† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3866|Trả lời: 0

Alpha - Bài 6. Vì Sao Tôi Phải Cầu Nguyện

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-8-2011 20:23:47 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Giáo Trình Alpha
Tác giả: Nicky Gumbel

Vì Sao Tôi Phải Cầu Nguyện và Cầu Nguyện Như Thế Nào?

Các nhà thăm dò cho thấy ba phần tư người dân Anh hay nghi ngờ và chưa tin Chúa thừa nhận rằng họ đã cầu nguyện ít nhất một tuần một lần. Trước khi tin Chúa tôi đã cầu nguyện hai loại bài cầu nguyện khác nhau. Thứ nhất, tôi cầu nguyện bài kinh mình đã được bà nội dạy cho khi còn là một đứa bé (bản thân bà không phải người theo đạo) như vầy ‘Xin Chúa ban phước lành cho Bố Mẹ, cho mọi người và khiến con trở thành một cậu bé ngoan. Amen’. Bài kinh ấy chẳng có gì sai cả, nhưng đối với tôi nó chỉ là một công thức để tôi cầu nguyện mỗi tối trước khi đi ngủ, với những nỗi lo sợ mê tín về điều xấu có thể sẽ xảy ra nếu tôi không cầu nguyện.
Thứ hai, tôi đã cầu nguyện trong những cơn nguy nan. Ví dụ, năm mười bảy tuổi, tôi đi du lịch một mình tại đất Mỹ. Nghiệp đoàn xe buýt sơ ý đã để mất chiếc ba lô của tôi, trong đó có quần, tiền bạc và cuốn sổ ghi địa chỉ. Hầu như tôi không còn lại gì cả. Tôi trải qua mười ngày sống trong một đoàn hội của những người hippie, (những thanh niên lập dị để tóc dài mặc quần Jean...chống lại quy ước xã hội và sử dụng ma túy) chung trại lều với một tay nghiện rượu. Sau đó, với một cảm giác cô độc và buồn bã tuyệt vọng ngày càng tăng lên, tôi trải qua những ngày lang thang khắp các thành phố khác nhau của nước Mỹ và những đêm ngủ trên xe buýt. Một ngày kia đang đi dọc theo đường phố, tôi đã khóc lớn tiếng kêu với Chúa (là Đấng tôi chưa tin) và cầu nguyện xin Ngài cho tôi gặp một người quen. Không lâu sau đó, tôi đón chuyến xe buýt 6 giờ sáng ở tại Phoenix, bang Arizona, và tại đó tôi đã gặp được một người bạn học cũ. Cậu ta cho tôi mượn tiền và chúng tôi cùng đi chung trong hành trình ít ngày. Điều đó đã làm cho mọi sự đổi khác. Song tôi đã không coi đó như một sự đáp lời cầu nguyện; mà chỉ là một sự tình cờ, ngẫu nhiên. Từ khi tin Chúa tôi đã biết được rằng thật đáng lưu ý khi có bao nhiêu sự tình cờ xảy ra khi chúng ta cầu nguyện.
Cầu nguyện là gì?
Cầu nguyện là hoạt động quan trọng hơn hết của đời sống chúng ta. Đó là phương cách chủ yếu trong đó chúng ta phát triển được mối quan hệ với Cha chúng ta ở trên trời, Chúa Jêsus phán: ‘Khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng đóng cửa lại và cầu nguyện Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm’ (Mat Mt 6:6). Đó là một mối tương giao chứ không phải một nghi thức. Đó không phải là một tràng những lời máy móc và vô nghĩa. Chúa Jêsus phán: ‘đừng dùng những lời lặp lại vô ích như người ngoại’ (Mat Mt 6:7). Cầu nguyện là thưa chuyện với Cha chúng ta ở trên trời, một sự trò chuyện theo chiều dọc, không phải theo chiều ngang. Lần nọ có một cậu bé đã thét lên: ‘Chúa ôi! Xin hãy đem đến cho con một hộp sôcôla thật lớn vào ngày sinh nhật của con’. Để trả lời mẹ cậu bé đã bảo: ‘Không cần phải thét lên như thế con ạ, Chúa không có điếc’. Cậu bé đáp lời ngay: ‘Không mẹ à, nhưng ông ngoại đang có, và ông đang ở trong phòng bên’. Khi chúng ta cầu nguyện, không phải là với những người khác, mà là với Chúa. Vì vậy cầu nguyện là vấn đề của những mối tương quan và khi chúng ta cầu nguyện, cả ba ngôi Đức Chúa Trời đều dự phần vào.
Cơ Đốc Nhân cầu nguyện là cầu nguyện với ‘Cha mình’
Chúa Jêsus đã dạy chúng ta cầu nguyện ‘Lạy Cha chúng tôi ở trên trời’ (Mat Mt 6:9). Đức Chúa Trời là Chúa của mỗi cá nhân. Tất nhiên Ngài vượt lên trên như C.S.Lewis đã nói, dầu vậy Ngài vẫn là của riêng mỗi cá nhân. Loài người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Tư cách cá nhân là sự phản ánh điều gì đó trong bản chất của Đức Chúa Trời. Ngài là Cha yêu thương của chúng ta và chúng ta có được đặc quyền kỳ diệu để được phép vào trong sự hiện diện của Ngài và gọi Ngài là ‘Aba’ - từ ngữ Aram mà nghĩa dịch sát nhất là ‘Cha’ hay ‘Cha yêu quý’. Có một sự thân mật đáng lưu ý trong mối tương quan giữa chúng ta với Đức Chúa Trời và về sự cầu nguyện với Cha chúng ta ở trên trời.
Ngài không những là ‘Cha chúng ta’ mà Ngài còn là ‘Cha chúng ta ở trên trời’. Ngài có quyền năng thiên thượng. Khi chúng ta cầu nguyện là chúng ta đang thưa chuyện cùng Đấng Tạo dựng cả vũ trụ nầy. Vào ngày 20 tháng Tám năm 1877, chiếc vệ tinh liên hành tinh không người lái, Voyagér II, đã được phóng đi để quan sát và chuyển về cho trái đất những dữ liệu bên ngoài hệ thống hành tinh, khởi hành từ trái đất với tốc độ nhanh hơn vận tốc của một viên đạn (90.000 dặm mỗi giờ), vào ngày 28.8.1989 vệ tinh đã đến được hành tinh Neptune, cách quả đất 2.700 triệu dặm. Sau đó chiếc Voyagen II đã rời Thái dương hệ. Nó sẽ mất hơn 958.000 năm để đi đến bất cứ ngôi sao nào cách xa một khoảng đường một năm ánh sáng. Trong dãi ngân hà của chúng ta có 100.000 triệu ngôi sao giống như mặt trời của chúng ta. Dãi ngân hà của chúng ta là một trong 100.000 triệu dãi ngân hà. Trong một dòng không nhấn mạnh trong Sáng Thế Ký, tác giả cho chúng ta biết: ‘Ngài cũng đã làm nên các ngôi sao’ (SaSt 1:16). Quyền năng của Ngài như vậy đấy. Andrew Murray, một nhà Cơ Đốc, đã từng nói: ‘Năng Quyền của sự cầu nguyện hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào sự hiểu biết của Chúng ta về Đấng mà chúng ta đang thưa chuyện’.
Khi chúng ta cầu nguyện là chúng ta đang nói chuyện với một Đức Chúa Trời tối cao và hiện diện khắp mọi nơi. Ngài vĩ đại và quyền năng vượt hơn vũ trụ mà Ngài đã dựng nên rất xa, dầu vậy Ngài vẫn hiện diện với chúng ta khi chúng ta cầu nguyện.
Cơ Đốc Nhân cầu nguyện qua ‘Đức Chúa Con’
Sứ đồ Phaolô nói rằng: ‘Vì ấy là nhờ Ngài (Chúa Jêsus) mà chúng ta cả hai (Người Do thái và dân ngoại), đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh’ (Eph Ep 2:18). Chúa Jêsus đã phán rằng Cha Ngài sẽ ban cho ‘bất cứ điều chi các ngươi nhơn danh ta cầu xin Cha’ (GiGa 15:16). Tự bản thân chúng ta chẳng có quyền gì để đến trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng chúng có được đặc quyền đó là ‘bởi Đức Chúa Jêsus’ và nhờ ‘danh Ngài’. Đó là lý do vì sao chúng ta có thói quen kết thúc lời cầu nguyện bằng câu ‘nhân danh Chúa Jêsus Christ’ hoặc ‘trong danh Chúa Jêsus’. Đây không phải chỉ là một công thức; mà là sự thừa nhận, rằng chúng ta chỉ có thể đến được với Đức Chúa Trời bởi Chúa Jêsus mà thôi.
Chính bởi sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá, đã phá đổ sự ngăn trở giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Ngài chính là Thầy Tế lễ Thượng phẩm lớn của chúng ta. Đó là lý do vì sao lại có quyền năng lớn lao như vậy trong danh Chúa Jêsus.
Giá trị của một tấm ngân phiếu không những tùy thuộc vào số lượng tiền, mà nó còn tùy thuộc vào tên người xuất hiện bên dưới. Nếu tôi viết một tờ ngân phiếu mười triệu bảng Anh, tờ ngân phiếu ấy sẽ chẳng có giá trị gì; nhưng nếu Sultan người Brunei, có tiếng là người giàu nhất thế giới, viết tấm ngân phiếu đó thì nó sẽ có giá trị đúng như vậy. Khi chúng ta đi đến ngân hàng thiên đàng, chúng ta chẳng có gì ký gởi tại đó cả. Nếu tôi nhân danh chính mình mà đến đó tôi sẽ chẳng nhận được gì; nhưng Chúa Cứu Thế Jêsus có khoảng ký gửi vô giới hạn ở tại thiên đàng. Ngài đã cho phép chúng ta được đặc quyền sử dụng danh Ngài.
Cơ Đốc Nhân cầu nguyện là cầu nguyện trong ‘một Thánh Linh’ (Eph Ep 2:18)
Chúng ta thấy thật khó để cầu nguyện, nhưng Đức Chúa Trời không để chúng ta cô đơn. Ngài đã ban Đức Thánh Linh để ở trong chúng ta và giúp chúng ta cầu nguyện. Sứ đồ Phaolô viết rằng: ‘Cũng một thể ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối của chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng, nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý muốn Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy’ (RoRm 8:26-27). Trong chương sau nầy, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn công việc của Thánh Linh. Tại đây chỉ cần ghi nhận như sau là đủ, đó là khi chúng ta cầu nguyện, Đức Chúa Trời đang cầu nguyện qua chúng ta bằng Thánh Linh Ngài là Đấng ngự trong những Cơ Đốc Nhân như chúng ta.
Vì sao phải cầu nguyện?
Cầu nguyện là một sinh hoạt sống động. Có nhiều lý do khiến chúng ta cầu nguyện. Trước hết đó là phương cách để chúng ta phát huy mối tương qua với Cha chúng ta trên thiên đàng. Đôi khi người ta bảo ‘Chúa biết mọi nhu cầu của chúng ta, vậy vì sao chúng ta phải xin Ngài?’ Phải, sẽ không có mối tương quan phong phú nếu như không có sự thông công với nhau. Tất nhiên, cầu xin không phải là cách duy nhất để chúng ta thông công với Chúa. Còn có những hình thức cầu nguyện khác như: Cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng, xưng tội, lắng nghe... Nhưng cầu xin là một phần quan trọng. Khi chúng ta cầu xin Chúa và thấy lời cầu nguyện của mình được nhậm, mối quan hệ của chúng ta với Ngài sẽ lớn lên.
Kế tiếp, chính Chúa Jêsus đã cầu nguyện và đã dạy chúng ta làm giống như Ngài vậy. Chúa Jêsus đã có một mối quan hệ không hề bị gián đoạn với Cha Ngài. Đời sống Ngài là một lời cầu nguyện liên tục. Có rất nhiều lời trưng dẫn về việc Ngài cầu nguyện (như Mac Mc 1:35, LuLc 6:12). Ngài cho việc các môn đồ nên cầu nguyện là đúng. Ngài phán bảo ‘khi các ngươi cầu nguyện’ (Mat Mt 6:7), chứ không bảo: ‘Nếu các ngươi cầu nguyện’.
Và một lần nữa, nếu chúng ta cần có thêm sự khích lệ nữa, thì Chúa Jêsus đã dạy chúng ta rằng có những phần thưởng dành cho sự cầu nguyện (Mat Mt 6:6).
Những phần thưởng kín dấu của sự cầu nguyện thật nhiều không kể xiết. Bằng những lời của sứ đồ Phaolô, khi chúng ta kêu lên rằng ‘Aba, Cha’ thì Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta thật sự là con cái Đức Chúa Trời và chúng ta được ban cho một sự bảo đảm mạnh mẽ về tư cách làm Cha và tình yêu thương của Ngài. Ngài soi sự sáng mặt Ngài trên chúng ta và ban cho chúng ta sự bình an của Ngài. Ngài làm tươi mới linh hồn chúng ta, làm thỏa mãn sự khao khát của chúng ta. Chúng ta biết mình không còn mồ côi nữa vì Đức Chúa Cha đã nhận chúng ta làm con Ngài, không còn là những đứa con hoang đàng nữa vì đã được Ngài tha thứ, không còn bị xa lạ nữa, vì chúng ta đã trở về nhà. 30
Cuối cùng, sự cầu nguyện không những làm thay đổi chúng ta mà còn làm thay đổi hoàn cảnh. Nhiều người có thể công nhận rằng cầu nguyện có một kết quả ích lợi trên chính họ, nhưng một số người có những phản đối mang tính triết học trước khái niệm cho rằng sự cầu nguyện có thể thay đổi các sự kiện và cả những người ngoài cuộc. Luật sĩ Do thái giáo Daniel Cohn. Seherbok thuộc trường Đại học Kentucky lần nọ viết một bài báo tranh cãi rằng, vì Đức Chúa Trời biết rõ tương lai rồi cho nên tương lai đã được ấn định. Trước quan điểm đó, Clifford Longley, thông tín viên về Các Sự Vụ Tôn Giáo của tạp chí The Times , đã trả lời cách đúng đắn như sau ‘Nếu lúc nào cũng là hiện tại đối với Đức Chúa Trời, thì Ngài có thể nghe tất cả những lời cầu nguyện trong cùng một lúc. Vì thế Ngài có thể dùng một lời cầu nguyện của tuần tới, và gắn nó với một sự kiện trước đó một tháng. Như vậy, những lời cầu nguyện được trình dâng sau sự kiện đó có thể được Chúa nghe trước khi chúng được nói ra và đã được ghi nhận trước sự kiện đó’. Hay nói cách khác, Đức Chúa Trời có cả cõi đời đời để đáp lời cầu nguyện trong tích tắc của một người lái xe sắp sửa gặp tai nạn nguy cấp.
Trong rất nhiều trường hợp Chúa Jêsus đã khuyến khích chúng ta cầu xin. Ngài phán ‘Hãy xin sẽ được hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở’ (Mat Mt 7:7-8).
Bằng kinh nghiệm của mình, mỗi Cơ Đốc Nhân đều biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng đáp lời cầu nguyện. Không thể chứng thực Cơ Đốc Giáo trên cơ sở của sự đáp lời cầu nguyện bởi vì chúng luôn bị những người hoài nghi giải thích như là những sự ngẫu nhiên. Nhưng hiệu quả tăng dần lên của lời cầu nguyện được nhậm giúp củng cố đức tin của chúng ta nơi Chúa. Tôi giữ một quyển nhận ký cầu nguyện và thật thú vị lạ lùng đối với tôi khi chứng kiến từ ngày nầy sang ngày khác, tuần nầy sang tuần kia, năm nầy sang năm nọ, Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu xin của tôi.
Có phải Chúa luôn luôn đáp lời cầu nguyện không?
Trong phân đoạn Kinh Thánh tôi vừa trích dẫn từ 7:7-8 và trong nhiều phần Kinh Thánh Tân Ước khác, những lời hứa như vậy dường như là những lời hứa vô điều kiện. Tuy nhiên, khi chúng ta xem toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta thấy có những lý do chính đáng cho biết vì sao không phải chúng ta luôn luôn nhậm được điều mình cầu xin.
Tội lỗi không xưng ra là một sự ngăn trở giữa chúng ta và Đức Chúa Trời: ‘Nầy tay Đức Giêhôva chẳng trở nên ngắn và không cứu được, tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu. Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa (EsIs 59:1-2). Đức Chúa Trời không bao giờ hứa nhậm lời cầu nguyện của một người không sống trong mối quan hệ với Ngài. Đôi khi, Ngài có thể bởi ân huệ mà nhậm lời cầu nguyện của một người chưa tin Chúa (như Ngài đã làm trong ví dụ tôi nêu ở phần đầu chương nầy), nhưng chúng ta không có quyền mong đợi điều đó khi người ta nói: ‘Tôi cảm thấy như mình không liên lạc được với Chúa. Tôi cảm thấy chẳng có Đấng nào hiện diện ở đó cả’. Câu đầu tiên bạn cần phải hỏi người đó là họ đã bao giờ tiếp nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời qua sự hy sinh của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá chưa. Sự ngăn trở phải được dời bỏ trước khi chúng ta mong đợi Đức Chúa Trời nghe và nhậm lời cầu nguyện chúng ta.
Ngay cả khi đã là Cơ Đốc Nhân, mối thông công của chúng ta với Chúa cũng có thể bị trục trặc bởi tội lỗi hoặc sự không vâng lời. Sứ đồ Giăng viết rằng: ‘Hỡi kẻ rất yêu dấu, ví bằng lòng mình không cáo trách, thì chúng ta có lòng rất dạn dĩ, đặng đến gần Đức Chúa Trời, và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài’ (IGi1Ga 3:21-22). Nếu chúng ta ý thức bất cứ tội lỗi hoặc sự không vâng lời nào đối với Chúa, chúng ta cần phải xưng ra và lìa bỏ nó, hầu cho mối thông công giữa ta với Chúa có thể được phục hồi và chúng ta lại có thể đến gần Ngài với lòng dạn dĩ.
Động cơ của chúng ta cũng có thể là một sự ngăn trở khiến chúng ta không nhận được điều mình cầu xin. Không phải mọi lời cầu xin để có được một chiếc xe hơi Porsche xa xỉ đều được nhậm cả đâu! Giacơ, em Chúa Jêsus đã viết rằng:
Anh em tham muốn mà chẳng được chi, anh em giết người và ghen ghét mà chẳng được việc gì hết, anh em có sự tranh cạnh và chiến đấu, anh em chẳng được chi, vì không cầu xin. Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình (Gia Gc 4:2-3).
Một điển hình nổi tiếng về một lời cầu nguyện đầy dẫy những động cơ sai trật mà John Ward thuộc Hackney đã viết ra vào thế kỷ thứ mười tám:
Lạy Chúa, Ngài biết con hiện có chín sở đất trong thành phố Luân đôn và cũng như mới đây con đã mua một khu đất theo gia sản thừa kế không hạn chế trong hạt Essex; con nài xin Ngài hãy giữ gìn hai hạt Essex và Middlesex khỏi hỏa hoạn và động đất, và vì con có một khoản tài sản thế chấp ở tại Hertford - Shire, con khẩn cầu Ngài cũng hãy lấy lòng thương xót mà để mắt đến hạt nầy; còn đối với những hạt còn lại Ngài có thể xử với chúng thế nào tùy ý Ngài lấy làm vừa lòng.
Ôi lạy Chúa! Xin hãy giúp cho nhà băng có thể thanh toán các hóa đơn của họ, và khiến tất cả những con nợ của con đều là những người tử tế. Xin hãy ban cho con một chuyến hành trình đường biển thuận tiện và trở về chiếc tàu Mỹ nhân ngư, bởi vì con có bảo hiểm nó; và vì Ngài có phán rằng những ngày của kẻ ác chỉ là ngắn ngủi, con tin nơi Ngài rằng Ngài sẽ không quên lời hứa của Ngài vì con đã có mua một miếng đất bằng quyền quy hồi tài sản thừa kế mà nó sẽ thuộc về con khi gã thanh niên phóng đãng J.L qua đời.
Xin cho các bạn hữu con khỏi bị phá sản và xin bảo vệ con khỏi những tên trộm cướp và giựt giọc, và xin khiến hết thảy tôi tớ con thật chân thành và trung tín đến nỗi chúng chăm lo cho những phúc lợi của con và ngày cũng như đêm không bao giờ ăn gian trong số của cải của con.
Đôi khi lời cầu nguyện không được nhậm vì điều chúng ta đang cầu xin không ích lợi cho chúng ta. Chúa chỉ hứa ban cho chúng ta ‘những vật tốt’ (Mat Mt 7:11). Ngài yêu thương chúng ta và biết điều gì là tốt nhất cho chúng ta. Một người cha tốt không luôn cho con cái mình những gì chúng nài xin. Nếu một đứa bé năm tuổi đòi chơi với một con dao bén, thì chúng ta mong rằng người cha sẽ trả lời ‘không’ nếu như điều chúng ta cầu xin ‘tự nó vốn không tốt, mà cũng không ích lợi cho chúng ta hay cho người khác, gián tiếp hoặc trực tiếp, ngay lập tức hoặc để sau nầy’ như John Stott đã viết.
Sự đáp lời cho sự cầu nguyện của chúng ta sẽ là ‘được’, ‘không’, hay đôi khi là ‘chờ đợi’ và chúng ta nên hết sức biết ơn Ngài về những sự đáp lời ấy. Nếu chúng ta xin bất cứ điều gì Ngài cũng ban cho, chắc chúng ta sẽ không bao giờ dám cầu xin nữa. Như nhà truyền đạo Martyn Lloyd - Jones đã nói ‘Tôi cảm tạ Chúa vì Ngài đã không sẵn sàng cho tôi được làm bất cứ điều gì tôi liều lĩnh xin Ngài..tôi biết ơn Chúa sâu xa vì Ngài đã không ban cho tôi một số những điều mà tôi đã xin Ngài, và vì Ngài đã đóng chặt một số những cánh cửa ở trước mặt tôi’.31 Bất cứ Cơ Đốc Nhân nào đã là một Cơ Đốc Nhân đều có một lúc nào đó hiểu được tâm tình ấy. Bà Ruth Graham (người đã kết hôn với Mục sư Billy Graham) nói trước một cử tọa ở tại Minecypolis rằng ‘Đức Chúa Trời không luôn luôn nhận các lời cầu nguyện của tôi, nếu ngày xưa Ngài nhậm lời tôi, thì tôi đã kết hôn với một người đàn ông không đúng ý Chúa. Nhiều khi cho đến ngày nhắm mắt tắt hơi, chúng ta cũng vẫn chưa hiểu được vì sao Ngài đã trả lời: ‘Không’.
Đó là lý do vì sao đôi khi những lời hứa trong Kinh Thánh là những lời hứa có điều kiện, và muốn Chúa nhậm lời cầu nguyện, chúng ta phải đáp ứng với điều kiện ấy. Ví dụ, sứ đồ Giăng viết rằng, ‘Nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì , thì Ngài nghe chúng ta’ (IGi1Ga 5:14). Càng hiểu biết Chúa chúng ta càng hiểu rõ ý muốn Ngài và những lời cầu xin của chúng ta càng được nhậm nhiều hơn.
Chúng ta nên cầu nguyện thế nào?
Không có một cách thức cầu nguyện được ấn định sẵn. Cầu nguyện là một phần không thể thiếu được trong mối quan hệ của chúng ta với Chúa, và vì vậy chúng ta tự do trò chuyện với Ngài tùy lòng ao ước. Chúa không muốn chúng ta lập đi lập lại những lời vô nghĩa, Ngài muốn nghe điều xuất phát từ tấm lòng chúng ta. Dầu nói như vậy, nhiều người vẫn thấy việc có một khuôn mẫu cầu nguyện là điều ích lợi. Trong nhiều năm tôi đã dùng thể thức như sau.
C -
ca ngợi ngợi khen Chúa bởi cớ Ngài là Đấng thế nào và vì những điều Ngài đã làm.
X -
xưng tội xin Chúa tha thứ bất cứ những điều sai trái nào chúng ta đã làm.
C -
cảm tạ cho sức khoẻ, cho gia đình, cho bạn bè v.v...
C -
chu cấp cầu nguyện cho chính mình, cho bạn hữu mình và cho những người khác.
Gần đây hơn tôi thấy mình thường giữ theo khuôn mẫu của Bài Cầu Nguyện Chung (Mat Mt 6:9-13):
‘Lạy Cha chúng con ở trên trời ‘ (câu 9)
Trong phần đầu chương chúng ta đã xem xét câu nói trên có ý nghĩa gì rồi. Dưới chủ đề đó, tôi để thì giờ cảm tạ Chúa vì Ngài là ai và vì mối tương quan tôi có được với Ngài và vì những cách Ngài đã nhận các lời cầu nguyện của tôi.
‘Danh Cha được tôn thánh’ (câu 9)
Trong ngôn ngữ Hêbơrơ, tên của một người biểu thị một sự mặc khải về tâm tánh người đó. Cầu nguyện xin danh Chúa được tôn thánh là cầu nguyện để Ngài sẽ được tôn kính. Chúng ta thường nhìn xung quanh xã hội mình sống và thấy rằng danh Chúa đang bị sỉ nhục, lý do có thể người ta chẳng hề quan tâm đến Ngài hoặc điều răn của Ngài. Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách cầu nguyện để danh Chúa được tôn quý trong chính đời sống mình, trong hội thánh mình, và trong xã hội mình sống.
‘Nước Cha được đến’ (câu 10)
Nước Đức Chúa Trời là luật pháp và sự trị vì của Ngài, nước Ngài sẽ được trọn vẹn khi Chúa Jêsus trở lại. Nhưng vương quốc nầy đã làm thay đổi lịch sử khi Chúa Jêsus lần đầu tiên đến thế gian. Chúa Jêsus đã chứng tỏ sự hiện diện của vương quốc Đức Chúa Trời bằng chính chức vụ hầu việc của Ngài. Khi chúng ta cầu nguyện ‘Nước Ngài được đến’ là chúng ta đang cầu nguyện cho luật pháp và sự trị vì của Chúa đến cả trong tương lai lẫn hiện tại. Điều nầy gồm cả việc cầu nguyện cho con người được biến cải, được chữa lành, được giải phóng khỏi điều ác, được đầy dẫy Đức Thánh Linh và được ban cho các ân tứ của Đức Thánh Linh, hầu cho chúng ta có thể cùng nhau hầu việc và vâng phục Vua.
Tôi được cho biết nhà truyền giáo D.L.Moody đã viết ra một danh sách 100 người và cầu nguyện cho họ được tiếp nhận Chúa trong đời ông cho đến khi ông qua đời. Chín mươi sáu người trong số họ đã tin nhận Chúa và bốn người kia đã quy đạo trong đám tang của ông.
Và câu chuyện về một bà mẹ Cơ Đốc thường hay gặp xung đột với cậu con trai đang tuổi thiếu niên rất ngang bướng. Cậu ta biếng nhác, xấu nết, lừa đảo, là một tay nói dối và trộm cắp. Về sau, dầu bề ngoài được tôn trọng với tư cách một luật sư, đời sống ông ta vẫn bị thống trị bởi những tham vọng trần gian và tham muốn kiếm được nhiều tiền. Ông ta đánh mất cả đạo đức. Ông sống với nhiều người phụ nữ khác nhau và có được một đứa con trai với một trong số các phụ nữ ấy. Rồi có một lúc ông ta gia nhập một giáo phái có tín ngưỡng kỳ quặc và nhận mọi loại tập tục kỳ quặc. Suốt thời gian ấy, mẹ ông cứ tiếp tục cầu nguyện cho ông. Một ngày kia, Chúa ban cho bà một khải tượng và bà đã khóc trong khi cầu nguyện, bởi vì bà nhìn thấy sự sáng của Chúa Cứu Thế Jêsus trong ông và gương mặt ông được biến đổi. Bà đã phải chờ đợi chín năm nữa trước khi con trai bà dâng đời sống mình cho Chúa Cứu Thế Jêsus vào năm 32 tuổi. Tên người đàn ông đó là Augustine. Ông đã tiếp tục trở thành một trong những nhà thần học vĩ đại nhất của hội thánh. Ông luôn luôn nói rằng ông được biến đổi là nhờ lời cầu nguyện của mẹ ông.
‘Ý Cha được nên ở đất như trời’ (câu 10)
Đây không phải là một sự chịu đựng, mà là một sự giải thoát khỏi những gánh nặng mà chúng ta thường mang. Nhiều người phải lo lắng về những quyết định họ đang đối diện. Những quyết định đó có thể thuộc về những vấn đề lớn hoặc nhỏ, song chúng ta muốn biết chắc rằng mình không lầm lỗi thì chúng ta cần phải cầu nguyện ‘Nguyện ý Cha được nên’. Tác giả Thi thiên nói rằng ‘Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giêhôva và nhờ cậy nơi Ngài thì Ngài sẽ làm thành việc ấy (Thi Tv 37:5). Ví dụ, nếu bạn đang cầu nguyện về một mối quan hệ vì không biết nó có phải lẽ không, thì bạn có thể cầu nguyện ‘Nếu mối quan hệ nầy là sai trái, con xin Ngài chấm dứt nó. Nếu nó chính đáng, thì con tin rằng không gì có thể chấm dứt mối quan hệ ấy được và rồi khi đã giao phó điều đó cho Chúa, bạn có thể tin cậy Ngài và chờ đợi Ngài hành động. (Chúng ta sẽ xem xét vấn đề chi tiết hơn trong chương tiếp theo cũng như những nguyên tắc nào cần được xem xét trong chương đó.)
‘Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ dùng’ (câu 11)
Một số người cho rằng trong câu nầy Chúa Jêsus ám chỉ bánh thuộc linh của Lễ Tiệc Thánh hoặc là Kinh Thánh. Cũng có thể như vậy, nhưng tôi tin rằng những nhà cải chánh đã đúng khi nói rằng ở đây Chúa Jêsus ám chỉ đến những nhu cầu cơ bản của chúng ta. Mục sư Luther nói rằng nó tỏ rõ ‘mọi thứ cần thiết cho sự bảo tồn của đời sống nầy như thức ăn, sức khỏe thân thể, khí hậu tốt lành, nhà ở, gia đình, vợ, con, một nhà cầm quyền ngay thẳng và sự bình hòa’. Đức Chúa Trời quan tâm đến mọi sự bạn và tôi quan tâm. Cũng giống như tôi muốn con cái mình nói về những thứ chúng đang quan tâm. Chúa cũng muốn nghe chúng ta nói đến những gì mình quan tâm.
Một người bạn của tôi hỏi thăm một tân tín hữu công việc làm ăn của bà như thế nào. Bà ta trả lời rằng không được tốt lắm. Vì vậy người bạn của tôi đề nghị cầu nguyện cho công việc đó. Vị tân tín hữu trả lời: ‘Tôi đâu có biết mình được phép cầu nguyện cho công việc làm ăn’. Bạn tôi giải thích rằng điều đó được phép. Họ đã cầu nguyện và tuần lễ tiếp theo đó công việc làm ăn đã tiến bộ cách đáng lưu ý. Bài Cầu Nguyện chung dạy chúng ta rằng, cầu xin Chúa về những điều chúng ta đang quan tâm trong đời sống hàng ngày của chính mình không có gì là sai trái miễn là danh Chúa, nước Chúa, và ý muốn Chúa phải là ưu tiên hàng đầu của chúng ta.
‘Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha thứ những kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi’ (câu 12)
Chúa Jêsus đã dạy chúng ta cầu nguyện xin Đức Chúa Trời tha thứ những gì chúng ta mắc nợ (nghĩa là những sai trái mình đã làm). Có người bảo: ‘Tại sao chúng ta còn cần phải xin sự tha thứ? Chắc chắn khi đến tại thập tự giá chúng ta đã được tha thứ mọi sự, cả trong quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai rồi mà? Đúng vậy, như chúng ta đã thấy trong chương ‘Vì sao Chúa Jêsus chết’, rõ ràng chúng ta đã được tha thứ hoàn toàn về mọi tội lỗi trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, bởi vì Chúa Jêsus đã gánh lấy mọi tội lỗi chúng ta trên chính mình Ngài tại thập tự giá. Dầu vậy, Chúa Jêsus vẫn bảo chúng ta hãy cầu nguyện ‘Xin tha tội lỗi cho chúng tôi’. Tôi tìm thấy sự tương đồng ích lợi nhất là trường hợp Chúa nêu lên trong Giăng đoạn 13, khi Chúa Jêsus sửa soạn để rửa chân cho Phierơ. Phierơ đã nói: ‘Không, Chúa sẽ chẳng rửa chơn cho tôi bao giờ’ Chúa Jêsus đáp rằng: ‘Nếu ta không rửa chơn cho ngươi, ngươi chẳng có phần chi với ta hết’. Simôn Phierơ nói rằng: ‘Lạy Chúa chẳng những rửa chân mà thôi, lại cũng rửa tay và đầu nữa’. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: ‘Ai đã tắm rồi, chỉ cần rửa chân, thì được sạch cả’. Đó là một hình ảnh về sự tha tội. Khi đến tại thập tự giá, chúng ta đã được thanh tẩy hoàn toàn và được tha thứ, tất cả mọi sự đều được giải quyết. Nhưng khi chúng ta trải qua trần gian nầy chúng ta đã làm xấu đi mối tương quan bạn hữu với Chúa. Mối quan hệ của chúng ta luôn luôn được bảo đảm, nhưng tình bạn ấy đã bị vấy bẩn bởi bùn đất dính vào chân chúng ta. Mỗi ngày chúng ta cần cầu nguyện ‘Lạy Chúa xin tha tội cho chúng con, tẩy sạch chúng con khỏi những ô uế’. Chúng ta không cần phải tắm một lần nữa, vì Chúa Jêsus đã làm điều đó cho chúng ta rồi, nhưng một mức độ thanh tẩy mỗi ngày có lẽ cần thiết.
Chúa Jêsus tiếp tục phán rằng: ‘Vả nếu các ngươi tha lỗi cho người ta thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi’ (Mat Mt 6:14-15). Điều đó không có nghĩa là bởi tha thứ người khác mà chúng ta có được sự tha thứ. Chúng ta không bao giờ có thể kiếm được sự tha thứ do công sức của mình. Mà chính Chúa Jêsus đã thực hiện điều đó cho chúng ta trên thập tự giá. Nhưng dấu hiệu chứng tỏ chúng ta đã được tha tội là chúng ta sẵn sàng tha thứ cho người khác. Nếu chúng ta không sẵn lòng tha thứ người khác thì đó là bằng chứng cho thấy chính mình chúng ta chưa biết sự tha thứ. Nếu như chúng ta đã thật sự kinh nghiệm sự tha thứ của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào từ chối tha thứ cho người khác.
‘Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, song cứu chúng tôi khỏi điều ác’ (câu 13)
Đức Chúa Trời không cám dỗ chúng ta (Gia Gc 1:13), song Ngài đang kiểm soát việc cho phép chúng ta bị ma quỷ cám dỗ đến mức độ nào (xem Giop G 1:1-2:13). Mỗi Cơ Đốc Nhân đều có một lãnh vực yếu đuối, như sợ hãi, ích kỷ, tham muốn, ham mê ăn uống, kiêu ngạo, tham dục, nói hành, nghi ngờ hoặc nhiều điều khác nữa. Nếu chúng ta nhìn biết mặt yếu kém của mình, chúng ta có thể cầu nguyện xin Chúa bảo vệ mặt yếu đuối đó, tất nhiên chúng ta cũng phải hết sức mình để có hành động tránh sự cám dỗ không cần thiết. Chúng ta sẽ xem xét toàn bộ vấn đề nầy trong chương 10.
Chúng ta phải cầu nguyện lúc nào?
Tân Ước khuyên chúng ta hãy cầu nguyện ‘không thôi’ (ITe1Tx 5:17; Êphêsô 6:18;). Chúng ta không cần phải vào trong một tòa nhà đặc biệt mới cầu nguyện được. Chúng ta có thể cầu nguyện trên xe điện ngầm, trên xe buýt, trong xe hơi, hoặc khi đang đi xe đạp, xe máy, khi đang đi bộ trên đường, khi đang nằm trên giường vào lúc nửa đêm, và bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào mình đang có mặt. Cũng như trong mối quan hệ hôn nhân, chúng ta có thể liên tục có một cuộc trao đổi không ngừng. Dầu vậy cũng như trong hôn nhân, rất ích lợi để có thì giờ trò chuyện với nhau dầu bạn biết mình chỉ gặp nhau chỉ để chuyện trò mà thôi. Chúa Jêsus phán ‘khi ngươi cầu nguyện hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại và cầu nguyện với cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm’ (Mat Mt 6:6). Chính Ngài cũng đã đi ra nơi vắng vẻ để cầu nguyện (Mac Mc 1:35). Tôi thấy thật ích lợi khi kết hợp việc đọc Kinh Thánh với sự cầu nguyện ngay lúc bắt đầu một ngày. Khi ấy là lúc tâm trí tôi năng động nhất. Có một khuôn mẫu đều đặn là điều ích lợi. Chúng ta chọn giờ nào trong ngày là tùy thuộc vào hoàn cảnh của mình và sự sắp xếp riêng của mình.
Cũng như việc cầu nguyện một mình, việc cầu nguyện với người khác, cũng rất quan trọng, có thể thực hiện trong một nhóm nhỏ hai hoặc ba người chẳng hạn. Chúa Jêsus phán: ‘Quả thật ta phán cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc thì Cha ta ở trên trời sẽ nghe ho’ (Mat Mt 18:19). Cầu nguyện lớn tiếng trước mặt người khác có thể là một việc rất khó. Tôi còn nhớ lần đầu tiên khi cầu nguyện như thế, khoảng hai tháng sau khi tiếp nhận Chúa. Tôi ở chung với hai người bạn thân nhất và chúng tôi quyết định sẽ dành một thì giờ nào đó để cầu nguyện chung với nhau. Chúng tôi chỉ cầu nguyện trong khoảng mười phút, nhưng sau đó khi tôi cởi áo sơ mi ra, thấy ướt đẫm mồ hôi! Dầu vậy, điều đó đáng phải kiên trì bởi vì việc cầu nguyện chung với nhau đem lại một quyền năng lớn (Cong Cv 12:5).
Cầu nguyện là trọng tâm của Cơ Đốc Giáo, bởi vì trọng tâm của Cơ Đốc Giáo là mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Đó là lý do vì sao cầu nguyện là sinh hoạt quan trọng nhất trong đời sống chúng ta. Như một câu nói như vầy:
Satan cười nhạo những lời lẽ của chúng ta.
Chế giễu những công lao khó nhọc của chúng ta.
Nhưng run rẩy khi chúng ta cầu nguyện.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-9-2018 11:45 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách