nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài-----
Xem: 1985|Trả lời: 0

Ơn Thượng Đế Nhậm Lời Cầu Nguyện - phần 1

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 3-5-2015 21:53:02 | Xem tất |Chế độ đọc
Ơn Thượng Đế Nhậm Lời Cầu Nguyện
Phần 1
Cố Mục Sư:  Nguyễn Duy Xuân

LỜI TÁC GIẢ.
I) Mục đích tôi viết quyển sách làm chứng này :
Trước  tiên  cốt  ý  để  ngợi  khen  Đức  chúa  Trời  là  Đấng  đã  ban  ơn  qua  sự  nhậm  lời  cầu
nguyện, phù hộ và dẫn dắt gia đình chúng tôi trên Thiên lộ trải qua hơn 40 năm.
Với  những  lời  thành  thực  và  đơn  sơ,  sách  này  được  hiến  lên  cho  Chúa  như  một  khí  cụ  nhỏ
trong  tay  Ngài,  giúp  cho  anh  em  trong  Chúa  nào  có  dịp  đọc  qua  hiểu  được  ít  nhiều  những  ơn
phước  mà  Đức  Chúa  Trời  đã  sẵn  lòng  ban  cho  chúng  tôi  thể  nào,  thì  chính  Ngài  cũng  sẵn  lòng
ban ơn cho anh em thể ấy.
Ước  vọng  chính  của  chúng  tôi  là  muốn  ghi  lại  những  ơn  phước  đã  nhận  được  do  tình  yêu
thương  của Chúa ban  cho để  nói lên tiếng nói chân  thành với  đồng  bào, là  người  chưa tin Chúa,
về  những  ơn  phước  trong  thời  quá  khứ  cũng  như  hiện  tại mà Chúa  vẫn  còn  sẵn  lòng  thi  thố  nữa
trong cuộc đời chúng tôi và những người tin Ngài.
Nguyện  Chúa  dùng  quyển  sách  nhỏ  này  soi  đường  dẫn  lối  cho  đồng  bào  hiểu  được  ít  nhiều
về tình  yêu của Cứu Chúa Jêsus, để quí vị có thể tin Ngài và được phước cũng như chúng tôi đã
được.  Với  lòng  mong  ước  như  vậy  nên  tôi  viết  quyển  sách  nhỏ  này  cùng  chịu  luôn  tiền  ấn  loát
biếu không cho quí vị, mong sao quí vị gặp được Cứu Chúa.

II) Thể  theo  khuôn  khổ  có  giới  hạn  của  quyển  sách  mà  tôi  đã  phỏng  định
trước, tôi chỉ ghi lại một số ơn phước có lợi ích chung…
Vả  lại,  sự  viết  bài  sẽ  không  theo  lối  ký  truyện,  cũng  như  không  có  ý  noi  đến  thành  quả  của
đời  sống  cá  nhân,  hoặc  của  chức  vụ  truyền  giáo.  Nhưng  tôi  chỉ  chú  trọng  đến  những  ơn  bảo  hộ
của Thượng Đế và sự nhậm lời cầu nguyện của Ngài mà thôi.

III) Cám  ơn  Bà  Phan  Thị  Hợi,  Vợ  tôi,  đã  khuyến  khích  tôi  viết  quyển  sách  nhỏ  làm
chứng này.
Khi viết  xong  bản thảo,  vợ  tôi là người đọc trước nhất,  người  có vẻ hơi e ngại  về  việc tôi  ghi  lại
những  điều  đúng  như  thực  sự  đã  xảy  ra,  sợ  làm  phật  ý  những  nhân  vật  có  liên  quan  đến  những
sự  việc  mà  tôi  có  đề  cập  đến.  Nhưng  đã  muốn  ghi  lại  cho  đúng  những  dữ  kiện  thực  tế  thì  tôi
cũng không thể còn cách nào khác.

IV) Cám ơn Duy Tân, con trai lớn của tôi đã giúp tôi được nhiều ý kiến xây dựng.
V) Cám  ơn  Tiến  Sĩ Bùi  Đức  Nguyên,  đã  có  công  sửa  lại  dùm  các  dấu  HỎI  NGà và
một vài TỪ NGỮ thông dụng NAM BẮC.

VI) Nếu có chỗ nào lời văn sơ sót hoặc khó đọc xin đọc giả vui lòng lượng thứ cho. Cám ơn.
SAN – JOSÉ, California, mùa Nô-ên năm 1982.

Mục  sư  Nguyễn  Duy  Xuân,  Chủ  tọa  Hội  Thánh  Tin  Lành  Việt  Nam  SAN  JOSÉ,
California.


LỜI GIỚI THIỆU
Thật là một vinh dự được viết lời giới thiệu cho quyển làm chứng về những Ân phúc đã được thi thố
tr ong cuộc đời TIN và HẦU VIỆC của một TÔI TỚ của ĐỨC CHÚA TRỜI (THƯỢNG ĐẾ) Chí
Cao.
Được gặp Mục sư Nguyễn Duy Xuân khoảng gần một năm trước đây. Mặc dầu không được chứng
kiến những điều đã  xảy đến cho ông, nhưng khi đọc những mẫu chuyện lạ lùng này thì mới thấy
được bàn tay diệu kỳ của THƯỢNG ĐẾ. Nhưng Ngài là ai mà lại có quyền năng làm những việc lạ
lùng ấy?
Nếu đó cũng là sự thắc mắc của quí vị. Thì quyển sách mà quí vị đang có đây gói gém lời kể của
một người đã tìm giải đáp cho câu hỏi đó. Mục sư Nguyễn Duy Xuân.
Còn nếu quí vị đã biết được THƯỢNG ĐẾ đó chính là Chúa Cứu Thế GIÊ-XU rồi. quyển sách nầy
sẽ thêm những lời chứng quả quyết rằng Chúa hằng quan tâm đến đời sống người TIN và HẦU
VIỆC Ngài. Hơn thế nữa, Chúa vẫn còn làm phép lạ cứu giúp những người đặt lòng TIN và
TRÔNG CẬY nơi Ngài. Như lời Thánh Kinh đã chép: “Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và
đời đời không hề thay đổi.”
Nguyện xin ơn phước lành từ Chúa xuống trên người viết quyển sách nầy cùng hết thảy mọi người
đọc đến. A men.
Mùa Xuân 1983.
Bùi Đức Nguyên, PhD


MỤC LỤC
1- Hai mươi hai năm sống dưới mái gia đình cha mẹ  ....................................................  3
2- Hai năm tại Trường Kinh Thánh  ................................................................................  5
3- Ơn Chúa dẫn dắt và giải cứu tại Bến cát  ....................................................................  9
4- Chúa dẫn đưa ra khỏi Bến Cát đầy biến loạn  .............................................................  15
5- Đấng bảo hộ tại Thủ Đức  ...........................................................................................  20
6- Ơn thương xót của Chúa tại Long Thành ..................................................................  25
7- Thoát nạn tại Hoà ninh  ...............................................................................................  37
8- Mười bốn năm phục vụ Chúa ở Nam Vang  ...............................................................  43
9- Lòng  yêu mến Đền thờ...............................................................................................  59
10- Được kêu gọi đặc biệt sang Pháp  ...............................................................................  68
11- Thoát nạn tại Nam Vang  ............................................................................................  75
12- Ân Thượng Đế tại đất Pháp  .......................................................................................  88
13- Được kêu gọi sang Mỹ  ...............................................................................................  100
14- Những đặc ân Chúa dành cho sau 5 năm hầu việc  Chúa tại Hội Thánh San-José (sẽ viết
tiếp)  ............................................................................................................................  119  



CHƯƠNG 1
HAI MƯƠI NĂM SỐNG DƯỚI MÁI GIA ĐÌNH CHA MẸ
ĐƯỢC  TỈNH LẠI SAU GẦN MỘT GIỜ BỊ TẮT THỞ.

Cảm tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đấng đã để riêng tôi ra từ trong lòng mẹ, lấy ơn điển Ngài cứu tôi và
kêu gọi tôi. Lúc tôi được lên 5 tuổi, đã có lần bị chết vì một cơn bạo bịnh. Ông thân tôi vì quá
thương con mà không biết cách nào khác nên cứ ôm tôi vào lòng chạy tới, chạy lui hàng giờ kêu xin
Trời cứu giùm. Tạ ơn Chúa, Ngài động lòng thương xót cứu tôi tỉnh lại!
Mặc dầu tôi lớn lên trong một gia đình Phật Giáo, song ông thân tôi vẫn kính Đức Chúa Trời. Nhớ
lại lúc 12 tuổi, tôi hay chế nhạo Đạo Tin Lành mà Chú tôi đã tin theo. Ông thân tôi khuyên: “Con
đừng chế nhạo Đạo Chúa, Đạo đó mới là chánh, còn đạo mình đây là chỉ theo chơi cho vui với bạn
bè.” Lời khuyên của ông thân tôi đã ghi sâu vào óc, nên khi bà thân tôi có đi chùa, tôi cũng theo cho
vui vậy thôi, chớ thực ra tôi không có vẻ gì sùng bái. Và hơn nữa, tôi không còn chế nhạo Đạo Tin
Lành mà trái lại, mỗi chiều thứ năm còn đến nhà ông Chú tôi học Kinh Thánh và cầu nguyện.


ƠN CHÚA CỨU KHỎI CHÌM TÀU.

Vào khoảng năm tôi được 13 tuổi,  một hôm tôi đi du lịch Nam vang trở về, chiếc tàu tôi đi đang
chạy giữa sông Mêkông thì thình lình chân vịt bị gãy, không phương cứu chữa, người ta đành để
cho tàu trôi nổi, lắc lư, mặc cho sóng gió đẩy xô. Lúc đó độ 6 giờ chiều, nhìn lên trời thấy mây khói
đen kéo đến đen kịt, càng lúc càng dầy đặc, ai nấy đều khủng khiếp lo sợ! Mấy người mạch lô leo
lên mui tàu mở ống phao sẵn để phòng nạn, nhưng hành khách hàng trăm làm gì có đủ! Mấy người
già cả ngồi kêu Trời, Phật phù hộ. Còn tàu cứ liên tục thổi còi vang rền để kêu cứu nghe mà rợn óc!
Gió bắt đầu thổi mạnh và sóng càng lúc càng to. Để đề phòng tàu bị lật, thuyền trưởng truyền cho
mọi người ngồi xuống, không được di chuyển tới lui.
Về phần tôi, nhớ lại Chúa Giê-xu quyền năng mà Chú tôi đã dạy, tôi mở miệng kêu “Giê-xu cứu!
Giê-xu cứu!” Thình lình thấy từ xa xa có một chiếc tàu chạy đến, ai nấy đều vui mừng và chẳng bao
lâu thì tàu tới. Người lái tàu nói: “Tôi nghe tàu kêu cứu; tôi cho chụm lửa thêm và mở hết tốc lực
chạy tới để kéo tàu vào bờ cho kịp cơn giông”.
Sau khi họ lôi tàu được vào bờ và cho hành khách đổ bộ vừa xong, thì một cơn giông lớn đùng
đùng thổi đến và kéo dài đến nửa đêm, cây cối ngả đổ nghe rắc rắc rất khủng khiếp! Nhưng mỗi
người cảm thấy lòng vui mừng vì đã thoát nạn, và cho là họ có sự may mắn; còn tôi thì hát
Halêlugia để cảm tạ ơn Giê-xu giải cứu!


ƠN CHÚA CỨU KHỎI BỊ BẮT NÊN KHỎI LIÊN CAN TÙ TỘI.

Cám ơn Chúa, lúc tôi được 17 tuổi, Ông bà thân tôi tin Chúa Giê-xu và cũng sốt sắng dẫn các con
đi nhà thờ để tin Chúa, nhưng thật ra tôi vẫn chưa hiểu gì về Đạo. Lúc được 19 tuổi, thỉnh thoảng
tôi cũng theo người Anh tôi đi chơi. Người có đầu óc muốn làm anh hùng cho xóm làng, lính tráng
nể mặt.
Nhớ lại khoảng tháng Tư, năm 1940, trong một cuộc cải lộn với ba tên lính vì họ có thái độ hóng
hách và ăn hiếp dân hiền, Anh tôi rút trong túi ra một con dao nhỏ dài hai tấc đâm một tên chết tại
chỗ. Người liền chạy trốn vào rừng; còn tôi phải lẩn trốn trong một cái nhà cùng xóm. Nghe bọn
lính kêu nhau: “Kiếm bắt thằng em nó”, tôi cầu nguyện xin Chúa cứu tôi thoát cảnh hoạn nạn nầy
và hứa sẽ dâng mình hầu việc Chúa trọn đời. Cám tạ ơn Chúa, Ngài đáp ứng lời cầu nguyện, nên
dầu có độ 10 tên lính và năm, bảy ông làng đi kiếm từng nhà, khắp xóm mà cái nhà tôi đang trốn họ
lại không ghé vào lục soát. Thật như có thiên sứ của Đức Chúa Trời đứng trước cửa nhà để xô đuổi
họ đi chỗ khác vậy.

Sau khi đám người đi tìm kiếm qua khỏi, tôi nghĩ rằng mình phải trốn cho xa mới mong thoát thân
được nên liền vội vã qua sông và băng ngang qua một cánh đồng rộng lớn. Đi được chừng năm, sáu
cây số thì lạc vào một vùng lao sậy, sình lầy, đi mãi mà vẫn còn lẩn quẩn trong rừng. Hơn nữa, lúc
bấy giờ độ một giờ trưa, trời nắng như thiêu, bụng lại đói, lòng tôi rất lo ngại sợ không ra khỏi cánh
rừng. Tôi dừng lại, cúi đầu cầu xin Chúa phù hộ và dẫn dắt qua cơn nguy hiểm! Thật Đức Chúa
Trời nhậm lời cầu nguyện nên Chúa khiến một em nhỏ mà tôi quen độ 12 tuổi ở gần mé rừng đó
đang thả rểu đi chơi; đồng thời Ngài cũng dẫn tôi từ trong rừng sậy đi ra ngay chỗ em nhỏ nầy vừa
đi tới. Đang khi tôi lủi thủi bước đi, thình lình nghe tiếng kêu: “Anh Xuân”. Mừng quá! Tôi hỏi:
“Mầy đi đâu vậy?” – “Đi chơi!” – “Trại mầy ở đâu?” – “Cách đây độ một cây số.” Tôi liền theo đứa
nhỏ về trại. Sau khi dùng cơm xong, tôi tiếp tục vượt qua cánh đồng đến chiều tối mới tới chỗ có
xóm làng…

Sau đó vài tháng, anh tôi bị bắt và bị kêu án 20 năm tù, còn bọn lính, một số bị cách chức, số khác
bị đổi đi xa, nên tôi trở về nhà bình  yên, kể như vô tội! Cám ơn Chúa. Nếu Ngài không che chở, để
tôi bị bắt lúc xảy ra án mạng, chắc đã bị trả thù cách hung bạo, và có thể bị cáo gian liên can tù tội.


CHƯƠNG HAI
HAI NĂM TẠI TRƯỜNG KINH THÁNH ĐÀ NẲNG.

Cám ơn Chúa. Sau biến cố này, tôi sốt sắng làm chứng về quyền phép của Chúa, thường ngồi trước
mặt năm, ba người để làm chứng về Chúa cách dạn dĩ. Trong Hội Thánh, (Hội Thánh Mỹ An) tôi
được bầu cử làm Trưởng ban Thanh niên, Giảng viên Trường Chúa Nhật và Chấp sự.


ƠN CHÚA DẪN ĐƯA ĐẾN TRƯỜNG KINH THÁNH ĐÀ NẲNG

Năm 22 tuổi, tôi gởi đơn xin học Trường Kinh Thánh tại Đà Nẵng và được chấp thuận. Nhưng có
một việc trở ngại khó vượt qua, ấy là tôi chưa có thẻ căn cước. Vì lúc bấy giờ, mặc dầu là người
Việt Nam, nhưng đi từ miền Nam ra Trung và miền Trung vô Nam, buộc phải có thẻ căn cước mới
được phép di chuyển. Thẻ căn cước xin rất khó! Trước hết xin ở làng, đến quận, rồi tỉnh, phải mất
một thời gian lâu mới khả dĩ xin được. Phần thì ngày nhập học cũng sắp đến nên tôi nghĩ rằng
không thể nào lo kịp. Nhưng bởi đức tin tôi cầu nguyện, xin Chúa đưa đường, nên tôi đánh liều
xách vali lên Sài Gòn. Khi đến Sài Gòn, tôi tìm một người quen có một người con rể làm việc ở nhà
ga xe lửa để nhờ mua dùm tôi một vé đi Đà Nẵng, vì tôi không có giấy căn cước nên không mua
được. Ông ấy trả lời: “Làm sao được, chắc chắn một trăm phần trăm thầy không thể nào đi được”.
Không  thất  vọng,  tôi  tìm  các  anh  em  sinh  viên  cùng  đi  học  với  tôi  trong  khoá  nầy,  xin  giúp  cho
bằng cách  mua chung nhau các vé. Một sinh  viên sẵn lòng  giúp tôi  trong việc nầy  là thầy Hằng  (mà
sau  này  là  Mục  sư  Nguyễn  Thanh  Hằng).  Thầy  mua  dùm  tôi  được  một  vé.  Nhưng  làm  sau  có  thẻ
căn cước để trình  khi vô cửa? Đứng trước nhà ga  tôi thầm nguyện, xin Chúa đưa dắt cách nào để có
thể  vào  được  cổng  xe  lửa.  Thình  lình  có  tiếng  nhân  viên  hoả  xa  kêu:  “Mấy  anh  em  sinh  viên  Tin
Lành  lại  cửa  sau  để  vô”.  (Vì  lúc  bấy  giờ  nhà  binh  Nhật  đi  rất  đông  cân  đồ  cho  nhà  binh  chưa  xong
mà sắp tới giờ xe lửa chạy, nên họ cho chúng tôi vào cửa sau). Tôi cùng với các sinh viên xách va-li
vô  cửa.  Khi  được  vào  xong,  tôi  liền  tẻ  riêng  ra  đi  thẳng  lên  xe,  lòng  mừng  khấp  khởi,  miệng  lẩm
bẩm tạ ơn Chúa.

Con  đường  xe  lửa  từ  Sài  Gòn  ra  Đà  Nẵng  độ  một  ngàn  cây  số.  Xe  chạy  hai  đêm  một  ngày,  có  mấy
trạm xét thẻ  căn cước. Qua mỗi trạm xét, tôi vẫn ngồi  yên cầu nguyện, những nhân viên đi xét giấy,
lúc  đến  gần  tôi  đều  ngó  qua  phía  khác  và  đi  qua.  Khi  tới  Đà  Nẵng,  là  trạm  khó  nhất,  Chúa  cho  tôi
bình  tĩnh,  tay  xách  va  li  chen  ra  cửa, mọi  người  phải  trình  giấy,  còn  tôi  cứ  chậm  rãi  bước  đi,  chẳng
ai  kêu  hỏi  chi.  Thật  cám  ơn  Chúa  có  đưa  đường  một  cách  rất  diệu  kỳ! Đến  Trường  Kinh Thánh,  cụ
Đốc học khuyên tôi không nên đi xa, vì sợ bị xét hỏi căn cước, có thể bị trục xuất về Sài Gòn.
Một  năm  học  tại  trường,  tôi  nhận  lãnh  được  nhiều  ân  tứ  thiêng  liêng  qua  những  giờ  học  Lời  Chúa
và  trong  những  lúc  tâm  giao  riêng  tư  với Ngài.  Lòng  tôi  nóng  nảy  về  số  phận  hư  mất  của  đồng  bào
nên vào những ngày thứ Bảy là ngày chứng đạo, tôi rất vui thích đi ra làm chứng về Danh của Chúa
cho họ.

Sau niên học, tôi trở về nhà cách vui vẻ với tâm tánh mới, sốt sắng góp phần hầu việc Chúa ít nhiều
với Hội Thánh để tập sự trong mấy tháng hè. Kế đó, lại tới kỳ nhập trường năm thứ Hai. Tôi lên Sài
Gòn  để  đón  xe  lửa  ra  Đà  Nẵng,  thì  sự  khó  khăn  lại  tái  diễn  như  năm  trước.  Song  cảm  tạ  Chúa  là
Đấng  hôm  qua  và  ngày  nay  không  hề  thay  đổi  (Hê-bơ-rơ  13:  8)  nên  một  lần  nữa  tôi  cũng  được
Chúa đưa đường đến Đà Nẵng cách diệu kỳ!


NIÊN HỌC ĐẦY THỬ THÁCH VÌ THỜI CUỘC

Niên  học  này  nhằm  năm  1944-1945.  Máy  bay  Đồng  minh  Mỹ  -  Anh  -  Pháp,  v.v…  thường  đến  dội
bom  trên  quân  đội  Nhật,  và  quân  đội  Nhật  lại  đóng  binh  quá  gần  Trường  Kinh  Thánh.  Nếu  những
cuộc dội bom chỉ sai trật một đôi chút thì nhà trường có thể bị lâm nạn! Có hôm chúng tôi phải chạy
xuống  chạy  lên  hầm  trú  ẩn  năm,  bảy  lần.  Tinh  thần  ai  nấy  đều  bị  xao  động!  Sự  học  phải  mất  nhiều
thì giờ hơn, có khi phải học thêm đến khuya mới xong bài.

Tôi  còn  nhớ  một  đêm  kia,  nhà  binh Nhật  đóng  bên  kia  đường  bị  dội  bom.  Thình  lình  nghe  bom  nổ,
tôi  lật  đật  mở  cửa  để  xuống  hầm,  nhưng  tôi  làm  kẹt  cứng  chìa  khoá  vào  ống  khoá,  vặn  tới  vặn  lui
không  được  nên  không  mở  cửa  được.  Tôi  nghe  bên  ngoài  tiếng  miểng  bom  văng  rào  rào!  Đến  khi
bình  tĩnh,  tôi  mở  được  cửa,  thì  tiếng  bom  nổ  cũng  dứt.  Sáng  hôm  sau,  tôi  lượm  trước  cửa  và  phía
vách  phòng  độ  chừng  mấy  chục  mảnh  bom  lớn  nhỏ.  Cám  ơn  Chúa,  nếu  lúc  bom  đang  nổ  liên  tiếp
mà  tôi  chạy  ra  được  như  thường  lệ,  và  nếu  Chúa  không  khiến  cho  chìa  khoá  bị  kẹt,  chắc  tôi  không
thể nào tránh khỏi những mảnh bom!

Một  lần  kia  tôi  và  bạn  tôi,  Thầy  Sơn  (sau  nầy  là  Mục  sư  Nguyễn  Thành  Sơn)  đang  đi  chứng  đạo,
vừa đi  ngang  cổng nha binh Nhật thì nghe tiếng  còi báo động. Chúng tôi mau lẹ chạy  ra  đồng  trống
phía  sau  hè  khu  nhà  binh,  nằm  xuống  bên  lề  đường  chịu  cho  hàng  chục  chiếc  máy  bay  Đồng  minh
bắn  phá  hàng  giờ  rất  khủng  khiếp!  Song  chúng  tôi  nhờ  ơn  Chúa  gìn  giữ  nên  được  bình  an  vô  sự.
Cám tạ ơn Chúa!
Một  lần  khác,  tôi  định  đi  thăm  một  vị  Giáo  sư  ở  gần  nhà  ga  lớn.  Khi  đi  ngang  qua  nhà  ga  thì  nghe
tiếng  còi  báo  động.  Tôi  không muốn  xuống  hầm  núp  gần  nhà  ga,  sợ  nguy  hiểm  hơn  nên  chạy  thẳng
tới.  Lúc  chạy  được  vài  trăm  thước,  tôi  thấy  mấy  chiếc  máy  bay  sà  xuống  và  tiếp  theo,  bốn  tiếng  nổ
dữ  dội!  Nhà  ga  đúc  ba  từng  lầu  rất  kiên  cố  chỉ  còn  là  một  đóng  gạch  vụn  khổng  lồ,  các  cửa  sổ  và
gạch  đá  văng  gần  đến  chỗ  tôi  nằm,  nhưng  bởi  ơn  Chúa  gìn  giữ  nên  tôi  chẳng  bị  chút  thương  tích
nào. Cảm tạ ơn Chúa.

ƠN CHÚA DỰ BỊ MỘT CHUYẾN XE LỬA VỀ SÀI GÒN

Niên học nầy Trường phải tổ chức lễ Bãi trường trước gần hai tháng, vì lẽ quân đội Nhật đảo chánh
nhà  cầm  quyền  Pháp.  Nhà  trường  không  thể  tìm  đâu  để  có  thể  mua  được  gạo,  và  nhà  cầm  quyền
Nhật  cũng  không  chấp  thuận  việc  phân  phối  cho  nên Trường  Kinh  Thánh  đành  bãi  trường  sớm. Về
Sài  Gòn  bằng  cách  nào?  Đó  là  câu  hỏi  đầy  lo  lắng  của  ban  Giáo  sư  cũng  như  các  sinh  viên.  Vì  xe
lửa  đã  bị  dội  bom  hư  nhiều  chiếc,  còn  lại  bao  nhiêu  không  đủ  cho  nhà  binh  Nhật  sử  dụng.  Cụ  Đốc
học  Ông  Văn  Huyên  cố  gắng  xin  phép  nhà  binh  Nhật  cho  đi  nhờ  mỗi  chuyến  vài  người.  Họ  đi
chuyến  thứ  nhất  hai  người,  song  chỉ  đến  Nha  Trang  mà  thôi  (Nha  Trang  cách  Sài  Gòn  độ  400  cây
số). Cụ Đốc học hỏi ai tình nguyện chịu đi về trước. Tôi và Thầy Sơn  giơ tay tình nguyện, biết  rằng
chuyến đi nầy cũng không kém phần nguy hiểm, vì mấy chuyến xe lửa trước đã bị dội bom!
Giáo  sư  và  các  bạn  đưa  chúng  tôi  lên  xe,  lòng  đầy  e  ngại  cho  cuộc  phiêu  lưu  của  chúng  tôi.  Thật
chuyến  xe  nầy  phải  ngừng  lại  mấy  lần  trước  khi  tới  Nha  Trang  để  cho  người  chạy  xuống  rừng  trú
ẩn.  Khi  đến  Nha  Trang,  hơi  bỡ  ngỡ  vì  chổ  lạ,  chúng  tôi  còn  ngồi  trên  xe  chưa  biết  tính  sao. Tôi  cúi
đầu  cầu  nguyện,  xin  Chúa  chỉ  dẫn  và  giúp  đỡ  cho  cuộc  hành  trình.  Độ  10  phút  sau,  nhân  viên  hoả
xa  đến  hỏi:  “Hai  Thầy  có  muốn  về  Sài  Gòn  không?  Vì  xe  nầy  đưa  vị  Tư  lịnh  Nhật  vô  Sài  Gòn,  hai
Thầy  được  đi  khỏi  trả  tiền”.  Nghe  vậy  lòng  chúng  tôi  khoan  khoái,  nhẹ  nhàng,  cảm  thấy  như  Chúa
dành chuyến xe lửa đặc biệt nầy để đưa chúng tôi về Sài Gòn chớ chẳng phải đưa vị Tư lịnh Nhật.


ƠN CHÚA DỰ BỊ TIỀN ĐỂ TRẢ HỌC PHÍ CHO TRƯỜNG KINH THÁNH.

Nhớ  lại,  khoá  học  năm  1944-45,  niên  học  phí  phải  trả  cho  Trường  Kinh  Thánh  là  90  đồng.  Đã  gần
đến  ngày  nhập  trường  năm  thứ  Hai  mà  tôi  chưa  lo  được  đủ  học  phí.  (Vì  trong  xứ  lúc  bấy  giờ  nền
kinh  tế  cực  kỳ  khủng  hoảng! Ngoài miền Bắc  nhiều  người  bị  chết  đói,  còn  trong Nam  chưa  đến  nỗi
phải chết đói nhưng cũng bị “ngất ngư”. Có người đói rách lang thang, mặc bao bố!)

Lòng  tôi  hết  sức  lo  lắng  và  ngày  đêm  cầu  nguyện,  xin  Chúa  lo  liệu  cho.  Thật  ơn  Chúa  rất  diệu  kỳ!
Chính  Ngài  là Đức Giê-hô-va Di-rê  (nghĩa  là Chúa Sắm  sẵn). Còn  vài  ngày  trước  khi  tôi  từ  giã Hội
Thánh  để lên đường  đến Trường Kinh Thánh thì Ông Nguyễn Văn Sâm,  người Tín hữu có ơn Chúa
trong Hội Thánh mời tôi về nhà rồi vào trong lấy ra một ống tre lớn, lắc qua lắc lại nghe rổn rảng vì
có  bạc  cắc  ở  bên  trong  và  nói:  “Đây  là  tiền  mà  cả  gia  quyến  chúng  tôi  bỏ  vào  gần  một  năm  rồi,  từ
lúc  Thầy  Xuân  bắt  đầu  đi  học  năm  thứ  Nhất.  Chúng  tôi  định  ý  giúp  Thầy  năm  nay  để  tiếp  tục  học.
Được  bao  nhiêu  sẽ  giúp  cho Thầy Xuân  hết.” Đoạn, Ông  ta  chẻ  ống  ra,  đếm  được  gần  một  trăm  rồi
trao hết cho  tôi. Tôi hết sức  cảm  ơn người có  lòng hảo  tâm và  cũng cảm  tạ  ơn Chúa đã  khiến người
giúp tôi lúc có cần. Nhờ số tiền nầy, tôi có thể đóng trọn học phí cho niên khoá 1944-1945. Nếu trái
lại,  không  có  số  tiền  này,  tôi  có  thể  bị  dở  dang  năm  học  ấy  và  nếu  như  vậy,  tương  lai  tôi  sẽ  không
biết phải ra như thể nào? Thật cảm ơn Chúa. Ngài là Đức Giê-hô-va “Di-rê”(Sáng 22:14).


CHƯƠNG BA
ƠN CHÚA DẪN DẮT VÀ GIẢI CỨU KHI LẬP GIA ĐÌNH.

Trước ngày bãi trường, cụ mục sư Ông Văn Huyên là vị đốc học khả kính, giới thiệu cho tôi một nữ
sinh  viên  Trường  Kinh  Thánh,  là  cô  Phan  Thị  Hợi,  em  của  Mục  sư  Phan  Văn  Hiệu,  người  có  tâm
chí hầu việc chúa, quê  ở Bến Cát. Sau  khi bãi trường trở  về,  tôi liền  đến Bến Cát tìm  gia đình  cô  và
xin giao thiệp. Sau đó, chúng tôi cầu nguyện nhờ ơn Chúa sắp đặt để đi đến hôn nhân.


ƠN CHÚA CỨU KHỎI BỊ KẺ CƯỚP DỌC ĐƯỜNG.

Sau  ngày  lễ  Đính  hôn,  từ  Bến  Cát  trở  về  Cao  Lãnh,  tôi  muốn  đi  bằng  xe  đạp  để  có  dịp  ghé  thăm
những Hội Thánh nằm  gần bên  quốc lộ. Ra  đi chừng  hơn  vài  cây số,  ruột  xe bị xẹp. Tôi  dẫn xe đến
chợ  nhờ  thợ  vá  lại.  Đoạn,  tiếp  tục  đi  được  vài  cây  số,  ruột  xe  lại  bị  xẹp  một  lần  nữa.  Tôi  mang  xe
trở  lại  chợ  nhờ  thợ  vá  lại,  tôi  năn  nỉ  anh  thợ  ráng  vá  dùm  cho  kĩ  vì  tôi  đi  đường  xa.  Lần  này  được
tốt.  Khi  đi  được  độ  10  cây  số,  tôi  thấy  đồng  bào  ngồi  hai  bên  đường  khá  đông,  kẻ  khóc  người  la.
Hỏi  thăm  mới  biết  ăn  cướp  đón  người  tại  đây  từ  sáng  lấy  hết  tiền  bạc,  vòng  vàng  của  người  đi  qua
lại  và  chúng  vừa  mới  rút  trốn  vô  rừng.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa!  Nếu  xe  đạp  của  tôi  không  bị  xẹp  hai
lần thì đã bị lọt ngay vào giờ bọn cướp đang đón đường. Thấy đi xe đạp bất an, nên tôi trở lại gởi xe
và đi xe đò về Cao Lãnh.

ƠN  CHÚA  CHỈ  DẪN  DỜI  LẠI  NGÀY  ĐÁM  CƯỚI  SỚM  HƠN  MỚI  ĐƯỢC THÀNH.


Sau  lễ  đính  hôn,  tôi  hiệp  với  Ông  Bà  nhạc  gia  định  ngày  lễ  Hôn  phối  nằm  ngày  4  tháng  chín,  năm
1945. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời là Đấng biết trước những hoàn cảnh sẽ xảy ra trong tương lai của
chúng tôi có thể khiến cho cuộc đời chúng tôi mờ mịt, cách trở, nên đã  khiến cho chúng tôi phải dời
đám  cưới  lại  ngày  khác.  Trước  giờ  từ  giã  Ông Bà  nhạc  gia, Chúa  đã  hướng  dẫn  tôi  định  lại  ngày  lễ
thành  hôn,  nhằm  ngày  28  tháng  tám,  năm  1945,  sớm  hơn  một  tuần.  Sự  thật  thì  tôi  cũng  không  biết
vì  sao  lại  dời  ngày  như  vậy  cho  đến  cách  ngày  đám  cưới  vài  ngày  thì  tôi  mới  biết  có  bàn  tay  từ  ái
của Chúa chỉ dẫn việc này, đúng theo sự biết trước của Ngài. Như tác giả Châm ngôn đã nói: “Lòng
người toan định đường lối mình, song Đức Chúa Trời chỉ dẫn các bước của Người”. (Châm 16:9)
Gần đến ngày  cưới, gia quyến tôi đi bằng ghe, còn tôi đi xe đò, định ý thuận đường ghé thăm em tôi
là  vợ  Mục  sư  Huỳnh  Văn  Thiện  ở  Lộc  Thuận  vài  ngày.  Kế  đó,  đến  ngày  26/8/45,  trước  ngày  đám
cưới  hai  ngày,  tôi  từ  giã  em  tôi  ra  đi.  Đoạn  đường  này  phải  đi  bộ  vì  lúc  bấy  giờ  không  có  loại  xe
nào  lưu  thông  được.  Dọc  đường  không  biết  là  bao  nhiêu  lần  bị  Việt  Minh  xét  hỏi  giấy  tờ,  cùng  lục
soát  khắp  người.  Tuy  vậy,  tôi  cũng  đến  được  bến  Bắc  Rạch  Miễu  lúc  2  giờ  chiều.  Khi  tới  nơi  thì
chiếc  Phà đã  mở  dây  bắt  đầu rời  bến, nhưng tôi nhảy xuống vừa  kịp lúc. Nếu đến trể chừng 30  giây
chắc tôi không dám nhảy xuống và sẽ không bao giờ lên được Sài gòn.
Khi  qua  sông,  tôi  đến  nhà  ga  xe  lửa Mỹ Tho  để  mua  vé  đi Sài  Gòn,  lúc  bấy  giờ mới  thấy  có
độ  200  người  đang  đứng  xếp  hàng  để  chờ  mua  vé,  mà  nhà  binh  Nhật  cho  hay  chỉ  cho  30  người  đi
thôi,  và  chuyến  xe  này  cũng  là  chuyến  xe  chót  đi  Sài  Gòn  (vì  tình  hình  chiến  tranh  hết  sức  căng
thẳng  tại  Sài  Gòn  giữa  Việt  Minh  và  Pháp).  Từ  đây  về  sau  nhà  binh  Nhật  cũng  như  Việt  Minh  đều
không cho xe lửa lên Sài Gòn. Hốt hoảng, tôi kêu xin Chúa giúp cách nào để tôi có thể đến kịp ngày
đám  cưới.  Nếu  đi  chuyến  này  không  được  thì  không  còn  cách  gì  khác,  vì  xe  đò  mấy  tuần  rồi  cũng
không  chạy  được.  Tôi  liền  đi  từ  từ  đến  những  người  đứng  phía  hàng  đầu  giả  vờ  hỏi  thăm  chuyện,
rồi  chen  vô  đứng  xếp  hàng,  nhưng  bị  la  ó  đuổi  ra!  Không  thất  vọng,  tôi  lui  lại  vài  bước.  Kế  có  lệnh
cho  vào  mua  vé  và  lúc  đó  cửa  sắt  cũng  vừa  mở  ra,  tôi  chen  vô  được  với  những  người  phía  trước.
Khoảng chừng 30 người vào thì cửa sắt đóng lại, bỏ  gần 200 người đứng phía ngoài ngó vào đầy vẻ
thất  vọng!  Cảm  tạ  ơn  Chúa,  thế  là  tôi  lên  được  Sài  Gòn  dưới  sự  dẫn  dắt  của  Chúa  qua  mỗi  đoạn
đường, đúng từng giây, từng phút mà tôi không ngờ trước được.

Nghỉ  đêm  tại  Sài  Gòn,  sáng  ngày  hôm  sau  tôi  lên  Bến  Cát,  và  ngày  kế  đó  là  ngày  Chúa
Nhật,  28/8/1945,  đúng  như  chương  trình  đã  dự  định  để  chịu  lễ  Hôn  phối.  Buổi  lễ  có  cụ  Chủ  nhiệm
Mục sư Trần Xuân Hỷ hành lễ và cụ Mục sư Nguyễn Văn Trình  giảng dạy. Sau đám cưới  gia quyến
tôi trở về Cao Lãnh, còn tôi dự định ở lại thăm bà con vài ngày rồi sẽ về sau.

Cám  ơn  Chúa,  đúng  như  sự  biết  trước  của  Ngài,  sau  đám  cưới  vài  ngày  là  chiến  tranh  bùng  nổ  dữ
dội  tại  Sài  Gòn!  Từ  đấy  xe  cộ  cũng  như  mọi  người  khó  lưu  thông  được  từ  địa  phương  này  qua  địa
phương  khác,  và  chiến  tranh  cứ  tiếp  diễn,  đa  số  người  phải  di  cư  vô  hậu  phương  càng  ngày  càng
xa… Cám ơn Chúa, trước bối cảnh đã xảy ra, nếu đám cưới không tổ chức sớm hơn một tuần và tôi
chỉ  trễ  một  chuyến  phà,  một  chuyến  xe  lửa,  chắc  cuộc  đời  chúng  tôi  không  biết  bị  trôi  lạc  vào
phương  trời  nào,  hoặc  sống  chết  ra  sao,  một  tương  lai  vô  định,  và  vợ  chồng  không  hẹn  ngày  hội
ngộ.  Cám  tạ  ơn  Chúa  chúng  tôi  biết  mình  là  những  tôi  tớ  hèn  mọn  của  Đức  Chúa  Trời,  chúng  tôi
làm  gì  cũng  cầu  xin  nhờ  ơn  Chúa  sắp  đặt  và  chỉ  dẫn  nên  mới  được  phước  và  may  mắn.  Như  sách
Châm ngôn dạy: “Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ dẫn các nẻo của
con” (Châm ngôn 3:6)


CHÚA CỨU KHỎI BỊ BẮT NHỜ VÀNH XE BỊ VẸO.

Lúc  bấy  giờ  tuy  có  chiến  tranh  tại  Sài  Gòn,  nhưng  ở  Bến  Cát  vẫn  còn  bình  yên,  dưới  sự  kiểm  soát
của  quân  đội  Nhật.  Buổi  sáng  kia,  tôi  và  các  bạn  đi  làm  việc  bằng  xe  đạp  (tôi  mới  bị  ép  lãnh  phận
sự  làm  thư  ký  phụ  cho  Đoàn  Vệ  Quốc  Quân  gồm  117  người,  tác  chiến  bằng  tầm  vông  vạc  nhọn,
dưới quyền điều khiển của anh rễ tôi là Trịnh Phát Phước). Khi đang đi gần  tới doanh trại binh Nhật
còn cách chừng 200 thước, bỗng gặp một người quen kêu thình lình, tôi liền nhảy xuống xe thì vành
xe  đạp  bị  vẹo  (trước  đó  một  tháng,  vành  xe  đạp  của  tôi  bị  xe  bò  cán  vẹo,  tôi  sửa  lại  để  đi  tạm  và
hôm nay do chỗ hư cũ đó nên vành xe bị vẹo trở lại).

Sau  đó  tôi  dẫn  xe  trở  về  nhà. Một  lúc  sau,  nghe  tin  các  người  cùng  đi  làm  việc  với  tôi  khi  sáng,  lúc
ngang  qua  trước  cửa  nhà  binh  Nhật  thì  bị  bắt  tra  khảo  và  chở  xuống  Sài  Gòn  giao  cho  quân  đội
Pháp  giam  cầm.  Ít  lâu  sau,  nghe  tin  những  người  ấy  dường  như  bị  chết  hết  vì  chỗ  giam  quá  chật
hẹp!

Cảm  tạ  ơn  Chúa,  Ngài  đã  sắp  đặt  sự  cứu  giúp  từ  trước,  khiến  cho  vành  xe  đạp  của  tôi  bị  vẹo.  Và
hơn  thế  nữa,  Chúa  dẫn  một  người  đến  đón  tôi  đúng  chỗ,  kịp  thời  cứu  tôi  thoát  nạn.  Thật  Chúa  đã
bao  bọc  yêu  thương  và  gìn  giữ  chúng  tôi  “Khác  nào  như  Cha  thuong  xót  con  cái mình”.  Dầu  mẹ  có
lúc  quên  con  mình  cho  bú,  nhưng  Chúa  không  bao  giờ  quên  con  cái  Ngài  (Thi  Thiên  103:13.  Ê  sai
49:15)


CHÚA KHIẾN TÔI CÓ MẤY MỤT GHẺ NÊN KHỎI BỊ NHẬT BẮT

Nhớ lại sau đó mấy ngày, trong một cuộc lùng kiếm Việt minh (lúc bấy giờ Nhật nghe theo lời Pháp
và  Anh  nên  kiếm  bắt  Việt  minh)  những  lính  Nhật  đến  vây  nhà  chúng  tôi  vào  lúc  12  giờ  khuya,  kêu
mọi người thức dậy. Nhận thấy sự nguy  khốn xảy đến, chúng tôi cúi đầu cầu nguyện, xin Chúa  giải
cứu.  Tôi  đốt  đèn  và  mở  cửa.  Người  lính  Nhật  kêu  tôi  đi  ra.  Tôi  giả  đau  và  đưa  hai  bàn  tay  có  mấy
mụt  ghẻ  thoa  thuốc  đỏ  đen  cho  xem,  rên  rỉ  nói:  “Tôi  đang  đau  và  tôi  không  phải  là Việt  minh.  Việt
minh  thì  mặc  đồ  đen,  ở  rừng,  còn  tôi  mặc  đồ  trắng,  ở  nhà  ngủ,  đâu  có  phải  là  Việt  minh?  Người
Nhật  nhìn  tôi  một  chút  như  hiểu  được  lời  tôi  nói  có  lý  và  thấy  tôi  có  vẻ  đau  đón,  động  lòng  nên  bỏ
mà  ra  đi.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa,  quyền  năng  Chúa  thật  lớn  lao,  không  việc  chi  mà  Ngài  chẳng  làm
được.  Song  muốn  cứu  con  cái  của  Ngài  thì  Ngài  cũng  áp  dụng  theo  tánh  lý  nhơn  đạo  của  người  để
cứu  người.  Ấy  là  mấy  mụt  ghẻ  vừa  mọc  lên  vài  ngày  trước  trên  tay,  có  bôi  thuốc  đen  đỏ,  khiến  cho
nguời Nhật động lòng thương xót, không muốn bắt.

KHỎI  BỊ  BẮT  NHỜ  CHÚA  LÀM  CHO  TÊN  LÍNH  NHẬT  THƯƠNG  HOẶC SỢ!...

Tuần  lễ  sau,  những  người  lính  Nhật  đi  ruồng  bố  ghé  vào  nhà  tôi  thình  lình lúc  7  giờ  tối,  không  trốn
kịp  như  những  lần  khác.  Một  tên  lính  Nhật  chĩa  mũi  súng  vào  cửa  sổ  kêu  tôi  đi  ra.  Tôi  còn  đang
đứng đó  nói rằng:  “Tôi  không phải là Việt minh!  Đoạn,  người Nhật  bước  vô chĩa súng  vào  bụng  và
dẫn tôi ra phía sau  chỉ  sợi  dây cột võng, bảo tôi mở ra,  có ý dung dây đó để trói tôi lại. Tôi  cố  ý mở
dây cách chậm  chạp, miệng  cầu xin Chúa  giải cứu:  “Chúa ôi! Ngài  là Đấng quyền phép lớn lao, xin
thi hành phép lạ cứu con trong giờ này.”

Đồng thời,  vợ tôi cũng vào phòng cầu  nguyện, xin cánh tay  đầy quyền  năng của Chúa can  thiệp. Sự
mở  dây  cũng  hơi  chậm.  Các  lính  Nhật  sang  nhà  khác  bắt  anh  vợ  tôi  và  vài  người  nữa  dẫn  đi  càng
lúc  càng  xa.  Bấy  giờ  chỉ  còn  lại  một  tên  lính  Nhật  đang  chĩa  súng  vào  lưng  tôi  để  chờ  mở  dây.  Nó
nghe  tiếng  đồng  bọn  kêu  ở  xa xa. Phần  thì  lúc  ấy  trời  cũng  đã  tối,  tên  lính Nhật  ngó  tới,  ngó  lui  (có
lẽ  hắn  suy  nghĩ,  chỉ  có  một  mình  khó  trói  được  tôi,  vã  lại  thấy  tôi  cũng  là  một  thanh  niên,  biết  đâu
tôi  có  võ  nghệ).  Thình  lình  hắn  lui  ra  chừng  4  thước,  mũi  súng  cũng  còn  chĩa  ngay  về  phái  tôi.
Đoạn, mau lẹ xây lưng lại bỏ tôi mà đi theo đồng bọn.

Thật  cảm  tạ  ơn  thương  xót  lớn  lao  của  Chúa.  Ngài  có  nhậm  lời  cầu  nguyện  nên  trong  khi  sự  bị  bắt
kể  như  cầm  chắc,  thì  quyền  phép  Chúa  can  thiệp  và  giải  cứu  tôi  thoát  nạn  cách  lạ  lùng!  Như  Đa  vít
đã  nói:  “Chúa  binh  vực  tôi;  loài  người  làm  chi  tôi  được. Dầu  khi  tôi  đi  trong  trũng  bóng  chết,  tôi  sẽ
chẳng  sợ  tai  họa  nào,  vì Chúa  ở  cùng  tôi. Đương  khi  đi  qua  trũng  khóc  lóc,  họ  làm  cho  trũng  ấy  trở
nên nơi có mạch. Họ đi tới sức lực lần lần thêm.” Thi Thiên 23:4, 84:6


KHỎI  BỊ  BẮT  NHỜ  CHÚA  LÀM  CHO  NHỮNG  TÊN  LÍNH  NHẬT  KHÔNG THẤY.

Một lần khác, cũng  có một đám quân Nhật đến vây xóm. Nghe tin, chúng tôi gom  góp đồ tế nhuyễn
vào một  gói lớn,  định ôm  chạy  ra  rừng  trốn, nhưng vừa  chạy  ra tới  bờ  chuối,  cách nhà  độ 12 thước,
thì có chừng 20  tên  lính Nhật ào  vô tới  nhà. Chúng  tôi hốt hoảng  ngồi xuống, ngó tới ngó lui  chung
quanh  quá  trống  trải,  biết  kỳ  này  khó  bề  trốn  thoát  như  những  lần  trước.  Chúng  tôi  cúi  đầu  cầu
nguyện,  xin  một  phép  lạ  của  Chúa  làm  cách  nào  cho  người  Nhật  mù  lòa,  để  chúng  đừng  thấy  như
ngày  xưa  Chúa  đã  làm  cho  đạo  quân  Syri  bị  mù  lòa  giữa  ban  ngày.  Độ  10  phút  sau,  những  tên  lính
Nhật đi ra khỏi nhà, ngay phía chúng tôi đang ngồi trốn. Thấy vậy, chúng tôi dường như không dám
thở ! Nhưng cảm tạ ơn Chúa. Họ quẹo ra phía trước, chỉ cách chúng tôi chừng 7 thước rổi đi luôn.
Khi  họ  đi  xa  xa.  Tôi  nói  hơi  lớn  tiếng:  “Chúng  nó  đi  xa  rồi,  mình  vô.”  Đoạn,  chúng  tôi  ôm
gói đồ  lớn đứng dậy. Vừa  đứng lên, thì thấy 2 tên lính Nhật còn  sót  lại trong nhà bước ra  ngay  phía
sau  chổ  chúng  tôi  đang  đứng  (có  lẽ  chúng  ra  trể  vì  muốn  lục  kiếm  đồ  đạc  để  lấy).  Như  mất  hồn,
Chúng  tôi  cứ  đứng  sững  ở  đó!  Nhắm  mắt  thầm  nguyện,  xin  Chúa  giải  thoát.  Hai  tên  lính  Nhật  vừa
đi vừa nói chuyện, gần sát bên chúng tôi đang đứng, rồi quẹo ra lộ đi luôn!

Chúng  tôi  thật  lớn  tiếng  cảm  tạ  ơn  Chúa  có  nhậm  lời  cầu  nguyện,  nên  Ngài  có  thi  hành  sự
giải cứu thật lạ lùng, khiến cho những người lính Nhật giữa ban ngày không ngó thấy, hoặc là Chúa
bắt  buộc  chúng  nó  ngó  về  phía  khác  để  bảo  vệ  chúng  tôi  được  an  toàn.  Như  tác  giả  Thi  Thiên  đã
từng  trãi  nói:  “Trong  cơn  gian  truân,  hãy  kêu  cầu  cùng  Chúa,  Ngài  bèn  giải  cứu  khỏi  đều  gian  nan.
Đấng  gìn  giữ  không hề  buồn ngủ. Chúa  phán: Ta  sẽ  nhậm lời họ trước  khi  kêu cầu ta, họ  còn nói ta
đã nghe rồi” (Thi Thiên 107:6, Êsai 65:24)


CHƯƠNG BỐN
CHÚA DẪN TÔI RA KHỎI BẾN CÁT ĐẦY BIẾN LOẠN

Chiến  tranh  phát  khởi  tại Sài Gòn  rồi  dần  dần  cũng  tràn  đến  Bến  Cát. Đa  số  đồng  bào  tản  cư  đi  nơi
khác.  Chúng  tôi  cầu  xin Chúa  chỉ  dẫn,  vì  cảm  thấy  tản  cư  rất  là  nguy  hiểm,  có  nhiều  nổi  khổ  sở  và
chết  chóc;  còn  ở  lại  nhà  thì  bị  nhà  Binh  Nhật  - Pháp  có  thể  đến  bắt  bất  cứ  lúc  nào  vì  không  thể  nào
trốn  tránh  mãi  được.  Hơn  nữa,  chúng  tôi  cũng  lo  sợ  Việt  minh  nghi  ngờ  vì  tôi  không  chịu  rút  theo
Đoàn Vệ  Quốc quân và  vợ  tôi cũng  không  chịu nhận  chức  chủ tịch phụ  nữ mà họ đã  hết  sức nài ép.
Sau  ít  ngày  cầu  nguyện,  chúng  tôi  cảm  thấy  lòng  bình  an  nên  quyết  định  nhờ  cậy  Chúa,  dầu  sống
thác  như  thế  nào  cũng  ở  lại  nhà  chứ  không  tản  cư.  Nhưng  dưới  lệnh  của  Việt  minh,  cả  mọi  người
trong  làng  đều  tuân  hành  di  tản.  Gia  đình  chúng  tôi  là  gia  đình  duy  nhất  trong  làng  không  chịu  tản
cư.

Khi quân đội Pháp đến Bến Cát và đoàn xe tăng  chạy ngang  qua trước  cửa  nhà, chúng  tôi ra
trước  cửa để xem  đoàn  xe chớ chẳng sợ  chi, còn về phần đồng bào, sau vài tháng tản cư thì lần lượt
trở về làng thuật  lại  không biết bao  nhiêu  cảnh đau  khổ và  chết  chóc,  không  bút mực nào  mô  tả cho
hết.  Có  người  bị  chết,  còn  người  sống  sót  lại  mang  nhiều  chứng  bệnh  vào  thân.  Họ  nói:  “Thầy  Cô
Xuân và Ông Bà cụ có phước quá!”

Nghe vậy, chúng tôi thêm lòng cảm tạ ơn Chúa, là Đấng có soi sáng giúp chúng tôi có quyết
định  đúng  trước  những  sự  kiện  quan  trọng  mà  chúng  tôi  không  biết  tương  lai  sẽ  ra  như  thế  nào.
Chúng  tôi  chỉ  biết  phó  thác  mọi  việc  cho  Chúa  mà  thôi.  Như  tác  giả  Châm  ngôn  đã  dạy:  “Hãy  hết
lòng  tin  cậy  Giê-Hô-Va  Đức  Chúa Trời,  chớ  nương  cậy  nơi  sự  thông  sáng  của  con. Phàm  trong  các
việc  làm  của  con,  khá  nhận  biết  Ngài,  thì  Ngài  sẽ  chỉ  dẫn  các  nẻo  của  con.  Vì  hễ  ai  tìm  được  Chúa
thì được sống, và sẽ được ơn trước mặt Đức Giê-Hô-Va.” (Châm ngôn 3:5, 8:35)


CHÚA KHIẾN CHO LỰU ĐẠN KHÔNG NỔ

Nhớ  lại  buổi  sáng  kia,  chúng  tôi  đang  đứng  bên  bờ  ruộng  gần  bên  nhà.  Thấy  một  đoàn  lính  Việt  –
Pháp chừng 30 người đi  dọc theo quốc lộ. Thình lình họ đứng lại và sau đó, hết thảy những người  ở
xa  gần  đều  nằm  sát  xuống  bên  lề  đường.  Một  người  lấy  một  trái  lựu  đạn  ra  rút  chốt  và  ném  nó  gần
chỗ chúng tôi  đang đứng. Chúng tôi  đang  bỡ ngỡ  và chưa hiểu chuyện  gì,  cứ đứng  đó,  song cám  ơn
Chúa  là  trái  lựu  đạn  chỉ  xì  khói  mà  không  nổ.  Nếu  lựu  đạn  nổ  thì  chúng  tôi  không  biết  mình  sẽ  ra
như  thế  nào,  vì  trái  lựu  đạn  chỉ  rơi  cách  chúng  tôi  chừng  20  thước.  Khi  trở  vô  nhà,  chúng  tôi  ngồi
suy  nghĩ  lại  sự  kiện  đã  xảy  ra  vì  lý  do  gì?  Khó  hiểu!  Nhưng  đều  chúng  tôi  biết  là  những  anh  quân
nhân  ác  ôn  này  đều  ở  trong  làng,  ra  làm  việc  cho  Pháp. Họ  đều  biết  anh  rể  tôi  là  Trịnh Phát  Phước,
người  chỉ  huy  Đoàn  Vệ  quốc  quân  trong  quận  Bến  cát  đang  ở  trong  rừng  tác  chiến,  nên  họ  có  lẽ
muốn hại chúng tôi.
Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời, Chúa không phải là không biết việc gì đang xảy ra, nên khiến
cho lựu đạn không nổ để cứu chúng tôi khỏi nạn.

Như  tác  giả  Đa  vít  đã  nói:  “Người  sẽ  chẳng  sợ  hoặc  kinh  khiếp  ban  đêm,  hoặc  tên  bay  ban  ngày…
hay  là  sự  tàn  diệt  phá  hoại  đương  lúc  trưa.  Song  tai  họa  sẽ  chẳng  đến  gần  ngươi…  bởi  vì  ngươi  đã
nhở Đức Chúa Giê-Hô-Va làm nơi nương náo mình” ( Thi Thiên 91:5, 6:9)


CHÚA CỨU KHỎI SÚNG ĐẠN VÀ TÊN LƯU MANH MUỐN CƯỚP

Ít ngày sau đó, một tên lính Nhật say rượu đi phá xóm phá làng và ghé vào nhà thờ Tin Lành
dùng  gươm  đâm  lủng  nát  cái  trống  và  uy  hiếp  vài  người  trong  nhà  thờ  bằng  gươm,  vì  nó  cho  nhà
thờ  này  là  của  Mỹ  nên  oán  ghét.  Thật  là  quả  báo  nhản  tiền.  Vài  ngày  sau  đó,  lúc  8  giờ  tối,  cũng
chính  tên  lính  ấy  đang  bị  say  một  lần  nữa  và  lúc  hắn  đang  đi  xuệnh  xoạng,  tay  chân  quơ  múa  gần
cửa nhà thờ thì bị một lính Việt minh bắn  chết  cách nhà chúng tôi  chừng vài trăm thước. Sau đó, có
tiếng  đồng  bào  hốt  hoảng  kêu  la:  “Chạy  trốn  cho  mau  vì  tên  lính  Nhật  bị  bắn  chết  nên  Nhật  trả  thù
giết hết xóm”. Tiếp theo  nghe tiếng súng bắn dữ dội,  hốt hoảng,  chúng tôi  xách một va li  và vài  gói
đồ  (lúc  bấy  giờ  chúng  tôi  đã  sắp  đặt  đồ  vào  va  li  sẵn  sàng)  chạy  ra  phía  rừng  dưới  lằn  đạn  nghe  rào
rào trên đầu thật khủng khiếp!

Đang khi chúng tôi xách va li và đồ đạc chạy vào rừng trốn thì thình lình gặp một tên côn đồ
có  súng  hai  nòng.  Chúng  tôi  rất  lo  sợ  vì  biết  hắn  ta  có  ý  muốn  cướp  đồ  vì  biết  chúng  tôi  có  tiền  và
đồ  nữ trang. Nhưng nó còn phân vân vì vợ  tôi biết mặt  và tên nó, biết  nó là một  tên  côn đồ  mà  hôm
nay  lại  có  súng.  Hơn  nữa,  chúng  tôi  đang  chạy  trốn  giữa  rừng  vào  ban  đêm,  dưới  lằn  đạn  của  hàng
trăm  tên  lính  Nhật,  chúng  tôi  sợ  nó  có  thể  bắn  giết  rồi  đổ  thừa  cho  lính  Nhật.  Chúng  tôi  thầm
nguyện, xin cánh tay Chúa  giải cứu. Đoạn, chúng tôi đứng dậy chạy sâu vô rừng,  cố ý trốn cho  khỏi
tên  bất  lương,  mặc  dầu  tiếng  súng  vẫn  còn  nổ  liên  tiếp  cách  dữ  dội  và  tiếng  đạn  bay  nghe  rào  rào
trên cây. Nhưng tên côn đồ ấy vẫn bám sát chúng tôi. Lúc bấy giờ chúng tôi sợ tên cướp hơn sợ đạn
nên  chạy  quẹo  ra  phía  bìa  rừng  và  cảm  tạ  ơn  Chúa,  lúc  ấy  Nhật  cũng  thôi  bắn,  nên  chúng  tôi  đi
thẳng  về  nhà,  bỏ  tên  ác  ôn  lại  ở  đó  nhìn  theo  chúng  tôi  như  có  nhiều  sự  suy  nghĩ…  Tạ  ơn  Chúa,
Ngài  có  bảo  vệ  chúng  tôi,  nên  khiến  tên  côn  đồ  có  sự  lưỡng  lự  không  dám  ra  tay  để  làm  hại  chúng
tôi  là  những  tôi  tớ  hèn mọn  của Chúa.  (Có  lẽ  vài  tháng  sau,  tên  côn  đồ  này  trở  lại  cướp  nhà Ông  bà
Nhạc gia tôi 6 lần, nhưng lúc đó chúng tôi đã đi xuống Thủ Đức).


CHÚA SAI NGƯỜI BÁO TIN LÚC 12 GIỜ KHUYA NÊN KHỎI BỊ NẠN

Khi  chúng  tôi  trở  về  nhà,  liền  bàn  tính  phải  tản  cư  vô  rừng  vài  ngày  để  xem  tình  hình  sẽ  ra  như  thế
nào? Đoạn,  chúng  tôi  gom  góp  đồ  đạc  thêm  ít  nhiều  và  dọn  đi  liền  nội  trong  đêm  đó  xuống  bờ  suối
cách nhà chừng 500 thước, cất lên một cái trại cùng với đồng bào trong xóm chừng 10 người, ở đấy
chừng một tuần cũng tạm yên.

Rồi  một  đêm  kia,  lối  12  giờ  khuya,  có  tiềng  một  người  đi  bên  bờ  suối  kêu:  “Anh  em  ơi!  Đêm  nay
Pháp-Nhật đi ruồng bố tại đây.”
Chúng  tôi  bàn  luận:  “Dầu  mình  chẳng  làm  gì,  nhưng  hễ  trốn  ở  rừng,  nếu  rủi  bị  nhà  binh Pháp-Nhật
bắt  thì  không  thế  nào  tự  binh  vực mình  được,  hoặc  có  thể  bị  bắn  chết  lúc  họ  bao  vây. Thà  ở  tại  nhà
mà  bị  bắt,  cũng  dễ  van  nài  hơn.”  Nghĩ  như  vậy  nên  chúng  tôi  dọn  đồ  về  nhà  liền  nội  trong  giờ  đó.
Một  lát  sau,  có  tiếng  súng  nổ  ở  bờ  suối  và  lửa  từ  những  căn  trại  bốc  lên  cháy. Đồng  bào  còn  trốn  ở
suối, kẻ bị bắt,  người  bị  bắn chết. Cám  ơn Chúa,  chúng tôi được Chúa phù hộ,  gìn  giữ  và  khiến  cho
có người đến  kêu  lúc  đêm khuya nên mới  thoát  nạn như Chúa đã  hứa cùng Gia  cốp:  “Nầy ta  ở cùng
ngươi,  ngươi  đi  đâu,  sẽ  theo  gìn  giữ  đó,  và  ta  sẽ  không  bao  giờ  bỏ  ngươi  cho  đến  khi  Ta  sẽ  làm
xong những đều Ta đã hứa cùng Ngươi.” (Sáng 28:15).


CHÚA RÚT TÔI KHỎI TRŨNG BÓNG CHẾT!

Lúc  bấy  giờ,  vợ  tôi  đã  có  thai  được  8  tháng  mà  phải  chạy  tản  cư  đây  đó,  song  nhờ  ơn  Chúa  ban  ơn
nên được mạnh khỏe. Cám ơn Chúa, Ngài là Đấng biết trước tất cả mọi sự nguy hiểm  của chiến họa
cũng  như  những  nạn  cướp  bóc.  Mặc  dầu  Ngài  là  Đấng  quyền  phép,  chỉ  “Phán  một  tiếng  là  biển
cạn”,  song,  muốn  rút  chúng  tôi  ta  khỏi  trũng  bóng  chết  để  sinh  mạng  được  an  toàn,  cũng  khó  giúp
cho  chúng  tôi  biết  thế  nào  là  ý  Chúa  để  vâng  theo.  Vả  lại,  vợ  tôi  đã  có  thai  được  8  tháng,  chỉ  còn
hơn 1 tháng nữa là tới kỳ sinh nở, người rất cần có bà Nhạc gia tôi giúp đỡ. Hơn nữa, lúc bấy giờ xe
cộ  cũng  như  người  khó  đi  lại,  vì  Việt  minh  cấm  di  chuyển  nên  ai  ở  đâu  là  cứ  ở  đấy,  ít  ai  nghĩ  đến
việc  đi  xa,  nếu  trái  lệnh  mà  rủi  bị  bắt  thì  bị  tình  nghi,  có  thể  bị  giết  chết  oan  mạng.  Cảm  tạ  ơn  Đức
Chúa Trời, Ngài biết địa phương này sắp xảy ra chiến họa và loạn lạc, nên Chúa phải can thiệp cách
nào cho có hiệu lực để đem chúng tôi ra khỏi nơi biến loạn!

Chúa  bắt  đầu  khiến  cho  sự  rắc  rối  xảy  ra  ngay  tại  gia  đình.,  Ấy  là  vợ  tôi  có  người  chị  dâu  bấy  lâu
vẫn  thương  yêu  nhau,  ít  khi  nào  cãi  cọ.  Rồi  một  ngày  kia  có  một  vài  việc  không  đáng  kể  nhưng
người chị dâu lại muốn kình chống và luôn có thái độ bất mãn và sẵn sàng muốn gây gỗ!
Để  tránh  sự  va  chạm,  chúng  tôi  định  ý  rời  khỏi  gia  đình  đi  xuống  Thủ  Đức  (Thủ  Đức  cách  Bến  cát
độ 60 cây số). Nhưng chúng tôi chưa biết sẽ đi bằng cách nào? Vì lúc bấy giờ, ngoài xe nhà binh thì
không có loại xe nào lưu thông được.

Chúng tôi  tha  thiết cầu xin Chúa sắp đặt cách  nào cho  có một vài chuyến xe để  đi. Ông bà Nhạc  gia
kêu  tôi  đến  khuyên:  “Vợ  con  gần  ngày  sinh  nở,  ở  đây  đủ  tiện  nghi,  gạo  lúa  đầy  bồ,  con  xuống  Thủ
Đức,  không  nghe  người  ta  đồn  ở  dưới  thiên  hạ  bị  đói  sao?”  Lời  khuyên  của  ông  bà  Nhạc  gia  làm
cho  tôi  cũng  hơi  lo  ngại,  nhưng  dường  như  có  một  năng  lực  gì  mạnh  mẽ  thúc  giục  nên  tôi  quyết
định  đi  chứ  không  chịu  thay  đổi  ý  định.  Vợ  tôi  dầu  hơi  lưỡng  lự  nhưng  sau  vài  ngày  cầu  nguyện  để
biết ý Chúa nên cũng đồng ý.

Cảm  tạ  ơn  Chúa  thật  diệu  kỳ!  Sự  cứu  giúp  của  Ngài  thật  đúng  lúc,  vài  ngày  sau,  có  một  chiếc  xe
chở đồ từ Sài Gòn chạy lên ngang qua cửa. Chúng tôi mừng quá! Liền sửa soạn đồ đạc, quần áo xếp
vào  các  va  li  đem  ra  trước  cửa  sẵn  sàng  để  chờ  đón  xe  quá  giang.  Chiếc  xe  chở  đồ  chạy  trở  lại  vào
lúc  4  giờ  chiều,  nội  trong  ngày.  Lúc  thấy  xe  còn  đằng  xa,  tôi  ra  giữa  lộ  giăng  hai  tay  ra  đón.  Chiếc
xe bớt tốc lực rồi từ từ ngừng lại. Chúng tôi liền  hỏi xin quá giang xuống Thủ Đức. Chúa cho người
tài  xế vui vẻ bằng lòng. Chúng tôi  leo  lên xe  lòng vui buồn lẫn lộn. Chiếc xe chạy đến Thủ Đức tuy
bị trễ, vì phải trải qua nhiều trạm xét gắt gao, nhưng mọi việc đều bình yên! Cảm tạ ơn Chúa!
Chúng tôi tạm trú tại nhà thờ Thủ Đức được vài tuần. Chúng tôi nhận được thơ của ông bà Nhạc gia
cho  hay:  Chiếc  xe  hơi  mà  chúng  tôi  quá  giang  xuống  Thủ  Đức,  không  còn  lên  Bến  cát  nữa,  vì  đã
nghe tin bị Việt minh đón đường đốt ở Thủ Dầu Một (thế là chiếc xe hơi chở đồ chỉ đi được lên Bến

Cát  có một  chuyến  rồi  bị  đốt,  từ  đó  về  sau  không  còn  thấy  xe  nào  di  chuyển  lên  nữa  trong  một  thời
gian  khá  lâu).  Và  sau  đó  ít  tuần,  chúng  tôi  lại  nhận  được  tin  bọn  cướp  phá  nhà Ông  bà Nhạc  gia  tôi
6  lần.  Chúng  bắt  hết  bò,  ngựa  và  lấy  hết  đồ  đạc  không  chừa  lại  món  gì  đáng  giá,  thậm  chí  cuốn
Kinh Thánh chúng cũng lấy đi. Mỗi lần vào nhà lấy đồ  chúng bắt ông bà trói lại hành hạ. Còn chiến
tranh  cũng  tràn  đến  tại  đó  rất  dữ  dội!  Ông  bà  Nhạc  gia  tôi  và  đồng  bào  trong  làng  phải  theo  lệnh
Nhà  cầm  quyền  địa  phương  dỡ  nhà  xuống  bỏ  đó,  tản  cư  ra  chợ.  Trong  làng  có  nhiều  căn  nhà  đồ  sộ
nhưng  có cái đã bị cháy,  cái còn  lại phải dở xuống cho  hai  bên lộ được trống  trải. Cả làng đều vắng
bóng người qua lại.

Chúng tôi nghĩ lại mà tạ ơn Đức Chúa Trời Đấng rất lớn lao. Ngài đã  yêu thương và bảo vệ nên  can
thiệp  thật  đúng  lúc,  đúng  hoàn  cảnh,  rút  chúng  tôi  ra  khỏi  nơi  biến  loạn  để  đưa  chúng  tôi  đến  Thủ
Đức,  một  quận  lỵ  khá  được  an  ninh.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa  nếu  lúc  loạn  cướp  và  chiến  tranh  xảy  ra
như thế mà chúng tôi còn ở tại Bến cát thì không biết mình sẽ ra như thế nào? Chắc khó an toàn cho
tánh mạng!


CHƯƠNG NĂM
ĐẤNG BẢO HỘ TẠI THỦ ĐỨC VÀ CẦN GIUỘC

Cám  ơn  Chúa,  khi  chúng  tôi  ở  Thủ  Đức  chừng  một  tháng  chưa  biết  làm  chi  để  sinh  sống  thì
có  người  bạn  quen  đến  chỉ  dẫn  chúng  tôi  mua  bán  đồ  Bazar.  May  mắn  là  sau  đó  chúng  tôi  mướn
được  một  căn  nhà  gần  chợ  thuận  hiệp  cho  việc  mua  bán  nên  chúng  tôi  khởi  sự  mua  bán  cũng  được
phát  đạt.  Mặc  dù  mua  bán  được  khá  nhưng  thật  ra  lòng  chúng  tôi  chỉ  muốn  đi  hầu  việc  Chúa  mà
thôi.  Nhưng  vì  lúc  bấy  giờ  chiến  tranh  lan  rộng  ra  cả  xứ,  nhiều  nhà  thờ  bị  đóng  cửa  nên  chúng  tôi
đành chấp nhận giải pháp mua bán tạm sống để chờ đợi sự sắp đặt của Ban Trị sự Địa hạt.


CHÚA CỨU KHỎI VIÊN ĐẠN OAN NGHIỆT

Nhớ  lại  một  ngày  kia,  có  một  anh  quân  nhân  đến  nhà  chơi  để  súng  trên  bàn,  mũi  súng  quay
về phía  chúng tôi. Sau vài phút hàn huyên, anh ta để tay lên cò súng bóp cò chơi nhưng cò súng  hơi
cứng.  Người  lật  đật  mở  súng  ra  thấy  có  một  viên  đạn.  Người  la  lên:  “May  quá!  Thường  ngày  tôi
quen tay, hay bóp cò kêu cốc cốc chơi, hôm nay sao thấy hơi cứng tôi không muốn bóp.” Chúng tôi
nghe  vậy  cũng  ghê  rợn  người  và  cảm  tạ  ơn  Chúa  vì  biết  có  Ngài  bảo  vệ  nên  mới  được  thoát  khỏi
nạn.


ƠN CHÚA CỨU KHỎI NẠN TRÁI DỪA RỤNG NGAY TRÊN GIƯỜNG NGỦ

Một  buổi  sáng Chúa  nhật  kia,  chúng  tôi  đi  nhà  thờ,  lúc  trở  vế  nhà,  thấy  có  trái  dừa  to  lớn  và
ngói  bể  nằm  ngổn  ngang  trên  giường  ngủ.  Ngó  lên  nóc  nhà  thấy  một  lỗ  trống  lớn,  bể  cả  hàng  chục
tấm  ngói,  luôn  cùng  miếng  cây  mè  cũng  bị  gãy.  Được  biết  gần  đó  có  cây  dừa  rất  cao,  nghiêng  qua
nhà,  trái  rụng  xuống  với  tốc  lực  khá  mạnh.  Cám  ơn  Chúa.  Nếu  trái  dừa  rụng  xuống  vào  lúc  ban
đêm,  chúng  tôi  và  một  cháu  nhỏ  chắc  bị  thương  tích  hay  nguy  hiểm  đến  tính  mạng.  Thật  Chúa  là
Đấng toàn tri, toàn năng là Đấng mà chúng tôi tin và nương náu hằng ngày nơi Ngài nên được thoát
nạn. Như  Kinh  thánh  đã  chỉ  dạy:  “Ngươi  đã  nhờ  Đức  Chúa Trời  làm  nơi  nương  náu  mình…  nên  sẽ
chẳng có tai họa nào xảy đến ngươi.” (Thiên 91:8-10 )


ƠN CHÚA CỨU KHỎI BỊ GIAM VÔ CỚ

Một đêm kia, lúc 12 giờ khuya, hai tên quân nhân Pháp da đen đi tuần chung quanh chợ Thủ
Đức  kêu  cửa  bắt  tôi  dẫn  đi.  (Lúc  bấy  giờ  tình  hình  nghiêm  trọng,  có  lẽ  họ  thấy  đếm  ấy  tôi  thức
khuya nên khả nghi). Dọc đường tôi cầu xin Chúa  giải cứu khỏi hai tên ác ôn. Lúc đến trại binh liền
gặp  ngay  ông  xếp  Pháp.  Tôi  kêu  nài  là  họ  bắt  tôi  vô  cớ  lúc  đang  ở  trong  nhà.  Sau  khi  ông  xếp  biết
tôi đang  ở  nhà mà bị kêu  cửa bắt, ông  liền tha cho tôi về  và còn quở hai tên quân nhân. Thật cảm tạ
ơn Chúa, nếu không gặp liền ông xếp chắc tôi có thể bị giam ít lắm cũng vài đêm vô cớ.


ƠN CHÚA ĐƯA ĐƯỜNG ĐẾN CẦN GIUỘC VÀ CỨU TÔI KHỎI NẠN VÌ XE ĐẠP BỊ GÃY.

Cám  ơn  Chúa,  mặc  dù  chúng  tôi  mua  bán  cũng  được  nhiều  may  mắn  nhưng  lòng  vẫn  muốn
hầu  việc  Chúa,  nên  đến  năm  1949  chiến  tranh  trong  xứ  có  vẻ  giảm  bớt,  nhiều  Hội  thánh  được  mở
cửa  trở  lại.  Tôi  gởi  đơn  đến  BTSĐH  để  xin  ra  hầu  việc  Chúa  thì  liền  được  bổ  chức  đến  hai  Hội
thánh Cần Giuộc và Long Trạch.

Cám  ơn  Chúa,  Ngài  giúp  chúng  tôi  thu  xếp  việc  mua  bán  được  mau  lẹ  nội  trong  tuần  là
xong. Đoạn,  tôi  xuống Cần Giuộc  bàn  giao  trách  nhiệm  với  vị Mục  sư  ở  đó.  Lúc  xuống  Sài Gòn  để
đi Cần Giuộc, tôi chưa biết rõ đường nên còn lưỡng lự để chờ hỏi thăm thì thình lình gặp người bạn,
người  chỉ  đường  và  hơn  nữa  người  cùng  đi  với  tôi  đến Cần Giuộc  cho  vui.  Thật  cám  ơn Chúa.  Tuy
việc  không  quan  trọng  nhưng  thấy Chúa  cũng  dự  bị  giúp  cho  lúc  có  cần,  nên  chúng  tôi  tin  rằng  sau
này chúng tôi có gặp phải việc lớn lao bao nhiêu đi nữa, chắc Ngài cũng sẵn lòng lo liệu.
Cám  ơn  Chúa,  sau  vài  tuần  chúng  tôi  dọn  đến  Cần  Giuộc,  được  anh  em  tín  hữu  trong  Hội
thánh  tiếp  rước  rất  nồng  hậu. Vì  phải  hầu  việc Chúa  trong  hai  Hội  thánh  nên  ngày  Chúa  nhật  giảng
Hội thánh này thì thứ Năm lại giảng cho Hội thánh kia.

Nhớ  lại,  một  buổi  sáng  kia  như  thường  nhật,  tôi  đi  xe  đạp  cùng  với  một  Ông  Chấp  sự  trong
Hội  thánh  Cần  Giuộc  để  qua  giảng  cho  Hội  thánh  Long  Trạch.  Buổi  sáng  hôm  ấy,  thì  giờ  cũng  hơi
gấp nên chúng tôi đạp với tốc lực cũng khá mau. Thình lình cổ xe đạp của tôi bị gãy lìa làm hai. Tôi
bị  quăng  nhào  tới  phía  trước  độ  hơn  hai  thước. Ngang  qua một  gốc  cây  bị  chặt  còn  cao  cở  3  tấc,  có
mọc  lên  năm  hay  sáu  cái  chồi  non,  các  chồi  đều  bị  gãy  giập  nhưng  tôi  chỉ  trầy  sơ  chút  ít.  Thật  cám
ơn Chúa. Chúng  tôi biết  đó là quyền năng lạ  lùng  của Chúa cứu tôi thoát khỏi  đâm đầu vào  gốc  cây
và khỏi bị té nằm trên cổ xe đạp bị gãy nhọn. Vì con cái Chúa thì luôn được Thiên sứ của Đức Chúa
Trời phò hộ và che chở như Kinh Thánh sách Thi Thiên đã chép: “Bởi vì ngươi đã nhờ Đức Giê-hôva  làm  nơi  nương  náu  mình,…  nên  sẽ  chẳng  có  tai  họa  nào  xảy  đến  ngươi,  vì  Ngài  sẽ  ban  lệnh  cho
Thiên sứ Ngài bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối ngươi.” (Thiên 91:9-11 )


CẢ MỘT GIA ĐÌNH MỚI TIN CHÚA ĐƯỢC TIẾN TỚI VƯỢT BẬC

Đã là  nhà truyền  giáo thì  dẫn được người trở lại  tin Chúa cũng  chẳng có  gì  đáng phải  nói nhưng tôi
xin  kể  lại  việc  sau  đây,  vì  thật  sự  là  ơn  Chúa  rất  diệu  kỳ!  Một  ngày  kia,  chúng  tôi  vào  vùng  quê
thăm  một  người  tên  là:  Nguyễn  Văn  Đáo,  người  than  thở  vì  cả  gia  đình  đang  đau  cả  tuần  mà  chưa
có vẻ gì giảm bớt. Vợ anh thì nằm bên đó, ba con gái 16, 19 và 21 tuổi thì nằm bên kia và chính ông
cũng đau nữa nhưng ráng săn sóc gia đình.

Thông  cảm  hoàn  cảnh  hoạn  nạn.  Tôi  thầm  nguyện  xin  Chúa  cứu  giúp  gia  đình  này.  Đoạn,  tôi  khởi
sự  giới  thiệu  tình  thương  Cứu  Chúa  và  chính  Ngài  là  Đấng  quyền  năng  cứu  người  cả  linh  hồn  lẫn
thể xác. Người nghe rất chăm chú. Sau  khi nghe Đạo, người xin chúng tôi cầu nguyện cho người và
cả vợ con tin Chúa. Tôi liền cầu nguyện và dạy họ cầu nguyện cùng Chúa.
Thật  cám  ơn  Chúa,  sau  vài  ngày,  chúng  tôi  trở  lại  thăm  viếng,  thấy  ai  nấy  đều  có  thể  ngồi  dậy  ăn
uống  được  ít  nhiều  và  sau  đó  thì  mọi  người  đều  được  phục  sức  lại  bình  thường.  Chúng  tôi  cho  họ
Thánh  ca,  Kinh Thánh và dạy họ cách cầu nguyện,  cùng  khuyên họ mỗi tối  nên nhóm lại hát Thánh
ca,  đọc  Kinh  Thánh  và  hiệp  chung  cầu  nguyện.  Họ  rất  vui  vẻ  vâng  lời  và  chúng  tôi  thường  xuyên
thăm viếng họ.

Trải  qua  gần  hai  tháng,  người  tín  hữu  mới  nầy  gặp  nhiều  việc  ngăn  trở  và  khó  khăn  nên  không  đến
nhà  thờ  được,  mặc  dù  gia  đình  người  hết  sức  muốn  đi.  Nhưng  người  vẫn  giữ  vững  sự  cầu  nguyện
mỗi tối trong gia đình để dạy các con cầu nguyện. Rồi sau đó, ông bà và con cái vượt qua được mọi
sự ngăn trở và đồng đến  nhà thờ thờ phượng Chúa rất vui vẻ. Trong giờ cầu nguyện tại nhà thờ, ông
bà và  các con  đều đứng  dậy  cầu nguyện trôi chảy như những tín hữu lâu năm;  khiến mọi người đều
lấy  làm  lạ  hỏi  chúng  tôi  anh  chị  em  ấy  ở  đâu  mới  đến?  –  “Đó  là  gia  đình  anh Đào mới  tin  Chúa  vài
ba tháng!” Ai nấy đều ngạc nhiên và ngợi khen Chúa.

Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa  hơn  nữa,  là  gia  quyến  anh  Đào  hết  sức  sốt  sắng  hầu  việc  Chúa  tại  Hội
thánh  Long  Trạch  và  sau  đó  đã  dẫn  đưa  được  một  số  bạn  bè  trở  lại  tin  Chúa.  Như  Đ.C  Jê-sus  đã
phán: “Hột giống Đạo được gieo vào đất tốt thì một hột sanh ra 30, 60 và 100” (Mathiơ 13:23)


ƠN CHÚA DỰ BỊ MỘT NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG ĐỂ KHỎI BỊ TRỄ TÀU.

Gần  một  năm  hầu  việc  Chúa  ở  hai  Hội  thánh,  chúng  tôi  ước  ao  muốn  trở  lại  Trường  Kinh
Thánh  để  trao  dồi  thêm  Lời  Chúa.  Chúng  tôi  liền  gởi  đơn  đến  ông  Đốc  học  trường,  cũng  như
BTSĐH  để  xin  trở  lại  trường  học  Khóa  tốt  nghiệp.  Sau  khi  được  cả  hai  cơ  quan  chấp  thuận,  chúng
tôi chuẩn bị lên Sài Gòn để đáp tàu thủy ra Đà Nẵng.

Được biết rằng tàu sẽ  kéo neo vào lúc 8 giờ sáng, theo chương trình chúng tôi phải đến tại bến
tàu  trước  7  giờ.  Nhưng  đến  ngày  đi,  đã  6  giờ  sáng,  rồi  7  giờ  mà  chiếc  xe  chúng  tôi  và  các  anh  em
sinh viên  hùn nhau mướn để  chở đồ  lại không đến. Hốt hoảng, mạnh  ai nấy  kêu  xe  ngựa  nhưng đón
mãi  mà  chẳng  được  chiếc  nào.  (Cũng  may  nếu  đi  xe  ngựa  có  thể  bị  trễ  tàu  vì  người  ta  cấm  xe  ngựa
chạy vô tới bến). Song vì đồ đạc hơi nhiều nên chúng tôi cố ý đón cho được xe ngựa. Nhưng thì  giờ
qua  mau  quá!  Đã  gần  7  giờ  rưỡi  mà  không  đón  được  chiếc  nào.  Chúng  tôi  liền  kêu  4  chiếc  xích  lô
chở  đi.  Nhưng  khổ  là  mấy  anh  xích  lô  cũng  như  chúng  tôi  đều  không  biết  chiếc  tàu  Saint  Michel
đậu ở bến số mấy. Khi đến xóm bến tàu, nhóm chúng tôi ngừng lại hỏi thăm nhưng không ai biết rõ
tàu  ở  bến  nào.  Hết  sức  bối  rối,  tôi  cầu  xin  Chúa  chỉ  dẫn  cách  nào  để  khỏi  bị  trễ  tàu.  Cám  ơn  Chúa.
Thình  lình  một  phu  bến  tàu  chạy  đến  hỏi:  “Thầy  kiếm  bến  tàu  nào?”  Mừng  quá  tôi  vội  hỏi:  “Anh
biết  tàu  Saint  Michel  đậu  ở  bến  số  mấy  không?”  –  “Ở  bến  số  5.  Giờ  này  sợ  ra  bến  không  kịp.”
Nhưng người bằng lòng chạy bộ theo xích lô độ mấy trăm thước để chỉ bến. Khi vào đến bến, người
phụ  với  phu  bến  đem  đồ  chúng  tôi  lên  tàu.  Chúng  tôi  rất  cám  ơn  người  và  cho  tiền  dẫn  đường  vừa
xong  là  tàu  huýt  còi,  kéo  neo. Nếu  đến  trễ  độ  chừng  năm,  ba  phút  thì  có  thể  bị  trễ  tàu.  Thật  cám  ơn
Chúa đã dắt dẫn chúng tôi đúng lúc và kịp giờ lên tàu để đi Đà Nẵng. Ha-lê-lu-gia !

Sau  niên  học  tại  trường  Kinh  thánh.  Chúng  tôi  lãnh  hội  được  nhiều  ơn  phước  rất  linh  động
qua  những  giờ  học  Lời  Chúa  và  trong  những  giờ  tâm  giao  với  Ngài.  Chúng  tôi  ý  thức  được  trách
nhiệm  của  người  giảng  Tin  lành  nên  cảm  thấy  lòng  sống  động,  nóng  nảy,  muốn  trở  lại  Hội  thánh
với sứ  mạng  của Đức Chúa Trời  giao phó, quyết tâm đem đời sống cùng mọi kiến thức  đã thu nhập
được  ra  áp  dụng  trên  chiến  trường  thuộc  linh,  hầu  dắt  dẫn  cho  được  nhiều  linh  hồn  tội  nhân  trở  về
với Cứu Chúa.


CHƯƠNG SÁU
ƠN CHÚA THƯƠNG XÓT TẠI QUẬN LỴ LONG THÀNH

Sau  một  niên  học  tốt  nghiệp  trở  về.  Chúng  tôi  được  bổ  chức  đến  Hội  thánh  Long  Thành,  tháng  8,
năm 1950. Hội thánh Long Thành là một Chi hội nhỏ, chỉ có chừng 10 tín hữu mà lại không có Mục
sư đã hơn một năm, nên nhà cầm quyền địa phương như có vẻ xem thường!
Khi    chúng  tôi  đến  Long  Thành  được  vài  tuần,  có  chừng  năm,  bảy  người  trong  làng  xa  đến  tìm  tôi
hỏi thăm Đạo và tin Chúa. Sau đó, họ nhờ tôi đến nhà binh Pháp xin giấy tờ và cũng yêu cầu tôi cho
họ  tạm  trú  ít  ngày  tại  nhà  thờ.  Tôi  dẫn  họ  đến  chỗ  nhà  binh  xin  giấy  tờ.  Việc  này  gây  nên  sự  va
chạm  với  ông  Chủ  Quận  địa  phương.  Ông  nói  việc  đó  do  thẩm  quyền  của  ông  chớ  chẳng  phải  của
nhà  binh. Ông  phàn  nàn  tôi  dữ  dội  tại  nhà  làng. Đoạn,  ông  cho  lính  đến  vây  nhà  thờ,  bắt  hết  các  tín
đồ  mới.  Cảm  thấy  Danh  Chúa  bị  tổn  thương,  chúng  tôi  cầu  xin  Chúa  bênh  vực  Danh  Thánh  của
Ngài,  đừng  để  loài  người  ỷ  thế  lực  khinh  dể  Danh  của  Chúa,  và  xin  Ngài  giải  thoát  anh  em  tín  hữu
mới, để họ thấy quyền phép lớn lao của Chúa hầu bước theo đường lối của Ngài.

Cám  tạ  ơn  Chúa,  vài  ngày  sau,  anh  em  tín  hữu  ấy  được  trả  lại  tự  do.  Hơn  thế  nữa,  chính  Đức  Chúa
Trời  binh  vực  Danh  thánh  của  Ngài.  Chừng  15  ngày  sau,  viên  Chủ  quận  ấy  bị  cách  chức  và  phải
giao quyền lại cho viên Thơ ký Quận thay thế tạm.

Lại  nữa,  vài  tháng  sau,  cũng  có  vài  người  từ  trong  làng  xa  đến  tìm  tôi  để  xin  tin  Chúa  và  nhờ  tôi
giúp xin giấy tờ. Ngược lại lần trước, tôi không dẫn họ đến nhà binh mà lại dẫn họ đến Nha quận để
xin  giấy  tờ.  Sau  khi  họ  được  giấy  tờ  vài  ngày  thì  nhà  binh  Pháp  lại  đòi  các  tín  hữu  ấy  đến  bắt  giam
và  nói  rằng:  Họ  là  Việt  minh,  cùng  quở  trách  nặng  viên  Thơ  ký  thế  quyền  Chủ  quận.  Người  đổ  lỗi
tại  tôi  giới thiệu. Sau  đó,  viên quyền Chủ quận mời tôi  đến Nha quận phàn nàn lắm  lời. Trở về  nhà,
chúng tôi cầu xin Chúa giải  thoát  giùm  anh em tín hữu mới  tin Chúa, để họ thấy  ơn  yêu thương  của
Ngài.

Cám  ơn  Chúa,  vài  ngày  sau  thì  nhà  binh  Pháp  trả  tự  do  cho  anh  em  tín  hữu.  Tuần  sau  đó,  viên  thư
ký  quyền Chủ  quận  bị  đổi  đi  xa một  cách  gấp  rút,  bỏ  vợ  con  lại  có  vẻ  thật  buồn  bã!  Lúc  bấy  giờ  có
dư  luận  lầm  tưởng  chắc  Đạo  Tin  Lành  có  thế  lực  nào  phía  sau  bênh  vực?  Nhưng  trên  thực  tế  thì
người  có  Đạo  Tin  Lành  ai  cũng  biết  rõ  Đạo  chẳng  nương  nhờ  một  thế  lực  nào  của  đời  này.  Chúng
tôi  chỉ  nương  dựa  vào  thế  lực  của  Đấng  cầm  quyền  vũ  trụ.  Đấng  đó  tức  là  Đức  Chúa  Trời,  như
Chúa  đã  phán  với  Giê-  rê-mi:  “Ta  lập  ngươi  lên  làm  cột  bằng  sắt,  làm  tường  bằng  đồng…  Họ  sẽ
tranh đấu với ngươi, nhưng không thắng hơn ngươi được.” (Giê-rê-mi 1:18-19).
Sau  đó  vài  tháng,  một  viên  Tân  Chủ  quận  được  bổ  chức  đến,  người  rất  tử  tế,  thỉnh  thoảng  mời
chúng tôi đến  dùng  cơm  thân mật tại tư  gia của ông. Đôi  khi người cũng  đến  nhóm họp tại nhà thờ.
Đã  có  một  lần,  tôi  nhờ  ông  thông  dịch  bài  giảng  của  tôi  ra  tiếng  Pháp  trước  buổi  lễ  chiến  sĩ  trận
vong của quân đội Pháp.


ƠN CHÚA NGĂN TRỞ KẺ HÀNH HUNG

Nhớ  lại  một  việc,  đến  nay  nhắc  lại  cũng  còn  ngán  kẻ  hung  dữ.  Nếu  ở  đời  mà  đem  lý  lẽ  nói  chuyện
phải trái với kẻ không muốn nghe phải trái, thì cũng không khác nào mang họa vào thân.
Một  buổi  trưa  kia,  có  đám  vợ  con  lính  nhà  binh  đến  bẻ  phá  trái  cây  chung  quanh  nhà  thờ,  vừa  hái
ăn, vừa ném bỏ. Thấy vậy,  tôi đến  nói với họ  “Cây  trái có  chủ, chị em đến hái ăn sao không  hỏi xin
tôi.  Tại  đây  là  nhà  thờ,  gần  sát  bên  nhà  binh  mà  chị  em  còn  hành  động  như  vậy,  huống  chi  ở  nhà
quê  thì  chị  em  đối  xử  với  đồng  bào  ta  như  thế  nào  nữa? Nói  cho  biết  vậy  thôi,  chị  em  ăn  bao  nhiêu
cứ hái ăn, nhưng đừng hái ném bỏ các trái non.” Họ  giận bỏ ra về và nói thêu dệt với các anh  chồng
lính như thế nào không rõ mà  các anh lính hăm dọa sẽ đến hành hung tôi. Trong trại lính có mấy tín
hữu nghe tự sự đều  khuyên can; nhưng họ cương quyết hẹn nhau 6  giờ chiều đến nhà tôi... Được tin
cho  hay,  chúng  tôi  cũng  ngán  bọn  ác  ôn  (Biết  rằng:  Đám  lính  này,  mấy  tháng  trước  có  vây  đánh
viên  Chủ  quận,  khiến  người  phải  chạy  trốn  trong  một  phòng  thánh  của  nhà  thờ  công  giáo,  và  được
đoàn xe chánh phủ từ   Biên Hòa đến  rước đi luôn). Có  người  tín hữu đề nghị với  chúng tôi nên báo
tin khẩn  cấp cho  vị Quan ba nhà  binh hay  để can thiệp. Nhưng  chúng tôi chỉ muốn  cầu xin cánh tay
quyền  năng Chúa  can  thiệp  mà  thôi;  chớ  không  muốn  cậy  chút  thế  lực  nào  khác  bênh  vực.  Cám  ơn
Chúa, cánh tay Đức Chúa Trời không phải ngắn mà không bảo vệ chúng tôi được.

Chiều  hôm  đó,  không  thấy  đám  lính  hăm  dọa  ấy  đến.  Sáng  hôm  sau,  tín  hữu  ở  trong  nhà  binh  đến
cho  chúng  tôi  hay  rằng:  “Đám  lính  muốn  đến  đánh  Thầy  tôi  khuyên  không  được.  Chiều  hôm  qua,
có lệnh  đi  hành quân, mấy  thằng đầu  đảng đã  tử  trận hết rồi, Thầy đừng lo  sợ chuyện  ấy nữa.” Thật
ơn  Chúa  bảo  vệ  rất  diệu  kì!  Ngài  không  để  chúng  tôi  bị  sa  vào  tay  đám  người  gian  ác  như  tác  giả
Thi  thiên  đã  nói  “Đức  Chúa  trời  bênh  vực  tôi;  loài  người  sẽ  làm  chi  tôi?”…  “Thà  nương  náu  mình
nơi Chúa, còn hơn tin cậy loài người” (Thiên 118: 6 – 8).


ƠN CHÚA BẢO VỆ KHỎI SÚNG ĐẠN

Lúc  bấy  giờ,  thỉnh  thoảng  mọt  chê  từ  trong  đồng  ruộng  bắn  ra  trúng  vào  phía  nhà  binh,  mà  nhà  thờ
thì  nằm  sát  bên  hàng  rào  nhà  binh. Nếu  mọt  chê  chỉ  đi  sái  trong  gang  tấc  thì  có  thể  lọt  vào  nhà  thờ.
Sự  nguy  hiểm  có  thể  xảy  ra  bất  cứ  giờ  phút  nào  không  lường  trước  được.  Nhưng  cám  tạ  ơn  Chúa,
Ngài đủ  quyền  bảo vệ  chúng tôi như Tác  giả Thi Thiên đã  nói:  “Sẽ có muôn ngàn người sa  ngã bên
ngươi;  song  tai  họa  sẽ  chẳng  đến  gần  trại  ngươi”.  (Thi  Thiên  91:7)  Và  mấy  tháng  sau  đó,  một  trái
đạn pháo cỡ lớn lọt ngay vào khu nhà thờ gây thiệt hại ít nhiều về vật chất; nhưng cám  ơn Chúa, lúc
đó  chúng  tôi  đã  đổi  về Hội  thánh  Bình  Hòa  Phước. Và  được  biết  rằng  trái  đạn  ấy  đã  gây  cho  người
giữ nhà thờ ngủ trên cái giường mà chúng tôi ngủ khi trước bị hộc máu và té xỉu, phải chở vào bệnh
viện  cấp  cứu. Chúng  tôi  nhớ  lại  ơn  Chúa  đối  với  chúng  tôi  thật  rất  diệu  kì! Nếu  lúc  đạn  trái  phá  rớt
như vậy mà chúng tôi và ba cháu nhỏ còn ngủ ở đó, chắc có thể bị lâm nạn ! Thật cám tạ ơn Chúa.


ƠN CHÚA BẢO VỆ KHỎI SẬP NHÀ THỜ.

Nhớ  lại  một  buổi  sáng  kia,  tôi  cùng  anh  Lương  Văn  Học,  Chấp  sự  Hội  thánh  Long  Thành,  đang
đứng bên hông nhà thờ nói chuyện. Thình lình, anh Học chạy lấy thang leo lên coi cây chốt của cây
trính  sường  nóc  nhà  thờ.  Xem  kỹ  chỉ  còn  là  vỏ,  còn  ruột  bị  mối  mọt  ăn  hết.  Tiếp  tục  xem  xét  hết
thảy nhà thờ thì thấy mấy  chốt khác  cũng chỉ  còn là  vỏ. Hoảng  sợ,  chúng  tôi liền làm  lại những  cây
chốt mới để thay thế và hơn thế thế nữa, còn đóng phụ thêm vào những cây đinh lớn rất chắc.
Tuần  sau,  một  cơn  bão  dữ  dội,  thổi  đến  suốt  đêm.  Nhà  thờ  bị  rung  chuyển  với  tiếng  kêu  nghe  răng
rắc rất  khủng  khiếp! Cơn bão  này quá  mạnh  gây  cho  hàng trăm cây  cối ngã đổ, nhiều  nhà bị hư  sập
và lụt ngập cuốn nhiều nhà trôi  đi. Cám  ơn Chúa. Nếu Ngài  không  chỉ  dẫn tìm  ra mối mọt  kịp thời,
chắc  nhà  thờ  có  thể  bị  sập  ngay  lúc  bão;  và  gia  quyến  chúng  tôi  ngủ  ở  phòng  sau  nhà  thờ,  không
biết  tánh  mạng  như  thế  nào?  Thật  Chúa  là  Đấng  biết  trước  tất  cả  mọi  sự  hiểm  nguy  sẽ  xảy  ra  trên
chúng tôi, nên Ngài thi hành sự cứu giúp đúng lúc, kịp thời, hầu bảo vệ chúng tôi khỏi tai nạn! Cám
ơn Chúa


ƠN CHÚA CỨU NHÀ VÀ NHÀ THỜ KHỎI BỊ CHÁY.

Buổi  sáng  kia,  tôi  đi  đến  một    làng  xa  để  thăm  tín  hữu,  nhưng  không  biết  sao  hôm  đó  lại  muốn  về
nhà sớm.  Vừa về đến trước cửa  nhà thì thấy  cái nhà  tranh  của người lân cận  kế bên đang  cháy. Nhà
bếp  và  nhà  ở  của  chúng  tôi  gần  bên  cạnh  nhà  bị  cháy  cũng  được  lợp  bằng  tranh,  và  nhà  thờ  tuy  lợp
ngói,  nhưng  lại  nằm  gần  sát  bên  nhà  bếp. Hốt  hoảng,  chúng  tôi  chạy  đến  chữa  lửa  thì  thấy  một  đứa
gái  độ  14  tuổi  làm  cháy  nhà  rồi  chạy  ra  sân  cười  hoảng! Chúng  tôi  tạt  nước  lên  nhà  bị  cháy,  nhưng
ngọn  lửa  nóng  quá  khó  đến  gần.  Đồng  thời,  chúng  tôi  cũng  lo  tạt  nước  lên  mái  nhà  bếp  để  tàn  lửa
tắt  khi  vừa  rớt  xuống.  Mặc  dầu  chúng  tôi  tận  tâm  chữa  lửa,  nhưng  nhà  hàng  xóm  cũng  đã  cháy  gần
hết.  Song  cám  ơn  Chúa,  nhà  chúng  tôi  thì  không  sao!  Nếu  tôi  về  trễ  độ  năm,  ba  phút,  thì  nhà  bếp
chúng  tôi  có  thể  bị  lửa  cháy  lan  và  nhà  thờ  nằm  kế  bên  nhà  bếp  cũng  không  biết  sẽ  ra  như  thế  nào?
Sự dẫn dắt của Chúa khiến tôi về kịp lúc rất diệu kỳ! Thật cám tạ ơn Chúa.


ƠN CHÚA DỰ BỊ VẬT LIỆU XÂY CẤT NHÀ.

Chiến  tranh  cũng  đã  xảy  đến  tàn  phá  làng  tôi  (Mỹ  An). Ông  bà  thân  và  hai  em  trai  tôi  phải  ra  tá  túc
với  chúng  tôi.  Cả  gia  quyến  gồm  9  người  mà  số  tiền  trợ  cấp  của  Hội  thánh  cũng  chẳng  được  bao
nhiêu. Hơn nữa, Hội Truyền Giáo cho hay họ  không còn  có  công quỹ  giúp  đỡ  cho những Hội thánh
thiếu  nữa.  Vậy  các  vị  mục  sư,  truyền  đạo  tùy  ý  tự  túc  để  có  phương  tiện  hầu  việc  Chúa.  Chúng  tôi
cầu  nguyện Chúa  chỉ  dẫn  cách  nào  để  có  thể  hầu  việc Chúa.  Sau  ít  ngày  cầu  nguyện,  chúng  tôi  bàn
tính  cất  vài  căn  phố  để  có  chỗ  cho  hai  em  tôi  mua  bán,  hầu  nhẹ  bớt  gánh  nặng  gia  đình  được  phần
nào.

Tôi  liền  đến  trình  bày  cùng  ông  Chủ  quận,  muốn  cất  vài  căn  phố  ở  chợ,  để  hai  em  tôi  sinh  sống  vì
họ  ở  từ  quê  xa  mới  tản  cư  ra.  Ông  rất  vui  lòng.  Nhưng  làm  sao  cho  có  đất?  Ông  suy  nghĩ  một  chút
rồi  nói:  “Được,  tôi  sẽ  cho  dời  hai  căn  nhà  cây  để  cho  dân  hồi  cư  tạm  trú  ra  một  chỗ  khác,  nhường
chỗ  đất  đó  cho  ông  cất  nhà.” Thật  cám  ơn Chúa  cho  chúng  tôi  được  may  mắn! Sau  đơn  xin  xây  cất
hai  căn  nhà  bằng  gạch  ngói  được  chấp  thuận  tại  Quận,  chúng  tôi  nạp  đơn  đến  Tỉnh  Biên  Hòa,  thì
đơn  bị  ém  nhẹm  khá  lâu;  nhưng  nhờ  viên  Chủ  quận  tận  tình  giúp  đỡ  nên mọi  việc  cũng  được  xong.
Đã có giấy phép rồi, bây giờ làm sao mua được  gạch và cây? Vì chiến tranh, chẳng ai dám vào rừng
đốn  cây,  và  lò  gạch  cũng  bị  bỏ  hoang.  Tôi  cậy  người  quen  đi  tìm  mua  gạch  cũ  và  cây  cũ.  Ít  ngày
sau,  có  một  người  muốn  bán  gạch  cho  tôi,  vì  muốn  có  tiền,  nên  người  liều  mạng  vào  rừng  sâu  để
cạy  lò  gạch  cũ  của  nhà  binh  Nhật  khi  trước  bỏ  lại,  đem  về  bán  cho  tôi  số  gạch  vừa  đủ  xây  hai  căn
nhà.  Còn  dư  lại  bao  nhiêu  trong  rừng,  nhà  binh  Pháp  sau  đó  đến  sung  công  hết  số  gạch  ấy  để  dùng
vào  việc  xây  cất  trại  lính.  Cám  ơn  Chúa  đã  dự  bị  cho  chúng  tôi  mua  được  đủ  số  gạch  cần  thiết  để
làm hai căn nhà;  cũng  như mua  được  cây của  một  người dự bị  cất  nhà nhưng  không cất, bán lại cho
tôi.

Chúng tôi đã xây xong hai căn phố và đóng được mè, ron; nhưng không tìm được nơi nào  bán ngói.
Chúng  tôi  đến  Biên  Hòa  kiếm  mua  cũng  không  được  vì  tất  cả  lò  gạch  ngói  lúc  bấy  giờ  đều  bỏ
hoang. Chúng tôi  rất lo vì mùa mưa đã  đến. Trải qua  một  tháng,  chúng tôi  tha  thiết cầu  nguyện, xin
Chúa giúp đỡ cách nào để có ngói.

Cám  ơn  Chúa,  một  buổi  sáng  kia,  tôi  đang  ngồi  trước  hai  căn  nhà  mới  ngẫm  nghĩ…  thình  lình  có
một  người  đến  hỏi:  “Thầy  mua  cây  không?”  Tôi  trả  lời:  “Cần  ngói  chứ  không  cần  cây”.    Người  la
lên: “Ô hôm qua tôi thấy có nhiều người kéo cả chục xe bò ngói để tại làng Phước Lai!” Mừng  quá,
tôi  liền  nhờ  người  dẫn  đường  đến  chỗ  có  ngói.  Người  có  ngói  thấy  tôi  muốn  mua  cũng  mừng  lắm,
vì  sợ  nhà  binh  biết  được,  thì  số  ngói  sẽ  bị  xung  công.  Sau  khi  giá  cả  xong,  người  bán  ngói  chở  liền
cho tôi nội trong ngày. Qua ngày hôm sau, nhà binh đến cùng người bán ngói để sung công số ngói;
nhưng  người  bán  đã  chở  hết  ngói  đến  cho  tôi  kịp  thời.  Cám  ơn  Chúa,  Ngài  đã  đáp  ứng  lời  cầu
nguyện rất diệu kì! Nếu chỉ trễ một ngày là tôi không mua được số ngói hiếm có ấy.
Sau  đó,  người  bán  ngói  nói  với  chúng  tôi:  “Không  biết  ai  xui  giục  mà  tôi  chịu  cực  khổ  cả  tuần  nay,
xuống  tới  rừng  sát  chở  ngói  đem  về  quá  sức  cực  nhọc,  thiếu  điều  muốn  bỏ  mạng,  nhưng  bán  cũng
không  được  bao  nhiêu  tiền  và  may  là  còn  bán  được,  nếu  trễ  một  ngày  là  nhà  binh  lấy  hết!”  Nghe
biết vậy, chúng tôi càng thêm lòng tạ ơn Chúa đã giục lòng người đó mang về số ngói cho chúng tôi
để lợp nhà.

Khi lợp xong, chúng tôi  thấy  còn  thiếu  chừng  500 tấm. Chưa  biết tính lẽ nào thì cám  ơn Chúa,  tuần
sau,  có  một  ông  già  quen  cùng  xóm,  kéo  ngang  qua  một  xe  bò  ngói,  kêu  tôi:  “Thầy  cần  ngói
không?” Tôi  chỉ  kiếm mua vài  trăm tấm mà người bán  buộc  tôi phải mua  hết  số ngói mới chịu  bán;
nên  tôi  sẵn  xe  kéo  hết  về  đây”.  Mừng  quá!  Miệng  tôi  lẩm  bẩm  cám  ơn  Chúa  về  sự  dự  bị  của  Ngài
rất  diệu  kì,  khiến  chúng  tôi  được  nhiều  may  mắn.  Cũng  như  Tác  giả  Thi  Thiên  đã  kinh  nghiệm  ơn
Chúa  nên  đã  nói:  “Phước  cho  người  nào  có  Đức  Chúa  Trời  của  Gia-cốp  giúp  đỡ  mình”  (Thiên
146:5 ). Nhờ có số ngói này nên tôi lợp vừa đủ lỗ trống còn thiếu! Cám tạ ơn Chúa.


ƠN CHÚA CỨU HAI CĂN NHÀ CHÚNG TÔI VỪA MỚI CẤT KHỎI BỊ CHÁY.

Hai  căn  nhà  vừa  làm  xong,  tôi  đến  ngủ  nhà  mới  để  sửa  sang  thêm  vài  việc  cần  làm.  Thình  lình
khoảng  hai  giờ  khuya  đêm  đó,  gần  năm,  sáu  chục  căn  nhà  tranh  bên  kia  lộ  đối  diện  nhà  tôi  bị  hỏa
họan.  Con  lộ  này  nhỏ  nên  lửa  lòe  ngọn  qua  gần  tới  cửa  sau  nhà  chúng  tôi.  Hơn  nữa,  đồng  bào  bị
nạn,  họ  như  mất  hồn,  quăng  bừa  bải  mùng,  mền,  chiếu,  gối,  rương  trắp,  nằm  ngổn  ngang  ngay  cửa
sau  nhà  chúng  tôi;  và  lửa  cũng  đã  bắt  đầu  cháy  đồ  đạc  sát  bên  cửa  cây  rồi.  Ở  phía  trong  nhà  ngó  ra
thấy  đồ  đạc  cháy  bên  cửa;  nhưng  tôi  không  làm  sao  mở  được  cửa  để  tạt  nước,  vì  ngọn  lửa  bên  kia
lòe qua nóng cách khủng khiếp! Tôi xin Chúa cứu  giùm nhà tôi khỏi bị cháy. Cám tạ  ơn Chúa, Ngài
liền  khiến  có  một  ngọn  gió  thổi  ngọn  lửa  ngược  trở  lại!  Thấy  bớt  nóng,  tôi  liền  hé  cửa  tưới  nước
trên  đồ  vật  đã  bị  cháy.  Đồng  thời,  tôi  cũng  tạt  nước  trên  cửa  và  mái  nhà  nghe  tiếng  xèo  xèo.  Tuy
nhà  không  bị  cháy  nhưng  cửa  cũng  bị  xém  đen.  Thật  cám  tạ  ơn  Chúa.  Nếu  gió  không  trở  ngọn;  và
nếu  tôi  không  đến  ngủ  tại  nhà  mới  trong  đêm  đó,  chắc  nhà  đã  bị  cháy.  Thật  Đức  Chúa  Trời  có  vùa
giúp  chúng  tôi  cất  được  nhà  và  bảo  vệ  giùm  sản  nghiệp  nên  mới  khỏi  bị  hỏa  hoạn!  Chúng  tôi  suy
nghĩ:  Nếu  Chúa  không  bảo  vệ  sản  nghiệp,  thì  con  người  dù  có  cố  gắng  làm  việc  bao  nhiêu  cũng
luống  công  như  Tác  giả  Thi  Thiên  nói:  “Nếu  Đức  Chúa  Trời  không  cất  nhà,  thì  những  thợ  xây  cất
nhà lấy làm uổng công.” (T.Thiên 127:1).


ƠN CHÚA NHẬM LỜI CẦU NGUYỆN CỨU MỘT ĐỨA TRẺ TỈNH LẠI.

Buổi  chiều  kia,  tôi  đang  đi  dạo  ngoài  vườn.  Thình  lình  vợ  tôi  chạy  ra  cách  vội  vả  mời  vô  cầu
nguyện cho em Trí, nó đau nặng và sắp tắt thở. Má nó vừa ẵm đến khóc lóc xin cầu nguyện. Tôi trở
vào  nhà,  lòng  thầm  nguyện,  xin  Chúa  cứu  giùm  em  Trí,  vì  má  em  nầy  mới  tin  Chúa.  Tôi  nhìn  đứa
bé  thấy  mặt  tái  xanh,  chỉ  còn  nghe  một  tiếng  hướt.  Hiện  diện  trong  lúc  đó,  có  cả  gia  quyến  đứa  bé
gồm ba người chưa tin Chúa (Bà ngoại, Cậu và Dì). Tôi cúi đầu cầu nguyện lớn tiếng xin Đức Chúa
Trời  ban  một  ơn  huệ  cứu  giùm  đứa  bé,  để  cho  bà  con  chưa  tin  Chúa  đứng  đây  thấy  quyền  phép  lạ
lùng  của  Ngài,  để  họ  có  thể  tin  Ngài  hầu  cho  linh  hồn  được  cứu!  Tôi  tiếp  tục  cầu  nguyện  chừng  5
phút. Tạ ơn Cứu Chúa vì quyền phép Chúa thật lạ lùng. Sau khi cầu nguyện xong, em Trí mở mắt ra
bình tĩnh như chẳng đau bệnh gì.
Cả  gia  quyến  đứa  bé  phát  cười  rộ  lên  vui  vẻ!  Lợi  dụng  cơ  hội,  tôi  khuyên  mỗi  người  nên  tin  Chúa.
Cám  ơn  Chúa,  cả  gia  quyến  đều  tin  Chúa  Jê-sus  liền  trong  giờ  đó.  Và  suốt  thời  gian  chúng  tôi  còn
hầu  việc  Chúa  tại  Hội  thánh  Long  Thành;  gia  quyến  này  vẫn  thường  xuyên  đi  nhà  thờ  để  thờ
phượng Chúa.


ƠN CHÚA DỰ BỊ MỘT CHIẾC XE VỀ KỊP NGÀY CHÚA NHẬT

Một buổi chiều kia, tôi từ Sài Gòn về Biên Hòa. Tôi biết đã trễ giờ đón xe về Long Thành, vì đã quá
5  giờ  chiều  mà  chiếc  xe  đò  tôi  đang  đi  chưa  về  đến  Biên  Hòa  (Từ  Long  Thành  đến  Biên  Hòa  phải
chờ  10  ngày  mới  có  một  ngày  mà  nhà  binh  hộ  tống  cho  xe  lưu  thông,  nhưng  đến  5  giờ  là  hết  xe).
Tôi cúi đầu cầu nguyện,  xin Chúa dự bị cho một chiếc xe đi trễ để tôi có thể về Long Thành. Vì nếu
bị  trễ  xe,  phải  mất  10  ngày  nữa  mới  về  nhà  được,  phải  bỏ  hai  Chúa  nhật.  Khi  xe  đò  đến  Biên  Hòa,
cám  ơn  Chúa,  tôi  thật  vui  mừng  thấy  vẫn  còn  một  chiếc  xe  đang  chết  máy,  anh  tài  xế  đang  lui  cui
sửa.  Các  hành  khách  ngồi  dựa  mé  lộ  khoanh  tay  có  vẻ  bực  bội!  Tôi  hỏi:  “Chào  các  bà.  Xe  còn  chỗ
không?” –  “Còn, mà xe bị chết máy.” Mừng  quá! Tôi bước  lên xe  ngồi. Liền lúc đó anh tài xế cũng
vừa  sửa  máy  xong.  Lên  xe  cho  máy  nổ  thử.  Máy  nổ.  Các  hành  khách  reo  lên  cười  rộ!  Đoạn,  xe  bắt
đầu  chạy.  Một  bà  hành  khách  nói:  “Ông  này  là  ông  gì  mà  vừa  leo  lên  xe  là  xe  chạy  được!  Từ  sớm
đến  giờ  anh  tài  xế  sửa  muốn  hụt  hơi  mà  máy  không  nổ”.  Nghe  vậy,  lòng  tôi  cám  tạ  ơn  Chúa  hơn
nữa,  vì biết Đức Chúa Trời đã đáp ứng  lời cầu  nguyện nên đã dự  bị một chiếc  xe  bị trục trặc để đưa
tôi  về  Long  Thành  cho  kịp  ngày  Chúa  nhật.  Cám  ơn  Chúa,  dầu  chỉ  là    việc  đi  đường  tầm  thường
Chúa cũng vui lòng giúp đỡ, nên khi đi cũng như lúc về đều được may mắn và có phước. Đúng như
lời  Chúa  phán  trong  sách  Phục  truyền:  “Nếu  ngươi  nghe  tiếng  phán  của  Đức  Chúa  Trời  cách  trung
thành,  cẩn  thận  làm  theo…  Ngươi  sẽ  được  phước  trong  thành  và  được  phước  ngoài  đồng  ruộng…
Người sẽ được phước khi đi ra, và sẽ được phước khi đi vào.” (Phục truyền 28:1,3,6).


ƠN CHÚA GIÚP CHO VIÊN PHI CÔNG BỚT SAY.

Một  ngày  kia,  tôi  có  việc  cần  phải  đi  Sài  Gòn,  nhưng  chưa  đến  ngày  có  xe  nhà  binh  hộ  tống.  Tôi
phải  đi  nhờ  máy  bay  4  chỗ  ngồi  của  hãng  cao  su.  Khi  máy  bay  cất  cánh  được  ít  phút,  thì  anh  phi
công Pháp lái máy bay gục lên gục xuống vì đã uống quá nhiều rượu đế. Tôi và hai hành khách ngồi
phía  sau  đều  phát  sợ!  Một  bà  hành  khách  nói:  “Trước  khi  lên  máy  bay,  thấy  nó  uống  cả  sị  (chai  sásị)  rượu  đế.  Chúng  tôi  bàn  luận  phải  làm  sao,  chớ  để  người  nầy  ngủ  gục  thì  nguy!  Tôi  vỗ  vai  kêu
thức dậy đi! Người cố nhướng mắt lên. Nhưng sau đó, người cũng  gục xuống nữa như mê ngủ. Biết
chuyến  bay  có  thể  nguy  hiểm,  tôi  cúi  đầu  cầu  nguyện,  xin  Chúa  giúp  cho  người  được  tỉnh  rượu
trong  giờ  phút  có  cần.  Nếu  chuyến  bay  này  gặp  nạn  là  chấm  dứt  đời  tôi  trên  đất.  Xin  Chúa  cho  tôi
sẵn  sàng  gặp  Chúa.  Đoạn,  tôi  kêu  người  một  lần  nữa.  Cám  ơn  Chúa  người  có  vẻ  khá  hơn  đôi  chút.
Tôi bắt đầu chú ý máy móc, xem xét những nút, tay lái và thắng để đề phòng rủi người phi công nầy
có  bị  mê  man  thình  lình  thì  trong  trường  hợp  bất  trắc,  tôi  sẽ  đánh  liều  thay  thế.  Nhưng  cám  ơn
Chúa,  anh  phi  công  lần  lần  được  khá  hơn  nên  có  thể  điều  khiển  máy  bay  đáp  xuống  sân  được  an
toàn.  Hai  người  hành  khách  cũng  như  tôi  đều  thở  được  một  hơi  nhẹ  nhàng  vì  nhận  biét  mình  được
thoát nạn!


CHÚA SAI MỘT QUÂN NHÂN PHÁP ĐẾN SỚM ĐỂ CẦM TÔI Ở LẠI NHÀ

Có  vài  lần  tôi  được  giấy  của  nhà  cầm  quyền  địa  phương  xin  Hội  thánh  tổ  chức  “cầu  nguyện  cho
chiến sĩ trận vong”. Nhưng lần nào nhà cầm quyền cũng chỉ đến dự bên nhà thờ Công giáo mà thôi.
Có  lẽ  họ  biết  Tin  lành  chỉ  cầu  nguyện  cho  người  đang  sống  chớ  không  cầu  hồn  cho  người  đã  chết
như bên Công giáo.
Một  ngày  kia,  ông  Chủ  quận  cũng  gởi  giấy  đến  yêu  cầu  tôi  tổ  chức  cầu  nguyện  cho  “Chiến  sĩ  trận
vong”.  Tôi  nhận  lời  và  nghĩ  rằng  chắc  không  ai  đến  dự  như  những  lần  trước.  Vả  lại,  ngày  cầu
nguyện  là  ngày  thứ  năm,  ngày  đó  tôi  và  ban  thăm  viếng  phải  đi  thăm  tín  hữu.  Nên  sáng  sớm  ngày
hôm  đó,  tôi  mời  tín  hữu  ở  gần  đến  nhóm  cầu  nguyện,  định  ý  sau  đó,  tôi  sẽ  đi  thăm  viếng.  Vừa  cầu
nguyện xong,  tôi và  anh Chấp sự Hội thánh dẫn xe  đạp đi ra.  Lúc bấy  giờ  độ  9  giờ sáng. Vừa  ra tới
cửa  là  gặp  ngay  một  quân  nhân  Pháp.  Người  nói:  Tôi  là  tín  hữu  đến  dự  nhóm  cầu  nguyện.  Chúng
tôi trở vào nhà nói chuyện để làm quen.
Sau  vài  chục  phút,  chúng  tôi  bước  vào  nhà  thờ  khỏi  sự  hành  lễ.  Thì  thình  lình  hai  xe  nhà  binh  chở
đầy  người  ngừng lại  trước cửa. Có Quan Ba, quan Tư  bước xuống cùng  với viên Chủ quận, làng  và
lính gần năm, sáu chục người. Tôi đọc Kinh thánh sách I Timôthê 2:I-2  rằng: “Hãy cầu nguyện cho
các  Vua,  cho  hết  thảy  bậc  cầm  quyền  để  chúng  ta  được  lấy  đều  nhơn  đức  và  thành  thật  mà  ở  đời
cho,  bình  tịnh  và  an  ổn”.  Tôi  nhờ  ông  Quận  trưởng  thông  dịch  giùm  bài  giảng  ứng  khẩu  của  tôi  ra
tiếng Pháp.
Khi  cuộc  nhóm  họp  xong,  tôi  ngồi  nghĩ  lại  tự  sự  vừa  qua.  Lòng  rất  cám  tạ  ơn  Chúa,  vì  chính  Ngài
có  sai  một  quân  nhân  Pháp  đến  sớm  hơn  một  giờ  để  cầm  tôi  ở  lại  nhà  thờ.  Nếu  buổi  sáng  hôm  đó,
nhà cầm quyền địa phương đến  đông  như  thế  mà  tôi không  có  ở nhà  để tổ  chức  cầu nguyện  như lời
họ đã  yêu cầu, vì tôi cũng đã hứa, thì nhà cầm quyền có thể than phiền; rồi tôi cũng  không biết phải
trả lời làm sao với họ và có thể bị xấu hổ vì không giữ đúng lời hứa. Nên mỗi khi tôi nhớ lại sự này,
miệng  tôi  luôn  cám  tạ  ơn  Chúa  về  sự  lo  liệu  của  Ngài  rất  diệu  kì!  Thật  Chúa  là  Đấng  biết  trước  tất
cả  mọi  sự  để  giúp  đỡ  tôi  làm  xong  được  một  trách  nhiệm    khá  quan  trọng  mà  tôi  không  ngờ  trước
được,  một  sơ  sót  có  thể  thật  tai  hại.  Cám  tạ  ơn  chăm  sóc  thật  vẹn  toàn  của  Cứu  Chúa  đối  với  chức
vụ chúng tôi.


CẦU NGUYỆN CHO MỘT NỮ PHÁP SƯ TIN CHÚA  

Một  ngày  kia,  tôi  đến  thăm  nhà  một  ông  thầy  thuốc,  gặp  một  bà  đến  đó  chữa  bệnh.  Tôi  nói  về  tình
yêu  thương  của  Cứu Chúa  Jê-sus  cho  bà,  và  bà  có  vẻ  rất  quan  tâm. Bà  tự  giới  thiệu  tên  là Cam, Nữ
pháp  sư  có  quyền  trừ  tà  ma  và  có  độ  300  bổn  đạo  theo  bà.  Nhà  bà  có  cả  thảy  7  bàn  thờ,  nhang  đèn
cháy  suốt  ngày  đêm,  bổn  đạo  đến  cúng  hiến,  lợi  tức  cũng  khá  nhiều.  Bà  hỏi  tôi  nhiều  câu  và  cuộc
nói chuyện kéo dài hơn 2 giờ. Sau đó, bà hẹn ngày trở lại để đàm luận thêm.

Thật  đúng  y  như  lời  hẹn,  tuần  sau  Bà  trở  lại  đàm  luận,  và  việc  đó  cứ  tái  diễn  như  thế  được  4  lần.
Rồi  một  lần  kia,  bà  đến  xin  tôi  cho  viếng  nhà  thờ.  Bà  ngó  trước,  ngó  sau,  ngó  cả  bàn  ghế  như  có
nhiều  suy  nghĩ…  Đoạn,  bà  hỏi  tôi  vài  câu  trước  khi  xin  tôi  cầu  nguyện  cho  bà  tin  Chúa.  Kế  đó,  bà
kể  chuyện:    “Tháng  rồi  tôi  có  thấy  một  điềm  chiêm  bao  rất  lạ  lùng,  có  một Đấng  mặc  đồ  trắng,  mặt
sáng  lòa  dẫn  tôi  đi  vào  trong  một  căn  nhà  có  bàn  ghế  giống  như  trường  học. Đoạn, Đấng  ấy  kêu  tôi
“hãy  quì  xuống  cầu  nguyện  thì  được  cứu.”  Cả  tháng  nay,  tôi  suy  nghĩ  nhiều  lắm  và  hôm  nay,  tôi
vào xem nhà thờ đây sao  giống trong cảnh chiêm bao tôi quá! Nhứt là không có hình tượng nào như
ở Chùa hay là như ở nhà thờ Công giáo mà tôi có vào để quan sát.
Sau khi nhơn danh Đức Chúa Jê-sus cầu nguyện cho bà và dạy bà cách cầu nguyện với Chúa, tôi cắt
hết  thảy  giây  bùa  phép  đeo  trên  cổ,  trên  tay.  Tuần  sau,  bà  đi  nhà  thờ  dẫn  theo  con  và  cháu  chừng  6
người xin tôi cầu nguyện tin Chúa. Bà rất sốt sắng đi đây đó làm chứng về  quyền phép Chúa Jê-sus,
ai  nấy  trong  làng  hết  sức  ngạc  nhiên  về  Đạo  Chúa!  Trong  số  bổn  đạo  của  bà  sau  đó  có  độ  5  người
tin  Chúa;  còn  bao  nhiêu  người  khác  thì  chống  đối  bà  kịch  liệt!  Nhưng  bà  vui  vẻ,  yêu  thương  hết
lòng làm chứng về quyền năng của Cứu Chúa cho họ.
Bà sốt  sắng trong  đức tin được vài năm, rồi  sau đó, bà nhóm lại ít  hơn và  mỗi  lần nhóm lại  là bà  lại
ngủ  gục,  không  thể  nghe  giảng  được. Bà  nói:  “Tôi  có  chứng  bệnh  ngủ;  nhiều  người  cũng  bệnh  như
tôi vậy”.
Một  buổi  sáng  Chúa  nhật  kia,  tôi  mời  bà  vào  nhà  riêng  để  cầu  nguyện  cho  bà  hết  bệnh  ngủ  gục. Bà
cầu  nguyện  và  khóc  lóc,  xưng  tội  vì  bị  cám  dỗ  chơi  cờ  bạc.  Sau  đó  tôi  nhơn  Danh  Chúa  Jê-sus  cầu
xin Chúa  cứu  bà  khỏi  chứng  bệnh  ngủ.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa,  từ  đó  về  sau,  bà  nghe  giảng  rất  chăm
chú  như  trước,  bệnh  buồn  ngủ  không  còn  nữa  và  bà  đã  giữ  được  đức  tin  cho  đến  ngày  về  nước
Chúa!


ĐỦ TIỀN TRẢ NỢ

Khi  chúng  tôi  cất  căn  nhà  ở  Long  Thành,  có  vay  số  tiền  20.000  của  một  người  bạn  chưa  tin  Chúa.
Chúng  tôi  hứa  chắc  trong  danh  dự,  ngày  nào  người  cần  là  chúng  tôi  sẽ  hoàn  lại.  Ít  tháng  sau,  khi
chúng  tôi  được  đổi  đến  Hội  thánh  Bình  Hòa  Phước.  Người  nầy  gởi  thơ  cho  chúng  tôi  hay,  người
cần  lấy  tiền  lại  nội  trong  một  tháng.  Chúng  tôi  trả  lời  là  sẽ  trả  đúng  hẹn.  Gần  đến  ngày  hẹn  mà
chúng  tôi  chưa  lo  được  tiền,  nên  hết  sức  bối  rối  vì  mình  là  tôi  tớ  của  Chúa,  đã  hứa  chắc  với  bạn
trong  danh  dự,  thì  không  nên  sai  lời  hứa.  Chúng  tôi  tha  thiết  cầu  xin  ơn  Chúa  giúp  đỡ  cách  nào  lo
được tiền để trả cho người.
Đúng  ngày  hẹn,  tôi  xách  cái  cặp  không  tiền  ra  đi  đến  nhà  chủ  nợ.  Ngồi  trên  chiếc  xe  đò  gần  suốt
ngày, tôi luôn hướng về Cha Thánh, xin sự giúp đỡ của Cứu Chúa.  
Cám tạ ơn Chúa, chính Ngài đã lo liệu mọi việc xong mà tôi chưa biết. Tới Long Thành, ghé lại nhà
em  tôi  để  thăm.  Khi  gặp  nhau,  em  tôi  nói  mau  lẹ:  “À,  anh,  hôm  qua  có  người  đến  yêu  cầu  em  xin
mướn căn nhà để mở tiệm cơm, chịu đưa cho em 20,000 trước. Anh tính sao?”
Mừng  quá!  Tôi  cám  tạ  ơn  Chúa  và  đến  ngay  người  muốn  mướn  nhà,  làm  giao  kèo,  nhận  20,000
đồng  và  đem  liền  đến  nhà  chủ  nợ  để  trả  xong  số  nợ  ấy  đúng  hẹn.  Thật  cám  tạ  ơn  Chúa  đã  giúp  tôi
giữ được lời hứa với bạn, và cũng trả xong được số nợ khá lớn đối với tôi lúc bấy giờ.
Hình Chụp ở Long Thành Với Cha mẹ là Ông Bà Nguyễn Văn Bộ, em là Nguyễn V. Phò, với 2 con
là Duy Tân và Ân Huệ


CHƯƠNG BẢY:
THOÁT NẠN TẠI HÒA NINH
CHIẾC ĐÒ MÁY ĐẦY NGUY HIỂM

Đầu  năm  1955,  chúng  tôi  được  đổi  đến  Hội  thánh  Hoà  Ninh.  Khi  tới  Vĩnh  Long  gia  đình
chúng  tôi  tạm  trú  một  đêm  tại  nhà  thờ.  Sáng  hôm  sau,  chúng  tôi  xuống  bến  đò  đi  Bình  Hòa  Phước
vì  bấy  lâu  chỉ  nghe  tên  Hội  thánh  Bình  Hòa  Phước  chớ  chưa  nghe  Hội  thánh  Hòa  Ninh  (Hòa  Ninh
là  ấp, Bình  Hòa Phước  là  làng,  cách  nhau  độ  10  cây  số).  Chuyến  tàu  đò  hôm  ấy  rất  là  nguy  hiểm  vì
người  đi  quá  đông  nên  đò  thật  khẩm.  Khi  ra  gần  giữa  sông  bị  sống  lớn,  đò  mấy  lần  nghiêng  ngửa,
thiếu  điều  bị  lật.  Chúng  tôi  hốt  hoảng  cầu  xin  Chúa  cứu  và  bảo  vệ  để  chiếc  đò  khỏi  bị  chìm!  Cám
ơn Chúa. Đò vừa qua sông là chết máy. Nếu chết máy lúc giữa sông chắc bị chìm!
Sau một hồi sửa chữa, đò lại tiếp tục đi dọc theo một khúc sông lớn rồi vào sông nhỏ. Kế lại,
phải  ra  đi  dọc  theo  sông  lớn  một  lần  nữa.  Lần  này  tuy  không  ra  khơi,  nhưng  không  kém  phần  nguy
hiểm vì hôm ấy  gió rất mạnh, sóng lượn to mà đò lại chở đầy. Gia quyến chúng tôi có 4 con nhỏ, vợ
tôi cũng không biết lội. Nếu rủi ro đò bị lật chìm, dù ở gần bờ cũng là nguy  hiểm. Chúng tôi cầu xin
Chúa cứu giúp cách nào cho qua được những  cơn sóng lớn. Cảm tạ ơn Chúa, sự  can thiệp của Chúa
rất  kì diệu! Liền sau đó,  chiếc đò bị hư máy lần nữa, lần này ngừng nổ luôn, phải cập sát vào mé bờ
để  chống  đi  lần  lần.  Đò  đi  sát  bờ  nên  chúng  tôi  bớt  lo  được  phần  nào.  Nhưng  chúng  tôi  hơi  bối  rối
vì đã biết mình đi lộn đò. Hơn nữa, đứa gái nhỏ của chúng tôi đang bị sốt, nhiệt độ khá cao, và bụng
ai nấy cũng bị đói vì xuống đò lúc 11 giờ trưa mà đã đến 3 giờ chiều, đò đi chưa tới bến.


SỰ GẶP GỠ BẤT NGỜ

Cám ơn Chúa, Ngài khiến cho người chống đò đậu nghỉ đúng vào một bến kia. Khi đò đậu ở
đó  được  vài  phút thì  trên  nhà  có một bà  cụ đi  xuống thấy chúng  tôi. Bà  nhìn một hồi rồi  hỏi:  “Thầy
đi  đâu?”  –  “Tôi  là Thầy  giảng  đạo  mới  đến  Hội Thánh Hòa Ninh.” Bà  liền  hỏi:  “Sao  thầy  không  đi
đò  Hòa  Ninh?”  Khi  đã  biết  chúng  tôi  đi  lộn  đò,  bà  liền  ân  cần  mời  chúng  tôi  lên  nhà  nghỉ  và  hứa
đưa chúng tôi đến Hội thánh, vì con rể của bà là Thư  ký của Hội thánh. Mừng quá! Nhờ vậy,  chúng
tôi có cơm ăn, có thuốc cho con chúng tôi uống, và được đưa đến Hội thánh trong ngày đó.
Bài  học lộn đò  kể như quá đắt! Có thể trả  giá  bằng mạng sống cho  cả  gia  quyến. Nếu  không
có  Đức  Chúa  Trời  phù  hộ  đưa  dùm  qua  cơn  sóng  gió  nguy  hiểm  và  cho  tấp  vào  đúng  chổ,  thì  khó
được  an  toàn  cho  sinh  mạng!  Từ  đây  về  sau,  chúng  tôi  đi  đâu,  làm  gì,  đều  suy  nghĩ  rất  cẩn  thận  và
cầu xin Chúa chỉ dẫn, vì sợ lạc đường cũng như sợ sai ý Chúa.


ƠN CHÚA CỨU KHỎI BỊ CƯỚP

Ở  Hòa  Ninh  được  1  năm,  thì  có  nạn  cướp  xảy  ra.  Chúng  đánh  cướp  xóm  làng  gần  như  mỗi  đêm.
Chúng thường  vào  nhà,  lôi  người ra tra  khảo, lấy đinh ngoái  vào lỗ tai để  đòi  tiền. Cả  làng,  từ  giàu
đến nghèo,  hễ đêm đến thì mạnh  ai  nấy tìm  chỗ trú ẩn. Gặp những đêm  mưa  gió, thật  khốn  khổ cho
dân  làng!  Loạn  cướp  xảy  ra  vài  tháng  như  vậy  hết  sức  khủng  khiếp!  (Cả  làng  ai  cũng  biết  rõ  họ  là
những  quân  nhân  ở  bót  Bình  Hòa  Phước,  dưới  quyền  tên  cai  tổng  ác  ôn,  ban  đêm  đi  tuần  rồi  lợi
dụng cướp phá xóm làng!)
Về  phần  chúng  tôi  thì  chẳng  biết  đi  đâu  và  phải  làm  gì,  chỉ  cầu  xin  Chúa  bảo  vệ.  Một  đêm
kia,  bọn  lính  cướp  này  đến  kêu  cửa  nhà  tôi  lúc  12  giờ  khuya.  Đã  dự  biết  chúng  là  bọn  cướp,  tôi
không  mở cửa và  nói:  “Lúc  này có nhiều  cướp,  tôi khó phân biệt  chân  giả. Vậy các ông là  lính  tuần
thiệt, xin mời sáng mai trở  lại đây  nói  chuyện hoặc tôi  sẽ đến bót.” Sau  khi nghe tôi nói  vậy,  chúng
nó bước ra sân ngồi thảo luận. Chúng tôi lắng tai nghe một tên đề nghị: “Phá cửa vào đi.” Nghe vậy
chúng  tôi  hoảng  sợ,  quỳ  gối  xuống  cầu  xin  sự  giải  cứu  từ  cánh  tay  quyền  năng  của  Đức  Chúa  Trời
(Thật  sự  chúng  tôi  không  sợ  mất  tiền  bạc,  của  cải,  nhưng  sợ  chúng  tra  khảo  tàn  nhẫn  như  đồng  bào
đã  kể  lại).  Chúng  nó  cứ  ngồi  đó  bàn  luận  gần  2  tiếng  đồng  hồ  mới  chịu  bỏ  ra  đi.  Thấy  bọn  chúng
xuống  ghe  đi,  chúng  tôi mới  thở  được một  hơi  thở  nhẹ  nhàng,  và  cảm  tạ  ơn Chúa  đã xô  đuổi,  khiến
chúng nó sợ mà không dám phá cửa.

Sáng  hôm  sau,  chúng  tôi  chưa  biết  tính  lẽ  nào,  thì  Chúa  sai  một  người  cùng  xóm  ghé  nhà
chúng  tôi  báo  tin  rằng:  “Tôi  có  nghe  những  lính  tuần  hỏi  thăm  Thầy  lãnh  lương  được  bao  nhiêu.”
Nghe  vậy,  chúng  tôi  biết  bọn  chúng  đã  có  ý  đến  nhà  chúng  tôi.  Chắc  chắn  thế  nào  bọn  chúng  cũng
sẽ  trở  lại. Chúng  tôi  cùng  hiệp  chung  cầu  nguyện,  xin  ý Chúa  soi  dẫn. Đoạn,  chúng  tôi  sửa  soạn  đồ
đạc vào các va li và nhờ một anh em tín hữu đem  ghe đến chở dùm qua Vĩnh Long và dặn người đó
đậu ghe tại Cầu Kinh Cụt chờ chúng tôi tại đó. Đến 6 giờ chiều, chúng tôi đi đò máy qua Vĩnh Long
và đến ngay chỗ hẹn nhưng không thấy ghe. Khi tìm gặp, chúng tôi hỏi: “Sao đậu ở đây?” Người ấy
trả  lời:  “Nước ở Cầu Kinh chảy mạnh  quá,  không  đậu  được nên tôi bị  trôi dần  xuống đây.”  Lúc bấy
giờ  là  7  giờ  tối  và  anh  chèo  ghe  chưa  biết  tính  lẽ  nào.  Thình  lình,  có  một  ông  cụ  từ  nhà  gần  đó  đi
xuống  hỏi:  “Các  ông  đi  đâu?”  Tôi  trả  lời:  “Chúng  tôi  ở  Hòa  Ninh  chạy  cướp  qua  đây,  ông  có  biết
nhà  nào  cho  mướn  không?”  Người  liền  trả  lời:  “Có  một  nhà  gần  đây  cách  chừng  vài  trăm  thước.”
Mừng  quá!  Tôi  liền  theo  ông  cụ  ấy  đến  mướn  được  nhà,  đoạn,  dọn  đồ  lên  nội  trong  giờ  đó.  Thật
cảm  tạ  sự  chỉ  dẫn  của  Chúa  và  sự  dự  bị  sẵn  của  Ngài  cho  một  căn  nhà  cách  mau  lẹ  như  vậy.  Nếu
không, chắc cũng phải gặp thêm nhiều khó khăn, cực nhọc trong hoàn cảnh của đêm ấy!

Sáng  hôm  sau,  anh  tín  hữu  ở  ngang  cửa  nhà  thờ  đến  cho  chúng  tôi  hay:  “Thầy  ơi!  Thầy  có
phước  quá!  Bọn  cướp  đêm  hôm  qua  đến  rất  đông,  cạy  cửa  nhà  thờ  và  tư  thất,  lục  soát  đồ  đạc  lâu
lắm,  chúng mới  chịu bỏ đi.” Chúng tôi nghe vậy,  lớn tiếng  cảm tạ  ơn Chúa là Đấng biết trước tất cả
mọi  sự  nên  dẫn  dắt  chúng  tôi  ra  đi  kịp  thời  và  đúng  lúc.  Khi  chúng  tôi  ở  trong  tay  bọn  cướp,  thì
Chúa  khiến  chúng  lưỡng  lự;  lúc  bọn  cướp  quyết  định  thì  Ngài  dẫn  chúng  tôi  đi  khỏi  kịp  thời,  trước
giờ  chúng  hành  động  chừng  6  tiếng  đồng  hồ,  để  khỏi  sa  vào  tay  bọn  chúng.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa,
chúng tôi nhận biết mình là những tôi tớ hèn mọn của Chúa, nhờ nương tựa vào Ngài nên mới được
phước,  vì  trong  hoàn  cảnh  ấy,  nếu  không  có  Chúa  phù  hộ,  thì  sự  nguy  hiểm  khó  có  thể  vượt  qua.
Như  tác  giả  Đa  vít,  người  từng  trải  trên  đường  dẫn  dắt  của  Chúa  đã  nói:  “Đức  Chúa  Trời  ơi!  Xin
phù  hộ  tôi,  tôi  nương  náu  mình  nơi  Chúa…  trừ  Chúa  ra  tôi  không  có  phước  nào  khác.”  Trong  cơn
gian  truân,  họ  kêu  cầu  cùng  Chúa,  Ngài  bèn  giải  cứu  họ  khỏi  đều  gian  nan.  Chúa  sẽ  gìn  giữ  người
khỏi tai họa, Ngài sẽ gìn giữ người khi ra, khi vào.” (Thi Thiên 16:1-2, 107:6, 121:7).


ƠN CHÚA CỨU VỢ TÔI QUA CƠN NGUY VÌ NẠN SÓT NHAU LÁ

Đang  khi chúng  tôi  tị nạn cướp  tại đây, vợ  tôi đang  có thai được 8 tháng.  Căn  nhà  chúng tôi
đang  mướn  ở  là  nhà  có  người  đã  bị  chết  trong  khi  sanh  con  nên  bị  bỏ  trống  khá  lâu,  không  ai  dám
mướn vì có tiếng đồn có quỷ hiện hình. Bà con trong xóm thấy vợ tôi có thai gần ngày sanh lấy làm
thương  hại  cho  số  phận  nên  hỏi:  “Thầy  cô  không  sợ  ma  quỉ  sao  mà  dám  ở  trong  nhà  này  có  người
sanh  đã  chết?”  Tôi  trả  lời:  “Chúng  tôi  không  sợ  vì  tôi  là  Thầy  giảng  đạo  Tin  lành,  tôi  có  thể  “nhơn
danh Đức Chúa  Jê-sus” đuổi  quỷ. Nghe vậy,  nên đồng bào trong xóm  để ý coi đến ngày vợ tôi sanh
sẽ như thế nào?

Đến tháng sau, vợ tôi gần sanh tôi phải đi nhóm Hội đồng Tổng Liên ở Gia Định. Lòng rất e
ngại,  nhưng  tôi  hy  vọng  sẽ  về  kịp  lúc  vợ  tôi  chưa  sanh.  Sau  khi  dự  Hội  đồng  trở  về,  vợ  tôi  đã  vào
nhà  thương  sanh  được  một  trai  đã  4  ngày,  mọi  sự  đều  bình  an.  Cảm  tạ  ơn  Chúa.  Nhưng  khi  vợ  tôi
về nhà thì  thình lình  hôm đó cảm  thấy trong bụng  hơi  đau. Chúng  tôi chẳng biết chi nên hiệp  chung
cầu  nguyện.  Sau  đó,  ít  phút  thì  cái  nhau  lá  rất  lớn  tuột  ra.  Chúng  tôi  đem  cho  mụ  xem.  Đó  chính  là
cái  nhau  lá  còn  sót  trong  bụng  đã  hơn  4  ngày.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa.  Sự  thương  xót  của  Đức  Chúa
Trời  đối  với  chúng  tôi  thật  lớn  lao.  Nếu  mụ  biết  sót  lúc  mới  sanh  chắc  phải  móc  ra.  Mà  ai  là  người
bị móc một lần, mới biết sự đau đớn, không có bút mực nào tả xiết! Khi móc xong, nghe nói nếu rủi
sót  một  miếng  nhỏ  cũng  đủ  làm  chết  mạng  người.  Chúng  tôi  rất  cảm  tạ  ơn  lớn  lao  của  Chúa  và  có
thể  nói  như  tác  giả  Thi  Thiên  rằng:  “Hễ  tôi  còn  sống  chừng  nào  thì  tôi  sẽ  hát  xướng  cho  Đức  Chúa
Trời tôi chừng ấy”.
“Vì  Chúa  thương  xót  chúng  tôi  khác  nào  Cha  thương  xót  con  cái  mình  vậy”  (Thi  Thiên  146:2,
103:13)


ƠN CHÚA CỨU TÔI THOÁT NẠN MÔ TÔ

Một  ngày  kia,  tôi  đi  xe  gắn  máy  trên  đường  từ  Bến  Bắc  Mỹ  Thuận  về  Vĩnh  Long.  Khi  còn
cách  chợ  Vĩnh  Long  2  cây  số.  thình  lình  một  chiếc  xe  nhà  binh  lớn  từ  phía  sau  chạy  tới,  tránh  xe
qua mặt bên kia thế nào mà nó ép sát gần tôi. Hốt hoảng, tôi quẹo lên lề. Nhưng cũng bị xe nhà binh
quẹt  bánh  xe  sau  một  cái  thật  mạnh,  đến  nổi  tôi  nhào  lộn  lên  và  té  ngồi  xuống!  Nhưng  cảm  tạ  ơn
Chúa, tôi cảm thấy mình tôi rơi xuống cách nhẹ nhàng, chẳng bị chút thương tích nào cả. Thật là sự
bảo  vệ  lạ  lùng  của  cứu Chúa. Nếu  tôi  bị  té  vô  phía  xe  hơi  chắc  nguy  hiểm  đến  tính mạng  hoặc  lách
vô lề không  kịp cũng  bị đụng nát xe và người, nên dù bị quẹt té nhưng chắc Chúa đã sai thiên sứ đỡ
cho  được  an  toàn.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa.  “Vì  Chúa  gìn  giữ  con  cái  Ngài  như  con  ngươi  mắt  Ngài”
(Xachari 2:8b, Thi Thiên 17:8).


THOÁT KHỎI SỰ ĐÒI BỒI THƯỜNG NHƠN MẠNG

Một  ngày  kia,  lúc  6  giờ  chiều,  một  người  lân  cận  ẵm  đếm một  em  bé  độ  3  tuổi  xin  tôi  ít  viên  thuốc
cho  đứa  bé  uống  vì  nó  bị  sốt  đã  lâu.  Bà  nói:  “Xin  thầy  làm  ơn  biết  thuốc  chi  cho  nó  uống  đỡ.”  –
“Nó có ăn uống chi  không?” –  “Không. Nó không ăn chi cả.” Tôi rờ đầu cháu, biết đang nóng và có
vẻ  thở  mệt.  Để  ngừa  sưng  phổi,  tôi  liền  đưa  cho  bà  vài  viên  Thiazomides  và  dặn  về  uống  đỡ  rồi
sáng mai phải ẵm nó ra cho thầy thuốc xem.
Vài  giờ  sau,  vợ  chồng  ông  ấy  ẵm  đứa  bé  chạy  lại  khóc  lóc  và  la  ó  dữ  dội:  “Ông  cho  thuốc
chi mà con tôi vừa uống vào là gần chết! Ông thấy nó không? Nó chết là ông phải đền nhơn mạng!”
Chúng tôi  hết  sức bối rối, chẳng  biết tính lẽ  nào vì thấy đứa bé mặt mày tái xanh  và như  thở
không  được,  sự  chết  trong  giây  phút  là  cầm  chắc.  Chúng  tôi  thầm  cầu  nguyện,  xin  cánh  tay  Chúa
can thiệp cứu dùm đứa bé để giúp chúng tôi khỏi nạn. Đoạn, tôi hỏi ông bà có cho nó ăn chi không?
– “Nó  không ăn chi cả,  chỉ  uống  thuốc ông cho  đó thôi.” – “Ông bà  phải nói thiệt đừng  giấu tôi đều
chi, tôi mới cứu nó được.” Ông ấy ngó vợ một vài giây, rồi ngập ngừng nói: “Nó có ăn chút cháo và
năm,  bảy  miếng  thịt  vịt  gì  đó.”  Tôi  hiểu  nay  chứng  bệnh  và  cầu  xin  Chúa  chỉ  dẫn  tôi  cần  cho  bé
uống  chi.  Chúa  nhắc  tôi  nhớ  lại  người  bệnh  giống  như  trường  hợp  nầy  mà  tôi  có  thấy  tại  Long
Thành,  nhờ  uống  muối  nên  ói  ra  được  mà  thoát  chết. Tôi  liền  hối  vợ  tôi  vào  nhà  lấy  muối  quậy  với
nước đem  ra. Tôi  cạy họng nó  ra đổ  nước  muối,  bé liền  ói ra  cả  cháo lẫn thịt vịt  còn nguyên miếng.
Đứa  nhỏ  thấy  tỉnh  lại  rỏ  ràng.  Mừng  quá! Tôi  liền  cho  nó  uống  thêm  một  chút  rượu Rhum.  Sau  đó,
đứa  nhỏ  khỏe  lại,  kể  như  thoát  chết!  Cha  mẹ  đứa  nhỏ  vui  vẻ  ẵm  con  về,  nhưng  không  có  lời  nào
cám  ơn.  Chúng  tôi  cũng  thở  được  nhẹ  nhàng  thấy  mình  thoát  nạn,  cảm  tạ  ơn  Chúa,  nếu  đứa  nhỏ
chết trong trường hợp này,  chắc chúng tôi không tránh khỏi sự khó  khăn. Nào bị cha mẹ đứa bé kêu
bồi  thường  nhơn  mạng,  cũng  như  những  người  vô  tín  xung  quanh  xóm  lợi  dụng  tình  thế  xúi  giục.
Đây là bài học yêu thương có thể bị trả một giá đắt. Nhưng Đức Chúa Trời không phải là không biết
mọi  sự  kiện  phản  trắc  đã  xảy  ra  nên  Chúa  có  can  thiệp,  cứu  giúp  để  chúng  tôi  được  thoát  nạn! Thật
đáng ngợi khen Chúa! Ha lê lu gia.


CHƯƠNG TÁM
HƠN 14 NĂM PHỤC VỤ CHÚA Ở NAM VANG
ƠN CHÚA ĐƯA ĐƯỜNG ĐẾN HỘI THÁNH NAM VANG RẤT DIỆU KỲ.

Đến  đầu  tháng  mười,  năm  1956,  chúng  tôi  được  ông  chủ  nhiệm,  Mục  sư  Trần  Xuân  Hỷ  cho
hay chuẩn bị đi Nam Vang.
Chúng  tôi  đi  xin  giấy  tờ  xuất  dương  xong.  Nhưng  có  một  việc  khó  là  chiếc  xe  gắn  máy  và
bàn  máy  may  phải  có  giấy  phép  mới  được  đem  theo.  Tôi  đến  sở  xin,  nhưng  nhân  viên  lo  việc  nầy
nói không  thể  nào được,  vì có lịnh cấm mang  xe  gắn máy ra  ngoại quốc. Tôi ra về cách lưỡng lự  và
lo  lắng. Tôi  đứng  lại  thầm  nguyện,  xin  Chúa  giúp  cho  cách  nào  để  có  thể  đem  xe  theo  được.  Đoạn,
tôi trở lại  yêu cầu một lần nữa. Bấy giờ cũng nhân viên ấy lại vui vẻ nói: “Chỉ có ông Giám đốc mới
quyết định được.” Người đem đơn vào rồi trở ra  nói:  “Ông Giám  đốc trả lời: được.” Thật  cảm tạ ơn
Chúa, đã khiến cho người nhân viên vui lòng giúp tôi được việc.
Sáng  hôm  sau,  tôi  lên  thăm  Hội  Thánh  Long  Thành  gặp  một  người  quen,  nghe  tôi  sắp  đi
Nam Vang, liền trao cho tôi 200 Ria (tiền Cao miên) nhờ xài dùm. Tôi lấy 200 bạc Việt Nam đổi lại
cho  người.  Lại  nữa,  cầm  ba  giấy  thông  hành,  tôi  ra  sở  Hối  đoái  đổi  tiền  được  1,200.00  Ria.  Như
vậy, ngày chúng tôi bước lên xe đò đi Nam Vang, trong túi có cả thảy được 1,400.00 Ria.
Khi  tới  Biên  giới,  tôi  đem  giấy  tờ  trình  cho  nhân  viên  quan  thuế  Cao  miên.  Họ  định  thuế
chiếc  xe  gắn  máy  và  bàn  máy may  là  4,500.00 Ria,  quá  số  tiền  trong  túi  hiện  có.  Tôi  nài  xin  họ  bớt
nhưng  không  được.  Bước  ra  ngoài,  lòng  đương  bối  rối,  tôi  cầu  xin  Chúa  phù  hộ  và  xui  giục  nhân
viên  quan  thuế  chịu  giảm  bớt  cho  ít  nhiều  để  tôi  có  đủ  tiền  đóng.  Đoạn  tôi  trở  vô,  tôi  kêu  nài  là
không  có  đủ  tiền  để  đóng  thuế,  xin  vui  lòng  bớt  cho.  Người  thu  thuế  lấy  viết  tính  một  chút  rồi  nói:
31 “2,500.00 Ria.” Tôi ra hỏi người tài xế mượn thêm tiền để đóng, lúc tới Nam vang sẽ trả lại. Nhưng
anh ta móc bóp ra chỉ còn vài trăm nên  không đủ. Tôi thầm nguyện xin Chúa giúp tôi trở vô kêu nài
bớt  một  lần  nữa.  Đoạn,  tôi  bước  vào  văn  phòng  xin  người  thu  thuế  coi  lại  giấy  tờ  vì  xe  cũ  và  máy
may  cũng  cũ.  Người  lấy  viết  tính  lại  rồi  trả  lời:  “1,250  Ria.”  Mừng  quá!  Tôi  móc  tiền  ra  đóng  liền
và miệng nói cảm tạ ơn Chúa.

Ra  ngoài  bà  con  hành  khách  thường  đi  mua  bán  trên  con  đường  này  nói:  “Thầy  Hai  có
phước  quá!  Hôm  nay  Thầy  gặp  ông  ốm  tử  tế.  Nếu  Thầy  gặp  thằng  cha  mập  mà  kêu  nài  tới  lui,  nó
nạt  nộ,  lại  còn  tăng  thêm  tiền  thuế  nữa  là  khác.  Mỗi  người  làm  việc  một  ngày,  hôm  nay  tới  phiên
ông  mập  mà  sao  ông  ốm  lại  làm.  Vậy  Thầy  Hai  có  phước.”  Chúng  tôi  nghe  vậy,  càng  thêm  lòng  tạ
ớn Chúa vì biết có bàn tay Đức Chúa Trời sắp đặt trước nên mới được vậy. Thật cảm tạ ơn Chúa.
Chiếc  xe  đò  chúng  tôi  tiếp  tục  đi,  chạy  cách  chậm  chạp  vì  đường  xấu,  lại  thêm  hư  máy  mấy
lần  ở  dọc  đường  phải  dừng  lại  để  sửa,  nên  khi  tới  thành  phố  Nam  vang  là  đã  vào  10  giờ  đêm,  dưới
cơn mưa tầm tả! Tôi liền  đi mướn  một chiếc  xe  chở  đồ đưa đến nhà thờ  giá 150 Ria, đúng  y số tiền
còn  lại  trong  túi,  không  dư  cũng  không  thiếu.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa  đã  dự  bị  đúng  số  tiền  để  trang
trải cách diệu kỳ.

Đường  đến  nhà  thờ  chỉ  vài  ba  cây  số  nhưng  vì  đường  không  cán  đá;  lại  gặp  mưa  lớn  nên  xe
bị  lún  khó  chạy.  Hơn  nữa,  người  tài  xế  cũng  không  biết  nhà  thờ  ở  đường  nào  nên  chạy  vòng  vòng
mãi  mà  không  tìm  được.  Người  ngừng  nghỉ  một  chút. Ngó  vào một  nhà  kia  thấy  ánh  đèn  leo  lét  tôi
bước  vào  nhà  để  hỏi  thăm,  cũng  may  gặp  một  người  Trung  hoa  biết  tiếng  Việt.  Người  nói  nhà  thờ
gần  đây  nhưng  khó  chỉ  vì  đường  không  có  tên.  Ban  đầu  người  tỏ  vẻ  lưỡng  lự  một  chút,  đoạn  xách
áo  mưa  lên  xe  đi  với  chúng  tôi  để  chỉ  giùm  đường.  Khi  tới  nhà  thờ,  người  lội  bộ  về  nhà  dưới  cơn
mưa  lớn,  đường  xá  sình  lầy  lúc  đêm  khuya  gió  lạnh.  Chúng  tôi  hết  sức  cám  ơn  người  và  cảm  tạ  ơn
Chúa  đã  dự  bị  cho  đủ  tiền  để  trang  trải  và  hơn  nữa,  lại  gặp  người  tử  tế  sẵn  lòng  dẫn  đường  lúc  đêm
khuya  mưa  gió  để  giúp  chúng  tôi  đến  nhà  thờ  sớm  để  nghỉ  ngơi,  vì  suốt  cuộc  hành  trình  chúng  tôi
và  3  con  nhỏ  đã  quá  mệt  nhọc.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa  về  sự  đưa  đường  dẫn  lối  của  Ngài  rất  lạ  lùng.
Như  Chúa  đã  hứa  cùng  Gia-cốp:  “Nầy,  Ta  ở  cùng  ngươi,  ngươi  đi  đâu,  sẽ  theo  gìn  giữ  đó;  vì  Ta
không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều Ta đã hứa cùng ngươi.” (Sáng 28:15).
Cũng như tác giả Đa-vít, người đã từng trải trên đường đi với Chúa đã nói: “Hãy phó thác đường lối
mình cho Chúa và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành mọi việc” (Thi Thiên 37:5).


ƠN CHÚA CỨU KHỎI BỊ TRỤC XUẤT LÚC MỚI TỚI HỘI THÁNH NAM VANG

Đến Hội thánh Nam Vang được vài ngày thì phải khởi sự lo ngay giấy kiều ngụ. Tôi đến nhờ
ông  Sechrist, Hội  trưởng  Hội Truyền  giáo Cao miên  lo  giùm.  Ông  sẵn  lòng  dẫn  tôi  đi  từ  văn  phòng
nầy  đến  văn  phòng  kia;  chỗ  nào  cũng  bị  nhà  cầm  quyền  từ  chối,  vì  lẽ  trong  giấy  chiếu  khán  thông
hành của chúng tôi nhà cầm quyền Việt Nam ghi chữ: “Aller seulement” (chỉ đi mà thôi) chớ  không
có  chữ  “Retour”  (trở  lại).  Họ  nói  đây  là  giấy  trục  xuất  nên  không  chấp  thuận  cho  chúng  tôi  kiều
ngụ.  (Thật  ra  lúc  bấy  giờ  người  Cao  miên  nghiêng  về  Cộng  sản  nên  họ  ghét  người  Mỹ  cũng  như
người  Việt,  họ  không  muốn  cho  người  Việt  đến  xứ  của  họ  nữa,  nếu  có  thể  đuổi  đi  được  càng  tốt).
Như  thất  vọng,  ông  Sechrist  nói:  “Tôi  có  một  đứa  gái  lớn  học  ở  Đà  lạt  về  chơi  nhưng  cũng  không
xin ở lại được.”

Chúng  tôi  trình  cho  Hội  thánh  biết  sự  việc  hết  sức  khó  khăn  để  Hội  thánh  hiệp  chung  cầu
nguyện,  xin  Chúa  tỏ  ra  cách  giải  quyết  thế  nào.  Vài  tuần  sau,  anh  em  trong  Ban  chấp  hành  Hội
thánh đến báo tin  cho chúng tôi:  “Có  lệnh nhà  cầm  quyền ra  thông báo,  những người Việt Nam nào
ở  Cao  miên,  dù  bao  nhiêu  năm  trốn  tránh  vì  không  có  giấy  tờ  hợp  pháp,  nay  người  nào  ra  khai  tên
sẽ  được  cấp  cho  giấy  tờ  ở  lại;  vì  đây  là  một  ơn  huệ  của  Chánh  phủ.”  Anh  em  rất  vui  mừng  và  thúc
giục  chúng  tôi  ra  khai  tên  như  đồng  bào,  vì  có  rất  đông  người  ra  khai  nhận  mình  bấy  lâu  nay  kiều
ngụ  bất  hợp  pháp.  Chúng  tôi  không  chấp  nhận  đề  nghị  của  BCH  HT  vì  nghĩ  rằng:  Chúng  tôi  là  tôi
tớ  Chúa  đến  xứ  này  để  giảng  đạo  phải  là  người  hợp  pháp;  chớ  không  phải  như  người  bất  hợp  pháp
bấy  lâu  trốn  tránh  như  một  số  kiều  bào.  Anh  em  cố  thuyết  phục  rằng  tôi  phải  chấp  nhận  đường  lối
duy  nhất  đó  chớ  không  còn  đường  lối  nào  khác.  Nhưng  tôi  trả  lời:  “Chắc  Đức Chúa Trời  sẽ  có  một
đường lối hợp pháp nào khác để giúp chúng tôi.”
Tuần  sau,  có  thông  cáo mời  hết  thảy  những  kiều  bào  nào  đã  khai  tên  hãy  đến  sở  lăn  tay  lãnh
giấy.  Đã  có  hàng  trăm  người  ra  đến  sở  từ  sáng  sớm  cách  vui  vẻ  để  chờ  lãnh  ơn  huệ.  Thì  hỡi  ôi!
Thình lình những người  vô phước này bị cảnh sát mời lên xe và chở họ về phía biên giới để đuổi họ
qua bên  kia biên  giới  Việt. Họ  ra đi bỏ  lại nhà  cửa, con cái  khóc lóc thảm thiết. Kết quả của  ơn huệ
nhà cầm quyền Cao miên là như thế đó! Cám  ơn Chúa. Nếu Đức Chúa Trời  không  cho  tôi bản  tánh
biết  tự  trọng  danh  dự  của  người  hầu  việc  Chúa,  nghe  lời  anh  em  chỉ  dẫn,  chịu  nhận  mình  là  người
bất  hợp  pháp  để  xin  giấy  kiều  ngụ  kiểu  ơn  huệ  đó,  chắc  ngày  hôm  ấy  đã  bị  trục  xuất  cách  nhục  nhả
như kiều bào.

Sau việc này, chúng tôi nhận thấy việc xin ở lại hợp pháp rất khó khăn, nếu không có bàn tay
Đức Chúa Trời can thiệp thì chắc  không thể nào  ở lại Nam vang truyền giáo được, nên chúng tôi đề
nghị với Hội thánh hiệp chung với chúng tôi cầu nguyện đặc biệt.
Kế  đó,  có  người  giới  thiệu  ông  Sơn  Phước  Thọ  cho  tôi,  hiện  đang  làm  Tổng  trưởng  Thông
tin  là  người  kể  như  có  ít  nhiều  thiện  cảm  với  người  Việt  lúc  bấy  giờ,  vì  ông  là  người  sinh  tại  xứ
Việt. Tôi  liền đến thăm ông  tại tư gia vào lúc ban đêm, có cầm theo  quyển Kinh thánh để  biếu. Ông
rất  vui vẻ nhận Kinh thánh  và mời tôi  sáng hôm  sau đến Bộ thông tin  nói  chuyện thêm về việc  giấy
kiều ngụ.

Sáng  hôm  sau,  tôi  đến  Bộ  thông  tin  để  nhờ  chỉ  dẫn  đường  lối  xin  giấy.  Khi  đã  được  ông  chỉ
dẫn  rành  rẽ  và  cho  vài  lời  giới  thiệu,  tôi  liền  đến  Bộ  Nội  vụ  nạp  được  đơn.  (Lúc  bấy  giờ  tôi  chỉ  đi
một mình chớ không muốn mời Giáo sĩ, vì tôi biết người Việt đang bị người Miên không ưa, nếu có
Giáo sĩ Mỹ nữa là thêm một mối cho họ ghét, vì họ ghét cả Mỹ lẫn Việt).
Tuy đã nạp được đơn nhưng chúng tôi cũng chưa biết sự việc thực tế sẽ ra như thế nào? Cám
ơn Chúa đã cho tôi may mắn, chiều lại tôi gặp người thâu đơn lại là một người ở gần nhà thờ. Mừng
quá!  Tôi  chạy  đến  thăm  và  làm  quen.  Người  hứa  giúp  cho  tôi  được  gia  hạn.  Thật  cám  ơn  Chúa.
Chúng  tôi  được  gia  hạn  một  tháng,  rồi  sau  đó  được  ba  tháng.  Nhưng  sau  ba  tháng,  thì  nhà  cầm
quyền  không  cho  chúng  tôi  được  gia  hạn  thêm  nữa mà  trái  lại  còn  thu  hết  giấy  tờ  và  cấm  chúng  tôi
không  được  ra  khỏi  nhà.  Nhận  biết  họ muốn  trục  xuất  chúng  tôi  vì  tình  hình  chính  trị Cao miên  lúc
bấy  giờ đang  nghiêng hẳn về khối Cộng,  nên dường như  họ muốn cấm hết các nhà truyền  giáo  kiều
ngụ trong xứ.

Lòng  chúng  tôi  thật  đang  buồn  lo  và  bối  rối.  Chúa  liền  nhắc  cho  chúng  tôi  nhớ  câu:  “Há  có
điều  chi  khó  cho  Giê-hô-va  Đức  Chúa  Trời  không  làm  được  chăng?”  (Sáng  18:14).  Gia  quyến
chúng tôi tha thiết cầu nguyện để xin Đức Chúa Trời là Đấng có quyền phép lớn lao can thiệp và trợ
giúp giùm; chớ chúng tôi kể như đã cùng đường, chỉ chờ bị trục xuất ngày gần đây mà thôi!
Cám  ơn Chúa,  ơn  Chúa  thật  rất  diệu  kỳ! Chính Ngài  đã  có  đường  lối  của  Ngài mà  chúng  tôi
không  ngờ.  Sau  đó  ít  ngày,  tôi  lén  ra  khỏi  nhà  để  thăm  một  người  tín  đồ.  Khi  ghé  vào  nhà  thì  gặp
một người thanh niên lạ đang ngồi chơi ở đó. Tôi khởi sự làm quen để nói về tình yêu của Chúa cho
người;  đồng  thời  cũng  nói  về  sự  khó  khăn  về  giấy  kiều  ngụ  bị  thu  hồi.  Cám  ơn  Chúa,  người  thanh
niên  này  rất  tử  tế.  Người  nói:  “Tôi  có  thể  giúp  Thầy,  Thầy  về  nhà  làm  đơn  lại  nói  rõ  đầu  đuôi  và
đem  lại  cho  tôi  kịp  nội  trong  buổi  chiều  này.  Nói  thiệt  với  Thầy,  em  gái  tôi,  nó  là  vợ  nhỏ  của  ông
Dapchoun,  tổng  trưởng  an  ninh,  người  có  quyền  cho  giấy  kiều  ngụ.  Tôi  sẽ  nói  với  em  tôi  đưa  giùm
đơn  và  gởi  gắm  Thầy  cho  ông  ta.  “Mừng  quá!  Tôi  vội  vã  về  nhà  viết  đơn  và  đem  đến  cho  người
thanh niên đó nội buổi chiều ấy.
Sáng  hôm  sau,  người  thanh  niên  ấy  đến  cho  tôi  hay,  em  gái  người  đã  trao  thơ  và  ông
Dapchoun  có  hứa  bằng  long  giúp.  Thật  cảm  tạ  ơn  Đức  Chúa  Trời  đã  làm  một  việc  “quá  sự  cầu  xin
hoặc suy tưởng”  của  chúng tôi. Tuần  sau,  chúng tôi được mời đến sở di trú  để lăn tay và mỗi người
được  một  giấy  kiều  ngụ  vĩnh  viễn  do  lệnh  của  tổng  trưởng  an  ninh  trực  tiếp  gởi  đơn  của  chúng  tôi
xuống, vỏn vẹn chỉ có một tờ giấy đánh máy, chớ không có những giấy nào phụ thêm như những hồ
sơ khác. Ông Cò làm  giấy cho chúng tôi hết sức ngạt nhiên nói: “Trong số những người mới tới đây
kiều ngụ từ mấy năm nay, ông là người thứ nhất được  giấy này.” Thật vậy, có những tín hữu đã đến
trước  chúng tôi trên 10  năm nhưng chưa được loại giấy  ấy. Cám  ơn Chúa, chúng  tôi biết đây là một
ơn  huệ  lạ  lùng  của  Cứu  Chúa,  vì  đang  khi  loài  người  muốn  trục  xuất  chúng  tôi,  thì  Chúa  là  Đức
Chúa  Trời  đã  quyết  định  cho  chúng  tôi  ở  lại  để  phục  vụ Ngài  thì  nhất  định  phải  ở  lại  được.  Mặc  dù
quyền con người có thể mạnh như thế nào đi nữa, thì cũng phải bị  khắc phục ở dưới quyền thống trị
của Chúa. Ha-lê-lu-gia. Cảm tạ ơn Chúa.
Sau  hai  năm  hầu  việc  Chúa  ở Hội  thánh  Nam  vang. Tôi  được  sự  chấp  thuận  của  hai Ban Trị
Sự  Địa  Hạt  và  Tổng  Liên  mời  về  thẩm  vấn  và  được  tấn  phong  Mục  sư  ngày  28/9/1958,  tại  Hội
thánh  Nguyễn  Tri  Phương.  Lúc  trở  về  Nam  vang  tôi  nghe  tin  ông  tổng  trưởng  Dapchoun  làm  phản
bị  bắn  chết,  còn  cô  vợ  nhỏ  Dapchoun  tức  là  người  trao  đơn  và  gửi  gắm  chúng  tôi  cho Dapchoun  đã
bị  bắt  và  sau  đó  tử  hình;  còn  người  thanh  niên  anh  vợ  của  Dapchoun,  người  giúp  xin  giấy  tờ  cho
chúng  tôi,  đã  chạy  trốn  về  Sài  Gòn.  Nhà  cầm  quyền  Cao  miên  đang  truy  nã  gắt  gao  để  tìm  ra  phe
đảng  của Dapchoun. Nhận thấy  chuyện nầy  hết  sức nguy hiểm vì hồ sơ  giấy  kiều ngụ của  chúng tôi
do  ông  Dapchoun  ký  giấy  cho  phép  cư  trú  cách  đặc  biệt,  chúng  tôi  rất  lo  lắng  và  âm  thầm  cầu
nguyện, xin Chúa khiến cho những người truy tầm hồ sơ phe đảng Dapchoun không chú ý gì đến hồ
sơ  giấy  kiều  ngụ  của  chúng  tôi.  Cám  ơn  Chúa,  sự  bảo  hộ  của  Ngài  thật  lạ  lùng  nên  chẳng  có  sự  gì
xảy  ra. Chúng  tôi  biết  đây  là  một  ơn  huệ  lạ  lùng  của Chúa,  chớ  lúc  bấy  giờ  có một  số  kiều  bào  nhờ
vợ  nhỏ  của  Dapchoun  xin  giấy  kiều  ngụ  đều  bị  bắt  điều  tra…  Nhưng  về  phần  chúng  tôi  thì  vẫn
được  bình  an  dưới  sự  bảo  vệ  của  Chúa  như  Khinh  thánh  sách  Ê-sai  đã  nói:  “Hễ  khi  dân  Ngài  bị
khốn  khó  như  chính  Ngài  bị  khốn  khó,  vì  chính  Ngài  đã  lấy  lòng  yêu  đương  thương  xót…  mà  ẵm
bồng và mang họ trong lòng khác nào mẹ săn sóc con cái mình.” (Ê-sai 63:9 và 49:14)


ƠN CHÚA CỨU KHỎI NẠN CÁO GIAN.

Thật  khó  cho  chúng  tôi,  sát  bên  nhà  thờ  có  một  cái  nhà  nhỏ,  trong  nhà  có  một  bà  lão  người
Tàu lai Việt, dáng người trông  dữ tợn, suốt ngày miệng chửi rủa  không ngớt. Hơn nữa, bà  ghét Đạo
cũng như chúng tôi. Mỗi lần bà quét sân chung quanh nhà, bà la ó và chửi rủa, vì lá cây bên nhà thờ
rụng rớt qua nhà bà. Chúng tôi cảm thương sự nghèo khổ và tuổi già nên chẳng dám trả lời chi.
Lúc  bấy  giờ  trong  xứ  có  phong  trào  nổi  loạn.  Một  ngày  có  kẻ  lén  đốt  nhà  vài  ba  chỗ.  Nhà
cầm quyền tổ chức chữa lửa và truy tầm kẻ đốt nhà.
Một  buổi  chiều  kia,  đống  rác  sát  hè  bà  bị  cháy  và  lan  qua  hàng  rào  cây  bên  nhà  thờ,  nhưng
sau  đó dập  tắt được.  Sở mật thám đến  mở  cuộc  điều tra. Bà liền  chỉ  mặt tôi nói là  phe Mỹ, là người
gây  ra  đám  cháy,  hoặc  đốt  hoặc  là  hút  thuốc  ném  tàn  qua.  Sau  đó  tôi  bị  nhân  viên  an  ninh  điều  tra
sơ rồi lấy giấy tờ tôi đem đi. Cảm tạ  ơn Chúa. Sau đó, tôi đến sở xin lại được  giấy tờ, còn việc cháy
nhà họ sẽ điều tra thêm.  Sau việc  này, bà ta  như  thắng thế nên  mỗi  khi  đi  gánh nước  ngang qua nhà
tôi,  bà  còn  la  ó  nhiều  hơn  nữa.  Nhưng  tội  nghiệp  thay  cho  bà,  vài  tuần  sau  đó,  bà  bị  một  cơn  bạo
bệnh rồi qua đời. Nên việc cháy nhà về sau không người đầu cáo nên được bỏ qua.


ƠN CHÚA CHO CẦU NGUYỆN ĐUỔI QUỈ.

Một  buổi  sáng  kia,  có  người  tín  hữu  đến  mời  chúng  tôi  đến  cầu  nguyện  cho  vợ  người  bị  quỉ
ám.  Tóc  tai  bà  bỏ  xỏa  ra,  thỉnh  thoảng  còn  cầm  dao  trông  rất  dữ  tợn.  Khi  chúng  tôi  đến,  thấy  bà  có
vẻ rất mỏi mệt, nằm thở dốc và tóc xỏa ra che cả mặt mày.
Sau  khi  hát  Thánh  ca  và  đọc  Kinh  thánh.  Tôi  cầu  nguyện  và  nhơn  Danh  Đức  Chúa  Jê-sus
đuổi  quỉ  ra  khỏi  bà;  tức  thì  bà  ta  nhào  ngang  qua  phía  bên  kia,  khóc  lớn  lên  mấy  tiếng  rồi  nằm  ngủ
êm suốt một ngày đêm. Sau đó, bà trở lại bình thường và đi nhà thờ vui vẻ. Thật cảm tạ ơn Chúa về
quyền  phép  lạ  lùng  của  Ngài.  Đúng  như  lời  Chúa  Jê-sus  phán:  “Những  kẻ  tin  sẽ  được  dấu  lạ  này,
lấy Danh ta mà trừ quỉ.” (Mác 16:17)


ƠN CHÚA CỨU KHỎI NẠN…

Một  ngày  kia,  tôi  đi  xe  gắn  máy  từ  nhà  đến  Thành  vua  Cao  miên.  Khi  tới  ngã  tư  tôi  bóp
thắng,  thình  lình  xe  bị  đứt  thắng.  Tôi  hốt  hoảng  đặt  một  chân  xuống  đất  để  hãm  bớt  tốc  lực,  nhưng
chiếc xe cũng phải bị lết ra giữa lộ. Đang khi ấy, một chiếc xe nhà binh lớn chạy trờ tới ngay tôi. Xe
ấy  hãm  bớt  tốc  lực  nhưng  vẫn  còn  trớn  mạnh,  anh  tài  xế  phải  quẹo  ngang  leo  lên  lề  phía  tay  mặt.
Tôi  phải  một  phen  khủng  khiếp  và  cám  ơn  Chúa  đã  cứu  tôi  qua  khỏi  một  cơn  nguy  hiểm  như  Kinh
thánh  Chúa  đã  phán:  “Nầy,  Ta  sai  Thiên  sứ  Ta  đi  trước  mặt  ngươi,  đặng  phù  hộ  trong  lúc  đi
đường.”  (Xuất  23:2).  “Thiên  sứ  Đức  Giê-hô-va  đóng  trại  chung  quanh  những  kẻ  kính  sợ  Ngài  và
giải cứu cho. Phước cho người nào nương náu mình nơi Chúa.” (Thiên 34:7;8)


ƠN CHÚA CHO BÁN ĐƯỢC NHÀ TRƯỚC THỜI HẠN BỊ PHÁ.

Chúng  tôi  có  mua  một  căn  nhà  đúc  gần  trung  tâm  thánh  phố  do  một  tín  hữu  bán  lại.  Chúng
tôi  định  ý  mua  căn  nhà  này  để  làm  sản  nghiệp,  nhưng  sau  vài  tháng,  có  một  anh  em  tín  hữu  muốn
mở  tiệm  buôn  bán  nên  đến  nài  nỉ  mua  lại,  vì  chỗ  tình  Thầy  trò  nên  tôi  như  buộc  lòng  phải  nhường
lại cho người đó.
Sau  khi bán lại căn nhà ấy  chừng vài tháng, thì có lệnh của Hội đồng Thẩm mỹ Đô thành  gởi
đến  buộc  phải  đập  phá,  vì  nhà  đó  kiến  trúc  không  đúng  bản  đồ.  (Bởi  có  sự  khiếu  nại  của  người  lân
cận về mái bao lơn chờm qua đất người nên mới lộ ra việc kiến trúc hai căn thành ba căn. Được biết
người  đứng  thưa  việc  này  là  người  rất  có  thế  lực,  là  ông  ngoại  của  Công  chúa  Bopha-Devi).  Người
mua  cũng  như  người  đứng  ra  kiến  trúc  phải  gặp  một  phen  khổ  sở,  tốn  hao  tiền  bạc  và  nước  mắt…
Nhưng  về  phần  chúng  tôi  thì  an  nhiên  vô  sự.  Thật  Chúa  đã  biết  trước  căn  nhà  phải  gặp  khó  khăn,
nếu  không  nói  là  mất  hết  sản  nghiệp,  nên  chỉ  dẫn  giúp  chúng  tôi  bán  nhà  được  kịp  lúc  để  khỏi  bị
chút  thiệt  hại  nào.  Cảm  tạ  ơn  Chúa.  Như  sự  từng  trải  của  tác  giả  Châm  ngôn  đã  dạy:  “Phàm  trong
các  việc  làm  của  con,  khá  nhận  biết  Ngài,  thì  Ngài  sẽ  chỉ  dẫn  các  nẻo  của  con.  Hãy  phó  thác  các
việc mình cho Chúa, thì những mưu ý mình sẽ được thành công.” (Châm 3:6.16:3)


THOÁT KHỎI KẺ MUỐN HÀNH HUNG.

Nhớ lại, trước ngày chúng tôi sửa soạn đi Nam vang, có người thông thạo sự việc trên đó nói
với chúng  tôi:  “Thầy Xuân đi Nam  vang hả? Thầy Xuân  đi Nam vang, tôi sợ  ở  không  được 6 tháng
đâu,  vì  những  người  trên  đó  họ  khó  tánh,  hung  dữ  và  đa  số  theo  cộng  sản.” Tôi  trả  lời:  “Mấy  tháng
cũng được, ở không được thì trở về.”
37
Thật  đúng  như  lời  người  quen  đã  nói.  Sau  khi  đến  Nam  vang  được  vài  tháng,  là  chúng  tôi
nhận  thấy  có  sự  khó  khăn  ngay  từ  trong  nội  bộ  cũng  như  giữa  kiều  bào.  Vì  đa  số  họ  theo  chủ  nghĩa
vô  thần  cách  sốt  sắng,  nếu  không  nói  là  cuồng  nhiệt,  nên  khi  họ  nói  chuyện  với  tôi  nhiều  người  tỏ
vẻ  cuồng  tín.  Thành  ra  mỗi  khi  tiếp  xúc  với  họ  cũng  khó  tránh  sự  va  chạm  ít  nhiều…  Nhưng  ở  đời
càng cố tránh sự va chạm lại hay gặp va chạm.
Một  buổi  chiều  kia,  có  người  tín  hữu  cho  chúng  tôi  hay:  “Mục  sư  ơi!  Tôi  không  biết  vợ
chồng  Thầy  B  nói  gì  với  Thầy  H  mà  Thầy  H  hăm  dọa  Mục  sư  dữ  dội.  Tôi  báo  tin  cho  Mục  sư  hay
để  lo  liệu.”  Tôi  vui  vẻ  trả  lời:  “Chúng  tôi  đến  xứ  này  để  phục  vụ  Chúa,  chớ  có  làm  hại  gì  ai  mà  bị
hăm dọa. Chúa không bao giờ phó chúng tôi cho kẻ dữ.” Rồi qua ngày hôm sau, cũng người tín hữu
ấy  đến  cho  chúng  tôi  hay  một  lần  nữa:  “Mục  sư  ơi!  Con  của  Thầy  H  đau  gì  không  rõ  mà  đêm  hôm
này  ói  máu  ra mấy  lần  nhiều  lắm,  phải  chở  vào  bệnh  viện.”  Sự  hoạn  nạn  khiến  người  hoảng  sợ  nên
việc  cũng  được  tạm  yên.  Còn  về  phần  Thầy  B  muốn  chế  dầu  vào  lửa  để  giục  thêm  việc  ác,  thì  luật
Trời  cũng  khiến  gặp  quả  báo  nhản  tiền.  Vài  tuần  sau,  Thầy  B.  bị  kẻ  nghịch  cùng  xóm  đánh  cho  cả
mặt mày bầm đen như bôi lọ. Thế là Đức Chúa Trời cho cả hai học một bài học đau đớn thể xác lẫn
tinh thần để  họ biết  ăn năn, sống trong lương thiện với mọi người. Về  phần  chúng tôi khi hay tin  họ
bị  hoạn  nạn,  liền  đến  tận  nhà  thương  thăm  viếng  và  cầu  nguyện  cho  họ.  Như  lời  Kinh  thánh  dạy:
“Vậy,  nếu  kẻ  thù  mình  có  đói  hãy  cho  ăn;  có  khát  hãy  cho  uống  và  lấy  điều  thiện  mà  báo  lại  cho
điều  ác”.  (Rôma  12:20).  Như  Chúa  phán:  “Đừng  chống  cự  kẻ  dữ  vì  kẻ  ác  không  bao  giờ  hưởng
được sự  bình an. Đức Chúa Trời sẽ  xô kẻ ác vào tai họa. Sa vào  tay Đức Chúa Trời hằng sống là  sự
đáng kinh khiếp thay.” (Ê-sai 57:21 và Hê-bơ-rơ 10:31, Châm ngôn 21:12)


ƠN CHÚA DẮT ĐỨA NHỎ ĐẾN DẪN ĐƯỜNG…

Một ngày  kia,  chúng  tôi đi thăm một  gia đình tín  hữu ở một Tỉnh  xa, cách Nam vang độ 100
cây số. Khi xe tới thành  phố thì trời cũng đã tối. Chạy khắp đây đó để hỏi thăm nhà nhưng gặp toàn
là người Miên nên  không ai biết. Chúng tôi ngừng xe lại nghỉ một chút. Tôi cúi đầu cầu nguyện, xin
Chúa  chỉ  dẫn  cho  gặp  người  Việt  họa  may  họ  biết  người  Việt.  Cảm  tạ  ơn  Chúa,  vừa  cầu  nguyện
xong  liền  có  một  đứa  nhỏ  bán  cà  rem  đến  mời  mua.  Tôi  liền  hỏi  thăm,  nó  biết  chỗ  nên  dẫn  đường
chúng  tôi  đến  tại  nhà  người  tín  hữu.  Thật  cám  ơn  Chúa.  Ngài  là  Đấng  nhậm  lời  cầu  nguyện  như
sách  tiên  tri  Ê-sai  Chúa  đã  phán:  “Ta  nhận  lời  họ  trước  khi  kêu  cầu  ta;  họ  còn  nói,  Ta  đã  nghe  rồi.
(Ê-sai  65:24).  “Nếu  ngươi  gìn  giữ  những  điều  răn  của  Giê-hô-va  Đức  Chúa  Trời  ngươi  và  đi  theo
đường  lối Ngài. Bấy  giờ  ngươi  cầu, Ta  ứng;  ngươi  kêu, Ngài  sẽ  phán  rằng: Có Ta  đây.  (Phục  28:9;
Ê-sai 58:9).


KHỎI BỊ THIỆT HẠI TIỀN THUẾ.

Trong  khi  xuất  dương  đến  Nam  vang  hầu  việc  Chúa,  chúng  tôi  còn  một  số  tiền  gởi  ở  Ngân
hàng Việt Nam. Chúng tôi cầu xin Chúa cho mua được một căn nhà.
Từ Nam vang trở về Sài  gòn để tìm  mua căn nhà thì  lại được sự may mắn  thấy ngay  căn nhà
đang bán tại chợ Nguyễn Tri Phương, giá 150.000 đồng. Sau khi làm giấy tờ mua xong, tôi đi thẳng
đến  văn  phòng  Trước  bạ  xin  đóng  thuế  sang  bộ.  Nhân  viên  văn  phòng  tính  18%  thuế  phải  đóng  là
27.000  đồng.  Tôi  liền  vào  phòng  thu  tiền  để  đóng.  Lúc  đó  độ  4  giờ  rưỡi.  Nhân  viên  thu  tiền  nói:
38
“Hết giờ rồi, mai trở lại.” Tôi nài nỉ người làm ơn thu giùm vì mai tôi phải trở về Nam vang. Dù nài
nỉ  hết  lời  người  cũng  không  chịu,  vì  tánh  người  khó  quá,  chớ  theo  tôi  tưởng  sự  thu  tiền  chẳng  có  gì
lâu, hay làm trễ giờ làm việc.
Tôi  trở  về  lòng  hơi  buồn,  định  mai  trở  lại  sớm  để  đóng  thuế,  nhưng  sau  đó  tôi  hoãn  lại  việc
này  vì  nhận  biết  chẳng  gấp  chi  nên  về  thẳng  Nam  vang. Độ  4  tháng  sau,  tôi  xuống  Sài  gòn  để  đóng
thuế,  thì  được  biết  theo  luật  mới  vừa  thông  báo  loại  nhà  tôi  mua  được  giảm  thuế  trước  bạ  chỉ  còn
5% mà thôi!
Thế  là  từ  27.000  đồng,  tôi  chỉ  còn  đóng  7.500  đồng.  Thật  lòng  tôi  vui  vẻ  tạ  ơn  Chúa,  vì  nếu
mấy  tháng  trước  nhân  viên  kia  tử  tế  chịu  thu  tiền  thì  tôi  đã  mất  gần  hai  chục  ngàn  đồng.  Thấy  còn
dư  tiền  dành  đóng  thuế,  tôi  đến  văn  phòng  Giáo  sĩ Sawin  nhờ  ông mua  giùm  một  máy  phóng  thanh
và  dụng  cụ  dùng  cho  sự  giảng Tin  lành.  Lại  nữa,  tôi  cũng  còn  dư  tiền  nên  lúc  về  tới Nam  vang  gặp
ông  Giáo  sĩ  Sechrist  sắp  về  Mỹ,  tôi  xin  ông  để  lại  cho  tôi  cây  đờn  phong  cầm  Harmonium  để  đờn
trong  nhà  thờ,  thì  số  tiền  ấy  cũng  vừa  đủ  số  để  trả.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa,  sự  ban  ơn  của  Ngài  rất
diệu kỳ.


CẦU NGUYỆN CHO MỘT NGƯỜI BỊ BỆNH LAO.

Một ngày kia, chúng tôi vào nhà thương  thăm một tín hữu, có người  giới thiệu cho chúng tôi
một  người  đau  nằm  ở  phòng  số  13.  Căn  phòng  này  theo  sự  tin  tưởng  của  nhiều  người  là  hễ  ai  vào
phòng  này  thì  ít  có  người  còn  sống  vì  có  ma  quỉ  khuấy  phá.  Chúng  tôi  liền  đến  thăm  người,  thấy
người  bệnh  ốm  yếu  chỉ  còn  da  bọc  xương,  hai  tay  để  xuội  xuống  như  người  sắp  chết.  Tôi  tự  giới
thiệu  là  Mục  sư  đến  thăm,  người  có  bằng  lòng  không?  Đoạn,  tôi  chia  xẻ  về  tình  thương  và  quyền
năng  lớn  lao  của  Chúa  Jê-sus  cho  người.  Đang  khi  nghe,  nước  mắt  người  chảy  dầm  dề.  Người  nói:
“Tôi  là  tín  hữu  Tin  lành  nhưng  đã  sa  ngã  mấy  mươi  năm,  hôm  nay  trước  khi  sắp  chết  lại  được  gặp
Mục  sư,  tôi  cảm  động  quá,  xin  Mục  sư  cầu  nguyện  để  Chúa  ân  xá  tội  cho  tôi,  vì  tôi  bị  bệnh  lao  đã
tới  thời  kỳ  thứ  ba  nên  không  thể  nào  sống  được  nữa.”  Tôi  đặt  tay  lên  trán  người  và  cầu  xin  Chúa
cho một phép lạ chữa bệnh, để ai nấy trong nhà thương này thấy quyền năng của Cứu Chúa. Cảm tạ
ơn  Chúa  rất  diệu  kỳ,  quyền  năng  của  Chúa  hôm  qua,  ngày  nay  không  hề  thay  đổi.  Vài  ngày  sau,
chúng tôi trở lại thăm, thấy người ngồi dậy được. Và tuần sau nữa thì người đứng dậy đi tới lui. Rồi
một tháng sau, là người gần bình phục, khiến cho mọi người đều ngạc nhiên, cảm tạ ơn Chúa.


NGƯỜI BỊ PHÁ ĐỔ ĐỨC TIN…

Có một người Pháp  lai Việt nằm  gần bên  phòng người bệnh lao,  thường ngày  phá đổ  đức tin
người  rằng:  “Mày  nói  Chúa  chữa  bệnh  cho  mày  hả,  nếu  không  nhờ  mấy  chục  hũ  Streptomycines
thử  xem  mày  có  sống  không?”  Và  ban  đêm  người  Pháp  lai  này  còn  quyến  rũ  người  lén  trốn  khỏi
nhà  thương  đi  hút  á  phiện. Chúng  tôi  biết  được  chuyện  nên  đến  khuyên  người  nên  kính  sợ Chúa  và
đừng  hút  á  phiện,  nguy  hiểm  cho  sức  khoẻ.  Người  lơ  là  không  chú  ý  đến  lời  chúng  tôi  khuyên.
Nhưng  tôi  tiếp  tục  khuyên:  “Anh  nên  nhớ  lại  khi  đau  nằm  sát  giường,  bạn  bè  chẳng  ai  thăm  viếng,
nhưng chúng tôi cậy ơn Chúa, đem tình thương của Chúa thăm viếng không kể đến sự truyền nhiễm
của  bệnh  lao.  Chúng  tôi  không  cần  anh  cám  ơn  miễn  là  anh  nhớ  ơn  Chúa  cứu  anh  là  đủ.  Hôm  nay
tại  sao  anh  không  kính  sợ  Chúa?  Nếu  anh  không  ăn  năn  mà  cứ  đi  con  đường  phạm  tội  chắc  sẽ  bị
39
Chúa  sửa  phạt”.  Nhưng  người  xoay  mặt  vào  tường  không  muốn  nghe  (có  lẽ  người  nầy  tin  rằng  đã
nhờ  thuốc  mà  được  sống  nên  Chúa  cho  người  thấy  cũng  do  thuốc  mà  người  chết,  để  người  ăn  năn
hầu linh hồn được cứu ).
Vài  tuần  sau,  chúng  tôi  được  Chúa  thúc  giục  muốn  vào  nhà  thương  để  khuyên  người  lần
chót, hy  vọng  người  sẽ  ăn năn. Thật  là mầu  nhiệm,  hôm  ấy cũng  là lần cuối mà Đức Chúa Trời cho
chúng tôi gặp người trước lúc người sắp qua đời.
Khi  vừa  vào  đến  nhà  thương  thì  gặp  ngay  vợ  người.  Bà  ta  khóc  và mói  rằng:  “Thôi  rồi! Còn
chi  nữa Mục  sư. Nhà  tôi  đang  mạnh  như  thường,  song  chỉ  hơi  nhức  đầu một  chút,  bác  sĩ  đem  thuốc
lại  chích,  vừa  chích  xong  là  ông  bất  tỉnh.  Họ  khiêng  ông  lên  lầu  nằm  mê  man  nảy  giờ.”  Chúng  tôi
chạy thẳng lên lầu thấy anh ta nằm bất tỉnh. Tôi kêu người hãy ăn năn tội lỗi để tôi cầu nguyện  cho,
nếu  người  nghe  được  thì  hãy  gật  đầu  nhưng  chúng  tôi  chỉ  thấy  môi  người  như  mấp  máy  và  có  giọt
nước  mắt.  Tôi  liền  cầu  nguyện,  xin  Chúa  thương  xót  người,  ban  cho  người  sự  ăn  năn  để  linh  hồn
được cứu rỗi. Sau đó, vài chục phút là người qua đời… Cám ơn Chúa cho chúng tôi đến thăm người
vừa kịp lúc để khuyên người ăn năn và cầu nguyện cho người trước khi qua đời.


CẦU NGUYỆN CHO MỘT NGƯỜI BỆNH NƯỚC TIỂU ĐƯỜNG.

Khi  đến  Nam  vang  được  ít  lâu.  Vợ  tôi  và  tôi  đến  thăm  một  người  Miên  gốc  Việt  đang  đau,
nằm  ở  trại  cây  của một  người  tín  hữu. Người  kể  chuyện:  “Tôi  tên  là  Luon-Huon, Đốc  phủ  làm  việc
cho Pháp  khi trước. Ngày Cao miên  độc lập, tôi làm việc  cho Quốc trưởng Shihanouk với chức phó
giám  đốc  Bộ  ngoại  giao,  tôi  có  cả  thảy  32  huy  chương,  gồm  luôn  Mề-đai  Điều.  Tôi  đang  tạm  nghỉ
vì  bệnh  tiểu  đường  bất  trị  và  bao  nhiêu  tiền  bạc  đều  đổ  vào  thuốc  men  nên  hiện  nay  không  nhà,
không  cửa,  ở  đậu  tại  trại  cây  này.  Trước  khi  đau,  tôi  nặng  70  kí  mà  bây  giờ  chỉ  còn  40.”  Chúng  tôi
liền  nói  về  quyền  năng  diệu  kỳ  của  Cứu  Chúa  và  tình  thương  của  Ngài  đã  chịu  chết  thế  tội  cho.
Người  chăm  chú  nghe  và  sau  đó  người  bằng  lòng  tiếp  nhận  Jê-sus  làm  Cứu  Chúa.  Thật  cảm  tạ  ơn
Chúa,  sau  đó  chúng  tôi  nhơn  danh  Chúa  cầu  nguyện  cho  người  và  dạy  người  cách  cầu  nguyện  với
Chúa. Người có đức tin  và  bắt  đầu  khoẻ lại lần lần. Sau vài tháng, người mập ra cân  lên  được  65  kí
gần  mức  bình  thường.  Người  vui  mừng  đến  nhóm  họp  thờ  phượng  Chúa.  Sau  vài  năm,  người  được
đắc  cử  Thơ  ký  Hội  thánh,  người  hoạt  động  khá  đắc  lực  cho  công  việc  Chúa.  Và  đời  người  còn  có
nhiều phước cũng như thử thách, tôi xin đọc giả cho phép tôi kể thêm vài mẫu chuyện về ông LuonHuon nầy.


XIN ĐƯỢC TIỀN MUA NHÀ VÀ BỊ CHÁY NHÀ.

Ngày  kia,  ông  Luon-Huon  đến  xin  chúng  tôi  cầu  nguyện  để  người  đến  tòa  Đại  sứ  Pháp  xin
cứu trợ vì người nói rằng đã làm việc cho Pháp hơn 20 năm. Rất may mắn, người được Đại sứ Pháp
trao  cho  20.000,00  Ria  (là  tiền  Cao  miên  ).  Người  đem  về  mua  được  căn  nhà  nho  nhỏ  để  ở.  Vừa
mua  xong  căn  nhà  chưa  dọn  đến  ở  là  nhà  bị  cháy  chung  với  cả  xóm  gần  100  cái  khác.  Người  buồn
quá đến khóc lóc với chúng tôi. Tôi an ủi người rằng: “Chúa sẽ cho ông nhiều hơn căn nhà ấy nữa”.
Thật  vậy,  sau  đó  nhà  cầm  quyền  Cao  miên  ra  lệnh:  Đất  của  những  nhà  bị  cháy  chỉ  chia  cho  người
dân  Cao  Miên  mà  thôi.  Do  đó,  bao  nhiêu  người  Việt  bị  cháy  nhà  đều  mất  luôn  sản  nghiệp,  nhưng
40
người  nầy  là  dân  Miên  nên  được  chia  cho  một  miếng  đất  khá  rộng,  bề  ngang  12  thước,  bề  dài  50
thước. Người chạy đến thăm chúng tôi và báo tin vui mừng, cám ơn Chúa vì người được đất.


ĐƯỢC MỘT CĂN NHÀ LẦU ĐÚC VÀ CĂN NHÀ ẤY BỊ LỆNH PHÁ BỎ.

Sau  đó,  người  giao cho thầu  khoán cất  nhà trên miếng  đất  ấy  và được chia  phần cho một  căn
lầu đúc, ngang  4  thước,  dài 12  thước. Gia  quyến  người dọn  đến  ở rất  vui thích. Nhưng  rủi thay, nhà
ở  sát  bên  cạnh  là  nhà  ông  Nhạc  gia  của  Shihanouk.  Ông  già  ấy  rất  khó  tánh,  thấy  nước  mưa  bên
balcon  nhà  ông  Luon-Huon  chảy  qua  đất,  lại  đi  thưa.  Và  sau  khi  nhà  cầm  quyền  xem  bản  đồ  kiến
trúc  thấy  bản  đồ  chỉ  cho  hai  căn  mà  thầu  khoán  lại  cất  ba  căn,  nên  Ủy  ban  Thẩm  mỹ  Đô  thành  ra
lệnh phá hết nội trong ba tháng.
Hỡi  ơi!  Người  lại  chạy  đến  chúng  tôi  khóc  lóc:  “Mục  sư  ơi!  Cả  cuộc  đời  mới  có  một  căn
nhà, mà ngày nay nhà sắp bị phá, chắc tôi phải uống thuốc ngủ.” Lòng chúng tôi cũng quá đau buồn
về hoàn cảnh  của  người. Chúng tôi mời  người cùng chung  cầu nguyện  để xin sự  giải cứu của Chúa.
Sau  đó,  tôi  đọc  cho  người  nghe  Kinh  thánh  sách  Ê-xơ-tê  4:14:17,  về  truyện  tích  Chúa  dùng  một  cô
gái  tên  là  Ê-xơ-tê  được  chọn  làm  Hoàng  hậu  để  giải  cứu  dân  Do  thái  lâm  nạn  ngày  xưa.  Hôm  nay
tôi  tin  chắc  Chúa  sẽ  dùng  một  nhân  vật  nào  đó  giải  cứu  sản  nghiệp  của  ông,  miễn  là  ông  tin  cậy
Chúa.
Sau  một  tháng,  chúng  tôi  khẩn  thiết  cầu  nguyện  cho  người. Thật  cảm  tạ  ơn Chúa  là Đấng  đã
nhậm lời cầu nguyện và can thiệp giúp cho con cái của Chúa trong cơn thử thách.
Một đêm kia, người đến báo tin  cho chúng tôi hay: “Chính  phủ hiện  hữu đã  bị đổ và bạn  của
tôi  là  Giám  đốc  Bộ  ngoại  giao  vừa  được  chỉ  định  làm  tân  Thủ  tướng.  Tôi  hy  vọng  nhờ  tân  Thủ
tướng  cứu  giúp”.  Thật  đúng  như  vậy,  tân  Thủ  tướng  đích  thân  đến  tại  căn  nhà  bị  lên  án  phá  bỏ  để
xem  xét  nhà  và  bản  đồ.  Ông  cũng  muốn  làm  cho  vừa  lòng  người  lân  cận  nên  cho  lệnh  đập  phá  bớt
một phần của balcon; đồng thời cho  lệnh vẽ lại bản đồ từ hai căn  ra ba  căn như hiện có. Mọi sự đâu
đó  được  êm  xuôi. Được  biết  rằng,  tân Thủ  tướng  nầy  chỉ  nắm  quyền  được  hai  tháng  rồi  cũng  bị  đổ.
Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa  có  dùng  người  can  thiệp,  cứu  giúp  trong  một  trường  hợp  đầy  khó  khăn  cứu
căn nhà của một con cái của Chúa khỏi bị đập phá. Ha-lê-lu-gia !


CHÚA CỨU NGƯỜI KHỎI BỊ MẤT CHỨC, TÙ TỘI LẠI CÒN ĐƯỢC HUY CHƯƠNG.

Một  ngày  kia,  Ông  Luon-Huon  đến  nhà  chúng  tôi  mặt  mày  tái  xanh,  khóc  lóc:  “Mục  sư  ơi!
Lần  này  tôi  chắc  tôi  không  khỏi  bị  mất  chức  và  tù  tội!”  Người  nói:  “Ông  giám  đốc  Bộ  ngoại  giao
đưa  cho  tôi  tập  hồ  sơ  nước  Do  thái  về  văn  phòng  để  nghiên  cứu.  Nhưng  rủi  thay  tôi  làm  rớt  mất  ở
đâu  không  tìm  được.  Ông  giám  đốc  rầy  la  tôi  và  cho  biết  lệnh  nghiên  cứu  này  là  của  Quốc  trưởng,
và  tập  hồ  sơ  này  là  bí  mật  của  quốc  gia,  và  hiện  nay,  Quốc  trưởng  Shihanouk  đang  nghiêng  hẳn  về
khối  Ả  rập,  lại  nghịch  với Do  thái  mà  tôi  lại  làm mất  hồ  sơ  bí mật  này  nên  có  thể  bị  kết  án  về  lý  do
chính  trị  và  có  thể  bị  tù  đày.”  Người  khóc  lóc  xưng  tội  rằng:  “Mục  sư  ơi!  Tôi  có  tội  nặng  vì  bị  cám
dỗ hút thuốc trở lại, và con đàn bà Miên cùng sở nó cám dỗ tôi…”
Đoạn,  chúng  tôi  và  người  xưng  tội  cầu  nguyện  để  nhờ  ơn  thương  xót  của  Chúa  giải  cứu  con
cái  của  Ngài  đang  lâm  nạn.  Chúng  tôi  cũng  khuyên  người  về  nhà  tiếp  tục  xưng  tội  cầu  nguyện  và
hết lòng nhờ cậy sự giải  cứu của Chúa. Thật ơn Chúa rất diệu kỳ! Tuần sau người đến với chúng tôi
mặt mày sáng rở và nói rằng: “Quốc trưởng  kêu ông Giám đốc, bạn tôi đến la rầy và cách chức; còn
về phần tôi thì Shihanouk  không rầy la chi, chỉ ủy thác tôi phải lập lại cho được hồ sơ này nội trong
một  tháng  cho  xong,  nếu  được  ông  sẽ  thưởng,  và  tôi  cũng  đã  xin  lệnh  Quốc  trưởng  cho  tôi  toàn
quyền  hành  động  về  việc  ấy.  Ông  đã  chấp  thuận  và  tôi  đã  lấy  lệnh  Quốc  trưởng  đánh  điện  tín  đi
khắp nước nào có tòa Đại sứ Cao miên để  yêu cầu tìm kiếm và sao lục hồ sơ Do thái gởi về gấp nội
trong  vòng  15  ngày.  Chắc  có  hy  vọng  và  tôi  có  thể  làm  đúng  hẹn.  Vậy,  xin  Mục  sư  cầu  nguyện
cho.”

Thật  vậy,  sau  đó  một  tháng  người  lập  lại  được  hồ  sơ  ấy  như  cũ  mà  trái  lại  còn  khá  đầy  đủ
hơn nữa. Quốc trưởng khen giỏi và thưởng cho người một huy chương. Thật ơn Chúa rất diệu kỳ!
Sau  đó,  đức  tin  người  càng  thêm  vững  mạnh,  mặc  dù  trên  50  tuổi  nhưng  người  xin  tôi  cho
được  tham  dự  vào  các  chương  trình  diễn  lễ  Nô-ên  với  các  thanh  niên.  Người  đọc  thi  ca,  diễn  văn
như  một  thanh  niên.  Cảm  tạ  ơn  Chúa  vì  đã  đẹp  lòng  Ngài,  nên  sau  đó  vài  năm  thì  người  phải  vào
bệnh  viện  để  mổ  ruột  dư,  bị  lâm  bệnh  và  qua  đời  cách  êm  ái.  Trước  khi  tắt  hơi,  người  nắm  lấy  tay
tôi  cầu  nguyện  cho  người  về  nước Chúa  và  khi  đã  tắt  thở  rồi  mà môi  người  vẫn  nhích  lên  như mỉm
miệng cười. Ai thấy mặt cũng đều thấy làm lạ, và lễ an táng người quá trọng thể vì có các nhân viên
trong ngoại giao đoàn đi đưa, ít thấy có đám xác nào được long trọng như vậy ở Nam vang.


SAU GẦN MỘT NĂM MỚI DẪN ĐƯỢC NGƯỜI CHỦ AM TIN CHÚA.

Đã  là người truyền đạo, thì  dẫn được một vài người tin Chúa có đáng  chi phải  kể  lại. Nhưng
việc  nầy  cần  kể  lại  để  nói  lên  ơn  thương  xót  thật  lạ  lùng  của  Chúa  và  quyền  năng  của  cứu  Chúa  đã
thay đổi được lòng một người Ni cô và Trụ trì Phật tử nầy.
Nhớ  lại,  mỗi  lần  chúng  tôi  đi  thăm  một  người  tín  hữu  là  ông  Nguyễn  Văn  Chậm,  chúng  tôi
phải vào xóm chùa Cao đài. Biết rằng, chùa này được kiến trúc thật vĩ đại và đã gần xong. Nhưng vì
lý do chính trị… chùa  này  phải bị lệnh  cấm, đình  chỉ mọi  kiến trúc. Tuy việc  xây dựng bị ngừng  lại
nhưng  phía  lầu  trước  đã  làm  xong,  nên  Đại  Thượng  sư  Phạm  Công  Tắc  có  thể  ở  thường  xuyên  tại
đó.
Mỗi lần vào  xóm,  chúng  tôi  ghé thăm một cái Am (Am là  cái  nhà tranh để  thờ Phật như một
cái  chùa  nhỏ).  Trong  am,  ở  chính  giữa  thì  có  một  bàn  thờ  tượng  Phật,  có  chuông  lớn,  có  mõ  để  gõ,
có Kinh  sách và nhang đèn,  hoa quả  cúng  hiến. Quanh  hai  bên bàn  thờ Phật là bàn  thờ Bà Quan  âm
và bàn thờ Chúa Tiên, Chúa Ngọc và còn nữa… Còn dưới đất là bàn thờ  nhỏ cúng ông Địa, bàn thờ
Thổ  thần  và  phía  trước  cửa  là  bàn  thờ  ông  Thiên.  Nhang  đèn  được  đốt  lên  và  việc  cúng  vái  dường
như  là  suốt  ngày  đêm,  khói  hương  nghi  ngút,  bay  tỏa  khắp  nhà,  mùi  thơm  ngát  như  có  vẻ  thiêng
liêng huyền bí. Đồng bào trong xóm thường đến Am để khấn vái.
Được  biết  chủ  Am  này  là  ông  bà  Nguyễn  Văn  Cát,  cả  hai  ở  tuổi  độ  50.  Bà  thì  cạo  đầu,  còn
ông  Cát  thì  chưa.  Nhờ  người  Tín  hữu  trong  xóm  dẫn  đến  giới  thiệu  nên  chúng  tôi  được  ông  bà  chủ
Am  niềm  nở  tiếp  chuyện.  Mỗi  lần  thăm,  chúng  tôi  cố  gắng  giới  thiệu  tình  thương  của  Chúa  Jê-sus
cho ông bà. Sự việc kéo dài như vậy hơn một năm thì một buổi chiều kia, cảm tạ ơn Chúa, Ngài dẫn
chúng  tôi  đến  thăm  người  tín  hữu,  được  gặp  ông  bà  chủ  Am  ngồi  chơi  tại  đó.  Chúng  tôi  cậy  ơn
Chúa  thuyết  phục  ông  bà  nên  tin  Chúa  Jê-sus  để  tội  được  tha  và  linh  hồn  được  cứu.  Cám  ơn  Chúa,
nhờ  ơn  Thánh  linh  soi  sáng  nên  ông  bà  được  cảm  động  liền  bằng  lòng  tin  nhận  Chúa  Jê-sus  làm
Cứu Chúa của mình. Thật ơn Chúa rất diệu kỳ !
Sau  khi  chúng tôi nhơn danh Đức Chúa Jê-sus cầu  nguyện cho  ông bà, ông  bà mời chúng tôi
đến  tại  Am  giao  hết  các  đồ  vật  cúng  thờ.  Chúng  tôi  đem  xe  đến  dọn  đi  hết  các  đồ  vật  như:  tượng
Phật, chuông, mõ, bình hương, chơn đèn và các hình giấy lớn, nhỏ, bông hoa, nhang và đèn cầy…
Sau  khi  dẹp  xong,  sửa  sang  lại  bàn  ghế,  chúng  tôi  hát  Thánh  ca  và  cầu  nguyện  để  giúp  cho
đức  tin  cho  ông  bà  được  an  tâm  sống  trong  căn  nhà  ấy.  Đồng  bào  trong  xóm  hết  sức  ngạt  nhiên  và
chống  nghịch  ông  bà.  Nhưng  cám  ơn  Chúa,  ông  bà  vẫn  giữ  một  lòng  tin  Chúa  và  thường  xuyên
nhóm lại thờ phượng Ngài.
Suốt thời gian chừng 10 năm, đang khi chúng tôi còn ở Hội thánh Nam Vang, mặc dù ông bà
gặp nhiều  khó  khăn nhưng  vẫn  giữ được đức tin, luôn luôn nhóm thờ phượng Chúa, ít khi  nào vắng
mặt  cho  đến  ngày  ông  bà  bị  bắt  buộc  trở  về  Việt  Nam;  còn  chúng  tôi  phải  sang  Pháp  năm  1970  thì
sau  đó  không  còn  liên  lạc  nhau  được  nữa.  Nhưng  chúng  tôi  tin  chắc  rằng:  Lòng  tin  của  ông  bà  vẫn
được vững mạnh vì ông bà là một Cơ đốc nhân đã được trưởng thành. Cảm tạ ơn Chúa.
Ban Thanh Niên HT Nam Vang, khoảng năm 1962


CHƯƠNG CHÍN.
LÒNG YÊU MẾN ĐỀN THỜ.

Vào  khoảng  năm  1965,  nhà  cầm  quyền  Cao  miên  không  cho  các  Giáo  sĩ  Mỹ  cũng  như  kiều
dân Mỹ  trú  ngụ  trong  xứ  (có  lẽ  lúc  bấy  giờ  ông  Shihanouk  bị  áp  lực  của  cộng  sản).  Chúng  tôi  cũng
rất  e  ngại  là  nhà  cầm  quyền  có  thể  cấm  các  nhà  truyền  giáo  Việt  nam,  và  họ  có  thể  trục  xuất  chúng
tôi như các nhà truyền giáo Mỹ.


ƠN  CHÚA  CHO  CHÚNG  TÔI  CAN  ĐẢM  THÀ  CHỊU  TÙ  CHỚ  KHÔNG  CHỊU  ĐÓNG
CỬA NHÀ THỜ.

Một  ngày  kia,  có  một  việc  xảy  ra  cho  Hội  thánh  Tin  lành  Cao  miên  do  một  tín  hữu  người
Miên  (gốc Việt)  có học Trường Kinh Thánh hai  năm  đang  làm việc trong nhà in Tin  lành. Người đi
Hồng Kông rồi qua luôn bên Mỹ. Nghe tin là người sang Mỹ làm việc ở đài phát thanh (có lẽ người
đọc  tin  tức  trong  giờ  phát  tiếng  Cao  miên  của  Đài  VOA).  Nhà  cầm  quyền  Miên  lấy  cớ  đó  để  đóng
cửa  nhà  in  Tin  lành  và  bắt  thêm  mấy  vị  truyền  đạo  và  vài  ông  Chấp  sự  có  thơ  từ  liên  lạc  với  người
tín  hữu  đi  Mỹ  ấy.  Như  được  trớn,  nhà  cầm  quyền  còn  mời  ông  Giáo  sĩ  Pháp  đến  (lúc  bấy  giờ  các
Giáo  sĩ  Mỹ  đã  ra  khỏi  xứ,  chỉ  còn  một  ông  Giáo  sĩ  Pháp  mới  đến  Nam  vang  được  vài  tháng)  bảo
ông phải đóng cửa hết  các nhà thờ Tin lành trong  xứ. Việc xảy đến như vậy, ông Giáo sĩ không biết
tính  lẽ  nào  nên  cho  lệnh  tạm  đóng  cửa  hết  các  nhà  thờ. Đoạn,  ông  vội  vã  trở  về  Pháp  báo  cáo  tự  sự
với  Hội  truyền  giáo  để  biết  phải  làm  gì.  Trước  khi  lên  máy  bay,  ông  nhắn  lại  với  vị  Mục  sư  trí  sự
người  Trung  hoa  báo  tin  cho  chúng  tôi  hay  cũng  phải  đóng  cửa  Nhà  thờ  Việt  Nam  y  theo  lệnh  của
nhà  cầm  quyền  Cao  miên  để  chờ  ông  trở  qua  vận  động  xin  mở  lại  một  lượt  với  Hội  thánh  Tin  lành
Cao miên. Ông Mục sư trí sự ấy  đến nói lại  chúng tôi hay những lời Giáo  sĩ đã  căn dặn  và hơn  nữa,
ông cũng cho chúng tôi biết tuần trước Hội thánh Cao miên mở cửa nhóm họp, nhà binh đến bắt vài
ông Truyền đạo và vài vị Chấp sự có mặt trong buổi nhóm hôm đó. Ông khuyên chúng tôi nên nghe
lời  Giáo  sĩ.  Đoạn,  ông  đi  báo  tin  cho  tín  hữu  Việt  cũng  như  Trung  hoa  hay  tự  sự.  Lòng  anh  em  tín
hữu  cũng  như  Ban  chấp  hành  Hội  thánh  Việt  thảy  đều  bối  rối,  họ  đến  bàn  luận  cùng  chúng  tôi  và
khuyên tôi nên tạm đóng cửa nhà thờ để chờ Giáo sĩ trở qua lo liệu. Tôi chỉ trả lời để chờ ý Chúa.
Cảm  tạ  ơn  Chúa,  chiều  lại  tôi  đang  đứng  trước  cửa  nhà  tư  thất,  lòng  đang  nặng  nề  về  công
việc  vừa  xảy  ra. Ngó  vào  hông  nhà  thờ,  tôi  nhìn  từ  khuôn  cửa  đến  cánh  cửa,  tôi  nhìn  từ miếng  ngói
đến  nóc  nhà  thờ  và  ngẫm  nghĩ  rằng:  “Nếu  nhà  thờ  này  bị  đóng  cửa  thì  những  cánh  cửa  này  không
biết  ngày  nào  sẽ  được  mở.  Vì  thời  kỳ  nào  mà  quyền  của  ma  quỉ  đóng  được  cửa  nhà  thờ  thì  dễ  gì
chúng  sẽ  cho  mở  cửa  trở  lại.  Nước  mắt  tôi  tuôn  chảy  và  nghẹn  ngào.  Lòng  tôi  phát  sinh  ra  sự  yêu
mến Đền thờ của Đức Chúa Trời. Tôi tự nghĩ rằng: “Bấy lâu nay mình nói yêu mến Đền thờ, đó bất
quá  là  lời  nói  lý  thuyết,  chớ  chưa  có  lần  nào  được  trắc  nghiệm.  Hôm  nay  đây  mới  chứng  thực  là
người  yêu Chúa  và  yêu  mến Đền  thờ Đức Chúa  Trời.  Vì  cơ  hội  đã  đến  để  thử  thách  lòng  yêu  ấy  sẽ
ra  như  thế  nào?  Nếu  mình  yêu  mến  Đền  thờ  thật  thì  trước  khi  đóng  cửa  Đền  thờ  phải  làm  một  việc
gì  để  chứng  minh,  mặc  dù  vì  điều  ấy  mà  mình  phải  chịu  hy  sinh  bao  nhiêu  đi  nữa,  mình  cũng  phải
chấp nhận.”
Cám  ơn Chúa, Ngài lại nhắc tôi thêm: “Đóng cửa Đền thờ phải có giấy tờ gì chính thức chứ?
Lẽ đâu chỉ nghe lời hăm dọa của một số người, mình lại đi đóng cửa Đền thờ. Rồi lịch sử sau này sẽ
nghiêm  khắc  lên  án và phê  phán  mình là người như thế nào?” Tôi  liền vào nhà  gọi  vợ tôi  để báo tin
ý Chúa  mới  soi  sáng  cho:  “Nếu  không  có  giấy  tờ  chính  thức  của Chánh  phủ  Cao  miên  ra  lệnh  đóng
cửa  Nhà  thờ  thì  tôi  nhất  định  không  đóng.”  Cám  ơn  Chúa,  vợ  tôi  cũng  vừa  được  soi  sáng  về  việc
này nên cũng tán đồng với tôi.
Sáng  hôm  sau,  có  vài  vị  trong  BCH  Hội  thánh  đến  yêu  cầu  tôi  nên  tạm  đóng  cửa  Nhà  thờ  y
như  lời  Giáo  sĩ.  Tôi  trả  lời:  “Lòng  tôi  đã  quyết  định  rồi,  nếu  không  có  giấy  tờ  chính  thức  thì  tôi
không  bao  giờ  chịu  đóng cửa Nhà  thờ.” Các vị ấy nói: “Mục sư  ơi! Chúng  tôi  thương hại Bà và  các
cháu, nếu trường hợp Mục sư bị bắt và bị trục xuất thì ai lo cho  gia đình? Vả lại, Mục sư có căn nhà
tại  đây  người  ta  có  thể  tịch  thu  sản  nghiệp  Mục  sư.”  -  “Cám  ơn  các  ông,”  tôi  trả  lời,  “Vợ  con  sao
không  thương,  sản  nghiệp  tôi  tạo  nên  bởi  mồ  hôi  nước  mắt  sao  không  sợ  mất?  Nhưng  ngày  nay  vì
vợ  con,  vì  sản  nghiệp  tôi  đóng  cửa  Nhà  thờ,  thật  tôi  không  xứng  đáng  làm  Mục  sư  hầu  việc  Đức
Chúa Trời.”
Qua  ngày  hôm  sau  là  thứ  Bảy,  có  một  ông  Chấp  sự  Hội  thánh  đến  cho  chúng  tôi  hay  rằng:
“Có  được  tin  chắc  chắn,  nếu  sáng  Chúa  nhật  ngày  mai  mà  Mục  sư  mở  cửa  Nhà  thờ  thì  sẽ  bị  bắt
liền.”  Tôi  trả  lời:  “Như  điều  tôi  đã  nói  với  BCH  Hội  thánh,  là  tôi  sẵn  sàng  chịu  tù,  chớ  không  chịu
đóng  cửa Nhà  thờ mà  không  có  giấy  tờ  gì.” Ông  ấy  nói:  “Như  vậy  Mục  sư  làm  hại Hội  thánh,  Mục
sư  đóng  cửa  ít  ngày  rồi  Giáo  sĩ  trở  qua  vận  động  xin  mở  lại  một  lượt  với  các  Hội  thánh  Cao  miên,
có  phải  êm  chuyện  không?  Hôm  nay  Mục  sư  không  nghe  lời  Giáo  sĩ,  không  nghe  lời  đề  nghị  của
BCH Hội thánh, Mục sư mở cửa Nhà thờ lúc có  lệnh cấm,  nhà cầm quyền  đến bắt Mục sư,  họ cũng
có  thể  bắt  chúng  tôi  là  các  chức  viên  Hội  thánh,  như  họ  đã  bắt  các  chức  viên  bên  Hội  thánh  Cao
miên.  Và  nhà  cầm  quyền  lấy  cớ  rằng  Mục  sư  chống  nghịch,  họ  đóng  cửa  nhà  thờ  luôn  vĩnh  viễn.
Có  phải  mục  sư  làm  hại  cho Hội  thánh  không?”  Tôi  khẳng  định  trả  lời  lần  chót:  “Từ  cả  tuần  lễ  nay
có năm, bảy tin đem đến xúi giục tôi đóng cửa nhà thờ, tôi cho đó là những tin tức từ ma quỉ, nên từ
đây  về  sau  tôi  không  còn  muốn  bàn  luận  với  ai  về  vấn  đề  này  nữa,  vì  lòng  chúng  tôi  đã  quyết  định
rồi, không thay đổi.”
Sáng hôm sau, đúng là ngày Chúa nhật  rất nghiêm trọng  (tôi  còn nhớ rõ đó là ngày 28 tháng
8  năm  1966),  gia  quyến  chúng  tôi  thức  dậy  sớm  hơn  thường  nhật  để  cầu  nguyện,  xin Chúa  ban một
đạo binh Thiên sứ của Ngài đến bảo vệ chúng tôi; nếu có kẻ nào rình rập để bắt, xin Chúa xô đuổi.
Vừa  rạng  đông,  độ  6  giờ,  chúng  tôi  nhận  được  một  thơ  của  người  tín  hữu  Pháp  lai  Việt  sai
người cầm đến. Trong thơ người báo tin cho chúng tôi hay đừng mở cửa Nhà thờ sáng nay, vì người
có  nhận  được  tin  bí  mật  của  nhà  cầm  quyền  đã  chuẩn  bị  cho  lính  bắt,  nếu  sáng  Chúa  nhật  này  nhà
thờ mở  cửa. Chúng  tôi chẳng  chú ý  gì  về lời  đó,  vì tôi cho  tất cả tin  tức  về việc đóng cửa  nhà thờ là
tin  của  ma  quỉ  đem  đến  hăm  dọa  tôi  để  đóng  cho  được  cửa  Đền  thờ.  Còn  về  phần  tôi  đã  được  Đức
Chúa  Trời  cảm  động  quyết  định  chịu  trả  giá;  hoặc  là  nhà  thờ  được  mở  cửa  hoặc  là  tôi  phải  vào  tù,
chịu trục xuất và mất luôn sản nghiệp.
Đúng 7 giờ sáng, chúng tôi mở cửa nhà thờ sớm hơn thường nhật một giờ. Kế đó, đúng 8 giờ
rưỡi  là  giờ  cầu  nguyện  chung  buổi  sáng  tại  nhà  thờ.  Gia  quyến  chúng  tôi  bắt  đầu  hát Thánh  ca,  đọc
Kinh  thánh.  Cảm  tạ  ơn  Chúa,  trong  giờ  cầu  nguyện  buổi  sáng  hôm  ấy  có  một  bà  tín  hữu  là  Bà  Tư
Quang (Bà Tư Quang má của cậu Lâm Thành Vân) đến nhóm với chúng tôi. Chỉ có một tín hữu đến
nhóm  mà  chúng  tôi  cảm  thấy  vui  vẻ.  Rồi  một  giờ  sau,  tới  giờ  thờ  phượng  Chúa  cũng  cho  có  được
độ 10 người đến.
Đúng  10  giờ,  tôi  khởi  sự  theo  chương  trình  mời  hội  thánh  thờ  phượng  Chúa.  Vừa  hát  xong
bài Thánh  ca thì thình  lình có  một  người  Miên ăn mặt theo lối  quân  nhân  bước  vô nhà  thờ,  đi thẳng
lên  tới  tòa  giảng,  đưa  cho  tôi  một  bức  thơ.  Tôi  cầm  thơ  lật  qua  lật  lại,  lòng  cũng  hơi  lo  ngại.  Đoạn,
xé  ra xem,  thì  ra  thơ  của một  tín  hữu  sa  ngã  lâu  ngày  gởi  đến  nhờ  tôi  trao lại  cho  người  bạn. Tuy  là
một  bức  thơ  tầm  thường,  nhưng  đó  là  mưu  kế  của  ma  quỉ  dùng  đúng  cơ  hội  và  thì  giờ.  Hơn  nữa,
chúng mượn lòng của một tín hữu sa ngã khiến đúng  giờ ấy lại gởi thơ và mượn một anh quân nhân
cầm  đến  nhà  thờ  ngay  vào  giờ  giảng  để  đánh  tôi  thêm  một  đoàn  cân  não.  Cảm  tạ  ơn  Chúa,  mặc  dù
anh em tín hữu như có vẻ bối rối khi thấy một quân nhân đem thơ đến; nhưng khi tôi cho biết chỉ là
một  bức  thơ  của  người  quen  thì  anh  chị  em  lấy  lại  được  bình  tĩnh.  (Đang  lúc  đó,  tôi  đứng  trên  tòa
giảng  ngó  ra  đường  thấy  có  một  số  tín  hữu  và  vài  vị  trong  BCH  Hội  thánh  ăn  mặt  cải  trang  như
người đang đi làm việc, qua lại trước cửa nhà thờ để quan sát tình hình).
Cảm tạ ơn Chúa, buổi nhóm hôm ấy tuy ít tín hữu nhưng ơn Chúa cho tôi giảng rất hùng hồn
mà trong đời sống chức vụ bao nhiêu năm ít có lần nào giảng được như vậy.
Cám  ơn  Chúa,  ngày  Chúa  nhật  đó  chẳng  có  sự  gì  xảy  ra;  rồi  lần  lần  về  sau  anh  em  tín  hữu
nhóm  họp  đông  đủ  lại  như  thường  lệ.  Nhưng  rất  tiếc  là  Hội  thánh  Tin  lành  Cao  miên  bị  đóng  cửa
luôn  mấy  năm,  và  vị  Giáo  sĩ  khuyên  chúng  tôi  nên  đóng  cửa  nhà  thờ  để  chờ  ông  trở  qua  Cao  Miên
vận động mở lại, cũng chẳng còn thấy ông trở lại Cao Miên nữa.
Một  số  Mục  sư  Cao  miên  có  lòng  can  đảm  mời  tín  hữu  nhóm  lại  trong  nhà  riêng  của  họ  để
cầu  nguyện  và  sau  đó  một  thời  gian,  có  cụ  Giáo  sĩ  Jean-Funé  (người  Pháp)  đến  Nam  vang  (Vì  lúc
bấy  giờ  người  Mỹ  không  được  phép  đến Cao  miên  nên Hội  truyền  giáo Mỹ  đề  cử Giáo  sĩ Pháp  đến
đảm  nhận  chức  vụ).  Sau  khi  cụ  Giáo  sĩ  Jean-Funé  đến  được  ít  lâu  tìm  hiểu  tình  hình,  Cụ  xin  nhà
cầm  quyền  cho  Hội  thánh  nhóm  để  “làm  phước”.  Chữ  “làm  phước”  là  từ  ngữ  của  người  Cao  miên
hội  họp  để  bố  thí,  hoặc  quyên  tiền  bá  tánh.  Như  vậy,  hễ  tuần  nào  Hội  thánh  muốn  nhóm  họp  thì
phải xin phép. Nhưng chỉ có ở Nam vang mới được điều  kiện ấy; còn ở các tỉnh và miền quê thì tùy
theo địa phương mà được phép hay không được phép.


ƠN CHÚA  CHO TÔI THÀ CHỊU TỘI, CHỊU TRỤC XUẤT, CHỚ KHÔNG CHỊU PHÁ DỠ
ĐỀN THỜ THEO LỆNH ĐÔ TRƯỞNG.

Cám  ơn  Chúa,  chúng  tôi  vừa  vượt  qua  được  những  biến  cố  hết  sức  quan  trọng;  bây  giờ  lại
xảy ra thêm một việc nữa cũng không kém phần quan trọng. Thật câu “Họa vô đơn chí” cũng không
phải là không đúng.
Ấy  là  nhà  thờ  tuy  trước  đó  được  kiến  trúc  hợp  pháp  nhưng  do  sự  đo  lộn  của  Sở  Họa  đồ  từ
xưa nên vách tường nhà thờ đưọc xây lấn qua bên đất của người lân cận hết 6 tấc và mặt gió lấn qua
1m50.  Đã  có  sự  thưa  kiện  xảy  ra.  Tôi  và  ông  Giáo  sĩ  Ellison  phải  tới  lui  với  nhà  cầm  quyền  mấy
lần.  Người  lân  cận  tuyên  bố  thế  nào  người  cũng  thắng  kiện  và  đuổi  được  nhà  thờ.  Người  rất  tự  đắc
vì  thấy  lúc  bấy  giờ  nhà  cầm  quyền Cao miên  ghét  Mỹ  cũng  như Việt, mà  nhà  thờ  này  là  của Mỹ  và
Việt. Nhưng người đã lầm vì nhà thờ này là nhà thờ của Đức Chúa Trời.
Ít  lâu  sau,  người  phát  bệnh  đau  thình  lình  phải  vào  bệnh  viện  và  cuối  cùng  bị  nằm  liệt  vĩnh
viễn. Hoảng sợ, người liền bán 3 căn nhà và đất ấy cho một người Miên khác. Chủ mới này cũng tự
đắc  đến  hâm  dọa  tôi  mấy  lần  rằng:  “Tôi  có  quen  với  Shihanouk  và  tôi  chỉ  nói  một  tiếng  là  đuổi
được  nhà  thờ.” Thật  đúng  như  lời,  người  vào  đơn  thưa  ít  ngày  là  có  lệnh  Đô  trưởng  truyền  cho  ông
Cò đưa giấy tờ buộc tôi phải dỡ nhà thờ nội trong ba tháng để trả đất lại cho người lân cận cất phố.
Chúng tôi vội vã cho cụ Giáo sĩ hay để nhờ can thiệp. Cụ Giáo sĩ có đến xin hoãn lại lệnh dỡ
nhà  thờ  nhưng  không  xin  được.  Giáo  sĩ  cho  tôi  hay  phải  dỡ  nhà  thờ  chớ  không  còn  cách  nào  khác.
Tôi  nhận  thấy  Giáo  sĩ  thật  là  nhúc  nhác  nên  trả  lời:  “Tôi  không  thể  nào  bằng  lòng  dỡ  nhà  thờ  liền
bây  giờ  vì  còn  chờ  kết  quả  của  tòa  án  xử  ra  sao,  chớ  đây  chỉ  là  lệnh  ông  Đô  trưởng,  có  lẽ  người
nhận  tiền  hối  lộ  mà  xử  như  vậy.”  Ông  bà  Giáo  sĩ  khuyên  tôi:  “Nếu  ông  không  chịu  dỡ  nhà  thờ  là
ông  chống  với  Đô  trưởng  mà  chống  với  Đô  trưởng  là  ở  tù  và  sau  đó  bị  trục  xuất.”  Thật  vậy,  vì  Đô
trưởng  là  ông  hoàng,  lệnh  họ  như  lệnh  vua.  Lúc  bấy  giờ  không  có Đại  sứ Việt Nam  nên  người  Việt
kiều  ngụ tại Cao  miên  có thể nói như là  “Cá  nằm  trên  thớt”. Bấy  giờ dù một người lính tầm  thường
họ  cũng  có  thể  có  quyền  cáo  kiện  để  trục  xuất  người  Việt,  chớ  đừng  nói  chi  một  Đô  trưởng  oai
quyền.
“Tôi  đâu  có  chống  với  ai mà  ở  tù,  chỉ  yêu  cầu  đưa  vụ  kiện  ra  tòa  án  mà  thôi,  nếu  sự  yêu  cầu
như vậy mà bị tù, bị trục xuất thì đành chịu, chớ tôi không thể nào phá dỡ nhà thờ cách vội vàng khi
mà  nhà  thờ  được  kiến  trúc  cách  đúng  phép.  Và  chúng  tôi  tin  Đức  Chúa  Trời  là  Đấng  Sống,  không
khi  nào  Ngài  cho  phép  ai  phá  đền  thờ  của  Ngài  theo  cách  như  vậy.  Chúng  ta  nên  chờ  đợi  cánh  tay
của  Đức  Chúa  Trời.  Nếu  nhà  cầm  quyền  đến  phá  dỡ  thì  họ  cứ  làm,  nhưng  tôi  không  ký  tên  cũng
không phá dỡ.”
Sau  cuộc  thảo  luận  gây  cấn,  chúng  tôi  nhận  thấy  không  thể  nào  nhờ  cậy  Giáo  sĩ  bênh  vực
được và nhà cầm quyền Cao miên cũng chẳng nể họ. Sáng hôm sau, tôi mời vài nhân viên BCH Hội
thánh cùng  đi  với  tôi đến nhà người lân cận  để điều đình mua miếng đất ấy. Người  ỷ thắng  kiện đòi
300.000  Ria  (tương  đương  5.000  US  Dollars).  Nhận  thấy  số  tiền  quá  lớn  và  quá  mắc,  Hội  thánh
không  thể  nào  có  đủ  tiền  để  mua,  nên  tôi  muốn  kéo  dài  thời  gian  để  cầu  nguyện  và  chờ  đợi  ý  Đức
Chúa  Trời.  Tôi  liền  năn  nỉ  và  hẹn  với  người  lân  cận  để  ít  ngày  lo  liệu  rồi  sẽ  trả  lời  dứt  khoát.  Tuần
sau,  người  lân  cận  cứ  luôn  đến  nhà  chúng  tôi  để  thúc  hối,  còn  tôi  như  người  thua  kiện  xin  hẹn  nay
mai để chờ cánh tay Chúa tiếp cứu.
Kế  đó,  có  lệnh  Đô  trưởng  mời  Giáo  sĩ,  tôi  và  nhân  viên  BCH  Hội  thánh  đến  rồi  cho  hay:
“Người  lân  cận  muốn  điều  đình  để  mọi  việc  xúc  tiến  mau  lẹ,  là  Hội  thánh  phải  ưng  chịu  cho  người
phá  vách  tường  nhà  thờ  và  một  phần  mặt  tiền.  Đoạn,  người  sẽ  gát  những  cây  trính  nhà  thờ  vào
tường  của  nhà đang xây,  sở  phí  người  chịu hết;  nhà thờ  sẽ hơi  hẹp một chút mà thôi. Thấy việc hòa
giải  êm  xuôi,  nhà  thờ  hơi  hẹp  và  mặt  tiền  méo  một  chút  cũng  không  sao  nên  Giáo  sĩ  vui  vẻ  bằng
lòng. Ông Đô trưởng thấy vậy xin Giáo sĩ hẹn ngày đến làm giấy giao kèo.
Về  phần  tôi,  cảm  thấy  sự  phá  dỡ  nhà  thờ  như  vậy  là  một  sự  thua  nhục  cho  Danh  thánh  của
Chúa, vì nhà  thờ  kiến trúc đúng phép;  còn sự lầm lộn là do lỗi sở Họa đồ. Lại nữa, tôi suy  nghĩ biết
đâu  sau  này  nhà  thờ  bị  méo  thì  hội  đồng  Thẩm  mỹ  Đô  thành  họ  cho  dỡ  luôn  vì  nhà  thờ  không  còn
đẹp  mà  lại  ở  ngay  đường  lớn  của  thành  phố.  Hơn  nữa,  mất  hàng  cửa  sổ  là  mất  dưỡng  khí  và  cách
đâm  trính  vào  tường  như  vậy  cũng  không  được  vững  chắc,  sở  vệ  sinh  có  thể  lấy  cớ  đó  không  cho
nhóm họp. Trước mặt vị Đô trưởng oai quyền tôi  không dám kháng biện. Nhưng Chúa cho tôi khôn
khéo  yêu cầu hoãn lại ít ngày để triệu tập Hội thánh nhóm lại đông đủ thảo luận rồi sẽ trả lời và làm
giao  kèo.  Ý  định  của  tôi  là:  “Giục  hưỡn,  cầu  mưu”  để  xin  sự  can  thiệp  bởi  phép  lạ  của  Chúa,  chớ
thật  ra  tôi  cũng  dư  biết  cả  Hội  thánh  đều  nghe  lời Giáo  sĩ  muốn  cho  sự  kiện  sớm  chấm  dứt  để  tránh
sự thù nghịch với người Miên, hoặc mang tiếng chống lại với nhà cầm quyền; hoặc cũng sợ lúc thua
kiện thì nhà thờ bị phá dỡ thì không còn chỗ nhóm.
Tôi cứ trì hoãn việc trả lời, dưới sự thúc hối của người lân cận vì người lân cận đang gấp bởi
tường  nhà  họ  đã  xây  lên  rồi.  Thời  gian  kéo  dài  được  chừng  một  tháng.  Trong  thời  gian  này,  gia
quyến  chúng  tôi  cũng  như  anh  em  tín  hữu  tha  thiết  cầu  nguyện,  xin  Chúa  can  thiệp  để  nhà  thờ  khỏi
bị phá. Cảm tạ  ơn Chúa,  sự can  thiệp của Ngài rất  diệu kỳ và  đúng  lúc, trong  khi  tôi thấy  không thể
nào  kéo  dài  được  sự  hẹn  tới  hẹn  lui  nữa,  thì  thình  lình,  người  lân  cận  bị  xe  đụng,  không  rõ  như  thế
nào  mà  hai  mắt  mở  như  thường  nhưng  một  con  như  bị  đui  không  thấy  đường.  Người  hoảng  sợ  nên
đến  cùng  chúng  tôi  cho  hay:  “Người  muốn  bán  rẻ  4  thước  đất  đó  cho  Hội  thánh.”  Tôi  liền  mời  vài
nhân  viên  Hội  thánh  đi  với  tôi  đến  nhà  người  lân  cận  để  biết  giá  bao  nhiêu.  Người  bán  giá  60.000
Ria,  gồm  4  thước  đất  và  tường  nhà  của  ông  sẽ  có  để  ló  dàn  sắt  ra  sẵn  để  sau  nầy  nhà  thờ  muốn  xây
cất  gì  thì  có  thể  nối  vào.  Ông  cũng  sẽ  bao  luôn  tiền  sang  bộ.  Chúng  tôi  nhận  thấy  giá  rẻ  và  Hội
thánh  có  thể  lo  được  nên  bằng  lòng  mua. Anh  em  tín  hữu  cố  gắng  lạc  hiến  và  Hội  thánh Trung  hoa
cũng  trợ  giúp  một  phần  nên  sau  hai  tháng  là  số  tiền  được  trả  xong  tất  cả.  Thật  cảm  tạ  ơn  Chúa
“Không có gì khó cho Đức Chúa Trời mà Ngài không làm được” (Sáng 18:14)
Sở dĩ Chúa can thiệp đến nhà thờ này  cách đặc biệt vì Chúa biết trong tương lai nhà thờ Việt
Nam còn rất cần để dùng cho con cái Chúa giữa người Cao miên, nên trước khi gia quyến chúng tôi
sang  Pháp  tôi  ký  giấy  giao  tất  cả  cơ  sở  lại  cho  ông  Giáo  sĩ  Jean-Funé  và  Hội  trưởng  Tin  lành  Cao
miên.
Cơ  sở  này  gồm  có:  một  căn  nhà  có  lầu  đúc,  bề  ngang  4  thước,  dài  15  thước  (tầng  dưới  và
tầng  trên).  Một  nhà  thờ  xây  bằng  gạch  ngói  có  mặt  gió  khá  cao  rất  đẹp,  bề  ngang  8  thước,  dài  13
thước,  nằm  trên  đại  lộ  có  tiếng  ở  Nam  vang  là  đường  Kampuchea  Krom  còn  gọi  là  “Đường  30
Thước”, gần trung tâm thành phố. Nếu trị  giá cơ sở này phải trên hai triệu Ria (tương đương 60.000
US Dollars, năm 1970).
Hơn  thế  nữa,  Chúa  đã  biết  Hội  thánh  Tin  lành  Cao  miên  không  có  một  cơ  sở  nào  kiến  trúc
gần  trung  tâm  thành  phố  nên  việc  dùng  cở  sở  Hội  thánh  Việt  Nam  để  lại  rất  thuận  tiện  cho  việc
truyền  giảng.  Khi  thủ  tướng  Lonnol  lên  nắm  chính  quyền  thì  các  Giáo  sĩ  Mỹ  được  phép  trở  lại  hoạt
động.  Và  Hội  thánh  Tin  lành  Cao  miên  nhờ  cơ  sở  này  mà  phát  triển  việc  giảng  Đạo  một  cách  tốt
đẹp  và  kết  quả.  Lúc  chúng  tôi  ở  Toulouse  (Pháp)  có  nhận  được  thơ  của  ông  Giáo  sĩ  Piaget  tại  Nam
vang  tỏ  vẻ  cám  ơn  Hội  thánh  Việt  Nam.  Ông  có  cho  biết  nhờ  vị  trí  thuận  lợi  nên  mỗi  đêm  thứ  Bảy
và Chúa  nhật  đếu  có  truyền  giảng  và  số  người  đến  nghe  chật  cả  nhà  thờ,  phải  đứng  bên  ngoài  hông
cửa sổ và phía trước sân. Đêm nào cũng có một số người tin Chúa và sự việc kéo dài như vậy  gần 5
năm  cho đến  ngày  ông Pol-Pot vào  chiếm Nam Vang… Thật  cảm tạ  ơn Chúa vì Chúa là Đấng  toàn
tri và là Đấng đầy năng lực, là Đấng hay nhậm lời cầu nguyện như Chúa đã phán trong sách Giê-rêmi  đoạn  33:3  “Hãy  kêu  cầu  Ta,  Ta  sẽ  trả  lời  cho;  Ta  sẽ  tỏ  cho  ngươi  những  việc  lớn  và  khó,  là
những việc ngươi chưa từng biết.” Ha-lê-lu-gia .

Cố Mục Sư Nguyễn Duy Xuân





† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-1-2018 04:50 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách