng túng theo tình dục và hung bạo, trong đó, 4 vua của họ đã bị mưu sát mau lẹ liên tiếp, ngay cả lúc Ô-sê đang giảng dạy. "Bánh chưa quay" (câu 8): Bị thiêu cháy một bên, còn bên kia thì sống, không sao ăn được. "Tóc... lém đém" (câu 9) là triệu chứng của ngày cuối cùng gần đến. "Bò câu ngây dại" (câu 11) tìm kiếm sự tiếp trợ của Ai-cập, rồi của A-si-ri, là hai nước địch thủ.
8:1-14-- "Chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc " (câu 7)
"Chúng nó đã lập vua mà không bởi Ta" (câu 4). Đức Chúa Trời đã chỉ định nhà Đa- vít cai trị dân Ngài. 10 chi phái nầy loạn nghịch và lập một dòng vua khác cho mình (IVua 1V 12:16-33). "Đã hối lộ cho những kẻ yêu nó" (câu 9): o bế người A-si-ri bằng cách tiến cống (IIVua 2V 15:19-20), song chỉ trì hoãn tai họa được ít lâu (câu 10).
OsHs 9:1-16-- "Gớm ghiếc như vật chúng nó đã yêu " (câu 10)
"Trở về Ê-díp-tô" (câu 3), không phải theo nghĩa đen (xem 11:5), nhưng là mang ách tôi mọi của A-si-ri, giống như ách của Ai-cập trước kia, mặc dầu sau cuộc lưu đày, nhiều người Do-thái thật đã định cư ở Ai-cập.
"Kẻ tiên tri là dại dột" (câu 7): Hoặc đây là ý kiến của Ô-sê đối với các tiên tri giả, hay có lẽ đúng hơn, là ý kiến của dân chúng đối với Ô-sê. "Chúng nó bại hoại rất sâu" (câu 9) như đương thời thành Ghi-bê-a, tại đó một người đờn bà bị bọn đờn ông giống như thú vật cưỡng hiếp cả đêm (Cac Tl 19:24-26). "Chúng nó sẽ đi dông dài trong các nước" (câu 17): Sự lưu lạc nầy bắt đầu lúc Ô-sê còn sanh tiền, và cứ tiếp tục tới ngày nay, không chút giảm bớt, không chút xót thương.
OsHs 10:1-15-- "Sự vinh hiển nó (Bê-tên ) đã biến mất (câu 5)
"Những bò con của Bết-A-ven" (câu 5 -- Bết-A-ven tức là Bê-tên) sẽ bị bể nát (8:5). Gai gốc và chà chôm sẽ mọc trên bàn thờ chúng nó (câu 8). "San-man" (câu 14) có lẽ là Sanh-ma-na-se. "Bết-t-bên) là một nơi trong miền Ga-li-lê, đã bị Sanh-ma-na-se đối đãi kinh khủng (IIVua 2V 17:3).
OsHs 11:1-11-- "Thể nào Ta bỏ được ngươi? " (câu 8)
"Ra khỏi Ê-díp-tô" (câu 1): Câu nầy được trưng dẫn ở Mat Mt 2:15 để chỉ về việc cha mẹ của Đức Chúa Jêsus chạy trốn qua Ai-cập. Dân tộc của Đấng Mê-si được kêu gọi ra khỏi Ai-cập lúc còn ấu trĩ thể nào, thì chính Đấng Mê-si cũng được kêu gọi ra khỏi Ai-cập lúc còn ấu trĩ thể ấy. "Dân Ta quyết ý trái bỏ Ta" (câu 7), nhưng lòng Đức Chúa Trời vẫn thương xót họ (câu 8). "Đến từ Ê-díp-tô" (câu 11): chắc chỉ về một thời sau, vì câu 5 vừa mới tỏ quyết rằng họ không bị lưu đày ở Ai-cập.
OsHs 12:1-15-- "Ngài đã gặp người tại Bê-tên " (câu 5)
"A-si-ri" và "Ê-díp-tô" (câu 2): Nền ngoại giao xảo trá của Y-sơ-ra-ên kết ước bí mật với A-si-ri và Ai-cập, là hai nước cừu địch, thì chắc sẽ gây nên tai họa. "Bê-tên" (câu 4), trung tâm sự thờ lạy hình tượng gớm ghiếc của họ, là chính chỗ mà Gia-cốp, tổ phụ họ, đã dâng đời sống cho Đức Chúa Trời (SaSt 28:13-15). "Các kẻ tiên tri" (câu 11) mà họ gọi là những người "dại dột" (DaDn 9:7), thì đã cứu vớt và tạo lập Y-sơ-ra-ên (câu 13).
13:1-16-- "Chúng nó cứ phạm tội càng ngày càng thêm " (câu 2)
"Vì cớ Ba-anh mà phạm tội" (câu 1). Sự thờ lạy Ba-anh thêm vào sự thờ lạy bò con dưới đời trị vì của A-háp (IVua 1V 16:31-33), là bịnh truyền nhiễm gây cho quốc gia phải chết mất. "Hỡi sự chết" (câu 14): Đây là lời hứa cho quốc gia phục sanh, được trưng dẫn ở ICo1Cr 15:55, làm lời hứa về tín đồ Đấng Christ được phục sanh phần thân thể.
OsHs 14:1-9-- "Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng
“Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi " (câu 1)
Tân phụ ngoan cố của Đức Giê-hô-va sẽ quay về với Chồng mình, và lại hưởng sự yêu thương của Ngài, y như đương thời thanh xuân của nàng (2:14-20).
Sách Ô-sê luận về 4 điểm: Dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng, phạm tội ác, bị lưu đày và được khôi phục. Hầu hết mỗi câu là một khúc sách luận về một trong bốn điểm ấy, và dường như câu nọ chẳng có liên lạc với câu kia.
Ô-sê đã phải đối phó với một tình trạng lộn xộn và ô uế mà ta thấy bất cứ chỗ nào trong Kinh Thánh. Sự hư hoại tới mức thú vật của dân chúng thật đã vượt quá trí tưởng tượng, đến nỗi không thể tin là có như vậy. Tuy nhiên, Ô-sê chịu khó nhọc và đau khổ không ngừng để khiến họ thấy rằng Đức Chúa Trời Còn Yêu Thương Họ. Thật là một quyển sách lạ lùng!
==================================

Giô-ên
Một tai vạ cào cào Ngày của Đức Chúa Trời hầu đến Dự ngôn về hoàng kim thời đại Đức Thánh Linh đổ xuống

Sách nầy luận về sự phán xét hầu đến, cũng như sách Sô-phô-ni. Cũng dự ngôn về mùa gặt của trái đất như sách Khải Huyền vậy (Gio Ge 3:13, 14; KhKh 15:15, 16).
Niên hiệu của Giô-ên
Không được chỉ tỏ trong chính sách nầy. Ông thường được kể là một trong những tiên tri đầu tiên của nước Giu-đa, về thời vua Giô-ách (khoảng 830 T.C.), hoặc có lẽ dưới đời trị vì của Ô-xia (khoảng 750 T.C.).
Gio Ge 1:1-2:27 -- Tai vạ cào cào
Đất nước bị tàn phá bởi một nạn đói kém khủng khiếp, gây nên do một tai vạ cào cào từ trước chưa từng có, theo sau có cơn hạn hán kéo dài. Cào cào là một loài sâu bọ, giống như con châu chấu lớn. Bốn tên khác nhau ở 1:4 chỉ tỏ bốn loại cào cào, hoặc bốn giai đoạn gia tăng khác nhau. Những đội quân cào cào đông đúc như đám mây che tối mặt trời, ào xuống mặt đất, ăn nuốt hết cây cỏ, nên dân chúng phải quì gối cầu nguyện. Đức Chúa Trời nghe tiếng kêu la của họ, cất bỏ hết cào cào và hứa ban một kỷ nguyên thạnh vượng. Tai vạ hiến cho tiên tri cơ hội để nói về một sự đoán phạt hầu đến khủng khiếp hơn. Những cào cào đó gợi cho ta nghĩ đến, hoặc có thể làm hình bóng về cào cào ở sách KhKh 9:1-11 (đây lại dịch là "châu chấu").
Gio Ge 2:38-3:21 -- Ngày của Đức Chúa Trời hầu đến
Trong sách Cong Cv 2:17-21, Phi-e-rơ trưng dẫn Gio Ge 2:28-32 và nói đó là dự ngôn về "ngày" mà ông đang khai mạc. Ấy có nghĩa rằng Đức Chúa Trời định dùng khúc sách nầy để nói tiên tri về kỷ nguyên Tin Lành. Đó sẽ là ngày đoán phạt các dân (3:1-12). Đối với chính Giô-ên, thì có nghĩa là các dân thù nghịch đương thời ông, tức là người Si-đôn, Phi-li-tin, Ai-cập và Ê-đôm (3:4, 19). Nhưng còn hơn nữa. Trận đánh lớn ở thung lũng Giô-sa-phát, nay là thung lũng Xết-rôn ở phía Đông Giê-ru-sa-lem (3:9-12), đã được nói đến chung với mùa gặt (câu 13), với "trũng đoán định" (câu 14), với "Đức Giê-hô-va làm cho vang tiếng mình ra từ Giê-ru-sa-lem" (câu 16), với "các từng trời và đất đều rúng động" (câu 16), với "một cái suối sẽ ra từ nhà Đức Giê-hô-va" (câu 18), -- mọi sự nầy là phần tiếp tục ý tưởng về Đức Thánh Linh ở 2:28-32. Như vậy, về toàn thể, khúc sách dường như cốt để mô tả thời đại của đạo Đấng Christ, trong đó Lời Đức Chúa Trời (thể hiện bằng Tin Lành Đấng Christ và do ảnh hưởng từ ái của Đức Thánh Linh đem đến cho cả loài người) sẽ là lưỡi hái của mùa gặt linh hồn vĩ đại. Những kẻ nào chối bỏ sứ diệp của Tin Lành, ắt tự chuộc lấy sự đoán phạt khủng khiếp hơn tai vạ cào cào. Một phần lời lẽ đặc biệt chỉ về khởi điểm của kỷ nguyên, và một phần chỉ về kỳ sau rốt.
===============================

A-mốt
Y-sơ-ra-ên bội đạo và làm gian ác Sự đoán phạt chắc chắn Sự khôi phục Vinh quang tương lai của nước Đa-vít
Lời tiên tri nầy dường như đã được nói ra trong dịp thăm viếng Bê-tên (AmAm 7:10-14), chừng 30 năm trước khi Y-sơ-ra-ên suy vong.
A-mốt là một tiên tri của Giu-đa, nước phía Nam, có truyền sứ điệp cho Y-sơ-ra-ên, nước phía Bắc, dưới đời trị vì của Ô-xia, vua Giu-đa (787-735 T.C.), và Giê-rô-bô-am II, vua Y-sơ-ra-ên (790-749 T.C.), xem 1:1 -- Sử gia Josèphe nói rằng "cơn động đất" (1:1) xảy ra cùng một lúc Ô-xia bị bịnh phung (IISu 2Sb 26:16-21). Đó là lúc Giô-tham bắt đầu đồng trị, chừng năm 749 T.C.. Như vậy, lời tiên tri của A-mốt nói ra khoảng năm 751 T.C..
Đời trị vì của Giê-rô-bô-am II rất thành công. Nước được mở rộng nhiều lắm (IIVua 2V 14:23-29). Mức thạnh vượng của Y-sơ-ra-ên lên như thủy triều; nhưng họ cứng lòng trong sự thờ lạy hình tượng, và đời đạo đức xông mùi thúi tha, hư hoại. Cả đất nước đầy dẫy sự chưởi rủa, trộm cắp, bất công, hà hiếp, cướp bóc, tà dâm và sát nhân.
Mười chi phái ly khai với nước Đa-vít đã gần được 200 năm (kể từ năm 933 T.C.), và đã dựng nước độc lập ở phía Bắc, lấy sự thờ lạy bò con làm quốc giáo (IIVua 2V 12:25-33). Trong một phần thời gian nầy, họ cũng theo sự thờ lạy Ba-anh, và nhiều thói tục gớm ghiếc trong sự thờ lạy hình tượng của người Ca-na-an vẫn còn thạnh hành. Trong thời gian nầy, Đức Chúa Trời đã sai Ê-li, rồi Ê-li-sê, rồi Giô-na. Nhưng vô ích, dân Y-sơ-ra-ên cứ cứng lòng trong sự thờ lạy hình tượng và sự gian ác; bấy giờ họ tiến mau tới chỗ hủy diệt, thì Đức Chúa Trời lại sai A-mốt và Ô-sê để cố gắng lần chót, mong giữ dân tộc khỏi điên cuồng nhào tới chỗ chết.
Những người đồng thời với A-mốt
Lúc còn thiếu niên, có lẽ A-mốt đã biết Giô-na và nghe Giô-na kể lại cuộc thăm viếng thành Ni-ni-ve. Cũng có lẽ ông đã biết Ê-li-sê và nghe Ê-li-sê kể lại việc mình liên kết với Ê-li. Khi A-mốt bước lên sân khấu, thì Giô-na và Ê-li-sê vừa rời khỏi đó. Có lẽ ông đã nói đến tai vạ cào cào trong đời Giô-ên (AmAm 4:9). Ô-sê là bạn đồng sự với A-mốt. Có lẽ ông có mặt tại Bê-tên đương lúc A-mốt tới thăm. Chắc hẳn hai ông quen biết nhau lắm, và có lẽ thường trao đổi ý kiến về các sứ điệp mà Đức Chúa Trời đã truyền cho mình. Ô-sê trẻ tuổi hơn, nên cứ tiếp tục chức vụ sau khi A-mốt đã qua đời. Lại nữa, khi A-mốt chấm dứt chức vụ, thì Ê-sai và Mi-chê bắt đầu chức vụ. Cả hai ông lúc còn thiếu niên có lẽ đã nghe A-mốt rao giảng. Đức Chúa Trời dấy lên những tiên tri, chẳng khác gì ngân hà sáng chói biết bao, để cố giải thích cho người Y-sơ-ra-ên hiểu sự đoán phạt và giúp họ tránh khỏi sự đoán phạt đó!
1:1-2:16-- Sự đoán phạt nước Y-sơ-ra-ên và các nước lân cận
A-mốt mở đầu bằng một bản cáo tội chung cả một miền, gồm tám nước: Sy-ri, Phi-li-tin, Phê-ni-xi, Ê-đôm, Am-môn, Mô-áp, Giu-đa, và Y-sơ-ra-ên. Rồi ông chuyên chú vào Y-sơ-ra-ên. Ông tố cáo mỗi nước bằng cùng một công thức: "Tội ác... đến gấp ba, gấp bốn lần." Ông cũng chỉ rõ người tội ác đặc biệt của họ, và báo cáo rằng họ sẽ bị hủy diệt, bị lưu đày. "Đày làm phu tù" là một trong những từ ngữ chánh yếu của sách nầy (1:5, 15; 5:5, 27; 6:7; 7:9, 17). Trong vòng 50 năm, những dự ngôn nầy đã được ứng nghiệm. Số ít người thoát khỏi tay quân A-si-ri, thì về sau đã ngã trước quân Ba-by-lôn và quân Hy-lạp.
"Thê-cô-a" (1:1), quê hương của A-mốt, ở cách Giê-ru-sa-lem 10 dặm về phía Nam và cách Bết-lê-hem 5 dặm, trên một ngọn núi cao gần 900 thước Tây. Đây là miền đồng cỏ trống trải, trông xuống đồng vắng Giu-đê; Thê-cô-a ở cùng một khu vực mà theo như người ta tưởng, 8 thế kỷ sau, chính Giăng Báp-tít được trưởng dưỡng. A-mốt chẳng phải là thầy tế lễ, hoặc tiên tri chuyên nghiệp, (7:14), nhưng là một kẻ chăn chiên và trông nom cây sung. Cây sung là một loại cây vả, kém về phẩm, là sự pha giống giữa cây vả và cây dâu.
"Cơn động đất" (1:1) chắc đã rùng rợn lắm, vì 200 năm sau, người ta còn nhớ nó, và nó được ví sánh với ngày phán xét (XaDr 14:5). Cơn động đất xảy ra 2 năm sau khi A-mốt nói lời cảnh cáo, nên dân chúng chắc cho nó là bất thường.
AmAm 3:1-15-- Các cung điện xa hoa ở Sa-ma-ri
Sa-ma-ri, thủ đô của nước phía Bắc, ở trên trái đồi cao chừng 100 thước Tây, trong một thung lũng đẹp tuyệt vời, ba phía có núi non bao bọc, khó ai chiếm được nó. Song những cung điện của nó xây dựng bằng máu của kẻ nghèo (2:6-7; 3:10; 5:11; 8:4-7), do một sự tàn nhẫn mà cả đến người Ai-cập và người Phi-li-tin thờ lạy hình tượng cũng phải lấy làm phẫn nộ (câu 9-10). Tuy nhiên, ngày đoán phạt họ đã gần (câu 11).
Bê-tên (câu 14), nơi A-mốt truyền giảng, là trung tâm tôn giáo của nước phía Bắc, cách Giê-ru-sa-lem 12 dặm về phía Bắc, và là một trong hai chỗ mà Giê-rô-bô-am đã dựng bò con bằng vàng lên (IVua 1V 12:25-33); bò con vàng còn ở đó (OsHs 13:2). A-mốt đến trung tâm thờ lạy hình tượng bại hoại nầy để cảnh cáo dân bội đạo lần chót.
AmAm 4:1-13-- "Khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi " (câu 12)
Bọn phụ nữ Sa-ma-ri được nuông chiều (câu 13), đang sống trong xa hoa, phóng túng, hưởng lợi chắt bóp được của dân nghèo. A-mốt gọi họ là "những bò cái của Ba-san" (câu 1), là những súc vật được nuôi mập, chờ ngày làm thịt. Mấy năm sau, họ sẽ bị "người ta... dùng móc bắt đi" (câu 2). Quân A-si-ri thật đã dùng móc, móc vào môi bọn phu tù mà dẫn đi.
Sự mộ đạo của Y-sơ-ra-ên (câu 4-5). Họ tàn ác, chẳng chút thương xót ai, nhưng lại nhiệt thành mộ đạo, thật là châm biếm tôn giáo biết bao!
Đức Chúa Trời nhiều lần cố gắng cứu họ (câu 6-13), nhưng vô ích. Thì giờ đã điểm để dân tộc gian ác gặp Đức Chúa Trời mình,
5:1-27-- Ngày của Đức Giê-hô-va
Có lời than vãn vì dân Y-sơ-ra-ên suy vong (câu 1-3), và thêm một lời kêu gọi họ quay về với Đức Giê-hô-va (câu 4-9), cùng lời tố cáo các đường lối gian ác của họ (câu 10-27). Câu 18-26 dường như tỏ ra họ hoặc tưởng rằng dâng tế lễ cho bò con tức là dâng cho Đức Giê-hô-va qua bò con, hoặc họ sẵn lòng quay lại mà dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va thay cho bò con. Nhưng cái mà A-mốt muốn không phải là tế lễ của họ, bèn là thay đổi cách sanh hoạt đi.
6:1-13-- Cảnh phu tù
Nhiều lần A-mốt đối chiếu sự thanh nhàn theo tư dục, sự xa hoa trong cung điện và cảm giác an ninh của các bậc thủ lãnh và người giàu có với những sự đau đớn sắp xảy đến cho họ, không sao chịu nổi. Họ là những kẻ đầu tiên sẽ cảm thấy ách tôi mọi của người A-si-ri đau đớn, xót xa dường nào.
7:1-17-- Ba sự hiện thấy về nạn hủy diệt
"Cào cào" (câu 1-3) tượng trưng sự hủy diệt đất nước. A-mốt cầu thay, và Đức Chúa Trời nguôi đi.
"Lửa" (câu 4-6) là một biểu hiện khác về sự hủy diệt. A-mốt lại cầu thay, và Đức Chúa Trời lại nguôi đi.
"Dây chuẩn mực" (câu 7-9). Thành được đo để bị hủy diệt. Đức Chúa Trời đã nguôi đi hai lần. Nhưng chừng đó thôi. Ngài đã hình phạt nhiều lần và tha thứ nhiều lần. Song trường hợp của họ là tuyệt vọng.
"Thầy tế lễ của Bê-tên" (câu 10-17). Ta chẳng biết A-mốt ở Bê-tên bao lâu. Nhưng các lời tố cáo và cảnh cáo liên tiếp của ông đã lay chuyển cả xứ (câu 10). Thầy tế lễ bèn trình lại với Giê-rô-bô-am. Nhưng A-mốt càng ngày càng dạn dĩ hơn, và bảo thầy tế lễ rằng chính hắn sẽ bị bắt làm phu tù, và vợ hắn "sẽ buông dâm" (câu 17 -- bản tiếng Anh dịch là: "làm kỹ nữ") nghĩa là một người đờn bà chuyển qua tay bọn lính A-si-ri xâm lăng.
8:1-14-- Giỏ trái mùa hạ
Một biểu hiện khác về nước tội lỗi đã chín mùi để bị hủy diệt. Cũng nhắc lại các nguyên nhân: tham lam, bất lương và tàn ác đối với kẻ nghèo, chẳng chút thương xót. Nhiều lần và bằng nhiều tượng trưng, Kinh Thánh tỏ rõ rằng không có cách nào thoát khỏi hiệu quả của sự cố quyết phạm tội. Các tiên tri kêu la rằng: "Hỡi tội nhơn, hãy xây lại, xây lại, xây lại. Sao ngươi muốn chết?" Nhưng tội nhơn cứ tiến bước, vui vẻ mà đui mù, chẳng thấy sự đoán phạt chắc chắn.
9:1-15-- Vinh quang tương lai của nước Đa-vít
Dự ngôn thêm về sự lưu đày (câu 1-8). Trong vòng 30 năm, lời nầy đã ứng nghiệm, và nước bội đạo không tồn tại nữa.
Ngôi Đa-vít được khôi phục (câu 8-15). Các tiên tri luôn luôn lại được sự hiện thấy về những ngày tươi sáng ở bên kia bóng tối tăm. A-mốt đã sống gần Bết-lê-hem, thành của Đa-vít. Ông đau đớn trong lòng vì 10 chi phái chối bỏ ngôi vua Đa-vít mà Đức Chúa Trời đã chỉ định cho dân Ngài, và vì suốt 200 năm, họ ngỗ nghịch, không chịu quay về ràn. Đây, lời cuối cùng của ông: Trong đời tương lai, nước Đa-vít mà họ đã khinh dể, sẽ được khôi phục và sẽ cai trị chẳng những một nước, song là cả muôn nước trên thế giới, trong sự vinh hiển đời đời.
=====================================

Áp-đia
Sự đoán phạt Ê-đôm Người Ê-đôm
Ê-đôm là dãy núi đá ở phía Đông thung lũng A-ra-bi, từ Bắc tới Nam chừng 100 dặm, và từ Đông qua Tây chừng 20 dặm. Có nhiều dòng nước và nhiều đồng cỏ. Thủ đô là Sela (Petra), ở trên một ghình đá dốc thẳng, xa tít trong hóc núi, và nhìn xuống một thung lũng đẹp đẽ lạ lùng. Người Ê-đôm thường kéo đi viễn chinh, rồi lui về những thành trì cao ngất trong hẽm núi, không ai chiếm nổi.
Người Ê-đôm là dòng dõi của Ê-sau, và như vậy, là bà con của dân Do-thái; nhưng họ bao giờ cũng là kẻ thù sâu cay của dân Do-thái để vĩnh cửu hóa mối thù giữa Ê-sau và Gia-cốp (SaSt 25:23; 27:41). Họ không cho Môi-se đi qua (Dan Ds 20:14-21), và luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ đạo quân nào tấn công dân Do-thái.
Niên hiệu của lời tiên tri nầy
Sở dĩ có lời tiên tri nầy là vì thành Giê-ru-sa-lem đã trải qua một cơn cướp phá, có người Ê-đôm dự phần. Có bốn lần cướp phá như vậy:
1. Dưới đời trị vì của Giô-ram (850-843 T.C.). Xem IISu 2Sb 21:8, 17; AmAm 1:6.
2. Dưới đời trị vì của A-ma-xia (803-775 T.C.). Xem IISu 2Sb 25:11, 12, 23, 24.
3. Dưới đời trị vì của A-cha (741-726 T.C.). Xem 28:16-21.
4. Dưới đời trị vì của Sê-đê-kia (597-586 T.C.). Xem 36:11-21; Thi Tv 137:7.
Có nhiều ý kiến khác nhau về Áp-đia luận đến cuộc cướp phá nào trong 4 cuộc trên đây.
Vì có ghi chép sự "hủy diệt" Giu-đa (câu 11-12), nên lời tiên tri nầy thường được kể là thuộc về đời trị vì của Sê-đê-kia, là lúc Giê-ru-sa-lem bị quân Ba-by-lôn thiêu hủy (568 T.C.).
Những khúc Kinh Thánh khác dự ngôn sự đoán phạt Ê-đôm là: EsIs 34:5-15; Gie Gr 19:7-22; Exe Ed 25:12-14; 35:1-15; ApOv 1:11-12.
Lời tiên tri được ứng nghiệm
Áp-đia nói tiên tri rằng Ê-đôm sẽ "bị diệt đời đời" và "sẽ như vốn không hề có" (câu 10, 16, 18); rằng một phần sót của Giu-đa sẽ được cứu, và Nước Đức Chúa Trời của Giu-đa sẽ toàn thắng (câu 17, 19, 21).
Trong vòng 4 năm sau khi Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy, thì Ê-đôm bị tấn công và hoang vu (582 T.C.) bởi quân Ba-by-lôn mà họ đã giúp đánh Giê-ru-sa-lem. Người Nabathéens chiếm Ê-đôm. Số ít người Ê-đôm còn sót lại phải cư ngụ vỏn vẹn một miền ở phía Nam xứ Giu-đa, tại đó họ tồn tại 4 thế kỷ và cứ tích cực thù nghịch dân Giu-đa. Năm 126 T.C., họ bị khắc phục bởi Giăng Hyracanus, một quan trưởng của phái Macchabée, bắt buộc phải chịu phép cắt bì, rồi sáp nhập quốc gia Do-thái. Khi xứ Pa-lét-tin (Do-thái) bị quân Rô-ma chiếm (năm 63 T.C.), thì chi tộc Hê-rốt, một dòng họ Ê-đôm (Y-đu-mê), được đặt lên cai trị người Do-thái. Đó là những người Ê-đôm cuối cùng. Khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, năm 70 S.C., thì người Ê-đôm cũng biến mất khỏi lịch sử.
============================

Giô-na
Đến Ni-ni-ve thi hành sứ mạng thương xót
Ni-ni-ve là thủ đô của đế quốc A-si-ri. A-si-ri là một đế quốc bá chủ thế giới chừng 300 năm (900-607 T.C.). Nó bắt đầu dấy lên địa vị cường quốc trên thế giới vào khoảng nước Hê-bơ-rơ bị chia hai, lúc hết đời trị vì của Sa-lô-môn. Nó lần lần chiếm cứ và tiêu diệt nước Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc. Các vua A-si-ri đã có liên quan với nước Y-sơ-ra-ên và nước Giu-đa là:
Sanh-ma-na-sa II (860-825 T.C.). Bắt đầu "diệt Y-sơ-ra-ên."
Adad-Nirari (808-783 T.C.). Nhận cống phẩm của Y-sơ-ra-ên. Giô-na tới viếng Ni-ni-ve (?)
Tiếc-la-Phi-lê-se III (747-727 T.C.). Đem hầu hết người Y-sơ-ra-ên đi đày.
Sanh-ma-na-sa IV (727-722 T.C.). Vây thành Sa-ma-ri.
Sa-gôn II (722-705 T.C.). Bắt phần sót lại của Y-sơ-ra-ên đi làm phu tù. Ê-sai.
San-chê-ríp (705-681 T.C.). Xâm lăng nước Giu-đa. Ê-sai.
Ê-sạt-ha-đôn (681-668 T.C.). Rất oai hùng.
Assur-banipal (668-626 T.C.). Hùng mạnh và hung ác hơn hết. Na-hum (?)
Hai vua nhu nhược (626-607 T.C.). Đế quốc rộng lớn nầy sụp đổ năm 607 T.C..
Như vậy, Giô-na được Đức Chúa Trời kêu gọi để kéo dài đời sống của nước thù nghịch đã khởi sự tiêu diệt chính nước ông. Thế thì ông chạy đi phía khác, cũng chẳng lạ gì. Các nhà Truyền đạo thường dùng Giô-na làm tỉ dụ về sự kỳ thị chủng tộc. Không đúng hẳn như vậy, nhưng do lòng yêu nước, ông khiếp sợ một guồng máy quân sự tàn bạo, không chút thương xót, đang xiết chặt dân Đức Chúa Trời.
Giô-na quê ở Gát-Hê-phe. Ông sống dưới đời trị vì của Giê-rô-bô-am II (790-749 T.C.), và giúp phần chiếm lại một ít lãnh thổ Y-sơ-ra-ên đã mất (IIVua 2V 14:25). Việc nầy có lẽ đã theo sau lúc ông thăm viếng Ni-ni-ve, trong thời gian tạm yên vì thành Ni-ni-ve ăn năn ít lâu. Như vậy, Giô-na vừa là chánh khách, vừa là tiên tri, và là người có danh tiếng nhứt trong nước sau vua.
Sách nầy có phải là lịch sử chăng?
Lẽ tự nhiên, vì cớ truyện tích con cá, nên trí óc không tin chẳng chịu nhìn nhận sách nầy là xác thực. Họ cho nó là hoang đường, là bày đặt, hoặc một thí dụ, một thi ca bằng văn xuôi, v.v... Một cách hiển nhiên, Đức Chúa Jêsus kể sách nầy là một thực sự lịch sử (Mat Mt 12:39-41). Phải gò ép nhiều lắm, mới có thể nói rằng Ngài đã phán về một điều khác. Ngài cho đó là một "dấu lạ" về chính sự sống của Ngài. Ngài đặt con cá, sự ăn năn của người Ni-ni-ve, sự sống lại của Ngài, và ngày phán xét vào cùng một loại. Khi Ngài phán về sự sống lại của Ngài và về ngày phán xét, thì Ngài chắc đã luận đến Sự Thực. Như vậy, Đức Chúa Jêsus đã thừa nhận truyện tích Giô-na. Đối với chúng ta, chừng đó đủ giải quyết vấn đề. Chúng ta tin rằng truyện tích ấy thật xảy ra như đã chép; rằng do lịnh của Đức Chúa Trời, chính Giô-na đã viết sách nầy, không cốt để bào chữa hành động chẳng xứng đáng của mình; rằng do Thánh Linh của Đức Chúa Trời hướng dẫn, sách nầy đã được đặt chung với các Sách Thánh trong đền thờ như là một phần sự khải thị của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài.
Con cá. Đây là một con cá lớn. Đã tìm thấy nhiều con cá lớn có thể nuốt chửng một người. Tuy nhiên, điểm chính của truyện tích nầy là: Đó là một PHÉP L , một cách Đức Chúa Trời chứng minh rằng Ngài sai Giô-na đi đến Ni-ni-ve. Nếu không có pháp lạ lớn lao ấy, ắt người Ni-ni-ve ít để ý tới Giô-na (LuLc 11:30).
Sự chứng quyết của khảo cổ học. Theo chỗ chúng ta biết, thì các bi văn A-si-ri không có chép rằng thành Ni-ni-ve ăn năn. Ta chẳng nên mong thấy chép như vậy. Các vua thời xưa chỉ chép công nghiệp hiển hách của mình, chứ không hề chép sự hổ nhục của mình. Tuy nhiên, có dấu tích tỏ ra Adad Nirari đã thực hiện những cuộc cải cách giống như những cuộc cải cách của Amenophis IV ở Ai-cập. Và dưới đời trị vì của ba vua theo sau Adad-Nirari, người A-si-ri đã giảm bớt các cuộc chinh phục. Trong thời gian nầy, Y-sơ-ra-ên chiếm lại được phần lãnh thổ đã mất (IIVua 2V 14:25). Đó là những điểm ngụ ý rằng Giô-na có ảnh hưởng sâu xa đến thành Ni-ni-ve.
Mục đích của Đức Chúa Trời trong sự trạng nầy
Có một điều chắc chắn, là sự trạng nầy đã trì hoãn cảnh lưu đày của Y-sơ-ra-ên, vì một trong những điều mà người Ni-ni-ve ăn năn chính là sự ham hố chinh phục (Gion Gn 3:8).
Đức Chúa Trời dường như muốn dùng sự trạng nầy để ngụ ý dạy dân Ngài rằng Ngài cũng chú ý đến các nước khác.
Hơn nữa, Giô-na quê ở Gát-hê-phe (IIVua 2V 14:25), gần Na-xa-rét, quê hương của Đức Chúa Jêsus; Giô-na là một "dấu lạ" về Ngài, và Ngài được sai đến các nước khác cũng như Giô-na vậy.
Hơn nữa, Giốp-bê(1), nơi Giô-na xuống tàu để tránh trách nhiệm giảng cho một dân tộc khác, chính là nơi, 800 năm sau, Đức Chúa Trời đã lựa chọn để bảo Phi-e-rơ hãy tiếp nhận người thuộc về những dân tộc khác.
Hơn nữa, Đức Chúa Jêsus trưng dẫn sự trạng nầy như là bức tranh tiên tri về Ngài sống lại nhằm ngày "thứ ba" (Mat Mt 12:40). Đó là lời tiên tri duy nhứt trong Cựu Ước về Ngài sống lại ngày "thứ ba" (xem ở dưới Mat Mt 2:22).
Vậy, về toàn thể, truyện tích Giô-na là bức tranh lịch sử vĩ đại, làm hình bóng về Đấng Mê-si sống lại và thi hành sứ mạng đối với muôn dân.
Gion Gn 1:1-16 -- Giô-na chạy trốn
Người ta nghĩ rằng "Ta-rê-si" (câu 3) là hải cảng Tartessus, thuộc Tây-ban-nha. Giô-na đi tới biên giới xa nhứt của thế giới mà người ta biết thời đó.
2:1-11-- Lời cầu nguyện của Giô-na
Xét lời cầu nguyện tuyệt diệu nầy, ta thấy chắc ông quen cầu nguyện theo lời lẽ của các Thi Thiên. Ông đã được cá "mửa ra trên đất khô" (câu 11), có lẽ ở gần Giốp-bê, và có lẽ được nhiều người chứng kiến.
3:1-10-- Thành Ni-ni-ve ăn năn
Khi giảng, chắc Giô-na có nói đến sự từng trải của mình trong bụng cá, và được nhiều người làm chứng truyện đó là thật. Vì ông nói nhơn Danh Đức Chúa Trời của nước mà người Ni-ni-ve đã bắt đầu cướp phá, nên họ chăm chú nghe và bắt kinh khiếp.
4:1-11-- Sự thất vọng của Giô-na
Ông đã đến không phải để mong họ ăn năn, nhưng để báo cáo họ sắp bị đoán phạt. Nhưng khi Đức Chúa Trời thấy họ ăn năn, thì Ngài đẹp lòng và hoãn sự hình phạt, làm cho Giô-na buồn phiền lắm. Xem thêm ở dưới sách Na-hum. Chúng tôi nghĩ rằng vẻ đẹp nhứt của sách nầy ở trong câu chót: Đức Chúa Trời thương xót con trẻ. Đức Chúa Trời chịu cảm động mà ngưng không hủy diệt thành Ni-ni-ve, vì lòng Ngài chẳng nỡ tàn sát con trẻ vô ti. Đức Chúa Jêsus yêu mến con trẻ và tâm tình như con trẻ của những người lớn.
Ni-ni-ve
Chính thành Ni-ni-ve bề dài 3 dặm và bề rộng một dặm rưỡi. Còn thành Ni-ni-ve lớn gồm Ca-lách ở 20 dặm về phía Nam, và Khorsabad ở 10 dặm về phía Bắc. Khu tam giác do sông Ti-gơ-rơ và sông Zab tạo thành, gồm trong các chiến lũy của Ni-ni-ve.
Ca-lách, tiền đồn phía Nam của Ni-ni-ve, gồm 4 cây số vuông. Tại đây, ông Layard và ông Loftus phát giác được cung điện của Assur-nasipal, Sanh-ma-na-sa (và Tiêm-bi đen do vua nầy xây cất), Tiếc-la-Phi-lê-se và Ê-sạt-ha-đôn.
Khorsabad, tiền đồn phía Bắc của Ni-ni-ve, được xây cất bởi Sa-gôn, là vua đã hủy diệt Y-sơ-ra-ên năm 721 T.C.; cung điện của vua nầy nguy nga hơn hết, chỉ kém cung điện của San-chê-ríp.
Gò nỗng "Giô-na. " Đây là gò nỗng lớn thứ nhì trong số di tích của thành Ni-ni-ve, tên là "Yunas. " Theo thổ ngữ, "Yunas " là "Giô-na." Gò nỗng gồm 16 mẫu tây, và cao chừng 33 thước tây. Nó chứa mộ phần danh tiếng của Giô-na. Đối với ông Rich, đó là một bằng cớ tỏ ra đây là di tích của thành Ni-ni-ve, và nó khiến ông nhận ra di tích nầy. Người bổn xứ coi mộ phần nầy là thánh đến nỗi không cho phép đào bới đại qui mô ở gò nỗng nầy. Layard đề nghị đào cái hầm rượu cho một người bổn xứ sắp xây cất nhà, với điều kiện là ông được giữ lại bất cứ cổ vật nào mình tìm thấy. Nhờ dó, ông phát giác được di tích cung điện của Ê-sạt-ha-đôn. Người ta hy vọng một ngày kia, có thể khám phá những bí mật của cung điện nầy.
===============================

Mi-chê
Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sắp sửa suy sụp Đấng Mê-si sẽ sanh tại Bết-lê-hem

Mi-chê nói tiên tri dưới đời trị vì của Giô-tham (749-734 T.C.), A-cha (741-726 T.C.) và Ê-xê-chia (726-697 T.C.). Giô-tham và Ê-xê-chia là hai vua hiền đức, nhưng A-cha xấu thậm tệ. Như vậy, Mi-chê chứng kiến chánh phủ bội đạo rồi được phục hưng. Quê hương ông ở Mô-rê-sết, trên biên giới Phi-li-tin, gần Gát, cách Giê-ru-sa-lem chừng 30 dặm về phía Tây-nam. Ông đồng thời với Ê-sai và Ô-sê, giảng ở miền Tây nước Giu-đa điều mà Ê-sai giảng ở Giê-ru-sa-lem và Ô-sê giảng ở nước phía Bắc.
Mi-chê giảng cho cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và trước nhứt cho thủ đô của hai nước nầy, là Sa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem. Ba ý tưởng chánh yếu trong bài giảng của ông là: Tội lỗi của họ, họ bị hủy diệt, rồi họ được khôi phục. Trong sách Mi-chê, ba ý tưởng nầy lẫn lộn nhau, và nhiều lần đột nhiên chuyển từ sự hoang vu hiện tại qua sự vinh hiển tương lai. Nhiều câu dường như không liên lạc với nhau. Cùng những ý tưởng ấy đã lặp đi lặp lại mãi ở các khung cảnh khác nhau, và có thêm chi tiết.
MiMk 1:1-16 -- Sa-ma-ri bị phán xét
Sa-ma-ri là thủ đô của nước phía Bắc. Các người cai trị nó phải trực tiếp chịu trách nhiệm về sự bại hoại lan tràn khắp nước (câu 5). Vì cớ bội đạo, bỏ Đức Giê-hô-va, nên 200 năm trước, họ đã chọn theo sự thờ lạy bò con, sự thờ lạy Ba-anh cùng nhiều hình tượng khác của người Ca-na-an, Sy-ri, A-si-ri, và những thói tục kèm theo sự thờ lạy các hình tượng đó. Đức Chúa Trời đã sai Ê-li, Ê-li-sê và A-mốt để khiến họ xây bỏ hình tượng, nhưng vô ích. Họ đã gần chín mùi để chịu một đòn chí tử. Mi-chê đã sống để thấy lời mình truyền giảng được ứng nghiệm (câu 6). Năm 734 T.C., quân A-si-ri bắt hết dân ở phía Bắc Y-sơ-ra-ên đi làm phu tù, và năm 721 T.C., chính Sa-ma-ri trở thành "một đống đổ nát" (câu 6). Những chỗ nêu tên ở câu 10-15 ở phía Tây nước Giu-đa và dọc theo biên giới Phi-li-tin; đó chính là vùng quê hương của Mi-chê. Những chỗ nầy đã bị quân A-si-ri xâm lăng và tàn phá cùng một lúc nước phía Bắc bị lật đổ.
2:1-13-- Sự tàn ác của những kẻ cai trị
Thêm vào sự thờ lạy hình tượng (1:5-7), giai cấp cầm quyền còn đối xử với người nghèo chẳng chút thương xót, tịch thâu ruộng đất của họ, cả quần áo họ, và trục xuất đờn bà có con nhỏ ra khỏi nhà họ. Trên hết mọi sự, giai cấp cầm quyền còn tụ tập các tiên tri giả, là kẻ dung thứ những hành động bất công và tàn ác của chúng (câu 6, 11). Mi-chê đã nói đến cảnh phu tù (1:16), tới đây, ông đột nhiên mô tả sự khôi phục của họ, có Đức Chúa Trời đi đầu (2:12-13).
3:1-12-- Sự tàn ác của những kẻ cai trị
Tiếp tục tố cáo sự tàn ác, phóng túng, vô nhân đạo của giai cấp cầm quyền, và đặc biệt nói đến thành Giê-ru-sa-lem (câu 10) cùng các thủ lãnh tôn giáo (câu 5-7, 11). Lời tiên tri nầy chắc đã nói ra dưới đời trị vì của vua A-cha gian ác, mặc dầu dưới đời trị vì tốt lành của Giô-tham và Ê-xê-chia, những ti ác ấy đã bị trừ bỏ một phần nào. Tới tuyệt điểm bài tố cáo tội lỗi của họ, Mi-chê tuyên bố sự phán xét Giê-ru-sa-lem (câu 10), cũng như ông đã tuyên bố sự phán xét Sa-ma-ri ở 1:6.
4:1-14-- Si-ôn trị vì cả thế giới
Đoạn 3 luận về Si-ôn tàn ác, hung bạo, bại hoại và bị hoang vu. Đoạn 4 luận về thế giới không chiến tranh, có hạnh phước, thạnh vượng, kính sợ Đức Chúa Trời, và có Si-ôn đứng đầu. Thật là mâu thuẫn biết bao! 4:1-3 cũng y như EsIs 2:2-4. Đây là những lời tuyệt vời, vĩ đại, rất đáng được lặp lại. Giữa bài ca tụng tương lai đó, đột nhiên tiên tri quay lại cảnh hoạn nạn đương thời mình và sự phán xét Giê-ru-sa-lem mà ông vừa mới nói đến (MiMk 3:12). Ông báo cáo rằng dân chúng sẽ bị bắt đi làm phu tù ở Ba-by-lôn (4:10). Thật là một lời tiên tri lạ lùng! Lúc đó, đế quốc A-si-ri đang xô đổ mọi vật ở trước mặt nó. Lời tiên tri nầy nói ra 100 năm trước khi đế quốc Ba-by-lôn dấy lên. Thật vậy, Giê-ru-sa-lem đã sống sót trước sự tấn công ồ ạt của quân A-si-ri, và cứ sống cho tới khi A-si-ri bị Ba-by-lôn lật đổ; chính bởi tay Ba-by-lôn mà Giê-ru-sa-lem suy sụp (năm 606 T.C.), và nhân dân Giê-ru-sa-lem bị bắt đi Ba-by-lôn làm phu tù.
5:1-14-- Vua hầu đến của Si-ôn
Đoạn 4 luận về Si-ôn đứng đầu thế giới. Đoạn 5 luận về một Vua phát xuất từ Bết- lê-hem, sẽ đứng đầu Si-ôn. 4:1-8 luận về sự vinh hiển tương lai, 4:9-10 quay lại luận về cảnh phu tù, 4:11-12 quay lại thời của tiên tri và sự vây hãm thành Giê-ru-sa-lem bởi quân A-si-ri bấy giờ đang diễn ra. 4:13 tiến mau tới tương lai. Rồi 4:14 lại trở về sự vây hãm Giê-ru-sa-lem. Đó là khung cảnh cho Đấng Giải Cứu xuất hiện từ Bết-lê-hem (câu 1-5). Đối với chơn trời của Mi-chê, đó là sự giải cứu khỏi tay A-si-ri (câu 5-6); nhưng bên kia chơn trời, ở cõi xa mù mịt, thoáng hiện hình ảnh oai nghiêm của Vua Mê-si hầu đến. Từ cõi đời đời, Ngài đã do đường Bết-lê-hem mà xuất hiện. Theo một vài phương diện, sự giải cứu Si-ôn khỏi tay A-si-ri bởi thiên sứ của Đức Chúa Trời (EsIs 37:33-37) chính là bức tranh tiên tri về sự giải cứu tương lai lớn lao hơn bởi Cứu Chúa của loài người. Nhiều dự ngôn trong Cựu Ước về Đấng Christ đã bị lu mờ bởi những tình hình lịch sử đương thời tiên tri, song lại rõ ràng quá, không sao lầm lẫn được. Không còn nghi ngờ chi nữa, Vua đời đời xuất hiện từ Bết-lê-hem (câu 1) chính là Con Trẻ Lạ Lùng ở 9:6-7, đây là khúc sách độc nhứt trong Cựu Ước có nói đến rõ rằng Đấng Christ sẽ sanh tại Bết-lê-hem (xem ở dưới Mat Mt 2:22).
MiMk 6:1-16-- Đức Giê-hô-va tranh luận với dân Ngài
Lại nói đến các tội lỗi đương thời Mi-chê: Nào quên ơn Đức Chúa Trời, nào làm bộ sùng đạo, nào bất lương, nào thờ lạy hình tượng. Chắc chắn có hình phạt.
7:1-20-- Sự đắc thắng chung kết của Si-ôn
Mi-chê than vãn vì tình trạng phản phúc, hung bạo và khát máu lan tràn. Ông lại cảnh cáo sẽ có sự hình phạt. Kết luận, có sự hiện thấy về tương lai, là lúc Đức Chúa Trời cùng dân Ngài sẽ chiếm địa vị cao cả, và lời hứa cho Áp-ra-ham sẽ được ứng nghiệm đầy trọn.
====================================

Na-hum
Sự phán xét Ni-ni-ve
Có hai tiên tri liên quan với Ni-ni-ve: Giô-na, khoảng năm 785 T.C.; và Na-hum khoảng năm 630 T.C.. Hai ông cách xa nhau chừng 150 năm. Giô-na truyền một sứ điệp thương xót, còn Na-hum truyền một sứ điệp phán xét. Hai ông cùng chứng minh cách Đức Chúa Trời đối xử với các nước; Ngài kéo dài ngày ân điển, nhưng đến cuối cùng, Ngài sẽ thăm phạt tội lỗi họ.
Con người Na-hum
Ta ít biết về Na-hum. Ông được gọi là người "Ên-cốt" (NaNk 1:1). Tên ông ở trong chữ "Ca-bê-na-um," nghĩa là: "Làng của Na-hum." Chữ nầy có lẽ tỏ ra rằng ông là một cư dân, hoặc người sáng lập Ca-bê-na-um, là thành về sau được nổi danh là trung tâm của chức vụ Đức Chúa Jêsus. Ên-cốt, nơi ông sanh ra, có lẽ ở gần đó. Người ta nói rằng có một thành Ên-cốt trên sông Ti-gơ-rơ, cách Ni-ni-ve 20 dặm về phía Bắc, và có lẽ Na-hum đã ở giữa đoàn phu tù Y-sơ-ra-ên. Cũng có một thành Ên-cốt ở phía Nam Giê-ru-sa-lem. Nếu Ca-bê-na-um là quê hương của Na-hum, thì ông ở cùng một địa phương với Giô-na và Đức Chúa Jêsus.
Niên hiệu của Na-hum. -- Chính sách nầy tỏ ra nó thuộc về thời kỳ nào. Thành Thèbes (Nô-A-môn) đã sụp đổ năm 663 T.C.. (3:8-10). Còn thành Ni-ni-ve thì nói là sắp sụp đổ. Sự sụp đổ nầy đã xảy ra năm 607 T.C.. Như vậy, Na-hum ở giữa khoảng 663 và 607 T.C.. Vì Ni-ni-ve được diễn tả là ở tuyệt điểm vinh quang, và vì hoạn nạn của nó bắt đầu khi bị quân Sy-the xâm lăng (năm 626 T.C.), nên ta có thể đoán đúng nếu đặt lời tiên tri nầy sau cuộc xâm lăng của quân Sy-the ít lâu, nghĩa là chừng năm 630 T.C.. Như vậy, Na-hum đồng thời với Sô-phô-ni, là tiên tri cũng dự ngôn về sự hủy diệt Ni-ni-ve bằng những lời lẽ linh động lạ lùng (SoXp 2:13-15).
1:1-3:19-- Sự hoàn toàn hủy diệt Ni-ni-ve
Suốt cả ba đoạn nầy, phần thì nói về Ni-ni-ve, phần thì nói với Ni-ni-ve, sự hủy diệt Ni-ni-ve đã được dự ngôn với những chi tiết lạ lùng và linh động.
Có lẽ sự "chậm giận" của Đức Chúa Trời (1:3) đã được ghi chép để nhắc lại lúc Giô- na đến thăm Ni-ni-ve lâu năm về trước. Suốt cả Kinh Thánh, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối đầu với lòng thương xót của Ngài.
Thành đổ máu sụp đổ (3:1), -- đó là một tin vui khôn xiết cho thế giới mà nó đã chà đạp, không chút thương xót, nhứt là cho nước Giu-đa.
"Như ao chứa nước" (2:8): Số lớn kinh đào bảo vệ dọc theo bờ chiến lũy khiến Ni-ni-ve thật có vẻ như vậy.
Sô-phô-ni cũng dự ngôn sự suy vong của Ni-ni-ve như thế nầy: "Kìa, thành vui vẻ nầy đã ở yên không lo lắng và nói trong lòng mình rằng: Ta đây, ngoài ta không còn ai hết! Nó đã trở nên hoang vu, làm chỗ nằm cho loài thú vật là dường nào! Phàm kẻ đi qua sẽ khoa tay mà nhạo cười! (SoXp 2:15).
Ni-ni-ve
Ni-ni-ve là thủ đô của đế quốc A-si-ri, là đế quốc đã hủy diệt Y-sơ-ra-ên. Ni-ni-ve do Nim-rốt sáng lập sau nạn nước lụt ít lâu (SaSt 10:11-12). Ngay từ lúc đầu, nó đã là đối thủ của Ba-by-lôn. Ba-by-lôn ở phía Nam của thung lũng Ơ-phơ-rát, còn Ni-ni-ve ở phía Bắc của thung lũng ấy. Hai thành nầy cách nhau chừng 300 dặm. Ni-ni-ve dấy lên địa vị cường quốc bá chủ thế giới khoảng năm 900 T.C.. Sau đó ít lâu. nó bắt đầu tiêu diệt nước Y-sơ-ra-ên. Khoảng năm 785 T.C., Đức Chúa Trời đã sai Giô-na đến Ni-ni-ve để cố gắng khiến nó xây bỏ con đường chinh phục tàn bạo. Trong vòng 60 năm sau, khoảng năm 721 T.C., đạo quân A-si-ri đã hoàn toàn tiêu diệt nước Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc. Suốt 100 năm nữa, Ni-ni-ve ngày càng hùng mạnh và kiêu căng.
Lúc Na-hum nói lời tiên tri nầy, thì Ni-ni-ve là "nữ hoàng" của trái đất, hùng mạnh và hung bạo ngoài trí tưởng tượng; nó là thủ đô của một quốc gia hiếu chiến, xây dựng trên vật cướp được của các nước. Của cải vô tận từ đầu cùng trái đất đổ vào các kho tàng của nó. Na-hum ví sánh nó với hang sư tử cắn xé, hang thú dữ săn mồi, nuôi mình bằng huyết của các nước (NaNk 2:11-13).
Thành Ni-ni-ve lớn bề dài chừng 30 dặm, bề rộng chừng 10 dặm. Nó được bảo vệ bởi 5 chiến lũy và 3 hố nước (kinh đào), do không biết bao nhiêu ngàn phu tù ngoại quốc xây cất vì buộc phải khổ sai. Giô-na nói đến 12 vạn con đỏ (Gion Gn 4:11), khiến ta nghĩ rằng dân số nó gần tới 1 triệu. Chính thành Ni-ni-ve ở bên trong dài chừng 3 dặm và rộng chừng 1 dặm rưỡi, xây dựng ở nơi sông Ti-gơ-rơ và sông Khoser gặp nhau, được che chở bởi những chiến lũy cao chừng 33 thước tây, và trên mặt rộng đủ cho 4 chiến xa chạy song song. Châu vi của chiến lũy là 8 dặm.
Chính lúc Ni-ni-ve hùng mạnh tuyệt điểm và cũng là lúc nó sắp sửa thình lình bị lật đổ, thì Na-hum xuất hiện, nói lời tiên tri nầy, mà có người gọi là: "Bài ca ai điếu Ni-ni-ve," hoặc: "Loài người kêu đòi công lý."
Bản đồ số 44 -- Di tích thành Ni-ni-ve
Ni-ni-ve 2
Ni-ni-ve sụp đổ, 607 T.C. (hay là 612?). Chừng 20 năm sau khi Na-hum dự ngôn, thì một đạo quân gồm người Ba-by-lôn và người Mê-đi, vây chặt Ni-ni-ve. Sau 2 năm vây hãm, thình lình nước sông lên, làm lở một phần chiến lũy. Na-hum đã dự ngôn rằng: "Các cửa sông mở ra" cho đạo quân hủy diệt (NaNk 2:6). Do chỗ trống tự nhiên đó, quân Ba-by-lôn và quân Mê-đi đang tấn công bèn ào vô và ra tay hủy diệt. Nào ngựa dậm chơn, nào roi kêu vút, nào bánh xe lọc xọc, nào chiến xa chồm lên hung hăng, nào gươm sáng loáng, nào thây chất thành núi (2:3-4; 3:1-7). Mọi sự xảy ra đúng như Na-hum đã mô tả; và kinh thành đổ máu, hư xấu kia đã chìm trong lãng quên.
Nó bị hủy diệt hoàn toàn đến nỗi người ta quên cả vị trí của nó. 200 năm sau, khi Xénophon kéo 10 ngàn quân qua đó, thì ông tưởng những gò nỗng ấy là di tích một thành của xứ Parthie. Khi A-lịch-sơn đại đế đánh trận Arbelles lừng lẫy (năm 331 T.C.), gần vị trí Ni-ni-ve, thì ông chẳng biết là đã từng có một đô thị ở đó.
Phát giác di tích thành Ni-ni-ve. -- Mọi dấu tích về vinh quang của đế quốc A-si-ri đã biến mất trơn trọi, đến nỗi nhiều học giả bắt nghĩ rằng những đoạn Kinh Thánh và cổ sử khác nói đến nó chỉ là truyện thần tiên; rằng thật ra một kinh thành và một đế quốc dường ấy không hề có. Năm 1820, một người Anh, tên là Claude James Rich, để 4 tháng vẽ phát các gò nỗng chạy từ Mosul qua sông Ti-gơ-rơ, và ông nghi rằng đó là di tích của Ni-ni-ve. Năm 1845, ông Layard minh định được vị trí; ông và những người kế tiếp đã phát giác di tích cung điện nguy nga của các vua A-si-ri (ngày nay, tên các vua nầy đã thành ra quen thuộc) và hàng trăm ngàn bi văn trên đó ta có thể đọc lịch sử đế quốc A-si-ri đã chép. Tới một mực đ lạ lùng, những bi văn nầy bổ khuyết và minh xác Kinh Thánh.
Koyunjik là tên của gò nỗng quan trọng nhứt. Nó ở phía Đông sông Ti-gơ-rơ, đối ngang với đô thị Mosul tân tiến ở phía tây sông ấy. Diện tích nó chừng 40 mẫu tây, và bề cao trung bình chừng 30 thước tây. Nó chứa cung điện của San-chê-ríp và Assur-banipal. San-chê-ríp là vua đã xâm lăng nước Giu-đa. Cung điện của ông vĩ đại hơn hết. Nó do ông Layard phát giác năm 1849-50. Nó rộng bằng ba khu phố lớn của một đô thị.
Thư viện của Assur-banipal. -- Có lẽ đây là sự phát giác quan trọng nhứt mà khảo cổ học từng thực hiện được. Nó do các ông Layard, Rawlinson và Rassam tìm thấy trong cung điện của San-chê-ríp. Nguyên thủy nó chứa 100 ngàn quyển sách. Chừng một phần ba đã tìm được và hiện để trong Anh quốc Bảo tàng viện. Assur-banipal có óc khảo cổ; ông đã truyền cho các ký lục tìm kiếm và sao lại sách vở của thư viện nước Ba-by-lôn thuở xưa, cỡ 2000 năm trước đời ông. Vậy, chúng ta nhờ ông mới được biết văn chương Ba-by-lôn thời cổ.
=====================================

Ha-ba-cúc
Nước Giu-đa bị xâm lăng Sự phán xét người Canh-đê "Người công bình thì sống bởi đức tin mình " (HaKb 2:4)
Lời tiên tri nầy thuộc về thời gian giữa 625 và 606 T.C.; có lẽ vào khoảng 607 T.C.. Lúc Giê-hô-gia-kim bắt đầu trị vì. Người Canh-đê (Ba-by-lôn) đang tiến mau về phía Tây (1:6), nhưng chưa tới nước Giu-đa (3:16). Dưới đây là niên biểu của thời gian nầy:
625 T.C. Nước Ba-by-lôn tuyên bố độc lập đối với đế quốc A-si-ri.
607 T.C. (hoặc 612?). Quân Ba-by-lôn hủy phá thành Ni-ni-ve.
605 T.C. Quân Ba-by-lôn đánh bại quân Ai-cập tại Cạt-kê-mít.
586 T.C. Thành Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy. Xứ bị hoang vu. 1:1-4 -- Lời than thở của Ha-ba-cúc
Sách tiên tri nầy là một lời than thở với Đức Chúa Trời rằng nước ông bị tiêu diệt vì cớ ti ác của nó, bởi tay một nước còn ti ác hơn. Ha-ba-cúc không thể thấy một việc như vậy là công bình.
1:5-11 -- Lời đáp của Đức Chúa Trời
Đức Chúa Trời đáp rằng Ngài có một mục đích trong những cuộc chinh phục khủng khiếp của đạo quân Canh-đê.
1:12-2:1 -- Lời than thở thứ hai của Ha-ba-cúc
Ha-ba-cúc nhìn nhận rằng nước Giu-đa đáng bị hình phạt vì cớ tội lỗi của nó, và cũng đáng bị sửa trị, nhưng ông xin Đức Chúa Trời làm sáng tỏ vấn đề hơn (2:1)
2:2-20 -- Lời đáp thứ hai của Đức Chúa Trời
Đế quốc Canh-đê say máu các nước, sẽ tới phiên nó cũng bị tiêu diệt; và dân của Đức Chúa Trời sẽ đầy dẫy trái đất.
3:1-19 -- Lời cầu nguyện của Ha-ba-cúc
Ông kêu xin Đức Chúa Trời hãy lại làm các việc lạ lùng như thuở xưa; nhưng ông cũng tỏ lòng nhẫn nại tuyệt vời, và tin tưởng nơi sự an toàn đời đời của dân Đức Chúa Trời (câu 16-19). Bài học của sách nầy là: Người ta sẽ sống bởi đức tin (2:2-4). Đức tin là khả năng cảm thấy vững chắc nơi Đức Chúa Trời, đến nỗi dầu hiện tại tối tăm chừng nào ta cũng không nghi ngờ kết quả. Có một TƯƠNG LAI VINH HIỂN dành cho dân Đức Chúa Trời. Có lẽ còn xa lắm, nhưng tuyệt đối chắc có như thế. Vậy, ở giữa tối tăm và tuyệt vọng, Ha-ba-cúc vẫn là một người lạc quan tột bậc.
====================================

Sô-phô-ni
Ngày trọng đại của Đức Chúa Trời đã gần
Sắp có "môi miếng thanh sạch (1)" (SoXp 3:9)
Sô-phô-ni nói tiên tri dưới đời trị vì của Giô-si-a (1:1); Ông là chít (cháu 5 đời) của vua Ê-xê-chia (1:1) như vậy, ông thuộc về hoàng tộc và là bà con của Giô-si-a. Giô-si-a (639-608 T.C.) lên ngôi sau đời trị vì gian ác và lâu dài của Ma-na-se; ông đã thực hiện một cuộc cải cách lớn lao (xem ở dưới II Sử ký 34), và Sô-phô-ni đóng một vai chủ động quan trọng trong cuộc cải cách nầy. Như vậy, lời tiên tri nầy chỉ nói ra một vài năm trước ngày nước Giu-đa bị phán xét.
1:1-2:3.-- Ngày thạnh nộ gần đổ trên nước Giu-đa
Ngày nầy được gọi là ngày lớn (trọng đại) của Đức Giê-hô-va và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần (1:7, 8, 9, 10, 14, 15, 16, 18; 2:2, 3; 3:8). Một ngày khủng khiếp sắp đổ trên nước Giu-đa và các nước lân cận: có lẽ một phần chỉ về cuộc xâm lăng của quân Sy-the (xem ở dưới Giê-rê-mi 4), nhưng rõ ràng, chắc chắn chỉ về cuộc xâm lăng của quân Ba-by-lôn và cuộc lưu đày của dân Giu-đa xảy ra 20 năm sau. Cũng có thể là mô tả tượng trưng những tai họa sẽ xảy đến trong kỳ sau rốt. "Tên của thầy cả và thầy tế lễ" (1:4). Nguyên văn chữ thầy cả là "chê-ma-rim," tức là bọn tế sư chuyên thờ lạy hình tượng. "Lạy cơ binh trên trời" (1:5), tức là thờ lạy mặt trời và các ngôi sao, theo thói tục của người A-si-ri. "Thề bởi Man-cam(2)" (câu 1:5). "Man-cam" hoặc Mo-lóc, là thần của người Am-môn. "Cửa cá" (1:10) là cửa Bắc, do đó cá từ xứ Ga-li-lê được chở vào, về sau gọi là cửa Đa-mách. "Thành thấp" (1:11) trong nguyên văn là: "Mác-tếch," có lẽ là trũng Ty-rô-pô-an, ở ngay phía Tây Đền thờ, là khu thương mại của Giê-ru-sa-lem.
2:4-15.-- Một ngày thạnh cho các nước
Ga-xa, Ách-ca-lôn, Ách-đốt và Éc-rôn (câu 4) là các thành Phi-li-tin. "Cơ-rết" (câu 5) là một tên khác của người Phi-li-tin. "Ê-thi-ô-bi" (câu 12) vốn là Nam bộ Ai-cập; đương thời ấy, các vua Chúa Ê-thi-ô-bi kiểm soát cả nước Ai-cập. A-si-ri có thủ đô kiêu hãnh, là Ni-ni-ve, "thành vui vẻ" (câu 15), làm cho thế giới kinh khiếp. Trong vòng 20 năm, tất cả các nước ấy bị hoang vu dưới gót của Ba-by-lôn.
3:1-8.-- Một ngày thạnh cho Giê-ru-sa-lem
Trở lại ý tưởng ở đoạn 1, tức là tội lỗi của nước Giu-đa, nhứt là của các quan trưởng cùng thủ lãnh tôn giáo, và chắc chắn có sự hình phạt.
3:9-20.-- "Tiếng nói thuần túy " sắp có
Yên tĩnh sau cơn bão. Ba lần tiên tri nói về một phần dân sót lại được cứu (2:3, 7; 3:12-13), và hai lần ông nói về họ từ chốn phu tù trở về (2:7; 3:20). Ông cũng nói rằng một "tiếng nói thuần túy" sẽ được đem vào trái đất (câu 9), tức là một hệ thống tư tưởng đúng đắn về Đức Chúa Trời. Tiếng nói là phương tiện để tỏ bày chân lý. Đây là lời dự ngôn rằng ngày kia, loài người sẽ được ban cho một sự khải thị trọn vẹn và đầy đủ về Đức Chúa Trời (chắc chỉ rõ về Tin Lành của Đấng Christ). Kết quả là từ muôn dân, những người hối cải sẽ được dẫn đến Đức Giê-hô-va, vui vẻ hát bài ca cứu chuộc, làm cho cả trái đất vang dậy tiếng ngợi khen của dân Đức Chúa Trời.
=================================

A-ghê
Xây lại Đền thờ Dự ngôn sẽ còn có Đền thờ vinh hiển, huy hoàng hơn
Khi người Do-thái từ chốn lưu đày trở về, thì biện pháp đầu tiên để khôi phục cuộc sanh hoạt quốc gia tại quê hương chính là xây lại Đền thờ, trung tâm quốc gia của họ.
A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi
Ba tiên tri nầy thuộc về thời kỳ sau khi từ chốn lưu đày trở về, và đã dự phần tái lập cuộc sanh hoạt quốc gia của dân Do-thái ở chính quê hương. Các sách E-xơ-ra, Nê- hê-mi, và Ê-xơ-tê đều có nói về thời kỳ nầy. Xem ở dưới sách E-xơ-ra.
A-ghê và Xa-cha-ri đã giúp việc xây cất Đền thờ (520-516 T.C.). Người ta cho rằng Ma-la-chi liên kết với Nê-hê-mi 100 năm sau, trong việc xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem.
Niên biểu của thời kỳ nầy
536 T.C. 50.000 người Do-thái do Xô-rô-ba-bên cầm đầu, trở về Giê-ru-sa-lem.
536 T.C.. Tháng 7. Họ xây cất Đền thờ và dâng tế lễ.
535 T.C.. Tháng 2. Công việc xây Đền thờ bắt đầu và bị ngưng lại.
520 T.C.. Tháng 6. (Tháng 9 dương lịch), ngày 1. A-ghê kêu gọi xây cất Đền thờ.
Tháng 6, ngày 24. Lại khởi công xây cất.
Tháng 7 (tháng 10 dương lịch). Ngày 21. Lời kêu gọi thứ hai của A-ghê.
Tháng 8 (tháng 11 dương lịch). Xa-cha-ri giảng bài đầu tiên.
Tháng 9 (tháng 12 dương lịch), ngày 24. Lời kêu gọi thứ 3 và thứ 4 của A ghê.
Tháng 11 ( tháng 2 dương lịch), ngày 24. Các sự hiện thấy của Xa-cha-ri.
518 T.C. Tháng 9 (tháng 12 dương lịch), ngày 4. Các sự hiện thấy của Xa-cha-ri.
516 T.C.. Tháng 12 (tháng 3 dương lịch), ngày 3. Hoàn thành Đền thờ.
515 T.C. Tháng 1 (tháng 4 dương lịch), ngày 14 đến 21. Lễ Vượt qua hoan hỉ.
457 T.C. E-xơ-ra đến Giê-ru-sa-lem và thực hiện một vài cuộc cải cách.
444 T.C. Nê-hê-mi xây lại vách thành. Thời kỳ của Ma-la-chi.
A-ghê và sách của ông
A-ghê có thể là một ông già đã thấy Đền thờ thứ nhứt (AgKg 2:3?), từ 66 năm trước. Sách ông gồm 4 bài giảng rất ngắn, và giảng hết trong vòng 4 tháng.
Tình hình
Giu-đa đã bị chinh phục, Giê-ru-sa-lem bị thiêu hủy và Đền thờ bị phá tan, còn dân chúng thì bị bắt qua Ba-by-lôn (606-586 T.C.), như có chép ở II Các vua, đoạn 24 và 25. Sau 70 năm lưu đày, do chiếu chỉ của vua Sy-ru, chừng 50 ngàn người Do-thái đã trở về cố hương (Exo Er 1:2), năm 536 T.C.; dưới sự điều khiển của Xô-rô-ba-bên, quan trấn thủ, và Giê-hô-sua, thầy tế lễ, họ bắt đầu xây lại thành Giê-ru-sa-lem, khởi từ Đền thờ; nhưng họ mới dọn sạch rác rến cùng gạch vụn, và xây nền Đền thờ (3:10), thì công việc đã bị bọn lân cận thù nghịch chận lại (4:1-24).
Suốt 15 năm, họ chẳng làm thêm được chút chi. Trong thời gian ấy, một vua khác, là Đa-ri-út, lên ngôi đế quốc Ba-tư. Ông có lòng tốt đối với dân Do-thái. Thời cơ thuận hiệp. Do sự giảng dạy, khuyến khích trực tiếp của A-ghê và Xa-cha-ri, họ lại bắt tay làm việc, và hoàn thành Đền thờ sau 4 năm (520-516 T.C.). Xem E-xơ-ra, đoạn 5, 6.
AgKg 1:1-15-- Bắt đầu xây lại Đền thờ
15 năm trước, họ đã xây nền Đền thờ (Exo Er 3:10), nhưng chẳng làm thêm được chút chi suốt thời gian đó. Dân chúng đã mất hết hào hứng. Họ mải lo xây nhà cửa đẹp đẽ cho mình, nhưng lại lãnh đạm đối với Nhà Đức Chúa Trời. Phán qua miệng của A-ghê, Đức Chúa Trời tỏ cho họ biết rằng đó là lý do mùa màng của họ thất bát. Có một điều dạy dỗ mạnh mẽ nhứt trong Cựu Ước, ấy là quốc gia gặp nghịch cảnh vì quốc dân không vâng lời Đức Chúa Trời.
Bài giảng của A-ghê có công hiệu ngay lập tức. Dân chúng nhìn nhận đó là Lời Đức Chúa Trời, và trong vòng 24 ngày, họ đã bắt tay làm việc.
AgKg 2:1-23-- Vinh quang tương lai của Nhà Đức Chúa Trời
Sau 27 ngày nữa, nền cũ đã được dọn sạch và xây cao đủ để châu vi và toàn diện của Đền thờ hiện ra. Giá trị thấp thỏi của nó so sánh với Đền thờ huy hoàng, vĩ đại do Sa-lô-môn xây cất đã làm đau lòng những người già cả từng thấy Đền thờ huy hoàng, vĩ đại kia. Bấy giờ A-ghê tiến lên, bày tỏ sự hiện thấy về Đền thờ tương lai có vinh quang đến nỗi chính Đền thờ của Sa-lô-môn cũng hóa ra lu mờ, vô nghĩa.
Rõ ràng lắm, đó là một sự hiện thấy về Đấng Mê-si. Trí óc của A-ghê nghĩ đến Đền thờ mà ông đang giúp Xô-rô-ba-bên xây cất. Nhưng lời ông nói là Lời của Đức Chúa Trời; và theo một phương diện có lẽ sâu xa hơn là chính A-ghê nhận biết, tâm trí của Đức Chúa Trời chăm chú vào một Đền thờ khác trong tương lai mà các Đền thờ do Sa-lô-môn và Xô-rô-ba-bên xây cất chỉ là hình bóng lờ mờ: Ấy là Hi Thánh, không xây bằng đá, nhưng bằng linh hồn của những người được cứu chuộc. Hội Thánh có vinh quang không hề suy giảm, không hề cùng tận và không sao tả xiết, đứng đầu hàng mọi công việc lạ lùng của Đức Chúa Trời, chính là Đền thờ của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 3:16-17; IICo 2Cr 6:16; Eph Ep 2:21) mà đây, A-ghê được xem trong sự hiện thấy.
"Làm rúng động các từng trời và đất" (câu 6, 7). Dầu lời nầy có thể trực tiếp chỉ về những biến chuyển chánh trị do sự lật đổ các nước thờ lạy hình tượng đang cai trị thế giới thời đó, song nó cũng được trưng dẫn ở thơ HeDt 12:26 để tỏ ra mọi vật trần gian sẽ lu mờ trong hừng đông của Nước Thiên đàng vĩnh cửu.
"Những sự ao ước của các nước(1)" (câu 7) có thể chỉ về Đấng Mê-si. Hoặc theo như một bản tiếng Anh khác (Revised Version) dịch là: "Những vật quí báu của muôn dân," thì có thể chỉ rõ hơn về các linh hồn quí báu được cứu bởi Huyết của Con Đức Chúa Trời và được dùng để xây cất Nhà Ngài.
Lúc ấy giữa mùa đông (câu 10). Đất chưa đủ thì giờ sanh mùa màng. Nhưng dân chúng đã giục lòng mạnh mẽ, bắt tay xây Nhà Đức Chúa Trời; và đây, Ngài hứa rằng từ nay trở đi, mùa màng sẽ chắc chắc và dư dật.
Sách A-ghê kết thúc bằng một sự hiện thấy về ngày phong chức cho Xô-rô-ba-bên. Xô-rô-ba-bên đại diện cho nhà Đa-vít (xem ở dưới XaDr 4:1-14).
===============================

Xa-cha-ri
Xây lại Đền thờ Dự ngôn về Đền thờ tương lai vĩ đại hơn Những sự hiện thấy về Đấng Mê-si hầu đến và về Nước Ngài gồm cả thế giới

Xa-cha-ri đồng thời với A-ghê. A-ghê dường như là một người cao tuổi lắm, còn Xa-cha-ri lại dường như trẻ tuồi lắm, vì ông là cháu ni của Y-đô đã trở về Giê-ru-sa-lem 16 năm trước (NeNe 12:4, 16). A-ghê đã giảng 2 tháng và công việc xây cất Đền thờ đã bắt đầu, thì Xa-cha-ri mới khởi sự. Chức vụ của A-ghê chép trong sách tổng cộng được gần 4 tháng; còn chức vụ của Xa-cha-ri chép trong sách tổng cộng được chừng 2 năm. Nhưng chắc suốt cả 4 năm, hai ông đã chuyên cần giục giã, khuyến khích, giúp đỡ và sánh vai làm việc cho Đền thờ được hoàn thành.
Sách Xa-cha-ri lớn hơn sách A-ghê bội phần. Nó đầy dẫy những tia sáng của Đấng Mê-si, và ghi nhiều chi tiết theo nghĩa đen về đời sống và công vụ của Đấng Christ.
XaDr 1:1-6 -- Bị lưu đày vì không vâng lời Đức Chúa Trời
Bài giảng mở đầu của Xa-cha-ri ở giữa các bài giảng thứ hai và thứ ba của A-ghê, tức là giữa câu 9 và câu 10 của đoạn 2, sách A-ghê. Lúc đó, công việc xây cất Đền thờ đã tiến hành được hơn một tháng, và vẻ tầm thường rõ rệt của nó đang làm cho dân chúng buồn lòng. Xa-cha-ri cảnh cáo họ rằng họ càng ngày càng hiển nhiên có khuynh hướng quay về đường lối của tổ tiên không vâng lời Đức Chúa Trời, -- chính đường lối ấy đã đưa họ đến tình trạng khốn nạn hiện tại. Đoạn, ông tiếp tục khích lệ họ bằng những sự hiện thấy mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông về tương lai huy hoàng.
1:7-11.-- Sự hiện thấy về bầy ngựa
Từ đây cho đến hết đoạn 6, chỉ có ghi chép thời gian một lần (1:7), là lúc công việc xây cất Đền thờ đã tiến hành được chừng 5 tháng rồi. Vậy, chúng ta đoán rằng các sự hiện thấy đã tiếp theo nhau và chắc đã được chép liền.
Sứ điệp của Đức Chúa Trời truyền qua các đấng tiên tri thường do Thần của Đức Chúa Trời trực tiếp cảm hóa tâm trí của các tiên tri ấy. Nhưng đây, sứ điệp truyền qua một thiên sứ nói chuyện nhiều lần với Xa-cha-ri. Xem lời chú giải về thiên sứ ở dưới sách Mat Mt 4:11.
Sự hiện thấy về bầy ngựa có nghĩa là cả thế giới nằm yên dưới bàn tay sắt của đế quốc Ba-tư, và vua của đế quốc ấy, là Đa-ri-út, có lòng tốt đối với dân Do-thái và đã ra chiếu chỉ cho xây cất Đền thờ. Vậy, thời cơ thuận hiệp để tiến hành công việc. Kết luận, sự hiện thấy nầy quả quyết rằng một lần nữa, Giê-ru-sa-lem sẽ là một đô thị lớn lao và thạnh vượng (xem ở dưới đoạn 2).
XaDr 1:18-21.-- Sự hiện thấy về sừng và thợ rèn
Bốn cái sừng chỉ về các nước đã hủy diệt Giu-đa và Y-sơ-ra-ên. Bốn người thợ rèn (bản "Authorized Version" dịch là: thợ mộc) chỉ về những kẻ mà Đức Chúa Trời dùng để hủy diệt các nước ấy. Đó là một cách nói bóng rằng các cường quốc đang làm bá chủ thế giới sẽ bị phá tan và Giu-đa lại được tôn cao. Đức Chúa Trời hùng mạnh hơn các vua chuyên chế đời nầy. Đức Chúa Trời ngự trên ngôi, ngay cả khi dân Ngài tạm thời bị đánh bại.
2:1-13.-- Sự hiện thấy về dây đo
Một đoạn sách vĩ đại. Đây là dự ngôn về Giê-ru-sa-lem đông dân, thạnh vượng, an ninh đến nỗi tràn qua vách thành, và chính Đức Chúa Trời che chở nó. Suốt 5 tháng, công việc xây cất Đền thờ tiến hành mỹ mãn, và nhân dân chắc dự tính xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem; nhưng mãi 75 năm sau, mới xây được vách ấy. Tuy nhiên, kế hoạch của họ là khung cảnh cho sự hiện thấy nầy. Sự hiện thấy nầy mở rộng thành một lời đầy thi vị kêu gọi những ai còn ở đất Ba-by-lôn hãy trở về, và kết thúc bằng lời tiên liệu một ngày kia, "nhiều dân và nhiều nước hùng mạnh từ mọi thứ tiếng trên mặt đất" sẽ đến cùng Đức Chúa Trời của dân Do-thái. Xem thêm ở dười đoạn 8.
3:1-10-- Sự hiện thấy về Giê-hô-sua, thầy tế lễ thượng phẩm
Tiên liệu sự đền tội bởi Đấng Christ. Thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua bận áo dơ bẩn, tượng trưng cho địa vị tội lỗi của nhân dân, Sa-tan được hình dung là đang cố xui giục Đức Chúa Trời từ bỏ dân Ngài vì cớ tội lỗi của họ. Nhưng dân Đức Chúa Trời được Ngài coi quí, mặc dầu họ là "cái đóm đã kéo ra từ lửa" (câu 2), nghĩa là phần sót lại được cứu khỏi cảnh lưu đày. Áo xống dơ bẩn của Giê-hô-sua được cất bỏ, nghĩa là tội lỗi nhân dân được tha thứ, và họ được Đức Chúa Trời tiếp nhận. Đây là bức tranh mô tả thời kỳ mà ti lỗi của loài người sẽ được cất bỏ "trong một ngày" (câu 9), vì "Chồi" hầu đến của nhà Đa-vít, là Đấng Mê-si, bị "đâm" (12:10) và "sẽ có một Suối mở ra... vì tội lỗi và sự ô uế" (13:1). Xem thêm ở dưới đoạn 13:1-9.
4:1-14-- Chơn đèn và hai cây ô-li-ve
Một sự hiện thấy để khuyến khích Xô-rô-ba-bên tiếp tục xây cất Đền thờ, mặc dầu nó có vẻ tầm thường và công việc rất khó khăn. Lời chép ở đây trực tiếp dành cho Xô-rô-ba-bên và Nhà Đức Chúa Trời mà ông đang xây cất. Nhưng chắc chắn là có chỉ về Nhà vinh hiển hơn trong đời tương lai, do một Con cháu của Xô-rô-ba-bên, gọi là Chồi, nhờ Thánh Linh giúp đỡ mà xây cất giáo lý ân điển (xem bí chú về đoạn 6:12-15 và A-ghê, đoạn 2). Đây là một lời khuyên hãy can đảm trong ngày khởi đầu nhỏ nhặt vì để mắt nhìn vào kết cuộc vĩ đại. Chơn đèn tượng trưng cho Nhà Đức Chúa Trời, hoặc cho Nhà Đức Chúa Trời có khả năng tỏa ánh sáng. Chơn đèn vốn ở trong Đền tạm và trong Đền thờ. Ở sách KhKh 1:20, nó chỉ về Hội Thánh. Hai cây ô-li-ve dường như chỉ về Giê-hô-sua và Xô-rô-ba-bên, do hai ông đó, Thần Đức Chúa Trời chỉ huy công việc. Trong đoạn 3, sự hiện thấy đặc biệt dành cho Giê-hô-sua. Ở đây, nó đặc biệt dành cho Xô-rô-ba-bên. Hình bóng ở đây được tiếp tục suốt tới sự hiện thấy về Hai Chứng nhân ở sách 11:1-19.
XaDr 5:1-4.-- Cuốn sách bay
Đây là một tấm giấy giống như bản đồ treo trên tường, dài chừng 10 thước tây, rộng chừng 5 thước tây, và ghi những lời rủa sả kẻ trộm cắp và chửi thề. Như con chim săn mồi khổng lồ, cuốn sách nầy bay ở trên xứ, rồi đáp xuống và tiêu nuốt những kẻ mắc tội đó. Nó cất bỏ tội lỗi bằng cách tiêu diệt tội nhân.
5:5-10.-- Ê-pha bay
Lại một cách khác hình dung sự cất bỏ ti lỗi, giống như sự cất bỏ áo xống ô uế của Giê-hô-sua (3:3-8) và như "Suối mở ra vì ti lỗi" (13:1). Đây là một lời dự ngôn lặp đi lặp lại luôn của Xa-cha-ri về Đấng Christ chịu chết để đền ti. Ê-pha là cái thúng để đong, lớn hơn cái thùng (Mat Mt 5:15) một chút. Nó có người đờn bà ngồi trong đó và có khối chì đóng ấn. Tội lỗi được hình dung bằng người đờn bà và cũng do đờn bà cất bỏ (câu 9). Phải chăng đây có thể là một lời ngụ ý tiên tri rằng Chồi mống hầu đến, là Đấng sẽ cất ti lỗi của loài người đi trong một ngày (XaDr 3:8-9), sẽ do người nữ mà ra đời, không cần đến môi giới của người nam? Hình bóng ở đây hơi giống hình bóng về "con dê đực bị đuổi" ở LeLv 16:1-34, -- con dê nầy gánh tội lỗi nhân dân trên đầu nó và đem hết ra đồng vắng.
XaDr 6:1-8.-- Bốn chiến xa
Đây là các sứ giả phán xét của Đức Chúa Trời, tuần hành khắp trái đất, con mắt canh chừng, để gìn giữ Y-sơ-ra-ên khỏi mọi điềm xấu, và thi hành các chiếu chỉ của Đức Chúa Trời đối với bọn thù nghịch Y-sơ-ra-ên. Đây là phần mở rộng ý tưởng trong sự hiện thấy về các sừng và thợ rèn (1:18-21).
6:9-15.-- Lễ phong chức cho Xô-rô-ba-bên
Đây là một hành động tượng trưng và tiên tri, làm cho mạnh mẽ sự hiện thấy về "Chồi mống" (3:8-9) và sự hiện thấy về Xô-rô-ba-bên (4:6-9).
"Chồi mống" (câu 12) là tên của Đấng Mê-si hầu đến, thuộc trong gia tộc Đa-vít. Ngài sẽ được gọi là "Người Na-xa-rét" (xem ở dưới Mat Mt 2:23). Xem EsIs 4:2; 11:1, 10;; Gie Gr 23:5-6; 33:15-17; KhKh 5:5; 22:16.
Đương thời đó, Xô-rô-ba-bên, quan trấn thủ, là đại diện đang còn sống của gia tộc Đa-vít; do ông mà các lời hứa về Đấng Mê-si cứ được lưu truyền. Ông là cháu nội của vua Giê-hô-gia-kin (Giê-cô-nia), là vua đã bị bắt qua Ba-by-lôn; và ông là kẻ kế tự ngôi Đa-vít. Nếu còn nước, thì ông đã làm vua Giu-đa. Lời nói về Xô-rô-ba-bên một phần chỉ về chính mình ông, một phần chỉ về gia tộc ông, tức là gia tộc Đa-vít, và đặc biệt hơn nữa, về Vị Đại diện Cao trọng của gia tộc Đa-vít, tức là Đấng Mê-si hầu đến (Chồi mống).
Ngoài nhiều việc khác, Đức Chúa Trời còn giao cho gia tộc Đa-vít trách vụ xây cất Nhà của Ngài. Chính tay Đức Chúa Trời đã ghi cho Đa-vít kiểu mẫu và các đặc điểm của Đền thờ (ISu1Sb 28:11, 19) Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, đã xây cất Đền thờ theo những chi tiết ấy (IISu 2Sb 2:1-7:22), và Đền thờ đó là công trình tạo tác tuyệt mỹ trên cả thế giới đương thời ấy. Đền thờ do Sa-lô-môn xây cất tồn tại được chừng 400 năm, thì bị quân Ba-by-lôn phá hủy, năm 586 T.C.. Tới nay (520-516 T.C.), Xô-rô-ba-bên, một con cháu của Đa-vít, lo xây lại Đền thờ. Đức Chúa Trời quả quyết với ông rằng ông sẽ hoàn thành công cuộc đó (XaDr 4:6-9) trong lời quả quyết nầy cũng có ngụ ý huyền diệu về một Đền thờ khác do tay "Chồi mống" xây cất với sự giúp đỡ của "những kẻ ở xa sẽ đến" (6:12-15). Xem ở dưới sách A-ghê, đoạn 2.
"Chồi mống" sẽ thuộc trong gia tộc Xô-rô-ba-bên (Đa-vít), tức là dòng vua. Nhưng đây, Giê-hô-sua, thầy tế lễ, được đội mũ triều thiên và được hình dung là "Chồi mống" ngồi trên ngôi Đa-vít (6:12-13). Mọi điều nầy làm hình bóng về sự phối hiệp hai chức vụ Vua và Thầy Tế lễ trong Thân vị của Đấng Mê-si hầu đến (Chồi mống).
7:1-8:23-- vấn đề kiêng ăn
Việc nầy xảy ra chừng 2 năm sau những sự hiện thấy trước (câu 1), khi Đền thờ đã xây xong được phần nửa. Suốt 70 năm, cứ đến tháng 4, tháng 5, tháng 7 và tháng 10, nhân dân lại kiêng ăn để than khóc Đền thờ bị hủy phá. Đến bây giờ họ lại gần có Đền thờ, thì vấn đề nêu lên, là họ có nên tiếp tục kiêng ăn nữa không? Đáp lại, Xa-cha-ri nhắc họ rằng trước kia họ có lý lắm mà kiêng ăn, -- ấy là để ăn năn vì không vâng lời Chúa và bị đau khổ do sự không vâng lời Chúa; nhưng bây giờ họ kiêng ăn chỉ cốt để tỏ ra mình thánh khiết, đạo đức, còn các ngày lễ tôn giáo chỉ cốt cho mình được vui thích.
Đoạn, theo thường lệ của các tiên tri, là từ sự sầu khổ hiện tại chuyển qua vinh quang tương lai. Xa-cha-ri vẽ bức tranh thời đại Đấng Mê-si hầu đến, khi ấy sự kiêng ăn sẽ đổi thành ngày lễ vui mừng (8:19).
Người Do-thái trước kia là một dân tộc hùng mạnh, có truyền thuyết từ đời xưa rằng Đức Chúa Trời đã chỉ định họ làm dân tộc lãnh đạo cả thế giới; nhưng bây giờ họ chỉ là một phần sót lại thưa thớt, bị khinh dể và thất vọng đang thương, chỉ nhờ các vua Ba-tư cho phép mà tồn tại ở quê hương. Được Thần của Đức Chúa Trời dắt dẫn, Xa-cha-ri cố gắng khuyến khích họ bằng cách lặp đi lặp lại rằng chẳng phải như vậy mãi đâu; rằng một ngày kia, đế quốc hùng mạnh đang cầm quyền đó sẽ bị tan vỡ, và dân của Đức Giê-hô-va sẽ được địa vị xứng đáng của mình.
Xa-cha-ri mô tả Si-ôn thạnh vượng, thái bình, có tinh thần công bình, nhân ái và chân thực cai trị; đường sá đầy dẫy con trai, con gái và ông già, bà cả sung sướng (8:3-5). Si-ôn là trung tâm của nền văn minh thế giới, và muôn dân trên đất sẽ đến cùng người Do-thái để học biết Đức Chúa Trời của họ (8:22-23). Lời mô tả nầy cũng thấy ở nhiều khúc sách khác (1:17; 2:4, 11; 14:8, 16). Bất cứ mục đích đầu tiên của các khúc sách nầy là gì, lời lẽ của nó chắc cũng là một bức tranh kỳ diệu mô tả việc xảy ra trải qua 20 thế kỷ nay: Nhơn danh đạo Đấng Christ, nhiều ảnh hưởng lưu xuất từ thành Giê-ru-sa-lem, nắn dòng lịch sử, và đem các dân trên thế giới đến cùng Đức Chúa Trời của dân Do-thái. Nhưng cuối cùng chưa tới.
9:1-11:17-- Đức Chúa Trời phán xét các nước lân cận
Đoạn 9 đến đoạn 14 chứa nhiều điều liên quan rõ rệt với các cuộc chiến tranh của đế quốc Hy-lạp, xảy ra 200 năm sau thời Xa-cha-ri, rõ rệt đến nỗi các nhà phê bình (vốn khó tin rằng những đấng tiên tri của Đức Chúa Trời có thể nói trước điều gì) cho những đoạn ấy là do một tác khác viết ra. Nói chung, các học giả bảo thủ và các tín đồ Đấng Christ nhìn nhận các đoạn nầy thật thuộc về sách Xa-cha-ri .
Đoạn 9 dường như dự ngôn cuộc giao tranh của nước Giu-đa với Hy-lạp. Khi xâm lăng xứ Pa-lét-tin năm 332 T.C., A-lịch-sơn đại đế tàn phá các thành có tên ở câu 1-7, theo thứ tự đã ghi, nhưng còn chừa lại Giê-ru-sa-lem (câu 8). Các câu 13-17 dường như chỉ về dân Do-thái tiếp tục tranh đấu với các vua Hy-lạp, thuộc dòng Ptolémée và dòng Séleucos, cho tới thời kỳ Macchabees.
Tại đây (9:9-10), có dựng lên tấm hình Vua hầu đến của Si-ôn giữa những cảnh tượng dân Do-thái đấu tranh kịch liệt với đế quốc Hy-lạp. Tân Ước trưng dẫn câu 9 để chỉ về Đấng Christ ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (Mat Mt 21:5; GiGa 12:15). Đồng thời (câu 10), tiên tri Xa-cha-ri tiến mau tới ngày đắc thắng sau cùng. Thoáng thấy Nước Đấng Mê-si bắt đầu, rồi liền thoáng thấy kỳ sau rốt.
Đoạn 10 dự ngôn về sự khôi phục dân Đức Giê-hô-va đang bị tan lạc. Đương lúc đó, chỉ mới có một phần sót ít ỏi hồi hương.
Đoạn 11 là một thí dụ về người kẻ chăn chiên. Bầy chiên của Đức Chúa Trời đã bị tan lạc và làm thịt vì bọn người chăn chúng giả dối. Trong lời tố cáo những kẻ chăn chiên giả dối nầy có bức tranh mô tả việc họ chối bỏ Đấng Chăn Chiên Hiền lành, là Đức Chúa Jêsus Christ (câu 12-13). Do thừa tiếp văn, chúng ta không thể cho rằng khúc sách nầy có liên quan với việc Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản nộp Đấng Christ, trừ ra nó được trưng dẫn trong Tân Ước để nêu rõ việc ấy (Mat Mt 26:15; 27:9-10 xem ở dưới Mac Mc 14:10-11). Sự trưng dẫn khúc sách nầy để nêu rõ sự phản nộp của Giu-đa chính là chìa khóa mở rõ điều Đức Chúa Trời muốn bày tỏ ở đây. Kèm theo sự chối bỏ Đấng Chăn Chiên Chân chánh, đã có việc chặt gãy hai cây gậy tên là Tốt đẹp và Dây buộc, tức là giao ước về Đức Chúa Trời che chở, săn sóc họ bị dứt và sự tái thống nhất xứ sở của họ bị trì hoãn. Đoạn, họ bị phó vào tay "kẻ chăn dại dột" (câu 13-15 -- bản "Authorized Version" dịch là: "kẻ chăn giống như hình tượng"). Người ta cho rằng đây chỉ về sự hủy phá Giê-ru-sa-lem bởi tay quân La-mã, sau khi Đấng Christ chịu chết ít lâu, và về dân Do-thái lại bị tan lạc liền theo đó. Hoặc có lẽ là nhân cách hóa cả một bản kê khai những kẻ bắt bớ dân Do-thái từ thời kỳ phái Macchabées cho đến thời kỳ Con Thú ở sách KhKh 13:1-17.
XaDr 12:1-14:21-- Sự hiện thấy về tương lai của dân Y-sơ-ra-ên
Các đoạn 9, 10, 11 gọi là "gánh nặng" về các nước lân cận thể nào (9:1), thì cũng một thể ấy, các đoạn 12, 13, 14 gọi là "gánh nặng về Y-sơ-ra-ên" (12:1). Hai phần nầy giống hệt nhau. Cả hai tiếp tục và mở rộng những ý tưởng trong các sự hiện thấy của 8 đoạn đầu; những ý tưởng ấy lặp đi lặp lại luôn dưới hình thức khác.
12:1-6.-- Giu-đa sẽ giao chiến với mọi nước trên mặt đất. Cuộc giao chiến nầy cứ tiếp tục mô tả ở đoạn 14:1-8. Có người cho rằng lời lẽ ở đây nói bóng về cuộc tranh đấu của Đức Giê-hô-va với các nước suốt cả kỷ nguyên Cơ-đốc-giáo. Kẻ khác lại áp dụng nó theo nghĩa đen cho kỳ sau rốt, sự tấn công của Antichrist và trận Ha-ma-ghê-đôn.
12:7-13:9.-- Tang chế trong nhà Đa-vít. Rõ ràng lắm, các ý tưởng ở đây lấy nhà Đa-vít làm trọng tâm. Tuy lời lẽ khó hiểu và có ngụ ý đến một vài điều ta không biết, nhưng nó mô tả rõ ràng một tấn bi kịch nào đó xảy ra trong nhà Đa-vít, một cơn đau đớn kịch liệt bởi cớ một Nhân vật lãnh đạo trong nhà ấy bị đánh (13:7), hai bàn tay bị đâm (12:10; 13:6), và một Suối được mở ra vì ti lỗi (13:7). Tình trạng nầy xảy ra trong ngày mà "nhà Đa-vít sẽ như Đức Chúa Trời" (12:8). Chỉ có một Người trong nhà Đa-vít là Đức Chúa Trời, và đó là Đức Chúa Jêsus. Nhờ vậy, ta nhận biết Ai là Người được gọi là "Chồi mống" ở đoạn 3:8, tức là Người sẽ "cất sự gian ác khỏi đất trong một ngày" (3:9), sẽ "xây Đền thờ Đức Giê-hô-va" (6:12), và sẽ cai trị khắp bốn biển (xem ở dưới 6:9-15). Đây là một lời tiên tri lạ lùng, tỉ mỉ về sự chết của Đức Chúa Jêsus, và ta không thể ứng dụng nó cho người nào khác mà ta được biết. Như vậy, sự chết của Chồi mống trong nhà Đa-vít sẽ là Suối quyền năng của Đức Giê-hô-va chống lại các nước (12:2-4), và hiệu lực của Suối ấy sẽ được tỏ ra trong sự cất bỏ hình tượng và các tiên tri giả khỏi mặt đất (13:2-5). "Hai phần ba" (13:8) có thể chỉ về phần lớn quốc dân Do-thái bỏ mạng trong cuộc hủy phá Giê-ru-sa-lem (năm 70 S.C.), sau khi họ chối bỏ Đấng Christ; còn "một phần ba" thì chỉ về phần sót lại đã tin và bị bắt bớ vì cớ đức tin của mình.
14:1-2.-- Giu-đa giao chiến với các nước (xem ở đoạn 12:1-6).
14:3-21.-- Đức Giê-hô-va thắng trận và trị vì cả thế giới. Nào các kỳ vọng của tiên tri được hoàn thành vĩ đại, nào ngày Đấng Christ tái lâm, nào sự thành lập Nước đời đời của Ngài. Một vài học giả Kinh Thánh tưởng những câu 4-8 có nghĩa rằng khi Đức Chúa Jêsus trở lại, Ngài sẽ thật đặt ngôi trên núi Ô-li-ve; rằng núi ấy thật sẽ nứt làm đôi; rằng nước sẽ từ Giê-ru-sa-lem thật chảy ra phía Đông và phía Tây; rằng Giê-ru-sa-lem sẽ thật là trung tâm mà các dân tộc mô tả ở câu 10-21 sẽ kéo dài đến để thờ lạy Chúa. Một số học giả khác lại cho lời lẽ ở đây là cách mô tả các từng trời mới và trái đất mới dưới hình bóng một nước trần gian nhơn lành, thạnh vượng và rất hùng mạnh, cũng như sách Khải Huyền, đoạn 21, mô tả Thiên đàng dưới hình bóng một thành phố trần gian mỹ lệ.
Tóm tắt các lời tiên tri của Xa-cha-ri về Đấng Christ
Sự chết của Ngài để đền tội và cất bỏ tội lỗi đi (3:8-9; 13:1).
Ngài xây Đền thờ của Đức Chúa Trời (6:12).
Ngài là Vua và Thầy tế lễ trị vì cả thế giới (6:13; 9:10)
Ngài ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (9:9). Trưng dẫn ở Mat Mt 21:5 và GiGa 12:15.
Ngài bị phản nộp vì 30 miếng bạc (XaDr 11:12). Trưng dẫn ở Mat Mt 27:9, 10.
Thần tánh của Ngài (XaDr 12:8).
Hai bàn tay Ngài bị đâm lủng (12:10; 13:6). Trưng dẫn ở GiGa 19:37.
Đấng Chăn Chiên bị đánh (XaDr 13:7). Trưng dẫn ở Mat Mt 26:31 và Mac Mc 14:27.
Đây, lồng vào các bức tranh Xa-cha-ri mô tả cuộc tranh đấu và đắc thắng tương của Y-sơ-ra-ên, ta thấy có lời rõ ràng, đặc biệt, không thể lẫn lộn, chẳng những dự ngôn Đấng Mê-si chịu chết đền ti cho loài người, có Thần tánh và sẽ lập Nước gồm cả thế giới, song cũng ghi tỉ mỉ các biến cố trong đời Ngài, tỉ như Ngài cưỡi lừa con mà ngự vào thành Giê-ru-sa-lem, Ngài bị phản nộp vì 30 miếng bạc, họ dùng số tiền ấy mua rung của thợ gốm, và hai bàn tay Ngài bị đâm lủng. Như vậy, trong số chi tiết đặc biệt nầy, có 4 chi tiết được trưng dẫn trực tiếp trong Tân Ước, như ta đã nhận thấy trên kia.
====================================

Ma-la-chi
Sứ điệp sau chót của Cựu Ước cho một dân không vâng lời
Ta không biết đúng niên hiệu của Ma-la-chi. Người ta thường công nhận rằng ông sống ngót 100 năm sau A-ghê và Xa-cha-ri; rằng ông hợp tác với E-xơ-ra và Nê-hê- mi trong các cuộc cải cách của hai ông nầy. Người ta cho niên hiệu của ông vào khoảng năm 450 và năm 400 T.C..
Một phần dân sót đã từ chốn lưu đày hồi hương năm 536 T.C.. Do A-ghê và Xa-cha- ri lãnh đạo, họ đã xây lại Đền thờ (520-516 T.C.). Rồi 60 năm sau (457 T.C.), E-xơ-ra đã từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem để giúp cải tổ và tái lập quốc gia. Rồi 13 năm sau (444 T.C.), Nê-hê-mi về xây lại vách thành.
Như vậy, đương thời Ma-la-chi, dân Do-thái đã từ chốn lưu đày hồi hương được chừng 100 năm; nhờ cảnh lưu đày, họ gột bỏ được sự thờ lạy hình tượng, nhưng lại xao lãng Nhà (Đền thờ) Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ đã thành ra bê trễ và bại hoại. Các của lễ kém cỏi. Người ta xao lãng nộp phần mười huê lợi, và sự để bỏ thông thường. Nhân dân đã quay theo thói cũ, là cưới gả lẫn lộn với bọn lân cận thờ lạy hình tượng (xem ở E-xơ-ra, đoạn 9).
Vậy, dân Do-thái tuy được Đức Chúa Trời ban ân huệ hơn muôn dân, nhưng lại ngã lòng vì sự yếu đuối của mình, không sao gỡ khỏi tội lỗi. Trong một tâm trạng bơ thờ ấy, họ đã an cư và chờ đợi sự ngự đến của Đấng Mê-si mà Đức Chúa Trời hứa ban cho. Ma-la-chi quả quyết với họ rằng Đấng Mê-si sẽ ngự đến đúng kỳ hạn, nhưng Ngài sẽ đem sự đoán phạt cho những người như họ.
MaMl 1:1-14-- Coi khinh các tế lễ o Đền thờ
Câu 2-3 được trưng dẫn ở thơ RoRm 9:10-13 để ứng dụng cho việc Đức Chúa Trời chọn Gia-cốp mà bỏ Ê-sau (SaSt 25:22-34). Lời lẽ Ma-la-chi dùng ở đây như để chỉ về hai dân tộc phát xuất từ Gia-cốp và Ê-sau, tức là người Y-sơ-ra-ên và người Ê-đôm. cả hai đã bị quân Ba-by-lôn tiêu diệt. Y-sơ-ra-ên đã được khôi phục, nhưng Ê-đôm vẫn còn hoang vu. Đó là bằng cớ tỏ ra Đức Chúa Trời thương mến Y-sơ-ra-ên.
Họ dâng tế lễ bằng những súc vật chết và có tì vít mà họ chẳng dám đem biếu quan trấn thủ (câu 8); đó thật là một sự nhục mạ Đức Chúa Trời. Thà không dâng tế lễ chi hết còn hơn. Nghịch cùng tình trạng ấy, Ma-la-chi được sự hiện thấy về ngày Đức Chúa Trời (mà chính dân Ngài coi thường như vậy) sẽ trở nên Đức Chúa Trời yêu dấu của cả trái đất (câu 11).
MaMl 2:1-17-- Cưới gả lẫn lộn với những người lân cận thờ lạy hình tượng
Các thầy tế lễ đã được Đức Chúa Trời phong chức để dạy dỗ và dắt dẫn nhân dân trong sự công bình (câu 5-7), nên phải chịu trách nhiệm về tình hình thảm hại nầy. Họ hèn hạ, vụ lợi và bại hoại đến nỗi danh từ "thầy tế lễ" (thầy cả) trở thành một chữ khinh khi giữa vòng dân chúng. Cho tới ngày nay cũng còn như vậy.
Đạo vợ chồng lỏng lẻo (câu 10-16). Người Do-thái bỏ vợ để cưới phụ nữ thờ lạy hình tượng. Đó là tội lỗi gấp hai, làm hại vừa cho sự nuôi dạy con cái thích đáng, vừa cho sự duy trì cuộc thờ lạy Đức Giê-hô-va của quốc dân.
Hoài nghi là gốc rễ sự tín ngưỡng hờ hững và luân lý thấp kém của họ. Nhân dân nhận thấy các nước gian ác được thạnh vượng hơn, nên thường nói rằng: "Hầu việc Đức Chúa Trời, thì được ích chi?" Ngày nay nhiều người còn nói như vậy. Xem ở dưới 3:13-18.
3:1-6.-- Ngày Đức Giê-hô-va hầu đến
Ma-la-chi đáp lại sự hoài nghi của họ: Ngày phán xét hầu đến sẽ trả lời những câu chế giễu của họ, và tỏ ra đến cuối cùng, sự hầu việc Đức Chúa Trời có ích gì chăng (câu 5)? Xem thêm ở dưới 3:13-18.
3:7-12.-- Thuế phần mười
Đây lại thình lình đổi đề mục. Không nộp thuế phần mười tức là "ăn trộm của Đức Chúa Trời," vì theo luật pháp Môi-se, thì thuế phần mười là vật sở hữu của Đức Chúa Trời, và người dân không có quyền gì trên nó, cũng như không có quyền gì trên sản nghiệp của kẻ khác. Hãy chú ý lời Đức Chúa Trời hứa làm cho những người nộp thuế phần mười được thạnh vượng, và Ngài đố thách người ta hãy thử Ngài về lời hứa ấy. Những ai dâng phần mười đều thỏa mãn vì lời hứa nầy thật đúng.
3:13-18.-- Trở lại sự hoài nghi của quốc dân
Trở lại ý tưởng ở 2:17. Họ không tin lời Đức Chúa Trời hứa về thuế phần mười. Họ cho rằng dâng tiền cho Đức Chúa Trời và cố gắng hầu việc Ngài chỉ là phí phạm vô ích. Ma-la-chi đáp rằng: Hãy chờ xem, cuối cùng sẽ tỏ ra (câu 16-17). Khúc sách tuyệt diệu nầy mô tả số ít người trung tín khuyến khích lẫn nhau trong một thời kỳ toàn dân bội đạo, và Đức Chúa Trời ghi tên của họ để nhận biết họ trong "ngày đó" (IITi 2Tm 1:12).
Đoạn 4.-- Ngày Đức Giê-hô-va hầu đến
Trở lại ý tưởng của đoạn 3. Xen vào giữa những lời quở trách 4 tội lỗi lan tràn đương thời mình (tế lễ có tì vít, cưới gả lẫn lộn với kẻ thờ lạy hình tượng, để vợ, và xao lãng nộp thuế phần mười), Xa-cha-ri bốn lần tiến vội tới "Ngày của Đức Giê-hô-va" (MaMl 1:11; 3:1-6, 16-18; 4:1-6). Ông gọi đó là "ngày" (3:2, 17; 4:1, 3, 5). Dường như nó chỉ về cả kỷ nguyên Cơ-đốc-giáo, và đặc biệt ứng dụng cho kỳ sau rốt. Lời khuyên của Ma-la-chi là: Hãy chăm chú vào tương lai.
Lời khuyến cáo cuối cùng của Cựu Ước là: Hãy nhớ luật pháp của Môi-se (câu 4).
Lời dự ngôn cuối cùng của Cựu Ước là: Ê-li sẽ mở đường cho "ngày của Đức Giê- hô-va" (câu 5). Ông thật đã làm việc ấy 400 năm sau, trong thân vị của Giăng Báp-tít (Mat Mt 3:1-12; 11:14), là người nhấn mạnh các giai đoạn phán xét của ngày ấy.
Đức tánh cuối cùng mà Cựu Ước ghi nhắc là lòng yêu thương của cha con đối với nhau (câu 6); theo như đã trưng dẫn ở LuLc 1:17, thì lòng yêu thương nầy gồm sự tôn trọng lý tưởng của tổ tiên.
Tiếng cuối cùng của Cựu Ước là: "Rủa sả," nghĩa là nếu Đức Giê-hô-va không ngự đến, thì loài người phải ở địa vị tuyệt vọng.
Cựu Ước kết thúc như vậy đó. 400 năm trôi qua. Rồi Đấng Mê-si ngự đến, -- dân tộc Hê-bơ-rơ đã được tạo thành để sanh ra Ngài. Suốt các thế kỷ, họ đã chối bỏ các đấng tiên tri thể nào, thì cũng một thể ấy, khi Đấng Mê-si ngự đến, họ đã chối bỏ Ngài vì trung thành với nghi thức. Từ đó tới nay, dân Do-thái không có quê hương, nhưng đi lưu lạc trên mặt đất, là tấn bi kịch và cũng là phép lạ của các thời đại.
===================================

Mối Dây "Đấng Mê-si" Thấu Suốt Cựu Ước
Cựu Ước đã được viết ra để tạo nên một tiếng chuông báo trước về Đấng Christ và để mở đường cho Đấng Christ ngự đến. Cựu Ước là truyện tích của dân tộc Hê-bơ-rơ, phần lớn luận về những biến cố và nhu cầu cấp bách trong các thời kỳ của dân tộc ấy. Nhưng suốt cả truyện tích nầy, luôn luôn có trông đợi và thấy trước sự ngự đến của Một Đấng Oai Nghiêm sẽ trị vì và làm một công việc lớn lao, lạ lùng trên cả thế giới. Lâu lắm trước khi ngự đến, Đấng nầy được người ta biết là Đấng Mê-si. Những lời tiên tri về Ngài ngự đến hợp thành mối dây "Đấng Mê-si " thấu suốt Cựu Ước. Ấy là sợi chỉ vàng chạy suốt những quyển sách vừa nhiều, vừa khác nhau của Cựu Ước, và hợp cả lại thành một khối duy nhứt lạ lùng.
Thoạt tiên có những ám chỉ mơ hồ, rồi bắt đầu có những dự ngôn đặc biệt và minh bạch; truyện tích càng tiến xa, thì những dự ngôn ấy càng đặc biệt, càng minh bạch và càng nhiều. Các dự ngôn minh bạch càng nhiều lên, thì các biểu tượng, tranh ảnh, hình bóng và tiên kiến gián tiếp cũng tăng gia. Như vậy, lúc ta tới tận điểm của Cựu Ước, thì cả truyện tích Đấng Christ đã được viết trước và nói bóng trước bằng những lời lẽ và hình ảnh nếu tổng hợp lại, thì không thể nào chỉ về một nhân vật khác trong lịch sử.
Thêm vào những dự ngôn và hình bóng hết sức rõ ràng, còn có thể có nhiều ngụ ý kín giấu về Đấng Mê-si, chỉ hơi thấy rõ trên bề mặt mà thôi. Tuy nhiên, chúng tôi tưởng tốt nhứt là đừng quá khai thác vấn đề hình bóng, trừ khi nó được giải thích như vậy trong Kinh Thánh, hoặc rõ ràng đến nỗi không sao lầm lẫn được.
Mục đích của chúng tôi ở đây là trình bày sơ lược các khúc sách chỉ rõ về sự ngự đến của Đấng Christ.
SaSt 3:15.-- Lời tuyên bố đầu tiên: "Dòng dõi người nữ sẽ giày đạp đầu con rắn" dường như tỏ ra rằng mặc dầu loài người phạm tội, Đức Chúa Trời cũng quyết định làm cho sự dựng nên loài người của Ngài được kết quả mỹ mãn. Loài người sa ngã bởi người nữ thể nào, thì cũng sẽ nhờ người nữ mà được cứu chuộc thể ấy. Đây dường như ám chỉ rằng Đấng Cứu chuộc sẽ do nữ đồng trinh mà giáng sanh.
4:4-7.-- Tế vật của A-bên. Đây dường như tỏ ra rằng, ngay từ lúc đầu, tế vật bằng huyết đã được thiết lập làm điều kiện cho loài người được Đức Chúa Trời tiếp nhận; đây cũng là lần đầu tiên ám chỉ về Đấng Christ chịu chết đền tội loài người.
12:3; 18:18; 22:18.-- Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham để thành lập một dân tộc do đó muôn dân sẽ được phước. Lời kêu gọi nầy được lặp lại 3 lần. Đây tuyên bố rõ ràng, dứt khoát mục đích của Đức Chúa Trời khi Ngài thành lập quốc gia Hê-bơ-rơ, lại có dự ngôn rằng trong quốc gia ấy, Ngài sẽ làm một việc đem phước lành cho cả thế giới.
14:18-20.-- Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem và thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao, được Áp-ra-ham dâng một phần mười chiến lợi phẩm; vả, lúc đó, Áp- ra-ham đại diện cho cả quốc gia Hê-bơ-rơ mà ông sẽ thành lập. Đây dường như là một hình bóng về Đấng mà dân tộc của Áp-ra-ham sẽ được thành lập để đưa vào trong thế gian. Xem ở thơ Hê-bơ-rơ, đoạn 7.
22:1-24.-- Áp-ra-ham dâng Y-sác làm tế vật. Mên-chi-xê-đéc là "hình bóng" đầu tiên trong đời Áp-ra-ham về Đấng mà dân tộc của Áp-ra-ham sẽ được thành lập để đưa vào trong thế gian thể nào, thì cũng một thể ấy, đây chúng ta có "hình bóng" về Biến Cố trong đời sống của Đấng hầu đến, do đó Ngài sẽ "ban phước cho cả thế giới." Biến Cố ấy là Đấng Christ chịu chết thế tội lỗi loài người, rồi sống lại. Đây là bức tranh: Một người cha dâng con trai làm tế vật; con trai chết (trong trí Áp-ra-ham -- 22:4) 3 ngày; một vật thay thế (22:13) một tế lễ thực sự; và việc xảy ra trên núi Mô-ri-a 22:2), -- chính tại núi nầy, Đức Chúa Jêsus đã bị đóng đinh vào Thập tự giá, và Áp-ra-ham đã dâng một phần mười chiến lợi phẩm cho Mên-chi-xê-đéc (14:18).
26:4; 28:4;.-- Lời hứa đầu tiên cho Áp-ra-ham rằng nhờ dòng dõi ông, "các chi tộc nơi thế gian sẽ được phước" (SaSt 12:3), tới đây được nhắc lại cho Y-sác, rồi cho Gia-cốp nữa. Lời hứa nầy được nhắc tới 5 lần, -- 3 lần cho Áp-ra-ham, 1 lần cho Y-sác và 1 lần cho Gia-cốp.
49:10.-- "Đấng Si-lô" sẽ cai trị các nước. Đây là lời dự ngôn rõ ràng thứ nhứt rằng một ĐẤNG sẽ từ dân tộc Hê-bơ-rơ dấy lên để cai trị mọi nước; như vậy là ngụ ý rằng do Đấng nầy, dân tộc của Áp-ra-ham sẽ làm trọn sứ mạng thiên thượng, là ban phước cho mọi nước. Danh Ngài là "Đấng Si-lô." Ngài sẽ hiện ra trong chi phái Giu-đa. Chắc Ngài là Đấng mà Mên-chi-xê-đéc làm hình bóng cho.
Xuất Ê-díp-tô ký 12.-- Các con đầu lòng của nước Ai-cập phải chết. Thiết lập Lễ Vượt Qua. Chắc chắn đây là một biến cố lịch sử vĩ đại làm hình bóng về sự chết của Đấng Christ. Được giải cứu bởi sự chết của các con đầu lòng. Những ai có dấu Huyết Chiên Con thì được an ninh. Sở dĩ gọi là Lễ Vượt Qua vì thiên sứ hủy diệt đã "đi vượt qua" (XuXh 12:27) những kẻ mang dấu huyết. Suốt 1400 năm, dân Y-sơ-ra-ên hằng năm giữ lễ nầy để kỷ niệm sự giải cứu khỏi Ai-cập; hằng năm họ dâng chiên con Lễ Vượt Qua y như họ đã làm trong đêm Vượt qua đầu tiên, cho tới khi Chiên Con Của Đức Chúa Trời trút linh hồn trên Thập tự giá, trong ngày Lễ Vượt Qua mà bao nhiêu ngàn chiên con bị giết ở Giê-ru-sa-lem. Bởi đó, Ngài đem cho dân Ngài sự giải cứu khỏi tội lỗi, cũng như ngày xưa, họ đã được giải cứu khỏi Ai-cập vậy.
LeLv 16:1-34-- Đại lễ chuộc tội. Con dê bị đuổi đi, gánh tội lỗi của nhân dân. Đây là một bức tranh khác mô tả sự chết của Đấng Christ để đền tội loài người. Đại lễ nầy và cả hệ thống tế vật trong sách Lê-vi ký là những đặc điểm liên tục của cuộc sanh hoạt quốc gia Hê-bơ-rơ, và tỏ ra sự chết của Đấng Christ chiếm địa vị quan trọng trong ý tưởng Đức Chúa Trời.
Dan Ds 21:6-9.-- Con rắn lửa. Theo như ta hiểu biết trong Tân Ước, thì truyện tích nầy là biến cố lịch sử làm hình bóng về Đấng Christ có quyền cứu người ta khỏi tội lỗi.
24:17-19.-- Lại một dự ngôn rõ ràng khác về một Đấng sẽ dấy lên trong nước Y-sơ-ra-ên: Ngài sẽ là "một Ngôi Sao," "một Cây Phủ việt, " và sẽ "cầm quyền." Rõ ràng đây chỉ về cùng một Đấng có Danh là "Đấng Si-lô" và "được các dân vâng phục," ở SaSt 49:10.
PhuDnl 18:15-19.-- Đây cũng lại là một dự ngôn rõ ràng khác về một Đấng sẽ dấy lên trong nước Y-sơ-ra-ên, một "Đấng Tiên tri như Môi-se," bởi Ngài, Đức Chúa Trời sẽ "phán" với loài người. Rõ ràng lắm, đây là một đặc tánh khác của "Đấng Si-lô" và "Ngôi Sao" đã nói đến trên kia.
Như vậy, trong 5 quyển sách đầu của Cựu Ước có lời dự ngôn đặc biệt, lặp lại 5 lần, rằng dân tộc Hê-bơ-rơ đang được đưa vào thế giới vì một mục đích chánh xác, là ban phước cho muôn dân. Cũng có những lời dự ngôn đặc biệt rằng từ trong dân tộc Hê-bơ-rơ sẽ dấy lên Một Đấng có Danh là "Đấng Si-lô," là "Ngôi Sao," là "Đấng Tiên tri giống như Môi-se." Cũng có nhiều chỗ ngụ ý khá rõ rằng nhờ Đấng nầy mà dân tộc Hê-bơ-rơ sẽ làm trọn sứ mạng ban phước cho thế giới. Cũng có nhiều chỗ ám chỉ tánh chất công việc của Đấng nầy, nhứt là mô tả sự chết của Ngài để làm Vãn-hồi-tế. Như vậy, rất sớm, tức là 1400 năm trước khi Đấng Christ ngự đến, đã có vẻ bằng những nét khá rõ một vài đặc điểm chánh yếu của đời sống và công việc Đấng Christ.
Giô-suê. -- Sách nầy dường như chẳng có lời nào trực tiếp dự ngôn về Đấng Mê-si, mặc dầu có người cho rằng theo một phương diện, Giô-suê cũng làm hình bóng về Đức Chúa Jêsus. Tên thì giống nhau, tiếng Hy-lạp là "JÊSUS.", còn tiếng Hê-bơ-rơ là "Giô-suê." Giô-suê dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa thể nào, thì Đức Chúa Jêsus cũng dẫn tín đồ Ngài vào Thiên đàng thể ấy.
Ru-tơ. -- Ru-tơ là bà cố nội của Đa-vít, là nguồn gốc của gia tộc phát sanh Đấng Mê-si. Ru-tơ vốn là người Mô-áp, thì có thể ám chỉ sứ mạng của Đấng Christ đối với các dân ngoại.
ISa1Sm 16:1-23-- Đa-vít được xức dầu làm vua Y-sơ-ra-ên. Từ đây trở đi, Đa-vít là nhân vật trọng yếu nhứt trong lịch sử Cựu Ước. Chung quanh tên ông tụ tập những lời tiên tri đặc biệt nhứt và dồi dào hơn hết về Đấng Mê-si.
IISa 2Sm 7:16.-- Đây, Đức Chúa Trời hứa ban cho Đa-vít một ngôi vua đời đời. Lời hứa nầy được lặp đi lặp lại mãi, suốt cả các sách Cựu Ước tiếp theo; càng ngày càng thêm nhiều chi tiết, nhiều lời giải thích đặc biệt rằng lời hứa nầy sẽ được ứng nghiệm tối hậu trong Một Vua dấy lên từ nhà Đa-vít, -- chính Vua ấy sẽ sống đời đời và lập một Nước vô tận. Rõ ràng lắm, "Vua đời đời" nầy là một với Đấng trước đã được gọi là "Đấng Si-lô," là "Ngôi Sao," và là "Đấng Tiên tri giống như Môi-se."
IVua 1V 2:4; 8:25; 9:5.-- Lặp lại với Sa-lô-môn lời hứa ban ngôi vua đời đời , và Sa-lô-môn cầu nguyện cho được như vậy.
II Các vua. -- Sách nầy chép truyện nước Đa-vít suy vong, và dường như làm tiêu tan lời Đức Chúa Trời hứa ban cho Đa-vít ngôi vua đời đời. Nhưng suốt thời gian gồm trong sách nầy, nhiều tiên tri đã dấy lên mà kêu la rằng lời hứa ấy sẽ còn được ứng nghiệm. Xin xem lời chú giải sau đây về các sách tiên tri.
ISu1Sb 22:8-10.-- Lời hứa ban ngôi vua đời đời được lặp lại lần nữa cho Sa-lô-môn.
IISu 2Sb 6:16; 7:17, 18.-- Lại chép Sa-lô-môn cầu nguyện cho lời hứa được ứng nghiệm, và Đức Chúa Trời lặp lại lời hứa.
E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Ê-xơ-tê. -- Ba sách nầy tường thuật dân Hê-bơ-rơ đã suy vong và bị tan lạc, nay được hồi hương, nhưng chẳng có lời nào trực tiếp dự ngôn về Đấng Mê-si. Tuy nhiên, dân tộc được tái lập ở xứ sở, quê hương là một tiền sự cần thiết cho Đấng Mê-si ngự đến.
Gióp. -- Một bài tranh luận về vấn đề đau đớn, và theo chỗ ta có thể nhận thấy, thì ít trực tiếp nói đến sứ mạng của dân tộc Hê-bơ-rơ, là sanh ra Đấng Mê-si, chỉ trừ ra lời Gióp hớn hở bày tỏ đức tin: "Tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất" (Giop G 19:25).
Thi Thiên. -- Bây giờ ta tới một quyển sách đầy dẫy hình bóng về Đấng Mê-si, viết từ 1000 năm trước khi Đấng Christ ngự đến. Một vài hình bóng nầy là sự thực trong đời riêng của Đa-vít, theo một ý nghĩa hạn chế và phụ thuộc; nhưng phần nhiều hình bóng nầy không thể ứng dụng cho một nhân vật nào khác trong lịch sử ngoài ra Đấng Christ.
Thi Tv 2:2, 6, 8, 12.-- "Vua được xức dầu" của Đức Giê-hô-va sẽ "cai trị các nước." Rõ ràng lắm, đây là Vua đời đời sẽ dấy lên trong nhà Đa-vít. Đây, Vua ấy được gọi là "Con" của Đức Chúa Trời, tức là dự ngôn về Thần tánh của Đấng Christ.
16:10.-- Sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết. Trước kia đã có nhiều câu ám chỉ về sự chết của Đấng Mê-si. Đây là một lời dự ngôn minh bạch về Ngài toàn thắng Tử thần.
22:1, 16, 18.-- Đây là bức tranh tiên tri về sự đóng đinh Đấng Christ vào Thập tự giá. Kẻ thù nghịch chế nhạo Ngài; tay và chân Ngài bị đâm lủng; áo xống Ngài bị phân chia, thậm chí dự ngôn cả lời Ngài thốt ra trước khi chết.
41:9.-- Đấng Mê-si sẽ bị một người bạn phản nộp. Dường như nói về Đa- vít, nhưng Tân Ước trưng dẫn câu nầy để nói về Đấng Christ bị phản nộp (GiGa 13:18).
Thi Tv 45:1-17-- Đời trị vì vinh hiển của một Vua mang Danh là Đức Chúa Trời, và ngự trên ngôi đời đời. Lời nầy không thể chỉ về một Đấng nào khác ngoài Vua đời đời sẽ dấy lên từ trong nhà Đa-vít.
69:21.-- Lại một đặc điểm khác trong bức tranh Ngài chịu thương khó. Chúng cho Ngài uống mật đắng và dấm.
72:11, 17, 19-- Đời trị vì của Vua đời đời sẽ bao trùm cả thế giới và vinh hiển lạ lùng.
78:2.-- Một chi tiết khác của đời Ngài; ấy là Ngài sẽ phán dạy bằng thí dụ.
89:3, 27, 28, 34, 35.-- Lời thề của Đức Chúa Trời, được lặp đi lặp lại nhiều lần, rằng ngôi vua của Đa-vít sẽ vô cùng tận, do "Con Trưởng nam" của Đức Chúa Trời ngự trị (câu 27).
110:1, 4.-- Đương thời Đa-vít, chức vua và chức thầy tế lễ phải phân biệt. Còn Đấng Mê-si vừa làm Vua, vừa làm Thầy Tế lễ.
118:22.-- Bị các thủ lãnh của dân tộc Ngài chối bỏ.
Nhã ca của Sa-lô-môn.-- Dầu đây không nói rõ, nhưng người ta thường cho là truyện đặt làm hình bóng về Đấng Mê-si thành hôn với Hội Thánh Ngài.
Ê-sai. -- Trên hết đây là sách Cựu Ước nói tiên tri về Đấng Mê-si. Sách nầy dùng lời văn chương vô song mà ngây ngất mô tả những vinh quang của đời Đấng Mê-si trị vì.
EsIs 2:2-4.-- Sự hiện thấy tuyệt diệu về thời đại của Đấng Mê-si. Muôn dân lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm: Đó là kết quả tối hậu do đời trị vì của Đấng Mê-si.
4:2-6.-- Một "Chồi" sẽ "làm đồ trang sức vinh hiển" và từ trong nhà Đa-vít dấy lên (11:1). Đối với dân Ngài, Ngài sẽ là "một đám mây bọc khói trong ban ngày, và ngọn lửa soi sáng trong ban đêm," y như đám mây đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên qua đồng vắng (Dan Ds 8:15-23).
EsIs 7:13, 14.-- Một người trong nhà Đa-vít sẽ do nữ đồng trinh sanh ra. Rõ ràng là "Chồi" (4:2) và "Con Trẻ" (9:5).
9:1-7.-- Một "Con Trẻ" sanh ra trong nhà Đa-vít, Danh Ngài là " Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, Đúc Chúa Trời Quyền Năng, Cha Đời Đời và Chúa Bình An. " Ngài sẽ ngự "trên ngôi Đa-vít," và "quyền cai trị của Ngài cứ thêm mãi không thôi." Ngài sẽ thi hành chức vụ ở "xứ Ga-li-lê"(1) (câu 1, 2). "Con Trẻ" đây không thể là ai khác, ngoài ra Vua Đời Đời mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho nhà Đa-vít. Chính là Đấng mà nhiều thế kỷ về trước, đã gọi là "Đấng Si-lô," "Ngôi sao" và "Đấng Tiên tri giống như Môi-se."
11:1-10.-- Đời trị vì của "Chồi mống," tức là của "Vua Lạ lùng", sẽ rất vinh hiển và bao trùm cả trái đất.
25:6-8; 26:19.-- "Trong ngày đó," nghĩa là trong ngày của "Vua Lạ lùng." thì "sự chết bị nuốt đến đời đời," và "Chúa sẽ lau nước mắt khỏi mọi mặt." Lời nầy có thể chỉ về điều chi khác ngoài ra sự sống lại của Đấng Christ từ trong kẻ chết?
32:1-8; 35:1-10.-- Hạnh phước và hân hỉ dưới đời trị vì của Vua Lạ lùng; thoáng thấy các phép lạ chữa bịnh do Ngài làm (35:5, 6).
40:1-11.-- Ngài sẽ khải thị sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Trái đất sẽ vui mừng khi Ngài ngự đến. Ngài sẽ đối xử từ ái với kẻ yếu đuối.
40:1-13.-- Đời trị vì của Vua Lạ lùng có sự hiền lành và công bình. Ngài sẽ là Sự Sáng cho các dân ngoại. Ngài sẽ đem một bài ca mới cho trái đất. Lại thoáng thấy các phép lạ chữa bịnh do Ngài làm (câu 7).
53:1-12.-- Các sự thương khó của Ngài. Đây gọi Vua Vinh hiển hầu đến là "Tôi tớ" của Đức Chúa Trời (câu 11). Ngài phải làm "Người Thương khó" (theo bản tiếng Anh; bản Việt-nam dịch là: "Người... từng trải sự buồn bực"), và "như chiên con bị dẫn đến hàng làm thịt." Ngài "dâng mạng sống làm tế chuộc tội," chết chung "với những kẻ ác," và "được chôn với kẻ giàu." Trong các lời tiên tri, đặc điểm rõ rệt hơn hết về Vua là Ngài phải chịu thương khó. Đây có nhiều chi tiết thêm vào những điều đã dự ngôn trước, làm cho bức tranh càng lâu càng rõ hơn.
54:1-61:11-- Vua chịu thương khó làm cho trái đất đầy dẫy những khúc hoan ca. Đó là dự ngôn lạ lùng về kỷ nguyên Cơ-đốc-giáo.
62:2; 65:15.-- Dân của Đức Chúa Trời có một tên mới. Trong Cựu Ước, họ được gọi là "Y-sơ-ra-ên;" sau khi Đấng Christ ngự đến, họ được gọi là "Cơ-đốc- nhân."
65:17; 66:15-24.-- Vua sẽ làm nên "các từng trời mới và trái đất mới;" người công bình và người gian ác sẽ phân rẽ nhau đời đời .
Gie Gr 23:5, 6; 33:15-17.-- Một "Chồi mống" sẽ dấy lên từ trong nhà Đa-vít; Ngài sẽ làm "Vua" (30:9), và được xưng là "Đức Giê-hô-va sự công bình chúng ta." Ấy cũng là "Chồi mống " mà Ê-sai đã nói đến, tức là một Nhánh phát xuất từ cái gốc của nước Đa-vít đã sụp đổ.
31:31-35; 33:20-21.-- "Chồi mống" nầy cũng là "Vua Lạ lùng" trong sách Ê-sai. Ngài "sẽ lập một giao ước mới,... chép vào lòng." Sự ngự đến của Ngài chắc chắn như "giao ước ban ngày và giao ước ban đêm."
Exe Ed 34:23, 24; 37:24, 25; 44:3; 45:7; 46:16-18; 48:21.-- Đời trị vì của "Vua" hầu đến trong nhà Đa-vít. Ngài sẽ lập một "giao ước đời đời với dân Đức Chúa Trời. Ấy cũng như "Chồi mống" trong sách Giê-rê-mi.
47:1-12.-- Dòng sông ban sự sống. Đây là bức tranh đẹp tuyệt vời, mô tả những ảnh hưởng tốt lành từ thành Giê-ru-sa-lem tràn ra khắp thế giới, dưới đời trị vì của "Vua hầu đến thuộc về nhà Đa-vít."
DaDn 2:1-40; 7:1-9:27-- Nước lạ lùng của Đức Chúa Trời sẽ thực hiện đương thời nước "thứ tư" (đoạn 2), nghĩa là đế quốc La-mã. Phần lịch sử xen vào giữa được mô tả tỉ mỉ ở đoạn 7 và 8. Xác định đúng thì giờ "Vua" ngự đến, tức là 70 tuần lễ từ khi ra chếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem (đoạn 9). "Vua" tức là "Đấng chịu xức dầu," sẽ "bị trừ đi" (9:25, 26).
OsHs 1:10.-- Các dân ngoại được gồm trong nước của Đấng Mê-si. Lúc thơ ấu, Đấng Mê-si sẽ ở Ai-cập. (11:1; Mat Mt 2:15).
Gio Ge 2:28-32; 3:13-16.-- Sẽ có một kỷ nguyên rao truyền Tin Lành khắp thế gian, dưới sự lãnh đạo của Đức Thánh Linh.
AmAm 9:11, 12.-- Ngôi vua của Đa-vít đã sụp đổ sẽ lại dựng lên và cai trị cả thế giới.
ApOv 1:21.-- "Các kẻ giải cứu" núi Si-ôn, gồm cả Đấng Giải Cứu (Cứu Chúa).
Giô-na. -- Bức tranh phép lạ 3 ngày chỉ về Đấng Mê-si từ trong mồ mả phục sanh. Cũng ám chỉ về Ngài trị vì các dân ngoại.
MiMk 5:2-5.-- Một Đấng cai trị thế giới, vốn có từ đời đời, sẽ sanh ra tại Bết-lê-hem. Rõ ràng đây chỉ về VUA thường được nói đến từ trước.
HaKb 2:14.-- Sự vinh hiển của Ngài sẽ bao phủ cả trái đất.
SoXp 3:9.-- Một "tiếng nói thuần túy" sẽ được đem vào trái đất; đó là một hệ thống tư tưởng đúng đắn về Đức Chúa Trời. Rõ ràng là chỉ về Tin Lành của Đấng Christ.
AgKg 2:7, 23.-- "Sự ước ao của các nước" sẽ tới. Đó sẽ là ngày Con Trai của Đa-vít đăng quang (đây do "Xô-rô-ba-bên" làm hình bóng cho).
XaDr 3:8.-- "Chồi mống" sẽ đến. Tội lỗi sẽ "bị cất khỏi đất trong một ngày" (3:9). "Chồi mống" sẽ "xây Đền thờ Đức Giê-hô-va" (6:12) "chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần Đức Chúa Trời" (4:6), vì Ngài vừa là Thầy tế lễ, vừa là Vua. Là "Vua," Ngài sẽ cỡi "lừa con" ngự vào thành Giê-ru-sa-lem và cầm quyền cai trị cả thế giới (9:9, 10). Ngài sẽ bị phản nộp vì "ba chục miếng bạc," và số bạc nầy bị "quăng cho thợ gốm" (11:12, 13). Ngài sẽ "như Đức Chúa Trời" (12:8), và sẽ bị "đâm" (12:10). Ngài sẽ là "một Suối mở ra vì tội lỗi" (13:1). Ngài sẽ là "Kẻ chăn bị đánh" (13:7) và bị vết thương trong nhà bạn" (13:6).
MaMl 3:1; 4:5.-- Sẽ có một "sứ giả" giống như Ê-li đi trước Ngài, và sứ giả đó "sẽ dọn đường" cho Ngài.
==========================================

Toát Yếu
Trong giai đoạn đầu của Cựu Ước, có lời tuyên bố rằng dân tộc Do-thái được thành lập vì mục đích "ban phước cho muôn dân." Rồi bắt đầu mờ mờ hiện lên hình ảnh của một Đấng do Ngài mà dân tộc Do-thái sẽ hoàn thành sứ mạng.
Trước hết, Ngài được gọi là "Đấng Si-lô" dấy lên từ chi phái Giu-đa và cai trị các nước. Rồi Ngài được gọi là "Ngôi Sao" cầm quyền cai trị. Rồi Ngài được gọi là một "Tiên tri giống như Môi-se," do Ngài mà Đức Chúa Trời sẽ phán dạy loài người. Rồi Ngài nhiều lần được xưng là "Vua" dấy lên từ trong nhà Đa-vít, có những Danh hiệu là "Chồi mống," "Vua," "Đấng chịu xức dầu," "Con Trưởng Nam của Đức Chúa Trời ," "Đấng Lạ lùng," "Đấng Mưu luận," Đức Chúa Trời Quyền năng," "Cha Đời Đời " và "Chúa Bình an."
Đã dự ngôn đúng thì giờ Ngài ngự đến. Ngài sẽ do nữ đồng trinh sanh ra tại Bết-lê-hem. Lúc thơ ấu, Ngài ở Ai-cập, và Ngài được trưởng dưỡng tại Na-xa-rét. Ngài được giới thiệu với đồng bào bởi một sứ giả giống như Ê-li. Xứ Ga-li-lê sẽ là nơi Ngài thi hành chức vụ. Ngài làm nhiều phép lạ chữa bịnh. Ngài phán dạy bằng thí dụ. Ngài bị các thủ lãnh của dân tộc mình chối bỏ, và là Người Chăn bị đánh. Ngài là Người chịu thương khó. Ngài cưỡi lừa con mà ngự vào thành Giê-ru-sa-lem. Ngài bị bạn phản nộp vì 30 miếng bạc, và số bạc nầy dùng để mua khu ruộng của thợ gốm. Ngài như Chiên Con bị dẫn đến hàng làm thịt. Ngài chịu chết chung với kẻ gian ác, mở một Suối tẩy sạch tội lỗi, và Ngài cất bỏ tội lỗi trong một ngày. Cả đến lời Ngài phán khi hấp hối cũng được dự ngôn. Không một cái xương nào của Ngài bị gãy. Họ bắt thăm chia áo xống Ngài. Ngài được chôn với kẻ giàu. Ngài nằm trong mồ mả 3 ngày. Ngài sống lại từ trong kẻ chết, và ngự lên bên hữu Đức Chúa Trời.
Có lời dự ngôn rằng Ngài sẽ đem một thứ tiếng mới vào trái đất, nghĩa là một ý tưởng mới, tức là SỰ C­U RỖI; sẽ đề nghị một giao ước với loài người, và ban một tên mới cho dân Đức Chúa Trời. Cũng dự ngôn rằng Ngài sẽ mở kỷ nguyên của Đức Thánh Linh; Nước Ngài gồm cả các dân ngoại, bao trùm cả thế giới và còn đến đời đời.
Những điều nầy đã được chép hàng bao nhiêu thế kỷ trước khi Đức Chúa Jêsus ngự đến, và có những chi tiết kỳ diệu đến nỗi như là truyện kể bởi một người mắt thấy đời sống và công việc của Ngài vậy.
Thí dụ, có một số người từ nhiều nước khác nhau, không bao giờ gặp nhau và giao thông với nhau, nay cùng bước vào một phòng, mỗi người đặt xuống một miếng cẩm thạch chạm trổ đẹp đẽ. Đến khi ráp mọi miếng đó lại, thì thành một pho tượng toàn mỹ. Vậy, ta sẽ giải thích làm sao, nếu không phải là đã có một nhà điêu khắc nặn đầy đủ chi tiết và gởi cho mỗi người một phần? Còn đây, tác phẩm hỗn hợp về đời sống và công việc của Đức Chúa Jêsus, do nhiều tác giả khác nhau ráp lại, và họ ở nhiều thế kỷ khác nhau, lâu lắm trước khi Ngài ngự đến! Vậy, ta sẽ giải thích thế nào, nếu không dựa trên căn bản rằng Một Tâm Trí Siêu Nhân đã quản đốc cuộc biên trứ ấy?
=====================================

Giữa Cựu Ước Và Tân Ước (1)
Khoảng 400 năm Thời kỳ lệ thuộc đế quốc Ba-tư (430-332 T.C.)
Lúc kết thúc Kinh Thánh Cựu Ước, khoảng 430 T.C., thì xứ Giu-đê (Do-thái) là một tỉnh của đế quốc Ba-tư. Ba-tư là một đế quốc làm bá chủ thế giới chừng 200 năm.
Trong thời gian nầy, ta ít được biết về lịch sử dân Do-thái. Phần nhiều nền cai trị của đế quốc Ba-tư ôn hòa và khoan hồng, và người Do-thái được hưởng quyền tự do rất rộng rãi.
Các vua Ba-tư trong thời kỳ nầy là:
t-ta-xét-xe I (465-425 T.C.). Dưới đời trị vì của vua nầy, Nê-hê-mi xây lại thành Giê-ru-sa-lem. Xẹt-xe II (424). Đa-ri-út II, hoặc Nothius (423-405). t-ta-xét-xe II, hoặc Mnemon (405-358). t-ta-xét-xe III, hoặc Ochus (358-338). Arses (338-335). Đa-ri-út III, hoặc Codomanus (335-331). Đế quốc Ba-tư suy sụp dưới đời trị vì của vua nầy.
Thời kỳ lệ thuộc đế quốc Hy-lạp (331-167 T.C.).
Cho tới lúc nầy, các đế quốc bá chủ thế giới đều ở Á-châu và Phi-châu. Nhưng ở chơn trời Tây phương, quyền lực của nước Hy-lạp đang chập chờn vươn lên một cách đáng lo ngại. Khởi đầu của lịch sử Hy-lạp bị phủ kín trong thần thoại. Người ta cho rằng lịch sử Hy-lạp bắt đầu khoảng thế kỷ thứ 12 T.C., tức là thời lỳ Các Quan xét trong Kinh Thánh. Rồi tới cuộc chiến tranh ở Troie và thi hào Homère, khoảng 1000 năm T.C., tức là đương thời Đa-vít và Sa-lô-môn. Người ta thường nhìn nhận rằng lịch sử Hy-lạp chân chánh bắt đầu từ hội nghị Olympiade thứ nhứt (năm 776 T.C.). Rồi tới cuộc tạo thành các quốc gia Helléniques (Hy-lạp) (776-500 T.C.). Rồi tới các cuộc chiến tranh với đế quốc Ba-tư (500-331 T.C.), và các trận danh tiếng: Marathon (490), Thermopyles và Salamine (480). Rồi tới kỷ nguyên huy hoàng của Périclès (465-429) và Socrate (469-399), đồng thời với E-xơ-ra và Nê-hê-mi.
Năm 336 T.C., A-lịch-sơn đại đế, mới 20 tuổi, cầm quyền chỉ huy quân đội Hy-lạp, và như một sao băng, ông lẹ làng tiến về phía Đông, xâm lăng các xứ vốn ở dưới quyền các đế quốc A-si-ri, Ba-by-lôn và Ba-tư. Khoảng năm 331 T.C., cả thế giới (mà người ta biết thời đó) nằm dưới chơn ông. Khi xâm lăng xứ Pa-lét-tin (năm 332 T.C.), ông tỏ ra rất vị nể người Do-thái, tha không hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, và cho phép người Do-thái đến cư ngụ tại thành phố Alexandrie. Ông thiết lập nhiều thành phố Hy-lạp trên khắp các lãnh thổ mình đã chinh phục, đồng thời cũng truyền bá tại đó văn hóa và ngôn ngữ Hy-lạp. Ông băng hà sau một cuộc trị vì ngắn ngủi (323 T.C.).
Lúc A-lịch-sơn đại đế băng hà, đế quốc ông bèn rơi vào tay 4 tướng lãnh của ông. Hai phần ở phía Đông là Sy-ri (về tay Séleucos ) và Ai-cập (về tay Ptolémée ). Xứ Pa-lét-tin nằm giữa Sy-ri và Ai-cập, trước hết thuộc về Sy-ri, nhưng sau đó ít lâu, thì qua tay Ai-cập (năm 301 T.C.), và cứ ở dưới quyền kiểm soát của Ai-cập chừng 100 năm, cho tới năm 198 T.C..
Ở dưới quyền cai trị của các vua Ai-cập, gọi là Ptolémée, tình cảnh của người Do-thái thật là thái bình và sung sướng. Những người ở Ai-cập đã xây cất nhà hội ở khắp các khu họ định cư. Alexandrie trở thành một trung tâm hệ trọng của Do-thái giáo.
Antiochus đại đế tái chiếm xứ Pa-lét-tin năm 198 T.C., và xứ nầy lại về tay các vua Sy-ri, gọi là Séleucos.
Antiochus Epiphane (175-164 T.C.) hung hăng hờn ghét người Do-thái; ông giận hoảng và cương quyết cố gắng tiêu trừ họ và tôn giáo của họ. Ông tàn phá Giê-ru- sa-lem năm 168 T.C., làm ô uế Đền thờ, dâng một con heo cái trên bàn thờ, lập một bàn thờ cho thần Jupiter, cấm thờ lạy ở Đền thờ, cấm làm phép cắt bì (ai trái lịnh thì bị tử hình) hủy hết các bản sao Kinh Thánh mà ông tìm thấy, giết bất cứ người nào thấy có những bản sao ấy, bán hàng ngàn gia đình Do-thái làm tôi mọi, và dùng đủ thứ khổ hình không có thể tưởng tượng được để bắt người Do-thái bỏ đạo. Do đó, có cuộc khởi nghĩa của phái Macchabées, là một trong những sự nghiệp anh hùng nhứt trong lịch sử thế giới.
Các Ptolémée (vua Hi-lạp trị vì ở Ai-cập) là:
Ptolémée I (323-285 T.C.). Ptolémée II (Philadelphe ) (285-247 T.C.). Ptolémée III (Evergète ) (247-222 T.C.). Ptolémée IV (Philopator ) (222-205 T.C.). Ptolémée V (Epiphane ) (205-182 T.C.). Ptolémée VI (Philométor ) (182-146 T.C.). Ptolémée VII (Evergète II ) (146-117 T.C.).
Các Séleucos (vua Hy-lạp trị vì ở Sy-ri) là: Séleucos Nicator (323-285 T.C.). Antiochus I (Sôter ) (280-261 T.C.). Antiochus II (Théos ) (261-246 T.C.). Séleucos II (Callinicos ) (246-226 T.C.). Séleucos III (Céraunos ) (226-223 T.C.). Antiochus III (đại đế ) (222-187 T.C.). Séleucos IV (Philopator ) (187-175 T.C.). Antiochus IV (Epiphane ) (175-164 T.C.). Antiochus V (Eupator ) (163-161 T.C.). Alexandre Balas (161-146 T.C.). Antiochus VI (Théos ) (146-143 T.C.). Tryphon (143-139 T.C.). Antiochus VII (Siclète ) (139-130 T.C.).
Thời kỳ độc lập (167-163 T.C.)
Cũng gọi là thời kỳ Macchabées, hoặc Asmonéens, hoặc Hasmonéens, Mattathias, thầy tế lễ có lòng yêu nước nồng nhiệt và can đảm vô biên, tức giận phừng phừng vì Antiochus Epiphane toan tiêu diệt dân Do-thái cùng tôn giáo của họ, bèn triệu tập một đoàn người Do-thái trung kiên, phất cờ khởi nghĩa. Ông có 5 con trai anh hùng và thiện chiến, là Giu-đa, Giô-na-than, Si-môn, Giăng và Ê-lê-a-sa. Mattathias qua đời năm 166 T.C.). Con trai ông, là Giu-đa, nối chức ông; chàng là một chiến sĩ có tài thao lược lạ lùng. Chàng thắng hết trận nầy đến trận khác trước quân thù đông đúc không tưởng tượng được và tưởng chừng không sao thắng được. Chàng chiếm lại được thành Giê-ru-sa-lem (năm 165 T.C.), tẩy sạch Đền thờ và lại dâng nó cho Đức Chúa Trời. Đó là căn nguyên ngày lễ dâng Đền thờ. Giu-đa vừa làm thầy tế lễ, vừa cầm quyền hành chánh. Vậy, ông lập nên dòng Asmonéens, vừa làm thầy tế lễ, vừa làm vua. Dòng nầy cai trị một nước Do-thái độc lập suốt 100 năm sau, và gồm có: Mattathias (167-166 T.C.); Giu-đa (166-161 T.C.); Giô-na-than (161-144 T.C.); Si-môn (144-135 T.C.); Giăng Hycranos (135-106 T.C.), con trai Giô-na-than; Aristobule và các con trai ông (106-63 T.C.), là những người không xứng đáng mang danh Macchabée.
Thời kỳ lệ thuộc đế quốc La-mã (từ 63 T.C., đến thời Đấng Christ)
Năm 63 T.C., xứ Pa-lét-tin bị chinh phục bởi quân La-mã do Pompée chỉ huy. Antipater, người xứ Y-đu-mê (Ê-đôm, dòng dõi của Ê-sau), được cử làm tổng trấn xứ Do-thái. Con trai hắn, là Hê-rốt đại vương, kế vị hắn làm vua xứ Do-thái (37-3 T.C.). Để được lòng dân Do-thái. Hê-rốt bèn xây lại Đền thờ nguy nga, rực rỡ. Nhưng hắn là một người tàn bạo và hung ác. Chính Hê-rốt nầy cai trị xứ Do-thái khi Đức Chúa Jêsus giáng sanh. Chính là hắn đã tàn sát con trẻ tại Bết-lê-hem.

Giữa Cựu Ước Và Tân Ước (2)
Kinh điển Cựu Ước
Nguyên văn chữ "Canon " (Kinh điển) nghĩa là "cây gậy" hoặc "thước đo." Người ta dùng chữ nầy để đặt tên cho bộ sách đã được thừa nhận là Lời Đức Chúa Trời, chân thực, nguyên bổn, được soi dẫn và có thẩm quyền. Do đó, bộ sách nầy được phận biệt với mọi sách khác và làm "qui luật" của đức tin.
Từ đầu lịch sử, Đức Chúa Trời đã bắt đầu cấu tạo Quyển Sách dùng làm môi giới khải thị chính mình Ngài cho loài người:
Mười Điều răn ghi chép trên bảng đá (PhuDnl 10:4, 5).
Luật pháp Môi-se chép thành một quyển sách, đã được đặt trong hòm giao ước (PhuDnl 31:24-26).
Đã sao lại quyển sách luật pháp ấy (PhuDnl 17:18).
Giô-suê chép thêm vào sách nầy (Gios Gs 24:26).
Sa-mu-ên viết một quyển sách, và để trước mặt Đức Chúa Trời (ISa1Sm 10:25).
400 năm sau, Sách nầy được nhiều người biết rõ (IIVua 2V 22:8-20).
Các đấng tiên tri đã việt một quyển sách (Gie Gr 36:32; XaDr 1:4, 7-12).
E-xơ-ra đọc sách nầy của Đức Chúa Trời cho dân chúng nghe (Exo Er 7:6; NeNe 8:5).
Đương thời Đức Chúa Jêsus, Sách nầy được gọi là "Lời Kinh Thánh," và thường xuyên được đọc cùng dạy dỗ công khai trong các nhà hội. Nói chung, dân chúng kể Sách nầy là "Lời Đức Chúa Trời." Chính Đức Chúa Jêsus đồng quan niệm ấy; và luôn luôn gọi nó là "Lời Đức Chúa Trời."
Trong Tân Ước có chừng 300 lần trưng dẫn "Kinh Thánh" nầy: Tân Ước không trưng dẫn một sách nào khác ngoài "Kinh Thánh" nầy, trừ ra lời của Hê-nóc trong thơ Giu-đe. Nhiều câu trưng dẫn đó rút ở bản Septante của Cựu Ước, 1 bản thông dụng đương thời Tân Ước. Dầu bản Septante có chứa các "Ngụy kinh," nhưng Tân Ước không hề trưng dẫn một câu nào của các "Ngụy kinh" đó. Ấy là bằng cớ tỏ ra rằng hoặc Đức Chúa Jêsus, hoặc các Sứ đồ, đều không nhìn nhận "Ngụy kinh" là một phần của "Kinh Thánh."
"Kinh Thánh" nầy gồm có 39 quyển, hợp thành Cựu Ước của chúng ta, mặc dầu sự sắp đặt có khác. Kinh Thánh được phân loại ra: "luật pháp" (5 sách), "các Tiên tri" (8 sách), và "các Tác phẩm" (11 sách). Ba loại nầy gồm có:
Luật pháp: Sáng thế ký, Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký, Dân số ký, Phục-truyền Luật- lệ Ký.
Các tiên tri: Giô-suê, Các quan xét, Sa-mu-ên, Các-vua, Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi- ên, Mười Hai Tiểu Tiên tri.
Các Tác phẩm: Thi Thiên, Châm Ngôn, Gióp, Nhã Ca, Ru-tơ, Ca Thương, Truyền đạo, Ê-xơ-tê, Đa-ni-ên, E-xơ-ra -- Nê-hê-mi, Sử-ký.
Như vậy, hợp hai sách Sa-mu-ên làm 1, hai sách Các-vua làm 1, hai sách Sử-ký làm một, E-xơ-ra và Nê-hê-mi làm một, 12 sách Tiểu Tiên tri làm một (12 sách nầy chép chung một cuốn) thì 24 sách nầy vừa đúng 39 quyển của Cựu Ước mà chúng ta có ngày nay.
Chúng ta không biết đúng khi nào bộ sách nầy hoàn bị và được biệt riêng ra làm Lời Đức Chúa Trời mà ai nấy dứt khoát thừa nhận. Theo truyền thoại của dân Do-thái, thì E-xơ-ra đã làm công việc ấy. Chúng tôi tin rằng kể từ Môi-se trở đi, khi các sách nầy vừa viết ra, thì liền được nhìn nhận là Lời Đức Chúa Trời soi dẫn, và được đặt trong Đền tạm hoặc Đền thờ, chung với bộ Tác phẩm Thánh càng ngày càng nhiều thêm. Người ta đã sao lại tùy theo nhu cầu. Trong cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn, những bản sao đã bị phân tán, và nhiều bản bị tiêu hủy. Sau khi dân Do-thái từ chốn lưu đày hồi hương, chính E-xơ-ra đã thâu thập lại những bản phân tán, sắp đặt theo thứ tự, và lại đặt toàn bộ trong Đền thờ như trước. Người ta đã sao bản của Đền thờ thành nhiều bản khác để gởi cho các nhà hội tản mác bốn phương sử dụng.
Sử gia Josèphe kể rằng: Kinh điển Cựu Ước được minh định từ thời Hoàng đế t-ta- xét-xe (tức là đương thời E-xơ-ra). Dưới đây là chính lời của Josèphe:
"Chúng ta chỉ có 22 sách, gồm chứa lịch sử của mọi thời đại; chúng ta tin rằng những sách nầy do Đức Chúa Trời mà có. Trong số đó, 5 quyển do Môi-se trứ tác, nội dung là các luật pháp của ông soạn thảo và các truyền thoại về căn nguyên loài người cho tới lúc ông qua đời. Từ lúc Môi-se qua đời cho tới thời trị vì của t-ta-xét-xe, thì các tiên tri tiếp theo Môi-se đã viết lịch sử của những biến cố xảy ra đương thời họ trong 13 quyển sách. 4 quyển còn lại thì gồm các thánh ca ngợi khen Đức Chúa Trời và các qui tắc hành vi của đời người. Từ thời t-ta-xét-xe đến thời đại chúng ta, quả thật, biến cố nào cũng đã được ghi chép; song những ký văn mới đây xét ra không đáng có thẩm quyền ngang hàng với những ký văn trước đó, vì cớ các tiên tri không được kế tiếp chánh xác. Có bằng cớ thực tế minh chứng tinh thần theo đó chúng ta đối xử với Kinh Thánh; ấy vì dầu một thời gian lâu dài đã trôi qua, nhưng không một ai cả gan thêm, bớt, hoặc đổi một vần, một chữ nào. Mỗi người Do-thái ngay từ lúc sanh ra, đã có thiên năng kể Kinh Thánh nầy là sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời, cùng làm theo Kinh Thánh nầy và vui vẻ liều mạng sống vì Kinh Thánh nầy nếu cần."
Giá trị của lời làm chứng nầy chẳng phải là nhỏ. Josèphe sanh năm 37 S.C., tại Giê-ru-sa-lem, thuộc dòng thầy tế lễ quí tộc. Ông có học vấn uyên thâm về cả văn hóa Do-thái và văn hóa Hy-lạp. Ông là tổng trấn xứ Ga-li-lê, chỉ huy quân đội trong các cuộc chiến tranh chống đế quốc La-mã, và có mặt khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá. Ông bị bắt qua La-mã, tại đó ông chuyên khảo cứu văn chương. Ông đã viết 4 quyển sách: "Các cuộc chiến tranh của Do-thái," -- "Các thời kỳ thượng cổ của dân Do-thái," -- "Chống Apion " (đoạn trưng dẫn trên kia trích ở sách nầy), -- và "Tự truyện" của ông.
Những lời trên đây của Josèphe làm chứng chắc chắn, mạnh mẽ về dân tộc Do-thái đương thời Đức Chúa Jêsus tin rằng những sách nào hợp thành bản Kinh Thánh Hê- bơ-rơ, và toàn bộ ấy đã hoàn thành và được ấn định 400 năm trước thời Đức Chúa Jêsus.
Về "22" quyển sách mà Josèphe ghi nhắc đó, Ru-tơ khi thì viết riêng một cuốn, khi thì chung với Các quan xét, còn Ca thương khi thì viết riêng một cuốn, khi thì chung với Giê-rê-mi. Như vậy, tổng số các cuốn thường khi rút từ 24 xuống còn 22, để cho bằng số chữ cái của vần Hê-bơ-rơ.
Còn về sự sắp đặt những sách nầy, thì các dịch giả bản Septante đã tái phân loại tùy theo đề mục; các nhà phiên dịch ra tiếng La-tinh và tiếng Anh cũng theo cách tái phân loại nầy. Dầu các sách Cựu Ước của chúng ta khác về thứ tự, nhưng về nội dung, thì giống in như bản Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Mãi sau khi hoàn thành "Kinh Thánh" Cơ-đốc-giáo (Tân Ước), thì "Kinh Thánh" Hê-bơ-rơ mới đổi tên và gọi là "Cựu Ước" để phân biệt hai bộ "Kinh Thánh" nầy.

Giữa Cựu Ước Và Tân Ước (3)
Các ngụy kinh
Đây là tên thường đặt cho 14 quyển sách có trong một vài bản Kinh Thánh, giữa Cựu Ước và Tân Ước. Những sách nầy có từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 3 T.C., phần nhiều không biết chắc tác giả là ai, và đã thêm vào bản Septante, là bản dịch Cựu Ước ra tiếng Hy-lạp vào thời kỳ đó. Trong bản Cựu Ước Hê-bơ-rơ không có những sách nầy. Chúng được viết ra sau khi lời tiên tri, sấm ngôn (oracles ) và sự khải thị trực tiếp của Cựu Ước đã chấm dứt. Josèphe chối không thừa nhận toàn thể chúng. Người Do-thái chẳng bao giờ nhìn nhận chúng là một phần của Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Đức Chúa Jêsus và các tác giả Tân Ước không hề trưng dẫn một câu nào của chúng. Hội Thánh đầu tiên không hề nhìn nhận chúng là có thẩm quyền như Kinh điển, hoặc do Đức Chúa Trời soi dẫn, khi Kinh Thánh được dịch ra tiếng La-tinh nhằm thế kỷ thứ 2 S.C., thì Cựu Ước không dịch từ Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ, nhưng dịch từ bản Septante, tức là Cựu Ước bằng tiếng Hy-lạp. Từ bản Septante, các Ngụy kinh nầy được chuyển qua bản dịch tiếng La-tinh, rồi lại từ đó chuyển qua bản Vulgate bằng tiếng La-tinh, là bản thông dụng ở Tây-âu cho tới thời kỳ Cải chánh. Các tín đồ Tin Lành căn cứ phong trào của mình trên thẩm quyền thiên thượng của Lời Đức Chúa Trời, lập tức bác bỏ những Ngụy kinh đó, không kể chúng là một phần của Lời Đức Chúa Trời, cũng như Hội Thánh đầu tiên và dân Hê-bơ-rơ thời xưa đã bác bỏ vậy. Rồi năm 1546 S.C., tại Giáo-nghị-hội nhóm ở Trente (nước Ý), cốt để chận đứng phong trào Cải chánh (Tin Lành), Giáo hội kia tuyên bố rằng những sách nầy thuộc trong Kinh điển; và ngày nay chúng còn ở trong bản Douay (Kinh Thánh của Giáo hội kia). Những Ngụy kinh nầy kể ra dưới đây:
I Esdras
Esdras là "E-xơ-ra" trong tiếng Hy-lạp. Sách nầy là bản sưu tập nhiều khúc sách E-xơ-ra, II Sử ký, Nê-hê-mi, và có thêm những truyện hoang đường về Xô-rô-ba-bên. Mục đích của nó là mô tả sự khoan hồng của Si-ru và Đa-ri-út đối với dân Do-thái, cốt để làm gương mẫu cho các Ptolémée (vua Hy-lạp cai trị Ai-cập).
II Esdras
Có khi gọi là "IV E-xơ-ra." Sách nầy ra vẻ chứa các sự hiện thấy của E-xơ-ra liên quan đến việc Đức Chúa Trời tể trị thế giới, một thời đại mới mẻ hầu đến, và sự "khôi phục" một vài phần Kinh Thánh đã thất lạc.
Tobit
Tiểu thuyết hoàn toàn không có giá trị lịch sử, mô tả một thanh niên giàu có làm phu tù ở Ni-ni-ve, và một thiên sứ đã dẫn chàng đi cưới một "trinh nữ quả phụ" đã chết 7 đời chồng.
Judith
Tiểu thuyết mô tả một quả phụ Do-thái giàu có, xinh đẹp và mộ đạo. Đương thời quân Ba-by-lôn xâm lăng nước Do-thái, nàng đã khéo léo đến trại của đại tướng Ba-by-lôn, giả bộ hiến thân cho hắn, rồi cắt đầu hắn, nhờ đó cứu được thành của nàng.
Sự yên nghỉ của Ê-xơ-tê
Những khúc xen vào sách Ê-xơ-tê trong bản Septante của Cựu Ước, cốt để tỏ ra có bàn tay Đức Chúa Trời trong truyện tích nầy. Những khúc sách nầy do Jérôme thâu thập và thêm vào.
Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn
Rất giống một vài phần của các sách Gióp, Châm Ngôn, và Truyền đạo. Đây là tư tưởng Hê-bơ-rơ hòa lẫn với triết lý Hy-lạp. Do một người Do-thái ở thành phố Alexandrie biên soạn; người nầy tự nhận là Sa-lô-môn.
Ecclesiasticus
Cũng gọi là: "Sự khôn ngoan của Giê-su, con trai của Si-rách." Giống như sách Châm Ngôn. Do cây viết của một triết gia Do-thái đã du lịch rất nhiều. Sách nầy nêu lên các qui tắc hành vi trong mọi chi tiết của đời sống công dân, tôn giáo và gia đình. Tán dương một số đông anh hùng Cựu Ước.
Ba-rúc
Sách nầy tự tỏ ra là do Ba-rúc, thơ ký của Giê-rê-mi, trứ tác. Theo sách nầy, thì Ba-rúc đã sống phần chót của đời mình ở Ba-by-lôn. Sách nầy gởi cho các phu tù. Phần nhiều là chú giải sách Giê-rê-mi, sách Đa-ni-ên và nhiều sách tiên tri khác.
Bài ca của ba con thánh
Đây là phần không chánh thức, thêm vào sách Đa-ni-ên, đặt sau đoạn DaDn 3:23, có ý chép lại lời ba bạn Hê-bơ-rơ cầu nguyện đang khi ở trong lò lửa hực và bài ca khải hoàn của họ ngợi khen Đức Chúa Trời đã giải cứu mình.
Tiểu sử của bà Su-dan-nơ
Một phần không chánh thức khác thêm vào sách Đa-ni-ên, thuật lại thể nào vợ tin kính của một người Do-thái ở Ba-by-lôn bị cáo gian phạm tội ngoại tình và được Đa-ni-ên minh oan cho.
Bên và con rồng
Một phần không chánh thức thêm vào sách Đa-ni-ên. Hai truyện tích trong đó Đa-ni-ên chứng tỏ rằng hình tượng của Bên và hình tượng con rồng chẳng phải là thần. Một trong hai truyện tích nầy dựa vào truyện tích Đa-ni-ên ở trong hang sư tử.
Lời cầu nguyện của Ma-na-se
Sách nầy có ý chép lại lời cầu nguyện của Ma-na-se, vua Giu-đa, khi ông bị giữ làm phu tù ở Ba-by-lôn, như có chép ở IISu 2Sb 33:12-13. Không biết tác giả là ai; niên hiệu có lẽ là thế kỷ thứ nhứt T.C..
I Macchabées
Một tác phẩm lịch sử rất có giá trị, chép về thời kỳ các Macchabées, thuật lại những biến cố trong cuộc chiến đấu anh dũng của dân Do-thái để giành tự do (175-135 T.C.). Do một người Do-thái ở xứ Pa-lét-tin viết vào khoảng 100 năm T.C..
II Macchabées
Đây cũng là bản tường thuật cuộc tranh đấu của phái Macchabées, nhưng thu hẹp vào khoảng 175-161 T.C.. Nó tự nhận là bản tóm tắt tác phẩm của một người tên là Gia-sôn, ở Sy-ren. Ta chẳng biết chút chi về người nầy. Nó bổ túc sách I Macchabées, nhưng kém về phẩm.

Giữa Cựu Ước Và Tân Ước (4)
Các Tác Phẩm Khác
Ngoài các Ngụy kinh giải luận ở mấy trang trước, còn có những tác phẩm Do-thái khác, biên trứ trong thời gian giữa thế kỷ thứ 2 T.C., và thế kỷ thứ 1 S.C. . Phần lớn có tánh chất như sách Khải Huyền, trong đó tác giả "đội tên một vị anh hùng đã chết từ lâu mà viết lại lịch sử dưới hình thức lời tiên tri." Những sách nầy phần lớn gồm các sự hiện thấy giả định là của nhiều nhân vật thượng cổ trong Kinh Thánh, và một vài sự hiện thấy trong số đó đầy tưởng tượng quái dị, cuồng loạn hơn hết. Phần lớn những sách nầy luận về Đấng Mê-si hầu đến. Nỗi thống khổ trong thời kỳ các Macchabées làm cho dân Do-thái càng nóng lòng trông đợi gần tới ngày Đấng Mê-si ngự đến. Một phần dựa vào các truyền thoại vô bằng, một phần dựa vào trí tưởng tượng. Một vài tác phẩm có tiếng nhứt là
Các sách của Hê-nóc
Đây là một loạt đoạn ngắn, do nhiều tác giả, mà ta không biết là ai, đã viết nhằm thế kỷ thứ 1 và thứ 2 T.C.. Gồm những sự khải thị mà người ta kể là Đức Chúa Trời đã ban cho Hê-nóc và Nô-ê
Những sách nầy luận về Đấng Mê-si hầu đến và Ngày Phán xét. Xem thêm ở dưới Giu Gd 1:14.
Môi-se lên trời
Do một người Pha-ri-si viết, vào khoảng Đấng Christ giáng sanh. Chứa những lời tiên tri kể là của Môi-se viết ra lúc gần qua đời và giao cho Giô-suê.
Ê-sai lên trời Thuật truyện hoang đường về Ê-sai tuận đạo, và một vài sự hiện thấy kể là của ông. Người ta tưởng sách nầy đã viết tại kinh thành La-mã, bởi một người Do-thái tin theo Đấng Christ, đương thời hoàng đế Néron bắt bớ người Do-thái.
Sách các năm Hân hỉ
Đây là bài bình luận sách Sáng thế ký. Có lẽ viết trong thời kỳ các Macchabées, hoặc sau đó ít lâu. Sách nầy đặt tên theo cách nó tính thời gian, căn cứ trên lệ định cứ 50 năm lại có 1 năm Hân hỉ.
Các Thi Thiên của Sa-lô-môn
Một loạt bài ca do một người Pha-ri-si vô danh trứ tác, luận về Đấng Mê-si hầu đến. Có lẽ đã viết sau thời kỳ các Macchabées ít lâu.
Di chúc của 12 Tộc trưởng
Một tác phẩm của thế kỷ thứ 2 T.C., giả định là lúc gần qua đời, 12 con trai của Gia-cốp đã truyền huấn thị cho con cháu mình. Mỗi tộc trưởng ấy thuật lại tiểu sử đời mình và các bài học đã rút được.
Các Sấm ngôn của Sybilline
Viết đương thời các Macchabées, và về sau có thêm vào; bắt chước các sấm ngôn của người Hy-lạp và người La-mã. Luận về sự suy sụp của các đế quốc chuyên ức hiếp, và sự dấy lên của thời đại Đấng Mê-si.
Bản Septante
Đây là bản dịch Cựu Ước từ tiếng Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp. Phiên dịch tại thành phố Alexandrie, là nơi có nhiều người Do-thái nói tiếng Hy-lạp. Theo truyền thoại, thì nhơn lời yêu cầu của Ptolémée Philadelphe (285-247 T.C.), 70 người Do-thái, là những nhà ngữ âm tài giỏi, đã được đưa từ Giê-ru-sa-lem qua Ai-cập. Trước hết, họ dịch Ngũ kinh của Môi-se. Rồi sau các sách còn lại của Cựu Ước đã được thêm vào bản dịch. Bản dịch nầy gọi là "Septante " (70), vì cớ 70 dịch giả được kể là đã bắt đầu làm công việc ấy. Một vài truyền thoại về việc nầy không có gì chắc chắn. Nhưng người ta thường đồng ý rằng sự phiên dịch đã bắt đầu dưới đời trị vì của Ptolémée Philadelphe, và được hoàn thành trong vòng 100 năm sau. Đương thời ấy, tiếng Hy-lạp là thế giới ngữ. Bản dịch nầy thông dụng đương thời Đấng Christ. Tân Ước viết bằng tiếng Hy-lạp. Nhiều câu Tân Ước trưng dẫn đã rút ở bản Septante.
Bản Văn Của Cựu-Ước
Người ta tin rằng các sách Cựu Ước nguyên thủy viết trên những tấm da. Hết thảy viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, trừ ra một vài khúc sách E-xơ-ra và sách Đa-ni-ên viết bằng tiếng Araméen. Người ta đã sao lại bằng tay. Tiếng Hê-bơ-rơ có những chữ vuông, viết từ bên phải qua bên trái, có chấm hoặc dấu nối liền với nhau bằng nhiều cách mà biến thành mẫu tự (voyelles ) (mãi đến thế kỷ thứ 6 S.C. mới có hệ thống mẫu tự). Dầu chép hết sức cẩn thận, vẫn dễ sanh ra nhiều cách viết khác nhau. Cho tới lúc dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày, các bản chánh thức vẫn được giữ trong Đền thờ. Sau đó, đã sao nhiều bản cho các nhà hội, và chắc chắn có nhiều cách viết khác nhau. Dường như trong một vài trường hợp, người biên chép đã chú giải ở ngoài lề, rồi người biên chép sau điền luôn lời chú giải vào trong chính bản văn. Nhưng một vài nhà học giả kim thời đã quá ư phóng đại sự điền chung đó. Cuộc phát minh máy in đã cất bỏ hiểm họa do các sự sai lầm trong bản văn; ngày nay, sau nhiều năm làm việc khó nhọc và cố gắng so sánh những bản thảo khác nhau, các nhà học giả đã đạt tới kết quả, là bây giờ chúng ta có một bản văn Hê-bơ-rơ gọi là bản "Massorétique. "
Tiếng Araméen
Đây là tiếng thông dụng tại xứ Pa-lét-tin đương thời Đức Chúa Jêsus. Đó là tiếng Sy-ri đời cổ, rất giống tiếng Hê-bơ-rơ. Sau khi dân Y-sơ-ra-ên từ cảnh lưu đày ở Ba-by-lôn trở về, tiếng nầy đã lần lần thay thế tiếng Hê-bơ-rơ, và dùng làm ngôn ngữ thông dụng của dân chúng.
Các Targums
Đây là những bản dịch các sách Cựu Ước từ tiếng Hê-bơ-rơ ra tiếng Araméen. Vì tiếng Araméen thông dụng khắp nơi, nên khi đọc Kinh Thánh ở nơi công cộng, cần phải giải nghĩa các danh từ Hê-bơ-rơ. Sau đó, những bản dịch miệng, những lời chú giải và những lời giải thích đã được chép thành sách.
Talmud
Đây là sách sưu tầm các truyền thoại của dân Do-thái và các lời giải thích Cựu Ước bằng miệng đã được viết ra nhằm thế kỷ thứ 2 S.C.; về sau có thêm phần bình luận các truyền thoại và lời giải thích đó.

Giữa Cựu Ước Và Tân Ước (5)
"Nhà hội lớn "
Đó là tên của Giáo-nghị-hội gồm 120 hội viên, và truyền rằng do Nê-hê-mi tổ chức chừng năm 410 S.C., dưới quyền chủ tọa của E-xơ-ra, cốt để khôi phục cuộc thờ phượng và đời sống tôn giáo của đoàn phu tù đã hồi hương. Theo truyền thoại, thì Giáo-hội-nghị nầy đã thực hiện phần lớn sự thâu thập, sắp đặt và khôi phục các sách thuộc Kinh điển Cựu Ước. Người ta cho rằng Giáo-nghị-hội nầy cứ tồn tại và cai trị những người Do-thái hồi hương cho tới khoảng năm 275 T.C., rồi nhường quyền cho tòa Công luận.
Tòa Công luận
Là cơ quan được thừa nhận cầm đầu dân Do-thái đương thời Đấng Christ. Người ta cho rằng nó có từ thế kỷ thứ 3 T.C.. Nó gồm 70 nhân viên, phần nhiều là thầy tế lễ và quí nhân thuộc phe Sa-đu-sê, vài người thuộc phe Pha-ri-si, vài thầy thông giáo, một số trưởng lão (của chi phái hoặc của gia tộc). Tòa Công luận do thầy tế lễ thượng phẩm chủ tọa, và tiêu mất khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, năm 70 S.C..
Các nhà hội
Các nhà hội mọc lên đương thời dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày. Đền thờ bị phá hủy, dân tộc bị tan lạc, nên cần phải có những nhà hội để dạy đạo và thờ phượng Đức Chúa Trời bất cứ nơi nào có đoàn thể người Do-thái. Sau khi hồi hương, các nhà hội vẫn tồn tại vừa ở quê hương, vừa ở các trung tâm Do-thái nơi nước ngoài. Hết thảy thị trấn lớn có một hoặc nhiều nhà hội. Đứng đầu nhà hội có một ủy ban trưởng lão, hoặc quan trưởng. Mỗi nhà hội có bản sao các sách Kinh Thánh, họ mở đọc thường xuyên và công khai. Các cuộc nhóm họp và nơi nhóm họp của tín đồ đầu tiên một phần rập theo mẫu các nhà hội.
Sự tan lạc
Đó là tên chỉ những người Do-thái sống ngoài xứ Pa-lét-tin và cứ giữ các tập tục tôn giáo giữa vòng dân ngoại. Rất nhiều người Do-thái nhứt định cứ ở các nước mình đã làm phu tù. Trong thời gian giữa Cựu Ước và Tân Ước, thì người Do-thái ở ngoài xứ Pa-lét-tin sanh sản đông hơn người Do-thái ở trong xứ Pa-lét-tin bội phần. Có những khu vực Do-thái đông đúc ở mỗi xứ và mỗi đô thị lớn của thế giới văn minh, như Ba-by-lôn, A-si-ri, Sy-ri, Phê-ni-xi, Tiểu-Á-tế-á, Hy-lạp, Ai-cập, Bắc phi và La-mã. Ba khu vực quan trọng của sự Tan lạc là Ba-by-lôn, Sy-ri và Ai-cập. Đương thời Đấng Christ, người Do-thái ở Ai-cập tính phỏng có tới 1 triệu. Người Do-thái cũng ở rất đông đúc tại Đa-mách và An-ti-ốt. Mỗi chỗ họ đều có nhà hội và Kinh Thánh. Vậy, do hóa cơ của Đức Chúa Trời, đang khi người Do-thái bị đem đi làm phu tù tại ngoại bang (vì Ngài hình phạt tội lỗi của họ), thì tình trạng lưu đày của họ đã trở thành ích lợi cho các dân tộc mà họ bị tan lạc tới đó. Họ có ảnh hưởng đến tư tưởng các dân tộc, và cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng các dân tộc ấy.
Phe Pha-ri-si
Người ta cho rằng phe Pha-ri-si phát sanh từ thế kỷ thứ 3 T.C., trước cuộc khởi nghĩa của đoàn thể Macchabées. Khi xứ Do-thái ở dưới quyền cai trị của Hy-lạp và người Hy-lạp cố gắng Hy-lạp hóa người Do-thái, thì giữa vòng người Do-thái có một khuynh hướng mạnh mẽ muốn tiếp nhận văn hóa Hy-lạp cùng những tập tục tôn giáo thờ hình tượng của họ. Sự dấy lên của phe Pha-ri-si là một phản ứng và phản kháng khuynh hướng nầy giữa vòng đồng bào Do-thái. Mục đích của họ là bảo tồn sự toàn vẹn quốc gia và sự tuyệt đối tuân theo luật pháp Môi-se. Vậy, phe Pha-ri-si phát sanh từ lòng ái quốc nồng nhiệt và mộ đạo, nhưng sau đã biến thành một phe chú trọng nghi thức, cậy công bình riêng và giả hình. Xem thêm ở dưới, Ma-thi-ơ đoạn 23.
Phe Sa-đu-sê
Người ta cho rằng phe Sa-đu-sê phát sanh độ cùng một lúc với với phe Pha-ri-si. Bị những nhận xét trần tục hướng dẫn, họ thuận theo tập tục Hy-lạp, và đứng chung cương vị với các người theo văn hóa Hy-lạp. Họ không dự phần cuộc khởi nghĩa của phái Macchabées để giành tự do cho dân tộc. Họ thuộc về đoàn thầy tế lễ, và dầu là phẩm chức tôn giáo của quốc gia, nhưng họ thẳng thắn và công nhiên vô tôn giáo. Họ không đông lắm, nhưng giàu và có thế lực. Dầu duy lý và có tinh thần thế gian, nhưng họ lại kiểm soát tòa Công luận rất chặt chẽ.
Các thầy thông giáo(1)
Các thầy thông giáo là người chép Kinh Thánh. Đây là một chức nghiệp có từ thời rất xưa, và rất quan trọng đương lúc chưa có máy in. Người ta cho rằng họ bắt đầu xuất hiện đương lúc dân bị lưu đày và hợp thành một đoàn thể có tổ chức chánh thức. Công việc của họ là kê cứu, giải thích và biên chép Kinh Thánh. Vì họ hiểu biết luật pháp tỉ mỉ, nên cũng được gọi là thầy dạy luật (luật sư), và được thừa nhận là người có thẩm quyền. Các quyết định của thầy thông giáo trở thành luật pháp truyền bằng miệng, tức là "lời truyền khẩu" (cựu tập). Đương thời các Macchabées, họ đông lắm và rất có thế lực trong vòng dân chúng.
Cuộc dự bị cho Đấng Christ
Cựu Ước là truyện tích về cách Đức Chúa Trời đối xử với dân tộc Hê-bơ-rơ vì mục đích dùng họ đem vào thế giới một Đấng Mê-si cho Muôn Dân. Cựu Ước ví như một bài chúc tụng Đấng Mê-si hầu đến. Bắt đầu bằng các nhạc điệu thấp, lẻ tẻ và không rõ ràng, nó theo thời gian mà lần lần lên cao, thành các nhạc điệu rõ ràng, mạnh mẽ, dồi dào, hân hoan của Đấng Mê-si gần ngự đến. Đồng thời, tùy theo hóa cơ của Ngài, Đức Chúa Trời cũng sắm sẵn các dân tộc. Hy-lạp hợp nhứt các nền văn minh Á, Âu, Phi, và đã đặt ra một thứ tiếng phổ thông khắp thế giới. La-mã gồm cả thế giới thành một đế quốc, và đắp đường lớn đi tới mọi địa hạt của đế quốc ấy. Dân Do-thái bị tản lạc giữa các nước, đem theo nhà hội, Kinh Thánh, tôn giáo, chủ nghĩa độc thần, đã làm cho bốn phương hiểu biết họ đang trông đợi một Đấng Mê-si. Như vậy, Đức Chúa Trời dọn đường cho cuộc rao truyền Tin Lành giữa các nước.

Ma-thi-ơ:
Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si
Ma-thi-ơ đặc biệt nhấn mạnh rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si mà các tiên tri Cựu Ước đã dự ngôn. Ông trưng dẫn Cựu Ước luôn luôn. Dường như tâm trí ông đặc biệt chăm chú vào các độc giả Do-thái. Mấy chữ "Nước Thiên đàng" thường dùng luôn, nên sách Tin Lành nầy hay được gọi là "Tin Lành của Nước." Dầu về đại cương, chớ không phải từng biến cố, sách nầy theo thứ tự niên đại tổng quát, song tài liệu lại sắp đặt theo đề mục. Sách nầy chép hoàn toàn đầy đủ các bài giảng của Đức Chúa Jêsus. Nhứt là Bài Giảng Trên Núi, bài giảng về sự tái lâm của Chúa và kỳ tận thế.
Ma-thi-ơ
Sách Tin Lành nầy không chỉ đích danh tác giả. Tuy nhiên, từ thời các Giáo phụ Hội Thánh đầu tiên, bắt đầu từ Papias (một môn đệ của sứ đồ Giăng) trở đi, người ta đã công nhận đây là tác phẩm của sứ đồ Ma-thi-ơ.
Chúng ta hầu như không biết gì về Ma-thi-ơ. Ông cũng có tên là Lê-vi. Tên ông có ghi trong 4 danh sách 12 Sứ đồ (Mat Mt 10:2; Mac Mc 3:18; LuLc 6:15; Cong Cv 1:13). Chỉ còn một lần nữa nói đến ông, tức là lúc Đức Chúa Jêsus kêu gọi ông theo Ngài (Mat Mt 9:9-13; Mac Mc 2:14-17; LuLc 5:27-32).
Ma-thi-ơ chỉ nói một lần về chính mình ông, ấy là ông là nghề "thâu thuế," một danh từ nhục nhã. Nghề nầy chuyên thâu thuế cho chánh quyền La-mã, thường bóp nặn của dân và bị khinh dể. Lu-ca cho chúng ta hay rằng Ma-thi-ơ dọn đại tiệc thết Đức Chúa Jêsus, rồi "bỏ hết mọi sự, đứng dậy, đi theo Ngài" (LuLc 5:28). Nhưng Ma-thi- ơ cũng chẳng vì đó mà tự nhận mình có ít nhiều giá trị. Ông hoàn toàn không thấy mình nữa trong khi thờ lạy Đấng Anh hùng của mình. Chúng ta quí mến Ma-thi-ơ vì ông có lòng khiêm nhường, tự xóa bỏ mình đi.
Chúng ta phải ngạc nhiên trước ân điển của Đức Chúa Trời đã lựa chọn một người như vậy làm tác giả quyển Tin Lành gọi là "Sách được đọc nhiều nhứt trên khắp thế giới."
Theo truyền thoại, thì Ma-thi-ơ giảng ở xứ Pa-lét-tin mấy năm, rồi đi ra ngoại quốc; ông đã viết sách Tin Lành trước hết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, rồi mấy năm sau, khoảng năm 60 S.C., mới ra một bản hoàn bị hơn bằng tiếng Hi-lạp. Không có chép lời giảng của ông. Nhưng ông trứ tác sách nầy, thì đã phục vụ loài người biết bao!
Ông làm nghề thâu thuế, nên quen biên chép. Ông là thiết hữu của Đức Chúa Jêsus trong vòng 2 năm, hoặc hơn nữa. Ngày nay nhiều người có giả thuyết rằng Ma-thi-ơ đã "cóp" sách Tin Lành của Mác. Giả thuyết nầy không có gì chứng minh, và "ngay trên mặt nó" đã là phi lý. Không có gì chắc chắn rằng Mác đã quen biết Đức Chúa Jêsus (xem ở dưới Mac Mc 1:1). Tại sao Ma-thi-ơ phải "cóp" của một người không mắt thấy, tai nghe những điều mà chính mắt ông đã thấy và tai ông đã nghe đi nghe lại nhiều lần?
Bốn Sách Tin-Lành
Về mọi phương diện, bốn sách Tin Lành là phần quan trọng nhứt của Kinh Thánh, -- quan trọng hơn mọi phần khác của Kinh Thánh hợp lại, quan trọng hơn tất cả sách vở của thế gian nầy hợp lại. Ấy vì chúng ta có thể không biết mọi sự khác, chớ không thể không biết Đấng Christ. Các sách Kinh Thánh ở trước 4 sách Tin Lành đã dự ngôn, còn các sách ở sau thì giải thích Vị Anh hùng của 4 sách Tin Lành.
Tại sao lại 4? Trước hết, ta nên biết có nhiều sách hơn là con số 4. Đương thời ấy có sự hoạt động lớn lao về văn chương; ấy là thời đại của César, Cicéron, Salluste, Virgile, Horace, Sénèque, Livie, Tacile, Plutarque, và Pline. Có thể nói đó là "thời đại Elizabeth "(1) của đế quốc La-mã. Trong vòng một thế hệ, truyện tích Đức Chúa Jêsus đã truyền khắp thế giới mà người ta được biết thời đó, và thâu được hàng muôn vạn người tận tụy theo Ngài. Lẽ tự nhiên, cần có rất nhiều sách vở trần thuật đời sống của Ngài. Chính Đức Chúa Trời đã dự phần soạn thảo và gìn giữ bốn sách Tin Lành nầy; và chúng tôi tin rằng Ngài đã làm cho chúng chứa đựng người điều Ngài muốn ta biết về Đấng Christ. Trong Cựu Ước có một vài bản trần thuật hai lần. Nhưng trong cả Kinh Thánh, chỉ phần nầy có bốn sách luận về một Đấng. Vậy, tỏ ra Đấng nầy hệ trọng tuyệt đối.
Các tác giả. -- Ma-thi-ơ vốn làm nghề thâu thuế. Lu-ca là thầy thuốc. Giăng làm nghề đánh cá. Không nói rõ Mác làm gì. Ma-thi-ơ và Giăng là đồng bạn của Đức Chúa Jêsus. Mác là đồng bạn của Phi-e-rơ. Sách Tin Lành của Mác chứa những điều ông đã nghe Phi-e-rơ thuật lại rất nhiều lần. Lu-ca là đồng bạn của Phao-lô. Sách Tin Lành của ông chứa những điều ông đã nghe Phao-lô kể từ đầu đến cuối đế quốc La-mã, và chính ông đã điều tra để minh xác. Phao-lô và Lu-ca cùng thuật một truyện tích. Hai ông đi khắp bốn phương, và thường đi cùng nhau. Giăng và Phi-e-rơ là hai đồng bạn thân thiết. Mác hợp tác với cả Phi-e-rơ và Phao-lô. Lu-ca và Mác cùng ở La-mã giữa năm 61 và 63 S.C, không xa lúc hai ông chép sách Tin Lành (CoCl 4:10-14).
Có lẽ các tác giả đã chép sách Tin Lành thành nhiều bản, hoặc một phần, hoặc trọn quyển, cho các chi hội hoặc cá nhân khác nhau. Có thể rằng hết thảy Sứ đồ và những bạn giúp việc họ từng hồi từng lúc, đã viết ra mọi điều họ rao giảng về Đức Chúa Jêsus cho các chi hội mà họ sáng lập hoặc thăm viếng. Nhưng bất cứ các tác phẩm ấy là gì, chắc phần nhiều đã tiêu mất trong những cuộc bắt bớ của đế quốc La-mã, nhằm ba thế kỷ đầu tiên, trừ ra các tác phẩm ta có trong Tân Ước mà do thiên cơ của Ngài, Đức Chúa Trời đã canh giữ và bảo vệ, kể đó là đủ truyền Lời Ngài cho mọi thế hệ trong tương lai.
Xem thêm ở dưới Mac Mc 1:1; LuLc 1:1; và GiGa 1:1-51.
Mat Mt 1:1-17 -- Gia hệ của Đức Chúa Jêsus
Gia hệ nầy cũng có chép ở LuLc 3:23-28. Sự ngự đến của Đấng Christ đã được dự liệu chẳng những từ cõi đời đời ở trên trời, song cũng từ lúc khởi thủy của lịch sử trên trái đất.
Trong đời thái cổ, Đức Chúa Trời đã chọn một gia tộc đặc biệt, tức là gia tộc Áp-ra-ham; về sau, Ngài lại chọn một gia tộc khác, thuộc trong dòng dõi Áp-ra-ham, tức là gia tộc Đa-vít, làm môi giới do đó Con Ngài sẽ ngự vào thế giới nầy. Quốc gia Hê-bơ-rơ đã được thành lập và được Đức Chúa Trời che chở trải qua các thời đại, để bảo tồn huyết thống của gia tộc ấy.
Gia hệ trong sách Ma-thi-ơ đã được rút ngắn, bỏ sót vài tên, nhưng chẳng vì đó mà huyết thống nầy thành vô giá trị. 42 thế hệ gồm 2000 năm. Chia ra làm ba phần, mỗi phần 14 thế hệ, có lẽ để cho dễ nhớ: Phần thứ nhứt gồm 1000 năm, phần thứ hai gồm 400 năm, phần thứ ba gồm 600 năm. 3 nhóm, mỗi nhóm có 14 người. 14 là 2 lần 7; 3 và 7 là hai con số thánh.
Tuy nhiên, nhóm thứ ba chỉ nêu tên 13 thế hệ; rõ ràng lắm, thế hệ thứ 14 định dành cho Ma-ri.
Gia hệ chép trong sách Lu-ca hơi khác. Ma-thi-ơ đi ngược lại tới Áp-ra-ham, còn Lu-ca đi ngược lại tới A-đam. Ma-thi-ơ từ trên xuống dưới -- "sanh;" còn Lu-ca đi từ dưới lên trên -- "con."
Từ Đa-vít trở đi, thì có hai huyết thống đặc biệt, riêng rẽ, chỉ hợp nhất trong Sa-la-thi-ên và Sô-rô-ba-bên.
Quan điểm được mọi người thừa nhận là Ma-thi-ơ trình bày tông tộc của Giô-sép, tỏ ra Đức Chúa Jêsus là Đấng thừa kế hợp pháp các lời hứa ban cho Áp-ra-ham và Đa-vít, còn Lu-ca trình bày tông tộc của Ma-ri, tỏ ra huyết thống của Đức Chúa Jêsus, "theo xác thịt thì bởi dòng dõi Đa-vít sanh ra." Theo phong tục Do-thái, thì gia hệ của Ma-ri ở trong tên chồng bà. Giô-sép là "con Hê-li" (LuLc 3:23, tức là "con rể" của Hê-li vậy. Hê-li là cha của Ma-ri, còn Gia-cốp là cha của Giô-sép.
Hai gia hệ nầy, dầu đối với chúng ta dường như khô khan, nhưng lại là "xương sống" của sử ký Cựu Ước. Hai gia hệ nầy được gìn giữ cẩn thận trải qua bao nhiêu thế kỷ đầy thăng trầm lịch sử, và chứa "một dòng dõi lưu truyền một lời hứa qua 4000 năm, -- là một thực sự vô song trong lịch sử."
So Sánh 4 Sách Tin-Lành Với Nhau
Bốn sách Tin Lành là bốn bản trần thuật song song về cùng Một Người, phần lớn kể lại những sự trạng giống nhau, song cũng có một vài điều khác nhau.
Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus. Ma-thi-ơ và Mác chuyên chú vào chức vụ của Ngài tại xứ Ga-li-lê. Lu-ca là người xứ Pê-rê (Pérée), còn Giăng là người xứ Giu-đê. Giăng bỏ qua phần lớn chức vụ của Chúa ở xứ Ga-li-lê, và ghi chép những cuộc Ngài thăm viếng Giê-ru-sa-lem mà mấy tác giả kia bỏ qua. Mấy tác giả kia bỏ qua chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê, trừ ra tuần lễ cuối cùng mà cả bốn ông kể lại khá đầy đủ. Tuần lễ cuối cùng chiếm 1/3 sách Ma-thi-ơ, 1/4 sách Lu-ca và 1/2 sách Giăng. Giăng dành 7 đoạn (gần 1/3 sách của ông) cho ngày Chúa bị đóng đinh vào Thập tự giá , từ lúc mặt trời lặn hôm trước cho tới lúc mặt trời lặn hôm sau.
Ma-thi-ơ có 28 đoạn. Mác có 16 đoạn. Lu-ca có 24 đoạn. Giăng có 21 đoạn. Lu-ca chiếm nhiều trang nhứt và là sách nhiều chữ nhứt. Mác là sách ngắn nhứt.
Quan Sát So Sánh 4 Sách Tin Lành
Giăng Báp-tít Mat Mt 3:1-12; Mac Mc 1:1-8; LuLc 3:1-20; GiGa 1:6-42
Sự cám dỗ Mat Mt 4:1-11; Mac Mc 1:12-13; LuLc 4:1-13
Thăm viếng xứ Sa-ma-ri GiGa 4:4-42
Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem GiGa 5:1-47
Tuần lễ cuối cùng Mat Mt 21:1-27:66 Mac Mc 11:1-15:47 LuLc 19:29-24:1; GiGa 12:1-19:42
Mat Mt 1:18-25 -- Sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus
Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus, mỗi ông kể những biến cố khác nhau. Xem ở dưới LuLc 1:5-8.
Mat Mt 1:18-24 -- Báo tin cho Giô-sép
Trong ba tháng đầu, sau khi sứ giả thiên thượng đến thăm, thì Ma-ri đi tới nhà Ê-li-sa-bét. Khi nàng trở về Na-xa-rét và Giô-sép biết tình trạng của nàng, thì ông chắc đã đầy "kinh ngạc, bối rối và đau đớn thấm thía." Nhưng ông là người hiền đức, nên sẵn lòng che chở Ma-ri khỏi tình trạng mà ông dự đoán, tức là sự sỉ nhục công khai, hoặc tệ hại hơn nữa. Bấy giờ thiên sứ hiện đến cùng ông mà giải thích. Tuy nhiên, ông vẫn phải giữ sự bí mật của gia đình đó để tránh khỏi lời gièm pha, bêu xấu, vì không một ai chịu tin truyện của Ma-ri. Về sau, khi thần tánh của Đức Chúa Jêsus đã được chứng minh bởi các phép lạ và sự sống lại từ trong kẻ chết, bấy giờ Ma-ri có thể tự do nói ra sự bí mật thiên thượng của mình và sự thai dựng siêu nhiên của Con Trẻ. Về lời chú giải sự giáng sanh do nữ đồng trinh, xin xem ở dưới LuLc 1:26-38.
Giô-sép
Các sách Tin Lành ít nói về Giô-sép. Ông cùng Ma-ri đi đến Bết-lê-hem, và ở cùng bà khi Đức Chúa Jêsus sanh ra (LuLc 2:4, 16). Ông ở với Ma-ri lúc dâng Đức Chúa Jêsus tại Đền thờ (LuLc 2:33). Ông dẫn Ma-ri và Đức Chúa Jêsus trốn qua Ai-cập, rồi trở về Na-xa-rét (Mat Mt 2:13, 19-23). Ông đưa Đức Chúa Jêsus lên Giê-ru-sa-lem năm Ngài 12 tuổi (LuLc 2:43, 51). Kinh Thánh chỉ còn nói thêm rằng ông làm nghề thợ mộc và là chủ một gia đình có rất ít là 7 con (Mat Mt 13:55, 56). Chắc ông là một người hiền đức, đáng làm gương mẫu, nên đã được Đức Chúa Trời chọn làm cha nuôi của Con Ngài. Người ta thường giả định rằng ông qua đời trước khi Đức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ công khai, mặc dầu lời lẽ ở Mat Mt 13:55 và GiGa 6:42 dường như ngụ ý rằng lúc đó ông còn sống. Dầu sao, ông chắc đã qua đời trước khi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây Thập tự; bằng không, chắc Ngài chẳng có lý do giao mẹ Ngài cho Giăng săn sóc (GiGa 19:26, 27).
Ma-ri
Sau truyện tích Đức Chúa Jêsus giáng sanh và sau khi Ngài thăm viếng Giê-ru-sa- lem lúc 12 tuổi, thì Kinh Thánh ít chép về Ma-ri. Theo cách thường giải thích sách Mat Mt 13:55-56, thì ngoài Đức Chúa Jêsus ra, bà còn sanh hạ rất ít là 6 con nữa. Theo lời đề nghị của bà, Đức Chúa Jêsus đã làm phép lạ thứ nhứt tại Ca-na, tức là biến nước thành rượu (GiGa 2:1-11). Về sau, Kinh Thánh chép rằng bà toan rẽ đám đông mà đến gần Ngài (Mat Mt 12:46; Mac Mc 3:31; LuLc 8:19). Trong trường hợp nầy, lời Đức Chúa Jêsus phán tỏ rõ rằng mối liên lạc gia đình của bà với Ngài chẳng ban cho bà một ưu thế thiêng liêng đặc biệt nào cả. Bà có mặt lúc Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên Thập tự giá, và Ngài đã phó thác bà cho Giăng phụng dưỡng (GiGa 19:25-27). Kinh Thánh không chép Đức Chúa Jêsus hiện ra với bà sau khi Ngài sống lại, mặc dầu Ngài thật đã hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len. Kinh Thánh chép lần chót về bà Ma-ri ở sách Cong Cv 1:14, lúc bà hiệp với các môn đồ mà cầu nguyện. Đó là mọi điều Kinh Thánh đã nói về bà Ma-ri. Nói về các bậc phụ nữ có mặt trong đời sống công khai của Đức Chúa Jêsus, thì Ma-ri Ma-đơ-len dường như đã đóng vai quan trọng bội phần hơn mẹ của Đức Chúa Jêsus (Mat Mt 27:56, 61; 28:1; Mac Mc 15:40, 47; 16:9; LuLc 8:2, 24:10; GiGa 19:25; 20:1-18). Xem chú giải ở dưới LuLc 8:1-3.
Ma-ri là một bậc phụ nữ trầm tĩnh, hay suy gẫm, sùng đạo, khôn ngoan, được tôn trọng hơn hết; bà là nữ hoàng của các người mẹ, và đã chịu những nỗi lo âu thông thường của kẻ làm mẹ. Chúng ta ngưỡng mộ, tôn trọng bà, và kính mến bà vì bà đã sanh ra Cứu Chúa của chúng ta. Nhưng chúng ta không cầu nguyện bà. Chúng tôi nghĩ rằng người ta thường không tán thành việc Giáo hội Công giáo tôn bà Ma-ri làm thần, nên giới tín đồ không phải Công giáo chẳng tỏ lòng tôn trọng bà một cách thích đáng. Chúng tôi ngờ rằng chính bà Ma-ri ở Thiên đàng, dầu tự hào đời đời vì đã được làm mẹ của Cứu Chúa, song cũng không khỏi sững sốt, buồn rầu vì người ta đã tạc hình tượng bà lên mà thờ lạy.
Ai là "anh em" và "chị em" của Đức Chúa Jêsus, đã ghi chép ở Mat Mt 13:55-56 và Mac Mc 6:3? Có phải là con cái do Ma-ri sanh ra chăng? Hay là con cái đời vợ trước của Giô-sép? Hay là anh chị em họ? Ý nghĩa rõ ràng, đơn sơ và tự nhiên của những khúc sách nầy là họ chính là con cái do Ma-ri sanh ra. Đó là ý kiến thông thường của các nhà bình luận Kinh Thánh trong Hội Thánh Tin Lành. Vả, ý kiến nầy được chứng minh bởi lời chép ở LuLc 2:7 rằng Ma-ri "sanh con Trai ĐẦU LÒNG." Tại sao lại gọi là đầu lòng, nếu chẳng có con cái nào khác?
Chúng tôi ngờ rằng nếu không phải muốn tôn sự độc thân làm một hình thức sanh hoạt thánh khiết hơn, thì người ta đã chẳng gán cho những khúc sách nầy một ý nghĩa khác. Giáo lý về Ma-ri "đồng trinh trọn đời" (nghĩa là bà cứ ở đồng trinh mãi, và không sanh con cái nào khác) đã xuất hiện lần đầu tiên nhằm thế kỷ thứ hai, trong những ngụ ngôn và tưởng tượng của các sách vở liên quan đến những ý niệm giáo lý rằng ở độc thân thì thánh khiết hơn. Sau đó người ta lại đặt truyện "thân thể không tì vít và quí báu của bà" được biến hóa mà cất lên trời. Sự thờ phượng "Nữ đồng trinh thánh" càng ngày càng thêm, cho đến năm 1854, thì Giáo hoàng Pie IX thi hành đặc quyền cho phép Giáo hoàng tạo ra những thực sự lịch sử, bèn ra sắc lịnh tuyên bố Ma-ri "được hoài thai tinh khiết" (nghĩa là bà vô tội, sanh ra và được giữ gìn "khỏi mọi tì tích của nguyên tội").
Về sự "đồng trinh trọn đời" của Ma-ri, thì ta sẽ nói chi về Mat Mt 1:25? Lời chép rằng Giô-sép "không hề ăn ở với bà cho đến khi người sanh một trai," há chẳng gồm ý rõ ràng, không sao lầm lẫn được, rằng ông thật đã "ăn ở với" bà, như chồng và vợ, sau khi Đức Chúa Jêsus sanh ra, sao? Lại nữa, câu: "Chưa ăn ở cùng nhau" (Mat Mt 1:18) há chẳng gồm ý rằng về sau họ thật có "ăn ở cùng nhau," sao? Hơn nữa, phải chăng có lý rằng Giô-sép và Ma-ri chỉ giả làm vợ chồng, và thật ra cuộc hôn nhân bề ngoài của họ chỉ là công khai giả mạo? Họ cố che giấu sự đồng trinh ở dưới đời sống gia đình chăng? Ta có thể nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã dự phần vào sự dối gạt và giả hình dường ấy, chăng? Hơn nữa, sự đồng trinh có phải là thánh khiết hơn địa vị làm mẹ chăng?
Còn thuyết "anh em họ" và "anh em nuôi," chỉ là phỏng đoán, không căn cứ trên ngữ học hoặc Kinh Thánh chi hết. Thuyết nầy chỉ đặt ra để binh vực giáo lý Ma-ri "đồng trinh trọn đời," và dùng giáo lý nầy làm bối cảnh mà tôn giới thầy cả tự nhận là độc thân lên trên thường nhân.
2:1-2 -- Các bác sĩ tới thăm
Việc nầy chắc đã xảy ra giữa khoảng Đức Chúa Jêsus được 40 ngày và lên 2 tuổi (Mat Mt 2:16; LuLc 2:23, 39). Hai tuổi nầy dường như chỉ tỏ lúc ngôi sao hiện ra lần đầu tiên (câu 7) để thúc đẩy họ lên đường trong một hành trình kéo dài mấy tháng, chớ không phải là định đúng lúc hài nhi sanh ra. Nhưng Hê-rốt muốn chắc chắn, nên đã lấy thời hạn xa nhứt. Ít ra Hài nhi cũng không còn ở trong máng cỏ nữa, như các hình vẽ thường mô tả, nhưng Ngài đã ở trong "nhà" (câu 11). Xem ở LuLc 2:6-7.
Ba bác sĩ nầy đến từ Ba-by-lôn, hoặc từ xứ xa hơn, là nơi phát tích của loài người, tức là quê hương của Áp-ra-ham, nơi dân Do-thái bị lưu đày và nhiều người Do-thái còn cư ngụ. Ba bác sĩ nầy thuộc về hạng tri thức, và là cố vấn của vua chúa. Có lẽ họ biết Kinh Thánh của dân Do-thái và biết rằng dân ấy trông đợi một Đấng Mê-si ngự đến làm Vua. Ba-by-lôn là nơi Đa-ni-ên đã ở, và chắc họ có biết lời tiên tri của ông về 70 tuần lễ, cùng lời tiên tri của Ba-la-am về "một Ngôi Sao hiện ra từ Gia-cốp" (Dan Ds 24:17). Họ là những người có địa vị cao, vì được phép vào triều kiến Hê-rốt. Người ta thường nói là có "ba bác sĩ," những Kinh Thánh không nói rõ là có bao nhiêu. Có lẽ có nhiều hơn, hoặc ít ra họ cũng có bọn tùy tòng tới vài trăm người, vì một nhóm ít ỏi du hành hàng ngàn dặm qua những đồng vắng hoang vu, giặc cướp nhan nhản, thì không được an ninh. Họ tới Giê-ru-sa-lem, tỏ ra có việc quan trọng, đủ làm cho cả thành xôn xao.
Sự thăm viếng của ba bác sĩ nhằm mục đích tượng trưng sự sùng kính của giới trí thức và của những xứ xa đối với VUA mới sanh ra, cùng kêu gọi dân Giê-ru-sa-lem chú ý rằng Ngài đã ngự đến. Nhưng cũng còn nhằm một mục đích nữa mà chính các bác sĩ không biết, ấy là cung cấp tiền bạc cho Hài nhi trốn qua Ai-cập. Cha mẹ vốn nghèo, và nếu chẳng nhờ số vàng của các bác sĩ dâng cho, thì gia đình Chúa không thể nào trốn thoát tay Hê-rốt.
Ngôi sao
Người ta tính rằng Mộc tinh (Jupiter ) và Thổ tinh (Saturne ) đã giao hội năm 6 T.C.. Nhưng điều nầy hầu như không thể cắt nghĩa tại sao "ngôi sao đi trước mặt họ cho đến chừng ngay trên chỗ Con Trẻ ở mới dừng lại" (câu 9). Có người tưởng có lẽ là một "tân tinh" (nova ), tức là một ngôi sao nổ ra và cháy sáng trong một thời gian. Các nhà thiên văn cho chúng ta hay rằng trên Ngân hà, hằng năm có chừng 30 ngôi sao nổ ra như vậy, sáng rực gấp hơn 10.000 lần khi trước, rồi lại trở về mực sáng thường. Nhưng hiện tượng ấy làm thế nào tương ứng với trường hợp này được?
Chắc ngôi sao mà các bác sĩ thấy là một hiện tượng rõ rệt, một ánh sáng siêu nhiên do sự khải thị trực tiếp của Đức Chúa Trời mà đi trước mặt họ và chỉ vào đúng chỗ. Đó là sự báo cáo siêu nhiên về một sự giáng sanh siêu nhiên. Các bác sĩ là những nhà thiên văn và chiêm tinh. Đức Chúa Trời dùng cái gì ở trong phạm vi tư tưởng của họ để dẫn đưa họ đến Đấng họ đang tìm kiếm. Có lẽ khi họ trở về xứ sở và thuật lại điều mình được thấy, thì đã dọn đường để mấy chục năm sau, các Sứ đồ đến rao giảng Tin Lành, vì một vài vị đã đi tới Ba-by-lôn.
Mat Mt 2:13-15 -- Trốn qua Ai-cập
Ngay đến biến cố nầy cũng không tránh khỏi con mắt sáng suốt, không hề lầm lẫn của Đức Chúa Trời trong hàng dài những lời tiên tri về Đấng Mê-si (câu 15, OsHs 11:1). Vị thiên sứ (câu 13) truyền lịnh cho họ trốn qua Ai-cập có lẽ là Gáp-ri-ên mà Đức Chúa Trời đã giao cho nhiệm vụ chăm nom Hài nhi (xem ở dưới LuLc 2:8-20).
Họ ở Ai-cập không lâu, có lẽ chỉ 1 hoặc 2 năm thôi, vì chẳng bao lâu Hê-rốt đã chết, và họ có thể trở về bình an vô sự. Xem niên biểu thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus ở dưới 2:39.
Không chỉ rõ tại Ai-cập, Giô-sép, Ma-ri và Hài nhi đã ở nơi nào. Theo truyền khẩu, thì gia đình Giô-sép ngụ tại thành Ôn, cũng gọi là Héliopolis. Đây cũng là nơi mà một Giô-sép khác đã cai trị nước Ai-cập từ bao nhiêu thế kỷ trước (SaSt 41:45). Một tiêm bi dựng từ thời Áp-ra-ham, vẫn còn đó và đánh dấu vùng di tích.
Mat Mt 2:16-18 -- Tàn sát con trẻ
Khá kỳ lạ thay! Một người tin rằng Đấng Christ ngự đến (câu 4) mà lại có thể tự kiêu và ngu dại đến nỗi tưởng ngăn trở được sự ngự đến của Ngài!
Hê rốt
Nhà Hê-rốt là một triều vua gốc ở xứ Ê-đôm, dưới quyền đô hộ của người La-mã, họ đã được cai trị xứ Giu-đê trước khi Đấng Christ xuất hiện ít lâu. Hê-rốt đại vương (37-3 T.C.) đã đoạt được và giữ lấy ngôi bởi những hành động tàn bạo khôn tả xiết, thậm chí ông đã giết cả vợ và hai con trai. Ông là người hung ác, quỉ quyệt và vô tình. Chính ông đã giết những con trẻ ở Bết-lê-hem vì toan hạ sát Đấng Christ.
Chừng 33 năm sau, con trai ông, là Hê-rốt Antipas, giết Giăng Báp-tít (Mac Mc 6:14-29), và chế nhạo Đấng Christ (LuLc 23:7-12).
14 năm sau nữa, cháu nội ông, là Hê-rốt c-ríp-ba I giết Sứ đồ Gia-cơ (Cong Cv 12:1-12).
16 năm nữa, chắt nội ông, là vua Hê-rốt c-ríp-ba II, đã xét xử Phao-lô (25:13-26:32).
Mat Mt 2:19-21 -- Từ Ai-cập hồi hương
Việc nầy cũng do một thiên sứ truyền bảo. Do câu 22, dường như Giô-sép định trở về Bết-lê-hem. Có lẽ ông toan định như vậy vì muốn chọn Bết-lê-hem, quê hương của tổ phụ Đa-vít, làm nơi cư trú vĩnh viễn và nơi thích hợp để dưỡng dục Đấng Mê-si còn thơ ấu. Nhưng Đức Chúa Trời có kế hoạch khác, nên đã bảo họ trở về xứ Ga-li-lê.
Các Danh hiệu của Đức Chúa Jêsus
Cựu Ước đã dự ngôn sự ngự đến của một Vua oai hùng, lạ lùng, thuộc trong gia tộc Đa-vít, và Ngài sẽ cai trị cùng ban phước cho cả thế giới. Lâu lắm trước khi xuất hiện, Vua ấy đã được đặt tên là "Đấng Mê-si " (tiếng Hê-bơ-rơ), hoặc "Đấng CHRIST " (tiếng Hi-lạp). Hai chữ nầy cùng có nghĩa là: "Chịu xức dầu." Vậy, Ngài là Đấng mà Đức Chúa Trời xức dầu cho để làm giữa thế giới công việc mà các tiên tri đã nói đến. "JÊSUS" là Danh hiệu riêng của Ngài, còn "Đấng Mê-si" hoặc "Đấng Christ" là Danh hiệu tỏ ra chức vụ mà Ngài đã ngự đến để gánh vác.
2:22-23 -- Trở về Na-xa-rét
Ma-thi-ơ không chép rằng Na-xa-rét vốn là nơi cư ngụ của Giô-sép và Ma-ri. Chúng ta nhờ Lu-ca mới biết điều đó.
Điều mà Ma-thi-ơ đặc biệt nêu lên, ấy là sự trở về Na-xa-rét đã làm ứng nghiệm một lời tiên tri.
Lời tiên tri mà Ma-thi-ơ trưng dẫn ở đây thì người ta cho là EsIs 11:1, tại đó Đấng Mê-si được gọi là "Nhánh," (cũng xem Gie Gr 23:5 và XaDr 3:8). Trong tiếng Hê-bơ-rơ, chữ "Nhánh" gần giống như chữ "Na-xa-rét." Đây là một lời song quan (jeu de mots ). Đức Chúa Jêsus "là người Na-xa-rét" theo hai ý nghĩa.
Vì Ma-thi-ơ hay trưng dẫn Cựu Ước, tỏ ra ông có khuynh hướng "ráp" các biến cố và đặc điểm của đời sống Đấng Christ vào các lời tiên tri, nên đây là chỗ rất tốt cho chúng ta liệt kê những lời tiên tri Cựu Ước được trưng dẫn trong 4 sách Tin Lành , nhứt là trong sách Tin Lành Ma-thi-ơ, có liên quan đến Đấng Christ. Phần nhiều lời tiên tri ấy hoàn toàn rõ ràng chỉ về Đấng Mê-si. Có một vài lời tiên tri mà chúng ta không thể giải thích như vậy, trừ ra nó đã được các tác giả (do Chúa soi dẫn) trưng dẫn theo ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên, đối với chúng ta, thì ta hoàn toàn hài lòng về cách Tân Ước giải thích các đoạn Cựu Ước. Ấy vì lời giải thích Tân Ước đã ghi ý nghĩa Đức Chúa Trời đã định dành cho các đoạn Cựu Ước.
Những Lời Tiên Tri Cựu Ước Về Đấng CHRIST đượcTrưng Dẫn Trong Bốn Sách Tin Lành
Rằng Ngài sẽ thuộc về gia tộc Đa-vít (Mat Mt 22:24; Mac Mc 12:36; LuLc 1:69, 70 20:42-44; GiGa 7:42; IISa 2Sm 7:12-16; Thi Tv 89:3, 4 110:1; 132:11; EsIs 9:6-7; 11:1).
Rằng Ngài sẽ sanh ra bởi nữ đồng trinh (Mat Mt 1:23; EsIs 7:14).
Rằng Ngài sẽ sanh tại Bết-lê-hem (Mat Mt 2:6; GiGa 7:42; MiMk 5:2).
Rằng Ngài sẽ kiều ngụ tại Ai-cập (Mat Mt 2:15; OsHs 11:1).
Rằng Ngài sẽ ở xứ Ga-li-lê (Mat Mt 4:15; EsIs 9:1-2).
Rằng Ngài sẽ ở thành Na-xa-rét (Mat Mt 2:23; EsIs 11:1).
Rằng sự ngự đến của Ngài sẽ được báo cáo bởi một sứ giả giống như Ê-li (Mat Mt 3:3; 11:10-14; Mac Mc 1:2-3; LuLc 3:4-6; 7:27; GiGa 1:23; EsIs 40:3-5; MaMl 3:1; 4:5;).
Rằng sự ngự đến của Ngài sẽ gây cho con trẻ thành Bết-lê-hem bị tàn sát (Mat Mt 2:18; SaSt 35:19-20; 48:7; Gie Gr 31:15).
Rằng Ngài sẽ rao một năm hân hỉ cho thế giới (LuLc 4:18-19; EsIs 58:6; 61:1;).
Rằng Ngài sẽ thi hành sứ mạng đối với các dân ngoại (Mat Mt 12:18-21; EsIs 42:1-4).
Rằng Ngài sẽ thi hành chức vụ chữa bịnh (Mat Mt 8:17; EsIs 53:4).
Rằng Ngài sẽ dạy dỗ bằng thí dụ (Mat Mt 13:14, 15, 35; EsIs 6:9-10; Thi Tv 78:2).
Rằng những kẻ cầm quyền không tin Ngài, ghen ghét và chối bỏ Ngài (Mat Mt 15:8, 9; 21:42; Mac Mc 7:6, 7; 12:10, 11; LuLc 20:17; GiGa 12:38, 40; 15:25; Thi Tv 69:4; 118:22; EsIs 6:10; 29:13; 53:1)
Rằng Ngài sẽ ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (Mat Mt 21:5; GiGa 12:13-15; EsIs 62:11; XaDr 9:9; Thi Tv 118:26).
Rằng Ngài sẽ như một Người Chăn Chiên bị đánh (Mat Mt 26:31; Mac Mc 14:27; XaDr 13:7).
Rằng Ngài sẽ bị một người bạn phản nộp vì 30 miếng bạc (Mat Mt 27:9, 10; GiGa 13:18; 17:12; XaDr 11:12, 13; Thi Tv 41:9).
Rằng Ngài sẽ chết chung với bọn ác nhân (LuLc 22:37; EsIs 53:9, 12).
Rằng Ngài sẽ được người giàu an táng (EsIs 53:9; Mat Mt 27:57-60). Lời tiên tri nầy không được trưng dẫn trong các sách Tin Lành.
Rằng người ta sẽ cho Ngài uống dấm và mật đắng (Mat Mt 27:34; GiGa 19:29; Thi Tv 69:21).
Rằng chúng sẽ bắt thăm chia áo xống Ngài (GiGa 19:24; Thi Tv 22:18).
Cả lời Ngài phán khi hấp hối cũng được dự ngôn (Mat Mt 27:46; Mac Mc 15:34; LuLc 23:46; Thi Tv 22:1; 31:5).
Rằng không một cái xương nào của Ngài sẽ bị gãy (GiGa 19:36; XuXh 12:46; Dan Ds 9:12; Thi Tv 34:20).
Rằng hông Ngài sẽ bị đâm lủng (GiGa 19:37; XaDr 12:10; Thi Tv 22:16).
Rằng Ngài sẽ sống lại nhằm ngày thứ ba (Mat Mt 12:40; LuLc 24:46). Không trưng dẫn một câu đặc biệt nào về vấn đề nầy. Sách Cong Cv 2:25-32 và 13:33-35 trưng dẫn Thi Tv 16:10-11 để chứng minh sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết. Đức Chúa Jêsus phán rằng có lời chép Ngài sẽ sống lại "ngày thứ ba" (LuLc 24:46). Chắc Ngài đã nhớ đến mấy câu Kinh Thánh nầy: OsHs 6:2 và Gion Gn 1:17. Có lẽ Ngài cũng thấy cảnh tượng Y-sác được thoát khỏi sự chết nhằm ngày thứ ba (SaSt 22:4). Mười Điều răn cũng được ban bố ngày thứ ba (XuXh 19:16).
Rằng theo sau sự chối bỏ Ngài, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hủy phá và có cơn Đại nạn (Mat Mt 24:15; Mac Mc 13:14; LuLc 21:20; DaDn 9:27; 11:31; 12:1, 11).
Chính Đức Chúa Jêsus nhìn nhận rằng sự chết của Ngài sẽ làm ứng nghiệm Kinh Thánh (Mat Mt 26:54, 56).
Đây, một sự kiện lạ lùng: Cả truyện tích về đời sống của Đức Chúa Jêsus, nào các đặc điểm chính, nào các biến cố, nào các việc ngẫu nhiên kèm theo, thậm chí phần nhiều chi tiết nhỏ nhặt nhứt, đều đã được dự ngôn rõ ràng trong Cựu Ước! Đó há chẳng phải chứng cớ hiển nhiên rằng có một TÂM TRÍ thực tại và hoạt động, vượt quá tâm trí loài người, đến nỗi làm cho chúng ta phải kinh sợ, ngạc nhiên và hạ mình xuống, sao?
3:1-12 -- Sự giảng dạy của Giăng Báp-tít
Xem thêm ở LuLc 3:1-12. Ma-thi-ơ đi từ sự dời khỏi Ai-cập mà hồi hương thẳng đến sự giảng dạy của Giăng Báp-tít, bỏ qua một thời gian gần 30 năm.
Mat Mt 3:13-17 -- Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm
Việc nầy cũng có chép ở 1:9-11 và LuLc 3:21-22. Trong cả ba đoạn tường thuật và ở GiGa 1:31-33, có những đặc điểm, là Đức Thánh Linh giáng xuống và tiếng phán từ trên trời. Theo 1:31-33, thì dường như Giăng báp-tít không biết Ngài. Nhưng Mat Mt 3:14 gồm ý rằng ông thật có biết Ngài. Chắc hẳn lúc còn thiếu niên, Đức Chúa Jêsus và Giăng Báp-tít đã quen biết nhau, vì hai gia đình có bà con (LuLc 1:36), và hai bà mẹ đã ở cùng nhau 3 tháng ngay trước khi Đức Chúa Jêsus và Giăng Báp-tít sanh ra (LuLc 1:39, 56). Dường như chắc chắn rằng hai Thiếu niên đã được cha mẹ nói cho biết lời thiên sứ báo cáo liên quan đến sứ mạng của mình. Nhưng từ lúc Giăng Báp-tít rút lui để làm một người khổ tu trong đồng vắng (LuLc 1:80), thì có lẽ ông không còn thấy Đức Chúa Jêsus cho đến ngày Ngài chịu lễ báp-têm. Lẽ tự nhiên, ông không nhận biết Người mà mình đã thấy lúc còn thiếu niên, cho đến khi Đức Chúa Trời chỉ Ngài ra. Bấy giờ, do chính thiên đàng xác nhận, Đức Chúa Jêsus được công khai xức dầu với tư cách Con Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si của nước Do-thái và Cứu Chúa của thế gian.
Nơi Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm
Nơi Đức Chúa Trời đã lựa chọn để giới thiệu Đấng Mê-si với dân tộc Do-thái chính là hạ lưu sông Giô-đanh, tại chỗ hoặc gần chỗ nước rẽ ra cho Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đi qua để vào xứ Ca-na-an. Giăng Báp-tít đã ở đây và bắt đầu công việc khơi lòng trông đợi của nhân dân. Chẳng bao lâu, mọi mắt chuyên chú vào ông và ai nấy tự hỏi chính ông có phải là Đấng Mê-si chăng? Bấy giờ dựa vào một sự phát hiện từ Thiên đàng, ông bèn tuyên bố Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si. Chẳng bao lâu, tại chính miền nầy, phần đầu chức vụ của Đức Chúa Jêsus đã tiếp theo chức vụ của Giăng Báp-tít. Cũng tại đây, Đức Chúa Jêsus đã thi hành phần chót của chức vụ. Biết bao kỷ niệm sâu xa dồn lại ở đây! Ngay phía Đông, ở bìa thung lũng Giô-đanh, có những ngọn núi Nê-bô cao ngất, tại đó Môi-se được xem thấy Đất Hứa, và cũng tại đó, Đức Chúa Trời đã an táng ông. Cũng tại đó, khoảng giữa sông Giô-đanh và núi Nê-bô, các xe thiên thượng đã chở Ê-li đi họp mặt với Môi-se trong nơi vinh hiển. Cách 5 dặm về phía Tây, ở bìa thung lũng, là thành Giê-ri-cô mà chiến lũy đã đổ xuống khi tiếng kèn của Giô-suê vang dậy. Ngay trên Giê-ri-cô, chỗ khe Kê-rít chảy mau, các chim quạ đã nuôi sống Ê-li. Xa hơn chút nữa, trên chót dãy núi, là Bê-tên, tại đó, Áp-ra-ham đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và cũng tại đó, Gia-cốp đã thấy cái thang thiên thượng có các thiên sứ lên, xuống (Đức Chúa Jêsus đã nhắc đến truyện nầy khi trò chuyện với Na-tha-na-ên, ngay sau khi bị ma quỉ cám dỗ ở vùng lân cận ấy). Gần đó, về phía Nam, cũng trên dãy núi ấy, là Giê-ru-sa-lem, Thành Thánh, thành của Mên-chi-xê-đéc và Đa-vít, thủ đô của Đức Chúa Trời trong khi Ngài cố gắng cứu chuộc loài người. Ở phía Nam, bên kia Biển Chết, là đồng bằng, tại đó có di tích của Sô-đôm và Gô-mô-rơ.
Bản đồ số 45
Mat Mt 4:1-10 -- 40 Ngày cám dỗ
Việc nầy cũng được chép ở LuLc 4:1-13 và chép rất vắn tắt ở Mac Mc 1:12-13. Đức Thánh Linh, Sa-tan (xem lời chú giải ở dưới LuLc 4:1-13) và thiên sứ (xem lời chú giải ở dưới Mat Mt 4:11) đã dự phần trong sự Đức Chúa Jêsus bị cám dỗ. Đức Thánh Linh dắt dẫn Ngài và thiên sứ giúp đỡ Ngài đang khi Sa-tan nhiều lần toan kéo Ngài khỏi sứ mạng cứu chuộc loài người. Cả vũ trụ chú ý. Số phận của muôn loài thọ tạo sẽ được định đoạt. Nếu Đức Chúa Jêsus chịu nổi sự thử thách đầu tiên, thì đó là điềm Ngài sẽ thắng trận cuối cùng.
Chúng ta tự hỏi tại sao Đức Chúa Jêsus bị cám dỗ ngay sau khi chịu lễ báp-têm? Sự Đức Thánh Linh giáng xuống trên Ngài lúc đó có thể gồm hai điều mới mẻ trong sự từng trải của Đức Chúa Jêsus với tư cách một Người: Một là quyền năng để làm phép lạ không hạn chế; hai là hoàn toàn khôi phục sự tri thức mà Ngài có từ trước khi thành nhục thể.
Trong cõi đời đời, Đức Chúa Jêsus đã biết rằng Ngài đến thế gian để làm Chiên Con của Đức Chúa Trời, chịu đau thương vì tội lỗi loài người. Nhưng Ngài ngự đến như một Hài nhi. Phải chăng chúng ta sẽ giả định rằng khi còn là Hài nhi, Đức Chúa Jêsus cũng biết mọi điều mà Ngài đã biết trước khi chưa chịu lấy những sự hạn chế của thân thể loài người? Há chẳng tự nhiên hơn mà suy nghĩ rằng sự hiểu biết của Ngài trước khi thành nhục thể đã lần lần đến cùng Ngài theo mức Ngài lớn lên và được giáo dục như loài người? Lẽ tự nhiên, mẹ Ngài đã thuật cho Ngài biết trường hợp Ngài sanh ra. Ngài biết mình là Con Đức Chúa Trời và là Đấng Mê-si. Chắc hẳn Ngài và mẹ Ngài thường trò chuyện về kế hoạch và phương thức do đó Ngài sẽ làm công việc với tư cách Đấng Mê-si của thế giới. Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên Ngài "không chừng mực" (GiGa 3:34) lúc Ngài chịu lễ báp-têm, thì lần thứ nhứt theo tư cách một Người, Ngài được biết đầy đủ, rõ ràng một vài điều mà Ngài đã biết trước khi thành Người. Trong số những điều ấy, có Thập Tự Giá, là con đường do đó Ngài làm trọn sứ mạng. Thập tự giá làm cho Ngài kinh ngạc, khiến Ngài không muốn ăn nữa, đưa Ngài đi xa những chỗ đông người; và suốt 40 ngày, Ngài ngạc nhiên trước Thập tự giá.
Tánh chất sự cám dỗ mà Ngài đã chịu là gì? Có lẽ nó gồm những sự cám dỗ thông thường của loài người khi họ tranh đấu lấy bánh ăn, và ham muốn danh tiếng, quyền thế. Nhưng còn hơn nữa. Đức Chúa Jêsus cao cả quá, đến nỗi ta không thể nghĩ rằng những cớ tích dường ấy có thể được Ngài coi trọng. Do các tiền tích và bối cảnh của Ngài, chúng ta phải tin rằng Ngài đã tự tạo một ước vọng thiết tha cứu chuộc thế giới. Ngài biết đó là sứ mạng của Ngài. Vấn đề nêu lên là: Làm trọn sứ mạng ấy thể nào? Bởi dùng quyền phép lạ lùng vừa mới ban cho mình -- quyền phép mà không một người nào trước kia từng biết, -- để ban bánh ăn cho loài người mà không cần họ phải làm việc, và để thắng những sức mạnh thông thường của cõi thiên nhiên, Ngài có thể tự tôn lên làm Bá chủ thế giới và lấy Cương Quyền bắt người ta làm theo ý chỉ Ngài. Đó là sự xui giục của Sa-tan. Nhưng sứ mạng của Đức Chúa Jêsus không phải là bắt loài người vâng phục, mà là thay đổi lòng họ.
Bổn chất sự cám dỗ mà Đức Chúa Jêsus phải chịu ấy là đạt tới mục đích bởi những phương pháp trần gian, chớ không bởi sự thương khó; là tạo ra kết quả thiêng liêng bởi phương thức trần gian. Điều Đức Chúa Jêsus không chịu làm, thì trải qua các đời, Hội Thánh đã làm, và ngày nay Hội Thánh còn làm nhiều lắm: Ấy là buông theo sự ham muốn quyền thế trần tục.
Ma quỉ thật có mặt ở đó chăng? Hay đó chỉ là một cuộc giao tranh trong tâm hồn? Kinh Thánh không cho ta biết ma quỉ hiện đến cùng Đức Chúa Jêsus dưới hình thức nào. Nhưng Đức Chúa Jêsus chắc đã nhận biết rằng các sự xui giục đó đến từ Sa-tan; nó có ở đó, quyết định và hết sức hăng hái cản trở sứ mạng của Ngài (xem bài chú giải về Sa-tan ở dưới LuLc 4:1-13).
Người ta cho rằng chỗ Đức Chúa Jêsus bị cám dỗ ở trên đỉnh trống trải và hoang vu của miền núi nhìn xuống Giê-ri-cô, bên trên khe Kê-rít, là nơi chim quạ đã nuôi sống Ê-li. Có lẽ xa xa trông thấy núi Gô-gô-tha, là nơi Ngài phải trải qua cơn thử thách sau cùng. Xem bản đồ số 45, ở dưới Mat Mt 3:13-17.
Đức Chúa Jêsus đã kiêng ăn 40 ngày (câu 2). Môi-se cũng đã kiêng ăn 40 ngày trên núi Si-na-i, trong dịp ban bố Mười Điều răn (XuXh 34:28). Ê-li cũng đã kiêng ăn 40 ngày trên đường đi đến núi ấy (IVua 1V 19:8). Môi-se đại diện cho Luật pháp, Ê-li đại diện các Tiên tri, còn Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si mà Luật pháp và các Tiên tri đã đề cao. Đây là ba Vị Đại diện cao trọng của sự khải thị Đức Chúa Trời cho loài người. Từ đỉnh núi, là nơi Đức Chúa Jêsus kiêng ăn, nhìn về phía Đông ở bên kia sông Giô-đanh, Ngài có thể thấy dãy núi Nê-bô, là nơi Môi-se và Ê-li đã được cất lên tới Đức Chúa Trời từ bao nhiêu thế kỷ trước.
Chừng 3 năm sau, ba Vị đã gặp nhau giữa cảnh trạng vinh quang thiên thượng của Sự Hóa hình trên núi Hô-rếp (bản đồ số 48 -- xem ở dưới Mác 10), cách 100 dặm về phía Bắc. Từ núi Cám dỗ, ta có thể thấy rõ đỉnh núi Hô-rếp có tuyết phủ kín. Ba Vị là bạn cùng chịu thương khó, và sau là bạn cùng được vinh hiển.
Sau cơn cám dỗ, Đức Chúa Jêsus quay về sông Giô-đanh, là nơi Giăng Báp-tít đang làm lễ báp-têm cho dân chúng (xem lời chú giải ở GiGa 1:19-34).
Mat Mt 4:11 -- Các thiên sứ
Đây có chép rằng các thiên sứ hầu việc Đức Chúa Jêsus.
Các thiên sứ đóng một vai quan trọng trong đời Đức Chúa Jêsus
Một thiên sứ báo tin Giăng Báp-tít sắp sanh ra (LuLc 1:11-17) và đặt tên cho ông (LuLc 1:13).
Một thiên sứ báo tin cho Ma-ri rằng Đức Chúa Jêsus sắp sanh ra (LuLc 1:26-37).
Một thiên sứ báo tin cho Giô-sép rằng Đức Chúa Jêsus sắp sanh ra (Mat Mt 1:20-21) và đặt tên cho Ngài (Mat Mt 1:21).
Các thiên sứ báo tin cho mấy gã chăn chiên biết Đức Chúa Jêsus giáng sanh (LuLc 2:8-15), và hát ngợi khen Đức Chúa Trời (LuLc 2:13-14).
Một thiên sứ truyền lịnh trốn qua Ai-cập, rồi truyền lịnh hồi hương (Mat Mt 2:13, 20).
Các thiên sứ hầu việc Đức Chúa Jêsus sau khi Ngài bị cám dỗ (Mat Mt 4:11; Mac Mc 1:13).
Một thiên sứ đến cùng Đức Chúa Jêsus lúc Ngài đau đớn vô cùng tại vườn Ghết-sê- ma-nê (LuLc 22:43).
Một thiên sứ lăn vầng đá ở mộ phần Ngài (Mat Mt 28:2), báo tin Ngài sống lại cho mấy bà biết (Mat Mt 28:5-7), và giới thiệu Cứu Chúa phục sanh với Ma-ri Ma-đơ-len (GiGa 20:11-14).
Đức Chúa Jêsus đã phán nhiều về các thiên sứ
Ngài phán rằng các thiên sứ lên, xuống trên Ngài (GiGa 1:51).
Ngài phán rằng Ngài có thể gọi 12 đạo thiên sứ đến giải cứu Ngài (Mat Mt 26:53).
Các thiên sứ sẽ đi theo Ngài khi Ngài ngự đến (Mat Mt 25:31; 16:27; Mac Mc 8:38; LuLc 9:26).
Các thiên sứ sẽ gặt (Mat Mt 13:39).
Các thiên sứ sẽ thâu nhập những người được chọn (Mat Mt 24:31).
Các thiên sứ sẽ phân rẽ kẻ gian ác với người công bình (Mat Mt 13:41, 49).
Các thiên sứ đem người ăn mày đặt vào lòng Áp-ra-ham (LuLc 16:22).
Các thiên sứ vui mừng khi tội nhơn ăn năn (LuLc 15:10). Con nít có thiên sứ hộ vệ (Mat Mt 18:10).
Đức Chúa Jêsus sẽ nhìn nhận kẻ thuộc về Ngài trước mặt các thiên sứ (LuLc 12:8).
Thiên sứ không có nam, nữ, và không thể chết (LuLc 20:35-36; Mat Mt 22:30).
Ma quỉ cũng có thiên sứ (Mat Mt 25:41 -- bản Việt-nam dịch là "quỉ sứ").
Chính Đức Chúa Jêsus đã phán những điều trên đây.
Những lời Ngài phán về thiên sứ thật là đặc biệt, dồi dào và khác nhau; vậy, nếu ta giải thích những lời ấy mà lại căn cứ vào lý thuyết rằng Ngài chỉ dung hòa với sự tín ngưỡng thông thường, thì sẽ phá hiệu lực lời Ngài phán, không còn kể là chân lý nữa.
Trong sách Công vụ các sứ đồ
Một thiên sứ mở cổng khám tù cho các Sứ đồ đi ra (Cong Cv 5:19).
Một thiên sứ đưa Phi-líp đến cùng hoạn quan Ê-thi-ô-bi (Cong Cv 8:26).
Một thiên sứ thả Phi-e-rơ ra khỏi khám tù (Cong Cv 12:7, 8, 9), và được gọi là "thiên sứ của người" (Cong Cv 12:15), tức là thiên sứ bảo vệ ông.
Một thiên sứ truyền lịnh cho Cọt-nây đi mời Phi-e-rơ (Cong Cv 10:3).
Một thiên sứ ở bên cạnh Phao-lô trong trận bão (Cong Cv 27:23).
Cựu Ước giả định có các thiên sứ:
Một thiên sứ giải cứu A-ga (SaSt 16:7-12).
Các thiên sứ báo tin Y-sác sắp sanh ra (18:1-15) và sự hủy diệt Sô-đôm (18:16-33).
Các thiên sứ hủy diệt Sô-đôm và giải cứu Lót (19:1-29).
Một thiên sứ ngăn cản cho Y-sác khỏi bị giết (22:11-12).
Các thiên sứ đã canh giữ Gia-cốp (28:12; 31:11; 32:1; 48:16).
Một thiên sứ trao cho Môi-se trách vụ giải cứu dân Y-sơ-ra-ên (XuXh 3:2).
Một thiên sứ dắt dẫn dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng (14:19; 23:20-23; 32:34).
Một thiên sứ hướng dẫn cuộc hôn nhân của Y-sác với Rê-bê-ca (SaSt 24:7).
Luật pháp do thiên sứ ban bố (Cong Cv 7:38, 53; GaGl 3:19; HeDt 2:2).
Một thiên sứ quở trách Ba-la-am (Dan Ds 22:31-35).
Một "Tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va" hiện ra với Giô-suê (Gios Gs 5:13-15).
Một thiên sứ quớ trách dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng (Cac Tl 2:1-5).
Một thiên sứ giao cho Ghê-đê-ôn nhiệm vụ giải cứu dân Y-sơ-ra-ên (Cac Tl 6:11-40).
Một thiên sứ báo tin Sam-sôn sắp sanh ra (Cac Tl 13:1-25).
Một thiên sứ hành hại dân Y-sơ-ra-ên bằng dịch lệ (IISa 2Sm 24:16-17).
Một thiên sứ giải cứu Ê-li (IVua 1V 19:5-8) trong lúc ông trốn khỏi Giê-sa-bên.
Ê-li-sê đã được các thiên sứ vô hình bao quanh (IIVua 2V 6:14-17).
Một thiên sứ cứu Đa-ni-ên khỏi nanh vuốt sư tử (DaDn 6:22).
Một thiên sứ đánh đạo quân A-si-ri (IIVua 2V 19:35; EsIs 37:36).
Các thiên sứ đóng trại chung quanh dân Đức Chúa Trời (Thi Tv 34:7; 91:11).
Các thiên sứ giúp việc chép sách Xa-cha-ri (XaDr 1:9; 2:3; 4:5 v.v...).
Thiên sứ ở trong các thơ tín và sách Khải Huyền
Có những thiên sứ được chọn (ITi1Tm 5:21).
Các thiên sứ đông "vô số" (HeDt 12:22; KhKh 5:11).
Các thiên sứ giúp việc những người được thừa hưởng ơn cứu rỗi (HeDt 1:13-14).
Các thiên sứ sẽ cùng đến với Đức Chúa Jêsus giữ ngọn lửa hừng (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:7;).
Một thiên sứ điều khiển sự trứ tác sách Khải Huyền (KhKh 1:1).
Các Hội Thánh có thiên sứ bảo vệ (KhKh 1:20; 2:8, 12, 18; 3:1, 7, 14).
Phần lớn sách Khải Huyền gồm vai trò của các thiên sứ.
Chúng ta không nên thờ lạy thiên sứ (CoCl 2:18; KhKh 22:8-9).
Có nhiều ban thiên sứ, mỗi ban gồm nhiều đẳng trật và phẩm chức. Các thiên sứ được tổ chức thành "quyền, phép, thế lực, quân chủ" và "ngôi vua, quyền cai trị," v.v... (RoRm 8:38; Eph Ep 1:21; 3:10; CoCl 1:16; 2:15; IPhi 1Pr 3:22).
Mi-ca-ên (Mi-chen) là tên một thiên sứ trưởng. Mi-ca-ên là thiên sứ phò hộ dân Do-thái (DaDn 10:13, 21; 12:1). Mi-ca-ên giao chiến với ma quỉ để giành xác Môi-se (Giu Gd 1:9) vì Hội Thánh mà giao chiến với Sa-tan (KhKh 12:7) sẽ đi cùng Đấng Christ khi Ngài ngự đến, và cất tiếng kêu làm cho kẻ chết sống lại (ITe1Tx 4:16). Gáp-ri-ên là tên của một thiên sứ cao cấp (xem lời chú giải ở dưới LuLc 2:8-20).
Thỉnh thoảng chữ "thiên sứ" dường như chỉ về các sức mạnh vô tri trong cõi thiên nhiên. Nhưng nói chung, chữ ấy chắc chắn chỉ về những thân vị trong thế giới vô hình. Kinh Thánh nói nhiều về chức vụ của các thiên sứ, đến nỗi chúng ta buộc phải tin rằng một phần nào, Đức Chúa Trời có dùng thiên sứ để thi hành ý chỉ Ngài và quản trị vũ trụ.
Chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê
Để chép về chức vụ của Đức Chúa Jêsus tại xứ Ga-li-lê,
Ma-thi-ơ dành một nửa sách, tức là 14 đoạn, từ Mat Mt 4:12-19:1.
Mác dành một nửa sách, tức là 8 đoạn, từ 1:14-10:1,
Lu-ca dành gần 6 đoạn, từ 4:14-9:51.
Giăng gần như bỏ qua.
4:12 -- Đức Chúa Jêsus khởi làm chức vụ tại xứ Ga-li-lê
Giữa câu 11 và câu 12 có khoảng một năm, trong thời gian đó, Đức Chúa Jêsus thi hành phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê. Phần nầy gồm các biến cố chép ở GiGa 1:19-4:54 và LuLc 4:16-30. Xem lời chú giải ở dưới Mac Mc 1:14-15.
Chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê Khảo sát so sánh 4 bản tường thuật
Ma-thi-ơ
Kêu gọi Phi-e-rơ, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng (Mat Mt 4:18-22).
Các cuộc hành trình, giảng dạy, chữa bịnh; các đoàn dân đông, và Chúa nổi tiếng lừng lẫy (4:23-25).
Bài Giảng trên Núi (đoạn 5, 6, 7).
Một người phung và đầy tớ của viên bách nhân đội trưởng được chữa lành (8:1-13).
Bà gia Phi-e-rơ và nhiều người khác được chữa lành (8:14-17).
Dẹp cơn bão tố (8:23-27). Hai người miền Ra-đa-ra bị quỉ ám (8:28-34).
Một người bại được chữa lành (9:1-8).
Ma-thi-ơ được kêu gọi và dọn tiệc đãi Chúa (9:9-13). Sự "kiêng ăn" (9:14-17).
Con gái Giai-ru và người đờn bà mất huyết (9:18-26).
Hai người mù và một người bị quỉ câm ám được chữa lành (9:27-28).
Mười hai Sứ đồ được sai đi (đoạn 10).
Các sứ giả do Giăng Báp-tít sai đến (11:1-19).
Các thành bị quở trách (11:20-24). "Hãy đến cùng Ta" (11:25-30).
Bứt bông lúc mì ăn và chữa bịnh trong ngày Sa-bát (12:1-14).
Một người bị quỉ câm và điếc ám được chữa lành (12:15-23).
Đức Chúa Jêsus bị tố cáo là liên kết với Bê-ên-xê-bun (12:24-45).
Mẹ và anh em của Đức Chúa Jêsus (12:45-50).
Các thí dụ: Người gieo giống, cỏ lùng, hột cải, men, của báu, ngọc châu, đánh lưới (13:1-50).
Thăm viếng thành Na-xa-rét (13:54-58).
Giăng Báp-tít bị chém đầu (14:1-12).
5000 người được ăn no nê. Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt nước (14:13-33).
Rất đông người được chữa lành tại Ghê-nê-xa-rết (14:34-36).
Người Pha-ri-si, lời khẩu truyền và sự bị ô uế (15:1-20).
Người đờn bà Ca-na-an (15:21-28).
4000 người được ăn no nê (15:29-39).
"Men của người Pha-ri-si" (16:1-12).
Phi-e-rơ xưng nhận Chúa là Đấng Christ, và Chúa phán trước về sự thương khó của Ngài (16:13-28).
Sự Hóa hình; Chúa lại phán trước về sự thương khó của Ngài (17:1-13).
Đức con trai bị kinh phong; Chúa lại phán trước về sự thương khó của Ngài (17:14-23). Nộp thuế cho Đền thờ (17:14-27). "Các con trẻ" và "sự tha thứ" (đoạn 18).
Mác
Kêu gọi Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng (Mac Mc 1:14-20).
Người bị quỉ ám, bà gia Phi-e-rơ và nhiều bịnh nhân khác được chữa lành (1:21-34).
Các cuộc hành trình và phép lạ; một người phung và một người bại được chữa lành (1:40-2:12).
Sự kêu gọi Lê-vi và bữa tiệc (2:13-17). Sự "kiêng ăn" (2:18-22).
Bứt bông lúa mì ăn và chữa bịnh trong ngày Sa-bát (2:23-3:6).
Các đoàn dân đông; Chúa nổi tiếng lừng lẫy; các phép lạ (3:7-12).
12 Sứ đồ được lựa chọn (3:13-19).
Đức Chúa Jêsus bị tố cáo là liên kết với Bê-ên-xê-bun (3:20-30).
Mẹ và anh em của Đức Chúa Jêsus (3:31-35).
Các thí dụ: Người gieo giống, giống mọc lên, hột cải (4:1-34).
Dẹp cơn bão tố (4:35-41). Người Giê-ra-sê bị quỉ ám (5:1-20).
Con gái Giai-ru và người đờn bà mất huyết (5:21-43).
Thăm viếng thành Na-xa-rét (6:1-6).
12 Sứ đồ được sai đi (6:7-13).
Giăng Báp-tít bị chém đầu (6:14-29).
5000 người ăn no nê. Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt nước (6:30-52)
Rất đông người được chữa lành tại Ghê-nê-xa-rết (6:53-56).
Người Pha-ri-si, lời truyền khẩu và sự bị ô uế (7:1-23).
Người đờn bà Sy-rô-phê-ni-xi; một người điếc và ngọng (7:24-37).
4000 người được ăn no nê. "Men của người Pha-ri-si" (8:1-21).
Người mù ở Bết-sai-đa được sáng mắt (8:22-26).
Phi-e-rơ xưng nhận Chúa là Đấng Christ, và Chúa phán trước về sự thương khó của Ngài (8:27-9:1).
Sự Hóa hình; Chúa lại phán trước về sự thương khó của Ngài (9:2-13).
Đứa con trai bị kinh phong; Chúa lại phán trước về sự thương khó của Ngài (9:14-32).
"Ai là người cao trọng nhứt?" Người vô danh làm việc lạ lùng (9:33-50).
Lu-ca
Thăm viếng thành Na-xa-rét (LuLc 4:14-30). Người bị quỉ ám, bà gia Phi-e-rơ và nhiều bịnh nhân khác được chữa lành (4:31-44).
Kêu gọi Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng (5:1-11).
Một người phung và một người bại được chữa lành (5:12-26).
Sự kêu gọi Lê-vi và bữa tiệc (5:27-32); Sự "kiêng ăn" (5:33-39).
Bứt bông lúa mì ăn và chữa bịnh trong ngày Sa-bát (6:1-11).
12 Sứ đồ được lựa chọn (6:12-19).
Bài Giảng trên Núi (6:20-49).
Đầy tớ của viên bách nhân đội trưởng; con trai của bà góa; các sứ giả của Giăng Báp-tít sai đến (7:1-35).
Người đờn bà tội lỗi; mấy bậc phụ nữ ; thí dụ về người gieo giống (7:36-8:18).
Mẹ và anh em của Đức Chúa Jêsus; cơn bão tố, người Giê-ra-sê bị quỉ ám (8:19-39).
Con gái Giai-ru và người đờn bà mất huyết (8:40-48).
12 Sứ đồ được sai đi (9:1-6).
Giăng Báp-tít bị chém đầu (9:7-9). 5000 người được ăn no nê (9:10-17).
Phi-e-rơ xưng nhận Chúa là Đấng Christ, và Chúa phán trước về sự thương khó của Ngài (9:18-27).
Sự hóa hình (9:28-36).
Đứa con trai bị kinh phong; Chúa lại phán trước về sự thương khó của Ngài (9:28-43).
"Ai là người cao trọng nhứt?" Người vô danh làm việc lạ lùng (9:46-50).
Giăng
Phép lạ đầu tiên tại Ca-na-an; ngụ tại Ca-bê-na-um (GiGa 2:1-12).
Con trai quan thị vệ được chữa lành (4:43-54). 5000 người được ăn no nê (6:1-15).
* * *
Mat Mt 4:13-17. Cư ngụ tại Ca-bê-na-um. -- Đây là một trong những điều đã dự ngôn về Đấng Mê-si (xem ở dưới 2:22-23). Cũng xem ở dưới Mac Mc 1:21.
Mat Mt 4:18-22. Kêu gọi Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ, và Giăng. -- Xem ở dưới Mac Mc 1:16-20. Cũng xem ở dưới Ma-thi-ơ, đoạn 10.
Mat Mt 4:23-25. Các cuộc hành trình; Chúa nổi tiếng lừng lẫy và làm nhiều phép lạ. -- Xem ở dưới Mac Mc 1:38-39.
Thời Gian Và Niên Biểu Của Chức Vụ Chúa Tại Xứ Ga-li-lê
Chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê bắt đầu 4 tháng trước mùa gặt, tức là tháng 12 dương lịch (GiGa 4:35-43).
Chức vụ nầy chấm dứt ngay trước lễ Lều tạm (tháng 10 dương lịch), hoặc ngay trước lễ Cung hiến Đền thờ (tháng 12 dương lịch). Xem LuLc 9:51; GiGa 7:2; 10:22.
Nó gồm một lễ Vượt qua (GiGa 6:4), và một lễ Vượt qua nữa nếu lễ chép ở 5:1 cũng là lễ Vượt qua như người ta thường tưởng.
Như vậy, nó trải qua gần 2 năm, vì bắt đầu tháng 12 dương lịch, và kéo dài quá lễ Vượt qua thứ hai cho tới tháng 10 hoặc tháng 12 dương lịch kế tiếp; hoặc chỉ trải qua một năm nếu lễ chép ở 5:1 không phải là lễ Vượt qua.
Một cách chung, dường như Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca theo thứ tự niên đại, mặc dầu không theo từng chi tiết; ấy vì ba ông khác nhau về thứ tự của nhiều biến cố. Về điểm trong ba ông, ông nào theo thứ tự niên đại đúng nhứt, thì các nhà chuyên học Kinh Thánh có nhiều ý kiến khác nhau. Vì các tác giả sách Tin Lành dường như được hướng dẫn bởi những nhận xét khác nhau trong lúc xếp đặt tài liệu, và vì họ nhiều khi không cần để ý đến thời gian và vị trí, nên ta chẳng có thể xếp đặt mọi tài liệu ghi chép theo thứ tự niên đại thật đúng.
Tuy nhiên, trong chức vụ của Chúa ở xứ Ga-li-lê, có một vài biến cố và thời gian quan trọng mà các tác giả lấy làm trung tâm để thử thâu góp các biến cố và thời gian khác chung quanh đó.
5000 người được Chúa cho ăn no nê trong kỳ lễ Vượt qua (GiGa 6:4). Giăng Báp-tít bị chém đầu ngay trước kỳ lễ ấy (Mat Mt 14:12-13). Cũng khoảng đó, 12 Sứ đồ trở về sau khi đi truyền đạo lưu hành (LuLc 9:10).
Cả ba tác giả đặt sự Hóa hình ở khoảng ít lâu trước khi Chúa dời khỏi xứ Ga-li-lê lần chót.
Sự dời khỏi xứ Ga-li-lê lần chót đó đã xảy ra hoặc ngay trước lễ Lều tạm (tháng 10 dương lịch), hoặc ngay trước lễ Cung hiến Đền thờ (tháng 2 dương lịch). Xem LuLc 9:51; GiGa 7:1-10:22.
Như vậy, có một khoảng 5 hoặc 8 tháng ở giữa việc Chúa cho 5000 người ăn no nê và sự Hóa hình; một phần thời gian nầy, Đức Chúa Jêsus ở các miền phía Bắc xứ Ga-li-lê, và Kinh Thánh ít chép đến.
Phần chính của truyện tích về chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê liên quan đến khoảng 16 tháng trước khi Chúa cho 5000 người ăn no nê, tức là thời gian Chúa hoạt động rất hăng hái và được nhân dân hết lòng kính mộ.
Mục biểu dưới đây trình bày tổng quát chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê, có những biến cố trọng yếu in bằng chữ đậm; tuy nhiên, vị trí niên đại của một vài biến cố chỉ là phỏng đoán mà thôi.
Chức Vụ Của Chúa Tại Xứ­ Ga-li-lê Thử xếp đặt theo thứ tự niên đại
Năm 28 S.C.. Lễ Vượt qua (?): · Chúa thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem. · Chúa chữa bịnh trong ngày Sa-bát, gây cho các quan quyền chống đối Ngài. Chúa quả quyết Ngài là Đức Chúa Trời, và trở về xứ Ga-li-lê.
Năm 29 S.C.. Tháng 2 dương lịch: · 12 Sứ đồ được Chúa sai đi.
Tháng 10 dương lịch (?): · Chúa thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem. · Ngài giảng luận. Người đờn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm. Người mù được chữa lành. Chúa công khai xung đột với các quan quyền. · Chúa trở về xứ Ga-li-lê. Tháng 11 dương lịch: · Chúa lui về thành Sê-sa-rê Phi-líp. Lời xưng nhận của Phi-e-rơ. · Sự Hóa hình. Đứa con trai bị kinh phong. Chúa phán ba lần về Ngài sẽ chịu thương khó. · Chúa lại đến xứ Ga-li-lê. Tiền đóng thuế. · "Ai là người cao trọng nhứt?" · "Các con trẻ." Người vô danh làm việc lạ lùng. "Sự tha thứ."
* * * Đoạn 5, 6, 7 -- Bài Giảng Trên Núi Ma-thi-ơ đặt Bài Giảng trên Núi ở ngay đầu truyện tích ông chép về chức vụ của Chúa ở xứ Ga-li-lê, mặc dầu Chúa giảng vào mấy tháng sau, lúc lựa chọn 12 Sứ đồ (LuLc 6:12-20), nếu quả thật Lu-ca thuật lại cùng một bài giảng ấy. Chắc vì Ma-thi-ơ kể Bài Giảng trên Núi là yếu lược sự dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus mà cả chức vụ của Ngài đã chứng minh cho.
Chúng ta chưa từng thấy ai phân tích Bài Giảng trên Núi một cách mỹ mãn. Dường như phải gò ép nhiều lắm, mới làm cho nó ăn khớp với một bố cuộc phác định bởi những người coi nó, về toàn thể, là thân thuyết (développement ) hợp lý của một luận án đặc biệt nào, theo như nhiều nhà phê bình vẫn coi nó. Có hai phần (Mat Mt 5:17-48 và 6:1-18) dường như là sự giải luận có thứ tự của hai đề mục riêng biệt: Mối liên quan của Đức Chúa Jêsus với Luật pháp, và cớ tích trong lòng của đời sống tôn giáo. Phần còn lại giống nhiều hơn một loạt châm ngôn những vấn đề khác nhau, -- sự lặp đi lặp lại các châm ngôn ấy luôn là một cách dạy dỗ mà người Đông phương ưa dùng lắm.
Không nói rõ Chúa giảng bài nầy trên núi nào. Theo truyền thoại, thì là núi mang tên "Cái Sừng của Hát-tin" (xem bản đồ số 47 ở dưới Mac Mc 6:45-52).
Về lời chú giải so sánh với bản văn của Lu-ca, xin xem ở dưới LuLc 6:20-49.
Mat Mt 5:1-12 -- Các phước lành
Một cách mâu thuẩn, Đức Chúa Jêsus gọi là "có phước" những kẻ mà thế gian thường thương hại: Những kẻ thất vọng, đau đớn, thấp hèn, suy kiệt phần thiêng liêng, có lòng thương xót, có sự thanh sạch bên trong, có khuynh hướng hòa hoãn, và những kẻ chịu bắt bớ. Đó là trái hẳn với với tiêu chuẩn của thế gian. Nhưng trong mỗi trường hợp, phước lành không ở nơi chính tình trạng cùng khốn, mà là ở nơi phần thưởng vinh hiển tương lai. Đối với Đức Chúa Jêsus, là Đấng biết rõ, thì Thiên đàng vô cùng cao quí hơn đời sống trần gian, đến nỗi bất cứ tình trạng nào khiến ta thêm lòng mong ước Thiên đàng cũng được Ngài coi là một phước lành.
5:13-16 -- Tín đồ Đấng Christ là muối và sự sáng của thế gian
Nghĩa là tín đồ bảo tồn và hướng dẫn thế gian. Đức Chúa Jêsus phán rằng Ngài là sự sáng của thế gian (GiGa 8:12). Ngài chiếu sáng qua những kẻ theo Ngài, và họ phản chiếu vinh quang của Ngài. Cớ tích cao trọng nhứt mà người ta có thể có ấy là cách sanh hoạt của mình khiến cho kẻ đồng loại buộc phải tôn vinh, khen ngợi Đức Chúa Trời.
Mat Mt 5:17-48 -- Đức Chúa Jêsus và Luật pháp
Đây, không có gì mâu thuẫn giữa sự dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus và sự dạy dỗ của các thơ Rô-ma, Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ rằng chúng ta được xưng công bình bởi tin Đấng Christ chớ không phải làm theo Luật pháp. Đức Chúa Jêsus có ý phán rằng luật pháp luân lý của Đức Chúa Trời bày tỏ chính sự thánh khiết của Ngài, và buộc dân Ngài phải tuân theo đời đời. Đức Chúa Jêsus cũng có ý phán rằng quả thật, Ngài đến để đem cho lời tuyên bố xưa kia của luật pháp một ý nghĩa sâu xa hơn, và để thi hành luật pháp chẳng những trong hành động bên ngoài , mà cũng trong nơi sâu thẳm của lòng người nữa. Đoạn. Ngài tiếp tục biểu minh luật pháp trong năm chi tiết đặc biệt: Giết người, tà dâm, thề (hoặc chửi thề), báo thù và ghét kẻ thù.
5:21-26 -- Tội giết người
Luật pháp nghịch cùng tội giết người là một trong Mười Điều răn (XuXh 20:13). Đức Chúa Jêsus cấm chúng ta nuôi sự giận trong lòng, vì nó sẽ đưa tới hành động sát nhân.
Mat Mt 5:27-32 -- Tội tà dâm
Luật pháp nghịch cùng tội tà dâm cũng là một trong Mười Điều răn (XuXh 20:14). Đức Chúa Jêsus cấm chúng ta ôm ấp sự thèm muốn, vì nó sẽ đưa tới hành động tà dâm. Hãy chú ý: Khi luận về sự giận và sự thèm muốn, Đức Chúa Jêsus đều cảnh cáo chúng ta về "lửa địa ngục" (câu 22, 29, 30). Chẳng những Ngài cảnh cáo chúng ta phải coi chừng sự cảm xúc trong lòng, song Ngài còn đi xa hơn Môi-se, là hạn chế sự để bỏ (câu 32). Cũng xem Mat Mt 19:3-12; Mac Mc 10:2-12; ICo1Cr 7:1-40
Mat Mt 5:33-37 -- Sự thề (hoặc chửi thề )
Lời nầy chắc áp dụng cho sự thề trước pháp đình, sự nói phạm thượng thông thường, và cả sự nhẹ dạ kêu Danh Đức Chúa Trời trong khi nói chuyện thường. Những kẻ làm được có ít mà lại nói lớn mạnh và cuồng võng, thì thật là nói không đúng chỗ.
5:38-42 -- Sự trả thù
"Mắt đền mắt" là một khoản dân luật mà các quan án áp dụng (XuXh 21:22-25). Đây, Đức Chúa Jêsus không làm luật cho các tòa án. Quyền cai trị do Đức Chúa Trời thiết lập (RoRm 13:1-7) để cứu xã hội loài người khỏi những phần tử tội ác. Các tòa án càng thi hành công lý nghiêm minh, thì càng có ích lợi cho xã hội. Nhưng đây, Đức Chúa Jêsus dạy những nguyên tắc mà các cá nhân phải theo trong sự đối xử với nhau (xem thêm ở LuLc 6:27-38).
Mat Mt 5:43-48. Yêu thương kẻ thù nghịch. -- "Hãy ghét kẻ thù nghịch mình" (câu 43), đó không phải là một lịnh chép trong Ngũ kinh của Môi-se. Có lẽ nó được ngụ ý trong một vài cách đối xử với các kẻ thù nghịch của dân Y-sơ-ra-ên thời Cựu Ước và trong một số Thi Thiên. Bất cứ là thể nào, Đức Chúa Jêsus cũng cấm làm như vậy (xem thêm ở LuLc 6:27-38).
Mat Mt 6:1-18. Các cớ tích sâu kín của đời sống. -- Xem ở LuLc 12:1-12. Đây, cớ tích của đời sống được biểu minh trong ba trường hợp đặc biệt: Sự bố thí (Mat Mt 6:2-4); sự cầu nguyện (6:5-15 -- Xem thêm ở LuLc 11:1-44; 18:1-43); sự kiêng ăn (Mat Mt 6:16-18 -- xem thêm ở Mac Mc 2:18-22).
Mat Mt 6:19-34. Của báu ở Thiên đàng. -- Xem ở LuLc 12:13-34.
Mat Mt 7:1-5. Chớ đoán xét anh em mình. -- Xem ở LuLc 6:39-45.
Mat Mt 7:6 "Quăng hột trai trước mặt heo ".-- Đây có nghĩa là chúng ta phải dùng lương tri và cơ trí khi luận về đạo của mình. Bằng không, sẽ có thể làm hại cho chánh nghĩa của mình hơn là làm lợi.
7:7-11. Bền đỗ cầu nguyện. -- Xem ở LuLc 18:1-8.
Mat Mt 7:12. Luật vàng. -- Xem ở LuLc 13:22-30.
Mat Mt 7:13-14. Đường hẹp. -- Xem ở LuLc 13:22-30.
Mat Mt 7:15-23. Các giáo sư giả. -- Đức Chúa Jêsus cảnh cáo và phán tiên tri về các giáo sư giả (Mat Mt 24:21, 24). Các tác giả Tân Ước cũng làm như vậy nhiều lần. Trở lực tai hại hơn hết cho sự tấn bộ của đạo Đấng Christ ở giữa loài người chính là đạo Ngài đã bị bại hoại tàn nhẫn nơi tay những kẻ tự nhận là làm cho đạo Ngài tấn triển. Họ đã làm cho đạo Ngài bị ô danh khôn xiết.
Mat Mt 7:24-27. Xây nhà trên Vầng Đá. -- Xem ở LuLc 6:46-49.
Mat Mt 7:28-29. Thẩm quyền. -- Chính Đức Chúa Jêsus là thẩm quyền của Ngài. "Các ngươi có nghe lời phán... Song Ta phán..." Không hề có ai nói như Ngài.
8:1-4. Một người phung được sạch. -- Xem ở Mac Mc 1:40-44.
Mat Mt 8:5-13. Đầy tớ của viên bách nhân đội trưởng. -- Xem ở LuLc 7:1-10.
Mat Mt 8:14-15. Bà gia của Phi-e-rơ. -- Xem ở Mac Mc 1:22-31.
Mat Mt 8:16-17. Rất đông người được chữa bịnh. -- Xem ở Mac Mc 1:32-34.
Mat Mt 8:18-22. "Con cáo có hang ".-- Xem ở LuLc 9:57-62.
Mat Mt 8:23-27. Dẹp cơn bão tố. -- Xem ở 4:36-41.
Mat Mt 8:28-34. Hai người Ga-đa-ra bị quỉ ám. -- Xem ở Mac Mc 5:1-20.
Mat Mt 9:1-8. Người bại được chữa lành. -- Xem ở Mac Mc 2:1-12.
Mat Mt 9:9-13. Chúa kêu gọi Ma-thi-ơ. -- Xem ở Mac Mc 2:13-17.
Mat Mt 9:14-17. Câu hỏi về sự kiêng ăn. -- Xem ở Mac Mc 2:18-22.
Mat Mt 9:18-26. Con gái Giai-ru. -- Xem ở LuLc 8:40-56.
Mat Mt 9:27-31. Hai người mù. -- Xem ở Mac Mc 8:22-26.
Mat Mt 9:32-34. Một người câm bị quỉ ám. -- Xem ở Mac Mc 7:31-37.
Mat Mt 9:35-38. Chúa đi tới các miền phụ cận. -- Xem ở Mac Mc 1:39.
Mat Mt 10:1-12:50- Sứ đồ được sai đi
Việc nầy cũng có chép sơ lược ở Mac Mc 6:7-13 và LuLc 9:1-6. Chắc đã xảy ra trước lễ Vượt qua ít lâu, vì họ trở về nhằm kỳ lễ Vượt qua, ngay trước khi Chúa cho 5000 người ăn no nê (LuLc 9:10-17; GiGa 6:4).
Những chỉ thị của Đức Chúa Jêsus ban cho 12 Sứ đồ có chứa một vài lời khuyên bảo tín đồ: Phải khôn ngoan như con rắn, hiền lành như chim bò câu, mong chờ chịu khó nhọc, tin cậy Đức Chúa Trời săn sóc kẻ thuộc về Ngài chẳng hề sơ sót, và luôn luôn chăm chú nhìn vào mục đích đời đời của mình.
Một vài chỉ thị của Đức Chúa Trời chỉ được áp dụng nhất thời; thí dụ như đừng đem theo tiền bạc. Vì họ được Chúa ban quyền phép chữa bịnh, nên dễ được người ta cung cấp bữa ăn và chỗ ở. Nhưng về sau Chúa bảo họ phải đem tiền bạc theo (LuLc 22:35-38).
12 Sứ đồ được kêu gọi
Đức Chúa Jêsus phải mất chừng 1 năm rưỡi để lựa chọn xong. Rồi họ ở với Ngài chừng 2 năm.
Năm 26 S.C., tháng 11 dương lịch (?). Giăng, Anh-rê, Si-môn, Phi-líp, Na-tha-na-ên tin Ngài lúc Giăng Báp-tít làm lễ báp-têm (GiGa 1:35-51); họ theo Ngài tới Ca-na, rồi trở về công việc cũ cho tới một ngày Chúa kêu gọi họ lần nữa.
Năm 28 S.C, tháng 1 dương lịch (?). Sau khi Chúa làm xong phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê và chính lúc bắt đầu chức vụ tại xứ Ga-li-lê, thì Ngài kêu gọi Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ, và Giăng bỏ nghề đánh cá mà dứt khoát liên kết với Ngài (Mac Mc 1:16-20).
Sau đó ít lâu, Ma-thi-ơ được mời nhập đoàn nầy (Mat Mt 9:9).
Năm 28 S.C., tháng 5 dương lịch (?). 12 Sứ đồ được chánh thức lựa chọn (LuLc 6:12-16).
Năm 29 S.C., tháng 3 dương lịch (?). Chúa ban cho họ quyền phép để chữa bịnh, rồi sai họ đi từng đôi để giảng Tin Lành chừng 1 tháng (Mat Mt 10:1-42).
Năm 30 S.C., tháng 5. Chúa giao cho họ sứ mạng sau cùng, là đem Tin Lành đến đầu cùng trái đất (Mat Mt 28:16-20).
Sự huấn luyện 12 Sứ đồ
Sự lựa chọn và huấn luyện những người mà Đức Chúa Jêsus sẽ giao cho làm công việc của Ngài chính là một phần tối trọng trong sứ mạng của Ngài trên mặt đất. Mục đích đầu tiên của Chúa Jêsus khi Ngài đến thế gian là chịu chết với tư cách Chiên Con của Đức Chúa Trời để đền tội loài người, rồi sống lại từ trong kẻ chết để ban sự sống đời đời cho loài người. Nhưng nếu loài người không biết, thì đời sống, sự chết và sự sống lại của Ngài chẳng có ích gì cho họ. Nếu những kẻ Ngài giao cho làm công việc Ngài lại chẳng làm cho Ngài, thì sự Ngài ngự đến thế gian sẽ vô ích.
Sự sai 12 Sứ đồ đi lần đầu tiên chính là một phần huấn luyện họ, chắc để họ có cơ hội thực hành. Đó cũng là một phần phương thức Đức Chúa Jêsus báo cáo cho nhân dân biết rằng Đấng Mê-si đã ngự đến. Thời ấy không có báo chí. Phương pháp độc nhứt để rao truyền một tin tức là dùng miệng nói ra. Về sau, 70 môn đồ được sai đi cũng vì mục đích ấy. Những người nầy chánh thức hóa lời giảng của mình bởi các phép lạ đặc biệt, chẳng những để khiến dân chúng chú ý, song cũng để tỏ cho họ biết tánh chất phi thường của Đấng mà họ rao truyền.
Huấn luyện họ chẳng phải là chuyện dễ, vì họ được huấn luyện để làm một công việc khác hẳn điều họ mong tưởng. Họ bắt đầu theo Ngài như những chánh khách, và không hề nghĩ rằng mình sẽ trở nên nhà Truyền đạo; vậy mà họ lại trở nên nhà Truyền đạo thật. Họ trông mong rằng là Đấng Mê-si, Ngài sẽ lập một đế quốc bá chủ thế giới, và họ sẽ được làm quan cai trị. Xem thêm ở dưới Ma-thi-ơ, đoạn 13.
Đây là phương thức Ngài thay đổi tâm trí họ đối với công việc mà Ngài và họ sẽ làm: Trước hết, Ngài tự giới thiệu với họ trong vinh quang thiên thượng đầy dẫy của Ngài, ngõ hầu dầu Ngài nói năng và hành động khác hẳn cách họ trông mong Đấng Mê-si nói năng và hành động, họ cũng vẫn tin Ngài là Đấng đó. Ấy là một trong những lý do Ngài làm phép lạ và hóa hình.
Đồng thời Ngài phán dạy bằng thí dụ, bằng lời kín giấu, để cho họ có ấn tượng rằng Ngài chẳng luôn luôn định phán đúng những điều Ngài dường như định phán. Ngài làm cho họ phải ngạc nhiên ít lâu. Nếu Ngài phán bảo họ rõ ràng ngay từ lúc đầu, thì có lẽ họ không thấy hào hứng mà theo Ngài chút nào nữa.
Rốt lại, khi Ngài phán rằng Ngài sẽ bị đóng đinh vào Thập tự giá, chớ không phải dựng nên một ngôi vua, thì họ đều choáng váng. Nhưng họ vẫn cứ tưởng đó chỉ là một thí dụ. Ngay trong bữa ăn cuối cùng, trí óc họ vẫn còn mải nghĩ rằng ai trong bọn mình sẽ chiếm địa vị cao trọng nhứt.
Mãi sau khi Ngài sống lại và Đức Thánh Linh giáng xuống rồi, họ mới hiểu rằng đây là một Nước mà Đức Chúa Jêsus sẽ cai trị trong lòng người ta, và vai trò của họ chỉ là Thuật Lại Truyện Tích Đức Chúa JÊSUS. Chỉ có chừng đó. Chính truyện tích ấy sẽ làm công việc của nó. Nều người ta biết Đức Chúa Jêsus, thì họ sẽ kính mến Ngài. Khi họ kính mến Ngài, thì ảnh hưởng tốt lành của Ngài liền bắt đầu hành động trong lòng họ. Đó thật là khác hẳn một nước trong đó các Sứ đồ truyền lịnh cho nhiều đạo quân bước đi và được muôn dân làm theo mạng lịnh mình.
11:1-9 -- Các sứ giả của Giăng Báp-tít sai đến
Việc nầy xảy ra đang khi Giăng Báp-tít ở trong ngục. Đức Chúa Jêsus được dân chúng hoan nghinh tột bậc. Rõ ràng lắm, Giăng mong chờ một Đấng Mê-si chánh trị (xem ở LuLc Lu3:1-20), và không hiểu tại sao Đức Chúa Jêsus không hành động thích ứng để đạt tới mục đích ấy. Quả thật, ông đã bắt đầu tự hỏi có sự lầm lạc ở chỗ nào chăng?
Lời đáp của Đức Chúa Jêsus tỏ ra rằng Ngài cho các phép lạ Ngài làm là chứng cớ đầy đủ về chức vị Mê-si của Ngài.
Hãy chú ý: Sự nghi ngờ của Giăng Báp-tít chẳng khiến cho ông bị Đức Chúa Jêsus coi rẻ đi. Trái lại, Ngài phán rằng không có ai cao trọng hơn Giăng Báp-tít.
Nhưng người thấp thỏi hơn hết trong Nước Đấng Christ còn cao trọng hơn Giăng Báp-tít, ấy là nói về phương diện đặc quyền. Thật là một lời phê bình kỳ diệu biết bao về đặc quyền làm tín đồ Đấng Christ!
"Bị hãm ép" (câu 12), nghĩa là các môn đồ của Giăng và của Đức Chúa Jêsus đã hết sức cố ép Ngài lãnh đạo một phong trào chánh trị có tánh chất quân sự và trần gian.
"Ai có tai mà nghe, hãy nghe" (câu 15). Đó là một câu Đức Chúa Jêsus ưa phán (Mat Mt 13:9, 43; Mac Mc 4:9, 23; LuLc 8:8; 14:35). Sứ đồ Giăng cũng ưa nói như vậy (KhKh 2:7, 11, 17, 29; 3:6, 13, 22; 13:9). Đức Chúa Jêsus biết rằng có một số người ở ngoài phạm vi những sự thiêng liêng.
Khi Đức Chúa Jêsus đối chiếu cách sống của Ngài với cách sống của Giăng, thì Ngài có ý phán rằng Ngài và ông đều từ Đức Chúa Trời mà đến và cùng dự phần trong sự cố gắng của Đức Chúa Trời để kêu gọi thế ấy.
Mat Mt 11:20-24 -- Các phép lạ của Đức Chúa Jêsus
Ba thành ở khu Bắc biển Ga-li-lê được nêu tên ở đây, là "sân khấu" chính cho Đức Chúa Jêsus làm phép lạ (xem bản đồ số 47 và ở dưới Mac Mc 6:45-52). Ca-bê-na-um là nơi Ngài cư ngụ nhiều nhứt. Bết-sai-đa ở cách ba dặm về phía Đông bắc, tại cửa sông Giô-đanh, là quê hương của Phi-e-rơ, Anh-rê và Phi-líp. Cô-ra-xin ở giữa hai thành kia, quá về phía Bắc. Đó là những thành được đặc ân hơn hết trên mặt đất. Đức Chúa Jêsus tuyên án họ, tỏ ra rằng Ngài coi các phép lạ Ngài đã làm là có giá trị hiển nhiên và chứng minh; vậy nên, hễ ai bất kể đến các phép lạ ấy, thì nguy hiểm lắm.
Mat Mt 11:25-30 -- "Hãy đến cùng Ta "
Đây là những lời thân ái, dịu dàng hơn hết mà tai loài người từng được nghe. Đức Chúa Jêsus dường như lấy làm vui sướng vì những thường dân có tâm trí đơn sơ đã tiếp nhận Ngài. Phao-lô cũng đã nói như vậy (ICo1Cr 1:26). Các bậc học thức có sự kiêu căng về trí óc, dường như khó hạ mình xuống đủ để nhìn nhận mình cần có một Cứu Chúa. Ở đây, Đức Chúa Jêsus tự nhận Ngài có tánh nhu mì, là tánh Ngài đã chúc phước cho (Mat Mt 5:5). Cũng có chép rằng Môi-se là người nhu mì (Dan Ds 12:3 -- đây dịch là "khiêm hòa").
Mat Mt 12:1-8. Ăn trong ngày Sa-bát. -- Xem ở Mac Mc 2:23-27.
Mat Mt 12:9-14. Chữa bịnh trong ngày Sa-bát. -- Xem ở Mac Mc 3:1-6.
Mat Mt 12:15-21 -- Nhiều phép lạ
Sách Mac Mc 3:7-12 có chép rằng ngoài những đám dân đông ở xứ Ga-li-lê, còn có những đám dân đông từ xứ Giu-đê, thành Giê-ru-sa-lem, xứ Y-đu-mê (Ê-đôm, ở phía Nam Biển Chết), bên kia sông Giô-đanh, miền Ty-rơ và Si-đôn, kéo tới. Như vậy, đương thời chỉ có cách đi bộ, từ Đông, Tây, Nam, Bắc, cách xa 100 dặm, những đám dân đông nghe các phép lạ của Đức Chúa Jêsus, đã kéo đến, đem theo bịnh nhân, và Ngài chữa lành cho họ hết thảy (câu 15).
Mat Mt 12:22-23 -- Một người đui và câm bị quỉ ám được chữa lành
Cũng có chép ở LuLc 11:14-15. Đây là một phép lạ lớn lao, vì mặc dầu dân chúng đã quen với phép lạ, họ cũng phải "lấy làm lạ." "Con cháu vua Đa-vít" (câu 23) là phẩm tước mà ai nấy dành cho Đấng Mê-si mà họ đang trông đợi (Mat Mt 1:1; 9:27; 15:22; 20:30; 21:9; 22:42; GiGa 7:42).
Mat Mt 12:24-37 -- Tội lỗi không thể tha thứ
Tội lỗi nầy cũng có chép ở Mac Mc 3:22-30; LuLc 11:14-26; 12:8-10. Hãy chú ý rằng dầu người Pha-ri-si hết sức ghét Đức Chúa Jêsus, nhưng họ không chối các phép lạ của Ngài, vì nhiều quá và nhiều người biết quá, không sao chối được. Dầu các phép lạ có tánh chất hoàn toàn phước thiện, song người Pha-ri-si cứng cỏi và giả hình đến nỗi cho nó phát xuất từ quỉ Sa-tan. Lời tố cáo xấu xa và quỉ quái chứng tỏ một bản tánh hầu như không sao cứu chuộc được nữa. Có lẽ lời Đức Chúa Jêsus phán đây có nghĩa chỉ về một tâm trạng mà họ gần đi tới, rất là nguy hiểm. Ở LuLc 2:10, tội lỗi không thể tha thứ có liên quan đến sự chối bỏ Đấng Christ. Đức Chúa Jêsus dường như phân biệt giữa tội lỗi nghịch cùng Ngài và tội lỗi nghịch cùng Đức Thánh Linh (câu 32). Tội lỗi không thể tha thứ thường được mọi người hiểu như thế nầy: Chối bỏ Đấng Christ khi Ngài còn ở trong xác thịt và chưa làm xong công việc, là khi cả môn Ngài cũng chẳng hiểu Ngài, thì có thể được tha thứ. Nhưng sau công việc Ngài hoàn thành và Đức Thánh Linh đã giáng xuống, nếu người ta hiểu biết đầy đủ và lại cố quyết và chung kết chối bỏ lời Đức Thánh Linh giới thiệu Đấng Christ thì đó là "tội lỗi đời đời không hề được tha thứ." Tội lỗi tương tự cũng có nói đến ở HeDt 6:6; 10:26 và IGi1Ga 5:16. Hãy xem lời chú giải những câu nầy.
"Lời hư không" (câu 36) được nhắc đến ở đây, liên quan đến tội lỗi không thể tha thứ. Lời nói bày tỏ tâm tánh chúng ta (câu 34). Mỗi lời nói cũng như mỗi hành động kín nhiệm của chúng ta (xem ở LuLc 12:1-12) đều được "thâu thanh" để diễn lại trong Ngày Phán xét.
Mat Mt 12:38-45 -- Dấu lạ của Giô-na
Cũng nói đến ở LuLc 11:29-32. Sau khi tố cáo Đức Chúa Jêsus nhờ Bê-ên-xê-bun giúp đỡ làm dấu lạ, mà lại xin Ngài làm dấu lạ, thì thật là vô liêm sỉ. Có lẽ họ định xin một cái gì vĩ đại hơn, như sấm sét ở núi Si-na-i, hoặc ma-na rơi xuống. Đức Chúa Jêsus hứa ban cho họ một dấu lạ hơn bội phần mà Ngài gọi là "dấu là của đấng tiên tri Giô-na," -- tức là Ngài từ kẻ chết sống lại, đó là Dấu Lạ Vĩ Đại Hơn Hết Của Mọi Thời Đại. Về các thói quen của các quỉ sứ (câu 43-45), xin xem ở Mac Mc 5:1-20.
Mat Mt 12:46-50 -- Mẹ và anh em Ngài
Cũng có chép ở Mac Mc 3:31-35 và LuLc 8:19-21. Lời đáp của Đức Chúa Jêsus ở đây dạy rằng dây liên lạc thiêng liêng còn mạnh hơn dây liên lạc xác thịt; và Ngài có ý tỏ rõ rằng mẹ Ngài không thân mật với Ngài hơn bất cứ người nào làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời.
Mat Mt 13:1-53-- Các thí dụ về Nước
Thí dụ là một "cách nói ẩn ý mà rộng nghĩa," một sự so sánh, dùng sự tầm thường mà chứng minh những sự thiêng liêng. Nói lược qua, thí dụ là truyện tích dùng để chứng minh lẽ thật. Theo một phương diện, Đức Chúa Jêsus là Đấng hay kể truyện.
Ngài dùng thí dụ một phần như những lời nói tối nghĩa và dường như có hai nghĩa, để "giấu ít lâu chính điều Ngài muốn bày tỏ." Nước mà Đức Chúa Jêsus định thiết lập khác hẳn điều người ta mong đợi nơi Đấng Mê-si; vậy nên Ngài cần phải khéo léo lắm. Vậy, Ngài dùng những truyện tích nầy để chứng minh "căn nguyên, sự tấn triển, tánh chất hỗn hợp và sự hoàn tất" của Nước. Đối với chúng ta, những truyện tích nầy dường như rõ ràng lắm, song đối với kẻ trực tiếp nghe Ngài lúc đó, thì thật là khó hiểu, vì trí óc họ đang mải theo một quan niệm khác hẳn.
Khi giải nghĩa các thí dụ, vấn đề nêu lên là phải biết chi tiết nào quan trọng, và chi tiết nào chỉ là phần không có ý nghĩa nhưng cần thiết cho cốt truyện. Thường thì một thí dụ cốt để nêu lên một điểm, và không nên gò ép nó cho nảy ra những bài học đầy đủ chi tiết.
Theo nhiều ý kiến khác nhau, thì tổng số các thí dụ từ 27 đến 50. Có cái người nầy gọi là thí dụ (parabole ), người khác lại gọi là ám ý (métaphore ); tỉ như "chiên và dê," "nhà xây trên vầng đá và nhà xây trên cát," "cây đèn ở dưới cái thùng," "nỉ mới vá vào áo cũ," v.v... Người ta thường cho là có chừng 30 thí dụ. Một vài thí dụ rất giống nhau. Đức Chúa Jêsus dùng những truyện tích khác nhau để soi sáng cùng một điểm; có khi Ngài lại dùng cùng một truyện tích để soi sáng nhiều điểm khác nhau. Chắc có một vài thí dụ mà Chúa dùng tới cả trăm lần; nhưng Ngài không giống như một Mục sư ở một chi hội phải luôn cho cùng một nhóm người, mà giống như một vị Truyền đạo lưu hành giảng cho những nhóm người khác nhau, ngày nầy qua ngày khác.
13:1-23 -- Thí dụ về người gieo giống
Cũng có chép ở Mac Mc 4:1-25 và LuLc 8:4-16. Hột giống là Lời Đức Chúa Trời. Linh hồn người ta được sanh ra bởi Lời Đức Chúa Trời (IPhi 1Pr IPhi1:23), chớ không phải bởi những bài giảng vô vị như trấu khô. Thí dụ nầy là lời tiên tri về cách người ta tiếp nhận Tin Lành. có kẻ thậm chí không chịu nghe. Có kẻ chịu tiếp nhận nhưng chẳng bao lâu lại sa ngã. Có kẻ nắm lấy lâu hơn, nhưng lần lần mất hào hứng. Còn kẻ khác nắm vững mãi với nhiều trình độ khác nhau, và cuối cùng kết quả.
Mat Mt 13:24-30, 36-43, 47-53 -- Cỏ lùng và lưới bắt cá
Hai thí dụ có những điểm hơi khác nhau, song cùng tỏ ra rằng dầu trái đất được biến cải vì Tin Lành, nhưng kẻ xấu vẫn cứ tồn tại chung với người tốt cho đến kỳ tận thế, là lúc có sự phân rẽ sau cùng, kẻ ác đi vào số phận khốn cực, còn người công bình đi vào Nước vinh hiển đời đời. Đức Chúa Jêsus không có ảo tưởng rằng thế giới nầy sẽ trở nên một nước lý tưởng (utopie ). Ngài biết rõ ràng, đầy đủ rằng cho đến cuối cùng, Tin Lành của Ngài sẽ bị một phần lớn thế giới chối bỏ. Ngài chỉ nhìn nhận hai hạng người: Người được cứu rỗi và kẻ bị hư mất. Nhiều lần, Ngài phán về tình cảnh khốn cực của kẻ bị hư mất, về họ "khóc lóc và nghiến răng." Chắc Ngài biết mình đang phán tỏ điều chi. Chúng ta tự hỏi tại sao loài người cứ tiến bước mà không để ý tới những cờ hiệu mà Đức Chúa Jêsus dường như đang hăm hở phất trước mặt họ đó.
13:31-33 -- Hột cải và men
Cũng có chép ở Mac Mc 4:30-32 và LuLc 13:18-20. Hai thí dụ giống nhau, chứng minh Nước Đấng Christ khởi đầu nhỏ bé, rồi lần lần lớn lên không ngờ, cả trong cá nhân và trên thế giới; rốt lại, Nước Ngài mở mang rộng lớn, biến cải mọi chế độ, triết lý và chánh thể trên mặt đất.
Mat Mt 13:44-46 -- Của báu kín giấu và ngọc châu tốt
Đây là hai thí dụ về cùng một điều: Đấng Christ là quí giá vô cùng cho linh hồn người ta. Điều Đấng Christ hiến cho ta thì đáng cho ta từ bỏ mọi sự, cả đến mạng sống, để được điều ấy.
Nước
Hãy chú ý, sách Tin Lành Ma-thi-ơ rất hay dùng chữ "Nước": 3:2; 4:17, 23 5:3, 10, 19, 20 6:10, 33 7:21; 8:11; 9:35; 10:7; 11:11, 12 12:28; 13:11, 24, 33, 43, 44, 45, 47, 52 16:19, 28 18:23; 19:12, 14, 23, 24 20:1; 21:31, 43 22:2;; 23:13; 24:14; 25:1, 34 26:29.
Một nước chánh trị. -- Họ đang trông mong một nước chánh trị trong đó dân Do-thái sẽ cai trị thế giới, dưới quyền Đấng Mê-si của họ. Hê-rốt đồng quan niệm ấy, nên đã tìm cách tiêu diệt Đức Chúa Jêsus lúc Ngài còn thơ ấu, vì ông nghĩ Nước Đấng Christ sẽ là địch thủ chánh trị của nước ông. Giăng Báp-tít cũng đồng quan điểm ấy, nên khi Đức Chúa Jêsus không chứng tỏ rằng Ngài là Vua dường ấy, thì ông bắt đầu nghi ngờ, không biết Ngài có phải là Đấng Mê-si chăng? (Mat Mt 11:3). 12 Sứ đồ cũng đồng quan điểm ấy cho đến khi Đức Chúa Jêsus sống lại. Câu cuối cùng họ hỏi Đức Chúa Jêsus là: "Có phải trong lúc nầy Chúa sẽ lập lại nước Y-sơ-ra-ên chăng?" (Cong Cv 1:6). Trí óc họ chăm chú vào nền độc lập chánh trị của xứ sở họ, chớ không chăm chú vào sự cứu rỗi đời đời của chính mình họ.
Nước mà Đức Chúa Jêsus đến để sáng lập là gì? Không phải một nước chánh trị, song là Chúa Trị Vì Trong Lòng Người Ta, rồi do lòng họ mà kiểm soát và thay đổi cuộc đời họ. Lòng người ta là nước mà Đức Chúa Jêsus ngự vào để trị vì. Ngài muốn làm cho cả loài người Kính Mến Ngài. Mà sao phải kính mến Ngài? Ấy là để thay đổi chúng ta ra giống như ảnh tượng Ngài và để khiến ta xứng đáng kết bạn đời đời với Đấng Tạo Hóa. Do sự yêu quí Ngài, tận tụy với Ngài và thờ lạy Ngài, sẽ nảy ra cả vẻ đẹp đẽ và sự yên ủi của đời sống, sự thay đổi tâm tánh và sự tái sanh linh hồn.
Chữ "Nước " dùng trong Tân Ước rất co giãn. Khi thì dường như chỉ về sự cai trị của Đức Chúa Trời trong lòng cá nhân. Khi thì chỉ về đời trị vì tổng quát của sự công bình ở giữa vòng loài người. Khi thì chỉ về Hội Thánh. Khi thì chỉ về giới tín đồ Đấng Christ. Khi thì chỉ về đời trị vì 1000 năm. Khi thì chỉ về Thiên đàng. Ý nghĩa căn bản của chữ nầy là Đức Chúa Jêsus cai trị trong lòng con cái Ngài trải qua mọi thời đại cho đến đời đời vô cùng. Nước có nhiều trạng thái và nhiều giai đoạn. Khi thì chữ "Nước" có thể chỉ đặc biệt về một trạng thái hoặc một giai đoạn nầy; khi thì chỉ về một trạng thái hoặc một giai đoạn khác.
13:54-58. Thăm viếng thành Na-xa-rét. -- Xem ở Mac Mc 6:1-6.
Mat Mt 14:1-12. Giăng Báp-tít bị chém đầu. -- Xem ở LuLc 3:1-20.
Mat Mt 14:13-21. Chúa cho 5000 người ăn no nê. -- Xem ở GiGa 6:1-15.
Mat Mt 14:22-33. Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt nước. -- Xem ở GiGa 6:16-21.

Thời Gian Từ Lúc Chúa Cho 5000 Người Ăn No Nê
Tới Lúc Chúa Hóa Hình
Mat Mt 14:34-16:12. Xem ở Mac Mc 6:53.
Mat Mt 14:34-36. Các đoàn dân đông o73 Ghê-nê-xa-rết. -- Xem ở Mac Mc 6:53.
Mat Mt 15:1-20. Người Pha-ri-si và sự bị ô uế. -- Xem ở Mac Mc 7:1-23.
Mat Mt 15:21-28. Người đờn bà Ca-na-an. -- Xem ở Mac Mc 7:24-30.
Mat Mt 15:29-39. Chúa cho 4000 người ăn no nê. -- Xem ở Mac Mc 8:1-9.
Mat Mt 16:1-12. "Men của người Pha-ri-si ".-- Xem ở Mac Mc 8:10-21.
Mat Mt 16:13-20. Lời xưng nhận của Phi-e-rơ.
Việc nầy cũng có chép ở Mac Mc 8:27-29 và LuLc 8:27-30. Phi-e-rơ tiếp nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si kể đã được 3 năm rồi (GiGa 1:41, 42). Một năm sau khi tiếp nhận, ông gọi Ngài là "Chúa" (LuLc 5:8). Nửa năm sau nữa, ông gọi Ngài là "Đấng Thánh của Đức Chúa Trời" (GiGa 6:68, 69). Bây giờ, sau 2 năm rưỡi liên kết với Đức Chúa Jêsus, ông tỏ lòng tin quyết rằng Ngài là Đức Chúa Trời.
"Đá " (câu 18 -- nguyên văn là "Vầng Đá") trên đó Đấng Christ sẽ xây dựng Hội Thánh Ngài, chẳng phải là Phi-e-rơ đâu, nhưng là chơn lý mà ông mới tuyên xưng rằng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Thần tánh của Đức Chúa Jêsus là nền tảng trên đó Hội Thánh được kiến tạo, và là bản tín điều cốt yếu của giới tín đồ Đấng Christ. Đó là ý nghĩa của Lời Chúa phán đây, không sao lầm lẫn được.
"Chìa khóa Nước Thiên đàng " (câu 19). Nguyên văn là: "Các chìa khóa." Người ta thường giải thích câu nầy rằng Phi-e-rơ mở cửa cứu rỗi nhằm ngày lễ Ngũ tuần cho người Do-thái (Cong Cv 2:1-47), và về sau cho các dân ngoại (10:1-48). Ấy chẳng có nghĩa rằng ông được Chúa ban cho quyền riêng để tha tội, nhưng có ý nghĩa ông được Chúa ban cho quyền riêng để tuyên bố những điều kiện tha thứ tội lỗi. Bất cứ Chúa ban quyền gì cho Phi-e-rơ, thì Ngài cũng ban quyền ấy cho các Sứ đồ khác (Mat Mt 18:18; GiGa 20:23). Và Ngài ban quyền ấy cho họ theo ý nghĩa tuyên cáo, chớ không phải theo ý nghĩa tuyệt đối. Trong Đấng Christ có sự thương xót và tha thứ cho mọi người. Chính Đấng Christ tha tội. Các Sứ đồ của Ngài đã được Đức Thánh Linh soi dẫn để tuyên cáo và ghi chép trong Tân Ước những điều kiện của sự tha thứ đó.
Phi-e-rơ không hề tự nhận mình cao trọng hơn các Sứ đồ khác. Ông và các Sứ đồ khác cũng không bao giờ tự nhận là mình tha thứ tội lỗi cho ai.
Chúng ta có thể tha thứ các tội lỗi mà kẻ khác phạm nghịch với mình. Hội Thánh có thể tha thứ các tội lỗi đã phạm nghịch cùng Hội Thánh. Nhưng chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền thật tha thứ tội lỗi.
Trong Tân Ước không có chỗ nào chép rằng, hoặc thậm chí ngụ ý nói rằng quyền của Phi-e-rơ, bất cứ nó là gì, đã được truyền lại cho các Thủ lãnh kia. Bất cứ đoạn sách nầy có ý nghĩa gì cho các Sứ đồ, chắc cũng không ai được căn cứ vào đó để đòi có những đặc quyền mà Đấng Christ đã ban cho các Sứ đồ ấy. Đây tuyệt đối không có gì ủng hộ lời Giáo hội kia tự nhận rằng các phẩm chức của họ có quyền tha tội. Chỉ Đức Chúa Trời có quyền tha tội. Người nào hoặc nhóm người nào dám tự nhận có đặc quyền ấy, thì thật là không đúng với Kinh Thánh.
Mat Mt 16:21-28. Chúa dự ngôn sự thương khó của Ngài. -- Xem ở Mac Mc 9:30-32.
Mat Mt 17:1-13. Đức Chúa Jêsus hóa hình. -- Xem ở Mac Mc 9:2-13.
Mat Mt 17:14-20. Đứa trẻ bị kinh phong. -- Xem ở Mac Mc 9:14-29.
Mat Mt 17:22-23. Chúa lại dự ngôn sự thương khó của Ngài. -- Xem ở Mac Mc 9:30-32.
Mat Mt 17:24-27. Tiền đóng thuế. -- Đây là một thứ thuế đầu người thâu cho Đền thờ, mà mỗi người nam trên 20 tuổi phải đóng (XuXh 30:11-15). Số tiền nầy bằng chừng 12 đồng Việt-nam. Là Chúa của Đền thờ, Đức Chúa Jêsus được miễn thuế nầy. Nhưng để người ta khỏi hiểu sai thái độ của Ngài đối với Đền thờ, nên Ngài nộp thuế ấy và đã nhờ một phép lạ mà có tiền.
Mat Mt 18:1-6. "Ai là lớn hơn hết? ".-- Xem ở LuLc 9:46-48.
Mat Mt 18:7-14. "Những cơ hội làm cho vấp phạm ".-- Xem ở Mac Mc 9:41-50.
Mat Mt 18:15-35. Sự tha thứ. -- Một ta lâng (câu 24) đáng giá chừng 1000 Mỹ kim. Một đơ-ni-ê (câu 28) đáng giá 17 xu Mỹ (chừng 13 đồng Việt-nam). Người nầy được tha nợ 10 triệu Mỹ kim, nhưng lại không chịu tha nợ 17 Mỹ kim. Đó là cách Đức Chúa Jêsus so sánh những tội lỗi chúng ta phạm nghịch cùng Đức Chúa Trời với những tội lỗi mà kẻ khác phạm nghịch cùng chúng ta. Hãy chú ý lời Đức Chúa Jêsus tuyên bố quả quyết rằng nếu chúng ta không tha thứ, thì không thể nào được tha thứ (câu 35).
Chức Vụ Của Chúa Tại Xứ Pê-rê (18:1-20:34 xem LuLc 9:51)
Mat Mt 19:1-2. Dời khỏi xứ Ga-li-lê. -- Xem ở LuLc 9:51.
Mat Mt 19:3-12. Câu hỏi về sự ly dị. -- Lời Đức Chúa Jêsus dạy về sự ly dị có chép ở đây và ở 5:31-32; Mac Mc 10:2-12; LuLc 16:18. Sứ đồ Phao-lô cũng giải luận vấn đề nầy ở I Cô-rinh-tô, đoạn 7. Một người nam và một người nữ trở nên vợ chồng trọn đời, -- đó là ý chỉ Đức Chúa Trời đối với loài người. Trong luật pháp Môi-se, Đức Chúa Trời cho phép một vài sự thỏa hiệp vì cớ loài người yếu đuối. Còn Đấng Christ dường như chỉ ưng chịu một lý do ly dị (câu 9); rồi sau Ngài sửa đổi lời tuyên bố ấy mà phán rằng: "Chẳng phải mọi người đều có thể lãnh được lời nầy" (câu 11).
Mat Mt 19:13-15. Con trẻ. -- Xem ở LuLc 18:15-17.
Mat Mt 19:16-30. Vị quan trưởng trẻ tuổi và giàu có. -- Xem ở LuLc 18:18-30.
Mat Mt 20:1-16. Thí dụ về những người làm công trong vườn nho.-- Đây không có nghĩa là mọi người sẽ được đối xử như nhau trên Thiên đàng, hoặc sẽ chẳng có phần thưởng chi hết. Thí dụ về các ta-lâng (Mat Mt 25:14-30) dường như dạy rõ rằng sẽ có phần thưởng. và Phao-lô cũng dạy như vậy (ICo1Cr 3:14-15). Đây là một trong những thí dụ mà ta không nên gò ép cho ra một bài học về mọi phương diện. Đây, Đức Chúa Jêsus chỉ có ý dạy một điều: Ấy là một số người tưởng mình đứng đầu trong thế gian nầy sẽ thấy mình đứng cuối ở Thiên đàng. Ngài phán điều ấy nhiều lần (Mat Mt 19:30; 20:16; Mac Mc 10:31; LuLc 13:30). Mực thước của Thiên đàng và mực thước của trần gian khác nhau đến nỗi nhiều tín đồ thấp hèn nhứt ở đời nầy, chỉ làm tôi mọi và tôi tớ, sẽ có địa vị cao quí nhứt trên Thiên đàng; và nhiều thủ lãnh cao trọng của Hội Thánh nếu được lên Thiên đàng, thì sẽ ở dưới những người đã làm tôi tớ mình trong đời nầy (xem thêm ở dưới 16:19-31).
Mat Mt 20:17-19. Chúa lại dự ngôn về sự thương khó của Ngài. -- Xem ở Mac Mc 9:30-32.
Mat Mt 20:20-28. Lời thỉnh cầu của Gia-cơ và Giăng. -- Điểm đáng buồn trong truyện tích nầy là phản ứng của họ đối với lời Đức Chúa Jêsus vừa mới báo cáo rằng Ngài đang đi đường lên Thập tự giá. Cả đến Giăng yêu dấu của Chúa cũng ích kỷ một cách mù quáng thay! Ông hiểu biết Chúa ít quá! Xem ở LuLc 9:46-48.
Mat Mt 20:29-34. Người mù thành ở Giê-ri-cô. -- Xem ở LuLc 18:35-43.
Tuần Lễ Cuối Cùng Của Đức Chúa Jêsus (Mat Mt 21:1-28:20)
21:1-11 -- Chúa ngự vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn
Cũng có chép ở Mac Mc 11:1-10; LuLc 19:29-38; GiGa 12:12-19. Việc nầy xảy ra nhằm Chúa nhật trước khi Đức Chúa Jêsus chịu chết. Ngài đã ngự đến với tư cách Đấng Mê-si được dự ngôn từ lâu. Trong 3 năm Ngài tự giới thiệu với nhân dân bởi luôn luôn du hành và làm phép lạ, lại cũng bởi những cuộc du hành và phép lạ của 12 Sứ đồ và 70 môn đồ. Ngài thừa biết những kẻ cầm quyền đã quyết định rằng Ngài phải chết. Ngài sẵn lòng chịu chết, và thì giờ của Ngài đã điểm. Ngài tung bỏ hết dè dặt theo gió bốn phương, và trong một cuộc biểu tình vĩ đại để báo cáo cho Thành Thánh lần cuối cùng, Ngài ngự vào Giê-ru-sa-lem giữa những tiếng "Ha-lê-lu-gia!" và "Hô-sa-na!" của đoàn dân đông đảo đang chờ mong. Đó là một cơ hội quan trọng đủ làm cho đá kêu vang lên (LuLc 19:40). Dân chúng hoan hỉ. Họ tưởng giờ giải phóng đã tới rồi. Đức Chúa Jêsus cỡi lừa con, vì đã có dự ngôn rằng Đấng Mê-si, là Vua, sẽ ngự đến như vậy (XaDr 9:9).
Mat Mt 21:12-17 -- Đức Chúa Jêsus dẹp sạch Đền thờ
Cũng có chép ở Mac Mc 11:15-18 và LuLc 19:45-47. Đây là ngày thứ hai. Ba năm trước, Ngài cũng đã làm việc nầy, lúc bắt đầu chức vụ công khai (xem lời chú giải ở GiGa 2:13-16). Những mối lợi lớn thâu được ở các sạp chợ trong khu vực Đền thờ, dọc theo cổng Sa-lô-môn, đã làm giàu cho gia đình thầy tế lễ thượng phẩm. Đức Chúa Jêsus bất bình phừng phừng vì chúng dùng Nhà của Đức Chúa Trời một cách bại hoại như vậy. Ngài biết ý định của chúng đối với Ngài, và với sự thản nhiên hoàn toàn, Ngài đố thách chúng, dường như cố quyết khêu ngòi chống đối của chúng. Hơn nữa, người ta trông mong Đấng Mê-si hành động như vậy (MaMl 3:1-3). Xem thêm ở dưới GiGa 2:13-16.
Mat Mt 21:18-22 -- Đức Chúa Jêsus làm cho cây vả khô héo
Cũng có chép ở Mac Mc 11:15-18 và LuLc 19:45-47. Việc nầy nhằm buổi sáng ngày thứ hai, trong lúc Ngài đi từ làng Bê-tha-ni đến Giê-ru-sa-lem, theo đường qua núi Ô-li-ve. Sáng hôm sau, các môn đồ nhận thấy điều đó trong lúc đi vào thành Giê-ru-sa-lem. Rõ ràng lắm, buổi tối ngày thứ hai, Chúa đã từ Giê-ru-sa-lem đi về Bê-tha-ni, theo con đường vòng quanh chơn núi phía Nam.
Mat Mt 21:23-27 -- "Bởi quyền phép nào? "
Cũng có chép ở Mac Mc 11:27-33 và LuLc 20:1-8. "Ai cho Thầy quyền cai quản Thành Thánh và Đền thờ? Thầy là Ai?" Bọn cầm quyền giận dữ cay đắng vì dân chúng theo về phía Đức Chúa Jêsus, nên chúng tìm đủ cách có thể tưởng tượng để gài bẫy Ngài. Nhưng Ngài là một Nhà Biện chứng đại tài, và đã trả miếng mỗi câu hỏi của chúng, làm cho chúng bối rối.
Mat Mt 21:28-32 -- Thí dụ về hai con trai
Thí dụ nầy nhắm thẳng vào bọn thủ lãnh tôn giáo, tức là các thầy tế lễ cả, trưởng lão, thầy thông giáo và người Pha-ri-si vốn tự nhận là kẻ canh giữ dân Đức Chúa Trời. Họ đã chối bỏ Đức Chúa Jêsus. Nhưng thường dân lại vui vẻ tiếp nhận Ngài.
21:33-46 -- Thí dụ về vườn nho
Cũng có chép ở Mac Mc 12:1-12 và LuLc 20:9-19. Thí dụ về hai con trai ở trên đây cốt nhắm vào bọn thủ lãnh của dân tộc Do-thái. Còn thí dụ nầy thì nhắm vào chính dân tộc Do-thái.
Mat Mt 22:1-14 -- Thí dụ về tiệc cưới
Đây là một thí dụ khác tỏ ra cùng một điều như trên, -- ấy là tuyển dân của Đức Chúa Trời đã đối xử với các sứ giả Ngài một cách đáng hổ thẹn, nên bây giờ bị loại bỏ, thủ đô của họ sẽ bị thiêu hủy, và các dân tộc khác sẽ được gọi vào. Đây cũng là một thí dụ có hai ý nghĩa, vì nó cảnh cáo những người mới tới rằng họ phải cẩn thận, kẻo lại chịu chung số phận ấy.
22:15-22. Nộp thuế cho Sê-sa. -- Xem ở Mac Mc 12:13-17.
Mat Mt 22:23-33. Sự sống lại. -- Xem ở Mac Mc 12:18-27.
Mat Mt 22:34-40. Điều răn lớn. -- Xem ở Mac Mc 12:28-34.
Mat Mt 22:41-46. "Con vua Đa-vít ".-- Xem ở Mac Mc 12:35-37.
Mat Mt 23:1-39-- Khốn thay cho các thầy thông giáo và người Pha-ri-si!
Trong các giáo phái đương thời Đức Chúa Jêsus, người Pha-ri-si đông nhứt, có thế lực và ảnh hưởng nhiều nhứt. Họ là những người chú trọng vào luật pháp rất nghiêm nhặt. Họ đại diện cho sự khắt khe vâng giữ văn tự và hình thức của luật pháp, và cũng đại diện cho cổ phong (các lời truyền khẩu). Trong vòng họ có một vài người tốt. Nhưng nói chung, họ nổi tiếng vì tham lam, vô tình, cậy sự công bình riêng và giả hình.
Các thầy thông giáo (hoặc: ký lục, thơ ký) là người chép Kinh Thánh. Vì họ biết luật pháp rất tỉ mỉ, nên được nhìn nhận là có thẩm quyền. Có khi họ cũng được gọi là "thầy dạy luật" (luật sư). Những người danh tiếng hơn hết đã mở trường dạy luật pháp. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si là thủ lãnh tôn giáo của dân tộc Do-thái.
Những lời Đức Chúa Jêsus phán với họ đây là bản cáo giác gắt gao hơn hết mà môi miệng Ngài từng thốt ra. Ngài gọi họ là "loài rắn," là "dòng dõi rắn lục" (câu 33). Ngài không hề phán như vậy với các tội nhân, người thâu thuế và thường dân. Ngài là Người đạo đức hơn hết từng sống ở đời nầy. Nhưng linh hồn Ngài gớm ghét sự đạo đức giả là dường nào!
Bọn nầy không chết hết trong thế hệ ấy đâu. Trải qua bao nhiêu thế kỷ, Hội Thánh đã bị rủa sả vì có những thủ lãnh mô tả rất đúng trong sách Ma-thi-ơ, đoạn 23. Họ là bọn hành đạo nhà nghề mà chẳng có đạo đức chi hết, diễn hành trong bộ áo thánh, dạy kẻ khác những điều mà chính mình họ chẳng có và chẳng làm. Họ là bọn người lòe loẹt, tự cho là quan trọng, đi dạo quanh như vua chúa, giảng đạo mà chẳng có đạo chi hết.
Từ giã Đền thờ
Nhằm ngày thứ hai, Chúa đã dẹp sạch Đền thờ. Ngày thứ ba, sau khi cảnh cáo lần chót rằng bây giờ Nước Đức Chúa Trời bị cất khỏi người Do-thái mà ban cho các dân tộc khác, thì Đức Chúa Jêsus tố cáo khủng khiếp, và tỏ lòng thương xót thiết tha, rồi từ giã Đền thờ, không hề trở lại nữa, mặc nó cho bị phá hủy. Khi Chúa lìa khỏi Đền thờ, thì Ngài chấm dứt chức vụ công khai để bình tĩnh chờ đợi sự chết xảy đến cho Ngài 3 ngày sau.
Bài Diễn Giảng Quan Trọng Về Kỳ Sau Rốt (Mat Mt 24:1-25:46 cũng có chép ở Mac Mc 13:1-37 và LuLc 21:1-38)
Mat Mt 24:1-44 -- Thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, Chúa ngự đến và kỳ tận thế
Đức Chúa Jêsus giảng bài nầy sau khi lìa khỏi Đền thờ lần chót. Ngài giảng về thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá, về sự tái lâm của Ngài, và về kỳ tận thế. Khi thì Ngài phán về biến cố nầy, khi thì Ngài phán về biến cố kia. Một vài lời của Ngài lẫn lộn đến nỗi khó biết là Ngài phán về biến cố nào đó. Có lẽ Ngài cố ý làm cho lẫn lộn như vậy. Hoặc có lẽ đây chỉ là lược thuật một bài giảng dài hơn bội phần. Dường như rõ ràng rằng Ngài nghĩ đến hai biến cố đặc biệt cách nhau một thời gian, và được chỉ rõ bởi chữ "kia" ở Mat Mt 24:34 và "ngày đó" ở 24:36. Có người lại giải thích mấy chữ "dòng dõi nầy" (Mat Mt 24:34) là dân tộc nầy, tức là chủng tộc Do-thái sẽ không qua đi trước khi Chúa ngự đến. Quan điểm thông thường hơn là Chúa có ý phán rằng thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hủy diệt đương thời những người nghe đó còn sống. Một người nhìn hai ngọn núi ở đằng xa, ngọn nọ ở sau ngọn kia, thì hai ngọn dường như gần nhau, mặc dầu hai ngọn có lẽ cách nhau xa lắm. Cũng một thể ấy, dưới tầm mắt của Đức Chúa Jêsus, hai biến cố nầy gần nhau (vì biến cố nầy giống biến cố kia về nhiều phương diện), mặc dầu thật cách nhau một thời gian dài. Điều Ngài phán trong một câu có thể gồm cả một thời đại. Điều xảy đến trong trường hợp nầy có thể là "bắt đầu ứng nghiệm" điều sẽ xảy đến trong trường hợp khác.
Những lời Ngài phán về thành Giê-ru-sa-lem đã được ứng nghiệm từng chữ, từng tiếng trong vòng 40 năm sau. Những lâu đài, dinh thự xây bằng cẩm thạch và bằng vàng, từ xa, "trông như ngọn núi phủ tuyết," đã bị hủy phá trơn trọi bởi quân đội La-mã, năm 70 S.C., đến nỗi sử gia Josèphe nói rằng trông nó giống như một vị trí chưa từng có người ở (xem ở dưới Hê-bơ-rơ, đoạn 13).
Sự tái lâm của Ngài
Phần lớn của bài giảng nầy cốt luận về đề mục: "Sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus." Ngài chỉ còn cách sự chết có 3 ngày, và biết các môn đồ sẽ kinh hoảng đến nỗi mất gần hết đức tin nơi Ngài và nơi Nước Ngài; vậy nên Ngài chịu khó giải thích cho họ rằng hy vọng của họ sẽ được thực hiện một cách bội phần vĩ đại hơn là họ từng mơ tưởng.
Tư tưởng của Đức Chúa Jêsus chú trọng nhiều vào sự tái lâm của Ngài:--
"Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh..." (Mat Mt 25:31).
"Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm" (Mat Mt 16:27).
"Như chớp phát ra từ phương Đông, nhoáng đến phương Tây, thì sự Con người đến cũng sẽ thể ấy" (Mat Mt 24:27).
"Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy" (Mat Mt 24:37).
"Việc đã xảy ra trong đời Lót cũng vậy,... ngày Con người hiện ra cũng một thể ấy" (Mat Mt 17:28-30).
"Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con người dùng đại quyền, đại vinh mà ngự đến trên đám mây" (LuLc 21:27).
"Hễ ai hổ thẹn về Ta và đạo Ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh" (Mac Mc 8:38).
"Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ,... rồi Ta sẽ trở lại, đem các ngươi đi với Ta" (GiGa 14:2-3).
Sự tái lâm của Ngài sẽ được báo bởi "tiếng kèn rất lớn" (Mat Mt 24:31), cũng như ngày xưa, nhân dân được thâu nhóm bởi tiếng kèn vậy (XuXh 19:13, 16, 19). Khi luận về sự sống lại, Sứ đồ Phao-lô cũng nhắc lại mấy chữ ấy: "Kèn sẽ thổi" (ICo1Cr 15:52), và ở thơ ITe1Tx 4:16, ông nói rằng: "Sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống." Vậy, tỏ ra có lẽ không phải chỉ là một cách nói bóng mà thôi. Đây là một biến cố lịch sử vĩ đại, thật có và thình lình, trong đó Ngài thâu nhóm những kẻ thuộc về Ngài từ giữa vòng người sống và người chết, tiếp họ lên với Ngài, với một mực độ vĩ đại, tối thượng.
Nào Ngài ngự đến đoán phạt thành Giê-ru-sa-lem năm 70 S.C; nào Đức Thánh Linh giáng lâm trong ngày lễ Ngũ tuần (các Sứ đồ không nghĩ rằng Đức Chúa Jêsus đã ngự đến trong ngày lễ Ngũ tuần, vì lâu năm sau ngày lễ ấy, họ vẫn còn trông đợi Ngài ngự đến); nào Ngài ngự đến với con cái Ngài rất nhiều lần, trong những bước từng trải mới mẻ; nào chúng ta đi đến cùng Ngài khi qua đời, -- không một biến cố nào trong mọi biến cố đó có thể làm cạn ý nghĩa của lời Đức Chúa Jêsus phán về Ngài tái lâm.
Tốt nhứt là đừng quá độc đoán đối với một vài biến cố kèm theo sự tái lâm của Ngài. Nhưng nếu lời nói là môi giới của tư tưởng, thì ta phải cắt nghĩa và giải thích nhiều lắm, mới có thể rút ra từ lời Đức Chúa Jêsus phán một điều chi khác với điều nầy: Ấy là chính Ngài trông đợi ngày Ngài sẽ tái lâm như một biến cố lịch sử rõ rệt, và khi ấy, chính Ngài sẽ thật hiện ra (không phải trong thân thể xác thịt, nhưng trong thân thể vinh hiển) để thâu nhóm mọi người đã được cứu chuộc bởi Huyết Ngài về ở với Ngài trong nơi vinh hiển đời đời.
Tốt nhứt là đừng làm lu mờ cái hy vọng Ngài tái lâm bởi một lý thuyết tỉ mỉ quá về sẽ có gì xảy ra khi Ngài ngự đến. Chúng tôi ngờ rằng có một số người sẽ thất vọng kinh khủng trong trường hợp Đức Chúa Jêsus không làm theo đúng chương trình mà họ đã hoạch định cho Ngài.
Người ta thuật rằng Nữ hoàng Victoria, nước Anh, chịu cảm động sâu xa bởi bài giảng của ông F.W. Farrar về Chúa tái lâm, nên đã nói với ông rằng: "Ông Farrar yêu dấu ơi, tôi mong còn sống khi Đức Chúa Jêsus tái lâm, để có thể đặt vương miện nước Anh dưới chơn Ngài."
Mat Mt 24:45-51. Các tôi tớ trung tín và khôn ngoan. -- Từ đây trở đi, bài giảng của Đức Chúa Jêsus chuyên khuyên bảo tín đồ phải tỉnh thức. Sự tái lâm của Ngài chiếm địa vị cao nhứt trong tư tưởng Ngài. Nó cũng đáng phải chiếm địa vị cao nhứt trong tư tưởng của chúng ta.
25:1-13. Thí dụ về 10 nữ đồng trinh. -- Thí dụ nầy chỉ cốt tỏ ra một điều, ấy là trí óc chúng ta phải chuyên chú vào Chúa và ta phải sẵn sàng khi Ngài ngự đến. Người "khôn" dự bị cho trường hợp Ngài "đến trễ" (câu 5).
25:14-30. Thí dụ về các ta lâng. -- Cũng như thí dụ về các nén bạc (LuLc 19:11-27), thí dụ nầy có nghĩa rằng chúng ta đang được huấn luyện để phục vụ cao trọng hơn trong một chế độ tương lai, và địa vị của ta ở đó tùy thuộc cách ta trung tín quản lý cho Chúa trong cõi đời nầy.
Mat Mt 25:31-46. Cảnh tượng phán xét sau cùng. -- Đây là một trong những khúc sách tuyệt diệu của cả Kinh Thánh, là một bức tranh cụ thể tỏ ra thể nào sự từ ái thông thường sẽ có ảnh hưởng đến địa vị của chúng ta trong cõi đời đời.
26:1-5. Mưu giết Đức Chúa Jêsus. -- Xem ở Mac Mc 14:1-2.
Mat Mt 26:6-13. Chúa được xức dầu tại Bê-tha-ni. -- Xem ở Mac Mc 14:3-9.
Mat Mt 26:14-16. Giu-đa hỏi giá bán Chúa. -- Xem ở Mac Mc 14:10-11.
Mat Mt 26:17-29 -- Bữa tối cuối cùng
Cũng có chép ở Mac Mc 14:12-25; LuLc 22:7-38; GiGa 13:1-14:31. Đây là đêm trước khi Ngài chịu chết. Có hai bữa tối: Bữa tối lễ Vượt qua và bữa tối của Chúa (Tiệc Thánh). Tiệc Thánh được thiết lập khi đã ăn xong bữa tối lễ Vượt qua. Lu-ca ghi chép hai chén (Mat Mt 22:17-20). Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca chép cả hai bữa tối. Còn Giăng chỉ chép có lễ Vượt qua.
Trải qua 14 thế kỷ, lễ Vượt qua chỉ bóng về Chiên Con Lễ Vượt qua sẽ hiện đến. Đức Chúa Jêsus ăn Lễ Vượt qua, và thiết lập Tiệc Thánh thay cho lễ ấy, rồi chính mình Ngài bị giết với tư cách Chiên Con của Lễ Vượt qua. Đức Chúa Jêsus trút linh hồn trên cây Thập tự nhằm chính ngày mà các chiên con Lễ Vượt qua bị giết trong Đền thờ.
Lễ Vượt qua đã đạt tới mục đích của nó và bây giờ nó nhường chỗ cho Bữa Tối Kỷ niệm Mới mẻ (Tiệc Thánh) mà ta dự để tưởng nhớ Đức Chúa Jêsus cho đến khi Ngài tái lâm (ICo1Cr 11:26).
Lễ Vượt qua khiến người ta nhớ lại sự giải phóng khỏi Ai-cập và tưởng tới sự ngự đến của Đấng Mê-si thể nào, thì cũng một thể ấy, Tiệc Thánh khiến chúng ta nhớ lại Đức Chúa Jêsus chịu chết để giải phóng ta khỏi tội lỗi và tưởng đến Ngài sẽ tái lâm trong vinh quang.
Hơi khó tìm ra thứ tự các chi tiết trong bữa tối nầy. Ma-thi-ơ và Mác dường như đặt Tiệc Thánh ở sau lúc Giu-đa đã đi ra. Lu-ca dường như nói rằng Giu-đa có mặt ở đó. Giăng chép về sự tranh giành giữa các Sứ đồ trước. Lu-ca lại chép sự tranh giành nầy sau Tiệc Thánh. Rõ ràng lắm, trong khi sắp đặt các chi tiết, các tác giả đã được dắt dẫn bởi những sự nhận xét khác với thứ tự các chi tiết ấy xảy ra. Dưới đây là thứ tự có lẽ đúng:
1.-- Các Sứ đồ tranh giành địa vị cao trọng. Đức Chúa Jêsus rửa chơn cho họ.
2.-- Đức Chúa Jêsus báo tin Ngài sẽ bị phản nộp. Ai nấy hỏi rằng: "Có phải tôi chăng?"
3.-- Chúa cho Giu-đa miếng bánh nhúng. Hắn hỏi: "Có phải tôi chăng?", rồi đi ra.
4.-- Thiết lập Tiệc Thánh.
5.-- "Điều răn mới" và những lời êm ái ở sách GiGa 14:1-31.
Chén
Năm 1910, giữa đống hoang tàn của một đại giáo đường ở vị trí thánh An-ti-ốt thời xưa, người ta tìm thấy một cái chén, bên trong lại có một cái chén nữa. Các nhà học giả có thẩm quyền cho rằng đó có thể là chính cái chén mà Đức Chúa Jêsus đã dùng trong đêm thánh đó. Cái chén bên trong bằng bạc, không chạm trổ chi hết. Cái chén bên ngoài cũng bằng bạc, nhưng chạm trổ tuyệt xảo 12 hình người, tức là Đấng Christ và các Sứ đồ. Tay mặt của Chúa đụng tới một dĩa có 5 ổ bánh và 2 con cá. Bên kia dĩa có con bò câu; bên cạnh Chúa có con chiên con và những cây nho. Hết thảy là biểu hiện của đạo Đấng Christ. Rõ ràng lắm, cái chén bên ngoài dùng để giữ cái chén bên trong, là một vật thánh và quí báu, lâu đời hơn cái chén bên ngoài. Người ta cho là mỹ thuật và thủ công thuộc về thế kỷ thứ nhứt. Theo ý kiến nhiều người, thì Bữa Tối Cuối cùng có lẽ đã dọn trong nhà thân mẫu của Mác. Mác thường ghé thăm thành An-ti-ốt. Sau khi Giê-ru-sa-lem bị hủy phá, thì An-ti-ốt trở thành trung tâm chánh yếu của đạo Đấng Christ. Không có gì tự nhiên hơn là vật quí báu vô biên cho tín đồ Đấng Christ nầy đã được gìn giữ trong nhà thờ chánh của thành An-ti-ốt; đến khi nhà thờ nầy bị phá hủy, thì vật ấy đã bị vùi trong đống hoang tàn cho đến khi tìm được cách đây ít lâu. Cái chén nầy thuộc quyền sở hữu của ông Fahim Kouchakji, ở Nữu-ước.
Mat Mt 26:30-46. Chúa hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-nê. -- Xem ở LuLc 22:39-46.
Mat Mt 26:47-56. Chúa bị phản nộp và bị bắt. -- Xem ở GiGa 18:1-12.
Mat Mt 26:57-68. Trước mặt thầy tế lễ thượng phẩm. -- Xem ở Mac Mc 14:53.
Mat Mt 26:69-75. Phi-e-rơ chối Chúa. -- Xem ở GiGa 18:15-27.
Mat Mt 27:1-2. Đức Chúa Jêsus chánh thức bị lên án. -- Xem ở Mac Mc 14:53.
Mat Mt 27:3-10. Giu-đa tự sát. -- Xem ở Mac Mc 14:10-11.
Mat Mt 27:11-25. Cuộc xét xử trước mặt Phi-lát
Về lời chú giải các giai đoạn kế tiếp nhau trong vụ xét xử Đức Chúa Jêsus, xin xem ở dưới Mac Mc 14:53.
Phi-lát là quan Thống đốc La-mã cai trị xứ Giu-đê (26-37 S.C.). Ông nhận chức vào khoảng Đức Chúa Jêsus bắt đầu thi hành chức vụ công khai. Ông có trú sở chánh thức tại thành Sê-sa-rê. Ông đến Giê-ru-sa-lem những khi có kỳ lễ để duy trì trật tự. Ông không có lòng thương xót, song tàn ác, và nổi tiếng vì quen thói hung bạo. Như các hoàng đế La-mã đương thời mình, ông hơi vui thích trước cảnh tượng một người bị tra tấn và xử tử. Có lần ông đã trộn huyết của mấy người Ga-li-lê với tế vật của họ (LuLc 13:1).
Một trong những bức tranh kỳ lạ hơn hết của lịch sử là sự cảm xúc mà Đức Chúa Jêsus đã khơi trong quan Thống đốc La-mã có lòng cứng cỏi nầy. Hoặc Đức Chúa Jêsus đứng hiên ngang và đẹp đẽ theo như một truyền thoại đã kể, hay là Ngài khom vao xuống và xấu xí theo như một truyền thoại khác đã kể, nhưng trong vẻ mặt và dáng điệu của Ngài có một cái gì thiên thượng và oai nghi đến nỗi dầu Ngài đang mặc áo vua giả mạo, đội vương miện bằng gai trên đầu, và máu chảy ròng ròng trên mặt, Phi-lát cũng không xây mặt khỏi Ngài được.
Sự cố gắng của Phi-lát để cứu Đức Chúa Jêsus khỏi bị đóng đinh vào Thập tự giá, thật là một truyện đáng thương hại. Ông không muốn Ngài phải chết. Ông kêu gọi từ các quan trưởng Do-thái tới Hê-rốt: rồi từ Hê-rốt trở lại các quan trưởng; rồi từ quan trưởng đến đoàn dân đông đảo. Tới khi đoàn dân đông đảo xây qua nghịch cùng Đức Chúa Jêsus, thì ông kêu gọi lòng thương xót của họ bằng cách truyền lịnh đánh đòn Ngài, vì hy vọng rằng họ sẽ hài lòng khi thấy Ngài bị hình phạt một phần nào, chớ không đòi hỏi Ngài phải đi trọn đường chịu đóng đinh vào Thập tự giá. Khi biện pháp đó thất bại, thì ông không dám quyết định đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá cho đến khi dân Do-thái dọa mách ông với Sê-sa (hoàng đế La-mã). Rốt lại, khi ông bắt đầu lo sợ có thể mất địa vị Thống đốc xứ Giu-đê, thì ông mới bằng lòng cho chúng giết Đức Chúa Jêsus.
Sáu năm sau, Phi-lát bị triệu về La-mã để xét xử vì đã vô cớ tàn sát một nhóm người Sa-ma-ri; truyền rằng ông đã tự tử. Theo truyền thoại, thì vợ Phi-lát, là Pờ-rô-qui-la, đã trở lại tin theo Đấng Christ.
"Xin Huyết Người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!" (câu 25). Lời nầy đã được ứng nghiệm khủng khiếp biết bao!
Mat Mt 27:26 -- Đức Chúa Jêsus bị đánh đòn
Sự đánh đòn thường có trước khi xử tử. Trong trường hợp nầy, dường như Phi-lát đã hy vọng rằng đoàn dân đông coi sự đánh đòn Chúa là hình phạt đủ rồi. Thời ấy, họ đánh đòn với một cái roi làm bằng nhiều dây da có cột những miếng chì hoặc kim khí sắc bén. Nạn nhân bị lột áo tới ngang mình, bị trói lom khom vào một cái cột, rồi họ dùng roi ấy đánh đòn lưng trần cho đến khi thịt rách tươm. Có khi vì đòn mà chết.
27:27-31 -- Đức Chúa Jêsus bị nhạo báng
Trong lúc xét xử, người Do-thái đã nhạo báng Ngài (LuLc 22:63-65). Hê-rốt và quân lính ông đã chế giễu Ngài (LuLc 23:11). Bây giờ tới phiên quân lính của Phi-lát nhạo báng Ngài. Sau đó ít lâu, khi Ngài đã bị đóng đinh trên Thập tự giá rồi, thì các thầy tế lễ cả, trưởng lão, thầy thông giáo và quân lính cũng chế giễu Ngài (Mat Mt 27:39-43). Đối với tâm trí tàn ác của chúng, đó là một cảnh tượng vĩ đại, vì họ được thấy Người tự xưng là Con Đức Chúa Trời phải chịu sỉ nhục và khổ hình như vậy.
27:32 -- Si-môn quê ở thành Sy-ren
Sách GiGa 19:17 có chép rằng Đức Chúa Jêsus bước ra, vác Thập tự giá. Ngài bị kiệt sức vì suốt đêm hấp hối và bị đánh đòn, nên chưa đi được bao xa, thì đã hoặc đã bị té dưới Thập tự giá, hoặc yếu quá, không vác được xa hơn nữa. Bấy giờ Si-môn bị chúng bắt phải vác giúp Ngài. Chúng ta ít biết về Si-môn. Nhưng trên Thiên đàng, suốt cả cõi đời đời, ông sẽ tự hào biết bao vì nghĩ rằng mình đã vác Thập tự giá giúp Đức Chúa Jêsus!
Mat Mt 27:33 -- Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên Thập tự giá
Cũng xem Mac Mc 15:21-41, LuLc 23:32-43 và GiGa 19:17-30.
Sự tối tăm
Suốt 3 giờ (câu 45), cõi thiên nhiên vô tri giác đã giấu mặt vì xấu hổ trước sự gian ác khôn tả xiết của loài người. Cũng có lẽ cõi thiên nhiên đã muốn tỏ thiện cảm với Con Đức Chúa Trời trong cuộc tranh đấu chung kết chí tử của Ngài với các quyền lực của địa ngục. Có lẽ Đức Chúa Trời định dùng sự tối tăm nầy tượng trưng cho cõi thiên nhiên để tang Đức Chúa Jêsus đang khi Ngài chịu khổ hình để cứu chuộc loài người hư mất. Đức Chúa Jêsus trút linh hồn chính giờ các chiên con Lễ Vượt qua được dâng lên trong Đền thờ.
Động đất
Có cơn động đất, các vầng đá nứt bể, và mồ mả mở ra (câu 51-55); đó là Đức Chúa Trời chào mừng Cứu Chúa đã toàn thắng. Bức màn trong Đền thờ xé hai (câu 51) là cách chính Đức Chúa Trời tuyên cáo rằng bởi sự chết của Đấng Christ, không còn chi phân cách Đức Chúa Trời với loài người nữa (HeDt 9:8). Các thánh đồ sống lại (câu 52-53) là chứng cớ và đảm bảo của Đức Chúa Trời rằng quyền phép của sự chết đã bị hủy phá. Hãy chú ý: Cả đến viên bách nhân đội trưởng, là sĩ quan chỉ huy bọn lính La-mã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá, cũng tin quyết rằng Ngài thật là Con Đức Chúa Trời (câu 54).
Mat Mt 27:57-61. Sự chôn Chúa. -- Xem ở GiGa 19:38-42.
Mat Mt 27:62-66. Niêm phong phần mộ của Chúa. -- Xem ở 28:11-15.
"Ngày thứ ba"
"Ngày thứ ba" (câu 64) dùng đây cũng giống như "khỏi ba ngày" (câu 63). Theo cách tính của người Hê-bơ-rơ, thì những phần ngày vào lúc khởi đầu và lúc kết liễu, đều kể là những ngày trọn (EtEt 4:16; 5:1). "Ba ngày ba đêm" (Mat Mt 12:40) -- một cách nói dài để chỉ về "ba ngày" (xem thêm ISa1Sm 30:12-13) --, "sau ba ngày" (Mac Mc 8:31; 10:34; GiGa 2:19) và "đến ngày thứ ba" (Mat Mt 16:21; 17:23; 20:19; LuLc 9:22; Mat Mt 24:7, 21, 46), đều là những cách nói chỉ về thời gian Đức Chúa Jêsus ở trong mồ mả, tức là từ chiều ngày thứ sáu đến sáng Chúa nhật (ngày thứ nhứt).
28:1-8 -- Mấy bà thăm phần mộ Chúa
Việc nầy có chép trong cả 4 sách Tin Lành (Mac Mc 16:1-8; LuLc 24:1-11; GiGa 20:1-3). Ma-ri Ma-đơ-len được ghi tên trong cả 4 sách. Ma-ri là mẹ của Gia-cơ và Giô-sê, cũng gọi là "Ma-ri khác" (Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca). Sa-lô-mê là mẹ của Gia-cơ và Giăng (Mác). Gian-nơ là vợ quan nội vụ của vua Hê-rốt (Lu-ca). Và "các đờn bà khác." Hết thảy là 6 người, hoặc có thể là 12 người và hơn nữa. Họ đem theo thuốc thơm để hoàn tất sự xức xác Ngài ngõ hầu an táng vĩnh viễn, và chẳng mảy may suy nghĩ rằng Ngài sống lại.
"Lúc tưng tưng sáng" (Ma-thi-ơ). "Sáng sớm, mặt trời mới mọc" (Mác). "Khi mờ sáng" (Lu-ca). "Lúc rạng đông, trời còn mờ mờ" (Giăng). Rõ ràng lắm, mấy cách ghi thì giờ khác nhau nầy có nghĩa rằng các bà đi ra lúc trời còn tối, và đến mộ phần vào khoảng mặt trời mọc. Họ ở làng Bê-tha-ni hoặc thành Giê-ru-sa-lem, cách phần mộ 1, 2 dặm, hoặc hơn nữa.
"Thiên sứ" ngồi trên vầng đá (Ma-thi-ơ). "Một người trẻ tuổi" ngồi trong phần mộ (Mác). "Hai vị thiên sứ" ngồi trong phần mộ (Giăng). Mấy lời khác nhau nầy chỉ có nghĩa rằng các thiên sứ mượn hình người, đang chờ ở phía ngoài phần mộ để đón chào các bà, rồi dẫn họ vào phía trong mà giải thích rằng Đức Chúa Jêsus đã sống lại rồi. Có lúc họ thấy hai thiên sứ, và có lúc chỉ thấy một. Có lẽ buổi sáng đó có muôn triệu thiên sứ bay là là trên phần mộ, chờ nghinh đón Cứu Chúa phục sanh, vì đó là một lúc toàn thắng trong sử ký của Thiên đàng. Các thiên sứ sẽ phụ trách sự sống lại toàn thể (Mat Mt 24:31). Xem lời chú giải về "Thiên sứ" ở dưới 4:11.
"Sau ngày Sa-bát" (câu 1). Nói thật đúng, thì ngày Sa-bát kể từ lúc mặt trời lặn hôm trước tới lúc mặt trời lặn hôm sau. Nhưng theo cách dùng thông thường, như ở đây, thì nó kéo dài tới đêm khuya, và được chỉ rõ bởi lời nầy: "Khi bắt đầu hừng đông qua ngày thứ nhứt của tuần lễ" (theo nguyên văn). Có người cho rằng đây có nghĩa là các bà đi đến phần mộ nhằm buổi tối ngày thứ bảy, rồi lại đến nữa, nhằm sáng Chúa nhựt.
"Đất rúng động dữ dội" (câu 2). Cũng đã có động đất khi Đức Chúa Jêsus trút linh hồn trên cây Thập tự (Mat Mt 27:51), và khi ban bố luật pháp tên núi Si-na-i (Xuất XuXh 19:16, 18). Đó là một cách Đức Chúa Trời kêu gọi người ta chú ý vào những biến cố trọng đại.
Mat Mt 28:9-10 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với các bà
Do xem xét bài tường thuật trong các sách Tin Lành khác, chúng ta nhận thấy rằng giữa khoảng câu 8 và câu 9, mấy bà đã đi báo tin cho các môn đồ, rồi trở lại phần mộ; trong khoảng thì giờ đó, Phi-e-rơ và Giăng đã chạy tới phần mộ, rồi lại đi. Bấy giờ Ma-ri Ma-đơ-len chạy trước các bà kia, tới phần mộ một mình, và Đức Chúa Jêsus hiện ra với bà. Sau đó ít lâu, Ngài hiện ra với các bà kia. Xem ở dưới sách Mác, đoạn 16, mục "Thứ tự các Biến cố." Như vậy, hai lần hiện ra đầu tiên của Đức Chúa Jêsus dành cho phụ nữ. Tội lỗi do người đờn bà mà xen vào. Cũng do người đờn bà, không có đờn ông giúp đỡ, mà Cứu Chúa hiện đến. Và sau khi thắng tội lỗi, Đấng Cứu chuộc toàn thắng đã hiện ra với phụ nữ trước nhứt.
"Đi qua xứ Ga-li-lê" (câu 7, 10). Họ chờ đợi một tuần lễ, cho đến khi xong lễ Vượt qua, rồi mới trở về xứ Ga-li-lê.
28:11-15 -- Hối lộ bọn lính canh
Theo lời yêu cầu của tòa Công luận, bọn lính được đặt ở mộ phần Đức Chúa Jêsus để đề phòng có ai đánh cắp thi hài Ngài chăng. Bọn lính khủng khiếp trước cơn động đất cùng vị thiên sứ, và vì thi hài Đức Chúa Jêsus đã biến mất, bèn chạy đi báo với tòa Công luận. Tòa Công luận bèn hối lộ chúng để nói rằng mình đã ngủ quên (theo kỷ luật quân đội La-mã, người lính gác ngủ quên phải bị tử hình). Họ cũng nói rằng nếu cần, họ sẽ khuyên giải(1) (bằng cách hối lộ) Phi-lát để che chở chúng. Sự hiểu biết (trong nội bộ) việc xảy ra ở mồ mả chắc có liên quan tới sự hối cải của "rất nhiều thầy tế lễ" sau đó ít lâu (Cong Cv 6:7).
Chiều hôm đó, Đức Chúa Jêsus hiện ra với hai môn đồ (LuLc 24:13-32).
Và với Phi-e-rơ cũng vào khoảng ấy (LuLc 24:34).
Và buổi tối, Ngài hiện ra với 11 sứ đồ (GiGa 20:19-25).
Một tuần sau, Ngài hiện ra với 11 sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem (GiGa 20:26-29).
Sau đó ít lâu, Ngài hiện ra với 7 sứ đồ (GiGa 21:1-25).
Và Ngài hiện ra với Gia-cơ nhằm một thì giờ và tại một chỗ mà ta không biết (ICo1Cr 15:7).
Mat Mt 28:16-20 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với 11 Sứ đồ
Trên một hòn núi thuộc xứ Ga-li-lê, theo lời Ngài hẹn trước (26:32, 28:7). Người ta cho rằng đây là cơ hội "hơn 500 anh em" có mặt (ICo1Cr 15:6). "Sứ mạng trọng đại" được chép đại cương 4 lần (xem ở Mac Mc 16:14-18). "Làm lễ báp-têm cho họ" (câu 19) là mạng lịnh trực tiếp của Đức Chúa Jêsus, và là lời Ngài phê chuẩn lễ báp-têm đẹp đẽ trong đạo Đấng Christ (xem ở Cong Cv 8:36-39).
"Ta thường ở cùng các ngươi luôn" (câu 20). Đây là câu chúng ta ưa thích nhứt trong cả Kinh Thánh. Đức Chúa Jêsus sống lại và không hề chết nữa. Hiện nay Ngài SỐNG, và ở cùng con cái Ngài luôn, tỏ quyền phép để dắt dẫn và che chở họ.
Chẳng những Ngài là Tổng tư lịnh một tổ chức lớn lao gồm các thiên sứ và thiên sứ trưởng. Ngài thật là như vậy. Chúng tôi tin có thiên sứ hộ vệ tín đồ. Nhưng còn hơn nữa. Vị Tổng tư lịnh các đạo thiên binh cũng đặc biệt chú ý tới và đặc biệt ở với mỗi con cái Ngài luôn luôn.
Chúng ta không hiểu thể nào một Đấng lại có thể đồng thời ở cùng hàng triệu, hàng tỉ người. Nhưng Đấng nầy là Đức Chúa Trời. Và Đức Chúa Jêsus phán điều đó bằng lời lẽ rõ ràng hơn hết: "Ta Thường ở Cùng Các Ngươi Luôn. " Đức Chúa Jêsus đã phán lời đó, và Ngài chẳng dùng những lời vô ích đâu. Ngài chẳng phán chỉ để mà phán suông thôi. Khi phán như vậy, thì Ngài có ý bày tỏ một điều gì. Chúng ta tin rằng Ngài ở với mỗi người chúng ta theo một ý nghĩa thiết thực, vượt quá sự hiểu biết của ta, một cách thần bí nhưng hiển nhiên.
Bất cứ chúng ta yếu đuối, hoặc hèn hạ, hoặc thấp thỏi chừng nào, Ngài vẫn là Thiết hữu của ta. Ta không thể thấy Ngài, nhưng Ngài có đó. Chính lúc nầy. Ban đêm, đang khi ta ngủ. Ngày mai, đang khi chúng ta làm việc. Tuần lễ sau. Năm tới. Ngài che chở ta dưới bóng Ngài trọn đời. Ngài đi bên cạnh ta. Do sự chăm chút từ ái, Ngài canh chừng mỗi một chi tiết trong cuộc tranh đấu đáng thương của đời người, và lấy lòng nhịn nhục mà dẫn dắt chúng ta lên nơi hạnh phước bất diệt trong Nhà Cha Ngài. Mọi sự nầy giống như một giấc mộng đẹp. Nhưng đó là một Thực Sự, -- thực sự căn bản duy nhứt của đời chúng ta.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus còn hiện ra một lần nữa (LuLc 24:44-51).
==============================

Mác
Đức Chúa Jêsus là Đấng Lạ lùng
Sách Mác đặc biệt nhấn mạnh vào quyền phép siêu nhân của Đức Chúa Jêsus, tỏ ra Ngài là Đức Chúa Trời bởi những phép lạ Ngài đã làm. Ông bỏ qua Bài Giảng trên Núi và phần nhiều bài giảng dài của Đức Chúa Jêsus. Ông tường thuật những việc Đức Chúa Jêsus làm hơn là những lời Ngài phán. Dường như ông đặc biệt chú ý đến những độc giả thuộc về dân ngoại.
Mac Mc 1:1 -- Tiểu dẫn
Sách nầy mở đầu đột ngột, không một lời tiểu dẫn, và cũng không nói đến tên tác giả. Tuy nhiên, ngay từ lúc đầu và theo truyền thoại liên tục, sách nầy được kể là tác phẩm của Mác, và chứa đại cương truyện tích Đức Chúa Jêsus theo như Phi-e-rơ đã kể.
Mác
Mác (cũng gọi là Giăng), là con trai của bà Ma-ri; nhà bà ở thành Giê-ru-sa-lem, là nơi hội họp của các môn đồ (Cong Cv 12:12). Ông là em họ của Ba-na-ba (CoCl 4:10), nên có lẽ thuộc về chi phái Lê-vi (Cong Cv 4:36). Người ta phỏng đoán rằng ông là chàng thanh niên đã "ở truồng chạy trốn" trong đêm Đức Chúa Jêsus bị bắt (Mac Mc 14:51-52), là lúc ông mới bắt đầu chú ý đến Ngài. Lời chép ở IPhi 1Pr 5:13 có thể có nghĩa là Phi-e-rơ đã dắt đem Mác trở lại tin Chúa.
14 năm sau, khoảng 44 S.C., Mác cùng Phao-lô và Ba-na-ba đi đến An-ti-ốt (Cong Cv 12:25), và theo hai ông ấy trong hành trình truyền giáo đầu tiên, nhưng lại bỏ về. Rồi sau, khoảng năm 50 S.C., ông muốn theo Phao-lô trong hành trình thứ hai, nhưng Phao-lô không chịu nhận ông. Do đó mà Phao-lô và Ba-na-ba phân rẽ nhau (Cong Cv 13:5, 13; 15:37-39). Bấy giờ Mác đi cùng Ba-na-ba đến đảo Chíp-rơ.
Chừng 12 năm sau, khoảng 62 S.C., Mác ở tại kinh thành La-mã với Phao-lô (CoCl 4:10; Phil Plm 1:24); lại 4 hoặc 5 năm sau nữa, ngay trước khi chịu chết vì Danh Chúa, Phao-lô yêu cầu đưa Mác đến với mình (IITi 2Tm 4:11).
Vậy, dường như lúc cao tuổi, Mác đã trở thành một người giúp việc gần gũi và yêu dấu của Phao-lô.
Mác ở cùng Phi-e-rơ tại Ba-by-lôn (La-mã?) Khi Phi-e-rơ viết thơ tín thứ nhứt (IPhi 1Pr 5:13). Theo truyền thoại của Hội Thánh đầu tiên, thì phần lớn, Mác là đồng bạn của Phi-e-rơ, và ông viết truyện tích của Đức Chúa Jêsus theo như ông đã nghe Phi-e-rơ giảng. Phi-e-rơ là một người hoạt động, và sự trạng đó dường như phản chiếu trên bút pháp của sách Tin Lành Mác, thí dụ như chữ "tức thì" (hoặc "liền") được lặp lại luôn.
Người ta cho rằng sách Tin Lành nầy đã viết và xuất bản tại La-mã, giữa năm 60 và 70 S.C..
Papias đã nói gì về Mác? Papias, một môn đệ của sứ đồ Giăng, viết trong quyển "Giải thích các bài giảng của Chúa" rằng ông đã chuyên tâm hỏi thăm các "trưởng lão" và môn đệ của các "trưởng lão," và "trưởng lão cũng nói điều nầy: Vì Mác làm thông ngôn cho Phi-e-rơ, nên ông viết đúng mọi điều mình đã nhớ về lời phán và việc làm của Đấng Christ; tuy nhiên, ông không viết theo thứ tự. Ấy là vì ông chẳng hề nghe Chúa phán và cũng chẳng phải là một kẻ theo Ngài, nhưng về sau, như tôi đã nói, ông liên kết với Phi-e-rơ. Vả, Phi-e-rơ thuận ứng sự dạy dỗ với cơ hội, chớ không dạy dỗ dường như soạn thảo một sách chép có mạch lạc những sấm ngôn của Chúa. Cho nên Mác không lầm lẫn chút nào khi chép những sự trạng theo như ông ghi nhớ. Vì trong ý tưởng ông có một mục tiêu, -- ấy là không bỏ sót điều chi mình đã nghe, và không tuyên bố điều chi giả dối."
Bốn Sách Tin Lành
Viết cho ai? -- Bốn sách Tin Lành viết không phải vì mục đích thương mại, cốt để phân phát cho đại chúng, y như sách vở xuất bản ngày nay. Nguyên bổn sách Tin Lành Ma-thi-ơ chắc viết cho Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem. Các chi hội khác đã sao lại nguyên bổn ấy bằng tay. Người ta cho rằng Mác định viết sách cho Hội Thánh ở thành La-mã, và những bản sao sách nầy cũng được gởi cho các chi hội khác. Lu-ca viết sách Tin Lành cho một người tên là Thê-ô-phi-lơ, một nhân viên cao cấp của chánh phủ La-mã. Giăng cốt viết sách Tin Lành của mình cho Hội Thánh Ê-phê-sô. Dầu Đức Chúa Trời soi dẫn các ông nầy để viết đúng điều Ngài muốn họ viết, hầu cho cả loài người thuộc mọi thế hệ sử dụng, nhưng chắc họ cũng nghĩ tới bối cảnh, là những người trực tiếp đọc sách của mình. Bối cảnh ấy có ảnh hưởng đến việc họ lựa chọn tài liệu, và chứng minh một phần nào tại sao lại có những điểm khác nhau.
Cá tánh của tác giả. -- Dầu các tác giả nghĩ tới độc giả của mình, song khi viết sách, mỗi ông cũng phản chiếu cá tánh của mình. Họ cùng kể một truyện tích, -- không phải là giải luận một triết lý khó hiểu, mà là thuật lịch sử của Một Người đã sống thể nào, làm gì và phán gì. Bất cứ nơi nào, họ cũng kể cùng một truyện tích, nhưng mỗi người kể theo lối riêng, và nêu lên các điều mình cho là hào hứng đặc biệt. Điều nầy cũng chứng minh tại sao họ có những điểm khác nhau.
"Các mâu thuẫn " trong 4 sách Tin Lành. -- Ta phải ngạc nhiên vì trong tác phẩm của nhiều học giả ngày nay, họ tuyên bố một cách hoàn toàn lơ đảng rằng 4 sách Tin Lành "đầy dẫy mâu thuẫn." Nhưng khi thấy cái gọi là "mâu thuẫn" là gì, thì anh em hầu như bị cám dỗ mà không còn quí trọng một số người tự nhận là "học giả." Có một vài chi tiết khác nhau và có khác nhau chút ít khi mô tả cùng một chi tiết, -- sự kiện đó làm cho lời chứng của các tác giả càng đáng tin cậy, vì nó phá tan cái khả hữu thông đồng giữa họ với nhau.
Thời gian viết sách. -- Ngày nay, người ta có khuynh hướng kể rằng sách Mác được biên trứ trước nhứt. Tuy nhiên, theo truyền thoại chung trong Hội Thánh đầu tiên, thì Ma-thi-ơ viết sách trước nhứt. Trong các bản chép tay đầu tiên, 4 sách Tin Lành thường đặt theo thứ tự hiện hữu, để tỏ ra thứ tự trứ tác y theo truyền thoại trong Hội Thánh đầu tiên. Thỉnh thoảng, sách Giăng được đặt ở hàng đầu, nhưng sách Mác không bao giờ được đặt ở hàng đầu.
Mac Mc 1:1-8 -- Lời giảng của Giăng Báp-tít
Việc nầy được chép trong cả 4 sách Tin Lành. Xem lời chú giải ở dưới LuLc 3:1-20. Mở đầu sách, Mác trưng dẫn một câu Cựu Ước; bỏ qua truyện tích Đức Chúa Jêsus giáng sanh, ông lập tức ghi chép các chi tiết dồi dào trong đời sống công khai của Ngài.
Mat Mt 1:9-11. Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm. -- Xem ở 3:13-17.
1:12-13. Chúa chịu cám dỗ 40 ngày. -- Xem ở 4:1-10.
Thời Gian Và Niên Biểu Đời Sống Công Khai Của Đức Chúa Jêsus
Nhằm năm thứ 15 đời trị vì của Sê-sa Tibère, thì Đức Chúa Jêsus chừng 30 tuổi (LuLc 3:1, 23). Khi Hê-rốt qua đời, thì Ngài còn thơ ấu (Mat Mt 2:19-20). Điểm nầy ấn định vị trí của Đức Chúa Jêsus trong niên lịch La-mã, về sau thay thế bằng niên lịch Cơ đốc giáo (xem ở dưới LuLc 2:39).
Sau khi chịu lễ báp-têm ít lâu, Ngài đi thăm thành Giê-ru-sa-lem, nhằm kỳ lễ Vượt qua (GiGa 2:13). Lễ Vượt qua phần nhiều nhằm tháng 4 dương lịch.
Giữa lúc Ngài chịu lễ báp-têm và lúc Ngài đi thăm thành Giê-ru-sa-lem, có các biến cố chép ở GiGa 1:29 đến 2:12, và 40 ngày cám dỗ (Mat Mt 4:1-11).
Sự cám dỗ xảy ra ngay sau khi Ngài chịu lễ báp-têm, và kéo dài 40 ngày (Mac Mc 1:12-13).
Sau cơn cám dỗ, Ngài lại xuất hiện ở bờ sông Giô-đanh, là nơi Giăng Báp-tít đang giảng,và Ngài ở đó liền 3 "ngày" (GiGa 1:29, 35, 43). "Cách 3 ngày sau," Ngài tới Ca-na, và làm phép lạ biến nước thành rượu (GiGa 2:1).
Rồi Ngài đi Ca-bê-na-um, "và chỉ ở tại đó ít ngày thôi" (GiGa 2:12) sau đó, Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem và dẹp sạch Đền thờ.
Như vậy, 40 ngày cám dỗ, 3 "ngày," rồi "3 ngày sau," rồi "ít ngày thôi" hợp lại thành thời gian giữa lúc Ngài chịu lễ báp-têm và lễ Vượt qua, tổng cộng chỉ tới vài ba tháng là cùng.
Thế thì lễ báp-têm đánh dấu khởi điểm đời sống công khai của Ngài, chắc đã xảy ra nhằm mùa thu, hoặc đầu mùa đông.
Còn về thời gian Ngài sống công khai, thì có ghi 3 lễ Vượt qua: khi Ngài dẹp sạch Đền thờ (GiGa 2:13), khi Ngài cho 5000 người ăn no nê (GiGa 6:4), và khi Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá (LuLc 22:15).
Nếu "ngày lễ" ở GiGa 5:1 là lễ Vượt qua, theo như người ta thường giả định, thì sẽ có 4 lễ Vượt qua, và có 3 năm trọn giữa lễ Vượt qua thứ nhứt và lễ Vượt qua thứ tư. Nếu là một lễ nào khác cử hành giữa hai lễ Vượt qua, thì chỉ có 3 lễ Vượt qua và 2 năm trọn giữa lễ Vượt qua thứ nhứt và lễ Vượt qua thứ ba.
Như vậy, chức vụ công khai của Đức Chúa Jêsus đã kéo dài hoặc chừng 3 năm rưỡi, hoặc chừng 2 năm rưỡi. Phần nhiều ý kiến chấp nhận 3 năm rưỡi.
Bố Cuộc Đời Sống Công Khai Của Đức Chúa Jêsus
Năm 27 S.C.. Lễ Vượt qua: Dẹp sạch Đền thờ, tại Giê-ru-sa-lem. Phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê: ở hạ lưu sông Giô-đanh (8 tháng. Xem ở 3:22-36).
Năm 28 S.C.. Lễ Vượt qua (?): Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem (GiGa 5:1). Mùa hạ: Lựa chọn 12 sứ đồ.
Lễ Vượt qua: Cho 5000 người ăn no nê.
Tháng 11 dương lịch (?): Sự Hóa hình.
* * * Chức Vụ Tại Xứ Ga-li-lê (Mac Mc 1:14 đến 10:1) Chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê chiếm chừng một nửa sách Mác. Về bố cuộc, xin xem mục biểu so sánh ở dưới Mat Mt 4:12.
Về mục biểu niên đại, xin xem ở dưới 4:13-25.
Mac Mc 1:14-15 -- Đức Chúa Jêsus bắt dầu chức vụ tại xứ Ga-li-lê
Giữa câu 13 và câu 14, nghĩa là giữa lúc Đức Chúa Jêsus chịu cám dỗ và lúc Ngài bắt đầu chức vụ tại xứ Ga-li-lê, ta phải đặt các biến cố chép ở GiGa 1:19 đến 4:54, gồm thời gian chừng 1 năm.
Các môn đồ đầu tiên, lúc Giăng làm lễ báp-têm.
Nước biến thành rượu, tại Ca-na.
Dẹp sạch Đền thờ.
Nói chuyện với Ni-cô-đem.
Giảng tại hạ lưu sông Giô-đanh, chừng 8 tháng.
Nói chuyện với người đờn bà Sa-ma-ri.
Chữa lành con trai quan thị vệ, từ thành Ca-na.
Bị chối bỏ tại Na-xa-rét (LuLc 4:16-30).
(Xem niên biểu đời sống công khai của Đức Chúa Jêsus ở hai trang trước).
Đức Chúa Jêsus đã giảng ở hạ lưu sông Giô-đanh và được thành công lớn (GiGa 3:22-24, 4:1-3). Nhưng sự cừu địch ngày càng gia tăng của người Pha-ri-si (GiGa 4:1-3) và việc Hê-rốt hạ ngục Giăng Báp-tít (Mat Mt 4:12) gây nên hiểm họa cho Đức Chúa Jêsus nếu Ngài cứ tiếp tục giảng dạy ở miền đó. Vì Ngài phải làm một việc gì trước khi chịu chết trên Thập tự giá, nên Ngài nghĩ rằng đi xa thành Giê-ru-sa-lem hơn nữa là thượng sách; vậy, Ngài trở về xứ Ga-li-lê, là nơi sự can thiệp của kẻ khác ít hơn.
Mac Mc 1:16-20 -- Kêu gọi Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng
Việc nầy cũng có chép ở Mat Mt 4:18-22 và LuLc 5:1-11. Trong 4 ông nầy, thì 3 ông đã tin Đức Chúa Jêsus một năm trước lúc Giăng làm lễ báp-têm (GiGa 1:35-42). Bây giờ họ được kêu gọi làm bạn đồng hành của Chúa. Xem thêm ở dưới Ma-thi-ơ 10 và Mac Mc 3:13-19.
Mat Mt 1:21-28 -- Người bị quỉ ám được chữa lành
Cũng có chép ở LuLc 4:21-37. Đây là phép lạ thứ nhứt của Đức Chúa Jêsus làm tại Ca-bê-na-um, theo như có chép trong Kinh Thánh, sau khi Chúa đóng trụ sở ở nơi ấy. Trước đó ít lâu, Chúa đã chữa lành con trai quan thị vệ tại Ca-bê-na-um, chỉ bởi một hành động của ý chí Ngài tại Ca-na, cách đó 15 dặm (GiGa 4:46-54). Về lời chú giải tánh chất quỉ ám, xin xem ở dưới Mac Mc 5:1-20.
Ca-bê-na-um
Khi tới xứ Ga-li-lê (sau 8 tháng vắng mặt để thi hành phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê), thì Chúa ghé thành Ca-na; tại đây, gần 1 năm trước, trong nhà một người bạn hoặc bà con, Ngài đã biến nước thành rượu. Sau khi chữa lành cho con trai quan thị vệ, Ngài bèn đến thành Na-xa-rét, nhưng dân chúng chối bỏ Ngài (xem ở LuLc 4:16-30). Bấy giờ Ngài định cư tại Ca-bê-na-um, lấy đó làm trung tâm đi ra tiếp tục chức vụ giảng dạy và chữa bịnh. Có lẽ Ngài đã mướn một căn nhà. Hoặc có lẽ Ngài lấy nhà của Phi-e-rơ hoặc của Giăng làm nơi cư ngụ chính. Từ Ca-bê-na-um, Ngài du hành rất nhiều trải qua xứ Ga-li-lê, thỉnh thoảng Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem, hoặc tới các miền ở phía Bắc xứ Ga-li-lê. Ngài đi bộ, thường có một nhóm môn đồ theo hầu, và thường cũng có những đoàn dân đông đúc theo sau.
Người ta cho rằng Ca-bê-na-um chính là đống hoang tàn ngày nay gọi là Tel Hum, cách nơi sông Giô-đanh đổ vào biển Ga-li-lê 3 dặm về phía Tây nam. Xem thêm ở dưới LuLc 7:1-10, và bản đồ ở dưới Mac Mc 6:45-52.
Mat Mt 1:29-31 -- Bà gia của Phi-e-rơ được chữa lành
Cũng có chép ở 8:14-15 và LuLc 4:38-39. Như vậy, Phi-e-rơ có vợ. Phép lạ đầu tiên của Đức Chúa Jêsus là một phước giáng trên hôn nhân. Đây, Ngài chữa lành bà gia vị sứ đồ thủ lãnh của Ngài. Thật kỳ lạ, các nhà lãnh đạo Giáo hội kia tự thấy buộc phải nhận theo một hình thức thánh khiết mà người họ tôn là "Thủ lãnh đầu tiên" không hề buộc phải vâng giữ.
Mat Mt 1:32-34 -- Rất đông người được chữa lành
Cũng có chép ở 8:16-17 và LuLc 4:40-41. Việc nầy xảy ra sau lúc mặt trời lặn, vì mặt trời lặn đánh dấu hết ngày Sa-bát. Luật ngày Sa-bát rất nghiêm nhặt (xem ở Mac Mc 3:1-6). "Trước cửa" (câu 33), -- dường như là cửa của nhà Phi-e-rơ. Tin Chúa chữa lành người bị quỉ ám và bà gia Phi-e-rơ đã đồn ra khắp thành, nên rất đông người đem kẻ đau đến, tụ tập quanh nhà. Và Đức Chúa Jêsus chữa lành cho họ. Chính các phép lạ của Ngài đã kéo dân chúng đến đông đúc. Ánh sáng thương xót của Đức Chúa Trời đối với nhân loại đau khổ đã bắt đầu chói lọi. Thật là một ngày trọng đại tại thành Ca-bê-na-um.
1:35-37 -- Đi tẻ để cầu nguyện
Cũng có chép ở LuLc 4:42-43. Thật là một ngày bận rộn. Đức Chúa Jêsus đã chữa lành có tới mấy trăm người. Ngài được sử dụng quyền phép của Đức Chúa Trời, và đã dùng quyền phép ấy cốt yếu để giảm bớt sự đau đớn của loài người. Lúc nầy, Ngài đang ở cực độ của chức vụ công khai, nhưng Ngài thường lánh khỏi dân chúng, đến nơi cô tịch để tìm cách giữ cho con đường thông công giữa Ngài và Đức Chúa Trời được mở rộng và sáng sủa. Xem lời chú giải về đời sống cầu nguyện của Ngài ở dưới 11:1-13.
Mac Mc 1:38-39 -- Du hành quanh xứ Ga-li-lê
Đức Chúa Jêsus du hành nhiều lần, và thỉnh thoảng trở về Ca-bê-na-um (Mat Mt 4:23-25; 9:35-38; LuLc 4:44). Xứ Ga-li-lê có nhiều đại lộ quốc tế danh tiếng chạy qua, nối liền sông Ơ-phơ-rát với sông Ni-lơ. Cũng có nhiều đường nhánh. Xem bản đồ ở dưới Mac Mc 3:7-12.
1:40-45 -- Người phung được sạch
Cũng có chép ở Mat Mt 8:2-4 và LuLc 5:12-16. Bịnh phung là một bịnh gớm ghiếc và đáng thương. Người phung phải ở riêng. Đức Chúa Jêsus bảo người phung nầy đến trình diện với các thầy tế lễ, vì luật pháp buộc người phung đã được chữa lành và sẵn sàng trở về đời sống xã hội phải làm như vậy (LeLv 13:1-14:57). Ngài bảo anh ta chớ nói chi về phép lạ nầy, kẻo phong trào quần chúng tôn Đức Chúa Jêsus làm Vua sẽ không sao kiềm chế được.
Mac Mc 2:1-12 -- Người bại được chữa lành
Cũng có chép ở Mat Mt 9:2-6 và LuLc 5:18-26. Việc nầy có lẽ xảy ra trong nhà Phi-e-rơ. Chắc Phi-e-rơ đã trực tiếp kể các chi tiết cho Mác. Chắc là nhà rộng lắm, mới chứa được đám đông dường ấy. Nhà nầy xây chung quanh một cái sân, hoặc là một dãy nhà liền nhau, xây chung quanh một sân vuông vức. Có lẽ Đức Chúa Jêsus ngự nơi hiên lợp ngói ở phía trong sân. Nhà chắc có một thang ở phía ngoài. Không thể chở người bại nằm trên giường qua những cửa có đông người chen chúc. Ý họ quyết định đến gần Đức Chúa Jêsus đã đẹp lòng Ngài. Đức Chúa Jêsus luôn luôn đẹp lòng khi thấy người ta tin Ngài có quyền phép để chữa lành. Ngày nay đức tin dường ấy chắc cũng còn đẹp lòng Ngài.
Danh tiếng Đức Chúa Jêsus lan ra khắp chốn đến nỗi người Pha-ri-si, các thầy thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem và khắp xứ (LuLc 5:17) đã kéo đến để điều tra. Trước mắt chỉ trích và hằn hộc của chúng, Đức Chúa Jêsus quả quyết Ngài là Đức Chúa Trời bằng cách tuyên bố tha tội cho người bại, rồi Ngài làm phép lạ để chứng minh lời quả quyết đó. Đây là một phép lạ mà Đức Chúa Jêsus phán rằng Ngài làm cốt để chứng tỏ mình là Đức Chúa Trời. Phép lạ nầy có hiệu lực lạ lùng trên dân chúng, song chỉ càng chọc giận những người Pha-ri-si lòng đã đui mù.
Mac Mc 2:13-17 -- Kêu gọi lê-vi (Ma-thi-ơ)
Đức Chúa Jêsus vừa mới lựa chọn 4 người đánh cá làm đồng chí của Ngài trong sự thiết lập Nước Ngài. Bây giờ Ngài tuyển thêm một người thâu thuế. Ngài bỏ qua bọn thủ lãnh tôn giáo trong nước như vậy, há chẳng kỳ lạ lắm sao? về lời chú giải Ma-thi-ơ, xin xem "Tiểu dẫn sách Ma-thi-ơ" và Mat Mt 10:1-42.
Mac Mc 2:18-22 -- Câu hỏi về sự kiêng ăn
Cũng có tường thuật ở Mat Mt 9:14-17 và LuLc 5:33-38. Có lẽ nhơn cơ hội Đức Chúa Jêsus dự tiệc do Ma-thi-ơ thết; điều nầy làm cho các môn đồ của Giăng Báp-tít, người Pha-ri-si, và có lẽ cả một vài môn đồ của Đức Chúa Jêsus ngạc nhiên lắm. Dự tiệc thì khác hẳn cách Giăng Báp-tít đã sống. Có thể có những lúc khủng hoảng mà sự kiêng ăn là một cách thích hợp để tỏ ra ta hạ mình, ăn năn và sốt sắng vì đạo. Trong trường hợp của Giăng Báp-tít, sự kiêng ăn có ý nghĩa đặc biệt (xem ở dưới 3:1-20). Nhưng bọn người trong tôn giáo đương thời Đức Chúa Jêsus đã kiêng ăn thái quá! Đức Chúa Jêsus không quá coi trọng sự kiêng ăn theo như họ thường thực hành (Mat Mt 6:16-18). Môi-se, Ê-li và Đức Chúa Jêsus đều đã kiêng ăn 40 ngày, nhưng là trong một giai đoạn hết sức căng thẳng. Ba ẩn dụ về chàng rể, áo rách và bầu da cũ đựng rượu dường như có ý nghĩa rằng có những cơ hội mà sự kiêng ăn thích hợp, nhưng trong cuộc sanh hoạt thường ngày, thì nó không đúng chỗ, nhứt là nếu họ hay làm để quảng cáo cho sự thánh khiết, đạo đức của mình (Mat Mt 6:16-18).
Mac Mc 2:23-27 -- Ăn lúa mì trong ngày Sa-bát
Truyện nầy cũng có chép ở Mat Mt 12:1-8 và LuLc 6:1-5. Cựu Ước có những luật pháp khá nghiêm nhặt về sự giữ ngày Sa-bát, nhưng truyền thuyết của người Do-thái đã thêm nhiều sự hạn chế thái quá và phi lý đến nỗi làm mất cả ý định nguyên thủy của Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Jêsus quả quyết rằng Ngài là Chúa ngày Sa-bát, thì cũng tương đương với một lời tự nhận là Đức Chúa Trời.
Mac Mc 3:1-6 -- Chữa bịnh trong ngày Sa-bát
Việc nầy cũng có chép ở Mat Mt 12:9-14 và LuLc 6:6-11. Sự chữa lành người teo tay trong ngày Sa-bát đã chọc giận người Pha-ri-si và phe Hê-rốt đến nỗi chúng lập mưu giết Đức Chúa Jêsus. Đối với bọn đạo đức nhà nghề, cứng lòng và bại hoại nầy, thì một việc nhân đức tầm thường trong ngày Sa-bát cũng là một trọng tội kinh khiếp. Những bọn sát nhân và bất lương có thể tàn ác hơn chăng? Hãy suy nghĩ, bọn đồng đảng của Hê-rốt, là tên trùm sát nhân, mà cũng quá câu nệ về sự giữ ngày Sa-bát! Kinh Thánh chép 7 lần Đức Chúa Jêsus chữa bịnh trong ngày Sa-bát (xem ở dưới GiGa 5:1-47).
Mac Mc 3:7-12 -- Các đoàn dân đông và các phép lạ
Các đoàn dân đông đến thăm Đức Chúa Jêsus và theo Ngài, đã được thúc đẩy bởi hai lý do: Một, để được Ngài chữa cho kẻ bịnh, và hai, toàn dân trông mong Ngài là Đấng Mê-si.
Đời sống công khai của Đức Chúa Jêsus phần lớn đã diễn ra ở xứ Ga-li-lê. Kinh Thánh chép Ngài thăm viếng Giê-ru-sa-lem 5 lần; và chép Ngài đi tẻ khỏi quần chúng 3 lần: tới miền Si-đôn và Ty-rơ; tới Sê-sa-rê Phi-líp; và tới đồng vắng Ép-ra-im để chờ lúc chịu chết.
Bản đồ số 46 -- Những hàng chấm chỉ tỏ các con đường chính
đương thời Đức Chúa Jêsus
Mac Mc 3:13-19 -- Lựa chọn 12 Sứ đồ
tên của 12 Sứ đồ được chép ở 4 chỗ (xin xem dưới đây). Một vài ông có hai tên, hoặc một biệt hiệu, hay là một tên đặt cách khác. Chúng ta không biết tại sao Đức Chúa Jêsus lựa chọn 12 Sứ đồ. Trong số 12 ông, có 3 ông họp thành một nhóm thân cận với Chúa. Ngoài 12 Sứ đồ nầy, Chúa còn sai 70 môn đồ đi làm nhiệm vụ đặc biệt (câu 3, 12). Các số 3, 12, 70 hay dùng trong Kinh Thánh với ý nghĩa tượng trưng. 12 chi phái Y-sơ-ra-ên là nền tảng của quốc gia Hê-bơ-rơ. 12 Sứ đồ đã đặt nền tảng của Hội Thánh (KhKh 21:12-14). Môi-se có 70 trưởng lão. Tòa công luận gồm 70 nhân viên. Những con số nầy có thể có một ý nghĩa thần bí mà chúng ta không biết.
Phi-e-rơ. Ông được nói đến lần đầu tiên lúc Giăng làm lễ báp-têm (GiGa 1:40-42). Lúc ông gặp Đức Chúa Jêsus lần đầu tiên mà Kinh Thánh chép đây, thì Ngài đổi tên cho ông, dường như Ngài đã nhứt định chọn ông làm Sứ đồ. "Si-môn" là tên thiên nhiên của ông. Tên mới của ông là "Phi-e-rơ" (tiếng Hi-lạp), "Sê-pha" (tiếng Araméen), cả hai nghĩa là "Đá." Tên nầy được tái xác nhận 3 năm sau, lúc ông xưng Ngài là Đấng Christ (Mat Mt 16:18). Phi-e-rơ có vợ (Mac Mc 8:14; Mat Mt 1:30; LuLc 4:38). Bà cùng đi với ông khi ông hành chức Sứ đồ (ICo1Cr 9:5). Ông nguyên quán ở Bết-sai-đa (GiGa 1:44), và có nhà ở Ca-bê-na-um (Mac Mc 1:29). Hoặc ông có hai nhà, hay là đã từ Bết-sai-đa dời đến ở Ca-bê-na-um.
Ông làm nghề đánh cá chung với Gia-cơ và Giăng (LuLc 5:10). Rõ ràng lắm, ông là một nhà doanh nghiệp khá giả.
Ông có nghị lực, hăng hái, hay xung động, và nóng nảy. Ông sanh ra để làm lãnh tụ, và có nhiều bổn chất loài người. Ông thường là phát ngôn nhân của 12 Sứ đồ.
Tên "Đá" Đức Chúa Jêsus đặt cho ông thật đã tỏ ra tâm tánh thật của ông mà Ngài hiểu rõ lắm: Ông có sức mạnh của sự tin quyết, can đảm, dạn dĩ, mặc dầu ông đã ba lần chối Chúa và một lần "giả dối" tại An-ti-ốt (GaGl 2:11-14). Ông tuyệt đối không sợ hãi trong cơn bắt bớ. Ông đã đặt nền tảng cho Hội Thánh xứ Giu-đê, và dắt dẫn Hội Thánh ấy với một sức xung kích làm cho những kẻ cầm quyền phải khủng khiếp, thất kinh.
Ông không phải là Giáo hoàng. Đấng Christ không hề ban cho ông địa vị cao cả; chính ông cũng không đòi địa vị ấy, và người khác cũng không nhìn nhận ông có địa vị ấy. Ông tự xưng là "trưởng lão như họ" (IPhi 1Pr IPhi5:1), chớ không phải là "Chúa của các Giám mục." Xem thêm ở dưới "Tiểu dẫn thơ I Phi-e-rơ."
Giăng. Xem lời chú giải tiểu dẫn sách Tin Lành Giăng.
Ma-thi-ơ. Xem lời chú giải tiểu dẫn sách Tin Lành Ma-thi-ơ.
Gia-cơ. Anh của Giăng. Đức Chúa Jêsus đặt tên cho hai anh em là "Bô-a-nẹt," -- con trai của sấm sét. Điều nầy há chẳng tỏ ra rằng có lẽ Đức Chúa Jêsus có óc hài hước vui vẻ, sao? Chúng ta không biết nhiều về Gia-cơ. Trong 12 Sứ đồ, ông là người chết đầu tiên, vì bị Hê-rốt giết (năm 44 S.C.). Tuy khác nhau và không chắc đúng, nhưng các truyền thoại đều cho là cả 12 Sứ đồ đã tuận đạo.
Có hai gia đình chung nhau làm nghề đánh cá: hai anh em Gia-cơ, Giăng, cùng Xê- bê-đê, là cha họ, và hai anh em Si-môn, Anh-rê. Họ có nuôi tôi tớ. Chắc sự làm ăn của họ khá lớn lao. Cả 4 ông đã trở thành Sứ đồ. Trong số 4 ông nầy, thì 3 ông thân cận với Đức Chúa Jêsus hơn hết. Về toàn thể, chắc 12 Sứ đồ ở bậc cao nhứt, vì Đức Chúa Jêsus biết người ta, và Ngài kén những tay ưu tú trong xứ. 3 ông nầy chắc là xuất sắc biết bao!
Anh-rê. Nguyên quán ở Bết-sai-đa. Ông và Giăng là môn đồ đầu tiên của Đức Chúa Jêsus. Ông dẫn anh mình, là Phi-e-rơ, đến cùng Đấng Christ. Theo truyền thoại, ông đã giảng ở Tiểu-Á-tế-á, Hi-lạp và xứ Sy-the (Nga).
Phi-líp. Nguyên quán ở Bết-sai-đa. Người đồng hương của Anh-rê và Phi-e-rơ. Ông đã dẫn Na-tha-na-ên đến cùng Đấng Christ. Đó là một sự tích cực thay đổi ý kiến. Theo truyền thoại, ông đã giảng ở xứ Phi-ri-gi và qua đời tại thành Hiérapolis.
Ba-thê-lê-my. Người ta cho rằng đây là biệt hiệu của Na-tha-na-ên, nguyên quán ở Ca-na, cách Na-xa-rét 3 dặm. Có lẽ do Ba-thê-lê-my giới thiệu mà Đức Chúa Jêsus đã đến dự tiệc cưới. Theo truyền thoại, thì ông đã giảng Tin Lành ở xứ Parthie.
Thô-ma. Một con sanh đôi ("Đi-đim" nghĩa là sanh đôi). Cẩn thận, hay suy nghĩ, hoài nghi, và hay buồn rầu. Theo truyền thoại, thì ông đã hầu việc Chúa ở các xứ Sy-ri, Parthie, Ba-tư và Ấn-độ.
Gia-cơ. Con của A-phê. Cũng gọi là "nhỏ" (Mac Mc 15:40), có lẽ vì vóc giạc ông thấp nhỏ. Theo truyền thoại, thì ông đã giảng ở xứ Pa-lét-tin và Ai-cập.
Tha-đê. Người ta cho rằng Tha-đê chính là Giu-đe, con của Gia-cơ, một vài bản cảo lại gọi ông là Lê-ba-út. Theo một truyền thoại, ông đã được cử đi thăm Abgarus, vua thành Edesse, rồi đi tới các xứ Sy-ri, Ả-rập và Mê-sô-bô-ta-mi.
Si-môn, thuộc phái "Xê-lốt" (theo tiếng Hi-lạp), hoặc "người Ca-na-an (theo tiếng Araméen). Chúng ta chẳng biết chi hết về ông nầy. Phái "Xê-lốt" là một phe quốc gia nhiệt cuồng, trực tiếp đối lập với bọn thâu thuế. Đức Chúa Jêsus chọn một người thâu thuế và một người Xê-lốt, thuộc hai phái cừu địch chí tử, khiến họ trở nên anh em trong Ngài và trong công việc Ngài.
Giu-đa Ích-ca-ri -ốt. Kẻ phản Chúa. Nguyên quán ở Kê-ri-giốt, một thành thuộc xứ Giu-đê (Gie Gr 48:24). Đây là Sứ đồ duy nhứt không phải là người xứ Ga-li-lê. Tánh nết hà tiện và gian trá. Trông mong được phần thưởng lớn khi Chúa ngự trên ngôi Đa-vít. Thất vọng khi thấy giấc mộng trần gian của mình tiêu tan. Sau khi phạm trọng tội đáng gớm ghét, hắn thắt cổ tự tử, rồi té xuống, nứt bụng, ruột đổ ra hết. Tại sao Đức Chúa Jêsus chọn hắn, -- đó là một sự bí mật của thiên cơ mà ta không sao cắt nghĩa được.
Mac Mc 3:20-30. Tội lỗi không thể tha thứ. -- Xem ở Mat Mt 12:24-37.
Mac Mc 3:31-35. Mẹ và anh em Ngài. -- Xem ở Mat Mt 12:46-50.
Mac Mc 4:1-25. Thí dụ về người gieo giống. -- Xem ở Mat Mt 13:1-23.
Mac Mc 4:30-34. Hột cải. -- Xem ở Mat Mt 13:31-32.
Mac Mc 4:26-29 -- Thí dụ về hột giống lớn lên
Người ta thường trông mong rằng Nước của Đấng Mê-si sẽ được thành lập, có vinh quang và hùng cường làm cho thế giới rúng động. Thí dụ nầy có nghĩa rằng Nước ấy ban đầu sẽ rất nhỏ, và mở mang rất chậm chạp, lâu lắc, êm lặng, kín giấu không ai ngờ, song cũng không ai chống cự được, và cứ tấn tới cho đến kỳ gặt hái.
4:35-41 -- Dẹp yên cơn bão
Cũng có chép ở Mat Mt 8:23-27; LuLc 8:22-25. Trong chiếc thuyền chòng chành, nghiêng ngửa, các môn đồ băn khoăn và khủng khiếp, nhưng Đức Chúa Jêsus ngủ yên. Ngài cần chi phải sợ hãi? Ngài đã dự phần tạo nên sóng, gió. Chúng ta hết sức muốn biết những phương thức và quyền năng mầu nhiệm kèm theo lời Ngài phán để dẹp yên các luồng nước đang cuồng loạn! Chúa đã quở trách các môn đồ nặng nề biết bao! "Tại sao các ngươi sợ hãi? Đức tin các ngươi đâu? Trong lúc Ta ở đây, có tai họa nào xảy đến cho các ngươi được chăng?"
Mat Mt 5:1-20 -- Người Giê-ra-sê bị quỉ ám
Cũng có chép ở 8:28-34; LuLc 8:26-37. Ma-thi-ơ nói là hai người Ga-đa-ra. Mác và Lu-ca nói là người Giê-ra-sê. Người ta bảo rằng miền Giê-ra-sê chính là khu hoang tàn ngày nay gọi là "Kerza" (Kersa, Gergesa ). Xem bản đồ ở dưới Mac Mc 6:45-52. Người ta cho rằng Ga-đa-ra ở quá về phía Nam, gần góc Đông nam của biển, và là một thành phố lớn hơn lấy tên đặt cho cả miền phụ cận. Giê-ra-sê là một làng đặc biệt, và biến cố nầy đã xảy ra gần đó. Nó cách cửa sông Giô-đanh chừng 5 dặm. Ngay phía Nam làng nầy có chỗ duy nhứt mà các ngọn đồi dốc gần sát mặt nước (Mat Mt 8:32).
Ma-thi-ơ nói rằng có hai người bị quỉ ám. Mác và Lu-ca chỉ chép có 1 người, có lẽ vì người nầy điên cuồng và hung hăng hơn người kia và là phát ngôn nhân. Anh ta là một người điên nguy hiểm, dữ tợn, có sức mạnh vô biên, ở lõa lồ giữa các mồ mả và trong đồng vắng, tự đánh bầm mình và kêu la đau đớn.
Có rất nhiều quỉ ở trong 2 người nầy, cả một "quân đội," có lẽ phần nhiều chúng ở trong người hung hăng hơn. Có 2000 con heo, và có lẽ rất ít là có chừng ấy quỉ.
Chúng lập tức nhìn nhận quyền hành của Đức Chúa Jêsus.
Hãy chú ý: Bọn quỉ thích ở trong bầy heo hơn là về nơi ở của chúng. Nhưng chẳng bao lâu, chúng cũng phải về đó.
Chúng có thể cai trị 2 người kia, nhưng không thể cai trị bầy heo. Chúng không đùa bầy heo xuống biển. Hoặc heo, hoặc quỉ, đều chẳng muốn xuống biển; nhưng bầy heo bị quỉ nhập, đã hoảng hốt, và không tự chế được trên sườn đồi dốc. Một khi đã cất bước rồi, chúng không dừng lại được nữa.
Cũng hãy chú ý điều nầy: Thổ dân muốn Đức Chúa Jêsus dời khỏi xứ họ, dầu Ngài chữa lành người điên cho họ, nhưng trong hành động ấy, Ngài đã diệt mất bầy heo của họ. Họ nghĩ đến bầy heo hơn là nghĩ đến đồng bào mình. Bọn người nầy chưa chết hết đâu.
Đức Chúa Jêsus bảo người nầy hãy đi ra nói về mình đã được chữa lành (câu 19). Ngài đã truyền lịnh cho người phung chớ nói gì về việc mình được chữa lành (Mat Mt 8:4). Ngài cũng truyền lịnh ấy cho 2 người mù (Mat Mt 9:29) và cho nhiều người khác mà Ngài đã chữa lành tại xứ Ga-li-lê (Mat Mt 12:16).
Lý do khác nhau như vậy là vì ở Giê-ra-sê, người ta chưa biết Ngài bao nhiêu, còn ở xứ Ga-li-lê, thì sự quảng cáo cho Ngài đã quá mức, và đã có những phong trào quần chúng toan tôn Ngài làm một Vua chánh trị.
Các quỉ
Kinh Thánh chép rằng một số rất đông người mà Đức Chúa Jêsus chữa lành đã "bị quỉ ám" (có bản dịch là: "bị các ma quỉ ám"). Xem Mat Mt 4:24, 8:16, 9:32, 12:24, 26, 43 Mac Mc 1:24, 32, 34 3:11, 12 LuLc 4:41; 6:18; v.v...
Quỉ là gì? Thật có quỉ chăng? Hay là Đức Chúa Jêsus cùng các tác giả Tân Ước nói như vậy vì người ta thường tin rằng những kẻ bị đau ốm, hoạn nạn đều ở dưới quyền kiểm soát của tà linh, và Chúa cùng các tác giả ấy không chút cố gắng sữa chữa sự sai lầm của dân chúng đó?
Trong 4 sách Tin Lành có mô tả rằng các quỉ biết Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời; rằng chúng thuộc về nước của Sa-tan, trải qua những chỗ không có nước, chờ đợi sự đau đớn nơi vực sâu, và thích ở trong bầy heo hơn là đi đến chỗ dành cho chúng. Nhiều quỉ có thể ở trong một người. Chúng nói và nhìn nhận rằng chúng có cá tánh và tri giác đặc biệt, phân cách hiển nhiên với người bị chúng ám. Chúng run rẩy chờ đợi ngày phán xét. Đức Chúa Jêsus không chú ý đến chúng, song chỉ chú ý đến những người bị chúng khuấy khỏa và làm cho đau đớn.
Chỉ có một vài trường hợp tật bịnh bị gán cho quỉ ám. Trong một trường hợp, chúng làm cho một người hóa điên; một người khác bị chúng làm cho câm; một người khác bị chúng làm cho đui và câm; một người khác bị chúng làm cho nổi kinh phong. Đó là hiệu quả do quỉ ám.
Dường như có các "quỉ dữ" (LuLc 7:21), "tà ma" (Mac Mc 1:27), "thần lừa dối" (ITi1Tm 4:1), "thiên sứ đã phạm tội" (IIPhi 2Pr 2:4), "quỉ sứ của ma quỉ" (Mat Mt 25:41). Chúng được tổ chức thành "chủ quyền," "thế lực," và là "vua chúa của thế gian mờ tối nầy," là "thần dữ ở các miền trên trời," và người ta phải giao chiến với chúng luôn luôn (Mat Mt 12:43, 45; 25:41; IIPhi 2Pr 2:4; Eph Ep 6:12).
Kinh Thánh ngụ ý khá rõ ràng rằng "người bị quỉ ám" không phải chỉ điên mà thôi, song còn ở vào trường hợp "cá tánh bị xâm lăng," và bất cứ phát xuất từ đâu và có bổn chất nào, quỉ cũng là những thần dữ thật nhập vào và làm khổ một số người bằng cách nầy hoặc cách khác.
Người ta tưởng rằng đang khi Đức Chúa Jêsus ở trên mặt đất, Đức Chúa Trời đã cho phép ma quỉ đặc biệt ra tay nghịch cùng Đức Chúa Jêsus, để chứng tỏ rằng quyền phép của Ngài lan đến tận thế giới vô hình. Đức Chúa Jêsus đang hủy diệt đế quốc của Bê-ên-xê-bun và các quỉ sứ nó. Chúng nghe đến Danh Ngài, hoặc ở trước mặt Ngài, thì chịu không nổi. Nếu tin Ngài, thì ta được che chở khỏi bất cứ tai họa nào mà chúng có thể gây nên.
Căn cứ vào những việc thỉnh thoảng xảy ra trên thế gian nầy, ta hầu như có thể nghĩ rằng cả đến ngày nay, người ta cũng vẫn bị quỉ ám.
Mac Mc 5:21-43 -- Con gái Giai-ru được sống lại
Các Phép Lạ Của Đức Chúa Jêsus
Không kể những sự phát hiện siêu nhiên, tỉ như thiên sứ báo tin, sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh, ngôi sao dẫn đường các bác sĩ, Đức Chúa Jêsus đi qua các đám dân cừu địch, dẹp sạch Đền thờ, hóa hình, bọn lính té sấp, màn tối tăm khi Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá, bức màn bị xé hai, mồ mả mở ra, cơn động đất, Đức Chúa Jêsus sống lại, các thiên sứ hiện ra, v.v., -- Kinh Thánh còn chép 35 phép lạ mà Đức Chúa Jêsus đã làm.
17 phép lạ chữa lành thân thể:
· Con quan thị vệ được chữa lành tại Ca-bê-na-um (GiGa 4:46-54).
· Người bịnh được chữa lành tại Giê-ru-sa-lem (GiGa 5:1-19).
· Bà gia của Phi-e-rơ được chữa lành tại Ca-bê-na-um (Mat Mt 8:14-17; Mac Mc 1:29-31; LuLc 4:38, 39).
· Một người phung (Mat Mt 8:2-4; Mac Mc 1:40-45; LuLc 5:12-15).
· Một người bại (Mat Mt 9:2-8; Mac Mc 2:3-12; LuLc 5:17-26).
· Người teo tay (Mat Mt 12:9-14; Mac Mc 3:1-6; LuLc 6:6-11).
· Đầy tớ của viên bách nhân đội trưởng (Mat Mt 8:5-13; LuLc 7:1-10).
· Hai người mù (Mat Mt 9:27-31).
· Người câm và điếc được chữa lành (Mac Mc 7:31-37).
· Người mù ở Bết-sai-đa (Mac Mc 8:22-26).
· Người mù ở thành Giê-ru-sa-lem (GiGa 9:1-41).
· Người đờn bà mang bịnh 18 năm (LuLc 13:10-17).
· Người đờn bà mất huyết (Mat Mt 9:20-22; Mac Mc 5:25-34; LuLc 8:43-48).
· Người mắc bịnh thủy thũng (LuLc 14:1-6).
· Mười người phung (LuLc 17:11-19).
· Người mù tên là Ba-ti-mê (Mat Mt 20:29-34; Mac Mc 10:46-52; LuLc 18:35-43).
· Tai của Man-chu (LuLc 22:50-51).
9 phép lạ trên các sức mạnh thiên nhiên:
· Nước biến thành rượu tại Ca-na (GiGa 2:1-11).
· Đánh cá gần Ca-bê-na-um (LuLc 5:11).
· Dẹp yên cơn bão (Mat Mt 8:23-27; Mac Mc 4:35-41; LuLc 8:22-25).
· Cho 5000 người ăn no nê (Mat Mt 14:13-21; Mac Mc 6:34-44; LuLc 9:11-17; GiGa 6:1-14).
· Đức Chúa Jêsus đi trên mặt nước (Mat Mt 14:22-23; Mac Mc 6:45-52; GiGa 6:19).
· Cho 4000 người ăn no nê (Mat Mt 15:32-39; Mac Mc 8:1-9).
· Tiền đóng thuế (Mat Mt 17:24-27).
· Cây vả bị khô héo (Mat Mt 21:18-22; Mac Mc 1:12-14, 20-26).
· 6 lần chữa người bị quỉ ám (xem ở dưới 5:1-20):
· Một người bị quỉ ám ở trong nhà hội, tại Ca-bê-na-um (Mac Mc 1:21-28; LuLc 4:31-37).
· Một người bị quỉ ám hóa câm và điếc (Mat Mt 12:22; LuLc 11:14).
· Những người Giê-ra-sê bị quỉ ám (Mat Mt 8:28-34; Mac Mc 5:1-20; LuLc 8:26-39).
· Một người bị quỉ ám, hóa câm (Mat Mt 9:32-34).
· Con gái của người đờn bà Sy-rô-phê-ni-xi (Mat Mt 15:21-28; Mac Mc 7:24-30).
· Đứa con trai bị kinh phong (Mat Mt 17:14-21; Mac Mc 9:14-29; LuLc 9:37-43).
3 người được sống lại từ trong kẻ chết:
· Con gái Giai-ru, tại Ca-bê-na-um (Mat Mt 9:18-26; Mac Mc 5:22-43; LuLc 8:41-56).
· Con trai bà góa ở Na-in (LuLc 7:11-15).
· La-xa-rơ, tại Bê-tha-ni (GiGa 11:1-44).
Những phép lạ khác. -- Ngoài 35 phép lạ kể rõ trên đây, Đức Chúa Jêsus còn làm vô số phép lạ khác, thuật lại như dưới đây:
· Tại Giê-ru-sa-lem, "có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin Danh Ngài" (GiGa 2:23).
· "Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ..., chữa lành mọi thứ tật bịnh trong dân" (Mat Mt 4:23; 9:35).
· Từ các xứ Sy-ri, Ga-li-lê, và Đê-ca-bô-lơ, "người ta bèn đem cho Ngài mọi người đau ốm, hay là mắc bịnh nọ tật kia, những kẻ bị quỉ ám, điên cuồng, bại xuội, thì Ngài chữa cho họ được lành cả" (Mat Mt 4:24).
· Ma-ri Ma-đơ-len được Ngài trừ cho 7 quỉ (LuLc 8:2).
· Tại Ca-bê-na-um, "ai nấy có người đau, bất kỳ bịnh gì, đều đem đến cùng Ngài; Ngài đặt tay lên từng người mà chữa cho họ" (4:40).
· Gần bờ biển Ga-li-lê, "có đoàn dân rất đông đến gần Ngài, đem theo những kẻ què, đui, câm, tàn tật và nhiều kẻ đau khác, để dưới chơn Đức Chúa Jêsus, thì Ngài chữa cho họ được lành. Vậy, chúng thấy kẻ câm được nói, kẻ tàn tật được khỏi, kẻ què được đi, kẻ đui được sáng, thì lấy làm lạ lắm, đều ngợi khen Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên (Mat Mt 15:30, 31).
· "Khi Ngài... đến xứ Ghê-nê-xa-rết, dân chúng... chạy khắp cả miền đó, khiêng những kẻ đau nằm trên giường, hễ nghe Ngài ở đâu, thì đem đến đó. Ngài đến nơi nào, hoặc làng, thành, hay là chốn nhà quê, người ta đem người đau để tại các chợ, và xin Ngài cho phép mình ít nữa, được rờ đến trôn áo Ngài: những kẻ đã rờ đều được lành bịnh cả" (Mac Mc 6:53-56).
· "Đức Chúa Jêsus... đi đến bờ cõi xứ Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh. Có nhiều đoàn dân đông theo Ngài, và Ngài chữa lành các kẻ bịnh ở đó" (Mat Mt 19:1-2).
· "Đoàn dân rất đông từ khắp xứ Giu-đê, thành Giê-ru-sa-lem, và miền biển Ty-rơ, Si-đôn mà đến, để nghe Ngài dạy và cho được chữa lành bịnh mình. Những kẻ mắc tà ma khuấy hại cũng đều được lành. Cả đoàn dân đến kiếm cách rờ Ngài, vì từ Ngài có quyền phép ra, chữa lành hết mọi người" (LuLc 6:17-19).
· "Cả thành nhóm lại trước cửa, Ngài chữa lành nhiều kẻ đau các thứ bịnh, và đuổi nhiều quỉ" (Mac Mc 1:32-34).
· "Lại còn nhiều việc nữa mà Đức Chúa Jêsus đã làm; ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết, thì ta tưởng rằng cả thế gian không thể chứa hết các sách người ta chép vậy" (GiGa 21:25).
Phương pháp làm phép lạ. -- Những phép thường thực hiện bởi hành động ý chí của Đức Chúa Jêsus, hoặc bởi lời Ngài phán; thỉnh thoảng bởi Ngài rờ tới bịnh nhân, hoặc đặt tay trên họ. Một đôi lần Ngài đã dùng nước miếng.
Mục đích của các phép lạ. -- Các phép lạ của Đức Chúa Jêsus ngụ ý thi hành quyền Tạo-hóa." Nó thích hợp với căn nguyên lạ lùng, bổn tánh vô tội, và đạo đức trọn vẹn của Ngài." Đó là một cách Đức Chúa Trời chánh thức hóa sứ mạng của Đức Chúa Jêsus. Ngài phán rằng nếu Ngài không làm những việc mà chưa ai từng làm, thì họ chẳng có tội chi hết (GiGa 15:24). Như vậy, tỏ ra rằng Ngài kể các phép lạ của Ngài là bằng cớ chứng quyết Ngài từ Đức Chúa Trời mà đến. Lại nữa, các phép lạ của Ngài là cách tự nhiên biểu thị lòng Ngài thương xót loài người đau khổ.
Mac Mc 6:1-6 -- Thăm viếng thành Na-xa-rét
Cũng có chép ở Mat Mt 13:54-58. Đây dường như Ngài ghé thăm thành Na-xa-rét lần thứ hai sau khi bắt đầu chức vụ công khai, chừng một năm sau cuộc ghé thăm chép ở LuLc 4:16-30. Hãy chú ý rằng Đức Chúa Jêsus có 4 em trai và một vài "em gái." Lúc đó, họ chưa tin Ngài (GiGa 7:5). Sau đó, họ tin Ngài, và theo ý kiến thông thường, thì hai em trai Ngài, là Gia-cơ và Giu-đe, đã trứ tác hai thư tín mang tên của họ. Con hai em trai khác là Giô-sép và Si-môn.
Mac Mc 6:7-13. 12 Sứ đồ được sai đi. -- Xem ở Mat Mt 10:1-42.
Mac Mc 6:14-29. Giăng Báp-tít bị chém đầu. -- Xem ở LuLc 3:1-20.
Mac Mc 6:30-44. Chúa cho 5000 người ăn no nê. -- Xem ở GiGa 6:1-14.
Mac Mc 6:45-52. Đức Chúa Jêsus đi trên đi mặt nước. -- Xem GiGa 6:15-21.
Biển Ga-li-lê. -- Dài 13 dặm, rộng 7 dặm. Thấp hơn mặt biển 680 bộ. Chung quanh có những đồi cao chừng 100 thước tây. Bờ biển rộng đổ đồng chừng nửa dặm, trừ ra ở phía Tây bắc (tại đây đồng bằng Ghê-nê-xa-rết rộng chừng 4 dặm), ở phía Bắc (tại đây sông Giô-đanh chảy vào biển), và ở phía Nam (tại đây sông Giô-danh lìa khỏi biển). Ngày nay, các ngọn đồi nầy trơ trụi, nhưng đương thời Đức Chúa Jêsus, có rừng rậm, ấy là theo lời của sử gia Josèphe. Bờ biển có người ở rất đông đúc. Có 10 thành, mỗi thành không dưới 15.000 dân. Chung quanh biển có một dãy nhà cửa hầu như không hề đứt quãng. Bờ biển phía Tây phì nhiêu cực điểm. Khí hậu về mùa đông ôn hòa. Có trồng trọt đủ thứ cây cối của nhiệt đới. Tháng nào cũng có thổ sản. Ngoài nghề nông và trồng cây trái, còn có kỹ nghệ nhuộm vải, thuộc da, đóng thuyền, đánh cá và phơi cá cho khô. Biển có nhiều cá, xuất cảng đi khắp đế quốc La-mã. Miền Bắc biển Ga-li-lê là "sân khấu" chính cho chức vụ của Đức Chúa Jêsus trên mặt đất. Đây là đất thánh đời đời, vì tại đây, Đức Chúa Trời mặc hình Người đã sống giữa người ta. Truyện tích nầy là tài liệu kỳ diệu hơn hết trong sử ký nhân loại.
Bản đồ số 47
Thời Gian Từ Lúc Chúa Cho 5000 Người
Ăn No Nê Tới Lúc Ngài Hóa Hình
(Mac Mc 6:53-8:26; Mat Mt 14:34-16:12)
Trong đời Đức Chúa Jêsus, đây là một thời gian (từ 6 đến 8 tháng) mà ta ít biết các chi tiết. Chỉ có Ma-thi-ơ và Mác chép về thời gian nầy; Mác chép đầy đủ hơn ít nhiều. Lu-ca đi thẳng từ việc Chúa cho 5000 người ăn no nê tới sự Hóa Hình (Mac Mc 9:17, 18). Giăng đi thẳng từ lúc Chúa cho 5000 người ăn no nê tới lúc Ngài viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ Lều tạm, 6 tháng sau (GiGa 6:71; 7:1).
Do một vài chi tiết mà ta được biết, thì phần lớn 6 hoặc 8 tháng nầy, Chúa ở ngoài xứ Ga-li-lê, nghĩa là Ngài tới các miền Ty-rơ, Si-đôn, Đê-ca-bô-lơ và Sê-sa-rê Phi-líp, phần nhiều là dân ngoại. Đê-ca-bô-lơ là miền ở phía đông biển Ga-li-lê, chạy về phía Bắc tới thành Đa-mách. Nó ở dưới quyền cai trị của Phi-líp, là một vua nhơn đức, công bình, không có lý do đặc biệt nào để chống đối Đức Chúa Jêsus. Hê-rốt là vua xứ Ga-li-lê. Ông vừa mới giết Giăng Báp-tít, và bắt đầu nhìn Đức Chúa Jêsus bằng con mắt nghi ngờ, nhứt là sau khi nhân dân đã xây bỏ Ngài vì cớ phép lạ cho 5000 người ăn no nê (xem ở GiGa 6:1-71).
Mac Mc 6:53-56 -- Các đoàn dân đông ở miền Ghê-nê-xa-rết
Cũng có chép ở Mat Mt 14:34-36. Ghê-nê-xa-rết là đồng bằng dọc theo bờ biển phía Nam thành Ca-bê-na-um. Dường như khi Đức Chúa Jêsus đã cho 5000 người ăn no nê, thì ngày hôm sau, Ngài giải thích cho dân chúng thành Ca-bê-na-um biết tánh chất của sứ mạng Ngài, và có nhiều người đã lìa bỏ Ngài (GiGa 6:66). Bấy giờ, Ngài đi về phía Nam, tới Ghê-nê-xa-rết, tại đó có rất đông người tụ tập, và Ngài chữa lành cho họ.
Mac Mc 7:1-23 -- Người Pha-ri-si và sự bị ô uế
Cũng có chép ở Mat Mt 15:1-20. Bọn cầm quyền tại thành Giê-ru-sa-lem đã quyết định giết Đức Chúa Jêsus. Chắc hẳn họ đã nghe về Ngài không được nhân dân xứ Ga-li-lê kính mộ như trước; họ bèn cử một phái đoàn Pha-ri-si đi thúc đẩy chiến dịch tuyên truyền, hy vọng làm cho Ngài càng bị môn đồ duồng bỏ, vì có lẽ nhiều môn đồ Ngài cũng giữ cổ phong giống như người Pha-ri-si. Sự rửa tay nói đến ở đây không phải vì mục đích vệ sinh, nhưng hoàn toàn là một nghi lễ tôn giáo không do Luật pháp truyền dạy, nhưng do các thầy thông giáo bày đặt ra. Đức Chúa Jêsus phán bảo họ rằng các nghi lễ như vậy chẳng có giá trị gì, và sự ô uế thật ở trong lòng; rồi Ngài thẳng thắn tố cáo họ dùng cổ phong phát xuất từ loài người mà làm cho Lời Đức Chúa Trời hóa ra trống rỗng. Lời Ngài phán áp dụng trực tiếp cho nhiều thói tục đã xen vào trong Hội Thánh trải qua các thế kỷ. Kỳ lạ thay, nhiều thủ lãnh Hội Thánh đã dùng mưu mẹo và tài khéo, cố làm cho các nghi thức và thói tục của họ giống như Lời Đức Chúa Trời, mặc dầu ta biết nó hoàn toàn do loài người mà ra! Họ làm tôi mọi cho cổ phong và coi nhẹ Lời Đức Chúa Trời là dường nào!
Mac Mc 7:24-30 -- Người đờn bà Sy-rô-phê-ni-xi
Cũng có chép ở Mat Mt 15:21-28. Sách Ma-thi-ơ chép bà là "người đờn bà xứ Ca- na-an." Người Phê-ni-xi vốn là dòng giống Ca-na-an. Xứ Phê-ni-xi cách thành Ca-bê-na-um chừng 50 dặm về phía Bắc, ở ngoài lãnh thổ Do-thái, trong một miền dân ngoại; đây cũng là khu vực mà Ê-li đã được sai đến cùng người đờn bà ở thành Sa-rép-ta (IVua 1V 17:9). Đức Chúa Jêsus thật không có ý gọi bà là "chó" (câu 27), nhưng Ngài chỉ phát biểu cái điều ở trong trí óc của môn đồ. Bà bền đỗ, khiêm cung và có đức tin, nên đã được như lời mình cầu xin. Xem ở dưới LuLc 18:1-8.
Mac Mc 7:31-37 -- Chữa lành một người câm và điếc
Đức Chúa Jêsus từ miền Ty-rơ và Si-đôn trở về; Ngài đã đi tẻ ra đó ít lâu để tránh sự quảng cáo. Ngài đi về phía Đông và phía Nam, qua miền Đê-ca-bô-lơ, tới phía Đông biển Ga-li-lê. Trong trường hợp chữa bịnh nầy, Đức Chúa Jêsus đã dùng nước miếng. Người ta thường cho rằng nước miếng có hiệu lực chữa bịnh. Thường thì Ngài làm phép lạ chỉ bởi phán một lời. Lúc nầy Ngài trở lại miền mà trước đây mấy tuần lễ, họ toan tôn Ngài làm Vua. Vậy, Ngài bảo người nầy hãy làm thinh để tránh sự quảng cáo.
8:1-9 -- Cho 4000 người ăn no nê
Cũng có chép ở Mat Mt 15:19-39. Chỗ Chúa làm phép lạ nầy cũng gần nơi Ngài đã cho 5000 người ăn no nê mấy tuần lễ trước. Ma-thi-ơ thêm rằng đây là nhằm lúc Ngài đã chữa lành các đoàn dân đông. Dân xứ Ga-li-lê chắc đã hay tin Đức Chúa Jêsus đã trở về địa phận họ.
Mac Mc 8:10-21 -- "Men của người Pha-ri-si "
Cũng có chép ở Mat Mt 16:1-12. Việc nầy xảy ra ở Đa-ma-nu-tha (câu 10). 15:39 chép là Ma-ga-đan, quê hương của Ma-ri-Ma-đơ-len, tức là một thành ở trong xứ Đa-ma-nu-tha, trên bờ trung tây của biển Ga-li-lê (xem bản đồ 47 ở dưới Mac Mc 6:45-52). Đức Chúa Jêsus vừa mới trở về xứ Ga-li-lê, thì bọn thù nghịch Ngài đã dùng mọi mưu chước có thể nghĩ ra để làm cho Ngài mất giá trị trước mặt dân chúng.
Họ "xin một dấu lạ." Trải qua 2 năm, Đức Chúa Jêsus đã liên tiếp chữa lành hàng bao nhiêu người mắc đủ thứ tật bịnh. Ngài cũng đã cho 5000 người, rồi 4000 người ăn no nê. Vậy mà họ vẫn còn xin một "dấu lạ" (xem ở Mat Mt 12:38-45). Đức Chúa Jêsus bảo họ rằng họ muốn thấy một dấu lạ ngoài mọi việc Ngài đã làm, thì chứng tỏ họ là "dòng dõi hung ác, gian dâm" (Mat Mt 12:39), nghĩa là lòng họ đã được tạo nên cho Đức Chúa Trời; nhưng lại liên hiệp với thói tục đời nầy. Ngài cũng phiền vì môn đồ chậm hiểu ý nghĩa thiêng liêng của các phép lạ Ngài đã làm, và vì họ rõ ràng có cơ chịu ảnh hưởng chủ nghĩa duy vật của người Pha-ri-si (câu 7-12).
Mac Mc 8:22-26 -- Người mù được chữa lành
Việc nầy xảy ra ở Bết-sai-đa, quê hương của Phi-e-rơ, là nơi Đức Chúa Jêsus đã làm nhiều phép lạ (Mat Mt 11:21), và gần đó Ngài đã cho 5000 người ăn no nê. vậy nên Ngài bảo người nầy hãy tránh sự quảng cáo không cần thiết.
Mac Mc 8:27-30. Lời xưng nhận của Phi-e-rơ. -- Xem ở Mat Mt 16:13-20.
Mac Mc 8:31-33. Chúa phán trước về Ngài chịu thương khó. -- Xem ở 9:30-32.
8:34-9:1. Giá phải trả để làm môn đồ Chúa. -- Xem ở LuLc 14:25-35.
Mac Mc 9:2-13 -- Đức Chúa Jêsus hóa hình
Việc nầy cũng có chép ở Mat Mt 17:1-13 và LuLc 9:26-36. Người ta cho rằng Đức Chúa Jêsus đã hóa hình trên núi Hẹt-môn, ít ngày trước khi Ngài dời khỏi xứ Ga-li-lê lần chót, tức là chừng 4 hoặc 6 tháng trước khi Ngài chịu chết (xem ở 9:31). Một trong những mục đích của sự Hóa hình là để làm vững đức tin của ba môn đồ thủ lãnh nơi thần tánh của Đấng Christ, ngõ hầu họ có thể đối phó với những ngày hoạn nạn gần xảy đến. Phi-e-rơ không bao giờ quên cảnh trạng đó. Nó khiến ông cảm thấy vững chắc khi ông phải hiến thân tuận đạo mấy chục năm sau (IIPhi 2Pr 1:14-18). Nó cũng là một lời chứng vĩ đại, tuyệt vời, trực tiếp từ Thiên đàng, rằng Đức Chúa Jêsus là ĐẤNG mà mọi lời tiên tri Cựu Ước qui tụ và được ứng nghiệm trong Ngài.
Mac Mc 9:14-29 -- Đứa con trai bị kinh phong
Cũng có chép ở Mat Mt 17:14-19 và LuLc 9:37-42. Đây là một trường hợp bị quỉ ám nặng nề, làm cho các môn đồ không lối trở tay. Xem ở Mac Mc 5:1-20.
Mac Mc 9:30-32 -- Chúa lại dự ngôn về Ngài chịu thương khó
Cho tới lúc Phi-e-rơ xưng nhận Ngài là Đấng Christ, thì Đức Chúa Jêsus vẫn tránh không nói đến vấn đề Ngài sắp phải chịu chết. Lúc bắt đầu chức vụ, Ngài đã ngụ ý phán với Ni-cô-đem điều ấy (GiGa 3:14). Bây giờ, gần tới lúc Ngài bị đóng đinh trên Thập tự giá, thì Ngài bắt đầu phán rõ điều ấy với họ. Họ không thể tin như vậy. Họ chắc rằng đó chỉ là một thí dụ có ý nghĩa mầu nhiệm. Hãy xem lời chú giải Ma-thi-ơ, đoạn 10. Giữa lúc Phi-e-rơ xưng nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ và lúc Ngài tới thành Giê-ru-sa-lem, thì Ngài dường như đã phán với họ 5 lần về Ngài phải chịu thương khó, theo như Kinh Thánh đã chép dưới đây: --
Lần thứ nhứt, sau khi Phi-e-rơ xưng nhận (Mat Mt 16:21; Mac Mc 8:31; LuLc 9:22).
Lần thứ hai, sau khi Ngài hóa hình (Mat Mt 17:9, 12; Mac Mc 9:9, 12).
lần thứ ba, sau khi Ngài chữa lành đứa con trai bị kinh phong (LuLc 9:44).
Lần thứ tư, khi Ngài đi qua xứ Ga-li-lê (Mat Mt 17:22-23; Mac Mc 9:31)
Lần thứ năm, lúc Ngài gần tới thành Giê-ru-sa-lem (Mat Mt 20:17-19; Mac Mc 10:32-34; LuLc 18:31-34).
Mac Mc 9:33-37. "Ai là lớn hơn? ".-- Xem ở LuLc 9:46-48.
Mat Mt 9:38-41. Người vô danh làm việc lạ lùng. -- Xem ở LuLc 9:49-50.
Mat Mt 9:42-50. Những cớ làm cho vấp phạm. -- Một trong những cớ tích cao cả của tín đồ Đấng Christ là chúng ta phải cư xử làm sao hầu cho không một ai vì gương xấu của ta mà bị hư mất. Đức Chúa Jêsus phán điều nầy nhiều lần, trong những trường hợp khác nhau (Mat Mt 18:7-14; LuLc 17:1-10), và Ngài nhấn mạnh rằng địa ngục là một nơi khủng khiếp biết bao!
Chức Vụ Của Chúa Tại Xứ Pê-rê (Đoạn 10; xem ở 9:51)
Mac Mc 10:1. Dời khỏi xứ Ga-li-lê. -- Xem ở LuLc 9:51.
Bản đồ số 48
Mac Mc 10:2-12. Câu hỏi về sự ly hôn. -- Xem ở Mat Mt 19:3-12.
Mac Mc 10:13-16. Con trẻ. -- Xem ở LuLc 18:15-17.
Mac Mc 10:17-31. Vị quan trẻ tuổi, giàu có. -- Xem ở LuLc 18:18-30.
Mac Mc 10:32-34. Chúa lại dự ngôn về sự thương khó của Ngài. -- Xem ở 9:30-32.
10:35-45. Lời yêu cầu của Gia-cơ và Giăng. -- Xem ở Mat Mt 20:20-28.
Mac Mc 10:46-52. Người mù tên là Ba-ti-mê. -- Xem ở LuLc 18:35-43.
Tuần Lễ Cuối Cùng Của Đức Chúa Jêsus ()
11:1-11. Chúa ngự vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn. -- Xem ở Mat Mt 21:1-11.
Mac Mc 11:15-18. Dẹp sạch Đền thờ. -- Xem ở Mat Mt 21:12-17.
Mac Mc 11:12-14, 19-26. Cây vả. -- Xem ở Mat Mt 21:23-27.
Mac Mc 11:27-33. "Lấy quyền phép nào? ".-- Xem ở Mat Mt 21:23-27.
Mac Mc 12:1-12. Thí dụ về vườn nho. -- Xem ở Mat Mt 21:33-46.
Mac Mc 12:13-17 -- Nộp thuế cho Sê-sa
Cũng có chép ở Mat Mt 22:15-22 và LuLc 20:20-26. Đây là chúng cố gài bãy cho Đức Chúa Jêsus tuyên bố một lời để chúng có thể căn cứ vào đó mà tố cáo Ngài không trung thành với chánh phủ La-mã và nộp Ngài cho Phi-lát. Đảng Hê-rốt theo gia tộc vua Hê-rốt. Đảng Hê-rốt và người Pha-ri-si đồng mưu nêu lên một vấn đề mà chúng mâu thuẫn nhau. Với một đòn tuyệt diệu, Đức Chúa Jêsus tuyên bố phân rẽ Hội Thánh với nhà nước. Tín đồ Đấng Christ phải vâng phục chánh phủ của mình. Nhưng chánh phủ không có quyền truyền cho công dân phải theo tôn giáo nào.
Mac Mc 12:18-27 -- Câu hỏi về sự sống lại
Cũng có chép ở Mat Mt 22:23-33 và LuLc 20:27-40. Đương thời ấy, người Sa-đu-sê thuộc phái duy vật. Họ không đông, nhưng có học thức, tiền của và thế lực. Họ không tin sự sống lại. Câu họ hỏi cốt để làm cho Đức Chúa Jêsus bị thất thế và là trường hợp buộc phải có chủ nghĩa đa phu trên Thiên đàng. Đức Chúa Jêsus lập tức giải quyết vấn đề: Ngài phán rằng trên Thiên đàng không có cưới gả. Rồi Ngài trưng dẫn Kinh Thánh để tỏ ra rằng có sự sống lại.
Mac Mc 12:28-34 -- Điều răn lớn
Cũng có chép ở Mat Mt 22:34-40. Điều răn thứ nhứt mà Đức Chúa Jêsus ban bố ở đây, thì Ngài trưng dẫn ở PhuDnl 6:4-5, còn điều răn thứ hai, thì Ngài trưng dẫn ở LeLv 19:18. Hãy chú ý rằng Đức Chúa Jêsus đặt Đức Chúa Trời ở hàng nhứt và người ta ở hàng nhì. Điều quan trọng hơn hết ở đời là thái độ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Mọi sự tùy thuộc điều đó. Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thành nhục thể. Ngài chỉ muốn một điều, là chúng ta yêu mến Ngài hơn cả chính sự sống của mình. Điều cuối mà Đức Chúa Jêsus muốn biết nơi Phi-e-rơ là: "Ngươi yêu TA chăng?", và Ngài đã hỏi ông câu đó 3 lần (GiGa 21:15, 16, 17).
Mac Mc 12:35-37 -- "Con Đa-vít "
Cũng có chép ở Mat Mt 22:41-46 và LuLc 20:41-44. Câu hỏi cốt nêu lên điểm nầy: Một người làm thế nào mà gọi con trai mình là Chúa được? Dầu đối với chúng ta, câu trả lời rất giản dị, nhưng lại đã khiến họ làm thinh (Mat Mt 22:46). Đức Chúa Jêsus là một Nhà Biện chứng đại tài, có thể đối phó với sự ngụy biện của kẻ thù nghịch Ngài.
Mac Mc 12:38-40. Tố cáo các thầy thông giáo. -- Xem ở Mat Mt 23:1-39.
Mac Mc 12:41-44 -- Những đồng tiền của bà góa
Cũng có chép ở LuLc 21:1-4. Việc nầy xảy ra ngay sau khi Đức Chúa Jêsus tố cáo các thầy thông giáo và người Pha-ri-si một cách khủng khiếp. Đây là hành động cuối cùng của Ngài ở trong Đền thờ, sau một ngày bận rộn tranh luận kịch liệt. Ngài để thì giờ nức tiếng khen ngợi bà già góa bụa đáng yêu quí nầy đã dâng hết của cải mình có. Rồi Ngài lìa khỏi Đền thờ, không bao giờ bước vào đó nữa.
Mac Mc 13:1-37. Diễn giảng về ngày tái lâm của Ngài. -- Xem ở Mat Mt 24:1-51
Mac Mc 14:1-2 -- Mưu giết Đức Chúa Jêsus
Cũng có chép ở Mat Mt 21:1-5 và LuLc 22:1-2. Việc nầy xảy ra buổi tối thứ ba. Chừng 1 tháng trước đó, sau khi Đức Chúa Jêsus kêu La-xa-rơ từ kẻ chết sống lại, thì tòa Công luận đã quyết định dứt khoát rằng phải xử tử Đức Chúa Jêsus (GiGa 11:53). Nhưng vì Đức Chúa Jêsus được dân chúng kính mộ, nên khó mà giết Ngài (LuLc 22:2). Ngay ở thành Giê-ru-sa-lem, các đoàn dân đông đúc cũng đeo theo Ngài (Mac Mc 12:37; LuLc 19:48). Đêm thứ hai sau đó, cơ hội đã đến, do sự phản bội của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Trong một hành động đột ngột, hắn đã nộp Đức Chúa Jêsus cho chúng lúc đêm khuya, trong khi cả thành an giấc. Chúng vội vàng xin lên án Ngài trước khi trời sáng; và đến sáng, trước khi nhân dân thức dậy, chúng đã treo Ngài trên cây Thập tự (theo ý kiến của một vài giáo sư thần học).
Mac Mc 14:3-9 -- Chúa được xức dầu tại Bê-tha-ni
Cũng có chép ở Mat Mt 26:6-13 và GiGa 12:1-8. Việc nầy dường như thật đã xảy ra buổi tối thứ bảy, trước khi Đức Chúa Jêsus ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (GiGa 12:2, 12). Nhưng Ma-thi-ơ và Mác thuật lại việc nầy chung với âm mưu của các thầy tế lễ để làm khung cảnh cho sự đòi giá của Giu-đa . Lúc Đức Chúa Jêsus quở trách Giu-đa (GiGa 12:7) dường như là lúc nó dứt khoát quyết định phản nộp Ngài. Xem thêm ở dưới 12:1-8.
Mac Mc 14:10-11 -- Giu-đa đòi giá
Cũng có chép ở Mat Mt 26:14-16; và LuLc 22:3-6. Vai trò của nó là nộp Đức Chúa Jêsus cho chúng trong lúc không có mặt các đoàn dân đông đảo. Chúng không dám bắt Ngài tỏ tường, kẻo bị nhân dân ném đá. Giu-đa dẫn chúng đến bắt Ngài tại một nơi Ngài ẩn dật kín đáo, sau khi cả thành đã đi ngủ.
Đức Chúa Jêsus "biết từ lúc đầu" rằng Giu-đa sẽ phản nộp Ngài. Tại sao nó được lựa chọn, đó là một đường lối mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. 30 miếng bạc đáng giá chừng 1460 đồng Việt-nam, là giá bán một kẻ tôi mọi (XuXh 21:32). Có lẽ Giu-đa nghĩ rằng Đức Chúa Jêsus sẽ dùng quyền phép lạ lùng của Ngài mà tự cứu thoát; hoặc có lẽ nó đã toan ép buộc Ngài phải tự tôn làm Vua. Nhưng trong con mắt Đức Chúa Trời, hành động của nó là hèn nhát, vì Đức Chúa Jêsus phán rằng thà nó chẳng hề sanh ra thì hơn (Mat Mt 26:24). Tất cả hành động của nó đã được dự ngôn một cách lạ lùng (XaDr 11:12-13). "Giê-rê-mi" (Mat Mt 27:9-10) là lầm lỗi của người sao lại, hoặc vì cả bộ sách Tiên tri thường được gọi theo tên Giê-rê-mi.
Mac Mc 14:12-25. Bữa tối cuối cùng. -- Xem ở Mat Mt 26:17-29.
Mac Mc 14:26-31, 66-77. Phi-e-rơ chối Chúa. -- Xem ở GiGa 18:15-27.
Mac Mc 14:32-42. Chúa hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-nê. -- Xem ở LuLc 22:39-46.
Mac Mc 14:43-52. Chúa bị phản và bị bắt. -- Xem ở GiGa 18:1-12.
Mac Mc 14:53-15:20 -- Đức Chúa Jêsus chịu xét xử
Cũng có chép ở Mat Mt 26:57-27:31; LuLc 22:54-23:25; GiGa 18:12-19:16. Có hai cuộc xét xử: Trước tòa Công luận và trước mặt Phi-lát, quan Thống đốc La-mã. Xứ Giu-đê là chư hầu của đế quốc La-mã. Tòa Công luận không thể thi hành một bản án tử hình nếu không được quan Thống đốc La-mã ưng thuận. Trong mỗi cuộc xét xử có 3 giai đoạn, tức là 6 giai đoạn tất cả.
1. Trước mặt An-ne (GiGa 18:12-24). Khoảng nửa đêm. Cai-phe là thầy tế lễ thượng phẩm. Nhưng ông gia hắn, là An-ne, đã bị cất chức năm 16 T.C. , mà còn giữ được ảnh hưởng và quyền hành của chức vụ qua các con trai mình. Gia đình nầy đã trở nên giàu có quá mức nhờ những chòi mua bán trong Đền thờ. Trách nhiệm về sự chết của Đức Chúa Jêsus trước hết đổ trên đầu thầy tế lễ thượng phẩm của dân Hê-bơ-rơ .
2. Trước tòa Công luận, trong nhà Cai-phe (Mat Mt 26:57; Mac Mc 14:53; LuLc 22:54; GiGa 18:24). Giữa lúc nửa đêm và lúc hừng đông. Đó là cuộc xét xử chánh yếu của chánh quyền Do-thái. Chúng không thể viện ai làm chứng để cáo tội Ngài, bèn lên án Ngài đã lộng ngôn, vì Ngài đã tự nhận là Con Đức Chúa Trời (Mac Mc 14:61-62). Rồi đang khi chờ trời sáng, chúng chế nhạo Ngài (xem ở Mat Mt 27:27-31). Việc nầy xảy ra khi Phi-e-rơ chối Ngài. Cuộc xét xử nầy khai diễn ban đêm, nên theo luật của họ, thì là bất hợp pháp.
3. Lúc trời sáng, thì tòa Công luận chánh thức phê chuẩn quyết nghị của họ lúc nửa đêm (Mat Mt 27:1; Mac Mc 15:1; LuLc 22:26-71), để cho nó có một hình thức hợp pháp. Ngài bị kết tội "lộng ngôn." Nhưng đối với Phi-lát, sự kết tội đó chẳng nặng nề chi. Vậy, trước mặt Phi-lát, chúng âm mưu cáo Ngài dấy loạn chống chánh phủ La-mã. Lý do thật của chúng là chúng ganh tị Đức Chúa Jêsus được nhân dân kính mộ (Mat Mt 27:18).
4. Trước mặt Phi-lát (Mat Mt 27:2, 11-14; Mac Mc 15:1-5; LuLc 23:1-5; GiGa 8:28-38), một lúc sau khi trời sáng. Đức Chúa Jêsus không đáp lại những lời tố cáo của chúng. Phi-lát ngạc nhiên. Rồi Phi-lát đưa Ngài vào phía trong dinh để hội đàm riêng, do đó ông càng tin quyết Ngài vô tội. Được biết Đức Chúa Jêsus là người Ga-li-lê, Phi-lát bèn cho đưa Ngài tới Hê-rốt, là vua có quyền tài phán trên xứ Ga-li-lê (xem ở Mat Mt 27:11-25).
5. Trước mặt Hê-rốt (LuLc 23:6-12). Đây là Hê-rốt đã giết Giăng Báp-tít , và cha của hắn đã giết các con trẻ thành Bết-lê-hem (xem lời chú giải ở Mat Mt 2:19). Đức Chúa Jêsus hoàn toàn không đếm xỉa đến hắn, và tuyệt đối không chịu trả lời bất cứ câu hỏi nào của hắn. Hê-rốt chế nhạo Đức Chúa Jêsus, bận áo hoa hòe cho Ngài, rồi cho điệu trả lại.
6. Trước mặt Phi-lát lần nữa (Mat Mt 27:15-26; Mac Mc 15:6-15; LuLc 23:13-25; GiGa 18:39-19:16). Phi-lát toan qua mặt các nhà cầm quyền mà nói với nhân dân. Nhưng đoàn người đứng chật ních công đường đã lựa chọn Ba-ra-ba. Bấy giờ Phi-lát truyền lịnh đánh đòn Đức Chúa Jêsus (xem ở Mat Mt 27:26), và hy vọng rằng hình phạt ấy sẽ làm thỏa mãn đoàn dân đông đúc. Ông biết Đức Chúa Jêsus tự nhận là Con Đức Chúa Trời, nên càng thêm sợ hãi. Ông lại hội đàm với Ngài một lần nữa, và lại cố muốn tha Ngài. Vợ ông sai người thuật rõ chiêm bao của bà cho ông biết. Phi-lát ngạc nhiên trước sự oai nghiêm bình tĩnh của Đức Chúa Jêsus đang đội mũ triều thiên bằng gai. Nhưng trong đám đông náo loạn có tiếng cằn nhằn và hăm dọa phúc trình lên Sê-sa. Vậy, Sê-sa lên án Ngài lúc 6 giờ (GiGa 19:14).
Mac Mc 15:21-41 -- Chúa bị đóng đinh vào Thập tự giá
Cũng xem ở Mat Mt 27:32-60; LuLc 23:26-49 và GiGa 19:17-30.
Nơi Chúa bị đóng đinh vào Thập tự giá
Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào Thập tự giá "ngoài thành" (GiGa 19:17-20; HeDt 13:17), tại một nơi gọi là "chỗ Cái Sọ" (Mat Mt 27:33; Mac Mc 15:22; LuLc 23:33; GiGa 19:17). "Cái Sọ" theo tiếng La-tinh là "Calvaire," và theo tiếng Hê-bơ-rơ là "Gô-gô-tha." Chỉ có một chỗ ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem đã mang và còn mang danh "Đồi Sọ." Nó ở ngay ngoài vách thành phía Bắc, gần cổng Đa-mách (xem bản đồ số 49). Đây là một núi đá thấp và bằng phẳng, cao chừng 10 thước tây, ở ngay trên "động của Giê-rê-mi," và đặc biệt giống cái sọ người.
Theo truyền thoại, thì nơi Chúa bị đóng đinh vào Thập tự giá chính là "Nhà thờ Thánh mộ" ngày nay. Nơi nầy ở phía trong vách thành. Theo ý kiến được nhiều nhà khảo cổ công nhận, thì ngày nay vách thành vẫn ở đúng chỗ đương thời Đức Chúa Jêsus, và nơi Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá rất có thể là "Đồi Sọ".

Bản đồ số 49
Mac Mc 15:42-47. An táng Đức Chúa Jêsus. -- Xem ở GiGa 19:38-42.
Mac Mc 16:1-8 -- Các bà đi thăm phần mộ Chúa
Xem lời chú giải ở Mat Mt 28:1-8. "Và cho Phi-e-rơ" (câu 7). Phi-e-rơ xấu hổ, đắng cay vì chối Chúa, chắc cảm thấy rằng mình bị Chúa từ bỏ; vậy nên ông có cần được điệp văn (message) đặc biệt nầy. Đức Chúa Jêsus tỏ lòng từ ái biết bao khi Ngài gởi điệp văn ấy cho ông! Vài giờ sau, Ngài đã hiện ra với Phi-e-rơ (LuLc 24:34). Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng đã có gì xảy ra trong cuộc gặp gỡ đó. Nước mắt nóng hổi, đỏ mặt vì hổ thẹn, và sự tha thứ từ ái. Cuộc gặp gỡ nầy đóng ấn cho sự tận tụy không bao giờ gián đoạn nữa. Thậm chí Phi-e-rơ đã chịu chết vì Danh Chúa. Xem thêm ở GiGa 21:15-19.
Các bà vội chạy báo tin cho các môn đồ. Phi-e-rơ và Giăng chạy tới phần mộ (GiGa 20:3-10).
Mac Mc 16:9-20 -- 12 câu sau chót của sách Mác
Trong các bản thảo Si-na-i và Vatican không có những câu nầy, nhưng Hội Thánh đầu tiên đã công nhận nó là một phần chân chánh của sách Tin Lành Mác. Người ta cho rằng có lẽ trang cuối cùng của nguyên bổn đã thất lạc, rồi sau mới thêm vào. Sách Mác dường như không thể chấm dứt ở câu 8.
16:9-11 -- Chúa hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len
Xem GiGa 20:11-18. Và với những bà khác (Mat Mt 28:9-10). Và với 2 môn đồ (Mac Mc 16:12-13 xem ở LuLc 24:13-32).
Mac Mc 16:14-18 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với 11 Sứ đồ
Cũng có chép ở LuLc 24:33-43 và GiGa 20:19-25. Xem các khúc sách nầy. Dường như trong sự hiện ra nầy, Chúa đã truyền lịnh cuối cùng phải đi khắp thế gian (câu 15-16). Tuy nhiên, cũng có lẽ đó là tóm tắt những chỉ thị cuối cùng mà Đức Chúa Jêsus lặp đi lặp lại trong 40 ngày thi hành chức vụ sau khi Ngài sống lại. Tính ra, lịnh nầy đã được ghi chép 4 lần:
Ở đây, trong dịp Chúa hiện ra lần đầu tiên với 11 Sứ đồ.
Lần nữa, khi Ngài hiện ra ở xứ Ga-li-lê (Mat Mt 28:18-20).
Lần nữa, khi Ngài hiện ra lần cuối cùng tại Giê-ru-sa-lem (LuLc 24:47).
Và trước khi Ngài ngự lên trời (Cong Cv 1:8). Xem ở các khúc sách nầy.
Quyền năng để làm các phép lạ (câu 17-18) là chứng minh thư thiên thượng về họ được giao cho sứ mạng thành lập Hội Thánh. Xem ở Công vụ các sứ đồ, đoạn 3.
Giữa câu 18 và câu 19 có 40 ngày, trong thời gian đó Đức Chúa Jêsus hiện ra:
Với 11 Sứ đồ, 1 tuần lễ sau (GiGa 20:26-31). Với 7 Sứ đồ, trên bờ biển Ga-li-lê (21:1-22).
Với 11 Sứ đồ, trong xứ Ga-li-lê, có 500 môn đồ hiện diện (?) (Mat Mt 28:16-20).
Và với Gia-cơ (ICo1Cr 15:7). Không biết lúc nào và ở đâu. Cũng không biết là Gia-cơ nào, nhưng người ta thường đoán là Gia-cơ, em trai của Chúa; sau ông nầy trở thành thủ lãnh chánh yếu của Hội Thánh xứ Giu-đê và đã viết thơ Gia-cơ. Xem lời tiểu dẫn thơ Gia-cơ.
Rồi tới sự hiện ra cuối cùng ở thành Giê-ru-sa-lem (LuLc 24:44-49; Cong Cv 1:3-8).
Mac Mc 16:16-20. Đức Chúa Jêsus ngự trên trời. -- Xem ở LuLc 24:44-53.
Thứ Tự Các Biến Cố Trong Buổi Sáng Phục Sanh
Không dễ dung hợp các biến cố ghi chép rải rác trong 4 sách Tin Lành về sự sống lại của Đức Chúa Jêsus thành một truyện tích liên tục, có mạch lạc. Nhiều chi tiết đã được chép tổng quát trong một vài câu. Kinh Thánh không thuật cho chúng ta mọi chi tiết theo thứ tự rõ ràng xảy ra trước sau.
Hãy nhớ rằng có nhiều nhóm môn đồ khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau, đến thăm phần mộ Chúa từng đoàn khác nhau, và họ đều không trông mong Đức Chúa Jêsus sống lại (xem ở dưới Giăng, đoạn 20), nhưng đã đi thăm phần mộ để hoàn tất sự xức thuốc thơm cho xác Ngài và an táng vĩnh viễn.
Vừa khi thấy phần mộ trống không và nghe thiên sứ báo tin Đức Chúa Jêsus đã sống lại, thì họ kinh hồn, thất vía.
Họ chạy đi báo tin cho các môn đồ khác, vội vàng chạy đi, chạy lại, lúc vui, lúc sợ. lúc lo, lúc kinh ngạc, lúc luống cuống.
Có nhiều điều xảy ra mà không được ghi chép trong Kinh Thánh. Còn những điều được ghi chép, thì tác giả nầy chép điều nọ, tác giả kia chép điều khác. Ông nầy dùng một câu kể lại điều ông khác mô tả tỉ mỉ. Có ông kể lại những biến cố khác nhau bằng một lời tổng quát... Không một ông nào tường thuật đầy đủ.
Có rất nhiều cách dung hợp những chi tiết đã được tường thuật. Cách dưới đây dầu chỉ là tạm thời, cũng được mọi người chấp nhận:
1.-- Lúc mới hừng đông, có hai nhóm phụ nữ, hoặc hơn nữa, từ nhà riêng ở Bê-tha-ni hoặc Giê-ru-sa-lem, có lẽ cách xa 1 hoặc 2 dặm, đã lần bước đi về phía phần mộ Chúa.
2.-- Có lẽ vào khoảng thì giờ đó, Đức Chúa Jêsus ra khỏi phần mộ, theo hầu Ngài có các thiên sứ đã lăn vầng đá và xếp vải liệm rất có thứ tự.
3.-- Đồng thời, bọn lính gác kinh khiếp và sửng sốt, chạy đi báo cho các thầy tế lễ, là kẻ đã cắt đặt chúng ở đó.
4.-- Khoảng lúc mặt trời mọc, trong khi các bà tới gần phần mộ Chúa, thì Ma-ri Ma-đơ-len chạy trước nhứt, thấy phần mộ trống rỗng, nhưng cũng chẳng thấy thiên sứ, và cũng chẳng nghe thiên sứ báo tin rằng Đức Chúa Jêsus đã sống lại (GiGa 20:13, 15). Bà bèn quay ra, chạy đi báo tin cho Phi-e-rơ và Giăng.
5.-- Các bà khác tới gần. Họ thấy và nghe các thiên sứ. Họ vội vàng do đường khác ra đi để báo tin cho nhóm môn đồ đông đúc nhứt.
6.-- Vào khoảng thì giờ đó, Phi-e-rơ và Giăng tới mồ mả, bước vào, thấy vải liệm bỏ không, rồi ra về. Giăng tin, còn Phi-e-rơ thì ngạc nhiên.
7.-- Đồng thời, Ma-ri Ma-đơ-len theo Phi-e-rơ và Giăng bén gót, trở lại phần mộ, đứng một mình mà khóc. Đoạn, bà thấy các thiên sứ, và Đức Chúa Jêsus hiện ra với bà.
8.-- Sau đó ít lâu, Đức Chúa Jêsus hiện ra với những bà khác trong lúc họ đi báo tin cho các môn đồ, hoặc trong lúc họ trở lại phần mộ sau khi đã báo tin cho các môn đồ.
Mọi việc trên đây đã xảy ra trong vòng gần một giờ.
===============================

Lu-ca
Đức Chúa Jêsus là Con người
Lu-ca đặc biệt nhấn mạnh vào nhân tánh của Đức Chúa Jêsus. Cũng như tác giả các sách Tin Lành khác, ông hình dung Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời; nhưng trên hết, ông diễn tả lòng thương xót của Ngài đối với các người yếu đuối, đau đớn và bị xã hội duồng bỏ.
Người ta thường cho rằng dầu mỗi sách Tin Lành cứu cánh cốt đạt cho cả loài người, song Ma-thi-ơ trực tiếp đạt cho dân Do-thái, Mác cho dân La-mã, và Lu-ca cho dân Hi-lạp.
Nền văn minh của dân Do-thái đã được xây dựng trên Kinh Thánh của họ. Vậy nên Ma-thi-ơ viện dẫn Kinh Thánh ấy.
Nền văn minh La-mã khoe khoang ý niệm về chánh phủ và quyền lực. Vậy nên Mác khiến người ta chú ý đến các phép lạ của Đức Chúa Jêsus để tỏ ra quyền lực siêu nhân của Ngài.
Nền văn minh Hi-lạp đại diện cho văn hóa, triết lý, khôn ngoan, lý trí, mỹ quan và giáo dục. Vậy nên, để kích thích tâm trí của người Hi-lạp vốn thiên về tư tưởng, văn hóa và triết lý, Lu-ca đã mô tả vẻ đẹp vinh hiển và sự trọn lành của đời sống Đức Chúa Jêsus, là Người lý tưởng và quốc tế. Truyện ông mô tả thật là hoàn toàn, có thứ tự, cổ điển và được gọi là "sách đẹp đẽ nhứt từng trứ tác xưa nay."
Giăng thêm sách Tin Lành của ông vào 3 sách Tin Lành trên để tỏ ra Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thành nhục thể, mang hình Người, không sao lầm lẫn được.
LuLc 1:1-4 -- Tiểu dẫn
"Nhiều sử" (câu 1) về Đức Chúa Jêsus đã xuất hiện, có lẽ quyển thì không đầy đủ, quyển thì đầy đủ hơn, quyển thì đáng tin cậy, quyển thì khả nghi. Một cách cẩn thận và chuyên cần, Lu-ca xem xét hết các bản tường thuật chân chánh, và hỏi han mọi "người chứng kiến" mà ông có thể gặp, cùng những đồng bạn của Đức Chúa Jêsus từ lúc đầu, để ông có thể chọn lọc những sự kiện thật đúng.
"Theo thứ tự" (câu 3), -- không buộc phải theo thứ tự niên đại, mặc dầu về toàn thể, chúng ta cho là có theo thứ tự niên đại.
"Thê-ô-phi-lơ" (câu 3) (1) là người mà Lu-ca gởi cho xem hoặc tặng sách Tin Lành của ông và sách Công vụ các sứ đồ (cũng do ông viết). Có thể rằng Thê-ô-phi-lơ đã chịu khoản chi phí sao làm nhiều bản để gởi tới nhiều chi hội. Ta không biết ông là ai. Chữ "quí nhơn" tỏ ra ông là một thượng quan La-mã. Có lẽ ông là một người mà Lu-ca đã dẫn về với Chúa tại thành Phi-líp hoặc thành An-ti-ốt.
"Tôi" (câu 3). Tác giả không tự xưng danh. Nhưng ông dùng đại danh từ "tôi" như vậy, thì tỏ ra rằng các người đầu tiên nhận sách biết tác giả là ai. Ngay từ lúc đầu và theo truyền thoại liên tục, thì tác giả chính là Lu-ca.
Lu-ca
Tên ông chỉ được ghi 3 lần trong Tân Ước: Ở CoCl 4:14 gọi ông là "thầy thuốc rất yêu dấu;" ở Phi-lê-môn 24 gọi ông là "bạn cùng làm việc với" Phao-lô; và ở IITi 2Tm 4:11 chép rằng ông ở với Phao-lô trong những ngày, giờ tối tăm gần tuận đạo. Trong cả 3 câu nầy đều có nói đến Mác, tỏ ra Mác và Lu-ca là bạn đồng sự. Lu-ca cũng xuất hiện trong những khúc sách Công vụ các sứ đồ có dùng đại danh từ "chúng ta" (Cong Cv 16:10, 11, 16 20:5, 6, 7, 13, 14, 15 21:1 v.v...). Xem thêm tiểu dẫn sách Công vụ các sứ đồ.
Niên hiệu
Một cách chung, người ta giả định rằng Lu-ca viết sách Tin Lành khoảng năm 60 S.C., đang khi Phao-lô bị cầm tù tại thành Sê-sa-rê; sau do, ông viết sách Công vụ các sứ đồ đang khi Phao-lô bị cầm tù tại thành La-mã trong 2 năm kế tiếp; ấy vì hai sách nầy gởi cho một người, nhưng thật ra là hai quyển của một tác phẩm. Thời gian cư ngụ tại Sê-sa-rê đã hiến ông nhiều cơ hội tiếp xúc với các đồng bạn đầu tiên của Đức Chúa Jêsus và các người đầu tiên sáng lập Hội Thánh, để được trực tiếp bảo cho ông biết đúng các chi tiết. Mẹ của Đức Chúa Jêsus có lẽ còn sống, và ở nhà của Giăng tại Giê-ru-sa-lem. Lu-ca chắc đã ở bên bà hàng bao nhiêu giờ quí báu, nghe bà thuật lại các kỷ niệm về Con Trai kỳ diệu của bà. Gia-cơ, Giám mục ở Giê-ru-sa-lem, em ruột của Đức Chúa Jêsus, cũng đã có thể thuật cho Lu-ca nghe nhiều điều bổ ích.
Khi Phao-lô viết thơ I Ti-mô-thê, khoảng năm 60 S.C., thì sách Tin Lành Ma-thi-ơ hoặc sách Tin Lành Lu-ca đã lưu hành trong các chi hội và được thừa nhận là "Kinh Thánh"' vì ở ITi1Tm 5:18, Phao-lô trưng dẫn một câu mà ông gọi là Kinh Thánh, rằng: "Người làm công thì đang được tiền công mình." Ta không thấy câu nầy ở chỗ nào khác, trừ ra Mat Mt 10:10 và LuLc 10:7.
Vấn đề "đối quan" (synoptique)
Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca được gọi là "các sách Tin Lành đối quan," vì cùng trình bày tổng quát đời sống của Đấng Christ, và cùng ghi chép những biến cố giống nhau tới một mực nào. "Họ đã trứ tác, liên lạc với nhau và có thể liên lạc với một nguyên bổn chung," -- điều đó được gọi là "vấn đề đối quan." Người thì cho rằng sách Tin Lành Mác được chép trước nhứt. Ma-thi-ơ đã bổ túc sách Tin Lành của Mác, và Lu-ca dùng cả hai sách ấy. Người khác lại cho rằng Ma-thi-ơ chép trước nhứt, rồi Mác rút ngắn sách Tin Lành của Ma-thi-ơ. Không cần nghĩ rằng Ma-thi-ơ, Mác hoặc Lu-ca trưng dẫn sách của nhau, hoặc dùng lẫn sách của nhau bằng bất cứ cách nào. Các biến cố trong đời Đức Chúa Jêsus và các lời phán của Ngài đã được các Sứ đồ và nhiều người lặp đi lặp lại bằng miệng trải qua bao nhiêu năm, và đã được truyền tụng giữa vòng tín đồ. Đó là yếu tố sự giảng dạy hằng ngày của các Sứ đồ. Có lẽ ngay từ lúc đầu, nhiều điều ấy đã được chép ra, hoặc chép lẻ tẻ, hoặc chép dưới một hình thức đầy đủ hơn. Khi Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca chép sách Tin Lành, thì ba ông đã lựa chọn tài liệu thích hợp với mục đích của mình nơi kho kiến thức truyền miệng hoặc viết thành sách. Kho ấy là vật sở hữu chung của tín đồ Đấng Christ và được lưu hành khắp trong vòng họ. Phần nhiều biến cố ghi trong kho kiến thức ấy, thì Ma-thi-ơ đã chứng kiến và các tín đồ đã thuật lại hàng ngàn lần cho vô số người nghe.
Mac Mc 1:5-80 -- Giăng Báp-tít sanh ra
Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus. Lu-ca thuật đầy đủ hơn Ma-thi-ơ, và hai ông kể lại những chi tiết khác nhau.
Về sự sắp đặt các biến cố kết chung nhau nầy theo thứ tự niên đại, xin xem ở dưới LuLc 2:39.
1:5-25 -- Báo tin cho Xa-cha-ri BIẾN CỐ mà hết thảy lời tiên tri Cựu Ước đồng qui vào đó, tức là sự ngự đến của Đấng Mê-si sắp xảy ra. Câu cuối cùng của Cựu Ước là Ê-li sẽ lại xuất hiện, làm tiền khu của Ngài (MaMl 4:5-6). Bấy giờ một thiên sứ hiện ra cùng thầy tế lễ tuổi cao đức trọng và báo tin cho ông biết rằng con ông sẽ sanh ra là vị tiền khu mà lời tiên tri kia chỉ tỏ (câu 17). Về sau, Đức Chúa Jêsus giải thích khúc sách ấy như vậy (Mat Mt 11:14). Giăng Báp-tít là Ê-li được lựa chọn để đưa Vua Mê-si đến.
Toàn dân trông đợi Đấng Mê-si
Các sứ giả Josèphe, Tacite và Suétone quả quyết rằng khắp Đông phương, toàn dân mong chờ ngày Đấng Mê-si ngự đến đã gần rồi. Ít ra sự mong chờ nầy cũng căn cứ một phần nào trên lời tiên tri của Đa-ni-ên về "70 tuần lễ" (DaDn 9:24-27). Theo sự giải thích phổ thông, thì người ta hiểu rằng 70 tuần lễ nghĩa là 70 lần 7 năm, tức là 490 năm. Chiếu chỉ cho phép xây lại thành Giê-ru-sa-lem mà 70 tuần lễ phải bắt từ đó mà tính (DaDn 9:25), đã được ban hành năm 475 T.C.. Như vậy, thời gian gần mãn. Lòng Xa-cha-ri chắc xúc cảm sâu xa biết bao khi ông nghe thiên sứ báo tin!
Ánh sáng rực rỡ của cõi siêu nhiên
Rõ ràng lắm, các tác giả định ý tỏ ra rằng đạo Đấng Christ có một căn nguyên siêu nhiên. Đạo Ngài được dự ngôn từ lâu, nên khi xuất hiện, không khỏi có bằng cớ thiên thượng rằng Biến cố của các Thời đại đã xảy đến! Đấng Christ sanh ra bởi nữ đồng trinh. Kẻ tiền khu của Ngài cũng sanh ra bởi một bà son sẻ đã quá tuổi sanh con. Các thiên sứ báo tin ấy cho Xa-cha-ri, Ma-ri, Giô-sép, các gã chăn chiên, và đã cứu Hài nhi khỏi bị tàn sát. Các bác sĩ đã được ngôi sao dắt dẫn một cách siêu nhiên, từ các xứ xa xăm tới để thờ kính Ngài và để cung hiến Hài Nhi phương tiện trốn khỏi Hê-rốt. Con Đức Chúa Trời, Con của Đa-vít, Vua đời đời sắp hiện ra. Nếu không có những dấu hiệu siêu nhiên, há chẳng phải là kỳ lạ sao?
LuLc 1:26-38 -- Báo tin cho Ma-ri
Người ta thường gọi sự trạng nầy là "Lễ Báo Tin." Đấng Mê-si phải sanh ra trong gia tộc Đa-vít. Từ thời Đa-vít tới đây đã có một ngàn năm, và đã có hàng ngàn gia đình là dòng dõi Đa-vít. Khi Đức Chúa Trời nhìn xem các gia đình ấy để chọn lấy một gia đình do đó Con Ngài sẽ ngự vào thế gian, thì Ngài đã bỏ qua các gia đình quyền thế ở chung quanh Giê-ru-sa-lem; và mắt Ngài đã dừng trên một người nữ thấp thỏi, ở một gia đình thấp thỏi, trong một làng không tiếng tăm trên dãy đồi xa xôi của xứ Ga-li-lê.
Chắc nàng là một người nữ đạo đức cao sâu biết bao, nên được Đức Chúa Trời lựa chọn để truyền và nắn nhân tánh của Con Ngài! Lòng nàng chắc rung động biết bao khi thiên sứ báo tin rằng nàng sẽ được làm mẹ Vua thiên thượng của muôn đời!
Sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh
Người ta tưởng rằng chính Ma-ri đã trực tiếp thuật truyện tích sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus cho Lu-ca. Có lẽ Ma-thi-ơ được Giô-sép kể cho. Cả hai ông quả quyết rõ ràng, dứt khoát, không thể lầm lẫn và không mơ hồ rằng Đức Chúa Jêsus do một nữ đồng trinh sanh ra.
Sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh được coi như giáo lý của Hội Thánh ngay từ lúc đầu, một cách liên tục mãi, cho đến khi phái phê bình kim thời nổi lên. Tại sao ta không tin nhận giáo lý ấy y như Kinh Thánh đã nêu lên? Tại sao lại lấy làm khó tin và chống đối sự tin nhận như vậy? Nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời và tin Ngài đã sống lại từ trong kẻ chết, thì ta sẽ được gì bởi nghi ngờ sự Ngài giáng sanh do nữ đồng trinh? Sự sống lại của Chúa là phép lạ lớn lao nhứt. Nếu không tin Chúa sống lại, thì còn quan tâm đến Ngài làm chi? Mà nếu tin Chúa sống lại, thì sao còn chỉ trích những phần khác của truyện tích lạ lùng? Ngài ra khỏi thế gian một cách siêu nhiên, khiến ta giả định rằng Ngài cũng vào trong thế gian một cách siêu nhiên. Nếu Ngài không sanh ra bởi nữ đồng trinh, thì Ngài đã sanh ra cách nào? Ngài có thể sanh ra cách nào khác chăng? Chắc bất cứ tín đồ nào của Đấng Christ cũng cho là không thích hợp nếu hùa theo sự vu cáo lâu đời của người Do-thái rằng Đức Chúa Jêsus là một con đẻ hoang. Ta không thể tưởng có như vậy, và phải nói rằng đó là sự phạm thượng ghê tởm hơn hết. Hỡi Cứu Chúa Lạ lùng, mặt chúng tôi đỏ bừng xấu hổ, vì có những người gian ác và cứng lòng, dám nói về Ngài như vậy!
1:39-56 -- Ma-ri đi thăm Ê-li-sa-bét
Ma-ri và Ê-li-sa-bét là "bà con" (1:36). Không nói tên quê hương của Ê-li-sa-bét là thành gì, chỉ nói rằng nó ở "trong miền núi,... về xứ Giu-đa" (câu 39). Vì bà thuộc chi phái Lê-vi (1:5), nên thành ấy có thể là Hếp-rôn, một thành của chi phái Lê-vi (Gios Gs 21:11). Bài ca cảm tạ của Ma-ri (câu 46-55), gọi là "Magnificat, " giống như bài ca của An-ne lúc bà nầy sanh ra Sa-mu-ên (ISa1Sm 2:1-10). Trong khi suy gẫm, chắc bà đã thốt ra tư tưởng nầy rất nhiều lần, cho đến khi nó thành thể thi ca tuyệt diệu, trong đó những tư tưởng nầy thể hiện như lễ chế (liturgie ) riêng của bà vậy.
Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét 3 tháng (câu 56,) vào khoảng nầy Giăng Báp-tít đã sanh ra (câu 36). Rồi Ma-ri trở về Na-xa-rét (xem ở Mat Mt 1:18-24).
LuLc 1:57-80 -- Giăng Báp-tít sanh ra
Sự đặt tên cho con và lời tiên tri của cha làm cho cả một vùng trông đợi. Xem thêm ở dưới 3:1-20.
2:1-38 -- Đức Chúa Jêsus giáng sanh
Những việc kể trong đoạn 1 và 2 đây, thì các sách Tin Lành khác đã hoàn toàn bỏ qua, trừ ra ở Mat Mt 1:25-2:1 có chép rằng Đức Chúa Jêsus giáng sanh tại Bết-lê-hem, và ở 2:2-23 có chép về Ngài trở về xứ Ga-li-lê.
LuLc 2:1-5 -- Việc kiểm tra dân số dưới thời cai trị của Qui-ri-ni-u
Đây là cuộc kiểm tra dân số khắp cả đế quốc La-mã. Sử ký La-mã đặt cuộc kiểm tra dưới thời Qui-ri-ni-u vào năm 7 S.C., tức là 10 hoặc 12 năm sau khi Đức Chúa Jêsus giáng sanh. Trong một thời gian, sự tương phản về lịch sử nầy đã làm cho các nhà nghiên cứu Kinh Thánh bối rối. Song những năm mới đây, người ta đã tìm được nhiều chỉ thảo thư (papyrus ) thời xưa và nhiều bằng cớ khác, do đó biết rằng Qui-ri-ni-u đã làm thống đốc xứ Sy-ri HAI LẦN. Lu-ca nói rõ rằng đây là lần kiểm tra dân số "trước hết." Người ta cũng khám phá ra rằng nhân dân buộc phải trở về nguyên quán để chịu kiểm tra. Như vậy, cái xuổng của nhà khảo cổ học cứ tiến đi, và xác chứng rằng mỗi lời ghi trong Kinh Thánh là thật đúng với lịch sử, cho đến chi tiết nhỏ nhặt hơn hết cũng vậy.
Bết-lê-hem
Nơi Đức Chúa Jêsus giáng sanh là một trung tâm của những phối hợp lịch sử. Đây là thành của Đa-vít, nơi an táng Ra-chên, nơi Ru-tơ cư ngụ. Cách 15 dặm về phía Nam là Hếp-rôn, nơi ở của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Cách 10 dặm về phía Tây bắc là Ga-ba-ôn, nơi mà Giô-suê đã được Đức Chúa Trời làm cho mặt trời dừng lại. Cách 12 dặm về phía Tây là Sô-cô, nơi Đa-vít giết Gô-li-át, người Phi-li-tin khổng lồ. Cách 6 dặm về phía Bắc là Giê-ru-sa-lem, nơi Áp-ra-ham đã dâng phần mười cho Mên-chi-xê-đéc. Giê-ru-sa-lem là thủ đô hoa lệ của Đa-vít và Sa-lô-môn, là nơi đặt ngôi Đa-vít trải 400 năm, là nơi Ê-sai và Giê-rê-mi thi hành chức vụ, là trung tâm của Đức Chúa Trời bao nhiêu đời cố gắng tỏ mình cho loài người.

Giáo đường Giáng sanh tại Bết-lê-hem là nhà thờ cổ nhứt của đạo Đấng Christ; nguyên thủy nó được xây cất bởi Hélène, mẹ của Constantin, là Hoàng đế đầu tiên của đế quốc La-mã tin theo Đấng Christ (330 S.C.). Ở dưới nhà thờ có một phòng giống như cái hầm, và người ta nói rằng đó chính là máng cỏ, nơi Đức Chúa Jêsus giáng sanh. Có một truyền thoại rằng chính phòng nầy là một phần tòa nhà của các tổ tiên, là Đa-vít, Bô-ô và Ru-tơ. Xem thêm ở dưới RU-TƠ. Trong phòng nầy, Jérôme, nhà học giả La-tinh, đã ở 30 năm để phiên dịch Kinh Thánh ra tiếng La- tinh.
Thiên cơ kỳ diệu của Đức Chúa Trời
Đấng Mê-si phải thuộc trong gia tộc Đa-vít và phải giáng sanh tại Bết-lê-hem (MiMk 5:2-5). Nhưng người được lựa chọn làm cha mẹ Ngài lại ở Na-xa-rét, cách Bết-lê-hem 100 dặm. Một chiếu chỉ của Hoàng đế La-mã buộc họ phải đi Bết-lê-hem, chính lúc Hài Nhi gần giáng sanh. Như vậy, Đức Chúa Trời đã dùng chiếu chỉ của một đế quốc ngoại đạo để làm ứng nghiệm các lời tiên tri của Ngài.
LuLc 2:6-7 -- Giáng sanh trong máng cỏ
Chữ dịch là "nhà quán" có thể có nghĩa là một nơi trọ công cộng, hoặc phòng dành cho khách liền với một nhà riêng. Người ta cho rằng đây là loại thứ hai, có lẽ là nhà của bà con họ theo dòng Đa-vít, và cũng là "nhà" mà về sau các bác sĩ đã tới (Mat Mt 2:11). Đối với người đờn bà gần sanh con, thì hành trinh 100 dặm từ Na-xa-rét đến Bết-lê-hem, lúc đi bộ, lúc cỡi lừa, chắc mất nhiều thì giờ và rất khó nhọc. Vì phòng dành cho khách đã có những người tới trước ở chật ních, nên không còn chỗ cho Giô-sép và Ma-ri; ông bà phải tạm ở trong chuồng bò. Giờ phút thiêng liêng đã điểm, và Con Đức Chúa Trời đã được máng cỏ làm cái nôi. Điều nầy chứng minh Đức Chúa Trời "xót thương số phận nhọc nhằn của kẻ nghèo" và Ngài "khinh dể sự hoa lệ, huy hoàng của loài người!" Sau khi các gã chăn chiên tới thuật truyện của họ, chắc người ta đã mở phòng tốt nhứt trong nhà để tiếp đón Giô-sép và Ma-ri.
LuLc 2:8-20 -- Các gã chăn chiên
Theo truyền thoại,"Cánh đồng của những gã chăn chiên," là nơi các ban hợp ca thiên sứ hát "Ha-lê-lu-gia" chúc tụng ngày Tân Vương của trái đất giáng sanh, cách thành Bết-lê-hem 3 phần 4 dặm về phía Đông. Xem lời bí chú ở dưới sách Ru-tơ.
Sanh nhật của Đức Chúa Jêsus
Ngày nay ta kỷ niệm sanh nhật của Đức Chúa Jêsus vào ngày 25 tháng 12 dương lịch. Không có gì trong Kinh Thánh xác chứng cho ngày đó. Ngày, tháng nầy được dùng làm sanh nhật của Đức Chúa Jêsus lần đầu tiên nhằm thế kỷ thứ 4, ở Tây phương. Còn ở Đông phương thì là ngày 6, tháng giêng dương lịch. Sự thực là các gã chăm chiên cùng bầy ở giữa cánh đồng từ mùa xuân đến mùa thu, chớ thường không phải mùa đông; vậy, ngụ ý rằng có lẽ không phải Đức Chúa Jêsus đã sanh ra giữa mùa đông.
Gáp-ri-ên
Gáp-ri-ên là tên của một thiên sứ trưởng từ Thiên đàng sai xuống sắp đặt cho Con Đức Chúa Trời ngự đến (LuLc 1:19, 26). Chúng tôi phỏng đoán rằng Gáp-ri-ên chính là thiên sứ đã cùng đạo thiên binh hiện ra với các gã chăn chiên (2:9, 13). Gáp-ri-ên cũng có lẽ là thiên sứ được sai đến cùng Giô-sép (Mat Mt 1:24) và chỉ huy cuộc trốn qua Ai-cập (Mat Mt 2:13, 19). Gáp-ri-ên đã truyền cho Đa-ni-ên lời tiên tri về 70 tuần lễ (DaDn 9:21). Gáp-ri-ên chú ý đến sự cứu chuộc loài người biết bao! Khi tới Thiên đàng, chúng ta sẽ ưa thích làm quen với Gáp-ri-ên là dường nào!
LuLc 2:21-38 -- Đức Chúa Jêsus chịu phép cắt bì và được dâng tại Đền thờ
Giô-sép và Ma-ri dâng hai con bò câu, chớ không dâng một chiên con và một bò câu, thì tỏ ra ông bà nghèo (LeLv 12:8).
LuLc 2:39 -- Trở về Na-xa-rét
Đây, Lu-ca đi thẳng từ sự dâng Chúa tại Đền thờ đến sự trở về Na-xa-rét, mà bỏ qua những biến cố chép ở Mat Mt 2:1-21, tức là sự thăm viếng của các bác sĩ, sự trốn xuống Ai-cập, sự tàn sát con trẻ, và sự từ Ai-cập trở về.
Niên biểu sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus
Mác và Giăng không nói chi hết về sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus. Ma-thi-ơ và Lu-ca chép các biến cố khác nhau (xem ở dưới LuLc 1:5-80). Không dễ dung hợp các biến cố nầy theo thứ tự niên đại thật đúng.
Dưới đây là những niên hiệu có thể gần đúng:
Ma-ri đến viếng Ê-li-sa-bét 1:39-56
Báo tin cho Giô-sép Mat Mt 1:18-24
LuLc 2:1-7
3 T.C. Các bác sĩ tới thăm Mat Mt 2:1-12
Tại sao Đấng Christ lại giáng sanh 4 năm T.C. ?
Khi Đấng Christ giáng sanh, thì tại đế quốc La-mã, người ta tính thời gian từ lúc sáng lập kinh thành La-mã. Khi đạo Đấng Christ trở thành đạo phổ thông trên toàn thể thế giới La-mã, thì theo lời yêu cầu của Hoàng đế Justinien, một tu sĩ, tên là Dionysius Exiguus, đã làm một niên lịch, nhằm năm 526 S.C., tính thời gian từ lúc Đấng Christ giáng sanh, để thay thế niên lịch La-mã. Lâu lắm sau khi niên lịch Cơ đốc thay thế niên lịch La-mã, người ta mới khám phá ra rằng Dionysius đã sai lầm vì đặt sự giáng sanh của Đấng Christ vào năm 753 A.U.C. (kể từ sáng lập kinh thành La-mã). Đúng ra là năm 749, hoặc 1, 2 năm trước nữa. Vậy, chúng ta nói rằng Đấng Christ giáng sanh năm 4 T.C., chỉ vì người làm niên lịch Cơ-đốc đã lầm mất 4 hoặc 5 năm trong khi phối hợp nó với niên lịch La-mã mà nó thay thế.
LuLc 2:40 -- Thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus
mấy tháng đầu, hoặc 1 hay 2 năm đầu, Ngài đã là một Hài nhi tại Bết-lê-hem. Rồi Ngài ở 1 hoặc 2 năm tại Ai-cập. Việc xảy ra ở Đền thờ tỏ ra rằng Ngài là một Cậu Con Trai sớm thông minh lạ lùng. Nhưng Kinh Thánh ít nói tới thời thơ ấu của Ngài. Các sách Tin Lành ngụy tạo đầy dẫy những thần thoại kỳ cục về các phép lạ mà họ cho là Đức Chúa Jêsus đã làm khi còn thơ ấu. Những sách Tin Lành ngụy tạo nầy hoàn toàn không chân chánh. Kinh Thánh chép rằng phép lạ tại Ca-na là phép lạ đầu tiên của Ngài (GiGa 2:11). Theo như người ta thường hiểu biết (xem bí chú ở dưới Mat Mt 1:18-25), thì Đức Chúa Jêsus là Con Trưởng của một gia đình nghèo có 7 con. Vậy, chúng tôi suy luận rằng Ngài sớm học biết trách nhiệm và từng trải cảnh thiếu thốn. Ta rất mong biết chút ít về cuộc sanh hoạt gia đình của Ngài, -- về Con Đức Chúa Trời với tư cách một Thiếu niên đang lớn lên, đã xử sự thể nào trước những sự kích thích hằng ngày thường có trong một hoàn cảnh dường ấy!
Sự giáo dục Đức Chúa Jêsus
Đức Chúa Jêsus có một bà mẹ tin kính và dịu hiền; từ lúc Ngài còn thơ ấu, bà đã dạy cho Ngài những truyện tích và huấn giới của Cựu Ước. Còn có những trường học phụ thuộc vào các nhà hội, tại đó họ dạy cho con trẻ Kinh Thánh Cựu Ước và tác phẩm của các đạo sư Do-thái. Sau khi được 12 tuổi, chắc Chúa đã thường xuyên thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem mỗi năm ít nhứt là 3 lần, nhằm những kỳ đại lễ. Chắc ngay từ lúc Ngài còn niên thiếu, sự huy hoàng gian ác, bại hoại hoa lệ và hoàn toàn không tin kính Đức Chúa Trời của giai cấp cai trị nhơn Danh Đức Chúa Trời, đã làm cho linh hồn Ngài cháy phừng và khiến Ngài đầy hăng hái thánh muốn chấm dứt tình trạng ấy. Cùng với sự giáo dục của loài người, chắc Ngài lần lần được sự tri thức vốn có trước khi thành nhục thể.
LuLc 2:41-50 -- Chúa viếng thành Giê-ru-sa-lem
Lúc 12 tuổi. Người ta cho rằng đây là lần đầu tiên Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem. Ngài chú ý tới và hoàn toàn bị thu hút bởi lời giảng luận của các giáo sư, đến nỗi cha mẹ đã ra về 3 ngày mà Ngài không biết. Suốt một ngày, ông bà cũng chẳng biết Ngài không có mặt trong đoàn bộ hành; đến tối, vào nơi trọ, ông bà mới biết. Đoàn người nầy chắc khá đông, đi một quãng dài trên đường. Cho đến lúc tối trời, ông bà vẫn chắc rằng Cậu Con tự tín đang ở một chỗ nào trong đoàn và Ngài có thể tuyệt đối tự lo liệu lấy. Đức Chúa Jêsus thông thạo Cựu Ước (câu 47). Đương thời ấy, Cựu Ước là Lời Đức Chúa Trời được viết ra. Đức Chúa Jêsus ưa thích Cựu Ước. Xem ở dưới 11:27-28. Lúc 12 tuổi, Ngài đã thông thạo Cựu Ước đến nỗi các nhà thần học trứ danh trong Đền thờ phải ngạc nhiên. Ngài sống bởi Cựu Ước, và đã dùng nó để chống cự ma quỉ cám dỗ (Mat Mt 4:4, 7, 10). Ngài đã lên Thập tự giá để làm ứng nghiệm Cựu Ước (Mat Mt 26:54). Ngài cũng trưng dẫn Cựu Ước làm lời của Ngài thốt ra khi hấp hối (Mat Mt 27:46). Thêm vào các tác phẩm Cựu Ước lại có một bộ tác phẩm khác, gọi là Tân Ước, lấy đời sống của Đức Chúa Jêsus làm trung tâm. Nếu Đức Chúa Jêsus coi Kinh Thánh Cựu Ước là quí báu, thì chúng ta đáng phải coi quí toàn bộ Kinh Thánh gấp một ngàn lần. Tuy nhiên, sự xao lãng của tín đồ Đấng Christ đối với Kinh Thánh lan rộng đến nỗi làm cho ta khủng khiếp!
"Lo việc Cha tôi" (câu 49). Lời nầy hơi làm cho mẹ Ngài bối rối. Có lẽ bà chưa nói cho Ngài biết Ngài đã sanh ra thể nào. Bà vừa mới nói Giô-sép là "cha" Ngài (câu 48). Trong câu trả lời, Ngài phán Đức Chúa Trời là "Cha tôi," thì có lẽ ngụ ý cho bà hay rằng Ngài đã biết sự bí mật của bà rồi.
LuLc 2:51-52 -- 18 năm yên lặng
Chúng ta rất ưa biết đời sống của Đức Chúa Jêsus từ lúc 12 tuổi tới lúc 30 tuổi, nhưng theo sự khôn ngoan của Ngài, Đức Chúa Trời đã buông bức màn che thời gian ấy.
Tiếng nói của xứ Ga-li-lê
Tiếng Araméen là tiếng nói thông dụng của dân chúng. Đó là tiếng mà Đức Chúa Jêsus đã dùng. Ngài được dạy dỗ bằng tiếng Hê-bơ-rơ, là tiếng của Cựu Ước và của chính dân Ngài. Chắc Ngài cũng biết tiếng Hi-lạp, vì là tiếng nói của phần lớn nhân dân, và là tiếng phổ thông đương thời ấy. Đức Chúa Jêsus thông thạo cả Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ và bản Séptante (Cựu Ước dịch ra tiếng Hi-lạp). Chính tiếng nói của Ngài là tuyệt mỹ.
Na-xa-rét
Na-xa-rét ở trong lòng chảo phía Nam một ngọn đồi cao hơn mặt biển chừng 380 thước tây. Leo lên ngọn đồi hết 10 phút, ta thấy một phong cảnh vô song của xứ Ga-li-lê. Phía Bắc có thắng cảnh gồm những ngọn đồi và thung lũng phì nhiêu, lấm chấm thành thị thịnh vượng, và đằng xa có đỉnh tuyết Hẹt-môn. Gần đó, cách 3 dặm, là quê hương của Giô-na. Phía Nam là đồng bằng Gít-rê-ên, chạy từ sông Giô-đanh tới Địa-trung-hải, là sân khấu chính của dân Y-sơ-ra-ên chiến đấu trải qua bao đời để sanh tồn. Cách Na-xa-rét 10 dặm về phía tây, ta thấy trọn núi Cạt-mên, là nơi trong cuộc giao tranh với Ba-anh, Ê-li đã kêu lửa từ trời xuống. Cũng chừng đó về phía Tây nam, có đèo Ha-ma-ghê-đôn, là chiến trường trứ danh của các nước; đèo nầy gợi cho Đức Chúa Jêsus tên trận đánh lớn cuối cùng của các thời đại mà chính Ngài sẽ đưa kẻ thuộc về Ngài tới toàn thắng. Chỉ cách Na-xa-rét 8 dặm về phía nam có Su-nem, là nơi Ê-li-sê làm cho con trai người nữ Su-nem sống lại. Gần đó có suối Hê-rốt, là nơi Ghê-đê-ôn và 300 chiến sĩ của ông đã đánh bại quân Ma-đi-an. Và Gít-rê-ên, là nơi Giê-sa-bên khả ố đã gặp số phận vô phước. Và núi Ghinh-bô-a, là nơi vua Sau-lơ bị quân Phi-li-tin giết chết. Và Ên-đô-rơ, là nơi bà bóng đã gọi hồn Sa-mu-ên về. Và khe Ki-sôn, là nơi Đê-bô-ra và Ba-rác khắc phục quân Ca-na-an. Đứng trên đỉnh đồi Na-xa-rét, ta thấy trọn mọi chỗ đó. Thật là trung tâm của những sự phối hợp lịch sử kỳ lạ biết bao! Ta có thể tưởng tượng Đức Chúa Jêsus thường leo lên ngọn đồi nầy và suy gẫm sâu xa về lịch sử đã được cấu tạo để đưa Ngài vào trong thế gian.
LuLc 3:1-20 -- Giăng Báp-tít
Cả 4 sách Tin Lành nói đến sự giảng dạy của Giăng Báp-tít (Mat Mt 3:1-12; Mac Mc 1:1-8; GiGa 1:6-8, 19-28). Bản tường thuật của Lu-ca đầy đủ hơn hết.
Truyện tích thời thơ ấu và thời thanh niên của Giăng đã được ghi chép vẻn vẹn trong một câu (LuLc 1:80). Ông tránh những nơi ở của loài người, và sống trong miền cô tịch, hoang vu, hiu quạnh ở phía Tây Biển Chết.
Từ thời thơ ấu, ông biết rằng Biến cố của các Thời đại gần xảy đến, và ông sanh ra để làm tiền khu báo cáo Biến cố ấy đã đến.
Giăng Báp-tít sanh ra trong thành của Áp-ra-ham, là người đã tạo thành dân tộc có sứ mạng sanh ra Đấng Mê-si. Đang khi được trưởng dưỡng, ông hằng ngày đối diện với núi Nê-bô, -- trên đỉnh núi đó, Môi-se đã đưa mắt ước vọng nhìn xem Đất Thánh và đã nói về Đấng Mê-si mà Đức Chúa Trời hứa ban cho. Ông cũng nhìn xem sông Giô-đanh, tại nơi Giô-suê đã đi qua, và thành Giê-ri-cô mà chiến lũy sụp đổ trước tiếng kèn của Giô-suê. Ông sống trong cùng một miền mà A-mốt đã chăn bầy và đã được sự hiện thấy về Vua hầu đến thuộc dòng Đa-vít, sẽ trị vì muôn nước. Ông thường đi thăm khe Kê-rít, là nơi Ê-li đã được chim quạ nuôi sống. Ông suy gẫm sâu xa về lịch sử hiện đang lên tới tuyệt điểm, và ông chờ đợi tiếng Đức Chúa Trời kêu gọi.
Ông biết mình là Ê-li của lời tiên tri (1:17; Mat Mt 11:14; 17:10-13; MaMl 4:5), chớ không phải là chính Ê-li bằng xương, thịt (GiGa 1:21), nên có lẽ ông đã cố ý bắt chước các thói quen và cách phục sức của Ê-li.
Ông nuôi mình bằng châu chấu và mật ong rừng (Mat Mt 3:4). Từ đời thượng cổ, người ta đã dùng châu chấu làm thực phẩm. Họ đem nướng, hoặc phơi nắng, rồi ăn như lúa rang. Họ nói rằng ăn châu chấu có mùi vị như tép vậy.
Khi Giăng được 30 tuổi, thì Đức Chúa Trời kêu gọi ông. Nhân dân đang rên siết dưới ách tôi mọi tàn khốc của đế quốc La-mã, đã bị "điện giựt" khi nghe tiếng sang sảng của vị tu sĩ nơi đồng vắng, quái dị, cường tráng, gan dạ, kêu la trên bờ sông Giô-đanh rằng Đấng Giải cứu dự ngôn từ lâu đời nay đã hiện đến.
Nơi ông rao giảng là hạ lưu sông Giô-đanh, đối ngang với Giê-ri-cô, trên một ngã tư chánh yếu của xứ, và trên một con đường chính đi tới cổng thành Giê-ru-sa-lem. Xem bản đồ ở dưới, Mat Mt 3:13-17.
Điệp khúc trong tiếng kêu la của ông là: "Hãy ăn năn!" Sự giảng dạy của ông được kết quả vô biên trong dân chúng. Cả xứ bị rúng động tới cội rễ, kể từ những bậc cầm quyền giống như "rắn lục" trở xuống. Nhiều đoàn dân đông đảo đến xin ông làm lễ báp-têm cho. Cả đến Hê-rốt cũng "bằng lòng nghe" ông giảng. Sử gia Josèphe nói rằng Giăng Báp-tít "có ảnh hưởng lớn trên dân chúng, và họ dường như sẵn lòng làm bất cứ điều chi ông khuyên bảo."
Ông đòi những kẻ tuyên bố ăn năn phải chịu lễ báp-têm, là nghi lễ mở đường cho lễ báp-têm tốt đẹp trong đạo Đấng Christ.
Khi được dân chúng hoan nghinh tới cực độ, thì ông làm lễ báp-têm cho Đức Chúa Jêsus, và tuyên bố Ngài là Đấng Mê-si. Rồi sau khi làm trọn sứ mạng, ông lẹ làng rời khỏi sân khấu. Ông đã thức tỉnh quốc dân khỏi cảnh hôn mê, và đã giới thiệu Con Đức Chúa Trời với họ. Như vậy, công việc ông đã xong.
Tuy nhiên, ông cứ giảng dạy và làm lễ báp-têm mấy tháng nữa; ông tiến về phía Bắc, tới Ê-nôn (GiGa 3:23). Xem bản đồ ở dưới, Mat Mt 3:13-17.
Chừng một năm sau khi làm lễ báp-têm cho Đức Chúa Jêsus, thì ông bị Hê-rốt cầm tù, chẳng phải vì cớ ông giảng dạy, nhưng để thỏa mãn tánh thất thường của một mụ đờn bà gian ác (Mat Mt 14:1-5). Việc nầy xảy ra vào tháng 12 dương lịch, nhằm lúc Đức Chúa Jêsus chấm dứt phần đầu của chức vụ Ngài tại xứ Giu-đê (Mat Mt 4:12; GiGa 3:22; 4:3, 35).
Không có chép ông bị cầm tù tại nơi nào. Nhưng người ta cho là hoặc tại Machaerus, ở phía Đông Biển Chết, hoặc tại Ti-bê-ri-át, ở bờ phía Tây biển Ga-li-lê, -- cả hai nơi nầy Hê-rốt đều có cung điện. Ông bị chém đầu vào khoảng kỳ Lễ Vượt Qua thứ hai sau đó (Mat Mt 14:12-13; GiGa 6:4).
Chúng ta ngạc nhiên vì Giăng hồ nghi (Mat Mt 11:3). Một cách tin tưởng và tích cực, ông đã làm chứng rằng Đức Chúa Jêsus là Chiên Con của Đức Chúa Trời và là Con Đức Chúa Trời (GiGa 1:29-34). Nhưng lúc nầy, đang khi suy gẫm ở phía sau các bức tường của khám tù, thì ông sanh ra bối rối. Đức Chúa Jêsus không làm việc mà ông tưởng Đấng Mê-si sẽ làm. Rõ ràng lắm, ông cùng quan niệm với nhân dân về một Nước chánh trị của Đấng Mê-si. Đức Chúa Trời không khải thị cho ông mọi điều liên quan đến tánh chất của Nước ấy. Cả đến 12 Sứ đồ cũng chậm học biết điều đó, và không hiểu chi hết cho tới khi Đức Chúa Jêsus sống lại. Xem ở Mat Mt 10:1-42.
Nếu giả dịnh rằng Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ ít lâu trước khi ông làm lễ báp-têm cho Đức Chúa Jêsus, có lẽ là mùa hạ năm 26 S.C., thì chức vụ ông kéo dài chừng 1 năm rưỡi (hoặc không tới). 30 năm ẩn dật. 1 năm rưỡi (hoặc không tới) giảng dạy công khai. 1 năm 4 tháng ở trong khám tù. Rồi bức màn buông xuống. Đó là lược sử của người đã mở đường cho Cứu Chúa của thế gian; và Đức Chúa Jêsus đã phán về ông rằng: "Trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít" (Mat Mt 11:11). Giăng không làm phép lạ chi hết (GiGa 10:41).
LuLc 3:21-22. Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm. -- Xem ở Mat Mt 3:13-17.
LuLc 3:23-38. Gia hệ của Đức Chúa Jêsus. -- Xem ở Mat Mt 1:1-17.
LuLc 4:1-13 -- 40 ngày cám dỗ
Xem lời chú giải ở Mat Mt 4:1-11. Trong cả ba bản tường thuật của Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca, đều có quả quyết rằng chính Sa-tan đã cám dỗ Đức Chúa Jêsus.
SA-TAN
Đức Chúa Jêsus đã phán rất nhiều về quỉ Sa-tan.
Ngài gọi nó là "kẻ nghịch thù" (Mat Mt 13:39).
Là "quỉ dữ" (Mat Mt 13:38).
Là "vua chúa của thế gian nầy" (GiGa 13:31; 14:30;).
Là "kẻ nói dối và là cha sự nói dối" (GiGa 8:44).
Là "kẻ giết người" (GiGa 8:44).
Ngài phán rằng Ngài thấy nó "từ trời sa xuống như chớp" (LuLc 10:18).
Rằng nó có một "nước" (Mat Mt 12:26).
Rằng người ác là "con cái của nó" (Mat Mt 13:38).
Rằng nó "gieo cỏ lùng" chung với "giống tốt" (Mat Mt 13:38, 39).
Rằng nó "cướp điều đã gieo trong lòng" người nghe đạo (Mat Mt 13:19, Mac Mc 4:15; LuLc 8:12).
Rằng nó "đã cầm buộc" một người đờn bà suốt "18 năm" (LuLc 13:16).
Rằng nó "đòi sàng sảy" Phi-e-rơ (LuLc 22:31).
Rằng nó có " những quỉ sứ" (Mat Mt 25:41).
Rằng "lửa đời đời đã sắm sẵn cho" nó (Mat Mt 25:41).
Kinh Thánh hình dung Sa-tan nhiều cách:
Nó là "quỉ cám dỗ" (Mat Mt 4:3).
Nó là "chúa quỉ" (Mat Mt 12:24; Mac Mc 3:22; LuLc 11:15).
Nó là nguồn gốc của sự bị quỉ ám (Mat Mt 12:22-29; LuLc 11:14-23).
Nó đặt sự phản bội vào lòng Giu-đa (GiGa 13:2, 27).
Nó dùng sai Kinh Thánh (Mat Mt 4:4; LuLc 4:10, 11).
Nó là "chúa đời nầy" (IICo 2Cr 4:4).
Nó là "vua cầm quyền chốn không trung" (Eph Ep 2:2).
Nó "mạo làm thiên sứ sáng láng" (IICo 2Cr 11:14).
Nó là "kẻ thù nghịch của chúng ta" (IPhi 1Pr IPhi5:8).
Nó "dỗ dành cả thiên hạ" (KhKh 12:9; 20:3, 8, 10).
Nó là "con rồng lớn," là "con rắn đời xưa" (KhKh 12:9; 20:2).
Nó cám dỗ A-đam và Ê-va (SaSt 3:1-20).
Nó sẽ "lánh xa" nếu chúng ta "chống trả" nó (Gia Gc 4:7).
Nó làm cho "giằm xóc vào thịt" Phao-lô (IICo 2Cr 12:7).
Nó ngăn cản kế hoạch truyền giáo của Phao-lô (ITe1Tx 2:18).
Nó xui cho A-na-nia nói dối (Cong Cv 5:3).
Nó cầm quyền trên các dân ngoại (Cong Cv 26:18).
Nó làm đui mù trí óc của những người không tin Chúa (IICo 2Cr 4:4).
Các giáo sư giả "thuộc về hội quỉ Sa-tan" (KhKh 2:8; 3:9).
Nó có thể làm những phép lạ giả mạo (IITe 2Tx 2:9).
Nó là tà linh hành động, làm cho người ta bội đạo (2:9).
Nó là sư tử rống, tìm cách ăn nuốt tín đồ (IPhi 1Pr IPhi5:8).
Ta thắng nó bởi đức tin (IPhi 1Pr IPhi5:9).
Nó nhiều "mưu kế" (Eph Ep 6:11).
Nó là "thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch" (Eph Ep 2:2).
Nó xui giục Đa-vít phạm tội (ISu1Sb 21:1).
Nó gây cho Gióp bị tai họa (Giop G 1:7-2:10).
Nó là kẻ thù của Giê-hô-sua (XaDr 3:1-9).
Nó có thể thắng tín đồ (IICo 2Cr 2:11).
Những người tội ác là con cái nó (IGi1Ga 3:8, 10).
Thật có ma quỉ chăng? Lời lẽ của Đức Chúa Jêsus chắc chắn tỏ ra rằng Ngài tin có ma quỉ và ma quỉ có thân vị. Đức Chúa Jêsus tự biết Ngài phán về điều chi. Ngài biết nhiều sự trạng của thế giới vô hình mà chúng ta không biết. Nếu Đức Chúa Jêsus chỉ dung hợp với sự sai lầm phổ thông, thì lời phán của Ngài chẳng khải thị chân lý chi hết, và như vậy, ai còn phân biệt được chân lý thực sự mà Ngài muốn dạy dỗ với sự sai lầm mà Ngài phán tỏ dường như là chân lý?
Chức Vụ Ở X­ứ GA-LI-LÊ (LuLc 4:14-9:51)
Lu-ca không dành nhiều chỗ cho chức vụ của Chúa ở xứ Ga-li-lê y như Ma-thi-ơ và Mác đã dành. Hãy xem những lời bí chú ở dưới Mat Mt 4:12 và Mac Mc 1:14.
LuLc 4:14-15 -- Đức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ ở xứ Ga-li-lê
Cũng như Ma-thi-ơ và Mác, Lu-ca hoàn toàn bỏ qua các biến cố xảy ra trong năm giữa lúc Đức Chúa Jêsus bị cám dỗ và lúc Ngài bắt đầu chức vụ ở xứ Ga-li-lê, theo như có chép ở GiGa 1:19-4:54. Xem ở Mac Mc 1:14-15.
LuLc 4:16-30 -- Chúa bị chối bỏ tại Na-xa-rét
Đây dường như là lần đầu tiên Ngài trở về Na-xa-rét, kể từ khi Ngài chịu lễ báp-têm hơn một năm trước. Theo chỗ chúng ta biết, thì trong thời gian đó, Ngài ở đồng vắng, thành Ca-na, thành Ca-bê-na-um, và xứ Giu-đê (GiGa 2:1, 12; 4:46). Và Ngài đã làm một ít phép lạ. Ngài đã chữa lành con trai quan thị vệ (GiGa 4:46). Câu 23 ngụ ý rằng Ngài có thể đã làm nhiều phép lạ khác tại Ca-bê-na-um. Dầu sao, danh tiếng Ngài cũng đã lan tới chính quê hương Ngài. Khi Ngài phán dạy, thì họ ngạc nhiên trước cá tánh từ ái, hấp dẫn và hùng mạnh rõ rệt của Ngài. Họ hầu như không thể tin rằng đó là người đồng hương thấp thỏi của mình. Ngay trong thành nhỏ nầy, Đức Chúa Jêsus cũng đã sống một đời quá phẳng lặng và xuất thân từ một gia đình quá thấp thỏi, đến nỗi những người nhóm trong nhà hội hầu như chẳng nhận biết Ngài (câu 22). Ngài nhắc tới Ê-li và Ê-li-sê cốt để tỏ ra rằng hai ông đã được sai đến cùng các dân ngoại, chớ không phải dân Y-sơ-ra-ên, -- đó là ngụ ý về chính sứ mạng của Ngài. Lời nhắc đó và việc Ngài làm nhiều phép lạ ở những thành khác, chớ không làm ở quê hương Ngài, đã khiến kẻ đồng hương tức giận và điên cuồng đến nỗi họ toan giết Ngài. Theo Mat Mt 13:54-58 và Mac Mc 6:1-6, thì dường như mấy tháng sau, Ngài lại tới Na-xa-rét, và làm một ít phép lạ.
LuLc 4:31-37. Người bị quỉ ám được chữa lành. -- Xem ở Mac Mc 1:21-28.
LuLc 4:38-39. Bà gia Phi-e-rơ. -- Xem ở Mac Mc 1:29-31.
LuLc 4:40-41. Rất đông người được chữa lành. -- Xem ở Mac Mc Mac1:32-34.
LuLc 4:42. Chúa đi tẻ cầu nguyện. -- Xem ở Mac Mc 1:35-37.
LuLc 4:43-44. Chúa đi tới các miền chung quanh. -- Xem ở Mac Mc 1:38-39.
LuLc 5:1-11. Chúa kêu Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng. -- Xem ở Mac Mc 1:16-20.
LuLc 5:12-16. Người phung được sạch. -- Xem ở Mac Mc 1:40-45.
LuLc 5:17-26. Người bại được chữa lành. -- Xem ở Mac Mc 2:1-12.
LuLc 5:27-32. Chúa kêu gọi Lê-vi (Ma-thi -ơ).-- Xem ở Mac Mc 2:13-17.
LuLc 5:33-39. Câu hỏi về sự kiêng ăn. -- Xem ở Mac Mc 2:18-22.
LuLc 6:1-11. Ăn và chữa bịnh trong ngày Sa-bát. -- Xem ở Mac Mc 2:23.
LuLc 6:12-19 -- Lựa chọn 12 Sứ đồ
Nói về phương diện loài người, thì đây là việc quan trọng hơn hết trong đời Đức Chúa Jêsus, sau sự chết và sự sống lại của Ngài; vì Ngài giao kết quả của công nghiệp đời Ngài vào tay những người nầy. Lẽ tự nhiên, Ngài biết rằng từ Thiên đàng, bởi Thánh Linh Ngài, Ngài sẽ dắt dẫn, điều khiển và giúp đỡ họ. Tuy nhiên, vẫn phải xét tới các đặc điểm và tài năng thiên nhiên của họ. Vậy, trước khi lựa chọn chung kết, Đức Chúa Jêsus đã thức suốt đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời.
Sau 2 năm huấn luyện (xem ở dưới Ma-thi-ơ, đoạn 10), Ngài sai họ đi "làm chứng về Ngài... cho đến cùng trái đất" (Cong Cv 1:8). Tân Ước chỉ nói một ít về công việc của họ, tức là việc họ đã làm ở xứ Pa-lét-tin, Tiểu-Á-tế-á, Hi-lạp và La- mã. Còn về công vụ cá nhân, thì ngoài việc của Phi-e-rơ, Giăng và Phao-lô, lại nói đến việc của những người khác rất ít.
Có lẽ 12 Sứ đồ đã thỏa thuận chia nhau đi các ngả. Hoặc mỗi ông được Chúa dắt dẫn đi tới nơi nào mình cho là tốt nhứt. Nhiều lúc họ đi từng đôi. Chắc hẳn người nầy thăm viếng công cuộc của người kia, và giúp phần lập vững các chi hội ở khắp mọi nơi.
Khoảng năm 62 S.C., Phao-lô nói ở thơ CoCl 1:23 rằng: "Đạo Tin Lành... được giảng ra giữa mọi vật được dựng nên ở dưới trời." Như vậy, trong vòng 30 năm, truyện tích Đấng Christ đã được truyền giảng khắp thế giới mà người ta biết thời đó.
Theo nhiều truyền thoại khác nhau và không chắc đúng, thì hầu hết 12 Sứ đồ đã tuận đạo để đóng ấn cho lời mình làm chứng về Đấng Christ.
Vậy, trừ ra một tên phản bội trong nhóm, còn thì về toàn thể, việc Đức Chúa Jêsus lựa chọn và huấn luyện 12 Sứ đồ thật là một thành công vĩ đại.
LuLc 6:20-49 -- Bài Giảng trên Núi
Khúc sách nầy được ai nấy kể là toát yếu của cùng một bài giảng đã chép ở Mat Mt 5:1-7:29. Mat Mt 5:1 chép rằng: "Đức Chúa Jêsus... lên núi kia," và "Ngài... ngồi." Còn LuLc 6:17 thì chép rằng "Ngài... xuống, dừng lại nơi đồng bằng," nghĩa là Ngài đã từ nơi cao hơn (núi) đi xuống. Ngài có thể đã làm cả hai điều đó, vì thấy sự giảng dạy cần nhiều thì giờ lắm.
Hai bản chép hơi khác nhau. Chúng ta không thể biết chắc là hai bản khác nhau tường thuật cùng một bài giảng, hoặc về thực thể, là cùng một bài giảng trong hai cơ hội khác nhau. Đức Chúa Jêsus giảng dạy luôn luôn, nên có lẽ Ngài phán một vài lời nầy hàng trăm lần, dưới những hình thức khác nhau. Đây có thể là một bộ gồm những lời tiêu biểu của Ngài, một bản tóm tắt các lời dạy dỗ chánh yếu của Ngài. Văn chương hoa mỹ cũng như sự dạy dỗ vô song của bài giảng nầy, thật không có văn phẩm nào trổi hơn được.
LuLc 6:20-26. Các phước lành. -- Xem ở Mat Mt 5:1-12.
LuLc 6:27-38 -- Luật Vàng
Đây như là tóm tắt các tư tưởng ở Ma-thi-ơ, đoạn 5 và đoạn 7. Một vài lời dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus, tỉ như yêu thương kẻ lân cận như mình, yêu thương kẻ thù nghịch, và làm cho kẻ khác điều ta muốn họ làm cho mình, thật cao quá bổn tánh ích kỷ của loài người chúng ta, nên ta không thử sống đúng như vậy, và tự bào chữa mà nói rằng chắc Đức Chúa Jêsus biết Ngài đặt trước mặt chúng ta những lý tưởng không thực tế và không sao làm theo được.
Tuy nhiên, chính Đức Chúa Jêsus đã sống đúng như vậy, và Ngài dạy rõ rằng ta phải giữ lòng mình khỏi sự căm giận, bất cứ mình bị ngược đãi chừng nào; chẳng những vậy thôi, ta còn phải thực sự mưu an lạc cho người toan làm hại mình, và yêu thương kẻ ghét mình. Không làm được sao? Có chớ, ta làm được một phần nào bởi sự khắc kỷ nghiêm nhặt hơn hết và bởi sự cứu giúp từ ái của Đức Chúa Trời.
Nếu thực hành được Luật Vàng nầy, dầu chỉ một mức nhỏ, thì ta cũng sung sướng, được ích lợi trong cuộc kinh doanh và trong mọi liên lạc ở đời. Đây là điều thực tế hơn hết ở thế giới nầy: Trong khi phụng sự kẻ khác, thì ta tự phụng sự mình. Anh em hãy thử làm như vậy coi. Người ta thích giao thiệp với những ai tin và thực hành Luật Vàng nầy.
Luật Vàng chẳng phải là lý do đầy đủ để tự miễn trừ quân dịch. Đức Chúa Jêsus phán với Cá Nhân, chớ không phán với chánh quyền. Chánh quyền do Đức Chúa Trời chỉ định (RoRm 13:1-7; IPhi 1Pr 2:13-17). Những phần tử phạm trọng tội thì phải dùng võ lực mà bài trừ chúng. Đức Chúa Jêsus tuyên bố rõ ràng rằng Nước của Ngài có thể tồn tại ở trong Nước của Sê-sa (Mat Mt 22:21). Người dân ngoại đầu tiên được nhận vào Hội Thánh là một quân nhân La-mã (Cong Cv 10:1). Ông ấy không buộc phải từ bỏ quân dịch. Trong tấm lòng và đời sống của mình, một quan tòa, một nhân viên cảnh sát, hoặc một quân nhân, có thể thực hành các nguyên tắc của Luật Vàng với tư cách cá nhân; còn với tư cách một vị thừa hành luật pháp hoặc một viên chức của chánh phủ, thì họ phải theo đúng các qui tắc của công lý. Theo một vài phương diện và với một mực độ hạn chế, các chánh phủ cũng có thể thực hiện Luật Vàng. Nhưng nếu bỏ võ lực, thì có nghĩa là hỗn loạn, là cho bọn sát nhân, trộm cắp, hãm hiếp và mọi tên đại ác, xấu xa được tự do hành động. Chúng ta hãy có tư tưởng sáng suốt về điểm nầy. Dầu chúng ta chán ghét chiến tranh, nhưng tín đồ nào của Đấng Christ lấy Luật Vàng làm cớ để mặc kẻ khác chiến đấu bảo vệ sự tự do của mình, thì chẳng được khen ngợi đâu. Hành động như vậy không phải là trượng phu.
LuLc 6:39-45 -- Đoán xét anh em mình
Ở đây cũng như ở nhiều trường hợp khác, Đức Chúa Jêsus bày tỏ hai phương diện dường như mâu thuẫn của một chân lý. Lời nói và hành vi của người nào thật biểu thị tâm tánh của người ấy. Hơn nữa, chúng ta thường phạm đúng những tội mà mình lên án nơi người khác.
6:46-49 -- Xây nhà trên vầng đá hoặc trên cát
Những lời nầy và nhiều lời giống như vậy tỏ rõ rằng Đức Chúa Jêsus muốn người ta phải đối xử với Ngài một cách cẩn trọng. Một ngày kia, nhiều kẻ lưu loát xưng nhận Danh Ngài sẽ tỉnh ngộ và sầu thảm (Mat Mt 7:22-23).
LuLc 7:1-10 -- Đầy tớ của viên bách nhân đội trưởng
Việc nầy cũng có chép ở Mat Mt 8:5-13. Bách nhân đội trưởng là một sĩ quan La- mã cai quản 100 lính. Đương thời ấy, xứ Pa-lét-tin đã ở dưới quyền cai trị của người La-mã chừng 100 năm. Nói chung, các sĩ quan La-mã tàn ác và khinh người. Song một vài sĩ quan cũng nhân đức vì chịu ảnh hưởng của đạo Do-thái. Người dân ngoại đầu tiên được tiếp nhận vào Hội Thánh là một bách nhân đội trưởng, tên là Cọt-nây (Cong Cv 10:1-48).
Viên bách nhân đội trưởng nầy đã xây cất nhà hội cho người Do-thái tại Ca-bê-na- um (câu 5). Đức Chúa Jêsus thường giảng dạy trong nhà hội nầy, và Ngài cũng chữa lành người bị quỉ ám tại đó (Mac Mc 1:21-23. Năm 1905, một phái đoàn khảo cổ của người Đức đã phát giác di tích của một nhà hội dường như xây cất vào thế kỷ thứ 4 S.C., dưới nhà hội nầy là nền của một nhà hội lâu đời hơn nữa, và người ta cho rằng đó thật là nhà hội mà Đức Chúa Jêsus đã thường giảng dạy (Mac Mc 1:21; LuLc 7:5). Ở vách phía Tây có ghế đá cho các thầy thông giáo và người Pha-ri-si ngồi. Tòa giảng ở phía Bắc. Ta có thể nhìn thấy gần đúng chỗ Chúa đã đứng giảng dạy.
7:11-17 -- Con trai bà góa ở Na-in được sống lại.
Đây là một trong ba phép lạ làm cho sống lại. Xem Mac Mc 5:22 và GiGa 11:1. Có lẽ Đức Chúa Jêsus còn làm cho nhiều người khác sống lại nữa (LuLc 7:22). Ngài sai 12 Sứ đồ đi kêu kẻ chết sống lại (Mat Mt 10:8).
LuLc 7:18-35. Các sứ giả của Giăng Báp-tít sai đến. -- Xem ở Mat Mt 11:1-19.
LuLc 7:36-50 -- Người đờn bà tội lỗi
Không có một sự kiện nào, dầu là nhỏ nhặt hơn hết, để dựa vào đó mà bảo rằng người đờn bà nầy chính là Ma-ri Ma-đơ-len, hoặc Ma-ri ở Bê-tha-ni. Chỉ nêu lên điều đó cũng đã là giải thích Kinh Thánh một cách cẩu thả đáng tức bực và nông cạn dại dột. Sự xức dầu nầy KHÔNG PHẢI cùng là sự xức dầu ở Bê-tha-ni (GiGa 12:1-8). Người đờn bà nầy nổi tiếng trong thành là "xấu nết" (câu 37), và chắc là một kỹ nữ đã được cải hóa bởi Giăng Báp-tít hoặc bởi Đức Chúa Jêsus (Mat Mt 21:31-32); lúc nầy, bà xấu hổ, ăn năn, hạ mình sâu xa, và đến để công khai tỏ lòng biết ơn Đức Chúa Jêsus. Việc xảy ra trong nhà một người Pha-ri-si. Bữa tiệc ở Đông phương là cả một công vụ. Đức Chúa Jêsus nằm ngã trên "đi-văng," xây mặt về bàn ăn, chơn co lại, nên người đờn bà đó đến gần Ngài dễ dàng. Bà khóc lóc, hôn chơn Ngài, xức dầu thơm quí giá cho chơn Ngài, rồi dùng tóc mình lau những giọt nước mắt đã rơi xuống đó. Bà cúi thấp như vậy, khiêm cung, hèn hạ và nhiệt thành thờ lạy nơi chơn Chúa như vậy, thì làm cho chúng ta, là những người khả kính, phải hổ thẹn biết bao!
Đức Chúa Jêsus có thái độ rất từ ái đối với các người đờn bà đã lầm đường lỡ bước (GiGa 4:18; 8:1-11). Song không hề có ai gán cho Ngài những cớ tích khả nghi (GiGa 4:27). Xem thêm ở dưới LuLc 15:1-32.
8:1-3 -- Các bậc phụ nữ
Có kể tên 3 bà, ngoài ra "còn nhiều người khác nữa." Ta không biết gì thêm về bà Su-xan-nơ. Gian-nơ là vợ quan nội vụ của Hê-rốt, ở trong cung vua. Bà thuộc về nhóm bạn hữu thân thứt của Đức Chúa Jêsus. Bà ở trong số phụ nữ đi thăm phần mộ Chúa (LuLc 24:10).
Ma-ri Ma-đơ-len
Ma-ri Ma-đơ-len là thủ lãnh lỗi lạc nhứt trong đám phụ nữ tin theo Chúa. Bà được nhắc tên nhiều hơn bất cứ bà nào khác, và thường được nhắc tên trước nhứt (Mat Mt 27:56, 61; 28:1; Mac Mc 15:40, 47 16:1, 9; LuLc 8:2; 24:10; GiGa 19:25; 20:1, 18). Theo một phương diện, bà ở trong đám đờn bà cũng như Phi-e-rơ ở trong đám đờn ông. Bà là người đầu tiên mà Đức Chúa Jêsus hiện ra với sau khi Ngài sống lại. Bà được liệt trong số những người "giúp của cải cho Ngài" (câu 3), thì gợi cho ta nghĩ rằng bà thuộc hạng khá giả. Bà được Chúa "cứu khỏi quỉ dữ" (câu 2), thì chẳng chứng tỏ rằng bà không trinh khiết. Quỉ dữ gây nên nhiều thứ tật bịnh (xem ở dưới Mac Mc 5:1-20), nhưng không có chỗ nào trong Kinh Thánh chép rằng hễ ai bị chúng ám, thì nấy là kẻ đồi phong bại tục. Chắc hẳn bà là một bậc phụ nữ có tâm tình không tì vít. Ta không thể nào tưởng rằng Đức Chúa Jêsus đã chịu nhận một kỹ nữ phàm tục làm thủ lãnh nhóm phụ nữ tin theo Ngài.
Có lẽ đây là một điều tốt: ấy là giữa vòng chúng ta nên phân biệt tội lỗi "khả kính" với tội lỗi thô lỗ, và gán sự nhơ nhuốc cho những kẻ phạm một vài hình thức tội lỗi thô lỗ. Nếu làm như vậy, chúng ta có thể giúp phần cứu xã hội loài người khỏi bị hủy diệt hoàn toàn. Nhưng đối với Đức Chúa Trời, thì tội lỗi là tội lỗi. Chắc hẳn Đức Chúa Trời khó tha thứ tội lỗi "khả kính" của chúng ta cũng như Ngài khó tha thứ tội lỗi đã gây cho kẻ phạm nó bị xã hội khinh bỏ. Đối với một kỹ nữ, thì được tha thứ tội lỗi và được nhận vào thông công với các người được cứu rỗi là một việc; nhưng lập tức đặt một người như vậy làm đầu công cuộc tôn giáo lại là một việc khác hẳn.
LuLc 8:4-18. Thí dụ về người gieo giống. -- Xem Mat Mt 13:1-23.
LuLc 8:19-21. Mẹ và anh em Đức Chúa Jêsus. -- Xem ở Mat Mt 12:46-50.
LuLc 8:22-25. Dẹp yên cơn bão. -- Xem ở Mac Mc 4:35-41.
LuLc 8:26-39. Người Giê-sa-rê bị quỉ ám. -- Xem ở Mac Mc 5:1-20.
LuLc 8:40-56. Con gái Giai-ru được sống lại. -- Cũng có chép ở Mat Mt 9:18-26 và Mac Mc 5:22-43. Ba lần Đức Chúa Jêsus kêu gọi kẻ chết sống lại. Xem ở LuLc 7:11-17 và GiGa 11:1-57. Chúng ta cảm kích khôn tả vì Chúa cầm quyền trên sự chết.
LuLc 9:1-6. 12 Sứ đồ được sai đi. -- Xem ở Mat Mt 10:1-42.
LuLc 9:7-9. Hê-rốt bối rối. -- Xem ở LuLc 3:1-20.
9:10-17. Chúa cho 5000 người ăn no nê. -- Xem ở GiGa 6:1-71.
Giữa câu 17 và câu 18 có một khoảng 6 hoặc 8 tháng. Xem ở Mac Mc 6:53.
LuLc 9:18-20. Lời xưng nhận của Phi-e-rơ. -- Xem ở Mat Mt 16:13-20.
LuLc 9:21-27. Chúa dự ngôn về sự thương khó của Ngài. -- Xem ở Mac Mc 9:30-32.
LuLc 9:28-36. Chúa hóa hình. -- Xem ở Mac Mc 9:2-13.
LuLc 9:37-43. Cậu con trai bị kinh phong. -- Xem ở Mac Mc 9:14-29.
LuLc 9:43-45. Chúa lại dự ngôn về sự thương khó của Ngài. -- Xem ở Mac Mc 9:30-32.
LuLc 9:46-48 -- Ai là lớn hơn hết ?
Điểm đáng buồn trong biến cố nầy là nó xảy ra ngay sau khi họ chứng kiến cảnh tượng Chúa hóa hình. Còn đáng thương hại hơn nữa, nó là câu đáp lại lời Đức Chúa Jêsus báo cáo rằng Ngài sắp bị đóng đinh trên Thập tự giá. Tệ hơn nữa là họ diễn lại tấn kịch đó khi tới Ca-bê-na-um (Mat Mt 18:1-5; Mac Mc 9:33-37). Và khi gần tới thì giờ Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá (xem ở 20:20-28). Đức Chúa Jêsus chắc phải có lòng kiên nhẫn biết bao! Ngài là một Đấng đào luyện loài người kỳ diệu biết bao!
LuLc 9:49-50 -- Người vô danh làm việc lạ lùng
Cũng có chép ở Mac Mc 9:38-40. Chúa lại quở trách Giăng vì ông muốn giữ độc quyền làm phép lạ. Liền sau đó, lại có một lời quở trách nữa vì Gia-cơ và Giăng nổi giận dữ (câu 52-56). Ba lời quở trách một dây.
Chức Vụ Ở Xứ Pê-Rê Và Phần Cuối Chức Vụ Ở Xứ Giu-Đê
(LuLc 9:51-19:28)
Thời gian giữa lúc Đức Chúa Jêsus dời khỏi xứ Ga-li-lê và tuần lễ sau chót của Ngài thường được gọi là Chức vụ ở xứ Pê-rê, hoặc phần cuối Chức vụ ở xứ Giu-đê. Thật ra là hai phần, -- một phần ở xứ Pê-rê, và một phần ở xứ Giu-đê. Xứ Pê-rê ở phía Đông hạ lưu sông Giô-đanh (xem bản đồ số 48), và ở dưới quyền cai trị của Hê-rốt. Xứ Giu-đê ở phía Tây sông Giô-đanh, và ở dưới quyền cai trị của Phi-lát.
9:51 -- Chúa dời khỏi xứ Ga-li-lê lần chót
Cũng có chép ở Mat Mt 19:1 và Mac Mc 10:1. Người ta cho rằng đây chính là lần Đức Chúa Jêsus thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem trong kỳ lễ Lều tạm, nhằm tháng 10 dương lịch (GiGa 7:2, 10), hoặc trong kỳ lễ Khánh thành Đền thờ, nhằm tháng 12 dương lịch (GiGa 10:22). Như vậy, chức vụ ở xứ Pê-rê và phần cuối chức vụ ở xứ Giu-đê gồm một thời gian 4 tháng, hoặc 6 tháng. Mấy chữ "Khi gần đến kỳ" (câu 51) tỏ ra thời gian ngắn là có lý hơn.
Ma-thi-ơ dành 2 đoạn cho khoảng nầy của đời Đức Chúa Jêsus; Mác dành 1 đoạn, Lu-ca dành 10 đoạn, và Giăng dành 5 đoạn. Ta sẽ thấy như vậy ở dưới đây.
Bốn Bản Tường Thuật Chức Vụ Của Chúa
Tại Xứ Pê-Rê Và Xứ Giu-Đê (phần cuối)
Mat Mt 19:1-20:34
Sự ly dị (19:1-12).
Con trẻ (19:13-15).
Ông quan trẻ tuổi và giàu có (19:16-30).
Những người làm công trong vườn nho (20:1-16).
Chúa phán trước về sự thương khó của Ngài (20:17-19).
Lời thỉnh cầu của Gia-cơ và Giăng (20:20-28).
Hai người mù tại Giê-ri-cô (20:29-34).
Mac Mc 10:1-53
Sự ly dị (10:1-12).
Con trẻ (10:13-16).
Ông quan trẻ tuổi và giàu có (10:17-31).
Chúa phán trước về sự thương khó của Ngài (10:32-34).
Lời thỉnh cầu của Gia-cơ và Giăng (10:35-45).
Người mù Ba-ti-mê (10:46-52).
GiGa 7:1-11:57
Tại lễ Lều tạm (7:1-52).
Người đờn bà tà dâm (8:1-11).
Bài giảng thuyết của Đức Chúa Jêsus (8:12-59).
Một người mù được chữa lành (9:1-51).
Đấng Chăn Chiên hiền lành (10:1-21).
Tại lễ Khánh thành Đền thờ (10:22-39).
Ở hạ lưu sông Giô-đanh (10:40-42).
Kêu La-xa-rơ sống lại (11:1-53).
Ở miền Ép-ra-im (11:54-57).
LuLc 9:51-19:29
Người Sa-ma-ri không tiếp rước Chúa (9:51-56).
"Con cáo có hang" (9:57-62).
70 môn đồ được sai đi (10:1-16).
70 môn đồ trở về (10:17-24).
Người Sa-ma-ri nhơn lành (10:25-37).
Ma-ri và Ma-thê (10:38-42).
"Lời cầu nguyện của Chúa" (11:1-4).
Khuấy rầy khi cầu nguyện (11:5-13).
"Nhờ Bê-ên-xê-bun" (11:14-26).
Lời Đức Chúa Trời (11:27-28).
Dấu lạ của Giô-na (11:29-32).
Đèn thấp sáng (11:33-36).
Người Pha-ri-si bị tố cáo (11:37-54).
Tội lỗi không thể tha thứ (12:1-12).
Người giàu mà dại (12:13-21).
Của báu trên trời (12:22-34).
Sự tỉnh thức (12:35-40).
Người quản gia trung tín (12:41-48).
"Quăng lửa xuống đất" (12:49-53).
Dấu hiệu của các thời kỳ (12:54-59).
Huyết của mấy người Ga-li-lê (13:1-5).
Cây vả đưng (13:6-9).
Người đờn bà còng lưng (13:9-17).
Hột cải và men (13:18-21).
"Chỉ ít kẻ được cứu chăng?" (13:22-30).
"Hãy đi nói với con chồn cáo ấy" (13:31-35).
Người mắc bịnh thủy thũng (14:1-6).
"Chỗ ngồi trên" (14:7-11).
"Đãi tiệc kẻ nghèo khó" (14:12-14).
Những lời thoái thác (14:15-24).
Vác Thập tự giá (14:25-35).
Con chiên đi lạc và đồng bạc mất (15:1-10).
Người con trai phóng đãng (15:11-32).
Người quản gia bất trung (16:1-17).
Sự ly dị (16:18).
Người giàu và La-xa-rơ (16:19-31).
Sự tha thứ (17:1-4).
Quyền năng của đức tin (17:5-10).
Mười người phung (17:11-19).
Sự tái lâm của Chúa (17:20-37).
Người đờn bà góa khuấy rầy (18:1-8).
Người Pha-ri-si và người thâu thuế (18:9-14).
Con trẻ (18:15-17).
Ông quan trẻ tuổi và giàu có (18:18-30).
Chúa phán trước về sự thương khó của Ngài (18:31-34).
Người mù ở thành Giê-ri-cô (18:35-43).
Xa-chê (19:1-10).
Thí dụ về những nén bạc (19:11-28).
LuLc 9:52-56 -- Người Sa-ma-ri chối bỏ Đức Chúa Jêsus
Vì Ngài đi về hướng thành Giê-ru-sa-lem. Người Sa-ma-ri trông mong Đấng Mê-si đặt ngôi Ngài trên núi Ga-ri-xim. Dân chối bỏ Đức Chúa Jêsus thì làm cho Gia-cơ và Giăng nổi giận và họ lập tức chứng tỏ tại sao Ngài đặt cho họ biệt hiệu "Con trai của sấm sét" (Mac Mc 3:17). Đức Chúa Jêsus không phẫn nộ, nhưng đã đổi đi đường khác.
LuLc 9:57-62 -- "Con cáo có hang "
Hơn 1 năm trước, Đức Chúa Jêsus cũng đã phán lời nầy với một thầy thông giáo tỏ ý muốn theo Ngài qua bờ biển bên kia (Mat Mt 8:19-22). Có lẽ Ngài đã nhiều lần trả lời như vậy cho những kẻ mà Ngài biết là đang tìm kiếm, ưa chuộng một điều gì Ngài chẳng có để cho họ. Lời Ngài phán chứa đựng một niềm cảm động vô biên, vì Cứu Chúa của loài người không có nhà ở, sanh ra trong chuồng bò, dùng máng cỏ làm nôi, và được an táng trong một phần mộ mượn. Lời Đức Chúa Jêsus đáp lại người thứ hai và người thứ ba, lẽ tự nhiên, không có nghĩa rằng chúng ta không cần biết đến những thiên chức êm dịu của đời sống trần gian. Kinh Thánh nhiều lần dạy rằng một dấu hiệu đích xác hơn hết của tín đồ Đấng Christ là phải ân cần và thận trọng trong mọi mối liên lạc của đời sống gia đình, nhứt là những lúc đau thương. Đức Chúa Jêsus có ý dạy rằng những sự thuộc về Đức Chúa Trời quan trọng hơn vô cùng, và trong trường hợp xung đột, thì không nên ngần ngại một giây phút nào.
LuLc 10:1-16 -- 70 môn đồ được sai đi
Việc nầy dường như xảy ra lúc Ngài dời khỏi xứ Ga-li-lê lần sau chót, chừng 8 hoặc 9 tháng sau khi Ngài sai 12 Sứ đồ đi. mục đích của Ngài là hoàn tất sự báo cáo cho nhân dân rằng Đấng Mê-si đã ngự đến. Có lẽ Ngài sai họ đi trước, xuôi theo thung lũng sông Giô-đanh. Chỉ thị của Ngài giống như chỉ thị đã ban cho 12 Sứ đồ.
Đức Chúa Jêsus đài thọ công việc của Ngài thể nào?
Đức Chúa Jêsus là một Người nghèo, "không có chỗ mà gối đầu." Trong vòng 3 năm, Ngài đi đây đi đó, và nhiều khi có một đám tùy tòng rất đông. Rất ít là hai lần Ngài đã tổ chức phái đoàn giảng đạo đông người. Chúa và môn đồ sống nhờ sự tiếp đón, đãi đằng của dân chúng (Mat Mt 10:11), theo lệ thường đối với khách lạ và người bộ hành đương thời ấy. Ngài nhận được tiền dâng của những bậc khá giả và nhiều người khác (LuLc 8:3). Do đó có túi bạc để mua các thứ cần dùng (GiGa 12:6; 13:29). Nếu Ngài muốn, thì có thể thâu một số tiền lớn nơi những đoàn dân đông theo Ngài và những người bịnh mà Ngài đã chữa lành, để sống như một ông hoàng. Nhưng Ngài đã sống và chết trong cảnh nghèo túng.
LuLc 10:17-24 -- 70 môn đồ trở về
Không chép cuộc hành trình của họ lâu chừng nào. Có lẽ họ đi trọn đường xuống miền Giê-ri-cô, còn Chúa thì theo sau chậm hơn. Đối với Đức Chúa Jêsus, sự thành công của họ là một dấu hiệu Sa-tan sắp bị lật đổ. Nhưng hãy chú ý rằng, Chúa cảnh cáo họ chớ quá vui mừng vì đã làm những việc tốt lành; lý do thật làm cho ta hớn hở chính là Thiên đàng (câu 20).
10:25-37 -- Người Sa-ma-ri nhơn lành
Đây là một áng cổ văn giản dị và đẹp đẽ hơn hết về vấn đề nhân ái của loài người trong cả văn chương. Lu-ca vừa mới kể rằng Đức Chúa Jêsus bị người Sa-ma-ri chối bỏ (9:52). Và đây là phản ứng của Ngài, tức là tôn một người Sa-ma-ri lên cho mọi đời tương lai quí mến.
Sự nhân ái
Chính Đức Chúa Jêsus là Người nhân ái hơn hết từng sống ở đời. Có lời chép về Ngài, chớ không chép về một người nào khác trong lịch sử, rằng: Nếu mọi việc nhân ái Ngài làm trong 3 năm ngắn ngủi được viết ra, thì thế gian không chứa hết sách vở ấy (GiGa 21:25).
Đức Chúa Jêsus đã phán rất nhiều về sự nhân ái, -- đây là sự nhân ái thông thường, tỏ tường, theo lề lối cũ,và thực hiện hằng ngày.
Cứ xét theo lời Ngài phán, thì Ngài muốn thấy kẻ theo Ngài có sự nhân ái hơn là bất cứ đặc điểm nào khác của tâm tánh. Ấy không phải sự nhân ái của chúng ta sẽ cứu mình được. Nếu chúng ta được cứu, ấy là Ngài cứu ta. Ta không bao giờ nên quên điều đó. Nhưng trong ta có những điều đẹp lòng Ngài, hoặc không đẹp lòng Ngài.
Đức Chúa Jêsus nhấn rất mạnh vào vấn đề nhân ái nầy, đến nỗi Ngài tự liên hiệp với những người cần sự nhân ái. Quả thật, Ngài bảo chúng ta rằng ta không thể làm bạn hữu của Ngài mà đồng thời lại lãnh đạm với những kẻ bị chà đạp hoặc đau khổ (Mat Mt 25:40, 45).
Ngài ngụ ý dạy rằng Thiên đàng là nơi ở dành riêng cho những người đã học biết cư xử nhân ái, -- nhân ái mà thôi và nhân ái luôn luôn. Đức Chúa Jêsus ngự đến để kiến tạo một thế giới gồm những người giống như Ngài, và khi thế giới ấy đã hoàn thành, thì không ai được vào đó nữa (Mat Mt 25:34, 41).
Ngài lại ngụ ý nữa rằng trong ngày Phán xét sẽ có một vài sự bất ngờ. Một số người thường nghĩ rằng mình đạo đức lắm sẽ nhận thấy, nhưng trễ quá, rằng mình đã hoàn toàn lãng quên các điều mà thiên sứ vẫn ghi chép (Mat Mt 25:44).
Đức Chúa Jêsus lại tuyên bố kỳ diệu rằng trong chánh sách của Đức Chúa Trời cai trị vũ trụ, không một hành động từ ái nào, dầu nhỏ nhặt tới mấy, sẽ không được ban thưởng. Chính Đức Chúa Trời sẽ báo trả cho chúng ta mỗi một hành động từ ái, không sót chi hết (Mat Mt 10:42).
Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ Đức Chúa Jêsus không có ý phán rằng ta nên khuyến khích những kẻ mạnh khỏe mà lười biếng toan bắt xã hội phải gánh vác họ, và đi bước đường đời, nhưng chẳng làm phận sự của mình. Lười biếng là một trong những tội lớn nhứt. Không có chỗ nào trong Kinh Thánh dung thứ nó. "Nếu ai không khứng làm việc, thì cũng không nên ăn nữa" (IITe 2Tx 3:10).
LuLc 10:38-42 -- Ma-ri và Ma-thê
Người ta cho rằng việc nầy xảy ra lúc chấm dứt chiến dịch bố đạo rộng lớn xuôi theo thung lũng sông Giô-đanh, có 70 môn đồ đi trước Chúa. Lúc nầy Chúa đi gần tới thành Giê-ru-sa-lem để dự lễ Khánh thành Đền thờ (?) (GiGa 10:22). Ma-ri và Ma-thê ngụ tại Bê-tha-ni, trên sườn phía Tây của núi Ô-li-ve, cách Giê-ru-sa-lem chừng 2 dặm. Truyện nầy chép để tỏ ra Đức Chúa Jêsus cho rằng nghe Lời Chúa là rất hệ trọng, đáng để thì giờ vào đó, mặc dầu vì thế mà phải xao lãng một vài phận sự hằng ngày.
LuLc 11:1 -- Đức Chúa Jêsus cầu nguyện
Dầu Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời và tự nhận là bình đẳng với Đức Chúa Trời về một vài phương diện đang khi ở trong xác thịt, nhưng đang khi ở trong xác thịt, Ngài dường như cũng cảm thấy mình hoàn toàn tùy thuộc một Quyền phép cao hơn chính mình; vậy nên Ngài đã cầu nguyện nhiều lắm.
Dưới đây là một vài trường hợp Ngài cầu nguyện, có chép trong Kinh Thánh:
Những lời cầu nguyện của Đức Chúa Jêsus
Lúc Ngài chịu lễ báp-têm (LuLc 3:21).
Ở một nơi vắng vẻ (Mac Mc 1:35).
Trong đồng vắng (LuLc 5:16).
Suốt đêm, trước khi lựa chọn 12 Sứ đồ (LuLc 6:12).
Trước khi khuyên mời: "Hãy đến cùng Ta" (Mat Mt 11:25-27).
Lúc cho 5000 người ăn no nê (GiGa 6:11).
Khi Ngài truyền dạy "Lời Cầu nguyện của Chúa" (LuLc 11:1-4).
Tại thành Sê-sa-rê Phi-líp (LuLc 9:18).
Trước khi Ngài hóa hình (LuLc 9:28, 29).
Cho con trẻ (Mat Mt 19:13).
Trước khi kêu La-xa-rơ sống lại (GiGa 11:41-42).
Trong Đền thờ (GiGa 12:27, 28).
Lúc ăn bữa tối cuối cùng (Mat Mt 26:26, 27).
Cho Phi-e-rơ (LuLc 22:32).
Cho các môn đồ (GiGa 17:1-26).
Trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Mat Mt 26:36, 39, 42, 44).
Trên Thập tự giá (LuLc 23:34).
Tại Em-ma-út (LuLc 24:30).
Trong mỗi lời cầu nguyện của Đức Chúa Jêsus mà Kinh Thánh có chép, Ngài đều gọi Đức Chúa Trời bằng "Cha" (Mat Mt 6:9; 11:25; 26:39, 42; LuLc 11:2; 23:34; GiGa 11:41; 12:27, 28; 17:1, 5, 11, 21, 24, 25). Thật khác hẳn nhiều bài cầu nguyện của các Mục sư mở đầu bằng những lời trịnh trọng, nhấn mạnh, gắng vó, cao siêu và nặng trịch.
LuLc 11:2-4 -- "Lời Cầu nguyện của Chúa. "
Được chép dài hơn ở Mat Mt 6:9-13. Chúng tôi ngờ rằng Đức Chúa Jêsus không có ý dùng lời cầu nguyện nầy làm một bài kinh cho hội chúng cùng lặp lại khi thờ phượng Chúa. Sự lặp lại như vậy có thể có một giá trị nào; nhưng chắc nó có vẻ làm giảm giá trị của lời cầu nguyện nầy, đổi nó thành một tục lệ vô nghĩa. Trái lại, chúng tôi nghĩ rằng lời cầu nguyện nầy cốt dùng làm mẫu mực để hướng dẫn ta đến gần Đức Chúa Trời và biết các vấn đề cầu nguyện.
Sự cầu nguyện ở nơi kín nhiệm
Đức Chúa Jêsus nhấn mạnh rất nhiều vào sự cầu nguyện ở nơi kín nhiệm (Mat Mt 6:6). Tuy nhiên, sự cầu nguyện nầy không loại bỏ buổi cầu nguyện chung mà ta phải tới nhóm và dự phần. Chúng ta chẳng bao giờ nên xấu hổ đến nỗi không cầu nguyện, hoặc không làm chứng về đức tin của mình nơi sự cầu nguyện, tùy theo cơ hội đòi hỏi. Nhưng ta phải coi chừng, kẻo lại nghĩ mình sẽ khiến người khác có cảm tưởng thể nào. Cầu nguyện là ta tỏ mình với Đức Chúa Trời. Ấy là một vấn đề giữa chúng ta và Đức Chúa Trời, chớ không phải một vấn đề đem ra giải luận. Phần lớn đời cầu nguyện của chúng ta phải tuyệt đối Kín Nhiệm, ngõ hầu ta không có cơ hội tự dối mình về cớ tích cầu nguyện.
Nếu trước hoặc sau mỗi một hành động hoặc quyết định quan trọng, chúng ta hướng lòng lên Đức Chúa Trời để xin Ngài dắt dẫn, bổ sức, hoặc để cảm tạ Ngài, nếu ta không hề nói chi hết về hành động hoặc quyết định ấy với bất cứ ai, dầu là bạn hữu thân thiết hơn hết, dầu là vợ hoặc chồng cũng vậy, nhưng tuyệt đối coi nó là một vấn đề riêng giữa ta và Đức Chúa Trời. Nếu ta thường làm như thế và tích cực giữ kín nó, chỉ một mình ta biết, -- thì sẽ không có một thói quen nào khác truyền cho ta nhiều sự vui vẻ ở đời và nhiều sức mạnh trong lúc khẩn trương cho bằng đi đường đời như vậy, tay nắm tay Bạn hữu Toàn năng mà ta đã ngỏ tâm sự với và cầu vấn trong mọi điều liên quan đến mình, dầu cho chi tiết nhỏ nhặt hơn hết cũng vậy.
LuLc 11:5-13. Bền đỗ cầu nguyện. -- Xem 18:1-8.
11:14-26. Trừ quỉ. -- Xem ở Mat Mt 12:24-37.
LuLc 11:27-28 -- Lời Đức Chúa Trời
Một bà nói với Đức Chúa Jêsus rằng: "Phước cho dạ đã mang Ngài!" Ngài bèn đáp: "Những kẻ nghe và giữ Lời Đức Chúa Trời còn có phước hơn."
Đương thời Đức Chúa Jêsus, trong nền văn chương của dân tộc Ngài có một bộ sách mà ngày nay chúng ta gọi là Cựu Ước. Khi ấy, toàn thể dân chúng kể bộ sách đó là phát xuất từ Đức Chúa Trời một cách đặc biệt, không có sách nào khác phát xuất từ Đức Chúa Trời như vậy. Đức Chúa Jêsus đồng quan niệm ấy với dân chúng. Đối với Ngài, bộ sách đó không phải chỉ là "Tư tưởng của người Hê-bơ-rơ," mà là Lời thật của Đức Chúa Trời. Bộ sách ấy là môn chánh yếu trong nền giáo dục Ngài (xem ở 2:40).
Tại làng Bê-tha-ni, Ma-ri ngồi nơi chơn Chúa để nghe Lời Ngài phán. Đức Chúa Jêsus cho đó là "một việc cần mà thôi" (10:42).
Trong một cơ hội khác, Đức Chúa Jêsus đang dạy dỗ đoàn dân đông, thì có một người đến nói rằng: "Mẹ và anh em Thầy ở ngoài, muốn thấy Thầy." Ngài bèn đáp: "Mẹ Ta và anh em Ta là kẻ nghe đạo (1) Đức Chúa Trời và làm theo đạo (1) ấy" (LuLc 8:19-21).
Đức Chúa Jêsus lại phán rằng: "HỘT GIỐNG là đạo (1) Đức Chúa Trời" (LuLc 8:11), nghĩa là cái yếu tố bởi đó và từ đó Nước Đức Chúa Trời lớn lên. Linh hồn người ta chỉ có thể sanh trong Nước Đức Chúa Trời nhờ hột giống của Nước ấy, tức là Lời Đức Chúa Trời (IPhi 1Pr IPhi1:23).
"Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời" (Mat Mt 4:4).
"Nếu không nghe Môi-se và các Đấng tiên tri (tức là Kinh Thánh), thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy" (LuLc 16:31). "Trời đất sẽ qua, nhưng Lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi" (Mat Mt 24:35).
LuLc 11:29-32. Các dấu lạ. -- Xem ở Mat Mt 12:39-42.
LuLc 11:33-36. Đèn thắp sáng. -- Xem ở Mat Mt 5:13-16.
LuLc 11:37-54. Người Pha-ri-si bị tố cáo. -- Xem ở Mat Mt 23:1-39.
LuLc 12:1-12 -- Những cớ tích kín nhiệm của đời sống
Đức Chúa Jêsus giảng luận rất nhiều về cớ tích, nghĩa là cái yếu tố ở trong ta khiến ta làm việc nầy, việc kia, và hướng dẫn hành vi của ta. Trước mặt Ngài, thì cớ tích của ta là chính ta vậy. Cớ tích vĩ đại duy nhứt của chúng ta đáng phải có là mong ước được Đức Chúa Trời ưng chịu và sợ không được Ngài ưng chịu. Các người đạo đức đương thời Đức Chúa Jêsus đã hành đạo phần nhiều để được loài người khen ngợi (Mat Mt 6:1-18). Đó còn là một phần bổn tánh của chúng ta mà ta phải giao chiến với luôn. Khi ở chung với những người không tin đạo, thì ta bị cám dỗ mà hổ thẹn về đạo của mình; nhưng khi ở chung với những người tin đạo, thì ta muốn được kể là đạo đức, và sự ước muốn đó thường khi thúc đẩy ta làm bộ đạo đức hơn thực trạng của mình mà thành ra giả hình. Sự mong được loài người ưng chịu trong giới hạn thích đáng, thì chánh đáng và nên khen ngợi. Nhưng thực sự vĩ đại duy nhứt của đời sống là Đ­ức Chúa Trời. Điều duy nhứt đáng kể, thật đáng kể, là mối liên quan của chúng ta với Ngài. Chúng ta hãy luôn luôn nhớ đến Ngài, và xét xem tư tưởng, cớ tích và công việc của mình chống chất lên trước mắt Ngài thể nào.
Nhiều điều trong đoạn nầy đã có trong Bài Giảng trên Núi (Mat Mt 5:1-7:29), và trong các huấn thị của Đức Chúa Jêsus ban cho 12 Sứ đồ (10:1-42). Có những lời mà Đức Chúa Jêsus ưa phán đi phán lại nhiều lần, trong số ấy có lời phán rằng Đức Chúa Trời săn sóc và dẫn dắt con cái Ngài, không hề sơ sót (câu 6-12).
Hãy đặc biệt chú ý lời Đức Chúa Jêsus cảnh cáo về địa ngục. Ngài luôn luôn viện dẫn sự sợ địa ngục làm cớ tích của đời sống (xem ở LuLc 16:19-31).
Cũng hãy chú ý lời Ngài phán rằng một ngày kia, mọi điều kín nhiệm về bổn ngã giả hình của chúng ta sẽ bị lộ ra (câu 2-3). Các đĩa thâu thanh không hề lầm lẫn của Đức Chúa Trời đang ghi mỗi tư tưởng kín giấu và hành động bí mật của chúng ta để một ngày kia, sẽ phát ra lớn tiếng trước bổn ngã sửng sốt của chúng ta và trước vũ trụ hội họp lại. Khi ấy, chân tướng của ta sẽ lộ ra, và ai cũng nhận thấy rõ. Về "tội lỗi không thể tha thứ" (câu 10), xin xem ở Mat Mt 12:24-37.
LuLc 12:13-21 -- Thí dụ về người giàu mà ngu dại
Hãy chú ý rằng Đức Chúa Jêsus không chịu can thiệp vào cuộc tranh chấp trong gia đình người nầy. Ngài chẳng toan gánh vác công việc cho mọi kẻ khác.
Người giàu mà ngu dại nầy đã kiếm được tiền của một cách lương thiện, -- tức là do đất ruộng của hắn sản xuất. Tuy nhiên, trước mắt Đức Chúa Trời, hắn là "kẻ dại" (câu 20), vì lòng hắn để vào đời nầy, chớ không để vào đời sau. Giàu trong đời nầy, nhưng nghèo trong đời sau. Đời nầy chỉ còn ít lâu, song đời sau còn đến đời đời.
12:22-34 -- Của báu ở trên trời
Đây là một phần của Bài Giảng trên Núi (Mat Mt 6:19-34) mà Đức Chúa Jêsus lặp lại. Đức Chúa Jêsus phán về Thiên đàng, thì phải đúng lắm, vì đó là nơi ở của Ngài. Lời Ngài phán đây thật tuyệt diệu. Và ý kiến ở đây thuộc loại quan trọng hơn hết mà Ngài từng bày tỏ. Tín đồ Đấng Christ là công dân của Thiên đàng, trọ trong thế gian nầy ít lâu, bị những nỗi lo lắng trần gian hằng ngày làm trở ngại, nhưng mắt họ luôn luôn nhắm vào Tổ quốc đời đời. Tại đó có một tòa nhà mà chúng ta xây cất đang khi ở đời nầy. Chỉ cái gì ta dâng cho Đức Chúa Trời mới là của ta cho đến đời đời. Một người hỏi bạn về một ông họ quen biết, mới qua đời, rằng: "Ông ấy để lại bao nhiêu?" Đáp: "Ông ấy để lại TẤT CẢ." Thật vậy, chẳng bao lâu, mỗi người chúng ta sẽ phải lìa nhà trại dưới đất và để cho kẻ khác mọi vật ta gọi là của mình. Nếu ta đã gởi trước một số dự trữ trong các cung điện đời đời của Đức Chúa Trời, thì thật là may mắn cho mình!
LuLc 12:35-40 -- Sự tỉnh thức
Tư tưởng của Đức Chúa Jêsus chuyển từ Thiên đàng qua ngày vinh hiển Ngài tái lâm, và Ngài cảnh cáo rằng biến cố ấy dường như xảy đến cho một thế giới đang ngủ say giữa đêm khuya (câu 38). Phước cho người trung tín sửa tim đèn và thắp sáng lên để tiếp đón Chúa trở về!
12:41-48 -- Người quản gia trung tín
Thí dụ nầy phán cho hết thảy tín đồ. Nhưng mực độ của trách nhiệm tùy theo mực độ của tài năng và địa vị. Đây là một lời cảnh cáo khủng khiếp cho các Mục sư, Truyền đạo không trung tín!
12:49-53 -- Cuộc xung đột tương lai
Dầu Đức Chúa Jêsus ngự đến để đem sự bình an, nhưng Ngài biết rằng mình sẽ là cớ gây nên xung đột. Ngài nhớ lại thế gian kình địch với mình, và Ngài mong ước tình trạng ấy chấm dứt.
15:54-59 -- Thiếu lương tri
Họ thông thạo những điều không quan trọng bao nhiêu, nhưng lại có thái độ rất ngu dại đối với Ngài và đối với nhau.
13:1-5 -- "Nếu các ngươi chẳng ăn năn. "
Hai tai họa mới xảy đến làm cho toàn dân khủng khiếp, và ai nấy cho những kẻ mạng vong đó đã bị hình phạt vì cớ tội lỗi của mình. Nhưng hai tai họa ấy nhắc cho Đức Chúa Jêsus nhớ dạy về Ngày Phán xét khủng khiếp.
13:6-9 -- Cây vả đưng
Nó biểu minh sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời đối với Giê-ru-sa-lem; ngày đoán phạt thành ấy sẽ xảy đến mau chóng, và nói chung, sẽ xảy đến cho các cá nhân.
13:10-17 -- Người đờn bà còng lưng
Đức Chúa Jêsus động lòng thương xót, chẳng đợi bà đó cầu xin. Hơn nữa, Ngài dùng cơ hội ấy để làm cho người Pha-ri-si phải hổ thẹn. Xem ở Mac Mc 3:1-6. Cũng xem ở GiGa 5:1-46, về những lần khác Chúa chữa bịnh trong ngày Sa-bát.
LuLc 13:18-21. Hột cải và men. -- Xem ở Mat Mt 13:31-33.
LuLc 13:22-30 -- "Chỉ ít kẻ được cứu chăng? "
Đây, Đức Chúa Jêsus chỉ trả lời rằng nhiều người mong tưởng mình được cứu rỗi sẽ bị thất vọng sầu thảm. Nhưng ở Mat Mt 7:14, Ngài giải đáp vấn đề nầy rõ ràng.
LuLc 13:31-35 -- "Vua Hê-rốt muốn giết Thầy. "
Rõ ràng lắm, Đức Chúa Jêsus ở xứ Pê-rê, là lãnh thổ của Hê-rốt, vì Ngài đang đi đường xuôi bờ phía Đông sông Giô-đanh. Ngài ở đó còn an ninh hơn ở xứ Giu-đê. Ngài đáp: "Không phải Hê-rốt, nhưng chính là các ngươi giết Ta. Không phải xứ Pê-rê, nhưng thành Giê-ru-sa-lem mới là nơi các ngươi sẽ giết Ta."
14:1-6 -- Chúa lại chữa bịnh trong ngày Sa-bát
Ngài vừa mới chữa lành một người đờn bà giữa nhà hội, trong ngày Sa-bát (13:10-17). Còn phép lạ nầy xảy ra ở nhà một người Pha-ri-si, giữa bữa tiệc trong ngày Sa-bát. Người Pha-ri-si không hối hận gì về sự ăn tiệc trong ngày Sa-bát. Nhưng nếu chữa lành kẻ đau, thì họ không tha thứ được. Xem ở Mac Mc 3:1-6.
LuLc 14:7-11 -- Lời khuyên khách dự tiệc
Đức Chúa Jêsus nhấn mạnh rằng sự tự tôn, tự đại sẽ làm hỏng chính mục đích của nó. Con đường khiêm nhường tốt hơn, và giúp cho thăng tiến thật. Chính là "kẻ nhu mì" sẽ hưởng được đất (Mat Mt 5:5). Người thâu thuế khiêm cung đã đẹp lòng Đức Chúa Trời, chớ không phải người Pha-ri-si kiêu ngạo (LuLc 18:9-14). Chính là người khiêm nhường đến cuối cùng sẽ được tôn lên (câu 11). Đức Chúa Jêsus phán dạy điều đó nhiều lần (LuLc 18:14; Mat Mt 23:12).
LuLc 14:12-14 -- Lòng nhân ái đối với kẻ bạc phước
Nếu đãi đằng những kẻ mà ta mong sẽ đãi đằng ta lại, thì chẳng có giá trị chi cả. Thà rằng cố giúp những kẻ không thể đền trả ta chi hết, và nhìn chăm vào phần thưởng trên trời. Biết bao lần Đức Chúa Jêsus khuyên bảo chúng ta để mắt vào Thiên đàng (xem ở 10:25-37).
14:15-24 -- Các lời xin kiếu
Đức Chúa Jêsus không có ý tưởng sai lầm về cuộc tiếp tân toàn thể của Nước Ngài. Ngài biết rằng nhiều người, từ đám thủ lãnh tôn giáo của chính Nước Ngài và đồng bào Ngài cho đến các dân ngoại ở xa xôi, sẽ chế nhạo Ngài cùng ơn cứu chuộc mà Ngài hiến cho họ; họ ngõ lời xin kiếu chẳng quan trọng chi cả, vì ưa thích "vỏ đậu" của thế gian hơn.
14:25-35 -- Giá phải trả để làm môn đồ của Chúa
Đây là những lời nghiêm khắc. Theo Đức Chúa Jêsus là một việc trang nghiêm bội phần hơn các đoàn dân đông từng tưởng tượng. Ngài biết họ theo Ngài với một quan niệm phù phiếm về Nước Ngài. Vì cớ ấy, Ngài phán những lời mạnh mẽ dường nầy. Đức Chúa Jêsus chẳng có ý dạy rằng chúng ta phải ghét cha mẹ hoặc con cái mình (câu 26). Kinh Thánh dạy quả quyết rằng chúng ta phải trung tín, tận tụy với những ai là chính thịt và huyết của mình. Nhưng đây Đức Chúa Jêsus có ý dạy rằng nếu cần phải lựa chọn Ngài hay là họ, thì ta không được ngần ngại chút nào.
Sự nghiêm khắc của Đức Chúa Jêsus
Đức Chúa Jêsus phán nhiều điều nghe rất khó và không sao làm được, đến nỗi nếu không có những lời khác (xem đoạn luận về sự hiền từ của Ngài ở trang sau), thì các điều nầy sẽ làm ngã lòng bất cứ ai, khiến họ chẳng dám thử theo Ngài nữa. Ngài đến để hiến cho ta Sự Sống Đời Đời vô giá. Nhưng Ngài chẳng bắt buộc ta nhận lấy. Điều kiện tối trọng để được sự sống đời đời là chúng ta phải muốn được nó hơn bất cứ cái gì khác, và phải Yêu Mến Ngài hơn bất cứ cái gì khác. Đức Chúa Jêsus đòi hỏi và phải có địa vị Thứ Nhứt trong lòng chúng ta. Nếu Ngài có địa vị ấy, thì sự thương xót của Ngài sẽ là vô lượng vô biên. Nhưng nếu chúng ta đặt Ngài ở hàng nhì sau mọi ham thích thất thường của mình, và đối xử với Ngài theo cấp bậc ấy, thì Ngài sẽ nhả ta ra khỏi miệng Ngài
LuLc 15:1-32-- Con chiên lạc, đồng bạc mất, con trai phóng đãng
Đoạn nầy tiếp theo những lời đòi hỏi ở đoạn 14, thì giống như cảnh trời yên tịnh sau cơn bão tố. Thật khác hẳn đến nỗi ta hầu như không cho là do cùng một Đấng phán ra. Tuy nhiên, hai đoạn chẳng mâu thuẫn đâu, mà chỉ bổ túc lẫn nhau thôi. Khởi điểm là chúng ta dâng mình cho Đức Chúa Jêsus, chẳng giữ lại chút chi. Không thể có sự trung thành chia xẻ làm hai. Một khi chúng ta tôn Ngài làm Chúa rất yêu dấu của đời mình, thì lòng thương xót của Ngài sẽ vô lượng vô biên. Có lẽ chúng ta vấp ngã, và vấp ngã nhiều lần. Nhưng đang khi ta hướng mặt về phía Ngài, thì Ngài sẽ tha thứ, và tha thứ mãi, cho đến rốt lại, bởi ân điển và quyền phép của Ngài, mọi điều chẳng đẹp lòng Ngài sẽ bị trừ bỏ khỏi đời sống chúng ta.
Thực sự trên đây được chứng minh bằng ba thí dụ của đoạn sách kỳ diệu nầy: Có sự vui mừng vì tìm thấy con chiên lạc, kiếm lại được đồng bạc mất, và con trai phóng đãng trở về. Đây là một đoạn tương đồng với truyện tích người đờn bà tội lỗi ở 7:36-50 và người đờn bà tà dâm ở GiGa 8:1-11.
Đây là bức tranh vinh hiển mô tả Cha Thiên thượng và các thiên sứ của Ngài tiếp đón những linh hồn hối cải. Khi nào ta ngã lòng vì cớ địa vị tội lỗi của mình, thì nên đọc đoạn sách nầy.
Sự hiền từ của Đức Chúa Jêsus
Đức Chúa Jêsus chẳng những là Người nhân ái hơn hết từng sống ở đời (xem ở dưới LuLc 10:25-37), song Ngài cũng là Người hiền từ hơn hết. Ngài ưa tha thứ. Chính Ngài chẳng có tội lỗi chi cả. Nhưng lòng Ngài đau đớn biết bao vì thương xót và cảm thương những ai đang phải vật lộn nhọc nhằn với tội lỗi của họ.
Một trong những bức tranh đẹp đẽ hơn hết của cả Kinh Thánh là lúc Đức Chúa Jêsus tỏ lòng hiền từ với người đờn bà tội lỗi khóc lóc dưới chơn Ngài (LuLc 7:36-50).
Sự hiền từ và tha thứ của Ngài đối với người đờn bà bị xã hội duồng bỏ và tính tình hay dời đổi đó đảm bảo rằng Ngài sẽ có sự hiền từ và tha thứ đối với Hội Thánh.
Dầu chúng ta không phạm tội y như người đờn bà kia, nhưng ta cũng đã phạm tội. Và đối với Đức Chúa Trời, tội lỗi là tội lỗi.
Đức Chúa Trời tha thứ các tội lỗi khả kính, tinh tế, lịch sự, vị kỷ và cao sang của chúng ta, thì chắc cũng khó khăn như và có lẽ còn khó khăn hơn là tha thứ các tội lỗi thô lỗ hơn của những linh hồn khốn nạn đã bị thua trong cuộc tranh đấu ở đời.
Ta được yên ủi nhiều lắm vì biết rằng Đấng mà một ngày kia, chúng ta sẽ phải đứng trước mặt Ngài để chịu phán xét, lại là một Người như vậy. Ngài tỏ lòng thương xót với người đờn bà đang đau khổ chính lúc bà cần sự thương xót của Ngài.
Sự hiền từ của Đức Chúa Jêsus đối với kẻ yếu đuối và tánh tình hay dời đổi như vậy có khuyến khích chúng ta cứ phạm tội chăng? Không. Đó chính là yếu tố khiến ta gớm ghét tội lỗi của mình và quyết định thắng nó.
Đó cũng là sự yên ủi cho các thánh đồ biết bao! Vì chúng ta càng đi gần Chúa, thì -- mặc dầu dường như mâu thuẫn, -- càng nhận biết địa vị tội lỗi của mình và càng gần sự thương xót của Ngài. Đó là thật sự trạng đã xảy ra cho các bậc thánh hơn hết.
16:1-13 -- Người quản gia bất trung
Đức Chúa Jêsus khen ngợi tánh lo xa của hắn, chớ không phải tánh bất lương của hắn; khen ngợi việc hắn dự bị cho tương lai, chớ không phải cách dự bị gian trá của hắn.
Một "thùng" dầu ước chừng 40 lít. Một "hộc" lúa mì chừng 400 lít.
Người quản gia nầy đã dùng tài vật của chủ mà kết bạn thể nào, thì cũng một thể ấy, Đức Chúa Jêsus phán rằng chúng ta phải dùng chính của cải mình mà kết bạn. Đây là một bức tranh tuyệt diệu (câu 9): Những kẻ mà chúng ta đã kết bạn với sẽ đứng ở cửa Thiên đàng mà đón chúng ta vào.
Đức Chúa Jêsus đã phán mấy lời nặng nề về tiền bạc, hoặc về sự ham mến tiền bạc thì đúng hơn. Đây Ngài gọi nó là "ma-môn bất nghĩa" (câu 11 -- theo bản tiếng Anh). Sự tham tiền là nguyên nhân của hầu hết trọng tội và của nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc. Tham lam là một trong những tội quỉ quyệt và tàn hại hơn hết.
Chúng ta phải có tiền để tự cung cấp những nhu cầu hằng ngày. Song sự tranh đấu ở trong lòng chúng ta, ấy là ta thật hầu việc và nương cậy ai, -- tiền bạc hay là Đấng ban tiền bạc?
16:14-18 -- Người Pha-ri-si chế giễu
Họ chế giễu lời dạy của Đức Chúa Jêsus về tiền bạc, vì họ ham thích tiền bạc, và là bọn đạo đức nhà nghề có tâm trí ham chuộng thế gian.
Ta khó tìm thấy mạch lạc trong những câu luận về Luật pháp và sự ly dị. Có lẽ Đức Chúa Jêsus định ý phán rằng vì cớ Tin Lành có ảnh hưởng rất sâu xa đến quần chúng, nên bây giờ người Pha-ri-si càng khó binh vực các sự dạy dỗ giả hình của mình. Dầu tự nhận là kẻ bảo tồn Luật pháp, nhưng họ lại không đếm xỉa tới lời Luật pháp dạy về sự ly dị, cứ căn cứ vào một lý do không quan trọng mà cho phép ly dị.
16:19-31 -- Người giàu có và La-xa-rơ
"Lòng Áp-ra-ham" (câu 22) là một tên của Ba-ra-đi, là tình trạng trung gian trong đó linh hồn người công bình chờ đợi sự sống lại của thân thể. Còn "địa ngục" là tình trạng trung gian của người hư mất chờ đợi sự đoán phạt.
Đây, Đức Chúa Jêsus thuật lại cuộc đàm thoại giữa Áp-ra-ham và La-xa-rơ sau khi qua đời. Chúng ta không biết cuộc đàm thoại nầy có tánh cách tưởng tượng tới mức nào. Nhưng ta suy luận, thì thấy Đức Chúa Jêsus định ý dạy dỗ khá rõ ràng những điểm dưới đây:
Một đằng, lúc thánh đồ qua đời, thì các thiên sứ chực sẵn để rước họ vào nơi vinh hiển.
Đằng khác, những người hư mất bị đau đớn (câu 23).
Có một vực sâu không vượt qua được ở giữa Ba-ra-đi và địa ngục, ngụ ý rằng khi chết rồi, người ta không còn cơ hội được cứu nữa.
Kinh Thánh hoàn toàn đủ khiến người ta ăn năn (câu 31).
Các mực thước của thế gian nầy sẽ không tồn tại trong cõi thiên thượng. Nhiều người ở đây là đầu, nhưng ở đó sẽ là cuối. Những kẻ cai trị trong đời nầy có thể là đầy tớ trong đời sau. Những người chiếm địa vị cao quí hơn hết trong đời nầy, ngay cả trong Hội Thánh nữa, có thể ở địa vị thấp thỏi nhứt trong đời sau. Lắm người mà các bậc thủ lãnh Hội Thánh đời nay không đếm xỉa tới lại có thể làm chủ của các bậc thủ lãnh ấy trong đời sau (Mat Mt 19:30; 20:1-16; Mac Mc 10:31).
Thiên đàng và địa ngục
Truyện tích người giàu có và La-xa-rơ là một trong những tia sáng chiếu vào đời sau mà ta thấy được trong sự dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus. Ngài phán rất nhiều về đời sau. Ngài viện dẫn hy vọng đến thiên đàng và mối sợ sa xuống địa ngục. Ngài thường phán về số phận đau khổ của người bị hư mất cũng như địa vị hạnh phước của người được cứu chuộc, và đặt họ đối chiếu nhau (Mat Mt 5:12, 22, 29, 30 6:20; 7:21-27; 10:28; 13:39-43, 49-50; 18:8-9; 22:13; 23:33; 25:23, 30, 34, 41, 46; Mac Mc 9:43-48; LuLc 12:4-5; 16:22-28; GiGa 3:15-16, 36 5:24, 28, 29, 39 6:27, 39-40, 44, 47, 49, 50, 51, 54 17:2). Hãy chú ý những chữ "Thiên đàng" "địa ngục" và "sự sống đời đời" thường được nhắc đến luôn.
Thật đáng thương hại, vì giới Truyền đạo thời nay chống lại các cớ tích mà Đức Chúa Jêsus viện dẫn. Có lẽ đó là một trong những lý do gây cho giới Truyền đạo mất nhiều quyền phép quá. Một trong những vị thuốc mạnh nhứt để khuyến khích làm lành và ngăn làm ác trong đời nầy chính là sự tin quyết sâu xa rằng thật có đời sau, và tình trạng của ta trong đời sau tùy theo hành vi của ta trong đời nầy. Một tấm lòng vững vàng chăm chú vào Thiên đàng chắc sẽ khiến ta đi đường nầy cẩn thận hơn. Đời nầy có lúc chung cuộc. Đời sau còn đến vô cùng.
LuLc 17:1-10 -- Sự tha thứ
Đây, Đức Chúa Jêsus ngụ ý rằng sự không chịu tha thứ của chúng ta là nguyên nhân gây cho nhiều người mất linh hồn.
"Kẻ nhỏ" (câu 2) là một danh từ thân ái để gọi các môn đồ, vì họ ở quá xa địa vị Đức Chúa Jêsus muốn họ ở, nên Ngài coi họ như con đỏ vậy.
Ở Mat Mt 18:21-35, Phi-e-rơ hỏi Đức Chúa Jêsus rằng chúng ta phải tha thứ bao nhiêu lần, thì Ngài đáp là "bảy mươi lần bảy." Rồi Ngài chứng minh bằng thí dụ về đầy tớ không thương xót, được tha nợ 10 triệu Mỹ kim, nhưng không chịu tha nợ 17 Mỹ kim cho một người khác.
Bấy giờ các môn đồ kêu lên: "Xin thêm đức tin cho chúng tôi!" (câu 5). Nếu chúng ta phải sẵn lòng tha thứ dường ấy, thì cần có nhiều đức tin để làm được như vậy, -- đức tin nơi Đức Chúa Trời và nơi sự đắc thắng chung kết của đạo Đức Chúa Jêsus.
Rồi để giúp đỡ đức tin của họ, Đức Chúa Jêsus phán về quyền lực vô biên của đức tin (xem ở LuLc 18:1-8); và bởi thí dụ về đầy tớ hay vâng lời, Ngài tỏ ra rằng sự khiêm nhường là nền tảng của đức tin.
17:11-19 -- Mười người phung
Truyện nầy dường như thuật lại chẳng những để ghi một phép lạ của Đức Chúa Jêsus, song cũng để tỏ ra rằng Ngài vui lòng dùng quyền phép chữa bịnh cho những kẻ thậm chí chẳng cảm ơn Ngài. Như vậy, chứng minh cho tấm lòng nhân ái, không thù giận mà Ngài mới phán dạy đó. Nó cũng giới thiệu phương diện tốt lành của người Sa-ma-ri so sánh với những người cùng chủng tộc với Đức Chúa Jêsus. Chín người Do-thái phung kia chắc có tâm tình cứng cỏi đến nỗi cũng không cảm tạ Đức Chúa Jêsus.
17:20-37 -- Nước hầu đến
Đức Chúa Jêsus phán cùng người Pha-ri-si rằng: "Nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi." Đó là vấn đề tấm lòng. Đoạn, ý tưởng của Ngài chuyển qua tương lai, và Ngài giải luận cho các môn đồ về ngày vinh hiển Ngài sẽ lấy quyền năng mà ngự đến với những người được cứu chuộc của mọi thời đại (xem ở Ma-thi-ơ, đoạn 24).
18:1-8 -- Người đờn bà góa khuấy rối
Cũng như truyện tích "Người bạn lúc nửa đêm" ở 11:5-13, truyện tích nầy kể lại vì mục đích đặc biệt, là dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ tôn kính sự cầu nguyện kiên nhẫn, cố quyết, bền đỗ. Ở Mat Mt 6:7, Đức Chúa Jêsus cảnh cáo các người "dùng những lời lặp vô ích" và "nói nhiều lời" trong khi cầu nguyện; đó là thói tục của người ngoại đạo "để cho thiên hạ đều thấy" (Mat Mt 6:5). Rồi Ngài thêm rằng: "Cha các ngươi biết các ngươi cần sự gì trước khi chưa xin Ngài." Ngài như có ý phán dạy rằng: "Chớ hăng hái cứ xin cùng một điều mãi mãi." Làm thế nào để dung hòa điểm ấy với sự bền bỉ của bà góa nầy và sự khuấy rối của "người bạn lúc nửa đêm" (LuLc 11:8) mà Đức Chúa Jêsus đã khen ngợi? Chà, không phải bao giờ cũng dễ dung hòa hai phương diện của bất cứ chân lý nào. Sự ước muốn của chúng ta phải được tiết chế bởi bình tĩnh đầu phục ý chỉ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời thật muốn chúng ta trình bày các sự ước muốn của mình với Ngài, mà không được ngã lòng nếu Ngài chậm đáp lại. Học biết cầu nguyện cho có hiệu quả, đó là một vấn đề đòi sự học hỏi suốt đời và sự khắc kỷ nghiêm nhặt. Có một điều chắc chắn, là chúng ta phải học biết tha thứ thể nào (Mac Mc 11:25). Vả, ở Mat Mt 7:12, sự cầu nguyện trực tiếp liên quan đến sự thi hành "Luật Vàng." Tuy nhiên, điều kiện trọng yếu duy nhứt là Đức Tin. nếu giả định rằng chúng ta làm được mọi sự mình có thể làm để đáp lại lời cầu nguyện của mình, thì sẽ thấy các lời hứa của Đức Chúa Trời cho kẻ nào có Đ­C TIN thật là kỳ diệu.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 18-1-2018 03:59 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách