nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 2001|Trả lời: 0

7 Định Luật - CÁC DẤU HIỆU CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 5-1-2012 08:13:22 | Xem tất |Chế độ đọc

7 Định Luật Của Người Lãnh Đạo Thuộc Linh
Tác giả: John C. Maxwell
ĐỊNH LUẬT 7

CÁC DẤU HIỆU CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG

Trong chương trước, chúng ta đã khảo sát tình yêu thương của Thượng Đế như đã được mô tả trong ICo1Cr 13:1-13 và ứng dụng vào công tác lãnh đạo. Trong chương này chúng ta sẽ đề cập các phương diện thực tiễn khác nữa của “tình yêu thương trong công tác lãnh đạo”.
Có một trong những nhu cầu quan trọng nhất của đời sống một người lãnh đạo thuộc linh là từng trải và biểu lộ tình yêu của Thượng Đế. Trong Tân ước, chúng ta được dạy mười sáu lần là “phải yêu thương lẫn nhau”. Trong khúc sách quan trọng IGi1Ga 4:7-19 luận về tình yêu của Thượng Đế, chúng ta được dạy những điều sau đây:
1. Thượng Đế là Tình yêu.
2. Tình yêu đến từ Thượng Đế.
3. Phải nhận biết Thượng Đế mới có tình yêu của Ngài.
4. Tình yêu của Thượng Đế được bày tỏ khi Chúa Giê-xu chịu chết trên thập tự giá vì tội lỗi chúng ta.
5. Thánh Linh của Thượng Đế làm nảy sinh tình yêu thương trong lòng chúng ta.
6. Tình yêu không sợ hãi.
7. Chúng ta được lệnh phải yêu thương nhau.
8. Khả năng yêu thương của chúng ta có cơ sở là sự kiện Thượng Đế đã yêu chúng ta trước.
Tình yêu của Thượng Đế là vĩnh hằng và tồn tại mãi - nó vẫn tồn tại sau khi mọi việc khác đều không còn nữa (Gie Gr 31:3; ICo1Cr 13:8). Nó hành động mà không đòi hỏi phải được đáp lại (RoRm 5:8; IGi1Ga 4:10) và chẳng bao giờ là vị kỷ hoặc thiên về vật chất (2:15-16). Tình yêu của Thượng Đế là lòng nhân từ thương xót đối với các nhu cầu của tha nhân (3:17-18) và quan tâm đến các quyền lợi của tha nhân (RoRm 13:8-10). Phẩm chất căn bản của nó là hi sinh (Eph Ep 5:2, 25; IGi1Ga 3:16; 4:9-10).
Một trong những đặc tính kỳ diệu nhất của tình yêu của Thượng Đế là nó vốn vô điều kiện. Nó được đặt trên cơ sở là sự thành tín của Thượng Đế, chứ không phải trên tài năng hay đức độ của chúng ta (PhuDnl 6:7-9; RoRm 3:22-24). Nó cũng vô điều kiện vì Thượng Đế vốn giàu lòng nhân từ thương xót đối với chúng ta (Thi Tv 103:8-11; Eph Ep 2:4) và sẵn sàng tha tội cho chúng ta (ChCn 10:12; 17:9; IPhi 1Pr 4:8). Chỉ đơn giản là vì Ngài yêu thương và yêu thương chúng ta rất nhiều, thế thôi! Chúng ta không tài nào chiếm đoạt hay làm gì để xứng đáng nhận được một tình yêu như thế... chúng ta chỉ có việc tiếp nhận và đáp ứng lại với nó mà thôi.
Thật là điều kỳ diệu khi đề cập tình yêu của Thượng Đế, và khảo sát các nét đặc trưng và những cách đáp ứng kỳ diệu của nó. Các cấp lãnh đạo thuộc linh cần có tình yêu của Thượng Đế trong đời sống và công tác lãnh đạo của mình. Nhưng quán triệt các dấu hiệu của tình yêu thương trong công tác lãnh đạo để tuân thủ điều mà các cấp lãnh đạo Hội thánh có trách nhiệm phải làm trong công tác phục vụ Chúa là điều rất hữu ích. Xin khảo xét các trách nhiệm cơ bản sau đây.
Chăn Bầy Của Chúa
Có lẽ không còn câu nào khác nêu rõ vai trò và trách nhiệm của một người lãnh đạo Hội thánh hơn là nhiệm vụ quan trọng này. Người ấy phải chăn dắt, yêu thương chăm sóc bầy chiên đã được Chúa giao cho mình.
Trong Cong Cv 20:17-36 có một khúc sách thật cảm động về trách nhiệm của những người lãnh đạo Hội thánh Ê-phê-sô, và trách nhiệm của họ đối với sứ đồ Phao-lô. Phao-lô đã dạy các lãnh tụ này (các “trưởng lão” của Hội thánh) phải làm việc sau đây: “Anh em hãy giữ lấy mình và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc để chăn Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình” (câu 28).
Hướng dẫn và nuôi nấng.
“Chăn giữ... Hội thánh mà Thượng Đế đã mua” là trách nhiệm của người lãnh đạo Hội thánh. Một bầy chiên vốn có xu hướng tự nhiên là đi lang thang (EsIs 53:6), gặp nhiều rắc rối và nguy hiểm. Người chăn phải yêu thương theo dõi chăm sóc chúng (như “những người quản lý”) và làm tất cả những gì có thể làm đựơc để bảo vệ và bênh vực chúng (Cong Cv 20:28-30).
Phi-e-rơ người tự mô tả mình là một trưởng lão, viết cho các bạn trưởng lão của ông như sau:
Bây giờ, tôi có đôi lời nhắn nhủ các người lãnh đạo Hội thánh. Tôi cũng là người lãnh đạo như anh em; chính mắt tôi đã trông thấy Chúa Cứu Thế chết trên cây thập tự. Khi nào Ngài trở lại, tôi cũng sẽ hưởng vinh quang với Ngài. Tôi nài khuyên anh em. Hãy chăn bầy chiên Thượng Đế giao cho anh em, chăm sóc họ cách vui vẻ, đừng phàn nàn miễn cưỡng, không phải vì được lợi lộc gì nơi họ mà chỉ vì muốn tích cực phục vụ Chúa. Đừng áp chế ai, nhưng hãy làm gương tốt cho họ noi theo. Rồi khi Thủ lãnh Chăn Chiên đến, anh em sẽ được chung hưởng vinh quang bất diệt với Ngài (IPhi 1Pr 5:1-4).
Công tác lãnh đạo bằng tình yêu của Thượng Đế quan tâm chăn giữ bầy chiên của Chúa. Việc “chăm sóc” này không phải vì bị ép buộc nhưng là tự nguyện do nhiệt tình. Động cơ thúc đẩy không phải là lợi riêng hay cơ hội để cầm quyền trên người khác. Các cấp lãnh đạo Hội thánh là những người chăn dưới quyền Chúa Cứu Thế Giê-xu, là “thủ lãnh của những người chăn chiên” (5:4, cũng xem Thi Tv 23:1). Điều mong ước của chúng ta phải là câu “Tốt lắm” và phần thưởng của Ngài.
Đừng “áp chế” bầy chiên
Những điểm tiêu cực trong khúc sách này cho thấy loại lãnh đạo không có tình thương trong những gì họ nói mà làm. Người lãnh đạo này “áp chế” (làm chủ, làm chúa) bầy chiên. Ông ta muốn chứng tỏ cho họ biết ai là người được giao quyền và đòi hỏi họ phải thuận phục. Thật khó xem đó là gương tốt của một người lãnh đạo có tình yêu thương.
Nhiều năm trước đây, có một người lãnh đạo trong Hội thánh nơi tôi làm mục sư đã thực thi quyền lãnh đạo của mình khá mạnh tay. Ông thường nói về việc thế nào các tín đồ phải thuận phục quyền lãnh đạo, và cảm thấy với tư cách mục sư, tôi phải giảng về sự thuận phục chức vụ lãnh đạo thường xuyên hơn trong các bài giảng. Ông ta đề cập đến việc con người phản loạn như thế nào. Qua nhiều buổi họp, tôi chú ý thấy ông ta áp đảo nhiều người khác và buộc mọi người phải nhất trí với ông.
Rõ ràng là ai nấy đều oán ghét con người ấy và cách hành quyền lãnh đạo của ông ta. Một lần nọ, trong một buổi họp, một người anh em bị ông dọa nạt đã mạnh mẽ đối đầu với ông và nói: “ông đã chẳng quan tâm đến ai cả ngoại trừ bản thân ông ! Nếu thỉnh thoảng ông chịu khó tỏ ra chút ít tình yêu thương, có lẽ phần đông chúng tôi sẽ chịu nghe những gì ông nói”. Mọi người hiện diện trong phòng hôm ấy đều cảm thấy buổi họp thật căng thẳng. Chẳng ai biết phải nói gì. Chủ toạ buổi họp cho chúng tôi giải tán sau khi cầu nguyện và khuyên mọi người hãy cầu nguyện cho vấn đề này và hỏi ý Chúa xem Ngài muốn chúng ta phải làm gì.
Đến buổi họp tháng sau đó, người lãnh đạo áp chế kia đã là một con người tan vỡ. Điều đã nói với ông ta trong buổi họp trước đã khiến ông ta rất đau lòng vì đó là lần đầu tiên trong đời mình, ông ta được nhìn thấy chính mình như cách nhiều người khác đã thấy. Ông nhận ra vấn đề của mình là thiếu tình thương người. Ông đã quan tâm tới các vấn đề và những việc cần phải làm cho xong, hơn là quan tâm đến người khác. Lời xưng tội và xin tha thứ công khai của ông đã được mọi người trong buổi họp tiếp nhận nồng hậu, và tiếp sau đó là một thì giờ cầu nguyện và khích lệ lạ lùng. Từ đó trở đi, công tác lãnh đạo của ông ta đã đổi khác.
Phục Vụ Người Nghèo Thiếu
Trợ cấp vật chất.
Lần đầu tiên các cấp lãnh đạo hội thánh được tuyển chọn trong Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem. Vấn đề gợi ý sự cần thiết phải có công tác lãnh đạo là sự chăm sóc cho các quả phụ. Chúng ta đọc thấy trong Cong Cv 6:1-3.
Lúc ấy, số tín hữu càng gia tăng nhanh chóng. Người Do-thái theo văn hoá Hy-lạp than phiền người Hy-bá vì các quả phụ trong nhóm họ không được cấp phát thực phẩm đầy đủ. Mười hai sứ đồ triệu tập toàn thể tín hữu và tuyên bố: Chúng tôi không thể bỏ việc giảng dạy lời Chúa để lo phân phối lương thực. Vậy xin anh em cử bảy người được tiếng khen, đầy dẫy Thánh Linh và khôn ngoan để chúng tôi uỷ thác việc này.
Nhiều hệ phái đã kết luận rằng các cấp lãnh đạo này là “chấp sự” chứ không phải “trưởng lão” vì câu “phân phối lương thực”. Tuy nhiên, tại thời điểm này cũng như trong sử ký nguyên thuỷ của Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, người ta không hề thấy việc đề cập các chấp sự.
Trong 11:27-30, các Cơ-đốc nhân tại An-ti-ốt đã mở một cuộc lạc quyên để cứu giúp những người trong xứ Giu-đê đang gặp nạn đói. Họ nhờ Ba-na-ba và Phao-lô chuyển số tiền ấy cho “các trưởng lão” chứ không phải là cho các chấp sự. Rõ ràng là các trưởng lão đã phụ trách việc chăm sóc cho những người nghèo thiếu.
Trong ITi1Tm 5:1-6 có một phần thảo luận khá dài về vấn đề chăm sóc cho các quả phụ và về những ai trong đám họ phải được Hội thánh
Các cấp lãnh đạo chỉ hoàn tất công tác
trong việc họp han trị sự , tường trình và
khảo cứu mà thôi vẫn chưa thấu triệt
các đòi hỏi của Thượng Đế và các nhu cầu
của những người thuộc về Ngài .
trợ cấp những người không được gia đình trợ cấp, và những người hội đủ một vài phẩm cách là trung tín với Chúa và Hội thánh Ngài, phải được Hội thánh trợ cấp. Câu 16 đề cập việc trợ giúp các quả phụ thật sự là quả phụ. Mấy câu tiếp sau đó (5:17 và tt) đề cập trách nhiệm của các trưởng lão.
IGi1Ga 3:17, 18 nói mạnh về vấn đề chăm sóc những người thiếu thốn:
Nếu một tín hữu có của cải sung túc, thấy anh em mình thiếu thốn mà không chịu giúp đỡ, làm sao có thể gọi là người có tình thương của Thượng Đế? Các con ơi, đừng yêu thương đầu môi chót lưỡi, nhưng phải thật lòng yêu thương người khác và chứng tỏ tình yêu đó bằng hành động.
Người lãnh đạo giàu tình thương sẽ đáp ứng nhu cầu của người ta. Gia Gc 2:14-17 cũng lý luận tương tự và kết hợp nó với đức tin cứu rỗi:
Anh em thân yêu, nếu anh em bảo mình có đức tin mà không chứng tỏ bằng hành động thì có ích gì không? Đức tin ấy chẳng cứu được ai. Nếu anh em gặp một người bạn đói khổ rách rưới, mà chỉ nói: Chào anh, Chúa ban phúc lành cho anh! Chúc anh mạnh khoẻ, no ấm! nhưng chẳng cho họ cơm ăn, áo mặc thì lời nói ấy có ích lợi gì? Vậy đức tin phải đi đôi với hành động. Đức tin không thực hành chỉ là đức tin vô dụng.
Phục vụ người đau ốm.
Thư tín Gia-cơ cũng chỉ ra trách nhiệm của người lãnh đạo có tình yêu thương đối với những người đang gặp đau yếu:
Có ai đau yếu? Nên mời các trưởng lão trong Hội thánh đến nhân danh Chúa xức dầu cầu nguyện. Lời cầu nguyện do đức tin sẽ chữa lành người bệnh. Vì Chúa sẽ đỡ người bệnh dậy, nếu người ấy có tội, Chúa sẽ tha thứ. Hãy nhận lỗi với nhau và cầu nguyện cho nhau để anh em được lành bệnh. Lời cầu nguyện của người công chính rất mạnh mẽ và hiệu nghiệm. Ê-li cũng chỉ là người như chúng ta, nhưng khi ông cầu xin cho đừng mưa, thì trong ba năm rưỡi chẳng có mưa rơi xuống đất. Rồi ông cầu xin cho mưa trở lại, trời liền mưa và đất đai sinh hoa mầu.
Câu 14 vạch rõ người đau ốm phải mời các trưởng lão đến. Từ Hi-văn “mời” hàm ý một cuộc họp mặt riêng tư, chứ không phải một buổi họp công cộng. Người đau yếu phải “mời” các trưởng lão của Hội thánh đến với mình. Họ phải đến với người ấy, chứ không phải là ngược lại.
Các trưởng lão được chỉ dạy phải xức dầu cho người bệnh và cầu nguyện xin Chúa chữa lành người ấy. Lúc Chúa Giê-xu sai Mười Hai Sứ đồ ra đi với sứ mạng truyền giảng, chúng ta đọc thấy các vị đã “xức dầu chữa lành nhiều người bệnh” (Mac Mc 6:13). Xức dầu ở đây không liên hệ đến giá trị y học của dầu. Dầu là biểu hiệu của quyền năng và sự hiện diện của Thượng Đế.
Cần lưu ý là văn bản đòi hỏi phải có mặt nhiều hơn là một trưởng lão. Không có người duy nhất nào được đề cao hay ca ngợi trong chức vụ chữa bệnh. Chính Thượng Đế mới là Đấng chữa bệnh. Phải có nhiều hơn một vị trưởng lão bảo đảm việc Thượng Đế phải được tôn vinh, chứ không phải là các trưởng lão. Chính Chúa mới cứu hay chữa lành được cho người bệnh. Văn bản chép: “Chúa sẽ đỡ người bệnh dậy”. Phần của các trưởng lão là cầu nguyện. Không phải vì người bệnh thiếu đức tin mà hậu quả là người ấy không được chữa lành. Chính Thượng Đế mới là Đấng cầm quyền kiểm soát tối cao.
Các trưởng lão phải “cầu nguyện do đức tin”. Đây không phải là một lời cầu nguyện đòi hỏi. Đây là một lời cầu nguyện thờ phượng, một niềm tin âm thầm vào Thượng Đế hằng sống có thể làm điều Ngài muốn. Không phải đức tin lớn của chúng ta đặt vào Thượng Đế có thể chữa được bệnh, mà là đức tin đặt vào một Thượng Đế vĩ đại!
Các cấp lãnh đạo biểu hiện tình yêu của Thượng Đế sẽ trợ giúp các tín đồ có nhu cầu vật chất và thuộc thể. Đó là tình yêu thương. Điều gì kém hơn thế đều không phải là những gì Thượng Đế đòi hỏi các cấp lãnh đạo thuộc linh. Các cấp lãnh đạo chỉ hoàn tất công tác trong các buổi họp ban chấp hành, các bản tường trình và khảo cứu mà thôi vẫn chưa thấu triệt các đòi hỏi của Thượng Đế và các nhu cầu của những người thuộc về Ngài. Điều đó vượt xa những buổi họp, các phương pháp và phần tài liệu; nó là việc lo lắng chăm sóc cho tín đồ và làm những gì chúng ta có thể làm được để đáp ứng các nhu cầu của họ.
Răn Bảo Và Trực Diện
Có lẽ trách nhiệm này là khó khăn nhất. Chúng ta không thường kết hợp việc cảnh cáo và đối đầu bằng tình yêu thương. Nhưng đó là cách duy nhất có thể làm với tình yêu thương.
Bảo vệ bầy.
Phao-lô bảo rằng một người lãnh đạo phải có khả năng “vững tin chân lý đã học hỏi mới có thể dạy lại kẻ khác và hướng dẫn những kẻ lầm lạc” (Tít 1;9). Sau khi vạch rõ trách nhiệm của các cấp lãnh đạo hội thánh, Phao-lô đề cập bản chất chủ yếu của việc họ trực tiếp đối đầu là để “làm câm miệng” những kẻ phá đổ cả nhà người ta (câu 11).
Trong Cong Cv 20:29-30 Phao-lô khuyên các cấp lãnh đạo thuộc linh Ê-phê-sô:
Vì tôi biết sau khi tôi đi, sẽ có phần tử giả mạo trà trộn phá hoại anh em như lang sói độc ác chẳng tiếc gì bầy chiên. Trong anh em cũng sẽ có người xuyên tạc chân lý để lôi cuốn tín hữu.
Các cấp lãnh đạo Hội thánh có trách nhiệm bảo vệ bầy khỏi những cuộc tấn công từ bên ngoài chức vụ và khỏi bị chia rẽ bên trong chức vụ. Người lãnh đạo có tình yêu thương chăm sóc bầy chiên và bảo vệ nó, bất chấp bản thân có thể bị chê bai chỉ trích vì làm như thế. Chẳng ai muốn trực tiếp đối đầu với kẻ xấu cả, nhưng các cấp lãnh đạo thuộc linh phải làm việc ấy bằng tình yêu thương.
Rồi Phao-lô lại đề cập vấn đề trực diện với kẻ xấu khi ông nhấn mạnh: “Thưa anh em thân yêu, nếu có tín hữu nào bị tội lỗi quyến rủ, anh em là người có Thánh Linh hãy lấy tinh thần dịu dàng khiêm tốn dìu dắt người ấy quay lại đường chính đáng. Anh em phải cẩn thận giữ mình để khỏi bị quyến rủ”. Còn trong ICo1Cr 4:14-16, ông viết những lời đầy yêu thương này về việc trực tiếp đối đầu với kẻ xấu:
Tôi viết những điều này, không phải để anh em xấu hổ, nhưng để khuyên răn anh em như con cái thân yêu. Dù anh em có một vạn thầy giáo trong Chúa cứu Thế, nhưng chỉ có một người cha: tôi đã dùng Phúc Âm sinh anh em trong Chúa Cứu Thế. Nên tôi khuyên nài anh em bắt chước tôi.
Đây là một người cha giàu tình thương trực diện với con cái mình. Ông ta muốn cảnh cáo và răn dạy chúng, không phải vì chống lại chúng và cố hạn chế các hoạt động và niềm vui sống của chúng, nhưng làm như thế là để bảo vệ chúng khỏi huỷ hoại cuộc đời chúng.
Tiến trình sửa trị của Hội thánh.
Phần khó khăn nhất của công tác lãnh đạo thuộc linh là trực diện để cảnh cáo các tín hữu về hậu quả của các hành động của họ. Trên khắp thế giới việc sửa trị của Hội thánh đang rất thiếu sót. Đã có việc khoan dung cao độ đối với cách ăn ở tội lỗi. Tương đối chủ nghĩa và tư tưởng trần tục đã góp phần vào vấn đề khổng lồ này. Giờ đây, quyền lợi cá nhân được coi trọng hơn trách nhiệm tập thể.
Môi trường để trực diện với những kẻ làm quấy vốn rất khó. Phần đông người khác đều không muốn nghe chuyện ấy. Họ cực lực chỉ trích và khăng khăng bảo rằng đó không phải là công việc của chúng ta. Nhưng theo Lời Chúa, thì đó là công việc của chúng ta, và chúng ta phải làm cho xong.
Tiến trình trực diện và sửa trị của Hội thánh đã được Chúa chúng ta phác thảo rõ ràng:
Nếu anh em con có lỗi với con, nên đến nói riêng cho anh ấy biết. Nếu anh ấy giác ngộ, nhận lỗi, thì con được lại anh em. Nếu anh không nghe, con nên nên mời một vài nhân chứng đến xác nhận điều con nói. Nếu anh vẫn không nhận lỗi, con báo cáo cho Hội thánh. Nếu ngoan cố không nghe Hội thánh, anh sẽ bị Hội thánh tuyệt giao và khai trừ. Ta quả quyết với các con, điều gì các cấm đoán dưới đất sẽ bị cấm đoán trên trời, điều gì các con cho thực hành dưới đất sẽ được thực hành trên trời. Ta cũng quả quyết: Nếu hai người trong các con đồng tâm cầu xin bất cứ điều gì, Cha ta trên trời sẽ thực hiện điều đó. Nếu hai ba người trong các con nhân danh ta họp mặt, ta sẽ đến với họ (Mat Mt 18:15-20).
Bước 1: Trực diện cá nhân và riêng tư . Nếu chịu nghe, nhận tội và ăn năn, thì mục đích đã đạt được. Tình yêu thương của người trực diện sẽ khoả lấp các tội lỗi (IPhi 1Pr 4:8) và không nhắc lại điều đó cho bất kỳ ai khác.
Chính tại điểm này mà nhiều rắc rối đã xảy ra. Thường thường thì các cấp lãnh đạo sẽ thảo luận một tình hình trong một nhóm hay với một vài người khác trước khi chính mình gặp riêng người kia. Việc này dẫn tới nhiều tiếng đồn và lời buộc tội sai lầm. Càng có đông người chen vào tại điểm này, thì tổn hại sẽ càng lớn rộng thêm.
Nếu người kia không chịu nghe trong cuộc đối đầu riêng tư, thì.....
Bước 2: Trực diện với hai hoặc ba nhân chứng . Nhiều khi một người sẽ sửa đổi câu chuyện, hay xuyên tạc các sự kiện, hoặc bảo rằng mình không có nói điều mà người trực diện mình bảo là mình nói. Chính vì thế mà cần phải có hai hoặc ba nhân chứng tham gia khi kẻ phạm tội không chịu đáp ứng với sự trực diện cá nhân và riêng tư. Câu phát biểu của Chúa Giê-xu “Nếu hai ba người trong các con nhân danh ta họp mặt, ta sẽ đến với họ” (Mat Mt 18:20), đề cập việc sửa trị của Hội thánh chứ không phải việc hội họp căn bản của một Hội thánh!
Nếu người kia chịu nghe thì chẳng cần phải có biện pháp gì thêm nữa. Theo kinh nghiệm của tôi, thì nhiều người sẽ nhận điều họ đã làm và thật sự “chịu nghe” tại điểm này của cuộc trực diện khi có hai nhân chứng hoặc nhiều hơn. Phần lớn việc sửa trị của Hội thánh đã có thể hoàn tất ở hai bước căn bản đầu tiên này. Nếu càng có nhiều lãnh vực phục vụ chịu cẩn thận thực thi các bước này theo trình tự đã nêu, sẽ có ít rắc rối hơn trong những buổi họp công cộng, và ít có chuyện ngồi lê đôi mách và tiếng đồn lan truyền về tội lỗi của một người nào đó.
Bước 3: Kể lại sự việc ấy với Hội thánh . Thật là khó biết rõ đã có ngụ ý gì ở đây, nhất là con số các thành viên của Hội thánh Giê-ru-sa-lem lên đến nhiều ngàn người. Làm thế nào để áp dụng việc này, nếu nó có nghĩa là việc toàn thể các thành viên phải họp lại để nghe một chuyện như thế? Có lẽ đây là việc phải làm trong những giai đoạn mà sự tăng trưởng của Hội thánh hãy còn nhỏ hơn, không có quá đông người.
Điều dường như hữu lý hơn là các cấp lãnh đạo của Hội thánh mới là nhóm người quan trọng nhất để đối phó với tình hình. Sau lần trực diện cá nhân và riêng tư, và trường hợp gồm luôn hai ba người chứng, bước tiếp theo sẽ có sự tham gia của bộ phận quản trị chính thức của Hội thánh, thường do các trưởng lão đại diện. Điều này có thể giải thích lời răn bảo trong Tit Tt 1:9 dành cho các trưởng lão hoặc giám mục.
Nếu người anh em kia chịu đáp ứng với cuộc trực diện và trình bày chính thức này thì hãy tạ ơn Chúa! Sẽ chẳng còn phải làm gì nữa cả, và các cấp lãnh đạo phải bảo vệ cho người ấy khỏi bị tổn hại hay chê trách gì thêm.
Bước 4: Khai trừ người ấy . Đến đây thì các cấp lãnh đạo chẳng còn có cách chọn lựa nào khác hơn là kể người anh em kia như một người không tin Chúa - “một người ngoại quốc và là kẻ thu thuế”. Nghĩa là người ấy phải bị loại trừ, không còn được giao hảo như một thành viên của Hội thánh nữa. Chủ đích của hành động này là nhằm phục hồi địa vị cho một người anh em, chứ không phải là giải quyết cho xong vấn đề.
Trong ICo1Cr 5:1-13, chúng ta có trường hợp một thành viên của Hội thánh phạm tội loạn luân. Lời truyền dạy ở đây là loại người anh em phạm tội ra khỏi đoàn thể. Trong câu 5, vị sứ đồ đã răn bảo họ: “chúng ta giao người ấy cho Sa-tan để huỷ diệt thân xác, nhưng linh hồn được cứu khi Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại”.
Do không còn được chiếc dù (ô) của Hội thánh, các thành viên và các cấp lãnh đạo của nó che cho nữa, giờ đây người anh em phạm tội nọ phải nhận chịu hậu quả của các hành động của mình như chưa từng gặp trước kia. Sự kiện đáng chú ý trong câu chuyện này, là người anh em ấy đã ăn năn. Và trong IICô-rinh-tô, Phao-lô khuyên Hội thánh phục hồi địa vị cho người ấy để chứng tỏ tình yêu thương của họ đối với người ấy vì người ấy đã biết ăn năn.
Lãnh Đạo Bằng Gương Tốt
HeDt 13:7 dạy: “Anh em hãy nhớ đến những người dìu dắt và truyền dạy lời Chúa cho mình. Hãy nghĩ đến kết quả tốt đẹp của đời sống họ và học tập lòng tin Chúa của họ”. Trong IPhi 1Pr 5:3, Phi-e-rơ viết rằng các cấp lãnh đạo phải làm “gương tốt” cho bầy. Trong ITi1Tm 5:17-18 Phao-lô nói về các cấp lãnh đạo đang cai trị:
Con hãy hết lòng tôn kính các trưởng lão khéo lãnh đạo Hội thánh, đặc biệt là những người đã dày công truyền giáo và giáo huấn. Vì Thánh Kinh đã dạy: Con đừng khớp miệng con bò đang đạp lúa và người làm việc thì xứng đáng lãnh thù lao.
Trong 3:4, 5 các đòi hỏi cho khả năng lãnh đạo của một trưởng lão phát sinh từ sinh hoạt gia đình của người ấy:
Giỏi việc tề gia, dạy dỗ con cái biết vâng phục trọn vẹn. Nếu không biết tề gia, làm sao cai trị Hội thánh của Thượng Đế?
Ở đây, việc quản trị Hội thánh được mô tả bằng mấy chữ “cai trị” (bản Anh văn là “săn sóc”) - là những từ đã được dùng ở LuLc 10:1-42 trong câu chuyện về Người Sa-ma-ri nhân từ chăm sóc cho các nhu cầu thuộc thể và vật chất của người bị kẻ cướp đánh đập rồi bỏ cho chết. Người lãnh đạo giàu tình thương cai trị hay lãnh đạo bằng gương tốt và từng trải trong gia đình của họ, quản lý việc của Hội thánh bằng một tấm lòng chăm lo săn sóc các tín đồ và phục vụ các nhu cầu của họ.
Trong tất cả các vấn đề này, người ta thấy được tình yêu thương của người lãnh đạo và những hành động chứng minh xứng đáng với tước vị “lãnh đạo thuộc linh”. Chúng ta đang cần càng nhiều hơn những nhà lãnh đạo biết rõ tình yêu thương của Thượng Đế và chứng minh nó trong mọi trách nhiệm và hành động đối với các tín đồ.
BẢNG KIỂM ĐIỂM CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
1. Hãy liệt kê vài đức tính của tình yêu của Thượng Đế mà bạn muốn có trong chính đời sống mình.
2. Tại sao bạn nghĩ rằng nhiều cấp lãnh đạo vốn thiếu tình yêu thương trong các mối liên hệ giữa họ với các tín đồ?
3. Bạn có thể cho một thí dụ cụ thể về thế nào một người lãnh đạo đã chứng tỏ tình yêu thương bằng chính việc người ấy đã làm không? Việc làm ấy có được tiếp nhận như một hành động do tình yêu thương không?
4. “Chăn bầy” có nghĩa gì?
5. Các cấp lãnh đạo có thể trợ giúp các nhu cầu thuộc thể và vật chất như thế nào?
6. Hãy giải thích các bước của công tác sửa trị của Hội thánh, và cho thí dụ minh hoạ nếu bạn có thể rút ra từ kinh nghiệm bản thân.
7. Hội thánh của bạn có thể củng cố địa vị của mình và thực thi việc sửa trị của Hội thánh như thế nào?
8. Bạn có phải là một người lãnh đạo không? (Chương tiếp sau đây rất quan trọng!)



† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 18-12-2017 10:57 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách