nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 1833|Trả lời: 0

Đá Góc Nhà - TRIỂN KHAI BÀI HỌC

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 29-9-2011 08:31:27 | Xem tất |Chế độ đọc

Đá Góc Nhà
Tác giả: Floyd C.Woodworth, Jr. D.Duncan

TRIỂN KHAI BÀI HỌC

BẢN CHẤT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ( God’Nature)
Khi những nhà khoa học nghiên cứu phần cầu trúc tạo máu, học khám phá ra rằng máu được tạo nên do nhiều chất khác nhau và những thành phần li ti có những nhiệm vụ riêng biệt trog việc duy trì sự sống. Loại chất lỏng tổng hợp nầy được bơm qua một mạng lưới ống nhỏ phúc tạp suốt ngày và đêm do một bộ máy rất cường tráng (quả tim) chỉ nghỉ sau mỗi vòng vận động. Máu là dòng sự sống của thân thể. Máu mang khí Oâxy vào trong thức ăn cho từng bộ phận cơ thể, máu chống cự những loại vi trùng xâm nhập cơ thể và cũng giúp cho cơ thể thảy đi những chất dư thừa. Để thực hiện những công tác nầy, hai quả thận và những bộ phận khác.
Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ nói lên sự tổ chứa rất chẳt chẽ của những hệ thống sinh họa để duy trì sự sống.Chắc chắn phải có một thực thể có sức mạnh và thông minh vĩ đại mới thực hiện điều nầy. Chúng ta biết gì về thực thể nầy? Hãy tìm hiểu một số sự kiện mà chúng ta biết về Đấng Tạo Hóa của chúng ta, tức là Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời là một thực thể có thân vị.
( God’ Is Personal Being)
Mục tiêu: Chọn một lời diễn đạt đưa ra những phẩm chất của thân vị được nhìn thấy nơi Đức Chúa Trời .
Xin bạn cho biết những phần chín yếu của một người là gì? Có phải hai cánh tay không? Giọng nói không? Đ(ôi mắt không? Nếu một người bị mất bất cứ cái nào trong những điều kể trên, người ấy vẫn còn là một con người. Có lẽ chúng ta đồng ý rằng một người (thân vị - Person) Còn có cái gì khác hơn là một thân thể (body). Người là loài có khả năng suy nghĩ, cảm biết và lý luận. Kinh Thánh tiết lộ rằng Ngài truyền thông (communcates, cói chuyện, tâm sự) với người khác (Thi Tv 15:14) Ngài bị tác động (be affected) do sự đáp ứng của con người đối với Ngài (EsIs 1:14) Ngài suy nghĩ (EsIs 55:8) và Ngài quyết định (SaSt 2:18) Những điều nầy là tất cả những đặc tính của một con người. Vì vậy Đức Chúa Trời là thực thể có thật.
Chúng ta có thể học đôi điều về hân vị của Đức Chúa Trời khi chúng ta khảo sát nhân tính (personality) của con người, vì con người được tạo dưng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, sự gần giống như vầy vẫn có những hạn chế của nó. Chúng ta không đưọc khảo sát nhân tính của con người làm tiêu chuẩn để đo lường cá tính của Đức Chúa Trời. Vì khuôn mẫu nguyên thủy của cá tính nằm trong Đức Chúa Trời, chứ không phải ở con người. Cá tính của con người chỉ rập khuôn theo cái nguyên thủy. Cá tính của con người không giống hệt như cá tính của Đức Chúa Trời nhưng chứa đựng những dấu vết tương tự như cá tính con người vẫn tồn tại trog sự hoàn toàn nơi cá tính của Đức Chúa Trời.
Nếu bạn làm quen với một người chẳng hề để bạn biết người ấy cảm nhận thế nào, chẳng hề chia sẻ với bạn tư tưởng của người ấy, đồng thời cũng chẳng bao giờ cho bạn biết người ấy có ưa thích bạn hay không, thì bạn có thể bảo rằng người ấy không có cá tính (impersonal) Nghĩa là người ấy không bày tỏ những đặc tính cá nhân của người đó cho bạn. Ngài có những cảm xúc về dân sự của Ngài và Ngài quan tâm đến bạn. Ngài có những cảm xúc về dân sự cuả Ngài và Ngài tương giao với họ. Hơn nữa, Ngài còn quyết định nhiều việc liên quan đến họ.
Nhiều người nghĩ rằng Đấng tối cao ( Supreme Being) đã dựng nên trời đất sống rất xa cách với những con việc của loài người, họ tin rằng linh của tổ phụ họ (Spirits of ancestors) Đức Chúa Trời đang quan tâm đến những công việc của loài người, và Ngài đối xử với chúng ta theo từng cá nhân.
(1) Con người sống trong cộng đồng chúng ta quan niệm gì về Đức Chúa Trời?
..............................................................................................................................................................................................
(2) Nếu Đức Chúa Trời là một thân vị, làm thế nào để bạn biết Ngài theo cách cá nhân? Dùng sổ tay ghi câu trả lời nầy.
(3) (Chọn phần hoàn chỉnh đúng cho câu) Những phẩm chất của Đức Chúa Trời bày tỏ những cá tính của Ngài là
a) Vật lý, xã hội và những thuộc tính thuộc linh.
b) Khả năng suy nghĩ, cảm nhận và quyết định.
c) Khả năng tiếp xúc, nhìn thấy và hiểu tường tận.
Đức Chúa Trời là thần linh (God is Spirit)
Mục tiêu: Chọn những lời diễn đạt giải thích xác về bản chất thuộc linh của Đức Chúa Trời
Bạn nghĩ gì khi bạn nhắm mắt và cố tưởng tượng Đức Chúa Trời như thế nào? Nếu có vài hình ảnh hiện ra trong trí bạn, thì sự suy nghĩ của bạn không hoàn giống như điều Kinh Thánh dạy. Đức Chúa Trời không có hình thể của bấtcứ cái gì cả vì Ngài là thần linh (Spirit) (GiGa 4:24), và thần linh thì không thể thấy được. 1:18 cho chúng ta biết “Chẳng hề có ai thấy Đức Chúa Trời”
Đức Chúa Trời là thần linh: Ở chữ nầy chúng ta có một lời diễn đạt nói về Đức Chúa Trời. Để hiểu lời diễn đạt nầy, chúng ta phải xem thần linh liên quan đến điều gì? Giải thích ý niệm nầy không phải là dễ. Như chúng ta đã nói trước Kinh Thánh đã tiết lộ cho chúng ta phần nào về bản tính của Đức Chúa Trời. Khi chúng tôi cố sức mô tả bản tính về thần linh của Ngài, thì có lẽ chúng tôi dùng nhiều thuật ngữ mới mẽ đối với bạn. Chúng tôi sẽ cố gắng định nhĩa mỗi chữ khi chúng ta dùng chữ đó.
1. Khi nghiên cứu Kinh Thánh điều đầu tiên được bày tỏ cho chúng ta ấy là Đức Chúa Trời có một thực thể duy nhất (a unique, substantial being) khác biệt với thể giới (Eph Ep 4:6; CoCl 1:15-17) Duy nhất ( vô song) nghĩa là chỉ có một mà thôi. Thực thể nghĩa là có một bản chất thiết yếu ( essential nature) Những thuật ngữ thực thể và bản chất thiết yếu tương tự như nhau khi dùng để chỉ về Đức Chúa Trời. Những chữ đó liên quan đến những phẩm chất hay thuộc tính tạo nên bản tính của Ngài và là nền tảng của những biểu hiện bên ngoài của Ngài.
2. Thực thể nầy của Đức Chúa Trời là không thấy được, phi vật chất và không có những phần tử nào tạo thành. Chúng ta đã nói rằng Đức Chúa Trời có thực thể, nhưng Ngài không phải là thực thể vật chất (materrial substance) nghĩa là, Ngài không do vật chất tạo thành như tất cả chúng ta. Đức Chúc Trời là một thực thể của thần linh. Chúng Jêsus phán “ Thần linh thì không có thịt và xương như ác con thấy ta có” (LuLc 24:39) Vì Đức Chúa Trời là thần linh trong ý nghĩa thuần khiết của chữ đó. Ngài không có những giới hạn xuất hiện trong trí ta khi chúng ta nghĩ về con người. Ngài không có những tính chất hay những đặc tính thuộc về vật chất. Phaolô mô tả Ngài là “ Vua đời đời , bất tử và chẳng thấy được” (ITi1Tm 6:15-16)
Nếu Đức Chúa Trời thật sự là thần linh và không thấy được, thì chúng ta hiểu thế nào về các trường hợp, như phần mô tả trong (XuXh 33:19-23, trong đó chúng ta được nghe nói rằng Môise thấy Đức Chúa Trời? Thực sự điều nầy không mâu thuẩn với sự kiện về Đức Chúa Trời không thấy được và phi vật chất. Trong vài trường hợp con người xem thấy những phản chiếu của vinh quang của Đức Chúa Trời, nhưng họ không thể bày tỏ những hình thức thấy được. Đức Chúa Trời hoàn toàn có khả năng bày tỏ chính mình Ngài qua một biểu hiện vật lý (physical manifestation) Điề u này xảy ra khi Thánh Linh ngự xuống trên Chúa Jêsus như con chim bồ câu lúc Ngài chịu báp têm trong nước (GiGa 1:32-34)
Khi Giăng Báp tít nhìn dấu hiệu thấy được nầy, ông bị thuyết phục để tin rằng Chúa Jêsus thật sự là con Đức Chúa Trời. Thánh Linh không thấy được của Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài trong hình thức chim bồ câu để Giăng biết chắc trong việc nhận diện Đấng ( Jêsus)sẽ làm báp têm bằng Thánh Linh. Trong ví dụ ở (XuXh 33:1-23, Môise cũng cần sự bảo đảo thiên thượng khi ông đương đầu với nhiệm vụ lãnh đạo mà Đức Chúa Trời giao cho ông, vì vậy, Đức Chúa Trời ban cho ông một dấu hiệu vật lý (physical sign)
Có lẽ bạn suy nghĩ “ Nếu Đức Chúa Trời phi vật chất, tại sao Kinh Thánh nói về tay, chân, tai, miệnh, mũi hay mặt của Đức Chúa Trời? Tại sao có những đoạn Kinh Thánh nói về Đức Chúa Trời làm việc giống như cách con người làm? Chẳng hạn, Thi Tv 98:1-9 nói đến “ tay phải và cánh ta thánh của Đức Chúa Trời” (c1) 99:5 nói về sự tôn thờ “ ở dước bệ chân của Ngài” 91:1-16 nói về “ Lông của Ngài” và “đôi cánh của Ngài” (c4)
Vì chúng ta thật sự không hiểu được bản thể (essence) của Đức Chúa Trời, nên Ngài đã cảm thúc những tác giả của Kinh Thánh dùng những đối tượng quen thuộc với chúng ta và áp dụng vài đặc tính của những vật cụ thể ấy để chỉ về bản tính của Đức Chúa Trời. Bằng cách đó chúng ta hiểu được điều không biết (unknown) bằng những gì biết được (known) Chúng ta gọi đây ngôn ngữ tượng trưng hay nói theo nghĩa bóng ( flgurative language) Trong những trường hợp đó ý tưởng không dùng theo nghĩa đen (literally) hay sự kiên, nhưng theo tượng trưng để tiên biểu cho ý niệm nào đó. Điều nầy có thể được minh họa trong các bài tập sau
(4) Đọc 34:15 và khoanh tròn mẫu tự đứng trước lời giải thích đúng về khúc Kinh Thánh nầy
a) Sự diễn đạt về Đức Chúa Trời như có mắt, tai và mặt chứng tỏ Ngài nhìn thấy nghe, theo nghĩa đen và có hình thể nhìn thấy được khi Ngài đối xử với dân sự Chúa.
b) Đức Chúa Trời biết và chăm sóc nhu cầu của người công bình, và Ngài biết chú ý đến tội lỗi của những kẻ làm điều ác. Câu nầy diễn đạt theo nghĩa bóng.
(5) ( Chọn câu trả lời tốt nhất) Khi chúng ta đọc Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời là thần linh, chúng ta hiểu rằng
a) Ngài không có thân thể vật lý.
b) Đức Chúa Trời không có hình thức thân thể vật lý, nhưng Ngài hoàn toàn có khả năng bày tỏ chính minh Ngài qua một hình thức vật lý.
c) Những phần tham khảo trong Kinh Thánh chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời làm một số điều mà con người có thể làm là sử dụng ngôn ngữ nghĩa bóng.
d) Tất cả những câu trên a),b) và c) đều đúng.
e) Chỉ cau a) và c) là đúng.
Đức Chúa Trời là độc nhất ( God is One)
Mục tiêu: Xếp cho phù hợp những chữ đã dùng để mô tả sự hiệp nhất hay sự độc nhất của Đức Chúa Trời với những định nghĩa của mỗi chữ .
Khi chúng ta nói Đúc Chúa Trời là độc nhất, chúng ta nói đến ý niệm:
1) Sự hiệp nhất về số lược của Đức Chúa Trời.
2) Sự độc nhất ( vô song) của Đức Chúa Trời, và
3) Sự đơn giản (simplcity) của Đức Chúa Trời.
Sự hiệp nhất về số lượng của Đức Chúa Trời.
Trước hết, khi chúng ta nó về sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời chúng ta liên tưởng đến sự kiện ngài là một thực thể.Vì chỉ một thực thể thiêng liêng ( Divine Being), tất cả những thực thể khác tồn tại quan Ngài, của Ngài và hướng về Ngài. Phaolô nói trong ICo1Cr 8:6, “ nhưng đối với chúng ta chỉ có một Đức Chúa Trời là Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài, lại chỉ có một Cứu Chúa mà thôi, tức là Jêsus Christ, muôn vật đều nhờ Ngài mà có và chúng ta cũng vậy” Phần thứ hai của câu nầy dường như mâu thuân với ý niệm cho rằng Đức Chúa Trời độc nhất. Chúng ta sẽ giải thích vấn đề này trong phần thảo luận về Ba ngôi.
Salômôn nói sự hiệp nhất về số lượng của Đức Chúa Trời (numerical unity of God) trong IVua 1V 8:60 khi ông cầu khuẩn “ để mọi dân tộc trên thế giới có thể biết rằng Chúa là Đức Chúa Tời và không có ai khác” B5 bao bọc tứ phía là những dân tộc thần đa thần giáo, Đôi khi dân Ysơraên thấy khó giữ vững lập trước để chọn thực thể thiêng liêng ( Divine Being) là Đấng duy nhất. Thường thường các tiên tri đã kêu lớn, thách thức mạnh mẽ, để nhắc nhở dân sự nhớ rằng Đức GiêHô Va ( Đấng Hằng Hữu) là Đức Chúa Trời độc nhất ( Phục truyền 4: 35- 39)
Có tín ngưỡng nào bảo rằng có nhiều thần tạo nên bộ phận của xã hội bạn không? Bạn có thể biết những sự dạy dỗ nào liên quan đến những vị thần giả định nầy và mối quan hệ của thần tượng đối với dân chúng không? Tôi đã ghi nhận rằng có nhiều quốc gia người ta thờ phượng rất nhiều thần, hoặc những gì họ coi như những vị thần. Đôi khi những vị thần nầy dường như tồn cại trong nền văn hóa dành riêng cho dân tộc và cho nếp sống cách biệt của họ, họ thờ đa thần. Nhưng Kinh Thánh dạy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời Độc nhất.
Sự độc nhất của Đức Chúa Trời
Những câu Kinh Thánh khác trong Kinh Thánh, như PhuDnl 6:4 nói về sự vô song của Đức Chúa Trời: Đấng Hằng Hữu là Đức Chúa Trời của chúng ta, Đấng Hằng Hữu có một. Tiếng Hybálai ở đây chữ một có thể dịnh là chỉ một ( an only), đó là cách dịnh tốt nhất. Vậy, chỉ có Đấng Hằng Hữu là Đức Chúa Trời duy nhất được mang danh xưng là Đấng Hằng Hữu ( Đức Giê Hô Va) Đây là sứ đidp của XaDr 14:9 “Trong Ngày đó sẽ có một Chúa, và danh Ngài là duy nhất” Ý tưởng tương tự nầy cũng được diễn đạt rất rõ ràng trong XuXh 15:11 “ Hỡi Đức Giê Hô Va, torng vòng cá thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài, Đáng sợ, đáng khen, hay làm phép lạ?” Dĩ nhiên, câu trả lời là không có ai. Ngài là Đức Chúa Trời độc nhất và chỉ có một mà thôi.
Chắc chắn những câu phản đối tư tưởng cho rằng Đức Chúa Trời là một trong nhiều vị thần. Ngài là Đấng cao trị tôí cao của vụ trụ, và bên cạnh Ngài có thần nào khác. Suốt cả những lời ký thuật trong Cựu ước Đức Chúa Trời luôn luôn nhắc nhở dân sự của Ngài rằng Ngài là Đức Chúa Trời độc nhất ( the only God)
(6) Đọc những phần Kinh Thánh sau và cho biết Đức Chúa Trời nói gì về chính mình Ngài.
a. SaSt 17:1 “Ta là”
b. XuXh 20:2-3, “ ta là” “Các ngươi”
c. 20:22, “ Chớ làm”
d. EsIs 43:10-11; 44:6, 8; 45:5, 21. Sứ điệp của mỗi phân đoạn nầy là
..............................................................................................................................................................................................
Khi tôi yêu cầu những sinh viên của tôi nêu lên định nghĩa nguyên thủy về Đức Chúa Trời, thường thường họ bắt đầu bắng cách nói như sau: “ Đức Chúa Trời là một thần linh đời đời, Đấng đã tạo dựng trời đất” Dù họ dùng danh từ gì để định nghĩa Đức Chúa Trời. thì đa số sinh viên đều đặt mạo từ bất định ( indefinie article: a) ở phía trước. Họ nói: “ Đức Chúa Trời là một (a) linh” (God is a spirit). Điều đó gợi ý rằng có thể co1 nhiều linh khác ở cùng đẳng cấp. Hãy xem sự khác biết biết bao về định nghĩa nầy khi đặt mạo từ xác định ( definite article: the ) Thay thế cho mạo từ bất định (a): “Đức Chúa Trời là thần linh đời đời, Đấng đã tạo dựng trời và đất” Theo cách định nghĩa nầy, thì không một người nào hay quyền bính nào thích hợp cho phạm trù nầy. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời độc nhất ( God is thê only God)
Sự đơn nhất của Đức Chúa Trời ( The simplicty of God)
Thêm vào sự hiệp nhất về số (numberical unity) và sự độc nhất (uniqueness), sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời đều là những sự trọn vẹn của Ngài (Hia Perfections) Ý niệm về sự hiệp nhất bên trong hay sự đơn nhất phát sinh từ vài sự trọn lành khác của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, sự tồn tại của Đức Chúa Trời không tùy thuộc vào điều gì bên ngoài Ngài. Ngài tự tồn tại (Self - existant), nghĩa là tồn tại đời đời là phần của bản chất thật của Ngài (aternal existence is part of His very nature) Như vậy, sự tồn tại của Ngài loại trừ ý tưởng cho rằng có điều gì đó ở trước Ngài, giống như trường hợp có những thực thể kết hợp (compound beings) như con người. Sự đơn nhất của Đức Chúa Trời ám chỉ về con số của những sự vật (anumber of things). Độc nhất có nghĩa là ba thân bị của Đức Chúa Trời chủ tể không chỉ là số lượng của những phần bao gồm tất cả để tạo thành bản thể thiêng liêng. Nó còn loại trừ khả năng chia rẽ những sự trọn vẹn của Đức Chúa Tròi khỏi bản thể của Ngài hoặc thêm những đặc tính của Ngài vào bản thể của Ngài. Bản thể của Đức Chúa Trời và những sự trọn vẹn của Ngài là một và cùng một điều ( One is that the three Persons of the God head are not just a number of parts which all together make up the Divine Essence. It also rules out the possibility of dividing God’s perfections from His essence or adding His charac-teeristics to His essence. God’s essence and His perfections are one and the same thing) Vì thế, Kinh Thánh nói Đức Chúa Trời vừa là sự dống, vừa là công bình vưa là tình yêu, và theo cách đó đồng nhất hóa Ngài với những sự trọn vẹn của Ngài. Nói cách khác, chúng ta không nói Đức Chúa Trời có sự công bình ( God has rihteousness), nhưng chúng ta nói Ngài là sự công bình. Ngài là sự trọn vẹn (God is Righteousness He is perfection)
(7) Xết đặt cho phù hợp với những ý niệm dùng để mô tả sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời với những định nghĩa của mỗi ý niệm
.....a. Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất và ngoài Ngài không có thần nào khác.
.......b Chỉ một Đức Chúa Trời và tất cả những thực thể khác tồn tại qua Ngài.
.......c Điều này loại bỏ khả năng có nhiều thần/
.......d. Sụ tồn tại của Đức Chúa Trời không tùy thuộc vào bất cứ điều gì ở bên ngoài Ngài
....... e. Đây là cách mô tả khác về sự hiệp nhất bên trong của Đức Chúa Trời.
....... f. Con người là sự kết hợp - nghĩa là con người vừa là thân thể, vừa là linh, trái với Đức Chúa Trời.
....... g. Đức Chúa Trời là linh đời đời.
1) Hieäp nhaát veá soá.
2) Ñoäc nhaát.
3) Ñôn nhaát.
Đức Chúa Trời là Tam nhất ( God is Triune)
Mục tiêu: Chọn những lòi diễn đạt đưa ra sự dạy dỗ của Kinh Thánh về Ba Ngôi (Trinity )
Chúng ta thấy Đức Chúa Trời là thần linh, Ngài có cá tính và Ngài là một. Bây giờ chúng ta khảo sát khía cạnh thứ tư của bản chất của Ngài, đó là Ba ngôi Đức Chúa Tròi tam nhất (triune). Điều này dường như lộn xộn đối với bạn. Đức Chúa Trời là độc nhất và cũng là tam nhất có nghĩa gì. Những chữ tam nhất (triune) và ba ngôi (trinity) chứa đựng ý niệm của sự độc nhất hay tam (tri :ba) và nhất ( một ) hay là hiệp làm một (tree in one) Khi chúng ta tiếp cận để tài quan trọng này, chúng ta nhìn nhận rằng chỉ do sự mặc khải mới biết được chân lý nầy. Vậy, chúng ta hãy quay lại nhìn xem những gì Đức Chúa Trời đã tiết lộ trong Kinh Thánh để làm nền tảng cho sự học hỏi của chúng ta về những vấn đề liên quan đến ba ngôi.
1. Ba ngôi là gì? Như chúng ta đã thấy chỉ có một bản thể trong thực thể thiêng liêng. Tuy nhiên, thực thể thiêng liêng nầy là tam thân vị ( tri personal) hay là ba ngôi. Trong Ngài có ba thân vị (person): Cha, Con và Thánh Linh. Nhưng học giả có tìm cách mô tả chính xác ba sự phân biệt này trong Đức Chúa Trời chủ tể (godhead) đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau. Sự khác biệt về từ ngự họ dùng chứng tỏ rằng những học giả nầy nhìn nhận sự khó khăn trong việc mô tả Ba ngôi như thế nàu. Chúng ta đã định nghĩa chữ thân vị (person) hay ngôi. Một thân bị là chủ thể mà người ấy biết, cảm nhận và quyết định ( A person is one who know, feels and decides)
Kinh nghiệm con người dạy chúng ta rằng ở đâu có thân vị ( người) ở đó có bản thể phân biệt. Như vậy mỗi người là một cá nhân riêng biệt mà trong chính người ấy bày tỏ bản chất con người (human nature) Tuy nhiên trong Đức Chúa Trời tam nhất thì không có ba cá nhân riêng biệt đồng tồn tại với nhau và riêng rẽ. Hơn nữa chỉ có những gì mà chúng ta gọi là tự phân biệt (selfdistinctions) ở trong thực thể thiêng liêng. Từ ngử này sẽ giải thích trong phần kế tiếp.
2. Những thân vị là ai? Như chúng ta đã ghi nhậ, có ba thân vị hay ba thực hữu (subsistencas - sự tồn tại) trong thực tể thiêng liêng (Divine Essence): Cha, Con và Thánh Linh. Mỗi thân vị trong những thân vị nầy được nhận diện do những tính chất (properties) riêng biệt ( nghĩa là những phẩm chất hay nét chính thuộc về hay đặc biệt (nghĩa là những phẩm chất hay nét chính thuộc về hay đặc biệt dành cho từng cá nhân) Trong Kinh Thánh, những tính chất (properties) nầy được nhận diện bằng những danh xưng, những đại từ, những phẩm chất và những hoạt động thích hhợp cho sự lý luận, trí tuệ ( thông thái) và những thân vị riêng biệt. Những tính chất của thân vị (these personal) và những thân vị riêng biệt. Những tính chất, trí tuệ ( thông thái) và những thân vị riêng biệt. Những tính chất cuả thân vị ( these personal propeties) được phân biệt cho mỗi thân bị ( những tính chất ấy là những sự tự phân biệt) vá các tính chất nầy biể lộ mối quan hệ giữa thân vị nầy với những thân vị khác. Đồng thời, mỗi thân vị trong chính Ngài (Himself) cũng biểu lộ thực thể thiêng liêng.
Vậy có ba thân vị trong Đức Chúa Trời Chủ tể: Đức Chúa Trời, Cha, Đức Chúa Con, Đức Chúa Trời Thánh Linh (God the Father, God the Son and God the Holy Spirit). Ba thân vị có cùng thực thể, cả ba đồng đẳng trong sự vinh hiển, quyền năng, oai nghi và vĩnh cữu, và cả ba là một.
(8) Đọc những đoạn Kinh Thán sau đây và cung cấp câu trả lời đúng để hoàn chỉnh mỗi câu
a. Trong GiGa 6:27 Chúa Jêsus ám chỉ Đức Chúa Trời là
..............................................................................................................................................................................................
b. Trong HeDt 1:8 Đức Chúa Cha ám chỉ Con là
..............................................................................................................................................................................................
c. Cong Cv 5:3-4 công bố rằng tôi chống nghịch Thánh Linh cũng giống như tội chống nghịch.
..............................................................................................................................................................................................
d. Từ những câu Kinh Thánh này chúng ta có thể kết luận rằng Đức Chúa Trời chủ tể có
..............................................................................................................................................................................................
3. bằng có nào chỉ về ba ngôi ? Trong khi chữ ba ngôi không được tìm thấy trong Kinh Thánh, thì giáo lý về Ba ngôi lại được mặc khải cả trong Cựu ước lẫn Tân ước. Chúng ta hãy khảo sát những bằng cớ được tìm thấy trong Kinh Thánh
Cựu ước được viết bằng ngôn ngữ Hybálai (Hebrew) Trong tiếng Hybálai, elohim, một trong những danh xưng của Đức Chúa Trời, được dùng ở hình thức số nhiều - ví dụ, ở SaSt 1:26 “ Bây giờ Đức Chúa Trời phán rằng, chúng ta hãy làm loài người theo hình ảnh chúng ta, trong sự giống như chúng ta” (Then God said, Let us make man in our image). Câu nài chỉ về những phân biệt của thân vị trong Đức Chúa Trời chủ tể ( This verse point to personal distinctions in God, to a plurality of persons in the Godhead) Chúng ta tìm thấy những sự ngụ ý rõ ràng hơn về những phân biệt thân vị trong Kinh Thánh Cựu ước ám chỉ về thiên sứ của Đức Giê Hô Va. Trong vài trường hợp thiên sứ của Chúa có thể chỉ về những thực thể được tạo dựng (created being) được sai đi làm sứ giả của Chúa, còn trong những trường hợp khác thiên sứ của Đức Giê Hô Va được chúng ta tin ấy là con Đức Chúa Trời (xem 16:7-13; 18:1-11; 19:1-28) Như thế, thiên sứ này được đồng nhất với Giê Hô Va, và mặc khác Ngài được xem và phân biệt hay khác với Đức Giê Hô Va.
Trong vài khúc Kinh Thánh, tất cả ba thân vị của Đức Chúa Trời chủ tể được đề cập. Tại sự chịu báp têm của Con (Mat Mt 3:16-17) Cha phán từ Trời và Thánh Linh giáng xuống trong hình thể của chim bồ câu trong sứ mạng trọng đại, Chúa Jêsus nêu rõ ba thân bị. “ Vậy hãy đi và tạo môn đệ thuộc về mọi dân tộc, làm báp têm cho họ trong danh của Cha và của con và của Thánh Linh” Ba thân bị nầy được nêu danh bên cạnh nhau trong danh của Cha và của con và của Thánh Linh” Ba thân bị nầy được nêu danh bên cạnh nhau trong ICo1Cr 12:4-5; IICo 2Cr 13:14 và IPhi 1Pr 2:2. Tử những ví dụ này trong Kinh Thánh, chúng ta có thể rút ra nhiều bằng chứng về giáo lý ba ngôi.
(9) Xếp đặc cho phù hợp phần hoàn chỉnh với phần tham khảo Kinh Thánh
.......a. SaSt 1:26 chỉ về một
....... b. EsIs 63:9-10 cho biết Đức GiêHôVa có mối quan hệ với.
....... c. GiGa 3:16 tiết lộ rằng Đức Chúa Trời đã sai con làm ............................ của chúng ta.
....... d. 14:26 và 15:26 cho biết rằng cả Cha và Con sai............................. nội trú trong tín hữu
......... e. Mat Mt 3:16-17 và 28:19 tiết lộ và nói lên
1) Thánh Linh
2) Đấng CỨu Chuộc hay Cứu Chúa.
3) Đấng Mêsi và Đức Thánh Linh
4) Những thân vị của ba ngôi
5) Số nhiều của những thân vị.
4. Những điều khó khăn phức tạp trong giáo lý nầy là gì? Tại sao sự dạy dỗ về Ba ngôi quá khó khiến chúng ta kh6ng thể hiểu được trong kinh nghiệm con người chúng ta không có điều gì để so sánh vói ba ngôi trong sự hiệp nhất trong ba ngôi ( trinity in unity and unity in trinity) Chúng ta biết rằng chẳng có ba con người nào được cấu tạo thành một con người. Chẳng có ba con người nào có kiến thức trọn vẹn nà về những gì mà mỗi một trong nhựng người khác đang làm và đang suy nghĩ. Mỗi người bao bọc quanh mính bằng hành rào riêng tư. Không con người nào só sự phân biệt nhóm ba ( threesomeness) như cách mô tả về Đức Chúa Trời. Đơn giản là con người không thể dựa vào kiến thức và kinh nghiệm phàm nhân mà hiểu những sự dạy dỗ liên quan đến Ba ngôi.
5. Làm thế nào để giải quyết những khó khăn nầy? Nan đề căn bản trong nổ lực giải thích Ba ngôi nằm ở trong mối quan hệ của hững thân vị trong Đức Chúa Trời chủ tể với thực thể thiêng liêng và đối với nhau. Đây là nan đề mà Hội Thánh không thể giải quyết. Chỉ có thể giảm bớt sự phức tạp bằng định nghĩa chính xác về từ ngữ. Mặc dù Hội Thánh đã không cố gắng giải thích sự mầu nhiệm (mystery) của Ba ngôi, nhưng HỘi Thánh đã cố tạo thành giáo lý của Kinh Thánh về điều đó (it has tried to formulate a biblical doctrine of it) nên lại gây ra những sai lầm tai hại có nguy cơ đe dọa sự sống thật của Hội Thánh. bằng việc so sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh, ch1ung ta có thể thấy giáo lý ba ngôi ở mức độ mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ trong lời của Ngài, ngay cả khi chúng ta chưa hiểu đầy đủ.
Trong sự hữu hạn của chúng ta (finite existence) chúng ta không bao giờ có thể hiểu đầy đủ sự vô hạn (không có sự hạn chế nào) Phaolô mô tả sự hạn chế của con người trong thư thứ nhất cho người Côrinhtô
Ngày nay chúng ta chỉ xem thấy sự phản chiếu lờ mờ, bây giờ, khi chúng ta đứng trong sự biến hóa trong sự hiện diện của Đấng Christ chúng ta sẽ thấy mặt đối mặt. Bây giờ tôi biết phần nào, bấy giờ tôi biết đầy đủ, như tôi được Chúa biết đầy đủ vậy (ICo1Cr 13:12)
(10) Từ những lời diễn đạt sau đây hãy chọn lời diễn đạt nào đúng trong việc nói về Ba ngôi và sựhiểu biết của chúng ta về điều ấy.
a. Kinh Thánh tiết lộ rằng thực thể thiêng liêng có ba thân vị.
b. Mỗi một trong ba thân vị _ Cha, Con và Thánh Linh có những tính chất riêng biệt, được mô tả bằng những danh xưng đại từ những phẩm chất bà những hoạt động khi áp dụng cho từng thân vị riêng biệt.
c. Cựu ước không ám chỉ về một số nhiều của các thân vị ( aplurality of persons) trong Đức Chúa Trời chủ tể _ Cựu ước chỉ nói về Đức Giê Hô Va Đức Chúa Trời.
d. Tân ước tiết lộ vềnhững thân bị của Ba ngôi đầy đủ hơn Cựu ước.
f. Nan đề chính trong sự hiểu biết của chúng ta về ba thân bị tính (tri personality) của Đức Chúa Trời ấy là chúng ta không có kinh nghiệm gì khi so sánh với nhóm ba riêng rẽ (distinct threesomaness) của thực thể thiêng liêng.
g. Cách giải quyết nan đề Ba ngôi tốt nhất là ý thức rằng vì điều này không thể giải thích đầy đủ nên chúng ta không cố công tạo ra một giáo lý liên quan đến điều đó.
Sự nghiên cứu cẩn thận lời Đức Chúa Trời sẽ tiết lộ nhiều về tam thân vị tính ( tri - personality) của Đức Chúa Trời. Nghiên cứu trong sự cầu nguyện về giáo lý nầy sẽ cho phép chúng ta hiểu biết nhiều hơn về sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời ( God’s sefl - revelation) Điều đó cũng giúng chúng ta đánh giá đầy đủ hơn về bản chất Đức Chúa Trời và những phương tiện Ngài cung ứng cho chúng ta để đến gần Ngài trong tình yêu kính, tôn thờ và tự nguyện phục vụ.
Đức Chúa Trời thì vĩnh cửu ( God is Enternal)
Mục tiêu5:họn những lời diễn đạt đúng mô tả mối quan hệ mật thiết dành cho Cơ đốc nhân về sự vĩnh cữu (đời đời ) của Đức Chúa Trời
Nhiều người quan tâm đến việc truy nguyên ngồn gốc của tổ tiên họ. Bạn sẽ nói gì khi tôi nói rằng tôi không có tổ tiên? Bạn sẽ không chấp nhận đó là sự thực, và bạn có lý. Tôi phải có tổ tiên giống như mọi người đều có tổ tiên.
Tôi nói mọi người đều có tổ tiên, nhưng tôi kh6ng thể kể Đức Chúa Trời vào trong câu nói này, Ngài không có tổ tiên. Như vậy làm thế nào để Ngài trở thành thực thể? Câu hỏi nầy có một câu trả lời rất đơn giản. Ngài đã không trở thành thực thể: Ngài luôn luôn hiện hữu, từ cõi đời đời. Đó là lý do vì sao chúng ta nói Đức Chúa Trời thì vĩnh cữu.
1. Vĩnh cửu (đời đời) là gì. Khó cho chúng ta tưởng tượng về tương lai chưa biết gì cả, nhưng tâm trí của cta có thể tưởng tượng lui về quá khứ để nghĩ về cõi vĩnh hằng. Chúng tơi muốn nói đến sách Sáng thế ký là sách của những sự bắt đầu. Trong sách Sáng Thế Ký chúng ta nghiên cứu về sự bắt đầu công cuộc tạo hóa, sự bắt đầu của loài người, và sự bắt đầu của những quốc gia. Tuy nhiên, những sự bắt đầu xa vời nầy không phải là khởi thủy ( the begining)
Ngay cả việc chúng ta có thể đi xa hơn vào thời các thiên sứ được tạo dựng - những con trai của Đức Chúa Trời cât tiếng reo mừng khi nền trái đất được lập nên - trước bìnhminh củalịch sử (Giop G 38:4-7) Bấy giờ cũng chưa phải là khởi đầu. Trong tâm trí chúng ta, chúng ta chỉ thấy cõi vĩnh hằng như là sự phi thờ gian vô tận ( infinite timelessness) khi mọi tạo vật còn nằm trong tư tưởng của Đức Chúa Trời. Ở đây trí óc tưởng về sự vô hạn hay không có giới hạn nào cho thời gian.
2. Ai cư ngụ trong cõi vĩnh hằng? Con người và những thiên sứ là tạo vật, nhưng chỉ một mình Đức Chúa Trời thì không có khởi thủy. Như vậy, Ngài là Đấng duy nhất trong cõi vĩnh hằng. Con người có một quá khứ, một hiện tại và một tương lai, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có hiện tại. Cả quá khứ và tương lai cũng như bây giờ đối với Ngài.
Đức Chúa Trời hằng còn đời đời ở hai cách:
1) Ngài chẳng bao giờ bắt đầu trở thành, Ngài luôn luôn có (Thi Tv 90:2)
2) Sự tồn tại của Người chẳng bao giờ chất dứt (PhuDnl 32:42; Thi Tv 102:27)
Là đời đời, Đức Chúa Trời không vướng mắc mọi sự diễn biến của thời gian.
3. Làm thế nào để chúng ta hiểu được ý niệm về sự đời đời của Đức Chúa Trời.
Ngoại từ Kinh Thánh, chúng ta có thể kết luận rằng Đức Chúa Trời luôn luôn có theo cách lập luận của ý tưởng. Bất cứ người nào cũng biết rằng không có vật nào xuất phát từ số không cả. Một khoảng chân không chẳng có thể tạo ra một vật. Vì thế nếu lúc khởi thủy của vũ trụ không có vật gì là hiện hữu, và nếu chỉ có một khoảng chân không, thì có cứ vẫn y nguyên như thế. Nhưng vì chúng ta nhìn thấy một vụ trụ vô cùng rộng lớn ba bọc chung quanh chúng ta, thì lý luận bắt buộc chúng ta phải chất nhận rằng có điều gì đó ở trong quá khứ mà điều đó chẳng bao giờ có một khởi thủy - điều đó luôn luôn có. Điều gì đó chính là Đức Chúa Trời.
Sự vĩnh cữu của Đức Chúa Trời được mặc khải suốt Kinh Thánh. Đức Chúa Trời được gọi là Đức Chúa Trời Hằng Hữu (SaSt 21:33) tác giả Thi thiên nói, “ Từ trước vô cùng cho đến đời đời ( từ cõi vĩnh hằng) Chúa là Đức Chúa Trời” (Thi Tv 90:2) và “ Ngài vẫn y nguyên và những năm của Ngài chẳng hề chấm dứt” (102:27) Eâsai được cảm thúc để công bố rằng Đức Chúa Trời là Đấng “ sống đời đời” (EsIs 57:15) trong khi Phaolô xác nhận với Timôthê rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời là căn nguyên của sự bất tử (ITi1Tm 6:16)
(11) Khoanh tròn những mẫu tự đứng trước lời diễn đạt đúng.
a. Sự hằng hữu của Đức Chúa Trời cho chúng ta sự tín quyết để biết rằng Đấng chúng ta tin cậy chẳng baogiờ biến mất.
b.Sự hằng hữu của Đức Chúa Trời khích lệ chúng ta mỗi khi chúng ta gặp khó khăn. Chúng ta ý thức rằng những mục đích của Đức Chúa Trời, đã và đang đứng vững, sẽ còn đứng vững cho đến đời đời. Những mục đích đó bao gồm những gì liên quan đến chúng ta.
c. Sự hiểu biết về sự vô hạn của Đức Chúa Trời liên quan đến thời gian làm cho chúng ta ý thức rằng những quyết định riêng tư của mình không quan trọng vì những điều đó chỉ liên hệ với thời gian.
Đức Chúa Trời bất biến ( God is Inmuntable)
Mục tiêu6: tả sự bất biến ( khôn thay đổi ) của Đức Chúa Trời có ý nghĩa gì cho kinh nghiệm Cơ đốc thực tế của bạn .
Tất cả chúng ta đều phạm những lỗilầm nên cần sự sữa đổi hay điề chỉng, nhưng Đức Chúa Trời thì không. Ngài không cần thêm hay bổ túc việc gì vào đặc tính hay thuộc tính của Ngài. Ngàitrọn vẹn trong mọi khía cạnh.
(12) Đọc những phần Kinh Thánh trích dẫn sau và hoàn tất câ văn
a) Trong Thi Tv 102:25-27................................. không bao giờ thay đổi của chúng ta trái ngược với sự luôn luôn thay đổi..........................................................................
b) EsIs 46:9-10; Thi Tv 33:11 và 119:160 tiết lộ rằng Đức Chúa Trời không hay đổi trong ..........................................................và................................................................. của Ngài
c) MaMl 3:6 cho biết rằng vì Đức Chúa Trời không thay đổi, nên Ngài sẽ còn thương xót hậu tự của Gia cốp để họ không................................................
d) 103:17 Nói về sự ............................ và ............................................... không thay đổi của Đức Chúa Trời.
Kinh Thánh nói về sự bất biến (immutabinity) hay sự không thay đổi của Đức Chúa Trời, dạy cho chúng ta những nguyên tắc cố định về Đức Chúa Trời chúng ta phục vụ. Học giả Thiessen trình bày những nguyên tắc này trong sách của ông in năm 1979, trang 83, và chúng tôi liêt kê ra đây để bạn xem rỏ ràng hơn.
1. Vì Đức Chúa Trời là vô hạn, tự tồn tại và độc lập nên Ngài vượt trên mọi nguyên do và những điều đó có thể thay đổi.
2. Đức Chúa Trời không thể tăng lên hay giảm xuống, và Ngài không phải là đối tượng để phát triển thêm.
3. Quyền năng của Đức Chúa Trời không bao giờ lớn hơn hay ít hơn và Ngài không bao giờ có thể khôn ngoan hơn hay thánh khiết hơn.
4. Đức Chúa Trời không thể công bình hơn, thương xót hơn hay yêu thương hơn, Ngài đã là và vẫn sẽ là như thế.
5. Ngài không thể thay đổi trong mối quan hệ của Ngài đối với dân sự. Ngài hành động theo những nguyên tắc đời đời không thay đổi theo sự thay đổi của thời gian.
Vì Đức Chúa Trời không thay đổi nên chúng ta có thể tự nguyện dâng đời sống mình cho Ngài cách trọn vẹn khi chúng ta nương cậy lời của Ngài. Chúng ta có thể đương đầu với mọi hoàn cảnh của cuộc sống với sự tin quyết rằng, biết chắc rằng trong mọi sự Ngài hành động đều mang lại lợi ích cho chúng ta (RoRm 8:28)
Có lẽ bạn đã chú ý những phân đoạn Kinh Thánh như XuXh 23:19 và ISa1Sm 15:29 nói rằng Đức Chúa Trời không thay đổi tâm trí Ngài và những phân đoạn Kinh Thánh khác ại nói Ngài hối tiếc vì Ngài đã làm điều đó (5:11; Gion Gn 3:9-11) Thái độ này của Đức Chúa Trời không ám chỉ bất cứ sự thay đổi căn bản nào trong đặc tính hay mục đích của Ngài. Ngaì luôn luôn ghét tội lỗi, và Ngài luôn luôn yêu thương tội nhân. Thái độ này chỉ đúng trước khi cũng như sau khi tội nhận ăn năn. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời có thể thay đổi cách đố xử của Ngài vì sự thay đổi của dân sự Ngài.
Có một ví dụ về điều nầy, chúng ta thấy rằng thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của dân Ysơraên không thay đổi. Ngài ghét tội lỗi của quốc gia ấy. Vì dân sự của Ngài cứ miệt mài trong tội lỗi, nên tự nhiên họ phải chịu sự hình phạt của tội lỗi. Tuy nhiên, khi họ ăn năn và từ bỏ tội lỗi, kết quả là sự đối xử của Đức Chúa Trời đối với họ cũng thay đổi.
Có người nói rằng mặt trời không thay đổi gì có khi nó làm cho sáp chảy ra và làm đất sét cứng lại, vì sự thay đổi không ở nơi mặt trời nhưng nơi vật chất mà mặt trời chiếu vào. Chúng ta có thể nương cậy trên sự bất biến hay sự không thay đổi của mục đích của Đức Chúa Trời, Lời của Ngài và bản chất của Ngài. Như mặt trời làm sáp chảy ra và làm đất sét cứng lại, thì sự không thay đổi của Đức Chúa Trời chỉ đem lại thuận lợi cho những tấm lòng mềm mại đáp ứng nồng nhiệt với Ngài, và đem sự hủy diệt cho những tấm lòng không đáp ứng và trở thành cứng ngắc.
(13) Để cũng cố lại những phẩm chất của bản chất Đức Chúa Trời trong tiểu mục nầy, bạy hãy xếp phù hợp mỗi phẩm chất với lòng mô tả phẩm chất
......a. La một thực thể và bản thể.
...... b. Phi thời gian không có bắt đầu và kết thúc.
......c. Không bị hạn chế do hình thái hay thực thể vật chất.
......d. Số nhiều của những thân vị.
......e. Như nhau khi liên quan đến mục đích, lời nói và đặc tính.
.....f. Có thể suy nghĩ, cảm nhận và quyết định
1) Thân vị tính
2) Thuộc về linh
3) Hiệp nhất.
4) Ba ngôi
5) Vĩnh cữu
6) Bất biến





† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 19-1-2018 03:10 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách