† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 1968|Trả lời: 0

Đá Góc Nhà - CÔNG TÁC CAI TRỊ TỐI CAO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 29-9-2011 08:34:16 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Đá Góc Nhà
Tác giả: Floyd C.Woodworth, Jr. D.Duncan

CÔNG TÁC CAI TRỊ TỐI CAO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.


Mục tiêu4: Áp dụng những nguyên tắc vào hoàn cảnh của cuộc sống và chọn những định nghĩa chính xác về sự cai trị tối cao của Đức Chúa Trời trên vũ trụ .
Đấng Tạo Hóa Chí Cao của vũ trụ có sự cai trị tối thượng trên khắp mọi vật Ngài tạo dựng. Điều nầy có nghĩa gì? Cao nhất trong cấp bậc hay quyền bính, cao nhất trong mức độ hay phẩm chất. Đức Chúa Trời luôn luôn cao nhất trong mọi cách đối với mọi sự vật đang tồn tại. Chữ “chủ quyền” ( soverreign) có nghĩa “ thoát khỏi sự kiểm soát bên ngoài, quyền làm theo ý mình thích” ( freedom from outside cotrol, power to do as one pleases)
Như vậy, chủ quyền của Đức Chúa Trời mô tả sự cai trị tối cao của Ngài trên vũ trụ (ITi1Tm 6:15) Chủ quyền của được bày tỏ trong sự chỉ huy của Ngài trên những sự kiện quan trọng của vũ trụ theo ý muốn của Ngài (Eph Ep 1:11) Kinh Thánh dạy rõ rằng về chủ quyền của Đức Chúa Trời:
1) Là Đấng Tạo Hóa của chúng ta, Ngài có quyền cai trị trên chúng ta (ISu1Sb 29:11, Mat Mt 20:15; Exe Ed 18:4)
2) Ngài làm những gì Ngài thích (Thi Tv 115:3; DaDn 4:35)
3) Có mục đích trên tất cả những gì Ngài tạo dựng (RoRm 8:28; EsIs 48:11) Một ngày nọ tôi đọc trên tờ báo thấy một vụ thảm sát một bé gái 5 tuổi xinh xắn. làm thế nào để việc nầy xảy đến nếu Đức Chúa Trời thực sự tốt lành, thực sự có chủ quyền, và toàn quyền để làm những gì Ngài ưa thích? Tại sao Ngài lại cho phép những điều như thế xảy ra? Chúng ta sẽ tìm vài câu trả lời cho những câu hỏi loại đó khi chúng ta quan sát những khía cạnh kháa nhau về quyền cai trị tối cao của Đức Chúa Trời trên vũ trụ. Chủ quyền của Đức Chúa Trời liên quan đến sự bảo tồn (perservation) hay duy trì (maintenance) vũ trụ, và sự quan phòng ( providence) Trước hết, chúng ta hãy khảo sát sự bảo tồn hay duy trì vũ trụ.
Sự bảo tồn ( duy trì) vũ trụ.
Dùng thông thái đến đâu thì không một kiến trức sư nào có thể phát họa một căn nhà mà không cần sửa chữa gì cả. Không một nhà làm vườn nào cẩn thận trồng hoa mà không duy trì nó bằng cách tỉa cành, ương hột và tưới nước. Kinh Thánh dạy rằng vũ trụ cũng cần được duy trì hay bảo quản (Cong Cv 17:28; HeDt 1:3)
Đức Chúa Trời bảo tồn hay chăm sóc vũ trụ cách sống động. Kinh Thánh chứng tỏ rằng, tiếp theo sau công tác tạo dựng, Đức Chúa Trời tiếp tục sự hoạt động của Ngài bằng cách chăm sóc muôn vật (Thi Tv 104:1-35) Sự chăm sóc này bao gồm loại người và loài vật (Thi Tv 36:6) và bảo vệ những ai ngay thẳng và công bình (ChCn 2:8)
Sứ đồ Phao lô công bố, “ Vì trong Ngài chúng ta sống, di chuyển và tồn tại” (Cong Cv 17:28) Đức Chúa Trời không làm chủ yếu có bất cứ điều gì hiện hữu chiếm chỗ trong vũ trụ ngoài ý muốn và quyền năng cua Ngài. Những phần Kinh Thánh như NeNe 9:6 và Thi Tv 145:14-16 dạy rằng Đức Chúa Trời tích cực bảo tồn muôn vật. Những câu Kinh Thánh khác công bố rằng Chúa bồng ẵm dân sự Ngài (PhuDnl 1:30-31; Thi Tv 31:20. 34:15, 17, 19; EsIs 43:2)
Chúng ta phải nhìn nhận rằng sự bảo quản thiên thượng rất cần thiết vì mọi vật Đức Chúa Trời tạo dựng phải hiệu hữu và hoạt động, phải hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài. tạo vật không có sức mạnh trong bản thân mình để tiếp tục tồn tại. Nó tồn tại và tiếp tục vì ý muốn của Đấng tạo Dựng nó. Nhờ lời phán quyền năng mà toàn thể vũ trụ được nâng đỡ hay được bảo quản (HeDt 1:3)
Trong lúc muôn vật được tiếp tục tồn tại do sự liên tục thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời, thì Ngài ban cho mỗi phần tử của công trình tạo dựng của Ngài những đặc tính cơ bản thích hợp cho sự bảo tồn nó. Trong thế giới vật lý Ngài hoạt động qua những qui luật và đặc tính vật lý, đôi khi chúng ta gọi đó là “ những qui luật thiên nhiên” Trong thế giới trí tuệ, Ngài hành động qua những tính chất hay những khả năng của tâmtrí. Ngài ban cho chúng ta khả năng suy nghĩ, xúc cảm và quyết định.Trong sự đối xử với chúng ta Ngài hành độnh qua những đặc tính ấy. Trong việc bảo tồn thế giới Đức Chúa Trời không làm xáo trộn những gì Ngài đã thiết lập trong công tác tạo dựng của Ngài. Ngài chỉ duy trì nhữn gì Ngài đã tạo dựng.
(14) ( Chọn những câu trả lời đúng). Đức Chúa Trời bảo tồn mọi vật mang ý nghĩa
a. Ngài hạn chế quyền năng trong việc thay thế nhữn gì bị hư hoại.
b. Ngài tích cực hoạt động trong việc duy trì muôn vật.
c. Mỗi phần tử của công trình tạo dựng của Ngài có khả năng tự bảo tồn.
d. Ngài ban những tính chất cần thiết cho mỗi phần tử của công trình tạo dựng của Ngài, và Ngài hoạt động qua những tính chất nầy để chăm sóc mọi vật.
e. Bởi ý muốn của Đức Chúa Trời mà muôn vật trong vũ trụ cứ tiếp tục tồn tại.
f. Ngài cung ứng sự chăm sóc và bảo vệ nhân sự Ngài.
g. Ngài chỉ quan tâm bảo tồn những người ngay lành.
Sự quan phòng ( Providence)
Mục tiêu5: Nhận diện những mục đích , những yếu tố và những ảnh hưởng của sự quan phòng của Đức Chúa Trời
Khía cạnh khác của sự cai trị tối cao của Đức Chúa tròi là sự quan phòng của Ngài. Chữ nầy không có ý nghĩa là bảo tồn nhưng còn mạnh mẽ hơn thế nữa. Quan phòng có nghĩa là khả năng nhìn thấy của Đức Chúa Trời, biết trước và lập kế hoạch trước. Quan phòng liên quan đến khả năng hoàn thành mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời, đó là thiết lập Vương quốc của Ngài dưới sự cai trị của Đấng Christ. Sự quan phòng còn nói về hoạt động của Đức Chúa trời qua đó Ngài bảo tồn, chăm sóc và quản trị những gì Ngài đã tạo dựng. Ngài làm những điều ấy như thế nào là một sự huyền nhiệm, nhưng có một số điều về sự quan phòng của Đức Chúa Trời khi chúng liên quan đến chúng ta mà chúng ta biết được:
1. Đức Chúa Trời quan tâm cách cá nhân đến thế giới Ngài đã tạo dựng.
2. Ngài khiến mọi vật trong thiên nhiên chuyển động khi Ngài có ý định.
3. Ngài cho phép và khuyến khích con người hoạt động như những tác phẩm có trách nhiệm về đạo đức vói sự tự do chọn lựa giữa điều phải và điều quấy.
4. Nếu con người chọn lựa việc tiếp nhận sự cứu rỗi Ngài ban tặng, Đức Chúa Trời sẽ cho người ấy sự sống đời đời với tất cả niềm vui vàhuy hoàng mà sự oai nghi của Ngài cung cấp.
Những mục đích của sự quan phòng.
Có vài mục đích đối với sự cai trị tối cao của Đức Chúa Trời có dính dáng đến mối quan hệ của Đức Chúa Trời đối với những tạo vật yêu mến và vâng lời Ngài.
1. Đặc điểm của sự cai trị của Đức Chúa Trời là quan tâm đến chúng ta. Nhiều khúc Kinh Thánh tiết lộ rằng Đức Chúa Trời cai trị vói ý định đem hạnh phúc cho dân sự Ngài. Thi Tv 84:11 công bố “ Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành nào cho ai ăn ở ngay thẳng” những phần Kinh Thánh khác như Cong Cv 14:17 và RoRm 8:28 cũng tiết lộ sự quan tâm của Đức Chúa trời đến hạnh phúc và phúc lợi của chúng ta.
2. Đặc điểm của sự cai trị của Đức Chúa Trời là quan tâm đến sự phát triển tinh thần và đạo đức của dân sự Ngài. Sự đối xử của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài trong suốt lịch sử có liên quan đến sự giáo dục họ để họ có thể ý thức 1) những gì Ngài đòi hỏi nơi họ. 2) bản chất Ngài là thánh khiết. 3) Tội lỗi là điều làm xúc phạm Ngài, 4) Ngài ban sự tha thứ tội lỗi và sự phục hòa với chính mình Ngàii. Torng những ngày đầu Ngài cho phép những điều như ly dị vì dân sự chưa trưởng thành. Mac Mc 10:5 về điều nầy. Luật pháp của Cựu ước là hệ thống quản trị của người Lêvi là phần tiến trình phát triển. Những điều đó chuẩn bị con đường cho sự mặc khải về chiên con của Đức Chúa Trời (Chúa Jêsus) Đấng ném xa tội lỗi của thế gian đi. Tất cả những gì thuộc về sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong việc dẫn dắt dân sự trưởng thành về mặt thuôïc linh đều dành cho mục đích sửa soạnn họ trở thành tài sản đặc biệt của Ngài.
3. Mục đích chính của sự cai trị của Ngài là làm vinh hiển danh Ngài (Eph Ep 1:11-14) Mọi sự trọn vẹn của Ngài được bày tỏ qua sự cai trị của Ngài. Điều nầy có nghĩa là sự quan phòng thiêng thượng bày tỏ chúng ta những phẩm chất củ sự thực hữu của Ngài. Chẳng hạn, tình yêu của Ngài được bày tỏ trong sự cung ứng của Ngài cho tạo vật, đặc biệt trong việc cung ứng sự cứu chuộc qua Con Ngài. Chân lý ( lẽ thật) của Ngài được bày tỏ cả trong luật lệ của thiên nhiên và trong sự thành tín của Ngài trong sự ứng nghiệm những lời hứa trong lời của Ngài. Sự thánh khiết và sự công bình của Ngài được bày tỏ trong việc Ngài ghét tội lỗi. Quyền năng của Ngài được chứng tỏ trong công tác tạo dựng, cứu chuộc về quan phòng của Ngài. Sự khôn ngoan của Ngài được nhìn thấy trong phương cách Ngài hành động để đạt được mục đích của Ngài. Khi chúng ta nhìn nhận sự kỳ diệu của Đấng Tạo Hóa của chúng ta, thì chúng ta hãy tôn kính và làm vinh hiển Ngài.
(15) Trong những câu sau câu nào là định nghĩa đúng của chữ quan phòng? Đó là
a. Sự bảo tồn muôn vật mà Đức Chúa Trời ban cho mỗi phần tử của công trình tạo dựng của Ngài khả năng tự chăm csóc cho nhu cầu của mình mà không cần lệ thuộc vào Ngài gì cả.
b. sự cai trị của Đức Chúa Trời nhờ đó Ngài bảo tồn, chăm sóc và quản trị tạo vật của Ngài, chuẩn bị điều đó cho vương quốc đời đời của Ngài.
(16) Xếp đặt cho phù hợp mục đích của sự quan phòng với sự mô tả
.....a. Đức Chúa Trời hành động trong mọi sự có liên quan đến phúc lợi của dân sự.
.....b. Đức Chúa Trời cung cấp sự giáo dục của dân sự liên quan đến chính Ngài, và những đòi hỏi của Ngài để họ trở thành tài sản đặc biệt của Ngài.
.......c. SưÏ chứng tỏ về những phẩm chất của sự thực của Ngài tiết lộ trong điều nầy
1) Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
2) Sự phát triển về tinh thần và đạo đức của dân sự.
3) Hạnh phúc của dân sự
Những yếu tố của sự quan phòng.
Những yếu tố của sự quan phòng là gì? Nhiều học giaả gợi ý rằng có ba yếu tố của sự quan phòng của Đức Chúa Trời, tuy nhiên họ cũng côn nhận rằng có vài sự trùng hợp và cả ba chẳng baogiờ bị tách rời trong công việc của Đức Chúa Trời. Ba yếu tố đó là sự bảo tồn (preservation), sự cộng tác (concurrence) và sự quản trị (government)
1. Sự bảo tồn. chúng ta đã khảo luận về sự bảo tồn hay sự duy trì vũ trụ của Đức Chúa Trời là một phần của sự cai trị tối cao trên muôn vật của Ngài. Mọi vật Đức Chúa Trời tạo dựng phải hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài. Nhưng Ngài đã ban cho mỗi phần tử của công tác tạo dựng của Ngài những tính chất để cung ứng cho sự duy trì của nó. SaSt 1:24-25 cho biết Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi tạo vật một số đặc tính thiên nhiên cố định riêng biệt cho nó. Mỗi vật lớn lên, phát triển, trưởng thành và sinh sản tùy theo loại.
2. Sự cộng tác ( Concurrence) từ ngữ cộng tác có nghĩa là “ đồng ý, góp phần, hay tán thành” Điều nầy nêu lên ý tưởng là không có hoạt động nào của tâm trí có thể xảy ra mà không có sự tán thành của Đức Chúa Trời, và quyền năng của Ngài cộng tác với những quyền năng ở dưới Ngài. Cong Cv 17:28 và ICo1Cr 12:6 sứ đồ Phao lô chứng tỏ rằng nếu không có sự cộng tác của Đức Chúa Trời thì không có sức mạnh (force) naò hay con người nào có thể tiếp tục tồn tại hay hoạt động. Như vậy, quyền năng của Đức Chúa Trời có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên sức lao động của con người mà không hủy phá sức lực ấy hay cướp đi sự tự do của con người. Con người sở hữu, gìn giữ và sử dụng sức lực tự nhiên của mình khi Đức Chúa Trời bảo tồn tâm trí va thân thể con người trong chức năng tự nhiên của nó.
Vì Đức Chúa Trời là nền tảng căn bản cho sự tồn tại của con người nên chúng ta không thể nói rằng phần của con người ngang bằng với phần của Đức Chúa Trời. Tại đây, một lần nữa, chúng ta thấy sự mầu nhiệm sâu sắc: Đức Chúa Trời đã ban cho con người những sức ạnh tự nhiên để có thể thực hành điều thiện hay điều ác. Khi những sức mạnh tực nhiên ấy được sự dụng trong con đường gian ác, thì một mình con người chịu trách nhiệm, vì Đức Chúa Trời không gây ra những hành động gian ác của con người (Gie Gr 44:4) va Gia Gc 1:13-14) Đức Chúa Trời cộng tác trong những hành động của con người trong việc ban cho con người sức mạnh tự nhiên, nhưng hướng những sức mạnh nầy làm điều ác là do con người gây ra. Trường hợp cua Giôsép là một thí dụ về sự cộng tác (SaSt 45:5; 50:20) Ở đây chúng ta thấy trong lúc anh em người dùng sức mạnh tự nhiên để làm điều ác,thì Đức Chúa Trời cai trị hành động đó để làm điều thiện. Ngài tán thành hay cho phép, hành động của họ, nhưng Ngài hoạt động qua điều đó theo mục đích của Ngài.
Phaolô nói rằng Đức Chúa Trời “vận hành mọi sự phù hợp với mục đích của ý muốn Ngài” (Eph Ep 1:11) và Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta “và ta muốn làm y theo mục đích tốt lành của Ngài” (Phi Pl 2:13) Ngài ban cho chúng ta những hiểu biết và thực tế cuộc sống và chỉ đạo chúng ta do Thánh Linh Ngài. Ngài cảnh cáo chúng ta về những hậu quả của sự thất bại và dịu dàng theo đuổi chúng ta. Nhưng Ngài không giểu cợt sự tự do của chúng ta bằng cách ép buộc chúng ta. Trong kinh nghiệm cứu chuộc, Ngài bắt đầu công tác đẹp đẽ của Ngài bằng việc đứng bên ngoài cửa lòng mà gõ, nhưng chúng taphải mở cửa (KhKh 3:20) Bấy giờ Thánh Linh đến và ngự trong chúng ta. Ngài duy trì sự kiểm soát đời sống chúng ta khi chúng ta còn đầu phục quyền làm chủ của Ngài. Mối liên hệ của chúng ta với Ngài là Cứu Chúa chúng ta tiếp tục trên nền tảng tình yêu của chúng ta đối với Ngài và sự chọn lựa để Ngài điều khiển cuộc đời chúng ta.
3. Sự quản trị: Điều nầy ám chỉ về hành động cai trị của Đức Chúa Trời với chỉ tiêu hoàn thành mục đích thiêng liêng cuả Ngài. Như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời cai trị thế giới vật chất bằng phương tiện của những qui luật Ngài thiết lập. Ngaì cai trị con người qua những qui luật và tính chất của tâm trí cũng như qua sự vận hành của Thánh Linh. Làm như vậy Ngài sử dụng mọi loại ảnh hưởng, như hoàn cảnh, động cơ, dạy dỗ, khuyên bảo và làm gương. Ngài hành động trực tiếp qua sự vận hành của Thánh Linh để ảnh hưởng trí tuệ, tình cảm và ý chí con người.
Đức Chúa Trời quản trị ít nhát bằng bốn phương cách. Hiểu biết những phương cách này sẽ giúp chúng ta nhìn thấy sự liên hệ giữa ý chí tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện kế hoạch thiên thược của Ngài và ý chí của con người trong sự tự do hành động.
a. Đôi khi Đức Chúa Trời không làm gì cả để ngăn ngừa con ngườihành động theo điều mình chọn. Điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời chấp thuận cho con người phạm tội, nhưng Ngài không lạm dụng quyền năng cuả Ngài d8ể ngăn cản. Cong Cv 14:15-16 và Thi Tv 81:12-13 là những ví dụ về điều nầy.
b. Đôi khi Đức Chúa Trời ngăn cản con người phạm tội bằng cách thúc đẩy họ đừng phạm tội. SaSt 20:6; 31:24 và OsHs 2:6 là những ví dụ về trường hợp nầy. Tác giả Thi thiên cầu xin loại giúp đỡ nầy trong Thi Tv 19:12 “ Xin giữ tôi tớ Ngài khỏi có ý phạm tội”
c. Đôi khi, dưới sự hướng dẫn thiêng thượng, Đức Chúa Trời cai trị những hành động của người gian ác, sử dụng họ để hoàn thành những kết quả tốt lành. Chúng ta đã đưa ra trường hợp của Giôsép. Các anh của Giôsép phạm tội, nhưng Đức Chúa Trời dùng điều đó để hoàn thành điều tốt.
d. Cuối cùng đôi khi Đức Chúa Trời quyết định hạn chế tội lỗi và sự gian ác. Những đoạn Kinh Thánh như Giop G 1:12; 2:6 chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đặt ra giới hạn trên hành động của Satan. Trong ICo1Cr 10:13, Phao lô công bố rằng Đức Chúa Trời cũng đã đặt giới hạn sự thử nghiệm và cám dỗ mà Cơ đốc nhân có thể chịu đựng được.
Sự quan phòng trong chúng ta ý tưởng rằng Đức Chúa Trời chỉ cai trị mọi sự trong tình yêu. Tình yêu này đạt đến lời diễn đạt cao cả nhất trong câu nói của Phaolô, “Và chúng ta biết được rằng trong mọi sự Đức Chúa Trời hành động đều vì lợi ích của những ai yêu mến Ngài, là những người được gọi thao mục đích của Ngài” (RoRm 8:28)
(17) Xếp cho phù hợp những yếu tố của sự quan phòng với lời mô tả của mọi yếu tố
......a. Quyền năng của Đức Chúa Trời cộng tác với những sức mạnh ở dưới Ngài, nhưng trong khi Ngài cho phép những sức mạnh này tự chọn, thì chính Ngài kh6ng gây ra những hành động gian ác.
......b. Đức Chúa Trời cai trị với chỉ tiêu hoàn thành mục đích thiên thượng của Ngài. Điều ấy có nghĩa là đôi khi Ngài trăn trở, đôi khi Ngài hạn chế những hoạt động có ý nghĩa làm hại.
......c. Đức Chúa Trời ban cho tạo vật của Ngài những đặc tính thiên nhiên qua đó Ngài hành động để bảo tồn chúng, mọi vật Ngài tạo dựng phải hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài để tồn tại
1) Bảo tồn
2) Cộng tác
3) Quản trị
Những ảnh hưởng của sự quan phòng của Đức Chúa Trời
Sự quan phòng có ảnh hưởng như thế nào đối với kinh nghiệm cá nhân. Nhiều phần Kinh Thánh bày tỏ lời hứa của Ngài làm cho những người công bình được thịnh vượng ( xem LeLv 26:3-13 và PhuDnl 28:1-14) Ngài ban phước cho những người thuộc về Ngài những phước lành của Ngài vượt quá điều đề cập.
Nhưng thường thường người công bình kinh ngạc, “ Tại sao kẻ gian ác cũng được thịnh vượng? Tại sao chúng đi mà không bị trừng phạt?” Tác giả Thi thiên trả lời rằng 1) sự thịnh vượng của lẻ ác của họ (Thi Tv 37:16-22; 73:1-28, xem MaMl 3:13-4:3)
Vì thế khi có người hỏi bạn, “ Tại sao Đức Chúa Trời không chám dứt mọi sự bạo ngược ấy?” Bạn có thể trả lời cách quả quyết rằng “ Hãy chờ xem và thấy phần chung cuộc của bi kịch nầy. Đức Chúa Trời đã bắt đầu kế hoạch trường cửu của Ngài sẽ có phước hạnh và thịnh vượng cho tất cả những ai yêu mến Ngài” Trong khi chờ đợi, Đức Chúa Trời trì hoãn cơn đoán phạt của Ngài để cho kẻ ác có cơ hội ăn năn (RoRm 2:4; IIPhi 2Pr 3:9)
Một câu hỏi khác thường được Cơ đốc nhân đặt ra là, “ Tại sao tín hữu phải chĩu nhiều thử thách nếu Đức Chúa Trời hoàn toàn điều khiển những biến cố của cuộc sống nầy?” Kinh Thánh tiết lộ vài lý do:
1. Thử thách có thể được cho phép xảy ra nếu tín hữu tăng trưởng phần thuộc linh (Thi Tv 94:12; HeDt 12:5-13)
2.Thử thách có thể là những bài trắc nghiệm để sửa soạn con đường phục vụ rộng rãi hơn ( I Côrinhrô 16:9;; Gia Gc 1:2-12)
3. Hoạn nạn cũng có thể đem lại sự vinh hiển Đức Chúa Trời nếu chúng ta phản ánh với điều đó trong cách đúng đắn (Giop G 1:1-2:13; 42:1-17)
4. Thử thách là một phần củ sự kêu gọi của Hội Thánh (GiGa 15:18; 16:33; Cong Cv 14:22; IPhi 1Pr 4:12-19)
Vì sự kiện là có đôi lúc Đức Chúa Trời can thiệp tích cực trong công việc của loài người, nên chúng ta biết rõ rằng mình có thể ảnh hưởng trên đời sống người khác khi chúng ta cầu nguyện.Môi se khấn cầu cùng Đức Chúa trời và dân Ysơraên được cứu khỏi sự hủy diệt , Eâli cầu nguyện, và hoàng cung bị quấy động. Có nhiều ví dụ khác trong Cựu và Tân ước nói về sự can thiệp của Đức Chúa Trời khi dân sự cầu nguyện. Đức Chúa Trời làm một số việc như là sự trả lời trực tiếp cho cầu nguyện của dâu sự. Ngài cũng làm những việc khác mà không có ai cầu xin điều đó. Có khi Ngài làm những điều dường như trái ngược điều chúng ta cầu xin vì trong quyền tể trị của Ngài. Ngài làm điều đó vì lợi ích cao hơn của chúng ta. Henry C. Thiessen tóm tắt điều nầy như sau: “ Nếu chúng ta không cầu xin những gì mình có thể nhận được do sự cầu nguyện, thì chúng ta không nhận được. Nếu Ngài muốn thực hiện những gì không do ai cầu nguyện, thì Ngai sẽ làm mà kh6ng cần sự cầu nguyện của người nào. Nếu chúng ta cần xin những gì trái ý muốn của Ngài, thì Ngài không bao cho chúng ta. Như vậy, có một sự hài hoà trọn vẹn giữa mục đich và sự quan phòng của Ngài với sự tự do của con người (1979, trang 129)
Vì thế, như chúng ta đã thấy, đôi khi Cơ đốc nhân chịu khổ là kết quả của việc sống trong thế giới gian ác. Là Đấng đang điều khiển. Đức Chúa Trời thường không găn cản kẻ gian ác làm những hành vi thô bạo. Cơ đốc nhân, cũng như người chưa tin, đều có thể gặp tai họa do kết qủa của sự bất cẩn hay tai nạn. Đức Chúa Trời thường không can thiệp bằng những luật vật lý, bình thường hay ý chí tự do của chúng ta vào việc lựa chọn. Mỗi người sống trong thế giới trong đó mỗi cá nhân điều là đối tượng của tai nạn hay chết chóc bất ngờ. Mục tiêu của chúng ta là không hoàn thành lý tưởng của mình về cuộc sống, nhưng sống cách nào để làm vinh hiển Đức Chúa Trời, Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta không hề thay đổi, và Ngài đã hứa rằng nếu chúng ta yêu mến Ngài, Ngài sẽ hành động vì lợi ích của chúng ta trong mọi sự. Với sự hiểu biết nầy chúng ta có thể đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời tối cao của chúng ta tin rằng những lý do của bất kỳ hoàn cảnh nào Ngài đem đến, Ngài cho phép, Ngài quyết định và Ngài ngăn trở ngày nào đó sẽ rõ ràng đối với chúng ta như chúng rõ ràng đối với Ngài vậy.
(18) Bằng lời riêng của mình, hãy trả lời câu hỏi đưa ra ở đầy tiểu mục vầ sự cai trị tối cao: “ Làm sao mà Đức Chúa Trời lại cho phép kẻ giết người sát hại một đứa bé ngây thơ vô tội như thế?”
(19) Đọc những phần Kinh Thánh sau và viết số 1) khoảng trống nếu lời diễn đạt là một ví dụ về sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong cách đối xử với dân sự. Viết số 2) nếu là ví dụ về sự lựa chọn của con người mà trong đó Đức Chúa Trời không can thiệp.
......a. Cac Tl 15:16-19 Sự cung cấp nước cho Samsôn đang khát nước mệt lã.
......b. Cong Cv 24:24-26 Phê lít bỏ ý định tiếp nhận phúc âm.
......c. DaDn 2:10-23 sự mặc khải do Đaniên.
......d. SaSt 22:13 con chiên đực ở trong bụi rậm.
......e. Cac Tl 11:30-36 Giép thê lập lời thề dại dột trước mặt Đức Chúa Trời.
(20) Giải thích những anh hưởng của sự cai trị tối cao và sự quan phòng của Đức Chúa Trời trong những hoàn cảnh sau. Câu trả lời của bạn dựa vào những nguyên t8ác đã dạy trong bài nầy. Xin ghi vào sổ tay.
a. John là một mục sư ở gần một vùng đầy những tên thô bạo, cướp bóc. Oâng cứ trung tín làm việc tại cộng đồng đó cho đến khi bị một tên thô bạo đánh đập ông cho đến chết. Sự chết của ông làm quấy động cộng đồng nầy. Kết quả của tấm gương của ông, nhiều nam nữ thanh niên trên đường phố biết đến Đấng Christ.
b. Robert sắp chết vì bệnh ung thư, qua sự cầu nguyện của bạn hữu, anh được chữa lành cách kỳ diệu.
c. Gisco cùng bạn hữu trèo trên một ngọn núi rất nguy hiểm, anh bị té xuống và gãy cả hai chân.
d. Simone bị tấn công và bị đánh đập rất tàn nhẫn khi cô đi từ nhà thờ về nhà. Qua kinh nghiệm này cô tăng cường nổ lực đưa nhiều người đến với Chúa.
e. Raymond, một cậu bé thông minh, chạy ùa khỏi nhà hành xông vào con đường đầy xe và bị cán chết.
f. Henry sông rất ích kỷ và không thành thực trong việc buôn bán, nhưng dường như anh ta thịnh vượng trong mọi việc anh làm.
g. Một giáo sĩ bị nổ bánh xe trên con đường đi từ nhà đến phi trường, và ông bị trễ chuyến bay. Về sau ông biết rằng chiếm mày bay bị lâm nạn và mọi người trên máy bay đều chết.
TRẮC NGHIỆM CÁ NHÂN
CÂU HỎI ĐÚNG SAI
Viết Đ trước những lời diễn đạt đúng và S trước những lời diễn đạt sai
......1. Sự thánh khiết là một đặc tính của Đức Chúa Trời, nó bày tỏ sự trọn vẹn của tất cả những gì Ngài thực hữu.
......2. Vì Đức Chúa Trời là sự thánh khiết vô hạn vào con người đầy tội lỗi, nên mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người là một sự bâng quơ (impersonal)
......3. Trong khi sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đời hỏi sự phân rẽ khỏi những gì tội lỗi, thì trong sự thương xót và tính yêu của Đức Chúa Trời Ngài đã mở ra con đường để chấm dứt sự phân cách đó bằng sự cung ứng của lễ hy sinh.
......4. Tình yêu của Đức Chúa Trời được chứng tỏ cách tốt nhất bằng những gì Ngài phán.
......5. Giá trị của tình yêu được chứng minh bằng những gì một người làm, nghĩa là, những hành động của một người bày tỏ tình yêu.
......6. Nếu một người thật sự yêu mến Đức Chúa Trời, người đó phài bày tỏ bằng sự vâng lời của mình.
......7. Sự tạo dựnh là một công việc của Đức Chúa Trời chỉ có ý nghĩa khi nó chỉ bày tỏ sự oai nghi của quyền năng của Đức Chúa Trời. Điều nầy không kêu gọi sự đáp ứng nào của tạo vật cả.
......8. Sự cai trị tối cao của Đức Chúa Trời có ý nghĩa là Ngài được thoát khỏi sự kiểm soát bên ngoài và Ngài có thể làm bất cứ điều gì Ngài ưa thích.
......9. Khi chúng ta nói về công tác bảo tồn vũ trụ của Đức Chúa Trời, chúng ta hiểu rằng Ngài rất tích cực trong việc bảo quản những gì Ngài tạo dựng.
......10. Sự quan phòng ám chỉ về khả năng của Đức Chúa Trời nhìn thấy trước mọi sự và hướng tạo vật về mục đích tối hậu mà Ngài dự kiến cho nó, thiết lập một vương quốc dưới sự cai trị của Jêsus Christ.
11. Sự quản tị của Đức Chúa Trời bao gồm ý tưởng là có khi Ngài đặt những giới hạn trên tội lỗi và sự gian ác và trên những thử thách mà Cơ đốc nhân phải chịu đựng.
12. Trong khi sự cầu nguyện là một hoạt động tích cựu đem chúng ta đến gần Đức Chúa Trời, thì nó lại không ánh hưởng trên những hành động cai trị của Ngài.
13. Trong lúc Đức Chúa Trời đã thiết lập những qui luật thiên nhiên và ban cho con người quyền tự do lựa chọn, thì Ngài hành động qua những phương tiện để thực hành mục đích của Ngài.
14. Sự quan phòng của Đức Chúa Trời bao gồm nguyên tắc cho rằng Cơ đốc nhân phải chịu đau khổ trong thế giới này trong khi những kẻ có tội có thể trông chờ sự thịnh vượng.
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) a. Thánh khiết
b. Phân rẽ
c. Tội lỗi khủng khiết biết bao.
(2) c. Cứu Chúa Jêsus Christ của chúng ta.
(3) Câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: Ngài đòi hỏi tôi thánh khiết. Ngài muốn tôi dự phần trong sự thánh khiết của Ngài.
(4). Bạn có thể trả lời “ người Samari” vì người ấy chứng tỏ việa làm phải lẽ. Người ấy đã áp dụng vào cuộc sống những nguyên tắc mình nắm giữ.
(5) b) Nghiêm minh trong những mệnh lệnh của chúng ta. . . . . . . .
(6) a),c),e) và f) đều đúng.
(7) Tình yêu của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự ban điều gì đó cho dân sự Ngài.
(8) Chúng ta bày tỏ tình yêu của mình đối với Đức Chúa Trời bằng sự vâng lời Ngài và tình yêu của Chúng ta đối với người khác ( Ở dây chúng ta có thể thấy rằng tình yêu là sức mạnh chủ động)
(9) Câu 1: Sự khôn ngoan va toàn năng ( tự nhiên), và tình yêu ( đạo đức)
Câu 2: Toàn năng và vô sở bất tại ( tự nhiên), và tình yêu ( đạo đức)
Câu 3: Thánh khiết ( đạo đức)
Câu 4: Tình yêu ( đạo đức)
(10) Trong những đoạn Kinh Thánh nầy. Chúa Jêsus truyền dạy các môn đồ của Ngài phảm đem tin tức về tình yêu và sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời đến cho mỗi tạo vật. Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta để nói những người khác về tình yêu của Ngài.
(11) b. Tiết lộ sự nhơn từ, thương xót, kiên nhẫn và. .
(12) Câu trả lời của bạn. (Trong nhiều xã hội có rất nhiều quan điể, không chắc chắn về sự tạo dựng, về ý nghĩa cuộc sống, sự chết và sự phán xét. Không có quan điểm nào khác hợp lý và an ủi như quan điểm của Kinh Thánh)
(13) a. Đúng
b. Đúng
c.Sai
d. Đúng
e. Sai (Những hành động sáng tạo của Ngài còn tiết tục trong sự tạo dựng thuộc linh xảy ra khi một người tiếp nhận Jêsus Christ là Cứu Chúa)
(14) Những câu trả lời b),d) , e) và f) đều đúng.
(15) b) Sự cai trị của Đức Chúa Trời nhờ đó Ngaì bảo tồn, chăm sóc. . . . . . . .
(16) a. 3) Hạnh phúc của dân sự.
b. 2) Sự phát triển về tinh thần và đạo đức của dân sự.
c. 1) Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
(17) a 2) Sự cộng tác. b. 3) Quản trị c. 2) Cộng tác.
(18) Câu trả lời của bạn. Còn tôi thì trả ời rằng Đức Chúa Trời đã cho người đàn ông có quyền tự chọn, vậy, người đó có thể chọn sự phạm pháp nếu người ấy muốn. Khi việc đó xảy ra, thì kẻ ngây thơ vô tội cũng chịu khổ như người gian ác. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng cuối cùng kẻ ác sẽ bị định tội và bị Đức Chúa Trời trừng phạt vì điều ác họ làm.
(19) a. 1) Sự quan phòng của Đức Chúa Trời
b.2) Sự lựa chọn của con người.
c. 1) Sự quan phòng của Đức Chúa Trời.
d. 1) Sự quan phòng của Đức Chúa Trời.
e. 2) Sự lựa chọn của con người
(20)
_ Ví dụ phản ánh hai nguyên tắc: sự đau khổ có thể là kết quả từ việc sống cho Đức Chúa Trời trong thế giới gian ác nầy, đôi khi Đức Chúa Trời sử dụng những hành động ác để hoàn thành những kết quả tốt đẹp.
_ Ví dụ b chứng minh rằng Đức Chúa Trời đã trực tiếp trả lời cầu nguyện và mục đích của Ngài là làm vinh hiển danh Ngài.
_ Ví dụ c và e bày tỏ rằng mọi người là đối tượng của những qui luật thiên nhiên và những nguy hiểm trong cuộc sống
_ Ví dụ d chứng minh rằng khi sự thử thách chuẩn bị một người cho công tác phục vụ lớn hơn và có thể đem sự vinh hiển về cho Ngài.
_ Ví dụ f chứng tỏ rằng ngay cả người ngoài cũng có thể được lợi từ ân điển của Đức Chúa Trời tuy nhiên nếu Henry không dâng đời sống mình cho Chúa thì anh sẽ chịu đời đời phân cách với Đức Chúa Trời và sẽ bị định tội vì những hành vi gian ác của mình.
_ Ví dụ g chứng minh rằng đôi khi những kế hoạch của chúng ta dường như không thực hiện được nhưng Đức Chúa Trời đang hành động trong hoàn cảnh đó để làm lợi ích cho chúng ta.





† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 24-4-2018 01:14 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách