nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 1911|Trả lời: 0

Thánh Kinh Lược Khảo 5

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 20:32:33 | Xem tất |Chế độ đọc

Thánh Kinh Lược Khảo 5
Tác giả: Henry H. Halley

Quyền phép của đức tin
Đức Chúa Jêsus đã cầu nguyện nhiều lắm (xem ở LuLc 11:1). Ngài cũng đã phán dạy nhiều lắm về sự cầu nguyện. Dưới đây là một vài lời Ngài đã phán về đức tin như là một phần của hành động cầu nguyện: --
Tại Na-xa-rét, "Ngài không làm nhiều phép lạ, vì chúng không có lòng tin (Mat Mt 13:58).
Với các môn đồ, giữa cơn bão tố: "Sao các ngươi sợ? chưa có đức tin sao?" (Mac Mc 4:40; LuLc 8:25).
Với Giai-ru: "Đừng sợ, hãy tin mà thôi, thì con ngươi sẽ được cứu" (LuLc 8:50).
Với người đờn bà mất huyết: "Đức tin con đã cứu con" (Mac Mc 5:34).
Viên bách nhân đội trưởng thưa với Đức Chúa Jêsus: "Xin Chúa chỉ phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành," Đức Chúa Jêsus phán: "Ta chưa hề thấy ai trong dân Y-sơ-ra-ên có đức tin lớn dường ấy." Và đầy tớ đã được chữa lành (Mat Mt 8:8, 10, 13).
Với hai người mù: "Hai ngươi tin Ta làm được điều hai ngươi ước ao sao?"... Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy" (Mat Mt 9:28, 29).
Với các môn đồ: "Nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết, thì... các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả" (Mat Mt 21:21).
Với người đờn bà Sy-rô-phê-ni-xi: "Hỡi đờn bà kia, ngươi có đức tin lớn, việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn" (Mat Mt 15:28).
Với Phi-e-rơ đang chìm xuống nước: "Hỡi người ít đức tin, sao ngươi hồ nghi làm vậy?" (Mat Mt 14:31).
Với các môn đồ: "Hỡi dòng dõi chẳng tin kia,... Ta sẽ chịu các ngươi cho đến khi nào?" (Mac Mc 9:19).
Các môn đồ hỏi Đức Chúa Jêsus: "Vì cớ gì chúng tôi không đuổi quỉ ấy được?" Đức Chúa Jêsus đáp: "Ấy là tại các ngươi ít đức tin" (Mat Mt 17:19, 20).
Với các môn đồ: "Nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải, sẽ khiến núi nầy rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua, và không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được" (Mat Mt 17:20); "Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều được cả" (Mat Mt 21:22). "Kẻ nào tin, thì mọi việc đều được cả" (Mac Mc 9:23). Xem thêm Mac Mc 11:22-25.
Với Ma-thê, trước mộ phần của La-xa-rơ: "Nếu ngươi tin, thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (GiGa 11:40).
Với đoàn dân đông ở thành Ca-bê-na-um: "Các ngươi Tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài" (GiGa 6:29).
Một vài lời phán trên đây giống như cách nói khoa trương (hyperbole ) của Đông phương. Tuy nhiên, cách Đức Chúa Jêsus nhấn mạnh vào Đức Tin thật là lạ lùng. Chúng tôi không chắc rằng có thể giải thích xong xuôi những lời phán ấy bằng cách cho đó là "nói khoa trương." Cũng không thể cho rằng những lời lạ lùng, mạnh mẽ nầy chỉ có nghĩa là Đức Chúa Jêsus ban cho các Sứ đồ những quyền năng lạ lùng đặc biệt như một ấn thiên thượng chứng thực sứ mạng thành lập Hội Thánh của họ. Chúng ta biết Đức Chúa Jêsus thật đã ban cho các Sứ đồ quyền năng để làm phép lạ, và nếu ta cũng đòi cho được quyền năng ấy, thì thật là dại dột. Chúng ta cũng biết các Sứ đồ không thể tùy ý sử dụng những quyền năng ấy. Có khi họ làm phép lạ được, có khi lại không. Tại Ê-phê-sô, có rất đông người được chữa lành bởi những khăn và áo đã mặc hoặc quấn vào thân thể Phao-lô (Cong Cv 19:12). Nhưng một lần khác, Phao-lô không thể chữa lành ngay cả người cộng sự rất yêu dấu của mình, và ông viết rằng: "Còn Trô-phim đang đau ốm, ta để ở lại tại thành Mi-lê (IITi 2Tm 4:20). Vậy, dường như Đức Chúa Trời dùng trí phán đoán của Ngài để nhứt định khi nào có thể cho các Sứ đồ làm phép lạ.
Khi Đức Chúa Jêsus phán về Cầu nguyện và Đức tin, thì Chúa biết Ngài đang giảng luận điều chi, mặc dầu đối với chúng ta, một vài lời của Ngài dường như kỳ lạ. Ngài từ cõi vô hình xuất hiện, và Ngài hoàn toàn quen thuộc các lực lượng và quyền năng hành động phía sau bức màn mà chúng ta chẳng biết chi hết. Chúng ta chẳng nên quá cố quyết giải thích mọi lời Đức Chúa Jêsus phán về sự cầu nguyện và ráng làm cho mọi lời ấy hợp với trình độ hiểu biết hữu hạn của ta. Nếu chúng ta tự hiến mình để thực hành sự cầu nguyện một cách kiên nhẫn, bền bĩ và chuyên cần đầy đủ, thì ta có cơ được những kết quả mà mình thường chẳng mơ tưởng là có thể được .
Khi Đức Chúa Jêsus phán những lời đó, chắc Ngài muốn bày tỏ một điều gì. Ngài phán không phải chỉ để một mình Ngài nghe. Chúng tôi nghĩ rằng Ngài nhắm mục đích dạy cả loài người thuộc mọi thế hệ một vài bài học cốt yếu về đời người. Một trong những bài học đó là: Một số phước lành quí nhứt của đời sống có thể thực hiện cho chúng ta miễn là trước hết ta Quyết Tin rằng nó có thể thực hiện; theo một phương diện, Đức Tin có quyền sáng tạo; trong cõi vô hình có những quyền năng dành sẵn cho chúng ta sử dụng ở thế gian nầy qua môi giới của Đức Tin nơi Đức Chúa Trời, là Đấng cầm trong tay Ngài những công tác và liên công tác của các lực lượng vũ trụ, cũng là Đấng có thể vận hành những quyền năng mà ta không biết để bổ túc và giúp phần kiểm soát những quyền năng mà ta biết. Đức Chúa Jêsus phán rằng Đức Tin của chúng ta có thể khiến Đức Chúa Trời làm như vậy.
LuLc 18:9-14 -- Người Pha-ri-si và người thâu thuế
Người Pha-ri-si tự mãn, còn người thâu thuế ăn năn. Người Pha-ri-si thường cậy sự công bình riêng, giả hình và có thái độ kiêu căng đối với kẻ đồng loại, nên chữ "Pha-ri-si" dường như đồng nghĩa với chữ "giả bộ." Trong thái độ đối với Đức Chúa Trời, họ cũng có sự tự phụ như vậy, dường như họ tưởng Ngài phải lấy làm vinh hạnh vì được những người trang nhã như vậy thờ kính. Trong tâm hồn Ngài, Đức Chúa Jêsus ghê tởm sự giả đạo đức. Những lời cay đắng hơn hết mà Ngài từng thốt ra chính là để nghịch cùng sự giả hình của người Pha-ri-si (Mat Mt 23:1-39). Ngài không dung thứ tội lỗi của kẻ thâu thuế và phường điếm đĩ. Ngài đã ngự đến để cứu vớt họ. Họ đã bị nhìn nhận là tội nhân, nên đi bước thứ nhứt và xưng tội lỗi dễ dàng hơn. Thí dụ nầy cốt để tỏ ra rằng căn bản chánh yếu để đến gần Đức Chúa Trời chính là nhìn nhận mình có tội lỗi và cần được Ngài thương xót.
LuLc 18:15-17 -- Con trẻ
Việc nầy cũng chép ở 19:13-15 và Mac Mc 10:13-16. Đức Chúa Jêsus vừa mới phán rằng người thâu thuế đi đường cứu rỗi vì đã nhơn tội lỗi mình mà buồn rầu, đau đớn. Đây, Ngài tỏ ra rằng chỉ những người giống như con trẻ mới được ở Thiên đàng. Trên Thiên đàng sẽ chẳng có những người thích hoa lệ, đi vênh vang dường như họ là chủ của vũ trụ. Hạng người nầy rất đông ở trong Hội Thánh ngày nay. Song trên Thiên đàng không phải như vậy. Đức Chúa Jêsus phán dạy phân minh rằng: "Nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào Nước Thiên đàng đâu" (Mat Mt 18:3). Con trẻ dễ dạy, hay tin cậy, không kiêu căng, không xảo trá, và hay thương mến. Các môn đồ tưởng con tẻ không quan trọng bao nhiêu, không cần phải để ý tới. Tư tưởng đó làm cho Đức Chúa Jêsus "giận" (Mac Mc 10:13-14 -- nên dịch là "bất bình").
LuLc 18:18-30 -- Ông quan trẻ tuổi và giàu có
Cũng có chép ở Mat Mt 19:16-30 và Mac Mc 10:17-31.
"Quan" đây (câu 18) nghĩa là chàng có chơn trong tòa Công luận, hoặc cai quản một nhà hội. Chàng là một thanh niên gương mẫu. Nhưng Đức Chúa Jêsus biết rõ tấm lòng chàng, và trả lời chàng tùy theo sự biết rõ đó. Ngài bảo chàng hãy bố thí hết gia sản, vì biết chàng chẳng chịu làm môn đồ Ngài nếu phải trả một giá nào.
Chàng quá ham mến tiền của, nên không có ích lợi gì cho Nước Đấng Christ. Đức Chúa Jêsus không có ý phán rằng ai cũng phải bỏ hết tiền của, thì mới theo Ngài được. Xa-chê bằng lòng dâng nửa gia sản, và Đức Chúa Jêsus đã ban ơn cứu rỗi cho ông (LuLc 19:9).
Một số người cho rằng "lỗ kim" (câu 25) là cái cổng nhỏ dành cho khách bộ hành, ở trong hoặc ở bên cạnh cổng chánh của thành, một con lạc đà có thể chui qua nếu quì xuống và chịu khó nhọc lắm. Nhưng có số đông hơn nhiều cho rằng thật là một cái kim khâu. Dầu sao Đức Chúa Jêsus cũng có ý phán tỏ một điều "người ta không làm được" (câu 27). Đoạn, Ngài đổi ngược lại mà phán rằng: "Sự chi người ta không làm được, thì Đức Chúa Trời làm được." Nghĩa là Đức Chúa Trời có thể cứu cả người giàu nữa.
Hãy chú ý lời hứa lạ lùng ban cho những người bỏ hết mọi sự để theo Đức Chúa Jêsus (câu 28-30). Lời hứa nầy được mở rộng thêm ở Mac Mc 10:28-31 -- "Trong đời nầy, trăm lần hơn... với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau."
#
Phần nhiều môn đồ xuất thân từ các giai cấp thấp thỏi. Nhưng một vài người cũng giàu và có thế lực. Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng và Anh rê là những tay kinh doanh khá giả. Ma-thi-ơ làm chức thâu thuế, chắc phần tài chánh khả quan. Trong số các bà theo hầu Đức Chúa Jêsus, có Gian-nơ, vợ quan nội vụ của Hê-rốt, là một mạng phụ trong triều. Ma-thê, Ma-ri và La-xa-rơ ở trong số các gia đình giàu có quanh vùng Giê-ru-sa-lem (xem ở GiGa 12:1-8). Giô-sép ở A-ri-ma-thê và Ni-cô-đem là nhân viên tòa Công luận. Quan thị vệ ở thành Ca-bê-na-um (GiGa 4:46) có lẽ là một sĩ quan trong triều đình Hê-rốt. Viên bách nhân đội trưởng ở thành Ca-bê-na-um, người đã xây nhà hội tại đó (LuLc 7:1-10), chắc là một sĩ quan của quân đội La-mã. Xa-chê làm nghề thâu thuế và rất giàu có (LuLc 19:2).
LuLc 18:31-34 -- Chúa lại dự ngôn về sự thương khó của Ngài
Đây là lần thứ năm (xem ở Mac Mc 9:30-32). Ngài phán bảo họ bằng lời lẽ hết sức rõ ràng. Song họ vẫn chưa hiểu (câu 34), vì thật là khác hẳn ý niệm của họ về Nước của Đấng Mê-si.
LuLc 18:35-43 -- Người mù ở thành Giê-ri-cô
Cũng có chép ở Mat Mt 20:29-34 và Mac Mc 10:46-52. Ma-thi-ơ chép rằng có hai người mù. Mác và Lu-ca chỉ chép có một. Lu-ca chép rằng Đức Chúa Jêsus đang vào thành Giê-ri-cô. Ma-thi-ơ và Mác chép chép rằng Ngài đang ra khỏi thành đó. Có lẽ một người được chữa lành lúc Đức Chúa Jêsus vào thành, còn một người được chữa lành lúc Ngài ra khỏi thành. Cũng có thể là hai việc khác hẳn nhau. Có lẽ hơn nữa là cả hai người hoặc một người bị hấp dẫn bởi tiếng ồn ào của dân chúng khi Đức Chúa Jêsus vào thành, bèn đi theo; đến khi Đức Chúa Jêsus từ nhà Xa-chê ra đi, thì họ ngồi bên đường, tại nơi họ biết Ngài sẽ đi qua để ra khỏi thành.
LuLc 19:1-10 -- Xa-chê
Xa-chê làm đầu những người thâu thuế; ông cai quản một phòng thâu thuế có nhiều nhân viên. Người thâu thuế bị đặt chung hàng với phường điếm đĩ (câu 7, Mat Mt 21:31-32). Họ thường bị thù ghét vì thâu thuế cho một cường quốc ngoại lai. Giê-ri-cô là một thành của các thầy tế lễ. Đức Chúa Jêsus chọn nhà người thâu thuế để trọ, chớ không chọn nhà thầy tế lễ. Xa-chê lập tức hối cải, và tỏ ra bằng cớ xác thực rằng mình hối cải. Đức Chúa Jêsus đã bảo ông quan trẻ tuổi và giàu có kia bố thí "hết" (LuLc 18:22). Còn Xa-chê "cho nửa gia tài" (câu 8), thì Đức Chúa Jêsus tuyên bố ông được hưởng ơn cứu rỗi.
19:11-28 -- Thí dụ về những nén bạc
Thí dụ nầy có một vài điểm khác thí dụ về các ta lâng (Mat Mt 25:14-30), nhưng cả hai chứng minh những chân lý đại cương giống nhau: Ấy là chúng ta phải chịu trách nhiệm đối với Chúa về cách sử dụng tài sản và thì giờ của mình; là khi Đức Chúa Jêsus ngự đến, sẽ có thưởng, phạt; là trong đời nầy, chúng ta đang được huấn luyện cho đời sau. Đây là một thí dụ về tái lâm của Chúa. "Phương xa" (câu 12) ở thí dụ nầy và "cách lâu ngày" trong thí dụ về các ta lâng (Mat Mt 25:19) ám chỉ một thời gian lâu dài giữa sự ngự đến lần thứ nhứt và sự tái lâm của Ngài. Các nữ đồng trinh "khôn" đã dự bị cho ngày Chúa tái lâm. Xem thêm ở dưới IITe 2Tx 2:1-17 và IIPhi 2Pr 3:1-18.
Tuần Lễ Sau Chót Của Đức Chúa Jêsus
(LuLc 19:29-24:1-53)
19:29-44. Chúa ngự vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn. -- Xem ở Mat Mt 21:1-11.
LuLc 19:45-48. Đền thờ được dẹp sạch. -- Xem ở Mat Mt 21:12-17.
LuLc 20:1-8. "Bởi quyền phép nào? ".-- Xem ở Mat Mt 21:23-27.
LuLc 20:9-20. Thí dụ về vườn nho. -- Xem ở Mat Mt 21:33-46.
LuLc 20:21-26. Nộp thuế cho Sê-sa. -- Xem ở Mac Mc 12:13-17.
LuLc 20:27-40. "Sự sống lại. "-- Xem ở Mac Mc 12:18-27.
LuLc 20:41-44. "Con vua Đa-vít. "-- Xem ở Mac Mc 12:35-37.
LuLc 20:45-47. Các thầy thông giáo bị tố cáo. -- Xem ở Mat Mt 23:1-39.
LuLc 21:1-4. Những đồng tiền của bà góa. -- Xem ở Mac Mc 12:41-44.
LuLc 21:5-36. Bài giảng về kỳ sau rốt. -- Xem ở Mat Mt 24:1-51.
LuLc 21:37-22:2. Mưu giết Đức Chúa Jêsus. -- Xem ở Mac Mc 14:1-2.
LuLc 22:3-6. Giu-đa đòi giá. -- Xem ở Mac Mc 14:10-11.
LuLc 22:7-38. Bữa tối cuối cùng. -- Xem ở Mat Mt 26:17-29.
Bố Cuộc Thời Gian Tuần Lễ Sau Chót Của Đ­C CHÚA JÊSUS
Ngày thứ hai: Chúa làm cho cây vả khô héo. Chúa dẹp sạch Đền thờ.
Ngày thứ tư: Ngày yên tĩnh tại Bê-tha-ni. Ngày thứ năm: Buổi tối: Bữa ăn tối cuối cùng. Xem lời chú giải ở dưới Mat Mt 26:1-75. Ban đêm: Sự hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Xem ở dưới đây. Ngày thứ sáu: Cuộc xét xử và đóng đinh Chúa vào Thập tự giá. Xem ở dưới Mac Mc 15:1-47 và LuLc 23:1-39.
LuLc 22:39-46 -- Sự hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Cũng có chép ở Mat Mt 26:36-46, Mac Mc 14:32-42 và GiGa 18:1. Ghết-sê-ma-nê là một vườn ở gần chơn phía Tây của núi Ô-li-ve. Vị trí theo truyền thoại ở ngay trước Cổng Vàng (xem bản đồ số 52 ở dưới Giăng 14), cũng không xa vị trí đích thực bao nhiêu. Loài người bắt đầu ở một cái vườn. Đức Chúa Jêsus chịu đau đớn hấp hối trong một cái vườn. Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá trong một khu giống như cái vườn và được an táng trong một cái vườn (GiGa 19:41). Thiên đàng cũng sẽ là một cái vườn.
Biến cố đáng thương hơn hết trong cả truyện tích đau đớn của Đức Chúa Jêsus chính là đêm ở vườn Ghết-sê-ma-nê đó.
Chúng ta tự hỏi sao Ngài sợ chết? Chúng ta đọc truyện nhiều thánh tử đạo bị đốt trên giàn hỏa, nhưng miệng vẫn vui vẻ hát thánh ca. Còn Đức Chúa Jêsus mà chúng ta kể là mạnh hơn người thường, thì khi đối mặt với sự chết, Ngài lại hành động dường như không thể chịu chết và đã kêu la khổ não để khỏi phải chết nếu có thể được.
Chúng ta tự hỏi tại sao? Chắc Đức Chúa Jêsus biết Ngài sắp phải chịu một cái gì mà người ta thường không phải chịu khi chết, hoặc ít ra là họ không biết trước mình sẽ phải chịu.
Đức Chúa Jêsus chịu chết vì tội lỗi loài người. Bất cứ chúng ta nhận lý thuyết nào về sự chuộc tội, Đức Chúa Jêsus cũng (theo một phương diện nầy hoặc một phương diện khác) đã chết để cứu ta khỏi bị hư mất. Vậy, Ngài phải chịu một cái gì mà ta sẽ phải chịu nếu bị hư mất. Bằng không, thì làm thế nào sự chết của Ngài cứu ta khỏi bị hư mất được?
Bất cứ "cái gì" đó là chi, Đức Chúa Jêsus cũng sợ nó. Linh hồn Ngài lùi lại vì khiếp sợ nó.
Đức Chúa Jêsus từ cõi đời đời xuất hiện, và biết Thập tự giá ở cuối đường, vì Ngài biết mình ngự đến với tư cách Chiên Con của Đức Chúa Trời để cất tội lỗi thế gian đi. Với tư cách một Người, Ngài dời khỏi xứ Ga-li-lê và nhìn thẳng vào thành Giê-ru-sa-lem mà đi tới, chơn bước vững vàng, không hề lưỡng lự, ngần ngại và biết rằng Thập tự giá ở cuối đường.
Nhưng bây giờ Ngài đã tới cuối đường, và cái yếu tố khủng khiếp hiện ra đó. Nó khiến cho Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời cũng có ý muốn quay lại trong giây lát. Lời Ngài dùng trong ba lần cầu nguyện tỏ ra trí óc Ngài nghĩ đến sự "có thể" không đi lên Thập tự giá.
Rồi khi 2, hoặc 3, hoặc 4 giờ lưỡng lự đã qua, và Ngài đã loại ra khỏi trí óc hết các ý tưởng lánh thoát mà cương quyết nhìn thẳng vào Thập tự giá, thì Ngài đổ mồ hôi như giọt huyết và yếu mỏn quá đến nỗi Đức Chúa Trời phải sai thiên sứ đến bổ sức cho Ngài.
Trong thế gian nầy, chúng ta không bao giờ có thể hiểu biết lẽ mầu nhiệm khủng khiếp của sự chuộc tội, tức là tại sao phải có sự chuộc tội? Nhưng chỉ có sự chuộc tội mới cứu chúng ta được. Truyện tích đơn sơ về sự thương khó của Đức Chúa Jêsus dầu có bất cứ ý nghĩa nào khác nữa, cũng là ảnh hưởng hạnh phước hơn hết từng có trong thế gian nầy.
LuLc 22:47-53. Đức Chúa Jêsus bị bắt. -- Xem ở GiGa 18:1-12.
LuLc 22:54-62. Phi-e-rơ chối Chúa. -- Xem ở GiGa 18:15-18.
LuLc 22:54-23:25. Đức Chúa Jêsus bị xét xử. -- Xem ở Mac Mc 14:53.
LuLc 23:26. Si-môn, người xứ Sy-ren. -- Xem ở Mat Mt 27:32.
LuLc 23:27-31 -- Đoàn dân than khóc
Trên đường đi lên núi Gô-gô-tha. "Đừng khóc về Ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi" (câu 28). Lời Chúa phán đây dường như là hồi thanh của những tiếng kêu sát nhân mà họ vừa mới nghe: "Xin Huyết Người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!" (Mat Mt 27:25). "Cây xanh,... cây khô" (câu 31). Nếu họ đối đãi Ta cách nầy, thì sẽ có gì xảy ra trong cơn đoán phạt sắp giáng trên thành gian ác nầy?
LuLc 23:32-49 -- Chúa chịu đóng đinh vào Thập tự giá
Cũng xem ở Mat Mt 27:26-56; Mac Mc 15:21-41 và GiGa 19:17-37.
LuLc 23:32-43 -- Người trộm cướp ăn năn
Thoạt tiên cả hai tên trộm cướp cùng nhạo báng Chúa (Mat Mt 27:44). Nhưng một người đã thay đổi ý kiến. Khi mọi sự yên tĩnh, hắn đổi ra suy nghĩ cẩn trọng hơn. Và theo một phương diện, hắn đã làm cho các môn đồ phải hổ thẹn. Trong 2 năm hoặc hơn nữa. Đức Chúa Jêsus đã hết sức cố gắng dạy họ rằng Nước Ngài không phải một nước ở trần gian nầy. Bây giờ Ngài gần chết. Đối với họ, thế là Nước Ngài không còn nữa. Họ không hề nghĩ rằng Ngài sẽ sống lại để trị vì vinh hiển (xem lời chú giải về "sự chậm hiểu của các môn đồ, v.v..." ở dưới Giăng, đoạn 20). Nhưng đối với người trộm cướp nầy, thì không như vậy. Có lẽ hắn đã gặp Đức Chúa Jêsus từ trước, và từ ngoài bìa đám đông, hắn đã nghe Ngài giảng về Nước Ngài. Và dầu lúc nầy Đức Chúa Jêsus đang hấp hối, người trộm cướp cũng còn tin rằng Ngài có một Nước ở bên kia phần mộ (câu 42). Thật là kỳ lạ! Một người trộm cướp hiểu biết Đức Chúa Jêsus hơn chính các bạn hữu thân thiết của Ngài! Đáng ngợi khen Đức Chúa Jêsus thay! Chắc Ngài yêu thương tội nhân. Khi trở về cùng Đức Chúa Trời, Ngài bồng trong tay linh hồn một người trộm cướp, là trái đầu mùa do sứ mạng cứu chuộc thế gian của Ngài.
Chúa chịu đóng đinh vào Thập tự giá
Sự đóng đinh vào thập tự giá là hình phạt của đế quốc La-mã dành cho tôi mọi, người ngoại quốc và những phạm nhân xấu xa hơn hết không có quốc tịch La-mã. Đó là tử hình đau đớn, nhục nhã hơn hết mà một thời đại tàn ác có thể nghĩ ra. Đinh đóng vào bàn tay, bàn chơn, rồi nạn nhân bị treo lên, mặc cho hấp hối, đói, khát, không sao chịu nổi và đau đớn co quắp dữ dội. Thường thì từ 4 đến 6 ngày sau mới chết. Trong trường hợp của Đức Chúa Jêsus, Ngài đã chết sau 6 giờ (xem ở dưới GiGa 19:33-34).
"Thập tự giá của Chúa."
Theo một truyền thoại, thì năm 325 S.C., người ta đã tìm thấy chính Thập tự giá mà Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào đó ở dưới vị trí hiện nay xây Nhà thờ Mộ Thánh lên trên. Thập tự giá của Chúa được nhận ra bởi phép lạ chữa bịnh cho một người đụng tới nó. Người ta đem bán những mảnh nhỏ. Khách mua đông quá đến nỗi họ bịa đặt phép lạ "Thập tự giá tự hóa ra nhiều," ngõ hầu có thể gỡ lấy nhiều mảnh, mà Thập tự giá vẫn còn nguyên. Kết quả là trong các nhà thờ kia ở khắp thế giới có đủ mảnh "Thập tự giá của Chúa" để làm ra cả ngàn Thập tự giá. Đó là sự giả mạo để rút tiền của những kẻ dễ tin.
LuLc 23:50-56. Sự an táng Chúa. -- Xem ở GiGa 19:38-42.
Bố Cuộc Truyện Tích Đ­ức Chúa Jêsus
Bị Đóng Đinh Vào Thập Tự Giá
Căn cứ vào bốn bản tường thuật mà sắp theo thứ tự
Lúc 9 giờ sáng, họ tới núi Gô-gô-tha. Lúc gần đóng đinh vào bàn tay và bàn chơn của Chúa, thì chúng cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng để làm cho Ngài tê mê và bớt thấy đau đớn. Nhưng Ngài chẳng chịu uống. Chúa yêu quí đã chịu sự đau đớn đầy trọn vì cớ chúng ta; và vì cớ đó, chúng ta kính mến Ngài.
Đang khi chúng đóng đinh Ngài vào thập tự giá, thì Ngài cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì" (LuLc 23:34). Ngay khi đọc truyện nầy, chúng ta cũng khó cầm giữ được lòng giận. Ngài lại càng khó cầm giữ được lòng giận bội phần hơn. Nhưng Ngài tuyệt đối không thù giận. Thật là sự tự chủ lạ thường!
Quân lính chia nhau áo xống Ngài. Tấm bảng: "Vua dân Giu-đa" được đặt trên đầu Ngài, viết bằng ba thứ tiếng: Hê-bơ-rơ, La-tinh và Hi-lạp, ngõ hầu mọi người có thể đọc và hiểu Ngài đã bị cáo trọng tội nào.
Ngài bị nhạo báng, chế giễu, chê cười bởi các thầy tế lễ cả, trưởng lão, thầy thông giáo và quân lính. Thật là một đoàn người cứng lòng, vô nhân đạo, tàn ác, đáng khinh dể biết bao!
Chúa phán lời nầy với người trộm cướp ăn năn rằng: "Hôm nay, ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Ba-ra-đi." Có lẽ Ngài phán lời nầy một hoặc hai giờ sau (xem ở 23:32-43).
"Hỡi đờn bà kia, đó là con của ngươi!" Rồi Ngài phán với Giăng: "Đó là mẹ ngươi!" (GiGa 19:26, 27). Có lẽ Ngài phán những lời nầy lúc trời gần về trưa, sau khi đám dân nhạo báng đã bỏ đi. Sự chết vinh hiển thay! Ngài cầu nguyện cho kẻ giết mình, hứa cho người trộm cướp được vào Thiên đàng, và tìm nơi ở cho mẹ Ngài (đây là hành động sau chót của Ngài trên mặt đất).
Trời tối tăm từ trưa đến 3 giờ chiều. Ba giờ đầu của Ngài trên Thập tự giá được đánh dấu bằng những lời thương xót và nhơn ái. Bây giờ Ngài bước vào giai đoạn cuối cùng của sự chuộc tội loài người. Có lẽ màn tối tăm tượng trưng cho sự rút lui của Đức Chúa Trời, ngõ hầu có một hành động chuộc tội hoàn toàn. Trong thế gian nầy, chúng ta không bao giờ có thể biết Đức Chúa Jêsus đã chịu đau đớn chừng nào trong 3 giờ khủng khiếp sau chót đó (xem ở GiGa 19:33-34).
Đây, bốn lời cuối cùng Ngài đã thốt ra ngay trước khi trút linh hồn:
"Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi? (Mat Mt 27:46). Một mình Ngài chịu sự đau đớn của địa ngục để giữ cho chúng ta khỏi sa vào dó.
"Ta khát" (GiGa 19:28). Cơn sốt bừng bừng của cơn khát không chịu nổi vẫn cập theo sự đóng đinh vào Thập tự giá. Lời Chúa phán đây có lẽ còn có ý nghĩa hơn nữa (xem LuLc 16:24). Họ đưa giấm cho Ngài. Ngài chịu lấy giấm vì mọi sự thương khó đã qua hết.
"Mọi việc đã được trọn" (GiGa 19:30). Tiếng kêu khải hoàn, nguôi nhẹ và vui mừng! Đời trị vì lâu dài của tội lỗi loài người và của sự chết đã bị phá tan.
"Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha" (LuLc 23:46). Ngài vào Ba-ra-đi.
Có cơn động đất, bức màn xé làm hai, và nhiều mồ mả mở ra. Đó là Đức Chúa Trời đón chào Ngài.
Viên bách nhân đội trưởng đã tin. Còn dân chúng thì sầu thảm.
"Máu và nước" từ ngang sườn Ngài chảy ra. Xem ở GiGa 19:34.
Giô-sép và Ni-cô-đem xin xác Ngài để an táng.
Đêm tối bao trùm tội ác đen tối và ghê gớm hơn hết trong lịch sử.
LuLc 24:1-10. Các bà tại phần mộ Chúa. -- Xem ở Mat Mt 28:1-8.
LuLc 24:11-12. Phi-e-rơ chạy đến phần mộ Chúa. -- Xem ở GiGa 20:3-10.
LuLc 24:13-32 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với hai môn đồ
Việc nầy cũng được chép ở Mac Mc 16:12-13, và đã xảy ra trên đường đi Em-ma-út. Người ta cho rằng Em-ma-út ở trên đường đi Giốp-bê, và cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 7 dặm (60 ếch-ta-đơ -- câu 13) về phía Tây bắc, đi bộ hết 2 hoặc 3 giờ. Có lẽ Em-ma-út là quê hương của hai môn đồ nầy; một người tên là Cô-lê-ô-ba, còn một người thì không chép tên; ta không biết chi hết về hai người nầy.
Lúc đó đã xế chiều. Hồi sáng sớm, Đức Chúa Jêsus đã hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len (Mac Mc 16:9-11; GiGa 20:11-18) và với mấy bà khác (Mat Mt 28:9-10). Nhưng hai môn đồ nầy chỉ nghe thuật lại rằng mộ phần trống rỗng và thiên sứ báo tin Đức Chúa Jêsus đã sống lại (câu 22-24).
"Hỡi những kẻ dại dột" (câu 25). Đây, Chúa trách nhẹ nhàng trách họ có tâm trí thiêng liêng ngây thơ.
LuLc 24:33-35 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với Phi-e-rơ
Không nói rõ thì giờ. Có lẽ là ngay trước khi hoặc ngay sau khi Ngài hiện ra với hai môn đồ kia, vào buổi chiều. Lúc sáng sớm, Ngài đã cậy thiên sứ và mấy bà nhắn tin đặc biệt cho Phi-e-rơ (Mac Mc 16:7). Xem lời chú giải ở đó.
LuLc 24:36-43 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với 11 Sứ đồ
Cũng xem ở Mac Mc 16:14-18 và GiGa 20:19-23. "Mười một Sứ đồ" (câu 33) là danh từ chỉ về một nhóm người. Trong trường hợp nầy, chỉ có 10 Sứ đồ thôi, vì Thô-ma vắng mặt (GiGa 20:24). Hãy chú ý lòng tin hớn hở của hai môn đồ (câu 34); tuy nhiên, các Sứ đồ vẫn "chưa tin chắc" (câu 41), cả sau khi Chúa đã giơ bàn tay và bàn chơn cho họ xem. Tin và nghi thay phiên nhau. Dường như kỳ diệu quá đến nỗi không thể tin là thật. Họ không thể tin con mắt mình đã thấy đúng. Xem thêm lời chú giải ở dưới Giăng, đoạn 20.
Một tuần lễ sau, Ngài hiện ra với 11 Sứ đồ, tại Giê-ru-sa-lem (GiGa 20:26-29).
Sau đó, với 7 Sứ đồ, trên bờ biển Ga-li-lê (21:1-25).
Lại hiện ra với 11 Sứ đồ trên một ngọn núi thuộc xứ Ga-li-lê (Mat Mt 28:16-20).
Và với Gia-cơ, không biết lúc nào và tại đâu (ICo1Cr 15:7).
LuLc 24:44-53 -- Chúa hiện ra lần cuối cùng và ngự lên trời
Việc nầy cũng có chép ở Mac Mc 16:19 và Cong Cv 1:3-12. Câu 44-49 dường như thuộc về sự hiện ra cuối cùng của Chúa, chớ không thuộc về sự hiện ra vừa mới chép ở câu 36-43. Ấy vì rõ ràng lắm, sự hiện ra ở câu 36-43 nhằm buổi tối Chúa nhật thứ nhứt, còn ở đây thì Chúa bảo họ "hãy đợi trong thành Giê-ru-sa-lem" (câu 49); dĩ nhiên họ "đợi" sau khi đã đi tới xứ Ga-li-lê và trở về Giê-ru-sa-lem rồi. Đoạn, Ngài dẫn họ ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, tới làng Bê-tha-ni yêu dấu. 40 ngày thi hành chức vụ sau khi sống lại đã chấm dứt, sứ mạng trên mặt đất đã xong, các thiên sứ chầu chực bèn họp thành xe rước Cứu Chúa toàn thắng.
So Sánh 4 Bản Tường Thuật Sự Sống Lại Của Đức Chúa Jêsus
Đức Chúa Jêsus hiện ra với các bà.
Mác: Các bà đi thăm phần mộ.
Với hai môn đồ, trên đường về Em-ma-út.
Chúa ngự lên trời. Lu-ca: Các bà đi thăm phần mộ.
Sự hiện ra cuối cùng, 40 ngày sau. Chúa ngự lên trời.
Phi-e-rơ và Giăng chạy tới phần mộ.
Với 11 Sứ đồ, một tuần lễ sau, có mặt Thô-ma.
Những Sự Hiện Ra Của Đức Chúa Jêsus Sau Khi Ngài Sống Lại
1. Với Ma-ri Ma-đơ-len (Mac Mc 16:9-10), lúc sáng sớm.
2. Với các bà khác (Mat Mt 28:9-10), lúc sáng sớm.
3. Với hai môn đồ, trên đường về Em-ma-út (Mac Mc 16:12-13; LuLc 21:13-32).
4. Với Phi-e-rơ (LuLc 24:34), một lúc nào trong ngày đó.
5. Với 11 Sứ đồ (Mac Mc 16:14; LuLc 24:26; GiGa 20:19), chính buổi tối đó.
6. Với 11 Sứ đồ (GiGa 20:16-31), một tuần lễ sau, có mặt Thô-ma.
7. Với 7 Sứ đồ, trên bờ biển Ga-li-lê (21:1-25).
8. Với 11 Sứ đồ (và 500 anh em?), trên một ngọn núi xứ Ga-li-lê (Mat Mt 28:16-29).
9. Với Gia-cơ (ICo1Cr 15:7), không biết lúc nào và tại đâu.
10. Sự hiện ra cuối cùng và ngự lên trời (Mac Mc 16:19; LuLc 24:44; Cong Cv 1:3-11).
Về sau, Đức Chúa Jêsus đi một chuyến đặc biệt từ Thiên đàng xuống, hiện ra với Phao-lô.
Tại ICo1Cr 15:5-8, tức là 27 năm sau khi Chúa sống lại, Phao-lô liệt kê những sự hiện ra của Chúa như vầy: "Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho 12 Sứ đồ. Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn 500 anh em xem thấy... Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các Sứ đồ. Rốt lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem."
Sách Cong Cv 1:2 chép rằng: "Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các Sứ đồ trong 40 ngày, phán bảo những sự về Nước Đức Chúa Trời." Lời chép đó cùng với các lời chép tương tự ở 10:41 và 13:31, ngụ ý rằng có lẽ Ngài còn hiện ra nhiều lần khác ngoài những lần chép trong Kinh Thánh, và có lẽ chức vụ của Ngài sau khi sống lại còn trọng đại hơn là chúng ta được biết.
=============================

Giăng
Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời
Giăng đặc biệt nhấn mạnh vào thần tánh của Đức Chúa Jêsus. Sách Tin Lành của ông phần lớn gồm những bài giảng dạy và cuộc đàm thoại của Đức Chúa Jêsus. Sách chép những lời Đức Chúa Jêsus phán hơn là những việc Ngài làm. "Những ông khác lo ghi chép, còn Giăng lo giải thích."
Tác giả
Tác giả không nói mình là ai; mãi đến cuối sách (GiGa 21:20-24), ông mới nói rằng mình là "môn đồ mà Đức Chúa Jêsus yêu," tức là Sứ đồ Giăng, người bạn thân thiết nhứt của Chúa. Cho tới ngày phái phê bình kim thời dấy lên, thì truyền thoại thời xưa và ý kiến liên tục theo sau truyền thoại đó vẫn công nhận Giăng là tác giả. Chính giới phê bình chối sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus do nữ đồng trinh, thần tánh Ngài và sự phục sanh của thân thể Ngài, cũng đã căn cứ giả thuyết của mình trên lời cổ thời, mơ hồ và khả nghi, đề cập đến một người tên là "Giăng, trưởng lão;" vậy, họ nhảy lên vì suy luận rằng tác giả không phải là Sứ đồ Giăng, mà là một Giăng khác ở Ê-phê-sô. Lẽ tự nhiên, giả thuyết nầy làm mất giá trị của sách nầy, khiến nó không còn làm chứng rằng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời nữa. Lý thuyết trên dựa vào bằng cớ quá mỏng manh và ý muốn làm mất giá trị của sách Tin Lành Giăng quá rõ rệt đến nỗi nó chẳng đáng cho tín đồ Đấng Christ xem xét cẩn trọng, và nó chỉ được đề cập ở đây vì là một tài liệu tuyên truyền "quí hóa" của một giới "học giả" ngày nay.
Niên hiệu. -- Người ta thường cho rằng sách Tin Lành Giăng được chép khoảng năm 90 S.C.. Trong bản dịch Kinh Thánh của Ferrar Fenton (Oixford Ấn quán), ông có phát biểu ý kiến rằng: Sách Tin Lành Giăng được chép đầu tiên trong cả bộ Tân Ước; thoạt tiên Giăng viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, sau khi Chúa sống lại ít lâu; ít năm sau, ông phát hành bản tiếng Hi-lạp, có thêm lời chú giải, và bản nầy là nguyên văn của hết thảy bản thảo còn lại tới ngày nay.
Ba sách Tin Lành cộng quan (Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca) đã lưu hành được ít năm rồi. Một số chi hội có bản sao của cả ba sách ấy. Sách Tin Lành Giăng có tánh cách bổ sung, cung hiến rất nhiều tài liệu quí báu hơn hết không có trong ba sách kia, và khiến ta nhìn thấy trí óc và tấm lòng của Đức Chúa Jêsus gần gũi hơn hết. Ông Schaff gọi sách Tin Lành Giăng là "văn phẩm quan trọng hơn hết từng được soạn thảo."
Giăng
Cha của ông tên là Xê-bê-đê (Mat Mt 4:21). Dường như mẹ của ông là Sa-lô-mê (Mat Mt 27:56; Mac Mc 15:40); nếu đối chiếu với GiGa 19:25, thì bà nầy có thể là chị em của Ma-ri, mẹ Đức Chúa Jêsus. Nếu vậy, thì Giăng là anh em đôi con dì của Đức Chúa Jêsus, và vì ông sấp sỉ tuổi Chúa, nên chắc đã quen biết Ngài từ thời thơ ấu.
Giăng là một tay kinh doanh khá giả. Ông là một trong năm người hùn vốn làm nghề đánh cá khá lớn lao, có thể "mướn người làm thuê" (Mac Mc 1:16-20). Ngoài cơ sở đánh cá ở Ca-bê-na-um, ông còn có nhà ở Giê-ru-sa-lem (GiGa 19:27), và quen biết thầy tế lễ thượng phẩm (GiGa 18:15, 16).
Ông vốn là môn đồ của Giăng Báp-tít (GiGa 1:35, 40). Nếu ông là anh em đôi con dì của Đức Chúa Jêsus, như có ngụ ý trong những khúc Kinh Thánh kể trên kia, thì cũng có lẽ ông là bà con của Giăng Báp-tít (LuLc 1:36), và chắc phải biết những lời thiên sứ báo tin liên quan đến Giăng Báp-tít và Đức Chúa Jêsus (LuLc 1:17, 32). Vậy, khi Giăng Báp-tít xuất hiện trên bờ sông Giô-đanh, kêu la rằng Nước Thiên đàng đã đến gần, thì Giăng, con trai của Xê-bê-đê, sẵn sàng chung một lập trường với ông.
Đến khi nghe Giăng Báp-tít làm chứng, thì ông lập tức trở thành môn đồ của Đức Chúa Jêsus (GiGa 1:35-51). Giăng là một trong năm môn đồ đầu tiên của Chúa, và đã cùng Chúa trở về xứ Ga-li-lê (GiGa 2:2, 11). Lúc đó, dường như ông trở lại nghề đánh cá. Về sau, có lẽ chừng một năm, Đức Chúa Jêsus kêu gọi ông bỏ công cuộc kinh doanh mà đi theo Ngài khắp đó đây. Từ đó về sau, ông ở với Ngài luôn, nhờ vậy, chính mắt ông được chứng kiến mọi việc chép trong sách Tin Lành nầy.
Đức Chúa Jêsus đặt cho ông biệt hiệu là "Con trai của sấm sét" (Mac Mc 3:17), dường như để ngụ ý rằng thiên tánh ông hăng hái, nóng nảy. Việc ông cấm người lạ dùng Danh Đấng Christ để trừ quỉ (Mac Mc 9:38) và việc ông muốn xin lửa từ trời giáng xuống tiêu diệt người Sa-ma-ri (LuLc 9:54), thật đã chứng minh thiên tánh ông một cách hào hứng.
Ông là một trong ba môn đồ thân cận nhứt với Chúa và được nhìn nhận là gần gũi Đức Chúa Jêsus hơn hết. Năm lần ông được xưng là "môn đồ mà Đức Chúa Jêsus yêu" (GiGa 13:23; 19:26; 20:2; 21:7, 20). Chắc ông là người có những đức tánh hiếm lạ, nên mới được Đức Chúa Jêsus tâm giao như vậy.
Ông và Phi-e-rơ được nhìn nhận đứng đầu 12 Sứ đồ, và dầu hai ông có thiên tánh khác hẳn nhau, nhưng lại thường ở và đi chung với nhau (GiGa 20:2; Cong Cv 3:1, 11; 4:13; 8:14).
Ông đã lấy Giê-ru-sa-lem làm nơi cư trú chánh khá lâu năm. Theo truyền thoại đáng tin, thì lúc cao tuổi, ông ở tại thành Ê-phê-sô. Người ta không biết chi hết về ông làm gì và đi đâu trong khoảng giữa hai thời gian ở Giê-ru-sa-lem và ở Ê-phê-sô. Tại Ê-phê-sô, ông sống rất lâu, viết sách Tin Lành, 3 thơ tín, và sách B (xem thêm ở dưới I Giăng).
GiGa 1:1-3 -- Đức Chúa Jêsus hằng có đời đời và là Đức Chúa Trời
Khúc sách tuyệt diệu nầy nhắc ta nhớ mấy lời mở đầu sách Sáng-thế Ký. Đây Đức Chúa Jêsus được xưng minh bạch là "Đức Chúa Trời" và "Đấng Tạo Hóa" (xem ở dưới 7:1-53). Giăng nói rất quả quyết rằng Đức Chúa Jêsus là một Thân vị có từ đời đời. Đức Chúa Jêsus phán về "sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian" (GiGa 17:5), dường như Ngài mong mỏi chấm dứt thời kỳ cư trú trên thế gian buồn tẻ mà trở về quê hương. Danh hiệu "Ngôi Lời" của Đức Chúa Jêsus có ngụ ý rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời tự tỏ mình cho loài người biết.
1:4-13 -- Đức Chúa Jêsus là Sự Sáng của thế gian
Giăng thường nghe Đức Chúa Jêsus phán như vậy (8:12; 9:5; 12:46). Đó là một trong những yếu điểm tư tưởng của Giăng đối với Đức Chúa Jêsus (IGi1Ga 1:5-7). Chữ "sự sáng" ứng dụng cho Đức Chúa Jêsus, thì có ngụ ý rằng Ngài là Đấng làm tỏ rõ ý nghĩa và số phận của đời người.
GiGa 1:14-18 -- Sự thành nhục thể
Đức Chúa Trời trở nên một Người để dắt đem loài người trở về cùng Ngài. Đức Chúa Trời có thể dựng nên loài người có trực giác làm theo ý chỉ Ngài; nhưng trái lại, Ngài muốn ban cho loài người cái quyền tự định đoạt thái độ của mình đối với Đấng Tạo Hóa. Luật pháp sanh tồn thứ nhứt là người thọ tạo phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí kính mến Đấng Tạo Hóa. Nhưng Đức Chúa Trời là Thần; và loài người bị bao vây bởi những sự hạn chế của một thân thể vật chất, và chỉ có một quan niệm kém cỏi về Thần là Đấng thể nào. Vậy, Đấng Tạo Hóa ngự đến cùng loài người mà Ngài đã dựng nên, dưới hình thức một Người như họ, để ban cho họ một ý niệm về Ngài là Đấng thể nào. Đức Chúa Trời giống như Đức Chúa Jêsus.
"Con người"
Đây là danh hiệu mà Đức Chúa Jêsus ưa dùng để chỉ về Ngài. Danh hiệu nầy được dùng chừng 80 lần trong 4 sách Tin Lành: Ma-thi-ơ 30 lần; Mác 5 lần; Lu-ca 25 lần; Giăng 10 lần.
Danh hiệu nầy cũng dùng ở DaDn 7:13, 14, 27, để chỉ về Đấng Mê-si hầu đến. Người ta cho rằng Đức Chúa Jêsus nhận lấy Danh hiệu ấy tức là Ngài tự nhận là Đấng Mê-si.
Danh hiệu nầy cũng gợi ý rằng Đức Chúa Jêsus vui thỏa vì được từng trải làm Đức Chúa Trời hiện thân trong hình Người, và chia xẻ cuộc sống thông thường của loài người. Ngài đem Danh hiệu ấy về Thiên đàng (Cong Cv 7:56; GiGa 1:13; 14:14).
Một sứ giả của Thiên đàng đã dùng danh hiệu ấy mà kêu Ê-xê-chi-ên chừng 90 lần (Exe Ed 2:1, 3, 6, 8 v.v...), ngụ ý rằng so sánh với Đức Chúa Trời, thì loài người rất thấp thỏi.
Phạm vi sanh hoạt của Đức Chúa Jêsus
Dầu Đức Chúa Jêsus là Công dân của vũ trụ và quen biết các đại lộ của Đức Chúa Trời trong không gian vô biên đầy tinh tú, nhưng khi sống ở trần gian nầy, Ngài chỉ ở một miền rất nhỏ hẹp, mặc dầu rất quan trọng về chiến lược. Xứ Pa-lét-tin là nơi ba đại lục gặp nhau, nằm giữa Địa-trung-hải và sa mạc Ả-rập rộng lớn, cũng là nơi gặp gỡ của những đại lộ trên thế giới. Đương thời Đức Chúa Jêsus, xứ Pa-lét-tin gồm 4 phần, đều ở dưới quyền cai trị của đế quốc La-mã:
Xứ Giu-đê, là Nam phần, thành trì của phái Do-thái thủ cựu.
Xứ Ga-li-lê, là Bắc phần, có nhiều dân Hi-lạp ở xen lẫn.
Xứ Sa-ma-ri ở giữa, cư dân là giống lai, có một phần huyết thống Do-thái.
Xứ Pê-rê ở phía Đông hạ lưu sông Giô-đanh, có nhiều đô thị La-mã thạnh vượng. Hê-rốt cai trị xứ Ga-li-lê và xứ Pê-rê. Phi-lát cai trị xứ Giu-đê và xứ Sa-ma-ri.
Thành Alexandrie, đô thị thứ hai của đế quốc La-mã, ở cách 300 dặm, về phía Tây nam. Thành An-ti-ốt, đô thị thứ ba của đế quốc La-mã, ở cách 300 dặm về phía Bắc. Nền thương mại và các đạo quân của thế giới chuyển vận dọc theo bờ biển Pa-lét-tin và qua xứ Ga-li-lê. Ngoài lần chạy trốn xuống Ai-cập khi còn thơ ấu (và Ngài đã từ đó hồi hương lúc lên 2 hoặc 4 tuổi) thì không có chỗ nào chép Ngài đi xa Na-xa-rét quá 70 dặm. Giê-ru-sa-lem ở phía Nam, Si-đôn ở phía Bắc, Đê-ca-bô-lơ và xứ Pê-rê ở phía Đông, là giới hạn các cuộc du hành của Ngài theo như ta được biết.
Xứ Ga-li-lê. -- Sử gia Josèphe ước lượng dân số xứ Ga-li-lê có 3 triệu người. Xứ nầy có nhiều đô thị Hi-lạp rất giàu có. Đây là một trung tâm quan trọng của nền văn hóa thế giới. Thủ đô của chánh quyền La-mã và cung điện của vua Hê-rốt ở tại Sepphoris, chỉ cách Na-xa-rét 4 dặm.
GiGa 1:19-34 -- Lời làm chứng của Giăng
Sau khi giải luận ngắn ngủi và tổng quát về Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thực hữu từ trước vô cùng và thành nhục thể, thì sách Tin Lành Giăng bỏ qua tất cả truyện tích về Đức Chúa Jêsus giáng sanh, sống thời thơ ấu, chịu lễ báp-têm và chịu cám dỗ, mà bắt đầu bằng lời làm chứng của Giăng Báp-tít trước ủy ban do tòa Công luận cử đến rằng Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.
Việc nầy xảy ra khi đã chấm dứt 40 ngày cám dỗ. Không có chỗ nào chép rằng Đức Chúa Jêsus đã từ đồng vắng, nơi Ngài bị cám dỗ, trở về sông Giô-đanh, là nơi Giăng đang làm lễ báp-têm. Ba sách Tin Lành cộng quan đi thẳng từ sự cám dỗ đến chức vụ ở xứ Ga-li-lê (Mat Mt 4:11-12; Mac Mc 1:13-14; LuLc 4:13-14). Nhưng ba lần chép: "qua ngày sau" (câu 29, 35, 43), rồi chép: "cách ba ngày sau" (GiGa 2:1) để chỉ về lúc Chúa tới xứ Ga-li-lê, thì tỏ rõ rằng trước khi đi xứ Ga-li-lê, Đức Chúa Jêsus đã từ đồng vắng trở lại chỗ Giăng đang giảng dạy.
"Đấng Tiên tri" (câu 21) là một Danh hiệu tiên tri của Đấng Mê-si, và dân chúng đương thời Đức Chúa Jêsus thường hiểu theo nghĩa đó (GiGa 6:14).
Hãy chú ý sự khiêm nhường sâu xa của Giăng Báp-tít trong khi ông sùng bái Đức Chúa Jêsus (câu 27), -- thậm chí ông tự nhận "chẳng đáng mở dây giày Ngài." Lời ấy rất đáng chú ý, nên đã được ghi chép trong cả 4 sách Tin Lành Mat Mt 3:11; Mac Mc 1:7; LuLc 3:16). Nếu hết thảy các ông Truyền đạo có thể tỏ lòng khiêm cung sùng kính dường ấy đối với Chúa mà họ rao giảng, thì phước cho thế giới biết bao!
GiGa 1:35-51 -- Các môn đồ đầu tiên
Có năm môn đồ đầu tiên: Giăng, Anh-rê, Si-môn, Phi-líp, và Na-tha-na-ên. Họ đã được dự bị bởi lời giảng dạy của Giăng Báp-tít, và về sau cả năm đã được phong chức Sứ đồ. Đó là một trong những sự đóng góp của chức vụ Giăng Báp-tít cho công việc của Đấng Christ. Tuy nhiên, họ đã tạm thời quay về nghề nghiệp thường xuyên của mình. Chừng một năm sau, họ mới được kêu gọi đi theo Đấng Christ luôn. Xem lời chú giải ở dưới Mat Mt 10:1-42.
Người ta đoán rằng Sứ đồ Giăng chính là môn đồ không được nêu tên (câu 40). Nếu ông là anh em họ của Đức Chúa Jêsus (xem lời chú giải giới thiệu sách Tin Lành nầy), chắc ông đã biết Ngài từ trước.
"Giờ thứ mười" tức là 10 giờ sáng. Giăng dùng thì giờ La-mã, cũng như thì giờ chúng ta dùng ngày nay, tính từ nửa đêm hoặc giữa trưa (GiGa 4:6; 19:14).
Si-môn là người kinh doanh chung với Giăng, có lẽ đã biết Đức Chúa Jêsus một cách riêng; nhưng ông không biết rằng Ngài là Đấng Mê-si cho tới lúc nầy, là lúc Giăng Báp-tít tuyên bố công khai như vậy. Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên có chép trong Kinh Thánh đây, Đức Chúa Jêsus đã ban cho Si-môn một tên mới, thì dường như tỏ ra rằng Ngài đã có ý chọn ông làm Sứ đồ.
Na-tha-na-ên đã trở lại theo Chúa chắc vì thấy vẻ oai nghiêm rõ rệt của cá nhân Đức Chúa Jêsus (câu 46-49). Lời Đức Chúa Jêsus phán về thiên sứ (câu 51) tỏ ra Ngài là Con Đường lớn nối liền trái đất với Thiên đàng. Tham khảo SaSt 28:12.
Dung mạo của Đức Chúa Jêsus
Trong dung mạo của Đức Chúa Jêsus có một cái gì có ảnh hưởng tức khắc trên Na-tha-na-ên (GiGa 1:49). Tân Ước không nói chi tới dung mạo Đức Chúa Jêsus, tới thế kỷ thứ 4 mới có bản đầu tiên mô tả dung mạo Ngài với tánh chất thần thoại. Đây là một bức thư ngụy tác gán cho Publius Lentulus, bạn của Phi-lát, đã viết gởi tới Thượng nghị viện La-mã. Một phần như sau đây:
"Lần nầy hiện ra có một Người có quyền phép lớn. Tên Ngài là Jêsus. Môn đồ Ngài gọi Ngài là Con Đức Chúa Trời. Vóc giạc của Ngài cao quí và cân đối, mắt đầy nhân ái, nhưng cương quyết, nên kẻ ngắm xem Ngài vừa kính mến, vừa sợ hãi Ngài. Tóc Ngài màu rượu vang, mọc thẳng và không bóng, nhưng ngang tai thì xoăn và láng. Trán Ngài phẳng và nhẵn, mặt Ngài không tì vít, nhuận sắc tươi trẻ điều hòa, dáng vẻ thật thà và nhân ái. Mũi và miệng không có khuyết điểm nào. Râu rậm, cùng màu với tóc; mắt xanh lơ, sáng tuyệt vời. Khi Ngài quở trách, thì thật là khủng khiếp; khi khuyên bảo và dạy dỗ, thì giọng nói nhu mì, dễ thương. Không hề có ai thấy Ngài cười, nhưng trái lại, nhiều người thấy Ngài khóc. Thân Ngài cao, bàn tay đẹp và thẳng. Khi nói thì quả quyết, nghiêm nghị, và ít lời; về vẻ đẹp, thì Ngài trổi hơn hầu hết mọi người."
Còn có nhiều truyền thoại khác: Nào Ngài thẳng người và đẹp đẽ, nào Ngài gù lưng và xấu xí. Dầu dung mạo Ngài thể nào đi nữa, vẻ mặt và dáng điệu Ngài cũng có một cái gì oai nghiêm, hiển hách, thiên thượng. Lời tiên tri ở sách Ê-sai, đoạn 53, ngụ ý dung mạo Ngài không đẹp đẽ; nhưng đó chắc nói đến cách sanh hoạt khiêm tốn, giản dị của Ngài mặc dầu Ngài là Vua, hơn là nói đến dung mạo Ngài.
Ngài làm thợ mộc, nên chắc phải có sức khỏe lắm. Ngài phán dạy rất hữu hiệu cho đoàn dân đông đúc giữa trời, thì ta tưởng tượng Ngài phải có tiếng nói rất hùng mạnh. Căn cứ vào các bài giảng, lời dạy và cuộc đàm thoại của Ngài, thì ta nghĩ rằng Ngài luôn luôn tự chế, không vội vàng, nhưng hoàn toàn bình tĩnh, nhất cử nhất động đều chậm chạp và oai nghiêm.
Còn như thần thoại trưng dẫn trên đây nói rằng người ta thường thấy Ngài khóc, chớ không hề thấy Ngài cười, thì Tân Ước xác nhận rằng Ngài thật có khóc, thí dụ như khóc vì thành Giê-ru-sa-lem, và khóc trước mộ phần La-xa-rơ; còn như Ngài không hề cười, thì Kinh Thánh không có chép. Tuy nhiên, có mấy chỗ ngụ ý rằng Ngài thật có óc hài hước.
Các giai đoạn trong đời Đức Chúa Jêsus
Mọi việc đã chép về Đức Chúa Jêsus đều có thể sắp vào các giai đoạn đặc biệt của đời Ngài như sau đây:
Lúc Ngài giáng sanh và thời thơ ấu của Ngài.
Ngài chịu lễ báp-têm, chịu cám dỗ và bắt đầu chức vụ công khai.
Phần đầu chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê, -- 8 tháng.
Chức vụ của Ngài ở xứ Ga-li-lê, -- chừng 2 năm (?).
Chức vụ của Ngài ở xứ Pê-rê và phần cuối chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê, -- chừng 4 tháng (?).
Tuần lễ cuối cùng của Ngài.
Chức vụ của Ngài sau khi sống lại.
GiGa 2:1-11 -- Nước biến thành rượu
Ca-na cách thành Na-xa-rét chừng 4 dặm về phía Đông bắc. Na-tha-na-ên quê ở Ca- na (GiGa 21:2). Ông không có ý kiến tôn trọng thành Na-xa-rét kế cận (1:46). Rõ ràng lắm, đây là tiệc cưới trong gia đình một bạn hữu hay bà con của Đức Chúa Jêsus, hoặc của Na-tha-na-ên. "Cách ba ngày sau" (câu 1), -- thành Ca-na cách hạ lưu sông Giô-đanh ba ngày đường.
"Hỡi đờn bà kia" (câu 4) là một cách xưng hô tôn trọng, thông dụng đương thời ấy. Đức Chúa Jêsus lại xưng hô như vậy trên Thập tự giá, nhằm lúc không thể nào có mùi vị bất kính (GiGa 19:26). Ngài dường như nhận xét như vầy: "Thí dụ, hết rượu, thì điều đó có liên quan gì với Ta? Đó không phải việc của Ta. Thì giờ Ta làm phép lạ chưa đến." Có lẽ Ngài mới nói cho bà biết quyền phép mới mẻ, lạ lùng đã ban phú cho Ngài bởi Đức Thánh Linh giáng xuống khi Ngài chịu lễ báp-têm (xem lời chú giải về Ngài chịu cám dỗ, -- Mat Mt 4:1-11). Bà thấy tình hình ấy là một cơ hội cho Ngài. Dầu Ngài làm phép lạ nầy theo lời đề nghị của bà, nhưng chừng 4 tháng sau mới tới "giờ" (câu 4) Ngài sử dụng toàn thể quyền phép lạ lùng, nhằm lúc chánh thức bắt đầu chức vụ công khai tại Giê-ru-sa-lem, trong kỳ Lễ Vượt Qua (câu 13).
"Hai, ba lường nước" (câu 6). Mỗi lường ước chừng 36 lít. Ché đá bằng cỡ nửa thùng (104 lít).
Ý nghĩa của phép lạ nầy: Trong 40 ngày, Đức Chúa Jêsus đã phải nghe mọi lời Sa- tan có thể xui giục Ngài sử dụng quyền phép lạ lùng, nhưng Ngài rất cương quyết không chịu sử dụng nó để thỏa mãn nhu cầu riêng của mình. Rồi từ đồng vắng, Ngài đi thẳng tới tiệc cưới. Dầu các phép lạ tiếp theo sau của Ngài phần lớn cốt để làm nguôi dịu đau đớn, nhưng phép lạ đầu tiên nầy đã làm giữa tiệc cưới, trong dịp khánh hỉ, để phục vụ sự vui mừng của loài người, khiến họ được sung sướng; ấy dường như Đức Chúa Jêsus muốn bố cáo ngay từ lúc khởi đầu rằng đạo mà bây giờ Ngài đem vào thế giới không phải là đạo khổ tu, mà là đạo có sự vui vẻ thiên nhiên. Đó là phước lành của Đức Chúa Jêsus ban cho hôn nhân.
"Phép lạ thứ nhứt" (câu 11). Các truyện tích hoang đường, ngu dại về phép lạ Ngài làm lúc thơ ấu, có chép trong những sách ngụy tác, chỉ là giả tạo hoàn toàn.
"Tỏ bày sự vinh hiển của mình" (câu 11) theo tư cách Đấng Tạo Hóa. Phép lạ nầy gồm một phương thức hỏa tốc, đòi hỏi quyền sáng tạo thực sự. Về lời chú giải các phép lạ của Đức Chúa Jêsus, xin xem ở dưới Mac Mc 5:21-43.
"Môn đồ bèn tin Ngài" (câu 11). Họ đã tin Ngài rồi, nhưng phép lạ nầy khiến họ vững tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời.
GiGa 2:12 -- Ngụ tại Ca-bê-na-um ít lâu
Đây là một cuộc thăm viếng gia đình, gồm có mẹ và các em trai Ngài, có lẽ là tới nhà Giăng, hoặc Phi-e-rơ, hoặc môn đồ nào khác, để đặt kế hoạch cho công việc tương lai của Ngài. Chừng một năm sau, Ca-bê-na-um trở thành nơi cư ngụ chánh của Ngài. Ngài không làm phép lạ nào khác nữa ở xứ Ga-li-lê cho tới lúc Ngài trở về đó, sau khi thi hành chức vụ ở xứ Giu-đê (GiGa 4:54).
Phần đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (2:13-4:3)
Phần nầy chỉ có chép trong sách Tin Lành Giăng. Nó kéo dài 8 tháng, bắt đầu nhằm kỳ Lễ Vượt Qua (2:13), tức là tháng 4 dương lịch, và chấm dứt "4 tháng" trước mùa gặt (4:3, 35) tức là tháng 12 dương lịch. Nó gồm có sự dẹp sạch Đền thờ, cuộc thăm viếng của Ni-cô-đem, và chức vụ ở bờ sông Giô-đanh.
2:13-22 -- Đức Chúa Jêsus dẹp sạch Đền thờ
Rõ ràng lắm có hai lần dẹp sạch Đền thờ cách nhau 3 năm. Lần nầy nhằm lúc Chúa bắt đầu chức vụ công khai (chú ý chữ "kế đó" -- 3:22) còn lần kia nhằm lúc kết liễu chức vụ công khai, tức là trong tuần lễ cuối cùng của Chúa (Mat Mt 21:12-16; Mac Mc 11:15-18; LuLc 19:45-46). Lần nầy, Ngài đuổi súc vật đi, còn lần kia, Ngài đuổi người buôn bán. Lần nầy, Ngài gọi Đền thờ là "nhà buôn bán," còn lần kia, Ngài gọi nó là "ổ trộm cướp."
Nhơn những cuộc thăm viếng Giê-ru-sa-lem trước đây, chắc Ngài đã kinh khủng trước sự vô đạo của giai cấp đang nhơn Danh Đức Chúa Trời mà cai trị. Khi chánh thức bắt đầu chức vụ công khai, Đức Chúa Jêsus đã có một hành động mà Ngài định dùng làm dấu hiệu báo cáo cho toàn dân rằng Ngài là Đấng Mê-si (vì ai nấy trông mong Đấng Mê-si làm như vậy -- MaMl 3:1-3); hành động ấy công khai và hoàn toàn đố thách giai cấp thống trị; bọn nầy lập tức dấy lên chống đối Ngài, nhưng Ngài dường như chẳng hề lo dẹp sự chống đối ấy. Ngài đã bắt đầu chức vụ như vậy, và cũng đã chấm dứt chức vụ như vậy.
Dung mạo Đức Chúa Jêsus phải có một cái gì rất oai nghiêm, hoặc có lẽ hơn nữa, chính là nhờ quyền phép lạ lùng của Ngài, nên một Người Lạ cô độc, chỉ có cái roi trong tay, lại có thể dẹp sạch và kiểm soát khu Đền thờ đến nỗi (lần thứ hai) "không ai" dám "đem đồ gì đi ngang qua Đền thờ" (Mac Mc 11:16). Cả đến bọn người canh gác cũng khiếp sợ mà làm thinh.
Trong Đền thờ có cái gì làm cho Đức Chúa Jêsus bất mãn như vậy? Họ buôn bán những thứ cần thiết cho sự dâng tế lễ ở Đền thờ, để cho những kẻ từ xa tới được thuận tiện. Nhưng điểm hư tệ là họ buôn bán ngay trong khu thánh đã được biệt riêng cho các công tác khác, và họ cũng đầu cơ quá đáng đến nỗi cả cuộc thờ lạy Đức Chúa Trời đã bị thương mại hóa và bị gièm pha. Xem thêm ở dưới Mat Mt 21:12-17.
Đền thờ do các vua dòng Hê-rốt xây cất bằng cẩm thạch và bằng vàng, thật là nguy nga quá trí tưởng tượng. Chung quanh Đền thờ có bốn hành lang, cái nọ thấp hơn cái kia, dành cho các thầy tế lễ, người Y-sơ-ra-ên, phụ nữ và người dân ngoại. Chung quanh có dãy cột bằng cẩm thạch trắng muốt, trên có mái che; mỗi cột cao chừng 13 thước tây, và làm bằng một phiến đá nguyên khối. Dãy cột ở phía Đông gọi là cổng Sa-lô-môn, là nơi có người buôn bán. Cả khu nầy có vách cao ngất bao bọc, mỗi bề hơn 300 thước tây, tức là bằng cỡ bốn chòm nhà ở một đô thị hạng trung bình.
GiGa 2:23-25 -- Các phép lạ tại thành Giê-ru-sa-lem
Cho tới lúc nầy, Đức Chúa Jêsus mới làm có một phép lạ tại xứ Ga-li-lê (2:11; 4:54). Nhưng bây giờ cùng với sự mở chiến dịch bằng một cuộc biểu thị uy quyền rầm rộ trong Đền thờ, Ngài đã làm rất nhiều phép lạ đến nỗi lắm người sẵn sàng tiếp nhận Ngài là Đấng Mê-si. Song Ngài biết quá rõ họ mong mỏi những gì ở nơi Đấng Mê-si.
3:1-21 -- Ni-cô-đem
Sự dẹp sạch Đền thờ và các phép lạ cặp theo đã có ấn tượng sâu xa trên dân Giê-ru-sa-lem. Ni-cô-đem, một người Pha-ri-si và nhân viên tòa Công luận, có quyền thế, đã tìm cách cẩn thận trò chuyện riêng với Đức Chúa Jêsus. Ông chú ý đến Chúa, nhưng muốn biết Ngài có phải thật là Đấng mà Ngài tự xưng chăng? Chúng ta không biết ông đã tin Chúa tới mực nào. Hai năm sau, ông đã binh vực Đức Chúa Jêsus trước hội nghị (7:50-52). Về sau, ông và Giô-sép, một người khác có chơn trong tòa Công luận, đã an táng Đức Chúa Jêsus (19:39). Ông là một môn đồ kín giấu trong những ngày đức tin ông đang được tạo dưỡng, song về sau ông vui lòng công khai chia sẻ sự sỉ nhục của Thập tự giá với Đức Chúa Jêsus. Trong giờ phút Đức Chúa Jêsus bị hạ thấp, trong khi các Sứ đồ chạy trốn, thì ông đã từ bóng tối xuất hiện, liều chính mạng mình mà hầu việc Chúa lần chót một cách kính mến diệu hiền; (1)nó là một trong những hành động cao thượng hơn hết có chép ở Kinh Thánh. Chắc ông đã đền tội trước kia có ý giấu giếm lòng tin Chúa, nhứt là nếu ta xét rằng ông có chơn trong tòa Công luận, và ở ngay trung tâm của "trại quân thù." Chúng tôi nghĩ rằng Ni-cô-đem sẽ có một địa vị cao trọng ở Thiên đàng, và không thích nghe các ông Truyền đạo nêu ông lên làm gương xấu về sự hèn nhát. Trái lại, ông làm cho hết thảy chúng ta phải hổ thẹn.
Sự "sanh lại" mà Đức Chúa Jêsus giải luận đây không phải chỉ là một ẩn dụ (métaphore ), nhưng là một thực sự do Thánh Linh của Đức Chúa Trời dầm thấm lòng người ta (xem ở RoRm 8:1-11). Chắc Ni-cô-đem cũng chung quan niệm thông thường rằng Nước của Đấng Mê-si phải là một nước chánh trị, trong đó dân Ngài sẽ được giải phóng khỏi sự đô hộ của người La-mã. Đức Chúa Jêsus cố tỏ cho ông biết tánh chất thiêng liêng của Nước Ngài, thật khác hẳn ý tưởng của Ni-cô-đem, đến nỗi ông nầy không hiểu Ngài giải luận điều chi đó. Ông không thể hiểu tại sao ông, một người hiền đức, một người Pha-ri-si chánh hiệu, một trong những người cai trị dân tộc của Đấng Mê-si, lại không được nhiệt liệt hoan nghinh vào Nước Đấng Mê-si nguyên trong tình trạng ấy. Ông không thể nào chịu nhận rằng trái lại, ông phải hoàn toàn xây dựng lại ý tưởng của mình và chính thân mình nữa.
"Bị treo lên" (câu 14). Đây là lời báo cáo, ngay lúc Đức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ, rằng Thập tự giá sẽ là ngôi của Đấng Mê-si. Đây Chúa nhắc đến con rắn bằng đồng mà những kẻ bị rắn lửa cắn nhìn vào và được sống (Dan Ds 21:9), và Ngài có ý phán rằng sự "sanh lại" (mà Ngài mới giải luận đó) để được hưởng sự sống đời đời sẽ do sự chết của Ngài mà có. Sự "sanh lại" gợi cho Giăng câu yêu quí hơn hết trong cả Kinh Thánh (GiGa 3:16).
GiGa 3:22-36 -- Chức vụ của Đức Chúa Jêsus ở hạ lưu sông Giô-đanh
Người ta cho rằng đây chính là nơi Ngài đã chịu lễ báp-têm khoảng 6 tháng trước. Trong lúc ấy, Giăng Báp-tít đã tiến về thượng lưu sông Giô-đanh, cách chừng 40 cây số, tới một chỗ gọi là Ê-nôn (xem bản đồ số 45, ở dưới Mat Mt 3:13-17). Chúa và Giăng Báp-tít cùng giảng một đề mục: Nước Thiên đàng dự ngôn từ lâu nay đã đến rồi! Chẳng bao lâu, Đức Chúa Jêsus có đông người theo hơn Giăng, chắc một phần vì cớ các phép lạ của Ngài (GiGa 10:41), và một phần vì Ngài là Đấng Mê-si mà Giăng đã rao giảng, và cũng vì cá nhân của Ngài oai phong hơn.
Sau 8 tháng, Giăng Báp-tít bị hạ ngục (Mat Mt 4:12); các nhà cầm quyền ở Giê-ru-sa-lem chú ý tới Chúa (GiGa 4:1), và nếu Đức Chúa Jêsus cứ ở vùng đó, thì có cơ nguy hiểm cho Ngài. Để khỏi bị giết sớm, tức là trước khi làm xong công việc, Ngài bèn lui về xứ Ga-li-lê, là nơi Ngài bị họ can thiệp ít hơn.
Thời gian nầy gồm 8 tháng, xin chứng tỏ như vầy: Nó bắt đầu khoảng kỳ Lễ Vượt Qua, tức là tháng 4 dương lịch (GiGa 2:13; 3:22) và kết liễu "4 tháng trước mùa gặt," tức là tháng 12 dương lịch (GiGa 4:35).
4:1-42 -- Người đờn bà Sa-ma-ri
Có lẽ vì thận trọng, nên Đức Chúa Jêsus trở về xứ Ga-li-lê qua xứ Sa-ma-ri, chớ không đi đường họ thường đi, tức là ngược thung lũng sông Giô-đanh. Xứ Sa-ma-ri ở ngoài quyền cai trị của Hê-rốt, là vua vừa mới bỏ tù Giăng Báp-tít. Đức Chúa Jêsus không tới đó để giảng. Ngài chỉ đi qua đó, trên đường tới xứ Ga-li-lê. Cuộc đàm thoại của Ngài với người đờn bà Sa-ma-ri chỉ là tình cờ. Đây là một trong những truyện tích tốt đẹp nhứt, lý thú nhứt và hữu ích nhứt của đời Đức Chúa Jêsus.
Người Sa-ma-ri là dân di cư, thuộc về một chủng tộc ngoại bang do quân A-si-ri đem tới đó ở từ 700 năm trước (IIVua 2V 17:6, 24, 26, 29; Exo Er 4:1, 9, 10). Họ đã công nhận Ngũ kinh của Môi-se, và đã theo đạo Do-thái một phần nào. Họ trông mong Đấng Mê-si sẽ đặt thủ đô của chánh phủ Ngài tại Sa-ma-ri, chớ không phải tại Giê-ru-sa-lem.
Những kẻ cai trị chính nước Đức Chúa Jêsus đã nhìn Ngài bằng con mắt nghi ngờ; nhưng đây, người Sa-ma-ri bị họ khinh dể đã vui vẻ tiếp đón Ngài, kể cả người đờn bà đang sống trong cảnh lẻ mọn bất hợp pháp. Trong các sách Tin Lành có một mâu thuẫn tái diễn luôn luôn, ấy là những kẻ bảo tồn tôn giáo trong nước Đức Chúa Jêsus thì chối bỏ Ngài, còn những kẻ bị xã hội loại bỏ, những tội nhân và thường dân thì tiếp nhận Ngài.
Giếng của Gia-cốp vẫn còn đó, sâu chừng 33 thước tây, và đường kính chừng 3 thước tây. Nó thuộc trong một số ít chỗ có liên quan đến truyện tích Đức Chúa Jêsus mà ta có thể chỉ đúng vị trí.
"Giờ thứ sáu" (câu 6) tức là thì giờ La-mã, cũng như thì giờ của chúng ta, là 6 giờ chiều.
Cuộc thăm viếng của Đức Chúa Jêsus đặt nền tảng cho sự vui lòng tiếp nhận Tin Lành bởi người Sa-ma-ri mấy năm sau (Cong Cv 8:4-8).
GiGa 4:43-54 -- Con trai quan thị vệ
Trên đường từ xứ Sa-ma-ri đến thành Ca-na, Đức Chúa Jêsus chắc phải đi qua Na- xa-rét (xem bản đồ số 46 ở dưới Mac Mc 3:7-12). Ca-na cách Na-xa-rét 4 dặm về phía Đông bắc. Ca-na là quê hương của Na-tha-na-ên và là chỗ mà một năm trước, Đức Chúa Jêsus đã làm phép lạ đầu tiên (GiGa 2:1-11). Quan thị vệ nầy làm việc dưới quyền Hê-rốt, tại thành Ca-bê-na-um. Ca-bê-na-um cách Ca-na 15 dặm về phía Đông bắc. Do lời miệng Chúa phán, phép lạ nầy được thực hiện trên một người ở cách xa 15 dặm. "Phép lạ thứ hai" (câu 54) đây có nghĩa là phép lạ thứ hai mà Ngài làm tại xứ Ga-li-lê. Giữa hai phép lạ nầy, Ngài đã làm nhiều phép lạ khác tại thành Giê-ru-sa-lem (GiGa 2:23).
Sau phép lạ nầy, dường như Đức Chúa Jêsus trở về Na-xa-rét và ở đó một thời gian (LuLc 4:16-30). Dân chúng Na-xa-rét có nghe về Chúa chữa bịnh cho con quan thị vệ tại thành Ca-bê-na-um, và họ muốn Ngài tái diễn phép lạ ấy ở chính quê hương Ngài (LuLc 4:23).
GiGa 5:1-47 -- Chúa làm một phép lạ tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát
Phép lạ nầy xảy ra trong một ngày lễ (câu 1). Những ngày lễ mà dân Do-thái cử hành đương thời Đức Chúa Jêsus và chắc Ngài thường dự, là:
Lễ Vượt Qua. -- Tháng 4 dương lịch. Kỷ niệm sự ra khỏi Ai-cập, 1400 năm trước.
Lễ Ngũ Tuần. -- Tháng 6 dương lịch, 50 ngày sau. Kỷ niệm sự ban bố Luật pháp.
Lễ lều tạm. -- Tháng 10 dương lịch. Ăn mừng mùa gặt.
Lễ Khánh thành (Đền thờ ).-- Tháng 12 dương lịch. Cũng gọi là lễ "Đuốc." Do ông Giu-đa Macchabée thiết lập.
Lễ Phu-rim. -- Trước Lễ Vượt Qua ít ngày. Các sách Tin Lành không hề chép về lễ nầy.
Đức Chúa Jêsus đã trở về xứ Ga-li-lê nhằm tháng 12 dương lịch, vào khoảng lễ Khánh thành (xem ở GiGa 3:22-36). Ngày lễ theo sau đó là lễ Phu-rim, thường được cử hành khắp xứ và không ai buộc phải tới thành Giê-ru-sa-lem. Sau đó là Lễ Vượt Qua, và ai nấy thường nhìn nhận đó là cơ hội Chúa viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem lần nầy.
Một năm trước, Đức Chúa Jêsus đã dẹp sạch Đền thờ, để làm dấu hiệu trọng đại giới thiệu Ngài là Đấng Mê-si. Lần nầy, Ngài làm một phép lạ nhằm ngày Sa-bát, dường như cốt để cố ý đả phá ý tưởng của họ đối với ngày Sa-bát. Như vậy, bọn người cầm quyền sẽ chú ý đến Ngài, và lời Ngài tự nhận là Đức Chúa Trời sẽ được đồn rộng hơn hết khắp cả thủ đô Giê-ru-sa-lem. Nhơn dịp nầy, dân chúng nghe Ngài giải thích tường tận rằng Ngài là Đức Chúa Trời, và kết quả tòa Công luận quyết định giết Ngài (câu 18). Mãi 2 năm sau, họ mới thi hành được quyết định ấy.
Theo truyền thoại, ao Bê-tết-đa ở ngay phía Bắc Đền thờ. Song một vài học giả cho nó chính là nơi ngày nay gọi là Ao Trinh nữ, ở ngay phía Nam Đền thờ, bây giờ vẫn còn là một suối nước giao động không chừng. Trong bản thảo Sinaitique, không có câu 4 nói về thiên sứ.
Đức Chúa Jêsus nhắc đến phép lạ nầy, đến ý họ quyết định giết Ngài một năm rưỡi sau, và kêu gọi họ chú ý đến lòng hay dời đổi của họ, vì họ làm phép cắt bì nhằm ngày Sa-bát, nhưng đồng thời lại phản đối việc Ngài chữa bịnh trong ngày Sa-bát. Đó là một trong những điểm tranh chấp chánh của kẻ thù nghịch Ngài (GiGa 9:14; LuLc 13:14). Họ toan mưu giết Ngài vì Ngài đã chữa lành người teo tay trong ngày Sa-bát (Mac Mc 3:6).
Trong Kinh Thánh chỉ chép có một lần Đức Chúa Jêsus "giận" (Mac Mc 3:5), vì họ phản đối Ngài chữa bịnh trong ngày Sa-bát. Còn lần khác, khi môn đồ toan ngăn cản con trẻ đến cùng Ngài, thì Ngài "nổi bất bình" (Mac Mc 10:14 -- theo bản tiếng Anh).
Các lần chữa bịnh trong ngày Sa-bát
Chúa của ngày Sa-bát đã chữa bịnh bảy lần trong ngày Sa-bát theo như có chép dưới đây:
Người bị quỉ ám tại Ca-bê-na-um (Mac Mc 1:21-27).
Bà gia của Phi-e-rơ, tại Ca-bê-na-um (Mac Mc 1:29-31).
Người đau, tại thành Giê-ru-sa-lem (GiGa 5:1-9).
Người teo tay (Mac Mc 3:1-6).
Người đờn bà còng lưng (LuLc 13:10-17).
Người bị thủy thũng (LuLc 14:1-6).
Người mù từ thuở sanh ra (GiGa 9:1-14).
GiGa 6:1-71 -- Chúa cho 5000 người ăn no nê
Đây là phép lạ duy nhứt của Đức Chúa Jêsus có chép trong cả bốn sách Tin Lành (Mat Mt 14:13-33; Mac Mc 6:32-52; LuLc 9:10-17).
Phép lạ nầy làm ở bờ Đông bắc của biển Ga-li-lê, tại một chỗ cách cửa sông Giô- đanh 2 dặm về phía Đông nam.
Đây nhằm kỳ Lễ Vượt Qua (GiGa 6:4), một năm trước khi Đức Chúa Jêsus chịu chết, trong lúc dân chúng đông đảo đang đi đường lên thành Giê-ru-sa-lem. Chính Đức Chúa Jêsus không lên thành Giê-ru-sa-lem dự Lễ Vượt Qua lần nầy, vì trong kỳ viếng thăm trước, chúng đã toan mưu giết Ngài (GiGa 5:1, 18). Có lẽ đây là Lễ Vượt Qua thứ nhứt mà Ngài không lên thành Giê-ru-sa-lem để dự kể từ khi Ngài 12 tuổi.
Ngài giữ Lễ Vượt Qua nầy bằng cách làm phép lạ lớn lao nhứt để giúp đoàn dân đông đảo đang đi dự Lễ Vượt Qua.
Hãy chú ý: Đức Chúa Jêsus ưa thích trật tự. Ngài truyền lịnh cho dân chúng ngồi xuống từng nhóm 50 và 100 người (Mac Mc 6:39-40), có lẽ họ được sắp đặt chung quanh Ngài thành hình tròn hoặc hình bán nguyệt.
Cũng hãy chú ý nữa: Dầu Ngài có thể làm phép lạ, nhưng Ngài không phí phạm. Ngài truyền thâu lượm những miếng còn thừa (câu 12-13).
Phép lạ nầy đã có ảnh hưởng lớn lao. Dân chúng muốn tôn Ngài làm Vua lập tức (câu 14-15). Chắc họ định ý xin Ngài dẫn đầu họ lên thành Giê-ru-sa-lem dự Lễ Vượt Qua.
Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt nước (câu 16-21). Việc nầy xảy ra "lối canh tư" (Mac Mc 6:48), tức là sau 3 giờ sáng.
Đức Chúa Jêsus đã ở một mình trên núi gần suốt đêm để cầu nguyện (Mac Mc 6:46).
Các môn đồ đang chèo thuyền về Ca-bê-na-um (GiGa 6:17), do phía Bết-sai-đa (Mac Mc 6:45). Bết-sai-đa ở cửa sông Giô-đanh. Ca-bê-na-um cách cửa sông Giô-đanh chừng 5 dặm về phía Tây nam (xem bản đồ số 47, ở dưới Mac Mc 6:45-52). Họ chèo sát bờ vì cớ cơn bão nổi lên. Khi Đức Chúa Jêsus hiện ra, thì họ "đã chèo ra độ chừng 25 hay là 30 ếch-ta-đơ," tức là chừng 3 hoặc 4 dặm, và được nửa đường rồi.
Khi Phi-e-rơ thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt nước, thì ông cũng muốn đi như vậy. Ông Phi-e-rơ thân mến, đáng yêu và nóng nảy biết bao! Nhưng ông bắt đầu chìm xuống. Đức Chúa Jêsus bèn quở trách ông thiếu đức tin. Đối với chúng ta, thì dường như Phi-e-rơ có đức tin khá lớn, nên mới dám thử như vậy. Đối với cách loài người xét xem sự vật, thì là nhiều đức tin, nhưng đối với Đức Chúa Jêsus, thì là ít quá!
Đức Chúa Jêsus giảng luận về "Bánh của Sự Sống" (câu 22-71). Đức Chúa Jêsus đã làm phép lạ lớn lao kia, dùng nó làm khung cảnh để phán dạy minh bạch với môn đồ và toàn thể dân chúng về sứ mạng thật của Ngài trong thế gian nầy.
Dầu Ngài đã để nhiều thì giờ phục vụ các nhu cầu của thân thể loài người, nhưng mục đích thật của Ngài đến thế gian nầy chính là để cứu linh hồn họ. Khi Ngài bảo họ như vậy, thì họ bắt đầu mất hứng thú. Đang khi Ngài nuôi nấng thân thể họ, thì họ tưởng Ngài là cao trọng. Họ muốn Ngài làm Vua của mình.
Dường như nói chung, nhân dân trông đợi Đấng Mê-si thiết lập một chế độ xã hội trong đó người ta có thể được bánh ăn mà không phải làm việc. Thật là kỳ diệu biết bao, nếu họ có thể có một Vua hằng ngày làm phép lạ cho họ ăn no nê, y như Ngài đã làm hôm trước và y như Môi-se đã ban ma-na hằng ngày! Những người như vậy chưa chết hết đâu.
GiGa 7:1-53-- Đức Chúa Jêsus lại tới thành Giê-ru-sa-lem
Việc nầy xảy ra nhằm lễ Lều tạm, tháng 10 dương lịch, cách lần trước 1 năm rưỡi, và 6 tháng trước khi Ngài chịu chết.
Trong kỳ thăm viếng trước, Ngài đã chữa lành một người nhằm ngày Sa-bát, và đã báo cáo cho các bậc cầm quyền biết Ngài là Con Đức Chúa Trời (GiGa 5:18); vì cớ đó, họ lập mưu giết Ngài. Từ ngày ấy, Ngài đã ở xa thành Giê-ru-sa-lem, cả trong kỳ Lễ Vượt Qua mới rồi (GiGa 6:4).
Nhưng bây giờ, công việc Ngài đã gần xong, và Ngài lại đến thủ đô của nước Ngài để xác nhận một lần nữa rằng Ngài do Đức Chúa Trời sai tới. Tuy nhiên, giờ Ngài chịu chết chưa điểm. Ngài biết họ toan mưu giết Ngài (vì ai ai cũng biết điều đó -- 7:25), nên Ngài đã vi hành cho đến khi xuất hiện giữa đoàn dân đông đảo trong Đền thờ. Rồi mở đầu bài giảng thuyết, Ngài nhắc đến việc họ toan mưu giết Ngài một năm rưỡi trước, khi Ngài chữa lành một người trong ngày Sa-bát (7:19-23).
Khi nghe điều đó, các bậc cầm quyền bèn sai binh lính đi bắt Ngài. Nhưng chúng thấy dung mạo Ngài, thì sợ sệt một phần nào, và Ngài cứ tiến bước, rao truyền sứ điệp của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Jêsus Là Đức Chúa Trời
Cả bốn sách Tin Lành xưng Đức Chúa Jêsus là "Con Đức Chúa Trời": --
Mat Mt 3:17; 4:3, 6; 8:29; 14:33; 16:16; 17:5; 26:63; 27:54.
Mac Mc 1:1, 11; 3:11; 5:7; 9:7; 14:61, 62.
LuLc 1:32, 35; 3:32; 4:41; 9:35; 22:70.
GiGa 1:34, 49; 3:16, 18; 5:25; 9:35; 10:36; 19:7; 20:31.
Đức Chúa Jêsus tự xưng là "Con Đức Chúa Trời" (GiGa 5:25), "làm ra mình bằng Đức Chúa Trời" (GiGa 5:18). Ba lần Đức Chúa Jêsus cương quyết phán rằng: "Ta là CON Đ­C CHÚA TRžI" (Mac Mc 14:61, 62; GiGa 9:35-37; 10:36).
Để chỉ về chính mình Ngài, Đức Chúa Jêsus đã nhiều lần dùng những câu chỉ có thể dùng cho Đức Chúa Trời mà thôi.
"Ta là Lẽ Thật" (GiGa 14:6).
"Ta là Đường Đi" (đến Đức Chúa Trời) (GiGa 14:6).
"Ta là Cái Cửa; nếu ai bởi Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào, ra, và gặp đồng cỏ" (GiGa 10:9).
"Chẳng bởi Ta, thì không ai được đến cùng Cha" (GiGa 14:6).
"Ta là Bánh của Sự Sống" (GiGa 6:35, 38).
"Ta là Sự Sống" (GiGa 11:25; 14:6).
"Ta là Sự Sống Lại" (GiGa 11:25).
"Ai sống và tin Ta, thì không hề chết" (GiGa 11:26).
"Ta chính là Đấng đó" (Đấng Mê-si) (GiGa 4:25-26).
"Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta" (GiGa 8:58).
Đây là một lời tuyên bố lạ lùng, vượt quá sự hiểu biết hữu hạn của loài người, loại bỏ sự trôi qua của thời gian, hợp Quá khứ và Tương lai thành một Hiện tại đời đời.
"Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha" (GiGa 17:5). Đây Chúa nhớ rõ sự thực hữu của Ngài trước khi thành nhục thể.
"Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha" (GiGa 14:9).
"Ta với Cha là một" (GiGa 10:30).
"Ta có quyền tha tội" (Mac Mc 2:10).
"Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho Ta" (Mat Mt 28:18).
"Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" (Mat Mt 28:20).
Có người nào khác có thể nói những điều thể ấy về chính mình chăng? Ta có thể nói những điều thể ấy về người nào khác chăng?
Mác xưng Đức Chúa Jêsus là "Con Đức Chúa Trời" (Mac Mc 1:1).
Giăng xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (GiGa 3:16, 18; 20:31).
Giăng Báp-tít xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (GiGa 1:34).
Na-tha-na-ên xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (GiGa 1:49).
Phi-e-rơ xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 16:16).
Ma-thê xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (GiGa 11:27).
Các môn đồ xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 15:33).
Thiên sứ Gáp-ri-ên xưng Ngài là "Con Đức Chúa Trời" (LuLc 1:32, 35).
Bởi một tiếng phán từ trời, Chính Đức Chúa Trời xưng Đức Chúa Jêsus là "CON YÊU DẤU của Ngài" (Mat Mt 3:17; 17:5; Mac Mc 1:11; 9:7; LuLc 3:22; 9:35).
Các tà linh thuộc về thế giới vô hình cũng xưng Đức Chúa Jêsus là "Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 8:29; Mac Mc 3:11; 5:7; LuLc 4:41). Xem về "Các quỉ sứ" ở dưới Mac Mc 5:1-20.
Người ta thường nhìn nhận rằng Ngài tự xưng là Con Đức Chúa Trời:
"Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 4:3, 6).
"Thầy thật là Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 14:33).
"Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây Thập tự" (Mat Mt 27:40).
"Nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 27:43).
"Thật Người nầy là Con Đức Chúa Trời" (Mat Mt 27:54).
"Hắn tự xưng là Con Đức Chúa Trời" (GiGa 19:7).
Các Đấng tiên tri Cựu Ước đã dự ngôn Ngài là Đức Chúa Trời: "Ngài sẽ được xưng là... Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha đời đời" (EsIs 9:6). "Người ta sẽ xưng Danh Đấng ấy (Chồi hầu đến trong nhà Đa-vít) là: Đức Giê-hô-va, Sự Công bình chúng ta" (Gie Gr 23:6; 33:16). "Trong ngày đó,... nhà Đa-vít sẽ như Đức Chúa Trời" (XaDr 12:8).
"Đá" (dịch là "Vầng Đá" thì đúng hơn) mà Đức Chúa Jêsus phán rằng Ngài sẽ lập Hội Thánh Ngài trên đó (Mat Mt 16:18), chính là chân lý về Ngài là Con Đức Chúa Trời.
Chính Đức Chúa Jêsus được xưng là "Đức Chúa Trời" (GiGa 1:1; 10:33; 20:28; RoRm 9:5; CoCl 1:16; 2:9; ITi1Tm 1:17; HeDt 1:8; IGi1Ga 5:20; Giu Gd 1:25).
Như vậy, hoặc Đức Chúa Jêsus, hoặc Kinh Thánh đều không để chút chi nghi ngờ về bổn tánh của Thân vị Đấng Christ. Tại sao không công nhận y như Kinh Thánh đã chép? Nếu Ngài chỉ là một Người tốt lành, đạo đức thì Ngài không thể làm chi cho chúng ta, trừ ra nêu trước mắt ta một tấm gương. Nhưng nếu Ngài thật là Đức Chúa Trời, thì Ngài có thể vừa làm Cứu Chúa chúng ta, vừa treo gương tốt cho ta.
GiGa 8:1-11 -- Người đờn bà bị bắt đang khi phạm tội tà dâm
Truyện nầy không có trong các bản thảo cổ nhứt, nhưng thường được kể là chân chánh. Có ba trường hợp Đức Chúa Jêsus xử trí với những người đờn bà đã lầm đường lỡ bước: Người đờn bà nầy, người đờn bà tội lỗi trong sách LuLc 7:36-50, và người đờn bà Sa-ma-ri (GiGa 4:18). Trong cả ba trường hợp, Đức Chúa Jêsus đã tỏ lòng ân cần, từ ái tột bậc. Xem ở dưới LuLc 15:1-32.
Ngôn ngữ trong câu 7 có thể ngụ ý, dầu không cần thiết, rằng Đức Chúa Jêsus biết những kẻ tố cáo người đờn bà nầy cũng phạm chính tội mà họ buộc cho bà. Bao phen chính chúng ta cũng có những điểm bất toàn mà mình lên án gắt gao nơi kẻ khác!
GiGa 8:12-59 -- Đức Chúa Jêsus tiếp tục giảng luận Ngài là Con Đức Chúa Trời
Những lời quả quyết và lạ lùng mà Ngài phán về chính mình Ngài đã chọc giận bọn cầm quyền, nên chúng toan ném đá Ngài (câu 59).
Ngoài các lời tuyên bố ghi ở các trang trước đây, Đức Chúa Jêsus còn phán nhiều lời khác để tự nhận là Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời.
Các lời Đức Chúa Jêsus phán tỏ ra Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời
"Ta là Sự Sáng của thế gian" (GiGa 8:12).
"Ta là Người Chăn hiền lành" (GiGa 10:9).
Các ngươi bởi dưới mà có, còn Ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy, còn Ta không thuộc về thế gian nầy" (GiGa 8:23).
"Cha các ngươi, là Áp-ra-ham, đã nức lòng nhìn thấy ngày của Ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ" (GiGa 8:56).
"Ấy là về Ta mà người (Môi-se) đã chép" (GiGa 5:46).
"Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đo được Sự Sống đời đời; ấy là Kinh Thánh làm chứng về Ta vậy" (GiGa 5:39).
"Chính Cha, là Đấng đã sai Ta, cũng làm chứng về Ta" (GiGa 5:37).
"Các việc Cha đã giao cho Ta làm trọn, tức là các việc Ta làm đó, làm chứng cho Ta" (GiGa 5:36).
"Ví thử Ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người khác làm, thì họ vô tội" (GiGa 15:24).
"Nếu các ngươi chẳng tin Ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi" (GiGa 8:24).
"Phước cho mắt nào được thấy điều các ngươi thấy! Vì Ta nói cùng các ngươi, có nhiều Đấng tiên tri và vua chúa ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng từng thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng từng nghe" (LuLc 10:23-24).
"Đến ngày phán xét, dân thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án nó, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na giảng và ăn năn; mà đây nầy, có một Người tôn trọng hơn Giô-na! Đến ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án nó, vì người từ nơi cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan vua Sa-lô-môn; mà đây nầy, có một Người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn!" (Mat Mt 12:41-42).
Các danh hiệu và phẩm tước mà Kinh Thánh ứng dụng cho Đấng Christ
"Đấng Christ;" "Đấng Mê-si;" "Cứu Chúa;" "Đấng Cứu chuộc;" "Đấng Lạ lùng;" "Đấng Mưu luận;" "Đấng làm chứng thành tín;" "Lời Đức Chúa Trời;" "Lẽ thật;" "Sự Sáng của thế gian;" "Đường đi" (đến cùng Đức Chúa Trời); "Người Chăn hiền lành;" "Đấng Trung bảo;" "Đấng Giải cứu;" "Thầy Tế lễ Thượng phẩm lớn;" "Cội rễ và Cuối cùng của đức tin;" "Đấng làm Cội rễ sự cứu rỗi;" "Đấng Cầu Thay;" "Con Đức Chúa Trời;" "Con Người;" "Đức Chúa Trời;" "Đấng Thánh của Đức Chúa Trời;" "Con Một;" "Đức Chúa Trời Quyền năng;" "Hình bóng của bổn thể Đức Chúa Trời;" "Cha Đời Đời;" "Chúa;" "Chúa muôn vật;" "Chúa vinh hiển;" "Chúa của mọi Chúa;" "Đấng Chủ tể hạnh phước và có một;" "Vua của Y-sơ-ra-ên;" "Vua của mọi vua;" "Chúa sự sống;" "Chúa Bình an;" "Con Đa-vít;" "Chồi;" "Đa-vít;" "Chồi và Hậu tự của Đa-vít;" "Sao Mai sáng chói;" "Em-ma-nu-ên;" "A-đam sau hết;" "Chiên Con của Đức Chúa Trời;" "Sư tử của chi phái Giu-đa;" "An-pha và Ô-mê-ga;" "Đấng trước hết và Đấng sau cùng;" "Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời;" "Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên;" "Đấng A-men."
Nã-phá-luân đã nói gì về Đấng Christ?
(Khúc sách dưới đây thường được công nhận là lời của Nã-phá-luân. Tuy nhiên, cũng có người ngờ là không phải).
"Tôi quen biết rất nhiều người, và tôi xin nói với anh em rằng Đức Chúa Jêsus không phải là một Người. Ngài truyền lịnh cho chúng ta phải tin, và không viện ra một lý do nào khác ngoài lời Ngài phán kinh khủng rằng: Ta Là Đức Chúa Trời. Các nhà triết học muốn giải quyết các sự mầu nhiệm của vũ trụ bằng lời biện thuyết trống rỗng của họ. Họ thật điên dồ, và giống đứa trẻ khóc đòi cho được mặt trăng làm đồ chơi. Đấng Christ chẳng bao giờ ngập ngừng. Ngài phán có quyền hành cặp theo. Đạo Ngài là một sự mầu nhiệm, nhưng đạo ấy cứ tồn tại bởi chính năng lực của nó. Ngài tìm kiếm và tuyệt đối đòi hỏi sự yêu thương của người ta, là cái khó được hơn hết trong thế gian nầy.
"A-lịch-sơn đại đế, Sê-sa và Hannibal đã chiếm được thế giới, nhưng chẳng có bạn hữu. Đương thời tôi đây, có lẽ chỉ có một mình tôi yêu mến ba ông ấy. A-lịch-sơn đại đế, Sê-sa, Charlemagne và chính mình tôi đã sáng lập những đế quốc, nhưng trên cái gì? Trên võ lực. Còn Đức Chúa Jêsus sáng lập đế quốc Ngài trên sự Yêu thương, và chính giờ nầy, hàng bao nhiêu triệu người vui lòng chết vì Ngài. Chính tôi cũng đã làm cho rất nhiều người tríu mến, đến nỗi họ vui lòng chết vì tôi. Nhưng tôi cần phải có mặt. Bây giờ tôi ở đảo Sainte-Hélène nầy, thì bạn hữu tôi đâu? Tôi bị lãng quên, chẳng bao lâu sẽ trở về bụi đất và làm đồ ăn cho dòi bọ. Có một vực sâu rộng lớn giữa cảnh khốn nạn của tôi và Nước đời đời của Đấng Christ! Ngài được tuyên cáo, kính mến, thờ lạy, và Nước Ngài đang lan rộng khắp trái đất. Đây có phải sự chết chăng? Tôi xin nói với anh em: Sự chết của Đấng Christ chính là sự chết của Đức Chúa Trời. Tôi xin nói với anh em nữa: "Đức Chúa Jêsus Christ Chính Là Đức Chúa Trời! "
Renan đã nói gì về Đấng Christ?
"Bất cứ trong tương lai có những sự bất ngờ nào, cũng sẽ không hề dấy lên, y như đã không hề dấy lên, một người nào giống như Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét!"
Sử gia Josèphe đã nói gì về Đấng Christ?
Josèphe là một sử gia Do-thái (37-100 S.C.), sanh ra và được giáo dục tại Giê-ru-sa-lem. Ông là một tướng lãnh trong quân đội Do-thái, và bị bắt qua kinh thành La-mã khi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Lời ông nói về Đức Chúa Jêsus, trưng dẫn dưới đây, được nhiều nhà học giả kể là của chính ông, nhưng cũng có một số người tưởng đó có lẽ là thêm vào về sau. Đây, lời ông nói: --
"Vào khoảng thời gian nầy, có Đức Chúa Jêsus, một Người khôn ngoan, nếu pháp luật ta gọi Ngài là một Người, vì Ngài là Đấng làm nhiều việc lạ lùng. Ngài là Đấng Christ. Theo lời đề nghị của các yếu nhân giữa vòng chúng ta, Phi-lát đã lên án đóng đinh Ngài vào Thập tự giá. Đến ngày thứ ba, Ngài lại sống và hiện ra với những kẻ theo Ngài. Ngày nay, các Cơ-đốc-nhân, gọi như vậy theo Danh Ngài, không bị tiêu diệt."
GiGa 9:1-41-- Đức Chúa Jêsus chữa lành một người mù từ thuở sanh ra
Trong một lần thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem trước đây (5:9), Đức Chúa Jêsus đã chữa một người đau trong ngày Sa-bát. Vì cớ đó và vì cớ Ngài tự nhận là Con Đức Chúa Trời, nên chúng toan ném đá Ngài cho chết (GiGa 8:52-59). Bây giờ Ngài lại làm một phép lạ lớn hơn nữa trong ngày Sa-bát (9:14). Ngài biết làm như vậy thì chọc giận người Pha-ri-si, vì họ có quan điểm sai lạc đối với ngày Sa-bát.
10:1-21 -- Đức Chúa Jêsus là Người Chăn hiền lành
Đây là phần tiếp tục bài giảng nhơn cơ hội chữa lành người mù. Đức Chúa Jêsus tuyên bố Ngài là Đấng chăn loài người, nghĩa là Ngài chăn giữ mọi người chịu nhận Ngài làm Đấng chăn giữ họ. Đây là một ẩn dụ tuyệt mỹ mà tín đồ ưa mến mãi mãi; nó tỏ ra Đức Chúa Jêsus săn sóc con cái Ngài một cách từ ái và tận tụy.
10:22-39 -- Tại lễ Khánh thành
Giữa câu 21 và câu 22 có một khoảng cách 3 tháng. Lễ lều tạm cử hành nhằm tháng 10 dương lịch. 7:2 đến 10:21 chép về lần Ngài thăm viếng Giê-ru-sa-lem trong kỳ lễ nầy. Bây giờ tới lễ Khánh thành (tháng 12 dương lịch). Trong thời gian giữa hai lễ nầy, Đức Chúa Jêsus đã trở lại xứ Pê-rê, hoặc xứ Ga-li-lê và miền ở phía Bắc xứ Ga-li-lê, thì có lý hơn.Tại đây, Ngài hóa hình để làm vững đức tin của 12 Sứ đồ lần chót trước sự chết hầu gần của Ngài.
10:40-42 -- Bên kia sông Giô-đanh
Đây là miền mà Đức Chúa Jêsus đã ở 8 tháng, lúc bắt đầu chức vụ công khai (GiGa 3:22). Có lẽ Ngài ở đây chừng 2 tháng. Miền nầy đông cư dân, có nhiều đô thị La-mã phồn thạnh, ở dưới quyền cai trị của Hê-rốt, chớ không liên quan gì với các bậc cầm quyền tại Giê-ru-sa-lem. Sách Lu-ca, đoạn 11 đến đoạn 18, chép về thời gian nầy.
11:1-557-- Đức Chúa Jêsus kêu La-xa-rơ từ kẻ chết sống lại
Có lẽ chừng một tháng trước khi Ngài chịu chết. Đây là lần thứ ba mà Ngài làm cho kẻ chết sống lại: Con gái Giai-ru vừa mới chết (Mac Mc 5:21-43) con trai bà góa ở Na-in đang đem chôn (LuLc 7:11-17) và La-xa-rơ chết đã 4 ngày. Tuyệt điểm của ba sự sống lại nầy là chính Ngài sống lại và không hề chết nữa. Phép lạ nầy kích động dân thành Giê-ru-sa-lem rất sâu xa, nhưng làm cho tòa Công luận quyết định lần chót sẽ giết Ngài đi (câu 53). Vậy, Đức Chúa Jêsus lui về đồng vắng Ép-ra-im, cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 12 dặm về phía Bắc, để cùng 12 Sứ đồ bình tĩnh chờ Lễ Vượt qua.
12:1-8 -- Bữa ăn tối tại làng Bê-tha-ni
Giăng đặt bữa ăn tối nầy ở ngày trước khi Chúa ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (câu 12), tức là nhằm buổi tối thứ bảy (xem thêm ở Mac Mc 14:3-9). Có lẽ là chừng 1 tháng sau khi Ngài khiến La-xa-rơ từ kẻ chết sống lại. Si-môn, người phung, chắc hẳn đã được Đức Chúa Jêsus chữa lành, là bạn thiết hoặc bà con của La-xa-rơ. Đây là một gia đình giàu có. 300 đơ-ni-ê tính ra tiền Việt-nam, chừng 3600 đồng. Chỉ người giàu mới có thể dùng bình dầu thơm đáng giá chừng ấy. Có lẽ Đức Chúa Jêsus đã phán về Ngài sắp bị đóng đinh vào Thập tự giá. Hết thảy cho lời Ngài phán đó là một thí dụ, và không để ý tới bao nhiêu. Ma-ri bình tĩnh, cẩn trọng, đáng mến, có lẽ nhận thấy tia buồn trong cặp mắt Ngài, nên tự nghĩ: "Đây chẳng phải là thí dụ đâu. Ngài phán thật đó." Bà bèn đi, lấy vật quí hiếm nhứt trong nhà, đổ lên đầu và chơn Ngài, rồi lấy tóc mà lau. Có lẽ bà chẳng nói chi hết. Nhưng Đức Chúa Jêsus hiểu. Ngài biết bà muốn tỏ với Ngài rằng lòng bà đau đớn biết bao! Đức Chúa Jêsus rất cảm kích đến nỗi Ngài phán rằng việc bà làm đó sẽ được kể lại để nhớ đến bà ở bất cứ nơi nào Danh Ngài được rao giảng, cho tới đầu cùng trái đất và tới lúc hết thời gian.
Bê-tha-ni
Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 2 dặm, và ở trên sườn phía Đông của núi Ô-li-ve. Từ trên dãy đồi Bê-tha-ni, Đức Chúa Jêsus đã ngự lên trời.
GiGa 12:9-19. Chúa ngự vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn. -- Xem ở Mat Mt 21:1-11.
GiGa 12:20-26. Những người Hi-lạp muốn ra mắt Đức Chúa Jêsus. -- Không chép khi nào, nhưng người ta cho rằng có lẽ là nhằm ngày thứ ba, trong Đền thờ; lúc nầy sự chống nghịch của những kẻ cầm quyền đã rõ rệt lắm. Từ các xứ xa, người ta đều tỏ lòng tôn kính Ngài. Sự trạng ấy khiến chúng suy nghĩ và xôn xao bàn tán rằng cần phải giết Ngài. Ngài ghê sợ nó là dường nào!
12:37-43 -- Sự không tin của kẻ cầm quyền
Chà, mặc dầu chứng cớ hiển nhiên do các phép lạ của Đức Chúa Jêsus, bọn cầm quyền nước Do-thái vẫn không chịu tin Ngài. Đó là một trong những vấn đề nan giải nhứt trong Kinh Thánh. Giăng giải đáp rằng ấy là để cho Kinh Thánh được ứng nghiệm.
12:44-50 -- Lời giảng cuối cùng của Đức Chúa Jêsus trong Đền thờ
Có lẽ nhằm lúc Ngài dời khỏi Đền thờ, chiều ngày thứ ba, và không hề bước vào đó nữa.
13:1-14:41-- Bữa ăn tối cuối cùng
Xem tường tận hơn ở Mat Mt 26:17-29
Đức Chúa Jêsus rửa chơn cho các môn đồ (GiGa 13:1-20). Việc nầy là nhơn cơ hội họ cãi nhau xem ai sẽ được chức trọng quyền cao nhứt trong Nước Chúa. Đó là một trong những vấn đề trọng yếu của họ (xem ở LuLc 9:46-48). Mặc dầu Đức Chúa Jêsus nhiều lần tuyên bố rằng Ngài sắp bị đóng đinh vào Thập tự giá (xem ở Mac Mc 9:30-32), nhưng cho đến giờ phút cuối cùng, bề nào họ cũng cho đó là thí dụ. Họ dường như nghĩ rằng sự Chúa ngự vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn 5 ngày trước, báo hiệu gần tới lúc Ngài làm một việc táo bạo, và bởi quyền phép lạ lùng, Ngài sẽ dựng ngôi Hoàng đế toàn thế giới tại thành Giê-ru-sa-lem. Họ mải lo xem ai sẽ lãnh chức gì? Thủ tướng, Bộ trưởng,v.v... Rốt lại, Đức Chúa Jêsus phải quì gối xuống mà rửa chơn họ, tức là làm công việc hèn hạ của kẻ tôi mọi, để ghi khắc vào tâm trí họ rằng Ngài đã kêu gọi họ để hầu việc, chớ chẳng phải để cai trị. Ôi! Hội Thánh Chúa đã chịu đau khổ biết bao trải qua các thế kỷ vì lắm vị thủ lãnh của Hội Thánh đã bị tham vọng làm lớn thiêu cháy! Những tổ chức oai quyền và chức vụ cao quí đã được tạo nên để thỏa mãn dục vọng trần gian và vị kỷ của loài người. Nhiều người có chức lớn trong Giáo hội không chịu khiêm nhường phụng sự Đấng Christ, nhưng đã dùng Danh Ngài để tự phụng sự mình, và vẫn còn làm như vậy.
Đức Chúa Jêsus chỉ mặt tên phản bội (câu 21-30). Giu-đa đã giữ bí mật một cách khôn quỉ đến nỗi trong vòng môn đồ, chẳng một ai nghi ngờ nó. Xem ở 14:10- 11. Giu-đa hiểu rằng Đức Chúa Jêsus biết sự bí mật của nó. Nhưng với tấm lòng cứng như thép, nó cứ tiến bước mà phạm trọng tội đê tiện.
Đức Chúa Jêsus từ giã các Sứ đồ lần chót (GiGa 13:31-17:26). Giu-đa đã đi rồi. 4 đoạn nầy chứa những lời êm dịu nhứt trong Kinh Thánh.
Chúa phán những lời trong đoạn 14 trong khi Ngài còn ngồi ăn bữa tối. Còn đoạn 15, 16, 17, thì Ngài phán trong khi đi đường từ phòng ăn bữa tối đến vườn Ghết-sê-ma-nê.
Ngài biết rằng rốt lại, sự cuối cùng đã đến, và Ngài sẵn sàng rồi. Ngài cho đó là "được vinh hiển" (13:31), chớ chẳng phải là "bị đóng đinh vào Thập tự giá." Ngài ghê sợ sự đau thương, nhưng mắt Ngài chăm chú sự vui mừng ở bên kia sự đau thương.
Các môn đồ bối rối vì nghe Chúa phán rằng Ngài sắp lìa khỏi họ. Ngài định phán chi đó? Ngài há chẳng phán bảo họ nhiều lần như vậy rồi sao? Chúng tôi tưởng lòng Chúa đau đớn vì các môn đồ hơn là vì nghĩ tới chính sự thương khó của Ngài.
Ông Phi-e-rơ thân mến và đáng yêu ngờ Đức Chúa Jêsus có ý phán rằng Ngài đi thi hành một sứ mạng nguy hiểm, bèn tình nguyện theo Ngài, mặc dầu phải liều mạng sống mình. Điều nầy chắc làm vui lòng Đức Chúa Jêsus sau khi Ngài buồn rầu vì cớ sự phản bội của Giu-đa. Nhưng Chúa nhắc nhở Phi-e-rơ rằng ông không nhận biết mình vừa mới nói chi.
14:1-31-- Nhà có nhiều chỗ ở
Đây là đoạn Kinh Thánh được yêu quí hơn hết; nó đi cùng với chúng ta đang khi ta đến gần "trũng bóng chết." Như một Thợ giỏi tuyệt vời, Đức Chúa Jêsus đang dự bị cung điện trên Thiên đàng cho ngày vinh hiển Ngài rước Tân phụ, là kẻ được lựa chọn của muôn đời, về ở với Ngài. Nhưng chính Tân phụ cũng cần được dự bị sẵn sàng. Hội Thánh phải được thâu nhóm, trưởng dưỡng, và nên trọn lành để xứng đáng ở Nhà Đức Chúa Trời. Người đến ở, cũng như chỗ ở, đều phải được dự bị. Khi Đức Chúa Jêsus ra đi để sắm sẵn Nhà Ở Đời Đời, thì Ngài hứa ban Đức Thánh Linh xuống để huấn luyện, yên ủi và dắt dẫn các thánh đồ trên đường về Nhà Thiên thượng.
Bản đồ số 52 -- Những di chuyển trong đêm cuối cùng của Đức Chúa Jêsus
1. "Cô-na-qui-lâm" là tên của chỗ (theo truyền thoại) Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đã ăn bữa tối cuối cùng. Người ta cho rằng đây có lẽ là nhà Ma-ri, mẹ của Mác. Khoảng 8, 9 giờ tối, Chúa đã từ đây đi tới vườn Ghết-sê-ma-nê, cách một dặm đường. Các sự di chuyển của Ngài được chỉ rõ bằng những dòng chấm.
2. Vườn Ghết-sê-ma-nê. Tại đây, Chúa qua cơn hấp hối suốt 2, hoặc 3, hoặc 4 giờ. Rồi Ngài bị bắt, đưa đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm; nhà nầy ở gần nơi Ngài đã ăn bữa tối cuối cùng.
3. Nhà thầy tế lễ thượng phẩm. Đức Chúa Jêsus bị giữ ở đây từ nửa đêm tới lúc rạng đông. Ngài bị lên án, bị chế nhạo, bị nhổ vào mặt, bị Phi-e-rơ chối, và tới lúc rạng đông, Ngài bị chánh thức tuyên án và đưa đến Phi-lát, là quan Thống đốc La-mã.
4. Công đường của Phi-lát, gọi là "Tháp của Antonio". Phi-lát muốn tránh trách nhiệm, nên cho giải Đức Chúa Jêsus đến vua Hê-rốt.
5. Cung điện của Hê-rốt. Tại đây, Ngài bị chế nhạo, và được đưa trở lại công đường Phi-lát.
4. Lại ở công đường của Phi-lát. Ngài bị đánh đòn và bị lên án đóng đinh vào Thập tự giá.
6. Núi Gô-gô-tha, ở ngay phía ngoài vách thành phía Bắc, là nơi Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá.
7. Phần mộ trong vườn, là nơi an táng Ngài.
15:1-17:26-- Trên đường đi tới vườn Ghết-sê-ma-nê
Những ý tưởng từng hồi từng lúc hiện lên trong mấy đoạn quí báu nầy là: Các môn đồ phải yêu thương lẫn nhau, phải giữ các điều răn của Đấng Christ, phải ở luôn trong Ngài, phải trông chờ sự tỉa sửa và bắt bớ; Ngài cần phải ra đi, Đức Thánh Linh sẽ thay thế Ngài, sự buồn rầu của họ sẽ đổi thành vui mừng, và đang khi Ngài vắng mặt, các lời cầu nguyện của họ sẽ được đáp lại lạ lùng. Chúa yêu dấu dấn mình vào sự buồn rầu, đau đớn vô ngần, nhưng cũng hết sức yên ủi các môn đồ đang ngơ ngác.
17:1-26-- Lời cầu thay của Đức Chúa Jêsus
Chúa chấm dứt lời từ giã êm dịu bằng cách phó thác họ cho Đức Chúa Trời. Ngài cầu nguyện vừa cho Ngài, vừa cho họ, đang khi Ngài xây đi để Một Mình đạp bàn ép rượu (EsIs 63:3). Ngài được can đảm vì nhớ lại sự thực hữu của Ngài trước khi làm Người và "vinh hiển" (câu 5) của sự thực hữu ấy. Ngài cầu nguyện cho kẻ thuộc về Ngài (câu 9), chớ không cầu nguyện cho thế gian. Ngài đến để cứu thế gian, song Ngài đặc biệt chăm chú tới những kẻ tin theo Ngài. Ngài gạch rõ một hàng phân cách người thuộc về Ngài với người không thuộc về Ngài. Điểm nầy thấu suốt cả các tác phẩm của Giăng. Xin xem lời chú giải về sự duy nhứt của tín đồ Đấng Christ ở dưới Eph Ep 4:1-32.
GiGa 18:1-12-- Chúa bị bắt
Cũng có chép ở Mat Mt 26:47-56; Mac Mc 14:43-50 và LuLc 22:47-53. Việc xảy ra vào khoảng nửa đêm. Đội quân trú phòng La-mã gồm chừng 5 hoặc 6 trăm người, có chỉ huy trưởng dẫn đầu và bọn thám tử của thầy tế lễ thượng phẩm đi theo; rõ ràng lắm, chúng tưởng mình đi thi hành một nhiệm vụ nguy hiểm, và có Giu-đa đưa đường cho chúng tới nơi Đức Chúa Jêsus ẩn dật. Đang khi chúng ồ ạt kéo ra ngoài cửa Đông, đi xuôi đường tới khe Xết-rôn, cầm đèn, đuốc và khí giới, thì từ vườn Đức Chúa Jêsus ẩn dật, có thể trông thấy chúng rất rõ. Khi chúng đến gần, thì bởi quyền phép vô hình của Ngài, Đức Chúa Jêsus làm cho chúng té xuống đất, để khiến chúng hiểu rằng nếu Ngài chẳng khứng, thì chúng không bắt Ngài được. Để cho chúng nhận ra đúng Đức Chúa Jêsus, Giu-đa đã hôn Ngài làm hiệu. Khi chúng tra tay trên Ngài, thì Phi-e-rơ rút gươm ra. Can đảm thay Phi-e-rơ, một mình ông dám giao chiến với cả đội quân trú phòng La-mã!
GiGa 18:22-19:16. Cuộc xét xử Đức Chúa Jêsus. -- Xem ở Mac Mc 14:53.
GiGa 18:15-27 -- Phi-e-rơ chối Chúa
Việc nầy xảy ra trong công đường của thầy tế lễ thượng phẩm, đang khi Ngài bị lên án. Phi-e-rơ vừa mới sẵn lòng một mình đánh cả đội quân trú phòng La-mã. Ông chẳng phải là kẻ hèn nhát đâu. Ông đã "đi theo Ngài xa xa" (LuLc 22:54). Các môn đồ khác, trừ ra Giăng, không theo Ngài chi hết. Vậy, Phi-e-rơ đáng khen một phần nào. Chúng ta không bao giờ có thể biết những mối xúc động đã quay cuồng và xâu xé linh hồn Phi-e-rơ đêm đó. Ông không thể hiểu biết tại sao Đức Chúa Jêsus, Vị Chủ tể của sóng, gió và những đoàn dân đông, lại không chịu dùng quyền năng của Ngài trong lúc cấp bách ấy. Đang khi Phi-e-rơ hăng hái chối rằng mình không biết Đức Chúa Jêsus, vừa nguyền rủa, vừa chửi thề, thì Ngài xây lại mà nhìn ông. Cái nhìn ấy làm tan nát lòng Phi-e-rơ.
GiGa 19:17-37 -- Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào Thập tự giá
Cũng xem những lời chú giải sách Mat Mt 27:33-56, Mac Mc 15:21-41 và LuLc 23:32-49. Ống chơn của hai tên trộm cướp đã bị đánh gãy (câu 32) để cho chúng mau chết; bằng không, thì mãi 4, 5 ngày sau mới chết được.
GiGa 19:33-34 -- "Máu và Nước. "
Khi ngọn giáo đâm ngang sườn Đức Chúa Jêsus, thì Ngài đã chết rồi, sau khi bị treo trên Thập tự giá 6 giờ. Một vài nhà y học trứ danh đã nói rằng chỉ trong trường hợp vỡ trái tim, thì máu mới tụ ở tâm nang, là màng bọc ngoài trái tim, chia thành một thứ máu đóng cục và huyết thanh. Nếu quả thật như vậy, thì lý do vật thể trực tiếp gây nên sự chết của Đức Chúa Jêsus chính là trái tim Ngài bị vỡ. Trái tim Ngài tan vỡ vì sự đau đớn dữ dội và vì áp lực của huyết chạy dồn dập, hỗn loạn. Có lẽ sự đau đớn vì tội lỗi loài người đã vượt quá sức chịu đựng của thân thể Ngài.
Có lẽ ở đây có sự tương đồng thần bí với sách SaSt 2:21-22. Trong khi A- đam ngủ, Đức Chúa Trời đã lấy ngang sườn ông cái chất Ngài dùng tạo thành người vợ cho ông; cũng một thể ấy, trong khi Đức Chúa Jêsus ngủ trên Thập tự giá, Đức Chúa Trời đã lấy ở ngang sườn Ngài cái chất dùng tạo thành Hội Thánh, là Tân phụ của Đấng Christ.
GiGa 19:38-42 -- An táng Chúa
Xin xem lời chú giải nơi an táng Chúa ở trang sau. Giô-sép và Ni-cô-đem, cả hai là nhân viên của tòa Công luận, và là môn đồ kín giấu (kín giấu đang khi Đức Chúa Jêsus được dân chúng hoan nghinh), bây giờ, trong thì giờ Ngài bị sỉ nhục, đã dạn dĩ bước ra để cùng Ngài chia sẻ sự hổ thẹn của Thập tự giá. Hoan hô Giô-sép! Hoan hô Ni-cô-đem! Xem thêm ở dưới 3:1-21.
"Tấm vải liệm thánh ".-- Tạp chí "The Scientific American. " số tháng 3, 1937, có đăng bài của một nhà khoa học Pháp viết về tấm vải hiện nay để trong một nhà thờ kia ở Turin, nước Ý; ông tin rằng đó chính là tấm vải liệm thi hài Đức Chúa Jêsus. Ông mô tả rằng nó dài gần 5 thước, rộng hơn 1 thước, có hình phía trước và phía sau của thân thể một người lớn, tỏ ra người ấy đã được đặt nằm trên nửa tấm, còn nửa tấm thì xếp phủ lại cả bề dài. Ông quả quyết rằng các hình ấy không phải là hình vẽ, mà là hình in bởi hơi lỗ tinh (ammoniaque ), do chất niếu tố (urée ) lên men, và chất nầy tiết ra rất nhiều trong mồ hôi vì đã đau đớn dữ dội. Trên tấm vải có những mảnh một dược và vấy huyết. Các lằn roi, các vết thương trên bàn tay, đầu, ngang sườn đều thấy rất rõ, và có chứng cớ rõ ràng rằng huyết thanh và huyết đã từ vết thương chảy ra. Không còn lầm lẫn chi nữa, đây là hình một người bị đóng đinh vào Thập tự giá, có mọi chi tiết phù hợp trọn vẹn với truyện tích Kinh Thánh và có vẻ mặt của một người cao quí. Tấm vải nầy xuất hiện lần đầu tiên ở nước Pháp, năm 1355, và có ghi chú rằng người ta đã thấy nó ở Constantinople, năm 1204. Nó không phải là một sản phẩm mà nhà khảo cổ đào bới lên từ giữa đống hoang tàn của thời đại mà họ gán nó cho. Trái lại, người ta thường cho nó là một vật tạo ra ở thế kỷ thứ 14.
19:41-42 -- Phần mộ của Đức Chúa Jêsus
"Vả, tại nơi Ngài bị đóng đinh, có một cái vườn, trong vườn đó có một cái huyệt mới, chưa chôn ai." Ấy nghĩa là phần mộ an táng Đức Chúa Jêsus rất gần chỗ Ngài bị đóng đinh vào Thập tự giá. Xem ở dưới Mac Mc 15:21-41.
Năm 1881, Đại tướng Christian Gordon tìm thấy một "cái vườn" ở chơn phía Tây của "Đồi Sọ" (Gô-gô-tha). Ông truyền lịnh cho một người đào bới, và ở dưới đống hoang tàn chừng 1 thước rưỡi, họ đã thấy một ngôi mộ thời La-mã, đục trong vách bằng đá cứng, phía trước có một cái hào, tại đó vầng đá đã lăn ra cửa.
Phần mộ là một căn phòng rộng gần 5 thước, sâu hơn 3 thước, và cao chừng 2 thước rưỡi. Khi bước vào, thì ở bên phải có hai ngôi mộ, một gần vách phía trước, còn một ở gần vách phía sau. Hai ngôi mộ nầy hơi thấp hơn sàn của căn phòng, giữa có vách thấp ngăn cách. Ngôi mộ ở phía trước dường như không hề được hoàn thành. Theo các dấu tích, thì chỉ có ngôi mộ phía sau đã từng được sử dụng, và tại đây không có chi chứng tỏ tình trạng hư nát do sự chết. Phần mộ rộng đủ cho một nhóm phụ nữ và hai thiên sứ đứng trong đó, và cũng có đủ chỗ cho hai thiên sứ, một vị đứng đằng đầu, và một vị đứng đằng chơn (Mac Mc 16:5; GiGa 20:12). Bên mặt cửa ra vô có một cửa sổ, và lúc hừng đông, ánh mặt trời do đó mà chiếu vào phần mộ đã sử dụng. Mỗi chi tiết đều đúng với truyện tích Kinh Thánh.
Hơn nữa, theo Eusèbe, năm 135 S.C., đang khi bắt bớ tín đồ Đấng Christ, Hoàng đế La-mã Hadrien đã xây cất miễu thờ nữ thần Vénus phía trên phần mộ an táng Đức Chúa Jêsus. Năm 330 S.C., Constantin, Hoàng đế tin theo Đấng Christ đầu tiên, đã hủy phá miễu thờ Vénus. Trong đống di tích lấy ra khỏi phần mộ, Đại tướng Gordon tìm thấy một phiến đá thường dùng ở miễu thờ Vénus ; ông cũng thấy dấu tích tỏ ra đã có một công trình xây cất ở bên trên phần mộ. Bên trên cửa phần mộ có hai khám đục trong tường để đặt tượng, là đặc điểm của miễu thờ Vénus.
Hơn nữa, trong một hầm mộ kế cận phần mộ nầy và đụng sát nó ở dưới đất, người ta thấy một mộ chí có ghi mấy chữ: "An táng gần bên Chúa."
Như vậy, theo mọi chi tiết trên đây, dường như có một căn bản rất vững chắc để chứng tỏ rằng "Phần mộ trong Vườn" có thể thật là nơi Đức Chúa Jêsus đã được an táng, và nhằm buổi sáng Phục sanh hạnh hỉ đầu tiên, Ngài đã Sống Lại và từ đó bước ra. Cho nên đối với tín đồ Đấng Christ, đó là nơi chí thánh trên mặt đất, là chỗ phát ra lòng tin quyết có Sự Sống không hề chết.
20:1-2 -- Ma-ri Ma-đơ-len đi tới phần mộ
Có một số phụ nữ cùng đi với bà. Xem ở Mat Mt 28:1-8 và lời chú giải về "Thứ tự của các Biến cố" ở dưới Mác, đoạn 16.
GiGa 20:3-10 -- Phi-e-rơ và Giăng chạy tới phần mộ
Cũng có chép ở LuLc 24:12. Có lẽ hai ông ở gần phần mộ hơn những môn đồ khác, và có lẽ là tại nhà của Giăng, là nơi mẹ của Đức Chúa Jêsus cũng đang ở (GiGa 19:27).
20:11-18 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len
Đây là sự hiện ra đầu tiên của Ngài. Các bà khác đã đi khỏi rồi. Chỉ còn Ma-ri ở đó, khóc lóc dường như trái tim bà sắp tan vỡ. Bà không hề nghĩ rằng Đức Chúa Jêsus đã sống lại. Bà không được nghe thiên sứ báo tin Ngài sống. Chính Đức Chúa Jêsus đã nhiều lần phán rằng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại. Bề nào bà cũng không hiểu lời Ngài phán. Nhưng, ôi! bà kính mến Ngài biết bao! Và bây giờ Ngài chết rồi. Cả đến thi hài của Ngài cũng mất nốt. Trong lúc đau đớn, sầu thảm đó, Đức Chúa Jêsus đứng bên cạnh bà, và kêu tên bà. Bà nhận biết tiếng Ngài, và kêu la vui mừng khôn xiết. Đức Chúa Jêsus không chết, nhưng đang sống!
"Chớ rờ đến Ta" (câu 17). Một lúc sau, các bà khác "ôm chơn Ngài và thờ lạy Ngài" (Mat Mt 28:9-10). Buổi tối đó, Ngài phán cùng các Sứ đồ rằng: "Hãy rờ đến Ta" (LuLc 24:39), hầu cho họ có thể tin chắc rằng đó không phải là một vị thần. Chúng ta không biết tại sao Ngài không cho phép Ma-ri rờ đến Ngài. Có lẽ Ngài ngụ ý phán rằng bây giờ tình bằng hữu, quen thuộc trần gian phải nhường cho những mối liên lạc thiêng liêng, thiên thượng sâu xa hơn.
Sau đó một chút, Ngài hiện ra với những bà khác (Mat Mt 28:9-10).
Buổi chiều đó, Ngài hiện ra với hai môn đồ (LuLc 24:13-32).
Và với Phi-e-rơ (LuLc 24:32-35).
GiGa 20:19-25 -- Đức Chúa Jêsus hiện ra với các Sứ đồ
Chính buổi tối đó, tại Giê-ru-sa-lem. Thô-ma không có mặt. Sự hiện ra nầy được ghi chép 3 lần: Ở đây, ở Mac Mc 16:14, và LuLc 24:33-44. Xem lời chú giải những khúc sách nầy. Đức Chúa Jêsus vẫn có thân thể như cũ, có vết thương trên bàn tay, bàn chơn, ngang sườn, và Ngài ăn. Tuy nhiên, Ngài có quyền phép để đi qua vách nhà, hiện ra và biến đi tùy ý. "Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho" (câu 23). Xem ở Mat Mt 16:19.
GiGa 20:26-29 -- Chúa hiện ra với các Sứ đồ
Một tuần sau, tại Giê-ru-sa-lem, có mặt Thô-ma. Không một nhà phê bình kim thời nào có thể "có óc khoa học hơn Thô-ma."
GiGa 20:30-31 -- Mục đích của sách nầy
Đây là lời tác giả tuyên bố minh bạch rằng mục đích của ông là biểu thị và chứng minh rằng Đức Chúa Jêsus chính là Đức Chúa Trời.
Các Môn Đồ Chậm Tin Rằng Đức Chúa Jêsus Đã Sống Lại
Họ không trông chờ biến cố ấy, mặc dầu Đức Chúa Jêsus đã nhiều lần phán bảo họ rõ ràng rằng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại (Mat Mt 16:21; 17:9, 23; 20:19; 26:32; 27:63; Mac Mc 8:31; 9:31; LuLc 18:33; 24:7). Chắc họ cho lời Ngài phán đó là một thí dụ có một ý nghĩa mầu nhiệm. Khi các bà đi đến phần mộ, thì không phải để xem Ngài đã sống lại chăng, nhưng để sửa soạn an táng thi hài Ngài vĩnh viễn.
Trong số hết thảy môn đồ, chỉ có Giăng tin khi thấy mồ mả trống (GiGa 20:8).
Ma-ri Ma-đơ-len chỉ có một ý nghĩ, là có kẻ đã dời thi hài của Chúa đi (GiGa 20:13, 15).
Khi các bà thuật lại rằng Đức Chúa Jêsus đã sống lại, thì các môn đồ "cho lời ấy như là hư không' (LuLc 24:11).
Khi hai môn đồ từ Em-ma-út tới bảo 11 Sứ đồ rằng Đức Chúa Jêsus đã hiện ra với họ, thì "ai nấy cũng không tin" (Mac Mc 16:13).
Phi-e-rơ thuật lại rằng Đức Chúa Jêsus đã hiện ra với ông (LuLc 24:34). Nhưng họ vẫn chẳng tin (Mac Mc 16:14).
Như vậy, Đức Chúa Jêsus đã dự ngôn nhiều lần. Các thiên sứ đã báo tin. Mộ phần trống không. Thân thể Ngài biến mất. Ma-ri Ma-đơ-len đã thấy Ngài. Các bà khác đã thấy Ngài. Cơ-lê-ô-ba và bạn ông đã thấy Ngài. Phi-e-rơ đã thấy Ngài. Vậy mà toàn thể môn đồ vẫn không tin. Đối với họ, dường như không thể nào tin được.
Rồi buổi tối đó, khi Đức Chúa Jêsus hiện ra với mười Sứ đồ, thì Ngài quở trách họ cứng lòng, không chịu tin những kẻ đã thấy Ngài, (Mac Mc 16:14). Họ vẫn còn tưởng Ngài chỉ là một Vị Thần, nên Ngài bảo họ hãy nhìn gần bàn tay, ngang sườn, bàn chơn Ngài, và hãy "rờ đến" Ngài. Rồi Ngài bảo đem đồ ăn tới, và Ngài "ăn trước mặt môn đồ" (LuLc 24:38-43; GiGa 20:20).
Sau mọi sự đó, Thô-ma vốn tánh buồn rầu, cứng đầu và đa nghi, chắc rằng có một sự lầm lẫn ở chỗ nào đó, nên không chịu tin cho đến khi chính mắt ông thấy Đức Chúa Jêsus một tuần lễ sau (GiGa 20:24-29).
Vậy, những người đầu tiên tuyên bố truyện tích Đức Chúa Jêsus phục sanh lại hoàn toàn không sẵn sàng tin truyện tích ấy, quyết định không tin truyện tích ấy, nhưng sau buộc phải tin. Sự trạng nầy tỏ ra không thể nào truyện tích Chúa sống lại đã phát xuất từ trí tưởng tượng bị kích thích và đang trông chờ. Không thể nghĩ ra cách nào để biện minh căn nguyên của truyện tích Đức Chúa Jêsus sống lại, trừ ra cách nhìn nhận đó là Một Sự Thực. Chính chúng ta một ngày kia, bởi ân điển của Ngài, cũng sẽ sống lại.
Ông DeWette nói rằng: "Dầu trong sự sống lại của Đức Chúa Jêsus có một lẽ mầu nhiệm không sao làm tiêu tan được, song căn cứ vào chứng cớ xác thực của lịch sử, ta không thể nào nghi ngờ sự sống lại ấy, cũng như không thể nào nghi ngờ vụ mưu sát Jules César. "
Ông Edersheim nói rằng: "Ta có thể không chút ngần ngại mà tuyên bố sự sống lại của Đấng Christ là thực sự vững chắc hơn hết trong lịch sử."
Ông Ewald nói rằng: "Về phương diện lịch sử, không có gì chắc hắn hơn là Đức Chúa Jêsus đã sống lại và hiện ra với các môn đồ Ngài."
Ông John A. Broadus nói rằng: "Nếu chúng ta không biết rằng Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét đã từ kẻ chết sống lại, thì chúng ta cũng không biết một điều chi có tánh chất lịch sử."
21:1-25-- Đức Chúa Jêsus hiện ra với 7 Sứ đồ
Lúc nầy các môn đồ đã trở về xứ Ga-li-lê, theo mạng lịnh của Đức Chúa Jêsus (Mat Mt 28:7, 10; Mac Mc 16:7), để chờ đợi huấn thị mới. Ngài đã chỉ định một hòn núi kia (Mat Mt 28:16), và có lẽ Ngài cũng đã hẹn ngày, giờ. Trong khi chờ đợi, họ lại làm công việc cũ. Có lẽ ở ngay hoặc ở gần chỗ mà 2 hoặc 3 năm trước, lần đầu tiên Ngài đã kêu gọi họ trở nên tay đánh lưới người (LuLc 5:1-11). Lần nầy cũng như lúc đầu, Ngài làm phép lạ cho họ kéo được rất nhiều cá. Có lẽ Ngài định dùng sự kéo cá nầy để tượng trưng cho kết quả lớn lao của phong trào cứu chuộc ở giữa loài người mà họ sắp sửa phát động.
"Lần thứ ba" (câu 14), nghĩa là Ngài hiện ra với các môn đồ đang nhóm lại lần nầy là lần thứ ba, hai lần kia có chép ở GiGa 20:19, 26. Nếu kể các cá nhân mà Ngài đã hiện ra với, tức là Ma-ri Ma-đơ-len, các bà, hai môn đồ, và Phi-e-rơ, thì đây là Chúa hiện ra lần thứ bảy.
"Hơn những kẻ nầy chăng?" (câu 15). Trong nguyên văn tiếng Hi-lạp, cũng có nghĩa là: "Hơn những vật nầy chăng?" Không thể nói rằng ở đây Chúa dùng chữ theo nghĩa nào. "Ngươi yêu Ta hơn những môn đồ kia yêu Ta chăng?" Hay là: "Ngươi yêu Ta hơn là ngươi yêu công việc đánh cá nầy chăng?" Phải chăng Đức Chúa Jêsus trách Phi-e-rơ đã chối Ngài ba lần? Hay là Ngài nhẹ nhàng quở ông đã quay về công việc đánh cá? Chúng tôi muốn nghĩ rằng điều thứ hai là đúng.
"Ngươi yêu Ta chăng?" (câu 15, 16, 17). Chúa dùng chữ "agapan, " còn Phi-e-rơ dùng chữ "philein. " Đây là hai chữ Hi-lạp cùng nghĩa là "yêu," nhưng "agapan " tỏ ra một tấm lòng tận tụy hơn. Phi-e-rơ không chịu dùng chữ ấy. Lần thứ ba, Đức Chúa Jêsus hạ thấp mà dùng chữ "philein " của Phi-e-rơ.
"Hãy chăn chiên Ta" (câu 15, 16, 17). Ba lần Chúa phán có khác nhau. Ý tưởng của Chúa dường như là: "Hỡi Phi-e-rơ, ngươi yêu Ta hơn là ngươi yêu công việc đánh cá nầy chăng? Vậy, hỡi Phi-e-rơ, tốt hơn là ngươi hiến thì giờ để chăn bầy chiên của Ta, để làm công việc Ta, chớ đừng làm công việc ngươi nữa."
Lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus về Phi-e-rơ tuận đạo (câu 18-19). Lời tiên tri nầy đã ứng nghiệm lâu lắm trước khi Giăng chép sách Tin Lành nầy. Xem lời chú giải về thơ I Phi-e-rơ .
Căn cước của tác giả (câu 24). Đây là lời đặc biệt chỉ quyết rằng Giăng, vị Sứ đồ yêu dấu, là tác giả sách nầy.
"Còn lại nhiều việc nữa" (câu 25). Đây là cách nói quá sự thực, nhưng chắc hẳn là lời mạnh mẽ mô tả các việc phước đức trong đời sống của Cứu Chúa ở trần gian.
Về sau, Ngài hiện ra với 11 Sứ đồ tại xứ Ga-li-lê (Mat Mt 28:16-20).
Với Gia-cơ tại một chỗ và nhằm một ngày ta không biết (ICo1Cr 15:7).
Và Ngài hiện ra lần cuối cùng, rồi ngự lên trời, tại làng Bê-tha-ni (LuLc 24:44-51).
Năm đoạn quan trọng nhứt trong cả Kinh Thánh, theo ý chúng tôi, thì là Mat Mt 26:1-75; Mac Mc 16:1-20; LuLc 24:1-53; GiGa 20:1-21:25 vì những đoạn nầy kể lại biến cố quan trọng nhứt của lịch sử loài người, tức là Sự Sống Lại của Đấng Christ từ kẻ chết, yếu cương của cả Kinh Thánh.
* * *
Sự Sống Lại Của Đấng Christ
Sự Sống lại của Đấng Christ từ kẻ chết là điểm Quan Trọng Hơn Hết trong kho tàng trí thức của loài người; đó là biến cố vĩ đại của muôn đời, -- tất cả lịch sử từ trước qui hướng về biến cố ấy, và tất cả lịch sử về sau tìm được ý nghĩa trong biến cố ấy. Truyện tích Đấng Christ sống lại đã thấu suốt các thế kỷ và thay đổi bộ mặt của trái đất. Xem lời chú giải ICo1Cr 15:1-58.
Có phải là một sự thực chăng? Ngài thật đã sống lại từ trong kẻ chết chăng? nếu Ngài chẳng sống lại, thì thân thể Ngài đã ra sao? Nếu kẻ thù ăn cắp thân thể Ngài, chắc chúng đã đem ra, vì chúng chẳng từ điều chi để biếm truất truyện tích Chúa sống lại, thậm chí hạ sát những người thuật truyện tích ấy. Nếu bạn hữu ăn cắp thân thể Ngài, thì họ phải biết là mình tin một sự giả dối; song chẳng ai chịu bỏ mạng vì cớ những điều mình biết là giả dối.
Có một điều chắc chắn: Những người đầu tiên rao truyền truyện tích Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết đều TIN rằng đó là một sự thực. Họ lập đức tin chẳng những trên phần mộ trống, song cũng trên cái thực sự rằng chính họ đã THẤY Đức Chúa Jêsus SỐNG sau khi được an táng; không phải một, hai lần, nhưng rất ít là 10 lần có chép trong Kinh Thánh. Cũng không phải chỉ một người thấy, mà từng nhóm 2, 7, 10, 11 và 500 người.
Ảo giác phải chăng? Có thể là một trạng thái thất thần, một chiêm bao, một sự kỳ lạ do trí tưởng tượng bị kích thích, một sự hiện hình của thần linh, chăng? Nhiều nhóm người khác nhau không thể cứ ở trạng thái thất thần như nhau. 500 người trong một đám đông không thể cùng chiêm bao một lúc. Hơn nữa, họ không trông chờ sự trạng ấy. Thoạt tiên, họ coi là truyện "hư không" (LuLc 24:11); họ không tin cho đến khi buộc phải tin.
Phải chăng Chúa chỉ ngất đi? Có thể rằng khi họ chôn Đức Chúa Jêsus, thì Ngài chưa thật chết, và Ngài đã tỉnh lại chăng? Trong trường hợp nầy, vừa yếu đuối, vừa mòn mỏi, Ngài chắc không thể dời phiến đá nặng chận cửa phần mộ mà ra khỏi. Trái lại, Ngài có quyền năng mới mẻ, chưa từng phát lộ trước kia, để hiện ra và biến đi qua cửa khóa chặt. Mười một Sứ đồ (hoặc 120 môn đồ tất cả?) đã chính mắt thấy Ngài lần lần cất lên khỏi mặt đất và biến mất sau đám mây.
Các bản tường thuật giả mạo chăng? Có thể rằng sự sống lại là một phần về sau thêm vào truyện tích Đấng Christ chăng? Lâu năm về sau người ta đã bịa đặt ra để tôn vinh một anh hùng đã chết chăng? Do những tài liệu lịch sử ở ngoài Kinh Thánh, người ta biết rằng có một giáo phái, gọi là Cơ-đốc-nhân, xuất hiện dưới đời trị vì của Tibère, và sở dĩ họ xuất hiện là vì họ tin rằng Đức Chúa Jêsus đã sống lại từ trong kẻ chết. Sự sống lại của Đấng Christ không phải là về sau mới thêm vào đạo Tin Lành, nhưng chính là nguyên nhân và khởi điểm của đạo ấy. Họ lập đức tin không phải trên sách vở ghi chép, nhưng trên cái chính mắt họ đã thấy. Sách vở ghi chép là kết quả của đức tin họ, chớ không phải là nguyên nhân. Nếu không có sự sống lại của Đấng Christ, thì không có Kinh Thánh Tân Ước và Hội Thánh.
Hào quang vinh hiển biết bao chiếu trên đời sống nhân loại do sự tín ngưỡng đơn sơ nầy! Hy vọng được sống lại và được sự sống đời đời của chúng ta không lập trên lẽ phỏng đoán triết lý về sự bất diệt, nhưng lập trên một thực sự lịch sử!
==============================

Công Vụ Các Sứ Đồ
Hội Thánh được thành lập và lan tràn
Tin Lành được rao truyền đến các dân ngoại
Đời sống và sự nghiệp của Phao-lô
Sách nầy mô tả Tin Lành từ thành Giê-ru-sa-lem lan tràn tới thành La-mã. Tin Lành tràn ra tứ phía, và đương thời Phao-lô, đã tới mọi phần của thế giới người ta được biết (CoCl 1:23).
Tuy nhiên, Tân Ước chỉ nói đến sự lan tràn của Tin Lành khắp xứ Pa-lét-tin, phía Bắc tới An-ti-ốt, phí Tây tới La-mã, qua Tiểu-Á-tế-á và Hi-lạp, tức là gồm các miền hợp thành "xương sống của đế quốc La-mã."
Sách nầy nhan đề là: "Công vụ các sứ đồ," nhưng phần lớn là công vụ của Phi-e-rơ và Phao-lô, nhứt là Phao-lô. Phao-lô là Sứ đồ của các dân ngoại, tức là các dân tộc trừ ra người Do-thái. Đối với toàn thể các sách Kinh Thánh, thì đề mục chánh yếu của sách Công vụ các sứ đồ là sự rao truyền Tin Lành cho các dân ngoại.
Cựu Ước chép truyện tích Đức Chúa Trời thành lập và trưởng dưỡng dân tộc Hê-bơ- rơ, ngõ hầu nhờ họ mà ban phước cho MỌI dân tộc. Trong sách Công vụ các sứ đồ nầy có chép về khởi điểm của công việc lớn lao và lạ lùng ở giữa các dân tộc. Đấng Mê-si của người Do-thái mà các Đấng tiên tri dự ngôn từ lâu, rốt lại, đã ngụ đến. Và trong sách nầy, Nhà của Đức Chúa Trời không còn là một tổ chức quốc gia, nhưng trở nên một cơ quan quốc tế.
Tác giả
Tác giả không xưng danh. Trong câu đầu có dùng nhân xưng đại danh từ "Ta" tỏ ra rằng những người đầu tiên nhận sách chắc biết tác giả là ai. Ngay từ lúc đầu, sách nầy là sách Tin Lành thứ ba đã được nhìn nhận là tác phẩm của Lu-ca.
Niên hiệu
Sách chấm dứt khi Phao-lô ở La-mã được "trọn hai năm" (Cong Cv 28:30). Người ta thường nhìn nhận điều nầy tỏ ra rằng sách Công vụ các sứ đồ đã được chép vào khoảng đó, chừng năm 63 S.C., vì sau khi để rất nhiều chỗ tường thuật việc Phao-lô bị cầm tù (đoạn 21-28), nếu sách nầy được viết ra lâu lắm về sau, thì ta dường như không thể tin rằng tác giả lại bỏ qua không ghi chép kết quả việc xét xử Phao-lô.
Lu-ca
Ta ít biết về Lu-ca. Ở CoCl 4:11, 14, ông dường như được liệt vào hàng dân ngoại. Nếu vậy, thì theo chỗ chúng ta biết, ông là người dân ngoại duy nhứt dự phần trứ tác Kinh Thánh.
Eusèbe nói rằng Lu-ca quê hương ở An-ti-ốt. Ramsey, một người có danh tiếng nhứt trong những học giả kim thời chuyên về văn phẩm của Phao-lô, cho rằng ông là dân thành Phi-líp .
Ông được nhìn nhận là một người có văn hóa, giỏi khoa học, thông thạo tiếng Hê-bơ-rơ, và tiếng Hi-lạp cổ điển. Còn về nghề nghiệp, thì ông là thầy thuốc.
Ông nhập đoàn với Phao-lô lần đầu tiên tại Trô-ách, năm 50 S.C..
Niên biểu của sách Công vụ các sứ đồ
Người ta biết rằng Hê-rốt chết năm 44 S.C. (Cong Cv 12:23). Có chép Phao-lô tới Giê-ru-sa-lem vào khoảng Hê-rốt giết Gia-cơ (11:30-12:2) còn Phao-lô đi khỏi Giê-ru-sa-lem ngay sau khi Hê-rốt chết (12:23, 25). Như vậy, dường như đây là cuộc viếng thăm có nói đến ở GaGl 2:1, tức là "14 năm" sau khi Phao-lô trở lại tin Chúa. Nếu như vậy và nếu xét rằng tục lệ Hê-bơ-rơ kể những phần một năm lúc đầu và lúc cuối một thời kỳ là những năm trọn, thì "14 năm" thật ra có thể chỉ là 13 năm, hoặc ít hơn nữa. Thế thì Phao-lô đã trở lại tin Chúa khoảng năm 31 hoặc 32 S.C..
Ê-tiên bị ném đá, Hội Thánh bị tan lạc, đoạn 7, 8 31 hoặc 32 S.C. Sau-lơ trở lại tin Chúa, đoạn 9 31 hoặc 32 S.C. Phao-lô viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên sau khi trở lại tin Chúa 34 hoặc 35 S.C.
Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem, đoạn 15 Khoảng 50 S.C.
Phao-lô tới thành Ê-phê-sô, đoạn 19 54 S.C.
Phao-lô ở xứ Ma-xê-đoan, mùa hạ và mùa thu (ICo1Cr 16:5-8) 57 S.C.
Phao-lô tới thành Giê-ru-sa-lem nhằm tháng 6 dương lịch (Cong Cv 20:16) 58 S.C.
Hành trình của Phao-lô tới kinh thành La-mã Mùa đông 60-61 S.C.
Cong Cv 1:1-5 -- 40 ngày
Trong 40 ngày giữa sự sống lại và sự thăng thiên của Đức Chúa Jêsus, Ngài đã hiện ra 10 hoặc 11 lần (có chép trong Kinh Thánh) với các môn đồ, để trừ bỏ đời đời khỏi trí óc họ mối hoài nghi sự tồn tại liên tục của Ngài với tư cách một Đấng Sống. Trong 40 ngày ấy, họ đã được một sự từng trải kỳ diệu biết bao! nào thấy, nào trò chuyện với, nào ăn với, nào chính tay mình rờ tới Đức Chúa Jêsus trong thân thể thật của Ngài đã bị đóng đinh vào Thập tự giá nhưng nay được vinh hiển, những khi Ngài hiện ra và biến đi qua cửa đóng chặt, không từ chỗ nào tới và cũng không trở vào chỗ nào. Mọi sự đó lên tới tuyệt điểm khi Ngài giơ tay ban phước và lần lần cất lên, rồi biến mất trong mây.
"Sách thứ nhứt" (1:1), tức là sách Tin Lành Lu-ca (LuLc 1:3).
"Thê-ô-phi-lơ" (Cong Cv 1:1). Xem ở đầu sách Lu-ca. "Đã làm và dạy từ ban đầu" (1:1), gồm ý rằng những điều chép trong sách Công vụ các sứ đồ vẫn còn là công việc của Đức Chúa Jêsus.
1:6-11 -- Đấng Christ ngự lên trời
Cuộc gặp gỡ các môn đồ lần chót đã diễn ra tại Giê-ru-sa-lem (1:4) từ đó Ngài dẫn họ tới làng Bê-tha-ni (LuLc 24:50).
"Lập lại nước Y-sơ-ra-ên chăng?" (câu 6). Trí óc họ vẫn còn chăm chú vào nền độc lập chánh trị của nước mình. Sau ngày Lễ Ngũ Tuần, họ đã hiểu rõ hơn.
"Cho đến cùng trái đất" (câu 8). Đó là lời sau chót của Đức Chúa Jêsus trước khi Ngài biến mất sau đám mây. Họ không quên lời đó. Theo truyền thoại, thì hầu hết trong vòng họ đã tuận đạo ở những xứ xa xôi.
"Cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy." Từ đỉnh đồi làng Bê-tha-ni. Ngài đã cất lên và biến sau từng mây. Và Ngài trở lại giữa đám mây, cho cả thế gian xem thấy (Mat Mt 24:27, 30; KhKh 1:7).
Cong Cv 1:12-14 -- Phòng cao
Đây có lẽ là chính phòng mà Đức Chúa Jêsus đã thiết lập Tiệc Thánh (LuLc 22:12), và có lẽ cũng là phòng mà Đức Chúa Jêsus đã hai lần hiện ra với các môn đồ (GiGa 20:19, 26) lại cũng có thể là phòng mà Đức Thánh Linh đã giáng trên họ (Cong Cv 2:1). Phòng nầy rộng đủ chứa 120 người (1:15).
"Ma-ri, là mẹ Đức Chúa Jêsus" (1:14). Đây là chỗ Tân Ước nói đến bà lần chót. Dầu bà được quí chuộng và tôn trọng vì là mẹ của Cứu Chúa, nhưng các Sứ đồ cũng không hề tỏ dấu chút nào rằng họ cảm thấy mình cần được bà làm trung bảo giữa mình và Đấng Christ, y như rất nhiều người về sau đã cảm thấy. Trong thời đại thông sáng nầy, nếu người ta cứ tiếp tục thần hóa bà Ma-ri càng ngày càng hơn, há chẳng kỳ lạ sao? Không phải là Kinh Thánh Tân Ước đã tôn bà Ma-ri lên địa vị Đức Chúa Trời.
1:15-26 -- Lựa chọn người kế chức Giu-đa
Sau khi phản nộp Đức Chúa Jêsus, Giu-đa đã tự treo mình (Mat Mt 27:5), rồi thân thể nó rớt xuống và bể ra (Cong Cv 1:18). Bấy giờ số tiền nó trả lại các thầy tế lễ bèn được dùng để mua khu ruộng thợ gốm (Mat Mt 27:7). Cho tới ngày nay, người ta còn gọi khu ấy là: "Hác-en-đa-ma," nghĩa là: "Ruộng Huyết."
Ma-thia được chọn thay thế Giu-đa để cho đủ số 12 Sứ đồ. Ta không biết thêm chút gì về Ma-thia. Chắc con số 12 có ý nghĩa tượng trưng mà chúng ta không biết hết được. Nền thành Giê-ru-sa-lem mới sẽ mang tên của 12 Sứ đồ.
Cong Cv 2:1-13 -- Lễ Ngũ Tuần
Năm 30 S.C.. Sanh nhật của Hội Thánh. Ngày thứ 50 sau khi Đức Chúa Jêsus sống lại. Ngày thứ 10 sau khi Ngài ngự lên trời. Kỷ nguyên Tin Lành bắt đầu. Lễ Ngũ Tuần đặc biệt nầy nhằm Chúa nhật.
Lễ Ngũ Tuần cũng gọi là Lễ Trái Đầu Mùa và Lễ Mùa Gặt. Ngày lễ ấy được chọn làm ngày hái trái đầu tiên của mùa gặt Tin Lành khắp thế giới, thật là thích hợp biết bao!
Ở sách GiGa 16:7-14, Đức Chúa Jêsus đã phán về kỷ nguyên Đức Thánh Linh ngự đến. Bây giờ, sự ngự đến nầy được thực hiện bởi sự phát tỏ mạnh mẽ và lạ lùng của Đức Thánh Linh, có tiếng như gió ào ào và lưỡi bằng lửa rời rạc rơi xuống đậu trên các môn đồ. Đó là công khai tuyên bố sự sống lại của Đức Chúa Jêsus cho thế giới biết, cho người Do-thái và người dân ngoại theo đạo Do-thái đang từ mọi phương thế giới (được biết thời đó) tụ họp tại Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Ngũ Tuần. Có ghi tên 15 xứ (Cong Cv 2:9-11), và các Sứ đồ người Ga-li-lê dùng tiếng của các xứ ấy mà giảng cho họ.
2:14-26 -- Bài giảng của Phi-e-rơ
Các Sứ đồ có lưỡi bằng lửa đậu trên mình, đã giảng bằng tiếng của mọi xứ có người đại diện tại đó; Phi-e-rơ giải thích (câu 15-21) rằng ấy là để ứng nghiệm lời tiên tri ở Gio Ge 2:28-32.

Bản đồ số 53 -- Các xứ có đại diện trong ngày Lễ Ngũ Tuần
Việc xảy ra ngày đó có lẽ không phải là đã làm ứng nghiệm hoàn toàn, nhưng chỉ là khởi điểm một kỷ nguyên trọng đại, đáng chú ý; tuy giới thiệu kỷ nguyên đó như vậy, nhưng một vài lời tiên tri còn có thể liên quan đến kỳ sau rốt.
­­Ứng nghiệm lời tiên tri
Hãy chú ý lời tuyên bố lập lại nhiều lần rằng những việc xảy ra đã được dự ngôn: Giu-đa phản bội (Cong Cv 1:16, 20) Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào Thập tự giá (3:18) Ngài sống lại (2:25-28) Ngài ngự lên trời (2:33-35) và Đức Thánh Linh giáng lâm (2:17). "Hết thảy các tiên tri đã phán" (3:18, 24).
Sự sống lại của Đức Chúa Jêsus
Cũng hãy chú ý suốt cả sách nầy luôn luôn nhấn mạnh vào sự sống lại của Ngài. Đó là điểm then chốt của bài Phi-e-rơ giảng trong ngày Lễ Ngũ Tuần (2:24, 31, 32), và trong bài giảng thứ hai của ông (3:15), cùng khi ông tự binh vực trước tòa Công luận (4:2, 10). Đó là đề mục chánh yếu trong sự giảng dạy của các Sứ đồ (4:33). Khi Phi-e-rơ bị tố cáo lần thứ hai, ông đã binh vực sự sống lại của Đức Chúa Jêsus (5:30;). Sau-lơ đã trở lại tin Chúa vì được thấy Đấng Christ sống lại (9:3-6). Phi-e-rơ giảng đề mục ấy cho nhà Cọt-nây (10:40). Phao-lô giảng đề mục ấy tại An-ti-ốt (13:30-37), Tê-sa-lô-ni-ca (17:3), A-thên (17:18, 31), Giê-ru-sa-lem (22:6-11). Cho Phê-lít (24:15, 21), cho Phê-tu và c-ríp-ba (26:8, 23).
2:37-47 -- Hội Thánh sơ sanh
Ngày thứ nhứt có 3000 người trở lại tin Chúa (2:41). Đó lời chứng hiển nhiên về sự sống lại của Đức Chúa Jêsus. Họ đã chịu lễ báp-têm (câu 2:38).
"Lấy mọi vật làm của chung" (2:44-45). Cuộc sanh hoạt công đồng của Hội Thánh đây đã kèm theo sự đem đạo Đấng Christ vào trong thế giới một cách lạ lùng. Chúng tôi nghĩ rằng cuộc sanh hoạt nầy cốt để làm tỉ dụ phi thường về điều Thánh Linh Đấng Christ có thể làm cho loài người, chớ không cốt để làm khuôn mẫu bình thường vĩnh viễn, cũng như các phép lạ hằng ngày của các Sứ đồ không tái diễn vĩnh viễn. Cuộc sanh hoạt nầy chỉ là tình nguyện, tạm thời và hạn chế. Chỉ những ai tự thấy rất muốn, thì mới dâng cho. Không chép sự thực hành như vậy tại các chi hội khác trong Tân Ước. Phi-líp, một trong bảy thầy phó tế (chấp sự) "giúp việc bàn tiệc" lúc nầy, về sau lại ở nhà riêng tại Sê-sa-rê (Cong Cv 21:8).
Tại Giê-ru-sa-lem có rất nhiều người nghèo. Lâu năm về sau, tại nhiều đô thị khác, Phao-lô đã thâu những số tiền lớn quyên giúp Mẫu Hội (Cong Cv 11:29; 24:17).
Các phép lạ (2:43)
Các phép lạ là một phần rất hiển nhiên của sách Công vụ các sứ đồ. Sách bắt đầu bằng những sự hiện ra rõ rệt của Đức Chúa Jêsus với các môn đồ sau khi Ngài đã chết (1:3). Rồi trước mắt họ, Ngài ngự lên trời, khuất trong đám mây (1:9).
Rồi nhằm Lễ Ngũ Tuần, có sự phát hiện lạ lùng, rõ ràng của Đức Thánh Linh "như lưỡi bằng lửa" (2:3). Rồi các Sứ đồ làm "nhiều sự kỳ phép lạ" (2:43).
Sự chữa lành người què ở cổng Đền thờ (3:7-11) đã có ảnh hưởng sâu xa đến cả thành (4:16, 17).
Đức Chúa Trời làm động đất để đáp lại lời cầu nguyện của họ (4:31). A-na-nia và Sa-phi-ra chết vì bị Chúa đánh một cách lạ lùng (5:5-10).
Các Sứ đồ tiếp tục làm những sự kỳ phép lạ. Rất đông người từ các thành lân cận kéo đến và được chữa lành bởi bóng của Phi-e-rơ (5:15, 16). Thật giống như đương thời của Đức Chúa Jêsus ở xứ Ga-li-lê.
Cửa khám tù đã được thiên sứ mở ra (5:19). Ê-tiên "làm dấu kỳ phép lạ rất lớn" (6:8). Phi-líp làm "dấu kỳ phép lạ" lớn lao ở xứ Sa-ma-ri (8:6, 7, 13), nhơn đó, rất đông người tin Chúa.
Sau-lơ trở lại tin Chúa vì nghe một Tiếng phán trực tiếp từ Thiên đàng (9:3-9). Theo lời của A-na-nia, "vảy" rớt khỏi mắt Sau-lơ (9:17, 18).
Tại thành Ly-đa. Phi-e-rơ chữa lành Ê-nê, và cả miền ấy trở lại tin theo Đấng Christ (9:32-35). Tại Giốp-bê, Phi-e-rơ kêu Đô-ca sống lại từ trong kẻ chết, nên có nhiều người tin Chúa (9:40-42). Cọt-nây trở lại tin Chúa vì cớ thiên sứ hiện ra, sau đó có "nói tiếng ngoại quốc" (10:3, 46). Có tiếng Đức Chúa Trời phán bảo Phi-e-rơ hãy đi đến với Cọt-nây (10:9-22), do đó thuyết phục người Do-thái rằng Phi-e-rơ làm phải lẽ (11:15, 18). Một cổng khám tù "tự mở ra" (12:10). Tên thuật sĩ bị đui mù đã khiến quan trấn thủ đảo Chíp-rơ tin Chúa (13:11, 12). Phao-lô "làm những phép lạ dấu kỳ" tại thành Y-cô-ni, và có rất đông người tin Chúa (14:3, 4). Tại thành Lít-trơ, sự chữa lành người què khiến dân chúng tưởng Phao-lô là một vị thần (14:8-18).
Tại Giê-ru-sa-lem, sự tường thuật các dấu kỳ phép lạ làm bởi Phao-lô và Ba-na-ba đã thuyết phục tín đồ Do-thái rằng công việc của Phao-lô giữa vòng dân ngoại là do Đức Chúa Trời mà ra (15:12-19).
Tại thành Phi-líp, Phao-lô chữa lành một thiếu nữ làm nghề bói, và một cơn động đất khiến viên quản đốc lao xá trở lại tin Chúa (16:16-34). Tại Ê-phê-sô, có 12 người nói tiếng ngoại quốc (Eph Ep 19:6), và những phép lạ đặc biệt làm bởi Phao-lô (Cong Cv 19:11, 12) đã khiến cho Lời Chúa được ưu thế hùng mạnh (19:20). Tại Trô-ách, Phao-lô kêu một thanh niên sống lại (20:8-12). Tại đảo Man-tơ, bàn tay Phao-lô được lành khi bị rắn lục cắn (28:3-6) đã khiến thổ dân tưởng ông là một vị thần; và ông đã chữa lành hết các bịnh nhân trên đảo (28:8, 9).
Nếu lấy các phép lạ khỏi sách Công vụ các sứ đồ, thì chẳng còn lại bao nhiêu. Dầu nhà phê bình toan làm giảm giá trị hiển nhiên của các phép lạ chừng nào, nhưng vẫn còn cái thực sự rằng Đức Chúa Trời đã đại dụng các phép lạ để cho đạo Đấng Christ khởi phát trên thế giới nầy.
Cong Cv 3:1-26 -- Bài giảng thứ hai của Phi-e-rơ
Nghĩa là bài giảng thứ hai của ông có chép trong Kinh Thánh. Nhằm ngày Lễ Ngũ Tuần, các lưỡi lửa và tiếng gió ào ào đã khiến dân chúng kinh ngạc kéo đến. Do đó, Phi-e-rơ công khai tuyên bố Tin Lành lần đầu tiên trước một số thính giả rất đông đúc. Dường như mấy ngày đã trôi qua (2:46, 47). Những đoàn người dự Lễ Ngũ Tuần đã trở về nhà. Thành Giê-ru-sa-lem lại yên tĩnh. Các Sứ đồ mãi dạy dỗ tín đồ và làm "nhiều sự kỳ phép lạ." Bây giờ một phép lạ lớn lao chữa lành người què xảy ra ở ngay cổng Đền thờ, là nơi toàn dân thành phố quen thấy, đã làm cho họ náo động trở lại. Trước mặt đoàn người kinh ngạc, Phi-e-rơ gán sự chữa lành ấy cho quyền phép của Đấng Christ phục sanh, rồi ông lại thuật truyện tích Tin Lành yêu quí. Do đó, "số tín đồ lên đến độ 5000" (4:4).
4:1-31 -- Phi-e-rơ và Giăng bị cầm tù
Những kẻ cầm quyền đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá, bây giờ kinh hoảng vì truyện Ngài từ kẻ chết sống lại đồn rộng ra, và vì Danh Ngài càng ngày càng được hoan nghinh. Chúng bèn bắt Phi-e-rơ và Giăng, truyền cho hai ông không được nhơn Danh Đức Chúa Jêsus mà giảng nữa. Hãy chú ý sự dạn dĩ của Phi-e-rơ (4:9-12, 19, 20). Đây chính là Phi-e-rơ mấy tuần trước, ở chính chỗ nầy, trước mặt chính những người nầy, đã nhát sợ khi một thiếu nữ chế giễu và đã chối Chúa. Bây giờ ông hoàn toàn dạn dĩ và bất chấp những kẻ đã giết Chúa của ông.
Sau khi ở trong khám tù một đêm (4:5, 21), Phi-e-rơ và Giăng được chúng thả ra. Và Đức Chúa Trời đã làm một cơn động đất để tỏ ý tán thành sự dạn dĩ của hai ông (4:29, 31).
4:32-35 -- Hội Thánh cứ lớn lên
Sự hăm dọa của kẻ cầm quyền không có ảnh hưởng bao nhiêu trên Hội Thánh. Hội Thánh cứ tiến lên trong tinh thần huynh đệ, và cứ lớn lên rất mau lẹ. Ngày thứ nhứt có 3000 người (2:41), rồi lên tới 5000 người (4:4), rồi "nam, nữ đều đông lắm" (5:14), rồi "thêm lên nhiều lắm," kể cả một số đông thầy tế lễ (6:7). Chính các thầy tế lễ đã biết ẩn tình trong lời đồn dối trá về mộ phần của Chúa (Mat Mt 28:11-15).
Cong Cv 4:36-37 -- Ba-na-ba
Ông là người Lê-vi, ở đảo Chíp-rơ, và là anh em chú bác với Giăng, tức Mác (CoCl 4:10); nhà mẹ của Mác là nơi các tín đồ nhóm họp (Cong Cv 12:12). Ông là người có dáng vẻ oai nghi (14:12), tánh tình hiền đức, và đầy dẫy Đức Thánh Linh (Cong Cv 11:24). Ông thuyết phục anh em tín đồ ở Giê-ru-sa-lem tiếp nhận Phao-lô (9:27). Ông được cử đi tiếp nhận tín đồ dân ngoại tại An-ti-ốt (11:19-24). Ông đưa Phao-lô từ Tạt-sơ đến An-ti-ốt (11:25, 26). Ông cùng đi với Phao-lô trong hành trình truyền giáo thứ nhứt.
5:1-11 -- A-na-nia và Sa-phi-ra
Họ nói dối rằng mình đã dâng hết, kỳ thực họ chỉ dâng một phần. Họ chết do hành động của Đức Chúa Trời, chớ không phải của Phi-e-rơ, rõ ràng cốt để treo gương cho mọi thời đại biết Đức Chúa Trời bất mãn đối với tội tham lam và đạo đức giả. Đức Chúa Trời chẳng đánh chết chúng ta mỗi khi ta phạm tội ấy. Nếu Ngài làm như vậy, thì có người ngã chết trong Hội Thánh luôn. Nhưng việc nầy xảy ra đây chứng tỏ thái độ của Đức Chúa Trời đối với tấm lòng lầm lỗi. Ngay lúc khởi đầu của Hội Thánh, đó là một lời cảnh cáo nghịch cùng sự sử dụng và lạm dụng Hội Thánh làm phương tự tôn vinh. Việc xảy ra đây nêu gương kỷ luật và có ảnh hưởng tốt lành đến Hội Thánh ngay (5:11).
5:12-42 -- Các Sứ đồ bị cầm tù lần thứ hai
Khi Phi-e-rơ và Giăng bị cầm tù lần thứ nhứt vì đã chữa lành người què, thì chúng cảnh cáo hai ông không được nhơn Danh Đức Chúa Jêsus mà giảng nữa (4:17-21). Nhưng hai ông cứ rao truyền sự sống lại của Ngài. Đức Chúa Trời cứ làm những phép lạ lớn lao bởi tay họ (5:12, 16), và số tín đồ cứ thêm lên rất nhiều (5:14).
Những kẻ cầm quyền điên cuồng và kinh khủng trước quyền năng ngày càng lan rộng của Người Na-xa-rét mà chúng đã đóng đinh vào Thập tự giá. Chúng lại bắt các Sứ đồ, và nếu không vì sợ nhân dân và vì ảnh hưởng của Ga-ma-li-ên ngăn cản, thì chúng đã ném đá các Sứ đồ cho chết ngay lập tức.
Lại hãy chú ý Phi-e-rơ dạn dĩ bất chấp kẻ cầm quyền (5:29-32), và dầu bị đánh đòn (câu 40), các Sứ đồ cũng cứ rao truyền Danh Jêsus và vui vẻ chịu đau đớn vì cớ Ngài (câu 41, 42).
Ga-ma-li-ên đã tạm thời cứu mạng các Sứ đồ lúc đó (câu 34-40); ông là giáo sư đạo Do-thái có tiếng tăm nhứt đương thời mình. Chính Phao-lô đã làm môn đệ của ông (22:3). Có lẽ chàng thanh niên Sau-lơ (Phao-lô) cũng có mặt trong buổi nhóm họp của tòa Công luận nầy; vì chàng đồng ý với họ (26:10), và sau đó ít lâu, khi tòa công luận ném đá Ê-tiên, thì chàng đã dự phần (7:58).
6:1-7 -- Cử 7 thầy phó tế (chấp sự )
Cho tới lúc nầy, dường như các Sứ đồ cai quản mọi việc trong Hội Thánh (4:37). Trong vòng vài tháng, hoặc 1, 2 năm, Hội Thánh đã lớn lên quá bội.
Và việc ăn uống của đoàn thể tín đồ đã chiếm quá nhiều thì giờ của các Sứ đồ.
Các Sứ đồ biết tường tận truyện tích quí báu của Đức Chúa Jêsus. Phương pháp duy nhứt để kể truyện tích ấy cho kẻ khác biết là chính miệng nói ra. Từ sáng đến tối, ở nơi công cộng và ở chỗ riêng, các Sứ đồ đã đem hết tâm lực vào một công việc, là cứ thuật lại truyện tích Cứu Chúa vừa tỉ mỉ, vừa tổng quát, cho những đoàn dân đông kéo tới. Vậy, 7 thầy phó tế đã được chỉ định. Sự sắp đặt nầy đã có kết quả tốt đẹp và nhơn đó, số tín đồ tăng lên nhiều lắm (câu 7).
6:8-15 -- Ê-tiên
Trong số 7 thầy phó tế, có hai người giảng đạo hữu danh, là Ê-tiên và Phi-líp. Ê-tiên được vinh hạnh chết vì Đấng Christ trước nhứt. Còn Phi-líp đem Tin Lành tới xứ Sa-ma-ri và miền Tây xứ Giu-đê.
Phạm vi hoạt động đặc biệt của Ê-tiên dường như ở giữa vòng người Do-thái sanh trưởng tại Hi-lạp. Lúc đó có chừng 460 nhà hội tại Giê-ru-sa-lem, mà một số do người Do-thái ở nhiều xứ khác nhau đã tự xây cất để sử dụng. Có 5 nhà hội dành cho những người từ Sy-ren, A-léc-xăn-đơ-ri, Si-li-si, Tiểu-Á-tế-á và La-mã tạm trú tại Giê-ru-sa-lem (6:9) ("Bọn được tự do" là những người Do-thái bị bắt qua La-mã cầm tù, rồi sau được phóng thích, hoặc con cháu họ). Thành Tạt-sơ thuộc xứ Si-li-si, nên Sau-lơ có lẽ ở trong chính nhóm nầy. Một số người Do-thái sanh ở ngoại quốc nầy được trưởng dưỡng tại những trung tâm văn hóa Hi-lạp, nên tự cho là cao trọng hơn người Do-thái sanh ở tổ quốc. Nhưng Ê-tiên là địch thủ của họ. Họ không thể lý luận đối chọi với ông, bèn thuê bọn làm chứng dối và kiện ông trước tòa Công luận. Ê-tiên chắc phải là một người tài năng lỗi lạc, và lại có Đức Chúa Trời làm nhiều phép lạ để giúp đỡ ông (6:8).
7:1-60 -- Ê-tiên tuận đạo
Ông đứng trước tòa Công luận đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá và vừa mới toan cấm các Sứ đồ nhơn Danh Ngài mà giảng dạy (4:18). Nếu dám, họ cũng đã giết các Sứ đồ rồi (5:33). An-ne và Cai-phe cũng lại có mặt ở đó (4:6).
Bài giảng của Ê-tiên trước tòa Công luận phần lớn là lặp lại truyện tích Cựu Ước, và đến phần chót, ông thấm thía trách họ đã giết Đức Chúa Jêsus (7:51-53). Đang khi ông nói, thì mặt ông sáng ngời như mặt thiên sứ vậy (6:15). Họ xông vào ông như một bầy thú dữ. Khi những hòn đá bắt đầu bay vút vào thân thể ông, thì ông nhìn chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và thấy Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời, dường như Thiên đàng dang tay ra qua biên giới để đón ông về Nhà vinh hiển. Ông chết y như Đấng Christ đã chết, và không tỏ dấu thù giận những kẻ đáng khinh đã giết mình; ông cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ!" (7:60).
"Một người trẻ tuổi kia tên là Sau-lơ " (7:58)
Đây là một trong những CHỖ RẼ CỦA LỊCH SỬ. Chàng thanh niên Sau-lơ dường như đã làm nghị sĩ tòa Công luận (26:10). Có lẽ ông có mặt tại một hoặc cả hai phiên họp của tòa Công luận, trong đó họ toan cấm các Sứ đồ rao giảng Đấng Christ (4:1-22; 5:17-40) có lẽ chính ông đã nghe lời Phi-e-rơ từ chối một cách dạn dĩ và bất chấp. Nhưng nầy, suốt cả đời, ông chưa hề thấy một người nào chết giống như Ê-tiên. Dầu cảnh trạng đó có hiệu quả trực tiếp là thúc đẩy Sau-lơ hung hăng bắt bớ tín đồ, nhưng mấy lời Ê-tiên nói lúc qua đời đã thấu vào tâm trí của Sau-lơ, và in sâu trong đó, và lặng lẽ hành động để khiến ông sẵn sàng tiếp nhận. Sự Hiện thấy Vĩ đại trên đường Đa-mách (26:14). Có lẽ rất ít là một phần nào, sự tuận đạo của Ê-tiên là giá trả để chinh phục linh hồn Sau-lơ. Và linh hồn nầy quí báu biết bao! Sau Đức Chúa Jêsus, ông là bậc vĩ nhân đệ nhất của mọi thời đại! Hơn bất cứ ai, ông là người duy nhất đã lập vững đạo Đấng Christ tại những trung tâm chánh yếu của thế giới mà họ biết thời đó, và thay đổi cả dòng lịch sử.
8:1-4 -- Hội Thánh bị tan lạc
Đây là cơn bắt bớ Hội Thánh đầu tiên. Có lẽ Hội Thánh đã được 1 hay 2 tuổi. Có lẽ cơn bắt bớ kéo dài ít tháng. Sau-lơ dẫn đầu cơn bắt bớ. Ông có hai người bà con đã tin theo Đấng Christ rồi (RoRm 16:7). Nhưng cơn bắt bớ bắt đầu bằng sự ném đá Ê-tiên, đã trở thành hung hăng, ác liệt. Sau-lơ "thở ra" sự hăm dọa và giết chóc (Cong Cv 9:1), đã làm cho Hội Thánh tan hoang, xông vào mỗi nhà, kéo tín đồ nam, nữ đi bỏ tù (8:3), đánh đòn tín đồ trong các nhà hội (22:19-20), xử tử nhiều người (26:10-11), và tàn phá Hội Thánh quá mức (GaGl 1:13).
Kết quả, cơn bắt bớ nầy làm cho Hội Thánh tan lạc. Tại Giê-ru-sa-lem, Hội Thánh đã trở thành một phong trào vĩ đại và mạnh mẽ cứ bành trướng mãi, không sao chống cự được. Mạng lịnh sau chót của Đức Chúa Jêsus cho các môn đồ là phải rao truyền khắp thế giới (Mat Mt 28:19; Cong Cv 1:8). Bây giờ, theo thiên cơ của Đức Chúa Trời, cơn bắt bớ nầy làm cho khởi phát công cuộc truyền giáo của Hội Thánh. Tín đồ đã nghe các Sứ đồ giảng dạy khá lâu, nên có thể biết rõ tất cả truyện tích Đức Chúa Jêsus, cùng sự chết và sự sống lại của Ngài. Bất cứ đi đâu, họ cũng đem theo Tin Lành quí báu. Tuy nhiên, các Sứ đồ được hoan nghinh nhiệt liệt và có quyền phép lớn lao, nên khó mà bắt bớ họ; vậy, họ tạm thời cứ ở lại Giê-ru-sa-lem để phụ trách mọi việc tại trụ sở Hội Thánh.
8:4-40 -- Phi-líp tại xứ Sa-ma-ri và miền Tây xứ Giu-đê
Đức Chúa Trời làm rất nhiều phép lạ để chánh thức hóa lời giảng của Phi-líp (câu 6, 7, 13). Nhưng Phi-e-rơ và Giăng đã được sai đến để giúp cho tín đồ tiếp nhận Đức Thánh Linh (câu 15).
Bấy giờ, Đức Chúa Trời đưa Phi-líp xuống phía Nam, đến cùng viên quan cai quản kho tàng nước Ê-thi-ô-bi, để truyền Tin Lành tới trung tâm Phi-châu.
Đoạn, Phi-líp rao truyền Tin Lành ở khắp các đô thị trên đồng bằng dọc theo bờ biển, từ A-xốt đến Sê-sa-rê. Sê-sa-rê là quê hương của ông (21:8, 9).
Lễ báp-têm (câu 36-39)
Đây là nghi lễ đầu tiên khi ta trở nên tín đồ Đấng Christ. Đây nói đến lễ ấy rất rõ ràng. Đức Chúa Jêsus đã truyền lịnh làm lễ báp-têm (Mat Mt 28:19). 3000 người tin Chúa trong ngày Lễ Ngũ Tuần đã chịu lễ báp-têm (Cong Cv 2:38). Cả người Sa-ma-ri (8:12), Sau-lơ (9:18; 22:16), Cọt-nây (10:47-48), Ly-đi (16:15), viên quản đốc đề lao thành Phi-líp (16:33), người Cô-rinh-tô (18:18), người Ê-phê-sô (19:5), đều đã chịu lễ báp-têm. Cũng xem RoRm 6:3-7.
Cong Cv 9:1-30 -- Sau-lơ trở lại tin Chúa
Ông là người chi phái Bên-gia-min (Phi Pl 3:5), một người Pha-ri-si, một công dân thành Tạt-sơ, là trung tâm đại học thứ ba của thế giới, đương thời ấy chỉ kém kinh thành A-thên và A-léc-xăn-đơ-ri. Lúc sanh ra, ông đã có quyền công dân La-mã (Cong Cv 22:28), và ông thuộc về một gia đình quyền thế. Như vậy, ông có căn bản văn hóa Do-thái, Hi-lạp và La-mã.
Rõ ràng lắm, ông đã quyết định tiêu diệt Hội Thánh. Sau khi chà nát và làm tan lạc Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem, ông đã lên đường đi Đa-mách để lùng bắt những tín đồ trốn tránh ở đó.
Dọc đường, Chúa hiện đến cùng ông, chẳng khác gì sét đánh từ trời. Sự trở lại tin Chúa của ông được kể ba lần: ở đây, ở 22:5-16 và 26:12-18. Đó là sự hiện thấy hiển nhiên, chớ không phải chỉ là chiêm bao. Ông thật đã bị mù mắt (câu 8, 9, 18). Những kẻ đi theo ông đã nghe tiếng phán (câu 7). Từ nay trở đi, ông hầu việc Đấng Christ mà ông đã tìm cách tiêu diệt; ông hầu việc Ngài với một sự tận tụy vô song trong lịch sử.
Ông ở Đa-mách "lâu ngày" (câu 23), rao truyền Đấng Christ. Rồi người Do-thái tìm cách giết ông.
Ông bèn đi qua xứ A-ra-bi, rồi lại trở về Đa-mách. Ông ở thành Đa-mách và xứ A- ra-bi 3 năm, đoạn, trở về Giê-ru-sa-lem (3:18), ở đó 15 ngày. Họ tìm cách giết ông (9:29). Ông bèn trở về thành Tạt-sơ. Mấy năm sau, Ba-na-ba đưa ông tới An-ti-ốt (11:25).
9:31-43 -- Phi-e-rơ tại thành Giốp-bê
Tại thành Ly-đa, Phi-e-rơ đã chữa lành Ê-nê. Tại thành Giốp-bê, ông khiến bà Đô-ca sống lại từ trong kẻ chết; những phép lạ nầy khiến cho nhiều người tin Chúa (câu 35, 42).
Phi-e-rơ ở thành Giốp-bê "nhiều ngày" (câu 43). Như vậy, bởi thiên cơ của Đức Chúa Trời, Phi-e-rơ đã ở gần khi Ngài sắp sửa mở cửa Tin Lành cho dân ngoại tại thành Sê-sa-rê, cách xa 30 dặm về phía Bắc.
10:1-48-- Đạo Tin Lành lan truyền đến các dân ngoại
Cọt-nây là người dân ngoại đầu tiên làm tín đồ Đấng Christ. Từ trước đến nay, Tin Lành chỉ giảng cho người Do-thái, người dân ngoại theo đạo Do-thái, và người Sa-ma-ri vốn vâng giữ luật pháp Môi-se.
Do mạng lịnh sau chót của Đức Chúa Jêsus, các Sứ đồ chắc đã hiểu rằng mình phải rao truyền Tin Lành cho muôn dân. Nhưng các ông chưa được Chúa khải thị cho biết rằng người dân ngoại phải được tiếp nhận với nguyên tư cách người dân ngoại. Dường như các Sứ đồ nghĩ rằng muốn được tiếp nhận vào gia đình Đức Chúa Trời với tư cách tín đồ Đấng Christ, thì người dân ngoại trước hết phải chịu phép cắt bì, trở thành tín hữu đạo Do-thái và vâng giữ luật pháp của Môi-se.
Có người Do-thái ở rải rác khắp các nước, và có lẽ các Sứ đồ nghĩ rằng mình chỉ nhận sứ mạng giảng Tin Lành cho người Do-thái (cho đến khi Đức Chúa Trời đưa họ thoát khỏi quan niệm ấy.) Trong một thời gian, họ chỉ giảng Tin Lành cho người Do-thái (11:19).
Nhưng bây giờ, khắp cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và xứ Ga-li-lê đã được nghe Tin Lành rồi, nên theo thiên cơ của Đức Chúa Trời, đã tới lúc cống hiến Tin Lành cho các dân ngoại.
Cọt-nây
Người dân ngoại đầu tiên được Đức Chúa Trời lựa chọn để cống hiến Tin Lành cho, là một sĩ quan của quân đội La-mã, ở thành Sê-sa-rê, tên là Cọt-nây.
Thành Sê-sa-rê ở trên bờ biển, cách thành Giê-ru-sa-lem chừng 50 dặm về phía Tây-bắc; đây là thủ đô La-mã tại xứ Pa-lét-tin, là trú sở của quan Thống đốc La-mã, và là tổng hành dinh quân sự của xứ nầy. Người ta cho rằng Cọt-nây là viên bách nhân đội trưởng chỉ huy đội vệ sĩ của quan Thống đốc. Như vậy, sau quan Thống đốc, Cọt-nây là một trong những người quan trọng nhứt và có tiếng tăm nhứt trong cả vùng nầy.
Cọt-nây là một người hiền đức và sùng đạo. Chắc ông biết ít nhiều về Đức Chúa Trời của người Do-thái và của tín đồ Đấng Christ. Sê-sa-rê là quê hương của Phi-líp (8:40; 21:8). Nhưng dầu Cọt-nây cầu nguyện Đức Chúa Trời của người Do-thái, ông cũng vẫn thuộc về dân ngoại.
Chính Đức Chúa Trời đã lựa chọn Cọt-nây làm người dân ngoại đầu tiên được mở cửa Tin Lành cho. Chính Đức Chúa Trời chỉ huy tất cả công việc. Ngài bảo Cọt-nây cho người đi mời Phi-e-rơ (câu 5). Đức Chúa Trời phải dùng sự hiện thấy đặc biệt để khiến Phi-e-rơ quyết định đi (câu 9-23). Và Ngài đã tán thành sự tiếp nhận Cọt-nây vào Hội Thánh (câu 44-48). Ông là trái đầu mùa của thế giới dân ngoại.
Có lẽ việc nầy xảy ra chừng 5 hay 10 năm sau khi thành lập Hội Thánh tại Giê-ru- sa-lem, có lẽ là vào khoảng năm 40 S.C.. Chắc sự hay biết tin ấy đã thúc đẩy thành lập Hội Thánh dân ngoại tại An-ti-ốt (11:20). Nhưng một số người Do-thái khó mà thừa nhận tình trạng nầy.
Từ thành Giốp-bê (câu 5), Đức Chúa Trời sai Phi-e-rơ, người Do-thái, đến cùng Cọt-nây, người dân ngoại. 800 năm trước, cũng tại thành Giốp-bê (Gia-phô) nầy, Đức Chúa Trời đã phải dùng chút áp lực để khiến Giô-na, người Do-thái, quyết định đi đến thành Ni-ni-ve của dân ngoại (Gion Gn 1:3).
Hãy chú ý: Cọt-nây không buộc phải bỏ công việc trong quân đội.
Cong Cv 11:1-18 -- Sự tán thành của các Sứ đồ
Phi-e-rơ tiếp nhận Cọt-nây, người dân ngoại, vào trong Hội Thánh, mà không đòi ông phải chịu phép cắt bì. Các Sứ đồ khác chỉ tán thành hành động ấy sau khi Phi-e-rơ giải thích rằng đó là tất cả công việc của Đức Chúa Trời: Ngài bảo Cọt-nây cho người đi mời Phi-e-rơ, và bảo Phi-e-rơ đi đến cùng Cọt-nây; Ngài phê chuẩn hành động ấy bằng cách giáng Đức Thánh Linh xuống (câu 12-15). Nhưng có một phái tín đồ Do-thái dấy lên, không chịu chấp thuận (15:5).
11:19-26 -- Hội Thánh tại An-ti-ốt
Sau khi Ê-tiên bị ném đá ít lâu, thì Hội Thánh nầy được sáng lập bởi những người bị tan lạc trong cơn bắt bớ theo sau, có lẽ vào khoảng năm 32 S.C., và trước hết chỉ gồm các tín đồ Do-thái mà thôi (câu 19).
Mấy năm sau, có lẽ vào khoảng năm 42 S.C., một số tín đồ ở đảo Chíp-rơ và xứ Sy- ren có lẽ đã nghe việc Cọt-nây được tiếp nhận vào Hội Thánh, bèn đến An-ti-ốt và bắt đầu giảng cho người dân ngoại rằng họ có thể làm tín đồ Đấng Christ mà không cần phải trở lại đạo Do-thái trước; bằng một cách nào đó, chính Đức Chúa Trời đã tỏ ý tán thành điều ấy (câu 21). Và có rất nhiều người gia nhập Hội Thánh.
Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem nghe tin ấy. Lời Phi-e-rơ tường thuật về Cọt-nây đã khiến họ tin quyết rằng đó là công việc của Đức Chúa Trời; họ bèn cử Ba-na-ba đi chuyển lời chúc phước của Mẫu Hội cho phong trào ở An-ti-ốt nhằm đem người dân ngoại vào trong Hội Thánh. Vậy, có rất đông người dân ngoại gia nhập Hội Thánh (câu 24).
Ba-na-ba tới thành Tạt-sơ, cách An-ti-ốt chừng 100 dặm về phía Tây bắc, tìm thấy Sau-lơ và đưa ông tới An-ti-ốt. Việc nầy xảy ra khoảng 10 năm sau khi Sau-lơ trở lại tin Chúa; trong số đó, ông ở 3 năm tại Đa-mách và xứ A-ra-bi, còn thì theo chỗ ta biết, ông ở Tạt-sơ. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Sau-lơ rao giảng Tin Lành cho "dân ngoại ở nơi xa" (22:21). Chắc hẳn ở bất cứ nơi nào, ông cũng để thì giờ thuật lại truyện tích Đức Chúa Jêsus luôn luôn. Bây giờ ông trở nên một thủ lãnh hoạt động tại trung tâm sơ sanh của đạo Đấng Christ giữa vòng dân ngoại nầy.
An-ti-ốt
Đây là đô thị thứ ba của đế quốc La-mã, có 500.000 cư dân. Chỉ kém kinh thành La-mã và thành phố A-léc-xăn-đơ-ri. Đây là cửa ngõ trên biển Địa-trung-hải để đi vào các đại lộ Đông phương. Cách thành Giê-ru-sa-lem 300 dặm về phía Bắc. Cũng được gọi là "Nữ hoàng Đông phương" và "An-ti-ốt đẹp đẽ." An-ti-ốt được tăng phần mỹ lệ bằng mọi vật mà "sự giàu có của La-mã, sự thẩm mỹ của Hi-lạp và sự xa hoa của Đông phương có thể sản xuất."
Dân thành nầy thờ thần Át-tạt-tê, kèm theo có những nghi lễ phóng túng, hư hoại và ô uế không sao tưởng tượng được. Tuy nhiên, rất đông dân chúng ở đây đã tiếp nhận Đấng Christ. Danh hiệu "Cơ-đốc-nhân" đã phát sanh tại đây, và đây là trung tâm tổ chức cố gắng dắt đưa thế giới trở về cùng Đấng Christ.
11:27-30 -- An-ti-ốt gởi tiền cứu tế đến Giê-ru-sa-lem
Do Ba-na-ba và Sau-lơ đem đi: Đây dường như là lần thứ hai Phao-lô trở về Giê-ru-sa-lem sau khi trở lại tin Chúa (GaGl 2:1). Lúc ông trở về lần thứ nhứt, thì chúng đã toan giết ông (Cong Cv 9:26-30). Ông tới Giê-ru-sa-lem (11:30) ngay trước khi có chép Hê-rốt giết Gia-cơ và bỏ tù Phi-e-rơ (12:1-4) và ông trở về An-ti-ốt (12:25) ngay sau khi Hê-rốt chết (12:23) vả, người ta biết rằng Hê-rốt chết năm 44 S.C.. Như vậy, Sau-lơ viếng thăm Giê-ru-sa-lem lần nầy vào năm 44 S.C..
12:1-25-- Gia-cơ bị giết và Phi-e-rơ bị tù
Gia-cơ nầy là anh của Giăng, một trong ba môn đồ thân tín nhứt của Đức Chúa Jêsus. Ông là người đầu tiên trong số 12 Sứ đồ đã bỏ mình vì Chúa, năm 44 S.C.. Còn một Gia-cơ khác, là em của Đức Chúa Jêsus, thì đã được thừa nhận làm Giám mục thủ lãnh tại Giê-ru-sa-lem.
Khi Hê-rốt hạ ngục Phi-e-rơ, thì Đức Chúa Trời đã ra tay giải cứu tôi tớ Ngài (câu 7), và Ngài đánh chết Hê-rốt (câu 23). Hê-rốt nầy là con trai của Hê-rốt đã giết Giăng Báp-tít và chế nhạo Đấng Christ.
13:1-14:28-- Hành trình truyền giáo thứ nhứt của Phao-lô
Xứ Ga-la-ti (khoảng 45-48 S.C. .)
An-ti-ốt mau lẹ trở nên trung tâm trọng yếu của đạo Đấng Christ giữa vòng dân ngoại. Một trong các giáo sư ở đây là anh em đồng dưỡng với Hê-rốt (13:1), do đó chúng ta đoán rằng Hội Thánh có uy tín rất lớn. An-ti-ốt trở thành tổng hành dinh cho công cuộc truyền giáo của Phao-lô. Từ An-ti-ốt, ông đã lên đường truyền giáo, rồi ông trở về An-ti-ốt để khai trình công việc.
Lúc nầy, Phao-lô đã làm tín đồ Đấng Christ được 12 hoặc 14 năm rồi. Ông đã trở nên một thủ lãnh của Hội Thánh An-ti-ốt. Đã tới lúc ông lên đường làm nhiệm vụ đem Danh Đấng Christ đi xa, tới thế giới dân ngoại (22:21). Và chính Đức Chúa Trời đã sai ông đi (13:2).
Ông đi đến miền Ga-la-ti, ở trung ương Tiểu-Á-tế-á, cách An-ti-ốt chừng 300 dặm về phía Tây bắc. Đây là một hành trình khá dài. Đương thời ấy không có xe lửa, xe hơi, hoặc máy bay; chỉ có ngựa, lừa, lạc đà, hoặc đi bộ, hoặc đi tàu buồm và thuyền chèo.
Chíp-rơ (13:4-12)
Nếu đi đường bộ, thì gần hơn, vì đi qua Tạt-sơ, là cửa ngõ phía Đông nam để vào Tiểu-Á-tế-á. Nhưng Phao-lô đã ở Tạt-sơ rồi, khoảng 7, 8 năm trước. Vậy, họ đi qua đảo Chíp-rơ, rồi từ mỏm phía Tây đảo ấy, đi ngược lên phía Bắc mà vào trung ương Tiểu-Á-tế-á.
Tại Chíp-rơ, viên Thống đốc La-mã đã trở lại tin Chúa vì chứng kiến một phép lạ (câu 11, 12). Đức Chúa Trời, chớ không phải Phao-lô, đã làm cho tên thuật sĩ bị đui mù. Từ đây trở đi, Sau-lơ được gọi là Phao-lô (câu 9). "Phao-lô" trong tiếng La-mã tức là "Sau-lơ" trong tiếng Hê-bơ-rơ.
Từ trước tới đây, là Ba-na-ba và Phao-lô. Từ đây trở đi, là Phao-lô và Ba-na-ba. Từ nay trở đi, Phao-lô là thủ lãnh.
An-ti-ốt, Y-cô-ni, Lít-trơ, Đẹt-bơ
Tại thành An-ti-ốt, xứ Bi-xi-đi, Phao-lô theo thường lệ, bắt đầu giảng dạy trong nhà hội của người Do-thái. Một số người Do-thái tin Chúa, và khắp miền chung quanh, có rất nhiều người dân ngoại tin Chúa (13:43, 48, 49). Song những người Do-thái không chịu tin Chúa đã gây nên một cơn bắt bớ, và đuổi Phao-lô và Ba-na-ba ra khỏi thành.
Hai ông ở lâu tại Y-cô-ni, cách An-ti-ốt, thuộc xứ Bi-si-đi, chừng 100 dặm về phía Đông (14:3), làm nhiều dấu kỳ phép lạ, và có rất đông người tin Chúa (14:1). Rồi những kẻ không tin Chúa đã đuổi hai ông ra khỏi thành.
Tại Lít-trơ, cách Y-cô-ni chừng 20 dặm về phía Nam, Phao-lô chữa lành một người bại chơn, và dân chúng tưởng ông là một vị thần. Sau đó, họ ném đá ông, rồi bỏ đi, vì tưởng ông chết rồi. Lít-trơ, là quê hương của Ti-mô-thê (16:1). Có lẽ Ti-mô-thê đã chứng kiến mọi việc xảy ra (IITi 2Tm 3:11).
Tại Đẹt-bơ, cách Lít-trơ chừng 30 dặm về phía Đông nam, hai ông đã dắt đem được nhiều người trở lại tin Chúa. Đoạn, hai ông trở về Lít-trơ, Y-cô-ni và An-ti-ốt.
"Cái giằm xóc vào thịt" Phao-lô (IICo 2Cr 12:2, 7) 14 năm trước khi ông viết thơ Cô-rinh-tô thứ hai. Ấy là nhằm khoảng ông vào xứ Ga-la-ti (GaGl 4:13).
Bản đồ số 55 -- Hành trình truyền giáo thứ nhứt của Phao-lô

Cong Cv 15:1-35 -- Giáo nghị hội tại Giê-ru-sa-lem
Vấn đề làm phép cắt bì cho các tín đồ dân ngoại
Khoảng năm 50 S.C., 20 năm sau khi thành lập Hội Thánh. Có lẽ khoảng 10 năm sau khi tiếp nhận người dân ngoại vào trong Hội Thánh.
Dầu Đức Chúa Trời đã khải thị rõ ràng cho Phi-e-rơ rằng người dân ngoại phải được tiếp nhận, không cần chịu phép cắt bì (đoạn 10), dầu các Sứ đồ và trưởng lão đã chịu thuyết phục (11:18), nhưng một phái tín đồ hùng mạnh, vốn thuộc phe Pha-ri-si, cứ dạy rằng phép cắt bì là cần thiết. Vậy nên, Hội Thánh bị xâu xé và bất hòa vì vấn đề đó.
Trong giáo hội nghị nầy, bởi Đức Thánh Linh (câu 28), Đức Chúa Trời khiến các Sứ đồ đồng thanh và chánh thức quyết đoán rằng phép cắt bì không cần thiết cho các tín đồ dân ngoại; họ gởi tới An-ti-ốt một bức thơ theo hướng đó, song đồng thời cũng nhấn mạnh rằng các tín đồ dân ngoại phải kiêng cữ thờ lạy hình tượng và hành vi vô đạo mà người dân ngoại thường hay mắc phải. Sự cữ huyết có từ trước thời Môi-se (SaSt 9:4), thì cả loài người phải vâng giữ.
Đây là lần chót nói đến Phi-e-rơ trong sách Công vụ các sứ đồ. Cho tới đoạn 12, Phi-e-rơ vẫn đóng vai thủ lãnh. Về đời thanh niên của ông, xem ở dưới Mác, đoạn 3; về tuổi già của ông, xem ở dưới thơ I Phi-e-rơ.
Cong Cv 15:36-18:22 -- Hành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lô
Công việc của ông tại Hi-lạp (khoảng 50-53 S.C. .)
Si-la là đồng bạn của ông trong cuộc hành trình nầy (15:40). Ta ít biết về Si-la. Lần thứ nhứt ông xuất hiện với tư cách một trong những thủ lãnh của Hội Thánh xứ Giu- đê (15:22, 27, 32). Cũng như Phao-lô, ông là người Do-thái và có quyền công dân La-mã (16:21, 37). Ông được cử đem thơ của Hội Thánh Giê-ru-sa-lem gởi cho tín đồ dân ngoại (15:27). Cũng có tên là Sin-vanh. Về sau, ông đứng chung với Phao-lô trong hai thơ tín gởi cho Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca (ITe1Tx 1:1; IITe 2Tx 1:1). Và ông đem thơ I Phi-e-rơ cho những tín đồ nhận đọc trước nhứt (IPhi 1Pr IPhi5:12).
Phao-lô và Ba-na-ba phân rẽ nhau vì cớ Giăng, tức Mác. Nhưng về sau, hai ông lại cộng tác (ICo1Cr 9:6; CoCl 4:10).
Mác, cũng gọi là Giăng, đã lui đi giữa hành trình thứ nhứt của Phao-lô, có lẽ vì nhút nhát, hoặc sợ hãi, hoặc không quyết tin rằng nên rao giảng Tin Lành cho người dân ngoại. Bây giờ Mác lại muốn đi. Nhưng Phao-lô không cho đó là thượng sách.
Lại thăm các chi hội ở xứ Ga-la-ti ([dc Cong 16:1-7;)
Tại Lít-trơ, Phao-lô gặp được Ti-mô-thê, bèn đem theo ([dc 16:1;). Từ đó về sau, Ti-mô-thê là đồng bạn thành tín của Phao-lô.
Dường như Phao-lô đi về phía thành Ê-phê-sô, "trong cõi A-si-ri" (câu 6), nhưng Đức Chúa Trời ngăn ông lại. Ông bèn đi về phía Bắc để vào xứ Bi-thi-ni, nhưng Đức Chúa Trời lại ngăn ông (câu 7). Dầu Phao-lô rất thân mật với Thánh Linh của Đức Chúa Trời, song trong vài trường hợp, ông cũng hơi chậm nhận ra ý chỉ Đức Chúa Trời đối với mình.
[td Trô-ách, Phi-líp
Tại Trô-ách (ngày xưa gọi là Troy ), Lu-ca nhập đoàn (chú ý chữ "họ"(1) ở câu 7 và chữ "chúng ta" ở câu 10), và cùng họ tới thành Phi-líp, rồi ở lại đó (dùng chữ "họ" (Trong nguyên văn là: "Họ sắm sửa vào..." và: "rồi họ tới") ở 17:1 sau khi Phao-lô ra đi); 6 năm sau, ông lại nhập đoàn với Phao-lô (dùng chữ "chúng ta" ở 20:6).
Đức Chúa Trời đã đưa Phao-lô đi xa thành Ê-phê-sô và xứ Bi-thi-ni (câu 6, 7), thì bây giờ lại bảo ông tới thành Phi-líp (câu 10). Trong khám tù, Phao-lô và Si-la hát thơ thánh, Đức Chúa Trời làm động đất (câu 25, 26), và Hội Thánh mà hai ông sáng lập đã trở thành một trong những chi hội tốt nhứt trong Tân Ước.
Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê, A-thên

Thành Phi-líp ở khu Đông bắc của Hi-lạp, là nơi Phao-lô sáng lập Hội Thánh đầu tiên ở Châu-âu. Thành Tê-sa-lô-ni-ca, cách thành Phi-líp chừng 100 dặm về phía Tây, là đô thị rộng lớn nhứt xứ Ma-xê-đoan. Hai ông chỉ ở đó ít lâu, nhưng dắt đem được rất đông người trở lại tin Chúa (17:1-9).
Tại Bê-rê (17:10-14), hai ông khiến rất nhiều người tin Chúa, nhưng kẻ thù nghịch làm cho hai ông phải bỏ đi.
Tại A-thên (17:13-34), Phao-lô được tiếp đón đơn bạc hơn hết; đây là quê hương của Periclès, Socrate, Démosthène, Platon; là trung tâm triết lý, văn chương, khoa học, mỹ thuật; là trụ sở của trường cao đẳng lớn nhứt thế giới thời xưa; là nơi gặp gỡ của các bậc trí thức trên thế giới; nhân dân ở đây hoàn toàn buông mình thờ lạy hình tượng.
Tại Cô-rinh-tô (18:1-22)
Đây là một trong những đô thị chánh yếu của đế quốc La-mã. Phao-lô ở đây 1 năm rưỡi, và thành lập một chi hội lớn (câu 10, 11).
Đoạn, ông trở về Giê-ru-sa-lem và An-ti-ốt; dọc đường, ông dừng lại tại Ê-phê-sô, nơi mà ông đã chú ý tới từ lâu lắm. Trong hành trình truyền giáo thứ nhứt, ông đã đi về hướng Ê-phê-sô, nhưng tại thành An-ti-ốt, xứ Bi-si-đi, trên biên giới phía Tây xứ Ga-la-ti, ông phải quay về phía Đông vì có giằm xóc vào thịt (GaGl 4:13; IICo 2Cr 12:2, 7). Trong hành trình thứ hai, ông quả quyết tiến về phía Ê-phê-sô, nhưng Đức Chúa Trời đưa ông qua phía Bắc, tới thành Trô-ách và xứ Hi-lạp (Cong Cv 16:6, 7). Rốt lại, bây giờ cửa thành Ê-phê-sô mở ra trước hành trình truyền giáo thứ ba của ông
A-qui-la và Bê-rít-sin
Phao-lô ở với họ tại Cô-rinh-tô (18:2, 3), và họ cùng đi với ông đến Ê-phê-sô (18:18, 19). Trong các hầm mộ, có bi văn ngụ ý rằng Bê-rít-sin thuộc về một gia đình cao quí ở La-mã, nhưng đã bị loại ra khỏi giai cấp mình vì đã lấy một người Do-thái làm chồng. Bà thường được nhắc tên trước chồng. Chắc bà là một bậc phụ nữ có tài năng phi thường. Về sau, tại thành Ê-phê-sô, có một chi hội nhóm họp trong nhà họ (RoRm 16:3-5). Mấy năm sau, họ lại ở Ê-phê-sô (IITi 2Tm 4:19).
Cong Cv 18:23-20:38 -- Hành trình truyền giáo thứ ba của Phao-lô
Công việc của ông tại Ê-phê-sô (khoảng 54-57 S.C. )
Tại đây, Phao-lô làm công việc lạ lùng hơn hết trong tất cả cuộc đời lạ lùng của ông. Ê-phê-sô, một đô thị mỹ lệ có 225.000 người, ở trung tâm đại lộ Đế quốc, từ La-mã qua Đông phương, -- đại lộ nầy là xương sống của đế quốc La-mã.
Rất đông người vốn thờ nữ thần Đi-anh, trở thành môn đồ Đấng Christ. Các chi hội được sáng lập ở những đô thị trên châu vi 100 dặm (19:10, 26). Chẳng bao lâu, Ê-phê-sô trở thành trung tâm trọng yếu của đạo Đấng Christ.
Miễu thờ nữ thần Đi-anh
Đây là một trong bảy kỳ quan của thế giới. Mất 220 năm mới xây cất xong. Làm toàn bằng cẩm thạch trong trẻo hơn hết. Cuộc thờ lạy nữ thần Đi-anh là một "nghi lễ hư hoại thường xuyên." Ảnh hưởng của nữ thần nầy về sau tràn vào các chi hội.
A-bô-lô (18:24-28)
Một người Do-thái sanh tại A-léc-xăn-đơ-ri, có khả năng xuất sắc và tài hùng biện. Ông trở nên một thủ lãnh có uy tín trong Hội Thánh Cô-rinh-tô (ICo1Cr 3:6) và tại Ê-phê-sô (ICo1Cr 16:12). Mấy năm sau, ông còn giúp việc Phao-lô (Tit Tt 3:13). A-bô-lô, A-qui-la và Bê-rít-sin là những người giúp việc Phao-lô rất đắc lực tại Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô.
Những phép lạ đặc biệt tại Ê-phê-sô (Cong Cv 19:11)
Phao-lô dùng một trường học làm trụ sở (19:9) giảng dạy công khai và từ nhà nầy đến nhà kia (20:20), cả ngày lẫn đêm trong 3 năm (20:31) làm nghề riêng để tự túc (20:34) thỉnh thoảng được Đức Chúa Trời giúp đỡ bằng những phép lạ đặc biệt (19:11, 12). Và như vậy, Phao-lô đã lay chuyển đến tận nền móng thành Ê-phê-sô hùng mạnh kia. Rất đông người được chữa lành bịnh bởi những khăn đã đụng tới thân thể Phao-lô. Chính Đức Chúa Trời ở đó mà làm việc. Các thuật sĩ vốn tự khoe làm được phép lạ, cũng kinh khủng đến nỗi đốt hết sách vở (19:19). Chỉ thỉnh thoảng Phao-lô mới làm được phép lạ. Ông làm phép lạ ở Chíp-rơ, Y-cô-ni, Lít-trơ, Phi-líp, Ê-phê-sô, Man-tơ và dường như ở Cô-rinh-tô (ICo1Cr 2:4) và Tê-sa-lô-ni-ca (ITe1Tx 1:5) nữa. Nhưng không có chép Phao-lô làm phép lạ tại Đa-mách, Giê-ru-sa-lem, Tạt-sơ, An-ti-ốt, An-ti-ốt (xứ Bi-si-đi) Đẹt-bơ, A-thên hoặc La-mã. Phao-lô cũng không thể chữa lành bạn đồng sự yêu dấu của mình, là Trô-phim (IITi 2Tm 4:20).
Phao-lô toan định đi tới La-mã (Cong Cv 19:21)
Phao-lô đã bắt đầu công việc tại An-ti-ốt, là đầu phía Đông của "xương sống" đế quốc La-mã; bây giờ ông đã làm xong công việc lớn lao hơn hết tại Ê-phê-sô, đã rao truyền truyện tích Đấng Christ khắp cả Tiểu-Á-tế á và Hi-lạp. Vậy, ông toan định đi qua đầu phía Tây của đế quốc sau khi tới Giê-ru-sa-lem để giúp ích người ta; thật ông ít ngờ rằng mình sẽ đi tới La-mã như một tù nhân bị xiềng xích (28:20).
Phao-lô lại viếng thăm xứ Hi-lạp (20:1-15;)
Ông từ giã thành Ê-phê-sô nhằm tháng 6, năm 57 S.C. (ICo1Cr 16:18). Ông ở xứ Ma-xê đoan suốt mùa hạ và mùa thu (ICo1Cr 16:5-8). Ông ở Cô-rinh-tô 3 tháng mùa đông (ICo1Cr 16:6). Rồi ông trở về qua xứ Ma-xê-đoan (Cong Cv 20:3), và từ thành Phi-líp đáp tàu ra đi, nhằm tháng tư, năm 58 S.C. (20:6). Như vậy, ông ở Hi-lạp gần 1 năm. Đây có lẽ là lúc ông đi tới I-ly-ri (RoRm 15:19).
Bốn thơ tín quan trọng của Phao-lô đã được viết ra trong thời gian nầy: thơ I Cô-rinh-tô viết tại Ê-phê-sô, thơ II Cô-rinh-tô viết tại xứ Ma-xê-đoan; thơ Ga-la-ti mà người ta cho là cũng viết trong khoảng nầy; và thơ Rô-ma viết tại Cô-rinh-tô.
Lời từ giã các trưởng lão của chi hội Ê-phê-sô (Cong Cv 20:17-38)
Đây là những lời rất êm ái. Ông không hề trông mong lại gặp họ (câu 25). Nhưng chương trình của ông đã thay đổi, và ông thật đã trở lại gặp họ.
Tới đây chấm dứt 3 hành trình truyền giáo gồm một khoảng chừng 12 năm (từ 45 đến 57 S.C.), và nhờ cuộc truyền giáo đó mà dòng lịch sử đã biến cải. Nhiều trung tâm quan trọng của đạo Đấng Christ đã mọc lên ở hầu khắp các đô thị Tiểu-Á-tế-á và Hi-lạp, tại chính trung tâm của thế giới mà người ta được biết thời đó.
21:1-16 -- Hành trình của Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem
Một mục đích của hành trình nầy là để trao số tiền ông đã quyên được nơi các chi hội dân ngoại ở Hi-lạp và Tiểu-Á-tế-á để giúp các thánh đồ nghèo tại Giê-ru-sa-lem (Cong Cv 24:17; RoRm 15:25, 26; ICo1Cr 16:1-4; IICo 2Cr 8:10; 9:1-15). Đây là một số tiền quyên lớn. Ông đã để hơn một năm mới quyên được chừng ấy. Đó là một cách tuyệt vời bày tỏ tinh thần bác ái, để khuyến khích tình yêu thương trong Đấng Christ giữa người Do-thái và người dân ngoại.
Một mục đích khác của hành trình nầy là để làm theo một lời thề (Cong Cv 21:23, 24). Cũng vì cớ một lời thề, ông đã tới thành Giê-ru-sa-lem, sau khi chấm dứt hành trình thứ hai (18:18). Ông đã thốt những lời thề ấy để tỏ cho người Do-thái biết điều nầy: Dầu ông dạy người dân ngoại rằng họ có thể trở nên tín đồ Đấng Christ mà không cần phải giữ luật pháp của Môi-se, nhưng là người Do-thái, ông vẫn sốt sắng giữ theo mọi luật pháp của người Do-thái.
Ngay từ lúc mới lên đường, người ta đã khuyên ông đừng đi. Tại mỗi thành, Đức Thánh Linh đã cảnh cáo ông (20:23). Tại Ty-rơ, ông cũng được họ khuyên đừng đi (21:4) tại Sê-sa-rê, đang khi ông ở nhà Phi-líp, thì lời cảnh cáo được lặp lại hết sức rõ ràng, mạnh mẽ (20:10, 11). Cả đến Lu-ca cũng nài xin ông chớ đi (21:12).
Nhưng tâm trí Phao-lô đã quyết định rồi, dầu phải chết cũng vậy (21:13). Tại sao Đức Chúa Trời cảnh cáo ông như thế? Có thể rằng Phao-lô đã lầm lẫn, và Đức Chúa Trời cố bảo cho ông tự biết mình đã lầm lẫn chăng? Hay là Đức Chúa Trời đang thử thách ông? Hay là Ngài đang dự bị ông? Phải chăng Phao-lô có lẽ đã nghĩ rằng sự tuận đạo của ông tại Giê-ru-sa-lem sẽ là một tuyệt điểm thích đáng ở chính nơi ông đã làm cho nhiều tín đồ phải chết vì Danh Chúa?
Bản đồ số 57
21:17-23:30 -- Phao-lô tại Giê-ru-sa-lem
Ông tới đó khoảng tháng 6, năm 58 S.C. (20:16). Đây là lần thứ năm mà Kinh Thánh chép ông thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem sau khi trở lại tin Chúa. Trong những năm giữa mấy cuộc thăm viếng nầy, ông đã dắt đem rất đông người dân ngoại trở lại tin theo Đấng Christ, nên bọn người Do-thái không tin Chúa càng ngày càng ghét ông.
Sau khi Phao-lô ở Giê-ru-sa-lem gần một tuần lễ và làm xong lời thề nguyện trong Đền thờ, thì có mấy người Do-thái nhận ra ông. Chúng bèn la lên, và liền ngay đó, đám dân hùng hổ xông vào ông như một bầy thú dữ. Bọn lính La-mã kéo tới nơi vừa kịp cứu ông khỏi bị chúng đánh chết.
Trên thềm của lâu đài La-mã, là nơi 28 năm trước, Phi-lát đã lên án xử tử Đức Chúa Jêsus, Phao-lô được quân lính ưng thuận, bèn cất tiếng giảng cho dân chúng. Ông thuật truyện Đấng Christ hiện ra với mình trên đường đi Đa-mách. Chúng lắng tai nghe cho đến khi ông dùng chữ "dân ngoại," thì lại nổi lên hỗn loạn.
Ngày hôm sau, các Sĩ quan La-mã đưa Phao-lô tới trước tòa Công luận của dân Do- thái để xét xem tội trạng ở đâu. Chính tòa Công luận nầy đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào Thập tự giá; trước kia, Phao-lô có chơn trong tòa Công luận nầy; chính tòa Công luận nầy đã ném đá chết Ê-tiên và đã hết sức cố gắng đè bẹp Hội Thánh. Chẳng mất chốc, tòa Công luận đã ồn ào, sôi nổi. Phao-lô sắp bị chúng xâu xé, thì bọn lính dẫn ông trở về đồn.
Đêm đó, trong đồn, Chúa đứng bên Phao-lô và quả quyết với ông rằng Ngài sẽ gặp ông tại La-mã (23:11). Phao-lô thường tỏ ý hy vọng đi tới La-mã (RoRm 1:13). Tại Ê-phê-sô, ông đã quyết định làm việc ấy (Cong Cv 19:21) sau khi thăm viếng Giê-ru-sa-lem; tuy nhiên, ông không biết chắc mình còn sống mà từ Giê-ru-sa-lem ra đi chăng (RoRm 15:31, 32). Nhưng từ nay trở đi, thì chắc lắm, CHẮC LẮM, vì Đ­C CHÚA TRžI ĐÃ PHÁN như vậy.
Ngày hôm sau, người Do-thái lại toan mưu rình giết ông nữa. Dân chúng điên cuồng, sôi nổi. Phải có 70 lính kỵ mã, 200 lính bộ và 200 lính cầm giáo, mới đưa được ông ra khỏi thành, mà lại phải đưa ban đêm.
Cong Cv 23:31-26:32 -- Phao-lô ở thành Sê-sa-rê
2 năm, từ mùa hạ năm 58 S.C. tới mùa thu năm 60 S.C.
Một tuần lễ trước, Phao-lô đã ở Sê-sa-rê, tại nhà Phi-líp, trên đường đi Giê-ru-sa-lem. Một tiên tri, tên là A-ga-bút, đã từ Giê-ru-sa-lem tới đây cảnh cáo Phao-lô (21:8-14).
Sê-sa-rê là kinh thành La-mã tại xứ Giu-đê. Đây là nơi Đức Chúa Trời lựa chọn để tiếp nhận người dân ngoại đầu tiên vào Hội Thánh, tức là Cọt-nây, sĩ quan của quân đội La-mã; việc nầy xảy ra khoảng 20 năm trước.
Trong thành phố La-mã quan trọng hơn hết trên đất Pa-lét-tin đó, Phao-lô đã ở hai năm với tư cách một tù nhân tại dinh quan Thống đốc La-mã (23:35), song được đặc ân tiếp khách. Thật là một cơ hội quí báu để rao truyền Đấng Christ cho người ta biết!
Phao-lô trước mặt Phê-lít (24:1-27)
Phê-lít làm thống đốc La-mã tại xứ Pa-lét-tin lâu năm. Ông biết ít nhiều về tín đồ Đấng Christ, vì có rất đông tín đồ ở dưới quyền cai trị của ông. Bây giờ ông phải ngồi xét xử một giáo sư Tin Lành có tên tuổi hơn hết. Phao-lô đã làm cho Phê-lít cảm xúc sâu xa. Phê-lít thường cho kêu ông tới. Nhưng tánh tham tiền đã ngăn trở Phê-lít tiếp nhận Đấng Christ, hoặc phóng thích Phao-lô (câu 26). Đơ-ru-si là em gái của c-ríp-ba (25:13).
Phao-lô trước mặt Phê-tu (25:1-12)
Phê-tu kế chức Phê-lít làm Thống đốc (60 S.C.). Người Do-thái vẫn còn toan mưu giết Phao-lô. Dầu Phê-tu tin quyết Phao-lô vô tội, nhưng vẫn sẵn sàng trao ông cho người Do-thái, Phao-lô biết rằng trao như vậy là ông phải chết. Vậy, Phao-lô đòi ứng hầu Sê-sa; là công dân La-mã, ông có quyền đòi điều ấy, và Phê-tu phải ưng chịu.
Phao-lô có quyền công dân La-mã chắc vì cha của ông đã có công trạng gì với nhà nước. Quyền công dân ấy đã nhiều lần cứu mạng ông.
Phao-lô trước mặt Ạc-ríp-ba (25:13-26:32)
c-ríp-ba nầy chính là Hê-rốt c-ríp-ba II, con trai của Hê-rốt c-ríp-ba I, người 16 năm trước đã giết Gia-cơ (12:2). Ông là cháu nội của Hê-rốt Antipas , người đã giết Giăng Báp-tít và chế nhạo Đấng Christ, và là chắt nội của Hê-rốt đại vương đã tàn sát con trẻ thành Bết-lê-hem trong khi cố sức giết Đấng Christ. Ông thuộc về gia tộc sát nhân đó, làm vua một miền ở biên giới Đông bắc xứ Pa-lét-tin, và bây giờ được mời tới phụ giúp Phê-tu.
Bê-rê-nít là em gái của ông, nhưng chung sống với ông như một người vợ. Bà có sắc đẹp phi thường, và đã lấy hai đời vua, rồi quay về làm vợ của anh ruột mình. Về sau, bà trở thành vợ bé của hoàng đế Vespasien và hoàng đế Titus.
Hãy suy nghĩ về Phao-lô tự bào chữa trước một cặp vợ chồng dường ấy!
Dầu vậy, c-ríp-ba đã chịu cảm động sâu xa (26:28). Người đối với trí óc xác thịt và ngoại đạo của Phê-tu, thì sự sống lại từ trong kẻ chết là không thể tưởng tượng được, nên ông kêu lên rằng chắc Phao-lô điên (26:24).
Họ đều đồng ý rằng Phao-lô hoàn toàn vô tội (26:31).
Lu-ca
Dầu không ở trong khám tù, nhưng ở với Phao-lô tại Sê-sa-rê (chú ý chữ "chúng ta" ở 21:17, 18; 27:1). Người ta cho rằng việc nầy xảy ra đang khi Lu-ca viết sách Tin Lành (LuLc 1:1-3). Hai năm ở tại Sê-sa-rê cho ông có cơ hội viếng thăm thành Giê-ru-sa-lem ít lâu, và có lẽ cả xứ Ga-li-lê nữa, để trò chuyện với tất cả các Sứ đồ và các đồng bạn của Đức Chúa Jêsus từ lúc đầu mà ông gặp được; nhờ đó, ông thâu lượm được những chi tiết chánh xác về Đức Chúa Jêsus. Ma-ri, mẹ của Ngài, có lẽ còn sống, và chính bà đã thuật cho Lu-ca nghe về sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus cùng nhiều biến cố khác trong đời Ngài.
27:1-28:15 -- Hành trình của Phao-lô tới La-mã
Bắt đầu lúc mới sang thu, năm 60 S.C.. Ba tháng mùa đông ở đảo Man-tơ. Tới La-mã đầu mùa xuân năm 61 S.C..
Ông đã đáp ba chiếc tàu: Một từ Sê-sa-rê tới My-ra, một từ My-ra tới Man-tơ, và một từ Man-tơ tới Bu-xô-lơ.
Khi từ My-ra ra đi ít lâu, họ gặp gió ngược hung hăng, bị cuốn khỏi thủy đạo, và sau nhiều ngày, khi đã tuyệt vọng, thì Đức Chúa Trời (2 năm trước, tại Giê-ru-sa-lem, Ngài đã bảo Phao-lô rằng Ngài sẽ gặp ông tại La-mã -- 23:11) bây giờ lại hiện ra với ông mà quả quyết sẽ làm thành lời Ngài phán (27:24). và Ngài thật đã làm thành.
28:16-31 -- Phao-lô tại La-mã
La-mã là đô thị "nữ hoàng" của trái đất, là trung tâm của lịch sử. Trải qua 2000 năm (từ thế kỳ thứ 2 T.C. đến thế kỷ thứ 18 S.C.), nó là cường quốc bá chủ thế giới. Hiện nay còn được gọi là "Thành Đời Đời." Thời ấy dân số tới 1 triệu rưỡi người, mà một nửa là tôi mọi. La-mã là thủ đô của một đế quốc rộng 3000 dặm từ Đông qua Tây, và 2000 dặm từ Nam chí Bắc, dân số 120 triệu.
Phao-lô ở La-mã rất ít là 2 năm (28:30). Dầu là tù nhân, nhưng ông được phép ở trong căn nhà thuê, có lính canh (28:16), được tự do tiếp khách và giảng dạy về Đấng Christ. Đã có nhiều tín đồ ở đó (hãy xem lời chào thăm của ông ở thơ Rô-ma, đoạn 16, viết 3 năm trước). Hai năm của Phao-lô ở kinh thành La-mã được kết quả lớn lao, có ảnh hưởng đến cả cung vua (Phi Pl 4:23). Đang khi ở đó, ông đã viết các thơ Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, Phi-lê-môn, và có lẽ thơ Hê-bơ-rơ nữa.
Bản đồ số 58 -- Hành trình của Phao-lô tới thành La-mã
Những ngày sau rốt của Phao-lô
Người ta thường nhìn nhận rằng Phao-lô đã được phóng thích, khoảng năm 63 hoặc 64 S.C.. Ta không biết ông có cứ đi đến xứ Y-pha-nho theo như đã toan định (Cong Cv 15:28) hay không. Theo truyền thoại, thì ông đã đi. Nhưng nếu có đi, thì cũng chẳng ở đó lâu. Dường như ông đã trở lại Hi-lạp và Tiểu-Á-tế-á, khoảng năm 65 đến 67 S.C., trong thời gian đó ông viết thơ Ti-mô-thê và thơ Tít. Rồi ông lại bị bắt và lại bị đưa về La-mã, rồi bị chém đầu khoảng năm 67 S.C..
Tóm tắt đời sống của Phao-lô
(Thử phỏng định các niên hiệu )
Trước hết, Phao-lô xuất hiện với tư cách một tay hung hăng, dữ tơn, bắt bớ tín đồ Đấng Christ, và quả quyết bôi xóa Danh Jêsus. Chắc ông nghĩ rằng sự sống lại của Đức Chúa Jêsus từ trong kẻ chết chỉ là một truyện bịa.
Rồi trên đường đi Đa-mách, ông bị đánh ngã dường như bởi tiếng sét từ trời. Chính Đức Chúa Jêsus hiện ra và phán với ông (khoảng năm 32 S.C.)
Từ lúc đó trở đi, ông là một người biến cải. Với sự sốt sắng và tận tụy vô song trong lịch sử, ông đi lên, đi xuống trên các đại lộ của đế quốc La-mã mà kêu la rằng: "Đức Chúa Jêsus thật đã sống lại từ trong kẻ chết. Quả thật vậy, quả thật vậy, Quả Thật Vậy, Ngài đã sống lại, Ngài đã sống lại, Ngài Đã Sống Lại! "
Tại Đa-mách, chúng cố giết ông. Ông bèn vào xứ A-ra-bi. Rồi ông trở lại Đa-mách. Ông cũng trở lại Giê-ru-sa-lem (khoảng năm 35 S.C.). Chúng cố giết ông. Rồi ông đi Tạt-sơ, ở đó 6, 7 năm.
Ông tới An-ti-ốt (khoảng 42 đến 44 S.C.). Ông lên Giê-ru-sa-lem (khoảng 44 S.C.), đem theo tiền quyên giúp các tín đồ nghèo. Rồi ông trở về An-ti-ốt.
Hành trình truyền giáo thứ nhứt (khoảng 45 đến 48 S.C.). Ông trải qua xứ Ga-la-ti, ghé các thành An-ti-ốt (miền Bi-si-đi), Y-cô-ni, Lít-trơ, Đẹt-bơ. Rồi trở về An-ti-ốt.
Dự hội nghị tại Giê-ru-sa-lem về vấn đề tín đồ dân ngoại có phải chịu phép cắt bì hay không? (khoảng 50 S.C.).
Hành trình truyền giáo thứ hai (khoảng 50 đến 53 S.C.). Ông trải qua xứ Hi-lạp, ghé các thành Phi-líp, Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê, A-thên, Cô-rinh-tô. Rồi trở về Giê-ru-sa-lem và An-ti-ốt.
Hành trình truyền giáo thứ ba (khoảng 54 đến 57 S.C.). Ông ghé thành Ê-phê-sô và trải qua xứ Hi-lạp.
Ông đi Giê-ru-sa-lem năm 58 S.C., đem theo số tiền quyên lớn.
Tại Sê-sa-rê (năm 58-60 S.C.), ông là tù nhân trong dinh quan Thống đốc.
Tại La-mã (năm 61-63), ông vẫn là tù nhân. Tới đây, sách Công vụ các sứ đồ chấm hết.
Ông trở lại Hi-lạp và Tiểu-Á-tế-á, khoảng năm 65-66 S.C..
Bị chém đầu tại La-mã, khoảng năm 67 S.C..
Chức vụ ông kéo dài chừng 35 năm. Trong 35 năm ấy, ông dắt đem vô số người đến cùng Đấng Christ và sáng lập Hội Thánh ở phần nhiều đô thị trọng yếu.
Thỉnh thoảng Đức Chúa Trời làm những phép lạ để giúp đỡ ông. Ông đã bị bắt bớ ở hầu hết các thành. Nhiều lần họ bao vây ông và toan giết ông đi. Ông bị đánh đập, quất bằng roi, cầm tù, ném đá và đuổi từ thành nầy đến thành kia. Trên hết mọi sự đó, còn có "giằm xóc vào thịt" (IICo 2Cr 12:5-10). Sự đau đớn, khổ nạn của ông hầu như không tưởng tượng được. Chắc thân thể ông phải cứng mạnh như sắt. Đức Chúa Trời chắc đã dùng quyền phép siêu nhiên để giữ vẹn mạng sống của ông.
============================

Thơ Rô-ma
Tánh chất căn bản của công việc Đấng Christ
Nền tảng của địa vị loài người trước mặt Đấng Tạo Hóa
Theo ý kiến nhiều người, thì thơ Rô-ma là sách quan trọng hơn hết trong Kinh Thánh sau 4 sách Tin Lành, vì nó là bài Phao-lô giải thích đầy đủ về cách ông hiểu biết tánh chất của Tin Lành, và vì Phao-lô được Đức Chúa Trời lựa chọn đứng đầu những nhà giải thích Tin Lành. Ông Coleridge gọi thơ Rô-ma là "Tác phẩm sâu nhiệm hơn hết từng có xưa nay."
Khó hiểu. Chúng ta thường nghĩ rằng thơ Rô-ma khó hiểu. Có hai lý do khiến ta nghĩ như vậy. Một là bút pháp của Phao-lô. Ông có thói quen bắt đầu một câu, rồi đi ra ngoài đề, ra ngoài đề mãi, đền nỗi trong một vài trường hợp, các câu văn không thay đổi ý tưởng vừa mới bày tỏ, mà lại thay đổi một ý tưởng bày tỏ ở trước xa, làm cho ta khó tìm thấy mạch lạc. Còn lý do khác là thơ Rô-ma giải luận một vấn đề mà đối với chúng ta thì không thành vấn đề chi hết, nhưng đương thời ấy thì là một vấn đề linh động, nóng hổi: Ấy là người dân ngoại có thể trở thành tín đồ Đấng Christ mà không cần trở lại đạo Do-thái chăng? Chúng ta thường nghĩ rằng đạo Đấng Christ là một đạo của dân ngoại, vì rất ít người Do-thái tin theo Ngài. Nhưng lúc đầu đạo Đấng Christ là đạo của người Do-thái, và một số thủ lãnh Do-thái có thế lực đã quyết định phải cứ giữ nguyên như vậy.
Bối cảnh của thơ Rô-ma là người Do-thái thường tin rằng luật pháp của Môi-se có tánh cách chung kết để bày tỏ ý chỉ Đức Chúa Trời và bổn phận loài người; bối cảnh ấy lại cũng là người Do-thái nhấn mạnh rằng người dân ngoại muốn trở nên tín đồ Đấng Christ, thì phải chịu phép cắt bì và vâng giữ luật pháp Môi-se. Vậy, vấn đề nầy vấn vương tâm trí mọi người. Phép cắt bì là một nghi lễ trong thân thể, được coi như lễ đầu tiên để nhập quốc tịch Do-thái.
Phao-lô nhấn mạnh đặc biệt rằng sự xưng loài người là công bình trước mặt Đức Chúa Trời không căn cứ trên luật pháp Môi-se, nhưng trên lòng thương xót của Đấng Christ. Đây không phải là một vấn đề luật pháp chi hết, vì loài người, nhơn cớ bổn tánh tội lỗi của mình, không thể nào sống đúng theo luật pháp Đức Chúa Trời -- vả, luật pháp là cách Đức Chúa Trời bày tỏ sự thánh khiết của Ngài. Nhưng đây hoàn toàn là vì Đấng Christ tha thứ tội lỗi người ta nhơn cớ lòng nhơn ái của Ngài. Trong lời phân tích trên kia, địa vị loài người ở trước mặt Đức Chúa Trời chẳng tùy thuộc việc họ đã làm hoặc có thể làm cho mình, song tùy thuộc việc Đấng Christ đã làm cho họ. Vậy nên Đấng Christ có quyền được mọi người phục tùng, trung thành sùng kính một cách tuyệt đối và hết lòng.
Niên hiệu và cơ hội của thơ tín nầy. Mùa đông năm 57-58 S.C.. Phao-lô đang ở thành Cô-rinh-tô, lúc chấm dứt hành trình truyền giáo thứ ba và gần đi Giê-ru-sa-lem, đem theo số tiền lớn quyên giúp các thánh đồ nghèo. Một bà tên là Phê-bê, ở Xen-cơ-rê, là một vùng ngoại châu thành Cô-rinh-tô, đáp tàu đi La-mã (RoRm 16:1-2). Phao-lô bèn nhơn cơ hội đó mà nhờ bà đem thơ nầy. Khắp đế quốc La-mã không có bưu chánh, trừ ra cho công vụ. Theo như ta được biết, thì mãi sau đây mới có bưu chánh. Thời ấy, những thơ riêng phải do bạn hữu hoặc hành khách bất thần đem đi. Tít đem thơ II Cô-rinh-tô. Ti-chi-cơ đem thơ Ê-phê-sô và thơ Cô-lô-se. Ô-nê-sim đem thơ Phi-lê-môn.
Mục đích của thơ nầy. Để tỏ cho anh em ở La-mã biết rằng ông đang đi đường. Lại nữa, Phao-lô viết thơ nầy trước khi Đức Chúa Trời bảo ông rằng Ngài sẽ gặp ông tại La-mã (Cong Cv 23:11), và ông chưa cảm biết chắc chắc rằng mình sẽ còn sống mà đi khỏi Giê-ru-sa-lem (RoRm 15:31). Trong trường hợp nầy, dường như thuận hiệp cho ông, là Sứ đồ của dân ngoại, để lại tại thủ đô của thế giới dân ngoại một tác phẩm giải thích cách ông hiểu biết tánh chất của công việc Đấng Christ.
Hội Thánh tại La-mã. Phao-lô chưa hề tới đó. Ba năm sau khi viết thơ tín nầy, ông mới tới đó. Có lẽ nguyên điểm của chi hội nầy gồm những người La-mã đã ở thành Giê-ru-sa-lem trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:10). Trong khoảng 28 năm kế tiếp, nhiều tín đồ Đấng Christ ở những miền khác nhau thuộc Đông phương, vì lý do nầy hoặc lý do khác, đã di cư tới kinh thành La-mã; một số tín đồ ở đó đã do Phao-lô dắt đưa tin Chúa và là bạn thiết của ông (xem đoạn 16). Phi-e-rơ chưa có ở đó. Ông chỉ tới đó sau Phao-lô. Nếu ông có ở đó khi Phao-lô viết thơ nầy, thì Phao-lô không nhắc đến tên ông trong lời chào thăm, há chẳng kỳ lạ lắm sao? Việc Phi-e-rơ sáng lập Hội thánh tại La-mã và làm giám mục ở đó 25 năm, chỉ là truyện hoang đường, do người ta bịa đặt để binh vực những quyền lợi riêng.
RoRm 1:1-2:39-- Cả Thế Giới Cần Đến Tin-Lành
Cả loài người mắc tội (1:1-32). Câu văn thứ nhứt rất dài (câu 1-7), tóm tắt cuộc đời của Phao-lô: Đức Chúa Jêsus được các tiên tri dự ngôn, đã sống lại từ trong kẻ chết, và sai Phao-lô đi rao truyền Danh Ngài cho muôn dân. Rồi Phao-lô tỏ ý mong ước đến La-mã từ lâu (câu 9-15). Ông bị ngăn trở, chưa đến đó được, vì còn phải rao truyền Tin Lành ở những khu vực khác chưa được nghe (15:20). Ông không hổ thẹn về Tin Lành (câu 16-17), ngay cả ở La-mã, là cái vực sâu xấu xa, hư hoại nhưng "mạ vàng" và kiêu hãnh. Sự bại hoại kinh khủng của loài người, mô tả ở câu 18-32, đã xuống tới cực độ tại kinh thành La-mã. Đặc biệt là sự buông theo nhục dục (câu 26-27).
Gồm cả người Do-thái (2:1-29). Bức tranh khủng khiếp của Phao-lô mô tả địa vị tội lỗi của loài người gồm cả người Do-thái, mặc dầu họ là dân của Đức Chúa Trời, vì họ phạm hầu hết mọi tội lỗi thông thường của loài người. "Ai" (câu 1) gồm hết thảy chúng ta. Không phải là mỗi người làm mọi việc ghi chép ở 1:29-31. Đó là bức tranh mô tả toàn thể loài người. Nhưng mỗi người chúng ta có phạm một vài điều ghi chép ở đó. "Xét đoán những việc kín nhiệm của loài người" (câu 16). Ngày đó, Ngài sẽ xét xử bổn tánh kín giấu trong lòng, chớ không xét xử theo chủng tộc.
* * *
Thơ Rô-ma 2
3:1-31 -- ĐẤNG CHRIST Là Vãn Hồi Tế Chuộc Tội Loài Người
Tại sao có người Do-thái? (câu 1:20). Nếu về tình trạng tội lỗi, họ chung một địa vị với mọi dân tộc khác trước mặt Đức Chúa Trời, thì tại sao lại cần phải có dân tộc Do-thái? Đáp rằng: Để họ nhận lãnh các sấm ngữ của Đức Chúa Trời và mở đường cho Đấng Christ ngự đến.
Dưới quyền của Đức Chúa Trời, dân tộc Do-thái đã được thành lập để phụng sự một mục đích đặc biệt, là thực hiện kế hoạch từ lâu đời của Đức Chúa Trời khiến cho loài người được cứu chuộc. Nhưng đó chẳng có nghĩa là trước mắt Đức Chúa Trời, họ có tâm chất tốt lành hơn các dân tộc khác. Một trong những mục đích của luật pháp là khiến người ta hiểu rằng họ là tội nhân (câu 20), cần một Cứu Chúa.
Đấng Christ là Vãn hồi tế (câu 21-31). Trong bổn tánh đời đời của các sự vật, vì tội lỗi là tội lỗi, phải là phải và Đức Chúa Trời là công bình, nên không thể có sự thương xót ở ngoài sự công bình. Tội lỗi phải bị hình phạt. Trong Thân vị Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã mang lấy sự hình phạt tội lỗi loài người. Vậy nên Ngài có thể tha thứ tội lỗi loài người, và kể những ai cảm kích tiếp nhận Tế lễ của Cứu Chúa là có chính sự công bình của Cứu Chúa: Sự công bình của Cứu Chúa được kể là của họ.
4:1-25-- Trường Hợp Của Áp-ra-ham
Trường hợp nầy được nêu lên vì những kẻ đề xướng dân ngoại phải vâng giữ luật pháp đã dựa sự đòi hỏi làm phép cắt bì trên lời hứa ban cho Áp-ra-ham, tức là cho dòng dõi ông; vậy, nếu ai không phải dòng dõi của Áp-ra-ham do sanh đẻ, thì phải nhờ phép cắt bì mà trở nên dòng dõi của ông. Phao-lô giải thích rằng lời hứa được ban cho vì cớ đức tin của Áp-ra-ham, khi ông chưa chịu phép cắt bì, và kẻ kế tự ông chính là người có đức tin giống như vậy, chớ không phải những kẻ chịu phép cắt bì. Điểm vĩ đại trong đời sống của Áp-ra-ham là đức tin của ông, chớ không phải phép cắt bì mà ông đã chịu.
5:1-21-- Đấng Christ Và A-đam
Phao-lô dựa vào sự duy nhất của loài người trong A-đam mà minh luận rằng sự chết của Đấng Christ có hiệu lực đền bồi tội lỗi loài người.
Người phản đối thường nói rằng: "Một người chịu chết vì nhiều người thể nào được?" Một người có thể chết thế một người khác, -- như vậy còn có phần công bình. Nhưng một Người chết để phu phỉ án phạt đáng phải giáng trên muôn triệu người, thì thậm vô lý!
Phao-lô đáp rằng người ta không đáng trách vì là tội nhân. Họ đã sanh ra như vậy, và không liên quan gì với sự sanh ra họ. Họ cũng không được hỏi ý kiến xem mình có muốn ra đời chăng? Họ chỉ thức dậy và thấy mình ở trong một thân thể với một bổn tánh tội lỗi. Nhưng Phao-lô nói rằng người sáng lập nhân loại, là A-đam, không được sanh ra cách đó. Khởi đầu ông chẳng có một bổn tánh tội lỗi đâu.
Khi giải thích giáo lý Đấng Christ đền chuộc tội lỗi, Phao-lô không để Ngài đối chiếu với mỗi cá nhân chúng ta, song để Ngài đối chiếu với tổ tông loài người. A-đam là tổ tông thiên nhiên của loài người. Còn Đấng Christ là Tổ tông thiêng liêng. Việc tổ tông nầy làm, thì Tổ tông kia phá đi. Tội lỗi của một người gây cho cả loài người bị hư mất. Vậy, sự chết của một Người đủ khiến cho mọi người thoát khỏi tình trạng hư mất.
6:1-23-- Vậy, Cái Gì Là Cớ Tích Cho Ta Sống Thiện Hảo?
Nều Đấng Christ tha thứ tội lỗi chúng ta và ta chẳng còn ở dưới luật pháp nữa, thì tại sao ta chẳng cứ ở trong tội lỗi? Cứ phạm tội đi, thì Đấng Christ sẽ cứ tha thứ.
Phao-lô đáp rằng không thể tưởng tượng một điều như vậy. Đấng Christ đã chịu chết để cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Sự tha thứ của Ngài cốt để khiến chúng ta gớm ghét tội lỗi mình.
Chúng ta không thể vừa làm tôi tớ tội lỗi, vừa làm tôi tớ Đấng Christ. Phải chọn bên nầy hoặc bên kia. Không thể nào vừa sống trong tội lỗi, vừa đẹp lòng Đấng Christ.
Ấy chẳng có nghĩa là chúng ta có thể toàn thắng hết thảy tội lỗi của mình, và có thể không cần đến sự thương xót của Ngài nữa. Song thật có nghĩa rằng có hai cách sống khác hẳn nhau: Cách sống theo Đấng Christ và cách sống theo tội lỗi. Trong lòng, chúng ta thuộc về bên nầy hoặc bên kia, chớ không thể thuộc về cả hai bên.
Đấng Christ là hiện thân trọn vẹn của luật pháp Đức Chúa Trời, làm nảy trong ta cái cớ tích và cung cấp cho ta cái quyền năng để cứ chiến đấu cho tới khi chính mình đạt tới bậc thánh khiết trọn vẹn, -- bởi ân điển Ngài, đến cuối cùng, bậc thánh khiết nầy sẽ là của chúng ta.
7:1-25-- Tại Sao Có Luật Pháp?
Nếu chúng ta không ở dưới luật pháp nữa, thì ban bố luật pháp làm chi? Luật pháp không được ban bố như một kế hoạch cứu rỗi, nhưng như một biện pháp trù bị để dạy cho loài người thấy mình cần có một Cứu Chúa, để khiến ta biết phân biệt điều phải và điều quấy. Khi nào ta nhận biết mình hoàn toàn yếu đuối, thì mới mong ước có một Cứu Chúa.
Cuộc giao tranh giữa bổn tánh xác thịt và bổn tánh thiêng liêng (câu 14-25). Chúng ta tự hỏi đây có phải bức tranh mô tả chính cuộc giao chiến trong lòng của Phao-lô chăng? Ở ICo1Cr 4:4, ông nói rằng: "Tôi chẳng thấy mình có điều gì đáng tội." Nhưng chắc ông phải cảm thấy trong bổn tánh mình có những sức thúc đẩy mạnh mẽ mà mình phải giao tranh ác liệt không ngừng. Bằng không, ông chẳng bao giờ có thể viết mấy lời nầy. Ông tri ân Đấng Christ, khôn nói nên lời, vì Ngài đã giải cứu ông khỏi cái yếu tố mà ông cảm biết mình không có quyền lực chống lại đó. Sự tri ân nầy khiến ta nhớ lại một nỗi vui mừng vô biên của Luther khi ông thình lình nhận biết rằng Đấng Christ có thể làm cho ông cái điều mà ông đã luống công chiến đấu để tự làm lấy. Đây là tỉ dụ về quyền lực của luật pháp trên một linh hồn sốt sắng nhưng thất vọng vì không thể sống đúng theo luật pháp, và về sự cứu trợ tìm được trong Đấng Christ.
* * *
Thơ Rô-ma 3
8:1-39-- Luật Pháp Của Thánh Linh
Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh được quí mến hơn hết
Thánh Linh ngự trong tín đồ (câu 1-11). Trong Đấng Christ, chúng ta chẳng những được tha thứ tội lỗi, song còn được truyền cho một sự sống mới. Đó là sự tái sanh. Sứ sống thiên nhiên của chúng ta dường như được dầm thấm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và một thần linh măng sữa, một bổn tánh Đức Chúa Trời được sanh ra hơi giống như cách sự sống thân thể ta, tức là bổn tánh A-đam của ta, đã do cha mẹ ta sanh ra. Sự sống thiên nhiên của ta do A-đam mà có. Còn bổn tánh mới của Đức Chúa Trời do Đấng Christ mà có. Đó là một sự thực ở bên trong chúng ta. Có lẽ chúng ta không cảm biết và không nhận thấy nó. Nhưng nó có đó. Chúng ta tiếp nhận nó như một vấn đề đức tin. Vượt quá phạm vi hiểu biết của chúng ta, bên trong ta có sự sống Đức Chúa Trời, có đứa con của Thánh Linh Đức Chúa Trời, được Ngài chăm nom từ ái. Ngài làm việc lặng lẽ, không hề mỏi mệt, không hề đuối sức, để chiếm quyền kiểm soát toàn thân ta và biến đổi ta ra giống như hình ảnh của Đức Chúa Trời. Đó là sự sống sẽ nảy nở thành sự vinh hiển bất diệt trong ngày Phục sanh.
Phận sự chúng ta đối với Thánh Linh (câu 12-17). Bước đi theo Thánh Linh nghĩa là đang khi ta hoàn toàn và tuyệt đối nhờ cậy Đấng Christ để được cứu rỗi, thì ta còn chiến đấu tới cực điểm để sống đúng theo luật pháp của Ngài. Phao-lô nói rất minh bạch rằng ân điển của Đấng Christ chẳng miễn cho ta khỏi phải hết sức cố gắng sống thiện hảo. Bước đi theo xác thịt có nghĩa là buông mình để làm thỏa mãn các sự tham muốn của xác thịt. Thân thể chúng ta là xác thịt. Ta phải sống trong xác thịt. Một số tham muốn của xác thịt là trái lẽ; một số lại hoàn toàn tự nhiên và cần thiết. Chúng ta phải hoàn toàn từ bỏ những tham muốn trái lẽ. Còn những tham muốn khác thì ta được phép chiều theo, song phải cẩn thận giữ lòng ham mến những cái cao cả, siêu phàm.
Muôn vật thọ tạo đang đau đớn (câu 18-25)
Muôn vật thiên nhiên, kể cả chúng ta, đang rên siết mong chờ một cảnh sanh hoạt tốt đẹp hơn sẽ được bày tỏ trong ngày hoàn tất ơn cứu chuộc của Đức Chúa Trời, khi ấy, "thân thể hay chết nầy" (7:24) sẽ nhận được sự tự do, vinh hiển của Thiên đàng. Đó là một quan niệm vĩ đại về công việc của Đấng Christ.
Thánh Linh cầu thay (câu 26-30). Thánh Linh ngự trong ta chẳng những là của cầm về sự sống lại và vinh hiển tương lai của ta, nhưng nhờ Ngài cầu nguyện cho, ta còn biết chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến mọi việc xảy ra làm ích cho mình. Chúng ta có thể quên cầu nguyện. Nhưng Thánh Linh chẳng hề quên. Ngài sẽ đưa chúng ta đến nơi đến chốn.
Lòng yêu thương bất khả xâm phạm của Đấng Christ (câu 31-39). Ngài đã chịu chết vì chúng ta, tha thứ ta và ban chính mình Ngài cho ta trong Thân Vị của Thánh Linh Ngài. Nếu chúng ta thuộc về Ngài, thì không quyền lực nào ở dưới đất, hoặc trên trời, hoặc trong địa ngục, có thể ngăn trở Ngài đưa ta về ở với Ngài trong lòng đời đời của Đức Chúa Trời.
9:1-11:36-- Vấn Đề Không Tin Của Dân Do Thái
Yếu tố lớn lao nhứt ngăn trở toàn thể loài người tiếp nhận Tin Lành của Đấng Christ chính là sự không tin của dân Do-thái. Dầu có rất nhiều người Do-thái, nhứt là ở xứ Giu-đê, đã trở thành tín đồ Đấng Christ, nhưng toàn thể dân Do-thái chẳng những không tin, mà còn chống đối kịch liệt. Các nhà cầm quyền Do-thái đã đóng đinh Đấng Christ vào Thập tự giá. Mỗi khi có cơ hội, họ đều bắt bớ Hội Thánh. Chính những người Do-thái không tin Chúa đã gây rắc rối cho Phao-lô ở hầu hết mọi nơi ông đi. Nếu Đấng Christ thật là Đấng Mê-si đã dự ngôn trong Kinh Thánh của họ, thì tại sao chính dân Đức Chúa Trời lại chối bỏ Ngài như vậy? Phao-lô đáp lại câu hỏi ấy trong ba đoạn nầy.
Sự buồn rầu của Phao-lô vì cớ người Y-sơ-ra-ên (9:1-5). Đây là một cách tỏ lòng buồn rầu rất linh động: Ông hầu như sẵn sàng hiến chính linh hồn mình vì cớ họ.
Quyền Chủ tể của Đức Chúa Trời (9:6-24). Trong khúc sách nầy, Phao-lô không thảo luận sự tiền định các cá nhân cho được cứu rỗi hoặc bị hư mất, nhưng ông minh xác quyền Chủ tể tuyệt đối của Đức Chúa Trời trong sự lựa chọn và quản trị các dân để họ thi hành nhiệm vụ trên thế giới, ngõ hầu đến cuối cùng sẽ đem hết thảy đến đầu phục Ngài. Lời tuyên bố mạnh mẽ ở câu 16 có lẽ gồm cả những cá nhân. Những khúc sách giống như vậy chắc gồm ý ấy: Cong Cv 2:23; 4:28; 13:48; RoRm 8:28-30. Chúng ta không biết làm cách nào để dung hòa quyền chủ tể của Đức Chúa Trời và sự tự do của ý chí loài người. Cả hai giáo lý nầy được dạy rõ trong Kinh Thánh. Chúng tôi tin cả hai giáo lý ấy. Nhưng phải xin nhường người khác giải thích thể nào cả hai giáo lý ấy đều đúng.
Dự ngôn trong Kinh Thánh (9:25-33). Kinh Thánh đã dự ngôn rằng dân Y-sơ-ra-ên bị loại bỏ và các dân ngoại được tiếp nhận. Vậy, chúng ta đáng phải mong chờ tình trạng ấy, chớ chẳng nên vì đó mà vấp phạm.
Chính người Do-thái đáng trách (10:1-21). Đức Chúa Trời chẳng làm cho người Do- thái chối bỏ Đấng Christ. Họ đã tự ý làm như vậy. Đó chỉ là một vấn đề nghe. Họ nghe, nhưng cố ý không vâng lời (câu 18-21). Chúng ta không biết làm thể nào để dung hòa điểm nầy với đoạn 9:16. Trên đời có một vài điều vượt quá phạm vi hiểu biết hữu hạn của chúng ta. Và đây là một điều.
Sự cứu rỗi tương lai của dân Y-sơ-ra-ên (11:1-36). Họ bị loại bỏ tạm thời, và do đó các dân ngoại được cứu rỗi. Nhưng một ngày kia, toàn dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu rỗi (câu 26). Đây không tỏ ra sự trạng ấy sẽ xảy đến khi nào hoặc cách nào. Cũng không tỏ ra sự trạng ấy sẽ liên quan với việc họ trở về xứ Pa-lét-tin thể nào, nhưng chỉ quả quyết rằng sẽ thật có như vậy. Một điểm đen kịt trên khung cảnh lịch sử loài người chính là sự đau đớn của dân tộc khổ não và không vâng lời đó. Nhưng một ngày kia, tình trạng nầy sẽ chấm dứt. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ ăn năn, quay về với Chúa mà họ đã đóng đinh vào Thập tự giá. Sẽ có sự tha thứ và vui mừng. Rồi muôn vật sẽ chúc tạ Đức Chúa Trời vì sự khôn khoan không dò được của hóa cơ Ngài.
* * *
Thơ Rô-ma 4
12:1-14:23 - Cuộc Đời Được Biến Cải
Bao giờ cũng vậy, Phao-lô chấm dứt bài giảng luận thần học bằng những lời nhiệt thành khuyên bảo hãy sống cách nào cho xứng hợp với Đấng Christ. Trong những đoạn trước, ông đã nhấn mạnh rằng địa vị chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời hoàn toàn tùy thuộc sự thương xót của Đấng Christ, chớ không tùy thuộc việc lành riêng của mình. Nhưng sự thương xót đã tha thứ rộng rãi biết bao đó cũng là chính yếu tố kích thích ta làm lành một cách mạnh mẽ, không sao cưỡng lại được, và thay đổi cả nhỡn tuyến của ta đối với cuộc đời.
Tinh thần khiêm cung (câu 3-8). Những lời nầy đặc biệt dành cho các vị thủ lãnh Hội Thánh. Bao phen địa vị thủ lãnh đáng làm cho ta khiêm nhường, lại khiến ta kiêu hãnh! Bao phen người có một tài năng nào lại có ý làm giảm giá trị tài năng của kẻ khác! Phao-lô giải luận điều nầy tường tận hơn ở I Cô-rinh-tô, đoạn 12 đến 14.
Các đức tánh thiên thượng (câu 9-21). Lòng yêu thương anh em. Ghét điều ác, nhứt là điều ác ỏ trong chúng ta. Siêng năng, vui vẻ, kiên nhẫn. Hay cầu nguyện, tiếp khách và có thiện cảm. Để ý đến những điều chi đáng tôn quí. Ham chuộng hòa bình, không căm giận.
Vâng phục luật pháp nhà nước (13:1-7). Các chánh quyền do Đức Chúa Trời thiết lập (câu 1), mặc dầu thường khi lại do người tội ác đảm nhiệm; ấy để ngăn cản các phần tử phạm pháp trong xã hội loài người. Tín đồ Đấng Christ phải là những công dân tuân giữ luật pháp của chánh phủ đang cai trị họ.
Mọi sự được gồm tóm trong tình yêu thương (câu 8-10). Yếu tố ngăn cản tội ác chính là tôn trọng đúng mức các quyền lợi của kẻ đồng loại, dường như là của chính mình vậy. Ấy là sự thực hành Luật Vàng.
Hừng đông gần lộ ra (câu 11-14). Lời nầy liên quan tới những cá nhân đã tin theo Đấng Christ được ít lâu, hoặc tới kỷ nguyên Cơ-đốc-giáo gần kết liễu. Phao-lô vui sướng vì nghĩ rằng gần đến ngày Chúa hiện ra. Xem ở thơ I và II Tê-sa-lô-ni-ca.
Đoán xét lẫn nhau (14:1-23). Cả đoạn nầy luận về vấn đề tín đồ lên án lẫn nhau trong những việc như ăn thịt và giữ ngày. Dầu không nói rõ, song thịt luận ở đây chắc là thịt đã dâng cúng thần tượng. Xem ở ICo1Cr 8:1-13. Hoặc có lẽ là thịt thú vật mà ta ăn, trái lại với sự kiêng cữ chỉ ăn rau. Mỗi trường hợp là tùy theo lương tâm của cá nhân. Còn về sự giữ ngày, thì không nói đến ngày Sa-bát, nhưng chắc là nói đến việc người Do-thái nhấn mạnh rằng dân ngoại phải giữ ngày Sa-bát và những ngày lễ khác của người Do-thái. Chúa nhật, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, là ngày của tín đồ Đấng Christ. Nếu thêm vào đó, họ muốn giữ ngày Sa-bát hoặc những ngày lễ khác của người Do-thái, thì túy ý, song không nên bắt buộc kẻ khác cũng phải giữ.
15:1-33-- Phao-lô Toan Định Đến La-mã
Anh em hiệp một (câu 1:14). Tiếp tục những lời khuyên bảo trong đoạn trước. Do đoạn 16:17 cùng bài giải luận về ngày và thịt ở đoạn 14, chúng tôi hơi ngờ Phao-lô đã nhờ cách nào đó mà hay tin rằng một vài thủ lãnh Do-thái ở La-mã quyết định bắt các tín đồ dân ngoại phải theo tập tục Do-thái.
Ông toan định đến La-mã (câu 15-33). Nếu Phao-lô giống như một số người khác, thì ngay khi được Đấng Christ phong làm Sứ đồ đặc biệt của các dân ngoại, ông đã lập tức đi tới La-mã, thủ đô của thế giới dân ngoại, lấy đó làm trụ sở, và lo rao giảng Tin Lành khắp đế quốc La-mã. Một lý do ông không làm như vậy có lẽ là vì kể từ ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:10), một Hội Thánh lớn đã thành lập tại La-mã. Vả, sứ mạng của ông là rao truyền Đấng Christ ở những miền người ta chưa được biết Ngài (câu 20). Chương trình của ông là cứ đi từng khu vực một, và lần lần tiến về phía Tây. Bây giờ, sau 20 hoặc 30 năm, tức là sau khi trồng vững Tin Lành ở Tiểu-Á-tế-á và Hi-lạp, ông sẵn sàng tiến tới Y-pha-nho và dọc đường dừng lại tại La-mã (câu 24). Ông có ý tới Y-pha-nho hay không, xin xem Công vụ các sứ đồ, đoạn 28.
16:1-27-- Những Việc Riêng
Đây là đoạn chào thăm từng người. Có ghi tên 26 thủ lãnh Hội Thánh, là thiết hữu của Phao-lô.
Phê-bê (câu 1-2), người đem thơ tín nầy; có lẽ bà đi La-mã để buôn bán. Xen-cơ-rê là hải cảng phía Đông của thành Cô-rinh-tô.
Bê-rít-sin và A-qui-la (câu 3-5) trước kia ở La-mã (Cong Cv 18:2). Ông bà ở với Phao-lô tại Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô, và lúc nầy đã trở về La-mã. Có một Hội Thánh nhóm tại nhà họ.
Ê-bai-nết (câu 5) là người tin Chúa đầu tiên "trong xứ A-si," hiện đang ở La-mã.
Ma-ri (câu 6). Hãy chú ý, nhiều thủ lãnh thuộc phái phụ nữ.
An-trô-ni-cơ và Giu-ni-a (câu 7), là bà con của Phao-lô, lúc nầy đã cao tuổi, vì đã tin Chúa trước Phao-lô và cùng ở tù với ông.
Am-li-a, U-rơ-banh, Ếch-ta-chy, A-be-lơ (câu 8-10), là bạn hữu của Phao-lô.
"Các người ở nhà A-rít-tô-bu" (câu 10) và "các người ở nhà Nạt-xít" (câu 11), có lẽ là những chi hội ở trong nhà họ.
Hê-rô-đi-ôn cũng là một người bà con của Phao-lô.
Try-phe-nơ, Try-phô-sơ và Bẹt-si-đơ (câu 12) là tên phụ nữ.
Ru-phu (câu 13), có lẽ là con trai của Si-môn, người đã vác Thập tự giá của Đức Chúa Jêsus (Mac Mc 15:21). Mẹ của Ru-phu đã chăm lo cho Phao-lô như cho con trai mình vậy.
A-sin-cơ-rích, Phơ-lê-gôn, Hẹt-me, v.v... (câu 14) và các anh em ở với họ, tức là chi hội của họ.
Phi-lô-lô-gơ, Giu-li, v.v.. (câu 15) và các thánh đồ ở với họ, tức là chi hội của họ.
Tẹt-tiu (câu 22) chép những lời Phao-lô đọc, tức là thơ ký của ông.
Gai-út (câu 23), nhà ông nầy là nơi Phao-lô đang trú ngụ và là nơi nhóm họp chung cho các tín đồ Cô-rinh-tô.
Ê-rát (câu 23) chắc là một người có thế lực lớn, vì làm quan kho bạc thành Cô-rinh-tô.
==============================

Thơ I Cô-rinh-tô
Phần lớn luận về một vài vụ lộn xộn trong Hội Thánh
Phe đảng. Hành vi trái đạo đức. Kiện cáo. Của cúng thần tượng. Lạm dụng Tiệc Thánh. Các Sứ đồ giả. Vấn đề hôn nhân. Hành vi vô trật tự của hội chúng. Chức phận của phụ nữ trong Hội Thánh. Các tà giáo về sự sống lại.
Thành Cô-rinh-tô (xem bản đồ ở dưới Công vụ các sứ đồ, đoạn 18). Thủ đô thương mại của xứ Hi-lạp; một trong những đô thị lớn nhứt, giàu nhứt và quan trọng nhứt của đế quốc La-mã, dân số 400.000 người, chỉ kém La-mã, A-léc-xăn-đơ-ri, và An-ti-ốt. Tọa lạc tại eo đất Hi-lạp, trên thương lộ chánh yếu của đế quốc; nền thương mại của thế giới chạy qua các hải cảng của nó. Cô-rinh-tô là "một đô thị có danh tiếng và phóng túng, tại đó các thói hư nết xấu của Đông phương và của Tây phương gặp nhau." Phao-lô đã ở đây một năm rưỡi và sáng lập được một Hội Thánh lớn nhứt (xem Công vụ các sứ đồ, đoạn 18).
Cơ hội viết thơ tín nầy. Khoảng 3 năm sau khi Phao-lô đi khỏi Cô-rinh-tô, đang khi ông ở thành Ê-phê-sô, cách đó chừng 200 dặm về phía Đông, ở bên kia biển Egée (xem bản đồ ở dưới Công vụ các sứ đồ, đoạn 18), và đang làm công việc lạ lùng hơn hết trong cả đời sống lạ lùng của ông, thì các thủ lãnh Hội Thánh ở Cô-rinh-tô cử một phái đoàn đến Ê-phê-sô để thỉnh vấn ông về một vài vấn đề nghiêm trọng đã nêu lên và một vài vụ lộn xộn đã xảy ra. Phao-lô bèn viết thơ tín nầy. Ông đã viết một thơ tín trước (5-9), có lẽ là nhiều thơ tín trước. Hai đô thị nầy ở trên thương lộ náo nhiệt, tàu bè chạy qua, chạy lại không dứt.
Niên hiệu. Khoảng năm 57 S.C., trước Lễ Ngũ Tuần. Ông toan định đi đến thành Cô- rinh-tô, do đường Ma-xê-đoan (ICo1Cr 16:5-8).
ICo1Cr 1:1-31 -- Bè Đảng Trong Hội Thánh
Tình hình. Tại Cô-rinh-tô, cũng như ở những đô thị khác (trừ Giê-ru-sa-lem), các tín đồ không có một nơi nhóm họp trung ương rộng lớn. Mãi 200 năm sau mới bắt đầu xây cất nhà thờ, tức là lúc cơn bắt bớ đã dịu bớt. Họ nhóm họp ở các tư gia, phòng lớn, hoặc bất cứ nơi nào có thể nhóm họp. Có hàng mấy ngàn tín đồ ở Cô-rinh-tô. Không phải một chi hội lớn, nhưng là hàng mấy chục chi hội nhỏ, mỗi chi hội có các vị thủ lãnh riêng. Các chi hội nầy biến thành những đơn vị đối thủ và tương tranh, chớ không phải là những đơn vị cộng tác vì chánh nghĩa chung của Đấng Christ trong một đô thị tội ác.
Bè đảng. Một vài người Hi-lạp ham chuộng sự suy cứu theo trí năng và kiêu hãnh vì trí thức của mình, đã khoe khoang nhiều về những cách mình giải thích đạo Đấng Christ theo triết lý. Trái lại, những người theo phong tục Do-thái, là kẻ thù thâm căn cố đế của Phao-lô, đã sớm tỏ mặt và nhấn mạnh rằng người Hi-lạp không thể làm tín đồ Đấng Christ mà lại không vâng giữ luật pháp Môi-se. Ngoài sự kết hợp chung quanh giáo lý nầy hoặc giáo lý khác, họ còn nhập đảng ủng hộ thủ lãnh nọ hoặc thủ lãnh kia. Như vậy, Hội Thánh chia làm nhiều bè đảng, mỗi bè đảng cố in nhãn hiệu nhỏ bé của mình trên Đấng Christ; đó là một thói quen tới ngày nay vẫn còn thạnh hành.
2:1-16 -- Sự Khôn Ngoan Của Đức Chúa Trời
Phe "Trí thức " đã bị Phao-lô đả kích và quở trách nặng nề. Thành Cô-rinh-tô ở gần thành A-thên, là nơi nhan nhản những kẻ ngu dại đi giễu quanh như các nhà triết lý. Phao-lô ít được thành công tại A-thên. Tin Lành Đấng Christ dành cho thường dân. Bề nào giới trí thức cũng thấy khó có sự khiêm nhường trong trí não để nhìn nhận mình cần Cứu Chúa. Cô-rinh-tô là một đô thị thương mại. Tại đây Tin Lành Đấng Christ được tiếp nhận nồng hậu bội phần hơn là tại trung tâm đại học kia. Nhưng tinh thần của A-thên đã thấm vào Hội Thánh Cô-rinh-tô. Chắc có rất nhiều thủ lãnh nói dông dài về "sự khôn ngoan," và rõ ràng muốn tỏ ra mình xuất sắc trong cuộc tranh luận, cùng giữ một thái độ bề trên, khinh khi đối với những giáo sư thấp kém. Thời ấy cũng như ngày nay, các bậc trí thức (cũng như người thường) dường như thấy khó kiên nhẫn chịu đựng ý kiến của kẻ khác. Cả đến ngày nay vẫn có sự cuồng tín như vậy trong các đại học đường cũng như ở bất cứ nơi nào khác. Nhiều bậc trí thức dầu hay nói đến sự khoan dung tín ngưỡng, song lại ít kể đến những ai không đồng quan điểm với mình. Phao-lô là một người xuất thân ở đại học đường và là nhà học giả xuất sắc đương thời mình, song ông khinh dể sự phô trương học vấn ra vẻ mô phạm. Học vấn rất đáng mong ước và đáng phải khiến ta rộng lượng đối với kẻ ngu dốt, nhưng người có học vấn lại thường hay kiêu hãnh vì tự cho là quan trọng.
3:1-22-- Sự Lớn Lao Của Hội Thánh
Sự tự phụ về triết lý của họ là dấu hiệu tỏ ra họ còn thơ ấu phần thiêng liêng; nó sanh ra bè đảng, có mòi tiêu diệt Hội Thánh (câu 17), và kết quả chẳng làm được điều gì có giá trị trường cửu (câu 12-15). Hội Thánh lớn lao quá, không thể làm cái ổ riêng của một nhóm đảng viên như vậy (câu 21-23). Tại sao không trưởng thành đủ để nhìn thấy sự trạng ấy?
4:1-21 -- Phao-lô Tự Bào Chữa
Có một nhóm thủ lãnh đông đúc vốn do Sứ đồ Phao-lô dắt đem trở lại tin Chúa, nhưng đang khi ông vắng mặt, họ đã gây được ảnh hưởng, tự cho là quan trọng, và toan kéo cả Hội Thánh đi theo mình. Họ có thái độ rất ngạo mạn, hách dịch và khoe khoang đối với Phao-lô. Vậy nên ông phải tự bào chữa ở đây.
* * *
I Cô-rinh-tô 2
5:1-13-- Tội Loạn Luân
Một người trong vòng họ công khai ăn ở với vợ (bé) của cha mình. Hội Thánh không trừng phạt nhưng lại tự cao vì mình khoan hồng dung nạp một người như vậy. Khúc sách nầy là mạng lịnh trực tiếp của Phao-lô truyền "phải phó một người như thế cho quỉ Sa-tan" (câu 5), nghĩa là chánh thức dứt phép thông công hắn và loại ra ngoài Hội Thánh vì hai mục đích: Dùng làm gương để ngăn cản tệ đoan ấy lan rộng trong Hội Thánh, và hy vọng khiến người phạm tội ăn năn. Trường hợp nầy lại được nhắc đến ở II Cô-rinh-tô, đoạn 2.
6:1-20 -- Các Vụ Kiện Cáo Và Hành Vi Trái Đạo Đức
Kiện cáo trước tòa án ngoại đạo (câu 1-8). Những kẻ theo đạo có sự yêu thương anh em mà lại phơi bày các mối bất hòa trước mặt người ngoại đạo, thì rất không thích hợp. Tín đồ Đấng Christ sẽ đồng công với Đức Chúa Trời trong cuộc chung thẩm thế giới, vậy mà họ không thể giàn xếp những vụ tranh chấp riêng của mình (câu 2-7). Tại sao không vui lòng chịu sự trái phép?
Hành vi trái đạo đức (câu 9-20). Vénus là nữ thần chánh yếu của thành Cô-rinh-tô. Miễu thờ nó là một trong những công trình xây cất tuyệt mỹ của thành nầy. Trong miễu thờ nầy có một ngàn nữ tế sư, tức là kỵ nữ, do công chúng đài thọ, luôn luôn sẵn sàng hành lạc để thờ lạy nữ thần. Một số tín đồ Cô-rinh-tô đã quen với một "tôn giáo" khuyến khích sống trái đạo đức, nên thấy hơi khó quen với tôn giáo mới cấm sống trái đạo đức. Khi luận về sự ăn của cúng thần tượng (luận thêm ở 10:14-33), Phao-lô đã nói (có lẽ trong thơ tín được nhắc đến ở đoạn 5:9) rằng: "Mọi sự... có phép làm" (câu 12). Rõ ràng lắm, một số người trong vòng họ đã trưng dẫn lời ấy để binh vực sự gian dâm. Phao-lô bèn lặp lại lời ấy và nói rằng không thể ứng dụng nó như vậy. Ông tích cực cấm tín đồ không được phóng túng cách ấy.
7:1-40 -- Hôn Nhân
Rõ ràng lắm, họ đã viết thơ hỏi ông rằng tín đồ Đấng Christ thành hôn, thì có chánh đáng chăng? Lạ thật, họ kiêu hãnh về trường hợp loạn luân (5:2), nhưng lại do dự đối với sự hôn nhân hợp pháp. Phao-lô khuyên nên cưới vợ lấy chồng, trừ ra những người có "ân tứ" (chữ "ban" ở câu 7 nên dịch là "ân tứ" kiềm chế được nhục dục. Chính Phao-lô ở độc thân (câu 8). Có người cho rằng ông góa vợ và vợ ông qua đời lúc ông còn trẻ tuổi, vì hai lý do: Một, ông là nhân viên tòa công luận và có quyền đầu phiếu (26:10 -- mấy chữ "cũng đồng một ý" có thể dịch là "đầu phiếu"); người ta nói rằng điều kiện cần thiết trước nhứt để đầu phiếu như vậy là phải có vợ. Thứ hai, đoạn nầy dường như được viết ra bởi một người biết ít nhiều những sự mật thiết của đời sống hôn nhân.
8:1-13-- Của Cúng Thần Tượng
Tại Hi-lạp có nhiều thần, và phần nhiều thịt bày bán ở chợ đều đã cúng một thần tượng nào rồi. Vấn đề nêu lên chẳng những gồm sự ăn thịt, song gồm cả sự dự phần giao tế với bạn hữu ngoại đạo hoặc trong miễu thờ ngoại đạo, hoặc trong nhà riêng, -- phần nhiều cuộc giao tế nầy thường có sự phóng túng đáng hổ thẹn kèm theo. Vấn đề nầy được giải luận thêm ở đoạn 10:14-33.
9:1-27-- Cung Lương Mục Sư
Trong những điểm mà kẻ chống đối nêu lên nghịch cùng Phao-lô, họ có nói rằng ông không nhận lãnh lương hướng tại Cô-rinh-tô (IICo 2Cr 12:13), và đối với trí óc tham lam của họ, thì cử chỉ ấy có vẻ khả nghi. Phao-lô giải thích rằng ông có quyền được Hội Thánh trợ cấp (câu 4, 5). Chúa đã truyền phán rõ ràng rằng Mục-sư phải được trợ cấp như vậy (câu 4, 5). Theo như có chép trong Kinh Thánh, thì Phao-lô không lãnh lương của chi hội nào hết, trừ ra của chi hội Phi-líp. Tại Cô-rinh-tô, Ê-phê-sô, Tê-sa-lô-ni-ca, ông làm nghề riêng để tự nuôi mình. Một phần nguyên tắc của đời ông là hết sức lo sao cho có thể giảng mà không lãnh lương (câu 16-18). Ông được thỏa mãn riêng nhiều lắm vì nghĩ rằng mình làm quá mức Chúa truyền bảo mình làm. Ông cũng không muốn gương tốt của mình bị gièm pha bởi các giáo sư giả chỉ cốt lo lương bổng (IICo 2Cr 11:9-13).
ICo1Cr 10:1-33-- Nguy Hiểm Của Sự Sa Ngã. Thịt Cúng
Hãy coi chừng (10:1-13). Phao-lô vừa nói rằng mình hết sức cố gắng, kẻo đến cuối cùng sẽ bị loại ra. Lời ấy khiến ông nhớ đến nỗi nguy hiểm tương tự cho toàn thể tín đồ Đấng Christ. Họ nên cẩn trọng giữ đạo, thì tốt hơn. Phần nhiều người được giải phóng khỏi Ai-cập đều chết trước khi tới Đất Hứa. Các sự cám dỗ khiến họ ngã chết dọc đường cũng rất giống các sự cám dỗ mà tín đồ Cô-rinh-tô phải đương đầu (câu 7-8), tức là phóng túng theo tư dục. Nếu họ tận tâm và quả quyết chiến đấu để đắc thắng như ông đã làm (9:25-27), thì lời hứa của Đức Chúa Trời có hiệu lực chống lại bất cứ sự cám dỗ nào (câu 13).
Của cúng thần tượng (câu 14-33), tiếp theo đoạn 8. Ở đoạn 8, ông đã nêu lên nguyên tắc tổng quát kiềm chế hành vi của chúng ta trong những vấn đề như vậy, và nguyên tắc ấy là lòng yêu thương anh em. Có những điều quan trọng hơn sự ăn thịt cúng. Tới đây, ông cấm tín đồ dự phần cúng tế trong các miễu thờ ngoại đạo; nhưng ông giải thích rằng khi mua thịt ngoài chợ, không cần phải hỏi nó đã dâng cho thần tượng chăng (câu 25), hoặc khi dự tiệc trong nhà riêng cũng vậy (câu 27); nhưng nếu có ai bảo mình rằng đó là của cúng thần tượng thì chớ ăn.
I Cô-rinh-tô 3
11:1-34-- Chức Phận Của Phụ Nữ Trong Hội Thánh, Tiệc Thánh
Đờn bà trùm đầu lại mà cầu nguyện hoặc giảng đạo (câu 2-16). Trong các đô thị Hi-lạp và Đông phương, phụ nữ có tục lệ trùm đầu lại trước công chúng, trừ ra bọn đờn bà xấu nết. Thành Cô-rinh-tô đầy dẫy bọn "kỵ nữ trong miễu thờ." Một vài nữ tín đồ lợi dụng sự tự do mới tìm được trong Đấng Christ, bèn táo bạo bỏ khăn trùm đầu đang khi nhóm họp ở nhà thờ; đó là điều làm cho những người nhu thuận hơn phải kinh khiếp. Phao-lô bảo họ chớ bất chấp dư luận đối với những cái được coi là hợp với nết đoan trang của phụ nữ. Trước mặt Đức Chúa Trời, đờn ông và đờn bà có giá trị bằng nhau. Nhưng tự nhiên, có một vài điểm phân biệt giữa đờn ông và đờn bà, không có nó, thì xã hội loài người chẳng tồn tại được. Nữ tín đồ sống giữa xã hội ngoại đạo, phải cẩn thận trong sự canh tân, kẻo làm cho đạo Tin Lành bị hổ thẹn. Khi đờn bà hóa ra giống đờn ông nhiều quá, thì thường là hư hại. "Các thiên sứ" thường được miêu tả là đang nhìn xem cuộc thờ phượng của tín đồ Đấng Christ.
Tiệc Thánh (câu 17-34). Dường như sau khi chấm dứt chế độ cộng đồng ẩm thực trong Hội Thánh đầu tiên (Cong Cv 2:44-45), thì các tín đồ giàu có hơn đã đem theo đồ ăn uống tới một vài cuộc nhóm họp để mở "tiệc yêu thương" (Giu Gd 1:12) sau khi dự Tiệc Thánh, và kẻ giàu, người nghèo đều chung bữa tiệc yêu thương ấy. Tại Cô-rinh-tô, bữa tiệc nầy đã hoàn toàn làm lu mờ Tiệc Thánh. Những người đem thực phẩm theo đã ăn riêng với bạn đồng phái, chớ không chờ đợi cả hội chúng họp mặt. Họ bắt chước sự ăn uống say sưa của người ngoại đạo trong miễu thờ thần tượng, và như vậy, đã đổi "tiệc yêu thương" ra cơ hội ăn uống tham lam, làm mất hết cả ý nghĩa của Tiệc Thánh.
ICo1Cr 12:1-31-- Các Ân Tứ Thiêng Liêng
Đang khi Kinh Thánh Tân Ước được trứ tác lần lần, thì tại một vài nơi và trong một vài cơ hội, Đức Chúa Trời ban sự phát hiện đặc biệt và lạ lùng của Đức Thánh Linh để giúp các chi hội tự hướng dẫn trong lẽ thật. Điều nầy cần thiết, vì các Sứ đồ có ít, các chi hội ở cách xa nhau, phương tiện chuyên chở và giao thông chậm chạp, không có xe lửa và bưu chánh hoặc máy thâu thanh, tư tưởng không thể đi mau hơn người đi đường, các chi hội ở khắp nơi nhan nhản giáo sư giả đang có đủ thứ chủ trương về Đấng Christ, và các chi hội lại không có sách vở gì làm điển cứ cho những thực sự.
Dường như các ân tứ của Đức Thánh Linh mới được biểu dương hiển nhiên tại Cô- rinh-tô. Trong các ân tứ ấy có sự "nói tiếng lạ." Có người cho rằng đó là một cách "nói liếng thoắng trong lúc xuất thần nhập hóa" mà chính người nói hoặc bất cứ người nào khác đều không hiểu được, trừ phi nhờ một ân tứ khác, là sự "thông giải." Ấy là nói ngoại ngữ thì có lẽ đúng hơn, y như các Sứ đồ đã nói trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:8). Đó là ân tứ mà tín đồ Cô-rinh-tô muốn có. Họ đã nhiệt liệt ham thích ân tứ ấy. Nếu trong cuộc nhóm họp, một anh em có thể đứng dậy nói thứ tiếng mà kẻ ngồi bên biết anh em đó chưa hề học, thì đó là bằng cớ rõ rệt rằng anh em đó ở dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Đức Thánh Linh. Và họ sẽ ngưỡng mộ anh em đó. Thời ấy cũng như ngày nay, một số người đi nhà thờ vì cớ danh vọng mình có thể nhờ đó mà được. Vậy nên, đoạn luận về Lòng Yêu thương đã được đặt vào bài giải luận về giá trị tương đối của các ân tứ thiêng liêng.
ICo1Cr 13:1-13-- Lòng Yêu Thương
Có người cho rằng một phần đoạn nầy có lẽ vốn là một bản thánh ca của các tín đồ đầu tiên. Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh được quí mến hơn hết, vì nó muôn đời bày tỏ giáo lý yêu thương thiên thượng của Đức Chúa Jêsus. Đạo Đấng Christ dạy về lòng yêu thương trước nhứt. Lòng yêu thương có năng lực để gây dựng Hội Thánh hơn hết mọi sự phát hiện lạ lùng của quyền phép Đức Chúa Trời. Sự trợ lực đặc biệt là cần thiết đương thời Hội Thánh còn ấu trĩ. Nhưng nó "sẽ hết,... sẽ thôi" (câu 8), duy lòng yêu thương còn lại đời đời. Yêu thương là bậc hoàn hảo của tâm tánh loài người, là năng lực cuối cùng và mạnh mẽ hơn hết của vũ trụ, là nguyên chất của bổn tánh Đức Chúa Trời. Chúng ta thảy đều có thể có sự yêu thương. Nó là khí giới hữu nghiệm hơn hết, vô địch, bất tử và còn đến đời đời .
14:1-40-- Nói Tiếng Lạ Và Noi Tiên Tri
Giá trị tương đối (câu 1-33). Ở đoạn 12:8-10, Phao-lô đã kê khai những ân tứ khác nhau của Đức Thánh Linh, và giải thích rằng hết thảy ân tứ là cần thiết, mỗi cái ở vị trí riêng của nó. Hội Thánh là một cơ thể phức tạp, cũng như thân thể loài người, đòi hỏi nhiều cơ năng, và mọi phần phải hoạt động hòa hiệp với nhau. Cũng như trong thân thể, một vài phần thấp thỏi hơn và thường không được nói đến, lại thật là cần thiết hơn cả. Đoạn nầy dành riêng giải luận sự "nói tiếng lạ" và "nói tiên tri," có lẽ vì đó là hai ân tứ thạnh hành hơn hết và được người ta tìm kiếm hơn hết. Dầu "nói tiên tri" thường có nghĩa là rao trước những biến cố tương lai, song ở đây dường như có nghĩa là "dạy dỗ" với sự tiếp trợ đặc biệt của Đức Thánh Linh. Nói tiên tri quí hơn "nói tiếng lạ" bội phần, vì mọi người hiểu được, còn "tiếng lạ" thì chỉ có ít người ngoại quốc hiểu được mà thôi.
Sức mạnh của một cuộc thờ phượng điều khiển đúng cách (câu 24-25). Nó khiến người chưa tin Chúa tới dự phải sấp mình xuống mà kêu lên rằng Đức Chúa Trời có ở đó! Ôi ước gì ngày nay có những cuộc thờ phượng như vậy, thay cho một đằng là nghi thức chết ngắt và một đằng là thái độ bất kính, đùa giỡn!
Đờn bà lên tiếng trong nhà thờ (câu 33-40). Ở đây, Phao-lô cấm (câu 34-35) cái điều dường như ông đã cho phép ở đoạn 11:5. Chắc đã có một trường hợp địa phương nào mà ta không được biết, khiến cho ông phải truyền những chỉ thị nầy. Có lẽ một vài phụ nữ rất táo bạo, có lẽ họ là kỵ nữ trong miễu thờ trở lại tin Chúa, đã tự nêu tên tuổi lên. Xem thêm ở dưới I Ti-mô-thê, đoạn 2.
* * *
I Cô-rinh-tô 4
15:1-58-- Sự Sống Lại
Một vài bậc thủ lãnh tại Hội Thánh Cô-rinh-tô đã chối bỏ, không tin có sự sống lại (câu 12); thực sự ấy tỏ ra tà giáo đã xen vào Hội Thánh tới mực nào. Phao-lô dùng lời lẽ mạnh mẽ hơn hết mà ông có thể dùng để quả quyết rằng nếu không có hy vọng sống lại, thì đạo Đấng Christ chẳng có lý do tồn tại.
Sự sống lại của Đức Chúa Jêsus từ trong kẻ chết là điệp khúc không hề thay đổi của các Sứ đồ. Xem ở dưới Cong Cv 4:2. Đoạn 15 của thơ I Cô-rinh-tô nầy là bài giải luận sự sống lại đầy đủ hơn hết trong Tân Ước. Đây là đoạn duy nhứt vĩ đại hơn hết trong cả Kinh Thánh.
Sự sống lại là một thực trạng được chứng minh bởi những chứng nhân thật đã thấy Đức Chúa Jêsus sống sau khi Ngài phục sanh. Chính Phao-lô đã được thấy Ngài. Không có cách nào khác để giải thích sự biến chuyển trong đời Phao-lô. Việc xảy ra trên đường đi Đa-mách chẳng phải là ảo giác đâu. Chính Đức Chúa Jêsus có ở đó.
Đức Chúa Jêsus đã hiện ra với các Sứ đồ, hoặc từng người, hoặc từng nhóm; ngoài ra, Ngài còn hiện đến với hơn 500 môn đồ. Việc xảy ra đã 27 năm, và hơn một nửa trong số trên 500 người đó còn sống (câu 6).
Thoạt tiên các môn đồ chậm tin rằng Đức Chúa Jêsus đã sống lại từ trong kẻ chết. Nhưng khi họ, rốt lại, đã tin quyết rằng Ngài thật phá tan xiềng xích của Tử thần, sống đàng hoàng mà bước ra khỏi mồ mả, thì sự trạng ấy đối với họ rất là kỳ lạ và đem một ý nghĩa hết sức mới mẻ vào cuộc đời, đến nỗi dường như không còn chi đáng kể nữa. Rồi họ đi lên, đi xuống trên các đại lộ của đế quốc La-mã, thuật truyện tích Chúa sống lại một cách sốt sắng và thành thực biết bao, đến nỗi muôn ngàn người khác cũng tin, dầu phải chết, cũng vui lòng.
Sự sống lại của Đức Chúa Jêsus từ trong kẻ chết là một thực sự quan trọng và vững vàng hơn hết trong cả lịch sử.
Truyện tích Chúa sống lại đã lưu truyền cho chúng ta trải qua các thế kỷ, làm cho đời sống loài người được đẹp đẽ và vinh hiển vì cớ hào quang của sự bất diệt. Truyện tích ấy khiến chúng ta cảm biết chắc chắn rằng vì Ngài sống lại, nên ta cũng sẽ sống. Truyện tích ấy khiến lòng ta rung động vì nghĩ rằng mình bất diệt; rằng ta đã bắt đầu một cuộc đời không hề chấm dứt; rằng không chi làm hại ta được; rằng sự chết chỉ là một việc xảy ra khi ta từ giai đoạn nầy của cuộc đời bước qua giai đoạn kia; rằng ở đời nầy hoặc ở đời sau, ta vẫn thuộc về Ngài và làm việc Ngài dành cho mình làm; rằng muôn triệu đời sau khi mặt trời đã nguội lạnh, ta vẫn còn thanh xuân trong những nguồn suối đời đời của Đức Chúa Trời.
Điều duy nhứt đáng vui mừng hơn hết trong cả phạm vi từng trải của loài người chính là ý nghĩ rằng chúng ta bất diệt; rằng ta không thể chết; rằng bất luận sự gì có thể xảy đến cho thân thể nầy, chúng ta sẽ cứ sống đời đời mãi mãi. Trong lòng chúng ta cảm biết chắc chắn như vậy, vì Đức Chúa Jêsus đã sống lại từ trong kẻ chết.
Nếu truyện tích nầy của Đức Chúa Jêsus là thật, thì cuộc đời tốt đẹp, vinh hiển, hướng vào một đại lộ vô cùng tận! Nếu truyện tích nầy của Đức Chúa Jêsus chỉ là hoang đường, thì sự mầu nhiệm của đời người sẽ là một câu đố không giải đáp được, và nhân loại không còn chi ngoài ra sự trống rỗng, tối tăm, và tuyệt vọng đời đời.
Nhưng đây là một truyện thật, đúng theo mọi qui luật của chứng cớ lịch sử. Đấng Christ đã có. Đấng Christ hiện có. Ngài là một Đấng sống, ở cùng con cái Ngài, dùng quyền phép để hướng dẫn và che chở họ, đưa dắt họ đến tận ngày chính mình họ được sống lại vinh hiển.
Đời trị vì của Đấng Christ với tư cách Trung bảo (câu 23-28). Đây ta thấy suốt những thời đại tương lai kế tiếp, đến tận chung cuộc vô tận của muôn vật, -- khi ấy công việc của Đấng Christ với tư cách Trung bảo sẽ chấm dứt, và vũ trụ do Đức Chúa Trời dựng nên sẽ bước vào giai đoạn tồn tại sau chót.
"Vì kẻ chết chịu lễ báp-têm " (câu 29). Đây dường như có nghĩa là lễ báp-têm chịu thay người khác, tức là chịu lễ báp-têm vì một bạn hữu đã qua đời. Nhưng Kinh Thánh không còn chỗ nào khác nói đến tục lệ nầy, và cũng không có bằng cớ nào tỏ ra có tục lệ nầy trong Hội Thánh do các Sứ đồ thành lập. Có lẽ dịch là: "Chịu lễ báp-têm với hy vọng được sống lại từ trong kẻ chết," thì đúng hơn.
Sự sống lại của thân thể (câu 35-58). Hy vọng của chúng ta không phải chỉ là thần linh bất diệt, song còn là thân thể thật sống lại. Tân Ước dạy rất rõ về điểm nầy (RoRm 8:23; ITe1Tx 5:23; IICo 2Cr 5:4). Không phải là thân thể hay hư nát và thuộc về đất nữa, song là thân thể thiêng liêng, dự phần bổn tánh vinh hiển, thiên thượng của Đức Chúa Trời.
ICo1Cr 16:1-24-- Những Việc Riêng
Quyên tiền (câu 1:4). Đây là cuộc lạc quyên giúp các thánh đồ nghèo tại Giê-ru-sa-lem, đã khởi sự từ một năm trước (IICo 2Cr 8:10).
"Định liệu (1) cho các Hội Thánh xứ Ga-la-ti " (câu 1). Lịnh nầy không có ghi trong thơ Ga-la-ti. Chắc ông đã gởi cho tín đồ Ga-la-ti một thơ khác nữa, nhưng thất truyền. "Ngày đầu tuần lễ" (câu 2) là ngày thiết lập cho tín đồ Đấng Christ thờ phượng Chúa (Cong Cv 20:7).
Chương trình của Phao-lô (câu 5-9). Phao-lô viết thơ nầy nhằm mùa xuân, trước Lễ Ngũ Tuần (câu 8). Ông ở xứ Ma-xê-đoan suốt mùa hạ, và tại đó ông viết thơ IICô- rinh-tô. Ông tới thành Cô-rinh-tô nhằm mùa thu, ở đó suốt mùa đông, và viết thơ Rô-ma tại đó. Đến mùa xuân sau, ông đi lên Giê-ru-sa-lem.
A-bô-lô (câu 12). Có lẽ người ta đã mời ông cùng đi đến thành Cô-rinh-tô, nhưng ông chẳng chịu đi ngay lúc đó; chắc vì một số tín đồ Cô-rinh-tô đã quyết định tôn ông làm thủ lãnh một bè đảng.
"Chính tay tôi " (câu 21). Có lẽ Sốt-then đã viết thơ tín nầy theo lời Phao-lô đọc (ICo1Cr 1:1). Ông là thuộc viên Hội Thánh Cô-rinh-tô. Chính tay Phao-lô ký thơ nầy và thêm chữ "Ma-ra-na-tha," nghĩa là "Hỡi Chúa, hãy đến!"
==============================

II Cô-rinh-tô
Phao-lô binh vực chức Sứ đồ của mình
Vinh quang của chức vụ ông
Suốt đời ông tuận đạo
Cơ hội viết thơ nầy. Sau khi Phao-lô viết thơ I Cô-rinh-tô ít lâu, thì cuộc náo loạn lớn lao xảy ra tại thành Ê-phê-sô (Cong Cv 19:1-41), làm cho ông thiếu điều mất mạng sống. Từ giã thành Ê-phê-sô, ông đi vào xứ Ma-xê-đoan, trên đường đi đến Cô-rinh-tô. Tại xứ Ma-xê-đoan, giữa bao nhiêu lo lắng và đau đớn, sau khi chờ nghe tin tức Hội Thánh Cô-rinh-tô rất lâu, ông đã gặp Tít từ Cô-rinh-tô trở về phúc trình rằng thơ của Phao-lô đã có nhiều kết quả tốt đẹp, nhưng vẫn còn một số thủ lãnh ở Cô-rinh-tô chối không nhận rằng Phao-lô là một Sứ đồ chân chánh của Đấng Christ. Vậy, Phao-lô viết thơ nầy, giao cho Tít cầm đi trước, và chính ông trông mong ít lâu nữa sẽ tới Cô-rinh-tô. Mục đích chánh yếu của thơ nầy dường như để Phao-lô tự binh vực mình là Sứ đồ của Đấng Christ và để nhắc họ nhớ rằng ông đã sáng lập Hội Thánh Cô-rinh-tô, do đó ông có quyền lên tiếng trong vấn đề quản trị Hội Thánh ấy.
Một vài vấn đề giải luận trong thơ I Cô-rinh-tô cũng chạy suốt thơ nầy nữa; dầu được giải luận có thứ tự, nhưng theo lối viết thơ, các vấn đề ấy cứ lặp đi lặp lại luôn và xen lẫn với nhiều vấn đề khác.
IICo 2Cr 1:1-24-- Phao-lô Toan Định Đi Tới Cô-rinh-tô
Sự "yên ủi" (câu 3-4) ông nói tới ở đầu thơ nầy đã do gặp gỡ Tít mà có (IICo 2Cr 7:6, 7) vì Tít từ Cô-rinh-tô trở về, đem tin vui rằng tín đồ ở đó trung thành. Thêm vào đó, Phao-lô còn hớn hở cảm tạ Chúa vì đã thoát chết ở thành Ê-phê-sô (câu 8, 9, Cong Cv 19:23-41), và bởi vậy, đã nổi lên khúc hoan ca giữa cảnh đau khổ không ngừng của ông.
Ông đổi chương trình (câu 15:24). Ông định vào xứ Ma-xê-đoan trước nhứt, rồi tới thành Cô-rinh-tô (ICo1Cr 16:5-7), (xem bản đồ ở dưới Công vụ các sứ đồ, đoạn 18). Về sau, ông định tới thành Cô-rinh-tô trước nhứt (câu 15, 16). Rồi ông lại đổi ý và đi đến xứ Ma-xê-đoan trước nhứt (câu 17, 23). Kẻ thù bèn tố cáo ông khi thì nói "phải, phải," khi thì nói "không, không," nghĩa là ông nhẹ dạ, nói "phải" và "không" cùng một lúc. Ông đáp rằng "ấy là tại nể anh em" (câu 23) mà ông chậm đến với họ.
Theo đoạn IICo 2Cr 2:1; 12:14 và 13:1-2, thì dường như Phao-lô đã đến thăm thành Cô-rinh-tô "lần thứ hai." Trong sách Công vụ các sứ đồ chỉ chép ông đến thăm thành ấy một lần. Vậy, lần thăm thứ hai nầy chắc là ông từ Ê-phê-sô đến đó, có lẽ sau khi viết thơ I Cô-rinh-tô. Ê-phê-sô và Cô-rinh-tô chỉ cách nhau hơn 200 dặm, và có tàu đi lại luôn luôn. Lần thăm "thứ hai" có sự "buồn rầu" cặp theo (2:1). Rõ ràng lắm, một cơn khủng hoảng trầm trọng đã nổi lên trong mối quan hệ của ông với Hội Thánh Cô-rinh-tô. Ông nóng lòng muốn gặp Tít một phần vì ước ao biết kết quả cuộc viếng thăm thư hai ngắn ngủi của mình.
2:1-17-- Trường Hợp Sửa Phạt
Đây dường như là người phạm tội loạn luân mà trong thơ tín thứ nhứt (ICo1Cr 5:3-5), Phao-lô đã truyền lịnh phải "phó cho quỉ Sa-tan;" do đó, khắp trong Hội Thánh có rất đông người nổi lên chống Phao-lô.
Sự chống đối nầy trầm trọng đến nỗi chính Phao-lô phải từ Ê-phê-sô đến Cô-rinh-tô (câu 1) nhưng ông bị cự tuyệt kịch liệt đến nỗi ở đây ông nói rằng đó là một cuộc viếng thăm buồn rầu.
Lại nữa, do các đoạn IICo 2Cr 2:3, 9; 7:8, 12 và 10:10 (mấy câu nầy chép những điều không thấy nói đến trong thơ I Cô-rinh-tô), người ta nghĩ rằng Phao-lô đã viết một thơ tín khác giữa hai thơ tín chúng ta có đây, nhưng nay thất truyền. Bức thơ đó chắc lời lẽ nghiêm khắc lắm, vì đã thay đổi trào lưu ở Cô-rinh-tô, đến nỗi những người ủng hộ kẻ bị sửa phạt đã hung hăng xây lại nghịch cùng hắn (7:11). Nhưng Phao-lô không biết điều đó cho tới khi gặp Tít (7:6, 7).
"Cơn khốn nạn lớn, tấm lòng quặn thắt, nước mắt dầm dề" (câu 4) đã do bước khủng khiếp ông trải qua tại thành Ê-phê-sô (1:8, 9), và cũng do ông quá lo lắng về tình hình tại Cô-rinh-tô. Ông buồn rầu vì không gặp Tít tại Trô-ách theo như đã dự định, đến nỗi đã bỏ qua cơ hội lớn lao rao truyền Tin Lành ở đó, để vội vàng đi đến xứ Ma-xê-đoan, hy vọng tìm thấy Tít mà ông biết là đang đi đường, đem tin tức của Hội Thánh Cô-rinh-tô.
"Mùi thơm" (câu 14-16) là một cách nói bóng, dựa vào đám rước khải hoàn có đốt trầm hương để đón hoàng đế trở về La-mã, theo sau có những đoàn dài phu tù, trong số đó kẻ thì bị giết chết, kẻ thì được tha cho sống sót. Cũng một thể ấy, Phao-lô đem theo "mùi thơm" của Đức Chúa Trời làm cho người ta sống hay chết tùy theo phản ứng của họ. Phao-lô kể đời mình như một cuộc diễn hành khải hoàn.
3:1-18-- Vinh Quang Của Chức Vụ Ông
"Thơ gởi gắm" (câu 1). Mấy chữ nầy có lẽ được dẫn khởi bởi cái thực sự rằng các giáo sư theo phong tục Do-thái đã đem theo thơ gởi gắm của người ở Giê-ru-sa-lem cấp cho. Họ luôn luôn xen vào công việc của Phao-lô, ở trong số những kẻ gây cho ông bị rắc rối hơn hết, và lợi dụng mọi lý do hoặc cơ hội để đánh bại ông. Lúc nầy họ hỏi: Phao-lô là ai? Ông có thể trình thơ giới thiệu của nhân vật quan trọng nào ở Giê-ru-sa-lem chăng? Hỏi như vậy thật là phi lý. Phải có thơ gởi gắm với một Hội Thánh mà chính ông đã sáng lập sao? Chính Hội Thánh đó là thơ gởi gắm ông vậy.
Do đó có sự đối chiếu chức vụ của ông với chức vụ của họ, -- tức là đối chiếu Tin Lành với luật pháp. Luật pháp viết trên bảng đá, còn Tin Lành viết trên tấm lòng. Luật pháp là chữ, còn Tin Lành là thần linh.(1) Luật pháp làm cho chết, còn Tin Lành làm cho sống. Luật pháp bị che khuất, còn Tin Lành không bị che khuất. Luật pháp đưa đến sự đoán phạt, còn Tin Lành đưa đến sự công bình. Luật pháp qua đi, còn Tin Lành tồn tại. Nhìn xem Đấng Christ, chúng ta được đổi ra giống hình ảnh Ngài.
II Cô-rinh-tô 2
4:1-18-- Phao-lô Sống Trong Cảnh Tuận Đạo
Trong thơ tín nầy, nhứt là ở các đoạn 4, 6, 11, Phao-lô nói nhiều về những nỗi đau đớn của mình. Lúc ông trở lại tin Chúa, Ngài có phán rằng: "Ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu đau đớn vì Danh Ta là bao nả" (Cong Cv 9:16). Sự đau đớn bắt đầu ngay, và cứ tiếp tục không ngớt suốt hơn 30 năm.
Họ toan mưu giết ông tại Đa-mách (Cong Cv 9:24), và tại Giê-ru-sa-lem (Cong Cv 9:29); đuổi ông ra khỏi An-ti-ốt (Cong Cv 13:50); toan ném đá ông tại Y-cô-ni (Cong Cv 14:5); ném đá ông, tưởng ông chết rồi và để mặc đó tại Lít-trơ (Cong Cv 14:19). Tại Phi-líp, họ dùng roi đánh ông và cùm ông lại (Cong Cv 16:23, 24). Tại Tê-sa-lô-ni-ca, người Do-thái và đám quân hỗn loạn cùng bọn lưu manh xông vào ông (Cong Cv 17:5). Họ đã đuổi ông ra khỏi Bê-rê (Cong Cv 17:13, 14) toan mưu nghịch cùng ông tại Cô-rinh-tô (Cong Cv 18:12). Tại Ê-phê-sô, ông thiếu điều bỏ mạng vì tay đám dân hỗn loạn (Cong Cv 19:29; IICo 2Cr 1:8, 9). Lại ở thành Cô-rinh-tô, sau khi ông viết thơ tín nầy ít lâu, họ toan mưu giết ông (Cong Cv 20:3). Lại ở thành Giê-ru-sa-lem, nếu không nhờ quân lính La-mã, thì họ đã thủ tiêu ông mau lẹ (Cong Cv 22:1-23:35). Đoạn, ông bị cầm tù 2 năm ở Sê-sa-rê và 2 năm nữa ở kinh thành La-mã. Ngoài ra, ông còn bị đánh đòn, cầm tù, chìm tàu và luôn luôn thiếu thốn đủ thứ, nhưng Kinh Thánh không chép rõ chi tiết (IICo 2Cr 11:23-27). Rốt lại,ông bị bắt về La-mã và bị xử tử như một kẻ sát nhân (IITi 2Tm 2:9).
Chắc ông phải có sức chịu đựng lạ lùng, vì ông ca hát đang khi chịu khổ nạn. Phải có thân thể mạnh như sắt, bằng không, thì sống sao nổi qua mọi tình cảnh ấy. Nhưng còn phải có ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời nữa, vì thân thể mạnh như sắt cũng chưa đủ. Ông luôn luôn nhận thấy Chúa hiện diện, và "cảm biết mình không thể chết trước khi làm xong chức vụ."
IICo 2Cr 5:1-21-- Sau Sự Chết, Có Gì?
Đoạn nầy tiếp tục bày tỏ lý do khiến ông vui mừng giữa các khổ nạn. Ông vừa mới nói rằng trong đời nầy càng chịu đau khổ, thì trong cõi đời đời càng được vinh hiển (4:17, 18). Tâm trí ông hướng vào thế giới tương lai.
Sự dạy dỗ ở đây là gì? Có phải ta được mặc thân thể mới lúc qua đời chăng? Ông nói rằng chết chẳng phải là "bị lột trần," nhưng là "được mặc lại" (câu 4). "Lìa bỏ thân thể nầy" tức là "ở cùng Chúa" (câu 8). Trong thơ Phi Pl 1:23, ông kể sự chết như là "đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn." Nhưng ở thơ I Cô-rinh-tô, đoạn 15, và thơ I Tê-sa-lô-ni-ca, đoạn 4, ông liên kết thân thể sống lại với sự tái lâm của Đấng Christ. Rõ ràng lắm, những tín đồ qua đời trước khi Chúa ngự đến, thì được ở với Chúa trong địa vị hạnh phước tự cảm biết, "là điều rất tốt hơn" sự sống trong xác thịt, nhưng vẫn chưa bằng đời sống vinh hiển theo sau sự sống lại.
IICo 2Cr 6:1-18-- Lại Nói Đến Những Khổ Nạn Của Ông
Phao-lô tiếp tục binh vực chức vụ của mình. Chắc trong Hội Thánh Cô-rinh-tô có sự chán ghét ông lớn lắm (câu 12). Bằng không, chắc ông không dành phần lớn thơ tín nầy để tự binh vực mình. Ở câu 14-18, ông dường như, ít ra là một phần nào, đổ sự hỗn loạn cho không khí ngoại đạo mà họ đang sống trong đó. Người Cô-rinh-tô vốn có phong hóa rất lỏng lẻo.
7:1-19-- Phúc Trình Của Tít
Ti-mô-thê đã được sai đi sớm hơn (ICo1Cr 4:17; 16:10). Ti-mô-thê vốn tánh nhút nhát, và thật không thích hợp để thi hành những biện pháp sửa trị nghiêm khắc mà tình hình Hội Thánh Cô-rinh-tô đang đòi hỏi. Phao-lô bèn sai Tít đi (IICo 2Cr 2:13; 7:6, 13; 12:18), -- có lẽ Tít là người giúp việc đắc lực hơn hết của Phao-lô trong những tình hình như vậy. Có lẽ Tít đi sau cuộc viếng thăm "thứ hai" của Phao-lô, và đem theo bức thơ có nói đến ở đoạn 2:3. Sứ mạng của Tít đã thành công. Kẻ làm nguyên cớ cho cuộc rối loạn dấy lên (ICo1Cr 5:1-5) có lẽ là một người rất có thế lực; lúc đầu hắn cứ cố chấp trong tội lỗi, cầm đầu vụ công khai loạn nghịch chống Phao-lô, và kéo theo nhiều thủ lãnh. Nhưng do ảnh hưởng bức thơ "thứ hai" của Phao-lô và nhờ hiện diện của Tít, nên toàn thể Hội Thánh đã trở lại trật tự, và kết quả là kẻ phạm tội hạ mình xuống. Đó là tin tức tốt lành mà Tít đã phúc trình (câu 7-16).
IICo 2Cr 8:1-9:15-- Lạc Quyên Giúp Mẫu Hội
Hai đoạn nầy chứa những chỉ thị về sự dâng tiền giúp các thánh đồ nghèo ở Giê-ru-sa-lem. Đây là một biến cố trọng đại trong đời Phao-lô (xem lời chú giải ở dưới Công vụ các sứ đồ, đoạn 21). Có lẽ ông đã quyên tiền khắp các chi hội ở Tiểu-Á-tế-á và Hi-lạp, mặc dầu chỉ nói đến các chi hội ở xứ Ma-xê-đoan, xứ A-chai và xứ Ga-la-ti mà thôi. Cuộc lạc quyên nầy đã khởi sự từ một năm trước (8:10). Các chi hội ở xứ Ma-xê-đoan đã hết lòng dự phần vào đó. Cả đến những người rất nghèo cũng quyên rộng rãi. Phao-lô ở đó đang khi viết thơ tín nầy. Chi hội Phi-líp, đứng đầu xứ Ma-xê-đoan, là nơi duy nhứt mà Phao-lô nhận trợ cấp cho chức vụ mình; và sau khi ông đi rồi, họ vẫn còn trợ cấp.
Trong 2 đoạn nầy, chúng ta có những chỉ thị đầy đủ hơn hết của Tân Ước về sự dâng tiền trong Hội Thánh. Dầu là quyên tiền làm việc từ thiện, nhưng chúng tôi phỏng đoán rằng những nguyên tắc nêu lên ở đây phải hướng dẫn Hội Thánh trong sự lãnh mọi khoản tiền dâng, vừa cho nền tự trị, vừa cho công cuộc truyền giáo và từ thiện. Phải dâng tình nguyện, tùy sức và có phương pháp. Sự quản trị tiền dâng phải không chỗ trách được (8:19-21). Phao-lô đặc biệt nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho những người quyên dâng rộng rãi. Theo thừa tiếp văn, thì "sự ban cho của Ngài không kể xiết" (9:15) dường như là mối liên quan hạnh phước phát sanh như vậy giữa kẻ quyên dâng và người nhận lãnh.
* * *
II Cô-rinh-tô 3
10:1-18-- Diện Mạo Của Phao-lồ
Lời Phao-lô nói trong đoạn nầy dường như được dẫn khởi bởi kẻ thù chê ông có bộ dạng yếu đuối (câu 1, 10). Trong Tân Ước không có chỗ nào ám chỉ dung mạo Phao- lô ra sao. Theo một truyền thoại của thế kỷ thứ 2, thì Phao-lô là "một người tầm thước, tóc xoăn, ống chơn gầy guộc và cong, mắt xanh lơ, lông mày dài và xoăn, mũi dài. Ông đầy dẫy ân điển và lòng thương xót của Chúa, khi thì có dung mạo của một người, khi thì có dung mạo của một thiên sứ." Theo một truyền thoại khác, ông "dáng dấp thấp nhỏ, đầu sói, ống chơn cong, người mập mạp, mũi hơi cao, và ông đầy dẫy ân điển."
Tân Ước ngụ ý rằng ông có bịnh đau mắt, nên thỉnh thoảng vẻ mặt xấu xí. Nhưng kẻ thù chê ông có bộ dạng yếu đuối (câu 10), thì chắc là vô căn cứ. Không thể nghĩ rằng một người như Phao-lô, đã đảo ngược hết thành khác đến thành khác, lại có bộ dạng yếu đuối. Không còn nghi ngờ chi nữa; ông là một cá tánh hùng mạnh, xuất chúng, và về toàn diện, ông là bậc vĩ nhân tột bậc từng sống trên mặt đất nầy, chỉ trừ ra Đức Chúa Jêsus.
Đáp lời chê ông yếu đuối, ông bảo họ rằng ít ra ông cũng đã sáng lập được nhiều chi hội, chớ không đi phá rối Hội Thánh do người khác sáng lập như họ đang phá rối đó.
11:1-33-- Phao-lô Biện Giải Tại Sao Ông Tự Khoe Mình
Trong nhiều phần của thơ tín nầy, Phao-lô nói với đa số trung thành; còn ở những phần khác, ông lại nói với thiểu số không trung thành. Trong 4 đoạn sau chót, dường như ông chú ý đến thiểu số nầy.
Ông hoàn toàn nhận thức tự khoe mình là không thích đáng, và ông không ưa sự cần thiết phải tự khoe mình; nhưng họ bắt buộc ông phải tự khoe mình.
Họ đã lợi dụng cái thực sự rằng ông không nhận trợ cấp cho chức vụ mình tại Cô- rinh-tô, trái hẳn với hành động của một người có óc công bình (câu 7-9). Ông giải thích rằng dầu là Sứ đồ của Đấng Christ, ông có quyền nhận trợ cấp (ICo1Cr 9:1-27), nhưng ông đã quyết định không nhận, e gương mình nêu lên sẽ bị lạm dụng bởi những giáo sư giả vẫn tìm cách thương mại hóa Hội Thánh. Ngay từ lúc bắt đầu làm việc Chúa tại Cô-rinh-tô, Phao-lô đã nhận thấy một số tín đồ do mình dắt đem tin Chúa có những khuynh hướng làm thủ lãnh vì tham lợi; vậy nên ông đã tự chế. Một trong những điều ông có thể tự khoe mình, ấy là họ không thể nào tố cáo ông tham lợi.
Rồi trong một khúc sách có sức mạnh bi đát (câu 22, 23), ông thách thức những kẻ chỉ trích hãy tự so sánh mình với ông về mọi phương diện: Ông là một người Hê-bơ-rơ trung kiên; là một tôi tớ hữu hiệu của Đấng Christ (ông làm việc nhiều hơn cả bọn họ cộng chung lại); và cũng là người chịu khổ vì Đấng Christ (cả sự nghiệp ông, với tư cách Sứ đồ của Đấng Christ, là một cuộc sống trong tuận đạo liên tục).
IICo 2Cr 121-19;-- Cái Giằm Xóc Vào Thịt Phao-lô
Ông được sự hiện thấy về Thiên đàng (câu 1-7). Ông "được đem lên đến (1) chốn Ba-ra-đi" (câu 4), "lên đến(2) từng trời thứ ba" (câu 2), dường như "Ba-ra-đi" và "từng trời thứ ba" là hai khu đặc biệt của thế giới tương lai. Đức Chúa Jêsus vào Ba-ra-đi ngay sau khi chết (LuLc 23:43). Còn "từng trời thứ ba" thì không có chỗ nào khác trong Kinh Thánh dùng danh từ ấy, khả dĩ soi sáng ý nghĩa của nó. Có người cho rằng đó là hai danh từ đồng nghĩa chỉ về nơi ở của Đức Chúa Trời. Nhưng Phao-lô dùng chữ "vào " cho "Ba-ra-đi" và chữ "tận" cho từng trời thứ ba, thì dường như đây là hai chỗ đặc biệt. Vì Đức Chúa Jêsus vào ngay Ba-ra-đi, nên người ta cho rằng Ba-ra-đi là nơi ở của các thần linh đã lìa khỏi thân thể, giữa sự chết và sự sống lại. Còn từng trời thứ ba, thì người ta cho là nơi ở sau chót của những người được cứu chuộc khi thân thể họ đã sống lại rồi. Đó là cuộc sống bội phần vinh hiển hơn cuộc sống ở Ba-ra-đi, cũng như Ba-ra-đi bội phần vinh hiển hơn cuộc sống trên mặt đất. Sự dạy dỗ của Tân Ước dường như hàm ý rõ ràng rằng có một tình trạng ở giữa sự chết và sự sống lại (xem lời chú giải ở dưới, đoạn 5). Những điều Phao-lô thấy và nghe, thì ông "không có phép nói ra" (câu 4). Đây có thể có nghĩa là Đức Chúa Trời muốn bổ sức cho Phao-lô để thi hành sứ mạng đặc biệt và để chịu sự đau đớn đặc biệt, nên Ngài cho ông sự hiện thấy đặc biệt về vinh hiển tương lai mà một phần ông không được phép bày tỏ cho kẻ khác. Nhưng nếu dịch là: "không thể nói ra" thì có lẽ đúng hơn dịch là: "Không có phép nói ra;" trong trường hợp nầy, sẽ có nghĩa là ngôn ngữ loài người không đủ diễn tả sự vinh hiển của Thiên đàng; ấy cũng như không thể bày tỏ ý niệm về màu sắc cho một người mù từ thuở sanh ra.
Cái giằm xóc vào thịt Phao-lô (câu 7). Một vài học giả Kinh Thánh cho rằng đây là chứng kinh phong. Người khác cho là bịnh sốt rét, hoặc chứng nhức đầu dữ dội. Nhưng ý kiến thông thường hơn hết là ông mắc chứng nhãn viêm kinh niên (ophtalmie chronique), chẳng những đau đớn, nhức nhối vô cùng, song còn nhiều lúc khiến ông có dung mạo xấu xí. ý kiến nầy dường như rút ra từ lời lẽ dùng trong các thơ tín của ông. "Giằm xóc vào thịt" ông từ 14 năm trước khi ông viết thơ tín nầy (câu 2, 7), tức là khoảng ông vào xứ Ga-la-ti, trong hành trình truyền giáo thứ nhứt. Sở dĩ ông vào xứ Ga-la-ti là vì bị một thứ tật nguyền nào đó trong thân thể (GaGl 4:13); dung mạo ông xấu xí đến nỗi trở thành một sự thử thách nặng nề cho mỗi người ở trước mặt ông (GaGl 4:14). Họ muốn tặng ông chính "con mắt" của mình (GaGl 4:15). Tại sao lại tặng con mắt, nếu đó chẳng phải là nhu cầu đặc biệt của ông? Ông cũng thường viết "chữ lớn" (GaGl 6:11), có lẽ vì mắt kém; đó là lý do ông đọc thơ tín cho người khác chép.
13:1-13-- Phao-lô Toan Định Đến Thăm Hội-Thánh Cô-rinh-tô
Sự toan định nầy nhằm mùa hạ, năm 57 S.C.. Ông tới Cô-rinh-tô nhằm mùa thu, và ở đó 3 tháng (Cong Cv 20:3). Mùa xuân sau đó, ông ra đi, đem theo tiền lạc quyên đến Giê-ru-sa-lem.
==============================

Thơ Ga-la-ti

Bởi ân điển chớ không bởi luật pháp
Tin Lành có tánh cách chung kết
Xứ Ga-la-ti. Xem bản đồ ở dưới sách Công vụ các sứ đồ, đoạn 13. Ở trung ương Tiểu-Á-tế-á. Đây là khu vực hành trình truyền giáo thứ nhứt của Phao-lô. Không biết đúng biên giới xứ nầy. Nó gồm các thành Y-cô-ni, Lít-trơ, Đẹt-bơ, và có lẽ cả thành An-ti-ốt ở miền Bi-si-đi. Đọc bản tường thuật công việc của Phao-lô ở đó (Cong Cv 13:14), tức là mở đường hữu ích cho ta đọc thơ tín nầy.
Người Ga-la-ti là một nhánh của chủng tộc Gaulois, phát xuất từ phía Bắc Hắc-hải, tách khỏi cuộc di cư lớn qua phía Tây tới nước Pháp ngày nay, và định cư ở trung ương Tiểu-Á-tế-á nhằm thế kỷ thứ 3 T.C.. Họ đa cảm, xung động và hay dời đổi, bằng cớ là họ mới vừa thờ lạy Phao-lô, rồi lại ném đá ông ngay (Cong Cv 14:13, 19).
Lý do viết thơ tín nầy. Công việc của Phao-lô tại xứ Ga-la-ti đã có kết quả phi thường. Người đông vô kể, phần nhiều là dân ngoại, đã nhiệt liệt tiếp nhận Đấng Christ. Sau khi Phao-lô đi khỏi xứ Ga-la-ti ít lâu, thì một số giáo sư Do-thái kéo tới, nhấn mạnh rằng nếu người dân ngoại không vâng giữ luật pháp Môi-se, thì không làm tín đồ của Đấng Christ được. Người Ga-la-ti chăm chú đến lời dạy dỗ của họ một cách sốt sắng cũng như lúc đầu họ đã tiếp nhận lời giảng của Phao-lô vậy; và kết quả có một "bịnh dịch" chịu phép cắt bì lan tràn giữa vòng các tín đồ dân ngoại đó. Phao-lô hay tin ấy, bèn viết thơ nầy để bảo cho họ biết rằng họ hoàn toàn ngu dại là dường nào; rằng dầu phép cắt bì là một phần cần thiết của cuộc sanh hoạt quốc gia Do-thái, nhưng nó chẳng phải là một phần của Tin Lành và chẳng có liên quan đến sự cứu rỗi chi hết.
Niên hiệu. Phao-lô đã sáng lập các chi hội nầy, khoảng năm 45-48 S.C.. Ông có trở lại thăm viếng họ khi bắt đầu hành trình truyền giáo thứ hai, khoảng năm 50 S.C.. Và ông thăm họ lần nữa khi bắt đầu hành trình truyền giáo thứ ba, khoảng năm 54 S.C.. Theo truyền thoại mà người ta thường nhìn nhận, thì niên hiệu thơ tín nầy là khoảng năm 57 S.C., lúc hết hành trình thứ ba, đang khi ông ở thành Ê-phê-sô, hoặc xứ Ma-xê-đoan, hoặc thành Cô-rinh-tô, và trước khi ông viết thơ Rô-ma ít lâu. Như vậy là ông viết thơ tín nầy chừng 10 hoặc 12 năm sau khi sáng lập các chi hội ấy, và trong thời gian đó, ông đã ghé thăm họ hai lần. Người khác lại cho rằng có lẽ hơn, thơ nầy viết khoảng năm 49 S.C., tại An-ti-ốt, sau khi Phao-lô từ xứ Ga-la-ti trở về lần thứ nhứt ít lâu, và trước khi Giáo-nghị-hội họp tại Giê-ru-sa-lem, năm 50 S.C., -- Giáo hội nghị nầy đã gởi thơ quả quyết rằng phép cắt bì không cần thiết, và thơ ấy đã được đem tới Hội Thánh xứ Ga-la-ti lập tức (Cong Cv 15:1-16:4) vì nếu thơ Ga-la-ti viết sau thơ của Giáo nghị hội ở Giê-ru-sa-lem, thì Phao-lô chắc phải nói đến thơ ấy. Nhưng mấy chữ "lần thứ nhứt" (GaGl 4:13) gồm ý các cuộc viếng thăm tiếp theo sau. Vậy, giả thuyết kia không chắc đúng.
Phép cắt bì. Đó là tên gọi nghi lễ đầu tiên của đạo Do-thái. Người nào sanh ra không phải là người Do-thái mà muốn được kế tự các đặc quyền và ơn phước của Đức Chúa Trời hứa cho dân tộc Do-thái, thì có thể được thừa nhận là người Do-thái bởi chịu phép cắt bì và vâng giữ luật pháp nghi lễ của dân Do-thái. Theo một vài phương diện, nó giống như sự nhập quốc tịch; người nhập quốc tịch cũng là công dân y như người sanh đẻ trong xứ vậy. Cũng một thể ấy, người dân ngoại có thể trở thành một người Do-thái, hoặc một người theo đạo Do-thái.
Nhóm chủ trương Do-thái hóa là phái tín đồ gốc Do-thái không nhận sự dạy dỗ của các Sứ đồ về vấn đề nầy (Cong Cv 15:1-41), nhưng cứ nhấn mạnh rằng tín đồ Đấng Christ phải đến cùng Đức Chúa Trời qua đạo Do-thái; rằng người dân ngoại muốn làm tín đồ Đấng Christ, thì phải trở nên người Do-thái trước đã. Họ tự cho là có phận sự đi thăm viếng Hội Thánh dân ngoại để làm cho lung lay, bối rối. Họ chỉ quyết định đóng nhãn hiệu Do-thái trên Đấng Christ. Phao-lô kịch liệt phản đối điều đó. Nếu người dân ngoại trở lại tin Chúa buộc phải vâng giữ luật pháp, thì sư nghiệp suốt đời Phao-lô đã bị tan tành rồi. "Như thiêu, như đốt, Phao-lô ước mong có thể mở mang đạo Đấng Christ từ một giáo phái Do-thái thành một tôn giáo của cả thế giới; theo đuổi mục đích ấy, ông đã phá tan mọi dây trở ngại, tận dụng mọi khả năng của tâm trí và thân thể trong hơn 30 năm."
Sự cố gắng Do-thái hóa các Hội Thánh dân ngoại đã chấm dứt khi thành Giê-ru-sa- lem bị hủy phá, năm 70 S.C., -- do biến cố nầy, mọi mối liên quan giữa đạo Do-thái và đạo Đấng Christ đã đoạn tuyệt. Cho tới lúc đó, đạo Đấng Christ được coi như một phái hoặc nhánh của đạo Do-thái. Từ lúc đó trở đi, người Do-thái và tín đồ Đấng Christ phân rẽ nhau. Một tiểu phái tín đồ gốc Do-thái, gọi là Ebionites, vẫn tồn tại 2 thế kỷ nữa, nhưng số người theo càng ngày càng bớt đi; Hội Thánh chung hầu như không thừa nhận họ, còn người Do-thái thì kể họ như bọn bội đạo.
GaGl 1:1-24 -- Tin-Lành Của Phao-lô Trực Tiếp
Phát Xuất Từ Đức Chúa Trời
Để làm cho Phao-lô mất giá trị trước mắt tín đồ Ga-la-ti, các giáo sư chủ trương Do-thái hóa dường như nói rằng Phao-lô không phải là một Sứ đồ từ lúc khởi thủy, và ông dạy dỗ được điều nào là nhờ học nơi các Sứ đồ khác. Ác ý nầy có lẽ là một lý do để ông hăng hái tự binh vực mình là một Sứ đồ độc lập. Ông nhận được Tin Lành do Đức Chúa Trời trực tiếp khải thị, và chẳng có Tin Lành nào khác.
"Xứ A-ra-bi" (câu 17). Trong bản tường thuật của sách Công vụ các sứ đồ không có nói đến xứ nầy. Ba năm (câu 18) gồm thời gian ông ở thành Đa-mách và xứ A-ra-bi (Cong Cv 9:23). Theo tục lệ của người Do-thái kể những phần năm lúc bắt đầu và lúc chấm dứt một thời kỳ là những năm trọn, thì ba năm nầy có lẽ chỉ là một năm trọn và phần lẻ của hai năm. A-ra-bi là xứ hoang vắng ở phía Đông xứ Pa-lét-tin, chạy từ thành Đa-mách tới phía Đông nam. Phao-lô bị choáng váng dường như sét đánh, và lập tức nhìn nhận cả đời mình đã lầm lạc, đến nỗi cảm thấy mình nên nghĩ lại; vậy, ông tìm nơi cô tịch để được hồi phục. Chính là tại xứ A-ra-bi mà ông được nhiều sự khải thị (câu 16).
* * *
Thơ Ga-la-ti 2
GaGl 2:1-21-- Mối Liên Quan Của Phao-lô Với Các Sứ Đồ Khác
Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem (câu 1-10). Sau khi trở lại tin Chúa, Phao-lô chờ đợi 3 năm, rồi mới quay trở về Giê-ru-sa-lem, là nơi ông đã phá tán Hội Thánh. Ông chỉ ở đó 15 ngày, đàm luận với Phi-e-rơ (câu 18). Tham khảo bản tường thuật ở Cong Cv 9:26-30. Rồi 14 năm sau, ông lại lên thành Giê-ru-sa-lem. Đó chắc là cuộc viếng thăm chép ở 11:27-30, nhằm năm 44 S.C., vì cùng với ý ngụ trong chữ "lại" ở câu 1, thừa tiếp văn dường như tỏ ra đó là ông thăm viếng lần thứ hai sau khi trở lại tin Chúa, mặc dầu luận đề của đoạn nầy thích hợp nhiều hơn với lần thăm viếng thứ ba có chép ở 15:2. Ông đem theo Tít, là một người dân ngoại mà ông đã dẫn về tin Chúa, để nêu lên làm trường hợp thử nghiệm trong nghi vấn về tín đồ dân ngoại phải chịu phép cắt bì. Ông giữ vững lập trường, và được các Sứ đồ khác hoàn toàn đồng ý với mình (câu 9).
Phi-e-rơ giả bộ tại An-ti -ốt (câu 11-21). Không có chép cuộc thăm viếng nầy xảy ra khi nào. Có lẽ là ít lâu sau khi Phao-lô thăm viếng như có chép ở câu 1 và trở về An-ti-ốt, và trước khi ông bắt đầu hành trình truyền giáo thứ nhứt. Để nêu rõ khung cảnh và tầm quan trọng của việc xảy ra đây, chúng tôi xin thử vạch niên biểu như sau nầy: Phi-e-rơ tiếp nhận người dân ngoại tin Chúa trước nhứt, là Cọt-nây, mà không buộc phải chịu phép cắt bì (Công vụ các sứ đồ, đoạn 10), có lẽ vào khoảng năm 40 S.C.; hành động ấy đã được các Sứ đồ khác chấp thuận. Rồi khoảng năm 42 S.C., Hội Thánh dân ngoại ở An-ti-ốt thành lập và được Ba-na-ba, quan sát viên từ Giê-ru-sa-lem cử đến, chấp thuận (Cong Cv 11:22-24). Rồi tới năm 44 S.C., Phao-lô cùng Tít đi lên thành Giê-ru-sa-lem, và Phi-e-rơ đồng ý chấp thuận việc Phao-lô tiếp nhận tín đồ dân ngoại mà không buộc họ chịu phép cắt bì. Sau đó ít lâu, khoảng năm 44 hoặc 45 S.C., thì Phi-e-rơ đi tới thành An-ti-ốt, đứng tránh các tín đồ dân ngoại không chịu phép cắt bì, và bị Phao-lô quở trách nghiêm khắc (câu 11). Nhưng 5 hoặc 6 năm sau, tại Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem (50 S.C.), Phi-e-rơ là người thứ nhứt lớn tiếng ủng hộ công việc của Phao-lô (Cong Cv 15:7-11).
Phi-e-rơ dời đổi như vậy, có ý nghĩa gì? Hai vị Sứ đồ thủ lãnh không đồng ý về một giáo lý nền tảng như vậy, thì có ý nghĩa gì? Sự không đồng ý ấy có ảnh hưởng gì đến sự Phao-lô và Phi-e-rơ được soi dẫn để trứ tác Tân Ước. Trong trường hợp đặc biệt nầy, hoặc Phi-e-rơ hay là Phao-lô đã lầm lỗi. Chúng ta làm thể nào mà biết được ai lầm lỗi? Nếu một trong hai ông lầm lỗi trong một điều nào, thì chúng ta làm thể nào mà biết rằng hai ông không lầm lỗi trong những điều khác? Giáo lý về các Sứ đồ được Đức Chúa Trời soi dẫn há chẳng tiêu tan vì cớ việc xảy ra đây sao? Chẳng hề như vậy vì sự thực giản dị là Đức Chúa Trời không khải thị tất cả chơn lý về Nước Ngài cho các Sứ đồ ngay một lúc, dường như bởi một luồng chớp nhoáng từ Thiên đàng, ngay trong ngày Lễ Ngũ Tuần cũng vậy. Trong đêm cuối cùng, Đức Chúa Jêsus đã phán cùng họ rằng Ngài còn nhiều điều phải dạy họ, nhưng lúc đó họ chưa hiểu được (GiGa 16:12). Đức Chúa Jêsus xử trí rất kiên nhẫn, từ ái với sự yếu đuối và thành kiến của loài người, cho phép họ nắm giữ những quan niệm cố hữu về Nước Đấng Mê-si; cho đến khi có cần dùng, thì Ngài dắt dẫn họ từng bước một, vào trong những giai đoạn mới mẻ hơn của Nước Ngài. Ngài không đem vấn đề dân ngoại mà khuấy rối họ, vì vấn đề ấy chưa nêu lên. Khi Tin Lành đã được tuyên giảng đầy đủ giữa vòng người Do-thái ở khắp quê hương của họ, là xứ Pa-lét-tin, thì bởi sự khải thị trực tiếp và đặc biệt, Đức Chúa Trời lo dạy dỗ Phi-e-rơ về vấn đề dân ngoại (Cong Cv 10:1-48), có lẽ vào khoảng 10 năm, sau khi Hội Thánh khai sanh nhằm ngày Lễ Ngũ Tuần. Tới đây, Đức Chúa Trời phải thắng thành kiến thâm căn cố đế của người Do-thái. Phải hết mấy năm, các Sứ đồ mới thuận hiệp với tân giáo lý. Phao-lô ra khỏi quan niệm cũ mau lẹ hơn Phi-e-rơ. Việc ở Hội Thánh Ga-la-ti xảy đến sau khi Phao-lô đã đi ra trọn đường, còn Phi-e-rơ thì đang đi ra. Nhưng Phi-e-rơ đi ra trọn đường khi chưa một quyển nào của Tân Ước được trứ tác, và sự dạy dỗ của Phi-e-rơ và Phao-lô trong Tân Ước không khác nhau mảy may.
GaGl 3:1-4:31-- Ách Tôi Mọi Dưới Luật Pháp
Những tín đồ Ga-la-ti thuộc về dân ngoại đã "nuốt" trọn lời giảng của bọn Do-thái hóa, đến nỗi thiết lập các ngày lễ và nghi lễ Do-thái (4:8-11) rõ ràng là họ pha trộn Tin Lành với luật pháp Môi-se. Bọn Do-thái hóa có làm phép lạ nào giữa vòng họ như ông đã làm chăng (3:5)? Sự trạng ấy có ý nghĩa gì cho họ chăng? Hai đoạn nầy nói rất nhiều về Áp-ra-ham, vì lời giảng của bọn Do-thái hóa mà họ đã tiếp nhận phần lớn căn cứ trên lời Đức Chúa Trời hứa cho Áp-ra-ham. Họ giải thích sai lời hứa, mặc dầu nó được tỏ rõ trong chính truyện tích Áp-ra-ham (4:21-31). Lòng yêu thương ban đầu của họ đối với Phao-lô mâu thuẫn bi đát với sự nguội lạnh, hờ hững hiện tại của họ (4:12-20). Xem lời chú giải về "Tật nguyền" của Sứ đồ Phao-lô (4:13), ở dưới IICo 2Cr 12:1-19
GaGl 5:1-6:18-- Sự Tự Do Trong Đấng CHRIST
Phao-lô không thể hiểu tại sao người ta lại cố quyết muốn nương cậy công đức để được cứu rỗi, chớ không nương cậy sự thương xót của Đấng Christ. Đấng Christ cứu chúng ta. Chúng ta không tự cứu mình được. Đó là điểm khác nhau giữa cảnh tôi mọi và sự tự do. Nhưng tự do trong Đấng Christ không có nghĩa là cứ phóng túng theo tội lỗi. Phao-lô chẳng bao giờ quên nhấn mạnh đặc biệt vào điểm ấy. Những kẻ làm theo tư dục xác thịt không thể nào được cứu (5:19-21). Một trong những "công lệ thiêng liêng của cõi thiên nhiên" là "ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy" (6:7). Nếu hột giống là lúa mì hay là cỏ lùng, thì sẽ mọc lên y như vậy, không sao tránh khỏi. "Chữ lớn là dường nào" (6:11), -- đây là bằng cớ tỏ ra thật chính tay ông đã viết. Xem lời chú giải về "Giằm xóc vào thịt" ở dưới IICo 2Cr 12:1-19. "Trong mình tôi có dấu vết của Đức Chúa Jêsus" (GaGl 6:17). Kẻ thù nghịch của Phao-lô rêu rao rằng ông không phải là Sứ đồ chân chánh của Đấng Christ. Thân thể ông bị đánh đập, bầm nát và đầy sẹo, đủ làm chứng cho ông. Xem IICo 2Cr 4:6, 11.
==============================

Thơ Ê-phê-sô

Hội Thánh thống nhứt
Người Do-thái và người dân ngoại hiệp một trong Đấng Christ.
Suốt đời Phao-lô dạy người dân ngoại rằng họ có thể làm tín đồ Đấng Christ mà không cần phải theo đạo Do-thái. Nói chung, người Do-thái lấy vậy làm mếch lòng, vì họ có quan niệm rằng mọi người phải vâng giữ luật pháp Môi-se, và có thành kiến quyết liệt nghịch cùng những người dân ngoại không chịu phép cắt bì kia dám tự xưng là môn đồ của Đấng Mê-si Do-thái.
Dầu Phao-lô dạy tín đồ dân ngoại hãy đứng vững như trên vầng đá để binh vực sự tự do của mình trong Đấng Christ, tỉ như ông đã dạy tín đồ Ga-la-ti và Rô-ma, song ông không muốn họ có thành kiến nghịch với tín đồ gốc Do-thái; trái lại, phải coi những người ấy là anh em trong Đấng Christ.
Phao-lô không muốn thấy hai Hội Thánh: một Hội Thánh Do-thái và một Hội Thánh dân ngoại; song chỉ muốn thấy Một Hội Thánh. Người Do-thái và người dân ngoại hiệp một trong Đấng Christ. Vì cớ sự thống nhứt, ông đã có một nghĩa cử đối với những phần tử Do-thái trong Hội Thánh: Ấy là số tiền rất lớn mà ông đã quyên của các chi hội dân ngoại, lúc chấm dứt hành trình truyền giáo thứ ba, để giúp đỡ các thánh đồ nghèo trong Mẫu hội tại thành Giê-ru-sa-lem (xem Công vụ các sứ đồ, đoạn 21). Ông hy vọng rằng sự biểu thị lòng yêu thương trong Đấng Christ đó có thể khiến tín đồ gốc Do-thái có cảm tình thân ái hơn đối với anh em thuộc về dân ngoại.
Vì sự thống nhứt, ông lại có nghĩa cử khác đối với các phần tử dân ngoại ở trong Hội Thánh. Ấy là ông gởi thơ tín nầy cho trung tâm trọng yếu của các tín đồ dân ngoại do ông dẫn về tin Chúa, để nêu cao sự Duy Nhứt, Phổ Thông và Vĩ Đại Khôn Xiết của Thân thể Đấng Christ.
Đối với Phao-lô, Đấng Christ là Đấng Tối cao, Tối đại, trong Ngài có chỗ cho những người thuộc về các chủng tộc và có các quan điểm cùng thành kiến rất khác nhau; nhưng Ngài có đủ quyền phép để giải quyết mọi vấn đề của loài người, và để làm cho hợp nhứt và hòa hiệp với Đức Chúa Trời chẳng những mọi xã hội và gia đình trên mặt đất (Eph Ep 5:22-6:9), song cả vô vàn thân vị trong vũ trụ vô hình, vô biên nữa (3:10).
Đây là một trong bốn thơ tín của Phao-lô viết đang khi bị cầm tù tại La-mã (61-63 S.C.); ba thơ tín kia là thơ Phi-líp, thơ Cô-lô-se, và thơ Phi-lê-môn. Trong số nầy, ba thơ tín viết cùng một lúc và do cùng một người đem đi, tức là thơ Ê-phê-sô, thơ Cô-lô-se, và thơ Phi-lê-môn. Còn một thơ tín nữa, nhưng nay đã thất lạc (CoCl 4:16).
Eph Ep 1:1-33-- Các ơn Phước Thiêng Liêng
"Ở thành Ê-phê-sô" (câu 1). Trong một vài bản thảo cũ nhứt, không có hai chữ nầy. Người ta cho rằng có lẽ thơ nầy định dùng làm thơ gởi chung cho các chi hội ở Á-châu, vì Ti-chi-cơ đem một số bản sao, có chừa chỗ để ghi tên mỗi thành, và thơ Ê-phê-sô là bản chánh của phần nhiều (chớ không phải hết thảy) bản thảo khác. Thơ gởi cho Hội Thánh Lao-đi-xê (CoCl 4:16) có lẽ là một trong những bản sao nầy. Do đó, ta hiểu vì sao thơ nầy không có các lời chào thăm riêng mà phần nhiều thơ tín của Phao-lô vẫn có nhiều. Phao-lô đã ở Ê-phê-sô ba năm, và có lắm bạn thân thiết tại đó. Nhưng nếu thơ nầy gởi chung cho Hội Thánh ở Ê-phê-sô và ở mấy thành phụ cận nữa, thì ta hiểu tại sao nội dung của nó có tánh cách công cộng hơn.
Ý định đời đời của Đức Chúa Trời (câu 3-14). Đây là bản tóm tắt kỳ diệu các kế hoạch của Đức Chúa Trời: Sự cứu chuộc, nhận làm con, tha thứ và đóng ấn cho một dân để thuộc về Đức Chúa Trời, đã được quyết định từ đời đời, và bây giờ thực hiện nhờ ý chỉ của Đức Chúa Trời được thi hành hữu hiệu.
"Các nơi trên trời" (câu 3) là mấy chữ chìa khóa của sách nầy (Eph Ep 1:10, 20; 2:6; 3:10;; 6:12). Nó chỉ về cõi vô hình ở bên trên thế giới của tri giác nầy, tức là nơi ở sau cùng của tín đồ Đấng Christ, và hiện nay ta được thông công với nơi ấy tới một mực nào.
Lời Phao-lô cầu nguyện cho họ (câu 16-23). Đó là cách Phao-lô thường mở đầu các thơ tín của ông. Có 4 lời cầu nguyện kỳ diệu đặc biệt thuộc loại nầy, tức là lời cầu nguyện ở đây và ở 3:14-19; Phi Pl 1:9-11 và CoCl 1:9-12.
Eph Ep 2:1-3:21-- Hội Thánh Phổ Thông
Được cứu bởi ân điển (câu 1-10). Thân thể Đấng Christ đang được cấu tạo bằng những người đầy tội lỗi và không xứng đáng để muôn đời biểu thị lòng nhân ái của Đức Chúa Trời. Khi công việc của Đức Chúa Trời trong chúng ta được hoàn thành, thì ta sẽ là những người có phước khôn tả xiết, ở một tình trạng vinh hiển thiên thượng vượt quá mọi điều ngày nay ta tưởng tượng được. Đó sẽ là công việc của Đức Chúa Trời, chớ chẳng phải của chúng ta. Trải qua các đời, Thiên đàng sẽ không dứt tiếng "Ha-lê-lu-gia" vui mừng, vang lừng từ tấm lòng cảm kích của những kẻ được cứu chuộc.
Trước kia là một dân, bây giờ là muôn dân (2:11-22). Danh từ "Người chịu cắt bì" đã được dùng làm một danh hiệu của người Do-thái, để phân biệt họ với các dân khác được gọi là "Người không chịu cắt bì" (câu 11). Trong một thời gian, người Do-thái là đoàn thể dân Đức Chúa Trời, có phép cắt bì làm dấu riêng trên xác thịt, và các dân khác bị loại trừ khỏi đoàn thể ấy. Nhưng bây giờ, tiếng Đức Chúa Trời vang lừng, rõ ràng, mạnh mẽ, kêu gọi Mọi Người, từ mọi bộ lạc và mọi dân tộc, hãy đến nhập vào gia đình Ngài.
Sự "mầu nhiệm của Đấng Christ" (3:3-9), giấu kín trải qua các đời trong Đức Chúa Trời (câu 10) mà khúc sách nầy nói đến, có nghĩa rõ ràng rằng muôn dân được kế tự lời hứa của Đức Chúa Trời ban cho người Do-thái, nhưng từ trước đến nay, người Do-thái tưởng lời hứa ấy thuộc riêng về họ mà thôi. Giai đoạn đó của kế hoạch Đức Chúa Trời đã được giấu kín cho tới khi Đấng Christ ngự đến, mặc dầu Ngài đã ấn định nó từ lúc ban đầu (1:5), nhưng bây giờ thì được khải thị đầy đủ. Ấy là thế giới vinh hiển tương lai của Đức Chúa Trời sẽ được xây dựng không phải bằng dân Do-thái, nhưng bằng tất cả loài người.
Hội Thánh vĩ đại (3:8-11). Bởi Hội Thánh, Đức Chúa Trời liên kết các phần tử thù địch của loài người thành Một Đoàn thể, và bày tỏ sự khôn ngoan của Ngài cho các đẳng cấp siêu nhân, thiên thượng bằng cách gồm tóm mọi sự trong Đấng Christ.
Thơ Ê-phê-sô 2
4:1-32-- Hội Thánh Duy Nhứt
Một thân thể (câu 1-16). Đây là một cơ cấu phức tạp, có nhiều cơ năng, mỗi phần ở vị trí riêng, làm việc hòa hợp với nhau, và có nguyên tắc căn bản là sự yêu thương (câu 16). Chính Đấng Christ là Cái Đầu và là Năng lực điều khiển.
Vì Thân thể nầy cấu tạo bằng nhiều chi thể có tài năng và tâm tình khác nhau, nên điều kiện căn bản cho nó điều hành thích đáng là tinh thần khiêm tốn và dung chịu lẫn nhau (câu 2).
Mục đích của Thân thể nầy là trưởng dưỡng mỗi chi thể cho tới mức có hình ảnh trọn vẹn của Đấng Christ (câu 12-15). Ý niệm về sự lớn lên, theo như bày tỏ trong mấy câu nầy, dường như ứng dụng vừa cho các cá nhân, vừa cho toàn thể Hội Thánh. Bậc thơ ấu của Hội Thánh sẽ qua đi. Bậc thành nhân của Hội Thánh sẽ tới. Hãy tham khảo I Cô-rinh-tô 12, 13, là những đoạn tương đồng.
Hội Thánh đã gần 2000 tuổi, và về phương diện nầy (tức là sự duy nhứt), vẫn còn ở giai đoạn thơ ấu. Nói chung, Hội Thánh chưa trải biết thế nào là duy nhứt trong sự biểu hiện hữu hình. Phao-lô luôn luôn chống trả những phần tử chủ trương bè phái trong các Hội Thánh địa phương, cùng mối bất hòa giữa tín đồ gốc Do-thái và tín đồ dân ngoại. Rồi tới các cuộc phân tranh từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 4. Rồi tới Hội Thánh của đế quốc, bề ngoài dường như duy nhứt dưới quyền hành của quốc gia, song đời thiêng liêng vì đó mà bị nhuốm độc địa. Rồi tới hệ thống thủ lãnh có quyền hành duy nhứt, cướp mất quyền tự do tư tưởng của người ta và ngăn cản Kinh Thánh không được lưu hành nữa. Rồi 400 năm sau, Hội Thánh Tin Lành nổi lên đòi tự do. Lẽ tự nhiên, sau đêm tối dày đặc dưới quyền cai trị của Thủ lãnh kia, khi người ta lại bắt đầu vì mình mà suy nghĩ, thì họ nhìn sự vật hơi khác nhau; vậy, trải qua năm, tháng, Phong trào Tin Lành không tránh khỏi đi vào những dòng khác nhau. Thế là giới tín đồ Đấng Christ vẫn còn chia rẽ. Chúng ta không biết trong đời nầy, Hội Thánh hữu hình sẽ có sự duy nhứt về tổ chức bề ngoài hay chăng? tánh vị kỷ và kiêu căng của người ta chống lại sự duy nhứt đó. Nhưng bao giờ cũng có và ngày nay vẫn còn có sự duy nhứt trong Hội Thánh vô hình gồm các thánh đồ thật của Đức Chúa Trời. Một cách nào đó, một lúc nào đó và ở một nơi nào đó, sự duy nhứt nầy sẽ thực hiện đầy đủ để đáp lại lời cầu nguyện của Đấng Christ (GiGa 17:1-26), và sẽ phát hiện như là Thân thể phát triển đầy đủ của Đấng Christ.
Những phận sự mới mẻ (câu 25-32). Vì Hội Thánh là một tổ chức huynh đệ, nên các chi thể cần phải rất thận trọng đối với nhau. "Cơn giận" (câu 26): Có lẽ Phao-lô nghĩ rằng bảo họ đừng nổi giận chi hết thì hơi quá, nên ông khuyên răn họ hãy cẩn thận, chớ giữ sự giận. "Trộm cắp" (câu 28): Rõ ràng lắm, một vài người trong vòng họ vốn là tay trộm cướp, nhưng bây giờ họ phải tôn trọng quyền lợi của kẻ khác. Xem lời chú giải IITe 2Tx 3:6-15.
Eph Ep 5:1-6:24-- Những Phận Sự Mới Mẻ
Trong hai đoạn nầy, Phao-lô tiếp tục nói đến những điều đã bắt đầu nói đến ở 4:17, tức là họ buộc phải sống khác với cuộc đời trước kia.
Sự gian dâm (5:3-14), tức là việc phạm luân lý và phóng túng hỗn loạn theo nhục dục. Đó là một tội lỗi rất thông thường đương thời Phao-lô, và ở nhiều nơi lại là một phần của cuộc thờ lạy thần tượng. Phao-lô nhiều lần cảnh cáo họ chớ phạm tội đó. Xem các lời chú giải ICo1Cr 7:1-40 và ITe1Tx 4:1-8.
Hát (GaGl 5:18-21). Đây, sự vui vẻ hát ngợi khen Chúa trong các cuộc nhóm họp của tín đồ Đấng Christ được đem đối chiếu với sự ồn ào, phóng túng, nhộn nhịp, say sưa, ăn uống của người ngoại đạo khi họ thờ lạy hình tượng (câu 18, 19). Trong cuộc nhóm họp thờ phượng Chúa, sự hát thánh ca là phần tự nhiên, giản dị hơn hết, được ưa thích hơn hết, và thật làm phấn khởi phần thiêng liêng hơn hết. Nhưng trung bình cuộc nhóm họp trong nhà thờ rất ít có ca hát, mà lại có nhiều cái khác chẳng có ý nghĩa chi cả.
Vợ chồng (5:22-23). Nếu chúng ta là tín đồ Đấng Christ, thì phải tỏ ra như vậy trong mọi mối liên quan của đời sống, như công việc làm ăn, xã hội và gia đình. Mối liên quan giữa vợ chồng được hình dung ở đây là đối chiếu của mối liên quan giữa Hội Thánh và Đấng Christ (câu 25, 32). Phao-lô khuyên bảo vợ chồng phải yêu thương nhau, tận tụy vì nhau, và không hề gợi ý rằng đờn ông có quyền bắt vợ làm tôi mọi cho mình. Vợ chồng tùy thuộc lẫn nhau, vì trong xã hội loài người, vợ chồng có những thiên chức khác nhau. Khi phụng sự lẫn nhau, thì vợ và chồng phụng sự quyền lợi của mình đắc lực nhứt (câu 28). "Ai yêu vợ mình, thì yêu chính mình vậy." Hỡi người làm chồng, hãy chú ý!
Cha mẹ và con cái (6:1-4). Một trong Mười Điều răn dạy chúng ta phải hiếu kính cha mẹ đã sanh ra mình. Làm vậy, chúng ta sẽ được sống lâu. Đó là một lời hứa của Đức Chúa Trời và là một thực sự tự nhiên. Ở đây và ở CoCl 3:21, Phao-lô khuyên bảo cha mẹ chớ quá nghiêm khắc với con cái mình. Đương thời ấy, quyền phụ mẫu thường khắc khe quá; còn thời nay thì lại thường lỏng lơi quá. Chỉ nói đến cha, vì mẹ tự nhiên nhân từ hơn. Chúng tôi ngờ rằng đương thời ấy, cha mẹ nuôi dạy con cái theo khuôn mẫu riêng của mình dễ dàng hơn ngày nay, vì con cái không sớm sủa và liên tục chịu nhiều ảnh hưởng ở ngoài gia đình như ngày nay.
Chủ, tớ (Eph Ep 6:5-9). Phần nửa dân thành La-mã và phần lớn nhân dân của đế quốc La-mã làm tôi mọi. Nhiều tín đồ Đấng Christ cũng làm tôi mọi. Đây, Phao-lô bảo họ rằng sự trung tín hầu việc chủ mình là điều kiện cần thiết đầu tiên cho đức tin của mình nơi Đấng Christ. Đây là một sự dạy dỗ kỳ diệu: Trong khi làm công việc trần gian, dầu là hèn mọn như tôi tớ, chúng ta cũng luôn luôn ở dưới con mắt chăm xem của Đấng Christ, để được Ngài khen ngợi hoặc bị quở trách, tùy theo ta xứng đáng thể nào. Người làm chủ cũng như vậy trong cách đối xử với tôi mọi của mình.
Giáp trụ của tín đồ Đấng Christ (6:10-20). Khúc sách nầy chắc có ý nghĩa rằng tín đồ phải giao chiến với một cái gì mạnh hơn những sự cám dỗ tự nhiên của xác thịt. Trong thế giới vô hình có những quyền lực mà nếu không nhờ Đấng Christ tiếp trợ, thì ta chẳng có sức đâu để đối địch với chúng. Lẽ thật, sự công bình, bình an, đức tin, sự cứu rỗi, Lời Kinh Thánh và sự cầu nguyện, đó là khí giới chống được các mũi tên của kẻ thù nghịch mà mắt ta không trông thấy.
===============================

Thơ Phi-líp

Một thơ tín truyền giáo
Không dễ đặt một đề mục cho thơ tín nầy. Một vài sách trong Kinh Thánh có đề mục rõ rệt, một vài sách khác lại không có như vậy. Đây là một trong những sách thuộc loại thứ hai. Nó giống như một bức thơ thường, nói đến nhiều việc. Tuy nhiên, ta gọi nó là thơ tín truyền giáo vì nó được viết ra nhơn dịp nhận lãnh số tiền lạc quyên của một chi hội do Phao-lô sáng lập, để hỗ trợ ông trong công cuộc truyền giáo ở nước ngoài.
Theo nguyên tắc, Phao-lô không nhận trợ cấp cho công việc của ông, nhưng làm nghề may trại để tự túc, vì có rất nhiều kẻ thù và giáo sư giả thường bài bác tấm gương của ông, hoặc dùng gương ấy để gây nên một điều hư tệ. Theo chỗ chúng ta biết, Phao-lô chỉ nhận trợ cấp của một chi hội mà thôi, thức là chi hội Phi-líp. Ít ra họ cũng đã hai lần gởi tiền quyên giúp ông đang khi ông ở thành Tê-sa-lô-ni-ca (Phi Pl 4:16) cũng có gởi khi ông ở Cô-rinh-tô (IICo 2Cr 11:9), và bây giờ gởi tới thành Rô-ma (Phi Pl 4:18).
Thành Phi-líp. -- Thuộc xứ Ma-xê-đoan, là Bắc phần của nước Hi-lạp ngày nay (xem bản đồ ở dưới Công vụ các sứ đồ, đoạn 16). Đây là một thị trấn quan trọng, nằm trên đại lộ phía Bắc, giữa Đông phương và Tây phương. Nổi tiếng vì có mỏ vàng. Năm 42 T.C., chính trên đồng bằng Phi-líp đã diễn ra một trận đánh, kết quả Brutus và Cassius bị thua, Cộng hòa La-mã sụp đổ, và đế quốc La-mã khai sanh. Hoàng đế Auguste đã biến Phi-líp thành một thuộc địa.
Hội Thánh tại thành Phi-líp. -- Đây là Hội Thánh đầu tiên do Phao-lô sáng lập ở Âu-châu, khoảng năm 51 S.C., vào lúc ông mới bắt đầu hành trình truyền giáo lần thứ hai. Hãy đọc truyện tích ở sách Công vụ các sứ đồ, đoạn 16, để mở đường cho ta đọc thơ tín nầy. Trong số người trở lại tin Chúa ở đó, có bà Ly-đi và viên chủ ngục. Lu-ca, vị lương y yêu dấu, đã làm Mục sư ở đây trong 6 năm đầu (xem lời chú giải mở đầu sách Công vụ các sứ đồ). Có lẽ Phi-líp là quê hương của Lu-ca, nơi ông hành nghề lương y. Có lẽ ông là người mà trách nhiệm đầu tiên là lo làm nảy nở tánh chất trọn lành của Hội Thánh ở đây. Theo chỗ chúng ta biết, thì Hội Thánh Phi-líp đứng đầu các Hội Thánh Tân Ước về sự trong sạch và trung tín.
Cơ hội viết thơ nầy. -- Phao-lô ở thành La-mã (61-63 S.C.), chừng 10 năm sau khi đã sáng lập Hội Thánh Phi-líp, và chừng 3 hoặc 4 năm sau khi ông thăm viếng thành ấy lần chót. Dường như ông không nhận được tin tức của họ từ ít lâu nay ("anh em lại lo tưởng về tôi lần nữa" -- Phi Pl 4:10), và có lẽ ông tự hỏi họ đã quên mình chăng, hay là một giáo sư giả nào đã lẻn tới cướp chi hội ấy khỏi tay ông, như thường xảy ra tại các chi hội do ông sáng lập. Bấy giờ, Ép-ba-phô-đích từ thành Phi-líp xa xôi tới nơi, đem theo một số tiền quyên giúp. Phao-lô cảm động và cảm kích sâu xa, vì ông đang cần tiền lắm. Ép-ba-phô-đích thiếu điều mất mạng sống trong khi giúp Phao-lô việc ấy. Đến khi người bình phục, thì Phao-lô gởi người trở về, đem theo thơ tín kỳ diệu nầy (2:25-30; 4:18).
1:1-30-- Tin-Lành ở Thành La-mã
Ti-mô-thê (câu 1) có lẽ đã viết thơ nầy theo lời Phao-lô đọc. Ti-mô-thê đã giúp Phao-lô sáng lập Hội Thánh Phi-líp. Vậy nên Phao-lô để Ti-mô-thê cùng đứng tên gởi lời chào thăm. Ti-mô-thê cũng đã viết giúp Phao-lô những thơ II Cô-rinh-tô, Cô-lô-se, I và II Tê-sa-lô-ni-ca, Phi-lê-môn.
Phao-lô cầu nguyện cho họ (câu 3:11). Ông hầu như luôn luôn mở đầu các thơ tín như vậy. Hãy tham khảo các lời cầu nguyện tuyệt diệu ở Eph Ep 1:16-23; 3:14-19; CoCl 1:9-12. "Được thông công trong sự tấn tới của đạo Tin Lành" (câu 5). Đây có lẽ chỉ về những số tiền lạc quyên họ đã gởi cho ông. Như vậy, họ đã gánh chung công việc của ông. Xem thêm ở dưới, đoạn Phi Pl 4:17.
Tin Lành tấn triển tại La-mã (câu 12-18). Ông đến La-mã như một tù nhân, nhưng đã giúp đỡ, chớ không ngăn trở việc rao truyền Đấng Christ ở kinh thành đó. Ông đã được vào những công đường, thậm chí có thể dắt đem một số người ở triều đình Néron trở về tin Chúa (4:22). Ông đã vui mừng đêm đó trong khám tù thành Phi-líp thể nào (Cong Cv 16:25), thì bây giờ cũng vui mừng trong xiềng xích tại thành La-mã thể ấy (câu 18).
Phao-lô ước mong được chết (câu 19-26). Chắc hẳn trong thân thể đầy sẹo và mòn mỏi của ông lúc nào cũng có sự đau đớn, vì thường bị ném đá và đánh đòn. Ông đã già rồi. Ông biết các chi hội cần ông. Nhưng ông mong mỏi về Nhà Cha. Tuy nhiên, đó không phải là việc hệ trọng. Ở khám tù hay là ở Thiên đàng, Đấng Christ cũng vẫn là sự sống và sự vui mừng của ông. Ông phải về trời hay là còn ở đời nầy, điều đó ở trong tay Đức Chúa Trời. Ông hy vọng trở lại thành Phi-líp (câu 26, Phi Pl 2:24).
Những sự đau đớn của tín đồ Phi-líp (câu 27-30). Đã 10 năm rồi, mà họ vẫn còn bị bắt bớ. Phao-lô chăm chú vào ngày báo trả, khi ấy tình hình sẽ đổi ngược, và những kẻ bắt bớ sẽ gặt cái chúng đã gieo (câu 28, IITi 2Tm 1:5-10).
Phi Pl 2:1-30-- Sự Khiêm Cung Của Đấng CHRIST
Một gương khiêm cung (câu 1-11). Trong thơ tín nầy có ít lời quở trách hơn hầu hết các sách khác trong Tân Ước. Nhưng vì cớ khung cảnh đặt lời khuyên bảo khả ái hãy khiêm cung, nên ta tự hỏi phải chăng Ép-ba-phô-đích đã gợi cho Phao-lô nghĩ rằng có mầm bè đảng do sự kiêu căng của một vài thủ lãnh ở chi hội Phi-líp, tỉ như Ê-vô-đi và Sin-ty-cơ? "Là sự nên nắm giữ" (câu 6). Sự khiêm cung và thương khó của Đấng Christ thường được đem đối chiếu với sự tôn cao và vinh hiển của Ngài (xem câu 8-11: xem thêm HeDt 2:9-10 và IPhi 1Pr 1:11). Tâm trí ta hãy chăm chú vào ngày đăng quang khánh hỉ, là lúc "mọi đấu gối đều quì xuống."
* * *
Thơ Phi-líp 2
Sự vui mừng của Phao-lô trong ngày Đấng Christ (Phi Pl 2:12-18). Phao-lô quan niệm rằng tình thân hữu trên mặt đất sẽ cứ còn đến đời đời. Ông trông mong sự vui sướng của mình sẽ lên tới cực điểm hoan hỉ khi ông chào mừng bạn hữu yêu dấu trong Nước Thiên thượng. Nơi chơn Đức Chúa Jêsus; họ là của lễ ông dâng cho Chúa, vì ông đã dắt đem họ đến cùng Đức Chúa Jêsus để được cứu rỗi đời đời (câu 16).
Ông toan định trở lại thành Phi-líp (câu 19-30). Dường như ông trông mong cuộc xét xử mình sẽ mau kết liễu (xin đặc biệt chú ý câu 24). Đây không ngụ ý chi hết đến cuộc du hành qua Y-pha-nho, theo như ông đã toan định lúc đầu (RoRm 15:24). Dường như vì ở tù lâu ngày, nên ông đã thay đổi chương trình. Ý kiến thường được thừa nhận là ông đã được phóng thích và lại ghé thăm thành Phi-líp cùng nhiều chi hội khác ở Đông phương (ITi1Tm 1:3). Rồi chừng 5 năm sau, ông lại bị bắt, dẫn về La-mã và bị xử tử vì Danh Chúa.
Phi Pl 3:1-31-- Mục Đích Thiên Thượng
"Một điều " (câu 1-21). Bối cảnh của bức tranh trong đoạn nầy dường như là bọn Do-thái hóa đã xuất hiện ở thành Phi-líp; dầu không tấn bộ bao nhiêu, song họ cũng đã nhấn mạnh vào sự vâng giữ luật pháp, cãi lẫy về những vấn đề không quan hệ, và có khí chất như "loài chó" (câu 2). Chính Phao-lô đã có sự công bình của luật pháp (mà họ đang rao giảng) với một mức rất cao (câu 4-6). Nhưng bây giờ ông kể sự công bình đó như "rơm rác" (câu 8). Ông hoàn toàn nương cậy Đấng Christ. Mục đích duy nhứt của ông là được biết Ngài. Phao-lô tự mô tả là đang chạy đua, vận dụng hết gân cốt và bắp thịt, đem ra hết sức mạnh, căng tất cả mạch máu, e rằng không đạt tới mục đích chăng. Mục đích ấy là ông "được đến sự sống lại từ trong kẻ chết" (câu 11). Đó là bí quyết của đời sống Phao-lô. Ông đã thoáng thấy sự vinh hiển của Thiên đàng (IICo 2Cr 12:4), và quyết định rằng về phần mình, ông sẽ cậy ân điển của Đấng Christ mà đi tới đó, cùng với những người mình có thể thuyết phục đi theo, càng nhiều càng tốt. Đoạn nầy là một trong những lời tuyên bố đầy đủ hơn hết của Phao-lô về ông hy vọng được đến Thiên đàng. "Công dân" (câu 20). Chúng ta là khách lạ trên mặt đất nầy, và quê hương ta ở trên trời. Ta đi trên mặt đất, nhưng lòng ta ở trên trời.
Phi Pl 4:1-23-- Sự Vui Mừng
Ê-vô-đi và Sin-ty-cơ (câu 2-3). Hai phụ nữ làm thủ lãnh, hoặc có địa vị xã hội, hoặc làm nữ chấp sự, hoặc nhà riêng của họ dùng làm nhà thờ. Hai bà đã để những mối hiềm khích riêng trở thành sự buồn phiền cho Hội Thánh.
Hãy vui mừng, vui mừng, vui mừng (câu 4-7). Sự vui mừng là nhạc điệu trội nhứt của thơ tín nầy. Nó do cây viết của một người ở trong khám tù, suốt 30 năm đã bị công kích, đánh đập, ném đá, bạc đãi, đủ làm cho các vị thiên sứ phải kinh ngạc. Tuy nhiên, ông VUI MỪNG tràn ngập. Những sự trạng tự nhiên đáng làm cho ông cay đắng, thì trái lại, chỉ gia tăng sự sung sướng của ông. Lạ lùng thay, công việc Đấng Christ có thể làm trong đời sống người ta! "Chúa đã gần rồi" (câu 5). Mười năm trước, trong thơ II Tê-sa-lô-ni-ca, đoạn 2. Phao-lô đã nói rằng nếu chưa có sự bội đạo, thì Chúa chưa ngự đến, nhưng sự bội đạo đó đã hoành hành mau lẹ trong một vài chi hội do Phao-lô sáng lập, và trí óc không bao giờ dời khỏi ý tưởng về ngày Chúa ngự đến gần rồi. Đó là một trong những bí quyết khiến ông vui mừng mãi mãi, còn một bí quyết khác, là ông cầu nguyện luôn luôn, kèm theo sự cảm tạ Chúa (câu 6). Nếu chúng ta biết ơn Đức Chúa Trời về những phước Ngài thật đã ban cho mình, thì chắc sẽ khiến Ngài sẵn lòng ban cho ta những phước ta chưa có.
Ép-ba-phô-đích đến nơi (câu 10-20). Ông đã đem số tiền lạc quyên đến cho Phao-lô (câu 18). Phao-lô cảm kích sâu xa, vì là một tù nhân, ông không có cách gì để sống trừ ra những thứ khám tù cấp cho. Lời đẹp đẽ và tế nhị hơn hết của cả thơ nầy là câu 17. Trong câu nầy, khi cảm ơn họ vì số tiền quyên giúp, ông nói với họ rằng ông cảm kích vì không những vì đang cần tiền (thật ông đang cần lắm -- 2:25), song cũng vì họ được chia phần thưởng cho công việc của ông: "Sự kết quả nhiều bởi lễ vật đến cho anh em." Vì họ ủng hộ ông, nên công việc của ông là công việc của họ. Trong Ngày Sau rốt, họ sẽ được ban thưởng vì cớ đã giúp ông cứu vớt vô số linh hồn. Bài học nầy còn dành cho chúng ta trong thế giới ngày nay, khi ta quyên trợ công cuộc truyền giáo. Mỗi số tiền nhỏ quyên trợ không đáng kể bao nhiêu. Song những giọt nước mưa rơi xuống Trung phần đại lục Bắc Mỹ châu hợp thành thác nước Niagara thể nào, thì cũng một thể ấy, những số tiền nhỏ của hàng trăm ngàn tín đồ khắp mọi nơi hợp thành ngân khoản ủng hộ đạo quân đông đúc gồm các giáo sĩ đang ở chiến tuyến Thập tự giá xa xôi, đang vì Đấng Christ chịu lắm nỗi nhọc nhằn mà chúng ta không hề nghĩ rằng mình phải chịu ở nơi đây(1). Các giáo sĩ đó là đạo quân nam, nữ cao thượng, anh dũng hơn hết từng có dưới mặt trời. Những ai quyên giúp các Hội Truyền giáo, thì được dự phần phong trào hùng mạnh nhứt các thời đại, và đến ngày tính sổ sau cùng, họ sẽ được quyền chia phần thưởng.
Địa vị xã hội của các tín đồ Tân Ước (câu 22). "Người nhà Sê-sa," tức là những người ở trong cung điện Néron. Phần nhiều tín đồ trong Hội Thánh đầu tiên thuộc về giai cấp thấp kém. Rất nhiều người làm tôi mọi. Song trong số người trở lại tin Chúa có một ít nhân vật cao sang, tỉ như người nầy ở cung điện Sê-sa. Quan cai kho xứ Ê-thi-ô-bi (Cong Cv 8:27), viên bách nhân đội trưởng Cọt-nây (Công-vụ các Sứ- đồ 10:1;), một anh em cùng vú nuôi với Hê-rốt (Cong Cv 13:1), quan trấn thủ đảo Chíp-rơ (Cong Cv 13:12). Tại thành Tê-sa-lô-ni-ca, chẳng phải ít người đờn bà sang trọng (Cong Cv 17:4). Tại Bê-rê, có những bậc phụ nữ cao quí (Cong Cv 17:12). Quan cai kho thành Cô-rinh-tô (RoRm 16:32). Gian-nơ, vợ quan nội vụ của Hê-rốt (LuLc 8:3).
==============================

Thơ Cô-lô-se

Đấng Christ là Đức Chúa Trời và có đầy đủ mọi sự
Hội Thánh tại thành Cô-lô-se. Cô-lô-se là một đô thị thuộc xứ Phi-ri-gi; một số người xứ nầy có mặt tại Giê-ru-sa-lem nhằm ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:10). Phao-lô đã đi qua xứ nầy trong hành trình truyền giáo thứ hai và thứ ba (Cong Cv 16:6; 18:23). Có lẽ trong một hành trình truyền giáo nầy, Phao-lô đã ghé thăm thành Cô-lô-se, mặc dầu lời lẽ ở đoạn CoCl 2:1 có thể (nhưng không tất nhiên) ngụ ý rằng Phao-lô không hề ở đó. Còn một việc có thể xảy ra nữa, là Hội Thánh nầy là kết quả do công việc của Phao-lô tại thành Ê-phê-sô (Cong Cv 19:10), vì thành Cô-lô-se ở gần biên giới "cõi A-si," cách thành Ê-phê-sô chừng 100 dặm về phía Đông. Có lẽ Ê-pháp-ra sáng lập Hội Thánh nầy (CoCl 1:7; 4:12-13).
Cơ hội và niên hiệu của thơ tín nầy. Phao-lô ở tù tại thành La-mã (61-63 S.C.). Ông đã viết một thơ trước liên quan đến Mác (4:10). Đương khi ấy, Ê-pháp-ra, một tín đồ Cô-lô-se, đã tới thành La-mã, đem tin rằng một tà giáo nguy hiểm lan rộng trong Hội Thánh. Dường như Ê-pháp-ra bị tù (Phil Plm 1:23). Phao-lô bèn viết thơ nầy, sai Ti-chi-cơ và Ô-nê-sim cầm đi (CoCl 4:7-9). Hai ông nầy cũng đã cầm thơ cho Hội Thánh Ê-phê-sô và thơ cho Phi-lê-môn (Eph Ep 6:21).
Tà giáo tại Cô-lô-se. Tà giáo nầy dường như là sự pha trộn tôn giáo Hi-lạp, Do-thái và Đông phương, một thứ phụng thờ "tư tưởng cao siêu" diễn hành dưới nhãn hiệu "triết học" (CoCl 2:8). Nó hô hào thờ lạy các thiên sứ như là trung gian giữa Đức Chúa Trời và loài người (2:18), lại nhấn mạnh vào sự triệt để vâng giữ một vài qui tắc Do-thái, đến nỗi gần thành ra chủ nghĩa khổ tu (2:16-21). Nó được nêu lên bằng những đại ngôn tự tôn, và được kể là một phần Tin Lành Đấng Christ.
Giống như thơ Ê-phê-sô. Thơ Cô-lô-se và thơ Ê-phê-sô viết cùng một lúc. Cả hai là những bản tuyên ngôn soạn thảo cẩn thận về các giáo lý trọng đại của Tin Lành, phải đem đọc lớn tiếng trong nhà thờ, và có nhiều khúc sách rất giống nhau. Song đề mục chính thì khác hẳn: thơ Ê-phê-sô luận về Hội Thánh duy nhứt và vĩ đại, còn thơ Cô-lô-se luận về Đấng Christ là Đức Chúa Trời và đầy đủ mọi sự.
CoCl 1:1-29-- Đấng CHRIST Là Đức Chúa Trời
Phao-lô cảm tạ Chúa vì cớ họ (câu 3-8). "Chúng tôi cảm tạ" (câu 3). Nhiều lần Phao-lô mở đầu các thơ tín như vậy: RoRm 1:8; ICo1Cr 1:4; Eph Ep 1:16; Phi Pl 1:3; ITe1Tx 1:2; IITe 2Tx 1:3; Phil Plm 1:4. Những tin vui từ các anh em rải rác khắp nơi gởi đến làm cho linh hồn ông đầy vui mừng, cảm kích. "Đức tin," "sự yêu thương," "sự trông cậy" (câu 4-5) là những danh từ ông ưa dùng lắm: Đức tin đến Đấng Christ, sự yêu thương đối với các thánh đồ, và sự trông cậy (hy vọng) lên Thiên đàng. Hãy chú ý rằng sự trông cậy của họ là cớ tích phát sanh sự yêu thương. "Vì cớ" (câu 5). Xem ICo1Cr 13:1-13 và ITe1Tx 1:3. "Đã nghe về" (câu 4) không tất nhiên có nghĩa là ông đã ở tại Cô-lô-se, vì ông cũng dùng chữ nầy ở Eph Ep 1:15. Chúng ta biết ông đã ở thành Ê-phê-sô. Nhưng ông đã đi khỏi đó từ mấy năm rồi. "Cả thế gian" (câu 6) và "mọi vật dựng nên" (câu 23) có nghĩa rằng vào khoảng đó, tức là 32 năm sau khi Đức Chúa Jêsus chịu chết, Tin Lành đã được giảng khắp thế giới mà người ta biết khi ấy. Trong vòng thế hệ thứ nhứt, Hội Thánh đã trở thành một thực sự hiển nhiên khắp trên thế giới.
Phao-lô cầu nguyện cho họ (câu 9-12). Đây là một trong bốn lời cầu nguyện tuyệt diệu của Phao-lô cho các chi hội do ông sáng lập. Ba lời cầu nguyện kia chép ở 1:16-19; 3:14-19; Phi Pl 1:9-11. " Khôn ngoan thiêng liêng" (câu 9) nghĩa là biết sống một đời giống như Đấng Christ. "Được có sức mạnh mọi bề" (câu 11) để có thể vui vẻ và kiên nhẫn trong mọi cảnh ngộ.
Đấng Christ là Đức Chúa Trời (câu 13-20). Những hình dung từ ứng dụng cho Đấng Christ trong thơ tín nầy là: "Hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được," -- "Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên," -- "Muôn vật đã được dựng nên trong Ngài," "Ngài có trước muôn vật," -- "Muôn vật đứng vững trong Ngài," -- "Đầu Hội Thánh," -- "Ban đầu," -- "Sanh trước nhứt từ trong những kẻ chết," -- "Mọi sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời chứa trong Ngài," -- "Muôn vật.... đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời," "Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy về vinh hiển," "Trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan, thông sáng," -- "Sự đầy dẫy về bổn tánh Đức Chúa Trời đến ở trong Đấng ấy như có hình," -- "Nhờ Ngài mà anh em có được đầy dẫy mọi sự," -- "Đầu của mọi quyền cai trị và mọi thế lực."
"Đấng sanh ra đầu hết thảy muôn vật dựng nên" (câu 15) không có nghĩa là Ngài đã chịu dựng nên, song theo Cựu Ước, thì nghĩa là Ngài "kế tự" vũ trụ mà Đức Chúa Trời đã dựng nên.
Ngôi vua, quyền cai trị, chấp chánh, cầm quyền (CoCl 1:16). Câu nầy, và nhiều câu khác, tỉ như Eph Ep 6:12, là những lời Kinh Thánh ngụ ý rằng trong thế giới vô hình có nhiều loại thân vị và chánh quyền mà thế giới hữu hình của chúng ta là một đối chiếu nhỏ bé; rằng sự chết của Đấng Christ chẳng những khiến loài người được cứu chuộc, song cũng là phương pháp khôi phục sự hòa hiệp của cả vũ trụ minh mông đã bị dứt tuyệt.
Chịu khổ vì Hội Thánh (câu 24-29) để làm đầy đủ cái đang thiếu sót. Không phải là sự thương khó của Đấng Christ chẳng đủ cứu rỗi chúng ta, nhưng nếu không trải qua sự đau khổ, thì toàn thể Hội Thánh không đạt tới bậc trọn lành được. Phao-lô muốn gánh chịu phần của mình. Xem IPhi 1Pr 4:1-19. "Sự mầu nhiệm" (câu 26, 27). Xem lời chú giải Eph Ep 3:3.
"Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy về vinh hiển " (câu 27). Đấng Christ, Đầu của vũ trụ, -- đó là yếu tố của sứ điệp Phao-lô trong thơ tín nầy. Chúng ta trực tiếp đến gần Ngài, chớ không phải nhờ thiên sứ làm trung gian. Không phải triết lý nầy hay triết lý kia, không phải mớ qui tắc nọ hay qui tắc khác, nhưng chính Đấng Christ là sự khôn ngoan, sự sống và sự trông cậy về vinh hiển của chúng ta. Yếu tố của sự làm tín đồ Đấng Christ chính là yêu mến Ngài, sống trong Ngài, một Thân vị thiên thượng, vinh hiển, nhờ Ngài mà vũ trụ được dựng nên, và trong Ngài có đầy đủ mọi sự cho loài người được cứu chuộc, được trọn lành đời đời.
* * *
Thơ Cô-lô-se 2
CoCl 2:1-23-- Đấng CHRIST Hoàn Toàn Đầy Đủ
Phao-lô đặc biệt chú ý đến họ (câu 1-5). "Cho những kẻ không thấy mặt tôi về phần xác" (câu 1). Một vài người cho lời nầy có nghĩa là Phao-lô chưa hề tới thành Cô-lô-se. Nhưng ta không thể biết lời nầy gồm cả "anh em" ở đầu câu, hay chỉ là thêm sau "anh em" đó. Những lời chào thăm riêng ở 4:7-18 tỏ ra Phao-lô được nhiều người quen biết ở thành Cô-lô-se. Ông tỏ ý hy vọng chẳng bao lâu sẽ được tới đó (Phi-lê-môn 22 -- Phi-lê-môn là một tín đồ ở Cô-lô-se). "Lao-đi-xê" (câu 1) là một đô thị ở gần đó, cách chừng 10 dặm. Phao-lô cũng đã viết cho họ một bức thơ cùng với thơ gởi cho chi hội Cô-lô-se đây (4:16). Có người cho đó là một bản sao của thơ Ê-phê-sô.
"Sự mầu nhiệm " (câu 2). Đây có lẽ là một chữ mà bọn "triết học" ở thành Cô-lô-se hay dùng lắm. Ông dùng chữ nầy nhiều lần (1:26, 27; 4:3) để chỉ về những giai đoạn của ý định Đức Chúa Trời từ trước tới nay chưa được khải thị. Xem lời chú giải thơ Eph Ep 3:3-9.
Các nhà triết học ở thành Cô-lô-se (câu 4, 8). Nhà triết học là một người suốt đời tìm cách hiểu những điều mà trước khi khởi tìm, ông đã biết mình không sao hiểu được. Đấng Christ là Trung tâm của cả một hệ thống chân lý, một phần rất dễ hiểu, còn một phần không dễ hiểu đâu, vì vượt tới những điều "quá tầm linh hồn chúng ta." Nhà triết học thấy trong giáo lý Đấng Christ một vài điều ăn hiệp với triết lý của mình. Ông bèn tiếp nhận Đấng Christ và tự xưng là tín đồ của Ngài. Nhưng khi ông suy nghĩ, thì một vài suy luận triết lý của ông vẫn ở trọng tâm, còn chính Đấng Christ chỉ là cái bóng ở bối cảnh. Chúng ta biết nhiều người thuộc hạng ấy: Họ hăng hái đề xướng những lý thuyết hoặc chủ nghĩa mà họ ưa thích, song anh em không bao giờ nghi ngờ lòng kính mến hoặc sùng bái tha thiết của họ đối với Đấng Christ.
Những kẻ chủ trương vâng giữ luật pháp (câu ICo1Cr 16:20-22). Khác với nhà triết học, người có tâm tánh thực tế hơn không quá lo về những điều mình không thể hiểu biết, song muốn biết phải làm gì để trở thành tín đồ Đấng Christ. Họ thấy một vài điều răn rõ ràng, hoặc thấy cái mà họ cho là điều răn rõ ràng, và họ vâng theo những điều răn ấy. Đối với họ, những điều răn ấy là trọng tâm, còn Đấng Christ chỉ là một cái bóng ở bối cảnh. Chúng tôi biết nhiều người thuộc hạng nầy.
Ai là người chủ trương vâng giữ luật pháp? Họ là những kẻ nương cậy mình để được cứu rỗi, chớ chẳng nương cậy Đấng Christ. Lẽ tự nhiên, chúng ta muốn tin mọi giáo lý một cách thích đáng, và hết sức vâng giữ mọi điều răn. Nhưng nếu trong tư tưởng, chúng ta quá nhấn mạnh vào điều mình tin hoặc việc mình làm, thì nguy hiểm thay, ta há chẳng gần tự nương cậy mình để được cứu rỗi sao? Đấng Christ (chớ không phải giáo lý, hoặc điều răn) là Cứu Chúa chúng ta. Ngài (chớ không phải chúng ta) là nền tảng hy vọng của ta. Ta chớ nên thu hẹp cái lẽ cần phải tin những giáo lý chánh đáng. Nhưng rốt lại, làm tín đồ Đấng Christ cốt tại yêu mến Ngài, là một Thân vị, chớ không cốt tại tin giáo lý nầy hoặc giáo lý kia, vâng giữ điều răn nọ, hoặc điều răn khác. Chúng ta tin nhận giáo lý hoặc vâng giữ điều răn, là để đạt tới Đấng Christ. Ta không nên yêu mến giáo lý và điều răn hơn Đấng Christ. Nếu ta yêu mến một giáo lý quá mức, thì có cơ hóa ra cáu kỉnh, khắc nghiệt, cay đắng đối với những ai không đồng ý với giáo lý của mình. Nếu chúng ta yêu mến Đấng Christ như một Thân vị, thì sẽ nên giống như Ngài. Trong thơ tín nầy, Phao-lô nhằm mục đích sữa chữa những tà giáo của bọn Do-thái hóa một đằng, và của nhóm triết học Hi-lạp đằng khác, cùng những giáo lý dung hòa. Nhưng dầu sự tín ngưỡng của chúng ta là hoàn toàn phù hợp với Kinh Thánh, vẫn còn một nguy cơ, là tôn một chân lý về Đấng Christ lên cao hơn chính Đấng Christ. Khi chúng ta để phần mình phải gánh vác nặng hơn phần Đấng Christ, thì ta là kẻ chủ trương vâng giữ luật pháp. Đối với một giáo lý của ân điển, ta vẫn có thể là kẻ chủ trương vâng giữ luật pháp.
Sự thờ lạy thiên sứ (câu 18). Có kẻ dạy rằng loài người hèn kém quá, không thể trực tiếp đến gần Đấng Christ; vậy, cần có thiên sứ làm trung gian. Rồi họ tự hào vì sự khiêm nhường của mình. Ngày nay chúng ta không thấy ai dạy như vậy. Nhưng đổi lại, họ thờ lạy một nữ thánh kia như là trung gian giữa mình và Chúa.
Chủ nghĩa khổ tu (câu 20-23). Không nói rõ họ thực hiện sự khổ tu cách nào. Những sự khắc khổ tự mình buộc lấy và những sự hèn hạ tự mình chọn lấy trong một vài phạm vi, lại không có giá trị, vì nó gia tăng sự phóng túng nhục dục không kìm hãm trong những phạm vi khác.
CoCl 3:1-25-- Sự Sống Trong Đấng CHRIST
Mối liên quan với Đấng Christ như một thân vị với một Thân vị, đó là điểm mà thơ tín nầy nhấn mạnh. "Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy về vinh hiển" (1:27). Anh em hãy bước đi trong Ngài, đâm rễ trong Ngài, tự gây dựng trong Ngài (2:6, 7), được nên trọn lành trong Ngài (2:10), đồng chết với Ngài (2:20), đồng sống lại với Ngài (3:1). Sự sống của anh em đã giấu với Ngài trong Đức Chúa Trời (3:3).
Lời nói và sự ca hát (câu 16) được nói đến chung nhau. Câu nầy liên quan đến các cuộc nhóm họp của tín đồ Đấng Christ, tại đó sự giảng dạy lời Chúa và sự hát thánh ca là phương pháp chánh yếu để phát triển đời sống tín đồ. Ôi! Ước gì trong Hội Thánh có thêm hai phần đó rất nhiều!
4:1-18-- Những Việc Riêng
Các chi hội nhóm họp ở tư gia. Có nói đến nhiều chi hội như vậy. Nim-pha ở Lao-đi-xê (4:15). Phi-lê-môn ở Cô-lô-se (Phil Plm 1:2), Gai-út ở Cô-rinh-tô (RoRm 16:23), A-qui-la và Bê-rít-sin ở Ê-phê-sô (ICo1Cr 16:19) và về sau ở kinh thành La-mã (RoRm 16:5). Tín đồ phải nhóm họp ở bất cứ nơi nào họ có thể nhóm họp. Mãi đến thế kỷ thứ ba, tín đồ mới xây cất nhà thờ để xử dụng một cách phổ thông. Tuy nhiên, Hội Thánh đã lớn lên lạ lùng. Nhiều chi hội nhỏ thì tốt hơn một vài chi hội lớn.
==============================

I Tê-sa-lô-ni-ca
Chúa tái lâm
Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca được sáng lập khoảng năm 51 S.C., trong hành trình truyền giáo thứ hai của Phao-lô, sau khi ông từ giã thành Phi-líp (Cong Cv 17:1-9).
Căn cứ vào Cong Cv 17:2, thì dường như Phao-lô chỉ ở đó 3 tuần lễ. Nhưng các thơ Phi Pl 4:16; ITe1Tx 2:9 và IITe 2Tx 3:8 ngụ ý rằng ông đã ở đó lâu hơn. Có lẽ ông đã giảng trong nhà hội 3 ngày Sa-bát, rồi sau giảng ở một chỗ nào khác nữa. Nhưng chắc ông không ở đủ thì giờ để dạy dỗ Hội Thánh cặn kẽ.
Bị đuổi khỏi Tê-sa-lô-ni-ca, ông đi tới Bê-rê, cách xa chừng 50 dặm về phía Tây. Chẳng bao lâu, ông lại bị đuổi khỏi Bê-rê, nhưng để Si-la và Ti-mô-thê ở đó. Khi một mình tới A-thên, cách 200 dặm về phía Nam, thì ông gởi lời về Bê-rê, bảo Si-la và Ti-mô-thê đến với mình hết sức mau chóng (Cong Cv 17:14, 15). Khi họ tới A-thên, thì Phao-lô quá lo lắng cho Hội Thánh trẻ trung ở Tê-sa-lô-ni-ca, nên lập tức sai Ti-mô-thê trở lại đó. Vào khoảng Ti-mô-thê trở về, thì Phao-lô đã từ A-thên đi Cô-rinh-tô. Ti-mô-thê đem tin rằng các tín đồ Tê-sa-lô-ni-ca đã anh dũng chịu cơn bắt bớ; song một số đã chết, còn một số bối rối, muốn biết những người đã chết kia sẽ được hưởng phước gì khi Chúa tái lâm; vả, rõ ràng lắm, Phao-lô đã đặc biệt nhấn mạnh vào giáo lý ấy tại Tê-sa-lô-ni-ca.
Vậy, mấy tháng sau khi sáng lập Hội Thánh đó, Phao-lô viết bức thơ nầy, cốt để bảo họ rằng những kẻ đã chết không bị thiệt thòi gì khi Chúa đến.
Thành Tê-sa-lô-ni-ca. Ngày nay là "Salonique. " Ở góc Tây bắc của biển Égée, trông ra một hải cảng đẹp đẽ, giữa một đồng bằng phì nhiêu và có nhiều dòng nước, trên đại lộ chiến lược ở phía Bắc, từ La-mã đến Đông phương. Đứng trên núi Olympe, nơi phát tích của các "thần "Hi-lạp, ta nhìn thấy thành Tê-sa-lô-ni-ca. Đây là một đô thị trọng yếu của xứ Ma-xê-đoan đương thời Phao-lô. Một đô thị Hi-lạp tự do, cai trị bởi các quan quyền riêng của họ. Ngày nay còn là một đô thị thạnh vượng.
Công việc của Phao-lô tại Tê-sa-lô-ni-ca. Dầu chỉ ở đó ít lâu, Phao-lô đã gây được một sự xúc động lớn lao. Kẻ thù tố cáo ông "đã gây thiện hạ nên loạn lạc" (Cong Cv 17:6). "Có rất nhiều người Hi-lạp.... và mấy người đờn bà sang trọng" tin Chúa (Cong Cv 17:4). Sự thành công của chức vụ ông đã được rao báo khắp xứ Hi-lạp (ITe1Tx 1:8, 9).
ITe1Tx 1:1-10-- Tiếng Tăm Của Hội Thánh Nầy
"Bằng quyền phép" (câu 5). Mấy chữ nầy chắc chỉ về những phép lạ cặp theo và chứng minh cho sự giảng dạy của Phao-lô tại đó, mặc dầu sách Công vụ các sứ đồ không ghi chép một phép lạ nào trong số ấy. "Gương tốt" (câu 7) cho cả xứ Hi-lạp về sự cương dũng trong cơn bắt bớ và về cách sinh hoạt thật tỏ ra Đấng Christ. "Chờ đợi Con Ngài" (câu 10). Phao-lô chấm dứt mỗi đoạn bằng một lời nói đến sự tái lâm của Chúa như vậy đó (2:19; 3:13; 4:16-18; 5:23).
2:1-20-- Hành Vi Của Phao-lô ở Giữa Họ
Đoạn nầy cốt để Phao-lô binh vực hành vi của ông tại Tê-sa-lô-ni-ca. Lời lẽ ở đây hơi cho ta có cảm tưởng rằng những kẻ thù nghịch đang kịch liệt bắt bớ các tín đồ ở Tê-sa-lô-ni-ca cũng hăng hái mở chiến dịch để "bôi lọ" tâm tánh của Phao-lô.
Ông nhắc nhở anh em tín đồ rằng ông chẳng lãnh lương bổng nơi họ chi hết; đó là bằng cớ tỏ ra không phải cớ tích tham tiền đã thúc đẩy ông làm việc, như bọn triết học lưu hành vẫn bị thúc đẩy.
Ông cũng nhắc nhở họ rằng ông đã tận tụy với họ một cách vô kỷ và từ ái, rằng về mọi phương diện, ông đã treo gương cho họ, làm sáng tỏ những điều mình giảng dạy.
Họ chịu khổ (câu 13-16). Dường như các người Do-thái không tin Chúa và "mấy đứa hoang đàng nơi đường phố" (Cong Cv 17:5) đã đuổi Phao-lô ra khỏi Tê-sa-lô-ni-ca, vẫn còn hung hăng, ác liệt trút cơn thạnh nộ của chúng vào Gia-sôn và các tín đồ khác ở đó. Phao-lô cố yên ủi họ bằng cách nhắc nhở họ rằng các Mẫu hội ở xứ Giu-đê cũng đã bị bắt bớ như vậy. Đấng Christ cũng đã chịu bắt bớ như vậy. Chính ông cũng đã chịu bắt bớ như vậy. Song những kẻ giết Chúa và bắt bớ Hội Thánh sẽ bị "cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời" (câu 16). Không có hy vọng cho chúng ăn năn, và không có lối cho chúng thoát khỏi hình phạt: Thành Giê-ru-sa-lem sắp bị hủy phá, và trong Ngày Đoán xét, chúng sẽ bị hình phạt đời đời.
Phao-lô toan định trở lại thành Tê-sa-lô-ni-ca (câu 17-20). "Đã hai lần" (câu 18) ông cố gắng trở lại Tê-sa-lô-ni-ca, nhưng "quỉ Sa-tan đã ngăn trở" ông. Lúc khởi đầu hành trình truyền giáo nầy, Phao-lô đã có mấy kế hoạch, nhưng Đức Thánh Linh ngăn trở ông (Cong Cv 16:6, 7). Khi ấy, Đức Chúa Trời can thiệp vào các kế hoạch của ông. Bây giờ là quỉ Sa-tan. Chúng ta tự hỏi Phao-lô làm thể nào mà biết trong trường hợp kia là Đức Chúa Trời, còn trong trường hợp nầy là quỉ Sa-tan? Quỉ Sa-tan ngăn trở ông cách nào? Có lẽ là bởi bịnh tật, hoặc bởi sự chống đối của chánh quyền. Dầu sao, Phao-lô cũng biết rằng kẻ thù số một của Hội Thánh đã ngăn trở không cho ông đến cùng anh em yêu dấu tại Tê-sa-lô-ni-ca. Ông vẫn còn cầu nguyện "đêm ngày" (ITe1Tx 3:10-11) để có thể trở lại. Ông cảm thấy trong ngày Chúa tái lâm, một ngôi sao sáng chói nhứt trên mũ triều thiên của ông sẽ là Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca: Họ là "sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển" của ông (câu 19-20).
3:1-13-- Phúc Trình Của Ti-mô-thê
Phao-lô hết sức lo lắng cho Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca còn non nớt, nên đã sai Ti-mô-thê trở lại để khuyến khích họ trong cơn bắt bớ dữ dội (xem lời chú giải mở đường cho thơ nầy và Cong Cv 17:15; 18:1, 5; IITe 2Tx 3:1, 2, 6). Và Phao-lô vui mừng khôn xiết vì Ti-mô-thê trở về, đem tin rằng anh em vẫn vững vàng và sốt sắng.
* * *
I Tê-sa-lô-ni-ca 2
ITe1Tx 4:1-18-- Hành Trình Vô Luân Lý, Lòng Yêu Thương Anh Em, Sự Tái Lâm Của Chúa
Hành vi vô luân lý (câu 1-8) rất thông thường giữa vòng các dân thờ lạy hình tượng. Có lẽ khi phúc trình về tình trạng vững vàng chung của anh em tín đồ Tê-sa-lô-ni-ca, Ti-mô-thê đã nói đến một vài trường hợp đạo đức lỏng lơi, nên mới có lời khuyên bảo nầy. Chữ "nên thánh" (câu 3) dùng ở đây, có nghĩa là thanh sạch về nhục dục. Có người cho chữ "thân" (câu 4) có nghĩa là "vợ," tức là phải trung tín với lời hứa nguyện lúc thành hôn, hoặc mỗi người phải ở với vợ mình để tránh sự vô luân lý. "Làm hại anh em" (câu 6) nghĩa là xâm phạm quyền lợi của gia đình người khác, có lẽ một số người đã mắc tội nầy.
Lòng yêu thương anh em (câu 9-12). Dường như những người giàu có (không phải là ít -- Cong Cv 17:4) coi trọng giáo lý Tin Lành về sự từ thiện, nên đã phân phát tiền của cho các anh em nghèo khó ở khắp mọi chi hội thuộc xứ Ma-xê-đoan. Đó là cơ hội tốt cho những kẻ có tánh biếng nhác, và họ đã triệt để lợi dụng lòng từ thiện kia. Phao-lô ngợi khen người từ thiện thể nào, thì cũng quở trách kẻ biếng nhác thể ấy. Muốn sống bám vào kẻ lân cận, thì trái với mọi nguyên tắc bác ái. Là những người hành khất có thân thể cường tráng, họ sung sướng vì kẻ khác thực hành lòng bác ái, còn chính mình họ thì biểu thị yếu tố của sự ái kỷ. Đó là gương xấu cho những người còn ở ngoài Hội Thánh.
Sự tái lâm của Chúa (câu 13-18). Đây, chúng ta tới đề mục chánh yếu của thơ tín nầy. Đoạn nào cũng nói đến sự tái lâm của Chúa, thì ngụ ý rằng Phao-lô đã đặc biệt nhấn mạnh vào đó trong khi giảng dạy ở thành Tê-sa-lô-ni-ca.
Dầu sự tái lâm của Đấng Christ thường được gọi là "Chúa đến" hoặc Chúa "hiện ra," nhưng ở thơ HeDt 9:28, thì đặc biệt gọi là "Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai." Chữ "trở lại" của Đức Chúa Jêsus dùng ở sách GiGa 14:3 có nghĩa là lần thứ hai. Vậy, ta nói là Chúa "tái lâm," thì hoàn toàn thích đáng và đúng với Kinh Thánh.
Hầu hết các sách Tân Ước có nói đến sự tái lâm của Chúa. Những đoạn giải thích sự tái lâm của Chúa đầy đủ hơn hết là: Mat Mt 24:1-25:46; LuLc 21:1-38; IITe 2Tx 4:1-5:28; IIPhi 2Pr 3:1-18.
Hai thơ Tê-sa-lô-ni-ca thường được coi là những sách Tân Ước viết sớm hơn hết. Hai thơ nầy luận về Chúa tái lâm. Sách sau cùng của Tân Ước là Khải Huyền, và lời sau chót của sách ấy là: "Phải, Ta đến mau chóng. -- A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến! (KhKh 22:20). Như vậy, Tân Ước bắt đầu ở sự tái lâm của Chúa, và cũng chấm dứt ở sự tái lâm của Chúa.
"Ngủ" (câu 14) là một danh từ Kinh Thánh dùng để chỉ về sự chết của tín đồ Đấng Christ (Mat Mt 27:52; GiGa 11:11; Cong Cv 7:60; 13:36; ICo1Cr 15:6, 18, 20, 51; IIPhi 2Pr 3:4). Danh từ nầy thường thấy trên mộ chí của tín đồ Đấng Christ trong các hầm mả. Đức Chúa Jêsus đã dạy như vậy, và chắc thật là như vậy. Chỉ ngủ mà thôi. Một ngày kia, chúng ta sẽ thức dậy. Buổi sáng vinh hiển thay! Ấy không có nghĩa là chúng ta ở trong tình trạng hôn mê, bất tỉnh cho đến ngày sống lại đâu. Có một tình trạng hạnh phước tự cảm biết ở giữa sự chết và sự sống lại của tín đồ (Phi Pl 1:23). "Sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời" (câu 16). Đây giống như lời Đức Chúa Jêsus đã phán (Mat Mt 24:30-31). Có thể thật phát ra những tiếng như vậy. "Đám mây" (câu 17) sẽ là xa giá khải hoàn của Ngài. Ngài ngự lên trời trong "đám mây" (Cong Cv 1:9), và cũng sẽ trở lại như vậy (KhKh 1:7). Các thiên sứ sẽ theo hầu Ngài, với tất cả vinh hiển của Thiên đàng (Mat Mt 25:31). Thánh đồ của bao nhiêu đời trước sẽ sống lại, còn những thánh đồ đang ở trong xác thịt sẽ được biến hóa. Như Hê-nóc và Ê-li đã được cất lên, toàn thể Hội Thánh cũng sẽ được cất lên để hoan nghinh Cứu Chúa tái lâm và để ở với Ngài đời đời. Nghĩ đến quang cảnh ấy, toàn thân chúng ta rung động hớn hở!
Đoạn 5 -- Sự Tái Lâm Của Chúa
Thình lình (câu 1-11). Đây không có gì tỏ ra Chúa sẽ tái lâm lúc nào. Chỉ nói rằng lúc Chúa đến, thì đến rất thình lình, chẳng ai ngờ. Các "điềm lạ" sẽ có trước khi Chúa tái lâm, ngõ hầu trong khi thế gian chế nhạo ý tưởng ấy, thì các tín đồ kiên nhẫn cảm thấy đã gần rồi. Song cả đến những kẻ tỉnh thức trông đợi cũng được cảnh cáo, e rằng biến cố nầy xảy đến cho họ bất ngờ. Ấy sẽ "như kẻ trộm trong ban đêm" (câu 2). Đức Chúa Jêsus đã nhiều lần phán như vậy (Mat Mt 24:36, 42; 25:13; Mac Mc 13:32-37; LuLc 12:39, 46; 21:25-35). Một cách long trọng và nhiệt thành, Ngài cảnh cáo các môn đồ hãy "thức canh." Về lới chú giải thì giờ Chúa tái lâm, xin xem ở dưới IITe 2Tx 2:1-17 và IIPhi 2Pr 3:1-18.
Hãy tôn trọng các Mục sư (câu 12-13). Vì đây là một Hội Thánh rất non nớt, nên phần đông các Mục sư chắc chưa thành thạo. Nhưng Phao-lô khuyên giục tín đồ hãy yêu mến và quí chuộng họ. Khi các giáo hữu yêu mến Mục sư, ăn ở hòa thuận với nhau, và mọi sự khác quân bình, thì Hội Thánh chắc sẽ lớn lên.
15 lời khuyên bảo (câu 14-22). Đẹp đẽ thay! Đó là những đặc điểm của Phao-lô. Trong hầu hết các thơ tín, dầu là trừu tượng, lý luận hoặc khó hiểu tới mực nào, ông cũng kết luận theo cách đó, tức là khuyên hãy bình an, nhẫn nại, vui vẻ, cầu nguyện, cảm tạ Chúa và làm mọi việc lành.
"Tâm thần, linh hồn và thân thể " (câu 23). "Tâm thần" và "linh hồn" thường dùng cùng một nghĩa, song ở đây dường như có phân biệt. "Linh hồn" là yếu tố sự sống, còn "Tâm thần" là cơ quan thông công với Đức Chúa Trời. Đấng Christ cứu chuộc cả cá tánh loài người. Lời lẽ dùng đây chắc dự liệu sự sống lại của thân thể.
"Cái hôn thánh " (câu 26). Trong nhiều nước thuở xưa, người cùng một giống thường chào nhau bằng cách hôn trên má. Nó trở thành một tục lệ trong Hội Thánh. Hội Thánh không dùng cái hôn nữa từ khi nó không còn dùng để chào nhau.
"Hãy đọc thơ nầy cho hết thảy anh em đều nghe " (câu 27). Lời nầy tỏ ra rằng Phao-lô định cho các thơ tín của mình được đọc giữa các chi hội. Các sách Tân Ước đã viết ra vì mục đích đó (CoCl 4:16; ITi1Tm 4:13; KhKh 1:3).
================================

II Tê-sa-lô-ni-ca
Dạy dỗ thêm về sự tái lâm của Chúa
Thơ tín nầy có lẽ viết vào khoảng 52 S.C., cách thơ tín thứ nhứt mấy tuần lễ hoặc mấy tháng. Trong thơ tín thứ nhứt, Phao-lô luận về Chúa tái lâm thình lình và bất ngờ. Trong thơ tín nầy, ông giải thích rằng sự tái lâm của Chúa chỉ xảy ra sau khi có sự bội đạo.
IITe 2Tx 1:1-12-- Ngày Của Chúa
Trong đoạn nầy, Phao-lô nhấn mạnh vào một đặc điểm của ngày Chúa tái lâm, ấy là ngày đó sẽ đem sự khủng khiếp cho những kẻ chẳng vâng phục Chúa.
Ở I Tê-sa-lô-ni-ca, đoạn 4, Phao-lô đã nói rằng Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và khi có tiếng kêu của thiên sứ trưởng, thì Hội Thánh sẽ được cất lên để "ở cùng Chúa luôn luôn."
Đây, ông thêm rằng Chúa sẽ đem theo "các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng" (câu 10) để báo thù những kẻ chẳng vâng phục Ngài. Đức Chúa Jêsus đã phán về "lửa đời đời" (Mat Mt 25:41) và "lửa chẳng hề tắt" (Mac Mc 9:23). Trong thơ HeDt 10:27, "lửa hừng" liên quan với ngày "phán xét" . Thơ IIPhi 2Pr 3:7, 10 có tuyên bố rằng "trái đất sẽ bị đốt cháy cả" (xem lời chú giải khúc sách đó).
IITe 2Tx 2:1-17-- Sự Bội Đạo
Mục đích minh bạch của thơ tín nầy là cảnh cáo tín đồ Tê-sa-lô-ni-ca rằng sự tái lâm của Chúa không xảy ra ngay lập tức đâu, vì phải có sự bội đạo trước đã.
Sự bội đạo là gì? Ấy là tình trạng "sa ngã" (bản tiếng Việt-Nam dịch là "bỏ đạo") trong đó, một nhân vật gọi là "người tội ác" sẽ ngồi trong Đền thờ Đức Chúa Trời, tự xưng là Đức Chúa Trời và tự dấy lên nghịch cùng Đức Chúa Trời (câu 3, 4). Ấy là một Hội Thánh giả mạo do một tên phỉnh gạt cầm đầu.
Toàn thể các Giáo phụ Hội Thánh đầu tiên trông tìm một Antichrist có cá tánh hiện ra sau khi đế quốc La-mã suy sụp.
Các nhà Cải chánh Tin Lành trực tiếp đụng chạm với sự bại hoại kinh khủng của Giáo hội thời Trung cổ, nên tin rằng chế độ Thủ lãnh kia (tức là chế độ do một người cầm đầu, cướp lấy quyền hành vốn chỉ thuộc về Đấng Christ, và phải chịu trách nhiệm về sự bại hoại lan tràn) chính là sự xuất hiện của người tội ác.
Đương thời chúng ta, sau gần 2000 năm lịch sử Hội Thánh, ý kiến vẫn còn bất đồng nhiều lắm. Có nhiều người nghĩ rằng nó chỉ về một thời kỳ ngay trước khi Chúa tái lâm.
Tinh thần bội đạo đã hành động đương thời Phao-lô (câu 7). Về toàn thể, cho tới ngày nay, lịch sử Hội Thánh vẫn là một bức tranh buồn thảm. Nhìn Hội Thánh hữu hình một cách tổng quát từ khi thành lập vào thế kỷ thứ nhứt cho đến thời nay, thì gọi nó là Hội Thánh bội đạo cũng chẳng phải là không đúng. Cho tới ngày nay, chế độ thủ lãnh kia là sự biểu thị tệ hại nhứt của Hội Thánh bội đạo. Ta còn phải chờ xem cực điểm chung kết của sự bội đạo nầy sẽ là thể nào.
"Điều làm ngăn trở" (câu 6). Các Giáo phụ Hội Thánh đầu tiên thường hiểu rằng đó là đế quốc La-mã. Lại có người cho đó có nghĩa chỉ về Đức Thánh Linh.
Ý tưởng của Phao-lô đối với sự tái lâm của Chúa
Có một phái phê bình thường hay nói rằng Phao-lô "phải xây dựng lại ý tưởng của ông đối với sự tái lâm của Chúa;" rằng "ý niệm thô sơ lúc đầu của ông" mâu thuẫn với ý niệm lúc sau. Lời phê bình nầy tuyệt đối không đúng. Ý niệm của Phao-lô lúc đầu là ý niệm duy nhứt, thứ nhứt, sau cùng và luôn luôn của ông. Hai thơ Tê-sa-lô-ni-ca là tác phẩm đầu tiên của ông còn lại. Trong hai thơ nầy, ông đặc biệt tuyên bố rằng ông KHÔNG trông mong Chúa hiện ra ngay lập tức; rằng Ngài không hiện ra trước khi có sự bội đạo, là tình trạng chỉ mới bắt đầu xuất hiện đương thời ông. Có lẽ Phao-lô không được Chúa khải thị cho biết sự bội đạo sẽ là thể nào. Nhưng bất cứ ý niệm ông về sự tái lâm của Chúa là thể nào, nó cũng không loại bỏ khả năng Chúa ngự đến đang lúc ông còn sống; điều nầy được chứng minh bởi phần câu: "Chúng ta là kẻ sống" (ITe1Tx 4:15; ICo1Cr 15:52). Từ đầu đến cuối, Phao-lô vẫn trông chờ sự tái lâm của Chúa như một chung cuộc vinh hiển, nhưng đồng thời ông cũng dự liệu sự chết bất thần, do đó mình được "đi ở với Đấng Christ" (Phi Pl 1:23). Hoặc ông ở trong thân thể, hoặc ông ở ngoài thân thể lúc Chúa tái lâm, thì chẳng phải là điều hệ trọng. Trong lời cuối cùng của ông viết (IITi 2Tm 4:6-8) nhằm lúc gần "đi" tâm trí ông vẫn còn chuyên chú vào "sự hiện đến" của Chúa.
IITe 2Tx 3:1-18-- Những Kẻ Bừa Bãi
"Hãy cầu nguyện cho chúng tôi " (câu 1-2) "hầu cho chúng tôi được giải thoát khỏi kẻ vô lý và người ác." Chính lúc đó, Phao-lô đang bị rắc rối ở Cô-rinh-tô; lời cầu nguyện của họ đã được Chúa đáp lại (Cong Cv 18:9, 10).
Những kẻ bừa bãi (câu 6-15) tức là những kẻ biếng nhác lợi dụng tâm tình từ thiện của Hội Thánh (ITe1Tx 4:9-10), dựa vào sự trông mong Chúa hiện ra ngay lập tức để bào chữa lỗi bỏ bê công việc thường xuyên, và đòi quyền được các anh em sung túc cứu trợ.
Dầu Phao-lô sốt sắng cổ võ lòng từ thiện đối với những người thật thiếu thốn, dầu ông để nhiều thì giờ quyên tiền giúp kẻ nghèo túng, nhưng ông chẳng tiếc lời lên án kẻ có thân thể cường tráng, có thể làm việc, mà lại chẳng muốn làm việc. Trong mấy câu nầy, ông nghiêm cấm anh em không được cứu trợ bọn người ấy; thậm chí ông truyền lịnh cho Hội Thánh không được thông công với họ.
Trong sự dạy dỗ của Phao-lô, hoặc của Đấng Christ, hoặc ở bất cứ sách nào trong Kinh Thánh, đều không có chi khuyến khích bố thí cho kẻ có thân thể cường tráng song biếng nhác, làm nghề hành khất.
===============================

I Ti-mô-Thê
Sự chăm lo Hội Thánh tại Ê-phê-sô
Các thơ tín Giám mục. I, II Ti-mô-thê và Tít thường được gọi là "Thơ tín Giám mục." Ý kiến được nhiều người chấp thuận là các thơ tín nầy viết giữa lúc Phao-lô bị cầm tù lần thứ nhứt và lần thứ hai, giữa năm 64 và năm 67 S.C.. Một vài nhà phê bình duy lý thời nay đã nêu lên lý thuyết rằng những thơ tín nầy là tác phẩm của một trứ giả vô danh: Khoảng 3, 4 chục năm sau khi Phao-lô qua đời, ông nầy đã lấy tên Phao-lô mà viết sánh để tuyên truyền một vài giáo lý. Ý kiến nầy không căn cứ vào lịch sử. Ngay từ lúc đầu, những thơ tín nầy đã được coi là tác phẩm chân chánh của Phao-lô. Hơn nữa, lý thuyết kia phi lý. Thí dụ, ngày nay tôi viết một bức thơ, ghi niên hiệu 50 năm trước, ký tên D.L.Moody, rồi gởi cho một người bạn đương thời với ông, thì tôi có thể khiến ai tin là Moody đã viết thơ ấy chăng?. Hơn nữa, dầu các nhà phê bình lớn tiếng nhấn mạnh rằng một hành động như vậy chẳng có gì trái luân lý cả, song đối với trí óc trung bình, thì hành động ấy chỉ là việc giả mạo thông thường. Nếu các thơ tín nầy không phải là tác phẩm chân chánh của Phao-lô, mà là tác phẩm giả mạo của một người giả mạo làm Phao-lô, thì xin hỏi: Một người có ý thức lương thiện có thể coi nó là một phần của lời Đức Chúa Trời chăng?
Ti-mô-thê. Ông là người thành Lít-trơ (Cong Cv 16:1). Mẹ là người Do- thái, cha là người Hi-lạp; tên mẹ là Ơ-nít, tên bà nội là Lô-ít (IITi 2Tm 1:5). Ông do Phao-lô dắt về tin Chúa (ITi1Tm 1:2). Theo Phao-lô trong hành trình truyền giáo thứ hai, khoảng năm 51 S.C.. (Cong Cv 16:3). Sự lựa chọn ông được tỏ ra là do ý Đức Chúa Trời (ITi1Tm 1:18). Được biệt riêng bởi các trưởng lão và Phao-lô (4:14; IITi 2Tm 1:6). Đi theo Phao-lô đến Trô-ách, Phi-líp, Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê. Ở lại Bê-rê cho đến khi Phao-lô sai người đi bảo ông tới A-thên (Cong Cv 17:14-15). Rồi Phao-lô sai ông trở về Tê-sa-lô-ni-ca (ITe1Tx 3:1-2). Vào khoảng thì giờ ông quay lại, thì Phao-lô đã đi Cô-rinh-tô (Cong Cv 18:5, ITe1Tx 3:6). Đứng chung tên viết hai thơ Tê-sa-lô-ni-ca (1:1; IITe 2Tx 1:1). Về sau Phao-lô sai ông từ Ê-phê-sô đi Cô-rinh-tô (ICo1Cr 4:17). Phao-lô gặp ông tại xứ Ma-xê-đoan, và ông đã đứng chung tên viết thơ II Cô-rinh-tô (Cong Cv 19:22; IICo 2Cr 1:1). Đi một phần đường với Phao-lô trong hành trình đến Giê-ru-sa-lem (Cong Cv 20:4). Kinh Thánh không chép ông có đi theo Phao-lô trọn đường đến Giê-ru-sa-lem và La-mã hay chăng, nhưng ông xuất hiện với Phao-lô tại La-mã (Phi Pl 1:1; 2:19-22; CoCl 1:1; Phil Plm 1:1). về sau ông ở Ê-phê-sô, tại đó ông nhận được thơ tín nầy Phao-lô hối ông kíp đến thành La-mã (IITi 2Tm 4:9). Ta không biết ông có tới La-mã trước khi Phao-lô chết vì Danh Chúa chăng? Thơ HeDt 13:23 chép rằng ông đã được phóng thích khỏi khám. Thiên tánh ông nhút nhát và thích ẩn dật, không có tài bằng Tít để đối phó với những kẻ gây rối loạn. Không được khỏe mạnh lắm (ITi1Tm 5:23). Ông và Lu-ca là hai người đồng bạn trung thành hơn hết của Phao-lô. Phao-lô yêu quí ông tha thiết, và không có ông, thì Phao-lô tự thấy cô đơn. Theo truyền thoại, thì sau khi Phao-lô qua đời, Ti-mô-thê cứ chăn dắt Hội Thánh tại Ê-phê-sô, và ông đã tuận đạo dưới đời trị vì của Nerva hoặc Domitien. Như vậy, ông là bạn đồng sự của Sứ đồ Giăng.
Thành Ê-phê-sô. Đây là nơi Phao-lô đã làm công việc lớn lao hơn hết khoảng năm 54-57 S.C.. (Công vụ các sứ đồ, đoạn 19). Chừng 4 năm, sau khi dời khỏi Ê-phê-sô và đang khi bị cầm tù tại thành La-mã, ông đã viết thơ tín cho Hội Thánh Ê-phê-sô, khoảng năm 62 S.C.. Sau đó ít lâu, khoảng năm 65 S.C., ông gởi thơ tín nầy cho Ti-mô-thê về công việc Chúa tại Ê-phê-sô. Sau nữa, Ê-phê-sô là nơi ở của Sứ đồ Giăng, tại đây, ông đã viết sách Tin Lành, các thơ tín và sách Khải Huyền.
Cơ hội viết thơ tín. Khi Phao-lô từ giã các trưởng lão tại Ê-phê-sô, thì ông bảo họ rằng họ sẽ chẳng thấy mặt ông nữa (Cong Cv 20:25). Nhưng dường như sự ở tù lâu ngày đã thay đổi chương trình của ông, và chừng 6 hoặc 7 năm sau, vừa khi được ra khỏi khám tù La-mã, ông thật đã ghé thăm Ê-phê-sô. Ông cứ đi tới xứ Ma-xê-đoan và để Ti-mô-thê ở Ê-phê-sô, mong rằng chẳng bao lâu chính mình ông sẽ trở lại (ITi1Tm 1:3; 3:14). Ông phải ở xứ Ma-xê-đoan lâu hơn đã dự định (3:15), nên viết thơ tín nầy để ban chỉ thị về công việc Ti-mô-thê phải làm.
Hội Thánh tại Ê-phê-sô. Do bản tường thuật ở sách Công vụ các sứ đồ, đoạn 19, dường như Phao-lô đã dắt đem được vô số người trở về làm môn đồ Đấng Christ. Trong những năm kế tiếp, số tín đồ vẫn gia tăng. Trong khoảng 50 năm sau, tín đồ ở Tiểu-Á-tế á thêm lên đông đúc quá, đến nỗi các miễu thờ tà thần gần như bị bỏ trống. Trong thế hệ các Sứ đồ còn sống, Ê-phê-sô đã trở thành trung tâm của đạo Đấng Christ, vì số giáo hữu cũng như vì vị trí địa dư, và là khu vực Tin Lành được thành công mau lẹ hơn hết.
Tình hình Hội Thánh. Không có nhà thờ. Mãi 200 năm sau thời Phao-lô, người ta mới xây cất nhà thờ làm nơi tín đồ thờ phượng Chúa, song cũng không phổ thông cho tới ngày Hoàng đế Constantin chấm dứt những vụ bắt bớ tín đồ Đấng Christ. Như vậy, hàng bao nhiêu ngàn tín đồ ở trong và ở chung quanh thành Ê-phê-sô, đã họp thành hàng mấy trăm nhóm nhỏ ở các tư gia, chớ không phải chỉ là một hoặc mấy chi hội trung ương lớn lao. Mỗi nhóm (hoặc chi hội) nầy ở dưới quyền lãnh đạo của vị Mục sư riêng.
Các Mục sư. Chắc có hàng mấy trăm Mục sư. Sách Cong Cv 20:17 gọi họ là "trưởng lão." Thơ tín nầy gọi họ là "Giám mục" (ITi1Tm 3:1). Ngày nay hai danh hiệu nầy chỉ về những nhiệm vụ khác hẳn. Song đương thời chép Tân Ước, chỉ là hai tên của cùng một nhiệm vụ, tương đương với chức vụ "Mục sư" bây giờ.
Công việc của Ti-mô-thê trước nhứt liên quan với các Mục sư hoặc thủ lãnh chi hội nầy. Thời ấy không có Thần đạo Học đường để cung cấp cho Phao-lô những Mục sư được huấn luyện hẳn hòi. Ông phải cất nhắc một số tín đồ lên làm Mục sư. Có khi họ là những bậc xuất sắc, nhưng có lẽ phần nhiều Mục sư của ông thuộc về giai cấp bình dân. Ông phải hết sức lợi dụng những "vật liệu" sẵn có. Không có Thần đạo Học đường, không có nhà thờ, và mặc dầu bị bắt bớ, Hội Thánh đã tấn bộ hơn bất cứ thời kỳ nào từ đó đến nay; ấy vì Hội Thánh chăm chú vào những điểm cốt yếu của đạo Tin Lành, chớ không chăm chú vào những điểm nông cạn.
* * *
I Ti-mô-thê 2
ITi1Tm 1:1-20-- Các Giáo Sư Giả
Các giáo sư giả (câu 3-11). Bảy năm, trước khi từ giã thành Ê-phê-sô, Phao-lô đã cảnh cáo rằng muông sói tàn ác sẽ kéo đến phá hại bầy chiên tại Ê-phê-sô (Cong Cv 20:29-30). Lúc nầy chúng đã xuất hiện, hết sức hung hăng, gây nên vấn đề khó khăn lớn lao cho Ti-mô-thê. Dường như chúng cùng một nhãn hiệu với bọn người Cơ-rết mà Tít phải đối phó. Bọn chúng dạy nhiều điều kỳ lạ. dựa vào thần thoại trong ngụy kinh Do-thái có liên quan đến các gia hệ Cựu Ước.
Phao-lô nhận mình có tội (câu 12-17). Người duy nhứt có lẽ làm việc cho Đấng Christ nhiều hơn hết mọi người khác hiệp lại, đã cúi xuống rất thấp vì cảm thấy mình chẳng xứng đáng chi. Ta càng đồng đi với Đấng Christ, thì càng có ý thức khiêm tốn sâu xa. Ông cho rằng Đức Chúa Trời đã định dùng sự hối cải của ông để đời đời treo gương nhịn nhục của Đức Chúa Trời đối với những người ngoan cố.
Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ (câu 19-20) là hai thủ lãnh trọng yếu của bọn giáo sư giả. Phao-lô đã dùng quyền chức Sứ đồ mà loại họ, không cho làm giáo hữu của Hội Thánh nữa ("đã phó cho quỉ Sa-tan rồi" -- câu 20). Có lẽ chính là A-léc-xăn-đơ nầy (ITi1Tm 4:14), sau đó ít lâu, đã đến thành Rô-ma để làm chứng nghịch cùng Phao-lô, và có lẽ chính hắn trước kia là một người bạn trung thành, tận tụy của Phao-lô (Cong Cv 19:33).
ITi1Tm 2:1-15-- Sự Cầu Nguyện, Địa Vị Của Phụ Nữ
Cầu nguyện cho các bậc cầm quyền (câu 1-8). Đương thời ấy, Néron trị vì đế quốc La-mã; dưới tay vua nầy, Phao-lô đang bị cầm tù và chẳng bao lâu sẽ bị xử tử. Điều nầy tỏ ra rằng cần phải cầu nguyện và cầu thay cho kẻ cầm quyền gian ác cũng như cho bậc cầm quyền nhân đức.
Địa vị của phụ nữ trong Hội Thánh (câu 9-15). Xem ở ICo1Cr 11:5-15; 14:34-35. Đây Phao-lô khuyên bảo đừng phô trương trang phục quá đáng, nhứt là trong cuộc thờ phượng của tín đồ; và cũng đừng làm giống như nam giới quá. Trên thiên đàng sẽ không còn phân chia nam, nữ (Mat Mt 22:30); nhưng trong thế gian nầy, tự nhiên có sự phân biệt giữa đờn ông và đờn bà mà tốt nhứt là chúng ta chớ có vượt qua, "Nhơn đẻ con mà được cứu rỗi" (câu 15), có lẽ chỉ về sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus, vì Ngài do người nữ sanh ra mà không cần môi giới của người nam. Tội lỗi vào trong thế gian bởi người nữ (câu 14), và Cứu Chúa vào trong thế gian cũng bởi người nữ.
ITi1Tm 3:1-16-- Giám Mục Và Chấp Sự
Tư cách của họ (1-16). Có lẽ cốt nêu lên làm một lý tưởng, chớ không phải để làm qui luật. "Chỉ một vợ mà thôi" (câu 2), có lẽ cốt để loại trừ kẻ đa thê, chớ không phải để loại trừ người độc thân. Chính Phao-lô là người độc thân (ICo1Cr 7:8). "Vợ các chấp sự" (câu 11) có lẽ có nghĩa là nữ chấp sự. "Trụ và nền của lẽ thật" (câu 15). Nếu chẳng nhờ Hội Thánh, thì Danh Đấng Christ sẽ biến mất. Người ta cho rằng câu 13 là một phần của một bài thánh ca Tin Lành.
ITi1Tm 4:1-16-- Sự Bội Đạo Hầu Đến.
Công Việc Của Mục Sư
Sự bội đạo (câu 1-5). Khúc sách nầy dường như tỏ ra rằng Hội Thánh là cột trụ của lẽ thật, nhưng trong Hội Thánh sẽ dấy lên những thuyết sai lạc thậm tệ, do ma quỉ mà phát sanh, dạy rằng phải kiêng ăn thịt và cấm cưới gả. Đó là một trong những hình thức của thuyết duy trí(1) đã nảy nở ngay lúc ấy, và về sau bành trướng rất mạnh. Đó là một tà giáo ngày nay hầu như tiêu diệt, chỉ còn sót lại trong Giáo hội kia.
Một Mục sư tốt (câu 6-16). Phương pháp tốt nhứt để đánh đổ tà giáo mới chớm nở hoặc đang lan tràn là luôn luôn lặp lại lẽ thật Tin Lành giản dị: "Đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ," (câu 13). Nếu được hiến cơ hội, thì chính Kinh Thánh sẽ làm công việc của nó. Phải nghiên cứu Kinh Thánh ở nơi riêng, đọc và giải thích Kinh Thánh ở nơi công cộng. Nếu các Mục sư ngày nay chú ý vào lời khuyên bảo của Phao-lô, thì Hội Thánh sẽ nhận được sự sống mới, và lớn lên rất mau lẹ. Tại sao, ôi, tại sao các Mục sư không thể hiểu rằng sự giản dị bày giải lời Đức Chúa Trời được tín đồ ưa thích hơn và có quyền phép bội phần hơn những bài giảng gọt giũa cẩn thận song buồn tẻ của họ?
ITi1Tm 5:1-25-- Các Bà Góa, Các Trưởng Lão
Các bà góa (câu 1-16). Hội Thánh Ê-phê-sô đã được chừng 10 tuổi; công cuộc từ thiện tại đó đã phát triển mạnh mẽ và được quản lý cẩn thận. Tín đồ nào không nuôi nấng người nhà mình, thì xấu hơn kẻ chẳng tin Chúa (câu 8). Hội Thánh Ê-phê-sô phải hết sức cẩn thận về những người nữ phục vụ trong nhà thờ, vì những người nữ phục vụ trong miễu thờ thần Đi-anh vốn là bọn kỵ nữ.
Các trưởng lão (câu 17-25). Ở đoạn 3:1-7 kêu họ là "Giám mục." Ở đó mô tả tư cách của họ, còn ở đây mô tả cách đối xử với họ. Thời ấy cũng như thời nay, những kẻ láu táu và nói bá láp vẫn lăng xăng thầm thì nghịch cùng các thủ lãnh Hội Thánh (câu 19). "Uống một ít rượu" (câu 23). hãy chú ý, đây Phao-lô nói: "Một ít" và phải dùng để chữa bịnh.
6:1-21-- Kẻ Tôi Mọi Và Của Cải
Kẻ tôi mọi (câu 1-2). Tham khảo ICo1Cr 7:20-24. Làm tôi mọi hay được tự do không quan hệ bao nhiêu. nếu có thể được, hãy tự giải phóng, còn nếu không thể được, thì hãy làm một người tôi mọi tốt. Kẻ tôi mọi thường được khuyên bảo như vậy (Eph Ep 6:5-9; CoCl 3:22-25; Tit Tt 2:9-10). Đạo Đấng Christ đã bãi bỏ chế độ tôi mọi, không phải bởi bài bác nó, song bởi dạy giáo lý bác ái.
Lòng tham của cải (câu 3-21) là cớ tích của nhiều sự dạy dỗ sai lạc (câu 5). Trải qua các đời, giáo lý của Hội Thánh đã bị sửa cho cong vạy để kiếm lợi tức cho "tủ sắt" của Hội Thánh. "Cội rễ mọi điều ác" (câu 10). Ôi, hỡi người của Đức Chúa Trời, hãy tránh xa sự tham tiền bạc (câu 11)! Cũng hãy xây khỏi "những lời hư không phàm tục" của "tri thức ngụy xưng là tri thức" (câu 20).
===========================

Thơ II Ti-mô-thê

Lời nói cuối cùng của Phao-lô
Tiếng kêu la khải hoàn của ông lúc gần qua đời
Sách Công vụ các sứ đồ chấm dứt lúc Phao-lô ở tù tại thành Rô-ma, khoảng năm 63 S.C.. Người ta thường tin rằng ông được phóng thích, trở về Hi-lạp và Tiểu-á-tế-á, rồi sau bị bắt lại, bị giải về La-mã, và bị xử tử khoảng năm 66 hoặc 67 S.C.. Thơ này viết đang khi ông chờ ngày tuận đạo.
Bối cảnh của thơ tín nầy. Cơn bắt bớ dưới đời trị vì của Néron. Hỏa hoạn lớn ở kinh thành La-mã đã xảy ra năm 64 T.C.. Chính Néron đã đốt thành. Dầu hung tàn, vô nhân đạo như con thú, nhưng hắn là một tay đại kiến thiết. Muốn xây một kinh thành La-mã mới mẻ và vĩ đại hơn, hắn đã đốt kinh thành cũ và dạo chơi vui vẻ khi thấy cảnh lửa cháy. Nhân dân bèn nghi ngờ hắn; và các sử gia đều chung ý kiến cho hắn là kẻ phạm trọng tội ấy. Để tránh khỏi bị người ta nghi ngờ mình, hắn bèn tố cáo tín đồ Đấng Christ đã thiêu đốt kinh thành La-mã.
Kinh Thánh không chép về Néron bắt bớ tín đồ Đấng Christ, mặc dầu cuộc bắt bớ nầy xảy ra đang lúc chép Kinh Thánh và là bối cảnh trực tiếp của rất ít là hai sách Tân Ước I Phi-e-rơ và II Ti-mô-thê). Chính cuộc bắt bớ nầy đã làm cho Phao-lô tuận đạo và -- theo một vài truyền thoại -- cả Phi-e-rơ nữa. Nguồn tài liệu của chúng ta là sử gia Tacite, người La-mã. Ông biết rằng tín đồ Đấng Christ chẳng đốt kinh thành La-mã. Nhưng phải có một người nào gánh lấy trọng tội của Hoàng đế Néron. Đây có một phái người mới mẻ, bị khinh dễ, phần nhiều thuộc về giai cấp thấp hèn, không có uy tín hoặc thế lực chi, mà lắm kẻ trong số đó lại làm tôi mọi. Néron tố cáo họ đốt kinh thành La-mã, và ra lịnh trừng phạt họ.
Ở trong và ở quanh thành La-mã, vô số tín đồ Đấng Christ đã bị bắt và bị xử tử bằng những cách tàn bạo hơn hết. Họ bị đóng đinh vào Thập tự giá. Hoặc bị cột vào da thú và quăng vào đấu trường, bị bầy chó vờn giỡn cho đến chết, để làm trò chơi cho dân chúng. Hoặc bị quăng cho thú dữ cắn xé. Hoặc bị cột vào trụ trong vườn của Néron, đổ nhựa thông vào thân thể, rồi đốt làm đuốc soi sáng ban đêm, đang khi bạo chúa nầy trần truồng ngồi trên xe ngựa, phóng túng theo cuộc hoan lạc lúc đêm khuya, và khoan khoái trước sự hấp hối của các nạn nhân.
Chính lúc cơn bắt bớ nầy khởi lên, thì Phao-lô lại bị bắt tại Hi-lạp hoặc Tiểu-Á-tế-á, có lẽ tại thành Trô-ách (IITi 2Tm 4:13), và giải về kinh thành La-mã. Lần nầy bởi các cán bộ của chánh phủ La-mã, chớ không bởi người Do-thái như lần trước. Lần nầy "như người phạm tội" (2:9), chớ không phải vì vi phạm luật pháp Do-thái về phương diện kỹ thuật như lần trước. Theo chỗ chúng ta biết, thì sự bắt ông liên quan đến vụ đốt thành La-mã. Vì Phao-lô há chẳng phải thủ lãnh của những người đang bị hình phạt về trọng tội kia sao? Và Phao-lô há chẳng ở thành La-mã suốt hai năm trước khi xảy ra nạn cháy sao? Rất dễ đổ tội nầy cho Phao-lô. Nhưng chúng ta chẳng biết có phải ông bị cáo tội ấy chăng? Cuộc xét xử ông đã tiến hành rất xa đến nỗi ông biết không có hy vọng thoát khỏi. Đang khi ở trong ngục tối La-mã để chờ giờ "đi về Nước Chúa," ông đã viết bức thơ cuối cùng nầy cho Ti-mô-thê, là thiết hữu và bạn đồng sự mà ông tin cậy, để khuyên Ti-mô-thê bất cứ ở hoàn cảnh nào, hãy trung tín với chức vụ Mục sư do Đấng Christ trao cho, và hãy kíp đến kinh thành La-mã trước mùa đông (4:21).
Khúc nhạc đức tin toàn thắng của Phao-lô đương giờ tối tăm đó là một trong những khúc sách cao quí nhứt của Kinh Thánh. Ông bị xử tử vì một trọng tội mà mình không hề phạm. Bạn hữu lìa bỏ ông, để ông chịu khổ một mình. Chánh nghĩa mà ông hiến trọn đời mình cho đó đang bị trừ diệt ở Tây phương bởi cơn bắt bớ, còn ở Đông phương thì đang bị sự bội đạo phá hại. Tuy nhiên, ông không hề tỏ ý hối tiếc đã dâng cuộc đời hầu việc Đấng Christ và Hội Thánh. Ông chẳng chút nghi ngờ, nhưng tin quyết rằng dầu hiện nay Hội-Thánh dường như thất bại, song một ngày kia, sẽ toàn thắng.Ông cũng chẳng chút nghi ngờ, nhưng tin quyết rằng lúc đầu bị chặt khỏi thân thể, thì ông sẽ bay thẳng vào cánh tay của ĐẤNG mà mình đã kính mến và hầu việc tận tụy biết bao! Thơ tín nầy là tiếng kêu la khải hoàn của một người chiến thắng sắp từ giã đời nầy.
IITi 2Tm 1:1-18 -- "Ta Biết. .. Đấng ấy "
Sự sống (câu 1). Trong thơ I Ti-mô-thê, ông mở đầu đã nói đến "sự trông cậy" của mình (1:1); còn trong thơ Tít, thì ông mở đầu nói đến lẽ "trông cậy sự sống đời đời" (1:2). Cũng một thể ấy, ở đây trí óc ông chăm chú vào "ngày đó" (câu 12, 18, 4:8).
Ông cầu nguyện cho Ti-mô-thê (câu 3-5). Phao-lô mở đầu hầu hết các thơ tín bằng lời cầu nguyện và cảm tạ như vậy (RoRm 1:9-10; ICo1Cr 1:4-8; IICo 2Cr 1:3-4; Eph Ep 1:3; Phi Pl 1:3, 9-11; CoCl 1:3-10; ITe1Tx 1:2-3; IITe 2Tx 1:3). "Nước mắt con" (câu 4), có lẽ nhằm lúc họ chia tay nhau tại Trô-ách (IITi 2Tm 4:13). Khi Phao-lô viết thơ I Ti-mô-thê, thì ông ở xứ Ma-xê-đoan, còn Ti-mô-thê ở tại thành Ê-phê-sô. Có lẽ về sau hai ông gặp nhau tại Trô-ách, và có lẽ tại đây quân lính La-mã đã bắt Phao-lô, giải về kinh thành La-mã, vì ông bị cáo tội nhục nhã, là đốt kinh thành nầy.
Lòng tin quyết của Phao-lô (câu 6-14). Ông đã thấy Đấng Christ. Ông đã chịu khổ vì Ngài. Đấng Christ mà hiện nay ông không thấy. Lại là Thực sự hiển nhiên trong đời ông, không nghi ngờ chi hết, là Bạn thân mật và thiết thực của ông. Ông "biết Đấng ấy" y như người ta biết bạn tốt nhứt của mình. "Người giảng đạo, Sứ đồ, và giáo sư" (câu 11). "Người giảng đạo" là người rao truyền Tin Lành cho những ai chưa được nghe, hoặc là giáo sĩ ở ngoại quốc; "Sứ đồ" nhận được quyền hành trực tiếp từ nơi Đấng Christ; "giáo sư" là người dạy dỗ các cộng đồng tín hữu đã thành lập, tức là Mục sư của chúng ta vậy.
Sự mất lòng thương mến tại Ê-phê-sô (câu 15-18). Đây là một điều buồn thảm hơn hết trong đời Phao-lô tại Ê-phê-sô, nơi ông làm công việc lớn lao hơn hết và hầu như đã đưa dẫn tất cả nhân dân đến cùng Đấng Christ. Các giáo sư giả đã thắng thế đến nỗi có thể lợi dụng việc Phao-lô bị bắt mà khiến Hội Thánh xây lại nghịch cùng ông trong lúc ông cần lòng yêu thương và thiện cảm của Hội Thánh ấy hơn hết.
* * *
II Ti-mô-thê 2
IITi 2Tm 2:1-26-- Lời Khuyên Bảo Ti-mô-thê
Hãy tránh sự rắc rối trong công vụ (câu 1-7). Phao-lô khuyên Ti-mô-thê hãy nhận lãnh trợ cấp cho chức vụ Mục sư của mình, là điều Phao-lô không chịu làm trong phần lớn của chức vụ ông, trước khi các chi hội được thành lập vững vàng. Có lẽ Ti-mô-thê thuộc về một gia đình khá giả, nhưng lúc nầy vì nạn bắt bớ, nên đã mất hết tiền của. Vì Ti-mô-thê thận trọng về vấn đề nhận trợ cấp, nên có lẽ cần lời khuyên bảo nầy của Phao-lô.
Hãy chịu khổ (câu 8-12). Lúc đó Phao-lô đang chịu sự đau đớn tàn khốc hơn hết dành cho một thiện nhân, tức là bị cáo là kẻ phạm trọng tội (câu 9). Nhưng hãy chú ý, tâm trí ông chăm vào "sự vinh hiển đời đời" (câu 10). Câu 11-13 có lẽ là trưng dẫn lời của một bản thánh ca.
Hãy dùng Lời Chúa cho đúng cách (câu 14-22). Chớ bẻ sai ý nghĩa tự nhiên của Lời Chúa để ủng hộ những giáo lý mà mình ưa thích. Hội Thánh sẽ tẻ tách khỏi sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Nhưng đương thời Hội Thánh hữu hình trong lịch sử, Đức Chúa Trời sẽ có một thiểu số tín đồ chân thực (câu 19).
Hãy mềm mại (câu 22-26). Trong tay của một Mục sư sẵn lòng mềm mại chân thực của Đấng Christ, thì Lời Đức Chúa Trời sẽ phá tan sự chống đối và gìn giữ Hội Thánh trên đường chánh đáng.
3:1-16-- Những Thời Kỳ Khó Khăn
Sự bội đạo hầu đến (câu 1-14). Một trong những gánh nặng của Tân Ước là loài người quyết cố gắng làm hư hoại Tin Lành và cản trở công việc của Đấng Christ. Kinh Thánh nói đi nói lại đến sự cố gắng ấy (Mat Mt 7:15-23; IITe 2Tx 2:1-17; ITi1Tm 4:1-16; IIPhi 2Pr 2:1-22; Giu Gd 1:25; KhKh 17:1-18). Bức tranh khủng khiếp ở câu 2-5, ngoại trừ một vài kỳ cải cách tạm thời, chính là bức tranh tả đúng toàn thể Hội Thánh hữu hình cho tới ngày nay. "Gian-nét" và "Giam-be" (câu 8) là tên cổ truyền của các thuật sĩ dưới quyền Pha-ra-ôn (XuXh 7:11-22). "Lít-trơ" (câu 11) là nơi Phao-lô đã bị ném đá, nơi Ti-mô-thê sanh trưởng, và có lẽ Ti-mô-thê đã chứng kiến lúc chúng ném đá Phao-lô. "Mọi người muốn sống cách nhơn đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ" (câu 12). Kinh Thánh nhắc đi nhắc lại điều ấy cho chúng ta (Mat Mt 5:10-12; GiGa 15:20; Cong Cv 14:22; ITe1Tx 3:4), để khi cơn bắt bớ xảy đến, thì chúng ta sẵn sàng đối xử.
Kinh Thánh (câu 14-17) là vị thuốc duy nhứt chống lại sự bội đạo và sự bại hoại trong Hội Thánh. Giáo hội kia đã loại bỏ Kinh Thánh, nên Hắc ám Thời đại mới diễn ra. Hội Thánh Cải chánh đã lại tìm thấy Kinh Thánh, nhưng bây giờ lại xao lãng Kinh Thánh. Sự coi thường Kinh Thánh lan tràn trong Hội Thánh thời nay thật là kinh khủng. Nhiều thủ lãnh hữu danh của Hội Thánh chẳng những xao lãng Kinh Thánh, song còn lấy sự kiêu ngạo trí thức quá mức, nhơn danh "giới học giả kim thời" mà dùng mọi phương pháp có thể tưởng tượng để phá hoại căn nguyên thiên thượng của Kinh Thánh và loại bỏ Kinh Thánh, coi như một mớ "tư tưởng Hê-bơ-rơ" chấp vá lại.
IITi 2Tm 4:1-22-- Những Lời Cuối Cùng Của Phao-Lô
Lời khuyên long trọng lúc từ biệt (câu 1-5). Phao-lô biết ngày mình bị xử tử gần tới. Ông không chắc có thể lại gặp mặt Ti-mô-thê, hay là có cơ hội viết một thơ nữa cho Ti-mô-thê, chăng? Ông nài khuyên Ti-mô-thê hãy để tâm trí vào ngày Chúa hiện ra và hãy chuyên cần rao giảng Đức Chúa Jêsus luôn luôn. Ông lại nhắc đến các giáo sư giả, (câu 3, 4) Ôi! Bọn họ khuấy rối Phao-lô là dường nào! Thật người ta ngoan cố quyết định làm cho Tin Lành của Đấng Christ phải bại hoại.
Bài diễn văn cáo biệt của Phao-lô (câu 6-8). Đây là lời vĩ đại nhứt của người vĩ đại nhứt từng sống ở đời. Vị chiến sĩ cao niên của Thập tự giá, mang nhiều vết sẹo của chiến trường, nhìn lại một cuộc giao tranh lâu dài, gay go và gian khổ, bèn hớn hở la lên rằng: "Ta đã thắng trận!" Sau đó ít lâu, lưỡi rìu của tên đao phủ đã giải phóng linh hồn Phao-lô khỏi thân thể mòn mỏi, bầm nát để được hàng đoàn thiên sứ chở lên lòng Chúa yêu dấu. Chúng ta tưởng tượng sự mừng đón ông vào Thiên đàng trổi hơn bất cứ đám rước khải hoàn nào dành cho các vương tướng chiến thắng trở về mà ông đã được chứng kiến tại kinh thành La-mã. Chúng tôi đoán rằng khi ông tới Thiên đàng, thì hành động thứ nhứt của ông sau khi triều kiến Chúa là đi tìm kiếm Ê-tiên mà thành thật xin lỗi.
Những việc riêng (câu 9-22). Chúng ta không biết Ti-mô-thê có đến kinh thành La- mã trước khi Phao-lô tuận đạo chăng (câu 9). Chúng ta hy vọng rằng Ti-mô-thê đã đến kịp. Giai đoạn thứ nhứt của cuộc xét xử đã qua (câu 16). Đối với ông, tình hình tuyệt vọng đến nỗi trong 4 bạn đồng hành, thì 3 người trốn mất, chỉ còn 1 người, là Lu-ca, ở lại (câu 10, 11). Không nói rõ Tít tự ý đi xứ Đa-ma-ti (câu 10), hay là Phao-lô sai Tít qua đó theo như hai ông có lẽ đã dự tính tại Ni-cô-bô-li (Tit Tt 3:12). Đó là những ngày tối tăm tại kinh thành La-mã. Những người tín đồ mà họ biết mặt, biết tên thì bị tàn sát để đền tội đốt kinh thành. Bây giờ chúng đem vị lãnh tụ của đạo Đấng Christ ra xét xử. Nếu chúng thấy người nào ở chung với ông, thì nguy hiểm cho người ấy lắm. Phao-lô muốn gặp "Mác" (câu 11). Hai ông đã phân rẽ nhau lâu năm về trước (Cong Cv 15:36-41), nhưng Mác đã ở với Phao-lô lúc Phao-lô bị cầm tù tại thành La-mã lần thứ nhứt (CoCl 4:10). Mác và Phi-e-rơ đã làm việc chung với nhau, và nếu Mác tới La-mã, thì có lẽ Phi-e-rơ cũng tới đó. Theo một truyền thoại, thì Phi-e-rơ đã tuận đạo tại La-mã vào cùng khoảng với Phao-lô, hoặc sau ít lâu. "Áo choàng" (câu 13). Mùa đông gần tới (câu 21), và Phao-lô cần áo choàng ấy. "Những sách vở" (câu 13) có lẽ là những phần Kinh Thánh. "A-léc-xan-đơ" (câu 14) chắc là A-léc-xan-đơ mà Phao-lô "đã phó cho quỉ Sa-tan" (ITi1Tm 1:20), lúc nầy hắn có cơ hội trả miếng. Và hắn đã trả miếng thật. Hắn đi trọn đường từ Ê-phê-sô đến kinh thành La-mã để làm chứng nghịch cùng Phao-lô; và hắn đã thành công mỹ mãn. "Sư tử" (câu 17) có lẽ ám chỉ Néron, hoặc có lẽ chỉ về Sa-tan (IPhi 1Pr IPhi5:8). "Trô-phim" (câu 20). Hào hứng thay, đây là một ánh sáng chiếu vào quyền phép của Phao-lô để làm phép lạ! Ở nhiều chỗ khác nhau, ông đã chữa lành không biết bao nhiêu người. Nhưng đây là một bạn hữu thân mến của ông mà ông không chữa lành được. "Li-nút" (câu 21) và mấy người khác: Đây là một nhóm tín đồ ở thành La-mã đã tìm cách liên lạc được với Phao-lô.
===============================

Thơ Tít
Luận về Hội Thánh ở đảo Cơ-rết
Tít. Tân Ước chỉ nói về ông như vầy: Ông là người Hy-lạp, theo Phao-lô lên thành Giê-ru-sa-lem, và Phao-lô nhất định kháng cự, không chịu để họ làm phép cắt bì cho ông (GaGl 2:3-5). Có lẽ ông là công dân thành An-ti-ốt. Ông là một trong những người do Phao-lô dắt đưa về tin Chúa.
Mấy năm sau, ông xuất hiện với Phao-lô tại thành Ê-phê-sô, và được cử đi thành Cô-rinh-tô để giàn xếp một vài vụ lộn xộn và để mở cuộc lạc quyên giúp các thánh đồ nghèo tại thành Giê-ru-sa-lem (IICo 2Cr 8:7, 10) có lẽ ông đi theo phái đoàn đem thơ I Cô-rinh-tô, hoặc một thơ gởi sớm hơn (ICo1Cr 5:9). Từ Cô-rinh-tô trở về, ông gặp Phao-lô tại xứ Ma-xê-đoan; và sau khi giải thích tình hình cho Phao-lô hay, ông lại được sai đến thành Cô-rinh-tô trước Phao-lô, đem theo thơ II Cô-rinh-tô , để dọn đường cho Phao-lô tới nơi và để thâu đủ số tiền lạc quyên (IICo 2Cr 2:3, 12, 13; 7:5, 6, 13, 14; 8:16, 17, 18, 23; 12:14, 18). Việc lựa chọn Tít để giải quyết tình hình rối loạn tại Cô-rinh-tô, chứng tỏ rằng Phao-lô chắc coi ông là một thủ lãnh Tin Lành rất có khả năng, khôn ngoan và khéo léo.
Chúng ta còn nghe về ông 7 hoặc 8 năm sau, trong thơ tín gởi cho Tít nầy, khoảng 65 S.C.. Ông đang ở đảo Cơ-rết. Mấy chữ: "Để con ở lại Cơ-rết" (Tit Tt 1:5) tỏ ra rằng Phao-lô đã ở đó với ông. Trong hành trình tới La-mã, tàu của Phao-lô ghé bờ phía Nam của đảo Cơ-rết, nhưng ít có lẽ rằng Phao-lô để Tít ở lại lúc đó. Ý kiến được nhiều người công nhận là sau khi Phao-lô được phóng thích khỏi khám tù La-mã, khoảng năm 63 S.C., thì ông trở lại Đông phương, và hành trình gồm cả đảo Cơ-rết. Sau khi lập lại trật tự trong các chi hội Cơ-rết, Tít phải trao công việc lại cho A-tê-ma hoặc Ti-chi-cơ, vì Phao-lô bảo ông hãy tới gặp mình tại Ni-cô-bô-li, ở miền Tây Hy-lạp (3:12).
Lời chép cuối cùng về Tít ở thơ IITi 2Tm 4:10, tại đó có nói rằng ông đã từ La-mã đi xứ Đa-ma-ti. Rõ ràng lắm, ông đã tới gặp Phao-lô, ở cùng Phao-lô khi Phao-lô bị bắt, rồi theo Phao-lô về tới kinh thành La-mã. Chúng ta không biết hoặc ông đã vì nguy hiểm hăm dọa mà bỏ Phao-lô trong giờ tối tăm và cô đơn đó, hay là Phao-lô đã sai ông đi hoàn tất công cuộc rao giảng Tin Lành ở bờ biển Tây Bắc Hy-lạp. Chúng ta hãy hy vọng rằng điều thứ hai là đúng, vì ông là một người tốt, một bậc vĩ nhân. Theo truyền thoại, thì Tít trở thành Giám mục ở đảo Cơ-rết, sống lâu và qua đời bình an.
Cơ-rết. Là một hòn đảo, cũng gọi là Candie, ở phía Đông nam Hy-lạp, trên biên giới giữa biển Egée và Địa-trung-hải, dài chừng 150 dặm, và rộng từ 7 đến 30 dặm. Đảo nầy có nhiều núi non, nhưng các thung lũng thì phì nhiêu, đông dân và trù phú. Đây là "đảo có một trăm đô thị." Cũng là trung tâm của một nền văn minh thượng cổ và hùng cường, đã đổi ra thành truyện thần tiên lúc lịch sử Hy-lạp bắt đầu. Núi cao nhứt của đảo nầy, là núi Ida, nổi danh vì là nơi sanh trưởng của Zeus, thần của người Hy-lạp. Đây cũng là quê hương của Minos, con trai Zeus, là nhà lập pháp nửa thần thoại, nửa thật có, cũng là quê hương của Minotaure, một nhân vật hoang đường. Nhân dân có bà con với dân Phi-li-tin, và người ta cho rằng họ giống như dân Kê-rê-thít (ISa1Sm 30:14). Họ là những thủy thủ gan dạ, có tài bắn cung, nhưng về phần đạo đức, thì nổi tiếng rất xấu. Đương thời Tân Ước, có rất nhiều người Do-thái ở đảo nầy.
Có lẽ Hội Thánh ở đảo Cơ-rết đã phát khởi do những "người Cơ-rết" có mặt tại Giê-ru-sa-lem trong ngày Lễ Ngũ tuần (Cong Cv 2:11). Ngoài cuộc viếng thăm của Phao-lô trên đường đi La-mã (27:1-44) và cuộc viếng thăm ngụ ý trong thơ Tít nầy, thì Tân Ước không còn chép về một Sứ đồ nào viếng thăm đảo Cơ-rết nữa. Vì Phao-lô có ý tránh không xây dựng trên nền của người khác, nên dường như phần nhiều các chi hội trên đảo Cơ-rết đã do ông sáng lập. Bằng không, chắc ông chẳng cầm quyền trên họ như thơ tín nầy đã tỏ ra. Có lẽ các chi hội ấy là kết quả do công việc của ông tại Cô-rinh-tô hoặc Ê-phê-sô, -- cả hai thành nầy ở gần và giao thương với đảo Cơ-rết. Kết quả ấy bởi môi giới của những tín đồ mà ông đã dắt đem về tin Chúa, hoặc bởi một cuộc viếng thăm của ông mà Kinh Thánh không chép.
Giống như thơ I Ti-mô-thê. Người ta cho rằng thơ Tít và thơ I Ti-mô-thê đã viết gần như cùng một lúc, khoảng năm 65 S.C.. Hai thơ nầy giải luận cùng một tổng đề, là chỉ định những thủ lãnh xứng đáng cho các chi hội Tin Lành: Tít ở đảo Cơ-rết và Ti-mô-thê ở thành Ê-phê-sô. Vấn đề khó khăn ở hai nơi nầy gần giống nhau.
Tit Tt 1:1-16-- Các Trưởng Lão
"Trông cậy sự sống đời đời " (câu 2). Phao-lô cũng như Phi-e-rơ (IPhi 1Pr IPhi1:3-5), khi gần đi hết đường đời, thì mắt nhìn chăm vào Thiên đàng. Thiên đàng là sứ điệp mà ông rao truyền luôn và là cớ tích vĩ đại duy nhứt của đời ông: Nào sự vinh quang của đời sống khi thân thể sẽ được cứu chuộc (RoRm 8:18, 23) nào sự vui mừng khôn xiết trong ngày mà "thể hay chết nầy" sẽ "mặc lấy thể không hay chết" (ICo1Cr 15:51-55) nào ông mong ước được nhà "không phải bởi tay người làm ra" (IICo 2Cr 5:1-2); nào quyền công dân thiên thượng của ông, có thân thể giống như thân thể Cứu Chúa (Phi Pl 3:20-21) nào sự vui mừng của ông khi nghĩ rằng mình được cất lên để ở cùng Chúa đời đời(ITe1Tx 4:13-18) nào mũ triều thiên công bình mà ông sẽ nhận được "trong ngày đó" (IITi 2Tm 4:6-8).
Tư cách của một trưởng lão (Tit Tt 1:5-9). "Trưởng lão" (câu 5) và "giám mục" (câu 7) là hai danh từ ở đây dùng giống nhau để chỉ về cùng một chức vụ. Về thực tế, tư cách của họ kể ra ở đây cũng giống như tư cách mô tả ở thơ ITi1Tm 3:1-7 (xin xem khúc sách nầy).
Các giáo sư giả (Tit Tt 1:10-16). Các chi hội ở đảo Cơ-rết bị các giáo sư giả bao vây, giống như các giáo sư giả mà thơ II Phi-e-rơ và thơ Giu-đe nói đến; chúng là kẻ "đáng ghét" và "trái nghịch" (câu 16). "Cả nhà người ta" (câu 11) có lẽ chỉ về toàn thể nhiều chi hội, vì thời ấy Hội Thánh nhóm họp tại các nhà riêng. Câu 12 trưng dẫn lời một thi sĩ của đảo Cơ-rết, tên là Epiménide (năm 600 T.C.). "Phải bịt miệng" bọn giáo sư giả, không phải bằng võ lực, nhưng bởi sự mạnh mẽ tuyên bố lẽ thật (câu 11).
* * *
Tít 2
Tit Tt 2:1-3:15-- Các Việc Lành
Thơ tín nầy nhấn mạnh vào "các việc lành". Chúng ta được cứu không phải bởi làm lành, nhưng bởi sự thương xót của Ngài (3:5), và được xưng công bình bởi ân điển Ngài (3:7). Nhưng chính vì cớ đó, chúng ta tuyệt đối buộc phải "có lòng sốt sắng về các việc lành" (2:14), "làm gương về việc lành" (2:7), "sẵn sàng làm mọi việc lành" (3:1), "lo chăm chỉ làm việc lành" (3:8), và "chuyên làm việc lành, đặng giùm giúp khi túng ngặt" (3:14). Một trong những cáo trạng bọn giáo sư giả là chúng "không thể làm một việc lành nào hết" (1:16).
Quyền phép của những cuộc đời tốt đẹp (2:1-14). Các ông già, bà già, thiếu phụ, bà mẹ, thanh niên và tôi mọi đều được khuyên bảo hãy trung tín với những phận sự tự nhiên của địa vị mình, ngõ hầu kẻ chỉ trích đạo của họ phải ngậm miệng (2:8).
Các tôi mọi rất đông trong Hội Thánh đầu tiên, được Phao-lô khuyên bảo hãy vâng phục, siêng năng, trung tín, ngõ hầu đời sống của họ "làm cho tôn quí đạo" mà mình nhận tin, và chủ họ vốn thờ thần tượng buộc phải nghĩ rằng: "Nếu đạo Đấng Christ làm được như vậy cho kẻ tôi mọi, thì chắc trong đó phải có một cái gì."
Sự trông cậy hạnh phước (2:11-14). Sự tái lâm của Chúa là cớ tích cho chúng ta ăn ở tin kính trong đời nầy. Sự tái lâm của Chúa được ghi nhắc trong hầu hết mỗi quyển sách Tân Ước.
Sự vâng phục các bậc cầm quyền (3:1-2) là một đức tánh ưu tú của tín đồ Đấng Christ. Công dân Thiên đàng đáng phải là công dân tốt đối với chánh quyền trần gian đang cai trị họ (RoRm 13:1-7; IPhi 1Pr 2:13-17).
"Những gia phổ " (Tit Tt 3:9) nói đến ở đây và ở ITi1Tm 1:4, dường như đứng hàng đầu giáo lý của các giáo sư giả khuấy phá Hội Thánh ở đảo Cơ-rết và thành Ê-phê-sô đương thời ấy. Có lẽ chúng đòi quyền giảng dạy vì dựa vào chỗ mình là con cháu của Đa-vít, có bà con với Đức Chúa Jêsus, và lại am hiểu Tin Lành. Hoặc giả chúng dạy giáo lý kỳ lạ dựa trên sự giải thích bí hiểm những đoạn Kinh Thánh chép về gia phổ.
"Kẻ theo tà giáo" (Tit Tt 3:10). Sau khi cố gắng hợp lý để sửa lại một giáo sư giả, thì hãy tránh xa hắn. "A-tê-ma" không được nói đến ở một chỗ nào khác. Theo truyền thoại, ông đã trở thành Giám mục ở Lít-trơ. "Ti-chi-cơ" (câu 12) ở cõi "A-si" (Cong Cv 20:4). Hoặc Ti-chi-cơ hay là A-tê-ma đã thay thế Tít tại đảo Cơ-rết. "Ni-cô-bô-li" (câu 12) ở xứ Hy-lạp, cách thành Cô-rinh-tô chừng 100 dặm về phía Tây bắc. Xem lời chú giải về các di chuyển sau cùng của Phao-lô ở dưới 28:31. "Xê-na" (câu 13) không được nhắc đến ở chỗ nào khác. Ông là một thầy thông giáo Do-thái, hay là một luật sư Hy-lạp. "A-bô-lô" (câu 13), -- xem ở Công vụ các sứ đồ, đoạn 18. Dường như trong hành trình tới một nơi ta không biết, A-bô-lô và Xê-na đã đem thơ tín nầy cho Tít.
==============================

Thơ Phi-lê-môn
Liên quan đến một người tôi mọi bỏ trốn
Phi-lê-môn là một tín đồ thuộc Hội Thánh Cô-lô-se, do Phao-lô dẫn về tin Chúa, và rất giàu có. Có một chi hội nhóm họp trong nhà ông. Dường như ông và Phao-lô là bạn thiết. Dầu Kinh Thánh không chép, nhưng rất có thể Phao-lô đã thăm viếng Cô-lô-se trong khoảng 3 năm rưỡi hầu việc Chúa tại Ê-phê-sô.(Công vụ các sứ đồ, đoạn 19).
Ô-nê-sim là tên một người tôi mọi của Phi-lê-môn. Có lẽ anh là một thanh niên rất tài năng. Nhưng khi chinh phạt, quân đội La-mã thường bắt các thanh niên, thiếu nữ xuất sắc nhứt và tốt nhứt, đem về bán làm tôi mọi.
Cơ hội viết thơ tín nầy. Chừng 4, 5 năm sau khi Phao-lô dời khỏi địa phương đó và đi về phía Tây để ngồi tù tại kinh thành La-mã, thì dường như Ô-nê-sim ăn cắp một số tiền của chủ, là Phi-lê-môn và chạy trốn qua La-mã. Đang khi ở đó, có lẽ anh tiêu hết số tiền ăn cắp, bèn tìm tới Phao-lô. Có lẽ anh đã sanh lòng kính mến ông khi ở trong nhà chủ, từ mấy năm trước. Không có lẽ anh đã tình cờ tìm thấy ông trong một đô thành gồm 1 triệu rưỡi người. Phao-lô khiến anh quyết định tin nhận Cứu Chúa, rồi gởi anh trở về với chủ, cầm theo bức thơ ngắn ngủi , kỳ diệu nầy.
Mục đích của thơ nầy là nài xin Phi-lê-môn hãy tha thứ người tôi mọi đã chạy trốn và tiếp nhận người như một anh em trong Chúa. Chính Phao-lô nhận trả lại số tiền người đã ăn cắp. Bức thơ nầy là một viên ngọc quí trọn vẹn, vì tỏ ra lễ độ, khôn khéo, tế nhị và rộng rãi lên tới tuyệt điểm khi Phao-lô dịu dàng kêu gọi Phi-lê-môn "hãy nhận lấy" Ô-nê-sim "như chính mình tôi vậy" (câu 17).
Sự tiếp nhận người tôi mọi. Kinh Thánh không ngụ ý rằng khi người tôi mọi quay về, chủ đã tiếp đón người thể nào. Nhưng theo một truyền thoại, thì chủ thật đã tiếp đón người, hiểu ngụ ý của Phao-lô, và trả tự do cho người tôi mọi. Dó là cách hành động của Tin Lành. Đấng Christ ở trong lòng người tôi mọi, khiến người nhìn nhận các tập tục của xã hội đương thời mình mà quay về với chủ, quyết định làm một người tôi mọi tốt và sống trọn cuộc đời tự nhiên của kẻ làm tôi mọi. Đấng Christ ở trong lòng ông chủ, khiến ông nhìn nhận người tôi mọi là một anh em trong Chúa, và trả lại quyền tự do cho người. Cũng theo một truyền thoại khác, sau đó, Ô-nê-sim làm Giám mục của Hội Thánh tại Bê-rê, 50 năm sau, Thánh Ignace có chép về một người, tên là Ô-nê-sim, làm Giám mục tại thành Ê-phê-sô.
"Áp-bi" (câu 2) có lẽ là vợ của Phi-lê-môn. "A-chíp" (câu 2) có lẽ là Mục sư của chi hội đó. "Ô-nê-sim" (câu 10) nghĩa là "có ích lợi". Hãy chú ý, Phao-lô dùng lời song quan (jeu de mots ) ở đây. Chữ "mãi mãi" (câu 15) ngụ ý rằng tình thân hữu trần gian sẽ tồn tại đời đời. "Ê-pháp-ra" (câu 23) là một người Cô-lô-se bị cầm tù tại La-mã. Các lời chào thăm (câu 24) có ghi tên những thiết hữu của Phi-lê-môn.
=============================

Thơ Hê-bơ-rơ

Sứ điệp cuối cùng của Đức Chúa Trời gởi cho giới Do-thái giáo
Christ là Đấng thiết lập giao ước mới
Số phận vinh hiển của loài người
Thơ nầy gởi cho ai? Như thơ tín thứ nhứt của Giăng, thơ tín nầy không ghi tên những người nhận. Nội dung quyết chắc dành cho người Do-thái, vì nó luận về mối liên quan của Đấng Christ với ban tế lễ Lê-vi và các tế lễ trong Đền thờ. Thơ nầy luôn luôn trưng dẫn Cựu Ước để xác chứng những điều nó quả quyết. Theo truyền thoại thường được công nhận, thì thơ tín nầy gởi cho các người Do-thái tin theo Đấng Christ và đang ở xứ Pa-lét-tin; tuy nhiên, có một số người tưởng rằng có lẽ thơ tín nầy gởi cho người Do-thái ở La-mã, hoặc A-léc-xăn-đơ-ri, hoặc nơi nào khác.
Tác giả. Trong bản Kinh Thánh tiếng Anh "King James, " có ghi ở nhan đề rằng: "Thơ tín của Phao-lô." Bản "Revised Version " không đề tên tác giả, vì trong những bản thảo cổ nhứt tìm thấy từ khi có bản dịch "King James " đều không ghi tên tác giả. Ngay từ lúc đầu, Giáo hội Đông phương nhìn nhận Phao-lô là tác giả của thơ Hê-bơ-rơ. Mãi đến thế kỷ thứ 4, Giáo hội Tây phương mới nhìn nhận nó là tác phẩm của Phao-lô. Eusèbe kể Phao-lô là tác giả. Tertullien gọi nó là "thơ tín của Ba-na-ba." Clément ở A-léc-xăn-đơ-ri cho rằng Phao-lô đã viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, rồi Lu-ca dịch ra tiếng Hy-lạp (văn Hy-lạp trong thơ tín nầy thật là tuyệt diệu). Origène nói rằng tư tưởng là của Phao-lô, và kể Phao-lô có lẽ đúng là tác giả, nhưng thêm rằng: "Chỉ Đức Chúa Trời biết chắc ai đã trứ tác thơ tín nầy." Luther đoán là A-bô-lô, nhưng không có bằng cớ nào từ thời xưa để xác nhận ý kiến ấy. Ramsay cho Phi-líp là tác giả. Harnack và Rendel Harris cho Prisca là tác giả. Người khác lại cho là Lu-ca, hoặc Si-la, hoặc Clément ở kinh thành La-mã. Ferrar Fenton nghĩ rằng ngoài Phao-lô, không còn ai có thể viết thơ tín nầy, và ông viết nguyên văn bằng tiếng Hê-bơ-rơ, rồi một người giúp việc ông đã dịch ra tiếng Hy-lạp. Nói chung, ý kiến dựa vào truyền thoại được nhìn nhận trải qua các đời và hiện nay còn được rất nhiều người nhìn nhận, ấy là Phao-lô đã trứ tác thơ tín nầy.
Niên hiệu. Chắc chắn thơ tín nầy viết trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá, là biến cố xảy ra năm 70 S.C..Nếu Phao-lô viết, thì dường như ông đã viết tại thành La-mã (61-63 S.C.). Câu "Các thánh đồ ở Y-ta-li gởi lời thăm anh em" (HeDt 13:24) tự nhiên, tuy không hiển nhiên, có nghĩa là thơ nầy viết tại xứ Y-ta-li. Ti-mô-thê có ở với tác giả (13:23). Ông đã cùng Phao-lô đi lên thành Giê-ru-sa-lem (Cong Cv 20:4), rồi từ đó ông cùng Phao-lô đi tới kinh thành La-mã (CoCl 1:1). Ông vừa mới được phóng thích, và Phao-lô toan định sai ông trở lại Đông phương (Phi Pl 2:19, 24) chính Phao-lô cũng trông mong chẳng bao lâu sẽ tới đó. Dường như Phao-lô và Ti-mô-thê toan định trở lại Giê-ru-sa-lem (HeDt 13:23) vả, suy luận theo đoạn 13:19, thì các thủ lãnh ở đó là thiết hữu của Phao-lô. Thơ tín nầy có lẽ viết vào cùng khoảng với thơ Phi-líp.
Lúc viết thơ Hê-bơ-rơ lại nhằm khoảng Gia-cơ, người cai quản Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, bị giết (62 S.C., -- xem ở dưới thơ Gia-cơ). Phao-lô và Gia-cơ là bạn chí thiết. Chừng 3 năm trước, Phao-lô đã ở Giê-ru-sa-lem. Người ta cho rằng khi nghe tin Gia-cơ bị giết, Phao-lô bèn viết thơ tín nầy cho các thủ lãnh của Hội Thánh xứ Giu-đê hiện đang không có Mục sư, để giúp họ làm cho bầy chiên vững vàng trong những ngày khủng khiếp sắp xảy đến. Nếu đúng vậy, thì thơ tín nầy gởi đi không có tên Phao-lô rất là hữu lý, vì ông chẳng được hoan nghinh lắm tại Giê-ru-sa-lem. Các thủ lãnh biết ai viết thơ nầy, nhưng khi đọc trong các chi hội mà không nói đến tên Phao- lô, thì thơ nầy càng có sức mạnh hơn. Những thơ tín Tân Ước đã viết ra để Đọc Trong Các Chi Hội (đây là một điều mà các nhà Truyền đạo ngày nay dường như bỏ qua).
Mục đích. Chúng tôi cho rằng thơ nầy viết ra để dự bị những tín đồ gốc Do-thái cho sự sụp đổ thành Giê-ru-sa-lem gần tới. Đã có chừng một thế hệ kể từ ngày Đức Chúa Jêsus phán lời cảnh cáo bất thường nầy: "Dòng dõi (Nên dịch là "thế hệ") nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến" (Mat Mt 24:34). Sau khi tiếp nhận Đức Chúa Jêsus làm Đấng Mê-si, những tín đồ gốc Do-thái vẫn còn sốt sắng về các nghi lễ và tế lễ trong Đền thờ; chúng tôi giả định họ nghĩ rằng dưới đời trị vì của Đấng Mê-si, Thành yêu dấu của họ sẽ trở nên thủ đô thế giới, và Đền thờ sẽ là trung tâm hành hương của muôn dân trên mặt đất. Trái lại, chính đời sống họ phải chịu lấy sự va chạm. Thành Thánh bị tiêu diệt và các nghi lễ trong Đền thờ bị dứt tuyệt bởi một đòn chí tử của quân đội La-mã.
Thơ tín nầy viết ra cốt để giải thích cho họ rằng các sinh tế mà họ sốt sắng tríu mến đó không còn ích lợi chi nữa; rằng sự giết bò tơ hoặc chiên con không bao giờ có thể cất bỏ tội lỗi; rằng Đức Chúa Trời không hề định dùng các tế lễ ấy đời đời, song chỉ định dùng nó, trải qua nhiều đời, làm hình bóng về Tế lễ tương lai của Đấng Christ; rằng bây giờ Đấng Christ đã ngự đến, thì những tế lễ ấy đã đạt tới mục tiêu và qua đi.
Đối chiếu của thơ Rô-ma. Thơ Rô-ma gởi cho thủ đô của thế giới dân ngoại; thơ Hê-bơ-rơ gởi cho dân tộc Do-thái. Đức Chúa Trời đã sáng lập và trưởng dưỡng dân tộc Do-thái trải qua bao nhiêu thế kỷ vì mục đích ban phước cho muôn dân bởi một dân, và do một Vua Cao cả sẽ dấy lên từ một dân để cai trị muôn dân. Bây giờ Vua ấy đã ngự đến. Thơ Rô-ma giải luận mối liên quan của Vua với Nước Ngài gồm toàn thế giới, cũng giải luận căn bản trên đó Ngài có quyền được mọi người phục tòng. Thơ Hê-bơ-rơ luận về mối liên quan của Vua với dân tộc từ đó Ngài phát xuất.
Giá trị văn chương tuyệt diệu. Bất cứ tác giả là ai, thơ Hê-bơ-rơ nầy về mặt văn chương cũng đẹp đẽ như châu ngọc. Về lời lẽ, nó là sách Ê-sai của Tân Ước. Nó không trứ tác theo lối viết thơ tự nhiên như phần nhiều các thơ tín khác trong Tân Ước; nhưng nó là một bản khái luận có thứ tự và đúng phép luận lý, "có những câu cân đối, vang dội, rành mạch, vươn lên tới tuyệt điểm hùng biện, kỳ diệu."
* * *
Thơ Hê-bơ-rơ 2
HeDt 1:1-14-- Đấng CHRIST Là Đức Chúa Trời Và Là Cứu Cánh
Đức Chúa Jêsus (câu 1-4). Mấy câu mở đầu là một trong những khúc tuyệt diệu của Kinh Thánh. Về sự vĩ đại, nó đứng ngang hàng với những câu mở đầu sách Sáng-thế Ký và sách Tin Lành Giăng. Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, có sự vinh hiển khôn tả xiết, cũng là Đấng sáng tạo, bảo tồn và thừa kế vũ trụ. Ngài được tôn cao hơn mọi loài thọ tạo. Bởi một hành động đời đời của Đức Chúa Trời. Một Lần Đủ Cả, Đức Chúa Jêsus đã tẩy sạch tội lỗi loài người và đem cho họ ơn cứu rỗi đời đời .
Đức Chúa Jêsus so sánh với các thiên sứ (câu 4-14). Điểm chính của thơ tín nầy là Đấng Christ làm ứng nghiệm chế độ Môi-se, chớ không quản lý chế độ ấy. Khi lập luận, tác giả so sánh Đấng Christ với các thiên sứ đã được dùng làm môi giới ban bố luật pháp (Cong Cv 7:53); với Môi-se, là nhà lập pháp; với ban tế lễ Lê-vi đã được dùng làm môi giới thi hành luật pháp. Theo tác giả thơ Hê-bơ-rơ, thì linh hồn người ta và các thiên sứ không phải cùng một loại. Người ta là một loài thọ tạo cao trọng hơn thiên sứ, còn thiên sứ được hình dung là có quyền phép lớn hơn. Khi qua đời, chúng ta không trở thành thiên sứ đâu. Ngày nay và ở trên Thiên đàng, thiên sứ là các đấng "giúp việc" chúng ta (câu 14). Các thiên sứ thờ phượng Đấng Christ cũng như chúng ta thờ lạy Ngài vậy.
HeDt 2:1-18-- Đấng CHRIST Hợp Nhất Với Loài Người
Loài người, chớ không phải thiên sứ, là Chúa của thế giới tương lai (câu 5-8). Câu 7 nói rằng loài người "ở dưới thiên sứ một chút," mặc dầu ở đoạn 1:14 gọi thiên sứ là "thần... giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi." Thơ IIPhi 2Pr 2:11 nói rằng "các thiên sứ là Đấng có sức mạnh, quyền phép hơn." Câu 9 nói rằng "Đức Chúa Jêsus... đã ở dưới các thiên sứ một chút." Bản "Revised Version " chú thích là: "Một ít lâu," thì ý tưởng rõ ràng hơn. Dầu so sánh với loài người, thiên sứ có bổn tánh thể nào đi nữa, khúc sách nầy cũng tỏ rõ loài người do Đức Chúa Trời dựng nên và cứu chuộc, đến cuối cùng sẽ cao trọng là dường nào.
Đấng Christ hợp nhất với loài người (câu 9-18). Để cứu chuộc loài người, Đức Chúa Trời chẳng sai thiên sứ, nhưng chính Ngài đã ngự đến. Ngài ngự đến không phải bằng hình thiên sứ, song bằng hình người. Chính Đức Chúa Trời đã trở nên Người để cứu chuộc loài người. Ngài nhận lấy bổn tánh loài người cùng với những sự cám dỗ và đau khổ mà họ phải chịu, cả sự chết nữa, ngõ hầu có thể khiến cho loài người dự phần bổn tánh Ngài và đồng trị với Ngài. Đấng Christ và những kẻ Ngài cứu chuộc sẽ tể trị vũ trụ, mặc dầu bọn mật sứ của địa ngục dường như luôn luôn cố gắng điên cuồng để truất ngôi Ngài.
Sự đau đớn của Đấng Christ (câu 10). Ngài "nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành." Dầu Ngài có tâm tánh và quyền phép trọn vẹn, nhưng Ngài phải chịu cám dỗ và chịu chết như loài người, thì mới được trọn lành trong chức vụ Đấng Cứu chuộc. Mặc dầu là Con Đức Chúa Trời, song khi đã làm Người, thì Ngài cũng phải chịu đau đớn để học tập vâng lời (HeDt 5:8).
3:1-19-- Đấng CHRIST So Sánh Với Môi-se
Môi-se là tôi tớ , Đấng Christ là Con (câu 1-6). trong tình trạng thơ ấu thiêng liêng (5:11-13), nhiều tín đồ gốc Do-thái đã không hoàn toàn học biết mối liên quan của Đấng Christ với Môi-se. Dường như họ còn nghĩ rằng Môi-se là nhà lập pháp, còn Đấng Christ là Nhà Hành pháp để áp dụng luật pháp Môi-se cho mọi dân tộc khác. Môi-se đứng hàng đầu, và Đấng Christ ở dưới Môi-se. Nhưng họ đã đảo ngược lại đó. Đấng Christ cao trọng hơn Môi-se bội phần, cũng như người kế tự và chủ của một nhà cao trọng hơn các tôi tớ trong nhà vậy. "Nhà" của Đức Chúa Trời (câu 6) tức là dân Ngài.
Trái bỏ (hoặc ngã lìa xa ) Đức Chúa Trời (câu 12). Lời cảnh cáo nầy là một trong những điểm chính của thơ Hê-bơ-rơ. Hiểm họa chắc gần xảy đến và trầm trọng. Tác giả nhắc nhở họ rằng những người được giải phóng khỏi Ai-cập bởi bàn tay Môi-se đều đã vì không tin mà ngã chết trong đồng vắng trước khi tới Đất Hứa (câu 12, 19). Nếu họ ngã chết vì không vâng theo lời Đức Chúa Trời phán bởi Môi-se, thì còn có hy vọng chi nữa cho những kẻ coi thường Lời Đức Chúa Trời phán bởi Đấng Christ? Tác giả nhắc lại lời cảnh cáo một cách nhiệt thành càng hơn ở đoạn 6:4-6, và ở đoạn 10:26-29 nữa. Chắc trí óc ông nghĩ đến thành Giê-ru-sa-lem gần sụp đổ, là tai họa khủng khiếp hơn hết trong lịch sử Do-thái, sẽ cám dỗ các tín đồ Do-thái bỏ mất lòng tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si .
4:1-16-- Sự Yên Nghỉ Thiên Thượng Của Tín Đồ Đấng CHRIST.
Xứ Ca-na-an , hình bóng của Thiên đàng (câu 1-11). Những kẻ vào Đất Hứa dưới quyền chỉ huy của Giô-suê đã tìm thấy một nơi yên nghỉ trần gian, một xứ tự do và dư dật. Nhưng đó chỉ là hình bóng về Quê hương thiên thượng trong cõi đời đời của vũ trụ Đức Chúa Trời.
Quyền phép của Lời Đức Chúa Trời (câu 12-13). Hai câu nầy tham chiếu gương của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, có chép trong sách Dân số ký và sách Phục truyền luật lệ ký . Do Thánh Linh của Đức Chúa Trời, truyện tích đơn sơ ấy có quyền phép thấu suốt nơi sâu thẳm hơn hết của tấm lòng và cớ tích chúng ta. Ước gì Hội Thánh chúng ta nhận thấy mình sẽ có quyền phép dường nào bởi hiến cho Lời Đức Chúa Trời địa vị thích đáng trong các cuộc thờ phượng! Nhưng, than ôi! Than ôi!
"Chia hồn, linh " (câu 12). Theo một phương diện, thì "hồn" có nghĩa là thú tánh của chúng ta, tức là yếu tố ta có chung với động vật giới. Còn "linh" chỉ về bổn tánh thiêng liêng của chúng ta, tức là yếu tố liên kết ta với Đức Chúa Trời. Nhưng hai chữ nầy thường được dùng gần như đồng nghĩa, và ý nghĩa dường như là Lời Đức Chúa Trời có khả năng chia rẽ, xem xét mọi cớ tích, ước muốn, mưu định, ý muốn, và đánh giá thật của nó trong trường hợp chúng ta hầu như không biết chính cớ tích của mình.
Đấng Christ là Thầy tế lễ Thượng phẩm của chúng ta (câu 14-16). Đây bắt đầu đề mục chánh yếu của thơ Hê-bơ-rơ, tức là so sánh Đấng Christ với ban tế lễ Lê-vi; sự so sánh nầy kéo dài tới đoạn 10, và là phần chính của thơ Hê-bơ-rơ.
* * *
Thơ Hê-bơ-rơ 3
5:1-14-- So Sánh Đấng CHRIST Với Các Thầy Tế Lễ Lê-vi
Đấng Christ, Thầy tế lễ Thượng phẩm của chúng ta (câu 1-10). Các thầy tế lễ thuộc về chi phái Lê-vi, còn Đấng Christ thuộc về chi phái Giu-đa. Họ đông đúc, còn Ngài chỉ có một mình. Họ dâng thú vật làm tế lễ, còn Ngài dâng chính mình Ngài, họ chết, còn Ngài sống đời đời.
Chậm hiểu (Bản tiếng Anh dịch là: "Chậm nghe.") (câu 11-14). Từ đây đến đoạn 6:12 là một sứ điệp riêng cho những người đầu tiên nhận thơ tín nầy. Trước kia, họ nổi tiếng sốt sắng "trong khi hầu việc các thánh đồ" (6:10), nhưng bây giờ họ đã quên cả "những điều sơ học" của Tin Lành (câu 12).
Nếu thơ tín nầy thật gởi cho Hội Thánh xứ Giu-đê, đúng như ý kiến dựa vào truyền thoại, thì rõ ràng lắm. Khúc sách nầy tỏ ra Hội Thánh Giê-ru-sa-lem sa sút phần thiêng liêng và lòng yêu thương anh em đã mô tả ở sách Cong Cv 4:32-35. Thơ Gia-cơ, viết trước thơ tín nầy ít lâu, cũng ngụ ý nói đến một Hội Thánh tham mến thế gian và ích kỷ. Theo thời gian trôi qua, hàng bao nhiêu ngàn người Do-thái đã tiếp nhận Chúa Jêsus làm Đấng Mê-si (Cong Cv 21:20), nhưng vẫn còn dính theo ý niệm duy vật cũ về nước của Đấng Mê-si, tức là một nước có tánh cách chánh trị, trong đó dân tộc Do-thái, ở dưới quyền Đấng Mê-si của mình, sẽ cai trị thế giới. Như vậy, đức tin của họ nơi Đấng Christ phần lớn có tánh chất một khẩu hiệu chánh trị. Sau khi Gia-cơ tuận đạo, ý niệm nầy dường như lan rộng trong Hội Thánh Giê-ru-sa-lem, đến nỗi tác giả bảo họ rằng: Anh em như con trẻ, cần được dạy lại những điều sơ học của Tin Lành, chớ không làm giáo sư cho giới tín đồ Đấng Christ theo như Mẫu Hội đáng phải làm.
HeDt 6:1-20-- Cảnh Cáo Kẻ Bội Đạo
Sự bội đạo tuyệt vọng (câu 4-8). Khúc sách nầy luận về sự sa ngã của tín đồ, là kẻ đã biết và từng trải sự vui vẻ do ơn tha tội, ảnh hưởng từ ái của Đức Thánh Linh, các lời hứa êm dịu của Đức Chúa Trời, và hy vọng hạnh phước được sự sống đời đời.
Sự "sa ngã" có thể là một phần hoặc hoàn toàn, vì người ta có thể ngã từ mái nhà xuống bao lơn nhô ra, hoặc xuống tới mặt đất. Nếu chỉ sa ngã một phần, thì có lẽ còn hy vọng; nếu sa ngã hoàn toàn, thì không thể nào cứu vãn được.
"Không phải là Đức Chúa Trời không thể tha thứ, nhưng là tội nhân không thể ăn năn." Tội lỗi hành động như ma quỉ ám ảnh đến nỗi người thích phạm tội sẽ tới chỗ không ăn năn được nữa. Đó là một "công lệ thiên nhiên ở trong cõi thiêng liêng;" và đó cũng có thể là một chiếu chỉ độc đoán của Đức Chúa Trời đã nổi giận. Kinh Thánh nói đi nói lại về cơn giận và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Lòng yêu thương càng lớn lao, thì sự giận dữ càng có thể hung hăng đối với những kẻ khinh thị lòng yêu thương ấy.
Tội lỗi nói đến ở đây cũng giống như "tội lỗi không thể tha thứ" mà Đức Chúa Jêsus đã nhắc tới (Mat Mt 12:31-32; Mac Mc 3:28-30); trong hai khúc sách nầy, Đức Chúa Jêsus ngụ ý phán rằng tội lỗi không thể tha thứ tức là kể các phép lạ Ngài làm là của quỉ Sa-tan; còn ở LuLc 12:9-10, thì tội lỗi ấy liên quan với sự chối bỏ Đức Chúa Jêsus. Một người ở ngoài Hội Thánh có thể phạm tội lỗi ấy. Nhưng tội lỗi nói ở đây là sự sa ngã của tín đồ. Yếu tố của tội lỗi chí tử nầy, hoặc do tín đồ phạm, hoặc do người ở ngoài Hội Thánh phạm, là cố quyết và dứt khoát chối bỏ Đấng Christ. Ấy dường như một kẻ ở đáy giếng, được người ta giòng dây kéo lên, nhưng lại cắt đứt dây ở trên đầu mình, thì mất cái hy vọng duy nhất được thoát chết. Đối với những người chối bỏ Đấng Christ (HeDt 10:26-31), thì sẽ không bao giờ có tế lễ nào khác chuộc tội loài người nữa. Họ sẽ phải chịu đau đớn vì chính tội lỗi mình.
7:1-28-- Mên-chi-xê-đéc
Đấng Christ là Thầy Tế lễ theo ban Mên-chi-xê-đéc (câu 1-10). Ấy nghĩa là Đức Chúa Jêsus không phải Thầy Tế lễ theo ban Lê-vi, nhưng chức Thầy Tế lễ của Ngài giống như chức của Mên-chi-xê-đéc, một nhân vật thời thượng cổ, có trước ban thầy tế lễ Lê-vi chừng 600 năm. Ông là thầy tế lễ cao trọng hơn các thầy tế lễ ban Lê-vi, cao trọng hơn cả Áp-ra-ham, vì Áp-ra-ham ( và các thầy tế lễ Lê-vi lúc ấy chưa sanh ra) đã nộp thuế một phần mười cho ông. Truyện tích Mên-chi-xê-đéc có chép ở SaSt 14:17-20. Ông là "vua Sa-lem" (Giê-ru-sa-lem), và là "thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao." Ông vừa làm vua, vừa làm thầy tế lễ. Trước thời Môi-se, các tế lễ do gia trưởng dâng lên Đức Chúa Trời. Như vậy, thầy tế lễ của mỗi gia tộc là người cha, hoặc ông nội, hoặc cố nội, tức là người cao tuổi nhứt còn sống về phía cha. Khi gia tộc đông đúc thành một bộ lạc (chi phái), thì vị tộc trưởng trở thành vua của bộ lạc, và cũng làm thầy tế lễ luôn . Vua -- Thầy tế lễ hoặc Thầy tế lễ -- Vua.
Đương thời Môi-se, khi các gia tộc của tuyển dân Đức Chúa Trời tụ hợp thành một dân tộc, thì dân tộc nầy được tổ chức, có một chỗ biệt riêng để dâng tế lễ, một bộ nghi lễ được qui định, và một ban đặc biệt truyền tử lưu tôn, thuộc gia tộc Lê-vi, được đặt lên để hành chức thầy tế lễ. Về sau, một gia tộc được biệt riêng để cung cấp những người làm vua, tức là gia tộc Đa-vít. Vua cai trị nhân dân, còn thầy tế lễ dâng tế lễ với tư cách trung bảo giữa Đức Chúa Trời và người ta. Một gia tộc sanh ra những người làm vua, còn một gia tộc khác sanh ra những người làm thầy tế lễ. Nhưng Đấng Christ vừa làm Vua, vừa làm thầy tế lễ, y như Mên-chi-xê-đéc.
Mên-chi-xê-đéc là ai? Theo truyền thoại của người Hê-bơ-rơ, thì ông chính là Sem, còn sống đương thời Áp-ra-ham; và theo chỗ ta biết, thì ông là người cao tuổi nhứt còn sống lúc đó. Có người tưởng ông là một thiên sứ; có người lại tưởng là Đức Chúa Trời hiện hình, hoặc là chính Đấng Mê-si, xét rằng ông là "vua" của một thành, thì truyền thoại ông là Sem dường như có lý hơn cả.
Câu: "Người không cha, không mẹ, không gia phổ, không có ngày đầu mới sanh, cũng không có ngày rốt qua đời" nghĩa là gì? Không phải thật là như vậy, nhưng theo Kinh Thánh ghi chép, thì là như vậy. Các thầy tế lễ Lê-vi hành chức ấy vì cớ gia phổ của họ. Nhưng Mên-chi-xê-đéc được nhìn nhận là thầy tế lễ, mặc dù không biết căn nguyên và kết cuộc chức thầy tế lễ của ông. Theo chỗ ta biết, thì khi hành chức thầy tế lễ, ông không có cha, mẹ, ngày sanh ra và ngày qua đời. Kìa, ông đứng đó, một nhân vật bí mật, ẩn dật, một hình bóng trong quá khứ xa xôi về Thầy Tế lễ và Vua đời đời sẽ ngự đến!
* * *
Thơ Hê-bơ-rơ 4
Ban thầy tế lễ Lê-vi chỉ tạm thời (HeDt 7:11-12). Ban ấy bất toàn, vì các tế lễ không đủ cất tội lỗi đi (10:4). Nó có tánh cách "xác thịt" (câu 16), nghĩa là họ làm thầy tế lễ chỉ vì thuộc về gia tộc Lê-vi, chớ không kể đến những tư cách thiêng liêng. Hơn nữa, đã có lời dự ngôn rằng giao ước theo đó các thầy tế lễ Lê-vi hành chức sẽ bị thay thế bằng một giao ước khác với một ban thầy tế lễ khác (8:7-13).
Đây có một bài học cho Hội Thánh. Trong Tân Ước không có chỗ nào xưng người thừa hành đạo Đấng Christ là "thầy tế lễ" (thầy cả); trái lại, hết thảy tín đồ Đấng Christ được gọi là "thầy tế lễ" (IPhi 1Pr 2:9; KhKh 1:6). Người thừa hành đạo Đấng Christ làm giáo sư và Mục sư. Còn các thầy tế lễ dâng sinh tế. Khi Đấng Christ chịu chết, thì sinh tế không còn nữa. Người thừa hành đạo Đấng Christ rao truyền Danh Ngài. Áp dụng phẩm chức thầy tế lễ (thầy cả) cho người thừa hành đạo Đấng Christ tức là quay trở lại cái mà Đấng Christ đã trừ bỏ.
Chức Thầy Tế lễ của Đấng Christ còn đời đời (câu 13-28). Họ dâng tế lễ mỗi năm một lần. Còn Đấng Christ chịu chết một lần đủ cả. Tế lễ của họ chẳng có ích gì. Tế lễ của Ngài cất bỏ tội lỗi cho đến đời đời. Đấng Christ sống mãi trong quyền năng của một Sự Sống Vô tận. Ngài sẽ không bao giờ bị thay thế, vì Ngài có thể cứu rỗi tới cực điểm, và không còn cần ai nữa. Ngài là Đấng Trung Bảo của một giao ước đời đời và một sự sống vô tận.
"Đời đời" là một danh từ mà thơ tín nầy hay dùng: Sự cứu rỗi đời đời (HeDt 5:9) sự phán xét đời đời (6:2) sực cứu chuộc đời đời (9:12) Đức Thánh Linh đời đời (9:14) cơ nghiệp đời đời (9:15) giao ước đời đời (13:2). Cũng là một chữ mà sách Tin Lành Giăng hay dùng.
8:1-13-- Giao Ước Mới
Giao ước của Đấng Christ là tốt hơn (câu 6-13). Nó thay thế giao ước cũ. nếu chúng ta hiểu thấu tư tưởng của tác giả, thì thấy người Do-thái có ý coi Đấng Mê-si là một Nhà Hành pháp, một Vị Tổng tư lịnh để thi hành luật pháp của Môi-se trên cả thế giới. Nhưng Đấng Christ ban bố chính luật pháp của Ngài, và thiết lập một chế độ riêng, hoàn toàn của Ngài, để thay thế chế độ Môi-se. Chế độ Môi-se vốn là bất toàn, yếu đuối, vô ích và bị bãi bỏ (7:11, 18). Nó đã làm xong nhiệm vụ, và bây giờ phải nhường chỗ cho một chế độ tốt hơn.
"Tốt hơn" cũng là một danh từ mà tác giả ưa dùng: Giao ước tốt hơn (câu 6); sự trông cậy tốt hơn (7:19) của cải tốt hơn (10:34) quê hương tốt hơn (11:16), tức là Thiên đàng, chớ không phải xứ Ca-na-an ; sự sống lại tốt hơn (11:35 -- họ sống lại để rồi lại chết, nhưng tín đồ sống lại thì không hề chết nữa); điều tốt hơn (11:40); huyết nói tốt hơn huyết của A-bên (12:24).
9:1-28-- Đền Tạm Chỉ Rập Theo Những Sự Vật Thiên Thượng
Đấng Christ và Đền tạm thật (câu 11-28). Đền tạm là một đền thánh của thế gian nầy; còn Đền tạm thật chẳng do tay người làm ra, mà chính là Thiên đàng (câu 1, 11, 24). Thầy tế lễ thượng phẩm vào "mỗi năm một lần;" còn Đấng Christ vào "một lần thì đủ hết" (câu 7, 12). Thầy tế lễ đạt được sự cứu chuộc hằng năm. Còn Đấng Christ đạt được sự cứu chuộc "đời đời" (câu 11, 10:3). Thầy tế lễ thượng phẩm dâng huyết của thú vật, còn Đấng Christ dâng chính Huyết Ngài (câu 12). Các tế lễ của thầy tế lễ thượng phẩm làm sạch xác thịt; còn tế lễ của Đấng Christ tẩy sạch lương tâm (câu 13, 14).
"Giao ước " (câu 15-22). Đây giải thích rằng giao ước mới có tánh chất một chúc thơ, một sự lưu truyền lại cho kẻ thừa kế, và chỉ có hiệu lực sau khi người làm chúc thơ qua đời. Do đó, chúng ta có tên của hai phần Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước (có thể dịch là: Chúc thơ cũ và Chúc thơ mới. Tiếng Hy-lạp dùng cùng một chữ cho "giao ước" và "chúc thơ." Giao ước mới là chúc thơ mà Đấng Christ làm cho các kẻ thừa kế Ngài, và chúc thơ nầy chỉ có thể có hiệu lực sau khi Ngài đã chịu chết để đền chuộc tội lỗi họ. Sự xác nhận giao ước cũ bằng huyết (câu 19-20) làm hình bóng về giao ước mới. Sự dùng rất nhiều huyết trong các nghi lễ Cựu Ước làm hình bóng về sự cấp bách cần có một Tế lễ lớn lao để chuộc tội loài người (câu 22).
Một lần đủ cả (câu 26, 28). Đấng Christ đã dâng chính mình Ngài "một lần thì đủ cả" (7:27). Ngài đã vào Nơi Thánh một lần đủ cả (9:12). Tín đồ đã được nên thánh một lần đủ cả bởi Tế lễ của Đấng Christ (10:10). Tội lỗi bị cất bỏ một lần đủ cả vào lúc "cuối cùng các thời đại" (câu 26). "Đã định cho loài người phải chết một lần" (9:27). Sau khi dâng mình làm Tế lễ "chỉ một lần," Đấng Christ "sẽ hiện ra lần thứ hai" để tiếp đón những kẻ thừa kế Ngài (câu 28). Đây là câu dùng danh từ "lần thứ hai" để chỉ về sự tái lâm của Chúa.
10:1-39-- Được Cứu Rỗi Đời Đời
Tội lỗi bị cất bỏ cho đến đời đời (câu 1-25). Tội lỗi sẽ không hề được nêu lên nghịch cùng chúng ta nữa. Không cần phải dâng tế lễ nào nữa. Sự chết của Đấng Christ hoàn toàn đủ để thanh toán các tội trước và các tội lỗi mà chúng ta có lẽ phạm trong đời sống hằng ngày vì cớ yếu đuối. Bây giờ, Đức Chúa Trời có thể tha thứ những kẻ để lòng tin cậy nơi Đấng Christ, và Ngài còn sẽ tha thứ cho họ nữa. Xao lãng "sự nhóm lại" (câu 25) có liên quan với tội lỗi không thể tha thứ chép trong câu sau. "Ngày ấy hầu gần" (câu 25) nghĩa là ngày Chúa tái lâm, ngày trọng đại hơn hết, là lúc thời gian chìm trong cõi đời đời .
Sự chối bỏ Đấng Christ (câu 26-31). Tội lỗi mô tả ở đây giống như tội lỗi chép ở đoạn 6:1-8. Đoạn 6:1-8 luận về sự sa ngã của những kẻ đã làm tín đồ Đấng Christ. Ở đây là sự dứt khoát chối bỏ Đấng Christ hoặc bởi một tín đồ sa ngã, hoặc bởi người nào khác. Điểm nêu lên ở đây là chỉ có Một Tế Lễ chuộc tội. Sẽ không hề có tế lễ chuộc tội nào khác. Tế Lễ của Đấng Christ hoàn toàn đủ để chuộc hết tội lỗi loài người. Tội lỗi đã được giải quyết Một Lần Đủ Cả. Suốt mọi thời đại của cõi đời đời, Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ sai một vị nào khác chịu đau đớn vì tội lỗi loài người. Sẽ Không Bao Giờ có một núi Gô-gô-tha khác. Người nào không nhận lấy ơn Đấng Christ đã làm cho mình trên Thập tự giá, thì cũng như quyết định vĩnh biệt Đức Chúa Trời, đi theo đường riêng, và tự chịu đau đớn vì tội lỗi mình.
* * *
Thơ Hê-bơ-rơ 5
11:1-40-- Các Bậc Anh Hùng Đức Tin
Đoạn nầy thường được gọi là bản "Thánh ca Đức tin," cũng như thơ I Cô-rinh-tô 13 là bản "Thánh ca Yêu thương," và Sáng-thế Ký 1 là bản "Thánh ca Sáng tạo."
Đức tin của A-bên (câu 4) là hình bóng từ lúc nguyên thủy về tế lễ tương lai của Chiên Con Đức Chúa Trời (SaSt 4:1-15). Đức tin của Hê-nóc (câu 5-6): Giữa cõi đời bội đạo, ông đồng đi với Đức Chúa Trời, cũng như A-đam đã đồng đi với Ngài trong vườn Ê-đen trước khi sa ngã (5:21-24). Đức tin của Nô-ê (câu 7): Ông cứ đóng tàu trong lúc không ai nghĩ rằng có cần dùng chiếc tàu ấy (Sáng-thế Ký, đoạn 6 đến 9). Đức tin của Áp-ra-ham (câu 8-10, 17-19): Dầu không biết đi đâu, ông cũng cứ lên đường tìm kiếm Thành của Đức Chúa Trời; và ông sẵn lòng dâng con trai làm tế lễ vì tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ làm cho con mình sống lại (12:1-7; Cong Cv 7:2-5; SaSt 22:1-24). Đó cũng là một hình bóng thời thượng cổ về Tế lễ tương lai của Đấng Christ. Đức tin của Sa-ra (câu 11-12): Bà tin điều mà lúc đầu bà cười, cho là bất năng (17:19; 18:11-14;). Đức tin của Y-sác (câu 20): Ông dự ngôn tương lai. Đức tin của Gia-cốp (câu 21): Ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài. Đức tin của Giô-sép (câu 22): Ông muốn được an táng tại quê hương tương lai của dân Đức Chúa Trời. Đức tin của Môi-se (câu 23-29): Ông thấy Đấng không thấy được (câu 27, XuXh 2:2, 10, 11; 12:21, 50; 14:22-29). Đức tin của Giô-suê (câu 30): Các vách thành Giê-ri-cô sụp đổ (Gios Gs 6:20). Đức tin của Ra-háp (câu 31): Bà bằng lòng chung số phận với dân Y-sơ-ra-ên (Gios Gs 2:9; 6:23). Đức tin của Ba-rác (câu 32): Ông bắt phục các nước (Các Quan Xét, đoạn 4). Đức tin của Ghê-đê-ôn (câu 32): Ông trở nên hùng mạnh trong cuộc chiến tranh (Cac Tl 7:21). Đức tin của Sam-sôn (câu 32): Ông vốn yếu đuối, nhưng được nên mạnh mẽ (Cac Tl 15:19; 16:28). Đức tin của Giép-thê (câu 32): Ông đánh bại các đạo quân ngoại bang (Cac Tl 11:1-12:15). Đức tin của Đa-vít (câu 32): Ông được các lời hứa (IISa 2Sm 7:11). Đức tin của các đấng tiên tri (câu 32): Đa-ni-ên bịt mồm sư tử (DaDn 6:22) Giê-rê-mi bị tra khảo (Gie Gr 20:2); Ê-li và Ê-li-sê làm cho kẻ chết sống lại (IVua 1V 17:1-24; IIVua 2V 4:1-44) Xa-cha-ri bị ném đá (IISu 2Sb 24:21) Ê-sai bị cưa làm hai (theo truyền thoại). Mọi người đó chết trong đức tin rằng sau nầy còn có "một quê hương tốt hơn" (câu 16).
HeDt 12:1-29-- Nước Không Hề Rúng Động
Cuộc chạy đua của tín đồ Đấng Christ (câu 1, 2). Đây dùng cuộc chạy đua của người Hy-lạp làm thí dụ. Rất đông người, trong các thời đại xưa kia, đã vì Đức Chúa Trời mà chạy đua toàn thắng, và hiện nay đang nín thở chăm chú theo dõi cuộc tranh đấu đầu tiên của Hội Thánh sơ sanh. Đoàn người ấy vây quanh và khuyến khích những kẻ đang chạy đua hãy chăm chú vào mục đích và dùng hết sức lực để thắng cuộc.
Si-na-i và Si-ôn (câu 18-29). Những cảnh trạng khủng khiếp lúc thành lập giao ước cũ đã được nêu lên đối chiếu với những sự thông công thiêng thượng của Hội Thánh. Có một tình huynh đệ bao la trong đó các thánh đồ trên mặt đất, linh hồn của những người được cứu chuộc và muôn vàn thiên sứ thông cảm êm ái và mầu nhiệm với nhau chung quanh Ngôi Đức Chúa Trời. Đây là một Nước vững bền đời đời, trong khi các đế quốc khác sụp đổ.
13:1-25-- Đức Chúa JÊSUS Đời Đời Vẫn Y Nguyên
Những lời khuyên bảo từ ái. Dầu thơ tín nầy có tánh chất lý luận, nhưng đến phần chót lại có những lời dịu dàng kêu gọi tín đồ hãy theo Đấng Christ trên mọi bước đường đời. Câu: "Tiếp đãi thiên sứ mà không biết" (câu 2) chỉ về Áp-ra-ham (SaSt 18:3; 19:2). "Dưới đời nầy, chúng ta không có thành còn luôn mãi" (câu 14). Đây có lẽ ngụ ý nói đến thành Giê-ru-sa-lem sắp bị hủy phá. Lời chúc phước (câu 20-21) là một trong những khúc sách tuyệt diệu của Kinh Thánh.
Sứ điệp cuối cùng của Đức Chúa Trời truyền cho người theo đạo Do-thái. Sách Ma- la-chi là sứ điệp sau chót của Đức Chúa Trời truyền cho một dân tộc đã được thành lập để đưa Đấng Mê-si vào trong thế gian thể nào, thì cũng một thể ấy, thơ Hê-bơ-rơ là sứ điệp sau chót của Tân Ước truyền cho dân tộc ấy sau khi Đấng Mê-si đã ngự đến. Thơ nầy được viết ngay trước khi Do-thái giáo bị quét sạch vì cớ thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, -- đó là "biến cố khủng khiếp hơn hết trong cả lịch sử."
Sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem. Năm 66 S.C., người Do-thái khởi chiến chống lại đế quốc La-mã. Titus kéo quân tới trước vách thành Giê-ru-sa-lem nhằm ngày Lễ Vượt qua (năm 70 S.C.). Họ đắp bờ bằng đất, đặt máy phá lũy, và bắt đầu vây thành. Đạo quân La-mã gồm 30.000 người, còn đạo quân Do-thái gồm 24.000 người. Theo sử gia Tacite, thành Giê-ru-sa-lem có 600.000 du khách. Giữa vòng người Do-thái ở phía trong vách thành có nhiều phe đảng đánh nhau kịch liệt. Sau 5 tháng, các vách thành bị phá đổ và Đền thờ bị thiêu hủy. Các cơ cấu phòng vệ cuối cùng bị tiêu hủy và thành phố bị hoang vu, trừ ra vách thành và ba ngọn tháp lớn do Hê-rốt xây cất ở góc Tây-bắc còn lại như một đài kỷ niệm sức mạnh hùng hậu của các thành lũy mà Titus đã phá hủy. Đạo quân La-mã tiến tới thành Sê-sa-rê, bắt 95.000 phu tù, trong số ấy có Josèphe. Trên một triệu người bị giết. Đó là lúc Do-thái giáo sụp đổ. Eusèbe nói rằng khi quân La-mã xuất hiện, thì các tín đồ Đấng Christ nhờ một lời tiên tri cảnh cáo mà trốn qua Pella, thủ đô xứ Ma-xê-đoan.
Lịch sử thành Giê-ru-sa-lem sau khi bị hủy phá. Trải qua 50 năm sau, thành Giê-ru-sa-lem đã biến mất khỏi lịch sử. Năm 135 S.C., Barcocheba, một người tự nhận là Đấng Mê-si, đã cầm đầu một cuộc khởi nghĩa, chiếm được thành Giê-ru-sa-lem, và toan xây cất lại Đền thờ. Quân đội La-mã đã dẹp được cuộc khởi nghĩa; 580.000 người Do-thái bị giết, và xứ Giu-đê bị hoang vu. Người Do-thái bị cấm không được trở vào thành Giê-ru-sa-lem, nếu trái lịnh, sẽ bị xử tử. Quân La-mã xây cất một miễu thờ thần Jupiter trên chính vị trí của Đền thờ, và biến Giê-ru-sa-lem thành một đô thị ngoại đạo. Năm 326 S.C., dưới đời trị vì của Hoàng đế Constantin, miễu thờ thần Át-tạt-tê bị hủy phá khỏi vị trí hiện nay là Mộ Thánh; người ta nói rằng khi đào ở phía dưới, thì thấy nơi Chúa đã bị đóng đinh vào Thập tự giá. Giê-ru-sa-lem trở thành một trung tâm trọng yếu của đạo Đấng Christ. Người Do-thái được phép vào trong thành mỗi năm một lần. Năm 363 S.C., Hoàng đế Julien, biệt danh là "Kẻ bội đạo," cho phép người Do-thái xây cất lại Đền thờ, nhưng họ không làm nổi. Đến thế kỷ thứ 5, Giê-ru-sa-lem trở thành trụ sở của một giáo trưởng Do-thái. Năm 637 S.C., nó bị người Hồi giáo chiếm cứ, và cứ là một thành phố Hồi-giáo, trừ ra chừng 100 năm trong thời kỳ Thập tự quân. Mãi tới năm 1917, thành Giê-ru-sa-lem mới lại ở dưới quyền của Cơ-đốc-giáo.
================================

Thơ Gia-cơ

Sự khôn ngoan trong Đấng Christ
Các việc lành
Sự tin đạo thanh sạch
Gia-cơ. Có 3 người mang tên nầy: Con trai của Xê-bê-đê, con trai của A-phê, và em trai của Chúa. Ông thứ ba (em Chúa) thường được kể là tác giả của thơ tín nầy. Trong lời chào thăm, ông chẳng nhận mình là em của Chúa, nhưng chỉ tự xưng là "tôi tớ" (tôi mọi), có lẽ vì dầu là người đạo đức, tin kính, ông cũng cảm thấy sự yếu đuối của mình rất thấm thía đến nỗi không dám tự nhận là người cùng huyết mạch với Đấng Christ. Ông được nhìn nhận là người thánh khiết xuất chúng theo các mực thước của luật pháp. Người đồng hương đặt cho ông biệt danh là "Người công bình." Người ta nghĩ rằng ông đã thành hôn (ICo1Cr 9:5). Ông sớm được nhìn nhận là "Giám mục" tại Giê-ru-sa-lem. Ông rất có thế lực đối với cả người Do-thái và Hội Thánh Đấng Christ. Khi Phi-e-rơ được ra khỏi khám, thì có nhờ báo tin cho Gia-cơ (Cong Cv 12:17). Phao-lô làm theo lời khuyên của ông (Cong Cv 21:18). Ông là một người Do-thái rất cẩn trọng, nhưng lại viết thơ rất khoan hồng cho các tín đồ thuộc về dân ngoại (Cong Cv 15:13-23). Ông xác nhận công việc của Phao-lô giữa vòng dân ngoại, nhưng chính ông lại chú ý đến người Do-thái hơn hết. Công việc của đời ông cốt để dắt đem người Do-thái trở về cùng Chúa, và "giúp họ nhẹ nhàng chuyển qua đạo Đấng Christ."
Truyện tích ông tuận đạo (theo sử gia Josèphe, cũng theo Hegesippus, một người Do-thái tin theo Đấng Christ, năm 160 S.C., -- truyện tích ông nầy thuật lại được Eusèbe thừa nhận). Lợi dụng khoảng trống giữa sự chết của Phê-tu và sự đáo nhậm của quan Thống đốc La-mã mới, An-ne, thầy tế lễ thượng phẩm, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nhóm họp tòa Công luận và truyền lịnh cho Gia-cơ, "em của Đức Chúa Jêsus, gọi là Christ," phải đứng ở hành lang Đền thờ mà tuyên bố rằng Đức Chúa Jêsus không phải là Đấng Mê-si, cốt để ngăn cản dân chúng đang theo đạo Tin Lành rất đông đảo. Trái lại, Gia-cơ kêu lớn rằng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời và Quan Án của cả thế giới. Bọn thù nghịch nổi giận phừng phừng, xô ông xuống đất, bèn ném đá ông cho đến khi một người thợ nện da đánh cho ông một chùy để chấm dứt đau đớn đang khi ông quì gối cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ chẳng biết mình làm chi!" Sau đó ít lâu, cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem rất khủng khiếp bắt đầu. Người Do-thái cảm thấy rằng nếu Gia-cơ còn sống, thì ông có thể cứu thành khỏi bị hủy phá, và họ cho rằng đó là sự đoán phạt giáng trên họ vì họ đã giết Gia-cơ.
Niên hiệu của thơ tín nầy. Người ta thường cho rằng ông viết thơ tín nầy lúc gần mãn kỳ ở đời nầy (năm 60 S.C.), sau 30 năm làm Mục sư của Hội Thánh xứ Giu-đê. Kẻ khác lại cho rằng ông viết sớm hơn nữa.
Bố cuộc của thơ tín nầy. Đây là quyển sách thâu góp những lời lẻ tẻ; luận về nhiều đề mục dường như không liên lạc với nhau; thường có một đề mục lặp lại nhiều lần và xen vào giữa những đề mục khác. Những đề mục ấy là: Sự cám dỗ, nhịn nhục, khôn ngoan, nghèo túng, giàu có, tư dục, tội lỗi, đức tin, việc lành, vị nể người ta, tội của lưỡi, cãi lộn, tinh thần ham mến thế gian, tự mãn.
Gia Gc 1:1-27-- Sự Thử Thách, Kẻ Làm Theo Lời Chúa
Đoạn nầy ghi chép hầu hết mọi đề mục giải luận sau.
Kẻ "tan lạc " (câu 1). Những người Do-thái tan lạc nầy vẫn có trung tâm quốc gia, là thành Giê-ru-sa-lem. Ông gởi thơ cho người Do-thái đã tin theo Đấng Christ (2:1).
Chịu thử thách (câu 2-3). "Sự thử thách" (câu 2) rèn luyện ta, còn sự "cám dỗ" ở câu 12 là sức quyến rũ của tội lỗi. Bởi các sự thử thách, Đức Chúa Trời trọn lành hóa những kẻ kế tự cõi đời đời (5:13-14). Các sự thử thách nầy là "quí" (IPhi 1Pr IPhi1:7).
Sự nhịn nhục (1) (câu 3-4) là khả năng chờ đợi các điều mình mong muốn. Thử thách sanh ra nhịn nhục. Nhịn nhục sanh ra trọn lành (Gia Gc 5:7-11).
Sự khôn ngoan (câu 5) để đối phó với những đòi hỏi của cuộc đời theo cách tín đồ phải đối phó (3:13-18). Xem Châm Ngôn đoạn 3 và 4. Thơ Gia-cơ là sách Châm Ngôn của đạo Đấng Christ.
Sự cầu nguyện (câu 5-8). Thơ tín nầy bắt đầu và chấm dứt bằng lời luận về sự cầu nguyện (4:2-3; 5:13-18). Người ta nói rằng Gia-cơ để nhiều thì giờ quì cầu nguyện đến nỗi đầu gối ông thành chai như đầu gối con lạc đà vậy.
Đức tin (câu 6-8). Đó là lòng tin cậy Đức Chúa Trời, đứng vững vàng, không bối rối, giữa các cơn giông tố ở đời; đó là điều kiện cho sự cầu nguyện có hiệu lực (2:14-26).
Của cải là hư không (câu 9-11). Chúng ta cốt phải lo về địa vị của mình trong cõi đời đời, chớ chẳng nên lo về địa vị của mình ở đời nầy (2:1-13; 4:1-10, 13-17; 5:1-6).
Sự cám dỗ (câu 12-16). Đây, danh từ "cám dỗ" có nghĩa là sức quyến rũ của tội lỗi. Sự cám dỗ chẳng phát xuất từ Đức Chúa Trời. Ngài có quyền phép giữ chúng ta khỏi sự cám dỗ và giúp ta chịu nỗi sự cám dỗ. Đức Chúa Jêsus phán bảo chúng ta hãy cầu nguyện để tránh khỏi sự cám dỗ (Mat Mt 26:41).
Tội lỗi (câu 14-15) phát xuất từ tư dục, nghĩa là những sự ham muốn của xác thịt. Tội lỗi từ tư dục phát xuất và sanh ra sự chết.
Sự sanh ra của tín đồ (câu 17-18). Tội lỗi sanh ra sự chết thể nào (câu 15), thì cũng một thể ấy, bởi Lời Ngài, Đức Chúa Trời tái sanh linh hồn của tín đồ Đấng Christ. Phi-e-rơ cũng nói rằng Lời Đức Chúa Trời (Kinh Thánh) là hột giống "kết thai" thành linh hồn tái sanh (IPhi 1Pr IPhi1:23).
Cái lưỡi (câu 19-20). Hãy coi chừng lưỡi mình. Hãy chế ngự tánh khí của mình. hãy lắng tai nghe (Gia Gc 1:26; 3:1-18; 4:11-12; 5:12).
Kẻ làm theo Lời Chúa (câu 21-25). Gia-cơ vừa mới nói rằng Lời Kinh Thánh là dụng cụ tái sanh linh hồn ( câu 18) và là phương pháp cứu rỗi linh hồn (câu 21). Đây nói nó là gương soi (câu 23), tỏ cho ta thấy chân tướng của mình, và là con đường đạt tới bậc trọn lành cao tột (2:14-16; Mat Mt 7:24-27).
Sự tin đạo thanh sạch (câu 26-27). Cái lưỡi bất trị của một người tin đạo chính là một điều hư hại. Vinh quang của đạo chính là một cuộc đời từ thiện, thoát khỏi sự quá tríu mến những vật trần gian.
* * *
Thơ Gia-cơ 2
Gia Gc 2:1-26-- Sự Vì Nể Người Ta.
Đức Tin Và Việc Làm
Sự vì nể người ta (câu 13). Chắc trong Hội Thánh xứ Giu-đê có vài phần tử đầy tinh thần thế gian rõ rệt, nên Gia-cơ mới phải thốt ra những lời như vậy. "Luật pháp tôn trọng"(1) (câu 8) chính là "luật vàng" mà họ chỉ thi hành trong giới hạn giai cấp xã hội của mình. "Luật pháp tự do" (câu 12, 1:25) là luật pháp của Đấng Christ trong đó có sự tha thứ và giải phóng khỏi tội lỗi. Luật pháp Môi-se, là luật pháp tôi mọi, không có dự trù ơn phước đó.
Đức tin và việc làm (câu 14-26). Giáo lý của Phao-lô về sự xưng công bình bởi đức tin và giáo lý của Gia-cơ về sự xưng công bình bởi việc làm bổ khuyết lẫn nhau, chớ không mâu thuẫn nhau. Ông nầy không dạy dỗ trái với ông kia. Hai ông là bằng hữu và bạn đồng sự thân thiết với nhau. Gia-cơ hoàn toàn xác nhận công việc của Phao-lô (Cong Cv 15:13-29; 21:17-26). Phao-lô giảng đức tin là nền tảng sự xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng nhấn mạnh rằng nó phải có kết quả, là đời sống xứng đáng. Còn Gia-cơ gởi thơ tín cho những người đã tiếp nhận giáo lý xưng công bình bởi đức tin, nhưng lại thường lạm dụng giáo lý ấy một cách thô lỗ; ông bảo họ rằng đức tin như vậy chẳng phải là đức tin chi hết.
Gia Gc 3:1-18-- Cái Lưỡi
Quyền lực của cái lưỡi (câu 1-12). Do sắc thái chung của đoạn nầy, chúng ta ngờ rằng trong Hội Thánh xứ Giu-đê có rất nhiều người tự thị, hay cãi lẫy, đầy tinh thần thế gian, không chế ngự tánh khí của mình, và tự dấy lên làm thủ lãnh và giáo sư. "Vấp phạm" (câu 2) chẳng những bởi nói lời xẵng xớm và nóng giận, song cũng bởi theo các giáo lý sai lạc và ngu dại nữa. Cái lưỡi là cơ thể chánh yếu bày tỏ cá tánh của chúng ta, và thường tức khắc gây phản ứng tốt đẹp hay tai hại nơi kẻ khác. "Đã bị lửa địa ngục đốt cháy" (câu 6). "Đầy dẫy những chất độc giết chết" (câu 8). Đây là những lời mạnh mẽ, nhưng lại đúng biết bao! Lời nói đê hèn đã làm tan nát nhiều gia đình, chia rẽ nhiều Hội Thánh, khiến biết bao nhiêu triệu người phải tuyệt vọng và tàn hại! Tuy nhiên, có nhiều kẻ rất sùng đạo dường như chẳng chút cố gắng chế ngự lưỡi mình. Đoạn nầy nhắc nhở ta một vài lời nói quyết trong sách Châm Ngôn: "Miệng kẻ ngu muội là sự bại hoại của nó" (ChCn 18:7) "Kẻ canh giữ miệng mình, giữ được mạng sống mình" (13:3) "Sống, chết ở nơi quyền của lưỡi" (18:21) "Khi nín lặng, dầu người ngu dại, cũng được cầm bằng khôn ngoan" (17:28).
Sự khôn ngoan (câu 13-18). Khúc sách nầy dường như nhằm vào một số giáo sư hay lắm lời, muốn được kể là tay lý luận xuất sắc; họ cuồng tín một giáo lý nào đó mà mình ưa thích, ít hoặc không quí chuộng Thân vị Đấng Christ, và chỉ sanh ra ghen tị, phe đảng. Gia-cơ gọi sự khôn ngoan đó là "thuộc về ma quỉ," và ông dùng những lời đẹp đẽ lạ lùng mà đối chiếu nó với :sự khôn ngoan từ trên mà xuống".
Gia Gc 4:1-16-- Tinh Thần Thế Gian
Nguyên nhân của chiến tranh (câu 1-2) là sự tham muốn, tức là mong ước được những cái thuộc về kẻ khác. Đó là nguyên nhân của hầu hết các cuộc chiến tranh đã tàn phá trái đất.
Lời cầu nguyện vô hiệu (câu 2-3). Có nhiều lời Đức Chúa Trời hứa đáp lại kẻ cầu nguyện, nhưng các lời hứa ấy chẳng dành cho người ham mến thế gian đâu (5:13-18).
Những kẻ hai lòng (câu 4-10). Đây giải rộng lời Đức Chúa Jêsus quả quyết rằng người ta không thể vừa hầu việc Đức Chúa Trời, vừa hầu việc Ma-môn (Mat Mt 6:24); và đây cũng giống như lời Sứ đồ Giăng cảnh cáo chớ ham mến thế gian (IGi1Ga 2:15-17). Những khúc sách nầy gợi lên sự cần phải tự xét mình luôn. Vì chúng ta phải sống trong thế gian và những vật trần gian là thiết yếu cho đời sống hằng ngày của mình, nên ta cần phải tỉnh táo canh chừng để giữ vẹn lòng tríu mến những cái thuộc về thiên thượng.
Lại luận về cái lưỡi (câu 11-12). Lần nầy Gia-cơ luận về sự phi lý hoàn toàn của một tội nhân tự tôn làm quan án phán xét một tội nhân khác.
Sự tự mãn (câu 13-17). "Ví bằng Chúa muốn" (câu 15). Một trong những giáo lý lạ lùng hơn hết của Kinh Thánh là: dầu Đức Chúa Trời cai trị cả vũ trụ vô biên, nhưng Ngài cũng có một kế hoạch dứt khoát cho mỗi con cái Ngài (Cong Cv 18:21; RoRm 1:10; 15:32; ICo1Cr 4:19; IPhi 1Pr 3:17).
Gia Gc 5:1-20-- Người Giàu. Sự Nhịn Nhục. Sự Cầu Nguyện
Người giàu (câu 1-6). Trong vòng người giàu, cũng thấy có một ít linh hồn tin theo Đấng Christ; song nói chung, bức tranh Gia-cơ mô tả họ vẫn còn đúng lắm.
Sự nhịn nhục (kiên nhẫn ) (câu 7-11) cho tới ngày Chúa tái lâm, khi ấy mọi sự bất công sẽ được sửa chữa, và tín đồ trung tín sẽ nhận được kết quả đầy đủ do công lao và sự đau đớn của mình.
Sự thề (chửi thề ) (câu 12). Lại nói đến cái lưỡi. Trong khi nói chuyện thông thường, biết bao người có danh là tín đồ Đấng Christ lại xúc phạm đến Danh Đức Chúa Trời!(1)
Ca hát (câu 13). Các tín đồ Đấng Christ hãy hát lên, vì mình đang có hạnh phước. Làm vậy, họ sẽ được hạnh phước hơn, và cũng khiến kẻ khác được hạnh phước hơn.
Cầu nguyện (câu 13-18). Ê-li đóng và mở các từng trời, thật là một phép lạ vĩ đại (I Các Vua, đoạn 18). Tuy nhiên, phép lạ nầy đã được trưng dẫn để thúc giục chúng ta cầu nguyện. "Xức dầu" (câu 14) là một phương thuốc được thừa nhận (LuLc 10:34; EsIs 1:6), cần được lời cầu nguyện tăng cường, chớ không nên dùng làm pháp thuật.
Dắt đem một linh hồn đến với Đấng Christ (câu 19-20) thì đẹp lòng Ngài vô cùng, do đó Ngài bỏ qua nhiều nhược điểm của chúng ta. Tham khảo IPhi 1Pr 4:8.
===========================

Thơ I Phi-e-rơ
Gởi cho một Hội Thánh đang bị bắt bớ
Phi-e-rơ. Về đời niên thiếu của ông, xin xem lời chú giải ở dưới Mac Mc 3:13. Về quãng đời lão thành của ông, thì Kinh Thánh không ghi chép chi hết, trừ ra hai thơ tín của ông. Do lời Đức Chúa Jêsus phán ở sách GiGa 21:18, chúng ta đoán chắc ông đã tuận đạo. Là thủ lãnh của 12 Sứ đồ, chắc ông đã ghé thăm hết các trung tâm Hội Thánh quan trọng rải rác trong đế quốc La-mã.
Một giáo hội kia có truyền thoại rằng Phi-e-rơ sáng lập Hội Thánh tại La-mã và làm Giám mục ở đó 25 năm; song truyền thoại ấy chẳng căn cứ vào lịch sử chi hết. Đó là một truyện giả tạo vào mấy thế kỷ sau, là lúc các Giám mục La-mã có dục vọng làm chúa tể của cộng đồng Cơ-đốc-giáo. Một vài sách chép lịch sử Hội Thánh tưởng rằng không có đủ chứng cớ tỏ ra Phi-e-rơ từng đến La-mã. Tuy nhiên, hầu hết đồng ý rằng khoảng năm cuối cùng của đời ông, Phi-e-rơ thật đã đi đến La-mã, hoặc do Hoàng đế Néron truyền lịnh giải ông, hoặc tự ý ông tới để giúp cho tín đồ đứng vững trong cơn bắt bớ ác liệt, khủng khiếp của Néron, và tại đó ông đã tuận đạo.
Theo truyền thoại "Quo Vadis " (Chúa đi đâu?), thì Phi-e-rơ nghe theo lời bạn hữu khuyên hãy tự cứu lấy mình, bèn chạy trốn khỏi thành La-mã; giữa đêm tối, trên đường Appienne, trong sự hiện thấy, ông gặp Đức Chúa Jêsus và hỏi Ngài rằng: "Lạy Chúa, Chúa đi đâu?" Đức Chúa Jêsus đáp: "Ta đi đến thành La-mã để chịu đóng đinh vào Thập tự giá một lần nữa." Hoàn toàn hổ thẹn và nhục nhã, Phi-e-rơ bèn trở lại kinh thành, chịu đóng đinh vào Thập tự giá, đầu chúc xuống đất, vì nhận mình không xứng đáng chịu đóng đinh như Chúa. Ấy chỉ là một truyền thoại, và chúng ta không biết trong đó có thể chứa bao nhiêu thực sự lịch sử.
Cũng theo truyền thoại, vợ Phi-e-rơ tên là Concordia hoặc Perpetua, cũng đã tuận đạo. Phi-e-rơ khuyến khích bà hãy mạnh dạn; ông nói rằng: "Hỡi vợ yêu dấu, hãy nhớ đến Chúa."
Thơ tín nầy gởi cho ai? Cho Hội Thánh ở 5 tỉnh thuộc Tiểu-Á-tế-á, là Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si, và Bi-thi-ni (xem bản đồ số 55 ở dưới Công vụ các sứ đồ, đoạn 13); các chi hội nầy đã do Phao-lô sáng lập. Dầu Kinh Thánh không chép, nhưng chúng tôi đoán rằng Phi-e-rơ đã có lần ghé thăm các chi hội nầy. Phao-lô cũng mới gởi các thơ Ga-la-ti, Ê-phê-sô, Cô-lô-se cho một số chi hội ấy. Thơ I Phi-e-rơ có mấy điểm giống hệt thơ Ê-phê-sô. Về sau, Sứ đồ Giăng cũng gởi sách Khải Huyền cho các chi hội ở Tiểu-Á-tế-á đó.
"Những người kiều ngụ rải rác..., là những người được chọn" (IPhi 1Pr 1:1), dường như chỉ về các tín đồ gốc Do-thái bị tan lạc. Song đoạn 2:10 tỏ ra họ phần đông là dân ngoại. Danh từ "Kiều ngụ rải rác" lấy ở Cựu Ước, khi luận về dân Do-thái phải làm phu tù và tan lạc ở ngoại bang, thì đây áp dụng cho tín đồ Đấng Christ, là khách bộ hành trên mặt đất, xa Nhà, chịu đau đớn, đang tiến về Quê hương Thiên thượng và mong mỏi tới đó (2:11). Thơ tín nầy tỏa ra hương thơm của Thiên đàng.
Viết ở đâu? "Ba-by-lôn" (5:13). Có người cho đó là thành Ba-by-lôn thật, ở trên sông Ơ-phơ-rát. Có người lại cho đó là kinh thành La-mã, gọi bóng là Ba-by-lôn. Trong sách KhKh 17:1-18 La-mã được gọi là Ba-by-lôn. Đương thời bắt bớ đó, vì thận trọng, các tín đồ phải dè dặt khi nói đến chánh quyền và phải đặt cho nó một tên mà riêng họ hiểu với nhau, chớ người ngoài không hiểu được. Lúc nầy, Mác ở với Phi-e-rơ (IPhi 1Pr 5:13), và do IITi 2Tm 4:11, chúng tôi đoán rằng chắc Mác ở thành La-mã vào khoảng Phi-e-rơ viết thơ tín nầy.
Cơ hội viết thơ tín nầy. Néron bắt bớ tín đồ Đấng Christ ở trong và ở quanh thành La-mã rất kịch liệt, song cơn bắt bớ nầy không lan khắp đế quốc. Tuy nhiên, gương của Hoàng đế Néron đã khuyến khích kẻ thù tín đồ Đấng Christ ở khắp mọi nơi lợi dụng duyên cớ nhỏ mọn nhứt để bắt bớ họ. Thật là một thời kỳ thử thách nặng nề (xem lời chú giải ở dưới thơ II Ti-mô-thê). Lúc nầy Hội Thánh đã được chừng 35 tuổi, và đã chịu bắt bớ ở nhiều địa phương. Nhưng đế quốc La-mã bấy lâu vẫn thờ ơ và trong một vài trường hợp còn thân thiện là khác, bây giờ cáo Hội Thánh một trọng tội kinh khiếp và quyết ra tay trừng trị. Hội Thánh phải trải qua cơn thử thách đầu tiên "ở rải khắp thế gian" (IPhi 1Pr 5:9). Dường như đã đến ngày tận thế. Thật là một "lò lửa thử thách" (4:12). Đêm nào cũng có tín đồ bị thiêu đốt trong các ngự uyển của Néron. Tưởng chừng "ma quỉ, như sư tử rống" (5:8) gần xé nuốt Hội Thánh.
Người ta cho rằng có lẽ Phi-e-rơ viết thơ nầy ngay sau khi Phao-lô tuận đạo và giao cho Si-la (5:12), một người giúp việc Phao-lô, cầm đến những chi hội mà Phao-lô đã sáng lập, để khuyến khích họ đứng vững trong sự đau đớn. Chính Si-la cũng đem tin Phao-lô tuận đạo tới các chi hội mà Phao-lô đã sáng lập. Như vậy, thơ tín nầy sanh ra trong một bầu không khí đau thương, trước khi Phi-e-rơ tuận đạo ít lâu, để khuyên bảo tín đồ chớ cho việc mình chịu đau đớn là kỳ lạ, và để nhắc nhở họ rằng Đấng Christ đã làm xong công việc bởi chịu thương khó.
IPhi 1Pr 1:1-25-- Cơ Nghiệp Không Hư Đi Của Tín Đồ
Những cơn thử thách (câu 6-11) và sự vinh hiển đời đời. Sự thử thách quí hơn vàng (câu 7), vì ta cần được nó tẩy sạch khỏi cáu cặn trần gian và vì đến cuối cùng, nó cho ta được vui mừng bội phần hơn. Nhiều lần sự đau đớn và sự vinh hiển đi đôi với nhau: Thử thách và vinh hiển (câu 7); sự đau đớn của Đấng Christ và sự vinh hiển theo sau (câu 11); những kẻ có phần trong sự thương khó của Đấng Christ sẽ được vui mừng nhảy nhót khi ngày vinh hiển của Ngài hiện ra (4:13) Phi-e-rơ là người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Christ, sẽ dự phần vinh hiển của Ngài (5:1) sau khi tạm chịu khổ, anh em sẽ được vinh hiển đời đời (5:10). Đó cũng là sự yên ủi của Phao-lô (IICo 2Cr 4:17), tức là sự vinh hiển đời đời theo sau hoạn nạn.
* * *
I Phi-e-rơ 2
IPhi 1Pr 2:1-3:22-- Hành Trình Của Tín Đồ Trải Qua Trần Thế
Một dân được lựa chọn (2:9-11) ở giữa cõi đời thù nghịch, được kêu gọi ra khỏi thế gian để cầm bó đuốc thiên thượng. Trong mọi mối liên quan trần thế, chớ có quên mình là ai.
Thái độ đối với chánh quyền (2:13-17). Hãy hết sức làm một công dân hoặc thần dân tốt của chánh phủ trần gian đang cai trị mình, ngõ hầu gia tăng tiếng tốt cho đạo mình, mặc dầu chánh phủ ấy do Néron cầm đầu.
Những tín đồ đang làm tôi mọi (câu 18-25). Trong Hội Thánh của thế kỷ thứ nhứt có rất nhiều tôi mọi. Phi-e-rơ khuyên bảo họ hãy trung tín, lương thiện và phục tòng ngay cả với bọn chủ tàn ác, vì cớ họ đã tự xưng là tín đồ Đấng Christ. Hãy xem thêm ở Eph Ep 6:5-9; CoCl 3:22-25; Tit Tt 2:9-14.
Những người vợ tín đồ (IPhi 1Pr 3:1-6). "Gọi người là chúa mình" (câu 6) -- chắc không nên giải thích đó là làm tôi mọi hèn hạ cho chồng; trái lại, đó là sự tận tụy vô kỷ để được chồng kính phục, quí mến và để (nếu chồng chưa tin Chúa) dẫn chồng về tin Đấng Christ bởi sự khéo léo, kính ái của mình. Xem thêm Eph Ep 5:22-33; CoCl 3:18; Tit Tt 2:3-5. Chúng tôi không cho rằng câu 3-4 cấm đờn bà trang điểm cho thêm phần diễm lệ, nhưng chúng tôi hiểu đó là cảnh cáo chớ trang điểm quá mức, và phải nhớ rằng duyên sắc chừng nào cũng không thể thay thế nhân cách khả ái trong Đấng Christ.
Những người chồng tín đồ (câu 7). Tham khảo Eph Ep 5:25-33. Dịu dàng đối với phái yếu mới là đáng mặt trượng phu. Ý định của Đức Chúa Trời là vợ chồng phải thương mến lẫn nhau, người nầy ân cần đối với người kia. Nếu người nầy có tánh khí bần tiện hoặc môi miệng tục tằn, thì người kia sẽ khó ân cần lắm. "Hầu cho không điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em" (câu 7). Không gì dập tắt ngọn lửa cầu nguyện cho bằng sự xích mích giữa vợ chồng.
Đấng Christ rao giảng cho các linh hồn bị cầm tù (câu 18-22). Mấy câu nầy dường như tỏ ra rằng giữa khoảng Ngài chết và sống lại, Đức Chúa Jêsus đã thân hành đi giảng cho linh hồn những kẻ không vâng phục trong thời Nô-ê đang bị cầm tù. Kẻ khác lại cho rằng trước khi thành nhục thể, Thần linh của Đấng Christ đã ở trong Nô-ê mà rao giảng cho loài người sống trước nạn nước lụt. Kẻ khác lại cho rằng "linh hồn"(1) đây không phải là của người, mà là của các thiên sứ gian ác, và sự rao giảng nầy không cốt để cứu rỗi họ, song để tuyên bố sự đắc thắng của Thập tự giá trước mặt họ; còn "kẻ chết" (IPhi 1Pr 4:6) không phải là người sống trước nạn nước lụt, mà là bạn hữu đã qua đời của những người nhận thơ tín nầy và đã nghe giảng Tin Lành lúc còn sống.
4:1-5:14-- Lò Lửa Thử Thách
Hãy sẵn sàng chịu đau đớn (4:1-6). Đương thời ấy có sự bắt bớ. Thơ tín nầy đặc biệt khuyên bảo tín đồ hãy sẵn sàng chịu cơn bắt bớ. Song đây cũng có sự yên ủi cho những tín đồ sống ở thời bình; vì rất ít người trải bước đường đời mà lại không qua nhiều nỗi đau đớn thuộc loại nầy hay loại khác, như bịnh hoạn, giày vò trong trí óc, đau lòng. Trong thiên cơ của Đức Chúa Trời có một đường lối lạ lùng, ấy là nhiều kẻ phải chịu sự đau đớn mà mình không muốn chịu, và trên đời không được chính cái điều hầu hết mọi người muốn được. Những người ở trong tình cảnh ấy có thể tự yên ủi rất thích đáng bởi tin quyết rằng Đức Chúa Trời mài giũa hết sức vì Ngài hy vọng viên kim cương hoàn thành sẽ hết sức sáng láng, đẹp đẽ. Càng chịu đau đớn trong xác thịt ở thế gian nầy, thì càng được vinh hiển trong cõi đời đời.
Lòng yêu thương anh em (câu 7-11). Nó che đậy nhiều tội lỗi (câu 8). Kỳ diệu thay, lời Phi-e-rơ khuyên hãy có lòng yêu thương dịu dàng, sốt sắng (1:22; 3:8, 13)! Hỡi các anh em cùng chung hy vọng vinh hiển, hãy làm anh em ruột thịt với nhau trong sự đau đớn.
Lò lửa thử thách (câu 12-19). Sự bắt bớ của Néron là công việc trực tiếp của ma quỉ (5:8). Tuy nhiên, theo thiên cơ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, nó sẽ trở thành hạnh phước cho Hội Thánh, và là một sự thử thách quí hơn vàng (1:7). Từ đó đến nay, còn có nhiều cơn bắt bớ khác, phần nhiều tàn bạo và lan rộng hơn cơn bắt bớ của Néron, làm cho bao nhiêu triệu tín đồ Đấng Christ phải chịu đủ thứ tra khảo, cực hình có thể tưởng tượng. Khi nghĩ đến tình trạng ấy, chúng ta đáng phải hổ thẹn vì hay băn khoăn mỗi khi gặp những sự bối rối nhỏ nhặt.
Sự khiêm nhường của Phi-e-rơ (5:1-7). Ông khác hẳn cả đoàn phẩm chức Giáo hội tự xưng là "kẻ kế vị Phi-e-rơ," song lại làm trái hẳn lời ông khuyên bảo. Dục vọng duy nhứt ung đốt họ là được làm "chúa của bầy chiên Đức Chúa Trời."
Si-la (câu 12), cũng chính là Sin-vanh. Ông đem thơ tín nầy. Có lẽ ông đã viết giúp, như trong trường hợp một vài thơ tín của Phao-lô (ITe1Tx 1:1; IITe 2Tx 1:1).
Ba-by-lôn (câu 13). Xin xem lời chú giải giới thiệu thơ tín nầy cho biết có phải là thành La-mã, hay thật là thành Ba-by-lôn. Chính Ba-by-lôn là nơi các bác sĩ đã ra đi tìm Đức Chúa Jêsus mới giáng sanh. Có nhiều người Do-thái ở đó. Chắc một vài Sứ đồ đã đi về hướng đó.
Mác (câu 13) ở với Phi-e-rơ lúc nầy. Người ta cho rằng ông đã nhờ Phi-e-rơ hướng dẫn mà viết sách Tin Lành (Mác). Mác đã ở La-mã khi Phao-lô bị tù lần thứ nhứt (CoCl 4:10), và có lẽ lắm ông cũng ở đó khi Phao-lô bị tù lần thứ hai (IITi 2Tm 4:11).
===============================


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 20-1-2018 05:19 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách