† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2121|Trả lời: 0

Dẫn Nhập KT 3 - Dẫn nhập Dân số ký

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 29-8-2011 14:19:48 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Dẫn Nhập Knh Thánh 3

Dẫn nhập Dân số ký

Nhan đề:
Tên tiếng Anh của sách đến từ bản LXX (bản dịch Cựu Ước ra tiếng Hy Lạp) và được căn cứ trên các bản liệt kê kiểm tra dân số trong các Dan Ds 1:1-54 và 26:1-65. Nhan đề sách bằng tiếng Hê-bơ-rơ (bemidbar, “trong đồng vắng”) mô tả nội dung của sách nhiều hơn. Dân số ký trình bày câu chuyện dân Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong đồng hoang 38 năm sau khi thiết lập giao ước Si-nai (so sánh 1:1 với PhuDnl 1:1).
Trước giả và niên đại:
Theo truyền thuyết sách được Môi-se chép. Kết luận này căn cứ trên (1) Những lời phát biểu về hoạt động viết sách của Môi-se (thí dụ, Dan Ds 33:1-2; XuXh 17:14; 24:4; 34:27) và (2) Sự thừa nhận năm sách đầu tiên của Thánh Kinh (Ngũ kinh) là một và do một trước giả. Xem Phần giới thiệu Sáng thế ký: Trước giả và Niên đại Chép sách.
Tuy nhiên không cần phải nhận rằng: toàn bộ Dân số ký do chính tay Môi-se viết, và trong hình thức cuối cùng. Có các phần của sách có lẽ đã được thêm vào bởi các viên ký lục và các chủ biên vào những thời kỳ sau này của lịch sử Y-sơ-ra-ên. Thí dụ, sự long trọng xác nhận tánh khiêm hòa của Môi-se (Dan Ds 12:3) thật khó thuyết phục nếu đến từ chính miệng Môi-se. Nhưng dường như hợp lý để chắc chắn rằng Môi-se đã viết nội dung chính yếu của sách.
Nội dung:
Dân số ký thuật lại câu chuyện hành trình của Y-sơ-ra-ên từ núi Si-nai đến những đồng bằng Mô-áp trên biên giới xứ Ca-na-an. Phần lớn sự ban hành luật pháp cho dân chúng và thầy tế lễ đều tương tự như trong Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi-ký và Phục truyền luật lệ ký. Sách nói về sự lằm bằm và phản loạn của dân Chúa và về sự đoán phạt theo sau đó. Những người mà Chúa đã cứu chuộc khỏi ách nô lệ xứ Ê-díp-tô và Chúa đã lập giao ước với họ tại núi Si-nai, đã không đáp ứng bằng đức tin, lòng biết ơn và thuận phục, nhưng bằng sự vô tín, vong ân và tái diễn những hành động loạn nghịch, đến mức đã biểu thị cực độ trong sự từ chối chinh phục xứ Ca-na-an (14:1-45). Cộng đồng người được chuộc để mất phần của họ trong Đất hứa. Họ bị phạt phải sống ngoài đồng hoang, chỉ con cháu họ được hưởng sự ứng nghiệm lời hứa mà nguyên là thuộc về họ (xem HeDt 3:7-4:11).
Sự dạy dỗ về thần học:
Trong khi thuật chuyện Y-sơ-ra-ên lang thang trong đồng hoang, Dân số ký cống hiến nhiều điều có ý nghĩa thần học. Trong năm đầu tiên, sau khi được phóng thích khỏi Ê-díp-tô, Y-sơ-ra-ên bước vào giao ước với Chúa tại Si-nai để làm dân thuộc vương quốc của Ngài. Chúa đóng vương trại Ngài ở giữa họ (Đền Tạm) - Đây là câu chuyện của Xuất Ê-díp-tô ký. Khi câu chuyện Dân số ký bắt đầu, Đức Giê-hô-va tổ chức Y-sơ-ra-ên thành một doanh trại quân đội. Rời Si-nai, Y-sơ-ra-ên tiến tới như một đạo quân chinh phục, với Đức Giê-hô-va đứng đầu, để lập vương quốc của Ngài trong Đất Hứa, giữa các dân tộc. Sách mô tả cách sinh động đặc tính của Y-sơ-ra-ên là dân giao ước được cứu chuộc của Chúa, và được gọi đến làm một dân phục vụ Đức Chúa Trời, đảm trách việc lập vương quốc Ngài trên đất. Mục đích của Đức Chúa Trời trong lịch sử được bày tỏ rõ rệt: để tràn chiếm phạm vi hoạt động của nhân loại sa ngã và thực hiện sự cứu chuộc tạo vật của Chúa - sứ mạng mà dân Ngài cũng phải hoàn toàn cam kết.
Dân số ký cũng trình bày cơn giận của Đức Chúa Trời nghịch lại dân không vâng phục của Chúa. Vì cớ sự loạn nghịch (đặc biệt là từ chối chinh phục xứ Ca-na-an), Y-sơ-ra-ên đã vi phạm giao ước. Sách thứ tư của Ngũ kinh trình bày một sự thật đúng mức: Đức Chúa Trời, Đấng đã lập giao ước với Áp-ra-ham (SaSt 15:1-21; 17:1-27), đã giải phóng dân Ngài khỏi ách nô lệ trong cuộc xuất hành khỏi Ê-díp-tô (XuXh 14:1-15:27), đã đem Y-sơ-ra-ên vào giao ước với chính Ngài làm “sở hữu qúi giá” thuộc riêng về Ngài (XuXh 19:1-22, đặc biệt 19:5), và đã bày tỏ sự thánh khiết của Ngài và phương pháp ân điển đến gần Ngài (LeLv 1:1-7:38), cũng là Đức Chúa Trời của sự thạnh nộ. Cơn giận của Chúa giáng trên những con lầm lạc cũng như trên các nước thù nghịch là Ê-díp-tô và Ca-na-an.
Thậm chí cả Môi-se, tiên tri và tôi tớ quan trọng của Chúa cũng không được miễn trừ khỏi cơn giận của Chúa khi ông bất tuân lời Ngài. Dan Ds 20:1-29 ghi chép lỗi lầm của ông, khởi sự với sự qua đời của Mi-ri-am (20:1) và kết thúc với sự qua đời của A-rôn (20:22-29). Đây là sự qua đi của những chiến sĩ kỳ cựu. Những người mà Chúa đã dùng lập quốc gia đang chết trước khi được gia nhập quốc gia đó.
Những thắc mắc nêu lên là: Đức Chúa Trời có hoàn toàn từ bỏ dân Ngài không (xem RoRm 11:1)? Những lời hứa của Chúa chỉ là việc của quá khứ rồi chăng? Tại một trong các phần Thánh Kinh đáng chú ý - câu chuyện Ba-la-am, nhà bói khoa ngoại giáo (Dan Ds 22:1-24:25) - có lời đáp rõ ràng. Đức Giê-hô-va đang hành động bằng đường lối thần hựu và trực tiếp, tuyên bố Chúa vẫn thành tín với mục đích của Ngài đối với dân của Ngài mặc dầu họ thất tín với Ngài.
Ba-la-am là câu trả lời của Mô-áp cho Môi-se, người của Đức Chúa Trời. Ba-la-am là vị tiên tri nổi tiếng trong thế giới xưa đã chia sẻ niềm tin ngoại giáo rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên giống như các thần khác có thể điều động bằng ma thuật hay phù phép. Nhưng từ đầu câu chuyện, khi Ba-la-am lần đầu tiên chạm trán với Đức Chúa Trời Chân thần trong các dị tượng, và trong chuyện hành trình trên lưng lừa (22:1-41), ông khởi sự học biết rằng đối phó với Đức Chúa Trời Chân thần hoàn toàn khác hẳn với những gì ông đã từng biết. Khi ông cố gắng rủa sả Y-sơ-ra-ên theo lời đốc thúc của Ba-lác, vua Mô-áp, Ba-la-am thấy miệng mình không thể thốt ra lời nguyền rủa mà người muốn công bố. Thay vào đó, từ môi miệng ông những phước lành đến trên Y-sơ-ra-ên và lời nguyền rủa đến trên kẻ thù của dân ấy (23:1-24:25).
Trong bảy lời sấm, Ba-la-am công bố Đức Chúa Trời ban phước lớn cho dân Ngài (xem 23:20). Dầu sự hưởng phước lành trực tiếp sẽ luôn luôn tùy thuộc vào sự trung tín của dân Ngài, nhưng sự thực hiện cơ bản phước lành của Đức Chúa Trời là chắc chắn - vì bản tánh của Đức Chúa Trời (xem 23:19). Như thế, Dân số ký tái xác quyết những mục đích đang tiến hành của Đức Chúa Trời. Mặc dầu Chúa đoán phạt dân phản loạn, Ngài vẫn quyết tâm đem Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa. Phước lành Chúa ban cho phần còn lại của Y-sơ-ra-ên dựa trên ý chỉ tối cao Ngài.
Sự dạy dỗ của sách là ý nghĩa sau cùng đối với dân Y-sơ-ra-ên và Hội thánh (so RoRm 15:4; ICo1Cr 10:6,11). Đức Chúa Trời bày tỏ cơn giận nghịch cùng dân sai lạc, nhưng ân điển của Ngài đã phục hồi chắc chắn như buổi đầu và mục đích cứu chuộc của Ngài sẽ không bị phá hỏng.
Vấn đề đặc biệt:
Những con số lớn người nhập ngũ trong đạo binh Y-sơ-ra-ên làm rối trí các họ giả hiện đại (xem thí dụ, những con số trong Dan Ds 1:46; 26:51). Những nam đinh họp lại để chiến trận đòi hỏi một tổng số dân trên 2 triệu người. Những con số như vậy thật quá lớn cho thời đó, cho nơi xảy ra sự việc, cho việc lang thang nơi đồng hoang và so sánh với dân cư trong Ca-na-an. Xem chú thích ở 3:43.
Có những khả năng khác nhau được gợi ý để giải quyết vấn đề. Có người nghĩ rằng các con số khi truyền lại đã sai lạc. Tuy nhiên, bản văn hiện nay không để lộ ra những khó khăn về những con số.
Một số người khác nghĩ rằng từ Hê-bơ-rơ dùng cho “ngàn” ở đây có thể có ý nghĩa khác với ý nghĩa thông thường của nó. Thí dụ, trong vài phân đoạn, chữ này là danh từ kỹ thuật dùng cho một hội đoàn người nam có thể hoặc xấp xỉ 1.000 (thí dụ, Gios Gs 22:14 “trưởng tộc của hàng ngàn” (chi họ gia tộc), ISa1Sm 23:23, “thị tộc”). Hơn nữa có người mặc nhận rằng từ Hê-bơ-rơ này có nghĩa là “trưởng tộc” (như trong SaSt 36:15). Bằng cách này con số 53.400 (Dan Ds 26:47) sẽ có nghĩa là “53 trưởng tộc cộng với 400 người”. Theo phương thức đó sẽ dẫn đến một tổng số giảm sút rất nhiều, nhưng nó cũng không ăn khớp với sự kiện là bản văn Hê-bơ-rơ thêm “hàng ngàn” cũng như cách thêm “hàng trăm” cho một tổng số lớn. Lại nữa, điều này sẽ làm cho sự cân đối các trưởng tộc với những nam đinh chiến đấu trở thành đầu nặng đuôi nhẹ (59 trưởng tộc cho 300 nam đinh trong chi phái Si-mê-ôn).
Một nhiệm ý khác là đọc từ Hê-bơ-rơ dùng cho “ngàn” với một nghĩa kép vừa là “trưởng tộc” vừa là “ngàn” với những trưởng tộc là một, trừ khỏi số đã được ghi nhận. Thí dụ, 46.500 trong chi phái Ru-bên (1:20), thì đọc là 45 trưởng tộc với 1.500 nam đinh chiến đấu. 59.300 thuộc chi phái Si-mê-ôn (1: 23) thì đọc là 58 trưởng tộc và 1.300 nam đinh chiến đấu v.v… Nhưng trong trường hợp này, cũng như trường hợp trên, những tổng số của 1:46 và 2:32 phải được coi là những kiến thức sai lầm (có lẽ bởi các ký lục đời sau).
Cũng còn một lối đề cập khác là coi các con số chỉ là số tượng trưng chớ không phải hoàn toàn theo toán học. Giá trị số mục của các chữ cái Hê-bơ-rơ trong thành ngữ bene yisra’el (“cộng đồng Y-sơ-ra-ên”, 1:2) là 603 ( số hàng ngàn người nam chiến đấu, 1:46), số còn lại là 550 (cộng 1 cho Môi-se) có thể đạt đến số tương đương với những chữ cái Hê-bơ-rơ trong thành ngữ “tức là mọi người nam trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được” (1:3). Lối dùng số biểu tượng này (gọi là “gematria”) không phải Thánh Kinh không biết tới (xem KhKh 13:18), nhưng không chắc đúng vậy trong Dân số ký, trong đó không hề có manh mối văn học nào chỉ về hướng đó.
Trong khi vấn đề con số lớn không thể giải quyết thỏa đáng, Thánh Kinh thật chỉ thẳng vào sự gia tăng đáng kể của dòng dõi Gia-cốp qua bốn thế kỷ kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô (xem XuXh 1:7-12). Với tất cả những khó khăn các con số này cũng chỉ đến vai trò quan trọng của thần hựu và những phép lạ Đức Chúa Trời tiếp xúc với dân Ngài trong khi họ lưu lạc trong đồng hoang (xem chú thích ở Dan Ds 1:46).
Cấu trúc và bố cục:
Sách có ba phần chính căn cứ vào những vị trí địa lý của Y-sơ-ra-ên. Mỗi phần lại có hai phần nhỏ, như chứng minh sau đây: (1) Y-sơ-ra-ên tại Si-nai, chuẩn bị khởi hành vào Đất Hứa (1:1-10:10), tiếp theo là cuộc hành trình từ Si-nai đến Ca-đe (10:11-12:16). (2) Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe, sự chậm trễ là kết quả của sự phản loạn (13:1-20:13), tiếp theo là cuộc hành trình từ Ca-đe đến các đồng bằng Mô-áp (20:14-22:1). (3) Y-sơ-ra-ên tại đồng bằng Mô-áp, trù liệu chinh phục Đất Hứa (22:2-32:42), tiếp theo là những phụ đính về các vấn đề khác nhau (33:1-36:13)
I. Y-sơ-ra-ên tại Si-nai. Chuẩn bị khởi hành vào Đất Hứa (1:1-10:10)
A. Các mệnh lệnh kiểm tra dân số (1:1-4:49)
1. Số người nam từ mọi chi phái tập hợp để ra trận (1:1-54)
2. Sự sắp đặt các chi phái ở chung quanh Đền Tạm và thứ tự tiến hành (2:1-34)
3. Sự sắp đặt những người Lê-vi quanh Đền Tạm, và số người Lê-vi cùng các con đầu lòng Y-sơ-ra-ên (3:1-51)
4. Số người Lê-vi ở trong Đền Tạm phục vụ Đức Giê-hô-va (4:1-49)
B. Các mạng lịnh về sự thanh tẩy dân sự (5:1-10:10)
1. Thử nghiệm về sự trong sạch trong luật về ghen tương (5:1-31)
2. Hứa nguyện Na-xi-rê và sự chúc phước của A-rôn (6:1-27)
3. Tế lễ của 12 quan trưởng tại lễ Khánh thành Đền Tạm (7:1-69)
4. Sắp đặt đèn và sự biệt riêng người Lê-vi (8:1-26)
5. Giữ Lễ Vượt qua (9:1-14)
6. Trụ mây bao phủ và những ống loa bằng bạc (9:15-10:10)
II. Hành trình từ Si-nai đến Ca-đe (10:11-12:16)
A. Khởi sự cuộc hành trình (10:11-36)
B. Khởi sự những buồn thảm: Lửa và chim cút (11:1-35)
C. Sự phản đối của Mi-ri-am và A-rôn (12:1-16)
III. Y-sơ-ra-ên ở Ca-đe, sự chậm trễ do việc phản loạn (13:1-20:13)
A. Mười hai thám tử và những báo cáo hỗn hợp về Đất Lành (13:1-33) .
B. Sự phản loạn của dân sự nghịch cùng mạng lịnh của Đức Chúa Trời, và sự thất bại của họ (14:1-45)
C. Bộ luật về các tế lễ, ngày Sa-bát và tua áo (15:1-41)
D. Sự phản loạn của Cô-rê và đồng bọn (16:1-49)
E. Cây gậy trổ hoa của A-rôn: một dấu của sự phản loạn (17:1-13)
F. Về các thầy tế lễ, nghĩa vụ và sự cấp dưỡng họ (18:1-32)
G. Con bò sắc hoe và nước tẩy uế (19:1-32)
H. Tội của Môi-se (20:1-13)
IV. Hành trình từ Ca-đe đến đồng bằng xứ Mô-áp (20:14-22:1)
A. Sự kháng cự của Ê-đôm (20:14-21)
B. Sự qua đời của A-rôn (20:22-29)
C. Hủy diệt vua A-rát (21:1-3)
D. Con rắn đồng (21:4-9)
E. Bài ca bên giếng (21:10-20)
F. Sự thất bại của Si-hôn và Óc (21:21-30)
G. Y-sơ-ra-ên vào xứ Mô-áp (21:31-22:1)
V. Y-sơ-ra-ên tại đồng bằng Mô-áp, dự định chiếm Đất Hứa (22:2-32:42)
A. Ba-lác, Vua Mô-áp thuê Ba-la-am rủa sả Y-sơ-ra-ên (22:2-41)
B. Ba-la-am chúc phước cho Y-sơ-ra-ên trong bảy lời sấm (23:1-24:25)
C. Ba-anh Phê-ô và sự bội đạo của Y-sơ-ra-ên (25:1-18)
D. Kiểm tra dân số lần thứ hai (26:1-65)
E. Những chỉ thị cho thế hệ mới (27:1-30:17)
1. Sản nghiệp cho phụ nữ (27:1-11)
2. Người kế vị Môi-se (27:12-23)
3. Những mạng lịnh về các sinh tế (28:1-15)
4. Mạng lịnh về các ngày lễ (28:16-29:40)
5. Mạng lịnh về những lời hứa nguyện (30:1-17)
F. Chiến trận nghịch cùng dân Ma-đi-an (31:1-54)
G. Định cư các chi phái bên kia sông Giô-đanh (32:1-42)
VI. Những phụ đính về các vấn đề khác nhau (33:1-36:13)
A. Những giai đoạn của cuộc hành trình (33:1-56)
B. Xứ sản nghiệp (34:1-35:34)
C. Sản nghiệp cho phụ nữ (36:1-13)




† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 21-7-2018 08:19 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách