† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2336|Trả lời: 0

Dân Tộc - NHỮNG NIỀM TIN LỆCH LẠC (aberrant Beliefs)

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 10-10-2011 08:48:08 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Dân Tộc Và Tín Ngưỡng
Tác giả: Ruth S. Anderson

NHỮNG NIỀM TIN LỆCH LẠC (aberrant Beliefs)

Đã xem xét những phong trào tôn giáo chính của thế giới trong các bài học trước, chúng ta quay về với bài học kết thúc nầy để xem xét một số sự lệch lạc từ đức tin mà đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi (Giu Gd 1:3). Những niềm tin phi Kinh Thánh, từ những sự tranh luận nhỏ đến những rạn nứt lớn giữa các hệ phái, đã gia tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây. Không phải tất cả niềm tin đó đều hoàn toàn sai lạc nhưng chúng ta cần phân biệt giữa sự thật (chân lý) và sự sai lầm.
Khi chúng ta bàn đến những niềm tin tẻ tách, chúng ta có thể có sự bất đồng ý, nhưng chúng ta không nên giữ tinh thần chỉ trích hoặc có ác ý, Chúng ta có thể học hỏi từ những phía khác, nhưng đồng thời, sự phơi bày những sai lạc của họ sẽ lập chân lý trong chính tấm lòng của chúng ta. Khi bạn nghiên cứu bài học nầy, bạn sẽ thấy rằng nhiều niềm tin sai lạc đã bắt nguồn từ những người đi tìm kiếm một từng trải thuộc linh hoặc cố sức học nhiều hơn về Lời của Đức Chúa Trời. Thay vì để Thánh Linh hướng dẫn họ trong một sự tra xem tường tận Kinh Thánh, họ lại để cho những sự thông giải của loài người hoặc ước muốn tự tôn hướng dẫn họ vào chỗ sai lầm.
Nếu bạn không biết phải tin điều gì về một số vấn đề phát sinh, bài học nầy có thể giúp bạn hiểu cách để tra xét Kinh Thánh và đi đến những kết luận đúng đắn. Ngoài ra, bạn sẽ thấy một số khuynh hướng thường hay có đối với tất cả những niềm tin tẻ tách. Sự hiểu biết nầy sẽ chứng tỏ là một phương sách có giá trị khi bạn đối đầu với những người bị trói buộc vào những niềm tin phi Kinh Thánh. Nó có thể giúp bạn đem họ trở về với lẽ thật. Chúng tôi cầu mong rằng điều nầy có thể xảy ra.
Dàn Bài
Làm quen với sự xu hướng.
Những điều cơ bản của Cơ Đốc Giáo.
Đặc tính của các giáo phái tẻ tách.
Mô tả hai đức tin tẻ tách.
Đánh giá về sự tiếp cận của chúng ta.

Mô tả các từ ngữ và những vấn nạn liên quan đến trong các niềm tin tẻ tách.
Giải thích những niềm tin của Kinh Thánh thường bị các giáo phái bóp méo nhất.
Nhận dạng những dấu hiệu phân biệt của các giáo phái tẻ tách.
Kể ra những nguồn gốc, các kinh sách và các sự bóp méo của hai niềm tin tẻ tách.
Mô tả những thái độ mà người Cơ Đốc nên có đối với những người thờ phượng lệch lạc.
Sinh Hoạt Học Tập
Nghiên cứu bài học và làm bài tự kiểm theo những lời chỉ dẫn đã cho trong bài học 1.
Nhớ viết câu trả lời của riêng bạn cho các câu hỏi của bài học trước khi xem lời giải đáp ở cuối bài học nầy. Thủ tục nầy sẽ giúp bạn học tài liệu nầy nhanh hơn.
Ôn các bài học số 9 đến số 12 và sau đó làm bài phần đánh giá tiến bộ học tập phần 4. Nạp tờ giải đáp của bạn về cho giảng viên ICI của bạn.
Xem lại các bài học số 1 đến số 12 để chuẩn bị cho kỳ thi cuối khóa. Nếu bạn chưa sắp xếp với giảng viên ICI của bạn để dự thi thì bạn hãy làm điều nầy ngay.
Từ Ngữ Chìa Khóa
Bóp mép
Chính thống
Cơ Bản
Cơ Đốc giả hiệu
Đại diện
Ha-ma-ghê-đôn
Hệ phái
Không hòa hợp
Ơn ban (ân tứ)
Tẻ tách
Tiêu hủy

Khai Triển Bài Học
Mục tiêu 1. Mô tả những từ ngữ và những nan đề có liên quan trong hầu hết các niềm tin.
LÀM QUEN VỚI SỰ TẺ HƯỚNG
Để bắt đầu, chúng ta cần hiểu những danh từ được sử dụng trong bài nghiên cứu của chúng ta. Tựa đề của bài học nầy bao trùm một số các niềm tin, một số trong đó thì không hòa hợp với lẽ thật, một số khác thì hoàn toàn tẻ tách khỏi lẽ thật. Chúng sẽ được mô tả khi chúng ta nghiên cứu đến. Nhưng để bắt đầu, chúng ta hãy học biết một số từ ngữ.
Tà Giáo (Hay Tà Thuyết)
Một tà thuyết là một ý kiến không hòa hợp với những giáo lý chủ yếu của Kinh Thánh. Nó chứa những mầm mống chia rẽ và bất hòa. Như chúng ta đã thấy trong bài học trước, Hội Thánh thời trung cổ xem như có quyền lực rất lớn trên đời sống con người và những người bị ngờ vực là tà giáo đều bị dứt phép thông công hoặc thậm chí bị sát hại. Nếu có ai có ý chống lại sự bất công, thì hoặc người đó phải giữ im lặng, hoặc họ phải rất cẩn thận về cách bày tỏ ý kiến của mình. Một tà thuyết có thể phát triển thành một nhóm phái (cult) hoặc một giáo phái (sect) rồi sau đó có thể trở thành một hệ phái (denomination) hay một giáo hội.
Nhóm Phái (Cult)
Phát xuất từ chữ Cultus, Cult (nhóm phái) có nghĩa là “sùng bái” hay “thờ phượng”. Ví dụ như những thành viên nhóm phái mặt trời thì họ thờ mặt trời. Các tín đồ của một niềm tin tôn giáo giả hay không chính thống thì gọi là những người sùng bái (hay theo nhóm phái). Thường thường, một người để cho một tư tưởng hay một ý kiến phi Kinh Thánh mọc rễ trong lòng mình. Khi người đó để cho niềm tin nầy phát triển thì người đó có thể ly khai khỏi Hội Thánh (nếu người đó đã sinh hoạt với một Hội Thánh). Nếu họ là một người năng động, một người sáng lập có ơn ban (hay có ân tứ- Chatisma ) thì người đó có thể lôi kéo nhiều người theo mình, và khi người ta ủng hộ ý kiến của người đó, thì nhóm phái sẽ phát sinh.
Giáo Phái (Sect)
Một giáo phái thì tương tự như một nhóm phái, chỉ có điều khác là giáo phái đề xướng “một sự chia rẽ” với hội mẹ. Một giáo phái thường lớn hơn một nhóm phái và có thể phát triển thành một hệ phái. Một số những người không thuộc phái Ngũ Tuần trước kia xem những người Ngũ Tuần là một giáo phái, nhưng ngày nay, phái Ngũ Tuần là thành phần phát triển lớn nhất và nhanh nhất của Hội Thánh.
Gần đây, sự truyền nhiễm của các nhóm phái, các giáo phái và các tà thuyết đã lan rộng khắp thế giới. Một số phái xuất hiện dưới thể loại các tôn giáo Cơ Đốc giả hiệu (psendo -- Christian Religions ), chẳng hạn như phái Mormon, Cơ Đốc Khoa Học, Chứng Nhân Giê-hô-va, Giáo hội Thống Nhất (Unification Church ), Quốc tế Đạo (The Way International ), Con cái Đức Chúa Trời (Children of God ) và nhiều phái khác nữa. Một số các mục sư trình bày những quan niệm về tâm lý của họ trong các Hội Thánh đã thành lập như thể chúng là con đường dẫn đến Đức Chúa Trời. Những quan niệm nầy bao gồm những niềm tin như là thuyết nhân bản, sự suy tư khả dĩ và tích cực, sự xưng nhận tích cực, và sự thịnh vượng của Tin Lành. Dầu một số người chủ trương những quan niệm nầy vẫn ở lại trong Hội Thánh, nhưng nhiều Cơ Đốc nhân xem họ là không tốt hoặc cho xem họ như là những “kẻ trộm cướp trèo vào từ nơi khác” (GiGa 10:1).
Những nhóm phái sùng bái nhân cách không hẳn là tôn giáo gồm có phái Hare Krishna, EST, Phái Suy Tư Siêu Việt (Transcendental Meditation ). Hội Thần Quang (Divine Light Mission ), Phái Bhagwan Shree Bagneesh, Thông thiên học (Theosophy), Tri thức học (Scientology ), Thông linh học (Spiritism ), Phái Yoga, Phái Baha’i và nhiều giáo phái khác xuất xứ từ Ấn độ. Trong khi phương pháp và những động cơ tìm kiếm sự giàu có và những vui thú thuộc thể của chúng ta đã bị giáo hội cũng như xã hội phê phán, chúng vẫn được dung nhượng và phát triển nhanh chóng.
1. Hãy ghép cặp các từ (bên phải) với lời mô tả của chúng (bên trái).
.....a. Ý kiến gây chia rẽ.
.....b. Quyền của Hội Thánh để khai trừ.
.....c. Một chữ có nghĩa là “sùng bái”.
.....d. Chia rẽ với hội mẹ.
.....e. Phái Mormon và phái Cơ Đốc Khoa Học.
.....f. Phái Bagmesh, phái Baha’i
1) Nhóm phái (Cult).
2) Cơ Đốc giải hiệu.
3) Nhóm phái sùng bái nhân cách.
4) Tà Thuyết.
5) Dứt phép thông công.
6) Giáo phái (sect).
Mục tiêu 2. Mô tả những niềm tin chính thống chủ yếu mà chúng bị hầu hết các nhóm người không theo tổ chức bóp méo.
NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
Các giáo phái gây chia rẽ có thói quen chọn những khúc Kinh Thánh làm bằng chứng để hổ trợ cho những sự tuyên bố sai lạc, hoặc họ bỏ qua tính mạch văn của các câu Kinh Thánh, hoặc họ vặn vẹo các câu Kinh Thánh khỏi ý nghĩa nguyên thủy của chúng. Do đó, người Cơ Đốc phải đặt các câu Kinh Thánh theo “đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (Giu Gd 1:3). Bạn phải có thể “sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em” (IIPhi 2Pr 3:15). Kinh Thánh không bảo chúng ta phải cãi vả với họ hay tranh luận với họ, mà phải giúp đỡ họ. Những người theo các nhóm phái thường bóp méo một số lẽ thật Kinh Thánh căn bản. Để giúp chúng ta nhận biết những lẽ thật đó, chúng ta có thể đặt chúng vào cái được đặt tên là tám điểm về giáo lý chánh đáng .
Ba Ngôi Hiệp Một Đức Chúa Trời
Một trong những giáo lý hàng đầu mà những người theo nhóm phái bóp méo là giáo lý Ba Ngôi. Tín điều Nicene năm 325 S.C đã thiết lập sự bình đẳng giữa Đức Chúa Con với Đức Chúa Cha và cũng là giáo lý về Ba Ngôi. Cả hai mặt của một vấn đề đã được chấp nhận, nói rõ ra, có Ba Ngôi trong yếu tính của Đức Chúa Trời (God Head) và Đức Chúa Trời được mặt khải ra trong ba thân vị. Kinh Thánh đã tán trợ giáo lý Ba Ngôi bao gồm như sau:
“Vả bây giờ, Chúa Giê-hô-va và Thần của Ngài sai đến” (EsIs 48:16). Đức Chúa Con nói Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh sai Ngài đến.
“Tức thì có tiếng từ trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường” (Mat Mt 3:17). Ở đây Chúa Jesus chịu phép báp tem, Đức Thánh Linh giáng xuống và Đức Chúa Cha đã phán.
“Hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ” (28:19).
“Chỉ có một Đức Chúa Trời và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jesus Christ, là người” (ITi1Tm 2:5).
Đức Chúa Trời Là Duy Nhất (Có Một )
Những người theo các nhóm phái không chỉ bóp méo sự dạy dỗ của kinh Thánh về Ba Ngôi mà còn lẫn lộn sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời nữa. Một trong những giáo lý quan trọng trong Kinh Thánh là bản thể của Đức Chúa Trời, là không thể phân chia được. Ngài không phải do nhiều phần tử kết hợp lại. Bản thể của Ngài là đơn chiếc và chỉ có một. Trái lại, con người là một hữu thể phức hợp, gồm có phần vật chất (thân xác) và phần hi vật chất (hồn và linh). Trong sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời, có thể phân biệt từng thân vị theo thần tính. Trong bản thể của Đức Chúa Trời có ba thân vị rõ ràng như đã nhận thấy ở phần trên. Cuối cùng, sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời tỏ cho thấy rõ rằng Ngài không phải là một trong số các vị thần; Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất !
“Hỡi Y sơ ra ên ! Hãy nghe: Giê hô va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê hô va có một không hai” (PhuDnl 6:4).
“Vì chỉ có một Đức Chúa Trời và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jesus Christ, là người” (ITi1Tm 4:35).
“... Giê hô va, ấy là Đức Chúa Trời, chớ không ai khác hơn Ngài” (PhuDnl 4:35).
“... Giê hô va ấy là Đức Chúa Trời trên trời cao kia và dưới đất thấp nầy: chẳng có ai khác” (4:39).
Chúa Jesus Christ Là Con Đức Chúa Trời
Điều quan trọng là Chúa Jesus, Đấng gánh tội lỗi của chúng ta, là sinh tế toàn vẹn, có thể trả đủ sự hình phạt cho tội lỗi của nhân loại. Ngài không chỉ là một người thiện lành , Ngài chính là Đức Chúa Trời.
“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha” (GiGa 1:1,14).
“Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt tên là Em ma nu ên” (EsIs 7:14).
“Theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta” (RoRm 1:4).
Đức Thánh Linh Là Đấng Yên Ủi Của Chúng Ta
Người tín đồ phải có thể sống một đời sống vừa lòng Đức Chúa Trời. Nhất thiết người đó nhờ Đấng cư trú trong lòng mình ban cho quyền năng để sống cách công chính và để thực thi mục đích của Đức Chúa Trời.
“Khi nào Đấng Yên Ủi sẽ đến...Ngài sẽ làm chứng về Ta”. “Ngài sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình về sự phán xét... Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật” (GiGa 15:26; 16:8, 13).
“Nhưng các ngươi... Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự” (14:17, 26).
“Đến ngày Lễ Ngũ Tuần... hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” (Cong Cv 2:1-4).
“Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về ta tại thành Giê ru sa lem, cả xứ Giu đê, sứ Sa ma ri, cho đến cùng trái đất” (1:8).
Mọi Người Đều Phạm Tội
Nếu người ta muốn đáp ứng sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho thì họ phải nhìn nhận rằng mọi người đều đứng trong chỗ bị đoán phạt trước mặt Đức Chúa Trời và họ cần có một Cứu Chúa. Như vậy mọi người đều có tội trước mặt Đức Chúa Trời.
“Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không... Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (RoRm 3:10, 23).
“Phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi” (14:23).
“Ai phạm tội tức là trái luật pháp và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp” (IGi1Ga 3:4). “Mọi sự không công bình đều là tội” (5:17).
Có Sự Cứu Chuộc Qua Huyết Báu Của Đấng Christ
Vì Chúa Jesus đã trả giá đền tội cho loài người nên đòi hỏi mọi người phải tiếp nhận sự dự bị (ơn thần hựu) của Ngài. Điều nầy đòi hỏi họ phải ăn năn tội của họ và tin rằng Đức Chúa Trời tha thứ cho họ.
“Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được sự cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội” (Eph Ep 1:7).
“Bởi huyết Ngài trên thập tự giá thì đã làm nên hòa bình... nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời” (CoCl 1:20).
“Còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời” (HeDt 10:12).
Được Cứu Nhờ Ân Điển
Điều tuyệt đối cần thiết là người ta phải nhận rằng mình không xứng đáng để được cứu rỗi. Đức Chúa Trời tha thứ căn cứ theo lòng thương xót của Ngài và sự hi sinh của Đấng Christ. Do đó, một khi người ta nhận được sự tha thứ thì họ chứng tỏ tình yêu thương của họ bằng cách hành xử của họ.
“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép để trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (GiGa 1:12).
“Ai tin Con thì được sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy” (GiGa 3:36).
“Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, đều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho Đức Chúa Trời” (Eph Ep 2:8).
Sau Khi Chết Còn Có Sự Phán Xét
Con người là một hữu thể có đạo đức trong một vũ trụ có đạo đức. Như vậy, họ phải khai trình cho Đức Chúa Trời về cuộc đời mà mình đã sống và sự đáp ứng mà họ đã làm trước sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho. Chắc chắn con người hay chết nầy sẽ qua đi, dầu vậy, họ phải trả lời cho Đức Chúa Trời về cuộc đời mà họ đã sống như thế nào.
“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta” (RoRm 6:23).
“Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét...” (HeDt 9:27).
“Khi Đức Chúa Jesus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời xa cách mặt Chúa...” (IITe 2Tx 1:7-9).
2. Hãy khoanh vòng ký tự đứng phía bên trái của những câu ĐÚNG.
a. Các nhóm phái thường tách rời các Câu Kinh Thánh, bỏ qua văn mạch và vặn vẹo lẽ thật.
b. Cơ Đốc Nhân mạnh mẽ phải có thể tranh luận thắng hơn tất cả những người theo nhóm phái.
c. Bản tín điều Nicene đã thành lập giáo lý Ba Ngôi, trong đó tuyên bố rằng có ba Đức Chúa Trời ở trên trời.
d. Chỉ có một Đức Chúa Trời và một Đấng Trung Bảo là bà Ma ri, mẹ của Chúa Jesus.
e. Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ngôi Lời đã trở nên xác thịt là Chúa Jesus và Giăng đã thấy sự vinh hiển của Ngài.
3. Trong vở ghi bài của bạn, hãy kể ra ít nhất năm điểm về giáo lý chánh đáng và trích dẫn một câu Kinh Thánh cho từng điểm.
Mục tiêu 3. Nhận biết những dấu hiệu phân biệt của các giáo phái gây chia rẽ.
ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG GIÁO PHÁI TẺ TÁCH
Thật đáng ngạc nhiên khi thấy có nhiều giáo phái bóp méo những lẽ thật hoặc những sự thực hành đặc biệt. Nếu học viên lưu ý đến những điểm nầy khi suy nghĩ đến những người thuộc các giáo phái thì người đó có thể biện luận những chỗ sai lạc của họ. Chúng tôi đề nghị ra đây một số điểm phân biệt thông thường về các nhóm phái mà chúng tôi gọi là dấu hiệu nhận dạng sai lầm ( The earmarks of error ).
Đời Sống Của Người Sáng Lập
Chúng ta nên đặt những câu hỏi về người sáng lập, chẳng hạn như: Người đó có tự tấn phong cho mình giữ một địa vị cao như là một tiên tri, một sứ đồ, một bậc cao sư, hay ngay cả là một Đấng Mê si không? Người đó có phải là một nhà thần bí, một nhà tâm linh học, là những người hay xuất thần, thấy dị tượng hay là thấy chiêm bao không? Người đó có bệnh ảo giác không? Nếu câu trả lời là “có” cho những câu hỏi nầy thì đáng nên ngờ vực về nhóm phái đó. Nhiều người theo các nhóm phái đã tuyên bố người lãnh đạo của họ là được ơn trên soi dẫn, hoặc họ xem người đó là ngang hàng với Đức Chúa Trời.
Quan Niệm Về Đức Chúa Trời
Một điểm khác để chất vấn những người thuộc về một giáo phái là niềm tin của họ về Ba Ngôi. Một số người quan niệm Đức Chúa Trời như là một sức mạnh, hoặc một người chuyên chế hay là một hữu thể vô vị cách. Họ có thể tôn kính ảnh hay tượng của các thánh và thậm chí thờ lạy họ nữa. Những nghi lễ là quan trọng đối với sự thờ phượng của họ. Chúa Jesus Christ có thể được gọi là một giáo sư, một tiên tri hay là một hiện thân (sự nhập thể) của một thánh khác. Đức Thánh Linh thường bị cực tiểu hóa hoặc là những sự bày tỏ của Ngài thường bị bắt chước (giả mạo).
Thay Đổi Kinh Thánh
Một điểm nhận dạng nổi bật về các thành viên giáo phái là cuốn sách mà họ xem là thiêng liêng. Họ có đặt cuốn sách nào khác ngang hàng với Thánh Kinh không? Người sáng lập có viết ra cuốn sách đó không và nó có cần thiết cho việc thông giải Thánh Kinh không? Cuốn sách đó đã tồn tại như thế nào? Có thể kiểm chứng nguồn gốc của nó không? Những người theo nhóm phái thường nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho một sự khải thị mới kể từ khi kinh Tân Ước được viết ra. Họ dùng môi miếng phục tùng Kinh Thánh nhưng họ đặt lòng tin tưởng nhiều hơn nơi các cuốn sách riêng của họ. Trong cái nhìn của chúng ta, bất cứ tác phẩm nào được cho là thiêng liêng hơn Kinh Thánh đều đáng bị ngi ngờ, và nếu nó không thể kích thích các học giả độc lập (riêng rẽ) khảo sát thì nó đáng bị bác bỏ (KhKh 22:18-19).
Những Lời Tuyên Bố Độc Hữu Đối Với Lẽ Thật
Một số người theo các nhóm phái tuyên bố họ có sự hiểu biết độc hữu về Đức Chúa Trời. Đối với họ, tất cả các phái khác đều đã xuyên tạc lẽ thật và chỉ có họ mà thôi mới có toàn vẹn lẽ thật. Đối với cách suy nghĩ của họ, những nhu cầu thực tế nhân bản sẽ chỉ được đáp ứng trong giáo phái của họ mà thôi. Ngoài nhóm phái của họ, tất cả chỉ là ảo vọng, là tối tăm, là tội lỗi, bên trong họ là thực tại, là sự sáng và tự do. Hầu hết các nhóm phái đó có khuynh hướng hỗn thành hóa Cơ Đốc giáo với các lễ nghi và những sự dạy dỗ của dân ngoại.
Những Thói Tục Của Nếp Sống Khả Nghi
Giữa vòng các nhóm phái và các giáo phái có tất cả các loại quá độ về thuộc thể và những tập tục phi Cơ Đốc giáo. Những người theo nhóm phái thường xử dụng đồ trang hoàng và áo lễ, chuỗi hạt, biểu tượng, gậy và dây. Họ có thể thực hành các vũ điệu dâm đãng, xử dụng việc đánh trống, bùa chú, linh phù, thậm chí sử dụng các sinh hoạt bùa phép trong các buổi thờ phượng của họ. Một số người lãnh đạo của họ thực hành chế độ đa thê và cho phép sống chung không phân biệt phái tính giữa vòng các thành viên của họ.
Nhấn Mạnh Về Đặc Tính Riêng Của Nhóm
Trong vòng nhiều giáo phái có một cảm giác về sự ưu việt của nhóm. Các thành viên của các giáo phái thường dùng những từ ngữ đặc biệt riêng cho họ. Họ bày tỏ sự nâng đỡ và yêu thương đối với các hội viên mới để cho những người nầy cái cảm giác thấy mình là quan trọng. Họ nghênh tiếp sự bách hại để làm gia tăng cảm giác về đặc tính riêng của nhóm. Có giáo phái kiểm soát chặt chẽ mọi khía cạnh sinh sống của các hội viên và áp dụng luật nghiêm khắc. Các hội viên phải phục tùng những người lãnh đạo của mình mà không được thắc mắc, họ dùng nhiều giờ cho sinh hoạt truyền giáo và cống hiến trọn thì giờ cho sinh hoạt của giáo phái. Thư tín của họ bị kiểm duyệt. Họ được bảo phải mặc những áo quần nào, phải kết hôn với ai. Có một sự sợ hãi khủng khiếp về sự khiếm khuyết (sự vi phạm giáo luật). Họ có khuynh hướng xâm lăng trong nổ lực mở rộng những niềm tin của họ. Thường thường, họ chia rẽ các gia đình và các Hội Thánh; họ chống đối tổ chức. Ví dụ về những giáp phái nầy là Hội Thần Quang, Hội Gia Đình Tình Thương (Family of Love) và Giáo hội Thống Nhất (Unification Church).
Phương Tiện Cứu Rỗi
Hầu hết các người nhóm phái cố đạt được sự cứu rỗi bằng nổ lực của con người. Điều nầy có thể nằm dưới hình thức bao gồm một số nghi thức hay nghi lễ nào đó hoặc là tự từ bỏ mình để chịu khổ hạnh. Một nét thông thường của con người là muốn tranh đấu để được hoặc tìm kiếm một sự ban thưởng nào đó. Những người theo nhóm phái cũng dành những ban thưởng đặc biệt cho những người thành công trong việc chinh phục người khác trở về với chính nghĩa của họ. Một số người trong vòng họ cho rằng mình có một kinh nghiệm thuộc linh đặc biệt mà họ gọi là sự cứu rỗi. Họ tuyên bố rằng chỉ có những người trong giáo phái họ mới có thể nhận được sự cứu rỗi đó, họ thường có một buổi lễ khởi đầu gia nhập vào nhóm. Do đó, toàn bộ tư tưởng của họ là một tư tưởng về sự tự cứu mình.
4. Trong vở ghi bài của bạn, hãy kể ra ít nhất năm dấu hiệu trong số bảy dấu hiệu nhận dạng sai lầm.
5. Hãy khoanh vòng ký tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG.
a. Khi người sáng lập một giáo phái được gọi là một sứ đồ thì chúng ta có lý do để giải thích tập quán nầy như là một trong các dấu hiệu nhận dạng của một nhóm phái.
b. Một giáo phái thường cho rằng giáo nghi của nó là quan trọng cho sự thờ phượng.
c. Sự dạy dỗ của các tạp chí Cơ Đốc giáo cũng chính là sự dạy dỗ của Lời Đức Chúa Trời.
d. Các áo lễ, chuỗi hạt, dây, trống, bùa được chấp nhận trong giáo hội nếu vị sứ đồ xức dầu cho chúng và cầu nguyện cho chúng.
e. Ân điển của Đức Chúa Trời, đức tin của Chúa Jesus, sự cáo trách (thuyết phục) của Đức Thánh Linh và việc lành của người tín đồ là cần thiết cho sự cứu rỗi của Ngài.
MÔ TẢ HAI ĐỨC TIN TẺ TÁCH
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét hai niềm tin tẻ tách nổi bật hơn cả mà chúng ta có thể gọi chúng là các giáo phái. Mục đích của chúng ta ở đây là trình bày những niềm tin và tập tục của họ đã lệch lạc khỏi tiêu chuẩn của Kinh Thánh như thế nào. Chúng ta sẽ xem xét đến nguồn gốc, các kinh văn và những sự tẻ tách về giáo lý của từng giáo phái một.
Mục tiêu 4. Nói lên nguồn gốc, các kinh sách và những sự tẻ tách về giáo lý của giáo phái Mormon so với tiêu chuẩn của Kinh Thánh.
Giáo Phái Mormon (Mormonism)
Nếu lòng sốt sắng truyền giáo là tiêu chuẩn để phán xét một giáo phái thì giáo phái Mormon với mười tám ngàn giáo sĩ chắc sẽ đoạt giải thưởng ! Những thanh niên củahọ đòi hỏi phải mất hai năm sử dụng trọn thì giờ để tuyên truyền giáo lý của họ. Kết quả là họ đã có khoảng bốn triệu tín đồ ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Giáo hội nầy có những lợi tức kinh doanh lớn và rất giàu có vì mọi tín đồ của họ đều trung tín dâng phần mười và dâng hiến vượt phần mười nữa. Họ được gọi là phái Mormon theo tên của sách Mormon .
Sự Thành Lập Giáo Phái Mormon
Người sáng lập giáo phái Mormon là ông Joseph Smith, ông ra đời tại Sharon, Vermont, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ vào năm 1805. Ông là một thanh niên ít học thức và hay mơ mộng, ông rất băn khoăn về việc có quá nhiều giáo hội tồn tại. Vào đêm 21 tháng 9 năm 1823, ông thấy một thiên sứ mà ông gọi là Moroni chỉ cho ông nơi để tìm thấy một bộ đĩa bằng vàng mà chúng có chứa Lời Đức Chúa Trời và lịch sử của Mỹ Châu thời cổ. Các chữ viết nầy được cho là loại chữ cải cách của người Ai cập mà ông Smith nói rằng ông có thể đọc được chúng nhờ hai viên thủy tinh mà ông gọi là U-rim và Thu-mim. Trong khi ông phiên dịch thì có một người trợ tá chép xuống, người nầy được cách ly với ông bằng một tấm màn. Vào độ tuổi hai mươi lăm, Smith bắt đầu cáimà ông gọi là Hội Thánh thật, tức sự phục hồi Hội Thánh mà Chúa Jesus đã khởi đầu khi Ngài còn sống trên đất.
Ông Smith phát triển giáo thuyết của mình tại Illinois, nhưng tại đó ông liên can đến các kế hoạch khả nghi và thực hành chế độ đa thê. Trong một thời gian ngắn, ông đã bị bắt vì gian lận về vấn đề tiền bạc và về việc đa thê (người ta nói rằng ông đã có ít nhất là bốn mươi tám vợ). Dân chúng phẫn nộ đã tràn vào tù và giết chết Joseph cùng em của ông là Hyrum vào ngày 27 tháng 6 năm 1844. Những giáo hội nầy đã gọi họ là những người tuận đạo vì chính nghĩa của phái Mormon. Người kế nhiệm Smith là Brigham Young, ông đã cảm nhận được sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời để đi chuyển hàng trăm người Mormon trong một hành trình cam go để đến Utah. Khi đến tại thung lũng Salt Lake (Hồ nước mặn), ông Young đã tuyên bố: “Đây chính là nơi ở”. Tại đó họ xây cất thành phố và nhà thờ của họ. Khi ông Young qua đời vào năm 1877, số tín đồ của họ lên đến 150.000 người.
Kinh Sách Của Phái Mormon
Giáo hội Mormon nhìn nhận bốn cuốn sách thánh: Sách Mormon, cuốn giáo lý và giao ước, cuốn Viên ngọc Vô giá và cuốn Thánh Kinh. Họ cho rằng Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời chỉ khi nào nó được phiên dịch đúng đắn. Nhưng ai là người phán xét xem bản dịch đó đúng hay không đúng? Dĩ nhiên là giáo hội Mormon ! Người Mormon nói rằng khó có bất cứ câu nào trong cuốn Kinh Thánh tránh khỏi sự vấy bẩn. Do đó, họ đặc hoàn toàn sự tin cậy nơi ba cuốn sách kia là những cuốn sách đã tránh khỏi được sự vấy bẩn.
Sách Mormon . Được cho là do số người viết ra vào khoảng từ năm 600 T.C đến năm 428 S.C. Sách nầy thuật về một cuộc di dân của người thời cổ từ tháp Ba bên đi đến vùng Trung Mỹ; và một cuộc di dân khác của người Do Thái trước khi bị phu tù tại Ba-by-lôn, họ cũng đến vùng Nam Mỹ. Một bộ tộc của những người di dân, là bộ tộc Nephite, được cho là đã viết ra những sự mặc khải từ Đức Chúa Trời trên các đĩa bằng vàng vào năm 428 S.C và họ đã chôn giấu chúng. Do đó, 1400 năm sau, Joseph Smith bảo rằng mình đã khám phá ra những chiếc đĩa đó.
Có những vấn nạn nghiêm trọng xung quanh Sách Mormon. Mặc dầu Smith đã nói rằng sách nầy được chôn giấu vào năm 428 S.C, nhưng nó lại chứa khoảng 25000 từ ngữ lấy ra từ bản dịch Anh ngữ Kinh James của Kinh Thánh, ấn hành vào năm 1611 S.C. Đây là một sai lầm đến những 1200 năm ! Một cuốn sách mà nó làm giãn nở chân lý đến như vậy thì không bao giờ có thể được soi dẫn bởi Đức Chúa Trời. Cũng vậy, những nhân vật trong sách đó, là những người sống nhiều thế kỷ trước Chúa Jesus Christ, lại được cho rằng họ nói những lời của Chúa Jesus, của Phi e rơ, của Phao lô và của Giăng, tất cả những lời nói đó đều có trong bản Kinh Thánh Anh ngữ Kinh James. Cuốn sách Mormon nầy chứa đầy những sai lầm về lịch sử và sự kiện. Loại chữ Ai Cập Hình Tự Cải Cách (Reformed Egyptian Microglyphics ) không thấy tồn tại bên ngoài sự tuyên bố của phái Mormon và chắc chắn thứ ngôn ngữ đó không được những người Nam Mỹ thời xưa sử dụng. Có hơn 2000 sự thay đổi đã được thực hiện trong Sách Mormon kể từ lần xuất bản năm 1830, và nó vẫn còn chứa nhiều sai lầm. Tuy nhiên, Smith vẫn tuyên bố sách của ông là được ban cho từ thiên thượng, và người Mormon tôn kính nó hơn cả Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời.
Những Sự Tẻ Tách Về Giáo Lý
Giáo Lý Về Đức Chúa Trời Của Mormon Phái . Theo cuốn Viên ngọc vô giá (The Pearl of Great Price ) tức là sách tín điều của phái Mormon, người Mormon tin nơi Đức Chúa Trời gồm Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, họ tin có nhiều thần và chính Đức Chúa Trời cũng từng có lần là một con người. Ngoài ra, người Mormon cũng có thể trở thành các thần. Có lần Smith đã nói rằng: “Con người thể nào thì Đức Chúa Trời thể ấy, Đức Chúa Trời thể nào thì con người có thể trở nên thể ấy”. Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời có một thân thể bằng xương bằng thịt như con người và chỉ là một con người được tôn cao mà thôi, ngoài ra, con người có thể trở thành một vị thần.
Chúa Jesus Christ . Thần tính của Chúa Jesus Christ bị người Mormon làm giảm thiểu. Họ tin Ngài là vĩnh hằng nhưng cũng chỉ như mọi người là vĩnh hằng. Họ nói rằng các thần đã sinh ra những con cái thuộc linh từ cõi vĩnh hằng, nhưng các con cái thuộc linh nầy phải chờ đợi để nhập thể, con người cung cấp thân xác cho họ qua sự sinh sản. Đấng Christ xưa kia là một trong số các con cái thuộc linh nầy, Ngài đã nhận được một thân xác và bây giờ được ban cho thần tánh, do đó Ngài được xem là người anh cả của chúng ta. Họ muốn chúng ta tin rằng Chúa Jesus là con tự nhiên của Ma-ri và của Đức Chúa Trời A-đam, vị thần của thế giới chúng ta, chớ không phải bởi Đức Thánh Linh. Ê va trong vườn Ê đen xưa là một trong những người vợ trên trời của Đức Chúa Trời. Họ cũng tuyên bố rằng Đấng Christ là một người đa thê, hai bà Ma ri và bà Ma thê là những người vợ của Ngài, và Ngài cũng đã có con cái. Ông Smith tin rằng tiệc cưới tại Ca na là tiệc cưới của Chúa Jesus.
Sự Cứu Rỗi . Tất cả những người theo nhóm phái có một niềm tin méo mó về sự cứu rỗi. Với người Mormon, sự cứu rỗi là tiến trình để trở thành một vị thần. Họ cố gắng dung hòa ân điển với việc làm, họ nói rằng cả hai đều cần thiết cho sự cứu rỗi. Trong số các việc làm nầy có việc dâng phần mười, làm chứng đạo và chịu phép báp tem. Phép báp tem của họ có giá trị làm tái sinh nhờ báp tem, nghĩa là một người được cứu nhờ việc dìm vào nước. Họ dạy rằng phép báp tem cứu rỗi một người trong đời nầy và người đó có thể chịu báp tem thế cho những người bà con quá cố của mình nữa. Vì lý do nầy, người Mormon đã viết một gia phổ dài của những người tổ tiên ngoại bang của họ (tức những người không thuộc Mormon phái) và làm báp tem cho những người quá cố nầy qua người đại diện. Đề cố biện minh cho tập tục nầy, họ dùng những lời trog ICo1Cr 15:29: “Nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì sao họ vì những kẻ ấy mà chịu phép báp tem?” Đây là một điển hình về sự vặn vẹo Kinh Thánh của họ.
Phao lô không hề có ý nói làm báp tem qua người đại diện và Hội Thánh ban đầu cũng chưa từng làm báp tem cho những người đã xa lìa người thân yêu của mình. Trong mạch văn của những câu nầy, Phao lô đang bênh vực cho sự sống lại. Đối với ông, phép báp tem là làm hình bóng cho đức tin của người tín đồ. Người ấy chết trong Đấng Christ và đã được sống lại với Đấng Christ nhờ đức tin. Cũng vậy, trong thời đó, các tín đồ đã đối diện với khả năng có thể chịu chết vì tuận đạo, vì vậy, họ đã chịu báp tem cho (để ám chỉ đến hoặc làm biểu tượng về) sự tuận đạo nầy, để họ có thể được sống lại giống như sự phục sinh của Chúa Jesus. Theo ý nghĩa đó, họ đã chịu báp tem cho kẻ chết. Giáo lý nầy là một mưu mẹo của người Mormon để đem lại một sự hi vọng giả tạo cho những người thân yêu chưa được cứu của dân sự. Ý tưởng về một cơ hội thứ hai như vậy không phù hợp với Kinh Thánh. Kinh Thánh đã nói rõ rằng chắc chắn con người đã bị định phải chết một lần thể nào thì sự phán xét sau khi chết cũng chắc chắn thể ấy, chớ không còn cơ hội nào khác (HeDt 9:27; RoRm 6:23).
Thiên Đàng Và Địa Ngục . Người Mormon tin nơi ba thiên đàng dành cho ba hạng người khác nhau. Có một thiên đàng ở trên trời dành cho kẻ trung tín, có một thiên đàng ở dưới đất dành cho một số người với một cơ hội khác trong thế giới thần linh, và một thiên đàng ở xa dành cho kẻ ô uế là những người sẽ chịu hình phạt vì tội lỗi của họ trong một thời gian. Số người còn lại sẽ bị đi vào chỗ tối tăm bên ngoài. Nhưng đối với người Mormon, không có địa ngục với sự khổ hình đời đời. Do đó, họ mời gọi mọi người cứ hưởng thú vui đời nầy đừng sợ sự phán xét gì trong đời sau. hãy ăn, uống và vui vẻ vì ngày mai chúng ta sẽ chết !
Nói tóm lại, giáo phái Mormon giải thích sai lạc mọi giáo lý quan trọng của đức tin Cơ Đốc. Nó đặc những điều viết ra của Joseph Smith lên chỗ cao hơn Kinh Thánh. Nó phủ nhận sự xưng công nghĩa bởi đức tin và nó cung cấp một hệ thống việc làm mà trong đó sự cứu rỗi chỉ là tiến đến chỗ trở thành thần linh. Không có sự đảm bảo nào về sự sống đời đời. Người Mormon không biết họ có vào thiên đàng hay không cho đến lúc chết họ mới biết được, nhưng khi đó thì đã quá trễ ! Thật vĩ đại biết bao khi biết rằng nhờ ân điển của Chúa Jesus mà giờ đây bạn đã có sự sống đời đời và suốt cả cõi vĩnh hằng nữa.
6. Hãy viết câu trả lời cho các câu hỏi sau đây tại khoảng trống đã cho.
a. Bạn đánh giá cuộc đời Joseph Smith thế nào?
...........................................................................................................................
b. Bạn có nghĩ tại sao ông Smith đã phiên dịch Kinh Thánh phía sau một bức màn không?
...........................................................................................................................
c. Ông Smith bị bắt khi nào, vì lý do gì và kết quả ra sao?
...........................................................................................................................
d. Người Mormon xem các sách nào là thiêng liêng?
...........................................................................................................................
e. Vì lý do gì sách Mormon có thể được xem là một sự lừa bịp?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
7. Phái Mormon đã tẻ tách khỏi Kinh Thánh ở những chỗ nào về:
a. Giáo phái về Đức Chúa Trời và Chúa Jesus Christ?
...........................................................................................................................
b. Sự cứu rỗi?
8. Phái Mormon đã đem lại sự hi vọng giả tạo nào cho người ta về:
a. Phép báp tem cho người chết?
...........................................................................................................................
b. Đời sau, địa ngục và sự hình phạt đời đời?
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
Mục tiêu 5. Nói về nguồn gốc, các kinh sách và những sự xa rời khỏi những niềm tin Kinh Thánh của phái Chứng Nhân Giê hô va.
Phái Chứng Nhân Giê hô va (Jehovah’s Witnesses).
Phái Chứng Nhân Giê hô và là một nhóm phái tấn kích. Nhiều người trong số họ đã dùng năm hay sáu buổi chiều mỗi tuần để đi từ nhà nầy đến nhà kia, bán sách và nài ép giáo lý của họ trên những người khác. Họ chận người ta ở ngoài đường, họ níu kéo người ta ở các phố chợ. Họ cho mọi sự dạy dỗ khác là sai lạc. Họ chỉ kính trọng nước Đức Chúa Trời và họ không chào bất kỳ quốc kỳ nào của các nước thế gian. “Hãy để cho Đức Chúa Trời là đúng còn người ta là giả dối” là tiếng kêu chiến đấu của người sáng lập của họ. Họ đã xuất bản hàng triệu tờ Watchtower (Tháp canh ), tờ báo thường kỳ của họ, bằng nhiều thứ tiếng. Họ hội họp trong Phòng Nước Trời (hay Hành lang Vương quốc -- Kingdom Halls) để học hỏi và tiếp thu những quan điểm của họ. Giáo phái nầy thường được gọi là phái Russell (Russellism), Phái Tháp Canh, Phái Millienial Dawn (Bình minh Thiên hy niên) và Chứng Nhân Giê hô va. Ngày nay giáo phái nầy có hơn bốn triệu tín đồ trên toàn thế giới.
Sự Thành Lập Giáo Phái Chứng Nhân Giê hô va
Tổ chức nầy do C.T Russell (1852-1916) thành lập tại Pennsylvania ở Hoa kỳ. Ông được trưỡng dưỡng trong giáo hội Hội chúng (Congretional Church), nơi đây ông đã dạy các lớp Kinh Thánh vào năm 1879 và đã viết một số bài tranh luận. Ông rất sợ hãi địa ngục cho đến khi ông tiếp xúc với sự dạy dỗ của Hội An Tức Nhựt (Hội Sa-bát) về sự hiện ra của Đấng Christ, và ông đã công nhận một số niềm tin của họ. Ông đã thành lập hội Truyền đơn Tháp canh (Watchtower Tract Society) năm 1896 và đặt trụ sở của mình tại Brooklyn, Nữu Ước vào năm 1908. Ông đã viết nhiều bài vở, sử dụng một số giáo lý của hội Sa bát. Nhiều bài viết của ông đã được đóng lại thành một bộ bảy cuốn sách được gọi là Các Bài Học Trong Thánh Kinh (Studies In The Scriptures ). Ông chấp nhận giáo lý của Hội Sa bát cho rằng Đấng Christ đã ngự vào đền thờ của Ngài vào năm 1874. Ông thêm vào đó tư tưởng của mình, cho rằng Thời Kỳ Dân Ngoại sẽ chấm dứt vào năm 1914.
Russell có một bản tính khoe khoang khác thường và ông có những lời tuyên bố phi lý về khả năng và các bài viết của mình. Ông đặt các bài viết của mình ngang hàng với các bài viết của Phao lô, của Wyclif và của Luther. Có một lần ông tuyên bố rằng nếu người ra chọn lựa giữa Kinh Thánh và các sách của ông thì tốt hơn nên chọn các sách của ông. Vợ ông kiện ông để được ly dị vì tội ngoại tình, tội lừa dối và tội độc đoán vào năm 1913. Ông nắm giữ tài chính của Hội Tháp Canh, nhưng bị một tờ báo tố cáo là gian lận. Ông đã tuyên bố với tòa là ông biết tiếng Hi lạp nhưng khi người ta đòi ông nhận diện các mẫu tự thì ông chẳng làm được. Năm 1916, ông Russell đã chết khi đi công việc trên một chuyến xe lửa tại Texas.
Joseph F.Rutherford (1870-1942), là một luật sư và là một trợ lý thẩm phán, đã trở thành người lãnh đạo của tổ chức nầy. Ông cũng đã huênh hoang nhiều uy quyền và trừ khử bất cứ người nào nghi vấn ông. Năm 1931 ông đặt tên nhóm là Chứng Nhân Giê hô va rút ra từ EsIs 43:10. Do đó họ đã xóa bỏ dấu tích của danh hiệu người phái Russell, nhưng họ chẳng bao giờ xa rời khỏi các giáo thuyết của Russell. Rutherford đã tố cáo mọi tôn giáo khác, sự thù địch nầy đã trở thành dấu hiệu nhận dạng của nhóm phái nầy. Rutherford ít làm chức vụ nơi công cộng, ưu điểm của ông là trong việc quản trị. Ông còn là người viết nhiều bài hơn cả Russell nữa và đã lưu hành các tác phẩm của mình đến hàng triệu cuốn. Sau khi ông qua đời vào năm 1942, những người lãnh đạo Hội Tháp Canh ít được biết đến và các bài viết của họ giử vai trò vô danh nhiều hơn.
Kinh Thánh Của Phái Chứng Nhân Giê hô va
Phái Chứng Nhân Giê hô va chỉ phục sự Kinh Thánh bằng môi miếng. Họ tin rằng nó đáng tin cậy chỉ khi nào nó được phiên dịch chính xác. Vì lý do nầy, chỉ có một mình họ mới thông giải Kinh Thánh được thôi. Điều nầy có nghĩa là họ cảm thấy sách vở của họ mới trình bày quan điểm đúng, không thể có quan điểm nào khác. Do đó, họ đã tạo ra một bản kịch Kinh Thánh riêng của họ, đó là bản New World Translation , nó cho họ tự do vặn vẹo và co giãn những giáo lý của Kinh Thánh tùy ý họ. Ví dụ như từ ngữ chỉ về “Đức Chúa Trời” trong Kinh Thánh Tân Ước được dịch thành “Giê hô va”, mà chữ nầy không hề tìm thấy trong các thủ bản Hi lạp, nhưng nó được dịch để tạo ra giáo thuyết sai lạc của riêng họ.
Những Giáo Lý Khác Lạ Của Phái Chứng Nhân Giê hô va
Phái Chứng Nhân Giê hô va phủ nhận hầu hết các giáo thuyết của Cơ Đốc giáo có trong lịch sử . Họ bác bỏ bất cứ niềm tin nào vượt xa khỏi sự hiểu biết của con người. Điều nầy áp dụng đặc biệt cho giáo lý Ba Ngôi mà họ nói là nó phát sinh do Sa tan. Họ chống đối mạnh mẽ chiến tranh và từ chối chào bất kỳ lá quốc kỳ nào. Họ từ chối sự truyền máu vì luật pháp Môi se cấm ăn huyết.
Thần Tính Của Đấng Christ . Phái Chứng Nhân Giê hô va tin rằng Chúa Jesus Christ là một người được tạo dựng nên, và vì vậy Ngài kém hơn Đức Chúa Trời. Để biện minh cho niềm tin của họ, họ đã thay đổi lời Kinh Thánh. Trong GiGa 1:1 của bản dịch New World Translation , họ nói rằng: “Nguyên thủy có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là một vị thần”. Họ không tin Chúa Jesus sống lại, nhưng cho rằng thân thể Ngài, hoặc bốc thành hơi, hoặc được bảo tồn ở đâu đó trên mặt đất. Còn về sự hiện ra của Chúa Jesus và Ngài bảo Thô ma rờ tay vào cái vết thương ở sườn Ngài và tay Ngài thì sao? Phái Chứng Nhân Giê hô va trả lời rằng vào những lúc đó Chúa Jesus đã vật chất hóa chính mình Ngài vì cớ các môn đồ Ngài. Rõ ràng đây là một sự bóp méo Thánh Kinh (ICo1Cr 15:3-8).
Quan Niệm Về Sự Cứu Rỗi . Phái Chứng Nhân Giê hô va không tin một người có thể được sanh lại và hưởng sự sống đời đời cho tới khi nào người đó từ kẻ chết sống lại. Ngoài ra, họ cảm thấy mình phải kiếm được sự cứu rỗi cho mình bằng việc làm chứng thường xuyên từ nhà nầy sang nhà khác của mình. Nhưng Thánh Kinh tuyên bố rõ ràng chúng ta được xưng công bình một cách nhưng không nhờ ân điển của Ngài (RoRm 3:24-26). Lòng sốt sắng và năng lực là quan trọng đối với Cơ Đốc giáo, nhưng nó không phải là phương tiện đem lại sự cứu rỗi mà chỉ là kết quả của sự được cứu rỗi. Ngay cả bản dịch của chính họ cũng lên án họ vì bản dịch của họ về Eph Ep 2:8-9 rất gần với nguyên bản. IGi1Ga 5:11-13 nói về sự cứu rỗi hiện tại của chúng ta.
Lai Thế Học. Hầu hết những niềm tin lầm lẫn của phái Chứng Nhân Giê hô va là những lời tiên tri về sự tái lâm của Đấng Christ. Họ đã nói tiên tri rằng sẽ có tận thế vào năm 1914, 1918, 1920, 1925 và 1941. Rồi các chứng nhân đã cộng thêm 6000 năm và năm 4026 T.C mà họ định đó là năm sáng tạo và đã tiên đoán là sẽ có tận thế vào năm 1975 S.C. Khi các nhật kỳ đó đã qua đi, hàng ngàn người đã rời bỏ giáo phái nầy. Các tín đồ giáo phái nầy hiện đang chờ đợi trận chiến Ha-ma-ghê-đôn và sự sống lại của 144.000 chứng nhân. Những người nầy được cho là đã được đóng ấn ở trên trời vào năm 1914 để làm thánh đồ, làm vua và làm thầy tế lễ. Tuy nhiên, đọc cẩn thận sách Khải huyền sẽ cho chúng ta thấy rằng số 144.000 người ám chỉ đến dân Do Thái, gồm 12.000 người trong mỗi chi phái.
Phái Chứng Nhân Giê hô va tin nơi linh hồn ngủ, họ phủ nhận có một địa ngục theo nghĩa đen và họ dạy về sự tiêu hủy kẻ ác. Trong khi một địa ngục cháy bừng bừng có vẻ như trái ngược với tình yêu thương của Đức Chúa Trời thì phái Chứng Nhân Giê hô va đã không lên án tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong việc cho phép Chúa Jesus chịu đau khổ và chịu chết trên thập tự giá. Ngoài ra, địa ngục không mâu thuẫn với công lý của Đức Chúa Trời, khi một người đã nhìn biết rằng Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người quyền lựa chọn đặt đức tin nơi Đấng Christ hay ở mãi mãi trong địa ngục. Người ta không thể đòi hỏi sự sống đời đời dành cho người tín đồ trừ phi họ đòi hỏi sự hình phạt đời đời dành cho kẻ vô tín.
Vì Phái Chứng Nhân Giê hô va phủ nhận nhiều sự dạy dỗ cơ bản của Kinh Thánh nên họ không thể được gọi là các Cơ Đốc Nhân theo ý nghĩa của Kinh Thánh. Họ dạy dỗ lời tiên tri giả, thần đạo học phản Kinh Thánh và sự trình bày sai lạc về lẽ thật. Lòng sốt sắng và sự thành khẩn của họ không thể hoán đổi cho ý chỉ của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi nhờ ân điển của Ngài. Giống như những người Do Thái của thời Phao lô, họ “có lòng sống sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó không phải là theo trí khôn” (sự hiểu biết) (RoRm 10:2).
9. Hãy nêu ra hai tên và niên hiệu của hai người sáng lập phái chứng nhân Giê hô va và cho biết tại sao họ đã thành một phong trào khác?
...........................................................................................................................
10. Phái Chứng Nhân Giê hô va đặt lòng tin cậy nơi các kinh sách nào?
...........................................................................................................................
11. Hãy phát biểu những câu ngắn về những quan điểm của họ về:
a. Thần tính của Đấng Christ.
...........................................................................................................................
b. Sự cứu rỗi.
...........................................................................................................................
c. Sự tái lâm của Đấng Christ.
...........................................................................................................................
d. Sự chết và địa ngục.
...........................................................................................................................
Mục tiêu 6. Nêu ra những thái độ và cách tiếp cận mà người Cơ Đốc nên có khi xử sự với những nhóm phái.
ĐÁNH GIÁ VỀ CÁCH TIẾP CẬN CỦA CHÚNG TA
Giờ đây chúng ta đã hoàn tất nghiên cứu của chúng ta về một số các tôn giáo trên thế giới và những đức tin Cơ Đốc giả hiệu. Chúng tôi tin rằng bạn đã đi đến sự tin tưởng hay là những kết luận quan trọng sau đây:
Một sự nhận định rằng Đức Chúa Trời tể trị trên vũ trụ; rằng Chúa Jesus Christ là Con Đức Chúa Trời, Ngài đang sống , đang cầu thay cho các tín đồ và Ngài sẽ tái lâm.
Một sự thông công với Chúa, tức là sự cứu rỗi nhờ ân điển chớ không phải bởi việc làm qua công tác của Đức Thánh Linh.
Một trách nhiệm đối với những người khác, là những người bị Sa tan làm cho đui mù, không hiểu biết và lơ là về các lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh điểm cuối cùng nầy để kết thúc khóa trình nầy. Chúng ta nên tiếp cận với những người không tin đúng như điều chúng ta tin như thế nào? Những người cộng tác với Nê hê mi đã cho chúng ta một gương tốt. Họ một tay cầm bay và một tay cầm gươm. Là những Cơ Đốc Nhân, chúng ta cần xây dựng Hội Thánh và bảo vệ đức tin. “Anh em hãy tự lập trên nền đức tin rất thánh của mình” (Giu Gd 1:20) và “vì đạo mà tranh chiến, là đạo mà đã truyền cho cách thánh một lần đủ rồi” (1:3). Chúng ta phải thâu góp mùa gặt và đồng thời phải bảo vệ nó.
Giu đe bảo chúng ta, trong câu 21 đến 23, dùng những phương pháp khác nhau cho những loại người khác nhau. Chúng ta cần phải giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời và sự trông đợi, hãy thương xót những kẻ hay nghi ngờ, hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa, còn đối với kẻ khác hãy có lòng yêu thương lẫn với sợ. Bây giờ, chúng ta hãy giải rộng những điều nầy thành một số cách tiếp cận đặc thù.
Chứng tỏ một tấm lòng yêu thương . Sự chỉ trích tạo ra những rào cản nhưng tình yêu thương thì chinh phục. Bạn có thể thắng một cuộc tranh luận nhưng làm mất đi một linh hồn. Chiên lạc cần sự săn sóc yêu thương của người chăn chứ không cần một thanh gươm của kiếm sĩ (IITi 2Tm 2:25).
Trình bày một lời làm chứng tích cực. Chân lý tích cực cản ngăn sự lầm lạc. Kinh nghiệm cá nhân là một lời chứng tích cực và đây uy lực. Sự thông công vui mừng thường xuyên của bạn với Chúa nói lên còn to lớn hơn cả 10.000 lời lên án.
Quen thuộc với những sự kiện. Hãy nhớ kỹ những niên hiệu, những sự thay đổi đã xảy ra. Lúc đầu người Mormon có nhiều vợ nhưng bây giờ điều đó đã vi phạm luật pháp của một số quốc gia. Biết những sự kiện sẽ ngăn cản được những sự xét đoán có giá trị.
Nhấn mạnh đến sự thỏa lòng lớn hơn. Ít người khi sinh ra là đã ở trong một nhóm phái, đa số gia nhập là do họ lựa chọn. Họ thấy được một số sự thỏa lòng trong đó. Mọi người đều hỏi “Trong đó có gì dành cho tôi?”. Bạn phải trình bày một sự thỏa lòng lớn hơn trong Đấng Christ.
Giữ vững mục tiêu của bạn. Bạn hãy nhắm vào mục đích -- chinh phục các linh hồn cho Nước trời -- và đừng nản lòng. Sự kiên trì thường được trả đủ vào giờ thứ mười một. Việc giúp người ta tiến đến một quyết định sẽ có tác dụng cho sự tiếp cận của bạn, sự nói chuyện của bạn và những kết quả của bạn.
12. Thái độ nào để tiếp cận mà Cơ Đốc Nhân nên duy trì đối với những người thuộc các đức tin tẻ tách? Hãy viết ra năm điểm trong vở ghi bài của bạn.
Chinh phục về cho Đấng Christ những người bị trói buộc bởi các đạo giả hoặc một đức tin bị bóp méo là một chức vụ đòi hỏi cả tâm trí và tấm lòng. Nó đòi hỏi sự khôn sáng của Thánh Linh, sự yêu thương của Đức Chúa Trời và ân điển của Chúa Jesus. Nhưng khi bạn đã thành công thì chẳng có điều gì thỏa lòng hơn. Bạn đang thực sự rút những linh hồn “ra khỏi lửa” (XaDr 3:2).

Bài Tự Kiểm
CÂU CHỌN LỰA. Hãy chọn câu trả lời đúng nhất cho từng câu hỏi. Khoanh vòng ký tự đứng trước câu bạn chọn.
1. Từ ngữ tà thuyết chỉ về một ý kiến:
a. Mà nó là một sự sai lạc về giáo lý.
b. Được bất kỳ nhóm thiểu số nào ủng hộ.
c. Xúi giục vì một động cơ ghen tị.
d. Của một người kém học thức.
2. Những niềm tin tẻ tách có thể được tiêu biểu một cách đặc biệt là gây:
a. Những sự tìm tòi về mặc khải thiên thượng.
b. Cải thiện những sự truyền thông Kinh Thánh.
c. Đoàn kết các giáo phái riêng rẽ.
d. Sự chia rẽ và sự xuyên tạc (bóp méo).
3. Những lẽ thật Kinh Thánh thường bị các giáo phái làm sai lạc bao gồm:
a. Sự đầu thai, sự linh cảm Kinh Thánh, sự sống đời đời.
b. Ba Ngôi, sự cứu chuộc nhờ huyết Chúa Jesus, sự cứu rỗi nhờ ân điển của Đức Chúa Trời.
c. Sự cứu rỗi nhờ ân điển, Ba Ngôi, Chúa Jesus là Đức Chúa Trời.
d. Sự cứu chuộc nhờ thập tự giá, đức tin và việc làm trong sự cứu rỗi, sự đầu thai.
4. Một sai lạc của nhóm phái được chứng minh là sai trong GiGa 1:1 nhờ lẽ thật:
a. Chúa Jesus Christ là Con vĩnh hằng của Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Trời.
b. Mọi người đều đã phạm tội, chẳng có ai là công bình cả.
c. Ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu.
d. Tiền công của tội lỗi là sự chết.
5. Những dấu hiệu phân biệt của các giáo phái tẻ tách gồm có:
a. Hệ thống đẳng cấp của tổ chức, tách biệt những người lãnh đạo.
b. Các nghi thức thờ phượng, tuân giữ những ngày đặc biệt.
c. Những sự mặc khải độc chiếm từ Đức Chúa Trời, người sáng lập bình đẳng với Đức Chúa Trời.
d. Quan tâm đến việc mở rộng hội viên, truyền giáo sốt sắng.
6. Các giáo phái tẻ tách thường xem Kinh Thánh là:
a. Cần những sự bổ sung và sự giải thích của họ.
b. Lời được linh cảm duy nhất của Đức Chúa Trời.
c. Một cuốn sách không có giá trị văn chương hay tôn giáo.
d. Nguồn hướng dẫn chỉnh về giáo lý.
7. Sau khi tuyên bố những lời chỉ dẫn của thiên sứ Moroni trong một dị tượng.
a. Joseph Rutherford sáng lập phái Mormon.
b. Joseph Smith sáng lập phái Mormon.
c. C.T.Russell sáng lập phái Chứng nhân Giê hô va.
d. Brigham Young sáng lập phái Mormon.
8. Cố gắng tiên đoán sự tái lâm của Chúa Jesus là một sự sai lầm tạo ra bởi:
a. Phái Mormon.
b. Không giáo phái nào trong số các giáo phái tẻ tách thời nay.
c. Phái Chứng Nhân Giê-hô-va.
d. Một vài nhóm phái Đông Phương.
9. Hầu hết những người gia nhập một nhóm phái
a. Vì họ được sinh ra trong nhóm phái đó.
b. Sau khi đã điều tra cặn kẽ nhóm phái đó.
c. Vì họ tìm kiếm một sự thỏa mãn.
d. Để chứng tỏ sức mạnh và tính độc lập.
10. Chinh phục người ta từ một đạo giả về cho Đấng Christ đòi hỏi:
a. Lòng yêu thương và một sự làm chứng tích cực.
b. Hiểu biết đầy đủ về Kinh Thánh.
c. Hiểu biết cặn kẻ về giáo lý.
d. Mạnh dạn làm chứng, chỉ ra sự sai lầm.
11-15. CÂU GHÉP CẶP. Hãy ghép cặp những từ ngữ (bên phải) với lời mô tả của chúng (bên trái) một từ cho một câu chọn lựa.
.....11. Phái Mormon , Phái Chứng Nhân Giê hô va.
.....12. Một ý kiến gây chia rẽ.
.....13. Một từ ngữ có nghĩa là “thờ phượng”.
.....14. Ly khai khỏi một hội mẹ.
.....15. Có động cơ sự giàu có và quyền lực thúc đẩy.
a) Tà thuyết.
b) Giáo phái .
c) Nhóm phái (Cult).
d) Cơ Đốc giả hiệu.
e) Nhóm phái sùng bái nhân cách.
Phần Giải Đáp Câu Hỏi Trong Bài Học
1. Là Cơ Đốc Nhân, câu trả lời của bạn có thể là câu giải thích dài dòng như vầy: Tôn giáo có liên can đến sự phó thác cá nhân cho Đức Chúa Trời và sự hầu việc Ngài kể cả cách hành xử theo sự chỉ dạy của Lời Ngài.
2. a, b, và c là những câu hoàn toàn đúng.
3. a, b và c là những câu hoàn toàn đúng.
4. Câu trả lời của bạn: Cơ Đốc giáo có đủ mọi tiêu chuẩn, cho dầu nếu có sự chỉ trích nào và một số tín đồ đã không ở trong những tiêu chuẩn vao nhất. Một tôn giáo cần phải được phán xét theo lý tưởng hoặc tiêu chuẩn của nó, như là Đấng Christ và Kinh Thánh chẳng hạn, chớ không phải theo sự thất bại của một số tín đồ của tôn giáo.
5. Câu trả lời của bạn: Các nhà giảng đạo thường tuyên bố “để cho chúng dân tự do” khỏi sự tùy thuộc vào các nghi thức hay truyền thống. Đúng là đức tin của chúng ta phải xoay quanh một thân vị là Chúa Jesus Christ. Sự tùy thuộc vào các hoạt động có hình thức không phải là công đức để được cứu rỗi. Nếu người ta trông mong những nghi thức để đem họ đến sự cứu rỗi thì chúng ta nên dẫn dắt họ đến con đường tốt hơn.
6. Bạn có chọn các mục sau đây: các vật linh thiêng: như cây cối, đá, đền thờ, chùa miếu và các vật dụng. Những con người thánh thiêng: các tiên tri, những con người thi hành chức vu , các thầy tế lễ và các trung gian (như đồng bóng). Các tập tục thông thường: Thông giải về sấm chớp, lụt lội, động đất, bám vào các Sách Thánh...
7. Chọn trong số các đặc tính nầy : Thần linh la
siêu nhân, vô hình, tể trị tối cao, có thể đáp ứng, được tôn thờ, có cá tính.
8. a. 6. Phiếm thần giáo
b. 5. Đa thần giáo
c. 4. Độc thần giáo
d. 3. Chủ nghĩa hữu thần
e. 2. Tự nhiên thần giáo
f. 1. Thần linh
9. Tong câu trả lời của bạn, bạn có thể nhắc đến ai đó có vẻ như thế vì bề ngoài thô lỗ và thiếu sự kính sợ thần thánh của họ. Tuy nhiên, con người đó có thể đang phản ứng lại với một điều bi thảm nào đó xảy ra trong cuộc đời họ. Người đó vẫn có thể được dẫn đến với Tin Lành vì GiGa 6:37 vẫn có ở trong Thánh Kinh và vẫn còn hành động.
10. a. Sai. Theo Kinh Thánh thì Độc thần giáo đã có từ ban đầu.
b. Đúng.
c. Sai. Nó được thỏa mãn vì ơn phước của Đức Chúa Trời.
d. Đúng
11. a. Đúng.
b. Đúng
c. Sai. Không phải sinh tế mà bởi đức tin.
d. Sai. Họ cố sức truất ngôi Đức Chúa Trời.
e. Sai. Chính là đức tin và sự vâng lời của ông.
f. Đúng.
g. Đúng.
12. a. Lòng tôn kính tổ tiên, sự bái thánh vật, những điều cấm kỵ, sự thờ phượng thiên nhiên, các vật có các hồn hay linh chiếm cứ, sinh tế bằng huyết.
b. Trong câu trả lời của bạn, bạn có thể nói rằng sinh tế bằng huyết, sự nhận biết tội lỗi và một Đức Chúa Trời thánh khiết có thể tha thứ... là những điểm chung có thể chỉ ra. Với sự hậu thuẫn của Thánh Kinh, một người có thể hướng dẫn người khác đến sự hiểu biết về sự cứu rỗi thật.
13. Nó phát nguồn từ Melanesia và nó được xem là nguồn cội của mọi tôn giáo sơ khai.
14. c. Đức Chúa Trời vừa là siêu việt vừa là nội tại.
15. a. 2. Mẫu người tưởng tượng
b. 3. Mẫu người trực giác
c. 1. Mẫu người lý luận
d. 4. Mẫu người Phi Tây Phương
e. 4. Mẫu người Phi Tây Phương
16. Các câu trả lời của bạn nêu tương tự câu trả lời sau :
a. Sự tìm kiếm là hai chiều - Vì Đức Chúa Trời tìm kiếm sự hiệp thông với con người có sự ao ước tôn kính hay tìm sự giúp đỡ từ một Đấng cao xa hơn chính mình.
b. Thánh Kinh nói rằng không ai có thể đến với Đức Chúa Trời mà không qua Chúa Jesus Christ.
c. Sự khát chỉ được thỏa mãn bằng việc uống nước chớ không phải cố cứu chữa cơn khát của một người trong chính con người đó. Chúa Jesus là Nguồn Sự Sống đời đời và chỉ bằng cách tiếp nhận sự cứu rỗi của mà một người có thể tìm được sự thỏa mãn.

Phần Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học
1. Định nghĩa của bạn phải tương tự như vầy: Duy Linh Thuyết là một niềm tin cho rằng những vật không phải động vật đều có sự sống và linh hồn. Đối với ba niềm tin bạn có thể nhắc đến bất cứ niềm tin nào trong những niềm tin sau: 1) Hồn người tiếp tục sống sau khi con người chết. 2) Các linh ở trong mọi vật không phải động vật. 3) Linh hồn có thể lìa khỏi xác. 4) Thú vật, cây cối, chim chóc đều có linh hồn. 5) Các linh hiện hữu cách biệt với Thượng Đế.
2. a. Đúng.
b. Sai. Họ tin nơi Độc thần giáo
c. Sai. Thượng Đế không có thân vị và ở rất xa.
d. Sai. Ông đã nói rằng mọi vật đều có linh hoặc hồn.
3. Câu trả lời của bạn gồm bất cứ bốn vùng nào trong các vùng được liệt kê ở phần Mục tiêu 2.
4. a. 2) Thuyết của Tylor.
b. 4) Mana.
c. 3) Duy Linh Thuyết.
d. 5) Điều cấm kỵ
e. 6) Lời thuật của Sáng Thế ký.
f. 1) Lời giải trình của Phao lô.
5. a. Sai. Cuộc sống họ rất phức tạp.
b. Sai. Không có bộ lạc nào được thấy là không có tôn giáo.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Sai. Các linh giống như con người.
g. Sai. Quan niệm đó cho rằng các linh có thể bị khuấy động và nổi giận.
6. a. Họ thích nói họ thờ kính và tôn trọng tổ tiên hơn.
b. Người ta cho rằng chúng làm cho hoa màu tươi tốt, gia súc thêm nhiều và phụ nữ sinh nhiều con.
c. Linh của con người có thể nhập vào một con thú vật và ngược lại.
7. Câu trả lời của bạn nên bao gồm việc người theo Duy linh thuyết có khuynh hướng pha trộn điều linh thiêng với điều trần tục; sự sai trái đối với họ tùy thuộc vào những điều kiện.
8. a. Họ có khuynh hướng pha trộn điều thiêng liêng với điều trần tục, cá nhân với cộng đồng, thời gian và không gian, sự vật và biểu tượng.
b. Có thể lấp đầy khoảng trống để lại do mọi điều người đó đã bỏ lại phía sau nếu Hội Thánh (nhà thờ địa phương) cung ứng một chương trình liên can đến thì giờ và năng lực của người đó.
c. Không có sự hy vọng về Đấng Mê-si hoặc khải tượng về tương lai. Sự tập trung của người Phi Châu là ở hiện tại.
d. Khi một người gắn những ý nghĩa quá trớn cho biểu tượng thì họ trở thành điều khiển tư tưởng, cảm xúc của mình, nhất là khi người đó kết hợp mình vào những ý nghĩa trừu tượng tiêu cực.
9. a. Bằng một vật như một hình nhân, một pháp sư cố sức đem lại những điều ác cho một kẻ thù.
b. Pháp thuật đồng cảm hay mô phỏng.
c. Nếu người đó đặt đức tin nơi vật ấy, người đó sẽ thấy thư thái và dựa vào quyền lực của nó để làm cái điều mà người đó muốn.
d. Niềm tin nơi quyền lực của nó.
10. a. Sách viết ra giúp cho việc làm vững bền luật lệ. Luật truyền khẩu có thể thay đổi theo sự hiểu biết về nó của từng thế hệ.
b. Bạn có thể nói đơn giản như vầy hoặc dùng các lời tương đương. Nếu sự rủi ro xảy ra, người ta xem nó là cơn giận của các linh. Ai đó đã làm việc gì đó nghịch lại truyền thống, vì thế cần phải làm một sự chuộc tội.
c. Câu trả lời của bạn bao gồm: 1) Phải giữ gìn truyền thống, 2) Huyết thống của bộ tộc phải được truyền, 3) Các linh phải được giữ cho hạnh phúc, 4) Luân lý được dựa trên sự thăng bằng của thiên nhiên và truyền thống, 5) Ý muốn của Thượng Đế được người ta tin là có thể bị ý muốn của con người điều khiển.
11. a. Sinh tế có thể bằng thú vật, hoa màu ..v..v Mỗi sinh tế phải là vật có giá trị, được dâng ở một nơi đặc biệt theo một cách thức đặc biệt.
b. Họ bắt đầu thờ lạy sinh tế.
c. Vì họ xem nó là nguồn của sự sung túc và khả năng sinh sản.
12. a. 3) Thầy chữa bệnh bằng pháp thuật.
b. 1) Người trồng cây thuốc.
c. 2) Phù thủy.
d. 4) Thầy cúng.
e. 6) Pháp sư.
f. 5) Người đồng bóng.
13. a. Đúng.
b. Sai. Họ cậy vào sự ước đoán của người học thức.
c. Đúng
d. Sai. Ý kiến của họ dựa vào đường lối chính trị.
14. a. Họ cảm thấy sự thay đổi làm giảm giá trị của truyền thống.
b. Các quốc gia đang phát triển. Vì một số từ khác như bán khai và kém văn minh làm giảm đi ý nghĩa.
15. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm : Sự pha tạp của các giáo thuyết chống nghịch nhau do một số ít các tín đồ tôn giáo và sẽ làm suy yếu sự làm chứng của những tín đồ trung tín.
16. Bạn có thể trích dẫn bất cứ yếu tố nào trong các yếu tố nầy : Chủ nghĩa tiên tri, lời công bố về Đấng Mê-si, các ân tứ chữa bệnh đặc biệt, sự công kích vào các tập tục truyền thống, hoặc sự giáo dục và sự hiểu sai lạc Thánh Kinh gây ra.
17. Ý niệm về thần linh của họ là một nhịp cầu để dạy họ về “Thượng Đế”. Sự có mặt của sự sợ hãi là nhịp cầu để trình bày “sự yêu thương” của Đức Chúa Trời đối với “thế gian”. Ý niệm của họ về sinh tế là nhịp cầu dẫn họ đến Đấng Christ mà Đức Chúa Trời “đã ban”. Ý niệm về việc làm của họ là nhịp cầu dẫn đến đức tin; hễ ai “tin, không bị hư mất, mà được sự sống đời đời”.

Giải Đáp Các Câu Hỏi Trong Bài Học
1. a. Sai. Nó không phải là tôn giáo cổ nhất và nó không phải là độc thần giáo.
b. Sai. Đó là tên của sông Indus (Ấn hà).
c. Đúng.
d. Sai.Chỉ có 2,4 % là người Cơ Đốc giáo
2. a. Sai. Không có người nào sáng lập cả.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
4. a. Bằng cách hấp thụ những tôn giáo khác xuất hiện sau đó.
5. a. Sai. Đó là thân thể của Manu, con người đầu tiên.
b. Sai. Họ là giai cấp thấp kém nhất.
c. Đúng.
d. Đúng.
6. a. 5) Brahma.
b. 1) Brahmana.
c. 2) Brahmanas.
d. 3) Brahmin.
e. 4) Brahmanism.
f. 6) Brahman.
7. Bằng lời riêng của bạn, các câu trả lời của bạn phải tương tự như sau:
a. HeDt 11:3 “Vũ trụ được sáng tạo bời Lời Thượng Đế và nguồn gốc của vạn vật không phải là những vật hữu hình” (Bản Diễn Ý).
b. Đầu tiên là duy linh thuyết, rồi đến đa thần giáo, kế đó là hệ thống tam thần và rồi lại quay về đa thần giáo.
c. Thuyết nhất nguyên tin rằng linh hồn loài người và Brahman, tức “đại linh hồn của Vũ trụ” là một. Thuyết nhị nguyên là thuyết cho rằng linh hồn con người và Brahman là những toàn thể riêng rẽ.
d. Giáo thuyết Brahman quan niệm Brahma không phải là một thân vị mà là một nguyên lý của vũ trụ, và cho rằng vị nầy chính là vũ trụ của người.
e. “Đấng đó là Ngã: người là đấng đó”.
8. a. 3) Shiva.
b. 4) Vishnu.
c. 5) Krisha, hóa thân của Vishnu.
d. 2) Brahma.
e. 1) Trimurti.
9. a. Vì người Ấn độ giáo tin rằng các vị thần sống trong núi.
b. Câu trả lời của bạn có thể như sau: Việc rửa chân, rung chuông, hát đạo ca, đốt hương.
c. Các giáo sư, các tư tế, các guru, các tu sĩ.
d. Bất cứ điều nào trong các điều sau: hình tượng, tranh ảnh, mandala, lửa, nước, thức ăn, lư hương, hoa.
e. Lễ Holi, để tôn vinh Krishna, và Lễ Divali, tức lễ hội rước đèn.
f. Nó là biểu tượng của sự phì nhiêu và sự quảng đại, qua nó người Ấn độ giáo giống với mọi vật sống khác các chất bài tiết của nó hữu dụng trong các gia đình ở thôn quê.
10. a. Sai. Đây là tôn phái Jain.
b. Sai. Đây là Bà-la-môn giáo.
c. Đúng.
d. Sai. Đây là maya, không phải Karma.
f. Đúng.
11. a. Đó là tiến trình sinh ra, chết, rồi đầu thai và lặp đi lặp lại mãi.
b. Bất cứ loại nào trong các loại sau: Chó, heo, lừa, lạc đà, kẻ bần cùng, nhện, rắn, thằn lằn, khỉ, gấu, heo đực.
c. Nó được quyết định bởi luật Karma, tức công việc thiện của một người. 3. Từ trí nhớ của bạn, hãy viết ra. Câu trả lời của bạn nên bao gồm các tên và các niên hiệu đúng. Kiểm tra bài để sửa cho đúng đặc tính mà bạn đã bao gồm vào. Câu trả lời của bạn có thể khác hơn câu trả lời ở đây. 1) Thời kỳ Vệ đà: 2.000 -- 600 T.C. Kinh Vệ đà được viết ra. 2) Thời kỳ Cải cách: Thế kỷ 9 và 10 trước công nguyên. Đó là cuộc phản kháng chống lại hệ thống theo Kinh Vệ đà và nhiều thay đổi trên thế giới. 3) Thời kỳ cổ điển: 200 T.C. -- 1.000 S.C. Số các vị thần được thu hẹp còn lại ba dạng thức. 4) Thời kỳ Bhakti 1.000 S.C. -- 1.750 S.C. là thời kỳ của Ấn độ giáo dân gian và quay trở lại thờ nhiều vị thần.
12. a. 1) Đường công đức, tức là thực hành các bổn phận tôn giáo, 2) Đường tri thức, tức bản ngã và Brahaman là một. 3) Đường sùng tín, tức sự yêu thích sùng tín đối với Thượng Đế và các thần linh khác.
b. Nó cho rằng tư tưởng của con người nghĩ rằng mình cách biệt với Brahman là một ảo tưởng.
c. Đó là nhị nguyên thuyết, theo đó, tâm trí con người học biết cách để kiểm soát thân thể, lúc đó linh hồn sẽ được giải thoát và kết hiệp với Thượng Đế.
b. “Bị trói buộc vào bánh xe giai cấp và đầu thai (luân hồi)”.
c. Các hình thức tôn giáo của người Aryan đã được hấp thụ vào Ấn độ giáo và cộng thêm với các niềm tin khác. Ấn độ giáo đã lớn mạnh qua sự hấp thụ các tôn giáo khác. Tính mềm dẻo của nó đã góp phần vào sự lớn mạnh của nó.
13. a. Sai. Vid có nghĩa là “khôn ngoan và hiểu biết”.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Sai. Chúng kém uy quyền hơn.
e. Đúng.
14. Câu trả lời của bạn có thể là bất cứ phần nào trong các phần sau: Họ cố thanh lọc sự thờ hình tượng và giai cấp của Ấn độ giáo. Họ cố gắng kết hợp Ấn độ giáo với các luân lý của Cơ Đốc giáo. Một số người cố gắng làm cho dân chúng tin rằng một tôn giáo đều là những con đường dẫn đến Thượng Đế. Một số người cố gắng làm cho người Ấn độ giáo, người Hồi giáo và người Cơ Đốc giáo thành những người tốt hơn mà không cần phải hòa lẫn họ vào nhau.
15. Câu trả lời của bạn bao gồm bất cứ bốn điểm nào trong bảy điểm mạnh và tám điểm yếu được liệt kê trong bài.
16. Câu trả lời của bạn có thể là bất cứ điểm nào mà bạn thích. Hãy kiểm tra với bài học để sửa cho đúng các khúc Kinh Thánh và các sự so sánh mà bạn đã dùng.
Giải Đáp Câu Hỏi Của Bài Học
1. Vì người sáng lập đạo Sikh lấy những gì ông cần từ Ấn độ giáo và Hồi Giáo để lập tôn giáo mới của mình.
2. a. Sai. Từ Pali có nghĩa là “môn đệ”
b. Đúng.
c. Đúng.
3. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Đúng.
4. Họ gặp nhiều sự chống đối từ ban đầu và trong một số trường hợp đã chiến đấu cho mạng sống mình
5. a. Vào năm 1469, tại Talvadi, trong vùng Punjab cách Lahore 40 dặm.
b. Ông muốn tìm một đường tốt hơn để đến với Thượng Đế. Ông nói rằng Thượng Đế đã mặc khải nó cho ông trong lần thăm viếng sau một cuộc tranh đấu lâu dài.
c. Ông và các bạn của ông đi từ làng nầy đến làng khác, ca hát và giảng dạy giáo thuyết của mình.
6. Hãy đưa ra ý kiến của bạn. Bạn có thể nói rằng thời gian và khoảng cách có thể thêm vào một sức mạnh huyền nhiệm cho một người lãnh đạo thuộc đất mà ông ta đã không sở hữu khi còn sống. Điều nầy đặc biệt đúng cho trường hợp Nanak, vì vị guru kế tiếp đã tuyên bố là ngang hàng với Thượng Đế.
7. a. Đúng.
b. Sai. Nó là một phần của vòng đó (luân hồi)
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Sai. Ông không công nhận sự hóa thân (hiện thân).
8. a. “được hấp thu vào Thượng Đế”.
b. Bằng lời lẽ riêng của bạn, câu trả lời của bạn có thể tương như sau : Nó minh họa cái ý niệm cho rằng bằng những sự tái đầu thai kế tiếp nhau (luân hồi), cuối cùng con người sẽ được kết hiệp với tuyệt đối.
9. Ông đã mô tả Ngài như là một Thượng Đế cao trọng và đặt tên Ngài là Sat Nam, nghĩa là Chân Danh (tên thật).
10. e. Các câu a), b), c) và d) ở trên.
ngắn hơn rồi sau đó một người được hấp thu vào Thượng Đế.
c. Trở thành được soi sáng và được hấp thu vào Thượng Đế.
d. Chỉ có đức tin của con người đặt nơi Chúa Jesus Christ mà thôi.
11. a. Ông đáp lời: “Hãy xoay đôi bàn chân tôi về chỗ nào mà Thượng Đế không cư trú ở đó”.
b. Ông muốn nói rằng Thượng Đế là toàn tại. Không có chỗ nào mà Ngài không cư trú.
12. Bạn có thể chọn các điều nầy : Thờ phượng, dâng sinh tế, hành hương, đọc kinh theo nghi thức, chức tư tế, hệ thống giai cấp, sát hại trẻ con, hiến tế góa phụ.
13. a. Sai. Ông đã đóng góp nhiều trong việc nâng cao tình trạng phụ nữ.
b. Sai. Ông đã bài bác chủ nghĩa tu hành.
c. Sai. Ông không từ khước việc ăn thịt.
d. Đúng.
14. Guru đến từ Phạn ngữ, có nghĩa là “coi trọng” hay “tôn kính”; ông là một giáo sư và người dẫn đạo thuộc linh. Các vị guru là : Thượng Đế là guru thật, Nanak và chính vị lãnh đạo thuộc linh khác, cộng đồng người Sikh, các nhà lãnh đạo tôn giáo tức là các avartars (hiện thân), (ghi chú : niềm tin nơi các avatar xảy ra sau thời của Nanak); Guru Granth Sahib.
15. a. Đúng.
b. Sai. Ân sủng mà thôi có thể chấm dứt vòng Karma.
c. Sai. Có một vài điểm tương tự, như là: một tấm lòng được thay đổi tạo ra một đời sống thay đổi.
16. a. Ân sủng.
b. Thánh Kinh bày tỏ ân sủng như là một sự ban cho nhưng không, nó đem lại sự cứu rỗi ngay khi đức tin một người bày tỏ ra. Đạo Sikh nói rằng ân sủng làm cho vòng luân hồi thu
17. a. Đúng.
b. Sai. Họ phải lặp đi lặp lại tên Sat Nam.
c. Sai. Sự hấp thu vào Thượng Đế thì giống như một giọt nước rơi vào đại dương.
d. Sai. Sự kết hiệp với Thượng Đế.
18. Kinh Adi Granth. Bằng lời lẽ riêng của bạn, bạn có thể nhắc đến : 1) Kinh sách của đạo Sikh dài hơn và rắc rối hơn Thánh Kinh; 2) Thánh Kinh tương đối đơn giản còn Kinh sách đạo Sikh phải được giải thích bởi các guru được huấn luyện; 3) Kinh sách của đạo Sikh không có hiệu lực đối với thường dân, trong khi Kinh Thánh sẵn sàng có hiệu lực trong nhiều ngôn ngữ; 4) Người Cơ Đốc Giáo kính trọng Thánh Kinh như là Lời của Đức Chúa Trời nhưng không thờ phượng chính cuốn sách đó, trong khi người Sikh tôn kính Kinh sách của họ như là một thần tượng.
19. a. 4) Granth Sahib.
b. 1) Gobind Singh.
c. 3) Ngũ K.
d. 2) Khalsa.
20. a. Nanak đã hy vọng kết hợp người Hồi Giáo và người Ấn độ giáo vào thành một đơn vị mà thôi, nhưng hy vọng nầy không thành.
b. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm : 1) Sau Nanak, đạo Sikh đã xoay quanh mười vị guru. 2) Một dòng tu quân sự đã phát triển giữa vòng đạo Sikh và sự nhấn mạnh về tôn giáo đều đã chấm dứt và sự thờ hình tượng đã trở thành một tập quán.
21. a. Sai. Có mười vị guru.
b. Sai. Ông là Huru Gobind Singh.
c. Sai. Ông cấm xử dụng chúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
22. a. Sai. Nó đã trở thành một phần của Pakistan vì dân chúng của nó theo Hồi Giáo.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Sai. Họ là “Sư tử của xứ Punjab”.
23. Câu trả lời của bạn nên lấy từ Kinh Thánh đã cho.

Giải Đáp Câu Hỏi Của Bài Học
1. a. Đúng
b. Sai. Người ta có thể tin cả ba Đạo cùng lúc.
c. Sai. Họ loại bỏ nhau.
d. Đúng
2. Câu trả lời của bạn nên bao gồm: từ ngữ Đạo giáo có nghĩa là “một lối đi” hay “một con đường”. Đạo giáo là một triết lý, một tôn giáo,và là một hệ thống nghi lễ pháp thuật. Một số niềm tin là: mọi sự đều dời chuyển và thay đổi, con người đã lạc đường của mình, sự bình dị và sự khiêm tốn qua hành động thụ động sẽ đem con người trở về với con đường đúng.
3. Khắp cả Trung Hoa và mọi nền văn hóa Á Châu chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, bao gồm Đài Loan, Việt Nam. Nhật Bản và Đại Hàn.
4. Lão Tử là người sáng lập. Có một nghi vấn về ông là một nhân vật lịch sử hay chỉ là một hệ thống các niềm tin.
5. Đó là một thời kỳ loạn lạc trong nước, một thời kỳ thiếu sự lãnh đạo và có sự xâm lăng của quân thù.
6. a. Sai. Đạo không có thân vị.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
7. a. Vì nó thay đổi liên tục.
b. Một cách trực giác.
c. Bằng việc thực hành sự vô vi của họ.
d. Bằng cách sử dụng cái vô dụng, khống chế cảm xúc; có quan điểm quân bình; có sự kết hợp cơ bản của cuộc sống.
8. a. Sai Âm = tiêu cực, tối tăm, lạnh lẽo, ẩm ướt, trái đất, mặt trăng.
b. Đúng.
c. Sai. Không xấu cũng không tốt.
d. Đúng.
e. Đúng
9. 1) Sức mạnh cơ bản là Đạo; 2) Sự sống là tài sản quan trọng nhất; 3) Sống cuộc đời bình dị đơn sơ; 4) Tránh sự kiêu ngạo.
10. a. để tìm sự bất tử.
b. để biến đổi kim loại ra vàng, để tìm phương thuốc chữa; để kéo dài sự sống.
c. Bất cứ hai cách nào trong những cách sau: Tiết thực, ăn thức ăn lỏng, sống chỉ bằng nước bọt và không khí, vô thất (kiêng ăn), điều tức (điều khiển nhịp thở).
11. a. Đúng
b. Sai. Năm ngàn chữ và tám mươi mốt chương.
c. Sai. Âm và Dương chưa được biết trước Đạo
d. Đúng
12. a. Câu trả lời của bạn nên bao gồm: Đạo là tạo hóa, là một con đường không tên và không thể mô tả được. Nó được ví sánh với nước, nó làm ích mọi vật và trổi hơn mọi vật.
b. Câu trả lời của bạn có thể là: “Ai chinh phục được chính mình thì người ấy là người mạnh phi thường”. Điều nầy nhắc chúng ta nhớ đến Gia Gc 1:26; hoặc “Hãy làm lành cho kẻ khác”, trong RoRm 12:21 Phao lô cũng nói như thế; hoặc “Hãy báo trả sự tổn hại bằng sự nhân ái”, 12:17.
13. a 3) Giai đoạn triết lý , 600 -- 300 T.C.
b. 2) Giai đoạn pháp thuật, 300 T.C -- 165 S.C.
c. 1) Giai đoạn tôn giáo, 165 S.C. đến ngày nay.
d. 1) Giai đoạn tôn giáo, 165 S.C. đến ngày nay.
14. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm bất cứ năm điểm nào trong sáu điểm được liệt kê trong bài học ở mục Những điểm mạnh của Đạo giáo .
15. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm bất cứ năm điểm nào trong bảy điểm đã liệt kê ở mục Những điểm yếu của Đạo giáo.
16. Câu trả lời của bạn nên bao gồm: Đức Chúa Trời là Chân Thần, không hề thay đổi, vì môt người thay đổi thì không đáng tin cậy; qua Chúa Jesus Christ là con đường duy nhất dẫn đến chân lý và sự sống vĩnh hằng. Bạn có thể bao gồm các câu Kinh Thánh GiGa 4:23 và 14:6; MaMl 3:6; Gia Gc 1:17; HeDt 11:6.
17. Mat Mt 5:44. Lấy thiện trả ác, con người được Thánh Linh giúp đỡ để duy trì lý tưởng nầy.
18. 10:39; RoRm 12:21; ITi1Tm 6:6. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm các ý tưởng sau: Sự thỏa lòng chỉ được tìm thấy trong sự thông biết Đấng Christ, nhưng nó không phải là sự lười biếng hay sự yếu đuối tiêu cực. Cơ Đốc Nhân có sự an nghỉ trong Đấng Christ, nhưng vẫn đối diện với những thực tại của cuộc sống.
19. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm những ý tưởng sau: Đạo giáo bảo rằng thiện và ác do các sức mạnh âm và dương trong thiên nhiên gây ra. Hòa bình xảy ra khi các sức mạnh nầy hòa hợp. Quan niệm nầy chưa đi xa đủ. Cho dầu luôn luôn có sự thiện và sự ác, Đức Chúa Trời đã ban cho tạo vật của Ngài quyền lựa chọn. Sự sống và sự hòa hợp tùy thuộc nơi sự lựa chọn của con người. GiGa 5:40; SaSt 2:17 và Gios Gs 25:15.
20. Đạo giáo đã tìm sự trường sinh bằng môt phương tiện để đạt được sự bất tử. Chỉ ở trong Đấng Christ mới có sự sống đời đời. Mat Mt 19:29; GiGa 3:16

Giải Đáp Câu Hỏi Của Bài Học
1. Khổng Phu Tử , tức Thầy Khổng.
2. a. Thế kỷ thứ sáu trước công nguyên.
b. Lão Tử, Phật Thích Ca và giáo chủ Mahavira
3. a. Đúng.
b. Sai.
c. Sai.
d. Đúng.
4. a. Chúng ta cần làm bổn phận của mình đối với người sống trước khi chúng ta làm bổn phận của mình đối với các linh của người chết.
b. Ông thấy điều đó làm cho người ta bỏ qua sự an sinh của con người.
c. Luật đạo đức.
5. a. 2) Nhân.
b. 1) Lý.
c. 1) Lý.
d. 1) Lý.
e. 2) Nhân.
f. 2) Nhân.
6. a. Đúng.
b. Sai. Đó là xã hõi phong kiến trong thời của ông.
c. Sai. Đạo làm con đã tồn tại trước Khổng Phu Tử.
d. Sai. Đó là một người ngay thẳng và hành động thanh nhã.
e. Sai. Đó là học thuyết về việc không làm điều gì quá đáng.
7. a. Các văn kiện thời cổ.
b. Ngũ Kinh.
c. Sách Luận Ngữ do Khổng Tử viết ra.
d. Mình không biết người khác
8. a. Chính Mạnh Tử.
b. Ông thấyrằng sự thiếu lòng tốt là do môi trường sống.
c. Ông thấy rằng mọi người đều xấu và có thể nhờ việc đào luyện mà trở thành tốt.
d. Từ triều đại nhà Tống cho đến khi nền Cộng Hòa được thành lập vào năm 1912.
e. Vào lúc thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.
9. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm năm điểm trong số sáu điểm của mục những Điểm Mạnh Của Khổng Giáo.
10. Câu trả lời của bạn phải bao gồm năm điểm trong số bảy điểm của mục Những Điểm Yếu Của Khổng Giáo .
11. Khổng Phu Tử nhìn nhận tình huynh đệ của con người và tin rằng mối liên hệ tốt giữa con người với nhau phải đến từ lòng yêu thương, lòng tốt, và sự tự bỏ mình. Điều nầy phù hợp với sự dạy dỗ của Cơ Đốc giáo trong GiGa 4:19, Eph Ep 4:32 và IGi1Ga 3:23. Tuy nhiên, Khổng giáo đã thiếu sót nguồn của tình yêu thương. Như đã trình bày trong RoRm 5:5, sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, bởi Thánh Linh Ngài mà tuôn đổ vào lòng chúng ta.
12. a. Không có phương tiện nào từ bên ngoài để giúp đỡ việc duy trì nó.
b. Bằng lời lẽ riêng của bạn, câu trả lời của bạn có thể như sau :Theo cách của Cơ Đốc Giáo là phải đối xử với mọi người (bạn cũng như thù) theo như mình muốn được đối xử (Mat Mt 7:12).
c. Qua sự giúp đỡ mà Chúa Jesus đã ban cho, với quyền phép của Đức Thánh Linh ở trong sự giúp đỡ đó.
13. Ngài đòi hỏi sự tận hiến phải ở trên sự tận tụy đúng dành cho cha mẹ. Nếu cha mẹ ngăn cản một người đi theo Chúa, thì người đó phải đặt sự lựa chọn Đấng Christ ở trên sự lựa chọn cha mẹ.
14. a. Mọi người đều là tội nhân : Bạn có thể trích dẫn RoRm 3:10; 3:23 hay Gie Gr 17:9.
b. Thánh Kinh đề ra cho chúng ta Chúa Jesus, Đấng có thể ban cho con người sự sống dư dật.
Giải Đáp Câu Hỏi Của Bài Học
1. Đến từ Phạn ngữ có nghĩa là “quang minh” hay “giác ngộ”.
2. Câu trả lời của bạn có thể là: Sự đau khổ là phổ thông cho mọi người, nhưng theo niềm tin của Phật giáo, một người có thể tránh khỏi nó bằng việc tự thanh tẩy và đi vào trạng thái niết bàn.
3. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai. Ông sinh ra trong giai cấp Kshatriya, tức giai cấp chiến sĩ.
d. Đúng
4. Chọn trong danh sách nầy: Trung Hoa, Sri Lanka, Tây Tạng, Thái Lan, Cam Bốt, Đại Hàn,
5. Câu trả lời của bạn nên bao gồm: Phật giáo Đại Thừa (Mahayama Buddhism) được các Phật tử ở phía bắc đi theo. Phật giáo Tiểu Thừa (Hinayana Buddhism) được các Phật Tử ở phía Nam Ấn độ và vùng Đông Nam Á đi theo.Nhật Bản.
6. a. Sai. Ông chấp nhận Karma và sự luân hồi.
b. Sai. Giữa sự tu hành và sự dễ dãi chính mình.
c. Sai. Ông chống lại hệ thống giai cấp.
d. Đúng.
e. Đúng.
7. a. 1) Nhà sư.
b. 1) Nhà sư.
c. 2) La Hán.
d. 2) La Hán.
e. 3) Bồ Tát.
f. 4) Tăng già.
g. 4) Tăng già.
8. a. 1) Mọi đời sống là khổ (dukka), 2) Khổ đau gây ra do lòng dục (tanha), 3) Phương pháp cứu chữa là diệt dục,4) Phương cách diệt dục là làm theo Bát Chánh Đạo.
b. 1) Chánh kiến ( tin đúng),2) Chánh Tư Duy ( Dự định đúng),3) Chánh ngữ ( nói năng đúng),4)Chánh nghiệp ( hành vi đúng), 6) Chánh Tinh Tấn (cần mẫn đúng mức), 7) Chánh Niệm (lưu tâm đúng mức),8) Chánh định (suy tư đúng)
9. Chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ phạm tội tà dâm, chớ nói dối.
10. Ý thức. Nó truyền từ đời sống nầy sang đời sống khác như một ngọn lửa truyền từ cây đèn nầy sang cây đèn khác.
11. Một trạng thái vui mừng và thanh thản, tự đạt được bằng cách tuân theo một danh sách các qui luật đạo đức và luân lý.
12. Vì nó có nghĩa là dập tắt, như một ngọn lửa, nó tiêu biểu sự chấm dứt dục vọng và khổ đau; do đó nó thích hợp với sự dạy dỗ của Phật giáo.
13. a. Nó có nghĩa là Ba giỏ, nguyên nghĩa chỉ đến ba giỏ đựng lá kè (bối diệp) mà các lời dạy dỗ được viết trên các lá đó.
b. Độ lớn khoảng mười một lần độ lớn của Thánh Kinh Cơ Đốc giáo.
c. Câu trả lời của bạn.
14. a. Vì công tác của ông là làm cho Phật giáo thành một tôn giáo thế giới. Ông đã viết nhiều lẽ thật của đạo Phật giáo trên các vách đá khắp trong nước, sai phái nhiều giáo sĩ và xây dựng nhiều bệnh viện.
b. Họ phái các đại biểu đi từ Trung Hoa đến Ấn độ để thăm dò những nơi thờ phượng và các sự dạy dỗ của Đức Phật.
15. Tất cả các câu đều đúng.
16. a. Vào năm 1949.
b. Họ cố gắng chỉ ra một số mục đích chung.
c. 1) Mục đích của Phật giáo hướng về thuộc linh còn mục đích của chủ nghĩa Mác Xít hướng về vật chất. 2) Người Mác Xít sử dụng sự an ninh mà người Phật giáo tin là sai trật. 3) Người Mác Xít đè nén ý chí của con người còn người Phật giáo kêu gọi ý chí tự do và lý lẽ.
17. Câu trả lời của bạn nên gồm năm điều trong bảy điều được liệt kê ở mục Những Điểm Mạnh Của Phật Giáo và năm điểm trong mười điểm được liệt kê ở mục Những Điểm Yếu Của Phật Giáo .
18. Câu trả lời của bạn có thể tương tự như vầy: Người Cơ Đốc tin sự cùng đích là Đức Chúa Trời; người Phật Tử tin đó là Niết Bàn. Người Cơ Đốc biết rằng Chúa Jesus đã sai Đức Thánh Linh đến để giúp đỡ mình đắc thắng điều ác trong khi còn sống ở thế gian nầy và tin rằng mình có quyền phép của Đức Chúa Trời để nâng đỡ mình trải qua sự đau khổ. Người Cơ Đốc không tránh né sự đau khổ một cách thụ động hay tìm cách trốn khỏi nó qua việc đạt tới niết bàn như người Phật giáo.
19. Câu trả lời của bạn có thể tương tự như vầy: Người phật giáo có những luân lý tốt về việc lấy thiện thắng ác. Họ tin nơi công lý và họ tin rằng ai gieo gì thì gặt nấy. Tuy nhiên, họ cố gắng hoàn thành điều nầy bằng sức riêng của họ mà sức riêng đó thì không có đủ. Người Cơ đốc có sự hiện diện của Đức Thánh Linh để giúp họ thắng hơn điều ác. Đức Phật nói rằng dục vọng gây ra khổ đau do đó cần phải diệt dục. Chúa Jêsus chấp nhận sự khổ đau và Ngài bảo chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta trong sự đau khổ. Sự than thản ( bình an) đến với chúng ta bằng thập tự giá.
20. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm: Đức Phật tin rằng sự cứu rỗi được tự hoàn thành bằng sự suy tư, mà sự suy tư đó đem lại tự do khỏi mọi khổ đau của dục vọng. Sự cứu rỗi không đòi hỏi sinh tế, không cần đóng đinh bản ngã. Cơ Đốc Nhân biết rằng tội lỗi, chớ không phải dục vọng là căn nguyên của sự khốn khổ. Chỉ có sự chết hy sinh của Đấng Christ trên thập tự giá đã trả giá cho sự cứu chuộc khỏi tội lỗi. Người Cơ đốc bước vào sự cứu rỗi của Đấng Christ, rồi sau đó đi ra trong tình yêu thương đối với người khác. Người Phật Giáo vẫn giữ sự cách biệt với người khác qua sự suy tư với những tư tưởng thiện chí đối với người khác, nhưng không bao giờ họ ra đi để tiếp xúc với người khác trong tình yêu thương.
Giải Đáp Câu Hỏi Của Bài Học
1. a. Đúng .
b. Sai. Nó có nghĩa là “con đường của các thần”.
c. Đúng.
2. a. Một loại đa thần giáo thuở xưa mà nó nằm sát biên giới phiếm thần giáo. Người ta thờ lạy các hữu thể tối cao, từ linh các tổ tiên đến các vị anh hùng và các linh trong thiên nhiên; từ nữ thần mặt trời đến thần lương thực.
b. Torii, tức là “Tổ chim”, bao gồm hai thanh cây dựng đứng và một thanh khác gác ngang hai đỉnh của chúng, bên dưới có một cây đòn tay nằm ngang.
c. Trên trang thờ, có một Torii và một chiếc gương thiêng tượng trưng cho vẻ đẹp bên trong của lòng người.
d. Thần giáo không có người sáng lập, theo như chúng ta thấy trong các sách vở ghi chép của chúng.
3. a. Bằng lời lẽ riêng của bạn: Một người sẽ kết luận rằng không có Sa tan, chẳng có địa ngục hay thiên đàng nào cả, và do đó, không cần sự cứu rỗi.
b. Bạn có thể nói rằng người ta cho rằng cả Kami và Thượng Đế đều có thần tính nhưng không có sự tương giao cá nhân giữa con người và Kami.
c. Bạn có thể nhắc đến Thái Dương Thần Nữ (Amaterasu Omikami), thần mặt trăng, các thần tinh tú và nữ thần Sương mù.
d. Người Thần giáo đề cập đến tám trăm vạn thần. Có thần tốt, có thần xấu; có vị giúp đỡ, có vị làm hại; họ biết khóc, biết hủy phá; có một số được sinh ra, kết hôn rồi chết hoặc cũng có những kinh nghiệm hoạt động và cảm xúc khác nhau giống như loài người.
4. a. Trở về với lịch sử ban đầu của nó. Người ta cho rằng vị Mikado đã đến từ nữ thần mặt trời, Amaterasu; bà đã sai một con cháu của mình là Jimmu Tenno đến cai trị trái đất, ông là vị Mikado đầu tiên.
b. Sau cuộc chiếm đóng của quân đội đồng minh vào năm 1944, vị Mikado (Thiên Hoàng) đã gát bỏ thần quyền của mình.
5. a. Đền chùa thiêng liêng nhất là Đại Đền ise nằm trên bờ biển đông nam của thành phố Kyoto, thủ đô cổ thời của Nhật Bản.
b. Người Thần giáo đi ngang qua cổng Torii, tức nhịp cầu nối liền trời và đất. Sự thờ phượng có tính cách cá nhân chớ không có tính cách hội chúng và bao gồm việc cúi lạy, quì gối, rung chuông hay gõ chiêng và dâng cúng lễ vật. Khi đã xong công việc mộ đạo của mình, họ cúi lạy một cách biết ơn, cúng một ít tiền vào hộp đựng tiền, cúi lạy lần nữa rồi ra về với vẻ tươi tắn.
6. Các lễ hội của họ liên kết với các mùa gieo và gặt. Có những ngày lễ: mùa gieo, khi cây đã đâm chồi, lễ Bông Trái đầu mùa, lễ hương lúa mới và lễ trăng non.
7. “Sự thanh sạch đứng kế sau sự ngoan đạo”.
8. a. Kinh Kojiki, tức là các Văn Kiện Thời Cổ và Kinh Nihongi, tức là Niên Đại Ký của Nhật Bản.
b. Khi Phật giao thách thức hệ thống nầy, người ta cảm thấy có nhu cầu phải tạo ra Kinh sách riêng của mình.
c. Lịch sử và truyền thống của Thần giáo thời cổ hơn là các giáo thuyết.
d. Sai. Nó được công nhận vào khoảng năm 552 S.C, khi đó Phật giáo đang thâm nhập vào Nhật Bản.
e. Đúng.
9. a 5) Thời kỳ giáo phái chủ nghĩa.
b. 1) Thờikỳ Tối Thượng của Thần giáo.
c. 2) Thời kỳ Phật giáo.
d. 3) Thời kỳ Hỗn Thành.
e. 4) Thời kỳ Phục hưng của Thần giáo.
10. Thần giáo quốc gia đã bị tiêu hủy do sự chiếm đóng của quân đội đồng minh vào năm 1944. Vào ngày Tết Dương Lịch năm 1945. Nhật Hoàng Hirohito đã ra một sắc lệnh trong đó ông gạt bỏ uy quyền thần thánh của mình và niềm tin nơi cương vị tối cao của nhân dân Nhật Bản.
11. Câu trả lời của bạn nên nằm trong danh sách đã liệt kê ở mục Những Điểm Mạnh Của Thần Giáo và năm điểm trong số tám điểm ở mục Những Điểm Yếu Của Thần Giáo .
12. Câu trả lời của bạn nên bao gồm việc những người thần giáo nói rằng con người không có tội lỗi, vì vậy họ không cần sự cứu rỗi. Thánh Kinh nói rằng chẳng có một người công bình nào cả, vì mọi người đều đã phạm tội và Kinh Thánh tuyên bố rằng Đấng Christ đã chết để cất tội lỗi đi.
13. Câu trả lời của bạn nên bao gồm: Thần giáo cho rằng Kami là hữu thể tối cao, có hàng ngàn các vị tiểu thần, có vị tốt, có vị xấu; có vị làm ích, có vị làm hại. Cơ Đốc Nhân biết Đức Chúa Trời như là Thiên Phụ từ ái, đầy quyền năng, Ngài hoàn toàn tốt và không thể làm điều chi xấu; và biết rằng Đấng Christ đã trở thành người, là Đức Chúa Trời tỏ chính mình Ngài ra cho con người.
14. Câu trả lời của bạn nên bao gồm những lời tương tự sau: Thần giáo tin rằng hoàng đế là thần linh. Còn Cơ Đốc Nhân biết rằng Chúa Jesus đã bày tỏ thần tính của Ngài qua sự Phục sinh và chỉ có Ngài là có mọi quyền năng và có quyền tha tội, chỉ có Ngài mới là Đấng Tạo Hóa vĩnh hằng.
15. Câu trả lời của bạn nên bao gồm: Thần giáo có một trăm ngàn đền chùa và họ có các nghi lễ và lễ hội trong tất cả các mùa. Người Cơ Đốc giáo tổ chức kỷ niệm ngày giáng sinh và phục sinh của Đấng Christ, nhưng trọng tâm không phải là lễ hội mà là sự thờ phượng Cứu Chúa Jesus Christ. Đức Chúa Trời không thể bị chứa đựng trong một công trình xây cất của con người.

Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học
1. Chữ Do Thái đến từ tên Giu-đa; Do Thái giáo là hệ thống và các niềm tin của người Do Thái.
2. a. 4) U-rơ.
b. 1) Sê-mít.
c. 2) ha-bi-ru.
d. 5) Giu-đa.
e. 3) Y-sơ-ra-ên.
3. Vì sự thờ hình tượng và sự gian ác trong khu vực đó.
4. Câu trả lời của bạn nên bao gồm ít nhất bốn điều trong số các điều sau: 1) Phước hạnh lớn ban cho tuyển dân. 2) Mọi dân tộc chúc phước cho họ sẽ được chúc phước. 3) Ai rủa sả họ sẽ bị rủa sả 4) Một xứ được hứa ban cho dân nầy. 5) Một giao ước lập giữa Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham. 6) Sự ứng nghiệm nơi Đấng Mê-si.
5. a. Vì dân Hyksos đang cai trị là bà con với dân Y-sơ-ra-ên.
b. Ông được nổi tiếng vì các tác phẩm đã được công bố ra của mình.
c Ông đã giết chết một người Ai cập.
d. Khi thiên sứ sự chết vượt qua và dân Y-sơ-ra-ên được tự do ra khỏi Ai cập.
e. Một nơi gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và dân sự.
6. a. 2) Giu-đa.
b. 1) Y-sơ-ra-ên.
c. 7) Người La mã.
d. 3) Ap-ra-ham.
e. 4) Môi se.
f. 1) Y-sơ-ra-ên.
g. 6) Nê-hê-mi.
h. 5) Giô-suê.
7. Ngài đến để lập một vương quốc thuộc linh chớ không phải một vương quốc chính trị. Hậu quả là việc hủy phá thành Giê-ru-sa-lemvào năm 70 S.C.
8. a. 5) Giê-hô-va Ra pha.
b. 4) YHWH.
c. 3) Bên tên.
d. 1) El-Shaddai.
e. 2) Ellohim.
f. 2) Ellohim.
g. 6) Giê hô va Di rê.
9. Hãy kiểm tra câu trả lời của bạn với mười điều răn đã ghi trong bài học.
10. a. 623
b. Luật đao đức, luật nghi lễ và luật dân sự.
c. Vì họ gắn chặt với sách Torah (luật pháp).
d. Maimonnides là một ra-bi được sinh ra tại Tây Ban Nha, bị đày sang Ai-cập, ở đó ông đã thành lập thành bộ luật pháp của người Do Thái gồm mười ba điểm.
11. a. Đúng .
b. Sai, nó do các thầy tế lễ thực hiện.
c. Sai, đền thờ đó do Sa-lô-môn xây cất và đã bị Nê-bu-cát-nết-sa phá hủy.
d. Đúng.
e. Sai, nó là tàn tích cuối cùng của đền thờ nguyên thủy.
f. Sai, nó không có quyền kết án tử hình.
12. a. 4) Sa-đu-sê.
b. 3) Ra-bi.
c. 2) Thầy Tế Lễ.
d. 5) Pha-ri-si.
e. 1) Tiên tri.
13. Sự ăn năn và đức tin nơi Đức Chúa Trời.
14. a. 6) Lễ Yom Kippur.
b. 7) Lễ Rosh Hashanah.
c. 3) Baz Mitzvah.
d. 1) Hộp kinh.
e. 2) Phép cắt bì.
f. 5) Lễ Vượt Qua.
g. 4) Lễ Hanrukah.
15. a đến d đều đúng.
16. a 22
b. Luật pháp, tiên tri và văn phẩm.
c. Ngũ kinh, tức năm sách.
d. Năm sách trong nhóm luật pháp (ngũ kinh), tám sách trong nhóm tiên tri và mười một sách trong nhóm văn phẩm.
e Luật pháp và truyền thống khẩu truyền của người Do Thái.
f. Phần Mishnah gồm các lời truyền khẩu ban đầu, phần Genurra gồm các lời truyền khẩu sau nầy và các lời thông giải luật pháp.
17. Câu trả lời của bạn bên bao gồm các câu về sự bắt bớ ở Tây Ban Nha, tại Trung Âu vào thế kỷ thứ mười sáu, tại Ba Lan và tại chế độ Đức quốc xã; và những biến cố dẫn đến quốc gia Y-sơ-ra-ên và sự phát triển của quốc gia đó.
18. 1) Phái chính thống: Theo truyền thống, vâng giữ nghiêm nhặt sách Torah và sách Talmud. 2) Phái cải cách: gồm những người phóng khoáng, không tìm kiếm Đấng Mê-si và tin rằng Y-sơ-ra-ên là một dân tộc của Đấng Mê-si. 3) Phái bảo thủ: bác bỏ một miền đất quê hương của người Do Thái, nhưng giữ theo Torah (luật pháp).
19. Câu trả lời của bạn nên bao gồm ít nhất năm điểm trong số sáu điểm yếu được liệt kê ở mục Những Điểm Yếu Của Do Thái Giáo , và năm điểm trong số chín điểm được liệt kê ở mục Những Điểm Mạnh Của Do Thái Giáo .
20. Câu trả lời của bạn nên tương tự như sau:
a. Chúng ta là tạo vật của Đức Chúa Trời,nhưng được trở nên con cái của Đức Chúa Trời bằng việc tiếp nhận chương trình cứu rỗi của Ngài . “Vì dưới trời nầy chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta nhờ đó mà được cứu” (Cong Cv 4:12).
b. Chúng ta không thể được cứu bằng việc vâng giữ luật pháp, vì con người không thể giữ luật pháp bằng sức riêng của mình. RoRm 3:10 nói rằng mọi người đều đã phạm tội, và câu 24 nói rằng chúng ta được xưng công bình cách nhưng không chỉ nhờ ân điểm của Đức Chúa Trời qua sự cứu chuộc của Chúa Jesus Christ.
c. Vì tội lỗi dân Y sơ ra ên, Đức Chúa Trời đã loại bỏ họ là một quốc gia. Cũng như mọi người khác, họ phải tiếp nhận Đấng Christ một cách cá nhân. “Người Giu đa và thảy đều phục dưới quyền của tội lỗi.” (RoRm 3:9)
d. Con người được tạo dựng với sự thiện lành, nhưng vì bất tuân phục Đức Chúa Trời, họ đã đem tội lỗi vào thế gian. Giờ đây, lời Đức Chúa Trời nói rằng chẳng có một người công bình nào hết (RoRm 3:23) và sinh tế toàn vẹn duy nhất đã được Chúa Jesus thực hiện làm trọn vẹn cho những người đã được nên thánh (HeDt 10:14).
e. Chúa Jesus đã nói rằng mục đích của Ngài đến thế gian là chịu chết vì tội lỗi của nhân loại. (GiGa 12:27)

Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học
1. Chữ Hồi giáo (Islam) có nghĩa là “Đầu phục” hay “Phục tùng”. Người Hồi giáo (Muslims) là tín đồ của Hồi giáo. Allah có nghĩa là “Chân Thần” (hay Thượng Đế thật)
2. 1) Mecca nằm ở giao lộ của các đường giao thương của các đoàn lái buôn. 2) Đó là chỗ thờ phượng các thần ngoại giáo và một thiên thạch. 3) Người ta hành hương đến đó để thờ lạy các thần.
3. Tất cả các câu đều đúng.
4. 1) Dân chúng đã sẵn sàng cho những cuộc cải cách chính trị và tôn giáo 2) Một số người qui đạo do áp lực của lưỡi gươm. 3) Nhiều cuộc huấn luyện do các người lãnh đạo mạnh mẽ. 4) Gần đây, Hồi giáo được nhiều lợi tức do việc khám phá ra dầu hỏa. 15. Bằng lời lẽ riêng của bạn, câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: Hồi giáo xuất hiện vào lúc mà dân chúng ở khu vực nầy đã sẵn sàng cho một sự thay đổi. Sau khi Ma-hô-mét qua đời, Hồi giáo đã trở thành một lực lượng quân sự và đã chinh phục những vùng rộng lớn của Bắc Phi và Trung Đông bằng lưỡi gươm. Họ xâm lăng Tây Ban nha và đã chinh phục vùng đó, nhưng họ đã bị chận đứng tại trận chiến Tours trên đường tiến vào Châu Âu. Sau thế kỷ thứ mười hai , họ tiến về vùng Viễn Đông và Quần đảo Thái Bình Dương . Vào năm 1453, họ chinh phục đế quốc Byzantin.
5. 1) Xưng nhận đức tin đặt nơi Allah. Các tiên tri được nhìn nhận, nhưng phải công khai xưng nhận Allah là một Thượng Đế chân thật. 2) Mỗi ngày cầu nguyện năm lần. Có thể cầu nguyện riêng ở bất cứ nơi đâu và được xem là một bổn phận. Sự cầu nguyện công cộng được hiệu triệu vào những giờ nhất định và được thực hiện theo một nghi thức nhất định. 3) Việc bố thí: Mỗi người Hồi giáo phải dâng từ 2,5 phần trăm đến 10 phần trăm lợi tức của mình cho công tác bác ái hoặc cho nhà thờ. Người ta cũng có thể ban phát các tặng phẩm tự nguyện khác. 4) Kỳ kiêng ăn Ramadan. Trong tháng trăng thứ chín, mỗi người thành nhân phải kiêng ăn trong những giờ ban ngày. 5) Hành hương đến Mecca. Mỗi người nam có thể cố gắng được thì phải đến Mecca một lần trong đời vào tháng hành hương. Phải tuân theo những nghi lễ nhất định và sau đó họ có thể thêm tước hiệu hajj vào tên của mình.
6. a. Vào lúc rạng đông, lúc giữa trưa, lúc ban chiều, lúc hoàng hôn và lúc đêm khuya.
b. Đó là một người hiệu triệu cầu nguyện.
c. Thứ sáu là ngày thờ phượng của người Hồi giáo, thứ bảy là ngày thờ phượng của người Do Thái và Chủ Nhật là ngày thờ phượng của người Cơ Đốc.
7. Allah là hữu thể tối cao duy nhất, hoàn toàn, vĩnh hằng, toàn tri, toàn năng và không thể phân chia được.
8. Jinn được mô tả là một tà linh, nửa người nửa thiên sứ. Iblis là thủ lãnh của các Jinn và là một thiên sứ sa ngã. Shari’a là luật pháp, tức là con đường được biết rõ.
9. Giáo lý nầy được dựa trên cơ sơ quyền tể trị tối cao của Thượng Đế, Ngài làm mọi sự theo ý muốn độc đoán của mình. Hậu quả là nó dẫn đến thuyết định mệnh. 20. Bằng lời lẽ riêng của bạn, câu trả lời của bạn nên tương tự với những câu trả lời đưa ra ở đây.
a. Sự yêu thương là bản tính trọng tâm của Đức Chúa Trời. Chúng ta yêu Đức Chúa Trời vì Ngài yêu chúng ta trước. Bằng sự lựa chọn, chúng ta là con cái của Ngài và chúng ta có quyền gọi Ngài là Cha của chúng ta.
b. Hồi giáo đồng ý rằng Chúa Jesus được sinh ra bởi nữ đồng trinh, nhưng họ không công nhận Ngài là Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nhận rằng Ngài có một sự ra đời lạ lùng và đã thăng thiên về trời thì người ta phải công nhận những lời tuyên bố khác của Ngài nếu không thì tất cả đều chỉ là sự lừa dối.
c. Hậu quả của nó là đưa đến một thuyết định mệnh cực đoan, làm cho con người thành một con người máy.
d. Điều đó chứng tỏ rằng nó không được sự soi dẫn thiên thượng vì Đức Chúa Trời không thể có sự mâu thuẫn .
e. Làm sao một người có thể biết rằng khi nào thì việc làm của mình đem lại cho mình sự cứu rỗi? Làm việc với một tấm lòng gian ác thì không tạo ra công đức. Việc lành phải là kết quả của lòng yêu thương và là niềm vui của sự cứu rỗi chớ không phải là một phương tiện để đạt được sự cứu rỗi.
10. Tại vì: Theo người Hồi giáo, sự cứu rỗi có được là nhờ việc làm. Người ta chỉ có thể hy vọng được cứu rỗi thôi bởi vì tương lai của một người đều hoàn toàn ở trong bàn tay của Thượng Đế.
11. Vào lúc cuối cùng, sẽ có sự sống lại, người lành sẽ được thưởng, kẻ ác sẽ bị bỏ vào địa ngục.
12. a. 5) Giê-ru-sa-lem.
b. 1) Kaaba.
c. 4) Đền thờ Hồi giáo.
d. 3) Caliph.
e. 2) Imam.
13. a. Cô-ran (Quran ) có nghĩa là “thuật lại”.
b. Do Ali biên soạn ngay sau khi Ma-hô-mét qua đời.
c. Các chương gọi là Sura .
d. Có 114 sura (chương).
e. Thánh Kinh Tân Ước.
14. a. Lúc đầu người Hồi giáo phải cầu nguyện hướng về Giê-ru-sa-lem, sau đó lại hướng mặt về Mecca.
b. Kinh Cô-ran nói rằng Ha-man làm việc cho Pha-ra-ôn.
16. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai.
d. Đúng.
e. Sai.
f. Đúng
17. Câu trả lời của bạn nên tương tự như sau: 1) Vị Bahai thứ nhất tự coi mình là Bab hay cánh cửa, người thứ nhì tự xưng mình là Đấng được trông đợi. 2) Ông tin và dạy rằng mọi đức tin đều có những điểm chung và đề xướng sự hiệp nhất tôn giáo. 3) Giáo phái nầy đã lan rộng khắp thế giới.
18. Câu trả lời của bạn nên tương tự như sau: 1) Vì Giê-ru-sa-lem do quốc gia của nhóm phong trào Si-ôn cai trị, 2) Người thuộc phong trào Si-ôn trục xuất người Ả-rập ra khỏi xứ Pa-lét-tin 3) Các quốc gia theo Cơ Đốc giáo ủng hộ phong trào Si-ôn. 4) Những người thuộc phong trào Si-ôn liên minh với Hoa kỳ -- cái được gọi là quỷ dữ (Sa-tan).
19. Câu trả lời của bạn nên liệt kê ít nhất năm điểm trong số sáu điểm mạnh được liệt kê ở mục Những Điểm Mạnh Của Hồi Giáo và ít nhất năm điểm trong số chín điểm yếu được liệt kê ở mục Những Điểm Yếu Của Hồi Giáo .
Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học
1. Christ là chữ Hi-lạp để chỉ về “Mê-si” nghĩa là “được xức dầu”. Jesus xuất phát từ danh hiệu “Giô suê” của tiếng Hê-bơ-rơ; Pax Romana nghĩa là “nền hòa bình của La mã”.
2. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
f. Sai, Hê rốt và vua cai trị xứ Pa-lét-tin.
g. Đúng.
3. T.C. nghĩa là “trước Chúa”; S.C nghĩa là “sau Chúa”; Em ma nu ên nghĩa là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”.
4. a. Sự giáng sinh của Ngài đã chia đôi dòng lịch sử. Tất cả những lịch sử xảy ra trước khi Chúa giáng sinh đều được đặc là “trước Chúa” (T.C) và tất cả những điều xảy ra sau đó được đặt là “sau Chúa (S.C).
b. Giô sép thuộc chi phái Giu đa và mọi người thuộc chi phái đó phải về bết lê hem khai sổ theo lịnh kiểm tra dân số của La mã.
5. a. Sai. Các thiên sứ hát cho các gã chăn chiên.
b. Sai. Cha mẹ của Chúa Jesus đã sống tại Na-xa-rét.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
6. Vì Giăng đã nhắc đến ba kỳ lễ Vượt qua trong chức vụ của Chúa Jesus.
7. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Sai. Chúa Jesus không xách động quần chúng.
e. Đúng.
8. a. Họ gán cho Ngài tội xúi giục nổi loạn chống lại La mã. Để kết án tử hình Ngài mà chỉ có La mã mới được ra quyết đó.
b. Ngài tự xưng mình là Con Đức Chúa Trời.
c. Vào dịp lễ Vượt Qua.
d. Trên một ngọn đồi ở bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem được gọi là Calvary (núi Sọ), đó là chữ La tinh để gọi :cái sọ người”; trong tiếng A-ram, chữ Gô gô tha cũng có nghĩa là “cái sọ người”.
e. Ma ri, các môn đồ, và năm trăm người vào một lần khác.
9. a. 5) Bốn mươi ngày.
b. 6) Lễ Ngũ Tuần.
c. 7) Phao lô.
d. 4) Phao lô và Phi e rơ.
e. 3) An ti ốt.
f. 2) Ecclesia (Hội Thánh).
g. 1) Báp tem bằng Thánh Linh.
10. Các sách Phúc âm trình bày Chúa Jesus như là vị vua được Đức Chúa Trời sai phái (LuLc 1:32-33) và những sự dạy dỗ của Ngài cho thấy ước ao của Ngài là được làm vua trong tấm lòng của con người.
11. a. Mat Mt 5:22, 28: Động cơ trong lòng được xem như là hành động.
b. 5:46: Hãy yêu kẻ thù nghịch mình.
c. 6:1-6: Đừng khoác vẻ tin kính, đừng làm kẻ giả hình.
d. 6:28: Sự sống quan trọng hơn đồ vật.
e. 7:3: Đừng xét đoán ai mà hãy tự xét đoán mình.
f. 7:9-10: Hãy xin Đức Chúa Trời những nhu cầu của mình. Ngài là một người Cha từ ái.
12. Đức Chúa Trời đã tự mặc khải chính mình Ngài trong một Con người là Chúa Jesus Christ.
13. a. Trên quan niệm của người Do Thái về Đức Chúa Trời trong kinh Cựu Ước.
b. Khi Ngài phán cùng người đàn bà Sa-ma-ri và cùng thầy tế lễ thượng phẩm khi Ngài bị xét xử.
c. Những gì Ngài đã làm, những gì Ngài đã nói và những gì có ở nơi Ngài.
d. “Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”.
14. Có một Đức Chúa Trời được tỏ ra trong ba thân vị, biểu lộ sự hiệp nhất trong Ba Ngôi.
15. a. Vì các giáo lý sai lạc đã xâm nhập vào Hội Thánh.
b. Bản tín điều các sứ đồ, bản tín điều Nicene và bản tín điều Chalcedon.
16. e) Nó bao gồm a) Không công bình. c) Phản nghịch cùng luật pháp Đức Chúa Trời d) Thiếu đức tin.
17. a. Sai, Sự chuộc tội (atonement) có nghĩa là được trở thành một với Đức Chúa Trời.
b. Đúng.
c. Đúng.
d. Đúng.
e. Đúng.
18. Ngài đã trở nên tội lỗi vì chúng ta, tội lỗi phải bị hình phạt bằng sự chết.
19. Câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: Người Cơ Đốc tin rằng sự hiện ra của Đấng Christ được chia làm hai giai đoạn: Sự cất lên (hay sự biến hóa của thân thể Đấng Christ trong quyền năng và vinh hiển. Giữa hai biến cố có Cơn Đại Nạn. Sau khi Đấng Christ hiện ra, Sa tan sẽ bị xiềng xích lại và lúc đó vương quốc của Đấng Christ sẽ được thiết lập trên đất trong một ngàn năm, tình trạng của vườn Ê đen sẽ được khôi phục. Sau đó, ma quỷ sẽ bị quăng vào địa ngục và Chúa Jesus sẽ phán xét kẻ ác tại Tòa Lớn và Trắng và dẫn vào trời mới và đất mới.
20. a. Từ lúc đầu chữ “Hội Thánh” chỉ về thân thể của Đấng Christ, sau đó nó bao gồm cả sở xây dựng hay nơi chốn dùng để nhóm họp; rồi sau nữa, nó cũng bao gồm một nhóm nào đó hay một hệ phái.
b. Trước tiên, người đó được sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Sau đó, Hội Thánh nhìn nhận sự kêu gọi đó.
c. Phép báp tem là một sự biểu lộ bên ngoài hay là chứng cớ về công tác thuộc linh bên trong mà một người tái sinh từng trải.
d. Thánh lễ (hay bí tích) là những “hành động thiêng liêng” của Hội Thánh. Giáo hội Tin Lành nhìn nhận lễ Báp tem và lễ Tiệc Thánh.
21. a. Đúng.
b. Sai. Ngài không viết sách nào cả.
c. Đúng.
d. Sai. Đó là tiêu chuẩn để được chấp nhận là Kinh Thánh.
e. Đúng.
f. Sai. Lần đầu nó được viết ra bằng tiếng Hi-lạp rồi sau đó được dịch ra tiếng La tinh.
22. a. IITi 2Tm 3:16 “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình”. Kiểm tra theo phiên bản nào bạn dùng.
b. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm: bằng chứng nội tại: 1) Sự hiệp nhất của Kinh Thánh 2) Các lời tiên tri được ứng nghiệm. 3) Được bảo tồn trong nghịch cảnh. 4) Tính thích hợp của nó. 5) Uy quyền của nó. Bằng chứng ngoại tại: 6) Các khám phá của Khảo Cổ học. 7) Công việc lạ lùng của nó trong đời sống người ta.

23. a. 7) Constantine.
b. 3) Giáo hội La mã Tây Phương.
c. 2) Giáo hội Chính Thống Đông Phương.
d. 5) Constantinople.
e. 4) Martin Luther.
f. 1) John Calvin.
g. 6) John Wesley.
24. a. 3) Thời kỳ Trung cổ.
b. 1) Thời kỳ giáo hội hoàng gia.
c. 5) Phản cải chánh.
d. 4) Các phong trào Cải chánh.
e. 2) Thời kỳ Ám Thế.
25. Câu trả lời của bạn về những điểm mạnh của Cơ Đốc giáo có thể gồm bất cứ năm điểm nào trong mười điểm liệt kê ở mục Những Điểm Mạnh Của Cơ Đốc Giáo . Điểm yếu trong Cơ Đốc giáo là ở sự thất bại của các tín đồ. Điều nầy có thể là một số tín đồ không thực hành những gì họ biết là phải; không thực thi mạng lịnh của Đấng Christ; ỷ lại quá nhiều vào của cải vật chất; hoặc một số người có thể đã phân rẽ về vấn đề giáo lý, về sự thờ phượng hoặc về sự tổ chức.
Giải Đáp Câu Hỏi Trong Bài Học
1. a. 4) Tà thuyết.
b. 5) Dứt phép thông công.
c. 1) Nhóm phái (Cult).
d. 6) Giáo phái.
e. 2) Cơ Đốc giả hiệu.
f. 3) Nhóm phái sùng bái nhân cách
2. a. Đúng.
b. Sai. Người Cơ Đốc phải có thể đưa ra lời giải đáp theo Kinh Thánh và giúp cho người đó nhìn thấy Đấng Christ.
c. Sai. Ba Ngôi là ba thân vị trong yếu tính của Đức Chúa Trời.
d. Sai Chúa Jesus là Đấng Trung Bảo duy nhất.
e. Đúng.
4. Bằng lời lẽ riêng của bạn, câu trả lời của bạn nên bao gồm ít nhất năm mục sau đây: 1) Đời sống của người sáng lập và nhân cách của ông được tôn sùng. 2) Quan niệm về Đức Chúa Trời bị bóp méo. 3) Có những sách hoặc những điều bổ sung khác thêm vào Kinh Thánh và chúng được xem ngang hàng hoặc cao hơn Kinh Thánh. 4) Các nhóm phái cho rằng họ có lẽ thật độc chiếm. 5) Những người lãnh đạo nhóm có thói tục sống vô luân và khả nghi như là phù phép hoặc đa thê. 6) Những người nhóm phái đã nhấn mạnh bất thường về đặc tính riêng của nhóm. 7) Phương tiện cứu rỗi nhờ nỗ lực của con người.
5. a. Đúng.
b. Đúng.
c. Sai. Chỉ có Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời.
d. Sai. Một số vật là của trần gian hoặc thuộc về Sa tan.
e. Sai. Việc lành là không cần thiết và chỉ là một kết quả.
6. a. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm: ông là một người hay mơ mộng, một người lừa bịp và một người đa thê.
b. Có lẽ ông đang đọc ra từ bản Kinh Thánh King James.
c. Năm 1844, vì lừa bịp và đa thê, ông đã bị giết chết.
d. Sách Mornmon, sách Giáo lý và Giao Ước, sách Viên ngọc Vô giá và Kinh Thánh.
e. Vì những sự mâu thuẫn; được viết ra vào năm 428 T.C nhưng lại sử dụng bản dịch King James, nó trưng dẫn các người nói ngôn ngữ của bản dịch King James dầu được cho là đã được viết ra nhiều thế kỷ trước công nguyên; không có loại chữ Ai Hình Tự Cải Cách.
7. a. Họ tin rằng Đức Chúa Trời xưa kia từng làm người và con người có thể trở thành Đức Chúa Trời. Họ giảm giá trị Chúa Jesus, cho rằng Ngài được sinh ra từ Ma-ri và Đức Chúa Trời- A-đam và chính Ngài là người theo chế độ đa thê.
b. Họ tin rằng sự cứu rỗi là nhờ họ chịu phép báp tem bằng nước, họ không tin có địa ngục, con người sẽ không bị hình phạt đời đời nhưng bị tiêu hủy.
8. a. Bằng việc chịu báp tem bởi người đại diện, người chết chưa được cứu sẽ được cứu.
b. Nếu không có địa ngục thì cần gì phải sống cuộc đời lương thiện trong đời nầy.
9. C.T. Russell (1852-1916) và J,Rutherford (1870-1942). Họ cảm thấy mọi hệ phái khác đều sai trật.
3. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm bất cứ năm điểm nào trong số các điểm liệt kê dưới đây. Tôi chỉ kể ra một câu Kinh Thánh nhưng bạn có thể chọn một câu khác. 1) Đức Chúa Trời là Ba Ngôi hiệp một (EsIs 48:16). Đức Chúa Con nói, Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh sai phái (Mat Mt 28:19). 2) Chúa Jesus Christ là Con Thiên Thượng của Đức Chúa Trời (GiGa 1:1, 14) 3) Đức Thánh Linh là Đấng Yên Ủi của chúng ta (GiGa 15:26; 16:8, 13).
4) Mọi người đều phạm tội (RoRm 3:10, 23) 5) Có sự cứu chuộc qua dòng huyết của Chúa Jesus (Eph Ep 1:7) 6) Sự cứu rỗi là nhờ ân điển (GiGa 1:12) 7) Sau khi chết còn có sự phán xét (RoRm 6:23)
10. Phiên bản Kinh Thánh New World Translation của họ và các sách khác của họ.
11.a. Chúa Jesus là một thọ tạo, một vị thần nhưng kém hơn Đức Giê hô va.
b. Sự cứu rỗi là nhờ việc làm, một người không thể biết chắc về sự cứu rỗi hay sự sống đời đời cho đến lúc người ấy từ kẻ chết sống lại.
c. Chúa tái lâm lần thứ nhất vào năm 1874 và sẽ trở lại sau trận Ha-ma-ghê-đôn và sự sống lại của 144.000 chứng nhân.
d. Họ tin linh hồn ngủ vào lúc chết. Họ cũng tin rằng kẻ ác sẽ bị tiêu hủy hòan toàn chớ không bị bỏ vào địa ngục.
12. Câu trả lời của bạn nên bao gồm năm điểm tương tự như sau: 1) Chứng tỏ một thái độ yêu thương 2) Trình bày một lời chứng tích cực và vui vẻ chớ đừng lên án niềm tin của họ. 3) Phải quen thuộc các sự kiện về những tôn giáo khác. 4) Nhấn mạnh đến sự thỏa lòng lớn hơn trong Đấng Christ. 5) Đừng nản lòng, phải biết chắc mục tiêu của bạn là chinh phục các linh hồn về cho Đấng Christ.





Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 27-11-2020 07:50 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách