nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2004|Trả lời: 0

Dẫn Nhập KT 3 - Dẫn nhập Các Quan Xét

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 29-8-2011 14:46:40 | Xem tất |Chế độ đọc

Dẫn Nhập Knh Thánh 3

Dẫn nhập Các Quan Xét

Nhan đề:
Nhan đề mô tả những lãnh tụ Y-sơ-ra-ên trong thời gian các vị trưởng lão sống sót sau Giô-suê cho đến thời đại quân chủ. Mục đích chính được mô tả rõ ràng nhất trong Cac Tl 2:16 “song Đức Giê-hô-va dấy lên những Quan xét giải cứu chúng khỏi cướp bóc”. Vì Đức Chúa Trời đã cho phép những áp bức xảy đến và dấy lên các vị cứu tinh, chính Chúa là Đấng Quan xét và giải cứu tối hậu của Y-sơ-ra-ên (11:27; xem 8:23, tại đó Ghê-đê-ôn, một Quan xét đã nhấn mạnh rằng Đức Giê-hô-va thật quản trị Y-sơ-ra-ên).
Trước giả và niên đại:
Dầu theo truyền thuyết, Sa-mu-ên viết sách, nhưng không biết chắc tác quyền thuộc về ai. Có thể rằng Sa-mu-ên đã thâu góp những câu chuyện thời Các Quan xét, rồi đến các tiên tri như Na-than và Gát, cả hai kết hợp với triều đình Đa-vít, đã bắt tay vào việc san định và biên soạn tài liệu (ISu1Sb 29:29).
Niên hiệu biên soạn cũng không rõ, nhưng chắc chắn là trong thời quân chủ. Thành ngữ thường lặp lại: “Trong lúc đó, không có vua nơi Y-sơ-ra-ên” (Cac Tl 17:6; 18:1; 21:25) gợi ý một niên hiệu sau khi nền quân chủ được thiết lập. Sự nhận xét rằng dân Giê-bu-sít vẫn còn kiểm soát Giê-ru-sa-lem (1:21) chỉ rõ đó là thời gian trước khi vua Đa-vít chiếm được thành chừng năm 1000 TC (xem IISa 2Sm 5:6-10). Nhưng các điều kiện mới trong Y-sơ-ra-ên ám chỉ trong Cac Tl 17:1-21:25 gợi ý về thời gian sau khi triều đại Đa-vít được thiết lập cách hữu hiệu (thế kỷ thứ 10 TC).
Các chủ đề và thần học:
Sách Quan xét biểu lộ đặc điểm về đời sống Y-sơ-ra-ên trong Đất Hứa từ sự qua đời của Giô-suê đến sự dấy lên nền quân chủ. Một mặt, ấy là câu chuyện bội đạo thường xảy ra khiến bị sửa phạt từ thiên thượng. Mặt khác, sách cũng nói về những lời kêu nài khẩn cấp đến với Chúa trong lúc khủng hoảng, cảm động Chúa dấy lên các lãnh tụ (Quan xét), qua họ Chúa lật đổ những kẻ áp bức ngoại quốc và khôi phục hòa bình cho xứ.
Sau khi Y-sơ-ra-ên được lập trong Đất Hứa qua chức vụ của Giô-suê, cuộc hành hương của họ chấm dứt. Nhiều lời hứa giao ước Đức Chúa Trời ban cho các tộc trưởng trong Ca-na-an và cho các tổ phụ nơi đồng hoang đã được thể nghiệm. Xứ của Chúa, nơi Y-sơ-ra-ên phải vào yên nghỉ, nằm dưới chân họ, họ chỉ còn phải chiếm hữu nó, đánh bật dân Ca-na-an ra, và thanh tẩy tà đạo khỏi đó. Thời giờ đã đến cho Y-sơ-ra-ên thành vương quốc của Đức Chúa Trời dưới hình thức Khối Liên Hiệp trên đất.
Nhưng trong Ca-na-an, Y-sơ-ra-ên vội quên những việc làm của Đức Chúa Trời đã khai sinh ra họ, và lập họ trong xứ. Kết quả là họ không còn nhìn thấy lý lịch độc đáo của mình là dân của Chúa, được chọn và được gọi đến làm quân đội của Ngài và là những công dân trung thành của vương quốc vừa dấy lên. Y-sơ-ra-ên đã định cư, gắn bó với các dân ở Ca-na-an theo luân lý, thần tượng và tín ngưỡng cùng tập tục của họ cũng như nhanh chóng theo đời sống nông nghiệp và xã hội của Ca-na-an.
Suốt cả sách Quan xét, vấn đề căn bản là quyền chủ tể của Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên - tức là Y-sơ-ra-ên phải trung thành và thừa nhận với sự quản trị của Chúa. Vương quyền của Chúa trên Y-sơ-ra-ên được thiết lập cách độc đáo bởi giao ước tại Si-nai (XuXh 19:1-24:18), vềsau được Môi-se tái lập trong đồng bằng Mô-áp (PhuDnl 29:1-29) và bởi Giô-suê tại Si-chem (Gios Gs 24:1-33). Trước giả tố cáo Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ vương quyền của Chúa hết lần này đến lần khác. Y-sơ-ra-ên thôi đánh trận của Chúa, xoay qua các thần của xứ Ca-na-an để có được những phước lành cho gia đình, bầy vật, đồng ruộng, và lìa bỏ luật pháp Chúa trong nếp sống hằng ngày. Trong chính tâm điểm của chu kỳ Các Quan Xét (xem bố cục), Ghê-đê-ôn phải nhắc nhở Y-sơ-ra-ên rằng Chúa là vua của họ (xem chú thích ở Cac Tl 8:23). Lời than van ai-oán và buộc tội cứ tái diễn của 17:1-21:25 (xem bố cục) là: “Trong lúc đó không có vua nơi Y-sơ-ra-ên, mọi người cứ làm theo ý mình tưởng là phải” (xem chú thích ở 17:6). Lời ám chỉ chính ở đây chắc là về những người trung gian của Chúa trên đất (tức các vua loài người), nhưng lời buộc tội tỏ tường là Y-sơ-ra-ên không thành thật thừa nhận hoặc vâng phục Vua thiên thượng của họ nữa.
Chỉ còn một cách để duy trì vương quyền của Chúa trên Y-sơ-ra-ên, và bảo toàn vương quốc còn trong trứng nước khỏi bị tiêu diệt là Ngài dùng quyền tối cao khiến họ gặp áp bức ngoại quốc để trừng trị dân Ngài - do đó thực thi giao ước rủa sả (xem LeLv 26:14-45; PhuDnl 28:15-68), và bằng cách dấy lên những vị cứu tinh khi dân Ngài kêu nài đến Chúa. Tình trạng rạn nứt của Y-sơ-ra-ên được vạch trần cách sinh động, Y-sơ-ra-ên liên tục cần đến những hành động cứu sinh mới của Chúa hầu được vào sự yên nghỉ đã hứa (xem chú thích ở Gios Gs 1:13).
Giữa những chu kỳ lẩn quẩn bất tuân, áp bức ngoại quốc, kêu la khốn khổ, và giải phóng (xem Cac Tl 2:11-19; NeNe 9:26-31) làm nổi bật chủ đề quan trọng - sự thành tín với giao ước của Đức Giê-hô-va. Tính kiên nhẫn nhân-từ kỳ lạ của Đức Chúa Trời không còn cách nào chứng minh tốt hơn là trong thời loạn lạc này.
Đáng chú ý là thời kỳ thất bại này của Y-sơ-ra-ên, theo sau ngay những biến cố cứu chuộc thực hiện qua Môi-se và Giô-suê, lại là đường lối đặc biệt thời đại Thánh linh đời Cựu-ước. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã khiến con người hoàn tất những chiến công oanh liệt trong thánh chiến của Chúa chống lại những quyền lực hăm dọa vương quốc của Ngài (xem Cac Tl 3:10; 6:34; 11:29; 13:25; 14:6,19; 15:14; cũng xem ISa1Sm 10:6,10; 11:6; 16:13). Cũng chính Thánh linh, đổ tràn trên Hội thánh, tiếp theo công tác cứu chuộc của Giô-suê thứ hai (Chúa Giê-xu), ban năng lực cho dân Chúa khởi sự công tác truyền bá Phúc Âm cho muôn dân và mở rộng vương quốc Đức Chúa Trời (xem chú thích ở Cong Cv 1:2,8).
Bối cảnh:
Xác định các niên hiệu cho sách Quan xét thật khó khăn và phức tạp. Hệ thống niên hiệu sau đây căn cứ chủ yếu vào IVua 1V 6:1, nói về khoảng thời gian 480 năm giữa cuộc xuất hành khỏi Ê-díp-tô và năm thứ tư đời Sa-lô-môn trị vì. Thời gian này đặt việc xuất hành chừng 1446 TC, và thời kỳ Các Quan Xét giữa 1380 đến sự dấy lên của Sau-lơ chừng 1050 TC. Giép-thê phát biểu rằng Y-sơ-ra-ên chiếm đóng Hêt-bôn 300 năm (Cac Tl 11:26) đồng ý chung với các niên hiệu này.
Tuy nhiên, có người chủ trương rằng, số 480 năm trong IVua 1V 6:1 là hơi giả tạo, nảy sinh bằng cách nhân với 12 (có lẽ chỉ về 12 Quan xét) với 40 (số năm qui ước cho một thế hệ). Họ chỉ ra trong chính sách Quan xét thường dùng các số tròn 10,20,40 và 80. Một niên hiệu trễ đối với cuộc xuất hành cố nhiên sẽ cần đến thời gian ngắn hơn cho Các Quan Xét (xem Phần Dẫn Nhập sách Xuất Ê-díp-tô ký: Niên đại).
Những nét văn học đặc sắc:
Dầu chỉ đọc qua sách Quan xét cũng thấy có ba phần cơ bản: (1) Lời mở đầu (Cac Tl 1:1-3:6). (2) Phần chính (3:7-16:31). (3) Phần kết (17:1-21:25). Sự nghiên cứu tường tận đem lại ánh sáng trên cơ cấu phức tạp hơn, với những chủ đề thêu dệt ràng buộc toàn bộ thành bức tranh rắc rối về đặc điểm của một thời đại.
Lời mở đầu (1:1-3:6) có hai phần, mỗi phần dành cho một mục đích khác nhau. Chúng không liên hệ theo niên hiệu, cũng không cống hiến sự sắp xếp niên hiệu nghiêm túc của toàn bộ thời kỳ. Phần thứ nhất (1:1-2:5) dàn cảnh lịch sử cho những câu chuyện kế tiếp. Nó mô tả sự chiếm đóng Đất Hứa của Y-sơ-ra-ên - từ thành công sơ khởi đến sự thất bại rộng lớn và sự quở trách thiên thượng.
Phần thứ hai (2:6-3:6) đề cập phối cảnh về thời kỳ từ Giô-suê đến sự dấy lên nền quân chủ, thời gian biểu lộ đặc sắc những vòng lẩn quẩn bội đạo, áp bức, kêu là khốn khổ, và sự giải thoát nhân từ thiên thượng. Trước giả tóm tắt và cắt nghĩa những cách xử trí của Chúa đối với dân sự phản loạn và giới thiệu ngữ vựng và công thức căn bản, Chúa sẽ dùng trong các câu chuyện sau này: “Làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va ”, 2:11 (xem 3:7; 4:1; 6:1; 10:6) “phó Y-sơ-ra-ên cho”, 2:14 (xem 6:1; 13:1) và “bán họ”, 2:14 (xem 3:8; 4:2; 10:7).
Phần chính của sách này (3:7-16:31) thuật những chuyện thật của vòng lẩn quẩn (bội đạo, áp lực, khốn khổ, giải phóng) với chính dự kiến độc đáo của nó. Mỗi chu kỳ có một khởi đầu giống nhau (“Dân Y-sơ-ra-ên còn làm điều ác trước mặt Chúa”, xem chú thích ở 3:7) và một kết luận chấp nhận được (“xứ được hòa bình trong...năm” hoặc “lãnh đạo Y-sơ-ra-ên...năm”, xem chú thích ở 3:11).
Chu kỳ thứ nhất của các chu kỳ (Ốt-ni-ên, xem 3:7-11 và chú thích) cung cấp “mẫu báo cáo” dùng trong mọi câu chuyện áp bức và giải phóng kế tiếp.
Năm chu kỳ còn lại kết thành một câu chuyện như sau, xây dựng quanh số Các Quan Xét quan trọng còn lại.
1. Ê-hút (3:12-30), anh hùng đơn độc từ chi phái Bên-gia-min giải phóng Y-sơ-ra-ên khỏi sự áp bức từ phía đông.
2. Đê-bô-ra (4:1-5:33) phụ nữ từ một trong các chi phái của Giô-sép (Ép-ra-im, phía tây sông Giô-đanh) người là Quan xét trong thời mà Y-sơ-ra-ên bị giày xéo bởi liên minh các dân Ca-na-an dưới quyền điều khiển của Si-sê-ra.
3. Ghê-đê-ôn và con trai của ông là A-bi-mê-léc (6:1-9:37) hình thành câu chuyện trung tâm. Bằng nhiều cách Ghê-đê-ôn là Quan xét lý tưởng, gợi nhớ đến Môi-se, trong khi con trai người lại chính là kẻ đối lập hẳn với vị Quan xét trung tín và có tinh thần trách nhiệm này.
4. Giép-thê (10:6-12:7) người bị xã hội ruồng bỏ từ chi phái Giô-sép khác (Ma-na-se, phía đông sông Giô-đanh) làm Quan xét vào thời Y-sơ-ra-ên bị hăm dọa bởi liên minh các cường quốc dưới sự lãnh đạo của vua Am-môn.
5. Sam-sôn (13:1-16:31) vị anh hùng đơn độc từ chi phái Đan đã giải phóng Y-sơ-ra-ên khỏi sự áp bức từ phía tây.
Sự sắp đặt những chuyện này thật ý nghĩa. Những câu chuyện trung tâm về Ghê-đê-ôn (Quan xét lý tưởng của Chúa) và A-bi-mê-léc (người đối lập Quan xét) lại gộp chung câu chuyện song song của người nữ Đê-bô-ra và người bị xã hội ruồng bỏ là Giép-thê - lần lượt chúng được lồng khung trong những câu chuyện những anh hùng đơn độc Ê-hút và Sam-sôn. Theo cách này, cả cấu trúc tập trung chú Y-sơ-ra-ên vấn đề chủ yếu của thời kỳ Các Quan Xét: Y-sơ-ra-ên quyến luyến các thần Ba-anh của Ca-na-an (bày tỏ bởi A-bi-mê-léc, xem chú thích ở 9:1-57) chống với vương quyền của Chúa trên dân Ngài (được khuyến khích bởi Ghê-đê-ôn, xem chú thích ở 8:23).
Phần kết (17:1-21:25) biểu lộ đặc sắc của kỷ nguyên trong cách khác, mô tả sự băng hoại tôn giáo và đạo đức của những cá nhân, thành phố và chi phái riêng. Giống như lời giới thiệu, nó cũng có hai phần không liên hệ niên đại, cũng không ghi rõ niên hiệu đối với sự nghiệp cá biệt Các Quan Xét. Tuy nhiên, các sự việc này thật xảy ra sớm hơn trong thời kỳ Các Quan Xét (xem chú thích ở 18:30; 20:1,28).
Bằng cách chỉ ghi niên hiệu những sự kiện phần kết liên hệ tới nền quân chủ (xem điệp khúc tái diễn 17:6; 18:1; 19:1; 21:25), trước giả làm tương phản thời đại Các Quan Xét với một thời kỳ tốt đẹp hơn khi nền quân chủ được khai dựng, chắc chắn là nhìn về sự trị vì của Đa-vít và triều đại của người (xem chú thích ở 17:1-21:25). Sách nêu lên hai ví dụ về Chúa phân quyền lãnh đạo cho chi phái Giu-đa: (1) Trong việc đánh đuổi dân Ca-na-an ra (1:1-2) và (2) Sửa trị một chi phái trong Y-sơ-ra-ên (20:18). Trước giả nhìn thấy quan trưởng của chi phái Giu-đa là cứu tinh của dân tộc.
Phần thứ nhất của lời kết (17:1-18:31) thuật chuyện tích của Mi-ca khai triển một nơi thờ phượng ngoại giáo và nói về chi phái Đan lìa bỏ lãnh thổ chia cho họ khi chấp nhận tôn giáo băng hoại của Mi-ca. Phần thứ hai (19:1-21:25) thuật chuyện tích về kinh nghiệm buồn thảm của người Lê-vi tại Ghi-bê-a trong Bên-gia-min và chép biện pháp kỷ luật tẩy trừ chi phái Bên-gia-min, vì cớ họ bênh vực thành đồi bại Ghi-bê-a.
Hai phần có mấy điểm song song đáng chú ý:
1. Cả hai dính líu đến việc một người Lê-vi đi ngang qua giữa Bết-lê-hem (trong Giu-đa) và Ép-ra-im qua hành lang Bên-gia-min - Đan.
2. Cả hai nêu lên 600 chiến sĩ - những người đã hướng dẫn chi phái Đan và những người sống sót từ chi phái Bên-gia-min.
3. Cả hai kết thúc với sự vét sạch khu vực thuộc chi phái trong hành lang (Bên-gia-min - Đan) đó.
Không những chỉ ba điều song song này có ý nghĩa trong phần kết, nhưng các điều đó cũng làm thành khâu kết nối cho phần chính của sách nữa. Chi phái Bên-gia-min, ở trong phần kết tìm cách binh vực sự vô đạo gớm ghiếc đặt sợi dây huyết thống lên trên lòng trung thành với Chúa, lại là chi phái Chúa dấy lên cứu tinh Ê-hút (3:15). Chi phái Đan, mà trong phần kết đã rút lui khỏi cơ nghiệp cấp cho mà chấp nhận những thói tục ngoại giáo, lại là chi phái Chúa dấy lên vị cứu tinh Sam-sôn (13:2,5). Như vậy, hai chi phái mà phần kết luận mô tả sự băng hoại tôn giáo và đạo đức của Y-sơ-ra-ên lại chính từ những chi phái đó các vị cứu tinh được chọn mà chuyện tích của họ dựng khung làm trọng tâm câu chuyện của sách (Ghê-đê-ôn-A-bi-mê-léc).
Toàn bộ ý định của sách từ phần đầu đến phần kết, cách thức độc đáo trong mỗi phần giải quyết toàn bộ thời đại, và cách ba phần chính liên hệ với nhau rõ rệt minh họa một thời đại hư hỏng - thời đại “không có vua trong Y-sơ-ra-ên” và “ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (xem chú thích ở 17:6). Thật sự kiện mà câu chuyện ở trong các hồi và chu kỳ rất có ý nghĩa. Nó là câu chuyện của toàn bộ Y-sơ-ra-ên, dù thường chỉ có vài khu vực trực tiếp dính líu. Sách minh họa những thế kỷ sau Giô-suê, là thời kỳ Y-sơ-ra-ên bất trung với Chúa, và họ đầu phục những sự lôi cuốn của Ca-na-an. Chỉ do lòng thương xót của Đức Chúa Trời mà Y-sơ-ra-ên không bị áp đảo và bị thu hút bởi các quốc gia ngoại đạo xung quanh họ. Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi, lịch sử cứu chuộc hầu như vẫn đứng vững - chờ đợi nỗ lực tương lai của tôi tớ Chúa là Đa-vít và sự thiết lập triều đại của người.
Bố cục:
I. Phần đầu: Sự chinh phục không trọn vẹn và bội đạo (1:1-3:6)
A. Hồi thứ nhất: Y-sơ-ra-ên thất bại trong việc thanh tẩy xứ (1:1-2:5)
B. Hồi thứ hai: Đức Chúa Trời xử trí với Y-sơ-ra-ên bội nghịch (2:6-3:6)
II. Áp bức và giải phóng (3:7-16:31)
A. Các Quan Xét lớn
1. Ốt-ni-ên đánh bại A-ram Naharaim (3:7-11)
2. Ê-hút đánh bại Mô-áp (3:12-30)
3. Đê-bô-ra đánh bại Ca-na-an (4:1-5:31)
4. Ghê-đê-ôn đánh bại Ma-đi-an (6:1-8:35)
A-bi-mê-léc, kẻ chống lại Quan xét 9:1-57)
5. Giép-thê đánh bại Am-môn (10:6-12:7)
6. Sam-sôn kiềm chế người Phi-li-tin (13:1-16:31)
B. Các Quan Xét nhỏ
1. Sam-ga (3:31)
2. Thô-la (10:1,2)
3. Giai-rơ (10:3-5)
4. Íp-san (12:8-10)
5. Ê-lôn (12:11-12)
6. Áp-đôn (12:13-15)
III. Phần kết: Sự hỗn loạn đạo đức và tôn giáo (17:1-21:25)
A. Hồi thứ nhất (17:1-18:31; xem 17:6; 18:1)
1. Sự bại hoại của Mi-ca về tôn giáo (17:1-13)
2. Người Đan dời khỏi lãnh thổ của chi phái họ (18:1-31)
B. Hồi thứ hai (19:1-21:25; xem 19:1; 21:25)
1. Sự bại hoại của Ghi-bê-a về đạo đức (19:1-30)
2. Sự truất phế Bên-gia-min ra khỏi lãnh thổ chi phái họ (20:1-21:25)




† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 20-1-2018 05:17 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách