nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2982|Trả lời: 0

Dẫn Nhập KT 3 - Dẫn nhập Sáng Thế ký

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 29-8-2011 14:17:55 | Xem tất |Chế độ đọc

Dẫn Nhập Knh Thánh 3

Dẫn nhập Sáng Thế ký

Nhan đề:
Nhóm từ thứ nhất trong bản văn Hi-bá-lai của SaSt 1:1 là bereshith (“ban đầu”) cũng là nhan đề của sách (các sách cổ thường được đặt tên theo một hay hai chữ đầu của sách). Nhan đề bằng Anh ngữ, Genesis, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, và đến từ chữ Geneseos, xuất hiện trong bản dịch tiếng Hy Lạp (bản LXX) của 2:4; 5:1. Theo liên văn, từ này nghĩa là “sự sinh ra”, “gia phả”, hoặc “lịch sử nguồn gốc”. Như vậy trong cả hình thức Hi-bá-lai lẫn Hi-văn, nhan đề “Sáng thế ký” mô tả cách thích hiệp nội dung của sách, vì chủ yếu là sách của những khởi đầu.
Bối cảnh:
Trong 38 chương đầu phản ánh rất nhiều điều chúng ta biết từ các nguồn khác về nếp sống và văn hóa Mê-sô-bô-ta-mi thuở xưa. Cuộc sáng tạo, các gia phả, trận hồng thủy hủy diệt, địa lý và việc hình thành bản đồ, kỹ thuật xây dựng, sự di trú của các dân tộc, mua bán đất đai, quan thuế và thủ tục pháp định, nghề chăn bầy và chăn nuôi gia súc, tất cả những chủ đề đó và nhiều đề tài khác là vấn đề quan tâm chủ yếu của các dân tộc vùng Mê-sô-bô-ta-mi thời bấy giờ. 38 đoạn đầu Sáng thế ký cũng liên quan đến những cá nhân, gia đình và các bộ lạc. Tác giả dường như định vị vườn Ê-đen, quê hương đầu tiên của loài người là ở trong hoặc gần xứ Mê-sô-bô-ta-mi, tháp Ba-bên được xây cất tại đó, Áp-ram sinh ra ở đó, Y-sác cưới vợ người xứ đó, và Gia-cốp cũng sống tại đó 20 năm. Dầu các tộc trưởng định cư tại xứ Palestine, nhưng quê hương nguyên thuỷ của họ vẫn là xứ Mê-sô-bô-ta-mi.
Nền văn học cổ nhất tương đương với 1:1-38:30 cũng đến từ xứ Mê-sô-bô-ta-mi. Enuma elish, câu chuyện thần Marduk dấy lên đến quyền tối cao trong Đền thờ Bách Thần Ba-by-lôn, trong một số phương diện (dầu hoàn toàn theo thần thoại và đa thần) cũng tương tự như cuộc sáng tạo trong 1:1-31. Vài nét đặc biệt của danh sách các vua từ Sumer rất giống với gia phả ghi trong 5:1-32. Bảng thứ 11 của thiên Anh hùng ca Gilgamesh hoàn toàn giống như trận Hồng thủy ghi trong 6:1-8:22. Nhiều biến cố quan trọng của 1:1-8:22 được thuật lại cùng thứ tự các sự việc tương tự trong thiên Anh hùng ca Atrahasis. Thật ra, thiên sử thi này cùng căn bản chủ đề sáng tạo - phản loạn - trận Hồng thủy như Thánh Kinh ghi chép. Các bảng đất sét mới tìm được tại vị trí cổ (chừng 2.500-2.300 TC) ở Ebla (hiện nay là Tell Mardikh), miền Bắc Sy-ri cũng có thể chứa đựng một số tình tiết tương đương.
Có hai bộ tài liệu quan trọng khác chứng minh sự phản ánh xứ Mê-sô-bô-ta-mi trong 38 chương đầu Sáng thế ký. Từ những bức thư Ma-ri, từ thời các tộc trưởng, chúng ta học biết tên các tộc trưởng (đặc biệt kể cả Áp-ram, Gia-cốp và Gióp) là tiêu biểu cho thời đó. Những thư cũng minh chứng sự tự do đi lại giữa những vùng khác nhau của thế giới A-mô-rít nơi các tộc trưởng cư ngụ. Những tấm bảng Nuzi, dầu muộn hơn thời kỳ tộc trưởng mấy thế kỷ, làm sáng tỏ những phong tục tập quán từ thời tộc trưởng trong nhiều thế kỷ, hầu như nguyên vẹn trải qua nhiều thế kỷ. Quyền thừa hưởng cơ nghiệp của người được thâu nhận vào gia đình hoặc nô lệ (xem 15:1-4), bổn phận của một người vợ son sẻ là cung cấp cho chồng một con trai qua một đầy tớ gái (16:2-4), sự chỉ trích chống lại việc đuổi đầy tớ gái và con trai nàng (xem 21:10-11), thẩm quyền của lời truyền khẩu trong luật pháp cổ vùng cận đông, như lời trối trước khi chết (27:1-4,22-23,33) - những điều này cùng các tập quán hợp pháp khác, các khế ước và điều khoản xã hội được minh họa sinh động trong các tài liệu xứ Mê-sô-bô-ta-mi
Như 1:1-38:30 có đặc tánh và bối cảnh người Mê-sô-bô-ta-mi, thì cũng vậy, 39:1-50:26 phản ánh ảnh hưởng Ai-cập - dầu không hoàn toàn trực tiếp như thế. Những ví dụ của ảnh hưởng đó là: việc trồng nho của người Ai-cập (40: 9-11), quang cảnh bờ sông (41:1-57), Ai-cập là vựa lúa của Ca-na-an 42:1-38), Ca-na-an là nguồn của vô số sản phẩm cho Ai-cập tiêu thụ (43:1-34). Tập quán xã hội và tôn giáo Ai-cập (ở phần cuối 43:1-34; 46:1-33), những thủ tục hành chánh Ai-cập (47:1-31), những tập tục an táng Ai-cập (50:1-26), nhiều từ ngữ và tên riêng theo tiếng Ai cập dùng trong các chương này. Nét tương đương văn học đặc biệt gần nhất với Ai-cập là “Truyện kể Hai Anh Em”, giống hệt như chuyện Giô-sép với Phô-ti-pha (39:1-23). Những chuyện tự thuật Ai-cập (như “Truyện Sinuhe” và “Báo cáo Wenamun”) và các huyền sử khác cống hiến nhiều nét tương đương văn học chung.
Trước giả và niên hiệu chép sách:
Về mặt lịch sử, người Do-thái và Cơ-đốc đồng chủ trương Môi-se là trước giả của năm sách đầu tiên trong Cựu Ước. Những sách này được gọi là Ngũ kinh (nghĩa là “sách năm quyển”) được nói đến trong truyền khẩu Do-thái giáo là năm phần luật pháp (của Môi-se). Chính Thánh Kinh gợi ý rằng Môi-se là trước giả Sáng thế ký, vì Cong Cv 15:1 viện dẫn lễ cắt bì như “tập quán do Môi-se dạy”, một ám chỉ đến SaSt 17:1-27. Tuy nhiên có vài sưu tập trễ hơn xuất hiện đã được chỉ ra (xem những chú thích ở 14:14; 36:31; 47:11).
Thời kỳ lịch sử mà Môi-se sống dường như sách IVua định khá chính xác. Chúng ta được biết “năm thứ tư đời trị vì của Sa-lô-môn trên Y-sơ-ra-ên” là “năm thứ 480 sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập” (IVua 1V 6:1). Vì Sa-lô-môn trị vì khoảng 966 TC và như vậy niên hiệu của xuất Ai-cập - là khoảng 1.446 (đoán định rằng 480 năm trong IVua 1V 6:1 là tính theo nghĩa đen, xem lời giới thiệu sách Các Quan xét: Bối cảnh). Thời kỳ 40 năm Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong đồng vắng, trễ nhất là từ 1.446 đến 1.406, rất có thể là thời gian Môi-se soạn bộ sách ngày nay gọi là Ngũ kinh.
Trong hai thế kỷ sau cùng nhiều học giả nhìn nhận đã tìm thấy trong Ngũ kinh 4 nguồn cơ bản: Những tài liệu được cho là có từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 5 TC gọi là J (tức Jahweh/Yahweh, danh xưng riêng của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước), “E” (tức là Ê-lô-him, danh xưng chung của Đức Chúa Trời), D (tức Deuteronomic, thuộc Phục Truyền Luật Lệ Ký), và P (tức Priestly, thuộc thầy tế lễ). Mỗi tài liệu đều có những đặc tính và thần học riêng, và thường mâu thuẫn với các tài liệu kia. Như vậy, Ngũ kinh Môi-se được mô tả như những truyện, những thi ca và luật lệ chắp vá. Tuy nhiên, quan điểm này không có bằng cớ kết luận và sự tìm kiếm sâu rộng về văn học cũng như khảo cổ đã hướng tới việc cắt bỏ nhiều lý lẽ dùng thách thức quyền trước tác của Môi-se.
Chủ đề và sứ điệp:
Sáng thế ký luận về những sự khởi đầu. Khởi đầu của các từng trời và đất, sự sáng và sự tối, các từng trời và biển cả, đất đai và cây cỏ, mặt trời mặt trăng và các ngôi sao, những cá biển, chim trời và động vật trên đất, và loài người (dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời , tuyệt đỉnh của hoạt động sáng tạo), tội lỗi và sự cứu chuộc, phước lành và rủa sả, xã hội và văn minh, hôn nhân và gia đình, nghệ thuật, tài khéo và công nghệ. Bản liệt kê có thể cứ tiếp tục. Chữ chìa khoá Sáng thế ký là “chuyện, gốc tích, dòng dõi” dùng để chia sách ra làm 10 phần lớn (xem Nét Đặc Biệt và Bố Cục Văn Học), và bao gồm những quan điểm như sự sinh ra, gia phả và lịch sử.
Sách Sáng thế ký là nền tảng cho sự thông hiểu phần còn lại của Thánh Kinh. Sứ điệp của sách thật phong phú và phức tạp, liệt kê những yếu tố chính và phác họa đại cương sứ điệp toàn bộ Thánh Kinh. Quan trọng hơn cả là sách của những mối quan hệ, quan hệ nổi bật giữa Đức Chúa Trời và thiên nhiên, Đức Chúa Trời và loài người, và người với người. Suốt cả sách là thuyết độc thần, thừa nhận rằng chỉ có một Đức Chúa Trời với Danh Xưng xứng đáng, chống lại tất cả những ý niệm về đa thần hoặc vô thần, hoặc vạn vật hữu thần (Pantheism, thuyết phiếm thần). Sáng thế ký dạy rõ rằng một Chân Thần tối cao hơn cả vạn vật hiện hữu tức toàn bộ cuộc sáng tạo của Ngài, và bởi sự lựa chọn thiên thượng Chúa thường vận dụng tự do vô hạn của Ngài để lật đổ những tập quán truyền khẩu, và kế hoạch của loài người. Sách giới thiệu cho chúng ta đường lối Đức Chúa Trời khởi xướng và thiết lập các giao ước với tuyển dân Ngài, cam kết tỏ tình thương và thành tín của Ngài với họ, kêu gọi họ hứa nguyện kính mến và trung thành với Ngài. Sách thiết lập sinh tế như là sự thay thế mạng đền mạng (SaSt 22:1-24). Sách cho chúng ta gợi ý đầu tiên về việc Đức Chúa Trời chuẩn bị cứu chuộc chúng ta khỏi quyền lực của Ma quỉ (so 3:15 với RoRm 16:17-20) và bao hàm định nghĩa đức tin đầy đủ và sâu nhiệm nhất (SaSt 15:6). Hơn phân nửa HeDt 11:1-40 - danh sách các anh hùng đức tin mà Tân Ước nói đến - là các nhân vật trong Sáng thế ký.
Những nét văn học đặc sắc:
Sứ điệp sách thường được đề cao bởi cấu trúc và những đặc sắc văn học. Sáng thế ký được chia làm 10 phần chính. Mỗi phần khởi sự với từ “chuyện, gốc tích” (xem SaSt 2:4; 5:1; 6:9; 10:1; 11:10; 11:27; 25:12; 25:19;36:1 - được lặp lại để nhấn mạnh ở 36:9 - và 37:2). Năm phần đầu có thể gom chung lại và với lời giới thiệu sách như một tổng thể (1:1-2:3), có thể gọi cách thích hợp là “lịch sử ban đầu” (1:1-11:26), phác họa thời kỳ từ A-đam đến Áp-ra-ham. Năm phần sau kết hợp lại làm một câu chuyện dài hơn (nhưng cũng hiệp nhất như các phần đầu), thuật lại câu chuyện Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, và Giô-sép cùng gia đình họ - một phần thường gọi là “lịch sử các tổ phụ” (11:27-50:26). Phần này lần lượt gồm ba chu kỳ ký-thuật (Áp-ra-ham - Y-sác, 11:27-25:11; Y-sác - Gia-cốp, 25:19-35:29; 37:1; Gia-cốp - Giô-sép, 37:2-50:26), rải rác có những gia phả của Ích-ma-ên (25:12-28) và Ê-sau (36:1-43).
Câu chuyện thường tập trung vào đời sống của con thứ thay vì con trưởng: Sết hơn là Ca-in, Sem hơn là Gia-phết, Y-sác hơn là Ích-ma-ên, Gia-cốp hơn là Ê-sau, Giu-đa và Giô-sép hơn là các anh của họ, Ép-ra-im hơn là Ma-na-se. Sự nhấn mạnh như vậy trên những người và gia đình được Chúa chọn có lẽ là thần học và văn học nói rõ ràng nhất của toàn bộ Sáng thế ký, sách nhấn mạnh thật sự dân Chúa không phải là sản phẩm của những phát triển tự nhiên của con người, bèn là kết quả của sự can thiệp tối cao đầy ân huệ vào lịch sử nhân loại. Chúa đem một chủng tộc mới biệt riêng cho chính Ngài ra khỏi dòng giống sa đoạ, được gọi và dự định trở nên dân của vưong quốc Ngài và làm nguồn phước cho cả thế giới.
Những con số có ý nghĩa hình bóng cũng đầy dẫy trong Sáng thế ký. Ngoài số 10 phần được chia ra, số 10 cũng là số tên xuất hiện trong các gia-phả ở đoạn 5 và 11 (xem ghi chú ở 5:5. Số 7 cũng thường xuất hiện. Nguyên bản tiếng Hê-bơ-rơ của 1:1 gồm đúng 7 chữ, và 1:2 đúng 14 chữ (2x7). Có bảy ngày sáng tạo, 7 tên trong gia phả của chương 4 (xem ghi chú ở 4:17-18; cũng xem 4:15,24; 5:31), các số 7 khác ở trong truyện hồng thủy, 70 hậu tự của các con Nô-ê (10:1-32), lời Chúa hứa cho Áp-ram gồm 7 phần (12:2-3), 7 năm được mùa và 7 năm đói kém tại Ai-cập ( 41:1-57), và 70 hậu tự của Gia-cốp (46:1-34). Những con số ý nghĩa khác như 12 và 40, cũng thường được dùng như thế.
Sách Sáng thế ký cơ bản là văn xuôi, ngắt quãng đây đó bằng những vần thơ ngắn (bài dài nhất được gọi là “Lời chúc phước của Gia-cốp” trong 49:2-27). Phần lớn văn xuôi có phẩm chất trữ tình và dùng đủ mọi hình thái tu từ và các đề-từ khác biểu thị đặc điểm thiên anh hùng ca đẹp nhất thế giới. Nét song song hàng dọc và hàng ngang giữa hai nhóm ba ngày trong cuộc sáng tạo (xem ghi chú 1:11), sự suy bại và lan tràn tội lỗi cũng như sự đoán phạt ở 3:1-24 (rắn và người nữ cùng người nam kế tiếp nhau phạm tội. Kế đó, Đức Chúa Trời chất vấn họ theo thứ tự ngược lại, rồi Chúa đoán phạt họ theo trật tự nguyên thủy). Sự đồng điệu đầy uy quyền của nhóm từ: “rồi qua đời” ở cuối những phân đoạn trong 5:1-32; hiệu quả của câu “nhưng Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê” (8:1) ở giữa chừng trận hồng thủy, câu chuyện xây dựng dã tràng của Tháp Ba-bên trong 11:1-9 (tường thuật trong câu 1-2, 8-9; nghị luận trong câu 3-4, 6-7; câu 5 là hành động chuyển tiếp). Việc chơi chữ đáng sợ trong 40:19 (xem 40:13), sự xen kẽ giữa những mẫu chuyện ngắn về các con trai đầu lòng và những chuyện dài về các con trai thứ - những câu này và nhiều đề-từ văn học khác thêm sự thích thú cho câu chuyện và cung ứng những dấu hiệu giải thích mà các đọc giả nên chú ý nhiều hơn.
Nhiều đề tài và chủ đề của ba chương đầu Sáng thế ký phản ánh ba chương cuối của sách Khải thị không phải trùng hợp ngẫu nhiên. Chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên về ảnh hưởng quan phòng của chính Chúa, là Đấng bảo đảm với chúng ta “cả Thánh Kinh đều được Đức Chúa Trời cảm ứng” (IITi 2Tm 3:16) và “chính Thánh Linh đã cảm ứng họ nói ra lời của Đức Chúa Trời ” (IIPhi 2Pr 1:21).
Bố cục:
Bố cục văn học:
I. Giới thiệu (SaSt 1:1-2:3)
II. Thân sách (2:4-50:26)
A. Gốc tích trời và đất (2:4-4:26)
B. Dòng dõi của A-đam (5:1-6:8)
C. Dòng dõi của Nô-ê (6:9-9:29)
D. Dòng dõi của Sem, Cham và Gia-phết (10:1-11:9)
E. Dòng dõi của Sem (11:10-26)
F. Dòng dõi của Tha-rê (11:27-25:11)
G. Dòng dõi của Ích-ma-ên, con Áp-ra-ham (25:12-18)
H. Dòng dõi Y-sác, con Áp-ra-ham (25:19-35:29)
I. Dòng dõi của Ê-sau (36:1-37:1)
J. Dòng dõi của Gia-cốp (37:2-50:26)
Bố Cục Theo Chủ Đề:
I. Lịch sử ban đầu (1:1-11:26)
A. Cuộc sáng tạo (1:1-2:3)
1. Lời giới thiệu (1:1-2)
2. Phần chính (1:3-31)
3. Kết luận (2:1-3)
B. A-đam và Ê va trong vườn Ê-đen (2:4-25)
C. Sự sa ngã và những hậu quả của nó (3:1-24)
D. Sự “phát triển” nhanh chóng của tội lỗi (4:1-16)
E. Hai dòng dõi (4:17-5:32)
1. Dòng dõi của kiêu ngạo (4:17-24)
2. Dòng dõi của sự chết (4:25-5:32)
F. Sự lan rộng của tội trước nước lụt (6:1-8)
G. Đại hồng thủy (6:9-9:29)
1. Chuẩn bị cho nước lụt (6:9-7:10)
2. Sự phán xét và sự cứu chuộc (7:11-8:19)
a. Nước dâng lên (7:11-24)
b. Nước rút xuống (8:1-19)
3. Hậu quả của nước lụt (8:20-9:29)
a. Lời hứa mới (8:20-22)
b. Những sắc lịnh mới (9:1-7)
c. Mối liên hệ mới (9:8-17)
d. Sự cám dỗ mới (9:18-23)
e. Lời sau cùng (9:24-29)
H. Sự lan rộng của các quốc gia (10:1-11:26)
1. Sự tản mác của các quốc gia (10:1-32)
2. Sự lộn xộn tiếng nói (11:1-9)
3. Dòng dõi thứ nhất của Sem (11:10-26)
II. Lịch sử các tổ phụ (11:27-50:26)
A. Đời sống Áp-ra-ham (11:27-25:11)
1. Bối cảnh của Áp-ra-ham ([dc 11:27-32;)
[mtc 2. Đất của Áp-ra-ham (12:1-14:24)
3. Dân tộc của Áp-ra-ham (15:1-24:67)
4. Những ngày cuối đời của Áp-ra-ham (25:1-11)
B. Dòng dõi của Ích-ma-ên (25:12-18)
C. Cuộc đời của Gia-cốp (25:19-35:29)
1. Gia-cốp tại quê hương (25:19-27:46)
2. Gia-cốp tha hương (28:1-30:43)
3. Gia-cốp hồi hương (31:1-35:29)
D. Dòng dõi của Ê-sau (36:1-37:1)
E. Cuộc đời của Giô-sép (37:2-50:26)
1. Sự nghiệp của Giô-sép (37:2-41:57)
2. Sự di cư của Gia-cốp (42:1-47:31)
3. Những ngày cuối của Gia-cốp (48:1-50:14)
4. Những ngày cuối của Giô-sép (50:15-26)




† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 20-1-2018 05:22 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách