† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2103|Trả lời: 0

CA TỤNG ÂN ĐIỂN LẠ LÙNG CỦA CỨU CHÚA GIÊ-XU CHRIST

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 3-5-2015 21:51:48 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa
CA TỤNG ÂN ĐIỂN LẠ LÙNG CỦA CỨU CHÚA GIÊ-XU CHRIST
Mục sư: Phan Văn Hiệu

MỤC LỤC:

Lời nói đầu
1. Được cứu rỗi bởi Ân điển.
2. Được đắc thắng nhờ Ân điển.
3. Được kêu gọi bởi Ân điển.
4. Được tấn tới trong Ân điển.
5. Được phục vụ cho Ân điển.
6. Được bảo vệ bởi Ân điển.
7. Được thỏa mãn trong Ân điển.

LỜI NÓI ĐẦU
Ân điển là ân huệ do bề trên ban cho con người ngoài luật
định. Những bậc cầm quyền trong các nước thường ban ân
điển cho người dân như án giảm, ân xá, phục quyền công
dân, vinh thăng cấp bậc … Đó là ân điển thường.
Ân điển phi thường xưa nay chỉ có một là ÂN ĐIỂN CỦA
ĐỨC CHÚA TRỜI trong CỨU CHÚA GIÊ-XU CHRIST.
Thật là vinh hạnh và bất ngờ cho chúng tôi khi nhận được
Ân điển phi thường nầy. Nhờ đó chúng tôi được tha tội cách
nhưng không, được sanh lại làm con của Thượng Đế, được
nên thánh và có hi vọng đời đời.
Đặc biệt hơn nữa, chúng tôi được Chúa kêu gọi theo phục
vụ cho Ân điển Ngài trải qua trên nửa thế kỷ.
Với lòng biết ơn Chúa sâu xa, chúng tôi xin sơ thuật lại
một ít từng trải ơn phước của Chúa ban cho trong đời sống và
qua chức vụ. Mục đích để chia sẻ cho những bạn có đồng một
tâm tình như chúng tôi, hầu tiếp nhận, phục vụ và ca tụng Ân
điển lạ lùng của Cứu Chúa.
Nguyền xin Ân điển của Cứu Chúa Giê-xu ở với mọi
người khi đọc những lời chứng thực trong quyển sách nhỏ
này. A-men!

California, ngày 01 tháng 01 năm 1980.


I. ĐƯỢC CỨU RỖI DO ÂN ĐIỂN
Tôi ra đời năm 1906, nhà tôi sanh năm 1908. Chúng tôi ở
cùng quận Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một, Nam phần nước Việt
Nam.
Thân phụ chúng tôi đều là người đạo đức, chịu ảnh hưởng
Khổng giáo, được bà con trong quận kính nể.
Từ thuở nhỏ, chúng tôi tin có ông Trời, tức là Thượng Đế,
Đấng tạo hóa cầm quyền trong vũ trụ và trên đời sống mỗi
người. Chúng tôi có ý muốn thờ Thượng Đế nhưng không
biết thờ cách nào cho đúng chân lý.
Tin rằng Thượng Đế biết rõ tấm lòng khao khát của chúng
tôi, nên vào khoảng đầu năm 1925, Ngài khiến cho một ông
bán sách lưu động ghé lại nhà chúng tôi. Ông giới thiệu các
kinh, sách và đạo Tin Lành. Ông nói tôn chỉ của đạo Tin
Lành chỉ thờ một Đức Chúa Trời Ba Ngôi, tức là Đấng tạo
hóa vũ trụ và là Đức Thượng Đế chí cao. Có toàn bộ Kinh
Thánh chỉ dạy cách thờ rất rõ ràng.
Đức Chúa Trời dựng nên loài người đặc biệt hơn loài vật,
ban cho họ làm chủ muôn vật, mọi loài. Đức Chúa Trời rất
yêu thương loài người nhưng loài người đã bất tuân lệnh
Chúa nên đã phạm tội.
Theo luật công bình thì loài người phải bị hình phạt hư
mất đời đời, nhưng Đức Chúa Trời quá thương loài người
đến nỗi đã ban Con Một của Ngài làm Cứu Chúa hầu cho hễ
ai tin nhận Ngài thì không bị hư mất mà được sự sống đời
đời.

Con Một của Đức Chúa Trời, tức là Cứu Chúa Giê-xu
Christ đã giáng sanh trước đây gần hai ngàn năm tại nước Do
Thái. Ngài là Đấng vô tội nhưng tình nguyện hi sinh chịu
đóng đinh chết trên cây thập tự để chuộc tội cho nhân loại.
Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại để
chứng chắc sự chuộc tội của Ngài đã làm trọn.
Sau khi sống lại, Ngài hiện ra cùng các môn đồ trong bốn
mươi ngày và dạy dỗ họ nhiều điều. Trước khi thăng thiên,
Ngài phán cùng các môn đồ rằng: “Hết cả quyền phép trên
trời và dưới đất đã giao cho Ta. Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân,
hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà
làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà
Ta đã dạy các ngươi. Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi
luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:18-20).

Sau khi đàm thoại với ông bán sách một thời gian khá lâu,
tôi mua tất cả những kinh, sách ông sẵn có và bắt đầu đọc
cách cẩn thận. Chúa mở lòng và trí cho tôi khi đọc Kinh
Thánh. Tôi nhận biết mình là tội nhân trước mặt Chúa và
nhận thấy tình thương cao cả của Ngài đã ban ân điển tha tội
cách nhưng không do sự chuộc tội của Cứu Chúa Giê-xu
Christ.

Sau đó, tôi đến tham dự các buổi giảng đạo tại giảng
đường trong tỉnh. Một hôm, sau bài giảng rất cảm động của
vị mục sư, tôi hạ mình cầu nguyện tin nhận Chúa. Khi đã cầu
nguyện xong, tôi cảm thấy trong lòng rất vui vẻ, nhẹ nhàng
và sung sướng lạ thường. Về sau tôi được biết chính lúc đó
tôi đã được cứu rỗi và tái sanh như lời Chúa Giê-xu đã hứa:
“Hễ ai tin nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên
con cái Đức Chúa Trời.” (Giăng 1:12). Và Thánh Phao-lô
chứng rằng: “Vả, ấy là nhờ Ân điển, bởi đức tin mà anh em
được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban
cho của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 2:8).
Trở về nhà tôi bắt đầu làm chứng về Chúa cho gia đình, bà
con và bạn hữu. Ban đầu mọi người ngạc nhiên và phản đối.
Tôi tin lời Phao-lô nói: “Hãy tin Đức Chúa Giê-xu thì ngươi
và cả nhà ngươi đều sẽ được cứu rỗi” (Công Vụ 16:31). Tôi
cứ cầu nguyện, xin Chúa cứu cả gia đình tôi. Đồng thời, nhờ
ân điển và quyền năng của Thánh Linh giúp tôi có một sự đổi
mới trong đời sống. Trải qua một thời gian, Chúa đáp lời,
khiến cha, mẹ, vợ và các em tôi đều cầu nguyện tin Chúa, cả
thảy 8 người. Ha-lê-lu-gia!

II. ĐƯỢC ĐẮC THẮNG NHỜ ÂN ĐIỂN

Khi hay gia đình chúng tôi theo đạo, thì nhiều người trong
họ hàng rất bất bình, tức giận, dùng những lời nặng nề đả
kích, lên án chúng tôi là con bất hiếu, bỏ ông bà theo đạo
ngoại quốc.

Vì biết rằng người ta không hiểu hoặc hiểu sai nên chúng
tôi bình tĩnh dùng lời Kinh Thánh giải đáp.
Theo đạo Tin Lành không phải là bất hiếu vì mười điều
răn của Chúa trong Kinh Thánh, điều thứ năm Chúa phán
rằng: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi hầu cho ngươi được
phước và sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời
ngươi ban cho” (Xuất Ê-díp-tô ký 20:12).
Hiếu thật là yêu thương, tôn trọng và vâng phục cha mẹ
trong những điều hợp với chân lý và nhân đạo.
Kinh Thánh dạy: “Hỡi kẻ làm con cái hãy vâng phục cha
mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm”. Vâng phục cha
mẹ mình trong Chúa nghĩa là vâng phục trong những điều
hiệp với lời Đức Chúa Trời dạy trong Kinh Thánh. Và những
điều Chúa dạy đều là hiệp với chân lý và nhân đạo. Chúa dạy
rằng: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà
kính mến Đức Chúa Trời ngươi và yêu người lân cận như
mình” (Lu-ca 10:27). Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và
Thiên Phụ của nhân loại, kính mến Ngài hết lòng là chân lý.
Yêu thường người lân cận như mình, như điều răn Chúa dạy
rằng: “Ngươi chớ giết người, ngươi chớ phạm tội tà dâm,
chớ trộm cướp, chớ nói dối, chớ tham lam …” Mỗi người chỉ
một vợ, một chồng mà thôi, đã thành hôn rồi không nên để
bỏ, đó là hiệp nhân đạo.

Cha mẹ hiền thì bổn phận làm con phải vâng phục cha mẹ,
nếu rủi gặp cha mẹ chẳng hiền thì bổn phận làm con chẳng
những không nên theo mà còn lấy lòng yêu thương, cung
kính cản ngăn cha mẹ nữa, thế mới là người con đại hiếu.
Theo đạo Tin Lành không phải là bỏ ông bà, tức là bỏ các
thuần phong mỹ tục từ ngàn xưa ông bà di truyền lại như:
lòng yêu nước, tôn kính tổ tiên. Thương yêu ông bà cha mẹ
đó là những điều rất phải lẽ, chỉ bỏ những tập tục dị đoan, mê
tín du nhập từ ngoại quốc đã lỗi thời mà thôi.

Đạo Tin Lành không phải là đạo của ngoại quốc.

Đấng sáng lập đạo Tin Lành là Đức Chúa Giê-xu Christ,
Con độc sanh của Đức Chúa Trời do Đức Chúa Trời sai đến
làm Cứu Chúa của thế gian chớ không phải riêng cho một
dân tộc nào.
Xin nghe lời các Thiên sứ báo tin cho bọn chăn chiên
ngoài thành Bết-lê-hem, cũng gọi là thành Đa-vít trong đêm
Cứu Chúa giáng sinh rằng: “Đừng sợ chi, vì nầy, ta báo cho
các ngươi một tin tốt lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho
muôn dân. Ấy, là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các
ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa” (Lu-ca 2:10-
11).

Khi Cứu Chúa khởi sự làm chức vụ cứu thế, Ngài tuyên
phán rằng: “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần,
các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành” (Mác 1:15).
Trong ba năm truyền đạo lưu động khắp nước Palestine,
Ngài luôn giảng trong các nhà hội người Do Thái, trong các
tư gia, nơi mé biển, trong đồng vắng, ngoài đường phố …
Ngài phán rằng: “Tin Lành nầy thuộc về nước Đức Chúa
Trời, sẽ được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân,
bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” (Ma-thi-ơ 24:14). Sứ mạng
Chúa phán cùng các môn đồ rằng: “Hãy đi khắp thế gian
giảng Tin Lành cho mọi người” (Mác 6:15).

Thánh Phao-lô, một nhà tri thức Do Thái, trước đã hiểu
lầm Chúa Giê-xu và đạo Tin Lành, ông quyết bắt bớ làm tàn
hại hội thánh. Nhưng sau khi ăn năn trở lại đạo, ông liền
giảng dạy rằng: "Đức Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời,
Ngài đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội. Ấy là lời
chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy, trong
những kẻ có tội đó, tôi là đầu. Thật vậy, tôi không hổ thẹn về
Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu
mọi kẻ tin. Trước là dân Do Thái, sau là các dân khác." Ông
đã dâng trọn cuộc đời, đem Tin Lành từ Á sang Âu, thành lập
nhiều hội thánh và cuối cùng chịu tử vì đạo tại thành La Mã
năm 67 S.C.

Tin Lành thuần túy, theo Kinh Thánh là đạo của Thiên
Chúa và là đạo chung của cả thiên hạ vậy.

Tin Lành là đạo của Thiên Chúa, tại sao phát xuất tại nước
Do Thái?
Đây là theo thánh ý Chúa.

1. Về dân tộc: Do Thái là dân được Đức Chúa Trời lựa
chọn. Tổ phụ của họ là Áp-ra-ham, người có đức tin lớn và
hết lòng kính sợ Chúa. Áp-ra-ham quê ở U-rơ, Chúa phán
cùng ông rằng: “Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con
và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho
ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm
nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ
ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào
rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà
được phước” (Sáng Thế Ký 12:1-3). Các lời trên đây đã được
ứng nghiệm trọn vẹn nơi dân Do Thái.
Dầu theo phần xác, Đức Chúa Giê-xu là dân Do Thái,
nhưng theo Thần Linh thì bởi sự sống lại từ trong kẻ chết
được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền năng là Cứu Chúa
của chúng ta (Rô-ma 1:4).

2. Về địa dư: Nước Do Thái ở vào nơi giáp giới của ba
châu: Âu, Á, Phi, tức là trung tâm của thế giới đang thời đó.
Đến ngày nay, vùng này gọi là vùng Trung Đông, vẫn còn là
như vậy.
Sở dĩ đạo Chúa đến Âu châu trước là vì lòng người loạn
nghịch, chứ không phải Cơ Đốc giáo ra từ Âu châu, trái lại
phát xuất từ Á châu là đúng hơn.

3. Về tín ngưỡng: Chúa đã dự bị nhiều năm, ban cho dân
Do Thái bộ Thánh Kinh, trong đó có nhiều lời tiên tri nói rõ
về các dấu hiệu của Đấng Cứu Thế sẽ ra đời. Nhưng dân Do
Thái cứng lòng, không tin và giết Ngài đi. Họ giết Chúa
nhưng Ngài không tiêu diệt, trái lại Ngài đang sống và trở
nên Cứu Chúa của nhân loại (Công Vụ 2:24,36).

4. Về văn chương: Trước Chúa giáng sinh, nước Hy Lạp
thống trị cả vùng nầy, đem văn chương Hy Lạp phổ biến
trong các nước. Khi Cơ Đốc giáo phát khởi, các môn đồ dùng
tiếng Hy Lạp rao giảng, nên đạo Chúa phát triển rất mau
chóng.

5. Về chính trị: Nhằm thời kỳ Chúa giảng đạo, thì nước La
Mã thống trị cả thế giới. Chính quyền mở mang đường xá, sự
giao thông rất tiện lợi. Khi đạo Chúa phát khởi từ Giê-ru-sa11
lem thì lan tràn khắp nơi cách dễ dàng. Chính sứ đồ Phao-lô
đem Tin Lành đến thành La Mã là thủ đô của thế giới thời
bấy giờ. Ứng nghiệm sứ mạng chót của Chúa phán cùng môn
đồ rằng: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi,
thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại
thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến
cùng trái đất” (Công Vụ 1:8).

Bây giờ, trở lại lúc ban đầu chúng tôi mới tin Chúa. Mặc
dầu có nhiều sự cám dỗ, chống đối, nhưng nhờ ân điển và
quyền năng của Thánh Linh, chúng tôi đã đắc thắng.
Chúng tôi hiệp với tôi tớ Chúa cách chặt chẽ, làm chứng
về Chúa cho đồng bào. Chúa ban cho các phép lạ, chữa bịnh,
đuổi quỷ ám, nhiều người dẹp hình tượng tà thần, cầu nguyện
tin nhận Chúa. Có người sau khi tin Chúa, bỏ được tật ghiền
rượu, hút thuốc lá, cờ bạc, có bà bỏ nhai trầu. Nhiều người
thấy gương tốt các tín đồ thì dẫn gia đình cầu nguyện tin theo
Chúa.
Hàng tuần, anh em nhóm lại học lẽ đạo căn bản rất vui vẻ.
Học cầu nguyện và cách làm chứng về Chúa. Tuần nào cũng
có người mới tin nhận Chúa.
Trải qua thời gian mấy tháng, hội thánh tổ chức làm lễ
báp-têm cho những người được ơn hơn hết. Kết quả được
trên 40 người nhận lễ báp-têm, làm tín đồ chính thức của hội
thánh.
Sau khi nhận lễ báp-têm, anh em rất sốt sắng nhóm lại
ngày Chúa Nhật để thờ lạy Chúa và nghe giảng lời Chúa.
Trong nhà tín đồ không đủ chỗ nhóm, anh em hiệp lại lạc
quyên tiền để thuê nhà riêng, đóng bàn ghế, tòa giảng, mở
giảng đường đặc biệt và giảng Tin Lành cho đồng bào.
Nhân dịp kỷ niệm lễ Giáng Sinh, hội thánh tổ chức buổi lễ
long trọng, mời nhiều khách đến tham dự. Buổi lễ được nhiều
người hoan nghinh. Thế là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam tại
Bến Cát được thành lập kể từ lễ Giáng Sinh 1925 vậy. Ha-lêlu-
gia!

III. ĐƯỢC KÊU GỌI BỞI ÂN ĐIỂN

Năm 1926, tôi đang làm việc trong một công sở tại Bến
Cát thì được chuyển sang một sở khác trong tỉnh Gia Định
gần Sài Gòn.
Đến nhiệm sở mới, trách nhiệm nặng, công việc nhiều,
nhưng chúng tôi vẫn biệt riêng thì giờ cầu nguyện và tự học
Kinh Thánh. Hàng tuần, chúng tôi thăm viếng đồng bào trong
sở và ngoài làng, làm chứng về Chúa và tìm người dẫn về
Chúa. Chúa cho có một số người đã cầu nguyện tin Chúa,
chúng tôi rất vui mừng, luôn thăm viếng và chăm sóc phần
thuộc linh, hướng dẫn anh chị em tiến lên trong Ân điển
Chúa.
Muốn đi xa hơn trong những làng chung quanh để rao
truyền danh Chúa cho đồng bào, nhưng vì nhiệm vụ của sở,
không thể thực hiện như ý muốn. Chúng tôi rất buồn, chúng
tôi cứ cầu xin Chúa cho biết phải làm sao để đạt đến mục tiêu
ấy.
Một hôm, đang khi cầu nguyện, tôi nghe tiếng nói nhỏ
trong trí rằng: Sao không dâng mình đi học Kinh Thánh và
hầu việc Chúa? Chúng tôi bàn luận cùng nhau và cho đó là
tiếng Chúa kêu gọi. Chúng tôi cứ cầu xin Chúa cho biết rõ ý
Ngài hơn.
Ban đầu tài chính rất thiếu thốn, chúng tôi cậy đức tin gửi
đơn xin vào học Kinh Thánh tại Trường Kinh Thánh Đà
Nẵng. Bảy tháng sau, được thư của ông Đốc học bằng lòng
nhận vào học, miễn phải đóng đủ phần phí và các chi phí lặt
vặt khác. Chúng tôi rất vui mừng, gửi đơn xin thôi sở để đi
học Kinh Thánh.
Khi nghe chúng tôi nhất định nghỉ việc đi học Kinh
Thánh, bà con, bạn hữu nhiều người không tán thành, tìm
nhiều cách cám dỗ và ngăn trở. Trong số anh em cũng có
quyến luyến không muốn chúng tôi đi xa họ. Nhất là ông chủ
sở đang tín nhiệm tôi, nhất định không chấp thuận cho thôi
việc. Ông tìm cách cám dỗ không được, ông lại hăm dọa.
Nhưng chúng tôi cương quyết không thể ở lại làm việc nữa.
Sẵn có một anh bạn đang cần việc làm, chúng tôi giới thiệu
cho ông, bất đắc dĩ ông phải chấp thuận. Thế là Chúa đã đáp
lời cầu xin của chúng tôi.
Thật cảm tạ ơn Chúa, như lời sứ đồ Phao-lô nói rằng:
“Đức Chúa Trời, đã để riêng chúng tôi ra từ trong lòng mẹ,
lấy ân điển gọi chúng tôi, vui lòng bày tỏ con Ngài ra trong
chúng tôi, hầu cho chúng tôi rao truyền Con đó ra trong
người ngoại đạo, thì lập tức chúng tôi chẳng bàn với thịt và
máu” (Ga-la-ti 1:15-16).

IV. ĐƯỢC TẤN TỚI TRONG ÂN ĐIỂN

Điều mong ước bấy lâu nay đã thành sự thật. Chúng tôi đã
vào Trường Thần Học. Đối với chúng tôi, không gì thích thú
cho bằng hằng ngày ngồi dưới chân Chúa, tương giao và học
hỏi lời Ngài.
Các môn học năm thứ nhất như sau: Thánh Kinh Thông
Lãm, Thánh Kinh Địa Dư, Thần Đạo Thiết Yếu, Bốn Sách
Tin Lành, Cá Nhân Chứng Đạo Pháp, Thư Cô-rinh-tô I.
Nhưng đặc biệt hơn hết đó là học cầu nguyện và chịu thử
thách. Cầu nguyện xem như dễ mà kỳ thật rất khó. Người cầu
nguyện phải có lòng thật tin kính Chúa, thánh khiết, kiên
nhẫn, luôn bước theo Đức Thánh Linh thì lời cầu xin mới
được linh ứng.
Người truyền đạo là người lính của Chúa Giê-xu, trước khi
ra trận phải chịu luyện tập, thử thách đủ mọi phương diện.
Phải triệt để tuân theo kỷ luật của nhà trường. Phải hòa hợp
với các bạn, trở nên mọi cách cho mọi người, nhưng phải tôn
Chúa trên hết. Có bạn chịu không nỗi, nửa chừng phải bỏ
cuộc.
Cảm tạ ơn Chúa đã thêm sức cho chúng tôi, nên được tấn
tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa là Cứu Chúa
Giê-xu Christ (II Phi-e-rơ 3:18).
Sau năm học thứ nhất, bốn tháng nghỉ hè cũng là một dịp
để chịu thử thách đức tin. Chúng tôi phải tự lực đi thăm
viếng, làm chứng về Chúa cho đồng bào. Ngày Chúa Nhật
hiệp tác với các hội thánh hầu việc Chúa để trao đổi ơn
phước và kinh nghiệm. chúng tôi nhận được rất nhiều phước
hạnh trong kỳ nghỉ hè nầy.
Trở về trường học năm thứ hai. Các môn học năm nay như
sau: Thần Đạo Học, Sử Ký Hội Thánh, Cơ Đốc Giáo Chứng
Cớ, Tiên Tri Đa-ni-ên, Thư La Mã, Truyền Đạo Pháp, Truyền
Đạo Cho Thiếu Nhi, Tổ Chức Trường Chúa Nhật. Ngày thứ
bảy, tất cả các học sinh và sinh viên phải đi vào các làng xóm
xa để thăm viếng đồng bào và thực tập chứng đạo.
Sau hai năm học lý thuyết, chúng tôi được Chúa sai đến
thi hành chức vụ truyền đạo tại tỉnh Trà Vinh.
Hội thánh tại đây mới mở, chỉ có một số tín đồ là con đỏ
trong Đấng Christ. Cậy ân điển Chúa, chúng tôi lấy tình
thương nâng đỡ, nuôi nấng anh chị em được lớn lên trong ân
điển Chúa.
Dầu hội thánh có ít người, chúng tôi cũng tổ chức Trường
Chúa Nhật; chia ra ba lớp: Nam, Nữ và Nhi đồng. Cử các
giáo viên và huấn luyện họ về cách dạy và dạy bài cho anh
chị em trước một tuần, để họ dạy lại trong ngày Chúa Nhật.
Nhờ cách nầy sau một năm, mỗi giáo viên tự kê cứu bài học
và rất ham thích dạy bài học, thu hút thêm nhiều học viên
mới.
Hằng tuần, chúng tôi cũng huấn luyện các ông bà anh chị
em có ơn hơn hết biết cách tiếp xúc với người ngoài, giới
thiệu Chúa và lời Kinh Thánh cho đồng bào và dẫn người về
Chúa.
Chúng tôi luân phiên hướng dẫn bên nam và bên nữ đi
thăm viếng và làm chứng về Chúa cho đồng bào. Anh chị em
rất vui mừng khi có dịp nói về Chúa cho người khác, nhất là
gặp người hoan nghinh và tin Chúa.
Ngoài ra trong tuần lễ, tôi biệt riêng một hoặc hai ngày đi
xa gieo giống Tin Lành. Với chiếc xe đạp, tôi đi từ làng nầy
qua làng khác, hầu khắp các nơi quan trọng trong các quận,
làng. Chúng tôi không ngại bán sách và biếu những sách nhỏ.
Trải một năm, tôi gặp đủ các hạng người, cả trong các tôn
giáo. Người hoan nghinh, kẻ công kích, nhạo báng và xua
đuổi nữa. Nhưng rất tạ ơn Chúa, được một số người bằng
lòng tin nhận Chúa; trong số đó có gia đình ông Nguyễn Văn
Lê ở tại quận Trà Cú. Mặc dù bị gia đình phản đối, bạn hữu
chê cười, nhưng ông đã đứng vững và dẫn dắt nhiều người tin
nhận Chúa. Về sau thành lập được hội thánh tại quận nầy.
Thật tạ ơn Chúa!
Mãn nhiệm kỳ hầu việc Chúa tại đây, chúng tôi trở về
trường học năm chót vào niên khóa 1929-1930.
Khóa nầy có các môn học như sau: Thần Đạo Học II, Sử
Ký Hội Thánh II, Truyền Đạo Pháp II, Sách Tiên Tri Ê-sai,
Thư Ga-la-ti, Thư Ê-phê-sô, hai thư Ti-mô-thê hay là Giám
Mục Học.
Năm nay, chuyên về thực hành hơn là lý thuyết.
Lớp tốt nghiệp năm nay gồm có 8 sinh viên như sau:
Nguyễn Châu Đường, Lê Nguyên Anh, Huỳnh Văn Huấn, Lê
văn Hiến, Duy Cách Lâm, Dương Tự Ấp, Nguyễn Văn
Nhung (người miền Nam) và Phan Văn Hiệu.
Ban giáo sư chọn hai sinh viên soạn và đọc bài diễn văn
trong buổi lễ tốt nghiệp được cử hành tại thánh đường Đà
Nẵng ngày 30-04-1930. Phan Văn Hiệu với đề tài Tìm Chiên,
và Lê Nguyên Anh đề tài: Giữ Chiên.
Tinh thần hai bài nầy đã ấn tượng mạnh trong tâm khảm
chúng tôi, nhờ đó đời sống thuộc linh được phấn khởi, hăng
hái trong chức vụ và chức vụ được may mắn, có kết quả tốt.
Cảm ơn Chúa!
Có bài thơ kỷ niệm lớp tốt nghiệp như sau:
ĐƯỜNG Trời mở rộng khắp vùng Đông.
ANH kiệt kiên trì cố gắng công.
HUẤN đạo cứu người nên trọn nghĩa.
HIẾN thân hầu Chúa phải toàn trung.
LÂM sơn bao quản trèo gai góc.
ẤP ly đâu sờn lúc tố giông.
NHUNG giáp gươm thiêng hằng chinh luyện.
HIỆU kèn sau chót thỏa lòng trông.

V. PHỤC VỤ CHO ÂN ĐIỂN

Được phục vụ cho ân điển là một vinh hạnh cho chúng tôi.
Lúc nào chúng tôi cũng quí chức vụ thánh mà Chúa giao cho
hơn tất cả mọi sự trong đời.
Mặc dầu tại sợ tuổi trẻ, nhưng bởi đức tin quyết noi theo
gương Phao-lô:
"Quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước,
tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên
trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ" (Philíp
3:14).
Chúng tôi đặt sự cầu nguyện lên trên hết. Hằng ngày thức
sớm tìm kiếm Chúa, lắng nghe sự dạy dỗ và hướng dẫn của
Ngài. Chúng tôi luôn bước theo Thánh Linh trong mọi việc;
từ việc cá nhân, việc gia đình, việc của hội thánh và công
việc chung của nhà Chúa.
Cảm tạ Chúa cho chúng tôi có sức khỏe, và được nhiều
dịp hầu việc Ngài.
Chúng tôi hiệp một tinh thần với các tôi tớ Chúa và con
cái Ngài trong toàn quốc, cầu nguyện Chúa ban cho hội thánh
một cơn phấn hưng. Hội thánh bền lòng cầu nguyện trải qua
nhiều năm.
Năm 1938, Chúa đáp lời quá sự cầu nguyện và suy tưởng
của mọi người. Ngài sai sứ giả phục hưng là bác sĩ Tống
Thượng Tiết, từ Trung Hoa đến giảng cho hội đồng tại Vĩnh
Long.
Trải qua mười ngày, mỗi ngày ba bài giảng, bài nào cũng
như lửa nóng cháy. Đức Thánh Linh hành động trong mọi
người, từ các mục sư, truyền đạo, giáo sĩ và toàn thể con cái
Chúa nơi hội đồng đều rất cảm động, khóc lóc ăn năn xưng
tội lỗi và những yếu đuối của mình. Có người xưng cách
công khai những tội kín giấu của mình không hổ thẹn. Có
người cố chấp, giận anh em mình, nhiều năm không nhìn
mặt, nay đứng dậy xin lỗi nhau, một số người xưng tội ăn cắp
vặt đồ của người khác, hứa nguyện sẽ trả lại và bồi thường
thiệt hại cho anh em mình. Nhiều người nhận tội ăn trộm
phần mười của Chúa, hứa nguyện từ nay sẽ trung tín dâng
cho Chúa.
Không khí hội đồng thật thiêng liêng, mọi người đều cảm
thấy sự hiện diện của Thánh Linh như tinh thần hội thánh đầu
tiên. Ai nấy quyết định dâng trọn đời sống làm sáng danh
Chúa.
Để giữ lửa Thánh Linh cứ cháy mãi và cháy bùng lên, bác
sĩ nhấn mạnh đến tinh thần làm chứng theo sứ mạng chót của
Chúa rằng: "Khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì
các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại
thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến
cùng trái đất" (Công Vụ 1:8). Bác sĩ dùng cái lò nấu than củi
làm thí dụ. Trong lò có một ít than đang cháy. Ông vừa quạt
vừa bỏ thêm than mới vào, một chặp lửa cháy bùng lên. Ứng
dụng: Cái lò như hội thánh. Hội thánh đang phục hưng, có
lửa Thánh Linh đang cháy. Chúng ta là tín hữu phải hiệp
nguyện như là quạt lên, đồng thời sốt sắng làm chứng về
Chúa, tìm kiếm người mới đưa về Chúa. Đó là bí quyết phấn
hưng của hội thánh đầu tiên và hội thánh trải qua các đời vậy.
Để giữ tinh thần hiệp nguyện và làm chứng về Chúa được
bền bỉ và càng lan rộng khắp nơi, bác sĩ kêu gọi anh chị em
tín hữu hãy tình nguyện gia nhập vào đoàn cầu nguyện và
chứng đạo của các hội thánh.
Nhiều ông bà anh chị em nhiệt liệt hưởng ứng đứng dậy
hứa nguyện dâng mình trọn đời làm một chứng nhân cho
Chúa. Bác sĩ tặng cho mỗi người một lá cờ nhỏ hình tam giác
bằng vải trắng, trên cờ có vẽ cây thập tự đỏ. Cờ nầy tượng
trưng cho đời sống thanh sạch của chứng nhân cả ba phần:
tâm thần, linh hồn và thân thể để nêu cao thập tự giá của
Chúa cho mọi người. Tất cả đều đứng dậy hát: “Quyết sống
cho Christ, quyết sống cho Ngài”.
Để đẩy mạnh phong trào chứng đạo, Ban trị sự Tổng Liên
Hội cử tôi làm Tổng ủy viên chứng đạo toàn quốc, kiêm mục
sư lưu động để hiệp với các chi hội đôn đốc tinh thần chứng
đạo và giảng Tin Lành.
Các năm sau đó, phong trào chứng đạo rất sôi động khắp
cả Nam, Trung, Bắc, có nhiều linh hồn được cứu rỗi.
Có bài thơ kêu gọi tín hữu dâng mình làm chứng nhân cho
Chúa như sau:
Khẩu hiệu tôi hô chỉ một câu.
Sứ Đồ câu tám ở chương đầu.
Quyền Linh ban tứ tràn năng lực.
Danh Chúa truyền rao khắp địa cầu.
Chiến sĩ trung thành trọn nhiệm vụ.
Mão triều vinh hiển hẳn bền lâu.
Hỡi ai đương ngủ xin vùng dậy!
Tình nguyện dâng mình chứng đạo mau.

VI. ĐƯỢC BẢO VỆ BỞI ÂN ĐIỂN

Trong những năm theo Chúa và phục vụ Ngài, chúng tôi
từng trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử nước
nhà. Trong các năm chiến tranh Nhật-Mỹ, Pháp-Việt, chúng
tôi ở Đà Nẵng. Với gia đình đông đúc, phải tản cư vào nông
thôn theo lịnh chính phủ. Mặc dù không có sự tiếp trợ và bị
kẻ thù hăm dọa, nhưng Chúa đã chăn nuôi, chăn giữ, và chăn
dắt chúng tôi theo đúng đường lối và chương trình của Chúa,
nên mọi sự đều bình yên và đầy đủ sự cần dùng.
Hơn nữa, Chúa cho chúng tôi nhơn dịp nầy đi thăm viếng
các hội thánh trong hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi,
giảng dạy phục hưng và khuyến khích anh em làm chứng về
Chúa.
Thật Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ, chăn nuôi và chăn
dắt chúng tôi đến đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh,
chúng tôi chẳng thiếu thốn gì. Ngài cũng ở cùng chúng tôi
khi đi qua trong trũng bóng chết và dọn bàn cho chúng tôi
trước mặt kẻ thù nghịch chúng tôi. Cây trượng và cây gậy của
Chúa đã an ủi chúng tôi, và phước hạnh cùng sự thương xót
của Chúa cứ theo chúng tôi luôn. Chúng tôi tin rằng Chúa sẽ
chăn giữ chúng tôi cho đến khi vào nhà Chúa và ở đó đến đời
đời. Quả thật vậy. A-men!

SAU ĐÂY XIN LƯỢC KÊ QUA NHỮNG NƠI
CHÚNG TÔI ĐÃ PHỤC VỤ CHÚA.

1926-1928: Học Kinh Thánh tại Trường Kinh Thánh Đà Nẵng.
1928-1929: Hầu việc Chúa tại hội thánh Trà Vinh, Nam phần
Việt Nam.
1929-1930: Học Kinh Thánh và tốt nghiệp ngày 30-04-1930.
1930-1933: Hầu việc Chúa tại hội thánh Phong Phú, tỉnh Cần
Thơ. Được thụ phong mục sư tại đây, năm 1931.
Chúa ban ơn cho hội thánh được phục hưng.
Hội thánh lo đầy đủ phần tự trị và tự lập nhà thờ
mới bằng gạch ngói, có lầu chuông bên quốc lộ,
giữa Châu thành. Nhân dịp lễ khánh thành nhà
thờ năm 1932, hội thánh mời hội đồng Tổng Liên
Hội về họp rất đông đảo, mở truyền giảng đặc
biệt về Tin Lành cho đồng bào được mấy đêm, có
nhiều người tin Chúa, danh Chúa rất vinh hiển.
Hội thánh thành lập ban chứng đạo đi bằng
thuyền vào các ngã kinh rạch để thăm viếng và
phổ biến Tin Lành, kết quả nhiều đồng bào gia
nhập vào hội thánh cách sốt sắng.
1933-1935: Hầu việc Chúa tại hội thánh quận Nam Long, tỉnh
Bến Tre. Chúa ban ơn hội thánh hiệp một rất chặt
chẽ. Nội bộ được phục hưng, xây cất tư thất mục
sư. Tổ chức ban chứng đạo đem Tin Lành đến các
làng xa hội thánh. Mở các buổi bố đạo có ban
chứng đạo hiệp tác, được rất nhiều kết quả tốt.
1935-1938: Mục sư hội thánh Bến Tre. Hội thánh hiệp một
xây cất tư thất mục sư. Truyền đạo đến các làng.
1938-1940: Làm Tổng ủy viên chứng đạo kiêm mục sư lưu
động. Đổi qua ở tại Cần Thơ. Đi giảng lưu hành
và hợp tác dạy các lớp Thánh Kinh Tiểu Học.
Sau đó đổi lên tỉnh Châu Đốc, vừa đi thăm
viếng lưu động các ban chứng đạo hiệp với các
chi hội bổn đạo, đồng thời kiêm mở lại hội thánh
tại tỉnh lỵ Châu Đốc, vì hội thánh tại đây đã bị
gián đoạn từ lâu. Lúc nầy mục sư Phạm Văn Năm
hầu việc Chúa tại hội thánh Bình Long, thường
lên giảng giúp mỗi chiều Chúa Nhật trong lúc tôi
đi giảng các nơi khác.
1941-1947: Làm giáo sư Trường Kinh Thánh tại Đà Nẵng.
Sau khi dạy được bốn khóa, thì chiến tranh Nhật-
Mỹ rồi Việt-Pháp. Trường Kinh Thánh bị nghỉ
dạy hai khóa: 1945-1946. Các giáo sư phải di tản
vào nông thôn.
1947-1950: Sau khi chiến tranh tạm yên, Chúa sai chúng tôi
ra cố đô Huế để gây dựng lại hội thánh. Hội thánh
tại đây đã mở từ lâu, nhưng chỉ được một số ít tín
đồ. Trong lúc chiến tranh mục sư và các tín đồ
tản cư, nhà giảng thuê bị chủ lấy lại. Chúng tôi
phải thuê một nhà nhỏ ở ngoại ô để tạm ở và làm
nơi nhóm họp thờ phượng Chúa vào ngày Chúa
Nhật. Tín đồ chỉ có ba gia đình, gồm 10 người
lớn và 10 trẻ em.
Bởi đức tin, cậy ơn Chúa theo lời Chúa hứa
trong Giê-rê-mi 33:3, "Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả
lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó,
là những việc ngươi chưa từng biết." Chúng tôi
vừa cầu nguyện vừa thăm viếng từng nhà làm
chứng phát sách và tìm hỏi nhà hoặc đất để mua
làm cơ sở của hội thánh. Mặc dầu trong quỹ của
hội thánh chưa có đồng nào, nhưng anh em tin
rằng nếu Chúa muốn thì Ngài sẽ cho có tiền (Mác
11:23-24).
Trải qua hơn hai năm, hội thánh kiên nhẫn cầu
nguyện, Chúa đáp lới cách lạ lùng quá sự cầu xin
hoặc suy tưởng của mọi người. Hội thánh mua
được một số đất khá rộng rãi, trên đó sẵn có hai
ngôi nhà cũ có thể làm nơi ở và một phòng nhóm
ngày Chúa Nhật. Lại còn đất rộng chung quanh
cho thuê người ta trồng hoa, vừa có lời và thêm
vẻ đẹp cho nơi giảng đường. Về sau hội thánh
xây cất nhà thờ mới tốt đẹp, với tư thất mục sư và
trường học cho hội thánh. Thật đúng như lời
Chúa hứa trong Giê-rê-mi 33:3. Ha-lê-lu-gia!
1950-1958: Chúng tôi được hội thánh tại Đà Nẵng mời về
hầu việc Chúa. Trải qua tám năm tại đây, được
hội thánh hiệp tác mọi phương diện để xây dựng
và mở mang nhà Chúa. Trường Chúa Nhật thêm
nhiều lớp. Ban thanh niên vui vẻ hầu việc Chúa
đắc lực. Ban chứng đạo hoạt động từ gần đến xa
khắp trong đô thị và các làng xung quanh. Kết
quả lập hội thánh mới tại làng Hòa Mỹ trên quốc
lộ 1. Ngoài ra hội thánh cũng mua đất lập nghĩa
trang và xây dựng trường trung tiểu học cho hội
thánh.
1958-1965: Chúng tôi xin đổi trở về Nam hạt. Được hội
thánh tại Vĩnh Long mời hiệp tác hầu việc Chúa.
Trải qua bảy năm tại đây, Chúa cho hội thánh
hiệp tác mở mang Trường Chúa Nhật, gây dựng
ban thanh niên, tổ chức ban chứng đạo. Nhiều
người dâng xe hơi, thuyền máy đem ban chứng
đạo đi vào các làng xa hội thánh, dùng máy
phóng thanh phổ biến Tin Lành và chia từng tiểu
ban thăm viếng làm chứng phát sách cho đồng
bào. Nhiều đồng bào được nghe Tin Lành, một số
đã tin Chúa, sau mở hội thánh mới tại quận Chợ
Lách và chợ Ngã Tư Long Hồ.
Trong thời gian hầu việc Chúa tại đây, chúng tôi
có dịp lo cho trường Kinh Thánh tiểu học của địa
hạt. Hằng năm các khóa học từ 100 đến 200 học
sinh nam nữ từ các hội thánh trong Nam hạt đến
học Kinh Thánh cách vui vẻ. Sau khi học xong,
các anh chị em trở về hầu việc Chúa với hội thánh
mình. Trong số đó có một số đã dâng mình đi học
Kinh Thánh tại Thần Học Viện và trở nên mục sư
truyền đạo đầy ơn Chúa.
1965-1967: Chúng tôi được hội thánh tại tỉnh Biên Hòa mời
hầu việc Chúa. Trong thời gian ngắn ngủi hai
năm ở tại đây, Chúa ban ơn cho hội thánh hiệp
tác cách đắc lực. Trùng tu nhà thờ lại đẹp đẽ.
Nhiều con cái Chúa dâng tiền cách rộng rãi, nên
tự trị rất đầy đủ và mở mang các hội thánh mới:
Bửu Hòa, Long Khánh, Long Thành, Phước Tuy,
Túc Trưng, Định Quán.
1967-1968: Làm giám đốc Cô Nhi Viện Tin Lành mới thành
lập tại quận Bến Cát. Viện nuôi được gần 100 cô
nhi là những trẻ em mất cha mất mẹ vì chiến
tranh.
Trong cuộc chiến Tết Mậu Thân, Viện bị pháo
kích hư hại, nhân viên bị thương, một cô nhi bị
chết. Vì tình hình khẩn trương, chúng tôi phải di
tản các cô nhi và nhân viên xuống tạm trú nơi trụ
sở Tổng liên hội tại Sài Gòn.
Sau khi làm lễ kỷ niệm Cô Nhi Viện được 1
tuổi, tình hình an ninh vãn hồi, chúng tôi đem cô
nhi trở về Viện. Trong lúc này tôi bị đau chân khá
nặng, không đảm nhiệm nữa nên xin nghỉ để
dưỡng sức.
1968-1971: Trong thời gian tạm nghỉ, Chúa cho sức khỏe
phục hồi, tôi tình nguyện hiệp tác với địa hạt đi
thăm viếng, giảng dạy cho các hội thánh. Nhất là
giúp đỡ việc giảng dạy và xây cất nhà thờ mới tại
quận Lái Thiêu.
1971-1975: Chúng tôi xin hưu trí.
Trong thời gian hưu trí, chúng tôi vẫn tình
nguyện hầu việc Chúa với địa hạt. Thăm viếng và
giảng dạy các hội thánh. Quản đốc chi nhánh Cao
Đẳng Thần Học Viện tại Sài Gòn.
Riêng bà Phan Văn Hiệu được cử làm trưởng
ban quý bà mục sư truyền đạo Địa hạt miền Đông
từ năm 1965-1975. Đồng thời Ban Trị sự Địa hạt
miền Đông cử làm ủy viên phụ nữ truyền đạo sâu
rộng từ năm 1970-1975. Bà luôn hiệp tác với ban
phụ nữ hội thánh Sài Gòn đi thăm viếng phổ biến
Tin Lành, lạc quyên tiền bạc và phẩm vật cứu trợ
đồng bào chiến nạn và ủy lạo thương bịnh binh
tại các bệnh viện.
Ngày 21/04/1975: Chúa cho phép gia đình chúng tôi gồm
tất cả 24 người lớn nhỏ di tản bằng phi cơ sang Hoa Kỳ.
Ngày 30/04/1975: Được con trai chúng tôi là Maurice Ứng
Nghiệm Phan rước về chung sống tại California.
Chúa cho chúng tôi còn sức khỏe bao nhiêu, nguyện hiệp
tác với hội thánh địa phương và với giáo hạt trong sự cầu
nguyện cho hội thánh trong và ngoài nước được phục hưng
và phấn hưng, cho nhiều đồng bào được hưởng ơn cứu rỗi, và
cho nước nhà được Chúa giải cứu như lời Chúa hứa trong II
Sử ký 7:14; và lời thánh Phao-lô khuyên trong Ê-phê-sô 6:18-

VII. ĐƯỢC THỎA MÃN TRONG ÂN ĐIỂN CHÚA

Nhờ ân điển Chúa, chúng tôi được tha tội, được cứu rỗi,
được làm con cái Chúa, được giải phóng khỏi ách nô lệ của
tội ác và ma quỷ. Được phục vụ cho ân điển Chúa, đem sự
cứu rỗi cho đồng bào đồng loại. Được dự phần gây dựng hội
thánh Chúa, được Chúa chăn giữ, chăn nuôi, chăn dắt theo
đường lối Ngài. Chúng tôi có thể đồng thanh với Phao-lô lớm
tiếng ca tụng ân điển của Chúa rằng:
"Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa
Trời, và ơn Ngài ban cho tôi cũng không phải là uổng vậy.
Trái lại, tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng
nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi" (I Côrinh-
tô 15:10).

"Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi;
Chúng tôi là đầy tớ vô ích, điều chúng tôi đã làm là điều chắc
phải làm; Nguyền xin sự vinh hiển về nơi Đức Chúa Trời, là
Cha chúng ta, đời đời vô cùng! A-men" (Phi-líp 4:13; Lu-ca
17:10; Phi-líp 4:20).

SAU ĐÂY LÀ CÁC BÀI THƠ CỦA BẠN THÂN TẶNG:
Cụ chấp sự Nguyễn Kim Thanh, 94 tuổi tặng lúc kỷ niệm
lục tuần 1964.

Ơn Trời hưởng thọ sáu mươi ngoài.
Mừng chúc ông bà được sống dai.
Nguyện Chúa Giê-xu nơi sáng tối,
Vớt người đắm đuối khắp mọi nơi.
Oai quyền phú quí không nhìn mặt,
Tước vị công hầu chẳng hề tai.
Chồng vợ vâng lời lo giảng đạo,
Mũ triều ban đủ cả hòa hai.
Bài họa văn cho ông Nguyễn Đại Danh ở Vĩnh Long.
Sáu mươi mốt tuổi bóng chính đầu.
Mừng chúc ông bà được sống lâu.
Gieo giống Tin Lành nơi ruộng tốt.
Cứu người tội lỗi đáy sông sâu.
Non cao chẳng nại hùm beo dữ.
Bể thẳm chi sờn sâu vượt thâu.
Gắn chí ân cần truyền đạo Chúa.
Mũ triều ban thưởng ngọc trân châu.

Bài của cụ Nguyễn Kim Thanh tặng lúc chúng tôi rời Vĩnh
Long ngày 17-06-1965; cụ Thanh 95 tuổi.
Đôi lời tiễn tặng cả ông bà.
Nguyện Chúa thêm ơn lúc tuổi già.
Giảng đạo Tin Lành theo ý Chúa.
Cứu người chìm đắm thỏa lòng Cha.
Trèo non vượt suối không ngần ngại.
Nắng dãi mưa dầu chẳng thiết tha.
Sức mới hồi tàn thiên sứ rước.
Mão triều ban thưởng hưởng vinh hoa.
* * *
Bài của bà cụ Vũ Đức Thọ, và Phạm Đức Tuyên và Đoàn
Tấn Lợi. Chấp sự hội thánh Trương Minh Giảng, Sài Gòn
tặng lúc thân mẫu tôi 90 tuổi và tôi 70 tuổi.
Cửu thập huyền đường, thất thập con.
Mừng đôi tuổi thọ đỉnh nam sơn.
Phong quang vườn quê, chòi xanh tốt.
Thánh mẫu cây nho trái ngọt ngon.
Lòng dạ A-ne bèn sắt đá.
Bàn chơn Phao-lô đẹp vàng son.
Ơn Trời ngày một thêm linh lực.
Sáng rực trăng sao, phước thọ tròn.

Bài thơ của ông Ông Văn Kính tặng lúc 73 tuổi: 1978.
Bảy mươi ba tuổi hãy chưa già.
Tình đời, tình đạo vẫn thiết tha.
Sống thương mấy độ, xưa đằm thắm.
Núi thánh bao thời diệt ác ma.
Xót người đắm đuối trên bao ngã.
Thương kẻ lạc loài dưới biển sa.
Dốc lòng khẩn đảo cho dân tộc.
Vững bước linh trình cậy sức Cha.
Biệt hiệu Lê Nam


Mục sư: Phan Văn Hiếu





† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 17-11-2018 08:36 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách