† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2780|Trả lời: 0

Nếp Sống - Lời nói đầu

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-9-2011 19:15:39 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Nếp Sống Cộng Đồng
Tác giả: Dietrich Bonhoeffer

Lời nói đầu

Điều chúng ta bàn ở đây, vì cớ bản chất của nó, chỉ có thể được thực hiện với nỗ lực của tập thể. Vì đây không phải là việc riêng của một nhóm người, nhưng là nhiệm vụ được giao cho Hội Thánh, nên vấn đề không phải là những cách giải quyết vấn đề riêng rẽ, một cách ngẫu nhiên, nhưng là trách nhiệm của Hội Thánh chung. Thái độ dè dặt, một sự dè dặt rất dễ hiểu, của Hội Thánh trước nhiệm vụ này nên nhường chỗ cho tinh thần sẵn sàng giúp đỡ. Sự đa dạng của các cộng đồng trong Hội Thánh đòi hỏi tất cả mọi người có trách nhiệm phải cảnh giác cộng tác. Quyển sách này chỉ muốn góp phần nho nhỏ vào vấn đề rộng rãi này và nếu có thể cũng muốn giúp để lý giải và thực hành.

CỘNG ĐỒNG
“Kìa, anh em sống hoà thuận với nhau, thật tốt đẹp thay!” (Thi Tv 133:1). Chúng ta cùng nhau suy niệm vài lời Kinh Thánh răn dạy chúng ta về nếp sống cộng đồng.
Đối với người tin Chúa Giê-xu Cứu Thế, sinh hoạt cộng đồng với các anh chị em tín hữu khác không phải là một việc dĩ nhiên. Chúa Giê-xu Cứu Thế đã từng phải sống chung với những người thù nghịch Chúa. Trong những giờ phút cuối cùng, lúc Chúa bị bắt, tất cả các môn đệ đã bỏ Chúa trốn đi. Chúa chịu đau khổ một mình trên cây thập tự, hoàn toàn cô độc giữa những người tội lỗi xấu xa đang cười nhạo Ngài. Chúa đã đến trong trần thế để đem sự bình an cho kẻ thù chống lại Đức Chúa Trời. Người tin Chúa cũng vậy, không sống cuộc đời ngăn cách trong tu viện nhưng sống giữa những người thù nghịch mình. Đó là sứ mạng, là công tác của tín hữu. “Nước Trời phải thể hiện giữa những người thù nghịch bạn. Nếu ai không sẵn sàng chịu cái khổ này mà chỉ muốn quây quần với bạn bè, chỉ muốn ngồi trên những cánh hoa hồng hoặc hoa huệ, không muốn sống với những người xấu xa mà chỉ muốn sống với những người sùng đạo, người đó không thuộc về Nước Chúa. Đó là những người phạm thượng và phản bội Chúa Cứu Thế! Nếu Chúa Cứu Thế cũng xử sự như thế thì ai sẽ được phước hạnh đời đời?” (Luther).
“Ta đã gieo họ ra giữa các dân, ở các nước xa họ sẽ nhớ lại ta” (XaDr 10:9). Theo ý muốn tốt lành của Đức Chúa Trời, cộng đồng tín hữu đã trở thành một dân tộc tan lạc, như những hạt giống “bị xô đùa đây đó trong tất cả các nước của thế gian” (PhuDnl 28:25). Đó là một lời nguyền rủa, nhưng cũng là Lời Hứa dành cho chúng ta, dân Chúa phải sống trên đất khách, giữa những người ngoại đạo, nhưng trở thành hạt giống của Nước Trời trên khắp thế giới.
“Ta sẽ nhóm hiệp họ, vì ta đã chuộc họ lại”, “họ sẽ trở về” (XaDr 10:8, 9). Lời Hứa này thành sự thực lúc nào? Lời Hứa này đã thành sự thực trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Chúa đã chết để “nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tan lạc lại làm một đoàn” (GiGa 11:52), và Lời Hứa này sẽ thành sự thực trong ngày Chúa tái lâm, khi các Thiên sứ của Đức Chúa Trời “nhóm lại những người đã được chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời này cho đến tận phương trời kia” (Mat Mt 24:31). Từ nay cho đến ngày đó tuy dân Chúa phải sống tản mác nhưng được nối kết lại với nhau trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, là hạt giống gieo ra giữa người ngoại đạo nhưng trở thành hiệp nhất bằng cách tưởng nhớ Chúa trên đất khách quê người.
Vì thế trong khoảng thời gian giữa cái chết của Chúa và ngày Chúa tái lâm, sự kiện cộng đồng hữu hình của các tín hữu sinh hoạt chung với nhau là một điềm chỉ biểu thị thực chất vĩnh hằng sẽ đến trong ngày Chúa tái lâm. Nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời mà Hội Thánh được phép hội họp quanh Lời và Thánh Lễ của Chúa. Không phải tất cả mỗi tín hữu đều có được diễm phúc này. Những tù nhân, bịnh nhân, những người bị lưu lạc và các vị truyền giáo Tin Lành cho người nước ngoài phải sống một mình. Họ thấm thía hơn ai hết rằng, cộng đồng hữu hình là ân sủng của Chúa. Họ cầu nguyện bằng lời thơ:
“Xưa tôi đi cùng đoàn chúng,
Dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời,
Có tiếng reo mừng và ngợi khen,
Một đoàn đông giữ lễ” (Thi Tv 42:4).
Nhưng bây giờ, theo ý chỉ tốt lành của Đức Chúa Trời, họ sống một mình, làm hạt giống gieo ra trên đất khách.
Tuy nhiên, cái kinh nghiệm được sinh hoạt cộng đồng chung với các anh chị em trong Chúa mà họ không có, họ lại kinh nghiệm nồng nàn trong đức tin. Vì thế cho nên Sứ đồ Giăng, một môn đệ của Chúa, tuy bị đày ải một mình trên đảo Bát-mô, có thể vui mừng dự Lễ Thờ Phượng Chúa chung với Hội Thánh “trong ngày của Chúa” (KhKh 1:10). Sứ đồ Giăng thấy bảy chân đèn, là bảy Hội Thánh; thấy bảy ngôi sao, là bảy Thiên sứ của Hội Thánh; và thấy ở giữa những chân đèn có Con Người, là Chúa Giê-xu Cứu Thế, trong vinh quang của Đấng Phục sinh. Chúa đã dùng Lời Chúa khích lệ và an ủi Sứ đồ Giăng. Đó là mối tương giao thiên thượng mà người tù bị đày ải đó được dự phần trong ngày phục sinh của Chúa.
Đối với người tin Chúa, mối tương giao với các anh chị em khác là một nguồn vui mừng và là một niềm khích lệ khôn tả. Sứ đồ Phao lô trong tù đã mong đợi “người con trai yêu dấu trong đức tin” là Ti-mô-thê đến sống với mình trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. Phao lô không quên được những giọt lệ của Ti-mô-thê trong lần chia tay cuối cùng (IITi 2Tm 1:4). Mỗi lần suy nghĩ đến Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca, Phao lô “đêm ngày thành tâm nài xin Chúa cho phép gặp lại anh em” (ITe1Tx 3:10). Và cụ Sứ đồ Giăng cũng tâm sự rằng, niềm vui của mình chỉ trọn vẹn khi cụ, thay vì dùng giấy mực, có thể đích thân đi thăm và trò chuyện với các tín hữu của mình (IIGi 2Ga 1:12).
Người tin Chúa không hổ thẹn rằng mình còn rất xác thịt khi mong ước được gần gũi tương giao với các tín hữu khác. Con người được dựng nên trong thể xác. Trong thể xác Con Đức Chúa Trời đã đến trần gian vì cớ chúng ta, trong thể xác Chúa đã sống lại, trong thể xác người tín hữu tiếp nhận Chúa Cứu Thế, và sự sống lại từ cõi chết sẽ đem lại sự tương giao trọn vẹn của những con người có thể xác và linh hồn do Đức Chúa Trời dựng nên. Người tín hữu ca tụng Đấng Sáng Tạo, là Đấng Giải Hoà và Đấng Cứu rỗi, là Chúa Cha, Con và Thánh Linh, về sự hiện diện trong thể xác của các anh chị em trong Chúa. Các tu sĩ, bệnh nhân, các tín hữu bị lưu lạc khi được tương giao với các anh chị em trong Chúa cảm nghiệm được sự hiện hiện của Chúa Ba Ngôi. Trong khung cảnh cô đơn, người đi thăm và người được thăm nhận diện Chúa Cứu Thế là Đấng đang hiện diện trong con người của nhau. Họ tiếp nhau và gặp nhau trong tinh thần kỉnh kiền, khiêm cung và vui mừng như thể đang gặp Chúa. Họ nhận lãnh phước hạnh của nhau như thể phước hạnh của chính Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nhưng nếu chỉ gặp anh chị em một lần ngắn ngủi mà còn được nhiều phước hạnh như vậy, thì những người được sinh hoạt tương giao với nhau mỗi ngày còn phước hạnh nhiều hơn là dường nào!
Tuy nhiên, cái ân sủng mà người cô đơn quí trọng bao nhiêu lại càng dễ bị người nhận lãnh mỗi ngày khinh thường và chà đạp bấy nhiêu. Ta thường quên rằng, sự tương giao với các anh chị em trong Chúa là món quà ân sủng đến từ Nước Trời. Món quà này có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào. Khoảng cách giữa ta và cái cô đơn sâu thẳm đó có thể chỉ là một khoảng thời gian rất ngắn ngủi. Vì thế, ai đang được sống cộng đồng với những tín hữu khác, người đó nên thành tâm ca tụng ân sủng của Đức Chúa Trời, phải quì gối cảm tạ Đức Chúa Trời và xưng nhận rằng: sở dĩ chúng ta ngày nay còn được sống cộng đồng với các anh chị em trong Chúa là nhờ ân sủng và chỉ nhờ ân sủng của Chúa mà thôi.
Đức Chúa Trời ban cho mỗi cộng đồng hữu hình một lượng ân tứ khác nhau. Một chuyến viếng thăm ngắn ngủi của các anh chị em trong Chúa, một buổi cầu nguyện chung, một lời chúc phước có thể an ủi những tín hữu đang cô độc rất nhiều. Một bức thư do chính tay một anh chị em đích thân viết có thể là một niềm khích lệ rất lớn. Lời chúc phước do chính tay Phao lô viết trong những bức thư của mình cũng nói lên mối tương giao đó. Chúa cho nhiều người có đặc ân tương giao với nhau mỗi ngày Chúa nhật trong Lễ Thờ Phượng. Cũng có người được diễm phúc sống một cuộc đời theo Chúa trong gia đình đoàn tụ hạnh phúc. Các sinh viên thần học trước khi thụ phong Mục sư được Chúa cho phép sống chung với các bạn đồng môn trong thời gian tu học. Ngày nay, những tín hữu tin kính rất khát khao được sinh hoạt cộng đồng với các anh chị em khác trong thời gian rảnh rỗi. Tín hữu ngày nay hiểu rằng, sinh hoạt cộng đồng là ân sủng, sống tương giao là diễm phúc, là “hoa hồng và hoa huệ” của cuộc đời theo Chúa (Luther).
Qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế
Hội Thánh là một cộng đồng qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Cộng đồng tín hữu luôn luôn phải có - và chỉ có - ý nghĩa này. Dù chỉ là một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi hoặc là một cộng đồng sinh hoạt suốt năm, các tín hữu luôn luôn ở trong mối tương giao này. Chúng ta thuộc về nhau chỉ qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi.
Điều này có nghĩa là gì?
Thứ nhất : Vì cớ Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu cần anh chị em trong Chúa .
Thứ hai : Chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu đến với anh chị em trong Chúa .
Thứ ba : Trong Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta được lựa chọn từ cõi vĩnh hằng đời đời , được chấp nhận trong thời gian hữu hạn và được hiệp nhất trong cõi vĩnh hằng đời đời .
Thứ nhất : Người tin Chúa là người không còn tự đi tìm ân phúc cứu rỗi, sự công chính nơi chính mình nữa, nhưng chỉ tìm nơi Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Người tín hữu biết rằng Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế kết án mình phạm tội mặc dầu mình không cảm thấy có tội, và Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế xử mình trắng án và công chính mặc dầu mình không cảm thấy công chính. Người tín hữu không nhờ chính mình, không nhờ tự tố cáo và tự bào chữa mà sống nữa, nhưng sống nhờ Đức Chúa Trời tố cáo mình và bào chữa cho mình. Người tín hữu sống hoàn toàn nhờ Lời của Đức Chúa Trời phán quyết về bản thân mình, tin tưởng đầu phục dưới Lời tuyên án - tha bổng hoặc kết tội - của Đức Chúa Trời.
Cái chết và sự sống của người tín hữu không nằm trong tay của mình nữa, nhưng người tín hữu tìm thấy cái chết và sự sống trong Lời Đức Chúa Trời đến với mình. Các nhà Cải Chánh Tin Lành đã diễn đạt điểm này như sau: Sự công chính của chúng ta là “sự công chính ngoại nhập”, một sự công chính từ ngoài đến (extra nos). Người tín hữu tuỳ thuộc vào Lời Đức Chúa Trời phán với mình, nương tựa vào Lời từ ngoài đến với mình, sống hoàn toàn do Chân lý của Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nếu có người hỏi: “Ân cứu rỗi của bạn ở đâu, niềm hạnh phúc của bạn ở đâu, sự công chính của bạn ở đâu?”, người tín hữu sẽ không bao giờ dẫn chứng chính bản thân mình, nhưng dẫn chứng Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế là Lời đã ban cho mình ân cứu rỗi, niềm hạnh phúc và sự công chính. Người tín hữu chỉ kỳ vọng nơi Lời Đức Chúa Trời. Vì hằng ngày khao khát sự công chính nên người tín hữu hằng ngày mong đợi Lời Đức Chúa Trời. Chỉ nhờ “từ ngoài” mà ta no nê, đã khát. “Từ trong” chỉ là nghèo khổ và cái chết. Sự giải cứu phải đến từ ngoài, đã đến và đến mỗi ngày qua Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế, là Lời đem lại cho chúng ta sự Cứu rỗi, Công chính, Vô tội và Hạnh phúc.
Đức Chúa Trời đã đặt Lời này trong môi miệng của chúng ta để chúng ta có thể chia sẻ Lời này cho người khác. Ai đã từng đối diện với Lời Chúa, người đó sẽ chia sẻ Lời Chúa cho người khác. Đức Chúa Trời muốn chúng ta đi tìm và tìm thấy Lời Sống của Chúa qua Lời Chứng của các anh chị em trong Chúa, qua môi miệng của con người. Vì thế người tín hữu cần các anh chị em khác chia sẻ Lời Đức Chúa Trời cho mình. Những lúc nghi ngờ, chán nản, ta luôn luôn cần anh chị em trong Chúa; ta không thể tự giúp bản thân ta, mà chỉ đánh mất chân lý rồi tự lừa mình mà thôi. Người tín hữu cần anh chị em trong Chúa làm người khuân vác và rao truyền Lời Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời cho mình. Vì cớ Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu cần anh chị em trong Chúa. Chúa Cứu Thế trong tâm ta yếu đuối hơn Chúa Cứu Thế trong lời của người anh chị em; trong ta Chúa ẩn hiện lờ mờ, trong người anh chị em Chúa mạc khải rõ ràng.
Vì thế mục tiêu chung của tất cả các cộng đồng tín hữu rất rõ ràng: gặp nhau để chia sẻ Phúc Âm. Vì cớ mục tiêu này nên Đức Chúa Trời cho phép chúng ta có cơ hội họp lại và ban cho chúng ta một mối tương giao. Mối tương giao của chúng ta chỉ đặt căn bản trên Chúa Giê-xu Cứu Thế và “sự công chính ngoại nhập” mà thôi. Chúng ta cũng có thể khẳng định rằng: Mối tương giao của người tín hữu xuất phát từ Phúc-âm-về-sự-xưng-công-chính-nhờ-ân-sủng. Đó là Phúc Âm của Kinh Thánh và của phong trào Cải chánh. Các tín hữu mong đợi nhau chỉ trong mối tương giao này mà thôi.
Thứ hai : Chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu mới có thể đến với anh chị em trong Chúa. Con người xung khắc nhau, nhưng “Chúa là sự bình an của chúng ta” (Eph Ep 2:14). Trong Chúa, nhân loại đang chia rẽ trở thành hiệp nhất. Nếu không có Chúa Cứu Thế, Đức Chúa Trời và con người xung khắc nhau, và con người xung khắc với con người. Chúa Cứu Thế đã trở thành môi giới hoà giải con người với Đức Chúa Trời và con người với nhau. Nếu không có Chúa Cứu Thế ta không thể nhận biết Đức Chúa Trời, không thể kêu cầu với Đức Chúa Trời, không thể đến với Đức Chúa Trời. Nhưng nếu không có Chúa Cứu Thế ta cũng không thể nhận diện và không thể đến với các anh chị em của ta. Con đường nối liền chúng ta với nhau bị cái Tôi ngăn chận. Chúa Cứu Thế đã khai thông con đường đến với Đức Chúa Trời và đến với anh chị em trong Chúa. Nhờ đó các tín hữu có thể sống hoà thuận với nhau, yêu thương nhau, phục vụ nhau và nhất trí với nhau. Nhưng chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế và chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Chỉ trong Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta mới trở thành một, chỉ qua Chúa chúng ta mới liên hệ mật thiết với nhau. Chúa là người môi giới duy nhất, người môi giới vĩnh cữu đời đời.
Thứ ba : Khi giáng thế làm người, Con Trời đã chấp nhận bản thể và nhân tính của con người, chấp nhận chúng ta trong thực thể và xác thể. Đó là một quyết định vĩnh cữu của Chúa Ba Ngôi. Hiện nay chúng ta ở trong Chúa. Hễ Chúa ở đâu, Chúa mang thể xác của chúng ta ở đó; Chúa mang chúng ta. Hễ Chúa ở đâu, chúng ta cũng ở đó, ở trong sự nhập thể, ở trên cây thập tự và ở trong sự phục sinh của Ngài. Chúng ta thuộc về Chúa vì chúng ta ở trong Ngài. Vì thế Kinh Thánh gọi chúng ta là thân thể của Chúa Cứu Thế. Vậy nếu chúng ta cùng toàn thể Hội Thánh được lựa chọn và được chấp nhận trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, chúng ta cũng cùng nhau thuộc về Chúa trong cõi vĩnh cữu đời đời. Chúng ta, những người đang sống trong cộng đồng của Chúa, sẽ sống với Chúa trong mối tương giao vĩnh cữu đời đời. Khi đối diện với các anh chị em trong Chúa, chúng ta phải hiểu rằng, trong Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta đang hiệp nhất với các anh chị em mình. Tương giao trong Chúa là tương giao qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Tất cả những lời giáo huấn và điều luật trong Kinh Thánh dạy về nếp sống cộng đồng của tín hữu đều đặt trên điều kiện tiên quyết này.
“Còn như sự anh em yêu thương nhau, về điều đó, không cần viết cho anh em, vì chính anh em đã học nơi Đức Chúa Trời, phải yêu thương nhau, ... chúng tôi khuyên anh em luôn luôn thể hiện tình yêu thương đó mãi” (ITe1Tx 4:9). Chính Chúa đã đích thân dạy chúng ta bài học yêu-thương-anh-chị-em mình. Điểm duy nhất mà con người chúng ta còn có thể bổ túc cho bài học này là ghi nhớ lời giáo huấn của Chúa. Bài học yêu-thương-anh-chị-em bắt đầu khi Đức Chúa Trời thương xót chúng ta, khi Đức Chúa Trời mạc khải Chúa Giê-xu Cứu Thế làm Người Anh cho chúng ta, khi Đức Chúa Trời chiếm hữu tâm hồn của chúng ta qua tình yêu của Ngài. Vì Chúa đã thương xót chúng ta, chúng ta cũng phải học tập thương xót anh chị em của mình. Chúng ta đã nhận được sự tha thứ thay vì án phạt, chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ cho anh chị em của mình. Những điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta là những điều chúng ta mắc nợ anh chị em của mình. Hễ càng nhận lãnh bao nhiêu, chúng ta càng phải chia sẻ bấy nhiêu. Tình yêu-thương-anh-chị-em của chúng ta càng lạt lẽo bao nhiêu, chúng ta càng ít nương dựa vào sự thương xót và tình yêu thương của Đức Chúa Trời bấy nhiêu. Chính Đức Chúa Trời đã đích thân dạy chúng ta phương cách gặp nhau: Đức Chúa Trời đã tìm gặp chúng ta qua Chúa Giê-xu Cứu Thế. “Anh em hãy tiếp lấy nhau, cũng như Chúa Cứu Thế đã tiếp anh em, để Đức Chúa Trời được vinh quang” (RoRm 15:7).
Nhờ điểm này, trong khi sinh hoạt tương giao với nhau, ta có thể hiểu được giá trị của các tín hữu khác. Phao lô gọi Hội Thánh của mình là “các anh em trong Chúa” (Phi Pl 1:14). Sở dĩ tôi là anh, là chị, là em của người khác là nhờ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Đối với người khác tôi là một người anh chị em nhờ những điều mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã làm cho tôi và với tôi; người khác đối với tôi trở thành người anh chị em nhờ những điều mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã làm cho và với người đó. Thật vậy, chúng ta trở thành anh chị em chỉ nhờ Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Đây là một sự thật có ý nghĩa rất sâu xa. Không phải một người kỉnh kiền, ăn nói sùng đạo, xưng hô tình nghĩa là anh chị em. Nhưng anh chị em là người đã được Chúa Giê-xu Cứu Thế cứu rỗi, được giải phóng khỏi tội lỗi, được kêu gọi đến đức tin và đến sự sống vĩnh hằng. Tất cả những điều một tín hữu có, trong nội tâm và lòng sùng đạo, không thể làm căn bản cho mối tương giao của chúng ta, nhưng những điều phát xuất từ Chúa Cứu Thế mới là yếu tố thẩm định. Mối tương giao của chúng ta đặt căn bản trên những điều Chúa Cứu Thế đã làm cho chúng ta, không phải chỉ trong buổi đầu để rồi với dòng thời gian tình nghĩa anh chị em sẽ đổi khác. Mối tương giao trong Chúa sẽ luôn luôn tồn tại trong tương lai và cho đến đời đời. Chúng ta tương giao và sẽ tương giao với anh chị em qua Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Mối tương giao của chúng ta càng chân thật, càng sâu đậm bao nhiêu, tất cả những yếu tố khác giữa chúng ta càng trở thành thứ yếu bấy nhiêu, và Chúa Giê-xu Cứu Thế và công khó của Ngài giữa chúng ta càng rõ ràng, càng tinh ròng bấy nhiêu. Chúng ta có nhau chỉ qua Chúa Cứu Thế, và qua Chúa Cứu Thế chúng ta mới thực sự có nhau, có nhau mãi mãi.
Ngoài ra nếu ta còn đòi hỏi điều nào khác nữa tức là ta đã gieo mầm mống chia rẽ ngay từ buổi đầu. Nếu ta muốn có nhiều hơn điều mà Chúa Cứu Thế đã ban cho mình, thì ta không thành tâm mong đợi tình anh chị em trong Chúa. Ta chỉ đi tìm những kinh nghiệm đặc biệt trong cộng đồng mà ta không nhận được ở những chỗ khác mà thôi. Ta muốn đem vào tình anh chị em trong Chúa những ước mong không rõ ràng và không tinh ròng. Trong trường hợp này tình anh chị em trong Chúa thường bị nguy cơ nhiễm độc từ trong ngay từ đầu. Nguyên nhân là vì ta lầm lẫn giữa tình anh chị em trong Chúa với hình ảnh lý tưởng của một cộng đồng sùng đạo, là vì ta đồng hoá những đòi hỏi tự nhiên của tâm hồn sùng đạo với thực chất tâm linh của tình anh chị em trong Chúa.
Về tình anh chị em trong Chúa, chủ yếu là ngay từ đầu ta phải hiểu rõ rằng:
Thứ nhất : Tình huynh đệ trong Chúa không phải là một lý tưởng , nhưng là một thực thể thiên thượng .
Thứ hai : Tình huynh đệ trong Chúa là một thực thể thuộc linh chứ không phải là một thực thể tâm lý .
Nhiều cộng đồng tín hữu tan rã vì đã sinh hoạt dựa vào một hình ảnh lý tưởng. Ngay cả những tín hữu tin kính nhiệt thành cũng thường có một hình ảnh cố định nào đó về cách sinh hoạt cộng đồng của người theo Chúa và cố gắng thực hiện hình ảnh đó. Nhưng nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời nên tất cả những hình ảnh này đều không thể thực hiện được. Chúng ta phải vượt qua những nỗi thất vọng về người khác, về giới tín hữu nói chung và về chính mình để Đức Chúa Trời có thể hướng dẫn chúng ta nhận biết mối tương giao đích thực trong Chúa.
Bởi ân sủng, Chúa không để chúng ta - dù chỉ trong một thời gian ngắn - sống với những hình ảnh lý tưởng, đắm mình vào một kinh nghiệm vui thoả hoặc những cảm giác hạnh phúc nào đó. Đức Chúa Trời không bao giờ lợi dụng cảm xúc, nhưng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của chân lý. Chỉ khi nào cộng đồng thất vọng nhiều, những tội lỗi xấu xa ló dạng, lúc đó cộng đồng mới bắt đầu trở thành xứng đáng trước mặt Đức Chúa Trời, bắt đầu thấu đáo được Lời Hứa của Chúa dành cho mình trong đức tin. Nỗi thất vọng về cá nhân và về cộng đồng càng đến sớm chừng nào càng tốt chừng nấy. Một cộng đồng không chịu đựng nổi những nỗi thất vọng này sẽ không thể nào tồn tại được. Cộng đồng nào không dẹp bỏ, trái lại cố giữ những hình ảnh lý tưởng của mình, cộng đồng đó sẽ đánh mất Lời Hứa về sự sinh tồn dành cho một cộng đồng tín hữu. Cộng đồng đó không sớm thì muộn sẽ tan rã. Tất cả những hình ảnh lý tưởng của con người trong cộng đồng tín hữu đều cản trở sự tương giao chân thật; ta phải dẹp bỏ tất cả những hình ảnh lý tưởng đó để cộng đồng có thể sống thực. Ai yêu những mơ mộng của mình về một cộng đồng tín hữu nhiều hơn yêu chính cộng đồng tín hữu, người đó sẽ trở thành người phá hoại cộng đồng tín hữu, dầu rằng cá nhân người đó rất thành tâm, tin kính và hi sinh.
Đức Chúa Trời ghét mơ mộng; vì mơ mộng sinh kiêu ngạo và đòi hỏi nhiều. Ai mơ mộng một cộng đồng lý tưởng, người đó đòi hỏi Đức Chúa Trời, đòi hỏi người khác và đòi hỏi chính mình phải thực hiện những mơ mộng của mình. Người đó bước vào cộng đồng tín hữu với tư cách là người đòi hỏi, tự lập ra luật pháp riêng rồi dựa vào luật pháp đó phê chuẩn anh chị em và Đức Chúa Trời. Người đó cư xử khắt khe và là một người chỉ trích các anh chị em trong cộng đồng. Người đó hành động như thể mình vừa mới xây dựng cộng đồng, như thể hình ảnh lý tưởng của mình có thể nối kết mọi người. Những điều không hợp với ý muốn của mình, người đó cho là thất bại. Mơ mộng của người đó sụp đổ ở đâu, người đó cho là cộng đồng sụp đổ ở đó. Như thế người đó trước hết trở thành người kiện cáo anh chị em mình, rồi sau đó trở thành người kiện cáo Đức Chúa Trời, và cuối cùng trở thành người thất vọng kiện cáo chính mình.
Vì Đức Chúa Trời đã đặt một căn bản duy nhất cho cộng đồng của chúng ta, vì Đức Chúa Trời đã từ lâu nối kết chúng ta với các anh chị em khác trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, từ trước khi chúng ta bước vào mối tương giao với nhau, nên chúng ta không được bước vào cộng đồng với tư cách là người đòi hỏi, nhưng với tư cách là người cảm tạ và nhận lãnh. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời về những điều Ngài đã làm cho chúng ta. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài ban cho chúng ta các anh chị em là những người đang sống trong sự kêu gọi, trong sự tha thứ, trong Lời Hứa của Ngài. Chúng ta không than phiền về những điều mà Đức Chúa Trời không ban cho mình, nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời về những điều Ngài ban cho mình mỗi ngày. Các anh chị em trong Chúa vốn là những con người tội lỗi, tuyệt vọng, nay được bước đi và sống trong phước hạnh của ân sủng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những anh chị em đó, như vậy chưa đủ sao? Phải chăng những ân huệ mà Đức Chúa Trời ban cho cộng đồng tín hữu hằng ngày, kể cả trong những ngày khó khăn, nghèo khổ, ít giá trị hơn cộng đồng tín hữu? Lúc tội lỗi và hiểu lầm làm tổn thương sinh hoạt cộng đồng, phải chăng lúc đó người anh chị em tội lỗi không còn là anh chị em đang cùng với tôi sống trong Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế nữa sao? Và tội lỗi của người anh chị em không phải là một lý do mới để tôi cảm tạ Chúa rằng, tất cả chúng ta đều đang được sống trong tình yêu tha thứ của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Cứu Thế hay sao? Ngay cả lúc thất vọng về anh chị em của mình, lúc đó tôi không được bình an vô cùng sao? Vì lúc đó tôi học được rằng, tất cả chúng ta không bao giờ có thể sống nhờ lời nói và công đức riêng của mình, nhưng chỉ nhờ vào một Lời và một Công Đức đã nối kết chúng ta với chân lý, tức là nhờ sự tha thứ tội lỗi trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Khi những màn sương ban mai của mơ mộng tan đi, lúc đó ngày đẹp của mối tương giao trong Chúa bắt đầu.
Cũng như trong đời sống theo Chúa của mỗi cá nhân, cảm tạ là sinh hoạt chủ yếu trong cộng đồng tín hữu. Ai biết cảm tạ về việc nhỏ, người đó mới nhận được việc lớn. Chúng ta cản trở Đức Chúa Trời ban cho mình những ân tứ thuộc linh to lớn - mà Chúa dành sẵn cho chúng ta - vì chúng ta không cảm tạ về những điều chúng ta nhận lãnh hằng ngày. Chúng ta tưởng rằng mình không có quyền thoả mãn với những kiến thức, kinh nghiệm, tình yêu thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình trong khuôn khổ hạn hẹp. Chúng ta nghĩ mình phải luôn luôn khao khát những ân tứ to lớn. Rồi chúng ta phàn nàn rằng chúng ta thiếu hi vọng vững chắc, thiếu đức tin mạnh mẽ, thiếu kinh nghiệm già dặn mà Đức Chúa Trời đã ban cho các tín hữu khác. Chúng ta tưởng phàn nàn như vậy là thành tâm sùng đạo. Chúng ta cầu xin những việc lớn mà quên cảm tạ về những ân huệ nho nhỏ hằng ngày (nhưng thực ra không phải nhỏ!). Nhưng làm sao Đức Chúa Trời có thể giao cho chúng ta những sự việc to lớn trong khi chúng ta không biết cảm tạ nhận lãnh những sự việc nho nhỏ từ nơi Chúa. Nếu mỗi ngày chúng ta không cảm tạ về cộng đồng tín hữu mà Chúa đã đặt để chúng ta vào - cho dù cộng đồng không có kinh nghiệm đặc biệt, không giàu có cụ thể, mà chỉ có sự yếu đuối, đức tin nhỏ bé và nhiều nan đề mà thôi - thì chúng ta sẽ luôn luôn kiện cáo trước mặt Đức Chúa Trời về tất cả sự nghèo khổ, thiếu kém không tương ứng với điều chúng ta kỳ vọng; và như vậy chúng ta cản trở không để Đức Chúa Trời làm cho cộng đồng của chúng ta tăng trưởng theo tầm mức và sự giàu có mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã dành sẵn cho chúng ta.
Điểm này đặc biệt quan trọng đối với các vị Mục sư và những thành viên nhiệt tâm trong Hội Thánh, những người thường phàn nàn về Hội Thánh của mình. Mục sư không nên phàn nàn về Hội Thánh của mình, nhất là với người khác, cũng không được phàn nàn với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời giao phó Hội Thánh cho Mục sư không phải để Mục sư kiện cáo Hội Thánh trước mặt Ngài và trước mặt con người. Ai kiện cáo cộng đồng tín hữu của mình, người đó trước tiên phải tự xét lại, tự hỏi phải chăng chính hình ảnh lý tưởng của mình mới đáng bị Đức Chúa Trời phá huỷ. Nếu nhận thức như vậy, ta nên cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng đã hướng dẫn mình có được nhận thức này. Nếu nhận thức khác hơn, ta nên tránh trở thành người kiện cáo Hội Thánh của Đức Chúa Trời, nhưng tốt hơn kiện cáo chính mình về sự vô tín của mình. Ta phải xin Đức Chúa Trời cho mình thấy những thất bại và tội lỗi của riêng mình. Ta cần cầu xin Chúa đừng để mình phạm tội với anh chị em mình. Với ý thức mình cũng là một tội nhân, ta cầu thay cho các anh chị em mình. Như thế ta sẽ làm tròn bổn phận của mình và cảm tạ Đức Chúa Trời.
Cộng đồng tín hữu cũng tương tự như sự nên thánh của mỗi cá nhân tín hữu. Cộng đồng tín hữu là một món quà của Đức Chúa Trời tặng cho chúng ta tuy chúng ta không xứng đáng được hưởng. Chỉ có Đức Chúa Trời mới thấu đáo thực chất của cộng đồng chúng ta, cũng như chỉ có Ngài mới thấu đáo thực chất của sự nên thánh trong chúng ta. Những điều tuy có vẻ yếu đuối và tầm thường đối với chúng ta nhưng có thể là vĩ đại và vinh quang đối với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta cộng đồng tín hữu không phải để chúng ta mỗi ngày lo đo nhiệt độ của cộng đồng, cũng như người tín hữu không cần phải thường xuyên bắt mạch đời sống tâm linh của mình. Nếu chúng ta mỗi ngày càng biết ơn nhận lãnh những điều Đức Chúa Trời ban cho mình bao nhiêu, mỗi ngày cộng đồng sẽ càng tăng trưởng mạnh mẽ, đều đặn, và phát triển theo ý chỉ tốt lành của Đức Chúa Trời bấy nhiêu.
Tình anh chị em trong Chúa không phải là một tình yêu lý tưởng mà chúng ta phải thực hiện, nhưng là một thực thể do Đức Chúa Trời tạo dựng nên trong Chúa Cứu Thế. Chúng ta được dự phần vào thực thể này. Nếu chúng ta càng học biết thấu đáo rằng nền tảng, sức mạnh và Lời Hứa của cộng đồng tín hữu của tất cả chúng ta đều đặt trên Chúa Giê-xu Cứu Thế, chúng ta sẽ càng học tập suy nghĩ đến cộng đồng của chúng ta một cách bình thản hơn, rồi cầu nguyện và hi vọng cho cộng đồng.
Một thực thể thuộc linh, không phải là một thực thể tâm lý
Vì chỉ đặt nền tảng trên Chúa Giê-xu Cứu Thế nên cộng đồng tín hữu là một thực thể thuộc linh chứ không phải là một thực thể tâm lý. Đây là điểm phân biệt cộng đồng tín hữu với tất cả các cộng đồng khác.
Theo Kinh Thánh, “thuộc linh” là điều do Chúa Thánh Linh - Đấng đã ban Chúa Giê-xu Cứu Thế làm Chủ và Cứu Chúa trong tâm hồn chúng ta - tạo dựng nên. Còn “tâm lý” đến từ các bản năng, sức mạnh và tài năng thiên nhiên của linh hồn con người.
Căn bản của tất cả thực thể thuộc linh là Lời Đức Chúa Trời mạc khải rõ ràng trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Căn bản của tất cả thực thể tâm lý là những hoạt động và đòi hỏi đen tối, không tinh ròng của linh hồn con người. Căn bản của cộng đồng thuộc linh là chân lý, còn căn bản của cộng đồng tâm lý là dục vọng. Bản thể của cộng đồng thuộc linh là ánh sáng - vì “Đức Chúa Trời là ánh sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm” (IGi1Ga 1:5) và “nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta tương giao với nhau” (1:7). Bản thể của cộng đồng tâm lý là tối tăm - “vì thật là từ trong, từ lòng người mà ra những ác tưởng” (Mac Mc 7:21). Đó là sự tối tăm của đêm khuya, bao trùm trên những cội rễ của tất cả mọi hành động của con người xác thịt, cũng bao trùm trên tất cả các bản năng cao thượng và sùng đạo. Cộng đồng thuộc linh là cộng đồng của những người được Chúa Cứu Thế kêu gọi, còn cộng đồng tâm lý là cộng đồng của những linh hồn sùng đạo. Trong cộng đồng thuộc linh tình yêu sáng rực, là Agape, phục vụ anh chị em; còn trong cộng đồng tâm lý tình yêu tối tăm của bản năng vừa sùng đạo vừa vô đạo, tức là Eros, đốt cháy. Một bên là công tác phục vụ anh chị em một cách trong sáng rõ ràng, còn một bên là đòi hỏi thoả mãn không trong sáng rõ ràng. Một bên là khiêm nhường thuận phục anh chị em, còn một bên thì muốn anh chị em phải khiêm nhường thuận phục sự đòi hỏi của riêng mình. Trong cộng đồng thuộc linh chỉ có Lời Đức Chúa Trời hướng dẫn, trong cộng đồng tâm lý ngoài Lời Đức Chúa Trời còn có những con người có quyền hành, có kinh nghiệm, có ma lực thu hút đặc biệt. Một bên chỉ có Lời Đức Chúa Trời trói buộc, còn một bên ngoài Lời Đức Chúa Trời con người còn tự mình trói buộc mình. Một bên tất cả thế lực, vinh quang và quyền hạn đều ở trong Chúa Thánh Linh, còn một bên những người có quyền hành và có ảnh hưởng được quí trọng. Dĩ nhiên họ là những người sùng đạo, thành tâm thiện chí phục vụ, nhưng thực tế chỉ là soán ngôi Chúa Thánh Linh rồi đày Ngài đến một phương trời xa xăm vô tưởng. Ở đây chỉ có tâm lý mà thôi. Vì thế ở đó có Chúa Thánh Linh hướng dẫn, còn ở đây có kỹ thuật tâm lý, có phương pháp hướng dẫn. Ở đó có tình yêu chân thành giúp đỡ anh chị em, không có tâm lý, không có kỹ thuật, còn ở đây thì có phân tích và xây dựng tâm lý, ở đó có công tác phục vụ anh chị em một cách khiêm nhường, giản dị, còn ở đây có đối xử dò xét, tính toán của những con người xa lạ.
Có lẽ nhận xét sau đây giúp ta thấy điểm dị biệt giữa thực thể thuộc linh và thực thể tâm lý rõ ràng nhất. Trong cộng đồng thuộc linh không khi nào có sự liên hệ “trực tiếp” giữa một người với một người khác, còn trong cộng đồng tâm lý có sự đòi hỏi tương giao, đòi hỏi tiếp xúc trực tiếp với linh hồn người khác, một sự đòi hỏi tự nhiên, phát xuất từ đáy sâu của linh hồn con người. Dục vọng này của linh hồn con người đòi hỏi sự hoà hợp tuyệt đối giữa tôi với người hoặc bằng cách hợp nhất trong tình yêu, hoặc bằng cách ép buộc người khác phải khuất phục dưới quyền hành và ảnh hưởng của tôi. Người mạnh tâm lý được thoả mãn cùng cực và làm cho người yếu cảm phục, yêu thương hoặc sợ hãi. Ở đây những mối liên hệ, gợi cảm, lệ thuộc của con người đóng vai trò quan trọng, và tất cả những đặc điểm của một cộng đồng gián tiếp qua Chúa Cứu Thế cũng xuất hiện trong cộng đồng tâm lý trực tiếp, nhưng xuất hiện một cách méo mó.
Vì thế có loại tín hữu tâm lý. Tín hữu tâm lý bề ngoài giống như tin Chúa thực, nhưng thực ra tin Chúa do một người cố ý hoặc vô tình lạm dụng khả năng của mình làm cho một cá nhân hoặc cả một cộng đồng xúc động sâu xa đến nỗi bị lôi cuốn làm theo ý hướng của người đó. Trong trường hợp này linh hồn tác động trực tiếp trên linh hồn. Người yếu bị người mạnh chế ngự; trước ảnh hưởng của người mạnh, người yếu không còn sức kháng cự nữa. Người yếu bị cưỡng bức, chứ không thấu đáo vấn đề. Điểm này thể hiện rõ ràng khi người tin Chúa tâm lý có bổn phận phải thực hành những việc không liên quan hoặc mâu thuẫn với cá nhân của người mà mình chịu ảnh hưởng. Trong trường hợp này người tin Chúa tâm lý thất bại. Điều này cho thấy người đó hiển nhiên không tin Chúa nhờ Chúa Thánh Linh nhưng do ảnh hưởng của con người và vì thế không bền vững.
Cũng vậy, có loại tình-yêu-người-lân-cận tâm lý. Tình yêu này có khả năng hi sinh cực đoan, dấn thân tuyệt đối và kết quả còn cụ thể hơn tình yêu đích thực của Chúa Cứu Thế nữa. Tình yêu này thao thao bất tuyệt bằng ngôn ngữ của Chúa Cứu Thế. Nhưng đây là loại tình yêu mà Sứ đồ Phao lô đã nói: “Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi người nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt” - nghĩa là nếu tôi nối kết những hành động cụ thể nhất của tình yêu với sự hi sinh cụ thể nhất - “nhưng không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi” (ICo1Cr 13:3). Tình yêu tâm lý yêu tha nhân vì cớ bản thân mình, còn tình yêu thuộc linh yêu người khác vì Chúa Cứu Thế. Vì thế tình yêu tâm lý đi tìm sự tiếp xúc trực tiếp với người khác, không yêu người đang được tự do, nhưng yêu người đang bị mình trói buộc. Tình yêu này muốn thắng, muốn chiếm hữu, muốn lấn ép người khác bằng tất cả mọi phương tiện. Tình yêu này không muốn ai kháng cự, chỉ muốn thống trị.
Tình yêu tâm lý không quí trọng nhưng tương đối hoá chân lý, vì tình yêu này không muốn điều gì, kể cả chân lý, xen vào mối liên hệ giữa mình và người mình yêu. Tình yêu tâm lý khát khao người khác, khát khao mối tương giao và tình yêu của người khác, nhưng không phục vụ người khác. Đã vậy, tình yêu tâm lý lại còn thích phục vụ giả dối nữa.
Điểm dị biệt giữa tình yêu thuộc linh và tình yêu tâm lý nằm trên hai bình diện. Hai bình diện này tuy hai nhưng thực ra chỉ là một, đó là: tình yêu tâm lý không bao giờ sẵn sàng chấp nhận để cho mối tương giao giả tạo của mình đổ vỡ rồi xây dựng lại một mối tương giao chân thật, và tình yêu tâm lý không thể yêu kẻ thù vì kẻ thù chống cự tình yêu này rất mãnh liệt.
Cả hai đều phát xuất từ một nguồn: tình yêu tâm lý tự bản năng là tham muốn, tức là tham muốn mối tương giao tâm lý. Hễ khi nào tình yêu tâm lý còn thoả mãn được lòng tham muốn này thì còn tham muốn, bất kể chân lý, cũng bất kể tình yêu tha nhân đích thực. Còn hễ khi nào loại tình yêu này không thể thoả mãn được lòng tham muốn của mình nữa thì tình yêu sẽ chấm dứt, tức là chấm dứt yêu kẻ thù. Lúc đó tình yêu đổi thành thù ghét, khinh thường và vu khống..
Nhưng lúc đó cũng là lúc mà tình yêu thuộc linh bắt đầu. Vì thế hễ khi nào tình yêu tâm lý đối diện với tình yêu thuộc linh thì đổi thành ghen ghét cá nhân, vì tình yêu thuộc linh không tham muốn nhưng phục vụ. Tình yêu tâm lý lấy chính mình làm mục tiêu, làm thành quả, làm thần tượng để tôn sùng và bắt tất cả cũng phải phục tùng. Tình yêu này chỉ chăm sóc, trang điểm và yêu thương chính bản thân mình mà thôi. Nhưng tình yêu thuộc linh phát xuất từ Chúa Cứu Thế. Tình yêu này phục vụ chỉ một mình Chúa, và biết rằng chính mình không thể trực tiếp đến với tha nhân được.
Chúa Cứu Thế đứng giữa tôi và người. Tôi không biết tình yêu tha nhân là gì. Vì đối với Chúa Cứu Thế, khái niệm phổ thông về tình yêu phát xuất từ sự đòi hỏi của linh hồn tôi chỉ là lòng ghen ghét và tính vị kỷ xấu xa mà thôi. Chỉ có Chúa Cứu Thế mới có thể lý giải bằng ngôn ngữ của Ngài cho tôi hiểu tình yêu là gì. Chúa Giê-xu Cứu Thế dạy cho tôi biết tình yêu anh chị em trong chân lý hoàn toàn trái ngược với ý tưởng và sự suy nghĩ của tôi. Vì thế tình yêu thuộc linh liên hệ mật thiết với Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Hễ khi nào Chúa Cứu Thế vì cớ tình yêu muốn giữ tôi lại trong mối tương giao thì tôi ở lại trong mối tương giao, còn hễ khi nào chân lý của Ngài vì cớ tình yêu đòi hỏi tôi chấm dứt mối tương giao thì tôi chấm dứt dù rằng tình yêu tâm lý của tôi phản đối mãnh liệt. Sở dĩ tình yêu thuộc linh có thể yêu kẻ thù như yêu anh chị em vì tình yêu thuộc linh không tham muốn nhưng phục vụ, không phát xuất từ anh chị em hoặc từ kẻ thù nhưng phát xuất từ Chúa Cứu Thế và từ Lời của Ngài. Tình yêu tâm lý không bao giờ có thể hiểu tình yêu thuộc linh được; vì tình yêu thuộc linh đến từ trên, đối với tất cả các tình yêu trần tục hoàn toàn là sự lạ, là việc mới, là điều khó hiểu.
Vì Chúa Cứu Thế đứng giữa tôi với tha nhân nên tôi không có quyền đòi hỏi tương giao trực tiếp với tha nhân. Chúa Cứu Thế đã dạy tôi biết rằng, cũng như Chúa đã giúp đỡ tôi, chỉ có chính Chúa mới có thể giúp đỡ tha nhân mà thôi. Điều này có nghĩa là tôi phải để cho người khác tự do, không dùng tình yêu thương của mình chỉ định, cưỡng bách, quản lý người khác. Khi người khác được tự do, không lệ thuộc tôi, người đó sẽ kinh nghiệm được tình yêu trong cương vị của người. Vì Chúa Cứu Thế yêu thương người nên đã trở thành Người cho người. Chúa đã chết và đã sống lại cho người. Chúa đã tha tội cho người và sửa soạn cho người một sự sống vĩnh cửu. Vì Chúa Cứu Thế đã từ lâu hành động cụ thể cho người anh chị em của tôi, từ trước khi tôi có thể bắt đầu hành động, nên tôi phải để người anh chị em của tôi được tự do cho Chúa. Người anh chị em của tôi chỉ nên đối diện với tôi trên cương vị của một người sống cho Chúa mà thôi. Đó là ý nghĩa của câu nói chúng ta chỉ có thể gặp gỡ tha nhân qua trung gian của Chúa Cứu Thế. Tình yêu tâm lý tự phác hoạ cho mình một hình ảnh về tha nhân: người đó phải và sẽ phải như thế nào. Tình yêu này nắm lấy sự sống của tha nhân trong bàn tay mình. Nhưng nhờ Chúa Giê-xu Cứu Thế tình yêu thuộc linh có thể nhận ra được hình ảnh đích thực của tha nhân. Đó là hình ảnh mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã và muốn tạo cho người.
Vì thế tình yêu thuộc linh thận trọng trong lời nói và việc làm với tha nhân, chỉ nói chỉ làm những điều Chúa Cứu Thế dạy bảo mà thôi. Tình yêu này không làm cho tha nhân xao xuyến tinh thần bằng cách gây ảnh hưởng một cách quá riêng tư, trực tiếp, bằng cách xen vào cuộc sống của tha nhân một cách bất khiết, không mừng khi thấy tha nhân sùng đạo thái quá. Nhưng tình yêu này sẽ đối diện với người bằng Lời của Đức Chúa Trời một cách rõ ràng và sẵn sàng để cho người một mình đối diện với Lời của Chúa trong một thời gian dài để người được tự do, để Chúa Cứu Thế tác động trong người. Tình yêu này sẽ tôn trọng ranh giới của người. Đó là ranh giới mà Chúa Cứu Thế đã phân chia giữa chúng ta. Và tình yêu này sẽ tìm được mối tương giao hoàn toàn với tha nhân trong Chúa Cứu Thế là Đấng duy nhất nối kết và hợp nhất chúng ta. Vì thế tình yêu này sẽ thưa với Chúa Cứu Thế về người anh chị em nhiều hơn là nói với người anh chị em về Chúa. Tình yêu này biết rằng, con đường ngắn nhất dẫn đến tha nhân luôn luôn dẫn xuyên qua sự cầu nguyện với Chúa Cứu Thế và rằng, tình yêu tha nhân hoàn toàn nối chặt với chân lý trong Chúa Cứu Thế. Phát xuất từ tình yêu này, môn đệ Giăng đã nói: “Tôi nghe con cái tôi làm theo chân lý, thì không còn có điều gì vui mừng hơn nữa”(III Giăng 4).
Tình yêu tâm lý sống nhờ những dục vọng mờ ám không được kiểm soát và không thể kiểm soát được. Tình yêu thuộc linh sống trong sự trong sáng của việc làm do chân lý thúc đẩy. Tình yêu tâm lý tạo ra nô lệ, ràng buộc, gắng gượng, tình yêu thuộc linh tạo ra tự do cho anh chị em trong Lời Chúa.
Tình yêu tâm lý vun trồng những đoá hoa giả tạo, tình yêu thuộc linh sinh bông kết trái , xanh chín dưới bầu trời của Đức Chúa Trời, dưới mưa, bão và mặt trời theo ý muốn tốt lành của Ngài.
Đối với tất cả các cộng đồng tín hữu, vấn đề sinh tồn là kịp thời nhận thức điểm dị biệt giữa lý tưởng con người và thực thể thiên thượng, giữa mối tương giao thuộc linh và mối tương giao tâm lý. Vấn đề sống chết của một cộng đồng tín hữu là sớm ý thức được điểm này. Nói một cách khác: một cộng đồng sống theo Lời Chúa chỉ lành mạnh khi cộng đồng đó không phải là một phong trào, một dòng tu, một hội đoàn, một collegium pietatis, nhưng là một phần của Một Hội Thánh Phổ thông của Chúa và chia sẻ với toàn thể Hội Thánh nỗi khó khăn, cuộc chiến đấu và Lời Hứa của Chúa. Những nguyên tắc tuyển chọn và thanh lọc người không dựa vào nhận xét khách quan trong khi làm việc chung với nhau nhưng dựa vào mối liên hệ gia đình và kỳ thị địa phương đều là mối nguy hiểm cho cộng đồng tín hữu. Trên con đường tuyển chọn về phương diện tinh thần và thuộc linh, yếu tố tâm lý luôn luôn mò vào, cướp mất tiềm năng thuộc linh của cộng đồng và hiệu năng của Hội Thánh, rồi đẩy Hội Thánh đến chỗ lạc đạo. Loại trừ những người yếu đuối, kém quan trọng, và những người có vẻ vô dụng ra khỏi một cộng đồng tín hữu tức là loại trừ Chúa Cứu Thế là Đấng đang gõ cửa lòng của những người anh chị em đau khổ đó. Vì thế chúng ta cần thận trọng về điểm này.
Nếu không nhận xét cẩn thận ta có thể nghĩ rằng, lý tưởng và thực thể, yếu tố tâm lý và yếu tố thuộc linh dễ hoà đồng với nhau nhất trong một cộng đồng gồm có nhiều thành phần khác nhau, cụ thể là trong hôn nhân, gia đình, tình bạn, nghĩa là khi yếu tố tâm lý đóng vai trò then chốt trong sự hình thành của cộng đồng, còn yếu tố thuộc linh chỉ đóng vài trò bổ sung mà thôi. Ta tưởng rằng, chỉ trong những cộng đồng như vậy hai yếu tố này mới dễ bị lẫn lộn hoặc hoà đồng với nhau, còn những cộng đồng hoàn toàn thuộc linh không bị mối nguy hiểm này đe doạ. Nhưng nghĩ như vậy là lầm. Kinh nghiệm cho thấy thực tế hoàn toàn khác hẳn. Một cuộc hôn nhân, một gia đình, một tình bạn thường thấu đáo ranh giới của những yếu tố xây dựng mối tương giao của mình; nếu lành mạnh, những cộng đồng này biết rõ ranh giới giữa yếu tố tâm lý và yếu tố thuộc linh nằm ở đâu. Những cộng đồng này biết rằng sự tương giao thuộc thể-tâm lý trái ngược với sự tương giao thuộc linh. Trái lại trong một cộng đồng hoàn toàn có tính cách thuộc linh yếu tố tâm lý rất dễ xen vào và hoà đồng. Một cộng đồng hoàn toàn thuộc linh chẳng những rất nguy hiểm nhưng cũng rất bất thường. Nếu một cộng đồng thuộc linh không có yếu tố thuộc thể-gia đình hoặc không có sự tương giao qua công việc, nếu không có những sinh hoạt hằng ngày với tất cả những nhu cầu đòi hỏi của những con người đang tích cực hoạt động, thì ở đó ta phải cẩn thận và cảnh giác.
Có lẽ tất cả mọi tín hữu đều được Đức Chúa Trời ban cho ít nhất một lần trong đời cái kinh nghiệm phước hạnh khó quên về mối tương giao chân thật với các anh chị em trong Chúa. Nhưng kinh nghiệm này không gì khác hơn là ân huệ Chúa ban thêm bên cạnh thức ăn hằng ngày mà Chúa ban cho sự sống của cộng đồng tín hữu. Chúng ta không xứng đáng nhận được những kinh nghiệm này, và chúng ta không sinh hoạt với các tín hữu khác vì cớ những kinh nghiệm này. Yếu tố nối kết chúng ta lại với nhau không phải là kinh nghiệm về tình anh chị em nhưng là niềm tin vững chắc nơi tình anh chị em trong Chúa. Đức Chúa Trời đã và sẽ hành động trên tất cả chúng ta. Trong đức tin chúng ta nắm chắc món quà vô giá này. Đây là món quà làm cho chúng ta vui mừng và hạnh phúc, cũng làm cho chúng ta sẵn sàng từ khước tất cả các kinh nghiệm mà Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta. Chúng ta liên hệ với nhau không phải trong kinh nghiệm nhưng trong đức tin.
“Kìa, anh em sống hoà thuận với nhau, thật tốt đẹp thay!” (Thi Tv 133:1). Đó là lời Kinh Thánh khen tặng những cộng đồng sống theo Lời Chúa. Nếu nghiêm túc lý giải từ “hoà thuận”, câu Kinh Thánh này có nghĩa: “Nếu anh chị em sống với nhau trong Chúa Cứu Thế”; vì chỉ có Chúa Giê-xu Cứu Thế duy nhất là sự hoà thuận của chúng ta. “Chúa là sự bình an của chúng ta” (Eph Ep 2:14). Chúng ta đến với nhau, vui với nhau và tương giao với nhau chỉ nhờ Chúa mà thôi.



† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 18-7-2018 10:47 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách