nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2763|Trả lời: 0

Alpha - Bài 13. Ngày Nay Đức Chúa Trời Có Chữa Bệnh Không?

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-8-2011 20:32:10 | Xem tất |Chế độ đọc

Giáo Trình Alpha
Tác giả: Nicky Gumbel

Ngày Nay Đức Chúa Trời Có Chữa Bệnh Không?


Cách đây ít năm, một cô gái Nhật nhờ tôi và vợ tôi cầu nguyện cho lưng của cô được chữa lành. Chúng tôi đã đặt tay trên lưng cô và xin Chúa chữa lành cho cô. Sau đó tôi đã tìm cách tránh gặp cô bởi vì tôi không chắc phải giải thích thế nào với cô lý do cô không được chữa lành. Một ngày kia cô ta đến ngay lối rẽ và tôi không thể tránh cô được. Và tôi nghĩ chỉ vì lịch sự mà phải hỏi thăm một câu thật đáng sợ: ‘Lưng cô thế nào?’
Cô trả lời: ‘Ồ, nó đã lành hoàn toàn sau khi ông cầu nguyện cho tôi.’
Tôi không hiểu vì sao tôi lại ngạc nhiên quá đỗi như vậy, nhưng đó lại chính là thái độ của tôi.
Khi John Wimler cùng với một đội ngũ từ Hội Thánh của ông là hội Vineyard Christian Fellowship đến thăm Hội Thánh chúng tôi, ông đã giảng vào một ngày Chúa Nhật về vấn đề chữa lành. Vào thứ hai ông đến một buổi nhóm của những người lãnh đạo. Có khoảng sáu mươi đến bảy mươi người chúng tôi trong phòng và một lần nữa ông đã nói về sự chữa lành. Chúng tôi đã được nghe các cuộc nói chuyện về chữa lành trước kia, và cảm thấy rất vui về những gì ông nói đến trong vấn đề đó. Cho đến khi ông nói rằng chúng tôi sẽ tạm nghỉ để dùng cà phê và sau đó có một buổi ‘bài tập’. Lúc bấy giờ chúng tôi còn rất xa lạ với vấn đề nầy. John Wimler nói rằng đội ngũ của ông đã có khoảng mười hai ‘lời nói có tri thức’ dành cho những người trong phòng. Ông cho chúng tôi biết bởi một ‘lời có tri thức’ (ICo1Cr 12:8), ông có ý nói một sự mặc khải siêu nhiên về các sự kiện có liên quan đến một người hoặc một tình huống mà những nỗ lực của trí khôn tự nhiên không học biết được mà chỉ được hiểu biết bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Điều đó có thể nằm dưới dạng của một hình ảnh, một lời được thấy hoặc nghe trong tâm trí, hoặc một sự cảm nhận được kinh nghiệm về mặt thuộc thể. Sau đó ông nêu danh sách của tất cả những người ấy và cho biết ông sẽ mời một số người tiến lên phía trước để ông cầu nguyện cho. Tôi là một trong số đó, là người nghi ngờ nhất về toàn bộ những điều này.
Tuy nhiên, khi từng người một trả lời về tình trạng của mình trước những lời tri thức được ông mô tả rất chi tiết (theo tôi nhớ thì một trong số những điều đó là ‘một người đã bị thương ở lưng trong khi bổ củi vào năm mười bốn tuổi’), mức đức tin trong phòng bắt đầu dâng cao. Mỗi một ‘lời tri thức’ đều được hưởng ứng. Một trong những lời đó có liên quan đến tình trạng vô sinh. Chúng tôi đều biết rõ nhau và đều cảm thấy chắc chắn là lời ấy không thể ứng dụng cho người nào trong số chúng tôi cả. Tuy nhiên có một phụ nữ không thể có thai được, cô đã can đảm tiến lên phía trước. Cô được ông cầu nguyện và chín tháng sau đó, cô đã có đứa con đầu tiên, rồi lại có thêm bốn đứa nữa!
Thái độ của tôi trong suốt buổi chiều đó phản ánh nỗi sợ hãi và nghi ngờ mà nhiều người trong chúng tôi trong thế kỷ thứ hai mươi nầy thường có đối với vấn đề chữa lành. Tôi quyết định đọc lại Kinh Thánh để cố tìm hiểu Kinh Thánh nói gì về sự chữa lành. Càng đọc tôi càng được thuyết phục rằng ngày nay chúng ta phải trông đợi Chúa chữa lành bằng phép lạ. Tất nhiên, Ngài cũng chữa lành qua sự hiệp tác của các bác sĩ, các y tá và toàn bộ nghành y dược.
Việc chữa lành trong Kinh Thánh
Trong Cựu Ước chúng ta thấy những lời Chúa hứa sẽ đem lại sự chữa lành và sự khỏe mạnh cho dân sự nếu họ vâng lời Ngài (xem Xuất 23:25-26;; Phục truyền 28; Thi thiên 41). Thật vậy, tâm tánh Ngài là muốn chữa lành vì Ngài phán rằng: ‘Ta là Đức Giêhôva, Đấng chữa bệnh cho ngươi’ (XuXh 15:26). Chúng ta cũng thấy nhiều ví dụ về sự chữa lành bằng phép lạ (I Các Vua 13:6;; II Các Vua 4:8-37;; Êsai 38).
Một trong những sự chữa lành đáng chú ý nhất là sự chữa lành cho Naaman, tể tướng quân đội của vua nước Syri, người mắc bệnh phung. Đức Chúa Trời đã chữa lành cho ông sau khi ông miễn cưỡng nhúng mình dưới sông Giôđanh bảy lần. ‘Thịt người trở nên như trước, giống thịt của một đứa con nít nhỏ’ (II Các Vua 5:14;), và ông đã công nhận Đức Chúa Trời của Ysơraên là Đức Chúa Trời chân thật duy nhất. Êlisê, người đã truyền bảo ông đi tắm dưới sông Giôđanh bảy lần, đã từ chối lễ vật mà Naaman dâng tặng (dầu vậy người tôi tớ ông, là Ghêhaxi đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng vì đã cố tìm cách lừa dối để nhận lấy tiền bạc cho mình, xem đó như thành quả của việc chữa lành). Qua câu chuyện nầy, trước hết chúng ta thấy sự chữa lành có thể để lại một kết quả đáng lưu ý trên đời sống một người. Không chỉ về mặt thuộc thể, mà còn trong mối liên hệ giữa họ với Chúa nữa. Sự chữa lành và đức tin có thể đi kèm với nhau là một ân ban từ Chúa, người đã cầu nguyện cho người khác được lành không được nhận một của lễ nào cả. Ngoài ra, nếu trong thời Cựu Ước Chúa đã hành động như vậy, là khi mà nước Chúa và sự tuôn đổ Thánh Linh chỉ mới là những điều thoáng hiện, thì ngày nay chúng ta càng trông đợi cách quả quyết hơn nữa khi mà Chúa Jêsus đã khai phóng nước Đức Chúa Trời và thời đại của Đức Thánh Linh.
Những lời đầu tiên của Chúa Jêsus được ký thuật trong sách phúc âm Mác là ‘kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành!’ (Mac Mc 1:15) chủ đề nước trời tập trung vào chức vụ của Chúa Jêsus. Thành ngữ nước trời’ và ‘nước thiên đàng’ được dùng hơn tám mươi hai lần, mặc dầu cụm từ ‘nước thiên đàng’ được giới hạn trong sách phúc âm Mathiơ, song hai danh từ đó có cùng nghĩa ‘Thiên đàng’ là cách diễn tả thông thường của người Do thái khi ám chỉ Đức Chúa Trời mà không nhắc đến danh thánh. Sách Phúc âm Mathiơ là sách viết cho người Do thái nên có sự tương phản với sách Mác và Luca, là những sách chủ yếu viết cho người ngoại bang, cho nên có những cách dùng chữ khác nhau.
Từ ngữ Hy lạp dành cho chữ ‘vương quốc’ hay nước là basibia được dịch từ chữ mulkuth của tiếng Aram, là cách diễn đạt mà chắc chắn Chúa Jêsus đã dùng. Không những hàm ý ‘nước’ trong lãnh vực chính trị hoặc địa lý, mà còn mang khái niệm của sự hoạt động - hoạt động của sự cai trị hay trị vì. Như vậy ‘nước trời’ hàm ý ‘sự cai trị và trị vì của Đức Chúa Trời’.
Theo sự dạy dỗ của Chúa Jêsus, nước trời có một phương diện thuộc về tương lai chỉ được trọn với một sự kiện có tính quyết định vào ‘ngày tận thế’ (Mat Mt 13:49). Ví dụ, trong một ngụ ngôn về nước trời, Ngài phán về mùa gặt hầu đến vào ngày tận thế khi ‘Con người...sẽ thâu mọi gương xấu và những kẻ làm ác khỏi nước Ngài...khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong nước của Cha mình’ (Mat Mt 13:24-43). Ngày tận thế sẽ đến khi Chúa Jêsus trở lại. Khi Ngài đến thế gian lần đầu, Ngài đến trong sự yếu đuối của một em bé; song khi Ngài trở lại, Ngài sẽ ngự đến với ‘đại quyền đại vinh’ (Mat Mt 24:30).
Lịch sử thế giới đang tiến dần đến đỉnh điểm ấy với sự trở lại vinh hiển của Chúa Cứu Thế Jêsus (Mat Mt 25:31). Trong Tân Ước có tất cả hơn 300 lời ám chỉ về sự trở lại lần thứ hai của Chúa Jêsus. Khi Ngài trở lại, mọi người sẽ thấy Ngài cách rõ ràng. Như chúng ta biết, lịch sử sẽ kết thúc. Tất cả mọi người sẽ sống lại trong ngày Phán xét. Đối với một số người (những người từ chối Tin lành) thì đó sẽ là ngày hủy diệt (II Têsalônica 1:8-9;); còn đối với những người khác, đó sẽ là ngày nhận lãnh quyền thừa kế của họ trong nước Đức Chúa Trời (Mat Mt 25:34). Sẽ có trời mới và đất mới (IIPhi 2Pr 3:13; Khải huyền 21:10;. Chính mình Chúa Jêsus sẽ có ở đó (KhKh 21:22-23), cùng với hết thảy những người yêu mến Ngài và vâng lời Ngài. Nơi đó sẽ là một chỗ phước hạnh vô cùng còn đến đời đời (ICo1Cr 2:9). Chúng ta sẽ có thân thể vinh hiển và thân thể mới không bị hư nát (ICo1Cr 15:42-43). Sẽ không còn có sự chết hoặc sự than khóc hoặc đau đớn nữa. (KhKh 21:4). Hết thảy những người tin Ngài đều sẽ được chữa lành hoàn toàn trong ngày đó.
Mặt khác, nước trời cũng có một khía cạnh mang tính hiện tại trong sự dạy dỗ và hoạt động của Chúa Jêsus. Chúng ta nhìn thấy những dấu hiệu, sự bắt đầu hiển hiện, sự đâm chồi của sự đến của nước trời. Chúa Jêsus phán cùng những người Pharisi rằng: ‘Nước Đức Chúa Trời ở trong vòng các ngươi’ (LuLc 17:20-21). Trong ví dụ về kho báu và châu ngọc ẩn giấu (Mat Mt 13:44-46). Chúa Jêsus ám chỉ nước trời là một điều có thể tìm thấy được và nếm trải được trong đời nầy. Xuyên suốt các sách Phúc âm, rõ ràng Chúa Jêsus đã xem chức vụ của Ngài như là sự ứng nghiệm những lời hứa về Cựu Ước trong lịch sử. Trong nhà hội Naxarét, Chúa Jêsus đọc lời tiên tri trong Êsai 61:1-2; và tuyên bố: ‘Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó’ (LuLc 4:21). Ngài đã tiếp tục chứng minh sự thực hữu hiện tại của nước trời bằng tất cả những gì Ngài thực hiện trong chức vụ của Ngài, qua sự tha tội, sự đuổi quỷ và việc chữa lành kẻ bệnh tật.
Nước Trời vừa ‘hiện có’ vừa ‘chưa hiện đến’. Sự mong đợi của người Do thái là Đấng Mêsi sẽ lập tức bắt đầu một nước Trời trọn vẹn, như được trình bày qua biểu đồ sau đây:
Sự dạy dỗ của Chúa Jêsus là một sự làm giảm nhẹ điều mong đợi đó và có thể được tóm tắt qua biểu đồ sau đây:
Chúng ta đang sống giữa hai thời kỳ, khi thời kỳ hầu đến đã bước vào lịch sử. Thời kỳ xưa cũ qua đi, song các thế lực của thời kỳ đã thình lình bộc phát trong thời đại nầy. Nước trời tương lai đã bước vào lịch sử. Chúa Jêsus đã rao giảng về nước trời. Ngài cũng đã chứng tỏ sự đột nhập của nước Trời vào trong lịch sử nhân loại qua việc chữa lành kẻ bệnh, khiến sống kẻ chết và trừ các quỷ.
Một phần tư các sách Phúc âm liên quan đến sự chữa lành. Mặc dầu Chúa Jêsus không chữa lành cho hết thảy những kẻ bệnh trong vùng Giuđê, chúng ta vẫn thường đọc thấy Ngài chữa lành cho những cá nhân hoặc các nhóm người (Mat Mt 4:23; 9:35;; Mác 6:56;; Luca 4:40;; 6:19;; 9:11;). Đó là một phần hoạt động thông thường của nước trời.
Không những chính Ngài đã làm công việc nầy, mà Ngài còn ủy thác cho các môn đồ để họ cũng làm giống như vậy. Trước hết Ngài ủy thác cho mười hai môn đồ. Điều nầy được trình bày rõ trong sách Phúc âm Mathiơ. Mathiơ cho chúng ta biết ‘Chúa Jêsus đi khắp xứ Galilê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng Tin lành của nước Đức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bệnh trong dân’ (Mat Mt 4:23). Kế đó ông trình bày một số lời dạy dỗ và rao giảng của Chúa Jêsus trong Mathiơ đoạn 5 đến đoạn 7 (Bài giảng trên Núi), rồi cho đến chín phép lạ (chủ yếu là sự chữa lành) và ông kết luận bằng một câu gần như lập lại chính xác Mathiơ 4:23;: ‘Đức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng Tin lành nước Đức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bệnh’ (Mat Mt 9:35). Mathiơ đang sử dụng một phép hành văn của sự lập lại gọi là inclusio , được dùng thay cho hệ thống chấm câu và việc kết thúc bản văn bằng các đoạn cho thấy khúc mở đầu và kết thúc của một phân đoạn. Sau khi đã trình bày điều chính Chúa Jêsus làm, Mathiơ cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus kế đó đã sai mười hai môn đồ ra đi để làm công việc giống như Ngài đã làm. Ngài bảo họ hãy đi và rao giảng sứ điệp giống như vậy: ‘ “Nước thiên đàng gần rồi”. Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung và trừ các quỷ...’ (Mat Mt 10:8).
Không phải chỉ có mười hai sứ đồ được Ngài giao cho sứ mạng nầy. Mà còn có một nhóm bảy mươi môn đồ khác nữa được Ngài bổ nhiệm. Ngài bảo họ hãy đi và ‘chữa lành kẻ bệnh ở đó và nói với họ rằng: Nước Đức Chúa Trời đến gần các ngươi ‘ (LuLc 10:9). Họ đã trở về vui mừng trình rằng: ‘Lạy Chúa, vì danh Chúa các quỷ cũng phục chúng tôi’ (câu 17).
Các sứ mạng của Ngài không những đã được giao cho mười hai sứ đồ và bảy mươi hai môn đồ. Chúa Jêsus mong muốn hết thảy môn đồ Ngài đều làm giống như vậy. Ngài phán cùng các môn đồ rằng: ‘Hãy đi và môn đệ hóa muôn dân, dạy họ vâng giữ mọi điều ta đã truyền cho các ngươi’ (Mat Mt 28:18-20). Ngài không bảo: ‘Tất cả mọi điều, dĩ nhiên là trừ việc chữa bệnh’.
Chúng ta cũng tìm thấy đoạn kết thúc tương tự nhưng dài hơn, của sách Phúc âm Mác (đoạn nầy ít nhất cũng là một bằng chứng rất tốt cho thấy hội thánh đầu tiên đã hiểu rõ sứ mạng ủy thác của Chúa Jêsus là gì). Chúa Jêsus phán: ‘ Hãy đi khắp thế gian giảng Tin lành cho mọi người...Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy lấy danh ta mà trừ quỷ...hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành ’. Về phần các môn đồ thì ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo’ (Mac Mc 16:15-20). Chúa Jêsus phán: ‘Những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy’ - điều đó phán cùng những ‘người tin nơi’ Chúa Cứu Thế Jêsus, nghĩa là hết thảy mọi Cơ Đốc Nhân
Trong Phúc âm Giăng chúng ta cũng thấy những lời tương tự. Chúa Jêsus đã phán trong phạm vi của các phép lạ: ‘Kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm, lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha!’ (GiGa 14:12). Rõ ràng là không ai có thể thì thế các phép lạ có chất lượng lớn hơn Chúa Jêsus, song đã từng có một số lượng lớn hơn từ khi Chúa Jêsus về cùng Cha Ngài. Ngài không hề ngừng làm các phép lạ, song hiện nay Ngài dùng những con người yếu đuối và bất toàn. Một lần nữa chính ‘Những người nào tin ta’. Đó chính là các bạn và tôi. Những mạng lệnh và những lời hứa nầy không có chỗ nào giới hạn cho riêng một thành phần Cơ Đốc Nhân đặc biệt nào cả.
Chúa Jêsus đã chữa lành: Ngài bảo các môn đồ hãy làm giống như vậy và họ đã làm. Trong sách Công vụ các sứ đồ chúng ta thấy sự tiến triển của nhiệm vụ nầy. Các môn đồ đã tiếp tục rao giảng và dạy dỗ, song cũng chữa lành cho kẻ bệnh, khiến sống kẻ chết và đuổi các quỷ (Cong Cv 3:1-10; 4:12;; 5:12-16;; 8:5-13;; 9:32-43;; 14:3;, 8-10; 19:11-12;; 20:9-12;; 28:8-9;). Rõ ràng là từ I Côrinhtô 12-14 Phaolô đã không tin rằng những khả năng nầy chỉ được giao phó cho các sứ đồ. Cũng vậy, tác giả thơ Hêbơrơ nói rằng Đức Chúa Trời đã làm chứng cho lời của Ngài bằng ‘những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, cùng sự ban cho của Thánh Linh’ (HeDt 2:4).
Không có chỗ nào trong Kinh Thánh nói rằng sự chữa lành chỉ giới hạn trong một giai đoạn đặc biệt nào đó của lịch sử. Trái lại, chữa lành là một trong những dấu hiệu của nước Trời đã được bắt đầu bởi Chúa Cứu Thế Jêsus và còn tiếp tục cho đến ngày nay. Vì vậy chúng ta phải mong đợi Chúa tiếp tục chữa lành bằng phép lạ như là một phần của hoạt động nước Trời ngày nay.
Việc chữa lành trong lịch sử hội thánh
Trong cuốn Christian Healing của mình, bà Evelyn Frost đã xem xét kỹ lưỡng những đoạn văn do các tác giả thuộc hội thánh ban đầu viết ra như Quadratus, Justin Martyr Theophilus người Antiốt, Irenaeus, Tertullian và Origen và bà kết luận rằng sự chữa bệnh đã là một phần của sinh hoạt bình thường của hội thánh đầu tiên.
Irenaeus (khoảng năm 130 đến khoảng 200 SC) ông là giám mục thành Lyons và là một trong những nhà thần học của hội thánh đầu tiên đã viết như vầy:
Những người thực sự là môn đồ của Ngài được nhận lãnh ân điển từ nơi Ngài, lấy danh Ngài mà làm (các phép lạ) nhờ đó giúp ích cho cuộc sống của những người khác, theo như ân tứ mỗi người đã nhận từ nơi Ngài. Đối với một số người công việc mạnh mẽ và chắc chắn của họ là đuổi quỷ, hầu cho những kẻ đã mắc quỷ ám được tẩy sạch khỏi các tà ma đều đặt lòng tin (nơi Chúa Cứu Thế) và cùng gia nhập vào hội thánh. Những người khác biết trước những điều phải xảy đến: họ thấy những khải tượng, và nói ra những lời tiên tri. Còn những người khác nữa thì chữa lành kẻ đau bằng cách đặt tay mình trên kẻ đau và khiến họ được khỏe mạnh. Song, hơn thế nữa, như tôi đã nói, kẻ chết đã được sống lại và còn sống giữa vòng chúng tôi nhiều năm.54
Origen (khoảng năm 185-254) một nhà thần học khác, là một học giả Thánh Kinh và là một nhà văn của hội thánh đầu tiên, đã nói về những Cơ Đốc Nhân như sau: ‘Họ đuổi các tà ma, và chữa lành nhiều bệnh tật, thấy trước một số sự kiện...danh của Chúa Jêsus...có thể xua đuổi các tật bệnh’.
Hai trăm năm sau đó vẫn còn sự trông đợi Chúa chữa lành trực tiếp cho con người Agustine người Hippo (354-430 SC), người được nhiều người coi là nhà thần học vĩ đại nhất của bốn thế kỷ đầu tiên, đã nói trong cuốn sách The City of God của ông ta rằng ‘thậm chí hiện nay các phép lạ cũng được thực hiện trong danh Chúa Cứu Thế’. Ông dẫn chứng trường hợp của một người mù được phục hồi thị lực ở tại Milan, khi ông có mặt tại đó. Và rồi ông mô tả việc chữa bệnh của một người mà ông đã ở cùng, tên là Innocentius. Ông ta đang được các bác sĩ điều trị chứng lỗ rò, vì bệnh ấy ông phải chịu rất nhiều rối loạn trong ruột già. Ông ta đã trải qua một cuộc giải phẫu rất đau đớn, người ta không nghĩ rằng ông có thể sống nỗi qua một cuộc giải phẫu nữa. Trong khi mọi người đang cầu nguyện cho ông, ông đã bị quăng xuống sàn như thể có ai đó đã ném ông xuống đất một cách thô bạo. Ông rên rỉ và khóc nức nở, toàn thân run rẫy đến nỗi không thốt nên lời. Ngày có cuộc giải phẫu đáng sợ tiếp theo đã đến ‘các bác sĩ giải phẫu đã đến...những dụng cụ kinh khiếp được soạn ra...bộ phận mổ trên cơ thể được phơi trần ra, vị bác sĩ giải phẫu...với dao mổ trong tay, sốt ruột tìm kiếm phần xoang phải được cắt. Ông tìm kiếm nó bằng mắt, cảm nhận nó bằng ngón tay, ông áp dụng mọi hình thức kiểm soát tường tận’. Ông đã khám phá một vết thương được chữa lành hoàn hảo ‘Không có lời nào của tôi có thể mô tả niềm vui và sự ngợi khen, cảm tạ đối với Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót và đầy quyền năng, là lời được tuôn ra từ môi miệng của hết thảy mọi người với cả nước mắt và sự vui mừng. Hãy để cho cảnh tượng ấy được hình dung thì hay hơn là được mô tả!’
Kế đó ông mô tả sự chữa lành của Innocentia, một người phụ nữ mộ đạo thuộc hàng ngũ cao cấp nhất trong nhà nước, người đã được chữa lành khỏi chứng bệnh mà các bác sĩ mô tả là chứng ung thư vú không thể chữa trị được. Bác sĩ rất muốn biết làm thế nào mà bà được chữa lành. Khi bà cho ông biết Chúa Jêsus đã chữa cho bà được lành, ông rất giận dữ và bảo: ‘À, bà cho rằng bà đã khám phá ra điều trọng đại và muốn cho tôi biết chứ gì’. Bà ta nhún vai tỏ vẻ không quan tâm và trả lời ngay: ‘Chữa lành bệnh ung thư thì có trọng đại gì đối với Đấng Christ, là Đấng đã từng gọi một kẻ chết đã bốn ngày sống lại?’
Ông tiếp tục kể chuyện về một bác sĩ bị bệnh gút, ông ta được chữa lành ‘ngay trong lúc chịu báp têm’ và một diễn viên hài lớn tuổi cũng đã được chữa lành trong lúc chịu lễ báp tem, không những bị bệnh bại mà còn bệnh thoái vị nữa. Agustine nói ông biết rất nhiều sự chữa lành bởi phép lạ mà có lúc ông bảo: ‘Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi bị ép quá sức bởi lời hứa sẽ hoàn tất công việc nầy, đó là mãi đến bây giờ mà tôi không thể ghi chép tất cả các phép lạ tôi biết... thậm chí bây giờ, do đó nhiều phép lạ đã được thực hiện, cũng một Đức Chúa Trời, Đấng đã làm những gì chúng ta đã đọc, là Đấng vẫn còn làm các phép lạ qua những người Ngài sẽ chọn và vào lúc Ngài muốn’.
Suốt chặng đường xuyên qua lịch sử hội thánh, Đức Chúa Trời đã tiếp tục trực tiếp chữa lành nhiều người. Chưa có một thời điểm nào mà sự chữa lành lại lịm tắt đi. Ngay cả đến thời kỳ hiện nay.
Edward Gibbon, một người theo phái duy lý, một sử gia, và là một học giả người Anh, nổi tiếng nhất vì là tác giả của cuốn Lịch sử Sự Suy tàn và Sụp đổ của Đế quốc La Mã (1776-1788), liệt kê năm nguyên nhân của sự phát triển nhanh chóng và đáng lưu ý của Cơ Đốc Nhân. Một trong những nguyên nhân nầy là ‘những sức mạnh của phép lạ trong Hội thánh Ban đầu’. Ông nói: ‘Hội Thánh Cơ Đốc, từ thời các sứ đồ và các môn đồ đầu tiên của họ đã xưng nhận một sự kế tục không bị gián đoạn về các quyền năng của phép lạ, ân tứ nói tiếng lạ, về các khải tượng và lời tiên tri, quyền năng đuổi quỷ, chữa lành người bệnh và khiến người chết sống lại’. Ông Gibbon tiếp tục tỏ cho thấy sự mâu thuẫn trái ngược trong chính thời của ông khi mà ‘một chủ nghĩa hoài nghi ngấm ngầm, thậm chí vô tình dính chặt vào các khuynh hướng mộ đạo, tin kính’. Bằng cách đối chiếu với hội thánh đầu tiên, ông viết rằng trong Hội Thánh thời của ông ‘Việc thừa nhận các lẽ thật siêu nhiên kém hơn một sự chấp thuận mang tính tích cực và lại còn thua cả một sự bằng lòng lạnh nhạt và bình thản nữa. Từ lâu chúng ta đã quen với việc quan sát và tôn trọng trật tự không đổi của Tự Nhiên, vì thế, lý luận của chúng ta, hay ít nhất là sự hình dung của chúng ta, không được chuẩn bị đầy đủ để ủng hộ công việc thấy được của Đức Chúa Trời’. Chúng ta cũng có thể nói giống như vậy và thậm chí còn nhiều hơn nữa về thời buổi của chúng ta hiện nay.
Sự chữa lành ngày nay
Ngày nay Đức Chúa Trời vẫn còn chữa lành cho con người. Có nhiều câu chuyện thật kỳ diệu về sự chữa lành của Chúa đến nỗi khó mà biết chuyện nào để dùng làm ví dụ. Mới đây, Ajay Gohill kể lại câu chuyện của anh ta ở tại buổi lễ báp têm và xác tín niềm tin của hội thánh chúng tôi. Anh ta sinh trưởng tại Kenya và đã đến Anh quốc vào năm 1971. Anh được nuôi dạy như một người theo đạo Hindu (Ấn độ giáo) và đã làm công việc kinh doanh của gia đình vốn là một đại lý báo ở tại Neasden. Vào năm hai mươi mốt tuổi, anh mắc bệnh vẩy nến, một chứng bệnh da kinh niên. Anh sụt từ 74kg xuống còn 48kg. Anh được mang đi chữa trị khắp nơi trên thế giới, ở Hoa Kỳ, Đức, Thụy sĩ, Ysơraên và ở khắp nước Anh, kể cả tại Harley Street. Anh cho biết đã tiêu tốn hết 80% tiền bạc kiếm được để cố chữa trị. Anh đã dùng những loại thuốc mạnh tác hại đến gan. Cuối cùng, anh phải thôi việc. Căn bệnh lan khắp thân thể anh, từ chân đến đầu. Trông anh khủng khiếp đến nỗi anh không thể nào dám đi bơi hoặc thậm chí mặc áo ngắn tay. Anh mất tất cả bạn bè. Vợ con anh cũng lìa bỏ anh. Anh chỉ muốn chết. Vào ngày 20 tháng Tám năm 1987 anh ngồi trong một chiếc xe lăn thuộc khu Elizabeth tại bệnh viện Thánh Thomas. Anh đã trải qua hơn bảy tuần lễ trong bệnh viện và được điều trị đủ cách. Ngày 14 tháng 10 anh đang nằm trên giường và chờ chết. Anh la lớn lên: ‘Lạy Chúa nếu Ngài đang nhìn xem tôi, thì xin hãy để tôi chết, tôi hối lỗi nếu có làm điều gì sai lầm’. Ông nói rằng đang khi cầu nguyện ông ‘cảm thấy có một sự hiện diện’. Anh nhìn vào hộc tủ của mình và lôi ra một cuốn Kinh Thánh. Anh mở ra và tình cờ đọc đoạn Thi thiên 38:
Đức Giêhôva ôi! Xin chớ nổi thạnh nộ mà quở trách tôi. Cũng đừng nóng giận mà sửa phạt tôi. Vì các mũi tên Chúa gắm mình tôi, và tay Chúa đè nặng trên tôi. Bởi cơn giận Chúa, thịt tôi chẳng nơi nào lành; Tại cớ tội lỗi tôi, xương cốt tôi chẳng được an nghỉ. Vì sự gian ác tôi vượt quá đầu tôi; nó nặng quá cho tôi, khác nào một gánh nặng. Tại cớ khờ dại tôi, các vít thương tôi thối tha và chảy lở. Tôi bị đau đớn và khòm cúp xuống; trọn ngày tôi đi buồn thảm. Vì có lửa hừng thiêu đốt cật tôi, và thịt tôi chẳng nơi nào lành. Tôi mệt nhọc vì rêm nhiều quá, tôi la hét vì cớ lòng bồn chồn. Chúa ôi, các sự ao ước tôi đều ở trước mặt Chúa, sự rên siết tôi chẳng giấu Chúa. Lòng tôi hồi hộp; sức tôi mỏn đi, sự sáng mắt tôi cũng thiếu mất nữa. Các người thương xót tôi và những bạn tôi đều đứng xa vạ tôi. Còn bà con tôi ở cách xa tôi, Đức Giêhôva ôi! Xin chớ lìa bỏ tôi, Đức Chúa Trời tôi ôi! Xin chớ cách xa tôi. Chúa ôi! Chúa là sự cứu rỗi tôi, hãy mau mau đến tiếp trợ tôi (Thi Tv 38:1-11-21-22).
Mỗi một câu dường như đều thích hợp với anh. Anh cầu nguyện xin Chúa chữa lành anh và chìm vào một giấc ngủ say. Khi anh thức dậy vào sáng ngày hôm sau mọi thứ trông đều mới mẽ. Anh đi vào phòng tắm và thư giãn trong bồn tắm. Khi nhìn vào nước tắm, anh thấy da mình bong ra và nổi trên nước. Anh gọi các y tá vào và nói với họ rằng Chúa đã chữa lành cho anh. Toàn bộ lớp da của anh tươi mới như da một đứa bé. Anh đã được chữa lành hoàn toàn. Kể từ đó anh được tái hiệp với con trai mình. Anh nói rằng sự chữa lành nội tâm xảy ra trong đời anh còn quan trọng hơn cả sự chữa lành thuộc thể. Anh nói: ‘Tôi sống vì Chúa mỗi ngày. Hiện tôi đang là tôi tớ Ngài’.
Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời chữa lành. Từ ngữ Hy lạp hàm ý ‘Ta cứu rỗi’ cũng hàm ý ‘Ta chữa lành’. Đức Chúa Trời không chỉ quan tâm đến sự cứu rỗi tâm linh mà Ngài còn quan tâm đến con người toàn diện của chúng ta. Một ngày kia chúng ta sẽ có một thân thể mới mẽ trọn vẹn. Trong đời nầy chúng ta không thể đạt đến sự trọn vẹn được ngày nay. Khi Đức Chúa Trời chữa lành bằng phép lạ cho ai đó, chúng ta có được một cái nhìn thấp thoáng của tương lai là khi sự cứu chuộc sau cùng của thân thể chúng ta sẽ xảy ra (RoRm 8:23). Không phải hễ chúng ta cầu nguyện cho ai thì người ấy cũng nhất thiết được chữa lành. Tất nhiên, không một con người nào thoát khỏi sự chết cuối cùng. Thân thể chúng ta đang hư nát. Ở một thời điểm nào đó có lẽ chuẩn bị người ấy cho cái chết thì thích đáng hơn là cầu nguyện cho họ được lành. Chúng ta cần phải nhạy bén đối với sự hướng dẫn của Thánh Linh.
Đừng để sự chữa lành làm chúng ta nản lòng đến nỗi không còn muốn cầu nguyện cho người bệnh. Càng cầu nguyện, chúng ta sẽ càng thấy sự chữa lành. Những người không được chữa lành thường thuật lại ơn phước của việc họ được cầu thay. Miễn là họ được cầu thay bởi tình yêu thương và sự nhạy bén. Tôi còn nhớ một nhóm chúng tôi tại trường thần học cầu nguyện cho một người đàn ông nọ có cái lưng đau. Tôi không nghĩ rằng ông ta được chữa lành, nhưng sau đó ông đã nói với tôi rằng: ‘Đây là lần đầu tiên kể từ khi vào trường thần học tôi cảm thấy mình được quan tâm’. Mới đây có một người khác nói với tôi rằng mặc dầu anh ta không được chữa lành khi người khác cầu nguyện cho anh song anh đã có được kinh nghiệm lớn lao chưa từng có về Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và đời sống anh đã được biến đổi.
Một số người được ban cho các ân tứ chữa bệnh (ICo1Cr 12:9). Ngày nay, khắp nơi trên thế giới, chúng ta thấy các trường hợp về những người có các ân tứ chữa bệnh phi thường. Điều nầy không có nghĩa là chúng ta giao toàn bộ ân tứ ấy cho họ. Sứ mạng chữa bệnh được giao cho mọi người trong chúng ta. Cũng như không phải hết thảy chúng ta đều có ơn truyền giảng, nhưng chúng ta thảy đều được kêu gọi để nói về Chúa Jêsus cho người khác, vì vậy không phải hết thảy chúng ta đều có ân tứ chữa bệnh song hết thảy chúng ta đều được kêu gọi để cầu nguyện cho người bệnh.
Trong thực tế, chúng ta bắt đầu cầu nguyện cho người bệnh như thế nào? Điều quan trọng cần phải nhớ là Đức Chúa Trời mới là Đấng chữa lành chứ không phải chúng ta không có sự tham gia của kỹ xảo. Chúng ta cầu nguyện bằng tình yêu thương và tấm lòng đơn sơ. Động cơ của Chúa Jêsus là lòng thương xót của Ngài đối với con người (Mac Mc 1:41; Mathiơ 9:36;). Nếu chúng ta yêu thương con người, thì chúng ta sẽ luôn đối xử với họ bằng sự tôn quý và một thái độ đàng hoàng. Nếu chúng ta tin rằng chính Chúa Jêsus là Đấng chữa lành thì chúng ta sẽ cầu nguyện với tấm lòng đơn sơ bởi vì không phải bởi lời cầu nguyện của chúng ta mà chính quyền năng của Đức Chúa Trời mới đem lại sự chữa lành.
Dưới đây là một khuôn mẫu đơn giản:
Chỗ đau nằm ở đâu?
Chúng ta hãy hỏi người muốn được cầu nguyện chữa bệnh vấn đề nằm ở đâu và họ muốn chúng ta cầu nguyện như thế nào.
Nguyên nhân người bệnh lâm vào tình trạng đó?
Tất nhiên, một chân gãy trong tai nạn xe hơi là điều rõ ràng, song vào những trường hợp khác chúng ta có thể cần cầu hỏi Chúa tỏ cho chúng ta biết có phải vấn đề nầy có một nguyên nhân nào đó ở gốc rễ. Một phụ nữ trong hội chúng của chúng tôi bị phát chứng đau lưng bên hông trái, chứng bệnh nầy đã cản trở giấc ngủ, việc đi lại và công việc làm của bà. Bác sĩ kê thuốc viêm khớp cho bà. Một buổi chiều nọ bà xin cầu nguyện cho bà. Cô gái cầu nguyện cho bà nói rằng từ ngữ ‘sự tha thứ’ đã đến với tâm trí cô sau một cuộc tranh chiến, người phụ nữ nầy đã tha thứ được cho người cứ liên tục gây rắc rối cho bà, và bà đã được chữa lành một phần nào. Bà ta đã được chữa lành hoàn toàn vào lúc bà gởi đi bức thư tha thứ cho một người bạn của bà.
Tôi phải cầu nguyện thế nào?
Chúng ta có thể tuân theo nhiều gương mẫu khác nhau trong Tân Ước. Tất cả đều đơn giản. Đôi khi chúng ta cầu nguyện xin Đức Chúa Trời chữa lành trong danh Chúa Jêsus và chúng ta xin Đức Thánh Linh ngự trên người đó. Hoặc cầu nguyện kèm với sự xức dầu (Gia Gc 5:14). Việc đặt tay đi kèm với sự cầu nguyện là điều phổ biến hơn (LuLc 4:40).
Họ cảm thấy thế nào?
Sau khi đã cầu nguyện chúng thường hỏi người ấy cảm thấy điều gì. Đôi khi họ chẳng cảm thấy gì cả trong trường hợp đó chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện. Những trường hợp khác, họ cảm thấy được lành, mặc dầu chỉ có thời gian mới nói được điều đó. Có những lúc họ cảm thấy khá hơn nhưng chưa lành hoàn toàn, trong trường hợp đó chúng ta hãy tiếp tục như Chúa Jêsus đã làm với người mù (Mac Mc 8:22-25). Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho đến khi nào cảm thấy thích hợp để thôi cầu nguyện.
Tiếp theo là gì?
Sau khi đã cầu nguyện cho sự chữa lành điều quan trọng là phải tái bảo đảm với người ấy tình yêu Chúa dành cho họ bất kể họ có được lành hay không, và hãy để họ tự do trở lại để được cầu thay một lần nữa. Chúng ta phải tránh đặt các gánh nặng lên họ, chẳng hạn như cho rằng vì họ thiếu đức tin nên đã ngăn trở sự chữa lành xảy ra. Chúng ta hãy luôn luôn khích lệ họ tiếp tục cầu nguyện và bảo đảm với họ rằng sự sống của họ đã được đâm rễ trong cộng đồng chữa lành của Hội Thánh - là nơi sự chữa lành dài hạn rất thường xuyên xảy ra.
Cuối cùng, điều quan trọng là phải kiên trì trong việc cầu nguyện cho họ được chữa lành. Chúng ta rất dễ nản lòng, nhất là khi chúng ta chưa nhìn thấy những kết quả lạ lùng ngay lập tức. Chúng ta cứ tiếp tục vì cớ sự vâng lời của mình trước lời kêu gọi và nhiệm vụ của Chúa Jêsus là hãy rao giảng nước Trời và chứng tỏ sự hầu đến của nước Trời bằng một cách trong số những điều khác, là chữa lành kẻ bịnh. Nếu như chúng ta cứ kiên trì qua nhiều năm tháng chúng ta sẽ thấy Chúa chữa lành cho họ.
Một lần nọ tôi được mời đến thăm một phụ nữ trong bệnh viện Brompton. Bà ta khoảng ba mươi mấy tuổi, đã có ba con và đang mang thai đứa thứ tư. Người chồng thứ hai của bà đã bỏ bà và bà phải tự lo liệu. Cháu thứ ba của bà, là một đứa trẻ mắc Hội chứng bệnh “đao” có khuyết tật bẩm sinh trong màng tim và đang trong quá trình tiếp tục giải phẫu. Cuộc giải phẫu không thành công, và không có gì lạ, nhân viên y tế muốn tháo bỏ các máy móc. Đã ba lần họ hỏi bà liệu họ có thể tháo bỏ máy móc để đứa trẻ chết. Bà vẫn trả lời không vì bà muốn cố gắng một lần cuối cùng, bà muốn có ai đó cầu nguyện cho cậu bé. Vì vậy tôi đến, và bà nói với tôi rằng bà không tin Đức Chúa Trời, song bà chỉ cho tôi xem cậu bé con bà. Chung quanh thân mình cậu bé đầy các ống dây dẫn và mình mẩy cậu bị bầm giập và sưng vù lên. Bà nói rằng các bác sĩ cho biết nếu có bình phục đi nữa cậu bé cũng sẽ bị hư hại phần não vì tim cậu đã ngừng đập một thời gian quá lâu như vậy. Bà nói “ông sẽ cầu nguyện chứ?” Vì vậy, tôi đã cầu nguyện trong danh Chúa Jêsus để Chúa chữa lành cho cậu. Sau đó tôi giải thích cho bà cách bà có thể dâng cuộc đời mình cho Chúa Cứu Thế Jêsus và bà đã bằng lòng. Tôi ra về, nhưng hai ngày sau tôi trở lại. Vừa thấy tôi bà chạy ra, bà nói “Tôi không biết làm cách nào để liên lạc với ông. Có điều thật lạ lùng đã xảy ra. Cái đêm sau khi ông cầu nguyện thằng bé đã hoàn toàn đổi khác. Nó đã bình phục”. Một vài ngày sau cậu bé được về nhà. Tôi tìm cách liên lạc với bà song không biết bà sống ở đâu mặc dầu bà có để lại lời nhắn qua điện thoại. Khoảng sáu tháng sau khi tôi đang trong thang máy tại một bệnh viện khác tôi nhìn thấy một bà mẹ và một đứa trẻ mà tôi chưa nhận ra ngay lúc ấy. Người phụ nữ hỏi “Có phải ông là Nicky không?” Tôi trả lời “Vâng, chính tôi” bà nói “Đây là thằng bé mà ông đã cầu nguyện cho. Thật lạ lùng. Không những nó đã bình phục sau cuộc giải phẫu mà thính giác của nó, mới trước đó rất kém, bây giờ cũng tốt hơn rồi. Nó vẫn còn bị hội chứng đao nhưng nó khá hơn trước nhiều”.
Kể từ đó tôi đã cử hành hai tang lễ cho các thành viên khác trong gia đình đó. Mỗi lần như vậy, người ta đến gặp tôi không ai trong số họ là người đi nhà thờ cả và bảo “Ông là người đã cầu nguyện cho Craig được lành và Chúa đã chữa lành nó”. Họ đều tin Chúa là Đấng Chữa cho cậu bé, vì họ biết nó chỉ còn chờ chết. Sự thay đổi trong Vivienne, mẹ cậu bé, cũng đã để lại một ấn tượng sâu sắc trên họ. Bà ta đã được thay đổi nhiều từ sau khi tiếp nhận Chúa đến nỗi bà đã quyết định kết hôn với người đàn ông hiện nay đang ở với bà. Ông ta đã trở lại với bà sau khi nhìn thấy sự thay đổi trong đời sống bà. Hiện họ đã kết hôn và bà đã hoàn toàn thay đổi. Trong lần cử hành tang lễ tang thứ hai, Vivienne đã đi vòng quanh những người họ hàng và bạn bè và nói “Trước kia tôi không tin Chúa nhưng bây giờ tôi thật sự tin Ngài”. Không lâu sau đó cậu và dì của bé Craig đã đến nhà thờ, ngồi ở hàng ghế đầu, và cầu nguyện dâng đời mình cho Chúa Cứu Thế Jêsus. Họ đã làm điều đó vì biết mình đã chứng kiến quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự chữa lành.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 19-12-2017 12:30 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách