† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3120|Trả lời: 0

Alpha - Bài 8. Công Tác của Đức Thánh Linh Là Gì?

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-8-2011 20:25:58 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Giáo Trình Alpha
Tác giả: Nicky Gumbel

Công Tác của Đức Thánh Linh Là Gì?

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: ‘Quả thật, quả thật ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: ‘Các ngươi phải sanh lại’. Gió muốn thổi đi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động, nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy’ (GiGa 3:5-8).
Hai năm trước đây tôi sống tại một nhà thờ ở Brighton. Một trong các giáo viên trường Chúa nhật thuật cho chúng tôi nghe về lớp học của cô trong tuần rồi. Cô dạy cho các em về lời dạy của Chúa Jêsus trong vấn đề phải được sanh lại, chép ở Giăng 3:5-8;. Cô đang cố gắng giải thích cho các em sự khác nhau giữa sự sanh ra về thuộc thể và sự sanh ra về mặt thuộc linh. Trong khi tìm cách để hướng chúng vào chủ đề, cô đã hỏi: ‘Có phải các em sinh ra là Cơ Đốc Nhân không?’ Một cậu bé liền trả lời: ‘Thưa cô không, cô sinh ra là một người bình thường!’
Thành ngữ ‘tái sanh’ đã trở thành một câu nói sáo rỗng. Nó đã được phổ biến ở tại Mỹ và thậm chí đã được dùng để quảng cáo xe hơi. Thật ra Chúa Jêsus là người đầu tiên đã dùng cách diễn tả ấy để mô tả những người đã được ‘sinh bởi Thánh Linh’ (GiGa 3:8).
Một đứa bé ra đời là kết quả do một người nam và một người nữ cùng giao hợp với nhau. Trong lãnh vực thuộc linh, khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời và tâm linh người nam hoặc người nữ hiệp lại cùng nhau thì một hữu thể thuộc linh mới mẽ được tạo dựng, có sự sinh mới về mặt thuộc linh. Đó là điều Chúa Jêsus đang muốn nói đến khi Ngài phán rằng: ‘Ngươi phải sanh lại’. Chúa Jêsus muốn nói rằng chỉ có sự sinh ra thuộc thể thôi thì chưa đủ. Chúng ta cần phải được sanh lại bởi Thánh Linh. Đó là điều xảy ra khi chúng ta trở thành Cơ Đốc Nhân. Mỗi một Cơ Đốc Nhân đều được sanh lại. Chúng ta có thể không biết chính xác lúc sự kiện ấy xảy ra, nhưng chúng ta biết mình có đang sống động về mặt thuộc thể hay không, thì cũng vậy, chúng ta cũng sẽ biết mình có đang sống động về mặt thuộc linh hay không.
Khi chúng ta được sinh ra về mặt thuộc thể, chúng ta được sinh ra trong một gia đình. Khi chúng ta được sinh lại về mặt thuộc linh, chúng ta được sinh ra trong một gia đình Thiên Thượng. Phần lớn công việc của Đức Thánh Linh đều có thể được thấy trong điều kiện của một gia đình. Ngài bảo đảm với chúng ta về mối quan hệ của chúng ta với Cha trên trời và giúp chúng ta phát triển mối tương quan đó. Ngài tạo ra trong chúng ta một gia đình giống như vậy. Ngài liên kết chúng ta với các anh em chị em của chúng ta, ban cho mỗi người trong gia đình các ân tứ và năng lực khác nhau. Và Ngài giúp sức cho gia đình tăng trưởng tầm thước.
Trong chương nầy chúng ta xem xét mỗi một khía cạnh của công việc Ngài làm trong chúng ta là những Cơ Đốc Nhân. Cho đến lúc chúng ta trở thành những Cơ Đốc Nhân, công việc chủ yếu của Đức Thánh Linh là cáo trách tội lỗi chúng ta và thuyết phục chúng ra rằng chúng ta cần Chúa Cứu Thế Jêsus, khiến chúng ta tin cậy chân lý và giúp chúng ta đặt đức tin nơi Ngài, (GiGa 16:7-15).
Các con trai và con gái của Đức Chúa Trời
Giây phút đến với Chúa Cứu Thế chúng ta nhận được sự tha thứ hoàn toàn. Hàng rào ngăn cản giữa chúng ta và Đức Chúa Trời đã bị loại bỏ. Sứ đồ Phaolô nói rằng: ‘Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Cứu Thế Jêsus’ (RoRm 8:1). Chúa Jêsus đã gánh hết mọi tội lỗi chúng ta, trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Đức Chúa Trời lấy mọi tội lỗi chúng ta và chôn chúng dưới các vực sâu của biển (MiMk 7:19), và như tác giả Hòa Lan Corrie Ten Boom vẫn thường nói: ‘Ngài dựng một tấm bảng ghi rằng Cấm Câu Cá’.
Không những Ngài lau sạch bảng đá, mà Ngài còn đem chúng ta vào trong mối tương quan với Đức Chúa Trời với tư cách là những con trai và con gái của Ngài. Điều nầy không có nghĩa là hết thảy những người nam và những người nữ đều là con cái Đức Chúa Trời, dầu hết thảy chúng ta đều được Đức Chúa Trời dựng nên, song chỉ có những ai tiếp nhận Chúa Jêsus, những ai tin nơi danh Ngài, thì Ngài mới ban cho ‘quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời’ (GiGa 1:12). Tư cách làm con trong Tân Ước (được dùng theo nghĩa chung để chỉ cả con trai lẫn con gái) không phải là một địa vị tự nhiên, mà là một địa vị thiêng liêng. Chúng ta trở nên con trai con gái của Đức Chúa Trời không phải do bẩm sinh, mà là do Đức Thánh Linh.
Sách Rôma được mô tả như dãy Hy mã lạp sơn trong Tân Ước. Chương 8 là Ngọn núi Everest và các câu 14-17 có thể được mô tả như là đỉnh Everest.
Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn đều là con của Đức Chúa Trời. Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi, nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, nhờ đó chúng ta kêu rằng: ‘Aba! Cha’. Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài (RoRm 8:14-17).
Trước hết, không có đặc ân nào cao hơn là được làm con cái Đức Chúa Trời. Theo luật pháp La mã, nếu một người lớn muốn có một người thừa kế thì người ấy có thể hoặc chọn một trong các con trai của mình hoặc nhận nuôi một đứa con. Đức Chúa Trời chỉ có một người Con duy nhất là Chúa Jêsus, nhưng Ngài có nhiều đứa con được nhận làm con Ngài. Có một câu chuyện thần thoại, trong đó một quốc vương đang trị vì muốn thâu nhận những đứa trẻ bơ vơ nơi đầu đường xó chợ về để khiến chúng trở thành các hoàng tử và công chúa. Câu chuyện thần thoại ấy đã trở thành sự thật vững chắc Chúa Cứu Thế. Chúng ta đã được nhận vào làm con trong gia đình Đức Chúa Trời. Không còn có vinh dự nào cao quý hơn.
Billy Bray là một gã say rượu và là một thợ mộc sống buông tuồng ở tại Cornwall, ông sinh năm 1794. Ông luôn luôn dính líu vào những cuộc ẩu đả và những trận cãi vã trong nhà. Vào năm hai mươi chín tuổi ông tiếp nhận Chúa, ông trở về nhà bảo với vợ mình rằng: ‘Nhờ Chúa giúp đỡ, mình sẽ không bao giờ thấy tôi say rượu nữa’. Cô đã không hề thấy anh ta say sưa nữa. Lời lẽ của anh ta, giọng nói, ánh mắt, có một quyền năng cuốn hút. Anh ta như có được nguồn điện thiên thượng. Những đám đông thợ mỏ kéo đến và nghe anh ta giảng. Nhiều người được biến cải và có một số những sự chữa lành đáng lưu ý. Anh ta luôn luôn ngợi khen Chúa và nói rằng anh có đầy những lý do để vui mừng. Anh coi mình như một ‘vị hoàng tử trẻ’. Anh là con được Chúa nhận, Ngài là Vua của muôn vua và vì thế anh là hoàng tử, đang được hưởng các đặc quyền và đặc ân của nhà vua. Câu nói anh ưa nói nhất là: ‘Tôi là con trai của một vị Vua’. 34
Một khi chúng ta nhìn biết địa vị của mình là các con trai con gái được nhận vào trong gia đình của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ hiểu được rằng không có một địa vị nào trên đời nầy có thể so sánh nỗi với đặc ân được làm một coi cái của Đấng Tạo Dựng cả vũ trụ nầy.
Thứ hai, là con cái, chúng ta có được sự thân mật gần gũi nhất với Đức Chúa Trời. Phaolô nói rằng nhờ Thánh Linh chúng ta kêu lên rằng: ‘Aba! Cha!’ Không có nơi nào trong Cựu Ước Đức Chúa Trời được xưng là Cha: Việc dùng từ ‘Aba’ để chỉ Đức Chúa Trời là một điểm để phân biệt với Chúa Jêsus. Không thể nào dịch từ Aba trong tiếng Aram. Cách dịch gần nhất có thể được là ‘Cha yêu quý’ hoặc ‘Cha’. Từ (Daddy) ‘Cha’ trong tiếng Anh thường gợi lên một mối quan hệ Tây phương thân thiết đối với bậc làm cha, trong khi đó vào thời Chúa Jêsus, người cha là một biểu tượng của uy quyền, và ‘Aba’ mặc dầu là một từ ngữ hết sức thân gần, song không phải là một từ dành cho người trẻ tuổi. Đó là từ ngữ Chúa Jêsus cho phép chúng ta cũng được chia xẻ mối quan hệ thân mật đó với Đức Chúa Trời khi chúng ta nhận lấy Thánh Linh của Ngài. ‘Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi, nhưng chúng ta đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu lên rằng Aba! Cha’ (câu 15).
Hoàng tử Charles có nhiều tước vị. Ông ta là người Đương nhiên Thừa kế Ngai vàng, là Hoàng Tử, Thái Tử xứ Wales, Công tước Comwall, Hầu tước Garter, Đại Tá Trưởng Trung Đoàn Pháo Binh Hoàng Gia xứ Wales, Công tước Rothesay, Hiệp sĩ của Tô cách lan, Trung Tá Hải Quân Hoàng Gia, Bá Tước Chester, Bá tước Carrick, Nam Tước Renfrew, Tướng công của Isles và Vị Đại Quản Lý của Tô cách lan. Chúng ta gọi ông là ‘Thái tử’ nhưng tôi nghi ngại khi gán cho William và Harry danh hiệu ‘Cha’. Khi chúng ta trở nên con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta có mối quan hệ thân gần với Vua trên trời của mình. John Wesley, người rất sùng đạo trước khi biến cải, đã nói về sự cải đạo của ông như sau: ‘Tôi đã đổi đức tin của một người tôi tớ để lấy đức tin của một người con’.
Thứ ba, Đức Thánh Linh ban cho chúng ta kinh nghiệm sâu nhiệm nhất về chính Chúa. ‘Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời’ (câu 16). Ngài muốn chúng ta biết sâu xa trong đáy lòng mình rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Cũng giống như tôi muốn con cái mình biết và kinh nghiệm tình yêu tôi dành cho chúng cùng mối quan hệ giữa tôi với chúng, vì vậy Chúa muốn con cái Ngài phải biết chắc sự yêu thương ấy và mối quan hệ ấy.
Có một người mà thật muộn màng, mãi về sau trong đời sống mình mới kinh nghiệm điều đó, giám mục Nam Phi Bill Burnetl, người đã từng làm Tổng giám mục của Capetown. Tôi nghe ông nói: ‘Khi tôi trở thành giám mục, tôi đã đặt lòng tin nơi thần học (chân lý về Đức Chúa Trời) chứ không phải nơi Đức Chúa Trời. Tôi thật sự là một người vô thần. Tôi tìm kiếm sự công bình bằng việc lành’. Một ngày kia, sau khi đã làm linh mục suốt mười lăm năm, ông đã đến giảng thuyết tại một buổi lễ kiên tín về đoạn Kinh Thánh trong Rôma ‘Vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời đã rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta’ (RoRm 5:5). Sau khi giảng, ông trở về nhà, pha cho mình một cốc rượu mạnh và khi đang đọc báo thì ông cảm biết Chúa đang phán với ông rằng: ‘Hãy đi cầu nguyện’. Ông bèn đi vào nhà thờ của mình, quỳ gối trong yên lặng và ý thức Chúa đang phán cùng ông rằng: ‘Ta cần thân thể con’. Ông hoàn toàn không hiểu vì sao (ông cao và gầy vì vậy ông thưa rằng: ‘Con không phải là một người to cao đẹp trai’). Dầu vậy, ông đã dâng mọi phần chi thể của mình cho Chúa. Ông nói: ‘Thế rồi, điều tôi vừa giảng dạy đã xảy ra. Tôi kinh nghiệm những sự va chạm của tình yêu thương như thể có một luồng điện.’ Ông thấy mình nằm sải dài trên sàn nhà và nghe Chúa phán: ‘Con là con ta’. Khi đã đứng lên, ông biết rõ ràng có một điều gì đó đã thật sự xảy ra. Nó chứng tỏ một bước ngoặc trong cuộc đời và chức vụ của ông. Kể từ đó, qua chức vụ của ông, nhiều người khác đã đến chỗ kinh nghiệm địa vị làm con cái Chúa nhờ sự làm chứng của Đức Thánh Linh.
Thứ tư, Phaolô cho chúng ta biết là một con trai hay con gái của Chúa là điều an toàn lớn lao nhất. Bởi vì nếu chúng ta là con cái Chúa thì chúng ta cũng là ‘kẻ kế tự của Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Chúa Cứu Thế’ (RoRm 8:17). Theo luật La mã, một người con nuôi phải lấy họ cha mình và được hưởng tài sản của Cha mình. Là con cái Đức Chúa Trời chúng ta là những kẻ kế tự. Điều khác biệt duy nhất đó là chúng ta được thừa hưởng, không phải sự qua đời của cha mình, mà bởi sự chết của chính mình. Đó là lý do vì sao Billy Bray đã xúc động khi nghĩ đến ‘Cha trên trời của chúng ta đã sắm sẵn sự vinh hiển cùng phước hạnh đời đời’ cho ông. Chúng ta sẽ được hưởng một sự sống đời đời cùng với tình yêu của Chúa Jêsus.
Phaolô nói thêm: ‘Miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài’ (câu 17). Đây không phải là một điều kiện mà là một sự nhận xét. Các Cơ Đốc Nhân hiệp làm một với Chúa Cứu Thế Jêsus. Điều nầy có thể có nghĩa là một sự bắt bớ hoặc chống đối nào đó tại trong đời nầy, nhưng không gì có thể so sánh nỗi với quyền thừa kế của chúng ta với tư cách là con cái Đức Chúa Trời.
Phát huy mối quan hệ
Sự sinh ra chưa phải là tuyệt đỉnh của giai đoạn thai nghén; mà chỉ là sự bắt đầu của một sự sống mới. Mối quan hệ của chúng ta với cha mẹ mình tăng trưởng và sâu nhiệm qua một thời gian dài. Điều nầy có được khi chúng ta dành thì giờ với cha mẹ mình; chứ không thể xảy ra tức khắc được.
Như chúng ta đã thấy trong chương đầu nói về mối quan hệ của chúng ta với Chúa, sẽ tăng trưởng và sâu nhiệm khi chúng ta dành thời gian với Ngài. Thánh Linh của Đức Chúa Trời giúp chúng ta phát huy mối quan hệ của mình với Chúa. Ngài đưa chúng ta vào sự hiện diện của Đức Chúa Cha. ‘Ấy là nhờ Ngài (Chúa Jêsus) mà chúng ta cả hai (Do thái và Dân Ngoại) đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh’ (Eph Ep 2:18). Qua Đức Chúa Jêsus, nhờ Đức Thánh Linh, chúng ta được đến trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Bởi sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá, Ngài đã cất bỏ sự ngăn trở giữa chúng ta và Đức Chúa Trời. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Chúng ta thường không hiểu điều đó trong khi cầu nguyện.
Khi còn theo học tại Đại học tôi có một căn phòng ở tầng trên của Ngân hàng Barclay nằm trên Đại lộ Chính. Chúng tôi thường có những bữa tiệc đều đặn vào bữa trưa trong căn phòng ấy, và một ngày kia chúng tôi đang bàn luận xem những tiếng động chúng tôi gây ra có bị ngân hàng ở phía dưới nghe không. Để tìm hiểu điều đó, chúng tôi quyết định làm một cuộc thử nghiệm. Một cô gái tên Kay được cử đi xuống lầu và vào trong ngân hàng vào giờ cơm trưa, ngân hàng đầy chật khách. Theo sắp xếp, đó là lúc chúng tôi sẽ dần dần gia tăng các tiếng động. Trước hết, một người nhảy lên sàn nhà, rồi hai người, ba người, bốn người và cuối cùng cả năm. Kế đó chúng tôi nhảy từ ghế xuống, rồi từ bàn xuống. Chúng tôi muốn xem vào thời điểm nào thì những người bên dưới lầu trong ngân hàng bắt đầu nghe thấy chúng tôi.
Hóa ra là trần nhà mỏng hơn chúng tôi tưởng. Cú nhảy đầu tiên đã có thể hoàn toàn được nghe thấy. Cú thứ hai gây một tiếng động lớn. Sau cú nhảy cỡ lần thứ năm, tiếng động gây ra như một tiếng sấm, nhà băng hoàn toàn yên lặng. Ai nấy đều ngưng đổi tiền mặt qua các ngân phiếu và ngước nhìn trần nhà. Không hiểu điều gì đang xảy ra. Kay đang ở ngay giữa ngân hàng và suy nghĩ: ‘mình làm gì bây giờ? Nếu mình đi ra thì sẽ trông rất kỳ cục, mà nếu cứ ở lại thì mọi sự sẽ tồi tệ hơn!’ Cô ta cứ ở đấy. Tiếng ồn càng lúc càng dữ dội. Cuối cùng những mảnh nhựa tổng hợp cách điện trên trần bắt đầu rớt ra. Đến lúc ấy, Kay sợ rằng trần nhà sẽ sập, cô phóng lên lầu và báo cho chúng tôi biết người ở trong nhà băng nghe rõ mồn một những âm thanh của chúng tôi ngay từ ban đầu!
Vậy qua Chúa Jêsus hàng rào đã bị dời đi, Đức Chúa Trời nghe chúng ta khi chúng ta cầu nguyện. Nhờ Đức Thánh Linh, ngay lập tức chúng ta có quyền bước vào trong sự hiện diện của Ngài. Chúng ta không cần phải nhảy lên nhảy xuống để được Ngài chú ý.
Không những Đức Thánh Linh đem chúng ta vào trong sự hiện diện của Chúa, mà Ngài còn giúp chúng ta cầu nguyện (RoRm 8:28). Chúng ta cầu nguyện ở đâu không quan trọng, tư thế cầu nguyện hay việc sử dụng các hình thức cầu nguyện đầy đủ cũng không quan trọng; nhưng điều quan trọng là chúng ta có cầu nguyện trong Thánh Linh hay không. Mọi lời cầu nguyện đều phải được Thánh Linh dẫn dắt. Không có sự trợ giúp của Ngài, lời cầu nguyện dễ dàng có thể trở nên tẻ ngắt và vô vị. Trong Thánh Linh chúng ta được gắn chặt vào Chúa Ba Ngôi và cầu nguyện trở thành sinh hoạt quan trọng nhất của đời sống chúng ta.
Một phần khác nữa trong việc phát huy mối quan hệ của chúng ta với Chúa là hiểu được điều Ngài đang phán với chúng ta. Một lần nữa Thánh Linh của Đức Chúa Trời giúp cho chúng ta làm được điều nầy. Phaolô nói: ‘Tôi cầu Đức Chúa Trời của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha vinh hiển ban thần trí của sự khôn sáng và của sự tỏ ra cho anh em để nhận biết Ngài, lại soi sáng con mắt lòng của anh em’ (Eph Ep 1:17-18). Thánh Linh của Đức Chúa Trời là Thánh Linh của sự khôn ngoan và sự tỏ ra. Ngài soi sáng cặp mắt chúng ta, hầu cho chúng ta có thể hiểu điều Chúa đang phán qua Kinh Thánh; và đó chỉ là một trong những ví dụ điển hình.
Trước khi trở thành một Cơ Đốc Nhân, tôi đã đọc và đã nghe Kinh Thánh bất tận, nhưng tôi chẳng hiểu được Kinh Thánh. Và Kinh Thánh cũng chẳng có nghĩa gì đối với tôi. Lý do khiến Kinh Thánh chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi là do tôi đã không có Đức Thánh Linh của Chúa để giảng giải. Thánh Linh của Chúa là Đấng thông giải tốt nhất những điều Chúa phán.
Rốt cuộc chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được Cơ Đốc Giáo là gì nếu Thánh Linh không soi sáng cho đôi mắt chúng ta. Chúng ta có thể thấy đủ để có một bước đức tin, mà không phải là đức tin mù quáng, nhưng sự hiểu biết thực sự thường chỉ theo sau đức tin. Thánh Augustine đã nói rằng: ‘Tôi tin để tôi hiểu’. Chỉ khi chúng ta tin và nhận lãnh Đức Thánh Linh, chúng ta mới thật sự hiểu được sự mặc khải của Đức Chúa Trời.
Thánh Linh của Chúa giúp chúng ta phát huy mối quan hệ giữa mình với Chúa và Ngài giúp chúng ta giữ vững mối quan hệ đó. Người ta thường lo lắng rằng mình sẽ không đủ sức để tiếp tục đời sống Cơ Đốc. Chính Đức Thánh Linh là Đấng đem chúng ta vào mối quan hệ với Chúa và cũng chính Ngài là Đấng duy trì mối quan hệ ấy. Chúng ta lệ thuộc hoàn toàn vào Ngài.
Sự giống nhau trong một gia đình
Tôi luôn thấy thật thú vị khi quan sát cách con cái có thể giống cả bố lẫn mẹ trong khi chính cha mẹ lại trông rất khác nhau. Thậm chí các ông chồng và các bà vợ đôi khi lại ngày càng trở nên giống nhau khi họ chung sống với nhau qua nhiều năm.
Khi chúng ta dành thời giờ để ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Thánh Linh của Chúa biến đổi chúng ta. Như Phaolô đã viết: ‘Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh’ (IICo 2Cr 3:18). Chúng ta được biến đổi trở nên giống như Chúa Jêsus về mặt đạo đức. Bông trái của Đức Thánh Linh được nẩy nở trong đời sống chúng ta. Phaolô cho chúng ta biết rằng, ‘Trái của Đức Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ’ (GaGl 5:22). Đó là những tâm tánh mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời phát triển trong đời sống chúng ta. Như vậy không có nghĩa là chúng ta trở nên trọn vẹn lập tức, nhưng qua một khoảng thời gian sẽ phải có sự thay đổi.
Bông trái đầu tiên và cũng là bông trái quan trọng hơn hết là tình yêu thương. Tình yêu thương nằm tại trung tâm của đức tin Cơ Đốc. Kinh Thánh là câu chuyện tình yêu của Chúa dành cho chúng ta. Niềm ao ước của Ngài là chúng ta hãy đáp ứng bằng cách yêu kính Ngài và yêu thương người lân cận. Bằng chứng của công việc Đức Thánh Linh trong đời sống chúng ta sẽ là một tình yêu thương đối với Chúa ngày càng gia tăng và tình yêu dành cho người khác ngày càng gia tăng. Không có tình yêu nầy mọi điều khác đều không đáng chi cả.
Điều thứ hai Phaolô kể ra là sự vui mừng. Nhà báo Malcolm Muggeridge đã viết: ‘Một trong những biểu hiện đặc trưng nhất và có ảnh hưởng nâng cao nhất của sự biến cải là niềm vui sướng lớn lao của việc sẽ được cất lên thiên đàng, đó là một sự vui mừng không thể tả xiết tràn ngập cả con người chúng ta, khiến cho những nỗi lo sợ của chúng ta tan biến đi và làm cho mọi sự trông đợi của chúng ta đều hướng đến thiên đàng’.35 Niềm vui nầy không phụ thuộc vào những hoàn cảnh bên ngoài của chúng ta, mà nó đến từ Thánh Linh ở bên trong. Richard Wurmbrand người bị ở tù nhiều năm và thường xuyên bị hành hạ vì cớ đức tin của mình, đã viết về niềm vui nầy như sau: ‘Một mình trong phòng giam của mình, lạnh lẽo, đói, và rách rưới, tôi đã nhảy múa mỗi đêm vì vui mừng...nhiều khi lòng tôi tràn đầy niềm vui đến nỗi tôi cảm thấy như thân thể tôi sẽ nổ tung nếu như tôi không biểu lộ ra’.36
Bông trái thứ ba được liệt ra ở đây là sự bình an. Khi kết hiệp với Đấng Christ, sự bình an bên trong là một thứ kẹo ngọt thuộc linh đầy sự mềm mại và vị ngọt nhưng không phải do của cải vật chất cụ thể đem lại. Từ ngữ Hy lạp và từ Hêbơrơ tương đương shalom có nghĩa là ‘toàn diện’, ‘sự hoàn toàn’, ‘khang kiện’ và ‘hiệp một với Đức Chúa Trời’ có một nỗi khao khát bên trong mỗi một trái tim con người về sự bình an như vậy. Epictetus, nhà tư tưởng ngoại giáo thế kỷ thứ nhất, đã nói rằng: ‘Mặc dầu Hoàng đế có thể đem lại hòa bình trên đất và biển, cứu đất nước thoát khỏi chiến tranh, song ông ta không thể đem lại bình an cho những tấm lòng thống khổ, đau buồn và ganh ghét. Ông ta không thể đem đến sự bình an cho tấm lòng, là điều xưa nay con người mong mỏi hơn là sự bình an bên ngoài’.
Thật kỳ diệu khi được chứng kiến những con người có tâm tánh đã được biến đổi, trở nên giống như Chúa Cứu Thế Jêsus khi những bông trái kể trên cùng những bông trái lớn khác lên trong đời sống họ. Một bà cụ ngoài tám mươi trong Hội thánh của chúng tôi đã nói về một vị trước kia là cha sở như sau: ‘Ông ấy ngày càng trở nên giống Cứu Chúa của chúng ta’. Tôi không thể nghĩ ra một lời khen ngợi nào cao trọng hơn lời ấy. Đó chính là công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời để làm cho chúng ta ngày càng trở nên giống Chúa Jêsus hầu cho chúng ta được mang mùi thơm về sự nhận biết Ngài đến bất cứ nơi nào chúng ta đi đến (IICo 2Cr 2:14).
Hiệp nhất trong gia đình
Khi chúng ta đến với Chúa Cứu Thế và trở thành con trai con gái của Chúa, chúng ta là thành viên trong một đại gia đình. Niềm ao ước của Đức Chúa Trời, cũng như mọi bậc cha mẹ bình thường, là phải có sự hiệp nhất trong gia đình của Ngài. Chúa Jêsus đã cầu nguyện cho sự hiệp một giữa vòng các môn đồ (GiGa 17:1-26). Phaolô đã nài xin các Cơ Đốc Nhân Êphêsô hãy ‘dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh’ (Eph Ep 4:3).
Cũng chính Thánh Linh ấy hiện đang ngự trị trong mỗi một Cơ Đốc Nhân dầu họ đang ở đâu; dầu họ thuộc bất cứ giáo phái nào, thuộc nền tảng thế nào, màu da hoặc dân tộc nào. Cùng một Thánh Linh ấy đang ngự trong mỗi một con cái Đức Chúa Trời và điều Ngài mong muốn là chúng ta phải được hiệp một. Thật vậy Hội thánh không có lý do gì để chia rẽ, bởi vì chỉ có ‘một thân thể và một Thánh Linh...một sự trông cậy, một Chúa...một đức tin, một phép báp têm, một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người , Ngài là trên cả mọi người , giữa mọi người và trong mọi người (Eph Ep 4:4-6).
Cùng một Đức Thánh Linh ấy ở trong những Cơ Đốc Nhân tại nước Nga, Trung quốc, Phi châu, Mỹ châu, Việt Nam, nước Anh, hoặc bất cứ nơi nào. Theo một khía cạnh nào đó thì dầu chúng ta thuộc về giáo phái nào cũng không quan trọng lắm, Công giáo La mã hay Tin lành, giáo hội Lutheran, Giám lý, Báp tít, Ngũ tuần, Anh giáo hoặc Hội Thánh Tư gia. Điều quan trọng hơn hết là chúng ta có Thánh Linh của Đức Chúa Trời hay không. Nếu con người có Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong họ, thì họ là Cơ Đốc Nhân, là anh em, chị em của chúng ta. Thật là một đặc ân lớn lao khi được dự phần trong đại gia đình nầy; một trong các niềm vui lớn khi đến với Chúa Cứu Thế là kinh nghiệm sự hiệp nhất nầy. Có một sự gần gũi và chiều sâu của mối quan hệ trong hội thánh Cơ Đốc mà ngoài hội thánh tôi thấy mình không thể tìm được. Chúng ta phải hết sức giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh ở từng mức độ: trong các nhóm nhỏ của chúng ta, trong hội chúng, hội chúng địa phương và hội thánh trên toàn thế giới.
Các ân ban dành cho mọi con cái
Mặc dầu người ta thường thấy mỗi thành viên trong gia đình đều có những điểm giống nhau và sự hiệp một của gia đình cũng là điều dễ có, tuy nhiên các thành viên trong gia đình vẫn có sự khác biệt rất lớn. Không có hai đứa trẻ nào giống nhau, thậm chí không có cặp song sinh nào giống hệt nhau. Trong thân thể Đấng Christ cũng vậy. Mỗi một Cơ Đốc Nhân đều khác nhau, mỗi người đều có một sự đóng góp khác nhau để thực hiện, mỗi người đều có một ân tứ khác nhau. Trong Tân Ước có những phần liệt kê một số các ân tứ của Thánh Linh. Trong I Côrinhtô Phaolô kể ra chín ân tứ:
Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. Vả người nầy nhờ Đức Thánh Linh được lời nói khôn ngoan, kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức. Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin, cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh, người thì được làm phép lạ, kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần, kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy. Mọi điều đó là công việc của đồng một Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người (ICo1Cr 12:7-11).
Ông đề cập đến các ân tứ khác ở một chỗ khác: các sứ đồ, các giáo sư, những người cứu giúp, những người quản trị (ICo1Cr 12:28-30), các nhà truyền giáo và các mục sư (Eph Ep 4:11) phục vụ khích lệ, ban cho, lãnh đạo, bày tỏ lòng thương xót (RoRm 12:7), tiếp đãi khách và giảng luận (IPhi 1Pr 4:9-11), chắc chắn những phần liệt kê nầy đã không được dự định để trình bày thấu đáo hết mọi khía cạnh.
Mọi sự ban cho tốt lành đều đến từ Đức Chúa Trời, thậm chí nếu đó là một số ân tứ như các phép lạ, là ân tứ bày tỏ rõ ràng hơn những hành động khác thường của Đức Chúa Trời trong thế giới của Ngài. Các ân tứ của Thánh Linh cũng bao gồm những khả năng tự nhiên đã được Thánh Linh biến đổi. Như một nhà thần học Đức, Jurgen Moltmann đã nêu rõ: ‘Về nguyên tắc, tiềm lực và khả năng của mỗi một người đều có thể trở nên khả năng thiên phú (tức là trở thành một sự ban tứ của Thánh Linh) qua một sự kêu gọi của bản thân, chỉ khi nào những khả năng ấy được sử dụng trong Chúa Cứu Thế’.
Các ân tứ nầy được ban cho hết thảy các Cơ Đốc Nhân. Thành ngữ ‘cho mỗi người’ như một sợi chỉ chạy suốt II Côrinhtô 12). Mỗi Cơ Đốc Nhân đều là một phần chi thể trong thân thể Đấng Christ. Có nhiều chi thể khác nhau, nhưng chỉ có một thân thể (câu 12). Chúng ta đều chịu báp têm bởi (hoặc trong) cùng một Đức Thánh Linh (câu 13). Chúng ta đều cùng uống chung một Thánh Linh (câu 13). Không có các Cơ Đốc Nhân được ưu tiên nhất và ưu tiên nhì. Tất cả các Cơ Đốc Nhân đều được nhận Đức Thánh Linh. Hết thảy các Cơ Đốc Nhân đều có các ân tứ thuộc linh.
Có một nhu cầu cấp bách đối với việc thực hành các ân tứ. Một trong những nan đề chính trong Hội thánh phần lớn là do có quá ít người thực hành các ân tứ của họ. Một chuyên gia về sự tăng trưởng của Hội thánh là ông Eddie Gibb đã nói rằng: ‘Mức độ thất nghiệp cao hiện nay trong nước không đáng kể khi đem so sánh với điều đang thịnh hành trong Hội Thánh’.37 Điều dẫn đến là, một ít người được giao phó để làm mọi việc và họ hoàn toàn kiệt sức, trong khi những người còn lại thì không được tận dụng. Hội thánh được ví như một trận đá bóng trong đó hàng ngàn người hoàn toàn cần thực hành lại ngồi theo dõi hai mươi hai người hoàn toàn cần được nghỉ ngơi!
Hội thánh không thể hoạt động với hiệu quả tối đa cho đến khi nào mỗi một người đều giữ phần việc của mình. Như David Watson, một nhà văn kiêm lãnh đạo Hội Thánh, đã nêu lên: ‘Trong các truyền thống khác nhau, trong nhiều năm Hội thánh đã trở thành nơi hoặc tập trung vào sự giảng đạo hoặc tập trung vào sự thờ phượng. Trong cả hai tình huống ấy, vai trò thống trị được vị mục sư hoặc vị truyền đạo nắm giữ’.38 Hội thánh sẽ chỉ hoạt động với hiệu quả tối đa khi mỗi một người đang sử dụng các ân ban của mình.
Thánh Linh Đức Chúa Trời ban cho mỗi người trong chúng ta các ân tứ. Đức Chúa Trời không đòi hỏi chúng ta phải có nhiều ân tứ, nhưng Ngài đòi hỏi chúng ta phải sử dụng điều chúng ta có và còn phải ước ao để có thêm nữa (ICo1Cr 12:31; 14:1;).
Gia Đình Tăng Trưởng
Gia đình tăng trưởng là điều tự nhiên. Đức Chúa Trời đã phán cùng Ađam và Êva rằng: ‘Hãy sinh sản và làm cho nhiều lên’. Gia đình của Đức Chúa Trời phải phát triển là điều tự nhiên. Một lần nữa, đây là công việc của Đức Thánh Linh. Chúa Jêsus phán: ‘khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về ta tại thành Giêrusalem cả xứ Giuđê, xứ Samari, cho đến cùng trái đất’ (Cong Cv 1:8).
Thánh Linh Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lòng ước ao và năng lực để nói về Chúa cho người khác. Nhà soạn kịch Murray Watts kể câu chuyện về một thanh niên nọ, anh ta tin chắc những lẽ thật của Cơ Đốc Giáo, nhưng lại tê người vì sợ hãi trước ý nghĩ phải công khai thừa nhận mình là ‘một Cơ Đốc Nhân’. Ý tưởng nói cho người khác biết về niềm tin mới mẽ của mình, cùng với tất cả những sự nguy hiểm của việc bị chế nhạo là một người cuồng tín đã làm cậu hoảng sợ.
Suốt nhiều tuần lễ anh ta cố xua đuổi ý nghĩ về tôn giáo khỏi tâm trí mình, nhưng chẳng ích gì. Cứ như thể là anh ta nghe có một tiếng thì thầm trong lương tâm anh cứ nhắc đi nhắc lại: ‘Hãy theo ta’.
Cuối cùng, không chịu nỗi nữa, anh đi đến gặp một ông cụ lớn tuổi, đã tin kính Chúa gần cả một thế kỷ. Anh kể cho ông cụ nghe nỗi ám ảnh, lo sợ của mình, gánh nặng khủng khiếp của ‘việc làm chứng về sự sáng’, và điều đó đã ngăn trở anh trở thành một Cơ Đốc Nhân ra sao. Ông cụ thở ra và gật đầu: ‘Đây là vấn đề giữa anh với Chúa Cứu Thế’. ‘Vì sao lại đưa tất cả những người khác vào trong ấy?’ Cậu thanh niên chậm rãi gật đầu.
Ông cụ bảo: ‘Anh hãy về nhà, một mình vào phòng riêng. Hãy quên cả thế giới đi; quên gia đình của anh và chỉ bí mật giữa anh và Chúa’.
Chàng thanh niên cảm thấy gánh nặng rớt khỏi vai mình khi ông cụ bảo như thế. ‘Ý cụ bảo, cháu không phải nói cho ai cả phải không?’
Ông cụ trả lời: ‘không’.
‘Không ai cả sao?’
‘Không nói nếu như anh không muốn’. Từ trước đến giờ chưa hề có ai dám cho anh một lời khuyên như thế.
‘Cụ có chắc không ạ?’ Chàng thanh niên hỏi, trong lúc bắt đầu run lên vì mong đợi ông cụ khẳng định một lần nữa ‘Như thế có được không ạ?’
Ông cụ trả lời: ‘Đối với anh thì được’
Thế là chàng thanh niên đi về nhà, quỳ gối cầu nguyện và tiếp nhận Chúa. Lập tức, anh chạy xuống cầu thang và lao vào bếp, nơi vợ anh, bố anh cùng ba người bạn đang ngồi. ‘Bố và các bạn biết không,’ anh ta hỏi, gần như nghẹn thở vì háo hức, ‘không thể nào tin Chúa mà lại không nói cho người khác được!’39
Khi kinh nghiệm Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta muốn nói cho người khác. Khi làm như vậy, gia đình Chúa tăng trưởng. Gia đình Cơ Đốc Nhân không bao giờ cứ đứng yên một chỗ. Mà nó phải không ngừng tăng trưởng và thu hút những người mới, là những người mà chính họ nhận lấy quyền năng của Đức Thánh Linh để đi ra và nói cho người khác biết về Chúa.
Tôi đã nhấn mạnh suốt chương nầy rằng mỗi một Cơ Đốc Nhân đều được Thánh Linh ngự trị. Phaolô nói rằng: ‘Nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ thì người ấy chẳng thuộc về Ngài’ (RoRm 8:9). Tuy nhiên, không phải mỗi Cơ Đốc Nhân đều đầy dẫy Thánh Linh. Phaolô viết thư cho các Cơ Đốc Nhân ở tại Êphêsô và ông nói: ‘Hãy đầy dẫy Đức Thánh Linh’ (Eph Ep 5:18). Trong chương tiếp theo chúng ta sẽ xem xét làm thế nào để được đầy dẫy Thánh Linh.
Chúng ta đã bắt đầu chương trước bằng Sáng thế ký 1:1-2; (câu đầu tiên trong Kinh Thánh) và tôi muốn kết thúc chương nầy bằng cách xem xét Khải huyền 22:17; (một trong những câu cuối cùng của Kinh Thánh, Thánh Linh của Đức Chúa Trời hoạt động tích cực xuyên suốt Kinh Thánh từ Sáng thế ký đến Khải huyền.
‘Thánh Linh và cô dâu đều nói: ‘Hãy đến!’ và hãy để kẻ nào nghe nói: ‘Hãy đến!’. Người nào khát, hãy để người ấy đến, và kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không’ (KhKh 22:17).
Đức Chúa Trời muốn đổ đầy Thánh Linh trong mỗi người chúng ta. Một số người đang khao khát điều đó. Một số người không biết chắc là mình có muốn được đầy dẫy Thánh Linh hay không, như vậy là họ chưa thật sự khao khát. Nếu bạn chưa có một sự khao khát đầy dẫy Thánh Linh hơn nữa thì vì sao chúng ta không cầu nguyện để có được sự khao khát ấy? Đức Chúa Trời ban cho theo điều chúng ta cầu xin. Khi chúng ta khao khát và cầu xin, Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta ‘nước sống cách nhưng không’.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 18-6-2018 09:37 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách