† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2162|Trả lời: 0

Cơ Đốc Học - Chúa Cứu Thế Trước Khi Sáng Thế

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 30-10-2011 08:50:30 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Cơ Đốc Học
Tác giả: L. Thomas Holdcroft

Chúa Cứu Thế Trước Khi Sáng Thế

Cõi Đời Đời Của Con Đức Chúa Trời
Tiền Hiện Hữu Của Con Đức Chúa Trời
Những Bằng Chứng Về Thần Tánh Của Chúa Giê-xu
Các Thuộc Tánh Của Thần Tính
Các Chức Vụ Và Đặc Quyền Của Đấng Thần Linh
Đồng Nhất Với Thần Linh
Các Danh Hiệu Của Đấng Thần Linh
Mối Quan Hệ Với Ba Ngôi Đức Chúa Trời
Chấp Nhận Sự Thờ Phượng
Sự Xưng Nhận Thần Tính
Lời Làm Chứng Của Các Sứ Đồ
Sự Xác Nhận Giá Trị Qua Đời Sống
Công Việc Của Con Đức Chúa Trời Trong Cõi Quá Khứ Đời Đời

Khi học xong bài này, bạn sẽ
1. Nhận biết được những đặc điểm độc đáo của Chúa Cứu Thế, là kết quả của bản thể đời đời của Ngài.
2. Liệt kê được từ trí nhớ và giải thích bằng các câu Kinh Thánh trưng dẫn tương ứng với chín bằng chứng về thần tính của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
3. Nhận biết các thuộc tánh của thần tính.
4. Nhận ra các quan điểm chính thống và không chính thống về Ba Ngôi Đức Chúa Trời và so sánh giáo lý Ba Ngôi với thần tánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
5. Kinh nghiệm một sự khao khát lớn hơn để tôn cao Chúa Giê-xu trong việc giảng dạy và trong cách cư xử hàng ngày của bạn.
6. Dạy dỗ hoặc rao giảng về những bằng chứng đúng Kinh Thánh về thần tánh của Chúa Cứu Thế.
7. Giúp đỡ những người thành thật đang có những nghi ngờ thắc mắc về Chúa Cứu Thế.

1. Đọc Phần Giới Thiệu trong tập hướng dẫn nghiên cứu này.
2. Đọc Phần Mở Đầu trong sách giáo khoa trang 7-9.
3. Đọc Chương 2 trong sách giáo khoa, trang 22-35 và trang 139.
4. Trong khi đọc phần hướng dẫn học tập có liên quan đến sách giáo khoa, bạn hãy hoàn thành và sửa chữa các bài tập.
5. Làm phần tự trắc nghiệm của bài 1 và kiểm tra lại các câu trả lời của bạn với phần giải đáp được cho.
- ineffable (Không tả xiết): quá mạnh để phô diễn thành lời
- Circumscribing: Vẽ đường ranh: làm dấu các giới hạn, định rõ ranh giới, giới hạn bên trong những phạm vi, vẽ một đường hoặc trang trí bằng hình chung quanh, vòng quanh.
- Protevangelium (Tiền Tin Lành): Lời tiên tri đầu tiên về tin mừng, được hiểu theo nghĩa La-tinh là "tin lành đầu tiên" hoặc "tin mừng". SaSt 3:15 ám chỉ đến lời tiên tri đầu tiên về Chúa Cứu Thế và hướng tới sự cứu chuộc chúng ta qua sự Chết của Ngài trên thập tự giá
- Hiển Thần (Theophany): Sự tỏ bày ban đầu của Đức Chúa Trời đối với con người vào một thời điểm và nơi chốn xác định, thường dưới dạng thuộc thể song bày tỏ các quyền phép siêu nhiên. Ra từ từ ngữ Hi lạp "theos" có nghĩa là "Đức Chúa Trời" và "phaino" có nghĩa là "hiện ra" - Hiển Thần.
- Logos: Ngôi Lời: Được dịch từ Hy văn là chữ "Lời", một thân vị từ thiên thượng đã trở thành nhục thể qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
- Kenosis (tự bỏ mình đi): Sự tự hạ mình như đã được mô tả trong Phi Pl 2:7. Từ kenosis có nguồn gốc từ động từ ekenosen và được dịch là "tự làm cho mình ra không danh tiếng" hay "tự bỏ mình đi". Những khác biệt về mặt thần học tập trung xung quanh vấn đề "Chúa Giê-xu đã lột bỏ khỏi chính Ngài những gì?". Các nhà thần học bảo thủ diễn dịch từ kenosis như là một sự thêm vào nhân tính chứ KHÔNG phải là sự trừ đi của thần tính.
- properties (Thuộc tính): bất cứ các chất lượng hoặc đặc điểm nào cùng nhau tạo thành tính chất hoặc cấu trúc cơ bản của một vật. Một đặc tính của một thân thể dưới các điều kiện được nói rõ, đặc biệt là nhận thức được bởi các giác quan.
orthodox Chánh thống: được đặc trưng bởi sự dạy dỗ phải lẽ của đức tin được chấp nhận chung hoặc đức tin được xác lập, giáo lý đúng và, sự chấp nhận Kinh Thánh như là sự chỉ dẫn vô ngộ và được Đức Chúa Trời hà hơi đối với đức tin và hành vi.
Lưu ý: Giống như hầu hết các học viên khác, có lẽ Bạn thường muốn tra xem các từ khác trong một quyển từ điển. Tôi đề nghị bạn hãy giữ một quyển vở ghi chép để phát triển vốn từ vựng của bạn và ghi chú các ghi nhận khác mà có lẽ bạn muốn ghi lại.
TÍNH ĐỜI ĐỜI CỦA CON ĐỨC CHÚA TRỜI
Walvoord 22-25
Nói đến "Sự đời đời của Đấng Christ" là nêu lên một thuộc tính hoặc một đặc trưng của bổn thể Đấng Christ. Hội Đồng Nicaea (Năm 325 sau Công nguyên) đã khẳng định Hội thánh phải tin rằng "chưa từng có bất luận một thời điểm nào trong quá khứ mà Chúa Giê-xu không hiện hữu". Trong bản thể cơ bản của Đấng Christ không có sự đo lường về thời gian, Ngài vẫn luôn có trong cõi hiện tại của vũ trụ hoặc "hiện nay". Bởi vì Đấng Christ là đời đời, Ngài là hiện tại, và luôn luôn có đầy đủ và trọn vẹn.
Hãy đọc đoạn văn sau đây và viết câu trả lời của bạn
Giả sử bạn vừa được nghe một diễn giả nói chuyện trong nhà thờ. Ông ấy nói về đề tài "Chúa Giê-xu và Nhu cầu của Thế Giới". Trong khi nghe, bạn đã nghe thấy những thuật ngữ mô tả Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, Đấng Thánh, là món quà Yêu Thương của Đức Chúa Trời. Từ những thuật ngữ được dùng ở trên bạn có thể được thuyết phục rằng vị diễn giả tin Chúa Giê-xu Christ thực sự chính là Đức Chúa Trời không? Hãy nêu một lý do cho câu trả lời của bạn.
.................................. ...........................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Những người Do Thái đã nghe Đấng Christ phán "Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta." (GiGa 8:58) rõ ràng đã hiểu rõ ý định của Chúa Cứu Thế khi Ngài dùng những chữ "đã có ta" ("I am"). Bởi vì đối với họ và đối với Ngài cụm từ này ở thì hiện tại, hàm ý Đức Chúa Trời đời đời (Ta là)
2 Những người Do Thái này có lòng tin giống với Arius là kẻ dạy dỗ tà giáo Arian ba trăm năm sau đó như thế nào?
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Những bằng chứng về sự đời đời của Chúa Cứu Thế được tìm thấy ở Cựu ước và Tân ước.
3 Liệt kê bốn câu Kinh Thánh và địa chỉ trưng dẫn khẳng định sự tồn tại đời đời của Đấng Christ. Hãy viết phần Kinh Thánh ám chỉ đến tính đời đời của Ngài.
a. .....................................................................................................................
b. .......................................................................................................................
c. ......................................................................................................................
d. ......................................................................................................................
4 Từ các câu Kinh Thánh bạn đã đọc, liên quan đến tính đời đời của Đấng Christ, bạn hãy viết xuống đây những từ ngữ nào chuyển đạt được lời khẳng quyết mạnh mẽ nhất về sự tồn tại vô hạn mà ngôn ngữ Hy bá có thể diễn tả.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
5 So sánh cụm từ "ban đầu" trong Sáng thế ký với cụm từ mở đầu tương tự trong sách phúc âm Giăng thì cụm từ "ban đầu" của sách Sáng thế ký tương đối thuộc thời gian gần với hiện tại hơn. Sau khi đọc sách giáo khoa bạn có thể giải thích câu nói trên như thế nào?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
SỰ TIỀN HIỆN HỮU CỦA CON ĐỨC CHÚA TRỜI
Walvoord 25-26
Bằng cụm từ "tiền hiện hữu" Walvoord ám chỉ đến sự hiện hữu của Đấng Christ trước khi Ngài giáng sinh ở tại Bết-lê-hem. Một số các nhà văn thích dùng cụm từ "sự tồn tại tiền nhập thể" của Đấng Christ như là một cách diễn đạt chính xác hơn. Trong khi cụm từ "sự đời đời" nói đến bản tánh của Đấng Christ, thì cụm từ "sự tồn tại tiền nhập thể" nói lên những hoạt động và những việc làm Ngài hoàn thành. Rõ ràng là Chúa Cứu Thế đời đời đã hoạt động tích cực tại thiên đàng trước khi Ngài nhập thể, và trong suốt thời gian đó, thỉnh thoảng Ngài cũng đã tỏ chính mình ra cho con người trên đất hoặc hành động vì lợi ích của họ.
6 Arius tin vào sự tồn tại từ trước của Đấng Christ nhưng ông không chấp nhận sự đời đời của Đấng Christ. Bạn hãy giải thích làm thế nào mà ông có được quan điểm đó
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
7 Hãy viết hai câu Kinh Thánh trưng dẫn khẳng định sự tiền hiện hữu của Đấng Christ
a. ...........................................................................................................................
b. ............................................................................................................................
8 Đánh dấu X trước sách nào nhắc đến sự tiền hiện hữu của Đấng Christ nhiều nhất như là một bằng chứng chứng minh thần tánh của Đấng Christ.
...Ma-thi-ơ
...Mác
...Lu-ca
...Giăng
NHỮNG BẰNG CHỨNG VỀ THẦN TÍNH CỦA CHÚA GIÊXU
(Walvoord 27-35)
Mỗi Cơ Đốc Nhân đều phải hiểu rõ và xác quyết tận tường về thần tính của Đức Chúa Giê-xu Christ. Có nhiều tà giáo và sự sùng bái tà thuật phủ nhận thần tính của Đấng Christ, vì thế những người tin Kinh Thánh phải biết rõ các lý cớ đặng làm chứng cho điều mình tin. Sách giáo khoa này đề cập đến phần đầu trong các bằng chứng thông thường chứng minh thần tính của Chúa Giê-xu Christ. Trong phần này chúng tôi sẽ liệt kê tất cả các bằng chứng ấy và trình bày một câu tóm tắt ngắn gọn dưới mỗi bằng chứng.
1. Ngài có các thuộc tánh của thần linh.
2. Ngài giữ chức vụ và thi hành các đặc quyền của Đấng Thần linh.
3. Kinh Thánh hiệp nhất Chúa Giê-xu với Đấng Thần linh.
4. Ngài được ban cho các danh hiệu của Đấng Thần linh.
5. Chúa Giê-xu có mối tương quan bình đẳng với hai thân vị kia của Ba ngôi Đức Chúa Trời.
6. Sự thờ phượng Đức Chúa Trời được ban cho Ngài và được Ngài chấp nhận.
7. Đức Chúa Giê-xu đã xưng nhận Ngài là Thần linh một cách có ý thức.
8. Các sứ đồ đều khẳng quyết thần tánh của Đấng Christ.
9. Đời sống của Đấng Christ chứng thực thần tánh của Ngài.
Các Thuộc Tánh Của Đấng Thần Linh
(Walvoord 27-32, 139)
Đức Chúa Giê-xu Christ có các thuộc tánh của thần linh. Các thuộc tánh được đặt tên và được giải thích gồm có: tính đời đời, tự hữu, toàn năng, toàn tại, toàn tri, bất biến, tối thượng, vinh hiển, chân thật, hằng sống, công bình, thánh khiết, yêu thương.
9 Liên hệ đến sự tự bỏ mình đi (kenosis) của Đấng Christ được chép trong Phi Pl 2:5-8 và lưu ý điều sau đây: "Ngài...đã tự bỏ mình đi...và trở nên giống như loài người". Một số độc giả khẳng định rằng Đấng Christ đã tự bỏ thần tánh của Ngài. Liên hệ đến phần tra cứu từ của bạn và sách giáo khoa trang 139, hãy phản bác lời giả định cho rằng Đấng Christ đã tự bỏ khỏi Ngài thần tánh.
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
10. Hãy viết xuống bên dưới đây địa chỉ và các từ ngữ trích từ các câu Kinh Thánh mà bạn cảm thấy chứng minh rõ ràng nhất cho mỗi thuộc tánh
a. Đời đời- ..............................................................................................................
b. Tự hữu ...............................................................................................................
c. Toàn tại ............................................................................................................
d. Toàn năng- ........................................................................................................
e. Bất biến (không thay đổi)- ................................................................................
f. Tối cao- .............................................................................................................
11. Các từ bên trái dưới đây là các thuộc tánh của Đức Chúa Giê-xu Christ. Hãy ghép chúng cho thích hợp với mỗi từ hoặc cụm từ bên phải bằng cách đặt chỉ số thích hợp trước mỗi thuộc tánh.
...a. Bất biến
...b. Toàn năng
...c. Toàn tri
...d. Toàn tại
...e. Tối cao
1. Quyền phép
2. Uy quyền
3. Tồn tại khắp mọi nơi
4. Sự hiểu biết vô hạn
5. Sự công bình vô hạn
6. Bản chất không thay đổi
Địa Vị Và Các Đặc Quyền Của Thần Linh
Chúa Giê-xu nắm giữ các chức vụ và thi hành các đặc quyền của Đấng Thần linh. Kinh Thánh trình bày Chúa Cứu Thế như là Đấng Tạo Hóa, một địa vị chỉ dành riêng cho Đấng Thần linh "Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời dưới đất...đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật và muôn vật đứng vững trong Ngài" (CoCl 1:16-17; GiGa 1:3, 10; ICo1Cr 8:6; HeDt 1:10; KhKh 3:14) Ngài cũng là Đấng Nâng Đỡ và Bảo Tồn "Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật" (HeDt 1:3).
Khi có cần, Đấng Christ nhập thể hành động để tha tội trong vai trò của Đấng Phán Xét Thánh "Ngài bèn phán cùng người đàn bà rằng:'Tội lỗi ngươi đã được tha rồi'" (LuLc 7:48) "Đức Chúa Giê-xu thấy đức tin của các người đó, thì phán cùng người bại rằng: 'Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha'" (Mat Mt 9:2). Trong các trường hợp đó, Đấng Christ chỉ sử dụng trước vai trò trong tương lai của Ngài là Đấng Phán Xét cả thế gian "Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con" (GiGa 5:22).
Quyền năng khôi phục sự sống cũng được tìm thấy trong Chúa Cứu Thế Giê-xu "Ta là sự sống lại và sự sống: kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi" (11:25). "Cha khiến những kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ thể nào, thì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy" (5:21).
Phương cách duy nhất để vào Thiên đàng là qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, vì Ngài phải là đối tượng của đức tin và sự thờ phượng của loài người. Ngài phán về chính mình như vầy: "Ai tin con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu" (3:34). Tương tự như vậy, Phi-e-rơ đã tuyên bố: "Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác; vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu" (Cong Cv 4:12).
12 Đánh dấu X trước từ hoặc cụm từ nào mô tả các chức vụ nào mà chỉ một mình Đức Chúa Trời mới làm trọn được
...a) Giáo sư
...b) Bảo Tồn muôn vật
...c) Phán Xét thế gian
...d) Diễn giả uyên thâm
...e) Đấng khôi phục Sự Sống
13 Những người phủ nhận thần tánh của Đấng Christ bảo rằng quyền phép và các việc làm của Đấng Christ chỉ là kết quả của sự uỷ thác quyền năng được giao cho Ngài. Bạn hãy đưa ra một lý do được hậu thuẫn bởi lời Kinh Thánh khiến cho sự giả định ấy trở nên lố bịch.
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Đồng Nhất Với Đấng Thần Linh
Những lời tuyên bố trong Cựu ước chỉ về Đức Giê-hô-va được Tân ước trích dẫn và được quy cho Đức Chúa Giê-xu Christ. Trong Cựu ước, chính Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng muôn vật, trong Tân ước Đấng đó chính là Chúa Giê-xu "Vì muôn vật đã được dựng nên...bởi Ngài và vì Ngài..." (CoCl 1:16). Ê-sai đã thuật lại một sự hiện thấy về Đức Giê-hô-va, song Giăng lại giải thích sự hiện thấy đó như một khải tượng về Đức Chúa Giê-xu Christ "Ê-sai nói điều đó, khi thấy sự vinh hiển của Ngài và nói về Ngài" (GiGa 12:41). Trong Cựu ước tiếng kêu trong đồng vắng khuyên giục con người: "Hãy dọn đường cho Chúa (tức là Đức Giê-hô-va)" (EsIs 40:3); còn trong Tân ước tiếng kêu đó chính là Giăng Báp-tít dọn đường cho Chúa Giê-xu (Mat Mt 3:3).
Tác giả sách Thi thiên viết rằng: "Đức Giê-hô-va phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu Ta..." (Thi Tv 110:1). Chúa Giê-xu tỏ rằng Ngài đã nhận câu Kinh Thánh ấy như điều nói về chính mình Ngài "Về Đấng Christ các ngươi nghĩ thế nào?...Vậy vì cớ nào vua Đa-vít được Đức Thánh Linh cảm động gọi Đấng Christ là Chúa?" (Mat Mt 22:42, 43). Trong lúc giảng dạy tại nhà Hội thành Na-xa-rét để khởi sự chức vụ mình, Chúa Giê-xu đã ứng dụng lời tiên tri của Ê-sai cho chính mình Ngài, kể cả lời xưng nhận rằng Ngài đã đến để rịt lành những kẻ vỡ lòng để truyền tin lành cho kẻ bị tù, kẻ hà hiếp được tự do" (LuLc 4:18; EsIs 61:1-2). Chúa Giê-xu đã phán rằng: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó" (LuLc 4:21).
14 Nêu lên hai ví dụ nơi những điều ám chỉ đến Đức Chúa Trời trong Cựu ước được áp dụng cho Đức Chúa Giê-xu trong Tân ước
a..............................................................................................................................
b..............................................................................................................................
Các Danh Hiệu Thiên Thượng
15. Viết bên cạnh mỗi danh hiệu của Đức Chúa Trời một cụm từ có liên quan đến danh hiệu ấy.
Tâm trí chi phối
Một mối quan hệ đời đời với Đức Chúa Con
Đức Giê-hô-va
a. Con Đức Chúa Trời ............................................................................................
b. Ngôi Lời............................................................................................................
Mối Liên Hệ Với Đức Chúa Trời Ba Ngôi
(Walvoord 32)
Kinh Thánh mô tả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con được liên kết lại với nhau bởi những mục đích, những chương trình chung và bởi các mối quan hệ mà chỉ có thần linh mới giữ được. Tức là điều gì thuộc về Đức Chúa Cha cũng thuộc về Đức Chúa Con "...nước của Đấng Christ và Đức Chúa Trời" (Eph Ep 5:5). Chúa Giê-xu đã dạy rằng: "Lòng các ngươi chớ hề bối rối, hãy tin Đức Chúa Trời cũng hãy tin Ta nữa" (GiGa 14:1). Vì vậy, Ngài đòi hỏi các môn đồ hãy đặt nơi Ngài cùng một loại đức tin mà họ đã đặt nơi Cha Ngài. Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con có một sự hiểu biết thiên thượng về nhau (phẩm tính hiểu biết mọi sự). "Mọi việc Cha Ta đã giao cho Ta, ngoài Cha không có ai biết Con, ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng thì cũng không ai biết Cha" (Mat Mt 11:27).
Những mối quan hệ của Ba ngôi Đức Chúa Trời đòi buộc Đấng Christ phải có bản chất y hệt như Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh. Thánh Kinh xác lập sự kiện đó trong các phương thức cổ điển về Ba ngôi của Kinh Thánh: Lời chúc phước của các sứ đồ "Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Giê-xu Christ, tình yêu thương của Đức Chúa Trời và sự thông công trong Đức Thánh Linh ở với hết thảy anh em" (IICo 2Cr 13:14). Đại mạng lệnh: "Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho mọi người" (Mat Mt 28:19). Lời chào thăm của các sứ đồ: " Đức Chúa Trời Cha chúng ta và từ nơi Đức Chúa Giê-xu Christ!" (RoRm 1:7, GaGl 1:3, IICo 2Cr 1:2).
16. Sách giáo khoa của bạn đã nêu các lý do cho thấy vì sao nhiều người vẫn chưa thể chấp nhận giáo lý Ba ngôi. Bạn hãy chọn trong các điều liệt kê bên dưới cụm từ hoặc câu nói nào khiến cho giáo lý Ba ngôi là một vấn đề khó hiểu. Đánh dấu X ở dòng đó.
...a) Tình trạng nhập thể của Đấng Christ.
...b) Cựu ước không định nghĩa rõ ràng mối quan hệ Ba ngôi.
...c) Không thể chấp nhận Chúa Giê-xu bình đẳng với Đức Chúa Trời.
...d) Tất cả những điều kể trên.
17. Các quan điểm không chính thống từ trước đến nay vẫn cố gắng làm suy giảm ảnh hưởng của giáo lý Ba ngôi - tức là Đức Chúa Trời tồn tại trong ba thân vị. Bạn hãy viết bên cạnh mỗi giáo lý không chính thống một trong các quan điểm mô tả giáo lý:
Hình thái Ba ngôi Nhất thể.
a) Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh đều bình đẳng........................................
b) Không có ba thân vị trong Ba ngôi Đức Chúa Trời ............................................
c) Ba thân vị là những cách diễn đạt chứ không phải là các thực thể thực sự............................................................................................................................
18. Rất nhiều bằng chứng được tìm thấy trong Kinh Thánh dành cho các thể thức Ba ngôi. Đánh dấu X trước cụm từ hoặc câu mà bạn muốn tìm thấy các thể thức dành cho Ba ngôi.
...a) Các lời chào thăm của các sứ đồ
...b) Bài ca của Môi-se
...c) Lời chúc phước của các sứ đồ
...d) Cựu ước.
Chúa Giê-xu đã dạy dỗ rõ ràng rằng: "Ai nấy đều phải tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy" (GiGa 5:23). Ngài đã chấp nhận sự thờ phượng của những người tin Ngài một cách sẵn sàng với tinh thần đáp ứng. Sau khi dẹp yên cơn bão lớn "Các người trong thuyền bèn đến quỳ lạy Ngài mà nói rằng: 'Thầy thật là Con Đức Chúa Trời!'" (Mat Mt 14:33). Kinh Thánh khuyên giục: "Mọi thiên sứ của Đức Chúa Trời phải thờ lạy Con" (HeDt 1:6) và Phao-lô tuyên báo rằng: "Nghe đến danh Đức Chúa Giê-xu mọi đầu gối...thảy đều quỳ xuống..." (Phi Pl 2:10). Kinh Thánh không những chỉ ký thuật rằng người ta đã thờ lạy Chúa Giê-xu, mà còn yêu cầu cụ thể rằng các Cơ đốc nhân tiếp tục thờ phượng Ngài. Người tin Chúa không thể thỏa mãn với việc thán phục Ngài; mà phải suy tôn và thờ phượng Ngài.
Sự sẵn lòng chấp nhận sự thờ phượng của Đấng Christ và việc Kinh Thánh khuyên giục người tin Chúa phải dâng lên cho Ngài sự thờ phượng như vậy, phân biệt sâu sắc Đấng Christ với loài người lẫn các thiên sứ. Kinh Thánh dạy chúng ta rằng không con người nào hoặc các thiên sứ nào được nhận sự thờ phượng "Chớ làm vậy, ta là bạn tôi tớ với ngươi" (KhKh 22:8-9). "Nhưng Phi-e-rơ đỡ người (Cọt-nây) dậy, nói rằng: Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi" (Cong Cv 10:26). Vì vậy điều đáng chú ý là sự thờ phượng Đấng Christ của các Cơ đốc nhân đầu tiên đến nỗi một văn sĩ ngoại giáo, ông Pliny (năm 62-113 S.C) đã báo cáo với Hoàng đế Traijan rằng: "Họ (những Cơ đốc nhân) hát các bài thánh ca trong sự thờ phượng chung dâng lên Đấng Christ là Đức Chúa Trời".
Một số những người thuộc phái tự do lui đi trong sự thờ phượng Đấng Christ viện dẫn lời Chúa Giê-xu phán cùng viên quan trẻ tuổi giàu có: "Sao ngươi gọi ta là nhơn lành?" (Mat Mt 19:17). Họ dùng câu nói ấy để tuyên bố rằng Chúa Giê-xu thật sự không thể nhận sự thờ phượng.
19 Bạn trả lời thế nào trước một lời chỉ trích như vậy? Hãy viết câu trả lời của bạn rồi so sánh với phần giải đáp.
.............................................................................................................................
...............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Xưng Nhận Thần Tánh
Những lời ký thuật đầu tiên về Chúa Giê-xu trong Kinh Thánh nói về dịp Ngài lên thăm đền thờ vào năm 12 tuổi, đã minh chứng rõ ràng thần tánh của Ngài: "Cha mẹ tìm con làm chi? Cha mẹ không biết con phải lo việc Cha con sao?" (LuLc 2:49 bản Diễn Ý). Trong khi những Cơ đốc nhân quy đạo có thể gọi Đức Chúa Trời là "Cha chúng tôi", thì Chúa Giê-xu đã gọi Ngài một cách có ý nghĩa đặc biệt là "Cha tôi". Ma-thi-ơ ký thuật mười sáu trường hợp, Lu-ca ba lần và Giăng ba mươi hai lần Chúa Giê-xu gọi Cha Ngài theo cách đặc biệt đó. Trong cái được gọi là "cực điểm của sự bày tỏ chính mình của Chúa chúng ta", Chúa Giê-xu đã tuyên bố: "Mọi việc Cha ta đã giao cho Ta, ngoài Cha không có ai biết Con và ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng thì cũng không ai biết Cha" (Mat Mt 11:27). Thật có ý nghĩa, trong ví dụ về vườn nho, Chúa Giê-xu mô tả chính mình Ngài là người con yêu quý, độc nhất của Cha Ngài (Mac Mc 12:26).
Nhận biết sự bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Cha thể hiện qua ý tưởng và sự dạy dỗ của Chúa Giê Xu "Ta với Cha là một" (GiGa 10:30). "Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha" (14:9). Một cách bình lặng và có chủ ý, Chúa Giê Xu bắt đầu công bố chính Ngài là đối tượng của đức tin, kiến trúc sư của thiên đàng, con đường cứu rỗi, và vua của đời sống con người. Đặc biệt, sứ đồ Giăng đã ký thuật những câu "Ta là" của Chúa Giê Xu. Trong một loạt các lời tuyên bố ngắn - như "Ta là bánh hằng sống " (6:51) - Chúa Giê-xu đã tuyên bố chính mình Ngài là mọi sự con người cần cho cuộc đời này và đời sống hầu đến. (Đối chiếu với 6:35, 48, 51 10:11; 11:25). Tại buổi xét xử Ngài, khi thầy cả thượng phẩm chất vấn: "Hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ Con Đức Chúa Trời chăng? Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: 'Thật như lời'" (Mat Mt 26:63-64). Trong lời chứng công khai hợp pháp ấy, với sự đe dọa chờ đợi, Chúa Giê-xu đã không ngần ngại khẳng định tư cách Đấng Mêsia của Ngài.
Lời Chứng Của Các Sứ Đồ
Sách Phúc âm Giăng được viết rõ ràng là để chứng minh thần tánh của Đấng Christ "Nhưng các việc này đã chép để các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời" (GiGa 20:31). Giăng đã sắp xếp nhiều bằng chứng khác nhau kể cả những công việc của Đấng Christ (5:36), lời làm chứng của Đức Chúa Cha (5:37) và bằng chứng của Kinh Thánh (5:39). Như đã lưu ý Giăng đã ứng dụng độc đáo thuật ngữ "logos" (Ngôi Lời)
Các sứ điệp được ký thuật của Phi-e-rơ là những chứng cớ quả quyết về niềm tin ông đặt nơi thần tánh của Đấng Christ. Ông đã tuyên bố: "Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống" (Mat Mt 16:16) và "Vậy cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Giê-xu nầy...làm Chúa và Đấng Christ." (Cong Cv 2:36).
Ngay sau khi qui đạo (gặp Chúa) Phao-lô ở tại thành Đa-mách "đã giảng dạy trong các nhà hội rằng Đức Chúa Giê-xu là con Đức Chúa Trời" (9:20). Với những người ở Cô-lô-se, Phao-lô đã tuyên bố Đấng Christ là "hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được" (CoCl 1:15). Với người Cô-rinh-tô ông đã viết về một mối quan hệ giữa Đấng Christ và Đức Chúa Trời đó là "Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ làm cho thế gian lại hòa với Ngài" (IICo 2Cr 5:19). Với người Phi-líp ông đã mô tả sự tự bỏ mình đi thật lạ lùng (hay Kenosis) của thần tánh Đấng Christ.
Tác giả thư Hê-bơ-rơ công bố "Đức Chúa Trời...đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta...bởi Con Ngài là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian. Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài..." (HeDt 1:1-3).
20 Các trước giả Tân ước đã dùng nhiều lời tuyên bố để chứng minh thần tánh của Đấng Christ. Hãy ghép cặp tác giả với lời tuyên bố ông ta dùng để chứng minh thần tánh của Đấng Christ. Bạn có thể dùng tên của một tác giả hơn một lần.
...a. Ngài là Đấng Christ
...b. Các việc Ta làm làm chứng cho Ta
...c. Hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được
...d. Hình bóng của bổn thể Ngài
...e...............các ngươi tin rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ
...f. Cha cũng làm chứng về Ta
1. Ma-thi-ơ
2. Giăng
3. Tác giả sách Hê-bơ-rơ
4. Phao lô
5. Phi-e-rơ
Sự Chứng Thực Bằng Đời Sống
Con người và đời sống đạo đức của Chúa Giê-xu đứng tách rời như một sự vượt trỗi cách biệt hẳn so với những cuộc đời của những người chỉ là con người, và con người của Ngài chỉ có thể được giải thích bằng những từ chỉ về thần tánh. Sự không thể phạm tội trong con người là điều siêu nhiên! Các phép lạ của Ngài, trên 38 phép lạ trong số đó được chép trong các sách tin lành, khi cần đã trở thành những điều kiện để khẳng quyết Ngài là Con Đức Chúa Trời. Sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu (và dạy dỗ là chức vụ ưu tiên hàng đầu của Ngài) là sự dạy dỗ có quyền năng, dạn dĩ cặp theo phép lạ chứ không phải những lời nói yếu ớt, mơ hồ của một con người. Thậm chí các quan chức được sai đi bắt Ngài cũng phải thừa nhận "Chưa hề có ai nói như người này" (GiGa 7:46). Đấng Christ chính là Đấng Mê-sia theo các lời hứa của Đức Chúa Trời và là sự ứng nghiệm của lời tiên tri. Ngài nói về lời Thánh Kinh trong Cựu ước "Ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy" (5:39). Qua sự sống lại lạ lùng của Ngài, Đức Chúa Giê-xu Christ đặc biệt khẳng định thần tánh của Ngài, vì cớ sự kiện đó, Ngài đã vĩnh viễn chiến thắng sự chết, kẻ thù tối hậu của nhân loại.
21. Đánh dấu X trước các cụm từ nào mô tả Đấng Christ và khiến những lời xưng nhận thần tánh của Ngài có giá trị.
...a) Người bạn yêu thương
...b) Chúa phục sinh
...c) Con người vô tội
...d) Người làm phép lạ
...e) Diễn giả thuyết phục
CÔNG VIỆC CỦA CON ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG CÕI QUÁ KHỨ ĐỜI ĐỜI
(Walvoord 32-35)
Đọc từ trang 32 đến 35 và trả lời các câu sau:
22. Đánh dấu X trước điều nào mô tả đúng nhất thuật ngữ thần học mệnh lệnh (sắc lệnh)
...a) Lời hứa
...b) Mục tiêu
...c) Sự định trước (tiền định)
...d) Giao ước
...e) Tất cả những điều trên
23. Mối quan hệ giữa các sắc lệnh của Đức Chúa Trời với việc nghiên cứu Cơ Đốc Luận là gì?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
24. Theo thần học về giao ước, mục đích chính yếu của Đức Chúa Trời trong cõi thời gian và cõi đời đời là gì?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
25. Sách giáo khoa của bạn nhấn mạnh đến tính chất gồm tóm mọi sự của các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Bạn hãy liệt kê bên dưới đây 4 đặc điểm mà các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời bao gồm
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Ở bài học này bạn đã được cho 9 bằng chứng về thần tánh của Đức Chúa Giê-xu Christ - Hãy thuộc lòng bản liệt kê bạn viết ra dưới đây - Hãy viết 9 bằng chứng đó. Mỗi bằng chứng, xin bạn ghi một phần câu Kinh Thánh (trích dẫn ý ấy) để hậu thuẫn cho lời khẳng định. Dữ liệu này có thể giúp bạn trong việc làm chứng và giảng dạy. Nguyện Đức Thánh Linh dùng điều này trong chức vụ hầu việc Chúa của bạn đến nỗi bạn sẽ được nghe nhiều người trước kia không tin Ngài nói rằng "Lạy Chúa Giê-xu, Ngài là Cứu Chúa và là Đức Chúa Trời của con"
26 Liệt kê chín bằng chứng về thần tánh của Chúa Giê-xu
a. ...............................................................................................................................
b................................................................................................................................
c. ...............................................................................................................................
d. ...............................................................................................................................
e. ...............................................................................................................................
f. ...............................................................................................................................
g. ...............................................................................................................................
h. ...............................................................................................................................
i. ...............................................................................................................................
Bài Tự Trắc Nghiệm
Hướng dẫn: Ở mỗi một câu, bạn hãy chọn phần trả lời ĐÚNG NHẤT hoặc TỐT NHẤT và viết mẫu tự gằng liền với nó vào dòng để trống ở đầu mỗi câu. Hãy kiểm tra lại các câu trả lời của bạn với phần giải đáp cho sẵn.
...1 Các câu "Ta là" chỉ về Chúa Cứu Thế trong Phúc âm Giăng cho thấy:
a) tình bạn thân gần giữa Giăng với Chúa Cứu Thế Giê-xu
b) nỗ lực của Giăng nhằm chứng minh Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời.
c) mong muốn của Giăng để bày tỏ nhân tánh của Chúa Cứu Thế.
d) lối viết của Giăng, sử dụng một dàn bài lô-gích để cá nhân hóa Chúa Cứu Thế.
...2 Niềm tin Chúa Cứu Thế đã tồn tại từ trước vô cùng là điều quan trọng bởi vì nó là
a) bằng chứng của thần tánh đời đời của Ngài
b) xác thực trong giáo lý Ba ngôi
c) một khái niệm cơ bản để nghiên cứu về Cơ đốc luận
d) Tất cả những điều trên
...3 Lời tuyên bố về Chúa Cứu Thế trong MiMk 5:1 "Gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng" khẳng định:
a) sự toàn năng của Chúa Cứu Thế
b) sự đời đời của Chúa Cứu Thế
c) sự toàn tri của Chúa Cứu Thế
d) quyền tối cao của Chúa Cứu Thế
...4 Lời hứa của Chúa Giê-xu: "Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" được hiểu như là một lời tuyên bố về:
a) sự toàn năng của Ngài
b) sự toàn tri của Ngài
c) sự toàn tại của Ngài
d) sự đời đời của Ngài
...5 "Đức Chúa Giê-xu Christ hôm qua ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi" (HeDt 13:8) là một lời hứa kinh điển về bản tánh nào sau đây của Chúa Cứu Thế
a) toàn tri
b) tối cao
c) bất biến
d) toàn năng
...6 Thuộc tánh thần linh nào Chúa Giê-xu đã xưng nhận dẫn đến việc dân Giu-đa toan ném đá Ngài
a) Toàn năng
b) Tối cao
c) Toàn tri
d) Đời đời
...7 Arius, tác giả của cuộc tranh cãi Arian đã KHÔNG tin rằng Chúa Cứu Thế là:
a) Đấng Vĩnh Hằng
b) Đấng tồn tại từ trước
c) Đấng được sinh ra trước nhất
d) Tạo vật cao nhất
...8 Từ NGÔI LỜI trong GiGa 1:1 mô tả rõ ràng điều nào sau đây của Chúa Cứu Thế
a) tối cao
b) lời nói
c) tiền hiện hữu
d) toàn năng
...9 Theo sách giáo khoa, giáo lý về sự đời đời của Chúa Cứu Thế hậu thuẫn cho
a) Thuyết Ba ngôi
b) Thuyết Nhất thể
c) Thuyết hình thái
d) Thuyết tự do
...10 Nhóm nào sau đây phủ nhận sự hiện hữu của Ba ngôi
a) những người thuộc phái Báp tít
b) những người theo Nhất Thể thuyết
c) những người thuộc trào lưu chính thống
d) không có nhóm nào kể trên
...11 Lý do chính khiến chúng ta học giáo lý Ba Ngôi trong giáo trình này là gì?
a) Nó chứa đựng một điều khó hiểu thuộc về sự đời đời.
b) Điều đó không thể tách ra khỏi thần tánh của Đấng Christ.
c) Nó bày tỏ những phương diện về đời sống Đấng Christ.
d) Nó là một vấn đề gây tranh cãi
...12 Đấng Christ đã hoạch định với Cha phương cách cứu rỗi thế gian trong tương lai. Câu này có liên hệ chặt chẽ nhất với
a) sự tự hạ mình (kenosis)
b) sắc lệnh (mệnh lệnh)
c) Nhất Thể thuyết
d) Hiển thần (Đức Chúa Trời hiện ra)
...13 Những câu sau đây có câu đúng, câu sai. Bạn hãy viết chữ Đ TRƯỚC câu nào đúng và chữ S TRƯỚC câu sai.
...13 Nói rằng Chúa Cứu Thế đã tồn tại trong cõi quá khứ đời đời thì cũng như nói rằng Ngài có bản chất của Đức Chúa Trời.
...14 Chỉ khi nào con người bát bỏ lẽ thật Kinh Thánh thì họ mới có thể xây dựng được một tranh luận có vẻ đáng tin cậy chống lại sự đời đời của Đấng Christ.
...15 chúng ta có thể tìm thấy lời Thánh Kinh để hậu thuẫn cho lời khẳng định rằng các thuộc tính của Chúa Cứu Thế và các thuộc tính của Đức Chúa Cha là giống nhau.
...16 Thần tánh của Chúa Cứu Thế tiền nhập thể và thần tánh của Chúa Cứu Thế nhập thể khác nhau.
...17 Khi Chúa Cứu Thế nhập thể, bản tính thần linh của Ngài đã thay đổi.
...18 Đã có một thời điểm đánh dấu Ngôi Lời bắt đầu tồn tại.
...19 Kenosis (tự bỏ mình đi) ám chỉ về sự bổ sung nhân tánh cho Chúa Cứu Thế.
...20 Liệt kê 9 bằng chứng cho thấy thần tánh của Chúa Giê-xu. Nêu một câu Kinh Thánh và địa chỉ để hậu thuẫn cho bằng chứng của bạn.
a) ...........................................................................................................................
b) ...........................................................................................................................
c) ...........................................................................................................................
d) ...........................................................................................................................
e) ...........................................................................................................................
f) ...........................................................................................................................
g) ...........................................................................................................................
h) ...........................................................................................................................
i) ...........................................................................................................................
Giải đáp các câu hỏi của bài học
1. Không. Thuật ngữ ông ta dùng có thể hàm ý một điều nào khác đối với ông. Hãy lưu ý việc thiếu liên hệ đến tính đời đời của Ngài. Sự nhắc đến tính đời đời của Chúa Cứu Thế không để lại nghi ngờ gì đối với quan điểm của một người về thần tánh của Chúa Cứu Thế.
2. Cả hai thành phần này đều nghi ngờ tính tồn tại đời đời của Chúa Cứu Thế.
3. a. "Gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng" (MiMk 5:1b)
b. "...Đức Chúa Trời quyền năng là Cha đời đời..." (EsIs 9:6).
c. "Ban đầu có Ngôi lời" (GiGa 1:1).
d. "Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta" (8:58).
4. Đời đời
5. Từ "ban đầu" của sứ đồ Giăng chỉ về một thời điểm trong quá khứ mà chúng ta không thể nào liên hệ đến được.
6. Ông tin như vầy: Bởi vì Đấng Christ là vị thần đầu tiên trong các thần linh được tạo dựng, nên Ngài không hiện hữu đời đời.
7. a. "Vì Ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý Ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai Ta đến" (6:38).
b. "Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu..." (3:17).
8. X. Giăng
9. Khúc Kinh Thánh ấy không nói rõ rằng Đấng Christ đã chấm dứt sự hiện hữu với tư cách Đức Chúa Trời. Ngài chỉ thêm vào hình thể của một người tôi tớ. Hình thể này chỉ là hạn chế sự bày tỏ của thần tánh Ngài.
10. Những câu có thể trích dẫn:
a. "Đức Chúa Trời quyền năng là Cha đời đời" (EsIs 9:6).
b. "Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời dưới đất" (CoCl 1:16).
c. "Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa?" (Thi Tv 139:7).
d. "Hết cả quyền phép trên trời và dưới đất đều đã giao cho Ta" (Mat Mt 28:18)
e. "Hôm qua ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi" (HeDt 13:8).
f. "Vua của các vua và Chúa của các chúa" (ITi1Tm 6:15).
11. a. 6 bất biến
b. 1 toàn năng
c. 4 hiểu biết vô hạn
d. 3 tồn tại mọi nơi
e. 2 quyền phép
12. b. Bảo tồn muôn vật
c. Đấng phán xét thế gian
e. Đấng phục hồi sự sống
13. "Muôn vật đều đã được dựng nên bởi Ngài và vì Ngài" nếu Đấng Christ đã dựng nên vì chính mình Ngài thì Ngài không thể là một Đấng được uỷ thác. Có phải Ngài đã tạo dựng chính Ngài không?
14. a. Trong Cựu ước Đức Chúa Trời tạo dựng
Trong Tân ước Chúa Giê-xu tạo dựng.
b. "Đức Giê-hô-va phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu Ta" (Thi Tv 110:1).
Mat Mt 22:42, 43 cho thấy Chúa Giê-xu đã nhận câu Kinh Thánh ấy là chỉ về chính mình Ngài.
15. a. Một mối quan hệ đời đời với Đức Chúa Cha.
b. Tâm trí chi phối
16. Tất cả những đều kể trên.
17. a. Ba Ngôi
b. Nhất thể
c. Hình thái
18. a. Lời chào thăm của các sứ đồ
c. Lời chúc phước của các sứ đồ
19. Ý nghĩa của câu Kinh Thánh này được giải thích ở chỗ được nhấn mạnh rõ ràng là từ các câu Kinh Thánh được liệt kê bên trên cho thấy Chúa Giê-xu không có ý bảo: "Vì sao ngươi gọi Ta là NHƠN LÀNH?" mà là: "VÌ SAO ngươi gọi Ta là nhơn lành?" (Nhấn mạnh lý do chứ không phải tính chất nhơn lành). Sự nhấn của ý sau có thể hàm ý Chúa Cứu Thế cho viên quan một cơ hội để bày tỏ một lời xưng nhận thần tánh của Chúa Cứu Thế.
20. a. 1. Ma-thi-ơ
b. 2. Giăng
c. 4. Phao-lô
d. 3. Tác giả sách Hê-bơ-rơ
e. 2. Giăng
f. 2. Giăng
21. b. Sự phục sinh của Ngài
c. Sự không phạm tội của Ngài
d. Người làm phép lạ
22. e. Tất cả những điều trên
23. Là một ngôi trong Ba ngôi Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế đã dự phần vào các mục tiêu đời đời của Đức Chúa Trời.
24. Công việc cứu rỗi những người được chọn.
25. Công cuộc cứu chuộc của Đấng Christ
Công việc của Đấng Christ trong Sáng tạo:
- Sự Bảo Tồn
- Vai trò của dân Y-sơ-ra-ên trong Cựu ước.
- Sự ứng nghiệm của các lời hứa được ban cho Đa-vít.
26. Đã được liệt kê trong tập hướng dẫn học tập bên dưới mục "Những bằng chứng về Thần tánh của Đức Chúa Giê-xu."



Tổng thống Donald Trump cấm tiên tri giả TB Joshua bước chân tới Mỹ



" Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đối phó với nhà tiên tri giả da đen đó. Anh ấy sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng"

† Welcome you - nguonsusong.com

GMT+8, 27-11-2020 07:51 PM

nguonsusong.com - Tin lanh
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách