† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2024|Trả lời: 0

Thánh Kinh Lược Khảo 6

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 26-7-2011 20:36:15 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Thánh Kinh Lược Khảo 6
Tác giả: Henry H. Halley

Thơ II Phi-e-rơ
Nói tiên tri về sự bội đạo
Tác giả. Thơ tín nầy đặc biệt tự chứng tỏ là tác phẩm của Si-môn Phi-e-rơ (IIPhi 2Pr 1:1). Tác giả tự nhận là đã chứng kiến sự Hóa hình của Đấng Christ (1:16-18), và đã được Đấng Christ bảo cho biết mình sắp qua đời (1:14). Ấy nghĩa là thơ tín nầy thật là tác phẩm của Phi-e-rơ, hoặc của một người nào tự nhận là Phi-e-rơ. Dầu thơ tín nầy chậm được nhận vào kinh điển Tân Ước (xem lời chú giải về "Kinh điển Tân Ước" ở dưới mục: "Chúng ta nhận được Kinh Thánh thể nào" trong sách nầy), nhưng Hội Thánh đầu tiên đã thừa nhận nó thật là tác phẩm của Phi-e-rơ, và trải qua các thế kỷ, nó đã được tôn kính như là một thành phần của Kinh Thánh. Một vài nhà phê bình kim thời cho đó là một tác phẩm về cuối thế kỷ thứ 2, chừng 100 năm sau khi Phi-e-rơ qua đời, và do cây viết của một kẻ ta không biết, đã giấu tên và đội danh Phi-e-rơ. Đối với trí óc trung bình, thì đội tên như vậy là giả mạo, là vi phạm luật dân sự, luật đạo đức và không đúng đắn. Tuy nhiên, các nhà phê bình vẫn quả quyết rằng mạo danh người khác như vậy không có gì là trái luân lý cả.
Thơ tín nầy gởi cho ai? Khác với phần nhiều thơ tín, thơ nầy không ghi địa phương nào. Tuy nhiên, đây là "thơ thứ hai" của Phi-e-rơ gởi cho cùng một nhóm người (3:1). Dầu có lẽ Phi-e-rơ còn viết nhiều thơ tín khác nay đã thất lạc, song ta đoán mấy chữ "thơ thứ hai" nầy ám chỉ rằng có tác phẩm gọi là "thơ thứ nhứt" của ông gởi cho các chi hội ở Tiểu-Á-tế-á (IPhi 1Pr IPhi1:1). Phao-lô cũng đã gởi thơ tín cho các chi hội nầy (IIPhi 2Pr 3:15).
Niên hiệu. Nếu thơ I Phi-e-rơ viết đang khi Néron bắt bớ Hội Thánh và nếu Phi-e-rơ tuận đạo trong cơn bắt bớ ấy (xem lời chú giải giới thiệu thơ I Phi-e-rơ) thì thơ tín nầy chắc đã viết trước khi ông qua đời ít lâu, có lẽ khoảng năm 67 T.C..
Mục đích. Để cảnh cáo về sự bội đạo hầu đến, là lúc các thủ lãnh Hội Thánh, vì ham thích tiền bạc, sẽ cho phép phóng túng và làm bậy toàn thể; trong tình trạng bội đạo nầy, Hội Thánh sẽ không trông đợi sự tái lâm của Chúa nữa. Và để ngụ ý nói rằng sự tái lâm của Chúa có thể trì hoãn lâu lắm.
Thơ II Phi-e-rơ và thơ Giu-đe có vài câu rất giống nhau, đến nỗi một số học giả kim thời cho rằng ông nầy đã chép của ông kia, mặc dầu họ không đồng ý là ông nào đã chép. Không cần nghĩ rằng ai đã chép của ai. Các Sứ đồ thường du hành với nhau, và ông nọ luôn luôn nghe ông kia giảng đi giảng lại cùng một bài tại những chi hội khác nhau. Như vậy, một vài câu và thí dụ trong Kinh Thánh trở thành một phần ngữ vựng thông thường trong giới tín đồ Đấng Christ.
IIPhi 2Pr 1:1-21-- Các Lời Hứa Lớn Lao Và Quí Báu
"Tôi mọi " của Đấng Christ (câu 1). Đó là ý nghĩa của chữ dịch là "tôi tớ." Trong thơ I Phi-e-rơ, ông tự xưng là "Sứ đồ." Đây ông thêm: "Tôi mọi." Phi-e-rơ càng gần lúc qua đời, thì càng khiêm cung. Phao-lô, Gia-cơ, và Giu-đe cũng nói về mình như vậy.
"Sự nhận biết "(1) (câu 2) được nhấn mạnh là môi giới của ân điển, bình an, và "mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính" (câu 3). "Sự nhận biết" cũng là một trong những phương pháp (câu 5) cho ta được "chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình" (câu 10). Cũng bởi "sự nhận biết" mà chúng ta thắng được "sự ô uế của thế gian" (2:20). Nó cũng là lời khuyên bảo cuối cùng của thơ tín nầy (3:18). Nó có nghĩa là hiểu biết Đấng Christ qua Lời Ngài (Kinh Thánh). Như vậy, lời Phi-e-rơ cảnh cáo lúc từ biệt ta là: "Chớ xao lãng Lời Đức Chúa Trời!"
Các "lời hứa rất quí " (câu 4) chẳng những gồm những vinh quang bề ngoài của Nước đời đời (câu 11), song còn gồm một bổn tánh được biến cải, tức là bổn tánh Đức Chúa Trời ở trong chúng ta. Bởi ân điển Ngài, Đức Chúa Trời ban bổn tánh Ngài cho ta, nhưng về phần ta, thì phải hết sức cố gắng đạt tới (câu 5-11).
Bảy đức tánh thiên thượng (câu 5-11) là nhơn đức, học thức, tiết độ, nhịn nhục, tin kính, yêu thương anh em(2) và yêu mến. Đó là các "kết quả" (câu 8) của "đức tin quí báu" (câu 1) mà chúng ta phải "thêm" (câu 5) vào các ơn phước Đức Chúa Trời đã "gia thêm" (câu 2) cho chúng ta. Đó là những nấc thang từ đất lên trời, bắt đầu ở đức tin và lên đến tuyệt điểm, là sự yêu thương trong Nhà đời đời của Đức Chúa Trời.
Phi-e-rơ linh giác mình sắp tuận đạo (câu 14, 15). Đây dường như ông nhắc đến lời Đức Chúa Jêsus đã bảo ông chừng 37 năm trước (GiGa 21:18, 19). Hoặc có lẽ Đức Chúa Jêsus lại mới hiện ra với ông; hoặc cũng có lẽ là sự hiện ra của Chúa theo truyền thoại "Quo vadis " (Chúa đi đâu?" (xem lời chú giải giới thiệu thơ I Phi-e-rơ). "Tôi phải vội lìa nhà tạm nầy" (câu 14) là một danh từ tuyệt mỹ của Kinh Thánh để chỉ về sự chết. Moffatt dịch là: "Tôi gần xếp trại của tôi lại." Phao-lô cũng nói như vậy (IICo 2Cr 5:1-4).
Phi-e-rơ biết chắc về Đấng Christ và về sự vinh hiển tương lai (câu 16-21). Quang cảnh Hóa hình mà ông được thấy đã trừ bỏ mãi mãi khỏi tâm trí ông ý nghi ngờ đối với cái thực sự, là Đấng Christ hằng sống và sắp tái lâm, nhứt là lại có chứng cớ của lời tiên tri thêm vào nữa. Lòng tin quyết đó khiến ông sẵn sàng tuận đạo. Ông càng tin chắc nơi thế giới tương lai vì thế giới hiện tại gần qua đi. Câu 20 nên dịch như thế nầy thì tốt hơn: "Chẳng một lời tiên tri nào trong Kinh Thánh do căn nguyên riêng mà có." "Những chuyện khéo đặt để" (câu 16): Một số người gọi sách Tin Lành như vậy, và họ là tiền khu của các nhà phê bình kim thời.
IIPhi 2Pr 2:1-22-- Các Giáo Sư Giả
Các giáo sư giả sắp đến (câu 1-22). Tân Ước nói đi nói lại rằng chúng sẽ xuất hiện. Đức Chúa Jêsus đã cảnh cáo rằng chúng sẽ đến (Mat Mt 7:15; 24:11, 24). Phao-lô (ITi1Tm 4:1-3; IITi 2Tm 3:1-9), Giăng (IGi1Ga 4:1) và Giu-đe (4-19) cũng đã cảnh cáo như vậy.
* * *
Thơ II Phi-e-rơ 2
Các giáo sư giả (IIPhi 2Pr 2:1-22). Phi-e-rơ nói rằng "sẽ có giáo sư giả," nhưng một vài lời ở đây ngụ ý rằng chúng đã xuất hiện rồi. Những danh từ dùng đây không chỉ về thế gian, song chỉ về các thủ lãnh ở trong Hội Thánh. Họ "truyền những đạo dối làm hại;" "chối Chúa;" "luông tuồng;" "đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha;" "lấy lời dối trá khoét anh em;" "theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt;" "khinh dể quyền phép rất cao;" "nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ;" "như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật;" "ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em;" "cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán;" "dỗ dành những người không vững lòng;" "có lòng quen thói tham dục;" "là những con cái đáng rủa sả;" "là những suối không nước;" là "những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi;" "dùng những lời văn hoa hư đản;" "đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành" kẻ khác; "làm tôi mọi sự hư nát."
Thật là một bức tranh thê thảm! Sự phóng túng, hoang dâm, đạo đức lỏng lẻo, phạm thượng táo tợn đã xuất hiện ngay trong thế hệ các Sứ đồ và đã gia tăng kinh khủng trong Hội Thánh! Rồi tới bao nhiêu thế kỷ đằng đẵng có sự bại hoại của chế độ Thủ lãnh kia. Ngay bây giờ, trong thời kỳ sáng suốt của chính chúng ta, trên nhiều miền của thế giới, giới thủ lãnh Giáo hội có tổ chức chỉ là ký sanh trùng vô ích của xã hội loài người. Hội Thánh đã quá quên rằng dầu mình ở trong thế gian, song chẳng nên thuộc về thế gian!
Tiêu diệt kẻ không tin kính (câu 3-9). Đây là một "âm điệu" không dứt trong Kinh Thánh, mặc dầu kẻ không tin kính vẫn choàng áo của Hội Thánh. Họ hãy tự cảnh tỉnh bởi việc xảy đến cho "các thiên sứ đã phạm tội" (câu 4) (xem lời chú giải ở thơ Giu-đe), cho thế gian đương thời Nô-ê (câu 5), cho Sô-đôm và Gô-mô-rơ (câu 6). Sự hủy diệt họ chắc không sao tránh khỏi. Tuy nhiên, dầu sự hủy diệt khốc liệt chừng nào, sự giải cứu dân Đức Chúa Trời cũng rất chắc chắn.
IIPhi 2Pr 3:1-18-- Chúa Trì Hoãn Tái Lâm
Thì giờ Chúa tái lâm (câu 1-15). Đức Chúa Jêsus đã phán một vài lời mà ta có thể giải thích là ngụ ý rằng Ngài tái lâm trong thế hệ ấy (Mat Mt 16:28; 24:34). Các Sứ đồ dùng những danh từ tỏ ra Ngài gần hiện đến (RoRm 13:12; HeDt 10:25; Gia Gc 5:8; KhKh 1:3). Nhưng trong thí dụ về các ta lâng, Đức Chúa Jêsus ngụ ý rằng còn "cách lâu ngày" (Mat Mt 25:19) Ngài mới tái lâm. Trong thí dụ về Mười Nữ đồng trinh, Ngài nêu lên rằng "người khôn" là người dự trù cho trường hợp "chàng rể đến trễ" (Mat Mt 25:4, 5). Phao-lô cảnh cáo chúng ta chớ quá chắc chắn rằng Chúa tái lâm ngay, và ông quả quyết "phải có sự bỏ đạo đến trước," rồi Chúa mới tái lâm (IITe 2Tx 2:2-3). Trong đoạn nầy, Phi-e-rơ ngụ ý rằng cứ theo sự mong mỏi của loài người, thì có lẽ là theo tỷ lệ 1000 năm cho một ngày (câu 8); do đó, ông ngụ ý rằng có thể còn hàng ngàn năm trong tương lai, rồi Chúa mới tái lâm. Đức Chúa Trời không tính thì giờ như loài người tính. Đối với Ngài, 1000 năm cũng như ngày hôm qua (Thi Tv 90:4). Ngài sẽ giữ lời hứa tùy theo niên biểu của Ngài, chớ không tùy theo niên biểu của loài người. Nếu đặt những khúc Kinh Thánh nầy chung với nhau, thì dường như Đức Chúa Trời có ý định rằng mọi thế hệ kế tiếp nhau đều phải sống trong sự trông đợi Đức Chúa Jêsus tái lâm.
Sau gần 2000 năm trì hoãn, tình trạng nầy có ảnh hưởng gì đến thái độ chúng ta đối với sự tái lâm của Chúa? Chúng ta phải bỏ hy vọng chăng? Không bao giờ. Ít ra, sự tái lâm của Ngài cũng gần hơn ngót 2000 năm. "Lời hứa rất quí" có thể gần thực hiện hơn là chúng ta vẫn tưởng. Nào ai biết rằng rốt lại, chính lúc nầy, đoàn xe lửa của Chúa chẳng đang tiến vào ga trung ương?
Lý do trì hoãn (câu 9). Câu nầy dường như có nghĩa rằng cơ hội được cứu rỗi sẽ chấm dứt khi Chúa tái lâm. Vậy, sự trì hoãn cốt để hy vọng rằng mùa gặt Tin Lành có thể hết sức phong phú.
Lửa (câu 7, 10). Sự tái lâm của Chúa đã được ví sánh với Nạn Nước Lụt. Phi-e-rơ đã nghe Đức Chúa Jêsus phán như vậy (Mat Mt 24:37-39; LuLc 17:26-27). Trái đất đã bị nước lụt tiêu hủy. Lần sau, nó sẽ bị lửa thiêu đốt. Lửa thật chăng? Nước đã thật là nước. Khi ấy chỉ có mặt đất bị tiêu hủy thôi. Chính trái đất vẫn còn lại. Trái đất sẽ chỉ bị thiêu đốt bề mặt thôi chăng? Hay là nó sẽ nổ tung? Hay là bởi va chạm với một tinh tú nào khác. Các nhà thiên văn cho chúng ta hay rằng cả hai điều nầy thật đã xảy ra. Có những vật giống như "tinh tú mới," thình lình xuất hiện, sáng lên mau lẹ, rồi lần lần tắt và biến đi; hiện tượng nầy do sức nổ của một ngôi sao chết, tức là một ngôi sao đã nguội đi. Trái đất ngày nay là một trong những "tinh tú mới" đó, hoặc là một mảnh tinh tú xưa kia bị tung khỏi mặt trời, thành một khối nóng. Khi các kế hoạch của Đức Chúa Trời đã sẵn sàng, thì trái đất có thể bị bùng cháy thành một khối lửa phừng phừng, hoặc bởi từ trung tâm nổ ra, hoặc bởi va chạm với một vì tinh tú nào khác. "Trời mới, đất mới" (câu 13) sẽ hiện ra. Chúng ta tự hỏi là trái đất nầy được lửa cải tạo, hay là sẽ có một trái đất khác?
"Phao-lô, anh rất yêu dấu của chúng ta " (câu 15), cũng đã gởi thơ cho những chi hội nầy, có lẽ Phi-e-rơ ngụ ý nói đến các thơ Ga-la-ti, Ê-phê-sô, và Cô-lô-se. Trong thơ GaGl 2:11-21, họ đã đọc truyện Phao-lô thẳng thắn quở trách Phi-e-rơ tại An-ti-ốt, mấy năm trước. Nhưng điều đó chẳng giảm bớt sự ngưỡng mộ và tận tụy của Phi-e-rơ đối với Phao-lô. Mấy chữ: "Mọi bức thơ" (câu 16) ngụ ý rằng một vài chi hội chẳng những có thơ tín gởi cho mình, song cũng có bộ thơ tín mà Phao-lô đã gởi cho các chi hội khác nữa. Chữ "mọi" chỉ về toàn bộ. Mấy chữ: "Các phần Kinh Thánh khác" tỏ ra Phi-e-rơ kể các thơ tín của Phao-lô là "Kinh Thánh." Câu nầy minh chứng rằng sự cấu tạo Kinh điển Tân Ước đã bắt đầu dưới sự giám sát trực tiếp của các Sứ đồ (xem các lời chú giải ở mục: "Chúng ta nhận được Kinh Thánh thể nào?" trong sách nầy). Ngay đối với Phi-e-rơ, cũng "có mấy khúc khó hiểu" (câu 16). Có lẽ ông đặc biệt ngụ ý đến bài giải luận của Phao-lô về Chúa tái lâm trong hai thơ Tê-sa-lô-ni-ca .
============================

Thơ I Giăng

Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời
Những kẻ theo Ngài phải làm sự công bình
Nếu chúng ta thuộc về Ngài, thì sẽ yêu thương lẫn nhau
Cũng như thơ Hê-bơ-rơ, thơ tín nầy không chỉ danh của tác giả và của người nhận thơ, mặc dầu nó tuyệt đối có tánh cách riêng vì thường dùng những chữ "ta" (tôi) và "anh em." Ngay từ lúc đầu, người ta đã thừa nhận đây là bức thơ của Sứ đồ Giăng gởi chung cho các chi hội ở chung quanh thành Ê-phê-sô, để nhấn mạnh vào những giáo lý chánh yếu của Tin Lành và để cảnh cáo về những tà giáo mới chớm nở, nhưng sau lại sanh ra cho đạo Đấng Christ một hình thức bại hoại và ngoại đạo hóa.
Giăng. Theo truyền thoại được thừa nhận từ lâu đời, Giăng đã cư trú tại Giê-ru-sa-lem, phụng dưỡng mẹ của Đức Chúa Jêsus cho tới khi bà qua đời; sau khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, ông dời qua ở thành Ê-phê-sô. Vào lúc cuối thế hệ các Sứ dồ, Ê-phê-sô là trung tâm của đạo Đấng Christ vì vị trí địa dư và số giáo hữu tại đó. Ông đã sống ở đây cho tới khi rất cao tuổi. Ông đặc biệt chăm nom các chi hội ở Tiểu-Á-tế-á. Trong số các môn đệ của ông có Polycarpe, Papias và Ignace, là những người đã trở thành Giám mục tại Si-miệc-nơ, Hiérapolis và An-ti-ốt. Lúc cao tuổi, tức là gần cuối thế kỷ, ông viết sách Tin Lành, ba thơ tín và sách Khải Huyền.
Bối cảnh của thơ tín. Đạo Tin Lành đã ở giữa thế gian chừng 60 hoặc 70 năm; ở nhiều khu vực của đế quốc La-mã, đạo Chúa đã trở thành một tôn giáo trọng yếu và một ảnh hưởng mạnh mẽ. Lẽ tự nhiên, người ta cố gắng đủ cách để hỗn hợp Tin Lành với các triết lý và hệ thống tư tưởng đang thạnh hành. Một hình thức của chủ nghĩa duy trí (gnosticisme ) đã phân chia Hội Thánh đương thời Sứ đồ Giăng; nó phóng đại giá trị của trí thức chủ nghĩa, và quả quyết rằng trong bổn tánh loài người có yếu tố bất khả dung hòa của nhị nguyên thuyết (dualisme ); rằng thần linh và thân thể là hai thực thể (entité ) riêng biệt, chống chọi với nhau; rằng tội lỗi chỉ ở trong xác thịt. Thần linh có thể có những khoái cảm của nó, và thân thể cũng có thể làm theo điều nó ưa thích. Sự tin kính thần bí, cao siêu của tâm thần hoàn toàn tương hợp với sự sanh hoạt khoái lạc, nhục dục. Chủ nghĩa nầy chối bỏ sự thành nhục thể của Đấng Christ, và quả quyết rằng Đấng Christ chỉ hiện hình người, chỉ là một ảo tượng; rằng một khi loại bỏ những ý niệm duy vật, tỉ như Đức Chúa Trời trở thành nhục thể, thì người ta khả dĩ đạt tới bậc hiểu biết Đức Chúa Trời một cách thiêng liêng hơn. Tại thành Ê-phê-sô, một người tên là Cerinthus, làm thủ lãnh phong trào nầy. Ông tự nhận đã có những sự từng trải thần bí trong tâm linh, và tôn cao sự hiểu biết Đức Chúa Trời, song lại là một người dâm đãng, giống như các giáo sư gian ác đang khuấy rối Bảy Hội Thánh (KhKh 2:2, 6, 14, 15, 20, 21). Suốt cả thơ tín nầy, dường như Giăng chú ý đến bọn tà giáo đó, và ông nhấn mạnh rằng sự thật hiểu biết Đức Chúa Trời phải sanh ra sự biến cải phần đạo đức; rằng Đức Chúa Jêsus thật là sự phát hiện thể chất và chân chánh của Đức Chúa Trời trong xác thịt.
IGi1Ga 1:1-10 thiết của Đấng Christ# (câu 1-4), và là một người cộng sự với Ngài. "Tay chúng tôi đã rờ" (câu 1). Có lẽ Giăng dùng câu nầy vì cớ tà giáo lan tràn rằng Đức Chúa Jêsus chỉ là một "ảo tượng." "Rờ" một "ảo tượng" thể nào được?
Đức Chúa Trời là Sự Sáng (câu 5-10). Đó là lời mở đầu sách Tin Lành (GiGa 1:4). Đức Chúa Jêsus đã phán như vậy (GiGa 8:12). Nhiều điều trong thơ tín nầy giống như lời phán của Đức Chúa Jêsus. "Sự sáng" chỉ về Nước chân lý, công bình, trong sạch, vui vẻ và vinh quang khôn tả xiết. "Tối tăm" chỉ về thế gian nầy có sự lầm lạc, xấu xa, nghi ngờ, sầu thảm, ngu dốt, gian ác. Theo một ý nghĩa thiết thực và trực tự (littéral ), thì "sự sáng" có thể là một đặc tánh của Đức Chúa Trời, vượt quá sự hiểu biết của con mắt xác thịt. Đức Chúa Trời "ở nơi sự sáng không thể đến gần được" (ITi1Tm 6:16); Ngài "bao phủ mình bằng ánh sáng" (Thi Tv 104:2); "Cha sáng láng" là một trong những danh hiệu của Đức Chúa Trời (Gia Gc 1:17). Lúc Đức Chúa Jêsus hóa hình, thì "áo xống Ngài trở nên sáng rực và trắng tinh" (Mac Mc 9:3). Thiên sứ chứng kiến sự sống lại của Đức Chúa Jêsus mặc "áo trắng như tuyết" (Mat Mt 28:2). Hai thiên sứ theo hầu Đức Chúa Jêsus lúc Ngài thăng thiên cũng "mặc áo trắng" (Cong Cv 1:10). Trong sự hiện thấy ở sách KhKh 1:14-16, "đầu và tóc" Đức Chúa Jêsus "trắng như tuyết." Xem thêm ở 3:4.
IGi1Ga 2:1-29-- Bước Đi Trong Sự Sáng, AntiCHRIST
Bước đi trong sự sáng (câu 1-17). Cùng đi với Đức Chúa Trời chẳng có nghĩa là chúng ta phải hoàn toàn không vướng tội lỗi. Chúng ta đã phạm tội trong quá khứ, và còn có tội lỗi trong bổn tánh mình. Chúng ta được giao hảo với Đức Chúa Trời chẳng phải nhờ sự vô tội của mình, bèn là nhờ Đấng Christ chịu chết vì tội lỗi ta. Lúc nào ta cảm biết mình có một hành động tội lỗi, mà thật lòng khiêm nhường xưng tội với Chúa ngay, thì sự thông công của ta với Đức Chúa Trời có thể không bị gián đoạn. Một trong những điều kiện để được tha thứ tội lỗi là chúng ta "giữ điều răn Ngài" (câu 4-6). Tuy nhiên, chính tội lỗi là không vâng giữ các điều răn của Ngài. Đó là một trong những lẽ mâu thuẫn của Giăng. Theo một phương diện, người ta có thể được kể là công bình, hiền đức. Nhưng đó chẳng có nghĩa là họ đã hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi. Những người thánh khiết hơn hết đều cảm biết sâu xa địa vị tội lỗi của mình. Xem thêm ở đoạn 3:1-12.
Antichrist (kẻ địch lại Đấng Christ ) (câu 18, 22; 4:3; IIGi 2Ga 1:7). Không còn chỗ nào khác trong Kinh Thánh dùng danh từ nầy. Người ta thường cho "kẻ địch lại Đấng Christ" là một với "người tội ác" ở II Tê-sa-lô-ni-ca 2 và "con thú" ở Khải Huyền 13. Nhưng chính Kinh Thánh không đồng hóa như vậy. Lời lẽ của Giăng ngụ ý rằng ông dạy bảo các độc giả hãy trông đợi sẽ có Antichrist ở cuối kỷ nguyên Cơ-đốc-giáo (câu 18). Tuy nhiên, ông không ứng dụng danh từ nầy cho một người, song cho cả đám giáo sư chống lại Đấng Christ (câu 18; IGi1Ga 4:3). Ý tưởng của Tân Ước dường như là sự bội đạo sẽ dấy lên trong giới Cơ-đốc-giáo, sẽ phát hiện nhiều cách, và rốt lại, sẽ lên tới cực điểm trong một người, hoặc một tổ chức, hoặc cả hai.
* * *
Thơ I Giăng 2
3:1-24-- Sư Công Bình, Sự Yêu Thương
Sự công bình (câu 1-12). Trong đoạn nầy có mấy lời tuyên bố rất mạnh mẽ về tội lỗi: "Ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài" (câu 6); "Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ" (câu 8); "Ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì chẳng phạm tội" (câu 9). Nhưng ở đoạn 1:8, 10 Giăng vừa mới nói rằng: "Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình;" và rằng: "Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối." Chúng ta cắt nghĩa những lời tuyên bố mâu thuẫn nầy thế nào? Thứ nhứt, có sự khác nhau giữa phạm tội vì quen cố ý và phạm tội vì yếu đuối. Đây phần lớn là vấn đề bổn tánh bề trong. Con phụng hoàng có thể lỡ nhúng cánh vào bùn, mà vẫn là con phụng hoàng. Thứ hai, có sự khác nhau giữa tuyệt đối và tương đối. So sánh với Đức Chúa Trời, thì chúng ta là tội nhân. Nhưng so sánh chúng ta với những mực thước thường của loài người, thì có sự khác nhau rõ rệt giữa người công bình và người gian ác, mặc dầu người công bình chẳng phải là không có tội. Thứ ba, có lẽ Giăng nghĩ đến một vài giáo sư tà giáo, dầu họ khoe mình được thông công với Đức Chúa Trời ở mức cao siêu hơn, nhưng đồng thời cũng ngụp lội trong sự ô uế, vô đạo, tỉ như Giê-sa-bên ở Thi-a-ti-rơ.
Sự yêu thương (3:13-24). Điểm chánh yếu của thơ tín nầy là sự yêu thương. "Sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời" (4:7) "Đức Chúa Trời là sự yêu thương" (4:8) "Ai ở trong sự yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời" (4:16) "Kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời" (4:7) "Kẻ nào yêu, thì... nhìn biết Đức Chúa Trời" (4:7) "Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời" (4:8) "Ai chẳng yêu, thì ở trong sự chết" (3:14) "Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người" (3:15) "Ví có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối" (4:20) "Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình" (3:14) "Kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được" (4:20) "Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được?" (3:17) "Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước" (3:19) "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau" (4:7) "Sự yêu thương trọn vẹn, thì cất bỏ sự sợ hãi" (4:18). Sự yêu thương không phải là không hòa hiệp với các đức tánh trượng phu. Giăng, Sứ đồ của sự Yêu thương, là một bậc đại trượng phu.
IGi1Ga 4:1-21-- Các Tiên Tri Giả, Sự Yêu Thương
"Hãy thử các thần " (câu 1-6). Lời nầy nghĩa là gì? Trong thế hệ các Sứ đồ, có những ân tứ đặc biệt của Đức Thánh Linh (ICo1Cr 12:1-21), và cũng có kẻ mạo nhận có những ân tứ ấy. Khúc sách nầy tỏ ra cách thử nghiệm xem họ thật có hay không, -- tức là họ có nhìn nhận Đấng Christ là Đức Chúa Trời hay không?
Sự yêu thương (câu 7-21). Giăng trở lại đề mục mà ông ưa thích, là sự yêu thương, điểm chánh yếu của thơ tín nầy. Người ta thuật truyện tích về Giăng rằng khi ông già yếu quá, không đi được nữa, thì họ phải khiêng ông vào nhà thờ, và khi giảng, ông luôn luôn nói rằng: "Hỡi các con bé mọn, hãy yêu thương nhau." Khi họ hỏi tại sao ông lặp đi lặp lại cùng một lời ấy, thì ông đáp: "Đó là điều răn của Chúa; khi chúng ta vâng giữ điều răn nầy, thì đã làm đủ rồi."
"Kẻ nói dối " (câu 20). Sứ đồ của sự Yêu thương là một người nói rất ngay thẳng. "Ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối." "Ví bằng chúng ta nói mình được giao thông với Ngài, mà còn đi trong sự tối tăm, ấy là chúng ta nói dối" (IGi1Ga 1:6). "Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối" (2:4). "Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ sao?" (2:22). Ấy tức là họ chối những chân lý đời đời của sự sanh tồn.
5:1-21-- Sự Biết Chắc
Chúng ta biết mình có sự sống đời đời (câu 21). "Biết" là một trong những chữ chánh yếu của thơ tín nầy. "Chúng ta biết Ngài" (2:3) "Chúng ta biết mình ở trong Ngài" (2:5) "Chúng ta biết rằng... chúng ta sẽ giống như Ngài" (3:2) "Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống" (3:14) "Chúng ta biết mình là thuộc về lẽ thật" (3:19) "Chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta" (3:24) "Chúng ta biết mình ở trong Ngài" (4:13) "Chúng ta biết sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta" (4:16) "Chúng ta biết Ngài nghe chúng ta" (5:15) "Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời" (5:19) "Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời" (5:13). Có lẽ Giăng nhấn mạnh vào chữ "biết" vì cớ duy trí chủ nghĩa (gnosticisme ) đang thạnh hành, và "hiểu biết" là chữ mà họ ưa nhứt. Trong khi mơ tưởng những điều mà họ chẳng biết chi hết, thì họ "biết" rất nhiều điều không thật. Giăng lặp đi lặp lại một vài điều mà tín đồ thật biết, và những điều ấy là thật.
Sự sống đời đời (câu 13). Chữ nầy được dùng rất nhiều lần trong sách Tin Lành Giăng. Sự sống đời đời bắt đầu khi một người tin nhận Đấng Christ, và không bao giờ hết. Ấy là sự sống của Đức Chúa Trời và vô cùng vô tận. Mục đích của thơ tín nầy là chứng quyết rằng chúng ta có sự sống đời đời (câu 13). Nhiều tín đồ ngã lòng vì không cảm biết chắc chắn rằng mình được cứu rỗi. Có khi ta nghe nói rằng nếu chúng ta không biết mình được cứu rỗi, thì đó là dấu hiệu tỏ ra mình không được cứu rỗi. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một lời quả quyết cực đoan. Đồng hóa sự biết chắc được cứu rỗi với sự cứu rỗi, thì sai lầm. Một hài nhi mới sanh ra, nhưng nó thật đã sanh ra. Khi nó lớn lên, thì sẽ biết chắc mình đã sanh ra. Chúng tôi tin rằng đức tin của tín đồ có thể càng ngày càng mạnh cho đến rốt lại, họ đạt tới sự hiểu biết chắc chắn, đầy trọn rằng mình đã được cứu rỗi.
Thánh Linh, Nước, và Huyết (câu 6-9). Chắc Giăng viết khúc sách mầu nhiệm nầy trong một trường hợp mà ta không biết, và trường hợp ấy làm cho khúc sách nầy có ý nghĩa khi nó được viết ra. Vì thơ tín nầy phát xuất trong bầu không khí chối bỏ sự thành nhục thể của Đấng Christ, nên khúc sách nầy có thể chỉ về cái thực sự rằng Đấng Christ thật đã chịu báp-têm -- khi ấy có Đức Thánh Linh làm chứng, -- và thật đã chịu chết.
Tội lỗi đến nỗi chết (câu 16). Đây có lẽ là tội lỗi không tha thứ được mà Đức Chúa Jêsus đã phán tỏ (Mat Mt 12:31-32). Kết quả của tội lỗi nầy là linh hồn bị hủy diệt và tuyệt vọng. Thơ HeDt 6:4-6 và 10:26 cũng có nói đến một tội lỗi giống như vậy. Xem lời chú giải thơ 6:4-8.
===================================

Thơ II Giăng
Coi chừng các giáo sư giả
"Trưởng lão " (câu 1). Các Sứ đồ khác đều đã qua đời từ lâu năm rồi. Chỉ một mình Giăng còn sống; ông là Tổng chủ giáo của cả Hội Thánh Đấng Christ, đã cao tuổi lắm, và là đồng bạn sau chót của Đức Chúa Jêsus còn sống sót. Như vậy, tước hiệu "Trưởng lão" thật xứng hợp biết bao!
"Bà được chọn " (câu 1). Chúng ta không có cách nào mà biết chữ "Cyria," dịch là "bà," chỉ về một người hay là một Hội Thánh gọi tượng trưng bằng tên bà ấy. Nếu là một Hội Thánh, thì "con cái bà" tức là thuộc viên của Hội Thánh ấy. Nếu là một người, thì chắc là một bậc phụ nữ có danh tiếng và cao sang, ở một nơi nào gần thành Ê-phê-sô, và có một chi hội nhóm họp trong nhà bà. "Chị em bà" là chi hội mà Sứ đồ Giăng đang cư trú, hoặc một bậc phụ nữ cao sang nào khác. Có người đoán rằng đây có thể là vợ của Giăng.
Các giáo sư giả (câu 7-11). Đây là cùng một bọn người đã nói đến ở IGi1Ga 2:18-29. Bắt chước các viên Truyền đạo ở dưới quyền Sứ đồ Giăng (xem lời chú giải thơ IIIGi 3Ga 1:3-8), bọn chúng đi từ chỗ nầy đến chỗ kia, xông vào các chi hội như săn mồi, nhơn Danh Đấng Christ mà dạy các lẽ đạo hoàn toàn chống đối Tin Lành. Thơ nầy viết để cảnh cáo "bà được chọn" chớ tiếp đãi bọn giáo sư ấy. Trước lời cảnh cáo, có lời khuyên bảo "phải yêu thương nhau" (câu 5-6), dường như để tỏ ra rằng sự thực hành lòng yêu thương trong Đấng Christ chẳng có nghĩa là chúng ta phải khuyến khích bọn nghịch thù chân lý.
Những thơ khác. Giăng còn viết những thơ khác (IGi1Ga 2:13-14; IIIGi 3Ga 1:9), có lẽ là nhiều. Thơ II và III Giăng gởi cho các bạn hữu mà ông trông mong chẳng bao lâu sẽ có dịp thăm viếng; đây là những bức thơ riêng. Những bức thơ riêng như loại nầy, không có cơ hội lưu hành rộng rãi như các thơ gởi chung cho Hội Thánh. Vì những thơ nầy ngắn ngủi và có tánh cách riêng, nên ít được đọc giữa hội chúng và cũng ít được các Giáo phụ Hội Thánh trưng dẫn, bởi vì nó chỉ được ít người biết đến. Do Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, hai thơ nầy không bị lãng quên, song được bảo tồn cho Hội Thánh, có lẽ vì nó đã được để chung với thơ I Giăng trong chi hội hoặc những chi hội đã tiếp nhận. Hai thơ nầy được Hội Thánh chung thừa nhận rất chậm, nhưng rốt lại, đã được Hội Thánh tiếp nhận (xem lời chú giải ở mục: "Kinh điển Tân Ước" trong quyển sách nầy).
"Lẽ thật " (câu 4) cũng là một chữ mà Giăng ưa dùng. Đức Chúa Jêsus đã dùng chữ nầy rất nhiều. Ngài phán: "Ta là Lẽ Thật" (GiGa 14:6); "Lẽ thật sẽ buông tha các ngươi" (GiGa 8:32). Vì Giăng dùng chữ nầy theo nghĩa trừu tượng, nên chắc ông nghĩ đến toàn thể lẽ thật khải thị chứa trong Kinh Thánh; lúc đó, Kinh Thánh đã gần toàn vẹn, mỗi trung tâm chánh yếu của Hội Thánh đều có một bản.
===============================

Thơ III Giăng
Không tiếp rước những người giúp việc Sứ đồ Giăng
Gai-út (câu 1). Tại thành Cô-rinh-tô có một người tên là Gai-út (ICo1Cr 1:14; RoRm 16:23); đương thời Phao-lô, có một chi hội nhóm họp trong nhà ông nầy. Theo một truyền thoại, ông đã làm thơ ký cho Sứ đồ Giăng. Cũng theo một truyền thoại khác, Giăng đã cử một người tên là Gai-út, làm Giám mục tại Bẹt-găm. Nếu là cùng một Gai-út, thì đây là bức thơ riêng rất ưu ái gởi cho một Giám mục mà chi hội của ông vừa mới nhận được, hoặc sắp nhận được, lời cảnh cáo chánh thức và nghiêm khắc của cùng một tác giả (KhKh 2:12-17).
Đi-ô-trép (câu 9). Chúng ta chẳng biết Gai-út và Đi-ô-trép là Mục sư của những chi hội khác nhau trong cùng một đô thị, hay là thuộc viên trọng yếu của cùng một chi hội. Chữ "Hội Thánh" khi thì chỉ về một Hội Thánh riêng biệt, khi thì chỉ về toàn thể các hội chúng trong cùng một đô thị. Có lẽ Đi-ô-trép là một người trong số giáo sư giả nói đến ở thơ I Giăng. Chúng ta chẳng biết là đô thị nào. Có lẽ là một đô thị gần thành Ê-phê-sô. Nếu Gai-út thật ở Bẹt-găm, đúng như truyền thoại, thì Đi-ô-trép chắc là một giáo sư "theo đạo Ni-cô-la" có nói đến ở sách KhKh 2:15. Tuy nhiên, dầu là đô thị nào đi nữa, hắn cũng đã chiếm địa vị rất cao trong Hội Thánh đến nỗi dám táo tợn công khai bất chấp Sứ đồ Giăng. Hắn chẳng những không cho phép các viên Truyền đạo của Giăng đến giảng trong nhà thờ, song thậm chí còn loại trừ các thuộc viên chi hội đã tiếp đón họ.
Những người giúp việc Sứ đồ Giăng (câu 5-8). Khoảng 40 năm trước, Phao-lô đã sáng lập Hội Thánh ở trong và ở chung quanh thành Ê-phê-sô, nhưng không có Thần đạo Học đường để đào tạo các vị Mục sư cho ông. Ông phải chọn một số tín đồ mà đặt lên làm Mục sư. Về sau, Giăng lãnh nhiệm vụ Mục sư của các chi hội ấy; dường như ông đã qui tụ và huấn luyện một số đông người làm giáo sư và Truyền đạo để giúp việc mình. Hình như trong một cuộc lưu hành, một số viên Truyền đạo của Giăng đã không được phép vào nhà thờ mà Đi-ô-trép làm chủ tọa; song Gai-út đã tiếp rước họ. Khi trở về Ê-phê-sô, họ thuật lại truyện ấy trong nhà thờ do Sứ đồ Giăng lãnh đạo (câu 6). Lúc nầy, họ lại ghé thăm cùng một chỗ, đem theo thơ tín nầy cho Gai-út.
"Được thạnh vượng trong mọi sự " (câu 2) Đây là lời của người rất thân cận với Đấng Christ cầu nguyện cho một tín đồ được phước phần vật chất cũng như phần thiêng liêng. Đó là bằng cớ tỏ ra đối với Đấng Christ, nếu một người có của cải và lợi lộc đời nầy, thì chẳng phải là tội lỗi đâu. Rất ít là lúc thanh niên, Giăng cũng là một người khá giả. Nhưng chính Giăng lại cảnh cáo chúng ta chớ yêu mến các vật trần gian nầy (IGi1Ga 2:15-17).
Đê-mê-triu (câu 12) có lẽ là người đem thơ tín nầy. Đương thời Phao-lô, có một người tên là Đê-mê-triu ở thành Ê-phê-sô (Cong Cv 19:24). Nếu là cùng một Đê-mê-triu, thì người cầm đầu bọn vô lại toan giết Phao-lô về sau đã trở thành một tín đồ rất được quí chuộng.
===============================

Thơ Giu-Đe

Sự bội đạo hầu gần
Đạo (1) truyền cho các thánh một lần đủ cả (câu 3)
Giu-đe. Có hai Giu-đe: Giu-đe, một trong 12 Sứ đồ (LuLc 6:16) và Giu-đe, em trai của Chúa (Mat Mt 13:55). Người ta thường kể ông thứ hai (em Chúa) là tác giả thơ tín nầy. Chúng ta tự hỏi tại sao khi xưng danh trong lời chào thăm, ông lại không nói rằng mình là bà con của Đức Chúa Jêsus? Có lẽ chính Đức Chúa Jêsus đã cấm các em trai Ngài lợi dụng mối liên quan phần xác của họ với Ngài.
Các cháu nội của Giu-đe. Ông Eusèbe thuật lại rằng năm 96, khi Hoàng đế Domitien bắt bớ tín đồ Đấng Christ, hắn đã tìm kiếm những người thừa kế nước của Đa-vít và truyền lịnh bắt các cháu nội của Giu-đe, em Đức Chúa Jêsus. Họ nói với Hoàng đế rằng mình là nông dân, sống nhờ bàn tay làm lụng khó nhọc, và "Nước Đấng Christ không thuộc về thế gian nầy, song sẽ xuất hiện lúc tận thế, tức là lúc Ngài tái lâm trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết."
Nơi và niên hiệu viết thơ tín nầy. Vì tình trạng mô tả trong thơ nầy giống như tình trạng mô tả trong thơ II Phi-e-rơ, nên khiến ta tưởng rằng có lẽ thơ nầy gởi cho cùng những chi hội đã nhận thơ II Phi-e-rơ. Dựa vào IIPhi 2Pr 3:1, thì dường như những chi hội nầy cũng là những chi hội đã nhận thơ I Phi-e-rơ và ở miền Tiểu-Á-tế-á (IPhi 1Pr IPhi1:1). Thơ nầy có lẽ viết vào khoảng 67 S.C.. Nó chậm được thừa nhận là thành phần của Kinh điển Tân Ước, có lẽ vì lúc đầu nó không được lưu hành rộng rãi (xem "Kinh điển Tân Ước").
Cơ hội viết thơ nầy. Rõ ràng lắm, Giu-đe định viết một bức thơ dài hơn để giải luận tổng quát về Tin Lành cho nhóm chi hội nầy mà ông dường như đặc biệt muốn dự phần chăn dắt (câu 3). Đang định vậy, thì hay tin có một tà giáo phát xuất và tàn phá Hội Thánh, nên ông phải vội vã gởi lời cảnh cáo nghiêm khắc nầy. Ông nói rất ngay thẳng về tánh cách của những kẻ dụ dỗ họ.
Các giáo sư giả (câu 4-9). Những hình dung từ khủng khiếp mà Giu-đe dùng không chỉ về thế gian, song chỉ về một số thủ lãnh ở trong Hội Thánh (câu 4): "Chẳng tin kính" (câu 4); "Đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác" (câu 4); "Chối Đức Chúa Jêsus Christ" (câu 4); "Như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, buông theo sự dâm dục và sắc lạ" (câu 7); "Khinh dể quyền phép rất cao" (câu 8); "Nói hỗn các đấng tôn trọng" (câu 8); "hễ điều gì không biết, thì khinh dể hết" (câu 10); "Cũng như con thú vật vô tri" (câu 10); "Theo đường của Ca-in" (câu 11), tức là giết người (SaSt 4:3-8); "Gieo mình vào sự sai lạc của Ba-la-am" (câu 11), là kẻ nói tiên tri thuê (Dan Ds 23:1-24:25 31:8, 16; KhKh 2:14); "bị hư mất về sự phản nghịch của Cô-rê" (câu 11), là bọn chống lại Môi-se (Dân số ký, đoạn 16); "Dấu vít trong đám tiệc anh em" (câu 12); "Người chăn chiên chỉ tưởng nuôi mình cho no nê" (câu 12); "Đám mây không nước" (câu 12); "Cây không có trái" (câu 12); "Sóng cuồng dưới biển, sôi bọt ô uế của mình" (câu 13); "Sao đi lạc" (câu 13); "Những kẻ hay lằm bằm" (câu 16); "Hay phàn nàn" (câu 16); "Làm theo sự ham muốn mình" (câu 16); "Miệng đầy những lời kiêu căng" (câu 16); "Vì lợi mà nịnh hót người ta" (câu 16); "Hay nhạo báng" (câu 18); "Gây nên phe đảng" (câu 19); "Thuộc về tánh xác thịt" (câu 19); "Không có Đức Thánh Linh" (câu 19).
Những giáo sư nầy đã len lỏi vào (câu 4), nhưng Giu-đe nói rằng chúng sẽ hiện ra "trong các thời kỳ sau rốt" (câu 18). Dầu nó trước hết chỉ về một hạng người đặc biệt đương thời Giu-đe, nhưng có thể đó là đặc điểm tổng quát của toàn thể giáo sư giả, trải qua các thế kỷ, đã ở ngay trong Hội Thánh mà làm cho Hội Thánh bại hoại. Do đó, chúng làm cản trở công ơn cứu chuộc của Đấng Christ. Những người thông thạo Sử ký Hội Thánh đều biết rõ Hội Thánh đã bị bọn người như vậy làm hại là dường nào!
Các thiên sứ sa ngã (câu 6). Trong Kinh Thánh chỉ có câu nầy và thơ IIPhi 2Pr 2:4 nói đến sự sa ngã của một số thiên sứ (KhKh 12:9 dường như luận đến sự thất bại về sau của chúng). Có người tưởng rằng đây là ngụ ý nói đến sách SaSt 6:1-5, tại đó "các con trai của Đức Chúa Trời" cưới "con gái loài người" làm vợ. Có lẽ lắm, nó chỉ về một biến cố lâu đời hơn, tức là lúc Sa-tan cầm đầu một số thiên sứ loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời.
Mi-chen tranh đấu với ma quỉ (câu 9). Sách DaDn 10:13, 21 gọi Mi-chen là "một trong các quan trưởng đầu nhứt," còn sách Khải Huyền 12:7; gọi Mi-chen là tướng lãnh của các thiên sứ; nhưng chỉ có câu nầy gọi Mi-chen là "thiên sứ trưởng". Sự an táng Môi-se được chép ở PhuDnl 34:5-7. Nhưng ở đó không có nói đến việc Mi-chen "chống với" Sa-tan để "giành xác Môi-se." Origène nói rằng lời Giu-đe nói đây liên quan đến một đoạn của ngụy kinh nhan đề: "Sự thăng thiên của Môi-se," đã viết vào khoảng Đấng Christ giáng sanh; nhưng ngày nay chỉ có một phần ngụy kinh ấy còn lại, mà phần còn lại thì không có đoạn nầy. Theo Origène, biến cố ấy đại khái như sau đây: "Khi Môi-se qua đời, thì Mi-chen và các thiên sứ trực thuộc lập tức đến tiếp đón linh hồn ông và an táng thân thể ông. Lập tức Sa-tan tố cáo Môi-se là kẻ sát nhân, vì ông đã giết một người Ai-cập, và nó cãi rằng ông không đáng được an táng. Mi-chen giận lắm, nhưng tự cầm giữ mình, và để cho Đức Chúa Trời quở trách Sa-tan." Có lẽ Giu-đe nhờ những điển cứ khác mà biết biến cố nầy. Josèphe nói rằng Đức Chúa Trời giấu thi hài của Môi-se đi, kẻo dân chúng sẽ đặt lên làm thần tượng. Có lẽ Sa-tan muốn dùng thi hài ông cám dỗ dân Y-sơ-ra-ên vào vòng thờ lạy hình tượng. Giu-đe dùng biến cố nầy, thì dường như xác chứng tánh cách lịch sử của nó. Nó dùng làm gương răn chớ có "nói hỗn." Ngay đến thiên sứ trưởng Mi-chen, là vị thọ tạo cao quí nhứt, cũng không nói hỗn với quỉ Sa-tan, là vị thọ tạo hư hoại hơn hết.
Lời tiên tri của Hê-nóc (câu 14, 15). Cả Kinh Thánh chỉ có hai câu nầy nói đến lời tiên tri của Hê-nóc. Truyện tích ngắn ngủi của đời ông chép ở SaSt 6:18-24, song không có chép một lời nói nào của ông. Giu-đe trưng dẫn lời của ngụy kinh nhan đề: "Sách của Hê-nóc," trứ tác khoảng 100 năm T.C.. Ngoài sách nầy ra, có lẽ trong vòng dân Do-thái còn có những truyền thoại thông thường về lời giảng của Hê-nóc. Giu-đe có lẽ nhờ những điển cứ khác đáng tin cậy hơn mà biết chi tiết nầy. Rõ ràng lắm, ông kể đó là một lời thật do Hê-nóc nói ra. Như vậy, đang khi A-đam, tổ tông loài người còn sống, thì Hê-nóc (đồng thời với A-đam trong 300 năm) đã nói về sự tái lâm vị định (éventuel ) của Chúa cùng với các thiên sứ của Ngài, để thi hành sự phán xét loài người không vâng phục Ngài. Giu-đe xác nhận một đoạn trong "sách của Hê-nóc," thì không có nghĩa là ông đã xác nhận cả sách ấy.
===================================

Khải Huyền
Chung kết vĩ đại của truyện tích Kinh Thánh
Một khúc ca khải hoàn
Sự đắc thắng tối hậu của Đấng Christ
Các từng trời mới và trái đất mới
Sách Khải Huyền căn cứ trên bài giảng của Đấng Christ về những việc tương lai, có chép ở Mat Mt 24:1-51; Mac Mc 13:1-37 và LuLc 21:1-38 hoặc nói rằng nó giải thích bài giảng ấy một cách tường tận hơn. Sách Khải Huyền chứa rất nhiều thành ngữ mà Đức Chúa Jêsus đã dùng. Một vài hình bóng của nó dường như lấy từ sách Ê-xê-chi-ên và sách Đa-ni-ên.
Tác giả
Là chính Đức Chúa Trời. Đó là lời quả quyết đầu tiên trong sách nầy. Chính Đức Chúa Trời đọc sách nầy qua Đấng Christ, bởi một thiên sứ, cho Giăng chép lại và gởi sách toàn vẹn cho Bảy Hội Thánh (KhKh 1:1).
Một vài nhà phê bình duy lý kim thời thấy trong sách Khải Huyền chẳng có lời tiên tri được soi dẫn chi hết, nhưng chỉ có "sự tưởng tượng của tôn giáo được phô bày không hạn chế, và mặc lấy hình thức tưởng là sự hiện thấy, song chẳng thật có như vậy." Chúng tôi chán ghét một ý kiến như vậy.
Chúng tôi tuyệt đối tin rằng sách nầy tự nhận là cái gì, thì nó chính là cái đó; rằng nó mang ấn tín của Tác giả nó; rằng một vài đoạn của nó là kỳ diệu và quí báu hơn hết trong cả Kinh Thánh; rằng sự vĩ đại tuyệt vời của nó thành ra phần kết thích hợp hơn hết của cả truyện tích Kinh Thánh; rằng những sự hiện thấy vinh hiển của nó về công ơn cứu chuộc hoàn thành của Đấng Christ khiến nó thành ra con đường chân chánh của Đức Chúa Trời đi thấu vào linh hồn người ta.
Người được dùng làm tác giả
Do truyền thoại rất vững chắc, ngay từ đời các Giáo phụ Hội Thánh, và theo sự phán đoán của đại đoàn thể tín đồ Đấng Christ, thì Sứ đồ Giăng, "môn đồ yêu quí," bạn thân thiết nhứt của Đức Chúa Jêsus ở trần gian nầy, tác giả sách Tin Lành Giăng, cũng chính là tác giả của sách Khải Huyền (1:1, 4, 9; 22:8; GiGa 21:20, 24). Rõ ràng lắm, do lòng muốn làm mất giá trị của sách nầy, có người nêu ý kiến rằng ấy là một Giăng khác; song ý kiến nầy chẳng có căn cứ chi hết.
Niên hiệu
Giăng đã bị đày ra đảo Bát-mô (KhKh 1:9). Theo truyền thoại về các Sứ đồ, thì việc nầy xảy ra trong cơn bắt bớ của Domitien, khoảng năm 95 S.C.. Năm sau (96 S.C.), là năm đầu đời trị vì của Nerva, Giăng được thả ra và được phép trở về thành Ê-phê-sô.
Sự dùng quá khứ ở đây ("đã ở trong đảo gọi là Bát-mô" -- 1:9) dường như tỏ ra rằng dầu ông được các sự hiện thấy tại đảo Bát-mô, nhưng sau khi được thả ra và trở về thành Ê-phê-sô, ông mới viết thành sách (khoảng năm 96 S.C.).
Những sách vở luận về sách Khải Huyền
Người nào nghiên cứu những án văn phong phú luận về sách Khải Huyền, thì sẽ chú ý tới điểm nầy: Một cách Hoàn Toàn Độc Đoán, nhiều người đã nêu lên ý kiến (họ không kể là ý kiến, song kể là lời quả quyết tuyệt đối) về nghĩa của cả những đoạn mầu nhiệm hơn hết, dường như họ hiểu biết hết cả, và lời tuyên bố của họ giải quyết được vấn đề. Chúng tôi tưởng rằng những ai muốn giải thích một sách như sách Khải Huyền nầy, thì tốt hơn nên có tinh thần khiêm cung và thành thực.
Những cách giải thích
Có nhiều cách giải thích sách Khải Huyền. Cách giải thích nào cũng mắc phải những sự khó khăn riêng. Bất cứ bản giải thích nào được thừa nhận, cũng còn những chi tiết cần phải gò bó đề được thích hợp với bản giải thích ấy.
Nói sơ qua, thì có bốn loại hoặc phái giải thích, loại hoặc phái nầy khác với loại hoặc phái kia nhiều lắm. Họ thường được gọi là "phái Quá khứ," "phái Lịch sử," "phái Tương lai" và phái Duy linh."
Phái giải thích "Quá khứ" cho rằng sách Khải Huyền liên quan đến thời kỳ trứ tác nó, tức là lúc Hội Thánh đấu tranh với đế quốc La-mã.
Phái giải thích "Lịch sử" nói là sách Khải Huyền cốt để dự ngôn tình hình tổng quát của cả thời kỳ Lịch sử Hội Thánh, từ thời Giăng cho tới khi tận thế. Đó là một cảnh trạng, một loạt bức tranh phác họa các giai đoạn kế tiếp nhau và các đặc điểm trong cuộc đấu tranh của Hội Thánh cho tới khi đắc thắng chung kết. Đó là "Sự hiện thấy về các thời đại" hoặc là "Các bức tranh diễn tả những thời kỳ và biến chuyển trọng đại của Hội Thánh."
Phái giải thích "Tương lai" cho rằng phần lớn sách Khải Huyền chú trọng vào lúc Chúa tái lâm và lúc tận thế.
Phái giải thích "Duy linh" hoàn toàn cho rằng các hình bóng trong sách Khải Huyền không chỉ về bất cứ biến cố nào trong lịch sử, -- hoặc các biến cố đương thời Giăng, hoặc các biến cố lúc tận thế, hoặc các biến cố giữa hai khoảng đó. Trái lại, họ cho đó là một cách dùng tranh và lời lẽ đầy nghĩa bóng để hình dung các nguyên tắc trọng đại trong nền cai trị của Đức Chúa Trời áp dụng cho mọi thời đại.
Cứ xét theo ý nghĩa hiển nhiên hơn hết của lời lẽ trong sách Khải Huyền, thì chúng tôi tưởng rằng cách giải thích giản dị, rõ ràng, tự nhiên, và hợp lý hơn hết chính là dung hòa phái "Lịch sử" với phái "Tương lai." Có sự hiện thấy mô tả những biến cố trọng đại và đặc điểm của lịch sử Hội Thánh; có sự hiện thấy dự ngôn những biến chuyển trọng đại của ngày sau rốt; có sự hiện thấy có lẽ liên quan đến cả hai, -- cái thứ nhứt có lẽ làm hình bóng và dự ngôn về cái thứ hai.
Các hình bóng của sách Khải Huyền và dòng Lịch sử Hội Thánh tương đồng lạ lùng đến nỗi một trong những mục đích của sách nầy chắc là để dự ngôn Lịch sử Hội Thánh.
Lại nữa, trong sách Khải Huyền nầy có rất nhiều điều liên quan đến kỳ sau rốt, nên bất cứ bản giải thích nào cũng phải kể đến kỳ sau rốt.
Sách chia làm hai phần
KhKh 1-1:3:22 "Những việc nay hiện có" (1:19), tức là những việc xảy ra đương thời Giăng. Bảy bức thơ gởi cho Bảy Hội Thánh luận về tình hình đương lúc ấy. Theo một phương diện, đó là phần mở đầu cho phần chính của sách theo sau, tức là:
4:1-22:21: "Những việc sau sẽ đến" (1:1, 19; 4:1), gồm thời gian từ lúc ấy cho tới ngày sau rốt.
1:1-3 -- "Sự mặc thị " những điều sẽ xảy đến
Đó là tên sách nầy tự đặc cho nó: Một sự khải thị, hoặc lộ thiên cơ, hoặc cho biết những việc tương lai (1:1, 19; 4:1). Như vậy, ngay trong lời đầu tiên, sách Khải Huyền đã hiển nhiên có tánh cách dự ngôn. Nó viết ra cốt để bày tỏ tương lai, và phác họa dòng lịch sử cùng số phận của Hội Thánh.
Đây là một sách rất thực tế
Dầu là một sách rất mầu nhiệm, chứa nhiều điều chúng ta không hiểu, song nó cũng chứa nhiều điều mà chúng ta thật hiểu rõ.
Gắn vào các hình bóng mầu nhiệm của sách Khải Huyền, chúng ta thấy một vài lời cảnh cáo bổ ích hơn hết và một vài lời hứa quí báu hơn hết trong cả Kinh Thánh.
Chắc hẳn Giăng cũng không hiểu một vài điều ông đã thấy và viết. Chắc Đức Chúa Trời nhứt định rằng một vài sự hiện thấy chỉ được rõ nghĩa khi lịch sử vén màn trải qua các thời đại. Tuy nhiên, linh hồn của Giăng rung động, và ông vui mừng, hớn hở khôn xiết khi mải nghĩ về những cảnh trạng mình đã thấy.
Khi thì bày tỏ chân lý giản dị hơn hết, khi thì dùng những hình bóng thần bí hơn hết, sách Khải Huyền chứa sự lạc quan thuần túy cho con cái Đức Chúa Trời, nhiều lần quả quyết với chúng ta rằng ta được Ngài che chở, và bất cứ điều gì xảy ra, ta cũng có sự sống hạnh phước vô tận đang đợi chờ mình.
Khi thì trình bày cảnh tượng ở dưới đất, khi thì trình bày cảnh tượng ở trên trời, Khải Huyền cũng là sách nói về "cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời," thỉnh thoảng đối chiếu sự hỉ lạc của người được cứu chuộc với sự thống khổ của kẻ bị hư mất. Ôi! Trong thế hệ hờ hững và không kính thờ Đức Chúa Trời nầy, chúng ta cần được nhắc cho nhớ hai tình trạng khác nhau đó là dường nào!
Thái độ đối với sách Khải Huyền
Nhiều nhà văn, hoặc nhà Truyền đạo, hoặc người khác, sử dụng sách Khải Huyền hoặc những ý tưởng đặc biệt của họ về sách Khải Huyền một cách thái quá. Vì cớ đó, ít ra là một phần nào, lại có người hoàn toàn không đụng tới sách Khải Huyền. Cả hai thái độ nầy sai lạc. Không nên xao lãng sách Khải Huyền, và cũng không nên tôn nó quá cao hơn các quyển khác trong Kinh Thánh. Nhưng chắc rằng sách Khải Huyền đáng chiếm được một phần khả quan trong sự học hỏi và tôn sùng của tín đồ Đấng Christ; nó sẽ ban thưởng lớn lao cho tín đồ nào làm như vậy.
Bối cảnh của sách Khải Huyền
Những sự hiện thấy đã được ban cho và sách đã được viết ra trong ánh lửa đỏ thiêu các thánh tuận đạo. Hội Thánh đã được 66 tuổi, đã lớn lên phi thường, đã và đang trải qua những cơn bắt bớ khủng khiếp.
30 năm trước khi Giăng viết sách Khải Huyền, tín đồ đã bị bắt bớ lần đầu tiên, do tay Hoàng đế Néron (64-67 S.C.). Trong cơn bắt bớ nầy, vô số tín đồ đã bị đóng đinh vào thập tự giá, hoặc bị quăng cho thú dữ cắn xé, hoặc bị tẩm nhiên liệu vào áo xống mà thiêu cho đến chết, trong khi Néron cười ha hả trước tiếng kêu thương quằn quại của những người đờn ông, đờn bà đang bốc cháy. Trong cơn bắt bớ của Néron, Phao-lô và Phi-e-rơ đã bỏ mình vì Chúa.
Cuộc bắt bớ thứ hai do Hoàng đế Domitien (95-96 S.C.). Nó ngắn ngủi, nhưng ác liệt vô cùng. Trên 40 ngàn tín đồ đã bị tra khảo và giết chết. Trong cơn bắt bớ nầy, Giăng bị đày ra đảo Bát-mô (1:9). Khi Đức Chúa Trời ban những sự hiện thấy trong sách Khải Huyền, thì cơn bắt bớ nầy đang diễn ra.
Cơn bắt bớ thứ ba theo gần liền sau đó, và do tay Hoàng đế Trajan (năm 98 S.C.). Giăng đã sống sót trong hai cơn bắt bớ trước, và bây giờ sắp trải qua cơn bắt bớ thứ ba của đế quốc La-mã đang cố gắng tiêu trừ đạo Đấng Christ. Đó là những ngày tối tăm của Hội Thánh. Nhưng sẽ còn những ngày tối tăm hơn nữa.
Chẳng những có sự bắt bớ từ bên ngoài, song chính ở nội bộ, Hội Thánh cũng bắt đầu có những dấu hiệu hư hoại và bội đạo.
Rõ ràng lắm, Đức Chúa Trời ban những sự hiện thấy nầy để làm cho Hội Thánh vững vàng, ngõ hầu đối phó với những ngày khủng khiếp gần xảy đến.
"Phước cho kẻ đọc " (1:3)
Cùng kẻ nghe và giữ theo những lời trong sách nầy! Sách nầy mở đầu như vậy đó, và nó cũng kết thúc như vậy đó (22:7). Chính Đức Chúa Trời đã phán lời nầy. Lời hứa nầy dành cho sự đọc riêng một mình và sự nghe đọc trước hội chúng trong nhà thờ. Đương thời ấy, các sách phải chép bằng tay, rất hiếm và rất mắc tiền. Để hiểu biết Kinh Thánh, phần lớn người ta phải nhờ nghe đọc và nghe giảng dạy trong nhà thờ. Sự phát minh máy in ngày nay và sự phân phát Kinh Thánh chữ in cho rất nhiều người, thì chẳng làm tiêu mất nhu cầu và giá trị của sự thường xuyên bày giải Lời Đức Chúa Trời trong các cuộc nhóm họp ở nhà thờ.
Đức Chúa Trời định rằng Lời Ngài phải chiếm địa vị trọng yếu trong các cuộc nhóm họp ở nhà thờ khi ấy, ngày nay và luôn mãi. Kinh Thánh là phương tiện duy nhứt mà Đức Chúa Trời tuyển định để giữ cho Hội Thánh trung thành với sứ mạng của mình.
Nếu ngay từ ban đầu, các thủ lãnh Hội Thánh chú ý đến lời cảnh cáo nguyên thủy nầy, thì Hội Thánh có lẽ đã được cứu khỏi sự hư hoại khủng khiếp mà mình phải chuốc lấy trải qua các thời đại. Chúng tôi chẳng bao giờ hết ngạc nhiên vì giới lãnh đạo Hội Thánh ngày nay chỉ thừa nhận Lời Đức Chúa Trời một cách hữu danh vô thực trong các cuộc nhóm họp ở nhà thờ. Thật ra Lời Đức Chúa Trời đáng phải là chính trái tim của các cuộc nhóm họp ấy.
1:4-8 -- Lời chào thăm Bảy Hội Thánh
Tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi, và Lao-đi-xê.
Bảy đô thị nầy nối liền nhau bởi một đại lộ hình tam giác, và được nêu tên theo thứ tự địa dư, bắt đầu từ Ê-phê-sô, đi chừng 100 dặm về phía Bắc tới Bẹt-găm, rồi lại đi về phía Đông-nam tới Lao-đi-xê, cách Ê-phê-sô chừng 100 dặm về phía Đông.
"Xứ A-si" (câu 1:4) là một tỉnh La-mã ở miền Tây của Tiểu-Á-tế-á, và ngày nay thuộc lãnh thổ Thổ-nhĩ-kỳ. Ê-phê-sô là đô thị trọng yếu nhứt, còn Bẹt-găm là thủ đô chánh trị.
Có nhiều chi hội ở "xứ A-si". Những chi hội gọi là "Bảy Hội Thánh" đây chắc là mấy trung tâm trọng yếu trong các địa hạt liên hệ, là những đô thị then chốt cho chức vụ Mục sư của Giăng ở cả vùng nầy.
Chỉ thành Ê-phê-sô được nêu tên ở chỗ khác trong lịch sử Tân Ước. Thi-a-ti-rơ được nói đến là quê hương của Ly-đi (Cong Cv 16:14); Lao-đi-xê đã nhận một bức thơ của Phao-lô (CoCl 4:13-16), nhưng thơ nầy nay đã thất lạc. Còn 4 chi hội kia không được ghi nhắc ở chỗ nào khác trong Tân Ước, chắc là Hội nhánh do chức vụ của Phao-lô tại thành Ê-phê-sô.
Bản đồ số 59
Con số "Bảy"
Sách Khải Huyền được cấu tạo chung quanh một hệ thống số "bảy". Bảy bức thơ gởi cho Bảy Hội Thánh (đoạn 1-3) bảy cái ấn và bảy ống loa (đoạn KhKh 4:11) bảy bát (đoạn 15, 16) bảy chơn đèn (1:12, 20) bảy ngôi sao (1:16, 20) bảy vị thiên sứ (1:20) bảy vị thần (1:4) Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt (5:6) bảy ngọn đèn (4:5) bảy tiếng sấm (10:3-4) con rồng sắc đỏ có bảy đầu và bảy mũ triều thiên (12:1) con thú giống như con beo có bảy đầu (13:1) con thú sắc đỏ sậm có bảy đầu (17:3, 7) bảy hòn núi (17:9) bảy vua (17:10).
Suốt cả Kinh Thánh, con số "bảy" hoàn toàn dễ thấy. Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy. Chế độ Lê-vi của Cựu Ước được xây dựng trên một chu kỷ (cycle ) những con số "bảy."
Giê-ri-cô sụp đổ sau khi bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn, đi vòng quanh vách thành trong bảy ngày, và đến ngày thứ bảy, thì đi vòng quanh bảy lần. Na-a-man dầm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh.
Kinh Thánh bắt đầu với bảy ngày sáng tạo và chấm dứt với một sách gồm những số "bảy" liên quan đến số phận chung cuộc của muôn vật thọ tạo.
Số "bảy" được Đức Chúa Trời ưa thích lắm. Có bảy ngày trong một tuần lễ. Âm nhạc có bảy cung. Cái mống có bảy màu sắc.
Vì số "bảy" thường được dùng và theo cách dùng số "bảy," ta chắc rằng nó có một ý nghĩa cao hơn giá trị của nó như một con số. Về hình bóng, người ta cho rằng nó tượng trưng cho ý niệm về sự toàn vẹn, một đơn vị, sự đầu dẫy, toàn bộ.
Bảy "phước" của sách Khải Huyền
Trong sách nầy có bảy lần chép: "Phước cho...!" Chúng ta không biết con số nầy do định ý hay là do tình cờ.
"Phước cho kẻ đọc lời tiên tri nầy!"
"Phước cho những người chết, là người chết trong Chúa!" (14:13).
"Phước cho kẻ tỉnh thức" (chờ Chúa tái lâm)! (16:15).
"Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!" (19:9)
"Phước thay và thánh thay, những kẻ được dự phần về sự sống lại thứ nhứt!" (20:6).
"Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy!" (22:7).
Phước thay cho những kẻ giặt áo mình!" (22:14).
Ý nghĩa của những con số khác
Có những con số khác được dùng một cách khiến ta nghĩ rằng chính nó là một lời nói có ý nghĩa vượt quá giá trị của nó như một con số. Đây là một vài con số ấy:
3: Dấu hiệu đặc biệt của Đức Chúa Trời bằng con số.
4: Dấu hiệu đặc biệt của cõi thiên nhiên, của muôn loài thọ tạo bằng con số.
7:3 cộng với 4: Dấu hiệu đặc biệt chỉ về toàn bộ.
12:3 lần 4: Dấu hiệu đặc biệt của dân Đức Chúa Trời.
10: Dấu hiệu đặc biệt của quyền lực trần gian.
"Đấng hiện có, đã có và còn đến " (1:4)
Bổn tánh của Đức Chúa Trời còn đến đời đời: Đó là một trong những điểm mà sách nầy nhấn mạnh.
"Đấng hằng sống đời đời " (4:10).
"Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, trước đã có, nay hiện có, sau còn đến" (4:8).
"Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhứt và là sau chót, là đầu và là rốt" (21:6; 22:13).
"Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng hiện có, đã có và còn đến, là Đấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga" (1:8).
Ta là Đấng trước hết, và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, Ta đã chết, kìa nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ" (1:17, 18).
Trong một thế giới mà các đế quốc dấy lên và sụp đổ, mọi vật chết và qua đi, chúng ta được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời không có sự thay đổi, không có thời gian, và hằng có đời đời. Ngài hứa rằng bổn tánh Ngài có thể được truyền cho chúng ta; rằng cũng như Ngài và bởi ân điển Ngài, chúng ta không bị Tử thần làm hại, song có thể cứ sống mãi mãi. Ta sống đời đời, hưởng tuổi thanh niên bất diệt. Thực sự nầy cho đời ta có ý nghĩa quí báu biết bao! Các thánh đồ đương thời ấy phải tuận đạo đã được yên ủi biết bao!
"Đức Chúa Jêsus Christ. .. làm Chúa của các vua " (1:5)
Lời nầy chứng quyết rằng Ngài là Bá chủ không hạn chế của thế giới. Không phải dường là như vậy luôn luôn. Nhiều vua đã đố thách và còn cứ đố thách Đấng Christ một cách táo tợn, om sòm, vô liêm sỉ. Cả đến ngày nay, nhiều quỉ sứ của địa ngục còn đi dọc ngang trên mặt đất, cai trị loài người. Nhưng chắc chắn chúng sẽ bị đoán phạt.
Nước mà xưa kia Sa-tan cống hiến và Đấng Christ từ chối, thì Ngài vẫn chiếm được, nhưng theo phương pháp của Ngài, chớ không theo phương pháp của Sa-tan. Những người được cứu chuộc trong mọi thời đại, tức là các linh hồn ở Ba-ra-đi và các thánh nay còn sống, đang móng chờ ngày vui sướng ấy. Nó sẽ đến chắc chắn như buổi sáng vậy. Đấng Christ ngự trên ngôi, cả khi tình hình dường như tối tăm hơn hết. Chúng ta chớ bao giờ quên điều đó.
"Đã lấy Huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta " (1:16)
Chúng ta được cứu bởi Huyết Đấng Christ: đó lại là một điểm khác mà sách nầy nhấn mạnh.
"Ngài đã lấy Huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái... " (5:9).
"Chúng đã thắng nó (Sa-tan) bởi Huyết Chiên Con" (12:11).
"Đó là những kẻ... đã giặt và phiếu trắng áo mình trong Huyết Chiên Con" (7:14).
"Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi "Cây Sự Sống!" (22:14).
Có những nhà trí thức khô khan chống lại tư tưởng đó. Nhưng đó là một sự dạy dỗ liên tiếp của Kinh Thánh, được Tân Ước nhấn mạnh nhiều lần. Nó cảm động lòng chúng ta biết bao! Vì cớ nó, chúng ta sẽ kính mến và thờ lạy Ngài là dường nào trải qua các thời đại vô tận của cõi đời đời!
Ngài "đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng " (1:6)
Sách nầy đầy dẫy những lời ca tụng, ngợi khen Đức Chúa Trời.
"Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực" (4:11).
"Sự ngợi khen, vinh hiển, khôn ngoan, chúc tạ, tôn quí, quyền phép và sức mạnh đều thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con đời đời vô cùng!" (5:13; 7:10, 12).
"Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chơn thật!" (15:3).
"Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta... Ha-lê-lu-gia!... Ha-lê-lu-gia!... Ha-lê-lu-gia! Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài" (19:1-7).
Bốn con sanh vật, 24 trưởng lão, muôn triệu thiên sứ và vô vàn người được cứu chuộc từ mọi dân tộc, cất tiếng như đại dương gầm thét, làm cho Thiên đàng vang lừng khúc ca ngợi khen Đức Chúa Trời. Tại sao trong các nhà thờ chúng ta không có như vậy? Tại sao không để cho tín đồ HÁT thánh ca?
"Kìa, Ngài đến giữa những đám mây! " (1:7)
Sự tái lâm của Chúa cũng lại là một đề mục chánh yếu của sách nầy.
"Mọi mắt sẽ thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy" (1:7).
"Các ngươi khá bền giữ... cho tới chừng Ta đến" (2:25).
"Ta sẽ đến như kẻ trộm" (3:3).
"Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có" (3:11).
"Kìa, Ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức!" (16:15).
"Kìa, Ta đến mau chóng" (22:7).
"Nầy, Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với Ta" (22:12).
"Phải, Ta đến mau chóng" (22:20).
Sự tái lâm của Chúa là một trong những lời đầu tiên của sách nầy. Và là lời cuối cùng của sách nầy lời Giăng cầu xin Ngài "Hãy đến."
Đấng Christ sắp tái lâm. Sự tái lâm của Ngài là kết cuộc vĩ đại của lịch sử loài người. Ngài sẽ ngự đến trên đám mây, có quyền năng và vinh hiển. Cả thế giới sẽ thấy Ngài. Một ngày sầu thảm, kinh khiếp cho mọi người đã chối bỏ Ngài. Một ngày vui mừng khôn xiết cho những kẻ thuộc về Ngài.
Chính Đức Chúa Jêsus cũng đã phán những điều đó nhiều lần (Mat Mt 13:42, 50; 24:30, 51; 25:30; 26:64; LuLc 21:25-28). Sách Cong Cv 1:9, 11 chép rằng Đức Chúa Jêsus ngự lên trời trong một đám mây, và "cũng sẽ trở lại như cách... Ngài lên trời vậy."
Gần 2000 năm đã trôi qua, mà Ngài vẫn chưa tái lâm. Nhưng đối với bối cảnh của cõi đời đời, thì 1000 năm chỉ như một ngày. Một ngày kia, Ngài sẽ ngự đến thình lình. Đức Chúa Jêsus ngự đến lần thứ nhứt nhằm thì giờ chỉ định. Và Ngài sẽ tái lâm nhằm thì giờ đã định trong chương trình của Ngài.
"Thì giờ đã gần rồi" (KhKh 1:3). Sách Khải Huyền mở đầu như vậy đó. Và nó cũng kết thúc như vậy đó (22:10). Có thể gần hơn là chúng ta vẫn suy nghĩ.
1:9-20 -- Đấng CHRIST ở Giữa Hội Thánh
"Bát-mô" (1:9) là đảo mà Giăng bị đày tới trong cơn bắt bớ do tay Hoàng đế Domitien, và là nơi Giăng nhận được những sự hiện thấy nầy. Nó ở biển Égée, cách thành Ê-phê-sô chừng 60 dặm về phía Tây-nam, và cách thành A-thên chừng 150 dặm về phía Đông. Nó dài 10 dặm và rộng 6 dặm, có nhiều đá và không có cây cối.
"Ngày của Chúa" (1:10;), rõ ràng là "ngày thứ nhứt trong tuần lễ" (Cong Cv 20:7; ICo1Cr 16:2), là ngày các tín đồ nhóm họp để thờ phượng Chúa và kỷ niệm sự sống lại của Chúa. Ngày thứ bảy được giữ để kỷ niệm công cuộc sáng tạo thể nào, thì cũng một thể ấy, ngày thứ nhứt được biệt riêng để khiến trí óc loài người đời đời nhớ truyện tích Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết, nhớ ngày quan trọng hơn hết trong cả lịch sử, nhớ biến cố duy nhứt làm cho đời người có ý nghĩa.
"Được Đức Thánh Linh cảm hóa" (KhKh 1:10; 4:2; 17:3; 21:10); đây dường như có nghĩa là các quan năng của ông đã hoàn toàn bị Thánh Linh Đức Chúa Trời chiếm lấy.
"Hãy chép " (1:11)
Đó là lịnh của tiếng từ trời truyền xuống.
"Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách" (1:11).
"Hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy" (1:19).
Hãy viết cho... Ê-phê-sô." "Hãy viết cho... Si-mẹc-nơ." "Hãy viết cho... Bẹt-găm." "Hãy viết cho... Thi-a-ti-rơ" "Hãy viết cho ... Sạt-đe" "Hãy viết cho... Phi-la-đen-phi." "Hãy viết cho... Lao-đi-xê" (2:1, 8, 12, 18 13:1, 7, 14).
"Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết trong Chúa!" (14:13).
"Hãy chép: Phước thay cho những người được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!" (19:9).
Như vậy, đã nhiều lần được nhấn mạnh mẽ hết sức rằng chính Đức Chúa Trời truyền lịnh chép sách Khải Huyền nầy, và chính Ngài bảo cho Giăng biết đúng phải chép những gì.
Sự hiện thấy về Đấng Christ (1:13-18)
Cầm thiên sứ của các Hội Thánh trong tay Ngài.
Tóc Ngài trắng như tuyết. Mắt Ngài như ngọn lửa.
Mặt Ngài như mặt trời. Chơn Ngài như đồng đánh bóng.
Tiếng Ngài phán như tiếng nước lớn.
Miệng Ngài thò ra thanh gươm bén hai lưỡi.
Cứu Chúa nhu mì của các sách Tin Lành bây giờ hiện ra với Hội Thánh Ngài dưới hình trạng đó; và cùng với Hội Thánh, Ngài đã thắt lưng để giao tranh. Ngài là một Chiến sĩ, một Đấng Toàn thắng, đối địch với những quân thù chí tử và hùng mạnh. Hình trạng Ngài khuyến khích Hội Thánh hãy tin cậy tài lãnh đạo của Ngài. Đó cũng là một lời nghiệm khắc và nhiệt thành cảnh cáo Hội Thánh Ngài (đang có dấu hiệu hư hoại và bội đạo càng ngày càng hơn) rằng Ngài sẽ chẳng dung thứ sự phân tâm hoặc bất trung.
Các thiên sứ (1:20)
Các thiên sứ dự phần quan trọng trong sự trình diễn cảnh trạng của những sự hiện thấy và trong sự chép sách nầy.
Một thiên sứ đọc sách nầy cho Giăng chép (1:2; 22:16).
Trong số Bảy Hội Thánh, thì mỗi Hội Thánh có một thiên sứ (1:20; 2:1; v.v...).
Một thiên sứ chú ý đến quyển sách đóng ấn (5:2).
Muôn vàn thiên sứ hát khen ngợi Chiên Con (5:11).
Bốn thiên sứ được ban cho quyền phép để làm hại trái đất (7:1-4).
Một thiên sứ đóng ấn cho những người được chọn (7:1-4).
Các thiên sứ sắp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời (7:11).
Một thiên sứ được dùng trong sự đáp lại lời cầu nguyện của các thánh đồ (8:3-5).
Bảy thiên sứ thổi bảy ống loa (8:6, 7 v.v...).
Một thiên sứ của vực sâu làm vua của đạo quân châu chấu (9:11).
Bốn thiên sứ được cởi trói cùng 200 triệu lính mã kỵ ở bờ sông Ơ-phơ-rát (9:15, 16).
Một thiên sứ cầm quyền sách mở ra và báo cáo kỳ sau rốt (10:1, 2, 6).
Mi-chên cùng các thiên sứ trực thuộc giao chiến với con rồng và các thiên sứ của nó (12:7).
Một thiên sứ bay đi rao báo Tin Lành cho các nước (14:6).
Một thiên sứ khác bay đi rao báo sự suy sụp của Ba-by-lôn (14:8).
Một thiên sứ tuyên án phạt những kẻ theo Con Thú (14:9, 10).
Một thiên sứ rao báo mùa gặt của trái đất (14:15).
Một thiên sứ rao báo mùa hái nho của trái đất (14:18, 19).
Bảy thiên sứ cầm bảy tai vạ sau cùng (15:1). Một thiên sứ rao báo sự đoán phạt Ba-by-lôn (17:1, 5).
Một thiên sứ lại rao báo sự suy sụp của Ba-by-lôn (18:2).
Một thiên sứ dự phần đánh cho Ba-by-lôn một đòn chí tử (18:21).
Một thiên sứ cầm đầu sự hủy diệt Ba-by-lôn (19:17).
Một thiên sứ xiềng xích Sa-tan lại (20:1, 2).
Một thiên sứ chỉ cho Giăng thấy thành Giê-ru-sa-lem mới (21:9).
12 thiên sứ gác 12 cổng thành Giê-ru-sa-lem mới (21:19).
Một thiên sứ cấm Giăng thờ lạy mình (22:9).
Như vậy, trong sách Khải Huyền nầy, có 27 lần nói đến sự hoạt động của các thiên sứ. Trong nguyên văn, chữ "thiên sứ" nghĩa là "sứ giả." Theo như Kinh Thánh đã dùng, thì chữ nầy phần nhiều ứng dụng cho các thân vị siêu nhiên của thế giới vô hình, dùng làm sứ giả hầu việc Đức Chúa Trời hoặc quỉ Sa-tan.
Các thiên sứ xuất hiện rất nhiều trong cuộc đời Đức Chúa Jêsus. Suốt cả Kinh Thánh có nói nhiều về các thiên sứ.
Một số người cho rằng "thiên sứ" của các Hội Thánh (2:1, v.v...) là những sứ giả do các Hội Thánh gởi tới thăm Sứ đồ Giăng ở đảo Bát-mô, hoặc là Mục sư của các Hội Thánh ấy, hoặc là thiên sứ bảo vệ các Hội Thánh ấy, hoặc là đại diện thiên thượng của các Hội Thánh ấy.
Do sự dắt dẫn của Đức Chúa Trời, trong bảy bức thơ nầy, Giăng diễn tả Thiên đàng nhận xét giá trị của các Hội Thánh trên mặt đất thể nào.
2:1-3:22-- Thơ gởi cho bảy Hội Thánh
Mỗi thơ gồm cả sách Khải Huyền, và có một sứ điệp ngắn ngủi đặc biệt cho mỗi Hội Thánh. Chúng tôi đoán rằng sách Khải Huyền đã chép thành bảy bản, và gởi tới mỗi thành một bản. Như vậy, mỗi Hội Thánh chẳng những có thể đọc biết Chúa đánh giá chính mình, song còn có thể đọc biết Chúa đánh giá các Hội Thánh khác nữa. Cả đến ngày nay, các chi hội cũng có thể nhờ những bức thơ nầy mà tự đánh giá mình.
Tánh chất của các Hội Thánh
Hai Hội Thánh rất tốt: Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi.
Hai Hội Thánh rất xấu: Sạt-đe và Lao-đi-xê.
Ba Hội Thánh vừa tốt, vừa xấu: Ê-phê-sô, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ.
Hai Hội Thánh tốt, là Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi, gồm những người thuộc giai cấp thấp thỏi và đang chịu bắt bớ.
Hai Hội Thánh xấu, là Sạt-đe và Lao-đi-xê, gồm những người thuộc giai cấp cầm quyền; họ có tiếng là tín đồ Đấng Christ, nhưng sống như người ngoại đạo.
Hội Thánh Ê-phê-sô dạy đạo chánh thống, nhưng đã mất lòng kính mến ban đầu.
Hội Thánh Bẹt-găm theo tà giáo, nhưng vẫn trung thành với Danh Đấng Christ.
Hội Thánh Thi-a-ti-rơ theo tà giáo, dung thứ Giê-sa-bên, nhưng có thêm lòng sốt sắng.
Tà giáo
Nó liên quan đến tội "tà dâm" và tội "ăn thịt cúng thần tượng" (2:20). Dâm dục thật là một phần trong sự thờ lạy thần tượng, và được nhìn nhận là thích hợp với những buổi lễ ngoại đạo. Bọn tăng nữ của tà thần Đi-anh và của những tà thần giống như vậy đều là kỵ nữ.
Đó là một vấn đề rắc rối cho Hội Thánh dân ngoại từ lúc ban đầu. Bức thông điệp của các Sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem gởi cho Hội Thánh dân ngoại gần 50 năm trước (Công vụ các sứ đồ, đoạn 15), dầu có tánh chất khoan hồng, song cũng dứt khoát nhấn mạnh rằng tín đồ phải tránh xa những hành động phóng túng liên quan đến sự thờ lạy thần tượng.
Trong thời gian ấy, vô số người ngoại đạo đã trở thành môn đồ Đấng Christ và đã đem một số ý niệm cũ của mình vào trong đạo mới.
Sự quyến rũ theo nhục dục trong cuộc thờ lạy nữ thần Đi-anh đã đánh mạnh vào bổn tánh loài người; những kẻ quen với sự quyến rũ ấy chẳng dễ từ bỏ nó đâu. Lẽ tự nhiên, họ tìm đủ cách để dung hòa những thói tục ngoại đạo đó với đạo Đấng Christ. Nhiều kẻ tự nhận là giáo sư đạo Đấng Christ, tự coi là được Đức Chúa Trời soi dẫn, song lại binh vực quyền tự do dự phần những thói tục hủ hoại của đạo thờ thần tượng.
Tại Ê-phê-sô, toàn thể các Mục sư Cơ-đốc-giáo loại trừ bọn giáo sư đó. Nhưng tại Bẹt-găm và Thi-a-ti-rơ, dầu chúng tôi chẳng nghĩ rằng phần đông Mục sư giảng dạy như vậy, song họ dung thứ bọn giảng dạy như vậy trong hàng ngũ của mình.
Bảy thơ nầy rập theo một mẫu:
Mở đầu: "Nầy là lời phán của Đấng..." và "Ta biết công việc ngươi..."
Kết thúc: "Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh..." và "Kẻ nào thắng..."
"Nầy là lời phán của Đấng. .."
Tỏ ra một phương diện của bổn tánh Ngài có liên quan đến mỗi Hội Thánh.
Với Hội Thánh Ê-phê-sô lớn lao và mạnh mẽ, song đã mất lòng sốt sắng:
"Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu..."
Với Hội Thánh Si-miệc-nơ nghèo nàn, đang chịu đau đớn và bắt bớ:
"Nầy là lời phán của Đấng chết rồi mà đã sống lại..."
Với Hội Thánh Bẹt-găm đang dung thứ bọn giáo sư dạy sự hủ hoại:
"Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi..."
Với Hội Thánh Thi-a-ti-rơ đang thêm lòng sốt sắng, nhưng dung thứ Giê-sa-bên:
"Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa..."
Với Hội Thánh Sạt-đe có tiếng là sống, mà thật là chết:
"Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời..."
Với Hội Thánh Phi-la-đen-phi không có tên tuổi trong đô thị, nhưng trung tín:
"Nầy là lời phán của Đấng... mở thì không ai đóng được..."
Với Hội Thánh Lao-đi-xê đang hâm hẩm:
"Nầy là lời phán của Đấng làm chứng thành tín, chơn thật..."
"Ta biết công việc ngươi "
Với Hội Thánh Ê-phê-sô: "Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi."
Với Hội Thánh Si-miệc-nơ: "Ta biết sự khốn khó, nghèo khổ của ngươi."
Với Hội Thánh Bẹt-găm: "Ta biết nơi ngươi ở, đó là ngôi của quỉ Sa-tan."
Với Hội Thánh Thi-a-ti-rơ: "Ta biết công việc ngươi, lòng yêu thương ngươi, đức tin ngươi,... lòng nhịn nhục ngươi."
Với Hội Thánh Sạt-đe: "Ta biết công việc ngươi ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết."
Với Hội Thánh Phi-la-đen-phi: "Ta biết công việc ngươi... ngươi... đã giữ đạo Ta."
Với Hội Thánh Lao-đi-xê: "Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh, cũng không nóng."
"Kẻ nào thắng. .."
Tại Ê-phê-sô: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ăn trái cây sự sống."
Tại Si-miệc-nơ: "Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai."
Tại Bẹt-găm: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ ban cho ma-na đương giấu kín."
Tại Thi-a-ti-rơ: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ ban cho kẻ ấy ngôi sao mai."
Tại Sạt-đe: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống."
Tại Phi-la-đen-phi: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho làm trụ trong Đền Đức Chúa Trời Ta."
Tại Lao-đi-xê: "Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngôi Ta."
"Ai có tai, hãy nghe "
Bức thơ nào cũng kết thúc như vậy, dường như Chúa cảnh cáo các Hội Thánh rằng họ thận trọng về lời Ngài phán với mình đó, thì tốt hơn.
Đoạn 2: 1-7 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Ê-phê-sô
Ê-phê-sô, mẫu hội của các chi hội xứ A-si, dân số 225.000 người, là thủ đô và trung tâm thương mại của xứ A-si. Miễu thờ nữ thần Đi-anh tại đó là một trong bảy kỳ quan của thế giới.
Tại đó, 40 năm trước, Phao-lô đã làm việc được thành công hơn hết (54-57 S.C.); có vô số người trở lại tin theo Đấng Christ đến nỗi sau thời gian rất ngắn, Hội Thánh đã trở nên một ảnh hưởng mạnh nhứt trong đô thị, và một Hội Thánh có danh tiếng nhứt trên thế giới.
Người ta nói rằng sau khi Phao-lô qua đời, thì Ti-mô-thê để hầu hết thì giờ ở tại Ê-phê-sô, và tuận đạo tại đó trong cơn bắt bớ của Domitien, tức là cơn bắt bớ đã khiến cho Sứ đồ Giăng bị đày ra đảo Bát-mô.
Lúc cao tuổi, Sứ đồ Giăng ở tại Ê-phê-sô. Nếu ông không tích cực hành chức Mục sư, thì vì cớ tuổi tác và rốt lại, vì là Sứ đồ của Đấng Christ còn sống sót, chắc ông cũng có ảnh hưởng lớn nhứt trong vòng các Mục sư. Theo một phương diện, Ê-phê-sô là chính Hội Thánh của Giăng. Tại đó, ông đã viết năm quyển sách cho Tân Ước: sách Tin Lành, ba thơ tín và sách Khải Huyền.
Có ba thơ tín của Phao-lô liên quan đến công việc Chúa tại Ê-phê-sô: thơ Ê-phê-sô, các thơ I và II Ti-mô-thê. Và người ta cho rằng hai thơ tín của Phi-e-rơ và thơ tín của Giu-đe có lẽ đã được lưu hành trước nhứt tại vùng nầy.
Ê-phê-sô ở vào khoảng giữa đường từ Giê-ru-sa-lem đến La-mã, và gần là trung tâm địa dư của đế quốc La-mã. Lúc sanh tiền của Giăng, nó đã trở thành gần như trung tâm địa dư và nhân số của tín đồ Đấng Christ trên thế giới.
Khoảng 10 năm sau khi Giăng qua đời, Hoàng đế Trajan sai Pline tới miền A-si để điều tra xem có nên bắt bớ tín đồ Đấng Christ chăng? Pline gởi phúc trình cho Trajan rằng tín đồ Đấng Christ đông đúc quá, đến nỗi các miễu thờ tà thần gần như bỏ hoang.
Trong nhiều đô thị của miền nầy, các chi hội Tin Lành rất đông đúc, gồm nhiều phần tử có thế lực, và Ê-phê-sô là chi hội trọng yếu nhứt.
Từ Lễ Ngũ Tuần, là sanh nhật của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, tới nay đã được 66 năm. Khắp mọi nơi, Hội Thánh đã phát triển hết sức lớn mạnh. Song các dấu hiệu bại hoại đã bắt đầu lộ ra. Chúng tôi cho rằng đó là một trong các lý do đòi hỏi có sách Khải Huyền.
"Hội Thánh Ê-phê-sô " (2:1)
Hội Thánh nầy có từ trước thời người ta quen xây cất nhà thờ. Họ phải nhóm họp ở tiền đàng, nhà riêng hoặc bất cứ nơi nào có thể nhóm họp. Họ không có một đại giáo đường trung ương, song có nhiều, có lẽ hàng trăm hội chúng nhỏ, mỗi hội chúng có Mục sư riêng lãnh đạo. Tuy nhiên, thơ nầy gởi cho "Hội Thánh Ê-phê-sô." (Nên dịch là: "Hội Thánh tại Ê-phê-sô.") Như vậy, có nhiều hội chúng, song chỉ có một Hội Thánh.
"Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu " (2:1)
Đó là biểu hiệu về quyền phép của Ngài. Có lẽ cốt để gợi ý cảnh cáo rằng Hội Thánh đã quá kiêu hãnh vì uy tín của mình, đã khoe khoang về những cái chẳng ích lợi bao nhiêu cho sứ mạng chân chánh của mình.
Những Sứ đồ giả (2:2)
Rõ ràng lắm, đây là những kẻ tự nhận đã quen biết Đấng Christ và được Ngài ban cho quyền dạy dỗ; họ cố gắng dung hòa sự phóng túng hủ hoại của đạo thờ thần tượng với đạo thuần túy của Đấng Christ.
Người ta cho rằng "đảng Ni-cô-la" (2:6) là một phái binh vực rằng sự hoang dâm là một cách sống thích hợp.
Các giáo sư giả nầy đã gây nhiều rắc rối, khó khăn trong Hội Thánh. Dường như toàn thể các Mục sư tại Ê-phê-sô kiên nhẫn và vững vàng chống lại sự dạy dỗ của chúng; vì cớ đó, Chúa khen ngợi họ (2:2, 3).
"Đã bỏ lòng kính mến ban đầu " (2:4, 5)
Đó là tội lỗi của họ. Lòng sốt sắng của họ đối với Đấng Christ đã nguội đi. Họ không còn kính mến Ngài như trước nữa. Họ đã hóa ra lãnh đạm, phân tâm; chưa hâm hẩm như Hội Thánh Lao-đi-xê (3:16), nhưng đang tiến theo hướng đó. Tình trạng nầy làm đau lòng Đấng Christ. Vì cớ đó, họ bị quở trách thấm thía, và Ngài cảnh cáo họ hãy ăn năn (2:5) bằng không, "chơn đèn của họ sẽ bị cất khỏi chỗ nó." Và thật đã có như vậy, vì vị trí thành Ê-phê-sô ngày nay hoang vu.
"Cây sự sống " (2:7)
Chúa hứa ban "trái cây sự sống" cho những ai thắng được sức quyến rũ của tà giáo và sự tự nhiên cám dỗ theo phóng túng xác thịt và khoái lạc trần tục.
Dầu Hội Thánh Ê-phê-sô đã tiêu mất, song lời hứa ban trái cây sự sống vẫn còn hiệu lực cho những cá nhân đắc thắng, bất cứ họ thuộc về Hội Thánh nào.
Khảo cổ học và thành Ê-phê-sô
Thành Ê-phê-sô đã được đào bới bởi J.T. Wood (1869-1873), bởi nhân viên Anh quốc Bảo tàng viện (1904-1905), và bởi một phái đoàn Áo quốc (1894-1930).
Họ đã phám phá được di tích miễu thờ nữ thần Đi-anh, cùng di tích của rạp hát, nơi đám dân làm loạn đã hội họp (Cong Cv 19:29).
Họ cũng tìm thấy di tích một nhà tắm La-mã, xây toàn bằng cẩm thạch, có nhiều phòng: phòng hơi nước, phòng lạnh, phòng để nằm ngả nghiêng; đó là bằng cớ tỏ ra sự xa hoa, mỹ lệ của đô thị nầy.
Họ cũng tìm thấy một miễu thờ trong có tượng của Hoàng đế Domitien, người đã tự xưng là "Đức Chúa Trời," đã đày Giăng ra đảo Bát-mô, và đã bắt bớ tín đồ Đấng Christ đang khi những sự hiện thấy của sách Khải Huyền nầy được ban cho Giăng.
KhKh 2:8-11 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Si-miệc-nơ
Đây là Hội Thánh đang chịu đau đớn. Không có lời quở trách nào, toàn là lời yên ủi từ ái.
Si-miệc-nơ cách Ê-phê-sô chừng 50 dặm về phía Bắc, là một đô thị mỹ lệ khác thường, xây dựng trên một vũng biển đẹp đẽ. Nó là địch thủ ngang hàng với Ê-phê- sô, và lại hãnh diện vì theo truyền thoại, nó là nơi sanh trưởng của Homère.
Đương thời ấy, vị Giám mục tại Si-miệc-nơ, là ông Polycarpe yêu quí. Irénée, người đã trò chuyện với Polycarpe, nói rằng Sứ đồ Giăng đã cử Polycarpe làm Giám mục tại Si-miệc-nơ. Hội Thánh nầy gồm những người nghèo, không có số đông hoặc uy tín như Hội Thánh Ê-phê-sô. Họ "nghèo khổ" nhưng lại "giàu có," trái với Hội Thánh Lao-đi-xê, tuy "giàu có" nhưng lại "nghèo ngặt" (3:17).
"Đấng chết rồi mà đã sống lại" (Nên dịch là: "Mà nay đang sống.") (2:8)
Đối với những người đang tuận đạo, lời trên đây nhắc họ nhớ rằng Ngài đã chịu điều họ sắp phải chịu, và cũng như Ngài, chẳng bao lâu họ sẽ Sống Đời Đời Vô Cùng.
"Hoạn nạn trong mười ngày " (2:10)
Đây có lẽ chỉ về một cơn bắt bớ ngắn ngủi. Hoặc có lẽ chỉ về cơn bắt bớ của Trajan sắp bắt đầu, trong đó Ignace tuận đạo; có lẽ cơn bắt bớ nầy đã làm hại Hội Thánh Si-miệc-nơ rất nặng nề. Hoặc "mười ngày" có lẽ chỉ bóng về mười cơn bắt bớ do các Hoàng đế La-mã.
"Mũ triều thiên của sự sống " (2:10)
Trong thơ gởi cho Hội Thánh Ê-phê-sô, Chúa hứa ban cho "trái cây sự sống" (2:7). Trong thơ gởi cho Hội Thánh Sạt-đe, Chúa hứa giữ tên trong "Sách Sự Sống" (3:5). Trong thơ gởi cho Hội Thánh Si-miệc-nơ đây, Chúa hứa cho "mũ triều thiên của sự sống" và cho "chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai" (2:11; 21:8).
Dầu những lời hứa nầy ban cho các cá nhân đắc thắng, song Si-miệc-nơ, với tư cách một thành, đã được Chúa ban cho một mũ triều thiên: Nó tồn tại trải qua mọi thế kỷ, và hiện nay là đô thị lớn nhứt miền Tiểu-Á-tế-á, 200.000 dân, và tên mới là Izmir.
2:12-17 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Bẹt-găm
Đây là một Hội Thánh trung thành với Danh Đấng Christ, thậm chí chịu tuận đạo (2:13), nhưng dung chịu bọn giáo sư giả, có lẽ cùng một loại với bọn giáo sư giả ở thành Ê-phê-sô. Tuy nhiên, toàn thể các Mục sư ở Ê-phê-sô đứng vững chống bọn giáo sư giả, còn các Mục sư ở Bẹt-găm dầu chẳng theo tà giáo, song lại dung chịu bọn dạy tà giáo trong hàng ngũ của mình. Tà giáo ấy là tín đồ Đấng Christ có quyền phóng túng theo hành vi hủ hoại của người ngoại đạo .
Đối với một Hội Thánh dường ấy, dầu Chúa khen ngợi họ vì trung thành với Danh Ngài, song Ngài cũng tự giới thiệu cùng họ là "Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi." Tốt hơn là hãy coi chừng. Hội Thánh của Chúa dung chịu sự phóng túng tội lỗi, thì Chúa sẽ chẳng đẹp lòng đâu.
Thành Bẹt-găm.
Cách Si-miệc-nơ chừng 50 dặm về phía Bắc; là thủ đô chánh trị của" xứ A-si;" một trung tâm văn nghệ; một trung tâm chánh yếu của nền văn hóa Hy-lạp; nổi tiếng vì có thư viện 200.000 cuốn sách, chỉ kém thư viện của thành A-léc-xan-đơ-ri. Giấy da chiên (Parchemin tốt hơn giấy chỉ thảo (papyrus ) của Ai-cập bội phần, đã được chế tạo ở Bẹt-găm. Khi một vua Ai-cập ganh tị vì Bẹt-găm nổi tiếng về phương diện văn nghệ, và cấm chở giấy chỉ thảo tới Bẹt-găm, thì dân thành này bèn chế tạo được một thứ giấy riêng, đặt tên cho nó dựa theo tên thành Bẹt-găm (Trong tiếng Hy-lạp, chữ "giấy da chiên" viết và đọc gần như chữ "Bẹt-găm".) Thành Bẹt-găm nay vẫn, tồn tại 13.000 dân, và tên mới là Bergah.
"Ngôi của quỷ Sa-tan " (2:13)
Bẹt-găm là một trung tâm thờ lạy hoàng đế La-mã, tại đó họ dâng hương trước tượng hoàng đế ấy cũng như dâng cho Đức Chúa Trời vậy. Tín đồ Đấng Christ thường phải chết vì không chịu làm điều đó. Cũng có một bàn thờ đồ sộ cho thần Jupiter, và một miễu hữu danh thờ Esculape, thần y-khoa mà họ thờ dưới hình thức con rắn, là một tên của Sa-tan. Ngoài ra, Bẹt-găm còn là thành trì của các giáo sư thuộc thành Ba-la-am và phái Ni-cô-la. Như vậy, nó gọi là"ngôi của quỷ Sa-tan" vì là trung tâm đạo thờ thần tượng và tội ác.
Lại nữa, Sa-tan sắp bắt bớ tín đồ ở Si-miệc-nơ (2:10), nhưng đã khởi sự bắt bớ họ tại Bẹt-găm (2:13), vì An-ti-ba phải tuận-đạo rồi.
"Đạo Ba-la-am " (2:14)
Trong sách Dan Ds 25:1-18, có chép thể nào dân Y-sơ-ra-ên đã thông dâm với đám phụ nữ Ma-đi-an, và ở 31:16 có chép rằng họ làm như vậy vì theo lời Ba-la-am xui giục. Cho nên tại Bẹt-găm, bọn theo tục lệ ngoại đạo đã len lỏi vào hàng ngũ tín đồ Đấng Christ và đã xui giục họ dự phần hoang dâm trong sự thờ lạy thần tượng, đều được đặt cho biệt hiệu Ba-la-am. Rõ ràng lắm, có rất nhiều người theo chúng.
" Ma-na đương giấu kín " (KhKh 2:17)
Những kẻ nào thắng sự cám dỗ buông theo khoái lạc tội lỗi, thì Chúa hứa ban cho họ " Ma-na đương giấu kín," " hòn sỏi trắng " và " một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến." " ma-na đương dấu kín " có lẽ là trái cây sự sống (22:2) "tên mới" có thể chỉ về một hình thức sanh tồn làm cho ta thỏa mãn hơn mọi sự ta từng nếm biết, hoặc từng mơ tưởng trong đời này (xem trang 856). "Trắng" (xem trang 855).
2:18-29 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Thi-a-ti-rơ
Đây là Hội Thánh thỏa hiệp. Họ có một vài điểm tốt. Họ nổi tiếng vì có "lòng yêu thương, đức tin, sự hầu việc trung tín và lòng nhịn nhục." Họ đang thêm lòng sốt sắng," và công việc sau rốt... còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa"(2:19). -- Thật khác hẳn Hội Thánh Ê-phê-sô "đã bỏ lòng kính mến ban đầu" (2:4).
Song cũng như Hội Thánh Bẹt-găm, họ dung thứ bọn giáo sư giả; và tệ hại hơn nữa, họ để cho Giê-sa-bên tồn tại với mình.
Giê-sa-bên là ai? (2:20-24)
Thi-a-ti-rơ nổi tiếng vì có miễu tráng lệ thờ Artémis, một tên khác của nữ thần Đi-anh. Người ta cho rằng Giê-sa-bên có thể là một bậc phụ nữ cao sang sùng kính Đi-anh, có tài làm thủ lãnh, được nhiều người quyền thế trong thành theo mình; dầu được hấp dẫn theo chánh nghĩa ngày càng phát triển của đạo Đấng Christ và liên kết với Hội Thánh, nhưng bà nầy vẫn hăng hái nhấn mạnh rằng mình có quyền dạy bảo và thực hành sự phóng túng theo nhục dục, lại tự nhận là được sự soi dẫn để dạy bảo như vậy.
Bà gọi là "Giê-sa-bên" vì cũng như Giê-sa-bên, vợ quỉ quái của A-háp đã đem mọi sự gớm ghiếc trong cuộc thờ lạy tà thần Át-tạt-tê vào nước Y-sơ-ra-ên (I Các Vua, đoạn 16), bà đem các hành vi xấu xa như vậy vào trong Hội Thánh Đấng Christ. Và giới thủ lãnh Hội Thánh vẫn dung chịu bà.
Không phải hết thảy Mục sư ở Thi-a-ti-rơ đã nhìn nhận sự dạy bảo của bà. Nhưng họ muốn có tinh thần tự do và nghĩ rằng bà có thể dự phần dắt đem cả thành về tin nhận Danh Đấng Christ, nên đã đón tiếp bà vào trong Hội Thánh và nhìn nhận bà là bạn đồng liêu.
Chúa lấy đó làm phiền lòng lắm. Trong một lời quở trách thấm thía, Ngài tự giới thiệu với họ là "Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chơn như đồng sáng" (2:18). Tình trạng một Hội Thánh như vậy chẳng phải là chuyện chơi đâu!
"Điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan " (2:24)
Đây là lần thứ ba chép đến Sa-tan trong bảy thơ nầy. Tại Si-miệc-nơ, nó xô tín đồ vào khám tù (2:9, 10). Tại Bẹt-găm, là "ngôi" của quỉ Sa-tan, nó đang bắt bớ Hội Thánh, và dùng giáo sư giả làm cho Hội Thánh bại hoại (2:13, 14). Tại Thi-a-ti-rơ đây, sự dạy dỗ của Giê-sa-bên được kể là "điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan" (2:24). Lại nữa, nó được ghi chép là kẻ thù của Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi (3:9).
"Ngôi sao mai " (2:28)
Chúa hứa ban Ngôi Sao Mai cho những "kẻ nào thắng." Chính Đức Chúa Jêsus là Ngôi Sao Mai (22:16). Một lời tiên tri thượng cổ về Đấng Mê-si xưng Ngài là "Một Ngôi Sao" (Dan Ds 24:17). Bởi trung tín chớ không phải bởi thỏa hiệp, Hội Thánh sẽ đạt tới bậc lãnh đạo chân chánh và chung hưởng vinh quang đời trị vì của Đấng Christ.
KhKh 3:1-6 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Sạt-đe
Đây là Hội Thánh "chết," chỉ "có tiếng là sống." Nhưng "có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình" (3:4). Chúa ngụ ý phán rằng trừ "có mấy người," còn Hội Thánh nầy sắp bị xóa khỏi sổ sách trên Thiên đàng (3:5).
Với một Hội Thánh dường ấy, Đấng Christ tự giới thiệu là Đấng có quyền năng để xóa họ khỏi sổ Thiên đàng, vì Ngài "có bảy vì thần" (3:1). Nhằm thế kỷ thứ 6 T.C., dưới đời trị vì của Croésus, Sạt-đe là một đô thị giàu có và hùng mạnh bậc nhứt thế giới. Đương thời đế quốc La-mã, nó vẫn còn là một đô thị hữu danh. Việc thành nầy trở lại cùng Đấng Christ, dầu phần lớn chỉ là bề ngoài, cũng đã có ảnh hưởng sâu xa đến cả vùng ấy.
"Bảy vì thần " (3:1)
"Bảy vì thần" cùng chung chào thăm các Hội Thánh (1:4).
Chính Đấng Christ đọc bảy bức thơ cho Giăng chép (1:19).
Nhưng mỗi bức thơ lại là lời phán của Đức Thánh Linh (Trong nguyên văn, các chữ "Thần" và Thánh Linh" là một) (2:7 v.v...).
"Bảy vì thần " ở trước ngôi (4:5).
Bảy mắt của Chiên Con là bảy vì thần (5:6).
Bảy vì thần dường như chỉ về hành động đầy đủ (số 7) của Đức Thánh Linh, là Thần của Đấng Christ, Thần của Đức Chúa Trời, -- Ngài là Thần duy nhứt có quyền phép đầy trọn. Bảy vì thần chỉ về hình thức Đấng Christ hành động trong Hội Thánh Ngài và với Hội Thánh Ngài, trong thời kỳ ở giữa sự hiện đến thứ nhứt và sự hiện đến thứ hai của Ngài.
"Những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng Ta " (3:4)
Trong sự hiện thấy, "đầu và tóc" của Đức Chúa Jêsus "trắng" như tuyết (1:14).
Kẻ nào thắng sẽ được mặc áo "trắng" (3:5).
Các công dân của Thiên đàng sẽ được mặc áo "trắng" (3:18).
24 vị trưởng lão mặc áo "trắng" (4:4).
Các thánh tử đạo mặc áo dài "trắng" (6:11).
Muôn vàn người được cứu chuộc mặc áo dài "trắng" (7:9).
Áo được phiếu "trắng" trong Huyết Chiên Con (7:14).
Chúa sẽ cưỡi ngựa "bạch" mà ngự đến (19:11).
Đạo binh của Ngài bận áo "trắng" và cỡi ngựa "bạch" (19:14).
Mọi sự nầy có thể là chỉ một cách nói bóng. Nó có thể gợi ý về tánh chất thân thể vinh hiển của chúng ta. Đức Chúa Trời ở trong sự sáng không ai đến gần được (ITi1Tm 6:16). Khi Đức Chúa Jêsus Hóa hình, thì áo xống Ngài cũng trắng (Mac Mc 9:3).
"Sách Sự Sống "
"Ta sẽ không xóa tên ngươi khỏi sách sự sống" (KhKh 3:5).
Những kẻ theo con thú đều không có tên trong sách sự sống (13:8; 17:8).
Những kẻ nào không có tên trong sách sự sống đều bị quăng xuống hồ lửa (20:12, 15).
Chỉ những kẻ nào được ghi tên trong sách sự sống mới được ở Thiên đàng (21:27).
Đa-ni-ên (DaDn 12:1) và Ma-la-chi (MaMl 3:16) có nói đến các sổ ghi chép ở Thiên đàng.
KhKh 3:7-13 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Phi-la-đen-phi
Đây là một Hội Thánh thấp thỏi nhưng trung tín. Không có làm bộ hoặc mong ước cai trị cả thành. Họ thỏa lòng vì treo gương sống như Đức Chúa Jêsus giữa một xã hội ngoại đạo hư hoại. Họ yêu mến Lời Đức Chúa Trời và quyết định vâng giữ Lời ấy. Họ được Chúa hết lòng thương mến, và không bị Ngài quở trách một lời nào.
"Ta đã mở. .. một cái cửa không ai đóng được " (3:8)
Đức Chúa Trời đã cảnh cáo các chi hội Ê-phê-sô và Sạt-đe chớ có khoe khoang địa vị quyền thế của mình. Đây, Ngài khuyên chi hội Phi-la-đen-phi chớ có ngã lòng vì mình chẳng có địa vị gì trong thành ấy; bởi chưng trong công việc của Đức Chúa Trời, Ngài chẳng nhờ cậy uy tín trần gian đâu.
"Giữ ngươi khỏi giờ thử thách " (3:10)
Chúa bảo chi hội Si-miệc-nơ rằng họ sẽ phải chịu bắt bớ (2:10). Đây, với chi hội Phi-la-đen-phi, Chúa hứa gìn giữ họ khỏi sự đau đớn (3:10). Cả hai chi hội nầy trung tín với Chúa. Đức Chúa Trời chẳng đối xử với mọi người cùng một cách, song Ngài đối xử với mỗi người theo cách Ngài biết là tốt nhứt, vượt quá trí hiểu của chúng ta, cho đến khi ta tới Thiên đàng.
"Danh mới " (3:12)
"Tên mới" (2:17) mà "ngoài kẻ nhận lấy, không ai biết đến" dường như chỉ về những sự vui mừng mầu nhiệm sẽ thực hiện trên Thiên đàng. Đây, kẻ nào thắng sẽ được mang Danh mới của Cứu Chúa (3:12). Đó là một dấu hiệu về quyền sở hữu, về quyền công dân. Cũng một thể ấy, những kẻ theo Con thú phải mang dấu của chủ họ (13:16, 17). Mỗi người chúng ta thuộc về Chúa hay là về Con thú.
Phi-la-đen-phi, vẫn còn là một đô thị thạnh vượng, có chừng 15.000 dân, trong số đó, nhiều người tin theo Đấng Christ.
3:14-22 -- Thơ gởi cho Hội Thánh Lao-đi-xê
Đây là chi hội hâm hẩm. Lao-đi-xê là một trung tâm ngân hàng, kiêu hãnh vì mình giàu có. Thành nầy mỹ lệ vì có những miễu thờ và rạp hát nguy nga. Nó nổi tiếng vì chế tạo thứ áo quí giá bằng lông chiên đen bóng láng và vì có trường y khoa chế một thứ thuốc bột chữa mắt. Có lẽ do đó mà thơ nầy đã dùng những chữ "giàu có," "áo" và "thuốc xức mắt" (3:17, 18).
"Nhả ngươi ra khỏi miệng Ta " (3:16)
Đây là một lời khá mạnh mẽ tỏ sự bất mãn và bất bình. Do lời nầy, ta nghĩ rằng Đấng Christ thích sự chống đối tỏ tường hơn sự hâm hẩm. Lao-đi-xê thật đã bị nhả ra khỏi miệng Chúa. Ngày nay nó là một vị trí hoang vu.
"Ta đứng ngoài cửa mà gõ " (3:20)
Một bức tranh kỳ lạ. Một Hội Thánh của Đấng Christ mà chính Đấng Christ lại Đ­NG NGOÀI xin cho vào. Một phần nào, đó là thực trạng của nhiều Hội Thánh ngày nay: Họ nhơn Danh Đấng Christ mà hoạt động, nhưng rõ ràng lắm, chỉ cốt để các vị lãnh đạo được lợi lộc và vẻ vang, còn Đấng Christ thì ít được ai biết đến.
"Ngồi với Ta trên ngôi Ta " (3:21)
Ấy là chung hưởng với Đấng Christ sự vinh hiển của Nước Ngài. Thơ nào cũng nhắc rằng ơn phước chung kết chỉ dành cho những kẻ Thắng; điều nầy dường như ngụ ý rằng nhiều người bắt đầu đi đường Đấng Christ, song đã ngã dọc đường bởi cách nầy hoặc cách khác.
Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi, hai thành có Hội Thánh tốt, ngày nay còn là những đô thị phồn thạnh, Sạt-đe và Lao-đi-xê, hai thành có Hội Thánh xấu, thì ngày nay là những vị trí hoang vu, chẳng có người ở.
Ý nghĩa hình bóng của Bảy Hội Thánh
Có lẽ Bảy Hội Thánh nầy đã được lựa chọn để đại diện cho một số nhiều Hội Thánh của thế hệ ấy. Có lẽ theo nhiều trình độ, Bảy Hội Thánh nầy làm hình bóng về các Hội Thánh của mọi thế hệ, ở các giai đoạn chân lý và bội đạo khác nhau, phàm nhân hóa vì các cổ phong trần tục theo nhiều bậc khác nhau; mỗi Hội Thánh phần lớn là tác phẩm của các vị thủ lãnh, có những tỷ lệ thủ lãnh trung tín và thánh đồ trung tín khác nhau. Đáng thương thay, nhiều chi hội pha trộn Hội Thánh với thế gian, chân lý với tà giáo.
Có người cho rằng Bảy Hội Thánh, theo thứ tự trình bày sau trước và theo thứ tự vị trí chung quanh khu tam giác địa lý, đại diện cho bảy thời đại kế tiếp nhau của Lịch sử Hội Thánh. Có lẽ là như vậy, song chính sách Khải Huyền chẳng có chỗ nào nói như vậy. Chúng tôi tưởng tốt nhứt là đừng nên quá độc đoán về một lời giải thích thể ấy.
Nói sơ lược, các thời kỳ trọng đại của Lịch sử Hội Thánh thường được tóm tắt như sau nầy:
Hội Thánh bị bắt bớ: Ba thế kỷ đầu tiên
Hội Thánh của đế quốc: Thế kỷ thứ 4 và thứ 5.
Hội Thánh của Thủ lãnh kia: Thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 16.
Hội Thánh Cải chánh: Thế kỷ thứ 16 cho tới ngày nay.
Chúng tôi không dám nói Bảy Hội Thánh nầy có thể là khuôn mẫu dự ngôn về tình trạng trên đây cho tới mực nào. Tuy nhiên, xem xét tất cả Lịch sử Hội Thánh từ lúc khởi đầu cho tới ngày nay, thì hình thức mà đạo Đấng Christ có tổ chức được trình bày hiển nhiên hơn hết cho thế giới, trong hầu hết thời gian đạo Ngài có ở thế giới nầy, chính là CHẾ Độ THỦ LÃNH kia. Tất cả sự tệ hại, gian ác trong Bảy Hội Thánh hợp lại hầu như cũng chưa đủ để làm hình bóng về những sự khủng khiếp và gớm ghiếc do chế độ Thủ lãnh kia đã biến đổi và lạm dụng đạo Đấng Christ.
4:1-11-- Sự hiện thấy về Ngôi của Đức Chúa Trời
Đây bắt đầu phần dự ngôn của sách Khải Huyền.
"Những việc nay hiện có" (1:19) đã được mô tả trong bảy bức thơ gởi cho Bảy Hội Thánh, luận về tình hình Hội Thánh đương thời ấy.
"Điều sau nầy phải xảy đến" (4:1) là đề mục từ đây trở đi, có liên quan đến lịch sử và số phận của Hội Thánh.
Có người cho rằng Hội Thánh được biến hóa ở chỗ nầy. Có lẽ như vậy. Song trong sách Khải Huyền không chỗ nào nói như vậy. Đó chỉ là một ý kiến, và phải được nêu lên như một ý kiến, chớ không như một sự dạy dỗ minh bạch của Kinh Thánh.
Ngôi của Đức Chúa Trời (4:2, 3)
Khi giở bức màn tương lai lên, thì điều thứ nhứt là sự hiện thấy về Đức Chúa Trời, cốt để quả quyết với Hội Thánh rằng dầu một vài sự khải thị có thể làm cho ngã lòng chừng nào, nhưng Đức Chúa Trời Vẫn Còn Ngự Trên Ngôi.
Không mô tả hình trạng của Đức Chúa Trời, trừ ra có nói rằng Ngài "rực rỡ như bích ngọc và mã não, có cái móng dáng như lục bửu thạch bao chung quanh." Người ta cho rằng bích ngọc là một loại kim cương; mã não màu hồng, còn lục bửu thạch màu xanh lá cây. Như vậy, Đức Chúa Trời tự tỏ mình cho con mắt phàm trần thấy Ngài là Đấng có vầng hào quang trong trắng bao quanh, phủ thêm màu đỏ và xanh lá cây. Xem thêm màu "Trắng" ở trang 855.
Hai mươi bốn trưởng lão (4:4, 5)
Ngồi trên 24 chiếc ngôi chung quanh Ngôi Đức Chúa Trời, mặc áo trắng, và đầu đội mũ triều thiên bằng vàng. Có người cho rằng họ đại diện cho Hội Thánh đã được vinh hiển, tức là sự hiệp một của 12 chi phái Cựu Ước với 12 Sứ đồ Tân Ước, và là biểu hiện của dân Đức Chúa Trời.
Hoặc họ có thể đại diện cho một giai cấp đặc biệt gồm những bậc trí thức thiên thượng, các vị tôn trưởng của Thiên đàng, hay là nhiều giai cấp thiên sứ. Hãy chú ý, con số 24 xuất hiện ở cái cốt của Ngôi Đức Chúa Trời, cũng như ở cái cốt của thành Giê-ru-sa-lem mới.
"Những chớp nhoáng... cùng sấm" (câu 5): Sự oai nghi và quyền phép của Đức Chúa Trời.
"Bảy ngọn đèn sáng rực" (câu 5): Công việc toàn vẹn của Đức Thánh Linh.
"Biển trong ngần giống thủy tinh" (câu 6): Đức Chúa Trời bình tĩnh cai trị.
Bốn con sanh vật (4:6-11)
Đây là những thân vị thiên thượng. Có bản dịch là "con thú" thì sai, vì theo nguyên văn, chữ dùng ở đây dùng khác hẳn với chữ dịch là "Con Thú" ở đoạn 13:1, tức là con quái vật gớm ghiếc hiện ra rất nhiều ở phần cuối sách Khải Huyền. Người ta cho rằng đây là các chê-ru-bin, có nói đến ở SaSt 3:24 và Exe Ed 1:10; 10:14. Đây, các chê-ru-bin nhập đoàn ca hát ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài đã cứu chuộc loài người.
KhKh 5:1-14 -- Quyển Sách được đóng ấn
Đoạn 4 có sự hiện thấy về Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Trong đoạn nầy có sự hiện thấy về Đấng Christ là Đấng Cứu chuộc. Quyển Sách được đóng ấn chứa những sự bí mật của tương lai. Chính Đấng Christ đã mở Sách nầy.
Bảy ống loa phát xuất từ ấn thứ bảy. Bảy ấn và bảy ống loa (2 lần 7) hợp thành cái cốt của sách Khải Huyền (đoạn 6 đến đoạn 11). Lúc tiếng loa thứ bảy nổi lên, thì các nước thế gian trở thành Nước của Đấng Christ (11:15).
Rồi theo văn pháp thông thường của Kinh Thánh, tác giả quay trở lại và bắt đầu chép những chi tiết bổ sung hoặc giải thích .
Chiên con có "bảy sừng, bảy mắt, bảy vì thần của Đức Chúa Trời" (5:6), thì nghĩa là Ngài có sức mạnh toàn thắng, trí thức đầy trọn và tất cả quyền năng. Ngài biết tương lai và có thể kiểm soát nó.
Chiên con
Trong sự hiện thấy dành cho bảy Hội Thánh, Đấng Christ hiện ra như một Chiến sĩ. Đây ngài được gọi là "Sư tử" (5:6). Nhưng khi Giăng thấy Sư tử, thì lại là "Chiên Con" (5:6). "Sư tử" chỉ về quyền năng , còn "Chiên Con" chỉ về sự hy sinh (hoặc tế lễ). Bí quyết quyền năng của Đấng Christ chính là sự thương khó của Ngài.
"Chiên Con" là danh hiệu mà sách Khải huyền ưa dùng để chỉ về Đấng Christ.
"Chiên Con" cầm lấy Quyển Sách đóng ấn và mở ra (5:6, 7; 6:1).
Các sanh vật và các trưởng lão thờ lạy "Chiên Con" (5:8, 14)
Muôn triệu thiên sứ thờ lạy "Chiên Con" (5:11-13).
Ngày lớn của cơn thạnh nộ "Chiên Con" đã đến (6:16, 17).
Muôn vàn người thuộc về mọi nước thờ lạy "Chiên Con" (7:9, 10).
Áo họ được giặt trong Huyết "Chiên Con" (7:14).
"Chiên Con" dẫn họ đến những suối nước sống (7:17).
Họ thắng Sa tan bởi Huyết "Chiên Con" (12:11).
144.000 người đi theo hầu "Chiên Con" (14:1, 4).
Họ hát bài ca của Môi-se và "Chiên Con" (15:3).
"Chiên Con" là Chúa của các chúa, Vua của các vua (17:14).
Đã tới lúc "Chiên Con" thành hôn với Tân phụ Ngài (19:7, 9; 21:9).
12 nền của Thành là 12 Sứ đồ của "Chiên Con" (21:14).
"Chiên Con" là Đền thờ và ánh sáng của Thành (21:22, 23).
Chỉ những ai có tên trong Sách Sự Sống của "Chiên Con" mới được vào trong Thành (21:27).
Nước sự sống từ ngôi của "Chiên Con" tràn ra (22:1, 3).
Như vậy, trong cảnh trạng giao tranh giữa nước thế gian và Nước của Đức Chúa Trời, từ đoạn 6:1 đến 11:15, chính Chiên Con chịu thương khó của Đức Chúa Trời là Đấng thắng trận. Chiên Con Của Đức Chúa Trời dâng mình làm Tế lễ (đã được lễ Vượt qua của dân Do-thái làm hình bóng cho trong 1400 năm và được lễ Tiệc Thánh kỷ niệm gần 2000 năm nay), thì chính Ngài là Trung tâm của thế giới được cứu chuộc do Ngài sẽ tạo nên.
Bài hát ngợi khen (5:8-14)
4:8-11 có bài ca khen Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Đây, hai bài ca đầu dành cho Chiên Con, (câu 9, 12), còn bài thứ hai dành cho Đấng Tạo Hóa và Chiên Con (câu 13).
"Bài ca mới" (câu 9) tức bài ca Cứu chuộc, là mới đối với bài ca Sáng tạo.
Đây là một quang cảnh vĩ đại tuyệt vời. 4 con sanh vật, 24 trưởng lão, muôn triệu thiên sứ và cả vũ trụ được dựng nên hợp lại mà hớn hở cảm tạ Chúa vì ơn cứu chuộc loài người.
Trên Thiên đàng, ai nấy ca hát. Trong các cuộc nhóm họp thường xuyên, Hội Thánh chúng ta quá xao lãng phần ca hát, thì thật là tệ hại.
"Những lời cầu nguyện của các thánh" ở đây (5:8) và ở đoạn 8:4 đều được cân lường bởi Đấng Trọng tài khi Ngài ghi dòng lịch sử. Điều nầy chiếu sáng vào sự cầu nguyện là dường nào!
6:1, 2 -- Ấn thứ nhứt
Con ngựa bạch: Người cưỡi ngựa là một Vua chiến thắng
Điều nầy có thể làm hình bóng về Đấng Christ ra đi chinh phục thế giới. Gần cuối sách (19:11), một con ngựa bạch khác hiện ra, và Người cỡi nó được tuyên bố rõ ràng là Đấng Christ. Có lẽ cả hai là cùng một Đấng: Trước hết, Ngài bắt đầu chinh phục, rồi Ngài hoàn thành cuộc chinh phục.
Hoặc người cưỡi ngựa có thể làm hình bóng không phải về Đấng Christ, nhưng về cường quốc bá chủ thế giới tại đó, Ngài đã khởi làm công việc. Lời tuyên bố ở sau bảy cái ấn và bảy ống loa: "Nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài" (11:15) có thể ngụ ý rằng "Nước của thế gian" đã cầm quyền cai trị lúc Chúa bắt đầu công việc.
Hoặc người cưỡi ngựa nầy có thể làm hình bóng về khởi đầu cuộc trị vì của Antichrist ở kỳ sau rốt. Hoặc có lẽ làm hình bóng về cường quốc bao gồm thế giới tại đó Đấng Christ đã khởi làm công việc, và cả cường quốc bao gồm thế giới lúc sau rốt tại đó Ngài sẽ hoàn thành công việc. Cường quốc nầy lại làm kiểu mẫu cho cường quốc kia.
Nếu người cưỡi ngựa nầy chỉ về cường quốc bao gồm thế giới tại đó Đấng Christ đã bắt đầu làm công việc, thì thật là bức tranh mô tả cường quốc ấy rất đúng. Đế quốc La-mã, chánh quyền hùng mạnh nhứt từng có trên thế giới xưa nay, đã cai trị hầu hết thế giới mà người ta được biết lúc đó; và đương thời ấy, nó vừa mới bước vào hoàng kim thời đại. Sử gia Gibbon gọi đời trị vì của 5 hoàng đế Nerva, Trajan, Hadrien, Antonin le Pieux (Tin kính) và Marc-Aurèle (96 S.C. đến 180 S.C.) là "thời kỳ sung sướng nhứt và thạnh vượng nhứt trong cả lịch sử loài người."
6:3-4 -- Ấn thứ hai
Con ngựa hồng: Nội chiến
Nếu con ngựa bạch của ấn thứ nhứt chỉ về Đấng Christ, thì con ngựa hồng của ấn thứ hai, con ngựa ô của ấn thứ ba và con ngựa vàng vàng của ấn thứ tư có thể chỉ về những khổ nạn giáng trên loài người vì cớ họ chối bỏ Đấng Christ.
Nếu cái ấn thứ nhứt chỉ về Antichrist, thì ba ấn nầy chắc chỉ về những cuộc chiến tranh khủng khiếp của nó.
Nếu cái ấn thứ nhứt chỉ về đế quốc La-mã ở hoàng kim thời đại của nó, thì ba ấn nầy (chiến tranh, đói kém và sự chết) chắc chỉ về những thời đại theo sau của đế quốc ấy. Lại nữa, bức tranh nầy thật ăn khớp với lịch sử: Từ năm 200 S.C. đến năm 300 S.C., trên 50 người đòi lên ngôi hoàng đế La-mã. Thay vì có những vua hùng mạnh ngồi trên ngôi, họ đã đánh nhau cho biết ai sẽ làm hoàng đế. Vì cớ 100 năm nội chiến và những khổ nạn luôn luôn theo sau những cuộc hiến tranh kéo dài, -- tức là đói kém, dịch lệ và chết chóc, -- nên trong thế kỷ nầy, đế quốc La-mã đã mất hơn một nửa dân số và bắt đầu đi đường hủy diệt.
Bản đồ số 60 -- Đế quốc La-mã
6:5, 6 -- Ấn thứ ba
Con ngựa ô: Đói kém, kết quả do chiến tranh
"Cái cân": Thực phẩm sẽ hiếm, phải cân mà bán.
"Một đơ-ni-ê": Thời ấy, một đơ-ni-ê là tiền công một ngày theo mức thường.
"Một đấu" lúa mì chừng 1 lít. Khi ấy, bình thường một đơ-ni-ê có thể mua được từ 15 đến 20 đấu.
"Dầu và rượu chớ động đến." (Hoặc dịch là: "Chớ làm cho thiệt hại.") Lời nầy dường như chỉ tỏ một tình trạng xa xỉ phẩm dư dật, còn những vật cần thiết thì bán theo giá lúc đói kém. Có thể có nghĩa rằng những kẻ cầm quyền được dư dật, còn thường dân thì chịu thiếu thốn. Đây là kết quả do các cuộc chiến tranh kéo dài của ấn thứ hai.
6:7, 8 -- Ấn thứ tư
Con ngựa vàng vàng: Kết quả do chiến tranh và đói kém
"Một góc tư thế gian" bị "sát hại." Trong một thế kỷ nội chiến (200 S.C. đến 300 S.C.), đế quốc La-mã có nói đến ở ấn thứ hai, bị thiệt rất nhiều dân số; sau đó lại thêm lắm "loài thú dữ" (6:8) giết hại người ta.
6:9-11 -- Ấn thứ năm
Sự hiện thấy về linh hồn các thánh tử đạo
Đây dường như làm hình bóng về sự bắt bớ Hội Thánh. Đã có bao nhiêu ngàn người tuận đạo trong các cơn bắt bớ do tay Néron và Domitien. Còn vô số người khác phải tuận đạo nữa. Từ Néron (64 S.C.) tới Dioclétien (305 S.C.), Hội Thánh chịu mười cơn bắt bớ do các hoàng đế La-mã. Sự hiện thấy nầy cũng có thể ngụ ý tiên tri về các cơn bắt bớ do Thủ lãnh kia ở thời Trung cổ, và có lẽ về những cơn bắt bớ trong kỳ đại nạn của ngày sau rốt.
6:12-17 -- Ấn thứ sáu
Ngày thạnh nộ đã đến
Trong các nước thế giới có cách mạng, chánh biến, biến động và thất kinh. Mặt trời tối tăm. Các ngôi sao sa xuống. Các từng trời bị cuống lại. Núi non và hải đảo bị dời đi. Các vua và các dân khủng khiếp.
Về một vài phương diện, tình trạng nầy giống như đoạn mô tả trận Ha-ma-ghê-đôn (16:12-21). Có lẽ tình trạng nầy khởi thủy ngụ ý đến trận ấy.
Đức Chúa Jêsus cũng đã dùng lời lẽ giống như vậy khi luận về thì giờ Ngài tái lâm (Mat Mt 24:29, 30; LuLc 21:26).
Ê-sai cũng đã dùng lời lẽ giống như vậy khi dự ngôn sự suy vong của Ba-by-lôn (EsIs 13:10); và Ê-xê-chi-ên nữa, khi dự ngôn về sự suy vong của Ai-cập (Exe Ed 32:7). Lời lẽ giống như vậy cũng xuất hiện ở EsIs 34:4, Gio Ge 2:30-31, Cong Cv 2:20, và dường như chỉ về lúc Đức Chúa Trời phán xét các nước, hoặc ngày phán xét sau cùng.
Cái ấn nầy cũng có thể là một dự ngôn về các chánh biến trong đế quốc La-mã nhằm thế kỷ thứ tư. Đế quốc ấy thôi bắt bớ Hội Thánh. Hoàng đế Constantin trở nên tín đồ Đấng Christ năm 312 S.C., ban hành một sắc lịnh khoan dung tôn giáo (năm 313 S.C.), và lấy đạo Đấng Christ làm tôn giáo của triều đình. Năm 325 S.C., ông công bố bản khuyến cáo mọi người nên theo đạo Đấng Christ. Ông dời thủ đô qua Constantinople. Théodose (378-395 S.C.) lập đạo Đấng Christ làm tôn giáo của đế quốc, và người ta bắt buộc phải làm thuộc viên của Hội Thánh. Năm 395 S.C., đế quốc bị phân chia: Tây quốc đóng đô tại La-mã, và Đông quốc đóng đô tại Constantinople. Đó là khởi đầu suy vong của đế quốc hùng mạnh, bá chủ thế giới, trong 300 năm đã hết sức cố gắng tiêu diệt đạo Đấng Christ.
KhKh 7:1-8 -- 144.000 người
từ trong 12 chi phái được đóng ấn
Đoạn nầy xen vào giữa ấn thứ sáu và ấn thứ bảy và dường như là một phần của ấn thứ sáu, đối chiếu số phận hạnh phước của kẻ được lựa chọn với số phận khủng khiếp của thế giới (từ đó họ được gọi ra) mà những câu cuối cùng của đoạn 6 vừa mới mô tả
144.000 là bình phương (carré ) của số 12 nhơn với 1000, và người ta cho rằng nên hiểu nó chỉ về (không theo hiệu số, nhưng theo nghĩa tượng trưng) tổng số những người được lựa chọn của Y-sơ-ra-ên, về những trái đầu mùa của Tin Lành, hay là tổng số tín đồ Đấng Christ.
"Bốn hướng gió" (7:1-3) dường như là môi giới cho cơn thạnh nộ của Chiên Con mà đoạn 6:16 vừa mới nói đến. "Bốn hướng gió" giống như "bảy ống loa" sắp theo sau và đã được giữ lại tới khi đóng ấn xong cho những người được chọn.
Sự "đóng ấn... những tôi tớ Đức Chúa Trời" (7:3) dường như chỉ về công cuộc rao giảng Tin Lành tiếp tục tại đế quốc La-mã trước khi đế quốc ấy sụp đổ, hoặc trên khắp thế giới, trải qua cả dòng lịch sử, trước ngày sau rốt có cơn thạnh nộ của Chiên Con.
Bản đồ số 61 -- Phân chia đế quốc La-mã.
7:9-17 -- Đoàn người vô cùng đông đảo ở Thiên đàng
"144.000 người" ở câu 4 và "vô số người" ở câu 9 dường như là hai nhóm khác nhau. Một đằng là những người Y-sơ-ra-ên được lựa chọn, còn một đằng từ muôn dân đến. Đối với một nhóm, thì sân khấu ở trên mặt đất, còn đối với nhóm kia, thì sân khấu ở trên Thiên đàng. Một nhóm được đóng ấn cho thoát khỏi cơn đại nạn gần đến, còn đối với nhóm kia, thì cơn đại nạn đã qua rồi.
Tuy nhiên, cũng có thể là cùng một nhóm dưới những hình trạng khác nhau.
Một nhóm liên quan đến sự kêu gọi hoặc thời kỳ "đóng ấn" trên mặt đất, còn nhóm kia liên quan đến thời kỳ hạnh phước toàn thắng trên Thiên đàng. 144.000 người Y-sơ-ra-ên được lựa chọn trở thành kết quả đầy trọn, là muôn vàn người thuộc về mọi dân, mọi nước.
Đám đông được Huyết rửa sạch, rốt lại, được bình an vô sự trong Nhà Cha đang khi ngày thạnh nộ diễn ra trên mặt đất (6:16) đó là lời đáp lại tiếng kêu của những thánh tuận đạo (6:10). Họ mặc áo trắng dài, tay cầm nhành chà là, và ca hát. Họ không đói nữa. Nước mắt lau ráo hết. Họ ở Nước có những suối đời đời tràn ra nước sống.
8:1-6 -- Ấn thứ bảy
Bảy ống loa phát xuất từ ống thứ bảy. Người ta cho rằng hai lần bảy cốt để nhấn mạnh vào ý toàn thể. Như vậy, hai lần bảy (đoạn 6 đến đoạn 11) mô tả cuộc chiến đấu và sự đắc thắng đầy trọn, chung kết, đời đời của Đấng Christ trên các nước (Nguyên văn là số nhiều) của thế gian" (11:15).
"Các lời cầu nguyện của mọi thánh đồ" (8:3, 4). Lúc nầy Đức Chúa Trời sắp đáp lại tiếng kêu la của các thánh tử đạo ở đoạn 6:9-10. Sự đáp lại nầy tức là các cơn đoán phạt kinh khiếp của bảy ống loa. Sự trạng nầy dường như chỉ tỏ rằng lời cầu nguyện của loài người có ảnh hưởng đến Đức Chúa Trời khi Ngài cấu tạo dòng lịch sử.
"Yên lặng chừng nửa giờ" và "sấm sét, chớp nhoáng, động đất" (8:1, 5) có thể ngụ ý rằng những biến cố quan trọng sắp xảy ra.
8:7-13 -- Bốn ống loa đầu tiên
Tiếng vang của bốn ống loa nầy dường như báo hiệu phát ra "bốn hướng gió" của "cơn giận Chiên Con" đã bị cầm giữ đang khi đóng ấn cho những người được chọn.
Ống loa thứ nhứt: Mưa đá và lửa pha với huyết quăng xuống đất.
Ống loa thứ hai: Hòn núi lớn toàn bằng lửa bị ném xuống biển.
Ống loa thứ ba: Một ngôi sao lớn bùng cháy và rơi xuống sông ngòi.
Ống loa thứ tư: Mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao hóa ra tối tăm.
Trong mỗi trường hợp, "một phần ba" của đất, biển, sông và các tinh tú bị hại, dường như chỉ một phần bị hủy diệt thôi.
Bốn ống loa nầy có thể chỉ về các sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng trên đế quốc La-mã, hoặc trên thế giới trong kỳ sau rốt, hoặc trên cả hai.
Đế quốc La-mã suy vong
Nếu bốn ống loa nầy liên quan đến đế quốc La-mã, thì ở đây cũng như trong những sự hiện thấy trước, các cảnh tượng dường như là hình bóng dự ngôn rất đúng về lịch sử xác thực. Những biến cố song song với thực sự về đế quốc La-mã tan rã, mà chúng tôi trình bày ở trang sau, thật phù hợp với bốn ống loa nầy, đến nỗi ta chắc rằng những biến cố ấy đã gồm trong sự hiện thấy về bốn ống loa nầy.
Nhằm thế kỷ thứ 1 và thứ 2 S.C., đế quốc La-mã lên tới tuyệt điểm.
Nhằm thế kỷ thứ 3, nó bắt đầu nứt rạn vì cớ nội chiến.
Trong ba thế kỷ nầy, nó đã bắt bớ Hội Thánh.
Nhằm thế kỷ thứ 4, trong một cuộc chánh biến vĩ đại, đạo Đấng Christ đã được thừa nhận và trở nên quốc giáo của đế quốc La-mã.
Cũng nhằm thế kỷ thứ 4, đế quốc hùng mạnh nầy bị phân chia và trở thành: Đế quốc La-mã Đông phương và đế quốc La-mã Tây phương. Xem bản đồ ở trang 865.
Trải qua 800 năm, không hề có bàn chơn ngoại bang nào đặt trên đất Ý (La-mã). Nhưng đến thế kỷ thứ 5 S.C., các dân dã man từ phương Bắc bắt đầu kéo vào đông đúc.
"Mưa đá, lửa và huyết" của ống loa thứ nhứt thiêu mặt đất (8:7). Năm 409 S.C., người Goths (Gót) xông vào nước Ý một cách hung hăng, mọi rợ; tới đâu, chúng cũng thiêu đốt thành trì, làm cho đất đai cháy sém, nhuốm máu và hoang vu.
"Hòn núi lớn toàn bằng lửa" của ống loa thứ hai ném xuống biển (8:8, 9). Năm 422 S.C., người Vandales tràn qua xứ Gaule (Pháp) và Tây-ban-nha để vào Phi-châu. Chúng đóng một đội chiến thuyền, và trong 30 năm, giao chiến với hải quân La-mã. Trải qua 600 năm, hải quân La-mã đã làm bá chủ Địa-trung-hải, nhưng lúc nầy bị chiến thuyền của người Vandales đuổi khỏi mặt biển.
"Ngôi sao lớn... cháy có ngọn" của ống loa thứ ba rơi xuống các sông lớn (8:10-11). Năm 440 S.C., Attila, đại tướng Hung-nô từ trung bộ Á-châu xuất hiện trên bờ sông Danube với 800.000 chiến sĩ. Tiến về phía Tây, gặp các đạo quân La-mã, hắn đánh cho thảm bại và tàn sát khủng khiếp lần lượt trên các sông Marne, Rhône và Pô, đến nỗi các sông nầy thật đã biến thành huyết. Hắn chiếm được vô số chiến lợi phẩm, và trở về sông Danube. Khi hắn chết, thì bộ hạ ngăn dòng sông và chôn hắn trong lòng sông. Ngày nay, nước sông Danube còn chảy qua mộ phần hắn. Quả thật, hắn là một tai họa cho các sông ngòi.
"Mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao" trở nên tối tăm khi thổi ống loa thứ tư (8:12). Năm 476 S.C., một đoàn dân mọi rợ khác do Odeacer cầm đầu, từ miền sông Rhin kéo đến vây hãm và chiếm lấy kinh thành La-mã.
Có bốn tai vạ liên tiếp: Người Goths xâm lăng đất Ý năm 409 S.C.; người Vandalcs tiêu diệt hải quân La-mã năm 422-452 S.C.; Attila tàn sát khủng khiếp trên các sông ngòi Trung âu; và Odeacer chiếm lấy kinh thành La-mã. Trong những tai vạ khủng khiếp nầy, đế quốc La-mã hùng mạnh, sau hơn 500 năm cai trị thế giới, đã suy vong, ánh sáng văn minh La-mã tàn tắt, và các thời kỳ hắc ám của thế giới bắt đầu.
"Một phần ba" (8:7, 8, 10, 12). Đế quốc La-mã suy vong ở ba khu vực: Khu Tây, thủ đô là La-mã, thật là khu hùng mạnh nhứt của đế quốc La-mã nguyên thủy, suy vong năm 476 S.C.. Khu Á-phi của đế quốc bị quân Hồi giáo xâm lăng nhằm thế kỷ thứ 7. Còn đế quốc ở Đông-âu, tách khỏi La-mã năm 395 S.C., thủ đô là Constantinople, bị quân Hồi giáo chiếm năm 1453 S.C..
9:1-11 -- Ống loa thứ năm
Đạo quân quái vật như châu chấu
Đạo quân quái vật gớm ghiếc, trông giống cả châu chấu, ngựa, bò cạp, sư tử và người ta, từ vực sâu (Một bản tiếng Anh dịch là: "vực sâu không đáy") kéo ra (9:1, 2, 11), ở dưới quyền điều khiển của A-ba-đôn, hoặc A-bô-ly-ôn, tức là ma quỉ, hoặc một thiên sứ của nó. Điều nầy tỏ ra rằng những khổ nạn kế tiếp phát xuất từ địa ngục. Đã có chép rằng Sa tan bắt bớ dữ dội và làm bại hoại Hội Thánh tại Si-miệc-nơ, Bẹt-găm và Thi-a-ti-rơ (2:9, 10, 13, 14, 24) và nó được gọi là kẻ xui giục các hoàng đế La-mã bắt bớ Hội Thánh (12:13-16) Tiếng kêu: "Khốn thay, khốn thay, khốn thay" báo cho chúng ta biết việc nó sắp làm bởi tai vạ châu chấu nầy; tiếng kêu ấy ngụ ý rằng sẽ kinh khiếp lắm.
Nhiều nhà giải thích Kinh Thánh cho rằng những quỉ sứ giống như châu chấu nầy là bức tranh dự ngôn về sự dấy lên và lan tràn của Hồi giáo, hoặc kỳ đại nạn của những ngày sau rốt, hoặc cả hai.
Hồi giáo
Hai đòn nặng nhứt mà đạo Đấng Christ từng phải chịu lấy là Hồi giáo từ phía ngoài và sự chiếm quyền của Thủ lãnh kia từ phía trong.
Nhằm thế kỷ thứ 7 S.C., Hồi giáo tràn qua thế giới Đông phương như ngọn thủy triều, quét sạch đạo Đấng Christ khỏi vùng Tây nam Á châu và Bắc Phi châu, thung lũng sông Ơ-phơ-rát và sông Ni-lơ, bờ phía Đông và bờ phía Nam của Địa trung hải, gồm những xứ của lịch sử Kinh Thánh, những xứ tại đó Kinh Thánh phát nguyên và tấn triển, những xứ tại đó sự khải thị của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài cho loài người được nảy nở và hoàn thành, xứ tại đó Đức Chúa Trời đã tạo thành và huấn luyện dân Y-sơ-ra-ên trải qua 2000 năm để dọn đường cho Đấng Christ ngự đến, những xứ được biệt nên thánh đời đời vì là nơi Đấng Christ đã sống, chịu chết, sống lại và làm thành công ơn cứu chuộc loài người, những xứ làm nơi phát nguyên đạo Đấng Christ, theo đạo Đấng Christ trong 600 năm, và là thế giới Cơ đốc giáo nguyên thủy, -- ở những xứ đó, thanh gươm Hồi giáo đã chém một nhát ác liệt, Xóa Bỏ Đạo Đấng Christ và thành lập Hồi giáo. Từ Đó Tới Nay, những xứ ấy Cứ Theo Hồi Giáo.
600 năm theo đạo Đấng Christ. Rồi theo Hồi giáo 10 năm. Ngày nay trên thế giới tín đồ Hồi giáo đông hơn tín đồ Tin lành.
Tại Lamecque, xứ Ả-rập, Mahomet (570-632) tự xưng là tiên tri của Đức Chúa Trời, và cầm đầu đạo quân, ra đi truyền bá đạo mình bằng lưỡi gươm. Chẳng bao lâu, ông chiếm được cả xứ Ả-rập. Các đạo quân Hồi giáo dưới quyền bọn chỉ huy kế tiếp, tràn mau, đắc thắng và chinh phục đất đai. Xứ Sy-ri bị chiếm năm 634 S.C., thành Giê-ru-sa-lem (năm 637 S.C.), xứ Ai-cập (638 S.C.), nước Ba-tư (năm 640 S.C.), và miền Bắc-phi (năm 689 S.C.), đều bị chiếm cứ.
Như vậy, đạo Đấng Christ ở Á-châu và Phi-châu đã bị quét sạch, các đạo quân Hồi giáo bèn tiến tới Âu-châu. Nước Tây-ban-nha bị chiếm năm 711 S.C.. Chúng bèn tiến vào đất Pháp, nhưng năm 732 S.C., tại Tours, các đạo quân Hồi giáo bị Charles Martel, ông nội của Charlemagne, đánh bại. Đó là một trong những trận quyết liệt của các thời đại. Nếu Không Có Cuộc Thắng Trận Nầy, Thì Đạo Đấng Christ Có Lẽ Đã Bị Hoàn Toàn Tiêu Diệt Khỏi Mặt Đất.
Dưới đây là một vài điểm khiến ta nghĩ rằng ống loa thứ năm có thể chỉ về Hồi giáo.
"Những châu chấu" (9:3) Xứ Ả-rập vốn là một miền nhiều châu chấu. Chính tại đó mà Hồi giáo đã phát nguyên.
"Những châu chấu đó giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến trận: trên đầu nó có như mão triều thiên tợ hồ bằng vàng, và mặt nó như mặt người ta; nó có tóc giống tóc đờn bà, và răng nó như răng sư tử. Nó có giáp như giáp bằng sắt; và tiếng cánh nó như tiếng của nhiều xe có nhiều ngựa kéo chạy ra nơi chiến trường. Đuôi nó có nọc, như bò cạp" (9:7-10).
Quả thật, đây là lời mô tả các đạo quân Hồi giáo rất đúng, vì nó gồm những lính mã kỵ hung hăng, tàn ác, nổi tiếng vì bộ râu, tóc dài như tóc đờn bà, quấn khăn màu vàng trên đầu giống như vàng thật, và bận áo giáp sắt.
"Một luồng khói dưới vực bay lên" (9:2, 3). Châu chấu từ luồng khói đó bay ra. Khói đã làm tối tăm mặt trời và không khí. Điều nầy có lẽ chỉ về những tà giáo đã làm u ám và bại hoại Hội Thánh đương thời Mahomet vì sự thờ lạy hình tượng, thánh tích và các thánh. Sự thờ lạy hình tượng của Giáo hội đã hiến cơ hội tốt cho Mahomel. Khẩu hiệu của ông ta là hủy phá hình tượng.
"Chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào" (9:4). Quân Hồi giáo không phá hại cây, cỏ và mọi loài thực vật, vì Mahomet đã truyền lịnh như vậy; ấy vì đối với những kẻ ở vùng sa mạc Ả-rập hiu quạnh, không có cây cối, thì cây cối được coi là ơn phước quí báu hơn hết.
"Làm khổ những người đó trong năm tháng" (9:5): 5 tháng là khoảng sống bình thường của châu chấu (từ tháng 5 đến tháng 9), và gồm chừng 150 ngày. Theo cách giải thích một ngày là một năm (Exe Ed 4:6), thì 150 ngày là 150 năm. Đó là gần đúng thời gian (630 S.C. đến 786 S.C.) Hồi giáo tiếp tục cố gắng chinh phục hoàn cầu. Khi Haroun-Al-Raschid (786-809 S.C.) đưa quyền lực và vinh quang của Hồi giáo lên tới tuyệt điểm, thì họ bỏ ý tưởng chinh phục, và bắt đầu gây liên lạc hòa bình với các nước khác.
Bản đồ số 62 -- Thế giới Hồi giáo hiện tại.
KhKh 9:12-21 -- Ống loa thứ sáu
Đạo quân gồm 200 triệu lính mã kỵ ở bờ sông Ơ-phơ-rát
Một đạo quân khác gồm những quái vật gớm ghiếc, trông giống như người, ngựa, sư tử, rắn, phun lửa, khói và diêm sanh.
Đây có lẽ cũng là một bức tranh dự ngôn về Hồi giáo, và có thể đã được ứng nghiệm đúng tự nghĩa hơn những biến cố tương lai.
Người Ẩ-rập thống trị thế giới Hồi giáo trong 400 năm (630-1058 S.C.).
Rồi tới Người Thổ-nhĩ-kỳ: Họ cầm quyền kiểm soát hầu hết thời gian từ đó cho đến ngày nay. Một vài điểm của ống loa nầy dường như chỉ về Hồi giáo tại Thổ-Nhĩ- kỳ.
"Sông cái Ơ-phơ-rát" (9:14) từ đó đạo quân mã kỵ được thả ra. Năm 1057, một đạo quân Thổ-nhĩ-kỳ rất đông đúc từ Trung bộ Á-châu xuất hiện trên bờ sông Ơ-phơ-rát. Trong cuộc tiến qua Tây-phương, họ đã thay thế người Ả-rập để cai trị các xứ Hồi giáo.
Người Thổ-nhĩ-kỳ tàn ác và kỳ thị tôn giáo còn hơn người Ả-rập. Họ đối đãi tín đồ Đấng Christ ở xứ Pa-lét-tin rất dã man, nên đã gây ra các cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân (Croisades ) (1095-1272). Trong ngót 200 năm chiến tranh có khi gián đoạn nầy, các tín đồ Âu-châu cố gắng chiếm lại Đất Thánh nơi tay người Hồi giáo.
"Miệng nó (ngựa) có phun lửa, khói và diêm sanh" (9:17). Trải qua nhiều thế kỷ (630-1453), Đông đế quốc La-mã (395-1453), mà thủ đô là Constantinople, chính là thành trì của Châu-âu chống lại Hồi giáo. Nhưng năm 1453, Đông đế quốc bị Thổ- nhĩ-kỳ chiếm lấy.
Trọng pháo có dùng THUỐC SÚNG đã đem dùng lần đầu tiên tại trận Constantinople, năm 1453; do đó, người Thổ-nhĩ-kỳ đã thắng trận. Ấy tức là "lửa, khói, và diêm sanh" ở đoạn 9:17.
Rồi đạo Đấng Christ ở Âu-châu gặp một sự đe dọa khác. Quân Thổ-nhĩ-kỳ toàn thắng, tiến thẳng vào Trung-Âu, nhưng năm 1683, chúng bị bại trận tại Vienne, bởi tay của đạo quân Ba-lan, do Jean Sobieski điều khiển. Cũng như ở trận Tours năm 732, tại đây, một lần nữa, sau gần 1000 năm, Âu-châu lại được cứu khỏi quân Hồi giáo.
"Giờ, ngày, tháng, và năm" (9:15). Có thể nghĩa là nhằm một thì giờ nhất định, không sai. Hoặc theo cách giải thích một ngày bằng một năm (Exe Ed 4:6), thì 365 cộng với 30, cộng với 1, là 396 ngày, tức là 396 năm. Từ năm 1057, là lúc quân Thổ-nhĩ-kỳ vượt qua sông Ơ-phơ-rát, tới lúc kinh thành Constantinople bị chiếm cứ năm 1453, thì có đúng 396 năm.
"Một phần ba loài người bị giết" (KhKh 9:18). Câu nầy có thể chỉ về sự suy vong của Đông đế quốc La-mã (năm 1453 S.C.), là "phần ba" còn sót lại của đế quốc La-mã nguyên thủy, bởi tay quân Thổ-nhĩ-kỳ.
"Những người sót lại... vẫn không ăn năn" sự "thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng," và "những tội giết người, tà thuật, gian dâm" (9:20, 21). Giáo hội kia, dưới quyền Thủ lãnh, vẫn cứ thờ lạy thần tượng, cứ giết rất nhiều thánh đồ, và cứ làm nhiều điều hủ hoại.
Antichrist (Kẻ địch lại Đấng Christ)
Sách Khải Huyền chẳng có một chỗ nào dùng danh từ "Antichrist. " Thật là lạ lùng, vì danh từ nầy lại dùng rất nhiều trong các sách luận về sách Khải Huyền. Danh từ nầy có dùng ở IGi1Ga 2:18, 22; 4:3; IIGi 2Ga 1:7. Những câu nầy nói rằng đã có nhiều kẻ địch lại Đấng Christ.
Dầu một vài nhà giải luận Kinh Thánh quá chú trọng đến Antichrist và đặt nó vào nhiều câu vốn không định nói đến nó, song thật có nhiều câu Kinh Thánh tuy chẳng gọi đích danh Antichrist, nhưng lại chỉ tỏ khá rõ ràng rằng thời đại Tin Lành nầy sẽ kết liễu bằng một sự bộc phát khủng khiếp của tội ác ngay trước khi Chúa ngự đến.
Đức Chúa Jêsus phán rằng trước khi Ngài ngự đến, sẽ có "hoạn nạn lớn," hoặc cơn đại nạn (Mat Mt 24:21, 29) rằng đó sẽ là một thời kỳ tang chế cho mọi nước (Mat Mt 24:29, 30), và "người ta nhơn trong khi đợi việc hung dữ xảy ra cho thế gian, thì thất kinh mất vía" (LuLc 21:24-26). Ngài cũng ngụ ý phán rằng trong thời kỳ đó sẽ ít có đức tin (LuLc 18:8).
Đa-ni-ên nói rằng "kỳ cuối cùng" sẽ "có tai nạn, đến nỗi chẳng có như vậy bao giờ" (DaDn 12:1, 4, 9, 13). Trong thơ IITe 2Tx 2:3-10 có chép rằng một "người tội ác" nói phạm thượng sẽ dấy lên cầm quyền và sẽ bị hủy diệt, bởi sự ngự đến của Chúa.
Khi ta thử giải thích hình bóng tiên tri của sách Khải Huyền, thì tìm kiếm các điểm tương tự ở những biến cố đã xảy ra từ trước tới nay còn dễ hơn là quyết chắc rằng nó thật có ảnh hưởng đến những biến cố thuộc về tương lai.
Dầu bảy cái ấn và bảy ống loa dường như mô tả đúng những đặc điểm trọng đại của lịch sử thế giới cho đến ngày nay, song có lẽ còn một lần ứng nghiệm đầy đủ hơn nữa sắp diễn ra.
Đế quốc La-mã hung hăng bắt bớ Hội Thánh, há chẳng có thể là một sự phát hiện của Antichrist sao? Hồi giáo và chế độ Thủ lãnh kia há chẳng có thể là những sự phát hiện khác của Antichrist sao? Và ngày nay, trước mắt chúng ta, Nga-sô Cộng sản vô thần dấy lên địa vị cường quốc thế giới, -- đó há chẳng có thể là tiếng gầm gừ mới mẻ của Antichrist sao? Há chẳng có thể rằng Đêm Gần Tàn và Ngày Gần Rạng sao?
KhKh 10:1-11-- Quyển sách nhỏ mở ra
Ở đoạn 5 có quyển sách đóng ấn. Ở đây, quyển sách mở ra. Quyển sách mở ra là một trong những sứ điệp của quyển sách đóng ấn, vì nó xuất hiện dưới ống loa thứ sáu phát xuất từ cái ấn thứ bảy.
Đây dường như là một lời báo cáo, trong khung cảnh oai nghiêm, khủng khiếp, rằng kỳ cuối cùng gần đến (10:7) nhưng trước khi đến kỳ cuối cùng, còn phải có một thời kỳ tiên tri khác nữa (10:8-11), theo như đã chép ở đoạn sau.
"Không còn có thì giờ nào nữa" (10:6) có thể nghĩa là trong cõi đời đời, quan niệm trần gian của chúng ta về thì giờ sẽ bị bãi bỏ, và ta cũng có thể nói như Đức Chúa Jêsus rằng: "Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta" (GiGa 8:58). Nhưng có người cho rằng dịch là "trì hoãn" thì đúng hơn dịch là "thì giờ;" trong trường hợp nầy, có nghĩa là: Ngày trọng đại của Đức Chúa Trời đã đến, và giờ đoán phạt gần điểm.
Sứ điệp đặc biệt của quyển sách mở ra dường như là lời tiên tri về việc đo Đền thờ và về hai người làm chứng (đoạn 11). Lời tiên tri nầy làm cho Giăng đau lòng (KhKh 10:10).
Nhưng ngoài mấy điều bày tỏ trên đây, "quyển sách nhỏ Mở Ra, " vì chính danh hiệu của nó và vì nó xuất hiện ngay trước ống loa thứ bảy, há chẳng có thể ngụ ý hình bóng rằng sẽ có một kỷ nguyên Quyển Sách Mở Ra ngay trước khi tận thế, sao?
Nếu vậy, nó hoàn toàn phù hợp với dòng lịch sử. Kỳ lạ thay, Hội Thánh, hoặc cái tự xưng là Hội Thánh thì đúng hơn, đương thời Trung cổ, đã Giựt KINH THÁNH Của Người Ta!
Các vị Thủ lãnh kia tự tôn là chúa của giới Cơ-đốc-giáo, chiếm lấy địa vị của Đức Chúa Trời trên mặt đất, xen vào giữa Đức Chúa Trời và loài người, tuyên bố rằng người ta chỉ nhờ họ mới được đến gần Đức Chúa Trời, truyền rằng tín đồ nào tự mình đọc Kinh Thánh tức là theo tà giáo, và họ lên án tử hình cho kẻ nào theo tà giáo. Trong khoảng 500 năm, bởi lịnh của các Thủ lãnh kia và do tay của các chánh phủ phục vụ họ, vô số tín đồ Đấng Christ đã bị tra khảo và tàn sát vì theo "tà giáo đọc Kinh Thánh." Như vậy, Lời Đức Chúa Trời bị cấm lưu hành và trở thành một Quyển Sách vô danh.
Nhưng cuộc Cải chánh Tin Lành, do Martin Luther lãnh đạo, đã Trả Lại Kinh Thánh Cho Người Ta. Và cuộc sáng chế máy in vào khoảng đó đã gom góp rất nhiều để làm cho Kinh Thánh thành Quyển Sách của dân chúng. Lịch sử kim thời là kỷ nguyên của Quyển Sách Mở Ra theo một ý nghĩa mà ta chưa từng biết. Mỗi phước lành của nền văn minh kim thời là một sản phẩm do quyển Kinh Thánh mở ra: Nào tự do công dân và tự do tôn giáo, nào giáo dục bình dân, nào cải cách xã hội, nào tự do tín ngưỡng, nào tự do ngôn luận.
11:1, 2 -- Đo Đền thờ
Đo Đền thờ, nhưng Thành Thánh và sân ngoài (hành lang) Đền thờ thì để cho các dân ngoại giày đạp 42 tháng. Đây dường như phân biệt giữa Hội Thánh chân chánh bề trong và Hội Thánh hữu hình bề ngoài, tự nhận là theo Chúa" Một đằng được Đức Chúa Trời giữ gìn và che chở, còn đằng kia bị thế gian làm cho hư hoại, phàm tục hóa và khai thác.
Đây dường như dự ngôn về sự bội đạo đại qui mô trong Hội Thánh; về sau, sự bội đạo nầy được mô tả đầy đủ hơn ở đoạn 13, dưới hình thức con beo và con chiên, và ở đoạn 17, dưới hình thức Ba-by-lôn, đại dâm phụ. Sự hiện thấy về tình trạng nầy làm cho Giăng đau lòng (10:10).
11:3-13 -- Hai người làm chứng
Hai người làm chứng nầy mặc áo bao gai mà nói tiên tri 1260 ngày (11:3) họ dường như liên quan với Đền thờ ở bên trong (11:1), vì Thành Thánh bên ngoài bị các dân ngoại giày đạp 42 tháng. Cả hai là cùng một thời gian: 42 tháng, mỗi tháng 30 ngày, là 1260 ngày.
Thành Thánh bên ngoài, hoặc Hội Thánh bội đạo, có hình thức con beo và con chiên ở đoạn 13 thể nào, thì cũng một thể ấy, ở đây Đền thờ bên trong, hoặc Hội Thánh chân chánh bề trong, có hình thức hai người làm chứng, và được mô tả đầy đủ hơn trong đoạn 14 là 144.000 người thật lòng theo Chiên Con.
"Hai cây ô-li-ve và hai chơn đèn" (11:4) chỉ rõ vào sách XaDr 4:1-14, tại đó có giải thích rằng chơn đèn chỉ về Nhà Đức Chúa Trời và cây ô-li-ve chỉ về Thánh Linh Đức Chúa Trời, dường như để Đức Thánh Linh cũng dự phần sự làm chứng của Hội Thánh. Hoặc giả, vì đây là sứ điệp của "Quyển Sách mở ra" (KhKh 10:2, 10, 11), và vì Đức Thánh Linh hành động qua lời Kinh Thánh, nên hai người làm chứng nầy có thể là Hội Thánh chân chánh và Lời Đức Chúa Trời trung tín làm chứng đang khi Hội Thánh bội đạo ngồi trên ngôi của con beo và con chiên, như có nói đến ở đoạn 13.
Nếu giải thích như vậy là đúng, thì việc Con Thú giết hai người làm chứng (11:7) có thể làm hình bóng về chế độ Thủ lãnh kia đã bắt bớ dữ dội và tàn sát các thánh đồ. Còn hai người làm chứng sống lại và được cất lên trời (11:11, 12) có thể làm hình bóng về Hội Thánh được tẩy sạch, Lời Đức Chúa Trời lại được tự do và chiếm địa vị ưu thế trên thế giới, dưới sự lãnh đạo của cuộc Cải chánh do Luther khởi xướng. Ta không thể nào lường hết ảnh hưởng của phong trào Luther đối với sự trả lại Lời Đức Chúa Trời cho loài người. Quả thật, đó giống như sự sống lại từ trong kẻ chết của hai người làm chứng về Đức Chúa Trời cho thế gian (11:11, 12).
Tuy nhiên, sự hiện thấy nầy có thể có những ý nghĩa sẽ được bày tỏ ở các biến cố trong cuộc giao tranh chung kết với Antichrist.
11:14-19 -- Ống loa thứ bảy
Cuộc đắc thắng chung kết. Các nước thế gian trở thành Nước của Đấng Christ.
"Nạn thứ ba" (11:14). Sự phán xét sau cùng giáng trên kẻ gian ác (11:18).
Như vậy, bảy cái ấn và bảy ống loa, trong một khung cảnh phác họa, dường như cho ta thấy tổng quát dòng lịch sử.
12:1-6 -- Người đờn bà, Con Trai, và con rồng
Cho tới đây. do bảy cái ấn và bảy ống loa, lịch sử đã tấn triển tới ngày phán xét sau cùng (11:15, 18), và phần lớn luận về số phận của Thế Giới.
Trong đoạn 12 nầy, tác giả quay về khởi điểm, và bằng một loạt sự hiện thấy khác, ông bắt đầu mô tả những sự trạng mà trước kia ông bỏ sót; những sự trạng nầy liên quan với số phận của Hội Thánh.
Người đờn bà
Người đờn bà sắp sanh con trai dường như chỉ về dân Y-sơ-ra-ên (cho tới câu 5) và Hội Thánh (từ câu 6 trở đi).
Dân tộc Hê-bơ-rơ được Đức Chúa Trời trưởng dưỡng trải qua bao nhiêu thế kỷ, cốt để đưa Đấng Christ vào trong thế gian, thì đây được nhân cách hóa là một nữ hoàng có vinh quang thiên thượng, sanh ra Con Trai của các thời đại.
Con Trai
Con Trai chính là Christ, Đấng Mê-si. Sa-tan chờ đợi cắn nuốt Ngài ngay lúc Ngài sanh ra (12:4). Đây dường như ngụ ý nói đến việc Hê-rốt cố sức giết Hài nhi Christ. Nếu nó thành công, ắt đã cản trở được công ơn cứu chuộc của Đấng Christ; vì một Hài nhi mới sanh chắc không thể nào chết thế tội lỗi của loài người được.
Tuy nhiên, bởi tay Giu-đa (GiGa 13:2, 27), Sa-tan thật đã thành công mà làm cho Đức Chúa Jêsus phải chết lúc Ngài thành nhân. Nhưng sự trạng ấy đã quay lại làm hại Sa-tan; vì nó cung hiến cho con cái Đức Chúa Trời khí giới duy nhứt mà Sa-tan không sao cự địch nổi, tức là "Huyết Chiên Con."
Con rồng
Con rồng bị chỉ đích danh là ma quỉ, là Sa-tan, là con rắn xưa (KhKh 12:9). Đã có chép rằng nó bắt bớ Hội Thánh tại Si-miệc-nơ, Bẹt-găm (2:10, 13), và nó, hoặc một thiên sứ nó từ vực sâu lên, làm vua của đạo quân châu chấu quái gở (9:11), cùng giết hai người làm chứng (11:7). "Sắc đỏ" (12:3) có thể tượng trưng cho bổn tánh sát nhân của nó.
"Có bảy đầu, mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều thiên" (12:3), rõ ràng lắm, làm hình bóng về nó làm vua chúa cai trị thế gian nầy; theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và bởi một lý do vượt quá sự hiểu biết loài người, nó được phép gây rối trong một thời gian. Nhưng nó chẳng phải là Đức Chúa Trời đâu. Không có hai Đức Chúa Trời. Sa-tan chẳng phải là toàn năng, và nó chẳng ở khắp mọi nơi, chẳng biết hết mọi sự. Nó sợ Danh của Đấng Christ, và nó không sao tránh khỏi hình phạt.
"Các ngôi sao trên trời" (12:4 mà nó "đem quăng xuống đất," có thể làm hình bóng về nó có quyền kéo đoàn quân của thế giới vô hình đi chống nghịch các thánh đồ, hoặc có quyền gây ảnh hưởng làm cho các Thủ lãnh Hội Thánh phải bội đạo, hoặc cả hai quyến ấy.
12:7-12 -- Cuộc chiến tranh trên trời
Đây có thể có nghĩa rằng Sa-tan giận hoảng vì không thể tiêu diệt Đấng Christ bằng cách đóng đinh Ngài vào Thập tự giá, bèn theo Ngài khi Ngài thăng thiên, và táo tợn tấn công thành lũy Thiên đàng; tại đó, nó bị thảm bại do tay "Mi-chen và các sứ người" (câu 7), và cho đến đời đời, nó mất hết quyền làm hại Đấng Christ hoặc linh hồn những kẻ đã được Ngài cứu chuộc.
Vậy, từ đó trở đi, Sa-tan chăm chú tìm phương tính kế để ngăn cản công việc của Hội Thánh trên mặt đất.
"Mi-chen" (12:7) là thiên sứ trưởng, thống lãnh các thiên sứ, và trước kia đã có kinh nghiệm giao chiến với ma quỉ (Giu-đe 9). Mi-chen là thiên sứ bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên (DaDn 10:13-21). Mi-chen sẽ có công tác ở kỳ sau rốt, trong cơn đại nạn (DaDn 8:17; 12:1, 9, 13), và lúc Chúa tái lâm (ITe1Tx 4:16).
Ngay bây giờ, có lẽ "Mi-chen và các sứ người" cũng giao chiến giúp chúng ta trên mặt đất nầy, theo một ý nghĩa thiết thực hơn là ta được biết. Chúng ta giao chiến chẳng phải là hoàn toàn với huyết và thịt (Eph Ep 6:12). Kết quả có thể tùy thuộc các đạo quân của thế giới vô hình bội phần hơn là chúng ta từng nhận thấy.
KhKh 12:13-17 -- Người đờn bà trốn vào đồng vắng
Người đờn bà ẩn núp trong "đồng vắng" (12:14) để tránh khỏi con rồng. Đây dường như làm hình bóng về Hội Thánh chân chánh đang phải biến vào vòng bí mật vì cớ sự bắt bớ. Chính ở "đồng vắng" mà Ba-by-lôn, Hội Thánh dâm phụ, đã phát triển (17:3). Nhưng một ngày kia, đối với Hội Thánh chân chánh, sẽ không còn là "đồng vắng" nữa, song là "núi... vinh hiển của Đức Chúa Trời" (21:10, 11).
"Nước... như sông" (12:15) mà con rồng phun đuổi theo người đờn bà, có thể chỉ về những cơn bắt bớ Hội Thánh do tay đế quốc La-mã.
"Đất tiếp cứu người đờn bà" (12:16) có thể ngụ ý về việc hoàng đế Constantin trở lại tin Chúa và việc đế quốc La-mã theo Cơ-đốc-giáo, do đó các cơn bắt bớ chấm dứt.
1260 ngày
Người đờn bà ở đồng vắng 1260 ngày (12:6).
Bà ở đồng vắng "một thì, các thì và nửa thì" (12:14).
Hai người làm chứng mặc áo bao gai mà nói tiên tri 1260 ngày (11:3).
Còn Thành Thánh bị giày đạp 42 tháng (13:5).
Sau khi bị đánh tử thương và được chữa lành, thì Con Thú cai trị 42 tháng (11:2).
42 tháng, 1260 ngày, một thì, các thì và nửa thì (1 năm, các năm và nửa năm, tức là 3 năm rưỡi) cùng chỉ tỏ một thời gian. 3 năm rưỡi tức là 42 tháng, mỗi tháng 30 ngày, tức là 1260 ngày.
Như vậy, có bốn sự trạng được tỏ ra là đồng thời gian và đồng chung cuộc: Người đờn bà trong đồng vắng; Thành Thánh bị các dân ngoại giày đạp, hai người làm chứng mặc áo bao gai mà nói tiên tri. Con Thú cai trị sau khi bị đánh tử thương. Cả bốn sự trạng cùng ở một lúc. Xem thêm ở các đoạn 13 và 17.
13:1-10-- Con Thú giống như con beo
Đây dường như là mô tả thêm Con Thú đã giết hai người làm chứng (11:7) nó còn được mô tả đầy đủ hơn ở đoạn 17 nữa.
Con rồng, tức là ma quỉ, đã không hủy diệt được Hội Thánh bởi sự bắt bớ, bây giờ bèn nhập vào Con Thú nầy để tiếp tục giao chiến với các thánh đồ (12:13-13:1).
Con Thú trông giống như con beo, con gấu và con sư tử (13:2) đó là những biểu tượng mà Đa-ni-ên đã dùng để chỉ về quyền bá chủ thế giới (DaDn 7:3-6).
KhKh 13:11-18 -- Con Thú giống như con chiên
Con Thú nầy trông giống như con chiên (13:11). Con thú thứ nhứt trông giống như con beo. Nhưng chúng đồng minh với nhau. Con Thú giống như con beo đã bị giết (13:3). Chính Con Thú giống như con chiên làm cho nó sống lại (13:15) con rồng hành động trong cả hai con nầy (13:2, 4, 11).
Con Thú giống như con chiên chính là Con Thú giống như con beo sống lại. Dầu nó như con chiên, song nó lại nói như con rồng (13:11). Nó có quyền giết bất cứ ai không chịu mang dấu hiệu của nó (13:15). Nó nói phạm thượng đến Danh Đức Chúa Trời và giao chiến với các thánh đồ (13:6, 7).
Thẻ căn cước của nó mang số 666 (13:18).
Về sau Con Thú giống như con chiên được gọi là "Tiên tri giả" (16:13; 19:20; 20:10), nghĩa là Chiên Con giả mạo. Con rồng tấn công từ phía ngoài, nhưng thất bại; bây giờ nó tấn công từ phía trong, và giả mạo làm Chiên Con.
Cuộc liên minh của Con Thú giống như con beo với Con Thú giống như con chiên
Cuộc liên minh nầy kéo dài 42 tháng và lập thành một chánh quyền bá chủ thế giới (13:5). Đây dường như là một biểu tượng khác về Thành Thánh bị phàm tục hóa và bị thế gian khai thác trong 42 tháng (11:2).
Một Con Thú giống như Chiên Con, nhơn Danh Chiên Con mà cai trị, và Thành Thánh bị các dân ngoại giày đạp dưới chơn, -- hai biểu tượng nầy dường như có nghĩa là một chánh quyền bá chủ thế giới hành động nhơn danh một Hội Thánh bội đạo và với sự tiếp trợ của Hội Thánh ấy. Nếu không, thì còn có ý nghĩa chi khác nữa?
Con Thú giống như con beo chỉ về quyền lực đời nầy. Con Thú giống như con chiên chỉ về quyền lực Cơ-đốc-giáo giả mạo. Con rồng liên kết chúng thành một quyền cai trị hoàn cầu.
Về sau, tình trạng nầy được gọi là "Ba-by-lôn" và được mô tả đầy đủ hơn trong đoạn 17 và 18.
Đang khi Ba-by-lôn ngồi trên ngôi của quyền cai trị hoàn cầu, thì hai người làm chứng mặc áo bao gai mà nói tiên tri (11:3).
Có một số người cho rằng Con Thú giống như con beo nầy là Antichrist. Kẻ khác lại cho là nó tượng trưng cho một vài đặc điểm của lịch sử thế giới. Ít ra, việc nó phù hợp với lịch trình Hội Thánh trải qua lịch sử cho tới thời kỳ hiện tại, thật rất lạ lùng, như ta sẽ nhận thấy ở trang sau.
Bảy cái đầu và mười cái sừng
Con rồng có chừng đó (12:3). Con thú giống như con beo cũng có chừng đó (13:1). Con Thú màu đỏ sậm của "Ba-by-lôn" cũng có chừng đó (17:3).
Con số 7 tượng trưng cho toàn bộ, còn con số 10 tượng trưng cho quyền lực thế gian. Như vậy, bảy cái đầu và mười cái sừng dường như chỉ về toàn bộ quyền cai trị hoàn cầu; hoặc chỉ về sự tập trung và nhân cách hóa của quyền cai trị hoàn cầu cứ tồn tại như một thực thể trải qua cả thời kỳ lịch sử, và tự phát hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, ở nhiều mực độ khác nhau, trong nhiều thời đại khác nhau, và có nhiều lần sửa đổi khác nhau.
Trước khi bắt đầu kỷ nguyên hiện tại của chúng ta, có bảy cường quốc bá chủ hoàn cầu đã đứng hiên ngang và chi phối phần lớn dòng lịch sử thế giới. Ai-cập là một cường quốc bá chủ thế giới chừng 400 năm (1600-1200 T.C.). Rồi tới A-si-ri, chừng 300 năm (900-600 T.C.). Rồi tới Ba-by-lôn, 70 năm (606-536 T.C.); Ba-tư, 200 năm (536-330 T.C.); Hy-lạp, chừng 200 năm (330-146 T.C.); La-mã, 600 năm (200 T.C.-400 S.C.); chế độ Thủ lãnh kia, 1200 năm (600-1800 S.C.).
Vết tử thương của một trong bảy cái đầu (13:3)
Lúc Giăng chép sách Khải Huyền, thì năm trong số bảy cường quốc bá chủ hoàn cầu đã sụp đổ. Một rõ ràng là đế quốc La-mã, còn một nữa chưa xuất hiện (17:10) rõ ràng lắm đế quốc La-mã bị thương và được Con Thú giống như con chiên làm cho sống lại (13:3, 12).
Đế quốc La-mã sụp đổ năm 476 S.C.. Nhưng La-mã đã sống lại nhơn Danh Đấng Christ và nhờ sự giúp đỡ của Giáo hội. Vậy, La-mã của chế độ Thủ lãnh kia đã cai trị thế giới trên một phạm vi rộng lớn hơn, trong một thời gian lâu dài hơn, với một bàn tay độc tài hơn; nền cai trị nầy hơn cả nền cai trị của đế quốc La-mã ngoại đạo và bất cứ cường quốc bá chủ hoàn cầu nào có trước nó.
"42 tháng" (13:5): Theo cách giải thích một ngày là một năm, thì được 1260 năm, gần đúng thời gian chế độ Thủ lãnh kia giữ địa vị cường quốc bá chủ hoàn cầu (từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 18).
"Nói những lời kiêu ngạo, phạm thượng" (13:6): Hoàn toàn phù hợp với lời Thủ lãnh kia tự nhận là vô ngộ (infaillible ), có quyền tha tội, giữ địa vị của Đức Chúa Trời trên mặt đất v.v...
"Giao chiến cùng các thánh đồ" (13:7): Các sử gia tính phỏng rằng đương thời Trung cổ và lúc đầu kỷ nguyên Cải chánh, hơn 50 triệu thánh đồ đã tuận đạo vì chế độ Thủ lãnh kia, -- đó là giai đoạn khủng khiếp nhứt của lịch sử nhân loại.
"666," số của Con Thú (13:18)
Nó được gọi là "người," có thể nghĩa là một lớp người, hoặc một chế độ do một người hoặc một lớp người cầm đầu. Dường như đây là một tên, và những chữ cái của nó nếu được coi là con số, thì tổng cộng được 666.
Irénée, môn đệ của Polycarpe (Polycarpe là môn đệ của Sứ đồ Giăng), cho rằng con số 666 tương đương với chữ Hy-lạp: "LATEINOS " -- L = 30; A = 1; T = 300; E = 5; I = 10; N = 50; o = 70; S = 200. Cộng là 666.
"Lateinos " nghĩa là: Nước La-tinh." Chế độ Thủ lãnh kia lấy tiếng La-tinh làm ngôn ngữ chánh thức. Ngày nay vẫn còn như vậy. Các qui luật, bài kinh, bài cầu nguyện, sách lược giải, sắc lịnh, chiếu chỉ, lời chúc phước và lời rủa sả của họ đều bằng tiếng LA-TINH.
14:1-5-- Chiên Con và 144.000 người theo Ngài
Sứ đồ Giăng vừa mới được sự hiện thấy về Con Thú giả làm Chiên Con (13:11). Đây, ông được sự hiện thấy về chính mình Chiên Con (14:1).
144.000 người trung thành theo Chiên Con đã được ghi dấu bằng Danh của Chiên Con (14:1), cũng như những kẻ theo Chiên Con giả đã được ghi dấu bằng tên của nó (13:16). Đây là đoạn mô tả thêm về hai người làm chứng (11:3), về Hội Thánh chân chánh của Chiên Con đối chiếu với Hội Thánh giả của Chiên Con giả mạo. Người Vợ trung kiên ở trong đồng vắng (12:14), còn người vợ thất tiết đang vui chơi, dâm loạn với thế gian, đoạn 17.
Họ được thoát khỏi sự giả đối (14:5), đối chiếu với những dấu lạ giả dối và tà giáo của Chiên Con giả mạo (13:14).
Họ "còn trinh khiết" (14:4), tức là trung tín với Đấng Christ, đối chiếu với sự "tà dâm" của Hội Thánh giả dối (17:5). Chúng ta chẳng nên hiểu rằng họ thật là kẻ độc thân, vì không có chỗ nào trong Tân Ước kể hôn nhân là có tội; trái lại, Tân Ước dùng hôn nhân làm hình bóng về mối liên hiệp giữa Đấng Christ và Tân phụ Ngài, tức là Hội Thánh.
Họ là "trái đầu mùa" (14:4), có lẽ chính là 144.000 người ở đoạn 7:4, đối với mùa gặt chung (14:15, 16).
"Bài ca mới" (14:2, 3) của 144.000 người (14:2, 3), vang lừng bên tai như sóng bủa, là bài ca mà chỉ người được cứu chuộc mới biết. Người không được cứu thì chẳng có thể biết những sự vui mừng của người đã được cứu chuộc. Khi tới Thiên đàng, chính những người được cứu chuộc sẽ nếm trải sự vui mừng, hớn hở vượt quá mọi điều họ tưởng tượng trước kia. Trên Thiên đàng, Mọi Người Sẽ Hát. Tại sao trong các nhà thờ của chúng ta lại không hát? Tại sao không xin Tín Đồ Hát?
14:6, 7 -- Một thiên sứ có Tin Lành đời đời
Sự hiện thấy nầy dường như làm hình bóng về công cuộc rao giảng Tin Lành khắp thế gian, suốt cả thời đại Tin Lành. Tuy nhiên, sự hiện thấy nầy có ngay trước khi báo cáo "Ba-by-lôn" sụp đổ (14:8), thì há chẳng có thể là bức tranh mô tả kỷ nguyên hiện tại của các Hội Truyền giáo khắp thế giới, sao?
Hãy chú ý: Phương pháp chinh phục của Chiên Con giả là giết những kẻ không chịu thờ lạy nó (13:15), còn khí giới của Chiên Con là giản dị rao giảng Tin Lành (14:6).
14:3 -- Ba-by-lôn sụp đổ
Đây là lần đầu tiên sách Khải Huyền nói đến "Ba-by-lôn." Và điều thứ nhứt chép về Ba-by-lôn là nó đã Sụp Đổ, sự sụp đổ của nó được rao báo cả trước khi ngụ ý nói rằng nó dấy lên. Nó là một sự trạng kinh khủng đến nỗi tác giả nghĩ tốt nhứt là trước khi nói cho độc giả biết nó, hãy quả quyết với họ rằng nó sẽ chỉ tồn tại ít lâu thôi.
"Ba-by-lôn" được mô tả đầy đủ ở đoạn 17 và 18, nên ta thấy nó là một tên khác của Con Thú giống như con beo và chiên con ở đoạn 13.
14:9-11 -- Đoán phạt những kẻ theo Con Thú
Buồn thay, đây, số phận khốn cực của những kẻ theo Con Thú được đối chiếu với sự vui mừng khôn tả của những người thuộc về Chiên Con (14:3)! Sự đoán phạt họ được mô tả đầy đủ hơn ở các đoạn 19 và 20. Sự đối chiếu số phận của người được cứu chuộc và người bị hư mất, mà ta thường nhận thấy trong sách Khải Huyền nầy, cũng là một điểm dạy dỗ đặc biệt của Đức Chúa Jêsus trong các sách Tin Lành.
14:12-13 -- Những người chết có phước
Hạnh phước nầy lại cũng đối chiếu với sự đau đớn của kẻ gian ác vừa mới nói ở trên. Sự đau đớn của các thánh tuận đạo đã hết. Rốt lại, thời kỳ mà họ cầu xin Chúa thực hiện đã đến. Họ được cứu rỗi và được hạnh phước đời đời .
14:14-16 -- Gặt mùa của trái đất
Đoạn nầy bắt đầu bằng một sự hiện thấy về "trái đầu mùa" (14:4) của Tin Lành; rồi tới kỷ nguyên rao giảng Tin Lành khắp thế gian (14:6); và tới đây thì kết liễu bằng những sự hiện thấy về mùa gặt sau rốt.
Từ nhiều thế kỷ trước, đã có nói đến mùa gặt của nhân loại ở sách Gio Ge 3:13, 14 -- "Đoàn đông dường nào, đoàn đông dường nào tại trong trũng đoán định (Nên dịch là: "Quyết định."! Hãy tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã chín."
"Mùa màng dưới đất đã chín rồi" (KhKh 14:15): Một lý do Chúa chậm tái lâm có lẽ là vì Ngài chờ cho mùa màng chín.
14:17-20 -- Hái nho ở dưới đất
"Mùa màng" chỉ về sự thâu góp những người được cứu rỗi. Còn "hái những chùm nho" chỉ về sự hình phạt dành cho kẻ bị hư mất.
"Thùng" (bàn ép rượu nho) chỉ về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên những kẻ gian ác.
"1600 dặm" (14:20): Chừng 330 cây số, theo cách đo của chúng ta ngày nay. Ý nghĩa của nó chắc ở trong con số 1600, chớ không phải ở trong quãng dài thực sự. 1600 là 4 x 4 x 100, và có người cho rằng nó tượng trưng cho sự hủy diệt hoàn toàn.
"Tại ngoài thành" (14:20), có lẽ là Thành của Đức Chúa Trời; ấy nghĩa là dân Đức Chúa Trời không bị tổn hại chi khi cơn thạnh nộ của Ngài giáng trên kẻ ác.
"Ngựa" (14:20): Đây dường như là cùng những con ngựa và cùng một biến cố được mô tả đầy đủ hơn ở đoạn 19:14-21.
Tóm tắt các đoạn 12:1-14:20
Những cái ấn và những ống loa ở đoạn 6 đến đoạn 11 đưa toàn cảnh tới sự đắc thắng chung kết, và phần nhiều luận về giai đoạn đầu của truyện tích.
Các đoạn 12 đến 14 trở lại khởi điểm, và chứa một loạt bức tranh suốt tới kỳ sau rốt, nhưng luận nhiều hơn về giai đoạn giữa của truyện tích và ghi thêm nhiều chi tiết của những cảnh tượng kỳ sau rốt. Các sự hiện thấy dường như mô tả sự dấy lên của một Giáo hội bội đạo, ngồi trên ngôi của một đế quốc bá chủ hoàn cầu; trong khi ấy, Hội Thánh chân chánh cứ trung tín làm chứng cho cả thế giới; rồi tới mùa gặt.
15:1-16:21-- Bảy bát thạnh nộ của Đức Chúa Trời
Đây là những sự đoán phạt của Đức Chúa Trời do đó quyền lực của Con Thú bị phá tan (15:2; 16:2, 10, 13). Rõ ràng lắm, Con Thú giống như con beo và chiên con ở đoạn 13 được gọi là "Ba-by-lôn" ở đoạn 16:19, và được mô tả tỉ mỉ, đầy đủ hơn ở các đoạn 17, 18.
15:1-8 -- Bài ca của những người thắng trận
Trước khi mô tả các sự đoán phạt, tác giả cho chúng ta thoáng nghe bài ca của những người được cứu chuộc ngợi khen Đức Chúa Trời vì cách Ngài đã cai trị dòng lịch sử (15:3, 4). Đây giống như "bài ca mới" ở đoạn 5:8-14, -- tức là sự vui mừng, hớn hở khôn xiết trào ra, vì lần đầu tiên họ được thấy quang cảnh thiên thượng và được thấy Đức Chúa Trời, không có chút gì che khuất.
Rồi trong một nghi lễ long trọng, bảy vị thiên sứ được trao cho bảy bát thạnh nộ của Đức Chúa Trời. "Chẳng ai được vào Đền thờ" (15:8) -- câu nầy có thể nghĩa là không ai có thể làm tiêu tan các sự đoán phạt, vì thời kỳ cầu thay đã qua rồi.
16:1-9 -- Bốn bát đầu tiên
Về toàn thể, bảy cái bát dường như mô tả các tai họa kinh khiếp sẽ giáng xuống thế gian trong ngày sau rốt, và tuyệt điểm của nó là trận Ha-ma-ghê-đôn (16:14-16).
Năm cái bát đầu tiên cũng có thể đặc biệt liên quan đến sự sụp đổ của La-mã dưới chế độ Thủ lãnh kia, vốn là hình thức của một nền thống trị thế giới đã có và sẽ có giữa sự sụp đổ của đế quốc La-mã và nền thống trị chung kết của Antichrist: ấy cũng như các ống loa liên quan đến đế quốc La-mã ngoại đạo (đoạn 8).
Bốn cái bát đầu tiên, cũng như các tai vạ của bốn ống loa đầu tiên (8:7-12), lần lượt trút xuống đất, biển, sông và mặt trời.
"Các sông" mà bát thứ ba trút xuống (16:4) cũng là các sông tại đó huyết thánh tuận đạo đã bị đổ ra (16:6) bởi Con Thú (13:15) và bởi Ba-by-lôn (17:6; 18:24). Cái bát nầy có thể chỉ về các sự đoán phạt của Đức Chúa Trời để trả thù chế độ Thủ lãnh kia ở chính những thung lũng tại đó hàng bao nhiêu triệu nạn nhân của chế độ ấy đã tuận đạo.
16:10, 11 -- Bát thứ năm
Trút xuống ngôi của Con Thú, mà chính nước nó đã bị tổn hại kinh khủng do bốn cái bát đầu tiên. Dầu năm cái bát nầy có thể có nghĩa khác nữa, song về phương diện tiên tri, nó dường như chỉ về những chánh biến và loạn ly trọng đại ở thế kỷ 18, do đó chế độ Thủ lãnh kia chẳng còn là một chánh quyền bao trùm thế giới nữa.
Chế độ Thủ lãnh kia là một cường quốc thống trị thế giới từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 18, và là cường quốc chuyên chế hơn hết trong lịch sử.
Nó lần lần bành trướng từ thế kỷ thứ 6, đến thế kỷ thứ 9 thì hoàn toàn vững mạnh.
Từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 13, nó tuyệt đối cầm quyền trên các vua chúa Âu- châu.
Từ thế kỷ thứ 13, nó lần lần suy vi.
Quyền lực của nó đã bị lung lay khủng khiếp vì cuộc Cải chánh Tin Lành ở thế kỷ thứ 16, bởi cuộc Cách mạng nước Pháp, bởi các cuộc chiến tranh của Nã-phá-luân ở cuối thế kỷ thứ 18 và đầu thế kỷ thứ 19. Do tay của Nã-phá-luân, chế độ Thủ lãnh kia bị hạ thấp tột bậc và mất uy tín, không bao giờ khôi phục được nữa. Từ đó tới nay, quyền lực của Thủ lãnh kia trong sự cai trị thế giới chỉ còn là cái bóng của địa vị nó đương thời Trung cổ. Đương thời Trung cổ, các Thủ lãnh kia truyền phán, thì các vua chúa run rẩy. Nhưng, Tạ Ơn Đức Chúa Trời, thời đó đã qua rồi!
"Nói phạm đến Danh Đức Chúa Trời" (16:9). Có lẽ lời nầy liên quan đến sắc chỉ của Thủ lãnh kia tuyên bố mình là vô ngộ (năm 1870). Đó là hơi thở hấp hối của một cường quốc bá chủ hoàn cầu, và là lời phạm thượng tột bậc của các thời đại.
16:12-16 -- Bát thứ sáu
Các trận tuyến đã được vạch rõ cho trận Ha-ma-ghê-đôn. Con rồng, Con Thú và Tiên tri giả tụ tập đạo quân quỉ quái của chúng để cố sức tấn công Hội Thánh lần chót (16:13, 14). Con rồng là quỉ Sa-tan, Con Thú là chánh quyền thống trị thế giới, và tiên tri giả là Hội Thánh bội đạo, -- cả ba liên minh với nhau.
"Sông cái Ơ-phơ-rát" (16:12): các bát vẫn đi song song với các ống loa. Khi thổi ống loa thứ sáu, một đạo quân từ sông Ơ-phơ-rát kéo lên đánh cho Hội Thánh một đòn kinh khủng thể nào (9:14-16), thì cũng một thể ấy, ở đây, khi bát thứ sáu đổ xuống, sông Ơ-phơ-rát bèn thành ra nơi tụ tập các đạo quân gian ác để cố gắng hủy diệt Hội Thánh lần chót.
Vườn Ê-đen, nơi phát nguyên của loài người, và tháp Ba-bên, nơi chánh quyền trần gian bắt đầu chống nghịch Đức Chúa Trời, đều ở thung lũng sông Ơ-phơ-rát. Như vậy, lịch sử loài người sẽ chấm dứt ở nơi nó đã bắt đầu.
"Kìa, Ta đến" (16:15). Hãy chú ý lời cảnh cáo xen vào đây rằng khi trận Ha-ma-ghê-đôn gần đến, thì ngày của Chúa cũng gần đến.
16:17-21 -- Bát thứ bảy
Đây dường như là trận Ha-ma-ghê-đôn thật. "Những cục mưa đá" từ "không khí" rớt xuống, mỗi cục nặng một ta-lâng, nghĩa là chừng 45 kí lô. Đây dường như là lời tiên tri về phi cơ và bom nguyên tử.
"Ba phần" (16:19): Đế quốc La-mã bị chia làm ba phần thể nào (8:7-12; 9:18), thì cũng một thể ấy, chánh quyền bá chủ thế giới sau chót bài Cơ-đốc-giáo sẽ suy sụp trong ba giai đoạn; Ba-by-lôn, Con Thú và Tiên tri giả.
"Động đất dữ dội" (16:18): Hai cuộc thế giới chiến tranh vừa qua, những mây mờ đe dọa của cuộc thế giới chiến tranh thứ ba, hiện tình hoang mang, bối rối và hỗn loạn của các nước và các chánh phủ, phần nửa thế giới đã ở dưới quyền kiểm soát của Cộng sản vô thần công khai quyết tâm tiêu diệt đạo Đấng Christ, những sự trạng đó khiến chúng ta tự hỏi (nhiều khi kèm theo sự tiên đoán lo âu) rằng phải chăng hiện nay chúng ta đang ở các giai đoạn đầu của trận Ha-ma-ghê-đôn?
17:1-18-- Ba-by-lôn, đại dâm phụ
Thơ Eph Ep 5:25, 32 luận rằng Hội Thánh là Tân phụ của Đấng Christ. Chính Đức Chúa Jêsus đã ví sánh sự tái lâm của Ngài với một tiệc cưới (Mat Mt 25:10). Hội Thánh vinh hiển được gọi là Tân phụ của Chiên Con (KhKh 19:7; 21:2, 9). Nhưng đây, ta thấy Hội Thánh là một "dâm phụ," (Dịch là: "Kỵ nữ" thì đúng hơn) cũng như dân Y-sơ-ra-ên, Tân phụ của Đức Giê-hô-va, đi thờ lạy hình tượng (Exe Ed 16:14-18), tức là "hành dâm " cùng mọi kẻ qua đường.
"Con đại dâm phụ" (KhKh 17:1) liên lạc bất chánh với các vua (17:2). Dâm phụ ngồi trên Con Thú sắc đỏ sậm, mang đầy những tên phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng (17:3) nó mặc áo màu tía và màu điều, phóng túng theo dâm dục và ô uế (17:4). Tên nó là "Ba-by-lôn lớn" (17:5), và nó "say huyết" các thánh tuận đạo (17:6).
Người đờn bà là một cái thành (17:18)
Con dâm phụ liên minh với Con Thú, tên gọi Ba-by-lôn, ngồi trên ngôi của chánh quyền bá chủ thế giới, và cai trị các vua trên mặt đất.
Hội Thánh chân chánh, Tân phụ của Đấng Christ, vợ của Chiên Con, cũng được gọi là một Thành, -- Thành Giê-ru-sa-lem mới, Thành Thánh (19:7; 21:2, 9).
Hai người đờn bà: Dâm phụ và Tân phụ chân chánh của Đấng Christ. Hai thành Ba- by-lôn và Giê-ru-sa-lem mới. Như vậy, Hội Thánh tà dâm và Hội Thánh chân chánh được đặt đối chiếu với nhau. Hội Thánh tà dâm ngồi cầm quyền trên ngôi vinh quang trần tục, dùng sự bắt bớ mà xô đuổi Hội Thánh chân chánh vào vòng bí mật. Những đặc điểm ấy dường như tỏ ra Ba-by-lôn, dâm phụ, ở đoạn nầy chính là Con Thú giống như con beo và chiên con ở đoạn 13.
Bảy đầu và mười sừng (17:3)
Con rồng có chừng đó (12:3). Con Thú giống như con beo và chiên con cũng có chừng đó (13:1). Tới đây, Con Thú dâm phụ, là Ba-by-lôn, cũng có chừng đó. Ta hiểu rằng chúng tượng trưng cho chánh quyền bá chủ thế giới.
"Ba-by-lôn" được tuyên bố là thành lớn cai trị các vua của trái đất (17:18) đương thời ấy, thành nầy chính là La-mã. Ta lại càng biết rõ là La-mã nhờ câu nầy: "Bảy cái đầu tức là bảy hòn núi mà người đờn bà ngồi lên" (17:9) vì thành La-mã thật được kiến thiết trên bảy hòn núi, và có tên là: "Thành có bảy ngọn đồi."
"Cũng là bảy vì vua nữa; năm vì trước đã đổ, một vì hiện có, còn một vì nữa chưa đến" (17:10). Lời nầy lại càng chỉ rõ La-mã. Trong lúc Sứ đồ Giăng chép sách Khải Huyền, thì năm đế quốc bá chủ hoàn cầu đã sụp đổ: Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp; một hiện có, tức là La-mã, còn một chưa đến, tức là Ba-by-lôn, dâm phụ.
"Vì vua thứ tám... cũng ở trong số bảy" (17:11). Đây dường như là Con Thú được phục hưng, sau khi bảy cái đầu và mười cái sừng đã qua đi, có lẽ là chỉ về hình thức sau cùng mà Antichrist sẽ khoác lấy.
Một Hội Thánh bội đạo trên ngôi của một đế quốc bá chủ hoàn cầu
Đoạn mô tả Ba-by-lôn, đại dâm phụ ngồi trên Con Thú có bảy đầu và mười sừng, thật phù hợp với La-mã của chế độ Thủ lãnh kia, mặc dầu có lẽ nó liên quan tối hậu với một tình hình chưa xuất hiện. Cho tới nay, chưa có gì khác trong lịch sử thế giới phù hợp với đoạn mô tả đó.
Sự ham muốn quyền lực trần gian bắt đầu lộ ra đại qui mô trong Hội Thánh nhằm thế kỷ thứ 4, khi đế quốc La-mã thôi bắt bớ Hội Thánh và lập đạo Đấng Christ làm quốc giáo. Tinh thần của đế quốc La-mã truyền qua Hội Thánh. Hội Thánh lần lần rập theo khuôn mẫu của đế quốc mà mình mới chiến thắng.
La-mã đã sụp đổ. Nhưng La-mã lại mượn danh của Hội Thánh mà sống lại, làm một cường quốc bá chủ hoàn cầu. Các Thủ lãnh kia ở La-mã là kẻ kế tự và kế vị các Sê-sa (hoàng đế) La-mã. Khu họ ở là vị trí các cung điện của Sê-sa thuở xưa. Các Thủ lãnh kia tự nhận lấy tất cả quyền hành mà các Sê-sa đã tự nhận lấy, và hơn nữa. Trải qua các thế kỷ, cung điện của Thủ lãnh kia thuộc hàng nguy nga, tráng lệ nhứt thế giới. Các Thủ lãnh kia đã sống trong huy hoàng, xa hoa hơn cả các vua trần gian. Không một nơi nào trên mặt đất bày ra cảnh tượng mỹ lệ, lộng lẫy cho bằng lễ đăng quang của Thủ lãnh kia. Kinh thành La-mã thuở trước là của đạo thờ thần tượng, về sau là của Thủ lãnh kia, đã chiếm địa vị cường quốc bá chủ hoàn cầu trải qua 2000 năm (200 T.C. đến 1800 S.C.).
"Đầy những tên sự phạm thượng" (17:3). Các Thủ lãnh kia tự nhận giữ địa vị của Đức Chúa Trời trên mặt đất, có quyền tối cao trên lương tâm loài người, có quyền tha thứ tội lỗi và ban lịnh ân xá họ cũng quả quyết rằng muốn được cứu rỗi, thì phải vâng phục họ. Há có điều gì phạm thượng hơn?
"Đỏ sậm" (17:3, 4) là màu sắc của Con Thú, dâm phụ, và cũng của con rồng nữa (12:3) (Bản tiếng Việt cũng dịch là: "điều" và "đỏ;" nguyên văn là "đỏ sậm" (écarlate); nó chính là màu sắc của Thủ lãnh kia. Ngai của Thủ lãnh kia màu đỏ sậm, do 12 người bận áo đỏ sậm khiêng. Mũ và áo dài của các Giáo chủ trực thuộc cũng có màu đỏ sậm. Nguyên thủy nó là màu của ma quỉ (12:3); về sau được Thủ lãnh kia chọn lấy, và bây giờ là màu sắc của Cộng sản vô thần. Cộng sản thường được gọi là "Đỏ;" họ có Hồng quân, Lãnh thổ Đỏ, Công trường Đỏ ở Mạc-tư-khoa; một lần nữa, ma quỉ lại triệu tập quân đội của nó từ phía ngoài Hội Thánh.
"Đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế" (17:4). Người ta biết rõ hành vi hủ hoại của các Thủ lãnh kia đương thời Trung cổ.
"Say huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus" (17:6). Những hình phạt khủng khiếp của Tôn giáo Pháp đình, do các Thủ lãnh kia thiết lập và duy trì, trải qua hơn 500 năm, gây cho bao nhiêu triệu người bị khảo đả và thiêu đốt, chính là Bức Tranh Hung Tợn và Quỉ Quái hơn hết trong cả lịch sử.
Viết lại những điều nầy, thì chẳng vui thích chi. Ta không thể tưởng tượng một tổ chức Giáo hội nào vì quá ham mê quyền lực, lại có thể làm cho đạo thánh của Đức Chúa Jêsus phải cong vẹo, phàm tục và bại hoại để chính mình được tôn cao, y như chế độ Thủ lãnh kia đã làm vậy.
Nhưng thực sự là thực sự. Lịch sử là lịch sử. Lạ lùng hơn hết, là mọi điều đó dường như đã được dự ngôn rất đúng bằng các hình bóng trong sách Khải Huyền. Sự hiện thấy của Giăng đã làm cho ông đau lòng (10:10), nào có lạ gì.
18:1-15-- Sự suy sụp của Ba-by-lôn
Ba-by-lôn của Cựu Ước, nguyên thủy gọi là Ba-bên, tại đó chính quyền loài người bắt đầu chống nghịch Đức Chúa Trời (SaSt 11:1-9), về sau trở thành đô thị kỳ quan của thế giới thượng cổ, và bắt dân Y-sơ-ra-ên làm tôi mọi. Đây tên nó được đặt cho một cường quốc bá chủ thế giới bắt Hội Thánh làm tôi mọi. Đoạn nầy giống như khúc ai ca của Giê-rê-mi khóc thành Ba-by-lôn (Gie Gr 51:1-64).
"Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn" (KhKh 18:4). Nếu "Ba-by-lôn" là danh hiệu dự ngôn của chế độ Thủ lãnh kia, theo như chúng tôi tưởng thật là như vậy, thì đây dường như là dự ngôn về cuộc Cải chánh. Đương thời Trung cổ, tuy chế độ Thủ lãnh kia hủ hoại và quỉ quái chừng nào, nhưng Đức Chúa Trời vẫn có dân Ngài ở trong lãnh vực của Thủ lãnh kia. Khi tiếng kèn của Luther vang lừng kêu gọi, nhằm thế kỷ thứ 16, thì một cuộc di cư và ly khai khỏi "ràn" của Thủ lãnh kia bắt đầu. Nó lan tới Đức, Scandinavie, Anh, Tô-cách-lan, Hoa kỳ và Gia-nã-đại. Do cuộc Cải chánh đó đã phát xuất kỷ nguyên cận đại của chúng ta, có Kinh Thánh mở ra, tự do tín ngưỡng, giáo dục bình dân, và chánh quyền của dân, do dân và vì dân. Nhờ Martin Luther hơn là nhờ bất cứ người nào khác, chúng ta có những phước lành của nền văn minh kim thời.
"Trong một ngày, nó sẽ bị lửa thiêu" (18:8). Đây dường như có nghĩa rằng Ba-by-lôn sẽ thình lình bị hủy diệt trơn trọi. Đây có lẽ chỉ về một đặc điểm nào của cuộc giao tranh chung kết với Antichrist, hiện chưa xảy đến. Còn chế độ Thủ lãnh kia, với tư cách một cường quốc cai trị thế giới, đã ở vào tình trạng suy vi trong 400 năm qua. Quả thật, quyền hành chánh trị của chế độ ấy trong các chánh phủ thế giới đã chấm dứt, gần như thình lình, Bởi tay Nã-phá-luân, nhằm cuối thế kỷ 18.
Tuy nhiên, dầu chế độ Thủ lãnh kia là một tỉ dụ lịch sử hiển nhiên về Hội Thánh bội đạo, nhưng danh từ "Ba-by-lôn, con đại dâm phụ" có lẽ còn có ý nghĩa nhiều hơn là chế độ Thủ lãnh kia. Nó có thể là danh hiệu của Thiên đàng đặt cho toàn thể giới Cơ-đốc-giáo bội đạo.
Ngay trong nước chúng ta (Tức là nước Mỹ, quê hương của tác giả), là nơi ta tưởng mình có hình thức Cơ-đốc-giáo thuần túy hơn hết mà ai nấy được biết kể từ thời bắt bớ đầu tiên, dầu có rất đông thánh đồ tin kính, rất nhiều nhà thờ, trường Thần đạo, tổ chức và phong trào chân chánh, trung tín, ở dưới quyền lãnh đạo của các Mục sư và thủ lãnh có lòng trung thành không hề lay chuyển cùng đức tin không một điểm khả nghi, NHƯNG, trái lại, nói chung, các Hội Thánh của chúng ta hoàn toàn phàm nhân hóa, đầy dẫy lòng ham mến thế gian, lãnh đạm, phân tâm, ham vui và có đủ thứ buông lung theo tội ác; các tòa giảng và trường Thần đạo có sự không tin tới một mực độ kinh khủng. Ít có Lời Đức Chúa Trời trong khi giảng dạy; ít có Đấng Christ trong các cuộc thờ phượng; có rất nhiều nghi thức chết cứng; có rất nhiều tánh cách chuyên nghiệp và vẻ huy hoàng của giới phẩm chức; có rất ít tinh thần chân chánh của Đấng Christ; rất dốt về Lời Đức Chúa Trời, và người giảng dạy rất lãnh đạm đối với Lời ấy. Tất cả tình trạng nầy khiến ta nghĩ rằng dường như toàn thể Hội Thánh Chưa Hoàn Toàn Thoát Khỏi Sự Bội Đạo Đại Qui Mô.
Mười vua (17:11, 12)
Xen vào giữa những cường quốc bá chủ hoàng cầu, khi các nước ở dưới quyền một số chánh phủ mà số chẵn là "mười." Mười cái sừng ở sách DaDn 7:7 dường như dự ngôn về các nước mà đế quốc La-mã chia thành và do đó La-mã của chế độ Thủ lãnh kia đã phát xuất thể nào, thì cũng một thể ấy, lời chép ở đoạn KhKh 17:12 có thể mô tả một khoảng xen vào giữa sự suy sụp của chế độ Thủ lãnh kia và sự dấy lên của Antichrist trong kỳ sau rốt. Kể từ ngày chế độ Thủ lãnh kia, với tư cách một cường quốc bá chủ hoàn cầu, bị suy sụp, thì chưa có một cường quốc nào khác cai trị cả thế giới nữa. Nã-phá-luân đã thử làm như vậy. Hoàng đế nước Đức (Kaiser ) đã thử làm như vậy. Hitler đã thử làm như vậy. Và ngày nay, Cộng sản vô thần Nga cũng đang thử làm như vậy.
19:1-10 -- Tiệc cưới của Chiên Con
Hai điệp khúc "Ha-lê-lu-gia!" Điệp khúc thứ nhứt (câu 1-5) bày tỏ khánh tiết trên Thiên đàng vì Ba-by-lôn, là Giáo hội dâm phụ, bị hủy diệt.
Điệp khúc thứ hai (câu 6-8) có muôn vàn tiếng vang lên như đại dương gầm thét và có tiếng sấm động nơi xa, báo tin Chiên Con làm lễ thành hôn với Tân phụ chân chánh của Ngài.
Tại tiệc cưới, các cá nhân được gọi là "kẻ được mời" (câu 9); nhưng về toàn thể, họ được gọi là "Vợ" (câu 7).
19:11-16 -- Con ngựa bạch và các đạo quân Thiên đàng
Nếu con ngựa bạch nầy cũng là con ngựa bạch của ấn thứ nhứt (6:2), thì đây là sự đắc thắng chung kết, còn đó là sự đắc thắng bắt đầu.
Nếu con ngựa bạch đó chỉ về nước của thế gian, thì con ngựa bạch nầy đã toàn thắng con đó.
Sự hiện thấy nầy dường như hình dung Chúa tái lâm trong vinh quang, với tư cách Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa. Vinh hiển dành cho những kẻ thuộc về Ngài. Còn cơn thạnh nộ giáng trên những người gian ác. Điểm nầy cũng được bày tỏ ở thơ IITe 2Tx 1:7-10.
KhKh 19:17-21 -- Sự đoán phạt chung kết giáng trên Con Thú và Tiên tri giả
Bốn kẻ thù của Chiên Con là: Con rồng, Con Thú, Tiên tri giả và Ba-by-lôn.
Trong đoạn 18, Ba-by-lôn, là khối liên minh hoạt động của Con Thú và Tiên tri giả, đã sụp đổ. Dầu khối liên minh của Con Thú và Tiên tri giả, tức là chánh quyền và Giáo hội bội đạo, tan rã, nhưng chúng vẫn tồn tại ít lâu nữa. Mỗi tên trong phạm vi hoạt động riêng của nó. Tới đoạn nầy, thì dự ngôn về chúng bị hủy diệt. Rồi tới đoạn 20, thì con rồng, tức là Sa-tan, tức là tà linh xúi giục mọi sự nầy, phải chịu án phạt chung thẩm.
Con Thú, Tiên tri giả và Ba-by-lôn dường như là các chế độ được nhân cách hóa. Còn con rồng là một thân vị.
Chẳng những các chế độ bị hủy diệt, song mọi người mang "dấu" của các chế độ ấy cũng bị hủy diệt (14:9-11; 19:20).
Nếu "Con Thú" dưới hình thức "Ba-by-lôn" là chế độ Thủ lãnh kia, thì những người mang "dấu" của "Con Thú" có thể gồm hết thảy thuộc viên của Giáo hội bội đạo chăng? Chắc không. Chế độ ấy bại hoại và đi theo những mục đích trần gian. Nhưng trong "ràn" của Giáo hội ấy có thể có những người thật lòng kính mến Đấng Christ hơn các đặc điểm hư hoại của Giáo hội họ. Thật ra, họ có thể có dấu của Đấng Christ trên lòng mình. Dấu là một vấn đề thuộc tấm lòng. Nhiều tín đồ Tin Lành có lẽ không có dấu Con Thú ở bề ngoài, song lại có dấu ấy in lớn trên lòng mình. Là một chế độ, Hội Thánh Tin Lành thuần túy và thoát khỏi sự hư hoại của loài người bội phần hơn Giáo hội kia; cũng không đặt một trở lực nào của loài người giữa cá nhân và Cứu Chúa họ như Giáo hội kia vẫn làm. Nhưng ta có thể có dấu của Đấng Christ bên ngoài, mà bên trong lại có dấu của Con Thú. Và ngược lại. Yếu tố quyết định là thái độ của mỗi người trực tiếp đối với Đấng Christ. Đức Chúa Trời biết rõ thái độ ấy, và Ngài có thể phán quyết chúng ta có "dấu" nào.
20:1-10 -- Một ngàn năm hòa bình
Câu 2-7 có sáu lần chép "một ngàn năm." Suốt cả Kinh Thánh. Đó là khúc sách duy nhứt thật có chép về một ngàn năm hòa bình. Người ta nói rằng trong Tân Ước có hơn 300 lần chép về sự tái lâm của Chúa; nhưng một ngàn năm hòa bình chỉ được nói đến ở đây, tại phần mầu nhiệm hơn hết của quyển sách mầu nhiệm hơn hết trong Kinh Thánh nầy.
Sống trong hy vọng hạnh phước và trong sự liên tục chờ đợi Chúa tái lâm là một điều; còn có lý thuyết nào về một ngàn năm hòa bình lại là một điều khác. Có người nghĩ rằng một ngàn năm hòa bình sẽ là một thời đại hạnh phước trong thế giới hiện tại; người khác lại cho rằng nó là một thời đại của cõi đời đời sau khi hình thức sanh tồn bằng thịt và huyết đã qua đi. Cũng có kẻ giải luận dường như họ biết hết về một ngàn năm hòa bình.
Sa-tan bị xiềng xích (câu 1-3)
Việc Sa-tan bị đuổi khỏi cõi trời (đoạn 12) có liên quan đến sự giáng sanh và sự thăng thiên của Đấng Christ (12:5). Đây, việc xiềng xích Sa-tan có liên quan với sự tái lâm của Đấng Christ.
Có người cho rằng hai khúc sách nầy liên quan đến cùng một biến cố. Nhưng ở đằng kia, Sa-tan gây rối loạn cho trái đất (12:12), còn ở đây, nó bị ngăn cản, không gây rối loạn được nữa (20:3).
"Vực" (20:3) (Nên dịch là: "Vực sâu không đáy") là lãnh vực của Sa-tan, do chính mình nó hoặc một thiên sứ trưởng của nó cai trị (9:11), thì nay trở thành khám tù giam cầm nó.
Đời trị vì một ngàn năm (câu 4-6)
Đời trị vì nầy sẽ kéo dài 1000 năm. Có người cho rằng đây thật là 1000 năm, và theo nghĩa hình bóng, thì là một kỳ yên nghỉ (Sa-bát) sau 6000 năm lịch sử loài người. Đối với kẻ khác, lại là một thời gian lâu dài vô hạn, vì theo niên đại học của Đức Chúa Trời, thì "ở trước mặt Chúa, một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày" (IIPhi 2Pr 3:8).
"Sự sống lại thứ nhứt" (câu 5). Không nói đến sự sống lại thứ hai. Song câu: "Những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm" dường như ngụ ý rằng sẽ có hai sự sống lại, -- một trước ngàn năm hòa bình, và một sau ngàn năm hòa bình.
Giáo lý của Tân Ước thường ràng buộc sự tái lâm của Chúa với sự sống lại và ngày phán xét, -- cả ba cùng trong một viễn thị (perspective ). Ấy cũng như khi ta nhìn những ngọn núi xa xăm, ngọn nầy sau ngọn kia, cùng một hàng, thì chúng dường như gần nhau lắm, nhưng thật ra chúng cách xa nhau rất nhiều.
Tuy nhiên, khi Đức Chúa Jêsus dùng câu: "Kỳ kẻ công bình sống lại" (LuLc 14:4), thì có lẽ Ngài ngụ ý phán mọi người chẳng cùng sống lại một lúc.
Luận về sự sống lại, Sứ đồ Phao-lô nói rằng: "Mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại. Kế đó, cuối cùng sẽ đến" (ICo1Cr 15:23, 24). Dường như kỳ cuối cùng đến sau sự sống lại của dân (tín đồ) Chúa ít lâu, và sự sống lại của dân Chúa đến sau sự sống lại của Chúa một thời gian.
Sự đoán phạt chung kết dành cho Sa-tan (câu 7-10)
Ba-by-lôn, Con Thú và Tiên tri giả, là các môi giới do đó Sa-tan làm công việc tàn hại, đã bị tiêu diệt rồi (đoạn 17, 18, 19), nên rốt lại, chính thì giờ của Sa-tan cũng điểm nốt. Nó hung hăng cố gắng chiếm lại quyền cai trị trái đất, nhưng sự cố gắng của nó chỉ ngắn ngủi và vô ích.
"Ma-gót" (câu 8) là tên chung của các dân tộc phương Bắc, dòng dõi của Gia-phết (SaSt 10:2). "Gót" (câu 8) là vua chúa của chúng (Exe Ed 38:2). Có lẽ đây dùng làm tên chung cho những kẻ gian ác ở mọi nước từ "bốn phương trên đất" kéo đến tấn công các thánh đồ của Đức Chúa Trời lần chót.
Chúng ta tự hỏi Sa-tan làm thế nào mà triệu tập được người theo nó đông đúc như vậy sau khi đã bị xiềng xích 1000 năm? Có người cho rằng lúc đó là thời kỳ sống lại toàn thể, nên vô số người nam, người nữ xấu xa, gian ác, thuộc về mọi thế kỷ và mọi dân tộc, sẽ sống lại và hiến cho Sa-tan một phạm vi hoạt động tiện lợi.
"Hồ lửa và diêm" (câu 10, 15) là nơi ở cuối cùng của Sa-tan, Con Thú, Tiên tri giả và mọi người gian ác.
Nếu "Con Thú" và "Tiên tri giả" là những chế độ, chớ chẳng phải là người, thì ít ra nó cũng do người tạo thành, quản trị, và biểu dương tinh thần của các người đó.
Dầu đối với các chế độ, sự quăng vào lửa có nghĩa là tiêu diệt, nhưng người thì cứ sống mãi mãi trong khổ hình, "cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời" (câu 10). Đây là một câu mạnh mẽ, có nghĩa tuyệt đối vô cùng tận.
KhKh 20:11-15 -- Sự phán xét sau cùng
Ba-by-lôn, Con Thú, Tiên tri giả, Sa-tan và các ảnh hưởng tội ác bây giờ đã bị loại trừ, nên rốt lại đã tới lúc chỉ định cho mỗi người đến nơi ở cuối cùng.
Có lẽ vì lửa đốt (IIPhi 2Pr 3:10-12), nên "đất trốn" trước mặt "Đấng đương ngồi ở trên tòa lớn và trắng."
Những kẻ đã được xét xử là đáng dự phần sự sống lại thứ nhứt, thì tại đây sự xét xử họ sẽ được xác nhận trước hiện diện của cả vũ trụ họp lại.
Sự phán xét sẽ hoàn toàn. Mọi người thuộc mọi thời đại và mọi dân tộc sẽ có ở đó. Mọi công việc và cớ tích đã được ghi chép. Ấy sẽ là ngày "Đức Chúa Trời... xét đoán những việc kín nhiệm của loài người," theo như Phao-lô đã nói ở thơ Rô-ma 2:16;.
Sẽ chỉ có hai hạng người: Người được cứu rỗi và người bị hư mất. "Các sách" ghi chép đời sống từng người. Còn "Sách Sự Sống" ghi tên những người được cứu rỗi. Nhiều người có tâm tánh pha lộn đến nỗi ta không biết đặt họ vào đâu. Nhưng Đức Chúa Trời biết.
"Sự chết thứ hai" (câu 14) là sự đoán phạt chung thẩm lúc cuối cùng, khác hẳn sự chết thân thể mà cả loài người phải trải qua. Đây gọi nó là "hồ lửa."
Trong các sách Tin Lành, Đức Chúa Jêsus đã phán về hồ lửa; Ngài gọi nó là "nơi lửa chẳng hề tắt" (Mac Mc 9:43), và "lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó" (Mat Mt 25:41).
Lửa thật chăng? Ai biết? có lẽ nó làm cho linh hồn đau đớn hơn là lửa thật làm cho thân thể đau đớn.
Cả đến sự chết cũng bị quăng xuống hồ lửa (câu 14). Tử thần, là cơn ác mộng của cuộc sống trần gian, sẽ không bao giờ ngước đầu gớm ghiếc đe dọa những người ở ngoài "hồ lửa" (KhKh 21:4).
21:1-8 -- Trời mới và đất mới
Đoạn nầy không mô tả một chế độ xã hội mới mẻ trong thế giới hiện tại nầy, song mô tả nơi ở đời đời của những người được cứu chuộc, tức là "Nhà Cha có nhiều chỗ ở" (GiGa 14:2). Đây là một trong những đoạn quí báu nhứt của Kinh Thánh. Chúng ta ưa đọc nó biết bao!
Trời và đất thứ nhứt đã qua đi, như có chép ở thơ IIPhi 2Pr 3:10 -- "Các từng trời sẽ có tiếng vang rầm (nổ?) ma qua đi,... đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả." Vũ trụ vật chất sẽ được thay đổi tới mực nào, chúng ta không biết. Chúng ta cũng không biết hoặc trái đất nầy sẽ được sửa lại và đổi mới bởi lửa, hay là sẽ có một trái đất khác hẳn.
Ngày nay, chúng ta cũng không thể hiểu thân thể vinh hiển, thiêng liêng, chẳng hay hư nát của mình có thể bị hạn chế ở một hành tinh hoặc tinh tú vật chất tới mực nào, hay là sẽ được tự do ngao du trong không gian không biên giới.
"Biển cũng không còn nữa " (câu 1)
Nhưng có một con sông (KhKh 22:1). Vậy, chúng ta tự hỏi có nên hiểu theo nghĩa đen chăng? Có lẽ vì đất bị thiêu đốt bằng "lửa," nên không còn biển nữa. Hoặc có lẽ "Sông nước sự sống" không phải thật là nước như của trái đất nầy, song là một biểu hiện tốt đẹp về sự sống ở trong Đấng Christ, như Ngài đã phán cùng người đờn bà Sa-ma-ri rằng: "Ai uống nước Ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa" (GiGa 4:14), và "Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không" (KhKh 22:17).
"Đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người " (câu 3)
Trong vườn Ê-đen, loài người đã bị đuổi khỏi Hiện diện thiết thực, trực tiếp của Đức Chúa Trời mà họ ý thức được. Tới đây, Hiện diện Ngài được ban lại cho họ. Trong thế gian nầy, chúng ta bước đi bởi đức tin. Trên trời, chúng ta thật sẽ thấy Đức Chúa Trời, sẽ ở với Ngài và thông công thân ái với Ngài trải qua muôn ngàn đời vô tận.
Không còn sự chết, nước mắt, bịnh tật, đau lòng, hoặc sầu não nữa. Một vũ trụ mới xuất hiện. Được ở đó là điều kỳ diệu dường nào! Nhứt là những người đã chịu đau đớn rất nhiều trong đời nầy: Càng chịu đau đớn trong đời nầy, thì càng được vinh hiển ở trên trời.
"Kẻ đáng gớm ghét " không được vào đó (câu 8)
Nhiều tín đồ mắc một vài tội chép ở đây. Đối với chúng ta, dường như có nhiều thứ bậc tâm tánh, và ta không biết phân hạng ở nơi nào. Nhưng Đức Chúa Trời biết. Đối với Đức Chúa Trời, chỉ có hai hạng: Những kẻ thuộc về Ngài và những kẻ chẳng thuộc về Ngài.
KhKh 21:9-27 -- Thành Giê-ru-sa-lem mới
Đầu Kinh Thánh có một cái vườn, và cuối Kinh Thánh có một cái thành. Thành Thánh, Giê-ru-sa-lem mới, Tân Phụ của Đấng Christ, Vợ của Chiên Con (câu 2, 9, 10), đã bị giày đạp dưới chơn ở đoạn 11:2, nhưng tới đây thì sáng chói vinh quang. "Thành Thánh" đối lại với "Ba-by-lôn." Ba-by-lôn là Giáo hội tà dâm. Còn Thành Thánh là Hội Thánh chân chánh, Tân Phụ của Đấng Christ. Kẻ tà dâm đã biến đi, còn Vợ chân chánh được vinh hiển.
Một Thành bằng vàng (câu 18, 21)
Được chỉ cho Giăng thấy bởi vị thiên sứ đã chỉ cho ông thấy Ba-by-lôn (câu 9, 17:1). Thành Ba-by-lôn thời xưa đã lấy tên nó đặt cho Giáo hội tà dâm, cũng được gọi là "thành bằng vàng" (EsIs 14:4 -- theo nguyên văn), là thành kỳ quan của thế giới thượng cổ. Bây giờ Thành bằng vàng thật xuất hiện, vinh quang và tráng lệ vô cùng.
Kích thước của Thành (câu 16)
Mười hai ngàn ếch-ta-đơ (chừng 2400 cây số) mỗi phía, hoặc cả châu vi. Đây là một hình vuông, một hình khối, làm hình bóng về nó có nơi Chí thánh của Đền tạm, là một hình khối mỗi bề chừng 4 thước rưỡi, và nơi Chí thánh của Đền thờ do Sa-lô-môn xây cất, là một hình khối mỗi bề chừng 9 thước tây.
Tường đo được 144 cu-đê. Đó là bề cao hay là bề dày? nếu là bề cao, thì Thành bằng vàng ở phía trong sẽ cao hơn tường bội phần.
Kích thước là bội số (multiple ) của 12. 12 dường như là biểu hiệu và đặc điểm của dân Đức Chúa Trời. 1000 lần 12 chỉ về Thủ đô vinh quang của vũ trụ mà Đức Chúa Trời đã cứu chuộc. 12 lần 12 (144) chỉ về tường của Thủ đô ấy. 12 cổng có khắc tên 12 chi phái. 12 nền có ghi tên 12 Sứ đồ. Ấy dường như để nói rằng vinh quang của Thành là kết quả do công việc nền tảng mà Y-sơ-ra-ên và các Sứ đồ đã làm trong những thời đại quá khứ. Cây sự sống có 12 thứ trái cho 12 tháng.
Kiểu tổng quát của Thành (hình vuông, có tường và sông nước sự sống) có lẽ đã phỏng theo kiểu thành Ba-by-lôn thời xưa, vì Ba-by-lôn cũng hình vuông, châu vi vách thành là 60 dặm, cao chừng 90 thước tây, có 100 cổng bằng đồng, và có sông Ơ-phơ-rát chảy ở giữa, chia làm hai phần.
Các bửu thạch của Thành (câu 19-21)
Mỗi cổng là một hột châu. 12 nền thì mỗi nền xây bằng một bửu thạch: Bích ngọc, đá lam bửu, lục mã não, đá lục cẩm, hồng mã não, hoàng ngọc, hoàng bích, ngọc thủy thương, ngọc hồng bích, ngọc phỉ túy, đá hồng bửu, đá tử bửu. Nó giống tên 12 viên ngọc trên bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm, có khắc tên 12 chi phái Y-sơ-ra-ên (XuXh 28:15-30). 12 viên ngọc nầy chắc cốt dùng làm tấm hình phảng phất ở thời quá khứ xa xăm, để tỏ ra công tác mà Đức Chúa Trời muốn thực hiện.
Một vài viên ngọc nầy có lẽ không đúng như những viên ngọc ngày nay mang tên nó. Người ta cho rằng nó có các màu sắc sau đây: Bích ngọc màu kim cương. Đá lam bửu màu xanh lơ. Lục mã não màu xanh da trời. Đá lục cẩm màu xanh lá cây. Hồng mã não màu đỏ và trắng. Hoàng ngọc màu đỏ như lửa. Hoàng bích màu vàng. Ngọc thủy thương màu xanh biển. Ngọc hồng bích màu xanh lá cây trong vắt. Ngọc phỉ túy màu tía. Đá hồng bửu màu đỏ. Đá tử bửu màu tím.
Thành bằng vàng. Tường bằng kim cương. Cổng bằng hột châu. Nền bằng bửu thạch. Dầu thật là như vậy, hay tượng trưng cho một cái gì vinh quang hơn nữa, nó cũng sáng chói không sao tưởng tượng được.
KhKh 22:1-5 -- Cây sự sống
Cây sự sống mọc bên sông nước sự sống (22:1, 2) từ ngôi Đức Chúa Trời tràn ra đời đời. Trong hết được mô tả ở cảnh cây sự sống và con sông của vườn Ê-đen (SaSt 2:9, 10). Về sau được mô tả trong sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên về dòng sông chữa lành (Exe Ed 47:1-2). Về sau nữa, Đức Chúa Jêsus phán rằng: "Ai uống nước Ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa" (GiGa 4:14); lại rằng: "Ta là Bánh của Sự Sống... Nếu ai ăn Bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng" (GiGa 6:35, 51). Tới đây, mọi sự đó được ứng nghiệm chung kết cho các công dân trong thế giới của Chiên Con.
KhKh 22:6-10 -- Tánh cách quan trọng của sách nầy
Đây tái quyết rằng sách Khải Huyền là Lời Của Đức Chúa Trời (22:6). Lúc mở đầu (1:3) cũng như lúc chấm dứt (22:7), sách nầy chúc phước cho kẻ nào đọc và giữ những lời của nó. "Chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy" (22:10), -- đó là một lời nghiêm trọng cảnh cáo chớ có xao lãng nó.
KhKh 22:11-15 -- Hết thời kỳ ân điển
"Kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế mãi;... kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!" (22:11). Đó là một lời nghiêm trọng phó kẻ hư mất cho số phận họ, và cũng đặt người được cứu rỗi vào địa vị của họ mãi mãi. Tâm tánh có thể trở nên tốt hơn hoặc xấu hơn trong đời nầy, đang khi thời kỳ ân điển hãy còn. Nhưng một ngày kia, tâm tánh sẽ bất di bất dịch cho đến đời đời, cũng như trái từ nụ nẩy ra rồi vậy.
Cũng hãy chú ý sự tuyệt đối phân rẽ giữa những kẻ đã giặt áo mình và những kẻ không giặt (22:14-15, cũng như 21:6, 8). Nhiều lần trong Kinh Thánh quả quyết rằng chỉ có hai hạng người và chỉ có hai số phận đời đời.
22:16-17 -- Lời mời sau chót
"Ta là Chồi và Hậu tự của Đa-vít, là Sao Mai sáng chói" (22:16; Dan Ds 24:17). Ấy có nghĩa rằng Đức Chúa Jêsus là ĐẤNG mà mọi lời tiên tri chỉ vào Ngài và được ứng nghiệm trong Ngài. Không còn Đấng nào khác. Một mình Ngài là Cứu Chúa. Ngoài Ngài, chẳng còn hy vọng chi nữa.
Ngài phán với mọi người muốn rằng: "Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không." Thánh Linh Ngài phán rằng: "Hãy đến." Hội Thánh Ngài nói: "Hãy đến." Ai cũng có thể nhận lời mời. Một thế giới vinh quang đang đợi chờ ta. Hãy đến, chớ để trễ quá.
22:18-21 -- Lời cảnh cáo sau chót
Chớ có xén bớt phần nào của sách nầy. Làm vậy, sẽ mất các lời hứa vinh hiển trong đó. Những nhà phê bình duy lý không thích khúc sách nầy, vì nó lên án họ đã dám tự do loại bỏ bất cứ phần nào trong Kinh Thánh mà họ không thích (PhuDnl 4:2; 12:32). Tốt hơn là Lời Đức Chúa Trời thể nào, thì cứ tiếp nhận thể ấy, và hãy cẩn thận, chớ quá coi thường bất cứ phần nào của Lời ấy.
"Ta đến mau chóng!" Lời Chúa phán đây được lập lại ba lần trong đoạn nầy (câu 7, 12, 20). Đây là lời cuối cùng của Đức Chúa Jêsus được chép lại, là lời Ngài tạm biệt Tân phụ đang đợi chờ trong khi Ngài khuất khỏi mắt họ. "A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến! "
Sách Khải Huyền Và Sách Sáng Thế Ký
Kinh Thánh là một truyện tích duy nhứt. Phần cuối cùng của sách cuối cùng có vẻ như đoạn kết của truyện tích bắt đầu ở phần thứ nhứt của sách thứ nhứt trong Kinh Thánh.
Lời đầu tiên trong sách Sáng-thế Ký:
"Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất" (SaSt 1:1).
Gần như lời cuối cùng trong sách Khải Huyền:
"Tôi thấy trời mới và đất mới" (KhKh 21:1).
* * *
"Nơi nước tụ lại (Đức Chúa Trời đặt tên) là biển" (SaSt 1:10).
"Biển cũng không còn nữa" (KhKh 21:1).
* * *
"Đức Chúa Trời đặt tên... sự tối là đêm" (SaSt 1:5).
"Ở đó không có ban đêm" (KhKh 21:25).
* * *
"Đức Chúa Trời làm nên hai vì sáng lớn" (mặt trời và mặt trăng) (SaSt 1:17).
"Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng" (KhKh 21:23).
* * *
"Một mai ngươi ăn (cây biết điều thiện và điều ác), chắc sẽ chết (SaSt 2:16).
"Sẽ không có sự chết... nữa" (KhKh 21:4).
* * *
"Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần" (SaSt 3:16).
"Không có... đau đớn nữa" (KhKh 21:4).
* * *
"Đất sẽ bị rủa sả vì ngươi" (SaSt 3:17).
"Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa" (KhKh 22:3).
* * *
Sa-tan xuất hiện như tên lừa gạt mọi người (SaSt 3:22, 24).
Sa-tan biến mất đời đời (KhKh 20:10).
* * *
Loài người bị đuổi xa Cây sự sống (SaSt 3:22-24).
Cây sự sống lại xuất hiện (KhKh 22:2).
* * *
Loài người bị đuổi xa Hiện diện của Đức Chúa Trời (SaSt 3:24).
"Chúng ta sẽ được thấy mặt Chúa (KhKh 22:4).
* * *
Nhà đầu tiên của loài người ở trong một khu vườn, gần bên con sông (SaSt 2:10).
Nhà đời đời của loài người được cứu chuộc cũng sẽ ở bên một con sông (KhKh 22:1).

Sáng-thế Ký
"Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất." (SaSt 1:1)
"Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ... Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt." (1:27; 2:24).
"Hê-nóc Đồng Đi Cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi." (5:24).
"Nô-ê Đồng Đi Cùng Đức Chúa Trời ". (6:9).
"Đức Chúa Trời hay đoái xem." (16:13).
"Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng?" (18:14).
"Đấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?" (18:25).
"Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người." (15:6).
"Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Đức Chúa Trời gặp người." (32:1).
"Đức Giê-hô-va, là Đấng ta phục sự, sẽ sai thiên sứ theo ngươi, làm cho thành công việc ngươi đi." (24:40).
"Nầy, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó." (28:15).
"Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Đức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu!" (31:49).
"Thật Đức Giê-hô-va hiện có trong nơi đây... Đây thật là đền Đức Chúa Trời, thật là cửa của trời!" (28:16, 17).
"Chẳng phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Đức Chúa Trời." (45:8).
"Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi." (50:20).
"Cầu xin Đức Chúa Trời mà tổ phụ tôi, là Áp-ra-ham và Y-sác, đã thờ phượng, là Đức Chúa Trời đã chăn nuôi tôi từ khi mới lọt lòng cho đến ngày nay... hãy ban phước cho hai đứa trẻ nầy!" (48:15, 16).
Xuất Ê-díp-tô Ký
"Các ngươi sẽ biết ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời." (XuXh 6:7).
"Người Ê-díp-tô sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va." (7:5).
"Ta sai một thiên sứ đi trước mặt ngươi, đặng phù hộ trong lúc đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta đã dự bị." (23:20).
"Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là Mười Điều răn." (34:28).
"Hai bảng chứng bằng đá bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra." (31:18).
"Hai bảng đó là việc của Đức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng." (32:16).
"Trước mặt TA, ngươi chớ có các thần khác.
"Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình... Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó.
"Ngươi chớ lấy Danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi.
"Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.
"Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.
"Ngươi chớ giết người.
"Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
"Ngươi chớ trộm cướp.
"Ngươi chớ nói chứng dối.
"Ngươi chớ tham... vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi." (20:3-17).
Lê vi ký
"Phàm thuế một phần mười thổ sản... đều thuộc về Đức Giê-hô-va." (LeLv 27:30).
"Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; Ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh." (11:44).
"Hãy đem đến... một bó lúa đầu mùa của các người,... dâng của lễ cho Đức Chúa Trời mình." (23:10, 14).
"Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù..., nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận như mình... Kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi,... hãy thương yêu người như mình." (19:18, 34).
"Nếu các ngươi giữ gìn các Điều răn Ta,... đất sẽ sanh hoa lợi,... các ngươi sẽ ở bình yên trong xứ mình... Các ngươi ngủ không sợ ai dọa... Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi... Song nếu các ngươi không nghe Ta... Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như sắt và đất trơ như đồng... Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ,... Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các dân... Xứ các ngươi sẽ hoang vu." (26:3, 5, 6, 12, 14, 19, 31-33).
Dân số ký
"Phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi." (Dan Ds 32:23).
"Một Ngôi Sao hiện ra từ Gia-cốp." (24:17).
"Chúng tôi đi đến xứ mà Đức Giê-hô-va có phán rằng: Ta sẽ ban xứ đó cho các ngươi. Xin anh hãy đi cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ đãi anh tử tế." (10:29).
"Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô- va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi!" (6:24-26).
Phục truyền luật lệ ký
"Giê-hô-va, ấy là Đức Chúa Trời trên trời cao kia và dưới đất thấp nầy: chẳng có ai khác." (4:39).
"Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa." (10:17).
"Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi." (6:5).
"Khá cẩn thận giữ lấy những Điều răn... của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi." (6:17).
"Các ngươi chớ thêm chi và đừng bớt chi về điều ta truyền cho, để giữ theo các Điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi mà ta đã truyền." (4:2).
"Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay, sẽ ở tại trong lòng ngươi; khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi." (6:6, 7).
"Loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra." (8:3).
"Khá lập một vua lên cai trị ngươi... Vua phải chiếu theo luật pháp nầy, chép một bổn cho mình. Trọn đời vua phải đọc ở trong, để tập biết kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình." (17:14, 15, 18, 19).
"Đức Giê-hô-va có phán cùng chúng ta khá làm theo các luật lệ nầy, kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, hầu cho chúng ta được phước luôn luôn." (6:24, 25).
"Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạnh ngươi lâu bấy nhiêu." (33:25).
"Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài." (33:27).
"Ngươi sẽ tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và khi nào hết lòng, hết ý tìm cầu Ngài, thì mới gặp." (4:29).
"Trong bốn mươi năm nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết." (2:7).
"Ngươi phải làm điều ngay thẳng và tốt lành trước mặt Đức Giê-hô-va, để ngươi được phước." (6:18).
"Khá giữ lấy mình, kẻo ngươi quên Đức Giê-hô-va." (6:12).
"Ngươi sẽ vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, về mọi việc tay ngươi đã làm." (12:18).
"-! Chớ chi dân nầy thường có một lòng kính sợ Ta, hằng giữ theo các điều răn Ta như thế, để chúng nó và con cháu chúng nó được phước đời đời!" (5:29).
"Kìa, ngày nay ta đặt trước mặt các ngươi sự phước lành và sự rủa sả. Sự phước lành: nếu các ngươi nghe theo...; sự rủa sả: nếu các ngươi không nghe theo." (11:26-28).
"Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài,... thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban cho ngươi sự trổi hơn mọi dân trên đất." (28:1).
"Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi... Ngài sẽ khiến giáng cho ngươi sự rủa sả, kinh khủng... ôn dịch... bịnh lao, bịnh nóng lạnh,... sự nóng cháy, sự hạn hán, binh đao,... sự sảng sốt, sự đui mù, và sự lãng trí... Đức Giê-hô-va sẽ ban cho ngươi một tấm lòng run sợ... Sớm mai ngươi sẽ nói: Chớ chi được chiều tối rồi! Chiều tối ngươi sẽ nói: Ước gì được sáng mai rồi!" (28:15-67).
"Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả... Hãy chọn sự sống... thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi... và tríu mến Ngài,... Hãy để lòng chăm chỉ,... cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy. Vì chẳng phải một lời nói vô giá trị cho các ngươi đâu, nhưng nó là sự sống của các ngươi; nhờ lời nói nầy, các ngươi sẽ ở lâu ngày trên đất." (30:19, 20; 32:46, 47).
Giô-suê
"Ta sẽ ở cùng ngươi như Ta ở cùng Môi-se; Ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu." (Gios Gs 1:5).
"Chỉ hãy vững lòng bền chí, và cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ Ta, đã truyền cho ngươi; chớ xây qua bên hữu hoặc bên tả, để hễ ngươi đi đâu, cũng đều được thạnh vượng." (1:7).
"Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy, ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước." (1:8).
Các Quan Xét
"Có lắm điều dò xét trong lòng." (Cac Tl 5:16 -- theo nguyên văn).
"Bá tánh dâng mình cách vui lòng." (5:2).
"Những ngôi sao cứ theo đường mình mà đánh" (vì dân Y-sơ-ra-ên). (5:20).
Ru-tơ
"Mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân của mẹ, tức là dân của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi, mẹ thác nơi nào, tôi muốn thác và được chôn nơi đó. Ví bằng có sự chi khác hơn sự chết phân rẽ tôi khỏi mẹ, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi!" (Ru R 1:16, 17).
I Sa-mu-ên
"Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng." (ISa1Sm 16:7).
"Còn ta đây, cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà thôi cầu nguyện cho các ngươi... Sa-mu-ên... kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va trọn đêm." (12:23; 15:11).
"Đức Giê-hô-va là Chúa của chiến trận." (17:47).
"Chẳng do sức riêng mình mà người nào được thắng." (2:9).
"Nếu các ngươi thật hết lòng trở lại cùng Đức Giê-hô-va,... Ngài ắt sẽ giải cứu các ngươi khỏi tay dân Phi-li-tin." (7:3).
"Hãy kính sợ Đức Giê-hô-va, lấy hết lòng trung tín phục sự Ngài." (12:24).
"Hoặc giả Đức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta chăng; vì Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy." (14:6).
"Người Phi-li-tin nầy, kẻ chẳng chịu phép cắt-bì nầy là ai, mà lại dám sỉ nhục đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống?" (17:26).
II Sa-mu-ên
"Bây giờ nó đã chết... Ta sẽ đi đến nó, nhưng nó không trở lại cùng ta." (IISa 2Sm 12:22, 23).
"Ta sẽ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va." (22:4).
"Đức Chúa Trời tôi là hòn đá tôi, nơi tôi sẽ nương náu mình, là thuẫn đỡ tôi, sừng chửng cứu tôi, ngọn tháp cao và nơi nương dựa của tôi. Hỡi Đấng che chở tôi, ấy Ngài giải cứu tôi khỏi sự hung bạo... Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch." (22:2, 3, 18).
"Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi." (24:24).
I Các Vua
"Khá mạnh dạn và nên người trượng phu! Hãy giữ điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn con giữ, để đi trong đường lối Ngài, gìn giữ... những điều răn... của Ngài,... hầu cho con làm điều chi hay là đi nơi nào, đều được thành công." (IVua 1V 2:2, 3).
"Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va! Về các lời tốt lành mà Ngài đã... phán ra, chẳng có một lời nào mà không ứng nghiệm." (8:56).
"Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi!... Tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ... Xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để phân biệt điều lành, điều dữ." (3:7-9).
"Có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất. Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ." (19:11, 12).
II Các Vua
"Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó...
"Đức Giê-hô-va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở xung quanh Ê-li-sê." (IIVua 2V 6:16, 17).
"Ê-xê-chia nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời... gìn giữ các Điều-răn mà Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se. Đức Giê-hô-va ở cùng người; hễ người đi làm sự gì, đều được thành tựu." (18:5, 6, 7).
"Y-sơ-ra-ên bị cất khỏi xứ mình... (vì) đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ... Dân Y-sơ-ra-ên làm lén những việc bất chánh... dựng lên những trụ thờ..., hầu việc những hình tượng... Bởi cớ ấy, Đức Giê-hô-va rất nổi giận dữ cùng dân Y-sơ-ra-ên, xua đuổi chúng khỏi trước mặt Ngài." (17:23, 7, 9, 10, 12, 18).
I Sử ký
"Hãy ca hát cho Ngài." (ISu1Sb 16:9).
"Đức Giê-hô-va quản trị." (16:31).
"Trận nầy bởi Đức Chúa Trời mà có." (5:22).
"Đức Giê-hô-va ở với người." (9:20).
"Hãy lấy Danh thánh Ngài làm vinh." (16:10).
"Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va." (16:8).
"Phải tìm mặt Ngài luôn luôn." (16:11).
"Có một lòng một dạ." (12:33).
"Phải tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài." (16:11).
"Hãy mặc lấy trang sức thánh khiết mà thờ lạy Đức Giê-hô-va." (16:29).
"Đa-vít đi đến đâu, thì Đức Giê-hô-va cũng khiến cho người được thắng." (18:6).
"Giê-hô-va Đức Chúa Trời... chẳng hề từ bỏ con, cũng chẳng hề lìa khỏi con." (28:20).
"Mọi vật đều do nơi Chúa mà đến; và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa." (29:14).
"Đa-vít và cả Y-sơ-ra-ên đều hết sức vui chơi trước mặt Đức Chúa Trời, XƯỚNG CA." (13:8).
"Trong khi giao chiến, chúng kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời vì chúng có lòng tin cậy Ngài, thì cứu giúp cho." (5:20).
"Hỡi Đức Giê-hô-va! Sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng và oai nghi đáng qui về Ngài,... nước thuộc về Ngài." (29:11).
"Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng, và phân biệt các ý tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ cho con gặp; nhưng nếu con lìa bỏ Ngài, ắt Ngài sẽ từ bỏ con đời đời." (28:9).
II Sử ký
"Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm Đầu chúng ta." (IISu 2Sb 13:12).
"Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc." (20:20).
"Dân Giu-đa được thắng hơn, vì chúng nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời." (13:18).
"Bởi vì họ lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ... nên Ngài đã giáng trên họ các tai vạ nầy." (7:22).
"Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi,... nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì..., và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!" (20:12).
"Trong lúc khốn khó, chúng trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, mà tìm cầu Ngài, thì lại gặp Ngài đặng." (15:4).
"Lạy Đức Giê-hô-va! Trừ ra Chúa, chẳng có ai giúp đỡ người yếu thắng được người mạnh;... ấy là nhơn danh Chúa mà chúng tôi đến đối địch cùng đoàn quân nầy." (14:11).
"Nhược bằng dân Ta, là dân gọi bằng Danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì Ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ." (7:14).
"Ô-xia tìm kiếm (Đức Chúa Trời) bao lâu, thì Đức Chúa Trời khiến cho người đặng may mắn bấy lâu." (26:5).
"Giô-tham trở nên cường thạnh, bởi vì người đi đường chánh đáng trước mặt Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời mình." (27:6).
"Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát, vì người tìm cầu Đức Chúa Trời..., giữ theo các Điều-răn của Ngài." (17:3, 4).
"Trong các việc người làm... nơi Đền của Đức Chúa Trời... thì người hết lòng mà làm, và được hanh thông." (31:21).
"Đương khi chúng khởi ca hát và ngợi khen, thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào..., và các dân ấy đều bị bại." (20:22).
"Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca hát... khen ngợi, cảm tạ Đức Giê-hô-va,... thì... sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy lấp đền của Đức Chúa Trời." (5:3, 14).
"Cơn giận của Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi... ta không gìn giữ lời phán của Đức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách nầy." (34:21).
E-xơ-ra
"Có nhiều trưởng tộc... dâng những của lễ lạc ý cho Nhà Đức Chúa Trời." (Exo Er 2:68).
"Con mắt Đức Chúa Trời của chúng đoái xem các trưởng lão dân Giu-đa." (5:5).
"Những người đã tự chia rẽ ra sự ô uế của các dân tộc trong xứ." (6:21).
"Hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi, thật Chúa chẳng có phạt chúng tôi cho đáng như tội chúng tôi." (9:13).
"Phàm điều gì Đức Chúa Trời truyền dạy..., khá làm cho cần mẫn." (7:23).
"E-xơ-ra đã định chí tra xét luật pháp của Đức Giê-hô-va, giữ làm theo, và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết những luật pháp và giới mạng." (7:10).
Nê-hê-mi
"Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta." (NeNe 4:20).
"Hãy đứng dậy, ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi." (9:5).
"Sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của các ngươi." (8:10).
"Chúng tôi sẽ chẳng lìa bỏ Đền của Đức Chúa Trời chúng tôi đâu." (10:39).
"Đức Chúa Trời của các từng trời sẽ ban cho chúng ta sự hanh thông." (2:20).
"... Là một người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác." (7:2).
"Anh em há chẳng đáng lẽ ăn ở cách kính sợ Đức Chúa Trời... sao?" (5:9).
"Chúng được vững chắc trong ý nhất định làm công việc tốt lành nầy." (2:18).
"Ta mắc làm công việc lớn, xuống không đặng." (6:3).
"Những kẻ ca hát tiếng lớn,... vì Đức Chúa Trời đã khiến cho chúng vui mừng khấp khởi." (12:42, 43).
"Chúng tôi cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời chúng tôi, và lập kẻ ngày và đêm canh giữ họ... Vậy, chúng tôi xây cất vách thành lại, vì dân chuyên thành làm công việc." (4:9, 6).
Ê-xơ-tê
"Nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà ngươi được vị hoàng hậu sao?" (EtEt 4:14).
"Tôi sẽ vào cùng vua...; nếu tôi phải chết, thì tôi chết." (4:16).
Gióp
"Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!
"Trong mọi sự ấy, Gióp không phạm tội, và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời." (Giop G 1:21, 22).
"Người mà Đức Chúa Trời quở trách lấy làm phước thay! Vậy, chớ khinh sự sửa phạt của Đấng Toàn năng.
"Vì Ngài làm cho bị thương tích, rồi lại bó rịt cho; Ngài đánh bại, rồi tay Ngài chữa lành cho." (5:17, 18).
"Loài người là gì...? Nhân sao Chúa lưu ý đến người, viếng thăm người mỗi buổi sớm, và thử thách người mỗi lúc, mỗi khi?" (7:17, 18).
"Nhờ ánh sáng Ngài, tôi bước qua sự tối tăm." (29:3).
"Chúa biết con đường tôi đi; khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng." (23:10).
"Vì ít số năm còn phải đến, rồi tôi sẽ đi con đường mà tôi chẳng hề trở lại." (16:22).
"Mắt đã thấy tôi sẽ chẳng thấy tôi nữa." (7:8).
"Nếu loài người chết, có được sống lại chăng? Trọn ngày giặc giã tôi, tôi đợi chờ, cho đến chừng tôi được buông thả.
"Chúa sẽ gọi, tôi sẽ thưa lại; Chúa sẽ đoái đến công việc của tay Chúa." (14:14, 15).
"Mặc dầu xảy đến cho ta điều gì... dầu Chúa giết ta, Ta Cũng Còn Nhờ Cậy Nơi Ngài. " (13:13, 15).
"Tôi Biết Rằng Đấng Cứu Chuộc Tôi Vẫn Sống, đến lúc cuối cùng, Ngài sẽ đứng trên đất.
"Chính tôi sẽ thấy Ngài, mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài." (19:25, 27).
Thi Thiên
"Phước cho người nào... lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm!" (Thi Tv 1:1, 2).
"Tôi nằm xuống mà ngủ; tôi tỉnh thức, vì Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi." (3:5).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn." (4:8).
"Chúa khiến lòng tôi vui mừng nhiều hơn chúng nó, dầu khi chúng nó có lúa mì và rượu nho dư dật." (4:7).
"Phàm ai nương náu mình nơi Chúa sẽ khoái lạc, cất tiếng reo mừng đến mãi mãi, vì Chúa bảo hộ các người ấy." (5:11).
"Đức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời vô cùng." (10:16).
"Nguyện các dân biết mình chẳng qua là người phàm!" (9:20).
"Phàm kẻ nào nương náu mình nơi Ngài có phước thay." (2:12).
"Đức Chúa Trời là cái khiên của tôi." (7:10).
"Khi ta kêu cầu Đức Giê-hô-va, ắt Ngài sẽ nghe lời ta." (4:3).
"Tôi sẽ không nao muôn người vây tôi khắp bốn bên." (3:6).
"Tôi sẽ hát ngợi khen Đức Giê-hô-va." (13:6).
"Tôi nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va." (11:1).
"Tôi hằng để Đức Giê-hô-va đứng ở trước mặt tôi; tôi chẳng hề bị rúng động, vì Ngài ở bên hữu tôi." (16:8).
"Hỡi Đức Giê-hô-va,... xin lấy công bình Ngài mà dẫn dắt tôi, và ban bằng đường Ngài trước mặt tôi." (5:8).
"Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống; trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc; tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng." (16:11).
"Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Đức Giê-hô-va... Tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài." (9:1, 2).
"Tôi nương náu mình nơi Chúa... Ngài là Chúa tôi." (16:1, 2).
"Kỳ mạng tôi ở nơi tay Chúa." (31:15).
"Khi tôi tỉnh thức, tôi sẽ thỏa nguyện nhìn xem hình dạng của Chúa." (17:15).
"Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi." (27:1).
"Đức Chúa Trời hằng ngày nổi giận cùng kẻ ác." (7:11).
"Đức Giê-hô-va đã để riêng cho mình người nhơn đức." (4:3).
"Đức Chúa Trời thắt lưng tôi bằng năng lực." (18:32).
"Tôi sẽ kêu cầu Ngài, ắt sẽ được giải cứu." (18:3).
"Ngài là sự nhơn từ tôi, đồn lũy tôi, nơi ẩn náu cao của tôi, và là Đấng giải cứu tôi." (144:9).
"Kẻ nầy nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa, nhưng chúng tôi nhờ cậy Danh Giê- hô-va, là Đức Chúa Trời chúng tôi." (20:7).
"Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan...
"Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chơn thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; lại ngọt hơn mật... Ai gìn giữ lấy, được phần thưởng lớn thay!" (19:7-11).
"Xin Chúa tha các lỗi tôi không biết.
"Xin Chúa giữ kẻ tôi tớ Chúa khỏi cố ý phạm tội. Nguyện tội ấy không cai trị tôi!
"Hỡi Đức Giê-hô-va, là Hòn Đá tôi, và là Đấng cứu chuộc tôi, nguyện lời nói của miệng tôi, sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!" (19:12-14).
"Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì." (23:1).
"Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi." (23:4).
"Quả thật, trọn đời tôi phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài." (23:6).
"Nước nào có Đức Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình,... có phước thay!" (33:12).
"Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng." (30:5;).
"Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va." (27:14).
"Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va và làm điều lành." (37:3).
"Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài." (37:7).
"Hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước." (37:4),
"Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy." (37:5).
"Đức Giê-hô-va định liệu các bước của người (công bình).... Dầu người té, cũng không nằm sải dài...
"Luật pháp Đức Chúa Trời người ở trong lòng người, bước người không hề xiêu tó." (37:23, 24, 31).
"Tôi sẽ đến thuật công việc quyền năng của Chúa Giê-hô-va." (71:16).
"Tôi sẽ giữ các đường lối tôi, để tôi không dùng lưỡi mình mà phạm tội." (39:1).
"Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi." (66:18).
"Đức Chúa Trời là Vua." (47:7).
"Đức Chúa Trời là Sự Tiếp trợ tôi." (54:4).
"Tôi kêu cầu cùng Đức Chúa Trời." (55:16).
"Tôi đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời." (56:11).
"Đức Giê-hô-va sẽ làm... một nơi ẩn náu cao trong thì gian truân." (9:9).
"Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống." (42:2).
"Lòng và thịt tôi kêu la về Đức Chúa Trời hằng sống." (84:2).
"Đức Chúa Trời nầy là Đức Chúa Trời chúng tôi đến đời đời vô cùng; Ngài sẽ dẫn chúng tôi cho đến kỳ chết." (48:14).
"Chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải,... dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, và các núi rúng động." (46:2, 3).
"Chúa là Đức Chúa Trời tôi." (63:1).
"Tôi sẽ ca hát về sức lực Chúa.
Tôi sẽ hát lớn tiếng về sự nhơn từ Chúa." (59:16).
"Tôi sẽ hát ngợi khen Danh Chúa đời đời." (61:8).
"Nguyện các dân ngợi khen Chúa! Nguyện muôn dân ca tụng Ngài!" (67:5).
"Phước cho người nào được sức lực trong Chúa!" (84:5).
"Chúa đã thử thách chúng tôi, rèn luyện chúng tôi... Chúng tôi đi qua lửa, qua nước; nhưng Chúa đem chúng tôi ra nơi giàu có." (66:10, 12).
"Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, sẽ gặt hái cách vui mừng." (126:5).
"Đức Giê-hô-va ở gần những người có lòng đau thương." (34:18).
"Người công bình bị nhiều tai họa, nhưng Đức Giê-hô-va cứu người khỏi hết" (34:19).
"Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng Toàn năng." (91:1).
"Ngài sẽ giải cứu ngươi khỏi bẫy chim, và khỏi dịch lệ độc hại...
"Ngươi sẽ chẳng sợ hoặc sự kinh khiếp ban đêm, hoặc tên bay ban ngày,
"Hoặc dịch lệ lây ra trong tối tăm, hay là sự tàn diệt phá hoại đương lúc trưa.
"Sẽ có ngàn người sa ngã bên ngươi, và muôn người sa ngã bên hữu ngươi; song tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi." (91:3-7).
"Sẽ chẳng có tai họa gì xảy đến ngươi... Vì Ngài sẽ ban lịnh cho thiên sứ Ngài, bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối ngươi." (91:10, 11).
"Nguyện các thánh Ngài mừng rỡ..., Hát Vui Vẻ. " (149:5).
"Những kẻ được trồng trong Nhà Đức Giê-hô-va sẽ trổ bông trong hành lang của Đức Chúa Trời chúng ta." (92:13).
"Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài." (100:2).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, phước cho người nào Ngài sửa phạt, và dạy luật phap Ngài cho, để ban cho người ấy được an nghỉ trong ngày hoạn nạn," (94:12, 13).
"Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng Danh Thánh của Ngài!" (103:1).
"Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận và đầy sự nhơn từ.
"Ngài không bắt tội luôn luôn, cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời.
"Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi.
"Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, thì sự nhơn từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu." (103:8-11).
"Sự nhơn từ của Đức Giê-hô-va hằng có đời đời cho những người kính sợ Ngài." (103:17).
"Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va, vì Ngài nghe tiếng tôi, và lời nài xin của tôi.
"Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi, bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi." (116:65).
"Tôi trông cậy Lời của Chúa." (119:81).
"Tôi tin cậy nơi Lời Chúa." (119:42).
"Luật pháp Chúa là điều tôi ưa thích." (119:77).
"Chứng cớ Chúa thật lạ lùng." (119:129).
"Tôi chẳng hề quên giềng mối Chúa." (119:93).
"Sự bày giãi Lời Chúa soi sáng cho." (119:130).
"Tôi yêu mến Điều răn Chúa hơn vàng." (119:127).
"Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn." (119:111). "Chứng cớ Chúa là... sự mừng rỡ của tôi." (119:111).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, Lời Ngài được vững lập đời đời trên trời." (119:89).
"Lời Chúa... thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi!" (119:103).
"Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi." (119:105).
"Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy." (119:97).
"Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa." (119:11).
"Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài." (119:18).
"Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo Lời Chúa." (119:9).
"Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà, thì những thợ xây cất làm uổng công.
"Nhược bằng Đức Giê-hô-va không coi giữ thành, thì người canh thức canh luống công." (127:1).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, và canh cửa môi tôi." (141:3).
"Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng." (51:10;).
"Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời." (139:23, 24).
"Trọn đời sống tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va." (146:2).
"Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, sẽ gặt hái cách vui mừng." (126:5).
"Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan." (111:10).
"Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va!" (150:6).
Châm Ngôn
"Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác." (ChCn 8:13).
"Sự kính sợ Đức Giê-hô-va gia thêm ngày tháng." (10:27).
"Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống." (14:27).
"Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan." (9:10).
"Sự khôn ngoan là điều cần nhứt; vậy khá cầu lấy sự khôn ngoan." (4:7).
"Sự khôn ngoan quí báu hơn châu ngọc, chẳng một bửu vật nào con ưa thích mà sánh kịp nó được.
"Tay hữu nó cầm sự trường thọ,
còn trong tay tả, có sự giàu có và vinh hiển.
"Các nẻo nó vốn là nẻo khoái lạc, và các lối nó cả đều bình an." (3:15, 17).
"Khá gìn giữ sự khôn ngoan thật..., thì... con sẽ bước đi vững vàng... Khi con nằm... con sẽ... ngủ ngon giấc,... vì Đức Giê-hô-va là nơi nương cậy của con." (3:21, 23, 24, 26).
"Miệng kẻ ngu muội là sự bại hoại của nó." (18:7).
"Ai rải điều nói hành là kẻ ngu dại." (10:18).
"Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận." (15:1).
"Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống." (15:4).
"Kẻ canh giữ miệng mình, giữ được mạng sống mình." (13:3).
"Lời nói phải thì lấy làm tốt biết bao!" (15:23).
"Sống, chết ở nơi quyền của lưỡi." (18:21).
"Khi nín lặng, dầu người ngu dại, cũng được cầm bằng khôn ngoan." (17:28).
"Ai giữ lấy miệng và lưỡi mình, giữ linh hồn mình khỏi hoạn nạn." (21:23).
"Lời nói phải thì, khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc." (25:11).
"Lòng người toan định đường lối mình; song Đức Giê-hô-va chỉ dẫn các bước của người." (16:9).
"Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được." (19:21).
"Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con." (3:6).
"Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con." (3:5;).
"Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra." (4:23).
"Hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy." (23:7).
"Hãy lấy tài vật và huê lợi đầu mùa của con mà tôn vinh Đức Giê-hô-va; vậy, các vựa lẫm con sẽ đầy dư dật." (3:9, 10).
"Con có thấy người nào siêng năng trong công việc mình chăng? Người ấy hẳn sẽ đứng ở trước mặt các vua." (22:29).
"Con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa." (4:18).
"Sự sống ở nơi đường công bình; trên lối nó không có sự chết." (12:28).
Truyền đạo
"Trong ngày thới thạnh hãy vui mừng, trong ngày tai nạn hãy coi chừng; vì Đức Chúa Trời đặt ngày nầy đối với ngày kia." (TrGv 7:14).
"Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình." (9:10).
"Vừa sáng sớm, khá gieo giống ngươi, và buổi chiều, chớ nghỉ tay ngươi; vì ngươi chẳng biết giống nào sẽ mọc tốt, hoặc giống nầy, hoặc giống kia." (11:6).
"Hãy liệng bánh ngươi nơi mặt nước, vì khỏi lâu ngày, ngươi sẽ tìm nó lại." (11:1).
"Trong buổi còn thơ ấu, hãy tưởng nhớ Đấng Tạo-hóa ngươi." (12:1).
"Khá kính sợ Đức Chúa Trời và vâng giữ các Điều-răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi.
"Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện, hoặc ác cũng vậy." (12:13, 14).
"Trong ngày ấy,... người đi đến nơi ở đời đời của mình....
"Bụi tro trở vào đất y như nguyên-cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó." (12:3, 5, 7).
Nhã Ca của Sa-lô-môn
"Lương nhơn tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về người." (Nha Dc 2:16).
"Tôi thuộc về lương nhơn tôi, và lương nhơn tôi thuộc về tôi." (6:3).
Ê-sai
"Hỡi các từng trời, hãy nghe; hỡi đất, hãy lắng tai; vì Đức Giê-hô-va có phán." (EsIs 1:2).
"Ôi! Nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề,... khi các ngươi giơ tay, thì Ta che mắt khỏi các ngươi." (1:4, 15).
"Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch! Hãy tránh (Nên dịch là: "cất.") những việc ác khỏi trước mắt Ta." (1:16).
"Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên." (1:18).
"Hỡi dân Ta, kẻ dẫn ngươi làm cho ngươi sai lạc." (3:12).
"Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó." (8:20).
"Đức Giê-hô-va là Vua chúng ta." (33:21, 22).
"Đức Giê-hô-va sẽ làm cho nghe tiếng oai nghiêm Ngài. Ngài sẽ tỏ cánh tay ngăm đe của mình ra." (30:30).
"Các ngươi sẽ được rỗi, là tại trở lại và yên nghỉ; các ngươi sẽ được sức mạnh, là tại yên lặng và trông cậy...
"Giê-hô-va là Đức Chúa Trời công nghĩa. Phước thay cho mọi kẻ trông đợi Ngài!." (30:15, 18).
"Hãy tìm trong sách Đức Giê-hô-va và đọc lấy." (34:16).
"Cỏ khô, hoa rụng; nhưng Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời." (40:8).
"Tại đó sẽ có một đường cái, và một lối gọi là đường thánh... Ai đi trong đường đó, dầu khờ dại, cũng không lầm lạc...
"Những kẻ được chuộc sẽ bước đi đường ấy, những kẻ Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ về, ca hát mà đến Si-ôn; sự vui vẻ vô cùng sẽ ở trên đầu họ... Sự buồn bực, than vãn sẽ trốn đi." (35:8-10).
"Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài.
"Hãy nhờ cậy Đức Giê-hô-va đời đời, vì Đức Giê-hô-va,... là Vầng Đá của các thời đại." (26:3, 4).
"Ngươi không biết sao, không nghe sao? Đức Chúa Trời hằng sống, là Đức Giê-hô- va, là Đấng đã dựng nên các đầu cùng đất, chẳng mỏi, chẳng mệt... Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn ...
"Ai trông đợi Đức Giê-hô-va, thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi." (40:28-31).
"Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu.
"Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời, và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa." (59:1, 2).
"Thật Đức Giê-hô-va là Quan xét chúng ta, Đức Giê-hô-va là Đấng lập luật cho chúng ta, Đức Giê-hô-va là Vua chúng ta; chính Ngài sẽ cứu chúng ta!" (33:22).
"Chúa Giê-hô-va sẽ giúp ta...; vậy, ta làm cho mặt ta cứng như đá, vì biết mình sẽ chẳng có điều chi xấu hổ." (50:7).
"Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va." (12:5).
"Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi." (12:2).
"Hãy trổi giọng hát mừng chung rập." (52:9).
"Ngoài Ta, không có Cứu Chúa nào khác." (43:11).
"Nầy là đường đây, hãy noi theo!" (30:21).
"Hãy nhìn xem Ta và được cứu." (45:22).
"Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta." (46:9).
"Ta làm ra, ai ngăn cấm Ta được?" (43:13).
"Ngươi sẽ được xưng bằng tên mới." (62:2).
"Hỡi Si-ôn, hãy chổi dậy, giũ bụi bặm đi." (52:1, 2).
"Lòng nhơn từ Ta đối với ngươi chẳng dời khỏi ngươi." (54:10).
"Sự bình an của con cái ngươi sẽ lớn." (54:13).
"Phước thay cho các ngươi gieo giống ở bên mọi dòng nước!" (32:20).
"Ta sẽ dựng trời mới, đất mới." (65:17).
"Những ngày sầu thảm của ngươi đã hết rồi." (60:20).
"Đức Giê-hô-va sẽ là Sự Sáng đời đời cho ngươi." (60:20).
"Những kẻ trông cậy Ta sẽ chẳng hổ thẹn." (49:23).
"Tại đó sẽ chẳng còn nghe tiếng khóc lóc, kêu la nữa." (65:19).
"Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, sẽ nắm tay hữu ngươi." (41:13).
Giê-rê-mi
"Hỡi đất, đất, đất! Hãy nghe Lời của Đức Giê-hô-va." (22:29).
"Trong đất nầy đã xảy ra sự lạ lùng đáng gớm. Những tiên tri nói tiên tri dối, các thầy tế lễ bởi đó mà cầm quyền! Dân Ta đều lấy làm ưa thích." (5:30, 31).
"Chính kẻ tiên tri, thầy tế lễ, đều là ô uế." (23:11).
"Từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối." (6:13).
"Hỡi nhà Gia-cốp,... lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,... ấy là một sự xấu xa, cay đắng." (2:4, 19).
"Các ngươi há chẳng trộm cướp, giết người, phạm tội tà dâm, thề dối, dâng hương cho Ba-anh, đi theo thần khác... sao?" (7:9).
"Tổ phụ các ngươi đã bỏ Ta, mà theo các thần khác,... còn các ngươi lại làm xấu hơn tổ phụ mình." (16:11, 12).
"Hãy đi các đường phố Giê-ru-sa-lem, và nhìn xem,... thử có thấy một người chăng, nếu có một người làm sự công bình...
"Chúng nó chẳng chịu dạy dỗ. Chúng nó tự làm cứng mặt mình hơn vầng đá, chẳng khứng trở lại.
"Dầu ngươi lấy hỏa tiêu... rửa mình, tội lỗi ngươi cũng còn ghi mãi trước mặt Ta.
"Ta há chẳng thăm phạt vì những sự đó hay sao? Thần Ta há chẳng trả thù một nước như vậy hay sao?" (5:1, 3; 2:22; 5:9).
"Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy làm sạch hết điều ác trong lòng ngươi, hầu cho ngươi được cứu." (4:14).
"Hãy... tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được an nghỉ cho linh hồn mình." (6:16).
"Bây giờ các ngươi hãy sửa lại đường lối và việc làm của mình,... thì Đức Giê-hô-va sẽ ăn năn về tai họa mà Ngài đã rao ra nghịch cùng các ngươi." (26:13).
"Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương, đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó." (17:1).
"Khi còn ban ngày, mặt trời nó đã lặn." (15:9).
"Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi!" (8:20).
"Về các tiên tri, lòng ta tan nát trong ta... chúng nó... nói sự hiện thấy bởi lòng mình, chẳng phải bởi miệng Đức Giê-hô-va." (23:9, 16).
"Nếu những tiên tri nầy có đứng trong sự bàn luận Ta, thì đã khiến dân Ta nghe lời Ta, và đã làm cho dân từ đường dữ, việc xấu mà trở lại rồi." (23:22).
"Chúng nó nhơn Danh Ta mà nói tiên tri giả dối rằng: Ta có chiêm bao; thật ta có chiêm bao!" (23:25).
"Đức Giê-hô-va phán: Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh Lời Ta, Hãy Truyền Lại Lời Ta Cách Trung Tín. " (23:28).
"Lời Ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy." (23:29).
"Nếu dân nầy hỏi ngươi rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì?... Lời của mỗi người sẽ là gánh nặng của nó." (23:33, 36).
"Các ngươi đã làm trái những lời của Đức Chúa Trời hằng sống." (23:36).
"Chớ nhờ cậy những lời dối trá." (7:4).
"Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng." (17:10).
"Nầy, Ta đã đặt những Lời Ta trong miệng ngươi." (1:9).
"Chúng nó đã bỏ Lời của Đức Giê-hô-va." (8:9).
"Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi." (2:19).
"Phải, Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi." (31:3).
"Dân ta sẽ no nê về ơn phước của Ta." (31:14).
"Lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,... ấy là một sự xấu xa, cay đắng." (2:19).
"Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thật; Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là Vua đời đời." (10:10).
"Nầy, Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của mọi xác thịt; có sự gì khó quá cho ta chăng?" (32:27).
"Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời cho; Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn,... vì đã để lòng trông cậy trong Ta." (33:3; 39:8).
"Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va!" (17:7).
"Các ngươi sẽ tìm Ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng." (29:13).
Ca thương
"Sự thành tín Ngài là lớn lắm." (CaAc 3:23).
"Đức Giê-hô-va ban sự nhơn từ cho những kẻ trông đợi Ngài." (3:25).
Ê-xê-chi-ên
"Khi Ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! -- nếu ngươi không răn bảo nó,... thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng Ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi." (Exe Ed 3:18).
"Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ,... thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình." (3:19).
Sự khôi phục nước Y-sơ-ra-ên
"Ta cũng sẽ tìm chiên Ta ra..., Ta sẽ nhóm chúng nó lại từ các nước, và đem chúng nó về trong đất riêng chúng nó.... Người sẽ chăn chúng nó, tức là Đa-vít, tôi tớ Ta,... ấy sẽ là cơn mưa của phước lành." (34:12, 13, 23, 26).
Sự hiện thấy về hài cốt
"Đức Giê-hô-va... đặt ta giữa trũng; nó đầy những hài cốt... Những hài cốt ấy... đều là khô lắm... Có tiếng, và nầy, có động đất: những xương nhóm lại, hiệp với nhau... Gân và thịt sanh ra trên những xương ấy,... chúng nó sống." (37:1-10).
"Hỡi con người, những hài cốt nầy, ấy là cả nhà Y-sơ-ra-ên... Hỡi dân Ta, nầy, Ta sẽ mở mồ mả các ngươi,... Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi... Tôi tớ Ta, là Đa-vít, sẽ làm vua trên chúng nó." (37:11-25).
Gót và Ma-gốc
"Trong những năm sau rốt, (khi) chúng nó (dân Y-sơ-ra-ên) hết thảy sẽ ở yên, (thì) ở phía cực bắc,... (với) một cơ binh đông lắm,... Gót sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên Ta...
"Ta sẽ khiến những trận mưa dầm, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó, trên đạo binh nó, và dân đông đi với nó." (38:8-22).
"Nầy, sự ấy đến và sẽ làm thành,... ấy là ngày mà Ta đã rao." (39:8).
Sự hiện thấy về dòng nước ban sự sống
"Có những nước văng ra từ dưới ngạch cửa (Đền thờ), về phía Đông... Người... đo được một ngàn cu-đê,... nước vừa đến mắt cá ta. Người lại đo một ngàn,... nước vừa đến đầu gối ta... Người lại đo một ngàn,... nước lên đến hông ta. Người lại đo một ngàn nữa; bấy giờ là một con sông, ta không lội qua được... Trên bờ nầy và bờ kia, sẽ sanh đủ thứ cây có trái ăn được,... lá nó dùng để làm thuốc... Khắp nơi nào sông ấy chảy đến, thì mọi vật sẽ sống ở đó." (12:1-12).
Đa-ni-ên
Chiêm bao về bốn nước
"Trong đời các vua nầy, Chúa trên trời sẽ dựng nên một Nước không bao giờ bị hủy diệt...
"Nó sẽ đánh tan và hủy diệt hết các nước trước kia, mà mình thì đứng đời đời." (DaDn 2:44).
Lò lửa hực
"Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực." (3:17).
"Đức Chúa Trời... đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài." (3:28).
Bàn tay viết trên tường
"Đức Chúa Trời đã đếm nước vua và khiến nó đến cuối cùng." (5:26).
"Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu." (5:27).
Đa-ni-ên trong hang sư-tử
"Đức Chúa Trời tôi đã sai thiên sứ Ngài, và bịt miệng các sư-tử." (6:22).
"Người ta không thấy một vết tích nào trên người, bởi người đã nhờ cậy Đức Chúa Trời mình." (6:23).
Bảy mươi tuần lễ
"Từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là Vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ...
"Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi... và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi...
"Đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào." (9:25, 26, 27, 24).
Kỳ sau rốt
"Trong kỳ đó,... sẽ có tai nạn, đến nỗi... chẳng có như vậy bao giờ...
"Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên...
"Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ, nhơ nhuốc đời đời.
"Những kẻ khôn sáng sẽ được rực rỡ như sự sáng trên vòng khung; và những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi." (12:1-10).
Ô-sê
"Hết thảy chúng nó đều tà dâm." (OsHs 7:4).
"Chúng nó cứ phạm tội càng ngày càng hơn." (OsHs 13:2).
"Là kỳ tìm kiếm Đức Giê-hô-va." (10:12).
"Các quan trưởng nó vui lòng trong sự sỉ nhục." (4:17).
"Thật, dân Ta quyết ý trái bỏ Ta." (11:7).
"Chúng nó bại hoại rất sâu." (9:9).
"Ép-ra-im sa mê thần tượng, hãy để mặc nó!" (4:17).
"Bọn thầy tế lễ cũng giết người..., chúng nó phạm biết bao là tội ác!" (6:9).
"Dân Ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết." (4:6).
"Chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc." (8:7).
"Công việc chúng nó làm ngăn trở chúng nó về cùng Đức Chúa Trời mình." (5:4).
"Trong đất nầy chẳng có lẽ thật, chẳng có nhơn từ, cũng chẳng có sự nhìn biết Đức Chúa Trời." (4:1). "Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên chúng nó như trút nước... Đức Chúa Trời ta sẽ bỏ chúng nó,... và chúng nó sẽ đi dông dài trong các nước." (5:10; 9:17).
"Nhưng, rồi đó, con cái Y-sơ-ra-ên sẽ trở lại tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, và Đa-vít, Vua mình." (3:5).
Giô-ên
Dự ngôn về kỷ nguyên tin lành
"Sau đó, Ta sẽ đổ Thần Ta trên cả loài xác thịt." (Gio Ge 2:28).
"Đức Giê-hô-va... làm cho vang tiếng mình ra từ Giê-ru-sa-lem: các từng trời và đất đều rúng động." (3:16).
"Một cái suối sẽ ra từ Nhà Đức Giê-hô-va." (3:18).
"Ai cầu khẩn Danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ được cứu." (2:32).
"Hãy tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã chín... Đoàn đông dường nào, đoàn đông dường nào tại trong trũng đoán định!" (3:13, 14).
A-mốt
"Ta đã làm cho răng các ngươi nên sạch... Dầu vậy, các ngươi cũng không trở lại cùng Ta...
"Ta cũng đã không xuống mưa,... nhưng các ngươi không trở về cùng Ta...
"Ta đã dùng gió nóng và sâu lúa mà đánh các ngươi... Nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta...
"Ta đã khiến ôn dịch đến trong các ngươi,... nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta....
"Hỡi Y-sơ-ra-ên, vậy nên... Ngươi Khá Sửa Soạn Mà Gặp Đức Chúa Trời Ngươi." (AmAm 4:6-12).
"Ta sẽ không còn đi qua đó nữa." (7:8).
"Khốn thay cho những kẻ ăn ở nể trong Si-ôn!" (6:1).
"Nầy, con mắt Chúa Giê-hô-va để trên nước có tội nầy." (8:9).
Áp-đia
"Sự kiêu ngạo của lòng ngươi đã lừa dối ngươi...
"Dầu ngươi lên cao như chim ưng, dầu ngươi lót ổ giữa các ngôi sao, Ta cũng sẽ xô ngươi xuống khỏi đó, Đức Giê-hô-va phán vậy." (câu 3, 4).
"Người ta sẽ làm cho ngươi như chính mình ngươi đã làm; những việc làm của ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi." (câu 15).
Giô-na
"Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống." (Gion Gn 3:4).
"Dân thành Ni-ni-ve tin Đức Chúa Trời... Vua... quấn bao gai và truyền lịnh... mọi người khá ra sức kêu cùng Đức Chúa Trời, khá bỏ đường lối xấu mình và việc hung dữ của tay mình." (3:5-8).
"Bấy giờ Đức Chúa Trời... bèn ăn năn sự họa mà Ngài đã phán sẽ làm cho họ." (3:10).
Mi-chê
"Hỡi người!... Cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ, và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi, sao?" (MiMk 6:8).
"Đức Giê-hô-va có sự đối nại với dân Ngài." (6:2).
"Kẻ cai trị nhà Y-sơ-ra-ên... gớm sự chánh trực... Các quan trưởng xét đoán vì của hối lộ, các thầy tế lễ dạy dỗ vì tiền công, còn các kẻ tiên tri nói tiên tri vì bạc... Các ngươi lấy huyết... xây thành Giê-ru-sa-lem... Vết thương của nó không thể chữa được...
"Vậy nên... Si-ôn sẽ bị cày như ruộng." (1:9; 3:9-12).
"Hỡi Bết-lê-hem,... từ nơi ngươi sẽ ra cho Ta một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên; gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng...
"Ngài sẽ làm lớn cho đến các đầu cùng đất." (5:2-4).
"Nhiều nước sẽ đi đến đó, mà rằng: hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Giê-hô- va,... Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối Ngài, và chúng ta sẽ đi trong các nẻo Ngài...
"Nhiều dân... sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm; nước nầy chẳng giá gươm lên nghịch cùng nước khác, và cũng không tập sự chiến tranh nữa...
"Chúng ta sẽ bước theo Danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng!" (4:2-5).
Na-hum
"Ni-ni-ve... khốn thay cho thành đổ máu! Nó đầy dẫy những sự dối trá và cường bạo, cướp bóc không thôi." (NaNk 1:1; 3:1).
"Đức Giê-hô-va chậm giận... cưu giận cho kẻ thù nghịch." (1:3, 2).
"Những xe đi hỗn độn trong đường phố,... và chạy như chớp." (2:4).
"Người ta nghe tăm roi, tiếng ầm của bánh xe; ngựa thì phóng đại, xe thì chạy mau... Gươm sáng lòe, giáo nhấp nhoáng... có từng đống thây lớn....
"Ni-ni-ve đã hoang vu." (3:2, 3, 7).
Ha-ba-cúc
"Sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất như nước tràn đầy biển." (HaKb 2:14).
"Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy, và rõ rệt nó ra... hầu cho người đương chạy đọc được. Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhứt định,... nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi... Nó chắc sẽ đến." (2:2, 3).
"Dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho; cây Ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, và không có bầy bò trong chuồng nữa,
"Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va,... Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi." (3:17-19).
"Người công bình thì sống bởi đức tin mình." (2:4).
Sô-phô-ni
"Ngày lớn của Đức Giê-hô-va đã gần... Ngày ấy là ngày thạnh nộ." (SoXp 1:14, 15).
"Cả đất nầy sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt." (1:18).
"Hỡi các ngươi là kẻ nhu mì của đất,... hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va,... hoặc giả các ngươi sẽ được giấu kín trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va." (2:3).
"Cả đất sẽ bị nuốt bởi lửa ghen Ta." (3:8).
"Trong ngày đó,... Ta sẽ để sót lại ở giữa ngươi một dân khốn cùng, nghèo thiếu, nó sẽ ẩn náu trong Danh Đức Giê-hô-va." (3:11, 12).
"Chúng nó sẽ ăn và nằm ngủ, không ai làm cho kinh hãi." (3:13).
A-ghê
"Dân nầy nói rằng: Thì giờ chưa đến, tức là thì giờ xây lại Nhà Đức Giê-hô-va...
"Đức Giê-hô-va phán: Nay có phải là thì giờ các ngươi ở trong nhà có trần ván, khi Nhà nầy hoang vu sao?" (AgKg 1:2-4).
"Các ngươi khá xem xét đường lối mình. Các ngươi gieo nhiều mà gặt ít, ăn mà không no...
"Ấy là tại làm sao? Ấy là tại Nhà Ta thì hoang vu, mà các ngươi ai nấy lo xây nhà mình." (1:5, 6, 9).
"Các ngươi khá xem xét đường lối mình... Hãy... xây Nhà nầy... (thì) từ ngày nầy, Ta sẽ ban phước cho các ngươi." (1:7, 8; 2:19).
"Khỏi ít lâu nữa,... sự ao ước của các nước hầu đến, rồi Ta sẽ làm cho vinh quang đầy dẫy Nhà nầy... Bạc là của Ta, vàng là của Ta...
"Vinh quang sau rốt của Nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước." (2:6-9).
Xa-cha-ri
"Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy." (XaDr 4:6).
"Nầy, có một Người tên là Chồi Mống. .. chính Người sẽ xây Đền thờ Đức Giê- hô-va, và chính Người sẽ được sự oai nghiêm, ngồi cai trị trên ngôi mình." (6:12, 13).
"Ngài sẽ phán sự bình an cho các nước, quyền thế Ngài sẽ trải từ biển nầy đến biển kia, từ Sông cái cho đến các đầu cùng đất." (9:10).
"Trong ngày đó,... nhà Đa-vít sẽ như Đức Chúa Trời." (12:8).
"Trong ngày đó sẽ có một suối mở ra... vì tội lỗi và sự ô uế." (13:1).
"Nước sống sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem,... (và) Đức Giê-hô-va sẽ làm Vua khắp đất." (14:8, 9).
Ma-la-chi
"Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho,... và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử Ta... xem Ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng." (MaMl 3:10).
"Một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến Danh Ngài...
"Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về Ta... trong ngày Ta làm (Bản tiếng Anh có thêm: "nên các châu ngọc của Ta.") (3:16, 17).
Ma-thi-ơ
"Ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính Con Trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội." (Mat Mt 1:21).
"Ngài... giê thật sạch sân lúa mình, và Ngài sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt." (3:12).
"Ngươi phải thờ phượng Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi." (4:10).
"Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời." (4:4).
"Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì Nước Thiên đàng là của những kẻ ấy!
"Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
"Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!
"Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!
"Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!
"Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!
"Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!
"Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì Nước Thiên đàng là của những kẻ ấy!
"Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước." Hãy vui vẻ và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm." (5:3-12).
"Các ngươi là sự sáng của thế gian... Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời." (5:14, 16).
"Đừng thề chi hết... Song ngươi phải nói rằng: Phải, phải, không, không. Còn điều người ta nói thêm đó, bởi nơi quỷ dữ mà ra." (5:34, 37).
"Hãy yêu kẻ thù nghịch (Bản tiếng Anh còn thêm: "Chúc phước cho kẻ rủa sả mình, làm ơn cho kẻ ghét mình." (xem LuLc 6:27, 28) và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi." (Mat Mt 5:44).
"Các ngươi hãy cầu như vầy:
"Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; ý Cha được nên, ở đất như trời!
"Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày;
"Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi;
"Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác!
"Vì Nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men." (6:9-13).
"Nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi." (6:14-15).
"Chẳng ai được làm tôi hai chủ... Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời, lại làm tôi Ma-môn nữa." (6:24).
"Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất,... nhưng phải chứa của cải ở trên trời...
"Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó." (6:16-21).
"Đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống...
"Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt,... mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó.
"Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?" (6:25-26).
"Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào: chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ...
"Nhưng dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc áo tốt như một hoa nào trong giống đó.
"Hỡi kẻ ít đức tin, Đức Chúa Trời còn cho loài cỏ ngoài đồng mặc đẹp thể ấy thay, huống chi là các ngươi!" (6:28-30).
"Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa." (6:33).
"Ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì chẳng hề một con chim sẻ nào rơi xuống đất. Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi." (10:29, 30).
"Các ngươi đừng đoán xét ai... vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy." (7:1, 2).
"Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri." (7:12).
"Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho." (7:7).
"Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều.
"Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít." (7:13, 14).
"Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé...
"Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được." (7:15, 20).
"Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Nước Thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.
"Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng; lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn Danh Chúa mà nói tiên tri sao?... nhơn Danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?
"Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!" (7:21-23).
"Kẻ nào nghe và làm theo lời Ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên Vầng Đá...
"Kẻ nào nghe lời Ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát." (7:24-27).
"Không hề bao giờ thấy sự như vậy trong dân Y-sơ-ra-ên." (9:33).
"Người nầy là Ai, mà gió và biển đều vâng lịnh Người." (8:27).
"Theo như điều ngươi tin, thì sẽ được thành vậy." (8:13).
"Hai ngươi tin ta làm được điều hai ngươi ước ao sao?... Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy." (9:28, 29).
"Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít. Vậy, hãy cầu xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình." (9:37, 38).
"Kìa, Ta sai các ngươi đi khác nào như chiên vào giữa bầy muông sói. Vậy, hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bò câu." (10:16).
"Các ngươi lại sẽ bị thiên hạ ghen ghét vì Danh Ta; song, ai bền lòng cho đến cuối cùng thì sẽ được rỗi." (Mat Mt 10:22).
"Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục." (10:28).
"Trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp- tít, nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong Nước Thiên đàng còn được tôn trọng hơn người." (11:11).
"Đây nầy, có một Người tôn trọng hơn Giô-na." (12:41).
"Đây nầy, có một Người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn ." (12:42).
"Con người là Chúa ngày Sa-bát." (12:8).
"Tại chỗ nầy có một Đấng tôn trọng hơn Đền thờ." (12:6).
"Có nhiều Đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy,... nghe điều các ngươi nghe." (13:17).
"Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng." (11:28-30).
"Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống." (16:16).
"Ta sẽ lập Hội Thánh Ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được Hội đó." (16:18).
"Đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt." (12:36, 37).
"Mùa gặt là ngày tận thế; con gặt là các thiên sứ." (13:39).
"Nước Thiên đàng cũng giống như một tay lưới thả xuống biển, bắt đủ mọi thứ cá... Người đánh cá kéo vào bờ,... chọn giống tốt... đem bỏ vào rổ, còn giống xấu thì ném đi. Đến ngày tận thế cũng như vậy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra, ném kẻ ác vào lò lửa, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng." (13:47-50).
"Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong Nước của Cha mình." (13:43).
"Nước Thiên Đàng giống như của báu chôn trong một đám ruộng kia. Một người kia tìm được,... bán hết gia tài mình, mua đám ruộng đó." (13:44).
"Nước Thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm ngọc châu tốt, khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết gia tài mình mà mua hột châu đó." (13:45, 46).
"Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết.
"Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.
"Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra." (22:37-40).
"Hỡi Giê-ru-sa-lem,... bao nhiêu lần Ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!" (23:37).
"Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình!... Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia, thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?" (23:13, 33).
"Tin lành nầy về Nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ, sự cuối cùng sẽ đến." (24:14).
"Mọi dân tộc dưới đất sẽ... thấy Con Người lấy đại quyền, đại vinh ngự trên mây trời mà xuống." (24:30).
"Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia." (24:31).
"Khi Con Người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra...
"Bấy giờ, Vua sẽ phán cùng những người ở bên hữu rằng: Hỡi các người được Cha Ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy Nước Thiên đàng đã sắp sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước Ta; Ta đau, các ngươi thăm Ta; Ta bị tù, các ngươi viếng Ta... Hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em Ta, ấy là đã làm cho chính mình Ta vậy...
"Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỷ sứ nó... Hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta vậy." (25:31-46).
"Ngài không ở đây đâu: Ngài sống lại rồi." (28:6).
"Thật Người nầy là Con Đức Chúa Trời." (27:54).
"Hết Cả Quyền Phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho Ta. " (28:18).
"Vậy, hãy đi dạy dỗ Muôn Dân, hãy nhơn Danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi. và nầy, Ta Thường Ở Cùng Các Ngươi Luôn cho đến tận thế." (28:19, 20).
Mác
"Có Đấng... đến sau ta; ta không đáng cuối xuống mở dây giày Ngài." (Mac Mc 1:7).
"Có thiên sứ hầu việc Ngài." (1:13).
"Dân nầy lấy môi miếng tôn kính Ta, nhưng lòng chúng nó cách xa Ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy Ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra." (7:6, 7).
"Thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng, thì làm cho dơ dáy người." (7:21-23).
"Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.
"Vì ai muốn cứu sự sống mình, thì sẽ mất; còn ai vì cớ Ta và đạo Tin lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu." (8:34, 35).
"Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?" (8:36, 37).
"Nếu tay ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ hai tay mà sa xuống địa ngục, trong lửa chẳng hề tắt.
"Lại nếu chơn ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng què chơn mà vào sự sống, còn hơn đủ hai chơn mà bị quăng vào địa ngục.
"Còn nếu mắt ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy móc nó đi; thà rằng chỉ một mắt mà vào Nước Đức Chúa Trời, còn hơn đủ hai mắt mà bị quăng vào địa ngục -- đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết và là nơi lửa chẳng hề tắt." (9:43-48).
"Nầy là Con rất yêu dấu của Ta, hãy vâng nghe Người." (9:7).
"Nếu có chỗ nào người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chơn mình, để làm chứng cho họ." (6:11).
"Hãy để con trẻ đến cùng Ta,... vì Nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy...
"Ai chẳng nhận lấy Nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì chẳng được vào đó bao giờ." (10:14, 15).
"Chẳng một người nào vì Ta và Tin-lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đương bấy giờ, trong đời nầy, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và Sự Sống Đời Đời trong đời sau." (10:29, 30).
"Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả." (10:27).
"Kẻ nào tin, thì mọi việc đều được cả." (9:23).
"Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, Hãy Tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi." (11:24).
"Thế lực các từng trời sẽ rúng động. Bấy giờ người ta sẽ thấy Con người... ngự đến trên đám mây...
"Về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.
"Hãy giữ mình, tỉnh thức (Bản tiếng Anh có thêm: "và cầu nguyện"),... e cho Ngài về thình lình, gặp các ngươi ngủ chăng. Điều mà Ta nói cùng các ngươi, Ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!" (13:25-37).
"NGÀI SỐNG LẠI RỒI." (16:6).
"Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép-báp-têm sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt." (16:15, 16).
"Trời đất sẽ qua đi, song Lời Ta không bao giờ qua đâu." (13:31).
"Đức Chúa Jêsus... được đem lên trời, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời." (16:19).
Lu-ca
"Người sẽ... sanh một Con Trai mà đặt tên là JÊSUS. Con Trai ấy sẽ... được xưng là Con Đức Chúa Trời.
"Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít, là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, Nước Ngài vô cùng." (LuLc 1:30-35).
"Ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân... Hôm nay, tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là CHRIST, là Chúa." (2:10, 11).
"Sáng Danh Chúa trên các từng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!" (2:14).
"Tôi phải lo việc Cha tôi." (2:49).
"Đức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta." (2:52).
"Ai nấy đều... lấy làm lạ về các lời đầy ơn lành từ miệng Ngài ra... Ngài dùng quyền phép mà phán." (4:22, 32).
"Ngài lánh đi nơi đồng vắng mà cầu nguyện." (5:16).
"Đức Chúa Jêsus đi lên núi để cầu nguyện, và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời." (6:12).
"Phước cho các ngươi nghèo khó, vì Nước Đức Chúa Trời thuộc về các ngươi!
"Phước cho các ngươi hiện đang đói, vì sẽ được no đủ!
"Phước cho các ngươi hiện đang khóc lóc, vì sẽ được vui mừng!
"Phước cho các ngươi khi vì cớ Con người, thiên hạ sẽ ghét, đuổi, mắng nhiếc các ngươi...
"Ngày đó hãy vui vẻ, nhảy nhót và mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi trên trời sẽ lớn lắm." (6:20-23).
"Các ngươi muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy." (6:31).
"Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình." (6:27, 28).
"Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét.
"Đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án.
"Hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình.
"Hãy cho, người sẽ cho mình...
"Vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy." (6:37, 38).
"Sao các ngươi gọi Ta Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán?" (6:46).
"Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước Đức Chúa Trời." (9:62).
"Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và yêu người lân cận như mình...
"Hãy làm điều đó, thì được sống." (10:27, 28).
"Khi các ngươi cầu nguyện, hãy nói:
"Lạy Cha! Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; xin cho chúng tôi ngày nào đủ bánh ngày ấy; xin tha tội chúng tôi, vì chúng tôi cũng tha kẻ mích lòng mình; và xin chớ đem chúng tôi vào sự cám dỗ." (11:2-4).
"Ta nói cùng các ngươi, là bạn hữu Ta: Đừng sợ kẻ giết xác, rồi sau không làm gì được nữa.
"Song Ta chỉ cho các ngươi biết phải sợ Ai: Phải sợ Đấng khi đã giết rồi, có quyền bỏ xuống địa ngục;
"Phải, Ta nói cùng các ngươi, ấy là Đấng các ngươi phải sợ!" (12:4, 5).
"Hãy giữ mình về... sự giả hình.
"Chẳng có sự gì giấu mà không phải lộ ra... Mọi điều mà các ngươi nói vào lỗ tai trong buồng kín, sẽ giảng ra trên mái nhà." (12:1-3).
"Hãy giữ cẩn thận, chớ hà tiện gì hết; vì sự sống của người ta không cốt tại của cải mình dư dật đâu." (12:15).
"Hãy... bố thí. Hãy sắm cho mình túi không hư, và của báu không hề hao kém ở trên trời...
"Của báu các ngươi ở đâu, thì lòng ở đó." (12:33-34).
"Ai đã được giao cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn." (12:48).
"Hãy dùng của bất nghĩa mà kết bạn, để khi của ấy hết đi, họ tiếp các ngươi vào Nhà đời đời." (16:9).
"Nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi?" (16:11).
"Khi ngươi đãi tiệc, hãy mời những kẻ nghèo khó, tàn tật, què đui.
"Thì ngươi sẽ được phước, vì họ không có thể trả lại cho ngươi; đến kỳ kẻ công bình sống lại, ngươi sẽ được trả." (14:13, 14).
"Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.
"Dầu trong một ngày, họ phạm tội cùng ngươi bảy lần, và bảy lần trở lại cùng ngươi mà nói rằng: Tôi ăn năn, thì hãy tha tội cho họ." (17:3, 4).
"Xin thêm đức tin cho chúng tôi!" (17:5).
"Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi." (18:42).
"Đức tin ngươi đã cứu ngươi." (17:19).
"Sự chi người ta không làm được, thì Đức Chúa Trời làm được." (18:27).
"Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!" (18:13).
"Nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi." (17:21).
"Hôm nay sự cứu đã vào nhà nầy." (19:9).
"Phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt." (18:1).
"Người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham." (16:22).
"Lạy Cha,... xin ý Cha được nên, chớ không theo ý Con." (22:42).
"Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất." (22:44).
"Chúa xây mặt lại ngó Phi-e-rơ... Phi-e-rơ... đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết." (22:61, 62).
"Ta không thấy người nầy có tội gì." (23:4).
"Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi,... đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây Thập tự tại đó." (23:26, 33).
"Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì." (23:34).
"Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong Nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi.... Hôm nay, ngươi sẽ được ở với Ta trong Ba-ra-đi." (23:42, 43).
"Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha." (23:46).
"Ngài đã Sống Lại. " (24:6).
"Chúa thật đã Sống Lại. " (24:34).
"Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta nhơn Danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội." (24:46, 47).
"Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?" (24:32).
"Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho. Đương khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời." (24:50, 51).
Giăng
"Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời...
"Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.
"Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người." (GiGa 1:1, 3, 4).
"Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật. Chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha." (1:14).
"Hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin Danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy." (1:12, 13).
"Ấy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời." (1:34).
"Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si." (1:41).
"Người bèn dẫn Si-môn đến cùng Đức Chúa Jêsus." (1:42).
"Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!" (1:29).
"Các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người." (1:51).
"Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được Nước Đức Chúa Trời...
"Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần." (3:3, 6).
"Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời." (GiGa 3:16).
"Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó." (3:36).
"Giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi: ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán." (5:28, 29).
"Ta là Bánh của Sự Sống; ai đến cùng Ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát." (6:35).
"Ta bởi trên mà có." (8:23).
"Ta là Sự Sáng của thế gian."( 8:12).
"Nếu kẻ nào giữ Lời Ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ." (8:51).
"Nếu các ngươi chẳng tin Ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi." (8:24).
"Chẳng hề có người nào đã nói như Người nầy!" (7:46).
"Đồ ăn của Ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai Ta đến." (4:34).
"Trong khi còn ban ngày, Ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai Ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được." (9:4).
"Họ kiếm thế bắt Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến." (7:30).
"Nếu các ngươi hằng ở trong đạo Ta, thì thật là môn đồ Ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi." (8:31, 32).
"Ta là Con Đức Chúa Trời." (10:36).
"Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta." (8:58).
"Ta là Đường Đi, Lẽ Thật và Sự Sống; chẳng bởi Ta, thì không ai được đến cùng Cha." (14:6).
"Ta là Người Chăn hiền lành... Ta vì chiên Ta phó sự sống mình... Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay Ta." (10:14, 15, 28).
"Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Con ai sống và tin Ta, thì không hề chết." (11:25, 26).
"Nếu hột giống lúa mì kia chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều." (12:24).
"Hiện nay ngươi chẳng biết sự Ta làm, nhưng về sau sẽ biết." (13:7).
"Ta ban cho các ngươi một điều răn mới: nghĩa là các ngươi phải yêu nhau... Ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ Ta." (13:34, 35).
"Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa. Trong Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại, đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu, thì các ngươi cũng ở đó." (14:1-3).
"Người nào yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu lại...
"Nếu ai yêu mến Ta, thì vâng giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta đều đến cùng người và ở trong người." (14:21, 23).
"Ta để sự bình an lại cho các ngươi; Ta ban sự bình an Ta cho các ngươi...
"Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi." (14:27).
"Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng. Ta đã thắng thế gian rồi!" (16:33).
"Ta là Gốc Nho thật, Cha Ta là người trồng nho... các ngươi là nhánh." (15:1, 5).
"Hễ nhánh nào trong Ta mà không kết quả, thì Ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả, để được sai trái hơn." (15:2).
"Hãy cứ ở trong Ta, thì Ta sẽ ở trong các ngươi... Ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được." (15:4, 5).
"Ví bằng các ngươi cứ ở trong Ta, và những lời Ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó." (15:7).
"Lời Cha tức là Lẽ Thật." (17:17).
"Nước của Ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy." (18:36).
"Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha." (14:9).
"Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được." (16:24).
"Ta không ở một mình, vì Cha ở cùng Ta." (16:32).
"Ví thử các ngươi làm theo điều Ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu Ta." (15:14).
"Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha." (17:5).
"Kìa, xem người nầy!" (19:5).
"Vua các ngươi kia kìa!" (19:14).
"Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!" (20:28).
"Còn ngươi, hãy theo ta." (21:22).
"Ngươi yêu Ta chăng?... Hãy chăn chiên Ta." (21:17).
"Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!" (20:29).
"Lại còn nhiều việc nữa mà Đức Chúa Jêsus đã làm; ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết, thì Ta tưởng rằng cả thế gian không thể chứa hết các sách của người ta chép vậy!" (21:25).
"Các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ Danh Ngài mà được sự sống." (20:31).
Công vụ các sứ đồ
"Các ngươi sẽ... làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri cho đến cùng trái đất." (Cong Cv 1:8).
"Jêsus nầy được cất lên trời khỏi giữa các ngươi thể nào, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy." (1:11).
"Cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus nầy... làm Chúa và Đấng Christ." (2:36).
"Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn Danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm , để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh." (2:38).
"Ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." (4:12).
"Các sứ đồ... đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì Danh Đức Chúa Jêsus...
"Bền lòng đồng một ý mà cầu nguyện." (5:40, 41; 1:14).
"Còn chúng ta cứ chuyên lo về sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo." (6:4).
"Những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin lành." (8:4).
"Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi." (7:59).
"Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ!" (7:60).
"Chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu." (15:11).
"Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi... sẽ được cứu rỗi." (15:11).
"Đức Chúa Jêsus... đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước." (10:38).
"Ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra... với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại... Chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết." (10:40-42).
"Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin ,... khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa." (11:23, 24).
"Các môn đồ thì được đầy dẫy sự vui vẻ và Đức Thánh Linh." (13:52).
"Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh." (20:35).
"Phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được Nước Đức Chúa Trời." (14:22).
"Những người nầy... đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh... Có nhiều người tin theo." (17:11, 12).
"Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới... Ngài là Đấng ban sự sống... cho mọi người. Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người...
"Tại trong Ngài, chúng ta được sống động và có... Chúng ta là dòng dõi của Ngài... Chớ nên ngờ (Bản tiếng Anh dịch là: "nghĩ.") rằng Chúa giống như bạc, vàng, hay là đá, bởi công nghệ và tài xảo của người ta chạm trổ nên." (17:24-29).
"Đức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn." (17:30).
"Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ... đoán xét thế gian bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ." (17:31).
"Sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình." (24:15).
"Tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt,... Tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia,... về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta... Dây xích và hoạn nạn đương đợi tôi đó... Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi." (20:18-24).
"Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người đã được nên thánh." (20:32).
"Tôi sẵn lòng chẳng những để bị trói thôi, lại cũng sẵn lòng vì Danh Đức Chúa Jêsus chịu chết." (21:13).
Rô-ma
"Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin." (RoRm 1:16).
"Tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta." (6:23).
"Tôi là tánh xác thịt, đã bị bán cho tội lỗi... Tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn...
"Theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng; nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác,... bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi...
"Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy? Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta!" (7:14, 19, 22-25).
"Chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an." (8:6).
"Nếu anh em sống theo xác thịt, thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống." (8:13).
"Hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời." (8:14).
"Nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài." (8:9).
"Những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta...
"Muôn vật... cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời." (8:18, 21).
"Chúng ta biết rằng, mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời." (8:28).
"Sự cứu hiện nay đã gần chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin. Đêm đã khuya, ngày gần đến." (13:11, 12).
"Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay là gươm giáo chăng?...
"Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần.
"Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta." (8:35-39).
"Ai kêu cầu Danh Chúa, thì sẽ được cứu...
"Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu;
"Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi." (10:13, 9, 10).
"Đừng làm theo điều nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình." (12:2).
"Tôi nói với mỗi người trong anh em chớ có tư tưởng cao quá lẽ." (12:3).
"Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành. Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau; hãy lấy lẽ kính nhường nhau. Hãy siêng năng mà chớ làm biếng; phải có lòng sốt sắng; phải hầu việc Chúa.
"Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện.
"Hãy cung cấp sự cần dùng cho các thánh đồ; hãy ân cần tiếp khách.
"Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em; hãy chúc phước, chớ nguyền rủa. Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc...
"Chớ cho mình là khôn ngoan. Chớ lấy ác trả ác cho ai... Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người...
"Chính mình chớ trả thù ai... Nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác." (12:9-21).
I Cô-rinh-tô
"Chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây Thập tự... Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời." (ICo1Cr 1:23, 24).
"Tôi đã đoán định (Nên dịch là: "quyết định") rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây Thập tự." (2:2).
"Chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài Nền đã lập là Đức Chúa Jêsus Christ." (3:11).
"Chớ ai khoe mình về loài người." (3:21).
"Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa." (1:31).
"Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên." (3:6).
"Mọi sự đều thuộc về anh em: hoặc Phao-lô, hoặc A-bô-lô, hoặc Sê-pha, hoặc thế gian, hoặc sự sống, hoặc sự chết, hoặc những sự bây giờ, hoặc những sự hầu đến. hết thảy mọi sự đều thuộc về anh em, anh em thuộc về Đấng Christ, Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời." (3:21-23).
"Thì giờ ngắn ngủi... Hình trạng thế gian nầy qua đi." (7:29, 31).
"Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa nghĩ đến, nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn đều ấy cho những người yêu mến Ngài." (2:9).
"Hãy lấy thân thể mình làm sáng Danh Đức Chúa Trời." (6:20). "Khỏi bị quở trách trong ngày của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta." (1:8).
"Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời... sao?" (3:16).
"Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời." (15:10).
"Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng." (9:27).
"Ai tưởng mình đứng, hãy giữ, kẻo ngã." (10:12).
"Chớ tự dối mình: Phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chửi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được Nước Đức Chúa Trời đâu." (6:9, 10).
"Đức Chúa Trời dường đã phơi... các Sứ đồ ra... làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy. Chúng tôi vẫn bị đói khát, trần mình, bị người ta vả trên mặt, lưu lạc rày đây, mai đó...
"Khi bị rủa sả, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi nhịn nhục; khi bị vu oan, chúng tôi khuyên dỗ.
"Chúng tôi giống như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người cho đến ngày nay." (4:9, 11-13).
"Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng.
"Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm và mọi sự hay biết, dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.
"Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi." (13:1-3).
"Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,
"Chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ.
"Chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật.
"Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ." (13:4-8).
"Người chết sống lại thể nào?... Thân thể đã gieo ra hay hư nát, mà sống lại là không hay hư nát; đã gieo ra là nhục, mà sống lại là vinh; đã gieo ra là yếu, mà sống lại là mạnh; đã gieo ra là thể huyết khí, mà sống lại là thể thiêng liêng.
"Như chúng ta đã mang ảnh tượng của người thuộc về đất, thì chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của Người thuộc về trời." (15:35, 42-49).
"Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại, được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa." (15:51, 52).
"Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng. Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp.
"Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.
"Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi. Hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn." (15:53-58).
II Cô-rinh-tô
"Anh em đứng vững vàng trong đức tin." (IICo 2Cr 1:24).
"Không phải tôi tìm của cải anh em, bèn là tìm chính anh em vậy." (12:14).
"Chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ." (4:5).
"Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng." (13:5).
"Nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới." (5:17).
"Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển." (3:18).
"Sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên." (4:17).
"Chúng ta biết rằng nếu nhà tạm chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra." (5:1).
"Biết rằng khi chúng ta đang ở trong thân thể nầy, thì cách xa Chúa. Vậy, chúng ta muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn." (5:6, 8).
"Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất. Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình." (4:8-10).
"Tôi đã chịu... tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng,... năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày, một đêm.
"Lại nhiều lần tôi đi đường... nguy với trộm cướp, chịu khó chịu nhọc,... chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ." (11:23-27).
"Đã có một cái giằm xóc vào thịt tôi... Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi.
"Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối...
"Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ." (12:7-10).
Ga-la-ti
"Nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một Tin lành nào khác với Tin lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them!" (GaGl 1:8).
"Trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus." (6:17).
"Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về Thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta." (6:14).
"Nếu có ai, dầu mình không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi, ấy là mình dối lấy mình." (6:3).
"Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy.
"Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát.
"Song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời." (6:7, 8).
"Các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy." (5:19-21).
"Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ." (5:22).
Ê-phê-sô
"Hãy bước đi trong sự yêu thương." (Eph Ep 5:2).
"Anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa." (6:10).
"Hãy ở với nhau cách nhơn từ." (4:32).
"Đâm rễ, vững nền trong sự yêu thương." (3:18).
"Được dầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời." (3:19).
"Đấng Christ nhơn đức tin mà ngự trong lòng anh em." (3:17).
"Hãy thường thường... vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời." (5:20).
"Tôi... rao truyền... sự giàu có không dò được của Đấng Christ." (3:8).
"Sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ." (1:18).
"Nguyện Ngài được vinh hiển... trải các thời đại, đời đời vô cùng!" (3:21).
"Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời." (2:8).
"Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hãy Lấy Ca Vịnh, Thơ Thánh và Bài Hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa." (5:18, 19).
Phi-líp
"Tôi xin trong khi cầu nguyện... cho anh em được tinh sạch không chỗ trách được, cho đến ngày Đấng Christ." (Phi Pl 1:9, 10).
"Ở giữa dòng dõi hung ác, ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được." (2:15).
"Dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được cả sáng trong mình tôi...
"Tôi... muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn...
"Vì Đấng Christ là Sự Sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy." (1:20, 21, 23).
"Tôi cứ làm một điều:... Bươn theo sự ở đằng trước,... cho đến nỗi tôi được biết Ngài và quyền phép sự sống lại của Ngài...
"Mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết." (3:13, 14, 10, 11).
"Chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình...
"Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài." (3:20, 21).
"Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: Hãy Vui Mừng Đi! " (4:4).
"Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự, hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời.
"Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ." (4:6, 7).
Cô-lô-se
"Ấy chính Ngài (Đức Chúa Jêsus Christ) là Hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài,... vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh...
"Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài... Chính Ngài là Đầu của Thân thể, tức là Đầu Hội Thánh...
"Ngài là ban đầu, sanh trước nhất từ trong những kẻ chết...
"Trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan, thông sáng... Sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình. Anh em lại nhờ Ngài mà có được đầy dẫy mọi sự." (CoCl 1:4, 15-20; 2:3-10).
"Hãy bước đi trong Ngài..., hãy châm rễ và lập nền trong Ngài." (2:6, 7).
"Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất; vì anh em đã chết, sự sống mình đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời." (3:2, 3).
"Khi nào Đấng Christ, là Sự Sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển." (3:4).
"Vậy, hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa, tham lam, -- tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng." (3:5).
"Anh em nên trừ bỏ hết mọi sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác,... nói hành..., lời tục tỉu... nói dối." (3:8, 9).
"Hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục,... Hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau." (3:12, 13).
"Trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương... Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em!" (3:14, 15).
"Phải biết ơn. Nguyền xin Lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em!... Hãy dùng những Ca Vịnh, Thơ Thánh, Bài Hát thiêng liêng mà dạy và khuyên nhau; vì được đầy ơn Ngài, nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời." (3:15, 16).
I Tê-sa-lô-ni-ca
"Hãy vui mừng mãi mãi." (ITe1Tx 5:16).
"Cầu nguyện không thôi." (5:17).
"Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa." (5:18).
"Hãy tìm điều thiện luôn luôn." (5:15).
"Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi." (5:22).
"Ráng tập ăn ở cho yên lặng, lấy chính tay mình làm lụng." (4:11).
"Về phần người đã ngủ... trong Đức Chúa Jêsus, nầy là điều chúng tôi nhờ Lời Chúa mà rao bảo cho anh em...
"Sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống;
"Bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa.
"Như vậy, chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn." (5:13-17).
II Tê-sa-lô-ni-ca
"Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài." (IITe 2Tx 1:7).
"Phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác... hiện ra,... tôn mình lên..., rất đỗi ngồi trong Đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời." (2:3, 4).
I Ti-mô-thê
"Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra." (ITi1Tm 1:5).
"Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật." (3:15).
"Hãy làm nhiều việc phước đức." (6:18).
"Cầm lấy sự sống thật." (6:19).
"Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành." (6:12).
"Hãy... tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại." (6:11).
"Phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ." (4:12).
"Về phần kẻ ưa sự vui chơi, thì dẫu sống cũng như chết." (5:6).
"Sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa."( 4:8).
"Sự tin kính cùng sự thỏa lòng, ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được." (6:6, 7).
II Ti-mô-thê
"TA... BIẾT TA ĐÃ TIN ĐẤNG NÀO, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó." (IITi 2Tm 1:12).
"Tôi tớ của Chúa không nên ưa sự tranh cạnh; nhưng phải ở tử tế với mọi người, có tài dạy dỗ, nhịn nhục, dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả." (2:24, 25).
"Từ khi con còn thơ ấu, đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ." (3:15).
"Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy Lời của lẽ thật." (2:15).
"Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành." (3:16, 17).
"Hãy biết rằng trong ngày sau rốt, sẽ có những thời kỳ khó khăn. Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội bạc, không tin kính, vô tình, khó hòa thuận, hay phao vu, không tiết độ, dữ tợn, thù người lành, lường thầy phản bạn, hay nóng giận, lên mình kiêu ngạo, ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Đức Chúa Trời, bề ngoài giữ điều nhơn đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhơn đức đó." (3:1-5).
"Tuy vậy,... Chúa biết kẻ thuộc về Ngài." (2:19).
"Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ... mà răn bảo con rằng: Hãy Giảng Đạo,. .. Hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi." (4:1, 2).
"Ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin.
"Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa... sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó,... cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài." (4:6-8).
Tít
"Trông cậy sự sống đời đời." (Tit Tt 1:2).
"Hãy lấy mình con làm gương về việc lành cho họ." (2:7).
"Hãy nhắc lại cho các tín đồ phải... sẵn sàng làm mọi việc lành." (3:1).
"Ta muốn con nói quyết sự đó, hầu cho những kẻ đã tin Đức Chúa Trời lo chăm chỉ làm việc lành." (3:1).
"Những người bổn đạo ta cũng phải học tập chuyên làm việc lành,... để làm cho tôn quí đạo Đức Chúa Trời." (3:14; 2:10).
"Đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành." (2:13, 14).
Phi-lê-môn
"Có lẽ người đã tạm xa cách anh, cốt để anh nhận lấy người mãi mãi." (câu 15).
Hê-bơ-rơ
"Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần, nhiều cách,
"Rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian.
"Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy Lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật;
"Sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng Tôn nghiêm ở trong nơi rất cao." (HeDt 1:1-3).
"Nếu lời thiên sứ rao truyền đã vững chắc và sự trái phép nghịch mạng đã được báo ứng xứng đáng rồi,
"Mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? -- là sự cứu rỗi Chúa truyền ra." (2:2, 3).
"Thật, Đấng mà muôn vật hướng về Ngài và bởi Ngài, vì muốn đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì đã khiến Đấng làm cội rễ sự cứu rỗi của những con ấy, nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành, là phải lắm,...
"Hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời." (2:10, 14, 15).
"Bởi cớ đó, hỡi anh em thánh, là kẻ dự phần ơn trên trời gọi,... hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng,...
"Hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng. "Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ, miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối cùng." (3:1, 12-14).
"Lời của Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng...
"Thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." (4:12, 13).
"Theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư, hay hết,... Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy." (7:16, 25).
"Những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh, nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên Thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường." (6:4-6).
"Nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự hình phạt, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi." (10:26, 27).
"Ai đã phạm luật pháp Môi-se,... thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi Huyết của giao ước, tức là Huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì... há chẳng... đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?" (10:28, 29).
"Đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét,
"Cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài." (9:27, 28).
"Người công bình... sẽ cậy đức tin mà sống." (10:38).
"Hãy hằng có tình yêu thương anh em." (13:1).
"Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên." (11:5).
"Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu." (12:6).
"Hãy lấy điều mình có làm đủ rồi." (13:5).
"Không có đức tin, thì chẳng thế nào ở cho đẹp ý Ngài." (11:6).
"Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi." (13:8).
"Chớ bỏ lòng dạn dĩ mình... Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, thì Đấng đến, sẽ đến." (10:35, 37).
"Bởi đức tin, Môi-se... đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi... Người đứng vững như thấy Đấng không thấy được." (11:24, 27).
Gia-cơ
"Phước cho người bị cám dỗ, vì lúc đã chịu nỗi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài." (Gia Gc 1:12).
"Hãy... đem lòng nhu mì nhận lấy Lời đã trồng trong anh em, là Lời cứu được linh hồn anh em.
"Hãy làm theo Lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình." (1:21, 22).
"Nhược bằng có ai tưởng mình tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.
"Sự tin đạo thanh sạch, không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là: thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian." (1:26, 27).
"Ví bằng... có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời,... thì kẻ ấy sẽ được ban cho." (1:5).
"Trong anh em có ai chịu khổ chăng? Người ấy hãy cầu nguyện... Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh...
"Người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều." (5:13, 15, 16).
"Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình.
"Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao?" (4:3, 4).
"Đức tin không có việc làm cũng chết." (2:26).
"Hãy chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em." (4:7).
"Tội ác đã trọn, sanh ra sự chết." (1:15).
"Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em." (4:8).
"Trong vòng anh em, nếu có ai lầm lạc, cách xa lẽ thật, mà có người khác làm cho nó trở lại, thì phải biết rằng kẻ làm cho người có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, ấy là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi." (5:19, 20).
I Phi-e-rơ
"Ngợi khen Đức Chúa Trời,... Ngài... khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống, là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em, là kẻ bởi đức tin, nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt! Anh em vui mừng về điều đó." (IPhi 1Pr 1:3-6).
"Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường...
"Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót." (4:12, 13).
"Hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng..., sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
"Ngài là Đấng anh em không thấy mà YÊU MẾN;... anh em... tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển,
"Nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình." (1:7-9).
"Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ Nhà Đức Chúa Trời; vả nếu khởi từ chúng ta, thì sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin lành Đức Chúa Trời sẽ ra thể nào?
"Lại nếu người công bình còn khó được rỗi, thì những kẻ nghịch đạo sẽ trở nên thế nào?
"Vậy, những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín." (4:17-19).
"Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em." (5:7).
"Lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình, trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra." (1:13).
"Phải... yêu anh em, có lòng nhơn từ và đức khiêm nhượng." (3:8).
"Anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình." (1:15).
"Cho anh em, là kẻ đã tin, thì (Ngài) là Đá quí." (2:7).
"Hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy." (1:17).
"Hãy yêu nhau sốt sắng hết lòng." (1:22).
"Anh em đã được chuộc... bởi Huyết báu Đấng Christ." (1:18, 19).
"Nhứt là trong vòng anh em phải có lòng yêu thương sốt sắng." (4:8).
"Hãy thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em." (3:15).
II Phi-e-rơ
"Gởi cho những kẻ... đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi...
"Chúng ta biết Đấng lấy vinh hiển và nhơn đức mà gọi chúng ta,--
"Và, bởi vinh hiển, nhơn đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí, rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được... trở nên người dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời." (IIPhi 2Pr 1:1, 3-4).
"Phải gắng sức thêm cho đức tin mình sự nhơn đức, thêm cho nhơn đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến... Làm điều đó, anh em sẽ không hề vấp ngã.
"Dường ấy, anh em sẽ được cho vào cách rộng rãi trong Nước đời đời của Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta." (1:5-11).
"Trong ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê..., nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế." (3:3, 4).
"Hỡi kẻ rất yêu dấu,... ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày.
"Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất." (3:8, 9).
"Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất và mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả." (3:10).
"Vì mọi vật đó phải tiêu tán, thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào, trong khi chờ đợi, trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến." (3:11, 12).
"Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới, đất mới...
"Vậy nên, ... anh em... phải làm hết sức mình, hầu cho Chúa thấy anh em ở bình an, không dấu vít, chẳng chỗ trách được." (3:13, 14).
I Giăng
"Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy.
"Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra.
"Vả, thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời." (IGi1Ga 2:15-17).
"Chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì đều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.
"Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch." (3:2, 3).
"Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình." (3:14).
"Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình." (3:15).
"Sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta." (5:4).
"Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống." (5:12).
"Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến Danh Con Đức Chúa Trời." (5:13).
II Giăng
"Chúng ta phải yêu thương nhau." (câu 5).
III Giăng
"Tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy." (câu 2).
Giu-đe
"Khuyên anh em vì đạo (Nên dịch là: "đức tin") mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi." (câu 3).
"Hãy giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời." (câu 21).
Khải Huyền
"Phước cho những kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây!" (KhKh 1:3).
"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy Huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta,... đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng!" (1:6).
"Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy!" (1:7).
"Ta là An-pha và Ô-mê-ga..., là Đấng trước hết, và là Đấng sau cùng..., Đấng hiện có, đã có, và còn đến...
"Ta đã chết, kìa, nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ." (1:5, 8, 17, 18).
"Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống." (2:10).
"Ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình; những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng Ta, vì họ xứng đáng như vậy." (3:4).
"Ta biết công việc của ngươi: ngươi không lạnh, cũng không nóng...
"Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng Ta." (3:15, 16).
"Phàm người kẻ Ta đã yêu, thì Ta quở trách, sửa phạt...
"Nầy, Ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho, thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với Ta." (3:19, 20).
"Tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra...
"Đó là những kẻ... đã giặt và phiếu trắng áo mình trong Huyết Chiên Con...
"Chúng sẽ không đói, không khát nữa;... Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng." (7:9, 14, 16, 17).
"Đó là những lời chơn thật của Đức Chúa Trời." (19:9).
"Mùa màng dưới đất đã chín rồi." (14:15).
"Tôi thấy một tòa lớn và trắng, cùng Đấng đương ngồi ở trên... Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa...
"Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự Chết và Âm phủ cũng đem trả những người chết mình có...
"Các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là Sách Sự Sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy...
"Kẻ nào không được biên vào Sách Sự Sống đều bị ném xuống hồ lửa." (20:11, 12, 13, 15).
"Tôi thấy trời mới và đất mới... Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng:
"Nầy, Đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng.
"Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng; sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi.
"Những lời nầy đều trung tín và chơn thật." (21:1-5).
"Thiên sứ chỉ cho tôi xem Sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra...
"Trên hai bờ sông có cây sự sống,... mỗi tháng một lần ra trái. "Những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa.
"Ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành... Chúng sẽ được thấy mặt Chúa... Chúng sẽ trị vì đời đời...
"Những lời nầy là trung tín và chơn thật." (22:1-6).
"Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!" (22:11).
"Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến!
"Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không." (22:17).
"Đấng làm chứng cho những điều ấy phán rằng: Phải, Ta đến mau chóng.--
"A-MEN, LAY ĐU­C CHÚA JÊSUS, XIN HÃY ĐẾN!" (22:20).

Ăn năn
"Hãy ăn năn đi, bằng chẳng..." (KhKh 2:16).
"Ngài... muốn cho mọi người đều ăn năn." (IIPhi 2Pr 3:9).
"Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ... Sao các ngươi muốn chết?" (Exe Ed 33:11).
"Các ngươi phải ăn năn, vì Nước Thiên đàng đã đến gần!" (Mat Mt 3:2).
"Nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy." (LuLc 13:3).
"Đức Chúa Trời... bảo hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn." (Cong Cv 17:30).
"Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi." (Cong Cv 3:19).
"Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!" (LuLc 18:13).
"Tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi." (Giop G 42:6).
"Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương; Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương, thống hối Chúa không khinh dể đâu." (Thi Tv 51:17).
"Đấng Cao cả, ở nơi đời đời vô cùng,... có phán như vầy: Trời là ngai Ta, đất là bệ chơn Ta... Nầy là kẻ mà Ta đoái đến: tức là kẻ nghèo khó, có lòng ăn năn đau đớn, nghe lời nói Ta mà run." (EsIs 57:15; 66:1, 2).

Ân điển
"Hãy tấn tới (lớn lên) trong ân điển." (IIPhi 2Pr 3:18).
"Vì được đầy ơn Ngài, nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời." (CoCl 3:16).
"Đức Thánh Linh ban ơn." (HeDt 10:29).
"Đức Chúa Trời ban mọi ơn." (IPhi 1Pr IPhi5:10).
"Chúng ta nhờ ơn Ngài được xưng công bình." (Tit Tt 3:7).
"Sự vinh hiển của ân điển Ngài." (Eph Ep 1:6).
"Đạo của ơn Ngài." (Cong Cv 20:32).
"Sự dư dật của ân điển Ngài." (Eph Ep 1:7).
"Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi." (IICo 2Cr 12:9).
"Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu." (Eph Ep 2:8).
"Tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời." (ICo1Cr 15:10).
"Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn." (CoCl 4:6).
"Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!" (RoRm 1:7).
"Chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu." (Cong Cv 15:11).
"Anh em hãy... lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra." (IPhi 1Pr IPhi1:13).
"Chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng." (HeDt 14:6).
(Xem thêm các mục: "Chào thăm, " -- "Chúc phước. ")
Ban cho
"Ta ban sự bình an Ta cho các ngươi." (GiGa 14:27).
"Sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời." (RoRm 6:33).
"Đức Chúa Jêsus Christ phó mình vì tội lỗi chúng ta." (GaGl 1:4).
"Đức Chúa Trời... đã ban Con một của Ngài." (GiGa 3:16).
"Ấy là nhờ ân điển... mà anh em được cứu. Điều đó... là sự ban cho của Đức Chúa Trời." (Eph Ep 2:8).
Bàn tay Đức Chúa Trời
"Kỳ mạng tôi ở nơi tay Chúa." (Thi Tv 31:15).
"Chúng tôi thảy là việc của tay Ngài." (EsIs 64:8).
"Tay của Đức Giê-hô-va là rất mạnh." (Gios Gs 4:24).
"Ngài đã... lấy bóng tay Ngài mà che Ta." (EsIs 49:2).
Bánh Sự Sống
"Ta là Bánh của Sự Sống,... Bánh Hằng Sống từ trên trời xuống;... Ai đến cùng Ta chẳng hề đói... Kẻ nào ăn Bánh nầy sẽ sống đời đời." (GiGa 6:35,, 51, 58).
Báp-têm
"Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm." (Mat Mt 3:16).
"Sau-lơ... chờ dậy và chịu lễ báp-têm." (Cong Cv 9:17, 18).
"Những kẻ nhận lời đó đều chịu lễ báp-têm." (Cong Cv 2:41).
"Ai tin và chịu lễ báp-têm, sẽ được rỗi." (Mac Mc 16:16).
"Anh em đã bởi lễ báp-têm được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Đức Chúa Trời." (CoCl 2:12).
"Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn Danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm lễ báp-têm cho họ." (Mat Mt 28:19)
"Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn Danh Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh." (Cong Cv 2:38).
"Khi chúng đã tin Phi-líp, là người rao giảng Tin Lành của Nước Đức Chúa Trời..., thì cả đờn ông, đờn bà đều chịu lễ báp-têm." (Cong Cv 8:12).
"Chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi lễ báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy." (RoRm 6:4).
Bắt bớ
"Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em." (RoRm 12:14).
"Hãy cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi." (Mat Mt 5:44).
"Chúng tôi bị... bắt bớ, nhưng không đến bỏ." (IICo 2Cr 4:9).
"Hết thảy mọi người muốn sống cách nhơn đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ." (IITi 2Tm 3:12).
"Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm." (Mat Mt 5:11, 12).
Biết
"Biết sự rỗi." (LuLc 1:77).
"Phải... thêm cho đức tin... sự học thức." (IIPhi 2Pr 1:5).
"Hãy tấn tới... trong sự thông biết Chúa." (IIPhi 2Pr 3:18).
"Càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời." (CoCl 1:10).
"Được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài." (CoCl 1:9).
"Lòng thiếu tri thức ấy chẳng phải một điều hay." (ChCn 19:2).
"Dân Ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết." (OsHs 4:6).
"Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức." (ChCn 1:7).
"Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi." (GiGa 8:32).
"Trong Ngài (Đấng Christ) đã giấu kín mọi sự quý báu về khôn ngoan, thông sáng." (CoCl 2:3).
"Chúng nó bởi sự nhận biết Chúa... mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian." (IIPhi 2Pr 2:20).
Thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển." (EsIs 11:9).
"Nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta!" (IIPhi 2Pr 1:3).
Biết chắc
"Ta. .. Biết ta tin Đấng Nào. " (IITi 2Tm 1:12).
"Giữ lòng đầy dẫy sự trông cậy cho đến cuối cùng." (HeDt 6:11).
"Hãy chú ý cho Chắc Chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình." (IIPhi 2Pr 1:10).
"Tôi Biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất... Chính tôi sẽ thấy Ngài, mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài." (Giop G 19:25, 27).
"Chúng ta hãy lấy... đức tin đầy dẫy trọn vẹn... mà đến gần Chúa." (HeDt 10:22).
"Công bình sẽ sanh ra bình an, trái của sự công bình sẽ là yên lặng và an ổn mãi mãi." (EsIs 32:17).
"Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con Biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến Danh Con Đức Chúa Trời." (IGi1Ga 5:13).
(Xem thêm các mục: "Tin, " -- "Nương náu, " -- "Đức tin, " -- "Tin cậy. ")
Bình an
"Bình an cho các ngươi!" (GiGa 20:19).
"Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an!" (RoRm 1:7).
"Hãy cầu sự bình an với mọi người." (HeDt 12:14).
"Cầu xin Đức Giê-hô-va... ban bình an cho ngươi!" (Dan Ds 6:26).
"Trái của Thánh Linh, ấy là... bình an." (GaGl 5:22).
"Hãy ở cho hòa thuận với nhau." (ITe1Tx 5:13).
"Sự bình an của con cái ngươi sẽ lớn." (EsIs 54:13).
"Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em!" (CoCl 3:15).
"Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình an lớn." (Thi Tv 119:165).
"Đức Chúa Trời ta đã phán: Những kẻ gian ác chẳng hưởng sự bình an." (EsIs 57:21).
"Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài." (EsIs 26:3).
"Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ." (Phi Pl 4:6, 7).
"Ta để sự bình an lại cho các ngươi; Ta ban sự bình an Ta cho các ngươi; Ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi." (GiGa 14:27).
Bỏ ra ngoài
"Kẻ đến cùng Ta, thì Ta không bỏ ra ngoài đâu." (GiGa 6:37).
"Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh... khô đi,... quăng vào lửa, thì nó cháy." (Găng 15:6;).
"Phải sợ Đấng khi đã giết rồi, có quyền bỏ xuống địa ngục." (LuLc 12:5).
"Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng... chính mình phải bị bỏ chăng." (ICo1Cr 9:27).
"Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?" (LuLc 9:25).
Buồn khổ
"Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân Ta." (XuXh 3:7).
"Ngài... từng trải sự buồn bực,... gánh sự buồn bực của chúng ta." (EsIs 53:3, 4).
"Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!" (Mat Mt 5:4).
"Các ngươi sẽ ở trong sự lo buồn, nhưng sự lo buồn các ngươi sẽ đổi làm vui vẻ." (GiGa 16:20).
"Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng; sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa." (KhKh 21:4).
(Cũng xem các mục: "Hoan nạn, " -- "Sửa phạt, " -- "Bắt bớ, " -- "Đau khổ, " --
"Nước mắt, " -- "Thử thách, " -- "Khổ nạn, " -- "Khốn khó. ")
Ca hát
"Hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời." (Thi Tv 68:32).
"Những kẻ ca hát tiếng lớn." (NeNe 12:42).
"Tôi sẽ ca hát về sức lực Chúa." (Thi Tv 59:16).
"Hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời, hãy ngợi khen Danh Ngài." (Thi Tv 68:4).
"Hãy đến hát xướng cho Đức Giê-hô-va." (Thi Tv 95:1).
"Tôi sẽ hát, phải, tôi sẽ hát ngợi khen." (Thi Tv 57:7).
"Nguyện các thánh Ngài... hát vui vẻ!" (Thi Tv 149:5).
"Tôi sẽ hát lớn tiếng về sự nhơn từ Chúa." (Thi Tv 59:16).
"Tôi sẽ... ca tụng Danh của Ngài." (Thi Tv 9:2).
"Hỡi cả trái đất, khá hát xướng cho Đức Giê-hô-va." (Thi Tv 96:1).
"Hãy hát xướng cho Đức Giê-hô-va, và chúc tụng Danh Ngài." (Thi Tv 96:2).
"Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy hát ngợi khen Ngài!" (Thi Tv 30:4).
"Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài." (Thi Tv 100:2).
"Tôi tớ Ta sẽ hát mừng vì lòng đầy vui vẻ." (EsIs 65:14).
"Tôi sẽ... hát ngợi khen Chúa trong các nước." (Thi Tv 57:9).
"Đức Chúa Jêsus và môn đồ hát thơ thánh." (Mat Mt 26:30).
"Tôi sẽ hát xướng về sự nhơn từ của Đức Giê-hô-va luôn luôn." (Thi Tv 89:1).
"Trọn đời chúng tôi sẽ đờn và hát trong Nhà Đức Giê-hô-va." (EsIs 38:20).
"Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va!... Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài!... Hãy lấy Danh Thánh Ngài làm vinh." (ISu1Sb 16:8-10).
"Đức Giê-hô-va là sức mạnh... của tôi... Vì vậy... tôi sẽ lấy bài ca mà ngợi khen Ngài." (Thi Tv 28:7).
"Vào ngục tối và tra chơn vào cùm, lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la... cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời." (Cong Cv 16:24, 25).
"Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu. Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy." (Thi Tv 104:33).
"Dân mà Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ trở về, sẽ hát mà đến Si-ôn. Sự hỉ lạc vô vùng sẽ đội trên đầu họ." (EsIs 51:11).
"Khi... kẻ ca hát đồng thinh... khen ngợi, cảm tạ Đức Giê-hô-va,... thì Đền thờ của Đức Giê-hô-va bị mây lấp đầy." (IISu 2Sb 5:13, 14).
"Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh, hãy lấy ca vịnh, Thơ Thánh, và Bài Hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa." (Eph Ep 5:18, 19).
"Nguyền xin Lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em... Hãy dùng những ca vịnh, Thơ Thánh, Bài Hát thiêng liêng mà dạy và khuyên nhau, vì được đầy ơn Ngài, nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời." (CoCl 3:16).
(Những câu Kinh Thánh nầy tỏ ra rằng sự hát chung trong cuộc thờ phượng chung là đúng với Kinh Thánh. Tại sao trong các cuộc nhóm họp thường xuyên ở nhà thờ, chúng ta lại không thể để hội chúng hát nhiều hơn? Tại Sao? Tại Sao? ).
Cam chịu
"Chịu khổ nạn." (IPhi 1Pr IPhi2:19 -- theo nguyên văn).
"Hãy... chịu khổ." (IITi 2Tm 2:3).
"Hãy chịu cực khổ." (IITi 2Tm 4:5).
"Chịu sửa phạt." (HeDt 12:7).
"Tình yêu thương... nín chịu mọi sự." (ICo1Cr 13:4, 7).
"Những kẻ nhịn nhục chịu khổ, thì chúng ta xưng là có phước." (Gia Gc 5:11).
"Ai bền lòng cho đến cuối cùng, thì sẽ được rỗi." (Mat Mt 10:22).
"Môi-se... đứng vững như thấy Đấng không thấy được." (HeDt 11:24, 27).
"Đức Chúa Jêsus... vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá." (HeDt 12:2).
"Ta vì cớ những người được chọn mà chịu hết mọi sự, hầu cho họ cũng được... sự vinh hiển đời đời." (IITi 2Tm 2:10).
"Phước cho người bị cám dỗ! Vì lúc đã chịu nỗi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài." (Gia Gc 1:12).
Cám dỗ
"Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ." (Mat Mt 6:13).
"Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ." (Mat Mt 26:41).
"Phước cho người bị cám dỗ!" (Gia Gc 1:12).
"Đức Chúa Jêsus... bị cám dỗ (nguyên văn) trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội." (HeDt 4:14, 15).
"Vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy." (HeDt 2:18).
"Đức Chúa Trời... chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi." (ICo1Cr 10:13).
Cảm tạ
"Phải biết ơn." (CoCl 3:15).
"Tạ ơn Đức Chúa Trời!" (IICo 2Cr 9:15).
"Khá cảm tạ Ngài." (Thi Tv 100:4).
"Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa." (ITe1Tx 5:18).
"Chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi." (ITe1Tx 2:13).
"Hãy dư dật trong sự cảm tạ." (CoCl 2:7).
"Người (Phao-lô) bèn lấy bánh,... tạ ơn Đức Chúa Trời." (Cong Cv 27:35).
"Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn." (LuLc 22:19).
"Phao-lô... cảm tạ Đức Chúa Trời và vững chí." (Cong Cv 28:15).
"Vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời." (Eph Ep 5:20).
"Hãy hát sự cảm tạ cho Đức Giê-hô-va." (Thi Tv 147:7).
"Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài." (Thi Tv 100:4).
"Phải bền đỗ... cầu nguyện, mà thêm sự tạ ơn vào." (CoCl 4:2).
"Sự... chúc tạ... về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng!" (KhKh 7:12).
"Kẻ ca hát đồng thinh... cảm tạ Đức Giê-hô-va." (IISu 2Sb 5:13).
"Trong mọi sự, hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời." (Phi Pl 4:6).
Cầu nguyện
Một vài lời Đức Chúa Jêsus phán về sự cầu nguyện
"Ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được." (GiGa 15:5).
"Hãy... cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi." (Mat Mt 5:44).
"Phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt." (LuLc 18:1).
"Nếu các ngươi nhơn Danh Ta xin điều chi, Ta sẽ làm cho." (GiGa 14:14).
"Ví bằng các ngươi cứ ở trong Ta, và những lời Ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó." (GiGa 15:7).
"Khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng,... rồi cầu nguyện Cha ngươi ở nơi kín nhiệm đó." (Mat Mt 6:6).
"Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho." (Mat Mt 7:7).
"Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, điều chi các ngươi sẽ cầu xin nơi Cha, thì Ngài sẽ nhơn Danh Ta mà ban cho các ngươi." (GiGa 16:23).
"Nếu các ngươi... còn biết cho con cái mình các vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời, lại chẳng ban các vật tốt cho những người xin Ngài sao?" (Mat Mt 7:11).
Những lời Đức Chúa Jêsus phán về đức tin là một yếu tố của sự cầu nguyện
"Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi." (LuLc 18:42).
"Đức tin con đã làm cho con được lành." (Mat Mt 9:22).
"Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy." (Mat Mt 9:29).
"Kẻ nào tin, thì mọi việc đều được cả." (Mac Mc 9:23).
"Hỡi đờn bà kia, ngươi có đức tin lớn, việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn!" (Mat Mt 15:28).
"Nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải,... không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được." (Mat Mt 17:20).
"Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều được cả." (Mat Mt 21:22).
"Ở đó, Ngài không làm nhiều phép lạ, vì chúng không có lòng tin." (Mat Mt 13:58).
"Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi." (Mat Mt 11:24).
"Hãy có Đức Tin đến Đức Chúa Trời. .. Ai sẽ bảo hòn núi nầy rằng: Phải cất mình lên, và quăng mình xuống biển, nếu người chẳng nghi ngại trong lòng, nhưng tin chắc lời mình nói sẽ ứng nghiệm, thì điều đó sẽ thành cho." (Mac Mc 11:24).
Thói quen cầu nguyện của Đức Chúa Jêsus
"Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng." (LuLc 9:18).
"Đức Chúa Jêsus cầu nguyện ở nơi kia." (LuLc 11:1).
"Ngài lên núi để cầu nguyện riêng." (Mat Mt 14:23).
"Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết." (LuLc 22:44).
"Ngài lánh đi nơi đồng vắng mà cầu nguyện." (LuLc 5:16).
"Đức Chúa Jêsus đi lên núi để cầu nguyện, và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời." (LuLc 6:12).
"Trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện tại đó." (Mac Mc 1:29).
"Đức Chúa Jêsus... lên trên núi để cầu nguyện... Diện mạo Ngài khác thường." (LuLc 9:28, 29).
"Hãy ngồi đây, đợi Ta đi cầu nguyện đằng kia... Ngài lại đi lần thứ hai mà cầu nguyện... Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba." (Mat Mt 26:36, 42, 44).
"Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện, nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết." (HeDt 5:7).
Một vài lời cầu nguyện của Đức Chúa Jêsus
"Cha ơi, xin làm sáng Danh Cha!" (GiGa 12:28).
"Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì." (LuLc 23:34).
"Hỡi Si-môn,... Ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn." (LuLc 22:31, 32).
"Thưa Cha,... xin làm vinh hiển Con, hầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha." (GiGa 17:1).
"Cha ơi! Nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống, thì xin ý Cha được nên." (Mat Mt 26:42).
Một vài lời cầu nguyện do Đức Chúa Jêsus khuyến nghị
"Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!" (LuLc 18:13).
"Lạy Cha chúng tôi ở trên trời! Danh Cha được thánh, Nước Cha được đến, ý Cha được nên, ở đất như trời! Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày. Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi. Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác! Vì Nước, quyền, vinh hiển, đều thuộc về Cha đời đời. A-men." (Mat Mt 6:9-13).
"Lạy Cha! Danh Cha được thánh, Nước Cha được đến! Xin cho chúng tôi ngày nào đủ bánh ngày ấy. Xin tha tội chúng tôi, vì chúng tôi cũng tha kẻ mích lòng mình; và xin chớ đem chúng tôi vào sự cám dỗ!" (LuLc 11:2-4).
Những câu Cựu Ước luận về sự cầu nguyện
"Còn tôi kêu cầu cùng Đức Chúa Trời... buổi chiều, buổi sáng và ban trưa." (Thi- thiên 55:16, 17).
"Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi." (Thi Tv 66:18).
"Ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng." (SaSt 32:28).
"Kẻ khốn cùng nầy có kêu cầu, Đức Giê-hô-va bèn nhậm lời người, giải cứu người khỏi các điều gian truân." (Thi Tv 34:6).
"Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi... Hãy hả hoác miệng ra, thì Ta sẽ làm đầy dẫy nó." (Thi Tv 81:10).
"Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va, vì Ngài nghe tiếng tôi và lời nài xin của tôi. Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi." (Thi Tv 116:1, 2).
"Còn ta đây, cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà thôi cầu nguyện cho các ngươi... Sa-mu-ên ... kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va trọn đêm." (ISa1Sm 12:23; 15:11;).
"Hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, thì Ngài sẽ ban cho ngươi đều lòng mình ao ước... Hãy... nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy. Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài." (Thi Tv 37:4-7).
"Nhược bằng dân Ta, là dân gọi bằng Danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì Ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó và cứu xứ họ khỏi tai vạ." (IISu 2Sb 7:14).
"Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được, tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu. Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời, và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa." (EsIs 59:1, 2).
Những lời cầu nguyện trong sách Thi Thiên
"Xin dẫn dắt tôi." (31:3;).
"Tôi yếu mỏn. Lạy Đức Giê-hô-va, xin chữa tôi." (6:2;).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy chổi dậy. Hỡi Đức Chúa Trời tôi, hãy cứu tôi!" (3:7;).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chỉ dạy tôi con đường Ngài,... xin hãy dẫn tôi vào lối bằng phẳng." (27:11;).
"Đức Giê-hô-va ôi! Khá giúp đỡ tôi,... tôi sẽ cảm tạ Chúa đến đời đời." (30:11, 12).
"Xin Chúa tha các lỗi tôi không biết... Nguyện tội ấy không cai trị tôi!" (19:12, 13).
"Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài." (119:18;).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, là Hòn Đá tôi và là Đấng cứu chuộc tôi, nguyện lời nói của miệng tôi, sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!" (19:14;).
"Hỡi Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy thương xót tôi,... xin hãy xóa các sự vi phạm tôi,... xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác... Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết." (51:1, 2, 7).
"Xin Chúa ngảnh mặt khỏi các tội lỗi tôi... Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng... Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa." (51:9-12;).
"Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời." (Thi Tv 139:23, 24).
Những câu trong sách Sứ đồ và các thơ tín luận về sự cầu nguyện
"Hãy... cầu nguyện không thôi." (ITe1Tx 5:17).
"Hãy... bền lòng mà cầu nguyện." (RoRm 12:12).
"Phải bền đỗ và tỉnh thức trong sự cầu nguyện, mà thêm sự tạ ơn vào." (CoCl 4:2).
"Hội Thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người (Phi-e-rơ) luôn." (Cong Cv 12:5).
"Hãy... cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh." (Gia Gc 5:16).
"Còn chúng ta sẽ cứ chuyên lo về sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo." (Cong Cv 6:4).
"Nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta." (IGi1Ga 5:14).
"Anh em cầu nguyện mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình." (Gia Gc 4:3).
"Chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài." (IGi1Ga 3:22).
"Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho. Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ." (Gia Gc 1:5, 6).
"Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ." (Phi Pl 4:6, 7).
Cất lên trời
"Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi." (SaSt 5:24).
"Trong lúc các người đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa." (Cong Cv 1:9).
"Có một cái xe lửa và ngựa lửa...; Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc." (II Các Vua 2:11;).
"Sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy, chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn." (ITe1Tx 4:16, 17).
Chào thăm
"Nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em!" (IPhi 1Pr IPhi1:2).
"Nguyền xin sự thương xót, bình an, yêu mến thêm lên cho anh em!" (Giu-đe 2).
"Nguyền xin con được ân điển, sự thương xót và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta!" (ITi1Tm 1:2).
(Cũng xem mục: "Chúc phước. " Phần nhiều thơ tín bắt đầu và chấm dứt bằng mấy chữ: "Ân điển " và "Bình an. " Đó là lời chào thăm và lời tạm biệt mà các tín đồ đầu tiên quen dùng. Thật là những lời tuyệt mỹ, thiên thượng.
Chăm về xác thịt
"Chăm về xác thịt sanh ra sự chết." (RoRm 8:6).
"Nếu anh em sống theo xác thịt, thì phải chết." (RoRm 8:13).
"Sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời." (RoRm 8:7).
Chối Đấng Christ
"Ai chối Ta trước mặt thiên hạ, thì họ sẽ bị chối trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời." (LuLc 12:9).
"Ai chối Ta trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha Ta ở trên trời." (Mat Mt 10:33).
"Họ xưng mình biết Đức Chúa Trời, nhưng theo việc làm, thì đều từ chối Ngài." (Tit Tt 1:16).
"Bề ngoài giữ điều nhơn đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhơn đức đó." (IITi 2Tm 3:5).
"Cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình." (IIPhi 2Pr 2:1).
Chối bỏ Đấng Christ
"Kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa." (KhKh 22:11).
"Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi!" (Gie Gr 8:20).
"Nếu ai không tiếp rước... các ngươi,... đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy." (Mat Mt 10:14, 15).
Chớ sợ
"Đừng sợ, chỉ tin mà thôi." (Mac Mc 5:36).
"Chớ sợ chi, Ta ở cùng ngươi." (SaSt 26:24).
"Hãy tôn Đức Giê-hô-va vạn quân là thánh; các ngươi chỉ nên sợ Ngài và kinh hãi Ngài." (EsIs 8:13).
"Chúng tôi chẳng sợ, dầu đất bị biến cải." (Thi Tv 46:2).
"Đừng sợ,... vì Ta là Đức Chúa Trời ngươi!... Ngươi thuộc về Ta... Ta,... sẽ nắm tay hữu ngươi." (EsIs 41:10, 13 43:1;).
"Dầu một đạo binh đóng đối cùng tôi, lòng tôi sẽ chẳng sợ." (Thi Tv 27:3).
"Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ gì; người xác thịt sẽ làm chi tôi?" (Thi Tv 56:4).
"Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó." (II Các Vua 6:16;).
"Hỡi bầy nhỏ, đừng sợ chi; vì Cha các ngươi đã bằng lòng cho các ngươi Nước Thiên đàng." (LuLc 12:32).
Chờ đợi (Trông đợi) Đức Chúa Trời
"Các ngươi khá đợi Ta." (Sô-phô-ni 3:8;).
"Hãy chờ đợi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ cứu rỗi con." (ChCn 20:22).
"Những kẻ trông cậy Ta sẽ chẳng hổ thẹn." (EsIs 49:23).
"Đức Giê-hô-va ban sự nhơn từ cho những kẻ trông đợi Ngài." (Ca Thương 3:25;).
"Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài." (Thi Tv 37:7).
"Linh hồn tôi nghỉ an nơi một mình Đức Chúa Trời; sự cứu rỗi tôi từ Ngài mà đến." (Thi Tv 62:1).
"Người khá... giữ sự nhơn từ và sự công bình, luôn luôn trông đợi Đức Chúa Trời ngươi." (OsHs 12:7).
"Hỡi linh hồn ta, khá nghỉ an nơi Đức Chúa Trời; vì sự trông cậy ta ở nơi Ngài." (Thi Tv 62:5).
"Giê-hô-va là Đức Chúa Trời công nghĩa. Phước thay cho mọi kẻ trông đợi Ngài!" (EsIs 30:18).
"Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài há chẳng phải là Đấng đó? Vậy nên chúng tôi sẽ trông đợi Ngài." (Gie Gr 14:22).
"Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va." (Ca Thương 3:26;).
"Tôi trông đợi Đức Giê-hô-va, linh hồn tôi trông đợi Ngài; tôi trông cậy Lời của Ngài." (Thi Tv 130:5).
"Xin hãy dẫn tôi trong Lẽ thật của Ngài, và dạy dỗ tôi, vì Ngài là Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi; hằng ngày tôi trông đợi Ngài." (Thi Tv 25:5).
"Sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định,... Nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi; bởi nó chắc sẽ đến." (Ha-ba-cúc 2:3;).
"Ta sẽ nhìn xem Đức Giê-hô-va, chờ đợi Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi ta; Đức Chúa Trời ta sẽ nghe ta." (MiMk 7:7).
"Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va" (Thi Tv 27:14).
"Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy thương xót chúng tôi! Chúng tôi trông đợi nơi Chúa: Xin Chúa làm cánh tay cho chúng tôi mỗi buổi sớm mai, giải cứu chúng tôi trong cơn hoạn nạn!" (EsIs 33:2).
"Kìa, ấy là Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đã mong đợi Ngài, và Ngài sẽ cứu chúng ta." (EsIs 25:9).
"Ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi." (EsIs 40:31).
Chơn thật
"Đức Chúa Jêsus Christ... là Đức Chúa Trời chơn thật." (IGi1Ga 5:20).
"Lời của Chúa là chơn thật." (Thi Tv 119:160).
"Đó là những lời chơn thật của Đức Chúa Trời." (KhKh 19:9).
"Những lời nầy đều trung tín và chơn thật." (KhKh 21:5; 22:6;).
"Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chơn thật." (Thi Tv 19:9).
"Hỡi Chúa, là Đức Chúa Trời Toàn năng,... đường lối Ngài là công bình và chơn thật!" (KhKh 15:3).
"Phàm điều chi chơn thật,... thì anh em phải nghĩ đến." (Phi Pl 4:8).
"Hãy ưa sự chơn thật." (XaDr 8:19).
"Luật pháp Chúa là chơn thật." (Thi Tv 119:142).
"Sự chơn thật của Đấng Christ." (IICo 2Cr 11:10).
"Sách chơn thật." (DaDn 10:21).
"Lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật." (Eph Ep 4:15).
"Ngài đã làm những sự mới lạ... cách thành tín, chơn thật." (EsIs 25:1).
"Miệng ta sẽ nói chơn thật." (ChCn 8:7).
"Các điều răn là chơn thật." (Thi Tv 119:151).
"Ngài... đã dùng lời chơn thật sanh chúng ta." (Gia Gc 1:18).
"Sự chơn thật Ngài là cái khiên và cái can của ngươi." (Thi Tv 91:4).
Chúc phước
"Nguyền xin ân điển ở cùng anh em!" (CoCl 4:18).
"Nguyền xin ân điển ở với anh em hết thảy!" (Tit Tt 3:15).
"Nguyền xin Chúa ở cùng tâm thần con!" (IITi 2Tm 4:22).
"Nguyền xin sự bình an ở cùng hết thảy anh em trong Đấng Christ!" (IPhi 1Pr IPhi5:14).
"Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, ở với anh em!" (ITe1Tx 5:28).
"Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Đức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu!" (Sáng- thế Ký 31:49;).
"Nguyền xin ân điển ở với hết thảy những kẻ lấy lòng yêu thương chẳng phai mà kính mến Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta!" (Eph Ep 6:24).
"Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Christ, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy!" (IICo 2Cr 13:13).
"Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô- va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi!" (PhuDnl 6:24-26).
"Nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng,... là Đức Chúa Trời có một, là Cứu Chúa chúng ta,... được sự vinh hiển, tôn trọng, thế lực, quyền năng... hiện nay cho đến đời đời!" (Giu-đe 24, 25).
"Đức Chúa Trời bình an, là Đấng bởi Huyết giao ước đời đời mà đem Đấng Chăn Chiên lớn, là Đức Chúa Jêsus chúng ta, ra khỏi từ trong kẻ chết, -- nguyền xin Ngài, bởi Đức Chúa Jêsus Christ, khiến anh em nên trọn vẹn trong mọi sự lành, đặng làm thành ý muốn Ngài, và làm ra sự đẹp ý Ngài trong chúng ta,-- sự vinh hiển đáng về Ngài đời đời vô cùng!" (HeDt 13:20, 21).
(Cũng xem mục: "Chào thăm. ").
Chúa ở cùng chúng ta
"Em-ma-nu-ên nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta." (Mat Mt 1:23).
"Ta Thường Ở Cùng Các Ngươi Luôn. " (Mat Mt 28:20).
"Với chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta." (IISu 2Sb 32:8).
"Giê-hô-va Đức Chúa Trời người (Sa-lô-môn) ở cùng người." (IISu 2Sb 1:1).
"Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát." (IISu 2Sb 17:3).
"Đừng sợ chi,... Ta ở cùng ngươi." (Cong Cv 18:9, 10).
"Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm Đầu chúng ta." (IISu 2Sb 13:12).
"Sa-mu-ên trở nên khôn lớn, Đức Giê-hô-va ở cùng người." (ISa1Sm 3:19).
"Ta sẽ ở cùng ngươi như Ta đã ở cùng Môi-se." (Gios Gs 1:5).
"Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi." (Gios Gs 1:9).
"Chúa đã giúp đỡ ta và thêm sức cho ta." (IITi 2Tm 4:17).
"Ta ở với ngươi... Ta, là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, sẽ nắm tay hữu ngươi." (EsIs 41:10, 13).
"Đa-vít càng ngày càng cường thạnh; vì Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng người," (ISu1Sb 11:9).
"Nếu ai yêu mến Ta, thì vâng giữ Lời Ta, Cha Ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và Ở Trong Người. " (GiGa 14:23).
"Tôi hằng để Đức Giê-hô-va đứng ở trước mặt tôi; tôi chẳng hề bị rúng động... Trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng." (Thi Tv 16:8, 11).
(Xem thêm mục: "Đồng đi với Đức Chúa Trời. ")
Con cái Đức Chúa Trời
"Anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời." (GaGl 3:26).
"Hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời." (GiGa 1:12).
"Người ta nhận biết con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỉ." (IGi1Ga 3:10).
"Hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con Đức Chúa Trời." (RoRm 8:14).
"Họ... là con của Đức Chúa Trời, tức là con của sự sống lại." (LuLc 20:36).
"Hãy ham thích sữa thiêng liêng của Đạo như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên," (IPhi 1Pr IPhi2:2).
"Muôn vật... sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời." (RoRm 8:21).
Con trẻ (con cái)
"Một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi." (EsIs 11:6).
"Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình." (CoCl 3:20).
"Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu." (ISa1Sm 2:18).
"Từ khi con còn thơ ấu, đã biết Kinh Thánh." (IITi 2Tm 3:15).
"Con trẻ reo lên trong Đền thờ rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít!" (Mat Mt 21:15).
"Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con đương bú." (Mat Mt 21:16).
"Khá ân cần dạy dỗ (các lời) đó cho con cái ngươi." (PhuDnl 6:6, 7).
"Hễ ai vì Danh Ta chịu tiếp một đứa trẻ thể nầy, tức là chịu tiếp Ta vậy." (Mat Mt 18:5).
"Các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha Ta." (Mat Mt 18:10).
"Con Trẻ lớn lên, và mạnh mẽ, được đầy dẫy sự khôn ngoan." (LuLc 2:40).
"Hãy tôn kính cha mẹ ngươi..., hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất." (Eph Ep 6:2, 3).
"Hãy để con trẻ đến cùng Ta,... vì Nước Thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy." (Mat Mt 19:14).
"Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó." (ChCn 22:6).
"Nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào Nước Thiên đàng đâu." (Mat Mt 18:3).
"Ai không nhận lãnh Nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì sẽ không được vào đó." (LuLc 18:17).
Công bình
"Đức Giê-hô-va thử người công bình." (Thi Tv 11:5).
"Đức Giê-hô-va yêu mến người công bình." (Thi Tv 146:8).
"Đức Giê-hô-va nâng đỡ người công bình." (Thi Tv 37:17).
"Người công bình ca hát mừng rỡ." (ChCn 29:6).
"Kẻ công bình vẫn có nơi nương cậy, dầu trong khi chết." (ChCn 14:32).
"Người công chánh thác thể nào, tôi nguyện thác thể ấy." (Dan Ds 23:10).
"Người công bình bị nhiều tai họa, nhưng Đức Giê-hô-va cứu người khỏi hết." (Thi Tv 34:19).
"Đức Giê-hô-va là công bình; Ngài yêu sự công bình." (Thi Tv 11:7).
"Tin bởi trong lòng mà được sự công bình." (RoRm 10:10).
"Phước cho người nào... làm theo sự công bình luôn luôn!" (Thi Tv 106:3).
"Những người công bình sẽ vào sự sống đời đời." (Mat Mt 25:46).
"Hãy dâng sự công bình làm của lễ, và để lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va." (Thi- thiên 4:5;).
"Ngài... dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ Danh Ngài." (Thi Tv 23:3).
"Sự công bình làm cho nước cao trọng; song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc." (ChCn 14:39).
"Người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều." (Gia Gc 5:16).
"Tóc bạc là mão triều thiên vinh hiển, miễn là thấy ở trong đường công bình." (ChCn 16:31).
"Sự sống ở nơi đường công bình; trên lối nó không có sự chết." (ChCn 12:28).
"Đức Giê-hô-va biết đường người công bình, song đường kẻ ác rồi bị diệt vong." (Thi Tv 1:6).
"Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!" (Mat Mt 5:6).
"Chúng ta chờ đợi trời mới, đất mới, là nơi sự công bình ăn ở." (IIPhi 2Pr 3:13).
"Những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình, sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi." (DaDn 12:3).
"Những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong Nước của Cha mình." (Mat Mt 13:43).
"Công bình sẽ sanh ra bình an, trái của sự công bình sẽ là yên lặng và an ổn mãi mãi." (EsIs 32:17).
"Kỷ niệm người công bình được khen ngợi." (ChCn 10:7).
"Trái cân đúng được đẹp lòng Ngài." (ChCn 11:1).
"Các linh hồn người nghĩa được vẹn lành." (HeDt 12:23).
"Hãy xử công bình cho người buồn rầu và kẻ túng ngặt." (Thi Tv 82:3).
"Người nào cai trị loài người cách công bình,... thì sẽ giống như sự chói lòa buổi sáng." (IISa 2Sm 23:3, 4).
"Có phước lành giáng trên đầu kẻ công bình." (ChCn 10:6).
"Giữ theo đạo Đức Giê-hô-va, làm các điều công bình và ngay thẳng." (SaSt 18:19).
"Đa-vít cai trị cả dân mình cách ngay thẳng và công bình." (IISa 2Sm 8:15).
"Ngươi phải theo sự công bình cách trọn vẹn." (PhuDnl 16:20).
"Phàm... điều chi công bình,... thì anh em phải nghĩ đến." (Phi Pl 4:8).
"Đến kỳ kẻ công bình sống lại, ngươi sẽ được trả." (LuLc 14:14).
"Nếu người nào là công bình, làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật,... thì... chắc thật người sẽ sống." (Exe Ed 18:5, 9).
"Con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa." (ChCn 4:18).
"Hỡi các vua Y-sơ-ra-ên,... khá... làm sự... công bình hãy giải cứu dân Ta khỏi những sự hà lạm của các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy." (Exe Ed 45:9).
"Cái điều Đức Giê-hô-va đòi ngươi,... là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi." (MiMk 4:8).
Công việc (Làm việc)
"Dân chuyên thành làm công việc." (NeNe 4:6).
"Các thợ ấy đều làm việc cách thành tâm." (IISu 2Sb 34:12).
"Con đã... làm xong công việc Cha giao cho làm." (GiGa 17:4).
"Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho mọi công việc tay ngươi đã làm." (PhuDnl 14:29).
"Chúng tôi... bảo và khuyên những kẻ đó phải yên lặng mà làm việc, hầu cho ăn bánh của mình làm ra." (II Tê-sa-lô-ni-ca 3:12;).
"Trong khi còn ban ngày, Ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai Ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được." (GiGa 9:4).
"Chúng tôi khuyên anh em... ráng tập ăn ở cho yên lặng, săn sóc việc riêng mình, lấy chính tay mình làm lụng,... hầu cho ăn ở với người ngoại cách ngay thẳng, và không thiếu chi hết." (ITe1Tx 4:11, 12).
Cùng đi với Đức Chúa Trời
"Nô-ê... đồng đi cùng Đức Chúa Trời." (SaSt 6:9).
"Những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng Ta." (KhKh 3:4).
"Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi." (LeLv 26:12).
"Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ... đi lại giữa họ." (IICo 2Cr 6:16).
"Tôi sẽ đi trước mặt Đức Giê-hô-va trong đất kẻ sống." (Thi Tv 116:9).
"Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi." (SaSt 5:24).
"Hãy... tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu; hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được sự an nghỉ cho linh hồn mình." (Gie Gr 6:16).
"Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào, vì Chúa ở cùng tôi." (Thi Tv 23:4).
"Hãy bước đi trong sự yêu thương." (Eph Ep 5:2).
"Hãy bước đi trong Ngài (Đấng Christ)." (CoCl 2:6).
"Đi theo luật lệ của Ta." (XuXh 16:4).
"Ngươi hãy đi ở trước mặt Ta, làm một người trọn vẹn." (SaSt 17:1).
"Đi trong sự sáng." (IGi1Ga 1:7).
"Chúng ta sẽ đi trong các nẻo Ngài." (EsIs 2:3).
"Tôi sẽ bước đi trong sự thanh liêm." (Thi Tv 26:11).
"Chúng nó sẽ theo sau Đức Giê-hô-va." (OsHs 11:10).
"Noi theo Thánh Linh." (RoRm 8:4).
"Chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy." (IICo 2Cr 5:7).
"Chúng ta hãy bước đi trong sự sáng của Đức Giê-hô-va." (EsIs 2:5).
"Chúng ta sẽ bước đi theo Danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng!" (MiMk 4:5).
"Sự khôn ngoan sẽ khiến con đi trong đường người thiện." (ChCn 2:20).
"Sự thương yêu là tại làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời." (IIGi 2Ga 1:6).
"Các ngươi khá đi theo trọn đường mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã chỉ cho." (PhuDnl 5:33).
"Họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa." (Thi Tv 89:15).
"Hãy đi theo cả đường lối Ta dạy cho, để các ngươi được phước." (Gie Gr 7:23).
"Chúa giữ sự giao ước và lòng nhơn từ với... kẻ nào hết lòng đi ở trước mặt Chúa." (IVua 1V 8:23).
"Tôi sẽ ăn ở cách khôn ngoan trong đường trọn vẹn." (Thi Tv 101:2).


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 27-4-2018 12:59 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách