nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2897|Trả lời: 0

Alpha - Bài 14. Còn Hội Thánh Thì Thế Nào?

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-8-2011 20:32:54 | Xem tất |Chế độ đọc

Giáo Trình Alpha
Tác giả: Nicky Gumbel

Còn Hội Thánh Thì Thế Nào?


Abraham Lincoln đã từng nói rằng: “Nếu tất cả những người cảm thấy buồn ngủ vào sáng Chúa nhật khi ngồi trong nhà thờ được đặt nằm dài từ đầu này đến đầu kia...thì chắc họ cảm thấy sẽ dễ chịu hơn nhiều”. Những dãy ghế dựa cứng, những âm giai không thể hát được, sự im lặng bị ép buộc, và sự nhàm chán nhức nhối, mới chỉ là một vài yếu tố tạo thành hình ảnh chung của Hội Thánh vào ngày Chúa nhật. Thì giờ ấy được xem như một kinh nghiệm mà suốt lúc đó phải nghiến răng, kiên nhẫn cho đến khi mùi nước sốt thịt làm tươi sáng viễn cảnh của một ngày. Một vị mục sư đang dắt một cậu bé đi quanh nhà thờ của mình và cho cậu xem những đài kỷ niệm ‘Đây là tên của những người đã qua đời trong lúc hầu việc Chúa’. Cậu bé hỏi ‘Vậy thưa ông họ chết vào buổi nhóm sáng hay buổi nhóm tối?’
Một số người liên tưởng chữ ‘hội thánh’ với hàng giáo phẩm. Có người nào đó đang bước vào một chức vụ được phong chức thì được gọi là ‘sắp bước vào Hội Thánh’. Những người bắt đầu bước vào một chức vụ như thế thì thường được nhìn với sự ngờ vực, và lời giả định được dựng lên cho rằng họ hoàn toàn không có khả năng để làm bất cứ điều nào khác. Vì vậy một lời quảng cáo mới đây trong ấn phẩm của Hội Thánh: ’Có phải bạn bốn mươi lăm tuổi và chưa đạt được sự nghiệp gì? Vì sao không xem xét một chức vụ Cơ Đốc?’ Hàng giáo phẩm đôi khi được hiểu là ‘sáu ngày không ai thấy mặt, còn một ngày thì nói không ai hiểu được’.
Những người khác liên hệ từ ngữ ‘hội thánh’ với một giáo phái nào đó. Ví dụ ‘Hội Thánh Anh Quốc, Hội Thánh Công Giáo La mã, Hội Thánh BápTít hay những người theo Hội Giám lý’. Lại có những người khác liên tưởng từ ngữ ‘Hội Thánh’ với những ngôi nhà thờ. Họ cho rằng là một truyền đạo, mục sư, bạn phải quan tâm đến kiến trúc của nhà thờ, và khi họ có các chuyến du lịch, họ gởi cho mục sư của mình một bức ảnh của ngôi nhà thờ của vùng đó. Tôi nghe có một mục sư đã xin các giáo hữu của mình đừng gởi tặng ông các bưu thiếp về các nhà thờ nữa, ông bảo với họ rằng ông rất ít quan tâm đến các kiến trúc của nhà thờ!
Một số người đánh dấu vào mục ‘nhà thờ’ trên bảng danh sách ghi các bổn phận hàng năm của họ như là một nơi nào đó giữa việc ghé thăm Bà Dì Edna ở tại Hove với việc làm một chiếc bánh Gatô cho ngày lễ hội của lòng. Thái độ của những người khác có thể được tóm gọn qua một bài hát ngắn.
Thế nên khi tôi không có việc gì khác để làm, Tôi nghĩ tôi sẽ ghé thăm, Để cuối cùng khi ra mắt Chúa, Chúa sẽ không hỏi ‘Ngươi là ai?’
Có lẽ có một phần nào sự thật trong những quan điểm trên. Tuy nhiên nhiều Cơ Đốc Nhân đang tìm cách để chôn vùi hình ảnh đó về hội thánh vì hình ảnh đó hoàn toàn không thích hợp khi đem so sánh với hình ảnh của hội thánh trong thời Tân Ước. Nhiều Hội Thánh hiện nay đang tạo được một gia đình Cơ Đốc ấm cúng và hoạt động bên ngoài thì thật tốt, rất gần với hình ảnh Hội Thánh theo Thánh kinh. Trong Tân Ước có hơn 100 hình ảnh hoặc sự so sánh về hội thánh, và trong chương nầy tôi muốn xem xét năm hình ảnh trọng tâm để hiểu rõ về hội thánh.
Dân sự của Đức Chúa Trời
Hội Thánh được cấu thành bởi những con người. Từ ngữ Hy lạp dành cho chữ Hội Thánh là ekklesia , nghĩa là ‘một hội chúng’ hay ‘sự nhóm lại của những con người’. Đôi khi Tân Ước ám chỉ hội thánh phổ thông (như Êphêsô 3:10;, 21; 5:23;, 25, 27, 29, 32). Hội thánh phổ thông bao gồm hết thảy mọi người xưng nhận danh Chúa Cứu Thế trên khắp thế giới.
Phép báp têm là một sự bày tỏ bên ngoài, chứng tỏ một người là thành viên của hội thánh. Đó cũng là một dấu hiệu bên ngoài để bày tỏ rằng mình là một Cơ Đốc Nhân. Nó biểu thị cho sự thanh tẩy tội lỗi (ICo1Cr 6:11) đồng chết và đồng sống lại với Chúa Cứu Thế để mặc lấy cuộc đời mới (RoRm 6:3-5; Côlôse 2:12;) và nước sống mà Đức Thánh Linh đem đến cho đời sống chúng ta (ICo1Cr 12:13) chính Chúa Jêsus đã truyền cho những người theo Ngài hãy đi và khiến muôn dân trở thành môn đồ Ngài và hãy làm phép báp tem cho họ (Mat Mt 28:19).
Hội thánh Cơ Đốc phổ thông hiện rất rộng lớn. Theo cuốn Bách Khoa Thư Anh Quốc có gần một tỷ 700 triệu người theo Chúa ở trên 254 quốc gia. Chiếm 32,9% dân số thế giới. Ở nhiều nơi trên thế giới, nơi có những chính thể cực đoan và áp bức, hội thánh đang bị bách hại. Ở những nơi nầy phần lớn là hội thánh thầm lặng nhưng theo tất cả những lời tường thuật, hội thánh rất mạnh mẽ. Trong các nước thuộc Thế Giới Thứ Ba hội thánh đang phát triển nhanh chóng. Ở một số các quốc gia như Kenya, người ta ước tính có 80% dân số hiện nay tuyên xưng là Cơ Đốc Nhân. Trái lại, trong thế giới tự do, hội thánh phần lớn đang bị bại hoại. theo Sách Hướng Dẫn Cơ Đốc Anh Quốc , hội thánh Cơ Đốc ở tại Anh đã mất nửa triệu thành viên trong 5 năm đầu của thập kỷ 1980. Đã từng có một thời Phương Tây sai phái các nhà truyền giáo đến các nước thuộc Thế Giới Thứ Ba. Song tôi nhớ rằng khi tôi còn học ở trường đại học Cambridge, đã có ba nhà truyền giáo người Uganda đến đó để giảng Tin lành. Điều đó đã khiến tôi thật sửng sốt vì trong 150 năm cuối cùng nầy, thế giới đã thay đổi biết bao và nước Anh cần phải có nhiều nhà truyền giáo như bất cứ nơi nào khác.
Trong Tân Ước, sứ đồ Phaolô nói đến các Hội Thánh địa phương, ví dụ như ‘Các Hội Thánh của người Galati’ (ICo1Cr 16:10, ‘Các hội thánh ở xứ Asi’ (ICo1Cr 16:19) và ‘hết thảy các hội thánh của Chúa Cứu Thế’ (RoRm 16:16). Ngay cả các hội thánh địa phương nầy dường như nhiều lúc cũng đã bị phân ra thành các hội chúng nhỏ hơn để nhóm lại tại các nhà (RoRm 16:5; I Côrinhtô 16:19;).
Kết quả, dường như có ba kiểu nhóm lại trong Tân Ước: hội thánh tầm cỡ lớn, cỡ vừa, và cỡ nhỏ. Những tác giả viết về sự tăng trưởng của hội thánh đôi khi nói đến một cấu trúc ba tầng gồm các kỳ lễ, hội chúng và tế bào. Tất cả ba cơ cấu nầy đều quan trọng và bổ sung cho nhau.
Các kỳ lễ là một cuộc nhóm hiệp đông đảo của các Cơ Đốc Nhân. Hoạt động nầy có lẽ diễn ra mỗi Chúa Nhật trong các hội thánh lớn, hoặc khi một số các hội thánh nhỏ hiệp lại để thờ phượng. Trong Cựu Ước, dân sự Chúa đã hội hiệp với nhau trong các kỳ lễ đặc biệt với một bầu không khí lễ hội vào dịp Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần hoặc vào Đầu Năm Mới. Ngày nay, các kỳ nhóm hiệp đông đảo của các Cơ Đốc Nhân đem lại nguồn cảm hứng đầy khích lệ. Qua các kỳ nhóm hiệp đó, nhiều người có thể nắm bắt lại một khải tượng về sự lớn lao của Đức Chúa Trời và một ý thức sâu nhiệm về sự thờ phượng. Các buổi nhóm hiệp của hàng trăm Cơ Đốc Nhân với nhau có thể khôi phục lòng tin đối với những người cảm thấy cô độc và mang lại một sự hiện diện thấy được của hội thánh trong cộng đồng. Tuy nhiên, bản thân các kỳ nhóm hiệp đó vẫn chưa đủ. Đó không phải là nơi để các mối quan hệ anh em giữa những Cơ Đốc Nhân có thể phát triển một cách dễ dàng.
Theo ý nghĩa này, hội chúng là một sự nhóm hiệp cỡ vừa. Với số lượng tín hữu vừa phải này khiến cho mọi người đều biết đến nhau và biết đến hội thánh của mình. Các mối thông công lâu bền giữa vòng các Cơ Đốc Nhân được thiết lập tại đây. Đây cũng là nơi các ân tứ và các chức vụ của Đức Thánh Linh có thể được thi hành trong một bầu không khí yêu thương và tiếp nhận nhau, nơi mọi người được tự do để làm thử những công việc, và có thể trong quá trình tập tành ấy họ sẽ gặp sai sót. Trong hội thánh của chúng tôi có các nhóm từ 12 đến 20 người nhóm lại vào các ngày trong tuần, tại đây mỗi tín hữu có cơ hội để học hỏi, ví dụ như trình bày các đề tài khác nhau, hướng dẫn giờ thờ phượng, cầu nguyện cho người bệnh, phát huy ân tứ nói tiên tri và học tập cầu nguyện lớn tiếng.
Mức nhóm lại thứ ba được gọi là ‘tế bào’, chúng tôi gọi là ‘nhóm nhỏ’. Các nhóm nầy gồm từ hai đến mười hai người, nhóm lại để cùng học Kinh Thánh và cầu nguyện với nhau. Chính trong các nhóm đó các mối thông công anh em thân gần nhất trong Hội Thánh được hình thành. Chúng được đặc trưng bởi sự thân tình (có nghĩa là chúng ta có thể tâm tình, nói lên giữa mọi người mà không sợ nhiều chuyện) sự thân thiết (tức là trong nhóm đó chúng ta có thể nói lên những điều thật sự là vấn đề trong đời sống mình) và tinh thần trách nhiệm (tức là chúng ta sẵn lòng lắng nghe và học hỏi lẫn nhau).
Gia đình của Đức Chúa Trời
Khi chúng ta tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jêsus vào đời sống mình, chúng ta trở nên con cái Đức Chúa Trời (GiGa 1:12). Đây chính là điều làm cho hội thánh có tính hiệp nhất. Chúng ta có Đức Chúa Trời là Cha mình, Chúa Cứu Thế Jêsus là Cứu Chúa mình và Đức Thánh Linh là Đấng ngự trong chúng ta. Hết thảy chúng ta đều thuộc về một gia đình. Mặc dầu các anh em và chị em có thể cãi nhau lặt vặt hoặc ầm ĩ, hoặc không thấy mặt nhau một thời gian dài song họ vẫn là anh em và chị em nhau. Không gì có thể chấm dứt mối liên hệ ấy. Vì vậy hội thánh là một, ngay cả khi nó thường có vẻ như bị phân chia.
Điều nầy không có nghĩa chúng ta an phận với sự không hiệp nhất. Chúa Jêsus đã cầu nguyện cho các môn đồ Ngài ‘hiệp làm một’ (GiGa 17:11). Sứ đồ Phaolô nói rằng ‘Hãy gắng hết sức để gìn giữ sự hiệp một của Đức Thánh Linh’ (Eph Ep 4:3). Giống như một gia đình bị phân rẽ, chúng ta phải luôn gắng sức để tái hòa giải. Sự hóa thân làm người của Chúa cần đến một sự bày tỏ rõ ràng, cụ thể về sự hiệp nhất không thấy được của chúng ta. Tất nhiên, chúng ta không thể chà đạp chân lý để có được sự hiệp nhất, nhưng như văn sĩ thời trung cổ Rupertus Meldenius đã nói: ‘Điều thiết yếu là sự hiệp một; sự tự do thì còn tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người; nhưng trong mọi sự cần phải có tình yêu thương.’
Chúng ta phải tìm kiếm sự hiệp một ở mọi mức độ, trong nhóm nhỏ, trong hội chúng và các kỳ lễ; trong giáo phái của mình và giữa các giáo phái. Sự hiệp một nầy có được khi các nhà thần học và các vị lãnh đạo hội thánh hiệp cùng nhau để bàn thảo và hiểu thấu những khác biệt về mặt thần học. Nhưng thường sự hiệp một có kết quả tốt đẹp hơn khi các Cơ Đốc Nhân bình thường nhóm lại với nhau để thờ phượng Chúa và cùng nhau làm việc. Càng đến gần Chúa, chúng ta càng đến gần nhau. David Watson đã dùng một minh họa khiến chúng ta phải ghi nhớ. Ông nói:
Khi bạn đi máy bay, phi cơ cất cánh khỏi mặt đất, các bức tường và hàng rào trông có vẻ to lớn khiến chúng ta phải lưu tâm khi còn dưới mặt đất chẳng mấy chốc sẽ mất đi tầm quan trọng của nó. Cũng vậy, khi quyền năng Thánh Linh nâng chúng ta lên với nhau và cùng vào trong sự hiểu biết thấu đáo về sự hiện diện của Chúa Jêsus, những hàng rào giữa chúng ta trở nên không quan trọng nữa. Được ngồi với Chúa Cứu Thế trong các nơi trên trời, những khác biệt giữa các Cơ Đốc Nhân thường có vẻ nhỏ bé và chẳng còn đáng kể. 55
Bởi vì chúng ta có cùng một Cha, chúng ta thảy đều là anh em và chị em của nhau. Chúng ta được kêu gọi hãy yêu thương lẫn nhau. Sứ đồ Giăng nói rất rõ điều đó:
Ví có ai nói rằng: ‘Ta yêu Đức Chúa Trời’ mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được. Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn nầy: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình. Ai tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, thì sanh bởi Đức Chúa Trời, và ai yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài (IGi1Ga 4:20-5:1;).
Vị linh mục giải tội, cha Raniero Cantalamessa, đã nói với một hội chúng gồm hàng ngàn người từ nhiều giáo phái khác nhau nhóm lại, như vầy ‘Khi các Cơ Đốc Nhân cãi nhau, chúng ta thưa với Chúa rằng “Giữa chúng con và họ, Ngài hãy chọn đi”. Song người Cha yêu thương hết thảy các con cái của mình. Chúng ta nên nói “Chúng con tiếp nhận hết thảy các anh em mình là những người Cha đã nhận làm con”.’
Chúng ta được kêu gọi hãy giao thông trong tình anh em với nhau. Từ ngữ Hy lạp koinonia nghĩa là “có chung” hay “san sẻ”. Đó là từ ngữ được dùng trong quan hệ hôn nhân, mối quan hệ thân mật nhất giữa vòng loài người. Mối tương quan của chúng ta là mối quan hệ với Đức Chúa Trời (Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh - I Giăng 1:3;; II Côrinhtô 13:14; và với nhau (IGi1Ga 1:7). Mối thông công Cơ Đốc vượt qua chủng tộc, màu da, giáo dục, nền tảng, và mọi hàng rào văn hóa khác. Trong hội thánh có một mức độ của tình bạn hữu thân thiết mà tôi biết chắc rằng mình sẽ không bao giờ có được ở ngoài hội thánh.
John Wesley đã nói như vầy ‘Tân Ước không biết gì về một tôn giáo cô độc’. Chúng ta được kêu gọi để thông công với nhau. Đây không phải là điều mà chúng ta muốn hay không cũng chẳng sao. Có hai điều chúng ta hoàn toàn không thể làm một mình. Đó là chúng ta không thể kết hôn một mình và chúng ta không thể là một Cơ Đốc Nhân cô độc. Giáo sư C.E.B.Cranfield đã nói như vầy, ‘Một Cơ Đốc nhân cô lập vẫn là một Cơ Đốc nhân, nhưng cho rằng mình vượt trội hơn mọi người, không thể hiệp một với một trong các hình thức của Hội thánh hữu hình trên đất, thì coi như người là đã phủ nhận Hội Thánh’.
Tác giả thư Hêbơrơ khuyên những độc giả: ‘Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành. Chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào thì phải làm như vậy chừng nấy’ (HeDt 10:24, 25).
Thường các Cơ Đốc Nhân đánh mất tình yêu đối với Chúa cũng như lòng nhiệt thành dành cho đức tin mình là vì họ đã xao nhãng trong mối thông công với anh em.
Một người nọ nhận biết mình đang ở trong tình trạng cô độc và được một Cơ Đốc Nhân cao tuổi khôn ngoan đến thăm. Họ ngồi trước một lò sưởi đang cháy trong phòng khách. Người đàn ông cao tuổi không hề nói một lời nào, song ông tiến đến lò sưởi và gắp ra một hòn than đỏ rực rồi bỏ nó ra khỏi lò sưởi. Ông ta vẫn không nói gì. Vài phút sau hòn than mất đi màu đỏ rực của nó. Ông ta bèn gắp nó cho vào lò sưởi lại. Chỉ sau một khoảng thời gian ngắn nó lại đỏ rực. Người đàn ông cao tuổi chẳng nói gì cả nhưng khi ông đứng lên ra về, người kia đã hiểu rõ lý do vì sao anh ta mất đi lòng sốt sắng. Một Cơ Đốc Nhân ở ngoài mối thông công cũng giống như một hòn than bị gắp khỏi bếp lửa. Martin Luther đã viết trong nhật ký của ông như vầy: ‘Tại nhà riêng của tôi, không có sự nhiệt thành và sức mạnh hiệp một, nhưng ở tại hội thánh, khi đám đông nhóm lại với nhau, một ngọn lửa được khơi lên trong lòng tôi và nó mở ra con đường’.
Thân thể của Chúa Cứu Thế
Phaolô đã bất ngờ chạm trán với Chúa Cứu Thế Jêsus trên đường Đamách khi ông bắt bớ hội thánh Cơ Đốc. Chúa Jêsus đã phán cùng ông rằng: ‘Hỡi Saulơ, Saulơ, sao ngươi bắt bớ ta ?’ (Cong Cv 9:4). Trước kia Phaolô chưa hề gặp Chúa Jêsus, vì vậy ông hẳn phải hiểu rằng Chúa Jêsus đang muốn nói khi bắt bớ các Cơ Đốc Nhân là ông đang bắt bớ chính mình Chúa Jêsus. Ắt hẳn rằng từ cuộc đối đầu đó Phaolô đã nhận ra rằng hội thánh chính là thân thể của Đấng Christ. Nhà cải chánh của thế kỷ thứ mười sáu, Calvin đã viết rằng ‘Ngài gọi hội thánh là Christ’. Những Cơ Đốc Nhân như chúng ta chính là Christ đối với thế gian nầy, như một bài thánh ca cổ hát rằng:
Ngài không có tay nào ngoài bàn tay của chúng ta Để làm công việc Ngài ngày nay; Ngài chẳng có đôi chân nào ngoài đôi chân chúng ta Để dẫn dắt con người vào đường lối Ngài; Ngài không có tiếng nói nào ngoài tiếng nói chúng ta Để nói cho con người biết Ngài đã chết thế nào; Ngài không có sự giúp đỡ nào ngoài sự giúp đỡ của chúng ta Để dẫn họ đến bên Ngài.
Phaolô triển khai sự so sánh ấy trong I Côrinhtô đoạn 12. Thân thể là một đơn vị (câu 12), song thân thể không có các chi thể y hệt như nhau. ‘Các chi thể của thân thì khác nhau như tay với tai. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy con người của thế giới này giống nhau đến mức đơn điệu khi đem ví sánh họ với sự đa dạng hầu như tuyệt vời của các thánh đồ. Sự vâng lời là con đường dẫn đến sự tự do, khiêm nhường là đường dẫn đến sự dễ chịu, hiệp một là đường dẫn đến nhân cách’. 56 Có ‘nhiều chi thể’ và các chi thể đều khác nhau với ‘các sự ban cho khác nhau’ và ‘các việc làm khác nhau’ (câu 4-6).
Vậy thì chúng ta phải có thái độ thế nào đối với các chi thể khác trong thân thể Chúa?
Phaolô bàn đến hai thái độ sai lầm. Trước hết ông nói với những người thấy mình kém cõi và những người cảm thấy mình không có gì để cống hiến cả. Ví dụ, Phaolô nói, chân có thể cảm thấy mình thấp kém hơn là tay, hay là tai cảm thấy mình không bằng mắt (14-19). Chrysostom, rao giảng lời Chúa vào thế kỷ thứ tư, đã đưa ra một ý kiến bổ ích khi ông bảo ‘Chúng ta có khuynh hướng ghen tÿ’.
Rất dễ để nhìn quanh hội thánh và cảm thấy mình thấp kém và vì thế cảm thấy không ai cần đến mình cả. Hậu quả là chúng ta chẳng muốn làm gì cả. Nhưng thật ra hết thảy chúng ta đều cần đến nhau. Đức Chúa Trời đã ban ‘các ơn’ cho mỗi một người (câu 7). Cụm từ ‘mỗi một người’ được lập đi lập lại suốt trong đoạn 12 như một mạch ý tưởng chung. Mỗi người đều có ít nhất một ân tứ tuyệt đối cần thiết cho việc vận hành các chức năng thích đáng của thân thể. Nếu mỗi người trong chúng ta không giữ vai trò mà Chúa đã chỉ định cho mình, thì hội thánh sẽ không thể nào vận hành đúng như chức năng của hội thánh. Trong những câu tiếp theo, Phaolô quay sang những người cho mình là cao trọng hơn (câu 21-25) và nói với người khác ‘Tôi không cần đến các anh’. Một lần nữa Phaolô chỉ rõ sự sai lầm của ý tưởng đó. Một thân thể không có đôi chân thì không thể hiệu năng được (câu 21). Thường những chi thể không ai thấy thậm chí còn quan trọng hơn những chi thể có vẻ cao trọng hơn.
Thái độ thích đáng là nhận biết hết thảy chúng ta đều ở trong cùng một thân thể. Chúng ta đều là chi thể của một thân. Mỗi chi thể đều ảnh hưởng đến toàn thân. Từ thời triết gia Plato trở đi, từ ngữ ‘Tôi’ đã trở thành một cá nhân đem lại sự hiệp nhất cho thân thể. Chúng ta không nói: ‘Cái đầu của tôi có một chỗ đau’, mà nói ‘tôi bị đau đầu’. Trong thân thể Đấng Christ cũng vậy ‘Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng’ (câu 26).
Mỗi Cơ Đốc Nhân đều là một chi thể của hội thánh Chúa. Lần nọ John Wimber được tiếp xúc với một người trong hội thánh, ông nầy đã gặp một người ở trong cảnh khó khăn. Sau buổi nhóm sáng Chúa nhật người đàn ông nầy nói với John Wimber về sự thất vọng của mình khi cố gắng giúp đỡ người kia. Ông nói: ‘Người ấy cần một chỗ để ở, cần thức ăn và sự trợ giúp trong khi tiếp tục xoay xở và tìm một việc làm. Tôi thật sự nản chí. Tôi đã cố gọi điện thoại đến văn phòng hội thánh, nhưng chẳng có ai có thể gặp tôi và họ cũng không giúp tôi được. Cuối cùng tôi đành thôi nhờ vả bằng cách đưa ông ta đến sống với tôi trong một tuần lễ! Theo ông, hội thánh phải lo cho những người như thế chứ? John Wimber kể lại rằng ông đã suy nghĩ một hồi rồi trả lời ‘Như vậy cũng giống như là hội thánh đã làm rồi đó’.
Như chúng ta đã thấy ở Chương 8, vấn đề của hội thánh hiện nay là nhiều năm qua, theo các truyền thống khác nhau của chúng ta, sự tập trung vẫn cứ nhắm vào bục giảng hoặc là bàn thờ. Trong cả hai tình huống đó vai trò thống trị là do các mục sư hoặc truyền đạo nắm giữ. Như Michael Green đã nhận xét về sự lan tràn kỳ diệu của các hội thánh Ngũ Tuần tại Nam Phi, ‘Điều đó do nhiều nguyên nhân, nhưng các hội thánh Ngũ Tuần ấy do các tín hữu điều hành không phải là chuyện nhỏ.’57
Một đền thờ thánh
Ngôi nhà hội thánh duy nhất mà Tân Ước nói đến là ngôi nhà làm bằng con người. Phaolô nói rằng những Cơ Đốc Nhân đều ‘Được dự phần (được xây) vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh’ (Eph Ep 2:22). Chúa Jêsus là viên đá gốc. Ngài là Đấng đã lập hội thánh và hội thánh được xây lên chung quanh Ngài. Nền nhà là ‘các sứ đồ và các tiên tri và vì vậy mà đền thờ thánh được làm bởi những viên đá sống’.
Trong thời Cựu Ước, đền tạm (mà sau nầy là đền thờ) là trung tâm trong sự thờ phượng của người Ysơraên. Đó là nơi để dân sự đến ra mắt Đức Chúa Trời. Có nhiều lúc sự hiện diện của Ngài đã đầy dẫy đền thờ (I Các Vua 8:11;) đặc biệt là nơi Chí Thánh. Vào ra trong sự hiện diện của Ngài là điều bị hạn chế một cách nghiêm nhặt (xem Hêbơrơ 9).
Qua sự chết của Ngài trên thập tự giá vì cớ chúng ta, Chúa Jêsus đã mở một con đường cho mọi kẻ tin ở mọi thời điểm đến được với Đức Chúa Cha. Sự hiện diện của Ngài không còn bị giới hạn trong một đền thờ vật chất; bởi Thánh Linh Ngài, hiện nay Ngài đang ở với hết thảy những người tin Ngài. Sự hiện diện của Ngài được nhận biết một cách đặc biệt khi các Cơ Đốc Nhân nhóm nhau lại (Mat Mt 18:20). Đền thờ mới của Ngài chính là hội thánh, đó là nhà ở của Đức Chúa Trời trong Đức Thánh Linh’.
Dưới Giao Ước Cũ (trước Chúa Jêsus), việc ra mắt Chúa phải thông qua một thầy tế lễ (từ ngữ Hy lạp là hiereus - Hêbơrơ 4:14;), là người thay mặt kẻ tin để dâng các của lễ. Bây giờ Chúa Jêsus, thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta (hiereus ) đã dâng một của lễ hoàn hảo bằng chính sinh mạng của Ngài thay cho chúng ta. Hiện nay không cần dâng thêm của lễ nào nữa và cũng không cần có thêm thầy tế lễ nào nữa. Một lần duy nhất nữa từ ngữ hiereus xuất hiện trong Tân Ước được dùng để ám chỉ tất cả các Cơ Đốc Nhân với tư cách ‘thầy tế lễ nhà vua’ (IPhi 1Pr 2:9). Đó là điều các nhà Cải Chánh gọi là ‘địa vị tế lễ của hết thảy các tín đồ’. Mọi Cơ Đốc Nhân đều là những thầy tế lễ với ý nghĩa hết thảy chúng ta đều có quyền đến gần Đức Chúa Trời, chúng ta hết thảy đều có thể đại diện cho con người đến với Đức Chúa Trời khi chúng ta cầu thay cho người khác, và hết thảy chúng ta đều có thể thay mặt Chúa đến với loài người khi chúng ta đi vào thế gian rao giảng Tin lành.
Từ ngữ ‘thầy tế lễ’ (priest) còn có một ý nghĩa nữa. Từ tiếng Anh trưởng lão ‘presbyter’ (tiếng Hy lạp là presbuteros ), có nghĩa là ‘trưởng lão’ đã trở thành ‘préost’ (trưởng lão) trong tiếng Anh cổ và từ ngữ ‘priest’ nầy. Linh mục, mục sư, theo ý nghĩa nầy, không phải là người dâng sinh tế như trong thời Cựu Ước, mà là một vị lãnh đạo trong hội thánh. Ngày nay vẫn còn có các thầy tế lễ (presbuteroi ). Mỗi Cơ Đốc Nhân đều là một thầy tế lễ (trong ý nghĩa của từ hiereus ) và mỗi một thầy tế lễ (presbuteros ) đều là một tín đồ với hàm ý rằng người ấy và hết thảy chúng ta đều là một phần của dân sự Chúa.
Ngày nay không còn cần các thầy tế lễ dâng sinh tế nữa bởi vì không cần phải có thêm sinh tế nữa. Chúa Jêsus ‘đã hiện ra chỉ một lần hiện nay đến cuối cùng các thời đại, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi’ (HeDt 9:26). Chúng ta không cần dâng thêm các sinh tế chuộc tội cho mình nữa; thật sự là chúng ta không thể dâng. Song chúng ta cần phải luôn nhớ đến sự hy sinh của Ngài vì cớ chúng ta. Trong buổi lễ Tiệc Thánh hay đôi khi còn được gọi là ‘Bữa ăn Tối của Chúa’ hay là ‘Lễ ban Thánh Thể’, chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh của Ngài với sự cảm tạ và dự phần những ân huệ của thánh lễ ấy.
Khi chúng ta nhận bánh và chén của chúng ta hãy tham dự theo bốn chỉ dẫn sau:
Chúng ta nhớ về quá khứ với lòng cảm tạ
Bánh và chén nhắc chúng ta nhớ đến thân thể bị tan vỡ và huyết báu của Chúa Jêsus đã bị đổ ra trên thập tự giá. Khi nhận lễ Tiệc Thánh chúng ta nhớ đến thập tự giá với lòng biết ơn vì Ngài đã chết cho chúng ta hầu cho tội lỗi chúng ta được tha thứ và mặc cảm tội lỗi của chúng ta được cất bỏ (Mat Mt 26:26-28).
Chúng ta hướng về phía trước với sự nếm trước
Chúa Jêsus có thể truyền lại một phương cách khác để chúng ta tưởng nhớ sự chết của Ngài, song Ngài đã chọn để lại cho chúng ta một bữa ăn. Bữa ăn thường là cách chúng ta kỷ niệm các dịp quan trọng. Một ngày kia, tại nơi thiên đàng chúng ta sẽ ăn mừng ‘tiệc cưới’ của Chúa Cứu Thế Jêsus trong cõi đời đời (KhKh 19:9). Bánh và chén là tiên vị (nếm trước) của tiệc cưới đó (LuLc 22:16; I Côrinhtô 11:26;0.
Chúng ta nhìn ra chung quanh gia đình Cơ Đốc
Việc uống chung trong một chén và dùng chung một ổ bánh tượng trưng cho sự hiệp một của chúng ta trong Chúa Cứu Thế ‘Vì chỉ có một cái bánh, chúng ta dầu nhiều, cũng chỉ một thân thể, bởi chưng chúng ta đều có phần chung trong một cái bánh’ (ICo1Cr 10:17). Đó là lý do vì sao chúng ta không nhận bánh và chén riêng một mình. Cùng ăn chung và uống chung theo cách nầy không những nhắc chúng ta nhớ đến sự hiệp một của chúng ta, mà còn làm vững mạnh sự hiệp một đó khi chúng ta nhìn vào các anh em, chị em mình, mỗi người, đều đã được Chúa Cứu Thế chết thay.
Chúng ta nhìn lên với sự trông đợi
Bánh và nước nho tượng trưng cho thân và huyết của Chúa Jêsus . Chúa Jêsus hứa sẽ ở với chúng ta qua Thánh Linh Ngài sau khi Ngài chịu chết, và đặc biệt là bất cứ khi nào các Cơ Đốc Nhân nhóm lại với nhau: ‘Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ’ (Mat Mt 18:20). Vì vậy khi nhận Tiệc Thánh, chúng ta nhìn lên Chúa Jêsus với sự trông đợi. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, chúng tôi đã khám phá rằng trong những dịp như thế, đôi khi có sự biến cải, sự chữa lành và những sự gặp gỡ thình lình đầy quyền năng với sự hiện diện của Chúa Cứu Thế.
Cô dâu của Chúa Cứu Thế
Đây là một trong những sự so sánh đẹp đẽ nhất về hội thánh trong thời Tân Ước. Khi nói đến mối quan hệ giữa vợ và chồng, Phaolô nói: ‘Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và hội thánh vậy’ (Eph Ep 5:32). Cũng giống như Cựu Ước nói về việc Đức Chúa Trời là chồng của Ysơraên (EsIs 54:1-8) trong Tân Ước, Phaolô nói về Chúa Cứu Thế là chồng của hội thánh và là gương mẫu của mọi mối quan hệ hôn nhân loài người. Vì vậy ông bảo những người chồng hãy yêu vợ mình ‘Cũng như Đấng Christ đã yêu hội thánh và phó chính mình Ngài vì hội thánh, để khiến hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho hội được tinh sạch, đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch, không chỗ trách được ở trước mặt Ngài’ (Eph Ep 5:25-27).
Hình ảnh về hội thánh vinh hiển và thánh khiết có lẽ không hoàn toàn phù hợp với tình hình hội thánh ngày nay, song ở đây chúng ta có được một cái nhìn chung về điều Chúa Jêsus định cho hội thánh của Ngài. Một ngày kia Chúa Jêsus sẽ trở lại trong vinh hiển. Giăng có một khải tượng về hội thánh. Ông chép trong sách Khải huyền ‘Giêrusalem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình’ (KhKh 21:2). Ngày nay hội thánh nhỏ bé và yếu đuối. Một ngày kia chúng ta sẽ thấy hội thánh như Chúa Jêsus đã dự định. Trong lúc ấy, chúng ta phải cố gắng đưa ra những kinh nghiệm của mình càng gần với khải tượng của Tân Ước càng tốt.
Đáp ứng của chúng ta trước tình yêu Chúa Cứu Thế dành cho chúng ta phải là một tình yêu đối với Ngài. Cách chúng ta bày tỏ tình yêu đối với Ngài là bằng cách sống trong sự thánh khiết và trong sạch, làm một cô dâu xứng đáng với Ngài và hoàn thành mục tiêu Ngài dành cho chúng ta. Đó là ý định của Ngài dành cho chúng ta. Đó là cách các mục tiêu của Ngài dành cho chúng ta sẽ được hoàn thành. Chúng ta phải được thay đổi và làm nên đẹp đẽ cho đến khi xứng hợp với địa vị cô dâu của Ngài.
Hơn nữa, mục đích của Ngài dành cho hội thánh là chúng ta ‘rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài’ (IPhi 1Pr 2:9). Việc rao giảng nhơn đức của Ngài bao gồm cả sự thờ phượng và sự làm chứng. Sự thờ phượng của chúng ta là cách bày tỏ tình yêu và lòng tôn kính của chúng ta đối với Chúa bằng cả con người của mình, tấm lòng, tâm trí và thân thể. Đó là mục đích để vì đó chúng ta được dựng nên. Như câu hỏi vấn đáp về giáo lý Westminster đã ghi: ‘Mục đích chính của con người là để làm sáng danh Chúa và vui hưởng Ngài mãi mãi’.
Sự làm chứng của chúng ta là cách đáp ứng bằng tình yêu thương của chúng ta đối với người khác. Ngài đã kêu gọi chúng ta rao Tin lành và đưa dắt người khác đến với hội thánh Ngài, tức là rao giảng những công việc kỳ diệu của Ngài cho những người chung quanh chúng ta. Trong cả sự thờ phượng lẫn việc làm chứng của mình, chúng ta cần tìm một sự diễn đạt phù hợp với thời đại mình sống để làm sáng tỏ những lẽ thật đời đời. Đức Chúa Trời không thay đổi, và phúc âm cũng không thay đổi. Chúng ta không thể thay đổi giáo lý hoặc sứ điệp chỉ với mục đích cho phù hợp với những thời trang chóng qua. Nhưng cách chúng ta thờ phượng Chúa và cách chúng ta truyền đạt Tin lành phải tạo được tiếng vang cho những người nam và người nữ hiện thời.
Nếu hội thánh gần hơn với những hình ảnh trong Tân Ước, thì các buổi nhóm của hội thánh đã không buồn tẻ và nhàm chán. Thật thế, các buổi nhóm hẳn phải rất thú vị và nhiều khi cũng được như vậy. hội thánh được tạo thành bởi những người thuộc về Đức Chúa Trời, là những người được ràng buộc lại với nhau bởi tình thương như một gia đình, đại diện cho Chúa Cứu Thế trên trần gian nầy với sự hiện diện của Ngài ở giữa họ và tình yêu đối với Chúa mình như một cô dâu chú rễ, và được Ngài yêu mến như một cô dâu được chú rễ yêu quý. Thật là một nơi tuyệt vời, hội thánh phải là nơi gần như thiên đàng trên đất.
Một đôi vợ chồng trẻ mới trở lại đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế đã viết như vầy:
Chúng tôi đã đến với hội thánh được một năm và cảm thấy ở đó như ở nhà mình. Bầu không khí yêu thương, tình bạn, và niềm phấn khởi thật không thể tìm thấy được ở nơi nào khác. Niềm vui của nó vượt quá bất cứ một buổi tối nào ở quán rượu, tiệc tùng hoặc nhà hàng. Tôi thật buồn vì phải nói điều đó (dầu vậy tôi vẫn tiếp tục vui vẻ ở cả ba nơi đó). Cả hai chúng tôi đều thấy rằng buổi thờ phượng ngày Chúa nhật và buổi nhóm thứ tư là hai giờ cao điểm quan trọng trong tuần. Nhiều lúc, tôi có cảm giác như đó là những thời điểm mình phải trồi lên để thở, nhất là khi gần đến ngày thứ tư, là lúc dễ bị nhấn chìm trong các dòng nước sâu của công việc! Nếu thiếu đi một trong hai buổi nhóm thì chúng tôi cảm thấy như là ‘bị hụt hẫng’. Tất nhiên hai chúng tôi có thể giữ giờ cùng nhau trò chuyện với Chúa hoặc một mình mình với Chúa, song tôi cảm thấy việc cùng nhau nhóm lại như là ống gió để tiếp tục quạt cho ngọn lửa của đức tin chúng tôi bùng lên.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 17-12-2017 02:15 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách