† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2143|Trả lời: 0

Đá Góc Nhà - THẦN TÍNH CỦA ĐẤNG CHRIST

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 29-9-2011 08:35:44 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Đá Góc Nhà
Tác giả: Floyd C.Woodworth, Jr. D.Duncan

THẦN TÍNH CỦA ĐẤNG CHRIST

Mục tiêu 2: Chọn những lời dễn đạt úng hộ cho thần tính của Chúa Jêsus .
Chúng ta khảo sát bằng chứng Kinh Thánh về nhân t1nh của Chúa jêsus Christ và chúng ta đã thấy rằng đây là bằng cớ thuyết phục được. bây giờ chúng ta hãy khảo sát những sự kiện của Kinh Thánh liên quan đến thần tính của Đấng Christ và sự quan trọng của khía cạnh nầy trong bản thể của Ngài.
Những đặc quyền thiêng thượng.
Điều đầu tiên chúng ta khảo sát về thần tính của Đấng Christ là Ngài hành sử hững đặc quyền thiêng thượng bao gồm việc tiếp nhận sự thờ phượng của con người, tha thứ tội lỗi, kêu kẻ chết sống lại và quyền đoán xét.
Vì Đức Chúa Trời cấm việc thờ phượng bất cứ thần nà khác theo bản luật pháp Mười điều răn (XuXh 20:3-5) nên đây là hành động phạm thượng nếu Chúa Jêsus không thực sự là Đức Chúa Trời (Phạm thượng là xúc phạm đến Đức Chúa trời, hay công bố sai lầm rằng mình là Đức Chúa Trời) Khi Chúa Jêsus bị ma quỉ thử nghiệm, Ngài tái xác nhận rằng mạng lịnh phải thờ phượng một mình Ngài thôi (Mat Mt 4:10) Những Ngài công bố Ngài có quyền tiếp nhận sự thờ lạy.
Kinh Thánh cho biết rằng khi dân chúng không biết nên thờ lạy các sứ đồ, nhưng người của Đức Chúa Trời từ chối kịch liệt để không nhận sự thờ lạy họ (Cong Cv 10:25; 14:1-18) Ngay cả những thiên sứ thánh cũng từ chối sự thờ lạy (KhKh 19:10; 22:8-9) Trong lúc các sứ đồ, là những người bình thường, và những thiên sứ quyền năng từ chối sự thờ lại họ, thì Chúa Jêsus tiếp nhận sự thờ phượng Ngài như là đặc quyền của Ngài. Ngài công bố rằng tôn trọng Ngai là điều bắt buộc cho mọi người (GiGa 5:23)
Thứ hai chúng ta thấy Chúa Jêsus đã sử dụng quyền hạn của Ngài để tha thứ tội lỗi, một đặc quyền dành cho một mình Đức Chúa Trời (Mac Mc 2:7) Chúa Jêsus không lưỡng lự khi sử dụng quyền nầy, cho dù kẻ thù của Ngài phản đối kịch liệt về điều nầy (Mat Mt 9:2-6)
Chúa Jêsus cũng sử dụng quyền ban sự sống (GiGa 5:21; 10:10) Vài ít nhất ba trường hợp, Chúa Jêsus kêu người chết sống lại (LuLc 7:11-17, 8:40-56, GiGa 11:1-44) Trong tương lai, những người đã chết sẽ được sống lại bằng lời phán quyền năng của Ngài (5:21-30) Rõ rằng quyền ban sự sống là điều mà con người thường không thể làm bằng sức riêng của mình.
Thí dụ thứ tư về việc Chúa Jêsus sử dụng những đặc quyền thiên thượng của Ngài là quyền đoán xét: “ Hơn nữa, Cha không đoán xét người nào, nhưng đã giao thác mọi quyền đoán xét cho Con” (GiGa 5:22) Những câu Kinh Thánh sau đưa ra cái nhìn về quyền phán xét của Ngài : Mat Mt 25:31-46; Cong Cv 10:42; 17:31, và IICo 2Cr 5:10.
Chúa Jêsus sử dụng tất cả những quyền nầy và những quyền khác không lưỡng lự gì cả. Làm như thế mà không phải là Đức Chúa Trời thì chỉ là điều phỏng đoán (vượt quá sự thực) và phạm thượng.
(4) Liệt kê thuộc lòng những gì Chúa Jêsus đã thực hiện trong cuộc đời trên trần gian của Ngài chứng tỏ Ngài sử dụng những đặc quyền thiêng thượng. Ghi vào sổ tay.
Những thuộc tính đạo đức.
Tình tính của Chúa Jêsus đã làm nhiều người ngạc nhiên. Họ kinh ngạc về thái độ và cách cư xử của Ngài dưới mọi hoàn cảnh. Cách đáp ứng với những hoàn cảnh trong cuộc sống bày tỏ rõ ràng Ngài rất khác biệt. Ngài chiếm hữu đồng những thuộc tính đạo đức và thiên nhiên như Đức Chúa Cha.
Chúa Jêsus sống một cuộc sống thánh khiết xuất xắc đến nỗi một trong những người gần gũi nhất với Ngài công bố rằng: “ Ngài không hề phạm tội, miệng Ngài không có chút chi dối trá” (IPhi 1Pr 2:22) Những kẻ thù của Ngài không thể chứng minh Ngài phạm lỗi vì Ngài vô tội (GiGa 8:46) Không có con người nào có thể ở mức độ phẩm hạnh nầy, nhưng Chúa Jêsus khác hơn là một người.
Tình yêu của Ngàii cũng đặt Chúa Jêsus ở ngoài lề của người bình thường. Ngài chứng minh tình yêu của Ngài trong mối quan hệ với con người từ mọi cách cư xử treong cuộc sống và mọi tầng lớp xã hộ. (LuLc 19:10, so sánh với Mat Mt 11:19 với Mac Mc 10:17-22) Ngài cầu nguyện cho những người theo Ngài và cầu nguyện cho kẻ thù của Ngài nữa (GiGa 17:9, 20 LuLc 23:34) Phẩm chất toàn vẹn của tình yêu của Ngài tiết lộ rằng Ngài là con Đức Chúa Trời.
Tình yêu của Chúa Jêsus được bày tỏ trong nhiều cách. Ngài bày tỏ sự khiêm tốn và nhu mì chân chính. Khi Ngaì bước vào chức vụ công khai, Ngài được thúc đẩy với động cơ khao khát phục vụ Mat Mt 20:28) LÀ chủ hận và giáo sư, Ngà chứng minh ý nghĩa chân thực của sự phục vụ khi Ngài rửa chân cho những học trò của Ngài GiGa 13:14) Ngài dối ử tế nhịn với người phạm tội LuLc 7:37, 44-50) người nghi ngờ GiGa 20:2) và người chối bỏ Ngài LuLc 22:61; GiGa 21:15-23) Bằng tình yêu Ngài chứng minh những nguyên tắc chân chính Ngài dạy: Không một con người bình thường nào có cuộc sống đầy tình yêu như thế.
Tình yêu của Ngài được bày tỏ rõ ràng nhất qua tình yêu của Ngài đối với Đức Chúa Cha. Ngài chứng tỏ bằng chính gương mẫu của Ngài về bí quyết của đời sống thuộc linh lệ thuộc vào mối liên hệ mật thiết với Đức Chúa Trời. Không một người bình thường nào có thể cầu nguyện giống như Ngài đã làm. Ngài cầu nguyện cách nhiệt tình (LuLc 22:39-40) thường xuyên và kéo dài thật sớn đi lên núi đển cầu nguyện (Mac Mc 1:35) Ngài để lại một gương mẫu trọn vẹn về mẫu mực duy trì và phát triển đời sống thuộc linh của chúng ta. (IPhi 1Pr 2:21)
Không người nào gần gũi Chúa jêsus mà nghi ngờ nhân tính của Ngài. Cũng chẳng có ai có thể so sánh sự trọn vẹn của Ngài với những nổ lực tốt nhất của con người bình thường. Gương mẫu trọn vẹn về sự thánh hiết và tình yêu, theo lời Phierơ, Chúa Jêsus là “ Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống” (Mat Mt 16:16)
(5) trong sổ tay của bạn, hãy mô tả những cách Chúa Jêsus bày tỏ sự thánh khiết và tình yêu của Ngài.
Những thuộc tính tự nhiên
Phaolô công bố rằng Chúa Jêsus Christ là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 1:24) và Đức Chúa Trời vui lòng cho phép mọi sự đầy trọn của Ngài nội trú trong Con (CoCl 1:19; 2:9) Mathiơ kết luận sách Phúc âm của mình bằng những lời của Chúa Jêsus: “Mọi uy quyền ( quyền phép ) ở trên trời và ở dưới đất đã được giao cho ta” (Mat Mt 28:18) Câu Kinh Thánh nầy bày tỏ rằng Chúa Jêsus, ngôi thứ hai của ba ngôi, thì vô sở bất năng mọi thiên sứ, mọi uy quyền, và thế lực của vũ trụ phải thuận phục quyền năng và uy quyền của Ngài (IPhi 1Pr 3:22)
Kinh Thánh cũng dạy rằng Chúa Jêsus vô sở bất tại ( Hiện diện khắp mọ nơi) Phao lô nó rằng Đức Chúa Cha đã đặt mọi sự ở nơi chân Con và Con “ làm đầy dẫy mọi sự trong mọi cách” ( fills everything in every way) (Eph Ep 1:22-23) Còn gì khích lệ cho chúng ta bằng khi nhớ rằng Ngài sẽ giữ lời hứa của Ngài ở với chúng ta khi có vài người trong chúng ta nhóm lại thờ phượng Ngài (Mat Mt 18:20) Dù có đôi lúc chúng ta không cảm thấy sự hiện diện của Ngài, nhưng chúng ta có thể tin chắn rằng Ngài vẫn luôn luôn ở cùng chúng ta.
Chúa Jêsus cũng vô sở bất tri _ Ngài biết mọi sự (GiGa 2:24-25; 16:30; 21:17) Phao lô ám chỉ về sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời mà ông nói đó là Đấng Christ, “trong Ngài giấu kín tất cả châu báu của sự khôn ngoan và tri thức” (CoCl 2:2-3) phần gạch dưới là theo ý tôi) Ngài biết về cuộc đồi tội lỗi của người đàn bà Samari (GiGa 4:1-54) Ngaì biết lúc nào và thế nào Ngài có thể rời khỏi trần gian (GiGa 12:33; 13:1) Ngài cón biết bản chất và chung cuộc của thời đại hiện tại nữa (Mat Mt 24:1-51; Mac Mc 13:1-37; LuLc 21:1-38)
Vài kúc Kinh Thánh khiến chúng ta khảo sát đặc tính vô sở bất tri của Ngai gần gũi hơn. Ví dụ Mat Mt 24:26 chỉ rõ rằng Ngài không biết ngày Ngài trở lại, và Mác ký thuật rằng Chúa Jêsus đến gần cây vả mong đợi được tìm trái vả và đã thất vọng (Mac Mc 11:13)
Điểm quan trọng ở đây cần hiểu rõ là trong những ngày Ngài sống tại trần gian, hay những ngày sống trong thân thể con người của Ngài, thì Chúa đã từ bỏ quyền của Ngài. Ngài cố ý không chọn việc sử dụng quyền năng thiêng thượng của Ngài vào thời diểm đó. Ngài có quyền tự giải cứu lấy mình, nhưng Ngài từ chối việc sử dụng quyền đó (Mat Mt 25:52-54) Ngài làm điều đó theo ý chí tự do của Ngài, vì Ngài biết rằng nếu Ngài không đầu phục để chịu khổ cho tội nhân. Bây giờ sứ mạnh của Ngài đã hoàn tất, Ngài phục hồi trở lại tất cả những đặc tính thiên thượng của Ngài, kể cả thuộc tính biết hết mọi sự của Ngài nữa.
Trong Kinh Thánh Chúa Jêsus được bày tỏ là con Đức Chúa Trời Hằng Hữu (eterenal Son of Gop) (GiGa 1:1-51; IGi1Ga 1:1; MiMk 5:20 Ngài luôn luôn hiện hữu, và Ngài sẽ tồn tại đời đời (HeDt 1:11-12; 13:8) Những câu Kinh Thánh nầy cũng công bố rằng Chúa Jêsus không thay đổi. Những đặc tính mà chúng ta thấy rằng là những thuộc tính của Đức Chúa Trời. Như vậy, những đặc tính nầy đưa ra bằng chứng rõ rằng về thần tính của Đấng Christ.
(6) Trong sổ tay của bạn, hãy giải thích tại sao Đức Chúa Jêsus không sử dụng tất cả mọi đặc tính thiêng thượng của Ngài khi Ngài còn ở trong xác thịt.
(7) Trong sổ tay của bạn hãy viết các tiêu đề những thuộc tính đạo đức của Chúa Jêsus và những thuộc tính tự nhiên của Chúa Jêsus. Làm bảng liệt kê về những thuộc tính đi theo mỗi tiêu đề. Sau đó so sánh bảng liệt kê của bạn với những thuộc tính đạo đức và tự nhiên của Đức Chúa Trời được thảo luận trong bài 1 và 2. Bảng so sáng này bày tỏ được điều gì?
Những lời công bố về thần tính.
Chúa Jêsus công bố một số lời phát biểu khẳng định rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Vào buổi tối trước khi Ngaì chịu chết, Ngài kêu gọi những dứ đồ tiếp nhận những lời công bố ấy trên cơ sở những công việc đầy phép lại của Ngài (GiGa 14:11) Những lời công bố của Ngài là gì?
1. Ngài nói với người Do thái rằng Ngài và Cha là một (10:30)
2. Khi Ngài bị buộc tội trước hội đồng trưởng lão, một lần nữa Chúa Jêsus công bố Ngài là con Đức Chúa Trời (LuLc 22:70-71; GiGa 19:7)
3. Ngài khẳng định rằng sự cứu chuộc chỉ có thể được qua Ngài mà thôi. (10:9)
4. Ngài nói rằng Ngài là con đường duy nhất để đến với Cha (14:6)
5. Ngài phát biểu rằng chẳng ai có thể làm được điều gì nếu Ngài không chó phép (15:5 no one could do anything without His enablement)
6. Trong chức vụ giảng dạy của Ngài, Ngài chứng tỏ về sự hiện hữu trước kia (pre-axistence) của Ngài (GiGa 8:58; 17:5)
7. Ngài hướng dẫn môn đệ Ngài nhơn danh Ngài mà cầu nguyện (GiGa 16:23)
8. Khi Ngài sai các môn đệ Ngài ra đi phục vụ< Ngài ban cho họ quyền năng để thi hành phép lạ (LuLc 9:12)
Tất cả những lời diễn đạt và những lời công bố nây, cộng thêm những công việc đầy phép lạ của Chúa Jêsus đã thực hiện, tạo nên bằng chứng vững chắc chứng thật những lời làm chứng Ngài là Đức Chúa Trời
Danh xưng bày tỏ thần tính.
Những danh xưng chỉ có thể dùng khi nói về Đức Chúa Trời thì được ban cho Chú Jêsus suốt trong Tân ước. Các tác giả được cảm thúc thường gọi Ngài là Con Đức Chúa Trời tiếng nói từ trời trong hai trường hợp khác nhau đều tôn Ngài là Con Đức Chúa Trời (Mat Mt 3:17; 17:5) Chúa Jêsus cũng dùng danh hiệu nầy để chỉ về chính mình Ngài (GiGa 10:36)
Một tên khác chỉ về thần tính của Ngài được tiên tri Eâsai báo trước và dược thiên sứ lặp lại khi nói với Giôsép (EsIs 7:14; Mat Mt 1:22-23) con trẻ sẽ được gọi là Emmanuên, nghĩa là “ Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (1:23) Đức Chúa Trời đến sống trên quả đất nầy với con người cả nam lẫn nữ trong một thời gian (GiGa 1:14)
Giăng biết rằng Chúa Jêsus là lời (Word) của Đức Chúa Trời. Đối với chúng ta chữ nầy dường như là một danh xưng hơi lạ tai, nhưng trong thời bấy giờ các triết gia có ý tưởng rằng một người có thể tóm tắt lý do và sức mạnh đằng sau vũ tụ trong một ý niệm lời nói. Vì vậy Giăng nói, “ LỜi đã trở thành xác thịt và sống giữa chúng ta” (1:14) Lời nói con người biểu lộ sự suy nghĩ của người ấy. Lời của Đức Chúa Trời là tư tưởng của Đức Chúa Trời được diễn đạt theo cách thế nào để con người có thể hiểu được. Đức Chúa Trời không tách rời khỏi tạo vật của Ngài - Ngài bày tỏ chính mình Ngài. Giăng công bố rằng Lời (Jêsus) là Đức Chúa Trời từ cõi vĩnh hằng (1:1-2)
Chúa Jêsus cũng được kể là Đức Chúa Trời. Phaolô viết rằng “chúng ta chờ đợi hy vọng hạnh phước - sự hiện diện ra vinh diệu của Đức Chúa Trời vĩ đại và cứu Chúa của chúng ta là Jêsus Christ” (Tit Tt 2:3)
Danh xưng mêsi, tiếng Hybálai, thường được dùng chung vời Jêsus. Cũng chữ đó trong tiếng Hylạp là Christ. Cách dịch khác của chữ nầy là Đấng chịu xức dầu. Đối với người Hybálai, một người được xức dầu nghĩa là gì? Trong nền văn hóa của họ, khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người làm công việc đặc biệt nào, người đó được một vị lãnh đạo trong tôn giáo đổ dầu trên đầu người đó. Đây là biểu tượng của sự biệt riêng để phục vụ. Người Hybálai có thói quen xức dầu cho các tiên tri, các thầy tế lễ và các vị vua. Vì vậy, khi Phierơ công bố Chúa Jêsus là Chúa và christ, thì những người nghe ông hiểu ngay điều ông nói (Cong Cv 2:36) Sự đáp ứng của mây ngàn người chứng tỏ rằng họ chấp nhận Jêsus là Đấng Mêsi hay Đấng được xức dầu của họ.
Chúa Jêsus cũng còn được gọi là Chúa ( Lord). Đôi khi danh xưng này được dùng như một cách gọi lịch sự, nhưng trong nhiều trường hợp, danh xưng này được dùng để tôn kính thần tính của Ngài ( Xem LuLc 1:43; 2:11; GiGa 29:28; Cong Cv 16:31 và I Côrinhtô) Danh xưng nầy khi dùng để chỉ về Chúa chúng ta thì xuất phát từ lối dịch của từ Giê Hô Va trong tiếng Hybá lai. Như vậy, Đấng Mêsi _ Christ đồng nhất với chữ Giê Hô Va trong Cựu ước.
(80 Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê những danh xưng được ban cho Chúa Jêsus chứng tổ về thần tính của Ngài và trưng dẫn Kinh Thánh cho mỗi trường hợp cụ thể.
(9) Khoanh tròn những mậu tự của mỗi lời diễn đạt ĐÚNG. Thần tính của Chúa Jêsus được bày tỏ qua:
a.Việc Ngài tiếp nhận sự thờ phượng của con người, tha thứ tội lỗi, kêu người chết sống lại, và công bố quyền đoán xét.
b. Những thuộc tính đạo đức của Ngài về sự thánh khiết và yêu thương
c. Những thuộc tính tự nhiên của Ngài về sự vô sở bất năng, vô sở bất tại, vô sở bất tri và sự vĩnh cửu.
d. Cách dân sự của Ngài tiếp nhận Ngài.
e. Những lời công bố của Ngài về thần tính.
f. Những danh xưng của Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài





† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 21-7-2018 08:02 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách