† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2397|Trả lời: 0

Người Xây Dựng Hôn Nhân - PHẦN II. SỰ DẤN THÂN

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 10-9-2011 17:41:02 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Người Xây Dựng Hôn Nhân
PHẦN II - Xây Dựng Nền Tảng
Tác giả: Dr. Larry Crabb

Viên gạch thứ 2: SỰ DẤN THÂN

Viên gạch xây dựng thứ hai cho một cuộc hôn nhân hiệu quả nằm thoải mái bên trên viên thứ nhất. Nếu sự tin cậy vào ân sủng của Đức Chúa Trời của chúng ta đủ để giữ vững hy vọng, dù thất vọng rất hiển nhiên, khi ấy chúng ta đang ở vào một vị thế sẵn lòng dấn thân làm theo những điều Đức Chúa Trời phán dạy. Chúng ta có thể hành động dựa trên sức mạnh của hy vọng bằng cách cứ chỉnh đốn cuộc hôn nhân của chúng ta ngay cả khi bị cám dỗ bỏ cuộc.
Nếu chúng ta tin một cách sâu sắc rằng Chúa sẽ vì chúng ta hành động trong mọi hoàn cảnh, thì không có một bộ sưu tập những nỗ lực hôn nhân nào có thể thúc đẩy chúng ta nghĩ đến việc ly dị hoặc thối lui cả. Nếu Đức Chúa Trời thật sự đầy quyền năng như Ngài tuyên bố, thì con đường vâng phục sẽ luôn luôn dẫn đến những mục đích theo như dự định của Ngài. Niềm hy vọng (nói rõ hơn là: sự chắc chắn) rằng Đức Chúa Trời đang hành động để hoàn thành chương trình của Ngài, ngay cả những cuộc hôn nhân gai gốc nhất phải luôn bám rễ vững vàng trong nhận thức của chúng ta về ân sủng mạnh mẽ của Ngài - và đó là viên gạch xây dựng thứ 1.
Nếu chúng ta tin chắc hơn rằng Ngài chẳng những đang hành động, mà những mục đích của Ngài luôn luôn tốt đẹp, thì từ trong sâu thẳm của con người mình, chúng ta vẫn sẽ luôn muốn - thật sự muốn - đi theo đường Ngài. Đối với Cơ Đốc nhân nào thật sự nhạy cảm với thực tế về sự thiện lành của Chúa, sự vâng phục không còn bị xem là phục tùng bắt buộc, nhưng sẽ phản ánh một lựa chọn tự do, dù đôi khi thuận phục cách đau đớn cho một kế hoạch tốt đẹp. Sau khi cân nhắc cái giá phải trả, quyết định vâng phục sẽ được hỗ trợ bằng một ước nguyện vâng theo. Đây là viên gạch xây dựng thứ 2: một ước nguyện sâu sắc muốn vâng phục Chúa bằng cách tôn trọng lời hứa nguyện hôn nhân, một khao khát tăng trưởng tự nhiên từ niềm tin rằng Đức Chúa Trời là thiện.
Tuy nhiên, sự vâng phục theo sự dạy dỗ của Thánh kinh thường bị xem như một bổn phận miễn cưỡng và đôi lúc chắc chắn có chống đối, nhất là trong hôn nhân. Khi một người cưới phải bà vợ lúc nào cũng càm ràm, không biểu lộ tình cảm, hoặc luôn luôn chỉ ra những sai sót của ông ta, thì lời khuyên dạy” hãy yêu vợ mình” có vẻ giống như lời mời gọi ông ta dẫm chân lên cây đinh hơn là thưởng thức một bữa ăn ngon. Một bà vợ có người chồng bày tỏ sự ích kỷ và luôn ra lệnh dựa trên chiêu bài Kinh thánh dạy người chồng làm đầu, sẽ xem việc thuận phục như một dịp tiện khiến bà mất đi nhân thân qua sự phục tùng mất phẩm giá của mình.
Có một cái gì đó sai trật trầm trọng khi sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời dường như chẳng hấp dẫn gì hơn những yêu cầu cay nghiệt của một kẻ chuyên quyền vô tình. Tại sao đôi lúc chúng ta đáp ứng lại những chỉ dẫn của Kinh thánh với một thái độ miễn cưỡng “như làm bổn phận” giống y như một tân binh đáp ứng lại lịnh truyền của trung sĩ bảo ra khỏi giường và hít đất 50 cái? Tại sao không có một sự nhiệt tình, tin tưởng khi đi theo Chúa, cho dù đường đi dốc đứng và lởm chởm.
Có lẽ chúng ta hiểu lầm những hướng dẫn của Ngài về việc yêu vợ và thuận phục chồng, do đó làm cái điều Chúa không hề yêu cầu. Một phần của nan đề nằm trong bản chất tội lỗi của chúng ta, khiến chúng ta có khuynh hướng bướng bỉnh, xem điều tốt thành xấu và điều xấu thành tốt.
Cho dù nguyên nhân gì đằng sau thái độ thỉnh thoảng đáng trách của chúng ta đối với sự vâng phục thì chắc chắn một điều: Nếu chúng ta tôn trọng lời hứa nguyện làm chồng, làm vợ của chúng ta trong tinh thần miễn cưỡng vâng phục hoặc phục tùng thiếu thiện chí, thì chúng ta chẳng có tôn trọng lời hứa nguyện của mình gì cả. Cứ thử tưởng tượng một người nào đó đáp ứng lời kêu gọi truyền giáo bằng những lời như: “Thôi được rồi, được rồi - Các ông đã làm xong phần vụ mình. Tôi thấy mặc cảm tội lỗi quá đi. Tôi đã nghe đủ những câu truyện về những người dân bản xứ chết đói và những người ngoại giáo phải đi địa ngục rồi - Tôi sẽ đi nếu tôi phải đi. Tôi phải ghi tên ở đâu đây?” Người này sẽ thành giáo sĩ kiểu gì?
Hàng tá ông chồng, bà vợ đáp ứng lại những bó buộc trong hôn nhân theo cung cách như thế. Họ thành những người bạn đời khủng khiếp. Viên gạch xây dựng thứ 2 không hề xem việc vâng phục Đức Chúa Trời như một bổn phận miễn cưỡng, chắc chắn chúng ta là dân sự dưới quyền Chúa, chúng ta phải làm theo mạng lịnh của Chúa. Đó là bổn phận của chúng ta. Nhưng vâng phục không phải chỉ là bổn phận. Đó là một đặc quyền, một dịp tiện bước vào niềm vui sâu xa khiến tất cả những thú vui khác đều dường như nông cạn.
Thế thì, tại sao làm theo mạng lịnh yêu vợ và thuận phục chồng đôi lúc giống như mạng lịnh của cha mẹ bảo không được chơi nữa và hãy đi làm bài tập mà mình ghét nhất?
Trong chương này, chúng ta có thể xem xét làm thế nào chúng ta có thể chân thành khát khao làm trọn lời hứa nguyện hôn nhân, cho dù nó đòi hỏi chúng ta phải chăm sóc cho một người phối ngẫu khó chịu.
Ba khái niệm rất thiết yếu đối với mục đích này:
Điểm 1: Điều cơ bản không thể thiếu cho sự dấn thân kiên nhẫn, không nao nóng và vui vẻ vâng phục tất cả mạng lịnh của Đức Chúa Trời là đức tin tuyệt đối vào sự thiện lành của Đức Chúa Trời.
Điểm 2: Sự vâng phục phát huy từ nhận thức về sự thiện lành của Đức Chúa Trời sẽ được tự thân từng trải như là sự theo đuổi những nguyện vọng sâu sắc nhất, thay vì bị chi phối bởi bổn phận.
Điểm 3: Nếu không có niềm vui nào trong việc tôn trọng lời hứa nguyện hôn nhân, lỗi không thuộc về người bạn đời, dù người ấy có khó chịu đến đâu đi nữa. Nguyên nhân thiếu niềm vui có thể do việc thiếu nhận thức về sự thiện lành của Đức Chúa Trời.
Điểm 1: Nền tảng cho sự dấn thân thật sự là sự thiện lành của Đức Chúa Trời .
Những nhà tư vấn hôn nhân thường định nghĩa tình yêu trong những hành động và quyết định hơn là cảm xúc. Chúng ta biết tình yêu của Đức Chúa Trời vì Ngài làm một điều gì đó, chứ không phải vì Ngài cảm thấy một điều gì. Chúng ta thường được hô hào yêu mến người bạn đời dù chúng ta có cảm thấy thích hay không. Những người cho biết rằng họ không còn yêu người phối ngẫu được thúc giục nên tham gia vào một loạt những hành vi yêu đương với lời hứa tuyệt đối rằng những cảm xúc yêu đương chắc chắn sẽ theo sau.
Giả định đúng đắn đằng sau tư duy này là lẽ thật về lời Đức Chúa Trời sẽ là nền tảng cho hành động của chúng ta. Chúng ta không thể để bị dẫn dắt bởi những cảm xúc thất thường nhưng phải tuân theo chỉ dẫn của Thánh kinh cho dù cảm xúc của chúng ta đồng ý hay phản đối.
Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu của Ngài cách rõ ràng không thể lầm lẫn trong những điều làm nhưng cũng rõ ràng không kém là những hành động này sẽ kèm theo lòng trắc ẩn. Ngài không những chỉ làm một điều gì đó cho tôi, Ngài còn cảm thấy điều gì đó cho tôi nữa. Ví dụ như trong sách Ôsê, Đức Chúa Trời nói đến sự đau lòng về sự bội nghịch và bất trung của dân Ngài, vốn là dân mà Ngài âu yếm nhắc đi nhắc lại rằng Ngài xem họ như vợ Ngài. Tình yêu của Đức Chúa Trời có cả cảm xúc lẫn hành vi. Cũng vậy, sự dấn thân yêu vợ hay chồng mình của chúng ta cũng phải phát ra nhiều hơn nữa chứ không phải chỉ là những hành động vô cảm, máy móc. Phải có lòng nhiệt thành trong hành vi của chúng ta. Nhưng làm thế nào phát huy chúng đây?
Người ta thường nói những cảm xúc yêu thương tuôn tràn từ hành vi yêu thương. Nếu chúng ta tỏ những hành động yêu thương đủ đối với một ai đó trong một thời gian dài đủ, dần dần chúng ta sẽ cảm thấy có tình cảm yêu thương đối với người đó. Nhưng yếu điểm của lập luận này là không giải quyết tận gốc rễ vấn đề: nhiều ông chồng bà vợ chỉ đơn giản không muốn yêu thương người bạn đời của họ nữa. Một ông mục sư cứ cứng rắn hoặc một nhà tư vấn có thể thúc đẩy đối tượng làm theo lời họ khuyên nhưng cuộc hôn nhân rồi sẽ không có gì tiến bộ.
Điều này để lại cho chúng ta một tình thế khó xử. Nếu chúng ta phải muốn yêu người bạn đời với một ước muốn chủ động làm như vậy, và nếu làm những hành động yêu thương cũng không sao phát ra được ước muốn ấy, thì làm thế nào chúng ta kiếm được ước muốn ấy đây? Sự lựa chọn dường như chỉ có giữa hai phía: hoặc tử tế cách máy móc hoặc rút lui trong tha thiết. Có lẽ chúng ta phải chờ đợi Đức Thánh Linh làm bùng cháy nội tâm chúng ta. Thế thì một ông chồng hoặc bà vợ hờ hững phải làm gì đây?
Xin lắng nghe một ca tư vấn tiêu biểu sau đây:
Chồng : “Tôi không thể hiểu nổi bà ấy”
Chuyên gia : “Nếu tình yêu được định nghĩa như là sẵn sàng hy sinh chăm sóc cho vợ anh, thì anh có thể yêu cô ấy đấy. Anh có thể nói những lời tử tế, bày tỏ tình cảm, có thái độ nhã nhặn”.
Chồng : “Nhưng tất cả sẽ rỗng tuếch. Tất nhiên là tôi có thể làm được chớ! Nhưng tôi sẽ cảm
thấy giả dối, không thành thật, giống như tôi đang lừa đảo vậy. Tôi chẳng rung động
tí nào đối với cô ta”.
Chuyên gia : ”Thế nghĩa là anh có thể làm được, nhưng vì không cảm thấy muốn làm nên anh không làm. có phải vậy không?”
Chồng : “Này, không có chuyện đó! Không đúng như vậy! Tôi chỉ không muốn yêu cô ta thôi.
Ông có biết cô ta làm gì trong tuần qua không? Cô ta ...”

Xin chú ý sự giả định chi phối tư duy của ông ta: Ước muốn tôn trọng lời cam kết hôn nhân của ông ta tùy thuộc vào thái độ hành động của người bạn đời. Nói cách nôm na là “Nếu người bạn đời tử tế với tôi, tôi có thể ước muốn tử tế với cô ta. Nếu cô ta không tử tế với tôi, thì tôi không thể ước muốn tử tế với cô ta. Có lẽ tôi có thể làm điều tôi phải làm, nhưng tôi không thể muốn làm điều tôi phải làm. Điều tối đa tôi có thể làm là sự sẵn sàng cam chịu vâng theo Đức Chúa Trời bằng cách tiếp tục bước đi trong trũng bóng chết của cuộc hôn nhân này. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm điều Đức Chúa Trời bảo, nhưng đừng mong tôi muốn dễ thương hay tử tế. Chỉ đơn giản là không thể nào muốn yêu một con người đối xử với anh theo cách vợ tôi đối xử với tôi cả.”
Nếu chuyên gia tư vấn khuyên người chồng phải “tỏ ra nhiệt tình” đối với người vợ khi ông ta chẳng cảm thấy gì ngoài sự hờ hững hay lạnh nhạt, thì họ cũng chẳng làm cho cuộc hôn nhân khá hơn. Cần nhiều điều hơn nữa. Để cho mối quan hệ phản ánh đúng đắn sự hiệp nhất giữa Đấng Christ và Hội thánh, cần có một ước muốn cảm nhận cách tinh tế để chăm sóc, phục vụ cách âu yếm đối với người bạn đời. Nhưng làm sao khuấy động cái ước muốn thành thiện ấy khi nó không có đó và khi những người phối ngẫu lại đổ thêm nước lạnh lên cái bàn thờ vốn dĩ đã không có chút lửa nào?
Có phải giải pháp là việc “cứ làm cho đến khi bạn cảm thấy nó” hay không?
Tôi xin bắt đầu bắt đầu giải pháp cho vấn đề bằng minh họa sau đây:
Khi tôi học lớp hai, lúc đang khiêng đi thì tôi làm rơi cái băng ghế xuống ngón cái bàn chân phải. Cái móng tét ra, máu phọt ra và tôi gào lên. Chỉ trong ít phút tưởng như hàng tiếng đồng hồ ấy, tôi nằm xẹp trên bàn bác si của gia đình với mẹ tôi được nhà trường nhắn, đứng bên cạnh, ông bác sĩ thuộc loại điềm tĩnh, chỉ đối phó lại tiếng kêu khóc lo lắng bằng cách chậm rãi vuốt càm - xem xét ngón chân, rồi với tay lấy cây kim. Khi tôi nhận ra ông ta định chích cây kim ấy vào ngón chân tôi thì tôi kinh hoàng. Tôi không cảm thấy ao ước bị cây kim ấy chích vào.
Tuyệt vọng tôi nhìn lên mẹ tôi. Mẹ tôi lúc đó đang cười, không phải nụ cười vui vẻ mà là nụ cười khích lệ “hãy cố lên”. Một người phụ nữ mà cười trong tình huống đó thì hoặc là bà ta là một con người tàn bạo hoặc là một bà mẹ yêu con, muốn cho con biết rằng dù sao phút giây kinh hoàng hiện tại cũng là một phần cần thiết của một chương trình tốt lành. Tôi biết mẹ tôi. Tôi đã sống với mẹ bảy năm và có đủ lý do để tin rằng mẹ đứng về phe tôi, chứ không hề chống lại tôi. Với sự nhận thức như vậy, nụ cười vững vàng của mẹ tạo nên trong tôi một ước muốn thuận phục theo một loạt những hành động khó khăn, đau đớn - để nằm yên. Tôi không bị thu hút hoàn toàn bởi những dự định tử tế của ông bác sĩ - lúc bấy giờ ông ta trông rất nguy hiểm - nhưng tôi hoàn toàn tin cậy nơi mẹ tôi. Từ sự tin quyết ấy tôi sẵn sàng vâng theo hành động nào mẹ chấp nhận, biết rằng sự thiện hảo của mẹ đảm bảo sự thỏa lòng với những gì sắp diễn ra. Nguyện vọng làm một điều không vui hoàn toàn tùy thuộc vào sự nhận thức của tôi về bản thân con người muốn tôi làm việc đó.
Nhiều người chồng, người vợ đánh giá cuộc hôn nhân của họ (đôi lúc với lý do xác đáng) chẳng vui thích gì hơn việc bị một mũi kim dài thoòng ngày nào cũng chích vào ngón chân cái đang bị thương. Tại sao phải ngồi yên chịu đựng? Tại sao không đứng lên bỏ đi? Thoát ra khỏi cái nguồn đau khổ dồn dập là điều vô cùng hợp lý nếu mục tiêu là giải thoát nhanh chóng. Những người chịu đựng đau khổ triền miên thường có một khát khao hàng đầu: cảm thấy bớt đau. Bất cứ điều gì khiến giảm đau lập tức được xem như đáng mong; bất cứ điều gì gây thêm đau đớn xem như không đáng mong. Khi người ta đau, họ thiết tha mong mỏi bất cứ điều gì đem lại sự giải thoát. Chẳng có gì khác thường cả. Khi tôi đã bị đau đầu mà còn đập đầu vào tường thì rõ ràng là tâm thần bấn loạn, chứ không phải một ước muốn chịu đựng cao qúi.
Tuy nhiên Đức Chúa Trời dường như có quan điểm ngược lại với lối suy nghĩ sáng suốt này khi Ngài đòi hỏi những người chồng, người vợ phải tôn trọng những kết ước chỉ tạo thêm tổn thương mà thôi.
Nếu không có sự tin quyết rằng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bảo con cái Ngài làm điều gì nếu không vì hạnh phúc của chính họ, chúng ta chẳng thể gợi lên nỗi khao khát tôn trọng những hứa nguyện hôn nhân. Điều này cần phải như thế. Thật vô lý khi tuân theo sự chỉ dẫn của người dẫn đường nếu động cơ của họ chúng ta không tin cậy được.
Việc chúng ta thất bại trong việc không sẵn sàng vâng theo sự hướng dẫn của Ngài phản ánh sự thiếu tin cậy vào sự thiện lành của Đức Chúa Trời. Chúng ta thắc mắc không biết liệu Ngài có đang lợi dụng chúng ta hay đang ban phước cho chúng ta. Nan đề về sự dấn thân không vững không phải là vấn đề của ý chí; đó là thiếu hụt niềm tin. Chúng ta chỉ không tin rằng Đấng bảo chúng ta cứ tiếp tục dấn thân phó thác cho người phối ngẫu của mình là thiện lành. Nếu chúng ta biết rõ Ngài là thiện lành, chúng ta sẽ cảm thấy có một khao khát vâng theo sự chỉ dẫn của Ngài giống y như khi tôi thấy mẹ tôi cười khích lệ tôi nên để cho bác sĩ chọc vào ngón chân vậy.
Giải pháp cơ bản để chữa trị bịnh suy yếu trong việc dấn thân là hồi phục đức tin, chứ không phải tái dâng hiến nỗ lực . Thúc giục phải “yêu vợ và thuận phục chồng dù bạn có cảm thấy thích hay không” là không chữa tận gốc vấn đề. Trừ phi sự thiện lành của Đức Chúa Trời được thiết lập như là bối cảnh của việc vâng phục, thì những sự thúc giục như thế nhiều lắm cũng chỉ có thể ngăn chặn hạt giống giận hờn và bất hòa khỏi lan rộng ra mà thôi. Chúng sẽ không phơi bày hay nhổ tận gốc cái hệ thống ngầm nuôi dưỡng mà hậu quả là những lời hứa cuội cứ ngày càng gia tăng. Thúc giục sự vâng lời là quan trọng và đúng đắn. Nhưng khuôn khổ của sự thiện lành của Đức Chúa Trời phải được hiểu rõ nếu như người ta vui vẻ nghe theo lời khuyên giục.
Vợ của một tay nghiện rượu hoặc người chỉ biết chúi mũi vào công việc; chồng của một bà vợ lãnh cảm; một anh hạ sĩ nghiêm túc trong kỷ luật - bất cứ ai trong số họ cũng đều tiếp thu từ bài giáo khoa về sự dấn thân ít hơn là một sự nhận thức sâu sắc về Đức Chúa Trời thiện lành. Cả hai cùng có mặt bên nhau: vâng phục theo trật tự của Đức Chúa Trời sẽ gia tăng nhận thức về sự thiện lành của Đức Chúa Trời. Còn sự nhận thức về sự thiện lành sẽ cho chúng ta động lực để vâng phục nhiều hơn. Vâng phục mà không ý thức được sự thiện lành của Đức Chúa Trời sẽ sinh ra sự dấn thân nhọc nhằn khiến mất đi niềm vui. Một nhận thức về sự thiện hảo của Đức Chúa Trời nếu không đi kèm với sự vâng phục thì rất nông cạn và sẽ dần dà thành lý thuyết vô hồn.
Việc tôn trọng những hứa nguyện hôn nhân là cùng ý nghĩa vì Đức Chúa Trời, Đấng bảo chúng ta làm thế là một Đức Chúa Trời thiện hảo: chỉ muốn điều tốt cho chúng ta mà thôi.
Con đường Chúa đã vạch ra dẫn đến niềm vui không gì sánh nổi cho chúng ta và đem vinh hiển về cho Ngài. Nhận thức về bản tính của Chúa thường khơi dậy một khát khao vâng theo sự hướng dẫn của Ngài.
Điểm 2: Tôn trọng những lời hứa nguyện do lòng tin cậy sâu xa vào sự thiện hảo của Chúa sẽ không cảm thấy “làm vì bổn phận ” nhưng như theo đuổi những nguyện vọng thầm kín nhất .
Nếu bảo một người đang chết đói cho người hàng xóm ăn người ấy sẽ chần chừ cách dễ hiểu. Nếu ông ta có thể thò tay vào thức ăn, thì ông ta sẽ muốn ăn một mình. Cho đi cái điều chúng ta đang thèm khát không phải là điều dễ làm. Muốn cho nó đi dường như lố bịch và không thể thực hiện được.
Trong hôn nhân, đôi lúc dường như chúng ta được yêu cầu hy sinh tất cả hy vọng về hạnh phúc của riêng mình để đem hạnh phúc đến cho người bạn đời. Mới đây một người chồng nói với tôi trước mặt người vợ đầm đìa nước mắt: “Tôi biết cô ấy muốn tôi đừng ly dị, nhưng tôi khẳng định rằng mình không thể nào có hạnh phúc với cô ấy. Ông yêu cầu tôi quên đi sự thỏa mãn của chính mình để vợ tôi tránh khỏi phải đau đớn vì ly dị. Tôi rất tiếc, nhưng nếu phải chọn lựa giữa hạnh phúc của tôi hay của cô ấy, thì tôi không muốn mình làm vật hy sinh.”
Tôi thắc mắc không biết bao nhiêu người trong chúng ta, có lẽ vô tình thôi, xem những hướng dẫn của Đức Chúa Trời cho hôn nhân theo phong cách đó. Điều đó có vẻ như khi chúng ta đặt hạnh phúc của người bạn đời ưu tiên hơn hạnh phúc của chúng ta, thì dù thế nào chúng ta cũng là người mất mát. Xin lưu ý rằng nếu chúng ta cứ giữ thái độ này, chúng ta sẽ cứ trung thành với những lời hứa nguyện hôn nhân ở mức độ đôi bên cùng có lợi, nghĩa là bao lâu việc hy sinh cho người bạn đời còn đem lại những gì chúng ta muốn thì chúng ta vẫn còn vui vẻ giữ đúng lời hứa nguyện.
Lúc nào mà chúng ta phải chọn lựa giữa hạnh phúc của chúng ta và hạnh phúc của họ, thì khi đó lời hứa nguyện hôn nhân sẽ trở thành giống như nhà ngục, cách ly chúng ta khỏi tự do và vui thỏa. Nếu chúng ta chọn tôn trọng lời hứa, chúng ta sẽ thực hiện trong tinh thần “chịu án tù”.
Xin đọc kỹ đoạn đối thoại tiêu biểu sau đây:
Chuyên gia : “Bà có thấy là cuộc hôn nhân của bà đem lại một cơ hội duy nhất để bà thực sự chăm sóc cho nhu cầu của chồng bà không?”
Người vợ : “Vâng, tôi biết điều ông nói - rằng tôi phải cố gắng gây dựng để anh ấy cảm thấy thoải
mái hơn với chính mình. Tôi đã nỗ lực nhiều năm rồi. Điều đó cũng chẳng giúp gì
được, nhưng tôi vẫn đang cố gắng”.
Chuyên gia : “Tại sao?”
Người vợ : “Tại sao gì ạ?”
Chuyên gia : “Tại sao bà vẫn cứ tiếp tục chăm sóc cho ông nhà?”
Người vợ : “Vì tôi biết đó là bổn phận”
Chuyên gia : “Theo như bà nói thì bà sẽ vẫn tiếp tục vì đó là bổn phận của bà. Nhưng bà có để tâm vào đó đâu. Bà đâu có thật sự muốn làm như vậy”.
Người vợ : “Không, tôi không muốn”.
Chuyên gia : “Thế thì tôi thấy bà có quá ít lý do để mà cố gắng”.
Đến thời điểm này thì người vợ đang hoang mang kia thắc mắc có lẽ tôi, với vai trò chuyên gia tư vấn, đang ủng hộ việc ly dị hay ly thân chi đây. Thật ra tôi không hề đề nghị đều gì đại loại như vậy. Bà ấy phải vâng phục chồng và nỗ lực trong việc chăm sóc ông ấy.Nhưng trừ phi ở trong một mức độ sâu kín nào đó bà ấy ao ước muốn làm một người vợ hiền, còn không thì những cố gắng của bà ấy chẳng khác gì cuộc tổng dượt của một kịch bản có sẵn. Điều đó chẳng giúp ích gì cho việc thể hiện vai trò người vợ hiền.
Chúng ta có thể thắc mắc tại sao một người vợ lại muốn chăm sóc cho một ông chồng trái tính khó chịu, lạnh lùng, cự tuyệt. Bị áp lực phục tùng theo mạng lịnh của Kinh thánh thì không đủ. Xin nhớ lại trường hợp người đàn ông đang chết đói lại có một người hàng xóm đói. Giả dụ bạn đoan chắc với ông ta rằng đang có một bữa tiệc thịnh soạn chuẩn bị đặc biệt cho ông ta. Như để chứng tỏ là sẽ có một tương lai sáng lạn chờ đợi ông ta, bạn mời ông ta làm món tôm cocktail khai vị và một món thịt filê bò ngon nhất ăn làm mẫu. Tưởng tượng thêm là bạn cam đoan với ông ta rằng có đủ thịt cho mọi người ăn chán chê thì thôi. Khi ông ta nhìn sang bên kia hàng rào nhà ông hàng xóm xanh mướt gầy yếu kia, giả định rằng cái điều gây ấn tượng nhất nơi ông ta là nhu cầu của ông hàng xóm và rằng chính sự nhận thức bộc phát này làm lu mờ tất cả những ký ức về những lần cãi vả trước đây, liên quan đến việc mượn những cái máy cắt cỏ và những buổi tiệc tùng ồn ào.
Thử tưởng tượng thêm một bước nữa đi. Giả dụ rằng người chủ bữa đại tiệc yêu cầu ông ta mang một miếng thịt bò sang cho người hàng xóm rồi mời ông hàng xóm sang dự tiệc. Không lẽ ông ta sẽ trả lời kiểu: “Ờ, tôi không muốn, nhưng tôi cho rằng làm thế là đúng. Thôi được rồi, tôi sẽ đem đi” sao? Hay là ông ta sẽ ba chân bốn cẳng chạy sang nhà bên cạnh mang theo tin mừng rằng thức ăn đầy tràn, sẵn sàng nhiệt tình chia sẻ miếng thịt để thuyết phục người hàng xóm cùng dự tiệc chung với mình?
Cuộc hôn nhân Cơ Đốc, dựa trên sự chu cấp của Đức Chúa Trời cho nhu cầu của chúng ta, cũng giống như thí dụ này. Tất cả các nhu cầu của tôi đều được đáp ứng đầy đủ trong Đấng Christ. Sự giàu có của thiên đàng là của tôi. Tôi được kêu gọi niềm tin như thế. Và Đức Chúa Trời cũng cho tôi nếm thử cái đang chờ đợi tôi trong tương lai để khích lệ niềm tin của tôi. Điều đáng buồn là có ít Cơ Đốc nhân thật sự nếm trải và thấy rằng Đức Chúa Trời là thiện hảo. Niềm vui thông công với Đấng Christ và phục vụ trong danh Ngài không còn là một thực tế xúc động đối với nhiều Cơ Đốc nhân vì họ không dấn thân đủ cho Ngài. Nhưng những ai từng đặt cược hoàn toàn cho Đấng Christ đều biết về niềm vui và sự bình an Ngài ban.
Đức Chúa Trời bảo tôi nên chia sẻ với người khác những gì Ngài ban cho tôi. Với cái nhìn rõ ràng của một người đã được thỏa mãn cơn đói phần nào hiện nay và sẽ được no đủ trong tương lai, tôi có thể thấy bên dưới những gì vợ tôi gây bực mình cho tôi là nhu cầu của nàng, y như những thức ăn tôi đang thưởng thức. Lòng tôi thấy thương cảm. Tôi cảm thấy ước ao được là công cụ của Đức Chúa Trời để tạo hy vọng trong tâm nàng hầu đem sự thỏa mãn cho cơn đói của nàng.
Tôi xin tóm tắt điều này trong một câu: nếu tôi đã kinh nghiệm giải đáp cho những khao khát sâu thẳm của mình trong Christ, thì tôi sẽ có thể nhìn vượt quá những khát khao của mình để nhận ra nhu cầu của vợ mình. Và khi tôi thấy được nhu cầu của nàng, những kinh nghiệm về sự thỏa đáp của Đấng Christ sẽ tạo nên trong tôi một khát khao sâu lắng, nhằm đem lại sự thỏa mãn tương tự trong vợ mình.
Điều có vẻ lý thuyết này có vẻ tao nhã hơn những thực tế của việc tranh cãi hàng ngày không? Sự kiện khiến chúng ta chú ý như là vượt quá nếp sống bình thường, là chúng ta thường sống dưới mức nếp sống bình thường của Cơ Đốc nhân bao xa. Bình thường thì Cơ Đốc nhân đều phải nếm trải và thấy rằng Đức Chúa Trời là thiện hảo. Rồi, vì cớ tin chắc vào sự thiện hảo của Ngài và thỏa lòng với chương trình của Ngài trên đời sống chúng ta, chúng ta đều xem chính mình như công cụ trong sự phục vụ. Sự hiểu biết về hôn nhân cách đúng đắn như là sự kêu gọi vào sự phục vụ cao hơn, sẽ khiến chúng ta nhìn vào những nhu cầu sâu kín nhất của người phối ngẫu và trân trọng cơ hội độc đáo chúng ta có, để có thể vươn tới những nhu cầu ấy trong những phương cách đặc biệt.
Vì cớ không kinh nghiệm được sự thỏa lòng do an nghỉ trong sự thiện hảo của Đức Chúa Trời, nên chúng ta quay sang tìm kiếm sự đáp ứng nhu cầu nơi người bạn đời. Khi họ không làm chúng ta thỏa lòng, khổ nỗi chắc chắn là thế, chúng ta rút lui đến một khoảng cách an toàn nhằm giảm thiểu sự khó chịu của mình. Nhưng vì là “những Cơ Đốc nhân - sống theo - Kinh thánh”, chúng ta cứ tiếp tục làm tròn những trách nhiệm đối với hôn nhân cách cao thượng, trong tinh thần vâng phục của một kẻ tử đạo, tin rằng Đức Chúa Trời sẽ thán phục sự tận tụy trong bổn phận của chúng ta.
Những Cơ Đốc nhân nào thử nghiệm Đức Chúa Trời bằng cách thuận phục ý chỉ của Ngài, thường xuyên xét lại những động cơ của mình để xem thử lúc nào mình tự bảo vệ, thay vì chăm sóc phục vụ, những người ấy đang nếm trải sự thiện hảo của Đức Chúa Trời. Những người này ngày càng thấy sự dấn thân tận hiến trong hôn nhân là dịp tiện để theo đuổi những nguyện vọng sâu kín nhất của mình, để đi theo con đường tốt đẹp và để mời người bạn đời của mình cùng đi. Lời hứa nguyện hôn nhân của họ không bị xem như một bổn phận bị ép buộc phải hoàn thành.
Điểm 3: Không thể đổ lỗi cho người bạn đời khi chúng ta tôn trọng lời hứa nguyện hôn nhân mà chẳng thấy vui vẻ gì . Lỗi là do chúng ta thất bại trong sự nương cậy vào sự thiện hảo của Đức Chúa Trời .
Điểm thứ ba tất nhiên xuất phát từ hai điểm trên: không có thái độ nào ngoan cố hơn là đổ lỗi cho ai đó, hay điều gì đó vì mình thiếu trái Thánh Linh. Kinh thánh quả quyết rằng vui mừng là kết quả của sự hành động của Thánh Linh trong đời sống chúng ta. Khi chúng ta thuận phục theo sự chỉ đạo của Ngài. Tuy nhiên, khi bực bội hoặc nản lòng ngăn trở niềm vui của chúng ta, lập tức tâm trí chúng ta hướng đến một ai đó đã gây ra điều này.
Trong tâm trạng cho rằng chỉ có mình là đúng đắn, chúng ta tự nhắc (và nhắc cả chuyên gia tư vấn) về những điều chúng ta phải chịu đựng. Đằng sau việc đổ lỗi cho người bạn đời là một giả định tinh vi, phi Kinh thánh: chúng ta thiếu niềm vui là do lỗi của người bạn đời. Nếu anh ấy hay cô ấy thay đổi, thì tôi sẽ vui thích vai trò người chồng đáng yêu hay một người vợ thuận phục ngay thôi. Niềm vui được xem như kết quả từ thái độ và hành vi của người bạn đời, chứ không phải là trái của Thánh Linh.
Tuy nhiên, phần lớn hạnh phúc chủ quan của tôi tùy thuộc vào cách vợ tôi đối xử với tôi. Tôi có một người vợ yêu thương, tôn trọng tôi và tôi hoàn toàn tận hưởng sự nhiệt tình và hỗ trợ của cô ấy. Do thái độ của cô ấy đối với tôi, tôi có thể tôn trọng sự dấn thân yêu thương cô ấy với một cảm giác dễ chịu, thích thú. Nếu cô ta lại công kích tôi, tôi biết chắc rằng lời hứa nguyện yêu thương cô ta như Đấng Christ yêu Hội thánh sẽ bị thử thách nặng nề. Cho dù tôi có nương cậy Chúa vững vàng đến đâu để có thể tiếp tục trung thành chăm sóc vợ như một người chồng yêu dấu đi nữa, thì niềm vui đặc trưng của sự chăm sóc vợ tôi trước khi cô ta lạnh nhạt với tôi cũng sẽ biến mất hoặc phôi phai.
Nếu vậy thì niềm vui của tôi ở đâu? Nếu nó không còn, thì tôi có gì không đúng khi cho rằng tôi mất vui vì vợ tôi thay đổi thái độ? Nếu tôi có bộc lộ một tinh thần thất bại, buồn thảm khi duy trì sự hứa nguyện yêu thương cô ta, chằng lẽ tôi không được đổ lỗi cho vợ vì mình không vui vẻ sao?
Mặc dù niềm vui sướng khi ôm ấp một người vợ cũng yêu thương mình không còn nữa, việc mất vui khi chăm sóc phục vụ trong hôn nhân cũng phản ánh qua việc tôi không còn tin rằng chương trình của Đức Chúa Trời dành cho đời sống tôi là tốt đẹp nữa. Bao lâu mà chương trình của Ngài còn bao gồm một người vợ đáng yêu, bấy lâu tôi không gặp khó khăn trong việc tin tưởng vào sự thiện hảo của Đức Chúa Trời. Nhưng khi Ngài bảo tôi yêu một phụ nữ khước từ mình, thì tôi phải có một đức tin khổng lồ mới có thể tiếp tục tin rằng chương trình của Ngài là tốt đẹp. Tuy nhiên, nếu tôi cứ tiếp tục tin tưởng như thế, niềm vui trong sự phục vụ của tôi vẫn còn.
Vị giáo sĩ được Chúa thưởng cho công khó bằng nhiều linh hồn tiếp nhận Chúa quay trở về Hội thánh quê hương vui mừng rạng rỡ làm chứng lại ơn phước Chúa ban. Còn vị giáo sĩ cũng khó nhọc nhưng không thấy kết quả rõ ràng thì không thể có cùng một niềm vui thích như vậy. Nhưng ông này không cần phải cúi mặt trở về quê. Dù nỗi đau thất vọng là rõ ràng và có thể gây ra tranh chiến thuộc linh cũng như tự phê bình, nhưng đầy tớ trung tín của Chúa có lý do để vui mừng trong sự đoan chắc rằng mỗi một hành động vâng lời vì danh Chúa cũng đủ được xem như hoàn tất mục đích đã định và khiến Chúa mỉm cười.
Tôi thú thật rằng tôi thích được làm vị giáo sĩ với chức vụ gặt hái khả quan, cũng như tôi thích được làm chồng của một người vợ đáng yêu. Nhưng cho dù được chúc phước với những hoàn cảnh vui vẻ hay bị thử thách đau đớn, thì nền tảng cuối cùng của sự vui mừng của Cơ Đốc nhân vẫn giống nhau: tin chắc rằng sự trung tín của chúng ta đẹp lòng Chúa và được Ngài sử dụng tùy theo chương trình tốt đẹp của Ngài, Vì chương trình của Ngài là thiện hảo nên sự vâng lời đem lại niềm vui cho Cơ Đốc nhân chân thật.
Một số cặp vợ chồng đến văn phòng tôi gần đây, đã lắc đầu khi tôi đề cập đến những khái niệm này với họ. Sự dạy dỗ này rất khó. Không dễ xây dựng (hay tái thiết) cuộc hôn nhân trên niềm tin chắc chắn rằng ân điển của Đức Chúa Trời là đủ để tiếp tục vâng lời (Viên gạch xây dựng 1) và đủ để tôn trọng lời nguyện ước với niền tin khẳng định rằng chương trình của Đức Chúa Trời là thiện hảo (Viên gạch xây dựng 2).
Sự khó khăn nằm một phần ở chỗ chúng ta không hiểu được rằng Đức Chúa Trời có đủ khả năng: chúng ta nản lòng với nan đề và rồi bỏ cuộc và phần kia của vấn đề là nhận thức giới hạn và lay động của chúng ta rằng Đ.C.T. là thiện hảo: chúng ta mất đi khát khao chân thật là đi theo sự chỉ dẫn của Chúa.
Nhưng một vài trở ngại khiến không thể vui vẻ và kiên trì trong sự chăm sóc phục vụ của chúng ta là do hoang mang không biết xử lý thế nào đối với những xung đột trong mối quan hệ hôn nhân của mình. Điều này dẫn đến viên gạch xây dựng thứ 3, là chủ đề của chương tiếp theo.





† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 16-12-2018 11:15 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách